|
Tiêu đề: Giáp ranh Gửi bởi: BloodX trong 12 Tháng Tư, 2010, 10:01:20 pm GIÁP RANH
Tác giả : Đỗ Kim Cuông NXB : Quân đội nhân dân. Năm XB: 1996 số hóa : BloodX " Quá khứ luôn luôn ở bên ta, cho dẫu ta cố tình lảng tránh. Và nếu không soi rọi cho rõ ràng quá khứ thì sẽ khôgn có gì bảo đảm không gặp lại sai lầm trong tương lai". Ơ.YUĐIN MỘT Trận mưa đêm như trút nước vẫn còn để lại trên cánh rừng nhiều dấu vét. Con suối đá sau kỳ nắng hạn bị vắt kiệt khô, chỉ một đêm bỗng sinh ồn ã. Nước từ trên sườn đồi dồn xuống suối chảy cuồn cuộn, đủ sức cuốc trôi đi lá khô, cành củi mục tấp xuống lòng suối lâu ngày. Ở những thác đá tiếng nước đổ ào ào. Lũ chão chuộc suốt cả mùa hè nắng gắt chui lủi sâu trong các hang hốc, kẹt đá để trốn cái nòng bức, ngột ngạt sáng nay được dịp tuồn ra ngời cửa hang ngồi chễm chệ trên các tảng đá , cất tiếng kêu đĩnh đạc: - Chuô ... uộc. Chuô ... uộc... Vợ chồng chị ễnh ương bám tren cọng cây môn nước, giương đôi mắt xanh biếc ngắm bóng mình và bóng tán lá in dưới lòng khe, cũng chẳng chịu thua. - Oạp ... Oạp ... Oạp ! Xao động hơn vẫn là tiếng chim họa mi hót véo von trên những tầng lá xanh rì. Cây cối tự như được rửa mặ́t, tiếp thêm nhựa sống bù đắp cho những ngày dài quắt queo say nắng vì ngọn gió tây khô xác. Bầy chim vừa hót ca, vừa tranh nhau ăn trái cây rừng. Dâu mọc thành chùm vàng rộm treo lúc lỉu trên cành cây cao. Những trái chín, vỏ tách ra thành bốn múi rơi lả tả xuống vạt đất quanh gốc và rơi xuống cả lưng áo của những người lính giải phóng. Họ ngồi im và chờ đơi. Giỏng tai lên nghe âm thanh rộn rã của cánh rừng ban mai yên ả và cũng đầy bí ẩn giấu sau màn cây xanh kia. Đơn vị bộ đội năm phục kích địch được trải dài hơn một trăm mét, chia ra thành bốn cụm chính ẩn kín đáo trong rừng cây, tạo thế bố trí theo hình cánh cung bao quanh lấy bãi ngụy. Mảnh đất rộng lọt thỏm giữa rừng cây trống trải, chi chít các hố công sự hình tròn, hình chữ nhật. Có những căn hầm được tụi lính ngụy chặt cây, lấp đất phủ chỉ còn chừa ra một cửa hầm chui lọt thân người, liên kề đấy l à bệ đất lấy hướng xạ kích ra xung quanh. Nhác trong toàn bộ khu vực bãi đóng quân rộng rinh, tưởng địch trú đêm, hoặc nghỉe lại một hai ngày giữa ừng trong những chuyến đi càn, chúng ăn ở tự do, tùy thích. Nhưng không phải. Ba trung đội chia làm ba góc theo một tam giác đều, hoặc một tam giác cân. Mỗi trung đội lại cho lính đào hầm hào, theo hình bán nguyệt. Ban chỉ huye đại đội nằm ở giữa trong đội hình của đơn vị mình. Với cách cấu trúc như vậy, hỏa lực và xung lực của địch dư sức đánh trả những trận tập kích bất ngờ của bộ đội, nếu lực lượng đối phương yếu hơn và không biết cách cắt mảng ra tiêu diệt. Công sự tụi ngụy đào thường nông choèn nhưng chúng lại khôn ngoan tận dụng những thân cây đổ , hốc cây to giấu chiếu hầm cá nhân bé tí tẹo của mình trong đó. Vả lại tụi lính ở lớp bên trong còn ỉ vào các chốt tiền tiêu nằm xa chừng vài chục mét, trấn giữ những nèo đường mòn dẫn vào khu vực đóng quân của đại đội lính ngụy... Những người lính giải phóng vẫn nằm im và chờ đợi. Tiếng là khô rơi xào xạc , và tiếng cành cây gãy do một chú sóc nhảy vô tình cũng không lọt ra khỏi vòng kiểm soát chặt chẽ của họ. Sự chờ đợi bị kéo căng ra như một sợi dây đàn. Mặt trời kéo lên cao quá bụi mây ở đầu bãi nguỵ phía đông. Nắng rải vàng trên vùng đất trống trải. Đại đội bộ binh đến địa điểm bãi ngụy từ lúc trời chưa sáng rõ mặt người. Họ chuẩn bị công sự gấp rút cho một trận đánh phục kích. Năm khẩu B.40 và B.41, hai mươi nhăm khẩu AK đều hướng điểm xạ vào bãi nguye. Bao giờ những chiếc mũ đồng và những bộ quần áo xanh xám sẽ xuất hiện? Bất chợt một người chiến sĩ húng hắng ho khan. Nhưng lập tức anh ta bị ngay người ngồi bên cạnh dúi đầu xuống hố cá nhân. Đây đó phóng tới chỗ vừa phát ra tiếng ho những cái nhìn thiếu thiện cảm. Ánh mắt của trung đội trương Tông long lên sòng sọc, gương mặt rỗ hoa của anh bỗng ửng đỏ. - Đồ chết dẫm ... - Tông làu bầu trong cổ họng. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: BloodX trong 12 Tháng Tư, 2010, 10:19:20 pm Lại một tiếng động nữa phát ra. Cậu Mai giữ khẩu B.40 vô ý để quả đạn chạm vào súng.
- Chà, mần chi rứa bay ! Phong không kìm được bật kêu lên. Anh bước ra khỏi công sự, đi tới chỗ Tông. - Sao chưa nghe ngóng gì anh Phong? - Tông hỏi đại đội trưởng. - Chưa ! Trinh sát bám đã về đầu... Nhắc anh em đừng nhộn nhao. - Tôi sợ tụi này đi đường khác... Phong không trả lời Tông. Ánh mắt anh hướng ra ngoài trảng nắng chói chang. Nắng đã gắt. Những chiếc bao cát tấp lên mặt hào, hơi nước bốc lên la đà. Từ một đầu bãi ngụy xuất hiện hai người. Họ mặc áo vài xanh Tô Châu, tay xắn cao, quần đùi, AK báng gấp treo trước ngực. - Thằng Xu, thằng Nghi về kìa ! - Phong nói và bước nhanh lại chỗ Nhàn. Nhàn là tiểu đoàn phó, tham gia chỉ huy trận đánh của đại đội 1 bữa nay, đang ở bên công sự sau ụ mối lớn cạnh một gốc cây to. Nhàn đứng chống nạnh, khẩu K59 đeo trễ bên hông. Anh nheo mắt dõi theo hai người trinh sát đang chạy men theo bãi nguỵen lại chỗ họ đang đứng chờ. Nhàn có khổ người thấp, to ngang. Kỳ này chẳng biết tay thợ cắt tóc nào của tiểu đoạn bộ đã tỉa cho anh cái đầu bốc, cạo trắng gáy. Chỉ còn để lại một chóm tóc phía trên, thành thử đầu của anh đã dài trong lại càng nhọn. Nhàn đội chiếc mũ vài mềm có ngôi sao nửa xanh nửa đỏ. Tay xắn cao, mặc chiếc quần đùi may bằng vài xanh pha ni-lông. Bắp chân, bắp tay mập mạp, ngắn ngủn. Anh gốc người Nam Định, vốn trước kia là đại đội trưởng C1, lên cán bộ tiểu đoàn đã gần được một năm, nhưng thường bám trụ vùng giáp ranh với đại đội 1 vừa trực tiếp chỉ huy tác chiến, vừa lo việc mua cơm gạo ở vùng đồng bằng cung cấp cho tiểu đoạn bồ và đại đội hỏa lực., đóng ở vùng địa đạo nam sông Bồ. - Báo cáo thủ trưởng... - Xu lột chiếc mũ tai bèo lau mồ hôi trên mặt - Tụi lính ngụy bắt đầu dỡ bạt, nấu cơm sáng. - Đi muộn vậy cơ à ? Tổ cậu Bảo vẫn tiếp tục bám hử? - Nhàn hỏi người trinh sát. - Dạ. - Hai đứa đã ăn sáng chưa? - Rồi ạ! - Xu đáp. - Thôi thế này nghe. Tổ cửa cậu quay trở lại bắt liên lạc với Bảo, Xu ạ... Chừng nào, địch bắt đầu di chuyển cho ngày người về báo... Nếu địch di chuyển hướng hành quân ra ngả đường 12, cậu cho một tổ bám theo... Phải không Phong nhỉ? - Nhàn quay sang bảo Phong - Cho mấy đứa ăn cơm đi thôi, Phong. Ta còn rảnh rang chừng hai giờ đồng hồ nữa.... Cậu nên cho một tổ ra bám vạt nhà cháy ở ngã bà Hương Trà đề phòng địch trên Chóp Nón tụt xuống hợp điểm ở đây. - Vẫn một đại đội như bữa qua, phải không Xu? - Phong hỏi. - Dạ, vẫn chừng nớ. Tụi E.54 anh Phong. Thằng đại trường già khọm. - Sao mi biết. - Nó ra đái chỗ em nằm ém có một bụi giang chớ mấy. - Bay coi chừng đó - Anh Nhàn dọa - Để địch nghi ngờ chuồn hướng khác là tao phạt mấy thằng trinh sát. - Thủ trưởng khỏi lo! - Xu cười toe toét - thôi tụi em đi đây. Xu chụp cái mũ vải lên đầu, xốc khẩu AK. Cậu ta bình thản bứt con vắt đang cong người bò lên quai dép vất xuống đất. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: BloodX trong 12 Tháng Tư, 2010, 11:26:59 pm Nhàn ngồi ngả người trên tấm ni-lông gấp tư, dựa lựng sau gò mối. Cơ thể anh dường như được thư giãn sau một khoảng thời gian chờ đợi căng thẳng. Ăn vài muỗng cơm với Phong, anh thấy mồm miệng đắng ngắt, bỏ đứng dậy. Mối lo và cả sự hồi họp cho một trận đánh có phần nào khiến anh không yên tâm:
- Ăn chút nứa chớ, anh Nhàn - Phong ép. - Các cậu ăn đi. Nhìn những hạt lạc trộn lẫn trong cơm, Nhàn phát ớn. Cơm độn lạc, ăn với muối lạc. Thậm chí đến món canh của nhà bếp bưng lên mỗi bữa sáng cũng là canh lạc nấu với dầu xà lách. Hơn nửa tháng nay, đường về đồng bằng thông suốt. Đêm đêm, lực lượng của huyện và các xã cùng phối hợp với bộ đội C1, C3 đi đồng bằng. Đang mùa giỡ lạc. Trong sân nhà dân lạc vỏ chất chồng. Bốn trăm tám1 một thùng lạc vỏ. chỉ cần vào ấp không gặp địch, bộ đội tha hồ gùi. Gùi lạc trông thì to, lồng cồng nhưng đến khi lột vỏ, chẳng được bao lăm. Gạo mùa này it. Có lạc ăn cũng tốt. Lạc ăn độn cơm them tỷ lệ, một lon gạo, nửa lon lạc. Tạm qua đi những ngày đói khổ, đói sở trong suốt tháng hai, tháng ba, tháng tư giữa lúc địch càn dữ vùng ranh để xây dựng căn cứ Hòn Vượn, Chóp Nón, Am Cây Sen, điểm cao 367 bên kia sông Bồ tạo lập tuyến hành lang bao gồm một hệ thống cứ điểm mạnh giữ vùng bắc Huế. Gương mặt, da dẻ của những người lính có chút gạo, chút mỡ đã tươi tắn trở lại. Sốt rét là chuyện thường tình đối với chiến trường. Ai đã trụ bám qua mùa mưa và trận sốt rét ban đầu coi như nhận chứng chỉ của người lính chiến trường. Cơn sốt đến rồi đi tựa như những trận gông đầu mùa hạ. Ngoại trừ trường hợp ác tính bị mất sức mới chịu đưa ra tuyến sau điều trị. Còn không , phương châm chiến lược về con người ở vùng giáp ranh là trụ bám tới cùng. Nó vừa biểu hiện ý thức tự giác trong mỗi chiến sĩ cán bộ tiểu đoạn 10 , vừa là quân lệnh, biến thành nghị quyết của đảng bộ. Mỗi một chiến sĩ chiến đấu ở truyến trước, chửa chủ lực, nửa địa phương, đã thông thạo đồng đất vùng giáp ranh, và đường về các xóm ấp đồng bằng không phải dễ kiếm như cây trên rừng. Đành răng, ai chả biết trên trục đường giao liên Trường Sơn, quân đi như nước chảy từ Bắc vào Nam. Nhưng con đường rẽ để đưa họ vào vị trí chiến đấu chia thành hàng trăm nhanh nhỏ. Đâu cũng cần tới sức người. Và đâu cũng quan trọng. Thành thử , để có được một anh bộ đội biết mặc quẩn đùi , đi dép, đầu trần, cơm gạo ăn mỗi bứa phải tính bằng một phần mấy của loong ( mỗi loong là hai lạng rưỡi ), ăn được môn vót, môn thục và ứng chiến được hàng chục kiểu đánh với tụi lính ngụy, là một tài sản quý cho những đơn vị trụ bám vùng giáp ranh. Sau tháng, những anh bộ đội tân binh được huấn luyện ở hậu phương miền Bắc nếu đem so sánh đối chiếu giữa bài bản trường lớp và thực tế của chiến trường chỉ còn là câu chuyện đáng buồn cười cho những anh cán bộ khung huấn luyện. Nếp sinh hoạt của những người lính sống ở vùng giáp ranh buộc họ phải tuân thủ theo một quy định riêng, khác với những người lính quen sống trong các trung đoàn, sư đoạn chủ lực. Lính giáp ranh phải quen với môi trường mới, tạo ra một cách sống mới. Địch ở cách anh có vài ba trăm mét, hãy coi chừng ! Hãy nhìn những người lính cũ làm và bắt chước mau lẹ. Anh vô ý gây ồn nơi hậu cứ ư? Những quả pháo điểm, cối điểm sẽ nhắc thay cho cán bộ. Và chỉ vài phút sau pháo cối đã dọn sẵn tọa độ nện thẳng vào đấy. Những người lính địa phương trụ bám vung giáp ranh liên tục bị tiêu hao. Bộ đội tân binh của Quân khu bổ sung nhỏ giọt. Những gương mặt chiến sĩ mới nhận về, chỉ sau vài chuyến xuống đồng bằng, tham gia một hai trận đánh họ đã trở nhành những anh lính cựu. Cả một tiểu đoạn chỉ có chừng hơn một trăm ba chục tay súng. Đến ngay như đại đội 1, đơn vị chủ công của tiểu đoàn, huy động và trận đánh phục kích này cũng chỉ còn hơn ba chục tay súng. Nhàn ngồi vấn thuốc hút và nhìn từng gương mặt của cácn bộ, chiến sĩ. Hai ba người cụm lại thành từng nhóm tranh thủ ăn phần cơm bọc trong những túi ni-lông. Trong mối quan hệ với chiến sĩ đại đội 1, Nhàn thân quen quá. Trừ vài chục tân binh mới được đưa về đầu năm, còn hầu hết anh em không mấy ai kêu anh bằng "thủ trưởng". Chính Nhàn cũng có cảm giác lạ tại, khó chịu khi các cậu tân binh gọi anh bằng cái tên ấy. Khi vui, anh kêu "mi" , "tao" với chiến sĩ. Có lẽ cũng bởi trong cuộc sống của người lính luôn đối đầu với những trận chiến đấu, với cái đói khổ, bệnh hoạn đã xóa bớt đi phần nào sự cách bức về cương vị, cấp bậc. Nhưng điều này, thì Nhàn không thể chệ được họ: sự chấp hành mệnh lệnh. Công việc đang bàn, mặc sức cãi nhau, tranh luận. Nhưng một khi đã trở thành phương án tác chiến thì dù có phải đánh đổi bằng mạng sống, họ vẫn cứ chấp hành... Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: BloodX trong 13 Tháng Tư, 2010, 09:17:49 am Mới ngày nào Nhàn đi nhận quân ở A Vao: Toàn, Bảo, Đổng, Chí mới chỉ là lứa tân binh nhập ngũ chưa đầy hai tháng đã vào Nam để tham gia đánh Mậu Thân 1968. Đợt quân ấy mất vãn, và bây giờ họ đã là những cán bộ trung đội, tiểu đội.
Mới đây, ban chỉ huy tiểu đoàn đã họp. Thực ra chỉ có hai người: Nhàn và ông Triều, tiểu đoàn trưởng. Hai cán bộ chính trị của tiểu đoàn đang ở trên Hang Đá, bên kia sông Bồ tổ chức cho đại đội 2 và đại đội 4, gùi gạo, đạn. Ban chỉ huy tiểu đoàn quyết định cho đại đội 1 tổ chức đánh trận phục kích này với mục đích kéo trung đoàn 54 ngụy lên càn rừng nhiều hơn nữa. Như vậy, cửa rừng buộc địch phải dãn quân, đại đội 3 và lực lượng vũ trang của huyện có cơ hội về đồng bằng mua gạo cơm và đánh tụi bảo an. Mùa mưa sắp tới rồi. Cần phải có một lượng gạo dự trữ. Nhàn cùng với Phong – đại đội trưởng đại đội 1 đưa trinh sát và cán bộ trung đội đi chuẩn bị địa hình. Cán bộ, chiến sỹ đại đội 1 nghe tin đánh lớn, ai cũng hào hứng phấn khởi. Lâu nay chỉ đánh đấm lẹt xẹt. Hoặc giả những trận đánh dưới đồng bằng lại diễn ra trong đêm tối. Ít khi thắng giòn giã, tụi lính bảo an, dân vệ chỉ mới nổ mìn, chạm súng, thấy B.40, B.41 nổ váng óc, xòe lửa biết ngay gặp bộ đội K.10 đã ù té hùa nhau bỏ chạy. Tiêu diệt dăm bảy tên bảo an chẳng bõ bèn. Pháo địch quây giữa đồng, bắng chặn và y như rằng ngày hôm sau cửa rừng về đồng bằng tắc nghẽn. Những trận đánh trên rừng là cần thiết. Nhưng Nhàn không dám hé ra một điều. Lộ ra anh sẽ phải chịu kỷ luật. Thân thiết với Phong và Hảo – hai cán bộ cấp trưởng của đại đội, Nhàn cũng đành ngậm tăm. Không bao lâu nữa, cán bộ chiến sỹ tiểu đoàn 10 sẽ bổ sung lực lượng cho huyện và xã. Tiểu đoàn 6 hoạt động bên Phong Quảng cũng xóa phiên hiệu để tăng cường người cho hai huyện. “Tin mật” ! Ông Triều và ông Đang – chính trị viên tiểu đoàn – nhận điện ngồi ngẩn ngơ trong hầm cơ yếu một hồi lâu, nhìn nhau ứa nước mắt. KHông ai tin được một tiểu đoàn có mặt sớm, đánh ngụy , rồi đánh Mỹ trên một dải đất dài rộng của sáu huyện Thừa Thiên, địch chạm mặt đã ngán, bây giờ không còn phiên hiệu nữa. Cả bốn cán bộ cao nhất của tiểu đoàn còn chưa tin chuyện giải thể K.10 về địa phương là thật. Tiếp theo là sự bất mãn, bực bội. Ông Triều và ông Đang cùng với tổ trinh sát vượt đường 12 về trung đoàn. Họ chỉ nhận được một câu trả lời: Đây là lệnh của Tư lệnh Quân khu. Hai người ở lại quán triệt nghị quyết thêm nửa tháng mới về. Không còn hồ nghi gì thêm nữa. Tăng cường bộ đội chủ lực cho tuyến huyện, xã đã trở thành một nhiệm vụ cấp bách để vùng giáp ranh khả dĩ còn có chỗ đứng chân. Cuộc tổng tiến công vào mùa xuân năm 1968, các đơn vị địa phương hao hụt quân số quá lớn. Việc rút trực tiếp thanh niên đồng bằng để bổ sung cho đội công tác xã và đội biệt động huyện trở nên khó khăn. Địch cũng tăng cường đôn quân, bắt lính, tìm mọi phương cách giữ thanh niên. Những đợt vũ trang tuyên truyền về đồng bằng của lực lượng cách mạng không dễ. Tổ chức các mũi quân như một trận đánh. Nếu không chạm địch, vào được làng cũng chỉ làm việc với cơ sở và đồng bào không quá ba tiếng để còn kịp gùi cõng gạo cơm lên rừng, sợ trời sáng. Và không phải đêm nào cũng về được dân. Một trăm tám mươi phút không đủ sức thuyết phục đám thanh niên cũng như các bậc cha mẹ dù họ có cảm tình với cách mạng, có người thân tham gia cách mạng, đi tập kết ở miền Bắc. Vả lại, nỗi hoảng sợ địch trả thù sau cơn sốt Mậu Thân vẫn còn ám ảnh nặng nề. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: BloodX trong 13 Tháng Tư, 2010, 12:56:34 pm Lực lượng thanh nhiên đồng bằng đưa lên nhỏ giọt không đủ cấy vào số du kích xã, biệt động huyện, cơ quan huyện ủy, huyện đội, kinh tài huyện, đường dây…bị hi sinh trong những chuyến đi công tác và đánh địch ở đồng bằng.
Người – vẫn là con người tiếp sức nuôi sống cho cuộc chiến đấu. Và chắc chắn không có một người chiến sỹ miền Bắc nào khi cất lời thề, tuyên thệ dưới cờ để lên đường vào Nam, anh ta biết trước rằng, một ngày kia, mình sẽ trở thành anh du kích xã… Nhưng họ là người lính và chiến trường đang gọi. Ngay Nhàn cũng cho rằng: Công việc của huyện xã, lực lượng của huyện, xã sẽ do người địa phương đảm trách. Mắc mớ chi tới mấy anh lính chủ lực? Nhưng mệnh lênh là mệnh lệnh ! Ông Triều bảo vậy. Còn thắc mắc nay mai sẽ có phái viên của tỉnh về tổ chức học tập nghị quyết của khu ủy, tỉnh ủy. “ – Đến tôi học cả nửa tháng mà chưa thông, ông Nhàn ạ. – Giọng ông Triều lộ rõ vẻ cáu kỉnh – Mấy ông biểu, lực lượng của chúng ta từ Quân khu xuống tới các xã bây chừ tựa như hình cái nón dựng ngược. Chủ lực miền, chủ lực khu, các trung đoàn, sư đoàn thì mạnh. Xuống đến tỉnh, huyện, lực lượng nhỏ lại và xuống đến cấp xã lực lượng teo tóp thành cái chóp nón. Nhỏ xíu. Tôi điên tiết, nổi khùng: “-Răng các ông không đưa quân đánh sấn về như kỳ Mậu Thân ấy? ”. Trung đoàn trưởng vỗ vai mình: - Cậu đẻ ra lính hả ? Đẻ được ra súng đạn hả ? - Rứa sinh ra cấp “côi” để mần chi ? - Cậu quên rằng mình đang phải đối đầu với già nửa triệu quân Mỹ và chư hầu. Và chừng ấy nữa lính ngụy. - Hừ… Nhàn ơi ! Mình không thể nào tin nổi điều đó, anh Triều ạ… Chỉ có đánh thôi. Đánh để cho trung đoàn, cho Quân khu biết rằng K.10 vẫn là một quả đấm mạnh của vùng cánh bắc Huế. Và Nhàn đã nhận lãnh trách nhiệm chỉ huy trận đánh phục kích với đại đội 1. Biết đâu, đây chẳng là trận đánh cuối cùng của anh chia tay những người cán bộ, chiến sĩ của đại đội chủ công; nơi anh đã từng gắn bó máu thịt với họ trong những ngày đánh địch ở Phú Vang, ở trong lòng nội đô Huế hơn một năm về trước ? Phong vẫn chưa an tâm. Anh cho mời hai trung đội trưởng và tiểu đội trưởng súng cối thống nhất lại phương án đánh đich. Không ai có ý kiến gì. Bở từ sáng đến giờ, thời gian đủ để cho họ mường tượng ra diễn tiến của trận đánh ngay trong thực địa. Toàn nói một câu lấp lửng: - Tôi e tốn hai vắt cơm, anh Phong, anh Nhàn ạ… Biết đâu tụi nó chuồn ra ngả đường 12 thì hết hơi. - Nếu bể dĩa ở đây thì tập kích. – Nhàn khoát mạnh tay – Các ông về kiểm tra súng đạn, ngụy trang hầm hố cho kỹ đi. Mấy đưa trinh sát không chịu để yên đâu. Bất chợt, từ hướng đông vọng lại hai phát súng nổ ngắt quãng. Súng bắn dẫn đường. Không còn nghi ngờ gì nữa, đơn vị lính ngụy bắt đầu hành quân. Chừng mười phút sau, tiếp tục vang lên hai phát súng đáp lại. Lần này tiếng nổ xa hơn. - Tất cả về vị trí. – Phong ra lệnh cho các trung đội trưởng. Nhàn xốc dây thắt lưng và khoắc sợi dây dù đeo khẩu K.59 qua vai. Anh đi kiểm tra lại vị trí phục kích của từng tổ, từng mũi một lần nữa. Không có gì đáng ngại. Từ vị trí của các chiến sỹ đại đội 1 hướng xạ kích của họ có thể bao quát được phần lớn bãi ngụy. Tổ chặn đầu, tổ khóa đuôi đều được bố trí bằng hai khẩu B.40, mỗi khẩu tới tám quả đạn. Nhàn dựng lại bên Cường, trung đội phó trung đội 3. - Cường này, chừng nào toán đi đầu tới gốc cây dẻ kia mới bắn đấy nhé. – Nhàn cẩn thận chỉ vào gốc cây dẻ khô nằm phía bên kia bãi ngụy. Anh quên đây là lần thứ ba anh nhắc Cường điều đó. - Em biết rồi mà. – Cường khẽ gật đầu. - Phát B.40 của cậu sẽ là hiệu lệnh phát hỏa cho cả đại đội đấy ! - Em sợ tổ của Lợi không diệt gọn tiểu đội đi đầu. Anh côi thử cần tăng cường người cho Lợi không ? – Cường băn khoăn. - Không cần thiết ! Vả lại rút người ở đâu bây giờ ? Cứ đánh theo hợp đồng ! – Nhàn quyết định. Khẩu cối 60 của đại đội đặt kề bên tổ mối. Loại cối bắn ứng dụng không có bàn đế. Trong hố cá nhân đào theo hình trong, Thản sắp hai chục quả đạn ngay ngắn trước mặt. Những ngòi nổ sáng lóa ánh đồng vừa mới được thao ra khỏi ống bảo quản, còn thơm mùi nhựa. - Nhớ điểm bắn rồi chớ ? – Nhàn ngồi xuống đặt tay lên vai Thản. - Nhớ rồi thủ trưởng ạ. - Bắn năm đến bảy quả cấp tập, nhiệm vụ của cậu là chia cắt đội hình địch. – Nhàn nhắc lại phương án tác chiến – làm sao cho tụi phía sau bật trở lại để bộ phận xung lực tiêu diệt gọn tụi địch đã lọt vào bãi ngụy – Chợt Nhàn hỏi – Từ đây đến mép bãi ngụy kia cậu ước tính bao nhiêu mét ? - Bảy mươi nhăm mét. – Thản đáp không đắn đo. - Đúng đấy ! – Nhàn nheo mắt ước lwongj. - Em đo được một trăm lẻ chín bước chân mà lại. - Ờ… Câu nói của Nhàn bị cắt đứt bởi hai phát sung vang lên bất ngờ. Tiếng nổ nghe đã gần. Nhàn nhìn Phong. Ánh mắt họ gặp nhau qua một thân cây đổ ngang. Nét mặt Phong không có một phản ứng. Anh ngồi quỳ một gối xuống đất, bình thản rít điếu thuốc. Theo như phân công, Phong sẽ chỉ huy toàn bộ số xung lực của đại đội. Nhàn nắm khẩu cối 60 của Thản, bắn chặn. Thêm hai phát súng của toàn lính ngụy đi đầu bắn dẫn đường. Chỉ giây lát sau, phía đầu bãi ngụy đã thấp thoáng bóng tổ trinh sát đang chạy về. Năm chiến sĩ trinh sát của tiểu đoàn cắt băng dọc theo bãi ngụy về phía Nhàn. Bảo nhảy qua canh cây ngụy trang vào trong công sự. - Anh Nhàn ! Địch tới . Chùng nó còn cách đây ba trăm mét. - Được rồi ! Cho hai đứa ở lại đây với anh. Còn em dẫn một tổ chi viện cho tổ của Lợi tiêu diệt tiểu đội đi đầu. Nhàn phất mảnh vài trắng ra hiệu cho Phong. Cả tuyến đã nhận được lệnh sẵn sàng chiến đấu. Không gian yên ắng đến bất ngờ. Từ lúc tiếng súng nổ đợt hai, bây chim rừng đang tranh nhau ăn qua dâu đã hốt hoảng bay đi. Dường như lũ chim chọc cũng linh cảm được trận chiến sẽ nổ ra nơi đây trong chốc lát. Bây ve vừa mới đây còn cất giọng hát râm ri tự nhiên im bặt. Gió lùa trên lá cây xào xạc. Chỉ có loài quạ là đánh hơi nhanh nhạy mùi xú uế. Một con bay cắt ngang khoảng trống, màu lông đen in đậm như một vệt mực quét lên trên nền da trời màu xanh ngọc. Sáu tên lính ngụy xuất hiện đầu tiên ở đầu bãi ngụy. Chúng hành quân theo đúng con đường trục mà tổ trinh sát của Bảo vừa về. Tiểu đội lính ngụy đi trước dọn đường chủ quan. Hầu như đich không thèm dòm ngó xung quanh, hàng một nối đuôi nhau đi về phía cuối bãi đóng quân. Một tên chĩa khẩu AR.15 bắt lên trời hai phát súng báo hiệu cho đội hinh đi phía sau. Tên lính đi đầu súng khoác ra đằng sau vai, tay cầm con dao Mỹ nhở bản . Lưỡi dao sáng phản chiếu anh mặt trời lấp loáng. Phong nhìn thấy rất rõ những bộ mặt đỏ gay, nhễ nhãi mồ hôi của đám lính ngụy. Những chiếc mũ sắt nặng nề chụp ra ngoài vỏ nhựa. Ba lô căng chật, nhằng nhịt dây nhợ. Thằng lính đi sau còn đeo thêm cả chiếc xong nhỏ. Phong nhìn sang “tổ mối”. Mắt Nhàn hơi nheo lại, gương mặt người tiểu đoàn phó căng thẳng. Khẩu K59 Nhàn cầm sẵn trên tay, chĩa nòng ra hướng mục tiêu. Chỉ giây lát nữa thôi trận đánh sẽ bùng nổ. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: BloodX trong 13 Tháng Tư, 2010, 07:27:56 pm ...tuyệt nhiên trong con người Phong không hề xảy ra sự xáo trộn lớn. Bản năng của người lính chiến đã rèn luyện cho anh sự điềm tĩnh, đôi khi đến lạnh lùng. Nhìn từng khuôn mặt của các chiến sĩ đang nằm yên trong hố cá nhân, nép sau những gốc cây làm vật che chắn, anh dường như hiểu được tâm trạng của từng người. Toàn cầm ngang khẩu AK tỳ trên bắp vế một chân quỳ như chuẩn bị tư thế xung phong. Cường ở đăng xa thỉnh thoảng lại nhìn Phong. Quý tiểu đội trưởng đã giương sẵn khẩu B40, lấy thân cây đổ làm bệ tỳ cho súng. Họ là những chiến sĩ đã quen với việc đánh đấm. Những tân binh như Mộc, Thọ, Tốt ... lần đầu tham gia một trận đấu quy mô có vẻ nóng ruột, phấp phỏng hơn. Trong khi đó cậu Thản, tay phải cầm sẵn một quả đạn cối đen sì, nhìn Phong khẽ nhoẻn cười, tỏ vẻ chắc thắng, tình huống địch xả ra y như tập trận thế này.
Sáu tên lính ngụy đi tới cuối bãi dừng lại. Chúng đặt súng xuống mép công sự và hạ ba lô. Nắng chói chang, nhưng chúng không dạt vào bóng cây. Có thằng cởi phanh áo để lộ bộ ngực cháy nắng đỏ như cua luộc. Phía ngoài rừng chợt vang lên hai phát súng. Ánh mắt của Phong và Nhàn gặp nhau: " Đại đội địch đã tới" ! Đội hình địch đi sau tiến nhanh vào bãi ngụy trống trải. Chúng tin tưởng ở tiểu đội đi đầu. Tràn vào bãi, địch dồn cục cả lại, không còn đi theo hàng một như khi hành quân trong rừng. Thằng sĩ quan chỉ huy đại đội lính cỡ ngoài ba mươi tuổi, tiến vượt lên trước cất cao giọng: - Trung đội một, trung đội hai về vị trí cũ - Hắn nói giọng Nam Bộ, nặng - Đá đâu ? ... Bắt sóng gọi trung úy Vi dồn nhanh đội hình, lẹ lên. - Dạ. Tên lính thông tin đeo chiếc máy PRC.25 truyền lệnh ngay vào tổ hợp. Hai trung đội địch tản ra theo hai hướng. Tiếng nói, tiếng gọi nhau ồn ào. Nhàn nhìn Phong và giơ cao chiếc khăn trắng. Bốn trsi B40 nổ dữ dội, trùm lên thành bốn quầng lửa. Khói bụi đen kịt cuốn bốc cao. Mấy chục khẩu AK nổ giòn giã. Phong ném liền một lúc hai tría thủ pháo vào đám lính ngụy hỗn độn ngay trước mặt, cách anh chưa đầy hai chục mét. Một loạt tiếng nổ nữa của B40, của lựu đạn và thủ pháo. Địch co cụm dày đặc, bắn AK không đã. Thấp thoáng trong làn bụi khói, xác địch đè lên nhau. Thằng nào may mắn thoát chết đều chạy dạt vào đám cây rừng, phía bên kia bãi đất trống. - Xung phong ! - Phong hét to. - Xung phong ! Xung phong ! ... Xung phong... Tiếng hét vang lên chen trong tiếng nổ. Trừ khẩu cối của Thản gióng giả cắt đội hình phía sau của địch, những người lính bộ binh kể cả Nhàn đều xông ra bãi tráng, nơi xác lính ngụy đổ ngổn ngang, kêu la. Hai trung đội địch lọt vào ổ phục kích chết vãn. Tên sĩ quan chỉ huy và tên lính thông tin nằm đè lên nhau. phong lột luôn khẩu côn và mớ giấy tờ trong túi áo ngực của thằng chỉ huy. Nhàn đến chỗ Phong. - Phong ! Thu nhanh vũ khí và ba lô. Năm phút nữa cho bộ đội rút. - Lượm sao hết ba lô ? Lấy gạo thôi anh Nhàn ! Phong trông thấy Cường tay cầm khẩu B40, trên lưng đeo bốn khẩu AR15. - Khẩu nào gãy, vất đi Cường - Phong gọi to - Tông đâu ? Đổng đâu ... Chuẩn bị cho bắn ĐK. "ĐK" là mật hiệu rút quân khỏi trận địa. Hai mươi phút từ lúc nổ súng, chưa hề thấy pháo địch bắn trả. Trung đội địch bị cắt lại phía sau cũng chỉ kịp thời phản ứng bằng vài loạt AR.15. Những trái đạn cối 60 đã tạo thành bức màn sắt vây bọc? Mà cũng có thể địch khiếp sợ bởi trận phục kích diễn ra quá bất ngờ ? Toàn bộ đội hình của đại đội 1 rút về tới bờ Khe Điên mới nghe thấy tiếng pháo bắn ở ngoài khu vực bãi ngụy. Địch bắn pháo cấp tập. ( Hết phần I ) Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: BloodX trong 13 Tháng Tư, 2010, 09:26:18 pm Hai
Phó ban chính trị tỉnh đội Thái Long là người trên năm mươi tuổi, gốc dân Huế. Ông tập kết ra Bắc , rồi đi học và có thời dạy văn ở trường phổ thông cấp ba Chu Văn An, Hà Nội. Năm 1963, ông trở lại quân đội. Có học vấn văn hóa, là cán bộ chính trị viên phó tiểu đoàn, Thái Long được trên rút về công tác ở ban chính trị "công trường V", sau chuyển về tỉnh đội. Thái Long về K10 đã được hơn một tuần và cùng ban chi huy tiểu đoàn tổ chức đợt học tập chính trị với chủ đề " Quán triệt và thực hiện di chúc thiêng liêng của Hồ Chủ Tịch". Đại đội 1 được điều lên chân Dốc Đoác để nhận nhiệm vụ mới. Đội hình gọn nhẹ, đường thông suốt, chưa đến một ngày hành quân đơn vị đã tới địa điểm trú quân. Vùng quanh chân Dốc Đoác không có địch. Đêm ấy anh em chiến sĩ đại đội 1 đổ ra con suối Đá trước hậu cứ đi chém cá, soi cua trong lúc ban chỉ huy đại đội được tiểu đoàn mời lên báo cáo tình hình đơn vị và nhận kế hoạch. Mười ngày dành cho đại đội vừa nghỉ ngơi củng cố đơn vị, vừa học tập quán triệt nghị quyết. Một ngày trời, ông Thái Long lên lớp chính trị phân tích cho những người lính nghe tình hình địch - ta, cuộc đấu tranh trên trường quốc tế và đặc biệt là diễn tiến của cuộc hòa đàm Pa ri. Rốt cục lại, ông vẫn dành cho việc lý giải cái thế mang tính chiến lược hiện nay ở chiến trường là việc bố trí lực lượng giữa quân chủ lực và quân địa phương đang sa vào tình trạng "hình chóp nón lộn ngược". Rằng các trung đoàn, sư đoàn chủ lực là những "quả đấm thép" mạnh, trong khi lực lượng vũ trang cấp xã, huyện từ sau cuộc tập kích chiến lược mùa xuân 1968 đang bị teo tóp dần. Ông nói giọng Huế, pha chất giọng Hà Nội, cách diễn đạt vừa gọn, vừa xúc tích chậm rãi và biểu hiện cảm xúc trong từng lời nói. Những người lính giải phóng ngồi trên các thân cây, chăm chú lắng nghe, súng AK tựa vào vai. Đã lâu lắm, họ mới có được cuộc gặp mặt đông đủ thế này. Đầu óc thư thái, không phải lo nghĩ tới chuyện đi chốt gác, đi đồng bằng kiếm gạo ...Trung đội chinh sát của tiểu đoàn, có nhiệm vụ lùng sục bảo vệ hậu cứ cho những người lính bộ binh đại đội 1 yên tâm học tập. Che phủ bởi vòm cây lá xanh, tít trên trời cao vọng lại tiếng may bay trinh sát VO.10. Lâu lâu, lũ máy bay trực thăng phành phạch lượt ngang qua đầu lên chi viện cho sư đoàn kỵ binh bay số 1 đang càn ở Dốc Chè, Núi Bông. Những chiếc H34 vuông vức như một toa tàu lững thững bay qua. Lâu lâu, pháo địch bắng lên từng đợt, đạn nổ khu vực địa đạo 310, điểm cao 360, Khe Trái...Dốc Đoác lọt thỏm trong tầm hỏa lực của pháo 105 ly, 175 ly của địch. Cứ mỗi lần máy bay trực thăng bay qua hay pháo bắn, tiếng đạn cắt gió rít trên đỉnh đầu, ông Thái Long đều dừng lại, hơi giỏng tai nghe ngóng và chờ đợi tiếng nổ. Gương mặt những người lính bình thản hơn. Họ đã quá quen và thậm chí nghe đường đạn pháo bay còn đoán định được hướng nổ. Đại đội phó Tam được phân công phụ trách đơn vị học tập sáng nay. Anh nguyên là chuẩn úy, phong quân hàm từ ngoài Bắc khi đang ở khung huấn luyện sư đoàn 330. Tam được điều về đại đội 1 trước chiến dịch Mậu Thân, đầu tiên giữ chức vụ trung đội trưởng trung đội 3. Bảy tháng sau, đại đội phó Nguyên hy sinh trong chuyến đi đồng bằng đánh về Bồn Phổ. Tiểu đoàn đưa Tam lên thay cương vị ấy. Tam đánh giặc không xuất sắc, chưa có một trận đánh nào chứng tỏ Tam có tài chỉ huy. Nghe lính B3 đồn đại, Tam nhát gan và tính nết đối với anh em cũng ít cởi mở. Nhưng xét ra Tam lai là người có quân hàm cao nhất đại đội. Phong, chính trị viên Hảo, chính trị viên phó Ban, ba người cấp bậc quân hàm mới thượng sĩ. Tam hậm hực vì chuyện đó. Hậm hực như vậy thôi, thực tình Tam cũng chẳng thiết tha với cương vị đại đội phó hiện nay, Tam nghĩ có làm ông tá, ông tớng mà phải sống chui lủi trong rừng, giưo lưng hứng chịu bom pháo của địch nện như giã gạo cũng không bõ. Gần hai năm chung sống với người lính bộ binh ở một vung giáp ranh, Tam cũng đã ớn đến tận cổ. Ngồi học trong lớp học, Tam không hề có một biểu hiện trên nét mặt. Những điều ông Thái Long trình bày, anh chỉ nghe câu được câu chăng. Tâm trí anh để vào tiếng máy bay, tiếng đạn pháo nổ, tiếng con chim gõ kiến đang mổ vào thân cây lốc cốc. Và tiếng con suối chảy róc rách len lách qua các lèn đá dưới xa kia. Hai năm lăn lộn ở vùng giáp ranh, năm tháng tưởng kéo dài vô tận. Anh hay sốt vặt. Mỗi tháng một đôi lần. Những ngày sốt, Tam muốn kéo dài ra để anh tận hưởng bằng ký ức về những ngày còn làm anh đội phó đội sản xuất ở một hợp tác xã nông nghiệp vùng quê Kiến An. Nhờ chức đội phó sản xuất, kiêm trung đội trưởng dân quân, Tam được kết nạp vào Đảng. Tam có vợ ở quê, và hai đứa con gái. Tưởng đã được yên thân, nhưng không ngờ, anh vẫn bị gọi đi khám tuyển nghĩa vụ, rồi nhập ngũ. Đưa quân đi B, Tam hi vọng sẽ được trở ra Bắc. Anh ghé qua nhà, an ủi vợ chuyến đi này kéo dài nhất là ba tháng. Tam để lại cho vợ con bộ quân phục mới toanh. Một vài lọ thuốc bổ. Biếu thầy anh chiếc mũ cứng Trung Quốc. Chiến trường đã quấn lấy Tam và anh không sao gỡ ra nổi. Chán nản và cố gắng giấu giếm nỗi tuyệt vọng cay đắng trước những chiến sĩ, Tam vẫn phải tự tìm cách thích nghi với hoàn cảnh mới. Không thích nghi cuộc sống của anh lính vùng giáp ranh với địch, anh sẽ chết. Giữ cho được "cái gáo" là quan trọng, là còn "gáo" là còn tất cả. Tam ngấm ngầm thực hiện cho triết lý ấy. Tam phong phanh đánh hơi biết K10 giải tán bổ sung quân cho huyện, xã. Càng nghe ông Thái Long phân tích tình hình, tưng lúc anh càng tự khẳng định điều ấy là sự thật không còn hồ nghi gì nữa. Tam hìn dung ra những ngày sắp tới sẽ còn bi đát hơn cả chuỗi ngày ở K10. Dù sao đây cũng là một đơn vị bộ đội chủ lực. Có đại đội, có tiểu đoàn. Ít ra trong đội hình tiến về đồng bằng, đi trong rừng anh sẽ ở vị trí thứ năm, thứ sau, thậm chí đi cuối cùng chớ không phải là người lính đi thứ nhất. Còn một khi đã làm anh du kích, biệt động phân giới ấy chỉ là trò đùa với nhứng trái mìn định hướng hay mọt ổ phục kích. Hai năm sống nhờ cơm gạo của người dân đồng bằng, đủ để cho Tam rút ra những bài học xương máu. Tam không muốn dấn sâu thêm nữa vào nỗi cực nhọc của một anh lính địa phương bám ở tuyến đầu. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: BloodX trong 14 Tháng Tư, 2010, 11:57:42 am Chợt ông Thái Long nhìn chiếc đồng hồ Orien mặt trắng. Tam biết ý. Anh sửa lại quần áo và đứng lên, hai chân dẫm vào nhau, người thẳng như một cây gỗ. Anh dõng dạc nói to, hệt như một sĩ quan trực ban nhà nghề.
- Báo cáo thủ trưởng, đã tới giờ giải lao. Ông Thái Long hơi mỉm cười. Tiếng xì xào, ồn ã nổi lên. Tam nhắc. - Yêu cầu các đồng chí giữ im lặng. Đây là chân Dốc Đoác chứ chưa phải là Hang Đá, đường tuyến đâu nghe. - Từng cụm năm bảy người chiến sĩ tản mát quanh các gốc cây, vạt đá ngồi hút thuốc. Vây Thản “cối” là một đám gần chục người. Thản rê chiếc điếu cày đi tới đâu, mọi người à theo tới đó. Thản đưa chiếc điếu cho ông Sủng. - - Ưu tiên bố “già”. Tụi con “kính lão đắc thọ” nghe bố. - Thuốc ? – Ông Sủng hỏi. - Ở nhỉ … Có đây ! Thản móc từ trong cái túi áo một bọc ni lông nhỏ, chậm rãi mở gói. Cậu ta muốn cố ý kéo dài nỗi thèm của những chàng nghiện thuốc lào đã lâu không được hút. Đây là thứ thuốc lào trồng ở miền Nam, sợi đen, Thản vớ được trong một ba lô ngụy, chiến lợi phẩm sau trận phục kích. Thản vê từng điếu phát cho mỗi người và dõng dạc tuyên bố: - Còn một hiệp nữa. Để sau bữa cơm trưa. Sủng hút trước tiên. Hai má lõm sâu. Ngọn lửa cháy bập bùng liếm vào từng sợi thuốc. Chiếc điếu cày sôi lên đành đạch. - Thôi chứ “bố” Sủng ! Coi chừng “bố” rít hung quá vỡ mất nõ điếu. Chiếc điếu cày lập tức được chuyền sang tay người khác. Ông Sủng ngửa người tựa lưng vào gốc cây dẻ khoan khoái thở ra một dòng khói trắng đục. Đôi mắt đờ đẫn. - Ơ … Bố “già” say thuốc tụi bay ơi ! - Hừ… - Sủng cười, để lộ chiếc răng vàng – Ăn thua đếch gì. Còn thua thuốc lào Tiền Hải quê tao. - Thứ này phải gọi thuốc Vĩnh Bảo bằng “cụ”. - Nhưng mà rít một hơi đã nghiền cũng vui, phải không Thản “cối”. - Tất nhiên rồi. Chả bù cho bữa trước phải đi lượm mấy mẩu thuốc thừa gom lại hút. – Thản đáp, và ráng rít cho đến khi nhùm thuốc trên nõ điếu cháy chỉ còn trơ tàn. - Vui nhỉ. Các cậu kiếm mô ra thuốc lào ? – Ông Thái Long đã đên sau lưng hội “hút thuốc lào” từ bao giờ. - Dạ… Thủ trưởng biết hút thứ này không ? – Sủng đỡ lời. - Răng không biết ! – Ông Thái Long cười cười – Vợ tớ dân Hải Phòng mà lại. Cho mình một điếu nào. Thản nhanh nhẹn móc bao thuốc hào phóng mời thủ trưởng tỉnh đội. Những người chiến sĩ ngồi xung quanh cũng chẳng từ nan, véo mỗi người một điếu. Suất thuốc dành cho sau bữa cơm trưa đã được kết thúc sớm hơn dự định. Ông Thái Long phải rít mấy lần mới hết điếu thuốc lào khá nặng. Lát sau, đến lượt ông mở bao dù lấy ra hai gói “Tam Đảo” bao bạc. Ông rút từng điếu chia cho mọi người. Còn chừng hơn một bao, ông gọi Tam lại và dặn anh đem chia đủ cho tất cả anh em trong đại đội. - Đồng chí được mấy cháu. – Chợt ông Thái Long vỗ vào vai Sủng. - Dạ, báo cáo thủ trưởng tôi sáu cháu ạ. - Thưa thủ trưởng ! – Thản chen vào – “Bố” Sủng của chúng em còn ở nhà với “bu nó” thì chắc chắn bây giờ phải tám cháu ạ. Đám chiến sĩ cười ồ. - Cậu bao nhiêu tuổi mà đông con dữ vậy ? – Ông Thái Long mỉm cười hỏi Sủng. - Dạ thưa thủ trưởng. Em đến tháng tư này là bốn mươi hai tuổi ạ. - Trước khi đi bộ đội đồng chí làm nghề gì ? - Dạ, em làm ở công ty vệ sinh, còn vợ con em làm ruộng. - Kinh tế có đủ nuôi các cháu không ? - Cũng túng lắm thủ trưởng ạ… - Sủng gãi tai. Ông Thái Long im lặng một lát. Vầng trán của ông hơi nhíu lại hằn lên những vết nhăn. Giọng ông khẽ khàng nói với những người lính đang ngồi vây quanh ông, như thể nói với bạn bè… - Cuộc chiến tranh ở đất nước mình phải huy động sức người, sức của quá lớn phải không ? Không những trai tráng ra trận đã đành. Người có tuổi, miễn là cầm được súng, chân leo được Trường Sơn là đều có thể trở thành chiến sĩ vệ quốc. Những ngày đầu vào bộ đội đánh Pháp, tôi cũng trẻ như ri – Ông Thái Long chỉ vào Thản. - Cả phụ nữ nưa chớ thủ trưởng… Một chiến sĩ trẻ nói chen vào. - Phải, cả phụ nữ… cả ông già, bà cả, con nít đều được huy động vào cuộc chiến đấu. Tam hỏi thăm dò: - Thưa thủ trưởng, tôi hỏi thế này không phải, xin thủ trưởng bỏ qua. Nghe nói cấp trên định phân tán K10 về địa phương phải không ạ ? Ông Thái Long nhìn Tam trong giây lát. - Chút nữa, tôi sẽ trình bày cho các đồng chí nghe chủ trương của Quân khu, của tỉnh đội…Nhưng xin hỏi các đồng chí một câu: Nếu phân công đại đội 1 tăng cường quân số cho huyện các đồng chí nghĩ sao? Thôi nhé, anh Tam xin miễn trả lời, tôi hỏi đồng chí này. Ông Thái Long chỉ vào Sủng. - Thưa thủ trưởng, tôi là một đảng viên, Đảng bảo sao tôi chấp hành mệnh lệnh nghiêm chỉnh. Ông Thái Long ngắt lời: - Tôi muốn hỏi điều này cơ. Đồng chí thấy chủ trương như vậy đúng hay sai ? Và có nên không ? - Những điều thủ trưởng phân tích cho anh em tôi, nghe thấy có lý. Tụi tôi sẵn sàng về chiến đấu ở xã, ở huyện. Nói đúng ra là làm quân xã, huyện … - Đồng chí còn e ngại điều chi? – Ông Thái Long động viên. - Cấp trên phải đả thông cho xã, huyện đừng mặc cảm với anh em bộ đội và coi anh em bộ đội như người địa phương mình. - Anh nói điều đó xem ra khó đó nghe, anh Sủng. – Thản ngắt lời Sủng. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: BloodX trong 06 Tháng Sáu, 2010, 09:57:41 pm - Tại sao khó hả đồng chí ?- Ông Thái Long nhìn Thản. Rồi ông nói tiếp: - Tôi là một đứa con của Huế, chín năm đánh Pháp xong tôi ra tập kết. Đồng bào miền Bắc cưu mang tôi. Có những bà mẹ nhận tôi làm con nuôi. Vợ tôi người Bắc. Vậy lẽ nào các đồng chí từ các nẻo quê hương miền Bắc vào đây chiến đấu, chính quyền địa phương các cấp lại có thể có thái độ phân biệt. Máu của chiến sĩ ta đổ ra vì sự nghiệp giải phóng miền Nam đều cao quý như nhau. Người chiến sĩ trước lúc ngã xuống trong cuộc chiến đấu chắc chắn không ai tự chọn cho mình một vùng đất để chết. Tôi nghĩ rứa đó. Và các cấp huyện, xã cũng phải nghĩ như rứa. Phải không ...
Không một ai trả lời. Họ ngồi im nghe ông nói. - Các đồng chí hãy tin tôi – Mục đích cuối cùng của Đảng, của cấp trên là làm sao mau chóng kết thúc chiến tranh, thống nhất Tổ Quốc. Ai cũng mong hòa bình đến sớm. Và, nếu hi sinh thì đó không chỉ là nỗi đau của một người vợ, người mẹ, của những đứa con mồ côi cha mà là con nỗi đau chung của Đảng, của dân tộc… Tiếng máy bay trực thăng cắt ngang trên đầu át câu nói của ông Thái Long. Bốn chiếc máy bay trực thăng bay thấp, hiện ra trên hoảng trống của tán cây rừng. Chúng tiếp tục chở quân lên miền tây sông Bồ. - Báo cáo thủ trưởng, đã đến giờ lên lớp. Xin mời đồng chí tiếp tục làm việc. – Giọng Tam rắng đanh, đầy vẻ trân trọng. Ông Thái Long đứng dậy: - Cám ơn đồng chí, đồng chí mời anh em vào lớp. * * * Cuộc họp đảng ủy tiểu đoàn mở rộng đã bước sang ngày thứ hai. Và xem chừng gay go khi bàn bạc trao đổi về nhiệm vụ cụ thể của các đại đội. Ngoài số đảng ủy viên của tiểu đoàn, cấp trưởng của các đại đội đều được mời dự họp. Khi tiểu đoàn trường Triều công bố lệnh giải thể tiểu đoàn giao cho huyện đội thì phản ứng của các cán bộ đại đội nổi lên. Mũi nhọn công kích xuất phát từ Phong và Hỉ – chính trị viên đại đội 3. Hảo – chính trị viên đại đội 1 và Quý đại đội trưởng đại đội 3, dè lời hơn và thường nêu những khó khăn về phương thức tác chiến. Chính trị viên kiêm bí thử đảng ủy tiểu đoàn Trần Đang ngồi ghi lại hết các ý kiến. - Việc giải thể K10 chứng tỏ cấp trên không tin chúng tôi – Phong nói gay gắt – Phải chăng “K” ta đánh kém sút hơn so với kỳ “ Mậu Thân” ở Huế. Mà kém sút là đúng. Điều kiện chiến trường của K ta khi còn ở Phú Vang, Quảng Điền, những năm 1965 – 1966 và dạo Mậu Thân khác với bây giờ. Ngày đó chúng ta có đất, chúng ta có dân, có vùng giải phóng hẳn hoi. Bộ đội sống trong dân. Ban ngày địch đổ quân càn. Chúng ta đánh càn. Các làng ấp ban đêm là của ta. Bộ đội còn biết hơi ấm của cái giường, biết miếng canh cá của đồng bào nấu cho ăn mỗi bữa. Còn bây giờ ? Hai năm nay thử hỏi K10, K6, K4 … và thậm chỉ cả hai đại đội đặc công của tỉnh có đơn vị nào về bám trụ nổi ở đồng bằng lấy hai ngày. Chỉ cần nghe có bộ đội về làng, y như rằng phi pháo, trực thăng đổ quân đến quây quét. Các đơn vị đều bị đánh bật lên xanh, bám vào giáp ranh cũng chỉ có một số lượng ít ỏi. Chúng ta đánh kém là phải. Bị cấp trên phê phán , chỉ trích là đúng. Các đơn vị lo kiếm miếng ăn đã vất vả chứ đừng nói chi tới đánh địch. Lỗi tại ai ? Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: BloodX trong 08 Tháng Sáu, 2010, 11:20:58 am - Rồi sao nữa, cậu nói tiếp đi Phong…- Ông Triều cười khẽ và tiện tay rút một điếu Rubi xanh châm hút.
- Tôi khẳng định, bộ đội K10 không đánh giặc kém. Bằng chứng là C1 đánh trận tập kích ở bãi ngụy dưới chân Chóp Nón vừa qua, bộ binh của chúng ta vẫn đủ sức chiến đấu và có khả năng tổ chức những trận đánh lớn. - Không ai phản đối ý kiến của đồng chí Phong.- Ông Thái Long ngồi bó gối nghe Phong nói một cách chăm chú. - Vậy, thưa các đồng chí, không lẽ gì chúng ta chấp nhận phương án giải tán tiểu đoàn. Tôi xin quả quyết, chỉ cần giao những chiến sỹ ưu tú của chúng ta cho huyện, cho xã chỉ chưa đầy sáu tháng sau chúng ta sẽ mất quá nửa số chiến sỹ ấy…Không…Không nên, tôi đề nghị các anh điện lên trung đoàn, điện sang tỉnh, lên Quân khu đừng giải tán K10. Tiểu đoàn ta có truyền thống đánh giặc trên mảnh đất Thừa Thiên cả chục năm nay. Đồng bào ở đây nhắc đến K10, K4, K6 ai mà không biết. Không khí trong căn hầm ắng đi một hồi lâu. Giọng Phong thống thiết quá, và hình như anh xúc động. Mọi người đều thấy anh đưa tay lên chùi khóe mắt, giọng đứt quãng. Điều Phong nói là sự thật. Và người hiểu rõ những điều anh nói ở đây hơn ai hết là ông Triều, là Hảo , là Quý, là Ban, là Hỉ … và cả ông Thái Long. Những người lính kỳ cựu của K10 từ ngày tiểu đoàn mới thành lập mang số hiệu 801, thời ấy ông Tư Hiền – phó ban tác chiến của quân khu bây giờ - mới còn là anh tiểu đoàn trưởng, mặc quần đùi vác tôm-xông chỉ huy lính K10 vượt phá Tam Giang về giải phóng vùng cát Phú Vang. Phá toang những làng xanh ở Phong Điền, Quảng Điền nối thông tuyến hành lang giữa vùng đồng bằng các huyện, dọc ven biển. Lần đầu tiên những lá cờ nửa đỏ nửa xanh, có ngôi sao vàng ở giữa phất phới bay trên nóc đình làng. Điều đó là sự thật ! Các cửa sổ cố đô Huế bị phá banh trong những ngày tiến công và nối dậy mùa xuân năm 1968. Địch ngán đòn phủ đầu của quân “Ông Tư”. Trên sông Hương, tàu chiến địch cháy. Những trận chăn giặc ngay cửa quán cơm Âm Phủ của mười một cô gái Huế năm trong đội hình chiến đấu của bộ đội K10. Mới hơn hai năm nay chuyện cũ đã chìm vào trong dĩ vang, chỉ còn được nhắc lại với giọng đầy phấn khích và ngưỡng mộ của cuốn biên niên sử hằn sâu trong ký ức những người lính cũ còn có mặt trong tiểu đoàn đến bây giờ. Họ kể cho lứa tân binh mới nhập cuộc chiến tích lẫy lừng của đơn vị. Các tiểu đoàn lính ngụy vốn khét tiếng dũng mãnh của sư đoàn 1 bộ binh, các tiểu đoàn “Trâu điên”, “Cọp biển”. “Cáo đen” … Giáp mặt với lính K10 còn phải sợ. Truyền thống của tiểu đoàn nuôi dưỡng những tâm hồn anh lính mới tò te, niềm tự hào được làm quân “Ông Chi”, “ông Một”, “ông Khánh Lửa”… Từ lâu đội hình trung đoàn bị xé nát ra hai cánh. Tiều đoàn , đại đội tác chiến độc lập – đấy là phong cách đánh giặc của đại đội K10 có từ lâu. Hình như ông Triều cũng khóc. Điếu thuốc Rubi tắt ngấm. Lúc ông quẹt lửa, quầng sáng phát ra từ chiếc bật lửa Trung Quốc soi tỏ đôi mắt ông đỏ hoe. - Đồng chí nào có ý kiến phát biểu, xin cứ tiếp tục. – Ông Thái Long kéo mọi người trở lại không khí của cuộc họp. Sau Phong chưa có ai lên tiếng. Trong căn hầm mái bằng rồng, kê sạp ken bằng cây đùng đình, người ngồi họp lèn vai nhau. Không khí ắng lặng tới mức nghe rõ cả tiếng chiếc bấc đèn cạn dầu kêu lật phật. Và có tiếng ai đó thở dài. - Giải tán K10 về địa phương là không đúng. – Một lúc lâu sau Hỉ nói – Chúng tôi được đào tạo từ miền Bắc vào miền Nam đề đánh giặc, làm anh bộ đội chủ lực chứ không phải để làm anh du kích… Đấy là công việc của địa phương phải đảm trách lấy lực lượng tại chỗ. Cớ chi các anh bắt bộ đội làm chuyện đó. - Nhưng huyện , xã không đáp ứng nổi yêu cầu như đồng chí đưa ra, thì tính ra răng đồng chỉ Hỉ ? – Ông Thái Long điềm đạm nêu câu hỏi. - Thì cách chức họ ! - Hỉ nói dứt khoát. Mọi người ngồi họp đang trong bầu không khí căng thẳng bỗng cười ồ. - Cách chức cả, thì lấy ai chỉ đạo phong trào. Chỉ đạo hàng loạt tuyến cơ sở mật ở vùng sâu? - Vậy tại sao ta không tổ chức đánh lớn về đồng bằng, nhân đấy bắt thanh niên đưa lên núi ? Tụi ngụy còn biết bắt thanh niên bổ sung lính. Tại sao ta không làm việc đó. Hẳn các anh còn nhớ bốn tên tù binh đại đội 1 bắt hôm rồi, hai tên trong số đó mới bị bắt vô lính chưa đầy bốn tháng. Tại sao … ? Hỉ chưa nói hế câu…ông Thái Long đã cắt lời. - Tại sao à ? Tại vì chúng ta là quân đội của nahan dân. Chúng ta cần những người lính giác ngộ lý tưởng chứ không cần một đội lính đánh thuê. Vậy đó, đồng chí Hỉ ạ…Huyện, xã kể cả tỉnh và quân khu đều mong có một lực lượng vũ trang địa phương mạnh. Và chỉ có địa phương mạnh thì chủ lực mới mạnh. Nhưng người kiếm mô ra ? Quân khu, quân ủy, Tỉnh ủy phải bàn nát nước, nát cái mới đưa ra quyết định điều bộ đội K10 về củng cố cho địa phương. Và chính lực lượng này phải bám dân gây dựng cơ sở tạo tiền đề cho việc rút thanh niên trong một khoảng thời gian ngắn. Tôi xin nói, đó là mệnh lệnh. Đúng hay sai, thời gian sẽ khẳng định. Các đồng chí và tôi sẽ tự kiểm chứng. Nhưng quyết định này là cần thiết và đúng đắn. Không có cơ sở cách mạng bám trên địa bàn các huyện, các xã thì rồi không khéo “cha con” ta không chỉ rút lên Bốt Đỏ, Hang Đá , đường tuyến đâu. Chưa biết chừng địch hất chúng ta sang đất Lào. Hiện nay địch đang càn Dốc Chè, Dốc Mèo, Núi Bông. Và năm ngoài định càn A Lưới, xe tăng, M113 tiến dọc theo đường 12 lên tới cây số 23. Đường tuyến tắc xe. Gay go biết bao nhiêu…Bài học của tiểu đoàn 439, được rút ra bằng máu về công tác tổ chức, chỉ huy và chỉ đạo cho một đơn vị chiến đấu… Các đồng chí hãy tin, không bao giờ quân khu và tỉnh có ý nghĩ óa đi truyền thống tốt đệp của tiểu đoàn 10, đứa con của đồng bào Thừa Thiên hàng chục năm nay. – Chợt gộng ông Thái Long đanh cứng – Đồng chí nào còn thắc mắc xin cứ tiếp tục đề đạt nguyện vọng. Tôi và anh Triều, anh Đang, anh Ngạn, anh Nhàn có trách nhiệm báo cáo về tỉnh xin ý kiến giải quyết . Nhưng các anh phải quán triệt nghị quyết của đảng ủy và làm tốt công tác tư tưởng cho cán bộ và chiến sỹ của đại đội mình. Vì đó là quân lệnh – Giọng ông Thái Long dứt khoát. Mọi người đều hiểu cuộc họp tới đây tạm chấm dứt. - Tôi nay đúng bảy giờ , tiếp tục họp ! Ông Đang công bố. Mọi người nối đuôi nhau bước ra khỏi căn hầm không ai nói thêm điều gì. Nét mặt người nào người nấy căng thẳng và mệt mỏi. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: BloodX trong 08 Tháng Sáu, 2010, 02:31:03 pm BA Đến bãi đá dọc Khe Diên, còn cách đường 12 chừng hơn nửa giờ đi bộ, Cường cho cả tổ dừng lại. Càng đổ về xuôi, long Khe Điên mở rộng, nhiều cát. Hai bên bờ mọc đầy dứa dại và những vạt môn ngứa.Nhóm chiến sỹ do Cường chỉ huy có ba người của đại đội 1 và hai tên tù binh ngụy bị bắt trong trận đánh tập kích địch ở bãi ngụy . Trong số bốn tên tù binh có hai tên sau lúc giải về tới hậu cứ của đại đội, lợi dung đêm tối bỏ trốn bị vấp mìn, tan xác, cách căn hầm chưa đầy hai trăm mét. Cái chết của chúng gây tác động tâm lý với hai tên còn lại. Mặc dù không bị trói nhưng suốt mấy ngày giam không tên nào dám bén mảng ra khỏi hầm. Thậm chí đi ỉa chúng cũng sợ vấp mìn. Lúc chôn cất hai tên địch chết, Phong cho người đưa hai tên tù binh còn lại ra coi mộ bạn. Chúng sợ và hứa không dám có một hành động nào chống đối “bộ đội giải phóng”!. Hai người tủ binh ngụy làm tờ khai tên tuổi, quê quán, quân hàm, phiên hiệu đơn vị và cả những điều chúng biết về đại đội 12, thuộc tiểu đoàn 3, E54. Họ là lính trơn nên cũng không giúp gì nhiều cho tin tức quân báo. Cường cho phép hai tu bình được tháo dây trói. Chúng im lặng, vẻ mặt buồn thiu, lầm lũi như hai cái bóng ngồi bệt xuống gốc cây. Hai gã tù binh, một tên đã khá tuổi, một còn trẻ. Gã lớn tuổi đầu cạo trọc, trên cằm có một nốt ruồi ro bằng hạt ngô. Một chụm lông ba bốn sợi dài quăn tít mọc ra từ mụn cứt ruồi ấy. Còn gã tù binh trẻ tuổi, trông nét mặt có vẻ ba trợn ba trạo. Tóc phủ rợp hai tai, cổ áo lính cáu bẩn. Cường nhắc hai người chiến sỹ của mình là Mộc và Tân ngồi tản rộng ra. Anh lại gần hai tên tù binh, bảo: - Các anh lấy cơm ra ăn đi. Tên tù binh trẻ tuổi nhanh nhẹn mở bọc ni lông lấy ra cục cơm vắt và gói muối lạc. Người tù binh già ngó vào khẩu súng AK trong tay Cường, ánh mắt thoáng vẻ sợ sệt. - Các ông định bắn tụi tôi? Cường mỉm cười. - Bắn các anh, mắc mớ gì phải đưa đi vất vả thế này. Ăn cơm đi, chốc nữa khắc biết. - Xin các anh, mong các anh tha cho tội chết. Em còn mẹ già con dại. Cực chẳng đã, em mới phải vô lính. Nghe gã tù binh lớn tuổi nói giọng Huế, Cường hỏi gã: - Anh quê ở đâu ? - Dạ, quê em đúng như đã trình với mấy anh trong tờ khai. Em người Hương Trà. - Hương Trà ? - Da, thưa đúng vậy. - Anh ở thôn nào ? - Dạ, em người Liễu Thượng. - Thật người Liễu Thượng không ? - Dạ, thiệt ạ ! - Anh có biết má Mừng có hai người con tên là Tâm và Minh không ? Gã ngụy binh reo lên : - Dạ, thưa anh em biết. Thím Mừng có chồng đi tập kết. Ba má con thím trốn lên núi theo cách mạng từ năm “ sáu ba”. Em là bà con xa của thím Mừng. - Vậy hả? Cường biết gã tù binh nói thật. - Này, nhà anh ở cách khu trường bao xa ? - Dạ, thưa anh chưa đầy một trăm mét… Trời ơi, khu trường luôn luôn bị mấy anh về bắn “hỏa tiễn”. - Vợ con anh còn ở Liễu Thượng ? - Dạ, ở cả đó thưa anh. Vợ em có lần bán đậu phộng cho bộ đội từ trên núi về làng. Quê em trồng nhiều đậu lắm. (Điều này gã nói càng chính xác ! Chị Tâm ngày còn sống đã đưa bộ đội về Liễu Thượng mua gạo, mua đậu phộng. Cường đã đi với chị nhiều lần ). - Lâu nay anh có nghe tin tức của chị Tâm không ? - Dạ thưa anh không ạ. ( Làm sao hắn biết được chị Tâm đã hi sinh!). - Anh tên gì ? - Dạ thưa, em tên Ngật. Trần Ngật. Em sanh năm 1930. Năm nay em vừa tròn bốn mươi. Em có bốn cháu còn nhỏ cả… Gã tù binh khai tuồn tuột lý lịch, hi vọng tìm lấy ở Cường một sự thông cảm. Cuối cùng gã buột ra nỗi lo lắng làm bận lòng trên suốt quãng đường rừng bị giải đi. - Xin các anh tha tội chết. Đừng giết em. Em còn đàn con nhỏ. - Anh khỏi lo. Chúng tôi không bắn anh đâu. Nhưng nay mai anh được thả về nhà liệu có đầu quân trở lại cho tụi ngụy nữa không ? - Trời ơi ! – Gã ngụy kêu lên – Chỉ mong còn mạng về sống với vợ con. Tụi em đâu còn ý tưởng trở lại đơn vị. - Nhưng làm sao các anh thoát khỏi tay tụi tề ngụy ở xã, ở quận. - Dạ, có cách ạ. Dù tốn bạc ngàn tụi em cũng không dại trở lại lính. - Sao vậy ? - Dạ, ở đời mấy khi gặp được điều may. - Thôi được, anh ăn cơm đi. Cường giục gã tù binh. Anh cũng ra ngồi trên tảng đá ăn nắm cơm vắt. Đường 12 đã gần lắm rồi. Cường lắng tai nghe, anh nhận ra được cả tiếng xe cahyj ầm ì. Mộc nói: - Anh Cường ơi, em nghe tiếng xe tăng. - Không phải. – Cường đáp – Tụi ngụy cho xe cày ủi hai bên đường. Chừng ba mươi phút sau cả tổ lại tiếp tục tiến ra đường 12. Mộc giải hai tù binh đi sau. Cường cùng với Tân tiến lên phía trước, cách nhóm của Mộc chừng ba chục thước. Con đường rừng mới đạp, càng ra gần đường lộ càng khó đi. Nhiều đoạn con đường chạy ngược lòng khe suối. Lá dứa sắc cứa vào đùi vừa ngứa vừa rát. Chốc chốc máy bay trực thăng vận tải bay lướt trên đỉnh đầu. Cường vẫy tay ra hiệu cho cả toán dừng lại, đợi chiếu máy bay bay qua. Tiếng xe ủi vọng lại lúc gần lúc xa. Hơn một tháng trước đây, Cường đã có dịp đưa ông Triều và ông Đang sang họp ở bên trung đoàn đi cùng với tổ trinh sát của tiểu đoàn. Cường vẫn còn nhận ra cả vết dao anh phát vào thân cây nhỏ đánh dấu đường. Lá non bị bẻ mới kịp khô đầu cuống. Đường mới mở thường là an toàn hơn so với những con đường trục cũ. Tụi thám báo, và các đơn vị lính ngụy đi càn rừng hay nhằm vào những con đường trục để gài mìn và phục kích. Còn cách bìa rừng chừng trăm mét. Cường cho đội hình dừng lại. Anh lặng lẽ cầm súng đi ra ngoài đường 12, sau lúc dặn dò Mộc và Tân trông chừng hai gã tù binh. Anh nằm xuống một bên gốc cây đổ. Vạt đất trồng rộng thênh thang cách xa con đường gần năm bảy chục mét. Cây rừng bị đánh bật gốc. Các triền đồi tranh lửa liếm cháy đen loang thành từng vạt nhỏ như tấm da báo khổng lồ. Hai bên đường đều bị máy ủi cày sới lên như vậy. Con đường rải đá nhiều đoạn láng nhựa, lỗ chỗ những hố pháo bắn trúng tim đường phơi trần giữa nắng. Phía bên kia ngọn đồi tranh âm vang tiếng xe ủi gầm gừ đào cây, vẳng lại cả tiếng của tụi lính công binh ngụy la hét, gọi nhau. Có hai chiếc xe chở đầy gỗ chạy chậm trên đường; lắt lẻo ngồi trên những khúc gỗ lớn, mấy gã thanh niên đứng níu tay vào thành xe ngênh mặt giữa nắng. Trông cách ăn mặc, cũng đủ biết đấy là những người dân lên thầu lại số gỗ do tụi công binh ngụy đốn hạ mở rộng phạm vi cảnh giới tuyến đường xe. Lại một chiếc xe Jeep vùn vụt lao qua. Trên xe chỉ có ba tên lính Mỹ. Trời nắng. Chúng cởi trần để lộ ra khouoonn mặt và mảng da lưng đỏ lựng. - Tụi địch chủ quan gớm. – Cường lẩm bẩm. Giá như được phép đánh, chỉ cần một trái B40 anh sẽ tiêu hủy chiếc xe ra tro. Tụi Mỹ ỷ thế có căn cứ Động Tranh và các đơn vị lính gác dọc đường. Cường quay trở lại. Mộc và Tân ngồi chờ anh phát nóng ruột. - Có chi ngoài ấy, anh Cường ? - Địch đang ủi đường. - Bao giờ mới tính tới tụi này ? – Mộc ra ý chỉ vào hai gã tù binh ngồi ngủ gà ngủ gật. - Lát nữa. - Có cần bịt mắt không ? - Chẳng cần ! Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: BloodX trong 10 Tháng Sáu, 2010, 02:04:46 pm * Vừa được lệnh phóng thích, cả hai gã tù binh đã cúi xuống sụp lạy những người lính giải phóng. * * Dường như chúng vẫn chưa tin điều Cường nói. Đôi mắt hai người lộ vẻ mừng rỡ, như chưa xua tan hết vẻ lo ngại. Họ không nhìn vào ba người lính giải phóng đang đứng trước mặt mà lại để ý tới những họng súng AK đen trũi, và trái B40 đã đơm sẵn trong nòng súng. - Cứ đi thẳng theo hướng này, ra gặp bìa rừng, băng qua vạt đồi tranh cháy tới đường, các anh xuôi theo phía đông. Chừng nào gặp tụi tuần đường nhớ ra hiệu kẻo nó bắn nhầm. Và nói rằng bị bắt làm tù binh được quân giải phóng thả. Nhớ chưa ? – Cường hỏi lại. - Dạ nhớ. Suốt đời em không quên ơn mấy anh. Người tù binh tên là Ngật trả lời nhanh nhảu. Chợt gã hỏi. - Mấy anh có dư cuộn băng nào, làm ơn cho em xin một cuộn… - Gã nói thêm – Phòng khi cơ nhỡ trên dọc đường. Cường móc túi thuốc cá nhân đưa cho Ngật cuộn băng còn nguyên trong bao ni-lông sạch sẽ. Ba người lính đi theo hai gã tu binh ra tới cây gỗ đổ sát bãi cát trắng mới dừng lại. - Thôi chay đi ! – Cường giục họ. Ngật còn quay lại nhìn một lần nữa những người lính giải phóng trong khi gã tù binh trả tuổi đã cắm đầu chạy ào ra ngoài sường đồi tranh khô xác. - Thôi đi đi anh Ngật. – Cường giục và vỗ nhẹ vào vai người lính ngụy. Ngật đi thất thểu, cách gã tù binh đi trước một quãng xa. Vừa đi gã vừa nghe ngóng. Tự nhiên gã dừng lại. Ba người lính đều nhìn thấy Ngật lượm lên một hòn đá. Không nói không rằng gã kê bàn tay trái vào một tảng đá lớn và đập mạnh. - Anh Ngật ! – Cường gọi giật. Anh quên rằng mình đang đứngnêm con đường 12. Ngật quay lại. Tuyệt nhiên, gã không hề cảm thấy đau đớn, mà gương mặt ấy lại ánh lên một nụ cười. Gã giơ cao bàn tay về phía Cường. Bàn tay nhày nhụa máu, dập nat. Ngật loạng choạng tựa lưng vào tảng đá, rút ra cuộn băng của Cương vừa mới cho, gã dùng răng và bàn tay phải băng nhanh bàn tay bị thương. - Gã tự thương anh Cường ơi ! – Mộc không nén nổi giọng run run. - Ờ, hắn tự thương. - Nó gan nhỉ. _ Tan chép miệng. Mộc và Tân mới về đại đội 1 chưa đầy năm tháng. Lần đầu tiên họ được nhìn thấy con đường của ngụy và chứng kiến cảnh tên tù binh tự thương. Ngật tiếp tục bước đi, cắt ngang vạt đồi tranh bị cháy sém đến tận gốc. Trước khi ra tới đường đá, Ngật dừng lại lần nữa nhìn về phía cánh rừng. Gã không vẫy tay, đứng im lặng một lát rồi lầm lũi bước trên đường. Không còn nghe thấy tiếng xe ủi gầm gừ phía bên kia quả đồi trang. Trời ngả về chiều. Ánh nắng rải vàng ở sườn núi. Xào xạc trong lùm cây xanh tiếng chim gõ kiến mổ vào thân cây cồng cộc. Họ đã có thể quay trở lại theo con đường cũ. Nhưng Mộc và Tân thấy Cường còn ngồi nép vào gốc cây nhìn ra con đường đá, họ không dám giục anh. Mộc hỏi rụt rè: - Anh Cường, cứ xuôi con đường này vào đến Huế à ? - Ở, tới Huế. – Giọng Cường trở nên đờ đãn – Chẳng xa mấy nữa đâu. - Anh đã vào Huế bao giờ chưa ? - Chưa … Chị Tâm bảo : Huế đẹp lắm… Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: BloodX trong 21 Tháng Sáu, 2010, 10:58:59 am BỐN Phong chiếu bản đồ, đường đạp dài chưa tới ba chục cây số lên tới địa đạo 310. Toán tải thương đi mãi tới khi trời tối vẫn chưa gặp lại con đường trục giao liên dẫn ra trạm phẫu, năm ở nam sông Bồ. Tuyến đường Dốc Đoác lên Khe Trái, Mỹ đỏ quân chốt giữ và đang càn lớn. Điểm cao nào cũng có địch. Trinh sát tiểu đoàn hai lần vấp phục kích tụi Mỹ, hy sinh mất một người, bị thương một. Một loạt cối 81 địch bắn bất tử từ trên cứ điểm Chóp Nón xuống khu vực Dốc Đoác. Nhiều chiến sĩ, cán bộ đại đội 1 và tiểu đoàn bộ móc võng nằm rải rác trên mặt hầm khi quả đạn cối nổ gần, không ai bị gì. Mảnh đạn lại nhằm trúng Nhàn. Vết thương vào bụng khá nặng và một mảnh nhỏ xuyên vỡ mắt trái. Nhàn ra nhiều máu, có nguy co nhiễm trùng. Ông Triều và ông Đang lo lắng, sau cùng quyết định cử đại đội 1 đi tải thương. Mới đầu Tam được chỉ định chỉ huy nhưng anh đã lấy cớ chiếc mụn ở mông tấy mủ. Cuối cùng Phong đi, mặc dù anh đang phải cùng với Hảo tổ chức cho đơn vị học tập và làm công tác biên chế bộ đội để phân về các xã và cho bộ đội biệt động huyện. Bốn ngày nữa, đơn vị sẽ chính thức giải thể. Nhàn mê man bất tỉnh suốt dọc đường. Đêm qua Phong đã thức trắng cùng Thoại, y tá của đại đội để canh chừng Nhàn. Thuốc trợ lực, thuốc kháng sinh đều dốc ra tiêm nhưng vấn đề bây giờ Nhàn cần mổ gấp. Càng về sáng sương càng xuống lạnh. Nhàn lúc mê man, lúc tỉnh. Chốc chốc Phong cầm bàn tay Nhàn xem mạch. - Cậu không mổ nổi hả Thoại ? – Phong cáu kỉnh. - Em mổ sao được ! Thoại phân bua. - Thằng Khoảng y tá ở phẫu có lần đã mổ đấy thôi. - Ở trạm phẫu có dụng cụ, có thuốc gây mê. Chớ ở đây lấy gì mà mổ. Anh tưởng mổ ruột con người dễ như mổ gà hử. - Ở … Đừng giận. Tao sốt ruột quá Thoại ạ, chỉ lo anh Nhàn không qua nổi đêm nay. - Mong sao mai sớm tới được chỗ anh Nhô. Mỹ càn lung tung như thế này sợ trạm phẫu chạy rồi. Phong không đáp. Anh ngồi cời than sưởi ấm người bệnh và hơ đôi tay lạnh giá của mình lên lớp than hồng. Nhô là y sỹ nhưng mổ giỏi có tiếng ở cánh bắc. Nhiều ca thương binh nặng từ dưới vùng giúp ranh đưa lên đã được Nhô cứu sống. Anh mổ nhanh và chính xác, mũi khâu khéo. Những tay bác sĩ chuyên khoa ngoại ở quân y viện 94 phải khen kỹ thuật mổ thương binh của Nhô. Chính vì khả năng ấy, trạm phẫu Nhô không có bác sĩ. Một mình Nhô và hai y tá chốt ở bờ nam sông Bồ để giải quyết thương binh, bệnh binh. Ánh lửa cháy bập bùng, soi rõ vạt máu khô dưới võng của Nhàn. Sau mũi tiêm cách đây chừng nửa giờ Nhàn không rên nữa. Anh thiếp đi. Băng quấn kín nửa mặt. Nửa mặt còn lại lộ rõ nước da xanh tái, nhợt nhạt. Phong kém Nhàn bốn tuổi nhưng có mặt ở chiến trường Thừa Thiên trước Nhàn ba năm. Nhàn nhập ngũ, đi học trường lục quân và có một thời kỳ dài làm cán bộ huấn luyện ở trường. Hai người đã gắn bó với đại đội 1 ba năm trời. Nhàn đại đội trưởng, Phong khi đó là chính trị viên phó rồi lên chính trị viên trưởng. Nhàn được điều lên làm tham mưu trưởng tiểu đoàn. Phong thay vị trí đại đội trưởng chủ công của anh. Ba năm cùng nằm chung hầm và lo toan gánh vác nhiệm vụ nặng nề của đơn vị đóng ở giáp ranh, hai người thấu hiểu nhau như một cặp tình nhân. Nhàn đã có vợ - một cô thợ dệt ở nhà máy dệt Nam Định và hai con nhỏ. Chưa bao giờ Phong được đặt chân tới thành phố quê hương của cụ Tú Xương. Qua lời Nhàn kể, vào những đêm hai người nằm gác chân lên vong trong căn hầm chật hẹp. Phong hình dung ra đấy là một thành phố ồn ào bởi tiếng máy chạy, tiếng xe, tiếng tàu hỏa ra sao, Phong cũng không rõ. Tuyến đường sắt khả di anh còn biết được sau lần hành quân ra Quảng Trạch, ở đấy còn vài đoạn đường từ thời Pháp để lại. Cho đến khi học xong phổ thông, Phong chưa vượt qua huyện Lệ Thủy của anh và cái thị trấn Chéo, nằm bên bờ sông Kiến Giang. Xa hơn chút nữa vài ba lần anh ra Cửi. Địa danh về đất nước đến với Phong trong sách vở, và lời kể của thầy cô giáo. Nó xa xôi và huyễn hoặc. Ký ức của một cậu bé sinh ra trong làng quê nghèo càng thi vị hóa và nuôi những khát vọng. Chỉ là khát vọng thôi, vì chiến tranh đã ập tới dữ dội. Phong chẳng còn kịp chờ đợi kết quả điểm thi tốt nghiệp năm ấy và nhập ngũ. Qua câu chuyện của Nhàn , Phong biết có một thời gian bạn anh đã đi bán kem, bán lạc rang. Đầu Nhàn đội chiếc mũ cói, vai khoác chiếc bị, tay cầm vài ba bao giấy quấn tròn lại như cái phễu. Những hạt lạc tẩm húng lìu thơm nức mũi, thèm rỏ dãi mà chẳng dám đụng vào một hạt, sợ thâm vốn. Mỗi gói một hào. Đồng tiền ít ỏi thu được mỗi ngày của Nhàn góp vào tiền lương quét rác ba mươi ba đồng một tháng của mẹ để nuôi một đàn em bốn đứa. Nhàn bỏ học ngay từ năm lớp bảy. Rất muốn họp tiếp nhưng biết lấy tiền đâu mà ăn học. - Cậu không thể hình dung ra nổi những đêm tháng chạp quê tớ - Một lần, Nhàn kể - Cứ gọi là rét quắt tai. Gió mùa đông bắc thổi ào ào từng cơn quét dọc những con đường khuya vắng bóng người. Rét buối như vậy mấy ai đi chơi phố? Tớ ôm chặt cái bị vào bên nách cho ấm và cất tiếng rao: “ Ai lạc rang nóng giòn đây …!” - Ai mua lạc cho anh vào lúc ấy ? – Phong hỏi. - Có chứ. Những cặp vợ chồng khó ngủ. Cũng có khi là một đứa trẻ con thức giấc và nghe tiếng rao lạc rang tự nhiên đòi ăn quà vặt. Cũng có khi là một ông xích lô, ngồi gật gù chờ chuyến tàu xuôi Vinh hai giờ sáng đón khách. Ông ta mua lạc và nhâm nhi với cút rượu. Ròng rã ba năm trời tớ mới xin vào làm công nhân ở một công trường xây dựng, rồi tớ lấy vợ… Bây giờ Nhàn nằm đấy, bất động như một cái xác chết. Con người ấy đã cùng với Phong tham gia vài chục trận đánh lớn nhỏ và nhiều lần đi qua cái chết. Còn ai nữa ngoài Nhàn đã đến với anh ngày nghe tin Tâm hy sinh, và là người bạn duy nhất hiểu được tình yêu của anh với Tâm trong những ngày họ sống ở vùng giáp ranh. Hai mươi bốn tuổi đời, Phong mới được nêm trải vị ngọt của tình yêu với một cô gái làng Liễu Thương. Tâm là trinh sát của thành phố. Quan hệ của họ được giấu kín. Cuộc chiến đấu mỗi ngày thêm ác liệt. Thương nhau, quý nhau mà không dám hứa hẹn. Không ai dám đoán chắc rằng mình là kẻ gặp may trong chiến tranh. Một trái mìn nổ, một trận phục kính của địch ở làng, những hiểm họa luôn rình rập người lính giải phóng sống kề cần với địch ở vùng giáp ranh tranh chấp. Nhàn khẽ cựa quậy đầu và mở mắt. - Cậu vẫn còn thức hở Phong ? Đi ngủ đi một chút, cứ mặc kệ tớ. Phong nhìn vào con mắt còn lại của Nhàn. Con ngươi khẽ đung đưa lay động trong quần hốc tối. - Anh đừng lo cho tôi. – Phong bảo – Anh có bớt đau không ? - Đau ở bụng, ít thôi… Nhưng có lẽ tớ không sống nổi đâu Phong ạ. - Anh đừng nghĩ quẩn. Mai lên tới chỗ Nhô. Cậu ta sẽ mổ cho anh. - Đây là đâu nhỉ ? - Chân Đồi Dẻ, sắp tới địa đạo 310 rồi. Mỹ càn thành thử phải đi đường đạp. - Cậu với anh em vất vả quá, tớ không đành lòng. - Ơ hay… Chừ là lúc anh không được lo nghĩ chi nhiều…Anh cũng nên đừng nói nhiều. - Cậu cho tớ miếng nước. Phong cho Nhàn nhấp vừa đủ khỏi khô cổ. Nằm được một lúc, Nhàn khẽ thở dài. - Nghĩ mà buồn quá Phong ạ…Vậy là “K ta” không còn nữa. Mình coi như đồ bỏ. Có sống cũng không còn hy vọng trở về đơn vị. Chỉ thương cậu và anh em…Nay mai rồi sẽ ra sao đây. Phong cầm bàn tay Nhàn khẽ lắc đầu. - Tôi cũng buồn chớ. Buồn phát thúi ruột, thúi gan. Cõ lẽ những người lính như chúng mình, đã từng sống chết với tiểu đoàn ai cũng buồn. Ông Triều, ông Đang cũng buồn. Buồn mà không nói ra được. Mệnh lệnh của Quân Khu, của Tỉnh ai cưỡng nổi. Và xét cho cùng ông Thái Long có lý. Tình hình xã và huyện như vậy. Lực lượng của họ yếu thcwj sự. Mà thôi, anh đừng nói tới chuyện đó nữa, tôi khóc mất. Đời lính của tôi gắn bó với tiểu đoàn này đã bảy năm nay. Gần ba trăm quân bổ sung năm 1963 đến nay tính còn lại chưa tới hai chục người. Kẻ bị thương, người hy sinh. Mấy đợt quân kế tiếp, cán bộ, chiến sĩ cứ hao hụt dần. Anh thử nghĩ coi, chuyến ni về xã về huyện tôi e tiêu hết. Tôi không phải là đứa sợ chết nhưng tôi tiếc thương cho cái thanh danh của “K mình”. - Biết vậy…Nhưng sao cưỡng nổi? Phong định vất củi thêm vào bếp. Nhàn cản anh. - Thôi khỏi cần, mình không thấy lạnh. Họ im lặng một lúc lâu nhìn bếp lửa bây giờ chỉ còn là một đống than đỏ. Chốc chốc lửa hừng sáng, lóe lên chập chờn. Cách họ vài ba trăm mét đã là cây rừng vây bủa. Tiếng con suối chảy róc rách. Bóng tôi trùm phủ mịn như nhung được điểm xuyến bởi những mẩu lân tinh sáng lấp lánh trên nền đất ẩm ướt. Tiếng tắc kè kêu than buồn bã. Chợt Nhàn thở mạnh – Phong nhìn lên. Con mắt còn lại của Nhàn đẫm lệ. - Tớ chết mất – Giọng Nhàn nhọc nhằn – Chưa bao giờ tớ nghĩ rằng mình phải rời bỏ cây súng, rời bỏ đơn vị sớm như thế này. - Anh ráng ngủ đi chút ít- Phong khuyên – Lát nữa tôi đánh thức mấy đứa dậy đưa anh đi. Chỉ thấy Nhàn khẽ lắc nhẹ đầu và quay mặt vào khoảng tối. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: BloodX trong 02 Tháng Tám, 2010, 10:25:14 am * Nhàn mất sau khi ca mổ của Nhô tiến hành được ba giờ. Vết thương nhiễm trùng nặng. Ruột bị thủng ba đoạn. Nhô ngồi thẫn thờ trên chiếc ghế băng ngay cạnh bàn mổ, gương mặt anh trắng bệch dưới ánh sáng của cây đèn pin treo lơ lửng phía trên đầu dùng làm đèn mổ. * * Phong bắt gặp cái nhìn tuyệt vọng của Nhô. Anh không nói gì lặng lẽ quay ra. Trên nhà trống vắng. Những chiến sĩ đại đội 1 đã ra mé sau đồi đào huyệt. Vẳng lên tiếng cuốc bập vào lớp đất bình bịch, nặng nề ở mé sườn đồi. “Vậy là vĩnh viễn mất Nhàn ?” Phong chua xót nhìn bầu trời trĩu nặng những tảng mây. “Chả lẽ cuộc đời một con người kết thúc vậy sao?”. Nhưng với Nhàn, nó đột ngột quá. Dường như là sự phi lý. Phi lý đến trơ tráo. Một quả đạn lạc vu vơ, riêng Nhàn gánh chịu. Hai ngày đạp đường khốn khổ, vừa lo gặp địch phục kích, vừa phát cây tìm đường. Đêm qua Nhàn vẫn còn nằm bên anh rỉ rả chuyện trò. Hình như Nhàn đã tiên định thấy cái chết, còn Phong không tin. Bàn tay vàng của Nhô hy vọng sẽ giúp Nhàn qua cơn hiểm nghèo. Bây giờ, Nhô cũng chịu, đành khuất phục số phận. Lúc tiêm thuốc gây mê, Nhàn đã kêu: “Phong ơi, cho B1 vòng trái… Diệt ụ đại liên… Cường ! Bay nện cho tao một trái B40 vào gò mả kia”. Rồi Nhàn nhắc tên mấy đứa con, giọng Nhàn ngọng líu. “ – Phải, anh ấy đã nhớ đến trận đánh về Văn Xá bữa trước!...” - Anh Phong, anh Nhô kêu anh. – Cô Hoa y tá chạy ra chỗ anh Phong đang ngồi, gọi. Anh quay lại nhìn cô y tá trạm phẫu nửa như buồn, nửa như trách móc. - Chuyện chi vậy ? - Huyệt mấy anh đào xong rồi. Anh vô giúp anh Nhô một tay đưa tử sĩ ra. Xác Nhàn đã được bó gọn gàng trong tấm năng ni-lông màu xám. Nhàn chỉ để lộ ra mỗi khuôn mặt cũng được đậy bằng một miếng vải màn. Phong cúi xuống ôm bạn lên tay. Thân thể Nhàn nhẹ bẫng. “Răng lại là tử sĩ?”. Vừa bwocs anh vừa soi khuôn mặt Nhàn, hiện mờ ảo sau lớp vải thưa, không rõ đường nét. Giây phút ấy chẳng hiểu sao anh lại nhớ tới cái phố Trần Đăng Ninh ở đất Thành Nam xa lắc. Anh hình dung ra cả những ngôi nhà lá, nhà ngói đứng kèn nhau, nóc nhà lởm chởm những cây tre, cây nứa giằng néo chống bão. Những ngôi nhà ba bốn tầng, tường tróc nham nhở vì miểng bom chém vào. Kỳ lạ thay, anh nghe được cả tiếng còi tàu hỏa kéo lên rảnh rót, đơn điệu giữa đêm khuya. Tiếng còi tàu bị trùm bở màn đêm. Thành phố đêm chiến tranh mất điện. Anh sáng duy nhất là ngọn đèn hiệu của nhân viên nhà ga. Và tiếng đứa trẻ rao “ai lạc rang nóng giòn…đây”… Đôi chân Phong muốn khuỵu xuống . Nhô phải đỡ vội lấy xác Nhàn. Sáu người chiến sĩ đại đội một, vẫn tiếp tục moi đất cho lỗ huyệt sâu thêm. Đấy là vạt đất bên sườn đồi, đã có năm sáu ngôi mộ của những người chiến sĩ hy sinh từ trước. Mộ được chôn lẩn quất dưới gốc những cây lá nón phủ xanh rợp. Tấm bia ghi tên người chiến sĩ, quê quán, cắt ra từ những thùng sắt tây đựng lương khô. Dòng chữ đục bằng đinh xuyên thủng lỗ. Một vài tấm bia đã ngả màu tróc sơn nhưng tên tuổi liệt sĩ vẫn dọc được rõ ràng. Tấm bia nào cũng có ngôi sao vàng đóng khung trong một vòng tròn. Cuối cùng thì tảng đá nằm sâu trong hố đất cũng bị lưỡi xẻng Mỹ đánh bật lên. Phong bước xuống đỡ Nhàn từ tay Nhô đặt xuống. Anh lật tấm vài màn nhìn gương mặt bạn lần cuối cùng rồi mới đặt những cây lèn chặt cho đến khi phủ kín xác. “- Vĩnh biệt…Vĩnh biệt anh, Nhàn ơi !”. Phong nói thành tiếng. Và anh không dám nhìn những người chiến sỹ đang đứng vòng quanh chờ để lấp đất. Anh ngồi lặng đi bên cạnh Nhô, nghe tiếng đất đổ rào rào xuống lớp cây đặt dưới mộ, lặng im hút thuốc, đôi mắt trầm ngâm tư lự. Cái nghiệt ngã của chiến tranh ít khi làm ai khóc nhưng trái tim người lính nhức nhối, vò xé họ từ trong cõi thẳm sâu. Không, không thể tính bằng nước mắt . Họ cùng nhau chia từng bát cơm, hụm nước, điếu thuốc, hòa với nhau trong niềm vui, nỗi cực nhọc trong căn hầm chật hẹp kể những câu chuyện tầm phào cho qua cơn đói, tự hồi ức về những vùng quê của riêng mỗi người và bao giờ cũng thấy đẹp đẽ, thân thương. Rồi họ giã từ nhau, kẻ bị thương, người hy sinh. Những tình huống của chiến tranh không bao giờ có thể đoán trước. Lỗi lầm, khuyết tật sẽ được bỏ qua nếu anh ngã xuống ở chiến tuyến rong tư thế của người cầm súng. Và anh sẽ sống tươi đẹp trong ký ức của người còn lại. Vẳng lên tiếng xẻng chà xát vào lớp đất đá. Đất trong hố sâu từng lúc dâng đầy. Phong có cảm giác như thi thể Nhàn đang tan ra hòa vào đất đai, cây rừng, hóa thân thành ngọn gió đang thổi dạt dào trên tầng lá cây cao, để rồi tan biến vào cái vòm trời xanh mênh mông bây giờ đang tối dần lại. “Nhàn vẫn còn sống – Phong ngẫm nghĩ – Anh ấy sẽ sống mãi trong tâm trí những người lính “K mình”. Sống với đất đai cây rừng bên sông Bồ.. ! 0- Chỉ mong sao, anh ấy hiểu và tha thứ cho mình – Phong nghĩ chua chát – Mình sai, mình đã đấu ông Thái Long tới nơi tới chốn. Sẽ có nhiều người trách mình. Đành nhẽ, nhưng dứt khoát tôi không phải kẻ tháo lui, đào tẩu khỏi cuộc chiến đấu, Nhàn ạ. Cái chết – nếu số phận dành cho tôi như đã dành cho anh, tôi cũng sẽ chấp nhận nó một cách thanh thản, nhẹ nhõm miễn là trong tư thế của người lính “K mình”. Nhưng tôi không thể ...” - Cậu cho tôi một điếu... – Phong bảo Nhô. Nhô đưa cho Phong cả bao thuốc lá Paman. Phong lập bập châm lửa mãi mới cháy. Mồm miệng anh đắng chat. Anh không còn nhận ra cả cái vị ngọt và thơm của điếu thuốc lá Mỹ. Ngôi mộ đã thành hình. Mọi người ngồi xúm quanh chỗ Phong và Nhô, châm thuốc hút. Thản “ Cối” nhổ nước bót vào lòng bàn tay, xoa xoa. - Có cần đục bia không anh Phong ? – Thản hỏi. - Thôi để mai cánh tớ làm. – Nhô đỡ lời. – Các cậu ra sông tắm rửa đi. Giờ thì không ngại máy bay đâu, nhưng cũng đừng ồn ào. Coi chừng thám báo phát hiện nó gọi pháo quật xuống đây thì bỏ mẹ. * Tưởng mưa, nhưng trời chỉ nổi cơn giông. Một lúc sau, trăng mọc. Ánh sáng giải vàng trên bãi đá chạy dọc sông Bồ. Ban đêm, nhìn dòng sông như nới rộng ra. Những tảng đá xếp ngổn ngang, nổi gồ trên mặt sóng, tròn lẳn tựa như lừng bầy voi rừng. * * Phong đã nằm ở tảng đá từ lúc trăng chưa mọc. Ngày sau lúc ăn cơm, anh nhắc nhở mấy cậu chiến sĩ chuẩn bị cơm văt, cơm ăn cho sáng mai để kịp trở dậy đi sớm. Đường về cố gắng rút ngắn trọn một ngày. Không phải cáng thương, mỗi người gùi hai chục ký gạo, chắc chắn sẽ đi nhanh hơn. Anh mắc vong nhưng chưa đi nghỉ mà ra bãi đá nằm hóng gió. Dòng sông Bồ ngăn đôi phân tuyến. Bên kia sông, chỉ cách hai trăm mét đã là đất Phong Điền. Đi bộ chừng dăm tiếng đồng hồ là tới Khe Lu, Khe Trăng. Và đi bộ chừng dăm ngày là tới Hang Đá, Dốc Chè, Đèo Bông và thọc ra đường tuyến, vượt lên rừng thông, đất Lào. Vùng hậu cứ của Quân khu, trục chính của tuyến đường ruột Trường Sơn chạy từ Bắc vào Nam. Năm trước đi nhận tân binh, Phong đã có dịp nhìn thấy con đường tuyến và những chiếc xe Zin, xe Gát chạy trên đường. Anh nhìn không chán mắt các dãy nhà kho chứa gạo, đạn, quân trang ở binh trạm 64 và anh mới hiểu rằng sức người, sức của cả nước dồn cho mặt trận thực phi thường. Nhưng Phong không thể vượt sông Bồ. Trách nhiệm của một đại đội trưởng, buộc anh phải tổ chức cho đơn vị hoàn tất việc học tập chính trị, và biên chế từng người phân bổ cho đội biệt động huyện, về các xã làm du kích. Ông Thái Long, ông Triều và ông Đang chưa giao nhiệm vụ chính thức cho từng người trong ban chỉ huy đại đội 1, nhưng anh biết họ định đưa anh về làm trợ lý tác chiến cho huyện đội, Hảo sẽ được đưa về làm chính trị viên đội biệt động huyện. Tam làm phó. Ông Thái Long giận Phong và đánh mất luôn cả tình cảm vốn có với anh. Những buổi thảo luận nghị quyết, anh đã không tiếc lời chỉ trích phương án giải tỏa K10 về địa phương. Trong thâm tâm, anh cho phương án ấy là hạ sách, là sự thụt lùi trong chiến lược tiến công. “Thực tiễn chiến trường đòi hỏi phải như vậy ! Các đồng chí không thấy cái khó của cấp trên”. Giọng ông Thái Long sau cùng đã dịu lại, bớt vẻ căng thẳn. Phong vẫn chưa chịu. “ – Thì chính cấp côi cũng không thấy cái khó của chúng tôi – những người lính chủ lực – bây giờ đi làm anh du kích. Một thứ du kich nửa mùa, không biết mặt mũi người dân, không rành đường ngang ngõ tắt. Đánh chác cái khỉ khô chi. Chỉ đụng hoài ba thằng nghĩa quân dân vệ, mà nào có ra trận đánh. Cắc bụp vài ba loạt AK, bắn một quả B40 rồi rút. Xin lỗi đồng chí Thái Long, tôi gọi là rút cho lịch sự, chớ thật ra là chạy. Không có, pháo địch đập cho tối mắt tối ũi, Thử hỏi cả năm nay xã, huyện có bao giờ tổ chức đánh được một trận cho ra hồn. Bụp xẹt…bụp xẹt. Hết vấp mìn, tới gặp phục kích. Anh nghe thấy có tiếng đáp trên lớp soi, rồi tiếng Thản “cối”. - Ngồi đây, anh Thược. Chỗ Phong đang nằm được che khuất bởi một tảng đá cao. “- Mấy đứa ra đây mần chi?”. Anh im lặng không muốn khuấy động câu chuyện của họ. Thược là trung đội phó trung đội 2, người quê ở Phong Điền. Cậu ta gia nhập quân giải phong từ sau Tết Mậu Thân khi bộ đội tràn về Huế. Giọng Thược nhát gừng: - Hai đứa bây tính đi thiệt hả Thản? - Tụi em đi. Anh bảo ở lại làm gì? Hay hớm chi về với mấy ông bà ở xã. Lính “K mình” sống ở vùng giáp ranh với họ hai năm nay đã cực nhọc nhiều rồi. Giờ tụi em lại về làm du kích cho họ thì khỏi phải chê ? Sao “ ông anh” , có tình liều với tụi này không ? Im lặng một hồi lâu, Thược nói: - Thôi bay đi đi. Tao không mần rứa được. Tao là đảng viên. - Ôi dào… Quan trọng cái gì việc đó. Đảm bảo với ông anh, về được sư đoàn Hương Giang chỉ cần đánh đấm mươi trận cho kha khá vào, ai mà không kết nạp ông anh vào Đảng…Vả lại, mình có phải thằng “B quay” đâu mà sợ. Mình vẫn là lính đánh giặc kia mà. Có về chủ lực của quân khu, mới ra hồn thằng Lính. Đánh đấm như “K mình” lãng xẹt. Bây giờ về làm du kích càng khốn. “Một là xanh cỏ hai là đỏ ngực, tụi em tính vậy đó, anh Thược. - Tao không cản hai đứa mi đi nhưng tạo ở lại, vậy thôi. - Tùy anh, tụi này đâu có ép. Còn thuốc đó hay không anh Thược? - Còn đây. Bữa tê ông Đang cho tao một lăn. Phong nằm không động cựa, lắng tai. Mùi thuốc rê nặng, thơm vương theo gió bay tới chỗ anh nghe phát thèm. Nhưng anh không thể xuất đầu lộ diện ra lúc này. Sự thể diễn ra quá bất ngờ. Thản và Tân định đánh bài chuồn, bỏ đơn vụ. Rõ ràng hai đứa muốn về với sư đoàn 324, chủ lực quân khu. Chợt giọng Thản vang lên. - Anh Thược này. Mai sớm anh Phong hỏi, anh nói không biết tụi em đi lúc nào nhé. Em viết lá thư để lại dưới đầu võng anh Phong. Em cũng đã kể rõ mọi sự tình cho anh Phong, anh Hảo hiểu hoàn cảnh của hai đứa em… Kẻo các anh ấy lại trách là đứa ăn ở bạc. Khi anh về với tiểu đoàn, đại đội có ai hỏi, nhờ anh bảo thẳng là em với thằng Tân tìm đến đơn vị chiến đấu chứ không phải là những đứa đào ngũ, nghe anh Thược. - Được rồi, bay khỏi lo chuyện đó. Phao bơi chúng bay còn tốt không đó ? - Tốt – Tân đáp. - Sang bờ bên kia có nhớ đường không ? - Nhớ…Lo chi anh Thược. Đường ở chân mình chứ ở đâu. Chỗ nào súng nổ lớn là chúng em mò tới. – Thản bảo. – Chút nữa quên. Hôm kia đi em bỏ cái áo dài phơi trên giàn bếp. Anh lấy đưa cho anh Cường nghe, chả áo của anh Cường bữa đi đánh bãi ngụy bị gai cào rách. Em đã hứa cho anh Cường chiếc áo ấy. - Được tao nhớ. Thược khẽ gật đầu. – Thôi hai đứa bay đi đi…Khuya rồi đó. Tao tiễn chân một đoạn. Phong nhỏm dậy. Anh nhìn theo ba bóng người chiến sĩ đi theo bãi đá xuống sông. Thản và Tân đeo gùi, khoác AK. Thược đi sau cùng dáng người thấp, gầy, mặc chiếc áo xuân hè rộng thùng thình gân che lấp chiếc quần đùi. Trăng tãi vàng trên bờ sông vắng vẻ. Đi đến sát mép nước, họ dừng lại. Thản và Tân mở gùi lấy ni lông buộc phao. Chỉ thấy thược khẽ gật đầu và ngồi xuống tảng đá ngay sát mép nwocs. Phong rời chỗ nấp, tiến ra ngoài sông cách chỗ Thược một đoạn. Vạt lau che khuất anh. Thản và Tân đẩy chiếc phao ra xa bờ. Chiếc phao nổi lập lờ. Hai khẩu AK ghếch nòng lên cao. Nước sông chảy xiết, chẳng mấy chốc đã cuốn hai người xuôi xuống dưới một đoạn. Họ chỉ còn là hai chấm đen giữa mặt sông sáng bạc. Thược đứng lên, tần ngần một lúc rồi mới chậm rãi quay trở lại con đường đi lên trạm phẫu Nhô. Phong không rời mắt khỏi Thản và Tân. Anh muốn gọi to hai tên người chiến sĩ của mình, nhưng không được. Hai cái bóng đen ấy giờ đã nhòa vào dãy núi đá trùm phủ xuống mặt sông đen sẫm ở phía bờ bên kia. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: BloodX trong 08 Tháng Năm, 2012, 10:15:50 am NĂM Địch chốt ở chân Dốc Mồng. Đoàn người rồng rắn kéo nhau đi đồng bằng quay trở về hậu cứ nằm dưới chân Động Ngang.Buồn nhất là cái cảnh đi đồng bằng bị địch chốt chặn cửa rừng khồng về lọt dưới dân. Bao nhiêu dự tính tiêu tan kể cả những ước muốn nho nhỏ, mua vài ba sắp thuốc, kiếm mớ rau củ cải, củ kiệu lên nấu canh vào bữa sớm mai. Từ ngày địch xây dựng Hòn Vượn thành một cứ điểm phòng thủ mạnh, chặn giữ tuyến bắc Huế, con đường về đồng bằng quanh qua eo Dốc Đu, Dốc Cát coi như bỏ. Trên đồi Đất Đỏ, địch luôn có quân canh giữ đồng thơi kiểm tra ngặt cánh thợ rừng từ dưới các làng kéo lên chặt cây, bứt lá non, mây song. Địch sợ đồng bào tìm cách bắt liên lạc với “Mặt trận”. Hậu cứ cũ của huyện nằm trong đồi Tranh bị địch phát hiện đưa lính vào càn. Chúng đốt trịu những căn nhà lợp bằng lá nón và đặt mìn giật sập hầm. “Cha con” thêm một đợt chạy càn, đào hầm. Hậu cứ khu B nằm ở sườn phía Tây dãy Động Ngang. Cách Hòn Vượn không đầy ba ngàn mét đường chim bay. Vị trí mới khá bất ngờ với địch và tránh được pháo bắn thẳng. Những con đường trở về đồng bằng xa thêm rất nhiều cho những đội công tác khi phải đi về các xã nằm ở phía đông đường quốc lộ và các xã dọc theo bờ nam sông Bồ. Nửa năm nay, cán bộ chỉ đạo các xã vùng sâu thường phải ăn gạo nhờ, móc nối các cơ sở nhờ ở các xã bạn nằm ở phía tây đường lộ để chỉ đạo phong trào, nắm tình hình một cách gián tiếp. Con đường qua Dốc Mông mới mở. Nhiều đoạn lội qua khe, vượt qua những bãi sình lầy, lau lách rậm rạp. Muốn tới cửa rừng họ phải đi gần hai tiếng, có những đoạn đi trên triền đồi trọc, phơi lưng ra trước vọng quan sát của địch ở Hòn Vượn. Sớm muộn tụi địch trên đồi sẽ phát hiện ra tuyến đường mới, nhưng hiện thời những tay trinh sát đạp đường của huyện chưa khắc phục nổi. Đơn vị nào cũng cần có gạo ăn, có gạo dự trữ cho mùa mưa bão sắp tới. Và việc trọng yếu nữa là nắm các cơ sở để theo dõi hoạt động của địch đang ngày một gia tăng khắp các thôn làng trong chiến dịch bình định của chúng. Cường đi sau cùng đội hình hành quân của xã Y, và cũng là người đi sau cùng của đoàn quân hỗn hợp kéo về đồng bằng đêm nay. Chiếc nhọt mọc ở bắp đùi căng tắc, anh ráng đi nhanh cho kịp với mọi người, những xem ra càng đi càng đuối . Cường té liên tục. Có lúc cành cây vô ý chọc vào cái nhọt đã được băng kín. Đau thấu óc. Đến lúc leo Dốc Mồng , Cường tụt lại phía sau xa. Đường về hậu cứ còn chừng bốn mươi phút đi bộ. Anh ngồi bệt xuống vạt đất ngay dưới gốc mấy cây sim và thở dốc. Quanh chiếc nhọt, máu đọng bầm tím, nhức nhối. Buổi sáng Cường đã thử khêu, chỗ đau tứa máu tươi. Nhọt hãy còn non và bây giờ hành anh bằng một cơn sốt. Ngồi trên sườn đồi Cường nghe rõ tiếng chân người lội lõm bõm ngược Khe Dứa mỗi lúc một xa dần. Chưa tới sáu giờ chiều, trời mùa hè vẫn còn sáng. Lác đác có vài trái sim chín nằm lẫn vào giữa vạt lá xanh. Cường nhón người lên chực hái một trái sim chín mọng nhưng cái chân đau nặng như chì không nhấc lên nổi. Không gian yên tĩnh quá. Yên tĩnh tới bất ngờ, tựa hồ như anh lạc vào giữa một đồi trung du nào đó chứ không phải đây là chiến truyến đang xảy ra cuộc đụng độ dữ dội. Vòm trời xanh có những dải mây trắng mỏng bay ngang. Tuyệt nhiên không hề có tiếng súng hoặc tiếng máy bay. Lũ trực thăng và tụi trính sát OV.10 đã rủ nhau chuồn về căn cứ. Cường lắng tai nghe, anh còn nhận ra tiếng sáo diều, kêu nhỏ thôi, vọng tới. Không thể tìm ra bóng dáng chiếc diều sáo ở phía xa chân làng xa kia. Rặng tre kéo thành vệt đen sẫm. Ún lên đó đây, trong làng, ngoài đồng những đụn khói của người dân đốt rơm rạ, cây lạc. Mà cũng có thể tụi ngụy đóng dã ngoại trong các làng hoang đang nấu bữa cơm chiều. Cường như bị trôi đi trong một niềm xúc cảm tự dưng dâng trào trong lòng anh, giữa một vùng quê đang bị chiến tranh tàn phá. Cái cảm giác ấy giống hệt như những buổi chiều năm nào Cường theo gia đình về sơ tán ở một vùng quê ngoại thành. Mỗi buổi chiều, Cường ngồi hàng giờ nhìn ánh hoàng hôn cuối ngày đang lịm tắt dần ở phía tây. Da trời xanh ngằn ngặt. Thời khắc ấy thường là sự gián cách của lũ máy bay Mỹ. Tốp máy bay ném bom ban ngày đã về hạm đội ngoài khơi xa. Lũ máy bay ném bom đêm chưa tới giờ xuất phát. Nằm trên vạt cỏ chỉ mịn màng anh ngửa mặt lên nhìn bầu trời ráng tìm cho được những vì sao mọc sớm. Tiếng dễ kêu rỉ rả nhưng vạng vọng, to hơn cả vẫn là tiếng diều sáo của đám trẻ con làng Sam, làng Bần, làng Gốc. Chốc chốc, bà ngoại anh lại cầm cây sào ra khua đàn vịt vào phá bè rau muốn thả trôi dưới ao. Bà ngoại đã ngót nghét chím mươi tuổi, nhưng đi lại còn vững, hàm răng nhuộm đen như hạt nhãn, đều, chưa rụng một chiếc nào. Mắt bà đủ sức xâu kim, vá áo. Đã dăm năm nay, bà về ở với mẹ anh. Cường là cháu ngoại nhưng bà lại yêu quý anh hơn bất kỳ đứa cháu nội nào của bà. Và cũng từ bà đã khơi gợi trong anh những câu chuyện cổ tích. Trong ký ức sâu thẳm của bà phục hồi cho Cường những hiểu biết về cái thị xã Thái Bình quê hương, ngày bà ngoại mới là cô gái chưa đến tuổi lấy chồng. Bà ngoại bảo: “- Đường Trưng Trắc xưa đâu có to tát như bây giờ, đường đất nhỏ mọc đầy cỏ dại, hai bên là ruộng và ao chuôm, lơ thơ dăm ba cái nhà. Đi một đoạn mới ra tới phố Tàu, phố Tây. Ma nhiều lắm”. Bà còn kể cho Cường về Vi Văn Định. Viên quan tổng đốc người Tày, quê mạn Cao Bằng. Lão khét tiếng là ác. Có một chị hàng xén đưa hàng sớm ra chợ Bo. Chị ta vô ý kéo đôi guốc mộc trên thềm hè xi măng trước tổng dinh làm lão tổng đốc thức giấc. Lão điên tiết sai lính ra điệu cổ chị hàng xén vào. Không nói không rằng lão bắt chị hàng xén suốt một ngày đội thúng hàng trên đầu đi vong quanh sân xi măng. Trời tháng năm nắng như hắt lửa vào mặt, người đàn bà không được phép dừng lại một phút. Dừng lại, lính nện roi. Vừa làm việc quan, lâu lâu Vi Văn Định lại bước ra ban công ngó xuống nhìn. Chị hàng xén mặt mũi, lưng áo nhớp nhúa mô hôi. Cho đến hai giờ chiều, chị không thể ráng nổi ngã sấp mặt xuống nền xi măng bỏng rát… Buổi chiều, anh chồng hay tin vợ bị quan tổng đốc bắt, nhờ người đưa lễ tạ cho Vi Văn Định, hôm sau chị hàng xén mới được thả về. Sau này, Cường mới hay, chính vì lệnh cấm để chim bồ câu bay ra ngoài đường của tổng đốc Vi Văn Định, cả dòng họ nhà anh đã rủ nhau chuyển ra đầu tỉnh lập ấp. Cụ tổ của Cường vốn là người nuôi chim câu nổi tiếng, từng đưa chim đi thi trong mỗi kỳ lễ lễ hội suốt một dải vùng ven sông Hồng, sông Trà Lý. Cường xốn xang trong mối trầm tư chợt thức dậy về quê hương. Tất cả bây giờ chỉ còn nằm trong hoài niệm chìm sâu trong ký ức. Bất chợt tiếng kẻng khua vang trên đỉnh Hòn Vượn phá tan sự tĩnh mịch của buổi hoàng hôn đang bắt đầu phủ trùm xuống núi đồi, thung lũng phía trước mặt. Cường như bừng tỉnh thoát ra khỏi một giấc mơ. Anh không thể ngồi thêm được nữa. Anh nhúc nhắc định đứng dậy, nhưng chân phải của anh tê cứng, nhức ngối. - Trời, - Cường rên lên khe khẽ, nhăn mặt. Có tiếng chân người bước gấp gáp và tiếng báng súng va vào cành cây. Cường cầm súng, đề phòng. Lát sau anh nhận ra một bắp chân trắng, ống quần đen xắn quá gối đang đi tới. - Eng Cường, ngồi chi lâu rứa ? Hanh rẽ lá lau, bước tới bên anh. Cô nhìn chiếc nhọt tấy đỏ, trách: - Em đã biểu ở nhà, anh chẳng chịu… Đau lắm hả. - Cái nhọt cương tức… - Cường lắp bắp, anh tránh ánh mắt của Hạnh. - Em về gần thấu nhà chẳng thấy bóng dáng anh mô. Hỏi Mộc, cậu ta cũng không biết… Em đoán anh bị đau nên quay lại tìm. - Cám ơ Hạnh… - Cường nói nhỏ và anh dùng tay chống đứng dậy. Cơn đau kéo đến thấu óc, mồ hôi vã ra lấp tấm trên trán. - Đưa súng đây, em cầm – Hạnh nói tự nhiên, giọng cô dịu lại không cứng như thường ngày – Anh chịu khó bám vào vài em, Hạnh dìu anh Cường đi. Bốn năm bước đầu tiên, Cường còn đi cà nhắc. Nhưng rồi chính anh không thể cố, chuột rút bắp chân anh phải nói vội vào một thân cây để khỏi té sáp. Hạnh đỡ một bên vai Cường. - Anh Cường phong kiến lắm nghe. Mắc mớ chi anh xấu hổ. Mình là đồng chí với nhau anh còn giữ kẽ vậy… Chưa biết chừng mai mốt về làng đánh nhau lỡ em bị thương, anh bỏ em lại chắc ? Rồi còn ở chung cứ, chung hầm. - À, đấy là chuyện khác. – Cường chống chế và cảm thấy mặt mình nóng râm ran trước lời chỉ trích gay gắt của Hạnh. - Khác chi! – Hạnh vẫn còn chưa chịu, vừa dìu anh đi chậm từng bước trên con đường chạy dọc sườn đồi, cô vừa nói. – Anh là chỉ huy, là người đứng đầu trong số bảy đồng chí bộ đội về tăng cường cho xã, anh còn vậy huống chi người khác. Em biết có nhiều đồng chí bộ đội buồn khi phải về xã – ( Cường biết hạnh tránh dùng từ du kích) – cả anh cũng không mấy vui vẻ có phải không? Cường gượng cười. Câu hỏi ấy đã đặt ra từ ngày cả đại đội 1 đi chỉnh huấn, nhận nhiệm vụ dưới chân Dốc Đoác. Anh chấp nhận sự phân công của tổ chức bổ sung về với xã với cương vị xã đội trưởng. Cùng đi với Cường có thêm sáu chiến sĩ. Bây giờ họ thành những người du kích xã Y, chịu sự chỉ huy của Hạnh, một cô gái ngoài hai mươi tuổi được huyện chỉ định làm chủ tịch xã, thay thế đồng chí chủ tịch mới hy sinh ở vùng sâu cách đây bốn tháng trước. - Đừng có giấu em, em biết chớ. Xã đang găp khó khăn như rứa… có mấy anh về em mừng hơn bắt được vàng. Các anh lại không vui vẻ, em buồn biết chừng mô. - Anh em bộ đội không đến nỗi đâu o Hạnh ạ… - Cuối cùng Cường bảo. Hai người đã bước xuống suối. Hạnh dìu Cường đi từng bước chậm chạp. Họ bước đi trong sự im lặng kéo dài suốt quãng đường lội dọc Khe Dứa. Anh nhận ra mùi dầu thơm gội trên mái tóc để dài của cô. Bất giác, Cường khẽ thở dài. - Anh mệt lắm phải không? – Hạnh hỏi. Anh lầm lũi lê từng bước nặng nhọc, không đáp. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: BloodX trong 08 Tháng Năm, 2012, 11:24:24 am * Ở trên sạp chú Miên, chị Điều và mấy người bộ đội ngồi ăn cơm – suất cơm dành cho những người đi về làng trở lên ăn khuya. Tiếng muỗng chạm vào đáy bát kêu lanh canh. * * Hạnh không ăn, lấy cớ còn no, treo võng lên nằm sớm. Cường sốt cao. Hạnh đưa anh về tới được bến nước. Cô để anh ngồi đó rồi lên nhà kêu mấy người xuống khiêng. Quân số của xã Y tăng lên đột ngột, đang từ bốn người bổ sung thêm bảy người của bộ đội chuyển về, nhà hầm chưa kịp đào, thành thử một số người buổi tối – Nhất là những đêm không đi đồng bằng – phải nằm liều trên mặt đất. Ở gần địch, đào được một cái hầm thật vất vả. Hạnh bàn với Cường định đào thêm hai hầm kèo chữ A nữa, nhưng chiến dịch đi đồng bằng thu mua gạo cơm cuốn hút cả đội. Sự xuất hiện thêm những người bộ đội trong biên chế của xã khiến cho Hạnh vui, mặc dầu trong sinh hoạt của cô và chị Điều nảy sinh những phức tạp nho nhỏ. Trước đây bộ đội C1 vẫn tăng cường đi với xã được cán bộ du kích xã đưa đường về diệt tụi bảo an, dân vệ, nhưng họ hoạt động trên địa bàn xã với tính cách phối thuộc. Bây giờ, các anh đã là người của xã, nói trắng ra họ đang làm nhiệm vụ của những anh cán bộ phong trào, làm anh du kích khi đánh địch. Việc lo ăn cho từng ấy con người, Hạnh không ngại, cái chính là phương thức hoạt động cho các anh bộ đội. Họ không thông thạo đường ngang ngõ tắt ở các thôn ấp. và một số cậu tân binh chưa hề quen đánh đám với tụi địa phương quân bao giờ. Cô nhận ra rất rõ khoảng cách, nói chính xác hơn là sự chưa ăn nhập giữa những “người của xã” với các anh bộ đội. Vả lại vai trò của một chủ tịch xã – lại là con gái – cô cũng chưa nhập vai một cách thực thụ trong công việc điều hành chung, khi trong tay có được một “đạo quân” mạnh nhất từ hơn 1 năm nay. Chị Điều hơn Hạnh cả chục tuổi, nhưng chưa phải là đảng viên. Chú Miên – anh em bộ đội gọi chú bằng cái tên “ Bố Già” – đảng viên cơ sở mật từ dưới đồng bằng chạy lên rừng, lại bị tật. Địch tra tấn chú, cắt gân ở bàn chân phải. Huyện ủy định đưa chú Miên ra Bắc, chú nhất định không chịu. “ – Thà chết gửi lại nắm xương tàn ở miệt rừng này, chú cũng đành lòng, Hạnh à”. Chú bảo Hạnh khi gặp cô lần đầu. Lúc biết tin Hạnh, con gái của Ba Hoàng, sẽ về công tác tại xã. “ Chú sinh ra ở đây, chú gặp Đảng ở đây và Đảng trao cho chú cây súng… Giờ chú què cụt không thể theo tụi cháu đánh giặc được, thì chú ở nhà nấu cơm, lo dọn dẹp nhà cửa cho anh em. Địch có đột vô hậu cứ, bàn tay này không nhẽ không bắn nối lấy mươi loạt đạn hả. Chú có hai trái da láng. Một trái chú dành cho tụi nó, một dành cho chú lúc kẹt.”. Quả thật chú Miên có hai trái US, mới toành. Lúc nào cũng được chú lau chùi bóng nhoáng. Không ai có thể mượn nổi chú một trái để đi đồng bằng. Chú không vợ con. Chẳng ai rõ lý do vì sao.Ông Hai Ngọc – huyện đội trưởng – đã giới thiệu chú Miên vào Đảng. Ngày còn ở làng, chú là cơ sở của đội biệt động huyện. Bữa Hạnh được huyện giao nhiệm vụ chủ tịch xã, cô ngại. Nhưng rồi chính chú Miên là người đã gở rối cho cô. - Đừng sợ qua mặt chú, con ạ - Ông gọi Hạnh bằng “con” – Anh Hai viết thư cho chú đây nè, - Ông vỗ bồm bộp vào một bên túi áo bà ba, nhưng ông không lấy thư mà rút ra một bịch thuốc rê, tỉ mẩn ngồi vấn một điếu thuôc. Rít liền mấy hơi, ông mới nói tiếp – Con Điều không lanh lẹ. Nó có thể mần cán bộ phụ nữ thì được chớ không làm chủ tịch được. Thằng Châu, thằng Bê, con Luyến hy sinh cả rồi. Ờ , giá như con Tâm còn sống thì nhất định chú kêu ông Hai, ông Đồng cho nó về xã – nhưng chẳng may nó chết. Má cháu cũng mất. Phải chi cô Ba còn sống, huyện sẽ cho người về đưa cô lên núi. Hơn chục năm ni, xã mình mất vãn người. – Chợt chú Miên hỏi Hạnh một câu tách ra khỏi câu chuyện ông đang nói. - Bữa sang tỉnh con có được gặp ba con không Hạnh ? - Dạ, có ! - Ba con biểu răng ? - Ba con hỏi : “- Con muốn ra Bắc học tập hay ở lại?” - Con trả lời răng ? - Con biểu: “ Má hy sinh rồi ba. Ra miền Bắc học tập ai chẳng ham, nhưng đi lúc ni gay hung. Ba không ở huyện mình ba không biết chớ, cán bộ du kích thiếu ghê gớm”. “ – Ba biết chớ - Ba cháu cười, mà nét mặt không mấy vui vẻ - Con hiểu vậy là tốt lắm… Như vậy là con quyết về huyện”. “-Dạ con về huyện ba ạ”. Cháu nói rứa. Ba cháu biểu: “-Ba chỉ khuyên con một điều: Làm việc gì cũng phải tính toán cân nhắc cho kỹ. Hiểu địch là hiểu mình, thì bao giờ cũng thắng, con gái của ba ạ”. Bốn tháng đã trôi qua, công việc tưởng chừng như êm xuôi. Nhưng riêng Hạnh biết rằng, cô chưa làm ăn ngon lành với nhiệm vụ mới. Không phải cô lo cho những chuyến đi đồng bằng, đưa bộ đội về làng xuôi lọt, lúc đi lên, ai cũng có gùi gạo đầy. Cái đích cuối cùng mà cô phải làm là những dải làng xa xanh kia. Ở đó, cơ sở đang vỡ nát, còn điều này nữa, làm sao giữ cho được lòng tin của mỗi người dân Huế vừa mới nhú lên đã bị tắt ngấm trước áp lực của địch sau chiến dịch Mậu Thân, là những người ở lại, sống trong lòng địch, Hạnh hiểu tâm lý ấy là có thật ở đồng bào. Bây giờ là lúc Hạnh và các đồng chí của cô phải trả lời. Nhen củi ướt trong mưa đã khó. Tạo dựng chỗ đứng cho cách mạng và một mạng lưới cơ sở trong lòng dân chúng khả dĩ hoạt động bình thường còn khó hơn gấp bội lần. Hạnh nghe nói ở Quảng Đà, trong Nam Bộ, lực lượng cách mạng bám dễ dàng trong dân để tổ chức đánh giặc. Cái thế đứng cài răng lược như những năm trước đây, ở nông thôn đồng bằng vùng quê Hạnh vào thời điểm này đã mất. Những cuộc càn quét lớn của địch xen dày trên các vùng đất. Thật sự chúng đã làm được việc chia tách đồng bào với lực lượng cách mạng. Cũng có một vài vùng “lõm” da báo nhưng ở cách xa dân chớ chưa nằm ngay trong các ấp. Làm cách chi phá bung thế kìm kẹp của địch đang đè lên các thôn ấp đồng bằng? Hạnh và đội công tác xã Y đang phải tìm cách giải đáp cho huyện câu hỏi đó. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: BloodX trong 08 Tháng Năm, 2012, 02:01:29 pm Chao ơi, ước chi chị Tâm còn sống. Chị thông minh tài giỏi, gan dạ chắc hẳn chị tâm sẽ gỡ gối cho Hạnh. Một quả pháo quái ác - ấy là cô nghe lân , một chủ tịch xã nằm chung hầm bí mật với chị Tâm kể lại vậy – đã giết chị. Hạnh vẫn còn nhớ như in vào một đêm, cách đây đã ban mă, chị Tâm và mạ là hai người giới thiệu Hạnh và Đảng Nhân dân cách mạng. Trong căn buồng mờ tỏ của ngọn đèn hột vịt. Hạnh quỳ xuống hôn lên lá cờ đỏ có hình búa liềm và cất tiếng đọc lời thề. Chi bộ Đảng vùng sâu chỉ có ba người: Chị Tâm, mạ và anh Quế. Hạnh là người thứ tư. Cô vẫn còn nhớ gương mặt mạ đêm ấy rất khác. Dường như mạ cô đánh mất vẻ âu yêm, cưng nựng con gái thường ngày. Mạ nghiêm nghị hơn, giọng nói trở nên cứng rắn. Mạ gọi Hạnh là “đồng chí”. “-Kể từ hôm nay, đêm 11 tháng giêng, đồng chí Hạnh là đảng viên Đảng Nhân dân cách mạng, sinh hoạt Đảng trong chi bộ của tôi. Đồng chí Hạnh cần…” Không khí trong buổi kết nạp thực thiêng liêng. Hạnh vừa hồi hộp vừa có một cảm giác rất rõ rệt giữa cô và mạ từ nay có một khoảng cách. Nó không chỉ tồn tại thứ tình cảm mẹ con thường ngày, mà bắt đầu hình thành nên một quan hệ mới mẻ. Và trách nhiệm của cô thực là lớn lao. Những việc mạ hay chị Tâm giao không còn là sự giúp mạ, giúp chị Tâm nắm tình hình địch trong thôn xã, về Huế chuyển thơ hoặc nhận thơ ở nhà bà giáo Luyến. Từ nay sẽ là công việc, là trách nhiệm của cô, một Đảng viên được Đảng giao nhiệm vụ. Một tai họa đã giáng xuống bất tử. Tên Năm, nhân viện trong cơ quan huyện ủy chiêu hồi. Hắn nhiều lần theo chị Tâm đi lấy gạo biết được nhà Hạnh. Địch tổ chức vây chụp b ất ngờ. Một mình mạ cô chống trả với một trung đội bảo an bằng khẩu AK báng gấp và gần một chục trái lựu đạn US. Ngôi nhà của Hạnh bị thiêu cháy ra tro trong ngày lính quận về, hy vọng bắt sống được những tên “ Việt Cộng” cỡ bự nằm vùng ngày trước mũi quốc gia. Hạnh thoát chết. Hàng chục ngày sau, cô không giải thích nổi vì sao mình lại thoát chết. Do bờ mương có hàng tre gai dày đặc bao phủ hay chính bởi do mạ cô biết tình hình nguy ngập đã mở đường cứu thoát con gái. Gần chục ngày trời Hạnh chui lủi trên đồng, giấu mình trong những bụi gai, dứa dại ở các làng hoang để tìm đường lên núi. Ban đêm, cô ra ngoài đồng hái lượm được cái gì ăn cái nấy. Cô không biết con đường lên xanh. Lối sống hợp pháp đã khiến cô vất vả vô cùng trong những đêm một mình lần mò giữa cánh đồng đầy mồ mả. Tai chưa quen nghe tiếng động để phân biệt địch ta, mắt không biết định hướng đường. Có những lần Hạnh vấp phải tụi bảo an nằm phục ngay ở đầu làng Liễu Nham. Súng nổ dữ dội, cô cắm đầu chạy thục mạng. Hạnh bây giờ mới ân hận những ngày sống bên mạ, cô không chịu dò hỏi kỹ lưỡng lên căn cứ đi hướng nào. Mạ có lần lên trên đó năm 1967 dự đại hội Đảng bộ của huyện. Mạ phao tin với mấy bà quanh xóm là vô Sài Gòn đám cưới đứa cháu ruột. Chị Tâm đã cho người về đón mạ đi. Mạ ở trên căn cứ năm ngày. Một lần hai mẹ con đi chợ, lựa lúc vắng người mạ chỉ cho Hạnh Hòn Vượn. Mạ biểu đường lên xanh hướng đó Hòn Vượn bây giờ là căn cứ giặc, bằng mắt thường, cô nhìn thấy con đường xe ủi cày đỏ lòm chạy quanh từ chân núi lượn vòng lên tới đỉnh. Những họng pháo “một lẻ năm ly” đêm đêm tóe lửa đầu nòng. Tiếng đề-pa vọng về làng nghe rõ. Lát sau dội lên tiếng nổ rất xa, ngả trên núi. Tới đêm thứ mười Hạnh gặp may. Bộ đội “anh Phong” đi đồng bằng bắt gặp cô đang ngồi ở ngay bãi cồn mồ mả đầu làng Văn Xá Trung. Sau lúc biết đích là “bộ đội” đàng mình, nhận ra cả cô Điều, Hạnh òa khóc.
Thấm thoát đã một năm rưỡi, từ ngày mạ mất. Một năm rưỡi, cô thực sự đổi khác. Cơ thể đứa con gái phổng phao và cuộc sống người cán bộ vùng ven ăn sâu vào Hạnh. Bữa gặp lại cô, chú Miên đã phải bật khen: - Chà …chà… con nhỏ. Cơm gạo cách mạng nuôi mi thật không uổng công nha. Hạnh cũng cho mình là một người từng trải, dạn dày. Nhất là những ngày gần đây khi toán bộ đội về bổ sung cho xã. Cô bằng tuổi Cường, chỉ kém nhau xuýt xoát vài tháng. Hạnh cố gắng không muốn để cho những người bộ đội coi thường cô, với cương vị một chủ tịch xã. Chi bộ Đảng xã Y bây giờ đã đủ 3 người. Chú Miên giữ vai bí thư. Bí thư mà lại không đi lại được, không trực tiếp chỉ đạo phong trào, nắm cơ sở nhiều khi cũng kẹt. Nhưng Hạnh không thể làm một lúc hai việc. - Chị Hạnh chưa ngủ hả? - Có chuyện chi đó Mộc? – Hạnh nhỏm dậy khỏi võng quờ chân xuống tìm dép. - Đi bắt ốc! – Mộc đã cầm sẵn chiếc bao cát và con dao Mỹ. Ống quần xắn cao, đi đất – Nếu chị mệt không đi được cho em mượn cây đèn pin. - Đi hè… Chị em mình cùng đi cho vui. Chờ chị chút nghen Mộc. Hạnh lội trước. Chiếc đèn pin trên tay cô được bọc kín bằng vải xanh chỉ lộ ra lỗ nhỏ tròn vừa bằng miệng chiếc nón. Con suối chảy ra từ dưới chân Động Ngang, lòng suối hẹp nhiều đá hộc. Những con ốc chỉ to hơn đầu đũa, vỏ đen, cứng bám chặt vào đá. Lũ cua ốc đã bị rượt bắt nhiều lần, nên muốn bắt được chúng phải đi xuôi khe một đoạn khá xa. Hạnh đi trước, tay cầm đèn, tay cầm dao. Mộc đi sau tay cầm sẵn bao cát. Phát hiện những con ốc Mộc nhanh tay lượm. Những hòn đá mọc đầy rêu trơn nhẫy, thỉnh thoảng hai chị em trượt chân, nước bắn tung tóe. - Gắng kiếm được ít con về mai nấu canh, chị Hạnh. - Ờ…Ở quên em đã bao giờ đi bắt ốc thế ni chưa, Mộc ? - Hừ… tụi em đi bắt ốc bươu. Sáng ra đi quanh bờ ao, bờ ruộng ốc nổi lên vớt cho vào giỏ. Vào những ngày mưa rào, rủ nhau đi soi đuốc bắt ếch. Chị đã đi bắt ếch bao giờ chưa? - Chưa. Mạ chị chẳng khi mô cho ra khỏi nhà vào ban đem. Mà ở đây cũng chẳng ai đi soi ếch ban đêm. - Sao vậy? - Sáu giờ tối, tụi ngụy đã ra lệnh giới nghiêm. Ai có việc cần kíp ra ngõ lúc đó, phải mang đèn. Mộc mải hóng chuyện, trượt chân ngã, chiếc quần ướt sũng nước. - Chết chưa. – Hạnh giơ cây đèn pin cười trêu. Đến một đoạn nước sâu, dưới đáy có cát. Hạnh tắt đèn, những con cá xanh thấy động chạy loang loáng, bỗng bắt gặp một vùng ánh sáng dừng lại. Hạnh vung dao chém mạnh. Một con cá nổi phềnh bụng trắng, đứt thành hai đoạn. Cô chém tiếp mấy nhát nữa được tất cả bốn con cá to bằng hai đầu ngón tay. Như vô tình Hạnh hỏi Mộc: - Anh Cường cùng quê với em à? - Đâu có. Em ở Phú Thọ. Còn anh Cường ở Thái Bình. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: BloodX trong 08 Tháng Năm, 2012, 03:55:56 pm (Nốt đoạn cuối của phần 5)
Hạnh khẽ mỉm cười, Mộc không thấy được. - Anh Cường có vẻ khó tính, phải không… Như một ông già ấy. - Ư… Anh Cường dễ chịu chứ. Ngày còn ở đại đội, tụi em quý anh ấy lắm. Già chi… Chị không biết chứ, anh Cường có giấy báo vào Bách Khoa, nhưng không đi đại học mà xin đi bộ đội. Điều này, thì quả thật Hạnh không hay. Mộc nói thêm, có vẻ thích thú: - Anh Cường làm thơ hay lắm đó… chị Hạnh đã được anh ấy đọc cho nghe bao giờ chưa? - Chưa…Chưa bao giờ. – Hạnh thú nhận – Chị có nói chuyện với anh Cường toàn là bàn bạc chuyện công tác. Chợt Hạnh hỏi: - Về xã em có buồn không Mộc? - Gì mà buồn. Đã là lính thì đâu chẳng vậy chị ! Mộc nói thêm, giọng thiệt thà. - Bữa nghe anh Cường và mấy đứa điều về xã Y, em xin với thủ trưởng Triều, theo về với anh Cường. - Bây giờ bộ đội là người của xã, đói no chi mấy chị em mình cùng chịu. Chị chỉ mong mình mở về được dưới dân, em khỏi lo chuyện đói. - Chị Hạnh, vậy chị không phải là người Huế? – Mộc hỏi. - Không. Chị đẻ ở Hương Trà. - Vậy mà em cứ tưởng… Hạnh lia đèn pin, phát hiện được ra một con cua đá đang bỏ chạy. Mộc đưa cho Hạnh cầm bao cát và khuân từng viên đá tìm bắt con cua cho bằng được. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: BloodX trong 09 Tháng Năm, 2012, 09:02:51 am SÁU Phong là người đứng dậy đầu tiên. Mọi người cũng tản về nơi để gùi của mình. Những bao gạo năm mươi cân, căng tròn như những con lợn. Có hai lớp bao bọc bảo quản, dù gặp mưa giữa đường cũng chẳng sao. Chặng đường gùi từ kho binh trạm về đến hang đá, đi bộ hơn một giờ. Cõng gạo những người lính vận tải phải đi mất ba giờ đồng hồ. Cánh con trái cứ mỗi người một bao năm chục ký. Phụ nữ ba người hai bao. Suốt ba tháng nay, đại đội vận tải bước vào chiến dịch vận chuyển gạo đan. Mỗi đại đội phải đảm trách một tuyến, chia ra thành từng cung đường giao cho các trung đội phụ trách. Hôm nay, ngày cuối cùng trong đợt vận chuyển một trăm tấn gạo, đạn của trung đội 2. Họ chỉ đi có một chuyến, chiều nghỉ. Chờ cho anh em đi hết, Phong mới nhấc chiếc gùi bám theo đội hình. Con đường rừng sau cơn mưa giông đêm qua nhiều đoạn đọng nước lầy lội, in chi chít vết chân dẹp đạp xéo lên nhau. Từ ngày về đại đội vận tải của cụm cánh bắc, học theo anh em trong đơn vị, Phong đã sắm cho mình đôi dây gùi tốt. Miếng nệm lót vai cắt ra từng miếng mút dày. Và một đôi tất. Chỉ khác một điều đôi tất của anh là tất Mỹ, anh lượm được trên bãi ngụy bên bờ Khe Trái. Ngày trước, chỉ khi nào ở nhà trong những tối mưa lạnh, hoặc khi người lên cơn sốt Phong mới sử dụng đến tất. Còn bây giờ, đôi tất trở nên đắc dụng. Năm chục ký hàng trên vai, đường lên dốc, xuống dốc, đi dọc triền khe, chân trần xỏ dép cao su vào những lúc đường trơn không chịu nổi. Những người lính gùi nhà nghề may bao tất vải, ôm gọn bàn chân vừa tránh vắt, vừa khỏi trượt. Bao hàng năm chục ký, sức nặng đè lên đôi vai, đôi chân, mặt luôn cuí xuống đất. Phong mất đứt một tháng trời để làm quen với công việc của người lính vận tải. Cấp trên đã quyết định chuyển Phong về đơn vị hậu cần, sau khi anh không nhận chức trợ lý tác chiến cho huyện đội… Lý lẽ của Phong đưa ra: anh sẵn sàng về bất cứ một đơn vị chiến đấu nào của tỉnh, của Quân khu cũng được, nhưng về huyện dứt khoát anh không chịu. Cùng với Phòng còn có Tam, đại đối phó và Hỉ, chính trị viên đại đội 3. Tam cương quyết không ở tuyến giáp ranh mà xin về một đơn vị sản xuất của huyện ở miền Tây, vùng Hang Đá. Hỉ xuống đơn vị đường dây, điều về cụm phía Nam. Ông Thái Long cũng không quên tám trường hợp chiến sĩ, cán bộ tiểu đội đã tự động bỏ đơn vị ra đi. Chỉ riêng ba cán bộ tiểu đoàn – Nhàn đã hy sinh – là về cơ quan tỉnh đội cùng với cậu “ cơ yếu” . Nói chung không khí của tiểu đoàn sau khi đã công bố lệnh giải tán và biên chế cán bộ chiến sĩ về huyện không lấy gì làm vui vẻ. Bàn giao đại đội xong, nghỉ lại hai ngày, Phong khăn gói lên sông Bồ về đơn vị mới. Dưới con mắt của những chiến sỹ trong đại đội vận tải, Phong như một cán bộ đại đội bị kỷ luật. Anh đọc được ở họ sự nghi ngại vả cả chút coi thường. Dù nghe phong thanh ngày còn ở K10, Phong đã từng làm đại đội trưởng một đại đội chủ công và đã có hai huân chương chiến công. Đại đội vận tải quân số hơn một trăm người nhưng phụ nữ có tới mười bốn cô. Họ làm nhiệm vụ nấu ăn, y tá và chỉ có một số ít tham gia vào các trung đội gùi. Chính trị viên đại đội vận tải mới hai nhăm tuổi tên là Thoan. Anh ta được điều về đại đội vận tải từ ngày đầu tiên mới thành lập. Tuổi chưa cao nhưng vóc dáng bề ngoài của Thoan già trước tuổi. Bộ mặt đầy đặn nhiều trứng cá. Tóc cắt cao luôn chải mượt. Thoan tự giới thiệu với Phong, đã tốt nghiệp trường sĩ quan ngoài Bắc rồi mới đi Nam đánh Mỹ (!), vào buổi tối hôm anh mới về nhận nhiệm vụ. Hiện tại Ban chỉ huy đại đội vận tải chỉ có hai cán bộ ở nhà. “Nghe tin ông được tăng cường cho tôi, tôi mừng quá – Thoan thân mật nói – Bốn tháng vừa rồi mình tôi chèo chống. Ông Mạo thì ốm lên, ốm xuống. Cũng may công việc ổn cả. Giờ thêm có ông, hẳn tôi sẽ nhàn được ít chút… Ông đã có vợ con gì chưa nhỉ ?” “-Chưa”. – Phong khẽ nhếch miệng cười. “- Về đây, ông nên yên tâm công tác. Anh em đại đội ta cũng thuần cả… Thú thực cũng có vài cậu ba gai, tôi trị thẳng tay dạo vừa rồi, giờ cũng đỡ”. “-Vâng…” – Phong đáp cho qua chuyện. “-Cô Nhu đâu rồi nhỉ? – Thoan gọi với ra ngoài – cho tụi tôi ấm nước nào”. Một tiếng “dạ” vọng lên từ gian nhà bếp. Phong đoán hẳn là cô gái nấu ăn cho bếp đại đội… Nghe Thoan nói, Phong cảm thấy tưng tức. Anh ta lộ ra vẻ kẻ cả, khoe khoang. Ừ, thì cứ cho là công lao của Thoan đi, những việc gì phải nói ra lúc này, khi anh chưa hiểu đầu cua tai nheo tình hình đơn vị? Phải chăng Thoan muốn trấn áp phủ đầu Phong. Thì cứ việc. Nào anh đã có đòi hỏi gì ở anh ta… Phong nói cho Thoan yên tâm: - Anh Thoan ạ, tôi sẽ cố gắng làm tròn trách nhiệm của mình.. Anh đừng lo. - Tất nhiên rồi… - Thoan nói không kém phần hào hứng – Mình tin chứ. Dù sao cậu cũng là người chỉ huy. Chỉ ba ngày sau, sống chung với Thoan một nhà, ăn cùng mâm, Phong đã phải ớn anh chính trị viên của mình. Nhìn hai ngón tay Thoan móc trong túi cóc ba lô ra một điều thuốc là “Tam Đảo” – và chỉ một điếu- anh ta phóng cặp mắt tới chỗ Phong: - Cậu hút thuốc không ? - Cám ơn, tôi hút thuốc lào – Phong đáp, dù anh là cây nghiện nặng – thuốc lá nhạt phèo, chán lắm. Phong còn nghiệm thấy, Thoan chỉ hút thuốc lá vào những lúc trong nhà vắng người. Còn lúc họp giao ban đại đội, ít khi nào thấy Thoan chìa bao thuốc cho mấy anh cán bộ trung đội. Chiếc ba lô con cóc của Thoan, khó ai biết được có những của cái quý gì giấu trong đó. Căng phồng, chật cứng. Hai chiếc ăng gô Trung Quốc, nước mạ ánh lên màu đồng thiếc. Lủng củng, lảng cảng những lọ Sê rê pa, B12, long não, và những gói Poolivitamin, ngoài ra còn có cả hai gói mì chính. Ấy cũng bở một lần, Thoan tìm chiếc lọ đựng đá lửa, anh ta giở chiếc ăng gô ra, Phong vô tình nhìn thấy được. Thoan có một chiếc ấm pha trà bằng nhôm. Những anh lính giải phóng kiêm thợ gò khéo tay đã biến một chiếc bi đông hỏng thành chiếc ấm trà có đủ cả tay cầm, nắp ấm. Chiếc ấm là tài sản riêng của Thoan. Anh ta gói kỹ trong một mảnh dù pháo sáng. Lâu lâu, Thoan mở gùi lấy ra lau chùi chiếc ấm bóng nhoáng. - Tớ phải đổi ba lạng mì chính cho cánh lính pháo đấy. – Thoan khoe – Cậu coi đẹp “hết ý” chưa. Sau này về, tớ sẽ trưng trong chiếc tủ gương. Chẳng thua gì một cái ấm Giang Tây của anh Tầu. Ấm này pha trà có tới đời cháu nội cũng không hỏng. Phong nghe anh ta nói, phì cười. - Sao ông không tính tới một quả bom rơi lạc vào hậu cứ, lại trúng hầm của ông chẳng hạn? - Hừ, đầu óc cậu vẫn chưa thôi ám ảnh của một anh lính bộ binh – Thoan tỏ ý không hài lòng – Chúng ta là đơn vị vận tải ở tuyến sau… Nhưng cậu nói cũng đúng, ở đời ai biết trước được sự may rủi. Thoan có một giọng nói to, đĩnh đạc, dù trong nhà lúc ấy chỉ có hai người. Nhưng tiếng nói của anh ta rin rít qua hàm răng đều tăm tắp và nhỏ. Trung đội hai của Mịch được phân công lên tuyến một, nhận gạo đạn tại kho của binh trạm. Phong đề nghị với Thoan để anh đi với trung đội 2. Gần đường xe, địch hay đánh bom, nên cần một cán bộ đại đội nằm tại chỗ. Trung đội ông Mịch đi trước ba ngày, Thoan cử lên thêm Hải, một cậu y tá của đại đội vận tải, chăm lo sức khỏe cho bộ đội B2. Suốt đợt vận chuyển Phong ít bỏ buổi nào. Anh đặt chỉ tiêu cho mình, cố gắng đạt năm mươi phần trăm số lượng hàng của đại đội đã khoán cho mỗi chiến sĩ. Tự bản thân anh vượt kỷ lục. Mỗi tuần Phong về chỗ Thoan báo cáo công việc và nhận kế hoạch cho trung đội 2. Những ngày đầu tiên đi gùi gạo, anh chưa quen, bao gạo năm mươi ký đã được san bớt mười ký đè lên đôi vai anh bỏng rát. Một tuần sau, anh đã quen và quất lên vai cả bao nguyên, đi ngon lành, như bất kỳ một chiến sỹ gùi thực thụ. Anh đã tự phá cái ranh giới giữa mình với anh em trong đơn vị của ông Mịch. Dù sao anh vẫn là một con người sống trầm lặng. Phong chưa hề kể cho mọi người nghe những ngày đã sống và chiến đấu ở K10. Anh cọi thuộc về dĩ vãng chỉ thức dậy trong lúc một mình cúi mặt nhìn sát đất trên con đường xuyên rừng, bao gạo tỳ trên vai hoặc những đêm khuya, anh nằm gọn lỏn trong chiếc võng. Đấy mới là cái thế giới sống động của riêng anh: cồn cào mãnh liệt và chua chát. Có chăng, người hiểu được phần nào tâm trạng của Phong là ông Mịch. Vài tháng nữa, ông Mịch đã bước sang tuổi bốn mưới ba. Té ra ông Mịch đầu quân cùng một lượt với ông Sủng, Cường… Gốc người Ninh Bình nhưng lấy vợ quê Thái Bình, rồi sinh cơ lập nghiệp ở đây. Vào tới binh trạm 47, ông Mịch lăn ra sốt. Lên cơn ác tính, tưởng chết. Năm tháng sau, sức khỏe ông Mịch lại hồi phục, quân lực Quân khu đưa ông về đại đội vận tải cụm cánh bắc. Ông được phong cấp hạ sĩ từ ngoài Bắc. Ông là đảng viên nên được đưa lên làm trung đội phó, thay cho một cậu cán bộ khung huấn luyện, đến ngày lên đường vào Nam bỗng lăn ra ốm. Bấy giờ ông Mịch giữ cương vị trung đội trưởng phụ trách trung đội 2. Nghe Phong báo tin một loạt chiến sĩ cùng vào chiến trường với ông như Thắng, Chiến, Tý, Nam, Thành đều ở chung với ông một tiểu đội ngày trước nay đã hy sinh, ông Mịch không khỏi ngậm ngùi. Vào những buổi tối ở hậu cứ, gần về sáng, sương muối xuống nhiều. Ông Mịch thường dậy sớm thổi lửa, nấu nước trà và gọi Phong dậy uống. Chè rừng ở đây nhiều vô kể. Họ đi lấy về từng bao tải, băm nhỏ, đạp rồi sao khô. Vị chát,hơi hăng nhưng uống quen cũng thú vị. Hai người chuyền tay nhau chiếc điếu cày. Gói thuốc lào Bắc, món hàng nhu yếu phẩm quý giá của tỉnh cấp cho mỗi người lính. Mỗi tháng một gói năm mươi gram. Sợi thuốc vàng ươm, thơm. - Anh hỏi tôi ngày trước làm nghề gì hả? – Ông Mịch dẩu mồm tuôn ra luồng khói thuốc lào đặc quánh – Tôi nói sợ anh không tin. Trước khi đi bộ đội, tôi ở công ty vệ sinh, làm cái anh chuyên đi “đổ thùng” ở trong các nhà vệ sinh công cộng, hoặc tư gia. Phong bây giờ mới được nghe tên một danh mục lạ tai. - Sao lại “đổ thùng” - Quê anh đồng ruộng làm gì có, nghề ấy chỉ có ở các thành phố, thị xã. Đi lấy phân ấy mà… Tôi đã sống mười lăm năm với cái nghề “đổ thùng”. Mỗi đêm cứ ba người một chiếc xe bò bưng kín, chở đầy các thùng phân… Gớm anh đừng tưởng, vùng ngoại thành trồng rau, không có cái phân bắc ấy là hỏng. Rau tốt lá, tốt củ lại không hại đất… Vợ tôi cùng làm việc ở một công ty, bên bộ phận quét rác. Nói chung vợ chồng tôi đều làm việc ban đêm. Từ năm giờ chiều đến một giờ sáng. Còn lại ban ngày nghỉ, dọn thêm hàng bán nước cho các cháu trông coi… Năm đứa cả thảy chứ ít ỏi gì anh? Túng ra phết – Mịch chép miệng. - Anh cao tuổi, sao họ vẫn gọi nhập ngũ hả? – Phong hỏi. - Lứa quân chúng tôi buồn cười lắm. – Ông Mịch giảng giải – một đại đội chia ra hai loại tuổi. Lớp trre cỡ mười bảy, mười tám, lớp già từ ba nhăm đến bốn hai…, nghĩa vụ, tuyển quân, trai tráng các làng đi hết. Bây giờ tới lượt học sinh, cán bộ trong các cơ quan. Có cậu đang học đại học ấy chứ. Chợt ông Mịch hỏi Phong: - Anh đi B từ “sáu ba”? - Sáu ba ! - Chậc … chậc. Đúng là gạo lọt sàng. Phong nhếch mép cười, nhấc điếu cày rít suông thông điếu. Những giọt nước văng ra cháy xèo xèo trên lớp than hồng. Ông Mịch vê sẵn mồi thuốc, đưa cho anh. - Về đây, hẳn anh buồn. Đang làm thân con cá vẫy vùng một phương trời, quen đánh đấm uỳnh oàng… Giờ có khác chi bị cho vào giỏ. - Cũng chẳng sao! – Phong trả lời ông. - Như tôi bây giờ nhiều lúc nghĩ chỉ thương các cháu ở nhà. Ôi chao ! Những đứa con của tôi. Anh chưa có vợ, con. Anh không thể nào hiểu hết niềm vui của kẻ làm cha. Thằng con đầu của tôi đã hai mốt tuổi. Nó hơn tôi một tuổi quân đấy, chuẩn úy rồi – Giọng ông Mịch tự hào, ông ta cười để lộ ra một hàm răng vàng khè vì khói thuốc – Lính pháo binh. Vợ chồng tôi nuôi được từng ấy đứa, lo ăn học thật là cơ khổ… Chà cái dạo cha con đưa nhau đi sơ tán về nhà quê. Đồng tháng năm, mưa ngang bắp cày, tôi dắt mấy cháu đi mót khoai chiêm, đi bẻ ngô thuê cho các gia đình nông dân. Anh tính lương hai vợ chồng tôi cộng lại chưa tới một trăm, chạy ăn cho con méo mặt. Khó khăn gian khổ vậy, rồi cũng qua khỏi. “Ngẫm ra ông bà mình nói phải: Còn da lông mọc, còn chồi nảy cây”. Câu chuyện của người lính già, làm cho Phong thấy đỡ buồn tẻ, ngán ngấm trong những ngày này. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: BloodX trong 09 Tháng Năm, 2012, 09:59:46 am * Phong bước từng bước, châm rãi. Bàn chân núi chặt lấy thanh gỗ lát bậc leo dốc. Phía trước anh, những người lính gùi vẫn giữ nguyên khoảng cách. Người đi đầu tiên đã lên tới đỉnh. Ai đó hà một tiếng lớn. Cách khoảng thung sâu, phía bên kia dãy núi đá, bầy vượn cất tiếng hú gọi nhau rộn rã, vẳng lại tiếng máy bay trinh sát, tiếng máy bay trực thăng phành phạch ở ngả Coocava, Dốc Chè.* * Lên tới đỉnh đồi đoàn người gùi hàng phải dừng lại lấy sức xuống dốc và nhường đường cho một đơn vị bộ đội hành quân cùng chiều với họ. - Đơn vị mô rứa? – Một người lính vận tảy máy miệng hỏi. - Bí mật quân sự ông anh ơi. Thông cảm nhé ! - Biết rồi ! Các ông đi nên tụi Mỹ ở Động Chuối, ai còn lạ. - Đâu có Mỹ ngụy thì tụi này tới đó… Người lính trẻ vui vẻ cười, nháy mắt ra ý thông cảm. - Này các ông mới ở tuyến vô, có thuốc lào cho cánh tớ một ít. – Trung đội trưởng Mịch hỏi xin rất hồn nhiên. Người lính bộ binh tự động tách ra khỏi hàng, ghệ ba lô vào một thân cây đổ, móc trong túi cóc ba lô ra một bịch ni lông có hai gói thuốc lào còn nguyên lành. - Đây xin tặng “bố già”, chừng ấy tuổi đầu bố không ở nhà đuổi gà cho “bu nó”, còn chui lủi vô đây mần chi cho cực. - Thằng Mỹ nó hành đấy đồng chí ạ… Ấy chết, đồng chí cho cả tôi thế này, ,ấy gì mà hút? - Bố khỏi lo. Tụi Mỹ sẽ cung cấp “salem”, “Paman” cho chúng con. – Dưới một bao ruột tượng gạo quấn quanh bụng của người lính, kềnh kềnh khẩu K54, bao da đã lên nước đen bóng. Ông Mịch tặc lưỡi nói với Phong. - Chỉ huy của họ trẻ nhể. Phong không để ý câu nói. Anh chăm chú theo dõi một người lính có bộ râu quai nón không cạo mọc xanh om. Gương mặt cũng còn trẻ. Phong thấy quen quá. Anh ta đang đi từ dưới dốc lên, tay chống chiếc gậy. Bao gạo vắt ngang vai. Khẩu K59, cột dây dù treo phía trước bụng. Ánh mắt của người chỉ huy bắt gặp cái nhìn đầy vẻ chăm chú của Phong, chợt sáng lên. - Cha trời, Trị phải không đó? - Ủa, Phong phải … không … Răng cậu ở đây? Giờ cả hai tay, người bộ đội ôm chầm lấy Phong, Trị thấp thua anh tới nửa cái đầu, người đậm hơn - Trị đây, chớ còn ai nữa. Răng đứa mô nói mi chết ở giáp ranh Hương Trà. Chúng nó còn đồn đại mi đã cưới một cô vợ du kích, rồi mới chịu chết. - Bậy hung ! – Phong phì cười. Anh kéo bạn ra một vạt đất khô, tránh trục đường. Hai người ngồi xuống tảng đá. - Cậu có bận không? – Phong hỏi. - Có thể ngồi với cậu được chừng nửa giờ. Tùi mình đi húc nhau với tụi Mỹ ở Động Chuối đây. - Hiện tại cậu đang ở đơn vị mô? – Phong hỏi bạn. - E3, binh đoàn Hương Giang…Trước tớ nghe đồn cậu về công trường V, răng chừ lại đi gùi gạo? - Công trường V còn đâu nữa. Về tỉnh đội… Và mới đây cả đại đội tớ bị phân tán bổ sung cho huyện, cho xã. Mình không chịu, họ chuyển về đại đội vận tài. Phong kể thiệt thà, không hề có ý định giấu bạn. - Buồn hả. – Trị nhìn thông cảm – Hay là về bên tớ. Tớ sẽ bảo lãnh cho cậu. Bên ni cán bộ đại đội thiếu hung. Trước khi đi chiến dịch, sư đoàn phải đôn lên một đợt. Ý kiến của Trị đột ngột, nhưng lại là điều Phong chưa hề nghĩ tới. Ngồi lặng đi một lát, Phong se sẽ lắc đầu. - Mình chỉ có một ước vọng là được ở đơn vị chiến đấu, trực tiếp chiến đấu. Nhưng đến nước này – Phong lắc đầu tỏ vẻ ngán ngẩm nhưng giọng anh lại quyết liệt – Mình sẽ chứng minh cho họ thấy, mình không phải là thằng hèn. Trị ạ, cảm ơn cậu đã có ý tốt. Nhưng mình chưa phải là kẻ đã mất hết… - Tùy cậu… - Trị bảo. Trị mở ba lô lấy ra hai phong lương khô và nửa tút thuốc lá “Điện Biên” loại bao bạc: - Cầm lấy, tớ chẳng có chi. Hai đứa mình sáu năm rồi mới gặp lại nhau chớ ít à? - Phải, hơn sáu năm… mất vãn cả rồi. Lâu nay cậu có nhận được tin tức chi ngoài quê không? - Bữa trước trên đường dây 559, mình gặp một cậu tân binh ở cùng xã. Cô Thắm không chờ được mình đi lấy chồng rồi. Cậu biết tin Nga chưa? - Nga răng? – Phong khẽ giật mình, anh nói thêm - Mình bặt tin nhà đã lâu. Ở dưới giáp ranh như ếch ngồi đấy giếng, có biết chi. - Nga cùng học chung lớp 10A của ta đó. Nga tham gia tự vệ, trong trận đánh trả máy bay Mỹ ném bom xuống chợ Chéo bị bom hy sinh. - Tội ghê ta. - Ờ… thôi, tớ đi đây không anh em họ chờ nghe. Đánh Động Chuối xong nếu còn sống thế nào lúc trở về, tớ sẽ tìm tới cậu. Hai người siết chặt tay nhau. Trị xốc lại ba lô rẽ theo con đường của những người lính bộ binh vừa đi qua. Trung đội vận tải cũng đã cuốn đi hết. Trên cây gỗ, bao gạo của Phong tựa vào thân cây. Chưa đặt gùi lên vai, anh đã cảm thấy một sức nặng ghê gớm đang sắp sửa kéo ghì anh xuống đất. Chao ôi, ước gì anh là một người lính xung kích trong hàng quân của Trị! Đánh trả thù cho Tâm, cho những người lính tiểu đoàn 10 đã ngã xuống bên vành đai Huế. Nhưng bây giờ , anh chẳng khác nào một tay kỵ sỹ mất ngựa, một gã xạ thủ bị tước mất súng. Và nhẫn nhục cúi đầu cam chịu. Anh nghiến răng, hất mạnh bao gạo lên vai, bước từng bước chậm chạp. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: BloodX trong 10 Tháng Năm, 2012, 09:57:04 am BẢY Phong có cảm giác rất rõ ràng, Lý đang nhìn mình. Và làm như vô tình, anh quay lại cầm chiếc vá để chan canh, quả đúng như vậy. Lý đang ngồi trên khúc gỗ tròn, cưa bằng hai đầu dùng làm ghế ngay trước cửa bếp.- Canh em nấu có được không anh Phong? – Lý hé miệng cười để lộ hàm răng trắng. - Nói chung là ngon … Phong đáp vui vẻ. - Răng lại nói chung? – Lý hỏi tò mò. - Vì đói nên ăn chi cũng cảm thấy ngon miệng. - Anh Phong thiệt là… Này, anh Tam nhắn anh sang đội sản xuất chơi. - Vậy hả? Cậu Tam sang đây? – Phong đặt bát xuống bàn. - Sáng nay anh Tam qua buôn Cu Choi, ghé vô. Anh ấy nhắn anh sang nói chuyện chi gấp lắm – Lưỡng lự một lát, Lý nói thêm – Em cũng có việc qua chỗ anh Tam đó, nhận thư của mẹ em gửi lên. Phong nhìn cô gái giây lát rồi nói : - Chiều nay cơm nước xong, anh em ta cùng đi nghe. - Dạ. Lý nhanh nhẹn ra bàn thu dọn mấy chiếc xoong và cầm luôn chén đũa của Phong đi xuống suối. Phong chui vào căn nhà hầm mắc võng… * “Dù tôi có muốn quên, thì hình bóng của em vẫn cứ tồn tại trong suy nghĩ của tôi, mỗi lúc tôi phải đối diện với chính mình. Trên từng tảng đá, trên con đường rừng ướt lướt thướt vào những ngày mưa dầm dề, ẩn khuất trong những tán lá cây rừng một gương mặt em, cùng với những kỷ niệm của tình yêu.* * Một mùa mưa qua… Hai mùa mưa đã qua. Tôi vẫn còn nhớ buổi chiều em theo những người lính đại đội 1 đi lượm đồ hộp Mỹ ở Động Tranh. Địch rút, căn cứ Mỹ ngổn ngang những đồ hộp dư thải. Bộ đội sau kỳ đánh Mậu Thân lên rừng gặp trận đói khủng khiếp. Mỹ đang đổ quân càn đường tuyến dọc theo thung lũng A Lưới đến tận Dốc Mèo. Cán bộ huyện xã cũng không sao kiếm đủ gạo ăn ở dưới các làng. Sư đoàn 1 bộ binh ngụy và các đơn vị địa phương quân đang truy quét “ Việt Cộng” lên xanh. Cái đói treo trước mắt tất cả mọi người. Nồi cháo môn vót xanh rờn lõng bõng có vài hột gạo không đủ mùi thơm để át đi cái vị hăng nồng của thứ rau rừng. Chao ôi, vớ được đồ hộp Mỹ, những két hộp hầu như còn nguyên vẹn. Còn gì sung sướng hơn. Những ngày địch càn rừng, đội công tác của em phải sang ở chung hầm với bộ đội. Căn hầm mái bằng chật chội. Đang giữa mùa mưa, nền hầm lõng bõng nước. Những cây gỗ gác đà to chưa quá bắp chân, thỉnh thoảng lại chuyển răng rắc mỗi khi có đợt pháo bắn hú họa của địch nổ gần. Phải, những đêm như vậy, hai đầu võng cột chung một cây cọc, em lại kể cho tôi nghe về cái làng Liễu Thượng còn sót lại trong ký ức tuổi thơ của em, và về Huế, một thời con gái em đã sống. Tôi đã ở Huế trong những ngày Mậu Thân. Nhưng tôi chỉ là một chứng nhân cho cố đô vào một thời kỳ bão táp, binh lửa. Những trận phản kích đánh chống càn tụi thủy quân lục chiến Mỹ, có chiến xa yểm trợ nhằm giải tỏa cho Huế. Công việc bận rộn của một trung đội trưởng không còn đủ thời gian cho tôi nhìn rõ từng nóc nhà chợ Đông Ba; vẻ đẹp uốn cong của cây cầu Tràng Tiền, cũng như những tháp mái vọng lâu trong khu Hoàng thành cổ kính. Huế còn lại trong tôi là tiếng đạn pháo, tiếng bom gầm rít trút xuống những mái trường, những góc phố, nơi người lính của tiểu đoàn 10 trụ giữ làm công sự. Là tiếng đạn trung liên, AR15, đại liên xé màng tang của các đơn vị lính thủy đánh bộ Mỹ và ngụy phối hợp xông lên lấn từng thước đất. Những bưa cơm ăn chập chuội còn ấm nóng trong ánh mắt vừa lo âu, vừa thúc giục đông việc của các bà mẹ, các chị Huế. Tôi không biết một tên người nào. Những bà mẹ cách mạng chỉ có thể nhận diện qua gương mặt và những vắt cơm còn in hằn dấu bàn tay trong những chiều mưa xuân rây hạt trên phố. Đây đó , vẫn còn sót lại những cành hoa mai, bích đào trong các vườn nhà chưa bị miểng pháo cưa đứt. Chính là em chứ không phải ai khác, đã hồi phục cho tôi một dáng Huế, với vẻ đẹp văn hiến ăn sâu vào tiềm thức của người dân cố đô. Không gian như ngựng đọng nhuộm vàng bởi ánh nắng thu tàn. Tiếng chuông trong vắt của chùa Từ Đàm ngân lên như hòa tan với tiếng thông reo trên vùng đồi Thiên An, Từ Hiếu… Vào giờ khắc ấy, ở đâu cũng vang lên tiếng chuông thỉnh buổi chiều xen lẫn tiếng mõ khua lốc cốc, rời rạc, cô đơn, buồn bã. Huế trong mắt em đáng yêu đến từng viên gạch lát hè, đến từng chiếc lá rơi thả nhẹ xuống mặt dòng sông tĩnh lặng, tô điểm cho những cánh áo trắng học trò sau mỗi giờ tan lớp. Những câu thơ, những bài hát dân ca tôi nghe đén não lòng, nhưng ở cửa miệng em lại gây cho tội một niềm cảm khái day dứt, da diết mến thương. “Chiều chiều trước bến Văn Lâu Ai ngồi ai câu, ai sầu ai thảm, ai thương ai cảm, ai nhớ ai trông. Thuyền ai thấp thoáng bên sông. Đưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non” “Thuyền từ Đông Ba, thuyền qua Đập Đá, thẳng ngã ba Sình. Lờ đờ bóng ngả trăng chênh. Giòng hò xa vọng nhắn tình nước non.” “Đêm năm canh mơ màng bóng bạn Ngày sáu khắc nhớ dạng thương thầm Nào ai nhắc đến tri âm Lá gan em khô từng chặng, ruột em đau ngầm từng khi…” Những đêm mưa rừng ở Huế thật dài. Con tắc kè trên cây sấu già chốc chốc lại từng tiếng đĩnh đạc, đã mấy lần rồi nhưng trời vẫn chưa sáng. Văng vẳng phát ra tiếng ngáy của những người nằm dưới hầm. Có một cậu nào đó nói mê. Thỉnh thoảng em lại hỏi tôi. - Anh Phong đã buồn ngủ chưa? - Chưa…chưa. – Tâm cứ kể chuyện nữa đi. Làm sao tôi có thể ngủ được với những câu chuyện của em, tuổi thơ của em về một vùng đất mà tôi hằng ngưỡng vọng. Nó xa lạ và huyền hoặc với tôi, khi tôi mới chỉ là một đứa trẻ còn mặc quần thủng đít ngồi trong lòng bà ngoại. Bà tôi, một người đàn bà đã từng đi buồn hàng chuyến vào thấu Huế. Tu Ran. Huế ! Ấy là những cung điện, đền đài mái ngói phủ rêu phong thành kính có những hàng cột, con chữ sơn son thiếp vàng. Còn những người lính canh cổng thành, mặc bộ quần áo đỏ có nẹp vàng, chiếc nón con con che trên đỉnh đầu rũ xuống một tia ngù tía, chân quấn xà cạp. Những người lính đứng im như một pho tượng gỗ, bất chấp nắng mưa. Bà ngoại tôi bảo: “ Nước sông Hương xanh như mắt con mèo già”. “Có xanh giống như nước sông Kiên Giang của miềng không ngoại?”. “ Ăn nhằm chi con. Ăn cho mau lớn vô coi cho biết”. “Răng vô được Huế ngoại?”.”Ráng mà học giỏi như ông Đồ Thông nớ”, Làng tôi có ông Đồ Thông, hay chữ Hán. Nghe bảo ngày trước ông Đồ đã từng vác lều chõng vô Huế thi. Thi cho đến bạc cả tóc, chỉ được cái tú tài. Ông về làng vừa học, vừa mở lớp dạy sắp trẻ nít trong vùng. Ông ngoại, rồi ba tôi cũng đã từng theo học ông Đồ Thông. Khi tôi ra đời ông Đồ đã mất lâu, bị xe nhà binh Nhật cán chết ở ngoài Cửi. Nhưng chuyện về cái sự học hành của ông Đồ, luôn được người làng lấy ra để làm gương cho con cháu. Hình như ngày còn nhỏ, tôi cũng đã từng ao ước được một chuyến vô Huế. Ấy là một buổi chiều, đám trẻ con chúng tôi ra ngoài bờ sông Kiên Giang lặn ngụp mò hến, tắm táp. Thỉnh thoảng có hai chiếc thuyền có mái che, chở đầy lá nón, củ nâu dong buồm xuôi con nước ra biển. Những chiếc thuyền buôn chở của rừng đi Huế. Một đầu con thuyền hai ba chị mặc áo dài, áo cánh trắng ngồi nhai trầu, đánh bài. Còn một đầu thuyền, người lái đò cởi trần, mặc độc chiếc quần đùi giữ lái. “-Thuyền đi vô Huế tụi bây ơi”.Lũ trẻ con reo lên. Vài đứa còn ngổ ngáo lặn một hơi dài, bơi đuổi theo thuyền nương theo con nước, xuôi dòng. Nhưng không một đứa trẻ nào dám bám vào mạn thuyền. Những gã chân sào đều khó tính, mà cũng có thể các bà buôn kiêng kỵ kẻ bám theo thuyền mang đến cho họ những điều xui xẻo trên chặng đường đánh vật với sông nước. Huế ngày xưa đối với tôi chỉ là một ảo ảnh. Còn Huế bây giờ, qua những câu chuyện đêm mưa dầm dề của em thật gần gũi thân thương. Tưởng như tôi đã từng sống ở đấy, cùng em chung những kỷ niệm. Thực tôi khó hình dung ra em, một sự phân thân của hai con người. Một cô đại đội trưởng trinh sát của thành đội Huế, nghiêm khắc rất mực trong những lúc đánh địch mỗi khi về đồng bằng và cũng tỏ rõ là một người tỉ mỉ, cụ thể trong hợp đồng tác chiến với bộ đội. Rất là chỉ cả với em út. Sau cô cậu trinh sát trong đội, một điều “ Chị Tâm” hai điều “chị Tâm”… Những ngày bộ đội khan gạo, thiếu ăn. Em bất chấp địch chốt chặn cửa rừng, em đã đạp đường đưa từng trung đội về Liễu Thượng, về bồn phổ, về Văn Xá Làng, Văn Xá Trung, Bầu Tháp mua gạo, muối mắm , bột ngọt. Nhưng còn một cô Tâm của tôi, dễ xúc cảm và cũng hay thẹn đỏ mặt khi bộ đội chọc và đám con gái bên huyện đội sống sượng ghép đôi với tôi trong mỗi chuyến đi đồng bằng thường hợp quân trên đỉnh Đồi Tranh. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: BloodX trong 10 Tháng Năm, 2012, 09:58:29 am Cả em và tôi đều không ai đoán định rằng tình yêu của mình sẽ đi tới đâu. KHông ai dám nói một lời quyết định. Yêu và được yêu đã là niềm hạnh phúc bất tuyệt cho mỗi người được hưởng trọn vẹn niềm vui ấy trong chiến tranh, khi mà cuộc sống luôn đưa ra những mệnh đề nghiệt ngã bắt mỗi người trong cuộc phải vượt qua. Một chớp mìn nổ bất tử, một mảnh pháo vu vớ, một trái bom trút vội của chiếc phản lực AD6, trước lúc hạ cánh xuống sân bay đều có thể gây ra cái chết cho bất kỳ ai. Lòng dũng cảm của người chiến sĩ được thể nghiệm trong những tình huống cụ thể khi so đọ với kẻ thù mặt giáp mặt, chứ không ai đem ra đối đầu với những điều bất trắc vô tình của chiến tranh. Tình yêu của tôi và em, tự bản thân nó đã là một sự thách thức với cuộc sống hàng ngày. Một đêm, em đưa đại đội tôi về diệt đại đội bảo an số 23, đóng ở đình làng Liễu Thượng. Không gặp địch. Dân báo tụi bảo an đã rút ra ngoài An Lỗ từ hồi chiều. Trung đội nghĩa quân mới nghe vài loạt AK và một trái B40 nổ hất tung cây rơm nơi chúng nằm phục đã vội vã tháo chạy thục mạng, bơi qua con hói sang làng Phú Ổ. Bộ đội tràn vào làng. Đèn đuốc dân thắp sáng trưng, bất chấp những quả pháo địch bắn chặn ở ngoài bãi cồn mồ mả sát rìa làng. Gió thổi tới mùi thuốc pháo hăng hăng. Em đưa bộ đội đi các nhà mua gạo, đậu phộng. Đêm về khuya, việc mua bán đã xong. Em nhủ tôi về thăm ngôi nhà cũ của cha mẹ ở ngoài xóm. Chỉ còn lại nền đất cũ để trơ trọi vài mảng tường đổ rêu phủ đầy trên nền xi măng lở lói. - Lính Diệm kéo về đốt dạo “Tố Cộng”. Ba em là Cộng Sản nằm vùng trên núi hoạt động từ trước. Tôi ra ngồi ở thành giếng. Ánh trăng soi mặt nước trong lòng giếng sáng loáng. Tôi đã nghe em nói một câu phát rợn người, sau lúc em nhìn xuống giếng hồi lâu. “- Anh biết không? Ông nội em đã bị địch trói lại, rồi thả xuống giếng này cho đến chết”. Giọng tôi run run. “-Sao vậy”? “- Tụi lính bắt nội chỉ căn hầm bí mật của đồng chí bí thư chi bộ xã… Ông nội em không biết rằng hàng ngày, đã có một tên trong xóm làm chỉ điểm theo dõi ông mang cơm ra đồng bỏ lại ở ngoài ruộng lúa”. Tôi hơi rùng mình ớn lạnh. Em cảm thấy điều ấy, nên đã khẽ khàng cầm lấy tay tôi. Tôi không ngại những xác chết, nhưng tôi đau đớn. - Một tuần sau, tụi địch rút đi, chú em mới đưa được ông nội em đi chôn cất. Qua mảnh vườn hoang của nhà em, ngoài kia là cánh đồng hoa màu của làng Liễu Thượng được ngăn cách bởi một hàng rào thưa trồng những cây xương rồng và dứa dại.Pháo địch ở Từ Hạ, ở Văn Thánh đã ngưng bắn từ lâu. Xung quanh yên tĩnh, một sự yên tĩnh tới lạnh lẽo, hoang vắng. Và nếu không có những quả pháo sáng trơ trẽn tỏa quầng ánh sáng vàng vọt trong một khoảng không gian mênh mông. Và nếu, lâu lâu ở hướng ngoài đường lộ, không vọng lại một tiếng súng bắn cầm canh phát một của tụi lính tuần, thì không ai nghĩ mảnh đất này là nơi thử sức của chiến tranh, một nơi đang gieo rắc cái chết cho người nhập cuộc. Một nơi mà mỗi số phận con người đều phải tự tìm lấy cho mình câu trả lời về lẽ sống. Tôi mê đi trong những suy tư đang trào dâng bởi hơi ấm của vong tay em xiết chặt. Đôi môi em căng mọng. Và, tôi đã bắt gặp cái đốm sáng phát ra từ đôi mắt em bất chật ngước nhìn lên vòm trời xanh thăm thẳm, đan dày những ngôi sao đêm hè. Ánh mắt ấy đã là câu trả lời của em cho cuộc chiến đấu mà em theo đuổi và sưởi ấm cho tình yêu của tôi. Tôi không phủ nhận, rằng em là người nâng đỡ cho tâm hồn tôi có lúc tưởng như suy sụp. Ngày ấy tôi chỉ là một anh trung đội trưởng. Một trung đội – (nào có ra cái trung đội !) mười bốn tay súng, vừa bị thương, vừa sốt rét. Thỉnh thoảng lại một chiến sĩ hy sinh vì vấp mìn do địch gài trên con đường trục, hoặc bị phục kích. Bốn giờ sáng chúng tôi đã trở dậy lo cơm nước. Ăn xong, mỗi người một cục cơm vắt, vác B41 ra ngoài ngã ba cách hậu cứ trung đội nửa giờ ngồi phục kích. Từng phút tôi ngóng tai nghe một tiếng động lạ, phát ra từ trong đám lá cây rừng rậm rạp. Cứ tưởng là bước chân tụi ngụy, hóa ra chỉ là một đàn duộc kéo nhau đi ăn, động cành và lục cục khuân đá dưới lòng khe cạn để bắt những con cua đá, ốc đá gày đét sống nhờ vào lớp rêu. Một lần tôi nhìn thấy một chàng vượn, làm nhiệm vụ cảnh giới cho cả đoàn bắt ốc. Con vượn đực nhặt được một chiếc mũ sắt của lính ngụy. Nó ngồi trên tảng đá, chụp mũ lên đầu gãi bẹn cười khành khạch. Chơi chán chú vượn quẳng cái mũ va vào đá loảng xoảng. Ngồi suốt từ sáng sớm cho tới bốn giờ chiều cảnh giới địch. Mỏi mắt, căng thẳng đợi chờ. Mệt, thèm thuốc nhưng không được hút. Có nhiều lúc tụi địch tới, hạ trại đóng kề bên. Không đánh được vì trung đội không đủ lực và còn là một cách để đảm bảo sự bí mật cho con đường trục nối về với tiểu đoàn. Đạn B40, B41 càng hiếm. Mỗi khẩu chỉ còn hai ba quả, dành cho những chuyến đi đồng bằng và một khi xảy ra những trận đánh tao ngộ chiến. Những lúc ấy, tự nhiên tôi lại mong địch xuất hiện trước mũi súng để được ấn vào vòng cò khẩu B40 đã bỏng rát trên vai, trĩu nặng. Đánh để trả thù cho một sự tức tối, căng thẳng kéo căng dây thần kinh vì chờ đợi. Bắn một phát B40, xả vài loạt AK, rồi rút. Muốn ra sao thì ra. Pháo ư? Mặc kệ pháo. Địch phát hiện ra hậu cứ? Thì đánh. Đánh xong rồi bỏ. Tôi không suy nghĩ tới hậu quả sau đó. Ngồi nghe tiếng địch chặt cây, mắc võng ở trong bãi ngụy mà tức như bò đá. Ôi ước gì có một khẩu cối 60 ly và hai chục quả đạn. Một khẩu B41 với dăm cái bắp chuối. Ba đứa tôi dư sức nên cho trung đội ngụy sặc máu. Nhưng mong ước không thể đẻ ra đạn và những trận đánh. Tôi không hề tức tối cậu Dần, chiến sĩ của trung đội tôi ngày ấy, trong lần đi phục kích đã xả một loạt AK, chỉ vì nghe tiếng cây rừng ràn rạt, tưởng tụy ngụy hành quân. Hóa ra là một cặp vợ chồng gấu chó dạo trên đám cây giang. Căng thẳng quá mà ! Hai ngày sau, lúc lau súng , thằng Dần bị cướp cò. Viên đạn ăn chéch vỡ xương cổ tay trái, đứt gân. Nó không hề kêu la, nhận kỷ luật với chỉ huy đại đội. Nhưng tôi thì biết rằng nó đã cố ý làm cho viên đạn cướp cò, tự thương, tìm thấy một con đường lui về tuyến sau để giữ trọn vẹn “cái gáo”. Tôi khinh ghét thằng Dần, nhưng không giận nó. Ai dám đoán chắc, tôi trong những lúc ngồi bó gối dán mình sau gốc cây to, ngong ngóng cầm khẩu súng cảnh giới. Tiếng mưa rơi lắc rắc trên tấm áo ni lông. Thỉnh thoảng tôi lại lấy môi liếm những giọt nước mưa rỉ xuống từ chiếc mũ vải mềm ướt sũng, tôi đã chẳng ao ước cho một ngày nào đó được trở lại quê hương, vùng vẫy trên dòng sông Kiến Giang, nằm toài dưới bóng tre râm mát nghe vân vi tiếng ve, mắt dõi theo cánh diều đang đọng nắng giữa vòm trời cao vòi vọi kia… Tôi chẳng đã có một ý nghĩ được bị thương nhờ một viên đạn, một mảnh pháo lạc bất tử để nhẹ nhàng rút ra khỏi cuộc đấu sức căng thẳng, và không cân sức lúc này? Tình yêu của em đã cứu tôi ra khỏi những giây phút mà trạng thái tâm lý bế tắc, u uẩn. Tôi cảm thấy xấu hổ, hai tai nóng bừng khi giáp mặt em. Nhìn thấy em hai ống quần xắn cao, vo tròn dưới gối, chiếc thắt lưng Mỹ, có hai trái lựu đạn. Khẩu AK báng gấp khoác hất ra sau vai, nòng chĩa về phía trước hơi chúc xuống đất. Lọn tóc được buộc bằng một sợi len đỏ. Gương mặt em hồng lên bất chợt, và khẽ mỉm cười. tôi đã phải tránh ánh mắt ấy. Tôi tưởng như ánh mắt của em là hai ngọn đèn soi thấu tâm hồn tôi, đọc được ở trong tôi những ý nghĩ đớn hèn và sự khắc khoải, mỏi mệt. - Anh mần răng rứa, anh yêu của em? Giọng em nói nhỏ, vừa đủ cho tôi nghe và bị chìm vào lẫn trong tiếng chân của mấy người đang lội dọc theo khe suối trước mặt. - Không… không sao cả. Tâm à. Tôi như kẻ ăn vụng bị bắt quả tang. Và bản lĩnh của một anh cán bộ đại đội, vốn có tiếng dũng cảm, liều lĩnh lại trở về với tôi. Tôi hăng hái dẫn bộ đội đi xuống làng đánh bọn bảo an, hoặc thậm chí tập kích vào tụi sư đoàn 1, đóng dã ngoại ngoài con đường chiến lược. Tôi đã đánh là thắng. Cánh biệt động huyện đội, trinh sát thành phố, trinh sát Quân khu nhìn tôi nể phục. Những đêm về làng vượt đường quốc lộ, xuống vùng sau họ sẽ yên tâm hơn, tin hơn nếu biết có tôi đi cùng bộ đội C1, đi trước đánh mở đường. Nhưng những người du kích có biết đâu rằng, trong những ngày ở rừng cái thằng tôi hèn kém trong tôi có lúc trỗi dậy, buồn nản, yếu ớt… May mà người ta không đọc được những ý nghĩ của nhau giấu trong đầu. Nếu ý nghĩ biết hiện hình nắm bắt được thì thật là khủng khiếp, tai vạ. Nhưng, có lẽ chỉ có vậy thì con người mới vẹn toàn hơn, trung thực hơn chăng ? Kẻ đớn hèn trong tôi, tốt hơn lên, trung thực hơn lên và giữ được mình trên cái bờ vực của sự sa ngã chính là một phần ở em. Tưởng em là người cứng rắn, hóa ra lại mau nước mắt. Bữa tôi đánh về chợ Văn Xá, bị thương vào bụng. Một viên đạn cực nhanh đã xuyên thủng hai lỗ. Thương binh lên tới cửa rừng, gặp tôi em đã không còn giữ nổi tình cảm của mình trước đám cô Liễu, cô Huệ, chị Don bên huyện đội cùng đi đồng bằng đêm ấy. Em khóc, và cứ níu lấy đôi bàn tay lạnh giá của tôi. Bị thương nặng, nhưng đầu óc tôi vẫn tỉnh táo. Tôi khẽ quờ tay, lau những giọt nước mắt ấm nóng chảy dài trên gò má của em. Kinh nghiệm cho hay, kẻ bị thương nặng mà tỉnh, thường khó qua khỏi. Em càng hoảng sợ. Cứ vài phút em lại đưa bàn tay sờ vào ngực tôi coi thử tim tôi còn đập hay không. - Em sợ anh chết hả. – Tôi cố đùa. - Đừng nói nữa, anh… Em cầu nguyện cho anh đừng có bị sao. - Cầu ai ? Em định cầu trời khấn phật ư? - Thôi quỷ ạ. Em đang buồn thối ruột thối gan ra đây mà anh còn đùa… - Em khỏi lo, thằng Nhô nối ruột còn tài hơn tay thợ vá ruột xe đạp bị thủng. Hơn hai tháng nằm viện, lần đầu tiên tôi mới hiểu bị thương là một điều tệ hại. Tôi nguyền rủa nó như đã từng nguyền rủa những chiếc máy bay trinh sát OV10 “cán gáo” vào giờ nấu cơm vẫn còn rè rè rà sát xuống mong tìm ra nơi trú quân của “ Việt cộng”. Tôi nhớ từng nghe pháo rít trên đầu, nhớ từng cánh rừng vùng giáp ranh. Và nỗi nhớ day dứt khôn nguôi quặn lên từng đêm là những kỷ niệm đã có với em. Tôi mong được xuất viện từng ngày, sẽ băm bổ vượt đường tuyến qua sông Bồ để tìm về với đại đội. Những vết thương vừa mọc da non, những cơn sốt thường kỳ lại kéo đến quật ngã tôi không cho ngóc đầu dậy. Đã đến lúc bệnh tật trả thù tôi, không phương chống trả. Vào một ngày giáp năm, chỉ còn gần chục ngày nữa là Tết, tôi lên đường về đơn vị. Ở bãi đá ngang sông Bồ, tôi đã gặp Lân, chủ tịch xã T, cùng đoàn cán bộ của huyện đi sang tỉnh họp, vừa kết hợp đưa thương binh chuyển lên tuyến trên. Họ đang ngồi dưới gốc cây rậm rạp bên bờ sông chờ vượt sông. Hầu hết tôi đều quen biết, không một ai nói về chuyện Tâm. Họ hỏi thăm sức khỏe của tôi và vui vẻ nhận thuốc, ăn kẹo tôi mời. Mãi sau, Lân kéo tôi ra một quãng. Anh tả hỏi, nhưng lại không nhìn vào mắt tôi: - Tâm hy sinh rồi, anh đã biết chưa?... Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: BloodX trong 14 Tháng Năm, 2012, 01:56:52 pm TÁM Lửa cháy sáng bập bùng hắt lên những gương mặt ửng đỏ. Rượu nấu bằng sắn xem ra cũng năng đô. Tuy nhiên thịt còn nhiều và riêng nồi cháo duộc hầu như chưa ai đụng tới. Chiếc xoong cháo đặt bên cạnh đống than hồng, vẫn tiếp tục sôi rậm rịch. Lớp mỡ duộc béo vàng, đóng váng trên mặt nồi cháo. Thịt duộc bóp với riềng, trộn mắm ruốc nấu giả cầy, được đổ đầy hai nắp xoong. Mọi người vừa múc thịt ăn và vừa uống rượu.Tam ngồi xếp chân bằng tròn trên chiếc sạp nứa vấn một điếu thuốc thật to, rồi đẩy cả gói thuốc tới trước mặt Phong. - Hút đi anh, thuốc lá sợi Lạng Sơn đấy. Thứ thiệt chứ không phải của giả đâu. Tháng trước tôi ra tận ngoài rừng thông đổi hàng, gặp một thằng đông hương Hải Phòng đang coi kho ở đấy. Cha chả, hắn đưa tôi vào vùng kho mà hoa cả mắt. cơ man nào là thuốc tây, thịt hộp, bột trứng, lương khô, mì chính. Nhưng tôi khoái nhất là thuốc lá sợi. Hắn bốc cho tôi nửa gùi. Tam có điệu vấn thuốc thật khéo. Cuộn xong đưa lên miệng và chỉ dùng hai vành môi thấm nước bọt, châm thuốc hút. Thuốc thật thơm, tàn rơi trắng bóc. Phong ngồi bó gối trầm ngâm, tay mân mê chiếc ca nhôm còn rượu. Uống tới ca rượu thứ hai, nhưng anh chưa có cảm giác say. Anh uống chậm, ăn chậm. Thỉnh thoảng Lý với tay lấy chiếc muôi múc đầy thịt đổ vào bát sắt cho anh. Men rượu bốc lên làm cho cô gái đỏ hai quầng mắt. - Anh buồn hử? – Tam bảo. - Buồn chi! – Phong cười lơ đễnh, nhìn vòm hang nhô ra như hàm ếch, ấm khói đen. Đội sản xuất của huyện chỉ có sáu người, Tam từ ngày dời đại đội 1, huyện đưa xuống làm đội phó. Đội sản xuất không làm nhà, làm hầm mà ở ngay trong vòm hang đá. Xưa kia đây là một buôn của đồng bào Pa Cô. Địch càn dạo 1965, ném bom vào buôn, đồng bào kéo nhau vượt qua đường tuyến về ở bên làng Tà. Nương rẫy cũng bị bom pháo nem nham nhở, đồng bào giao lại cho huyện. Rút kinh nghiệm trận đói sau Mậu Thân, từ cuối năm 1968, các đơn vị đều có một bộ phận sản xuất nằm ở tuyến sau trồng sắn, bắp, trỉa lúa. Mỗi đội sản xuất quân số không nhiều. Tập trung về đây những người già cả, mất sức chiến đấu, các chị phụ nữ không thể bám trụ được ở vùng ranh. Tam đã trả một giá rất đắt. Anh chấp nhận việc khai trừ ra khỏi Đảng, hạ cấp bậc từ chuẩn úy xuống thượng sỹ để lên miền tây sống ở đội sản xuất. Tam vất mạnh mẩu thuốc ra ngoài bãi đá, ngửa cổ dốc một hơi cạn hết chỗ rượu trong ca, quay sang bảo Phong. - Anh với tôi là những thằng khôn anh Phong à. Bữa ở huyện học tập chỉnh huấn, tôi cứ ngỡ anh là người cứng chứ…-Nghĩ một lát, Tam nói tiếp – Dại gì đâm đầu vào chỗ chết phải không anh ? Ở dưới giáp ranh sống chui lủi chạy giặc, kiếm miếng ăn nhục như con chó. - Vậy cậu cần cái gì ? – Phong nói giật cục từng tiếng. - Tôi cần giữ cái mạng sống cho ba đứa con của tôi. Phong cay cay ở sống mũi. Anh đưa mắt nhìn người ở bên đội sản xuất của Tam. Ba người đàn ông đều đã say rượu có người chẳng kể gì sự có mặt của chị Lý, của chị Bờn – một người đàn bà đứng tuổi đang ngồi cời lửa trong bếp – nằm ngả lưng trên tấp sap, cất tiếng ngáy. Phong lại nhìn vòm hang. Anh uất nghẹn trong cổ mà không muốn mở miệng tranh cãi với Tam. Hắn đã hiện nguyên hình là kẻ đào tẩu. Con người Tam giờ đây, tựa như một dòng suối sau cơn mưa, nước dềnh lên cuốn trôi đi cành lá, và khi nước cạn trơ ra những tảng đá rêu xanh phủ đầy trên lớp bùn nhớp nhúa. Hình như Tam không hề để ý tới thái độ khó chịu của Phong. Anh ta gắp thịt nhai trèo trẹo, da mặt bóng láng. - Hừ… - Tam nói ậm ừ. Anh bây giờ thành thằng lính gùi, tôi làm gã đi cuốc đất. Có khác gì nhau đâu nào… Nói anh đừng giận, tôi quý trọng anh lắm. Ít ra ở đây, lâu lâu tôi còn được gặp anh để chuyện trò, bù khú. Chớ chỉ có mấy ông này tôi buồn lắm. Tam hua cánh tay chỉ những người say đang nằm ngả nghiêng dưới sàn. - Còn tôi thì sao? Chợt chị Bườn đạp mạnh vào vai Tam giọng the thé. - Cả cô tôi cũng chán… Chán đến tận cổ rồi cô Bờn ạ… - Nhớ nhé…! Gớm cho cái mặt – Chị Bờn dí ngón tay vào trán Tam. Trong khi ấy Lý ôm bụng cười ngặt nghẽo, thỉnh thoảng cô ta đụng đầu vào tay Phong. Giận quá. Anh bảo Tam: - Thôi cậu đừng nói nữa… Coi chừng cậu say rồi đấy. - Say thế nào được – Tam cao giọng – Anh coi thường tôi hử? Tôi còn rượu nữa kia. Tam đứng dậy, bước hơi nghiêng người nhưng hai chân vẫn vững, đi vào trong góc sàn bưng ra một chiếc nồi đậy lá chuối xanh. - Rượu đoác đấy, con mẹ Hường ở làng Tà cho tôi. Anh thử đi. Chẳng thua gì bia Trúc Bạch Hà Nội đâu. Rượu chế bằng nõn cây đoác, có bỏ men, chiết ra bát, cho một thứ nước đục lờ lờ như nước gạo. Uống cũng say nhưng không nặng và nồng như thứ rượu nấu bằng sắn. Phong chẳng khách khí tu cả ca, rồi rót đưa cho Lý. - Uống đi Lý, rượu này uống được đấy cô ạ. Lưỡng lự trong giây lát rồi Lý cũng cầm lấy ca rượu của Phong đưa cho, đưa lên nhấm thử. Cặp môi căng mọng, vành môi dưới hơi trẽ xuống. Vừa uống Lý vừa liếc nhìn Phong, ánh mắt sắc sảo của cô bắt ánh lửa. - Cô Lý ạ… - Giọng Tam rõ là một kẻ đã ngấm hơi men – Cô là bông hoa đẹp nhất vùng Hang Đá, Khe Trăng. Bồ của anh Thoan có cô Nhu. Cô đi với anh Phong, đại đội trưởng cũ của tôi đấy cô ạ. Hai cô gái đẹp của đại đội vận tải đi với hai ông cán bộ đại đội. Vậy là nhất. Các cô được các ông ấy chiều chuộng… ha … ha. Ước gì tôi cũng được làm thân con gái. - Cậu có im đi không. Đừng có cợt nhả. – Phong dằn giọng, nhưng anh không buồn nhìn hắn. - Cô Lý ơi, cháo duộc bổ nhất trần đời. Bổ tim, bổ phổi, bổ ngũ tạng trần bì. Cố mà ăn cô em ạ. Hai thầy trò nhà cô không ăn hết, chóc nữa là tôi đổ vào túi no lông bắt đem về, năm trên võng mà ăn. Vừa ăn vừa … hí…há.. há. Phong nhỏm dậy bỏ ra ngoài. Chẳng hơi đâu tranh chấp với một thằng say. Vả lại nhìn thấy mặt hắn anh càng ghét cay ghét đắng. - Say rồi hử, anh Phong… A ha, một anh đại đội trưởng không quân bây giờ bông dưng thành một gã lính gùi. Hừ, ước gì, tiểu đoàn 10 của mình còn đầy đủ như dạo đánh Mậu Thân nhỉ anh Phong… Vậy mới ra hồn thằng lính giải phóng chứ. Gạo cơm đủ, súng đạn dư thừa, cứ tưởng nuốt trôi được tụi ngụy, tụi Mỹ ở Huế ngày ấy. Điều này thì hắn nói đúng. Phong nghĩ. Nhưng đấy không phải là niềm hối tiếc của một thằng lính dám sống và dám chết cho danh dự của tiểu đoàn. - Rốt cục mày cũng chỉ là một thằng hèn thôi Tam ạ. – Phong nhủ thầm. Anh trầm ngâm ngồi xuống tảng đá trước cửa hang, rút một điếu thuốc Điện Biên châm lửa hút. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: BloodX trong 15 Tháng Năm, 2012, 09:39:16 am * Phong và Lý trở về nhà lúc trời đã nhá nhem tối. Nồi cháo duộc không ai ăn nổi, kể cả món thịt duộc nấu giả cầy. Tiếc rẻ của giời, Phong nhủ Lý ra cắt hai tàu lá chuối, bọc một ít thịt mang về cho ông Mịch và những cậu chiến sĩ ở nhà. Chủ nhà, kể cả Tam, không ai đủ lòng kiên nhẫn hiếu khách để tiễn hai người ra khỏi cửa. Họ đều say, nằm lăn lóc trên sạp nhà kèo gỗ. Người duy nhất còn tỉnh táo là chị Bờn.* * Phong đi trước Lý, bấm đèn pin. Quầng ánh sáng phá ra vừa bằng cái nón soi đường. Từ chỗ đội sản xuất về tới nơi ở của đại đội vận tải, đi ban ngày mất chừng hai mươi phút. Nhưng đi đêm chắc sẽ chậm hơn. Suốt chặng đường men theo chân núi Lý không nói gì, cô ta cắm cúi bước theo sát gót Phong, thỉnh thoảng xuýt xoa kêu rét. Con đường chạy men theo suối đá, có đoạn lội tới lưng bụng chân, rêu trơn nhãy càng khó đi hơn. - Đi chầm chậm chờ em với anh Phong. Phong quay lại soi đèn pin cho Lý theo kịp. Nước suối lạnh buốt hai bàn chân. Nhưng hình như cái lạnh làm cho Phong giã rượu, tỉnh táo. Hai người đi chậm. Chẳng mấy lúc Phong nhận ra Lý nắm vào tay áo anh từ lúc nào. Anh mặc kệ, lặng lẽ bước. - Cô lạnh hả? - Phong chợt hỏi. - Em lạnh muốn chết. – Lý xuýt xoa. - Chết răng được… Số cô còn sống dai lắm. - Anh mần răng mà biết được? - Tôi đoán vậy .. . à này, nghe Thoan bảo ngày trước cô đã từng học văn khoa Huế, phải không ? - Dạ phải. – Cô gái đáp gọn lỏn. - Con gái Huế giỏi ha! - Anh Phong cũng giỏi chớ bộ. Đánh giặc giỏi. Em còn nghe mấy người đồn anh dũng cảm lắm mà… Tán gái cũng tài. - Láo ! – Phong bật cười. Anh nhận ra mình nói vuột ra một từ chẳng đẹp tí nào với cô ta, anh chữa lại – Xạo, Lý xạo nhé… Tất cả mọi cái trong cuộc đời đối với tôi đều bình thường. - Anh nghĩ vậy, nhưng người ta nghĩ khác thì răng ? Phong mỉm cười khi nhận ra những ngón tay của Lý đã bám chặt vào cánh tay anh. Từ ngày về đơn vị tới nay, Phong không hề có thái độ phân biệt Lý với các chiến sĩ khác trong đại đội. Vẫn biết, Lý có một lý lịch không lấy gì làm đẹp như người khác. Nhưng anh Tin, qua hơn hai năm lên rừng được cách mạng giáo dục, hẳn Lý đã trở nên một con người có ích, và coi như một chiến sĩ. Thoan đã có nhận xét tốt về Lý, khi anh trao đổi với Phong. Mấy tháng đi với trung đội 2 Lý chưa để xảy ra điều gì đáng trách. Phải thừa nhận là Lý có một vẻ đẹp khá quyến rũ với bất kỳ một anh con trai nào. Anh bỏ ngoài tai những điều tiếng đồn đại về Lý có quan hệ lăng nhăng, với một lý lẽ đơn giản : Chưa hiểu, chưa thấy thì chưa nên kết luận vội vàng và tạo ra một mối nghi ngờ với đồng đội. Lý vui vẻ với Phong cũng như nhiều người khác. Phong gặp Lý hàng ngày trong mỗi bữa ăn. Thỉnh thoảng cô ta rửa giúp anh cái chén ăn cơm, ấy là chuyện thường tình. Lý đâu rửa giúp cho một mình Phong? Nụ cười của cô đâu chỉ dành cho riêng anh ? Vả lại tình yêu của Tâm quá lơn, khiến anh không nghĩ tới bất kỳ một cô gái nào khác, ngoài Tâm. Chỉ có hai người đi trong khoảng rừng tối tăm, biết đâu Lý sợ thật ? Phong làm như không để ý tới bàn tay của Lý mỗi lúc xiết chặt vào cánh tay anh. Bóng đen tràn ngập núi rừng, lòng khe. Lũ côn trùng kêu rỉ rả. Tiếng mang tác vọng lên ở chân đồi bên kia. Không gian u tịch lạnh lẽo Hai người lần mò lội suối. Tuyệt nhiên, Phong không hề nảy sinh một rung động nào trước sự va chạm của bàn tay Lý. Anh chỉ có một cảm giác được che chở cho cô gái. - Ghét anh ghê… Anh bước nhanh thấy mồ. – Lý buột miệng trách và cười khúc khích. Đi một đoạn, Lý lại hỏi. - Răng anh không nói chi? Nói chuyện cho vui. - Biết nói chuyện chi bây giờ, đường trơn coi chừng trượt đá trọ chân đó cô em ạ. - Trẹo thì em bắt đền anh. - Trời ơi, lính giải phóng như anh thì còn có cái chi mà đền. – Phong phì cười. Con đường tới đây leo lên sườn đồi. Bàn tay Lý vẫn bám chặt vào một bên cánh tay Phong. Anh nhận ra cả hơi thở nhẹ của cô gái phả vào một bên má. “- Không lẽ cô ta mệt ?.. Nào đã ăn nhằm chi với một người lính gùi. Mà cũng có thể Lý mệt thật”. trong các lùm cây bên đường, đây đó những mẩu lân tinh phát sáng. Đường trơn, bùn dính lép nhép dưới đế dép. Chợt Lý nói dịu dàng. - Anh và em đang hiện hữu sống trong đêm huyền thoại. Lý cười khúc khích. Phong biết cô ta đang ngước lên nhìn anh. - Còn chi nữa, Lý nói nữa đi. – Phong động viên cô gái. - Không em muốn nghe anh nói kia. - Tôi nói thì chỉ có mỗi chuyện ùng oàng, súng đạn. Chán chết. - Chán mà anh còn đi lính giải phóng? - Hừ, nước có giặc mà. - Vậy hả? - Lý làm như ở trên trời rơi xuống ấy. - Thì em vừa bảo anh và em đang sống trong đêm huyền thoại của chiến tranh mà. Thế ni nhé. Giữa rừng sâu âm u, một cô gái Huế đi với anh bộ đội giải phóng, à quên, một “Việt Cộng” chớ. – Giọng Lý dai ra – Một tay nhà văn nào há. Nhã Ca, hay Lệ Hằng, hay Dương Nghiêm Mậu mà vớ được một cốt truyện như thế ni hẳn sẽ có một thiên tình sử hay hết chỗ chê. - Đầu óc Lý lãng mạn quá đấy. còn tôi thấy chán ứ lên vì mùi thịt duộc. - Xì, nói chuyện với anh chán ghê. Anh làm cho em hết hứng. - Thì cô cứ sống với những giấc mơ của cô đi. Tôi có phải là chính trị viên Thoan đâu mà lo. - Á à, té ra anh sợ anh Thoan. – Lý reo lên như một phát hiện. - Không sợ. Nhưng chắc chắn ông Thoang không phải là ông Phong. Họ lại lội suối. Cánh tay phải của Phong như tê đi vì sức kéo của bàn tay Lý. Hai người sẽ còn phải lội qua một vũng nước sâu quá đầu gối nữa, đi thêm một đoạn rồi mới đến con đường trục đi gùi gạo hàng ngày. Chính Phong không hay xảy ra điều bất ngờ… Tới ngang chỗ lội, anh bước lên trước đứng ở tảng đá soi đèn pin cho Lý. Cô không hề xắn quần. Còn cách một đoạn, cô bảo anh: - Anh kéo giúp em lên. Một bàn chân của Lý bám vào tảng đá. Cũng là lúc cả người cô ngả vào vòng tay của Phong. Anh chỉ thấy một sức nặng ập vào người mình. Cơ thể của người đàn bà trẻ trung, đầy sinh lực ấm nóng, bộ ngực cứ như dính sát vào người anh, Lý thổn thức: - Hôn em đi anh ! Giây phút ấy, Phong sững sờ. Nỗi khắc khoải, xen lẫn sự ngỡ ngàng. Một gương mặt cận kề, trong vòm trời sáng mờ bởi bốn xung quanh bị che phủ những tàn cây, vách đá. Lý đã đưa cả hai tay khỏe mạnh ôm lấy đầu anh, vít anh xuống. Đôi môi của cô ta giá lạnh ướt nước. Vành mi mắt cũng lạnh lẽo, mềm. - Ôi… Chính bàn tay Lý đẩy nhẹ ngực anh ra. Phong chỉ nghe thấy một câu thảng thốt. - Ôi ! Anh ngốc lắm.. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Mười Một, 2012, 08:45:57 am 9 Nằm trên chiếc võng, Lý cười thầm trong bóng tối. Tưởng gì, hóa ra anh chàng nhát như thỏ đế. Cô bĩu môi, khinh. Nhưng dù sao, những gì còn lại sau sự đụng chạm gây cho cô một chút khoái cảm, làm cháy bừng lên ngọn lửa ham muốn bị dập tắt vài tháng nay. Từ ngày Thoan rời bỏ Lý để theo đuổi Nhu, một cô y tá, mới ở trên tỉnh chuyển về bổ sung cho đại đội vận tải. Nhu kém Lý hai tuổi, là một cơ sở ở Quảng Điền, bị lộ rút lên rồi được huyện đội cho đi bổ túc văn hóa và theo học nghề y. Lóp y tá cấp tốc chỉ có chín tháng. Nhu có khuôn mặt bầu bĩnh, dễ thương, hàm răng trắng có hai chiếc răng cời. Lý uất. Một cơn ghen ngấm ngầm của người đàn bà khi thấy Thoan có một đối tượng mới và gạt mình ra một cách không thương tiếc, uất Thoan mà cô không kêu được. Lý cũng thừa hiểu rằng trong tiềm thức sâu xa của Thoan, coi thường cô đã đành, anh ta còn nghi ngờ nữa. Dù phần đời trước Lý đã tự đánh tráo, làm phôi pha đi rất nhiều sau khi tới đơn vị mới, nhưng Thoan vẫn cảnh giác. Lý là một người có lý lịch đáng ngại. Vài năm nay, sống với “Việt cộng”, Lý có thừa sự khôn ngoan để hiểu rằng: sô phận của cô nằm trong tay của Thoan. Cô để cho anh ta tự do chiếm đoạt thân thể mình, miễn là anh chàng biết giữ mồm, giữ miệng đừng để ai hay biết, làm tổn hại tới thanh danh của một người chỉ huy. Còn cô vừa được hưởng sự ve vuốt, yêu chiều qua những cái hôn và lòng ham muốn dục vọng mạnh mẽ luôn được đánh thức, vừa được yên tâm núp kín trong một cái vỏ bọc chắc chắn, kín đáo. Lý mất gì! Khi cô đã tự hứa với lòng mình quyết phải đạt được mục tiêu ngấm ngầm - tìm mọi cách để trở về đồng bằng. Lý cần sống, chỉ cần sống thôi. Cô thường cầu nguyện cho tụi lính pháo binh ở căn cứ Đồng Lâm, Từ Hạ, Hòn Vượn... đừng bắn nhầm vào mình, cầu nguyện cho những thằng phi công của đồng minh Hoa Kỳ đừng trút bom vào căn hầm Lý ở, cầu nguyện cho những thằng lính Mỹ, lính ngụy chết tiệt càn lên miền Tây đừng xả súng vào cô. Cầu nguyện cho những con vi trùng sốt rét đừng giết chết sắc đẹp. Tất cả đều là những khả năng có thể xảy ra với Lý bất kỳ lúc nào, vì thần chiến tranh Arét là một gã không có mắt. Gã chỉ tin vào sức mạnh và sự may rủi. Chiến tranh là một canh bạc lớn cho những kẻ khôn ngoan. Ngày còn sống, Quý - chồng Lý, đã bảo với cô như vậy. Sống giữa một rừng tai mắt của cộng sản, Lý tìm được một cách tự vệ. Phương pháp hữu hiệu nhất, là hòa nhập vào cái cộng đồng ấy. Cô đã thành công trong một chừng mực nào đó. Lý bịt mắt được ông trại trưởng trại cải tạo của tỉnh, một ông già ngấp nghé sáu mươi, cả tin và giàu lòng thương người. Chỉ một thời gian ngắn sống ở trại cải tạo cô đã nhận ông trại trưởng làm cha nuôi. Lý không còn phải đi ra rẫy trỉa lúa, trồng bắp, nhổ mì. Gọi là trại cải tạo cho đám tề điệp ngụy bị bắt đưa lên rừng cải tạo sau Tết Mậu Thân (1968), chỉ là dãy lán trong rừng sâu. Tù nhân không ai bị giam cầm. Hàng ngày, từ cán bộ quản giáo đến tù nhân đều phải ra rẫy lao động. Lý được ông “cha nuôi” trại trưởng phân công vào tổ nấu ăn. Cô không phải ra đường tuyến gùi gạo, muối. Nhưng một vài bận cô vẫn cứ xung phong. Đi để mà nhớ. Trí minh mẫn của cô học trò lớp 12, đang chuẩn bị thi tú tài II, chán sự học bỏ về lấy chồng đủ để cho Lý nhắm mắt lại cũng nhớ được rành rẽ các vị trí kho tàng, kho binh trạm và phương thức tiếp vận của công sản trên con đường Hồ Chí Minh chiến lược. “Mòn à! - Lý rủa thầm mấy thằng phóng viên báo chí ngụy và phương Tây khi viết về con đường mòn xuyên Việt dọc theo dãy Trường Sơn. - “Mòn” mà xe tăng, xe tải chạy hàng đoàn. Những nhánh rẽ của con đường mòn đủ để chiến xa M113 và cả sư đoàn ngụy hành quân... Ngu, một lũ ngu tuốt luốt. Chỉ nhắm mắt nói lấy được”. Lý ở nhà nấu cơm, phục vụ cho Ban chỉ huy trại. Rỗi rãi, cô giở tài thêu thùa ra vá áo cho cha nuôi, mạng lại đôi tất len Mỹ đã bị rách nhiều chỗ và nghe ông ca cẩm về làng Hiền Sĩ của mình nằm cạnh con sông Bồ. Vợ con của ông còn ở cả đấy. Nghe nói một thằng con trai của ông cũng bị bắt đi quân dịch. Có một dạo, ông đã nhờ người về làng móc nối đưa lên xanh nhưng cậu con trai ông đã bị đưa đi quân trường mất rồi. Còn lại đứa con gái, ông trại trưởng cho lên núi, hiện đang công tác ở huyện Phong Điền. - Vậy hai cha con bây giờ bắn nhau hả ba? - Lý chêm vào một câu, hỏi cha nuôi. - Hậu quả của chiến tranh nước mình mà. - Ông trại trưởng cải tạo phân bua - Bởi vậy, tôi mới thông cảm cho hoàn cảnh của các anh chị em trong trại. Khỏi lo, ở đây ít bữa, ăn cơm cách mạng rồi các cô các chú đều trở thành người cách mạng hết. Gắng mà học tập, lao động, phải biết tự tu tỉnh ý thức bản thân rồi người xấu cũng thành người tốt. Lý nghe và mủm mỉm cười. Thảng hoặc cô ngồi nhổ tóc sâu cho ông trại trưởng. Những sợi tóc đỏ quạch xoăn tít. Cô để ý tới gương mặt của cha nuôi có nhiều nếp nhăn. Nửa năm sau, theo nhận xét của Ban chỉ huy trại cải tạo Lý được chuyển sang cánh bắc bổ sung quân số vào trạm phẫu, không tháng nào ông cha nuôi không gửi thư thăm hỏi, động viên. Trong thời gian sống ở trạm phẫu, với anh y sĩ trạm trưởng trạm phẫu, Lý lại có một đối sách khác. Anh y sĩ hám gái, tính lẳng. Lý về nấu ăn được vài tháng rồi làm quản lý. Lý biết ơn cha nuôi đã viết thư cho bác sĩ Phùng, kiêm chính trị viên của trạm phẫu, vốn hai người cùng quê Phong Điền với nhau. Lý nhanh chóng chiếm được lòng tin của bác sĩ Phùng. Anh y sĩ trạm phẫu tên là Minh mê Lý, mặc dầu anh ta đã có vợ và một đứa con gái ba tuổi quê ở Hải Dương! Lý tỏ ra ỡm ờ trêu tức anh chàng. Dần dứ mãi, một hôm hai người đi hái rau rừng, cô mới cho phép anh y sĩ hôn và bắt anh chàng cõng qua con suối nước sâu tới bẹn giữa những ngày tháng chạp rét buốt. Tưởng cá đã cắn câu, quen mùi. Anh y sĩ viết thư hẹn Lý ở bãi đá trong rừng, cách trạm phẫu một đoạn ngắn. Lý đã trình bức thư tỏ tình cho bác sĩ Phùng trong đó có cả mấy câu thơ. Anh ta bảo rằng: “Tự mình sáng tác dành riêng cho Lý để kỷ niệm những ngày sóng gió ở núi rừng Trường Sơn (!)”. Anh ra đi (Chắc là anh chàng đi lĩnh thuốc ngoài đường tuyến) Trời đổ mưa Cái gạt nước xua đi nỗi nhớ Em về bên ấy Cái nhành cây gạt mối riêng tư (Chà, tình tứ gớm!) … Đông Trường Sơn nhớ TâyTrường Sơn. Bác sĩ Phùng là một người nghiêm khắc. Ông không ưa cái tính lăng nhăng của chàng y sĩ. Đọc xong bức thư, ông bảo Lý cứ làm như thế, như thế... Đúng giờ hẹn, Lý tấp tểnh đi ra bãi đá. Anh chàng y sĩ đã ngồi chờ ở đấy. Thấy Lý anh chàng y sĩ chạy vội ra đón và sấn sổ ôm cô vào lòng. Lý giãy giụa, kháng cự. - Ơ kìa, sao em lại thế? - Anh... đừng làm vậy... Từ từ đã, rối tung cả tóc của em rồi đây này... - Lý miễn cưỡng đẩy vào ngực chàng trai. Nhưng khi đã nhìn thấy thấp thoáng bóng áo xanh của bác sĩ Phùng xuất hiện sau bụi lá nón, bất ngờ cô gầm lên như một con hổ cái: - Anh... Anh là một thằng khốn nạn... Tôi cứ ngỡ anh là một người đứng đắn... ối... Anh chàng hám gái đã chịu một hình thức kỷ luật: tước bằng y sĩ, cách chức xuống còn là anh binh nhất. Ba tháng sau tới lượt Lý ra đi, về công tác ở đại đội vận tải. Chưa tới một tháng, chính trị Thoan sa ngay vào bẫy tình của Lý. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Mười Một, 2012, 08:47:47 am Nhưng còn một chiều sâu kín khác, Lý cất giữ trong lòng. Một quá khứ đẹp đẽ, đầy mơ mộng. Những kỷ niệm của một khoảng khắc đã trôi qua mà mỗi khi nhớ tới cô chỉ muốn khóc nấc lên vì sung sướng, hạnh phúc.
Cha Lý là điền chủ giàu có ở ấp Long Hồ, một vùng trồng hoa huệ có tiếng ở Huế. Ấp Long Hồ nằm bên tả ngạn sông Hương. Thủa hàn vi, cha Lý là người đóng cối giỏi nhất vùng. Dân làng hay gọi là cụ phó cối làng Mai. Bà vợ giỏi buôn bán, gia đình trở nên giàu có. Mua ruộng, mở lò rèn, trồng hoa... Vào mùa tháng bảy, cả cánh đồng ngào ngạt mùi thơm hoa huệ. Những bông huệ của làng Long Hồ được cắt tỉa cẩn thận, đóng gói đưa lên xe lam đổ về Huế, Đà Nẵng, ra chợ Quảng Trị, Đông Hà. Bằng chiến công góp phần đắc lực cho đoàn “Hành chính lưu động” trong các đợt “tố cộng” thời Diệm, quận trưởng Hương Trà đã đưa ông Lập, cha Lý lên làm xã trưởng. Một xã có tới cả vạn dân nhưng lại là vùng xôi đỗ luôn diễn ra cuộc tranh chấp giữa “quốc gia” và “cộng sản”. Làng Long Hồ giáp núi, tiện đường sông nước, đường xe chạy về Huế. Xã trưởng Lập bị du kích Hương Mai bắn chết giữa ban ngày tại nhà vào năm 1963. Sau cái chết của chồng, mẹ Lý sợ bèn bán nhà bán đất chạy vào Huế, buôn bán ở chợ Đông Ba. Ngày ấy Lý còn nhỏ, mải lo ăn học. Nhưng lòng hận thù với Việt cộng đã âm ỉ cháy trong lòng cô bé mười sáu tuổi. Cái chết của cha cô đã làm dập tắt đi biết bao mơ ước. Một cuộc sống khá đầy đủ về vật chất nay bỗng dưng gia đình cô bị lâm vào cảnh thiếu thốn, chật vật. Từ lâu Lý đã nuôi khát vọng một ngày kia cô sẽ được sang du học ở Hoa Kỳ, ở Pháp, được làm vợ một quan chức. Ngày còn ở làng Lý thường leo lên chiếc xe Zip của những viên sĩ quan ở quận, ở thành phố về làm việc với ba. Cô mặc chiếc juýp xanh, áo trắng ngồi cạnh anh lái xe ngóng mặt mình ra sông Hương. Gió thổi tung làn tóc óng mượt của cô. Những buổi cô ngồi trên thuyền câu ngược lên điện Hòn Chén, Đồi Thông, xuôi xuống Thiên Mụ, Kim Long. Cuộc sống của một đứa con gái đầy đủ và không hề phải băn khoăn suy nghĩ. Đời như trải thảm vàng cho cô bước. Chao ôi, mỗi ngày đong đầy những ảo vọng chói sáng, hứa hẹn trước cho cô biết bao điều kỳ diệu. Lý vui vẻ tiếp nhận một cách mặc nhiên, không hề băn khoăn, lo lắng về những gì xảy ra xung quanh. “Quốc gia” đánh nhau với “cộng sản” ư? Cứ việc, miễn sao đừng để cô bị mất đi những buổi chiều đạp xe cùng lũ nhỏ bạn trong lớp, tấp vào quán cà phê nào đó nghe giọng ca của Khánh Ly, Thanh Thúy, Ngọc Lan êm đềm quyến rũ tâm hồn trẻ thơ vào cõi mộng. Những cuộc hành quân cảnh sát ư? Xin các anh lính cộng hòa cứ việc đi càn, chỉ đừng để cho bom đạn nổ tan ngôi nhà của cô đang ở, phá đi vườn hoa và những giò phong lan treo trên ban công trước cửa nhà. Lý cứ tưởng cuộc đời đã được định mệnh tối thượng sắp đặt như thế cờ khó chuyển. Bỗng dưng tai họa giáng xuống làm sụp đổ tất cả. Ba Lý mất. Tan cửa nát nhà. Số phận trớ trêu ác nghiệt, vất trả Lý về đúng cái tuổi thơ của mạ cô ba mươi năm trước.Vị trí đứa con gái của một bà bán nón ở chợ Đông Ba. Ngoài buổi học ở trường nữ Đồng Khánh, giờ rảnh rang cô phải chằm nón. Mấy đầu ngón tay nhoe nhoét mũi kim đâm tứa máu. Lưng mỏi như ai đánh. Mắt mờ. Một sự vật lộn trong cuộc sống để giành giựt lấy miếng cơm manh áo khả dĩ có thể khỏi lâm vào cảnh túng bấn. Xuân thu nhị kỳ, cô theo mẹ về ấp dâng hương cúng tổ tông. Bộ quần áo, đôi dép mới khả dĩ có thể hòa nhập với người ở trên phô để bà con họ hàng khỏi chạnh lòng nghĩ tới sự sa sút của một gia đình vốn nổi tiếng giàu có xưa kia trên đất Long Hồ. Lý vẫn có áo dài trắng, áo dài màu, quần trắng đi học. Một chiếc xe mini sơn màu xanh cánh trả, vẫn điểm phớt son phấn cho đôi má ở tuổi dậy thì vào những đêm vũ hội của trường. Nhưng về đến nhà, vất cặp sách, cô đã vội vùi đầu vào đám lá nón trắng lóa. Bữa cơm thường chỉ có chút canh rau, cá nục kho ớt, chút mắm nêm. Mẹ cô sau mấy chuyến đi buôn ở Đà Nằng bị thua lỗ, vốn liếng thâm hụt. Lý và năm đứa em nheo nhóc. Càng nghĩ, cô càng hận - niềm uất hận ngấm ngầm sôi sục như núi lửa chưa tới kỳ phát hỏa. Gặp được Quý, sau vài buổi dắt nhau lên Thiên An chơi bời ngày chủ nhật, Lý đã nằng nặc xin mẹ cho đi lấy chồng. Cô chấp nhận trở lại nơi thôn dã để làm vợ một người lính cảnh sát với lon trung sĩ. Nhà chồng Lý không giàu. Nhưng với lương của Quý, cộng thêm tiền thưởng trong những vụ chỉ điểm, phát hiện ra những cơ sở cách mạng, đưa tụi dân vệ, bảo an đi phục kích, hai vợ chông trẻ sống dư dả trong phạm vi của một quan chức hàng xã. Thực ra, Lý đã trở thành người đàn bà từ lúc cô mới bước sang tuổi mười lăm. Không thể gọi là tình yêu “một đời” với viên trung úy biệt động quận đưa lính về đóng ở làng. Chỉ một lần. Và dấu vết để lại cho cô là sự đau đớn, kinh hãi trong một chiều y chở cô trên chiếc xe Zip lên chơi thăm lăng Tự Đức. Những cuốn sách mỏng manh “tuổi ngọc” dạy cho cô sự khao khát, tò mò trước ngưỡng cửa của tình yêu. Tiểu thuyết tình cảm của Nguyễn Thị Hoàng, Nhã Ca lại nhủ cô phải biết im lặng. Sự việc được giấu kín một cách suôn sẻ trong gia đình ông xã trưởng. Sau những ngày hành quân dã ngoại, đại đội biệt động quân cuốn đi rồi, trung úy Tài - kẻ tòng phạm - cũng mất hút không một lần trở lại. Dễ có đến bốn tháng Lý rơi vào tâm trạng hụt hẫng, khủng hoảng. Nhớ một gương mặt, một bóng hình và những xúc cảm đột khởi đã xảy ra với một đứa con gái mới lớn. Nhiều đêm cô trằn trọc hoài không sao ngủ nổi trên chiếc đệm ấm áp nghe từng chiếc lá mãng cầu khô rơi ngoài vườn. Cô sợ điều đen tối, dị hợm sẽ xảy ra. Nhưng ở một phía khác cô bé vẫn chưa nguôi quên đi cái cảm giác hoan lạc tận hưởng ở những nụ hôn vừa cuồng nhiệt, vừa bặm trợn của chàng trung úy tài hoa trong cái lần du hý đầy kỳ ảo. Những giây phút ấy, nỗi sợ hãi bị nhấn chìm sâu dành cho một niềm mộng mơ vốn đã được nuôi dưỡng trong tâm hồn từ khi cô hiểu rằng mình không còn là con nít. Gian phòng của Lý ở ấp Long Hồ ngó thẳng mặt ra sông. Cô ngồi hàng giờ liền, trong những buổi chiều buồn vơ vẩn nhìn đám mây giăng mắc, cuồn cuộn ún lên ở phía chân rừng xanh. Lâu lâu một con thuyền trôi qua, vẳng lên tiếng hò của người chân sào sống bám một đời vào dòng sông Hương. Cô lo lắng phấp phỏng chờ đợi kỳ “Tobi”. Lo đên mất ăn mất ngủ, mắt có quầng thâm. Và khi thấy rằng cơ thể vẫn bình an sau một sáng ngủ dậy muộn, Lý mừng rú lên xăm xở chạy tới bàn thờ có tượng đức Phật Bà Quan Thế Âm ngự trong tòa sen, thắp hương khấn vái. Má cô ngạc nhiên nhìn đứa con gái, lo ngại: - Có chuyện chi rứa mi? - Bữa nay con thi, con cầu Phật. - Lý đáp gọn lỏn rồi len lén chạy ra ngoài sông vốc nước rửa mặt. Những ngày sống với Quý, cô thực sự hạnh phúc, Quý hơn Lý năm tuổi, học xong tú tài I, đăng lính vào ngạch cảnh sát. Gã biết lấy lòng cấp trên và là kẻ đổ nhiều công sức để thừa hành nhiệm vụ. Một mạng lưới cơ sở Việt cộng ở ấp Ngọc Hồ đã bị Quý phát giác. Sau một vụ tống tiền vớ bẫm mấy trăm ngàn, Quý mới cho lính về bắt. Chỉ cần nhìn qua dấu vết còn sót lại ở những mảnh vườn của dân, gã đủ sức phán đoán và khẳng định số lượng Việt cộng đột kích về ấp là bao nhiêu trong đêm. Gã là người đề xuất với tên chi khu trưởng sơ đồ gài mìn claymo so le, chập nổ bằng điện. Không cần mất công đưa quân ngồi phục tại nơi có mìn, trong khi đó, hiệu quả diệt địch trong phạm vi góc quét của trái mìn được gài liên tiếp nhau lại lớn. Tụi Mỹ “mũ nồi xanh” đã thực thi kiểu gài mìn đó ở bên các xã Hương Thạnh, ở Hương Vân. Mười tám trong số hai mươi mốt người, vừa bộ đội, vừa lực lượng du kích đã hy sinh, thương vong trong một chuyến đi đồng bằng. Chiến công diệt cộng đó, Quý được đặc cách phong cấp thượng sĩ cảnh sát và nhận một món tiền thưởng lớn do đích thân tỉnh trưởng Thừa Thiên kiêm thị trưởng Huế là viên trung tá Phan Văn Khoa trao tận tay. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Mười Một, 2012, 08:49:12 am Chính biến Mậu Thân (1968) xảy ra ở Huể vào đêm ba mươi Tết. Lực lượng vũ trang giải phóng đã nhất loạt tấn công vào các cửa ô. Bộ chỉ huy tiền phương sư đoàn I, Bộ chỉ huy tiểu khu, trung tâm huấn luyện Đống Đa, nơi đóng quân của thiết đoàn kỵ binh Mỹ ở chợ An Cựu đã phải hứng chịu một trận mưa pháo kích của quân giải phóng. Tiếng súng rộ lên ở khắp mọi nơi.
Ấp Long Hồ yên tĩnh hơn nhưng kỳ thực ngay từ lúc 7 giờ tối, lực lượng vũ trang của huyện đã tràn vào làm chủ xóm ấp. Vợ chồng Quý còn chưa dã hơi rượu trong bữa cơm cúng tất niên. Nhìn những mũi súng AK và gương mặt những người lính giải phóng, Lý hiểu ra sự thể bi đát. Quý nhận ra muộn màng hơn, sau lúc phải chịu hai cái tát của một người du kích xô vào trói, gã mới dã rượu. Con đường đất và đêm tối trời thật khó đi. Lại thêm trận mưa xuân, đường càng trơn lầy lội, bẩn thỉu. Lý đi chân đất, đầu trần cố bám theo những kẻ cùng chịu cảnh bị bắt như mình dong theo hàng một. Từ lúc ra tới đình làng, Quý bị tách riêng. Nỗi sợ hãi khiếp đảm không còn đủ sức cho Lý rơi những giọt nước mắt. Cô cũng quên luôn cả lời cầu nguyện Đức Phật mong cứu rỗi cho số phận hẩm hiu trong cơn hoạn nạn (!). Ở các làng xa, ngả ngã ba An Hòa súng đang nổ dữ dội. Góc thành phía tây Huế rực sáng. Ánh lửa cháy loang lên nền trời, xen kẽ những tiếng nổ lớn. Một chiếc máy bay trinh sát bay tít trên cao từ hướng Quảng Trị vào vội vã thả xuống một dây pháo sáng. Không gian bừng sáng, nhưng cũng chỉ được vài phút, những trái hỏa châu bị gió thổi tan tác trên bầu trời trả lại màn đêm đặc quánh, thoảng hơi sương muối lạnh lẽo giữa cánh đồng trống trải. Lý bị giải đi lên núi. Con đường đất nhớp nháp. Những hòn sỏi nhỏ, gai xấu hổ thỉnh thoảng làm cho cô nhói đau ở gan bàn chân. Đi một lúc lâu, Lý quen dần với bóng tối, phân biệt được bóng núi xanh thẫm nổi lên giữa nền trời xám bạc. Đoàn tù nhân lội qua một khe nước sâu quá mắt cá chân. Lớp bùn bị khuấy đục vẩn lên mùi tanh nồng của cây cỏ mục, phân trâu bò. Không một ai trong toán người bị “Việt cộng” bắt dám kêu la. Họ câm lặng, lầm lũi đi theo những người du kích dẫn đường phía trước. Họ - những người của “mặt trận”, chỉ mặc quần đùi, tay áo xanh xắn cao và người nào cũng đeo một băng vải trắng ở cánh tay phải. Đêm tối Lý không nhìn thấy gì, nhưng cô tự hình dung ra cái mũi súng xanh ánh thép luôn ngóc về phía trước của người du kích. Lý có cảm giác như đang dấn bước vào một vùng rừng âm u, mung lung: thế giới của hỏa ngục... Giờ đây, nhớ lại những giây phút trong đêm Mậu Thân còn im đậm trong ký ức của mình, Lý vẫn còn sởn gai ốc. Rồi cô bị một trận sốt rét kéo dài triền miên từ ngày này sang ngày khác. Bắt đầu từ nỗi sợ hãi hành hạ, tàn phá. Ròng rã hai tháng trời. Một buổi sáng cô tỉnh dậy thấy mình đang ở trong một chiếc lán, cùng với những cô du kích “Việt cộng” bị thương đang nằm điều trị. Ở hai dãy lán kế bên là giường bệnh dành cho nam giới. Lý nằm yên, lặng lẽ quan sát. Các cô y tá tới tiêm thuốc cho cô và mọi người. Đến bữa ăn, người ta bưng tới cho Lý một tô cháo gạo nấu với thịt hộp. Các cô thương binh nằm chung phòng ăn cháo, cũng nhận một phần ăn như vậy. Lúc đầu, Lý cứ băn khoăn. Rằng cô là kẻ có tội, vợ một thượng sĩ cảnh sát, phải bị giam riêng, có người canh giữ, ăn uống theo tiêu chuẩn tù nhân. Từ đêm ly tán, Lý bặt tin chồng. Chắc hẳn Quý đã chết. “Mặt trận” làm sao có thể tha thứ tội trạng cho chồng cô được. Quý chẳng đã từng nhận được những bức thư của “Mặt trận” cảnh cáo đó thôi. Nhớ tới Quý, Lý cũng chỉ buồn chút xíu. Bởi hoàn cảnh hiện tại của cô cũng đã quá ư bi đát. Tuy vậy, Lý hơi ngạc nhiên. Ở đây, cô được đối xử như bất kỳ người lính giải phóng nào. Chẳng có ai giám sát riêng. Chẳng thấy vọng gác đồn binh. Còn việc cởi trói, Lý đã được tự do ngay từ ngày thứ hai sau khi đoàn tù nhân vào tới cửa rừng và đưa đến trú tại một gian nhà lá rộng nằm cạnh bờ khe Điên. Ấy là Lý nghe được ở những người lính giải phóng nói ra cái địa danh ấy chứ cô làm sao biết được. Hàng ngày Lý cũng phải chẻ củi, nấu cơm... Thức ăn, bữa có mì chay nấu với cá hộp. Hoặc cá hộp nấu măng rừng, đào ngay ở vạt lồ ô cạnh nhà. Những gã đàn ông cùng bị bắt với Lý bị quản thúc chặt chẽ hơn. Lý giấu biệt tông tích của cha là xã trưởng, bị Việt cộng giết. Đơn giản cô chỉ là “vợ thượng sĩ cảnh sát Phan Quý”. Một hôm, có anh cán bộ cách mạng còn trẻ, gọi Lý tới rồi đưa trả lại cô tờ khai và bảo: - Cô chưa trung thực. Vậy ai là người lên xã báo bộ đội về nhà bà Lô đêm 17 tháng 9, để hôm sau tụi nghĩa quân tới đánh bà chảy máu mồm. Ai? Còn ai là người đi với chồng cô sang chi khu Hương Trà thao tác tại sân trường cách gài mìn định hướng?... Lý run lên, mặt tái mét. Thì ra họ biết cả... Không chừng chuyện ả đi chơi và ngủ với gã trung úy biệt động quân cũng đến tai họ. Nhưng Lý nín thinh, cúi mặt xuống đất. Cũng ngay đêm hôm đó, pháo dập bất ngờ vào khu trú quân, bên tù nhân bị chết ba người. Bên giải phóng chết hai trong đó có người cán bộ đã tra hỏi cô. Không biết cuộc chiến ở dưới đồng bằng sự thể ra sao, còn Lý cứ bị đẩy lên tuyến trên, ngày một xa. Vượt đường 12, qua song Hai Nhánh. Trên chặng đường đi bộ lội rừng đầy hiểm nguy và ghê sợ ấy, Lý đã gục ngã. Người ta cấp cho cô một chiếc gùi, một đôi dép cao su chắc hẳn của một ai đó đã chết, và cả vài bộ quần áo phụ nữ. Thứ quần đen, áo vải phin pha ni lông nhuộm đen hoặc màu xanh lá cây. Nếu không biết gốc tích thật của Lý, ai cũng có thể tưởng cô là một cô du kích, hoặc cán bộ xã huyện lên xanh hoạt động. Lầm lũi và gan góc, Lý chấp nhận số phận cay đắng và nghiệt ngã. Cô chẳng còn có thời giờ nhớ tới Trời, Phật để cầu xin cho mình. Chẳng còn gì để chờ đợi người chồng quá cố chung chăn gối vừa tròn mười tám tháng. Từ trại cải tạo, rồi thuyên chuyển qua những đơn vị khác nhau, sống cuộc sống của người lính cách mạng, Lý ráng tìm cách hòa nhập với hoàn cảnh mới và tiếp nối lại những trò yêu đương vớ vẩn. Nhưng cô đã tinh khôn biết tính toán cho một chuyến vượt cạn trả giá cho mạng sống của mình. Lý đã đánh mất cái vẻ dại khờ của cô bé mười lăm tuổi ngày trước. Cuộc đời Lý cứ vậy trôi đi. Đã hai cái Tết cô sống vui vẻ ở trên núi. Cũng có bánh tét, thịt gà và thịt lợn rừng săn bắn được. Nhưng cô tưởng chừng thời gian dài hàng thế kỷ. Gần một năm nay, Lý được phép gởi thơ về cho mẹ ở Huế, theo đường dây thành phố. Lý tự hào viết trong thơ, khoe với mạ: “Bây giờ con đã trở thành một cô bộ đội giải phóng!”. Bốn tháng sau, Lý nhận được một gói quà, chủ yếu là vải may quần áo, áo len, chiếc đồng hồ Ôrien của Nhật và mười ngàn đồng. Lý nhờ người quen về giáp ranh mua hàng, một chiếc đài bán dẫn ba pin đại, võng ni lông... Cả chục cuốn an bum nhấp nháy. Cô dùng những cuốn an bum để đổi lương khô, mì chính của bộ đội, vừa làm quà tặng cho những ai thấy cần thiết trong mối quan hệ. Chính trị viên Thoan được Lý tặng cho một cuốn an bum như vậy. Bìa mặt của cuốn an bum là một cô gái Nhật rất xinh, chỉ cần đưa mặt ảnh ra ánh sáng soi nghiêng một góc hẹp. Cô gái nhắm mắt như đang ngủ. Trời ơi! Ở miền Bắc, anh chính trị viên nông dân chưa hề thấy thứ của lạ ấy bao giờ. Cái chết bất đắc kỳ tử của chồng cùng với việc Lý bị bắt đi cải tạo, đã dạy cho Lý một bài học trường đời về sự cẩn trọng. Ngày sống ở Huế, Lý nghĩ tới Việt cộng trong một nỗi ám ảnh vừa thù địch, vừa sợ hãi. Cô ghê ghê khi nhìn thấy những xác Việt cộng bị lính bắn chết nằm tại nơi phục kích, nổ mìn. Hoặc giả, đấy là những người Việt cộng còn sống, bị bắt làm tù binh, hay về chiêu hồi với quốc gia. Họ cũng là người nhưng là một kiểu người xa lạ, tạo ra cho Lý một hố sâu ngăn cách không thể dung hòa. Kèm theo mầm hận thù được nuôi dưỡng từ cái chết của cha và cả mớ triết lý chống cộng cô tiếp nhận được trong sách vở, đài báo của chính quyền ngụy. Những ngày ở rừng, ăn cùng mâm, ngủ cùng hầm, trò chuyện với những người lính giải phóng Lý vỡ ra rằng, họ không “ác” như cô tưởng lúc ban đầu. Cũng là con người cả thôi! Nhưng họ có “lý tưởng cách mạng”, “quyết tâm đánh Mỹ xâm lược để nước nhà thống nhất” - nguyên văn lời giảng bài chính trị của ông trại trưởng ở trại cải tạo Lý còn nhớ được. Cô ngồi ở hàng ghế đầu, tưởng như chăm chú nghe. Nhưng kỳ thực cô mải nhìn chỏm tóc bạc của ông cha nuôi lúc lắc như cái bờm ngựa mỗi khi ông ta nhấn mạnh một câu quan trọng. Còn cái khoản “ham muốn xác thịt” Lý đã từng chung đụng, thì nhiều anh chàng cũng ghê gớm phải biết. Lý cười thầm với ý nghĩ ấy. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Mười Một, 2012, 08:51:32 am 10 Tiếng chim hót lảnh lót làm cho Cường tỉnh giấc. Qua tán lá cây che rợp một khoảng trên đầu, anh nhìn thấy một đôi chim họa mi đậu trên nhánh cây xoan, vừa rỉa lông vừa hót gọi bạn. Giữa vòm lá xoan xanh mướt nở bung những chùm hoa tím. Lả tả những cánh hoa xoan rơi xuống phủ trên nền đất vườn ẩm mát sau cơn mưa xuân, vương vãi trên tấm ni lông xanh che thành mái trong nơi trú ẩn của Cường. Hai mươi ngày trời, anh đã sống bình yên trong cái hốc đất, nằm kẹp giữa rặng tre gai dày đặc và một dải cây chà gai, xương rồng, dứa dại phủ đầy tầm xuân, mảnh bát. Chỗ trú ẩn vừa bất ngờ, vừa kín đáo, nằm ngay trong khu vườn rộng tới vài mẫu nhà Ngật. Khu vườn trồng sắn đã lên cao ngang thắt lưng. Không thể có một đứa trẻ chăn trâu nghịch ngợm nào đi săn bắn chim, đào dế có thể len gần tới hõm đất. Ngật đã đề phòng bằng cách quanh rặng tre, gần chỗ Cường núp, anh ta kéo tới vô số những nhánh tay tre lởm chởm gai nhọn. Có một lối vào an toàn chỉ có hai vợ chồng Ngật biết, hàng ngày mang cơm nước tiếp tế. Nhà Ngật lọt thỏm giữa xóm càng bất ngờ cho bất kỳ kẻ nào tò mò, trong khi chỉ cách một vạt vườn đã ra tới con đường kiệt chạy xuyên làng Liễu Thượng. Trên con đường đất, lính tráng, dân đi lại suốt ngày. Ngật biết chích thuốc. Tự tay anh ta vào Huế mua ở chợ trời Tây Lộc những lọ thuốc trụ sinh loại mạnh của Mỹ, thứ thì uống, thứ thì tiêm, vết thương của Cường trên ngực trái ăn vào phần mềm, sát xương quai xanh, vết thương ở đùi nặng hơn, miệng há to. Những ngày đầu sưng tay nhức nhối. Nhờ có thuốc kháng sinh, vết thương tới nay đã đỡ nhiêu, tuy vậy Cường vẫn chưa đi lại được. Cũng là cái duyên may của Cường gặp được vợ chồng Ngật sau đêm xảy ra trận phục kích trên con đường tới xóm Mới - Bầu Tháp vào đêm hai nhăm Tết. Ngật thì lại bảo: “Con người ta có phúc có phận cả anh Cường ơi!”. Bàn tay Ngật bị tiện đi mất hai ngón khẽ rung rung ở ngón tay cụt. Bữa đó, xã Y phối hợp với đội biệt động huyện tổ chức về làng mua gạo và hàng Tết. Hạnh sốt nghỉ ở nhà, Cường chỉ huy tổ của xã chỉ có ba người: Cường, Mộc và chị Điều. Cha mẹ chị Điều đều ở ấp Bầu Tháp. Chị thông thuộc đường ngang ngõ tắt ở đây và nhân tiện về làng xin nếp ăn Tết. Cánh biệt động huyện đội đông hơn, tất cả mười một tay súng. Con đường về đồng bằng qua ngả dốc Mồng ít ngày nay địch không chốt. 9 giờ tối, mũi đột kích mới lên tới Liễu Thượng. Phải mất thêm nửa giờ nữa, toàn đội hình ra tới vạt cồn mồ cách con đường lộ chừng hai trăm mét. Ánh pháo sáng hắt trên nền trời soi rõ hàng rào dây thép gai cao hai mét. Tụi ngụy rào phòng thủ cho con đường chiến lược nối Huế ra Quảng Trị. Hàng rào đơn, thưa nhưng có mìn đạp gài xen kẽ. Từ mùa hè năm trước, ngày chị Tâm còn sống đã hai lần đưa bộ đội C1 đánh về xóm Mới - Bầu Tháp, gây dựng được cơ sở ở làng. Sau trận đánh nhau với đại đội bảo an số 23 tại đây, bẵng đi một thời gian dài không có đơn vị nào tổ chức đi Bầu Tháp. Mười ngày trước, Cường và Hạnh cho lực lượng vũ trang về xã móc nối lại cơ sở. Nghe có người hỏi thăm tin tức chị Tâm bị hy sinh ở Liễu Nam. Hạnh chối, giấu biệt chuyện ấy. Cách đường lộ chừng năm chục mét là con đường sắt xuyên Việt. Những thanh ray dạo “chín năm” du kích, bộ đội Bình Trị Thiên đã lột lên hết đưa vào lò rèn đánh kiếm, mã tấu. Nền đường sắt cũ vô hình trung tạo thành một tuyến công sự nổi chắn giữ phía tây. Trận phục kích của tụi ngụy thuộc trung đoàn 54 nổ ra tại đây. Một đại đội nằm rải trên con đường sắt. Trời tối đen, lắc rắc đổ mưa phùn. Tổ cảnh giới bò tới sát đường sắt vẫn không phát hiện được địch. Mìn nổ. Và tiếp theo là làn mưa đạn của tụi lính ngụy nằm trên đường sắt cao xả xuống cánh đồng lúa đúng hướng mật tập của mũi biệt động huyện định thọc ngang băng ra đường quốc lộ để vào ấp Bầu Tháp. Nửa phút sau khi bốn trái mìn claymo bấm điện nổ, pháo sáng bắn lên xé toạc màn đêm. Toàn đội biệt động phơi lưng ra cho tụi ngụy xả đạn. Họ chỉ còn biết dựa vào vạt mồ mả bắn tỉa. Ở đấy, có những ngôi mộ xây, chống được đạn bắn thẳng. Nhưng không tránh nổi những phát đạn cối cá nhân và những quả cối 61 của địch phát hỏa từ gốc cây bông đồng đặt ở đầu làng nện như giã giò xuống lưng những người lính biệt động. Loạt mìn nổ đầu tiên đã quét tổ đi đầu của mũi biệt động huyện và chị Điều, hất họ xuống đám ruộng lúa. Số người bám theo sau đều bị sức ép của bốn trái mìn hoặc trúng đạn thẳng, mảnh cối. Tư - đội phó đội biệt động, mặt cắt không còn giọt máu, ngồi nép vào thành mộ đang giở vội cuốn băng. Anh ta bị thương vào tay phải. Có được vài loạt đạn bắn trả của cánh biệt động. Cường giữ hỏa lực B40. Sức ép của trái mìn hất anh ngã xuống ruộng. Cường bò lui lại khu mộ. Liều thuốc B40 ngấm nước ruộng không nổ. Anh thay trái thứ hai, nhằm vào cụm hỏa lực trung liên đang tóe lửa, bóp cò. Chỉ thấy một quầng lửa trùm lên con đường sắt. Nhưng đuôi lửa của trái đạn B40 đã trở thành mục tiêu cho địch nện vào đấy. Thậm chí, anh không nghe thấy cả tiếng Tư hét “xung phong”. Thực ra, đây là lệnh rút lui khỏi trận địa, báo động cho những người còn lại. Tỉnh dậy, Cường lết đi trong tiếng súng vẫn còn nổ dữ dội. Anh biết mình đã trúng đạn. Nặng nhẹ ra sao chưa biết, nhưng trước tiên anh phải thoát nhanh ra khỏi vùng hỏa lực bộ binh giăng dày. Có lúc Cường bị ngất. Rồi anh tỉnh trở lại và tiếp tục dùng một đầu gối và hai bàn tay bám xuống cỏ trườn đi. Khẩu B40, bây giờ chỉ còn tác dụng như một ống thổi lửa. Anh quàng khẩu súng vô dụng qua vai. Cường cứ bò theo hướng núi. Pháo bắn chặn nổ chát chúa ở đầu làng Liễu Thượng, Phú Ổ và ngả Văn Xá Trung. “Mặc mẹ mày”. Cường nghiến răng chịu đựng cơn đau, bò trên đám đất khô trồng màu phảng phất mùi hoa cải. Đến một bờ ruộng hơi cao ngoài tầm đạn bắn thẳng Cường mới ngồi lại, giở cuộn băng ra buộc chặt lấy vết thương ở đùi, ở ngực. Địch đã gọi lên hai chiếc trực thăng chiến đấu. Hai chiếc máy bay thi nhau bắn rốc két vào vạt mồ mả, chỗ mũi biệt động trụ lại bắn trả tụi ngụy. Tiếng những trái rốc két rít lên như xé vải. Nổ đinh tai. Bụi đất tung lên mù mịt, mùi thuốc súng khét lẹt, nồng nặc. Cường lại lết đi kiên nhẫn. Nhưng từng lúc bên chân bị thương của anh nặng như buộc chì, đôi cánh tay bải hoải tưởng như không sao bíu được vào ngọn cỏ để nâng tấm thân nặng nề tiến lên phía trước, nặng vướng víu. Cường chỉ còn một trái thủ pháo 4 lạng. Địch đã thôi bắn, duy nhất chỉ còn một khẩu trung liên thỉnh thoảng lại tru lên như con chó sủa dai dẳng, nhạt thếch. Và tiếng pháo bắn chặn nổ rung đất ở hướng cửa rừng, dưới chân đồi Một Mái. Cường lo. Cứ với tốc độ bò lết như thế này anh sẽ không thể nào vượt được quãng đường dài 12 cây số trên đồng, cắt băng qua nhiều làng để vào tới rừng trước khi trời sáng. Anh không sợ gặp phải những toán địch phục kích. Cường thông thuộc các nẻo đường ngang ngõ tắt từ trên núi đổ về các làng đồng bằng vùng ven Huế. Vấn đề còn lại là thời gian và sức lực. Sáu tiếng nữa là trời sẽ sáng. Anh phải chiến đấu với chính mình để đi hết đoạn đường còn lại. Sáng toẹt ra, nếu anh còn nằm lại giữa đồng, vậy là đi tong. Anh sẽ bị tụi bảo an, nghĩa quân các làng sáng mai ra đồng sục sạo trên mọi hướng phát hiện ra ngay. Một trái thủ pháo sẽ chia hai. Chia cho anh và chia cho những tên địch ngổ ngáo xông tới trước tiên để lập công lĩnh thưởng. Cường cố xua đuổi những ý nghĩ đen tối lóe trong đầu. Mắt ngong ngóng nhìn về phía trước và chậm chạp lết đi trong bóng đêm. Dù sao đầu óc anh vẫn còn tỉnh táo để nhận ra những bụi dứa mờ mờ mọc hai bên con đường nhỏ. Mùi phân trâu bò hăng nồng ở những vũng nước lấp xấp. Nghe tiếng động lướt trên cỏ, những con nhái thi nhau nhảy tõm xuống ruộng. Ngọn gió bấc lồng lộng thổi trên cánh đồng trống. Rặng tre xanh mọc ở rìa đồng rung kẽo kẹt như đưa võng. Tấm nang tre bị gió bứt rớt xuống chạm vào cành cây xào xạc. Mỗi chặng, Cường càng thấy thân xác mình thêm nặng nề. Đôi môi anh mím chặt đau đến bật máu, kèm theo cơn khát hành hạ. Đến một lúc không chịu nổi, anh đã phải trườn ra sát mép ruộng. Rồi cứ như thế, anh vục đầu xuống uống nước. Nước vào tới đâu anh cảm nhận tới đó. Nhưng Cường vẫn còn đủ tỉnh táo để hiểu rằng, bị thương ra máu nhiều, uống nước vào chỉ làm cho người mau kiệt sức. Anh đưa tay lau những giọt nước dính trên mũi. Nước ruộng tanh tanh lẫn rêu. Và anh lại tiêp tục bò. Đã thấy thấp thoáng những bóng cây tre chĩa ngọn lên trời và thanh tre bắc ngang làm tay vịn cho cây câu tre bắc ngang con hói. Bỗng dưng, anh ứa nước mắt. Lúc qua đây, thằng Mộc còn nhờ anh quờ tay ra sau lưng bắt con đỉa. Mộc theo tổ bám đường đi trước. Địch hay phục kích ở đây. Mộc bơi qua hói ở đoạn trên rồi mới dẫn cả tổ quay ngoặt lại kiểm tra cây cầu. Nếu có địch, tổ của Mộc sẽ đánh từ sau tới, trong khi toàn bộ đội hình ém sát vào bờ bên này hói, sẵn sàng phát hỏa. Địch không phục kích ở cầu. Ngâm nước lạnh, Mộc rét run. Vậy mà vẫn có một con đỉa trâu bám vào lưng nó. Cường phải bẻ que gạt con đỉa. Mộc đi sau lưng Cường lúc tiến vào con đường sắt. Từ lúc súng nổ anh không còn nhìn thấy Mộc đâu nữa. Mộc hy sinh chăng? Cũng như chị Điều và hai cậu bên biệt động đã nằm lại tại trận địa để cho địch cướp xác. Khổ thân chị Điều. Ngày mai gia đình, bà con cô bác ở Bầu Tháp sẽ nhận ra con em mình. Chắc chắn ông bà già nhà chị Điều sẽ bị tụi Hội đồng hương chánh xã, lính quận làm khó dễ trước khi cho nhận xác về chôn cất. Bảy người lính đại đội 1, bổ sung về cho xã Y, trong vòng chưa đầy nửa năm đã hy sinh mất ba. Bây giờ thêm Mộc nữa... Nghĩ mà xót xa. Của đáng tội, Hạnh và Cường đã làm được một việc. Ba lần về các ấp rứt lên được năm thanh niên. Một cậu trốn về, còn bốn cậu kia đã đưa lên tỉnh học tập. Họ sẽ trở thành những người du kích thực thụ, đủ bản lĩnh chiến đấu đòi hỏi phải có thời gian. Cường cay đắng nghĩ tới trận đánh vừa xong. Các anh đã thua và còn chịu một tổn thất khá lớn... Rút cục Cường đã lết tới được bờ hói. Cây cầu tre chênh vênh, được chắp bằng những đoạn thân cây xoan và có tay vịn. Bình thường, người đi qua dễ dàng. Nhưng bây giờ Cường đứng trước cây cầu như một sự thách đố. Thanh tre để vịn tay hơi cao. Anh phải dùng bên chân còn lành của mình và hai tay nhích lên từng tí một trên cây cầu để qua hói. Mất hơn nửa giờ anh mới sang được bờ bên kia. Cường kiệt sức. Lúc tỉnh dậy, anh hoảng hốt nhìn đồng hồ đã hơn 2 giờ khuya. Mưa rơi nặng hạt. Quần áo anh thấm nước. Ráng sức Cường tiếp tục lết đi. Cái cảm giác cuối cùng anh còn cảm nhận được là mình đang trườn lên một vạt ruộng khoai lang, rãnh khoai có nước lấp xấp. Lớp đất nhão nhoẹt. Phía bên trái là một ruộng bắp, cây mới mọc ngang thắt lưng. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Mười Một, 2012, 08:52:32 am * Cường mở đôi mắt đờ đẫn. Có hai gương mặt lòa nhòa đang cúi xuống nhìn anh. Anh khẽ mấp máy đôi môi nhưng không phát ra thành tiếng. - Chú ấy đòi nước, anh Ba! - Em rót vào cái nắp bi đông, chút xíu thôi nghe. Lát sau có bàn tay của ai đó khẽ nâng cằm anh, những giọt nước ri ri, chảy vào. Chút nước chỉ càng làm Cường thêm thèm khát. Anh muốn gào lên, muốn chửi rủa những kẻ ngồi trước mặt. Nhưng quai hàm cứng lại, muốn há ra mà không được. Trời ơi, giá như có cả dòng sông Bồ lúc này anh cũng uống cạn. - Đúng rồi em ạ! Người ấy đấy... - Giọng người đàn ông thì thào nho nhỏ. - Có thiệt không? Coi cho kỹ kẻo lộn. - Người đàn bà đáp. - Lộn răng được. Chỉ cần gặp chú nớ một lần anh nhớ suốt đời. “Họ là ai ha?” - Cường chìm đắm trong một ý nghĩ mơ hồ, lộn xộn. Vành mắt cứng lại không còn tuân theo ý muốn của anh nữa. - Chú ơi! Chú mở mắt ra coi thử. Người đàn ông lay nhẹ vào vai Cường. Anh khẽ động đậy vành mi, vẫn hai khuôn mặt mờ nhạt, không rõ nét. - Anh hỏi thử chú ấy lần nữa cho chắc ăn. - Người đàn bà khuyên. - Chú có phải là người bộ đội giải phóng... Cường khẽ động môi nhưng hai con mắt đã khép chặt. Anh thấy mình trôi nổi bồng bềnh giữa cánh đồng. Chân không chạm đất. Hàng ngàn viên đạn lửa đỏ lừ đan chéo vây bọc lấy anh nhưng chẳng có viên nào trúng, y hệt như một trò ảo thuật. Anh cứ giỡn đùa trước thần chết. Đạn rơi xuống nước lõm bõm. Anh nhìn rõ từng tên lính ngụy chạy lộn xộn trên con đường sắt, đường lộ huơ súng bắn vung vít lên trời đuổi theo anh. Cường cười, càng thích thú đùa giỡn với trò chơi nguy hiểm. Từ trong rặng tre, Hạnh đang băng ra. Cô cũng chạy trên những ngọn lúa rất nhanh. Hạnh nắm lấy bàn tay anh, cô kêu lên: - Chu cha anh lạnh dữ. Đưa tay đây em sưởi nóng cho. Những sợi tóc của Hạnh chạm vào mặt Cường. Lại một giọng nói mơ hồ như vọng lên từ trong đất. - Tim chú nớ còn đập mình à. - Bị thương nặng quá. Chừ tính ra răng, anh? - Em ra vơ đống cỏ lại đây cho anh. Tối mới tính được. - E chết mất... Cường nghe được rõ ràng hai tiếng “chết mất”. Anh tự phản ứng bằng cách khẽ lúc lắc cái đầu và mấp máy đôi môi. Chỉ một thoáng thôi, anh lại thấy mình cắm đầu cắm cổ chạy, mong thoát khỏi bàn tay gầy, xương xẩu của lão bán “xôi chè bột lõ” đang đuổi theo phía sau lưng anh. Lão “lõ” bán xôi vò, chè bột lọc, chất đầy trên hai cái mâm úp chồng lên nhau, đi bộ cả chục cây số bán hàng. Lão lai Tây, mũi lõ, mắt xanh. Đám trẻ con trong khu phố, nơi Cường ở trêu chọc không gọi tên thật của lão, cứ lấy cái khuyết tật của cha mẹ sinh ra mà réo. Lão uất, bỏ xôi chè đuổi đánh lũ trẻ con tinh nghịch. Cường bị lão lõ đuổi chạy thục mạng, nhảy bổ xuống dòng sông Đào để mong thoát khỏi tay lão “xôi vò chè bột sắn bánh chay”... Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Mười Một, 2012, 08:54:25 am * Hai ngày sau, Cường mới tỉnh hẳn. Anh nhận ra mình nằm trong hõm đất, trên tấm vạt giường có lót mền trải chiếu. Tấm ni lông màu xanh căng phía trên đầu che mưa. Rặng tre gai dày đặc đã ngăn ngọn gió bấc, chỗ trú ẩn của Cường khô ráo ấm áp. Chính là Ngật. Người tù binh ở trung đoàn 54 ngụy đã bị đại đội 1 tóm được trong trận phục kích ở chân trời Chóp Nón, đã cứu Cường thoát chết. Vợ chồng Ngật nhặt được anh ở ruộng khoai trong tình trạng hôn mê, rồi bí mật đưa về giấu trong vườn nhà. Ngật thuộc diện thương phế binh, có tiền bảo trợ do Nhà nước cấp, đám tề ngụy trong ấp xã không ai nghi ngờ dòm ngó anh. Vợ Ngật, một người đàn bà ngoài ba mươi tuổi tốt bụng, theo đạo Phật. Bữa nghe tin chồng còn sống trở về, lúc hiểu ra sự thật về vết thương ở bàn tay trái của chồng, chuyện mấy anh giải phóng cho về nhà làm ăn, vợ Ngật cứ cảm ơn mãi. Đêm nào chị cũng ra trước bàn thờ lầm rầm cầu nguyện. Ngày Phật đản hai vợ chồng đưa nhau lên chùa Từ Đàm lễ tạ. Những mùi thuốc kháng sinh và thuốc bổ, cùng những bữa ăn ngon lành, nóng sốt mau chóng làm cho Cường lại sức. Nhưng anh vẫn chưa đi lại được. Viên bi của trái mìn claymo đã yên vị trong bắp thịt phía trên ngực, lành miệng, vết thương ở đùi còn tay đau, chảy mủ. Cường đã ăn một cái Tết trong nhà Ngật, giữa một vùng làng đâu đâu cũng có bóng áo lính địch. Suốt ngày đêm anh nằm ở chiếc ổ bí mật ấm áp ngó ra ngoài trời, một khoảng không gian chật hẹp, cố định, nhìn những đám mây mọng nước bao phủ bầu trời. Và những trận mưa sập sùi lâu lâu lại đổ xuống. Vào những ngày giáp Tết, ở những ngôi nhà dân trong làng không khí vẫn lặng lờ. Ban ngày người vẫn ra đồng, xới lúa, làm cỏ. Trên vạt ruộng hoang ngoài bìa làng, bốn năm đứa trẻ con chăn trâu chơi đánh khăng, cưỡi trên lưng nhau giả làm ngựa, đuổi bắt nhau ầm ĩ một góc làng. Chơi chán đám trẻ kéo nhau tản ra đồng hun chuột, đúc dế. Lâu lâu chúng hò reo, kêu la mỗi khi đuổi theo một con chuột bị sặc nước cay mắt vì bị khói vùng chạy ra ngoài hang. 5 giờ chiều cánh đồng đã không còn một bóng người. Sương mù từ trên núi dồn xuống nhòa vào khói bếp lan tỏa thành một lóp mù mỏng. Ở các làng hoang, vọng lại tiếng chặt cây của các đơn vị lính ngụy đồn trú, dã ngoại... 6 giờ tối, các gia đình trong ấp cơm nước đã xong. Vài bốn hộ dồn thành một cụm ngủ tập trung tại một nhà, có hầm phòng tránh ca nông. Cửa ngõ đóng kín. Không một ánh đèn. Chó cũng bị lính dân vệ, bảo an giết vãn, với lý do “bảo đảm an ninh”. Mãi tới trưa ngày hai mươi tám Tết, trong làng mới rộ lên tiếng heo bị chọc tiết. Đã có nhà cúng tất niên, phảng phất mùi hương trầm lan tỏa trong không gian. Con đường mòn chạy ngang qua trước cửa nhà Ngật nhộn nhạo người đi lại. Tiếng xe honđa, tiếng xe lam chở người đi chợ rú máy ầm ĩ. Buổi sáng, Ngật mang cơm ra thông báo cho Cường hay: “Mặt trận dân tộc giải phóng ra lệnh ngưng bắn ba ngày, đảm bảo cho mọi người dân an ninh hưởng Tết cổ truyền của dân tộc”. “Anh nghe ở đâu vậy?” - Cường hỏi. “Hồi đêm tôi mở đài Hà Nội!”. “Anh đã chuyển giúp tôi cái thư chưa?”. “Rồi, đảm bảo!”. Ít bữa nay, Cường sốt ruột. Anh quyết định viết thư nhờ Ngật đưa ra hộp thư chết. Anh muốn báo tin gấp lên căn cứ để Hạnh về, đón đi. Cho đến nay vẫn chưa có tin tức. Ngật ra kiểm tra lại tại một hốc bí mật trong ngôi mộ giữa đồng vẫn còn thư của Cường. Chứng tỏ đường từ căn cứ về bị tắc. Nếu không bằng mọi giá Hạnh đã đột về và theo quy định, năm ngày một lần cô tới hộp thư mật. Sợ lộ, và cũng để an toàn cho đường dây nội tuyến của xã, Cường không dám nhờ Ngật chuyển thư tới những cơ sở Xóm Mới, Văn Xá... Biết rằng vợ chồng Ngật hàm ơn anh đã cứu sống dạo trước, nay trả nghĩa cho Cường, nhưng anh không dám liều. Mỗi một cơ sở có được bây giờ đều phải trả bằng xương máu. Tương lai vợ chồng Ngật cũng sẽ là một cơ sở. Cường đã gặp được một sự may mắn lớn. Và quý giá gấp trăm lần, anh hiểu được tấm lòng của vợ những người lính ngụy trong hàng ngũ địch. Thì ra chẳng có bức tường nào của địch khó công phá cả, miễn sao anh tìm đến được với họ. Chỗ trú ẩn của Cường vừa kín đáo, bảo đảm, lại ở ngay trong vùng kiềm tỏa của địch. Nó mở ra một khả năng trụ bám dài ngày cho du kích xã Y và cũng là điểm khởi đầu cho những trận đánh “nở hoa trong lòng địch” diễn ra ngay trên mảnh đất đồng bàng nay mai. Buổi sáng mồng hai Tết, Ngật ra thăm Cường sớm. Anh ta mang theo một bữa cơm thịnh soạn của ngày Tết. Cơm nóng, canh lòng gà nấu miến, thịt gà luộc, ngoài ra còn có cả bánh ít lá gai, bánh mật, bánh mứt dừa. Vợ Ngật không cho Cường ăn nếp. Chị sợ vết thương làm mủ. Bình trà pha đậm và thuốc lá Rubi làm cho Cường khuây khỏa, thư thái trong một buổi sáng mùa xuân đẹp trời. Từ chiều qua, trời hửng nắng. Những cơn mưa đã dứt. Ban đêm, sương muối rơi nhiều, trời trở lạnh. Cho tới 8 giờ sáng, Ngật lại ra vườn. Theo chân anh ta có một người thanh niên mặc quần jean, áo trắng, khoác bên ngoài một chiếc áo bu dông Mỹ. Thấy người lạ, Cường cảnh giác đề phòng. Anh kéo chăn phủ chân và luồn quả thủ pháo vào bên trong lần áo. Ngật cười cười: - Đừng sợ anh Cường. Coi thử có nhận ra ai đây không? Người thanh niên cũng mỉm cười nhìn Cường. Đến bây giờ Cường mới phát hiện ra một bàn tay của anh thanh niên lạ mặt cũng bị tháo ba ngón. Bàn tay trái chỉ còn ngón trỏ và ngón cái. Vết khâu nhăn nhúm. Cường khe khẽ lắc đầu, không tài nào nhớ nổi. - Anh quên tôi thiệt sao... - Anh thanh niên hỏi nhỏ. Ngật đỡ lời: - Thằng Phi đó anh Cường... Nó vừa ở Đà Nằng về, tôi hay nhắn tin ra đây gấp. Biết chuyện anh, nó nằng nặc đòi ra gặp anh bằng được. Để tạ ơn cứu mạng sống cho nó đó. Mấy sợi râu mọc trên mụn cứt ruồi của Ngật lúc anh cười nheo mắt khẽ rung rung. Cường đưa tay ra bắt tay Phi: - Trời! Vậy mà tôi không nhận ra cậu. - Anh Cường bị thương nặng? - Phi nhìn vào bàn chân của Cường. - Nay cũng đỡ rồi, nhờ anh Ngật... - Cường chuyển câu chuyện. Trông cậu khác với bữa ở trong rừng quá. Nom trẻ ra. Từ ngày ấy đến nay ra sao? Phi giơ bàn tay cụt ba ngón. - Em cũng học theo cách của anh Ngật. Bỏ ba ngón tay. Mới đầu tụi bác sĩ ở bệnh viện quân đội nghi em tự thương. Sau mẹ em lo lót mất mấy chục ngàn. Bây giờ em vô Đà Nẵng ở với ông bác ruột, mở tiệm buôn trong nớ... Em nào ngờ còn có ngày được gặp anh... Thoạt trông thấy em, anh ngán phải không? Cường cười cười, không trả lời. Phi ngồi chơi chừng nửa giờ, xin phép ra về... Ngật bước ra sau nói nho nhỏ vào tai anh: - Anh khỏi lo. Thằng nhỏ đó tốt. Cường vẫn ngài ngại. Suốt cả ngày và đêm hôm ấy anh phấp phỏng đề phòng. Buổi sáng hôm sau, Phi phóng honđa xuống nhà Ngật. Trong chiếc túi xắc, cậu ta chở về cho Ngật vô số thuốc tây, sữa đường và hai cây thuốc lá Cô táp. Phi mua tặng Cường chiếc rađiô bán dẫn National hai pin đại. - Đây là tấm lòng của em và gia đình em - Phi nói chân thành - Anh giữ lấy làm kỷ niệm... - Cuối cùng ngập ngừng một lát cậu ta nói - Mấy anh cứ coi em như người của mình, cần thứ chi anh chỉ bảo với anh Ngật một tiếng, em sẽ gởi... Nói có mặt trời, em và vợ chồng anh Ngật ở đây chịu ơn cách mạng suốt đời. Cường không muốn nhận quà, nhưng Phi không chịu. Chiếc rađiô có một chiếc tai nghe nhỏ xíu. Cường cắm vào lỗ tai, anh có thể nghe được đài Hà Nội, đài của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa giải phóng miền Nam vào các buổi phát. Chiếc ổ trú ẩn của Cường như được nối liền với thế giới bên ngoài. Anh không còn bị rơi vào cái cảm giác lạc lõng, đơn điệu giữa vòng vây của kẻ thù. Nhiều đêm, khi trong ấp đã yên ắng, biết chắc tụi nghĩa quân, tụi bảo an không có ở khu vực của mình, Ngật ra ngoài bụi tre chui vào chỗ Cường ngồi rì rầm nói chuyện tới khuya. Anh ta nói chuyện nhà, chuyện đồng áng, chuyện vợ con. Một mạng lưới tề ngụy trong ấp, trong xã Y, qua Ngật Cường nắm được cả. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Mười Một, 2012, 08:55:40 am Địch kiềm tỏa nông thôn tưởng như là chặt nhưng kỳ thực lại có vô số kẽ hở. Từ việc phòng thủ thôn ấp, đến việc quản lý dân. Chỉ có điều tìm cho ra những kẽ hở ấy, có những đối sách thích ứng để chống trả hiệu quả. Xét cho cùng ảo ảnh về cách mạng, về “Việt cộng” vẫn là một bóng ma đè nặng lên tâm lý tụi tề ngụy ở hạ tầng cơ sở. Chúng tin tưởng ở vòng ngoài đã có quân Mỹ, quân chủ lực ngụy, vòng trong bảo vệ cho các thôn ấp có đám lính bảo an, nghĩa quân, phòng vệ dân sự được trang bị vũ khí kèm theo các chú lính Mỹ “mũ nồi xanh”, chỉ đạo công tác bình định nông thôn, đồng bằng, một hệ thống quân sự hóa từ tiểu khu xuống các xã, ấp, liên gia. Nhưng địch vẫn lo sợ bị bên cách mạng tấn công. Thực tế cho Cường kết luận rằng: nông thôn đồng bằng vẫn cho phép các lực lượng đứng chân bám rễ nếu tạo được thế dựa trong dân.
Cường đã phải trải qua những ngày dài chờ đợi. Anh nóng ruột vì chưa bắt được tin tức gì của trên núi. Hộp thư chết vẫn chưa có người tới lấy. Ba ngày một lần, đi thăm đồng, Ngật tới kiểm tra và thay thư của Cường. Tín hiệu “S.O.S” liên tiếp khẩn thiết chuyển đi từ nắp ngôi mộ giữa đồng làng La Chữ vẫn bặt vô âm tín. Ngật thông báo chính thức trận đánh diễn ra ở xóm Bầu Tháp đêm hai nhăm tháng chạp, sáng hôm sau tụi ngụy tìm được “bốn xác chết của cộng quân, thu ba AK và một cộng đồng phun lửa B40”. Thời gian một ngày đằng đẵng trôi, tưởng như vô tận. Cường nằm ngửa mặt, đếm từng cặp chim sâu tới nhảy nhót quanh bụi tre nơi anh nằm, chờ màn đêm buông xuống. Nhưng về đêm, thời gian mới thực là dài. Anh vặn rađiô mở cho tới khi chương trình phát thanh “Gửi vào Nam” kết thúc. Trên làn sóng điện chỉ còn phát ra những tiếng tít... tít liên hồi, Cường mới tắt công tắc pin. Vài lần, trong bản tin của đài, phát bài về vùng đất quê anh. Cường vừa nghe, vừa nuốt nước bọt, để ý từng chữ. Níchxơn đã ném bom trở lại miền Bắc. Dân cư và các cơ sở sản xuất tiếp tục đi sơ tán. Nhiều vùng lúa vẫn đạt 5 tấn một héc ta. Tính ra những người bạn cùng học một khóa phổ thông với Cường đang theo học đại học bây giờ đã bước vào năm học thứ tư. Thằng Hiếu nghe nói đi học tại Liên Xô. Thằng Hiển vào trường Tổng hợp Toán. Thằng Tỉnh vào Đại học Ngoại ngữ. Cậu Diễm khoèo tay, không đủ sức khỏe bộ đội, đã sung vào lực lượng tự vệ phòng thủ bầu trời thị xã. Cô Huyền xinh xẻo đi học Đại học Quân y, cô Mơ, cô Mão vào Sư phạm. Và Dung giờ đây đã là một cô sinh viên của Trường đại học Bách Khoa Hà Nội. Cô bé ấy học cùng anh những năm phổ thông. Cô bé có cặp mắt to, sáng. Gương mặt tròn, hai bím tóc tết đuôi sam. Những buổi tối trường cấp III phải học đêm để tránh máy bay Mỹ ném bom ban ngày. Đám học trò mới qua tuổi quàng khăn đỏ, lên học cấp III ngỡ mình đã lớn. Con trai, con gái tự tách ra thành từng cụm trong mỗi buổi chiều đi học. Bọn trẻ nhìn mặt nhau hàng ngày, thậm chí ngồi cùng bàn, mượn của nhau từng cục tẩy, cây thước. Ngó trộm bài nhau trong giờ kiểm tra. Nhưng một khi tan lớp, bước ra đường các cô cậu học sinh như những kẻ không hề quen biết. Đã nhiều lần vào những đêm mưa, rét như cắt ruột. Anh học bài xong thơ thẩn đi dọc dãy phố đứng ngơ ngẩn dưới tháp chuông nhà thờ. Gió thổi thốc xô lệch tán bàng non. Những ngôi nhà dân đóng kín bằng những tấm ván soi rõ ánh điện sáng hắt qua khe. Dưới gốc bàng người đàn bà quạt ngô nướng, chùm hụp trong một tấm áo ni lông vá chằng, vá đụp, đầu đội chiếc nón cũ. Anh cảm thấy xấu hổ trước ánh mắt tò mò của người đàn bà. Đứng một lúc lâu, anh lững thững bỏ đi dạo dọc phố cho tới khi chạm mặt vào bờ đê mới dừng lại. Lòng buồn vơ vẩn. Những vui buồn của tuổi học trò qua mau cuốn hút vào cuộc sống vất vả thời chiến tranh. Có những buổi chiều, Cường và đám bạn học ngồi bên nhau hàng giờ, nhìn ánh mặt trời tãi vàng trên cánh đồng làng Thắng Cựu. Nắng hắt vào rặng tre, mái rạ cứ đỏ lên rồi chuyển sang màu nâu sẫm. Ầm ì tiếng máy bay rất xa... Rồi bất thần tiếng động cơ phản lực rít lên giữa đỉnh đầu như lao tôn. Mặt đất chuyển rung, lát sau ba bốn cái “nấm khói” đen hiện lên ở phía thị xã, kế theo là những tiếng nổ dữ dội. - Ném bom khu Quang Trung! - Không phải, chỗ ấy là nhà máy xay. - Xì, mình trông như ở cầu Bo... Kìa, cháy... Lửa bốc to quá các bạn ơi! Cho đến ngày anh lên đường nhập ngũ. Hai mươi sáu cậu học sinh tốt nghiệp tú tài vào quân đội đeo lon binh nhì, ấy là một ngày tháng sáu. Buổi chiều nắng chói chang trong một khu đất rộng, nơi tập trung hai đại đội tân binh ngót ba trăm người. Qua ô hàng rào Cường nhận ra những người bạn học chen lấn ngoài hàng rào, giơ cao tay vẫy vẫy. Bạn bè anh vào chiến trường năm ấy rơi rụng cả. Người hy sinh, người bị thương, có kẻ đào ngũ ngay trước cửa ngõ Cổng Trời, trước khi vượt biên giới qua đất Lào. Chiến tranh, cây rào chắn thử sức mồi người, buộc anh phải lựa chọn. Hèn nhát và dũng cảm?... Chỉ cần nhắm mắt lại anh đã nhận ra những gương mặt bạn bè. Thằng Son gầy ngỏng, giữ khẩu đại liên Cơrimốp. Thằng Tùng “cháy” ù lì, mê đọc sách trở thành điện báo viên 2 oát. Cậu Nghi “phở” về làm trinh sát. Cậu Chiến “Kỳ Bá” được nhận huân chương ngay từ trận đánh đầu tiên khi về đồng bằng, đánh địch bằng cách bắn hai trái B40, trong trận tao ngộ chiến ở Bầu Sen diệt hai ổ hỏa lực của tụi bảo an. Cậu Lanh “tân đảo”, cao như cây sào. Ngày còn ở đơn vị huấn luyện, ông chính trị viên Xe báo cáo trong chi bộ rằng - trước sau Lanh cũng đào ngũ (!). Trung đội trưởng Hà, suốt dọc đường hành quân vào tới chiến trường, luôn để mắt tới “một phần tử” có tư tưởng không ổn định. Người ta còn ngờ ngợ Lanh sẽ tìm cách chuồn trên đẩt Lào, để sang Thái Lan về lại Tân thế giới. Chị gái Lanh vẫn còn ở bên ấy. Hiện thời là vợ của một nhà doanh nghiệp sản xuất dầu lửa. Nhưng rốt cục Lanh và nhiều người lính vẫn lặng lẽ, âm thầm, chịu đựng gian khổ để vào với chiến trường. Cả tiểu đoàn tân binh được phân nhỏ về các đơn vị. Lanh về tới Công trường VI. Sư đoàn lính dù Mỹ đang đổ quân càn quét miền Tây, chiếm đỉnh cao 1078 - dốc Chè. Cao Bá Lanh đã trở thành người anh hùng vô danh trong trận chiến giữ chốt diệt Mỹ. Những tên lính Hoa Kỳ được phong danh hiệu “Thiên thần mũ đỏ” đã bị quỵ dưới chân đồi. Suốt nửa ngày trời, chúng không sao chiếm nổi ngọn đồi đã bị cày nát bằng bom và pháo trước tổ chốt của Cao Bá Lanh. Địch phải dùng máy bay B57 ném bom hủy diệt... Thắng, thằng bạn nối khố của Cường trong những trận đá bóng, đi chơi, đọc sách... đã trở thành anh lính của đại đội 3, tiểu đoàn 10. Trong căn hầm chốt ở ngã ba Hương Trà, còn đọc cho Cường nghe những trang ghi chép về cuộc sống của người lính vùng giáp ranh... Thắng đã ngã xuống ở một cánh rừng nào đó bên bờ sông Bồ, cùng với những trang ghi chép về chiến tranh của anh... Chưa có một lúc nào rỗi rãi, Cường ngồi lý giải về những người bạn mình. Bởi chính anh cũng quay cuồng với công việc của người lính. Nhưng dòng chảy của cuộc sống biến động không ngừng bắt người lính phải trả lời thực tại. Chiến trường đặt ra những câu hỏi và câu trả lời mà bất kỳ một ông tướng nào, dù mẫn cảm tới mấy cũng không tự hoạch định được trên trang giấy. Huống chi đây lại là con người. Một ông chính trị viên đại đội, chín tháng trước đó mới còn là một anh phó chủ nhiệm hợp tác xã. Trường quân chính đào tạo và gắn cho anh cái lon thiếu úy. Trong bản khai lý lịch cán bộ ghi phần học lực: lớp 5. Loạt bài chính trị do các sĩ quan của trường quân chính giảng, anh thiếu úy đọc thuộc tựa như một đứa học trò quen học gạo. Nhưng anh ta là đảng viên. Niềm tin của một trăm hai chục con người, chín phần mười đeo lon binh nhì trông vào anh. Họ quý nể và coi anh là cây cọc nọc. Nhưng khi lần đầu tiên vào tới đất lửa Quảng Bình, nhìn thấy những chiếc máy bay trinh sát phản lực của Mỹ, nhìn thấy ba vệt khói trắng thẳng như kẻ chỉ vạch trên nền da trời xanh ngằn ngặt của B52, nhìn thấy những vệt rừng săng lẻ bị bom phát và chất độc thiêu cháy, ngồi phập phồng lo sợ hàng giờ trong vạt lau xác xơ để chui qua cống ngầm đường 9, anh thiêu úy mới té ngửa ra rằng trong hành trang người lính của mình còn cực kỳ thiếu thốn. Nếu giao xong 120 anh binh nhất (giá như còn đủ quân số, và những anh binh nhì đã được thêm một hạt - ngôi sao!), anh thiếu úy quay trở về, những người dân đất Bắc, bạn bè ở hậu phương sẽ coi anh như một vị anh hùng. Nếu anh phải ở lại, do điều kiện chiến trường thiếu cán bộ, cần bổ sung gấp, dù là đại đội trưởng hay chính trị viên cũng rơi vào tình trạng khốn đốn. Anh thiếu úy cũng sẽ giống nhu bất kỳ anh binh nhất nào, phải học từ cách đi đứng, nói năng và cả cách đối nhân xử thế. Các vị chỉ huy không lột của anh chiếc lon thiếu úy. Nhung người ta muốn anh phải chứng tỏ khả năng của một anh cán bộ biết cầm quân và biết cách tổ chức đánh giặc. Còn chính những người lính đòi hỏi ở anh sự mưu trí, dũng cảm và lòng nhân ái... Vào những giờ phút tĩnh lặng yên ả, nằm dài cả ngày, đầu óc Cường hay khơi gợi lại những mẩu ký ức vụn vặt, không theo một hệ thống nào cả, nhưng lại được chắp nối liên tục với nhau. Anh nhớ tới trung đội trưởng B3, biệt hiệu là Thư rỗ, thường bắt nhịp cho cả đại đội hát. Đại đội đi hành quân qua các làng đồi vùng Lục Ngạn. Đội hình hành quân dài như con trăn. Tiếng hát cũng dài như một con trăn, uốn lượn gọi đám trẻ con đổ ra xem, những bà già tay ẵm cháu. Bóng các cô gái thập thò sau những bụi chuối, cạnh nhà. Những đêm tháng một rét buốt ở trại Trầm, đứng gác lạnh run người. Anh ám ảnh bởi nỗi sợ hãi về người đàn bà điên ở bản Cao Lan trước ngay cổng doanh trại. Bà điên bị nhốt trong một ngôi nhà đất. Những song cửa sổ ken dày chừa ra một lỗ nhỏ chỉ vừa bằng hai bàn tay. Thấy bóng bộ đội đi tập về, bà ta hét lên, thò bàn tay gầy đét ra đòi mượn súng... Chuyến tàu tốc hành chạy qua ga Nam Định vào một đêm tối trời. Địch đánh phá thành phố dệt. Không có lệnh dừng tàu. Cả đại đội bộ binh xô ra các ô cửa sổ để nhìn về phía đông. Nơi ấy là quê hương của các chàng trai trẻ. Chân trời xa mờ mịt tối. Chỉ có những vì sao thủy chung còn thức để tiễn người ra trận... Phải rồi, hôm ấy Hạnh nói gì nhỉ. Hạnh bảo sẽ gởi tiền mua len. Hạnh sẽ đan cho Cường một cái áo len. Hình như anh đã nói ra một điều ngu ngốc! - Bộ đội tụi anh ăn mặc thế này quen rồi. Có áo len vướng lắm. - Anh nói rứa mà nghe được. - Giọng Hạnh pha chút hờn dỗi. Chưa bao giờ như bây giờ anh mong sự có mặt của Hạnh đến như vậy. Một linh cảm mơ hồ, linh cảm thôi, nhưng nghĩ tới điều đó anh lại sợ. ... Cho đến 2 giờ chiều, Cường đang ngủ mơ màng chợt nghe thấy có tiếng ho khan. Anh trở dậy. Ngật đang dỡ cành gai bước vào. Mới trông thấy Cường, nét mặt Ngật rạng rỡ hẳn lên. Ngật nói một tiếng gọn lỏn: - Rồi. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Mười Một, 2012, 08:58:38 am 11 Nhận được lá thư của cậu y tá từ trung đội 2 chuyển về, Thoan đọc xong, nét mặt tự nhiên cau có. Đôi môi Thoan vốn thâm sau những kỳ sốt rét, đột nhiên tím ngắt. - Có chuyện chi rứa, anh Thoan? Nhu đang ngồi xắt bắp chuối ngạc nhiên hỏi. Cô đi rừng hái được bốn bắp chuối trên rẫy cũ của đồng bào định trưa nay bóp nộm cho bếp ăn của Ban chỉ huy đại đội. Tay áo Nhu xắn cao, đưa lưỡi dao xoèn xoẹt. Vòng hoa chuối xắt lát mỏng như cây tăm rơi lả tả xuống chiếc xoong đựng nước muối. - Không! - Thoan nói cộc lốc. Anh ta vo viên tờ giấy quăng vào bếp lửa. Tờ giấy ún khói, ám vàng rồi bốc cháy. Như được đà, ăng gô nước đặt trên bếp cất tiếng reo. Thoan mở chiếc ba lô, lấy ra từ trong túi cóc một túi ni lông đựng gói trà Hồng Đào. Anh thận trọng mở gói chè dốc vào lòng bàn tay một nhúm nhỏ cho vào chiếc ca đuya-ra có nắp. Nước sôi, Nhu ngừng tay dao, cầm ăng gô nước chế chè. - Ít nước thôi. - Thoan nói khẽ. - Dạ - Nhu đáp. Trong nhà lúc ấy không còn ai khác. Anh chàng quản lý ngồi ngoài sân dưới một gốc cây đang kê cuốn sổ trên chiếc bàn nứa tính toán sổ sách. Thoan liếc nhìn Nhu, nói: - Ước chi em là liên lạc của anh. - Thoan cười nhẹ. - Em nấu ăn cho anh, chưa ưng hử? Nhu ngước mắt nhìn anh chính trị viên, trách. Chợt giọng Thoan vang to khác thường: - Này ông Liêu, bỏ sổ sách đấy, lên làm chén nước đã. Có trà ngon đây! Liêu ưỡn thẳng lưng trên ghế, lúc lắc cái cổ, gọi vọng lên: - Vâng em lên ngay đây, thủ trưởng. Vừa bước lên những bậc đất, Liêu vừa thông báo: - Báo cáo chính trị viên, ta còn dư tới ba tạ rưỡi gạo kia đấy. Chính xác là ba trăm sáu chục ký lô. - Nhiều vậy kia à? - Vâng - Liêu cao giọng - và còn tới hai mươi tám cân mỡ cả thảy. Thoan gật đầu, tay tráng những chiếc bát. - Tốt lắm! Cậu đáng khen. - Giờ tính sao thủ trưởng? - Ngồi xuống đây đã, chuyện ấy để đấy... Này, cậu còn điếu Tam Đảo nào không nhỉ? Liêu quay quả đi xuống dưới gian nhà kho. Một lát sau quay trở lên. Tay cầm bao thuốc Tam Đảo bao bạc. - Khá lắm! - Thoan bật khen và đưa bao thuốc lên mũi ngửi - Còn thơm lắm cậu ạ. - Thủ trưởng khỏi lo. Thuốc của em hết chê. Cánh lái xe binh trạm mới chuyển giao cho em được vài bữa nay. Thoan chiết nước trong chiếc ca nhôm ra hai cái bát. - Cô Nhu này, đợt tới đại đội tập trung về số gạo thừa của ta đổi cho đồng bào kiếm con heo liên hoan sơ kết chiến dịch vận chuyển được chứ nhỉ? Nhu khẽ nhếch mép cười, nhìn hai người đàn ông: - Việc ấy, thủ trưởng phải bàn với anh Liêu chớ... - À... Tôi nói với cô cũng tức là tôi bàn với cậu Liêu đấy, phải không ông quản lý? - Ý kiến của thủ trưởng chí lí. Đúng là một chiến dịch vất vả, oanh liệt. - Liêu nói tiếp. - Việc ấy tôi giao cho cậu và cô Nhu lo liệu. - Vâng, em sẽ xin no niệu. - Liêu ngúc ngắc cái đầu. Nhu không nhịn được, cười phá lên. Cô đưa tay lên gạt mấy sợi tóc trên má, nhại: - Em xin no niệu! Anh Liêu nói tức cười quá. Hai người đàn ông cười xòa. Liêu đỏ ửng mặt, xấu hổ vì tật nói ngọng của mình. Vẳng lên từ dãy sườn đồi bên kia con suối tiếng chày nện thình thịch. - Lính B2 làm gì mà khua cối chày nhỉ? - Thoan hỏi. - Dạ, báo cáo thủ trưởng có mấy chục ký gạo ướt ở kho binh trạm cho ta. Tôi chia cho cho hai “B” làm bún. - Liêu đáp. Thoan rít thuốc lá, hai má hõm xuống. - Sao ta không làm bún! Mai nghỉ cả ngày cơ mà. - Cô Nhu gởi bên anh Hùng rồi ạ. - Mình ít người, làm chi cho vất vả, thủ trưởng, cối chày không có. Liêu phì cười, rửa hận: - Chày thì vô khối ra đấy. Nhưng thiếu cối. - Đồ chết giẫm, cái anh ni! Nhu quát to. Tiện tay cô phát cho anh chàng quản lý một cái vào lưng đau điếng. Bát nước trà sóng sánh ra sạp giường. Thoan làm như không để ý tới hai cô cậu, chúi mũi vào cuốn sổ công tác. Nhưng đường gân ở hai thái dương của anh hơi giật nhẹ. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Mười Một, 2012, 09:00:36 am Chỉ còn lại mình Thoan ở trong hầm nhà. Anh lấy võng ra mắc nằm đung đưa. Ba tháng tham gia chiến dịch vận chuyển gạo đạn chuẩn bị cho mùa mưa, vào đến tháng cuối cùng Thoan đổ ra ốm. Những trận sốt rất định kỳ, nhưng đợt này anh vừa sốt, vừa mắc chứng tức ngực. Thoan nằm nhủng nhẳng điều trị mất già nửa tháng. Tuy ốm nhưng Thoan không cho gọi Phong về. Số lượng hàng hóa vận chuyển đã khoán cho các trung đội. Quân rải ra theo một tuyến dài gần năm mươi cây số. Hàng tuần các trung đội trưởng gửi thư về báo cáo tình hình công việc, quân số. Nếu không muốn tự hành hạ thân xác của mình thì chính vào những chiến dịch gùi hàng, Thoan lại nhàn nhã. Quân tướng rút đi cả, ở nhà chỉ còn có mỗi thủ trưởng và người nấu bếp. Liêu phải ra kho binh trạm nhận hàng. Liên lạc, y tá cũng phải đi gùi để bảo đảm chỉ tiêu từng người. Trung đội 1 ở chung hậu cứ với đại đội bộ. Trừ những người ốm đau giữ nhà, còn từ lúc mờ đất, mọi người đã trở dậy khua chén bát, ăn cơm sáng đi ra kho nhận hàng. Họ mang theo một vắt cơm ăn bữa trưa. 3 giờ chiều người đi khỏe mới về tới nhà.
Suốt chiến dịch, chỉ có một việc khiến Thoan phải bận lòng. Ấy là cái chết của cậu Tiệp chiến sĩ trung đội 1. Tiệp gùi bốn chục ký gạo đi trên cây cầu khỉ bị trượt chân ngã xuống. Dòng nước khe Trăng cuồn cuộn chảy đã xô Tiệp vào thác đá. Bốn ngày ròng, Thoan và hai người của trung đội 1 lội xuôi khe Trăng đi tìm xác Tiệp. Cậu ta bị nước đẩy trôi dạt ra tới gần cửa sông Bồ. Mặt Tiệp nhám đen, cơ thể sây sát nhiều chỗ. Trong bản báo cáo gởi cho Ban chỉ huy cụm cánh bắc, Thoan thêm nhiều chi tiết sống động về cái chết của Tiệp, được coi như một hành động dũng cảm kiên cường cứu đồng đội, cứu hàng. Bộ chỉ huy đã truy tặng Tiệp tấm Huân chương chiến công hạng III. Đại đội được nhận bằng khen vào giữa đợt chiến dịch vận chuyển. Thoan không giấu nổi vẻ tự hào. Một mình Thoan (Tất nhiên như vậy rồi! Chớ tay Phong có công tích gì ở đây, lại thêm những sự vụ lăng nhăng!) đã điều hành đại đội hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Phần thưởng của cấp trên quả rất xứng đáng với sự vất vả, lo toan của anh. Thoan thở dài khoan khoái, nhưng bụng vẫn ấm ức tức, nhớ lại bức thư vừa đọc. Hải y tá đại đội được Thoan giao cho đi với trung đội 2, đồng thời có trách nhiệm theo dõi những tư tưởng diễn biến của đại đội trưởng Phong - đã gửi thư về cho Thoan. “... Tuy là đại đội trưởng đại đội ta, nhưng là một anh chàng vừa bị cấp trên khiển trách kỷ luật, cậu biết rồi. Tư tưởng anh Phong dễ dao động lắm. Cậu cứ lặng lẽ theo dõi... Mà này, - Thoan vỗ vai thân mật cậu ta - tôi còn nghe mấy anh cán bộ tổ chức của cụm trao đổi, đại đội trưởng của ta bợm gái lắm. Nghe bảo dạo còn ở K10, anh chàng đã làm một cô phưỡn bụng... May mà cô ta chết... Cậu cần chú ý. Tôi coi đây là một dịp để thử thách cậu. Anh Liêu thay mặt cho tổ trưởng đảng nhận xét về cậu tốt lắm. Cố lên em nhé!”. Hải hồi hộp dỏng tai nghe Thoan nói. Cậu ta bị sức ép bom, hơi nghễnh ngãng tai trái. Nhưng Thoan không nhìn thấy nụ cười của Hải, lúc quay lưng đi xuống suối. Từ phút đầu tiên gặp mặt Phong, nhìn thấy đôi lông mày và cặp mắt sắc sảo của anh chàng đại đội trưởng mới về đơn vị nhận chức, Thoan cảnh giác. Từ vài ngày trước, Thoan đã nhận được điện của cụm và lá thư tay của ông Thái Long chuyển tới. Thoan không mừng một chút nào, khi Ban chỉ huy đại đội có thêm người, mặc dầu mỗi lần về cụm họp anh thường kêu trời về công việc của đại đội chỉ một mình anh gánh vác. Thoan ngại, vì anh phải đối đầu với Phong, một người có quá khứ chiến công lẫy lừng ở K10. Nhưng việc anh ta dám chống lại lệnh của cấp trên, chứng tỏ Phong không phải là người dễ sai bảo. Mà Thoan thì cần có những loại cán bộ biết vâng lời trong đại đội này. Chẳng lẽ, anh lại khước từ lệnh của ông Thái Long? Phong gai góc thật. Thoan có nhận xét như vậy trong vài ngày tiếp xúc đầu tiên. Phong thông minh nhưng bộ dạng lì lợm. Anh nhủ thầm: “Một con ngựa chứng nếu không biết giữ cương chưa biết chừng nó sẽ hất mình xuống Rào Trăng”. Cái nhìn của Phong như khiêu khích Thoan: “Ông hơn cấp bậc tôi thiệt nhưng ông chỉ một thằng chính trị viên đại đội vận tải. Còn tôi đã từng ở vị trí cấp trưởng đại đội chỉ huy lính đánh vài chục trận. Xin chớ có coi thường. Chẳng xong với tôi đâu nghe!”. Ý nghĩ ấy giày vò Thoan. Nhưng anh vốn tự cho mình là một người khôn ngoan lọc lõi, có kinh nghiệm ứng xử. Thoan cố gắng không để lộ sự nghi kỵ của mình với Phong. Chính Thoan cũng lấy làm lạ cho thái độ của Phong. Anh ta làm việc như một cái máy, tuyệt nhiên không hề có ý kiến trong các cuộc họp. Thậm chí với Thoan, Phong chẳng hề tâm sự về gia cảnh ở ngoài quê, chuyện riêng tư, kể cả lúc trong nhà chỉ có hai người ngồi uống trà sau bữa ăn cơm chiều. Dần dà, Thoan đi tới kết luận: “Chắc cậu ta ngượng và cảm thấy nhục trước đơn vị mới. Còn gì nhục bằng một kẻ thoái lui đầu hàng!”. Thấy Phong như vậy, Thoan cũng chẳng mặn mà. Trong những buối họp cán bộ, anh luôn luôn tỏ ra mình là một người đóng vai trò chính ở đây. Ý kiến Thoan có tác dụng quvết định. Và phải như thế. Kinh nghiệm của một anh cán bộ chính trị viên sau hai năm vào chiến trường đã dạy cho Thoan nhiều điều bổ ích. Cái nguyên tắc “quân lệnh như sơn” được Thoan hiểu và chuyển hóa thành một chiến lược hành động, cần phải nắm cho được quyền lực và trở thành một kẻ có quyền lực. Muốn vậy, trước hết phải lấy lòng tin và sự mến mộ của cấp trên. Còn trong chỉ huy nhất thiết phải là cấp trưởng. Trung đội trưởng, đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng, trung đoàn trưởng ... Chứ không thể là một anh cấp phó. Chiến lược “trưởng hóa” quả là lợi hại! Một thất bại cay đắng - Thoan tự cho là một thất bại cay đắng trên bước đường đời của Thoan, thuở thiếu thời - đã mở mắt cho Thoan nhiều điều. Khôn ngoan đến như bố anh, một ông phó chủ tịch huyện đã bày cho con từng đường đi nước bước mà vẫn mắc sai lầm. Thoan không được học lên cấp III. Bố anh bảo: “Mày đi học muộn hai năm, ấy cũng là tại mẹ mày cả. Đẻ cho lắm vào. Mày phải thi vào trung cấp Sư phạm”, “Ứ... ừ, con không đi Sư phạm, cái nghề bạc như vôi”. “Đồ ngu, đang thời buổi chiến tranh bom đạn như vãi thóc thế này. Chỉ có làm anh giáo viên mới không phải đi nghĩa vụ”. Vậy là Thoan ôm khăn gói quả mướp, giắt trong lưng vài chục đồng bạc đi học Sư phạm. Cho tới năm học thứ hai 1966, miền Bắc bị bom Mỹ ném tanh bành. Bom ném vào Hải Phòng, bom rơi xuống thủ đô Hà Nội. Suốt ngày máy bay phản lực Mỹ gầm rú trên bầu trời và âm vang tiếng súng phòng không bắn trả. Phong trào đánh Mỹ lên cao. Hậu phương thi đua với tiền tuyến. Làm trai thời loạn mà không ra trận là nhục! Bảy trăm mười hai cô cậu giáo sinh trường Trung cấp Sư phạm cùng các thầy cô giáo còn đang trong độ tuổi nghĩa vụ quân sự hăng hái ghi tên xung phong xin nhập ngũ. Có người còn chích tay lấy máu ký tên vào lá đơn xin nhập ngũ. Thoan hoảng, tính đánh bài chuồn về quê. Thanh khích: “Ê, ê, sợ hả?”. Thoan nhìn cô bạn gái cùng tổ hơi ngượng ngùng. Đã có lần anh đưa Thanh về nhà cho bố mẹ xem mặt. “Sợ gì!”. Thoan nói cứng với cô bạn gái nhưng anh vẫn chưa an tâm. Chủ nhật tới, anh về quê. Bố anh đang bận mải cho việc bầu cử hội đồng nhân dân các cấp, nghe cậu con trai trình bày, ông phì cười: “Hừ, phong trào”... Ba tháng sau, đám con trai trường Trung cấp Sư phạm có lệnh gọi đi khám tuyển nghĩa vụ, Thoan không còn muốn ngó tới mặt cô Thanh, bây giờ đã là phó bí thư chi đoàn lớp Lý 2. Suốt một đêm, anh la cà trong quán của bà Bưởi, ăn bún ốc, và uống rượu. Mấy kẻ khôn ngoan, có kinh nghiệm trong việc khám nghĩa vụ bày cho cậu con trai ông phó chủ tịch huyện cách thức làm huyết áp không bình thường, tim đập rối loạn vì rượu. Cả một ngày Thoan phờ phạc vì thức đêm và uống rượu. Mãi tới 3 giờ chiều mới tới lượt Thoan được gọi vào khám. Trong khi đó, ngay từ lúc 8 giờ sáng, biết mình chưa tới lượt anh đã kiếm một chỗ mát mẻ và lăn ra ngủ như chết. Tới tận chiều bè bạn lay gọi Thoan dậy, thì hỡi ôi: bụng đói cồn cào. Và rượu cũng đã dã. Sức khỏe Thoan loại A2. Mười ngày sau anh lên đường nhập ngũ. Ông phó chủ tịch huyện nghe con trai trúng tuyển nghĩa vụ phát hoảng. Ông âm thầm tiếc mỗi một điều không lo lót “chạy” cho con trai trước khi có giấy báo gọi nhập ngũ. Chiếc xe com-măng-ca chở ông phó chủ tịch huyện lên trung đoàn huấn luyện. Chính ủy trung đoàn đang có con gái làm kỹ sư nông nghiệp tại huyện ông. Bốn tiếng làm việc, ba Thoan chia hai khoảng thời gian bằng nhau. Hai tiếng nói chuyện trao đổi và tặng quà ủy lạo cho trung đoàn “có những đứa con thân yêu của quê hương chúng tôi đang tại ngũ”. Hai tiếng, ông xuống thăm và nói chuyện về quê hương, về mùa màng, và động viên các đồng chí tân binh ở tiểu đoàn 402. Thoan chỉ được bố dành cho mười phút. “Việc đã rồi, gắng mà học tập phấn đấu cho tốt. Chấp hành kỷ luật nghiêm minh, học hỏi các thủ trưởng. Em và mẹ mày vẫn khỏe. Còn tiền tiêu không?” - Ông bố bảo với cậu con trai như vậy. Một tháng sau, đột nhiên Thoan chuyển đơn vị, đi học lớp cán bộ tại trường quân chính quân khu. Chín tháng Thoan ra trường với lon chuẩn úy, đảng viên. Thêm một lần chuyển đơn vị, Thoan đã là chính trị viên đại đội huấn luyện tân binh bổ sung cho chiến trường miền Nam. Đợt quân đầu tiên anh chỉ huấn luyện có bốn tháng. Không thể nào diễn tả nổi không khí rộn rã, xao xuyến của dân làng. Lần này Thoan được cấp trên cho nghỉ phép để chuẩn bị đưa quân vào Nam. Mẹ Thoan suốt mấy ngày hai con mắt đỏ hoe. Bà giết con lợn bốn chục ký mời bà con làng nước, bạn bè để đưa tiễn con trai ra trận. Ông nội anh mặc quần áo may bằng vải trúc bâu ngả vàng, khăn đóng, đi đôi dép rọ Liên Xô, cẩn trọng nâng nắm nhang khấn tổ tiên rồi mời mọi người ngồi vào mâm rượu. Cuộc chia tay cho một đứa con trai trong dòng họ Phan ra trận, có rượu thịt, có chúc tụng tưởng là vui nhưng thực ra không khí trang nghiêm dễ sợ. Chỉ có tiếng bát đũa va chạm lách cách. Tiếng rượu òng ọc tuôn ra từ trong chai, và tiếng nói chuyện rầm rì về máy bay Mỹ ném bom nơi này, nơi kia xảy ra thất thiệt, chuyện những người đi “B”:.. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Mười Một, 2012, 09:01:46 am Ông phó chủ tịch vẫn còn đủ tỉnh táo để không về làng dự bữa cơm rượu tiễn con đi Nam trong buổi chiều hôm ấy. Ông bận ngồi chủ trì cuộc họp bàn về phòng chống sâu rầy đang phá hoại lúa mùa. Buổi tối ông đón cậu con trai tại gian nhà riêng của mình trong khu vực của ủy ban. Cùng ngồi với ông còn có ông bí thư huyện ủy, ông chủ tịch huyện và một người, sau này Thoan mới biết là ông Huân, trưởng ban tổ chức chính quyền tỉnh. Một đĩa kẹo Hải Hà, gói thuốc lá Tam Đảo. Và dường như ông phó chủ tịch đã khéo mượn bạn bè động viên đứa con trai. Gần tới lúc tan cuộc, ông mới nói rành rẽ xúc động: “Con trai của bố! Đất nước đang có chiến tranh, cần tới sức trẻ. Giá như bố còn trẻ, bố cũng xin đi đánh Mỹ. Con hãy xứng đáng là một người đảng viên. Chúc con đi may mắn”. Ông bí thư huyện ủy rơm rớm nước mắt gắng mỉm cười để che giấu cơn xúc động. Cả huyện này ai cũng biết, ông có một người con trai nhập ngũ từ năm 1958, đi chiến trường miền Nam 1963. Và cho đến nay ông bí thư không nhận được thư từ, tin tức của con. Ông Huân siết chặt bàn tay Thoan, đau đến mức anh suýt kêu lên. Không nhìn vào mặt anh mà để ý chiếc quân hàm thiếu úy đeo trên ve áo. “Quê hương chúng ta tự hào có biết bao những người con anh hùng”. - Ông Huân nói.
Thoan trở về làng Lầm vào những ngày giáp Tết. Người anh đen hơn, tóc húi cao nhưng béo tốt. Trước khi về nghỉ một tháng, trung đoàn huấn huyện đã cho những anh em cán bộ “từ tuyến lửa trở về” ăn “trung táo” mười ngày. Chuyến đưa quân vào Nam của tiểu đoàn Thoan chỉ kéo dài hai tháng bốn ngày. Họ bàn giao quân ở Làng Ho rồi lên đường trở về miền Bắc. Mẹ Thoan lại một phen vất vả. Suốt này bà lúi húi trong bếp đun nước sôi pha trà và nước chè xanh mời bà con trong làng tới hỏi thăm Thoan về tình hình miền Nam. Ai cũng tưởng như anh đã nhìn thấy Mỹ, thấy ngụy, trong chiến hào ác liệt chui ra để trở về đây yên lành. Tóm lại, Thoan là một anh hùng của làng Lầm trong những ngày Tết. Tất nhiên, những câu chuyện Thoan nhặt nhạnh trên suốt dọc đường đưa quân, lại thêm tài thêu dệt đủ để anh vẽ lên nhiều cảnh rùng rợn của chiến trường. Huyện cho bố Thoan nghỉ hẳn hai ngày để tiếp chuyện cậu con trai. Mắt mẹ anh vẫn đỏ, lần này không phải vì khóc thương con mà vì khói bếp. Sang tới ngày thứ ba, những ký ức về miền Nam của Thoan đã nhạt, bố anh mới bảo: “Mày phải cưới vợ con ạ, chăng còn bé bỏng gì nữa”. Thoan ậm ừ: “Vợ con gì, đang lúc giặc giã như thế này”. Ông nội đang ngà ngà rượu nằm khểnh trên giường, phe phẩy chiếc quạt nan bỗng vùng ngay dậy, mắng: “A, tiên sư anh. Anh cãi lại bố anh phỏng? Tao sắp xuống lỗ rồi đây, không muốn để tao nhìn thây cháu chắt hử...”. “Thôi, thày - ông phó chủ tịch huyện dàn hòa - ông để con khuyên cháu”. Ông cụ vẫn chưa chịu: “Bố anh chỉ huy cả một huyện dân lại không bảo được anh hử? Tôi còn đẻ ra cả bố anh, chú anh...”. Thoan ngồi ngậm tăm, hút thuốc lá. Bố anh cũng châm thuốc. “Lấy ai, ông và mẹ đã chọn rồi. Không đẹp nhưng được cái nết, bán ở cửa hàng huyện gần cơ quan của bố. Mà anh có lấy vợ, tôi mới có cớ xoay cho anh về huyện”. Người con gái mà gia đình chọn làm vợ cho Thoan hóa ra là cái Luân, học với anh từ hồi lớp một lên tới lớp bốn ở trường làng. Cao một mét bốn nhăm, béo tròn như hạt mít. Ấy vậy mà đã có đồng hồ Liên Xô nữ, hiệu Slava, dây chuyền vàng. Một chiếc va li để ở đầu giường, Thoan mục kích thấy có tới cả chục chiếc áo cánh trắng, áo cỏ úa, quần láng đen và cả một chiếc áo khoác may bàng vải Ximini màu xanh lá cây, lượt trong lót nhung kẻ. Mồng hai Tết cưới vợ. Mồng bốn Thoan lăn ra ốm. Cứ tưởng bị sốt rét sau chuyến đi miền Nam. Cô vợ trẻ sợ cuống vó, suốt ngày đêm lo thuốc thang chăm sóc cho chồng. Ba tháng sau, ở đơn vị Thoan đã nhận thư báo tin mừng. Luân ở nhà đã có thai. Đợt huấn luyện thứ hai chỉ trọn vẹn có ba tháng. Cả tiểu đoàn làm lễ xuất quân để kịp đi Nam. Cuộc tấn công nổi dậy mùa xuân 1968 đang nổ ra ờ 64 thành phố, thị xã toàn miền Nam. Thoan và nhiều anh cán bộ khung tiểu đoàn huấn luyện đều chung một suy nghĩ: đưa quân vào rồi lại ra. Họ thuộc quân số ngoài Bắc. Không ngờ toàn bộ số cán bộ khung và tân binh đều bị giữ lại để tung vào mặt trận Trị Thiên - Huế, bổ sung cho các công trường và sư đoàn Hương Giang. Hôm nhận được tin phải ở lại chiến trường, Thoan choáng váng. Lần này Thoan ốm thật. Trận sốt kéo dài hai tháng làm cho anh rụng tóc. Da vàng bệch. Mắt hõm, đôi môi thâm lại vì uống nhiều ký ninh. Ra viện quân khu, Thoan nhận quyết định về Công trường VI, làm chính trị viên đại đội vận tải. Thoan chấp nhận số phận khi biết rằng anh không có đường tháo lui. Một thời gian nằm viện điều trị sốt rét thực bổ ích với Thoan. Anh được tiếp xúc, gặp gỡ với những anh thương binh trong chiến dịch tấn công về Huế, đợt hai. Họ kể cho Thoan những trận đánh khốc liệt diễn ra trên đất Phú Vang, Phong Quảng, Thoan nghe chuyện đánh nhau ở đồng bằng thật khủng khiếp. Cũng trong những ngày dài buồn bã như vậy, Thoan còn hiểu thêm một số điều: Chiến trường rộng dài quá. Hàng triệu người lính đổ vào như muối bỏ bể. Và không phải người lính nào cũng phải ra tuyến trước đi công đồn đánh địch. Một ông phó chính ủy trung đoàn đã nói với Thoan rằng: Để chuẩn bị cho một người chỉến sĩ đánh giặc, ít nhất cũng phải có ba người khác phục vụ cho anh ta. Thoan hình thành ngay trong đầu một phép tính. Anh sẽ là một người trong số ba người phục vụ kia... Trong lần gặp gỡ với đồng chí trợ lý cán bộ Đoàn 6, Thoan đã khôn ngoan đưa ra chứng bệnh suy tim và đề đạt nguyện vọng được về đơn vị hậu cần. Anh đã được tiếp nhận. Luân đẻ con trai, hai ký tám. Lá thư đầu tiên Thoan nhận được ở chiến trường sau sáu tháng kể từ ngày gửi. Ông nội đã chết. Bố anh được điều sang làm giám đốc công ty thương nghiệp huyện. Chỉ buồn cười một điều, nhớ tới vợ, không bao giờ Thoan có thể hình dung ra nổi gương mặt Luân. Vợ chồng chung sống với nhau chưa được hai chục ngày trời, lại còn ốm đau. Chiếc ảnh của vợ tặng Thoan nhỏ bằng hai đầu ngón tay (3x4). Anh thợ ảnh ở phố huyện chụp không nét, lại còn lấy cu lơ tô môi đỏ, má hồng, vẽ mày bằng bút lông. Đêm mưa dừng chân nghỉ ở binh trạm 26, cây cột nọc buộc tăng của Thoan rỉ nước. Chiếc áo của anh treo ở đầu cột bị ướt mèm, giở ví ra, tấm ảnh thấm nước mưa đã mủn. Mỗi khi nhớ tới vợ, Thoan lại cứ hình dung ra gương mặt của Lý. Cô ta về đại đội vận tải sau Thoan một thời gian. Đẹp đẽ, xinh xắn, lại là con gái Huế, nên Ban chỉ huy đại đội bố trí cho Lý ở bộ phận phục vụ. Thoan đã nhanh chóng lần mò ra cái lý lịch đầy bí ẩn của cô gái. Và chỉ bằng vài đòn tâm lý, Thoan đã làm cho Lý quấn chặt lẩy anh như một cây tầm gửi. Lý kín đáo, Thoan còn cẩn trọng gấp trăm lần. Không ai chấp nhận một anh chính trị viên đã có vợ con ở ngoài Bắc lại đi tòm tem với chiến sĩ gái của đơn vị mình. Mỗi lần gặp gỡ Lý, ngay sau đó, Thoan lại xỉ vả mình, tự hứa chấm dứt. Nhưng chao ôi nợ đời, cái giống đàn bà ở gần, lại đã trải qua một đời chồng, có khác nào như men rượu nếp hương để cận kề một con sâu rượu. Những buổi sáng chỉ có một mình Thoan ở nhà, Lý lo chuẩn bị cho bữa cơm trưa. Còn đại đội trưởng Mạo tính tình thật như đếm, lại có tuổi, chỉ thích sục xuống các trung đội, vào rẫy kiếm rượu của đồng bào về nhậu. Cậu liên lạc chưa tròn một tuổi quân. Chị Lý chiều hơn chiều em trai. Chất giọng con gái Huế ngọt, nhẹ: “Dạ, anh biểu chi em?”, “Dạ, răng anh biết chuyện ni”... Không gian yên tĩnh quá. Chòm lá xanh che trên nóc nhà hầm lao xao. Lý ngồi nhặt nắm lá tai voi, tước từng cọng môn thục để lát nữa bóp muối ớt. Tay áo cô gái xắn cao để lộ lóp da trắng xanh. Chiếc áo xanh may bằng thứ vải pha ni lông gởi mua tận dưới đồng bằng Phong Điền, theo nhịp đập của trái tim cô gái, phập phồng... Không thể chịu đựng được. Và cũng chẳng có một lý do nào buộc anh phải giam hãm mình. Lý cũng thích những cái vuốt ve và những cái nhìn cưng nựng. Họ nhìn nhau trong giây lát. Thoan nuốt nước bọt và tặc lưỡi. Chiếc sạp nứa trong gian nhà hầm rung lên lật bật. Mặc con tắc kè kêu khan ngoài cây lim già. Hai kẻ hứng tình quấn lấy nhau như đôi trăn vào mùa sinh nở. Loáng thoáng đã có những ánh mắt nhìn Thoan lo ngại. Ông “khốt” Mạo không biết. Nhưng Thoan cảnh giác. Lâu lâu cũng có trung đội được biệt phái một thời gian đi công tác xa, mở theo tuyến vận chuyển. Thoan cử Lý đi. Cô ta còn tham gia nhiều lần vào những chuyến ra đường tuyến, tới kho của binh trạm, kho quân nhu nhận hàng về cho cụm. Nhờ những chuyến đi dã ngoại như thế dư luận giữa Thoan và Lý bị đánh tan. Thoan hiểu rằng con người bên trong Lý luôn sục sôi, quẫy đạp. Và anh còn tìm gì ở Lý? Xa Thoan, cô cũng chẳng buồn. Vào đầu năm nay, Ban chỉ huy cụm cánh bắc bổ sung cho đại đội B vận tải một số các chị từ ban B - Quảng Bình trở về và hai cô gái mới từ đồng bằng Quảng Điền đưa lên. Trong số đó có Nhu. Lập tức Thoan rút Nhu về đại đội bộ, còn Lý đưa xuống trung đội ông Mịch, tham gia vào chiến dịch vận chuyển. Thoan vẫn nhớ như in ánh mắt hằn học của Lý khi đeo gùi theo trung đội 2 về tuyến dưới lập trạm vận chuyển. Thoan giữ bộ mặt nghiêm nghị lạnh lùng của một anh chính trị viên, nhưng trong bụng thì lại cười thầm: “Tức anh làm gì cô em! Màn kịch đã hạ rồi...”. Suốt ba tháng trời, Lý không hề gửi cho Thoan một chữ. Cái ngòi gây nên cơn tức giận ở Thoan lại chính là Phong. Hình như Lý có cảm tình với Phong, kính phục Phong. Một anh bộ đội biết rất nhiều làng quê của Lý. Có những bữa cơm họ ngồi vừa ăn vừa nói chuyện về làng hoa ở đất Long Hồ. Trong khi Thoan chẳng biết gì về xứ ấy. Thoan uất. Phản ứng rất bản năng. - Càng có lý do để kết tội cậu ta - Thoan nói to ý nghĩ ấy thành lời, anh nhún chân vào vách đất cho võng lắc mạnh - Hừ, đã có gan chống lệnh cấp trên. Sợ chết. Giờ lại thêm một tội hủ hóa. Thoan bật đứng dậy khỏi võng. Anh chắp tay ra sau, đi đi lại lại trong nhà, giọng anh trở lên dõng dạc. Y như thể trước mặt anh đang có hàng trăm các chiến sĩ của đại đội, ngồi trên những khúc gỗ dưới tán cây rừng nghe anh giảng chính trị. - Thử hỏi tư cách một cán bộ, đảng viên như đồng chí Phong có xứng đáng hay không hở các đồng chí? (Một tiếng vọng mơ hồ dội lên: - Không xứng đáng! Khai trừ ra khỏi Đảng! Kỷ luật...). Trời ơi, vậy mà cả đại đội ta đều tin tưởng và yêu mến đồng chí Phong. Người ta hy vọng sẽ tìm thấy ở đồng chí Phong sự mẫu mực của một người lính giải phóng đã từng chiến đấu với kẻ thù (Tiếng vọng lại đội lên: Đúng đấy!). Đột nhiên Thoan dứt lời. Anh ngơ ngác nhìn ra ngoài trời. Trên tảng đá ở bến nước, Nhu đang ngồi giũ áo. Gió chuyển ào ạt. Tấm vải mưa căng ở hồi nhà một góc bị tuột mối dây, đập lật phật vào vách đất. Bụi tung mù mịt cuốn theo những chiếc lá khô lăn xuống suối. Nhu vừa đập áo vừa giấu mặt vào một bên tay áo, tránh bụi. Mưa. Đã nghe thấy những hột mưa to, trắng lốp, rơi lộp bộp xuống đất và xuống mái lá trên đầu. Vài phút sau đã là một màn mưa dày đặc, trắng trời, trắng núi. Thoan đứng khoanh tay trước ngực nhìn dòng nước đổ từ trên mái nhà xuống đất. Hẻm núi cạnh nhà chẳng mấy chốc đã biến thành một dòng suối trắng. Nhu đứng trong gian nhà kho gọi với lên một câu gì đó, Thoan nghe không rõ. Ba bốn cậu chiến sĩ của trung đội 1, áo quần ướt như chuột lột, đeo nặng những gùi rau lang, bắp chuối, lội ào ào dưới suối. Thoan cảm thấy lòng trống trải, buồn. Một nỗi buồn thường trực ẩn kín trong anh chồi ra bất kể lúc nào. Và hiện ra trước mắt Thoan, vẫn là chuỗi ngày buồn tẻ, vô vọng, lặp đi lặp lại đã nhàm chán. Sáng trưa chiều rút cục vẫn là ba bữa cơm rau rừng, nêm muối trắng, có thêm chút mì chính. Niềm ám ảnh hy vọng anh sẽ được trở về hậu phương vẫn không lúc nào buông tha trong tâm trí Thoan. Khao khát là vậy, nhưng để trở thành hiện thực lại rất mịt mờ xa lắc. Anh chưa tìm thấy một cơ hội nào. Chẳng thể trông chờ vào những cơn sốt rét để đi viện rồi thoát ra hậu phương. Sốt rét đối với Thoan bây giờ cũng như người phụ nữ tới kỳ, tới tháng. Nằm đúng ba ngày rồi cơn sốt tan biến đi, và đến tháng sau sẽ trở lại vào đúng ngày ấy. Mỗi buổi sáng mở mắt ra, dãy núi đá, rừng cây hiện hữu trước mặt Thoan. Ban đêm anh vẫn nhìn thấy chòm sao Tiểu Hùng Tinh trên đầu. Nhưng cái làng Lầm của Thoan thì xa vời vợi. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Mười Một, 2012, 09:04:10 am 12 Tin em chết làm tôi choáng váng. Phải, lúc đó tôi chưa cảm thấy sự đau đớn như bây giờ. Buổi chiều hôm ấy tôi đã gặp đoàn người qua sông. Thằng Lân chẳng buồn bắt tay tôi. Và tôi nhận được tin em hy sinh, tôi choáng váng chẳng còn thiết gì nữa. Tôi đứng lặng trên bãi cát. Dưới bến sông, các cô gái mặc nguyên quần áo lội xuống dòng nước giá buốt. Con nước vẫn còn to, tràn lên bãi đá. Bình thường vào những tháng mùa khô nơi ấy trơ ra bãi cát vàng và vô số những tảng đá mốc xám. Ở đấy, mọc lên những bụi lau và giống cỏ thân cứng, lá sắc như lá mía. Tất cả bây giờ đều bị nhấn chìm trong làn nước lũ chảy cuồn cuộn, xô đẩy những bông hoa lau trắng vật vờ trên sông. Từ phía thượng lưu, thỉnh thoảng trôi về những cây gỗ nổi lập lờ. Bầy sáo đen đứng bình thản trên cây gỗ rỉa lông. Có con vọt bay lên chao cánh lượn một ygng rộng rồi hạ xuống bên lũ bạn ở đoạn dưới xa. Tôi nhìn theo đám người của huyện. Vừa hút thuốc lá, tôi vừa để mắt tới người cuối cùng đã bước lên bờ xa, họ đi nhanh vào rặng cây xanh lúp xúp chân núi. Trời đã ngả về chiều. Tôi ngao ngán nhìn con đường mòn dẫn lên đồi ông Mạnh. Vài trăm mét nữa, leo ngược dốc, tôi sẽ tìm được chỗ nghỉ chân đêm nay tại khu Ba Nhà, nơi phẫu Nhô đang lấy làm hậu cứ. Tôi chẳng vội vàng. Nhưng lòng buồn. Một nỗi buồn da diết. Suốt mấy ngày đường tôi đã hăm hở và hy vọng ngày về lại giáp ranh sẽ được nhìn thấy em. Bốn hộp sữa Ông Thọ, em gửi theo cáng thương binh của huyện lên cho tôi, tôi chưa dùng hết. Một lá thư viết bằng mực bút bi. Tôi không nhớ mình đã đọc bao nhiêu lần lá thư em trong lúc suốt ngày nằm nhìn mái lá, đếm từng cây đòn tay. Chốc chốc tôi lại giở thư ra đọc. Mép gấp lá thư đã sờn, một vài chỗ rách: Em báo tin vẫn về được làng. Đại đội 1 của tôi thêm ba người hy sinh: thằng Thắng, cậu Khanh trung đội phó và thằng Cành. Đại đội phó Quảng bị thương nặng, đưa vê tới Miếu Trâu thì mất. Toàn trung đội trưởng B3 được đưa lên thay Quảng. Riêng huyện đang đề nghị thành phố xin em về địa phương. Nhưng bí thư thành ủy trực tiếp điện sang không chịu nhả “con trâu sắt”. Tôi phì cười. Chả có lần em hỏi: “Con trâu sắt” là chi anh?”. “À, chiếc máy cày”. “Rứa mà cũng mần cho rắc rối”. “Mấy ông nghệ sĩ họ gọi vậy”. Và bây giờ em lại tự ví mình là một “con trâu sắt”. Cũng chẳng sai, một “con trâu sắt” đang góp phần phá banh những ấp chiến lược của địch, mở thông cánh cửa về đồng bằng. Em còn kể: Những “lõm” đã hình thành. “Thư ni tới được tay anh, chắc chắn lúc ấy em đang ở một “lõm” nào đó. Tất nhiên, bên bộ đội các anh chưa phải chịu cái cực ấy. Cực mà vui. Vô dân gần gần là. Mới 6, 7 giờ tối tụi em đã có thể đàng hoàng vô trong ấp. Nhiều khi dân phát hoảng. Nhưng cũng thiệt nguy hiểm. Anh đã hay tin Cúc, con chú Thùy kinh tế, chị Mai bị tụi ngụy lật hầm hay chưa? Cả hai người tung lựu đạn, nhưng giữa ban ngày không thoát khỏi tay tụi bảo an. Có điệp báo mà…” Bây giờ đến lượt em. Không ai kịp nói cho tôi hay nguyên do dẫn đến cái chết của em. Phải chăng mọi người thương tôi, không muốn nhắc đến những chuyện đã qua, làm cho tôi thêm khổ. Hoặc giả họ nghĩ mối quan hệ của tôi với em chỉ là câu chuyện đàm tiếu cho qua đi những giây phút căng thẳng ở vùng ranh. Cũng có thể có người nghĩ: Tình yêu trong chiến tranh! Một câu chuyện cực kỳ lãng mạn, ngớ ngẩn. Cơm không đủ ăn, thức trắng mắt lo đi đồng bằng kiếm gạo, đánh giặc, yêu với đương chi? Một trò đùa phi lý. Không ai trách họ là không có lý. Chỉ có cái lý riêng của tôi và em, được định hình và liên kết bởi con tim, thách thức với cuộc sống và sẵn sàng trả giá cho mọi sự bất trắc. Nhô gặp tôi ở bến nước, hốt hoảng: - Anh Phong sốt hả?... Ngồi ở đâu mà bây giờ mới tới? Tôi thú nhận với Nhô là ngây ngấy sốt. Cũng là một cách để trốn tránh mọi người, tìm chỗ mắc võng nằm cho yên tĩnh khỏi ai hỏi han, quấy nhiễu. Đêm pháo địch từ dưới đồng bằng bắn lên dữ dội ở khu vực địa đạo 310, 360. Một vài quả lạc rơi vào gần trạm phẫu. Đã ngửi thấy mùi của chiến tranh qua những tiếng đạn pháo đào sâu vào lòng đất, lòng rừng. Từ đây trở về thấu giáp ranh chẳng còn ai đi lẻ. Phải tổ chức đội hình chiến đấu. Lính Mỹ đang càn ở khu vực Khe Trái, đổ ra ngả đường 12. Từng đại đội lính ngụy đi càn rừng. Và pháo dập bất tử vào mọi điểm cao. Nhưng hình như tôi chẳng bận tâm tới đoạn đường về, còn ba chặng nghỉ nữa. Tôi chỉ nghĩ tới em cùng những giày vò, vật vã. Ngủ được chắc hẳn tôi sẽ dễ chịu. Nhưng đôi mắt tôi cứ mở thao láo nhìn lên vòm cây xanh trên đầu, nhìn những cọng lá nón non mỡ màng đang run rẩy trong ánh nắng vàng còn rớt lại cuối ngày chiếu vào. Chân trời phía tây vành ệch, màu mỡ gà. Đã thấy lác đác xuất hiện những ngôi sao tựa như ánh bạch kim đính trên mảng da trời xanh ngắt. Và đển một lúc tôi chợt bừng tỉnh nhận ra xung quanh, bóng đêm đã trùm phủ cánh rừng, khí lạnh từ ngoài sông tràn về tê tái. Mười ngày sau tôi đã cùng với Hảo tổ chức một trận đánh lớn về Thanh Lương. Tụi bảo an bỏ chạy để lại bốn xác chết. Thu 14 khẩu súng. Bộ đội làm chủ Phe Nhất ba tiếng đồng hồ. Họp dân ở chợ, rải khẩu hiệu cách mạng trắng đường. Hảo còn cho treo cờ giải phóng lên nóc đình làng. Lúc trở về tới ngang Xóm Mới du kích xã Y ra đón. Mười bảy ngôi nhà dân ở đây đều là cơ sở cách mạng của xã, của huyện. Nhiều gia đình có chồng con đang nằm trong đội công tác hoặc ở cơ quan huyện ủy, huyện đội. Những chuyến đi đồng bằng bộ đội du kích lọt được vào Xóm Mới, thực chẳng khác nào như về nhà, gùi không hết gạo, lạc. Tụi địch ở quận và hội đồng hương chánh xã biết điều ấy, nhưng không làm gì được. Chả lẽ đem tất cả già trẻ lớn bé của Xóm Mới đưa lên Trường Bia bắn bỏ. Đám nghĩa quân các thôn khác tới kìm kẹp dân Xóm Mới cũng dữ. Nhung chúng sợ bị bộ đội giải phóng về đánh. Thành thử thường xuyên tụi bảo an, lính biệt kích nằm phục kích trên tuyến đường sắt cửa ngõ để lọt vào Xóm Mới. Đêm nay, Xóm Mới không có địch. Đèn đuốc trong nhà thím Tư Biều sáng trưng. Trông thấy tôi, thím mừng hú. - Trời ơi! Mày còn sống thiệt hả Phong? Xíu, Ly ơi... Anh Phong của chúng bay về đây nè. - Thím Tư líu ríu gọi con. - Chẳng lẽ thím mong con chết? - Tôi đùa. Một cái phát vào vai tôi rát ràn rạt. - Phỉ phui cái mồm của mi. Bữa tao nghe tin con Tâm báo rằng mi bị lủng ruột. Tao nghĩ phen ni thôi rồi... Trong tâm tao cứ khấn thầm Trời Phật phù hộ cho mi qua khỏi... Nói có ngọn đèn con ơi! Ăn uống chi chưa Phong? Hai cô con gái của thím Tư Biều trong màn chui ra, chào tôi, chưa tỉnh ngủ. Thím Tư nhủ con Xíu vào trong bếp nấu mì. Tôi gạt đi, thím Tư chẳng chịu. Thím còn bắt tôi vạch áo, coi thử vết mổ. - Mi hay tin con Tâm hy sinh rồi chớ? - Thím Tư nhìn tôi. - Con muốn hỏi thím Tư cho rõ sự thể thế nào. Ở trên huyện người ta biểu: Tâm bị pháo bắn, hy sinh ngay tại cứ... - Thiệt răng? - Thím Tư nhìn tôi kinh ngạc. - Dạ. Họ nói vậy đó. - Cha trời! Bữa nớ, đêm hăm ba tháng mười âm, chừng 2 giờ khuya, thằng Lân đột vô đây. Áo quần trên người nó ướt như chuột lột. Tụi bảo an không có ở trong xóm nhưng lại rải đầy từ nhà ông Thôi, tới Xóm Ga. Tao lấy cơm cho nó ăn. Đến lúc thằng Lân sắp đi, mới bảo tao một câu như ri: “Tâm hy sinh rồi”. Tao rụng rời chân tay: “Lúc mô? Mà vì răng hy sinh?”. “Pháo dập túi bụi vô cứ, sập hầm. Một cái mảnh găm vào bụng cổ. Máu ra nhiều quá, chết hồi chiều nay”. “Trời đất quỷ thần ơi!”. Cả đêm tao không hề chợp mắt lấy một khắc con ạ. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Mười Một, 2012, 09:05:33 am Thím Tư Biều biết chuyện riêng tư của hai đứa tôi. Vài lần Tâm đã đưa tôi tới nhà thím, lấy gạo, nắm tình hình địch. Nghe Tâm nói thím có họ xa với ba Tâm. Thím Tư nói chuyện này với tôi, hẳn là có ý. Thím kể:
- Sáng mai tao làm một đôi quang gánh đi cắt cỏ lần mò tới Xóm Bầu. Dọc đường gặp mấy thằng nghĩa quân rủ nhau đi bắn chim ở Làng Thượng. Ngó thấy tao, chúng chẳng hỏi một tiếng. Quả là ở bìa làng có mấy hố pháo bắn, vạt tre đổ ngả nghiêng. Tao đã hoảng. Đi sâu vào chỗ cứ tụi con Tâm ém quân, tuyệt nhiên không có một vết pháo bắn. Căn hầm vẫn còn nguyên vẹn. Tao càng nghi. Chẳng lẽ thằng Lân xạo? Tao quyết định sang khu hầm trú của xã Y... Ở đây cũng không hề có một trái đạn pháo nào nổ tới. Nhưng căn hầm bị sập lở. Không còn thấy nắp cửa hầm đâu nữa. Mới sáng mà người tao cứ toát mồ hôi hột. Vạt lưng áo nhớp nháp. Thằng Lân chôn con Tâm ở dưới gốc cây bưởi. Lớp đất cát mới đào hồi đêm chưa se mặt. Chẳng biết nghĩ răng tao quyết định moi đám đất lên. Tao còn tìm thấy được cả cái xên thằng Lân giấu trong bụi dứa dại... Đúng là con Tâm đã chết thiệt, con ạ. Gương mặt tôi hẳn lúc đó căng thẳng lắm. Thím Tư nhìn tôi giây lát, se sẽ lắc đầu. Rồi không ngừng được thím rơm rớm nước mắt. - Thím thấy chi? - Tôi hối thúc. Mãi sau, thím Tư mới bảo: - Nó chết thiệt, nhưng không phải do pháo bắn. Áo quần bê bết đất. Vạt áo sau lưng máu chảy ra đen đặc. Tao nhìn thấy một lỗ thủng nhỏ chỉ bằng đầu đũa. Mi coi thử có lạ không? Hai ngày sau, tụi nghĩa quân ở Phú Ổ mới phát hiện ra cứ của tụi thằng Lân. Mộ của con Tâm, chúng quật lên cho xe chở về trước cổng chi khu Hương Trà... Tao ngờ thằng Lân làm điều ám muội với con Tâm, Phong ạ... - Thím đã nói chuyện này với ai chưa? Thím Tư Biều nhìn tôi lắc đầu, nhưng lại nói: - Ít ngày sau, con Lành về, tao gặp và gởi một cái thư báo chơ ông Ngọc. Tôi không sao nuốt nổi chén mì nấu thịt hộp của con Xíu ép ăn. Cổ họng đắng nghét. Tôi tự hình dung ra mọi chuyện (Chao ôi! Nếu là sự thật thì kinh khủng quá). Hèn chi, thằng Lân bữa gặp tôi ở sông Bồ, tay nó run run rút điếu thuôc lá châm lửa, hắn đã không dám nhìn thẳng vào mặt tôi. Nhưng tại sao ông Hai Ngọc lại nói với tôi như vậy? Anh em trong huyện cũng hiểu vậy? Nỗi đau trong tôi tự phân thân. Nửa phần thương nhớ em. Nửa phần còn lại bị dằn vặt bởi bao câu hỏi chỉ riêng tôi tự tìm cách lý giải. Chẳng lẽ, là “đồng chí” với nhau con người ta lại có thể tàn nhẫn vậy ư? Chẳng gì thằng Lân cũng đã từng làm chủ tịch xã T. Hiển nhiên hắn phải biết chuyện quan hệ của tôi với em. Chẳng lẽ, cái dục vọng đớn hèn của con người lại có thể đạp đổ mọi quan hệ đạo đức, tình cảm thiêng liêng nhất? Tôi vào đời đi qua những trang sách hồng, tự nuôi sống mình bằng những khát vọng cao cả... Tôi đã tìm ra mẫu người anh hùng trong tiểu đoàn 10, trong những người lính C1 của tôi. Tôi đã tìm thấy ở em, ở thím Tư Biều, ở ông già Miên... Bây giờ tôi lại tìm thấy một âm bản khác của chiến tranh, những con người như Lân, Tam, Thoan... Bất giác, tôi thấy kinh tởm buồn nôn. Cảm giác y hệt như mỗi lần lên cơn sốt rét nhìn và ngửi thấy cái mùi môn vót nấu với dầu xà lách. Thực là khủng khiếp ghê sợ. Tôi đã gặp lại thằng Lân trong một chuyến chuyển gạo ra sông Bồ. Hắn giữ kho cho huyện. Da mặt trơn láng chắc hẳn vì chưa bao giờ chịu đói và suốt ngày ăn cá chình sông Bồ béo múp như cái đầu của hắn. Thoáng thấy bóng tôi xuất hiện sau mỏm đá thằng Lân chui vào trốn trong gian nhà kho. Tôi cứ lừng lững bước tới, đặt ba lô xuống giá đỡ. Luồng mắt của tôi bắt gặp ánh mắt của Lân. Hắn cụp mặt xuống, và hơi tái đi khi thấy tôi đặt tay vào bao súng ngắn... Dễ tới một phút tôi nhìn hắn. Hắn run run, đôi mắt lấm lét liếc nhanh tới chỗ để khẩu AK. Tôi gầm lên: - Thằng khốn... Hóa ra mi hèn hạ đến như vậy! Đừng có động vào cây súng. Mi không bắn giỏi bằng tao đâu. Tay tôi cũng run, nhưng đây là cái run của một cơn giận bùng lên bất chợt. Thằng Lân cúi mặt. Tôi nhổ nước bọt và quay đi chậm rãi, bước ra mép bờ sông Bồ, trước con mắt kinh ngạc của ông Mịch. Ông đi sau tôi chỉ cách có một đoạn. Ông Mịch chứng kiến tất cả và lặng lẽ theo dõi. Tôi nghe rõ cả tiếng thở dồn dập của ông phía sau lưng. Mặt sông gợn sóng lăn tăn. Những con cá xanh ăn quẩn sát bờ nghiêng cái bụng sáng loáng. Tôi tưởng như thấy hiện lên từ dưới làn nước trong gương mặt trắng hồng của em. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Mười Một, 2012, 02:56:08 pm 13 Ngật xòe ra một mảnh giấy đã được vê tròn gói trong một miếng ni lông, gắn lửa. Cường hấp tấp lấy mũi dao tách từng lóp vỏ nhựa và rút ra tờ giấy chỉ nhỏ bằng bàn tay. Chỉ có vài dòng chữ khô khan, khó hiểu với bất kỳ ai, nếu vô tình nhặt được nó dọc đường. “Ba đã nhận được thư con ở Huế chuyển vô. Biết mẹ con và con mong. Ba không mần răng thu xếp được thời gian vì dạo ni công việc bề bộn. Ở đây mưa nhiều, đường xe đi lại vất vả. Cho ba gởi lời thăm hỏi chú N. Ba và nội con cám ơn chú hung. Chú đã chăm sóc con trong ngày con đau. Nếu con chưa khỏi bệnh, ngoài rằm em con sẽ ra thăm. Ba gởi cho mẹ con ít tiền, con nhờ chú N đón. Thương con và mong con mau khỏe. Ba của con Huyền”. Cường đọc xong mỉm cười và giơ tờ giấy cho Ngật. Hơi ngại ngần một chút, rồi anh ta cũng cầm lấy lá thứ lẩm nhẩm đọc. - Tôi chẳng hiểu chi cả. - Ngật lắc đầu, đưa trả lại. - Anh có việc đây - Cường bảo Ngật - Anh sẽ chuẩn bị đón cô em họ của chị Ngật từ Huế ra thăm. - Em họ mô? Vợ tôi mần chi có cô em họ mô ở Huế. -Ngật không hiểu. Cường cười. - Người của cách mạng về gặp anh. Cách mạng cảm ơn và biểu dương vợ chồng anh đó. Anh chỉ cho Ngật coi dòng chữ và giảng giải. Anh ta lúc ấy mới vỡ lẽ, chợt đỏ mặt. - Đón ra răng đây? - Ngật không khỏi lo lắng. - Tất nhiên, cấp trên đã có kế hoạch... Ta sẽ tính. Từ chiều mười bốn, Ngật đã đưa con về thăm cha ở ngoài Tứ Hạ. Chỉ còn mỗi chị Ngật ở lại trông nhà và lo cơm nước cho Cường, kiêm luôn nhiệm vụ cảnh giới. Sáng hôm sau, Ngật đi honđa về sớm, quét dọn nhà cửa, cuốc cỏ ở mảnh vườn trước nhà và thỉnh thoảng để mắt ra con đường. Chừng 9 giờ sáng vợ Ngật ở chợ về, đi kèm với một cô gái mặc quần Jean, áo thun, cổ rộng, đi trên một chiếc xe honđa nữ còn mới. Vợ Ngật ngồi ở yên sau, tay cắp chiếc làn nhựa thò ra cổ hai chú vịt. Chiếc xe honđa đi thẳng vào sân. Tự nhiên như thể đã quen biết nhau từ lâu, cô gái gỡ cặp kính râm kêu to: - Anh Ngật. - Ồ cô... - Ngật lúng túng. Vợ Ngật đã vội trách: - Anh thiệt mau quên, con dì Bảy đó... Ngày cưới mình nó còn mặc juýp, tết tóc đuôi sam. Chừ đã lớn chừng ni. Vô nhà nghỉ Sen! - Cha trời, cô Sen... - Ngật cười ngượng ngập - Hèn chi anh già là phải. - Bữa Tết em không về thăm anh chị được. Công chuyện cuối năm bù đầu. Ngật đưa cô gái vào trong nhà. Sen nói: - Dọc đường từ An Hòa ra thấu lối rẽ vô đây có hai thằng thanh niên đi honđa bám em riết quá. - Tụi nó theo dõi cô hử? - Mấy sợi râu của Ngật kẽ rung rung. Sen phá lên cười: - Đâu có! Hai cậu thanh niên chọc chơi. Tới khi nhận ra chị Ba, em dừng xe, hai anh chàng cũng dừng xe. Chị Ba bảo: Này hai cậu, hai cậu đi đi cho chị em tôi nhờ. Cô em tôi có chồng, hai con rồi đó nghe. Chồng nó làm ở ty cảnh sát đó... Hai chàng thanh niên đỏ mặt nổ máy vù xe thẳng ra An Lỗ. Họ học ban triết. Cô gái nhìn quanh ngôi nhà. Sen mở nắp túi xắc. Anh Ngật biết ý lảng ra ngoài sân. Một lát sau, Sen gọn gàng trong bộ đồ kẻ, sẫm màu. Cô gái đi xuống bêp. Vợ Ngật đang sắp đồ đi chợ về vào trong chiếc rổ nhựa. Chị gọi vọng ra sân: - Anh Ngật, giúp em một tay. - Chị chỉ hai con vịt -Cắt tiết đi. Ngật cầm con dao bài, liếc lưỡi dao soàn soạt vào hòn đá mài đã bị vẹt lõm ở giữa. - Cô mô giữ vịt đây? - Giọng Ngật vui vẻ. - Để em! - Sen đáp và xắn cao tay áo. Khi ấy, Sen mới hỏi Ngật: - Anh Cường nằm ở chỗ mô anh Ba? Ngật đưa mắt ra ngoài bụi tre. - Cô yên tâm. Vợ chồng tôi với anh Cường trông cô mỏi mắt. Nhưng bây giờ ra gặp chưa nên. Cô mới ở Huế về, bà con quanh ấp để ý. Lúc vô đây cô có thấy mấy thằng nghĩa quân ngồi ở đình không? - Có! - Sen đáp nhỏ. - Và cô hỏi rất tự nhiên - Anh định đánh tiết canh hử? - Cô có ăn được thứ ni không? - Được chớ! - Rứa cô hơn chị Ba rồi đó nghe. Vợ Ngật đang ngồi nhặt rau ở ngoài sân hỏi vọng vào: - Này ông, nói xấu chi sau lưng tui đó? - Tui biểu với cô Sen, bà không ăn được tiết canh vịt. - Cha trời, ai ăn những thứ nớ. - Dạ, cô không ăn để đấy cho anh em tôi, phải không Sen? Ông Đạm, một người hàng xóm ở kề sát nhà Ngật lững thững đi vào sân. Vợ Ngật hắng giọng báo hiệu cho chồng. - Chú Ba có nhà không? - Dạ, nhà cháu đang mắc tay. - Vợ Ngật nói to - Ông vô xơi nước. Anh Ba ơi! Ngật và Sen cùng ló đầu ra. Ngật bỏ dở con vịt chưa vặt sạch lông bước ra ngoài. Tay còn dính lông vịt. - Ông... Chả có cô em trên Huế về chơi... - Ngật phân bua. - Này tôi sang tính bàn với chú, mai cày giúp cho một buổi. Mấy hôm rày tôi bị đau lưng. Ruộng mới mưa. Sợ để vài hôm nữa khô nước khó cày. - Dạ... Con sẽ cày giúp ông. - Ngật sốt sắng nhận lời. - Còn khi nào gặt trả công sau. Được chưa? - Ông khỏi lo việc đó. Sáng mai con đưa máy cày ra. Mảnh bốn sào của ông cày buổi sáng là xong chớ mấy. - Phải. Ông Đạm vẫn chưa chịu buông tha. Đi vài bước ông dừng lại ngắm dãy hoa huệ của nhà Ngật trồng trước cửa. Tết qua lâu rồi, những gốc huệ nay mới trổ bông. - Chà! Nhà chú có luống huệ đẹp quá. Răng không cắt mang ra chợ bán? Vô khối tiền đấy nghe. Bà nhà tôi bữa qua đi chùa, phải mua tới bốn trăm một bình bông huệ. - Dạ, nhà con trồng chơi. - Vợ Ngật đứng lên cầm cành rào xua đàn gà mẹ con từ ngoài vườn trồng mì tràn vào sân. Ngật định vào bếp nhổ lông vịt. Vợ anh bảo nhỏ: - Anh xong việc rồi đó. Ngó canh chừng. Để vịt đấy tôi với Sen làm. Ngật ra vườn, cầm cuốc xới đám cỏ đang bỏ dở. Ngoài bụi tre đầu cổng thấp thoáng bóng áo lính. Ngật chống cuốc vào vai, nhổ nước bọt xoa xoa hai bàn tay, mắt dõi theo từng bước của hai gã nghĩa quân. Nhận ra thằng Đồng người quen bên Phú Ổ, Ngật gọi thiệt to: - Ê, Đồng. Hai đứa mi mần chi rứa? - Tụi em kiếm con chim ăn chơi anh Ba. - Một trong hai tên nghĩa quân trả lời và giơ cao khẩu các bin. Loại súng kiểu cũ, nay trang bị cho đám phòng vệ dân sự. Bây giờ lính bảo an, nghĩa quân không còn dùng tới thứ súng đó nữa. Tụi ngụy thường mua đạn súng săn, lấy súng các bin đi bắn chim cò. - Nè, các cậu sang bên rặng tre bờ đầm mà bắn. Chim chuột ở đó chứ mô đấy. Coi chừng mấy con gà của tao bay loạn lên bây giờ. Hai thằng nghĩa quân cười hô hố: - Ông anh khỏi lo. Súng của tụi em có mắt. Bắn chim chớ chẳng thèm nhắm vào mụ gà mái già nhà anh Ba mô nghe. Ngật nghe tiếng hai chị em Sen trong nhà cười rúc rích. Cái cô gái tên là Sen, “em họ” vợ Ngật, chính là Hạnh. Bây giờ cô đang nằm nghỉ trưa trong căn buồng nhỏ, che ngoài cửa thông với gian nhà ngoài bằng tấm ri đô hoa đã ngả màu. Chốc chốc, Hạnh lại liếc nhìn vào chiếc đồng hồ đeo tay. Chú Năm Đổng, một cán bộ của thành ủy, hoạt động hợp pháp tại Huế đã trang bị cho Hạnh một bộ áo quần hợp thời trang. Chiêc quần jean, áo thun khoác bên ngoài chiếc áo dạ xanh, xoa thêm chút phấn, đeo gương, Hạnh cũng phải ngạc nhiên về sự đổi thay ngoại hình của mình. Cô chẳng thua bất kỳ một cô gái đẹp nào ở thành phố, có phần dịu dàng hơn. Mai Ly, con gái chú Năm, hé cửa nhìn vào thấy Hạnh phải bật khen: - Cha trời! Chị Hạnh đẹp mê hồn há. Chú Năm khuyên Hạnh: - Ăn mặc, đi đứng, nói năng phải y hệt người thành phố. Cháu đừng để mắt tới tụi lính tráng, cứ phớt tỉnh. Có vậy chúng mới ớn. Giấy tờ tùy thân của cháu đều hợp pháp. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Mười Một, 2012, 02:59:46 pm Chú Năm Đổng còn cấm Hạnh gặp và tiếp xúc với Cường ban ngày và tận dụng mọi khả năng để tìm hiểu thêm về vợ chồng Ngật. Hạnh cứ ân hận mãi một việc là nhận được tin báo khẩn cấp của Cường muộn màng. Cửa rừng bị địch cắm trại, hành quân suốt dịp Tết, chúng sợ một Mậu Thân nữa có thể xảy ra (!). Hai lần đội biệt động về tới Phú Ổ và Bồn Trì đều vấp địch phục kích. Địch đã hát hiện ra con đường về đồng bằng qua ngả dốc Mồng. Đoạn đường chiến lược bao quanh dưới chân Hòn Vượn, Am Cây Sen, bến Vượt trên con hói cắt ngang cánh đồng Hương Thái thực sự trở thành những nơi hiểm địa. Liên tục những trận đánh phản phục kích xảy ra trên đồng trống mà quyền chủ động nổ súng thuộc về tụi ngụy. Các đội công tác, đội biệt động huyện, trinh sát, đường dây thành phố, thậm chí cả những người lính trinh sát của quân khu về bám Hòn Vượn, theo du kích về đồng bằng lấy gạo cũng bị vấp địch, hy sinh. Có thể coi trận mở đầu đánh dấu sự thất thiệt cho lực lượng vũ trang huyện là đêm tấn công về Bầu Tháp.
Đêm hăm nhăm, rạng ngày hăm sáu tháng chạp. Hạnh nằm trong căn cứ dưới chân Hòn Ngang khắc khoải không ngủ được vì thấy tụi ngụy trên đỉnh Hòn Vượn liên tục bắn pháo sáng suốt đêm xuống đồng bằng. 4 giờ sáng cô đã thức dậy nấu cơm, đợi những người đi đồng bằng đêm qua của xã lên ăn. 6 giờ cô bật sóng rađiô bắt đài Huế. Tin bản đài cho hay: “Đêm qua, tại cây số 12, cách chi khu Hương Trà ba cây số về phía bắc, Quân lực Việt Nam Cộng hòa thuộc trung đoàn 54, sư đoàn 1 bộ binh đã chạm súng với một lực lượng khá đông của địch. Sau một giờ mười phút giao chiến. Bốn cộng quân trong đó có một nữ cộng quân đã bỏ xác tại trận. Các chiến sĩ trung đoàn 54 thu tại chỗ ba súng AK 47, có một cộng đồng phun lửa B40 và bốn quả đạn hỏa tiễn. Tin thêm của phóng viên mặt trận gởi về cách đây nửa giờ cho hay: vào lúc 5 giờ sáng nay, một đại đội thuộc tiểu đoàn 3, trung đoàn 54 đã triển khai kiểm soát tảo thanh toàn bộ khu vực chiến cuộc xảy ra hồi đêm. Phát hiện thêm một cộng quân bị thương trong tình trạng hôn mê, có nhiều vũng máu trong khu vực lăng mộ gần đó. Thu thêm một AK 47. Hiện tại, tên cộng quân bị thương đã được chở về Huế khai thác”. Giọng thằng phát thanh viên tỉnh khô, Hạnh nghe xong chết lặng người. 8 giờ sáng những người đi đồng bằng đầu tiên trở về. Tiếp theo hai cáng thương binh của đội biệt động huyện. Xã Y mất chị Điều, Cường, Mộc. Xoong cơm Hạnh nấu tới sáu lon vun. Cả “nhà” không một ai đụng đũa. Cậu Khản chiến sĩ đại đội 1, về xã cùng một đợt với Mộc, ngồi ôm mặt khóc rưng rức. Chú Miên ngó hai chị em Hạnh không sao chịu đựng nổi cái cảnh ấy, cầm khẩu AK lên mỏm đồi Cây Khế cảnh giới. Hạnh cũng khóc, nhưng cô không khóc thành tiếng. Nước mắt cứ ứa ra. Cô để mặc cho dòng nước mắt tuôn trên gò má. Cổ họng ứ nghẹn. Chưa một ai trong số những người trở về đủ tính táo kể lại cho cô nghe diễn tiến trận đánh. Chỉ cần nhìn hai cáng tải thương loang máu, những vạt áo lính loang máu, bùn đất nhớp nhúa, những gương mặt phờ phạc sau một đêm mất ngủ. Cô đoán hiểu ra tất cả tính chất ác liệt của trận đánh đêm trước. Chỉ tính riêng xã Y, đi bốn người mất ba, trở về còn có mình Khản. Tổn thất thực lớn lao. Dường như Hạnh thấy mình phải gánh chịu một phần trách nhiệm. Một lỗ hổng về lực lượng xã chưa biết lúc nào bù đắp được. Bảy người bộ đội C1 về chưa đầy một năm, giờ còn sót một. Bốn người trước hy sinh rải rác trong một cuộc chạy đua giành đất, giành dân tạo lại thế đứng chân với kẻ thù. Mỗi một người hy sinh, không khí trong “nhà” có buồn, lâu dần được khỏa lấp. Trận đánh này, trong một đêm xã Y mất luôn ba người. Hai đảng viên, và Mộc đang trong thời kỳ thử thách. Hỏi còn chi đau đớn hơn với một cô chủ tịch xã? Hạnh bỏ cơm. Nuốt răng vô! Cô leo lên võng nằm sau khi bắt Khản thay đồ và vào trong hầm nằm nghỉ. Cô nghĩ tới Mộc, người cô coi như em út trong nhà. Ngoài Cường, còn sáu người chiến sĩ cùng về với anh đợt đó, chưa ai vượt qua tuổi mười tám. Tính nết khác nhau nhưng đứa nào cũng dễ thương. Chẳng vậy “bố Miên” quát nạt bọn trẻ khi chúng ăn ở sơ sểnh, hoặc làm trái ý chú, như thể mắng con cháu trong nhà. Không một đứa nào giận lẫy, chỉ nhe răng ra cười trừ, và “rút kinh nghiệm”. Hạnh thương Mộc. Cậu ta mất mẹ từ năm lên mười tuổi. Cha đi lấy vợ hai. Một người đàn bà tàn nhẫn, độc ác. Hai chị em Mộc nhiều bữa nhịn đói chỉ vì không cắt đầy gánh cỏ, gánh lá về ủ phân xanh mà bà ta đã khoán trước mặt một ông bố bất lực. Chị gái Mộc bỏ học từ năm mười bốn tuổi, cô có sức khỏe, chăm chỉ, được nhận vào làm lò gạch ở hợp tác xã để mỗi vụ lấy sáu mươi công. Đồng đất trung du mùa màng thất thường. Có vụ, mỗi công chỉ được ba lạng thóc. Đêm trăng sáng hai chị em vào chân núi phát cây rừng, trồng thêm sắn. Nhờ đó, hai chị em đã qua những ngày đói kém, giáp hạt, thỉnh thoảng lại còn lén cho bố vài đồng để ông mua thuốc lào. Lên tới lóp 9, Mộc bỏ học. Cậu xin với chị và bố cho đi bộ đội. Mộc thật thà tới mức đáng thương. Ngày mới về, Hạnh cho Mộc đi đồng bằng và đưa vào nhà dân. Bà mẹ ở cơ sở nhìn Mộc, không sao tin được bộ đội giải phóng lại có người trẻ tới như vậy. Hỏi ra tuổi thiệt Mộc mới mười bảy. Mộc vừa thẹn, vừa ngỡ ngàng khi thấy các cô gái đồng bằng mặc quần trắng, quần hoa. Hạnh giải thích đấy là đồ bộ, phụ nữ miền Nam mặc trong nhà. Còn đi phố, người già, các cô mặc áo dài. - Quê em con gái mặc quần đen. - Mộc bảo - Các bà có người còn quấn mấn (váy). Hạnh mỉm cười, tuy cô không tiện hỏi Mộc “mấn” là cái chi? Mộc vào trong gian gác của các gia đình nuôi heo thấy có xếp những bao sữa. Nồi cám heo nấu bằng sữa bột. Cậu không sao hiểu nổi dân ở đây lại có thể lãng phí đến như vậy, mua sữa bột cho heo ăn? Còn gian chuồng lợn rộng rinh rang nuôi cả chục con heo Mỹ trắng bóc. Sàn xi măng láng bóng như nền nhà. Tuyệt nhiên không có phân hoặc rơm rạ lót ổ cho lợn. Hạnh lại phải giải thích, cặn kẽ, tận tâm như một cô giáo kèm học trò nhỏ. Cũng như cô đã dạy cho Mộc biết cách gài mìn, phát hiện địch trong làng. Một bữa, Hạnh phát hiện ra trên đầu Mộc có chấy. Cả sáu cậu bộ đội đều có thứ của nợ ấy (Cô không tiện kiểm tra Cường!). Cô nấu nước với hạt mãng cầu, bắt cả sáu cậu em gội đầu, tự tay cô dùng lược dày chải tóc cho tới kỳ hết những con chấy sống ký sinh trên da đầu. Gọi là cơ quan của một xã vùng giáp ranh, ngoài công việc hàng ngày chia nhau xuống làng xây dựng cơ sở, nắm địch, mua gạo cơm... nhưng quan hệ cư xử, công tác chẳng khác nào anh chị em trong một gia đình đông con: mười một miệng ăn. Ngày bộ đội mới về xã, Hạnh đã phải vào dân xin thêm một chiếc xoong nhôm to, mới đủ nấu ăn cho chừng ấy con người. Hạnh, chú Miên, chị Điền, nhìn những thanh niên trẻ khỏe bỗng dưng thành người của mình, mừng hết chỗ nói. Vậy mà số người của xã Y cứ hao hụt dần sau mỗi trận đánh, chẳng khác nào người đi buôn bị thâm lạm vào vốn từng ngày. Và trận đêm qua nữa... Nghĩ tới đó, Hạnh lại ứa nước mắt. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Mười Một, 2012, 03:01:49 pm Tới 10 giờ trưa, chú Sáu bí thư huyện ủy cho cậu công vụ đem thư tới mời Hạnh sang họp. Đến nơi, đã thấy đông đủ những cán bộ “sừng sỏ” của huyện đội và các xã ngồi trên chiếc sạp trong ngôi nhà hầm của huyện ủy.
Thường vụ huyện ủy còn đang họp. Ánh sáng ngọn đèn dầu hắt ra từ căn hầm có rèm vải che cửa. Mười phút sau chú Sáu, chú Hai Ngọc, chị Mai... bước ra. Nét mặt ai cũng căng thẳng. - Thưa các đồng chí - Chú Sáu mở đầu cuộc họp - Thường vụ huyện ủy mời các đồng chí tới để bàn công chuyện gấp. Nhiều đồng chí đã biết đêm qua huyện ta gặp phải tổn thất rất lớn trong trận đánh về Bầu Tháp... Chú Sáu nói chừng mười phút, giao nhiệm vụ và mọi người ngồi thảo luận phương án tác chiến. 3 giờ chiều, một mũi biệt động huyện đột kích ra cửa rừng do Châu chỉ huy. 7 giờ tối tổ đi đầu gặp địch ở ngoài đường chiến lược. Châu cho triển khai đội hình đánh. Bắn được ba trái B40, nhưng đội biệt động huyện mất thêm một người, một bị thương... Lá thư của Cường từ hộp thư chết phải đi theo con đường vòng vo, vào Huế, chuyển theo đường dây cánh nam về Hương Thủy, lên tới tỉnh rồi mới trở lại cánh bắc theo đường dây giao liên. Sau khi cân nhắc huyện ủy quyết định cử Hạnh về gặp Cường. Cửa rừng vẫn bị tắc, Hạnh vượt đường 12 sang Hương Thủy, nghỉ lại ở Thủy Dương một ngày. Sáng hôm nay, cô cải trang lên xe lam về Huế, tới nhà chú Năm Đổng nhận kế hoạch để về Liễu Thượng. Vào một buổi tối, Hạnh đã cùng với cô bé Mai Ly đi chơi phố. Hai chị em đạp xe đạp dạo tà dọc theo bờ sông Hương, qua cầu Tràng Tiền xuống ăn chè tận Vĩ Dạ. Vừa đi, Hạnh vừa có dịp quan sát phố phường trong nội đô Huế, từ sau biến cố Mậu Thân. Cây cầu Tràng Tiền vẫn còn đó nhưng nhịp giữa đã bị đánh sập, nay đã được công binh ngụy sửa chữa thay bằng đà sắt, lát gỗ trải nhựa. Địch cũng xây thêm một cây cầu mới trên sông Hương, đủ trọng tải cho xe bọc thép qua cầu. Cầu Kho Rèn, cầu An Hòa đều được tu sửa. Lực lượng quân ngụy rải rác dày, chúng tăng cường thêm các đồn bót. Hạnh ghi nhớ tất cả nhưng dường như mọi lo lắng của Hạnh đều dành cho giờ phút gặp Cường. Không biết tự lúc nào, giữa cô và anh đã hình thành một mối quan hệ đặc biệt. Thực ra mối quan hệ ấy, nó không xảy đến với cô ngay từ những ngày đầu tiên khi Cường dẫn sáu chiến sĩ trẻ về xã. Cô biết tên anh từ trước, đã nghe lũ bạn gái kháo nhau về anh chàng trung đội phó ở đại đội của anh Phong, anh Hảo. Vài lần cô đã đưa bộ đội về làng, cùng với Cường. Cô chưa hề có một ấn tượng về anh chàng trung đội phó trẻ tuổi, có gương mặt hiền lành và ít nói. Cường về xã, Hạnh không thể coi anh như Mộc, Khản... Anh là chỉ huy của họ. Những người chiến sĩ trẻ vừa sợ ông Miên, quý Hạnh, nhưng bàn chuyện đánh giặc, cô có cảm giác họ tin Cường hơn. Cái gì cũng hỏi: “Anh tính sao, anh Cường?”, “Có được không?”. Trong khi Cường thường giữ thái độ vừa phải với Hạnh. Có một lần, hơi bực, cô kéo Cường ra một chỗ, trách: - Răng anh không nói chi về phương án tác chiến? - Thì Hạnh nói rồi thôi. Tôi thống nhất như vậy. Còn phải nói gì nữa cho rách việc. - Hừ... - Hạnh hơi gắt. - Anh là xã đội trưởng, anh phải có ý kiến quyết định chớ. - Tôi tưởng Hạnh là chủ tịch xã... Hạnh đã phê bình Cường trong một cuộc họp chi bộ. Nhưng Cường không giận, chỉ hơi đỏ mặt. Rất nhanh, Cường hòa nhập vào nhịp điệu của đội công tác. Vài lần, tổ chức đi đồng bằng Cường đã làm cho các đơn vị “đi ké” với xã Y tin tưởng. Trận đánh của du kích xã Y do Cường chỉ huy tại xóm Trường diệt trung đội nghĩa quân thằng Tạo, uy tín của anh nâng lên rõ rệt. Nhỉều người vị nể Cường kể cả Châu, Tự - hai người chỉ huy biệt động huyện. Cánh trinh sát K11, đại đội pháo K35, đại đội đặc công của tỉnh, cũng chịu Cường bám địch giỏi. Hạnh và Cường cùng sống chung một nhà, họ gặp nhau hàng ngày, ăn cùng mâm, thậm chí ngủ chung một căn hầm ở hậu cứ Khe Điên. Căn hầm mái bằng, trần thấp. Những chiếc võng mắc sít lưng nhau, lớp nằm dưới sạp, lớp nằm trên võng. Ngày mới về xã, ít khi hai người nói chuyện riêng với nhau, có chăng chỉ bàn chuyện công tác. Hạnh hiểu được Cường nhiều là nhờ ở Mộc và qua những người bộ đội về xã. Hoặc cô nghe lỏm được trong những đêm mọi người không đi về làng. Hạnh móc chiếc võng dù toòng teng treo ngay ở cửa hầm. Cường tưởng cô đã ngủ mới đem chuyện quê nhà ra kể cho chiến sĩ. Cô nằm im lắng nghe và tự mường tượng ra dòng sông Hồng, dòng sông Trà quê anh. Cô ghen thầm với mấy cậu chiến sĩ. Cô chưa sao tìm được sự hòa nhập được vào khối cộng đồng “đàn ông” ấy. Chẳng lẽ chỉ vì cô là bí thơ kiêm chủ tịch xã? Là con gái? Hạnh ghen với ông già Miên... Giữa cô với Cường tựa hồ như tồn tại một khoảng cách vô hình, có một sức mạnh bí ẩn đẩy dạt hai người về hai phía. Họ khó gần và khó chan hòa vui vẻ được với nhau. Nhưng chỉ cần Cường đi công tác về làng, vì một lý do gì đó, đêm ấy Hạnh phải ở nhà, cô cảm thấy lo lắng cho anh. Tâm thần bất an. Buổi sáng cô cứ ngong ngóng chờ đoàn người đi đồng bằng trở về. Y như thể ngày còn nhỏ, mỗi lần cô ngóng mẹ về chợ La Chữ, bữa nào mẹ cô đi Huế, sự hồi hộp càng tăng gấp bội. Không phải vì được mẹ cho phong mè xửng, tấm bánh tráng nướng, miếng bánh phỏng trộn mật. Mẹ ôm cô vào lòng thơm lên mái tóc. “Ôi, con gái của mẹ... Ở nhà có ngoan không?”. Cái cảm giác kỳ lạ ấy, bây giờ lại xảy ra với cô trong mỗi suy nghĩ về Cường. Những lần Cường ở nhà, Hạnh đi đồng bằng, lên tới cửa rừng còn sớm. Mọi người còn nằm ngồi ngổn ngang ăn cơm vắt chờ trời hừng sáng rồi mới vào rừng. Hạnh đã lặng lẽ khoác gùi, ôm súng đi trước. Đôi dép râu của cô tựa như có mắt, quen với con đường mòn chỉ lọt một người đi, chẳng hề để ý tới vạt cỏ lau ướt dầm sương đêm quẹt vào cánh tay, quần áo. Cô mò mẫm lội dưới suối lổn nhổn những tảng đá trên con đường về nhà. Hạnh không dám tự thú nhận với mình, cô muốn đi mau về hậu cứ được nhìn thấy Cường, nhưng trong tiềm thức sâu xa lại là điều có thực. Hạnh cũng không thể giải thích nổi sự trùng ngẫu, như có hẹn trước. Vừa bước lên khỏi bến nước cô đã nhìn thấy Cường ngồi trước cửa hầm, đợi nghe tiếng bước chân Hạnh về để cất lên tiếng chào “độc địa”: - A... Đồng chí bí thư đi vui vẻ chứ? Báo cáo: nhiệm vụ đồng chí giao cho tôi ở nhà đã hoàn thành xuất sắc. Tự nhiên Hạnh tức, tiêu tan luôn cả sự mong mỏi, chờ đợi. Chẳng có nhiệm vụ nào hết. Chỉ có mỗi một việc mà bất kỳ một ai ở nhà đều có trách nhiệm lo cho người đi đồng bằng: nấu một xoong cơm, nồi nước ruốc. Sáng mai lên mọi người cùng ăn. Vậy thôi. Nhưng cái giọng của Cường nghe xóc óc, đến ghét. Cô bỏ gùi gạo xuống đất. - Eng Cường! (Cô biết Cường ghét nhất gọi tiếng “eng” thay cho tiếng “anh”, cô chọc tức lại) Có rau cải em xin được đây nè. - Vậy à - Cường vui vẻ - Ta nấu canh ăn chứ. - Báo cáo xã đội trưởng: Vâng ạ! - Hạnh đáo để trả đũa. - Hừ... Đồng chí lại trêu tôi... - Cho biết mặt!... Thôi, anh cứ để đấy, em nấu canh cho. Đỉnh điểm của hai người được đánh dấu bằng một đêm mưa giông. Hàng tuần liền, vùng giáp ranh và đồng bằng mưa như trút nước. Con suối đá suốt mùa hè chỉ rỉ ra một dòng nước nhỏ, chảy róc rách. Bây giờ nước từ trên sườn núi dồn xuống biến con suối thành một dòng sông nhỏ. Nước chảy qua các thác đá réo ầm ầm. Mưa tầm tã, xối xả các căn nhà đều dột. Nước rỉ xuống lòng hầm, mọi người phải thay nhau tát nước. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Mười Một, 2012, 03:03:10 pm Trời mưa, địch ít bắn pháo, máy bay trực thăng không cất cánh nổi để dòm dỏ các cánh rừng. Còn tụi ngụy ở trên đỉnh Hòn Vượn, Chóp Nón trốn vào các căn nhà tôn, đánh bài. Ở cứ mọi người được thảnh thơi. Họ ít phải lo tụi thám báo đi sục sạo vào những lúc trời nổi mưa gió như thế này. Tha hồ chẻ củi, chặt cây. Tiếng mưa như gõ vào thùng tôn; Đội công tác xã Y nghỉ ở “nhà” đã ba ngày. Corn ăn toàn với nước ruốc, đến ớt cũng hết. Hạnh bàn với Cường cho hai tổ về làng. 3 giờ chiều, đội công tác của xã đã ra đi. Những con suối trong rừng nước đã lên tới bắp chân. Con đường về đồng bằng không bị địch chốt gác. Địch rút vào các ấp, leo lên các điểm cao căng lều bạt trú mưa. Vượt qua được Liễu Nam, mọi người mới hiểu: đồng bằng Huế đang gặp cơn lũ lớn... Đã có vài ý kiến đưa ra là quay trở lại. Hạnh còn đang trù trừ vì sợ không qua được con hói ngoài làng Phú Ổ. Cường đã tiến lên trước dẫn đường, kéo theo cả đội. Mỗi một chặng đường nước càng dâng lên cao. Cường cứ nhắm theo ngọn đèn đỏ ở Huế, cắt hướng đường. Rốt cuộc họ cũng qua được con hói trên cây cầu tre chưa bị nước cuốn trôi. Ba tiếng sau quay trở lại con hói, nước từ trên núi dồn về đã vặn gãy cây cầu trôi mất hai nhịp. Sáu người đi, được cả thảy sáu gùi nặng vừa gạo, vừa hàng. Hạnh vào quán mụ Chiện, cô mua liền một lúc hai thùng dầu xà lách, ngoài ra còn cá hộp, thịt hộp, thuốc lá, trà và hai chục ống mì chay. Trong làng địch cũng chẳng hề có một mống. Dân báo: tự hồi chiều, thấy nước lụt, tất cả các trung đội nghĩa quân và bảo an đã kéo nhau lên đường lộ. Quả thực nước đang lên mỗi lúc một to, các tràn ruộng bây giờ đều trắng một màu nước.
Họ lội nước lõm bõm, cắt đồng. Mưa tạt, quần áo người nào cũng đều bị ướt. Cường cho cả tổ dừng lại bên bờ hói một lúc và bàn tính cách vượt sang bờ bên kia. Những chiếc áo mưa bây giờ biến thành những chiếc phao. Gùi hàng, bao thắt lưng tống cả vào trong ruột phao. Cường cho nối dài các dây cột gùi của mọi người làm thành sợi dây bảo hiểm. Cường bơi sang đầu tiên bị trôi mất một đoạn. Ba người khác chẳng cần bám dây, bơi tự do. Những chiếc phao nổi bồng bềnh trên mặt nước. Hạnh sang cùng một lúc với Mộc. Mộc ôm phao bơi trước. Hạnh ra được tới giữa dòng thì chiếc dây bị tuột móc, Hạnh chới với. Dòng nước cuốn cô trôi xuôi với chiếc phao. Tiếng kêu của Hạnh bị nuốt chìm trong tiếng mưa xối ào ào. Mộc hét to: - Anh Cường! Chị Hạnh trôi. Cường chạy dọc theo bờ hói. Vừa chạy vừa gọi: - Hạnh! Hạnh!.. Ánh chớp lóe lên sáng lòa. Cường đã nhìn thấy Hạnh ôm chiếc phao đang quẫy đạp vẫy vùng để thoát ra khỏi một ngọn tre gai đổ xòa xuống mặt nước. Không một chút đắn đo, anh nhảy xuống, bơi sải ra chỗ Hạnh. Cường kéo mạnh chiếc phao, vừa bơi vừa ôm lưng Hạnh kéo đi, xuôi theo dòng một đoạn và tìm cách tấp vào bờ. Hạnh ngồi xuống bờ cỏ, thở dốc. - Em có bị sao không? - Cường mở tấm áo mưa giũ nước. Sau phen suýt bị nước lũ nhấn chìm, bây giờ Hạnh mới thấm lạnh. Hai hàm răng cô đánh vào nhau lập cập. - Em sợ hết hồn vía. - Để đồng chí bí thư xã chết chìm, chúng tôi bị ông Sáu cạo trọc đầu cả lũ. - Này, cấm anh không được gọi em là đồng chí nữa đấy nghe. Còn gọi vậy là em từ anh luôn đó. Hạnh gí một ngón tay vào má anh. - Thế từ giờ trở đi tôi xin im lặng. - Không được... Hạnh đứng lên, cô kéo tay Cường. - Anh đừng làm cho Hạnh buồn... Anh chẳng hiểu chi em cả. Cô nói nhỏ nhẹ và những giọt nước mắt của cô hòa lẫn vào những hạt mưa quất xéo vào mặt. Hai người men theo bờ con hói đi lại chỗ Mộc và mấy người chiến sĩ đang ngồi chờ họ sau một ngôi mộ xây tránh rét... Sau đêm đi đồng bằng, giữa Hạnh và Cường tự hình thành một quan hệ khó mà giải thích, nhưng cảm nhận rất rõ từng lời nói, từng cái nhìn của nhau, vẫn là chuyện công việc hàng ngày, nhưng đã có một điều là lạ len vào khuấy đảo tâm hồn họ. Hạnh cảm thấy vui lên hơn. Chẳng vậy, chị Điều đã có lúc bảo cô: - Con ni, bữa nay có chi vui hỉ? - Vui chi? Một ngày như mọi ngày. - Hạnh đỏ mặt cãi. - Đừng có giấu tao nghe... Mà tại sao Hạnh không vui kia chứ. Chỉ có điều cô biết giấu đi nỗi niềm xôn xao trong lòng mình. Bản tính của các cô gái khi biết có một chàng trai chú ý đến mình. Ánh mắt của Cường mách bảo với cô điều ấy. Và nào cô có đòi hỏi gì hơn ở anh. Một điếu thuốc Rubi, Salem Hạnh đem về trong cuộc họp ở huyện. Một chiếc kẹo sôcôla chẳng đáng chi. Nhưng Hạnh thích vậy. Thích được nhìn gương mặt Cường ửng đỏ khi cầm lấy món quà nho nhỏ ấy của cô. Tuyệt nhiên, Hanh chưa có một dự cảm rõ rệt. Nhưng ai cản ngăn được những xúc cảm luôn khuấy đảo trong trái tim cô. Và tại sao lại cản ngăn nó trong một cuộc sống đầy bất trắc biến động, khi mỗi người đều phải tự tìm cho mình lấy những lý do để nuôi nấng những khát vọng và niềm tin yêu cuộc đời? Ông Hai Ngọc chuyển thư của Cường cho Hạnh. Đọc xong, trước mặt ông Hai, cô đỏ hoe đôi mắt. - Chu cha! Con ni thương lính của mi quá bay ơi! - Chú! - Cô kêu thảng thốt, xấu hổ. -Rứa tao nói vậy có chi sai? Thôi, mi lo mà đi đón cậu Cường lên. - Thiệt a chú Hai? - Chẳng lẽ chừng ni tuổi đầu tao còn xạo mi răng? Ông Hai cười xòa, ấn cô ngồi xuống trước tấm bản đồ Huế trải rộng trên sạp. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Mười Một, 2012, 03:04:43 pm * ... Bây giờ Hạnh đã nằm ở đây, trong căn nhà của vợ chồng Ngật. “Răng chưa bao giờ anh Cường nói chuyện với mình về Ngật”, cô nghĩ. Giờ này chắc chắn anh Cường đã biết tin, “một cô Sen” nào đó đã về để tối nay gặp anh. Không biết Cường có đoán ra? Hạnh lại nhìn đồng hồ. Ít nhất còn bốn tiếng nữa trời mới tối. Cô thầm mong cho mọi sự trôi qua một cách yên ổn từ bây giờ tới lúc đó. Cả chục ngày nay, cô chưa đêm nào ngủ ngon giấc. Cô nằm miết, trằn trọc suy nghĩ mung lung. Đang từ chuyện này nhảy cóc sang chuyện khác, vẩn vơ chán rồi cô lại trở về với Cường. Chao ôi, gặp được anh cô sẽ kể cho Cường nghe vô số chuyện. ... Cường bất ngờ khi nhìn thấy Ngật kéo cánh rào bước vào, theo sau là Hạnh. - Hạnh! Chao ôi...! Vậy mà anh cứ tưởng ai. Hạnh nghẹn ngào không nói được nên lời. - Anh Cường! Em về... Ngật đủ khôn ngoan hiểu nhiệm vụ của mình tới đây là xong. Anh ta giục Cường ăn cơm cho nóng, rồi rút lui thiệt êm. Đột nhiên, Hạnh bật lên tiếng khóc. Cô gục đầu vào một bên vai Cường, giấu những giọt nước mắt trào ra hai gò má. Gió xào xạc thổi trên những chòm lá xoan non. Tiếng chim từ quy thảng thốt trong chiều hoàng hôn thanh vắng, dày mây mù và lắc rắc những hạt mưa xuân rơi xuống tấm ni lông xanh che trên đầu họ một khoảng rợp. Không gian sẫm lại dần nhưng vẫn đủ để cho cô nhận rõ một gương mặt rất ư quen thuộc bao đêm cháy lòng vì mong nhớ. Còn Cường cũng chẳng hơn gì Hạnh. Anh đã nẫu ruột gan vì chờ đợi. Và không thể ngờ rằng anh đã được gặp Hạnh ngay trong cái tổ ấm êm của mình và anh nhận ra cái mùi quen thuộc trên mái tóc cô. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Mười Một, 2012, 03:07:00 pm 14 Ba trung đội vận tải đều tập trung về buôn Cu Soi. Khu hậu cứ mới trở nên chật chội, ồn ào. Vang lên suốt mấy ngày tiếng chặt cây, đào đất. Cây ở vùng này sẵn, đủ cỡ để làm cho bộ đội hạ xuống làm nhà, gác đà ken hầm, làm bàn ghế. Cụm chỉ huy cánh bắc đã quyết định cho đại đội vận tải xây dựng hậu cứ ở buôn Cu Soi trụ bám suốt mùa mưa. Từ đây ra kho binh trạm chưa đầy ba giờ đồng hồ đi bộ. Sau khi làm nhà ở xong cho đại đội, đơn vị sẽ còn phải làm kho để trữ hàng cho cánh bắc Huế. Buôn Cu Soi dân bỏ đi đã lâu. Trên nền đất buôn cũ duy nhất chỉ còn lại một cái nhà nát mái. Nhưng dàn gỗ còn chắc, Thoan cho sửa sang thành nhà của Ban chỉ huy đại đội, tận dụng luôn cái hang đá ăn sâu vào trong núi. Tuy vậy, vẫn phải làm thêm hai nhà hầm dành cho bộ phận y tá, phục vụ, nhà kho của đơn vị. Ba trung đội làm nhà, đào hầm chia ra ba góc châu tuần quanh Ban chỉ huy đại đội. Trung đội của ông Mịch ở xa hơn, phía bên kia con suối. Thế đóng quân thật đẹp. Dốc núi thoai thoải. Cây rừng mọc thưa cao, tán lá rộng. Dòng suối dưới chân dốc có một vụng sâu tới ngực. Buổi chiều những người lính làm xong phần việc xuống đấy tắm rửa, đùa nghịch; phía dưới cách chừng vài trăm mét, còn có một vùng nước nữa. Cánh con trai gọi đùa là “đầm nước của mười hai nàng tiên cá”. Các cô, các chị trong đội vận tải xuống đấy tắm giặt. Nửa tháng trời xây dựng hậu cứ. Tạm coi là xong. Các trung đội chỉ còn có mỗi một việc, cử người vào rẫy chặt lồ ô về làm sạp, làm bàn ăn cơm. Ghế ngồi đơn giản hơn. Chỉ cần vài đoạn cây, họ đã tạo ra những băng ghế có chỗ tựa. Vào ngày nghỉ hay những buổi chiều cơm nước xong, cán bộ chiến sĩ ngồi quanh cỗ bài tú lơ khơ đánh “tiến lên”, hoặc từng cặp trầm tư quanh bàn cờ tướng. Đơn vị ở cách xa địch, nên mọi người tha hồ la hét, quật bài, gõ cờ chí chát. Chỉ có một khả năng cần đề phòng là đừng để khói bay lên lúc trời còn sáng, sợ tụi trinh sát OV10 bay trên cao phát hiện. Những chiếc bếp Hoàng Cầm lợi hại dư sức chống khói. Còn ban đêm, mặc sức đốt cây hun muỗi và chống cái lạnh buốt xương ở rừng, miễn sao là đừng để ánh sáng lọt ra ngoài. Hiện tại, đại đội vận tải đang tập trung làm mười gian nhà kho, để dăm bảy ngày nữa nhận hàng cho cụm. Thoan giao cho Phong chỉ huy đại đội làm kho. Sáng nay, từng nhóm đi chặt cây lồ ô và bứt lá nón. Sau lúc giao việc cho từng bộ phận, Phong vác dao lên sườn đồi định chặt thêm bó cây mây, nhưng mới lội ngược hõm núi được một đoạn anh đã phát hiện ra mộí cây đoác bánh tẻ. Thân cây cao chừng hai mét. Quên cả việc chặt mây, anh leo lên tìm cách hạ cây đoác. Lưỡi dao bén ngọt chỉ chưa đầy hai chục nhát, cây đoác đã đổ ầm xuống lòng khe đá. Cây đoác lá món ăn quý của rừng, lấy phần lõi, xắt nhỏ ăn như su hào, xào với thịt hộp ngon hết ý. Giá như có men, anh sẽ ủ rượu. Phong phát đến ngọn và tước lớp vỏ gỗ xơ cứng bên ngoài thân cây đến lúc trơ ra phần lõi trắng bóc. Lưng áo anh ướt đẫm mồ hôi. Phong không thể kìm được, anh vạt lấy một khúc đọt trên ngọn nhai sống. Đọt đoác ăn chẳng khác nào phổi dừa, củ đậu. Hèn chi dân Tà Ôi, Pa Cô quý khách mới đem thứ rượu đoác ra mời bạn. Rượu đoác không nồng như rượu sắn, rượu bắp, không nặng như rượu gạo lúa nương, nồng độ nhẹ hơn, thơm bổ chẳng kém gì bia. Mải làm, Phong không nghe thấy tiếng chân người đạp trên lớp lá khô đi tới. Một lát sau, Lý hiện ra bất chợt. Trên mặt cô ta lấm tấm mồ hôi làm dính những sợi tóc mai bên má. Sau lưng cô đeo toòng teng một chiếc bao tải cột thành gùi. Cả hai đều ngạc nhiên nhìn nhau. Phong lên tiếng trước để phá tan sự bối rối: - Lý đi đâu đấỵ? Lý chỉ vào chiếc bao tải, mỉm cười: - Em đi hái lá tai voi nấu canh. Nghe anh Liêu biểu dọc khe đá đi ngược lên có cả một vạt lớn. - Thôi khỏi cần, tôi sẽ cho cô thức ăn trưa nay - Phong đưa lưỡi dao cắt một khúc đoác đưa cho Lý - Ăn đi, ngọt hơn đường phổi đó nghe! Lý bỏ chiếc bao tải xuống đất và ngồi lên một tảng đá. Cô ăn rất tự nhiên khúc đoác non Phong vừa đưa cho. Từ buổi chiều ở chỗ Tam về, chưa có một lần nào hai người gặp riêng nhau nữa. Chưa hẳn vì họ không có những cơ hội thuận tiện để gặp nhau. Mà vì Phong ngượng. Anh cảm thấy xấu hổ và trở nên khó chịu mỗi lần bắt gặp cái nhìn vừa thẳng thắn vừa bạo dạn của Lý. Cô gái chẳng hề giấu giếm. Và thật tình, anh chưa có một xúc cảm mạnh mẽ nào đối với cô. Lý đẹp thì hiển nhiên rồi. Một vẻ đẹp khỏe khoắn lồ lộ ra trước mắt anh. Họa có mù Phong mới không nhìn thấy một cơ thể tràn đầy sinh lực và rõ ràng là Lý có cảm tình với anh. Nhưng bởi Lý bạo dạn và lộ liễu quá. Chính anh ngỡ ngàng trước thái độ của Lý tối hôm đó. Cứ mỗi lần nhớ lại chuyện đã qua anh chí còn nhớ cái cảm giác đôi tay mạnh mẽ của người đàn bà ôm siết lấy anh và đôi môi ướt, lạnh lẽo hôn như mưa trên khắp gương mặt anh. Anh tự xỉ vả mình, cũng không tự cắt nghĩa hành động cuồng nhiệt của Lý. Ánh mắt của cô ta bảo với anh rằng, đây hoàn toàn không phải sự biểu hiện chứng bệnh “Echtri” của phụ nữ khi họ mất cân bằng trong trạng thái tâm sinh lý. Nó là một cái gì khác kia. Một thứ dục vọng cuồng nhiệt, khao khát yêu và được yêu ở người đàn bà mong muốn được thỏa mãn. Vầng sáng trong đôi mắt Lý thúc giục, réo gọi anh một lời đáp trả. Nhưng anh tin chắc một điều đó chưa thể là tình yêu. Tình yêu của anh và Tâm không như vậy. Tuy không muốn nhưng Phong không thể lẩn tránh Lý. Phong gặp Lý hàng ngày, trong bếp ăn, trên đường gùi gạo, nơi bến nước mỗi chiều cả đơn vị ra tắm giặt. Anh luôn tìm cách phá đi cái khoảng trống mà cô ta luôn luôn muốn kéo anh tách xa với mọi người, vốn nhạy cảm anh còn nhận ra cả ánh mắt của cậu Hải y tá được Thoan phân công xuống trung đội 2 luôn ngầm theo dõi mọi hành động của anh với Lý. Chẳng vậy, có lần ông Mịch bảo anh: - Này anh Phong, thằng Hải tối qua ra mắc võng gần chỗ tôi. Tự dưng nó hỏi: “Bố Mịch, bố có thấy thủ trưởng Phong và Lý có sự lạ không?”. Tôi đang cáu chuyện thằng Xuân để ướt mấy chục cân gạo nghe nó nói tôi càng lộn ruột. Tôi mới bảo nó: “Này, ông Thoan xui cậu xuống theo dõi anh Phong đấy hử? Coi chừng anh Phong nghe thấy, anh ấy đập vào mặt cho đấy. Chuyện bố láo, bố lếu!”. Thằng Hải thẹn nhưng cố cãi: “Đâu có... Đâu có... Ấy là tôi hỏi bố”. Tôi càng điên: “Mày đem cái chuyện mất dạy ấy hỏi tao hử”. Anh phải coi chừng nó đấy. - Anh đừng ngại. Không có chuyện chi đâu. Phong cười nhạt. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Mười Một, 2012, 03:08:14 pm Và hình như Lý cũng hiểu được tâm trạng ấy của Phong, sự khôn ngoan, từng trải của một người đàn bà tự cho mình có khả năng mở cửa vào tâm hồn kẻ khác phái, nên cô ta không hề vội vã. Sẽ có trăm phương cách giúp Lý biết áp sát và khuất phục con mồi. Hãy kiên nhẫn như một kẻ đi câu cá. Quăng con mồi nhái ra xa, chiếc hoa mướp vàng sẽ buộc chú cá chuối đực bỏ đàn con quay lại, trước sau Lý cũng sẽ chiếm được Phong. Đến Thoan người tưởng là sắt đá, vững như núi cũng bị Lý khuất phục sau vài lần đụng chạm, yếu như nước và cũng mạnh như nước. Đàn bà cũng là một thứ nước. Lý tự cho mình có sức mạnh ấy. Có lúc ở trung đội 2, trước đông đảo cánh đàn ông, có mặt Phong, Lý cười đùa, vui vẻ với tất cả mọi ngưòi. Cố tình, cô làm như không thèm để ý tới Phong, không đùa cợt trêu trọc. Lý gùi gạo, vượt định mức bảy phần trăm. Lý có tên trong danh sách tám người của trung đội 2 đề nghị Ban chỉ huy khen thưởng trong chiến dịch gùi hàng “một trăm ngày vì tuyến trước!”.
Nhưng tự trong đáy lòng, con “ma men đàn bà” vẫn chồi lên quẫy đạp, giày vò Lý mỗi khi cô nghĩ tới Phong. Anh chàng ăn đứt Thoan về nhiều mặt... Lý càng sục sôi ngấm ngầm, giấu kín niềm khát vọng được chinh phục... - Ăn nữa không? - Phong hỏi và giơ dao định chặt đoác tiếp cho Lý. - Thôi... Cảm ơn anh. Đoác ngọt hung. - Lý đáp rất đúng điệu. - Ừ ngọt... Từ chỗ họ ngồi, lắng tai vẫn có thể nghe thấy tiếng gỗ chí chát của bộ đội. Nhưng cây rừng và bờ dốc đá đã che khuất vạt nhà của đơn vị vận tải. - Răng anh tệ với em rứa? - Lý nói, giọng buồn thảm. Và lúc Lý ngẩng lên, Phong thấy trên mắt cô có những ngấn nước - Em mần chi nên tội... Chẳng lẽ, anh không tin em? Phong lặng người. Đôi vai của cô gái rung nhẹ. Lý kéo vạt áo lau dòng nước mắt, những tiếng nấc bật ra. Tự nhiên, Phong bị đẩy vào một tình trạng bối rối. Anh đặt bàn tay lên vai Lý, lay nhẹ: - Lý! Có chi mà cô phải khóc... Thôi nín đi, kẻo ai thấy. Cô gái ngước gương mặt giàn giụa nước mất lên nhìn Phong giây lát, thổn thức. - Anh tệ lắm. Rứa mà em tưởng... Đột nhiên Lý gục mặt vào ngực Phong, nức nở, Phong phải đỡ vội để cô khỏi ngã. Một sức nóng cuộn chảy. Anh nhận ra cả cái vị chan chát của nước mắt, mùi xà bông thơm vương lên mái tóc xõa ra rủ xuống đôi vai tròn lẳn. Rất lạ, anh gặp lại đôi môi lạnh lẽo, cuồng nhiệt của Lý đang chà sát khắp khuôn mặt anh. Lên trán, lên mắt, lên gò má nóng ran và tìm đến đôi môi anh. - Anh sợ ông Thoan hử? - Chợt Lý đẩy mạnh vào ngực Phong. Giọng nói của cô đã tiêu tan cơn xúc động. - Đừng sợ... Nghe em bảo. Phong cảm thấy những ngón tay mát lạnh của thị mơn man trên ngực mình... Gió thổi xào xạc đẩy đưa những tàu lá nón. Một đôi sóc đang giỡn nhau trên cành cây, dừng lại dỏng tai nghe và giương đôi mắt tròn xoe nhìn. Chợt dội lên tiếng cây gỗ bị chặt gãy chuyển răng rắc. Rồi tiếng động ầm vang dội vào vách đá, cây đổ ngã ào ào, tựa như một trận động rừng dữ dội ở phía trên sườn núi. Dường như tiếng động vào lúc ấy đã đánh thức Phong thoát khỏi trạng thái hôn mê, Lý cũng giật mình. Phong đỡ cô ta ngồi xuống tảng đá. Anh im lặng lượm những khúc đoác trắng nõn nhét đầy vào chiếc bao tải. Và chỉ nói một câu: - Em thông cảm! Anh không thể làm thế được... Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Mười Một, 2012, 03:09:25 pm * Phong với tay tắc công tắc rađiô. Trên sóng của Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam buổi Tiếng thơ vừa dứt. Đâu óc anh mơ màng, tưởng như âm hưởng của tiếng nhạc đệm, tiếng cô gái vừa ngâm bài thơ “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi còn chưa kịp tan quyện trong không gian nơi đây. Bài thơ đã làm anh xúc động. Nó khơi từ tiềm thức sâu xa niềm xúc cảm vô biên về đất nước, về dân tộc. Cái xôn xao của bầu trời thu Hà Nội hòa quyện với nỗi niềm bâng khuâng xao động trong tâm hồn người lính. Rồi có lúc anh tưởng như nghe thấy được cả tiếng chân người ngựa, tiếng gươm khua của đoàn nghĩa binh xưa, tiếng loa lảnh lót dóng vào đêm tĩnh lặng báo tin ngoài biên ải có giặc. Anh như nhìn thấy cả những người lính vệ quốc đoàn ra đi giữa buổi chiều mùa đông nhuộm đỏ ánh hoàng hôn, phía xa là đồn ải của giặc Pháp, là kinh thành Hà Nội chìm trong cơn lốc khói đen ngòm, cuồn cuộn bốc lên trời... Phong trôi theo dòng suy tưởng. Mắt anh dừng lại ở khoảng sáng bị bao quanh bởi tán lá cây xanh đen. Khoảng không gian méo mó, xô lệch, hiện lên ở đấy vô số những vì sao. Đêm lạnh. Nhưng không có sương mù, dường như những ngôi sao hiện lên rõ hơn. Có một ngôi sao to đỏ tím. Đất nước... Phải, trong mỗi con người đều có một miền đất nước của mình để hợp thành cái Đất Nước to lớn, rộng khắp. Nhưng bảo rằng đâu là miền đất nước của riêng anh bây giờ, thì khó nói được một cách chính xác là bầu trời, sông lạch vùng Lệ Thủy, có con sông Kiến Giang êm đềm chảy qua giữa những dải làng xanh ngút ngàn hay là cái vùng trời phía xa kia, miên giáp ranh với Huế. Ở một miền, anh rúc đầu tìm bầu vú của mẹ, uống hương đồng lúa thơm non sắp sửa vào mùa. Còn có một miền, máu của anh và bạn bè, máu của người anh yêu thấm vào đất đai cây cỏ. Phong không dám đoán chắc rằng anh sẽ yêu nơi chôn rau cắt rốn của anh hơn hay yêu bầu trời giáp ranh kia hơn. Mà việc gì phải bận tâm so sánh? Tất cả đều gần gũi, máu thịt, thân thương. Những người mẹ ở đâu cũng vậy thôi. Gót bàn chân đều nứt nẻ vì lội nước ruộng chua phèn, cắm cây lúa bằng ba đầu ngón tay ấn xuống mặt bùn mới bừa còn sủi bọt, tanh nồng. Cả cái hương vị đậm đà của hạt gạo cũng vậy. Chiến tranh như một lưỡi kiếm chém ngang chia đôi thực thể sống động, đồng nhất ấy. Mỗi con người đều phải tự khẳng định mình trên mảnh đất mình đứng chân, vượt qua những trở ngại ác hiểm, bằng máu, mồ hôi và nước mắt. Những dải làng xanh trông hiền hòa và thân thương biết bao, nhưng nó ẩn chứa cả sự chết chóc, giăng mắc những bẫy gài không thể lường trước của địch. Mắt anh lại gặp khoảng sáng mờ ảo. Ngôi sao đỏ không còn ở lại vùng trời ấy nữa. Thêm một ngôi sao, nhỏ hơn, sáng xanh long lanh như một giọt sương sớm... Chiếc võng của Phong sẽ động đậy ở một đầu. Anh hơi giật mình choàng ngồi dậy, có một bóng người mờ khuất sau gốc cây cột võng. Phong nhận ra ngay bóng đen ấy là Lý. Cô ta tiến thêm vài bước tới sát bên anh, ép sát người vào thành võng. Gương mặt Lý mờ mờ, mái tóc vẫn còn chưa khô nước. Thoang thoảng mùi xà bông Mỹ toát ra từ bộ quần áo lụa đen. Tiếng nói của cô gái lẫn trong hơi thở nhẹ: - Anh! Em nhớ anh... Lý nắm lấy bàn tay Phong và ngồi xuống một đầu võng. Người Phong hơi chao đi. - Đừng Lý ạ... Còn anh em... - Anh bảo nhẹ nhàng, và khẽ đẩy vào vai cô gái. - Kệ anh... Em không biết! Giữa lúc ấy một luồng sáng chiếu thẳng từ trên ngôi nhà sàn của Ban chỉ huy đại đội chụp lấp hai người. Tựa hồ như kẻ ngồi rình phục chỉ chờ đến giây phút ấy mới bấm vào công tắc đèn pin. Bóng tối bị xé toang lan rộng theo hình phễu. Quâng sáng phát ra chỉ cách họ chưa đầy mười mét. Đôi tay run rẩy, Lý hơi nheo mắt lại rồi chợt mở to nhìn chong chong vào nơi phát ra luồng ánh sáng. Chẳng khác nào chú hoẵng con bị tay thợ săn giàu kinh nghiệm đóng đèn. - Có chuyện chi rứa đồng chí Phong hè? Tiếng Thoan phát ra từ vùng tối, trong cửa sổ. Anh ta nhái giọng Huế chưa thạo. - Tắt đèn đi, thằng khốn! - Phong quát to. Giọng anh lạc đi. Phong cũng không hiểu vì sao anh lại hét tướng lên như vậy. Tiếng thét đánh thức những ngôi nhà xung quanh, âm vang trong tán cây rừng. Lý nhăn mặt lại rồi vùng bỏ chạy thoát ra khỏi quầng sáng gay gắt của cây đèn pin. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Mười Một, 2012, 03:11:05 pm * Trích biên bản họp chi bộ. “Mịch: - Tôi xin có ý kiến. Điều thứ nhất. Trong suốt thời gian “đại trưởng” đi theo B2 chúng tôi, đã tỏ ra là một người tích cực, gương mẫu. Anh Phong không nề hà gì công việc. Anh em tụi tôi mỗi người gùi năm chục ký, đồng chí Phong gùi năm chục ký. Đi chi viện cho trung đội 1 ở Khe Trăng, anh ấy cũng đi. Điểm thứ hai là “đại trưởng” sống chan hòa với anh em. Không ai tỏ ra điều tiếng gì. Điểm thứ ba: Còn chuyện tình cảm như đồng chí bí thư chi bộ nêu lên, tôi xin đảm bảo không có. Thoan: - Chẳng lẽ chuyện yêu đương trai gái đồng chí Phong lại đi báo cáo với đồng chí Mịch (có tiếng cười của một người nào đó). Các đồng chí trật tự. Xin mời đồng chí Phong. Phong: - Tôi phủ nhận những điều anh Thoan nói. Anh nói không đúng sự thật. Thoan: - Vậy giữa đêm khuya khoắt, vào lúc 11 giờ 5 phút tối hôm kia, đồng chí và cô Lý đã làm gì trên cái võng của đồng chí treo ở gốc cây lim, chẳng lẽ người ngồi trên võng lại không phải là cô Lý? Phong: - Cô Lý có tới chỗ võng của tôi nằm. Nhưng tôi xin lấy danh dự ra mà thề, lúc đó giữa tôi và cô Lý chưa xảy ra vấn đề gì đáng tiếc. Tôi cũng không phải lấy làm ân hận, hối tiếc về việc đó cả. Thoan: - Sao, đồng chí nói sao? Chưa xảy ra điều gì đáng tiếc... Thử hỏi tất cả các đảng viên ngồi đây. Ai tin được điều đồng chí Phong trình bày. Ai dám bảo đảm được giữa đồng chí và cô Lý chưa làm điều gì bậy bạ trước khi tôi bật đèn. Phong: - Vậy chính anh là người bấm cây đèn pin? Thoan: - Phải, chính tôi. Phong (cười mỉa mai): - Tôi vừa cảm ơn ánh đèn của anh. Tôi vừa ghê tởm... Tôi, tôi không thể ngờ rằng trên đời này, trong hàng ngũ người lính giải phóng còn có loại người như anh. Thoan: - Anh định nhục mạ tôi hử? Ông Mịch: - Tôi xin hai đồng chí đừng nổi nóng với nhau. Hỏa (trung đội B1): - Anh Phong... Liêu: - Anh Thoan... Các anh định làm cái trò gì thế? Phong: - Trước đây, tôi hoàn toàn không có ý nghĩ như vậy, nhưng điều anh Thoan tự thú nhận, tôi cảm thấy ghê tởm anh thật sự. Đồng chí với nhau mà anh xử sự như vậy thì... (Phong không nói hết câu ngồi xuống sạp). Thoan: - Tôi thiết nghĩ đồng chí Phong cần tự nghiêm khắc với chính bản thân mình thì tốt hơn. Các đồng chí ạ... Tôi tiếc rằng đã vội đốt lá thư của đồng chí Hải, một đối tượng sắp kết nạp nay mai của chi bộ chúng ta, nếu không thì các đồng chí sẽ được đọc những điều đồng chí Hải gởi cho tôi, chúng ta mới thực đau lòng, tiếc cho một cán bộ của đại đội bị sa vào vòng trụy lạc. Đại đội chúng ta đã cưu mang đồng chí Phong, thương yêu như anh em một nhà. Vậy mà đồng chí Phong không biết tự gột rửa những khuyết điểm đã sai phạm trước đây. Sai phạm ấy là gì? Bây giờ, với tư cách là một chính trị viên đại đội, kiêm bí thư chi bộ, tôi xin phép được trình bày trước toàn thể hội nghị đảng viên cốt cán: đó là tư tưởng cầu an, sợ chết chống lệnh cấp trên không dám xông ra tuyến đầu đánh giặc. Bây giờ về đại đội ta, đồng chí Phong lại mắc tội hủ hóa. Phong đứng bật dậy, trong tròng mắt anh hằn nổi lên những tia máu đỏ. Anh chỉ vào mặt Thoan: - Đồ bịa đặt, vu khống đê tiện... Anh có im ngay đi không. Tôi đấm vào mõm anh bây giờ... Ông Mịch: - Tôi xin các đồng chí. Hai đồng chí đều là cán bộ đại đội cả. Còn để cho anh em ở đơn vị người ta trông vào. Phong đứng vụt dậy. Không nhìn một ai, anh đi ra cửa. Đi ra được vài bước, anh còn nghe mấy câu cuối cùng của Thoan: - Nó là một con điệp!” Nhu hớt hải chạy từ dưới bờ suối lên, gặp Phong ở giữa đường: - Anh Phong! Anh có biết Lý đi đâu từ chiều qua không? Trưa nay không thấy nó về ăn cơm. Giờ cũng không thấy mặt mũi mô cả. - Tôi không biết! - Phong quát to - Cô đi tìm cô Lý mà hỏi. Nhu sợ. Nhưng cô ta vẫn còn đủ dũng khí để dằn mặt với anh “đại đội trưởng bị con Lý bỏ bùa mê thuốc ngải”. (Mấy chị em trong đại đội vận tải rỉ tai nhau như vậy!). - Là em hỏi rứa. Em không biết mới hỏi anh chớ. Biết mô Ban chỉ huy mấy anh cử Lý đi công tác - Không né tránh cái nhìn của Phong, cô nói luôn - Trong hầm của nó, gùi cũng không thấy. Rứa có lạ không kia chớ! - Cô lên mà báo với anh Thoan ấy. Như có linh tính, Phong quay lại ngôi nhà Ban chỉ huy đại đội. Anh bước lên sàn, không nhìn một ai, cũng không thèm để ý tới Thoan đang ngồi đọc lại biên bản cuộc họp chi bộ. Phong chui vào hang đá. Ngay trên cái móc treo thắt lưng, anh vẫn nhìn thấy vỏ khẩu súng K54 móc cạnh hai kẹp đạn và chiếc bi đông Mỹ sáng loáng, vẫn chưa tin, Phong bước tới mở nắp bao da. Trong ruột bao súng trống trơn. Khẩu súng K54 của anh đã biến mất cùng với hai kẹp đạn. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Mười Một, 2012, 03:13:26 pm 15 Phong không nghĩ rằng anh đang chạy. Chỉ khi nào mệt quá, anh mới đi chậm lại. Cũng không dám dừng. Đi ngang qua khe suối, khát nước Phong mới vục mặt uống lấy vài hóp cho đã khát rồi lại hộc tốc bước đi. Khẩu AK lúc Phong vác lên vai, lúc anh khoác ra đằng sau lưng. Anh không còn nhận ra mình đã vượt qua bao nhiêu con suối, bao nhiêu khe đá, leo lên những triền núi dốc để cố vượt tới cho được bờ Khe Lu trước khi trời sập tối. Đêm qua, Phong lần mò đi cả đêm. Cho tới lúc bụng đói thắt, mắt hoa, vả lại quãng đường rừng quá tăm tối anh mới chịu dừng lại leo lên một vạt đá nằm nghỉ lấy sức. Tính ra, mới hơn một ngày trời, trừ hai tiếng ngủ đêm, Phong đã vượt bốn chặng đường gùi. Vượt qua được Rào Trăng, tới Khe Lu. Phải cố để chiều mai anh có thể tới được bờ sông Bồ. Từ lúc phát hiện ra mất khẩu K54, Phong đã tự suy đoán mọi khả năng, nghĩ lại trong óc từng chi tiết. Sau đó, anh cả quyết: Thoan không thể là kẻ lấy cắp khẩu súng của anh để đề phòng trường họp bất trắc xảy ra trong lúc họp chi bộ. Tính võ đoán của anh ta cũng như sự hả hê, khoái trá của một kẻ tự cho mình sẽ là người chiến thắng, chiếm thế thượng phong trong việc dồn ép Phong nhận tội lỗi đã “hai năm rõ mười” làm cho đầu óc Thoan mê muội. Anh ta không đề phòng tới khả năng phản ứng mạnh mẽ của Phong, một con cọp bị dồn cùng đường thì hãy coi chừng sự phản trả của nó. Tất nhiên, Phong còn đủ tỉnh táo để tránh giáng một cái tát vào bộ mặt thô bỉ của Thoan. Mặc dù anh giận sôi lên. Nếu Phong không bước nhanh ra ngoài phòng họp, và nhìn thấy ánh mắt nửa như van lơn, nửa như xót xa của ông Mịch, của những người đảng viên trong trung đội 2, thì không biết sự thể sẽ ra sao. Và nếu không có tin báo của Nhu? Vậy ai là kẻ chui vào trong căn hầm lấy cắp khẩu súng ngắn? Chỉ có thể là Lý. Sau sự vụ đêm ấy, suốt ngày Lý không hề bước chân ra khỏi căn nhà hầm của cô ta dưới bờ suối, trừ những việc cần kíp cho bản thân. Nhu bảo Lý đau. Nhưng cả đại đội đều biết chuyện Lý mò tới võng của Phong. Lý nhục hay sợ? Phong điềm tĩnh hon. Vả lại anh tin vào việc làm chính đáng của anh và mối quan hệ với Lý. Có thể Phong là người có lỗi. Chỉ có điều Thoan đã lộ rõ bộ mặt đểu cáng và đê tiện. Mục đích của anh ta có ý định gì với Phong? Anh chưa biết. Nhưng khi phát hiện ra mình bị mất khẩu súng, Phong điên lên thực sự. Anh chạy một lèo sang chỗ ông Mịch: “Ông Mịch! Cho tôi mượn một khẩu AK với hai băng đạn. Mau lên!”. “Anh điên à?”. Nét mặt ông Mịch tái ngắt: “ Anh điên à? - Ông nhắc lại - Tôi van anh cần bình tĩnh...”. “Anh có tin tôi không thì bảo. Tôi không thèm đụng đến thằng Thoan đâu. Đối với nó, cuộc đời còn dài, người đời sẽ dạy cho nó. Anh lấy cho tôi khẩu AK!”. Giọng ông Mịch run run: “Nhưng anh làm gì mới được chứ?”. “Tôi đi bắt con Lý. Có khả năng nó lấy cắp khẩu K54 của tôi bỏ trốn về đồng bằng”. Cầm được khẩu súng và hai băng đạn, cứ vậy là Phong chạy như một kẻ phát điên, phát cuồng. Linh tính mách bảo cho anh, Lý chỉ có một con đường là tìm cách lọt qua tuyến giáp ranh để về đồng bằng. Đi tới 3 giờ chiều, đến ngã ba đường, một ngả rẽ về Phong Điền, một ngả rẽ qua Khe Trăng để ra sông Bồ, Phong phải đắn đo mất vài phút, vừa ngồi ăn đỡ khúc nõn chuối lót lòng, vừa tính toán. Lý người Hương Mai, cô ta không thể về Phong Điền. Con đường về đồng bằng Phong Quảng phải vượt qua dốc Chuối, Một Mái, núi Ông Đôn, vượt qua đỉnh Đức Mẹ ra vùng đồi trọc, còn phải vượt qua một cửa ải nữa là dốc Ông Già mới xuống được đồng bằng. Mỹ đang càn mạnh Phong Điền. Cô ta không dám liều với tụi thám báo Mỹ. Trong khi qua ngả Hương Trà, Lý chỉ cần vượt qua được sông Bồ về khu vực địa đạo 310. Từ đây ra đường 12 chưa tới hai giờ đồng hồ. Nếu không muốn đi ra đường 12, Lý sẽ từ địa đạo, vượt qua Khe Trái về ngã ba Hương Trà. Chưa tới nửa ngày, Lý đã có thể ung dung ngồi uống rượu với tụi lính ngụy ở ấp Long Hồ. Phong quyết định đi theo con đường Khe Trăng để vượt sang Khe Lu. Từ một dòng suối mẹ đổ xuống từ chân dốc Chè, dãy núi đá chắn giữa chẻ dòng suối thành hai nhánh đổ nước cho sông Bồ. Cả hai con suối đều lắm vực nhiều khe. Tuyến đường giao liên chạy ra sông Bồ để chuyển gạo đạn cho ngả Hương Trà, những người lính vận tải ai cũng biết. Đã có vài lần Lý gùi gạo theo trang đội ông Mịch đổ cho kho của huyện và trạm phẫu Nhô, Lý rành rẽ đường đất. Chả vậy đã có lần cô ta dừng lại bên sông (sau chuyến Phong giáp mặt với thằng Lân), nhìn thẫn thờ sang phía bờ nam, bảo với Phong: - Bên kia là đất quê em rồi đó anh Phong. Gương mặt Lý lúc ấy đượm buồn, khiến cho anh hơi mủi lòng. Lý còn kể: một lần Thoan đã cho Lý đưa ba người trong đại đội vận tải về tận hậu cứ của huyện gửi tiền về đồng bằng mua hàng. Chính điều đó đã củng cố cho Phong rẽ ra sông Bồ. Mới mờ sáng Phong đã trở dậy. Đêm qua anh chui vào trong một hang đá bên bờ Khe Lu ngủ tạm. Ông Mịch thiệt tốt, cùng với khẩu AK, ông còn dúi vào tay Phong hai bánh lương khô. Ngoài ra ông Mịch còn đưa cho anh cả chiếc xanh-tuya-rông, có một gói bông băng cá nhân và một con dao găm Liên Xô. “Đi đi, tôi sẽ báo cáo với ông Thoan sau” - ông Mịch giục Phong, vẻ sợ hãi trên gương mặt ông đã tiêu tan. Bây giờ ông lại lo sợ cho Phong bị tội mất súng về tay một kẻ chiêu hồi. Con dao găm thật lợi hại. Phong phát cây dọc đường và những buổi tối khi dừng lại, dùng để chẻ củi pấu nước uống, sưởi ấm. Con đường Khe Lu phải vượt qua bảy thác đá. Chính tại một doi cát, lần đầu tiên Phong đã nhìn thấy dấu dép nhỏ, thanh. Đích thị là dấu dép của Lý, cùng với một số dấu dép cao su khác, cỡ lớn hơn. Đi cho tới 5 giờ chiều, Phong đã vượt qua khoảng đồi tranh để đổ ra bến sông Bồ. Mệt và đói lả người. Anh vục đầu xuống uống mấy hớp nước sông. Trên bãi cát, in nhiều dấu chân đi đất. Cái gót thon, năm ngón nhỏ hơi xòa ra càng khẳng định những ước đoán của Phong, con đường vượt về đồng bằng của Lý là đúng. Khu kho của huyện nhận gạo không còn một dấu tích. Nó đã bị nát tan bởi hàng chục trái bom chồng chất lên nhau. Cây đá ngổn ngang. “Không biết thằng Lân có thoát chết?” - Phong cháy lên với ý nghĩ ấy. Bất chợt, từ mỏm đồi tranh ở sát mép sông vọng lên một loạt AR15 chát chúa, Phong tối cả mặt mũi, vơ vội khẩu AK lao nhanh vảo khe nước. “Địch!”. Những trái cối cá nhân nổ đỉnh tai, bụi cát tung mù mịt đúng vào chỗ Phong vừa đứng. Bản năng mách bảo anh phải thoát nhanh ra khỏi con suối đá, dù bờ đá cao có thể che chở anh khỏi những loạt đạn bắn thẳng trên đồi. Phong luồn lau lách, vượt chạy, chạy miết. Anh cứ bám theo dòng sông. Chưa đầy ba phút sau trên bầu trời đã lụi tàn ánh nắng xuất hiện ngay hai chiếc trực thăng chiến đấu. Sau một vòng lượn, cả hai chiếc đều sà thấp phóng rốc két và đạn 40 ly xuống dọc khe nước. Nép kín dưới một hốc đá sát bờ sông, Phong mới đủ tỉnh táo phát hiện ra một viên đạn thẳng đã xuyên qua phần mềm ở cánh tray trái. “Chắc hẳn là phát đạn đầu tiên của thằng lính thám báo. Chỉ có tụi Mỹ mới bắn xuya đến như vậy”, vết thương không nặng. Cánh tay trái chỉ hơi dại đi. Máu thấm ra áo đã cầm. Phong tự nguyền rủa rằng mình là kẻ sơ sểnh. Chờ cho đến khi tối hẳn, mặt sông đen sẫm, Phong mới lặng lẽ vượt sông. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Mười Một, 2012, 03:15:26 pm * Nhô nói: - Họ ngủ bên C4 cái hầm của anh Đại ngày trước ở. Anh còn nhớ chớ nhỉ? - Nhớ. Nhưng mi có thấy con Lý ở đại đội vận tải không? - Thì con Lý Hương Mai chứ anh định hỏi Lý nào? Nhô ngạc nhiên, ngáp ngủ. Phong đánh thức Nhô dậy giữa đêm khuya. Trạm phẫu vẫn còn, nhưng hậu cứ đã dịch chuyển lùi sâu vào gần khu vực địa đạo từ bữa máy bay AD6 bổ nhào ném bom bến Vượt. - Con Lý bỏ đơn vị trốn đi. Có khả năng chiêu hồi. - Phong giấu chuyện cô ta lấy cắp của anh khẩu súng ngắn. - Con nhỏ xạo thật. Nó đi theo mấy cậu trinh sát quân khu về tới đây. Ở đây cũng có hầm. Nó không chịu ở, đưa mấy anh trinh sát vào hậu cứ C4. - Hiện tại trong địa đạo có ai ở không? - Phong hỏi. - Chẳng còn ai cả. - Chợt Nhô bấm cây đèn pin vào tay áo của Phong. - Chết thật, anh bị thương à? - Tụi thám báo bắn trượt ở bên kia sông, hồi chiều. May mà không rạc gáo. - Anh để tôi xem vết thương rồi băng lại cho. - Này Nhô, cậu giúp tôi... Tôi đói lắm. Ba ngày nay vượt từ Hang Đá, đường tuyến về tới đây chỉ ăn độc hai bánh lương khô. Cậu coi thử còn cơm nguội cho tôi một bát. Thằng Phường y tá ở đại đội tôi cũ còn ở đây với cậu không hả? - Còn. Thôi anh ngả lưng xuống đây nghỉ tạm. Tôi chuẩn bị. Đừng sợ, Đường đất thế này. Bố bảo con Lý dám trốn. Mỹ giăng đầy ở Khe Trái. Mới cách đây ba hôm dưới huyện khiêng thương binh lên bị tụi Mỹ phục ở bên kia Khe Trái bắn cho suýt chết cả lũ. - Đứa mô bị thương? - Phong hỏi. - Thằng Mộc. - Thằng Mộc bị sao vậy? - Nó đánh nhau lạc dưới đồng bằng mười ngày trời. Bới khoai của dân ăn sống tìm đường về núi. Cu cậu không nhớ đường, đi lạc trong rừng. Lại còn bị một vết thương nhẹ vào ngực. Nó đạp đường luẩn quẩn loanh quanh thế nào lên Chóp Nón. Úi cha, tụi ngụy bắn cho chạy thừa sống thiếu chết. Thằng Mộc tụt xuống chân đồi nằm chờ tới đêm. Nó lại bò vào tìm được nhà bếp, ngồi chén một bụng cơm nguội, lấy trộm được bốn hộp thịt. Ăn uống no nê, cậu Mộc nhà ta tỉnh táo ra mới nghĩ tới trò gài mìn của con Hạnh bày... Anh còn nhớ con Hạnh chủ tịch xã Y không nhỉ? - Nhớ... - Phong đáp ậm ừ, hai con mắt anh cứ díp lại - Cậu kể tiếp đi, tôi ngả lưng một chút, mỏi quá... - Tụi thằng Cường, thăng Mộc, thằng Khản về xã của con Hạnh dạo trước ấy. - Biết rồi. - Thằng Mộc gài một dây sáu quả US. Gài xong cu cậu bò ra ngoài hàng rào tụt xuống chân đồi chờ trời sáng. Mới 5 giờ, chưa bảnh mắt, có một thằng ngụy trở dậy đạp nổ lựu đạn. Tụi ngụy choàng dậy. Cả đồi Chóp Nón y hệt như có một trận tập kích bằng hỏa lực. Anh tính đạn pháo còn nổ nữa cơ mà. Thằng Mộc lạc trong rừng vừa đúng hai mươi lăm ngày... Ơ cái ông này, ngủ rồi à? Quả thật, Phong đã ngủ. Tiếng ngáy của anh nhè nhẹ. Đầu ngoẹo về một bên, mái tóc xõa xuống trán. Nhô nhìn một lát gương mặt Phong, khẽ lắc đầu. Nhô rửa ráy vết thương và băng lại cho Phong. Hoàn toàn anh không hề biết. Chỉ tới lúc cô Hòa, y tá trạm phẫu lay gọi, Phong mới choàng mắt tỉnh ngủ. - Tôi ngủ lâu chưa hả? - Yên tâm, chưa tới một giờ. - Nhô bảo - Anh mệt quá mà. - Đã gọi cho tôi thằng Phưởng chưa? Trên sạp một người lồm cồm bò dậy, giọng ngái ngủ: - Em đây! Anh mới về à? - Phưởng hả? Chờ một lát. Tôi nhờ cậu có chút việc. Phưởng là y tá đại đội 1 ngày trước, sau bổ sung cho trạm phẫu Nhô. - Anh Phong ăn đi đã! - Hòa đưa bát mì chay nấu với cá hộp cho anh. Chỉ một loáng, Phong đã ăn hết nửa xoong mì. Trước mặt những người lính cũ và bạn bè quen thuộc anh không hề cảm thấy ngượng. Ăn xong, Nhô pha cho anh thêm một cốc sữa, Phong cũng uống cạn liền một hơi. Hòa ngồi bó gối trên sạp, nhìn anh ăn uống chỉ tủm tỉm cười. - Khiếp hả? - Phong đã lấy lại được phong độ và sự tỉnh táo nhìn Hòa - Tao nói thiệt, giá như trưa nay tao gặp được mi ở bên kia sông Bồ, tao cũng nhai sống mi vì đói. - Vết thương của anh nhẹ - Nhô bảo - liền miệng lại rồi. Máu anh lành thật, viên đạn xuyên qua bắp tay. Phưởng đã tỉnh ngủ, góp chuyện: - Hèn chi chiều nay thấy tụi “xương cá” bắn 40 ly như gõ thùng tôn. Tụi em cứ tưởng nó tới bắn kho huyện như mọi bữa. Phong kéo Nhô ra ngoài sân, kể hết lại mọi sự tình dã diễn ra ở đại đội vận tải. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Mười Một, 2012, 03:18:21 pm * Phong và Phưởng xách súng bước vào khu hậu cứ cúa đại đội 4, đồng hồ chỉ 3 giờ sáng. Nhô đưa cho Phong cây đèn pin. Suốt đoạn đường men theo con suối để tới địa đạo, cây rừng bị bom chém trơ trụi cành lá. Từ sau Mậu Thân 1968, đồi 310 có tên là đồi Địa Đạo, trong ruột quả đồi có hầm ngầm mở ra ba cửa. Hai tiểu đoàn công binh của quân khu đã phải làm việc cật lực suốt một tháng trời đào vét đất đá lát đà gỗ, dựng nhà hầm để chuẩn bị nơi đây thành cứ điểm chỉ huy tiền phương của quân khu Trị Thiên trong chiến dịch tấn công về Huế. vẫn còn vô khối dây điện, dây cáp ngầm trong các lòng hầm. Bộ phận quân khu rút đi. Tiểu đoàn 10 giao cho C4 đại đội hỏa lực làm hậu cứ đón gạo, đạn từ bờ bắc sông Bồ chuyển qua. Có thể coi vùng địa đạo 310 là đầu mối để đổ về Huế, qua các xã của huyện Hương Trà. Đường 12, con đường huyết mạch vào Huế do địch trấn giữ. Cánh cửa sắt cuối cùng giữ Huế là cứ điểm Động Tranh, Bình Điền. Đường chim bay về thấu Huế chưa tới hai mươi cây số. Mỹ thường chiếm điểm cao 360, kế cận địa đạo và thỉnh thoảng đưa một mũi sục vào hậu cứ đại đội 4. Tiếng là đại đội hỏa lực của tiểu đoàn 10, trên thực tế lính C4 đã bộ binh hóa. Hai khẩu đại liên Cơrimốp bất lực trước rừng rậm nhiệt đới, địa hình đồi núi hiểm trở. Bộ đội hàng ngày vác B40, B41 đi lùng sục cảnh giới, chốt chặn Mỹ trên các ngả đường dẫn vào địa đạo. Nhà cửa ngày trước ở khu vực địa đạo rất nhiều, nay đã hư nát cả. Dường như chỉ còn lại ba tuyến hầm ngầm là nguyên vẹn. Bom pháo bất lực, không đủ sức khoét sâu vào lòng núi. Hơn một năm mới trở lại vùng này, Phong không quên lối. Anh sục sạo, đi tắt cắt đường như trên đất nhà mình. Ba cậu lính trinh sát của K11 thuộc đon vị đặc công quân khu, treo súng trên đầu cọc thả sức kéo gỗ trong một ngôi nhà hầm đã bị sập một bên mái, Phong bấm đèn tới lay võng từng người. Họ tỉnh dậy rất nhanh, Phong xin lỗi và đề nghị được gặp người chỉ huy của nhóm trinh sát. Anh ta còn trẻ, ngoài hai mươi tuổi, dân Hà Nội, tự giới thiệu tên là Hoàng, chức vụ trung đội trưởng. Phong hỏi tới cô gái đi theo nhóm trinh sát đặc công. Hoàng nói ngay: - Lý nằm nghỉ ở ngôi nhà bếp sát mép suối. Phong kéo Phưởng đi ngay, Hoàng hơi ngỡ ngàng trong giây lát rồi cũng đeo khẩu AK báng xếp bước theo hai người. Căn nhà bếp lặng lẽ như tờ. Mái lá trải vàng ánh trăng lên muộn chiếu xuống khoảng đất trống trải, Phong bảo nhỏ với Hoàng và Phưởng dừng lại sau một gốc cây săng lẻ cụt ngọn. Anh lặng lẽ tuồn vào nhà, không một tiếng động. Căn nhà trống tron. Anh chui xuống hầm, ở đây cũng không có một ai. Nền hầm ngấm nước lâu ngày, sạp nứa đã mục và bốc lên mùi ẩm mốc khó chịu. - Cô gái của các anh đã chuồn rồi. Phong bảo với Hoàng lúc anh ta và Phưởng bước vào nhà. - Cô ta là ai vậy? - Hoàng hỏi không giấu vẻ ngơ ngác. - Là ai ư? Một con điệp, ta đưa lên cải tạo. Đã có lúc trở thành một chiến sĩ giải phóng, nay tìm đường trốn về. - Chiêu hồi à? Phong im lặng, bấm cây đèn pin quan sát bên trong gian nhà. Ba tảng đá đen khói. Những đầu mẩu củi cháy dở dang. Chiếc xoong nhôm và một chiếc ăng gô của nhóm trinh sát được cọ rửa sạch để vào một góc, Lý bỏ lại chiếc gùi trong đó có vải bộ đồ cũ, chiếc mũ tai bèo. Không có khẩu súng K54 của Phong. Khẩu K54 sẽ làm một chứng nhân cho Lý để trình diện với kẻ địch. Một cán bộ cỡ của cộng quân đã tìm đường về với quốc gia! ... Bây giờ, họ đã là một tổ ba người với ba tay súng. Phong đi đầu tiên, rồi tới Phưởng và Hoàng. Biết chuyện của Lý, Hoàng tức như bị bò đá, đòi Phong cho đi bằng được đuổi bắt con điệp. Họ cắt rừng ra đường 12, lối đi gần nhất, lại an toàn dẫn Lý nhanh thoát ra khỏi mọi cuộc truy lùng. Lý chưa thể đi xa. Cảnh giác, Phong không cho bấm đèn pin. Cũng may, vầng trăng muộn màng chiếu rọi xuống cánh rừng xuyên qua lớp lá cây trên đầu giúp cho họ nhận ra đường đi và những thân cây đổ rạp dọc đường. Một giờ đồng hồ sau, ba người đã tới những chân đồi tranh chạy dọc theo con đường 12. Chính trục đường này sau chiến dịch tổng tấn công Mậu Thân 1968, quân Mỹ, quân ngụy tỉnh đòn đã đưa xe tăng và đổ quân Mỹ bằng hàng trăm chuyến trực thăng lên càn vùng thung lũng A Lưới. Ngày ấy, đi đâu cũng đụng Mỹ. Địch không thể bỏ trục lộ đường 12, dù phải đổi bằng giá máu. Lưỡi dao thọc nhanh nhất về Huế, nếu bộ đội giải phóng có xe tăng và lực lượng bộ binh cơ giới. Cứ điểm Động Tranh - Bình Điền sẽ trở thành điểm quyết chiến, tựa như cái yết hầu giữ cho miền đồng bằng Huế bình yên. Từ Khe Dứa trở ra, có hàng chục con đường mòn cắt băng dải đồi tranh để tới đường 12. Chính điều đó làm cho nhóm của Phong phân vân. Lý sẽ ra theo đường nào. Và hiện thời cô ta đang ẩn khuất ở một chỗ nào đó trong cánh rừng xanh bạt ngàn kia. Càng về sáng, càng lạnh. Phong và Hoàng đã bò lên quả đồi tranh, vượt qua bãi cây đổ ngổn ngang tiếp cận được đường 12, Hoàng lần đầu tiên được được sờ nắn tận tay một “con đường của ngụy” (!). Mặt đường đá trống trải, phơi mình dưới ánh trăng trông càng trơ trụi, tẻ lạnh. Gió hun hút tràn về, phảng phất mùi cỏ tranh cháy khét và cả mùi cao su cháy. Trên một mỏm đồi trọc phía nam con đường, tụi ngụy gác đêm đang đốt lửa sưởi. Có thằng gõ liên hồi vào một chiếc cóng bơ gào thi với gió núi một câu vọng cổ. Ở xa Phong nghe câu được, câu chăng: “Em ơi! Đừng buồn mần chi. Đêm nay trên miền biên tái anh vẫn nhớ tới em, với làn môi êm..” Hoàng phì cười. Anh ta lượm một hòn đá, chẳng biết để làm gì. Hai người bò trở lại chân đồi tranh. Không còn có cách nào tốt hơn là chờ đợi. Phong chọn chỗ, phân công người ngồi phục. Anh luôn tự nhấn nhủ mình: “Cấm ngủ! Cấm được ngủ”. Chỉ vô ý ngủ quên đi là mọi việc trở thành công cốc. Anh thấy thương thằng Phưởng. Nghe chuyện của Phong nó đã gầm lên, đòi giết cho bằng được “con Lý” và “cho tay Thoan ăn đấm(!)”. Lính K10 là vậy. Họ hiểu Phong từng kẽ tóc, chân tơ, và yêu quý anh tới mức cuồng tín. Họ không sao hiểu nổi tỉnh lại đưa ra một quyết định vô lý, chuyển một anh đại đội trưởng bộ binh về đại đội vận tải? Họ nghĩ đơn giản: Người lính sống sót ở vùng giáp ranh nào khác chi hạt gạo trên sàng. Hàng trăm mạng người mới còn được một hai. Ngoài kinh nghiệm chiến đấu đã đành, nhưng mảnh đất ấy đã hóa thân, ngấm vào trong máu từng người lính giải phóng. Ấy là cái lý của cậu y tá, từng nằm chung hầm, ăn cùng mâm với đại đội trưởng cũ. Trời rạng dần, từng ngọn cỏ tranh hiện dần rõ từng đường gân lá. Phong căng mắt ra nhìn bao quát cả một khoảng rộng lớn. Hoàng ngồi thu lu, kế về phía bên trái, liên tục ngáp. - Kìa, anh Phong! - Phường chợt reo lên. - Để tao! - Phong cũng đã nhìn thấy từ trong vạt cây xanh ló ra một bóng người. Đích thị là Lý. Ả không vội vã, một tay vung vẩy, một tay nắm khẩu súng ngắn. Lý mặc chiếc áo màu xanh lá cây. Ống quần đen. Lý đi cách chỗ ba người ngồi phục chừng sáu mươi thước. Phong liếc nhìn Hoàng. Anh trinh sát đã lấy đường ngắm xạ kích hướng vào chiếc bia sống. - Để đấy tôi! - Phong khẽ nhắc Hoàng. Anh vụt đứng dậy chạy lên mấy bước, gọi giật giọng: - Lý! Quay trở lại! Không tôi bắn! Đang bước hăm hở nghe tiếng quát, Lý chợt khựng lại ngơ ngác. Chỉ một giây ả đã hiểu ra cái tình thế bi đát. Lý đã nhìn thấy Phong và Hoàng. Ả vụt chạy, hướng thẳng ra con đường lộ đang phơi mình trong không gian mờ sáng. - Đứng lại! - Phong quát. Lý vẫn chạy... Viên đạn AK nổ đanh, gọn, phá tan bầu không khí yên tĩnh của buổi sáng mai. Cả ba người đều nhìn thấy ả ngã sấp xuống vạt cỏ tranh cháy nham nở. Phong dặn Hoàng và Phường: - Chú ý cảnh giới địch, cần thì bắn yểm trợ. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Mười Một, 2012, 03:20:26 pm Phong lao nhanh tới chỗ Lý. Ả nằm nghiêng, mặt úp xuống đât. Khẩu K54 văng sang một bên. Tụi địch ở trên sườn đồi phía nam đã phát hiện ra tiếng súng nổ. Từ trên điểm cao, chúng quét đại liên xuống vùng đồi tranh. Đạn bắn tung cày đất, Phong cúi xuống lượm khẩu K54, và cả một cuốn sổ tay, nhìn qua, anh biết ngay là cuốn sổ ghi chép các số liệu của tay Thoan, Lý đã lấy cắp được. Anh bế Lý chạy ngược trở vào chân rừng xanh.
Bầy chim rừng chưa tỉnh ngủ bị đánh thức trở dậy bởi tiếng đạn nổ chát chúa, chúng vọt bay lên cao sải cánh kêu tao tác. Phong thiếp đi trong một giấc ngủ nặng nề, mê mệt. Tưởng chừng như tất cả mọi nỗi lo toan, căng thẳng và cả niềm phẫn uất, xót xa đều tiêu tan chìm đắm trong từng hơi thở đều đặn. Anh mơ thấy mình đang chạy bươn bả trên con đường dọc theo triền Khe Lu. Dưới vực sâu hàng vài chục mét, dòng nước luồn lách qua các gộp đá đổ xuống trắng xóa như một dải lụa. Con đường trên sườn núi khúc khuỷu hiểm trở chênh vênh. Vậy mà anh cứ chạy phăng phăng. Đôi bàn chân anh như lướt trên các mỏm đá. Đôi tay anh mọc ra hai cái cánh nâng đỡ thân mình bay trên ngọn thác nước. Có một cây bứa con mọc ngay cạnh đường, anh bứt vội lấy một cành lá bứa nhai lấy nước uống cho đã khát. Thấp thoáng hiện ra bóng áo xanh của Lý ở một đoạn xa. Lý đang nhảy từ bậc đá nọ sang bậc đá kia thoăn thoắt. Chốc chốc ả lại quay nhìn về phía sau. Phong chạy dấn lên. Anh sẩy chân trượt xuống vực, may sao anh nắm được một cành cây nhỏ, rồi đu lên. Đã có lúc anh muốn giương súng giết chết con rắn độc quái ác đó, nhưng nhớ lại bộ mặt của Thoan dương dương vẻ tự đắc, anh bèn thôi. Quyết phải bắt sống Lý cho bằng được, không thể khác, Phong tự khuyên nhủ lòng mình như vậy. Và anh cứ chạy. Nhưng kỳ lạ thay, bóng Lý cứ xa dần rồi ả tự biến thành một con cáo trắng bỏ rơi anh lại phía xa. Phong thét lên một tiếng... Anh thấy mình ngã xuống một bãi đá... Trời ơi! Sao Tâm lại ở đây. Cô ngồi bên anh và đặt một bàn tay lạnh như băng lên trán anh. - Anh yêu của em, răng anh phải chịu cảnh cơ cực như ri? - Cô nói, giọng nghẹn ngào. Phong khẽ lắc đầu, đôi mắt vẫn nhìn người yêu đăm đăm. Cả người Tâm nhẹ bẫng, cô biến thành một tấm lụa mỏng màu xanh bay lên cao. Phong rướn người đuổi theo Tâm nhưng cô đã bị gió cuốn đi... - Đừng khóc, anh yêu của em! Anh khóc em càng buồn... Thôi anh ráng đứng dậy, đi đi... Anh phải sống để trả thù cho em... Tiếng của Tâm tan hòa vào trong gió. Anh thấy bóng cô nhòa lẫn vào dải sương mù từ trên đỉnh núi đang tràn xuống lòng Khe Lu. - Tâm! - Anh hét lên, ỵùng dậy đuổi theo. Cho tới tận 2 giờ chiều, Phông mới tỉnh ngủ. Giá như Hòa không vào đánh thức, chưa biềt chừng anh sẽ ngủ luôn một lèo tới tối. - Anh Nhô nhủ em kêu anh dậy. Có mấy anh bên đại đội vận tải tới kiếm anh. - Vậy hả? Phong vẫn chưa buồn bước ra khỏi căn hầm có chiếc sạp nứa êm ái. Đầu óc anh trống rỗng, bâng khuâng. Phong vặn mình răng rắc. Phưởng nằm trong góc, nghe động cũng thức giấc. - Chuyện chi rứa anh Phong? - Không biết... Một giấc ngủ thiệt đã. Tao tưởng như mình đang sống dậy ở một kiếp khác. Phong bước ra cửa hầm, lên nhà. Anh ngạc nhiên nhận ra ông Mịch, thằng Hải y tá, và hai người chiến sĩ của trung đội 1. Phong mỉm cười nhưng cả bốn người lính đều giữ thái độ yên lặng. Trong quầng mắt sâu hõm của ông Mịch, đượm buồn. Phong thấy ông khẽ lắc đầu. Nhô cũng yên lặng. Chợt Nhô đẩy một tờ giấy gấp tư để trên bàn về phía Phong. Anh nhìn lướt qua bốn người lính của đại đội vận tải, rồi với tay cầm tờ giấy. - Hừ, lệnh bắt kia à... “Đã thông đồng với một con điệp nằm vùng, cả hai tên đã rủ nhau bỏ trốn về đồng bằng chiêu hồi, mang theo một súng ngắn K54, một khẩu AK và trước khi đi đã ăn cắp nhiều tài liệu mật của đơn vị”. Phong đọc to cho tất cả mọi người có mặt đều nghe. Rồi đột nhiên, anh cất tiếng cười ha hả. - Tuyệt thật, ông Mịch ạ! - Cuối cùng anh bảo. - Tôi đã hết lời khuyên can, ông Thoan đâu có chịu nghe. Ông ấy đã đánh điện về trung đoàn, về quân khu và đề nghị phát lệnh truy nã. - Sao ông không bảo, sẵn máy 15 oát đấy, đánh moóc cho cả nước hay biết, thằng Phong chiêu hồi... Thôi được, chỉ năm phút nữa, các ông sẽ tha hồ trói tôi, tước súng của tôi rồi anh em ta qua sông Bồ về gặp tay Thoan. Đồng ý vậy không ông Mịch? Chưa ai trong số bốn người của đại đội vận tải kịp mở miệng, tất cả đều giật mình, bởi tiếng quát dữ dội của Nhô: - Tôi là bệnh xá trưởng, chỉ huy ở đây. Kẻ nào động đến anh Phong, thương binh do tôi quản lý, tôi bắn. - Đừng nóng Nhô ơi! Việc đâu còn có đó - Trong giọng nói của Phong chứa đựng sự điềm tĩnh lạ thường - Xin mọi người theo tôi. Phong dấn lên đi trước. Quần áo anh đang mặc còn nguyên nếp hồ là của Nhô đưa cho anh mượn sáng nay. Bộ quần áo của Phong đã bị gai rừng cào rách tua ra như xơ mướp, thấm máu... Bước theo Phong là ông Mịch, thằng Hải và hai người chiến sĩ vận tải. Nhô vẫn chưa nguôi cơn giận. Anh đeo súng ngắn và theo sau anh là Phưởng, là Hòa và cả Hoàng cùng hai người trinh sát đặc công. Họ nghỉ lại ở hầm bên, nghe tiếng ồn ào chạy qua. Tất cả đều im lặng và dõi theo từng bước đi chậm chạp, điềm tĩnh của Phong. Phong đã tới bên bụi lá nón và bất ngờ cúi xuống giật phăng mảnh tăng ni lông trùm phủ dưới gốc cây. Xác Lý chết từ hồi đêm giờ đã cứng. Ả nằm úp mặt xuống đất. Tấm áo xanh loang máu ở một vạt lưng. Không gian lặng đi. Người ta có thể nghe thấy cả tiếng lách chách của đôi chim sâu nhảy chuyền cành trong một bụi mây và tiếng một con mang tác gọi mẹ đơn côi vọng lên từ một bãi cỏ bên sông Bồ. Hòa bật khóc thành tiếng. Cô y tá cứ cầm lấy một bên tay Phong ôm riết vào lòng, nức nở. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:09:39 am 16 Chiếc máy bay “cán gáo” rà thấp trên đỉnh tán cây rừng, quạt gió. Qua một khoảng trống sau bụi cây giang, mọi người đều nhìn rõ ô cửa vuông trên thân máy bay mở toang hoác. Thằng lính giữ đại liên ngồi chỏn lỏn trong đó, đội mũ sắt. Mũi súng chĩa ra ngoài. Cửa khoang lái mê ca, tên phi công để lộ ra chỏm đầu và một gương mặt sạm đỏ. Sườn đồi cỏ tranh bị cánh máy bay quạt đổ rạp rẽ ra thành một vệt dài. Cường nhìn theo hút thằng “gáo” cho đến khi nó chỉ còn là một chấm đen nhòa lẫn vào lưng núi phía xa. Anh khẽ ra dấu hiệu cho tổ đi đầu tiếp tục hành quân. Đội hình đi theo hàng một, cả thẩy chưa tới hai chục người. Có hai hỏa lực B40, còn lại tất cả mang AK. Một đội quân mạnh để họ gặp địch bất ngờ có thể đánh trả, hoặc đạp đường tránh. Cường được giao cho nhiệm vụ chỉ huy một đội quân hỗn hợp thuộc nhiều đơn vị khác nhau lên miền Tây. Bốn người của huyện đội đi gùi thuốc cho y tế và đạn B40. Ba anh trinh sát pháo K35, năm người trong đoàn cán bộ điều nghiên của tiểu đoàn đặc công quân khu về bám căn cứ Hòn Vượn. Còn lại tám tay súng đều là cán bộ, chiến sĩ cũ của tiểu đoàn 10, nhận lệnh về trạm trực quân khu chờ lệnh. Tin tiểu đoàn 10 được thành lập chẳng mấy chốc đã loang ra trên địa bàn các xã vùng ven Huế. Nhưng cho đến giờ chót, quân số ấn định được điều về quân khu mới được công bố tại huyện. Mà cũng còn đâu nữa? Anh em bộ đội ở lại xã, các đội biệt động đang phải nắm các cương vị chủ chốt. Mộc nằm trong số đó. Theo đề nghị của Hạnh và Cường, Mộc sẽ đảm đương xã đội trưởng, kiêm phó bí thư chi bộ. Hiện thời xã Y đã có được mười hai cô cậu du kích, ngoài ra còn có mấy tổ du kích mật trong các ấp cùng một loạt các cơ sở vững chắc được thành lập từ hai năm nay. Mộc không được về lại tiểu đoàn cũng tiếc, nhưng xem ra cậu ta hài lòng với nhiệm vụ mới. Vả lại, Hạnh đã làm bà mối kiếm cho Mộc một cô du kích của xã, mười bảy tuổi, mới rút từ dưới ấp lên được vài tháng nay. Cô gái tên là Huệ, quê ở Hương Cần. Cặp uyên ương gắn bó với nhau. Còn huyện đội trưởng Sửu sứt, chính trị viên đội biệt động thành phố Hai Ngọc, Đoàn chủ tịch xã Hương Thạnh, càng không muốn mất quân, chả ai muốn nhả ra những anh chàng lính cũ của K10. Vài năm nay về địa phương họ đã quen thung thổ, hoạt động hăng hái, có hiệu quả như bất kỳ một anh lính người địa phương nào. Cường và một số người khác có tên trong danh sách của cấp trên điều động trực tiếp. Anh đang nằm trong một lõm phía bên kia đường lộ. Hạnh về và đem theo lệnh điều động, kèm theo lá thư viết tay của chú Sáu bí thư huyện ủy. Chú nhắc nhở Cường phải bàn giao thật tỉ mỉ các cơ sở cho Hạnh và Mộc. Qua Ngật, Cường nhắn Phi về Liễu Thượng gấp, Phi đã bỏ Đà Nằng về Huế mở tiệm buôn. Cậu ta đã trở thành một cơ sở nội tuyến hữu ích cho cách mạng, cung cấp được nhiều tin tức có giá trị. Phi có một người anh làm việc trong Ban tham mưu của Bộ chỉ huy tiền phương Vùng I chiến thuật, đóng ở Mang Cá, tên là Trần Hữu Nam, đại úy. Nam là một trí thức, có tinh thần yêu nước. Vào những năm 1963 - 1964, khi còn đang theo học Văn khoa Huế, Nam đã từng tham gia phong trào học sinh, sinh viên. Rồi Nam bị bắt quân dịch, theo học trường sĩ quan Thủ Đức. Ra trường Nam bị điều về sư đoàn 23 ngụy, đóng ở Tây Nguyên. Ba năm sau nhờ lo lót tiền bạc, Trần Hữu Nam mới được đổi về Huế. Hạnh đã vài lần vào Huế để gặp Nam, sau đó cô giao lại đầu mối ấy cho chú Năm Đổng. Riêng Phi vẫn là người trong đường dây của xã Y. Nhiều “lõm” đã bắt đầu mở ra ở các xã. Tuy vậy, vùng giáp ranh trên xanh vẫn là đầu mối cơ bản. Hậu cứ của xã Y bây giờ chuyển dời về khe Đá Liếp. Đường đi đồng bằng được kéo gần lại rất nhiều. Xã tiếp nhận thêm bốn người từ ban B trở về. Họ là người địa phương, bị thương dạo Mậu Thân được chuyển ra Bắc điều trị. Lần đầu tiên, huyện có hẳn một đại đội chủ lực do anh Sửu trực tiếp chỉ huy. Các xã vùng ven đô Huế tình hình đã mát mặt hơn vài năm trước. Hạnh và Cường đều có thể trụ bám lại trong các lõm của xã cả tháng trời. Những lõm ấy nằm trong các làng hoang. Lõm cũng có khi ở ngay trong nhà cơ sở. Buổi tối hôm Hạnh về tới chỗ Cường thì đêm đã khuya. Cô ngồi soi cây đèn pin cho anh đọc thư của chú Sáu. Chú Sáu viết khá dài. Càng đọc gương mặt Cường càng sáng lên, và anh không giấu nổi niềm vui. - Trời! Vậy là tiểu đoàn 10 lại trở về, Hạnh ơi. Cường vô tình không nhận ra nét mặt buồn rười rượi của Hanh, đôi mắt cô thẫn thờ. - Rứa mà cũng nói - Hạnh nói giọng giận dỗi khiến Cường lúng túng. - Anh ở xã đã quen... Mấy đứa du kích mến anh... Anh đi, em thật không an lòng. - Lệnh điều động của cấp trên... Và em cũng phải hiểu cho anh. Anh và những người lính K10 không ai muốn bị xóa đi phiên hiệu, niềm danh dự của tiểu đoàn mình. - Thôi... Em biết rồi. Chừ là lúc anh chỉ muốn đi nhanh khỏi đây thôi. - Hạnh vùng vằng. - Đừng nói vậy, hơn hai năm trước anh với mấy đứa C1 về với em ra sao? - Thôi mà anh, đừng nói nữa... Và Hạnh bật khóc. Cô yêu anh. Họ chẳng còn gì để giấu nhau sau cái đêm Hạnh về Liễu Thượng tìm Cường, tại nhà Ngật. Thêm một ngày họ càng gắn bó với nhau hơn. Tình yêu thuần khiết kết liên hai người đã gắn bó với vùng đất này vào một thời kỳ cơ cực nhất. Niềm hạnh phúc lớn lao của họ là hợp sức nhau lại xây dựng cơ sở, phá banh từng kiệt, từng ấp giải tỏa ách kìm kẹp của địch. Hạnh biết công của Cường và những người bộ đội về xã không phải là nhỏ. Nhưng sự hiểu biết và bản lĩnh vốn có dạy cô biết kìm giữ. Không mong sao được khi thấy một ngày kia, những người lính K10 sẽ trở về đánh cho tụi ngụy những đòn sấm sét như dạo Mậu Thân. Đội hình bộ binh tiến về đồng bằng người đi rồng rắn dọc đường chiến lược như ngày nào. Đã tới lúc bộ đội cần những đạo quân chủ lực như vậy. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:10:56 am Nhưng Hạnh vẫn khóc. Bởi cô biết đã đến lúc phải xa người yêu. Nẻo đường chiến tranh đầy trắc trở, ít ra ở đây, hàng ngày cô vẫn có thể nhận được tin tức của anh, chăm chút cho anh những chuyện nhỏ nhặt trong cuộc sống thường nhật. Nói cho cùng cô không muốn mất anh.
- Sao em lại có ý nghĩ ấy? - Cường hỏi. - Chẳng qua là em sợ! - Hạnh thú nhận. Tất cả các nhóm hoạt động đơn lẻ tại đồng bằng, Hạnh cho gọi về hậu cứ trên núi chuẩn bị cho đợt học tập nghị quyết của khu ủy, nhân thể làm cuộc liên hoan chia tay với Cường. Hạnh viện cớ đau bụng bỏ bữa cơm chiều. Cô ngồi trên võng nhìn mười bốn tay súng của xã “về nhà” đông đủ. Cơm ăn thành hai mâm. Vậy mà những người cũ còn lại... Cô đã suýt bật khóc, lau giọt nước mắt của mình vào chiếc khăn mùi soa. Chị Điều, chú Miên, Dậu hy sinh, Khản bị thương ra Bắc. Số bộ đội “du kích hóa” nay chỉ còn lại Cường và Mộc. Giờ đến lượt ra đi của Cường. Rồi sẽ tới ai nữa? Trước chiến sĩ của mình cô vẫn nói cười vui vẻ, không muốn để lộ nỗi buồn và một tâm trạng bất an khi giờ phút chia tay với Cường mỗi lúc một gần. Từ chiều hôm trước, mấy cậu du kích đã về cơ sở bắt lên một chú heo choai. Xã liên hoan bữa cơm đoàn kết với đồng chí chủ tịch xã. Vài tháng nay ít có những lúc vui vẻ như thế này. Khi tiệc trà với kẹo đậu phộng đã tàn, những tay du kích láu lỉnh nhận được cái nháy mắt đầy ý nghĩa của Mộc tìm cách rút lẹ xuống hầm. Chỉ còn lại Cường và Hạnh. Cô giở chiếc gùi bạt của anh, xếp gọn ghẽ từng bộ quần áo, kem bót. Chẳng biết tự lúc nào Hạnh đã mua sẵn một chiếc võng đôi bằng vải pha ni lông màu xanh cánh trả. - Em lấy chiếc võng của anh - Hạnh bảo. - Võng cũ lấy làm gì vậy? - Cường hỏi một câu mà sau này, nghĩ lại anh mới thấy mình thực vô tình. - Em sẽ nằm chiếc võng của anh. Nếu rách, em sẽ giữ. Để làm gì ư? - Hạnh nhìn anh, hàng lông mày rướn cao - Mỗi đêm em sẽ nhận ra cái hơi ấm của anh... số anh là số cực. Ngày anh về xã giữa kỳ vất vả, bây giờ hơi mát mặt được một chút, thì anh lại đi. Em không biết rồi đây anh về đơn vị mới sẽ ra răng? Lúc anh lên cơn sốt ai sẽ là người lo cơm cháo, thuốc men. Ai ra rừng hái lá xông cho anh. - Ở đâu mà chẳng có anh em bạn hữu hả em? - Ai chẳng biết! Nhưng... - Hạnh không nói hết câu. Hình như cô khóc. - Đừng khóc Hạnh ạ. Em khóc làm anh buồn... - Anh còn nhớ cái đêm ta ở Thanh Lương về không? - Nhớ chứ! Cường sẽ gật đầu. Đêm mùa đông. Rét như cắt thịt. Chỉ có hai người, Hạnh đưa anh về Thanh Lương móc nối với cơ sở. Thực là những ngày đen tối của xã Y. Nhờ Ngật chuyển thơ, Hạnh đã gặp lại một đồng chí cũ vừa được địch thả về. Từ Thanh Lương đi lên, đến Liễu Nam trời đã gần rạng sáng. Hanh bị xóc gai, ngâm nước lội bùn, chỗ đau cương tức. Cường dìu cô đi. Vừa đói, vừa mệt. Họ đã làm một việc liều lĩnh, chui vào một vạt cây rậm rạp trong làng Liễu Nam trú lại. Trời mưa ri rắc suốt đêm, áo quần ướt sũng. Cường moi được một hõm đất, lót lá cho Hạnh nằm. Gần về sáng, Hạnh lên cơn sốt. Anh đã phải dùng hơi nóng của cơ thể mình sưởi ấm cho cô. Hạnh run rẩy trong vòng tay anh mê sảng. Gió bấc thổi ràn rạt trên đầu. Hai chiếc áo mưa không đủ làm cho họ ấm. Vắt cơm bới theo ngấm nước mưa, rời rã từng hạt. Họ ăn và đợi trời sáng. Lần thứ hai họ gần nhau, sau cái buổi tối ở nhà Ngật, Cường cảm nhận rất rõ sức nóng toát ra từ hơi thở trẻ trung của người yêu cùng với những giọt nước mắt nóng hổi và đôi môi khô nẻ của Hạnh. Tuyệt nhiên trong anh không hề bợn lên một ý nghĩ đen tối mà chỉ càng hiểu rằng số phận nghiệt ngã của chiến tranh đã đẩy tới cho anh một báu vật. Còn sáng hơn cả ngọc, trong suốt như pha lê nhưng lại là thứ vàng ròng được tôi rèn qua ngọn lửa của cuộc chiến đấu trên một vùng đất cực kỳ ác liệt. Ở đấy sự giả trá được coi như một hành vi độc ác và nó không thể tồn tại, ẩn khuất. Ở đấy mối quan hệ giữa con người với con người được ví như máu thịt tim óc trong một cơ thể sống hoàn chỉnh. Và tình yêu thương con người tự nó đã tạo nên một chất keo dính gắn bó mỗi mảnh đời khác nhau khi đã đứng chung một chiến hào. Họ không có thời gian để phân biệt tuổi tác, giới tính, vùng quê, giọng nói một khi trước mặt họ là kẻ thù đang giương lên khẩu súng, nhả đạn. Và họ tìm ra nhau, cũng như cả niềm khát vọng cả ước mơ, cả quá khứ tuổi thơ cũng như nồi buồn trong thực tại. - Hãy thương em! - Hạnh run rẩy trong một niềm hạnh phúc vô bờ chợt đến với cô. Cường hôn lên hai gò má, lên đôi mắt, lên vành tai, lên đôi môi còn giữ lại cái hơi lạnh của đêm đông. Họ nằm bên nhau. Hạnh gối đầu vào cánh tay anh, lặng lẽ nghe tiếng mưa rơi vỗ lộp độp trên chiếc áo mưa bỗng dưng biến thành một mái nhà xanh ấm áp. Từng lúc hơi nóng dâng lên tràn trề. Đôi môi của người con gái mềm lại. Và từng lúc anh nhận dần ra từng đường nét trên gương mặt của người yêu với tâm trạng hạnh phúc. Đây mới thực sự là người yêu của anh trên con đường đời tìm gặp. - Hãy thương em! Anh ơi. Cường lại hôn lên môi của cô. Hạnh thiếp đi trong một giấc ngủ chập chòm. Nhìn gương mặt cô ngời sáng ửng đỏ, hơi thở nhè nhẹ. Hiện hữu, cô đang ở bên anh. Đã biến đi tự lúc nào cô bí thư mà tụi ác ôn trong vùng nghe đến tên đều sợ. Cả sự nghiêm nghị, từng trải cũng biến mất khỏi Hạnh. Cô bên anh, nhẹ nhàng mỏng manh như thứ đồ vật dễ vỡ. - Anh ngủ đi... Em thức canh cho. - Hạnh bảo. - Anh không muốn ngủ một chút nào - Cường đáp - Ôi, anh cảm thấy niềm hạnh phúc. - Thật vậy ư? - Em không tin à? Họ nằm sát bên nhau, qua hai lớp võng, Cường thấy hơi ấm của Hạnh lan tỏa sang anh. Cường không nhìn đồng hồ, sợ thời khắc trôi nhanh và sợ hạnh phúc tan biến. Khi biết rằng trời sắp sáng, cổ họng anh khô rát. - Hãy thương em... Đừng bỏ em, anh ơi. - Cô nói trong ánh mắt long lanh. Hai người không còn để ý tới cả tiếng đạn cối 81 ly của địch trên đỉnh Hòn Vượn bắn cầm canh. Tiếng dội trong đêm khuya làm lay động cả cánh đồng. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:11:55 am * Cường đi giữa đội hình hành quân. Mắt anh dõi theo lưng áo người đi trước, nhưng thực ra đầu óc buông thả vói bao ý nghĩ ngổn ngang. Niềm vui được trở lại chiến đấu trong đội hình tiểu đoàn xen lẫn cùng với ý nghĩ về Hạnh, về Mộc... Hạnh đi tiễn Cường một đoạn dài. Cô hôn anh, bất chấp sự có mặt của anh tiểu đoàn trưởng đặc công vui tính. “Đi mạnh giỏi nghen anh Cường. Đừng quên giáp ranh... Cho em gởi lời thăm chú Hai Ngạn, anh Phong”. Hạnh không dám đứng lại, quay người, khoác súng chạy nhanh. Cường biết, Hạnh lại khóc. Hạnh gửi cho Phong hai hộp sữa và biếu chú Hai Ngạn cây thuốc lá Cô táp. Cô là người đầu tiên báo cho Cường biết những chuyện không hay của anh Phong xảy ra ở đại đội vận tải. Cường mới đầu không tin nhưng lá thư của anh Nhô gởi cho Cường qua đường dây giao liên chuyển về đã xác nhận chuyện đó là có thật. Chuyện loang tới những người lính bộ đội của tiểu đoàn đang bám trụ giáp ranh. Tất cả đều giận tay Thoan nào đó. Một nhóm chiến sĩ đi lên sông Bồ nhận đạn. Họ vượt ba ngày đường đi đến đại đội vận tải và bí mật tìm gặp Thoan. Gã chính trị viên bị một trận no đòn của những anh lính bộ binh anh ta chưa từng gặp mặt. Phong được trắng án sau vụ diệt con điệp lợi hại. Anh không bị kỷ luật. Nhưng bức điện của Thoan phát đi tới tai nhiều người. Không hề có một bức điện cải chính. Cấp trên hiểu được Phong, nhưng còn miệng lưỡi người đời? Những người lính cũ của tiểu đoàn 10 vốn trung thực và sòng phẳng đã không quên người đại đội trưởng của mình. Cường kể lại chuyện ấy cho Hạnh. Cả hai đều cười. Anh thầm biết ơn những người bạn nghĩa tình chung thủy. Nghe bảo Thoan còn viết đơn về Ban chỉ huy trung đoàn, về quân khu kiện “đám lính địa phương vô kỷ luật” (!). Đang lúc mải lo chống càn quân Mỹ đổ bộ lên miền Tây, chẳng có một vị pháp quan nào đi xử vụ kiện ấy. Chuyến đi này, Cường có nhiệm vụ đón Phong và thủ trưởng Ngạn. Hai người đang chờ anh ở viện 94. Bây giờ Hai Ngạn đã nhận nhiệm vụ chính trị viên tiểu đoàn 10. Chiến dịch đang nổ ra. Địch vẫn tiếp tục quẫy đạp, lồng lộn. Nhưng đã đên lúc những đạo quân chủ lực của ta cân tung ra những quả đấm quyết định không thể giữ mãi thế cài răng lược. Đi được một tiếng rưỡi đồng hồ. Cường phát lệnh nghỉ giải lao. Toàn bộ đội hình hành quân ngồi tài dài trên một bãi đá. Anh tiểu đoàn trưởng đặc công vui vẻ đi mời thuốc lá mọi người. Chỉ vài giờ nữa, họ sẽ ra tới sông Bồ. Nhìn nhũng người lính cũ của tiểu đoàn, Cuờng không khỏi mủi lòng. Hơn một trăm ba mươi tay súng bộ binh bổ sung về huyện xã ngày ấy, bây giờ gom lại chỉ còn độ hai chục người. Một số bị thương lui về tuyến sau. Còn phần đông đã ngã xuống trên những cánh đồng làng Hương Mai, Hương Vân, Phú Ổ, La Chữ, Văn Xá. Họ nằm trong lớp đất màu mỡ không để lại dấu tích bia mộ, trong những cánh rừng non, trên những vùng đồi trọc đầy sim mua, cỏ dại. Đá núi và lớp đất đá sỏi đắp lên những ngôi mộ xinh xắn giấu kín trong tán cây rừng, lẩn khuất giữa vạt lau lách miền giáp ranh bắc Huế. Ở đấy, cứ mỗi độ thu sang trên các triền đồi trọc, dưới thung sâu vào mùa lau trổ bông chỉ thấy bát ngát mênh mông trắng một màu. Cường ứa nước mắt. Tất cả những người anh hùng vô danh ấy, một ngày xa xưa gò lưng đeo chiếc ba lô trĩu nặng leo lên những đỉnh núi mịt mù của Trường Sơn, những “Cổng trời”, “1001”, “1009”... không ai sớm nghĩ đến một ngày kia máu họ sẽ hòa vào đất đai cây cỏ. Nhưng lại là sự thật nghiệt ngã của chiến tranh. Đoàn người tiếp tục lên đường. Cường vừa đi vừa lắng tai nghe ngóng đề phòng chiếc máy bay trinh sát lượn gần. Con đường chạy dọc theo suối đá. Bước chân người khua động trong nước lõm bõm. Một ngày không xa có lúc anh sẽ trở lại con đường này, về lại với vùng giáp ranh... Phía đó, đang dội lên tiếng pháo bắn. Đạn nổ âm vang giữa lòng rừng. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:14:08 am PHẦN HAI 1 Một ngày đầu năm 1973. Buổi sáng ấy trời không mưa. Mây mù đặc quánh phủ lên xung quanh một màu trắng như một chảo cháo loãng quệt lên những chỏm cây, mặt hồ. Người đi lại cách bốn năm mét không nhìn rõ mặt. Các dãy núi ở miền tây Phong Điền cũng chìm trong sương, trong khoảng không mông lung, vô định nhưng vẫn nghe rất rõ tiếng súng con, tiếng đạn cối, tiếng đại liên nổ từng tràng dài, lâu lâu lại vọng tới ở một nơi nào đó ở phía tây. Cái âm hưởng dữ dội, bạo liệt của chiến tranh đang diễn ra ở vùng đất này vào một ngày cuối năm, có chăng là những loạt pháo 105 ly của địch từ các cứ điểm dưới đồng bằng kiên trì bắn lên rừng đều đặn mười ỉăm phút một đợt, mỗi loạt năm quả không theo một tọa độ cố định nào cả. Xuyên qua cả làn mây trắng đục, lúc trái pháo nổ chớp lửa lóe sáng ở hướng đỉnh dốc Ông Già, Khe Tre, Một Mái, 165. Ở phía bờ nam sông Bồ là đất Hương Trà. Phía ấy, pháo còn nổ dữ dội hơn. Pháo Tứ Hạ, pháo Văn Thánh, căn cứ pháo binh Hòn Vượn nã không tiếc đạn lên ngả địa đạo 310, 360, Động Tranh, Bình Điền và xa hơn là Dốc Chè, Khe Trăng, Khe Lu, Côcava... Đạn pháo hạng nặng nổ âm vang rung , chuyển đất như những trận sấm kéo dài báo hiệu mùa mưa đang đến. Nhưng mùa mưa ở xứ này còn phải sáu, bảy tháng nữa mới tới. Một dải miền tây Phong Quảng, Hương Trà từ trục đường quốc lộ số 1 hắt lên là trận chiến của sư đoàn 324, 325 và các trung đoàn chủ lực của quân khu xen kẽ cài răng lược với các đơn vị lính dù, thủy quân lục chiến, sư đoàn bộ binh ngụy thuộc vùng I chiến thuật. Gần mười ngày qua, đã có hàng chục trận đánh lớn nhỏ nổ ra, các đơn vị chủ lực của ta được giao nhiệm vụ chiếm giữ các địa bàn hỗ trợ cho đợt “tấn công và nổi dậy giành đất cắm cờ” của các lực lượng võ trang địa phương và quần chúng cách mạng. Bây giờ dường như các trận đọ súng đã tạm thời lắng xuống. Trong một cánh rừng non ở vùng cát Phong Nhiêu, không gian yên tĩnh đáng ngờ. Quãng hơn 8 giờ sáng lũ máy bay OV10 của ngụy vè vè lượn đảo trên bầu trời nhưng chúng không thể ngờ, lẩn khuất dưới tán rừng thông đang được màn sương bao phủ có những người lính giải phóng đồn trú rất bí mật. Không một cọng khói bay lên. Không tiếng động gây ồn. Không lều bạt, hầm hào. Những anh bộ đội giấu mình dưới tán lá, ngủ vùi trong các hố cát. Chỉ những người làm nhiệm vụ cảnh giới, chốt gác ngồi giấu mình dưới các bụi cây ngoài bìa rừng theo dõi từng động tĩnh của địch. Gọi là rừng, thực ra cây mọc ở đây chỉ có những bụi phi lao, bờn bờn, dứa dại cao chưa tới hai mét, ken dày kéo dài hàng cây số trên các cồn cát hoang vu. Xen kẽ giữa các rừng cây thông non là các vùng đầm lầy và các làng hoang thuộc hai huyện Phong Điền, Quảng Điền, dân đã bị lùa đi từ ngày Ngô Đình Diệm xây dựng các ấp chiến lược. Sau chiến dịch Mậu Thân (1968), các làng nào dân còn sót lại ở phía tây đường lộ và vùng thôn quê hẻo lánh dễ bị Việt cộng đột nhập, tiếp tục bị lính ngụy càn quét, xúc đi một lần nữa đưa vào các ấp tân sinh, dưới sự cai quản của các đơn vị bảo an, dân vệ, phòng vệ dân sự... Ở trong các ngôi làng hoang không còn có ngôi nhà nào nguyên vẹn. Ruộng nương, vườn tược cỏ dại mọc đầy. Hơn hai trăm tay súng của tiểu đoàn 10 đang ém trú trong cánh rừng thông gần làng Hiền Lương. Họ về đây đêm qua sau năm ngày sáu đêm đánh chống càn quanh các làng ven vùng đầm phá Tam Giang. Tiểu đoàn bộ đóng quân trong làng Hiền Lương. Dọc theo các rặng tre sát bìa làng, những hầm hào công sự tác chiến được đào vội vã, chưa kịp ngụy trang. Những người lính của đại đội cối 82, trung đội B41 ngả lưng ngay dưới những lùm tre gai dày đặc chạy dài theo một rãnh nước sâu. Trung đội trinh sát trú chân trên một nền nhà, còn sót lại những bức tường cao hơn nửa thước. Họ dùng luôn bức tường làm công sự. Ở trong một căn nhà khác, còn sót lại nửa mái tôn cũng bị mảnh bom pháo, đạn thẳng bắn thủng nham nhở, lỗ chỗ là nơi đóng quân của tiểu đoàn bộ, chỗ ở của chính trị viên tiểu đoàn Hai Ngạn, cậu liên lạc và tổ máy 15 oát. Sau đêm hành quân, từ cán bộ chỉ huy đến người lính đều mệt mỏi, suy kiệt sức lực. Tư Nhất, tiểu đoàn trưởng không ở trong nhà. Ông và cậu công vụ ra nghỉ cùng tổ trinh sát, dưới gốc một cây mít lớn. Mấy cậu trinh sát đã sửa sang lại căn hầm trú ẩn cũ của dân để thủ trưởng tiểu đoàn có chỗ tránh pháo. Từ lúc 3 giờ sáng cả tiểu đoàn hành quân về tới đây không có một trái pháo nào bắn vào làng và dải rừng dương ngoài bãi cát. Có thể tụi pháo binh ngụy nghĩ rằng chẳng còn một Việt cộng nào đủ sức trụ lại dưới đồng bằng? Bộ đội và du kích chịu sao nổi những đợt tấn công bằng xe tăng, thiết giáp và những mũi tiến quân của các đơn vị thuộc sư dù, thủy quân lục chiến kết hợp với sức công phá qua hàng trăm đợt ném bom của máy bay A37, hàng vạn trái pháo bắn nát mọi tọa độ mà lũ OV10 chỉ điểm nghi có mặt quân giải phóng. Quân ngụy đâu biết rằng toàn bộ tiểu đoàn 10, tiểu đoàn 15 và một số đông các cán bộ huyện xã bám vùng sâu Phong Quảng bây giờ đang nằm lọt lại giữa đồng bằng. Bao quanh họ đâu đâu cũng dày đặc các đơn vị quân ngụy. Chính vì yếu tố bất ngờ, làng Hiền Lương và dải rừng dương ngoài làng trở thành noi đóng quân an toàn cho bộ đội. Ngay từ lúc đặt ba lô, Tư Nhất đã lệnh cho chỉ huy các đơn vị “Cấm nổi lửa, cấm gây tiếng động. Được phép sử dụng lương khô, mỗi người ăn không quá một bánh (0,25kg). sẵn sàng chiến đấu 100%. Hết!”. Bộ đội hy sinh đã được các đơn vị chôn cất xong. Thêm mười sáu thương binh cả nặng và nhẹ đã được tổ phẫu bố trí trong một ngôi nhà gần nơi đóng quân của tiểu đoàn bộ. Vấn đề sống còn của những người lính bây giờ là giữ cho được bí mật nơi trú quân từ giờ cho đến khi mặt trời lặn ở phía tây, tiểu đoàn sẽ lại tiếp tục hành quân lên rừng. Tối qua, trước lúc rút về đây, Hai Ngạn đã nhận được lệnh của trên: K10 phải mở đường đưa toàn bộ lực lượng lên xanh. Đọc xong bức mật điện, trao đổi với Hai Ngạn, Tư Nhất đã điều một tổ trinh sát và hai người du kích địa phương tách khỏi đội hình, đi soi con đường bí mật để đêm nay hoặc cùng lắm là đêm mai đưa toàn bộ đại quân lên rừng. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:15:15 am Hai Ngạn nằm lim dim mắt nhưng kỳ thực ông không ngủ. Năm đêm nay hầu như ông thức trắng. Đôi lúc mệt quá, ông có thiếp đi dăm ba phút rồi lại tỉnh ngay. Ban ngày trụ bám ở làng đánh chống càn. Đêm tới cả tiểu đoàn lặng lẽ rút sang một làng khác. Trong những trận tập kích đánh về làng, dù có bí mật bao nhiêu đi chăng nữa, bộ đội vào làng chỉ đến trưa là lộ. Dân chúng lo sợ bom đạn, chạy tản cư. Kéo ra ngoài đồng hoặc đi sang làng khác. Bộ đội về làng không lọt qua mắt của tụi tề điệp nằm vùng ở địa phương. Chúng mật báo cho địch, chỉ vài giờ sau các đơn vị quân ngụy ầm ầm kéo tới. Pháo cối dập vào làng. Máy bay bắn rốc két. Bộ binh theo từng mũi tiến vào. Súng lại nổ dữ dội. Tấn công quyết liệt, bên nào cũng chịu thiệt hại mà vẫn không chiếm được làng, chỉ đến khi nhá nhem tối, quân ngụy mới chịu rút. Đây là lúc bộ đội tranh thủ chôn cất tử sĩ, băng bó thương binh và lặng lẽ rời khỏi làng, vượt qua các chốt chặn của địch đến một địa điểm khác. Kể từ những năm 1966, 1967 và Mậu Thân 1968, lúc còn là một anh chính trị viên đại đội của tiểu đoàn 10, Hai Ngạn đã quá quen thuộc với những trận đánh chống càn ở Phú Vang, Hương Thủy, Phong Điền, Quảng Điền. Ông là một trong số ít người cũ của tiểu đoàn 10, còn sống sót đến bây giờ.
Tiểu đoàn trưởng Tư Nhất vai vẫn khoác chiếc bao dù, bước vào chỗ Hai Ngạn. Tư Nhất tháo chiếc bi đông Mỹ ở cạnh sườn và cầm luôn chiếc ca US rót nước. - Làm một chút nước gạo rang cho tỉnh, anh Hai. Hai Ngạn tợp một hớp nước, tiện tay vấn một điếu thuốc rê. - Anh cho tôi một điếu. Có bao Paman, lúc lội qua bãi sình, bị ướt cả rồi. Thứ thuốc rê của Hai Ngạn là thuốc lá trồng trên đất Phong Lai. Sợi vàng, nhiều nhựa, thơm nhưng rất nặng. Hai người lặng lẽ rít từng hơi thuốc lá. Tư Nhất bảo: - Nếu từ giờ đến 4 giờ chiều êm không có địch, ta cho thực hiện phương án B, anh Ngạn nhỉ? Đôi mắt Hai Ngạn đỏ kè vì thiếu ngủ hơi sáng lên. - Tôi đồng ý! Nhưng không được chủ quan. Lát nữa, ta nên phân công người xuống bám chắc các đơn vị. Có lẽ tôi xuống thằng C1. Anh ở lại đây trao đổi với thằng C4. Phân công anh Thủy đi C3. Tư Nhất gật gật mái đầu húi cua. - Tôi đồng ý. Một chiếc máy bay OV10 đảo vòng ngoài bìa làng và sà thấp xuống cánh rừng dương như có soi mói, dòm ngó. Tư Nhất đứng dậy đi ra chỗ mấy cậu trinh sát. - Vương đi C1. Lạc xuống C3 nhắc: Lệnh cho toàn tiểu đoàn giữ bí mật tuyệt đối. Đề phòng địch đổ quân càn. Chỉ khi nào chúng vào làng, phát hiện ra ta, mới được nổ súng. Hai người trinh sát khoác súng đi theo hai hướng. Tư Nhất đeo bao dù, xốc lại chiếc xanh-tuya-rông đã có sẵn khẩu K59, chiếc bi đông nước và mấy trái lựu đạn US đi ra phía rặng tre đầu làng. Nhìn dáng đi cà nhắc của Tư Nhất, Hai Ngạn không khỏi bật cười. Cũng vào dịp Tết năm ngoái, Hai Ngạn còn phải đóng vai chủ hôn để đi cưới vợ cho Tư Nhất. Đã ngấp nghé gần bốn mươi tuổi Tư Nhất vẫn sống trong tình cảnh “gã trai độc thân vui tính”. Chẳng phải anh ta kén chọn gì mà mải lo đánh giặc. Mười sáu tuổi, Tư Nhất đã phải lo trốn quân dịch. Được vài tháng trốn chui lủi khổ quá, trong một đêm bộ đội, du kích về làng, Tư Nhất nằng nặc bám theo mấy chú giải phóng lên rừng đi bộ đội. Lì lợm, gan cóc tía, chỉ mất hơn hai năm Tư Nhất đã trở thành anh đại đội trưởng đặc công của khu V. Bị thương nằm viện một thời gian, loanh quanh thế nào Tư Nhất được ban cán bộ Quân khu Trị Thiên bổ nhiệm về làm tiểu đoàn trưởng K10. Tiểu đoàn 10 được thành lập mới chỉ có bộ khung vài chục cán bộ, quân khu cho phép ra Quảng Bình nhận quân ở ban B và tân binh xây dựng tiểu đoàn, Hai Ngạn - bí thư đảng ủy đã ra nghị quyết “cưới vợ cho tiểu đoàn trưởng”. Tư Nhất nghe chuyện cưới vợ có vẻ khoái, chỉ cười. Không có ý kiến tức là đồng ý. Thêm một tuần lựa chọn mục tiêu và làm lễ ăn hỏi, đám cưới tiểu đoàn trưởng tiến hành ngay ở làng Sen, bên dòng sông Kiến Giang. Vợ Tư Nhất là một cô giáo dạy văn cấp II, sắp bước qua tuổi “băm” vẫn chưa có đám nào. Trai làng Quảng Bình còn có ai ở lại làng để làm rể. Họ vào bộ đội, thanh niên xung phong cả rồi. Cô giáo dạy văn cấp II lấy được một anh sĩ quan quân đội đã bốn lần đạt danh hiệu “dũng sĩ diệt Mỹ, diệt ngụy” còn gì hạnh phúc hơn. Đám cưới thời chiến chỉ có hai cây thuốc lá Tam Đảo, mười gói chè Hồng Đào, cân kẹo sôcôla do sư trưởng Chu Xuân Đới gửi tặng. Hai Ngạn đại diện cho nhà trai. Cường và Thiệu hai anh lính trẻ tay cầm quà cưới, đi theo Tư Nhất. Đám cưới không hoa, không pháo nổ. Nhà gái cũng chỉ dám giết một con cầy dăm ký, vài con vịt là xong một tiệc cưới... Vậy mà chỉ chín tháng sau, cô giáo ở làng Sen đã báo tin đẻ cho Tư Nhất một cậu con trai “giống anh như lột”. Tư Nhất vui khoe khắp cả tiểu đoàn bộ như chính anh ta đẻ ra thằng con nối dõi tông đường. Hai Ngạn lặng lẽ giơ chiếc túi ca táp bằng da lấy tấm bản đồ vùng bắc Huế trải rộng trên nền nhà. “Phương án B, nghĩa là toàn bộ cánh quân phía bắc trong đó có K10 của ông lên xanh... Đây... ta đang ngồi ở đây. Chân dốc Ông Già... Đâu nào?... À đây rồi. Trong tấm bản đồ quân sự, khoảng cách từ làng Hiền Lương lên tới đỉnh Đức Mẹ dài chưa tới một gang tay. Những ô vuông màu xanh biểu thị núi non, rừng rậm. Những vệt trắng biểu thị ruộng đồng, đầm lầy. Vệt chỉ đen cách quãng chạy sát chân núi đấy chính là con đường đổ đá cấp phối, đường đất đỏ được làm từ hồi Diệm còn sống trong chiến dịch xúc dân lập ấp chiến lược. Dân địa phương gọi con đường này là đường chiến lược kéo dài từ bờ nam sông Ô Lâu kéo tới sát sông Bồ, vắt qua Hương Vân, Lai Bằng, bọc quanh các xã Hương Thạnh, Hương Thái, Hương Mai tiếp giáp với sông Hương. Con đường chiến lược còn kéo dài, vắt qua Hương Thủy. Khi xây dựng tuyến đường này bảo vệ cố đô Huế, người Mỹ và quân ngụy hy vọng sẽ tạo ra một vành đai ngăn cách Việt cộng với dân. Con đường dùng để đố quân, đổ xe tăng thiết giáp lên càn quét vùng giáp ranh. Có đường và đưa quân lên chiếm giữ các điểm cao ở miền tây bắc Huế, các sư đoàn lính dù thiện chiến của Mỳ, của ngụy tổ chức nhiều trận càn, có lần đánh ra tận đường tuyến nhưng rút cục quân Mỹ, quân ngụy vẫn bị bộ đội giải phóng đánh cho tơi tả ở Dốc Chè, Côcava, Núi Bông, Động Tranh... Các ấp chiến lược rồi đến ấp tân sinh liên tục bị phá. Bộ đội du kích đêm đêm vẫn vượt qua con đường chiến lược để về làng đánh địch, mua gạo thực phẩm”. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:16:25 am Đêm nay hoặc đêm mai các đơn vị của tiểu đoàn 10 phải vượt qua một quãng đường hơn hai mươi cây số để lên rừng. Năm ngày trước K10 cũng từ chân núi Đức Mẹ làm lễ xuất quân để về đồng bằng đánh địch. Lúc ấy, con đường về đồng bằng, vượt qua dãy bình độ 28 rộng thênh thang không có đơn vị nào của ngụy chốt giữ. Bộ đội trung đoàn 2, trung đoàn 3, trung đoàn 4, các đại đội của tỉnh, của huyện đánh về các làng, ấp vùng sâu như thọc vào chỗ không người. Nhưng bây giờ trở về rừng mới cam go làm sao! Hai Ngạn thừ người và không khỏi lo lắng. Hai mươi mấy cây số dọc theo tuyến đường quốc lộ số 1, từ cầu Mỹ Chánh đến cầu Hiền Sĩ dày đặc các đơn vị lính dù chốt giữ. Dải đồi thấp bình độ 28, bằng ống nhòm Hai Ngạn cũng nhìn thấy san sát những mái lều bạt của lính dù ngụy. Trong cuộc chiến đấu cắm cờ, giành dân, các đơn vị bộ binh thiện chiến của trung đoàn 2, sư đoàn 324 cũng chỉ giữ được tuyến đường 1 có mấy ngày. Những trận đánh quyết liệt, giành giật từng bụi tre, gốc mít, từng bờ tường ở làng Cổ Bi, Thanh Tâm, Hiền Sĩ của bộ đội với các tiểu đoàn dù diễn ra quyết liệt. Máu đổ trên cầu Dài, quận lỵ Phong Điền, chợ Sịa. Những ngày vừa qua, K10 phải lo đánh địch. Ban chỉ huy tiểu đoàn cũng như những vị chỉ huy cánh bắc chưa có được một thời khắc nào để rút kinh nghiệm cho những trận đánh không cân sức giữa ta và địch. Cũng chưa ai nghĩ tới việc xem xét đánh giá “chiến dịch giành đất, giành dân cắm cờ” ta thắng hay thua. Nhưng có điều này Hai Ngạn tự rút ra cho riêng ông
- Hình như, phía sau Hiệp định Ba Lê, ta cũng chưa đánh giá hết thực lực của quân ngụy sau lúc người Mỹ đã cuốn cờ rút đi. Cuộc hành quân đêm nay cũng là một trận chiến đấu không kém phần gay go, dữ dội. Chỉ cần sơ sểnh mất cảnh giác, bộ đội của K10, K4 và hàng trăm cán bộ du kích, biệt động huyện xã sẽ bị các đơn vị lính dù, thủy quân lục chiến ngụy đang rải dày đặc quanh vùng giáp ranh Phong Quảng bao vây, tiêu diệt. Hai Ngạn vừa nghĩ, vừa quấn thuốc. Miệng ông đắng nghét. Chưa có một hạt cơm nào vào bụng đã hai ngày nay, nhưng ông không thấy đói. Thỉnh thoảng ông nhấm nháp miếng lương khô và nhai vài viên Vitamin tổng hợp. Ông khẽ lay cậu công vụ đang nằm ngủ vùi ở một góc nhà. - Này Thiệu! Dậy anh bảo... Thiệu lồm cồm bò dậy và động tác đầu tiên là khoác ngay chiếc thắt lưng bao đạn và cầm lấy khẩu AK báng gấp. - Anh bảo gì ạ? - Em xuống ngay chỗ 15 oát, hỏi có tin tức gì của đại đội 2 chưa? Loáng một giây Thiệu đã đi khuất sau bức tường thấp ra chỗ hầm của tổ điện đài. Những ngày qua, tiểu đoàn không nhận được tin tức gì của đại đội 2 làm nhiệm hỗ trợ cho việc giành đất, cắm cờ ở Hương Trà. Phong, Quảng Điền và Hương Trà là vùng cánh bắc Huế, nhưng bị chia cắt bởi con sông Bồ. Các đơn vị quân giải phóng, địa phương gần như phải độc lập tác chiến. Trong số bốn đại đội của K10, đại đội 2 được biệt phái dưới sự chỉ huy của Phong tiểu đoàn phó sang hỗ trợ cho huyện ủy Hương Trà. Hai Ngạn đã tìm cách liên lạc với ông Sáu Thọ, bí thư huyện ủy, để coi thử tình hình thằng C2 ra sao cũng không liên lạc được. Không nói nhưng ai cũng hiểu tình hình “giành đất, cắm cờ” ở Hương Trà cũng không suôn sẻ gì. Mảnh đất Hương Trà đối với Hai Ngạn và những người lính tiểu đoàn 10 có nhiều gắn bó, kỷ niệm. Sau những ngày chiến đấu ở cố đô Huế, Phú Vang trong chiến dịch Mậu Thân, hai tiểu đoàn chủ lực của Công trường V là K10 và K4 được Bộ chỉ huy vùng giao nhiệm vụ trụ bám trên địa bàn hai huyện áp sát ven đô Huế. K4 ở lại Hương Thủy. K10 về với Hương Trà. Đội hình của trung đoàn tiếp tục bị chia cắt bởi con đường 12 và dòng sông Hương. Gần như tiểu đoàn 10 phải độc lập tác chiến. Đại đội 3 trụ bám vùng giáp ranh Hương Trà, Phong, tiểu đoàn phó trực tiếp chỉ huy. Trong Ban chỉ huy của tiểu đoàn không ai hiểu rõ Phong bằng Hai Ngạn. Và có lẽ, Phong là một trong số ít những người lính cuối cùng của tiểu đoàn 10 từng sát cánh kề vai với ông từ những năm 64 ở chiến trường Trị Thiên - Huế. Khi ấy Hai Ngạn còn là một anh chính trị viên trung đội, Phong là tiểu đội trưởng tiểu đội cối của đại đội 3. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:18:42 am Trải qua những trận đánh chống càn, về giải phóng vùng cát Phú Vang, Hai Ngạn lần lượt được đề bạt lên làm chính trị viên phó, rồi chính trị viên đại đội, Phong cũng được bổ nhiệm là trung đội phó, rồi trung đội trưởng... Chỉ đến khi Phong không chấp nhận về chỉ huy một đơn vị vũ trang địa phương, anh nhận án kỷ luật của trung đoàn, được điều về một đơn vị vận tải dọc theo tuyến sông Bồ, hai người mới chia tay nhau. Hai Ngạn về Ban chính trị của trung đoàn đóng ở bờ nam sông Hương, ít khi nhận được tin tức của Phong. Nhưng cái chuyện “Phong có tình ý, lăng nhăng đi lại với một nữ tề điệp nguy hiểm và có âm mưu theo cô ta về đồng bằng chiêu hồi địch” thì lại đến tai Hai Ngạn rất sớm. Chỉ vài nhịp gõ vào bàn phím của anh báo vụ 15 oát, được anh cơ yếu soạn thảo theo lệnh của Thoan, vài phút sau tin Phong có ý định chiêu hồi đã loang ra cả Ban tác chiến, ban chính trị của trung đoàn. Ông Một - trung đoàn trưởng nổi tiếng gan lì dũng cảm nhưng cũng khét tiếng độc đoán, nghe xong tin điện, đập manh tay xuống chiếc bàn làm bàng sạp lồ ô, chiếc bi đông rượu của ông đặt trên mặt bàn nảy tưng như một trái bóng ten nít, lăn xuống sàn nhà.
- Thằng này láo! Bắt được bắn bỏ. Ông trung đoàn trưởng quay sang cậu cần vụ đang sơ xanh mặt, lượm chiếc bi đông rượu dựng vào góc sạp. - Đưa đây cho tao! - ông trung đoàn trưởng không nói không rằng mở nắp bi đông tu một hớp. Giọng ông rành rẽ từng tiếng - Mi sang nhà tham mưu gọi thằng Bậu, thằng Ngạn sang tao biểu. Không được chậm một khắc, rõ chưa? Cậu công vụ đi theo ông trung đoàn trưởng được vài năm nay, người Mường Thanh Hóa, nhanh như một con mèo rừng, khoác cây AK báng gấp thoắt xuống chân đồi. Chỉ chậm chân coi chừng ăn cây gậy hèo của thủ trưởng. Cuộc gặp mặt với trung đoàn trưởng chỉ có Hai Ngạn. Anh Bậu - tiểu đoàn trưởng cũ của K10 đang đi về đồng bằng với bộ đội K4. Mới giáp mặt nhau, ông trung đoàn trưởng chìa ngay mảnh giấy ra trước mặt Hai Ngạn: - Mi biết chữ, đọc đi! Tao mù chữ nhưng không có những thằng lính như ri! Trước mặt trung đoàn trưởng Một bao giờ Hai Ngạn cũng có cảm giác sợ sợ. Thật ra đấy là trạng thái tâm lý ngần ngại thì đúng hơn. Không chỉ ông trung đoàn trưởng hơn Hai Ngạn một con giáp mà như thể ông ta có thể nhìn soi thấu vào tận tâm can của ông, biết ông nghĩ gì. - Mi nghĩ răng về chuyện ni? - Ông trung đoàn trưởng hỏi Hai Ngạn sau lúc bập vài hơi thuốc lá Rubi, nhả khói thơm lựng. Hai Ngạn trao lại cho ông trung đoàn trưởng tờ “điện mật” rồi nói: - Thưa thủ trưởng, tôi không tin thằng Phong hỏng đến mức này! - Chả lẽ, điện từ cánh bắc sang đây là điện láo... Nói như mi, thế có mà loạn... Hai Ngạn thu hết can đảm nói với ông trung đoàn trưởng đang có dấu hiệu nổi nóng: - Thủ trưởng không nhớ, chính anh đã đọc quyết định kết nạp thằng Phong vào Đảng khi trung đội của nó suốt cả ngày trời chặn đứng mũi tấn công của tụi Mỹ ở quán cơm Âm Phủ sao? Một thằng đại đội trưởng đã cùng anh chui hàng rào cả chục lần vào cứ điểm Động Tranh lấy thịt hộp Mỹ, bao lần lên phương án tập kích; đánh về ấp chiến lược. Một người lính như ri không thể nào là thằng phản bội được. Tôi ngờ rằng có chuyện gì ẩn khuất ở đây. Còn cái chuyện cậu Phong chống lệnh về địa phương thì rõ rồi... Ông trung đoàn trưởng nghe Hai Ngạn nói vậy, vụt đứng dậy. Mặt ông đỏ gay, không hiểu vì rượu hay vì tức giận. Ông ta không bước tới chồ Hai Ngạn đang ngồi mà đi ra khỏi căn nhà hầm ẩm thấp, chật chội, đứng dưới gốc cây lim già dụi mẩu thuốc lá mới cháy một đoạn vào thân cây, giọng lẩm bẩm: “Mi nói như con c...! Nhưng nghe ra có lý...”. Mười lăm ngày sau, ông Một dẫn đầu một toán tám người cùng với một tổ trinh sát, cơm đùm gạo bới, cha con đạp đường 12 qua địa đạo 310, vượt sông Bồ lên tuyến vận tải Hang Đá - Rào Lu, Rào Trăng để tìm cho ra sự thật. Đến trạm phẫu bờ nam sông Bồ, đoàn tùy tùng của ông Một dừng lại nghỉ một đêm, một ngày. Ông đi kiểm tra lại hệ thống địa đạo ba cửa nằm sâu trong núi được công binh quân khu đào chuẩn bị cho cuộc tấn công mùa xuân 1968 về Huế! Hơn một năm, khu địa đạo vẫn còn, nhưng bị sụp lở nhiều đoạn. Đỉnh đồi 310 bị bom đào khoét, có hố sâu hàng chục thước, nhưng không khoan thủng được địa đạo. Một cửa địa đạo hướng bắc đã bị tụi lính thuộc sư đoàn dù 101 của Mỹ khi đưa quân lên càn chiếm điểm cao 360, Động Tranh, Dốc Chè đã mang thuốc nổ gài phá sập... Ông Một bảo mấy anh cán bộ tham mưu đi theo: - Các cậu phải tìm cách giữ cho được khu địa đạo này. Còn có lúc ta cần. Nếu sợ tụi thám báo Mỹ sục sạo vào đây ta cho công binh gài mìn. Tao nhắc lại tụi bay - sẽ đến lúc ta lại xài đến nó. Trạm phẫu đón thủ trưởng trung đoàn bằng một nồi canh chua nấu cá. Cơm ăn thỏa thích, không hạn chế. Trong căn hầm đào nửa nổi nửa chìm, y sĩ Nhô đã kể lại tường tận cho ông Một và đoàn cán bộ trung đoàn chuyện của Phong truy đuổi Lý và bắn chết cô ta lúc chạy ra đường 12 hàng giặc. Chuyện bất hòa giữa Phong và Thoan ở đại đội vận tải... Càng nghe chuyện, gương mặt ông Một càng tái đi. Ông không nói một câu, lặng lẽ ngồi uống rượu và đốt thuốc lá, trong lúc mấy anh cán bộ tổ chức của trung đoàn cắm cúi ghi chép. Ông Một thỉnh thoảng lại đưa mắt nhìn Hai Ngạn. Vết sẹo trên mặt ông hằn đỏ như một vệt chém. Điếu thuốc lá trên môi ông cháy đỏ. Hình như đêm ấy, ông trung đoàn trưởng không ngủ. Ông hút thuốc và uống cà phê. Trời chưa sáng rõ, ông Một đã dậy lay võng gọi y sĩ Nhô. Ông gọi luôn Hai Ngạn và cậu công vụ. - Mộ con Lý chôn ở mô? - Ông hỏi Nhô. - Chôn ở vạt rẫy sát bờ sông, thủ trưởng ạ! Ông Một khoát tay: - Tụi bay lấy súng, tao muốn ra mộ con Lý. Không một ai, kể cả Hai Ngạn dám hỏi ông Một tại sao lại đi thăm mộ của một “con tề điệp” gây nên bao chuyện động trời. Vạt rẫy cũ của đồng bào ở sát bờ sông đã bỏ hoang từ lâu. Đây là nơi chôn cất những người lính K10 và du kích, bộ đội địa phương huyện Hương Trà chiến đấu dưới đồng bằng bị thương, đưa lên được tới trạm phẫu cánh bắc nhung không qua khỏi cái chết. Mộ Lý được chôn ở một góc, cách xa với mộ những anh bộ đội. Lớp đất đắp chưa xanh cỏ, không bia bảng... Ai đó đã đặt lên đầu ngôi mộ một hòn đá, như thể làm dấu. Ông Một đứng tần ngần một lát, rồi nói như nói cho mình ông nghe: - Tội nghiệp cụ phó cối làng Mai, nuôi con không nên người. Cụ cũng đã từng là cơ sở cách mạng của ta từ thời chống Pháp đấy các đồng chí ạ... Cha hổ sinh ra con chó... Nó không nên người cũng còn là lỗi tại ta... Tại ta tụi bay ơi! Này Nhô, mai mi sai lính làm cho nó tấm bia. Nhô nhanh nhảu hỏi: - Để làm chi thủ trưởng...? Ông Một nhìn thẳng vào mắt Nhô nói dằn từng tiếng: - Mai ngày thống nhất, gia đình người ta có hỏi, ta còn biết chỗ mà chỉ cho họ lên đưa hài cốt về... - Một lát sau, ông nói tiếp - Nó có hư hỏng, thối tha cũng là một con người, Nhô ơi! Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:19:22 am Đại đội vận tải được lệnh nghỉ một ngày để dưỡng quân, nghe thủ trưởng trung đoàn nói chuyện về tình hình trong nước và quốc tế, tình hình chiến sự. Buổi chiều chi bộ Đảng họp để phân tích, phê và tự phê bình của Ban chỉ huy đại đội. Thoan vẫn nghĩ, ông Một và đoàn cán bộ trung đoàn chưa biết gì, tin vào bức điện anh ta báo cáo chuyện của Phong và Lý. Chắc chắn phen này sẽ tống khứ được Phong đi khỏi đại đội vận tải. Suốt cuộc họp, Phong ngồi ngậm tăm, nét mặt lạnh lẽo, liên tục hút thuốc. Một số cán bộ trung đội, đảng viên thừa biết lòng dạ không tốt cùa Thoan nhưng ngại không nói. Ông Một ngồi chủ trì cuộc họp liên tục ngáp vặt. Đến một lúc, ông Một vọt đứng dậy.
- Anh Thoan nói xong chưa? Tôi kết luận: Mai sớm anh bàn giao giấy tờ đơn vị về trung đoàn bộ, chờ lệnh. Anh Phong - đại đội trưởng, kiêm chính trị viên đại đội vận tải. Chấm hết! Ông Một và đoàn tùy tùng cán bộ trung đoàn bỏ bữa cơm chiều. Họ đi thẳng lên đường tuyến... Gần một năm sau nữa, Hai Ngạn mới gặp lại được Phong. Anh được ông Một điều về làm trợ lý tác chiến của trung đoàn. Trong một trận đánh về Thủy Dương, Phong đã dính mìn của đám lính bảo an, gãy tay, một viên bi của trái mìn claymo găm thủng ruột buộc anh phải đi viện. Mùa đông năm 1971, Hai Ngạn nhận lệnh của quân khu tái lập lại tiểu đoàn 10. Ông được trung đoàn cho phép thu gom tất cả những người lính cũ của tiểu đoàn còn sống và đang điều trị tại các bệnh viện để xây dựng bộ khung mới. Trên tuyến đường giao liên ở binh trạm 47, tình cờ Hai Ngạn bắt gặp Phong đi gùi gạo cho viện 94. Họ gặp nhau nghẹn ngào không nói nên lời. Hai Ngạn vào làm việc với Ban chỉ huy viện 94 và xin cho Phong trở về đơn vị cũ. Không một chút đắn đo, Phong xuất viện, theo chân Hai Ngạn trở lại với tiểu đoàn 10. - Không biết thằng C2 đánh đấm ra răng? - Hai Ngạn bật nhỏm dậy. Có tiếng đề pa pháo ở rất xa. Vài giây sau đã thấy tiếng đạn xé gió trên đầu và hàng loạt chớp lửa lóe sáng, kèm theo tiếng nổ chát chúa ở vạt tre xanh quanh đầm Trấu. Mảnh pháo bay rào rào chém cả những ngọn tre trong làng. Thấp thoáng những người lính trong dãy công sự, hầm hố đào chống càn quanh rìa làng đi lại nhộn nhạo. Hai Ngạn trở lại với căn hầm của ông sau bức tường đổ. “Chả lẽ địch phát hiện, đổ quân càn?” Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:20:24 am 2 Đại đội 1 đóng quân ở bờ tây đầm Trấu, cách nơi pháo bắn chừng non một cây số. Mười quả pháo của tụi lính pháo binh ở trận địa pháo Đồng Lâm bắn hú họa vào phía bãi cát và những rặng tre, làng cũ của dân, khói bụi bốc lên cao. Một đống rơm bén lửa bốc cháy, tuôn khói đen lên bầu trời. Chiếc OV10 sà thấp quan sát mục tiêu, không phát hiện thấy gì lượn vài vòng rồi cút thẳng. Một lúc sau, những trái pháo chuyển tọa độ sang hướng Hương Trà, tiếng nổ phát ra ngả dưới chân địa đạo 310. Hai mươi chín ngôi mộ của tiểu đoàn 10 đã được chôn cất chu đáo trong một vạt dương ngay sát bìa làng. Tất cả những người lính hy sinh được bọc kín trong những tấm tăng và chôn sâu dưới lòng cát Phong Điền. Không bia bảng, không cả một chút hương trầm. Cường nằm gối đầu lên chiếc gùi bạt. Anh không tin rằng những ngôi mộ của những người lính giải phóng nằm lại nơi gió cát này sẽ được an lành trong những ngày tới, một khi quân ngụy càn quét truy sát Việt cộng vùng này. Vành đai phân tuyến giữa ta và địch đã định hình sau những ngày giao tranh. Những ngày đánh chống càn ở các làng quanh vùng chợ Sịa đại đội 1 vừa bị thương, vừa hy sinh mất mười bốn người. Mười bốn chiến sĩ hy sinh hầu hết là người quê Hà Tĩnh. Nhắm mắt lại Cường cũng nhận ra gương mặt thằng Chiu, thằng Miên, thằng Thẩm, thằng Giang cò, thằng Vược B41... Đứa học xong tốt nghiệp cấp III, đứa học xong lớp 9... Cả một trung đoàn quân huấn luyện bộ đội đều ở tuổi mười tám, đôi mươi nhập ngũ từ cuối năm “bảy mốt”, sau sáu tháng huấn luyện được bổ sung cho sư đoàn 324. Một tiểu đoàn được tăng cường cho K10. Đám lính tân binh hết thảy đều tươi trẻ, sung sức và hăm hở vào chiến trường. Cuộc kháng chiến chống Mỹ đã đi được chặng đường mười tám năm, nhiều anh lính của tiểu đoàn 10 mới chào đời. Mỗi ngày trên các trạm giao liên từ sông La qua Đức Thọ, lên Hương Sơn, Hương Khê vào Quảng Bình, những chàng thanh niên trai trẻ nhìn thấy từng đoàn bộ đội súng ống, ba lô đi qua làng và hát vang: “Đoàn chúng ta đi/ Là đoàn vệ quốc/ Ba lô súng vác/ Lên đường trèo dốc...”. Bài hát ấy, không rõ ai sáng tác, cũng chẳng thật hay nhưng nhiều người thuộc... Cha anh những người lính trẻ, lớp trước, lớp sau đã hối hả lên đường. Bây giờ mới tới lượt họ... “Các cậu không đi mau vào giải phóng miền Nam, chậm chân chỉ có nhặt ống bơ..- Anh chính trị viên đại đội luôn động viên họ như vậy. Mỹ đã ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra Bắc. Đêm đêm từng đoàn xe Gát, xe Zin cắm lá ngụy trang chở người, súng đạn, gạo vào tuyến lửa. Cả tiểu đoàn 10 ăn một cái Tết dập dội, vội vã ở bên bờ sông Kiến Giang. Ngày mồng ba Tết đã phải hành quân vào binh trạm sát chân núi để nhập vào đội hình của sư đoàn 324. Hơn một tháng trời, tiểu đoàn 10 hối hả bám theo đội hình của các trung đoàn 1, trung đoàn 2, trung đoàn 8 miệt mài leo dốc Trường Sơn, vượt qua làng Ho, đồi Bảy trăm; ngày đi, đêm mắc võng căng tăng ở các binh trạm, len lỏi trong những cánh rừng le, rừng khộp ở cao nguyên Bôlôven, uống nước lã, ăn măng rừng. Con vắt hút no máu người tròn lẳn như quả chuối mít nằm lăn trên võng, các anh lính trẻ mới bắt đầu thấm thía mùi vị của chiến tranh. Thỉnh thoảng, vào mỗi buổi chiều, hoặc ngày nghỉ, các anh bộ đội trẻ ngồi viết thư, viết nhật ký. Có anh lặng lẽ xé bỏ từng trang những cuốn sách cố mang theo dọc đường để đọc vào bếp lửa. Tấm chăn đắp xé bỏ lại một nửa treo lên cành cây để ngày mai leo dốc đỡ nặng. Những trận mưa cuối mùa và sự vất vả làm hao kiệt sức lực. Đã có một vài anh lính sốt rét nằm lại các binh trạm. Một vài anh đảo ngũ sau những trận bom ném tọa độ... Ngay trận mở màn, các đại đội bộ binh K10 đã phải tham gia chốt giữ ở điểm cao 360, Khe Trái. Đại đội 1, đại đội 2 áp sát về vùng giáp ranh hỗ trợ cho các đơn vị địa phương đi về đồng bằng vào làng lấy gạo. Những trận đánh vào làng, gặp địch phục kích, có người hy sinh... Các anh chàng tân binh mới ngộ ra nhiều điều về nửa gương mặt của chiến tranh mà cánh rừng che khuất. Về Phong Quảng “giành đất, cắm cờ”, những người lính tân binh của tiểu đoàn 10 đánh giặc ở đồng bằng được nhìn tận mắt những chiếc xè tăng, thiết giáp M113, nòng pháo đen trũi chĩa thẳng vào họ bắn như xé vải, lầm lũi như những con bọ hung tiến vào làng. Phía sau xe tăng là lính bộ binh ngụy lố nhố những chiếc mũ sắt ẩn nấp sau những bờ ruộng xả hàng loạt đạn AR15, đại liên, cối cá nhân, cối 60 bắn không tiếc đạn. Té ra, những bài tập quanh đồi cọ đầy sỏi đá, đánh tổ tam tam, tiểu đội tấn công lô cốt, ụ súng giả tưởng chỉ là trò chơi con nít. Họ tận mắt nhìn và giơ lưng chịu trận để từng tốp máy bay trực thăng chiến đấu A37 lao xuống bắn rốc két, đạn 40 ly dọc theo các trục đường trong làng. Đánh sập từng căn nhà, bới tung từng bụi tre, gò mả, vào từng căn hầm chốt của họ. Cường đã quen nhiều với cảnh ấy, còn những người lính của anh thì đây mới là lần đầu. Nhưng sự sống và cái chết dạy cho họ khôn ngoan. Lòng dũng cảm dạy cho họ cách cầm súng và tư thế đánh giặc còn nhanh hơn cả một buổi lên lớp giáo dục về lòng yêu nước của một anh chính trị viên đại đội. Chỉ một trận đánh vào buổi sáng, buổi chiều những người lính trẻ đã lão luyện như những người lính từng trải. Mặc pháo địch bắn. Những anh lính trẻ nằm ép trong những căn hầm đào dưới gốc tre, gò mả, hướng nòng khẩu B41, B40 vào những chiếc xe tăng, chỉ khi cách họ nằm sáu chục mét mới nổ súng. Bị đánh bất ngờ, lính bộ binh hoảng loạn bỏ chạy; bị bắn cháy vài ba chiếc M113, lính dù, lính thủy quân lục chiến không dám vào nữa, gọi pháo và máy bay chi viện. Chiều buông xuống. Cả xe tăng cả lính rút trên đường lộ. Không có trống trận thu quân. Chẳng có kèn gọi lính nhưng những cuộc chống càn giữ làng diễn ra đúng như vậy. Bộ đội nhanh chóng thu dọn chiến trường, băng bó cho thương binh, chôn cất liệt sĩ và lặng lẽ rút sang làng khác. Các mẹ, các chị sẽ nấu ăn giúp bộ đội. Chỉ một đêm hầm hào sẽ lại được đào, chuẩn bị cho trận đánh ngày mai. Những người lính kỳ cựu của tiểu đoàn đã từng đánh về Phú Vang, Quảng Điền, chiếm giữ cố đô Huế hai mươi sáu ngày đêm, có chăng còn lại bây giờ đôi ba người có kinh nghiệm. Đến như Tư Nhất - tiểu đoàn trưởng trước đây ở Quảng Đà cũng chỉ là anh lính đặc công quen thọc sâu, đánh hiểm nhưng là trò mới học cách đánh chống càn... Bỡ ngỡ ban đầu sẽ qua nhanh. Chỉ một ngày chiến đấu ở làng Cát, lính cũ, lính mới đều trở nên thiện chiến. Không có con đường nào tháo lui khi xe tăng địch lầm lũi lội ruộng vào làng, lố nhố đám lính ngụy phía sau, pháo bắn cấp tập... Không thể không nổ súng. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:21:35 am Ở phía căn hầm kế bên, thằng Bê giữ cối 60 nói với anh Can già:
- Bữa nay hai mấy âm lịch rồi bố? Đám lính trẻ ở tiểu đội súng cối quen gọi tiểu đội phó Can như vậy. - Hai bốn tháng chạp! - Can thủng thẳng trả lời. Cường nằm phía hầm bên này nghe rõ cả tiếng quẹt lửa và mùi thuốc lá bay sang. Đám lính cối vẫn rì rầm nói chuyện. - Quê con những ngày này đã rậm rịch lên rừng cắt lá dong về gói bánh chưng. Cậu Liêu quản lý tiếp lời: - Còn tớ lên rừng chặt củi... Này Bê, mi có nhớ Tết năm ngoái ngày Tết tao với mi chiều ngày mồng một rủ nhau ra chợ Chéo chơi không? Ăn bánh tét, bánh bông lan ở nhà o Hoa... Chừ mà có mươi cái bánh mà ăn cho đã thèm... Chợt giọng Can già phá ngang: - Tụi bay có im đi không... Thằng Bê chuẩn bị ra thay gác cho thằng Tụng... Có tiếng dây súng kêu lách cách và tiếng chân của thằng Bê đạp lạo xạo trên đám lá tre. Cường lặng lẽ lấy khẩu K54, khẩu AK báng gấp ra lau chùi cho sạch cát. Sáu ngày nữa đã tới năm mới ư? Thêm một cái Tết nữa lại đến với anh, nhưng ý niệm về những ngày Tết trong ký ức của anh đã trở nên nhợt nhạt. Đã năm cái Tết xa nhà, mỗi cái Tết đến với Cường một khác. Cái Tết đầu tiên, cả tiểu đoàn hành quân trong những cánh rừng săng lẻ trên đất Lào. Ngày mồng một Tết, bộ đội vẫn hành quân. Cán bộ chỉ huy bảo: “Những ngày này máy bay Mỹ không ném bom!”. Món quà Têt cho lính là hai người một chiếc bánh chưng và bốn viên kẹo sôcôla đã bị mọt ăn qua cả lần giấy bóng, năm điếu thuốc lá Tam Thanh. Bữa cơm chiều vẫn chỉ là cơm ăn với chút nước ruốc pha loãng. Cái Tết thứ hai, sau đêm về đồng bằng Hương Thạnh không gặp địch, Cường được thưởng thức món mì chay nấu cá hộp và miếng kẹo mè xửng Huế, nhai sái cả hàm răng. Cái Tết thứ ba, ấn tượng là mẻ cá suối đánh được bằng lựu đạn US, Cường và hai người bạn đã phải đạp rừng chạy đến đứt hơi để tránh pháo bầy bắn đuổi. Trái lựu đạn US ném cá ở Khe Trái của Cường đã bị thám báo Mỹ phát hiện. Chúng gọi pháo bắn chặn. Ăn xong vài lưng cơm tất niên với món cá kho thiếu muối Cường và hai người bạn đã phải nghe những lời chì chiết, phê bình của anh Phương, chính trị viên phó tiểu đoàn có bệnh nói dai như đỉa. Anh Phương là lính pháo binh ĐKB, được đề bạt hạ phóng xuống chỉ huy bộ binh, chưa quen với lối sống vừa liều mạng, vừa ngổ ngáo của đám lính K10 coi cái chết như trò đùa. Thèm thuốc lá Mỹ, dám mò vào cả nơi đóng quân của tụi thám báo lượm cà phê, thuốc lá, thịt hộp và đái vào mũ sắt của chúng. Cái Tết thứ tư, rồi thứ năm... Cường chẳng buồn nhớ nữa. Tiếng pháo ngày xuân đối với anh giờ xa lắc, xa lơ. Nhưng chính vào giờ khắc này, anh lại nhớ tới Hạnh. Cường và Hạnh xa nhau đã gần cả năm trời. Ngày nghe tin Cường cùng với bộ đội K10 trở lại chiến trường Trị Thiên, về Phong Quảng, Hương Trà... Hạnh đi bộ bốn ngày trời để lên cho được khu địa đạo 310, tìm cách gặp Cường. Buổi chiều ấy, Cường và trung đội 3 mới đi gùi đạn cối trở về, anh đang giặt giũ quần áo dưới suối. Bất chợt nhìn thấy Hạnh hiện ra trên con đường mòn ở lưng đồi băng xuống, anh ngỡ ngàng đánh rơi cả chiếc áo. Những người lính của trung đội 3 không ai biết Hạnh. Họ nghĩ đơn giản cô là du kích của huyện... Cậu Phê hấp tấp hỏi Hạnh: - Đồng chí ở đơn vị nào, tới đây có việc gì? Hạnh đã nhìn thấy Cường, nét mặt cô vẫn tự nhiên như không hề quen biết anh. - Tôi ở huyện ủy, tới gặp eng Cường! - Kia... anh Cường kia...! Cường xúc động không nói được. Hình như Hạnh cũng vậy. Cô bước tới bên anh và siết chặt bàn tay. Tất cả những anh lính của trung đội 3 có mặt ở suối đều nghe rõ câu nói của Hạnh: - Chào eng Cường... Lâu quá rồi hè... Tưởng các anh không bao giờ trở lại với Hương Trà...! Cường tự nhiên nóng bừng ở mặt. - Làm sao có chuyện không trở lại giáp ranh... Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:22:34 am Lúc chỉ còn có hai người ngồi nói chuyện, Hạnh cho biết cô đang đi cùng chú Sáu Thọ qua đường 12 sang thành ủy họp, cô đã xin với chú Sáu vài tiếng đồng hồ để gặp Cường. Bộ đội trung đoàn 3, đoàn Ngự Bình đang đánh cứ điểm Động Tranh. Đại đội của Cường đang làm nhiệm vụ giữ hành lang sông Bồ và chốt giữ đồi Khe Trái. Những anh lính trẻ trong đom vị không ai biết mối tình thầm kín của hai người. Họ hiểu một cách đơn giản, chị Hạnh - bí thư chi bộ của một xã vùng sâu, ven đô Huế, là người quen cũ của Cường. Hạnh đãi trung đội bộ binh bằng hai gói mè xửng và một nồi chè đường nấu với lương khô, tút thuốc lá Rubi quân tiếp vụ. Cho đến khuya, Hạnh đã phải vội vã trở lại địa đạo 310 để cùng với chú Sáu Thọ và những người lính trinh sát thành phố vượt đường 12 trước khi trời sáng. Cường khoác súng AK và tiễn Hạnh xuống bến nước. Con đường mòn trong rừng nhập nhòa sáng tối. Ánh trăng non như những mảnh giấy vàng rơi lả tả xuống nền đất ẩm ướt, râm ri tiếng côn trùng... Ở một bãi trống, những chiếc lá nón bợt bạt trong ánh trăng khẽ lay động. Có thể nghe thấy được cả tiếng nước chảy róc rách dưới lòng con suối đá. Chợt Hạnh dừng lại, gương mặt cô sát ngay vào người anh. Một tay cô cầm lấy dây súng AK của Cường.
- Anh đừng đi theo em nữa... Anh đi nữa... Em không đi nổi mô! Bất ngờ, cô ôm siết anh vào người và nói: - Anh Cường ơi! Anh hãy quên em đi...! Hãy quên em đi! - Tại sao? - Cường đẩy nhẹ cô ra và nhìn soi vào gương mặt Hạnh, ánh lên một màu trắng bợt - Anh vẫn luôn nhớ em... - Không sao cả...! Em yêu anh... Nhưng hãy quên em đi, anh ơi! Hạnh cởi chiếc đồng hồ Ôrien đang đeo trên tay trao cho anh và nói: - Anh giữ lấy mà xem giờ... mai mốt về dân em kiếm cái khác. Hạnh hôn lên má Cường và nhanh như một con mèo rừng, cô đã tan biến vào con đường băng qua suối lẫn vào đám cỏ tranh phía bên kia đồi. Cường có cảm giác Hạnh như một con người khác, có chút xa lạ, trở nên cứng cỏi chín chắn hơn. Cô không giống như cô du kích thuở nào đằm thắm, chân tình đã chẳng quản hiểm nguy, vượt qua chốt giặc, tìm về đồng bằng để cứu anh trong một lần mắc kẹt ở lại nhà Ngật. Đã nhiều lần Cường tự cắt nghĩa, lý giải thái độ hành động của Hạnh sau lần gặp nhau bất ngờ ấy. Anh tự biện minh rằng: bây giờ Hạnh đã là huyện ủy viên, chỉ đạo cả mấy xã vùng sâu, người thân tín của chú Sáu Thọ, cô không thể bộc lộ tình cảm riêng tư với anh được. Cô phải lo toan nhiều chuyện cho cách mạng. Nào là xây dựng cơ sở trong dân, lấy tin tức của địch để báo cáo cho huyện, cho tỉnh, lo cơm áo gạo tiền cho đội biệt động vũ trang của huyện, lo địch càn, lo lên phương án đánh địch. Nhưng ở một chiều sâu kín khác, Cường có cảm giác như Hạnh đang xa lánh anh. Đã có lúc anh chạnh lòng nghĩ: Hay Hạnh đã có “người khác”. Anh đã là gì với cô? Một anh lính ngoài Bắc xa xứ. Một cô gái không hiểu rõ gốc tích người mình đem lòng yêu thương. Và thêm nữa, đã có biết bao những người lính K10, lớp này qua lớp khác, hết dân Thanh Hóa đến lượt lính Hải Phòng, Thái Bình, Hưng Yên, Hà Nội, Nam Hà, Vĩnh Phúc... đến với Hương Trà. Người đến kẻ đi, người bị thương, hy sinh mãi mãi nằm lại với đất rừng, đồng ruộng. Tình yêu thời chiến tranh quả là trò đùa với số phận. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:24:24 am Chiến tranh quả là khắc nghiệt. Chỉ cách đây chưa lâu, Cường và nhiều người lính K10 chưa quên trận bom B52 địch ném xuống chân đồi Đức Mẹ. Sự thể bắt đầu từ thói chủ quan, khinh địch. Những người lính của trung đoàn 2 khi kéo quân về giáp ranh vốn quen ăn to, đánh lớn. Họ triển khai đội hình để chuẩn bị đánh Củng Cáp, áp sát vào tuyến phòng thủ chốt giữ vùng giáp ranh Phong Quảng, trong lúc chặt cây, đào hầm, xây dựng căn cứ đã bị tụi thám báo phát hiện. Tiểu đoàn 10 nằm trong khu vực trung đoàn 2 đóng quân, đã lãnh trọn một trận B52 rải thảm. Những anh tân binh trẻ lần đầu vào chiên trường mới hiểu thế nào là ném bom hủy diệt. Cánh rừng chạy dài vài trăm mét dọc theo con suối đá phút chôc cây to cả người ôm bị chém phạt ngọn, gãy cành, đánh bật gốc lên trời.
Hầm hào sụt lở, sập đè chết người. Tiểu đoàn đang họp quân chính. Mấy chục con người từ Tư Nhất đến Hai Ngạn, Phong và các cán bộ trung đội, đại đội chui lên từ căn hầm mái bằng đã bị bom phá sập một góc. Bảy cán bộ trung đội, đại đội, trợ lý tiểu đoàn hy sinh trong loạt bom đầu tiên. Sáu anh trong số đó, sau chuyến về phép vội vã ở Quảng Bình cưới vợ đã hy sinh. Cường thoát chết. Anh chui ra từ giữa đám người bị thương, hy sinh. Máu chảy đầm đìa trên mặt. Một mảnh đạn nhỏ găm vào trán anh... Sau trận bom B52 đánh vào tiểu đoàn, mấy anh bộ đội mê tín đồn thổi “anh nào về phép cưới vợ là toi!”. Và đâm sợ, thành cái dớp. Giống như cái luật bất thành văn của các anh lính bộ binh K10 luôn bảo nhau: Những kẻ tham lam hám vàng, ra trận biển thủ đồ chiến lợi phẩm, sớm hay muộn dứt khoát là chết. Đã có lúc trong suy nghĩ của Cường bi quan, nghĩ ngợi lung tung cho rằng Hạnh đã quên anh, phản bội tình yêu của anh. Rồi Cường tự chất vấn lại mình: anh chẳng là gì cả để có thể so sánh với một cô bí thư xã xinh đẹp, dũng cảm đang được đề nghị xét tặng danh hiệu chiến sĩ thi đua của khu. Rằng Hạnh còn tiến xa trên con đường công danh của cách mạng. Cường vẫn chỉ là một anh lính của K10. Cái chết có thể đến với anh bất kỳ lúc nào... Tổ chốt của trung đội 1 báo cho Cường rặng tre ngoài cánh đồng có người đang tiến vào khu vực của đại đội 1. Cường lay Hiển, chính trị viên phó đại đội đang ngủ say ở một gốc bụi dứa dại. Hiển lồm cồm bò dậy. - Có chuyện chi vậy “cụ”? Địch vô hả?... Cường đã kịp rút ống nhòm ra quan sát. Trời đã xế trưa. Lớp sương mù tan loãng để lộ ra rặng tre nối từ phía làng Hiền Lương ra ngoài đầm Trấu, thấp thoáng một bóng người. - Liên lạc hoặc trinh sát tiểu đoàn thôi. Địch chi chỉ có một người. Hơn mười phút sau, cậu Thiệu công vụ của Hai Ngạn xuất hiện ở cánh rừng thông. - Có chuyện chi vậy Thiệu? Thiệu bỏ chiếc mũ vải mềm trên đầu lau mồ hôi. - Thủ trưởng tiểu đoàn mời anh Cường có mặt tại sở chỉ huy lúc 12 giờ trưa để họp. Hiển hỏi Thiệu: - Tao không phải đi hả bay? - Mỗi ban chỉ huy đại đội chỉ cử một người. Anh Ngạn biểu vậy. * Lúc Cường tới được nơi chỉ huy sở tiểu đoàn đóng quân đã thấy có mặt đông đủ Ban chỉ huy tiểu đoàn gồm Tư Nhất, Hai Ngạn, Thủy. Bát đại đội trưởng đại đội 3, Chương đại đội trưởng C1 cũng đã có mặt đang ngồi dưới bụi tre uống nước. Ở một góc căn nhà sập mái, Tư Nhất, Hai Ngạn đang ngồi cùng ông Sáu Hường, phó chính ủy trung đoàn và anh Năm Mậu, huyện đội trưởng. Bốn người chụm đầu xoay quanh một tấm bản đồ tác chiến, ngoài ra còn một số cán bộ tham mưu, chính trị, hậu cần, trinh sát từ bên cánh nam đi cùng ông Sáu Hường sang tham gia chiến dịch ngồi rải rác quanh, các nền nhà, gốc cây. Không ai giới thiệu, nhưng mọi người đều hiểu đây chính là Bộ chỉ huy chiến dịch của cánh bắc Huế mà người chỉ huy cao nhất là ông Sáu Hường. Cường bắt tay chào anh Thủy, Bát, Chương và ngồi ghé xuống một miếng táp lô được dùng làm ghế ngồi. Anh Bát mở nắp bi đông và rót trà vào một chiếc bát B52. - Trà phần mi. Tụi tao uống cả rồi. Không chờ mời lần thứ hai, Cường cầm bát nước uống một ngụm. Vị trà Blao pha đậm đắng nghét nhưng lại làm cho đầu óc tỉnh táo. Uống xong bát trà, Cường mới móc túi dù lấy ra cây thuốc Rubi vàng và hào phóng tặng cho mỗi người một bao. - Thằng Cường sang quá bay ơi! - Anh Chương giọng Nghệ vui ra mặt. - Mi kiếm mô ra thứ ni? - Bữa hôm kia đánh vô làng Tháp, tôi vào mua ở quán. Có cả sữa Ông Thọ nhưng chuyển cho thương binh hết cả rồi. Chỉ còn thuốc mời các anh hút tạm. Khói thuốc lá Rubi thơm quyến rũ khiến cho Tư Nhất không chịu nổi. Ông rời chỗ họp ra chỗ mấy anh cán bộ đại đội đang ngồi đợi lệnh. - Cho tao một hơi bay ơi...! Tụi bay sang hè. Cường bóc tút thuốc và đưa cho ông tiểu đoàn trưởng hai gói. Tư Nhất đút luôn một gói vào túi áo, đi vào chỗ họp. Ít phút sau, Tư Nhất đã quay trở lại cùng với Hai Ngạn. Ba anh cán bộ đại đội và các thủ trưởng tiểu đoàn ngồi cụm lại dưới bụi tre để trao đổi nhiệm vụ. Công việc rút quân đêm nay tưởng phức tạp nhưng đã có phương án giải quyết. Suốt những ngày qua, Bộ chỉ huy khu luôn theo dõi từng hoạt động của hai tiểu đoàn được giao nhiệm vụ thọc sâu về đồng bằng khuấy đảo hậu phương địch, hỗ trợ cho cán bộ, du kích các xã “tấn công và nổi dậy”. Sau những cuộc giao tranh, mọi ngả đường lên rừng đã bị các đơn vị quân ngụy bao vây, phong tỏa. Tình thế khó khăn của bộ đội, thương binh đang bị kẹt lại ở đồng bằng, cấp trên đã cho một đơn vị trinh sát soi đường qua tuyến phòng thủ của địch để về đón bộ đội lên rừng... Chỉ có điều, tất cả súng cối 82, đạn cối, đạn B41 đều được chôn lại, chờ dịp xuống lấy. Tư Nhất phổ biến nhiệm vụ cho từng đơn vị rồi nhìn Chương và mọi người. - Đại đội 4 về cho bộ đội đóng gói vũ khí. C1, C2 đúng 6 giờ tối xuất phát. Đại đội 1 chủ công, trong trường họp gặp địch phải nổ súng để mở đường máu đưa thương binh và đại quân lên. Đại đội 3 và tiểu đoàn K5 làm nhiệm vụ đánh chặn hậu. Các đồng chí rõ cả chưa? Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:26:34 am 3 Những hạt mưa rây trắng trên đồng đã làm cho Phong tỉnh lại. Dù đầu óc chưa thật tỉnh táo, chưa định hình anh đang ở đâu và tại sao lại nằm trên một vạt đất ướt sũng nước giữa trời mưa như thế này. Đã mấy lần, Phong định ngồi dậy nhưng không cựa được mình. Thân xác anh như thể dính liền vào đất. Đầu anh đau nhức. Chỉ các ngón tay của anh nhận biết những chiếc lá kiệu mềm mại và mùi hăng hăng của nó ở ngay cạnh mình. Phong cố mở to đôi mắt nhưng dường như trời đất, cây cỏ đang bị phủ sau một lớp kính mờ. Anh giơ thử bàn chân trái, còn thấy quậy cựa được mấy đầu ngón chân. Đến chân phải thì chịu. Khẽ cựa động đau đến tận óc. Không còn hồ nghi gì nữa, anh đang nằm giữa một ruộng kiệu. Cách đấy chỉ vài ba luống đất hàng cây nưa mọc cao ngang thắt lưng. Gió thổi, những lá nưa kêu lật phật. Thời gian dần trôi, trí nhớ của Phong từng chút phục hồi. Phải rồi... Trận đánh... Tiếng mìn nổ... Ai đó còn đạp lên cả người anh, hất xuống ruộng... Đại đội 2 đi đâu cả rồi? Bây giờ đã là ban ngày, hẳn những người lính cuối cùng đã rút lên rừng. Phong đang nằm phơi mặt giữa cánh đồng trồng màu hoang lạnh, nếu cứ nằm liệt ở đây, sớm muộn gì anh cũng sẽ bị địch bắt. Phong hít một hơi thở sâu lấy sức và cố lật úp mặt xuống đất. Chiếc xanh-tuya-rông có bi đông nước và khẩu K54 vướng, cộm ở cạnh sườn. Phong luồn tay xuống cố đẩy chiếc bi đông và khẩu súng lên bụng. Tiện tay anh bứt luôn một nắm lá kiệu đưa lên miệng nhai. Mùi lá kiệu hăng, ngái nhưng có lẽ còn dễ nuốt hơn món cháo nấu bằng cọng môn ngứa ở Khe Điên. Hầm cọng môn cả đêm, tra thêm vài hạt muối, ngứa rát họng, đói vẫn cố nuốt. Nhai hết nắm lá kiệu Phong thấy người tỉnh táo. Anh lấy sức một lần nữa vật nửa người úp xuống mặt đất. Thành công rồi! Cái chân phải bị thương đã được anh chuyển sang bên trái. Động đến cái chân, đau đến tê dại. Từ đầu gối đến bàn chân da thịt nhầy nhụa lẫn với máu đã đen đặc, đông cứng. Chiếc áo vải màu xanh Tô Châu và chiếc quần đùi màu cứt ngựa của Phong dính bết bùn đất. Anh chỉ có một ý nghĩ, bàng mọi giá phải bò cho được tới vạt đất trồng nưa. Những cây nưa sẽ che chắn cho Phong, còn hơn là nằm phơi lưng trên vạt ruộng kiệu. Phong còn nhận ra cả dải đất cao, cách chỗ anh nằm chỉ hơn trăm thước. Đấy chính là con đường sắt nơi đại đội 2 bị vấp vào ổ phục kích đêm qua. Phía sau con đường chưa tới năm chục mét đã là đường số 1. Bên kia đường là hàng rào bùng nhùng bảo vệ chi khu Hương Trà. Một trận đánh thất bại. Phong chua chát nghĩ. Bộ đội chỉ bắn được có mấy trái đạn cối 82 vào căn cứ, còn các mũi bộ binh đã bị địch đánh chặn ngay từ vòng ngoài. Nổ súng chưa tới hai phút, Phong và tổ trinh sát đã bị dính những trái mìn claymo quân ngụy gài ngay trên con đường sắt hướng ra ngoài cánh đồng. “Tích tắc! Tích tắc...”. Chiếc đồng hồ thủy quân lục chiến mặt to của Mỹ vẫn còn trong tay Phong. Nó chưa chết. Tiếng động phát ra từ chiếc kim giây nghe rõ âm thanh “tích tắc! tích tắc” đều đặn. Từ vạt mộng kiệu, một con nhái nhảy tới ngồi trên cánh tay Phong, như ngồi vào một mô đất. Con nhái có vệt lưng xanh, giương đôi mắt nhìn trời. Chỉ đến khi anh khẽ chớp mắt, con nhái mới co cẳng nhảy vào phía ruộng trồng nưa. Đã hơn 10 giờ trưa. Phía làng Phú Ổ, có ba tiếng súng bắn phát một vang lên dấu hiệu cho thấy trong làng có địch. Lát nữa nắng lên, thể nào chúng cũng ra kiểm tra ngoài cánh đồng gần nơi nổ súng. Nằm giữa rừng kiệu có khác nào Phong chờ địch đến bắt sống. Phong lết từng đoạn chậm chạp. Mỗi lần lấy sức dịch chuyển là một lần cơn đau thấu óc. Phải cố thôi, nếu không muốn bị địch bắn chết. Không thể đùa với những tay lính nghĩa quân, dân vệ ở địa phương khét tiếng ác ôn ở vùng này. Bùm! Một phát vậy là xong không cần biết tên Việt cộng trước mặt còn sống hay đã chết. Chúng chỉ cần đếm xác, báo công lĩnh thưởng. Phải mất hơn một giờ đồng hồ Phong mới đi qua được quãng đường chưa tới hai chục thước. Một vạt ruộng trồng kiệu bị giập nát, bẹp gí hằn theo vết bò của Phong. Máu tiếp tục chảy ra từ vết thương nhễu thành vũng trên đám lá kiệu. Vào tới được ruộng nưa, Phong lăn mình xuống rãnh đất. Đầu óc anh quay cuồng, mắt tối sầm, anh ngất đi không hay biết gì nữa. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:27:42 am * Có hàng chục cái vòi của con bạch tuộc quấn lấy cơ thể Phong. Những cái vòi dài, gai mọc lởm chởm siết chặt lấy đôi chân, cánh tay anh níu chặt vào cái mồm đen ngòm của nó. Lẩn quất trong rừng san hô dưới đáy nước sâu thăm thẳm còn có nhiều con con bạch tuộc khác đang bơi chờn vờn bên ngoài, thỉnh thoảng tia ra một cái vòi dài chọc vào mắt, vào mũi anh. Phong muốn hét to mà không được, một chiếc vòi dài đen trũi đang siết lấy cổ họng. Nhớt dãi đỏ ngòm, tanh ngầu từ mồm con bạch tuộc nhễu xuống mặt Phong. Bên ngoài xa, trong biển nước xanh hàng trăm, hàng ngàn ánh lân tinh, thấp thoáng bóng những con rắn biển chờn vờn bên ngoài chỉ chực xông vào Phong xâu xé. Chúng lượn lờ, lấn quẩn nấp sau những cánh rừng san hô đang bị nhuộm đen bời chất độc của con bạch tuộc khổng lồ xả ra. Có một tiếng động lớn khiến cho những chiếc vòi của con bạch tuộc hơi nới rộng ra. Từ trong cõi thẳm sâu, Phong nghe có tiếng người lao xao. “Thưa thượng sĩ! Có cả thảy sáu xác cộng quân. Một thằng mất cả đầu! Anh em ơi..“Đây nữa... Thêm một đứa con gái, con này chắc là Việt cộng cỡ bự đây. Nó có khẩu súng ngắn... Chu cha! Việt công cũng đẹp dữ ta. Bắt sống được nó thì hết ý... !”. “Tụi bay rà soát cho kỹ trong vạt ruộng kiệu. Có vết máu trên bờ cỏ nè”. “Roạt! Roạt! Roạt...”. Như là tiếng dao chém cây. Một tiếng kêu rú lên: “Còn một tên bay ơi! Nó trốn trong ruộng nưa”. “Coi chừng đó tụi bay, có lựu đạn gài.”. Phong nhìn rõ cái đầu to tướng của con bạch tuộc. Nó đang hướng thẳng về phía anh. Lẩn khuất sau hàng trăm cái vòi tua tủa quanh cái miệng đỏ lòm là hai con mắt tròn đen dữ tợn. Chỉ vài giây nữa thôi, anh sẽ bị con bạch tuộc nuốt gọn vào trong cái miệng rộng toác, nhơ bẩn đầy dãi nhớt. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:28:54 am * Ánh nắng chói chang hắt vào làm cho Phong lóa mắt. Anh cố nhấc tay để che bớt ánh nắng. Một cái đạp mạnh vào ngực, anh he hé mắt nhìn thấy một gương mặt rám nâu, đầu đội mũ sắt, họng súng AR15 chĩa thẳng vào mặt. - Thằng Việt cộng ni tỉnh lại rồi bay ơi! Hắn chưa chết! Nó mở mắt rồi nè. “Vậy là mình chưa chết. Bị địch bắt”. Ý nghĩ ấy vụt thoáng trong đầu Phong. Muốn yên thân lúc này, tốt nhất là nhắm mắt. Lát sau, một thằng lính ngụy tới túm vào sợi dây dù dùng để cột tay và người Phong lôi xềnh xệch trên nền đất chẳng khác nào một con heo đã bị buộc chặt bốn chân kéo tới dưới một gốc cây bàng. - Có cần cởi trói cho nó không, anh Hai? - Gã lính ngụy hỏi tên chỉ huy đi theo sau. - Nó gãy chân, máu ra như ri, sắp toi đến nơi rồi... Trói làm gì... Vô căng tin lấy ly bia bay. Tao khát cháy cả họng. Những tiếng đế giày giẫm lạo xạo trên cát. Một con nhặng xanh nghe mùi máu tanh à à bay qua bay lại đậu vào mặt Phong. Anh mở mắt. Trong khoảng đất rộng san sát các dãy nhà lô cốt, công sự, hàng rào bùng nhùng dây kẽm gai, ụ súng. Một tháp nước cao bên cạnh một đài quan sát. Chẳng còn ngờ gì nữa đây chính là khu căn cứ Tứ Hạ. Chiếc đồng hồ thủy quân lục chiến của anh bị tụi lính lột mất rồi. Chiếc xanh-tuya-rông có khẩu súng và bi đông nước cũng mất. Quấn quanh người Phong là sợi dây dù tụi ngụy dùng để kéo anh ra khỏi chỗ núp vừa đề phòng có lựu đạn gài. Ngoài khoảng sân trải nắng, xác những người lính giải phóng hy sinh nằm xếp một hàng ngang. Không một mảnh chiếu phủ mặt. Những anh lính của Công trường V khi chết cũng chỉ có một manh quần đùi và tấm áo vải Tô Châu, tay áo xán cao. Ở xa, Phong không nhận rõ mặt một ai trong số họ, nhưng chắc chắn đây là những người lính trinh sát của trung đoàn và của đại đội 2 cùng bị trúng mìn với anh lúc mật tập vào căn cứ. Bây giờ thì Phong nhớ ra rồi. Lúc tiếp cận tới sát đường ray xe lửa, tổ trinh sát bám đường dừng lại hơi lâu. Phong và Hải, đại đội trưởng đại đội 2 đã đi lên phía trước coi thử ra sao mà đội hình hành quân dồn cả lại. Chưa đến điểm tập kết để triển khai đội hình. Từ đầu làng Liễu Thượng trở ra sát đường lộ, cơ sở báo không có địch, các mũi tiến quân bám theo trục đường làng. Lâu lâu, địch từ chi khu Hương Trà bắn lên trời vài ba quả pháo sáng. Ánh sáng nhập nhòa, bộ đội lại dạt vào vệ cỏ bên đường ngồi chờ ánh pháo sáng tắt mới đi tiếp. Phong và Hải gặp tổ trinh sát bám đường cách đường săt trăm mét. Ngọc trinh sát ghé vào tai Phong nói nhỏ: “Không có địch, thủ trưởng ạ!”. Phong chỉ báo: “Nắm cho chắc để bộ đội tiếp cận đường xe lửa!”. Khi toàn bộ trung đội 1 của đại đội 2 triển khai đội hình, áp vào đường xe lửa cũng là lúc hàng chục trái mìn của địch phát hỏa. Chỉ kịp nhìn thấy một vệt chớp sáng xanh Phong đã bị hất văng đi. Ngay gần xác mấy người bộ đội hy sinh, chiến lợi phẩm quân ngụy thu được còn có những khẩu AK, B40, B41 cùng với đám gùi, ba lô xếp một đống. Cách đấy một đoạn là hai dãy nhà tôn, mái thấp chạy dài nằm bên trong một bờ hào công sự cao hơn một thước được đắp bằng bao cát. Chếch xa một đoạn hướng về phía đường lộ là cổng ra vào căn cứ, chiếc cổng cao ngạo nghễ cắm một lá cờ vàng ba sọc đỏ. Cánh cổng mở rộng, những chiếc xe Zip, xe tải ra vào liên tục rồi rẽ vào khu nhà xây gạch táp lô, bao cát chất vây quanh. Phong đoán đó là khu sở chỉ huy chính của căn cứ Tứ Hạ. Anh nhìn thấy cả những nòng pháo của những chiếc xe tăng chĩa lên vượt quá dãy hàng rào dây thép gai ngăn cách với khu trại lính phía bên này. Một chiếc máy bay trực thăng bay lạch phạch tới căn cứ. Bụi đất cuốn lên, chiếc trực thăng hạ xuống khu chỉ huy. Trong một hoàn cảnh éo le, Phong mới có dịp nhìn tận mặt khu căn cứ Tứ Hạ. Địch bố phòng nhiều tầng, nhiều lớp. Hèn gì chưa bao giờ bộ đội có thể tổ chức một trận đánh lớn vào đây! Mùa mưa năm 1969, tiểu đoàn 10 đã một lần thử sức đánh hỏa lực vào căn cứ Tứ Hạ. Phong và tiểu đoàn trưởng Triều cùng với cánh trinh sát của tiểu đoàn đã mấy lần đi trinh sát bám căn cứ Tứ Hạ. Anh và tổ trinh sát sau mấy đêm gỡ mìn mới vào tới được hàng rào thứ hai. Hơn nửa tháng trời, “cha con” chỉ đi hết giáp vòng ba mặt của căn cứ. Mặt thứ tư giáp đường lộ, bao bọc bên ngoài là khu dân cư, khu gia binh, nhà nào cũng có người đi lính đành chịu không tới được. Cơ sở mật cung cấp cho huyện một tấm sơ đồ nhưng không đủ chi tiết. Căn cứ Tứ Hạ là yết hầu cửa ngõ vào Huế từ hướng bắc trên quốc lộ 1A. Sau Tết Mậu Thân, địch đã xây dựng ở đây một trận địa pháo, có sân bay trực thăng dã chiến, có nơi tập kết của một đại đội tăng M113 và ba đại đội bộ binh phòng thủ căn cứ Tứ Hạ. So sánh tương quan lực lượng, bộ đội tiểu đoàn 10 không đủ xung lực bộ binh để đánh tập kích vào căn cứ. Lính đang kiệt quệ vì đói, vì lo chống càn, trong lúc Mỹ đang đổ quân càn mạnh ở miền Tây. Lệnh trên yêu cầu K10 phải nổ súng để hỗ trợ cho các trung đoàn chủ lực đánh Mỹ. Ban chỉ huy tiểu đoàn 10 hình dung đây là một căn cứ lớn. Cả tiểu đoàn tập trung được 3 khẩu cối 82, 14 khẩu B41, 22 khẩu B40 tấn công vào căn cứ Tứ Hạ. Tiểu đoàn ĐKB hỗ trợ cho trận đánh bằng cách bán năm phát ĐKB vào khu Mang Cá... Trận đánh tập kích bằng hỏa lực diễn ra chớp nhoáng không đầy ba mươi phút. Chỉ đủ tiêu hao của địch hai chiếc trực thăng, một xe tăng, phá sập kho hậu cần và vài chục tên lính bộ binh chốt ở vòng ngoài. Đêm ấy là ngày 3 rạng 4 tháng 9 năm 1969. Lúc về tới căn cứ, mọi người còn chưa kịp tắm giặt, thay áo quần, ông Đang - bí thư đảng ủy tiểu đoàn đã báo tin: Đài ta đưa tin “đêm qua Bác Hồ đã qua đời. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:30:09 am Ai có ngờ, bây giờ Phong đang bị chúng nhốt tại căn cứ Tứ Hạ.
Vết thương của Phong ở chân khá nặng. Không biết người lính ngụy nào đã dùng cây nẹp gỗ băng bó cái chân gãy của anh. Máu và thuốc đỏ thấm ra lần băng. Anh còn bị thương ở đầu, băng quấn quanh đầu. Hình như tụi y tá ngụy còn tiêm thuốc cho anh, một bên bắp tay cũng nhoe nhoét thuốc đỏ để tẩy trùng sau mũi tiêm kháng sinh, có lẽ nhờ vậy mà cái chân bị thương không thấy đau nhức nữa. Chiếc áo vải xanh Tô Châu của Phong đã bị địch lột ra từ bao giờ, trên người Phong giờ chỉ còn độc mỗi chiếc quần đùi và chiếc áo lót cổ vuông của lính. Từ trong dãy nhà tụi lính đồn trú, một người lính ngụy tay cầm khẩu súng tiến ra thẳng chỗ Phong đang ngồi. Anh ta cúi xuống hất cằm Phong: - Có khát nước không? Phong khẽ ngúc ngắc cái đầu ra ý muốn uống nước. Người lính ngụy rút chiếc bi đông Mỹ đeo cạnh sườn, mở nắp ghé chiếc bi đông vào miệng Phong. Nước vào tới đâu biết tới đấy. Anh mở to mắt nhìn người lính ngụy, như ý cỏ cảm ơn. - Mi người quê mô? Đi giải phóng lâu chưa? - Người lính ngụy hỏi. Phong nhìn anh ta giây lát và trả lời: - Quảng Bình. Vài năm rồi... - Chỉ huy hay lính? - Y tá đại đội! - Đ. mạ! Tù binh cộng quân bắt được đứa mô cũng đều khai không là y tá thì nấu ăn... Vậy đứa mô bắn súng hỏa tiễn... Phong giả như mệt mỏi, nhắm mắt. Anh nghe thấy tiếng bước chân lạo xạo của người lính đi trên nền cát quay trở lại dãy nhà tôn. Anh ta để lại cho Phong chiếc bi đông nhựa của Mỹ đựng nước ngay bên cạnh. Hơi nóng ngột ngạt về chiều càng trở nên oi nồng. Lính ngụy trốn nắng chui cả vào trong dãy nhà tôn, trong các lô cốt chui sâu xuống đất. Chỉ còn lại những tên lính trong phiên gác ngồi thu lu tại các ụ súng ở sát ngoài hàng rào phía xa. Người lính ngụy đã cho Phong uống nước còn trở lại chỗ anh một lần nữa mang theo tô cơm gạo sấy, có con cá nục kho và vài cọng dưa môn. Và bảo: - Chiều có xe đưa mi vô Huế! Thế là thoát chết con ạ... Có ra đảo đi tù cũng còn sướng hơn ôm súng đi đánh nhau. Phong giả bộ nhìn người lính ngây ngô, không hiểu. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:30:55 am * Ba chuyến xe GMC có lính áp tải chạy từ Quảng Trị vào đến Tứ Hạ đã hơn 5 giờ chiều. Trời lất phất đổ mưa. Phong được những người lính ngụy cáng ra ngoài ngã ba đường. Chiếc xe chỉ dừng lại hai phút, họ chuyển anh lên thùng xe. Đoàn xe nhằm hướng Nam đi tiếp, cỏ một xe chở đầy lính, súng ống gọn gàng chạy phía trước dẫn đường. Trên chiếc xe GMC chở Phong đã có sẵn gần hai chục người. Họ ngồi chen chúc trong thùng xe, bị trói hai tay. Người nọ và người kia được nối với nhau bằng một sợi dây dù bản rộng. Phong bị thương gãy chân, nên không bị trói. Thùng xe chật, anh không thể nằm phải ngồi dựa lưng vào thành xe. Hầu hết gương mặt những người bị bắt đều ủ rũ. Nhìn qua thấy ngay họ đều là bộ đội giải phóng. Một vài người bị thương ở tay, ở đầu. Băng quấn quanh vết thương, ở góc thùng xe phía trong còn có hai cô gái. Họ khác với những anh bộ đội là mặc quần đen, áo vải xanh... Một trong hai cô bị thương gãy tay. Dải băng trắng đeo lên cổ. Cả hai cô đều cúi mặt, hình như có người khóc. Thấy Phong lên, nhưng không một ai hỏi anh ở đơn vị nào. Họ ngại hai người lính ngụy đội mũ sắt quân cảnh ngồi ở hai cái ghế nhựa cao canh chừng chĩa súng ra ngoài đang phì phèo điếu thuốc. Từ căn cứ Tứ Hạ vào Huế chỉ mười bảy cây số. Phòng đã nhiều lần cùng với bộ đội vượt qua đường 1 để vừa đánh giặc vừa mua gạo ở các ấp Thanh Lương, Văn Xá Làng, Bầu Tháp, An Hòa. Về vùng sâu bao giờ cũng có cán bộ địa phương, du kích, biệt động huyện dẫn đường. Đoàn quân đi đồng bằng xuất phát từ cửa rừng khi trời mờ tối về đến làng đã khuya. Để tránh những nơi địch hay gài mìn, giăng quân phục kích, bộ đội phải cắt băng qua đường lộ ở những nơi địch sơ hở nhất. Tổ trinh sát bám đường lộ, nếu không có địch bao giờ cũng phải trải lớp ni lông để người vượt đường không để lại dấu chân. Bây giờ, Phong đi trên đoạn đường rất quen thuộc này giữa ban ngày, trong một hoàn cảnh trớ trêu - tù binh của quân ngụy trong một trận đánh không cân sức. Phong tựa đầu vào thành xe. Mắt anh dõi theo qua khe gỗ hẹp để nhìn những xóm ấp vùng Hương Thạnh, Hương Thái, Hương Sơ trong buổi chiều tàn... Những ngôi nhà dân im lìm, rất ít bóng người qua lại... Đây là xóm mới Văn Xá Trung nằm kẹp giữa một bên là đường lộ, một bên là đường sắt. Bờ mương dẫn nước xây bằng xi măng dẫn vào ruộng. Ba năm trước, đại đội 3 của Phong về Xóm Mới cùng với du kích Hương Thạnh đã đánh nhau với đám lính bảo an một trận ngay trên bờ mương dẫn nước. Anh Thẻo xã đội trưởng, người chuyên dùng khẩu cối cá nhân của ngụy đã hy sinh ở đấy... Kia là ấp Văn Xá Làng. Bộ đội khi tiếp cận vào làng thường bám men theo tràn ruộng để tránh con đường trục chính, tụi dân vệ ban đêm hay gài mìn. Còn đây là quán mụ Chiện, một cơ sở của Tâm lúc em còn sống. Đi vài trăm mét nữa đã nhìn thấy cây bông đồng ngay đầu ấp Bầu Tháp... Vạt thông non sau ấp nhìn ban ngày xơ xác, thưa thoáng. Nhưng đấy là nơi Ban chỉ huy đại đội đặt khẩu cối 60, trong một trận đánh tập kích tiêu diệt một trung đội nghĩa quân năm nào... Ngước mắt lên phía tây, Phong chạm ngay vào đỉnh Hòn Vượn, Đồi Tranh, Một Mái, Động Ngang. Nơi ấy là căn cứ vùng giáp ranh của các đại đội bộ binh tiểu đoàn 10, của huyện, của xã. Bây giờ Hòn Vượn đã trở thành căn cứ quân sự, phòng thủ mạnh của địch án ngữ vùng giáp ranh Hương Trà. Căn cứ có nhiều lớp hàng rào, bãi mìn, có xe tăng, có trận địa pháo... Vào giờ này, chiều qua Phong và đại đội 2 còn ngồi ngoài bãi đá cửa rừng để chuẩn bị xuất quân xuống đồng bằng. Ai ngờ, lúc này anh lại đang ngồi trên xe tù binh của ngụy để về Huế! Những người lính của đại đội 2 trở về sau trận đánh chấc nghĩ anh đã chết như những người lính khác, mất xác ở đồng bằng. Đoàn xe chở tù binh vào tới cầu An Hòa chạy chậm lại. Ở đây ngay trước đầu cầu cách chừng hơn trăm mét địch giăng một hàng rào dây kẽm gai bùng nhùng chặn ngang đường. Liền kề là bốt gác, có lính đứng điều khiển cây rào chắn mỗi khi có xe qua lại. Nhìn thấy xe chở lính theo sau là ba chiếc xe chở tù binh, cây sào sắt chắn ngang được nhấc cao. Ánh sáng hoàng hôn ngả dần sang màu tro. Thấp thoáng qua kẽ lá dừa, ánh đèn đỏ nhấp nháy trên đỉnh tháp cao của thành phố Huế. Những đêm đi về đồng bằng quanh các xã ven đô Huế, Phong và những người bộ đội K10 nhiều lần nhìn thấy ngọn đèn ấy. Ngọn đèn đỏ trong thành phố giúp cho những anh bộ đội chua thuộc đường định hướng đi về các làng. Càng vào gần thành phố, nhà dân đông hơn. Những ngôi nhà của người dân Huế vùng ngoại thành thường thấp, nhỏ, mái lợp tôn, lợp ngói ta, có hàng hiên hướng ra ngoài đường hoặc nằm lọt thỏm giữa những khu vườn rộng dưới bóng những cây vú sữa, cây dừa... Có một vài quán tạp hóa vẫn đỏ đèn. Ở một quán bán đồ ăn, có những người lính ngụy, hẳn là đám lính địa phương đang ngồi nhậu lai rai... Một chiếc xe nhà binh chạy ngược chiều, rú còi inh ỏi... Phong không hình dung ra chuyện gì sẽ đến với anh trong những ngày tới... Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:32:29 am 4 Có ba tiếng gõ nhẹ trên đầu, một lát sau ánh sáng lùa vào căn hầm. Giọng thím Tư Nhiên rành rẽ: - Lên đi con. Quân thằng Trương rút hết cả rồi... Hạnh sửa lại áo quần, đeo súng. Cô đu người vào miệng hầm nhảy lên. Trên giường kê ở góc nhà đã nhìn thấy thím Tư dọn sẵn mâm com, úp lồng bàn. - Nóng ghê gớm, thím Tư à! - Hạnh nói. Cô bước tới lu nước đặt ở góc nhà múc nước vã lên mặt. Thím Tư quay ra nhà ngoài đi xuống bếp một lát rồi bưng lên tô chè đậu xanh đưa cho Hạnh. - Ăn chè trước cho mát ruột, lát nữa hãy ăn cơm. Hạnh bưng tô chè, cô ăn rất tự nhiên. - Có chuyện chi thím nói thử coi. Thím Tư nói nhỏ đủ cho Hạnh nghe : - Nghe mấy thằng dân vệ kháo chuyện, đêm qua bộ đội về đánh chi khu, hai bên đánh nhau ở đường rày, súng nổ dữ lắm. Bộ đội có người hy sinh. Hanh bỏ ngang bát chè. - Hèn gì lúc con và đội anh Ngọc về tới Kim Long nghe súng nổ dữ dội. Chắc bộ đội C2 bị rồi. Thím Tư nè! Thím thu xếp công việc, lên ngay quán mụ Chiện giúp con được không thím? - Được. Tao khóa cửa, khóa cổng thả mấy con chó ra. Có chuyện chi, con chui xuống hầm là xong. Gặp mụ Chiện nói răng? - Cho người lên thăm dò tình hình trên quận. Coi thử bộ đội C2 về đánh chi khu ra sao. Nắm cho kỹ địch, nếu ở đấy êm, làm ám hiệu tối nay con về... Nhớ chưa thím? - Nhớ rồi. Nhà thím Tư có hai con chó thiệt dữ. Lấy cớ nhà chỉ toàn đàn bà con gái, lại là vợ góa con côi của ông ấp trưởng, có con trai là sĩ quan cảnh sát ngụy nên đám tề ngụy ở địa phương sợ thím Tư một phép. Xét về mặt họ hàng thân thích, thím Tư là bà con bên nội nhà Hạnh. Sau năm bảy mươi, phong trào của xã Y gặp nhiều khó khăn. Những căn hầm bí mật Hạnh và những người cán bộ xã đào ở An Đôn, Văn Xá Thượng, Văn Xá Trung không thể sử dụng được nữa, Hạnh mới bàn với thím Tư bí mật đào một căn hầm ngay tại nhà. Địa thế của căn hầm này thoạt đầu tưởng khó sử dụng được. Nhà thím Tư ở gần chợ, gần đình nơi tụi nghĩa quân, dân vệ hay tụ hội, ban ngày con đường làng chạy trước cửa nhà đông người qua lại. Căn hầm đào xong lại tỏ ra lợi hại. Vào những lúc nguy biến nhất, Hạnh lại về đây trú ngụ trong những chuyến phải bám vùng sâu dài ngày; hoặc chỉ đạo đường dây trong thành phố. Ở huyện có lẽ chỉ có chú Sáu Thọ và một vài người nữa mới biết gốc tích thật của vợ chồng thím Tư. Ông ấp trưởng xã Y là một mắt xích quan trọng của cơ quan đường dây thành ủy Huế. Ông sống lặng lẽ trong ấp và tỏ ra mẫn cán trong hệ thống hành chính cơ sở của chính quyền ngụy nhưng kỳ thực ông là đảng viên Đảng Nhân dân cách mạng từ những năm 1960. Thím Tư trở thành đồng chí của chồng từ năm 1965. Theo sự phân công của trên, ông phải tạo cho mình một vỏ bọc thật chắc chắn để nắm tình hình địch từ trong ổ ruột của chúng. Cái chết của chú Tư cũng là bí ẩn của dân trong ấp. Chỉ nghe nói chú Tư bị Việt cộng sát hại vì tội làm tề điệp, tay sai cho chính quyền ngụy. Dân trong vùng ai cũng biết chuyện, sau chiến dịch Mậu Thân, bộ đội và Việt cộng đã bị quân Đồng minh và quân lực Việt Nam cộng hòa đẩy lên thấu rừng xanh, gia đình thím Tư được Chính phủ cộng hòa của ông Thiệu “tri ân”. Có lần chú Sáu Thọ đã nói cho Hạnh biết rõ về sự thật cái chết của chú Tư. Chính chú là người đã dẫn đường cho bộ đội đánh vào khu Mang Cá, giải phóng Lao Thừa Phủ đêm xuân Mậu Thân 1968. Pháo địch đã sát hại chú. Cấp trên xét thấy thím Tư chưa bị lộ và tính chuyện dài lâu đã không cho rút mẹ con thím Tư lên rừng... Xác chú Tư đã được đội biệt động đường dây thành phố do Huy Ngọc đảm nhiệm đưa lên bãi tha ma của làng và phao tin rằng: Tư Nhiên là ác ôn, bị “Việt cộng” sát hại. Chồng chết. Thím Tư buồn đau. Nhưng vốn bản tính là một người đàn bà sắt đá, cứng cỏi, có phần chanh chua, mọi chuyện tang tóc trong nhà qua nhanh. Thím chính thức trở thành người chỉ huy trong đường dây của Hạnh, nắm toàn bộ các cơ sở ở vùng sâu xã Y. Thằng Đạt, con trai của thím Tư là thiếu úy cảnh sát ở Tây Lộc, có nhà riêng ở ấp Xuân Hòa, một vài tuần đưa vợ con về thăm mẹ, đồng thời cung cấp những thông tin nghe ngóng được cho mẹ. Đã có người đề nghị thím Tư cho Quyên, cô con gái út của chú thím ra Bắc ăn học. Thím Tư nửa thương con, nửa sợ lộ, không chịu. “Học mô mà chả được. Chỉ sợ dốt và lười biếng. Cuộc sống này là trường học. Tao và cha mi học nớ chớ học mô”. Thím Tư bảo Hạnh vậy. Ngày Hạnh báo cáo huyện ủy đào hầm ở nhà thím Tư, chú Sáu Thọ đồng ý ngay. Chú bảo: “Ở được đó còn gì bằng. Chỉ sợ không đào được thôi. Lộ ra mất đầu cả đám”. “Chú khỏi lo. Hầm có rồi, cháu chỉ chờ xin ý kiến chú!”. “Con này giỏi thiệt ha! - Chú Thọ vừa la lên nửa ngạc nhiên, nửa trách móc… - Tụi bay mần khi mô, không báo chú hay!”. Khi ấy, Hạnh mới thưa: “Bữa thím Tư đập căn nhà cũ ra xây lại, nhân đào đất đá lộn xộn, thím Tư đã đào xong hầm rồi”. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:33:25 am Căn hầm nhà thím Tư nối thông từ trong nhà ra sát mép con hói rộng. Cửa hầm thoát giấu trong một bụi tre gai dày. Chó mèo cho đến đám lính dần vệ tò mò hay đi đào chuột, bắn chim cũng không thể mò vào được. Khi cần thoát chỉ cần mở nắp, người có thể thoát xuống con hói chạy xuyên qua mấy xã đổ ra sông Kim Long. Địa điểm này chỉ khi nào thật cần thiết, căng thẳng, Hạnh mới sử dụng. Thím Tư thương Hạnh còn hơn thương con gái. Thím biết, Hạnh bây giờ không còn ai là người thân thích ruột thịt. Mỗi dịp Hạnh về trụ bám trong ấp là một dịp thím có điều kiện chăm sóc sức khỏe cho cô. Thím Tư cũng biết đứa cháu của mình còn là “cấp côi” của thím. Nhiều lúc thím chạnh lòng nghĩ: Con gái có lứa có thì. Cứ giặc giã, đánh nhau hoài thế này bao giờ Hạnh mới yên bề chồng con. Một đôi lần, thím Tư thăm dò, Hạnh chỉ cười cười: “Vội vàng chi thím. Ít năm nữa thống nhất, cháu lấy chồng chưa muộn”.
Ít năm nữa là bao giờ? Thím Tư không nghĩ ra. Cứ gẫm từ cuộc đời thím mà ra, dài lắm. Ngày chia hai miền nam Bắc, lúc ấy thím và chú Tư mới cưới nhau chưa tròn năm. Chú Tư an ủi vợ: “Hai năm thôi mà em. Nam Bắc thống nhất, bộ đội đằng mình lại về. Em lại được gặp ba!”. Thím Tư đã chờ dài cổ để cho mong hết hai cái Tết, cha thím tập kết về gặp lại mạ con thím. Mạ mất, rồi chồng mất đã mười mấy năm vẫn chưa thấy được cái ngày vui sum họp. Cứ mỗi năm thím Tư lại trồng ở mảnh vườn sau nhà một cây dừa đánh dấu ngày cha thím rời bỏ mạ con thím ra Bắc. Mười chín cây dừa đã phủ kín mảnh vườn. Nhiều cây đã ra trái. Từ ngày chú Tư mất, vào ngày giỗ chú, cũng là tiết xuân, thím Tư lại lặng lẽ bưng về trồng một cây cau. Năm cây cau dàn một hàng ngang như những người lính bồng súng trước hiên nhà. Cây thấp cây cao trông hay đáo để. Nhưng ẩn chứa sau cái vẻ bề ngoài có phần hơi hoang tàng của thím là một nỗi niềm trắc ẩn, có lúc như điên loạn. Có những buổi chiều đám lính dân vệ kéo tới tụ hội ở quán nhậu, kế bên nhà thím bài bạc, rượu chè... Lấy cớ gây ồn ào, thím Tư ra chửi đám lính như tát nước vào mặt. Mấy tay dân vệ chịu không nổi kéo nhau ra đình. Câu chuyện về cha thím cũng đầy éo le. Ông Năm Thự - một giáo chức của làng, ra Bắc tập kết chỉ vài năm, cũng đã được lệnh trên trở về Nam. Ông không được về lại Trị Thiên mà tăng cường cho mặt trận Tây Nguyên. Ông giáo Năm Thự thương vợ, nhớ con cũng chỉ có thể gởi cho con gái một tấm hình nhỏ mặc quân phục quân giải phóng, đeo xắc cốt đen, đầu đội mũ tai bèo. Một hôm chú Sáu bí mật về ấp đưa cho thím Tư tấm ảnh chỉ nói mỗi câu: “Thay mặt cho huyện ủy, chú xin chia buồn với cháu. Anh giáo đã hy sinh ở mặt trận Tây Nguyên. Bộ chỉ huy Miền gởi chút kỷ vật này về cho cô Tư”. Thím Tư nghe tin đột ngột đã túm lấy áo chú Sáu nói không thành lời: “Chú Sáu... Tây Nguyên là ở mô... Mà sao cha tui chết?”. Năm ấy, Tư Nhiên vẫn còn sống hết lòng an ủi vợ nhưng nhiều đêm thím Tư khóc tấm tức thương cha. Làm cỗ cúng cha xong, ít bữa sau thím bỏ chồng, bỏ con đem theo nửa cây vàng bán đi để mua một xe nón đánh đường lên Tây Nguyên đi khắp Buôn Ma Thuột, Gia Lai, Kom Tum bán buôn nón cho các chợ. Vừa bán nón thím vừa tìm cách thăm dò tông tích người cha. Thím lần mò vào tận Đắc Tô, Tân Cảnh, Sa Thầy. Nghe bảo trong ấy bộ đội đánh lớn. Chỉ có rừng núi điệp trùng và những con đường cao nguyên đầy bụi đỏ, hoa dã quỳ nở vàng sau những cơn mưa. Các thung lũng, triền đồi hoa lau nở trắng. Đâu đâu cũng tràn ngập sắc áo lính ngụy, lính Mỹ. Đấy là mùa khô 1966. Tấm ảnh ông giáo Thự được thím Tư lồng vào trong khung kính, dưới tấm ảnh chồng đặt trên bàn thờ, phía sau tượng Phật Bà Quan Thế Âm Bồ Tát, hương khói hàng ngày. Tụi tề ngụy trong ấp, trong xã lâu lâu ghé thăm bà vợ góa ông ấp trưởng đã quá cố, chủ yếu là tán tỉnh bé Quyên, lại bắt gặp thím Tư ngồi tụng kinh trước bàn thờ Phật. Trong buồng của thím, chỉ cách đấy vài bước chân là nắp hầm của Hạnh. Cô nghe được cả những câu tán dóc nhăng cuội của đám lính ngụy ở gian nhà ngoài, tiếng máy khâu của Quyên đạp xè xè... Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:34:30 am Anh Phong đã có lần nửa trêu, nửa đùa:
- Làm lính du kích như tụi bay sướng thiệt, Hạnh à. Ăn cơm trắng, cá nục kho, canh măng chua nấu cá sông Bồ... Hạnh cũng đáo để không vừa: - Thích mà anh chạy dài... Chạy dài đến nỗi để cho mấy o đồng bằng khóc lên, khóc xuống. Phong cười chống chế: - Con ni xạo... Xạo thiệt nghe. Tao không hiểu thằng Cường ăn phải thuốc chi mà nó mê mày... Nhắc tời Cường, Hạnh thấy lòng xốn xang, như có lửa đốt. Giọng cô như lạc đi: - Em khổ cực như ri... Ai mà thèm mê! Nửa tháng trước, chú Hường từ tỉnh qua có mở một cuộc họp đặc biệt. Phong đại diện cho bộ đội K10 được mời dự. Ngoài chú Sáu bí thơ huyện ủy còn có lãnh đạo các xã vùng sâu, đôi trưởng đội biệt động huyện. Từ lâu, Hạnh và cán bộ các xã đã có sự chuẩn bị kỹ lưỡng cho chiến dịch “giành đất cắm cờ”. Chú Sáu và cán bộ đặc phái viên của tỉnh nói rõ địa bàn các xã vùng ven Huế phía bắc sông Hương không phải là trọng điểm cho cuộc tấn công và nổi dậy. Lực lượng sử dụng chủ yếu là bộ đội C2 - K10 và bộ đội du kích, biệt động tại chỗ. Mục tiêu giành đất là thứ yếu. Nhiệm vụ hàng đầu là tuyên truyền sâu rộng trong dân nội dung của hiệp định Ba Lê và chủ trương chính sách của Mặt trận giải phóng và Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Vùng đồi núi giáp ranh Hương Trà, Hương Thủy nếu có giành được cũng khó mà giữ được khi căn cứ Hòn Vượn, căn cứ Am Cây Sen, căn cứ Văn Thánh, Chóp Nón... địch đang chiếm giữ. Bộ đội chủ lực rơi vào thế kẹt nếu cố tình giữ cho được giáp ranh. Trận chiến chính cho vùng bắc Huế nằm ở tuyến sông Bồ. Nơi có các sư đoàn chủ lực 324, 325 của quân giải phóng chốt giữ và tạo thế gọng kìm vây ép Huế. Và ai cũng hiểu, trận đánh này là để tống tiễn những người lính Mỹ cuối cùng về nước. Sẽ chưa có kẻ thắng, người thua mà chủ yếu tạo ra một cục diện mới của các bên trong bàn cờ chiến lược. Gặp Phong, lúc chỉ có hai người, Hạnh hỏi: - Hôm rồi sang Phong Điền, anh có gặp anh Cường không? - Bữa anh sang họp, thằng Cường đang đi với ông Tư Nhất xuống Quảng Điền. Họ đi với địa phương về điều nghiên vùng sâu... Chợt Phong hỏi: - Chuyện của hai đứa bay ra sao rồi?... Hạnh cười chối: - Nào đã có chi mô anh. Thời gian còn dài mà... Em có cây Rubi, lát nữa ghé qua hậu cứ tụi em, em cho. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:36:18 am * Thím Tư đi chừng hai giờ đã trở về. Quyên đèo mẹ trên chiếc honđa đen, phía sau xe còn có cả một bọc vải dùng để cô may cắt áo quần. Quyên ở gian nhà ngoài có cửa hàng, vừa dỡ hàng, vừa canh chừng. Thím Tư vào buồng gặp Hạnh. - Đêm qua bộ đội về đánh chi khu gặp địch. Hai bên bắn nhau, nghe biểu bộ đội hy sinh nhiều lắm. Sáng nay, lính kéo xác bộ đội về Tứ Hạ cả rồi. - Bộ đội anh Phong... - Hạnh bật nói. Thím Tư không hiểu hỏi lại: - Phong nào mi... bộ đội K10 hí? - Dạ phải! - Hạnh nói tiếp - Có lẽ tối nay con phải đi gặp anh Huy Ngọc, thím à. Thím có cách chi báo sang La Chữ giúp con. Thím Tư: - Lúc tao về thấy đại đội bảo an 23 đang ở đầy trong làng Liễu Thượng. Mi xuống hầm nghỉ cho an toàn. Để việc tìm thằng Ngọc tao lo! Trước khi xuống hầm, Hạnh không quên tới bức tượng Phật. Bệ tượng bằng gỗ, dưới đáy bệ là chiếc hộp nhỏ nơi cô thường giấu cuốn nhật ký và một vài loại giấy tờ không quan trọng. Chiếc bệ tượng Phật phơi ra trước mặt mọi người, nhưng lại là nơi an toàn nhất, ít ai ngờ tới. Hai đêm sau nữa, Hạnh mới bắt mối liên lạc được với anh Huy Ngọc, thành ủy viên. Họ gặp nhau trong khu cứ cũ của làng An Đôn. Hai Ngọc là chính trị viên của đội -biệt động thành phố, trụ bám trên địa bàn Hương Trà, quê ở làng Phú Ổ. Anh là lứa thanh niên tham gia cách mạng từ khi tuổi còn nhỏ lên rừng cùng đợt với chị Tâm. Sau Tết Mậu Thân 1968, cán bộ du kích Hương Trà bị thiếu hụt, Hai Ngọc được rút lên rừng tham gia vào đội biệt động, xây dựng phong trào cơ sở cách mạng trên địa bàn xã Hương Thái. Đám tề ngụy trong vùng nghe tiếng những “Việt cộng tay tổ” như Hai Ngọc, Đoàn sẹo, Sửu sứt, Tự, Châu, Thẻo, chị Tâm, chị Nguyệt, chị Chồn, chị Đắng, o Cúc... sợ một phép. Hầu hết số cán bộ xã, huyện đều sinh ra và lớn lên tại Hương Trà. Họ thông thuộc địa hình trong các xã, các ấp như trong lòng bàn tay và là cán bộ chủ chốt tham gia vào phong trào diệt ác, phá kèm từ những năm sáu bảy, sáu tám và từng bước trưởng thành, là lực lượng nòng cốt trên địa bàn huyện. Hạnh là lớp đàn em, nhưng nhờ công gây dựng được phong trào của xã nên tiến bộ nhanh. Song cô vẫn luôn coi những người như chị Tâm, Hai Ngọc là bậc đàn anh. Hạnh đưa cho Hai Ngọc một gói xôi, chị Tư nấu cho từ hồi chiều, bọc kín trong lớp lá chuối hơ lửa. Hai Ngọc lôi ra từ trong kẹp đạn cối cá nhân một mảnh giấy và bảo: - Mi có cái thư của chú Sáu gởi. Anh Phong bộ đội K10 bị bắt, mi đã biết chưa? Hạnh nghe mà rụng rời chân tay. - Tin có chính xác không? Sao anh Hai biết? Hai Ngọc vừa bẻ cục xôi vừa ăn, vừa nói: - Điện từ tỉnh sang cho chú Sáu mà không đúng răng? Chú Sáu biểu mi tìm cách bắt liên lạc với V. trong thành phố, coi thử tình hình ra răng. Trước mắt phải giữ địa bàn, đâu ở yên đó. Bên Phong Điền, bộ đội và quân dù ngụy thi nhau cắm cờ búa xua... Còn địa bàn ta lại khác. Thư chú Sáu viết gọn. Giao nhiệm vụ cho cô móc nối vào thành phố, nắm tin tức của địch sau những ngày giao tranh, dư luận dân chúng sau khi hiệp định Pari được ký kết. Đã gần một tuần trôi qua, trên vùng đất Hương Trà tiếng súng đã tạm ngưng. Dọc theo con đường chiến lược từ Trường Bia đến căn cứ Am Cây Sen, trung đoàn bộ binh 54 của sư đoàn 1 ngụy đóng chốt dày đặc. Trên các ngọn đồi, đâu đâu cũng có nhà bạt của ngụy. Một vài nơi, chúng còn dựng cả những cây cờ ba que phất phới trên đỉnh đồi. Chợt Hạnh hỏi Hai Ngọc: - Lâu nay anh có nhận được tin tức gì của Hoa không? Hai Ngọc vui hẳn lên. - Ra thấu Bắc rồi. Bữa đến ban B Quảng Bình, Hoa có gởi thư về hỏi thăm sức khỏe của mi và anh em trong xã. - Hay quá ta... Anh có viết thư cho Hoa, biểu em gởi lời hỏi thăm nghe. Em có mang cho anh Hai ít sữa, đường, trà, anh lên gởi cho chú Sáu. Hai Ngọc đứng dậy, cầm khẩu súng cối cá nhân: - Mi về đi. Tao cũng phải ra chỗ tập kết chờ anh em đi đồng bằng lên. Tao dặn mi, bữa nay về cứ không đi đường cũ nữa đâu nghe. Ta đi theo đường dốc Mồng. Cán bộ du kích huyện nhiều người biết mối tình của Ngọc và Hoa. Mới mười sáu tuổi Hoa đã lên rừng theo các chú, các bác từ những năm sáu bảy, sáu tám. Nhỏ người, nhỏ tuổi, xinh xắn, Hoa được phân công làm công tác phụ vận của xã Hương Thạnh. Ngọc là lính biệt động sau chuyển sang chỉ huy an ninh thành phố. Hoạt động trên cùng một địa bàn, sống chết với nhau nhiều phen, hai người quen nhau rồi thương nhau. Trong một trận pháo địch tập kích vào hậu cứ, Hoa bị thương nặng vào chân, vào đầu. Hạnh và những người ở huyện ủy đã phải đạp đường lên sông Bồ, khiêng cáng Hoa giao cho trạm phẫu Nhô. Hoa được cứu sống, rồi cô được chuyển viện ra Bắc. Trong chuyến đi lên địa đạo, Hạnh nhận được tin Cường và bộ đội K10 đang trên đường về lại địa đạo 310. Hạnh đã xin với chú Sáu Thọ để đi gặp Cường được vài tiếng đồng hồ, trước lúc vượt đường 12 về tỉnh họp. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:37:50 am * Ngày... Có thể anh trách em, anh giận em, Cường ạ. Nhưng biết mần răng được. Cái ngày anh và những người lính K10 rời giáp ranh, em vừa buồn, vừa mừng cho anh, nhưng từ đáy sâu tim em tan nát. Về với tiểu đoàn, về với những người lính chủ lực của khu em biết sự hiểm nguy sẽ đến với anh bội phần. Bom pháo như rứa, các anh lại phải luôn đối mặt với những trận đánh ác liệt và thảm khốc, không nơi trú ngụ, không được phép hèn nhát, mặt đối mặt với các đơn vị lính ngụy thiện chiến ở chiến trường, hòn tên mũi đạn biết răng được? Anh ở lại đây, em biết anh chưa hẳn đã vui. Đang là chỉ huy bộ đội lại phải làm anh cán bộ xã, nào có hay hớm gì. Em biết cái chí của anh không phải vậy. Nhưng dẫu sao anh ở đây hàng ngày em còn nhìn thấy anh. Ăn uống dù có kham khổ đến mấy, canh môn vót, tai voi, chút muối ớt nhưng mà “cả nhà” đều vui. Đêm đi đồng bằng, lọt được về dân, cuộc đời lại tươi. Anh về đây vài tháng, đã thông thuộc địa hình từng ấp, từng xã... Cơ sở đã quen hơi biết tiếng anh. Đám dân vệ, nghĩa quân dù có mưu mô hiểm độc đến mấy, gài mìn, phục kích nhưng lại là đám nhát gan như thỏ đế. Súng AK, B40 vừa nổ đã co cẳng bỏ chạy... chứ không gan lì, cứng đầu cứng cổ như tụi lính ngụy bộ binh E54, lính dù, thám báo... Mà tính anh lại là người liều lĩnh. Ngày... Em vẫn còn nhớ, đêm ấy đi về chợ La Chữ. Bầu trời xám xịt mưa đã cả tháng trời. Đồng bằng trắng nước. Trời mưa to, các chốt của địch rút hết lên đồi. Đường về đồng bang ngả Trường Bia thênh thang. Trời chưa tối, đứng từ đỉnh dốc nhìn về đồng bằng trắng nước. Gạo hết đã mấy ngày rồi. Bột ngọt, muối cũng hết. Quân của xã ốm hết quá nửa. Gom quân đi đồng bằng chỉ còn đúng năm người. Anh Hồng, chú Hoa, anh Ngọc, em và anh. Anh Hồng là chỉ huy, không nói làm gì, anh Ngọc đêm ấy cũng phải vác cây B40, giữ hỏa lực. Các xóm ấp vùng Hương Thạnh địch chốt dọc theo tuyến đường 1 không về được, cả nhóm quyết định đi Hương Thái, vào cơ sở của anh Ngọc để mua gạo, thực phẩm. Con đường về chợ La Chữ nước lội ngang bắp chân. Mưa vẫn rơi, sấm sét nổ, chớp sáng lóa trời. Con đường bí mật vào làng La Chữ qua hói Bồn Trì đã chìm sâu hàng thước nước. Anh Hồng quyết định đột kích vào làng qua cầu La Chữ. Chính anh chứ không phải ai khác đã lặng lẽ bò lên bám cầu để theo dõi động tĩnh phía đầu cầu bên kia. Cũng tại cây cầu này, cách đây hơn tháng trước, bộ đội về gặp phục kích. Anh Minh người Quảng Xương, Thanh Hóa đã dính mìn của tụi bảo an. Đám nghĩa quân, dân vệ cũng hay chốt chặn ở đây... Em, anh Hồng, anh Ngọc, chú Hoa giương súng nằm nép ở bờ bên này hói, sẵn sàng đánh chi viện cho anh để có đường rút. Em dõi theo anh từng mét một khi anh bò trên cầu. Lúc ấy, em đã tự hỏi, sao người bò trên cầu là anh chứ không phải là em? Nhưng em thừa hiểu, anh Hồng và cả anh nữa không bao giờ cho em làm chuyện ây. Bộ đội các anh luôn là những người đi trước mà... Chỉ đến khi nhìn thấy anh khuất vào sau rặng tre mà không thấy súng nổ, em mới thở phào nhẹ nhõm. Gặp anh ở nhà mụ Giạ, anh lại còn dúi vào tay em trái lựu đạn US nổ tức thì đã gài chốt và bảo: Tặng em này, đem về gài quanh cứ. Hóa ra trời đổ mưa, đám lính dân vệ đã kéo nhau về đình ngủ cả. Chúng gài lại một quả lựu đạn trên cầu, thay gác cho chúng! Hú hồn! Mà cũng ghét anh ghê! Ngày... Đã hơn năm tháng rồi, em không nhận được tin tức gì của anh. Thư, công văn vẫn chuyển về xã lần nào em cũng lựa tìm nhưng chẳng thấy một lá thư nào của anh. Ngay đến thư của Mộc, từ quê gửi vào, đi mất chín tháng, nó vẫn còn nhận được đọc cho mọi người cùng nghe. Còn anh thì không! Hay đã thật quên em rồi? Mà cũng phải thôi, anh ra miền Bắc có biết bao niềm vui, bao cô gái chờ đợi anh... Anh sẽ sớm quên ngay đứa con gái quê mùa, tội nghiệp đang chui lủi đâu đó trong các cánh rừng, thôn ấp. Cái chết rình rập hàng ngày, hàng giờ, hàng phút. Em cũng cầu mong cho anh sự bình an... Em chẳng có quyền gì chờ đợi và hy vọng cả, vào lúc này... Ngày... Những ngày xa anh thật là dài. Và những đợt em phải bám “lõm”, thời khắc một ngày càng dài hơn, nhất là những lúc địch đổ quân đóng ở làng. Em như con thú bị nhốt trong chiếc cũi, nhiều lúc nhìn tụi bảo an đi lại trong làng, ngồi uống lade lai rai ngoài quán nhậu muốn bung hầm ra táng cho chúng vài trái lựu đạn mà không được. Hai trái bộc phá, anh tự tay gài kíp nổ dành tặng cho em, em vẫn giữ. Chỉ khi nào đi vùng sâu em mới dùng đến nó. Em còn nhớ anh dặn: “Dây cháy chậm anh chỉ cắt đúng ba phân, em nhớ nghe!”. Anh sợ em quên, cứ hay nhắc đi, nhắc lại hoài à...! Ở đây, trong căn phòng tối om của nhà thím Tư, để giết thời gian trôi đi trong một ngày, em lại nhớ lại những kỷ niệm của hai đứa mình. Đẹp hay xấu hả anh? Ta làm vậy có sai không? Con tim em mách bảo: ta yêu nhau thiệt lòng, chẳng có gì là tội lỗi cả. Ngay như cái việc chú Sáu bí thơ luôn nhắc em phải thận trọng, cảnh giác trong mọi chuyện... Nhưng vào lúc rảnh rỗi, nhớ anh cố ghi mấy dòng này. Em chả ngại. Nói có Trời Phật, nếu có mệnh hệ gì, những dòng này sẽ theo em trở thành cát bụi. Chuyện của riêng em, chỉ mình em hay. Cuộc đời đã cho em nhiều thứ nhưng cũng lấy của em nhiều thứ. Bây giờ cuộc sống lại run rủi - anh đến với em, em phải ráng tìm cách giữ... Bây giờ đã là 6 giờ tối rồi. Hình như ngoài trời lại đổ mưa. Cứ mưa to đi, để tụi bảo an, dân vệ chui vào trong nhà... Em đi về Phe Nhất mà! Ngày... Có một anh chàng ở đội biệt động xã M tán tỉnh em. Anh ta mới đi viện 94 về, bảo rằng nghe tin anh và bộ đội K10 về đang đánh địch ở Động Tranh. Có gặp một anh tên Kháng nào đó ở viện, lính trinh sát quân khu về bám Hòn Vượn nói anh bị chết rồi. Em không tin... Đã mấy lần em về hậu cứ trên xanh, lần nào anh ta cũng lần mò sang cứ của xã em chơi, chọc ghẹo tán tỉnh em. Có lần tức quá, em méc với anh Ngọc. Bữa ấy, đi đồng bằng, trong lúc chờ trời tối ở ngoài dốc miếu Trâu, nửa vui nửa đùa eng Ngọc vỗ vai anh biệt động nọ: “Nè, tao nghe mi tán tỉnh con nhỏ Hạnh phải không? Nó là em tao (điều này anh Ngọc xạo!), có người yêu rồi đó nghe! Thằng C biết chuyện nó về cắt dái mày, tao không can mô nghe.”.Cậu biệt động nọ tái mặt, chống chế: “Đâu có! Đâu có... Mà nghe biểu anh C chết rồi”. Anh Ngọc văng tục: “Chết cái cục cứt! Nó còn sống sờ sờ ra kia... Bữa tao qua đường 12, nghe tin bộ đội K10 đang về lại Hương Trà”. Nghe lỏm tin ấy, em sang gặp chú Thọ. “Chú Sáu ơi! Nghe tin anh Ngọc biểu K10 về lại huyện mình có phải không, chú?”. Chú Sáu đang ngồi đọc tài liệu nghe hỏi, giương kính nhìn em: “Chú chưa nhận được thông báo cháu à! Chỉ biết bộ đội 324 đang đánh 360, Động Tranh, Bình Điền. ít bữa nữa chú sang thành ủy họp, chú cho cháu đi thăm dò thử xem sao. Anh em K10 về mình tốt chớ sao.. Ngày... Lúc em bỏ đi... Em biết là anh buồn và giận em. Biết mần răng được, anh! Nhìn thấy anh khỏe mạnh, em thật vui và mừng. Khi nhìn thấy đôi mắt anh ngạc nhiên sững sờ, đánh rơi chiếc áo em biết rằng anh vẫn yêu em... Nhưng anh ơi, em phải đi. Chú Sáu đang đợi. Em biết anh sẽ không vui khi em bảo “Quên em đi!”. Anh còn trẻ, đường còn dài... Còn em? Bom đạn biết đâu mà lần... Suốt dọc đường, vừa đi vừa chạy về địa đạo 310, em khóc ròng. Và nghĩ đến anh. Chú Sáu hỏi em: “Có chuyện chi?”. Em chối: “Không có chuyện chi chú... Cháu không gặp được eng Cường. Bộ đội K10 toàn ngưòi mới, cháu chỉ quen vài người”. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:39:26 am 5 Cường và một số cán bộ của đại đội 1 đã có một đêm vất vả. Từ 3 giờ sáng, tổ trinh sát của trung đoàn 2 đã đưa mọi người tiếp cận vào điểm chốt Khủy Đường Xe. Sương xuống, ướt lạnh vai áo. Lá cỏ tranh sắc cứa vào tay chân đau rát. Ánh trăng hạ tuần nhợt nhạt, không thể bằng mắt thường nhìn rõ được các vị trí đóng quân của quân ngụy. Không gian tĩnh lặng, nghe rõ tiếng những con chuột đuổi nhau kêu “chít! chít!” trong đám cỏ tranh. Vượt qua một đoạn sông rộng chừng vài chục sải, nước ngang tới ngực, 8 giờ sáng đoàn cán bộ đã có mặt ở điểm chốt cồn Nổi. Hai ngày trời, ban chỉ huy đại đội 1 và ba trung đội trưởng đã nghiên cứu kỹ tấm sơ đồ vùng bắc sông Bồ và trên thực địa. Các khu vực chốt của các đơn vị lính dù được ký hiệu bằng đường xanh, các mũi tên xanh. Tuyến chốt của ta đánh dấu bằng chì đỏ, mũi tên đỏ. Có nhiều điểm chốt của ta và của địch cách nhau chưa đầy 50 mét. Theo cách nói của lính trung đoàn 2 “ta và địch nằm trong tầm quăng lựu đạn”(!). Chỉ đến khi leo lên tới chòi quan sát đặt trên ngọn cây muỗm già, cao vài chục thước ở chốt cồn Nổi, Cường mới nhận ra thế chốt gài răng lược của bộ đội và các đơn vị lính dù ngụy. Để leo lên đài quan sát, bộ đội trung đoàn 2 đã làm sẵn một cái thang bằng tre ốp chặt vào thân cây muỗm từ gốc lên tới ngọn. Một cái chòi nhỏ vừa đủ chỗ cho hai người ngồi quan sát và đặt súng đạn, nước uống. Đài quan sát được giấu kín trong tán lá cây muỗm. Đứng từ đây mà nhìn, thấy được toàn cảnh làng Hiền Sĩ, Cổ Bi và một đoạn dài của sông Bồ từ điểm cao 165 đến tận cầu sắt. Trong cuộc giao tranh vừa qua giữa bộ đội giải phóng và quân ngụy đoạn đường quốc lộ chạy qua Phong Điền đã diễn ra những trận đánh ác liệt. Kết cục, quân dù ngụy đã đánh bật bộ đội trung đoàn 2 ra khỏi huyện lỵ Phong Điền. Sau ngày 27 tháng giêng, làng Hiền Sĩ chạy dọc theo bờ sông Bồ lên tới đường lộ, cầu sắt Hiền Sĩ do một tiểu đoàn lính dù chiếm giữ. Bộ đội giữ được một phần làng Cổ Bi, Thanh Tân, Sơn Quả... Làng Cổ Bi dân bỏ đi từ lâu chỉ còn lại những mảng tường vỡ. Các vườn chuối, vườn mít vẫn mọc xanh tốt. Bao quanh làng là các rặng tre gai. Trong làng có nhiều hố bom, hố pháo dấu tích từ Mậu Thân 1968. Làng nhỏ nhưng phần đất mỗi bên chiếm giữ cũng được chia làm hai. Một đại đội lính dù ngụy chốt giữ ở phần làng phía đông. Một phần làng có diện tích lớn hơn nằm ở phía tây là của bộ đội. Ranh giới để phân biệt bên ta và bên địch là một rẻo đất ruộng, xưa kia dân trồng lúa, trồng mì, nay bỏ hoang để mặc cho cỏ dại mọc đầy. Nơi trú ẩn của đám chuột, dúi, thỏ, nhím, chồn, cáo... Cả bên ta và đối phương đều tận dụng triệt để từng rặng tre gai, từng gốc mít, bờ tường để đào công sự. Chỉ có vài đêm, tuyến hào của bộ đội đã chạy dọc ngang khắp làng, giấu kín giữa những vạt cỏ tranh cao quá đầu người. Đây thực sự là những tuyến hào lợi hại để đánh phản kích, giữ chốt. Cách mười mét lại có một hầm kèo chữ A chắc chắn. Ở phía dãy hào của quân dù, cứ năm bảy chục mét họ dựng một chòi canh, mái lợp pông sô, có khi là vài tàu lá chuối, cố tình nhô cao hơn mặt hào. Trên nóc chòi phấp phới ngọn cờ vàng có ba sọc đỏ. Căn chòi và ngọn cờ của đại đội dù như có ý bảo: “Chúng tôi ở đây, đất này của chúng tôi... Các anh đừng nổ súng”. Trong mỗi căn chòi ở các điểm chốt bao giờ cũng xuất hiện một người lính dù ngụy, đội mũ sắt, ôm khẩu AR15, ngồi im lặng như một pho tượng quan sát, nghe ngóng động tĩnh, còn đại bộ phận quân dù ẩn núp trong các công sự, giấu mình vào các căn nhà bạt dựng khuất sau bức tường. Làng nhỏ Cổ Bi là một điểm chốt quan trọng của bộ đội dưới đồng bằng. Từ đây, khi có lệnh tấn công, bộ đội đánh thọc ra đường 1 để vào Huế chỉ chưa tới hai chục cây số. Cầu Hiền Sĩ bắc qua sông Bồ là yết hầu cửa ngõ vào cố đô Huế. Cả ta và địch đều tập trung những đơn vị thiện chiến. Giữ chốt làng Cổ Bi trung đoàn 2 bố trí một tiểu đoàn. Một tiểu đoàn giữ vùng cống Vàng kéo dài ra tới tận làng Thanh Tân, Sơn Quả... Trung đoàn bộ đóng quân ngay sau dốc Ông Già. Ngoài ra còn có một tiểu đoàn làm thê đội dự bị, sẵn sàng ứng chiến khi cần thiết cho tuyến chốt phía trước. Sau những cuộc giao tranh đẫm máu, tuyến chốt giữa ta và quân ngụy đã tạm thời định hình trên dải đất kéo dài hàng chục cây số từ sông Bồ tới sông Ô Lâu. Tướng ngụy Lê Quang Trưởng, chỉ huy vùng I chiển thuật, biết miền tây Phong Quảng chủ lực quân giải phóng đang tập trung một mũi tấn công mạnh. Địch cũng tung ra đây sư đoàn dù, sư đoàn thủy quân lục chiến cùng sư đoàn 1 bộ binh để giữ cho được mặt trận Quảng Trị, Phong Quảng Điền. Sông Bồ trở thành một phòng tuyến hiểm địa để giữ cố đô Huế. Cả một dải đồi núi phía tây, từ Động Ông Do, 367, Một Mái, điểm cao 165, 140, Động Ông Tre giáp với sông Bồ đều có các tiểu đoàn dù chiếm giữ. Dải đồi thấp thuộc bình độ 28 kéo dài từ đầu làng Hiền Sĩ tới làng Mỹ Chánh cũng có quân ngụy ngăn chặn đường về đồng bằng Phong Quảng. Thành thử toàn bộ đội hình của trung đoàn 2, trung đoàn 4 chiếm giữ vùng đất giáp ranh giữa đồng bằng bị kẹp chặt bởi hai gọng kìm quân ngụy. Nhưng đây là thời điểm chiến trường tạm ngưng tiếng súng. Một thời kỳ “hòa hợp” hi hữu trong cuộc giao tranh. Nhiều năm sau, khi đọc lại những cuôn sách viết về vùng đất này, những năm tháng này, Cường nhận ra người chép sử ít ai ghi lại. Hoặc giả, cái gọi là “hòa hợp”, “ngưng binh” chỉ là một chiến thuật của người chỉ huy quân sự ở chiến trường trong một thời điểm nhất định. Cũng có thể người ta còn ngại dùng luôn cả cái từ “hòa hợp” khi đã cắm được cờ ở đỉnh Ngọ Môn, dinh Độc Lập... Chuyện ở một vùng đất, số phận những người lính chỉ còn là chút bọt biển giữa sóng cả đại dương. Nhưng đấy là chuyện của vài chục năm sau nữa... Còn bây giờ thế trận cài răng lược đang bày ra trước mắt những người lính của đại đội 1. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:41:17 am Đại đội 1 được Tư Nhất giao nhiệm vụ rõ ràng: Chốt giữ Khủy Đường Xe và cồn Nổi, sẵn sàng chi viện cho bộ đội trung đoàn 2, giữ bằng được Cổ Bi, Thanh Tân, Sơn Quả... Ban chỉ huy đại đội 1 đóng quân ở chốt cồn Nổi. Ở đây đơn vị cũ đã đào sẵn hầm hào kiên cố, thuận tiện khi chỉ huy đánh địch.
Cồn Nổi là một doi cát dài 800 mét có hình con cá chày nằm sát với bờ bắc sông Bồ. Đầu con cá chày hướng về phía chân núi, áp sát với đỉnh 165. Đuôi con cá chày xuôi về hướng đông. Đất phù sa chảy từ thượng nguồn qua nhiều năm tấp lên thành bãi, thành cồn. Từ lâu, dân làng Cổ Bi đã ra cồn khai phá trồng hoa màu, lập vườn dựng nhà. Đất bãi màu mỡ cây cối xanh tốt. Trong các khu vườn cũ của dân còn để lại hàng chục cây mít, gốc to người ôm không xuể. Đang tiết xuân, cây đâm chồi nảy lộc, những trái mít non quả treo lúc lỉu trên cành. Rau lang, rau mảnh bát mọc đầy trên mặt đất. Cồn Nổi cũng được chia làm hai. Một phần ba cồn dưới đuôi con cá là nơi đóng quân của một đại đội lính thủy quân lục chiến ngụy. Đây là đại đội lính đặc nhiệm của sư đoàn thủy quân lục chiến đóng ở bờ nam sông Bồ, trong làng Lai Bằng chi viện sang cho quân dù. Ở bãi cát dưới đuôi cồn, quân ngụy neo sẵn ở đấy hai chiếc xuồng máy cao tốc để hàng ngày sang Lai Bằng nhận rau cá thực phẩm. Hai phần ba đất Cồn Nổi đầu phía tây là nơi đại đội 1 chốt giữ. Các đơn vị bộ đội đóng quân đã đào sẵn một số hầm kèo chữ A, công sự, ụ súng cắt ngang cồn. Phía tuyến chốt của ngụy cũng có nhiều dãy giao thông hào có những bao dứa chứa đầy cát, đắp cao hàng mét làm công sự. Bằng mắt thường, ai cũng nhìn thấy những họng súng đại liên, M72 của địch chĩa ra từ các lô cốt hướng sang phía đối phương. Bộ chỉ huy sư đoàn thủy quân lục chiến đóng quân dọc theo bờ nam sông Bồ sẵn sàng hỗ trợ cho các tuyến chốt bờ bắc. Lẩn khuất sau những rặng tre gai dày đặc làng Lai Bằng san sát những lều bạt của lính. Lâu lâu, trên sông những chiêc thuyền găn máy chở vật dụng xây công sự phục vụ cho các đơn vị lính dù, lại bắn ba phát súng chỉ thiên báo hiệu. Những viên đạn vạch lên bầu trời một vệt lửa đỏ kéo dài. Từ các điểm chốt cao trên núi, lính gác lại đáp trả bằng những trái đạn hỏa châu bay vút lên bầu trời, tỏa ra quầng ánh sáng nhờ nhoạt, ma quái. Dù pháo sáng bay cả sang khu vực chốt của bộ đội. * Đại đội 1 nhận bàn giao chốt vào lúc nửa đêm. Từng tổ chốt của trung đoàn 2 lặng lẽ rút quân. Cơ số đạn hỏa lực phòng thủ chốt họ bàn giao lại cả. Chỉ ít phút sau ba trung đội của đại đội 1 và một trung đội tăng cường của C2 đã vào vị trí. Không khí quanh các điểm chốt vẫn im lặng như tờ, dường như địch không biết bộ đội thay quân. Người lính ngụy đang phiên gác thỉnh thoảng lại khua vào cái loong cho tỉnh ngủ. Trời chưa sáng rõ đã xảy ra sự cố. Một con chồn hôi đi ăn đêm, qua điểm chốt dưới chân 165 đã vướng vào một sợi dây gài trái mìn. Mìn nổ, mảnh bay vào cả điểm chốt. Khanh trung đội phó, Thắng đen và Đức mới nhận chốt được hơn một giờ trúng mìn hy sinh. Nghe tin bộ đội hy sinh, Ban chỉ huy đại đội bàng hoàng. Một bộ phận được điều động ngay tới điểm chốt 165 để lo chôn cất liệt sĩ và giữ chốt. Khâm liệm và chôn cất xong cho ba người đồng đội đã hơn 7 giờ. Cường thẫn thờ nhìn ba ngôi mộ đắp lớp đất phù sa còn tươi mới in hằn dấu xẻng ngay trên bãi cát sông Bồ. Con chồn hôi chết còn thảm khốc hơn. Phần ruột và bụng bị bắn văng đi mất. Chỉ còn lại cái đầu dính lòng thòng với dải xương sống có chỏm đuôi như bông hoa lau và hai chân sau. Đôi mắt con chồn vẫn mở thao láo. Khanh quê ở Khoái Châu, Hưng Yên. Cậu ta cùng một tiểu đoàn tân binh với Cường, làm lính sư đoàn 330. Vào chiến trường Khanh được đưa về Công trường VI, một thời gian sau bị biệt phái về làm lính địa phương Phong Điền. Cho đến khi tiểu đoàn 10 được thành lập lại Khanh mới về với đơn vị chủ lực. Bao nhiêu năm đánh giặc ở giáp ranh, ở đồng bằng, một tay gài mìn và gỡ mìn cự phách không hề hấn gì, nào ngờ lại dính mìn của một con thú hoang. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:42:14 am Thắng đen và Đức đều là tân binh của quân khu Thủ đô vào chiến trường Trị Thiên - Huế được bổ sung quân số cho K10 sau những ngày về đánh giặc ở đồng bằng. Những anh lính tân binh Hà Nội chưa kinh qua bất kỳ trận đánh nào, nhưng lại sớm được nhìn tận mắt những người lính ngụy giữ chốt trên tuyến “hòa hợp”. Thắng gầy, đen, hay kể chuyện “trạng”, chuyện đùa tếu vào lúc đêm khuya, nhà ở Đội Cấn. Đức đẹp trai, hiền lành, con một gia đình buôn bán trên phố Huế. Những năm còn thơ trẻ, Cường ít biết về Hà Nội. Nhờ những câu chuyện phiếm hàng đêm với đám tân binh mới bổ sung cho đại đội, Cường hiểu thêm về Hà Nội. Thực ra lúc còn nhỏ, một đôi lần được cha cho đi Hà Nội. Ấn tượng về Hà Nội, với Cường có chăng là tiếng còi tàu hỏa về đêm nghe xa vắng, heo hắt. Cường được cha anh cho đến nghỉ tại nhà của một chú họ xa, trong một dãy phố có con đường sắt chạy ngang sát nhà. Đứng từ lâu hai của ngôi nhà cổ, qua ô cửa sổ, Cường nhìn rõ những toa tàu vùn vụt lao trên đầu. Ngôi nhà rung lên trong tiếng còi tàu rộn rã.... Ngay trước cửa nhà ông chú còn có con đường xe điện chạy qua. Mỗi khi tàu điện vào ga, tiếng chuông leng keng, tiếng bánh sắt xe điện xiết trên đường sắt tóe lửa. Ông chú họ vốn là chủ nhà in kiêm xuất bản từ thời Pháp. Sau ngày Hà Nội giải phóng, ông đã hiến tặng Nhà nước toàn bộ nhà xưởng, nhân công. Ngôi nhà cũ bị chia năm xẻ bảy. Từ ngoài đường vào nhà để leo lên căn gác gỗ tầng hai nơi vợ chồng ông chú sinh sống, phải đi qua một con hẻm nhỏ, nhiều ngóc ngách. Ấn tượng kinh hãi nhất với Cường là nhìn thấy những con chuột cống bất chợt chạy ra từ đống chạn bát, kho chứa đồ nào đó. Lũ chuột ngang nhiên chạy giữa ban ngày, có con già yếu trụi cả lông. Chúng còn giương mắt nhìn, đe dọa một đứa trẻ quê mùa như có ý xem thường, mỉa mai. Bà thím họ của Cường, vợ ông chủ nhà in, vốn con cháu dòng dõi chúa Trịnh đã qua lâu rồi, nhưng vẫn giữ được những lề thói, gia phong trưởng giả, cầm tay cháu:
- Đừng sợ, cháu! Chuột ở đây nhiều lắm, nó sống chung với người ấy mà. Tiện tay, bà thím quăng ngay cái ghế gỗ đang cầm trên tay vào con chuột. Nó hoảng hốt chui tọt vào miệng cống. Đám con cái của ông chú họ không ai nối nghiệp cha. Lớn lên người làm công chức, kẻ đi dạy học. Hầu như không mấy ai quan tâm tới cái nghề in, nghề làm sách của bố. Gặp được cha Cường ông chú họ rất vui. Thuở nhỏ hai người chơi với nhau. Ông chú con nhà địa chủ, được đi học trường Tây. Còn cha Cường ít học, sống quanh quẩn sau lũy tre làng. Một người ở nơi thôn dã, một người trí thức quen cuộc sông nơi đô hội. Mỗi năm vài lần ông chú họ từ Hà Nội về quê cúng giỗ, tìm đến nhà ông anh chơi cho có bạn. Cha Cường được giao trông nom mồ mả cho cả dòng họ trong đó có ngôi mộ tổ nên được chú thím đối đãi chu đáo. Bữa cơm của những năm “sáu mươi” chỉ có bát canh rau ngót nấu với thịt nạc, vài lạng giò lụa, ít dưa chua, dăm ba ngọn húng Láng, lọ ruốc bông mà sao Cường thấy ngon và thịnh soạn đến vậy! Ăn xong có quả chuối tiêu, thanh kẹo lạc tráng miệng. Biết Cường đã học xong lớp 8, bất đồ chú hỏi: - Cháu có biết ông Lê Văn Trương, ông Vũ Trọng Phụng, ông Nam Cao, ông Tô Hoài không? Ham mê đọc truyện, Cường là số một. Anh mê mẩn truyện từ khi biết đọc. Nhịn ăn quà sáng để mua sách. Hàng trăm cuốn truyện thiếu nhi, truyện nước ngoài của thư viện thị xã đều qua tay Cường cả. Thủ thư là bác Cả Đào. Cứ thấy bóng Cường ra vào chiều thứ năm bác lại cho mượn vài ba cuốn về đọc. Bắt đầu từ truyện anh dế trũi, dế mèn đến “Lá cờ thêu sáu chữ vàng”, “Rôbinsơn Cruxô”, “Không gia đình”, “Đất rừng phương Nam”. Thêm một cấp nữa là các tác phẩm của Nguyên Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Lê Văn Trương... Đọc hết sách thư viện anh lại quay sang tủ sách của thầy giáo Thiều. Thầy giáo Thiều dạy học từ thời Pháp, từng quen biết và bạn học với nhà văn Duyên Anh. Thầy có một tủ sách đô sộ từ cổ chí kim và dành tiền để mua cả những cuốn tạp chí Văn nghệ Quân đội. Nghe chưa hiểu hết ý của ông chú họ, Cường đáp: - Cháu đọc của các ông ấy rồi, truyện hay lắm... Nhưng sao chú lại hỏi vậy? Chú đặt cái tẩu thuốc lá xuống bàn, rồi nói: - Chú cho cháu xem cái này. Trong lúc cha Cường đã ngả đầu vào chiếc ghế bành ngáy ngủ, ông chú mở chiếc tủ gỗ lim kiểu cổ lôi ra một chồng giấy cũ. Bao năm, giấy đã ố vàng nhưng chữ viêt bằng bút mực Pắcke vẫn còn đọc rõ. Ông chú bảo: - Bản thảo viết tay “Đôi lứa xứng đôi” của ông Nam Cao đấy! Đứa trẻ con mười ba tuổi khi ấy hiểu gì về bản thảo. Anh cũng lạ tai với tên truyện “Đôi lứa xứng đôi”. Bao năm chỉ nhớ có Chí Phèo và Thị Nở. Và cứ băn khoăn môt điều: ông chú họ già nua, tội nghiệp sao có vẻ nâng niu quý trọng cái đám giấy đã ngả màu úa vàng, mục nát đến vậy! Sau lúc giở cặp giấy ra “khoe” với thằng cháu ngốc nghếch, ông chú lại cẩn trọng xếp từng tờ giấy, giũ những đám cứt mọt ở lẫn trong các trang giấy, cho lại vào chiếc cặp da bò đã sờn cũ. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:44:18 am Chính những đêm ở cứ dưới chân dốc Ông Già, những người lính tân binh như Bình “ba toác”, Thuấn “cà phê Triệu Việt Vương”, Hội, Sơn Khâm Thiên, Sơn, Can Kiêu Kỵ, Thắng đen, Thắng trắng, Đức và những anh chàng lính tân binh Hà Nội kể nhiều câu chuyện về Hà Nội, quê hương của họ với một niềm hoài vọng, nhớ thương. Nhiều năm sau nữa sẽ có một ngày Cường lang thang trên các nẻo phố Hà Nội, anh đã tìm đến căn nhà chật chội của Thắng đen, của Đức để được gặp lại những gương mặt lính rất đỗi ngây thơ, hồn nhiên đã từng nằm chung một sạp nứa với anh ngày nào trong căn hầm nửa chìm, nửa nổi nghe tiếng đạn pháo bay qua trên đầu... Đau đớn làm sao, cô em gái của Thắng cứ níu tay áo anh mà hỏi: “Anh em đâu rồi? Sao anh em không về.”.Tiếng khóc xé ruột khiến Cường không cầm nổi nước mắt. Anh không thể trả lời câu hỏi ấy. Chỉ vì anh là người còn sống, đã đi qua cái chết. Và những người còn sống luôn luôn và mãi mãi mắc nợ với những người đã chết vì Tổ quốc và nhân dân. Món nợ ấy sẽ đeo đẳng đến trọn đời...
Bây giờ cả Thắng đen, cả Đức và Khanh nữa đã chết. Họ nằm lại mãi mãi với những cánh rừng xanh mười tám tuổi, đêm nghe sóng sông Bồ dội vào bờ đất. Rặng tre la ngà gió lay, kẽo kẹt. Một buổi giao ban đại đội như mọi buổi chiều. Nhưng gương mặt của ba cán bộ đại đội và của bốn anh cán bộ trung đội không có ai vui. Vẫn tiếng điếu cày rít lên đành đạch từ tay Kha B trưởng B3 như một gã hứng tình mà không có ai hưởng ứng. Người ngồi nhâm nhi điếu thuốc lá Tam Thanh và uống nước trà Hồng Đào được pha trong chiếc bi đông và rót ra chén ăn cơm, loại bát B52. Căn nguyên cũng tại cái chết “vô lối” của ba người lính C1 sáng nay. Tư Nhất và mấy cậu trinh sát của tiểu đoàn đã phóng ngay xuống C1. Không thể trách cứ gì được những người trong Ban chỉ huy đại đội, nhưng rõ ràng ông Tư không vui. Chuyện đã đến tai trung đoàn, trung đoàn trưởng dã phê bình tiểu đoàn về sự sơ suất không đáng có. Chỉ đến khi nhìn thấy xác con chồn hôi nằm cạnh ba ngôi mộ của lính, xác con chồn đã ung ủng có mùi, ruồi nhặng xâu xé, Tư Nhất không có lý do gì trách cứ Cường, Sùng, Nhân và Tài, B trưởng B1. Không thể mang con chồn hôi ra kỷ luật. Con chồn hôi cũng chết rồi. Tư Nhất thở phì phì. - Mìn ở đâu ta? Câu hỏi này cũng không thể trả lời, họa có hỏi thổ địa của núi 165. Đại đội lính dù chốt trên đỉnh núi. Dưới chân bộ đội đang chiếm giữ, xây chốt. Vài năm trước, vùng này là căn cứ của cán bộ, du kích xã Phong Sơn. Lúc bàn giao khu vực chốt cho đại đội 1, anh đại đội trưởng của trung đoàn 2 nói giọng Thanh Hóa dặn đi dặn lại Cường và Nhân - chính trị viên đại đội: “Các đồng chí nhớ dặn anh em chỉ đi theo đường mòn, tốt nhất là đi dưới giao thông hào. Mìn ở đây nhiều lắm, chúng tôi đã gỡ được cả chục trái lựu đạn, mìn tự tạo của du kích gài. Sơ suất một chút là “rạc gáo”. Bữa trước, phía bên chốt tụi dù, một người lính chỉ vô ý vào bụi tre bẻ đọt măng, lựu đạn nổ tan xác. Chết thảm lắm! Tụi ngụy phải cho thuyền máy chở xác về Lai Bằng”. Mìn địch, mìn ta, mìn bộ đội, mìn du kích, mìn lính dù, mìn lính thủy quân lục chiến. Đóng chốt ở đâu lính chả gài mìn. Không một ai trả lời được câu hỏi của Tư Nhất. Chỉ đến khi Cường chỉ cho tiểu đoàn trưởng hệ thống mìn chống tăng của bộ đội trung đoàn 2 bàn giao lại cho C1, ông Tư Nhất mới nhận ra sự lợi hại của bẫy mìn. Và cách đấy không xa, là bãi mìn claymo của tụi ngụy, được giấu kín trong các lùm cây, vạt cỏ tranh chĩa sang hướng chốt của bộ đội. Chỉ cần một trong hai bên nổ súng tấn công, cả một dàn mìn sẽ phát hỏa, đủ sức quét sạch cả một đại đội bộ binh phơi lưng ra ngoài bãi trống. Điểm đáng chú ý trong buổi giao ban là Sùng - chính trị viên phó đại đội nói một chi tiết đáng chú ý: - Tại chốt của cậu Nhung B2 trưa nay, có một người lính dù ngụy hỏi vọng sang chốt của ta. Hắn nói: “Hình như sáng nay các anh có người bị nổ mìn ở chân núi! Có ai bị sao không?”. Cậu Nhung lanh trí trả lời: “Đúng là có mìn nổ. Một con chồn chạy bị dính mìn. Không có ai bị sao cả! Anh tên chi? Quê ở mô?”. “Tư Thiên, tui quê ở miệt Vĩnh Long... Còn anh quê mô?”. Cậu Nhung đáp: “Tôi quê ở Phú Thọ...”. Tên lính dù nghe vậy reo lên: “Phú Thọ à... Quê nội tôi đó. Nội tôi là dân Bắc di cư mà..”. Thông tin quan trọng này, chỉ ít phút sau đã được mã hóa chuyển về cho tiểu đoàn. Quãng 3 giờ sáng chuông điện thoại đổ vang, Cường và Nhân bị đánh thức dậy. Hai Ngạn chỉ nói ngắn gọn: “Hai đồng chí về ngay tiểu đoàn nhận lệnh”. Phải mất hơn một giờ đi bộ giữa đồi cỏ tranh, men theo dãy đồi sim dưới chân các điểm cao 165 và 140, Cường, Nhân và tổ trinh sát mới tới được hậu cứ nơi trú quân của tiểu đoàn bộ đóng dưới chân đồi Tròn. Trong căn hầm của sở chỉ huy tiểu đoàn đã thấy Tư Nhất, Hai Ngạn và chính ủy trung đoàn Nguyễn Cao đang ngồi chờ hai người. - Uống chén nước cho ấm bụng, hai đồng chí! - Nguyễn Cao vui vẻ và chìa ra bao thuốc lá Thủ đô. Không đợi mời lần thứ hai, Cường nhón một điếu thuốc. Nhân giữ ý hơn. Chính ủy Cao vào chuyện ngay: - Thay mặt cho Ban chỉ huy trung đoàn, tôi xin chia buồn với C1. Chúng ta mất người uổng quá. Nhưng tai nạn như vậy khó mà tránh được khi phải chiến đấu, giữ đất giữa một vùng cài răng lược như thế này. Đấy là chuyện buồn của cả trung đoàn ta. Còn chuyện vui, tối nay nghe tiểu đoàn báo cáo những gì xảy ra giữa lính ta với quân ngụy ở chốt B2, chúng tôi rất mừng. Cả một tuyến chốt dài hàng chục cây số do bộ đội ta trấn giữ, đây là lần đầu tiên quân ta và quân ngụy nói chuyện được với nhau. Đây là một dấu hiệu tốt, rất tốt, các đồng chí ạ! Hôm qua ở tuyến chốt Thanh Tân, Sơn Quả, bộ đội K15 mới chỉ làm một việc là ném tặng người lính dù có gói thuốc lào Vĩnh Bảo, mấy anh lính dù ngụy tặng lại bộ đội có một gói thuốc Bát tô, vậy mà đến đêm toàn bộ trung đội lính dù đã bị đổi quân, chuyển đi nơi khác. Đây là lúc mặt trận của ta tạm ngưng tiếng súng, nhưng không có nghĩa chúng ta không tấn công. Ta tấn công địch trên mặt trận binh vận, giúp cho những người lính ngụy hiểu rõ hơn chính sách chính nghĩa của Mặt trận dân tộc giải phóng, hiểu hơn bản chất của anh bộ đội Cụ Hồ, của quân giải phóng. Ban chỉ huy trung đoàn giao nhiệm vụ cho đại đội 1 tiếp tục bám sát các chốt ngụy, tạo sự thân thiện cởi mở với các đơn vị lính ngụy, tạo thế “hòa hợp” để tiến hành đấu tranh binh vận. Mỗi người lính ở tuyến chốt giáp ranh lúc này vừa sẵn sàng tác chiến tấn công địch phản kích, giữ từng thước đất, nhưng đồng thời phải là một chiến sĩ binh vận giỏi. Rõ chưa nào? Trung đoàn sẽ cử cán bộ xuống hỗ trợ cho các đồng chí. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:45:18 am Lúc bước ra khỏi căn hầm chỉ huy, Hai Ngạn kéo tay Cường:
- Em gặp anh có chút việc! - Hai Ngạn quay sang nói với Nhân. - Cậu tranh thủ sang gặp anh Thủy, vẽ lại sơ đồ mộ chí của ba đồng chí hy sinh sáng nay, hoàn chỉnh hồ sơ liệt sĩ để còn kịp gửi lên trung đoàn. Căn hầm kèo chữ A của Hai Ngạn nằm ở sườn núi hướng bắc, cách phòng họp của Ban chỉ huy tiểu đoàn một đoạn. Cây gỗ đà to, chắc chắn bên dưới nền hầm có sạp ken bằng lồ ô. - Em có đói không? Anh còn miếng lương khô 702 đấy... Khi chỉ có hai người, Hai Ngạn bao giờ cũng xưng hô như thế. - Em có biết tin anh Phong bữa đánh về Hương Trà bị địch bắt chưa? - Hai Ngạn nói tiếp. - Có chuyện ấy thiệt hả anh? - Cường hỏi, giọng đầy lo lắng. - Anh Sáu Thọ có viết cho anh cái thư báo tin. Chuyện ấy là thật em ạ. Trung đoàn cũng đã biết và sắp bổ nhiệm cho tiểu đoàn ta một tiểu đoàn phó, thay cho anh Phong... - Không biêt tình hình bên Hương Trà ra sao? -Cường hỏi không giấu nổi vẻ lo lắng. - Trung đoàn đã đồng ý cắt một số đồng chí cán bộ chiến sĩ đại đội 2 giao cho tỉnh, ở bên này sẽ được bổ sung tân binh. Nghe chuyện Cường vừa thương Phong vừa lo cho Hạnh. Đại đội 2 hoạt động ở Hương Trà không có sự hỗ trợ trực tiếp của tiểu đoàn thật khó khăn, số phận Phong cũng hẩm hiu. Dường như vận đen vẫn chưa hết đeo đuổi Phong. Không rõ hiện giờ anh sống chết ra sao? Trước khi rời khỏi căn hầm, Hai Ngạn bảo Cường: - Anh đã viết thư cho anh Sáu, giao cho o Hạnh, bí thư xã Y, nhờ cơ sở thăm dò tin tức của Phong. Nếu thuận tiện, có dịp công tác, anh sẽ cho em về Hương Trà một chuyến. - Cảm ơn anh! Nhiều lần đứng trên chòi quan sát ở cây muỗm, Cường cố ý dùng ống nhòm nhìn với sang bờ nam sông Bồ. Dải đất cao sát mép bờ sông bị dòng nước xiết đập cho lở lói nhiều đoạn. Rặng tre lồ ô cao che khuất tầm mắt. Những dãy núi xa mờ trong sương. Vào lúc trời trong, hửng nắng vẫn nhìn rõ đồi Một Mái, đồi Dài, xa hơn nữa là căn cứ Hòn Vượn... Hạnh - người yêu của anh đang ở đó. Bao lần, anh tự hỏi: Nàng đang ở đâu giữa cái màu xanh trùng điệp kia? Ở bên ấy, lâu lâu vẫn nghe thấy tiếng đạn pháo nổ phía trên rừng. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:47:00 am * 5 giờ sáng hôm sau, Cường đã có mặt ở chốt B2. Trung đội 2 quân số chưa tới ba chục người, được giao cho chốt giữ ở khu vực trung tâm cồn Nổi. Ở đây, các hào chiến đấu được đào theo từng tuyến, mỗi tiến hào cách nhau năm bảy chục mét, cắt ngang cồn. Giữa các tuyến có hào chạy dọc nối thông nhau. Trung đội 2 đặt một chốt, có chòi canh ngay dưới gốc một cây mít, khuất sau một bụi dứa dại. Những cây mảnh bát, lang rừng mọc xanh tốt trùm lên cả bụi dứa tạo thành một bức tường ngụy trang tự nhiên. Căn hầm chữ A chắc chắn, được ken dày bằng những thân tre lồ ô có đắp đất bằng những bao tải gạo. Bộ đội B2 dựng luôn ở đây những căn nhà nửa nổi, nửa chìm trên mặt đất để sẵn sàng trực chiến và để ngủ. Các cây súng gá sẵn trong các lô cốt đắp bằng đất, cắm lá ngụy trang. 5 giờ 30 phút các tổ chốt của B2 đã ăn cơm xong. Người gác mới đã được thay vào vị trí. Cách đấy 50 mét, chốt ngụy vẫn ắng lặng như tờ. Trong cái khung vuông chòi gác dựng bằng tre in rõ hình hài người lính ngụy ngồi im lìm như một pho tượng gỗ. Ngọn cờ vàng ba sọc ướt đẫm sương đêm phủ lên mái chòi. Lùi sâu bên trong, các căn nhà bạt nơi đơn vị lính ngụy giữ chốt nằm rải rác sau các bụi tre, chỉ để lộ một phần mái nhà trên mặt đất cũng im ắng. Phía cuối bãi cồn mới thây le lói ánh lửa. Nhung thò nửa người ra khỏi con hào gọi sang chốt ngụy: - Này... anh gì ơi! Ra nói chuyện. Người lính ngồi trong căn chòi nghe tiếng động, khẽ cụ cựa cái đầu. - Này... Anh lính... Ra nói chuyện, tôi có thuốc lào cho anh đây. Người lính lặng lẽ rời căn chòi, tay vẫn cầm khẩu AR15 bước ra ngoài bụi chuối. Con hào chốt của phía quân ngụy nằm sau bụi chuối, anh ta phải đu người mới bước lên khỏi mặt hào. Anh lính nói giọng đặc sệt Nam Bộ, vừa đủ nghe: - Nói nhỏ thôi, anh ơi! Bữa qua thằng Ba nói chuyện phiếm với mấy anh, nó bị chỉ huy phạt, bữa nay phải đi đào đất. Tụi em cũng muốn nói chuyện quấy quá với mấy anh cho dui nhưng sợ lắm. Cường bước hẳn lên thành hào. Trời chưa sáng rõ nên không thể nhận diện kỹ gương mặt người lính đang đứng phía trước chỉ cách anh vài chục bước chân. - Tôi là chỉ huy ở đây! Anh về báo cáo với chỉ huy của các anh, nói rõ như thế này: Bộ đội giải phóng muốn nói chuyện với các anh chỉ huy đơn vị thủy quân lục chiến đóng chốt ở đây. Chúng tôi hẹn gặp các anh vào lúc 9 giờ sáng nay. Cứ báo cáo vậy! Anh rõ chưa? Người lính dù đáp lại: - Thưa rõ rồi ạ! Đúng 9 giờ sáng, trên con đường mòn băng qua bãi tranh xuất hiện hai người. Trông cách đi đứng, ăn mặc, đúng là những người chỉ huy của đơn vị thủy quân lục chiến. Đầu vẫn đội mũ sắt nhưng cả hai người không ai cầm súng. Cả hai đều đeo súng ngắn. Đại đội 1 đã có sự chuẩn bị chu đáo, kể cả phương án sẵn sàng tác chiến. Lần tiếp xúc này chỉ có Sùng - chính trị viên phó đại đội và Nhung xuất hiện. Sùng và Nhung bước lên mặt hào, tay không, đầu đội mũ tai bèo tới vạt đất trống ngay sát một ngôi nhà cũ của dân chờ sẵn. Bức tường đã bị san phẳng, chỉ còn lại cái nền nhà, rêu phong nham nhở. Đấy chính là điểm ngăn cách phân giới giữa bên bộ đội và quân ngụy đang chiếm giữ cồn Nối. Hai viên sĩ quan ngụy đến gần, nét mặt có phần căng thẳng. Sùng chủ động nói trước: - Xin chào các anh! Một người sĩ quan ngụy nói ngay: - Các anh xin gặp chúng tôi có chuyện gì? - Không phải chúng tôi xin gặp mà mời các anh ra nói chuyện! - Sùng không phải tay vừa - Chúng tôi cảnh cáo các anh, vì việc chỉ một người lính của các anh chốt ngày hôm qua nói chuyện với anh em bộ đội giải phóng mà các anh đã phạt người ta đi đào hào. Người sĩ quan dù: - Đấy là công việc của chúng tôi. Thượng cấp quy định vậy. Sùng: - Đúng, quyền phạt lính là của các anh, nhưng chuyện này liên quan tới chúng tôi. Anh em bộ đội giải phóng thấy vô lý, tức cười quá. Chốt “hòa hợp”, anh em lính hai phía hàng ngày ngồi nhìn thấy mặt nhau. Họ hỏi han thăm nhau, mà chỉ huy bắt phạt, thì còn gì là đạo lý, tình người. - Mấy anh thông cảm cho, quân lệnh như sơn mà... - Người sĩ quan dịu giọng. - Chúng tôi cũng có kỷ luật chớ. Nhưng không phải lúc nào cũng giơ kỷ luật sắt ra với người chiến sĩ của mình. Tôi với anh có phải ngồi gác chốt như họ đâu. Ở đây đã nửa tháng nay không còn bên nào nổ súng. Vậy mà các anh đối xử với lính như vậy, chúng tôi thấy bị xúc phạm. Tôi phản đối việc bắt lính bị phạt chỉ vì sơ ý nói chuyện với bộ đội... Viên sĩ quan chỉ huy tỏ ra lúng túng... Đến lúc này, viên sĩ quan thứ hai mới mở miệng: - Các anh định chiến tranh tâm lý với tụi tôi phỏng? Sùng chỉ ngay lên chiếc loa phóng thanh tụi ngụy treo trên chạc ba cây dâu phía xa: - Kia mới là chiến tranh tâm lý kìa! Cứ buổi trưa, bộ đội nghỉ ngơi, các anh mở loa hết cỡ, mở các bài hát nhạc vàng chúng tôi nghe mệt tai lắm. - Ô... Ô... Ca nhạc mà anh! - Tên sĩ quan lộ mặt tâm lý chiến chống chế - Tụi tôi mở cho lính hai bên nghe càng vui. - Đành rằng âm nhạc, nhưng không phải ai cũng thích nghe cái giọng ca sướt mướt ẻo lả... cả. Nếu cần mai tôi mở nhạc cách mạng cho các anh nghe thử coi có vui không. Cả hai viên sĩ quan ngụy nghe Sùng cãi lý đều tỏ ra lúng túng. Sùng nói tiếp: - Hiệp định Pari ký rồi. Các anh chốt ở gần chúng tôi. Chúng tôi đề nghị các anh về báo cáo với cấp trên của các anh, ta xây dựng ở bãi đất trống này một căn nhà hòa họp. Hàng ngày lính của các anh và bộ đội chúng tôi ra ngồi nói chuyện với nhau được không? Viên sĩ quan dè dặt: - Thưa anh, chuyện anh vừa nói, chúng tôi không quyết định được. - Người sĩ quan ngụy thứ nhất trả lời - Chúng tôi phải về xin ý kiến thượng cấp đã... Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:48:53 am 6 Căn phòng rộng vài chục mét vuông, nằm sát với khu nhà xác chỉ độc có một mình Phong nằm. Cũng chăng cần có lính gác, vì một bên chân lành của anh đã được người lính khóa bằng một sợi dây xích chó vào thành giường. Sợi dây xích đủ dài, để khi anh cần đi vệ sinh, tự mình xuống giường làm công việc đó. Ngày ba bận sáng, trưa, chiều, một người lính đi cùng với một cô y tá, hộ lý vào ngó qua phạm nhân, thương binh. Gã lính đã quen mặt Phong, nhìn ngó nghiêng một lát rồi bỏ ra ngoài để người hộ lý, y tá ở lại thay băng, làm thuốc. Trốn sao được, một chân đã bị xích vào giường, chân phải bị cưa ba ngón và vỡ đầu gối. Thêm một vết thương ở bụng, băng trắng quấn quanh, cứng như một cái mo cau, mỗi khi Phong muốn trở mình rất khó. “Đây là đâu ta?”. Chịu! Anh không biết. Nhưng cái mùi của bệnh viện thì rõ. Tanh tanh, phảng phất mùi thuốc khử trùng. Ở một góc phòng người ta xếp những chiếc bình ga chứa ôxi dành cho người bệnh và những thùng các tông vỏ bao thuốc. Những người y tá, hộ lý đến thay băng, tiêm thuốc cho Phong hàng ngày không cố định. Họ có một điểm chung là im lặng. Chiếc áo blu trắng, chiếc mũ trắng. Một chiếc khẩu trang rộng bưng kín miệng, buộc ra sau để lộ mớ tóc khi cắt ngắn ngang vai, khi dài ngang thắt lưng. Người y tá, hộ lý lặng lẽ tiêm thuốc, gỡ băng cũ, tẩy trùng vết thương và băng lại như cũ. Hình hài gương mặt của họ, anh nhìn thấy được có chăng là đôi mắt. Khi thì một đôi mắt bạc thếch, mệt mỏi, vô cảm. Lúc thì một đôi mắt đen, lanh lợi, vừa băng bó, tiêm thuốc vừa thỉnh thoảng liếc nhìn anh. Đến bữa đưa cơm vào cũng vậy. Họ đặt khay cơm và chiếc cà mèn canh ngay cạnh một cái ghế đẩu vuông sát cạnh giường rồi lầm lũi quay ra như một cái bóng. Gã lính ở ngoài cửa nhìn vào một lần nữa rồi mới đóng cửa, trả lại cho Phong sự im lặng đến ghê người. Cơm canh cho thương binh, tù nhân kể cũng tươm tất. Vài lưng cơm gạo trắng, một vài con cá nục kho, có bữa là cá cơm kho cay đến chảy nước mắt. Chút nước canh nấu với rau muống, hoặc rau tập tàng... Đủ ngon cho một anh lính “sống ở giáp ranh” luôn ăn đói và thiếu chất ở trên rừng, vết thương của Phong hóa ra phức tạp. Có dấu hiệu nhiễm trùng. Mỗi lần người hộ lý thay băng, Phong ngửi thấy có mùi hôi bốc ra. Chỗ đau cương tức. Phong còn nằm đây đến bao giờ? Số phận của anh ra sao?... Không một ai trả lời cho anh câu hỏi ấy. Nằm mãi, chán. Anh lại ngủ. Những giấc ngủ chập chờn, mộng mị. Kể cũng lạ, cứ mơ ngủ là Phong lại thấy Thơm, vợ anh. Và có lần Tâm còn về đứng ngay cạnh giường trách móc anh bạc tình... Anh bạc tình thật! Ngày tiểu đoàn 10 ra tới Quảng Bình, Hai Ngạn công bố: “Mỗi đồng chí được nghỉ phép một tháng!”. Phong sướng rơn. Anh quân nhu của sư đoàn cấp cho mỗi người một bộ quần áo vải Tô Châu còn nguyên nếp gấp, ba lô mới, mười cân gạo và năm chục đồng tiền. Ra khỏi cửa rừng, Phong đi thẳng về quê. Từ Làng Ho về đến nhà Phong đi bộ vài tiếng đồng hồ. Buổi sáng ấy, mẹ và em gái mới ra vườn nhổ dong riềng về đang ngồi cạo vỏ, nhìn thấy Phong, ngớ ra tưởng khách qua đường vào xin nước uống. Phong cười nhe răng, bà cụ mới nhận ra con trai. “Mi đi mô mà ghé qua nhà... Hay đảo ngũ?”. Nghe mẹ hỏi Phong đã hơi bực mình, nhưng không nỡ trách mẹ. Một bà già đã từng làm bí thư chi bộ xã, nhiều năm đi từng nhà vận động các gia đình cho con em đi khám tuyển nghĩa vụ, động viên thanh niên mỗi lần nhập ngũ, thấy con về bất ngờ, không báo trước thư từ nên bà mẹ sợ con nghĩ dại, đảo ngũ. Mỹ ngụy đâu đã thua, nghi ngờ con là phải. Dạo ấy, lính “B quay” không phải là ít. Phong đặt ba lô xuống bộ ngựa, từ tốn trả lời mẹ: - Con ra Quảng Bình nhận quân, đơn vị cho về phép mạ nờ! - Ờ, rứa thì tốt. Con ra giếng rửa mặt cho mát, mạ đi nấu cơm cho con ăn. Ngày Phong mới nhập ngũ, cô em gái chưa tới mười tuổi. Nay cô bé phổng phao, ra dáng thiếu nữ. Cô hỏi anh: - Anh từ Thừa Thiên ra đấy à? Đi có lâu không? Có lấy cho em được miếng dù nào không để em làm ngụy trang. - Ừ. Đi bộ cả tháng trong rừng. Rồi anh sẽ cho em dù... Nửa đêm, Phong đang thiu thiu ngủ, mẹ anh tới ngồi bên giường. Anh hỏi mẹ: - Sao mạ không đi ngủ, mai lấy sức đi cấy. Dạo này mạ còn làm việc xã không? - Mạ nghỉ được vài năm rồi. Tao già rồi. Bí thơ bây giờ chú Đán làm con ạ. Con được nghỉ phép lần này, mạ muốn con lấy vợ. Phong nghe chuyện lấy vợ, ngồi bật dậy như cái lò xo: - Vợ con chi? Con còn vô chiến trường mà... Con chỉ được ở nhà một tháng thôi. Hết phép là con đi. Giọng bà cụ vẫn thủng thẳng: - Một tháng cũng là nhiều rồi! Chiều nay tôi đã bàn chuyện lấy vợ cho anh với chú Đán. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:50:41 am Mới 5 giờ sáng, chú Đán đến nhà Phong ngồi ăn củ dong, hút thuốc lào. Ông chú họ chỉ hơn Phong mươi tuổi, thương binh bậc 1/4, bây giờ thành của quý trong làng. Chú Đán vừa được bầu làm bí thư chi bộ thôn, kiêm trung đội trưởng dân quân.
Phong mệt và còn ngái ngủ, nằm thượt trên tấm phản. - Có thuốc lá cháu mang về đấy, chú lấy mà hút. - Thuốc lá hử! Hi!Hi!... Hí! Tam Thanh thơm quá bay ơi! Ông chú rút luôn vài điếu cho vào túi áo. Giọng bề trên: - Này chú bảo. 9 giờ, anh ăn mặc chỉnh tề, sao lon đeo vào rồi ra bãi Voi nhé. Chú chờ ở đấy! Phong ngáp và phì cười: - Lính giải phóng thì làm quái gì có sao với hạt hả chú! - Không có sao với quân hàm cũng được! Bộ đội thời chiến mà. Anh là đại đội trưởng, tức là ngang quân hàm trung úy. Tốt rồi... Làng ta có mấy người là trung úy như anh! Ngày nhỏ, Phong hay ra bãi Voi chăn trâu cho mẹ. Về sau bãi đất ấy giao cho các cụ phụ lão trong xã trồng cây, đào ao nuôi cá Bác Hồ. Cây trồng toàn phi lao, bạch đàn. Đất tốt cây lên xanh như rừng. Trung đội dân quân của chú Đán tập bắn ở dưới đám cây xanh, lấy dãy hào giao thông làm bệ súng. Hai chiếc bia số 4 cắm ở ngoài ruộng lúa. Các anh chị dân quân cứ nhắm vào đẩy mà lẩy cò. Phong đi theo con đường sát bờ sông, đến cách địa điểm tập bắn chừng ba chục mét, chú Đán mới nhận ra. Mới thoáng thấy Phong, như một anh cán bộ quân sự sành sỏi nghề huấn luyện, chú vùng ngay dậy khỏi gốc cây, chụp chiếc mũ cối lên đầu, hô to: - Toàn trung đội chú ý! Một hàng ngang tập hợp. Ba mươi hai dân quân, kẻ đang đứng ngắm dưới hào, người ngồi túm năm tụm ba hút thuốc lào vặt, có anh nằm phễnh bụng nhổ râu. Các chị ngồi bắt chí cho nhau, vài ba cô chưa đến lượt ngắm bia ngồi bệt xuống đất, tung hòn sỏi chơi đánh chuyền. Nghe tiếng hô oai phong hùng dũng của trung đội trưởng tất cả đứng vọt cả dậy như những rô bốt tự động dàn thành một hàng dọc sau lưng chú Đán. Năm cô du kích đang ôm súng tập ngắm bia dưới hào giao thông cũng ôm súng chạy lên. Ba mươi hai dân quân cũng chỉ có được năm cây súng vừa K44 vừa CKC. Cồn lại là gậy tre, dây thừng. Cũng chỉ có đúng năm anh con trai, quá tuổi “băm”, anh thì bị thương, anh gãy tay, chột mắt, chân vòng kiềng nên đành ở nhà chịu số phận làm anh dân quân vác súng, vác gậy cho các chị. Phong tiến sát tới chỗ trung đội dân quân đã dàn xong hàng dọc, nối theo đuôi chú Đán. Không hiểu sao cả, Phong đang định cất tiếng gọi “Chú ơi!” thì bắt gặp ánh mắt đỏ như mắt cá chày của ông chú họ “lừ” anh như có ý bảo “Im cái miệng lại”(!). Chú Đán lại hô: - Bên phải quay! Ba mươi hai con rô bốt lại quay ngoắt từ hướng bắc sang hướng tây, đối mặt với Phong. Chú Đán rập gót, chạy ra đúng ba bước, đứng trước mặt Phong, đưa tay lên vành mũ. Theo thói quen Phong cũng đưa tay lên chào. Mấy đầu ngón tay của anh chạm vào tóc, anh mới chợt nhớ ra đầu để trần, không mũ. Có tiếng cười khúc khích, hi hi của mấy cô gái. Thêm một cái “lừ mắt đỏ như cá chày” của chú Đán hướng vào nơi phát ra những tiếng cười vô tổ chức. - Thưa đồng chí trung úy, đại đội trưởng, phái viên của sư đoàn. Thay mặt cho các đồng chí trong trung đội dân quân thôn Thượng tôi nhiệt liệt hoan nghênh đồng chí đã về thăm và kiểm tra tinh thần học tập, rèn luyện kỹ chiến thuật của chúng tôi. Xin kính chúc đồng chí dồi dào sức khỏe... Chiến đấu lập nhiều chiến công. Phong suýt phì cười nhưng nhìn nét mặt trang nghiêm và ánh mắt đỏ như cá chày của chú Đán, đành phải im lặng đóng vai phái viên của sư đoàn. Khi không khí đã bớt căng thẳng và Phong theo chú Đán ra chỗ đặt bệ súng, trong hàng quân có tiếng xì xào: - Ai như thằng Phong “lé” cháu ông Cửu Chân. - Đích thị là con trai bà Phụng, bí thơ xã chớ chi nữa... - Oách hử! Đi từ sáu năm chừ đã đeo lon trung úy. Phong đã có cả một giờ ba mươi phút để nhìn ngắm hai mươi bảy cô gái của thôn Thượng. Cô nào cũng được anh xuống đứng cạnh một hai phút, chỉ bảo cách áp má, tì vai, bóp cò và nhìn vào một bên má của các cô hồng lên vì nóng và không giấu vẻ ngượng ngập. Phong nhìn thấy cả những sợi tóc mai của các cô dính bết vào thái dương. Hơi thở dồn dập. Mùi mồ hôi nồng lẫn với mùi xà bông trên tóc. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:52:00 am 11 giờ trưa, Phong và chú Đán mới về đến nhà. Mẹ anh đã chuẩn bị sẵn một rổ khoai lang luộc và ấm chè xanh. Làng anh có lệ không ăn cơm trưa. Ngày cơm ăn hai bữa, sáng chiều. Bữa trưa ăn độn bằng khoai, dong riềng, sắn... Nhà nào túng thì nhịn, làm bát chè xanh cho ấm bụng nhai với miếng khoai khô.
Chú Đán làm gọn một củ khoai chiêm to bằng bắp tay, một bát ô tô nước chè rồi mới kéo một mồi thuôc lào. Phong mời chú một điếu Tam Thanh, tự tay bật lửa mồi thuốc cho chú. Chú khen: - Mi có cái bật lửa Trung Quốc đẹp hử! - Tôi tặng cho chú. - Phong nói. Anh nhét luôn cái bật lửa còn xanh nước sơn Tàu vào túi áo ngực của chú. Chiếc áo bộ đội của chú đã cũ, sờn vai, bạc màu và cáu bẩn. Chú Đán quay ngoắt bảo Phong: - Tao chấm được năm con: Con Hiền ở xóm Ruối, con Liên, con Thơm, con He ở thôn ta. Con Ngoãn ở bến đò... Con ấy đẹp nhất, nhưng loại con gái làng đò, của chơi thiên hạ ta thèm vào. Mẹ Phong ngồi ở dưới nền nhà đang nhặt thóc trong cái mẹt gạo mới đi xay về, tưởng cụ không nghe chuyện, bất ngờ cụ nói luôn: - Con Thơm nhà Khoản được đấy. Thành phần gia đình ấy tốt. Nó lại có nghề dạy học, con ạ. Chú Đán độp luôn: - Ý chị đã vậy, ta biểu quyết. Cái giơ tay của ông chú họ được thay thế bằng một hơi thuốc lào. Khói tuôn ra đục trắng trong gian nhà tranh, vách lá gồi. Đám cưới thời chiến đơn giản và gọn nhẹ. Bà Phụng - mẹ Phong - sửa vài mâm cơm, giết vài con vịt là xong. Ngày cưới, Phong mới nhìn rõ mặt vợ. Một cô giáo tiểu học xinh xẻo, gọn gàng trong chiếc quần lụa đen, áo phin trắng, kém anh cả chục tuổi. Bà Phụng mừng ra mặt. Con trai ở chiến trường ra chưa tới mười ngày, bà đã có con dâu hiền thảo. Chỉ khổ nhà nghèo. Mười mấy năm làm việc xã, cho đến lúc nghỉ chưa có lúc nào rảnh rỗi để sửa sang lại ngôi nhà. Bà nhờ hàng xóm mỗi người một tay thay lại những cây rui, cây mè mọt mối nhiều quá, mái tranh ải cũ chỉ mất vài công nhưng căn nhà khang trang sáng sủa hẳn. Đêm đầu tiên trong nhà có chị dâu, Sim - cô em gái phải đi ngủ nhờ nhà bạn. Bao năm nay, bà Phụng đã quen nằm võng. Chiếc giường gỗ xoan duy nhất trong nhà dành cho đôi vợ chồng trẻ. Mộng mẹo kém, chỉ khẽ cựa mình chiếc giường đã rên lên như người sốt rét. Phong bảo Thơm: - Nóng quá, ngủ không nổi. Hay ta ra ngoài bờ sông ngồi cho mát. Thơm lùa theo ngay: - Phải đấy... Họ len lén bước nhẹ ra khỏi nhà như những tên trộm, chỉ sợ bà mẹ giật mình nghe tiếng bắt quay vào nhà. Phong rút theo chiếc khăn mặt màu cứt ngựa của anh phơi trên cây sào ngoài sân. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:53:57 am Trăng mười sáu lên cao. Gió tươi lồng lộng tràn qua cánh đồng rớt xuống mặt sông lấp loáng ánh vàng. Mới có 9 giờ làng quê đã ắng lặng. Không một tiếng chó sủa. Giữa sông một con đò xuôi, tiếng mái chèo táp nước đều đặn. Nhà ai cắt tranh phơi đầy trên mặt đê. Phong kéo Thơm ngồi dưới một bụi tre ngay sát bờ sông. Anh thiệt thà bảo vợ:
- Hay ta tắm một cái cho mát? - Tắm giờ này? - Có ai đâu mà sợ. Chỗ này vắng. Nếu em ngại, ngồi trên bờ coi quần áo cho anh. Bao năm ở chiến trường anh chỉ mơ một lần được về tắm trên con sông này. - Anh cứ xuống trước... Em trông đồ. Phong cởi quần áo giao cho Thơm rồi lao cắm đầu xuống mặt sông, lặn một hơi dài. Anh sải tay định bơi ra giữa dòng, được một phần ba quãng đường, thấy không đủ sức đành quay lại. Trên bờ sông, dưới gốc tre không thấy Thơm đâu cả. Phong đã phát hoảng, định đi lên bờ. Anh lạnh người khi thấy có bàn tay ai níu vai mình. Thì ra Thơm đã theo chân Phong xuống sông. - Em làm anh sợ hết hồn. Tưởng ma bắt. - Phong chống chế cho sự ngượng ngùng của mình. - Bộ đội giải phóng mà còn sợ ma. Anh có dám bơi thi với em không? Đích đến là bệ đá dưới chân cầu. Chỉ thấy cánh tay trắng muốt của Thơm huơ trên mặt nước chỉ vào một khoảng đen ngoài sông, chếch về phía thượng lưu chừng vài chục thước. Đấy là chân móng đường sắt làm từ thời Pháp cho tàu hỏa chạy qua. Dạo kháng chiến chín năm, những thanh sắt bị Việt Minh lột lên đưa vào lò rèn làm kiếm, giáo mác. Bom Mỹ ném cho một chặp, các khoang sắt chìm xuống sông, chỉ còn trơ lại ba mố cầu đúc xi măng. Thời nhỏ, đám trẻ con ở làng Thượng thường ra đấy bơi thi và câu cá ngạnh. Thơm trêu Phong: - Có dám bơi thi không, hay sợ? - Thi thì thi, sợ quái gì! Dứt lời, Thơm như một con rái cá lặn sâu xuống nước. Lúc cô nổi lên đã cách Phong vài sải. Anh nhao người đuổi theo. Sức trẻ ăn đứt sức khỏe của một anh lính sốt rét kinh niên. Càng bơi, Thơm càng bỏ Phong tụt lại phía sau. Hết bơi sải, rồi chuyển sang bơi ếch, Phong tới được mố cầu, đã thây Thơm ngồi chỏn lỏn bên trên. Cô kéo anh lên mố cầu. Thơm lồ lộ hiện ra như một nàng tiên cá. Phong vừa mệt vừa hoảng loạn, khi nhìn thấy Thơm trần truồng lồ lộ dưới ánh trăng. Anh ngã vào người cô, ép đầu lên đôi bầu vú tròn, thở dốc. Một gã trai đã ba mươi tuổi là Phong, chết hụt bao phen lần đầu tiên được hưởng vị ngọt của tình yêu, mới hiểu thật sự thế nào là nụ hôn con gái. Chẳng hiểu sao, khi anh được hưởng trọn vẹn tột cùng niêm hạnh phúc, Phong lại nhìn thây gương mặt Tâm. Cô ẩn hiện dưới làn sóng xanh... Tiếng khóc nức nở không rõ là của Thơm, vì được yêu, vì sung sướng. Hay của Tâm? Anh không biết nữa. Nằm gối đầu lên ngực Phong, Thơm thật thà hơn: - Ba ngày trước, em không biết anh là ai cả. Bữa chú Đán thông báo có cấp trên xuống kiểm tra, tụi em cứ tưởng thiệt. Ai ngờ chú Đán bày trò để anh đi kén vợ. - Em có giận anh không? - Phong miết nhẹ tay lên tấm lưng trần của cô. - Giận mà như ri, ông tướng! * Quãng 3 giờ chiều, tiếng khóa cửa phòng giam Phong nghe lách cách. Anh mở mắt, bắt gặp ngay cái nhìn của người lính gác. Hắn nhìn quanh quất trong phòng một lát rồi tới rờ vào vòng sắt khóa cổ chân Phong. Hắn mở khóa và bỏ ra ngoài. Có hai người mặc áo hộ lý, y tá bước vào. Họ mang theo hộp đồ nghề, chắc hẳn lại thay băng, tiêm thuốc. Lần này, Phong chủ động lên tiếng trước: - Các chị ơi! Tôi là bộ đội giải phóng. Tôi xin hỏi hai chị đây là đâu? Im lặng. Hai người vẫn lúi húi dùng kéo cắt băng ở ngực Phong. Họ liếc nhìn anh, rồi đưa mắt nhìn nhau. Lát sau, một người trả lời: - Bệnh viện Trung ương Huế! - Vết thương của tôi ra răng? - Phong được đà hỏi tiếp. - Một chân của chú tiêu rồi. Bác sĩ Mỹ tháo khớp ba ngón. Mấy ổng sợ chú nhiễm trùng máu. - Tôi vào đây là ngày thứ mấy rồi? - Thứ ba. Chú được Ty chiêu hồi gởi sang... Nghe tiếng nói chuyện, người lính ngụy gác ngoài bước vào. Hai người y tá, hộ lý im lặng tiếp tục chăm chú làm việc. Một người nói như cố ý cho người lính gác cùng nghe: - Cho một ống kháng sinh! Vào lúc đèn đường bật sáng, cánh cửa phòng giam Phong lại mở một lần nữa. Người lính gác sau lúc mở khóa, lui ra ngoài. Một người mặc quần áo sĩ quan cảnh sát ngụy bước vào. Gã đến bên giường Phong và khẽ lay nhẹ vào vai anh. Phong biết cả, nhưng giả vờ ngủ. Gã sĩ quan nói chậm rãi: - Tôi bên Ty cảnh sát sang hỏi anh vài điều. Anh tên chi? - Phong! - Anh đáp tên thật không cần nói dối, - Cấp bậc, đơn vị mô? - Tôi là lính nấu ăn cho đơn vị chủ lực quân giải phóng. Gã sĩ quan nhìn ngó Phong một lát, rồi cúi xuống sát mặt anh nói nhỏ: “Chị Hạnh gửi anh mẩu giấy. Đọc xong, nuốt cho lẹ”. Gã sĩ quan quay ra, đóng sầm cánh cửa. Phong ngơ ngác không biết chuyện đùa hay là thực? Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Mười Hai, 2012, 07:46:25 am 7 Thím Tư và Quyên vào thành phố từ sớm. Sau chiếc xe honđa thím còn chở theo một cặp vịt, ít chục hoa huệ. Thím bảo với mấy người quen “đi kỵ ông thông gia!”. Buổi sớm, Kiều - con dâu thím Tư đã đi chợ mua sắm đầy đủ các thứ rau quả, gà thịt đủ để sắp vài mâm cỗ. Nam, chồng Kiều trước lúc tới công sở đã dặn vợ: - Lát nữa, mạ với cô Quyên lên giúp em. Sớm nay anh phải bay vô Đà Nẵng có công chuyện với ngài phó tỉnh trưởng. Chiều anh mới về. Em nói với mạ, có thể anh mời thêm vài ba người bạn sĩ quan tới kỵ ba đó nghe. Không ngại gì cả. Kiều nhìn chồng. Cô hiểu ý. - Càng đông, càng vui chớ sao! Bữa nay em để thằng cu Bi ở nhà chơi với bà nội, o Quyên... nghe anh. Nhớ chiều về cho sớm. Tiện đường, anh mua vài chai bia. Rượu nhà có sẵn rồi. Căn nhà của vợ chồng Nam nằm lọt thỏm trong một khuôn viên rộng ở ấp Xuân Hòa. Thông gia của thím Tư là ông giáo Thiên chỉ còn độc có một cô con gái. Anh trai Kiều, năm mười ba tuổi, theo đám bạn ra sông Hương tắm, sảy chân chết đuối. Hai ngày trời cụ giáo Thiên thuê cánh vạn đò quăng lưới, lặn sông tìm con trai. Mất ba ngày, xác trôi về đến bến chợ Đông Ba mới tìm thấy được. Khi anh chết, Kiều chưa sinh. Vợ chồng thầy giáo Thiên buồn vì thương con, buồn vì lo không ai nối dõi tông đường. Bà vợ ông giáo suốt ngày đi cầu cúng ở các chùa. Hai năm sau, bà mới có mang Kiều thì cũng là lúc ông giáo Thiên ra đi theo cậu con trai. Kiều chỉ học xong đệ nhị, nghỉ ở nhà giúp mẹ chăm sóc vườn tược. Đên năm mười sáu tuổi, Kiều xin với mẹ vô Sài Gòn theo học nghề may rồi về làng mở một tiệm may nhỏ ngay tại nhà. Mười tám tuổi, Kiều đã lấy chồng, một viên sĩ quan cảnh sát làm việc ngay tại Huế. Trong con mắt của những người dân sống dọc theo dãy phố nhỏ Kim Long, Xuân Hòa, gia đình viên thiếu úy Nam là một gia đình hạnh phúc, đầm ấm. Từ ngày mẹ mất, Kiều phải lo việc giỗ cha mẹ và người anh xấu số. Hàng ngày cô đứng đo cắt cho khách hàng, còn lại giao cho thợ giúp việc. Đã từ lâu, Kiều hiểu rõ công việc nguy hiểm của chồng và của mẹ chồng. Thím Tư, không muốn kéo cô con dâu vào công việc hệ trọng nguy hiểm tới tính mạng cho đám con cháu của bà, nhưng dường như không thể. Nam làm việc ở công sở suốt ngày. Mối liên hệ nhanh nhất và thuận tiện nhất giữa thím và con trai chính là Kiều. Quyên nhận hàng may vá của chị dâu, hai chị em có thể gặp nhau hàng ngày để thực hiện mệnh lệnh của mẹ. Để đề phòng bất trắc, mỗi năm chỉ một đôi lần, giỗ kỵ thông gia, thím Tư mới ghé Xuân Hòa. Còn không vợ chồng Nam tự tìm về với thím. Sau lúc thím Tư cắt đặt mọi chuyện bếp núc cho Kiều và Quyên, thím Tư vào gian phòng khách ngồi nghỉ, vừa têm trầu, vừa suy tính công việc. Hai đêm trước ở bãi cồn mả làng Liễu Thượng, thím Tư đã có cuộc gặp gỡ với chú Sáu Thọ và Hạnh. Đã lâu rồi, thím Tư mới có dịp gặp lại Sáu Thọ. - Cô Tư à... Tình hình của huyện ta sau khi ký hiệp định Ba Lê cô biết cả rồi. Bộ đội về đánh chi khu gặp khó khăn. Địch phòng thủ chặt và tăng quân đột biến khiến ta bất ngờ. Trận đánh về chi khu, về La Chữ, An Hòa..., các mũi các hướng đều không thuận lợi. Cái gay là một đồng chí cán bộ chỉ huy của bộ đội đang bị địch bắt. Cơ sở trong nội thành báo cho biết: đồng chí nớ bị thương, hiện giờ đang được người của Ty chiêu hồi gửi cho bệnh viện Trung ương Huế coi giữ, thuốc men. Thành ủy giao nhiệm vụ cho huyện ta, phải tìm cách đưa đồng chí chỉ huy ra bằng được... - Sau khi nghe kế hoạch của đồng chí bí thư chú Sáu chỉ vào Hạnh - Huyện ủy dự kiến giao việc này cho tổ của cô, cô tính sao? Thím Tư nghĩ một lát rồi trả lời: - Anh Sáu giao việc tôi xin nhận. Kế hoạch cụ thể thế nào hả Hạnh? Hạnh trình bày kỹ lưỡng, khúc chiết từng chi tiết để thím Tư hiểu và nhớ kỹ. Riêng bữa cỗ chiều nay để tưởng nhớ ông giáo Thiên, do thím chủ động đề xuất được chú Sáu tán thành ngay. Chú Sáu Thọ còn dặn dò, trao đổi với thím Tư nhiều chuyện về về công việc và tình hình giữa ta và địch sau khi có hiệp định Pari. Kể từ ngày 27 tháng giêng, hiệp định ngừng bắn được bốn bên ký kết, quân ngụy tuy được tăng cường mạnh, nhưng thực sự không yên khi quân lực Hoa Kỳ rút khỏi đất này. Không một ai tin rằng: chiến cục đã kết thúc. Đây chỉ là một khoảng lặng trong bản hòa tấu lúc trầm, lúc bổng, lúc ầm ào sôi động, lúc du dương... Còn người trong cuộc hiểu rằng đây là thời gian chuẩn bị cho một cuộc chiến đấu mới để giành và giữ cho được những cái mình đã có: đất đai, lòng ngườị và chờ đợi thời cơ mới. Chú Sáu Thọ còn nói thêm: - Ít ngày nữa, cả phía ta và địch sẽ trao trả tù binh. Nhưng riêng trường hợp đồng chí bộ đội chỉ huy bị bắt này ta có điều kiện để giải thoát sớm. Không cần chờ lâu đến ngày trao trả. Thím Tư đã đi gặp Ngật và gọi Nam về. Để tìm cho ra manh mối chú Phong bị địch bắt giữ, đối với Nam không khó. Chỉ một cuộc nhậu với mấy người bạn bên Ty chiêu hồi, Nam đã biết nhiều thông tin quan trọng. Buổi nói chuyện tìm cách bắt liên lạc với Phong đã được Nam thu xếp gọn gàng. Theo kế hoạch, sáng nay thím Tư đã có mặt tại Huế. Kiều đi vào nhà tìm thím Tư: - Mạ ơi! Mấy con gà con vừa xé phay vừa nấu ca ri mạ nghe. - Ừ. Vậy mà còn hỏi, cái con ni! Quyên giúp chị bưng bình hoa đặt lên bàn thờ Phật nói đỡ chị dâu: - Chị Hai sợ mạ ngủ, nên hỏi chuyện cho vui đó mà! - Tụi bay đã mua ngũ vị hương chưa? - Dạ rồi... Nhìn Quyên, thím Tư lại nhớ tới chồng. Cô con gái út của thím có đôi mắt, cái miệng, vầng trán giống cha như lột. Cô nhanh nhẹn, tháo vát trong khi anh trai trông bề ngoài hiền lành và có phần chậm chạp. Nhưng thím Tư biết, con trai có quan hệ rộng trong Ty cảnh sát được nhiều người quý mến. Là viên sĩ quan cảnh sát nắm giữ hồ sơ nên chỉ vài ngày sau Nam đã lần ra dấu vết của Phong. Bộ đội du kích địa phương bị bắt làm tù binh trong chiến dịch “giành đất, cắm cờ” khi hiệp định Ba Lê ký kết tại Thừa Thiên - Huế không nhiều. Một người bạn làm việc ở khu Mang Cá còn cho Nam biết Phong đã được một bác sĩ Mỹ trực tiếp mổ gắp mảnh đạn ra khỏi phổi và xử lý vết thương chân đã nhiễm trùng nặng... Khi biết chính xác Phong đang nằm điều trị tại bệnh viện Trung ương Huế, thím Tư cho rằng cơ hội để cứu Phong đã tới. Hạnh đồng ý ngay với kế hoạch giải thoát Phong do Nam đề xuất. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Mười Hai, 2012, 07:47:38 am Ngật sang làng Xuân Hòa vào buổi chiều. Đầu đội chiêc mũ dạ cũ, áo trắng, quần tây như một anh nông dân lên tỉnh. Ngật không quên mang theo thẻ “thương phế binh”. Chiếc thẻ làm được khối việc. Anh có lương ăn. Đi lại không một sắc lính nào dám động vào “một người đã hoàn thành nhiệm vụ với quốc gia”.
Ngật vào bàn thờ thắp hương cho cụ giáo Thiên rồi xuống dãy nhà ngang ngồi uống nước với thím Tư. Hai người chỉ nói đôi ba câu về chuyện mùa màng, cấy hái rồi im lặng kẻ ăn trầu, người hút thuốc. Không ai nói ra nhưng tâm lý chờ đợi đều hiện rất rõ ở trên gương mặt, ánh mắt nhìn. Chỉ cần nghe tiếng còi xe hú ngoài đường, thím Tư đã ngong ngóng nhìn ra ngoài cánh cổng gỗ khép hờ. Ngật điềm tĩnh hon, nhưng cũng không giấu được vẻ bồn chồn, lo lắng. Hơn 4 giờ chiều, Nam và năm người bạn trở về nhà trên hai chiếc xe Zip. Họ đều ăn mặc quần áo sĩ quan cảnh sát ngụy và được giới thiệu là bạn đồng ngũ trong đơn vị của Nam. Mấy ông già, bà cả họ hàng của ông giáo Thiên nhà ở kế bên cũng lục tục kéo sang ăn cỗ. Mâm cỗ mời khách cũng chỉ có đám bạn bè của Nam và hai cô bạn học cùng với Kiều ở trường Đồng Khánh. Một cô nay đang học Văn khoa nhà ở trên gần chùa Thiên Mụ. Một cô cũng giống như Kiều, nghỉ học lấy chồng và mở tiệm bán vải ở chợ Đông Ba. Các cô bạn của con dâu, thím Tư biết mặt cả. Họ là các cô gái phù dâu ngày đám cưới Nam. Ngày giỗ kỵ, ăn tất niên ở nhà cụ giáo Thiên các cô đều có mặt, có lần họ còn mang theo cả chồng con. Thỉnh thoảng vợ chồng Nam còn kêu xe lam đưa cả hội bạn của Kiều về chơi ở nhà thím Tư ngày chủ nhật mang theo đồ ăn thức nhậu, phá tanh bành cả khu vườn vốn yên tĩnh và ngào ngạt hương thom của hoa cam, hoa bưởi. Thím Tư, Ngật và các ông bà già ngồi ăn cỗ ở dãy nhà ngang. Quyên chạy đi chạy lại tiếp thức ăn, nhưng cô bé thường xuyên bị mấy anh sĩ quan cảnh sát bạn của Nam mời ép uống bia. Mặt cô đỏ bừng, đôi mắt sáng lên không hiểu do hơi men hay vì bị mấy anh con trai trêu ghẹo. Đám thanh niên ăn uống ồn ào. Lâu lâu, một ai đó xướng “Nào! Dô!”, chỉ nghe thấy tiếng cốc chạm nhau lanh canh... Thím Tư cảm thấy nóng ruột. Không biết thằng Nam sắp xếp công chuyện ra sao, từ lúc về nhà hầu như chưa gặp mẹ... Quãng gần 6 giờ tối, bữa cỗ mới tan. Nam và Kiều tiễn bạn bè ra xe, chờ cho họ đi khuất vào bóng cây đa đầu làng họ mới trở vào nhà. Gặp thím Tư và Ngật còn đang ngồi uống nước, Nam bảo: - Mạ và chú Ngật về đi kẻo tới giờ giới nghiêm. Ngày mốt con đưa cháu về thăm nhà. * Chỉ đến khi lọt thỏm trong chiếc xe chở rác của bệnh viện, Phong mới tin rằng anh đang được “người của ta” giải thoát. Trong thùng xe rác bịt bùng, anh nằm lẫn giữa những thùng nhựa chứa rác thải của bệnh viện, cùng với đám vỏ hộp, chai thuốc, không nhìn thấy cảnh vật bên ngoài, nhưng anh biết là xe đang chạy. Trong khoảng tối mung lung, hôi hám của chiếc xe chở rác, ngoài Phong ra còn hai loại sinh vật tồn tại cùng với anh là lũ gián và chuột. Gián nhiều vô kể, như thể ngửi thây hơi người, hơi máu, mủ và mùi xú uế không biết từ ngõ ngách nào gián tuôn ra nhiều thế. Chúng ngang nhiên bò qua những túi bao ni lông đựng chất thải ra từ bệnh viện, bò qua đống hộp các tông, bò qua đầu mặt Phong. Chỉ thấy buồn buồn trên mặt, trên cổ, ngưa ngứa và mùi hôi của lũ gián, anh phẩy tay, lũ gián hoảng loạn chạy tứ tung. Con này đi thì con khác kéo đến, lại bò trinh sát coi thử xem đây có phải là một xác chết. Đám chuột ít hơn. Lại toàn là chuột nhắt. Chúng có tổ đâu đó trong cái xe rác to đùng và bẩn thỉu này. Qua khe sáng hẹp chỉ nhỏ bằng đầu đũa lọt vào thùng xe, Phong nhìn thấy những con chuột nhắt chỉ nhỏ bằng cán dao. Đôi mắt láo liên nhìn anh không hề sợ hãi. Những con chuột nhắt lịch sự hơnn nhiều lũ gián. Thấy anh khẽ động tay, thở phì phì, chúng đứng một lát rồi chui tọt vào khoảng tối, kêu “chít, chít”. Sẽ không bao giờ Phong hiểu được vì sao anh lại được cứu thoát. Càng không bao giờ biết rõ mặt mũi “ân nhân” nào đã đưa được anh vào chiếc thùng xe tải bịt bùng này. Trong căn phòng tối râm rê tiếng ve ran ở hàng cây bên ngoài vọng vào chỉ nghe có giọng nói: “Chú nằm im, đừng nói năng chi, chịu khó ngủ đi chốc lát nghe!”. Như thể có một ai đó trùm lên mặt anh một cái khăn ướt, thoáng mùi ê te. Vậy là Phong thiếp đi. Một giấc ngủ nặng nề, mê mệt. Chỉ đến khi chiếc xe chạy trên một đoạn đường gồ ghề, xóc nảy, Phong mới tỉnh lại và nhận ra anh đang nằm trong một cái bao gai mở sẵn một đầu. Chiếc bao gai còn được đặt trong một thùng các tông lớn. Hạnh viết trong mảnh giấy dặn rằng: “Sẽ có người tới đón anh đưa đi!”. Ai đón? Bao giờ? Mảnh giấy không nói rõ. Nhưng cả đêm ấy Phong thao thức không ngủ được. Và anh cứ mường tượng một cuộc vượt ngục, đào thoát sẽ đến ngay tức khắc, đến bất cứ lúc nào trong đêm. Anh sợ rằng ngủ quên sẽ không kịp nhận ra người đến cứu. 9 giờ khuya, người lính gác vào một lần coi ngó qua quýt rồi khóa cửa đi ra. Gã lính đi ngủ như mọi đêm... Chỉ có điều anh ta không khóa chân vào sợi xích chó để cho anh được tự do. 2 giờ sáng, Phong thấy ớn lạnh dọc sống lưng, đầu đau như búa bổ. Và nóng. Anh biết là cơn sốt đã đến. Thứ sốt rét kinh niên đến với Phong hàng tháng, hệt như người đàn bà đến kỳ có kinh. Đều đặn không trễ hẹn. 6 giờ sáng, cơn sốt rét lặng lẽ rút lui để lại một thân xác mệt mỏi rã rời. Khát nước như xé họng. Phong tu một hơi hết cả nửa bi đông nước lạnh. Đói cồn cào. Có tiếng mở khóa lách cách, người mặc áo blu trắng bước vào và đặt trên mặt bàn suất cơm sáng. Ngó nhìn như không hề biết anh vừa trải qua cơn sổt. “Ráng mà ăn đi, chú!”. Bụng đói, nhưng cơm nuốt sao nổi. “O có cháo, cho tui xin một tô. Đêm qua tôi sốt”. “Đau hả? Sẽ có cháo”. Một lúc lâu sau, người hộ lý quay trở lại mang theo cả cà mèn cháo đậu xanh và một cốc sữa. Ăn xong cà mèn cháo, mồ hôi túa ra, Phong thấy đầu nhẹ bẫng, cái ý nghĩ được ai đó đến cứu nung nấu chờ đợi suốt cả đêm qua cũng không còn nữa. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Mười Hai, 2012, 07:49:32 am Bây giờ anh đã ngồi đây, trong căn nhà chật hẹp của người giữ ngôi chùa cổ. Ngôi chùa nằm sát bên con đường lộ nhỏ một bên là dòng sông Hương. Phong biết chắc là sông Hương vì đã nhận ra rặng dừa, rặng tre của làng Nham Biều. Hơn bốn năm trước K10 của anh đã từng có những trận đánh bắn tàu Mỹ trên dòng sông này. Chuyến xe rác giấu Phong chỉ dừng lại trước cửa chùa chừng hơn một phút. Bác tài xế lái xe chỉ nói gọn lỏn: “Chú vô đây, có người chờ!”. Cánh cổng gỗ ngôi chùa cổ dường như đã mở sẵn. Phong vừa lách người vào, kéo theo cây nạng gỗ, đã được một thầy chùa dìu đi. Hai người cắt băng qua một con đường nhỏ dẫn ra khu vườn phía sau chùa... Nhà sư cũng chỉ nói: “Chú ngồi yên ở đây nghe... Đừng lo chi cả. Lính chẳng mấy khi vô đấn đây mô. Hoặc giả nếu có động gì có người tới đưa chú đi... Nam mô a di đà Phật!”.
Trời chưa sáng rõ, một vị sư nữ đưa tới cho Phong một tô cơm, chút dưa, muối vừng, đậu lạc. “Chú giải phóng thông cảm nghe! Nhà chùa chỉ có chút cơm chay..”. Phong đỡ giỏ cơm và bình nước chưa kịp có lời cảm ơn thì người sư nữ đã quay ra, khóa cửa lại. Không gian trong chùa yên tĩnh, phẳng lặng. Lắng tai nghe, lâu lâu mới thấy tiếng xe lam chạy ngoài đường, tiếng thuyền máy rầm rì chạy trên sông, tiếng mõ tụng kinh ở gian nhà thờ chính điện. Thấp thoáng ưong vườn có những vị sư mặc áo dài nâu đi quét lá khô. Mùi hương ngọc lan thơm dịu nhẹ tỏa ra từ một góc vườn nào đó khiến Phong ngây ngất. Đây là thực hay mơ? Phong luôn tự hỏi mình. Một cuộc đào thoát kỳ lạ. Có thể bắt đầu từ Hạnh. Nhưng một cô bí thư xã nhỏ nhoi, yếu đuối làm sao có thể đưa Phong ra khỏi hang hùm, thoát ra khỏi vòng vây dày đặc của địch? Những người đến với anh, giúp anh từ tối qua đến giờ, Phong không biết một ai. Không nhận ra một ai. Họ mờ mờ, ảo ảo như những bóng ma. Ma Việt cộng - thằng địch hay nói vậy mà. Nhưng những con ma ấy, hiện thời đang là ân nhân của anh, đưa anh thoát ra khỏi cảnh cùm kẹp, tù tội. Chẳng lẽ, từ cô y tá, hộ lý trong bệnh viện, đến anh lính ngụy có bộ mặt lầm lì, không mấy thiện cảm, đến anh lái xe chở rác, vị sư tăng mặc áo choàng nâu cho đến ni cô đang quét rác ngoài kia, hết thảy đều là Việt cộng? Những ngày cùng K10 về đánh giải phóng Phú Vang, các làng quanh đầm phá Tam Giang, dạo Mậu Thân được sống trong dân, Phong đã gặp nhiều mẹ, nhiều chị, các ông già bà cả giúp đỡ bộ đội đánh giặc. Họ nấu cơm vẳt cho bộ đội, dành nhà nghỉ ngơi, cho đào hầm, hào ngay trên nương vườn của họ để bộ đội đánh địch chống càn. Phong chỉ hiểu đơn thuần theo ý nghĩa đấy là tình quân dân như cá với nước. Chả lẽ tay cảnh sát ngụy đến gặp anh ở phòng giam trong bệnh viện cũng là “người của ta?”. Không phải phía đằng mình thì sao lại biết Hạnh? Cái chân bị thương của Phong vẫn còn căng tức. Thỉnh thoảng lại giật giật, nhói đau. Nhìn bàn chân trái chỉ còn lủng lẳng hai ngón anh chạnh buồn. Và hiểu rằng cuộc chiến này đã loại anh ra khỏi vòng, nếu có còn sống, anh khó có thể trở lại với tiểu đoàn và những người lính. Buổi chiều chậm chạp trôi đi trong không gian thanh vắng, êm ả của ngôi chùa. Không có một ai bén mảng tới dãy nhà kho nằm khuất trong khu vườn. Phong thỉnh thoảng ngó qua khe cửa hẹp đo vệt nắng đổ bóng xuống thân cây nhãn trước cửa nhà. Lặng nghe tiếng chim hót lảnh lót đâu đó ngoài bờ tre... Tiếng con cu gáy cất lên xa vắng, buồn thảm. Rồi bóng tối cũng trùm phủ lên khu vườn. Vị sư nữ lặng lờ như một cái bóng bưng đến cho Phong một giỏ thức ăn và chai nước lọc. Cơm nóng, muối mè, lọ tương chao, đĩa xôi và cả một chén chè... Lúc quay trở ra, vị sư nữ làm như vô tình không khóa cửa. Ăn cơm xong, Phong lết từng bước ra khoảng đất trống trước cửa căn nhà. Anh ngồi bệt xuống thảm cỏ giấu mình sau gốc cây nhãn đếm từng hồi chuông thả nhịp vào làng quê đang chìm dần trong bóng tối. Cho đến khuya, Phong đang thiu thiu ngủ thì nghe có tiếng súng nổ đâu đó trong làng. Anh vơ vội cây nạng và tập tễnh ra khỏi nhà. Anh nhận ra tiếng súng AK điểm xạ từng loạt ba viên một. Và hình như còn có cả tiếng nổ của trái B40... Tiêng súng rộ lên chừng năm phút rồi lịm đi. Từ phía bên kia sông Hương, địch bắn những trái pháo sáng lên bầu trời. Không gian sáng rực, soi ánh sáng xuống cả khu vườn tối tăm, ẩm ướt. Từ phía bờ tre cuối vườn chợt xuất biện ba bốn bóng người. Phong chột dạ. Anh nằm ép xuống nép sau một khóm hoa ngâu. Vừa lúc đó, trong ngách cửa của gian hậu cung ngôi chùa, người sư nữ đi ra như có ý đón đợi những người lạ. - Chú bộ đội ở mô, o Sen? - Ở trong nớ... Phong nhìn rõ ánh đèn pin quét loang loáng trong nhà. Họ đã trở ra. Ba bốn người tụm lại ngay trước cửa gian nhà bàn bạc, Phong nghe không rõ. Lát sau, vị sư nữ nói: - Hồi chiều tôi mới đưa cơm cho chú bộ đội mà! Phong lúc ấy mới bước ra khỏi bụi hoa ngâu và cất tiếng nói: - Tôi ở đây! Một người bước tới, đầu đội chiếc mũ vải có vành nhỏ, tay cầm theo khẩu AK báng gấp. - Eng Phong phải không? Cha trời... không thấy anh tôi phát hoảng. - Ai vậy hè...? - Tui, Ngọc Anh đây... Chú Sáu biểu tôi về đón anh lên. - Sao vừa rồi súng nổ dữ vậy hè?... - Phong chỉ về hướng đầu làng. - Anh khỏi lo. Quân anh Ngọc, anh Đoàn về đánh tụi bảo an ở Đình An Ninh... Ngọc Anh quay ra gọi: - Xuôi, Miên ơi, tụi bay mang cáng vô cáng anh Phong đi cho kịp. Lúc Phong vừa được đưa lên cáng, Ngọc Anh còn quay lại nói với vị sư nữ: - Có chi ăn không o Sen, cho tụi này ăn với. Đi cả đêm đói hung. Vị sư nữ bảo Ngọc Anh: - Em lên chùa chào thầy một tiếng. Chị để phần xôi chè trong nớ. Phong chân đau, không thể đi được. Những người lính biệt động đưa anh lên cáng. Họ len lách qua những khu vườn, đi trên những con đường nhỏ băng qua xóm. Chừng nửa giờ sau, toán cáng thương đã tới được cánh đồng. Ngọc Anh lưng đeo một gùi to, tay cầm súng AK ghé sát mặt Phong hỏi: “Ráng chịu khó nghe anh Phong, sắp tới Bồn Phổ rồi...”. “Không sao... chỉ thương tụi bay khiêng cáng tao vất vả...!”. “Vất vả chi! Anh nhẹ chưa bằng bao gạo... - Một anh lính đang khiêng Phong nói - Tụi tôi có bốn đứa thay nhau, lo chi”. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Mười Hai, 2012, 07:51:47 am Phong biết Ngọc Anh đã vài năm nay. Cậu ta vốn là quân của Tâm - trong đội đường dây an ninh thành phố, quê ở Lai Bằng, lên rừng từ những năm “sáu bảy”, rồi được đưa ra miền Bắc học ở trường An ninh của Bộ. Cuối năm 1971, Ngọc Anh trở lại chiến trường và công tác ở cơ quan an ninh của huyện. Lúc còn đang chỉ huy đại đội 3, bám chốt giáp ranh đã nhiều lần. Ngọc Anh và Tâm đưa bộ đội về làng mua gạo, thực phẩm. Ngọc Anh cũng là người biết rõ mối tình thầm kín của anh với Tâm...
Dạo ấy, Tâm hy sinh được một năm. Đúng kỳ giỗ đầu, Phong cùng mấy người lính vận tải trên hang đá về đồng bằng mua hàng. Một đêm mưa dầm, gió bấc, rét như cắt một, về Phú Ổ mua được mấy gùi mì chính, dầu đậu phộng, đường sữa, thuốc lá... lúc lên tới đầu làng Văn Xá Trung, Ngọc Anh đã đưa Phong tới tận vựa ruộng trồng đậu, nơi Tâm hy sinh. Gió ào ạt thổi trên đồng trống, đưa tới cả mùi cao su đốt cháy khét lẹt của tụi lính bảo an đồn trú qua đêm ở làng Văn Xá Thượng. Mặc gió rét, hiểm nguy, hai anh em lần mò quanh vạt đẩt, bãi cồn mồ mả cả giờ đồng hồ để đoán định, coi thử tụi Mỹ nồi xanh đã gài mìn như thế nào đế rồi dẫn đến cái chết của Tâm? Nhưng từ trong sâu thẳm, Phong muốn tới đây thêm một lần nữa để anh được tới bên cô. Tâm thức anh, Tâm chưa chết. Chưa bao giờ chết. Cô đang lẩn quất đâu đó sau những bụi dứa dại, trùm ni lông để kẹt lửa hút thuốc. Tâm nghiện thuốc nặng. Lá thuốc Phong Lai, cô dùng làm giấy cuốn thuốc. Một nhúm thuốc sắt lấy ra từ trong chiếc bao vải may bằng bạt Mỹ, túi vuông to bằng ba ngón tay, lăn vài lượt trên môi, cô đã có một điếu thuốc tổ sâu. Trên tuyến đường vô định lọt qua các điểm chốt, bãi phục kích của địch về đồng bằng mỗi đêm, bao giờ người ta cũng lựa chọn một, hai điểm để tập kết quân. Đây được xem là nơi bí mật để bộ đội, du kích, cán bộ địa phương về đồng bằng đánh địch, nếu lạc đường cứ tìm tới điểm tập kết sẽ có người đến đón đưa lên “xanh” (hậu cứ). Điểm tập kết có thể là một cái miếu thờ, một khu mồ mả giữa đồng, một ngã ba đường làng, đường ray xe lửa... Bộ đội, du kích đi đồng bằng lên, gùi gạo nặng, thường gặp nhau ở điểm tập kết để ngồi ăn nắm cơm lót dạ, hút thuốc. Tất cả đều diễn ra trong đêm tối. Núp sau một ngôi mộ cổ, Tâm chỉ cần trùm lên đầu một tấm vải mưa, cô đã có thể ung dung kẹt chiếc bật lửa Zíppô hút thuốc. Đốm lửa đỏ của điếu thuốc cũng được cô giấu kín trong lòng bàn tay. Đốm lửa đỏ chuyền kín đáo qua tay người này sang người khác. Đêm rét, bụng đói có được hơi thuốc lá cũng đỡ cồn cào. Đã nhiều lần, Phong và Tâm ngồi châm thuốc lá cho nhau phía sau ngôi mộ cổ ở làng Văn Xá Thượng. Không nói gì cả. Tâm kín đáo ngả đầu và bờ vai Phong... Tiếng cô thì thào: “Em yêu anh!”. Bàn tay nhỏ nhắn, lạnh buốt sương đêm của cô luôn vào đan lấy những ngón tay anh. Phong sợ. Chỉ cách dăm ba mét phía ngoài bức tường bộ đội, du kích ngồi thu lu ngủ gà, ngủ gật, người ăn cơm vắt, kẻ giấu điếu thuốc lá trong bàn tay, hút thuốc... Cái khoảng thời gian để được ngồi bên nhau như vậy chỉ mươi phút nhưng thật là hiếm hoi cho những kẻ yêu nhau. Lâu lâu, từ các căn cứ địch lại thổ lên trời vài quả pháo sáng. Thứ ánh sáng xanh ma quái xé toang màn đêm, biến những người lính thành những mô đất bất động. Đầu Tâm rời khỏi vai Phong. Cô ngồi hơi tách xa như giữa họ chưa hề có sự đụng chạm nào. Nhiều người biết Tâm yêu anh bộ đội K10. Không ai nói ra, cũng chẳng ai vun vào. Không ai nói ra, nhưng tất thẩy đều ngầm hiểu, chuyện yêu đương giữa một anh bộ đội “Bắc Kỳ” với một cô cán bộ huyện tài sắc, dũng cảm là chuyện viển vông. Một thứ hạnh phúc mù mờ như người lính đi gùi gạo dưới đồng bằng đi trong sương sớm. Không nhìn thấy núi, không nhìn thấy rừng cây. Chỉ có nẻo đường mòn dưới chân và bao quanh là màn sương trắng đục. Niềm hạnh phúc mong manh ấy còn luôn bị ám ảnh bởi một nỗi sợ hãi từ trong tâm thức. Rằng yêu là khuyết điểm. Là vi phạm kỷ luật. Là không hoàn thành nhiệm vụ. Thảm hại hơn nữa là vì yêu có thể làm cho hình ảnh của người lính giải phóng mất đi cái vẻ đẹp cao cả, toàn mỹ. Có một lần, trong lúc ngồi nghỉ ở điểm tập kết tại Trường Bia chờ cánh quân đi đồng bằng ở Bầu Tháp lên để lên núi, Tâm đã kéo Phong lùi lại. Cô bảo: “Để họ đi trước, anh và em đi sau chốt đuôi... Dừng lại một chút em bảo cái này...”. Hai người nép sau bức tường đất vốn là nơi tập bắn bia của lính ngụy. Chờ cho những người lính bộ đội và dáng người cao gầy của chú Hoa, cán bộ xã Hương Thạnh đi khuất sau tảng đá để bắt đầu leo dốc, Tâm mới bảo Phong: “Mình ngồi với nhau vài phút đã anh. Tuần sau là em với chú Sáu phải về nằm hầm ở vùng sâu rồi...”. Tâm chủ động gỡ chiếc mũ tai bèo trên đầu cô và Phong đặt lên chiếc gùi căng tròn. Đồng hồ chỉ 4 giờ sáng, vầng trăng hạ tuần treo trên mỏm Núi Dài soi rõ gương mặt trắng nhợt nhạt của Tâm. Phong nói một câu mà nhiều năm sau nhớ lại anh thấy mình là một kẻ ngu, thật thà, quê kệch hết sức: “Ờ, em đi ít bữa rồi lên, anh em ta gặp nhau chớ sao!”. Tâm không nói gì chỉ nhìn anh. Đôi mắt mở to. “Anh phải giữ gìn sức khỏe. Thỉnh thoảng em thấy anh ho... Nào, anh lại đây.” Tâm đã chủ động kéo Phong vào vòng tay cô, siết chặt. Gương mặt lạnh lẽo của cô áp vào ngực anh. Bất chợt cô vít đầu anh xuống, hôn lên đôi mắt, lên vầng trán, lên gò má và đôi môi khô rát của anh, cồn cào và mãnh liệt. Nghe rõ tiếng gió thổi ào ạt trên những vạt lá tranh, lá cỏ voi. Tiếng con suối chảy từ trong núi ra róc rách... Hôn Tâm mà Phong vẫn còn sợ. Anh còn nhìn thấy cả bóng những người lính đang gùi gạo bắt đầu leo lên sườn đồi tranh. Rất xa một chiếc máy bay trinh sát của địch bay đến, đèn đỏ nhấp nháy. Bàn tay Tâm ấm nóng lùa vào ngực anh. Chỉ đến khi khẩu K54 của Phong chạm mạnh vào trái lựu đạn US của Tâm phát ra âm thanh sắc lạnh, cô mới tỉnh ra, rời Phong. Chỉ nói mỗi câu: “Đời mình gặp được nhau là quý... Biết đâu!”. Phong đâu biết rằng bữa gặp Tâm ở Trường Bia cũng là lần cuối cùng anh được ở bên cô. Mỗi lần đưa bộ đội C3 về đồng bàng đánh địch, mua gạo. Nếu con đường cửa rừng qua Trường Bia không có địch, bao giờ anh cũng lén dành vài phút tìm tới bức tường đất nơi Tâm và anh đã ở bên nhau lần cuối... Câu nói của cô đêm nào và nụ hôn dài như một dự báo định mệnh. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Mười Hai, 2012, 07:53:06 am …
Hạnh gặp đoàn cáng thương của Phong ngay đoạn vượt con hói Bồn Trì. Nơi đây, địch thường hay phục kích. Lúc xuống đồng bằng, bộ đội C2 đã cho một tổ bám địch và chốt giữ con hói, đồng thời chờ đón Phong. Hạnh gặp Phong cũng chỉ được vài phút trong lúc đội của Ngọc Anh bàn giao Phong cho bộ đội. Cô tranh thủ đưa cho Phong hai hộp sữa Ông Thọ và cân đường. “Anh đi chữa bệnh cho khỏe - Hanh nói vậy - Lên trên ấy có gặp eng Cường cho em gửi lời hỏi thăm nghe”. “Cám ơn Hạnh nhiều... Anh em K10 không quên em đâu”. Hạnh chờ cho những người bộ đội C2 đưa cáng thương của Phong đi xa, cô mới nhập vào toán của Ngọc Anh, đi theo một con đường khác lên rừng. Chú Sáu Thọ có thư gọi Hạnh về căn cứ gấp để nhận lệnh. Thấm thoát Hạnh đã rời hậu cứ hơn một tháng. Được gặp lại những người lính biệt động, cán bộ xã cô như thấy được trở lại nhà. Con đường lên xanh lần này đi theo ngả dốc Mồng. Đường xa hon vài giờ đồng hồ nếu so với đường đi theo ngả dốc Đu, dốc Cát, Khe Đá Liếp. Căn cứ Hòn Vượn bây giờ như một trạm gác, quan sát suốt ngày đêm mọi nẻo đường về đồng bằng Hương Trà. Mỗi con đường bí mật mở về đồng bằng dù kín đáo, được ngụy trang nhưng cũng chỉ vài ba tháng đã bị lộ. Các đơn vị thám báo ngụy, các đại đội lính bộ binh hàng ngày mở các cuộc đi càn rừng. Nhiệm vụ duy nhất cho các toán quân càn rừng là tìm cho ra nơi ẩn náu của “Việt cộng”. Pháo cối bắn suốt ngày vào các hẻm núi, các cánh rừng có dấu hiệu nghi ngờ. Con đường về đồng bằng qua ngả dốc Mồng nằm ngay dưới chân Hòn Vượn. Bộ đội, du kích xuống làng, hoặc trở lại rừng đều phải đi đêm. Thời gian ở lại làng gặp dân, bám địch thường vài ba tiếng. Vài tháng nay, Hạnh ít khi ở “cứ”. Có được vài ba “lõm” dưới đồng bằng an toàn, cô chỉ đạo anh chị em cán bộ, biệt động, du kích trụ bám ngay tại các “lõm”. Đã diễn ra vài trận đánh diệt ác, trừ gian, rải truyền đơn, vận động quần chúng trong các xóm, ấp vùng ngoại vi thành phố. Địch đã đánh hơi thấy sự hiện diện nguy hiểm của “Việt cộng” tại các làng, xã. Đêm nào các đại đội lính, bảo an, dân vệ, nghĩa quân cũng phân công nhau về các xóm gài mìn phục kích, trấn giữ các điểm trọng yếu... Hạnh đã từng cùng với các đội biệt động của Huy Ngọc, của anh Đoàn, anh Sẹo, tổ chức những trận tập kích các đơn vị địa phương quân của địch vào các xã vùng sâu của huyện, áp sát thành phố Huế. Cánh biệt động còn có lần mặc quần áo rằn ri của lính biệt động ngụy đánh tụi bảo an vào lúc 4 giờ chiều ngay tại ấp Triệu Sơn Tây. Trận đánh diễn ra bất ngờ, mau lẹ đến nỗi địch không kịp trở tay. Lúc lính quận Hương Trà nghe tin tiếp viện và các đơn vị đồn trú ở An Hòa ra hỗ trợ thì căn nhà xây nơi địch tập trung chỉ còn là một đống đổ nát và những xác lính chết. “Việt cộng chui ở mô ra bay? Chúng biến đi mô cả rồi... Chả lẽ chúng có cánh?” - Viên đại úy chỉ huy hỏi một vài người lính bảo an đang sợ tái xanh, tái xám thoát chết khi trái thủ pháo giật sập căn nhà. Việt cộng không có cánh nhưng họ là những “bóng ma” giấu mình trong lòng đất và có khi ngủ ngon lành trong những ngôi nhà dân, ngoài cửa đã in sẵn lá cờ vàng ba sọc đỏ... Hạnh cười thầm với ý nghĩ ấy khi thấy thím Tư đi thăm dò về báo cho cô biết số lính bảo an bị chết, bị thương... “Hạnh à! Tụi thằng Ngọc dùng súng loại chi mà ngôi nhà tôn của nhà Ba Gạc gạch vỡ, tôn bay mất tiêu... Dân chúng tới coi, sợ xanh mắt”. Sau trận đánh tập kích địch giữa ban ngày, các xã vùng ven Huế trở nên căng thẳng. Địch tổ chức vây ráp các ấp giữa ban ngày. Chúng tung quân lùng sục, săn tìm hầm bí mật. Một đội quân tề điệp đi bán hàng rong, mua ve chai, lông gà lông vịt, bán báo dạo, đi chợ tung về các xóm ấp để nghe ngóng, tìm dấu vết Việt cộng. Huyện ủy, huyện đội buộc phải lệnh cho các đầu mối bám các lõm lên xanh, dưỡng quân và chuẩn bị cho mùa mưa đang đến... Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Mười Hai, 2012, 07:54:56 am 8 Ngày... Lâu lắm rồi em mới có dịp ra Khe Dứa “tẩy trần”. Chữ ấy lần đầu nghe anh nói, em ngu ngơ còn chưa hiểu. Đến khi anh nói trắng ra là đi giặt giũ, tắm rửa em vừa phá ra cười và xẩu hổ. Em chỉ còn biết chống đỡ bằng cách lấp liếm: “Sao, bộ đội xạo ghê! Rứa đồng chí đi mô?”. “Được buổi sáng không phải đi chốt gác, tôi cũng đi “tẩy trần” và “cải thiện” về cho anh em “ca nhạc”.” Em ngớ ra không hiểu “ca nhạc” là cái gì? “Cải thiện” còn lờ mờ hiểu được nghĩa là các anh đi hái rau rừng, bắt con cua, con ốc về phụ vào bữa ăn. Còn “Ca nhạc” thì em chịu. Em hỏi: “Chỗ bộ đội các anh có văn công, văn nghệ hả?”. Anh lại phá lên cười: “Ca nhạc” là đánh chén, là được một bữa ăn tươi. Ví như đi đồng bằng lên có được vài ba gói mì chay ông Phật nấu với cá hộp, có được cân đường đổ ra nấu kẹo lạc. Bộ đội vừa ngồi ăn kẹo vừa uống trà Blao, chúng tôi gọi là “ca nhạc”(!) Bộ đội thật kỳ cục và hay đùa tếu! Em nghĩ vậy, nhưng im lặng. Nhưng chỉ đến khi anh mở chiếc gùi bạt lấy ra mấy chùm giâu gia đưa cho em ăn, em mới thấm thía món quà quý giá của rừng. “Anh với em đang ca nhạc” - Em trêu. “Gọi vậy cũng phải. Rừng thì nhiều mấy khi anh em ta có giâu gia rừng để ăn!” - Anh nói. Em hỏi: “Cây giâu gia ở chỗ mô, chỉ cho em với!”. Anh giơ một ngón tay lên miệng ra dấu bí mật. Ghét anh ghê! Bây giờ nhìn anh mặc chiếc quần đùi, áo vải xanh, tay áo xắn cao, đầu không mũ, ngồi ở đâu khẩu AK kè kè bên cạnh, chiếc xanh-tuya-rông của Mỹ có đeo hai băng đạn, quả lựu đạn US thít chặt lấy bụng trông như con nhái, ngồi bình thản ăn cơm, nói chuyện trước mặt cánh chị em phụ nữ, em không còn thấy “úc dục” (xấu hổ) nữa. Ngày đầu mới lên rừng, nhìn thấy mẩy anh bộ đội, du kích mặc quần đùi, tay áo xắn cao như rứa, thấy kỳ quá. Cứ tưởng các anh không có quần áo! Đâu phải vậy. “Đã là lính Công trường V, Công trường VI là phải biết mặc quần đùi, tay áo xắn cao. Mặc quần dài, đội mũ đi rừng gặp nhau, tưởng ngụy bắn cho bể gáo!”. Đấy là bài học thứ hai em được chú Hoa dạy. Còn bài học thứ nhất là: “Đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng” em đã thuộc làm lòng. Cũng như việc bước chân ra khỏi hầm, việc đầu tiên là thắt xanh-tuya-rông, cầm cây AK. Ở hậu cứ trên rừng, đến như chú Sáu Thọ, chú Trình, chú Nhân lãnh đạo cấp côi chui ra khỏi hầm, đi hành quân cũng phải mặc quần đùi. Tụi em quần dài cũng phải xắn cao sát gối nữa là... Bữa gặp anh đi hái dâu rừng ở Khe Dứa, em thật tình chưa quen biết anh, chưa “ưa” anh. Chỉ thấy “tội tội” thế nào ấy! Bộ đội trẻ măng, đẹp trai. Chỉ phải nước da xanh rớt vì sốt rét. Sau lần mò hỏi người quen, chạm mặt nhau qua vài chuyến đi đồng bằng, em biết anh ở đại đội 3, lính của anh Hồng, anh Phong, anh Để. Em nhỏ bé nhất trong xã Y nên các anh thương. Có lần anh Phong đùa em: “Này Hạnh, bữa mô lội qua hói Liễu Thượng, hói Bồn Trì, tao cho mi ngồi lên vai tao, khỏi phải cởi quần, ướt quần... Cánh tao con trai, đàn ông, lội qua quần đùi ướt đi một chặp là khô ngay. Còn tụi bay con nít, hoặc như cánh bà Đắng, cô Don, cô Chồn, cô Nguyệt mặc quần ướt đi vào dân cực thấy mồ”. Những người đang đi đồng bằng ngồi chờ ở Khe Đá Liếp nghe anh Phong nói vậy, cười ré lên. Em đế vào: “Cũng được, em là con nít... nhưng anh phải cõng lên vai chị Tâm nữa chớ!”. Em chưa nói hết câu anh Phong đã la toáng lên. Hóa ra, chị Tâm đã đứng sau lưng anh Phong lúc nào và véo anh một cái đau điếng. Cánh con gái huyện này, ai cũng biết chuyện chị Tâm và anh Phong ưa nhau. Bây chừ, bên thác đã ở Khe Dứa, chỉ còn lại mỗi mình em. Sao vậy, Cường ơi!? Anh Để về với K4 bên Hương Thủy, anh Hồng cũng đã về bên tỉnh đội... Chị Tâm thì đã mất rồi. Eng Phong chỉ còn một chân là nguyên lành, cũng đã chia tay với Hương Trà, vĩnh viễn rời bỏ giáp ranh để ra Bắc. Còn anh đang ở đâu? Ngày... Dấu yêu ơi! Giá như chú Sáu biết em hay dành thời gian nghĩ ngợi chuyện riêng tư của hai đứa mình, hẳn là chú phê bình em chết mất! Em cá nhân quá phải không anh? Và nếu có một ai đó đọc được ý nghĩ trong đầu em lúc này hẳn họ sẽ coi cái con nhỏ này chẳng ra gì. Một bí thơ xã hẳn hoi, phải lo toan bao nhiêu việc vậy mà vẫn còn có chỗ dành cho người yêu, lại còn ghi ghi chép chép vào sổ tay nữa. Nhưng ở một chiều sâu kín khác, cái con bé láu lỉnh lại hay cãi với cái cô bí thơ. Nào ai cấm tôi đã nằm yên trong võng sau một đêm đi đồng bằng vất vả, gùi è cổ năm chục lon gạo không được suy nghĩ? Ai cấm được tôi sau lúc vô ấp móc nối được với T, với N, vào quán mụ Ch nắm tình hình... Cả một ngày dài đằng đẵng trong căn hầm ngột ngạt nhà thím Tư, ngoài việc ăn no, ngủ kỹ, lau súng K59 và hai trái da láng sáng bóng lên, tôi còn biết làm gì cho hết thời gian? Chẳng có ông chi bộ nào lặn lội về vùng sâu nằm hầm để mà kỷ luật tôi. Cũng chẳng có tổ chức nào bóp chết được tình cảm riêng tư dành cho người ta yêu dấu. Thời gian ấy chỉ có tôi đối diện với chính tôi, tự do suy nghĩ. Em ương bướng quá phải không anh? Nhưng em yêu quý cái khoảng thời gian quãng cách ấy. Thời khắc yên bình ấy là của em, dành cho riêng anh. Những lúc ấy, tất cả mọi kỷ niệm của anh và em ập ùa về trong em như một dòng thác cuộn chảy. Từ bữa anh về xã đi đồng bằng ôm cái chân căng tức. Cả lần cọ xát da thịt đầu tiên của em với một người con trai. Ấy là bữa em bị dòng nước lũ ở con hói ngoài làng Liễu Thượng nhấn chìm. Sao anh bạo vậy? Anh đã biết gì về em nào mà dám lao vào dòng lũ xoáy, bể bổng dốc ngược em lên cho nước ào ra... Lại còn ghé mồm vào miệng em hà hơi... Nghĩ lại chuyện “động trời” ấy, em còn thấy úc dục muốn chết. Nhưng con tim lại bảo, sức sống của anh đã đưa em từ cõi chết về với sự sống... Những đêm mưa dày hạt ở lùm tre bên ấp Liễu Nam trong căn hầm giữa ngôi vườn nhà N chúng ta đã yêu nhau, mặc xác những thằng bảo an đóng quân ở cách căn hầm nơi ta ẩn náu không xa. Bên anh, em cảm thấy đây là nơi an lành nhất. Sách vở, học đường, bạn bè trong cuộc đời dạy em bao điều hay lẽ phải để đi vào cuộc sống, nhưng chưa ai dạy em yêu như thế nào cho phải. Ngày... Không biết nói với ai tin vui này, đành nói với anh. Chú Sáu cho em và năm người nữa của huyện về tỉnh dự họp, chú biêu là đi “chỉnh huấn, chỉnh quân”. Chỉnh huấn, chỉnh quân là chi anh? Nhưng em được đi về tỉnh là vui rồi. Mới chỉ có ngừng bắn có mấy tháng, tình hình đã khác hẳn. Anh có biết không, lần đầu em được đi xe bộ đội. Con đường 71 từ núi Bông bây giờ đã được bộ đội công binh mở về xuôi nối từ đường tuyến về tới chân đồi Đức Mẹ. Chỉ mất có hai ngày đi bộ, tụi em đã ra tới đường tuyến. Người của tỉnh đã chờ sẵn ở binh trạm. Mấy “chú cháu” lên xe đi dọc theo thung lũng A Lưới về tỉnh. Ngồi học tập, chỉnh huấn một tuần được nghe cán bộ cấp côi nói chuyện trong nước, quốc tế, chuyện ông Xuân Thủy, ông Lê Đức Thọ đấu tranh ở hiệp định Ba Lê, chuyện bộ đội ta ở Tây Nguyên, ở Lộc Ninh, ở Nam Bộ tấn công địch để giữ dân, giữ đất mà sướng cả người. Em lại ao ước bao giờ người dân xã Y mới “tấn công, nổi dậy” được như họ. Một tin vui thứ hai chính em cũng không ngờ. Ít ngày sau về lại huyện, hội nghị huyện ủy đã bầu bổ sung em và anh Ngọc vào huyện ủy. Chú Hoa trong lúc giải lao thủng thẳng biểu em: “Mi là huyện ủy viên trẻ nhất tỉnh ta đó nghe...”. Bữa ấy, biệt động huyện về làng đón cả thím Tư lên họp đảng bộ huyện, đứng uống nước cùng chú Hoa và ẹm. Em nghe xong, xấu hổ đỏ mặt và tự thấy mình chưa xứng đáng. Em chỉ vào thím Tư: “Thành tích mà cháu có được, công đầu thuộc về thím Tư, về em Quyên, em Nam, anh Ngật... và nhiều người khác”. Thím Tư nguýt em: “Con ni nói lạ! Cấp côi có tin cháu họ mới giao cho cháu công việc lớn chớ! Những người như thím “tra” (già) rồi... Thím cố gắng sống chờ đến ngày thống nhất coi thử răng, lo cho con Quyên tấm chồng là thím đi theo chú...!”. “Thím đừng nói gở mà... sức lực của thím còn khỏe mà!”. Em bảo vậy. Chả thấy thím Tư nói gì, chỉ thở dài. Anh à, nhiều lúc em nghĩ kể từ ngày mạ em mất dạo Mậu Thân đển nay, đã có biết bao sự đổi thay. Mạ mất, chị Tâm mất. Chị Đắng, o Chồn, o Nguyệt, anh Đoàn, anh Châu, anh Thẻo lớp lớp hy sinh. Con Hoa bạn em bị thương ra Bắc. Chị Liễu, chị Don cũng hy sinh. Chị Cúc bị địch sát hại. Rồi còn bộ đội K10, K35, bộ đội khu, bộ đội chủ lực, đặc công, trinh sát bao nhiêu người chết nữa để có được một ngày phong trào của xã, của huyện mới vực dậy được như bây chừ! Cơ sở bị phá banh bể dĩa hết trọi sau dạo Mậu Thân, chừ mới gây dựng lại được từng khúc, từng vùng... Bộ đội không phải đói ăn nữa. Gạo từ đường tuyến đã về được thấu bến vượt sông Bồ anh à. Anh còn nhớ bến vượt sông Bồ nơi em đến tìm anh bữa anh mới về ỉại Hương Trà không. Bữa rồi, lúc họp ở tỉnh về, em đi qua bến vượt. Bây giờ chỗ ấy là kho quân lương. Bộ đội công binh thả gạo trong bao bố, bao ni nông trôi dọc sông... Chỉ thương anh và anh em bộ đội K10, lúc giáp ranh no đủ thì không còn lại mấy người. Bữa Mộc bị trúng cối cá nhân ở Văn Xá Trung, đưa lên được tới Trường Bia là mất. Lúc nó mê man, khi tỉnh lại tự nhiên nói đủ mọi chuyện. Nó bảo thế này: “Ngày sau còn sống dứt khoát chị không được bỏ eng Cường. Ảnh tốt lắm. Ảnh yêu chị... - Rồi nó bảo - Bao giờ có dịp chị gắng về quê em chơi. Đền Hùng, Phú Thọ chị nhớ chưa? Cứ về đến cửa Đền Hùng, hỏi bà cụ Thư bán nước chè mẹ cu Mộc là người ta chỉ cho...”. Tội không! Anh ơi! Đền Hùng, Phú Thọ là ở đâu? Có xa quê anh lắm không? Mộc hy sinh, chưa đầy một tháng sau, o Huệ theo chân Mộc chết. Mấy thằng lính trên đồi Chóp Nón xuống phục kích đường trục lên Khe Trái. Con Huệ đi gùi thuốc ở trên về, dọc đường bị phục kích. Địch bắn Huệ gãy chân không chạy được. Mấy thằng thám báo hãm hiếp Huệ cho đến chết, vất xác bên Khe Môn... Đã có lúc, em nằm trong hầm thím Tư nghĩ tới thằng Mộc, con Huệ khóc không thành tiếng. Em nguyền rủa chiến tranh. Mặc dù em vẫn phải cầm súng đêm đêm vào làng bám địch. Anh à! Chiến tranh đã cướp đi biết bao người trẻ tốt bụng và dũng cảm... Đau lắm chớ! Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Mười Hai, 2012, 07:57:12 am Ngày…
Đêm 12 em trở lại làng. Trăng sáng đến rợn người. Lội giữa cánh đồng làng đoạn từ Phúu Ổ sang La Chữ, em và tổ du kích đưa đường chỉ sợ trăng sáng quá tụi bảo an chốt giữ ở đình làng Liễu Thượng phát hiện. May mà không sao cả. Thím Tư ra tận bờ hói mở nắp hầm đưa em vào nhà. Làng không có địch. Trung đội nghĩa quân của thằng Vệ kéo nhau ra chợ, ngồi đánh bạc. Em có cả một ngày dài để nghỉ ngơi, tắm giặt và đọc lại những trang viết cho riêng anh. Đã có lúc em nghĩ, những dòng này, những chữ này giấu kín tình cảm của em dành cho anh. Liệu anh có hay? Bao giờ thì anh đọc được? Lâu lắm phải không anh? Mà chắc gì em đã cho anh đọc. Từ ngày gặp anh ở địa đạo 310, thoát đã hơn một năm rồi đó. Một năm là 365 ngày. Thề có Trời Phật, quỷ thần, không có ngày nào em không dành lấy chút thời gian ít ỏi để nghĩ đến anh. Nghĩ trong đầu và giấu kín trong lòng, vậy thôi. Từ cái làng nhỏ bé này, qua sông Bồ sang đất Phong Quảng, đường chim bay nào có xa. Em biết giờ này anh ở đâu đó trong cái khoảng không gian mờ mịt kia. Cứ theo đường bộ xe chạy chỉ nửa giờ đồng hồ là em tới được nơi anh đang đóng quân. Ngày nhỏ mạ đã từng cho em ngồi xe đa su ra chợ Sịa thăm bà dì... Vậy mà, em và anh cách xa ngàn trùng. Đâu chỉ cách mấy quãng đồng, cách một dòng sông mà đấy là quãng cách giữa sống và chết, giữa vinh và nhục, giữa hèn nhát và dũng cảm... Hôm nay ngày Rằm tháng bảy, dân làng cúng to. Từ sớm thím Tư và Quyên đã mua vàng mã cúng chú Tư và cúng luôn cho mạ em. Buổi chiều, thím làm mấy mâm cơm chay cúng nhà. Vợ chồng Nam cho cu con về thăm mẹ, kéo theo mấy người bạn là sĩ quan cảnh sát ngụy... Họ nói chuyện ồn ào ở nhà ngoài, ở vườn. Chỉ có em làm phận con cóc trốn trong nhà. Thím Tư và Quyên xếp cho em riêng một mâm đồ chay, xôi, chè nhưng em nuốt không vô. Đến 2 giờ chiều, mấy người bạn sĩ quan của Nam leo lên xe về Huế. Trong căn buồng của thím Tư, em và thím Tư đã làm một việc hệ trọng. Tổ chức kết nạp Đảng Nhân dân cách mạng cho thiếu úy cảnh sát ngụy Trần Nam và công bố quyết định tặng Huân chương chiến công cho tổ công tác nội thành của Nam trong chiến dịch giành đất cắm cờ, tấn công và nổi dậy Xuân 1973. Quyên ở nhà ngoài làm nhiệm vụ cảnh giới. Trong căn phòng tối âm u, thím Tư đọc quyết định... Vợ chồng thiếu úy Nam, lần đầu tiên được biết những người chỉ huy cao nhất của họ ở vùng sâu là Hạnh và mẹ đẻ của mình. Ngày... Em và tổ biệt động của anh Huy Ngọc có một đêm vất vả về ấp Cổ Bưu diệt ác. Cơ sở mật ở vùng sâu phải mất sáu tháng trời mới tìm ra quy luật hoạt động và địa điểm ngủ đêm của thằng Tháo, chỉ huy trung đội nghĩa quân của xã M. Tháo khôn ngoan, láu lỉnh từ ngày còn học phổ thông trung học. Hắn học trên em ba lớp, học cùng trường đi chung một con đường nên biết nhau. Học xong tú tài, Tháo đi học sĩ quan Đà Lạt, nghe nói dạo Mậu Thân, bộ đội ta tấn công vào nơi đóng quân, Tháo bị thương được cho chuyển ngạch làm lính địa phương quân về lại Hương Trà, chỉ huy nghĩa quân. Đã có thời gian đi học, Tháo tìm cách tán tỉnh em, nhưng bị em từ chối. Mạ em là người nóng tính. Hễ mỗi lần hắn đạp xe tà tà vô làng, chưa tới đầu cổng bà đã mắng chó chửi gà, hắt nước ra sân tung tóe. Tán không xong, lại bị chửi, thằng Tháo găm mối thù trong dạ. Ngày trở lại làng, hắn phát hiện ra mạ em là người của ta, bí mật báo cho quận cho lính vào vây bắt. Tháo lấy vợ sớm. Khi đang học tại trường võ bị Đà Lạt, gia đình hắn đã cưới cho một cô vợ trẻ, bán vải ở chợ Đông Ba. Mấy cô bạn cùng học cho em hay, hắn đã có vợ, con nhỏ nhưng lại là tay háu gái. Suốt ngày đi lang thang rình mò “Việt cộng” ở các xóm ấp, hắn tán tỉnh “bắt rễ, xâu chuỗi” với các cô gái nạ dòng, phần đông các cô là vợ lính trẻ có chồng đi trận. Vì cái tật “cuồng dâm”, Tháo đã từng bị một ông già cha của một cô gái ở làng Bần bị hắn rủ rê, tán tỉnh chém xả vai. Nhưng cái tội tày đình của thằng Tháo là chỉ điểm cho lính quận bắt hàng loạt cơ sở cách mạng ở Hương Thái, Hương Mai. Có người là cơ sở mua gạo cơm mắm muối cho bộ đội, du kích nhưng cũng có nhiều người chỉ vì do ghen tức, đố kỵ, thù hận cá nhân với Tháo và gia đình hắn nay hắn có dịp trả thù. Thằng Tháo cũng là kẻ đầu trò áp dụng kiểu gài mìn claymo kiểu so le, chập nổ. Chuyện là thế này, anh à... Tụi nghĩa quân, bảo an rất ngại đụng độ với bộ đội, biệt động ở đồng bằng. Chúng sợ những trận đánh phản phục kích của bộ đội với những trái B41, B40 kinh hoàng... Địch nghĩ ra cách gài mìn trên những con đường bộ đội, du kích hay đột kích về làng. Mỗi lần chúng gài từ năm đến bảy quả mìn claymo lệch pha theo một góc tam giác sáu mươi độ. Chỉ cần bộ đội, du kích lọt vào góc tam giác tử địa, địch bấm mìn nổ, đủ sức quét cả một hai trung đội... Chính thằng Tháo là người chỉ huy trận đánh mìn ở hói Bồn Trì. Trận ấy, bộ đội, du kích, biệt động xã H đi về đồng bằng tuyên truyên, mua gạo thực phẩm cả thẩy 22 người, 19 người đã hy sinh, bị thương... Trung tá tỉnh trưởng Thừa Thiên đã đích thân về quận gắn mề đay cho thằng Tháo... Cơ sở báo rằng, ở mỗi ấp, mỗi xã trung đội nghĩa quân của thằng Tháo phục kích, nghỉ đêm... hắn có ít nhất hai địa điểm để trốn. Tối qua, thằng Tháo không theo trung đội nghĩa quân đi phục kích ở xóm Mới Văn Xá Trung mà về xóm Giếng thì thụt với một cô bồ. Lúc anh Ngọc vô nhà bắt thằng Tháo mới tỉnh ngủ... Thằng Tháo được dẫn ra mả Bà Tạ giữa đồng làng Giếng. Em đi cùng anh Ngọc và ba người lính biệt động. Miệng hắn được nhét giẻ và băng kín. Hắn sợ vừa đi vừa ngã dập dụi trên bờ ruộng. Chỉ đến khi thằng Tháo nghe anh Ngọc đọc quyết định của Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, hắn ngã sụp xuống. Nắm giẻ và cuộn băng đính trên miệng hắn đẵ được mở ra. Thằng Tháo khóc như mưa như gió. Bất chọt hắn ngửng lên nhận ra em (em đã bỏ chiếc khăn đen bịt mặt). “Chị Hạnh phải không? Em cắn rơm cắn cỏ lạy chị, người cùng xã chị nói giùm em một tiếng với mấy ổng. Em còn mẹ già, con dại...”. “Anh còn nhớ chuyện anh dẫn lính về lật hầm o Nguyệt không?...”. “Dạ, em biết tội rồi ạ, nhưng em cũng đã có lời xin với xã trưởng cho gia đình đem xác mợ Nguyệt về chôn...”. “Họ hàng với anh mà anh còn vậy, thử hỏi anh có còn là con người nữa không?...”. Hắn ngửa mặt lên nhìn, nước mắt nước mũi giàn giụa trên gương mặt dính đầy đất cát. Hắn vừa bíu ôm lấy chân em đã bị anh Ngọc đạp cho một đạp ngã dúi dụi. Chỉ thấy lưỡi dao xắt chuối trong tay cậu Miên giơ lên, thằng Tháo ngã sấp xuống mặt cỏ. Máu từ cổ hắn trào ra thấm ướt lưng áo... Anh à... em không ngủ được khi nghĩ tới cảnh thằng Tháo bị cách mạng xử tội. Một mạng hắn đã đổi biết bao mạng của bộ đội, cán bộ du kích hy sinh. Hắn chết là đáng đời... Vậy mà em cứ trằn trọc mãi... Ngày... Dấu yêu à! Cả đêm qua em bị cơn sốt hành hạ. Đại đội bảo an số 125 về đóng quân trong xã đã hai ngày. Một trung đội về đóng chốt lùng sục ở trong ấp Giếng. Có địch thím Tư vẫn không cho em xuống hầm. Thím biểu sợ em đang sốt, người yếu. Hầm ẩm thấp, em bị ngạt. Căn phòng nhỏ của Quyên thành nơi trú ẩn của em. Giấc ngủ đến chập chờn, mộng mị. Em mơ thấy được gặp mạ em, ba em và cả chị Tâm. Mạ em tay dắt theo một cậu bé, trên đầu có hai bím tóc như trái đào. Em hỏi mạ: “Ai đây mạ?”. “Anh hai con đó - mạ em mỉm cười - Anh con đi theo ba con, mạ mới tìm thấy được cả hai cha con”. Ba em còn trẻ hơn cả mạ em, ông mặc bộ quần áo vải nâu, vai đeo xắc cốt. Ông còn đeo cả một khẩu súng ngắn kiểu Pạc khoọc... Ông xoa đầu em. “Con lớn quá rồi... Con giỏi hung”. Em bảo với chị Tâm: “Anh Phong bị thương, được tụi em cứu thoát, chị biết không...”. Chị Tâm cười: “Chị biết cả... Chị còn biết cả chuyện em ưng thằng Cường, bộ đội. Đẹp đôi lắm...”. Đang lúc mọi người gặp nhau vui vẻ, em mừng ứa nước mắt, thì bừng tỉnh dậy. Rứa có uổng không? Thím Tư thấy em sốt cao, sợ em bị lên cơn co giật, ngồi canh chừng... Thím ép em ăn cháo. Miệng đấng nghét “Chừ mấy giờ rồi thím?”. “Quá nửa đêm. Cách đây hơn nửa giờ, súng nổ dữ lắm, ở ngả Bầu Tháp.. Chân tay em mệt rã rời, đầu nhức. Em có cảm giác rằng, mình đang kiệt sức dần... Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Mười Hai, 2012, 08:04:17 am 9 Căn nhà “hòa hợp” được dựng lên trên nền nhà của dân đã bỏ hoang từ lâu. Trong khu vườn cũ rộng vài sào vẫn còn lại một cây dừa, mươi gốc ổi, hai cây bưởi. Vị trí của ngôi nhà cũng chính là điểm phân cách giữa đại đội 1 và đại đội thủy quân lục chiến chốt ở cồn Nổi. Ngay tại cái “nền nhà lịch sử đó” (!), mấy anh lính trẻ Hà Nội gọi đùa như vậy, lần đầu tiên đã diễn ra một cuộc họp tay đôi. Một bên là bộ đội giải phóng. Phía bên kia là đại diện cho đơn vị lính ngụy đang chốt ở cồn Nổi. Chủ đề chính: bộ đội và quân ngụy phân công nhau cùng xây dựng căn nhà “hòa hợp”. Phía tây cồn Nổi, đất cao, sẵn tre lồ ô. Bộ đội có nhiệm vụ chặt tre, gióng dựng khung nhà. Phía nam Cồn Nổi, đất thấp, nhiều phù sa bãi bồi, cỏ tranh mọc cao lút đầu người. Những anh lính ngụy có nhiệm vụ cắt tranh, đánh gianh, lợp mái. Mỗi bên còn phải cử một tổ năm người, chọn những anh khéo tay, biết chút ít nghề mộc, đan lát... Những người tham gia dựng nhà việc ai nấy làm. Họ còn đập giập những cây tre lô ô đan những tấm liếp thưng quanh nhà. Tre lồ ô còn được dùng làm bàn, ghế. Đại loại đấy là một cái bàn dài chừng mười mét, rộng một mét, chạy dọc theo lòng nhà. Hai bên là hai dãy ghế băng chạy dài, có khung tre tựa hẳn hoi. Giáp vách tường còn có thêm một dãy ghế nữa, đủ chỗ cho hai, ba chục con người ngồi vừa uống nước, vừa nói chuyện. Khi căn nhà “hòa hợp” vừa xong, có một ý kiến nào đó đề nghị treo cờ. Treo hai cờ. Một đầu treo cờ nửa xanh, nửa đỏ của Mặt trận giải phóng. Một đầu treo cờ của Chính quyền Sài Gòn, nhưng sau một hồi cãi nhau việc treo cờ đành xếp lại. Tăng bạt ni lông cả hai bên đều sẵn, được trải phủ lên mặt bàn. Những anh lính thủy quân lục chiến còn về chợ Hiền Sĩ mua lên mấy chục chiếc ly uống nước, ấm pha trà. Bữa “ca nhạc” đầu tiên được ghi nhận ở chốt “hòa hợp” là bữa mười tám con người, cả ta cả địch cùng quần tụ quanh chiếc bài dài uống trà Hồng Đào hút thuốc Rubi quân tiếp vụ, Bát tô xanh, thuốc lá Tam Thanh và ăn lương khô 701. Mười tám người thợ dựng nhà đều không ai mang theo súng đạn, người cởi trần, người mặc áo may ô ba lỗ, áo đông xuân nhễ nhãi mồ hôi, đất cát, phoi tre dính trên cổ, trên đầu tóc chuyền tay nhau ấm nước trà xanh đặc sánh, phì phèo hút thuốc lá. Họ hỏi tên tuổi, quê quán, gia cảnh của nhau. Trong ánh mắt của từng người vẫn còn chút e dè ngại ngần nhưng không một ai trong câu chuyện đả động gì tới chuyện chính sự. Và khi một anh lính ngụy trẻ tuổi vô ý bị cật tre tuốt cho chảy máu, cậu Điều y tá của đại đội đã không ngần ngại lấy thuốc đỏ sát trùng vết thương và băng lại cẩn thận. Mấy ngày trời căn nhà hòa hợp đã dựng xong, đứng hoành tránh ngạo nghêu trên bãi đất cồn Nổi. Ông phó ban chính trị trung đoàn xuống thăm đơn vị, nhìn thấy ngôi nhà đã bật kêu lên: “Chà, ngôi nhà vừa to, vừa đẹp quá bay. Phòng họp của Ban chỉ huy trung đoàn không sang bằng nhà của tụi bay làm để tiếp tụi lính ngụy”. Cường chỉ cười và chẳng nói gì. Đêm ấy, mọi người đã đi ngủ, trong căn nhà hầm, anh lặng lẽ ghi vào một trang trong cuốn sổ công tác... “Ngôi nhà hòa hợp đã xong rồi. Nhưng nó vẫn chỉ là ngôi nhà khung tre lợp tranh vách nứa bình dị. Những con người ngồi trong ngôi nhà ấy mới là kỳ lạ. Chỉ có điều họ đã từng là đối thủ của nhau sau bao năm bắn giết đì đoàng. Vài tháng trước, năm trước hễ gặp nhau là nổ súng. Người bắn chẳng cần biết kẻ bị bắn là ai, trẻ hay già, đẹp hay xấu... Nhưng bất kể là phía nào đều có chung một lời giải thích ấy là “địch”. Đã là địch, là kẻ thù ắt phải tiêu diệt. Quy luật của chiến tranh là vậy. Bây giờ thì y đã có những giây phút được tận mắt quan sát kỹ lưỡng từng cái nốt ruồi, từng vết sẹo nhỏ ở đuôi mắt, nụ cười giọng nói của “phía bên kia”. Té ra đại đa số người Việt mình ở đâu cũng vậy cả... Hiền lành, chân thực đáng thương... Và tội nghiệp”. Gốc gác, tổ tông của những người lính ngụy chỉ là anh nông dân chân lấm tay bùn ở một miền vườn nào đó. Họ đi lính với nhiều cảnh ngộ khác nhau... Phải hơn ba mươi năm sau, khi đọc lại những dòng chữ nguệch ngoạc, viết vội vàng, lén lút trong căn nhà nửa chìm nửa nổi ở cồn Nổi trong tiếng mưa rơi xối xả ngoài sông và tiếng gió cồn cào vặn những thân cây lồ ô nghiêng ngả rên lên kẽo kẹt như đưa võng anh mới thấm thía một nỗi buồn. Nhưng những ngày đầu câu chuyện diễn ra trong căn nhà hòa hợp lại không mấy vui vẻ. Đại đội 1 cử Sùng, chính trị viên phó đại đội và thêm một trợ lý chính trị của trung đoàn xuống hỗ trợ để tiếp xúc gặp gỡ quân ngụy. Phía quân ngụy cũng chẳng phải tay vừa. Những viên sĩ quan được cử ra gặp bộ đội giải phóng thường từ phía bên kia sông sang. Ngó qua mặt từng tên, Cường biết ngay đây toàn là tụi tâm lý chiến. Một tuần hai lần, bên ta và bên đối phương gặp nhau vào thứ ba, thứ sáu. Phía quân ngụy, mỗi lần giao tiếp với bộ đội là một ê kíp khác nhau. Quanh đi quẩn lại trong cuộc trao đổi, đấu tranh trong căn nhà “hòa hợp” cũng chỉ là chuyện đôi co anh là “chính nghĩa” anh là “phi nghĩa”. Anh “cầm súng Mỹ”, anh bắn súng Liên Xô. Anh làm tay sai cho đế quốc Mỹ còn anh đi theo Nga xô, Trung cộng. Nhìn mặt nhau vài ba lần thấy quen, lần sau gặp lại đã chán, đã thấy ghét, nói gì tới chuyện “hòa họp”. Chỉ có một lần, Sùng cảnh cáo quân ngụy: “Hai bên đã ngừng tiếng súng, chốt ở gần nhau, sông Bồ là con sông chung, yêu cầu cả hai bên không được bắn tỉa khi có người ra sông lấy nước, tắm giặt”. Viên sĩ quan ngụy cũng yêu cầu: “Nhờ các anh nói cho các đơn vị bộ đội đóng chốt ở Cổ Bi không được chĩa súng lên bắn vào “loa” của phía “quốc gia””. Quả là từ ngày có chốt “hòa hợp”, phía quân ngụy treo rất nhiều “loa” cỡ đại trên các ngọn cây. Những chiếc loa cỡ đại chủ yếu là phát ca nhạc. Lúc thì nhạc vàng, lúc cải lương, lúc dân ca Bắc Trung Nam... ồn ào như hội chợ. Khác với bên bộ đội, phía quân ngụy thường xuyên thay quân, mỗi đơn vị chốt ở một điểm không quá một tuần. Những cuộc thay quân đều diễn ra trong đêm, bí mật và mau lẹ. Các chốt tiền tiêu của ta đều phát hiện ra cả. Chỉ có một nhân vật phía bên quân ngụy trụ bám ở chốt Cồn Nổi lâu dài là viên trung úy tâm lý chiến. Các đơn vị thủy quân lục chiến thay nhau đến rồi đi còn hắn thì cứ đúng thứ ba và thứ sáu hàng tuần đều đặn xuất hiện ở căn nhà “hòa hợp”. Những anh lính trên đài quan sát ở cây muỗm già còn phát hiện ra, hắn không ở chung với những người lính ngụy ở chốt cồn Nổi. Viên sĩ quan tâm lý chiến ở bên bờ nam sông Bồ. Vào đúng ngày hai bên gặp gỡ “hòa hợp”, bảy giờ sáng hắn đi một chiếc thuyền máy từ bến sông Lai Bằng sang cùng với một hai người nữa, đến thẳng căn nhà “hòa hợp”. Điều dễ nhận ra, những việc phía bên kia đưa ra bàn thảo, “tố cáo” bộ đội đều đã được tụi chỉ huy và tâm lý chiến bàn bạc kỹ, rất thuộc bài. Chính trị viên phó Sùng, một người vốn điềm đạm, hiền lành nhiều khi đi “hòa hợp, hòa giải” trở về cũng trở nên cáu bẳn, bực bội vì thái độ cố chấp, nói lấy được của đám tâm lý chiến ngụy. Có lần tức quá Sùng bảo: “Gặp anh hoài, nói mỗi một chuyện chán lắm. Các anh có ai biết đánh cờ tướng không, ra ngồi chơi với tôi vài ván?”. Thằng tâm lý chiến vặc lại ngay: “Chà! Ngồi đánh cờ để rồi lại nghe các anh rỉ rả tuyên truyền tư tưởng cộng sản cho tụi tôi phỏng? Cấp trên của tôi không cho phép!”. Sùng nổi nóng: “Vậy cấp trên các anh có cho các anh làm con người lính thường để chuyện trò, giao tiếp với nhau không?”. Viên trung úy tâm lý chiến không nói năng gì, cúp đuôi về thẳng. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Mười Hai, 2012, 08:06:46 am Nhưng vào những lúc yên tĩnh, khi viên sĩ quan tâm lý chiến đã về bên kia sông, những anh lính binh bét của cả hai bên lại kéo nhau lên mặt hào ngồi chơi, hút thuốc lá, cho nhau nắm rau đay, rau dền, rau tàu bay hái lượm được. Có lần một viên thượng sĩ ngụy còn cho bộ đội cả cá hộp và một bọc dưa môn. Ít ngày sau, bộ đội cho trung đội lính thủy quân lục chiến hai cân thịt heo rừng. Chuyện là thế này. Mấy ngày trời đổ mưa. Những trận mưa đầu mùa đánh thức cây cỏ đang chết khô sau những trận nắng như thiêu như đốt của tháng bảy. Cây cỏ gặp mưa tỉnh lại, tươi tốt. Heo rừng, nhím rừng, cầy cáo, chồn hương đua nhau ra bãi đầm lầy dưới chân đỉnh 165 để kiếm ăn, tìm nước uống. Bãi đầm lầy rộng vài héc ta. Vào mùa khô, cạn nước. Lau sậy, cỏ tranh mọc xanh như một cánh đồng. Để vượt ra sông Bồ, từ khu hậu cứ của tiểu đoàn bộ dưới chân chốt Khe Tre... Cánh lính thông tin cũng rải đường dây điện thoại men theo con đường mòn ấy để ra chốt. Nhưng vào mùa mưa, cánh đồng cỏ tranh ngập chìm trong nước, ở chỗ lũng sâu, các hố bom, hố pháo, có nơi nước ngập tới cả thước. Cánh đồng cỏ tranh trở thành một vùng đầm lầy rộng. Chim cò từ trong núi bay ra mò cá, đậu trắng trên những cây khô ngập nước ngang thân. Ở những vùng đầm lầy sát chân núi 165, khi nước rút, mầm cỏ tranh mọc lên tua tủa như chông, chỉ vài ngày đã trổ lá xanh non. Dưới đất nước lấp xấp ngang bàn chân, cua cá, rắn rết, chuột đồng ếch nhái chạy, nhảy loạn xạ khi nghe tiếng bước chân người đi tới.
Buổi sáng sớm, Cường và tiểu đội phó Nguyệt từ trên tiểu đoàn bộ trở về đi ngang qua vùng đầm lầy bất ngờ phát hiện ra một con heo rừng dài quãng “8 gang” ra ăn đọt cỏ tranh. Nghe tiếng động, ban đầu Cường tưởng là địch trên điểm cao xuống gài mìn đường trục nhưng nhìn kỹ không phải. Một con heo rừng cỡ đại. Núp sau một bụi sim rậm, Cường nhìn rõ bộ mặt lì lợm và chiếc răng nanh dài bằng một gang tay chìa ra khỏi miệng của con heo rừng. Kỳ lạ hơn nữa, lúc con heo chuyển động, Cường và Nguyệt nhìn rõ con heo rừng chỉ có ba chân. Hai chân sau và một chân trước. Một chân bên phải của con heo đã bị tiện cụt, lủng lẳng phần giò phía trên. Cường ra dấu cho Nguyệt mở rộng vòng cung. Con heo rừng dường như không hề hay biết đang bị vây giữa hai họng súng AK, nó vừa cạp cỏ, vừa bước xuống bãi lầy, đi ra phía mấy con cò đang đậu ngoài xa. Hai điểm xạ ngắn của súng AK với bốn viên đạn, con heo rừng đã trúng đạn, hộc lên một tiếng và lao lên được chừng 2 mét đã nằm úp mặt xuống vũng bùn. Tin đại đội 1 hạ được heo rừng, nặng hơn một tạ, chỉ nửa giờ sau cả tiểu đoàn đã biết. Miếng ngon của rừng là của chung thiên hạ. Tiểu đoàn trưởng Tư Nhất và Thai, quản lý tiểu đoàn xuống ngay C1 để chỉ huy mổ lợn, chia cho các đơn vị. Con lợn rừng ba chân, một răng nanh dài một gang thuộc loại lợn độc. Chân thứ tư của con lợn rừng bị mảnh pháo chém cụt. Chẳng hiểu bằng cách nào mà con lợn rừng lành được vết thương. Chiếc răng nanh độc nhất vô nhị được trao cho Cường. Anh cất để làm kỷ niệm. Đại đội 1 có công bắn lợn rừng được chia thêm bộ lòng và nửa cái thủ và nồi nước xuýt béo ngậy. Cường nói với trung đội 2 chia cho những người lính ngụy ở chốt liền kề hai cân thịt, biểu “anh em ăn cho vui!”. Những cuộc đấu tranh, đàm đạo trên chốt hòa hợp ở Cồn Nổi diễn ra được hơn một tháng, thì các đơn vị bộ đội ở chốt Thanh Tân, Sơn Quả cũng dựng được nhà “hòa hợp”. Phía bên làng Cổ Bi cũng dựng nhà “hòa hợp”. Các đơn vị quân ngụy chốt ở Thanh Tân, Sơn Quả, Cổ Bi, Hiền Sĩ... hầu hết là lính dù. Họ không căng thẳng như đám lính thủy quân lục chiến. Bộ đội trung đoàn 4 ở Thanh Tân, Sơn Quả đã dựng lên ở bãi đất trống một sân bóng chuyền, chiều nào các đơn vị không làm nhiệm vụ chốt gác đều cử người ra sân bóng đánh bóng hoặc đá “con tôm”. Đám lính dù ở các chốt bên kia bờ con suối Thanh Tân đều nhìn thấy bộ đội chơi bóng. Địch cũng không còn bắn pháo cối vào các chốt của bộ đội, bắn pháo vào khu vực dốc Ông Già, đồi Đức Mẹ, nơi sở chỉ huy trung đoàn đóng quân. Chỉ có lâu lâu những trận địa pháo ở dưới đồng bằng hoặc trận địa pháo của địch ở Hòn Vượn, Văn Thánh mới bắn vài loạt pháo hạng nặng lên rừng, chủ yếu để ngăn chặn bộ đội công binh của giải phóng cũng đang suốt ngày nổ mìn phá đá, chặt cây để mở đường về phía đông. Các tuyến đường 71, 73, điểm bắt đầu từ đường tuyến đang vươn dài như những vòi bạch tuộc cắt rừng, xẻ núi hướng về đồng bằng. Tuyến đường xương cá này là nơi tiếp ứng gạo đạn cho bộ đội tuyến trước. Con đường đủ rộng để cho các xe Zin ba cầu chở gạo, kéo pháo hạng nặng về xuôi. Vào mùa khô, bộ đội sư đoàn 324 tiếp tục vây ép buộc địch phải rút khỏi Động Ông Do, Động Củng Cáp, điểm cao 367. Trên tuyến đường mới mở về chân dốc Đức Mẹ, bộ đội, du kích đã nhìn thấy vết xích xe tăng, xe gát, xe Zin kéo pháo về đồng bằng. Những chiếc OV10 vẫn quần đảo bay trên vòm trời Phong Quảng, gã phi công cùng với những tấm ảnh chụp bằng tia lade nhìn rõ con đường đất đỏ lòm cắt băng qua rừng về xuôi, nhưng dường như chúng bất lực. Máy bay A37 bay lên ném bom, lập tức bị pháo phòng không bắn rơi, địch khiếp đảm. Bộ đội, cán bộ địa phương có việc từ giáp ranh lên miền Tây đã có thể đi giữa ban ngày, không còn phải chui lủi, luồn rừng như trước. Cũng không còn sợ địch càn hay phục kích. Sau mùa xuân 1973, thế trận đang mở ra. Mọi ngả, mọi cánh quân đang hướng cả về đồng bằng giáp ranh suốt một dải từ sông Thạch Hãn tới bờ bắc sông Bồ. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Mười Hai, 2012, 08:13:35 am * Từ đầu tháng tám, trung đoàn có chủ trương năm nay cho bộ đội ăn tết mừng ngày Quốc khánh 2-9 “tươi” hơn mọi năm. Kho binh trạm cung cấp quân lương nhu yếu phẩm cho bộ đội chốt giữ vùng bắc Huế đã chuyển về đóng hậu cứ tại Khe Làng Thai, một nhánh của Rào Trăng đổ ra sông Bồ. Bộ đội K10 đi lấy gạo, đạn, thực phẩm chỉ đi bộ hết hai ngày đường. Sau nhiều năm thiếu thốn, đói khát, những anh lính chuyên bám trụ giáp ranh được ăn theo đúng tiêu chuẩn, định lượng gạo, thịt hộp, bột trứng, mì chính, muối... Trong ba lô, gùi của mỗi anh bộ đội có hẳn 1 kilôgam lương khô dự phòng. Ngày Tết độc lập, quản lý tiểu đoàn là anh Thai công bố rõ ràng: thịt lợn tươi 5 lạng, gạo nếp nửa kilôgam, đậu xanh 2 lạng, bột trứng Trung Quốc mỗi trung đội 2 thùng. Ban chỉ huy đại đội 1 có cả một chương trình dành cho cái tết Quốc khánh đầu tiên sau ngày Hiệp định Ba Lê được ký kết. Chính trị viên Nhân, trong cuộc họp giao ban đại đội, tuyên bố rành mạch: - Một là: Tuy là ngày Tết độc lập, mừng Quốc khánh, các tổ chốt vẫn phải đảm bảo trực chiến, sẵn sàng chiến đấu một tràm phần trăm. Hai là: Bữa cơm liên hoan trong ngày 2-9, sẽ do các tay nấu bếp tài ba nhất của đại đội nấu và cung cấp cho tới từng điểm chốt. Ba là: Đại đội cử hai đồng chí: Quang và Huy tăng cường cho đội đánh bóng chuyền của tiểu đoàn để giao đấu trong trung đoàn. Chiều 2-9 sẽ có một trận đấu bóng chuyền lịch sử giữa bộ đội ta và đội bóng của tiểu đoàn lính dù ngụy tại sân bóng Thanh Tân. Bốn là: Ban chỉ huy tiểu đoàn đồng ý với đề nghị của đại đội 1 sẽ mời một số anh em binh lính thuộc đại đội thủy quân lục chiến chốt giữ tại cồn Nổi sang ăn bữa cơm “đoàn kết” với bộ đội. Việc này, Ban chỉ huy thống nhất cử đồng chí Cường, đại đội trưởng cùng đồng chí Sùng, chính trị viên phó và B2 lo liệu. Có một ý kiến cắt ngang: “Nhỡ tụi ngụy không chịu sang thì sao?”. Một anh tiếp lời: “Không sang thì thôi. Ta chén”. Hân, tiểu đội trưởng tiểu đội cối còn nêu ra xin ý kiến: “Ban chỉ huy đại đội cho phép buổi tối ngày mồng một tháng chín cho sinh hoạt văn nghệ tại chốt B2, với một tiết mục độc đáo do anh em tổ cối đảm nhiệm: Múa rối”. Cường về đến đại đội vào lúc 9 giờ sáng ngày 2 tháng 9. Hơn mười ngày qua, quân khu triệu tập một số cán bộ chỉ huy từ cấp đại đội đến tiểu đoàn về hậu cứ tập huấn quân sự và phổ biến cách sử dụng một số loại vũ khí mới. Lúc anh ra tới chốt B2, nhìn vào căn nhà “hòa hợp” thấy đồ đạc vẫn còn ngổn ngang. Tấm vải căng ngang được dùng làm tấm phông cho sân khấu múa rối cao quá đầu người trong căn nhà vẫn chưa kịp gỡ. Nhưng con rối được đẽo gọt công phu từ những gốc tre, gốc cây khô vẫn còn khoác trên mình những manh áo quần của Thạch Sanh, Lý Thông, công chúa nằm lăn lóc trên mặt bàn lồ ô. Con rối được đẽo gọt công phu nhất phải kể đến con đại bàng, con trăn tinh. Trung sĩ Hân, tiểu đội trưởng tiểu đội cối quê ở làng Nguyễn, một trong những quê ở xứ Bắc có nghề múa rối nước. Chỉ từ những gốc cây nhãn, cây mít chết khô bị bom pháo đánh bật gốc từ dạo Mậu Thân, nhưng với những bàn tay thợ lành nghề, khéo léo chỉ mất vài buổi, Hân và mấy anh lính ở tiểu đội cối đã tạo ra những nhân vật trong câu chuyện cổ tích “Thạch Sanh”. Con đại bàng được các nghệ nhân không chuyên sáng tạo ra từ một đoạn rễ cây nhãn. Con trăn tinh được làm bằng gốc tre... Nhung khoe: “Anh Cường ạ, đêm qua liên hoan văn nghệ vui phải biết. Đâu chỉ có anh em bộ đội mình. Quân ngụy ở chốt bên kia ngồi nghe một lát rồi sang xin với bộ đội cho coi, góp vui. Cả một trung đội chốt ở cồn Nổi sang xem, ngồi rất trật tự, vỗ tay rào rào khi nghe cậu Bảo ca cải lương đoạn công chúa chia tay Thạch Sanh lúc được cứu thoát ra khỏi hang... Đến cuối buổi phía bên lính ngụy một anh lên xin góp vui với bộ đội bằng sáu câu vọng cổ”. Không một sự cố căng thẳng nào xảy ra giữa những người lính thủy quân lục chiến với các anh bộ đội. Vừa xem múa rối, vừa chuyền tay nhau gói thuốc. Cũng vỗ tay rào rào khi tiết mục kết thúc. Có một anh lính ngụy còn lên tận sân khấu ngó thử vào trong xem những anh bộ đội điều khiển những con rối. Mười một giờ khuya, cuộc vui văn nghệ trên chốt Cồn Nổi mới tan. Bữa cơm trưa kỷ niệm Quốc khánh 2-9-1973, phía chốt ngụy sang dự mười hai người, do thượng sĩ Thực cầm đầu. Viên trung úy tâm lý chiến thường ngày ra tranh luận, đấu khẩu, bữa nay mất mặt. Những người lính ngụy sang “ăn cỗ” bộ đội ăn mặc gọn gàng, không ai đeo súng. Phía trung đội 2 cũng cử mười hai người. Bốn mâm cỗ xếp gọn gàng trên chiếc bàn dài. Những món ăn đặc sản của người dân xứ Bắc được chuẩn bị chu đáo để đãi khách: giò lụa, chả bánh đa, thịt lợn ninh với măng khô, nộm hoa chuối bóp với muối mè, thịt heo luộc, lòng lợn chấm mắm tôm. Đại đội 1 còn bẫy được một chú chồn để nấu giả cầy. Gạo nếp nấu xôi. Rượu gạo tự nấu chứa đầy trong các bi đông. Một bữa ăn thịnh soạn, ngon lành tất cả những anh lính trận đều mơ ước. Khi bữa cỗ gần kết thúc, Cường và Sùng mới tới. Hai người không ăn mà chỉ uống với những người có mặt một ly rượu. Thay mặt cho những người bộ đội, Cường tặng cho đơn vị lính ngụy chốt ở cồn Nổi một cây thuốc lá Tam Thanh và mười gói trà Hồng Đào. Thượng sĩ Thực tỏ ra cảm động khi cầm túi quà của bộ đội. Cường ân cần hỏi: “Anh quê ở mô?”. “Dạ, thưa chỉ huy em ở Ghềnh Đỏ, Phú Yên. Ngày trước em đã từng đi dạy học. Vợ em cũng đi dạy...”. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Mười Hai, 2012, 08:15:18 am Cường họp giao ban ở tiểu đoàn bộ xong, anh và mấy người lính trinh sát và cậu Công liên lạc ra tới bãi đất Thanh Tân đã hơn 3 giờ. Trời mát mẻ. Nắng hanh vàng. Trận đấu bóng chuyền của bộ đội giải phóng và của đơn vị lính dù ngụy đã bước sang séc thứ ba. Bên áo đỏ (bộ đội), bên áo xanh (lính dù) đang có tỉ số 1 -1. Séc thứ ba đang có tỉ số giằng co 11-9. Bên đỏ, bên xanh liên tục đổi giao bóng.
Cường ra sân bóng để động viên Quang và Huy, cầu thủ bóng chuyền của đại đội 1, tăng cường cho đội bóng của tiểu đoàn. Quang cao 1 mét 75, quê ở Vĩnh Phúc. Huy là thanh niên Hà Nội. Quang biết đánh bóng chuyền là nhờ sáu năm đi học đại học ở Liên Xô, trường Đại học Lômônôxốp ngành điện. Quang về nước năm 1971, tính theo tuổi đời Quang còn nhiều hơn Cường ba tuổi. Gia đình Quang có hai con trai, người anh đang dạy ở Đại học Bách Khoa Hà Nội. Quang về nước đã được người anh rấm sẵn cho một chỗ ở trường Đại học Bách Khoa. Chẳng ngờ mùa tuyển quân năm ấy, Quang trúng tuyển nghĩa vụ quân sự. Người anh vốn già dặn, lắm mưu nhiều mẹo cứ nghĩ sớm muộn gì Quang sẽ được trả lại về trường. Sáu năm nhà nước nuôi cho ăn học tạo thành tài một kỹ sư điện ở quê hương của Chủ nghĩa xã hội, ai lại hoang phí tài năng cho vào lính. Hoặc chí ít, Quang cũng sẽ được phiên chuyển về Học viện Kỹ thuật quân sự. Nhưng chẳng hiểu vì lẽ gì, hay anh quân lực quên khóa huấn luyện tân binh năm ấy kết thúc chưa đầy ba tháng, cả tiểu đoàn đã lên xe vào chiến trường. Quảng Trị đã giải phóng một phần, Đông Hà đã thành thủ phủ vùng giải phóng. Vào giữa vùng giải phóng cũng tốt chớ sao. Kỹ sư Quang cuốn theo bạn bè, đồng đội... Khi được bổ sung, phiên chế vào K10, Quang được đưa vào trung đội thông tin của tiểu đoàn, giữ máy 2 oát, đi với đại đội 1. Chưa phải tham chiến trận nào. Chưa về đồng bằng. Việc quan trọng đầu tiên của một anh lính thông tin mới vào chiến trường là đi theo đại đội bộ binh giữ chốt. Quang được bố trí ở sát hầm ban chỉ huy đại đội. Cơm ăn no ngày ba bữa và coi sóc cái máy. Công việc của kỹ sư Quang nhàn và đỡ vất vả, nguy hiểm hơn anh lính bộ binh ngoài chốt. Té ra Quang đánh bóng chuyền giỏi. Anh là một trong hai tay đập chủ lực của đội bóng. Quang đập và đỡ bóng khéo đến nỗi, anh trợ lý cán bộ phụ trách văn thư của trung đoàn xuống theo dõi và chỉ đạo vỗ vai Cường: “Tay Quang khá. Sau đợt này, tôi phải xin với ông và K10 cho cậu ta về trung đoàn bộ làm cán bộ văn thể”. Cường cười: “Tốt thôi. Tôi ủng hộ. Cậu ta có bằng kỹ sư điện đấy nghe!”. “Thế tốt quá còn gì!”. Phía bên quân xanh, cũng có mấy anh lính dù chơi bóng chuyền rất tốt. Khi tỉ số đang là 12-12 đều, trong một lần nhảy lên đập Quang đã vụt mạnh trái bóng chuyền về phía góc trái. Trái bóng trúng tay một cầu thủ bên xanh văng ra xa phía sau một bụi cỏ lau. Một người lính ngụy nhanh chân chạy ra lượm trái bóng. Anh ta vừa khuất sau bụi lau, cũng là lúc phát ra một tiếng nổ lớn. Bụi lau biến mất, đất đá quăng lên trời. Kèm theo một cột khói đen đặc, kéo theo cát bụi bốc cao hàng chục mét. Với phản xạ của người lính, tất cả đều nằm rạp xuống đất. Ít giây sau, sự yên tĩnh trở lại, trong khói bụi mù mịt, đã thấy bốn năm người đang lăn lộn trên mặt đất. Ba người nằm im bất động trên sân. Quang quằn quại ôm ngực, máu ra thấm đỏ vạt đất. Lúc Cường và Công chạy đến đỡ Quang dậy, cậu ta đã tắt thở. Đôi mắt vẫn mở to, nhìn lên vòm trời xanh, vàng nắng. Hai mươi phút sau, một chiếc trực thăng từ Huế bay ra đổ ngay xuống sân bóng. Từ lúc xảy ra sự cố những người lính của cả hai phía đều cử người ra sân bóng cấp cứu người bị thương và xử lý những người lính bị thiệt mạng. Lúc máy bay mở cửa, những người lính ngụy đưa băng cáng xuống chở xác hai người lính dù và ba người khác bị thương lên máy bay. Họ cũng tận mắt chứng kiến xác bốn anh bộ đội còn đang nằm sắp hàng, phủ tấm bạt lên trên cùng với những gương mặt đượm buồn. Biết trách ai đây? Khi tất cả đều bị đe dọa bởi những trái mìn, trái pháo lép chưa kịp nổ còn ẩn khuất trong đám cỏ tranh, lau lác. Đêm đêm lũ cáo cày chạy qua cũng có khi phát nổ phá tan không khí yên tĩnh. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Mười Hai, 2012, 08:16:40 am 10 Cả tuần liền, trời đổ mưa. Đài lại đưa tin bão xa đang hướng vào biển Đông. Chiếc đài bán dẫn hiệu Ôriôngtông chạy bằng pin của Nhân âm thanh phát rất tậm tịt. Công tắc mở hết cỡ, giọng cô phát thanh viên lúc thì nói lí nhí, phải ghé sát tai vào mới nghe tiếng được, tiếng mất. Lúc lại rồ lên như con lợn bị chọc tiết. Rồi câm bặt. Lấy tay đập đập vỗ về chiếc đài một lúc, tưởng là đi đứt, bỗng âm thanh phát ra ồn ào như vỡ chợ, rồi lại tắt lịm, chìm trong tiếng mưa rơi xối xả trút nước xuống mái nhà lợp bằng ni lông. Mưa đến trưa ngày thứ hai thì trời vụt nắng. Nắng chói chang, oi nồng. Hơi nước bốc ngùn ngụt từ đống áo quần, tăng võng, mái nhà bạt, nhà tranh. Mấy anh lính tranh thủ nắng đem ra ngoài bãi trảng hong hơ những liều thuốc phóng đạn B40, B41 để trong nhà bị ẩm mốc. Tiếng chặt cây chí chát vang lên ở khu nhà trung đội 1 và tiểu đội cối. Đang hí hửng vì có chút nắng, bỗng dưng bầu trời âm u trở lại, mây đen kín trời. Nước lại trút xuống như từ một cái bọc khổng lồ, không đáy. Áo quần phơi ngoài bãi chạy không kịp. Mưa không có sấm chớp nhì nhằng, nhưng liên miên hết cơn này tiếp đến cơn khác. Nồi cơm đang sôi tắt lửa ướt bếp. Hạt gạo trương phềnh không đủ sức chín. Từ mười ngày trước, trong một buổi giao ban đại đội, Cường đã lệnh cho các trung đội: “Mỗi tiểu đội phải chặt đủ 50 cây lồ ô, để sẵn đó!”. Môn B trưởng B1 hỏi: “Chặt cây làm gì, thủ trưởng?”. “Có lồ ô thì thiếu gì việc để ỉàm. Mai mốt hầm hào sụt lở, các anh có sẵn tre làm lại hầm hào công sự”. Cồn Nổi có cả một rừng tre. Chỉ trong vòng vài ngày, các tiểu đội đã chặt xong cơ số tre, mây song chất thành từng đống xếp ngoài bãi. Mưa một ngày, rồi hai ngày. Chiều nay vẫn mưa xối xả. Mưa suốt đêm, kéo sang cả ngày hôm sau. Nước sông Bồ từng lúc dâng cao. Hầm hào, công sự ngập sũng nước. Từ chiều tối, Ban chỉ huy đại đội đã phân tán xuống nắm các trung đội. Nhân đi ra ngoài chốt trung đội 2, Sùng vào với chốt dưới chân điểm cao 165. Mã đại đội phó bám trung đội 3 chốt Khủy Đường Xe. Cường ở lại giữ hậu cứ và chỉ huy trung đội 1 và tiểu đội cối... Chín chiếc bè tre lồ ô đã được những người lính lắp ghép ngay trong buổi chiều ngày thứ hai. Những chiếc bè tre được cột chặt vào các gốc cây quanh điểm chốt. Bằng mẫn cảm của một người đã từng quen sống ở giáp ranh, nhìn kiến lũ lượt nối đuôi nhau leo lên cây, Cường nghĩ năm nay chưa chừng có lụt to. Cây muỗm ở đài chỉ huy, trở thành điểm cao nhất của Cồn Nổi. Cách gốc cây muỗm chừng ba mét, có nhiều cành đâm ngang. Chỉ một giờ sau mấy anh bộ đội đã dựng ở lưng cây muỗm một căn nhà bạt đủ để trú mưa cho cả một trung đội và chứa lương thực, vũ khí đạn dược. Quãng nửa đêm Cường huơ cây đèn pin đã thấy nước loang loáng tràn trên mặt đất. Tiếng ếch nhái, chão chuộc đuổi nhau bơi trong dòng nước cố ngoi tới chỗ chiếc bè tre đang cột chặt bằng những sợi dây song vào thân cây muỗm. Một chú chuột đồng đã bơi vào được leo lên bè. Bị rọi đèn, mắt con chuột đỏ như một chấm than đầu tàn thuốc. Cường còn đang quan sát con chuột, từ trong đám bè tre lồ ô trườn nhanh ra một con rắn to như bắp tay, dài hàng thước. Thân con rắn độc có những khúc đen, khúc vàng. Thấy động con chuột đồng quay đầu lại. Bộ lông của con chuột bị ngâm nước dính bết vào lóp da. Đôi mắt con chuột như bị thôi miên bởi con rắn hổ mang to quá cỡ đang đưa cái đầu bạnh ra hướng thẳng tới nó. Chỉ trong tích tắc, con chuột xấu số đã bị con rắn ngoạm ngang lưng. Con rắn hổ mang vươn cao cái cổ nuốt gọn con chuột. Trong quầng ánh sáng trắng của ngọn đèn pin, Cường nhìn rõ hình thù con chuột đang trôi từng khúc chậm chạp trong cổ họng của con rắn. Ở căn nhà chòi trên thân cây muỗm, những anh lính trẻ đang mê mệt trong giấc ngủ sau một ngày vật lộn dựng nhà, chống trả với mưa bão. Bữa chiều, không nấu được cơm Cường đã cho khui thùng lương khô. Mỗi người được phát một bánh lương khô, uống nước mưa. “Chưa biết chừng lụt to thế này, lũ trăn rắn kéo nhau lên cả sàn nhà trên lưng cây!”. Cường nghĩ vậy và anh lặng lẽ lia cây đèn tìm con dao Mỹ. Con dao dài, rộng bản. Lưỡi dao sắc như nước. Anh cầm con dao lăm lăm trong tay phải, tay trái cầm chiếc đèn pin đứng ở đầu sàn chăm chú quan sát động tĩnh. - Có chuyện chi hả anh Cường? - Bình “ba toác” lồm cồm bò dậy - Địch hả? - Địch đạc chi lúc này. Lụt to rồi! Coi chừng rắn, chuột bò vô sạp... Bình “ba toác” khoác mảnh chăn qua người, rón rén tới bên Cường. Phía dưới cái bè có tiếng động mạnh. Cường lia cây đèn pin vào cái bè. Hỡi ôi! Cả Cường và Bình “ba toác” đều giật mình kinh hãi khi nhìn thấy phần đầu con kỳ đà, to bằng gốc chuối đang nhe răng há mồm đớp ngang đầu con rắn hổ mang. Con rắn độc đang ra sức dùng phần thân và đuôi chống trả quyết liệt để mong thoát ra khỏi cái miệng đầy răng của con kỳ đà. Đuôi và thân con rắn lúc vung lên cao, lúc dằn xuống quấn thân con kỳ đà. Nhưng sự chống trả của một con rắn sao địch lại được sức mạnh của loài dã thú quen ăn xác người, động vật chết, đến heo rừng còn phải sợ. - Anh Cường... con kỳ đà này bữa trước đã móc mộ anh Khang. Nghe tiếng động, mọi người lục đục trở dậy, ra phía đầu sàn nhìn xuống dưới. Cường bảo: - Tụi bay kiếm cây, đánh kỳ đà! Bốn năm đoạn tre dài trong tay mấy anh lính thi nhau phóng thẳng vào lưng, vào đầu con kỳ đà đang say mồi chiến thắng. Con rắn hổ mang dường như đã kiệt sức, lưng duỗi thẳng. Bây giờ là lúc con kỳ đà giật mình hoảng sợ khi bị những đầu ngọn tre tấn công vào bộ da dày như tấm áo giáp trên lưng. Nó ngơ ngác vẫn chưa nhận ra sự nguy hiểm đang rình rập, ngóc đầu nhìn thẳng vào quầng sáng ánh đèn pin. Miệng vẫn ngậm chặt con rắn. Những đầu ngọn cây tre trên tay mấy anh bộ đội lại phóng xuống đầu, xuống lưng con kỳ đà. Cảm thấy sự nguy hiểm đã cận kề, con kỳ đà bò chậm chạp lần từng bước ra mép chiếc bè, lao đầu xuống dòng nước lũ đang cuộn chảy, hướng ra ngoài sông. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Mười Hai, 2012, 08:18:07 am Không một anh bộ đội nào còn tâm trí để ngủ yên trên nhà sàn và cả những chiếc võng treo đu đưa giữa các cành cây. Gió thổi ào ạt trên sông, vặn những ngọn tre răng rắc. Cái lạnh do ngâm nước, không khí ẩm ướt ngấm vào da thịt. Bảy tám anh em ngồi tụm lại quanh chiếc mũ sắt ngụy han gỉ được Thản “cối” biến thành cái lò, cố gắng nhen nhóm ngọn lửa để sưởi ấm. Những khẩu súng AK, B40, B41, cối 60, trung liên ghếch nòng vào một thân cây tre làm giá súng. Bốn bao tải gạo 50 kilôgam được bọc kín trong bao ni lông dày, loại bao của Trung Quốc. Bao ni lông bọc hai, ba lớp đã được những người lính vận tải của binh trạm chuyển về, thả trôi theo đường sông Bồ. Thủy thần có muốn cướp miếng ăn của bộ đội cũng đành chào thua. Mưa có to mấy, gạo vẫn khô ráo chả bõ bèn gì. Trên bốn bao tải gạo còn có thêm cả chục thùng lương khô 701. Từ khi nước dâng, lệnh của đại đội đã cho phép các tổ chốt tiền tiêu di chuyển tới các vị trí đã cắm sẵn những bè tre được neo chặt vào thân các cây mít, sát mép sông.
Trong đêm tối, mưa rơi xối xả, cách một rặng tre ngoài kia là dòng sông réo gào, lâu lâu tụi lính ngụy ở bờ nam sông Bồ bắn ba phát đạn lửa vạch lên trời. Các chốt của địch ở trên điểm cao 165 lại bắn lên những quả pháo sáng như đáp trả. Những quả pháo sáng chỉ lóe lên một lát rồi lại bị mưa dập tắt ngấm. Từ 8 giờ tối, Cường còn nghe thấy tiếng súng báo động cấp cứu của những người lính ngụy chốt ở nam cồn Nổi, nhưng từ quãng nửa đêm tiếng súng im bặt, cũng chẳng ai còn nghe thấy tiếng lính ngụy la hét nữa. Không gian im ắng. Chỉ có tiếng mưa rơi đều đều, đổ nước xuống các tấm tăng căng lên che chắn căn nhà sàn trên thân cây muỗm già. Gió giật mạnh có lúc hất tung cả góc mái tăng. Nước mưa dóc xuống chảy theo thân cây, nên mọi người phải chen chúc tìm chỗ ngồi vây quanh ngọn lửa cháy bập bùng trong chiếc mũ sắt. Khói bếp cay chảy nước mắt, nhưng còn có chút lửa ấm áp để ai cũng tin rằng mình đang tồn tại trong đêm tối mịt mùng như đang sống trong đêm tiền sử. Bình “ba toác” bật nói: - Tụi ngụy ở chốt bên kia ra sao nhỉ? Chả thấy họ la hét gì nữa. Không ai trả lời Bình. Cường trùm vào người chiếc áo mưa, đeo khẩu AK và bám vào chiếc thang dọc theo thân cây muỗm leo lên đài quan sát. Căn chòi nhỏ nhoi, tối tăm treo lúc lỉu trên ngọn cây khẽ đu đưa như lắc võng. Chòi nhỏ lại được cột chắc vào chạc cây, giấu kín trong vòm cây rậm lá, nên khô ráo, hoang lạnh. Cường lấy tấm ni lông che kín các bức vách. Anh ngồi chìm trong bóng tối, nghe mưa rơi. Ánh dạ quang của cây kim chiếc đồng hồ Ôrien chậm chạp nhích từng phút. Còn hai tiếng nữa trời mới sáng. Ở trên cao, nhìn xuống mặt sông đen thẳm như đáy địa ngục. Căng mắt ra Cường không thấy gì ngoài thứ âm thanh quái dị của dòng nước cuộn chảy như muốn cuốn phăng đi tất cả. Dòng sông Bồ từ thượng nguồn đổ về đến đây bị kẹp lại giữa hai dãy núi. Một bên là dãy 165, động Ông Tre; một bên là dãy đồi Dài. Con rồng nước bị bóp nghẹt lại rồi phá tung ra hai bờ tả hữu. Ngồi trên cao Cường nghe rõ tiếng đất lở đổ ầm ầm xuống bên sông phía bờ nam đang bị sóng đánh. Tiếng núi lở ở dưới chân đỉnh 165. Các chốt của đại đội 1 từ chiều qua đã đứt liên lạc. Chiếc máy 2 oát được tiểu đoàn rút đi sau ngày Quang hy sinh, để thay thế bằng đường dây hữu tuyến. Đường dây bị đứt. Đành chịu. Chỉ còn cách đợi trời sáng, coi thử tình hình ra sao, rồi mới tìm cách bắt liên lạc với các điểm chốt và tiểu đoàn bộ. Tự nhiên Cường nghĩ tới Hạnh. Phong Quảng đã mưa lụt như thế này. Hương Trà thoát sao nổi. Hẳn Hạnh đã lên xanh. Giờ này chắc cô đang ở đâu đó trong những hậu cứ của huyện đưới chân Hòn Ngang, Hòn Vượn. Thấm thoát đã gần hai năm Cường xa giáp ranh Hương Trà. Người cũ của tiểu đoàn 10 cũng thưa vắng dần. Có lần Hai Ngạn bảo: - Nếu sau này, em còn sống ráng mà viết một cuốn sử biên niên cho tiểu đoàn ta. Anh dũng lắm mà hy sinh cũng nhiều. Hết lớp này, đến lớp khác... Cường chỉ cười nhẹ. “Biết bao giờ? Sự sống và cái chết của người lính bộ binh vùng ranh mỏng như lá lúa...”. Anh nghĩ vậy thôi. Nói sợ Hai Ngạn buồn và trách anh là người bi quan, nản chí. Nhưng đấy là sự thật không thể chối bỏ. Chẳng ai tin những người giỏi giang như anh Nhàn lại chết. Chị Tâm, chị Nguyệt ở huyện chết... Vậy mà họ phải ra đi... Cường thấy lo cho Hạnh. Một nỗi lo mơ hồ thảng thốt. Trời rạng sáng. Mặt sông từ màu tối đen ngả dần sang màu nâu chì. Cường nhận ra các anh đang chơi vơi giữa một biển nước mênh mông. Dấu hiệu đôi bờ của dòng sông còn lại bây giờ chỉ là hai rặng xanh, nước ngập ngang thân cây để lộ ra chỏm lá tre phơ phất, trôi dạt vật vờ theo từng cơn gió thổi. Nước sông từ thượng lưu đổ về gầm gào, cuộn chảy, đục ngầu một màu phù sa đỏ ối. Bập bềnh trên mặt nước ngoài xa những thân cây khô, cành củi mục, rác rều kéo bè kéo mảng trôi trên sông. Một cây khô cổ thụ bị đánh bật gốc nổi bập bềnh trên mặt sông. Bầy quạ đậu trên các cành cây trông như những vệt mực đen rớt trên nên trời xám bạc. “Quạ... Quạ..!” - Một con cât tiếng kêu thảng thốt. Ba bốn con cất cánh lên cao rồi bay nhao xuống sông, đậu trên xác một con nai đã chết bị lũ cuốn trôi, bụng trương phềnh nổi lập lờ trên mặt nước. Bầy quạ thi nhau rỉa xác chêt. Con bay xuống con bay lên đuổi nhau tranh mồi làm náo loạn một vùng sông nước. Cường lia ống nhòm nhận ra trung đội B2 của Nhung bây giờ cũng đang túm tụm quanh mấy gổc mít đại thụ, trên ba chiếc bè. Ở một cụm cây to đầu phía bắc cồn Nổi, cách đài quan sát hơn trăm mét, bộ đội trung đội 1 cũng đang trú trong căn nhà sàn giữa ba thân cây. Có một người lính Cường không nhận rõ mặt đang cầm tấm áo huơ huơ trên cao, hướng về phía đài quan sát. Nhìn về phía nam Cồn Nổi, rẻo đất chạy dài hơn ba trăm mét, nơi đơn vị lính thủy quân lục chiến trấn giữ. Nước lụt nhấn chìm bãi cỏ tranh, cỏ lau. Không để lại một dấu tích nào của các chốt ngụy ngoài một manh áo mắc vào ngang thân cây xoan. Căn nhà “hòa hợp” cũng bị nước dâng lên ngập tới sát mái tranh. Trung đội 2 có một tổ trú mưa trong đó. Họ đã khoét mái nhà ra một mảng để chui ra ngoài. Cường nhận ra cậu Lư, tiểu đội trưởng đang cột chiếc mảng tre vào nóc nhà. Mưa có lúc ngừng rơi, trời hửng lên một chút nhưng vẫn bị bao phủ bởi những đám mây đen ùn lên từ phía biển. Gió vần vũ trên mặt sông bây giờ biến thành một biển nước mênh mông. Cả một vùng chiến địa vốn luôn sôi động, giờ im ắng hẳn nhường chỗ cho nước. Tụi ngụy ở bên bờ nam sông Bồ cũng không thấy bắn súng báo hiệu nữa. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Mười Hai, 2012, 08:18:56 am * Bốn ngày sau, nước mới rút, để lại cho cồn Nổi một cảnh tượng hoang tàn, xơ xác chẳng khác nào sau một trận bị bom pháo phá nát. Hàng trăm mét hào đã bị bùn đất san lấp bằng địa. Những căn hầm kèo chữ A chắc chắn là vậy đã bị đất bùn vùi phủ, chỉ còn trơ lại những đầu cọc tre nổi lên trên lớp phù sa nhão nhoẹt. Rặng tre sát mép bờ sông bị sóng đánh cho tơi tả. Bãi đất bao quanh cồn bị sạt lở, trơ bật gốc tre ngả rạp xuống dòng sông, cồn Nổi không còn một chốt ngụy nào trụ vững sau con lụt. Làng Cổ Bi kế bên, làng Thanh Tân, Sơn Quả các chốt của quân dù cũng phải bỏ chạy, không chịu nổi với sức tấn công của nước. Trong đêm nước dâng ở các điểm chốt của quân dù dọc theo Cống Vàng, không một phát súng nổ cũng buộc địch phải hò nhau rút chạy về dãy đồi thuộc bình độ 28. Tiểu đoàn dù chiếm giữ làng Cổ Bi bỏ chạy về làng Hiền Sĩ. Ở đây địa thế đất cao hơn, nước không lên tới được. Cường và những người lính của trung đội 2 tiến về phía đuôi Cồn Nổi bước từng bước chậm chạp, sợ đạp phải mìn, chân sục xuống lớp bùn tươi non dày hàng tấc. Mấy hôm trước đây là chốt của thủy quân lục chiến, san sát các dãy nhà bạt, hầm hào. Bây giờ bị cuốn trôi sạch, không để lại dấu tích. Nước dâng cao, phù sa còn bám vào ngang thân những cây bưởi, cây xoan. Các bụi tre gai ở phía cuối cồn không có nhiều, chủ yếu là vườn cây trái cũ của dân. Chuối mọc từng bụi lớn. Vài cây ổi... Ở một đụn đất cao, tụi ngụy đào hầm, đắp bằng bao cát. Mưa lụt kéo sập hầm còn để lòi ra một cẳng chân của người lính thủy quân xấu số đã không kịp chạy ra khỏi hầm khi cơn lũ đến. Cường bảo Nhung: - Cậu cho thêm người ra đây, moi căn hầm kia lên để đưa xác người lính ngụy ra, khâm liệm cho người ta. Ta sẽ liên hệ với tụi ngụy ở bên kia sông sang nhận xác về... Lúc người lính thủy quân lục chiến được lôi ra từ đống bùn đất, bao cát đè sập, khuôn mặt đã không còn nguyên lành, bị bầm giập, tụ máu tím đen như miếng thịt trâu. Trong các đoạn hào, hầm của phía chốt ngụy, bộ đội còn nhặt được cả những khẩu súng AR15, M72, lựu đạn, bao đạn, bi đông nước. Cường lượm được một đôi giày Mỹ, da còn tốt. Trong một bụi tre gai cuối bãi khuất lấp trong bãi cỏ tranh, bùn đất, Cường lôi lên được một chiếc ba lô ngụy. Trong chiếc ba lô còn một bộ quần áo thủy quân lục chiến, vài ba bao gạo sấy đã ngấm nước chua loét. Trong một cái túi ni lông có một cuốn sách, cũng đã ngấm nước. Cuốn sách có tựa đề “Rừng dậy men mùa” của tác giả Đông Trình và hai ba cuốn tạp chí Văn. Trên trang giấy đầu tiên của tập thơ, nét chữ ghi bằng bút bi còn đọc được. “Thân yêu tặng Hiền và các con của ba. Hẹn ngày về Ghềnh Đỏ... Trần Văn Thực”. Thượng sĩ Thực... Người lính thủy quân lục chiến đã ăn cỗ với bộ đội ngày Quốc khánh... Cường nhớ ra rồi. Hẳn Hiền là vợ anh ta. Còn Ghềnh Đỏ là đâu, anh không biết. Trong đêm mưa lụt ấy, thượng sĩ Thực và những người lính ngụy đã chạy đi đâu? Họ có được những người lính ngụy ở bên kia sông đưa thuyền sang cứu? Hay họ đã bị dòng nước lũ cuốn trôi về cửa biển Thuận An? Cường phơi tập sách của thượng sĩ Thực trên một tảng đá. Không biết để làm gì. Nhưng nhìn thấy cuốn sách, anh quý. Và anh muốn thế. Nắng đã hửng lên, hanh vàng, nhưng ngoài bờ đất, nước vẫn còn dâng cao, đục ngầu phù sa. Những cây gỗ mục, củi khô trên rừng vẫn lặng lờ trôi về dạt vào bãi, xuôi theo dòng nước. Ngồi lặng lẽ trong buổi chiều tàn, tâm trạng anh bỗng buồn vơ vẩn. Nhìn hút sang phía làng Lai Bằng, không thấy bóng người. Dấu hiệu của chiến tranh lúc này có chăng là chiếc máy bay OV10 bay vè vè dọc theo sông Bồ, phía hạ lưu. Không súng nổ. Không bắn giết nhau, nhưng đã có bao mạng người bị cuốn trôi trong dòng nước này. Phải chăng, sự bạo liệt của chiến tranh nhiều khi đã biến con người thành kẻ tàn bạo, dã man trước kẻ thù nhưng sự hủy diệt thảm khốc vẫn còn thua trời đất một khi đấng tối cao nổi cơn thịnh nộ. Buổi chiều, từ phía bờ nam sông Bồ, một chiếc thuyền máy nhằm thẳng hướng cồn Nổi lao sang. Trên thuyền có cả thảy bốn người. Lúc con thuyên đang bập bềnh giữa dòng sông, một người lính ngụy huơ tay lên trời, vẫy chiếc khăn ra dấu “hòa bình”. Nhung và mấy người lính của trung đội 2 đã chờ sẵn ở bến sông. Không bên nào chào hỏi nhau. Thuyền cập bờ, hai người lính ngụy nhảy xuống bãi cát để chuyển người lính ngụy xấu số được lôi ra khỏi căn hầm ngập nước đặt xác anh ta lên thuyền. Những người lính ngụy gật đầu chào, tỏ ý cảm ơn những anh bộ đội, hướng mũi thuyền sang sông. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Mười Hai, 2012, 08:22:36 am 11 Đầu tháng 12, đại đội 1 nhận được lệnh thay quân, rút khỏi Cồn Nổi. Cả tiểu đoàn 10 không còn phải làm nhiệm vụ giữ chốt mà rút về khu hậu cử dưới chân dốc Ông Già để củng cố, dưỡng quân sau mùa mưa và trải qua một trận lụt lịch sử. Nước rút đi, địch bỏ chạy khỏi nhiều điểm chốt. Khí hậu ẩm thấp, bộ đội bị sốt rất nhiều. Đại đội 1 trú chân ở khe lạnh trong khu hậu cứ cũ của bộ đội trung đoàn 2. Quân số đại đội hao hụt mất một phần tư, một số đi viện, đi gùi hàng ngoài Quảng Trị, một số được về phép... Gạo, thực phẩm - chủ yếu là thịt hộp, bột trứng, mỡ lợn, muối, mì chính được cung cấp đủ khẩu phần nhưng cũng không chống lại nổi với cơn sốt rừng hành hạ đã trở thành căn bệnh kinh niên của những người lính bám chốt ở giáp ranh. Tiểu đoàn 10 tổ chức Hội nghị chỉnh huấn, chỉnh quân và đại hội đảng bộ. Hai Ngạn chính thức giã từ K10 sau gần mười năm gắn bó. Anh được quân khu điều về làm nhiệm vụ mới. Tư Nhất cũng được chuyển đi. Nghe nói Ban quân lực quân khu V xin cho Tư Nhất về lại chiến trường Quảng Đà. Anh Thủy, chính trị viên phó tiểu đoàn, lên thay Hai Ngạn được bầu làm bí thư đảng ủy, kiêm chính trị viên tiểu đoàn. Tiểu đoàn trưởng mới của K10 là Ba Thi, một cán bộ từ quân khu chuyển về. Ba Thi đã gần bốn mươi tuổi, người Bến Tre. Anh là bộ đội tập kết ra Bắc, chuyển qua nhiều đơn vị rồi về Trị Thiên. Cường gặp Hai Ngạn ở ngay trước cửa nhà hầm của anh. Hai Ngạn kéo tay anh vào hầm và chìa ra trước mặt tờ quyết định của Ban cán bộ điều động anh về Ban tác chiến trung đoàn. Tờ giấy quyết định còn ghi rõ: Bàn giao đơn vị, nhận nhiệm vụ gấp. Hai Ngạn rót trà từ chiếc bi đông Trung Quốc ra hai chiếc bát B52. - Uống nước đi! Anh em ta ngồi hàn huyên với nhau một lát. Chỉ còn lại một mình mi là hết lứa lính 1968 của K ta. - Anh không nhớ câu lính ta hay nói ư? “Còn da lông mọc, còn chồi nảy cây...”. Còn anh em lính Hà Tĩnh, lính Hà Nội, Phú Thọ, Nam Hà... - Biết răng chừ mới gặp lại mi? - Hai Ngạn vỗ nhẹ vào vai Cường. Giọng trầm trầm. Vệt máu đọng trong mắt anh vằn đỏ. - Trái đất tròn mà anh... Trái đất tròn, nhưng những con đường cũng thật là dài. Từ buổi chia tay chiều hôm ấy, mấy mươi năm sau đã nhiều lần tìm kiếm, lần tra danh sách cựu chiến binh của xứ Nghệ, gọi điện thoại hỏi người quen biết ở Vinh, ở Thanh Chương... Cường chưa có dịp nào gặp lại Hai Ngạn. Đơn giản đối với Cường, ông không chỉ là thủ trưởng, là vị chỉ huy dũng cảm, chân tình. Giữa Hai Ngạn và Cường còn có sự gắn bó “anh em, bằng hữu”, từ lúc anh mới chỉ là một anh binh bét vào chiến trường, làm liên lạc viên cho Ban chỉ huy đại đội. Chính những người lính xứ Thanh - Nghệ như Hai Ngạn, Mai Văn Để, Lê Mạnh Hồng, Phong, Minh (Quảng Xương)... đã dạy cho Cường từng ly, từng tí cách sống của một người lính giáp ranh, luôn phải đối phó với sự sống và cái chết trong từng giờ; rèn giũa anh ý chí và nghị lực của người lính trận. Chính họ, chứ không phải là một mớ lý thuyết huyễn hoặc nào giúp anh khỏi ngã lòng trước thử thách ác liệt của cuộc chiến tranh, tạo nên nhân cách sống của một người lính biết phân biệt phải trái... Lúc còn là một anh lính trẻ, ngồi thu lu ở trên hầm, Cường nhiều lần đã từng nghe những người chỉ huy ấy đấu nhau ra trò. Cũng có người tỏ ra bi quan, chán nản, tuyệt vọng. Tuyệt vọng đến mức tiểu đoàn phó Lê Văn Duyệt đã rút súng tự tử trong căn hầm kèo chữ A chỉ vì nhìn thấy lính đói, đi đồng bằng không lấy được gạo vì địch chặn mọi ngả đường. Đạp lên rừng bị vấp phục kích. Không chịu đựng nổi cái nhục khi địch gọi loa chiêu hồi, phao tin tiểu đoàn phó Lê Văn Duyệt chiêu hồi. Trung đội trưởng Nguyễn Văn Đổng tự bắn vào tay để tìm đường ra Bắc... Đại đội phó Tam chấp nhận kỷ luật để đi coi rẫy sắn chứ không chịu về địa phương... Hai Ngạn lạ người chứng kiến và chỉ huy K10 trở về đồng bằng Huế đợt hai sau Mậu Thân. Những trận đánh cực kỳ khốc liệt diễn ra ở Phong Quảng, Phú Vang... Cả tiểu đoàn phá vây, bơi vượt phá Tam Giang. Ngày ngày bộ đội căng sức ra giữ các làng, đánh chống càn. Các đơn vị bộ binh ngụy có tăng pháo yểm trợ tấn công quyết liệt, tìm mọi cách đẩy bộ đội lên rừng. Cả tiểu đoàn hơn bốn trăm quân xuống đồng bằng đợt hai, khi lên được tới rừng quân số còn lại chưa được hai trăm người. Nhưng dường như trong nguy biến, tuyệt vọng, những người chỉ huy như Hai Ngạn đã biết động viên bộ đội siết chặt tay nhau để dìu từng người lính đứng dậy, không nản lòng... Hai Ngạn đi rồi, Cường thấy trống vắng. Buồn se sắt. Đi ngang Sở chỉ huy tiểu đoàn, anh thấy một nhóm bốn năm anh bộ đội đang châu đầu quanh một chiếc sạp nứa, người viết, người vẽ. Trong nhóm ấy có Vượng, lính C1. Vượng nhìn thấy Cường chạy ra mời anh vào uống nước. - Tụi em làm báo tường dự thi trên trung đoàn. - C ta có mấy bài? - Cường hỏi và vào chơi một lát với anh em. - C1 được hai bài, một bài của cậu Lưu bị loại, còn được mỗi bài thơ của em... Anh nghe có được không! - Thằng Vượng cất cao giọng đọc: Nhớ hận năm xưa có phải Thủy Tinh dâng nước lên cao phá tràn chiến lũy Nhưng cao hơn là những người chiến sĩ Đạp lên nước nguồn chặn đánh thù sang. - Anh nghe có được không? - Vượng hỏi Cường, thích thú nhìn anh chờ đợi. Rít một hơi thuốc dài Cường thủng thẳng: - Cậu biết làm thơ à, khá lắm! Ba câu đầu tạm được. Câu thứ tư là bịa. Lũ lên cao địch bỏ chốt chạy. Chứ anh em ta có bắn phát mô? Ngày trước tớ đi học, cô giáo dạy văn bảo: văn hay phải chân thực - Nhìn thấy một đống giấy vụn bỏ ở sạp giường. Đấy là những bài báo không được đưa vào tờ báo của tiểu đoàn, tờ nào cũng có dấu bút mục đỏ gạch chéo. Cường lượm một bài báo vất đi. Ở một góc tờ giấy, ai đó đã phê: “Loại bỏ bài này. Thơ viết tự nhiên chủ nghĩa. Chuyện máu me sao có thể thành thơ được!”. Anh lướt qua bài thơ có tựa đề “Sông quê”: Sông tiễn ta đi như ngàn vạn trai làng Tuổi mười bảy lá còn xanh non quá! Chỉ có những khoảng trời bom vỡ Những con đường nhòe máu người Mẹ tiễn ta không nói một lời Và em nữa chỉ có bàn tay vẫy Ta đã sống trong hình hài ấy Giữa những chiến hào ngập máu chiều mưa. Cường lặng im không nói gì. Anh tiếp tục lượm lên một tờ giấy khác, cũng là một bài thơ bị gạch chéo bàng bút mực đỏ. Bài thơ có tựa đề “Ngày xuân nhớ chuyện Tịch điền”: Đồng làng xưa vua mở hội cày Nay ruộng cháy, đồng khô, nhà hoang lạnh Đêm đêm mẹ thắp ngọn đèn hy vọng Chờ tiếng chân con như lá rụng bên thềm. Chẳng biết ai đã phê vào một góc tờ giấy: “Cách mạng đã đánh đổ phong kiến thực dân, giờ còn mơ tưởng đên vua quan. “Tịch” là chết, “điền” là ruộng. “Tịch điền” là cánh đồng chết. Cách mạng đang ở thể đứng trên đầu thù mà làm thơ ủy mị vậy sao? Láo! cần kiểm tra cậu nào viết bài thơ này, ở đơn vị mô? Tư tưởng có vấn đề!”. Cường phì cười, vo tròn tờ giấy vứt xuống vũng nước. Anh lẳng lặng đi ra khỏi căn nhà hầm xanh um khói thuốc bỏ lại phía sau lưng tiếng mấy anh lính trẻ đang cãi nhau về chuyện nên đặt bài nào trước, bài nào sau cho tờ báo tường... Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Mười Hai, 2012, 08:23:59 am Cường có được một ngày để bàn giao đơn vị và chia tay những người lính đại đội 1. Bữa cơm có nhiều món ăn lạ, sáng kiến chế biến của nhà bếp. Nhưng không vui. Cường quyến luyến với những người lính đã gắn bó với anh nhiều năm. Một vài người bạn đến chia vui, như thể mừng anh được cấp trên tín nhiệm, được thăng chức. Lòng anh dửng dưng. Anh biết sẽ phải vất bỏ đi nhiều thói quen khi là anh lính bộ binh, sống chung với những anh lính bình dị. Biết làm sao được?
Về Ban tác chiến trung đoàn mới được nửa tháng trời, Cường đã có một chuyến công tác thú vị, chính anh không ngờ tới. Nhiều năm sau, nhớ lại, anh xem nó như một định mệnh. Trung đoàn trưởng giao nhiệm vụ cho Cường dẫn một tổ trinh sát đi cùng với tham mưu phó trung đoàn về điều nghiên căn cứ địch tại Hương Trà. Chỉ nghe đến cái tên địa danh ấy thôi, đêm ấy Cường mất ngủ. Bực mình, anh pha cả gói trà Hồng Đào vào bi đông ngồi uống một mình. Trà đậm chát, bao thuốc Tam Đảo hết veo. Quân lính trung đoàn có khác. Đêm ngủ không phải lo thức gác bốn tiếng một ca, ba ca là hết đêm. Không lo pháo dập... Lần đầu tiên sống ở chiến trường, Cường có cái cảm giác khoái cảm là không phải lo nghĩ gì. Không phải lo tổ chức giao ban, phân công nhiệm vụ cho các trung đội, ngồi tính toán với anh quản lý từng cân gạo, từng loong muối... Anh được phát một chiếc cặp da đen, có quai đeo dùng để cất sổ sách, giấy tờ. Nhưng anh chẳng có giấy tờ gì để cất, ngoài vài ba bao thuốc lá và một cuốn sổ nhỏ bằng bàn tay. Mọi số liệu thông tin, Cường đều ghi bằng ký hiệu, chỉ mình anh biết. Giá có rơi vào tay người khác, đọc cũng chịu chả hiểu trong ấy viết cái gì. Tham mưu phó trung đoàn tên Bạ, nguyên là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn pháo K35, rút lên. Nguyễn Bạ, quê ở Thanh Hóa, là lính nghĩa vụ cùng với Hai Ngạn. Khi biết Cường từng ở với Hai Ngạn, Bạ rất mừng. Anh ta tỏ ra rất vui khi biết Cường đã có một thời gian dài sống ở Hương Trà và hiểu địa hình ở đấy. “Hóa ra ông trời cho tớ một cục vàng. Tớ chỉ hiểu miền tây Quảng Trị, Phong Quảng. Do vậy, chuyến sang sông lần này cậu là chỉ huy chính, tớ 'là phụ”. “Anh cứ đùa! - Cường bảo vậy - Tôi quen Hương Trà, giúp được gì cho anh, tôi sẽ cố”. Thấy cấp trên của mình xưng hô “cậu cậu”, “tớ tớ”, Cường hơi ngại. Anh chẳng biết gì về anh tham mưu phó này cả. Bỗ bã, thân tình, đấy là cảm nhận đầu tiên về người chỉ huy cho một chuyến đi công tác về lại một vùng đất yêu dấu. Chỉ nghĩ tới vùng giáp ranh bên kia sông Bồ, Cường đã run lên. Hy vọng sang đây anh có cơ hội được gặp lại Hạnh. Dù cô đối xử với anh ra sao, mặc lòng. Ít nhất anh sẽ được nhìn lại gương mặt Hạnh sau bao ngày xa cách. Đoàn công tác gọn nhẹ chỉ có sáu người. Bạ, Cường, cậu công vụ của Bạ và ba người trinh sát. Ban đầu tổ trinh sát định đi ngược ra ngoài đường xe, vượt qua Khe Thai, sang bến vượt sông Bồ để vào địa đạo 310 rồi bám xuống giáp ranh. Đi theo tuyến đường ấy, về tới giáp ranh Hương Trà phải mất ba ngày. Đường xa, hiểm trở, dễ gặp địch phục kích. Cường trao đổi với Bạ, để đi cho gần, vượt sông Bồ ngay dưới chân điểm chốt cồn Tre. Vượt sông đi theo tuyến đường này gần, nhưng phải bám chắc địch đang chốt ở dãy Hòn Dài và làng Lai Bằng. Những ngày đứng trên đài quan sát ở cồn Nổi, Cường đã nhìn thấy con đường mòn chạy dọc theo triền sông lên núi. Đám lính ngụy ở Lai Bằng vẫn tiếp tế gạo, nước cho đơn vị lính dù chốt trên đỉnh Hòn Dài. Bí mật vượt được qua sông Bồ, bờ đất bên kia đã là xã Hương Vân. Trong một lần về tiểu đoàn bộ họp ở dưới chân Hòn Tre, tình cờ Cường gặp được mấy người cán bộ, du kích xã Hương Vân chuyển thương qua ngả Phong Điền. Tuyến đường qua sông Bồ mới mở, phải vượt qua nhiều điểm chốt của địch nên được giữ bí mật. Bộ đội không thể đi đông, đi giữa ban ngày. Cường báo cáo phương án vượt sông cho Bạ, anh ta đồng ý ngay và giao trách nhiệm cho Cường trực tiếp chỉ huy tổ trinh sát bám địch ở chốt Hòn Tre. Một mỏm của Hòn Tre thuộc đại đội 3 đang giữ. Đại đội lính dù chốt ở phía trên cao. Con đường ra bến vượt băng qua yên ngựa nằm lọt giữa vạt cỏ tranh cao lút đầu người. Để vượt qua chốt ngụy giữa ban ngày đối với Cường và những anh lính trinh sát chỉ là chuyện vặt. Ăn cơm trưa ở chốt đại đội 3 xong, mất hơn một giờ đồng hồ Cường và ba anh trinh sát trung đoàn đã nằm ém quân ở bãi đá ven sông Bồ. Bến vượt sông nằm sau một rặng lồ ô, bên dưới một cây đa lớn. Mới hơn 4 giờ chiều, mây mù bao phủ. Bầu trời ảm đạm. Sương mù từ các dãy núi cao loang tỏa xuống dòng sông. Hơn hai tháng trước, nước sông đục ngầu đỏ như máu, giờ đây đã trong xanh trở lại. Dấu tích của trận lụt vẫn còn để lại ngấn phù sa trắng bạc trên các vách đá, thân cây. Dòng sông lặng lờ trôi êm ả. Trên đỉnh 165 và dãy đồi Dài án ngữ cửa sông, bằng mắt thường những người trinh sát của trung đoàn nhìn thấy san sát mái nhà bạt của tụi lính ngụy chốt trên điểm cao. Hai đầu mỏm núi đều có chốt của quân ngụy như hai vọng gác án ngữ cửa sông. Trên đỉnh đồi, ngọn cờ vàng ba sọc phất phới bay. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Mười Hai, 2012, 08:26:29 am Cường, Bạ và cậu công vụ ngồi sau một bụi tre lồ ô sát bên sông. Ở cách đấy một đoạn, ttên sườn đồi tổ trinh sát nằm ém mình sau những bụi cây thay nhau dùng ống nhòm quan sát kỹ lưỡng dải đất bên kia sông. Phía ngoài bờ sông có một doi cát cao, phủ xanh lau sậy. Con đường vượt sông sẽ phải băng qua bãi lau sậy ấy để thoát nhanh vào dãy đồi trọc bên trong. Những người trinh sát không bỏ sót một gốc cây, bụi cỏ, một tiếng động nhỏ phía bên kia sông. Bạ tỏ ra bồn chồn lo lắng. Anh tham mưu phó loay hoay mở túi xắc cốt lấy ra tấm bản đồ quân sự vùng bắc Huế và rải ra ngay trên mặt tấm ni lông. Anh ta giơ cây đèn pin đã được bọc kín bằng vải đen chỉ chừa ra một lỗ nhỏ to bằng đầu đũa, lia ánh sáng đèn trên tấm bản đồ.
- Cậu chỉ cho tôi đường đi đêm nay coi thử ra răng? Cường bẻ một ngọn tre, vặt sạch lá. Nhìn qua một lát để xác định tọa độ bến vượt. Anh dí đầu que tre vào một điểm trên bản đồ. - Anh Bạ coi này...! Ta đang đứng chỗ ni. Vượt qua sông, ta bám theo con đường mòn từ đầu làng Lai Bằng để về Khe Đá Liếp. - Khe Đá Liếp chỗ mô? - Bạ hỏi cắt ngang, rọi ánh đèn pin theo đầu que tre. - Đây nó nằm dưới chân đồi Dài. Băng qua dốc Đất Đỏ, đồi Tranh - Cường chỉ cho Bạ một điểm trên bản đồ -Anh đi thêm hai tiếng nữa mới tới được hậu cứ của huyện dưới chân Động Ngang. - Vậy địa điểm giao liên của huyện hẹn bắt liên lạc vói ta là ở đâu? - Ở Trường Bia. Anh yên tâm tôi biết chỗ ấy rồi. Bạ im lặng hút thuốc, vẻ mặt trầm ngâm. Lát sau, anh ta gập lại tấm bản đồ cho vào xắc cốt. Cường phải trấn an: - Anh khỏi lo. Tôi thuộc đất Hương Trà như lòng bàn tay. - Lát nữa vượt sông, sao chẳng thấy cái thuyền nào nhỉ? Cường suýt phì cười, nhưng sợ Bạ phật ý. Thật tội nghiệp cho anh cán bộ pháo binh mới được thăng cấp lên chỉ huy trung đoàn. - Lát nữa ta bơi qua sông. Thuyền bè mô ở đây... Anh Bạ biết bơi chứ? Đến lúc này, Bạ thú thật: - Tớ bơi kém lắm. Dân miền núi mà. - Chả sao! Anh cứ bám sát theo tôi. Chúng tôi sẽ đưa anh sang sông an toàn! Trời chập choạng tối, Cường gọi cả tổ lại quanh gốc cây đa và cho chuẩn bị phao vượt sông. Tất cả sáu cái gùi, ba lô, bao đạn, bi đông nước đều được gói kín trong những tấm ni lông rộng. Ba anh lính trinh sát tỏ ra thành thạo, tự làm. Cường lo đóng gói ba lô cho Bạ và cho anh. Áo dài, quần dài cũng cho cả vào trong bọc ni lông. Cường là người sang sông đầu tiên. Anh phân công hai anh lính trinh sát bơi giỏi áp tải Bạ. Nếu địch phát hiện, họ có nhiệm vụ đưa Bạ quay trở lại chốt của bộ đội ở cồn Tre. Đã có kinh nghiệm vượt sông, anh dặn Bạ chờ anh bơi sang sông dò đường trước. Cùng bơi theo Cường có một cậu trinh sát tên là Ngoãn. Để khỏi lạc trong đêm tối, Cường dùng một đoạn dây võng dài 10 mét, móc vào chiếc phao của Ngoãn. Quân trang, ba lô bọc kín ni lông bây giờ trở thành một cái phao vững chắc. Súng ghếch nòng lên cao. Cường chỉ mặc mỗi chiếc quần đùi, anh lặng lẽ đẩy cái phao xuống nước. Cách anh một đoạn, Ngoãn bám đuôi. Dòng nước chảy nhẹ nhưng cũng đủ lực để đẩy cái phao ra xa. Cường một tay ôm phao, một tay ghếch nòng AK lên khỏi mặt nước. Cái phao bây giờ giống như bệ tì của khẩu súng. Với cách vượt sông bí mật kiểu này, Cường và Ngoãn chỉ có thể bơi đứng, bơi chó, không được đập chân, đập tay. Phải lựa theo dòng nước chảy để đẩy cái phao ghếch chéo sang bờ phía nam. Cường bơi chậm, thỉnh thoảng còn phải giật mạnh đầu dây thúc giục Ngoãn bám theo. Một thằng lính gác trên mỏm đồi Dài trong phiên gác lia đèn pin ra ngoài hướng sông. Quầng ánh sáng không đủ vươn ra tới mặt sông đen thẫm. Nhưng nó lại giúp cho Cường định được hướng bơi đúng vào cái dải cát có bãi cỏ lau nơi các anh đổ bộ. Bơi vừa đúng mười lăm phút, anh đã chạm vào được bờ cát. Cường để Ngoãn lại bãi sông, một mình anh băng qua vạt cỏ lau, tiếp cận lới con đường chạy dọc bờ sông lên đỉnh đồi Dài. Tất cả im ắng. Hoang lạnh. Tối tăm. Không có địch. Anh quay trở lại bãi lau cho Ngoãn sang sông đón Bạ và những người còn lại. Thêm bốn mươi lăm phút nữa tổ công tác mới vượt sang hết bên này sông. Họ nhanh chóng mặc áo quần, đeo gùi, ôm súng băng vào vạt đồi sim mua mọc cao ngang thắt lưng người, biến đi trong đêm tối. Len lỏi trên con đường mới đạp giữa những ngọn đồi dưới chân dãy Hòn Dài, tổ trinh sát không dám đi nhanh. Vừa đi, vừa bám địch. Nhiều đoạn đường khó đi, phải lội dọc theo khe đá, đồi cỏ, lá tranh sắc cứa nát tay chân, Cường phải vượt lên trước bám đường. Theo sau anh là Ngoãn và Tống - hai trinh sát. Bạ và hai người nữa bám sát theo sau, sợ lạc. Đối với họ Hương Trà là đất mới. Ở đây không có các điểm chốt cài răng lược xen kẽ giữa ta và địch giống như bên Phong Điền. Không có chốt “hòa hợp” và cũng chẳng có “nhà hòa hợp”. Địch đổ quân chiếm trọn các điểm cao từ giáp ranh lên tới Khe Trái, Dốc Đoác, đỉnh 360 và đường 12. Sau mùa xuân 1973 vành đai nam sông Bồ và các dãy núi miền tây Hương Trà, Hương Thủy mới thật sự là yết hầu trọng yếu của các sư đoàn dù, thủy quân lục chiến, sư đoàn 1 bộ binh và hàng chục trung đoàn pháo binh, xe tăng, bảo an canh giữ Huế. Vành đai này bị phá vỡ là mất Huế. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Mười Hai, 2012, 08:29:10 am Cường và tổ trinh sát cứ nhằm hướng ngọn đèn trên đỉnh căn cứ Hòn Vượn để đạp đường. Càng đi, đường càng dễ đi. Bầu trời không trăng sao nhưng không gian thoáng đãng dưới đồng bằng đủ sáng để Cường và tổ công tác nhận ra con đường chiến lược quen thuộc. Đến cách Trường Bia vài trăm mét, Cường cho cả nhóm dừng lại. Anh dặn Bạ, cậu công vụ và hai người trinh sát ngồi dừng lại chờ ở một khe nước. Còn anh và Ngoãn tiếp tục bám đường, hướng thẳng tới Trường Bia. Anh đã nhìn thấy cái bờ đất cao nổi lên phía xa nhờ ánh sáng phát ra của một trái pháo sáng từ căn cứ Hòn Vượn bắn lên trời. Khu vực Trường Bia im lặng. Cường dặn Ngoãn bò phía sau sẵn sàng yểm trợ cho anh. Anh cầm khẩu AK báng gấp bò lên nấp sau một tảng đá lớn. Cường tróc lưỡi ba tiếng: “Tróc! Tróc! Tróc!”. Từ phía Trường Bia bất ngờ cũng có tiếng tróc lại. “Tróc! Tróc! Tróc! Tróc! Tróc!”. Tiếng tróc lưỡi đáp trả đúng năm tiếng. Hôm nay là ngày mồng tám âm lịch.
Cường bước ra khỏi tảng đá tiến lên phía Trường Bia. Phía sau bờ đất cũng lập tức xuất hiện bốn bóng người. Chợt có tiếng nói: - Anh Cường phải không? Cường còn ngỡ ngàng chưa kịp trả lời, thì người lính đã ào tới: - Em là thằng So đây eng Cường ơi! Chị Hạnh biểu bữa nay anh đưa bộ đội về. Chị cho em đi đón anh. Cường chưa kịp nhận ra cậu So, du kích xã Y, ba người khác đã tiến lại. - Cường à! Tao Ngọc Anh đây! Chú Sáu biểu tao đi đón mi và bộ đội trung đoàn Z. Hai người còn lại là Chu và Lực, bộ đội của huyện Hương Trà nhưng đều là người của đại đội 2, K10 bàn giao lại cho huyện sau những ngày đánh “giành đất, cắm cờ”. Bạ và những người lính trinh sát trung đoàn Z thật sự ngạc nhiên khi Cường hầu như quen biết hết những người của huyện được chú Sáu Thọ cử đi đón đoàn công tác. Sáu người của trung đoàn và bốn người của huyện nhanh chóng nhập làm một đoàn, vượt qua Đồi Tranh vào rừng. Đến Khe Đá Liếp, mọi người dừng lại ngồi nghỉ và ăn cơm vắt. Bạ hào phóng mở ba lô lấy ra mấy phong bánh lương khô 702 chia cho tổ dẫn đường người của huyện. Ngọc Anh bảo Cường: - Ăn cho lẹ còn đi, phải mất ba giờ nữa mới tới hậu cứ Khe Điên. Mi có nhớ Khe Điên không Cường? Chỗ năm 1969, tụi ngụy tập kích vào hậu cứ đại đội 3, bữa đó có anh Để, anh Hồng và mi chạy chí chết đó. Cường khẽ gật đầu. Bạ rất ngạc nhiên khi thấy Ngọc Anh tỏ ra thân thiết với Cường. Ngọc Anh giải thích: - Anh Bạ đừng ngại. Tui với thằng ni ăn hầm ở lỗ với nhau lâu hung rồi. Nhân đây tôi xin giới thiệu với thủ trưởng. Tôi Ngọc Anh ở đội công tác an ninh thành phố. Anh Chu đây là B trưởng bộ đội của huyện. Cậu So đây là lính cũ của anh Cường từ ngày ở xã Y, thằng Bân lính của huyện. Nghe tin các anh về, chú Sáu cử tui ra đón các anh đưa về cứ. Thấy Cường cởi quần dài, ba người lính trinh sát trung đoàn làm theo. Bạ loay hoay cởi quần dài, Ngọc Anh can: - Thôi khỏi, thủ trưởng đi sau khỏi cởi quần dài. Đoàn người lục tục khoác súng, đeo gùi lên đường. Càng đi sâu vào rừng, trời càng tối. Những người đã sống quen ở đây như Ngọc Anh, họ thuộc từng thác đá, lạch nước. Chỉ khổ những người như Bạ và mấy anh lính trinh sát. Bạ cầm cây đèn pin soi thẳng xuống đất, đi dò dẫm từng bước một nhung lâu lâu vẫn té ngã vì vấp phải tảng đá trơn rêu và những cây giang đổ ngang đường. Khe Điên! Cường quên sao được cái khe mọc đầy dứa dại ở hai bên bờ suối. Giữa lòng khe lổn nhổn đá, rêu trơn. Những đoạn nước sâu, rong chó mọc cao hàng thước. Khe Điên chảy ra sông Hương qua ngả đường 12, nổi tiếng nhiều cá. Có những đêm bộ đội treo lưỡi câu móc mồi giun, buổi sáng đi kiểm tra nhấc cần bắt được hàng chục con cá trầu to cỡ bắp tay. Có lần cá chình còn dính câu. Những con cá chình ở Khe Điên, Khe Trái dài hàng thước, đầu đen trũi, to bằng chiếc chày giã cua, béo ngậy. Nhưng cũng ở Khe Điên đại đội 3 của Cường có phen hút chết vì bị địch tập kích. Ngày ấy, Cường mới chỉ là anh liên lạc viên của đại đội 3, bám ở giáp ranh Hương Trà. Lần đầu tiên làm lính chiến trường, hàng ngày vác súng đi tuần tra, đi chốt gác bám địch, đêm đi đồng bằng mua gạo, đậu phộng, muối mắm. Những đêm bộ đội, du kích lọt được về đồng bằng vào được dân mua được gạo, muối... bộ đội được ăn no. Nhưng có khi đi cả tuần, mười ngày đều về tay không vì địch chốt chặt cửa rừng. Bộ đội đói vàng mắt. Dạo ấy, mùa mưa. Nước lụt đồng bằng. Đại đội 3 đi về đồng bằng vào được thôn Bồn Trì mua gạo. 5 giờ sáng, cha con còn mắt nhắm mắt mở, mệt mỏi sau một đêm về làng lội nước, chưa kịp trút gùi, bỏ súng đã nghe súng nổ đinh tại nhức óc. Hàng chục trái đạn cối 61 ly, tiếng trung liên, đại liên, AR15, súng chống tăng M72 nổ như sét đánh vào khu hậu cứ của đại đội 3 và của các xã Hương Thái, Hương Thạnh. Không ai ngờ, từ chiều tối qua, lúc bộ đội, du kích đi xuống đồng bằng, hai đại đội địch từ trên Chóp Nón đã bí mật đạp rừng xuống, tạo thành hai gọng kìm nằm phục kích chờ trời sáng tập kích vào hậu cứ. Hai tháng trước, một cậu thanh niên của xã M, trong lúc đi đồng bằng đã về chiêu hồi và báo cho địch nơi bộ đội, cán bộ huyện xã đóng quân. Thời gian quá lâu, không thấy địch bắn pháo, không có động tĩnh gì, mọi người tưởng đã yên. Nào ngờ, địch đã bí mật tấn công vào hậu cứ giữa lúc mọi người mệt mỏi, chủ quan nhất. Bốn anh lính của trung đội 1 còn ngủ trong hầm, hy sinh vì lựu đạn nổ sập hầm. Bên xã Hương Thái mất một người. Bộ đội, du kích các cơ quan huyện ủy, huyện đội, biệt động đường dây bị tấn công bất ngờ hoảng loạn, chỉ kịp đeo gùi, vác súng chạy dạt lên đồi. Đại đội trưởng C3, Mai Văn Để lồng lộn tức giận, vì bị tụi ngụy đánh tập kích. Mất súng, mất gạo, các căn hầm bị địch đặt mìn giật sập. Sau khi xốc lại lực lượng, đại đội 3 chọn ra năm tổ, bí mật bám địch và tập kích lại quân ngụy ở khu Nhà Cháy. Vào lúc 4 giờ chiều, đại đội lính ngụy đang căng tăng, cắm trại cũng là lúc các tay súng đại đội 3 phát hỏa. Bốn trái B40 nổ vào giữa đội hình quân ngụy. Đại đội thám báo ngụy hoảng loạn tháo chạy. Bộ đội tiêu diệt gọn cả một trung đội lính ngụy, thu súng, bắt tù binh. Chưa hả giận, đêm ấy đại đội 3 còn tổ chức về làng, phối hợp với du kích Hương Thái đánh vào đại đội bảo an số 25 đang đóng quân ở đình Phú Ổ. Trận đánh ấy, Cường bị thương nhẹ vào tay... nhưng anh cũng kịp bắn một trái B40 vào ổ đại liên của địch ở gốc đa ngoài cửa đình. Chính Ngọc Anh là người băng bó cho Cường. Nó vừa xé cuộn băng, vừa chửi: “Đụ mạ! Tụi nó bắn dữ. Tao lia xả láng cả băng đạn mà không đã bay ơi! Tay mi bị thương như đồ ỉa... Mai tao xin o Lành tí nước... cho mi bôi vô là khỏi liền à!”. Ngọc Anh phá ra cười, trong lúc Cường vừa đau, vừa tức nhưng cũng phải phì cười vì cái thứ thuốc kỳ lạ. Với Ngọc Anh, Cường luôn coi là một thằng bạn tốt. Sẽ không có một kỷ niệm nào đẹp hơn và đầy hiểm nguy trong cái đêm hai thằng bị vấp phục kích ở dốc Đu. Tụi ngụy vừa bắn vừa hô bắt sống Việt cộng! Hai thằng chỉ kịp xả một loạt đạn bắn lấy đường tháo lui. Hơn một ngàỵ trời lần mò, ẩn nấp trong đám cỏ tranh, đạp đường tìm về hậu cứ, trong lúc đơn vị đinh ninh cả Cuờng và Ngọc Anh đã chết. Lúc tổ trinh sát của Huy Ngọc bám đường đi đồng bằng, bất ngờ nhìn thấy Cường và Ngọc Anh đi giữa ban ngày dưới chân Dốc Cát, tưởng là lính ngụy đã chực bắn. May mà nhìn thấy đầu khẩu AK của Cường hết đạn chĩa lên trời mới phát hiện ra “những hồn ma” trở về. Ở hậu cứ, người ta đã định làm lễ truy điệu cho cả Cường và Ngọc Anh. Đi thêm được chừng một giờ. Trời đổ mưa. Không gian tối đen như mực. Không thể đi tiếp được đành đợi trời sáng. Loay hoay mất một lúc Ngọc Anh và Cường mới tìm ra khu hậu cứ cũ ở chân đồi Chổi, đưa Bạ và những người bộ đội vào trú tạm qua đêm. Cường còn đang ngủ vùi trong chiếc võng ở khu căn cứ huyện đội, hình như có ai tới bên chiếc võng của anh và đặt vào tay anh một mảnh giấy. Đôi mắt anh cứ díp lại, lúc sau mới mở được mắt, định thần nhìn quanh quất. Không có ai cả. Quanh mấy gốc cây những người lính trinh sát vẫn đang say ngủ. Về đến nơi mệt quá, Bạ nằm ngay trên chiếc sạp đùng đình, cuộn tròn trong tấm dù hoa, ngáy như kéo gỗ. Mảnh giấy vẫn còn trong tay Cường, vẻn vẹn chỉ có mấy chữ: “Anh được nghỉ đến 3 giờ chiều mới họp. Trưa nay, anh ra vạt Nhà Cháy ở Khe Dứa gặp em. Nhớ đi theo đường mòn men bờ suối. Hạnh!”. Cường ngơ ngác. Không biết thực hay mơ. Phảng phất mùi xà bông thơm vẫn còn vương trên tờ giấy được xé ra từ cuốn vở côdiđô. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Mười Hai, 2012, 08:32:35 am 12 Ăn cơm trưa xong lúc 10 giờ, Bạ và những người lính lại lăn ra ngủ. Cường được thông báo anh và Bạ có cuộc họp với huyện ủy vào lúc 3 giờ chiều. Đúng như Hạnh đã nói với anh trong tờ giấy. Chờ mọi người vào hầm, Cường lặng lẽ đeo xanh-tuya-rông, cầm súng đi vào rừng. Vùng rừng dưới chân đèo Ngang yên tĩnh. Sau tán lá xanh, trên vòm trời cao vẫn vè vè tiếng máy bay OV10. Tiếng cánh quạt đập phành phạch của chiếc H34 đang tiếp vận xuống cho căn cứ Hòn Vượn. Thậm chí, lắng tai còn nghe thấy tiếng xe tăng rồ máy... Nhưng trong cánh rừng này thật lặng lẽ. Nước róc rách chảy băng qua các lèn đá dọc Khe Dứa. “Khe Điên là mẹ, Khe Dứa là con”. Nước Khe Điên tiếp sức cho Khe Dứa, dòng suối nhỏ rộng vài chục mét chạy vòng vèo qua các dãy đồi núi rồi lại đổ vào Khe Điên, đoạn đường 12 gần Động Tranh, Bình Điền. Những năm đói khổ nhất ở chiến trường, sau Mậu Thân 1968, Cường và những người lính ở đại đội 3 đã từng đạp nát vùng này bám Mỹ, bám ngụy, suốt ngày lần tìm những bãi đóng quân cúa chúng để lên lượm từng bao gạo sấy, từng hộp thịt, bao thuốc lá lính Mỹ vất lại sau mỗi cuộc hành quân. Có những lần bộ đội bám lên bãi ngụy, địch đi nhưng còn gài lại một vài tổ phục kích. Địch biết bộ đội đang đói. Hai bên bắn nhau chí tử. Tổ bám địch vẫn kiên nhẫn chờ, chúng đi khỏi lại lên bãi gỡ mìn lượm đồ hộp. Mỹ đổ sư đoàn 1 kỵ binh càn miền Tây. Sông Bồ bị chặn lại, bộ đội K10 không có đường lên Hang Đá, ra đường tuyến nhận gạo. Mà gạo đâu có nữa để mà tiếp tế cho bộ đội ở giáp ranh. Mỹ đổ quân ra cả đường tuyến A So, A Lưới. Các kho gạo ở binh trạm 48, Rừng Thông, Dốc Mèo, A Vao suốt ngày bị máy bay lên ném bom triệt phá. Các đoàn xe vận tải chở gạo đạn trên đường tuyến cũng bị máy bay Mỹ chặn đánh tơi bời. Ngày xa lắc, xa lơ ấy, Lê Văn Duy, chính trị viên tiểu đoàn 10 đã có một câu nói nổi tiếng: “Dù có phải thành vượn, thành duộc, những người lính K10 cũng phải trụ bám để giữ vững giáp ranh”. Không một người lính nào của đại đội 3 bỏ chạy, cũng chẳng có ai biến thành duộc, thành vượn. Chỉ có người chết đói, chết vì sốt rét, vì bị địch phục kích. Cả đại đội sống lay lắt qua từng ngày, lụi dần đi vì đói. Ban ngày vẫn phải đi bám địch, đi hái măng giăng, đọt mây, dong chó, cọng môn ngứa nấu cháo... Căn cứ Động Tranh, Mỹ rút. Đồ hộp vất lại đã nuôi sống đại đội 3, đại đội 1 suốt ba tháng trời. Đã nhiều lần đi dọc Khe Dứa, Khe Môn kiếm rau, kiếm cá, Cường tự hỏi: Thắng đã nằm lại ở đâu ừong cánh rừng đầy mây giang này. Thắng chết đói, chết rét? Hay chểt trong lúc cơn sốt rét ác tính tới gần. Trên những con đường ven suối, ở những bãi cát, dấu chân hổ còn in hằn dấu móng vuốt. Dấu vết của đàn voi rừng đi qua, đạp cây ngã rạp làm thành một con đường mới băng qua sườn dốc, trảng cây... Gương mặt trung đội trưởng Toan méo mó, xô lệch báo cáo với đại đội trưởng Để về trường hợp mất tích của Thắng. Lúc ấy, Cường đã không ngần ngại giáng thẳng vào mặt Toan một quả đấm. Anh Để vật Cường xuống giường. Cường khóc nức nở vì mất bạn! Nếu Thắng còn, hẳn nó sẽ trở thành một nhà văn viết về chiến tranh. Trong căn hầm chữ A chật hẹp ở ngã ba Hương Trà, Cường đã gặp lại Thắng, sau những ngày đi viện trở về. Hai thằng ngủ với nhau một đêm, Thắng đã đãi anh miếng kẹo mè xửng, say sưa kể cho anh nghe chuyến đi về đồng bằng Hương Mai, đến ấp Long Hồ, Ngọc Hồ được gặp dân mua gạo. Trong cuốn số ghi chép của Thắng, Cường đã được đọc những trang viết của bạn anh sau cái đêm đi đồng bằng ấy. Nào những mái nhà tôn sáng lóa trong đêm. Hương hoa huệ thơm lừng trong các vườn nhà dân. Bến nước đổ xuống sông Hương. Các cô gái Huế mặc bộ đồ hoa đi lại trong nhà. Đàn lợn Mỹ trắng phóc nằm sắp hàng trên chuồng láng xi măng, ăn cháo... Các đoạn văn rời rạc như một nét chấm phá về mảnh đất và con người xứ Huế xa lạ và bí hiểm. Những hình ảnh ấy, Thắng (và cả Cường nữa!) lần đầu tiên được nhìn tận mắt về cuộc sống của người dân trong vòng kiềm tỏa của Mỹ ngụy, được thấy người dân nói năng, đi đứng... Tất cả đều lạ lẫm. Những câu chuyện các anh được nghe kể về miền Nam, người ta nói không phải thế! Mà cũng có thể chính các anh đã bị mê mụ bởi những trang sách, những bài học thuộc lòng và cả những điều giáo huấn của anh chính trị viên đại đội huấn luyện chưa một lần vượt qua vĩ tuyến 17, nhưng lại thuyết giảng thao thao bất tận về chuyện “ta thắng địch thua”, kể về những tấm gương nghĩa liệt anh hùng, những trận đánh “tóe lửa” nhưng chưa một lần nhìn thấy bộ quần áo rằn ri và cái mũ sắt của lính dù Mỹ, thám báo ngụy. Cường, Thắng và đám bạn ngồi nghe say sưa tin “sái cổ”. Chao ôi! Tuổi mười bảy mộng mơ, huyễn hoặc, đầy khát vọng lý tưởng. Thản nhiên dùng dao lam rạch đầu ngón tay lấy máu viết đơn tình nguyện đi bộ đội vào Nam đánh Mỹ. Bao thế hệ đã sống như thế. Cả dân tộc đã sống như thế. Không so đo, không tính toán, không kèn cựa hơn kém nhau. Bởi tất cả đều căm thù quân cướp nước. Bởi tất cả chỉ có một nồi cơm chung chia đều cho các miệng chén. Những con mắt đều vàng vọt vì đói. Ngồi cùng ăn cơm, đùa cợt trêu chọc với nhau đấy trong buổi trưa. Buổi chiều đi bám địch ra ngoài dốc Đu, dốc Cát, leo lên đỉnh Chóp Nón, Đồi Chổi; đêm về đồng bằng đánh địch, lấy gạo, chưa biết chừng ngày mai quanh cái rá cơm khô cứng ăn với nước ruốc đã dư thừa ra vài cái bát B52. Tăng võng của bạn treo đấy nhưng đã lạnh, ám mùi tử khí. Không phải trong đơn vị đã hết những kẻ xấu, hèn hạ, sợ chết. Nhưng con người với con người đã từng sống chung trong một căn hầm kèo chữ A, chui lủi trong những con hào máu loang thấm đỏ bùn đất chưa đến mức đối xử với nhau tàn ác, đê tiện, hại nhau tranh giành nhau về quyền lợi... Năm ngoái về phép Cường có ghé thăm anh Chúng già. Một tiểu đội phó đảng viên, trong suốt chặng đường vào Nam, vượt sông Bến Hải luôn soi mói đám lính trẻ học trò như Cường, Thắng, Sơn, Tùng, Thịnh... Bởi trong đầu anh ta hay nảy sinh ra ý nghĩ: Dứt khoát mấy cậu “học trò tiểu tư sản này” sớm muộn gì cũng rủ nhau đảo ngũ. Nhưng rốt cục, chẳng đứa nào đảo ngũ. Một lần về phép đến thăm anh ở quê, ngồi uống nước, nhắc chuyện cũ, anh Chúng nhe răng đã móm mém ra khoe với Cường: “Sau cái đận tớ với cậu chết hụt lúc bám địch ở ngã ba Hương Trà, mấy thằng ngụy bắn trượt, chạy đến tóe máu chân, ngã gãy đến sáu cái răng. Tớ đi viện. Cậu có biết không, mình phải nói mãi với mấy tay bác sĩ ở viện 94 họ khám lên, khám xuống mấy đợt rồi mới cho đi Bắc. Nói cậu thông cảm, cũng vì vợ con cả. Con tớ ba đứa các cháu còn nhỏ... Mình mới vô Nam được hai năm, vợ ở nhà theo trai”. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Mười Hai, 2012, 08:34:23 am Anh Chúng nói chữ “vợ theo trai” nhẹ tênh. Nhưng Cường lại có cảm giác như anh vừa uống không trôi viên thuốc kí ninh khỏi họng. Đắng nghét. Cái chuyện theo trai của chị Chúng chỉ như thế này. Anh Chúng đi chiến trường được hơn năm, chị Chúng ở nhà làm việc hăng hái trúng vào chân phó chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp. Gái ba con nhà quê nhưng mới hai mươi sáu tuổi. Đẹp người, nói năng hoạt bát. Họp hành nhiều. Họp chi ủy, chi bộ về đêm càng nhiều. Xã điểm, họp tác xã có phong trào nuôi bèo hoa dâu nổi tiếng. Ông chủ nhiệm hợp tác xã bị sức ép của bom, tai điếc. Mọi việc đối ngoại một tay cô phó chủ nhiệm trẻ tuổi lo liệu. Gắng mãi, gắng mãi rồi cũng đến lúc cái kim trong túi lâu ngày cũng phải lòi ra. Cái bụng của chị phó chủ nhiệm cứ ềnh ra to lên mãi. Ngày ấy, các thầy thuốc chưa ai dám đi làm cái nghề “nạo thai rong” trong các làng xã vùng quê. Xấu hổ với dân làng, chị Chúng từ nhiệm tất cả chức sắc cao thấp, ra khỏi Đảng, xin vào cửa Phật nương nhờ. Chỉ có điều chị không từ con, dù là con với một người không phải là chồng mình. Đẻ con xong, chị Chúng ôm con về giao cho mẹ và từ ngày ấy ở hẳn trong chùa xuống tóc đi tu, ăn chay, niệm Phật.
Ngày trung sĩ Chúng được giải ngũ về làng với tám cái răng bị gãy, con bé ngoài giá thú đã được đầy năm. Chúng uất đến nghẹn cổ mà không nói được gì. Một chiều đã ngà ngà say sau vài ly rượu, Chúng cõng con bé trên lưng đến thẳng nhà thằng X. Bấy giờ, hắn đã lên làm ở huyện. Chúng không quên giấu trong người con dao găm Trung Quốc ở với anh nhiều năm, giúp anh chặt cây căng tăng móc võng và đi đào sắn trên rẫy của đồng bào Pa Cô ở làng Tà. Sống lưng con dao găm đã bị mẻ, sứt nhưng lưỡi dao bén sắc. Thằng X đang ăn cơm với vợ, con thấy Chúng mặt đỏ, nồng nặc hơi rượu địu đứa trẻ bước vào sân đã hoảng sợ. Biết việc đã bị phanh phui ra ánh sáng, người lính trở về vác dao đi trả thù, thằng X nhảy bổ vào nhà định trốn. “Thằng khốn! Mày ra đây mà nhận lấy con. Khi chúng tao đâm sấp dập ngửa, chết vùi chết dập ở chiến trường thì mày ở nhà đi quyến rũ vợ người ta... Ngữ mày ta chỉ đâm một nhát là xong. Đ. mẹ thằng X. Tiên sư bố mày... Cán bộ gì cái thứ chui cạp váy đàn bà như mày. Tao nói để cho vợ con mày biết. Đây là con gái của mày... Nhưng tao không trả... Tao mang về nuôi, dạy nó học hành đến nơi đến chốn để sau này nó chửi bố mày lên”. Nghe tiếng la hét như vỡ chợ ở nhà ông cán bộ huyện dân trong làng kéo đến đứng xem vòng trong vòng ngoài. Nói một hồi, Chúng hạ hỏa. Anh lại địu con trên vai rẽ đám người đi về làng Kìm. Chúng kể cho Cường nghe chuyện về đứa con ngoài giá thú, anh cười ngất, tặc lưỡi: “Cá vào ao ta, ta nuôi chú ạ!”. Ngày chuyển tàu chở bộ đội đi B, mới đổ quân xuống ga Quán Hành, đại đội bộ binh đã vơi đi một phần tư quân sổ. Những anh rời tàu, đa phần là ba bốn con. Nghĩ tới những người như Chúng, hay vô số các anh P, anh N, cậu S... những người lính cùng đại đội tân binh với Cường, họ đã không đủ sức đi đến tận cùng con đường đầy chông gai, chết chóc. Gánh nặng hậu phương, lo cho con cái níu chân họ... Anh chưa bao giờ có ý trách họ. Chiến trường luôn thiếu quân, nhưng chỉ giữ cho mình những người lính dũng cảm, chấp nhận gian khổ... Xét cho cùng họ cũng là những anh lính đáng thương... Cường bước chập chuội trên con đường ven Khe Dứa, đầu óc mông lung, những suy nghĩ lẫn lộn. Tại sao Hạnh lại bảo anh đi theo con đường men khe suối? Từ nơi Cường đang trú quân anh biết còn một con đường tắt cắt ngang qua yên ngựa để ra vạt Nhà Cháy. Đường gần hơn nhiều, nhưng sẽ phải đi qua khu hậu cứ của huyện ủy, huyện đội, hầm của đội đường dây thành phố, hậu cứ của xã Hương Thái, Hương Sơ... Ý hẳn, nàng ngại phiền. Không muốn cho ai biết cuộc gặp gỡ này. Bằng sự hiện diện cho thằng So đi đón Cường, chứng tỏ Hạnh biết rõ anh đang về lại Hương Trà. Thông tin bộ đội trung đoàn Z về nghiên cứu các căn cứ địch ở Hương Trà, chỉ chú Sáu, bí thư huyện ủy biết được. Đi theo con đường men suối vất vả hơn nhiều so với con đường đi trên đồi. Ngày còn ở xã Y, làm quân của Hạnh với chức xã đội trưởng, Cường và thằng Mộc cùng với chú Hoa xoi lại con đường này sau khi con đường về giáp ranh qua đồi Tranh bị địch phát hiện. Đường bỏ hoang từ lâu, chi chít vết giày răng chó của tụi thám báo Mỹ, ngụy để lại dấu ở những bãi đất tráng ven suối. Biết đường đã bị lộ, nhưng đành phải chấp nhận để khơi thông con đường bí mật từ hậu cứ đồng bằng để lên Dốc Đoác, qua Khe Trái, ra sông Bồ. Có lẽ Hạnh muốn anh nhớ lại chuyện Cường và Mộc đi đón nàng cùng chú Sáu Thọ ở bên thành ủy về chăng? Buổi trưa ấy, cả đoàn người đang dừng lại nghỉ ăn cơm trưa ở một bãi đá bên bờ Khe Điên. Tất cả đều giật mình, cảnh giác đeo gùi và súng đạn đứng cả dậy khi nghe thấy tiếng rào rào như tiếng chân người đạp rừng ở vạt mây giang, gần bãi tráng. Tụi ngụy ở đồi Chóp Nón đi càn rừng chăng? Tất cả đều im lặng chờ đợi. Cường đã bật chốt an toàn khẩu AK, còn Mộc đã đưa nòng súng B40 ngang vai, núp sau một gốc cây. Bảy tám con người đều tận mắt nhìn thấy từ trong một bụi giang trườn ra một cặp trăn, da vàng nâu dài bốn năm thước. Một con trườn đi trước, một con trườn theo sau. Đôi trăn đang mùa động đực, quần thảo nhau trong rừng, mọi người ngỡ gặp thám báo. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Mười Hai, 2012, 08:35:59 am Từ bờ Khe Dứa đi lên đồi chừng hơn trăm mét mới tới khu Nhà Cháy. Từ dưới bờ đất thấp, Cường đã nhìn thấy những cây cột nhà đứng chơ vơ, đầu cột cháy đen. Đấy là dấu tích cho một trận đánh của đại đội 3 dưới sự chỉ huy của đại đội trưởng Mai Văn Để, đánh trả thù, tập kích lại đại đội lính ngụy đã tấn công vào khu hậu cứ của bộ đội và huyện đội lúc buổi sáng. Cường, Quang và Đổng đã nã thẳng vào tụi lính ngụy đang bâu đen đặc trong vạt nhà bỏ hoang, chủ quan không phòng bị. Đại đội lính ngụy không hề biết rằng, từ lúc 9 giờ sáng, sau khi chúng rút khỏi khu hậu cứ, một tổ của đại đội 3 đã bí mật bám theo sau. Chỉ chờ cho tụi ngụy dừng lại đóng quân là đánh. Đánh để báo thù cho những người lính đại đội 3 và cán bộ, du kích địa phương đã hy sinh, chết ngạt trong hầm.
Cả khu Nhà Cháy râm ran trong tiếng đạn nổ, tiếng lựu đạn, thủ pháo và tiếng la hét của tụi ngụy. Đứa chết, đứa bị thương. Chúng vất súng, quăng ba lô tháo chạy tưởng bị thiên lôi giáng sấm sét trên đầu. Bốn căn nhà lửa bén cháy đùng đùng, thiêu rụi những cột kèo, rui mè và những tấm tranh, tấm lá mây được bộ đội lấy lợp nhà. Đấy là khu hậu cứ lớn nhất của vùng giáp ranh Hương Trà được xây dựng từ trước năm Mậu Thân 1968. Khu Nhà Cháy đã từng là nơi đón tiếp nhiều vị chỉ huy cấp cao của quân khu Trị Thiên, của tỉnh ủy, tỉnh đội Thừa Thiên - Huế, cán bộ chỉ huy Công trường V, Công trường VI về họp tại đây để chuẩn bị triển khai tấn công và nổi dậy xuân 1968. Khu Nhà Cháy ở ngã ba Hương Trà và địa đạo 310 chính là sở chỉ huy tiền phương của quân khu ủy Trị Thiên, chỉ huy các đơn vị tấn công về Huế ở cánh bắc. Sau Tết Mậu Thân, khu Nhà Cháy thành trạm cứu thương, tiếp nhận thương binh bị thương ở đồng bằng đưa lên rừng, trước khi chuyển lên viện 94 - quân khu. Có lúc bốn căn nhà ở khu Nhà Cháy thành nơi giam giữ tù binh, tề điệp bị bắt trong dịp Tết 1968, đưa lên xanh cải tạo. Về sau, có điệp báo, địch căn được tọa độ cho pháo ở Tứ Hạ, máy bay A3 7 ném bom, trực thăng chà xát bắn vào khu Nhà Cháy trong nhiều ngày. Bộ đội du kích bị thương, một số tề điệp bị bom, pháo bắn sập hầm, người chết vô khối. Từ dạo ấy, khu Nhà Cháy trở nên hoang phế. Các đại đội ngụy cũng hay đi càn lùng sục vào vùng này. Tiếng đồn khu Nhà Cháy có ma. Đêm thanh vắng, vào những ngày mưa, râm ri tiếng khóc. Ma đâu chả biết, bộ đội nhiều lần bám địch ở khu Nhà Cháy chỉ bắt được lũ duộc xuống suối lượm ốc, bắt cá. Có con khỉ độc còn lượm cả mũ sắt ngụy bị đạn bắn thủng lỗ chỗ đội lên đầu... Không ai nói ra, đều biết ở nơi này, lưu giữ nhiều oan hồn của đám lính ngụy, tù binh và cả của bộ đội, du kích chốt giữ bảo vệ khu hậu cứ. Họ đã bỏ xác lại nơi đây, chỉ có điều chẳng còn đơn vị nào của bộ đội K10 và của địa phương chọn khu Nhà Cháy đóng quân, vừa sợ lộ, lại hay bị pháo cối của địch ở Hòn Vượn, Am Cây Sen bắn hú họa. Bộ đội, du kích, cơ quan huyện ủy... chọn những hẻm núi, khe suối dưới chân Hòn Ngang để đào hầm, lập căn cứ cách khu Nhà Cháy không xa, nhưng an toàn và bí mật. Cường đi chậm từng bước và cảnh giác nghe ngóng, quan sát cả vạt Nhà Cháy. Yên tĩnh quá thể. Nghe được cả tiếng con sóc chạy trên cành cây cao đuổi nhau kêu chí chóe. Theo thói quen, Cường nép vào một gốc cây, tặc lưỡi: “Tróc! Tróc! Tróc!”. - Em đây! Cường giật mình quay lại, đã thấy Hạnh bước ra từ sau một bụi lá nón. Hạnh trấn an Cường: - Em đã nhìn thấy anh từ dưới suối đi lên! Cường chốt an toàn khẩu AK và tựa vào gốc cây. Giọng anh lạc đi: - Làm người ta sợ hết hồn! Tưởng em bị tụi thám báo bắt rồi. - Phỉ phui cái mồm anh... Hạnh không nói nữa, dang rộng đôi tay mềm mại ôm lấy Cường và hôn như mưa lên khắp gương mặt còn đẫm mồ hôi của anh. Chợt Hạnh đẩy xa gương mặt Cường ra và hỏi: - Anh nghĩ gì vậy? - Nghĩ về em! - Cường trả lời. - Nghĩ về em răng? - Tưởng em không còn yêu anh nữa. - Trời ạ! - Hạnh kêu lên nho nhỏ - Em nhớ tới anh từng ngày. Mở mắt dậy, ý nghĩ đầu tiên của em là nghĩ về anh. Họ ngồi xuống một vạt cỏ dưới gốc cây đa. Nước da Hạnh xanh. Cường bảo vậy. “Tại em nằm hầm lâu ngày. Thím Tư mỗi lần thấy em về đều hỏi: Này Hạnh, mi có nghe tin tức chi của thằng Cường không? Em bảo: Không ạ. Có một lần thím bảo thằng nớ chắc chẳng phải là đứa ăn ở bạc đâu... Hay nó có chuyện chi rồi mới không có thư cho mi! Không phải đâu thím, chú Sáu biểu K10 đang phải giữ chốt ở Phong Điền”. Nghe Hạnh kể, Cường bảo: “Anh cũng nhớ mẹ con thím lắm”. Chợt Hạnh nhìn đồng hồ. “Em xa anh 496 ngày, giờ em và anh chỉ có hai giờ mười lăm phút để ở bên nhau. Đúng 3 giờ chiều nay, cả anh và em với anh Bạ đều họp với mấy chú bên tỉnh để nhận nhiệm vụ”. Cường không để Hạnh nói hết câu. Anh ghì cô sát vào người, nhìn sâu vào gương mặt, đôi mắt, khóe miệng đã có lúc anh nghĩ phải xa cô mãi mãi. Lúc Cường và Hạnh rời khỏi vạt Nhà Cháy, cô bảo anh: “Em có một cuốn số nhỏ để ở nhà thím Tư, nếu có dịp anh sẽ được đọc”. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Mười Hai, 2012, 08:37:35 am * Cường là người gặp chú Sáu Thọ đầu tiên ở hậu cứ huyện ủy. Chú Sáu vỗ vỗ vào lưng Cường: “Mừng cho cháu về lại Hương Trà. Cơm gạo đồng bào nuôi cháu không uổng. Khá lắm, đồng chí bộ đội”. Trong một căn nhà hầm mái bằng rộng được dùng làm địa điểm họp đã thấy có ông Lạng, cán bộ của tỉnh đội, Hào - một phái viên của quân khu, Bạ, Sửu, Huy Ngọc. Họ ngồi trong hầm vừa uống trà vừa ăn kẹo mè xửng. Ngọn đèn bão treo cao soi tỏa ánh sáng xuống chiếc sạp nứa đã trải sẵn tấm bản đồ vùng phụ cận Huế. Chú Sáu, Hạnh và Cường vào sau cùng. Tấm vải mưa ngoài cửa hầm được buông xuống. Mở đầu cuộc họp, ông Lạng, thay mặt tỉnh đội báo cáo về tình hình chiến sự đang diễn ra ở Thừa Thiên. Với một bản lĩnh chính trị dày dạn, nói năng khúc chiết, ông phần tích những cái “được” của ta sau ngày cắm cờ và cả những khó khăn của ta đang vướng. Cường nghe ông Lạng nói, mới vỡ ra một điều: trên dải đất dài từ sông Ô Lâu tới sát chân đèo Hải Vân, cái thế chốt “hòa hợp” đan xen, phân tuyến tương đối rạch ròi có thể chỉ ở Phong Điền mới có. Còn ở các vùng khác, ranh giới “địch - ta” vẫn cài răng lược. Phía quân ngụy bằng sức mạnh máy bay, pháo binh cố gắng chiếm lấy những điểm cao vùng giáp ranh để phòng thủ, tạo vành đai vòng ngoài giữ thế. Phía bộ đội chủ lực cũng giữ một số điểm cao, tạo thế vây ép địch chờ thời cơ. Ông Lạng cũng thông báo cho mọi người có mặt trong cuộc họp một tin vui. Bộ đội của ta ở Đông Nam Bộ, ở Lộc Ninh vẫn tiếp tục tấn công quân địch. Lộc Ninh đã giải phóng. Quân Mỹ đã rút khỏi chiến trường có cho kẹo cũng không dám quay trở lại. Bây giờ là lúc bộ đội của ta, các lực lượng vũ trang phải bám sát địch, tạo thời cơ, phá vỡ thế giằng co, cài răng lược... Ông Hào, cán bộ phái viên quân khu, tiếp lời ông Lạng bổ sung nói thêm về tình hình quốc tế. Đi vào công việc cụ thể, ông Sáu Thọ phân công đơn vị bộ đội chủ lực của huyện có nhiệm vụ phối hợp với cán bộ của trung đoàn Z đi điều nghiên căn cứ Tứ Hạ, chi khu quân sự Hương Trà, tiểu khu Hương Cần... Đơn vị trinh sát của quân khu tiếp tục bám căn cứ Hòn Vượn, Chóp Nón, trận địa pháo binh Am Cây Sen, Văn Thánh... Chia tay Cường ở cửa hầm, Hạnh chỉ nói một câu ngắn gọn: “Đêm nay em về ấp... Anh đi cẩn thận nghe. Nhớ giữ gìn sức khỏe”. Bàn tay ấm nóng của nàng siết chặt tay Cường. Anh khẽ rùng mình. Như có luồng điện giật nhẹ. Cường và Bạ đi tới suối, Hạnh còn chạy theo dặn với: “Em có mua chút quà gửi cho anh. Em gửi ở o Lành, khi nào đi, anh nhớ ghé lấy.”. Bạ hỏi Cường: “Cô bí thư xã xem ra rất có cảm tình với cậu!”. “Tôi từng làm xã đội trưởng, kiêm chủ tịch của xã Y. Cô ấy là bí thư chi bộ” - Cường bảo vậy. “Hèn chi, các cậu thân nhau!”. 5 giờ chiều, đội quân đi đồng bằng xuất phát. Đơn vị bộ đội chủ lực của huyện do anh Sửu chỉ huy, về Bồn Phổ làm công tác tuyên truyền và nếu không gặp địch, vào dân mua gạo. Gạo bây giờ không thiếu nữa, gạo từ các kho binh trạm đã về được tới hậu cứ các xã huyện. Nhưng gạo mua được càng nhiều càng tốt, dự trữ cho vào các kho để chuẩn bị cho mùa mưa 1974. Trận lụt năm rồi, du kích, cán bộ huyện xã của Hương Trà không bị đói. Các xã vùng sâu dưới đường quốc lộ bị lụt to đã đành, nhưng các xã Hương Thạnh, Hương Thái, Hương Vân, Hương Mai, Hương Sơ nước ngập trắng đồng. Nước vô nhà dân cao gần một mét. Bộ đội, du kích vẫn rung đùi ngồi trong hậu cứ hàng ngày đi bám địch, đi gài mìn, đi chốt gác vì đã có sẵn gạo trong gùi. Gạo Trung Quốc dẻo, thơm nguyên vẹn trong các bao ni lông được chuyển thẳng từ Khe Trái về... Mũi thứ hai xuất phát đi về vùng sâu do Hạnh chỉ huy. Đi cùng mũi này còn có đội biệt động của Huy Ngọc, đội biệt động của anh Đoàn, chủ tịch xã Hương Sơ, một tổ công tác của Thẻo, chủ tịch xã Hương Bình. Đây thực sự là những đội quân biệt động tinh nhuệ của huyện. Họ sẽ thọc sâu vào dân, bám cơ sở tại các làng ven đô Huế... Mũi thứ ba ít hơn, làm nhiệm vụ đặc biệt do Bạ, Cường cùng với tổ trinh sát của trung đoàn và một tổ dẫn đường của huyện về bám sát căn cứ Tứ Hạ. Trong đáy gùi của mỗi người lính xuống đồng bằng đã sẵn gạo rang, lương khô, thuốc uống dự phòng đủ cho bảy ngày. Đội hình hành quân rồng rắn về đồng bằng đông dễ có đến vài chục người. Cường và tổ trinh sát đi chặn hậu. Lúc lúc, các anh phải dừng lại ngồi chờ những người đi phía trước vượt qua bãi tráng hoặc phải dãn cách đội hình khi lọt vào thung lũng cỏ tranh, cỏ lau nằm trong tầm quan sát của Hòn Vượn. Không gian tĩnh lặng của buổi chiều tàn hoang vắng và buồn. Những người lính đi đồng bằng đều cầm trên tay một cành lá ngụy trang, có người khoác lên người miếng dù hoa. Họ như những bụi cây biết di động lẫn khuất giữa bãi cỏ tranh, len lỏi theo những sườn đồi trọc mọc đầy những cây sim, cây mua. Thỉnh thoảng Cường lại bứt được một trái sim chín sẫm mọng nước, đưa lên miệng. Lắng tai anh còn mơ hồ nghe được thấy cả tiếng sáo diều ở làng Long Hồ vọng lại. Cậu du kích dẫn đường bảo Cường: Chỉ cần vượt qua chỗ yên ngựa kia là xuống làng Long Hồ. Theo tay cậu ta chỉ anh nhìn thấy những rặng tre ngoài làng. Đoàn người đi đồng bằng ra tới Miếu Ba Cô trời chưa tối hẳn. Mọi người dừng lại ở một bãi đá để chuẩn bị tách đoàn, đi về các hướng khác nhau. Trong lúc cột lại dây gùi và tháo dép, Hạnh tới bên Cường. Cô đội một chiếc mũ tai bèo, thắt lưng dù Mỹ to bản đeo hai trái US, khẩu K59, trong tay cô còn có một khẩu AK báng gấp. Gương mặt Hạnh giờ chỉ còn là khoảng sáng mờ. “Em đi đây, anh Cường!”. Cô chủ động ôm lấy Cường, ghé môi hôn anh. Cô nói trong hơi thở nhẹ: “Đứng với em một lát! Chỉ một lát thôi... Rồi ta lại xa nhau...! Em yêu anh..”. Lúc rời xa Cường, cô nói: “Nhớ lời em! Nhà thím Tư Nhiên nghe anh...”. Hạnh cầm khẩu AK quay trở lại chỗ những người lính biệt động đang chờ để xuất phát. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Mười Hai, 2012, 09:57:43 am 13 Bãi đất hoang mọc đầy dứa dại, bờn bờn, các bụi tre gai ở đầu làng Văn Xá Thượng được lựa chọn làm hậu cứ cho tổ trinh sát của trung đoàn Z. Khu đất hoang rộng hàng héc ta. Đất đồi trọc khô cằn cao hơn so với mặt ruộng hàng thước nên dân không khai hoang, không trồng trọt được cây gì ở đây. Dân làng Văn Xá Thượng cũng đã bị hốt đi từ lâu. Bỏ lại làng hoang. Đã nhiều năm nay, trong làng ngoài bãi hoang trở thành nơi trú ngụ của chim muông, chồn cáo. Có những buổi chiều cò bay về đậu trắng bờ tre. Nhưng chỉ cần một tiếng động lớn, bầy cò bay lên như một dải mây bị gió cuốn đi. Vùng gò đồi hoang cũng là nơi hay bị pháo cối bắn hú họa. Hàng chục hố bom ném xuống làng sau Mậu Thân, nay biến thành những ao sâu, ngập nước... Cán bộ, du kích xã Hương Thạnh đã cho đào hầm bí mật dưới những bụi cây hoang dại, để về trụ bám trong dân, phòng khi địch chốt chặn cửa rừng, không lên xanh được. Từ Miếu Ba Cô, tổ điều nghiên của trung đoàn về tới được căn cứ Tứ Hạ đã gần 10 giờ khuya. Tham mưu trưởng Bạ lần đầu tiên phải đi chân đất, mặc quần xà lỏn, lội ruộng, đi trên những bãi cồn hoang đầy mồ mả, cỏ tranh, cây thanh hao, gai xấu hổ cứa vào da thịt đau chịu không nổi. Khi đoàn công tác tách khỏi đội hình đi làm nhiệm vụ chỉ còn lại đúng tám người. Sáu khẩu súng AK, một khẩu B40 với năm quả đạn. Bạ phát hoảng vì cảm thấy lạnh lưng, hở sườn. Cho đến khi hành quân, vượt qua lạch nước, Cường phát hiện ra Bạ vẫn đi đôi dép cao su Trung Quốc. Anh bắt cả tổ dừng lại. Bảy người khác, dép đều đã cột vào thắt lưng hoặc cất trong gùi, chỉ duy nhât Bạ vẫn ung dung đi dép. “Thủ trưởng ạ! - Cường nói nhỏ nhưng giọng kiên quyết - Anh phải cởi ngay dép ra. Đã về đồng bằng phải đi chân đất. Đi dép, mai địch lên phát hiện, lộ đường phục kích chết cả lũ!”. Lúc đầu, Bạ không hiểu. “Lính địa phương các cậu kỳ cục thật!”. “Anh ơi! Đây là quân lệnh. Đến như ông tướng, ông tá có xuống đồng bằng cũng phải mặc quần đùi, đi chân đất”. Cuối cùng, Bạ đành nghe theo. Đôi bàn chân anh ta vốn đi giày, đi dép quen. Bây giờ phải dận chân trần đi trên con đường mòn nhỏ, lúc lội ruộng, lúc bám theo con đường chiến lược, chỗ đất chỗ sỏi đá, những viên đá dăm đâm vào chân đau chịu không nổi. Nhưng không lẽ thủ trưởng lại không chấp hành quân lệnh. Sửu sứt, huyện đội phó, chỉ huy đoàn quân về đồng bằng lúc ở cửa rừng cũng đã phổ biến như vậy. “Thôi thì đành phép vua, thua lệ làng”. Huống hồ, ở đây lại liên quan đến sinh mệnh hàng vài chục con người, sự sống còn cho con đường bí mật, từ hậu cứ trên rừng về đồng bằng. Bạ bất quá cũng chỉ ở đây làm nhiệm vụ mười ngày, nửa tháng. Nhưng còn họ, quanh năm phải bám giáp ranh. Nghĩ vậy, nên Bạ cố mà đi. Và anh thầm cảm ơn trong chuyến công tác này cấp trên đã phân công Cường cùng đi. 9 giờ 45 phút, tổ điều nghiên mới về tới bãi mồ mả ngoài làng Văn Xá Thượng. Theo kế hoạch, Thu - một du kích xã sẽ về bãi hoang để chuẩn bị nơi trú ẩn cho cả tổ. Bạ, Cường và tổ trinh sát cùng với cậu Yên - người địa phương hướng thẳng về khu căn cứ Tứ Hạ. Mưa lâm thâm, gió lạnh tràn về trên đồng. Đêm khuya nhưng bầu trời vẫn sáng nhờ nhờ, trăng mồng mười đã lên cao nhưng không xuyên nổi lớp mây mù dày đặc. Người nọ bám lưng người kia đi trên những con đường cắt băng qua mộng, qua cồn cát mọc đầy những cây thanh hao, cỏ sắc. Phía xa kia, hắt lên trời một quầng sáng, đấy chính là căn cứ quân sự Tứ Hạ. Nhìn chếch về phía đông nam, một quầng sáng rộng hơn. Thấp thoáng trong mây mù có ánh đèn đỏ nhấp nháy sáng trên cao. Đấy là cố đô Huế. Ở phía ấy, còn có một chiếc máy bay bay đêm phát tín hiệu nhấp nháy ở hai đầu cánh. Địa hình căn cứ Tứ Hạ, Cường chẳng lạ gì. Vào đúng cái ngày Bác Hồ mất, đêm 3 tháng 9 năm 1969, tiểu đoàn 10 đã từng phối hợp với K35, pháo binh mặt đất tổ chức một trận đánh tập kích bằng hỏa lực vào căn cứ Tứ Hạ. Hai khẩu cối 82, 14 khẩu B41, 10 khẩu B40, 5 trái đạn ĐKB đã dội một trận bão lửa lên khu căn cứ quân sự này. Vào lúc 4 giờ sáng, cả tiểu đoàn tập kết về bãi đá ở Miếu Trâu, chính trị viên tiểu đoàn Lê Văn Duy, nói như phát khóc: “Thưa các đồng chí! Đêm qua “đài ta” báo tin Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã qua đời. Trận đánh vào Tứ Hạ của “K ta” là vòng hoa dâng lên tưởng nhớ Bác”. Ông Duy người thấp, to ngang, có dáng hổ ngồi đang đứng trên một mô đá cao, đầu gục xuống. Giọng nói của ông thật xúc động. Mấy chị, mấy o các xã đi gùi đạn cho bộ đội, đi đồng bằng về tập kết cả ở Miếu Trâu chờ trời sáng vào rừng, nghe tin Bác Hồ mất có người khóc tấm tức. Không bao giờ Cường gặp lại ông Duy nữa, sau ngày cả tiểu đoàn 10 bị giải thể phiên chế bổ sung cho huyện, xã, làm anh lính biệt động, du kích. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Mười Hai, 2012, 09:59:13 am * Cho đến 2 giờ sáng, Cường và tổ trinh sát trung đoàn mới tiếp cận được vào hàng rào thứ ba của căn cứ Tứ Hạ. Sau trận đánh năm 1969, địch tăng cường phòng thủ từ xa rào thêm các lớp kẽm gai, bùng nhùng, xen kẽ những bãi mìn. Bạ và cậu du kích địa phương dẫn đường nằm lại ở hàng rào thứ nhất. Giữa các lớp hàng rào bùng nhùng, kẽm gai cỏ tranh mọc cao, mìn gài chìm trong cỏ, phát hiện rất khó. Bốn anh em nhích từng tí một vừa xóa dấu vết, vừa gỡ mìn, đánh dấu đường vào cho đêm mai. Mặt mũi, cánh tay, bắp đùi... tất cả những chỗ da thịt để trần đều được xoa lên lớp bột pin trộn với lá cây rừng để ngụy trang. Thỉnh thoảng pháo sáng bắn lên, phát sáng cả một vùng, những thằng lính gác ngụy trong các chốt canh có tài thánh cũng không phát hiện ra những người lính trinh sát đang giấu mình trong cỏ. Lớp trong cùng của căn cứ Tứ Hạ mặt phía nam địch còn rào một lớp kẽm B40, phía trên hàng rào mắc vô số những chiếc loong hộp. Lâu lâu, một thằng lính gác lại ra giật vào sợi dây treo những chiêc loong, phát ra âm thanh loảng xoảng... Cường nhìn đồng hồ dạ quang đeo trên tay bọc trong chiếc mùi soa của Hạnh, anh cấu nhẹ vào chân Xu, lính trinh sát của trung đoàn bò phía trước, báo lệnh rút. Anh đi sau cùng để xóa mọi dấu vết. Bạ và cậu du kích dẫn đường đã ra ngoài điểm tập kết chờ cả tổ. Về đến nơi trú quân bí mật ở bãi hoang đầu làng Văn Xá Thượng mới hơn 4 giờ. Cường và những người lính trinh sát xuống một hố bom rửa mặt mũi chân tay. Chui rào cả đêm, sống trong tâm trạng căng thẳng khi phải lần tìm từng quả mìn Zip, mìn chống tăng tìm cách gài lại chốt an toàn, đầu óc ai cũng căng thẳng, nhưng khi có chút nước vã lên mặt, mệt mỏi và cơn buồn ngủ tan biến. Suốt đêm, anh đã có ý lắng nghe mọi động tĩnh trong vùng. Không ở đâu thấy súng nổ. Như vậy các cánh quân về đồng bằng đêm qua đều trót lọt. Lạy trời! Vậy là Hạnh an lành. Giờ này hẳn bộ đội của anh Sửu “sứt” đã lại có mặt ở Miếu Ba Cô để chuẩn bị vào rừng. Thu rất giỏi và tháo vát. Chẳng biết bằng cách nào cậu ta đã nấu được xoong cơm to. Lại còn có cơm để vắt dành cho ngày mai. Bảy người, bảy vắt cơm mỗi vắt to như khúc giò lụa, lèn chặt đủ ăn cho cả ngày. Đến khi chui vào căn hầm bí mật, nhìn thấy chiếc bếp nấu bằng dầu hỏa, lại thấy có sẵn xoong, chảo và hàng chục chiếc can nhựa được giấu trong một hõm đất chạy dài như một con hào che phủ trên đầu tầng tầng, lớp lớp cây dứa dại thì anh chợt hiểu. Du kích Hương Thanh sống bí mật nhưng cũng chẳng đến nỗi nào. Trong căn hầm đất còn có sẵn cả thùng dầu đậu nành, lá cờ Mỹ in trên vỏ thùng kẽm còn mới, bột ngọt, muối, đường chẳng thiếu thứ gì. Hai hầm bí mật có nắp ngụy trang, có lỗ thông hơi nằm cách xa khu “hậu cần”. Cũng phải chui lủi luồn lách qua các gốc dứa, bụi tre gai một hồi mới tìm thấy lối xuống hầm. Theo quy định Bạ cùng với cậu du kích tên là Hà và Xu trinh sát sẽ ở một hầm. Cường và hai trinh sát cùng cậu Thu du kích ở trong căn hầm thứ hai. Đến quá trưa, đang ngủ chợt Cường bị đánh thức trở dậy. Hà và Thu đang ngồi chờ ở ngoài cửa hầm. “Anh Cường ơi! Thủ trưởng Bạ nguy cấp lắm. Kêu anh sang ngay”. “Có chuyện chi? Cứ tưởng địch vô!”. “Anh Bạ lên cơn sốt, bụng đau dữ dội. Chẳng biểt bệnh gì?”. Lúc Cường sang tới hầm của Bạ, thấy nét mặt anh tái xám. Tay Bạ ôm bụng có vẻ anh đang đau dữ dội. “Đau ruột thừa cấp tính thì chỉ có chết!” - Cường nghĩ vậy. Anh cúi xuống đỡ Bạ. Người Bạ nóng hôi hổi. Mồ hôi ướt đẫm lưng áo. “Anh sao vậy?”. Bạ mở hé mắt, mồm miệng méo xệch: “Tớ sốt rét. Lại lên cơn đau dạ dày... Cậu tìm cách đưa tớ đi viện”. Hà, Thu và cậu trinh sát tên Xu nghe tham mưu trưởng nói vậy, phì cười. Cường trừng mắt cho ba anh lính ngậm miệng. “Được rồi, anh có muốn đi viện cũng phải đợi trời tối đã”. “Thế cũng được - Bạ nói líu lưỡi - mọi việc ở đây tôi giao toàn quyền cho cậu chỉ huy, sau này về báo cáo cho trung đoàn... Tôi đau quá! E chết mất...”. Cường điềm tĩnh nói: “Anh cứ yên tâm, mọi việc tôi sẽ lo chu toàn!”. Anh nhìn sâu trong đáy mắt Bạ, thấy sự hoảng loạn của anh ta sau một đêm chui rào. Đêm thứ hai tiếp cận điều nghiên căn cứ Tứ Hạ đành bỏ dở. Ba anh trinh sát và một người du kích được rút ra tổ chức thay nhau khiêng cáng Bạ. Cường vác khẩu B40, kèm theo khẩu AK sau lưng, Thu mang AK trực tiếp bám đường về lại Miếu Ba Cô. Đã quen đường, tuy trời mưa đường trơn nhưng chỉ ba tiếng sau, họ đã tới bãi đá tập kết. Từ lúc được uống thuốc, Bạ có vẻ bớt đau dữ dội, nhưng thỉnh thoảng anh ta lại rên rỉ. Người vẫn sốt hầm hập. Cả đoàn chờ đến 3 giờ sáng thì gặp quân của huyện đội đi đồng bằng lên. Họ giao Bạ cho bộ đội địa phương của huyện chuyển lên hậu cứ. Cường giữ lại Thu và hai người lính trinh sát ở lại cùng với anh bám căn cứ Tứ Hạ. Anh viết một cái thơ báo cáo tình hình cho trung đoàn, giao cho một người lính trinh sát, cùng cậu công vụ của Bạ đi theo áp tải cáng thương của Bạ về căn cứ. Lúc quay trở về đến bãi đất hoang làng Văn Xá Thượng vừa trọn một đêm. Cường ngủ li bì cho đến tận 2 giờ chiều, triền miên trong những cơn mộng mị. Chỉ mất có ba đêm, Cường và hai người lính trinh sát đặc công đã mò mẫm, sờ nắn toàn bộ ba mặt của khu căn cứ Tứ Hạ. Mặt thứ tư tiếp giáp với khu nhà dân, nuôi nhiều chó các anh không vào được. Từng lô cốt, từng ụ súng, bãi pháo, bãi đậu trực thăng và bốn dãy nhà lính, nhà chỉ huy đều được “những con chuột nhắt” tinh quái sờ soạng. Cường sẽ suốt đời không bao giờ quên được Tống và Ngoãn, họ là hai người lính trinh sát tài ba. Tống, dân xứ Mường, Hòa Bình. Còn Ngoãn, người Ninh Bình nhưng như cậu ta nói “từ năm mười tuổi em đã làm bá chủ trên các chuyến tàu xuôi ngược Vinh - Hà Nội”. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Mười Hai, 2012, 10:00:46 am Tống hiền lành, lầm lì, ít nói. Nhưng gan lì. Anh ta cũng xấp xỉ tuổi Cường nhưng vẫn chỉ là lính trơn “không đảng đủng chi hết”. “Vì sao vậy? - Cường hỏi - Cậu đã từng được nhận Huân chương chiến công hạng Ba, khi đánh Quảng Trị kia mà?”. “Ăn thua gì anh - Tống nói và mỉm cười - Tay đại trưởng trinh sát ghét em. Cứ chỗ nào “xương” nhất nó đẩy em đi. Đi thì đi, em sợ đếch gì. Còn chuyện vào Đảng, chi bộ đưa ra mấy lần, nó xui chính trị viên đại đội bảo bố em là phản động, đồi trụy. Còn ông em là lý trưởng. Lý trưởng là gì hở anh?”. Cả một ngày trời chui trong hầm, ngủ lên ngủ xuống mãi cũng chán. Cường rỉ rả hỏi chuyện Tống mới vỡ lẽ ra rằng: Cha Tống vốn là một thầy dạy văn cấp II. Tốt nghiệp Đại học Sư phạm Vinh, những khóa đầu, học giỏi nhưng cũng vì cái lý lịch “bố là lý trưởng”, “lý trưởng mua” cho oai, lấy thế trong làng xã, nên bố Tống không được dạy câp III mà phải xuống dạy cấp II. Gia đình ông “lý trưởng” cũng có một người con trai đầu là chiến sĩ trong sư đoàn 308 anh hùng hy sinh ở Điện Biên Phủ. Có ông anh là liệt sĩ nên bố Tống mới được đi học dễ dàng. Một lần ông thầy dạy văn cao hứng đọc mấy bài thơ tình của Huy Cận, Xuân Diệu trong “Thi nhân Việt Nam” với một giọng hào sảng, cảm khái của một ông thầy yêu mến văn chương. Khổ nỗi, lúc ông chưa kịp phân tích thái độ “ủy mị, tâm lý tiểu tư sản, cá nhân đề cao “cái tôi”...” để so sánh với thơ tình cách mạng thì bị ông hiệu phó, bí thư chi bộ bắt quả tang đang tuyên truyền thơ ca phản động, đầu độc tâm hồn lóp trẻ! Bốn năm buổi họp, ông đồ dạy văn cố thanh minh cũng không được. Thêm một lá đơn nặc danh gửi lên tận ông bí thư huyện ủy tố cáo thầy “phản động”! Vậy là tiêu tùng cả sự nghiệp. Năm ấy, Tống đang học dở lớp bảy bỏ thi. Con trai Mường vốn to khỏe, Tống khai tăng tuổi, xin đi bộ đội.
Còn cuộc đời Ngoãn là một pho tiểu thuyết. Chí ít Cường nghĩ vậy. Cũng có thể do đầu óc anh từ nhỏ đã nhồi nhét nhiều những truyện ly kỳ, kiếm hiệp, nên anh tưởng tượng ra vậy. Ngoãn là một thằng bé không cha. Mẹ nó đẻ rơi trong một chuyến tàu xuôi Vinh. Mẹ Ngoãn vốn là một người buôn bán hàng rong dọc theo tàu và các nhà ga, ăn cắp thành thần. Nơi mẹ con Ngoãn ở lâu nhất, trong ký ức thằng Ngoãn còn nhớ được là xóm nhà lá ở ga Nam Định. Nhờ chuyện mẹ Ngoãn kết thân được với một anh cán bộ làm việc ở ủy ban nhân dân khóm máy nước mà thằng Ngoãn có được tấm giấy khai sinh sau này ghi trong tờ lý lịch: Nơi sinh - Thành phố Nam Định. Đã bao năm, thằng Ngoãn nhớ nhất vẫn là căn nhà của hai mẹ con nó sống. Mỗi hộ công nhân của nhà máy dệt Nam Định được chia trong dãy nhà cấp bốn một gian. Có hộ chỉ nửa gian. Một người đồng hương tốt bụng đã cho mẹ con Ngoãn tận dụng bãi rác phía đầu hồi vẩy ra cái mái để sống tạm qua ngày. Chỗ ở của mẹ con Ngoãn rộng chừng 12 mét vuông, kê vừa đủ một cái giường, một góc kê ba ông đầu rau đất làm bếp. Góc bếp cũng là nơi để xoong nồi bát đĩa. Hình ảnh nữa khiến thằng Ngoãn “nhớ dai như đỉa” chính là khúc kẹo dồi của chú Tập. Chú Tập là ân nhân của mẹ con Ngoãn. Chú Tập nhờ mối quen biết với mấy ông cán bộ ở khu máy nước đã làm khai sinh cho thằng Ngoãn. Bố Ngoãn, chú Tập bịa ra một ông X nào đó, phần nhân thân chỉ ghi vỏn vẹn: “chết trong tù!”. Mẹ Ngoãn mất vài bao thuốc Tam Đảo, cân cam cho nhà chức trách vậy là thằng Ngoãn đã có tờ giấy khai sinh để mẹ nó làm hộ khẩu. Người đàn bà chưa tới tuổi ba mươi đã có một thằng con trai mười một tuổi tỏ ra mãn nguyện. Thằng Ngoãn cũng không cần học, nhưng trời phú cho thằng con hoang có một trí nhớ phi thường và cực kỳ thông minh. Chỉ có vài buổi đứng ngoài bờ tường lớp học của trường phổ thông cấp I Trần Đăng Ninh, trong lúc chờ đợi, gạ gẫm mấy đứa trẻ con nhà giàu trốn học ra ngoài chơi đáo lỗ mà thằng Ngoãn đã có được cả một bồ chữ. Nó đọc báo Nhân dân vanh vách, chẳng trật chữ nào. Làm toán cộng trừ nhân chia tính nhẩm trong đầu ra đáp số. Có lần một thằng con nhà giàu làm bài thi, tuồn tờ giấy ra ngoài cho Ngoãn giải. Một bài tính đố chuyện con gà, con vịt. Nó giải trúng phóc. Thằng bé con nhà giàu hôm sau khoe nó được 10 điểm. Thằng Ngoãn túm áo thằng bé con nhà giàu. “Mày phải giả tiền cho tao chứ?”. “Tiền nào? Tao đâu có nợ mày!” - Thằng con nhà giàu cãi. “Tiền công tao giải toán cho mày được 10 điểm. Mỗi điểm là một xu, mày nợ tao một hào! Không giả tiền tao đấm cho vỡ mũi và đừng hòng tao cho chơi đáo”. Nghe chuyện không cho chơi đáo, thằng bé nhà giàu cuống lên. Nó ham chơi hơn ham học. Biết đánh đáo là thua, nhưng cứ đánh. Càng đánh càng ham, quên ăn, quên ngủ. Thằng Ngoãn có một đồng cái thửa luôn để sẵn trong túi quần. Đồng cái hình tròn, đường kính 2 xăngtimét, đột ra từ một tấm thép dày 2 ly. Thằng Ngoãn mài cho sáng bóng, cạnh sắc. Chơi đáo lỗ có đồng xu cái đánh quen tay quả là lợi hại. Trái tim như muốn tan ra khi trên mặt đất lấp loáng những đồng năm xu, một hào sáng trắng, châu quanh lỗ đáo và vạch cấm. Thằng Ngoãn chỉ cần thảy nhẹ tay đồng xu cái đã chui tọt vào khít với miệng lỗ. Bốn năm đứa trẻ chờ tới lượt mình đi, ngơ ngác chưa hiểu chuyện gì xảy ra, thằng Ngoãn đã ung dung đi lên như một mãnh tướng nhặt tất những đồng xu lớn, xu bé cho vào một cái túi vải đeo ở ngực, giấu trong lần áo may ô sực mùi mồ hôi chua như cứt mèo, ngả màu cháo lòng. “Có đánh nữa không?” - Thằng Ngoãn cao giọng. Những con bạc khát nước nhao nhao: “Đánh chứ! Đánh chứ! Mày định ăn non hả?”, “Ừ thì đánh, ông sợ đếch gì! Nào, đứa nào đổi tiền giấy, tao đổi xu cho”. Lại những ván thua, ván thắng nhưng rốt cuộc mọi đồng xu đều chui vào túi thằng Ngoãn. Tiền xu đổi ra tiền giấy. Lại đánh. Có bữa thằng Ngoãn về đến nhà, mẹ nó đã tắt điện đi ngủ. Nó ngồi trong bóng tối nhai ổ bánh mì giòn rau ráu. Trở lại câu chuyện về khúc kẹo dồi của chú Tập. Theo lời Ngoãn kể. Ở gần ga Nam Định có vài ba anh suốt ngày đẩy chiếc xe tay đi bán kẹo kéo. Những khúc kẹo kéo được làm từ mật nha, bên trong ruột có lạc được anh thợ tài ba nhào nặn kéo lên, kéo xuống, lúc kéo dài ra, lúc vo tròn lại. Từ một thỏi kẹo mật, màu vàng, chỉ vài chục nhát nhào lên vật xuống lăn với bột, khúc kẹo dồi trắng dần lên như thạch cao, dẻo quẹo. Bất kể ai có năm xu, một hào, thậm chí đổi bằng lông vịt, giấy loại đều được anh thợ kẹo kéo bán tuốt. Món quà quê kiểng dành cho những đứa trẻ nghèo. Mỗi lần chú Tập đến chơi nhà thăm mẹ Ngoãn, bao giờ chú cũng thủ sẵn trong túi một khúc kẹo dồi gói kỹ trong miếng giấy báo. Thằng Ngoãn bị mẹ bắt nhặt rau, lượm thóc, lượm cứt chuột trong rá gạo, thấy chú Tập như vớ được vàng. Chú thò ra trước mặt nó cây kẹo kéo. “Này cho cháu! Ra ngoài chơi đi, chú có chuyện muốn bàn với mẹ cháu”. Đã có kẹo ăn, lại được ra ngoài chơi bóng với tụi trẻ ở ngoài bãi trước cửa nhà. Sướng thế còn gì. Thằng Ngoãn bất chấp cái lừ măt của mẹ nó. Chị nói vọng theo con: “Chơi một lúc rồi về ăn cơm để mẹ còn đi bán hàng...”. “Vâng ạ!” - Giọng nó kéo dài, tỏ ra sung sướng, bỏ mặc tấm cửa đan bằng liếp phía sau đang khép lại. Thằng Ngoãn đâu ngờ, những khúc kẹo dồi của chú Tập bảy năm sau đã cứu nó một bàn thua trông thấy! Thằng Ngoãn đánh đáo là một tay tổ nhưng nó cũng là một đứa trẻ có biệt tài ăn cắp. Mùa đánh đáo ăn tiền không diễn ra quanh năm, thường chỉ vào ngày Tết. Khi đã biết nhảy tàu, lên tàu qua mặt các anh soát vé thì chính những chuyến tàu xuôi ngược Vinh và Hà Nội trở thành nhà của Ngoãn. Mẹ nó là một người đàn bà ăn cắp, đẻ ra nó ắt phải có máu ăn cắp bẩm sinh. “Nhưng em kiếm chỉ vừa đủ ăn, đem về đỡ đần mẹ... Còn được đồng nào, em lên tàu đi chơi mọi chỗ, mọi nơi em thích. Anh có tin không? -Thằng Ngoãn hỏi Cường - Sa Pa, Đồng Đăng, Kỳ Lừa em đi cả. Khắp thành phố Vinh, khắp cả Hà Nội, Hải Phòng xó xỉnh nào em cũng tới. Có lần em đánh đáo với đám trẻ con ngoài Hải Phòng. Em móc chúng nó sạch túi. Tụi nó thua tiền nhiều, tức quá gọi đầu gấu đến định “trấn lột” em. Em bị một phen chạy thừa sống thiếu chết, về được đến bến đò Quý Cao mới hoàn hồn”. “Nhưng sao cậu lại đi bộ đội...?” - Cường hỏi Ngoãn. “Chuyện là thế này, lần ấy em đi tàu vào Vinh, ai ngờ đến Lèn bị máy bay Mỹ bỏ bom. Bom đánh trúng tàu, nhưng là tàu hàng, không chết người. Đêm ấy, em bị kẹt lại ở ga Đò Lèn. Nửa đêm máy bay Mỹ lại đánh bom vào khu nhà dân ở gần ga, bom đánh vào đơn vị pháo cao xạ. Em vừa hoảng vì bom nổ tứ tung, vừa thích vì được tận mắt nhìn thấy máy bay phản lực Mỹ bốc cháy giữa bầu trời như một ngọn đuốc. Em chạy theo mấy anh bộ đội cao xạ vào nhà dân dập lửa, cứu người, khiêng người bị thương, bị ehết lên xe. Đến khi xong việc, mấy anh bộ đội cho em ăn bánh mì. Đói rạc cả ngày trời, được ổ bánh mì sướng bằng tiên. Có một ông bộ đội đã cao tuổi hỏi em: “Cháu mấy tuổi rồi, nhà ở đâu?”. Em nói bừa: “Cháu mười bảy tuổi, nhà ở Nam Định, cháu kẹt tàu nằm ở đây”. Ông bộ đội già bảo: “Lát nữa chú về Hà Nội họp, chú cho đi nhờ xe. Ăn mau chóng lớn, vào bộ đội đi đánh giặc với chú”. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Mười Hai, 2012, 10:01:52 am Buổi chiều, nhân lúc mẹ vắng nhà, thằng Ngoãn lặng lặng mua một chai rượu lậu, cuộn vào một tờ báo tìm đến nhà chú Tập. Ông chú đang cởi trần xoay vần ra quay bột gạo bằng cái cối xay đá nặng trình trịch để bà vợ vắt bún, bán cất ngoài chợ Rồng. Vợ chú Tập đang ngồi trong bếp với chiếc nồi chuẩn bị cho mẻ bún. Thấy thằng Ngoãn đột xuất đến thăm nhà, ông Tập đã giật mình, nhưng vẫn cao giọng hỏi: “Mày đến nhà khu đội phó làm gì?”. Thằng Ngoãn lễ phép: “Cháu đến xin chú cho cháu đi bộ đội”. Vừa nói, nó vừa thập thò chai rượu ra khỏi chiếc áo bộ đội cũ, áo dài che cả cái mông tóp lại, miệng cười bả lả: “Mẹ cháu có chai rượu nếp mang sang biếu chú...!”. “Láo! Mẹ con nhà mày định giở trò biếu xén hả?”. Nói vậy thôi, nhưng ông Tập cũng rời cái cối, cầm chiếc áo vải xanh công nhân treo ở đầu móc sắt định choàng vào người. Bà Tập thấy nhà có khách, chẳng nói năng gì. Ra sức quạt lấy quạt để chiếc bếp than đang bén lửa.
“Mày nói chuyện thật hay đùa, nhóc?”. Ông Tập luôn gọi nó như vậy. “Đi bộ đội mà chú bảo chuyện đùa à?” -Thằng Ngoãn cãi lại. “Đồ ngu ạ!” - Chú Tập tay cầm chai rượu bật vỏ nút bấc đưa miệng chai lên mũi ngửi, nhưng không quên mắng cậu nhóc. “Chú bảo cháu ngu là sao?”. “Vậy mà cũng hỏi. Cái lý lịch ăn cắp của mẹ con mày cả Nam Định này ai không biết. Lý lịch đen như mực vậy mà đòi đi bộ đội. Ngu ơi là ngu, vậy mà còn hỏi”. Thằng Ngoãn rơm rớm nước mắt, mà sau này nó biết được chính chú Tập kể cho mẹ nó, chú còn khóc. “Vậy những người xấu xa như mẹ con cháu không còn được quyền làm điều tốt hay sao hả chú?”. Đến lúc này, chú Tập mới nói thật: “Cháu ơi! Cháu có biết đi bộ đội là cực khổ lắm không? Nhiều người đi sợ khổ, sợ chết còn đảo ngũ về đầy kia kìa. Về địa phương bắt đưa đi cải tạo, treo một cái biển to tổ bố ở sau lưng: “Ai cũng đảo ngũ, sợ chết như tôi thì mất nước...Huống hồ cháu là con một…”. Thằng Ngoãn vụt đứng dậy. “Không, bằng mọi cách chú phải cho cháu đi bộ đội. Cháu thề với chú, cháu không bao giờ là thằng đảo ngũ, đầu hàng giặc... Cháu hứa...”. “Mày không biết thương mẹ mày Ngoãn à...”. Chú Tập vẫn hết lời khuyên can, chú còn giơ cả cái chân bị thương khi đi bộ đội vào công đồn ở Điện Biên Phủ để dọa thằng Ngoãn. “Cháu có đi bộ đội, cháu mới đổi đời. Không thì đời này, kiếp này cháu chỉ là một thằng ăn cắp, bị người đời khinh rẻ. Mẹ cháu không khổ nữa. Mẹ cháu mới được các chú cấp cho cái sổ gạo, mỗi tháng được nhận mười hai đồng. Cháu có chết cũng trả được ơn cho mẹ cháu rồi...!”. Nó nói với chú Tập như vậy. Nghe thằng Ngoãn kể chuyện đời, Cường ứa nước mắt. Cái chí lanh lẹn, láu cá, thông minh của một đứa trẻ từ bé đã phải tự kiếm cơm nuôi miệng, lăn lộn giữa các bến xe, ga tàu lại đào luyện Ngoãn thành một tay trinh sát đặc công có hạng. Lì lợm và ngỗ nguợc. Đêm thứ ba chui vào hàng rào Tứ Hạ ra, lúc ra đến bãi tập kết, thằng Ngoãn đổ từ cái ruột tượng gạo nó quấn quanh bụng mấy loong cá hộp và một cây thuốc lá quân tiếp vụ xanh. “Mi lấy đâu ra? Lộ bỏ mẹ!”. “Em vào kho hậu cần. Thịt cá cả két, anh muốn ăn mai em vô lấy nữa. Em còn lấy được cả cái này. - Nó giơ ra trước mặt Cường, mặt Tống một chiếc xi líp đàn bà và cả một cái áo nịt vú của vợ một thằng lính ở khu gia binh. - Em nhìn hai đứa trần truồng quại nhau. Đứa con nhỏ thì nằm ngủ trong nôi. Ức quá, em đái vào quần của thằng chồng và tịch thu “phụ tùng” của con vợ”. Nói xong thằng Ngoãn nhe răng cười. Bộ mặt nó ngụy trang đen nhẻm, chỉ hàm răng là trắng nhởn. Cường tức, muốn thoi cho nó một quả mà không nỡ. Chẳng hiểu sao, anh lại bảo thằng Ngoãn: “Mi còn sống trở về phải mang rượu đến tạ lão Tập, em ạ. Lão ấy đã cứu cuộc đời mày!”. Nét mặt thằng Ngoãn bỗng xìu xuống như quả bóng xịt hơi. “Ông Tập chết rồi, anh. Năm ngoái em được trung đoàn cho đi phép, kết hợp mua hàng cho đơn vị, mẹ em bảo: ông Tập lên Hà Nội cưới chồng cho con gái, bị trúng bom Mỹ ở khu Khâm Thiên, sắp sang giỗ thứ hai rồi... Tội không?”. Sau mỗi đêm vào Tứ Hạ trở về, Cường dành thời gian ghi chép tỉ mỉ những điều thu lượm được về địch, cách chúng bố phòng các tuyến, các lớp trong cứ điểm. Anh vẽ phác họa sơ đồ từng vị trí hỏa lực, bộ binh của chúng trong căn cứ cho tất cả vào một cuốn sổ tay. Bước sang ngày thứ năm thì xảy ra sự cố. Lúc Cường cùng tổ trinh sát và Thu từ tiểu khu Hương cần trở về đã thấy Ngọc và hai người lính biệt động chờ sẵn ở vị trí tập kết ngoài bãi dứa dại. Thoạt nhận ra Ngọc, Cường đã giật mình. Ngọc bảo Thu: “Thu và hai anh bộ đội ra ngồi nghỉ một lát, anh trao đổi công chuyện với anh Cường chút nghe!”. Ngọc kéo Cường tới một ngôi mộ đá. Ngọc nói ngay: - Hạnh hy sinh đêm qua rồi, mi biết chưa? - Anh nói thiệt hay đùa... ? - Con Hạnh chết rồi. Nó đi từ dưới Phè Nhất lên, đi ngang qua con hói La Chữ bị tụi bảo an phục kích bắn chết. Tao vừa về Phú Ổ, cơ sở báo cho biết hiện giờ nó đang để xác con Hạnh ở đình Thượng, loan báo cho bà con các ấp để uy hiếp bà con... Cường lặng đi một hồi, như không tin những điều Ngọc thông báo là sự thật. Rồi anh chợt bừng tỉnh. - Phải đánh thôi, anh Ngọc. Đánh để lấy xác Hạnh. Ngọc hỏi Cường: “Tụi bay ở đây có bốn đứa. Bên tao và anh Đoàn còn năm người. Chín đứa, hai B40, AK, thủ pháo đủ sức chơi tụi nó không?”. “Có chết cũng đánh!” -Cường bảo vậy, rồi anh động viên Ngọc: “Đánh được. Anh tin tôi đi...!”. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Mười Hai, 2012, 10:03:39 am * Ngay trong đêm, tổ trinh sát trung đoàn 4 đã theo Ngọc hành quân về trụ bám trong khu cứ cũ của đội biệt động ở ngoại vi ấp An Đôn. Vẫn là những dải làng hoang, những bãi mồ mả rộng miên man mọc dày đặc những cây dứa dại, tre gai, chà là. Sau mùa xuân 1973, đội biệt động của Ngọc mới quay lại sử dụng khu cứ này. Đã có một thời gian, “lõm” bị lộ. Sau ngày chị Tâm bị bắn chết, địch ngờ “Việt cộng” có hầm bí mật ở đây. Chúng cho các đại đội bảo an 123, 125 thường xuyên lên cắm trại, xăm hầm. Có lần còn mang cả chó béc giê đi soi tìm dấu tích những căn hầm bí mật. Những nắp hầm bí mật bằng gỗ có nắp hình chữ nhật. Một chiều 35 xăngtimét, một chiều 40 xăngtimét. Các cửa hầm được luồn sâu giữa các bụi dứa dại, tre gai, lá khô phủ kín. Đường dẫn đến cửa hầm được xóa sạch mọi dấu vết. Nếu không có tề điệp, kẻ chiêu hồi khai báo, tụi lính bảo an, dân vệ khó mà tìm ra. Chỉ khi có địch đóng trong làng, đi càn, cánh lính biệt động của Ngọc mới phải vào cố thủ trong hầm, còn địch ở xa, đi lại trên các trục làng, những anh lính biệt động vẫn “vô tư” thoải mái, ngồi đánh bài “xi lát”, “tiến lên”, khui đồ hộp, uống cà phê bình thường. Thậm chí họ còn nấu được cả cơm nóng ăn để đêm về ấp. Từ làng An Đôn, đi qua một cánh đồng sang Liễu Nam, băng qua hói là tiếp cận được vào ấp Thượng. Từ những căn hầm, các đội biệt động, các tổ du kích về ấp rất tiện. Xuất phát nhanh không tới quá một giờ. Nhưng để cho tụi tề điệp và dân không nghi ngờ, các đội công tác thường đến khuya mới vô ấp. Cường, Ngọc và nhóm trinh sát, biệt động về tới cứ mới 4 giờ sáng. Tổ công tác của anh Đoàn về bám dân ở ấp Kim Long lên còn đang ngủ. Mấy gùi căng tròn gạo, hàng hóa để cả dưới gốc tre. Ngọc bảo Cường: “Cho anh em ngủ lấy sức, mai sớm ta bàn phương án đánh địch”. Mỗi người tản ra các vạt đất nằm dưới các bụi tre gai dày đặc, trải áo mưa ra ngủ. Lát sau đã nghe tiếng ngáy của Ngoãn, của Tống, của Thu ngon lành. Cường không ngủ được. Anh cầm khẩu AK đi ra ngoài cảnh giới, vầng trăng đầu tháng lên cao, mọi cảnh vật nhập nhòa dưới ánh trăng lạnh lẽo. Cường ngơ ngác tự hỏi: sao cái chết đến với Hạnh vô lý đến như vậy? Đêm cuối cùng chia tay nhau ở Miếu Ba Cô, đến nay mới là đêm thứ sáu. Ngọc kể: Cùng hy sinh với Hạnh còn có một cậu du kích người Triệu Sơn, mới lên rừng chưa được một năm. Đám nghĩa quân có người nhận ra cậu du kích đã báo người nhà cho lên nhận xác. Dân trong vùng có người biết Hạnh, xác nhận cô đúng là con mụ H, ở xã Y. Địch ở vùng này, chúng chẳng còn lạ gì những người như Hạnh, Ngọc, Đoàn, Sẹo... Quận trưởng đã từng treo giải cho ai giết được những tay Việt cộng sừng sỏ của huyện... Đám bảo an giết được Hạnh, một nữ cộng quân có tiếng, khác nào vớ được vàng. Những ngày qua, anh mù tịt tin tức. Cường tiếc đã không mang theo chiếc đài National ba pin đại, Hạnh mua tặng anh cùng với cây thuốc Rubi vàng và mấy lon sữa trong túi quà nàng cất công mang lên từ đồng bằng, về đồng bàng bám căn cứ địch, quần áo tư trang theo quy định anh đã gửi lại cả ở hậu cứ của huyện trong hầm của Lành. Anh không muốn mang theo chiếc rađiô một phần còn ngại Bạ biết. Ông chỉ huy nông dân ấy sẽ nghĩ khác, khi một cán bộ dưới quyền mới chân ướt, chân ráo về đồng bằng đã có người cho quà. Ông Bạ đâu biết mối quan hệ tình cảm của anh và Hạnh, với những người bạn thiết cốt với anh từ bao năm nay. Giá như có cái đài, sáng nay mở đài phát thanh “Tự do Huế” anh đã biết tin. Đêm qua, lúc đang đi vào tiếp cận tiểu khu Hương Cần, quãng 10 giờ khuya, Cường có nghe thấy những tiếng súng con nở rộ ở phía tây đường lộ. Anh và Thu không đoán định được hướng nào... Súng nổ râm ran chừng ba mươi phút, nghe rõ tiếng đạn cối 61 và cối cá nhân. Những ngọn hỏa châu bắn lên sáng rực một vùng trời phía tây. Cường đâu có ngờ rằng đấy lại là lúc Hạnh gặp nạn. Hồi khuya anh đã trao đổi với Ngoãn, Tống và Thu chuyện “chị bí thơ xã Y” bị địch sát hại và phơi xác ngoài đình. Khi biết rõ mối quan hệ của Cường với người bí thư xã đã từng cưu mang, kề vai sát cánh với anh và những người bộ đội K10 ngày trước, tất cả đều tỏ rõ quyết tâm “phải đánh tụi bảo an, cướp xác”. Vào buổi sáng hôm sau, cả đội có cuộc họp bàn phương án đánh tụi bảo an. Anh Đoàn, đội trưởng đội công tác Hương Sơ nghe Ngọc trình bày kế hoạch đánh địch, có tỏ đôi chút băn khoăn: “Liệu ta có cần báo cáo để xin ý kiến huyện ủy không?”. Ngọc nghĩ một lát rồi nói ngay: “Tướng ngoài biên ải, giặc đến đánh đã, báo cáo sau. Vả lại, tôi là huyện ủy viên. Các chú có kỷ luật tôi chịu hết. Để o Hạnh nằm đấy, anh em ta ăn không ngon, ngủ không yên. Nói dại, có chết cũng không nhắm mắt được... - Chợt Ngọc chỉ vào Cường - Tụi tao lo là lo cho mi, Cường ạ. Mi là lính chủ lực, đang làm nhiệm vụ trên giao. Mi tham gia đánh tụi bảo an, nhỡ có chuyện chi, cấp trên kỷ luật mi, tội cho mi. Nghĩ kỹ đi, nếu cần chỉ để tụi tao lo việc này. Tội vạ đâu tao chịu”. Cường thấy nóng mặt: “Tôi đâu có ngán, anh Ngọc, anh Đoàn ơi! Hạnh là bạn tôi. Bạn của anh em K10. Mọi việc trung đoàn giao, tôi đã hoàn thành. Chỉ nhờ các anh giữ cho cái túi này, nếu có chuyện chi các anh gửi về huyện ủy, chuyển cho trung đoàn. Chúng tôi sẽ là một mũi cho trận đánh đêm nay”. Cường đã giao cho Ngọc chiếc xắc cốt đựng tài liệu ghi chép và sơ đồ phòng thủ ở Tứ Hạ. Ngọc nói thêm: “Mi ráng ở lại ba ngày nữa, tao sẽ cung cấp cho mi một sơ đồ chi tiết căn cứ này, do “cơ sở” của ta ở ngay Tứ Hạ cung cấp, để cấp trên đối chứng”. “Vậy thì tốt quá còn gì!” - Cường nói vậy. Một ngày trời sống trong “lõm” của đội biệt động, Cường có cảm giác dài hàng thế kỷ. Anh chợp mắt đâu được chừng một giờ đồng hồ rồi tỉnh ngủ. Cả ngày địch không mò tới khu vực này. Quan sát kỹ chỉ thấy một hai chiếc xe GMC chạy từ ngả Bồn Phổ đi về hướng trận địa pháo Am Cây Sen. Một vài chuyến trực thăng đổ xuống Hòn Vượn, đậu chừng mười phút lại bay lên, hướng thẳng về Huế. Nghe rõ tiếng nổ lớn từ phía Phong Điền, như tiếng mìn phá đá của công binh mở đường. Các trận địa pháo địch chẳng buồn bắn trả. Buổi trưa có vài thằng nghĩa quân lảng vảng ở ngoài bìa làng Liễu Nam bắn chim. Một vài người nông dân trong các ấp La Chữ, Phú Ổ, Liễu Thượng ra chăm sóc những ruộng lưa, ruộng kiệu, rải phân, phun thuốc sâu trên đồng. Họ cũng chỉ làm đến 3 giờ chiều là vác cuốc trở lại làng. Cánh đồng trống vắng, buồn tẻ. Trời lắc rắc đổ mưa. Những anh lính biệt động có kinh nghiệm sống trong các “lõm” bí mật dường như hiểu rõ quy luật hoạt động của địch. 5 giờ chiều, các nồi cơm, nồi canh nấu bằng các bếp dầu đã xong. Cơm nóng dẻo ăn với cả nục kho khô và canh cải nấu cá hộp... Một bữa cơm ngon hiếm khi những anh bộ đội như Cường, Tống, Ngoãn được ăn. Ăn cơm xong cả đội còn ngồi uống trà Blao, hút thuốc Rubi chán chê, để chờ trời về khuya. Đánh sớm, tụi bảo an, dân vệ sẽ nghi ngờ. Ngày mai, cả vùng này sẽ bị địch đào xới. Ba khẩu B40, mỗi khẩu bốn quả đạn đã được các tổ chuẩn bị kỹ lưỡng lau chùi từng quả đạn, từng liều thuốc phóng. Ngọc có một cây cối cá nhân và cả một dây đạn. Anh ta thích dùng loại súng này hơn là dùng AK, B40. Quân số của cả đội mười một người. Ngọc quyết định chỉ sử dụng ba tổ chín người. Còn lại chú Biền và cậu Mạnh, chân đang đau vì giẫm gai độc sưng tấy cho ở lại hậu cứ lo cơm nước sớm mai cho cả đội. Cường trực tiếp chỉ huy tổ trinh sát. Ngọc nắm một tổ, Đoàn nắm tổ thứ ba. Thu dẫn đường cho tổ trinh sát được tăng cường cho tổ của Ngọc. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Mười Hai, 2012, 10:06:13 am Hơn 7 giờ tối, cả tổ xuất phát. Họ nhằm hướng đình làng Thượng đi tới. Mưa vẫn rơi lất phất. Gió lạnh thổi miên man trên đồng. Thời tiết này, địch thường chủ quan. Rất thuận lợi cho những trận đánh tập kích. Gần tới hói Liễu Thượng, Cường bảo Ngọc cho cả tổ dừng lại ở bãi cồn mả. Anh dẫn Ngoãn bò lên trước bám địch. Hai bên bờ sông im ắng. Trong đêm mờ sáng, anh nhận ra cây cầu toe vắt ngang con hói vẫn còn đó. Cách cây cầu tre chừng năm chục mét nhìn rõ bụi tre gai ở bờ hói bên kia trùm bóng đen trũi. Cường cho Ngoãn nằm lại chốt giữ cây cầu tre, một mình anh xách súng đi tới bụi tre... Nằm áp tai vào bờ đất, quan sát kỹ không nghe một tiếng động. Trong đình làng Thượng, tụi bảo an bất chợt thổ lên một trái đạn cối pháo sáng. Trái pháo sáng bay vọt lên cao bung ra một vầng ánh sáng nhờ nhoạt, nhưng đủ để anh nhìn rõ mái đình và dãy nhà lợp tôn được dùng làm phòng học dạy cho lớp trẻ con tiểu học ở làng. Chắc chắn địch đang tập trung ở đó. Ngọn đèn dù tắt. Không gian vụt tối. Phải mất vài giây, đôi mắt anh mới quen dần nhận ra cảnh vật. Gốc tre này, mấy năm trước Cường đã phải vật lộn với dòng nước chảy xiết dâng cao trong một trận lụt để cứu Hạnh khi cô bị nước cuốn trôi... Có ai vỗ nhẹ vào vai Cường. Ngọc đã tới bên.
- Bên kia hói không có địch. Chúng tập tung ở trường học. - Tao nhìn thấy rồi! Ngọc nói nhỏ vào tai Cường: - Lát nữa tổ của tao và của Đoàn đánh vào khu trường học, nơi tụi bảo an tập trung. Mi đưa tổ trinh sát đánh vào đình làng Thượng và cướp xác Hạnh. Từ khu trường học làng Thượng, tụi bảo an liền một lúc bắn ba trái pháo sáng. Cường và Ngọc nằm ép mình xuống bên bờ hói. Chợt Ngọc kéo tay Cường: “Mi có nhìn thấy bãi mồ mả phía kia không?”. “Có tôi thấy rồi, chỗ gần vạt chuối phải không?”. “Đúng! Đánh xong, rút thẳng ra đấy. Không qua đây nữa. Chỗ này pháo cối địch hay bắn chặn đường rút của anh em ta”. “Đồng ý!”. Nửa giờ sau, ba mũi tấn công của Cường, Ngọc, Đoàn đã ém sát đình làng Thượng và khu trường tiểu học. Hai điểm địch đóng quân cách nhau chưa đầy 100 mét. Vật ngăn cách chỉ là cây đa xanh, trùm phủ tán lá xuống mái đình. Từ mép bờ con mương dẫn nước vào tới bức tường đình làng Thượng cũng chỉ cách chưa tới 50 mét, ngăn bằng một con đường đất chạy bao quanh làng. Lúc địch bắn pháo sáng, Cường, Ngoãn và Tống đều nhìn rõ dãy bao cát địch đắp ngay ở phía ngoài đầu hồi phía tây của đình. Bốn năm thằng bảo an đứng vây quanh dãy bao cát, hút thuốc. Phía trường học địch tập trung đông. Có lẽ, chúng đã chọn nơi đây để đóng quân, ngủ qua đêm. Ngoài khoảng đất trông trong sân trường còn thấy cả mấy căn nhà bạt. Lực ít, tổ của Ngọc, của Đoàn chủ yếu đánh phủ đầu tụi bảo an ở trường học, không cho chúng chi viện cho toán giữ đình làng Thượng, để Cường mật tập tiêu diệt tụi này và mang Hạnh ra. Cường, Ngoãn và Tống chỉ mặc trên người mỗi chiếc quần xi líp. Toàn thân ba người lính được bôi đen. Đạn AK chỉ hai băng, còn lại là thủ pháo. Họ nhích từng mét tiến tới con đường đất bao quanh làng, giữa những vạt ruộng trồng khoai môn cao ngang người. Cường nghe rõ tiếng mấy thằng bảo an nói chuyện với nhau. Lúc đến sát đường, cả tổ phải dừng lại. Có một thằng lính ra đứng đái ngay sát bờ ruộng. Nó búng mẩu thuốc lá bắn ra khỏi tay bay vọt lên không trung rơi đúng vào chỗ Ngoãn. Đái xong, thằng lính ngụy còn vươn vai ngáp dài rồi quay lại chỗ công sự đắp bao cát có khẩu đại liên ngóc nòng lên cao. Đúng 9 giờ, Ngoãn đã vô hiệu quá xong ba trái mìn claymo bằng cách cắt đứt các dây điện nối tới quả mìn. Địch gài mìn chỉ cách chỗ phục kích, nơi có những bao cát chống đạn 20 mét. Một trái mìn địch gài ngay giữa sân đình, nơi xác Hạnh đang nằm, được phủ lên người bằng một cái chiếu cũ. 9 giờ 10 phút, hai trái B40 của tổ Đoàn và tổ Ngọc nã thẳng vào khu trường tiểu học, cùng với từng loạt đạn AK bắn cấp tập. Tiếp theo là tiếng thủ pháo nổ đinh tai nhức óc, lửa cháy sáng bùng lên khu trường học. Cùng lúc ấy, hai trái thủ pháo rơi trúng vào mái nhà bạt trong ụ bao cát, nơi tiểu đội bảo an chốt giữ có hỏa lực là khẩu đại liên. Thằng lính ngụy đứng gác phía ngoài bị sức ép thủ pháo hất văng ra nằm sõng soài trên đường. Trong lúc Ngoãn và Tống tiếp tục ném thêm hai trái thủ pháo vào chỗ những thằng lính đang tháo chạy trên đường chui vào trốn sau gốc đa, Cường đã băng nhanh vào khoảng sân đình, giật chiếc chiếu ôm xác Hạnh vác ra ngoài. Thấy lính ở làng Thượng bị tấn công, địch ở La Chữ, Phú Ổ liên tục bắn pháo sáng lên trời. Không gian sáng rực. Phải mất một lúc sau, mới thấy địch ở khu trường tiểu học bắn trả. Đạn bay chiu chiu ngoài cánh đồng phía tây. Mười lăm phút sau, cối 61 của địch mới nổ, hướng ra ngoài con hói Liễu Thượng, cối địch ở Hòn Vượn bắn hú họa ngả dốc Đu, dốc Cát, Miếu Ba Cô. Một chiếc máy bay từ Huế bay lên, thả trên trời hàng chục quả pháo sáng... Cả ba tổ biệt động, trinh sát đều rút lui an toàn, không ai thương vong. Trong lúc tiếng súng đạn nổ râm ran hướng cả lên rừng, họ ngồi quây quanh xác Hạnh giữa vườn chuối ngay sát làng Thượng. Nơi địch không ngờ tới đổi phương đang ẩn náu. Hai tiếng sau, tiếng súng mới dứt hẳn. Tụi bảo an đã cho xe tới chở những thằng lính bị thương, bị chết về Huế. Chúng cũng không dám trú chân ở làng Thượng, lặng lẽ rút quân lên đường quốc lộ. Khi xóm làng yên ắng, toán biệt động trinh sát mới rút quân. Hạnh được đặt lên võng cáng thương, các anh bộ đội, biệt động thay nhau cáng cô, đi về ấp Liễu Nam. Về khuya, bầu trời quang mây, không còn mưa nữa. Hạnh được cuốn chặt trong chiếc võng ni lông của Cường. Thân thể cô không còn nguyên vẹn sau trái mìn claymo của địch. Nhưng gương mặt cô vẫn nguyên lành. Da mặt trắng bệch. Lạnh. Đôi mắt nhắm như đang ngủ. Theo đề nghị của Cường, những người đồng đội đã chôn cô dưới rặng tre gai dày đặc ở làng Liễu Nam. Không ai hỏi lý do, kể cả Ngọc, Đoàn. Còn Cường giải thích để đảm bảo an toàn cho “lõm” An Đôn. Vạt tre gai ấy, “lõm” ấy, có chăng chỉ Cường và Hạnh biết. Nó cất giữ bí mật của anh với nàng. Từ đêm qua sau lúc Ngọc báo tin, đến giờ khi ngồi bên xác Hạnh, kể cả lúc anh gánh cô chạy băng đồng, anh chưa quen được cái cảm giác rằng nàng đã chết. Nàng xa anh mãi mãi... Chú Biền chia cho mỗi người một cây nhang cắm lên mộ Hạnh. Và chỉ đến lúc, Ngọc kéo áo Cường giục: “Thôi đi bay. Về lại An Đôn cho kịp, kẻo trời sáng!”, anh mới bừng tỉnh, cầm cây AK đi như kẻ mất hồn phía sau đội hình. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Mười Hai, 2012, 10:09:12 am 14 Căn nhà của mẹ Cường nằm sâu trong một con hẻm nhỏ, nhưng gần đường lộ băng qua thành phố. Một ngôi nhà ba tầng cửa luôn đóng kín. Nằm lọt giữa những ngôi nhà của những người lao động vào giờ đi làm thưa vắng người. Mẹ Cường, nay đã ngoài tuổi tám mươi, tóc bạc trắng như cước. Cụ ngồi thu mình trên chiếc tràng kỷ kiểu cổ đặt trong một góc nhà ngay sát cửa sổ, vừa têm trầu, vừa trông nhà. Cửa ngoài không khóa. Tôi đẩy cửa bước vào. Thoạt nhìn thấy tôi, nhận ra người quen của con trai, cụ mừng rỡ nhưng ngay sau đấy gương mặt cụ tối lại, nước măt chảy dài. Cường vừa được một giỗ đâu. Anh và mấy chục người lính đã anh dũng hy sinh trong cuộc chiến đấu bảo vệ một pháo đài ở biên giới. Cụ cầm tay tôi khẽ lắc lắc giọng nói nghẹn lại: “Nó đi đánh Mỹ với cháu bao năm, gian khổ ác liệt là vậy. Tưởng đến ngày thống nhât hòa bình về lấy vợ cho nó, ai ngờ lại chết như thế này”. Dòng nước mắt chảy dài trên gò má nhăn nheo của cụ già đã gần đất xa trời nhìn mà xót xa, giọng cụ nghe đau đớn, tức tưởi. Tôi, Cường, Thịnh, Tùng, Sơn vẫn chưa quên được hành ảnh cụ và năm sáu bà mẹ thương con giữa lúc máy bay Mỹ đánh phá miền Bắc ác liệt đã lặn lội mấy trăm cây số lúc đi nhờ xe tải, lúc gồng gánh đi bộ từ miền biển tìm cho đến được cái bản của người Cao Lan ở sâu trong vùng rừng núi Yên Tử. Công an, dân quân ở Lục Nam ban đầu nhìn các bà, các mẹ tưởng gián điệp, giữ lại. Sau một hồi tra hỏi, nhìn thấy con gà nhốt trong lồng tre, vài bơ gạo nếp, gói ruốc mới tin là mẹ bộ đội. Họ mách đường cho các mẹ, các bà vào Trại Trầm gặp con. Các bà, các mẹ đến nơi đóng quân cũng chẳng được ăn với con một bữa cơm. 2 giờ sáng, những anh lính trẻ của tiểu đoàn 440 đã phải lên tàu, xuôi Nam. Đã có những ông bố, bà mẹ vĩnh viễn sẽ không còn bao giờ được gặp lại những đứa con của mình nữa. Những anh Tý “bẹp”, Nghi “phở”, Thành, Chiến “Kỳ Bá”, Nuôi “lò mổ”, Thắng... mãi mãi nằm lại vói giáp ranh Hương Trà. Nam “mực” làm thần núi Dốc Đoác. Thằng Cường, bạn tôi đã đi qua cửa thần chết những năm tháng ấy, để vài năm sau lại ngược đường lên ải Bắc. Tôi vẫn còn nhớ, trong những đêm mưa gió ở rừng già Trị Thiên nó nằm trên võng gác chân lên bạn bè, đọc đi đọc lại bài thơ: Ai đi về Bắc, ta theo với Thăm lại non xưa giống Lạc Hồng Từ thủa mang gươm đi mở nước Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long. Những anh học trò mặc áo lính cãi nhau chí chóe tác giả bài thơ là ai. Người thì bảo đích thị là của Nguyễn Hoàng. Chỉ có vị chúa Nguyễn anh hùng mới dám chống lại anh rể, mang quân vào trấn giữ phía Nam, có công mở đất mới. Chỉ những quan quân, dân binh xa xứ, luôn hoài niệm về quê hương mới có được những câu thơ da diết, hào sảng như vậy. Người thì bảo bài thơ lại là của tướng quân Huỳnh Văn Nghệ, viết từ chiến khu Đ trong những năm đánh Pháp. Tôi còn đang loay hoay pha nước, cụ Cường đã vào trong chiếc tủ đựng quần áo đặt ở gian nhà trong, sát ngay đầu giường nơi cụ nằm bê ra một chồng sách cũ. Cụ bảo tôi: “Anh cầm về mà đọc, toàn là sách của thằng Cường cả đấy. Tôi gàn mãi, phải giấu tiệt chứ con mẹ Chanh nó định mấy lần đem ra dóm bếp...”. Chanh là chị dâu của Cường. Vợ chồng người anh cả trông nom bà cụ. Tôi cầm cây phất trần phủi bụi chồng sách vở cũ nát. Cuốn thì là sách in, vài cuốn vở chép tay. Trong những cuốn sách cũ, tôi vẫn còn nhận ra được cả cuốn “Thi nhân Việt Nam”, có bìa màu xanh nhạt, cuốn sách do Nhà xuất bản Hoa Tiên ấn hành tại Sài Gòn. Ngày vào Huế, tôi và Cường đứng ngơ ngẩn trên cây cầu Tràng Tiền “sáu nhịp mười vai”. Hai vai của nhịp cầu giữa sông đã bị bộ đội đánh sập bằng một tạ thuốc nổ vào dịp Tết Mậu Thân để chặn đường quân Mỹ phản kích từ phía nam sang chiếm lại Thành Nội. Công binh ngụy đã thay nhịp cầu gãy bằng dầm sắt lát ván gỗ cho người và xe qua lại. Nhà sách Ưng Hạ nhỏ, nằm trên trục đường Trần Hưng Đạo, xế cổng chợ Đông Ba. Ông chủ tiệm sách đã không chạy di tản vào Đà Nẵng như nhiều gia đình khác, mà vẫn ở lại thành phố và mở cửa hàng ngay trong cái ngày bộ đội tràn vào thành phổ. Khi tôi cười hỏi làm quen: “Sao chú không di tản?”. “Di tản mần chi? Để cho ăn cắp nó vô nhà hốt sạch đồ đạc hả chú? - Rồi ông ta cười - Dân Huế chạy cả lấy ai đón chào các chú ngày trở về?”. “Rứa chú không sợ “Việt cộng” lột da, tuốt móng tay móng chân các bà các cô sơn xanh sơn đỏ ư?”. Ông chủ tiệm sách rót trà từ chiếc ấm sứ Đài Loan ra mời tôi và Cường. “Các chú uống chén trà cho ấm bụng... Họ nói chi mược họ. Tôi, vợ con tôi chả tin. Dân mình đâu phải thứ người ác phải không? Xưa nay ông cha mình đánh thắng giặc xong còn cấp gạo, thuyền tiễn giặc về nước nữa là, giờ mình đã là dân một nước. Xem ra các chú là người có học mới bước vô hiệu sách nhà tôi. Các chú coi thử có cuốn mô ưng, tôi biếu”. Cường đáp thủng thẳng: “Không, sách mua mới quý! Ông cho tôi coi thử cuốn “Thi nhân Việt Nam”. Ông chủ tiệm sách trố mắt nhìn hai anh bộ đội. “À... sách tiền chiến của các ông Hoài Thanh - Hoài Chân đó mà... Họ ở Bắc cả. Hỏi thăm các chú hai ông này còn sống hay chết cả rồi?”. “Họ còn sống cả”. Tôi đáp bừa, vì từ thuở cha sinh mẹ đẻ tới giờ, những đứa học trò như tôi và thằng Cường có bao giờ được nhìn thấy mặt những ông nhà văn, nhà thơ nói gì tới “cỡ” Hoài Thanh - Hoài Chân. Vào những năm 1967 ở cái làng nhỏ Thắng Cựu, trọ học nơi sơ tán, đêm đêm chúng tôi mượn được cuốn “Thi nhân Việt Nam” bản in rônêô của một người bạn phải chép lén, viết trộm như một thằng ăn cắp làm việc phi pháp. Thằng Cường bảo với ông chủ tiệm sách: “Ông làm ơn bán cho tôi ba cuốn”. Tôi hỏi nó: “Mày mua làm gì mà nhiều vậy?”. Ông chủ tiệm sách lấy ghế, trèo lên nhấc ra mấy cuốn sách đã cũ. Tiện tay ông chủ tiệm sách còn lấy ra cả cuốn “Người xa lạ” của Anbe Camuy, “Đốc tờ Zivagô” của Bôrit Patécnăc... Cầm ba cuốn “Thi nhân Việt Nam” trên tay thằng Cường giải thích, như thể nó nói cho cả tôi và ông chủ tỉệm sách cùng nghe: “Một cuốn cho tôi. Một cuốn tôi sẽ tặng cho ông thầy giáo dạy văn của tôi, cả đời ông ta đi dạy chỉ ao ước có được một bản in rônêô đọc không rõ chữ. Còn một cuốn tôi sẽ tìm về Bá Thước Thanh Hóa, tặng cho ông bố của cậu Tống, một chiến sĩ trinh sát của trung đoàn tôi, đã hy sinh vào ngày sắp giải phóng Huế, khi đưa bộ đội về đánh Tứ Hạ. Ông bố cậu ta là một nhà sư phạm, chỉ vì yêu thơ tình Xuân Diệu, thơ tình Huy Cận, yêu “một thời đại trong thi ca” của hai ông nhà văn họ Hoài mà khổ cả một đời.”. Ông chủ nhà sách Ưng Hạ tròn mắt nhìn tôi và thằng Cường. “Một cuốn sách bình thường như ri mà lắm uẩn khúc đến vậy sao?”. Thằng Cường không trả lời ông chủ tiệm sách, trả tiền, lặng lẽ ôm chồng sách giấu vào trong cái túi đựng mìn claymo, kéo tôi bước nhanh ra ngoài đường. Chúng tôi thả bộ xuống thảm cỏ bờ sông. Chưa hút tàn điếu thuốc, cả hai thằng giật mình bởi một tiếng nổ lớn như trái bom tấn, theo phản xạ nằm úp mặt xuống cỏ. Từ phía bờ nam sông Hương, trong khuôn viên của trường Đại học Sư phạm, một cột khói cao, cùng với quầng lửa bốc lên trời. Mảnh đạn, gạch ngói bay rào rào văng qua sông tới tận chỗ chúng tôi đang nằm. Đống súng đạn, mìn các loại của lính sư đoàn 1, thủy quân lục chiến, biệt động quân vất lại trong lúc tháo chạy ra cửa biển Thuận An tấp thành đống ngay dưới chân lầu một của dãy nhà cao bốn tầng dùng làm phòng học hình chữ Y. Chẳng hiểu vì lý do gì khối đạn phát nổ. Dãy nhà bị sập một góc. Tôi và thằng Cường thoát chết! Hú hồn. Ngày tôi về học đại học, vẫn hay ra khu cầu thang đổ nát ấy ngồi học, đọc sách, cỏ dại mọc xanh rì quanh đám gạch vỡ, đất đá tấp cao như một cái gò nhỏ. Lấp ló trong đất, trong bụi cỏ vẫn còn những cát tút, vỏ đạn cối cá nhân sót lại. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Mười Hai, 2012, 10:14:51 am Tôi lại nhớ tới Cường.
Tôi còn là chứng nhân cho một cuộc đấu khẩu giữa Cường và anh chính trị viên tiểu đoàn, một người hơn tụi tôi cỡ dăm tuổi vốn gốc gác là anh nông dân quê ở Can Lộc, Hà Tĩnh. Anh chính trị viên ấy chính là Mai Thêm. Một tối ở làng Xuân Hòa, sau lúc hội ý cán bộ xong, tôi và Cường còn đang ngồi uống nước trà với ông chủ nhà, vốn là một viên đại úy ngụy làm việc ở kho hậu cần đã nghỉ hưu lâu ngày. Ông ta không thuộc diện phải đi học tập, cải tạo. Mai Thêm đến cùng với cậu công vụ. “Vui quá nhỉ. Thấy đèn còn sáng, vào chơi với các ông...”. Mai Thêm xởi lởi, vui vẻ. Ông chủ nhà thấy cấp trên đến, lặng lẽ rút xuống nhà dưới nhường ngôi nhà trên cho chúng tôi. Sau một vài ly nước trà, Mai Thêm hỏi thăm Cường và tôi xem có nhận được tin tức gì của gia đình ở quê hay chưa. Mai Thêm có thói quen rất hay quan tâm tới cha mẹ, vợ con cán bộ chiến sĩ. Khi câu chuyện đã có vẻ thân tình, chạt Mai Thêm nói như vô tình, với Cường: “Này, nghe anh em bảo, ngoài công việc, lúc rảnh rỗi cậu hay đọc sách lắm phải không?”. Thằng Cường dụi mẩu thuốc vào chiếc gạt tàn, nhìn anh chính trị viên tiểu đoàn. “Chẳng giấu gì anh, bỏ học gần mươi năm nay, tôi thèm đọc lắm. Về thành phố, có nhiều sách tôi đọc để bù cho những năm không được cầm tới quyển sách”. Mai Thêm thấy Cường giọng hơi căng cứng, nói nhẹ nhàng: “Đọc là tốt chứ sao. Tớ cũng suốt ngày đọc sách đọc tài liệu tuyên truyền, hướng dẫn bà con thực hiện chính sách của Mặt trận dân tộc giải phóng. Đọc sách là tốt chứ sao! - Anh ta lặp lại - Nhưng đừng đọc sách ngụy, thứ văn hóa đồi bại, phản động, các ông lại là cán bộ lãnh đạo...”. Thằng Cường không nói năng gì vào nhà ôm ra một chồng sách đặt trước mặt Mai Thêm. “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, “Những người khốn khổ” của Victo Huygô, “Đôngkisốt” của Xécvăngtét, “Bút máu” của Vũ Hạnh. Toàn là sách in ở miền Nam. “Anh xem cuốn nào là ngụy, nói tôi coi thử! - Cường dằn giọng - Anh nghe lời xúi bẩy của thằng Kha chứ chi? Một thằng chính trị viên học không xong lớp 6, biết chó gì về Nguyễn Du, biết gì về các nhà văn Pháp, nhà văn Nga... Cứ thấy ai đọc sách, y như rằng bảo đọc sách ngụy! Tôi tha bắn nó vỡ sọ với thằng Bẩy, B trưởng B2 bữa ở Phú Lương đó nghe. Hai trung đội è ra đánh chống càn, nó với thằng B2 không sang chi viện nổ lẩy một phát súng. Bây giờ mọi việc xong xuôi, bom đạn không còn, lại còn dám kể công với anh, nói xấu người khác sau lưng. Thằng khốn!”. Thấy Cường to tiếng, Mai Thêm vội giơ tay, dàn hòa “Thôi... Thôi, tôi xin cậu. Tiểu đoàn ta, thằng C1 vừa mừng công, các cậu mới được cấp trên tặng Huân chương chiến công, chuyện này vỡ ra thì tiểu đoàn còn ra thể thống gì.. * Căn gác nhỏ áp mái nơi tôi ở lợp tôn. Mùa hè nơi đây nóng như thiêu, như đốt. Mùa đông gió lùa lạnh thấu xương. Được cái yên tĩnh chẳng sợ ai quấy rầy. Nó như một cái ốc đảo yên bình giữa cuộc sống luôn bị khuấy đảo, sôi sục, bất an. Đứng từ trên cao tôi nghe rõ tiếng mấy đứa trẻ la nhau chí chóe, tranh giành trái bóng nhựa trong con hẻm nhỏ. Tiếng vợ chồng anh lái xe mất việc, vợ nghỉ hưu non làm nghề bơm xe đạp, sau vài chén rượu trong mỗi bữa cơm chiều lời qua tiếng lại một hồi la mắng vợ con. Tiếng người mẹ trẻ khóc hờ vợ chồng thằng con trai hư đốn, trót sa vào chuyện nghiện hút, buôn lẻ ma túy cho đám con nghiện bị xã phường đưa đi cải tạo, để lại cho bà đứa cháu còn phải mớm cơm. Ở trên cái chòi chim cu tôi như cảm nhận được nhịp thở cuộc sống hàng ngày của Hà Nội. Từ tiếng còi xe lảnh lót của những người lính quân cảnh đi đưa tiễn một vị nguyên thủ quốc gia đến tiếng còi xe giật hụ khẩn thiết của chiếc xe cứu thương giữa đêm thanh vắng; tiếng chổi quét rác của người đàn bà xiết trên mặt đường về khuya... Tiếng con chim cu gáy nghe xa vắng, gợi nỗi nhớ đông vào mỗi buổi sáng, buổi chiều. Mỗi tháng, mỗi năm vây quanh khu xóm nghèo của những người dân lao động lại mọc lên những tòa cao ốc vài ba chục tầng. Những cọc bê tông, sắt thép lỗ chỗ chĩa lên nền trời sáng bạc, cùng với tiếng búa máy nện xuống đất thình thịch. Cái cũ kỹ, ố vàng có chăng luôn đập vào mắt tôi vào mỗi lúc ngồi trước chiếc bàn viết vẫn là chồng sách vở cũ nát, chút gia sản cuối cùng của Cường, được mẹ cậu ta giao lại cho tôi lưu giữ. Đã mấy năm rồi, cho đến giờ tôi vẫn chưa mở ra coi thử Cường đã viết những gì trong đó. Một phần tôi bận mải với công việc, lo miếng cơm manh áo hàng ngày của một viên công chức quèn. Phần lớn hơn, từ trong sâu thẳm, tôi sợ đụng chạm đến tâm linh của người đã khuất. Sợ sự đào bới quá khứ động vào những kỷ niệm sâu kín của bạn mình. Tôi sợ sự đào bới vào chính tôi... “Khép lại quá khứ, hướng tới tương lai...”. Đúng quá rồi. Cần phải làm dịu đi vết thương đau. Nhưng cuộc sống hiện thời không ít kẻ cố tình lãng quên, dập vùi quá khứ, né tránh quá khứ bởi những mưu mô, dục vọng đớn hèn đầy toan tính. Đã có lần, tôi định rờ tới những cuốn vở của Cường, để coi thử anh ta nghĩ gì, viết gì trong những trang giấy đã ngả màu ố vàng nhưng mói rờ vào cái “gia sản của người quá cố” bàn tay tôi bỗng rụt lại như chạm vào lửa. Đọc nhiều chuyện trên báo chí, có khi tôi buồn bã cả tuần lễ. Một suy nghĩ, một ý tưởng ngu dốt, một chuyện buồn vô thưởng vô phạt trong cuộc sống không giết chết ai, nhưng có khi nó lại làm suy kiệt nhiệt huyết của người khác và của chính tôi. Nhưng sau buổi đi đám tang của bà mẹ Cường trở về, tôi quyết định phải làm tròn lới hứa với cụ. Tôi không thể nấn ná mãi được nữa. Những tập vở ghi chép của Cường hối thúc tôi phải làm việc. Cuốn vở côdiđô trăm trang của Cường dày đặc những chữ nhỏ viết bằng mực bút bi. Cũng may là anh viết mực bi nên năm tháng đi qua, giấy mực ẩm ướt, nét mực nhòe đi, nhưng còn đọc được. Nét chữ của cậu học trò lớp mười ngày nào vẫn thẳng thắn, ngay hàng. Cường ngày trước bị ám ảnh nhiều khi đọc truyện ngắn, tiểu thuyết của Nam Cao nên anh thích dùng từ “y”. Có lần anh được nghỉ phép, về tìm tôi ở Huế. Anh rủ tôi đi uống cà phê ở một quán cóc sau trường Đại học Tổng hợp. Nhìn những cô sinh viên áo tím, áo xanh, áo trắng đạp xe sau giờ tan trường. Ánh mắt anh hơi buồn, nhưng giọng nói đầy vẻ khinh bạc: “Đã có lúc y mong khi bỏ súng, được đi học... Nhưng bây giờ thì đã quá muộn rồi”. “Sao lại muộn? Cái sự học có bao giờ lại muộn?”. “Muộn rồi, mi ơi! - Cường bảo tôi vậy - Y đã trót cầm súng và cây súng không rời y ra nữa. Ngày mai, y lại ra trận...”. “Cậu làm thơ với mình đấy à?” - Tôi phì cười, bảo Cường. “Tao nói thật! Tao ghé thăm mày cũng để chia tay ấy mà. Tao tự giễu mình cho đỡ buồn. Mày bảo, lũ chúng ta cũng chẳng là cái quái gì giữa cuộc đời xô bồ, nhố nhăng này”. Những năm sau chiến tranh, cuộc sống còn cơ cực, đói khát. Cường đã ăn với tôi bữa cơm sinh viên. Cơm độn bo bo với chút cá biển kho mặn. Và chúng tôi cũng đã nhận dần ra những mặt trái của cuộc đời mà đời người lính trận ít khi gặp. Hai chúng tôi ở với nhau được ba ngày, rảnh rỗi là đi uống cà phê. Buổi trưa rủ nhau đi ăn bún bò giò heo ở chợ trời Tây Lộc. Cường hí hửng bán được một bộ quần áo vải Tô Châu còn mới cho một chị chủ sạp buôn đồ cũ với giá phải chăng. Gọi một chiếc xích lô, đi dọc theo những con đường trải nhựa trong Đại nội để qua cửa Thượng Tứ. Đang là cuối tháng năm. Những chùm hoa phượng nở đỏ rực trên các tán cây như một vạt cháy lớn giữa vòm trời cao xanh ngằn ngặt. Bốn năm trước cũng trên những con đường này, cả tôi và thằng Cường ngày ngày rèn lính đi “một, hai”, “quay phải, quay trái” trong đội hình tiểu đoàn để chuẩn bị cho cuộc diễu binh mừng ngày đại thắng. Bây giờ cái tiểu đoàn ấy đã không còn nữa. Mỗi người lính đi một phương. Thằng Cường đã đeo hàm đại úy, nhưng rút cục vẫn là một anh lính, tiếp tục ra trận... Tôi sẽ không hiểu được vì sao, trang đầu tiên của cuốn vở ghi chép, Cường lại xé mất hai phần ba. Mấy dòng chữ tôi còn đọc được chỉ có vỏn vẹn như thế này: “Hạnh chết rồi! Nàng chết thật rồi. Y bê xác nàng lên như bê một tấm chăn, nhẹ bỗng. Gương mặt nàng trong suốt như pha lê. Hay đây là ảo ảnh, chỉ y nhìn thấy được. Rõ ràng là đôi mắt nàng mở. Không nhìn y mà lại nhìn lên vòm trời đang lất phất có những giọt mưa phùn rơi nhẹ vương lên mái tóc đã khô xác và còn dính đất. Giá như có nước, y sẽ chải lại mái tóc cho nàng, gột rửa những bụi bặm, hoen ố của trần thế. Một giọt nước mưa dính lên lông mi của nàng, long lanh như hạt ngọc. Y muốn hét to một tiếng mà không được. Huyệt mộ đã đào xong rồi, đang chờ nàng xuống. Giá như y cũng chết được!”. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Mười Hai, 2012, 10:16:10 am * Ghi chép của một người quá cố. Ngày 29 tháng 2 Lần thứ hai giáp mặt trung đoàn trưởng. Y thấy con người này cũng dễ gần, chân tình. Ông ấy vỗ vai y: “Các cậu khá lắm. Không có tay Bạ, các cậu cũng hoàn thành được nhiệm vụ. Cả hai sơ đồ đều có giá trị... Nhưng này, cái việc cậu tự ý tổ chức đánh đấm đám dân vệ là sai đấy nghe. Nhỡ cậu có chuyện chi quân khu nắm đầu tụi tôi trước”. Y ớ người ra. Cái chuyện “bụp xẹt” ở H.T, ai báo cho ông ta biết nhỉ? Y thanh minh nhưng vị trung đoàn trưởng nghe không hiểu vẫn tỏ ra không hài lòng. “Đánh như vậy là liều lĩnh”. Bực mình y nói bừa: “Tụi tôi đánh giặc cứu người. Liệt sĩ là bạn tôi..Không ai bắt y phải làm tường trình, kiểm điểm. Cũng chẳng ai khen thưởng. Nhưng sau chuyến vượt sông Bồ trung đoàn vắng bóng tham mưu phó Bạ. Anh ta đi viện 94, rồi chuyển tiếp viện 68, ra tận Mường Loòng. Rồi ra Bắc. Y cũng quên hẳn anh ta. Một đôi lần gặp thằng Ngoãn, gặp Tống ở nhà ăn trung đoàn, ra suối tắm. Hai đứa cũng chẳng nhắc đến Bạ một câu. Đột nhiên, y được Ban cán bộ trung đoàn mời lên làm việc. Y hơi hoảng, tưởng họ mời lên kiểm điểm về chuyện theo đám lính biệt động H.T đi đánh nhau dưới đồng bằng. Té ra không phải. Trưởng ban cán bộ E đãi y một điếu thuốc Thủ đô bao bạc (Chẳng biết ông già kiếm đâu ra cái thứ thuốc quý tộc này!). “Tớ ở Hà Nội vào. Con gái lấy chồng. Bố chồng nó làm việc ở Bộ Ngoại giao, tặng ông thông gia cây thuốc Thủ đô để mang vào chiến trường! Hút thuốc đi, rồi ta nói chuyện”. Y rít một hơi thuốc dài, thở ra khoan khoái. Địch lại bắn pháo lên ngả đường tuyến. Những trái đạn pháo bắn ra từ trận địa pháo Đồng Lâm, tiếng đề pa nghe rất nhỏ. Chỉ vài giây đã nghe tiếng đạn xé gió rít qua đầu rồi nổ phía sau dãy núi Đức Mẹ, Động Chuối. Thời gian gần đây, địch bắn pháo nhiều như thể chúng đã ngửi thấy vòng vây đang siết gần lại. Mấy hôm rồi, họp quân chính, thủ trưởng trung đoàn đã thông báo: “Phước Long đã giải phóng! Năm nay, chủ trương chung của quân khu cho các đơn vị ăn Tết sớm, để chuẩn bị lực lượng tấn công địch, khi thời cơ đến vào mùa xuân.. Hút tàn điếu thuốc, uống chưa hết ấm trà, ông trưởng ban cán bộ đã quay trở lại. Ông bảo với y: “Thằng K10 xin cậu trở lại tiểu đoàn. Cậu nhớ Thể, đại đội phó C1 chứ? Nó hy sinh rồi”. “Thể chết thật ư?”. “Lại chả thật! Thể về điều nghiên ở Phong Điền, bị vấp phục kích ở Hiền Lương. Cậu Hiên đại trưởng C1 kiên quyết xin đi viện, không nắm đơn vị. Ban cán bộ đã báo cáo lãnh đạo trung đoàn, đồng ý để cậu trở về phụ trách tiểu đoàn phó K10, trực tiếp chỉ huy đại đội 1 tham gia chiến dịch”. Trước khi rời khỏi căn nhà hầm của ông trưởng ban cán bộ, y bỏ vào túi nửa bao thuốc lá Thủ đô còn lại. “Anh cho tôi về khao lính ngày Tết. Lính Hà Nội, có hơi thuốc Thủ đô, anh em đỡ nhớ nhà!”. Ngày mồng 1 tháng 3 Chính trị viên đại đội tên Kha. Trước khi về đơn vị y không quen biết anh ta. Nghe bảo, cũng là cán bộ đưa quân vào Nam năm 1974, rồi bị giữ lại. Một anh lính chính trị, chưa biết mùi bom đạn, người quê đâu ở Hà Tây. Kha về đại đội 1 trước y chỉ có mười ngày. Chỉ xa tiểu đoàn chưa đầy sáu tháng, y thấy có sự xáo trộn ghê gớm. Tiểu đoàn trưởng Ba Thi đã về quân khu. K trưởng mới là Vũ Ngật, quê ở Ba Đồn, Quảng Bình, vốn là tiểu đoàn phó K4, nay được bổ sung cho K10. Chính trị viên Thủy cũng ra đi, Mai Thêm, chính trị viên phó K6, sau một thời gian đi an dưỡng trở về, tăng cường cho K10, thay Thủy. Vào những ngày tháng 2, trung đoàn họp quân chính. Hầu hết các cán bộ đại đội, tiểu đoàn, Ban tham mưu tác chiến, Ban cán bộ, Ban chính trị trung đoàn... đều tập trung về Khe Lạnh để quán triệt Nghị quyết của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, triển khai kế hoạch tác chiến của quân khu Trị Thiên chuẩn bị cho chiến dịch Xuân 1975. Những ngày ngồi học tập, quán triệt Nghị quyết, y đã có dịp gặp và trao đổi công việc với Ban chỉ huy tiểu đoàn. Y được gặp lại những người quen cũ trong đại đội... Hiên vẫn đang chỉ huy đại đội 1, tiểu đoàn chưa đồng ý cho anh ta đi viện. Bệnh đau dạ dày lúc đến, lúc đi như trời trở gió. Và theo như lời Mai Thêm trao đổi, hội ý trong cấp ủy, cố gắng thuyết phục Hiên ở lại vói C1, tham gia chiến dịch. Những ngày chỉnh huấn ở trung đoàn, bộ đội được ăn mỗi ngày một bữa “tiểu táo”. Nghĩa là bữa cơm có thịt lợn tươi, rau xanh, canh măng, nộm đu đủ. Bộ đội ăn mãi bột trứng Trung Quốc, củ cải khô, ca la thầu, ma gi khô mãi cũng phát chán. Được bữa ăn tươi, nét mặt anh nào cũng sáng lên. Có một buổi chiều, thằng Ngoãn tìm đến lán của y, năn nỉ: “Anh Cường, nghe nói anh về tiểu đoàn bộ binh cho em theo với...!”. Y quắc mắt: “Bậy nào, mi ở đơn vị con cưng của trung đoàn, ai cho mi đi mà xin. Anh nói thiệt với chú, về bộ binh cực thấy mồ, chả sướng như lính trinh sát tụi bay đâu”. Thằng Ngoãn nhe răng cười: “Anh cứ nói... khổ sướng với em đâu có quan trọng! Làm thằng trinh sát suốt ngày chui bờ rúc bụi, sờ dái mấy thằng ngụy, chán thấy bà”. Nhớ lại cái cảnh thằng Ngoãn treo cái quần xi líp của con đàn bà lượm được ở Tứ Hạ lên đầu ngọn súng, y cười phát nôn ruột: “Sướng rứa còn đòi chi? Thôi về đi chú em!”. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Mười Hai, 2012, 10:18:19 am Ngày 7 tháng 3
Mai Thêm mời y lên có việc gấp. Trong căn phòng của Ban chỉ huy tiểu đoàn đã có mặt hai người. Vũ Ngật và Mai Thêm. Họ đã pha trà sẵn, có ý chờ y tới. “Ông đi theo thằng C1 đồng thời trực tiếp chỉ huy cùng với cậu Kha ở đó. Thằng Hiên đêm qua kêu đau dạ dày cấp, xin đi viện rồi. Kế hoạch tác chiến của thằng C1 ông nắm cả rồi đó”. (Trong cuốn sổ tay của Cường, tôi thấy anh ghi: “Quân số: C1. 84. 6 B40, 4 B41. Cơ số đạn 18 quả/khẩu. Cối 60. Đạn 100, gạo đã nhận đủ 7 ngày. 14 thùng lương khô 701. Tiền ngụy: 50.000 đồng, giao cho cậu Liêu giữ. Họp triển khai kế hoạch cho trung đội mất một giờ. Họp chỉ bộ cả buổi chiều. K nói dai như đỉa, có mỗi chuyện “đây là thời cơ lịch sử” mà nói đi nói lại mấy lần. Y hút hết nửa bao Tam Đảo mà vẫn chưa xong cuộc họp chi bộ! Thằng Ngoãn, thằng Tống và một cậu trinh sát tên Lành được bổ sung đi với mũi của C1, về Phong Quảng. Y gặp được hai cậu trinh sát quen biết cũ, thấy vui ”). Ngày 9 tháng 3 Cả ngày trời nắng. Bộ đội được lệnh nghỉ ngơi buổi sáng. Nhưng hầu như chẳng ai ngủ. Y đi dạo quanh các trung đội, gùi, súng đạn đã được chuẩn bị kỹ càng. Đạn B40 bốn quả để ngoài đeo vào giá đan bằng mây sẵn sàng chiến đấu, số đạn còn lại đều cho vào gùi bạt, bao ni lông để tránh ẩm. 3 giờ chiều, đội hình của C1, C3, trinh sát tiểu đoàn, thông tin đã có mặt ở dưới chân dốc Ông Già. K15, quân của huyện, của xã cũng về đồng bằng. Họ sẽ tập kết ở cửa Khe Lạnh. Hợp điểm là khu hậu cứ Thanh Tân, Sơn Quả. Mọi việc chuẩn bị tư trang cho một chiến dịch đánh về đồng bằng với y thật đơn giản. Trong chiếc gùi bạt, y chỉ mang đi mỗi bộ quần áo dài, mấy chục viên đạn K54, hai trăm viên AK và ít bánh lương khô. Vật bất ly thân của y là chiếc đài National ba pin đại, kỷ niệm cuối cùng của Hạnh dành cho y, dùng vào những lúc đêm khuya thanh vắng. Cô phát thanh viên mang đến cho y tin tức trong ngày, những bài hát hùng tráng, những giọng ngâm thơ vào đêm thứ năm hàng tuần và những buổi đọc truyện đêm khuya để giúp y hoài niệm về quê hương xa vời vợi. Mỗi lần được nghe những câu chuyện tình yêu thời chiến tranh, tự trong sâu thẳm trái tim y luôn nhớ về Hạnh. Điều lo lắng chính yếu là chuyến đánh về đồng bằng lần này nằm ngay ở mục tiêu tác chiến. Y vẫn còn nhớ rành rọt một vị lãnh đạo quân khu Trị Thiên xuống quán triệt nhiệm vụ cho lớp cán bộ quân chính của trung đoàn. “Mùa xuân này, mặt trận Trị Thiên sẽ tiến hành một chiến dịch tổng hợp cùa quân sự và chính trị, bằng lực lượng của cả chủ lực của Bộ, của quân khu, phối hợp chặt chẽ giữa ba thứ quân, ba mũi giáp công phải tiêu diệt và làm tan rã một phần quan trọng sinh lực địch, tiêu diệt gọn từng tiểu đoàn, trung đoàn của chúng... tạo ra một tình thế mới có ý nghĩa quyết định để chuẩn bị cho năm 1976 giải phóng hoàn toàn Trị Thiên - Huế”. Không có một anh lính nào của K10, K15, của cả trung đoàn trong những ngày giữ chốt ở Phong Quảng tin vào sự lâu bền của cái thế “hòa hợp”. Ai cũng hiểu những ngày tháng ấy là nhất thời, sự tĩnh lặng giữa hai đợt tấn công. Đã là địch - ta, chỉ có thắng và thua, là sự đối đầu không khoan nhượng... Nhưng y chỉ huy C1 về đồng bằng Phong Quảng lần này không ngờ lại rơi vào tình cảnh bị động. Y hiểu rõ và nắm chắc Hương Trà, nói như thằng Ngoãn “sờ được cả vào dái địch”. Đột ngột quay trở lại Phong Quảng. Người cán bộ đại đội duy nhất đi cùng với cơ sở của huyện về điều nghiên tiểu khu Thành Trung là Thể hy sinh ở làng cát Hiền Lương. Cả ngày trời, y và Kha cùng ba anh trung đội trưởng C1, cánh trinh sát tiểu đoàn nghiên cứu cứ điểm địch trên bản đồ và một sơ đồ do địa phương cung cấp. Đánh địch, công đồn nhiều trận, y chưa bao giờ tiếp cận mục tiêu như vậy cả. Vũ Ngật động viên: “Tớ cũng chưa về Phong Quảng. Có hai thằng trinh sát đi với cậu Thể hy sinh cả... Lệnh trên, biết làm răng. Nhưng đã có địa phương đưa ta về tiếp cận mục tiêu”. Và xem ra, nhiệm vụ của tiểu đoàn 10, tiểu đoàn 15 cũng đơn giản: Đánh chiếm một số mục tiêu nằm sâu dưới đồng bằng, hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy. Đánh động cho địch biết có lực lượng của ta thọc vào sau lưng chúng; mục tiêu của trung đoàn là nổ súng thu hút địch để các đơn vị chủ lực phá vỡ phòng tuyến nam Quảng Trị, bắc Huế, nam Huế; chặt đứt giao thông của địch trên đường quốc lộ số 1 để phối họp với mặt trận Tây Nguyên. Lừa địch, không cho chúng biết điểm quyết chiến chiến lược của ta là ở đâu! Kha lần đầu về đồng bằng đánh địch, anh ta lộ rõ vẻ lo lắng, nhưng trước mặt bộ đội, anh ta giấu. Cả đại đội hai phần ba quân số là người Hà Nội, lần đầu đánh thọc sâu về đồng bằng, chưa có kinh nghiệm. Chỉ còn lại mười mấy anh lính Hà Tĩnh đã cùng y đi đánh dạo “giành đất, cắm cờ - 1973” nay đều là cán bộ tiểu đội, trung đội, Y trở thành chỗ dựa duy nhất cho đại đội 1, có chút ít kinh nghiệm đánh về đồng bằng. (Đến đoạn này, trong cuốn sổ ghi chép của Cường ghi vắn tắt như thế anh viết cho nhớ các chi tiết, sự kiện trong đêm hành quân cùng cả đội hình vượt qua tuyến phòng thủ của lính sư đoàn 1 ngụy, chốt ở dải đồi bình độ 28 để về đồng bằng). Bóng tối phủ mờ các ngọn núi, cũng là lúc xuất phát. Đoàn người lẫm lũi đi trong đêm. Không phát ra tiếng động. Đội hình kéo dài như một con trăn. Người nọ cách người kia năm mét. Trên đỉnh đồi cách con đường bí mật vượt về đồng bằng chừng hơn trăm mét, tụi ngụy gác đêm đốt lửa cháy sáng. Có lúc đội hình hành quân phải dừng lại nửa giờ ở một khe cạn sát đường quốc lộ để chờ một đoàn xe của địch từ Huế chạy ra hướng Mỹ Chánh. Y thỉnh thoảng vượt lên trước nhắc nhở cậu Tân B trưởng B1 bám sát đội hình, kẻo lạc. Đường quốc lộ... Y cúi xuống sờ lên mặt đường. Từ đây về đến nhà y 604 km. Cột cây số ấy nằm trên quốc lộ 10, trên đường sang Nam Định. Thằng Ngoãn trinh sát vọt xuống tìm y. Nó thì thào bên tai: “Anh ơi, sắp qua đường sắt. Cứ theo đường này là về tới nhà em. Còn sống trở về em đãi anh một bữa kẹo kéo ra trò...”. “Tiên sư cái thằng, giờ vẫn còn nhớ tới khúc kẹo dồi chó của lão Tập!”. Một tiếng bốn lăm phút chạy trên các trảng cát, cây thanh lao quất vào chân đau rát. Có lúc lại đi trên một đoạn đường xuyên giữa làng hoang. Thoang thoảng mùi phân trâu trên đường. Ở một ngôi nhà hoang, không có mái, còn có cả một cây rơm. Một khu vườn trồng sắn... Lội qua một đầm nước sâu tới ngang bụng. Hình như ai cũng vục tay xuống uống nước. Có người còn lấy nước cho vào bi đông. Nước tanh hăng mùi bùn. Mặc mẹ nó! Khát cháy cổ, nước gì chả phải uống. Có lệnh dừng lại. Nghỉ qua đêm. Đã 3 giờ 45 phút. Trời đã ưng ửng sáng. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Mười Hai, 2012, 10:19:28 am Ngày 10 tháng 3
Mặt trời đỏ, to như một cái mẹt ló rạng ở phía đông. Địa danh ấy có tên là bãi cát Triều Dương. Bốn, một người địa phương có nhiệm vụ dẫn đường cho y, bảo vậy. Một vùng đồi cát mênh mông, nhìn hút mắt không thấy làng mạc đâu cả. Trên mặt đất mọc toàn phi lao lẫn cây bờn bờn, dứa dại kéo dài hàng cây số. Mấy trăm người trú ẩn giữa ban ngày trong những hố cát đào dưới tán lá phi lao không che kín trên đầu. Lệnh của chỉ huy: Giữ im lặng tuyệt đối! Không lửa, không khói, không nói. Sẵn sàng đánh địch nếu chúng phát hiện ra nơi trú quân. Chỉ có những người có trách nhiệm mới đi lại, còn lại nằm im trong các hố cát, giấu mình trong tán lá cây. Máy bay OV10 vẫn vè vè bay trên cao... Chỉ trừ lúc hội ý, giao ban vói Vũ Ngật, bàn tính cho cuộc hành quân đêm, đi kiểm tra bộ đội chốt gác, nghỉ ngơi, khoảng thời gian còn lại dằng dặc trong ngày đủ cho y miên man nghĩ ngợi, ghi chép. Ghi để làm gì chuyện này nhỉ? Y không biết. Một ý thích riêng tư? Nhưng thà vậy để giết thời gian còn hơn là để đầu óc y nghĩ về Hạnh. Kha chui vào hố cát ở gần bên. Anh ta nhai gạo rang rau ráu. Một lúc Vũ Ngật đến xin anh điếu thuốc. Y thừa biết anh ta còn thuốc hút cất trong cái bao dù để dành, nhưng vẫn cứ thích xin thuốc lá người khác. Y nhìn mặt trời vần qua trên đầu, mong cho trời chóng tối. Nhưng cái khoảng thời gian chờ đợi bao giờ cũng chậm. Thằng Ngoãn bò đến rỉ tai y: “Anh Cường ơi! Nước dưới bầu bẩn ơi là bẩn! Em bò ra kiểm tra chỗ bến vượt hồi đêm, thấy toàn là phân trâu bò. Đỉa nhiều ơi là nhiều”. “Nước có bẩn thì cũng uống vô bụng rồi”. Thằng Ngoãn thòi ra cho y một đoạn nõn chuối non. Ngọt còn hơn mía. Cả ngày ăn gạo rang với lương khô. Xót ruột quá. 18 giờ 30 phút, đội hình hành quân lên đường. K15 đi về M. Đại đội 3 đi về K. Đại đội 1 đi về hướng tiểu khu T.T. Mũi của C1, bộ đội địa phương, chỉ hơn tám chục tay súng. Bắt đầu độc lập tác chiến. Càng đi về phía đông nam, Huế càng gần. Điện trong thành phố hắt lên bầu trời ửng hồng một góc. Đường đi mù tịt. Tất cả trông chờ vào tổ du kích địa phương dẫn đường. Có lúc đội hình đi men theo rìa làng. Trong làng đám lính nghĩa quân nổ súng lốp đốp. Pháo sáng bắn lên, giữa cánh đồng trống trải, mọi người dừng lại ngồi cả xuống. Có lúc đi men theo bờ nước dọc phá Tam Giang... 23 giờ. Súng nổ dữ dội ở phía tây, hướng đường quốc lộ. Bộ đội chủ lực nổ súng rồi. Hàng chục quả pháo bay xoèn xoẹt qua đầu nổ ở hướng núi. Theo quy định, 0 giờ ngày 10 tháng 3, mũi 1 phải nổ súng tấn công tiểu khu T.T. Y đã bực mình hỏi Bốn: “Căn cứ địch đâu? Sao không thấy?”. Vũ Ngật, ông Mân cán bộ tỉnh đội đi theo cánh này cũng sốt ruột. Mấy anh lính du kích dẫn đường ấp úng: “Có khi ta đi lạc đường rồi cũng nên!”. 2 giờ sáng. Bộ đội vẫn quẩn quanh giữa các làng, bên bờ một dòng sông. Chưa thấy tiểu khu T.T. Lắng nghe cũng không thấy thằng C3, K15 nổ súng. Chả lẽ họ cũng lạc đường? 3 giờ sáng... Không tìm ra căn cứ địch! Ba người du kích dẫn đường (có người lính địa phương từ Ban B trở về, không thuộc địa hình) đành báo cáo với y và Vũ Ngật. Trời sắp sáng, không thể để bộ đội và cán bộ du kích địa phương ở ngoài đồng, làm mồi cho tụi ngụy quây ráp. Tổ trinh sát của Ngoãn trở về báo cáo: “Vào làng gặp được dân. Họ bảo: đây là Phú Lương”. Ban chỉ huy hội ý nhanh. “Đánh chiếm làng làm nơi phòng thủ!”. Chỉ vài loạt đạn và một trái B40, bộ đội đã tiêu diệt và đuổi tan tác trung đội nghĩa quân. Địch không ngờ bộ đội lọt sâu về đồng bằng đến vậy. 5 giờ sáng, y và hai trung đội cùng tổ cối đã chiếm gọn phần lớn phía nam làng Phú Lương. Kha và B2 chốt giữ lô cốt phía bắc, cách nhau một con sông rộng chừng ba mươi sải. Trời chưa sáng rõ, dân làng Phú Lương đã gồng gánh tản cư. Bộ đội về, mai làng này đánh nhau to. Các rặng tre bao quanh làng trở thành công sự phòng ngự. Hai đêm một ngày, bộ đội được bữa cơm nóng đầu tiên. Một số người dân kiên trinh ở Phú Lương không tản cư, nấu cơm cho bộ đội. Cơm chín đổ ra rá ăn với cá khô. 6 giờ sáng, y mở đài Hà Nội. Cô phát thanh viên báo tin: Quân giải phóng đã tấn công vào thành phố Buôn Mê Thuột. Bộ đội đã làm chủ thành phố. Đài “Tự do Huế” đưa tin: “Bộ đội Bắc Việt sư đoàn 324 đã tấn công điểm cao 303. Mỏ Tàu... Cộng quân đã đưa hàng sư đoàn (!?) lọt về đồng bằng nam Thạch Hãn, Phong Quảng, Hương Trà, Hương Thủy đụng độ dữ dội với quân lực Việt Nam Cộng hòa và địa phương quân. Sáng nay, tướng Lâm Quang Thi và Bộ chỉ huy tiền phương vùng I chiến thuật đã điều các lực lượng tinh nhuệ ra Quảng Trị, bắc sông Bồ để ngăn chặn “cộng quân”!”. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Mười Hai, 2012, 10:21:05 am Ngày 11 tháng 3
8 giờ sáng, bốn chiếc máy bay trực thăng chiến đấu lướt qua làng. Hai chiếc lượn một vòng quanh làng rồi bất ngờ lao xuống bắn rốc két, đạn 40 ly xuống các ngôi nhà dân trong làng, bắn dọc theo rặng tre dọc bờ sông. Loạt rốc két đầu tiên đã bắn trúng vào nơi trú quân của Ban chỉ huy đại đội. Nhiếp y tá, Công liên lạc hy sinh cùng hai người cán bộ địch vận. 9 giờ 30 phút, bốn xe tăng và hai đại đội lính ngụy 1 tấn công vào làng Phú Lương theo hai mũi. Một mũi theo xe tăng vào từ cánh đồng. Mũi thứ hai bám dọc theo bờ sông. Hàng trăm những chiếc mũ sắt lố nhố núp sau xe tăng tiến vào làng. Đạn pháo từ xe tăng. Đạn từ máy bay nổ xé màng tang. Nhà cháy. Những cây tre, cây chuối trong làng bị chém đổ ngã ngả nghiêng. B1, B3 nổ súng. Hai xe tăng địch bốc cháy. Ba lần các mũi bộ binh của địch tấn công vào làng, theo hướng bờ sông đều bị bẻ gãy. 4 giờ chiều. Bộ binh rút ra xa. Máy bay lên bắn đạn 40 ly, rốc két. Pháo 105 ly bắn hàng trăm quả tan nát làng Phủ Lương. Thêm ba người lính hy sinh. Năm người bị thương. 17 giờ 30 phút. Cả đại đội tập trung sang bờ bắc sông, chôn cất tử sĩ. Bảy bộ đội C1, năm cán bộ, du kích hy sinh. Bốn cáng thương binh. 19 giờ, đội hình lặng lẽ rút quân ra khỏi Phú Lương. Trở lại bãi cát Triều Dương. Ngày 12 tháng 3 Mệt...! Đói...! Lương khô là món ăn duy nhất trong ngày. Ăn xong, uống nước lấy từ đầm nước có đầy rêu. Bầy đỉa đói nghe tiếng động, nhao tới như những nàng tiên vẫy vùng trong nước. Chỗ bãi lên xuống đầm nước chi chít vết chân trâu. Nước bẩn nhưng vẫn uống. Ít nhất là qua cơn khát cháy cổ. Uống vài viên thuốc Tô mộc để đề phòng. Thằng Nhung đen bị thương rên rỉ. Vết thương máu ra tanh tanh. Một con nhặng ngửi thấy mùi máu bay vè vè lên xuống. Các mũi về đồng bằng đều gặp khó khăn. K15, K10 đều phải đánh chống càn. Sau ngày đầu tiên, tất cả về lại Triều Dương để tiếp tục chọc tức quân ngụy, chơi trò ú tim! 14 giờ, một đội máy bay trực thăng chiến đấu năm chiếc à à tới bắn rốc két vào bãi cát Triều Dương. 14 giờ 30 phút, những chiếc xe tăng bò lồm ngồm như cua len lách qua những vạt cây phi lao, dứa dại, lúc trườn xuống ruộng, lúc xuất hiện ở cồn cát tấn công vào nơi trú quân của bộ đội. K15 nổ súng! Ba bốn xe tăng địch dính đạn bốc cháy. Ở đầu bãi cồn phía nam, đại đội 3, đại đội 1 cũng đã bắn ba bốn phát B40, B41. Hai xe tăng M113 đi đời nhà ma. Những quả pháo 105 nổ gần, tung đất cát mù mịt. Chỉ mong cho trời mau tối. Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Mười Hai, 2012, 10:23:44 am Ngày 13 tháng 3
Đêm. Về Cao Ban, Sơn Tùng. Đại đội bảo an mới nghe súng nổ đã quăng súng, quăng ba lô bỏ chạy. Đại đội 1 triển khai các trung đội để chốt giữ làng. Bỏ ba lô là bắt tay vào đào hầm, phân công chốt giữ các nơi hiểm yếu. Bao cát, gạch táp lô, thùng tôn đều mang ra làm công sự. Ngày mai chắc chắn địch sẽ tập trung ở đây đông như kiến. 3 giờ sáng vẫn nghe thấy tiếng xe tăng địch, tiếng xe tải GMC chạy trên con đường ngoài làng Cao Ban như thể chúng tập trung quân. Sương chưa tan. Súng đã nổ dữ dội. Mũi đột kích của địch nhằm vào thẳng hướng C1. Bường bắn cháy một xe tăng. Ngọn lửa bốc cao như cây đuốc chỉ cách tuyến hào chốt của B1 chưa đầy ba mươi mét. Đến 9 giờ địch ngừng tấn công. Sơn trung đội 3 báo về: địch đã chiếm lô cốt ở đầu làng phía tây. Trực, B phó B2 và tiểu đội 5 bị xóa sổ. Y và Thản cối cùng với một mũi ra tiếp ứng cho Trực. Đến nơi, địch đã chiếm lô cốt, quân ngụy đứng lố nhố, đông đến vài chục tên. Thản được lệnh bắn mười quả cối 60 vào nơi địch đang tập trung. Thằng Mãn bị trúng đạn thẳng. Y nã liền hai quả B41 vào lô cốt. Lửa cuộn vồng trong khói bụi mù mịt. Cao Ban chỉ giữ được cho đến 15 giờ. Thằng Ngoãn và tổ trinh sát lên báo: “Lệnh của Bộ chỉ huy, cho C1 rút về Hiền Lương, chặn địch ở đấy...” Con đường đất chạy giữa những rặng tre xanh dày. Trực thăng chiến đấu phát hiện bộ đội rút, thi nhau bắn đạn 40 ly, đạn đại liên như vãi thóc dọc đường làng. Y đến nơi đã thấy thằng Ngoãn nằm sõng sượt trên đường. Máu ướt đẫm chiếc áo vải Tô Châu. Khẩu AK báng gấp bị đạn xuyên lỗ ehỗ. Nó bị trúng đạn 40 ly, trực thăng bắn. Đôi mắt mở trừng trừng nhìn lên bầu trời tháng ba đầy nắng. Khói bụi mù mịt. Có những tảng mây trắng giữa nền trời xanh... Đêm 14 tháng 3 Có lệnh đưa bộ đội lên rừng. Hơn hai trăm quân của K10 xuống đánh đồng bằng, sau những ngày đánh chống càn hy sinh ba mươi mốt người. K15 còn hy sinh thương vong nặng nề hơn. Thằng Tống và Ngật, hai người lính trinh sát hy sinh cả. Tống bị trúng đạn hy sinh trong lúc đánh xe tăng của địch tấn công vào bãi cát Triều Dương. Cả tiểu đoàn đang chuẩn bị hành quân, bất ngờ Trực và hai anh lính B2 trở về đột ngột. Họ đã không hy sinh. Khi đại đội ngụy tấn công vào lô cốt, chúng thấy bộ đội chỉ có vài người, định xông lên bắt sống, Trực và hai chiến sĩ đã ném thủ pháo, bắn trả mấy loạt AK rồi nhảy xuống con hói, lặn ngụp giữa đám rong rêu, tìm về được với đơn vị. Ngày 20 tháng 3 Tây Nguyên vỡ! Địch phòng thủ ở dải đất duyên hải ven biển miền Trung hoảng loạn, vỡ theo. Hệt như ngôi nhà bị sập mái. Bộ đội chủ lực quân đoàn 2, các đơn vị của quân khu, của tỉnh đồng loạt tấn công vào tuyến phòng ngự của địch. Có dấu hiệu địch bỏ nam Quảng Trị, Phong Quảng lập phòng tuyến sông Bồ. K10, K15, bộ đội địa phương, cùng lực lượng huyện xã trở lại đồng bằng theo con đường cũ. Địch vẫn chốt giữ ở bình độ 28 nhưng lơi lỏng. Chỉ một đêm, bộ đội đã về đến bãi cát, rừng dương ở Phong Nhiêu Hàng đoàn xe nhà binh chạy rầm rập suốt đêm hướng về Huế. Địch đang tháo chạy. Ngày 22 tháng 3 Đài Sài Gòn đưa tin: Bộ Tổng tham mưu ngụy ra lệnh cho binh lính rút bỏ Huế, các đơn vị lính sư đoàn 1 lui về giữ đèo Hải Vân. Tử thủ ở Đà Nẵng. Ngày 24 tháng 3 Phòng tuyến mặt trận Huế vỡ. Trên tất cả mọi ngả đường, địch rút chạy, nhằm hướng cửa biển Thuận An, Tư Hiền. Y và đại đội 1 có mặt ở chợ Sịa vào lúc 3 giờ chiều. Chợ Sịa đã bị quân ngụy bỏ chạy đi qua đập phá tan tành. Những chai lade, nước ngọt bể vất vương vãi trên nền đất. Mùi cao su bị đốt cháy khét lẹt. Điện trên báo: “K10 khẩn trương về chiếm T.T, tới An Xuân, Ngã ba Sình đánh chặn địch rút chạy, bắt tù binh”. Đánh nhau bao năm chưa bao giờ có cảnh tượng này. Bộ binh địch lầm lũi rút chạy. Ba lô, súng đạn vất lại dọc đường ngổn ngang. Bộ đội đuổi phía sau, bắn cối 82, cối 60 xua địch. Vài trăm mét lại bắt được tù binh, hàng binh . Có lúc vài chục thằng. Nhất loạt chúng đều xin tha mạng. Chẳng còn đủ dây để trói. Chỉ giải về phía làng. “Về đây ghi tên trình diện!”. Đám lính ngụy hàng binh đứa cởi trần, đứa áo quần lếch thếch, tay không ngồi xin bộ đội lương khô, nước uống! Ngày 25 tháng 3 năm 1975 12 giờ trưa, vầng mặt trời chói đỏ... Y và những người lính đại đội 1 đã ra ngã ba sông chĩa súng lên trời, trút những viên đạn cuối cùng ra khỏi nòng súng. Ngọn cờ nửa đỏ, nửa xanh phất phới bay giữa đình làng An Xuân. (Cuốn sổ ghi chép của Cường dừng lại ở cái ngày 25 tháng 3 năm 1975. Trang sau, anh để trắng. Có một trang, Cường ghi một câu bằng chữ in. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 CHIẾN TRANH KẾT THÚC RỒI! TA SẼ LÀM GÌ ĐÂY? Cái dấu hỏi Cường viết to chiếm tới nửa trang giấy). Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Mười Hai, 2012, 10:28:17 am * ... Mỗi lần về Huế có khi chỉ một hai ngày, nhưng bao giờ tôi cũng tìm đến bậc tam cấp lối xuống bến nước dưới chân chùa Thiên Mụ. Ngôi chùa cổ vẫn ngự trên mỏm đồi cao. Đứng ở bức tường bao quanh ngôi chùa, phía sát con đường đá chạy lên hướng núi nhìn thấy được cả một đoạn dài của sông Hương. Từ thượng nguồn đổ về đến đây dòng sông như mở rộng. Hàng cây phượng vĩ và mấy cây dừa cao ngả ngọn xuống dòng song. Buổi cuối ngày, con đường thưa vắng khách, ít xe qua lại. Cửa chùa đã đóng, các hàng quán bán đồ lưu niệm rẻ tiền cũng đã nghỉ cả, trả lại cho không gian ngôi chùa sự yên tĩnh, vắng vẻ, cô tịch. Chỉ có tiếng thuyền máy lâu lâu gõ vào mặt sông âm vang... Ở bến nước này, trong buổi chiều một ngày cuối tháng tư, tôi và thằng Cường đã lên đây ngồi hàng giờ nhìn ánh nắng tàn dần trên sông. Làng Xuân Hòa bình yên sau những ngày thành phố được giải phóng. Phần đông các gia đình ở lại, một số gia đình di tản vào Đà Nẵng, Sài Gòn đang lục đục trở về. Đó là những gia đình công chức, sĩ quan ngụy, làm việc trong bộ máy chính quyền của ngụy... Họ đã có bài học thấm thía của bảy năm trước, sợ “Việt cộng” trả thù. Tiểu đoàn bộ K10 đóng quân ngay ở trang ấp của bà Tuần Chi, một nhân sĩ trí thức tham gia trong chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Khuôn viên của một gia đình trong dòng tộc vốn rộng rãi, thoáng mát, rợp bóng nhiều loại cây xanh. Trong không gian vườn nhà luôn phảng phất mùi thơm của hoa ngọc lan, của huệ. Đại đội 1 đóng quân rải rác trong các ngôi nhà của dân. Đại đội 2 đóng quân ở Kim Long, đại đội 3 chốt giữ vùng cầu An Hòa. Đại đội 4 giữ thôn An Ninh. Hệ thống thông tin hữu tuyến chỉ vài ngày đã nối thông giữa các đơn vị. Dân làng Xuân Hòa đã quen với hình ảnh anh giải phóng. Bất kể già trẻ trai gái đều nhất loạt gọi “bộ đội” bằng “chú”. Không xa lạ nhưng cũng không mấy tỏ ra thân thiện. Sài Gòn vẫn chưa giải phóng. Bộ đội đang vây ép phòng tuyến Xuân Lộc. Đêm đêm, những người dân Huế vẫn ghé sát tai vào những chiếc rađiô nghe cả đài Hà Nội lẫn đài Sài Gòn để coi tình hình chiến sự. Buổi giao ban ở cơ quan tiểu đoàn bộ kết thúc sớm. Không có chuyện gì đột xuất xảy ra, ngoại trừ các đơn vị cử người tham gia vào các đơn vị quân quản để tiêp nhận sĩ quan, binh lính ngụy ra trình diện tại địa phương. Cường rủ tôi đi uống cà phê. Anh bảo: “Có chỗ ngồi hay lắm!”. Chúng tôi đi dọc theo bờ sông Hương, ngược lên ngả chùa Thiên Mụ. Con đường rải đá cấp phối bị hư hại nhiều, vắng người qua lại. Các ngôi nhà dân nhỏ bé, lợp tôn, lợp ngói nằm lọt trong các khu vườn được bao quanh bằng hàng rào chè gai. Một vài nhà bán quán ven đường bày những lọ kẹo, bao thuốc lá, bịch bắp rang bán cho khách qua đường. Quán cà phê buổi chiều vắng khách. Chị chủ quán chiều chúng tôi, pha cho mỗi người một ly cà phê đá. Tôi và Cường không ngồi trong quán mà đưa nhau xuống bờ sông ngồi ở bậc tam cấp xây bằng đá dẫn xuống bến sông trước chùa Thiên Mụ. Dòng sông vào tháng tư, nước trong xanh. Không gian yên bình đến độ không ai nghĩ chưa đầy ba mươi ngày trước nơi đây vẫn còn là vùng đất của chiến tranh, của bom đạn, của chết chóc, của thù hận. Và ở một nơi cách đây hơn bảy trăm cây số, bom vẫn nổ và những người lính vẫn ngã xuống từng ngày. Tâm lý bất an, phập phồng, lo sợ vẫn còn trĩu nặng trong tâm can của nhiều người. Cuộc chiến đang đi vào hồi kết. - Cuộc sống kỳ lạ thật! - Cường bật nói - Kỳ lạ ở chỗ cả tao và mày còn sống đến bây giờ ngồi ở đây, bên bờ sông Hương, uống cà phê hút thuốc Rubi. - Cái ngày ta ra đi... Chẳng đứa nào dám nghĩ tới một kết cục như thế này. - Tôi tiếp theo ý nghĩ của Cường. Chợt Cường bảo tôi: - Tao nhớ Thắng, thằng Nam “mực”, Nghi “phở”, Chiến “Kỳ Bá”... - Vả cả Hạnh nữa chứ...! - Rồi tôi hỏi - Mày đã về gặp thím Tư chưa? - Rồi... - Cường vung tay búng mạnh mẩu thuốc lá ra xa. Mẩu thuốc lá nổi phập phềnh trên mặt nước. Một con cá tưởng mồi nhao lên đớp, vẽ lên những vòng sóng nhỏ. - Nàng viết gì...? - Hạnh yêu tao. Mày biết thế là đủ... Bây giờ là lúc tao muốn hỏa táng cho nàng. Cường chậm rãi mở chiếc túi mìn claymo lấy ra một cuốn sổ nhỏ, to bàng bàn tay, bìa ni lông đỏ. Nó không đưa cho tôi coi cuốn sổ mà lần gỡ xé từng trang và châm lửa đốt. Ngọn lửa liếm vào trang giấy dày đặc những chữ viết bằng mực bút bi. Tôi không biết Hạnh viết những gì cho người yêu, nhưng nhìn gương mặt sạm tối của Cường, tôi biết nó đau đớn lắm mới hành động như vậy. Cường đốt từng tờ giấy trong cuốn sổ tay hết tờ này mới đốt tiếp tờ khác. Những tờ giấy cháy đen, bất ngờ gió thổi mạnh, hất tàn than bay lả tả lên trời rồi rớt xuống, dính cả vào áo quần, đầu tóc của tôi và Cường. Có một mẩu giấy chưa cháy hết còn sót lại đúng ba chữ “Dấu yêu ạ!”. Nét bút thanh, mảnh, chữ tròn đẹp, rõ là chữ của con gái. Mặt sông đang tím dần lại. Phía bên kia bờ sông thấp thoáng trong những vạt tre xanh, những vườn dừa ngọn đèn hột vịt của nhà dân le lói, hiu hắt. Một con đò ngược lầm lũi giữa dòng sông thăm thẳm gió. Chúng tôi chưa muốn về. Muốn ngồi mãi đây tận hưởng sự tĩnh lặng, yên ả đến tê dại. Dượng như chúng tôi đang làm sống dậy cái khoảng khắc của thời xưa cũ. Vào những đêm hè, Cường, Thắng và tôi, sau những giờ học lén rủ nhau leo lên gác thượng của nhà Thắng bằng một cây thang tre dài. Trên khoảng không bao la rất gần với trăng sao không ai nhìn thấy chúng tôi. Ba đứa trẻ ranh, mặc quần đùi áo may ô, có đứa để trần mặc sức nói đủ mọi thứ chuyện. Lôi từ trong bọc áo may ô nào mận, nào ổi hái trộm được ở khu vườn của cụ giáo Châu. Vườn cụ giáo rộng hàng mẫu, có ao thả cá, trồng nhiều cây trái. Tất cả đám trẻ con thò lò mũi xanh trong phố đều là học trò của cụ. Cụ là một giáo chức từ thời Pháp thuộc. Thời ta, cụ giáo Châu không đi dạy nữa mà ờ nhà làm vườn và mở lóp dạy a-b-c cho con nít. Bài học vỡ lòng mà tôi và thằng Cường thuộc cho đến bây giờ là “Phở là món ăn bổ tì, bổ vị...”. Mười mấy đứa trẻ gò lưng trên những chiếc bàn gồ hoen ố đầy mực xanh, mực tím vừa tập viết, tập đọc, có đứa còn chưa bao giờ được ăn phở. Lũ trẻ đồng thanh cẩt cao giọng đọc từng chữ theo tay thước của cụ giáo Châu: “Phở... là... món... ăn...!”. Cường ngồi thu lu sát mép nước. Thỉnh thoảng đầu thuốc lá lại hồng lên. Chợt nó hỏi tôi: - Mày nghĩ gì vậy? - Tao nghĩ tới Thắng! - Còn tao nghĩ tới Hạnh, tới chị Tâm... - Lặng đi một lúc lâu, nó bật ra một câu, đầy giọng triết lý - Chiến tranh đã cướp đi bao nhiêu con người dũng cảm, tử tế... - Nhưng những người còn lại vẫn phải sống... - Tôi bảo nó - Tao vừa đọc xong cuốn “Con đường đau khổ” của một nhà văn Nga. Trong cuốn sách ấy có câu “Năm tháng sẽ phôi pha..”. Cường đứng vụt lên, thân hình nó lừng lững như một khối đen, đổ bóng xuống lòng sông thăm thẳm. Nó tiếp lời tôi bằng một giọng đọc trầm, ấm nhưng tha thiết. Nó đọc như thể muốn cho tôi nghe, cho Hạnh, cho Thắng và những linh hồn bé nhỏ đang nhảy múa như những ánh lân tinh trên mặt nước cùng nghe: “Những cuộc chiến tranh sẽ im ắng dần, những cuộc cách mạng sẽ thôi gào thét... Chỉ còn lại mối tình em trong trắng dịu dàng và rất đỗi yêu thương...” . Chúng tôi lên tới mặt đường, cũng là lúc tiếng chuông chùa đổ nhịp chậm rãi. Tiếng chuông trong vắt, ấm áp vang lên trên đỉnh tháp. Huế, 1975 - Hà Nội, 2008 Đ.K.C Hết Tiêu đề: Re: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Mười Hai, 2012, 10:32:09 am (http://ca.cand.com.vn/Uploaded_CAND/nguyenbinh/10_nha1755.jpg) Nhà văn Đỗ Kim Cuông Quê quán: Thành phố Thái Bình. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam. Đã được tặng nhiều giải thưởng Văn học của các cơ quan Trung ương và địa phương. ĐÃ XUẤT BẢN: - Người đàn bà đi trong mưa - Tiểu thuyết - NXB Thanh niên 1986. - Hai người còn lại - Tiểu thuyết - NXB Thanh niên 1987. - Một nửa đại đội - Tiểu thuyết - NXB Thuận Hóa 1987. - Người dị hình - Tiểu thuyết - NXB Phú Khánh 1988. - Khát vọng tình yêu - Tiểu thuyết - NXB Phụ nữ 1989. - Miền hoang dã - Tiểu thuyết - NXB Phú Khánh 1989. - Thung lũng tử thần - Tiểu thuyết - NXB Khánh Hòa 1990. - Mảnh sân sau u ám - Tiểu thuyết - NXB Phụ nữ 1991. - Vùng trời mộng ảo - Tiểu thuyết - NXB Phụ nữ 1992. - Giáp ranh - Tiểu thuyết - NXB Quân đội Nhân dân 1996. - Đêm ngâu - Tập truyện ngắn - NXB Công an Nhân dân 1998. - Tự thú của người gác rừng - Tập truyện ngắn - NXB Thanh niên 2000. - Đá trắng - Tập truyện ngắn - NXB Văn hóa Thông tin 2004. - Một mảnh hồn quê - Tập truyện ngắn - NXBHNV 2006. SẼ XUẤT BẢN: - Phía sau cánh rừng - Tiểu thuyết. - Trang trại hoa hồng - Tiểu thuyết. |