|
Tiêu đề: Chuyện tình dưới đáy ba lô Gửi bởi: hoacuc trong 28 Tháng Tư, 2008, 06:50:01 pm NGƯỜI TRONG ẢNH Nguồn: Tạp chí Văn nghệ Quân đội Dũng lững thững ở ngã tư Xuân Mai, trong đầu vẫn văng vẳng lời dặn của người thiếu nữ: “Đến ngã tư, anh rẽ đường đi Chợ Bến, có một quán giải khát bên trái - trước quán có giàn thiên lý”. “Nếu em không nhận ra anh thì sao?”. Dũng mỉm cười nhớ lại câu hỏi lúc ấy. Đôi mắt to tròn, thoáng vui tinh nghịch: “Anh giữ lấy chiếc khánh này - em còn một chiếc giống hệt. Đây sẽ là kỷ vật nhận ra nhau”. Vừa nói em vừa cởi chiếc khánh đang đeo ở cổ - “Vật kỷ niệm trong chuyến đi chùa Thầy. Nơi đó, Dũng đã gặp em”. Đó là một dịp trong ngày lễ hội, du khách ở từ khắp phương nô nức dồn tụ về chùa Thầy. Dũng và người bạn trai dừng lại bên mỏm núi - Hai người đang loay hoay chọn cảnh chụp ảnh thì bất ngờ ở tảng đá phía trên, bên phải nơi Dũng đang đứng, một cô gái sơ ý trượt chân. Cô ngã nhào về phía Dũng. Trong khoảnh khắc ngắn ngủi đó, bằng phản xạ tự nhiên của người sĩ quan trinh sát. Dũng rướn người, hai chân như xuống thế, anh vươn tay đỡ lấy cô gái. Giây phút bàng hoàng đi qua, Dũng sững sờ trước gương mặt người con gái - một gương mặt bầu bầu, đôi mắt đăm đắm vẻ buồn sâu xa, một mái tóc dày thả ngang vai, cái cằm hơi lẹm như càng làm cho đôi môi chín mọng có duyên hơn. Gương mặt này gợi cho Dũng nét thân quen? Quán cá giàn thiên lý đây rồi. Dũng đang ngập ngừng thì có tiếng reo lảnh : - Sao? Anh không nhận ra em ư? Cô gái ríu rít kéo Dũng vào nhà, cô đưa Dũng đi qua gian phòng bán giải khát vào nhà trong. Trong nhà bài trí thật đơn giản, có một bàn thờ ở chính diện gian giữa, trên đó thờ hai ông bà và một thiếu nữ - Dũng giật mình khi nhìn tấm ảnh người thiếu nữ. Anh hỏi: - Ai trong tấm ảnh hả em? Hằng ngước lên bàn thờ giải thích: - Đây là ảnh bố mẹ em. Còn bên cạnh là chị gái em. Chị em là liệt sĩ. Anh mời nước đi. Hằng đon đả không để ý đến sự thay đổi trên gương mặt Dũng. Dũng đứng dậy bước sát vào ban thờ, cốt chỉ để xem cho rõ gương mặt người thiếu nữ. - Em cho anh thắp nén hương viếng hương hồn các cụ và chị gái của em. Anh bần thần, lẩm nhẩm đọc tên người con gái trong tấm ảnh: “Liệt sĩ Bùi Thị Hường, hy sinh trong chiến dịch Đường 9 Nam Lào năm 1971 ”. Đúng là Hường, là nữ tiểu đội trưởng thanh niên xung phong, thảo nào gương mặt Hằng làm cho Dũng nhớ lại gương mặt cô gái ngày đó. …Đấy là một chiều đông năm 1970. Dũng là tiểu đội trưởng tiểu đội vận tải đoàn B08 vào làm nhiệm vụ chuẩn bị công tác bảo đảm nơi hậu cứ cho đơn vị. Tiểu đội Dũng được tăng cường một tiểu đội thanh niên xung phong do Hương chỉ huy. Nhiệm vụ của bộ phận này phải tuyệt đối giữ bí mật để chuẩn bị cho một chiến dịch sắp đến. Họ đào hầm ở sát sông Sen. Hàng ngày đi trinh sát các khu vực kho tàng và “lót” sẵn sàng một số lương thực, đạn dược cần thiết cho đơn vị. Trong năm tháng chuẩn bị ở khu vực này, tất cả các chiến sĩ của hai tiểu đội đã thân quen nhau. Dũng và Hường cũng có những kỷ niệm gắn bó trong những ngày ấy. Đã có những buổi chiều, khi mặt trời buông xuống, họ ngồi bên một tảng đá gần sông Sen và thường kể cho nhau nghe về quê hương. Quê Hường ở Lạc Sơn, Hoà Bình. Ngày ấy lẽ ra Hường đã có giấy báo gọi đi trung cấp sư phạm 7+3. Nhưng cũng như nhiều bạn bè trong bản làng, Hường xung phong đi thanh niên xung phong. Đã gần hai năm xa gia đình, Hường nhớ da diết bản mường của minh với tiếng mõ “lốc cốc” của đàn trâu ngoài rừng về với làn khói bếp mảnh mai, sương đêm đổ xuống. Nơi ấy, gia đình Hường còn bố mẹ và cô em gái vừa tròn một tuổi. Ngày Hường đi thanh niên xung phong, mẹ Hường địu con nhỏ ra tiễn tận phố huyện. Trước lúc lên xe ô tô, Hường còn nghé xuống thơm lên đôi má bầu bầu của cô em gái đang ngủ say trên lưng mẹ. Cô bé cựa mình thức giấc, mở đôi mắt tròn, trong veo nhìn chị rồi toét miệng cười. - Anh Dũng ạ! Hết chiến tranh, thế nào cũng về quê em nhé! Bên tai Dũng ngỡ còn văng vẳng tiếng Hường. - Thế em thì sao? - Chắc chắn là em sẽ về thăm quê anh. Lời hẹn ước đó thật mộc mạc, đơn giản vì họ cũng chỉ dừng lại ở đấy. Chiến tranh chưa biết còn kéo dài đến bao lâu. Cũng vì thế, ai biết trước được có những rủi ro gì sẽ xảy ra. Họ chỉ thầm hứa một điều: nếu còn sống, họ sẽ tìm về quê nhau. Chiến dịch Nam Lào kết thúc. Trong buổi chia tay tiếp tục đi làm nhiệm vụ, hai tiểu đội đã chụp chung một tấm ảnh. Dũng và Hường cũng được anh cán bộ tuyên huấn binh trạm ưu tiên chụp chung cho hai đứa một tấm ảnh. Dũng còn nhớ khi chụp chung ảnh hai người, Hường bẽn lẽn đứng ra xa đến khi anh cán bộ tuyên huấn nhắc Dũng cứ đứng gần sát vào Hường, lúc đó anh ấy bấm máy. Chia tay tiểu đội Hường, Dũng cùng đơn vị lại sang chiến đấu ở chiến trường Quảng Trị năm 1972. Sau đó Dũng lại được bổ sung vào một đơn vị chiến đấu khác nên không có điều kiện về thăm gia đình. Đến năm 1989, Dũng mới chuyển hẳn công tác ra Bắc. Ngày đó, Dũng đã tìm về địa chỉ gia đình Hường. Nhưng thật đáng buồn là bản làng Hường ở trong khu vùng qui hoạch lòng hồ sông Đà, nên đã đi sơ tán. Dũng đến tận vùng bản sơ tán thì được biết: bố mẹ Hường đã qua đời vì bệnh tật. Hường đã hy sinh trong chiến đấu. Cô em gái đã theo ông bác ruột về Hà Tây làm ăn. …Khi rõ chuyện, Hằng bật khóc nức nở: “Chị Hường ơi! chị sống khôn chết thiêng, mà sao hôm nay anh Dũng mới tìm đến chị?”. Cả gian phòng đã vắng lặng càng lặng lẽ hơn. Trước bàn thờ nghi ngút khói nhang, người con gái trong ảnh như nhập nhoà trong Dũng. Hường đang rúc rích cười, tiếng cười lấp lánh từng hạt nước sông Sen tung nhẹ làm ướt áo Dũng… Hằng nấc lên. Dũng quay lại. Đúng là gương mặt Hường đây rồi. Dũng ôm lấy bờ vai người con gái, nghẹn ngào: “Dẫu sao thì anh cũng đã gặp em - nín đi em!”. Sau những phút xúc động. Hằng đã mở va ly lấy cho Dũng nửa tấm ảnh được cắt ra từ tấm ảnh chụp chung với Hường. Dũng ngỡ ngàng trước tấm ảnh. Tấm ảnh đó là di vật còn lại được đơn vị giữ gìn gửi về tận quê Hường khi làm lễ báo tử. Sau này, Hằng đã cắt rời hai người trong ảnh, phóng ảnh chị Hường to lên để thờ. Hằng giữ lại ảnh người bộ đội chụp chung với chị Hường, cô vẫn mong manh hy vọng có một ngày nào đó - anh bộ đội trong ảnh sẽ tìm về gia đình. Trong suy nghĩ của cô, anh bộ đội đó phải là người thân yêu của chị… Dũng cũng đã gặp người bác ruột của chị em Hường. Ông đã lo lắng cho Hằng như con gái của mình, ông làm cho Hằng một ngôi nhà riêng, cho cháu một ít tiền để làm quán giải khát. Cũng từ hoàn cảnh đơn côi nên Hằng chăm chỉ làm ăn, lại nết na… Dũng thực sự cảm mến và khâm phục Hằng. Gặp Dũng, Hằng như thấy mình có được một chỗ dựa về tinh thần mà trong đó có tình cảm của chi Hường gửi lại. Mấy tháng nay, bác ruột của Hằng yếu lắm rồi, bác cứ nhắc mãi một điều: “Anh Dũng nhiều tuổi hơn hẳn cháu nhưng là người thân của chị ruột cháu. Từng ấy năm anh Dũng vẵn chưa lấy vợ, cũng tại cái số phận. Nếu cháu yêu thương được thì để bác nói cho anh Dũng biết”. Mỗi lần nghe bác nói, hai tai Hằng cứ nóng rần rật, Hằng mường tượng như anh Dũng đang cùng nghe lời bác dặn dò lại... HOÀNG ĐỨC NHUẬN Tiêu đề: Re: Chuyện tình dưới đáy ba lô Gửi bởi: hoacuc trong 28 Tháng Tư, 2008, 06:53:16 pm VƯỜN HẠNH PHÚC Nguồn: Tạp chí Văn nghệ Quân đội Tôi tìm được “Sáp - ong” cũng do sự tình cờ. Hôm đó, đọc trên một tờ báo có bài viết về gương cựu chiến binh Đoàn Văn Sáp làm kinh tế giỏi ở Lục Ngạn, Bắc Giang, tôi đã ngờ ngợ. Nhìn cái ảnh, cũng khó nhận ra được anh bạn đẹp trai của chúng tôi thuở ấy trong cái dáng vóc của một “lão nông tri điền”. Nhưng đọc đến cái đoạn anh kể về việc nuôi ong và có chua thêm câu “Tôi và nhà tôi thành vợ chồng cũng nhờ một kỷ niệm về ong” thì tôi biết đích thị là anh rồi. Đã có khá nhiều câu chuyện tình kể về các chàng dũng sĩ, sau khi bị thương từ những trận ác đấu với kẻ thù, vào quân y viện, được các nàng y tá, y sĩ chăm sóc tận tình; rồi khi đầu mày cuối mắt, khi tào lao câu chuyện đồng hương, đồng khói, để rồi từ biệt câu “đồng chí” từ khi nào chẳng rõ. Thế rồi, ngày tháo băng, cắt chỉ để ra viện cũng phải đến. Chàng nói vài câu cảm khái rồi quyết chí khoác ba lô con cóc ra đi. Nàng ở lại với bông băng; thuốc đỏ và một nỗi nhớ khôn nguôi. Nhưng ngày tháng cứ trôi, cuộc chiến mỗi ngày thêm ác liệt và chàng thì một đi không trở lại. Nói chung, những mối tình “bông băng thuốc đỏ” (nói theo cách nói của lính) chẳng mấy khi tới được bến bờ hạnh phúc mà thường chỉ là những khoảnh khắc lãng mạn, những vùng bóng mát trên con đường chinh chiến dài dặc của người lính mà thôi. Ấy vậy mà Đoàn Văn Sáp, bạn tôi lại có được một mối tình “thiên trường địa cửu”, từ một trong hàng ngàn mối tình “bông băng thuốc đỏ” như vậy đấy. Họ không thể quên được vì nhiều lý do, nhưng có lẽ một trong những lý do là con đường họ đến với nhau cũng khá đặc biệt. Cái đặc biệt đầu tiên của con đường mà Sáp đến được với người trong mộng của anh ta là ở chỗ, mọi người chiến binh đều đến với quân y viện dã chiến theo cửa trước, nghĩa là theo con đường từ tiền tuyền về. Riêng Sáp lại đến với cái trạm quân y tiền phương ấy bằng cửa sau. Có nghĩa là anh ta lại từ phía hậu phương mà đến! Đã thế, lại đến bằng một cung cách rất đặc biệt: Không giấy giới thiệu, không người khiêng vác, đưa rước, anh ta từ trong rừng đâm bổ vào trạm quân y tiền phương với một cái mặt sưng vù. Và, tệ hại hơn, anh ta lại lao vào lán con gái đúng lúc anh ta không nên lao vào một tẹo nào. ấy là, vào lúc giữa trưa, trời nắng như thiêu như đốt, cái nắng của rừng Lào giữa mùa khô, còn phải nói. - Các cô y tá, hộ lý đang mơ màng trong giấc trưa oi nóng bỏng choàng tỉnh. Và thế là tất cả náo loạn lên! Một cô gái nhanh nhẹn lao tới, dùng một cái màn chụp vội lên đầu anh ta để anh ta không thể nhìn thấy những thứ không nên thấy. Nhưng quả đáng tội, lúc đó anh ta đâu có nhìn thấy gì nữa. Mặt anh ta sưng vù vì bị cả một đoàn ong rừng tấn công, cái thứ ong đất, có thể giết cả một con trâu, nếu nó không nhanh chóng thoát khỏi vòng vây quyết liệt của đàn ong. Sau khi đã cột chặt tên đột nhập bằng một cái màn, mặc cho hắn rên la, các cô gái trong lán khẩn trương chỉnh đốn y phục. Sau khi đã chỉnh tề, cô y sĩ nhiều tuổi nhất liền ra lệnh: - Tháo cái màn ra xem mặt mũi thằng khốn ấy ra sao? Chiếc màn được gỡ ra và các cô gái bỗng rú lên khi nhìn thấy cái mặt sưng vù của “tên tù binh”. Còn cái nhà cô đã dùng màn chụp lên đầu Sáp, sau một thoáng hãi hùng trước gương mặt sưng tấy, méo mó của kẻ đột nhập, bỗng ôm mặt khóc oà lên. ấy là cái giây phút thiêng liêng nhất, là tiếng sét ái tình, là thời khắc bắt đầu một câu chuyện tình rất lãng mạn của anh bạn tôi. Người mà cho tới hơn ba chục năm sau gặp lại, anh em đồng đội của trung đoàn 64 và kho K4 vẫn gọi bằng cái biệt hiệu đáng nể là “Sáp - ong”. * Tôi tìm được “Sáp - ong” cũng do sự tình cờ. Hôm đó, đọc trên một tờ báo có bài viết về gương cựu chiến binh Đoàn Văn Sáp làm kinh tế giỏi ở Lục Ngạn, Bắc Giang, tôi đã ngờ ngợ. Nhìn cái ảnh, cũng khó nhận ra được anh bạn đẹp trai của chúng tôi thuở ấy trong cái dáng vóc của một “lão nông tri điền”. Nhưng đọc đến cái đoạn anh kể về việc nuôi ong và có chua thêm câu “Tôi và nhà tôi thành vợ chồng cũng nhờ một kỷ niệm về ong” thì tôi biết đích thị là anh rồi. Và, thế là nhờ một dịp đi công tác, tôi đã tìm đến trang trại của anh. Đó vốn là một khu đồi trọc nay đã biến thành một vườn vải thiều trĩu quả. Anh Sáp của tôi nay đã là chủ một trang trại nhỏ. Gặp nhau, tay bắt mặt mừng. Thấy tôi ngơ ngác nhìn quanh, anh hiểu ý ngay liền cười, hỏi: - Tìm bà Thơi nhà mình hả? Bà ấy trực trên trạm xá. Tí nữa tớ phôn lên, báo tin cậu tới thì thế nào bà ấy cũng đâm bổ về ngay. - Chị ấy vẫn hành nghề y à? - ờ… năm năm trước, bà ấy đã lấy được bằng bác sĩ chuyên khoa cấp I, nhưng vẫn làm ở trạm xá xã chứ không về bệnh viện tỉnh. Chúng tôi đi mỏi cả chân vẫn chưa hết vườn của anh. Nhớ chuyện cũ, tôi hỏi: - Anh vẫn nuôi ong đấy chứ? - Có. Hơn hai chục đõ thôi. Vừa để lấy mật, vừa để chúng giúp thụ phấn hoa. Lúc nào về, tớ sẽ biếu cậu vài chai làm quà cho lũ trẻ. Mật ong vải thiều ngon lắm đấy nhé! Tôi cười: - Nhưng vẫn không ngon bằng mật ong rừng Lào chứ? Anh bỗng phá lên cười. Tôi chợt nhớ cái hôm chúng tôi lội rừng đi tìm anh suốt hai ngày trời, vì bỗng dưng anh mất tăm mất tích. Cả đội kho nhao nhác. Người thì đoán anh bị biệt kích bắt cóc, người thì nghi anh bị hổ vồ; cũng có người đoán rằng không khéo anh bỏ trốn về đơn vị cũ rồi. Anh được bổ sung cho kho K4 cũng là sự bất đắc dĩ. Lúc đó đang mùa vận chuyển, kho bãi ngổn ngang, ngồn ngộn hàng hóa. Anh và một số anh em vừa đi học lớp quân chính ngắn hạn về nằm chờ ở binh trạm, thế là họ gạt cho K4 hơn chục người để tăng cường lực lượng. Đang là lính trận về làm lính kho, anh ngán đến tận cổ cũng phải thôi. Đến ngày thứ ba, chúng tôi mới được tin anh đang nằm ở trạm quân y của binh trạm. Thế là chúng tôi bổ đến ngay. Tới nơi, thấy anh đang ngồi chuyện gẫu với mấy cô y tá, mắt anh còn sưng vù nhưng đôi mắt thì sáng lấp lánh. Ngồi bên cạnh anh là một cô y tá trẻ, khá xinh đẹp. Anh giới thiệu: - Đây là cô Thơi, y tá. Đồng hương với mình. Cô ấy hát quan họ hay lắm đấy! Thơi chính là cô y tá đã dùng chiếc màn chụp lên đầu anh khi anh đâm bổ vào lán nữ của trạm quân y. Mấy hôm nay, chính cô lại là người điều trị, chăm sóc anh rất chu đáo. Cô nhìn chúng tôi rồi nhìn Sáp, cười hóm hỉnh: - Anh Sáp nhà các anh tốt số đấy! Nếu không lao đúng vào bệnh viện thì nguy đấy. Hai hôm liền anh ấy bị nhiễm độc nọc ong, sốt li bì. Hôm nay thì đỡ rồi. Cái miệng của anh ấy còn sưng vều lên thế kia là vì… nói nhiều quá đấy thôi! Một tuần sau, anh Sáp ra viện với cái mặt đã nguyên lành nhưng trái tim thì sưng tấy vì nhớ thương cô y tá quan họ… Một tháng sau, khi chiến dịch sắp bắt đầu thì các anh được giải phóng khỏi kho K4 để về đơn vị chiến đấu. Từ đó, tôi không còn gặp lại anh nữa. Mãi cho tới ngày hôm nay… - …Mình cũng đi liền một mạch cho đến ngày giải phóng Miền Nam mới về quê tìm Thơi. Nhưng, cô ấy vẫn còn công tác một quân y viện ở Nam Bộ. Thế là mình bổ đi tìm, hết toi cả kỳ nghỉ phép đầu tiên sau ngày giải phóng. Nhưng chúng mình đã tìm được nhau. Thế là cưới nhau luôn ở trong ấy. Cưới xong, mình đi đánh bọn Pôn pốt. Đến năm 1980 lại được điều ra biên giới phía Bắc. Lại chồng Bắc, vợ Nam. Thế này thì một người phải hy sinh thôi. Khi sinh đứa thứ hai xong, cô ấy quyết định xin phục viên về quê. Chẳng có chế độ gì cả nhưng được cái đã có bằng bác sĩ Quân y. Thế là trạm xá ở xã này có được một bác sĩ. Kể ra, nếu cô ấy muốn thì cũng có thể xin về bệnh viện tỉnh. Nhưng một nách hai con, chồng lại đi biền biệt, nên về quê là thượng sách. Vài năm sau mình về hưu. Đất nước yên hàn rồi. Cũng phải lo cho cuộc sống của gia đình chứ. Đúng lúc xã bắt đầu giao đất trống đồi trọc cho dân để trồng rừng, làm vườn. Thế là mình trở thành ông chủ của cái đồi trọc. Lúc đầu mình cũng gian nan lắm. Nhiều người bàn nên trồng bạch đàn cho chóng được thu. Nhưng mình nghĩ, không thể cứ bóc ngắn cắn dài mãi được. Thế là mình về quê thằng Quân, ở Thanh Hà, vừa mua vừa xin được vài chục cây vải thiều. Hồi ấy, chưa ai tin rằng vải thiều trụ được ở đất Bắc Giang cằn cỗi này. Nhưng việc gì cũng cần phải có người đi tiên phong, phải không nào? Được cái bà Thơi luôn ủng hộ mình. Thế là cái khu vườn đồi này ra đời. Sau đó đến đàn ong… Anh bật cười lớn - Nuôi ong, cũng lại là chuyện tình cờ. Từ ngày bị ong đốt, hễ cứ nhìn thấy cái đám ve ve đó là mình hoảng. Một hôm đi làm về, vừa vào đến sân đã thấy bầy ong bay vù vù. Mình định đâm bổ xuống ao. Bỗng nghe tiếng bà Thơi cười rú lên và tiếng một người đàn ông nào đó gọi giật: - Anh Sáp! Ong mật đấy. Nó không đốt đâu. Mình hoàn hồn quay lại và cậu có biết mình nhận ra ai không, anh Hoàng, chính trị viên phó kho K4 ngày nào. - Ông làm tôi hết hồn! - Mình nói với anh ta - Mang cái lũ quỉ của anh đi đâu thì đi đi. Hoàng ở huyện bên, chuyên nghề nuôi ong lấy mật. Nghe nói mình có mấy đồi vải đang trổ hoa, hắn liền mang vài chục đõ ong sang gửi. Hết mùa, hắn đến thu ong về và cho gia đình mình tới cả chục lít mật, còn tặng luôn dăm bầu ong mới gây. Bây giờ đàn ong của tớ cũng kha khá rồi! Nếu cậu thích, mang mấy bầu về Hà Nội mà nuôi. Tôi cười: - Mang ong về Hà Nội để cho nó hít khói à? * Hôm đó, tôi ngủ lại một đêm ở trang trại của anh Sáp. Hai chúng tôi ngồi trò chuyện tới tận khuya bên bầu rượu mật ong. Chị Thơi và hai cô con gái thi nhau hát quan họ. Phút chốc, chúng tôi bỗng quên đi tất cả bao nỗi nhọc nhằn của những tháng năm gian khổ. Nhưng tôi biết, những người chủ của ngôi nhà hạnh phúc này không bao giờ quên những cánh rừng khắc nghiệt của chiến trường xưa. Bởi vì, từ nơi đó, họ đã bắt đầu xây dựng khu vườn hạnh phúc cho ngày hôm nay.§ Khuất Quang Thụy Tiêu đề: Re: Chuyện tình dưới đáy ba lô Gửi bởi: hoacuc trong 28 Tháng Tư, 2008, 07:00:24 pm CHIẾC VÒNG BẠC Nguồn: Tạp chí Văn nghệ Quân đội Trở lại thị xã Hà Giang sau hai năm xa cách. Nói đúng hơn là hai năm chín ngày kể từ cái ngày tôi ra viện và xa em. Phố phường như đã cao lớn hơn nhiều. Người đi chợ xuân nhộn nhịp. Tiếng khèn, tiếng pí đây đó du dương gọi bạn. Tôi bước đi mà lòng cứ lâng lâng cảm xúc. Những tia nắng xuân buổi sớm chiếu vào cổ tay tôi, vào chiếc vòng bạc lấp lánh Cuối năm 1987, mặt trận Vị Xuyên đang ở thời điểm nóng bỏng thì tôi bị thương phải về điều trị tại Quân y 96. ở cùng phòng bệnh với tôi là hai chiến sĩ còn rất trẻ. Cậu Hoà quê Nghệ An bị chấn thương cột sống do sập hầm. Cậu Bình quê Thanh Hoá bị gãy xương đùi chân phải. Như vậy, kể cả tôi thì phòng bệnh chúng tôi có ba người, nói là có bốn thì cũng chẳng sai. Bởi bệnh nhân thứ tư là một cô gái người thị xã bị rạn mắt cá chân đang điều trị ngoại trú, nhưng ngày nào cô ta cũng có mặt tại phòng tôi. Cô gái có tên là Hằng. Cứ mỗi sáng vào viện tiêm và thay băng xong là Hằng đến thẳng phòng chúng tôi. Cô cần mẫn, chịu khó như một cô hộ lý. Việc đầu tiên là quét dọn nhà cửa, gấp chăn màn, có lúc còn đỡ cậu Hòa khi cậu ta muốn ngồi dậy. Mấy hôm đầu hễ cứ thấy cái bóng tập tễnh của Hằng là tôi tìm cách “đánh bài chuồn”. Thực ra, tôi không cố tình lánh mặt mà còn thèm khát sự chăm sóc nữa là đằng khác. Ngặt nỗi, mấy tháng nằm hầm giữ “chốt” rồi bị thương vào viện phải kiêng nước, người tôi lúc nào cũng như vại tương để quá ngày. Thế rồi, “chạy trời không khỏi nắng”, buổi sáng hôm ấy khi Hòa và Bình vẫn đang thi nhau “kéo gỗ”, tôi dậy sớm hơn ngồi bó gối ở cuối giường. Hai mắt tôi dán vào cuốn tiểu thuyết “Thời xa vắng”. Đang mải mê cười thầm cái anh Giang Minh Sài và cô Lài trong chuyện thì chợt có người vỗ mạnh vào vai cùng với tiếng “ù òa…”. Tôi giật nảy người quay lại chẳng may cánh tay đương bị thương va vào thành giường sắt kêu đánh “cốp”. Hằng đã đứng sau lưng tôi tự bao giờ, mặt đỏ ửng như cánh đào buổi sớm mai, một chút ngượng ngùng bối rối rồi lên tiếng khe khẽ; - Em… Em xin lỗi! Anh… có đau lắm không ạ. Luống cuống, rụt rè, Hằng cúi xuống nhặt cuốn tiểu thuyết dưới nền nhà đặt lên lòng tôi như cũ, sắc mặt cô cứ tái dần trông thật là tội nghiệp. - Anh không sao đâu! Pháo bắn còn chẳng nhằm nhò gì huống chi tí “mỡ tép”. Là tôi nói để động viên Hằng thế thôi, chứ thực ra lúc đó cánh tay tôi tê buốt như muốn chết ngất đi được. Nghe tôi nói, Hằng phấn chấn hẳn lên rồi nhẹ nhàng ngồi xuống cạnh tôi thủ thỉ: - Anh mê tiểu thuyết nhỉ! Đọc xong cho em mượn nhé! Em cứ lấy mà đọc, truyện này anh đã đọc đến 50 lần rồi đấy. - Ôi! Thế thì anh kể cho em nghe đi. Hằng reo lên rồi cứ nằng nặc đòi tôi kể lại chuyện “Thời xa vắng” ấy. Thoáng chút bối rối, rồi tôi cũng đành chấp nhuận lời đề nghị của Hằng. Từ phía trong Hòa và Bình cũng đã tỉnh giấc, mở mắt lặng lẽ bí mật theo dõi câu chuyện. Kể từ hôm ấy, Hằng mang đến cho tôi nhiều cuốn sách mới, những lúc rảnh rang, cả phòng chúng tôi ngồi xúm lại cùng đọc sách hoặc nghe tôi kể chuyện. Hằng chăm sóc tôi như mọi người trong phòng, lại có phần ưu tiên hơn. Có hôm tôi còn bắt được quả tang Hằng đang lén bỏ những ống philatốp vào túi cóc ba lô của tôi, để rồi đến hôm sau lại tự móc ra mà trách: “Sao anh không chịu uống thuốc bổ?”. Tôi trở lại “chốt”. Hằng cứ nằng nặc đòi tiễn. Cô khoác ba lô rồi cùng tôi hoà vào dòng người tấp nập trước sự ngạc nhiên của hàng trăm con mắt. Những cô gái vùng cao váy khăn đủ màu sặc sỡ đi hội chợ xuân cũng ngơ ngác nhìn theo cái dáng mảnh mai cõng cái “địu” khổng lồ hiên ngang giữa phố. Tôi như chú chim sổ lồng sải dài những bước chân mà lòng rạo rực. Chẳng mấy chốc, cái thị xã bé nhỏ đã lùi lại phía sau lưng. Ra khỏi ngoại ô thị xã, tôi thấy bước chân Hằng đi có vẻ nặng nề, trên trán đã lấm tấm mồ hôi. Dừng bước, quay người lại tôi chìa tay ra phía trước, chưa kịp nói gì thì Hằng đã quay ngoắt người, xị mặt, miệng lúng búng: - Chưa! Em tiễn anh một đoạn nữa cơ! - Không được! Phía trước là khu vực cấm. Em qua đó sẽ bị bắt nhốt vào chuồng cọp đấy! Lần đầu tiên tôi đã nói dối Hằng nhưng không ngờ tôi đã “đem đom đóm đi nhát ma trơi”. Hằng vội nắm lấy tay tôi lắc lắc, dậm chân thình thịch: - ứ phải! Phía trước là làng Lúp! Em chỉ đi với anh một đoạn nữa thôi mà! - Vậy đưa ba lô đây cho anh! Tôi định bụng lấy ba lô rồi “hát bài ca tạm biệt”, nhưng không, Hằng đã nắm chặt quai ba lô: “ứ…ừ”, rồi mạnh mẽ kéo tôi băng về phía trước. Một chiếc xe tải thương từ làng Pinh đi ra đang thận trọng bò qua con suối cạn, tiếng máy rì rì vẻ khó nhọc. Ngoặt vào lối đi tắt được một quãng, đột nhiên Hằng chạy ngược lên trước rồi quay lại bảo tôi: - Chờ em một tí nhé! Dứt lời bóng Hằng đã mất hút sau những lùm cây rậm rạp. Tôi thật chẳng hiểu mô tê gì cả. Đang ngơ ngác nhìn quanh thì Hằng đã bất thần xuất hiện. Chiếc mũ tai bèo nằm ngửa trên tay với những quả mâm xôi chín đỏ mọng, em nhón mấy quả dúi vào tay tôi. - Anh ăn đi cho đỡ khát nước. Tôi định nói điều gì đó nhưng chợt nhìn lên mái tóc Hằng vẫn còn dính những mụn lá rừng trông thật ngộ nghĩnh và có phần ngây thơ. Tôi bấm bụng cười thầm rồi bước tiếp. Vừa đi chúng tôi vừa nhấm nháp những quả mâm xôi thơm mát, ngọt lịm… Chúng tôi dừng lại dưới một gốc cây si già đang buông những chùm râu tua tủa vào khoảng không tĩnh mịch. Hằng không còn nài nỉ nữa vì phía trước đã hiện lên một trạm barie sừng sững. Tay nắm trong tay đứng lặng cúi đầu mà cả tôi và Hằng chẳng nói được câu gì. Một chút thẹn thùng, xấu hổ, ửng hồng trên khuôn mặt thánh thiện, thế rồi em nhẹ nhàng lấy chiếc vòng bạc từ cổ tay em đeo sang tôi. Chỉ có vậy thôi rồi Hằng vội quay người vụt chạy… Bóng Hằng cứ xa dần, xa dần cho đến khi chỉ còn một chấm màu hồng nho nhỏ. Theo đoàn quân vận tải tôi hành quân càng sâu lên tuyến trước, trận địa vào đêm hoang vu, mù mịt. Những đoàn quân vận tải cần mẫn, lặng lẽ như đoàn kiến tha mồi nối đuôi nhau vạch lau lách xuyên rừng. Thỉnh thoảng những tiếng ì ùng… phát ra từ phía bên kia réo một hơi dài rồi rơi vu vơ không quy luật. Đồi Đài vẫn sừng sững hiên ngang như thách thức. Đồng đội đón tôi trở về trong sự ngạc nhiên xen lẫn niềm vui khó tả. ở tiểu đội đứa nào cũng bắt tôi khai ra chủ nhân chiếc vòng bạc là ai. Tôi cười, không trả lời, lặng lẽ dấu niềm vui, niềm hạnh phúc vào lòng. Trở lại thị xã Hà Giang sau hai năm xa cách. Nói đúng hơn là hai năm chín ngày kể từ cái ngày tôi ra viện và xa em. Phố phường như đã cao lớn hơn nhiều. Người đi chợ xuân nhộn nhịp. Tiếng khèn, tiếng pí đây đó du dương gọi bạn. Tôi bước đi mà lòng cứ lâng lâng cảm xúc. Những tia nắng xuân buổi sớm chiếu vào cổ tay tôi, vào chiếc vòng bạc lấp lánh. NGUYỄN QUẾ HOÀNG Tiêu đề: Re: Chuyện tình dưới đáy ba lô Gửi bởi: hoacuc trong 28 Tháng Tư, 2008, 07:05:41 pm CHUYỆN TÌNH CHƯA BIẾT ĐẶT TÊN Nguồn: Tạp chí Văn nghệ Quân đội Tôi chưa biết đặt tên gì cho câu chuyện tình tôi sắp kể dưới đây, sau khi báo Văn nghệ Quân đội mở mục “Chuyện tình dưới đáy ba lô”, bản thân tôi rất thích, tôi yêu tất cả những kỷ niệm vui buồn và cả những chuyện tình “chẳng giống ai” của họ. Chuyện tình lạ nhất mà tôi chứng kiến, xảy ra vào những năm đầu của thập kỷ 80, khi ấy tôi là cô lính tân binh được điều về đơn vị thuộc tỉnh miền Trung. Nơi này lúc ấy còn hoang sơ lắm, ba mặt giáp đồi. Muốn ra đến phố phải đi 40km đường rừng, chỉ có một thị trấn nhỏ, giống như cái chợ con của đồng bằng nằm ngay cạnh đơn vị tôi đóng quân. Thứ quà duy nhất chúng tôi mua được là những quả bưởi và những bơ lạc rang (đây cũng chính là nguyên liệu duy nhất để tổ chức tiệc cưới). Cô bán hàng là một sơn nữ có vẻ mặn mà nhưng thuần khiết. Quán của cô cũng nghèo nàn như quê của cô vậy, mái lá, đèn dầu nhưng rất mến khách. Vào những tối thứ bảy và chủ nhật, khách ngồi cả ra đường mà vẫn chen chật tiếng cười. Đó là những chàng sĩ quan trẻ vì mến cái nết và vì say tiếng cười trong vắt ngọt ngào của chủ quán. Tất nhiên là cô ý thức được khả năng mê hoặc của mình và khéo léo chiều lòng tất cả các vị khách bằng thái độ niềm nở tự tin nhưng không suồng sã, lả lơi. Đã không ít chàng trai và cả những người đứng tuổi tìm đến với cô, dạm hỏi, tỏ tình để rồi đành lẳng lặng ra đi, u uất, khổ đau, tức giận… Cô cứ hồn nhiên, vô tình một cách trong trẻo như thế mãi cho đến khi quán cô xuất hiện một người khách lạ. Rất lạ! Hình như anh chưa đến đây bao giờ. Người lính có gương mặt cương nghị, ăn mặc gọn gàng, tạo được sự tin cậy ban đầu. Chọn một bàn vắng, gọi chai rượu và hai chiếc ly, anh âm thầm rót đầy hai ly, châm hai điếu thuốc cho mình và cho một người vô hình. Nhìn điếu thuốc trên miệng ly vô chủ, cháy đỏ, tỏa khói vu vơ thì dấu hỏi trong lòng cô gái càng trở nên lớn hơn. Đều đặn tuần nào, tháng ấy, người khách lạ vẫn trung thành với những động tác kỳ cục ban đầu, anh đến và ra về lặng lẽ, mắt hút buồn, không bắt chuyện với ai kể cả khi được cô quan tâm thăm hỏi. Nhìn anh chẳng có vẻ gì là bệnh nhân tâm thần cả. Vậy thì anh là ai? Tại sao phải uống rượu và hút thuốc với một người vô hình? Cuối cùng sự tò mò trong cô đã thắng! Khó khăn, vất vả lắm cô mới điều tra được: anh tên là Long, đơn vị đóng quân ở gần đây, anh có một người bạn rất thân vừa hy sinh trong khi làm nhiệm vụ và bản thân anh thì chưa quen được với sự mất mát ấy. Chính vì lẽ đó mà anh có thói quen cùng chia sẻ với người đã khuất. Ăn gì uống gì anh vẫn đều chia cho bạn và không ngờ vì lẽ đó mà vô tình anh đã khiến trái tim cô chủ quán thổn thức. Cô chú ý chăm sóc anh bằng cả tấm lòng mỗi khi anh đến. Năm tháng trôi đi vun đầy mối quan hệ của họ trong sự cảm thông, thân thiện… Khi tôi viết những dòng chữ này thì họ đã là chủ nhân của một toà biệt thự 3 tầng ngay cổng sân bay. Hạnh phúc hơn khi họ cho ra đời cặp song sinh một trai một gái. Nhưng điều bất ngờ hơn cả là sự thật không đúng với những gì cô chủ quán điều tra được. Anh hoàn toàn chẳng có người bạn nào hy sinh hết. Tất cả những gì anh cố tình dàn dựng là gây sự chú ý với cô gái mà anh rất yêu nhưng nếu chỉ bằng sự tán tỉnh bình thường, anh sẽ phải thất bại thảm hại như các đồng đội của anh thôi. Khi được hỏi tại sao cô lại bị rơi vào tình yêu của cái anh chàng không bình thường này, cô bộc bạch: cô yêu anh vì một người biết trung thành với bạn bè sẽ là người chung thuỷ và có trách nhiệm với gia đình. Hơn nữa, trái tim con gái thường hay đa cảm và dễ xúc động. Cô cười, nụ cười nhân hậu của cô đã nói với tôi nhiều hơn những gì tôi cần biết. Thế mới hay, tỏ tình cũng cần có nghệ thuật và cho dù họ có đến với nhau bằng cách nào chăng nữa, kể cả cách dùng “khổ nhục kế ” như anh chàng kia thì hạnh phúc thật sự bao giờ cũng phải bắt đầu bằng tình yêu chân thành, cháy bỏng, bằng sự chia sẻ cảm thông và cả lòng vị tha nhân hậu nữa, phải không các bạn? Tháng 5 -1998 QUỲNH VÂN Tiêu đề: Re: Chuyện tình dưới đáy ba lô Gửi bởi: hoacuc trong 28 Tháng Tư, 2008, 07:08:19 pm HẦM CON GÁI Nguồn: Tạp chí Văn nghệ Quân đội Ba mươi năm đã trôi qua, dù có muộn màng, xin bạn đang ở nơi nào hãy nhận cho muôn lời cám ơn cùng tạ lỗi. Chúng tôi chạy như điên. Địch đổ quân nhiều hướng. Vòng vây thít lại dần. Bến sông Sài Gòn này vốn là một cửa tử. Tất cả giấy tờ, túi thuốc của tôi đã bị cuốn theo sông. Gai tre, và mảnh đạn xé tươm quần áo. Mắt nhìn đồng đất Củ Chi chỉ thấy một màu đỏ: Thì ra máu đọng từ mi đã ướt dần vào khóe mắt. Đồng chí giao liên này có nhớ đường không? Sao đồng chí ấy lại cứ chạy về hướng địch, nơi từ xa chấp chới những cột ăng ten cao vút? Nếu cô giao liên ấy có một dấu hiệu gì khả nghi, tôi sẽ… - Lẹ lên chú! E địch đã cắt đường về “cứ”! Theo cháu… Đó là câu nói duy nhất, tôi nghe từ miệng cô ta, suốt một ngày lầm lụi. Mỹ ào ạt đổ quân vào Miền Nam. Tôi đã cảm thấy cuộc chiến tranh này khác xưa, thời chống Pháp. Hai chúng tôi đâm sầm vào một bụi tre gãy gục, xơ như chổi cùn. Cô giao liên khom người xuống, kéo bật lên một mảng đất. Ra là một cái nắp hầm bí mật. - Chú xuống đi! Không! Trước mặt cô gái trẻ vùng sâu, tôi là sĩ quan, tôi là dân chủ lực, đã đánh Điện Biên Phủ, tôi lập cập với phản xạ “phải làm gương dũng cảm” nên cứ đứng sững trên bờ. Chẳng nói chẳng rằng, cô giao liên quẫy mình tuột xuống miệng hầm, nhanh như một con cá, rồi cô giơ tay túm cổ chân tôi, lôi xuống theo. Cái khoảng gỗ miệng hầm chật quá, cào xước cả vai và đùi tôi. Khi cái nắp hầm ụp xuống, xung quanh kín bưng, đen như địa ngục. Đây không phải là lần đầu tôi chui xuống hầm bí mật. Nhưng chưa lần nào như lần này. Cánh tay tôi bị vặn tréo đau ghê gớm. Với hai người cùng ngồi co quắp thì căn hầm này quá sức chật, không chịu nổi. Cô ta “giết” mình bằng cái hầm này mất. Tôi cong lưng nhoi người, muốn đội nắp trồi lên, có chết cũng khỏe. Nhưng không nổi, không thể, tôi ở tư thế không cựa mình được nữa. Tôi ngồi thấp hơn cô ta một bậc, hai đầu gối cô ta như hai gọng kìm, kẹp chặt hai bên sườn tôi. Càng cựa quậy, càng đau. ở đây không có thời gian. Chỉ có không gian đen và trái tim tôi đập mạnh như ai vỗ trên tang trống điểm giờ. Tôi cố bình tĩnh một chút để hình dung căn nhà ấm ức của hai người. Đây là một cái hầm rất riêng “Hầm con gái”, hầm của cô ta, và cô ta đã san sẻ cùng tôi lúc bức bách tận cùng này. Căn hầm hình thù méo mó, bị một tảng đá chèn ngang, lên đã phải đào choãi ra phía trước một chút lấy chỗ duỗi chân. Cô ta ngồi trên mép đá, còn tôi thì úp thìa vào người cô, nghe mồ hôi vã ra vì nóng, vì chật bức bối. Mồ hôi hòa lẫn vào da thịt kỳ lạ của ai… Có tiếng xích sắt nghiến ầm ì trên mặt đất. M.113? Không phải. Lần tai theo tiếng động, tôi hình dung ra nó chạy theo một vệt dài, rồi lại quay lại tiếp tục đan ngang theo kiểu dệt cửi. Thôi chết, tôi chợt nhớ đến một tài liệu trên cơ quan tham mưu. Nó là loại xe ủi đất khổng lồ của Mỹ, mang tên “Lưỡi cày thành Rô-ma”, khối thép đó đi nhung nhăng qua các bãi mìn du kích. Có gì thì cái lưỡi cày hơn một tấn của nó sẽ gạt nổ từ xa các thứ mìn lớn nhỏ. Căn hầm chúng tôi rung rinh như đang ngồi thuyền thúng ra biển. Cây rừng đổ ầm ầm, rồi dội về tiếng những bụi tre bị kéo lê trên mảnh đất sàn sạt. Lưỡi cày của Mỹ đang hì hục cạo trắng vùng đất này, mà bên dưới đó có một cái hang tối, rất nhỏ, tôi và em đang ngồi ém vào nhau. Cát mịn đã bắt đầu trôi xuống tóc, chảy qua má. Chắc nắp hầm đã bị méo lệch vì sức chấn động. Chợt tôi thấy buồn! Tôi sẽ chết, chết không được chiến đấu. Một bàn tay ai đặt nhẹ trên vai tôi, như muốn an ủi, làm dịu một chút cơn máu nóng đang bốc lên đầu. Ngẫm lại cuộc đời làm lính xung phong qua lửa đạn còn dễ chịu hơn là ngồi dưới cái hang tối đen như thế này chờ cho nó xúc mình lên và nó cười qua khe ngắm của tháp xe tăng trước khi bấm cò. Mình rồi chẳng cứu được mình mà cũng chẳng cứu được em! Cái thời chống Pháp ra trận là nhìn thấy kẻ đối địch. Người cầm súng thi gan với người cầm súng. Còn đụng với quân Mỹ này, đánh nhau chẳng thấy mặt người, chỉ nghe những tiếng nổ kinh hoàng từ trên trời rơi xuống, từ xa bay đến. Không, tôi không chịu chết. Nó dùng lưỡi cày hàng tấn đó mà xúc tôi lên, tôi sẽ một tay ôm em, một tay bắn thẳng vào một cái mũ sắt nào đó để ít ra cũng là một đổi lấy một. Tiếng gầm rú trên mặt đất đã im hẳn. Chúng tôi có thể đội hầm lên chăng? Bỗng nghe tiếng nổ và một mùi vị khá lạ len lỏi xuống. Tôi vừa hít thở cổ họng đã đau buốt. Chất độc hóa học đó, đúng rồi, nó đàng trườn xuống như một con rắn, vờn quanh mặt mũi chúng tôi. Tôi cảm thấy hai buồng phổi mình như bị đốt cháy bằng lửa hàn. Tôi gắng hết sức rút cái khăn mặt ra khỏi thắt lưng. Tôi cố tiểu vào khăn. Nhưng không còn một giọt. Giãy giụa, và căng thẳng từ bấy đến giờ đã vắt kiệt nước trong người tôi. Đau đớn vì thất vọng. Không còn đâu cái dự tính được chết trên mặt đất, giữa thanh thiên bạch nhật, với một phát súng danh dự. Bỗng một bàn tay từ sau vai tôi, đặt ép lên mũi tôi một cái mùi sao đẫm nước. Cái mùi nước hăng hăng nồng nồng, cái thứ nước mà trong người tôi đã cạn kiệt. Tôi thở qua chiếc khăn ẩm ướt ấy và thấy cổ bớt cháy bỏng. Tôi với lên cầm lấy cổ tay em. Cái cổ tay tròn và mát. Tôi hít cái mùi nồng chua ấy, cái mùi quen lạ ấy, cái mùi của em, cái mùi bây giờ đang hòa trộn cuộc sống của hai mảnh người díu chặt vào nhau, thoi thóp hy vọng giữa mênh mông cái chết. Bỗng đến lượt tôi nghe em ho. Ho dữ, tôi đẩy ngược cái mùi soa qua đầu cho em, trong khi tôi vẫn còn cảm thấy nguyên vẹn cái mùi chiêm bao đó, cái mùi của sự sống, cái mùi đã hóa giải hết mọi ngăn cách giữa hai chúng tôi. Tuổi tác, thân phận tan biến. Xấu hổ, huý kỵ, và cả bóng dáng kỷ luật cũng chẳng còn. Tôi bật ngửa đầu, dựa hẳn trên ngực em và cảm thấy một cái gì đó rất lớn lao, ấm áp, mềm mại đùm bọc lấy đời mình. Tôi phải sống! Bom vẫn nổ xa xa. Đất vẫn tung dưới tiếng rổn rang của xích sắt dàn ủi. Bây giờ thì bọn chúng chẳng có gì đáng cho chúng tôi thèm chú ý nữa… Nhịp thở của tôi đã trở lại nhẹ nhàng, như khi còn ngồi với em trên bờ sông chờ thuyền. Tôi chỉ còn tha thiết muốn biết em là ai. Dù cuộc sống chúng tôi chỉ còn một ngày, một giờ nữa, mươi mười năm phút nữa… Nhưng tôi cũng biết thế nào là sự ngặt nghèo bí mật ở chốn địch hậu này. Không ai muốn lộ tung tích. Tôi muốn xé một mảnh vải của em làm kỷ niệm. Vải li-nông dai quá đỗi. Tôi muốn nhận dạng em. Nhưng làm sao được. Cả hai thân mình, tôi và em, bị nêm cứng dưới căn hầm tối, chỉ còn một cánh tay phải là co duỗi được, tôi bèn luồn tay, tất cả chị em đang chờ tôi tỉnh lại. - Nghe nói chú bị ngất vì sức ép. Nghe vậy, chiều hôm có một cô du kích cõng chú đến đây giao cho chúng tôi. - Hứ! Cô em tình cảm dữ, ghé sát mặt chú, áp tai vào ngực chú! - Hình như cô còn lấy kim băng vạch lên trán chú, chắc để thử coi chú có còn biết đau không. Chú sờ lên trán mà xem. Bao lâu sau, tôi vẫn còn đó vết kim băng rạch giữa hai chân mày. Sao em lại đánh dấu trên mặt tôi, để ghi nhớ? Để nhận mặt? Hay để… Mười năm sau thì cả Sài Gòn giải phóng. Củ Chi cũng giải phóng, không biết bao nhiêu lần tôi đã lặn lội về mảnh đất ấy để tìm ai đó cỡ tuổi hai tám, ba mươi. Tôi luôn luôn để đầu trần, đi vào trong xóm ấp dù đang mặc quân phục sĩ quan. Tôi hy vọng có ai đó nhận ra vết chạm trên trán mình và kêu lên. Nhưng vẫn im lặng. Im lặng đến tận bây giờ. Cô gái năm nào tôi chưa kịp biết tên ấy ơi, nếu đọc được những dòng này, em hãy nhắn gửi cho tôi một lời. Địa chỉ Tạp chí Văn nghệ Quân đội, số 4 Lý Nam Đế, Hà Nội. Mong lắm PHẠM HỒNG Tiêu đề: Re: Chuyện tình dưới đáy ba lô Gửi bởi: hoacuc trong 28 Tháng Tư, 2008, 07:10:19 pm BỨC THƯ TÌNH Nguồn: Tạp chí Văn nghệ Quân đội Chỉ vì một lá thư tình hờ ngày ấy mà tôi và bạn tôi cứ băn khoăn, day dứt mãi mà không tìm ra cách ứng xử nào cho hợp lý. Khoảng mùa thu năm 1993, lúc đó, tôi đang là học viên năm thứ ba, thuộc tiểu đội 4, trung đội 2, đại đội 1, tiểu đoàn 1, trường Sĩ quan Lục quân Một. Tiểu đội tôi có 9 người, gồm: Thắng, Viết, Hiến, Nhật, Mỹ, An, Khanh, Hoán và tôi. Chỉ vì một lá thư tình hờ ngày ấy mà tôi và bạn tôi cứ băn khoăn, day dứt mãi mà không tìm ra cách ứng xử nào cho hợp lý. Khoảng mùa thu năm 1993, lúc đó, tôi đang là học viên năm thứ ba, thuộc tiểu đội 4, trung đội 2, đại đội 1, tiểu đoàn 1, trường Sĩ quan Lục quân Một. Tiểu đội tôi có 9 người, gồm: Thắng, Viết, Hiến, Nhật, Mỹ, An, Khanh, Hoán và tôi. Trong tiểu đội có tôi, Viết và Lai chơi thân với nhau. Chúng tôi có thói quen sau khi cơm chiều xong là ngồi uống nước và tán gẫu. Ai có chuyện gì hay đều đem kể cho cả tiểu đội nghe. Tất tần tật "hầm, thì, mà, rằng" lớn bé, trên trời, dưới bể, rồi mọi chuyện đều xoay quanh chuyện yêu đương hoặc chuyện tiếu lâm. Anh em trong tiểu đội ai cũng đều kể về những kỷ niệm tình yêu của mình. Tôi để ý thấy Nguyễn Văn Lai - đựơc mệnh danh là "Lai đen" là người chỉ ngồi lặng lẽ, chăm chú nghe, đến mẩu chuyện hay nào thì thích thú vỗ đùi reo lên: "Hay quá!". Xong chuyện, tôi lại thấy Lai âm thầm buồn. Tôi suy đoán: "Hẳn Lai không muốn kể chuyện tình yêu của mình vì một lý do gì đó ?" Một lần tôi bàn với Bùi Ngọc Viết. Viết sốt sắng vạch ra một kế hoạch. Rồi hai thằng bàn mưu tính kế, tính toán đường đi, nước bước. Bùi Ngọc Viết sinh năm 1959, quê ở Quán Lạn, Cái Bầu, Quảng Ninh. Viết cao hơn một mét sáu lăm, người to, đậm, nom mặt lì xì, ít cười. Người ta bảo người như thế "Tẩm ngẩm, tầm ngầm, đấm chết voi". Sống với Viết mới biết Viết có tính nghịch ngầm - cái nghịch đáng yêu dễ bị hiểu lầm, tai vạ. Ban đầu, bằng cách gợi chuyện, tôi và Bùi Ngọc Viết đã được “Lai đen” tiết lộ rằng, ở cái tuổi 24, 25 Lai chưa có một “mối tình rách vắt vai”. Lai sinh ra ở xã T. thuộc huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá, tại ngũ được sáu năm thì hai năm Lai công tác ở biên giới Lạng Sơn; rồi về ôn thi đại học ở trường Văn hóa Quân khu Một; rồi trở thành học viên trường Sĩ quan Lục quân Một. Tính đến lúc này, Lai luôn là học sinh giỏi của lớp tôi. ấy vậy mà trong tình yêu, Lai rất lờ tờ mờ. Qua câu chuyện Lai kể, tôi hình dung Lai có phải lòng một cô gái cùng xóm có tên là H. (xin được giấu tên). H. có nước da trắng như trứng gà bóc, mái tóc mây bồng bềnh, gợi cảm; đôi mắt đen huyền mơ mộng. H. tốt nghiệp phổ thông trung học, thi đại học, thiếu điểm, hiện ở nhà giúp mẹ. Kỳ nghỉ hè vừa rồi Lai có về quê. Mấy lần gặp H. Lúc thì Lai gặp H. gánh nước dọc đường làng, khi thì Lai gặp H. trong buổi cắm trại của thiếu nhi, vì H. là người phụ trách. Hình như hai người có tình ý với nhau. “Mình mê H. lắm”. Lai nói vậy. “Không hiểu H. có thích mình không?” “Hình như, H. cũng ưng mình thì phải”. Lai cứ băn khoăn, bứt rứt mãi vì việc này. “Hay Lai mạnh dạn viết thư thăm dò xem?” Lai băn khoăn: “Mình sợ H. không ưng thì xấu hổ chết!”. Mạnh dạn lên, được ăn, thua nhịn”. Chúng tôi, ai cũng vun vào cho Lai. Buổi tối hôm ấy, tôi thấy Lai nằm bò ra giường, hý hoáy viết thư. Viết xong, so đi tính lại làm sao, Lai đem đốt lá thư đi. Bùi Ngọc Viết biết việc Lai tự huỷ thư, nói với tôi: “Lão Lai nhát như cáy ngày, con trai gì mà…” * Bẵng đi mấy ngày, ngỡ chuyện tình yêu của Lai đã đi vào quên lãng. Nào ngờ, một buổi chiều mát mẻ, Lai nhận được một phong thư lạ. Lai mừng như phát cuồng nói là nội dung thư thật nồng nàn, đằm thắm, lại có dáng e ấp, phảng phất của một cô gái thôn quê mới lớn. Lai thật ngất ngây, mãn nguyện. Ai cũng chúc mừng Lai và trộm nghĩ số Lai là số đào hoa. Người tài hạnh phúc tự tìm đến. Lá thư ấy được Lai đọc đi đọc lại, đọc đến mấy chục lần. Tối hôm ấy, Lai tức tốc viết ngay một lá thư. Hôm sau, chủ nhật, Lai xin đi ra tận bưu điện Sơn Lộc, Sơn Tây bỏ lá thư. Từ trường đi Sơn Tây hơn 10km, ấy vậy mà Lai dám cuốc bộ một lèo. Người ta nói tình yêu như có cánh quả không sai. Rồi cái gì đến đã đến, một tuần sau, Lai nhận được một phong thư. Lai mở đọc, Lai không tin vào mắt mình. Mở đầu lá thư là nét chữ xiêu xiêu, hình như H. đã viết trong cơn bực tức: - “Anh xa nhớ! Trước tiên, em xin vô cùng cảm ơn tình cảm chân thành của anh dành cho em. Nhưng em thật hết sức phẫn nộ có kẻ nào đứng đằng sau lá thư viết thư nặc danh, họ lấy em làm trò cười cho thiên hạ…”. Gần hết lá thư là những lời lẽ gay gắt. Tôi liếc sang Bùi Ngọc Viết thấy khuôn mặt Viết đang tái dần đi. Lai đem hai lá thư ra so sánh. Lai bán tính bán nghi. “Lá thư trước có thể của H. thật, tôi nghi lá thư sau là của một đứa nào đó viết, chứ làm gì H. viết chữ xấu thế”. Lai băn khoăn, nghi vấn! Tôi thấy khuôn mặt Lai ỉu xìu, vô hồn. Đêm ấy, chiếc giường Lai nằm cứ nghe cót két hoài, biết Lai trằn trọc, thao thức không ngủ được. Sáng ra, mắt Lai trắng bợt. Phải một thời gian dài, Lai như người mất hồn, lực học sút hẳn đi. * “Thế nào ông Nông, nói cho Lai biết chứ”. Bùi Ngọc Viết hỏi tôi. Suy nghĩ hồi lâu, tôi nói với Viết: “Từ từ chứ, để lộ ra bây giờ còn mặt mũi nào nhìn nhau nữa”. “Nhưng để lâu, sợ Lai học kém đi”. Lần lữa mãi tôi với Viết vẫn chưa dám nói thật với Lai. Tháng 5 - 1984, trước lúc ra trường, Bùi Ngọc Viết gặp tôi “Thế nào, nhân lúc vui chia tay nhau ta nói cho Lai biết lý do có lá thư kia chứ?”. Suy nghĩ, đắn đo, tôi bảo Bùi Ngọc Viết: “Bây giờ chưa tiện, ông để tôi nói riêng với Lai, hay hơn, bởi tôi là đồng hương của hắn”. Thế mà lúc chia tay nhau thật rồi, tôi vẫn không dám nói điều này với Lai. * Ra trường, như đàn chim, mỗi đứa đi về mỗi nơi. Lai được giữ làm giáo viên của trường, Bùi Ngọc Viết về công tác ở mảnh đất Quảng Ninh, còn tôi nhận công tác ở biên giới Cao Bằng. Thấm thoắt chuyện cũ đã 15 năm, chuyện bức thư tình hờ, gây cho Lai bao cay đắng, tôi nghĩ tuy là sự muộn mằn đến bây giờ mới dám nói ra, nhưng sự thành tâm, trong sáng, Nông mong Nguyễn Văn Lai và các bạn cùng tiểu đội cũ thông cảm và lượng thứ. Nguyễn Anh Nông Tiêu đề: Re: Chuyện tình dưới đáy ba lô Gửi bởi: hoacuc trong 02 Tháng Năm, 2008, 08:08:00 pm VẾT XƯỚC DỊU DÀNG Nguồn: Tạp chí Văn nghệ quân đội “Chíp hôi” có khuôn mặt sáng, thông minh nhưng hơi ngổ ngáo. Mỗi khi nói, đầu “chíp hôi” nghẹo sang phải, mi cụp xuống rồi bất ngờ nhìn thẳng vào người đối diện bằng đôi mắt to, đen láy. Sống mũi “Chíp hôi” cao nhưng hơi hếch một chút; khoé miệng trễ, cặp môi mỏng, nhẹ, hòa nhã với đường nét của bàn tay đặt hờ lên cằm. “Chíp hôi” mặc bộ quần áo bò, cho nên có nét gì đấy tương phản với mái tóc đen, dài mặc dù đã được cặp gọn sau lưng. Nguyễn Bình Phương “Chíp hôi” có khuôn mặt sáng, thông minh nhưng hơi ngổ ngáo. Mỗi khi nói, đầu “chíp hôi” nghẹo sang phải, mi cụp xuống rồi bất ngờ nhìn thẳng vào người đối diện bằng đôi mắt to, đen láy. Sống mũi “Chíp hôi” cao nhưng hơi hếch một chút; khoé miệng trễ, cặp môi mỏng, nhẹ, hòa nhã với đường nét của bàn tay đặt hờ lên cằm. “Chíp hôi” mặc bộ quần áo bò, cho nên có nét gì đấy tương phản với mái tóc đen, dài mặc dù đã được cặp gọn sau lưng. - Em được nghỉ hè mấy tháng? - Hai tháng rưỡi. - Em đến Huế chưa? Anh hỏi nhìn thẳng vào “Chíp hôi”, tuôn những câu hỏi ấy chỉ là cái cớ anh ngắm “Chíp hôi”. “Chíp hôi” lắc đầu nhìn lại anh. - Anh không thích con gái Huế, nói chung thì họ có nét gì đấy của… Anh vụng về tìm cách diễn đạt vì nghĩ “Chíp hôi” đang học đại học năm thứ nhất, chắc chưa hiểu từ này lắm. Anh định tìm từ khác để diễn đạt nhưng lại sợ “chíp hôi” cho mình là kẻ suồng sã. Anh khoa tay ra đằng trước, rồi thu về trong lòng như những lần bối rối. Tai anh nóng dần lên, mắt cụp xuống. “Chíp hôi” gật đầu ra vẻ hiểu, nhưng thái độ không được chăm chú cho lắm. Anh lẩm bẩm: - Nói chung thì phải đi nhiều. - Vâng, em rất thích đi, nhưng phải cái hay bị say xe. Hôm nọ, lớp em tổ chức lên Tam Đảo, chúng nó dỗ mãi em mới dám đi… Vừa trèo lên xe, vừa khóc như ri… Anh nheo mắt nhìn “Chíp hôi”. Cái đầu tròn, nhỏ, hơi nghẹo sang bên, lộ ra chiếc cổ cao, trắng tựa như cổ một con bạch mã. “Chíp hôi” cụp mắt xuống chân, giọng nghịch ngợm, bướng bỉnh: - Em đi cả ngày, xểnh một cái là đi, lắm lúc về, mẹ em chửi cho rát mặt. Mẹ em bảo: nhà này có ma hay sao mà mày đi lắm thế. Rồi thì: tao có ăn thịt mày đâu mà cứ bỏ đi cả ngày hả con kia?… Rồi… buồn cười lắm! Em kệ, cứ đi. Mẹ em bảo: sao lúc nào cũng thấy mày nói là học hai buổi thế hử… Mà làm bộ đội như các anh chắc là đi nhiều lắm anh nhỉ? Thích thật, em chỉ mong mình là con trai… Anh ngả người ra sau, bắt tay trước bụng, hai ngón cái chạm đầu vào nhau, quay tròn. “Chíp hôi” vẫn nói, cổ vẫn nghẹo, đột nhiên ngước nhìn thẳng vào mặt anh. Anh cố gắng nhìn lại, thật sâu vào đôi mắt đen hun hút ấy để chứng tỏ rằng mình vô tư, coi “Chíp hôi” như một thằng bạn. Nhưng tim anh cứ nhói lên, toàn thân rung nhẹ bởi trạng thái hồi hộp, phấp phỏng và anh ao ước cứ được ngồi mãi thế này, chỉ để ngắm và nghe “Chíp hôi” nói. Giá như đây là nhà anh, giá như anh không phải trở về đơn vị để trực máy, để ngắm nhìn những khóm lau buồn bã, nhàm chán vây quanh doanh trại. Lính thông tin phải di chuyển liên tục. Hơn mười năm khoác áo lính, giờ đây, anh thèm khát một nơi cố định, một tổ ấm nho nhỏ. - Thế trong cuộc sống, em thích nhất cái gì? Anh hỏi, để nối tiếp câu chuyện, để xoá đi cái khoảng im lặng nguy hiểm thường có giữa hai người mới quen nhau. “Chíp hôi” lại nghẹo đầu, nhưng lần này thì xuất hiện sự tinh nghịch: - Chả thích gì cả. Cách nói trống không ở một cô gái mới lớn thường tạo cho họ vẻ ngộ nghĩnh. Nói trống không, tức là đang tìm cách khẳng định mình, rằng mình là một người lớn, một cá thể, để đối thoại chứ không để nghe dạy bảo. Anh rót một cốc nước trắng cho “Chíp hôi”. “Chíp hôi” không uống, vươn người về phía trước, dùng ngón trỏ của tay trái chấm nước vẽ lên mặt bàn những hình nguệch ngoạc. Những hình vẽ bằng nước ấy nằm trên mặt kính trông bí ẩn như kí tự cổ. Anh lén nhìn bàn tay “Chíp hôi”, nó trắng nhưng không nuột nà như anh tưởng tượng mà có những nếp nhăn ở các đốt. “Giá được xem lòng bàn tay của cô ta”. Anh nghĩ thầm bởi vì chưa bao giờ anh cầm tay một cô gái nào, nói thẳng ra, anh chưa yêu ai mặc dù anh là viên thượng uý đứng tuổi và lần nào về phép mẹ anh cũng giục toáy lên chuyện vợ con. - Thế ba sao một gạch to hơn hai sao hai gạch ạ? “Chíp hôi” tò mò hỏi, ngón út uốn cong lên kiêu kỳ. - Không, nhỏ hơn - Anh đáp rồi đột nhiên cao giọng hỏi: - Năm nay em bao nhiêu tuổi? - Em tuổi Tỵ. - Đinh à. - Vâng. - Gay rồi - Anh ré lên, cố tò mò, ra chiều ồn ã để cứu vớt sự trầm lặng quá đà - Tuổi ấy hai lần đò. - Em biết rồi - “Chíp hôi” cong môi, xoè bàn tay trước mặt mình - Ai tuổi này cũng thế cả. Anh tuổi gì? - Cũng thế. - Anh hơn em một giáp. - Mười hai năm. Anh vội vã nói ra con số cụ thể và điếng người. Tất cả những hy vọng mong manh từ nãy đã sụp đổ. Anh cảm giác mình đang già đi từng giây một, khuôn mặt anh co rúm lại, chực biến mất. “Chíp hôi” trẻ thế kia, đẹp thế kia, vô tư thế kia… Tim anh nhói đau, sau đó trở lại bình thường và nỗi buồn nhè nhẹ lan khắp người. Câu chuyện trở nên gượng gạo, cũng may, lúc đó chị bạn trở về và hai người tạm biệt nhau. Lúc đứng dậy, “Chíp hôi” luống cuống chào anh bằng chú. Anh không cười, không tức. Anh thực sự dửng dưng, dửng dưng như một cốc thuỷ tinh đặt ở góc tường. Trái ngược với lần đầu, lần gặp thứ hai, vai trò bị đảo ngược. Anh trở thành kẻ bị truy hỏi, rụt rè, ấp úng, các câu nói cứ díu lại. Còn “Chíp hôi” thì trở nên tự tin hơn, mọi cử chỉ đều tự nhiên thoải mái. “Chíp hôi” coi anh là một cô bạn. Anh và “chíp hôi” còn tiếp tục gặp nhau lần thứ ba, thứ tư, thứ năm cho đến khi “Chíp hôi” phải về trường, còn đơn vị anh di chuyển lên sát biên giới phía Bắc, nơi núi trập trùng xiết chặt lấy những thung lũng phủ đầy sương trắng. Thời gian đầu anh và “Chíp hôi” viết thư cho nhau đều đặn, nhẫn nại, những lá thư thân mật nhưng không hề có một câu, một chữ nào hy vọng mở ra khúc ngoặt trong quan hệ giữa hai người. Họ chỉ dừng lại ở tình bạn với nỗi phấp phỏng hồi hộp. Những lá thư của “Chíp hôi” bắt đầu thưa dần, ngắn lại, phảng phất sự lạnh lùng. Anh không hình dung được cuộc sống ở trường của “Chíp hôi”, nhưng trong cái tĩnh lặng trong vắt nơi biên ải, anh linh cảm rằng mọi sự đã khác đi. Ai đó đã đến cạnh “Chíp hôi” và thu hút sự quan tâm của cô. Họ không viết thư cho nhau nữa, không bao giờ. “Chíp hôi” và những cuộc gặp gỡ ấy chỉ còn lại trong tâm trí anh như một vết xước dịu dàng. Đó là mối tình đầu tiên của anh, nó không được bày tỏ, thổ lộ, nhưng còn mãi bởi nó đã lưu dấu tận đáy tim anh. Tiêu đề: Re: Chuyện tình dưới đáy ba lô Gửi bởi: hoacuc trong 02 Tháng Năm, 2008, 08:17:59 pm BINH NHÌ VÀ THÔN NỮ Nguồn: Tạp chí Văn nghệ quân đội Cái vùng đồi um tùm lau lách cỏ tranh, lúp xúp sim mọc hình như đã khuất chìm trong sương mù ký ức và con đường mòn chạy từ Bến Tắt - nơi đơn vị tôi đóng quân - đến xóm Lâm - quê em - chỉ là một vệt mờ chập chờn trong cõi nhớ sau hơn hai mươi năm xa cách. Và tôi, chú lính binh nhì thuộc “xêri 74” sạm nắng trong bộ quân phục rộng thùng thình cũng đã khó hình dung lại trong sự cứng cỏi, cằn cỗi có phần già nua của một sĩ quan mang quân hàm cấp tá hôm nay. Nguyễn Hữu Qúy Cái vùng đồi um tùm lau lách cỏ tranh, lúp xúp sim mọc hình như đã khuất chìm trong sương mù ký ức và con đường mòn chạy từ Bến Tắt - nơi đơn vị tôi đóng quân - đến xóm Lâm - quê em - chỉ là một vệt mờ chập chờn trong cõi nhớ sau hơn hai mươi năm xa cách. Và tôi, chú lính binh nhì thuộc “xêri 74” sạm nắng trong bộ quân phục rộng thùng thình cũng đã khó hình dung lại trong sự cứng cỏi, cằn cỗi có phần già nua của một sĩ quan mang quân hàm cấp tá hôm nay. Nhưng em… dư hai thập kỷ đầy giông bão ấy vẫn là nhánh lúa quê ngã bóng lên mảnh - đất - hồn - tôi. Ngày đó, bây giờ và có lẽ mãi mãi! Thuở ấy, tôi còn rất trẻ. Tuổi mười tám, học xong cấp ba, đang ôn thi đại học, tôi được gọi vào bộ đội. Cuộc chiến tranh chống Mỹ đang ở giai đoạn cuối. Tôi nhớ, em cũng vậy, chỉ nhỉnh hơn cái tuổi mười bảy một chút. Trên khuôn mặt trái xoan có phần xanh xao, đôi mắt đen lay láy luôn mở to còn đọng lại nhiều nét thơ ngây, tinh khiết. Bến Tắt là một vùng đồi rộng lớn ở miền tây Vĩnh Linh thuộc bờ bắc thượng nguồn sông Bến Hải. Nơi đây, sim móc nhiều vô kể. Cuối hè, sim miên man chín, từng chùm từng chùm tím mọng rưng rưng trong gió nóng như gọi như mời. Cái thiệt thòi nhất của chúng tôi - những chàng lính trẻ là phải sống xa dân. Làng ở gần nhất cũng đến 9 - 10 cây số. Chính vì thế mà khi em xuất hiện với dáng người mảnh mai còn đẫm hơi sương phảng phất hương hoa chặc chìu cùng gánh rau xanh trên vai thì tất cả cánh lính trẻ chúng tôi đã đồng loạt ồ lên một cách ngạc nhiên và sung sướng. “Thôi đi! các ông tướng! Đến giờ hành quân ra bãi tập rồi đấy. Hôm nay học bắn súng nhớ kiểm tra mang đủ bia cọc, dây dợ đó nghe”. Tiếng tiểu đội trưởng vang lên. Em là ai? Em từ đâu đến?… Trước mắt tôi chập chờn hình ảnh tấm bia “thằng còm” chạy qua. Bên tai tôi văng vẳng câu hỏi vu vơ của trái tim chàng trai vừa vượt qua thời kỳ vỡ giọng. Tiểu đội trưởng giương mắt nhìn tôi: “Quái, mọi ngày cậu ngắm tốt lắm cơ mà. Sao hôm nay cứ chệch choạc đâu đâu ấy”. Kể từ hôm đó, sáng nào em cũng gánh rau lên bán cho đơn vị. Sự có mặt của em đã làm cho cánh lính trẻ chúng tôi xao xuyến. Ai cũng nghĩ cách để làm quen với em, nhưng đâu có dễ. Hình như, em là người ít nói, rụt rè. Vả lại, mỗi buổi sáng khi em đến, thường là chúng tôi đã ra bãi tập. Khi chúng tôi trở về, em không còn ở đấy nữa! Nếu mọi việc cứ như thế thì có lẽ tôi chẳng mất công chép lại chuyện của tôi và em gửi đăng mục “chuyện tình dưới đáy ba lô” của Phụ san VNQĐ làm gì. Bác Chu Lai - người phụ trách chuyên mục - dặn đi dặn lại tôi rằng: nhớ viết cho mãnh liệt, nồng nàn đó nghe. Thưa, chuyện của em với tôi là chuyện có thật trăm phần trăm nhưng nó có nồng nàn mãnh liệt hay không thì chính tôi - người trong cuộc cũng không dám nói. Dù rằng, tôi đã khôn khéo hơn đồng đội của tôi, lặng lẽ đón gặp được em ở quãng đường khuất gần bãi tập vào một buổi sáng tháng bảy thơm nức mùi hoa chặc chìu. Một thoáng ngỡ ngàng, khi em nhận ra tôi, chú lính binh nhì đầm đìa mồ hôi lắp bắp nói: “Lan ơi, bọn mình gửi cho… cho Lan… Lan cái này”. “- úi cha! các anh gửi cho út cái chi đây?”. “Em cứ mang về nhà, mở ra sẽ rõ”. Vật mà tôi dùng làm thông điệp tình cảm của mình gửi tới em là tập thơ “Từ góc sân nhà em” của Trần Đăng Khoa và hai chiếc các-tút đạn A.K. Đó là tập thơ tôi lấy ra từ túi cóc ba lô của mình và hai các-tút đạn tôi bắn đầu tiên trong đời bộ đội. Tôi và em quen nhau từ đó. Con đường mòn thơm nức mùi hoa chặc chìu chạy giữa vùng đồi miên man sim chín trở thành kỷ niệm êm đẹp của chúng tôi. Hàng tuần, tôi bồn chồn chờ mong ngày chủ nhật. Bởi lẽ, đó là dịp tôi có thể tiễn em về một quãng đường hoặc hai đứa được thơ thẩn bên những lùm sim chín mọng. Chúng tôi kể cho nhau nghe những kỷ niệm của tuổi học trò, chuyện về làng quê dân dã của mình. Có lần em hỏi tôi: “Quảng Bình quê anh có giống quê út không?” - “Giống, giống lắm… Lan ạ!” Tôi trả lời và định cầm tay em nói thêm một điều gì đó nữa thì Lan đã nói: “Thôi, trưa rồi út về kẻo mạ trông”… Tôi thầm tự an ủi mình sẽ chờ một dịp khác. Mấy ngày sau, vào một đêm đại đội tập hợp điểm danh phổ biến 4 giờ sáng mai đơn vị được lệnh hành quân vào phía nam làm nhiệm vụ. Linh cảm báo cho tôi biết đây là một chuyến đi dài, đầy gian khổ và có thể hy sinh. Chao ôi, tôi chưa nói với em một điều gì cả, tôi muốn được gặp em lần cuối cùng nhưng không còn cơ hội nào nữa. Không kìm được lòng, tôi gọi mấy thằng bạn thân trong tiểu đội ra thổ lộ và nói lên ý định của mình. Nhìn lên bầu trời đen kịt sắp đổ cơn mưa và thấy việc làm liều lĩnh của tôi là vi phạm kỷ luật nên tất cả đều can ngăn. Không cản được, bọn chúng đành phải để cho tôi chạy bộ gần 20 cây số đường đồi từ Bến Tắt đến xóm Lâm và ngược lại để có được mấy phút gặp em. Cơn mưa mùa hạ trút xuống xối xả từ những bước chạy đầu tiên. Sấm sét ầm ầm. Những tia chớp loé sáng như muốn rạch nát bầu trời. Mặc! Với chiếc đèn pin trong tay tôi lao đi trong mưa gió. Cỏ cây hai bên đường giữa ban ngày hiền lành, gần gụi là thế giờ đây trong ánh chớp, bóng đêm, gió hú, mưa gào bỗng trở thành những hình thù kỳ dị. Như ma, như quỷ hiện lên hù dọa con người. Bước sấp bước ngã, tôi chạy đi tìm em, đến với em để được nói với em một câu tốt đẹp trước khi vào trận. Nếu mai kia tôi không trở về, thì em vẫn tin rằng tình yêu trong sáng của người lính binh nhì là có thật. ý nghĩ ấy tiếp thêm lòng dũng cảm và sức mạnh cho tôi. Khi tôi đặt chân vào nhà em, đồng hồ đã chỉ 10 giờ đêm. Em và cả gia đình sững sờ ngạc nhiên trước sự xuất hiện của tôi. Tôi hào hển thở và nói rõ lý do sự có mặt của mình. Bố mẹ em giục em đốt lửa cho tôi sưởi. “Con dầm mưa thế này dễ bị cảm lạnh lắm”. Tôi cảm ơn gia đình và xin được trở lại đơn vị ngay vì sau một tiếng nữa sẽ đến phiên gác của tôi. Em thảng thốt xin phép bố mẹ tiễn tôi ra cổng. - Sao anh liều thế? Em khẽ khàng nói. - Câu trả lời là của em đấy, Lan ạ! - Tôi cầm tay em. Khác với những lần trước, em vẫn để yên bàn tay nhỏ nhắn trong tay tôi. - Ngày mai anh đi rồi, em nói với anh một điều gì đi? - Đi mô, anh cũng nhớ trở về đây để đưa út ra thăm Quảng Bình nghe - Giọng em run run. - ờ! anh nhớ! anh nhớ! Không thể dùng dằng được nữa, tôi đành chia tay em. Vừa chạy được mấy bước, em gọi tôi lại nói nhỏ: - Chiếc khăn mùi xoa buộc tóc của út, anh cầm lấy để khỏi quên út nghe. Cầm chiếc khăn mềm mại nhỏ bé như vật hộ mệnh, tôi run rẩy đặt chiếc hôn đầu tiên vào môi em rồi vội vã băng đồi, lội suối về đơn vị. Đến nơi, than ôi, tôi chậm mất nửa giờ. Sáng mai, trước khi phát lệnh hành quân, đại đội trưởng đã đọc quyết định kỷ luật tôi: Đó là bản kỷ luật duy nhất tôi mắc phải trong hai mươi bốn năm bộ đội của mình. Một bản kỷ luật ngọt ngào. Hơn hai mươi năm trôi qua. Chiến tranh và cuộc đời bôn ba quân ngũ đã không cho tôi và em thực hiện được ý định của mình. Giờ đây, em đã là cô giáo dạy ở trường tiểu học Gio Sơn - Gio Linh - Quảng Trị. Đã có chồng và hai con. Chồng em cũng là giáo viên. Tôi cũng đã có một tổ ấm. Vợ tôi là bạn đồng nghiệp của em. Hai người thỉnh thoảng vẫn đến thăm nhau. Khi tôi nhắc lại chuyện cũ, vợ tôi và Lan đều cười. - Bộ đội các anh là liều lắm! Lúc ấy, tôi chỉ còn biết gật đầu, thủng thẳng đáp: - Liều, nhưng mà được việc, phải không hai út? Tiêu đề: Re: Chuyện tình dưới đáy ba lô Gửi bởi: hoacuc trong 02 Tháng Năm, 2008, 08:34:53 pm TÌNH NHÂN ÁO TÍM Nguồn: Tạp chí Văn nghệ quân đội Bao giờ cũng vậy, vừa ngồi lên yên là Bạch ôm tròn bụng tôi. Làm chủ tay ga, mắt luôn quan sát, tôi vẫn bị chi phối bởi cái cảm giác êm ái của mái tóc mềm chấm vai và một bên má no đầy bóng mịn màu da bánh mật áp sát vào lưng. Thanh Giang Bao giờ cũng vậy, vừa ngồi lên yên là Bạch ôm tròn bụng tôi. Làm chủ tay ga, mắt luôn quan sát, tôi vẫn bị chi phối bởi cái cảm giác êm ái của mái tóc mềm chấm vai và một bên má no đầy bóng mịn màu da bánh mật áp sát vào lưng. Xe bon ra vùng ngoại ô, phăng phăng vào mênh mông chân trời, mênh mông đồng xanh mát mắt. Rồi rời đường nhựa, sang đường đồng, chiếc Honda nhảy chồm chồm trên những con bờ mẫu, bờ ranh bé xíu như sải ngựa, làm Bạch phải ôm cứng tôi bằng cả hai cánh tay. Bộ ngực săn chắc, tròn lẵn luôn mài cọ vào lưng tôi, cho khoái cảm mà hứng chí, phóng xe điệu nghệ như làm xiếc. Tưởng chưa quen, Bạch phải kêu van tôi, trái lại còn cười khúc khích, thách thức: - Phi giỏi thì Phi bay. Số phận trên một xe, tuy hai mà một. Lo gì lỗ mũi ăn trầu. Đất ruộng, té thì tắm! Khi người ta cứng thì mình phải mềm, tôi đâu dám liều, đến những đoạn quá hẹp hoặc khúc bức, tôi nằn nỉ Bạch xuống để dẫn xe qua. Bạch lại cười khúc khích: - Thì ra mang cái tên Phi làm người ta cũng dễ ảo tưởng! Liếc nhìn Bạch đang xắn quần lội qua đoạn ướt, chân đã đen mà còn sơn móng màu hồng, tôi trả miếng: - Phi không bay thì cũng như Bạch mà không trắng vậy thôi, thủ trưởng ạ! - Không phải thủ trưởng, tổ trưởng thôi! Giọng thanh tao, trong veo, cà rỡn càng dễ thương. Nắng xế, nhưng mát lừng bởi gió lộng của vùng thảo nguyên giờ mới thật sự là mênh mông bát ngát, tiếp giáp với ven đồng Tháp Mười. Xa trông những cụm rừng mặt cật, bù húc nằm rải rác như những hòn đảo trên biển xanh. Cách một cụm rừng khá xa, dưới gốc một cây trâm khẳng khiu có một người đứng vẫy khăn: - Anh Tư kìa! - Bạch hay thiệt! Xa vầy mà nhận ra ảnh? - Răng hô mà hay cười. Chưa thấy người đã thấy hàm răng là biết liền ảnh chớ còn ai. Hay gì mà khen! Nịnh! Anh Tư đón chúng tôi bằng tiếng cười nhiều hơn tiếng nói và chìa ra hai cái khăn bảo: - Bịt vô, lẹ lên! Đó là hai cái mặt nạ bằng vải nin-phăng màu rất mềm, có dây buộc và khoét hai lỗ mắt tí xíu. Chúng tôi đeo mặt nạ xong thì anh Tư cũng rú máy Honda chạy trước dẫn đường. Anh là thủ trưởng cụm biệt động mang mật hiệu N.10; tuy quân số ít, nhưng biên chế tổ chức tương đương cấp tiểu đoàn. Bấy giờ tôi nào biết xa xa những cụm rừng mặt cật, rừng bù húc như những hòn đảo trên biển kia còn có các cụm N.11, N.12 và nhiều N khác. Chúng tôi là bộ phận nội thành, hợp pháp mà kỳ tập nên anh Tư “cưng” chúng tôi kỹ lắm. Vào gần tới cụm rừng, thoáng thấy ẩn hiện chộn rộn trong chòm lá hình nan quạt: những bóng người, những đuôi tóc dài cùng những ánh mắt tò mò, anh Tư hô lớn: - Núp vô! Tức thì bên trong ấy lặng phắc. Sau khi cất xe, anh Tư đưa hai đứa tôi đến… không biết gọi là gì? Nhà, chòi, thum… đều không phải. Đó là một cái dừng bằng ni long kín gián vòng, trên che sơ sài tấm tăng, trong giăng hai cái võng song song, gian cách vài bước chân. Bạch thản nhiên tự chọn cho mình chiếc võng ni long xanh, để hành lý trên cái giá tréo rồi ngồi lên nhún nhún, mắt liếc nhìn kiểm tra hai đầu võng, trong khi tôi còn đứng lừng khừng. Phơi hàm răng hô ra cười, anh Tư như đi guốc trong bụng tôi: - Thằng Phi đòi che riêng hả? Không được đâu! Trong kia hàng trăm người chỉ có một cái. Anh vỗ vai tôi thật mạnh, nắn bóp gân bắp, khen áo pun xanh bóng hợp với khuôn ngực nở; chỉ nơi tắm giặt đi theo bờ Lưu Luyến là có giếng Tình Thương đằng góc rừng, muốn uống nước đá thì tới quán ở ngã ba Tâm Tình, nhưng phải chờ khuất dạng… * Ngủ một giấc xả oải chạy Honda đường đồng, tôi chợt thức. Đêm về khuya, địa bàn lạ, yên tĩnh cũng đến lạ. Gió thì thào rất khẽ trên những tàu mặt cật. Nghe rõ hơi thở đều đều và sâu của Bạch. Lần đầu tiên trong đời thằng con trai mười chín tuổi ngủ kề bên con gái trong ruột không gian vừa kín, vừa hẹp, hơi thở gần tai mình bảo sao không xao xuyến, rạo rực. Từng đóng nhân tình hoạt động, Bạch hăm mốt, người mảnh mai, tóc thả chấm vai, trông xinh giòn như thiếu nữ. Còn tôi thì… lưng nách như thợ cày. Là người chỉ huy, Bạch không bao giờ lên giọng chị , trò chuyện xưng tên rất ngọt diu. Lắm khi đi điều nghiên mục tiêu, ngồi ghế đá nũng nịu, đọc thơ tình Xuân Diệu: “Yêu là chết trong lòng một ít. Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu…” Rồi vừa hôn vờ vừa cấu cái móng tay nhọn vào đùi tôi không thương tiếc. Trong tôi mộng mơ chín dần. Nhưng lúc nào Bạch thấy tôi “ló mòi” liền đưa ngón tay út móng sơn hồng rất xinh mà rất nhọn lên, vừa nguýt dài một cái bén như dao. Hoạt động ở thành, chúng tôi gặp nhau theo hiệp đồng quy, quy ước lịch và điểm hẹn, sau đó không ai biết chỗ ở của ai. Cho nên lần này đối với tôi là “ngàn năm có một!”. Từ những lần hôn vờ, tôi khát khao cái hôn thật. Tiếng thở của Bạch nghe có mùi thơm bay sang tôi như hương một loài hoa tinh khiết nhất trên đời. Chợt Bạch cựa mình, tiếng thở lắng xuống rồi lại nghe xa mờ như đang lắng nghe. Tôi lén nghiêng đầu nhìn sang võng Bạch. Bìa rừng thưa, ánh sao đủ cho thấy huyền ảo qua lớp màn tuyl hình ảnh người đẹp ngủ trong rừng. Nhẹ nhàng tôi khoát mùng, bỏ chân xuống võng, ngồi dậy từ từ đứng lên, bước sang đứng bên võng Bạch. Vẫn gương mặt quen thuộc ấy!? Lòng tôi rung động bồi hồi. Người ngủ cũng có linh cảm, Bạch vụt xoay người nằm nghiêng vào trong khiến tôi giật thót, hồi hộp đến khô cổ. Tôi tự trách mình quá bồng bột bỏ trở về võng. Sự xúc động tình yêu chân chính không cho phép tôi dở trò thô bỉ… Sáng hôm sau chúng tôi bắt đầu học tập, chương trình làm việc mất ba ngày, trong đó có phần nghe chúng tôi báo cáo tình hình, quy luật bố phòng của những mục tiêu đã giao điều nghiên. Và giao đối tượng mới cho chúng tôi hành sự. Nghĩ tới phải còn chịu “tra tấn” qua ba đêm nữa tôi đâm ngán ngẩm. Thừa lúc nghỉ, Bạch đeo mặt nạ đi đâu đó, tôi muốn nói với anh Tư dừng cho tôi một chỗ riêng. May thay lòng tự trọng níu lưỡi tôi lại. Tư tưởng ổn định, chúng tôi nói chuyện về bài học, tình hình trong nước, thế giới, cuộc hòa đàm Paris, nhiệm vụ tới của biệt động Sài Gòn. Tới khuya tôi lại thức. Sự yên tĩnh của rừng mặt cật, gió thì thào mơ hồ. Tiếng thở ngọt ngào của người đẹp ngủ bên mình, hương thơm tỏa lan rừng. Tôi lại ngồi lặng nhìn một vẻ đẹp bí ẩn lần đầu thằng con trai mười chín tuổi khám phá. Từ đôi lông mày cong và mảnh kiêu sa, đến đôi rèm mi dài cong vút đang khép im lìm đường cung vòng nguyệt… Rồi chiếc mũi thon, làn môi đầy mọng như trái chín, đôi má căng bóng ngon lành. Chợt Bạch cựa mình thở mạnh nghiêng mình vào trong, tôi có cảm giác sự chờ đợi bỗng hụt hẫng… * Chúng tôi trở về Sài Gòn với nhiệm vụ cấp bách: nội trong hai ngày phải diệt cho được tên tình báo nguy hiểm. Hắn tên Thăng ở số nhà X, đường Y… Không rõ cấp gì, cũng không có ảnh, chỉ được nghe tả hình dáng: “Râu quai nón, trắng, cao lớn”. Tôi đèo Bạch đến phục trước nhà, ngồi trong quán cà phê đối diện. Tôi nói: - Sao Bạch không hỏi anh Tư xin cái ảnh của tên Thăng? Tả hình dạng gọn lỏn, rủi lầm người giết oan người ta, mang tội! Bạch đáp: - Có ảnh người ta đã đưa! Chúng tôi bước ra ngoài kịp nhìn thấy một người đạp xích lô đúng như hình dáng tả. Tôi thì thầm thắc mắc: - Tờ bờ( T.B: Tình báo.) thứ xịn gì mà đạp xích lô? Bạch chẳng nói gì ngồi lên yên xe, cấu móng tay út nhọn vào bụng tôi. Honda đôi tình nhân tôi rề theo chiếc xích lô đang chở một bà khách chạy về hướng chợ Lớn. Nếu tôi mê Bạch tài kiếm chuyện nói, thì Bạch cũng phải phục tôi nghệ thuật bắt mục tiêu. Chiếc xích lô thả bà khách xuống chợ Lớn, rồi rước bà khách khác chạy lên Sài Gòn. - Nghi nhầm quá? Ngón tay út nhọn lại cấu vào bụng tôi. Khi chiếc xích lô quay về, người có râu quai nón đẩy xe vô trường Đại học sư phạm, băng qua đường Cộng Hòa, vào tổng nha. Từ xa tôi thấy hắn chìa ra tấm cạc xanh và vào. Bấy giờ Bạch mới rỉ tai tôi: - Tên này đang theo dõi một cơ sở, có nguy cơ sắp bể, nên bất cứ giá nào, anh Tư lịnh phải “giải quyết” càng sớm càng tốt. Khi chúng tôi bám theo tên Thăng định hạ thủ thì được lịnh khác: “Không được nổ súng ngoài đường, đặt thuốc nổ tại nhà đánh sập luôn”. Kèm theo lịnh là hai hộp Guigô thuốc nổ C.4. Tôi phàn nàn: - Gì mà phải dùng dao mổ trâu để cắt cổ gà? - Biết đâu chuyện yêu cầu của cấp trên. Cứ chấp hành! Như cái máy, tôi mang mìn vào đặt, khi nắm chắc quy luật về nhà: từ 7 giờ đến tối đến 9 giờ. Dùng kềm Honda tôi bấm kíp axit hai chấm, tức trong khoảng 25 đến 30 phút nổ. Đặt xong, ra ngồi uống cà phê nơi quán xa. Bạch đẩy phin cà phê sang tôi, quậy đường, kiếm chuyện nói một cách duyên dáng. Nhưng tôi giờ thì hơi bực, có phần tự ái giọng điệu chỉ huy của Bạch, phần nữa tập trung lắng nghe tiếng nổ. Quá thời gian hẹn giờ. Bạch gọi thêm nước uống, tôi không dằn được sự lo lắng: - Sao nó không “cười” gì hết? - Trở vô coi sao? - Biết nó nổ lúc nào? Tới bất tử nó nổ mình lãnh đủ sao? - Không dám thì chở Bạch đi! Chỉ chỗ Bạch vô. Để lộ thì chết! - Nguy hiểm lắm! Thôi bỏ đi. Bạch đứng dậy thì thầm: - Còn lời hứa với anh Tư thì sao? Sáng mai tới điểm Z, Phi chở Bạch, ta dùng súng bắn vậy. Nhưng sáng hôm sau tới thì trái đã nổ hồi 4 giờ khuya, sập một góc nhà phía sau, người ta bu đông. Mặt Bạch thoáng vẻ rầu rĩ: “Cái nhà sập, nó cảnh giác. Nhiệm vụ không hoàn thành. Thời gian đã hết!” Vừa lúc tên Thăng đạp xích lô về. - Hành động! - Bạch thì thầm. - Chưa chuẩn bị! - Tôi đáp - Cảnh sát đông quá! - Thôi đến trưa, mười một giờ. Trưa, tôi đến điểm hẹn, chở Bạch. Với áo dài tím, bóp đầm kính mát xanh, trông Bạch vừa sang trọng vừa uy vũ. Tôi cảm thấy diễm phúc tràn ngập phơi phới lạ lùng. Đôi tình nhân đang đi dự liên hoan, tôi không cảm giác mình đóng giả vờ chút nào. Khi đến nhà tên Thăng, tình huống thật bất ngờ! Một tiểu đoàn lính dù vừa thua trận ở Dầu Tiếng về đóng quanh vùng. Bên cạnh nhà Thăng nhiều quán xá, lính vào uống cà phê, ăn hủ tiếu, súng dựng làng khang. Tôi chạy qua luôn. Bạch cấu móng tay bảo dừng. Tôi chạy chậm lại, hỏi: - Diệt nó, mình làm sao thoát? - Vậy là không hoàn thành nhiệm vụ sao? - Tại thuốc không nổ đúng giờ chớ tại mình đâu? - Đúng đổ thừa thuốc nổ, lỗi khách quan để chạy trốn trách nhiệm. Mình đã nhụt trí với bất cứ giá nào để cứu một cơ sở. - Thế mình không phải là cơ sở sao? Tôi chợt nghe hơi thở Bạch dồn dập phía sau gáy, gay gắt: - Bây giờ anh nói thiệt đi. Có phải anh sợ không? Hễ anh nói sợ là về! - Bạch lần đầu gọi tôi bằng anh dằn mạnh như quả - Về báo cáo với anh Tư như vậy! Tôi dừng xe, tấp lên lề, nhìn Bạch, xuống giọng: - Sợ thì Phi không sợ. Nhưng nghĩ phải bảo tồn lực lượng… - Còn Bạch dù có hy sinh, Bạch cũng hoàn thành nhiệm vụ. Phi chở Bạch đi, để Bạch hành động. - ừ, thì đi! - Nói vậy nhưng quả thật tôi có run sợ. Biết chắc, nổ một phát giữa một vùng lính đặc nghẹt, nó bu vô là cầm chắc vô tù! Nếu không vì yêu Bạch, không nổi tự ái của thằng con trai, tôi rút lui rồi. Khi xe quay lại, tôi dừng ngay cửa nhà Thăng theo điều khiển của Bạch, xuống xe, nổ máy chờ. Bạch ung dung đi vào khi đã dặn tôi: - Anh ở ngoài ngăn cản bất cứ ai vào, để mình em hành động. Nếu em bị sự cố, anh vọt luôn, để nếu thiệt hại chỉ một mình em! Giây phút quyết định số phận cực kỳ căng thẳng, Bạch xưng hô không nhất quán, song rất tự nhiên như sẵn trong tiềm thức. Những lời như mệnh lệnh, như lời trăn trối. Hành động dũng cảm tuyệt vời, táo bạo tự tin của Bạch như ánh chớp của sấm sét thiêu cháy tức khắc nỗi sợ, khiến tôi tỉnh táo trở lại. Trước nhà tên Thăng có bảng đề: Y tá chích thuốc tư. Bạch đi vào tự nhiên như khách hàng. Nhưng rồi trở ra khi nhìn thấy tên Thăng đang ngồi ăn quán, bàn trong cùng, Bạch đi thẳng vào quán và kín đáo rút súng. Tức thì vang lên giọng con gái trong vắt: - Ai đâu ngồi yên đó! Nhúc nhích tôi bắn chết liền. Cả quán, bọn lính dù đang ăn nhậu ồn ào thoắt lặng trang. Có tên gắp miếng thịt giữa chừng không dám để xuống. Ai có thể ngờ một cô gái áo tím mảnh mai, sang trọng như vậy? Bạch tiến thẳng đến bàn tên Thăng, dõng dạc: - Mầy là thằng Thăng, có nợ máu với nhân dân. Bữa nay mầy phải đền tội! Tên Thăng chưa kịp há miệng râu quai nón đã lãnh hai phát đạn K54 vào ngực, chết tốt. Hai lính vệ sĩ chực phản ứng, tức khắc lãnh hai phát nữa. Một lính dù toan gạt chân chặn đường ra Bạch rãy một phát, ngã gục. Xe tôi vẫn mở máy, vừa nghe Bạch chạm lên yên là gài số một, vọt, nòng súng của Bạch còn bốc khói. Một lính dù gác đầu trên, nghe nổ, chạy xuống chửi thề hỏi vang rân. Tôi thò tay vào bụng toan móc súng nhưng Bạch nhanh hơn nắm tay tôi kéo ra: - Để em lo cho - Bạch nhóng đầu qua vai tôi, nói lớn - lính dù ăn nhậu bắn lộn nhau đằng đó mà. Rẽ mấy khúc ngoặt giao lộ, Bạch cởi xong áo dài tím để còn lại bên trong chiếc áo mỏng cổ lá sen màu da trời. - Mình ra bến Bạch Đằng ăn kem, hóng mát sông Sài Gòn đi anh! Tiêu đề: Re: Chuyện tình dưới đáy ba lô Gửi bởi: hoacuc trong 03 Tháng Năm, 2008, 10:50:17 am HOA BẠC HÀ VẪN NỞ Nguồn: Tạp chí VNQĐ[/b][/i] Đã 4 năm rồi tôi mới có dịp trở lại Hà Giang nhân hội nghị bàn về công tác phối hợp bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới. Gần giữa buổi, người phụ nữ mặc váy áo Mông rực rỡ lên bục, cùng với lời giới thiệu: Chị Giàng Thị May, cán bộ Hội phụ nữ huyện MV… “Tôi sững sờ không tin nổi mắt mình. Đúng là May rồi! Khuôn mặt ấy, đôi mắt một mí lanh lợi bạo dạn ấy, dáng người ấy… tôi chả còn nghe được May nói gì mặc dù ngồi kề ngay chiếc loa thùng. Giờ giải lao, tôi đứng chặn ở cửa. May như thả bước ra. Đỗ Bích Thuý Đã 4 năm rồi tôi mới có dịp trở lại Hà Giang nhân hội nghị bàn về công tác phối hợp bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới. Gần giữa buổi, người phụ nữ mặc váy áo Mông rực rỡ lên bục, cùng với lời giới thiệu: Chị Giàng Thị May, cán bộ Hội phụ nữ huyện MV… “Tôi sững sờ không tin nổi mắt mình. Đúng là May rồi! Khuôn mặt ấy, đôi mắt một mí lanh lợi bạo dạn ấy, dáng người ấy… tôi chả còn nghe được May nói gì mặc dù ngồi kề ngay chiếc loa thùng. Giờ giải lao, tôi đứng chặn ở cửa. May như thả bước ra. - May! - Tôi gọi khẽ, tim đập thình thịch. - ấy dà! Ai thế này? Anh Tuấn phải không? Phải rồi, thật rồi!… May cuống lên, ngỡ ngàng nhìn tôi. * Ngày ấy… Ban chỉ huy đồn phân công tôi phụ trách lớp tập huấn kiến thức KHHGĐ cho chị em ở Lùng Séo, một xóm cách đồn hai giờ đi bộ. Đây là công việc thường xuyên của đồn, có ngại cũng không né tránh được mà tôi thì mới 21 tuổi, trẻ măng, và lại chỉ ngại thời gian đầu, sau rồi quen, cứ nói như bắn súng đại liên, lắm lúc quên cả mình chưa vợ. Lớp tập huấn vào buổi tối ở nhà trưởng bản. Buổi đầu tôi mê mải giảng bài, không có gì đặc biệt xảy ra. Nhưng buổi thứ hai thì tôi bắt đầu chú ý tới một phụ nữ, đúng ra là một cô gái, ngồi tít trong góc nhà, lại hình như rất thờ ơ có vẻ như ngủ gật. Hết buổi, tôi nhờ ông trưởng bản gọi cô ta lại hỏi cho cặn kẽ. - Cô có hiểu tôi giảng gì không? - Chi pây hầy! (Không biết đâu). - Cô không hiểu chỗ nào? Cô im lặng. Lúc mọi người về hết, ngồi bên bếp lửa, ông trưởng bản hút thuốc lào mù mịt kể cho tôi nghe về cô gái này: May về làm dâu nhà ông Lử lúc mười lăm tuổi. Thằng Chài - chồng May, mới mười ba, đi chăn bò ăn trụi cả vạt ngô mới lên. Lấy nhau được nửa năm thì thằng Chài chết vì bị rắn cắn, May ở lại nhà ông Lử cho tới giờ. “Bộ đội biên phòng giảng kế hoạch hoá nó không hiểu là phải thôi. Có được làm vợ thật đâu mà hiểu. Mà cũng có khi nó buồn, nó chán à”. Ông trưởng bản cười khà khà. Sau lớp tập huấn, tôi được cử ở lại tổ công tác Lùng Séo luôn. Nghe nói May có giọng hát hay, tôi bảo anh bí thư đoàn xã vận động May tham gia hoạt động đoàn, anh giãy nảy: “Bố chồng nó dữ lắm bộ đội à. Nó có hát hay như con chim rừng cũng chịu thôi, không mang đi được đâu”. Tôi phải nhờ đến Bí thư chi bộ. Rồi May cũng được tham gia. Nhưng cô dè dặt lắm, thi thoảng mới hát. Cô cũng theo học lớp xoá mù chữ mà tôi và tổ trưởng Luân thay nhau đứng lớp. Giữa đám con gái cùng lứa tươi vui phơi phới, May như lạc lõng với gương mặt trầm cảm u uất, hiếm khi thấy cô nở nụ cười. Chính điều ấy lại khiến tôi chú ý tới May. Cái khoảng cách mà tôi gắng đẩy xa ra giữa tôi và em dường như cứ xích lại gần. Sau mỗi buổi lên lớp, tôi bắt gặp ánh mắt đăm đăm như có lửa của em. Hèn gì các mẹ cứ bảo: “Con May mà chưa có chồng thì phiên chợ nào đàn ông cũng quên lối về”. Tổ trưởng Luân nửa đùa nửa thật: “Cậu bị con gái Mông chài rồi. Mà lại là gái đã có chồng mới chết chứ lị. Không khéo bố chồng nó kiện thì kỷ luật rồi về quê sớm”. Tôi biết Luân lo cho tôi. Từ hôm ấy tôi thường tránh May mỗi khi em mang đến cho tổ công tác mớ rau cải, quả bí ngô… Phong trào Đoàn của xã ngày càng đi lên trông thấy, đã có ý kiến đại hội tới sẽ đưa May vào ban chấp hành. Lẽ ra phải mừng thì tôi lại lo. Tôi lo không biết phải làm gì đến khỏi bối rối, hoang mang mỗi khi đến sinh hoạt với chi đoàn, gặp May. Một buổi chiều, tôi vừa xuống suối tắm giặt trở lên thì gặp May đang đứng chặn giữa đường: - Bộ đội Tuấn sợ May bỏ bùa à? - Không… không… sao May nghĩ thế! - Không thì sao lại tránh mặt? Bộ đội không tốt. Bộ đội cũng giống lũ trai bản này thôi… Hình như giọng May nghèn nghẹn. Tôi cuống quýt gọi nhưng đôi chân quấn xà cạp đã bước đi thoăn thoắt. Tôi nhìn theo hút bóng em lần dần vào những mảng hoa bạc hà đang độ tím ngăn ngắt. Tự dưng trong lòng trào lên một cảm giác bồn chồn đến khó tả. Ba hôm sau ông Lử - bố chồng May đến tận tổ, nhắn Luân bảo tôi đến chơi. Luân có vẻ lo lắng: - Cậu làm gì cô May rồi phải không? - Đừng có bậy bạ! - Thế sao bỗng dưng ông Lử lại tìm cậu? - Có trời biết. Tớ chả sợ! Nói vậy nhưng thực ra tôi cũng run. Nhà ông Lử làm ngay dưới chân núi, vách thưng ván gỗ, vườn rộng rãi và xếp đá thành hàng rào. Ông Lử gần như không nói gì, rót cho tôi liền hai bát rượu pha mật ong, thứ mật ong hút từ hoa bạc hà ngả màu vàng sậm làm cho rượu ngon ngọt, thơm lừng. Chếnh choáng rồi ông Lử mới bảo: “Bộ đội ra vườn với tao”. Một đoạn bờ rào bị sập xuống, chẳng biết do trâu bò hay mưa gió, ông bảo tôi cùng xếp lại. Nhưng chỉ lát sau thì ông để tôi ở lại rồi đi đâu mất. Tôi hì hục xếp nhưng không sao ra hình thù cái bờ rào, cứ chồng đá lên lại đổ. Đá đổ cả vào đám bạc hà làm lá dập, mùi thơm hăng hăng xộc vào mũi vào mắt tôi. Nắng đã lên đến đầu mà trước mặt tôi vẫn chỉ là đống đá to lù lù. Mệt! Mồ hôi mồ kê túa ra nhễ nhại. Lúc này thì tôi đói và bực mình thực sự. Cái chõng tre ở hồi nhà có khói thuốc lào lãng đãng bay lên, quyện vào cành lá cây. Thấy ông Lử thấp thoáng ở đó. Hình như ông vừa nằm khểnh, rung đùi thích thú với cái sự xếp đá hàng rào bên đám bạc hà của tôi. Tôi gào lên: - Ông mắng chửi tôi, làm đơn kiện tôi thì làm đi. Sao lại vẽ trò này. Tôi yêu, tôi thương con dâu ông đấy. Nhưng tôi đã làm gì nên tội… Đang xăm xoi đoạn bờ rào cũ phẳng mà dựng đứng như đổ bê tông, tôi ngờ có chất keo dính nào đó, thì bà Lử đến khẽ bảo: - Thôi, bộ đội về đi. Cái tay cầm súng thì quen chứ làm vườn khó lắm đấy. Bà mủm mỉm cười. Không kịp rửa tay, tôi đứng ở vườn chào rồi về. Tôi chịu, không hiểu ông Lử muốn gì ở tôi. Hôm sau, đột ngột tôi được lệnh về tỉnh gấp. Tôi không kịp chào bà con Lùng Séo, vả lại cũng nghĩ chỉ đi vài bữa lại lên. Đến khúc rẽ cánh Lùng Séo độ nửa giờ đi bộ thì tôi gặp May. Cô đưa cho tôi nắm xôi và một chùm hoa bạc hà rồi quyết định quay đi luôn. Tôi chộp lấy tay em, bàn tay chai sạn, nứt nẻ nóng hầm hập: - May ơi, tôi chỉ đi vài ngày thôi. May ở lại… khỏe nhé. - Anh Tuấn chỉ nói thế thôi à? - Kìa May! Tôi ngại… Tôi sợ làm khổ May. May là gái đã có chồng. Nhưng bây giờ, không lẽ… ông Lử… Tôi chưa nói hết câu thì May đã chạy vụt đi. Ngồi trong xe ô tô mà lòng tôi cứ da diết thương May và giận ông Lử. Chùm hoa bạc hà tím ngăn ngắt, thơm cay cay làm tôi ứa nước mắt. Không ngờ chuyến công tác ấy của tôi lại dài đến thế. Tôi về tỉnh nhận lệnh điều chuyển sang một đồn khác, rồi lại về tỉnh, sau nữa là về Bộ Tư lệnh cho đến giờ. Đã 4 năm… * “Anh ngốc thật đấy. Hôm bố gọi anh sang, cho ra vườn để thử xem anh có làm con rể bố được không. Vậy mà lại lo cuống lên…”. May kể lại. Tôi nghệt ra: “Sao lại là con rể?”. Thì cũng gần như thế. Từ ngày Chài mất, em được các cụ thương lắm, coi như con đẻ rồi. Mà ở bản em muốn làm rể thì phải qua thử thách. Bố bảo: “Thằng Tuấn không khéo, nhưng thật bụng…”. Bố hút thuốc lào ở chõng tre, chờ anh vào để uống rượu rồi nói… Nhưng anh chào và đi luôn… bố buồn. Ôi! Thế là tôi ngốc thật. Tôi bảo May: “May ơi, anh nhớ rượu mật ong lắm đấy!”. May cười: “Chai rượu hôm xếp đá vẫn còn. Bố đang để phần. Mùa này lại có hoa bạc hà rồi!”. Tiêu đề: Re: Chuyện tình dưới đáy ba lô Gửi bởi: hoacuc trong 03 Tháng Năm, 2008, 10:55:22 am LÁ CÂY "VÔ TÌNH" VẪN THẮM 1972- 1999. Đúng 27 năm chúng tôi mới có một cuộc gặp gỡ lại nhau. Và cũng có dễ đến mười năm nay tôi mới lại có một đêm ngủ lại quê nhà - nơi tôi đã sống cả một thời thơ dại trước khi nhập ngũ. Ngủ trong chính ngôi nhà mình, mà không hiểu sao, suốt đêm tôi trằn trọc không tài nào chợp mắt được. Ngày mai tôi sẽ gặp lại tất cả bạn bè hồi còn học phổ thông trung học, ngày mai tôi sẽ gặp lại Xe… Hoàng Thụy Lâm 1972- 1999. Đúng 27 năm chúng tôi mới có một cuộc gặp gỡ lại nhau. Và cũng có dễ đến mười năm nay tôi mới lại có một đêm ngủ lại quê nhà - nơi tôi đã sống cả một thời thơ dại trước khi nhập ngũ. Ngủ trong chính ngôi nhà mình, mà không hiểu sao, suốt đêm tôi trằn trọc không tài nào chợp mắt được. Ngày mai tôi sẽ gặp lại tất cả bạn bè hồi còn học phổ thông trung học, ngày mai tôi sẽ gặp lại Xe… Tôi và Xe ở khác làng nhau, nhưng học chung một lớp suốt cả gần ba năm cấp III. Xe hơn tôi một tuổi thôi, nhưng lúc nào cũng tỏ ra là “đàn chị” nên nói chung là ít trò chuyện với nhau. Xe có nước da trắng, đôi mắt buồn và khi nào đến lớp cũng mặc một chiếc áo bà ba màu “xanh sĩ lâm”… Tôi biết về Xe chỉ có vậy. Mấy anh lớp trên, mấy anh hơn tuổi cùng lớp luôn “tìm cớ” để gặp được Xe; còn tôi thì không. Tôi là thằng học giỏi nhất nhì trong lớp, lại có chân trong “ban cán sự”, tôi không muốn mất thời gian vào những chuyện mà tôi cho là viển vông. Nhưng trước ngày tôi có lệnh “ra phục vụ tại ngũ” thì mọi chuyện trở nên rất khác. Buổi sáng trước khi lên đường, vừa từ một cuộc chia tay với các thầy cô đi ra, tôi gặp Xe. Xe đứng chờ tôi ngoài hành lang phòng họp Hội đồng nhà trường với vẻ mặt rất buồn. Xe hỏi: “Hai giờ chiều tập trung ở huyện đội?”. Tôi: “ừ”. “Về nhà bằng gì, đi bộ à?” - Xe lại hỏi. Tôi vẫn “ừ”. “Lên xe đạp cùng về đi” - Xe nói. Tôi trả lời: “Quen đi bộ rồi. Vả lại, cũng nên hành quân bộ cho quen dần với đời lính”… Thế là người dắt xe, người đi bộ bên nhau suốt dọc sân trường. Đang là dịp nghỉ hè nên trường rất vắng. Lá cây “vô tình” rụng đỏ lối đi. Tôi đã đi nhiều nơi, nhưng không thấy nơi nào có thứ lá cây như vậy. Chẳng biết tên thật của loài cây này là gì nhưng ngày ấy, các thầy cô, những người trồng loài cây này gọi là cây Rết - Đờ - Hê Miêng, còn cánh học trò chúng tôi thì gọi nó là cây vô tình. Vô tình không biết hè đã đến, vô tình rụng trên những bờ vai, vô tình rơi vào cửa sổ … Cậu Tuệ “thi sĩ” lớp tôi thì thêm câu thơ: “Lá ơi, lá ơi/ Sao đỏ đến vô tình”. Tôi và Xe rảo bước trên cái nền lá ấy, không ai nói với ai. Sắp đến lối về làng, Xe bảo: “Có cái này làm kỷ niệm cho An”. Tôi dửng dưng đón nhận chiếc bút máy hiệu Trường Sơn để trong một cái túi nhỏ mầu đỏ, miệng túi tòn ten một quả bông xanh và “Cám ơn”. Xe nhìn tôi và giọng em như lạc hẳn đi: “An đi, bình an nhé! Nhớ viết thư về…” Nói rồi lên xe đạp vun vút, vun vút. Tôi nhìn theo cái bóng nhỏ, nhỏ dần, nhỏ dần trên cánh đồng chang chang nắng mà lòng thấy dửng dưng. Tôi đang ngổn ngang trăm ý nghĩ về những ngày đã qua và những ngày sắp tới của tôi. Mãi những ngày sau đó, khi đã trở thành người lính thực thụ, đã ở rừng, đã lội suối, vượt đèo, đã biết thế nào là “cháo bẹ, rau măng”, đã hiểu vì sao có câu “ba lô con cóc, anh đi, em khóc” tôi mới thấy hết giá trị của cái vật kỷ niệm nhỏ bé mà Xe đã trao cho tôi trước buổi lên đường. Những lúc buồn nhất, gian khổ nhất tôi lại giở cây bút Trường Sơn với cái túi đỏ có quả bông màu xanh ra. Nó trở thành người bạn bất ly thân trên những nẻo đường hành quân của tôi. Nó như có sức mạnh vô hình nâng đỡ tôi những lúc buồn, buồn tưởng như không còn chịu đựng được nữa. Cầm trên tay kỷ vật của Xe, nhớ Xe, tôi đã mấy lần ghi thư về cho Xe mà không hiểu sao không có được một lần hồi âm. Tôi buồn lắm, nhưng nỗi buồn cũng phôi phai bởi cuộc sống nhà binh bộn bề công việc, bởi công việc, bởi thời gian, thời gian cứ vùn vụt trôi đi như “bóng câu cửa sổ”… Tôi lấy vợ, sinh con và sống bình thường nơi thành thị như bao người khác. Một mùa hè xa lắm với những chiếc lá vô tình đỏ ối thủa nào tưởng đã qua đi, đi qua không bao giờ trở lại, đâu ngờ lại trở về. … Ngày mai tôi sẽ gặp lại Xe và bè bạn thuở nào. Tôi mong trời mau sáng, tôi hồi hộp trước một cuộc hội ngộ sau 27 năm trời. Tôi bí mật gài cây bút Trường Sơn lên nắp túi áo nhà binh và cố ý để cho quả bông màu xanh tòn ten trước ngực - cái quả bông xanh đã theo tôi đi qua một nửa đời người mà còn như chửa phai màu. Giữa ồn ào bè bạn, giữa những cái bắt tay và tiếng ly, tiếng cốc chạm nhau canh cách, tôi vẫn nhận ra cái bóng nhỏ cũng như tiếng nói rất nhỏ của Xe. Xe vẫn như ngày nào, nước da trắng, chiếc áo may theo kiểu bà ba và đôi mắt buồn buồn. Cái khác duy nhất tôi nhận được ở Xe là mái tóc, mái tóc dường như thưa hơn và nhìn kỹ đã thấy dăm ba sợi bạc… Lúc tôi đến chạm cốc với cánh chị em (ở quê tôi vẫn theo tục cũ đàn ông cùng ngồi mâm đàn ông, đàn bà ngồi cùng mâm đàn bà), Xe ngước mắt nhìn tôi một thoáng rồi cúi xuống mâm mê chiếc cốc còn đựng đầy bia “Bắc Sông Hồng”. Đợi khi tôi đã chạm cốc hết cả vòng mâm Xe mới khẽ khàng hỏi: “Mấy con?”. Tôi: “Một”. Xe: “Tham thế! Thảo nào bụng đã hơi phề phệ”. Tôi cười rút vội chiếc danh thiếp đưa Xe và lại tiếp tục với công việc chạm cốc, bắt tay, chào hỏi những người bạn khác… Cuộc vui hội ngộ kết thúc lúc làng xóm đã lên đèn. Giữa ồn ào, nhốn nháo của bữa tiệc tàn, tôi vẫn nhận ra bóng dáng và tiếng nói của Xe. Xe bảo: “Được nghỉ có lâu không?”. Tôi: “Mai đi”. Xe: “Vội thế, có việc nhờ đấy nhé”. Tôi: “Sẵn sàng”… Vừa nói được có thế Xe như bị đám đông cuốn đi. Tôi chỉ còn kịp nhận ra cái bóng nhỏ bé của Xe khuất dần sau cánh cổng. Một tuần sau tôi có khách lạ. ấy là một thiếu nữ mà khi cháu mới bước vào cửa, tôi đã suýt buộc miệng kêu lên: “Xe”!. Cháu giống mẹ lúc trẻ như hai giọt nước. Giống cả từ nước da, tiếng nói, ánh mắt đến ăn vận (chiếc áo may theo kiểu bà ba màu xanh sĩ lâm). Cháu lễ phép đưa tôi phong thư: “Mẹ Xe con gửi chú thư này”. Tối đó, nhà tôi đưa cháu đi ra ngoài phố sắm thêm ít đồ trước khi cháu vào ký túc xá trường đại học Bách khoa. Tôi giở thư Xe ra đọc. Thư viết rằng, Xe nhờ vợ chồng tôi đưa cháu nhập học, lại nói thêm “nhờ cô chú trông nom, bảo ban cháu thành người” và nữa thật nửa đùa: “Biết đâu duyên trời run rủi, tạo hoá chẳng vô tình chúng tôi và cô chú lại trở thành thông gia với nhau. Chữ “tạo hóa chẳng vô tình”. Xe khẽ nhẹ gạch chân. Kèm theo thư là một chiếc lá được ép phẳng. Đó là, lá cây vô tình đã khô nhưng màu còn rất đỏ, ở phía cuống lá ghi vẻn vẹn mấy con số: 7.3.1972 và chữ X.A bằng mực tím, màu đã phai nhưng còn đọc được. Tôi cầm trên tay chiếc lá vô tình mà lòng không thể dửng dưng. Chiếc lá của loài cây mà chỉ quê tôi mới có, chiếc lá duy nhất có ở trên đời (Có lẽ chỉ có tôi và Xe mới hiểu được những con số và hai chữ viết trên đó. Bảy tháng ba năm một chín bảy hai là ngày tôi lên đường nhập ngũ, còn chữ XA là tên tôi và tên Xe ghép thành - XE + AN). Chiếc lá ấy đã đi cùng Xe suốt 27 năm trời cũng như chiếc bút Trường Sơn có quả bông màu xanh đã theo tôi cũng ngần ấy tháng ngày suốt thời quân ngũ. Tôi đã nảy ra một ý nghĩ rằng, sẽ gửi lại cho Xe chiếc bút Trường Sơn có quả bông màu xanh kia - để em biết lòng tôi. Nhưng nghĩ thế nào lại thôi, bởi tôi không muốn nó và chiếc lá vô tình kia cứ phải xa nhau mãi. Gần ba chục năm ròng còn gì! Chúng sẽ bên nhau, bên tôi và có lẽ bên cả Xe nữa, mãi mãi. Chắc ở quê nhà Xe cũng mong như vậy. Và không hiểu sao cứ thứ bảy mỗi tuần tôi lại ra trước cổng nhà ngóng đợi cháu, con gái Xe mà bấy nay vợ chồng tôi đã coi như con gái từ ký túc xá sinh viên về. Nguồn: Tạp chí VNQĐ Tiêu đề: Re: Chuyện tình dưới đáy ba lô Gửi bởi: hoacuc trong 14 Tháng Năm, 2008, 05:29:42 am CHUYỆN TÌNH CỦA NGƯỜI ĐỘI TRƯỞNG BIỆT ĐỘNG SÀI GÒN Khi còn ngồi trên ghế nhà trường, trong những năm đánh Mỹ, tôi đã nghe những trận đánh vang dội của Biệt động Sài Gòn vào các khách sạn, tòa đại sứ Mỹ... Câu chuyện về họ như một huyền thoại, mà lứa tuổi ấu thơ của tôi mong được gặp những chiến sĩ kiên cường ấy. Mới đây, tôi nghe tin ông Nguyễn Thanh Xuân, đội trưởng đội 5 Biệt động Sài Gòn đã ra đi. Tôi vội tìm đến nhà ông, và may mắn được gặp vợ ông-bà Vũ Minh Nghĩa, cũng là một chiến sĩ của đội 5 Biệt động Sài Gòn. Bà đã kể cho tôi nghe những chiến công lẫy lừng và chuyện tình éo le của người đội trưởng đội 5 Biệt động Sài Gòn. (http://i295.photobucket.com/albums/mm157/cuchoa/vuminhnghia.jpg) Những chiến công vang dội Ông Nguyễn Thanh Xuân (thường gọi là Bẩy Bê), sinh năm 1930, ở Hàm Đức, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận. Ông tham gia chiến đấu ở trung đoàn 62 tỉnh Bình Thuận từ năm 1947. Ngay từ những trận đánh đầu tiên ông đã thể hiện tinh thần dũng cảm, mưu trí sáng tạo trong đánh địch, ông được kết nạp Đảng năm 1949. Năm 1956, tổ chức đưa ông vào Sài Gòn hoạt động với nhiều nghề nghiệp khác nhau để che mắt địch, lúc thì đạp xích lô, đạp xe ba gác, thợ may, bán dừa tươi, bán nước sâm, rau má… Ông bị địch bắt lần thứ nhất vào năm 1958. Sau ba năm giam cầm, không khai thác được gì, chúng buộc phải thả ông. Ra tù, ông về công tác ở ban Quân báo miền. Năm 1964, ông được giao chỉ huy đội 5 Biệt động Sài Gòn. Năm 1966 ông bị địch bắt, đày đi Côn Đảo cho đến năm 1973 mới được thả. Thời kỳ là đội trưởng đội 5 Biệt động Sài Gòn, ông đã lập nên những chiến công vang dội làm chấn động cả thế giới, khiến kẻ thù hoang mang lo sợ. Những trận đánh lớn mà Bẩy Bê trực tiếp chỉ huy và tham gia đã đi vào sử sách. Trận đầu tiên là ngày 24-10-1964, ông chỉ huy và trực tiếp đánh khách sạn Caravell 10 tầng, cao nhất Sài Gòn lúc đó, bằng 37kg thuốc nổ, đánh sập và làm hư hại 43 phòng. Trận tiếp theo vào ngày 14-12-1964, ông trực tiếp chỉ huy và lái xe chở 200kg thuốc nổ, đánh sập và hư hại toàn bộ khách sạn Brink, tiêu diệt và làm bị thương 159 sĩ quan cấp tá Mỹ. Ngày 30-3-1965, ông Bẩy Bê là người lái chiếc xe chở 150kg thuốc nổ đánh hư hại toàn bộ Tòa đại sứ Mỹ trên đường Hàm Nghi, sát thương nhiều cố vấn Mỹ, trong đó có phó đại sứ Mỹ Ali Giôn-xơn… Những chiến công vang dội của ông đã góp phần vào thành tích chung của đội 5 Biệt động Sài Gòn. Năm 1967, đơn vị được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng nên truyền thống của đơn vị với 16 chữ vàng: “Đoàn kết một lòng-mưu trí vô song-dũng cảm tuyệt vời-trung kiên bất khuất”. Chuyện tình éo le Bà Nghĩa như chìm vào trong ký ức của mấy chục năm về trước. Năm 1965, Vũ Minh Nghĩa mới 19 tuổi đầu, đã xung phong vào đội 5 Biệt động Sài Gòn. Nghĩa là con gái của Bà mẹ Việt Nam anh hùng Phạm Thị Đăng, quê ở Củ Chi, cả 9 anh chị em Nghĩa đều tham gia hoạt động cách mạng. Vào Đội biệt động, Nghĩa nhận đủ mọi nhiệm vụ mà cấp trên giao: liên lạc, vận chuyển vũ khí thuốc nổ từ chiến khu vào thành, đưa tin tức từ thành ra cứ, lúc hợp pháp, lúc bán công khai, lúc bí mật. Đội trưởng Bẩy Bê lúc đó đã 35 tuổi. Ông và Minh Nghĩa thường xuyên đi công tác cùng nhau vào trinh sát trong thành. Ông đã giúp đỡ bà rất nhiều về kinh nghiệm chiến đấu và nghiệp vụ chuyên môn. Từ tình đồng chí, họ đã bước sang tình yêu lúc nào không biết. Giữa cuộc chiến đấu ác liệt, họ đã đến với nhau bằng tình yêu trong sáng, mãnh liệt. Dù không tổ chức đám cưới nhưng họ đã coi nhau như vợ chồng. Tháng 6 năm 1966, ông Bẩy Bê bị địch bắt lần thứ hai. Chúng dùng những đòn tra tấn dã man, hòng khai thác tin tức người chiến sĩ biệt động, nhưng ông đã thể hiện tinh thần bất khuất, kiên cường, quyết không khai báo. Không tìm được chứng cứ gì, địch đầy ông ra Côn Đảo. Còn bà Vũ Minh Nghĩa tiếp tục chiến đấu trong đội 5. Chiến dịch xuân 1968, đội 5 Biệt động Sài Gòn được giao nhiệm vụ đánh vào Dinh Độc Lập. 15 chiến sĩ, trong đó chỉ có bà Nghĩa là phụ nữ, thực hiện nhiệm vụ vào sáng mùng 2 Tết. Dự kiến sau khi chiếm dinh Độc Lập, bà sẽ là phát thanh viên kêu gọi các lực lượng địch đầu hàng. Thật không may, xe chở thuốc nổ phá cửa sau vào dinh đã không nổ. Cuộc chiến đấu không cân sức giữa 15 chiến sĩ biệt động với hàng trăm tên địch suốt ngày mùng 2 Tết. 8 đồng chí hy sinh, còn lại 7 người bị thương và vũ khí cạn kiệt bị địch vây bắt. Vũ Minh Nghĩa bị mảnh lựu đạn của địch, máu ra xối xả. Khẩu súng cạc-bin của bà hết đạn. Rồi bà và 6 chiến sĩ biệt động đội 5 lần lượt sa vào tay giặc. Qua một loạt nhà tù, bà bị chúng đày ra Côn Đảo. Cả hai vợ chồng bị giam ngoài đảo mà không gặp được nhau, không có tin tức gì của nhau. Sau hiệp định Pa-ri 1973, địch phải trao trả tù nhân cho ta. Riêng trường hợp Bẩy Bê và một số tù nhân khác bị tra tấn đến tàn phế, không đi được. Chúng sợ trao trả sẽ bị báo chí phanh phui chế độ hà khắc nhà tù, nên chúng thả ông và hai tù nhân khác trong vùng chúng kiểm soát ở cánh đồng Chó Ngáp thuộc tỉnh Long An (tỉnh Hậu Nghĩa trước đây). Ông Bẩy Bê tìm cách móc nối cơ sở, được bà Võ Thị Tránh, một quần chúng của ta đưa về nhà bà ở ấp chiến lược Bầu Tre, xã Tân An Hội, huyện Củ Chi (Năm 1963, bà Tránh lấy chồng là bộ đội huyện Củ Chi. Năm 1965, trên đường đi công tác về, anh bị trúng bom địch hy sinh, bỏ lại bà Tránh với người con gái chưa đầy 1 tuổi). Bà Tránh đón 3 tù nhân về nhà, nhìn cảnh các anh gầy gò, da xanh bủng, phải dùng hai chiếc ghế lết đi, bà không cầm được nước mắt. Tên trưởng ấp thấy người lạ đến nhà, đến truy hỏi. Bà phải nói dối là mấy người bạn làm ăn về chữa bệnh. Sau đó bà chuyển 3 ông ra ngoài căn cứ ấp Bầu Chứa, xã Nhuận Đức, huyện Củ Chi. Bà mua thuốc men, lương thực đưa vào căn cứ chăm sóc các ông. Ít ngày sau, ông Bẩy Bê hồi phục sức khỏe, ông trở về tiếp tục làm nhiệm vụ đội trưởng đội 5 Biệt động Sài Gòn. Tri ân tấm lòng tận tình chăm sóc của bà Tránh, hơn nữa đã nhiều năm không biết tin tức gì của Vũ Minh Nghĩa, nên ông đã đến với bà Tránh vào giữa năm 1973. Ông vận động bà Tránh tham gia vào đội 5 Biệt động Sài Gòn, họ trở thành đồng chí và bạn đời của nhau từ đấy. Đầu năm 1974, bà Tránh sinh con gái Nguyễn Thị Thanh Hồng, cũng là lúc bà Vũ Minh Nghĩa được trao trả về tại sân bay Lộc Ninh. Sau đó bà về công tác tại Quân báo Miền. Mãi đến đầu năm 1975, bà Nghĩa mới tìm gặp được ông tại Củ Chi, thì lúc đó ông đã có vợ và con gái. Éo le hơn, vợ ông Bẩy Bê là em họ bà Nghĩa. Bà Võ Thị Tránh sinh năm 1942, hơn bà Nghĩa 5 tuổi, nhưng về họ hàng bà là vai em của bà Nghĩa (mẹ bà Nghĩa là chị ruột mẹ bà Tránh). Chuyện tình riêng chưa kịp giải quyết, thì họ đã lao vào cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975. Người đội trưởng nhân nghĩa, ân tình Ông đã không nghe lời khuyên của nhiều người bỏ bà Vũ Minh Nghĩa để lợi con đường tiến thân, mà trái lại ông đã chăm sóc bà chu đáo. Mãi đến năm 1980 (khi bà Nghĩa 34 tuổi), bà mới sinh con trai đầu lòng Nguyễn Thanh Hiệp và 1984 sinh con gái Nguyễn Thị Xuân Hạnh. Còn với bà Võ Thị Tránh, vợ của người đồng đội đã hy sinh, người đã hết lòng chăm sóc ông những ngày sau khi ra tù, là người đồng chí, người bạn trong chiến đấu thì làm sao ông có thể bỏ được, nhất là hai người đã có con chung và đã báo cáo với cơ quan. Ông báo cáo với tổ chức, ông có hai gia đình và trách nhiệm của ông với hai người vợ như nhau. Năm 1992, ông Nguyễn Thanh Xuân về nghỉ hưu. Nghỉ hưu nhưng ông không ngơi nghỉ một ngày. Ông vẫn tích cực hoạt động các phong trào địa phương. Những năm gần đây, với vai trò Chủ nhiệm câu lạc bộ Truyền thống vũ trang Quân khu Sài Gòn-Gia Định, ông tiếp tục cùng cán bộ câu lạc bộ chăm lo đời sống vật chất tinh thần của các Cựu chiến binh. Câu lạc bộ đã vận động xây dựng được 52 căn nhà tình nghĩa-tình thương, đi tìm và cải táng hài cốt của đồng đội. Mới đây, khi còn nằm trên giường bệnh, biết mình không qua khỏi căn bệnh hiểm nghèo, ông đã gọi vợ con lại viết tâm nguyện của mình: “Khi tôi qua đời, nếu tiền phúng điếu nhiều xin hiến tặng xây 2 căn nhà tình nghĩa, 1 căn cho phường 25, quận Bình Thạnh và 1 căn cho quận Bình Thạnh, số tiền còn lại sẽ chuyển tặng cho hội Khuyết tật thành phố Hồ Chí Minh”. Một tuần sau, ngày 16-8-2006, ông Nguyễn Thanh Xuân từ trần. Đám tang rất đông các đoàn thể, đơn vị, cá nhân đến chia sẻ niềm thương tiếc tiễn đưa ông. Số tiền phúng điếu được hơn chín mươi triệu đồng. Cũng có ý kiến muốn lo tang lễ của ông xong hãy làm việc thiện. Nhưng cả hai bà vợ của ông đều từ chối: “Trước nay anh sống, lúc nào cũng lo cho mọi người, gia đình cảm phục tấm lòng anh. Bây giờ anh mất rồi, anh còn muốn làm được một việc tình nghĩa cuối cùng vì người nghèo, xin hãy làm đúng như lời anh dặn!”. Thế là cả hai người vợ của ông đã chuyển ngay số tiền được phúng viếng này đến quận Bình Thạnh và Hội Khuyết tật thành phố Hồ Chí Minh, để các nơi này tiến hành xây dựng nhà theo tâm nguyện của người đã khuất. Thượng tướng Phan Trung Kiên, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng viết về người đồng chí của mình: “…Đồng đội và nhân dân ghi tạc công lao của đồng chí đã cống hiến hết mình vì Tổ quốc và nhân dân”. (Theo qdnd) ---------------(Ảnh: Bà Vũ Minh Nghĩa năm 19 tuổi) Tiêu đề: Re: Chuyện tình dưới đáy ba lô Gửi bởi: hoacuc trong 18 Tháng Năm, 2008, 10:35:32 am CHUYỆN TÌNH CỦA MAI Về Hà Nội được mươi ngày, tôi bắt đầu mon men dạo phố. Dẫu sao cũng phải làm quen với nơi mình gắn bó 4 năm đại học chứ. Với lại, đi bộ cho nó thon người. Mỗi hôm tôi đi chừng hai cây số rồi quay lại. Và mỗi hôm theo một con đường khác nhau. Hôm nay, trời trở heo may se lạnh, tôi đi ngược con đường Cát Linh rồi chẳng hiểu trời xui đất khiến thế nào tôi té nhủi vào hàng ngô nướng trên lề đường. Chị bán hàng cau mày khó chịu vừa nhặt chậu than vừa lầm bầm: Quỳnh Vân Về Hà Nội được mươi ngày, tôi bắt đầu mon men dạo phố. Dẫu sao cũng phải làm quen với nơi mình gắn bó 4 năm đại học chứ. Với lại, đi bộ cho nó thon người. Mỗi hôm tôi đi chừng hai cây số rồi quay lại. Và mỗi hôm theo một con đường khác nhau. Hôm nay, trời trở heo may se lạnh, tôi đi ngược con đường Cát Linh rồi chẳng hiểu trời xui đất khiến thế nào tôi té nhủi vào hàng ngô nướng trên lề đường. Chị bán hàng cau mày khó chịu vừa nhặt chậu than vừa lầm bầm: - Con gái con đứa, mắt mũi để đi đâu mà đi với đứng. Tôi vừa phủi bụi nơi ống quần vừa lí nhí nói lời xin lỗi. Mới đi được mấy bước chân đã nghe có tiếng người gọi giật lại: - Vân, Vân “còi” phải không? Trước mắt tôi là Mai, Mai “giời ấn” đây mà. Nhưng sao nó lại già nhanh thế kia? Ngày trước nó mũm mĩm nhất tiểu đội tê lê típ của tôi. Mới đây mà đã hơn 10 năm. Chúng tôi tíu tít chào nhau rồi tranh nhau hỏi han mọi chuyện. Mai bỏ mặc đống ngô kéo tôi tấp vào ngôi nhà cao 3 tầng gần đó. - Nhà tao đấy. Vào đi. Thật là ngoài sức tưởng tượng của tôi, ngôi nhà đẹp như một lâu đài cổ tích. Công nhân viên chức như tôi, có nằm mơ cũng không dám ước. - Mày phải ở đây chơi, chờ lão Doanh nhà tao về cho biết mặt. - Doanh nào? Có phải… - Còn ai vào đây nữa. Doanh “tín hiệu âm thanh” ngày xưa đó. Tôi và Mai cùng sinh ra trên bờ sông Hồng, cùng nhập ngũ một ngày và cùng tiểu đội. Tôi mỏng mảnh như cọng cần, Mai lại đầy đặn căng tròn sức sống. Thế mà lại thân nhau mới lạ. Sau khi kết thúc khoá nghiệp vụ truyền trữ. Tôi vào sân bay Thọ Xuân, còn Mai vào sân bay Nha Trang. Tiếng là xa nhau nhưng ca trực nào chúng tôi chẳng gặp nhau trên máy. Hết nói chuyện bằng thoại lại nói chuyện bằng tín hiệu máy móc. Một hôm, cả tôi và Mai cùng thu được một bức thư lạ trên mạng. Đó là trang thư đầu tiên làm quen của một người bạn trai ở đài “Tiền Giang”. Cũng vì bức thư ấy mà tôi bị anh sĩ quan trực ban bắt chạy ba vòng quanh sở chỉ huy. Thế là a lê hấp phăng teo. Còn Mai và chàng trai ấy tiếp tục trao đổi với nhau qua thư và mạng thoại. Có phải cảm giọng nói dịu dàng của Mai hay không mà Doanh - tên chàng trai bắt đầu có tín hiệu lạ. Thư nào của Mai viết cho tôi cũng đầy ắp kỷ niệm tình yêu của họ. Tôi vừa mừng vừa lo cho Mai. Nó mồ côi mẹ nên giàu lòng trắc ẩn. Nếu đổ vỡ, lòng tin sẽ khó gượng lại được. Một thời gian sau, chúng tôi bặt tin nhau do tôi chuyển đơn vị và được phân công làm ở một bộ phận khác. Mấy lần tôi về quê tìm sang nhà Mai nhưng đều không gặp vì cả nhà Mai đã chuyển vào định cư tại Ban Mê Thuột. Ai dè lại gặp Mai giữa đất Hà Thành này… Mai kể, đôi mắt ngời lên một niềm hạnh phúc không cần giấu giếm: “Chúng mình yêu nhau qua thư được hơn một năm thì anh ấy được cử ra Hà Nội học. Hơn một năm sau thì chúng mình quyết định gặp nhau. Gặp để thỏa lòng thương nhớ chứ lòng mình đã quyết từ lâu. Anh ấy cũng mồ côi mẹ từ nhỏ, thiếu thốn tình cảm gia đình. Nếu anh ấy không chê mình ít duyên thì…”. Mình đáp tàu ra Bắc lòng cứ thấp thỏm lo âu, ký hiệu gặp nhau là chiếc khăn tay trắng buộc cổ tay phải. Ngày giờ lên tàu mình đã nói kỹ trong điện thoại, nhưng khi xuống ga mình cố tình không đeo khăn tay. Mình muốn quan sát anh ấy từ xa, nếu thấy bất lợi là đi luôn. Hôm ấy, tàu về muộn hai tiếng. Gần Tết, trời lạnh khan, lạnh muốn cứng đông người lại. Từ góc khuất của toa tàu mình đã nhận ra anh ngơ ngác kiếm tìm. Đó là một chàng trai cao to, thô mộc với gương mặt xương xương dầy mụn cá. Không định mà mình tự nhiên buông một tiếng thở dài. ý định chạy trốn anh hơn một lần xuất hiện trong đầu. Sân ga vắng teo mà anh vẫn đứng như hoá đá. Một cái gì chen cứng nơi họng mình như uất ức như hờn tủi. Đêm càng hun hút mênh mông. Dù gì cũng phải gặp một lần rồi ai đi đường nấy. Mình bước xuống sân ga đúng vào lúc anh quay mặt lại. Hai đứa đứng như trời trồng. Giọng mình tự nhiên khô khốc: - Mai xin lỗi đã để anh phải chờ… Hình như anh đã đọc được gì nghi ngại trong mắt Mai nên chỉ dè dặt: - Anh đã sợ rằng Mai không đến. Chiếc cúc khác mầu đính vụng về trên ve áo anh khiến Mai thấy thương thương nhưng chỉ đến khi mình ngỏ ý mời anh vào quán ăn bát phở nóng thì mới thay đổi được “Cục diện…” Mai ngừng nhẹ, mắt như ngấn nước. Tôi sốt ruột giục Mai: - Rồi sao nữa hả Mai? Anh ấy đỏ bừng mặt luống cuống: - Mai cứ vào ăn đi để anh trông đồ cho. Mình sững lại một giây rồi oà khóc tức tưởi. Mình khóc vì cái gì cũng khó cắt nghĩa. Vừa tủi phận mình vừa xót thương anh. Số tiền phụ cấp ít ỏi của một học viên chỉ đủ cho anh bắt xe từ Sơn Tây xuống đây mà thôi. Sau này khi đã nên vợ nên chồng mỗi lần nhắc lại chuyện này mình cứ nao nao muốn khóc. - Còn lúc ấy? Tôi không nén nổi tò mò. - Mình quyết định gắn bó với anh suốt đời sau câu nói ấy. Chúng mình đã khóc với nhau hết nửa đêm về sáng ngay tại ga tàu. Con người ta có những phút quyết định thật bất ngờ. Chỉ có một điều mình tin là đã quyết định đúng. - Thế tại sao Mai về được đây? - Đấy là chuyện sau này. Anh ấy học xong về công tác tại quân chủng, mình được chuyển theo chồng. Ngôi nhà này chúng mình mua lại năm ngoái bằng tiền bán xuất đất được chia. Cháu Thanh năm nay ba tuổi, đang đi nhà trẻ Vân ạ. Anh ấy có lẽ đã về nhưng qua lớp đón con. Hôm nay Vân phải ở đây một đêm. Chúng mình phải bù khù với nhau. Anh Doanh cứ nhắc cậu luôn, nhất là khi đọc được bài viết của cậu. - Cám ơn các cậu, có lẽ để dịp khác. Tối nay mình phải họp chi bộ. Đã biết nhà, lần sau mình sẽ đến và ở lại. Nhưng mà này, thiếu tiền hay sao mà phải bán thêm ngô nướng? Mai cười làm sáng bừng gương mặt: - Thiếu thốn gì đâu? Làm cho vui ấy mà. Mình đâu có viết lách như cậu được? Chia tay Mai, tôi ra đến đường mới sực tỉnh: - Thế các cậu cưới nhau bao giờ? Mai cười ngượng nghịu, đôi mắt thông minh chơp chớp trẻ đến ngỡ ngàng. - Thì cưới ngay ga tàu chứ đâu? Nhà văn gì mà suy luận dở òm, “dzậy” mới đặc biệt chớ! Trời đất, sao tự nhiên mình “bé tí nhạt toẹt” thế nhỉ? Có nhiều điều trong cuộc sống, giản dị đến độ chẳng có nhà văn nào sáng tạo nổi có lẽ thế mới là cuộc đời chứ! Tiêu đề: Re: Chuyện tình dưới đáy ba lô Gửi bởi: hoacuc trong 01 Tháng Giêng, 2009, 12:03:42 pm Chuyện người tiểu đội trưởng Nguồn: Tạp chí vănnghệquânđội Nhận được điện của anh Đình, người tiểu đội trưởng cũ mấy năm không gặp, tôi vội vã thu xếp đi ngay. Tôi chỉ không hiểu tại sao anh lại hẹn tôi ở nhà Thám. Nhà tôi cách nhà Thám khoảng bảy cây số. Cách đây mấy năm, chúng tôi mới chỉ là những chú binh nhì mặt búng ra sữa, nói đến con gái, gần con gái chỉ rấm rích đưa đẩy nhau vừa thích vừa sợ. Duy có Thám là khác. Khác không phải Thám có tài năng đặc biệt. Khác là nó đã có vợ. “Có vợ”, nghe cứ như mắc tội mắc nợ gì. Tân binh có vợ chỉ có thời các “cụ”, thời chống Pháp chống Mỹ chứ giờ ai lại thế. Chắc cưới tảo hôn, cưới chạy “đất”, chạy “bụng” chứ yêu đương gì. Tôi thương Thám vì thấy nó lủi thủi ngơ ngẩn suốt ngày. Tiểu đội trưởng, trung đội trưởng rất hay chỉ trích vì nó hay quên, việc gì cũng quên, đã thế lại hay giở ảnh vợ ra ngắm. Cái hôm anh Đình giật tấm ảnh, tôi đã phải nhảy bổ vào giữa. Mắt nó quắc lên. - Anh không có quyền! - Liệu đấy, chỉ suốt ngày tơ tưởng. Tôi kịp chặn bàn tay nó lại, tách khỏi người tiểu đội trưởng, ấn nó xuống giường. Anh Đình quay phắt đi nhưng để tấm ảnh xuống đầu ba lô của nó khẽ khàng cẩn thận. Tôi bảo: - Thì có gì cũng phải nói để các anh ấy giúp, lầm lụi thế ai chịu được, cứ như quân thù không bằng. - Nói mẹ gì, các ông ấy dè chèng tao đào ngũ mất điểm thi đua đơn vị. Tôi biết Thám không bao giờ làm cái việc nhơ nhuốc ấy. Việc mà có người trông rất đường hoàng đạo mạo đã làm. Đó là con một vị chức sắc trong huyện. Khi phát biểu trong hội trường nhận quà tết tân binh cậu ấy nói hùng hồn lắm, rất tươi cười rất hăng hái trong con mắt ngưỡng mộ của thanh niên chúng tôi, lại còn cười với mấy đoàn viên nữ. Thế mà trốn đầu tiên, trốn êm de chứ không ầm ĩ như bọn xóm Bãi. Mà cũng lạ, cứ tưởng đi học tài chính về bố xếp chân cho ai ngờ đùng cái ông bố “có vấn đề” phải nghỉ, cậu con bài bạc nghiện hút bị trường đuổi lêu lổng trở thành “đối tượng”. Mới biết thời gian có cách đo đếm của mình, sòng phẳng an nhiên. Sau vụ “tấm ảnh”, tưởng hai người giận nhau, ai ngờ thân như anh em ruột. Cố nhiên, tôi cũng được đóng góp một chân cho cái bộ ba đầu rau ấy. Ngay tối hôm đó, anh chủ động gặp hai thằng. Cuộc gặp hầu như chỉ anh nói, nó im lặng. Thi thoảng dè dặt trả lời. Hóa ra tiểu đội trưởng Đình cùng huyện, anh học cấp ba cùng chị gái Thám. Phải đến chi tiết ấy nó mới cởi mở với anh. Anh bảo ngay buổi đầu đã nhận ra nó ở đôi lông mày đống mác bặm trợn giống chị, đặc biệt cặp mắt sắc hun hút, hễ giận dữ là xanh lét lên. Gia đình Thám khá đặc biệt, mẹ mất sớm, bố không lo làm ăn lại suốt ngày rượu chè, bài bạc, đánh đập hai chị em. Ở làng, chị em Thám có tiếng tần tảo thương yêu đùm bọc nhau. Dân làng họ mạc cũng vì thế mà thương, vun vén. Có một dạo, bố Thám bỏ đi miền ngược hơn một năm tưởng không về, họ hàng nội ngoại xúm vào tổ chức cưới vợ cho Thám. Vừa xong thì ông bố về chửi đầu làng cuối làng, cứ rượu vào là chửi, chửi họ hàng và đánh đuổi chị em vợ chồng Thám. Thôn đe, xã đe vẫn chứng nào tật ấy. Tội nhất là chị Lụa, đẹp người, đẹp nết, nhiều đám dạm hỏi mà vẫn ở nhà vì bố. Sau này, Thám và chúng tôi mới biết rõ tấm lòng của chị. Chị ở lại còn vì Loan, chị không nỡ để em dâu tủi phận, phải bơ vơ trong chính nhà mình. Chị Lụa ơi! Chị ở đâu bây giờ? Chúng tôi ngơ ngác tìm vào mắt nhau, rồi hụt hẫng nhìn mỗi người một hướng. Phải! Chị Lụa bây giờ ở đâu? Chị có còn ở cái bản heo hút ấy? Tại sao con gái chưa chồng khi bỏ làng đi lại không thể quay trở lại. Tập tục hay hủ tục đã trói buộc suy nghĩ của chị? Tại sao chị lại trốn anh? Khi anh Đình nói vẫn chưa tìm được chị chúng tôi đều sửng sốt. Lại tưởng mọi chuyện đã xong rồi. Thì ra mình đã vô tâm. Ra anh cứ để chúng tôi vui sau cuối mới đưa phần chìm của buổi gặp. Anh hẹn tôi lên đây là có việc đặc biệt, việc anh tưởng chúng tôi quên. Sau vụ “tấm ảnh”, nghe anh Đình, nghe tôi, Thám chí thú vào huấn luyện và tiến bộ bất ngờ. Khi biết bắn đạt ba điểm mười sẽ được thưởng phép Thám luyện tập ghê lắm. Không phụ công nó, những bông hoa ùa đến sau ba lượt huơ cờ của đồng đội báo bia. Mười ngày phép là giấc mơ của nó, của chúng tôi. Tôi và anh Đình nhét đủ thứ lỉnh kỉnh vào ba lô Thám. Anh Đình còn ép cả những chùm hoa sim tím lịm trong quyển sổ có chép những bài thơ tặng chị Lụa. Trong ba tháng tân binh, bọn tôi vẫn thư từ cho nhau. Mỗi lá thư của chị như một món quà vô giá với anh Đình. Thế mà chỉ ngày thứ hai nó đã mò lên đơn vị, thẫn thờ như tượng không hồn… Thám là người cực kỳ ít khóc, chưa bao giờ thấy nó khóc. Càng có điều gì đau khổ càng đanh sắt lại. Nó trừng trừng nhìn vào khoảng tường trắng phía trước. Tôi đi lại cật vấn đủ điều nó không mở miệng, mắt xanh lét lên, hun hút lạnh người. Anh Đình bước vào, im lặng một lúc rồi đến chỉnh ngay ngắn cái ba lô còn căng rốp Khi bàn tay anh mân mê những cánh sim dại rụng ra từ quyển sổ tặng chị Lụa thì hốc mắt xanh lét ấy lăn xuống từng giọt nước. Nó khóc mà không một tiếng nào phát ra, chỉ đôi vai run lên và những sợi tóc cứng quèo động đậy. Đến đêm thì sự việc được nó kể rành rọt, bình tĩnh lạ thường, ngoại trừ ánh mắt cháy xanh. Việc không nằm ngoài dự kiến của nó mới đau. Biết trước sự đổ vỡ mà không thể tránh khỏi là cay đắng lắm. Cách đấy hai tuần một tối Thám bảo tôi, nó thấy rất nóng ruột, như có người đun nấu củi lửa ở trong mật trong gan những không thể xin về vì đã cận ngày bắn. Nó mơ thấy bố say rượu đánh đuổi chị Lụa, đánh đuổi Loan. Hai người uất lên tự tử. Sự việc đúng như giấc mơ ấy. Có điều hai người con gái kia không chết mà bỏ đi. Nó rưng rưng đưa thư của vợ cho chúng tôi xem. Nếu không có lá thư, không có anh Đình và tôi, không hiểu sự việc diễn ra thế nào. Sau một tuần ổn định tâm lý cho nó, chúng tôi thống nhất một phương án: ba anh em sẽ đi tìm chị Lụa và Loan, sẽ đi Hà Giang theo chỉ dẫn mù mờ của lá thư, bằng mọi cách phải tìm được họ. Cũng tuần ấy, sau khi biên chế tân binh về các nơi, theo đề xuất của cán bộ đại đội, chúng tôi được giữ lại bồi dưỡng khung tiểu đội phục vụ mùa tân binh mới. Anh Đình đúng dịp ra quân. Anh báo cáo rõ với chỉ huy kế hoạch đi tìm và xin cho chúng tôi được nghỉ phép. Các anh cán bộ đại đội cân nhắc, động viên Thám, nói tiếc là không có thẩm quyền xin được xe, mong anh em thông cảm. Anh Đình lên kế hoạch rất tỉ mỉ. Toàn bộ số tiền ra quân của anh cộng với chỉ vàng chị gái cho được hoạch định làm lộ phí. Tôi và thằng Thám chả có đồng nào. Có lẽ không bao giờ chúng tôi quên được chuyến đi ấy. Đường đi càng ngày càng heo hút, có đoạn cảm giác như bị lạc, mụ mị, đầu òng ọc, hoa mắt nhìn quãng đường sâu hoăm hoắm. Hơn một ngày ì ạch chúng tôi cũng đến được Hà Giang, lử lả như ba kẻ bại trận. Suốt hành trình bươn bả, ban đầu còn bàn bạc sôi nổi và hy vọng nhưng càng về chặng cuối ai nấy lầm lì theo đuổi những suy nghĩ của mình. Ra khỏi bến xe, chúng tôi xốc lại đội hình, ăn uống lót dạ, anh Đình nảy sáng kiến vào nhờ nơi ăn ở của Thị đội. Khi chúng tôi trình bày giấy tờ và lý do chuyến “công tác” đặc biệt, anh cán bộ trực ban bảo: “Nguyên tắc thì không có tiêu chuẩn nhưng cảnh lính với nhau tôi sẽ báo cáo giúp các đồng chí chỗ ở và cái xe đạp để đi lại. Ăn uống thì phải tự lo”. Theo sự chỉ dẫn của anh chúng tôi lên kế hoạch sẽ đi hết mười cái chợ trong vùng. Chợ phiên vùng cao là nơi để tìm người. Anh cán bộ bảo thế. Mọi người cũng nghĩ có thể hai chị em buôn bán ở cái chợ nào cũng nên. Loanh quanh chợ nọ chợ kia đến ngày thứ sáu thì Thám ốm. Nó bao nhiêu năm không ốm đau gì nên chúng tôi rất hoảng. Rủi có chuyện gì biết ăn nói thế nào với đơn vị. Nó nằm im, tròng mắt xanh chuyển sang màu đục, người nóng lạnh miên man. Trong mê sảng nó bảo: “Chị Lụa ở chợ Pá Nùng. Hôm qua trong mơ chị mách em thế”. Tôi giật mình lật chiếc khăn đắp mặt thấy hơi nước bốc ngùn ngụt trong tiếng ú ớ của nó. Anh cán bộ bảo chỉ có chợ Pà Nùng của người Mèo cách đây một ngày đường nhưng mùa này không lên được. Sau thấy sự quyết tâm của chúng tôi anh nhượng bộ nhưng kiên quyết bắt Thám ở lại, đích thân anh dẫn đi. Sau gần một ngày vừa đi vừa trượt, có khúc phải toài, chạng vạng thì đến được chợ. Chợ rất nhiều ngựa, nhiều đàn ông say rượu ngủ lăn lóc bên cạnh những bà vợ cũng say ngất ngư. Anh cán bộ bảo: “Mình có thằng bạn bán muối ở đây, tối nghỉ ở đó”. Anh nói chưa hết câu anh Đình đã quýnh lên: “Lụa! Lụa ơi! Có phải…?”. Tôi ba chân bốn cẳng chạy ra đã thấy hai người líu ríu mừng mừng tủi tủi. - Chị… Tôi nói được có thế thì nghẹn lại, nước mắt trào ra. Anh cán bộ kéo chúng tôi về cuối chợ, bên bếp rượu. Thám khỏi ốm cũng kỳ lạ và nhanh như lúc ốm. Khi biết tin đã tìm thấy hai người, nó hỏi anh cán bộ đủ thứ chuyện và lục xục suốt đêm. Hôm sau, đón hai anh em ở đầu dốc, chúng tôi ngỡ ngàng trước chàng trai hồng hào nhanh nhẹn. Chị Lụa với Loan khác lắm, Loan bẽn lẽn nép vào chị. Chị nghiêm nghị nhìn Thám. Nước mắt lại chảy ra. Mấy ngày ở bản là mấy ngày đẹp nhất của chúng tôi, đặc biệt là anh Đình và Thám. Cuộc sống như không có gì ràng buộc, không còn cơ cực của hôm qua và cả ngày mai. Nhưng còn thời hạn trả phép, còn tương lai của mấy con người và đặc biệt là đồng đội chúng tôi, họ đang đợi chúng tôi trở về với mùa tân binh kế tiếp. Anh Đình bao giờ cũng là người tỉnh táo nhất. Anh họp tất cả thành viên lại, như một cuộc giao ban. Mọi người đều có ý kiến riêng của mình nhưng cuối cùng đều đi đến thống nhất. Tôi và Thám phải về đơn vị. Anh Đình trước mắt về quê vì anh đã nhận quyết định ra quân. Chị Lụa và Loan trở về làng. Anh Đình thu xếp công việc xong sẽ gặp nhau ở nhà Thám. Mọi người nhất trí cao quyết định đã được cân nhắc rất kỹ ấy. Nhưng cuộc đời có phải lúc nào cũng được như những quyết định. Sau buổi ấy, tôi và Thám bắt xe về đơn vị, vừa kịp hết phép. Hơn mười ngày sau nhận được thư Loan báo đã trở về làng, nhưng chỉ mình Loan về. Chị Lụa bảo chị đợi anh Đình lên đón chị, anh hẹn thế. Chúng tôi cũng mong muốn anh đón chị về quê anh và biết đâu chỉ ít ngày tháng nữa thôi tin mừng sẽ đến với chúng tôi sau mùa tân binh này. Tin mừng đến, nhưng là tin của Loan báo bạn tôi sắp trở thành bố. Chúng tôi rất mừng nhưng vẫn nghĩ nhiều đến anh và chị. Sau vụ tân binh, Thám ra quân, tôi thi đỗ và đi học ở trường rồi ra trường, công việc kéo đi năm này năm khác. Từ ấy hầu như rất ít thư từ, tin tức. Mãi hôm anh điện báo hẹn gặp nhau ở đây… Tôi đứng lên, nghiêm ngắm nhìn mọi người. - Thưa anh! Em và vợ chồng Thám vô tâm quá. Mấy năm nay cứ nghĩ là anh chị đã ở với nhau rồi. Em sẽ báo cơ quan xin nghỉ phép cùng anh và Thám đi tìm chị. Người tiểu đội trưởng của chúng tôi im lặng. Vợ chồng Thám im lặng. Một lúc lâu, anh Đình lên tiếng: - Có lẽ lần này chỉ mình đi là đủ. Cảm ơn các cậu. Mọi người chìm vào im lặng. Ngoài kia những vạt nắng vàng nhạt xôn xao… PHONG SƯƠNG Tiêu đề: Re: Chuyện tình dưới đáy ba lô Gửi bởi: hoacuc trong 01 Tháng Giêng, 2009, 12:12:41 pm Chuyện bất ngờ Nguồn: Tạp chí vănnghệquânđội Cuối năm 1948, vào quãng hạ tuần tháng mười một âm lịch. Đêm hôm đó rét lắm, trời lại tối như mực, tiểu đội tôi được lệnh đi quấy rối đồn Cầu Lạng trở về. Trên đường về, khi vượt qua một quả đồi rậm, đường hẹp và rất dốc, không may một cậu bị trượt chân ngã trật khớp gối, phải ngồi lại nắn bóp mãi mới đứng dậy khập khiễng đi được. Tôi quyết định cho Thắng và Toàn là hai chiến sĩ cùng trong tổ ba người ở lại dìu cậu ta đi sau còn chúng tôi đi trước. Chừng gần tiếng sau đến một quả đồi gianh, bỗng nghe có tiếng người khóc rên rỉ ở phía chân đồi. Tôi vội cho tiểu đội dừng lại và cử người xuống xem xét tình hình. Năm phút sau chiến sĩ đó chạy về cho biết: - Ở dưới thung lũng có hai vợ chồng là dân đi buôn chè nghe tin địch càn vào làng chưa rút nên phải ở đây để ngóng. Anh chồng bị sốt nặng, còn chị vợ bị đau bụng đau bão gì dữ lắm không đi được cứ nằm vừa khóc vừa rên. Sau khi biết được tình hình, suy nghĩ một lát, tôi quyết định: - Tất cả súng đạn đồ đạc của chín người dồn lại cho sáu người vác, còn hai người lấy bao tải làm cáng cáng chị vợ đi theo, một người dìu anh chồng. Nếu anh ta mệt quá không đi được thì cõng đổi. Cách đây hơn hai cây số có một bản nhỏ, vào đấy thuốc thang, củi lửa cấp cứu. Nùng và Chúc là hai chiến sĩ trẻ khỏe vào loại nhất nhì tiểu đội được phân công cáng chị vợ, còn Hiếu, một anh chàng đã có tuổi, nước da ngăm đen, tư thế vững vàng, tính tình bộc trực, vẫn được anh em trong tiểu đội gọi là “bố” được phân công dìu anh chồng. Cáng chuẩn bị xong, chúng tôi vực chị vợ lên cáng và khiêng đi. Trong đêm tối cũng không nhìn rõ mặt chị, chỉ nghe tiếng kêu mà đoán chị vào quãng trung niên, vóc người tầm thước nhưng ốm yếu, gầy guộc. Chiếc cáng lên vai mới đi được mươi bước bỗng chị kêu thét lên đau đớn. Đi thêm bước nào chị lại kêu thét lên bước ấy, cuối cùng chúng tôi phải đặt chị xuống theo yêu cầu của chị, hai người xốc vào hai bên nách để chị đứng thẳng lên. Thì ra, cái cáng làm theo kiểu cái võng nên khiến chị phải gò lưng tôm lại, do đó cơn đau đẻ càng tăng thêm và không thể hãm được nữa, chị đã đẻ. - Oe oe oe!... Tiếng khóc đầu tiên của đứa trẻ mới lọt lòng mẹ chào đời ở giữa núi rừng âm u hoang vắng trong đêm đông mịt mù không một ánh đuốc nghe mới cảm động làm sao! - Báo cáo đồng chí tiểu đội trưởng, chị ấy đẻ rồi! Bố Hiếu ơi! Lại đây... lại đây mau! Tiếng Nùng gọi gấp gáp xen lẫn tiếng trẻ khóc oe oe. Tôi cùng Hiếu chạy vội lại. Tất cả còn lúng túng chưa biết làm gì, Hiếu đã vội vàng cởi phăng chiếc áo của mình bọc lấy đứa bé đang khóc nằm dưới đám cỏ rồi ôm nó vào trong lòng. - Cái gì lằng nhằng thế này hả bố Hiếu? Nùng rờ phải một bối thịt lùng nhùng, bất giác kêu lên. - Nhau đấy! Khỉ ơi là khỉ! - Làm thế nào bây giờ? - Mày chạy lại hỏi chúng nó xem có con dao nào không? Mau lên! - Cả tiểu đội này ai có gì mà tôi không biết, làm gì có dao! Có con dao găm anh Thắng giữ, anh ấy lại đi sau mất rồi! - Thế sao bây giờ? Một thoáng im lặng, mỗi người suy nghĩ theo mỗi hướng để may ra tìm được một sáng kiến gì đó giải quyết cái công việc đột xuất và hóc búa vào loại bậc nhất thế gian này mà ở trong trường không có sách vở nào dạy tới. Bỗng Nùng mạnh dạn: - Này, hay là ta dùng... dùng xẻng vậy! Lại một thoáng im lặng, rồi nửa phút trao đổi, cuối cùng “hội đồng y khoa” tập thể quyết định: Dùng biện pháp lấy xẻng để cắt nhau. Chiếc xẻng được Hiếu lấy vạt áo lau sạch lưỡi, Nùng và Chúc theo lệnh của Hiếu nắm cuống nhau mỗi đứa một đầu kéo căng ra, cuống nhau về phía đứa bé thì nắm lấy một nắm (tức là khoảng 10 đến 12 phân) lấy đó làm cỡ để cắt. Bố Hiếu một tay cầm xẻng, một tay cầm chỗ cuống nhau trống ở giữa rồi cưa. Xẻng cùn, nhau dai, nhay đi nhay lại hơn chục cái mới đứt. Bà mẹ cứ kêu, em bé cứ khóc. Chúng tôi vừa động viên chị vừa làm, chẳng ai trông thấy ai, chỉ cảm thấy hai bàn tay ươn ướt, lầy nhầy. Cắt nhau xong, chúng tôi tưởng thế là được rồi không buộc rốn cho đứa trẻ, cũng may mà máu nó đông lại, nên đứa bé không việc gì, đến bây giờ nghĩ lại nhiều lúc chết cười sao mà lúc đó mình ngốc vậy. Chúng tôi định vực chị lên cáng để tiếp tục đi, nhưng chị vẫn còn kêu đau, chốc chốc chị lại vật vã từng cơn dữ dội. Trong đêm tối chỉ thấy hai bàn tay chị lên gân cào xé cây cỏ xung quanh loạt xoạt cũng đủ biết chị đang phải trải qua cơn đau đớn biết chừng nào. Bọn chúng tôi hết thảy đều lúng túng. Bỗng Chúc vốn yên lặng từ lúc bắt tay vào việc đến giờ lên tiếng phán đoán: - Này, hay là sót nhau, tôi vẫn thường nghe người ta nói khi đẻ còn sót nhau thì đau ghê lắm! Mọi người chẳng hiểu ra sao, sờ người chị thì thấy tay chân đã lạnh toát cả, hai hàm răng đánh vào nhau lập cập cứ chốc chốc lại xen vào một cơn rặn không ra hơi. Chừng một lát sau nghe tiếng chị rặn một hơi dài hết sức thì bỗng nhiên nghe tiếng khóc oe oe lại vang lên. - Chị ấy lại đẻ nữa! Nùng như một đứa trẻ reo lên: - Lại một cô nữa nhé! Chà, con gái tuổi tý sinh vào ban đêm là sướng phải biết đấy! Đã có kinh nghiệm lần trước, lần này chúng tôi giải quyết cắt nhau cho đứa bé thứ hai nhanh gọn hơn. Hai đứa bé mới sinh được ủ vào trong hai cái áo trấn thủ khét mùi thuốc súng. - Các anh cho tôi tí lửa, tôi rét lắm! Tiếng chị phều phào trong cơn gió đứt quãng: - Chị cắn răng chịu vậy. Ở đây gần địch lắm không đốt lửa được. - Hừ... Hừ... tôi chết mất các anh ạ! Chị nói trong tiếng rên, giọng đã yếu lắm. Tôi sờ vào người chị thấy toàn thân lạnh toát và run như cái dẽ, hai hàm răng đánh vào nhau cầm cập liên hồi. Tôi quyết định cởi chiếc áo sơ mi đang mặc đắp cho chị, Nùng, Chúc cũng làm theo tôi, mỗi thằng cởi một cái đem quấn vào đầu và chân chị, ba chúng tôi mỗi thằng chỉ còn một manh, thằng nào thằng ấy rét run như cầy sấy. Tôi phân công: Nùng, Chúc cáng người phụ nữ, tôi và Hiếu mỗi người ấp một đứa trẻ, còn anh chồng thì động viên cố gắng chống gậy đi theo. Phân công xong tất cả lên đường. Đi được một lúc bỗng thấy tiếng Nùng thất thanh từ phía trên gọi xuống: - Anh...! Anh Tiến ơi! Lên đây mau! Lên đây mau! Tôi vội vã chạy lên. Thấy tôi, Nùng hốt hoảng: - Có lẽ chị ấy chết rồi anh ạ! - Sao!... Chị ấy...! Tôi vẫn không tin và vội đến chỗ cáng để xem. Tôi sờ vào người chị, toàn thân đã lạnh toát, chân tay bất động. Tôi để tay vào mũi chị cũng không thấy hơi thở, tôi để tay vào lồng ngực chị nghe ngóng thì lồng ngực cũng lặng im như phiến đá. Thôi thế là chị đã chết thật rồi! Tội nghiệp! Đau đớn, cái đói và cái rét ghê người đã làm người đàn bà suy kiệt không còn đủ sức để chống đỡ nên đã bị thần chết lôi tuột đi một cách dễ dàng và im lặng mà chúng tôi không hề hay biết. Chúng tôi hội ý chớp nhoáng rồi khiêng xác chị đi một quãng nữa ra bãi cỏ trống ngồi nghỉ. Ánh trăng hạ tuần trộn lẫn với màn sương đêm dày đặc tỏa xuống khoảng đồi núi âm u một màu trắng đục. Hai đứa bé hình như cũng hiểu được nỗi đau xót trước cảnh thương tâm của cuộc đời mẹ cũng thức dậy cất tiếng khóc oe oe tiễn biệt, làm cho cảnh tượng càng thêm não nùng đứt ruột. Người chồng nắm lấy tay tôi vừa run vừa khóc: - Cảm ơn các anh đã có lòng cứu giúp vợ chồng em, nhưng ông trời ông ấy chả thương, cái số phận nhà em đã đành như vậy xin các anh chôn cất giùm, còn em lạy các anh, cho em xin các anh một quả lựu đạn, và xin các anh nuôi dùm hai cháu, nếu may ra chúng nó sống, trời cho làm người thì sau này chúng sẽ là con của các anh!... Chúng tôi phải dùng mọi lời lẽ để động viên, an ủi người đàn ông và quyết định an táng người vợ trên mỏm của quả đồi rộng. Mộ vừa đắp xong thì gà rừng cũng bắt đầu gáy rộ. Quãng đường từ đây về chỗ tạm trú còn xa, phải tranh thủ đi gấp, nếu không trời sáng, sương tan, máy bay địch sẽ gây trở ngại. Không còn cách nào khác, cả tiểu đội mỗi người mỗi lời tập trung an ủi người chồng. Cuối cùng anh chồng cũng cố gượng dậy lau nước mắt để chúng tôi dìu đi cùng hai đứa trẻ sơ sinh. Trời đã sáng rõ, nhân dân lẻ tẻ vào rừng. Một bà cụ trạc gần sáu mươi đi hái măng gặp chúng tôi, thấy máu me đầy người liền hỏi: - Các anh bị thương sao không băng lại để máu chảy ra như vậy? Rõ khổ! Tội nghiệp! Có ai việc gì không? Tôi kể lại tất cả đầu đuôi sự việc đêm qua cho cụ nghe. Cụ liền quay lại dẫn anh em về nhà mình. Rồi cụ tất tả đi đốt lửa và lấy gạo đưa cho tôi bảo đem nấu cháo lấy nước đổ cho hai đứa bé và cho anh chồng. Đống lửa đốt lên giữa nhà, ấm ran. Nồi cháo đã sôi sùng sục tỏa ra một mùi hương gạo mới thơm nức. Bố Hiếu lấy thìa con hớt lưng chén nước cháo thổi nguội đổ vào miệng cho hai đứa bé. Hai đứa bé để gần nhau, hai cái miệng nhỏ chóp chép trông rất đáng yêu, cả tiểu đội đứng vây quanh xem... Tiêu đề: Re: Chuyện tình dưới đáy ba lô Gửi bởi: hoacuc trong 01 Tháng Giêng, 2009, 12:14:40 pm Chuyện bất ngờ (Cont) Nguồn: Tạp chí vănnghệquânđội Công việc tạm xong. Chúng tôi kéo nhau ra suối tắm rửa. Dòng suối róc rách, nước chảy trong veo. Bên gốc cây ngái ven suối, cả bọn thấy một bé gái nhỏ đang ngồi bên cái tay nải, có một người đàn bà đang loay hoay ở dưới suối. Nhìn kỹ mới biết là chị ta đang vắt sữa xuống dòng suối. Chúng tôi thấy lạ lại gần hỏi chuyện: - Chào chị! Chị đi đâu đấy! - Chào các anh! Dạ...! Em... Em đi... Người đàn bà thẹn thùng. - Chị ở đâu lại qua đây sớm thế? - Dạ, em ở mãi Gia Viễn! - Cháu nhỏ kia là con của chị? - Dạ vâng, cháu mới lên hai đã phải mồ côi bố các anh ạ! - Anh ấy mất rồi à? Bị ốm hay bị giặc? - Chả giấu gì các anh, cách đây nửa tháng gia đình em bị máy bay ném bom chôn vùi hết cả. Ba bố con chết, còn em và con cháu gái này ra ngoài sông giặt nên may còn sống sót. Chị nghẹn lại lấy tay lau nước mắt rồi kể tiếp: - Bây giờ ở làng em chả còn ai thân thuộc, tài sản cũng chẳng còn gì, mẹ con em định dắt nhau lên Phú Thọ nương nhờ bà chị gái cho có chị có em, chứ ở đây một mình em không thể sống được. Mẹ con em đi đến đây đã hai ngày rồi, chỉ thương cho con bé nó mỏi chân không chịu đi!... Bố Hiếu ghé vào tai tôi: - Này! Người thì thừa sữa vắt đi, trẻ thì không có sữa bú, cũng là dịp may, ta mời chị ấy vào kia nghỉ chân và cho hai đứa bé nó xin ngụm sữa! Tôi gật đầu, tất cả anh em đều tán thành, Nùng nhanh nhẩu: - Thôi cũng là dịp may, chị cho cháu vào chỗ chúng tôi nghỉ chân, cơm nước xong, trưa hãy đi! - Dạ, xin cám ơn các anh, đường còn xa, em cho cháu đi kẻo trưa nắng. - Chị bảo cháu mỏi chân thì hãy vào đây cho cháu nghỉ một tí đã nào, nay chả đi thì mai, vội gì! Vả lại chúng tôi cũng đang cần chị giúp cho một việc. - Dạ, việc gì ạ? - Việc rất quan trọng! Xin chị một ít sữa để cứu sống hai cháu bé mới sinh vừa mồ côi mẹ! Người đàn bà ưng thuận, dắt con, ôm nải theo chúng tôi về nhà. Đống lửa được bỏ thêm củi đỏ hừng hực ấm ran cả ba gian nhà lá. Hai đứa bé được bú sữa, mút chùn chụt một lát thì hết khóc. Anh chồng cũng đã dứt cơn sốt, lại được húp ít cháo nóng và được sưởi ấm nên đã tươi tỉnh hơn. Ngồi quanh đống lửa lúc này chúng tôi mới có dịp nhìn kỹ từng người và hỏi chuyện riêng tư. Người đàn ông bất hạnh, tên là Nguyễn Hữu Chính. Năm nay anh Chính ba mươi tuổi. Quê ở Hà Nam. Người tầm thước, nét mặt thông minh, sáng sủa. Nghề chính của anh và vợ là làm ruộng, nhưng tranh thủ những ngày rỗi đi buôn vặt để kiếm thêm tiền tiêu. Vợ chồng anh lấy nhau đã tám năm mới sinh con lần đầu và cũng là lần cuối. Người đàn bà cho sữa tên là Đinh Thị Mão hai lăm tuổi, dáng người đậm đà, nước da xanh nhợt, đôi mắt thâm quầng, giọng nói dịu dàng nhưng khá sắc sảo. Chồng chị là người có ít nhiều học thức và ham hoạt động, vừa làm xã đội phó lại phụ trách hai lớp học bình dân. Hai vợ chồng sống với nhau rất hòa thuận. Hoàn cảnh hai người thật đáng thương, cuộc sống trước mắt của họ đang rất gay go, nhất là hai đứa bé. Bỗng nhiên tôi nảy ra một ý nghĩ: Hay là bàn cách để hai anh chị này lấy nhau luôn cho được việc. Nếu không hai đứa bé kia không có sữa sẽ chết mất. Chúng tôi nháy nhau ra hội ý chớp nhoáng rồi trở vào. Bố Hiếu cất giọng đầu tiên: - Này, chị ạ! Nói gần nói xa chẳng qua nói thật. Trong hoàn cảnh hai anh chị đều gặp chuyện không may rất đáng thương tâm, chi bằng chị lấy anh ấy cho có vợ có chồng nương tựa lẫn nhau. Chị chàng giật nẩy mình như đụng phải tổ kiến lửa, mặt đỏ bừng thẹn thùng cúi nhìn xuống giẫy nảy: - Thôi, em lạy các anh, các anh đừng trêu em nữa. Đã buồn gió lại thổi thêm, đã chua như dấm còn nêm sơn trà. Em đang đứt từng khúc ruột, các anh lại còn nói đến chuyện ấy nữa! Tôi đang định nói thì Nùng cướp lời: - Ấy nó đứt từng khúc nên bây giờ mới phải tìm cách để nối nó lại. Chị Mão vẫn gạt đi và nói phải lên nhà bà chị đã, còn anh chàng cứ ngồi ngây ra, cũng nhấp nhổm muốn nói điều gì, nhưng chúng tôi gạt đi, mỗi người một câu ra sức vun vào. Mãi sau chị Mão nghẹn ngào nói: “Hai người ốm yếu, ba đứa con dại lấy gì mà nuôi nhau!”. Chúng tôi hiểu, như vậy là chị đã có thể đồng ý, chỉ còn phân vân về đời sống trước mắt thôi. Trong khi đồng chí liên lạc về chỗ trú quân cũ để báo cáo với tiểu đoàn và ngay đêm hôm đó đã mang trở lại hai mươi hai đồng tiền quỹ của đơn vị, cả tiểu đội đồng ý nhịn ăn mỗi ngày một bữa trong sáu ngày của mười người để góp thêm, tổng cộng được tám đồng. Chúng tôi gộp cả hai món lại được ba mươi đồng đem ủng hộ cho hai người và bọn trẻ, đồng thời đọc bức thư của tiểu đoàn gửi kèm theo để động viên. Anh chàng lúc này được hơi nóng của lửa và tình thương của mọi người sưởi ấm đã tươi tỉnh, hồng hào, mạnh dạn ra. Hai anh chị đồng ý lấy nhau trong nỗi nghẹn ngào khó tả. Chín ngày sau anh ra chợ mua một con gà trống và hai đấu gạo nếp về cúng mụ cho hai cháu, đồng thời kết hợp làm lễ tơ hồng. Hai người mời tiểu đội chúng tôi đến dự (chắc là có ý đãi tiểu đội chúng tôi một bữa để đền đáp công ơn đã hết lòng giúp đỡ xây dựng lại tổ ấm cho họ). Mấy ngày sau chúng tôi được lệnh trên gọi về chuẩn bị đi nhận nhiệm vụ mới. Vợ chồng nọ dọn đi theo chúng tôi. Tới nơi trú quân thì gần tối, chính trị viên tiểu đoàn chạy ra, reo tướng lên: - Hoan hô các đồng chí đỡ đẻ đã về! Biết có cả gia đình kia đi cùng, anh bảo: - Đón vào đây! Vào đây đã. Tin tức truyền đi nhanh như gió. Cả đơn vị cùng bà con trong bản đến thăm chật cả gian nhà. Chính trị viên trao đổi với ông chủ tịch xã để bố trí chỗ ở và hướng giải quyết cuộc sống cho gia đình mới phát sinh này. Một cụ già xởi lởi nói ngay: - Nhà tôi có hai cháu gái lớn đã đi lấy chồng, còn thằng út chưa vợ đi bộ đội, chắc còn lâu mới về. Nhà rộng lắm, giờ còn hai ông bà già. Tôi xin phép được đón anh chị ấy về ở cho vui! Ông chủ tịch xã nói như reo: - Ồ thế thì hay quá, còn gì hơn được nữa! Tôi xin thay mặt tất cả cảm ơn cụ! Cảm ơn cụ! Chia tay chúng tôi, anh Chính, chị Mão nghẹn ngào không nói nên lời. Ông chủ tịch nắm chặt tay tôi lắc lắc: - Các anh cứ yên tâm đi chiến đấu, chúng tôi sẽ hết sức quan tâm đến gia đình họ. Đấy vừa là tình cảm cũng là trách nhiệm của chúng tôi nữa. Trước khi chia tay. Chúng tôi thi nhau ôm hôn hai đứa bé. Có những giọt lệ trào ra làm ướt đẫm vầng trán ngây thơ của chúng. Đã gần 60 năm trôi qua nhưng kỷ niệm này vẫn còn in đậm trong ký ức của tôi và đồng đội. Không biết giờ này họ đang ở nơi nào, không biết hai em bé sinh đôi dạo ấy lớn lên ra sao, lần nào gặp lại nhau chúng tôi cũng nhắc đến họ. Anh Chính, chị Mão và các bé ơi, nếu đọc được câu chuyện này hãy liên lạc với chúng tôi theo địa chỉ này nhé: Nguyễn Ngọc Doanh, phường Bắc Sơn, thị xã Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình, chúng tôi đang đợi... NGUYỄN NGỌC DOANH |