Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: chuongxedap trong 27 Tháng Tư, 2010, 05:41:56 pm



Tiêu đề: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Tư, 2010, 05:41:56 pm

Tên sách: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Nhà xuất bản: Chính trị Quốc gia
Năm xuất bản: 2002
Số hoá: ptlinh, chuongxedap




CHỈ ĐẠO NỘI DUNG:
        Đại tá PGS, TS. TRỊNH VƯƠNG HỒNG

CHỦ BIÊN:
        Thượng tá, TS. HỒ KHANG

TÁC GIẢ:
        Thượng tá, TS. HỒ KHANG
        Đại tá: NGUYỄN VĂN MINH
        Đại tá THS. TRẦN TIẾN HOẠT
        Thượng tá, TS. NGUYỄN HUY THỤC
        Thượng tá, THS. NGUYỄN XUÂN NĂNG
        Trung uý LÊ QUANG LẠNG




LỜI NHÀ XUẤT BẢN

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của quân và dân ta ở miền Nam gây chấn động làm bàng hoàng nước Mỹ, tạo ra bước ngoặt lớn buộc đế quốc Mỹ phải thay đổi chiến lược, xuống thang chiến tranh.

Choáng váng trước đòn tiến công chiến lược của quân và dân ta, chính quyền Mỹ hiểu ra rằng không thể thắng nổi một dân tộc có tầm cao văn hoá, giàu trí tuệ, đầy bản lĩnh, gan góc chiến đấu vì độc lập tự do và thống nhất Tổ quốc với quyết tâm sắt đá không gì lay chuyển nổi. Vì vậy, bước vào Nhà Trắng từ tháng 1-1969, Níchxơn đề ra học thuyết mang tên ông ta và chiến lược quân sự toàn cầu với răn đe thực tế thay thế cho chiến lược phản ứng linh hoạt đã bị phá sản.

Vận dụng vào Việt Nam, Mỹ triển khai chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh - một chiến lược toàn diện về chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao để quân Mỹ và quân chư hầu rút dần về nước mà quân đội và chính quyền Sài Gòn vẫn mạnh lên theo công thức người Việt Nam tiến hành chiến tranh với trang bị, vũ khí, hậu cần của Mỹ và do Mỹ chỉ huy nhằm tiếp tục thực hiện âm mưu kéo dài chiến tranh, áp đặt chủ nghĩa thực dân mới lâu dài ở miền Nam Việt Nam. Để thực hiện âm mưu này, một mặt, Mỹ ồ ạt trang bị vũ khí, phương tiện chiến tranh, phát triển, xây dựng quân đội Sài Gòn mạnh cả về số lượng và chất lượng để đảm trách dần nhiệm vụ của quân đội Mỹ và chư hầu; mặt khác chúng thay đổi biện pháp chiến lược tìm diệt bằng biện pháp chiến lược mới: quét và giữ, phòng ngự chiều sâu, đẩy mạnh bình định dồn dân lập ập “dân sinh”, ấp “đời mới” là xương sống của Việt Nam hoá chiến tranh.

Từ năm 1969, đế quốc Mỹ tiến hành bước phiêu lưu quân sự mới, mở rộng chiến tranh sang Lào và Campuchia, giúp đỡ bọn phan độngg Lào và gây cuộc đảo chính ở Campuchia, biến Đông Dương thành một chiến trường.

Bên cạnh những bước phiêu lưu quân sự mới, đế quốc Mỹ tiến hành những chiến dịch ngoại giao xảo quyệt: thoả hiệp với các nước lớn để gây sức ép và cô lập cách mạng Việt Nam.

Đứng trước những thử thách nghiêm trọng của tình hình, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta trên cả hai miền Nam - Bắc đoàn kết một lòng, triệu người như một kiên quyết tiến hành cuộc chiến đấu giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt và kiên định của Đảng, mà trực tiếp là Bộ Chính trị, quân và dân ta ở miền Nam đẩy mạnh phản công và tiến công địch, từng bước khôi phục vùng giải phóng, khôi phục phong trào cả ở ba vùng chiến lược, sát cánh cùng quân và dân Lào và quân và dân Campuchia anh em đánh thắng các bước phiêu lưu quân sự mới của địch.

Tháng 6-1969, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập. Từ đây ở miền Nam song song tồn tại hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát.

Trên miền Bắc, sau khi đế quốc Mỹ buộc phải ngừng ném bom đánh phá, quân và dân ta đã nỗ lực cao độ, phục hồi và đẩy mạnh sản xuất, củng cố miền Bắc về mọi mặt, tăng cường tiềm lực kinh tế, quốc phòng, chi viện mạnh mẽ cho cách mạng miền Nam và các nước anh em.

Đấu tranh ngoại giao được Đảng ta xác định là một mặt trận tiến công quan trọng có ý nghĩa chiến lược lúc này, nhằm tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ mạnh mẽ hơn nữa của nhân dân tiến bộ trên thế giới đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa của dân tộc ta. Trên bàn đàm phán tại hội nghị Pari. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, sau này là Chính phủ lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, phối hợp chặt chẽ, luôn đề ra những sáng kiến hoà bình mềm dẻo, linh hoạt, thiện chí nhưng kiên quyết đòi rút hết quân xâm lược về nước, vấn đề miền Nam Việt Nam do chính nhân dân miền Nam tự giải quyết.

Bước sang năm 1971, trên chiến trường, quân địch nham hiểm và liều lĩnh mở ba chiến dịch quân sự lớn đánh ra đường 9 - Nam Lào, Đông Bắc Campuchia và vùng Ngã ba biên giới hòng triệt để cắt đứt tuyến chi viện chiến lược của ta trên đường Hồ Chí Minh phá hoại hệ thống kho tàng, căn cứ hậu cần và tiêu diệt bộ đội chủ lực đang đứng chân ở đây. Chấp nhận đọ sức với những nỗ lực quân sự cao nhất trong chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh của địch, Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương quyết định mở chiến dịch phản công chiến lược ở đường 9 - Nam Lào và đã giành được thắng lợi giòn giã, giáng một đòn chí mạng vào những nỗ lực chiến tranh mới của địch, tạo ra một bước phát triển mới cho cách mạng miền Nam.

Với bốn chương sách, từ chương 23 đến chương 26, tập VI của bộ Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975) mang tiêu đề Thắng Mỹ trên chiến trường ba nước Đông Dương trình bày một cách khái quát và tương đối đầy đủ về cuộc chiến đấu anh hùng của dân tộc chúng ta ở giai đoạn cam go nhất của chiến tranh từ đầu năm 1969 đến năm 1971, đánh thắng một bước căn bản chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh của địch.

Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
   
                                                                          Tháng 11 năm 2002
                                                                    NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Tư, 2010, 05:47:50 pm

CHƯƠNG 23
ĐẾ QUỐC MỸ THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC VIỆT NAM HOÁ CHIẾN TRANH


I- HỌC THUYẾT NÍCHXƠN VÀ CHIẾN LƯỢC QUÂN SỰ TOÀN CẦU RĂN ĐE THỰC TẾ

Năm 1961, đế quốc Mỹ cho ra đời chiến lược quân sự toàn cầu mang tên “phản ứng linh hoạt” thay thế cho chiến lược “trả đũa ồ ạt” - một chiến lược được đề ra và triển khai thực hiện từ năm 1953 dưới thời Tổng thống Mỹ Aixenhao nhưng đã không có hiệu quả ngăn chặn phong trào giải phóng dân tộc lúc bấy giờ đang phát triển trên thế giới. Lúc đó, mặc dù đã mất độc quyền vũ khí hạt nhân1, nhưng Mỹ vẫn là một siêu cường chưa từng bị thất bại trong các cuộc chiến tranh mà Mỹ tham chiến. Thực hiện chiến lược mới này, Mỹ vẫn duy trì lực lượng hạt nhân chiến lược, nhưng đồng thời phát triển lực lượng thông thường để tiến hành các cuộc chiến tranh hạn chế. Chính quyền Kennơđi rồi L.Giônxơn đều chấp nhận chiến lược “phản ứng linh hoạt”, vì cho rằng, chiến lược này là lưỡi kiếm tiến công sắc bén vào những nơi nguy hiểm nhất đối với “thế giới tự do”. Mỹ đã đem áp dụng chiến lược này vào cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam bằng hai loại hình chiến lược “chiến tranh đặc biệt” và “chiến tranh cục bộ” nhằm giành thắng lợi trong một cuộc chiến tranh không có vũ khí hạt nhân. Song, qua tám năm (từ 1961 đến 1968) tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, đế quốc Mỹ chẳng những không giành được một thắng lợi nào theo ý muốn, mà ngược lại, ngày càng lao sâu vào cuộc chiến tranh, bị sa lầy, mắc kẹt, bị tổn thất nặng nề về sinh lực và phương tiện chiến tranh. Lúc quân Mỹ có mặt ở miền Nam Việt Nam hơn nửa triệu với trang bị đầy đủ các loại vũ khí và phương tiện kỹ thuật hiện đại nhất như tướng W. Oétmolen (W. Westmoreland) đánh giá là “nước Mỹ chưa bao giờ cho ra trận một lực lượng mạnh, tinh nhuệ và hùng hậu hơn lực lượng Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam trong những năm 1966-1969”2, thì cũng là lúc quân Mỹ bị đánh đau nhất, thất bại nặng nề nhất. Bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, quân và dân ta đã đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, làm phá sản hoàn toàn chiến lược chiến tranh cục bộ - một thành phần quan trọng cấu thành chiến lược quân sự toàn cầu “phản ứng linh hoạt” của Mỹ.

Năm 1968, hoà cùng chiến thắng to lớn của quân dân ta ở miền Nam, tại Lào, Đoàn không quân 919 phối hợp với bộ đội đặc công Quân khu Tây Bắc tiến công, tiêu diệt trạm rađa Mỹ trên đỉnh núi Pa Thí. Mất trạm rađa này, hoạt động không quân của Mỹ đánh phá miền Bắc Việt Nam và Lào gặp rất nhiều khó khăn; Mỹ coi đó là một thảm hoạ đối với nỗ lực chiến tranh của Mỹ ở Đông Dương, bởi từ đây, việc đánh phá miền Bắc, ngăn chặn tiếp tế từ hậu phương lớn vào tiền tuyến lớn miền Nam của không quân Mỹ sẽ trở nên kém hiệu quả. Trong thời gian này, quân dân miền Bắc bắn rơi thêm 557 máy bay Mỹ, bắt nhiều giặc lái, đưa tổng số máy bay Mỹ bị bắn rơi trên miền Bắc tính từ ngày 5-8-1964 đến tháng 12-1968 lên 3243 chiếc. Tháng 11-1968, đế quốc Mỹ buộc phải ngừng ném bom và chấm dứt mọi hành động quân sự khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chấp nhận hội nghị bốn bên ở Pari. Sự thất bại này đã đẩy đế quốc Mỹ vào thời kỳ khủng hoảng dài nhất kể từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai.

Theo tính toán ban đầu của các nhà quân sự Mỹ, thì với chiến lược phản ứng linh hoạt, Mỹ có thể cùng một lúc tiến hành “hai cuộc chiến tranh rưỡi” - tức một cuộc chiến tranh ở châu Âu và một cuộc chiến tranh ở châu Á cộng với một cuộc chiến tranh quy mô bằng nửa một cuộc chiến tranh trên. Thế nhưng, trên thực tế, dẫu chỉ mới tiến hành một cuộc chiến tranh khu vực là cuộc chiến ở Việt Nam, thì cuộc chiến đó cũng đã làm cho nước Mỹ lao đao. Vào thời điểm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân nổ ra, Mỹ buộc phải soát xét lại toàn bộ chiến lược chiến tranh ở Việt Nam, đặt chiến lược đó trong mối quan hệ với chiến lược toàn cầu của Mỹ. Trong cuộc soát xét về mặt chiến lược này, giới lãnh đạo cao cấp Mỹ nhận ra rằng, “lực lượng chiến lược còn lại của nước Mỹ để đối phó với bất kỳ cuộc khủng hoảng nào trên thế giới chỉ còn trên dưới năm sư đoàn”3. nhưng quân số cũng không đầy đủ. Về con số đã vậy, còn về chi phí cho cuộc chiến tranh cục bộ ở Việt Nam trung bình hàng năm hơn 30 tỉ đôla (chưa kể chi phí tăng thêm cũng xấp xỉ) làm cho ngân sách chính phủ liên bang thâm hụt lớn, lạm phát tăng 6,1% năm 1969. Đời sống nhân dân Mỹ ngày càng giảm sút. Lời hứa trước cử tri khi ra tranh cử của Tổng thống Mỹ Giônxơn là sẽ tiến hành cuộc chiến chống nghèo đói nhằm xây dựng một “xã hội vĩ đại” đã không được thực hiện, trong khi số lính Mỹ chết và bị thương ở chiến trường được đưa về nước ngày càng nhiều, gây nên tâm lý bi quan, lo ngại và sự phẫn nộ ngày càng tăng của đại bộ phận công chúng Mỹ đối với chiến tranh, đối với chính quyền. Tình hình đó làm gay gắt thêm những mâu thuẫn trong nội bộ nước Mỹ và trong chính quyền Oasinhtơn, đẩy sự chống đối chính quyền của nhân dân Mỹ lên cao, làm cho giới lãnh đạo cao cấp Mỹ bị phân hóa sâu sắc...
_____________________________________
1. Năm 1953, Mỹ mất độc quyền bom khinh khí và đến năm 1957, việc Liên Xô phóng thành công vệ tinh nhân tạo đầu tiên của trái đất đã làm chấn động sâu sắc chính giới Mỹ.
2. W. Oétmolen: Một quân nhân tường trình, Nxb. Garden City, Doublday and Company, New York 1976. Thư viện quân đội dịch, bản đánh máy lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, tr.129.
3. W. Oétmolen: Một quân nhân tường trình, Sđd, tr. 32.



Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Tư, 2010, 05:49:51 pm

Trên phạm vi toàn cầu, do bị thất bại trong cuộc chiến tranh Việt Nam, đế quốc Mỹ buộc phải lùi một bước trước sự phát triển của phong trào cách mạng thế giới. Trong vòng tám năm thực thi chiến lược quân sự toàn cầu phản ứng linh hoạt, Mỹ chẳng những không ngăn chặn được các cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân các nước Á - Phi - Mỹ latinh, mà ngược lại, tại lục địa châu Phi đã có thêm 15 nước giành được độc lập. Ở Mỹ latinh, nhân dân Cuba dưới sự lãnh đạo của Phiđen Cátxtơrô và đội tiền phong của giai cấp công nhân Cuba đã làm cuộc cách mạng vô sản thắng lợi, đột phá vào hệ thống thuộc địa tại khu vực “sân sau” của Mỹ. Được cách mạng Cuba khích lệ, ở các nước Chilê, Nicaragoa, Vênêduyêla, Côlômbia, Bôlivia, Xanvađo, nhân dân đã vùng lên đấu tranh chống các chính quyền độc tài tay sai Mỹ, uy hiếp ảnh hưởng của Mỹ tại khu vực này. Ở Trung Đông, phong trào giải phóng dân tộc chống phụ thuộc vào nước ngoài gắn chặt với phong trào đòi dân chủ, cải thiện dân sinh cũng phát triển mạnh mẽ. Ý thức dân tộc và phong trào quần chúng chống đế quốc, thực dân đã tác động tích cực đến thái độ và hành động của giới cầm quyền ở nhiều nước Ả Rập.

Các nước xã hội chủ nghĩa là đối tượng chủ yếu mà chiến lược quân sự toàn cầu phản ứng linh hoạt của Mỹ nhằm tới. Mặc dù bị Mỹ ra sức ngăn chặn, phá hoại bằng nhiều thủ đoạn và biện pháp rất thâm độc, nhưng công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế, tài chính, khoa học kỹ thuật, văn hoá - xã hội ở các nước xã hội chủ nghĩa phát triển mạnh, tạo cho các nước này một vị thế mới trên trường quốc tế và là chỗ dựa của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới. Đặc biệt, sự phát triển về tiềm lực quân sự của Liên Xô, Trung Quốc làm cho so sánh lực lượng giữa cách mạng và phản cách mạng trên thế giới thay đổi có lợi cho hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.

Lợi dụng việc Mỹ bị sa lầy trong cuộc chiến tranh Việt Nam, các đồng minh chiến lược của Mỹ là Tây Âu và Nhật Bản nhanh chóng vươn lên, trở thành đối thủ cạnh tranh với Mỹ về kinh tế, quân sự. Nhiều nước tư bản chủ nghĩa bắt đầu thi hành đường lối chính trị tương đối độc lập hơn, muốn ít phụ thuộc Mỹ để dần dần đóng vai trò độc lập trên vũ đài chính trị quốc tế.

Tình hình trên đây khiến cho nhiều nhà hoạt động chính trị Mỹ nhận thấy “nếu Mỹ thua ở Việt Nam thì Mỹ thua một cuộc chiến tranh. Nhưng nếu Mỹ lạc hậu một cách tuyệt vọng trong lĩnh vực hạt nhân thì Mỹ có thể mất cả sự tồn tại của mình”1. Trên thực tế, trước một loạt sự kiện xảy ra trên thế giới thời gian này, có liên quan trực tiếp tới lợi ích quân sự, chính trị và kinh tế của Mỹ ở Béclin, Trung Đông, đặc biệt ở Triều Tiên, chính quyền Mỹ vô cùng lúng túng2.

Thắng lợi của nhân dân Việt Nam góp phần quan trọng làm phá sản chiến lược quân sự toàn cầu phản ứng linh hoạt của đế quốc Mỹ: làm cho nước Mỹ bước vào năm 1969 - như Kítxinhgơ (Henry Kisinger) thú nhận, đã không còn ở vào cái thế có thể thực hiện được những chương trình toàn cầu của mình, không còn có thể gán ghép cho các nước khác những giải pháp mà Mỹ ưa chuộng.

Trong những điều kiện đó, bước chân vào Nhà Trắng, Tổng thống Mỹ Níchxơn và những người cầm quyền nước Mỹ chủ trương phải có một chính sách đối ngoại mới trong một thế giới đã đổi thay, hòng tiếp tục thực hiện tham vọng bá chủ toàn cầu bằng việc bỏ chiến lược phản ứng linh hoạt thời Kennơđi - Giônxơn, vì nó đã bất lực trong việc chống đỡ các đòn tiến công của cách mạng trên khắp các châu lục, và vì sự biến đổi cán cân trên thế giới không có lợi cho Mỹ. Tháng 7-1969, trong diễn văn đọc tại đảo Guam về chính sách mới của Mỹ, Níchxơn tuyên bố ba điểm: thứ nhất, Hoa Kỳ sẽ tôn trọng tất cả mọi cam kết trong các hiệp ước mà Hoa Kỳ đã ký; thứ hai, Hoa Kỳ sẽ cung cấp một “lá chắn nguyên tử” nếu một cường quốc hạt nhân nào đe doạ nền tự do của một nước đồng minh với Hoa Kỳ, hoặc của một nước mà sự tồn tại được Hoa Kỳ coi là thiết yếu đối với nền an ninh của Hoa Kỳ; thứ ba, trong những trường hợp liên quan đến những loại “xâm lăng” khác, sẽ cung cấp viện trợ về quân sự và kinh tế khi được yêu cầu đúng với sự cam kết của Hoà Kỳ theo những hiệp ước, nhưng Hoa Kỳ mong muốn những nước trực tiếp bị “đe doạ” phải đảm nhận trách nhiệm về việc cung cấp nhân lực cho việc phòng thủ nước họ.

Sau một thời gian đánh giá lại toàn bộ tình hình thế giới, so sánh lực lượng, tiềm lực và khả năng của Mỹ trong mối tương quan với sự phát triển của cách mạng, Níchxơn thay mặt chính phủ Mỹ công bố chiến lược toàn cầu mới mang tên học thuyết Níchxơn. Mục tiêu tập trung của học thuyết mới này là ra sức phá hoại phe xã hội chủ nghĩa và phong trào cộng sản thế giới, tìm mọi cách đàn áp phong trào giải phóng dân tộc, duy trì và thực hiện chủ nghĩa thực dân mới, giữ vững địa vị lãnh đạo của Mỹ trong “thế giới tự do”, thực hiện tham vọng làm bá chủ toàn cầu, đảm bảo cho Mỹ đặc quyền, đặc lợi nô dịch và bóc lột thế giới.

Níchxơn tuyên bố: Mỹ vẫn là siêu cường, có vai trò đặc biệt trên thế giới; Mỹ phải khẳng định tầm quan trọng của mình trong sự cam kết với châu Âu; tiếp tục duy trì vai trò quan trọng và hết sức nặng nề đối với châu Á; không bỏ cuộc mà vẫn tiếp tục lãnh đạo ở Tây bán cầu và phải giữ chỗ đứng quan trọng của Mỹ ở châu Phi...

Trên đây là những nội dung chủ yếu trong chính sách mới của Mỹ mang tên học thuyết Níchxơn.
_____________________________________
1. Lời phát biểu của Thượng nghị sĩ Mỹ Xtennít - Chủ tịch Tiểu ban điều tra về tình hình sẵn sàng chiến đấu của Thượng viện Mỹ sau sự kiện Tết Mậu Thân (Dẫn theo: Thất bại quân sự của đế quốc Mỹ, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1979, tr. 128).
2. Ngày 23-3-1968, nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên bắt giữ chiếc tàu tình báo Puêblô của Mỹ và 83 người có mặt trên tàu. Vô tuyến truyền hình nước này đã chiếu lại cảnh những người bị bắt, bị giải đi trên đường phố Thủ đô Bình Nhưỡng. Sự kiện này đã là “một hành động làm nhục chính quyền Mỹ và chứng minh rằng: Chính quyền (Mỹ) đã bất lực” (Dẫn theo: G. Côncô: Giải phẫu một cuộc chiến tranh. Nxb.Quân dội nhân dân, Hà Nội, 1980, t 1, tr. 291).



Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Tư, 2010, 05:51:13 pm

Theo các nhà chiến lược quân sự, các chuyên gia hàng đầu nước Mỹ thì các căn cứ làm cơ sở cho việc soạn thảo học thuyết Níchxơn là:

- Vấn đề trước mắt đặt ra cho nước Mỹ là cuộc chiến tranh Việt Nam đang thu hút tâm trí, nghị lực và tiềm lực của Mỹ chưa từng có, nhưng chẳng những Mỹ không thu được kết quả như ý muốn, ngược lại liên tiếp bị thất bại.

- Vì cuộc chiến tranh Việt Nam mà trong cán cân lực lượng và mối quan hệ chiến lược quốc tế thay đổi không có lợi cho Mỹ.

- Sự mất cân đối ngày càng tăng giữa phạm vi, vai trò và tiềm lực của Mỹ.

- Tính nhiều cực về chính trị của thế giới và một thế giới cộng sản không thuần nhất vẫn là thù địch với Mỹ, nhưng vẫn chia rẽ.

Đối với phe xã hội chủ nghĩa, học thuyết Níchxơn xác nhận sự lớn mạnh của các nước xã hội chủ nghĩa về kinh tế, quân sự, nhất là sự lớn mạnh của Liên Xô, Trung Quốc - hai nước mà Mỹ gọi là “hai cường quốc cộng sản” đã vượt trội Mỹ về vũ khí tiến công chiến lược. Liên Xô - Trung Quốc đang có vị trí, uy tín quan trọng đối với các nước trong thế giới thứ ba và là chỗ dựa tin cậy của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới. Nhưng Mỹ đồng thời cũng nhận thấy tính chất không thuần nhất cũng như sự chia rẽ ngày càng sâu sắc trong các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào cộng sản quốc tế. Đây là điều kiện mới để Mỹ có thể lợi dụng, chống lại phong trào cách mạng thế giới. Do đó, âm mưu của Níchxơn đối với phe xã hội chủ nghĩa là chia rẽ, kiềm chế và đẩy lùi. Để thực hiện âm mưu thâm độc đó, học thuyết Níchxơn chủ trương “bắc nửa nhịp cầu” mở rộng tiếp xúc, giao lưu về văn hoá, kinh tế, khoa học - kỹ thuật nhằm xâm nhập, phá hoại các nước xã hội chủ nghĩa, thực hiện diễn biến hoà bình phản cách mạng. Níchxơn và giới cầm quyền Mỹ ra sức kích động “chủ nghĩa dân tộc” trong nội bộ các nước thuộc phe xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh việc tuyên truyền chiêu bài “thương lượng”, “hoà hoãn Đông – Tây”, thực hiện chính sách “kết bạn” với từng nước, nhằm chia rẽ, phân hoá các nước xã hội chủ nghĩa. Bằng chính sách đó, đế quốc Mỹ mưu toan ngăn chặn ảnh hưởng của phe xã hội chủ nghĩa đối với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới và làm suy giảm thế tiến công của cách mạng.

Đối với các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập, học thuyết Níchxơn chủ trương vừa đe doạ và dụ dỗ, mua chuộc để duy trì sự thống trị bằng chủ nghĩa thực dân kiểu mới của Mỹ tại các nước thuộc địa và phụ thuộc Mỹ. Song, qua cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Nhà Trắng và Lầu Năm góc thấy rõ sức mạnh quân sự của Mỹ không thể mang lại chiến thắng theo ý muốn khi mà các dân tộc đã giác ngộ, đoàn kết, quyết tâm chiến đấu để bảo vệ nền độc lập của mỗi nước. Vì vậy, Mỹ không thể làm “sen đầm” tràn lan được và cũng không đủ khả năng để có thể một mình chống chọi với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc đang phát triển mạnh trên khắp các châu lục. Trong những điều kiện đó, đế quốc Mỹ phải tìm cách hạn chế việc sử dụng quân Mỹ ở nước ngoài, đồng thời ra sức thực hiện “liên minh khu vực” nhằm “dùng người địa phương đánh người địa phương”.

Để thực hiện học thuyết Níchxơn ở châu Á, Mỹ xúc tiến tổ chức các khối liên minh quân sự ở từng khu vực. Đó là: Tổ chức quân sự, chính trị gồm Mỹ, Ôtxtrâylia, Niu Dilân được thành lập trên cơ sở Hiệp ước an ninh Thái Bình Dương (ANZUS); Hội đồng châu Á - Thái Bình Dương (ASPH) do Mỹ cầm đầu; duy trì Hiệp ước các nước Đông Nam Á (SEATO) gồm Mỹ, Anh, Pháp, Ôtxtrâylia, Niu Dilân, Thái Lan, Pakixtan, Philíppin; Hội 11 nước thân Mỹ ở Giacácta (Inđônêxia)...

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, mặc dù các nước tư bản chủ nghĩa phát triển không đều, nhưng đã có sự thay đổi rõ rệt về kinh tế, chính trị, quân sự giữa các nước “đồng minh” với Mỹ. Nhật Bản đã trở thành một cường quốc, nhiều nước Tây Âu cũng đã trở thành những cường quốc. Tình thế đó buộc chính quyền Níchxơn không thể bằng những thủ đoạn như viện trợ kinh tế, quân sự để duy trì địa vị lãnh đạo, chi phối như trước được nữa, mà phải có chính sách mới phù hợp. Trong khi vẫn nhấn mạnh “Vai trò lãnh đạo cân xứng của Mỹ”, học thuyết Níchxơn chủ trương các nước trong phe “đồng minh” của Mỹ phải cùng nhau “liên minh phòng thủ”, “chia sẻ gánh nặng”, “tăng cường tình đoàn kết về kinh tế, chính trị trong các nước phương Tây”. Thực chất đây là âm mưu của Mỹ nhằm trút bớt gánh nặng cho các nước đồng minh phương Tây nhưng vẫn duy trì được sự lãnh đạo của Mỹ đối với các nước thuộc “thế giới tự do”.

Xuất phát từ nhận định về “tính đa cực về chính trị của thế giới”, học thuyết Níchxơn đề ra chính sách cụ thể của Mỹ ở từng khu vực, từng cường quốc nhằm bảo đảm cho Mỹ được “linh hoạt” xử lý các tình huống để lúc nào Mỹ cũng giữ được thế mạnh. Theo Níchxơn, trong quan hệ giữa các nước lớn trong “cuộc chiến tranh lạnh”, nếu Mỹ thực hiện được chính sách chia rẽ các nước xã hội chủ nghĩa thì điều đó sẽ là một đảm bảo để Mỹ duy trì vững chắc tư thế “hai chọi một” (nghĩa là Mỹ và đồng minh có thể chọi với Liên Xô hoặc với Trung Quốc). Do đó, Mỹ lựa chọn phương án tiến hành “một cuộc chiến tranh rưỡi” thay vì phương án tiến hành “hai cuộc chiến tranh rưỡi” trước kia.

Bởi vậy, ở châu Âu, học thuyết Níchxơn chủ trương duy trì cán cân “ba cường quốc” là Mỹ - Tây Âu - Liên Xô; thúc hiện hoà hoãn Đông - Tây, dùng Tây Đức làm lực lượng xung kích phá hoại các nước xã hội chủ nghĩa, khống chế các nước châu Âu.

Ở châu Á và Thái Bình Dương, học thuyết Níchxơn chủ trương cố gắng cân bằng cán cân “bốn cường quốc” là Mỹ - Nhật - Liên Xô - Trung Quốc; huy động, lôi kéo thêm lực lượng phản động ở các nước thân Mỹ, cố đẩy nhanh Nhật Bản đứng ra gánh vác vai trò xung kích để đàn áp phong trào giải phóng dân tộc ở vùng này.

Ở Trung Cận Đông, Mỹ ra sức thực hiện thế cân bằng “ba cường quốc” là Mỹ - Tây Âu - Liên Xô; huy động thêm các lực lượng thân Mỹ sử dụng Ixraen làm lực lượng xung kích chống lại nhân dân các nước A Rập, tạo điều kiện tăng cường vị trí của Mỹ ở khu vực này.

Như vậy, học thuyết Níchxơn lấy mục tiêu chia rẽ, phá hoại phe xã hội chủ nghĩa làm điểm xuất phát. Dựa vào việc phân chia khu vực và xác định lực lượng hai phe ở từng vùng, học thuyết Níchxơn nhằm mục tiêu làm suy yếu dần phe xã hội chủ nghĩa, đàn áp phong trào giải phóng dân tộc, duy trì và củng cố sự thống trị của chủ nghĩa thực dân kiểu mới của Mỹ.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Tư, 2010, 06:16:40 pm

Để thực hiện học thuyết Níchxơn, đế quốc Mỹ đề ra chiến lược quân sự toàn cầu dùng sức mạnh làm nản lòng đối phương một cách thực tế, gọi tắt là chiến lược răn đe thực tế thay cho chiến lược phản ứng linh hoạt - một chiến lược quân sự ra đời và tồn tại trong những năm của thập kỷ sáu mươi, được các nhà lãnh đạo nước Mỹ lúc đó đánh giá là đỉnh cao của trí tuệ nước Mỹ, là cái “chìa khoá vạn năng” có thể giải quyết thắng lợi mọi cuộc xung đột vũ trang trên thế giới, bảo đảm cho Mỹ giữ vững vị thế lãnh đạo “thế giới tự do”, răn đe các nước đang đấu tranh giành độc lập, ngăn chặn và đẩy lùi các nước xã hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu áp đặt chủ nghĩa thực dân kiểu mới của Mỹ trên phạm vi toàn cầu. Nhưng qua thể nghiệm trong cuộc chiến tranh Việt Nam nó đã bị chính giới Mỹ phê phán là không phù hợp với thực tế, không đối phó được với cuộc chiến tranh Việt Nam, là đã lỗi thời... Theo các nhà soạn thảo ra chiến lược quân sự “răn đe thực tế” thì chiến lược mới này của Mỹ được xây dựng trên các căn cứ sau đây:

- Mỹ phải có lực lượng mạnh trong một cuộc chiến tranh tổng lực để ngăn chặn các cuộc chiến tranh lớn, đồng thời sẵn sàng đối phó thắng lợi với các cuộc chiến tranh vừa và nhỏ ở các địa phương trên từng khu vực.

- Mỹ không thể một mình đối phó với tất cả các mối đe doạ xảy ra đối với các nước đồng minh của Mỹ - đặc biệt là đối phó với các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc như kiểu chiến tranh Việt Nam.

- Mỹ phải có trách nhiệm tổ chức, sắp xếp, điều hoà lực lượng quân sự để có thể phát huy toàn bộ sức mạnh của Mỹ và các nước đồng minh của Mỹ.

Thực hiện chiến lược răn đe thực tế này, theo Níchxơn, Mỹ phải có đủ sức mạnh vũ khí hạt nhân để tiến hành chiến tranh tổng lực, đồng thời phải có đủ vũ khí và phương tiện hiện đại để tiến hành thắng lợi các cuộc chiến tranh thông thường nếu nó xảy ra. Trong tình hình chưa xảy ra một cuộc chiến tranh tổng lực (hạt nhân), Mỹ luôn phải chuẩn bị sẵn sàng lực lượng; phương tiện đủ sức thực hiện “một cuộc chiến tranh rưỡi”, nghĩa là Mỹ phải duy trì một lực lượng mạnh thích hợp để có thể đối phó với một cuộc chiến tranh lớn ở châu Âu hoặc châu Á và một cuộc chiến tranh vừa hoặc nhỏ đột xuất bùng nổ ở bất kỳ nơi nào trên thế giới. Từ chủ trương cùng một lúc đối phó với “hai cuộc chiến tranh rưỡi” trước đây, nay Mỹ dự kiến khả năng chỉ có thể đối phó với “một cuộc chiến tranh rưỡi”. Điều đó chứng tỏ rằng, giờ đây, Mỹ không còn đủ sức đem quân đi phản ứng tràn lan trước làn sóng tiến công của cách mạng trên khắp các châu lục, mà phải dùng cái ô hạt nhân hăm doạ các dân tộc, dùng bọn tay sai ở các nước “đồng minh” trực tiếp đối phó theo tinh thần “chia sẻ gánh nặng” mà học thuyết Níchxơn đã đề ra. Do vậy, chiến lược quân sự “răn đe thực tế” của Mỹ thực chất là chiến lược phòng ngự kết hợp với phản công cục bộ1.

Chiến lược dùng “sức mạnh làm nản lòng đối phương một cách thực tế” (răn đe thực tế) gồm hai bộ phận chính: chiến tranh hạt nhân (chiến tranh tổng lực) và chiến tranh thông thường.

Lực lượng Mỹ đóng vai trò trọng yếu và nòng cốt của chiến lược “răn đe thực tế”. Chiến lược này được chia thành hai loại:

- Lực lượng chiến lược hay còn gọi là lực lượng tiến công tổng lực (chiến tranh hạt nhân), gồm các loại vũ khí hạt nhân, tên lửa tầm xa, máy bay ném bom chiến lược, tàu ngầm nguyên tử, hệ thống tên lửa chống tên lửa, các loại vũ khí hoá học và vi trùng...

- Lực lượng tiến hành chiến tranh thông thường hay còn gọi là lực lượng phục vụ cho mục đích chung, gồm lục quân, lính thuỷ đánh bộ, hải quân, không quân chiến lược, không quân chiến thuật và pháo binh (bao gồm tên lửa không mang đầu đạn hạt nhân)...

Ngoài lực lượng Mỹ, lực lượng các nước đồng minh trong các khối quân sự do Mỹ cầm đầu và lực lượng tay sai bản xứ có nhiệm vụ tiến hành các cuộc chiến tranh trên từng khu vực từng địa phương dưới sự chỉ đạo, chỉ huy và yểm trợ của Mỹ. Sử dụng chiến tranh thông thường chống lại phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân thế giới, học thuyết Níchxơn và chiến lược quân sự toàn cầu mới của Mỹ chú trọng đặc biệt công thức: bộ binh người địa phương + vũ khí, trang bị hậu cần của Mỹ và do Mỹ chỉ huy.

Chiến lược quân sự toàn cầu răn đe thực tế vẫn hướng sự tập trung chủ yếu của Mỹ vào châu Âu. Vì theo Níchxơn ở châu Âu, Mỹ phải đương đầu với khối quân sự Vácxôvi, đặc biệt là Liên Xô - một đối thủ có tiềm lực quân sự nhiều mặt hơn Mỹ. Châu Âu còn là nơi Mỹ đã đầu tư vốn, kỹ thuật lớn, gắn liền với quyền lợi kinh tế của các nhà tư bản độc quyền Mỹ. Mặt khác; đây là địa bàn gắn liền với Địa Trung Hải, Trung Cận Đông, một vùng có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế, chính trị, quân sự đối với Mỹ. Còn châu Á là nơi hết sức nóng bỏng đối với Mỹ, nơi chịu ảnh hưởng của nhiều cường quốc. Mỹ lại đang bị sa lầy, mắc kẹt trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Đây còn là khu vực có nhiều nguyên liệu chiến lược rất cần cho nền kinh tế Mỹ và cũng là thị trường lớn nhất thế giới. Bởi thế, trong tính toán chiến lược cũng như thực tế, Mỹ tìm mọi cách duy trì thế mạnh tại khu vục nóng bỏng này bằng chính sách cùng nhau “chia sẻ gánh nặng”, “tăng cường tình đoàn kết với các nước đồng minh của Mỹ”.

Để thực hiện chiến lược quân sự toàn cầu răn đe thực tế, đế quốc Mỹ ra sức giữ vững và hàn gắn các tuyến chiến lược, duy trì hơn 2.300 căn cứ quân sự ở nước ngoài hòng thực hiện âm mưu bao vây các nước xã hội chủ nghĩa và đàn áp các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh cách mạng của nhân dân thế giới Mỹ củng cố và tăng cường khối quân sự Bắc Đại Tây Dương (NATO), duy trì và kéo dài thời hạn hiệp ước an ninh Nhật - Mỹ; xúc tiến việc triển khai thực hiện các hiệp ước Mỹ - Nam Triều Tiên, Nhật - Nam Triều Tiên; củng cố Khối phòng thủ Đông Bắc Á gồm Nhật - Nam Triều Tiên - Đài Loan; khẩn trương xây dựng các trục “Liên minh chống cộng” khu vực Đông Nam châu Á, nhằm tiếp tục bao vây, cô lập cách mạng Việt Nam từ Sài Gòn qua Phnông Pênh, Viêng Chăn và Băng Cốc; ráo riết củng cố thêm tuyến đê ngăn chặn vòng ngoài qua Philíppin, Inđônêxia, Malaixia...

Trên lĩnh vực quân sự, lực lượng tiến công chiến lược của Mỹ những năm này có khoảng 1000 tên lửa vượt đại châu Minitman, 54 tên lửa vượt đại châu Titan, 455 máy bay B52, 72 máy bay FB111, 656 tên lửa Pôlarít và Pôxâyđơn đặt trên 41 tàu ngầm nguyên tử, 585 máy bay đánh chặn phòng thủ và nhiều tên lửa chống tên lửa. Dựa vào chính sách “chia sẻ trách nhiệm” với các nước đồng minh, đế quốc Mỹ trên thực tế đã giảm quân thường trực từ 3,5 triệu người năm 1968 xuống còn 3,3 triệu người năm 1970; riêng lực lượng lục quân từ 1,57 triệu người năm 1968 giảm xuống còn 1,23 triệu vào năm 1970, v.v... Giảm lực lượng thường trực nhưng Mỹ đã tận dụng tối đa những thành tựu mới nhất của nền khoa học kỹ thuật tiên tiến để đẩy mạnh việc chế tạo vũ khí chiến lược MIRV mang nhiều đầu đạn hạt nhân, thử nghiệm và sản xuất máy bay ném bom chiến lược B1 và nhiều thiết bị quân sự điện tử điều khiển bằng lade, v.v…

Điểm mới của học thuyết Níchxơn và chiến lược quân sự toàn cầu răn đe thực tế là trong khi dựa vào “cái ô hạt nhân” làm vũ khí răn đe nhằm tiếp tục khẳng định vị trí là cường quốc, có vai trò và trách nhiệm “lãnh đạo thế giới” của mình, Mỹ đồng thời chủ trương hạn chế đưa quân Mỹ ra nước ngoài can thiệp trực tiếp chống lại các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh cách mạng của nhân dân thế giới; thay vào đó, Mỹ tăng cường sử dụng lực lượng tại chỗ của các nước thân Mỹ, do Mỹ cung cấp hậu cần, vũ khí, theo tinh thần “liên minh phòng thủ”, “chia sẻ gánh nặng”. Như vậy, về thực chất, học thuyết Níchxơn là một nỗ lực mới nhằm tiếp tục thực hiện âm mưu làm “bá chủ thế giới” của Mỹ, là mẫu mực của chính sách xâm lược, áp đặt chủ nghĩa thực dân kiểu mới Mỹ - chính sách xâm lược dấu mặt trá hình. Tuy nhiên, Học thuyết mới này của Mỹ cũng đã chứng tỏ thế suy yếu của đế quốc Mỹ trước sự lớn mạnh của phe xã hội chủ nghĩa và phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc đang bùng lên mạnh mẽ khắp các châu lục.
______________________________________
1. Ví dụ: Năm 1970, Mỹ đã ba lần phản công cục bộ: vũ trang xâm lược Campuchia; tăng thêm lực lượng Mỹ ở Địa Trung Hải trong cuộc khủng hoảng Gioócđani; kiên quyết duy trì nửa số quân hiện có ở châu Âu.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Tư, 2010, 06:18:30 pm

II- VIỆT NAM HOÁ CHIẾN TRANH

Trong chiến lược quân sự toàn cầu của Mỹ, Việt Nam tuy không phải là hướng trọng điểm như châu Âu, nhưng lại là nơi mà như ngoại trưởng Mỹ Đalét từng tuyên bố “Quyền lợi của Mỹ ở Viễn Đông về phương diện chiến lược gắn liền với cái thường gọi là chuỗi cù lao ven biển. Chuỗi cù lao này có hai căn cứ trên lục địa: Triều Tiên ở phía bắc và Đông Dương ở phía nam; giữa hai căn cứ đó là các đảo Nhật Bản, Riou Kiou, Ôkinaoa, Đài Loan, Philippin, Úc và Tân Tây Lan. Nếu Đông Dương sụp đổ thì hậu quả sẽ cực kỳ nghiêm trọng, không những Thái Lan, Mã Lai, Miến Điện mà cả Inđônêxia sẽ bị cộng sản thu hút mất”1. Các đời tổng thống Mỹ kế tiếp đều nhất trí với đánh giá này của Đalét và cho rằng, “Đông Dương là một bộ phận cần thiết trong chính sách ngăn chặn của Mỹ - một bức tường thành quan trọng trong chiến tranh lạnh”2. Nếu để Nam Việt Nam rơi vào tay “cộng sản” thì vô hình trung Mỹ tạo điều kiện cho “Liên Xô, Trung Quốc đang hợp tác với nhau mở rộng bá quyền của họ”3, và điều đó theo quan niệm của các nhà vạch chính sách Mỹ, sẽ dẫn đến một phản ứng dây chuyền đe doạ an ninh của nước Mỹ và thế giới phương Tây”4. Mặt khác, bằng cuộc đấu tranh bền bỉ và anh dũng của mình, Việt Nam trở thành ngọn cờ tiên phong trong phong trào giải phóng dân tộc, là tấm gương khích lệ, cổ vũ mạnh mẽ nhân dân các nước Á, Phi, Mỹ latinh vùng lên đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới. Vì vậy, Mỹ đã nhiều năm dính líu và ngày càng lún sâu vào cuộc chiến xâm lược Việt Nam với quyết tâm ngăn chặn “cộng sản” và ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội xuống khu vực Đông Nam Á và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Đặc biệt, qua bốn năm đưa quân Mỹ và quân các nước đồng minh Nam Triều Tiên, Úc, Tân Tây Lan, Philíppin, Thái Lan sang Việt Nam trực tiếp tiến hành chiến tranh, đế quốc Mỹ chẳng những không đánh bại được đối phương mà ngược lại, bị thất bại nặng nề về quân sự và chính trị, bị hao tổn lớn về quân số, vũ khí phương tiện chiến tranh trên chiến trường. Tình hình đó đã tác động đến nước Mỹ, làm dấy lên phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam, đòi chính quyền Mỹ rút quân về nước, đòi chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam của nhân dân Mỹ và thế giới. Do áp lực của nhân dân Mỹ ngày càng mạnh, nhiều nghị sĩ quốc hội ở Thượng viện và Hạ viện Mỹ cũng lên tiếng phản đối chính quyền, đòi luận tội Giônxơn, kêu gọi rút quân Mỹ về nước và tìm giải pháp chính trị chấm dứt cuộc chiến tranh Việt Nam trong danh dự... Tập đoàn cầm quyền hiếu chiến Giônxơn thấy không thể không rút quân khỏi miền Nam Việt Nam và chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam, mở đường cho một cuộc thương lượng với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về vấn dề Việt Nam. Đó là chiều hướng đang phát triển mà giới lãnh đạo cao cấp Mỹ không thể cưỡng lại được. Song, trong tính toán của chính quyền Giônxơn, việc rút quân Mỹ và quân một số nước đồng minh khỏi Nam Việt Nam phải đi đôi với việc chính quyền và quân đội Sài Gòn mạnh lên, đủ sức đứng vững.

Lên thay L.Giônxơn làm tổng thống nước Mỹ, Níchxơn giải thích nhiệm vụ của Mỹ giờ đây là phải “làm cho các lực lượng Nam Việt Nam có đủ sức đảm nhận toàn bộ trách nhiệm về an ninh của Nam Việt Nam để rút toàn bộ quân chiến đấu Mỹ trên bộ”5. Muốn thế, Níchxơn phải kéo dài thời hạn rút quân Mỹ về nước bằng cách rút quân “nhỏ giọt” song song với việc triển khai chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”. Bộ trưởng Bộ quốc phòng Mỹ Menvin Leđơ (Melvin Laird) đã tuyên bố rằng “Trong tất cả những thay đổi về chính sách trong năm đầu tiên của chính quyền Níchxơn không có gì quan trọng bằng việc Việt Nam hoá, vì chính sách mới này đối với Việt Nam thực tế là sự áp dụng và thử thách một chính sách rộng lớn hơn đối với châu Á mà Tổng thống đã tuyên bố tại Guam tháng 7-1969 và đã được mang tên là “học thuyết Níchxơn”6. Chính sách mà Níchxơn tuyên bố tại Guam là các nước đồng minh phương Tây và các nước phụ thuộc Mỹ cùng nhau “liên minh phòng thủ”, “chia sẻ gánh nặng” với Mỹ, nhưng Mỹ vẫn giữ vai trò lãnh đạo. Thực chất của chính sách đó là “dùng người địa phương đánh người địa phương” dưới sự chỉ huy của Mỹ. Vận dụng vào Việt Nam, Níchxơn điều chỉnh chủ trương “phi Mỹ hoá chiến tranh” thời Giônxơn thành chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh, nhằm tìm cách rút dần quân chiến đấu Mỹ khỏi Việt Nam, song song với quá trình chuyển giao trách nhiệm chiến dấu bảo vệ an ninh cho chính quyền và quân đội Sài Gòn với công thức: Người Việt Nam + trang bị vũ khí, hậu cần của Mỹ do Mỹ chỉ huy. Thực chất, chiến lược này nhằm kéo dài cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ bằng chính sinh mạng và máu của người Việt Nam, giảm được việc sử dụng quân Mỹ; Níchxơn cho rằng, Mỹ “không thể bỏ rơi bạn bè và không thể chuyển gánh nặng cho người Việt Nam quá nhanh được”, rằng Mỹ “phải giữ sự thăng bằng giữa việc làm quá nhiều nhằm ngăn ngừa tâm lý ỷ vào Mỹ với việc làm quá ít do đó phá hoại lòng tự tin”7 của chính đồng minh Nam Việt Nam. Nội dung chủ yếu của chiến lược Việt Nam hoá được Tổng thống Mỹ Níchxơn công bố ngày 18-2-1970 là: Tăng cường khả năng tự vệ cho chính quyền, quân đội Sài Gòn bảo đảm an ninh cho Nam Việt Nam, tăng cường quyền lực của chính quyền Việt Nam Công hòa ở khắp các vùng nông thôn Nam Việt Nam bằng việc đẩy mạnh chương trình bình định. Theo Níchxơn Việt Nam hoá có hai phần chính:

- Tăng cường quân đội Việt Nam Công hòa về số lượng, trang bị, lãnh đạo, chỉ huy, tài nghệ chiến đấu và năng lực toàn diện;

- Mở rộng chương trình bình định, làm cho chính quyền Sài Gòn kiểm soát được toàn bộ nông thôn Nam Việt Nam.

Nội dung cụ thể:

1. Ra sức đôn quân, bắt lính, thay đổi trang bị, vũ khí cho quân đội Sài Gòn; huấn luyện cấp tốc về chiến thuật, kỹ thuật cho quân đội đủ sức thay thế mỗi khi quân Mỹ rút đi.

2. Xây dựng chính quyền Việt Nam Công hòa ở trung ương và các địa phương mạnh bằng cách ra sức tranh thủ sự ủng hộ của dân chúng, gạt bỏ khủng bố, củng cố và mở rộng quyền kiểm soát của chính quyền Sài Gòn trong nhân dân các thành thị, các vùng nông thôn đông dân; “chấn hưng kinh tế”, cố gắng ổn định nền kinh tế, tài chính Nam Việt Nam đang suy sụp.

3. Ra sức bình định cho được nông thôn và kiểm soát đại bộ phận dân chúng miền Nam Việt Nam; đánh bật lực lượng vũ trang giải phóng ra khỏi cơ sở nông thôn và thành thị; tiêu diệt hạ tầng cơ sở của cách mạng; xây dựng hệ thống đồn bốt liên hoàn để ngăn ngừa “Việt cộng” đột nhập... Đây là biện pháp chiến lược được xem là chủ yếu và về thực chất, cũng là mục tiêu của chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh mà Mỹ thực hiện ở miền Nam Việt Nam.

Ngoài ba biện pháp trên, đế quốc Mỹ còn tập trung lực lượng không quân, pháo binh, biệt kích đánh phá ác liệt các tuyến hành lang của ta, nhất là khu giới tuyến quân sự tạm thời và hệ thống đường vận tải chiến lược Trường Sơn, nhằm ngăn chặn sự chi viện của hậu phương miền Bắc cho tiền tuyến miền Nam, cô lập cách mạng miền Nam.
______________________________________
1. Trích tuyên bố của Đalét ngày 13-1-1954.
2 ÷ 4. Robert S.Mc Namara: Nhìn lại quá khứ - tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia. Hà Nội,1995, tr. 42, 43.
5. Trích Tuyên bố của Níchxơn ngày 3-11-1969 về vấn đề Việt Nam.
6. Trích diễn văn của Menvin Leđơ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ đọc tại Caliphoócnia (California) ngày 14-1-1970.
7. Níchxơn: Đi tìm một chính sách đối ngoại, Tạp chí Tuần Tin tức Mỹ, số ra ngày l4-12-1970.



Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Tư, 2010, 06:19:54 pm

Đế quốc Mỹ dự định thực hiện chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh theo kế hoạch ba giai đoạn:

Giai đoạn 1: Tăng cường đánh phá làm cho lực lượng cách mạng miền Nam suy yếu nghiêm trọng. Trên cơ sở đó, từng bước chuyển giao nhiệm vụ chiến đấu trên bộ cho quân đội Việt Nam Công hòa (quân ngụy) đồng thời với việc rút dần quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam.

Giai đoạn 2: Chuyển giao nhiệm vụ chiến đấu trên không cho quân đội Việt Nam Công hòa. Tăng cường sức mạnh toàn diện cho quân đội Việt Nam Công hòa, đảm bảo cho đội quân này đủ sức đối phó với lực lượng vũ trang giải phóng trên chiến trường Nam Việt Nam và Đông Dương.

Giai đoạn 3: Hoàn tất những mục tiêu của Việt Nam hoá chiến tranh mà Níchxơn đã tuyên bố ở Guam. Củng cố kết quả đạt được Miền Nam Việt Nam trở thành một “quốc gia tự do” dưới sự lãnh đạo của Mỹ, ngăn chặn có hiệu quả chủ nghĩa cộng sản bành trướng xuống khu vực Đông Nam Á.

Trong ba giai đoạn trên, giai đoạn 1 được xem là giai đoạn quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định sự thành bại của chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh. Giai đoạn này được dự định thực hiện trong thời gian từ đầu 1969 đến giữa năm 1972, chia làm ba bước:

Bước một, bắt đầu từ 1969 đến giữa năm 1970, Mỹ sẽ bình định được một số vùng đông dân cư quan trọng, xoá bỏ toàn bộ cơ sở cách mạng trong vùng do chính quyền Sài Gòn kiểm soát, thanh lọc dân cư. Rút một số đơn vị chiến đấu Mỹ ra khỏi Nam Việt Nam. Khống chế và đẩy lùi lực lượng vũ trang giải phóng ra xa các vùng nông thôn và đô thị, hạn chế đến mức tối đa những hoạt động quân sự của cách mạng.

Bước hai từ tháng 7-1970 đến tháng 5-1971, bình định hết các vùng đông dân quan trọng ở Nam Việt Nam, làm cho lực lượng vũ trang giải phóng phải phân tán nhỏ, không thể hoạt động được ở quy mô từ đại đội trở lên. Hoàn thành kế hoạch hiện đại hoá quân đội Việt Nam Công hòa; rút phần lớn quân Mỹ về nước.

Bước ba từ tháng 7-1971 đến tháng 6-1972, cơ bản bình định xong miền Nam Việt Nam. Lực lượng vũ trang giải phóng không còn hoạt động được ở các vùng căn cứ trên biên giới Việt Nam - Lào, Việt Nam - Campuchia. Quân đội Việt Nam Công hòa đủ sức đương đầu với khối chủ lực miền Bắc Việt Nam. Rút đại bộ phận quân chiến đấu Mỹ về nước.

Thực hiện kế hoạch chiến lược trên, đế quốc Mỹ đề ra năm biện pháp cụ thể:

1. Xây dựng quân đội Việt Nam Công hòa thành một lực lượng mạnh, hiện đại, đủ sức đương đầu với lực lượng vũ trang cách mạng và đủ sức làm nòng cốt cho các đội quân tay sai Mỹ trên bán đảo Đông Dương.

2. Củng cố chính quyền các cấp của Việt Nam Công hòa, ổn định an ninh và gia tăng nền kinh tế miền Nam Việt Nam.

3. Tập trung sức hoàn thành chương trình bình định, bảo đảm an ninh lãnh thổ ở mức cao nhất, phản kích ra ngoài lãnh thổ Nam Việt Nam.

4. Tập hợp liên minh chống cộng khu vực do quân đội và chính quyền Sài Gòn làm nòng cốt.

5. Chặn đứng các nguồn tiếp tế chi viện cho cách mạng miền Nam, xúc tiến hoạt động ngoại giao để kiềm chế, cô lập, đẩy lùi cuộc đấu tranh yêu nước của nhân dân Việt Nam.

Như thế, với việc đề ra và thực hiện chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh, đế quốc Mỹ càng lộ rõ bản chất xâm lược, bản chất chống cộng triệt để, thâm độc và nham hiểm, toan “thay đổi màu da trên xác chết” bằng việc dùng người Việt Nam bắn giết những người yêu nước Việt Nam, nhưng lại “dấu mặt trá hình” để đánh lừa nhân dân thế giới. Thực hiện Việt Nam hoá chiến tranh, đế quốc Mỹ còn nhằm khai thác triệt để nhân tài, vật lực của Nam Việt Nam phục vụ cho chiến tranh xâm lược, giảm bớt được gánh nặng cho Mỹ. Thực chất, Việt Nam hoá là sự kết hợp ba loại chiến tranh của Mỹ: chiến tranh giành dân; chiến tranh bóp nghẹt và chiến tranh huỷ diệt do người Việt Nam tiến hành dưới sự nuôi dưỡng, chỉ huy của Mỹ, hòng làm cho lực lượng quân sự, chính trị của cách mạng Việt Nam ở miền Nam bị suy yếu, bị tiêu diệt. Như vậy, Việt Nam hoá không phải để chấm dứt chiến tranh, mà là tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược bằng chiến lược mới, thủ đoạn mới rất tàn bạo và thâm độc trên tất cả các mặt chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao... của đế quốc Mỹ. Nói cánh khác, với chiến lược mới này, Mỹ không hề từ bỏ các mục tiêu thực dân mới ở Việt Nam, mà kiên trì thực hiện nó trong điều kiện buộc phải rút dần quân chiến đấu Mỹ ra khỏi miền Nam, giảm dần chi phí chiến tranh mà theo dự tính của Mỹ sẽ chỉ còn ở mức thấp nhất, khoảng 5 tỉ đôla/năm thay vì 30 tỉ đôla/năm trong chiến tranh cục bộ. Với mức chi phí này, theo tính toán của chính quyền Níchxơn, ngân sách chính quyền liên bang có thể chịu được, nhân dân Mỹ có thể chấp nhận và quên đi lời hứa của Níchxơn khi tranh cử tổng thống là “sẽ chấm dứt chiến tranh Việt Nam trong sáu tháng sau ngày lên cầm quyền”, ổn định được tình hình chính trị nội bộ nước Mỹ. Kế hoạch chiến lược mới để thực hiện Việt Nam hoá chiến tranh của Níchxơn rất thâm độc xảo quyệt, vì một mặt nó nhằm tăng cường sức mạnh quân sự, kinh tế của Mỹ và chính quyền Sài Gòn; mặt khác, nó lôi kéo các nước phương Tây “chia sẻ trách nhiệm” bằng việc đóng góp tiền của, xương máu càng nhiều cho Mỹ củng cố vị thế bá quyền lãnh đạo thế giới. Thâm độc hơn, là với chủ trương “bắc nửa nhịp cầu”, “hoà hoãn Đông - Tây”, “kết bạn” với từng nước, đế quốc Mỹ lợi dụng sự bất hoà giữa Liên Xô với Trung Quốc, tìm cách chia rẽ, lôi kéo các nước xã hội chủ nghĩa khác, tạo nên “thế hoà hoãn” giữa các nước lớn, phục vụ cho âm mưu cô lập được Việt Nam, giảm bớt sự ủng hộ của phe xã hội chủ nghĩa, nhất là Liên Xô, Trung Quốc để Mỹ thực hiện thắng lợi chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Tư, 2010, 06:21:00 pm

Chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh của Níchxơn là một kế hoạch đồ sộ, hoàn chỉnh, biểu hiện tư tưởng chủ quan đánh giá mình quá cao, nhưng lại chứa đựng những mâu thuẫn mà đế quốc Mỹ không thể nào khắc phục được. Đó là, mâu thuẫn giữa yêu cầu giảm sự tham chiến của Mỹ với tham vọng tăng cường sức mạnh quân sự để ép nhân dân ta phải nhân nhượng theo điều kiện của Mỹ; mâu thuẫn giữa kế hoạch rút quân Mỹ, quân đồng minh của Mỹ khỏi Việt Nam với yêu cầu quân đội và chính quyền Sài Gòn vốn đã suy yếu phải mạnh lên đủ sức thay thế quân Mỹ tiến hành chiến tranh. Trong quá trình Việt Nam hoá chiến tranh, các mâu thuẫn trên sẽ càng phát triển theo chiều hướng không có lợi cho Mỹ và Sài Gòn. Do đó, nhân dân Việt Nam hoàn toàn có đầy đủ khả năng khoét sâu mâu thuẫn đó, tạo thêm cho mình sức mạnh, đánh thắng chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh của Níchxơn. Sau này, trong hồi ký của mình, Kissinger cố vấn của Tổng thống Mỹ Níchxơn kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, thừa nhận rằng: “Rút quân Mỹ, vấn đề không phải là giành thắng lợi với quân số ngày càng giảm bớt, trong khi với quân số đầy đủ nhất mà cũng chẳng giành được thắng lợi. Chỉ còn việc làm cho Tổng thống Thiệu chấp nhận quyết định của Mỹ”1 về cuộc hoà đàm Pari.

Về chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã vạch trần âm mưu thâm độc của Mỹ trong Tuyên bố ngày 6-11-1969 như sau: Cái gọi là “sự thay đổi chính sách” trên chiến trường và bàn hội nghị mà ông Níchxơn ra sức đề cao, chỉ có nghĩa là tăng cường chiến tranh, bám lấy miền Nam Việt Nam, không muốn hội nghị Pari đi đến một giải pháp đúng đắn về vấn đề Việt Nam.

Ai cũng thấy rõ Tổng thống Níchxơn không muốn chấm dứt chiến tranh mà Việt Nam hoá chiến tranh, tức là dùng người Việt Nam đánh người Việt Nam vì quyền lợi ích kỷ của bọn hiếu chiến Mỹ. Để củng cố ngụy quân, ngụy quyền ở miền Nam Việt Nam nhằm thực hiện kế hoạch Việt Nam hoá chiến tranh, Mỹ sẽ rút quân một cách nhỏ giọt và không chịu định thời hạn rút hết quân Mỹ, tức là kéo dài chiến tranh Việt Nam một cách vô hạn định. Mỹ tuyên bố chỉ rút bộ binh chiến đấu, nghĩa là rút một phần quân Mỹ, phần còn lại sẽ chiếm đóng lâu dài miền Nam Việt Nam.

Rõ ràng, Chính phủ ta coi chiến lược Việt Nam hoá là âm mưu kéo dài và tăng cường chiến tranh bằng lực lượng tay sai Mỹ ở miền Nam, chiếm đóng lâu dài Nam Việt Nam của đế quốc Mỹ.

Ngày 7-11-1969, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam cũng ra tuyên bố vạch trần âm mưu xảo quyệt của đế quốc Mỹ trong chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh: Việt Nam hoá chiến tranh của Tổng thống Mỹ Níchxơn thực chất là chính sách thâm độc dùng người Việt Nam đánh người Việt Nam để kéo dài chiến tranh xâm lược và thực hiện chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ ở miền Nam Việt Nam, chia cắt lâu dài nước Việt Nam. Trò rút quân nhỏ giọt, cái gọi là chương trình rút hết quân chiến đấu Mỹ của Tổng thống Níchxơn là những thủ đoạn nhằm xoa dịu dư luận Mỹ, che dấu âm mưu duy trì lâu dài một số lớn quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam, tranh thủ thời gian tăng cường ngụy quân, củng cố ngụy quyền, dùng bọn này để tiếp tục mưu đồ xâm lược và áp đặt chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ.

Để chống lại yêu cầu cấp bách và chính đáng của hàng triệu nhân dân Mỹ đang đòi Chính phủ Mỹ phải nhanh chóng rút hết quân Mỹ về nước, Tổng thống Mỹ đưa ra những lý do xằng bậy về hậu quả ở Việt Nam sau khi Mỹ rút quân. Sự thật là hơn nửa triệu quân xâm lược Mỹ hằng ngày gây chết chóc và tai hoạ cho nhân dân miền Nam Việt Nam, chà đạp thô bạo các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, uy hiếp nghiêm trọng hoà bình, an ninh ở Đông Nam Á. Mỹ chấm dứt xâm lược và rút hết quân Mỹ về nước thì tức khắc mọi tai hoạ và tàn phá ở miền Nam Việt Nam sẽ được chấm dứt.

Tổng thống Níchxơn đã công khai phơi bày ý đồ kéo dài chiến tranh xâm lược của Mỹ ở miền Nam Việt Nam, duy trì vai trò sen đầm quốc tế của đế quốc Mỹ ở Đông Nam Á và trên thế giới. Chính sách chiến tranh của Tổng thống Mỹ Níchxơn là trở ngại duy nhất cho việc tiến tới một giải pháp hoà bình đúng đắn ở Việt Nam, là nguyên nhân của tình hình bế tắc của hội nghị Pari về Việt Nam. Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam kiên quyết vạch trần và cực lực lên án chính sách xâm lược ngoan cố của chính quyền Níchxơn.

Chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh thể hiện bản chất ngoan cố và hiếu chiến của đế quốc Mỹ, bởi vì trong thế thua, phía Mỹ vẫn không từ bỏ âm mưu xâm lược; trong thế bị động, buộc phải chuyển hướng chiến lược, nhưng lại cố kéo dài chiến tranh xâm lược bằng cách tăng thêm gánh nặng cho chính quyền và quân đội Sài Gòn, nghĩa là dùng người Việt đánh người Việt dưới sự trợ giúp, chỉ huy của Mỹ. Đó là một kế hoạch toàn diện cả về quân sự, chính trị, kinh tế của Mỹ, trong đó chúng tập trung vực quân ngụy Sài Gòn mạnh lên đủ sức thay thế quân Mỹ rút đi và đẩy mạnh chương trình bình định.

Thời kỳ đầu, khi chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh được triển khai, địch cũng có những chỗ mạnh tạm thời về quân số đông, vũ khí và phương tiện chiến tranh dồi dào, hiện đại, sức cơ động cao. Nhưng, những chỗ mạnh đó không thể nào khắc phục được những chỗ yếu cơ bản của quân đội Việt Nam Công hòa trong chiến lược mới này của Mỹ. Chỉ xét về khả năng thay thế quân đội Mỹ đảm nhận gánh nặng chiến tranh của quân đội Sài Gòn, có thể thấy rất rõ ràng rằng, trong những năm chiến tranh cục bộ đó là một đội quân thua trận, luôn luôn dựa vào quân Mỹ để tồn tại, thì giờ đây trong chiến tranh Việt Nam hoá dù đội quân đó có số lượng đông, được trang bị hiện đại, với sự yểm trợ tối đa về hậu cần, không quân, hải quân, pháo binh của Mỹ nhưng tinh thần chiến đấu sa sút, nó không thể làm nên chiến thắng mà Níchxơn mong muốn được. Nói cách khác, trong 15 năm kể từ khi Mỹ nhảy vào gạt Pháp để độc chiếm miền Nam cho đến năm 1969, Mỹ đã ra sức nuôi dưỡng, xây dựng quân đội Sài Gòn, nhưng đội quân này không đứng vững được trước đòn tiến công của Quân giải phóng, thì nay quân Mỹ thua phải rút dần về nước, chính sách Việt Nam hoá của Níchxơn không còn cách nào để biến một đội quân chiến bại thành một đội quân chiến thắng được. Mặc dù vậy, Níchxơn vẫn hy vọng về một thắng lợi quân sự để làm áp lực ép ta trên bàn hội nghị. Tại hội nghị Pari, Mỹ luôn lẩn tránh việc tìm một giải pháp chính trị đúng đắn để chấm dứt chiến tranh, mà luôn đòi “phải có đi có lại”, “hai bên đều rút quân”. Chính Níchxơn đã thú nhận rằng Việt Nam hoá là một kế hoạch nhằm biến cuộc chiến tranh của Mỹ thành cuộc chiến tranh lâu dài của người Việt Nam với nhau do Mỹ điều khiển. Bâncơ - Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn nói, mục tiêu của Việt Nam hoá là “thay đổi màu da xác chết”, là làm giảm thương vong của lính Mỹ bằng mọi giá... chứ không phải là kế hoạch chấm dứt chiến tranh, đem lại hoà bình cho Việt Nam thật sự. Leđơ - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ thú nhận, âm mưu cơ bản của Mỹ trong việc thực hiện chiến lược Việt Nam hoá là nhằm đưa đến một thắng lợi quân sự cho Nam Việt Nam và không loại trừ khả năng Mỹ lại có cuộc leo thang khác nếu chương trình Việt Nam hoá và cuộc nói chuyện ở Pari tan vỡ.

Trong khi đó, những nhà hoạt động chính trị, những trí thức chân chính cũng như đông đảo nhân dân tiến bộ Mỹ và thế giới lên tiếng phê phán, phản đối chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh của chính quyền Níchxơn. Thượng nghị sĩ Mỹ Mắc Cácti nói: “Việt Nam hoá chuyển cố gắng chiến tranh cho quân đội Nam Việt Nam, thực chất là đang tạo ra một đạo quân đánh thuê chống lại nhân dân nước họ, để xây dựng một chính phủ không đại diện cho ai” (Theo Ngôi sao buổi chiều, ngày 19-2-1970). Trong khi đó, Thượng nghị sĩ Mỹ Huyghết vạch rõ: “Việt Nam hoá sẽ không đưa chúng ta ra khỏi cuộc chiến tranh ở Việt Nam mà sẽ kéo dài mãi sự tham gia của chúng ta (Mỹ) vào cuộc chiến tranh đó” (Theo AP, ngày 8-2-1970).

Việt Nam hoá chiến tranh của Níchxơn thực chất là chính sách nhằm kéo dài chiến tranh xâm lược của Mỹ bằng “dùng người Việt đánh người Việt” do Mỹ chỉ huy. Đế quốc Mỹ có thể gây thêm cho nhân dân ta nhiều đau thương, hy sinh và mất mát, nhưng không thể đảo ngược được chiều hướng của cuộc chiến tranh. Quân và dân ta ở miền Nam đang ở thế thắng, thế chủ động càng đánh càng mạnh, càng mạnh càng thắng to và cuối cùng nhất định sẽ giành được thắng lợi hoàn toàn.
______________________________________
1. Henry Kissinger: Hồi ký những năm ở Nhà trắng, Thư viện Trung ương quân đội sao lục.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Tư, 2010, 06:21:54 pm

III- MỸ TRIỂN KHAI THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC
VIỆT NAM HOÁ CHIẾN TRANH

Triển khai chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh ở miền Nam Việt Nam, trước tiên Mỹ điều chỉnh chủ trương phi Mỹ hoá của Giônxơn theo hướng Việt Nam hoá chiến tranh. Vì phi Mỹ hoá là một kế hoạch quân sự nhằm giảm thương vong cho quân Mỹ bằng cách đẩy quân đội Sài Gòn ra phía trước đương đầu trực tiếp với Quân giải phóng, quân Mỹ đứng ở phía sau chi viện bằng pháo binh, nếu quân đội Sài Gòn bị đánh bại thì quân Mỹ mới nhảy vào tham chiến. Như vậy, phi Mỹ hoá có giảm được một phần thương vong cho quân đội Mỹ nhờ ở tuyến sau các cuộc hành quân so với trong chiến tranh cục bộ, nhưng không thể nào giảm được lực lượng Mỹ ra trận với anh hưởng ít nhất đến khả năng chiến đấu của binh lính để rút dần quân Mỹ ra khỏi cuộc chiến tranh trong danh dự. Còn Việt Nam hoá là một chủ trương toàn diện về quân sự, chính trị, ngoại giao để tiếp tục thực hiện âm mưu cơ bản của Mỹ là chiếm miền Nam bằng chính sách “dùng người Việt đánh người Việt”, vừa bảo đảm cho Mỹ rút quân, vừa tăng cường quân đội Sài Gòn và làm suy yếu lực lượng kháng chiến miền Nam Việt Nam. Đồng thời, với điều chỉnh phi Mỹ hoá, Mỹ bỏ chiến lược “tìm diệt” trong chiến tranh cục bộ thời Giônxơn, gấp rút củng cố bộ máy lãnh đạo, chỉ huy của Mỹ ở miền Nam gồm Đại sứ quán, Bộ Tư lệnh Viện trợ MACV, Phân cục tình báo Trung ương Mỹ, hệ thống cố vấn quân sự và dân sự Mỹ trong chính quyền và quân đội Sài Gòn. Đồng thời, Mỹ và chính quyền Sài Gòn thực hiện biện pháp chiến lược phòng ngự có trọng điểm, bằng việc dồn lực lượng lại, hình thành những căn cứ, những cụm cứ điểm mạnh để bảo vệ các thành phố lớn như Sài Gòn, Biên Hoà, Đà Nẵng, bảo vệ những địa bàn chiến lược quan trọng; kết hợp giữa phòng thủ tại chỗ mạnh với phòng thủ từ xa cơ động, linh hoạt, dùng pháo binh, xe tăng, không quân - kể cả máy bay ném bom chiến lược B52 phong toả vòng ngoài, ngăn chặn ta tiến công và yểm trợ cho quân ngụy hành quân càn quét, hành quân bình định.

Tăng cường quân đội Việt Nam Công hòa là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh. Bởi vậy, trong hai năm 1969, 1970, Mỹ và chính quyền Sài Gòn ra sức đôn quân bắt lính để tăng quân ngụy hàng năm lên từ 50.000 người đến 100.000 người cho đến khi đạt mức quân số 1.100.000 quân chính quy. Trong việc tăng cường quân ngụy. Mỹ rất chú trọng hai quân chủng hải quân và không quân. Đến cuối năm 1969, mỗi quân chủng quân số tăng lên xấp xỉ 45.000 người. Mỹ khẩn trương gia tăng số lượng và nhịp độ đào tạo phi công, thuỷ thủ, nhân viên kỹ thuật, hoa tiêu cho không quân và hải quân tại các trường đào tạo ở Mỹ và trường không quân, hải quân ở Nha Trang.

Các quân, binh chủng quân đội Việt Nam Công hòa (ngụy) được Mỹ trang bị các loại vũ khí, kỹ thuật hiện đại. Quân chủng không quân được trang bị máy bay F5, C119, C130 và 1.500 máy bay trực thăng các loại. Tháng 3-1970, quân đội Sài Gòn thành lập thêm một sư đoàn không quân, cùng nhiều phi đoàn độc lập khác. Hải quân được trang bị 1.600 tàu chiến các loại và tuần dương hạm DE. Mỹ chuyển giao cho quân chủ lực ngụy 700.000 súng M16 - loại súng trường cực nhanh và hiện đại nhất của quân Mỹ lúc bấy giờ, 30.000 súng phóng lựu, 10.000 súng máy các loại. Về thiết giáp, Mỹ đưa sang Nam Việt Nam 200 xe tăng M41, M48, 1.000 xe bọc thép, nâng tổng số xe tăng, thiết giáp của quân đội Sài Gòn lên 1.897 chiếc. Quân đội Sài Gòn lập thêm 20 tiểu đoàn pháo, trang bị thêm 600 đại bác từ 105mm đến 175mm, đưa tổng số đại bác quân ngụy lên 1.300 khẩu và 10.000 súng cối các loại. Ngoài ra, quân đội Sài Gòn còn được Mỹ trang bị 20.000 máy thông tin, 24.000 xe vận tải để phục vụ cho tác chiến.

Bên cạnh 347.000 quân chính quy, chính quyền Sài Gòn bắt tất cả những người từ 13 tuổi đến 45 tuổi vào lực lượng bảo an, dân vệ và phòng vệ dân sự (địa phương quân và nghĩa quân). Lực lượng này đến năm 1970 có 268.000 bảo an, dân vệ, chín vạn cảnh sát được trang bị 100% súng; 1,5 triệu phòng vệ dân sự, một phần ba trong số đó được trang bị súng cácbin. Trong chiến tranh cục bộ, quân chủ lực Sài Gòn có nhiệm vụ bảo vệ an ninh tại các nơi bình định, xây dựng nông thôn trong tỉnh. Ngoài các khu vực bình định, xây dựng nông thôn, nếu nơi nào có lực lượng cách mạng hoạt động, thì quân Mỹ và quân các nước đồng minh của Mỹ chịu trách nhiệm an ninh. Do đó, tỉnh trưởng, tiểu khu trưởng chỉ chịu trách nhiệm liên đới. Nay tiến hành Việt Nam hoá, quân Mỹ, quân các nước đồng minh của Mỹ lui về phía sau chuẩn bị rút về nước. Quân đội chính quy Sài Gòn thay thế quân Mỹ và quân đồng minh của Mỹ, là lực lượng cơ động chiến lược, làm nhiệm vụ “tìm diệt” và “quét giữ”; lực lượng địa phương quân và nghĩa quân được đôn lên đảm trách nhiệm vụ yểm trợ bình định, bảo đảm an ninh cho nhiệm vụ xây dựng nông thôn trên từng vùng lãnh thổ.

Ngày 8-6-1969, Tổng thống Mỹ công bố rút 25.000 quân Mỹ khỏi Nam Việt Nam. Ngày 7-7-1969, một tiểu đoàn thuộc Sư đoàn bộ binh số 9 Mỹ rút khỏi Việt Nam đầu tiên. Ngày 16-9-1969, Níchxơn công bố rút thêm 35.000 quân Mỹ đợt hai. Đồng thời với việc rút bớt quân Mỹ khỏi Việt Nam ngày 30-9-1969, Tổng thống Mỹ công bố lệnh rút 6.000 quân Mỹ khỏi Thái Lan vào tháng 10-1970. Tiếp tục quá trình không thể cưỡng lại đó, năm 1970, Mỹ rút 50.000; năm 1971, rút 250.000; đầu năm 1972, rút thêm 70.000 quân khỏi Việt Nam. Đến ngày 1-5-1972, số quân Mỹ còn lại ở Nam Việt Nam là 69.000. Số này sẽ tiếp tục rút khỏi Nam Việt Nam cuối năm 1972 và sau Hiệp định Pari được ký kết.

Trong khi quân Mỹ được rút nhỏ giọt, thì quân đội Việt Nam Công hòa tăng rất nhanh về số lượng. Đến cuối năm 1970, đội quân này đã đạt hơn 700.000 tên, gần đúng kế hoạch mà Mỹ trù định.

Cùng với việc lần lượt rút quân Mỹ, Bộ Tư lệnh Mỹ MACV, Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn thống nhất tái phối trí lực lượng chủ lực ngụy thay thế quân Mỹ ở những địa bàn chiến lược quan trọng để thực hiện chiến lược phòng thủ trọng điểm, kết hợp phòng thủ tại chỗ mạnh với phòng thủ từ xa linh hoạt. Ở vùng chiến thuật I, Sư đoàn 1 ngụy thay Sư đoàn lính thuỷ đánh bộ Mỹ số 3. Vùng chiến thuật II, Trung đoàn 47 thuộc Sư đoàn 22 ngụy lên Tây Nguyên thay cho Lữ đoàn 1 Sư đoàn bộ binh số 4 Mỹ rút về An Khê. Trung đoàn bộ binh 47 sẽ cùng với Sư đoàn 23 ngụy trấn giữ Tây Nguyên. Ở vùng chiến thuật III, Sư đoàn 5 ngụy tiếp nhận căn cứ Lai Khê thay cho Sư đoàn bộ binh số 1 (Anh cả đỏ); Sư đoàn dù ngụy thay thế dần vị trí Sư đoàn kỵ binh không vận số 1 Mỹ ở Tây Ninh và, Sư đoàn bộ binh 25 ngụy thay thế vị trí sư đoàn 25 Mỹ (Tia chớp nhiệt đới) ở Đồng Dù. Ở vùng chiến thuật IV, Sư đoàn bộ binh 7 quân Sài Gòn thay thế vị trí của Sư đoàn bộ binh số 9 Mỹ... Ngoài ra, lực lượng chủ lực quân đội Sài Gòn còn lại được bố trí phòng thủ dọc biên giới và giới tuyến quân sự tạm thời, vùng ven Sài Gòn - Gia Định, nội đô các thành phố, thị xã thay cho quân Mỹ và chư hầu.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Tư, 2010, 06:23:17 pm

Thời kỳ Níchxơn thay Giônxơn làm Tổng thống nước Mỹ, là thời kỳ phát triển các loại vũ khí công nghệ cao. Chính thời kỳ này ở Mỹ xuất hiện “thế hệ vũ khí thứ ba”. Các nhà quân sự Mỹ thường nói đến một “cuộc chiến tranh kỹ thuật”, “cuộc chiến tranh điện tử”, “chiến tranh tự động hoá”, “chiến tranh tăng cường tư bản” v.v... Cho nên, chính quyền Níchxơn trong khi ra sức củng cố, tăng cường quân đội Sài Gòn, đã đồng thời tăng ngân sách chiến tranh, tận dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật đã đạt được, thiết bị một chiến trường điện tử tự động hoá ở Nam Việt Nam. Chiến trường này gồm những phần tử âm thanh nhạy để xác định mục tiêu, các máy tính để thu thập tin tức, các màn hình tivi khép kín để kiểm soát hoả lực máy bay lên thẳng, những máy tia hồng ngoại để phát hiện đối phương di chuyển ban đêm, hệ thống giám sát đối phương bằng bụi phản xạ và cả những người máy được kiểm soát bằng rađiô, có thể tự vũ trang và tự nổ bằng tín hiệu của máy tính, máy dò địa chấn để phát hiện tiếng động trong lòng đất, v.v... Ước tính thiết bị một chiến trường điện tử chi phí hơn 20 tỉ đôla. Mặc dù chiến trường điện tử còn đang thời kỳ xây dựng, thí nghiệm, nhưng việc nó được Mỹ triển khai thực hiện ở Việt Nam đã gây cho ta nhiều khó khăn. Đối với chính quyền, quân đội Sài Gòn thì đây là “lá bùa hộ mệnh” nâng đỡ tinh thần đang suy sụp của họ, là “liều thuốc” góp phần làm cho quân ngụy đứng vững trong thời gian Mỹ rút quân.

Đi đôi với tăng cường và hiện đại hoá quân đội Việt Nam Công hòa (ngụy), việc củng cố chính quyền Nam Việt Nam để làm chỗ dựa cho Mỹ tiến hành Việt Nam hoá chiến tranh, áp đặt chủ nghĩa thực dân kiểu mới, là mối quan tâm hàng đầu của Níchxơn. Vì thế, Mỹ ra sức củng cố chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, tạo cho nó vỏ bọc “hợp pháp” “hợp hiến” để lừa bịp dư luận. Mỹ chẳng những giữ nguyên cơ cấu của “nền đệ nhị cộng hoà” do Thiệu đứng đầu, mà còn ủng hộ Thiệu ép Thượng viện Sài Gòn thông qua luật Bảo đảm an ninh, uỷ quyền đặc biệt cho Tổng thống “toàn quyền hành động”. Rút kinh nghiệm việc phân định quyền lãnh đạo hành chính và quyền chỉ huy quân sự trước đây do hai người đảm nhiệm đã hạn chế phần nào tác dụng, nay thực hiện Việt Nam hoá chiến tranh, Mỹ chủ trương cần phải tập trung quyền hành vào một người để tăng tính thống nhất, hiệu lực và sức mạnh của bộ máy chiến tranh. Mỹ và chính quyền Sài Gòn sắp xếp tổ chức lại bộ máy lãnh đạo từ trung ương đến địa phương, tăng cường quyền lực cho cấp tỉnh, tiểu khu và quận, chi khu, cấp đại diện trung ương tại các miền: miền Trung, Tây Nguyên, phụ cận Sài Gòn và đồng bằng sông Cửu Long có toàn quyền về chính trị và quân sự. Trước đây, cấp quận có quận trưởng chịu trách nhiệm về hành chính, chi khu trưởng chịu trách nhiệm về quân sự; cấp tỉnh thì tỉnh trưởng chịu trách nhiệm về hành chính, tiểu khu trưởng chịu trách nhiệm về quân sự. Sự phân chia quyền hạn này lên đến cấp quân khu. Nay chính quyền Sài Gòn tập trung trách nhiệm hành chính, chính trị, quân sự ở mỗi cấp vào một người. Theo đó: quận trưởng kiêm chi khu trưởng; tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng, tư lệnh quân đoàn, quân khu kiêm đại biểu chính phủ... Mỹ coi sự kết hợp này là rất quan trọng trong việc thực hiện chính sách Việt Nam hoá.

Dựa vào quyền hành đặc biệt đó, lại được Mỹ hỗ trợ, Thiệu trắng trợn ban hành luật cấm biểu tình, bãi công, bãi chợ; tuyên bố sẽ bỏ tù hoặc bắn chết những ai đi lại trong giờ giới nghiêm, bắt giam và tịch thu những chủ bút và máy in báo nào xâm phạm đến “an ninh quốc gia (!)”, “nói xấu chế độ”, “đưa tin thất thiệt” v.v... Nguyễn Văn Thiệu còn cho phép bắt, thủ tiêu hoặc bắn giết những người chúng tình nghi có quan hệ với “cộng sản”, đàn áp phong trào đấu tranh chống Mỹ của thanh niên, sinh viên, học sinh, những nhà tu hành và nhân dân đô thị. Mỹ và chính quyền Sài Gòn chỉ thị cho Phòng 5 quân Mỹ và Phòng 5 quân Sài Gòn1 lập kế hoạch hỗn hợp mục tiêu chiến lược của quân Mỹ và quân đội Việt Nam Công hòa (quân ngụy) dài hạn. Mục tiêu đề ra trong kế hoạch này là, xây dựng Nam Việt Nam thành một quốc gia độc lập, tạo lập một nền hoà bình cho Nam Việt Nam dù có hay không có sự thoả hiệp của Mặt trận dân tộc giải phóng và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Trong kế hoạch này, Mỹ và chính quyền Sài Gòn chủ trương tăng cường sức mạnh về chính trị, kinh tế, quân sự cho Nam Việt Nam để thu hẹp dần những hoạt động của lực lượng vũ trang giải phóng và phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta, tiến tới làm cho lực lượng cách mạng không còn khả năng hoạt động và do vậy, an ninh của Nam Việt Nam sẽ được bảo đảm như một “quốc gia tự do” trong khối các nước thân Mỹ chống cộng. Về kinh tế, sẽ phát triển kinh tế miền Nam đến chỗ thịnh vượng để nhân dân Nam Việt Nam có mức sống cao ngang với mức sống của nhân dân các nước tiên tiến. Đây thực sự là một kế hoạch lừa bịp, che giấu âm mưu chiếm miền Nam Việt Nam của Mỹ bằng chính sách Việt Nam hoá chiến tranh.

Ngày 26-3-1970, Thiệu ban hành Luật người cày có ruộng để thâu tóm ruộng đất vào tay giai cấp địa chủ tư sản thân Mỹ và tăng cấp ruộng đất cho những gia đình có người phục vụ trong chính quyền, quân đội Sài Gòn nhằm lôi kéo một bộ phận nông dân vào hàng ngũ của chúng, tạo ra cơ sở xã hội làm chỗ dựa cho Mỹ tiến hành Việt Nam hóa chiến tranh. Với Luật người cày có ruộng, tầng lớp nông dân chân chính sống trong các vùng nông thôn bị cướp không ruộng đất, vô kế sinh nhai, buộc phải vào các ấp tân sinh, ấp đời mới do chính quyền Sài Gòn kiểm soát. Thiệu còn đặt thêm nhiều loại thuế môn bài mới đánh vào những người buôn bán nghề kỹ nghệ, làm ruộng, đánh bắt cá và những nghề tự do khác, làm cho đời sống nhân dân miền Nam ở nông thôn và thành thị thêm điêu đứng. Về vấn đề này, Việt Nam Thông tấn xã - cơ quan thông tấn của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày 3-11-1969 phát đi bài Cải cách điền địa - một trò bịp bợm và phản động trong đó chỉ rõ: “Theo chỉ thị của Mỹ, ngụy quyền Sài Gòn phải tìm mọi cách kể cả đàn áp khủng bố và lừa gạt mua chuộc để “tranh thủ trái tim, khối óc” của nông dân là lực lượng cách mạng đông đảo nhất ở miền Nam. Trò hề cải cách điền địa cũng như tung tiền bạc và hàng viện trợ Mỹ vào nông thôn đều nằm trong âm mưu chung này của chúng...

______________________________________
1. Phòng kế hoạch - Bộ Tổng tham mưu.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Tư, 2010, 06:24:25 pm

Ở miền Nam hiện nay, ở vùng giải phóng hay trong vùng còn tạm bị kiểm soát, hầu hết ruộng đất từ ruộng đất của địa chủ đến ruộng đất Pháp kiều bán lại cho Diệm - Nhu từ năm 1958 đều do cách mạng chia cấp và do nông dân làm chủ cấy cày, làm ăn từ ngày đồng khởi đến nay. Thực tế đã xảy ra và đang xảy ra trong vùng chúng còn tạm kiểm soát hoặc vùng chúng lấn chiếm, là bọn ngụy quyền ấp xã và một số địa chủ lưu vong cướp giật ruộng đất cách mạng đã cấp cho nông dân từ trước, ruộng đất của gia đình cán bộ, chiến sĩ ta, đem chia cho bọn tề ngụy và tay chân của chúng. Ở các huyện Đức Hoà, Bến Lức, Thủ Thừa (Long An) chúng lấy đất nông dân được cấp trong kháng chiến trước để cấp cho ngụy binh. Ở xã Nhị Bình (tỉnh Long An), chúng lấy đất của cách mạng cấp cho nông dân để cấp cho gia đình ngụy quân rồi cấp bằng khoán để chứng nhận quyền sở hữu ruộng đất cho số này. Ở huyện Gò Dầu (Tây Ninh), chúng lấy ruộng đất của nông dân đi tản cư bán cho kẻ khác. Ở tỉnh Bình Thuận, Bà Rịa, chúng còn lấy công điền nông dân đang cày cấy đem bán đấu giá hoặc cấp cho gia đình ngụy quân...

Trò hề cải cách điền địa của Thiệu - Kỳ không những là trò bịp đối với nông dân, mà thực chất là một âm mưu cướp đoạt trắng trợn ruộng đất của nông dân, của gia đình cán bộ, chiến sĩ ta còn trong vùng chúng kiểm soát để cấp cho bọn tay sai của chúng để tạo một chỗ dựa về chính trị phản động ở nông thôn, chống lại phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp”1.

Ở các địa phương, tỉnh trưởng được toàn quyền trách nhiệm về an ninh lãnh thổ. Từ tỉnh đến quận, xã, ấp, chính quyền mỗi cấp có toàn quyền hành động “bảo đảm an ninh” trong phạm vi lãnh thổ mình cai quản. Do vậy bọn chúng tha hồ lộng hành, sách nhiễu nhân dân, tự do bắt bớ đánh đập, giam cầm, tra tấn dã man những người dân lương thiện bị chúng liệt vào loại tình nghi có quan hệ với “cộng sản”. Nguyễn Văn Thiệu còn ban hành các sắc luật quy định án tử hình đối với những người chống lại các chính sách về kinh tế, chính trị, quân sự của Mỹ và Sài Gòn. Bộ máy cai trị của chính quyền Sài Gòn thời kỳ Việt Nam hoá chiến tranh độc tài phát xít không thua kém thời Diệm - Nhu.

Song song với tăng cường và hiện đại hoá quân đội Việt Nam Công hòa, củng cố chính quyền Sài Gòn làm chỗ dựa cho Việt Nam hoá chiến tranh, Mỹ, ngụy đẩy mạnh chương trình bình định, dùng tổ chức Phượng Hoàng, Thiên Nga điều tra, phát hiện cán bộ và cơ sở cách mạng, tiêu diệt những người yêu nước. Địch coi đây là biện pháp quan trọng nhất trong cuộc đấu tranh giành dân, giành quyền làm chủ của chúng. Bình định được Níchxơn và Nguyễn Văn Thiệu xem như xương sống của Việt Nam hoá chiến tranh. Đây là một bộ phận quan trọng gắn liền với toàn bộ hoạt động quân sự, chính trị, kinh tế của Mỹ và chính quyền Sài Gòn đặt dưới quyền chỉ huy trực tiếp của cơ quan chỉ đạo trung ương. Cơ quan này là sự hợp nhất các cơ quan chỉ đạo bình định của Bộ Tư lệnh MACV, Sứ quán Mỹ, Phân cục tình báo Trung ương CIA Mỹ ở Sài Gòn do tướng A.Bram - Tư lệnh quân viễn chinh Mỹ ở Nam Việt Nam điều hành. Theo Mỹ và chính quyền Sài Gòn thì bình định dồn dân vào các ấp tân sinh, ấp đời mới là biện pháp chiến lược quyết định sự tồn vong của chính quyền Sài Gòn và sự thành bại của Việt Nam hoá chiến tranh.

Do tầm quan trọng đó, địch chia kế hoạch bình định ra làm nhiều giai đoạn để thực hiện:

Từ tháng 11-1968 đến tháng 6-1969, tiến hành bình định cấp tốc.

Từ tháng 7-1969 đến tháng 6-1970, bình định phát triển nông thôn.

Từ tháng 7-1970 đến tháng 2-1971, bình định đặc biệt.

Từ tháng 3-1971 đến tháng 3-1972, chương trình cộng đồng tự vệ và phát triển nông thôn...

Tiến hành bình định cấp tốc và bình định phát triển nông thôn, Níchxơn và Thiệu nhằm ba mục đích: khôi phục và mở rộng quyền kiểm soát của chính quyền Sài Gòn ở nông thôn Nam Việt Nam đang bị thu hẹp; tăng cường đánh phá phong trào cách mạng ở cơ sở để triệt tận gốc “cộng sản”; tranh thủ trái tim và khối óc của nhân dân bằng chiến tranh tâm lý, chiến tranh chính trị đầu độc, lôi kéo quần chúng; vơ vét nhân tài, vật lực của nhân dân miền Nam để giảm bớt chi phí cho Mỹ kéo dài chiến tranh. Chúng coi đây là “trận cuối cùng”; “ai thắng ai trong trận này sẽ chiến thắng trong cuộc chiến tranh”. Đây là mũi phản công chủ yếu của Mỹ và chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đánh vào cách mạng miền Nam. Địch tập trung mọi lực lượng, mọi sức mạnh quân sự và chính trị, quyết thực hiện cho được chỉ tiêu kế hoạch bình định năm 1969 là kiểm soát 90% dân số miền Nam tương đối an toàn; tiêu diệt 33.000 cán bộ cơ sở của “Việt cộng”; thiết lập chính quyền ngụy ở tất cả các xã, ấp; tuyển cho được hai triệu người vào địa phương quân và nghĩa quân. Do đó, chương trình bình định của Mỹ, ngụy thời kỳ này nổi lên những đặc điểm chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, lực lượng tập trung vào nhiệm vụ bình định đông. Địch huy động từ 60% đến 70% quân chủ lực phối hợp với 800 đội, đoàn bình định gồm 40.000 tên, cùng hàng trăm đơn vị cảnh sát, bảo an, địa phương quân, nghĩa quân đánh phá cơ sở cách mạng liên tục ở hầu hết các vùng nông thôn chúng kiểm soát. Chúng dùng không quân, hải quân, pháo binh bắn phá, ném bom suốt ngày đêm vô cùng ác liệt, san phẳng nhiều làng mạc, ruộng vườn gây nên cảnh tàn phá hoang tàn, làm cho dân chúng hoảng loạn, kết hợp với thanh lọc dân cư, bắt, tra tấn dã man những người dân lương thiện, ép buộc dân phải vào trong các ấp tân sinh, ấp đời mới mà thực chất là những “trại giam” trá hình.

Hơn nửa triệu quân chủ lực của chính quyền Sài Gòn được huy động vào bình định, nên Mỹ gọi đây là “cuộc tổng tấn công” nhằm “tiêu diệt du kích”, “nhổ tận gốc cộng sản, đánh bật Việt cộng ra khỏi xóm làng”, “lập hệ thống an ninh nghiêm ngặt 100%”. Khẩu hiệu của địch đề ra trong cuộc “tổng tiến công” này là “bành trướng kiểm soát toàn bộ lãnh thổ quốc gia”, “diệt trừ tất cả cán bộ hạ tầng cơ sở của cộng sản”.

Như vậy, cuộc đấu tranh chống phá địch bình định của nhân dân ta diễn ra trên quy mô rộng lớn ở hầu hết vùng nông thôn đông dân và với tính chất rất ác liệt. Đây là một trong những thử thách quyết tâm, sức mạnh, ý chí của quân và dân ta ở miền Nam trong những năm đầu địch tiến hành Việt Nam hoá chiến tranh.

Thứ hai, cuộc chiến tranh giành dân rộng lớn ở miền Nam mà Mỹ và chính quyền Sài Gòn triển khai giờ đây không chỉ gồm những cuộc bao vây, càn quét, bắt bớ, đốt nhà, dồn dân như thời kỳ chiến tranh đặc biệt, mà còn là việc biến những vùng nông thôn trù phú, đông dân thành những “vùng bắn phá tự do”, buộc những người nông dân phải rời bỏ xóm làng ruộng vườn, quê cha đất tổ vào các ấp tân sinh, ấp đời mới, vào các khu dinh điền sống dưới sự kiểm soát chặt chẽ của bọn ác ôn. Âm mưu của Mỹ và chính quyền Sài Gòn là tàn phá các vùng đông dân, uy hiếp dữ dội tinh thần nhân dân để tạo nên một cuộc di cư ồ ạt từ nông thôn ra thành thị hoặc buộc người nông dân miền Nam phải vào các ấp đời mới, ấp tân sinh để tách dân chúng khỏi cơ sở của cách mạng theo phương châm cổ điển “tát nước, bắt cá”. Về điểm này, một học giả người Mỹ Nôam Chômxky (Noam Chomsky) nhận xét: “Điều rõ ràng là chừng nào một đời sống xã hội có tổ chức còn có thể duy trì được ở Nam Việt Nam thì chừng đó Mặt trận dân tộc giải phóng còn là một lực lượng mạnh, còn chiếm ưu thế”, cho nên “tàn sát nhân dân ở nông thôn Việt Nam và buộc họ phải ly tán không phải là một sản phẩm ngẫu nhiên của chiến tranh, nó thuộc vào nội dung chiến lược của Mỹ”2.

Thứ ba, địch lập ra các ấp tân sinh, ấp đời mới lớn thay cho các làng xã đã bị bom đạn Mỹ huỷ diệt, rồi dồn dân vào đó. Của cải, nhà cửa của người nông dân miền Nam bị cướp, bị đốt; vườn tược, mồ mả ông bà bị bom đào xới và máy xúc san ủi. Nhân dân bị dồn vào ấp chiến lược, khu dồn với hai bàn tay trắng, sống bằng gạo cứu tế từng ngày một của Mỹ. Đây thực sự là một loại trại giam khổng lồ mà ở đó, Mỹ và chính quyền Sài Gòn dễ dàng bóc lột sức lao động của người dân để phục vụ chính sách Việt Nam hoá và cũng dễ dàng bắt lính đôn quân.

Vừa càn quét, đánh phá triệt hạ xóm làng, dồn dân vào các ấp tân sinh, ấp đời mới, Mỹ, ngụy vừa triển khai chương trình cấp phân bón, thuốc trừ sâu, giống lúa mới cho nông dân sản xuất; xây trạm y tế, trường học; mở mang đường sá, chợ búa ở nông thôn, cố tạo ra sự đối lập về cuộc sống giữa vùng chúng kiểm soát với vùng của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, hòng thu hút đồng bào ở vùng giải phóng chạy sang vùng địch. Nhưng, trên thực tế cuộc sống của đồng bào ta trong các khu dồn, các ấp tân sinh vô cùng khốn khổ, mất hết quyền tự do, phải sống nhờ của bố thí mà Mỹ, ngụy cấp cho từng ngày một.
______________________________________
1. Theo Trần Văn Giàu: Miền Nam giữ vững thành đồng, Nxb. Khoa học xã hội. Hà Nội, 1978, t.5, tr. 408, 409.
2. Dẫn theo Trần Văn Giàu: Miền Nam giữ vững thành đồng, Sđd, t.5, tr. 406,407.



Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Tư, 2010, 06:25:43 pm

Mặc dù đế quốc Mỹ buộc phải ngừng ném bom và mọi hành động quân sự khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, song chúng vẫn thường xuyên dùng máy bay trinh sát do thám và khiêu khích miền Bắc Việt Nam, đồng thời tăng cường ném bom, bắn phá vùng giới tuyến quân sự tạm thời, đặc biệt là đường mòn Hồ Chí Minh. Trong hai năm 1969, 1970, máy bay Mỹ đã ném xuống chiến trường Đông Dương năm triệu tấn bom, trong số đó chủ yếu là ở Việt Nam, gấp đôi số lượng bom các nước đồng minh đã thả xuống châu Âu trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Chỉ tính riêng năm tháng đầu của năm 1970, máy bay Mỹ đã ném xuống các vùng giải phóng miền Nam và đường mòn Hồ Chí Minh hơn 600.000 tấn bom, bằng xấp xỉ số bom Mỹ đã thả trong cuộc chiến tranh Triều Tiên. Tiếp đó, tổng số bom Mỹ thả xuống Việt Nam trung bình 1.400.000 tấn mỗi năm. Những năm 1970, 1971, bầu trời Việt Nam không lúc nào ngớt tiếng gầm rú của các loại máy bay trinh sát, máy bay phản lực tiềm kích, máy bay trực thăng và máy bay B52 của Mỹ quần lượn, do thám, chỉ điểm, ném bom bắn phá và tung biệt kích, thám báo xuống phá hoại các vùng căn cứ, vùng giải phóng. Máy bay B52 thường xuyên ném bom rải thảm các vùng Mỹ cho là “tự do bắn phá”, các khu vực chúng tình nghi lực lượng ta tập kết, đường chiến lược Trường Sơn. Chúng ném xuống miền Nam và đường Trường Sơn những loại bom phát quang, bom đào, bom mảnh sát thương, bom na pan và các loại “bom thông minh” được điều khiển bằng tia lade và tín hiệu vô tuyến truyền hình. Cũng vào những năm này, phía Mỹ còn tiến hành cuộc chiến tranh hoá học hết sức tàn bạo, dã man. Cuộc chiến này thực ra được xúc tiến từ thời Kennơđi, nấp dưới màn che lừa bịp dư luận, là chúng chỉ dùng “chất diệt cỏ”. Không quân Mỹ đã trút xuống các cánh đồng lúa, làng mạc và rừng núi Nam Việt Nam, nhất là núi rừng Trường Sơn, hàng triệu thùng chất độc hoá học “diệt cỏ”. Thực chất “chất diệt cỏ” là chất độc vô cùng nguy hiểm, tác dụng của nó đối với người và gia súc không có thứ phản độc tố nào có thể chữa trị được. Trong thời kỳ tiến hành chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh, Níchxơn đã thả xuống miền Nam Việt Nam 72 triệu lít chất độc hoá học, trong đó có 62% chất độc da cam, làm hơn 2 triệu km2 rừng và biết bao làng mạc, ruộng vườn bị phá huỷ. Ở một mức tàn ác hơn, chất độc hoá học của Mỹ đã gây tai hại cho sản xuất và đời sống nhân dân miền Nam, phá huỷ môi trường sinh thái và để lại những di chứng nặng nề cho con người là nạn đói, bệnh tật, các quái thai trong nhiều năm sau không thể khắc phục được. Đó là một cuộc chiến tranh diệt chủng, huỷ hoại môi trường sống, một tội ác ghê rợn vô nhân đạo nhất mà Mỹ đã tiến hành ở Việt Nam. Bộ Quốc phòng và Cục tình báo Trung ương Mỹ còn mở các chiến dịch “chiến tranh khí tượng học” gây mưa nhân tạo trên vùng rừng núi Trường Sơn, làm cho nước sông, suối dâng cao, chảy xiết, đồi núi sụt lở, đường trơn lầy lội quanh năm, ngăn cản ta vận chuyển vật chất, vũ khí vào chiến trường, hạn chế quân ta di chuyển... Mỹ cũng đã dùng các chất hóa học đặc biệt rắc vào mây, tạo ra những trận mưa a- xít làm hư hỏng vũ khí và phương tiện chiến đấu của ta. Theo báo cáo ngày 20-5-1974 của Bộ trưởng quốc phòng Mỹ lên Uỷ ban đối ngoại Thượng viện Hoa Kỳ về chương trình hoạt động chiến tranh khí tượng gây mưa nhân tạo trên đường mòn Hồ Chí Minh thì trong bảy năm chi phí cho chương trình này là 26,6 triệu đôla.

Dồn sức mở các cuộc chiến tranh không quân, chiến tranh hoá học, chiến tranh khí tượng cùng với việc thiết lập chiến trường điện tử ở Nam Việt Nam, phía Mỹ hy vọng rằng, bằng cách đó, sẽ nâng đỡ tinh thần, gây niềm tin cho quân lực Việt Nam Công hòa, hỗ trợ được phần nào cho chúng tiến hành các cuộc hành quân càn quét, hành quân bình định. Bằng việc xây dựng chiến trường điện tử tự động hoá, tiến hành cuộc chiến tranh vũ khí công nghệ cao theo hướng cuộc “chiến tranh tăng cường tư bản”, đế quốc Mỹ gây cho ta không ít khó khăn trong năm đầu chống “Việt Nam hóa chiến tranh” - nhất là khó khăn về tiếp tế hậu cần. Song, những vũ khí ấy, chiến trường điện tử tự động ấy không làm suy giảm được ý chí quyết tâm của nhân dân và lực lượng vũ trang ta giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới thống nhất Tổ quốc. Bởi vì như Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói, “cuộc chiến tranh này không phải chỉ là sự đối chọi giữa những thiết bị tối tân nhiều hay tối tân ít. Nó còn là sự đối chọi giữa những khối óc. Mỹ đã huy động những trí tuệ thông thái nhất, những nhân vật có năng lực nhất trong quân đội, trong bộ máy hành chính và các trường đại học. Họ hẳn có những bộ óc rất cừ, nhưng những bộ óc đó không được sử dụng tốt bởi vì bị đưa vào một cuộc chiến tranh mà người ta thấy trước là họ sẽ thua. Họ đã dựng lên một bộ máy hùng mạnh, nhưng bộ máy ấy thế nào cũng thất bại. Và, ở Mỹ có những khối óc khác đang tố cáo cuộc chiến tranh này, tố cáo những mục tiêu và phương pháp tiến hành cuộc chiến tranh này.

Mỹ đã tiến hành cuộc chiến tranh này với tất cả những phương tiện khoa học mà họ có thể có trong tay. Nhưng với phương tiện mà chúng tôi có, chúng tôi tiến hành cuộc chiến tranh này một cách khoa học, ngay cả khi trang bị của chúng tôi chỉ ở mức trung bình. Cố nhiên chúng tôi không có ý hạn chế chúng tôi trong việc sử dụng những vũ khí hiện đại mà chúng tôi có thể có được nhưng không phải chỉ cần có trong tay những phương tiện tiên tiến về kỹ thuật là đủ để cho chiến tranh được tiến hành một cách khoa học. Nhận thức của chúng tôi về chiến tranh là khoa học bởi vì chúng tôi chiến đấu trên mảnh đất của chúng tôi, vì những mục tiêu của chính chúng tôi và những phương pháp của riêng chúng tôi. Vì lẽ đó mà mặc dù có cả một bộ máy khoa học, kẻ địch đã bị thua chạy. Chính chúng tôi là những người nắm quyền chủ động”1.
______________________________________
1. Trả lời phỏng vấn nhà báo Pháp Cờlốt Guyliêng (Claude Julien) của Thủ tướng Phạm Văn Đồng ngày 18-5-1972.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Tư, 2010, 06:27:23 pm

Song song với việc thực hiện kế hoạch Việt Nam hoá chiến tranh ở miền Nam Việt Nam duy trì các hoạt động do thám, khiêu khích miền Bắc, đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ra toàn Đông Dương thi hành chính sách Khơme hoá, Lào hoá chiến tranh. Âm mưu của đế quốc Mỹ là xoá bỏ “đất thánh của Việt cộng” ở Campuchia, đưa nước này đi vào quỹ đạo của Mỹ; thu hẹp vùng giải phóng của cách mạng Lào, uy hiếp sườn phía tây miền Bắc xã hội chủ nghĩa; ngăn chặn sự chi viện của hậu phương lớn miền Bắc cho tiền tuyến lớn miền Nam, cô lập cách mạng miền Nam. Mở rộng chiến tranh sang Campuchia và Lào, đế quốc Mỹ đã làm cho ta bị động lúng túng trong năm đầu Việt Nam hoá chiến tranh, nhưng đây lại cũng chính là một sai lầm lớn về chiến lược của Mỹ.

Do sai lầm về chiến lược, lực lượng Mỹ và quân đội Sài Gòn bị phân tán trên chiến trường ba nước Đông Dương, nên cho dù quân chủ lực Sài Gòn có được tăng cường và hiện đại hoá, thì kế hoạch bình định của địch trong hai năm đầu Việt Nam hoá trên thực tế đã sụp đổ. Đến năm 1970, Mỹ và chính quyền Sài Gòn dù đã nỗ lực tối đa, huy động tất cả lực lượng và phương tiện để thực hiện cho được kế hoạch bình định đã đề ra, nhưng cho đến thời điểm đó, chúng cũng chỉ mới lập được 72 ấp tân sinh, ấp đời mới.

Từ giữa năm 1970 đến đầu năm 1972, kết hợp với hành động phiêu lưu quân sự mở rộng chiến tranh xâm lược sang Campuchia, Lào, Mỹ và chính quyền Sài Gòn tiến hành bình định đặc biệt và chương trình cộng đồng tự vệ, phát triển nông thôn, nhằm tiếp tục thực hiện những mục tiêu mà chương trình bình định cấp tốc trước đây chưa làm được, đồng thời chuẩn bị trước một bước cho chính quyền Sài Gòn đủ sức chống đỡ các đòn tiến công của cách mạng miền Nam, khi Mỹ buộc phải chấp nhận một giải pháp chính trị cho vấn đề miền Nam Việt Nam.

Địch đề ra mục tiêu cho chương trình bình định này phải đạt: một là, xây dựng, phát triển lực lượng địa phương quân (bảo an), nghĩa quân (dân vệ) mạnh, có khả hoạt động trên địa bàn rộng, bảo đảm an ninh lãnh thổ và có thể thay chân quân chủ lực ở một số vùng ngoài phạm vi đảm trách của quân địa phương; hai là, mở rộng lực lượng cảnh sát, tổ chức cho mỗi xã có từ 6 đến 12 cảnh sát vũ trang để phát hiện và diệt trừ cán bộ và cơ sở cách mạng ở nông thôn; ba là, bắt nhân dân trong vùng chúng kiểm soát vào lực lượng phòng vệ dân sự, phát súng cho lực lượng này chống lại cách mạng dưới sự giám sát, kìm kẹp của cảnh sát; bốn là, dùng vật chất mua chuộc, lung lạc cán bộ cách mạng; năm là, ra sức tuyên truyền đầu độc nhân dân “tinh thần chống cộng” “quốc gia dân tộc”; sáu là, xoa dịu lòng căm phẫn trong thương phế binh ngụy bằng cách hứa “cải thiện đời sống” cho họ; bảy là, củng cố bộ máy hành chính xã ấp, tận thu các sắc thuế địa phương để tăng thêm chi phí chiến tranh đỡ bớt gánh nặng cho Mỹ; tám là, tuyên truyền “chuẩn bị kế hoạch phát triển kinh tế” để che giấu “bức tranh kinh tế đen tối” ở vùng Mỹ, Sài Gòn tạm thời kiểm soát để lừa bịp nhân dân.

Điểm khác giữa bình định đặc biệt và chương trình cộng đồng tự vệ, phát triển nông thôn với bình định cấp tốc là, trước đây địch sử dụng hơn 70% quân chủ lực vào bình định nhưng nay, do việc quân chủ lực phải thay thế quân Mỹ, nên bình định chủ yếu do lực lượng địa phương quân (bảo an), nghĩa quân (dân vệ) đảm nhiệm. Quân địa phương không đủ sức chống đỡ trước những đòn tiến công, phản công của lực lượng vũ trang giải phóng và quần chúng cách mạng, nên kế hoạch bình định đặc biệt dự định thực hiện trong bốn tháng, đến tháng 10-1970 kết thúc nhưng trên thực tế, Mỹ phải kéo dài thêm bốn tháng nữa bằng kế hoạch bình định bổ túc và kế hoạch này kết thúc vào tháng 2-1971. Trong khi đó, bị thất bại về quân sự, quân chủ lực ngụy Nam Việt Nam ngày càng sa sút ý chí chiến đấu và điều đó đã tác động xấu đến tinh thần của quân địa phương, làm cho kế hoạch bình định đặc biệt, bình định bổ túc thất bại. Tám mục tiêu mà Mỹ và chính quyền Sài Gòn đặt ra cho chương trình bình định năm 1970, 1971, không có một mục tiêu nào đạt được. Trước tình hình bình định ngày càng tụt dốc, Việt Nam hoá chiến tranh không tiến triển mà hơn thế, đang đứng trước nguy cơ có thể phá sản, trong một cố gắng nhằm cứu vãn tình thế, đế quốc Mỹ quyết định chi hơn một tỉ đôla cho chương trình “bình định và phát triển mới” mang tên “Chương trình cộng đồng tự vệ và phát triển nông thôn” do Bộ Quốc phòng Mỹ và Cục Tình báo Trung ương Mỹ đảm nhiệm chính. Chương trình này phát triển, củng cố phòng vệ dân sự; lập một “hệ thống thông tin đại chúng” - mà thực nhất là tổ chức một mạng lưới tình báo, gián điệp, chiến tranh tâm lý; lùng diệt cán bộ kháng chiến và quần chúng cách mạng ở cơ sở để bảo đảm an toàn cho lực lượng tề điệp ác ôn, địa phương quân và cán bộ bình định.

Để thực hiện được các mục đích bình định trên đây, Mỹ và chính quyền Sài Gòn kết hợp quân sự với chính trị, kinh tế và văn hoá với những thủ đoạn tàn bạo, nham hiểm đánh vào lực lượng cách mạng và quần chúng nhân dân nông thôn.

Về quân sự, địch sử dụng lực lượng địa phương quân, nghĩa quân và cảnh sát làm lực lượng chủ yếu, trực tiếp tiến hành bình định. Quân chủ lực Sài Gòn kết hợp với một phần quân địa phương mở liên tiếp các cuộc hành quân quy mô từ tiểu đoàn đến sư đoàn càn quét đánh phá vòng ngoài hỗ trợ cho các đoàn, đội bình định dồn dân vào các ấp tân sinh đời mới. Hệ thống đồn bốt dày đặc cũng được thiết lập, củng cố và tăng cường để khống chế nhân dân.

Về chính trị, Mỹ, ngụy ra sức tuyên truyền, cổ suý cho tinh thần “quốc gia, dân tộc”, tô vẽ cho “nền đệ nhị cộng hoà” của Thiệu, xuyên tạc mục tiêu, ý nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, ráo riết tăng cường chiến tranh tâm lý, chiêu hàng, chiêu hồi, ép thanh niên vào các tổ chức phản động của chúng.

Về kinh tế, địch dùng các phương tiện và kỹ thuật (kể cả chất độc) phá hoại mùa màng, triệt đường sống của nhân dân, đồng thời với “cải cách điền địa” tịch thu ruộng đất của nông dân lương thiện đem chia cho những người trong quân đội, chính quyền Sài Gòn chống lại Tổ quốc, dân tộc, làm xáo động nông thôn. Mặt khác, Mỹ tìm cách mị dân bằng đưa máy móc, phương tiện sản xuất về các ấp tân sinh cho nông dân trong ấp vay tiền, giống cây trồng để sản xuất.

Dưới sự chỉ đạo chỉ huy trực tiếp của Bộ Quốc phòng và Cục Tình báo Trung ương Mỹ, gần như toàn bộ các hoạt động quân sự chính trị của Mỹ và chính quyền, quân đội Sài Gòn giờ đây đều tập trung vào công tác dồn dân, lập ấp chiến lược. Ở nhiều vùng nông thôn đồng bằng, địch dựng hàng vạn đồn bốt, tháp canh, tăng thêm binh lính trực tiếp làm nhiệm vụ kìm kẹp, khống chế dân chúng, đạt đến tỷ lệ cứ bảy người dân (kể cả già trẻ, lớn nhỏ) có một lính ngụy. Mặc dù kẻ địch đã nỗ lực tối đa thực thi chính sách “Việt Nam hoá”, huy động toàn lực vào nhiệm vụ bình định để giành dân giành quyền làm chủ với ta, nhưng kết quả trên cách lĩnh vực đạt được chẳng là bao. Về quân sự, quân số lực lượng vũ trang Việt Nam Công hòa được tăng lên về số lượng đông, được trang bị hiện đại và được huấn luyện kỹ để lãnh vai trò thay thế quân Mỹ, nhưng tinh thần của đội quân này đang ngày càng sa sút, ý chí chiến đấu thấp kém chẳng những không thay thế được quân Mỹ trong nhiệm vụ đương đầu với Quân giải phóng miền Nam, mà còn bị thiệt hại nặng trên các chiến trường, không hỗ trợ được cho quân địa phương trong nhiệm vụ bình định như tính toán ban đầu của Mỹ. Những chương trình phát triển kinh tế trong khuôn khổ Việt Nam hoá chỉ đạt những kết quả rất hạn chế vì những trận ném bom, bắn pháo bừa bãi vào xóm làng, ruộng đồng, vì những cuộc hành quân càn quét, vây ráp, dồn dân của quân ngụy diễn ra liên miên. Trong những điều kiện đó, để lấp vào chỗ trống thiếu hụt của nền kinh tế Nam Việt Nam, hàng hoá Mỹ nhập vào miền Nam ngày càng nhiều, biến miền Nam thành một thị trường tiêu thụ hàng Mỹ. Mặt khác, Hoa Kỳ nhận lãnh trách nhiệm cung ứng hậu cần cho quân đội Sài Gòn. Kết quả là kinh tế Nam Việt Nam vốn phụ thuộc nặng nề vào viện trợ của Mỹ nay càng phụ thuộc thêm và điều đó khiến cho vốn là một vựa lúa lớn ở vùng Đông Nam Á đã không còn tự cung, tự cấp được nữa. Một nền kinh tế lệ thuộc Mỹ cộng với một chế độ phản nước, hại dân, khiến cho chính quyền Sài Gòn, mặc dù tìm mọi cách tuyên truyền cho cái “tinh thần quốc gia, dân tộc” vẫn không thể nào lường gạt được, tranh thủ được “trái tim, khối óc” của nhân dân miền Nam. Chính quyền Sài Gòn bị nhân dân miền Nam và nhân dân tiến bộ thế giới coi là chướng ngại ngăn cản hoà bình, hoà hợp dân tộc, một công cụ phục vụ đắc lực cho cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới của Mỹ. Về “Việt Nam hoá chiến tranh”, Bộ Quốc phòng Mỹ nhận xét, “Mục tiêu của Mỹ nhằm tăng cường các lực lượng quân sự Việt Nam Công hòa và khả năng đẩy lùi kẻ địch thông qua chương trình Việt Nam hoá, cuối cùng đã bị thất bại, vì quân đội Việt Nam Công hòa ngày càng phụ thuộc vào viện trợ quân sự và giúp đỡ kỹ thuật của Mỹ”; “Những cố gắng ban đầu của chính phủ Việt Nam Công hòa nhằm định ra chương trình bình định và phát triển nông thôn đã thất bại, vì đó là những chương trình đầu đuôi lẫn lộn được vạch ra một cách vụng về”1


*
*   *


Ngày 20-1-1969, bước vào Nhà Trắng làm Tổng thống nước Mỹ nhiệm kỳ 1969-1972, Níchxơn tuyên bố trước dân chúng Mỹ là sẽ chấm dứt chiến tranh Việt Nam trong vòng sáu tháng với sự cộng tác của người Nam Việt Nam (ngụy Sài Gòn) bằng việc thực hiện chính sách Việt Nam hoá. Việt Nam hoá chiến tranh bắt đầu được triển khai từ tháng 3-1969, với việc Mỹ điều chỉnh kế hoạch phi Mỹ hoá của Giônxơn, đồng thời với việc tăng cường, hiện đại hoá dần quân đội Việt Nam Công hòa và xúc tiến bình định cấp tốc. Một năm sau đó đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh xâm lược ra toàn cõi Đông Dương, đẩy mạnh chương trình bình định phát triển nông thôn. Địch đã sử dụng không quân, pháo binh đánh phá ác liệt các vùng căn cứ, vùng giải phóng cách mạng và hành lang chiến lược Bắc - Nam, ngăn chặn tiếp tế vận chuyển của ta trên đường mòn Hồ Chí Minh, hòng cô lập cách mạng - miền Nam, hỗ trợ cho kế hoạch bình định. Qua hai năm đầu thực thi chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh, kế hoạch bình định gom dân, lập ấp chiến lược được Mỹ, ngụy xác định là xương sống của Việt Nam hoá đã bị thất bại nặng nề, những mục tiêu chúng đề ra không có mục tiêu nào đạt được, ngoại trừ mục tiêu hiện đại hoá quân ngụy. Đó là một thất bại có ý nghĩa chiến lược, thất bại này sẽ đẩy Mỹ và chính quyền Việt Nam Công hòa vào thế bị động, lúng túng hơn nữa trong chủ trương và điều hành thực hiện chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh. Chính Bộ Quốc phòng Mỹ cũng đã thừa nhận “trong thời kỳ này, Chính phủ Việt Nam Công hòa đã không dập tắt được phong trào cộng sản và không khắc phục được những điểm yếu căn bản về chính trị của bản thân nó. Sau đó, những cố gắng của Mỹ nhằm giúp đỡ các chương trình bình định của Chính phủ Việt Nam Công hòa lại phạm phải những sai lầm:

- Dựa vào các phương pháp, trang bị và huấn luyện chính quy;

- Các phương hướng phát triển không thực tiễn và không phù hợp về mặt văn hoá;

- Không đề ra được những chương trình thích hợp về mặt quan niệm.

- Biện pháp gây sức ép với Việt Nam Công hòa (chính quyền Thiệu) không đủ mạnh và không có hiệu quả”2.

Các sai lầm đó của phía Mỹ, cộng với sự đánh trả ngoan cường và khôn khéo của đối phương, sẽ là những nhân tố có ý nghĩa quyết định làm thất bại chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh của Níchxơn. Trong trường hợp này, “Mỹ phải tìm cách cho nó (chính quyền và quân đội Sài Gòn) không tan rã trong một thời gian nào đó đủ để cho Mỹ rút lui lực lượng của Mỹ và để thuyết phục thế giới chấp nhận tính độc nhất vô nhị (và sự tuyệt vọng có tính chất bẩm sinh) của vấn đề Nam Việt Nam”3.
______________________________________
1. Tóm tắt Tổng kết chiến tranh Việt Nam của Bộ Quốc phòng Mỹ, bản đánh máy, lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, t.5, tr. 12, 14.
2. Tóm tắt Tổng kết chiến tranh Việt Nam của Bộ Quốc phòng Mỹ, Tlđd, tr. 12, 13.
3. Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ, Bản dịch của Việt Nam Thông tấn xã, t.2, tr. 54.



Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Tư, 2010, 09:09:21 pm

CHƯƠNG 24
CÁCH MẠNG MIỀN NAM VƯỢT QUA THỬ THÁCH MỚI,
KHÔI PHỤC TỪNG BƯỚC LỰC LƯỢNG VÀ THẾ TRẬN,
GIÀNH VÀ GIỮ THẾ CHỦ ĐỘNG TRÊN CHIẾN TRƯỜNG


I- MIỀN NAM SAU TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY 1968,
CHỦ TRƯƠNG CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG TA

Bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 mà hướng chính là nhằm vào các cơ quan đầu não của Mỹ, của chính quyền và quân đội Sài Gòn ở một loạt các thành phố, thị xã và hầu khắp các vùng nông thôn rộng lớn toàn miền Nam, đồng thời đẩy mạnh tiến công thu hút, giam chân và tiêu hao một bộ phận quan trọng sinh lực, vũ khí và phương tiện chiến tranh của Mỹ ở Khe Sanh1 quân và dân ta ở miền Nam đã giáng một đòn bất ngờ lớn vào cố gắng chiến tranh của phía Mỹ và đẩy cả Mỹ lẫn chính quyền Sài Gòn vào tình thế lúng túng và bị động về chiến lược. Ngày 31-3-1968, L.Giônxơn thông báo quyết định đơn phương ngừng ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra, nhận đàm phán với ta tại Pari và tuyên bố không ra tranh cử Tổng thống nhiệm kỳ hai. Tiếp đó, ngày 1- 11-1968, đế quốc Mỹ phải tuyên bố xuống thang chiến tranh, chấm dứt không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, rút dần quân chiến đấu Mỹ và quân các nước đồng minh ra khỏi miền Nam. Có thể coi đây là việc thừa nhận công khai sự phá sản của chiến lược chiến tranh cục bộ của Mỹ.

Tuy nhiên, qua các đợt tiến công và nổi dậy năm 1968, cả thế và lực của ta cũng bị những tổn thất nghiêm trọng: lực lượng vũ trang nói chung, lực lượng đặc công, biệt động nói riêng bị thiệt hại nặng nề; lực lượng chính trị của quần chúng (bao gồm cả bộ phận công khai, bí mật và bộ phận hợp pháp, không hợp pháp) bị địch phát hiện và thẳng tay đàn áp; nhiều chi bộ, cấp uỷ và đoàn thể quần chúng cách mạng ở vùng địch tạm chiếm, vùng tranh chấp bị tan vỡ; các vùng giải phóng rộng lớn ở nông thôn cũng bị thu hẹp dần. Thế trận chiến tranh nhân dân trên ba vùng chiến lược bị suy giảm. Mất dần bàn đạp tiến công, chỗ đứng chân cũng bị thu hẹp dần, nhiều đơn vị lực lượng vũ trang địa phương cũng như chủ lực, các cơ quan lãnh đạo và chỉ huy các mặt trận, các địa phương phải cơ động lên biên giới hay sang đất bạn tạm trú đóng quân, xốc lại đội hình, bổ sung người và vũ khí để tiếp tục chiến đấu. Riêng ở mặt trận đường 9 - bắc Quảng Trị - địa bàn ta tập trung nhiều đơn vị bộ đội chủ lực mạnh, thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ thu hút và giam chân một bộ phận lớn lực lượng cơ động chiến lược của Mỹ, tạo điều kiện cho các địa phương toàn miền thực hiện Tổng tiến công và nổi dậy, năm 1968 đã có 10.779 cán bộ, chiến sĩ ta hy sinh và bị thương...2. Nguyên nhân của tình trạng trên trước hết là do ta “... chủ quan trong việc đánh giá tình hình, cho nên ta đã đề ra yêu cầu chưa thật sát với tình hình thực tế”3. Mặt khác, sau đợt Tổng tiến công Tết, ta không kịp thời rút kinh nghiệm, chậm chuyển hướng và không thấy hết được những âm mưu và thủ đoạn mới của địch; trong khi chủ lực ta bị đẩy ra xa các thành phố, thị xã, các bàn đạp tiến công bị mất, lực lượng, vũ khí và trang bị kỹ thuật, lương thực, thực phẩm và thuốc men bị tiêu hao nhiều mà chưa được bổ sung, sức chiến đấu của bộ đội giảm sút. Cho đến những tháng cuối năm 1968 và đầu năm 1969, cuộc Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta ở miền Nam đứng trước một tình thế đầy thử thách phức tạp và chồng chất khó khăn.

Về phía địch, mặc dù bị giáng một đòn quyết định, ý chí xâm lược suy giảm buộc phải đơn phương xuống thang chiến tranh, song với bản chất hiếu chiến và ngoan cố, Mỹ vẫn khẩn trương tăng cường sức mạnh quân sự để tiếp tục bám giữ miền Nam Việt Nam, giành thế mạnh chiến trường để ép ta trên bàn hội nghị. Chúng ra sức bắt lính đôn quân khẩn trương hiện đại hoá vũ khí và trang bị cho quân đội Sài Gòn. So với năm 1968, năm 1969, riêng quân chủ lực tăng từ 281.000 lên 300.000, lực lượng bảo an từ 110.000 lên 125.000, dân vệ từ 96.000 lên 105.000, phòng vệ dân sự có vũ trang từ 485.000 lên 1.000.000 và cảnh sát từ 69.000 lên 80.000 tên. Trong khi đó, việc rút dần quân Mỹ ra khỏi miền Nam dù không muốn, nhưng là xu thế mà chính quyền Níchxơn không cưỡng lại được. Chính vì thế, số lượng quân chiến đấu Mỹ năm 1969 có giảm so với năm 1968, từ 535.000 xuống còn 470.0004. Cùng với quá trình này, một số lượng lớn vũ khí, phương tiện chiến tranh vẫn được Mỹ đưa vào miền Nam nhằm tăng cường sức mạnh chiến đấu cho quân đội Sài Gòn. Đây là biện pháp chiến lược nhằm đảm bảo cho Mỹ nhanh chóng chuyển gánh nặng chiến tranh sang vai chính quyền và quân đội Sài Gòn để từng bước rút quân chiến đấu Mỹ ra khỏi cuộc chiến mà vẫn giữ được thể diện và danh dự cho nước Mỹ.
______________________________________
1. Theo thú nhận của địch, chỉ sáu tháng đầu năm 1968, chúng đã bị loại khỏi vòng chiến đấu 101.400 quân các loại, trong đó có 9.301 quân Mỹ và đồng minh của Mỹ cùng với hàng trăm máy bay, hàng ngàn xe quân sự và vũ khí, phương tiện chiến tranh bị phá huỷ, phá hỏng...
2. Bộ chỉ huy mặt trận B5, Báo cáo tình hình năm 1968 trên chiến trường đường 9 - Khe Sanh, tài liệu lưu trữ Bộ Quốc phòng (K4), phông 102, hồ sơ 64.
3. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Nghị quyết hội nghị lần thứ 21, ngày 13-10-1973.
4. Ban Tổng kết - Lịch sử Bộ Tổng tham mưu: Thống kê số liệu chiến tranh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1975), tr.32.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Tư, 2010, 09:11:39 pm

Khai thác triệt để những khó khăn của cách mạng miền Nam từ giữa năm 1968 và tiếp đó, bước vào năm 1969, địch tập trung một bộ phận lực lượng và phương tiện chiến tranh liên tiếp mở các cuộc phản công quyết liệt nhằm tiêu diệt và đẩy lực lượng vũ trang, lùng sục, triệt phá các cơ sở bí mật của ta ở thành phố, thị xã, thị trấn, đẩy mạnh tốc độ và quy mô các cuộc hành quân càn quét chiếm đất, giành dân mở rộng địa bàn chiếm đóng ở các vùng nông thôn; đồng thời, điều một số đơn vị về phòng thủ các thành phố, thị xã, các địa bàn chiến lược trọng yếu. Đặc biệt, đối với vòng ngoài, các đơn vị quân Mỹ và ngụy tổ chức các cuộc hành quân ngăn chặn các đơn vị ta rút ra khỏi thành phố, thị xã, kết hợp mở những trận đột kích sâu vào các căn cứ, các khu vực kho tàng, bến bãi hành lang tiếp tế và ngăn chặn quyết liệt tuyến vận tải chiến lược 559 của ta... Hầu hết các đơn vị cơ động chiến lược của địch giờ đây được tung vào các cuộc phản công tại các địa bàn trọng điểm. Trên chiến trường Nam Bộ, Sư đoàn 1 kỵ binh cơ động đường không, Sư đoàn 101 dù, Sư đoàn 25 bộ binh cơ giới, Trung đoàn 11 thiết giáp quân viễn chinh Mỹ luân phiên hành quân đánh dọc theo hành lang biên giới Việt Nam - Campuchia; Sư đoàn 21 bộ binh và Liên đoàn 4 biệt động Sài Gòn chốt chặn tuyến biên giới từ Kiến Tường đến kênh Vĩnh Tế. Tại chiến trường Khu V, Sư đoàn 1 lính thuỷ đánh bộ, Sư đoàn 23 bộ binh (Amêricơn), Lữ đoàn 173 dù Mỹ cùng Sư đoàn Mãnh Hổ, Sư đoàn Bạch Mã quân Nam Triều Tiên đánh vào các căn cứ Giang Rây (Quảng Đà), Giá Rai (Bình Tuy - nay là Bình Thuận), An Lão, Kim Sơn, Núi Bà (Bình Định), Cây Vững, Kỳ Lộ, Sông Hinh (Phú Yên). Ở Trị - Thiên, địch mở các cuộc hành quân càn quét lên vùng núi Côcava - Cô Tiên, Tam Tanh - A Giới (tây nam Quảng Trị), đánh vào thung lũng A Lưới, A Bia. Đông Pho, Tà Bạt... Trên chiến trường Tây Nguyên, địch tăng cường tuyến phòng thủ bắc Kon Tum, tây Gia Lai, tây Đắc Lắc...

Ngoài mục đích đẩy lùi, ngăn chặn, tiêu diệt lực lượng vũ trang, thu hẹp vùng giải phóng căn cứ, chỗ đứng chân của lực lượng vũ trang, các cơ quan lãnh đạo, chỉ huy, phá cơ sở hậu cần, kho tàng, hành lang vận chuyển và các tổ chức mật của ta, các cuộc hành quân của quân Mỹ và đồng minh Mỹ còn được giao nhiệm vụ kết hợp với quân đội Sài gòn thực hiện chương trình “bình định”. Đầu năm 1969, Níchxơn triển khai kế hoạch “bình định và phát triển” ba giai đoạn1, nhằm giành giật vùng nông thôn đồng bằng, lập lại thế kìm kẹp ở những nơi bị mất trong các đợt tổng tiến công và nổi dậy của ta, thiết lập quyền kiểm soát trên những vùng địa bàn có tầm quan trọng chiến lược. Chỉ tiêu bình định mà Mỹ và chính quyền Sài Gòn đặt ra cho năm 1969 là phải tiêu diệt 30% trong tổng số 98.763 cán bộ cách mạng cơ sở của ta theo phát hiện của địch; đến giữa năm 1970 phải bảo đảm an ninh cho 60% lãnh thổ toàn miền Nam.

Để đạt được các chỉ tiêu trên đây, địch huy động từ 60 đến 70% đơn vị chủ lực (quân Mỹ, quân đồng minh và quân đội Sài Gòn) kết hợp chặt chẽ với lực lượng địa phương với các đội “cán bộ xây dựng nông thôn” vào làm nhiệm vụ “bình định”. Tuy nhiên, căn cứ vào thực tế phong trào đấu tranh của ta và vị trí chiến lược của từng vùng địa bàn cụ thể mà mức độ sử dụng lực lượng cũng như áp dụng các biện pháp và thủ đoạn bình định ở từng nơi có sự khác nhau:

- Càn quét, xúc dân vào các khu dồn, ủi phá toàn bộ nhà cửa, dùng chất độc hoá học huỷ diệt hoa màu, cây trái, tạo nên những vùng trắng đất, trắng dân.

- Hành quân càn quét quy mô lớn, “tảo thanh” địa bàn, diệt và bắt cán bộ đảng viên, du kích mật... kết hợp dồn dân vào các khu tập trung, xây dựng bộ máy tề điệp để khống chế, kìm kẹp nhân dân.

- Càn quét, dồn dân lập ấp chiến lược tại chỗ cùng với xây dựng các cứ điểm quân sự nhỏ để kiểm soát dân.

- Dùng máy bay, pháo binh đánh phá dai dẳng, liên tục nhiều ngày vào các khu vực dân cư thuộc vùng tranh chấp hay vùng giải phóng kết hợp với rải chất độc hoá học tàn phá mùa màng, buộc nhân dân phải chạy vào sống trong các khu dồn chuẩn bị sẵn của địch.

Cùng với việc liên tiếp triển khai các đợt bình định, quyết giành giật lại những vùng đã mất, xiết chặt quyền kiểm soát đối với những địa bàn có tầm quan trọng chiến lược, Mỹ và chính quyền Sài Gòn tập trung củng cố và hoàn thiện hệ thống cơ cấu tổ chức bộ máy chỉ đạo chương trình bình định từ trung ương đến tận cơ sở; khẩn trương phân loại địa bàn để sử dụng các lực lượng và áp dụng các biện pháp quản chế dân một cách thích hợp:

- Thứ nhất, đối với những vùng mà chúng đã kiểm soát hoàn toàn, chính quyền cơ sở địch đảm bảo việc điều hành các công việc hành chính, việc bảo đảm an ninh lấy lực lượng dân vệ làm nòng cốt, cảnh sát và bảo an là lực lượng hỗ trợ.

- Thứ hai, với những vùng đã thiết lập được quyền kiểm soát nhưng còn yếu, bên cạnh việc áp dụng những biện pháp như đối với loại thứ nhất, địch nhấn mạnh vai trò của cảnh sát dã chiến và lực lượng này được tăng cường hơn.

- Thứ ba, đối với những vùng tranh chấp, địch sử dụng lực lượng và các biện pháp quân sự là chủ yếu; trong đó, bảo an là nòng cốt, dân vệ trợ giúp và chủ lực hỗ trợ, nhằm vừa đối phó với các hoạt động của ta và bảo vệ chính quyền cơ sở của chúng.

Trên cơ sở sự phân loại đó, địch dồn sức mở các cuộc hành quân càn quét, hành quân bình định rất quyết liệt. Tại đồng bằng sông Cửu Long, chúng sử dụng ba sư đoàn chủ lực quân đội Sài Gòn, bốn lữ đoàn quân đội Mỹ, hàng chục ngàn cảnh sát, bảo an, dân vệ, phòng vệ dân sự, cán bộ bình định, liên tiếp mở các cuộc hành quân càn quét lớn, vừa và nhỏ chà đi xát lại từng xóm ấp, từng khu vực (trung bình mỗi tháng khoảng 427 cuộc) để thanh lọc địa bàn, dồn dân lập ấp chiến lược.
______________________________________
1. Giai đoạn 1: từ đầu năm 1969 đến tháng 6-1970, tiến hành bình định xây dựng.
    Giai đoạn 2: từ tháng 7-1970 đến tháng 6-1971, tiến hành bình định đặc biệt.
    Giai đoạn 3: từ tháng 7-1971 trở đi tiến hành bình định cộng đồng tự vệ và phát triển nông thôn.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Tư, 2010, 09:13:04 pm

Ở vùng ven Sài Gòn, địch sử dụng tới 38 tiểu đoàn quân Mỹ, 67 tiểu đoàn quân đội Sài Gòn và bốn tiểu đoàn quân đội các nước đồng minh của Mỹ, tổ chức tuyến phòng thủ vành đai bảo vệ vòng ngoài, bịt các cửa ngõ ra vào thành phố. Ngoài ra, mỗi tháng địch còn tổ chức hơn 300 cuộc hành quân các loại, với quy mô cấp tiểu đoàn để tìm diệt lực lượng vũ trang cách mạng và hỗ trợ cho kế hoạch gom dân, lập ấp chiến lược.

Riêng trên địa bàn Khu V, do lực lượng quân Mỹ, đồng minh và quân Sài Gòn lên tới 389.000 tên, nên bên cạnh việc mở những cuộc hành quân quy mô lớn để ngăn chặn và đánh bật lực lượng chủ lực của ta ra xa các thành phố, thị xã, căn cứ…, địch còn sử dụng các đại đội, trung đội chủ lực trực tiếp xuống các địa phương hỗ trợ cho lực lượng bảo an, dân vệ hành quân càn quét, lùng sục từng xóm ấp, xăm từng khóm tre, mô đất bụi cây... nhằm phát hiện, tiêu diệt du kích và cơ sở mật của ta, kết hợp với khoanh dân, dồn dân lập ấp. Cùng với việc tổ chức các cuộc hành quân càn quét, địch sử dụng không quân, pháo binh liên tục tập kích hoả lực kết hợp với rải chất độc hoá học xuống các vùng ven đô thị - nơi chúng tình nghi là địa bàn đứng chân ém dấu lực lượng và vũ khí của chủ lực Quân giải phóng, chờ thời cơ tiến công vào các căn cứ quân sự của chúng ở trong nội đô. Do mật độ bom pháo đánh phá dữ dội của địch, nên hầu hết nhà cửa ruộng vườn, thôn ấp hoặc bị cày xới nham nhở, hoặc bị chất độc hoá học thiêu trụi, khiến nhiều vùng dân cư trù phú trở thành vùng trắng.

Đồng thời với sử dụng sức mạnh quân sự, địch đẩy mạnh hoạt động tình báo, gián điệp. Hệ thống tổ chức Phượng Hoàng, Thiên Nga được triển khai từ trung ương đến tận các địa phương, dưới sự chỉ đạo trực tiếp và chặt chẽ của Cục Tình báo trung ương Mỹ (CIA). Nhân viên của những tổ chức này tìm mọi cách len lỏi vào tận các hang cùng ngõ hẻm, các xóm ấp, thậm chí trá hình trà trộn vào dân chúng, các tổ chức xã hội... nhằm dò la, phát hiện và tiêu diệt các cơ sở mật của ta, dụ dỗ mua chuộc, thủ tiêu, ám sát, bắt cóc cán bộ, đảng viên và quần chúng cách mạng... Bằng những thủ đoạn hoạt động này, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã gây cho cách mạng miền Nam rất nhiều tổn thất nghiêm trọng về cơ sở và lực lượng.

Trước sự đánh phá khốc liệt của kẻ thù cùng những thủ đoạn nham hiểm trong hoạt động tình báo, gián điệp của địch và những khó khăn gay gắt của cách mạng miền Nam, một bộ phận cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, cán bộ và đảng viên các cơ sở ở địa phương lâm vào tình trạng hoang mang, dao động dẫn đến đào ngũ, bỏ ngũ; một số khác bị cám giỗ mua chuộc đã ra đầu hàng, đầu thú, chấp nhận làm tay sai cho địch. Tình hình đó càng làm cho phong trào đấu tranh của quân và dân trên toàn miền chẳng những không phát triển được, mà ngược lại ngày thêm sa sút; tình trạng mất đất, mất dân diễn ra ở nhiều nơi, vùng giải phóng và vùng tranh chấp dần bị thu hẹp. Tại tỉnh Trà Vinh, Vĩnh Long, từ 182 ấp giải phóng đầu năm 1968, đến giữa 1969 chỉ còn một ấp; vùng tranh chấp từ 192 ấp xuống còn 178 ấp. Ở Cà Mau, vùng giải phóng đầu 1968 chiếm quá một nửa diện tích, đến cuối năm 1969 chỉ còn 13 xã. Ở Kiến Phong, KiếnTường, An Giang, Mỹ Tho, vùng giải phóng của ta bị địch lấn chiếm gần hết. Riêng vùng căn cứ Đồng Tháp Mười và U Minh tuy ta vẫn giữ được, nhưng khoảng một nửa dân cư (phần lớn là ở vùng xung quanh căn cứ quân sự địch), do tình thế quá khó khăn phải tạm thời chấp nhận vào sống trong vùng địch kiểm soát để tránh sự đánh phá của chúng. Tại miền Đông Nam Bộ, địch lấn chiếm và kiểm soát hầu như toàn bộ các vùng nông thôn bao quanh thành phố Sài Gòn và các tỉnh Phướn Long, Bình Tuy. Ở Khu VI, phần lớn vùng đồng bằng thuộc các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận đã bị địch lấn chiếm và dồn dân vào các ấp chiến lược. Tại Khu V và Tây Nguyên, nhiều vùng giải phóng và căn cứ cách mạng của ta bị địch lấn chiếm, tái chiếm và thiết lập ách kìm kẹp; nhiều cán bộ, đảng viên ở cơ sở và lực lượng du kích mật của ta phải tạm thời rút lên căn cứ hoặc vùng giáp ranh để bảo toàn lực lượng, chờ thời cơ trở lại hoạt động.

Do mất dân, mất đất, nên lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam không những không duy trì được thế đứng chân, sức chiến đấu mà quân số nhiều đơn vị cũng mỗi ngày một giảm dần và việc bổ sung quân số, vũ khí, việc đảm bảo hậu cần trở nên cực kỳ khó khăn. Lấy mốc thời gian trước và sau cuộc Tổng tiến công Mậu Thân 1968 để so sánh, thì tại Khu VIII bộ đội chủ lực từ hai trung đoàn xuống còn một trung đoàn thiếu; bộ đội địa phương của tỉnh Bến Tre từ bốn tiểu đoàn xuống còn một tiểu đoàn không đủ biên chế, tỉnh Long An từ 21 xuống còn 4 tiểu đoàn không đủ quân1, các tỉnh Mỹ Tho, Kiến Tường, Kiến Phong, An Giang - mỗi tỉnh cũng chỉ còn khoảng hai đại đội. Về bộ đội huyện trong khu, mỗi huyện còn khoảng một trung đội, du kích và tự vệ mỗi xã còn từ một đến hai tiểu đội. Đặc biệt, số cán bộ nòng cốt, có nhiều kinh nghiệm trong tổ chức và chỉ huy chiến đấu bị tiêu hao nhiều, quân số bổ sung rất hạn chế, bảo đảm lương thực, thực phẩm gặp nhiều khó khăn do sự đánh phá, lùng sục gắt gao của địch, do vậy khả năng phục hồi chiến đấu của lực lượng vũ trang ta trên địa bàn Khu VIII rất chậm. Bên cạnh đó trong các thị xã, thị trấn và các địa bàn xung yếu khác, qua cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, phần lớn số cán bộ, đảng viên cơ sở cách mạng trung kiên bị lộ, bị tiêu hao, khả năng phục hồi là vô cùng khó khăn và không thể giải quyết trong một thời gian ngắn được.
______________________________________
1. Theo Lê Quốc Sản: Cuộc đọ sức thần kỳ, Nxb.Quân đội nhân dân. Hà Nội, 1991, tr. 281.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Tư, 2010, 09:14:58 pm

Tại địa bàn Khu IX, trước khi bước vào cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, chủ lực quân khu có ba trung đoàn, đến cuối năm 1968, đầu 1969 giảm xuống chỉ còn lại quân số tương đương một trung đoàn và một tiểu đoàn. Các Sư đoàn 5, 7 và 9 bộ đội chủ lực miền do mất địa bàn đứng chân và bàn đạp xuất phát tiến công nên phải tạm thời rút lên khu vực biên giới giáp với Campuchia để củng cố lực lượng...

Ở Khu V, trước sự phản kích dữ dội của quân địch, vùng giải phóng, vùng làm chủ ở đồng bằng ngày càng bị thu hẹp; toàn bộ vùng căn của ở khu vực giáp ranh và miền núi bị uy hiếp dữ dội; đồng thời, lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị giảm sút. Lúc này, cơ sở đảng và quần chúng ở một số xã, trị trấn, thị xã bị tổn thất, bị tan rã; số lượng du kích ở mỗi xã chỉ còn 20 đến 25 tay súng, phải trụ bám chiến đấu trong tình trạng vũ khí, lương thực, thực phẩm, thuốc men thiếu thốn và hầu như không có nguồn bổ sung. Tại Tây Nguyên, số lượng lương thực dự trữ ngày càng vơi cạn. Bộ đội ở Ô Môn nhiều tuần lễ liền phải đào củ chuối, củ môn nấu ăn thay cơm trừ bữa. Khan hiếm lương thực, thực phẩm, thuốc men, lại phải sống nơi rừng thiêng nước độc nên bệnh tật phát sinh ngày càng nhiều... Giải quyết tình trạng khó khăn trên là cả một vấn đề cực kỳ nan giải do sự đánh phá ngăn chặn, lùng sục dữ dội và gắt gao của địch lúc bấy giờ. Tại các căn cứ và vùng giải phóng, bộ đội và nhân dân ta phải đào củ mài, hái rau rừng nấu ăn thay cơm, nhường khẩu phần gạo ít ỏi cho bộ đội và du kích đang trực tiếp chiến đấu1. Thậm chí ở khu căn cứ Khánh Hoà, do quá khan hiếm về quân trang, vải vóc nên một số đơn vị nữ dân công hoả tuyến phải dùng vỏ cây gió làm quần áo và mở một lối đi riêng để vận chuyển hàng hoá. Bên cạnh đó, hàng ngày, quân và dân ta phải đương đầu với các đợt tập kích khốc liệt, triền miên của không quân, pháo binh cùng với sự lùng sục phá hoại ráo riết của bọn biệt kích, thám báo địch. Do vậy, trong những tháng ngày đó, đã có hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ta anh dũng hy sinh và bị thương trong lúc làm nhiệm vụ vận chuyển, thu mua lương thực thực phẩm và vũ khí. Để góp phần nhanh chóng khắc phục những khó khăn trước mắt, một số đơn vị lực lượng vũ trang của khu phải giảm quân số, có những đơn vị buộc phải tạm thời giải tán như Sư đoàn 3 bộ binh... hoặc phải cơ động ra khu vực đường 9 để “ăn gạo” của Đoàn 559 như Sư đoàn 2, Trung đoàn 141, Trung đoàn 220. Bộ Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên quyết định đưa các đơn vị không trực tiếp chiến đấu ra miền Bắc, các đơn vị trực tiếp chiến đấu cơ động vào đứng chân tại các địa bàn kề cận với Khu VII để “ăn gạo” Nam Bộ.

Tại Trị - Thiên - Huế, chiến trường tiếp giáp với hậu phương miền Bắc, từ cuối năm 1968 và suốt năm 1969, địch tập trung đánh phá một cách khốc liệt hơn lúc nào hết. Những cuộc hành quân càn quét kết hợp với tập kích bằng hoả lực pháo binh và không quân của Mỹ và quân đội Sài Gòn diễn ra với cường độ ác liệt trên hầu khắp các địa bàn. Hàng ngàn người dân vô tội bị giết hại, nhà cửa cùng hàng ngàn hécta hoa màu, cây trái của nhân dân bị san phẳng, bị tàn hại nặng nề. Đau thương tang tóc bao trùm khắp các xóm làng... Phần lớn địa bàn đứng chân của bộ đội bị mất, cơ sở đảng và quần chúng cách mạng bị tróc nã... Tâm lý hoang mang, dao động, mất ý chí chiến đấu... xuất hiện trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, chiến sĩ lực lượng vũ trang và nhân dân. Để bảo tồn lực lượng, đại bộ phận các đơn vị chủ lực, trong đó có các sư đoàn chủ lực cơ động chiến lược của bộ tham gia trong chiến dịch Khe Sanh như Sư đoàn 304 bộ binh, Sư đoàn 320 bộ binh... đã được lệnh rút ra Quảng Bình, Hà Tĩnh để củng cố, bổ sung lực lượng và trang bị, vũ khí, chuẩn bị cho các đợt hoạt động tiếp theo.

Như vậy, sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, bên cạnh việc giành được những thắng lợi có ý nghĩa chiến lược rất quan trọng, mở ra bước ngoặt quyết định trong cục diện của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ta cũng gặp những khó khăn, gay gắt. Đến cuối năm 1968 và năm 1969, Cách mạng miền Nam đứng trước thử thách cô cùng nghiêm trọng. Quân số, vũ khí, trang bị của các đơn vị lực lượng vũ trang và bán vũ trang bị tiêu hao rất nhiều, nguồn bổ sung hầu như không có. Bên cạnh đó là tình trạng thiếu đói về lương thực, thuốc men diễn ra trong nhiều ngày... Lợi dụng tình hình này, địch tập trung lực lượng phản kích một cách quyết liệt làm cho lực lượng vũ trang ta tiếp tục bị tiêu hao, cơ sơ bí mật tiếp tục bị phá, vùng giải phóng và tranh chấp của ta ngày càng bị thu hẹp. Nhiều đơn vị bộ đội ta phải rút lên căn cứ. Thế trận chiến tranh nhân dân bị suy giảm. Cục diện thực tế trên chiến trường tạm thời có lợi cho địch. Đây cũng là một thời điểm khó khăn nhất của cách mạng miền Nam.

Để tháo gỡ tình hình khó khăn, từng bước khôi phục thế trận và lực lượng cho cách mạng miền Nam. tháng 4-1969, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã họp bàn về tình hình và nhiệm vụ mới. Bộ Chính trị thống nhất nhận định: Đế quốc Mỹ đã bị những thất bại nặng nề về mọi mặt, ý chí xâm lược bị lung lay rõ rệt, chúng không thể duy trì cuộc chiến tranh xâm lược với quy mô như hiện nay (1969) trong một thời gian dài mà phải tìm cách xuống thang chiến tranh. Song, với bản chất hiếu chiến, ngoan cố, đồng thời đang có một lực lượng, phương tiện chiến tranh khổng lồ và chiếm giữ được những địa bàn chiến lược quan trọng ở miền Nam Việt Nam; vì vậy, giới lãnh đạo Nhà Trắng và Lầu Năm góc quyết định từng bước triển khai chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh, đồng thời đẩy nhanh tốc độ hành quân càn quét chiếm đất, chiếm dân, hy vọng sớm kết thúc cuộc chiến tranh trên thế mạnh.
______________________________________
1. Tại Khu V và Tây Nguyên, khẩu phần đó là 1/2 lon mỗi người mỗi ngày cho lực lượng đang trực tiếp chiến đấu và 1/8 lon cho lực lượng cơ quan.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Tư, 2010, 09:18:44 pm

Phân tích tình hình thực tế diễn biến chiến trường, chỉ rõ những âm mưu và hành động cụ thể của địch, Bộ Chính trị đồng thời chỉ ra những mâu thuẫn cơ bản khó có thể khắc phục được của chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh:

“Vì thất bại và suy yếu mà phải bị động xuống thang song lại muốn chủ động xuống thang trên thế mạnh. Đó là một mâu thuẫn không sao khắc phục được, vì đang thua, buộc phải rút bớt lực lượng và giảm bớt chi phí chiến tranh thì Mỹ không bao giờ tạo ra được thế mạnh. Mỹ càng xuống thang thì thế và lực càng yếu, càng bị đánh đau và sẽ phải chịu thất bại.

Xuống thang chiến tranh rút dần quân Mỹ ra mà lại muốn cho quân ngụy mạnh lên để thay thế được quân Mỹ. Đó lại là một mâu thuẫn không sao khắc phục được, vì hơn bao giờ hết, lúc này (1969) quân Mỹ đang là chỗ dựa sống còn của quân ngụy, do đó nếu Mỹ xuống thang, rút quân Mỹ ra thì quân ngụy sẽ nhất định bị đánh cho suy sụp.

Tình thế buộc Mỹ phải gấp rút xuống thang rút quân Mỹ ra càng sớm càng tốt để giảm bớt thương vong của Mỹ và chi phí chiến tranh, song muốn tăng cường lực lượng ngụy thì Mỹ lại phải kéo dài chiến tranh. Đó lại là mâu thuẫn không khắc phục được, vì càng kéo dài thì quân Mỹ càng tổn thất nặng, chi phí chiến tranh không thể giảm đáng kể và ngụy vẫn suy sụp. Do đó Mỹ càng kéo dài thì thất bại và khó khăn sẽ lên đến mức Mỹ không chịu đựng nổi.

Mỹ càng lúng túng không rút được quân Mỹ ra thì mâu thuẫn nội bộ bọn cầm quyền Mỹ và mâu thuẫn giữa nhân dân Mỹ với bọn cầm quyền càng trầm trọng. Mặt khác, Mỹ rút quân ra, ngụy càng có nguy cơ sụp đổ thì mâu thuẫn giữa Mỹ với ngụy, mâu thuẫn giữa các phe phái trong bọn ngụy càng trở lên gay gắt”1.

Như vậy chỗ yếu nhất của Mỹ trong lúc này là sự bế tắc trầm trọng về chủ trương chiến lược đối với việc tìm một lối thoát ra khỏi cuộc Chiến tranh cục bộ - một cuộc chiến tranh mà ở đó nỗ lực quân sự của Mỹ đã đạt tới nấc thang cao nhất, nhưng cũng đã chịu những thất bại nặng nề nhất. Sự tập trung những mâu thuẫn nêu trên trong chủ trương chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh là sự phản ánh rõ nét thế bế tắc, thế suy yếu của Mỹ trên chiến trường Việt Nam. Mỹ càng ngoan cố muốn kéo dài chiến tranh để tạo thế mạnh thì chỗ yếu này càng bị khoét sâu thêm. Chỗ yếu của Mỹ còn được thể hiện ở tinh thần quân đội Mỹ và quân đội Sài Gòn ngày càng bị sa sút, uy tín của Mỹ trên trường quốc tế ngày càng bị suy giảm do sự sa lầy, bị thất bại ở Việt Nam.

Bên cạnh việc chỉ ra những chỗ yếu chí tử, những mâu thuẫn không sao khắc phục được của chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh. Bộ Chính trị cũng nhận thấy thực lực trên chiến trường miền Nam trong năm 1969 của địch vẫn còn mạnh. Tổng số quân các loại của địch cho đến tháng tháng đầu năm 1969 là 1.152.000; trong đó có 535.000 quân Mỹ, 62.000 quân đồng minh, 555.000 quân chủ lực Sài Gòn, 485.000 phòng vệ dân sự, cùng với 2.228 khẩu pháo các loại, 3.922 xe thiết giáp, 3.952 máy bay và 674 tàu, thuyền chiến đấu các loại2. Địch vẫn còn chiếm giữ được phần lớn những địa bàn chiến lược quan trọng. Đặc biệt, đối với các thành phố, các căn cứ quân sự và kho tàng chiến lược, Mỹ và quân đội Sài Gòn tổ chức bố phòng cẩn mật nhiều tầng, nhiều lớp với nhiều loại phương tiện chiến tranh hiện đại và hệ thống công sự trận địa kiên cố. Mặt khác, Mỹ là nước có tiềm lực kinh tế và quân sự mạnh đủ khả năng bổ sung quân chiến đấu cũng như vũ khí và phương tiện chiến tranh cho cuộc chiến ở miền Nam Việt Nam khi cần thiết.

Xuất phát từ sự phân tích những mâu thuẫn nảy sinh, những điểm yếu khó có thể khắc phục, cùng những mặt mạnh tạm thời của địch, mục đích đặt ra đối với cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam trước sau vẫn không thay đổi của đế quốc Mỹ. Bộ Chính trị dự kiến: giới cầm quyền Nhà Trắng và Lầu Năm góc có thể sẽ lựa chọn cách thức “kết thúc” vai trò của Mỹ đối với cuộc chiến tranh ở Việt Nam theo một trong hai khả năng. Một là, Mỹ buộc phải kết thúc sớm cuộc chiến tranh thông qua một giải pháp chính trị mà chúng có thể chấp nhận được. Hai là, nếu ta tiến công không đủ mạnh, Mỹ sẽ còn cố kéo dài cuộc chiến tranh ở miền Nam trong một thời gian để tìm cách xuống thang trên thế mạnh, trước khi phải chịu thua và chấp nhận giải pháp chính trị. Đối với trường hợp Mỹ cố tình kéo dài thời gian xuống thang chiến tranh để gây sức ép với ta, rất có thể chúng sẽ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc một lần nữa bằng không quân trong một khoảng thời gian và phạm vi hạn định, thậm chí có thể mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược sang chiến trường Lào và Campuchia. Song, cuộc chiến tranh dù diễn biến theo khả năng nào cũng đều phụ thuộc một cách trực tiếp và chặt chẽ vào sức mạnh tiến công của quân và dân ta trên cả ba mũi quân sự, chính trị, ngoại giao và những khó khăn về quân sự, chính trị, tài chính và kinh tế do cuộc chiến tranh Việt Nam gây ra cho nước Mỹ. Vì vậy, Bộ Chính trị khẳng định: “Chúng ta đang đứng trước thời cơ lớn để thừa thắng tiến lên, đẩy mạnh tiến công toàn diện và liên tục, tiến lên một bước mới rất cơ bản, đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, đánh cho Mỹ phải rút quân, đánh cho ngụy phải suy sụp, giành thắng lợi quyết định, tạo điều kiện để tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn”3.
______________________________________
1. Nghị quyết Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, tháng 4 -1969. Về tình hình và nhiệm vụ cách mạng miền Nam, tr.7-8.
2. Cục Tác chiến - Bộ Tổng tham mưu: Thống kê lực lượng địch ở miền Nam Việt Nam (1954 - 1975), Tài liệu Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng (K4), tr.260.
3. Nghị quyết Bộ Chính trị Ban chập hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam tháng 4 năm 1969, Về tình hình và nhiệm vụ cách mạng miền Nam, tr.9.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Tư, 2010, 09:19:49 pm

Để chủ động đón thời cơ chiến lược lớn, Bộ Chính trị chủ trương: trước mắt chúng ta phải khẩn trương “động viên nỗ lực cao nhất của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trên cả hai miền, phát huy thắng lợi đã đạt được, tiếp tục đẩy mạnh tổng công kích, tổng khởi nghĩa, đẩy mạnh ba mũi giáp công, kết hợp với tiến công ngoại giao, ra sức xây dựng lực lượng quân sự và chính trị, phát triển chiến lược tiến công một cách toàn diện, liên tục và mạnh mẽ làm thất bại các mục tiêu và biện pháp phòng ngự của địch, đánh bại âm mưu kết thúc chiến tranh trên thế mạnh và chủ trương “phi Mỹ hoá” chiến tranh của chúng...”1; nhằm thực hiện các mục tiêu chiến lược đặt ra là:

- Đánh mạnh, đánh thật đau quân Mỹ, đánh cho Mỹ phải rút quân.

- Đánh mạnh vào quân đội Sài Gòn, tiêu diệt bộ phận ngoan cố nhất trong bộ máy chính quyền các cấp và quân đội của chúng, đánh cho chúng phải suy sụp không thể làm được nhiệm vụ “quét và giữ”, không thể củng cố được lực lượng để thay thế quân Mỹ.

- Ra sức xây dựng lực lượng quân sự và chính trị của ta ngày càng lớn mạnh, bố trí trên một thế trận tiến công chiến lược ngày càng mạnh.

- Tiếp tục đánh đổ và làm suy yếu hệ thống chính quyền các cấp của chế độ Việt Nam Công hòa, thành lập chính quyền cách mạng trung ương.

- Đập tan ý chí xâm lược của Mỹ, buộc Mỹ phải từ bỏ ý đồ kết thúc chiến tranh trên thế mạnh và sớm chấm dứt chiến tranh, rút hết quân Mỹ về nước và chấp nhận một giải pháp chính trị.

Về phương châm chiến lược, Bộ Chính trị chỉ rõ: trong khi tập trung nỗ lực cao độ để giành thắng lợi quyết định, chúng ta cần nắm vững chiến lược đánh lâu dài, dựa vào sức mình là chính, song cũng cần phải linh hoạt chủ động nắm bắt thời. cơ và chủ động tạo thời cơ để giành thắng lợi trong thời gian tương đối ngắn. Do vậy, các cấp, các địa phương và lực lượng vũ trang cần kiên quyết đẩy mạnh tiến công quân sự, kết hợp với xây dựng và củng cố lực lượng; đẩy mạnh tiến công quân sự ở các đô thị bằng lực lượng tại chỗ, lực lượng nhỏ và tinh nhuệ; kiên quyết khắc phục khó khăn, phát triển bằng được phong trào chiến tranh du kích; đẩy mạnh đấu tranh chính trị và xây dựng lực lượng chính trị ở thành thị; kết hợp chặt chẽ giữa tiến công quân sự và đấu tranh chính trị nhằm giữ và tạo thế; ra sức giành và giữ dân, mở rộng và củng cố vùng giải phóng nông thôn, làm chủ phần lớn nông thôn xung yếu, vùng rừng núi và giáp ranh, chuẩn bị tốt chiến trường đánh tiêu diệt lớn. Để đảm bảo cho đấu tranh thắng lợi, cần đặc biệt tăng cường sự lãnh đạo và chỉ đạo chiến tranh của các cấp uỷ đảng; cán bộ, đảng viên phải luôn tích cực, chủ động bám sát địa bàn, nắm chắc tình hình cụ thể ở từng cơ sở, từng âm mưu và hành động của địch, đưa ra những phương châm, biện pháp phù hợp, kịp thời để tổ chức, lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành thắng lợi.

Thực hiện Nghị quyết tháng 4-1969 của Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương và Bộ Quốc phòng chỉ thị cho tất cả các quân khu và đơn vị trên toàn miền Nam, một mặt, căn cứ vào thực lực về quân số, vũ khí và trang bị nhanh chóng điều chỉnh tổ chức, biên chế và bố trí lực lượng cho phù hợp với nhiệm vụ chiến đấu; mặt khác, tiếp tục nâng cao chất lượng của bộ đội chủ lực, củng cố, tăng cường bộ đội địa phương và dân quân du kích về mọi mặt, phát triển bộ đội tinh nhuệ (bộ đội đặc công) trong cả lực lượng ba thứ quân cùng với tăng cường số lượng và chất lượng bộ đội công binh, phòng không, kiên quyết bảo vệ và mở rộng tuyến vận tải chiến lược 559... nhằm tạo cho ta có đủ điều kiện để tiếp tục đẩy mạnh tiến công, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực và phương tiện chiến tranh của quân Mỹ và quân đội Sài Gòn, đánh bại về cơ bản kế hoạch bình định cấp tốc của chúng. Trước đó, ngày 29-3-1969, Trung ương Cục miền Nam chỉ thị cho các chiến trường, địa phương “phát huy cách đánh mạnh, đánh liên tục vào các đô thị, thị xã hơn nữa; nhất là các thành phố Đà Nẵng, Huế, Sài Gòn; đẩy mạnh đấu tranh chính trị, binh vận, ra sức xây dựng lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị”2. Tiếp đến, ngày 6-4-1969, chỉ thị về việc tích cực, chủ động chống địch càn quét, bảo vệ vùng căn cứ dọc biên giới Việt Nam - Cămpuchia, chỉ rõ nhiệm vụ cụ thể của các cơ quan, ban ngành, đoàn thể, các đơn vị và địa phương trên mặt công tác này.

Đưa nghị quyết của Bộ Chính trị và chỉ thị của Quân uỷ Trung ương Bộ Quốc phòng, Trung ương Cục vào thực tế, các khu uỷ, quân khu uỷ và đảng uỷ các cấp đã tổ chức nhiều đợt sinh hoạt chính trị nhằm quán triệt những nội dung cơ bản về tư tưởng, chủ trương, phương hướng chỉ đạo kháng chiến của Trung ương, bàn định những phương châm, biện pháp đấu tranh cụ thể của địa phương đơn vị mình; đồng thời xác định quyết tâm giữ vững ý chí chiến đấu, bằng mọi cách kiên quyết bám trụ, giữ vững thế chiến trường.

Nêu cao quyết tâm, tăng cường đoàn kết, chủ động thực hiện kết hợp song song hai nhiệm vụ vừa tăng gia sản xuất, vừa chiến đấu, lực lượng vũ trang và nhân dân các địa phương miền Nam đã bền bỉ trụ bám địa bàn, giữ vững niềm tin, khắc phục muôn vàn gian khổ, hy sinh từng bước vượt qua khó khăn, thử thách. Ở Khu V, bộ đội và du kích đều tận dụng thời gian và linh hoạt phân công nhau trồng rau, khoai, sắn... quyết tạo ra nguồn cung cấp tại chỗ để đảm bảo cho công tác trụ bám vững chắc địa bàn trong bất kỳ tình huống nào. Trong khó khăn, ác liệt, mối quan hệ gắn bó tình cảm máu thịt giữa nhân dân với bộ đội và du kích càng trở nên bền chặt, keo sơn. Mặc dù địch đánh phá ác liệt và kiểm soát hết sức ngặt nghèo nhưng nhân dân vẫn trước sau một lòng đùm bọc, che chở, giúp đỡ bộ đội. Nhiều mẹ già, chị em phụ nữ và cả những cháu thiếu niên đã không quản khó khăn, gian khổ, hiểm nguy đe dọa đến tính mạng,... hàng ngày vẫn chắt chiu từng ang gạo, cân muối... và tìm mọi cách vượt qua mạng lưới kiểm soát dày đặc, gắt gao của địch chuyển tới các căn cứ cung cấp cho bộ đội và du kích. Tại Khu VIII, cán bộ, chiến sĩ phải tự túc may vá quần áo, tổ chức đánh bắt cá, tôm làm thức ăn, đồng thời lập ra những xưởng quân khí để sản xuất, sửa chửa vũ khí đánh giặc. Trên chiến trường Trị - Thiên, bên cạnh việc khẩn trương khắc phục khó khăn về hậu cần, ta đã từng bước đưa lực lượng trở lại đứng chân trên các địa bàn xung yếu, kiên quyết bảo vệ hành lang chiến lược và dần dần khôi phục lại thế làm chủ ở vùng rừng núi. Tại các thành phố lớn như Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế và các thị xã, lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang và an ninh không quản gian khổ, hy sinh, kiên quyết tìm mọi cách bám dân, móc nối với quần chúng cách mạng, phục hồi và phát triển hệ thống cơ sở, gây dựng lại phong trào, kể cả việc ém giấu vũ khí, chuẩn bị mọi mặt cho các đợt hoạt động tiếp theo.
______________________________________
1. Tlđd, tr.9.
2. Chỉ thị số 81/CTNT của Trung ương Cục ngày 29 tháng 3 năm 1969. Những sụ kiện Lịch sử Đảng. Nxb. Thông tin lý luận. Hà Nội.1985, t. 2, tr.470.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Tư, 2010, 09:21:46 pm

Song song với sự nỗ lực vượt bậc của quân và dân miền Nam, trong năm 1969, hậu phương miền Bắc đã bổ sung cho chiến trường miền Nam 81.090 cán bộ, chiến sĩ (gồm một số đơn vị pháo binh, công binh, thông tin và 13 tiểu đoàn, 99 đại đội bộ binh, 35 trung đội đặc công), 52.424 tấn vật chất (vũ khí, phương tiện chiến tranh, lương thực, thực phẩm và thuốc chữa bệnh) và 34.888.629 đôla (USD). Bên cạnh đó, từ miền Bắc, 40.200 quân tình nguyện, 28.701 tấn vật chất và 41.300.488 đồng Việt Nam1 được đưa tới chiến trường nước bạn Lào. Xuất phát từ những yêu cầu thực tế của các chiến trường, các mặt trận, Bộ Tổng tư lệnh quyết định điều động Sư đoàn bộ binh 1 (gồm các trung đoàn 95C, 101C, 209) và các trung đoàn 33, 174, 10, 20 từ mặt trận Tây Nguyên và Khu V vào tăng cường cho chiến trường miền Đông Nam Bộ.

Để tăng cường hơn nữa khối đại đoàn kết dân tộc, tạo nền tảng vững chắc cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, trong các ngày 6, 7 và 8-6-1969, Đại hội quốc dân miền Nam khai mạc trọng thể tại Chiến khu Đ (căn cứ Trung ương Cục miền Nam). Thành phần tham gia đại hội gồm 72 khách mời và 88 đại biểu đại diện cho các chính đảng, dân tộc, tôn giáo, các tầng lớp nhân dân và lực lượng vũ trang cách mạng trên toàn miền Nam. Đây là cuộc hội tụ của tinh thần đoàn kết, ý chí và nguyện vọng thiết tha của toàn thể đồng bào miền Nam là đánh bại quân xâm lược Mỹ, đánh đổ chế độ Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam, tiến tới thống nhất nước nhà.

Đại hội đã chính thức thông qua Chương trình hành động (những nhiệm vụ trước mắt của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam), với nội dung cơ bản là: lãnh đạo toàn quân, toàn dân đoàn kết một lòng, đẩy mạnh đấu tranh quân sự và chính trị, đánh bại âm mưu Việt Nam hoá chiến tranh của Mỹ - ngụy, buộc Mỹ phải thừa nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam là một thực thể chính trị, kinh tế và quân sự ở miền Nam Việt Nam. Đại hội nhất trí lấy lập trường năm điểm của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam làm cơ sở cho việc đàm phán ở hội nghị Pari. Theo đó, miền Nam Việt Nam quyết phấn đấu để thực hiện độc lập, dân chủ, trung lập và phồn vinh, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc, đế quốc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút quân đội, mọi phương tiện chiến tranh và huỷ bỏ các căn cứ quân sự ở miền Nam Việt Nam; công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam phải do nhân dân Việt Nam tự giải quyết theo cương lĩnh chính trị của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam; thành lập chính phủ liên hiệp dân tộc và dân chủ rộng rãi, tổ chức tổng tuyển cử tự do ở miền Nam; việc thống nhất nước Việt Nam sẽ do nhân dân Việt Nam ở hai miền giải quyết từng bước bằng phương pháp hoà bình, trên cơ sở bàn bạc và thoả thuận giữa hai miền và không có sự can thiệp của nước ngoài; miền Nam Việt Nam thực hiện chính sách ngoại giao hoà bình, trung lập không liên minh quân sự với nước ngoài dưới bất kỳ hình thức nào, đặt quan hệ hữu nghị với tất cả các nước trên cơ sở năm nguyên tắc chung sống hoà bình, thiết lập quan hệ láng giềng tốt với Vương quốc Campuchia, Lào trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền, trung lập và toàn vẹn lãnh thổ và biên giới hiện tại đã được xác lập.

Đại hội kết thúc với việc bầu ra Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, do kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát - Phó Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam làm Chủ tịch; Luật sư Nguyễn Hữu Thọ - Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam làm Chủ tịch Hội đồng cố vấn Chính phủ; luật sư Trịnh Đình Thảo - Chủ tịch Uỷ ban liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình miền Nam Việt Nam làm Phó Chủ tịch Hội đồng cố vấn Chính phủ; ông Trần Nam Trung làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; bà Nguyễn Thị Bình làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao; kỹ sư Cao Văn Bổn phụ trách Bộ Kinh tế - Tài chính...

Đánh giá sự ra đời của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, ngày 12-6-1969, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra tuyên bố nhấn mạnh: “Đây là kết quả rực rỡ của những thắng lợi quân sự, chính trị và ngoại giao của nhân dân miền Nam đã giành được, nhất là từ đầu năm 1968 đến nay. Đây là bước phát triển tất yếu của quá trình xây dựng chính quyền cách mạng của nhân dân miền Nam, là biểu hiện rực rỡ ý chí của nhân dân miền Nam, thực hiện quyền làm chủ của mình”; “Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam do Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam Việt Nam bầu ra là chính phủ hợp pháp, đại diện chân chính của nhân dân miền Nam Việt Nam”; “Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhiệt liệt hoan nghênh đường lối và chương trình hành động của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam”2.

Việc Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra đời không chỉ tạo niềm phấn khởi, tin tưởng vào thắng lợi tất yếu của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đối với toàn thể nhân dân trên khắp hai miền Nam Bắc của đất nước ta, mà đó còn là nhân tố quan trọng làm cho nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới hiểu rõ hơn và ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân ta ngày càng mạnh mẽ hơn. Chính vì thế ngay sau khi thành lập, đã có 22 nước Xã hội chủ nghĩa và dân chủ tiến bộ trên thế giới công nhận sự tồn tại hợp pháp và đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

Nhìn chung lại, mặc dù phải đối mặt với những khó khăn gay gắt, những thử thách nặng nề của tình hình chiến trường sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968, song dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương, trực tiếp là Trung ương Cục và các đảng bộ chiến trường sự chi viện hiệu quả của hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa, quân và dân các chiến trường, các mặt trận, các địa phương miền Nam đã bền bỉ, dũng cảm khắc phục muôn vàn gian khổ hy sinh, nêu cao quyết tâm giữ vững niềm tin, tăng cường đoàn kết, vừa đánh địch phản kích, vừa phục hồi lực lượng và thế trận chiến tranh nhân dân. Đặc biệt, việc thành lập Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã tạo ra hình thế mới liên quan tới cuộc đàm phán đang diễn ra tại Pari. Từ đây, ở miền Nam xuất hiện hình thái hai chính quyền song song tồn tại. Cách mạng miền Nam có thêm điều kiện thuận lợi để tăng cường hoạt động đối ngoại và tranh thủ hơn nữa sự đồng tình ủng hộ của quốc tế đối với sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân ta. Đây là những nhân tố rất quan trọng đảm bảo vững chắc cho ta tiếp tục tiến công và nổi dậy giành những thắng lợi mới đưa sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ tiếp tục phát triển.
______________________________________
1. Thống kê số liệu về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), tài liệu lưu trữ Bộ Quốc phòng (K4), bản số 5.
2. Tuyên bố của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 12 tháng 6 năm 1969, dẫn theo Trần Văn Giàu “Miền Nam giữ vững thành đồng”, Nxb. Khoa học xã hội. 1978. t.5, tr.238-239.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Tư, 2010, 09:30:41 pm

II- TIẾP TỤC PHẢN CÔNG VÀ TIẾN CÔNG ĐẨY LÙI ĐỊCH TỪNG BƯỚC,
MỞ RỘNG VÀ CỦNG CỐ VÙNG GIẢI PHÓNG, GIỮ VỮNG THẾ CHỦ ĐỘNG CHIẾN TRƯỜNG

Khi tiếng súng Tổng tiến công và nổi dậy năm Mậu Thân 1968 của quân và dân ta trên chiến trường miền Nam tạm lắng, phía Mỹ cho rằng, Quân giải phóng đã kiệt sức, vì quân số thương vong quá nhiều, vũ khí đạn dược, lương thực không được tiếp tế, bổ sung kịp thời. Lợi dụng tình hình này Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ tại miền Nam (MACV) nhanh chóng tập trung lực lượng và phương tiện chiến tranh triển khai biện pháp chiến lược quét và giữ, phòng ngự chiều sâu1. Ở vòng ngoài, máy bay B52 tăng cường đánh phá nhằm tiêu diệt và đẩy lùi lực lượng vũ trang Quân giải phóng miền Nam, tàn phá nhà cửa, ruộng vườn, dồn dân vào các ấp chiến lược, trại tập trung, tạo ra các vành đai trắng nhằm ngăn chặn các cuộc tiến công của đối phương. Ở vòng trong, 50% quân chiến đấu Mỹ và đồng minh, 80% quân đội Sài Gòn được huy động làm nhiệm vụ càn quét, phục vụ cho công cuộc bình định nông thôn (chủ yếu là vùng đồng bằng đông dân, nhiều của). Giờ đây, quân chiến đấu Mỹ bắt đầu được sử dụng như lực lượng hỗ trợ cho quân đội Sài Gòn ra trận mà Tây Nguyên là địa bàn được Bộ chỉ huy quân đội Mỹ chọn làm thí điểm. Theo đó, các đơn vị quân chiến đấu Mỹ lui về phòng giữ các thị xã Kon Tum, Plâyku, Buôn Ma Thuột, thành phố Đà Lạt đồng thời giảm thiểu các cuộc hành quân do quân Mỹ thực hiện nhằm tránh thương vong cho binh sỹ Mỹ. Thay vào đó, các đơn vị quân đội Sài Gòn được đảm lãnh trách nhiệm mở các cuộc hành quân đối phó với chủ lực ta trên chiến trường này.

Với ý đồ chiến lược như vậy, ngày 10-1-1969, địch huy động ba tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 42, một tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 47 Sư đoàn 23 và hai tiểu đoàn biệt động quân đội Sài Gòn, có sự yểm trợ của pháo binh, máy bay và một số đơn vị bộ binh Mỹ, mở cuộc hành quân Bình Tây 48 đánh vào căn cứ ta ở vùng núi Chư Pa (Gia Lai) - một trong những vị trí có tầm quan trọng chiến lược của chiến trường Tây Nguyên, cách thị xã Plâyku 38 km về phía tây bắc. Do sớm phát hiện được âm mưu và kế hoạch của địch, nên ta đã chủ động bố trí lực lượng và thế trận đón đánh. Khi những cánh quân của địch vừa đặt chân vào khu vực căn cứ, ngay lập tức chúng bị các lực lượng vũ trang Tây Nguyên giáng trả quyết liệt. Sau vài giờ ta loại khỏi vòng chiến đấu một bộ phận quan trọng lực lượng và phương tiện chiến tranh của địch, đẩy lui các mũi tiến công của chúng ra xa căn cứ. Núng thế, chỉ huy quân địch quyết định rút toàn bộ lực lượng còn lại ra vòng ngoài để củng cố và bổ sung quân số, vũ khí. Ngay sau đó chúng mở cuộc hành quân Bình Tây 49 tiếp tục tiến công Chư Pa.

Rút kinh nghiệm lần trước, địch sử dụng pháo binh và không quân tập kích dữ dội vào các mục tiêu để dọn đường cho bộ binh tiến công. Dưới bom đạn, bộ đội ta vẫn gìm súng bình tĩnh chờ địch. Khi các mũi tiến quân của địch lọt gọn vào khu vực chuẩn bị sẵn, bộ đội và du kích bất ngờ và đồng loạt nổ súng vào cả phía trước phía sau và hai bên sườn đội hình tiến quân của địch, chia cắt chúng ra thành từng mảng. Bị bất ngờ và trước lối đánh mưu trí, dũng mãnh của ta, địch bị tổn thất nặng, hàng trăm tên địch bị loại khỏi vòng chiến đấu. Để cứu nguy cho đồng bọn, địch vội vã điều quân từ Phú Yên cơ động lên mở tiếp cuộc hành quân Bình Tây 50 giải toả Chư Pa. Với khí thế đang lên, lực lượng vũ trang ta đã nhanh chóng đánh bại cuộc hành quân mới này của địch.

Các cuộc hành quân thí điểm trong khuôn khổ chủ trương phi Mỹ hoá chiến tranh của địch, ngay từ những ngày đầu đã bị lực lượng vũ trang và đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đánh bại. Trải qua 20 ngày chiến đấu quân và dân các dân tộc Tây Nguyên đã bẻ gãy hoàn toàn ba cuộc hành quân Bình Tây 48, Bình Tây 49 và Bình Tây 50 của quân đội Sài Gòn và quân Mỹ, loại khỏi vòng chiến đấu 2.500 tên địch, bắn rơi và bắn hỏng nhiều máy bay các loại, phá huỷ và phá hỏng hàng chục xe quân sự, thu nhiều vũ khí và quân trang, quân dụng. Thắng lợi Chư Pa giáng một đòn mạnh mẽ vào âm mưu bình định cấp tốc của địch ở Tây nguyên, bảo vệ vững chắc căn cứ kháng chiến của ta.

Tiếp đó, với âm mưu ngăn chặn các cuộc tiến công của lực lượng vũ trang quân giải phóng: đánh phá hành lang chiến lược căn cứ và hệ thống kho tàng của ta, ngày 24-1-1969, địch huy động lực lượng của Trung đoàn 9 Sư đoàn 3 lính thủy đánh bộ Mỹ và năm tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 1 quân đội Sài Gòn (khoảng 7.000 quân), có không quân và pháo binh yểm hộ, mở cuộc hành quân Cái hẻm Điuây (Dewey Canyon) đánh lên vùng núi Côcava (tây Trị - Thiên) nhằm tiêu diệt chủ lực, phá kho tàng và mạng đường chiến lược 559 của ta. Sớm phát hiện được những thủ đoạn mới của địch, Bộ Tư lệnh Quân khu Trị - Thiên trực tiếp chỉ đạo lực lượng vũ trang và nhân dân các địa phương khẩn trương làm công tác chuẩn bị mọi mặt để chủ động đánh địch. Khi quân địch vừa kéo lên, Trung đoàn 5 bộ binh, Tiểu đoàn 3 đặc công có sự phối hợp của lực lượng các binh trạm và du kích miền tây dũng cảm ngăn chặn địch, bảo vệ vững chắc căn cứ, đường hành lang và các kho hậu cần. Sau 18 ngày chiến đấu liên tục, quân ta đánh thiệt hại Trung đoàn 9 lính thuỷ đánh bộ Mỹ và một số đơn vị quân đội Sài Gòn, loại khỏi vòng chiến đấu 2.863 tên, bắn rơi và phá huỷ 49 máy bay, sáu khẩu pháo...

Trong khi đó, quân và dân Nam Bộ cũng kiên cường trụ bám địa bàn đánh bại các cuộc hành quân của địch vào căn cứ U Minh (Rạch Giá, Cà Mau), tập kích sân bay Lộ Tẻ, sở chỉ huy Sư đoàn 25 Mỹ tại Đồng Dù, tiến công cụm quân Mỹ ở Thị Tính (huyện Bến Cát, tỉnh Thủ Dầu Một), gây cho địch nhiều thiệt hại.
______________________________________
1. “Quét và giữ” và “Phòng ngự chiều sâu” là những biện pháp chiến lược của Abram - Tư lệnh quân chiến đấu Mỹ ở Nam Việt Nam, thay cho biện pháp “Tìm và diệt” của Oétmolen - Tư lệnh quân chiến đấu Mỹ những năm 1965 -1968.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Tư, 2010, 09:32:38 pm

Trong lúc quân và dân ta trên khắp chiến trường miền Nam đang kiên cường bám trụ, đánh trả quyết liệt các cuộc hành quân thí điểm chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh của địch, thì ngày 25-1-1969 tại Pari (thủ đô nước Pháp) phiên họp đầu tiên của hội nghị bốn bên để giải quyết vấn đề chiến tranh ở Việt Nam chính thức khai mạc. Mặc dù Mỹ phải thừa nhận đại diện Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là một đại diện chính thức và hợp pháp trên bàn đàm phán, nhưng chính quyền Níchxơn luôn tìm mọi cách để kéo dài thời gian đàm phán, với hy vọng sẽ nhanh chóng tạo được thắng lợi lớn trên chiến trường nhằm gây áp lực với ta trên bàn hội nghị1. Thái độ và quan điểm của phái đoàn Chính phủ Mỹ ở hội nghị Pari càng chứng tỏ một thực tế đòn quân sự trên chiến trường luôn là nhân tố có tính quyết định nhất đến thái độ và lập trường của mỗi bên trên bàn đàm phán. Vì vậy, trong chỉ thị gửi Đảng bộ miền Nam, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam chỉ rõ: năm 1969 phải đẩy mạnh các đợt hoạt động tiến công địch (trước mắt là đợt xuân và hè), tạo nên những thắng lợi làm xoay chuyển cục diện chiến trường theo hưởng có lợi cho ta.

Chấp hành chỉ thị của Bộ Chính trị, Thường vụ Trung ương Cục miền Nam chỉ đạo các địa phương, đơn vị toàn miền Nam “động viên cao độ tinh thần quyết chiến, quyết thắng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, nắm vững thời cơ, kiên quyết xốc tới đẩy mạnh tổng công kích, tổng khởi nghĩa trên khắp ba vùng, nhằm tiêu diệt, tiêu hao một bộ phận quan trọng sinh lực quân Mỹ và phương tiện chiến tranh của Mỹ - ngụy, phát động một cao trào đấu tranh chính trị, binh vận và du kích chiến tranh rộng rãi, đánh bại về cơ bản chương trình “bình định cấp tốc” của địch, làm tan rã phần lớn ngụy quân, ngụy quyền, mở rộng vùng giải phóng nông thôn, giành quyền làm chủ từng phần ở đô thị (chủ yếu là cơ sở), làm chuyển biến lực lượng so sánh có lợi cho ta, tạo thế và lực mới, tiến lên giành thắng lợi quyết định”2.

Thực hiện quyết tâm chiến lược của Đảng, đêm 22 rạng, ngày 23-2-1969, trên khắp chiến trường, quân và dân ta đồng loạt mở đợt tiến công mùa xuân. Pháo binh, bộ binh, du kích, đặc công đánh vào hơn 400 mục tiêu quân sự của địch tại 36 thành phố và thị xã, 100 quận lỵ và thị trấn, 35 sở chỉ huy từ trung đoàn trở lên, 38 sân bay, 17 căn cứ hậu cần; trọng điểm là các thành phố lớn các tỉnh lỵ quan trọng như Sài Gòn, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Cam Ranh, Plâyku, Phước Long, Mỹ Tho, Bến Tre, Trà Vinh, Rạch Giá, Châu Đốc, các căn cứ quân sự hậu cần, sở chỉ huy đầu não của chúng ở Đà Nẵng, Núi Quế, Sùng Mây (Trung Bộ), Đồng Dù, Dầu Tiếng, Đồng Tâm (Nam Bộ)...

Ở Khu V, lực lượng vũ trang ba thứ quân tiến công hệ thống kho tàng chiến lược của quân Mỹ ở An Đồn (Đà Nẵng), Đèo Son, Miếu Lỗ (Quy Nhơn), Cam Ranh (Khánh Hoà), tiêu diệt một bộ phận quân chiến đấu và phương tiện chiến tranh của địch; đánh thiệt hại các sở chỉ huy Bộ Tư lệnh dã chiến số 3 lính thuỷ đánh bộ, Sư đoàn 23 (Amêrican) và các lữ đoàn 11, 196, 198 quân viễn chinh Mỹ. Sư đoàn 2 chủ động kéo lực lượng cơ động Mỹ ra các khu chiến An Hoà (Quảng Đà), Tiên Phước (Quảng Nam), tây Tư Nghĩa và Đức Phổ (Quảng Ngãi) để cầm chân, tiêu hao, tiêu diệt.

Trên chiến trường Tây Nguyên, cuộc chiến đấu giữa ta và địch diễn ra quyết liệt. Sau khi đánh bại các cuộc hành quân Bình Tây 48, Bình Tây 49 và Bình Tây 50, trong những tháng đầu năm 1969, lực lượng vũ trang ba thứ quân Tây Nguyên chuyển sang tiến công tuyến phòng thủ của địch ở phía tây thị xã Kon Tum. Được pháo binh chi viện, bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và du kích tiến công các căn cứ địch ở Plây Cần và đồn Kleng (Kon Tum), Đức Cơ (Gia Lai)... Trước áp lực tiến công của ta, một mặt địch nhanh chóng tăng cường lực lượng để đối phó, mặt khác sử dụng không quân và pháo binh ném hàng nghìn tấn bom, bắn hàng chục nghìn quả đạn đại bác yểm trợ cho bộ binh Mỹ liên tục phản kích, hòng tiêu diệt và đẩy lùi quân ta ra khỏi khu vực có các căn cứ và đồn bốt của chúng. Cuộc giao chiến giữa ta và địch mỗi lúc một thêm quyết liệt. Các chiến sĩ ta luồn lách bám sát đội hình địch, liên tục tiến công đánh giáp lá cà, giành giật với địch từng ngọn đồi, từng thung lũng. Phối hợp với hướng chính, bộ đội đặc công bí mật thọc sâu đánh mạnh hậu cứ Lữ đoàn 1 thuộc Sư đoàn 4 bộ binh Mỹ ở Tân Phú và Buôn Ma Thuột. Tại Bình Thuận, lực lượng chủ lực và du kích tại chỗ tập kích căn cứ Cam Êsépic, tiêu hao nặng một tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 101 dù, hai đại đội pháo, phá huỷ 13 máy bay các loại. Đây là trận đánh tiêu biểu nhất trên chiến trường cực Nam Trung Bộ trong đợt hoạt động mùa xuân 1969.

Sau hơn một tháng tiến công địch (từ ngày 23-2 đến 31-3-1969), quân và dân Khu V đã loại khỏi vòng chiến đấu hàng nghìn tên địch, bắn rơi và phá hủy hàng trăm máy bay, phá huỷ phá hỏng hàng trăm xe quân sự, cùng nhiều phương tiện chiến tranh khác của chúng. Đánh giá sự kiện trên, Hãng tin Pháp AFP dẫn lời của tướng Hoàng Xuân Lãm - Tư lệnh quân khu I - Quân đoàn I quân đội Việt Nam Cộng hòa cho rằng: “Những trận đánh dữ dội diễn ra ở Khu V, đặc biệt là xung quanh thành phố Đà Nẵng từ khi bắt đầu cuộc tiến công cho đến nay (ngày 14-3-1969), chứng tỏ hạ tầng cơ sở của địch (cách mạng miền Nam) hãy còn nguyên vẹn”.
______________________________________
1. Các bên tham dự hội nghị Pari bàn về vấn đề Việt Nam:
    1- Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do đồng chí Xuân Thuỷ làm trưởng đoàn, đồng chí Lê Đức Thọ làm cố vấn đặc biệt.
    2- Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam do ông Trần Bửu Kiếm làm trưởng đoàn, bà Nguyễn Thị Bình và ông Trần Hoài Nam làm phó trưởng đoàn.
    3- Chính phủ Mỹ do ông Hariman làm trưởng đoàn.
    4- Chính phủ Việt Nam Công hòa do ông Nguyễn Cao Kỳ làm trưởng đoàn, Phan Đăng Lâm làm phó trưởng đoàn.
2. Thường vụ Trung ương Cục: Chỉ thị số 71 / TVTWC về nhiệm vụ xuân 1969, tài liệu lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Tư, 2010, 09:34:52 pm

Tại miền Đông Nam Bộ, đêm 22 rạng ngày 23-2-1969; bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và du kích đồng loạt nổ súng tiến công trên hầu khắp chiều sâu phòng ngự của địch ở cả ba vùng chiến lược. Trên hướng trọng điểm bắc và tây bắc Sài Gòn, ba trung đoàn thuộc các Sư đoàn 11, Sư đoàn 7 và Sư đoàn 9, các trung đoàn 16, 286 của Phân khu 12, được sự chi viện của pháo binh, đặc công miền, bộ đội địa phương và du kích phối thuộc, tiến công hệ thống các căn cứ của Sư đoàn 25 bộ binh Mỹ ở Dầu Tiếng, Đồng Dù, Bến Tranh, Trà Cao. Đoàn pháo binh 69 của miền nhiều lần bắn phá các căn cứ Sư đoàn 1 bộ binh và Sư đoàn 1 kỵ binh cơ động đường không Mỹ ở Trảng Lớn, Lai Khê, Phước Vĩnh, Técních, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên cùng nhiều vũ khí và phương tiện chiến tranh của chúng. Cùng ngày, các phân đội đặc công của Công trường 9 (mật danh của Sư đoàn 9) tập kích tiêu hao nặng các cụm quân dã chiến của Sư đoàn 25 bộ binh Mỹ ở Cống Vệ, Thái Mỹ, Đức Hoà... Bộ đội công binh và du kích Phân khu 2 phục kích, tập kích đánh tàu địch trên sông Đồng Nai và căn cứ hải quân Gò Dầu Hạ (Tây Ninh), loại khỏi vòng chiến đấu 10 tàu, thuyền các loại và hơn 200 tên địch3. Hai giờ 30 phút ngày 26-2-1969, Tiểu đoàn 3 đặc công thuộc Bộ tư lệnh miền và Tiểu đoàn 28 đặc công Sư đoàn 7, dưới sự chỉ huy trực tiếp của Phó chỉ huy trưởng đặc công miền - Anh hùng Nguyễn Cụ (Nguyễn Tư Cường) sau khi bí mật cơ động lực lượng, vũ khí đã bất ngờ tiến công căn cứ Đồng Dù - “cánh cửa sắt” vững chắc bảo vệ cửa ngõ phía bắc Sài Gòn. Đây là căn cứ được xây dựng rất kiên cố, với hệ thống cứ điểm liên hoàn, với bảy hàng rào dây kẽm gai, xen kẽ là các bãi mìn, lô cốt dày đặc bảo vệ xung quanh. Mặc cho pháo sáng, đèn dù soi rọi kết hợp với pháo binh bắn cầm canh suốt đêm, các chiến sĩ phân đội mở cửa vẫn nhẹ nhàng, lần lượt cắt đứt bảy hàng rào kẽm gai. Khi hàng rào cuối cùng bị cắt rời, cũng là lúc hiệu lệnh tiến công được phát ra. Lập tức pháo binh ta bắn cấp tập, tiêu diệt và chế áp các hoả điểm đề kháng của địch, tạo điều kiện thuận lợi cho bộ đội trên các hướng, các mũi nhanh chóng đánh chiếm các mục tiêu chủ yếu trong tung thâm căn cứ của địch theo đúng kế hoạch phân công.

Do tạo được yếu tố bất ngờ và sử dụng lực lượng, cách đánh thích hợp, nên chỉ sau 30 phút chiến đấu, ta đã phá huỷ cơ bản sở chỉ huy Sư đoàn 25, khu thông tin, đài rađa, hai trận địa pháo, 100 lô cốt, 29 hầm ngầm, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 1.200 tên địch; phá huỷ, phá hỏng 179 xe quân sự, 12 pháo và hàng chục máy bay các loại... Bị đánh thiệt hại nặng Sư đoàn 25 bộ binh Mỹ buộc phải co cụm để bảo toàn lực lượng còn lại. Sau đó, một lữ đoàn dù quân đội Sài Gòn được điều lên tăng cường cho Tây Ninh, rút một tiểu đoàn dù Mỹ từ Củ Chi được đưa tới án ngữ ở Hiệp Hoà đề phòng Sư đoàn 9 của ta tiến công. Trận tập kích Đồng Dù là trận đánh đạt hiệu suất chiến đấu cao của Quân giải phóng trong đợt hoạt động xuân Kỷ Dậu 1969.

Trên hướng đông và đông bắc Sài Gòn, tháng 2-1969, Sư đoàn bộ binh 5 chủ lực miền và lực lượng vũ trang tại chỗ liên tục tiến công địch khu vực Biên Hoà, Long Bình, tạo thế và hỗ trợ trực tiếp cho nhân dân nổi dậy đánh phá bình định giành quyền làm chủ ở Trảng Bom (Xuân Lộc), Vĩnh Cửu, Long Thành, Nhơn Trạch... Cùng thời gian trên, Trung đoàn 33 bộ đội chủ lực miền đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn quân đội Hoàng Gia Thái Lan ở Bầu Cối (đông nam chi khu Long Bình), buộc địch phải tập trung sáu tiểu đoàn tổng trù bị chiến lược quân đội Sài Gòn hành quân giải toả vòng trong; đồng thời khẩn cấp đưa Lữ đoàn 3 kỵ binh không vận đến giải toả và án ngữ vòng ngoài (nam bắc sông Đồng Nai) của chi khu Long Bình.

Sau một thời gian lúng túng chống đỡ do bị bất ngờ, địch đã dần ổn định tình hình, củng cố được lực lượng và bắt đầu triển khai các cuộc hành quân phản kích một cách quyết liệt trên khắp chiến trường. Ngày 17-3-1969, địch huy động 12 tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 25 bộ binh và Sư đoàn 1 bộ binh, sử dụng Trung đoàn thiết giáp số 11 làm lực lượng xung kích, mở cuộc hành quân Cái nêm Átlát (Atlas Wedge), với mục tiêu: phá thế bao vây của bộ đội và du kích ta, giải toả khu vực Dầu Tiếng (Thủ Dầu Một). Bên cạnh việc huy động một số lượng lớn quân chiến đấu tinh nhuệ (khoảng 10.000 tên), Mỹ cũng đồng thời triển khai kế hoạch sử dụng máy bay B52 ném bom huỷ diệt trên diện rộng trên hầu khắp địa bàn các tỉnh Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Bình Long và khu vực biên giới Việt Nam - Campuchia, hòng ngăn chặn lực lượng vũ trang ta có thể rút sang Campuchia đứng chân, tạo bàn đạp để phản kích lại các cuộc hành quân của quân Mỹ. Bởi vậy, ngày 18-3-1969, không quân Mỹ được lệnh ném bom Campuchia. Níchxơn đánh giá hành động quân sự này của Mỹ là điểm ngoặt đầu tiên trong cách tiến hành chiến tranh Việt Nam của chính quyền”4 ông ta.

Trên phạm vi diễn ra cuộc hành quân, chỉ trong 10 ngày (từ ngày 18 đến 28-3-1969), không quân và pháo binh Mỹ và Sài Gòn đã dội hơn 1.500 tấn bom đạn các loại xuống khu vực đồn điền cao su Misơlanh, xuống cả những thôn, ấp mà chúng nghi là có cơ sở cách mạng và lực lượng vũ trang giải phóng trụ bám. Trước sự đánh phá điên cuồng của không quân địch, ta bị những tổn thất nặng nề về lực lượng và cơ sở cách mạng. Dù vậy, lực lượng vũ trang ba thứ quân và nhân dân các địa phương vẫn chủ động mở chiến dịch tiến công Tây Ninh - Bình Long - Biên Hoà, đánh vào các căn cứ sào huyệt của địch ở Trà Cao (Tây Ninh), Nước Trong (Biên Hoà)..., loại khỏi vòng chiến đấu hơn 2.000 tên, đánh thiệt hại chín đại đội hỗn hợp quân Mỹ và quân đội Sài Gòn, phá huỷ phá hỏng hơn 200 xe quân sự các loại, bắn rơi 20 máy bay, thu nhiều quân trang, quân dụng, đập tan cuộc hành quân mang mật danh Cái nêm Átlát của địch. Tiếp đó, để ngăn chặn tuyến đường cơ động của quân ta xuống phía đông, phía tây sông Sài Gòn và khôi phục tuyến phòng thủ liên tỉnh lộ 13, cuối tháng 3-1969, địch rút lực lượng và phương tiện chiến tranh ở Trà Cao - Lộc Giang, mở tiếp cuộc hành quân mang mật danh Montana. Phát hiện được ý đồ của địch, bộ đội và du kích nhanh chóng cơ động lực lượng, chủ động phục kích, tập kích, quần lộn với địch, làm thất bại cuộc hành quân Montana của chúng.
______________________________________
1. Theo Lịch sử quân đội nhân dân Việt Nam, tập 2, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994, tr.337; năm 1969 Sư đoàn 1 gồm 3 trung đoàn 95C, 101C và 209 được điều từ Tây Nguyên vào miền Đông Nam Bộ.
2. Cuối năm 1967, Trung ương Cục quyết định giải thể Quân khu miền Đông và Quân khu Sài Còn - Gia Định, lập sáu phân khu. Mỗi phân khu có Phân khu uỷ và Bộ chỉ huy phân khu:
    - Phân khu 1 gồm các huyện Củ Chi, Hóc Môn, Gò Vấp, Bến Cát, Dầu Tiếng và một phần huyện Trảng Bàng.
    - Phân khu 2 gồm các huyện Tân Bình, khu vực phía bắc huyện Bình Chánh, các quận 6, 5, 3 và bắc Long An.
    - Phân khu 3 gồm các huyện Nhà Bè, khu vực nam huyện Bình Chánh, các quận 2, 4, 7, 8 và nam Long An.
    - Phân khu 4 gồm các huyện Thủ Đức, khu vực nam Bình Chánh, các quận 9, 1 và đặc khu Rừng Sác (Đoàn 10).
    - Phân Khu V gồm các quận Bình Hoà, Dĩ An, Phú Nhuận và các huyện Lái Thiêu, Phú Giáo, Tân Uyên.
    - Phân khu 6 gồm các lực lượng nội thành: Ban cán sự đảng nội thành, biệt động, đặc công nội thành và các ngành các giới nội đô (không có đất).
3. Miền Đông Nam Bộ kháng chiến, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1993, tr. 379-380.
4. Giôdép A.Amtơ: Lời phán quyết về Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội,1985, tr.277.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Tư, 2010, 09:36:13 pm

Mặc dù giành được những thắng lợi trên mặt trận quân sự nhưng do địa bàn đứng chân còn lại của lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ rất eo hẹp, khiến cho bộ đội, du kích sau khi tác chiến buộc phải nhanh chóng cơ động để bảo toàn lực lượng, nên việc hỗ trợ cho mặt trận chống phá bình định ở các địa phương của lực lượng vũ trang, còn hạn chế. Vì thế, những tháng đầu năm 1969, ta không thực hiện được việc mở rộng quyền làm chủ ở nông thôn, cũng như chưa củng cố vững chắc được vùng giải phóng.

Ở đồng bằng sông Cửu Long, trong tháng 2-1969, quân và dân ta nổ súng tiến công một loạt các căn cứ địch ở Bến Tre, Mỹ Tho, Cần Thơ, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cà Mau... Pháo binh ta dội đạn vào các sân bay, kho tàng, gây cho địch nhiều thiệt hại. Nổi bật nhất là đêm 22-2-1969, Trung đoàn 1 có Tiểu đoàn pháo binh 309F chi viện trực tiếp, bất ngờ tập kích thị xã Mỹ Tho và căn cứ Đồng Tâm, loại khỏi chiến đấu hàng chục tên địch, phá huỷ và phá hỏng 12 máy bay các loại, sáu khẩu pháo... Kết hợp với đánh địch trên bộ, lực lượng đặc công và công binh của khu, của các địa phương chặn đánh nhiều đoàn tàu chiến đấu và vận tải trên sông của địch, phá huỷ và phá hỏng bảy tàu, tiêu huỷ hàng trăm tấn nhiên liệu, cũng trong thời gian trên, Trung đoàn 2 (thiếu Tiểu đoàn 263) tổ chức phục kích tại kênh Chợ Gạo và Gò Công, diệt một đại đội bảo an.

Phối hợp với hoạt động của bộ đội chủ lực khu, lực lượng vũ trang các tỉnh đẩy mạnh các hoạt động tiến công địch ở vùng sâu, vùng yếu, hỗ trợ trực tiếp cho nhân dân nổi dậy chống phá bình định. Đêm 24-2-1969, lực lượng đặc công Tỉnh đội Bến Tre sử dụng một đại đội kết hợp chặt chẽ với cơ sở nội tuyến tập kích căn cứ của Tiểu đoàn 2 thuộc Trung đoàn 10 quân đội Sài Gòn đóng tại Bình Phú (ngoại ô thị xã Bến Tre), loại khỏi vòng chiến đấu 120 tên địch; một đại đội bí mật tập kích phá huỷ năm khẩu pháo 105 mm của Mỹ ở trận địa Đồng Cò và Chợ Giữa. Phát huy chiến quả của đòn quân sự, các cơ sở mật đã tập hợp nhân dân nhiều thôn, ấp ở ven thị xã Bến Tre đồng loạt nổi dậy phá lỏng thế kìm kẹp, phá một số ấp chiến lược của địch.

Mặc dù quân và dân đồng bằng sông Cửu Long đã nỗ lực đẩy mạnh tiến công địch nhưng do điều kiện bảo đảm về lực lượng vũ khí, cơ sở vật chất kỹ thuật gặp rất nhiều khó khăn, nên đòn tiến công quân sự không đủ mạnh để có thể hỗ trợ cho nhân dân nổi dậy đấu tranh. Mặt khác, cơ sở mật, lực lượng tự vệ mật cũng như các tổ chức quần chúng cách mạng ở nhiều xóm, ấp bị thiệt hại nặng trong năm 1968 chưa kịp được khôi phục.... do vậy, phong trào chống phá bình định ở các địa phương thuộc đồng bằng sông Cửu Long chẳng những không phát triển được, mà ngược lại cơ sở cách mạng tiếp tục bị tổn thất, lực lượng vũ trang bị tiêu hao, vùng giải phóng, vùng làm chủ ở nhiều nơi có nguy cơ bị thu hẹp. Đây cũng là những khó khăn chung của nhiều địa phương trên chiến trường miền Nam.

Thực tiễn tác chiến của quân và dân miền Nam đợt hoạt động xuân 1969 trong điều kiện cả thế và lực của ta đều quá chênh lệch so với địch, nên kết quả đạt được rất thấp, một số nơi không thực hiện được mục tiêu đề ra ban đầu như các địa phương thuộc Nam Trung Bộ và Khu IX. Tuy vậy, đợt hoạt động xuân 1969 của quân và dân miền Nam vẫn là một đòn đánh bồi vào ý chí xâm lược của Mỹ vốn đã bị lung lay do chấn động của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 và đó còn là đòn tiến công gây bất ngờ lớn đối với Mỹ khi chúng bắt đầu thể nghiệm chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh với công thức: bộ binh quân lực Việt Nam Công hòa với sự chi viện của hoả lực Mỹ. Đợt hoạt động xuân 1969 có ý nghĩa chính trị rất lớn, làm gay gắt thêm những mâu thuẫn vốn đã gay gắt giữa Mỹ và chính quyền Sài Gòn, mâu thuẫn trong nội bộ quân đội và chính quyền Sài Gòn cũng như mâu thuẫn trong nội bộ nước Mỹ. Thực tế chiến trường cho thấy, quân đội Sài Gòn sẽ khó trụ vững khi quân Mỹ rút đi...

Tiếp theo đợt hoạt động xuân 1969, trong tháng 4-1969, trên khắp các chiến trường miền Nam, lực lượng vũ trang và nhân dân ta vẫn tiếp tục duy trì nhịp độ tiến công địch một cách thường xuyên và liên tục. Từ Khu VI trở vào, ta đánh 934 trận, loại khỏi vòng chiến đấu hàng ngàn tên địch, đánh thiệt hại hai tiểu đoàn quân đội Sài Gòn, ba cụm quân Mỹ, một sở chỉ huy tiểu khu, sáu đoàn cán bộ bình định, bắn rơi và phá huỷ hơn 150 máy bay, phá huỷ và phá hỏng 346 xe quân sự, bắn chìm 74 tàu chiến trên sông của địch. Bộ đội chủ lực miền phối hợp với bộ đội và du kích địa phương đánh địch ở Trà Cao, Bến Cầu (Tây Ninh), Dầu Tiếng (Thủ Dầu Một). Chủ lực Khu VI tập kích địch trên sông Mao (Bình Thuận). Trên mặt trận Đường 9 - tây Trị - Thiên, trong thời gian từ ngày 17-3 đến 31-4-1969. Đoàn 7 (bộ đội tỉnh Quảng Trị) và Trung đoàn 8 có sự phối hợp của lực lượng vũ trang tại chỗ và nhân dân khu vực phía nam huyện Hướng Hoá làm thất bại cuộc hành quân mang mật danh Lam Sơn 271 với lực lượng năm tiểu đoàn địch, đánh bại ý đồ đánh phá kho tàng và hành lang vận chuyển chiến lược của ta ở khu vực Tam Tanh, A Giới (tây nam Quảng Trị)1.

Song song với nhiệm vụ đẩy mạnh tiến công tiêu diệt địch thường xuyên, quân và dân ta cũng khẩn trương chuẩn bị lực lượng và thế trận cho đợt hoạt động hè. Ở miền Đông Nam Bộ, các Sư đoàn 5, Sư đoàn 7 và Sư đoàn 9 tập trung lực lượng trên hướng Tây Ninh và tây Bình Long, tiến công Sư đoàn 1 kỵ binh cơ động đường không Mỹ trên liên tỉnh lộ 13; đồng thời, phối hợp chặt chẽ với đặc công, pháo binh và bộ đội địa phương đánh thiệt hại nặng các căn cứ kho tàng của địch ở Técních, Phước Vĩnh, Dầu Tiếng, Trảng Lớn. Sư đoàn 5 đứng chân hoạt động ở Long Khánh (Chiến khu Đ), Định Quán (trên đường 20), dùng đặc công, pháo binh tập kích sở chỉ huy và đánh thiệt hại nặng Sư đoàn 18 quân đội Sài Gòn, bảo vệ vững chắc căn cứ và kho tàng của ta. Tại đồng bằng sông Cửu Long bộ đội chủ lực tiến công địch ở Mỹ Tho, Bến Tre, mở hướng tiến công mới ở An Giang, Hà Tiên, bắc Rạch Giá, hỗ trợ tích cực cho đánh phá bình định, tạo thế uy hiếp địch ở đô thị. Các chiến trường Khu V, Trị - Thiên - Huế, lực lượng bộ đội tỉnh, huyện và du kích các xã, ấp tích cực hoạt động ngăn chặn và làm thất bại các cuộc hành quân của địch nhằm vào hệ thống căn cứ, kho tàng và đường hành lang chiến lược của ta.
______________________________________
1. Chiến trường Trị - Thiên - Huế trong cuộc kháng chiến chống Mỹ toàn thắng, Nxb. Thuận Hoá, Huế, 1985, tr.172.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Tư, 2010, 09:36:40 pm

Trên chiến trường Tây Nguyên và đường 9 - tây Trị - Thiên, do vị trí chiến lược của vùng đất này cả ta và địch đều tập trung một số lượng lớn binh lực và phương tiện chiến tranh. Theo đánh giá của Mỹ, chủ trương phi Mỹ hoá và tiếp đến là Việt Nam hoá chiến tranh chỉ có thể thành công khi chúng giành được thắng lợi về quân sự ở chiến trường Tây Nguyên và đường 9 - tây Trị - Thiên. Đầu năm 1969, chúng đã mở một số cuộc hành quân thí điểm cho việc thực hiện chủ trương phi Mỹ hoá chiến tranh ở khu vực này, nhưng bị quân và dân ta đánh bại. Do vậy một mặt, địch phải co cụm lực lượng, tổ chức phòng thủ bảo vệ căn cứ, mặt khác, sẽ tiếp tục mở các cuộc hành quân đánh phá bàn đạp tiến công của ta. Đây là điều kiện tốt để quân và dân Tây Nguyên, đường 9 - tây Trị - Thiên tiến công tiêu hao, tiêu diệt sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch, góp phần cùng với toàn miền từng bước làm thay đổi cục diện chiến trường ngày càng có lợi cho ta.

Theo kế hoạch thống nhất ngày 11-5-1969, toàn miền Nam bắt đầu bước vào đợt hoạt động hè. Bộ đội đặc công, biệt động, pháo chuyên trách cùng các đơn vị bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân, du kích đánh vào hơn 800 mục tiêu, trong đó có 57 căn cứ sở chỉ huy từ cấp trung đoàn trở lên và 41 sân bay của địch trên toàn miền.

Tại miền Đông Nam Bộ, trên hướng chủ yếu, bộ đội chủ lực vào đợt sớm hơn. Chuẩn bị cho kế hoạch tiến công hè, trước đó, Quân uỷ và Bộ chỉ huy miền quyết định đưa Sư đoàn 9 tới hoạt động ở địa bàn tỉnh Tây Ninh, Sư đoàn 7 tổ chức đánh địch ở Bình Long. Sư đoàn 5 (thiếu) thọc sâu xuống Chiến khu Đ đánh các cụm quân địch trên đường số 26 và 22. Ngày 5-5-1969, Trung đoàn 174 thuộc Sư đoàn 5 tiến công căn cứ Đồng Pan, tiêu hao một bộ phận tiểu đoàn địch chốt giữ ở đây. Để tránh bị ta xoá sổ, bộ phận địch còn lại ở Đồng Pan lui về cố thủ ở Bầu Cỏ (Tây Ninh). Cùng ngày, Trung đoàn 141 thuộc Sư đoàn 7 đánh địch ở căn cứ Tà Tê và bắc liên tỉnh lộ 13 nhưng không thành công, nên hai lữ đoàn thuộc Sư đoàn 1 kỵ binh cơ động đường không Mỹ vẫn giữ quyền làm chủ liên tỉnh lộ 13, ngăn chặn lực lượng vũ trang ta tiến xuống tuyến trung gian.

Trước sự thay đổi bố trí lực lượng tác chiến của ta trên chiến trường, địch buộc phải căng lực lượng và phương tiện ra đối phó một cách bị động, tạo thuận lợi cho nhân dân các địa phương chống phá bình định, giành và giữ thế chiến trường.

Theo đúng thời gian quy định, bắt đầu từ ngày 11-5-1969, Sư đoàn 7 phối hợp với đặc công đánh thiệt hại Trung đoàn 11 thiết giáp Mỹ trên hướng tây và tây nam thị xã Hớn Quản (Bình Long), tập kích căn cứ Lữ đoàn 3 Sư đoàn 1 kỵ binh cơ động đường không Mỹ ở Técních. Thị xã Hớn Quản và liên tỉnh lộ 13 bị ta uy hiếp mạnh, địch phải khẩn cấp điều tám tiểu đoàn dù của cả quân Mỹ và quân Sài Gòn lên tăng cường cho lực lượng tại đây. Trên hướng Tây Ninh, Sư đoàn 9 tiến công vào một số căn cứ địch đóng ở khu vực xung quanh Toà Thánh (thị xã Tây Ninh), đánh địch ở khu vực Vườn Điều buộc địch phải tập trung lực lượng tổng trù bị chiến lược của quân đội Sài Gòn và Lữ đoàn 1 thuộc Sư đoàn 25 bộ binh Mỹ đến ứng cứu, giải toả.

Trên hướng thứ yếu, trong hai ngày 8 và 9-5-1969, Trung đoàn 5 Sư đoàn 5 vận động tiến công hai chiến đoàn 43 và 52 Sư đoàn 18 quân đội Sài Gòn, đánh bại cuộc hành quân càn quét của chúng trên khu vực suối Tầm Bung và đường 20. Tiếp đó, Sư đoàn 5 tiếp tục bám đánh Sư đoàn 18 quân Sài Gòn ở Bà Rịa - Long Khánh, đánh thiệt hại nặng Chiến đoàn 52. Với khí thế tiến công địch dồn dập, liên tục, đạt hiệu suất cao, Sư đoàn 5 trở thành tấm gương sáng về tinh thần, ý chí và phương thức tác chiến cho lực lượng vũ trang và nhân dân toàn miền Nam noi gương và học tập.

Ở vùng ven đô và tuyến trung gian, nơi địch tập trung lực lượng và phương tiện chiến tranh để hình thành các tuyến phòng thủ vững chắc bảo vệ các thành phố, thị xã, vì vậy hoạt động của ta hết sức khó khăn. Tuy nhiên, với ý chí kiên quyết trụ bám địa bàn đánh địch, bộ đội địa phương và du kích Long Thành trong hai ngày 15 và 16-6-1969 đã đánh thiệt hại một tiểu đoàn thuộc Sư đoàn Báo Đen (quân đội Hoàng gia Thái Lan). Với khẩu hiệu “Rừng Sác là nhà, sông Lòng Tàu là trận địa, bến cảng kho tàng địch là quyết chiến điểm”, Đoàn 10 đặc công Rừng Sác mặc dù trong tình thế bị bao vây bốn mặt, lực lượng bị tiêu hao, mọi nguồn tiếp tế bị cắt đứt vẫn kiên quyết bám trụ, tự lo cái ăn, tự tìm kiếm và tạo ra vũ khí đánh địch. Ngày 19-5-1969, để lập công mừng sinh nhật Bác Hồ, trong vòng 30 phút, chiến sĩ Đoàn 10 đánh chìm hai tàu chở dầu bảy nghìn tấn và 15 nghìn tấn của địch trên sông Lòng Tàu. Chiến công này đã góp phần cổ vũ mạnh mẽ tinh thần và củng cố niềm tin vững chắc cho cán bộ, chiến sĩ đặc công Rừng Sác, thôi thúc họ vượt qua mọi khó khăn, kiên trì bám trụ địa bàn đánh địch.


Tại Khu V, đêm 12-5-1969, các đơn vị đặc công các tổ, đội pháo cối chuyên trách bất ngờ tập kích trận địa tên lửa hốc (HOOK) ở Sơn Trà (Đà Nẵng), sở chỉ huy Trung đoàn 1 lính thuỷ đánh bộ Mỹ ở Hầm Xẻ (Quàng Đà), Lữ đoàn 11 Sư đoàn Amêricơn ở Gò Hội (Quảng Ngãi), Trung đoàn 5 lính thuỷ đánh bộ Mỹ ở An Hoà (Quảng Đà), gây cho địch nhiều thiệt hại.

Ở Khu VI, trong tháng 5, đặc công ta tập kích Trung đoàn 44 quân đội Sài Gòn ở sông Mao (Bình Thuận), trại biệt kích ở Lương Sơn, tiểu khu và trận địa pháo Kim Ngọc, buộc địch phải điều quân ra ứng cứu. Trên mặt trận đường số 1, số 8, số 11 và nam bắc Hoà Đa, chủ lực khu và lực lượng địa phương tại chỗ chặn đánh Chiến đoàn bộ binh cơ giới 1/5 quân đội Sài Gòn, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên, phá huỷ, phá hỏng nhiều xe quân sự.

Phối hợp với chiến trường Nam Bộ và Khu V, trên chiến trường Tây Nguyên, sau thất bại ở K’leng, quân Mỹ lui về giữ thị xã Plâyku, đẩy dần các đơn vị quân đội Sài Gòn ra phía trước. Thực hiện kế hoạch tiến công đợt hè 1969, Bộ Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên (B3) quyết định mở chiến dịch Đắc Tô 2 nhằm giáng tiếp một đòn nữa vào chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh của Mỹ, tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch phá kế hoạch bình định của chúng ở Tây Nguyên phối hợp chặt chẽ với chiến trường đồng bằng Khu V và toàn miền tiến công địch.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Tư, 2010, 09:37:14 pm

Cuối tháng 4, đầu tháng 5-1969, ở Tây Nguyên, mùa mưa bắt đầu. Sông, suối nơi đây trở nên rộng lớn và nước chảy xiết hơn khi lũ đầu nguồn đổ về. Công việc chuẩn bị cho chiến dịch của quân và dân ta vì thế gặp muôn vàn khó khăn, đặc biệt là công tác vận chuyển vũ khí, lương thực, thuốc men và cơ động lực lượng. Dù vậy, với khí thế của cuộc vận động thi đua “trẩy hội Điện Biên, lập công dâng Bác”, các lực lượng vũ trang, trong đó có sự góp sức quan trọng của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, đã không quản khó khăn, ngày đêm ra sức chuẩn bị mọi mặt, quyết tâm “Đánh cho Sư 4 (Sư đoàn 4 bộ binh Mỹ) đảo điên, đánh cho quân đội Việt Nam Công hòa ở Tây Nguyên tơi bời”. Căn cứ vào thế bố trí lực lượng và khả năng thực tế của địch, Bộ Chỉ huy chiến dịch quyết định sử dụng Trung đoàn 66, Trung đoàn 28 bộ binh, Trung đoàn 40 pháo binh trên hướng tiến công chủ yếu; các Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 24, Tiểu đoàn 20 đặc công và lực lượng vũ trang tỉnh Kon Tum hoạt động ở phía đông Đắc Tô. Trên hướng phối hợp, thuộc các tỉnh Gia Lai và Đắc Lắc, Trung đoàn 95 đánh địch trên đường 19, tiểu đoàn 361 và 37 tiến công địch ở vùng ven thị xã Plây Ku.

Phát hiện ta sắp mở chiến dịch Đắc Tô 2, địch đổ Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 4 thuộc Trung đoàn 41 quân đội Sài Gòn xuống khu vực Ngọc Pha Ria và Ngọc Bờ Biêng tổ chức các hoạt động ngăn chặn. Ở Ngọc Pha Ria, Tiểu đoàn 1 phối hợp với lính biệt kích ở đồn Plây Cần nống ra xung quanh lùng sục, bị bộ đội ta chặn đánh. Trong lúc quân địch đang lúng túng tìm cánh đối phó, thì các phân đội hoả lực của ta liên tục tập kích vào nơi trú quân của chúng, đánh phá các vị trí Ngọc Hồi, Plây Cần, điểm cao 824... Bị đánh cả mặt trước lẫn mặt sau, Tiểu đoàn 1 quân đội Sài Gòn không thực hiện được ý đồ ngăn chặn ta, phải lùi ra và cụm lại phía nam Ngọc Pha Ria.

Ở Ngọc Bờ Biêng, Tiểu đoàn 4 vừa đặt chân xuống đất đã bị ta đánh thiệt hại nặng hai đại đội, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên địch.

Đêm 10 rạng ngày 11-5-1969, bộ binh và pháo binh của ta tiến công mãnh liệt vào căn cứ hành quân liên hợp Mỹ - quân đội Sài Gòn ở Đắc Tô, sân bay Kon Tum, sở chỉ huy Trung đoàn 42 quân Sài Gòn, thị trấn Tân Cảnh, bao vây đồn Plây Cần. Đồng thời, ta tổ chức phục kích đánh xe cơ giới và bộ binh địch hành quân giải toả trên đường 18 và đường 14. Bị lực lượng vũ trang ta uy hiếp mạnh cả bên trong lẫn bên ngoài, địch sử dụng tám tiểu đoàn bộ binh, 3 chi đoàn thiết giáp mở cuộc hành quân mang mật danh Dân quyền, đánh lên khu vực tây bắc thị xã Kon Tum nhằm kéo giãn lực lượng tiến công của ta. Đây là thời cơ thuận lợi mà ta đã dự kiến để tiêu diệt quân địch và phương tiện chiến tranh của chúng.

Những ngày đầu, trước sức tiến công của ta, binh sĩ địch hoang mang, lo sợ. Để bảo toàn lực lượng, quân địch thường chủ động tìm cách né tránh đụng độ với chủ lực ta, đồng thời co cụm trên các điểm cao, chốt giữ những vị trí có tác dụng khống chế khu vực xung quanh. Do vậy, ý định tiêu diệt sinh lực địch của ta không thực hiện được. Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên đã cử cán bộ tham mưu xuống bám sát các đơn vị để chỉ đạo việc triển khai thực hiện phương án tác chiến mới. Theo đó, trên các địa bàn được phân công, từng đơn vị tổ chức cho bộ đội kiên trì truy lùng suốt ngày đêm, phát hiện địch là triển khai lực lượng bao vây liên tục tiến công không cho chúng phân tán đội hình. Nhờ vậy, trong các ngày từ 17 đến 23-5-1969, ta liên tiếp bao vây đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn 22 quân biệt động Sài Gòn tại dãy núi Ngọc Dơ Lang. Ngày 24-5-1969, tại Plây Thông Breng, điểm cao 668, Tiểu đoàn 9 thuộc Trung đoàn 66 bằng chiến thuật vận động tiến công, đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn 2 quân biệt kích ứng chiến Sài Gòn, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 300 tên. Cũng trong thời gian này, bộ đội ta loại khỏi chiến đấu 250 tên thuộc Tiểu đoàn 1 biệt kích ứng chiến quân đội Sài Gòn. Đây là trận đánh có hiệu suất diệt địch cao nhất của chiến dịch.

Tiếp đó, ngày 31-5-1969, bị quân ta tiến công liên tục, các tiểu đoàn 11 và 23 biệt động quân đội Sài Gòn đã co cụm chốt giữ khu vực điểm cao 875. Tại đây, tháng 11-1967, với chiến thuật chốt điểm kết hợp vận động tiến công, Trung đoàn 174 đã đánh bại Tiểu đoàn 2 Lữ đoàn 173 quân dù của Mỹ. Không để cho địch có thời gian ổn định lực lượng và kịp củng cố công sự, Trung đoàn 66 và Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 28 nhanh chóng hình thành thế bao vây và liên tiếp mở các đợt tiến công diệt hai tiểu đoàn quân Sài Gòn, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên.

Trước cách đánh kiên quyết, dũng mãnh của ta, chỉ huy quân địch đã quyết định lùi đội hình, nhằm tạo ra một khoảng cách cần thiết cho không quân và pháo binh đến oanh kích hòng sát thương bộ đội ta. Song, quân địch rút đến đâu, bộ đội ta áp sát ngay đến đó. Vì thế, chẳng những âm mưu của chúng không thực hiện được, mà còn tạo thêm điều kiện thuận lợi để ta bao vây, áp sát địch và tiến công đạt hiệu quả cao hơn. Cũng chính từ chiến dịch này, hình thức chiến thuật bao vây tiến công liên tục của bộ đội ta đã được hình thành. Lúc đầu, bộ đội Tây Nguyên gọi là bao vây công kích. Báo cáo tổng kết chiến sự sáu tháng đầu năm 1969 của Bộ Tư lệnh Quân khu II - Quân đoàn II quân đội Sài Gòn cũng nêu rõ: chiến thuật bám sát bao vây được cộng sản Bắc Việt triển khai và áp dụng lần đầu tiên vào năm 1969, khi chúng đương đầu với các cuộc hành quân của ta (quân đội Sài Gòn) tại chiến trường cao nguyên Trung phần.

Cùng với hướng tiến công chủ yếu, trên hướng phối hợp, Trung đoàn 95 và bộ đội địa phương Gia Lai liên tục chặn đánh địch trên đường số 19, phá huỷ và phá hỏng nhiều xe cơ giới. Do lực lượng và vũ khí bị tiêu hao nặng, Liên đoàn 2 biệt động Sài Gòn từ Plây Cần phải vội vàng tháo chạy về Ngọc Rinh Rua.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Tư, 2010, 09:38:30 pm

Ngày 26-6-1969, ta chủ động kết thúc chiến dịch Đắc Tô 2. Bằng chiến dịch này, lực lượng vũ trang và đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đã giáng đòn phủ đầu mạnh mẽ vào chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh của Mỹ. Ta đánh thiệt hại nặng chín trong số 12 tiểu đoàn trực tiếp tham gia cuộc hành quân của địch, loại khỏi vòng chiến đấu 4.135 tên, phá huỷ 88 xe quân sự bắn rơi và phá huỷ 103 máy bay các loại, bắt hàng trăm tù binh, thu nhiều vũ khí. Đặc biệt, với chiến thắng trong chiến dịch Đắc Tô 2, lực lượng vũ trang Tây Nguyên đã sáng tạo một hình thức chiến thuật mới - hình thức vận động bao vây tiến công liên tục. Hình thức chiến thuật mới này không chỉ mở ra khả năng về đánh tiêu diệt quy mô lớn quân ngụy trên chiến trường, mà còn là một đóng góp quan trọng cho việc phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Ở Trị - Thiên, sau khi bị thất bại trong các cuộc hành quân mang mật danh Cái hẻm Điuây và Masachusé (Massachusetts Striker) đầu năm 1969, ngày 10-5-1969, Bộ Tư lệnh quân đội Mỹ ở miền Nam Việt Nam và Bộ tư lệnh hành quân quân đội Sài Gòn quyết định mở cuộc hành quân mang mật danh Tuyết trên núi Apát (Apache Snow) với lực lượng năm tiểu đoàn (gồm các tiểu đoàn 1, 2, 3 thuộc Lữ đoàn 187 Sư đoàn 101 quân dù Mỹ, hai tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 1 quân đội Sài Gòn, đánh ra thung lũng A Lưới - A Bia1.

Từ những khu vực đóng quân trên các chốt ở cạnh núi A Bia, A Lê Lốc, A Lê Thiên, các điểm cao 337 và 1.087, v.v..., trong các ngày 10 và 11-5-1969, Tiểu đoàn 3 Lữ đoàn 187 Sư đoàn 101 quân Dù Mỹ do Trung tá W.Hônicớt (Weldon Honeycutt) chỉ huy, bắt đầu tổ chức lùng sục lực lượng ta xung quanh khu vực núi A Bia. Khi càn đến khu vực yên ngựa phía bắc A Bia, quân địch bất ngờ bị lực lượng phục kích của ta chặn đánh quyết liệt, hàng chục binh lính địch bị loại khỏi vòng chiến đấu. Chỉ huy quân địch vội vàng ra lệnh rút quân, đồng thời gọi không quân và pháo binh bắn chi viện.

Sáng 12-5-1969, máy bay B52 và các loại máy bay ném bom khác của Mỹ bắt đầu rải thảm nhằm huỷ diệt A Bia. Tiếp đó, ba đại đội (A,B,C) thuộc Tiểu đoàn 3 Mỹ chia thành nhiều mũi cùng lúc tiến lên phía bắc A Bia. Tại đây, cán bộ và chiến sĩ Trung đoàn 8 của ta đã chuẩn bị sẵn trận địa đón đánh địch. Khi những toán quân Mỹ đi đầu vừa tiến vào, hoả lực các cỡ của ta đồng loạt phát hoả. Vấp phải đòn phản kích mãnh liệt của ta, thêm vào đó, trời mưa to, đường sá lầy lội, nên quân địch tiến lên không được mà rút lui cũng không xong. Binh lính trở nên hoảng loạn. Nhân thời cơ thuận lợi này, bộ đội ta khẩn trương tổ chức trận địa phục kích, đón đánh Đại đội C thuộc Tiểu đoàn 3 quân Mỹ, loại khỏi vòng chiến đấu 37 tên, số còn lại tháo chạy tán loạn. Tiếp đó, bộ đội ta nghi binh thu hút Đại đội B Mỹ về hướng trận địa mai phục sẵn và đánh quỵ đại đội này.

Cố giành cho được một thắng lợi sau khi bổ sung lực lượng, vũ khí và phương tiện chiến tranh, ngày 17-5-1969, chỉ huy quân Mỹ quyết định sử dụng Tiểu đoàn 1 Lữ đoàn 506 tiến lên đánh chiếm điểm cao 900. Thế nhưng, kế hoạch đặt ra của chỉ huy quân Mỹ đã không thực hiện được bởi mưa lớn kéo dài, không sao cơ động nổi lực lượng, vũ khí và trang bị. Cuộc tiến công của địch một lần nữa phải dừng lại.

Ngày 19-5-1969, Trung tướng Menvin Jai (Melvin Zais) - Tư lệnh Sư đoàn 101 quân Dù Mỹ ra lệnh cho các Tiểu đoàn 2 thuộc Lữ đoàn 501, Tiểu đoàn 2 thuộc Lữ đoàn 502 và Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 3 Sư đoàn 1 quân đội Sài Gòn tổ chức bao vây A Bia trên các hướng đông bắc, đông nam và tây nam, hòng cắt đường tiếp tế và đường rút của bộ đội ta. Dù vậy, cán bộ đến chiến sĩ ta vẫn khắc phục khó khăn, kiên quyết trụ bám trận địa, dồn sức đánh trả các cuộc tiến công, tiêu hao được một bộ phận sinh lực địch. Sau 13 ngày đêm chiến đấu liên tục trong điều kiện thiếu lương thực, vũ khí đạn dược, quân số bị tiêu hao mà nguồn bổ sung hầu như bị địch ngăn chặn hoàn toàn, ngày 23-5-1969, ta chủ động rút khỏi A Bia.

Trong các cuộc giao chiến giành giật khu vực A Bia, lực lượng vũ trang và nhân dân Trị - Thiên đã đánh thiệt hại nặng Lữ đoàn 187 quân dù Mỹ, loại khỏi vòng chiến đấu 1500 tên địch2. Song, về phần mình, cán bộ và chiến sĩ trực tiếp tham gia chiến đấu ở A Bia phải chịu gần một triệu pao (Poud)3 bom đạn do không quân và pháo binh địch trút xuống. Sức tàn phá của bom đạn Mỹ đã biến những cánh rừng tươi tốt A Bia thành ngọn đồi trơ trọi, nham nhở. Các trận kịch chiến ác liệt và kéo dài giữa ta và địch ở A Bia khiến thương vong của cả hai bên lên rất cao. Binh sĩ Tiểu đoàn 3 Lữ đoàn 187 quân dù Mỹ gọi đây là Đồi thịt băm (Humburger Hill). Xác lính Mỹ chết và bị thương không kịp đưa về phía sau, bởi phương tiện vận chuyển duy nhất là máy bay lên thẳng bị hoả lực phòng không của ta đánh trả quyết liệt rất khó đáp xuống. Điều đó càng làm cho tinh thần số quân địch còn sống sót ở A Bia thêm hoảng loạn.
______________________________________
1. Địa danh mà một số cuốn sách của các tác giả Mỹ như: Từ điển chiến tranh Việt Nam, Nxb. Green Wood Press Westport, 1998; Việt Nam những trận đánh quyết định của J.Pimloff, Thông tin khoa học - Công nghệ - Môi trường, Bộ Quốc phòng ấn hành, 1997, đều gọi tắt là: A Sầu - A Bia.
2. Theo Giôdép A.Amtơ, trong cuốn Lời phán quyết về Việt Nam, Nxb.Quân đội nhân dân, Hà Nội,1985, tr.255, số lính Mỹ bị chết trong trận A Bia là 480 người (1 tuần).
    Theo J.Pimloff: Việt Nam những trận đánh quyết định: Tlđd, tr. 130, số lính Mỹ bị chết là 70, bị thương 372 (10 ngày); quân Mỹ diệt được 630 quân Bắc Việt Nam.
3. 1 pao (Pound) = 0,454 kilôgam.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Tư, 2010, 09:39:31 pm

Mặc dù đã tìm mọi cách bưng bít, nhưng tin tức trận A Bia đã nhanh chóng được truyền về nước Mỹ, khiến dư luận Mỹ càng thêm phẫn nộ chính sách chiến tranh của chính quyền Mỹ và góp phần thổi bùng lên phong trào phản đối cuộc chiến tranh ở Việt Nam nhanh chóng lan rộng ra khắp đất nước. Thượng nghị sĩ E.Kennơđy (Edward Kennedy) cho rằng: “Cuộc tiến quân lên núi A Bia là vô đạo đức, dã man, vừa vô nghĩa vừa vô trách nhiệm”, và “không thể đem sinh mệnh của người Mỹ làm vật hy sinh vì lòng tự ái quân nhân” (tin Thông tấn xã AP, ngày 21-5-1969). Ngày 27-6-1969, tạp chí Laifơ (Life) đăng ảnh 241 binh sỹ Mỹ tử trận trong trận A Bia ở Việt Nam và điều đó càng làm cho công chúng Mỹ căm phẫn, chán ghét cuộc chiến tranh do Mỹ tiến hành ở Việt Nam.

Trước sức ép chính trị và dư luận công chúng, Tổng thống Mỹ Níchxơn buộc phải ra lệnh cho tướng Abram (Abrams) ngừng ngay các cuộc hành quân vào các vị trí mà chúng cho là do quân đội Bắc Việt kiểm soát; đồng thời, đẩy nhanh tốc độ thực hiện chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh và từng bước rút quân chiến đấu Mỹ về nước.

Chiến công của quân và dân Trị - Thiên ở A Lưới - A Bia trong đợt hè năm 1969 có tác động mạnh tới nỗ lực chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Trận A Bia cho thấy khả năng chịu đựng tổn thất về con người của nước Mỹ đã đến tới hạn cuối cùng, là biểu hiện tập trung của “tình trạng chiến tranh tuyệt vọng”1 của Mỹ trên chiến trường Việt Nam. 

Sau hơn một tháng tiến công địch (từ ngày 11-5 đến 20-6-1969) quân và dân ta trên chiến trường miền Nam đã thực hiện tốt nhiệm vụ tiêu diệt, tiêu hao sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch loại khỏi vòng chiến đấu 29 tiểu đoàn và cụm địch tương đương, lực lượng và thế trận chiến tranh nhân dân từng bước được phục hồi trên cả ba vùng chiến lược. Kết quả đợt hoạt động hè cũng chứng tỏ rằng, ta có khả năng căng kéo địch ra những chiến trường mới - nơi ta có điều kiện thuận lợi để đánh địch tốt hơn. Đợt tiến công đợt hè của ta, mà nổi bật là chiến dịch Đắc Tô 2 trên chiến trường Tây Nguyên và trận đọ sức quyết liệt giữa ta và địch ở thung lũng A Lưới - A Bia trên chiến trường tây Trị - Thiên là đòn phủ đầu hiệu quả nữa nhằm vào quân đội Sài Gòn và quân Mỹ trong khuôn khổ chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh.

Phối hợp với đòn tiến công quân sự, đồng bào ta ở nhiều nơi nổi dậy diệt ác, phá kìm kẹp của địch, giành quyền làm chủ. Trong đợt hoạt động xuân và hè năm 1969, ở Trung Trung Bộ ta phá được 150 ấp chiến lược, 90 khu dồn dân, giải phóng 20 vạn dân. Nhân dân các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long như Cần Thơ, Vĩnh Long, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cà Mau, nổi dậy đấu tranh chính trị chống địch cào nhà, cày ủi ruộng vườn, dồn dân lập ấp chiến lược, chống bắt lính. Lực lượng các địa phương trên đã tiêu diệt, bức hàng, bức rút hàng trăm đồn bốt địch... 6.000 đồng bào ở Ba Làng An (Quảng Ngãi) bị địch dùng vũ lực cưỡng ép vào khu tập trung, đã kiên quyết đấu tranh buộc chúng phải trả về làng cũ2. Tuy vậy, do địch tăng cường các chương trình bình định, ráo riết bắt lính đôn quân, thực hiện chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh; bên cạnh đó, đòn tiến công quân sự của lực lượng vũ trang ta chưa đủ mạnh và chưa có sự gắn bó chặt chẽ với các cuộc nổi dậy của quần chúng các địa phương, nên nhìn chung, trên toàn miền Nam trong năm 1969, phong trào đấu tranh của quần chúng còn lẻ tẻ, kết quả đạt được rất hạn chế và tại một số địa phương, ta giành được quyền làm chủ không lâu đã bị địch tái chiếm, gom dân đưa vào các ấp chiến lược, khu tập trung mới...

Để từng bước tháo gỡ khó khăn cho chiến trường, tháng 7-1969, Trung ương Cục miền Nam mở hội nghị lần thứ chín đánh giá tình hình và đề ra phương hướng, nhiệm vụ mới cho cách mạng miền Nam. Trên cơ sở nội dung chủ yếu của Nghị quyết Bộ Chính trị (tháng 4-1969), hội nghị một lần nữa khẳng định ý nghĩa thắng lợi to lớn trong hơn một năm qua trên các mặt chính trị, quân sự, ngoại giao của quân và dân miền Nam; đồng thời chỉ rõ: đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn đang ở trong tình trạng khủng hoảng về chiến lược, phải từng bước xuống thang, thực hiện Việt Nam hoá chiến tranh để rút dần quân chiến đấu Mỹ về nước.

Hội nghị nghiêm túc chỉ ra những khuyết điểm, thiếu sót về phương thức tác chiến của các lực lượng vũ trang; về thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các đòn quân sự với chính trị và ngoại giao; về công tác bảo đảm, bổ sung lực lượng và vật chất cho chiến trường... Hội nghị cho rằng, nguyên nhân chính là do trong thời gian qua, các cấp lãnh đạo chưa nhận thức được đầy đủ và chưa linh hoạt, sáng tạo vận dụng những chủ trương của Trung ương vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của địa phương; chưa thấy hết được âm mưu và thủ đoạn mới của địch. Do vậy tuy đã có những nỗ lực lớn, nhưng kết quả giành được còn rất hạn chế.

Hội nghị đề ra nhiệm vụ cho quân và dân miền Nam trong thời gián tiếp theo là “Động viên nỗ lực phi thường của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta, ra sức phát huy thắng lợi đã giành được, kiên quyết khắc phục những khuyết điểm, nhược điểm, nắm vững và sáng tạo thời cơ, tiếp tục đẩy mạnh tổng công kích, tổng khởi nghĩa với ba mũi giáp công... kết hợp với tiến công ngoại giao, khẩn trương xây dựng lực lượng quân sự và chính trị, phát triển thế tiến công chiến lược một cách toàn diện, liên tục và mạnh mẽ trên cả ba vùng chiến lược, đánh bại chiến lược “quét và giữ”, chính sách bình định và mục tiêu, biện pháp phòng ngự của địch, đánh bại âm mưu kết thúc chiến tranh trên thế mạnh và chủ trương “phi Mỹ hoá” chiến tranh của chúng, đánh cho Mỹ phải rút quân, đánh cho nguy phải suy sụp...”3. Về phương hướng hoạt động trước mắt của quân và dân miền Nam, hội nghị chỉ rõ:

- Đẩy mạnh tiến công quân sự và xây dựng lực lượng vũ trang, đó là vấn đề có ý nghĩa quyết định nhất.

- Tăng cường công tác dân vận làm cơ sở cho phong trào đấu tranh chính trị binh vận. Phát huy vai trò của chính quyền cách mạng, đẩy mạnh công tác an ninh, kinh tế, tài chính, mở rộng và xây dựng căn cứ cách mạng.

- Tăng cường xây dựng đảng vững mạnh về tư tưởng chính trị và tổ chức để bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ trong mọi tình huống.

Cũng tại hội nghị này, Trung ương Cục quyết định tổ chức lại cơ cấu và địa bàn một số chiến trường: thành lập Khu VII gồm Phân khu 4, tỉnh Biên Hoà, Bà Rịa, Long Khánh và Đặc khu Rừng Sác; các quận nội thành Sài Gòn được tách thành phân khu trước kia, nay nhập lại do đồng chí Nguyễn Văn Linh làm Bí thư Thành uỷ. Đối với chiến trường miền Tây Nam Bộ (Khu 9), Trung ương Cục điều đồng chí Võ Văn Kiệt làm Bí thư Khu uỷ, đồng chí Lê Đức Anh làm Tư lệnh.
______________________________________
1. Giôdép A.Amtơ: Lời phán quyết về Việt Nam, Sđd, tr. 254.
2. Viện nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Viện Lịch sử Đảng: Lịch sử Đảng cộng sản Việt nam, 1954-1975, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,1995, t.2, tr.440-441.
3. Trung ương Cục miền Nam: Nghị quyết Trung ương Cục lần thứ chín, tháng 7-1969.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Tư, 2010, 09:40:48 pm

Thực hiện Nghị quyết của hội nghị Trung ương Cục lần thứ chín, lực lượng vũ trang ba thứ quân và nhân dân toàn miền Nam khẩn trương bắt tay làm công tác chuẩn bị cho đợt hoạt động mùa Thu năm 1969, với tinh thần: phát huy thắng lợi của xuân và hè, đẩy mạnh hoạt động của ba thứ quân, nhất là dân quân du kích và bộ đội địa phương, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, phá kế hoạch bình định nông thôn của chúng, mở rộng vùng giải phóng và nâng cao quyền làm chủ của nhân dân.

Ngày 11-8-1969, đợt hoạt động thu của quân và dân miền Nam bắt đầu với đòn tiến công đồng loạt của lực lượng bộ binh, pháo binh, đặc công... vào 140 mục tiêu, gồm hơn 30 đô thị, 61 quận lỵ, 49 sở chỉ huy, 27 sân bay, ba hải cảng, 14 kho và nhiều vị trí chiến lượt khác của định trên chiến trường miền Nam. Đây là cao điểm 1 của đợt thu.

Tại miền Đông Nam Bộ, đêm 11-8-1969, trên hướng chủ yếu Bình Long, Sư đoàn 9 (thiếu Trung đoàn 88) và Trung đoàn 1 Sư đoàn 1 (lực lượng dự bị của Bộ Chỉ huy miền) tập kích căn cứ Trung đoàn 11 thiết giáp Mỹ trên đường 13 thuộc phía tây thị trấn Lộc Ninh (Bình Long). Tiếp đó, đêm 12-8-1969, bộ đội ta phục kích trên đường 13, tiêu diệt nhiều xe cơ giới của Trung đoàn 15 thiết giáp quân đội Sài Gòn, bắt sáu tù binh, thu nhiều vũ khí. Cùng ngày, ta diệt cụm xe cơ giới Mỹ ở Tân Khai, tổ chức lực lượng phục kích đánh nhiều trận ở tây thị xã Hớn Quản, đánh thiệt hại nặng ba đại đội cơ giới, bắt một số tù binh, thu một số xe cơ giới địch.

Đêm 11-8-1969, trên hướng Lộc Ninh, pháo binh Sư đoàn 7 tập kích trại biệt kích quân đội Sài Gòn, loại khỏi vòng chiến đấu 100 tên. Cùng thời gian trên, đặc công miền bất ngờ tập kích đánh thiệt hại nặng lực lượng địch ở chi khu Chân Thành, căn cứ Técních là hậu cứ Trung đoàn 9 quân đội Sài Gòn.

Trên hướng thứ yếu Phước Long, đặc công Sư đoàn 5 tiến công trại huấn luyện biệt kích Bù Na, sau đó chuyển sang phối hợp với lực lượng vũ trang Khu X đánh thiệt hại nặng chi khu Bù Đăng, phá ba ấp chiến lược xung quanh Bù Đăng. Ở Tây Ninh, Trung đoàn 88 Sư đoàn 9 tập kích cụm quân dù thuộc Tiểu đoàn 1 quân Sài Gòn, nhưng không dứt điểm được và quân số bị thương vong rất cao. Trong lúc đó, Trung đoàn 2 Sư đoàn 1 sử dụng lực lượng đặc công tiến công vào cụm Lôvêa, đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 8 dù quân đội Sài Gòn, buộc chúng phải bỏ Lôvêa chạy về Suối Dây. Phương thức tác chiến dùng bộ phận lực lượng nhỏ đánh địch đạt hiệu xuất cao, mà thương vong của bộ đội lại thấp của Trung đoàn 2 nhanh chóng được phổ biến rộng rãi trên khắp chiến trường miền Nam. Sự sáng tạo và thực hành hiệu quả phương thức tác chiến này có tác dụng rất lớn trong điều kiện ta gặp khó khăn về lực lượng chiến đấu và bảo đảm hậu cần.

Trên chiến trường Nam Trung Bộ (Khu VI), Bình Thuận là địa bàn được chọn làm trọng điểm tiến công trong đợt thu. Ngày 11-8-1969, trên hướng bắc của tỉnh Bình Thuận, bộ đội ta tập kích căn cứ sông Mao, tiêu hao nặng một tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 44 quân đội Sài Gòn, buộc địch phải dồn lực lượng ra đối phó với ta ở hướng Bình Thuận. Nhân thời cơ thuận lợi này, bộ đội địa phương và du kích bắc Bình Thuận,Tuy Phong và nam Ninh Thuận tổ chức phục kích diệt nhiều xe cơ giới địch trên các đường số 1 và số 20.

Ở đồng bằng sông Cửu Long, lực lượng pháo binh chuyên trách liên tục tập kích có hiệu quả vào một số mục tiêu ở thị xã Mỹ Tho và cáo thị trấn Cai Lậy, Cái Bè, An Hữu; căn cứ Bình Đức; biệt động tỉnh Mỹ Tho đánh thiệt hại căn cứ của Trung đoàn 6 thiết giáp quân đội Sài Gòn. Ở Bến Tre, với phương thức kết hợp tiến công hai chân ba mũi một cách chặt chẽ, linh hoạt, từ ngày 12 đến 16-8-1969, quân và dân các huyện Giồng Trôm, Mỏ Cày, Châu Thành đã kết hợp tiến công và nổi dậy, diệt lực lượng yểm trợ bình định, hỗ trợ tích cực cho phong trào phá số ấp chiến lược, giành quyền làm chủ ở một số nơi.

Mặc dù rất cố gắng, nhưng nhìn chung giai đoạn đầu của đợt hoạt động thu, sức tiến công của ta giảm sút nhiều. Lực lượng vũ trang của ta không đánh được những đòn gây thôi động mạnh, nên chưa hỗ trợ có hiệu quả cho phong trào đấu tranh chống phá bình định. Do vậy, ta vẫn tiếp tục bị mất đất, mất dân; lực lượng vũ trang cũng như lực lượng chính trị của ta hao hụt thêm nhiều, trong khi khả năng khôi phục chậm. Phong trào cách mạng miền Nam đứng trước những thử thách mới, rất nghiêm trọng.

Giữa lúc toàn Đảng, toàn dân toàn quân cả nước ta, mà trực tiếp là miền Nam đang phải vật lộn khắc phục mọi khó khăn, thách thức để mau chóng làm xoay chuyển tình thế của cuộc kháng chiến, thì tại Hà Nội, vào hồi 9 giờ 47 phút, ngày 2-9-1969: Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu của dân tộc ta qua đời. Đêm 3-9-1969, Đài tiếng nói Việt nam truyền đi Thông cáo đặc biệt của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, báo tin cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta và bè bạn quốc tế về sự ra đi của Hồ Chủ tịch - lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, Người sáng lập và rèn luyện đảng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Người cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam; người chiến sĩ cộng sản, người bạn thân thiết, thuỷ chung của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, nhân dân tiến bộ trên thế giới và các dân tộc đang đấu tranh cho độc lập dân tộc, dân chủ và hoà bình. Đồng bào, chiến sĩ hai miền Nam - Bắc và bè bạn quốc tế bàng hoàng, xúc động trước nỗi đau thương mất mát to lớn này.

Ở miền Nam, ngày 4-9-1969, Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hoà miền Nam Việt Nam, Hội đồng cố vấn Chính phủ, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng và Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ và hoà bình Việt Nam tổ chức hội nghị liên tịch bàn việc tổ chức lễ truy điệu và để tang Hồ Chủ tịch.

Lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh được quân và dân miền Nam tổ chức trọng thể bằng các hình thức treo cờ rủ, mang băng tang, lập bàn thờ, tổ chức lễ cầu siêu ở các chùa chiền, thánh thất. Hội nghị liên tịch gửi Ban Chấp hành Trung ương Đảng bức điện bày tỏ lòng thương tiếc vô hạn của đồng bào miền Nam đối với Bác Hồ muôn vàn kính yêu; đồng thời, bày tỏ quyết tâm của đồng bào chiến sĩ miền Nam nguyện “đoàn kết sắt son triệu người như một, biến đau thương thành sức mạnh, quyết kiên trì, đẩy mạnh cuộc kháng chiến, quyết chiến thắng, đánh cho Mỹ phải rút hết, đánh cho ngụy quyền, ngụy quân sụp đổ hết, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc”1.

Bộ chỉ huy các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng miền Nam ra quyết định ngừng bắn trong 3 ngày trên toàn chiến trường (từ 0 giờ ngày 8 đến 0 giờ ngày 11-9-1969) để đồng bào, chiến sĩ tổ chức lễ truy điệu Hồ Chủ tịch. Ngày 8-9-1969, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình Việt Nam tổ chức trọng thể lễ truy điệu chủ tịch Hồ Chí Minh và ra lời hiệu triệu, kêu gọi quân và dân miền Nam biến đau thương thành sức mạnh, quyết tâm chiến đấu, hy sinh làm tròn trách nhiệm và vinh dự to lớn trên tuyến đầu chống đế quốc Mỹ xâm lược.
______________________________________
1. Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hoà miền Nam Việt Nam: điện gửi Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam: tháng 9-1969.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Tư, 2010, 09:41:43 pm

Lợi dụng sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đẩy mạnh chiến tranh tâm lý hòng gây hoang mang, nản lòng trong nhân dân và lực lượng vũ trang Quân giải phóng miền Nam, nhất là nhân dân trong vùng giải phóng. Hàng ngày, chúng cho máy bay lên thẳng rải truyền đơn, dùng loa phóng thanh kết hợp với các phương tiện thông tin như: vô tuyến truyền hình, đài phát thanh, báo chí, mở chiến dịch tuyên truyền, kích động rầm rộ với luận điệu “Cụ Hồ Chết, Bắc Việt sẽ chia rẽ, Việt cộng cũng sẽ chia rẽ”, và “Cụ Hồ Chết, bên kia không còn có ai có đủ tài đức, uy tín để lãnh đạo”...

Những thủ đoạn chiến tranh tâm lý của địch vẫn không thể lay chuyển nổi quyết tâm đoàn kết kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta. Biến đau thương thành hành động cách mạng, trong tháng 9, toàn miền Nam cùng bước vào đợt hoạt động cao điểm 2 của kế hoạch tiến công mùa thu 1969. Mở đầu, đêm 4 rạng ngày 5-9-1969, lực lượng vũ trang và nhân dân ta từ Trị - Thiên đến đồng bằng sông Cửu Long tiến công đồng loạt vào các mục tiêu chiến lược của địch. Ở Huế, bộ binh ta tiến công vào hậu cứ Sư đoàn 1 kỵ binh cơ động đường không Mỹ. Tại Quang Nam, đặc công và biệt động phối hợp đánh thiệt hại căn cứ lực lượng đặc biệt Mỹ ở An Hoà. Đêm ngày 4 rạng ngày 5-9-1969, bộ đội đặc công tập kích một loạt các vị trí địch từ Cây Cay đến Chân Thành, đánh thiệt hại một cụm cơ giới Mỹ, hậu cứ Trung đoàn 9 quân đội Sài Gòn và chi khu Chơn Thành (Bình Long), loại khỏi vòng chiến đấu 400 tên, phá hủy 32 xe quân sự. Cũng thời gian trên, Sư đoàn 7 và Sư đoàn 9 hình thành thế bao vây, tiến công liên tục các mục tiêu địch ở xung quanh Lộc Ninh, An Lộc (Hớn Quản) và Chơn Thành.

Sau hơn một tháng đánh địch ngày 15-9-1969, quân và dân miền Nam đã chủ động kết thúc đợt hoạt động thu. Trong đợt này, ta loại khỏi vòng chiến đấu hàng chục ngàn tên địch, bắn rơi và phá huỷ hàng trăm máy bay, hàng ngàn xe quân sự, bắn chìm, bắn cháy 193 tàu xuồng, phá huỷ 284 pháo các cỡ..., thu nhiều vũ khí và đồ dùng quân sự...

Tiếp tục phát huy những kết quả và vận dụng kinh nghiệm tích luỹ được từ các đợt tiến công xuân hè và thu 1969, cuối tháng 10, lực lượng vũ trang giải phóng và nhân dân miền Nam mở đợt hoạt động đông - xuân (1969 -1970), nhằm đánh bồi vào ý chí xâm lược vốn đang lung lay của địch, tiêu diệt thêm một bộ phận sinh lực và phương tiện chiến tranh, làm rối loạn địch ở đô thị, đồng thời đẩy lùi âm mưu bình định nông thôn của chúng. Trong đợt hoạt động này, lực lượng vũ trang có nhiệm vụ đánh mạnh căng kéo địch, tiêu diệt một bộ phận sinh lực và phương tiện chiến tranh của chúng, làm suy yếu hệ thống phòng ngự của địch quanh Sài Gòn, tạo điều kiện tốt cho phong trào du kích chiến tranh, phá âm mưu bình định của địch, thúc đẩy phong trào đấu tranh chính trị đô thị lên một bước.

Đứng chân trên địa bàn miền Đông Nam Bộ lúc này có Sư đoàn 5, Sư đoàn 7 và Sư đoàn 9 chủ lực miền được tăng cường Trung đoàn 320 từ chiến trường Tây Nguyên vào với lực lượng tương đối mạnh đó, ta dự định đánh mạnh trên các hướng đông bắc và tây nam Sài Gòn, nhằm lôi kéo lực lượng địch ra vòng ngoài (Tuyên Phước, Bình Long và Tây Ninh) để tiêu diệt; đồng thời, phá lỏng hệ thống phòng ngự của Mỹ - ngụy trên tuyến vành đai bảo vệ Sài Gòn. Trên địa bàn hai tỉnh Phước Long và Bình Long, quân Mỹ lúc này có hai trung đoàn bộ binh cơ giới, ba tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 1 kỵ binh cơ động đường không, Trung đoàn 11 thiết giáp và ba đại đội thiết giáp Mỹ; quân đội Sài Gòn có một trung đoàn và một tiểu đoàn bộ binh, một tiểu đoàn biệt kích và 12 đại đội bảo an, dân vệ1. Căn cứ vào tương quan lực lượng, khả năng đôi bên, Bộ Tư lệnh miền quyết định sử dụng lực lượng Sư đoàn 7 (gồm các Trung đoàn 209, 165 và 141), một trung đoàn pháo binh của miền, Tiểu đoàn 18 đặc công, Tiểu đoàn 94 công binh... mở chiến dịch Phước Bình - Bù Đốp, nhằm tiêu diệt sinh lực địch, chặn cắt giao thông trên các đường số 13 và 14, hỗ trợ tích cực cho phong trào đấu tranh chống phá bình định của nhân dân ở khu vực Bù Đốp, Phước Bình, Bổ Túc và Lộc Ninh. Đồng chí Đàm Văn Ngụy - Sư đoàn trưởng Sư đoàn 7 - được bổ nhiệm làm Chỉ huy trưởng chiến dịch.

Ngày 3-11-1969, chiến dịch Phước Bình - Bù Đốp chính thức mở màn. Trung đoàn 209 và Trung đoàn 165 tổ chức lực lượng bao vây chi khu Bù Đốp và linh hoạt sử dụng lực lượng (khi cấp trung đoàn, lúc cấp trung đội, đại đội) liên tục tiến công, nhằm kéo địch ra khỏi công sự, đồn bốt để tiêu diệt kết hợp với đánh địch vận động dã ngoại. Được trung đoàn pháo binh của miền phối hợp yểm trợ kịp thời và hiệu quả, Tiểu đoàn 28 đặc công tập kích cụm quân địch ở núi Cậu, đánh thiệt hại nặng một đại đội Mỹ; Tiểu đoàn 6 đánh tiêu hao một bộ phận Trung đoàn 11 thiết giáp Mỹ ở Thị Tính. Trung đoàn 141 tập kích địch trên điểm cao 244, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên. Tiểu đoàn 28 công binh phục kích và tập kích diệt hàng chục xe quân sự địch trên đường 14. Địch huy động ở mức tối đa hoả lực phi pháo chi viện cho bộ binh phản kích. Chiến sự diễn ra dằng dai và rất quyết liệt. Thế nhưng, mọi cố gắng của địch vẫn không có hiệu quả.

Sau hơn một tháng chiến đấu liên tục, ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn 1.000 tên địch, bắn cháy, phá huỷ, phá hỏng nhiều máy bay, xe quân sự, thu hàng trăm súng các loại và nhiều đồ dùng quân sự của địch. Điều quan trọng là bằng cuộc chiến đấu đó, ta đã thu hút và ghìm chân phần lớn lực lượng địch trên địa bàn chiến dịch đối phó với ta. Điều đó khiến cho chúng không những không có điều kiện để thực hiện kế hoạch bình định, dồn dân lập ấp chiến lược, mà hơn thế, hệ thống ấp chiến lược của địch ở nhiều địa phương đã bị quân và dân ta phá lỏng, phá rã. Như vậy, mục đích của chiến dịch đặt ra đã cơ bản được thực hiện. Do vậy, ngày 10-12-1969, ta chủ động kết thúc chiến dịch Bình Phước - Bù Đốp. Thắng lợi của chiến dịch đã góp phần quan trọng vào việc làm lung lay thế trận phòng ngự có chiều sâu của địch, tạo chuyển biến mới trong thực hành đánh địch quy mô cấp chiến dịch của chủ lực Quân giải phóng miền Nam.
______________________________________
1. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2001, tr. 259, 261.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Tư, 2010, 09:43:00 pm

Khác với Sư đoàn 7, Sư đoàn 9 gặp rất nhiều khó khăn trong suốt quá trình giao chiến với lực lượng của Sư đoàn 1 kỵ binh không vận Mỹ. Do hạn chế về lực lượng, vũ khí và phương tiện chiến tranh; mặt khác, trong quá trình tác chiến, việc bổ sung quân số, chi viện hoả lực và đảm bảo hậu cần gặp khó khăn nên sức tiến công của sư đoàn yếu dần và do vậy, chỉ tiêu đặt ra không thực hiện được. Trong khi đó, phương thức tác chiến dùng lực lượng nhỏ, tinh gọn của đặc công, biệt động và các đơn vị binh chủng, trên thực tế lại phát huy hiệu quả tốt. Tiểu đoàn 4 đặc công Sài Gòn - Gia định bám trụ được ở vùng sâu, đánh được nhiều trận nhỏ lẻ, đạt hiệu suất chiến đấu rất cao. Điển hình như, đội đặc công Mai Danh1 bí mật lọt vào kho Hạnh Thông Tây (Gò Vấp), đặt chất nổ, phá huỷ hoàn toàn 35.000 tấn bom đạn của địch. Tiểu đoàn 2 Trung đoàn Quyết Thắng bắn rơi 15 máy bay lên thẳng trong trận thống càn ở Nhị Bình (Gò Môn). Tiêu biểu cho tinh thần khắc phục khó khăn, bền bỉ, dẻo dai, kiên cường bám trụ chiến đấu là cán bộ, chiến sĩ bộ đội đặc công rừng Sác (Đoàn 10). Trong năm 1969, Đoàn 10 phải chiến đấu trong điều kiện bị địch bao vây, lực lượng bị tiêu hao nặng (300 cán bộ, chiến sĩ hy sinh), không có nguồn tiếp tế, việc liên lạc giữa các bộ phận với nhau, cũng như với các cơ sở quần chúng hết sức khó khăn. Trong những điều kiện ấy, Đoàn 10 vẫn kiên trì bám trụ, tự tạo vũ khí, tìm ra cách đánh tàu địch, tập kích kho xăng Nhà Bè và kho bom thành Tuy Hạ, gây cho địch nhiều thiệt hại2.

Nhìn chung, mặc dù thu được một số kết quả nhất định, nhưng các cuộc tiến công của ta ở miền Đông Nam Bộ chỉ thực hiện ở những khu vực xung quanh tuyến phòng ngự vòng ngoài của địch. Hơn nữa, do tương quan lực lượng nghiêng mạnh về phía địch, nên lực lượng vũ trang ta đã không đủ sức xuyên thủng tuyến phòng ngự vòng ngoài, cũng như không hỗ trợ được cho phong trào đánh phá bình định, phong trào du kích chiến tranh ở tuyến trung gian như tính toán ban đầu. Trước tình hình đó, bước sang mùa đông 1969, Bộ Chỉ huy miền quyết định rút lực lượng chủ yếu của ta ở Đông Nam Bộ ra khu vực biên giới để củng cố, chỉ để lại một số đơn vị, trong đó có Trung đoàn 320 và hoạt động của các đơn vị để lại này theo phương châm phân tán lực lượng; cán bộ chiến sĩ được đưa xuống làm nòng cốt xây dựng phong trào du kích chiến tranh hỗ trợ cho nhân dân nổi dậy phá ấp, phá kìm ở các thôn, ấp, nhằm giành dân, giữ đất, tạo thế, tạo lực cho cách mạng.

Sự chuyển hướng của ta vào cuối năm 1969 bước đầu đưa lại một số kết quả trong phong trào đánh phá bình định. Ở Tây Ninh, địch dồn 29.000 công nhân cao su Dầu Tiếng vào 21 “làng mới”. Với khẩu hiệu “Quyết tử giữ Gò Dầu lần thứ hai”3, hơn 200 cán bộ, chiến sỹ của huyện Gò Dầu tăng cường công tác dân vận, lấy dân, hầm bí mật, bãi tử địa làm chỗ dựa để đánh địch, nên đã dần trở lại được cả ba vùng (vùng trắng, vùng ven và vùng sâu), củng cố và phát triển thế trận chiến tranh nhân dân.

Trên vùng đất thép Củ Chi, du kích mật và hoạt động của lực lượng này phát triển mạnh, nhiều tên đầu sỏ ác ôn của địch bị trừng trị, tạo hậu thuẫn cho nhân dân nổi dậy đấu tranh phá lỏng, phá rã thế kìm kẹp của địch.

Tại Bà Rịa, quân dân ta phải đương đầu với lữ đoàn Hoàng gia Ốtxtrâylia, với nhiều thủ đoạn bình định vô cùng hiểm độc. Tại đây, lữ đoàn này dựa vào hệ thống hàng rào chống du kích với các lô cốt nửa nổi nửa chìm4 để kìm kẹp dân hòng cắt đứt hoàn toàn liên lạc giữa bên trong với bên ngoài khu dân cư. Bên ngoài hàng rào, luôn có những toán lính phục kích. Đồng thời, chúng thường tổ chức những đòn đánh bất ngờ vào các đoàn cán bộ và lực lượng vũ trang di chuyển của ta, triệt phá chiến khu Minh Đạm. Trước tình hình đó, Đảng bộ Bà Rịa chỉ thị cho các địa phương và đơn vị vũ trang toàn tỉnh thực hiện phương châm “Ba bám”, (Đảng bám dân, dân bám đất, lực lượng vũ trang bám địch), kiên quyết giữ vững vùng Đất Đỏ và chiến khu Dương Minh Đạm. Lúc đầu, ta tổ chức lực lượng từ ngoài đánh vào nhưng không thành công. Rút kinh nghiệm, ta sử dụng một bộ phận trinh sát và đặc công bí mật đột nhập vào móc nối, liên lạc với các cơ sở bên trong, xây dựng lực lượng nội tuyến và phát triển du kích mật, dần dần hình thành thế trận trong đánh ra, ngoài đánh vào. Với phương thức tổ chức lực lượng và tác chiến này, hoạt động tác chiến của quân và dân Bà Rịa bắt đầu có hiệu quả. Có trận, chỉ trong một đêm, Tiểu đoàn 445 tỉnh Bà Rịa và Đại đội 25 huyện Long Đất phá được 12 lô cốt, diệt hàng chục tên địch, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân nổi dậy đấu tranh phá thế kìm kẹp, phá lô cốt, gỡ mìn, giành quyền làm chủ. Đến đầu năm 1970 lực lượng vũ trang ba thứ quân và nhân dân Bà Rịa đã cơ bản đánh bại chiến thuật “lô cốt ngầm” của quân Hoàng gia Ốtxtrâylia.

Như vậy, qua đợt hoạt động đông 1969, lực lượng vũ trang và nhân dân miền Đông Nam Bộ đã nỗ lực khắc phục khó khăn, kịp thời phát hiện và bước đầu đối phó tương đối có hiệu quả với những âm mưu và thủ đoạn mới của địch. Chủ lực miền đã đẩy mạnh hoạt động tiêu diệt và tiêu hao một bộ phận quan trọng sinh lực và phương tiện chiến tranh của chúng. Mặc dù vậy, Đông Nam Bộ cho đến cuối năm 1969 vẫn là chiến trường mà tại đó, chúng ta vẫn gặp muôn vàn gian khổ, hy sinh. Vùng giải phóng, vùng căn cứ, vùng làm chủ của ta vẫn tiếp tục bị thu hẹp.
______________________________________
1. Đồng chí Mai Dinh được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang giải phóng.
2. Đầu năm 1970, trước sự bao vây, truy kích ráo riết của địch, Đoàn 10 chỉ còn 170 cán bộ, chiến sĩ.
3. Khẩu hiệu Quyết tử giữ Gò Dầu lần thứ nhất ra đời trong thời kỳ chống chiến lược Chiến tranh đặc biệt của Mỹ - ngụy.
4. Quân Ốtxtrâylia gọi đây là chiến thuật lô cốt ngầm, với cách xây dựng nổi 1/3, mỗi lô cốt có một tiểu đội dân vệ đóng giữ và liên lạc với các lô cốt khác bằng điện thoại.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Tư, 2010, 09:44:23 pm

Ở đồng bằng sông Cửu Long, thực hiện chủ trương của Quân uỷ và Bộ chỉ huy miền, lực lượng vũ trang các tỉnh Mỹ Tho, Bến Tre, An Giang... mở các hoạt động tiến công nhằm căng kéo địch, hỗ trợ cho chiến trường trọng điểm Đông Nam Bộ.

Tại Mỹ Tho, Trung đoàn 1 chủ lực Khu VIII kiên quyết trụ bám địa bàn, chủ động tiến công địch. Ngày 11-11-1969, Trung đoàn phân chia lực lượng phục kích ở khu vực Ô Môi, kênh Long Mạnh thuộc xã Long Tiên (Cai Lậy), tiêu diệt và bắt làm tù binh hàng trăm tên địch thuộc Tiểu đoàn 20 Sư đoàn 7 quân đội Sài Gòn, thu 200 súng các loại, hỗ trợ cho lực lượng vũ trang địa phương phá rã về mặt tổ chức hầu hết các đơn vị phòng vệ dân sự địch ở 10 xã của huyện Cai Lậy.

Sau trận đánh, Khu VIII chỉ đạo Trung đoàn 1 tổ chức rút kinh nghiệm để phổ biến cho các các đơn vị học tập vận dụng. Đồng thời, Khu VIII xác định nhiệm vụ trọng tâm của lực lượng vũ trang và nhân dân trong những tháng cuối năm 1969 là đánh phá bình định; do vậy, phải khẩn trương phân loại từng xã, từng ấp để áp dụng các phương thức đánh phá phù hợp, từ phá rã, phá lỏng chuyển lên phá dứt điểm, giành quyền làm chủ. Nhờ đó, nhân dân nhiều xã thuộc các huyện Cai Lậy, Cái Bè, Châu Thành, Chợ Gạo thuộc tỉnh Mỹ Tho và tỉnh Gò Công đã đưa được lực đường về bám trụ địa bàn, hình thành các lõm căn cứ, tạo ra thế trận cài răng lược giữa vùng ta và vùng địch kiểm soát. Cuối tháng 11-1969, Đại đội 1 và Đại đội 3 Tiểu đoàn 514C chủ lực Khu VIII tổ chức phục kích loại khỏi chiến đấu bảy đại đội bảo an địch trên đường 20; Đại đội 21 Tiểu đoàn 514C tập kích diệt 17 đoàn cán bộ bình định, phá huỷ 27 xe công binh địch trên đường số 4, thuộc khu vực Chợ Bung huyện Châu Thành Bắc tỉnh Mỹ Tho.

Ngày 10-12-1969, địch sử dụng Sư đoàn 9, Sư đoàn 7 cùng bốn tiểu đoàn biệt động Sài Gòn và 20 khẩu pháo cỡ lớn, mở cuộc càn vào các xã ở phía tây đường 20 đến Mỹ Thiện thuộc huyện Cái Bè tỉnh Mỹ Tho, nhằm phá căn cứ và đánh bật lực lượng ta ra khỏi địa bàn này. Mở đầu, pháo binh địch tập kích dữ dội nhiều giờ vào một khu vực mục tiêu, sau đó, từng tiểu đoàn bộ binh địch triển khai đội hình càn quét, lùng sục, chà đi xát lại để thanh lọc địa bàn, hỗ trợ cho kế hoạch dồn dân lập ấp chiến lược. Lực lượng vũ trang Khu VIII, cùng lực lượng tại chỗ của tỉnh Mỹ Tho, huyện Cái Bè và nhân dân kiên cường bám trụ đánh địch. Tại xã Hội Cư huyện Cái Bè, đại đội bảo vệ tỉnh đội đánh thiệt hại nặng một đại đội địch; ở xã Hậu Mỹ Nam, Tiểu đoàn 216A tỉnh Mỹ Tho bám đánh, loại khỏi chiến đấu một đại đội địch... Sau 15 ngày đêm tổ chức hành quân càn quét liên tục không mạng lại kết quả, quân số thương vong lên cao, tinh thần binh sĩ dao động, địch phải thu quân, chấm dứt cuộc càn.

Tại Bến Tre, tiểu đoàn 516 và 560 liên tục đánh các đơn vị địch ở huyện Mỏ Cày, diệt gọn hai đại đội, tiêu hao một đại đội bảo an tại xã Minh Đức, thu 50 súng các loại. Bộ đội địa phương và du kích huyện Mỏ Cày diệt một trung đội địch ở ấp An Vĩnh (xã Đa Phước Hội), diệt 48 cán bộ bình định tại xã Phước Hiệp và Định Thuỷ. Cùng thời gian này, bộ đội địa phương huyện Bình Đại loại khỏi chiến đấu một đại đội bảo an; bộ đội huyện Thạnh Phú diệt 88 tên cán bộ “xây dựng nông thôn”; lực lượng biệt động thị xã Bến Tre cải trang lừa địch, lọt vào nội ô, dùng mìn hẹn giờ và lựu đạn diệt 147 tên địch. Cuối tháng 11-1969, tổ đặc công do đồng chí Lê Văn Phích2 chỉ huy, đánh sập cầu Bình Chánh (dài 100 mét) trên đường 26, làm gián đoạn giao thông của địch trong hai tháng... Với phương châm tác chiến linh hoạt, các lực lượng vũ trang tỉnh Bến Tre trong đợt hoạt động Đông 1969 đã loại khỏi chiến đấu một bộ phận quan trọng sinh lực và vũ khí trang bị của địch, góp phần từng bước khôi phục thế trận chiến tranh nhân dân trên một số khu vực địa bàn của tỉnh; đặc biệt, làm hạn chế tốc độ lấn chiếm bình định của địch xuống vùng nam huyện Mỏ Cày.

Nằm trên hành lang vận chuyển chiến lược của ta, quân dân các tỉnh An Giang, Kiến Phong, Gò Công vừa thực hiện nhiệm vụ chống phá bình định của địch, vừa phải bảo vệ vững chắc tuyến vận chuyển biên giới. Trong đợt hoạt động Đông 1969, lực lượng vũ trang địa phương tỉnh An Giang kết hợp với bộ đội chủ lực miền đẩy mạnh tiến công địch ở khu vực chữ U, đẩy mạnh phong trào chống phá bình định ở Tân Châu và An Phú, giành quyền làm chủ một số xã. Tiểu đoàn 1 chủ lực tỉnh Kiến Phong chặn đánh địch càn ở rạch Bà Lương huyện Long Hiệp, loại khỏi vòng chiến đấu 100 tên, bắn rơi một trực thăng và bắn cháy một xe bọc thép M113. Trên bờ kênh Ba, một trung đội bộ đội địa phương huyện Mỹ An tỉnh Kiến Phong, do đồng chí Tư Văn chỉ huy với 20 tay súng, bốn quả mìn định hướng, 100 quả lựu đạn, kiên cường đánh địch, bẻ gãy ba đợt tiến công của chúng, bắn rơi ba máy bay trực thăng, giữ vững đường vận chuyển của ta trên kênh Ba.

Ở Gò Công, hoạt động của ta gặp rất nhiều khó khăn. Tiểu đoàn 514A từ miền Bắc được bổ sung vào hoạt động trên địa bàn huyện Đông. Do chưa thông thuộc địa hình, lại gặp thời điểm địch tập trung đánh phá ác liệt, cán bộ, chiến sĩ bị thương vong, sức chiến đấu của đơn vị giảm sút nghiêm trọng. Tiếp đó, địch cấp tốc đẩy mạnh truy quét, tróc nã cơ sở và cán bộ cơ sở của cách mạng một cách ráo riết và khốc liệt, nên nhiều đồng chí tỉnh uỷ viên, huyện uỷ viên bị bắt và sát hại; số khác do không chịu được khó khăn, ác liệt hy sinh nên đã thoái thác nhiệm vụ, thậm chí một số đã ra đầu hàng, đầu thú. Thực trạng này gây thêm khó khăn cho ta. Vì thế, ở Gò Công, ta tiếp tục bị mất đất, mất dân.
______________________________________
1. Đại đội 2 được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam tặng tám chữ vàng “luồn sâu, đánh giỏi, chiến thắng vẻ vang” và tuyên dương đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
2. Với chiến công đánh diệt tàu địch trên kênh Chẹt Sậy, sông Hàm Luông năm 1968 và chiến công đánh sập cầu Bình Chánh, đồng chí Lê Văn Phích được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Tư, 2010, 09:45:16 pm

Trên địa bàn Khu IX, đợt hoạt động Đông 1969 diễn ra chủ yếu bằng các trận phản công chống lại các cuộc càn quét của quân đội Sài Gòn. Đó là cuộc càn ở khu vực Bà Hòn (mở đầu ngày 2-9-1969) với lực lượng 10 tiểu đoàn địch; ở Chương Thiện (mở đầu ngày 19-9-1969) với lực lượng chín tiểu đoàn, năm giang đoàn thuyền chiến đấu trên sông; ở U Minh Thượng (mở đầu ngày 26-9-1969) với lực lượng 23 tiểu đoàn. Các cuộc hành quân càn quét dài ngày này của địch nhằm đánh phá khu vực biên giới, ngăn chặn hành lang vận chuyển hàng hoá và chủ lực ta cơ động xuống vùng U Minh; đồng thời, phá bước chuẩn bị đợt hoạt động Xuân 1970 của ta.

Bằng sự kết hợp chặt chẽ giữa tác chiến của bộ đội chủ lực với phong trào du kích chiến tranh ở Vĩnh Thuận, An Biên, Thới Bình, sông Ông Đốc; đặc biệt là sự hoạt động có hiệu quả cao của 50 đội du kích, trong đó có 200 chiến sĩ trực tiếp phục kích đánh tàu địch trên sông Ông Đốc, lực lượng các địa phương trên đã loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên, đánh chìm, đánh hỏng nặng hàng chục tàu chiến trên sông, từng bước đánh bại các cuộc hành quân của địch.

Những tháng cuối năm 1969, cuộc chiến đấu của quân và dân các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long càng trở nên quyết liệt trước sức phản kích quyết liệt của kẻ thù. Với ưu thế về lực lượng, vũ khí và phương tiện cơ động, địch vẫn nắm quyền chủ động trong một số hoạt động tác chiến, tiếp tục gây cho ta những thiệt hại về mọi mặt. Trong tháng 11 và 12-1969, Sư đoàn 9 quân đội Sài Gòn lúc lên Cai Lậy, Cái Bè (Mỹ Tho), Mỹ An (Kiến Phong), lúc xuống Rạch Giá (Cà Mau), Tri Tôn (An Giang) để đối phó với hoạt động của quân và dân ta mà hầu như không gặp trở ngại nào đáng kể. Bên cạnh đó, địch tập trung nhiều giang thuyền, hải thuyền ngày đêm tuần tiễu ngăn chặn các đoàn vận tải của ta từ biên giới vào các vùng sâu trên kênh Vĩnh Tế, Vàm Cỏ Tây, sông Cái Lớn, sông Ông Đốc... Đồng thời, chúng sử dụng quân địa phương càn quét phục vụ cho chương trình bình định vùng ven các thị xã, thị trấn trọng điểm thuộc các tỉnh Bến Tre, Mỹ Tho, Trà Vinh, Cà Mau... Chương trình bình định này nhằm mở rộng diện chiếm đóng, tăng cường bộ máy kìm kẹp ở cơ sở, xây dựng mạng lưới gián điệp, đẩy mạnh chiến tranh tâm lý chiêu hồi, chiêu hàng. Hành động đánh phá điên cuồng cùng những thủ đoạn bình định thâm độc của địch khiến cho phong trào cách mạng của quân dân Khu IX tiếp tục gặp khó khăn.

Cùng thời gian trên, ở chiến trường cực Nam Trung Bộ, bộ đội đặc công Khu VI tổ chức tập kích hậu cứ Trung đoàn 44 Sư đoàn 23 quân đội Sài Gòn ở khu vực sông Luỹ (Bình Thuận). Trên hướng trọng điểm Tuyên Đức, bộ đội chủ lực phối hợp với lực lượng tại chỗ đẩy mạnh hoạt động ở khu vực Đức Trọng, đường 21, đánh thiệt hại nặng nhiều đại đội bảo an, tiêu diệt một số đồn bốt địch, hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy phá được nhiều ấp chiến lược ở dọc theo đường 20 và 21.

Hoà chung với tiến công quân sự và chống phá bình định trong đợt Đông 1969, quân và dân Tây Nguyên mở chiến dịch, đánh địch trên tuyến phòng ngự liên hoàn từ Bu Prăng đến Đức Lập (thuộc tỉnh Quảng Đức). Hệ thống phòng ngự này có độ dài hơn 80 km, chạy dọc theo đường 14, giáp biên giới Campuchia - Việt Nam, được thiết lập nhằm ngăn chặn, đánh phá chuẩn bị tiến công và đường hành lang vận tải chiến lược của ta. Lực lượng địch bố trí trên tuyến phòng ngự gồm 11 tiểu đoàn, trong đó có ba tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 4 bộ binh Mỹ, tám tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 45 và Trung đoàn 53 Sư đoàn 23 quân đội Sài Gòn. Ngoài ra, trên tuyến phòng ngự còn có ba tiểu đoàn biệt kích thường xuyên hoạt động.

Mở chiến dịch Bu Prăng - Đức Lập, Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên quyết định sử dụng Trung đoàn bộ binh 66 và Trung đoàn bộ binh 28, các tiểu đoàn đặc công 20 và 37, Tiểu đoàn bộ binh 394, Trung đoàn pháo binh 40, toàn bộ lực lượng vũ trang Khu X và tỉnh Quảng Đức. Mục đích chiến dịch nhằm chọc thủng tuyến phòng thủ Bu Prăng - Đức Lập, tiêu hao sinh lực và phương tiện chiến tranh, phối hợp với chiến trường toàn miền đánh bại một bước chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh của Mỹ.

Căn cứ Ka Te được chọn làm điểm khơi ngòi chiến dịch. Đây là căn cứ hỗn hợp bộ binh, pháo binh thuộc khu vực điểm cao 936 và chiếm giữ vị trí quan trọng trong hệ thống phòng ngự liên hoàn của địch. Tại đây, rạng sáng ngày 29-10-1969, pháo binh ta đồng loạt bắn cấp tập vào các mục tiêu như sở chỉ huy, trận địa pháo, hệ thống lô cốt, hầm trú ẩn trong cứ điểm phòng ngự của địch. Cùng lúc, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 66 nhanh chóng tiến vào thực hiện việc vây ép chặt căn cứ Ka Te.

Để cứu nguy cho Ka Te, một mặt, địch huy động hàng trăm lần chiếc máy bay ném bom và bắn rốc két dữ dội vào khu vực sát hàng rào bảo vệ căn cứ nhằm đẩy quân ta ra xa; mặt khác, chúng sử dụng máy bay trực thăng đổ quân xuống giải toả cho đồng bọn ở Ka Te. Trong lửa đạn, bộ đội ta vẫn kiên cường trụ bám, giữ vững vòng vây Ka Te, đồng thời chặn đánh quyết liệt các đơn vị bộ binh địch đến chi viện, không cho chúng thực hiện ý đồ giải toả.

Bốn giờ sáng ngày 2-11-1969, từ chiến hào vây lấn, bộ đội ta chia thành nhiều mũi, đồng loạt xung phong đánh chiếm Ka Te. Sau 15 phút chiến đấu, ta diệt gọn toàn bộ lực lượng địch trong căn cứ, kết thúc thắng lợi trận khơi ngòi chiến dịch. Sau 5 ngày đêm liên tục vây lấn, tiến công căn cứ Ka Te, lực lượng vũ trang Mặt trận Tây Nguyên đã loại khỏi vòng chiến đấu gần 200 tên địch, bắn rơi 14 máy bay, thu sáu khẩu pháo 105mm và 155mm, phá huỷ hàng chục tấn đạn.

Trên hướng chính chiến dịch, từ ngày 2 đến 6-11-1969, ta bao vây Đức Lập, kéo địch ra Đắc Song để tiêu diệt. Ngày 9-11-1969, được pháo binh chi viện kịp thời và hiệu quả, bộ binh ta dồn dập tiến công đánh chiếm hàng loạt vị trí địch suốt từ Bu Prăng đến Đức Lập. Trung đoàn 66 tiến công, vây ép phía tây Bu Prăng, điểm cao 882, 883, buộc địch phải tung Chiến đoàn 220 và hai đại đội trinh sát quân đội Sài Gòn ra giải toả. Đây là thời cơ thuận lợi để Trung đoàn 66 tiêu diệt lực lượng ứng cứu của địch. Ngày 17-11-1969, Chiến đoàn 220 bị ta đánh thiệt hại nặng, ý định giải toả cho Bu Prăng của địch không thực hiện được. Ngày 21-11-1969, địch đưa Chiến đoàn 22 lên thay thế cho Chiến đoàn 220; nhưng, ngay sau đó, chiến đoàn này bị Trung đoàn 66, Tiểu đoàn 37 và Đại đội 60 đặc công chặn đánh, tiêu hao nặng, buộc chúng phải co cụm về phòng thủ ở phía nam Bu Prăng. Trên đà thắng lợi, đặc công ta nhanh chóng đánh chiếm sở chỉ huy Chiến đoàn 22 và căn cứ Bu Prăng. Ngày 30-11-1969, ta làm chủ hoàn toàn căn cứ này.

Sau hơn một tháng chiến đấu liên tục, ngày 5-12-1969, ta kết thúc thắng lợi chiến dịch tiến công Bu Prăng - Đức Lập. Kết quả, ta loại khỏi vòng chiến đấu Chiến đoàn 220, Chiến đoàn 53 và một chiến đoàn hỗn hợp gồm bộ binh và biệt kích; đánh chiếm và phá huỷ hàng loạt đồn bốt, công sự và trận địa của địch trên tuyến phòng thủ từ Bu Prăng đến Đức Lập; bắn rơi, phá huỷ và phá hỏng 103 máy bay các loại (phần lớn là trực thăng), 87 xe quân sự (có 24 xe bọc thép), 29 khẩu pháo và súng cối, 35 nhà kho, thu nhiều quân trang, quân dụng1. Chiến dịch Bu Prăng - Đức Lập thực sự là đòn gây thôi động mạnh đối với tinh thần binh lính địch và đối với hệ thống phòng thủ của địch trên chiến trường Tây Nguyên.
______________________________________
1. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Tóm tắt các chiến dịch trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 -1975), Sđd, Hà Nội 2001, tr.256.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Tư, 2010, 09:46:06 pm

Ở Khu V, cuối năm 1969 đầu năm 1970, hầu như toàn bộ lực lượng cảnh sát, quân địa phương và cả một bộ phận quan trọng quân chủ lực địch được huy động vào nhiệm vụ bình định, nhằm mục tiêu đến cuối năm 1971 tiêu diệt 100% lực lượng chính trị và quân sự của ta ở thôn xã, dồn 100% số dân ở đồng bằng duyên hải và đất bằng miền núi vào các ấp chiến lược. Bên cạnh việc huy động lực lượng quân sự lớn vào nhiệm vụ này, địch còn áp dụng nhiều thủ đoạn tàn bạo và thâm độc để đánh phá các thôn xóm, giành giật với ta từng tấc đất, từng người dân. Bom đạn, chất độc hoá học và xe tăng, máy ủi tàn phá khốc liệt liên tục nhiều ngày đêm khiến nhiều vùng đất đai và dân cư vốn trù phú trước đó, giờ trở thành vùng trắng. Khu Gò Nổi (Quảng Nam) không còn một nóc nhà. Khu rừng đại ngàn trên núi Hòn Tàu (Quảng Đà), núi Bà (Bình Định), bắc sông La Ngà (Bình Thuận)... trở nên trơ trọi. Đối với quần chúng tích cực, cán bộ đảng viên và cơ sở cách mạng của ta, địch dùng nhiều thủ đoạn thâm hiểm, như khuyến khích bọn tề, cán bộ bình định lấy vợ, con của cán bộ ta; bí mật thủ tiêu cán bộ hoặc gia đình cách mạng rồi đổ lỗi cho ta; đồng thời, chúng sử dụng những tên đầu hàng, đầu thú chỉ điểm để phát hiện, đánh phá, bắt giam, thủ tiêu cơ sở cách mạng và cán bộ ta.

Thủ đoạn đánh phá của địch gây ra cho phong trào cách mạng ở Khu V những tổn thất, khó khăn lớn. Tuy vậy, nỗ lực của địch trên vùng đất này, trong thực tế cũng bộc lộ những điểm yếu chí mạng. Do thực hiện bình định trên diện rộng nên lực lượng địch phải dàn mỏng và điều đó khiến cho sự kìm kẹp có phần bị lỏng. Mặt khác, những khu vực sau khi bình định xong chủ yếu do bọn dân vệ và phòng vệ dân sự kiểm soát và bảo vệ, mà lực lượng này tuy đông, nhưng do tổ chức ô hợp, nên sức chiến đấu kém. Hơn nữa, cho đến lúc này, việc rút dần quân Mỹ ra khỏi cuộc chiến là không thể cưỡng nổi, nên bắt đầu xuất hiện những khoảng trống trong “lá chắn an ninh” vòng ngoài trong hệ thống phòng thủ của địch trên chiến trường Khu V, mà để lấp chỗ trống, quân chủ lực Sài Gòn buộc phải dàn mỏng lực lượng. Toàn bộ tình hình trên đây được Khu uỷ và Bộ tư lệnh Quân Khu V phân tích, đánh giá và quyết định tập trung sức mạnh tổng hợp tiến công tiêu diệt lực lượng kìm kẹp của địch ở thôn xã, hỗ trợ cho nhân dân nổi dậy phá kìm kẹp, giành quyền làm chủ, từng bước làm thay đổi cục diện chiến trường theo hướng ngày càng có lợi cho ta.

Thực hiện chủ trương đó, đêm 31-3-1970, Sư đoàn 3 đánh cứ điểm núi Lá (Bình Định), loại khỏi vòng chiến đấu Tiểu đoàn 3 và một trung đội thuộc Trung đoàn 41 Sư đoàn 22 quân đội Sài Gòn. Tiếp đó, lực lượng vũ trang địa phương Bình Định phối hợp cùng Sư đoàn 3 tiến công, tiêu diệt 15 cứ điểm, trận địa pháo, quận lỵ của địch. Ngày 6-4-1970, lực lượng vũ trang Khánh Hoà sử dụng hoả tiễn H12 bắn phá sân bay và kho nhiên liệu Nha Trang của địch, buộc sân bay này phải ngừng hoạt động hai ngày để khắc phục hậu quả. Cùng ngày, lực lượng tự vệ và biệt động thành phố Đà Nẵng liên tục đánh các căn cứ địch ở ngã tư Thanh Khê, ngã ba Huế, bốt gác chợ Cồn, bốt gác của lính Mỹ trên cầu Trịnh Minh Thế (nay là cầu Nguyễn Văn Trỗi), gây cho địch nhiều thiệt hại. Ở một số địa phương tỉnh Quang Nam, trong ba tháng đầu năm 1970, lực lượng vũ trang và nhân dân ta quét sạch 45 chốt điểm của địch.

Đối với những xã, ấp còn nằm dưới sự kìm kẹp của địch, lực lượng tự vệ mật tại chỗ của ta đẩy mạnh hoạt động tiêu hao, tiêu diệt lực lượng địch, hỗ trợ nhân dân nổi dậy phá lỏng tiến tới phá rã thế kìm kẹp của địch. Đặc biệt, ở nhiều ấp, xã, ta đã tổ chức được các đội diệt ác, làm nhiệm vụ tiêu diệt những tên ác ôn đầu sỏ, có nhiều nợ máu với nhân dân. Tại xã Phú Sơn huyện Cẩm Thạch tỉnh Phú Yên, ta diệt một tên đầu sỏ, bắt cải tạo hai tên khác, khiến 32 tên ấp trưởng, liên gia trưởng đào nhiệm, khởi đầu cho phong trào diệt ác, phá kìm và phong trào này, ngay sau đó, nhanh chóng lan rộng ra toàn tỉnh và những địa bàn lân cận. Do vậy, sáu tháng đầu năm 1970, quân và dân Phú Yên đã diệt 380 tên ác ôn, cảnh sát, tề điệp, làm rã ngũ 178 tên khác. Lực lượng vũ trang và nhân dân các vùng bị địch kìm kẹp ở các tỉnh đồng bằng ven biển và đất bằng miền núi Khu V trừng trị gần 2.000 tên ác ôn, uy hiếp tinh thần hàng nghìn tên khác. Cùng với phong trào diệt ác, phá kìm, làm lỏng thế kìm kẹp của địch, quần chúng nhân dân còn tổ chức các cuộc đấu tranh đòi tự do đi lại làm ăn, chống khủng bố và chống bắt lính... Cho đến giữa năm 1970, ở nhiều địa phương thuộc Khu V, cơ sở chính trị của ta từng bước được khôi phục, phong trào đấu tranh chống phá bình định nông thôn bắt đầu thu được kết quả và có những bước tiến vững chắc.

Cùng với đòn tiến công quân sự, phong trào đấu tranh chính trị của các tầng lớp nhân dân miền Nam đòi hoà bình, đòi quyền dân sinh dân chủ ở các đô thị, nhất là các thành phố lớn diễn ra sôi động. Ngày 25-1-1969, hơn 10.000 người dân Sài Gòn thuộc các thành phần xã hội, đảng phái, tôn giáo và các tổ chức xã hội khác nhau đã xuống đường đấu tranh đòi Mỹ chấm dứt chiến tranh, đòi quân chiến đấu Mỹ và đồng minh của Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam, đòi Thiệu - Kỳ - Hương từ chức, đòi thành lập một chính phủ hoà bình... Tiếp đó, các cuộc hội thảo và phong trào đưa yêu sách được tổ chức, thu hút hàng vạn công nhân, sinh viên, học sinh, nhân sĩ, trí thức, văn nghệ sĩ... Ở thành phố Sài Gòn, ở nhiều thành phố như Đà Nẵng, Huế, Cần Thơ và nhiều thị xã khác tham gia. Nội dung của các cuộc hội thảo, các yêu sách đều tập trung vào việc đòi chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam.

Tháng 5-1969, 11.000 công nhân cảng hàng không và đường sắt tổ chức cuộc đình công khiến cho hoạt động vận chuyển hàng hoá, đảm bảo hậu cần, vũ khí cho nhiều đơn vị quân đội Mỹ và Sài Gòn bị ảnh hưởng. Kế đó, tháng 8-1969, phong trào đấu tranh của công nhân hãng ôtô buýt Sài Gòn diễn ra quyết liệt. Đã có 1.000 đại biểu do các đại hội công nhân của 118 nghiệp đoàn ở Sài Gòn bầu ra lên tiếng ủng hộ cuộc đấu tranh. Đồng thời, công nhân các hãng dầu Esso, Caltex, Hoá mỹ phẩm Việt Nam, thuốc lá Mic, bệnh viện Grall...cũng tổ chức những cuộc đình công, bãi công để hưởng ứng. Cho đến những tháng đầu năm 1970, số lượng công nhân bãi công ủng hộ phong trào đấu tranh của công nhân hãng xe buýt Sài Gòn đã lên đến con số hơn 30.000 người thuộc 64 nhà máy, xí nghiệp. Phong trào đấu tranh rộng khắp của công nhân Sài Gòn đã làm tê liệt một phần giao thông và kế hoạch chuyên chở hàng hoá của địch, đặc biệt là đã làm cho 40 tàu quân sự và hàng trăm chuyến máy bay của quân Mỹ và quân đội Sài Gòn phải tạm ngừng hoạt động. Cũng tại Sài Gòn, tháng 2-1970, công nhân kho Thủ Đức bãi công và lập tức đã lôi cuốn hơn 7.000 công nhân hãng dầu Mỹ BRJ - RMK và công nhân bến tàu Sài Gòn bãi công hưởng ứng. Trước thực tế phong trào đấu tranh lan rộng và mức độ ngày càng quyết liệt, địch buộc phải tạm thời nhượng bộ, chấp nhận một số yêu sách của công nhân.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Tư, 2010, 09:46:43 pm

Bên cạnh phong trào đình công, bãi công của công nhân phong trào đấu tranh của tầng lớp học sinh, sinh viên miền Nam cũng diễn ra sôi nổi và quyết liệt. Tháng 7-1969, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu cưỡng bức sinh viên tham gia tập quân sự trong dịp nghỉ hè, nhằm thực hiện ý đồ bắt một số sinh viên bổ sung cho quân đội. Để chống lại chính sách quân sự hoá học đường của chính quyền Sài Gòn, hơn ba vạn sinh viên Sài Gòn đã đồng loạt xuống đường, tổ chức mít tinh biểu tình, dương cao khẩu hiệu và đưa kiến nghị phản đối một cách quyết liệt khiến cho đường phố và trường học trở nên náo động. Để đối phó với phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên, chính quyền Thiệu vừa sử dụng các thủ đoạn mua chuộc, dụ dỗ, vừa huy động lực lượng và phương tiện thẳng tay đàn áp. Cảnh sát Sài Gòn đã nã súng giết hại sinh viên Thái Văn Hiền và dùng xe quân sự cán chết sinh viên Nguyễn Mạnh Hùng. Hành động đàn áp dã man của chính quyền Thiệu càng làm cho phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên lan nhanh ra khắp miền Nam. Tại các thành phố Đà Lạt, Huế, Cần Thơ..., hàng nghìn học sinh, sinh viên tổ chức bãi khoá, hội thảo, mít tinh, gửi yêu sách phản đối chính quyền Sài Gòn vi phạm quyền tự trị đại học, phản đối chính sách quân sự hoá học đường và cưỡng bức sinh viên cầm súng tham gia quân dịch.

Nhạy bén bắt mạch tình hình diễn ra tại các đô thị, nhất là Sài Gòn, giữa năm 1969, Thành uỷ Sài Gòn - Gia Định vận động luật sư Trần Ngọc Liễng - một trí thức có cảm tình với cách mạng, đứng ra thành lập “Lực lượng quốc gia tiến bộ”. Đây là một tổ chức tập hợp những quan chức nằm trong bộ máy của chính quyền Sài Gòn chán ghét chiến tranh và không có thái độ thù địch với cách mạng, nhằm đấu tranh với Thiệu đòi chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình. Sau một thời gian hoạt động, tổ chức này đã gây được ảnh hưởng tương đối rộng rãi trên khắp miền Nam, làm cho một bộ phận cán bộ, nhân viên trong bộ máy chính quyền và quân đội Sài Gòn ngày càng chán ghét chiến tranh, phản đối chính sách của tập đoàn Nguyễn Văn Thiệu.

Phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân miền Nam phát triển, đặc biệt trong các đô thị, thực sự là môi trường tốt để ta tập hợp thêm lực lượng, tạo ra và củng cố không ngừng sức mạnh tổng hợp của chiến tranh cách mạng miền Nam.

Tháng 1-1970, tại Hà Nội, hội nghị lần thứ 18 Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã họp bàn về phương hướng lãnh đạo cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới. Hội nghị khẳng định những thắng lợi mà quân và dân ta ở miền Nam đã giành được trong hai năm 1968 và 1969, đồng thời nghiêm khắc phân tích những khuyết điểm của ta và chỉ rõ: nguyên nhân chủ yếu là: chưa nắm vững quy luật giành thắng lợi từng bước rồi tiến lên giành thắng lợi quyết định trong đấu tranh cách mạng. Mặc dù ta đã nhận định được âm mưu và thủ đoạn mới của địch, nhưng chưa tìm ra được những biện pháp đối phó một cách phù hợp. Bên cạnh đó, nhiều địa phương không quán triệt đầy đủ những phương châm, phương thức tiến hành chiến tranh cách mạng của Đảng, nên chưa giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa nhiệm vụ tiêu diệt địch với nhiệm vụ giành dân, giữa duy trì và đẩy mạnh chiến tranh du kích, đấu tranh chính trị với xây dựng lực lượng vũ trang và chính trị ở cơ sở…

Về âm mưu của Mỹ và chính quyền Sài Gòn trong năm 1970 và tiếp sau, hội nghị nhận định: địch tiếp tục chuyến hướng chiến lược, từng bước rút dần quân Mỹ và quân đồng minh ra khỏi miền Nam, ra sức thực hiện chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh để cố tạo nên một thế mạnh trong quá trình xuống thang, nhằm kéo dài cuộc chiến tranh xâm lược, tiếp tục duy trì chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam nước ta với hình thức và mức độ nào đó. Cụ thể là, chúng sẽ tiếp tục thực hiện chiến lược “quét và giữ”, lấy bình định làm biện pháp chiến lược hàng đầu, đồng thời mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, sang Lào và Campuchia, bám giữ lập trường ngoan cố trên bàn hội nghị bốn bên ở Pari để chờ đợi thắng lợi về quân sự.

Dự kiến xu hướng diễn biến cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ, hội nghị Trung ương 18 vẫn cơ bản đồng ý với nhận định của Bộ Chính trị đưa ra tại hội nghị tháng 4-1969. Theo đó chiến tranh có thể diễn ra theo hai khả năng: Một là, trong quá trình xuống thang, Mỹ càng bị tổn thất nặng và gặp khó khăn lớn, do đó chúng phải kết thúc chiến tranh sớm bằng một giải pháp chính trị mà chúng không thể không chấp nhận được. Ngay trong tình huống đó, từ khi hiệp định chấm dứt chiến tranh được ký kết đến khi Mỹ rút hết quân khỏi miền Nam cũng phải trải qua một thời gian. Trong thời gian đó, cuộc chiến đấu giữa ta và địch vẫn diễn ra hết sức phức tạp và ta phải hết sức cảnh giác. Hai là, nếu ta tiến công về mọi mặt không đủ mạnh và Mỹ có thể khắc phục một phần những khó khăn của chúng thì Mỹ còn cố gắng kéo dài cuộc chiến tranh ở miền Nam để tìm cách xuống thang trên thế mạnh nào đó, thực hiện phi Mỹ hoá chiến tranh với thế giằng co lâu dài trước khi phải chịu thua và chấp nhận giải pháp chính trị. Trong khi lượng định diễn biến của tình hình, hội nghị Trung ương đồng thời khẳng định, thực tế cuộc chiến tranh sẽ diễn ra theo khả năng nào thì còn phụ thuộc chủ yếu vào sức mạnh tiến công của ta về mọi mặt.

Hội nghị đề ra nhiệm vụ cho cách mạng miền Nam trong năm 1970 và những năm tiếp sau là: động viên sự nỗ lực cao nhất của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân trên cả hai miền, phát huy thắng lợi đã đạt được, kiên trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến, tiếp tục phát triển chiến lược tiến công một cách toàn diện, liên tục và mạnh mẽ, đẩy mạnh tiến công quân sự và tiến công chính trị, kết hợp với tiến công ngoại giao, vừa tiến công địch vừa ra sức xây dựng lực lượng quân sự và chính trị của ta ngày càng lớn mạnh; đánh bại âm mưu Việt Nam hoá chiến tranh của đế quốc Mỹ, đánh bại âm mưu xuống thang từng bước, kéo dài chiến tranh để tạo thế mạnh hòng duy trì chủ nghĩa thực dân kiểu mới của chúng ở miền Nam nước ta; làm thất bại chiến lược phòng ngự của địch, tạo ra chuyển biến mới trong cục diện chiến tranh, giành thắng lợi từng bước tiến tới giành thắng lợi quyết định. Về phương châm hành động, hội nghị nhấn mạnh đến việc kết hợp chặt chẽ, linh hoạt giữa tiến công quân sự, chính trị và ngoại giao; tiến công trên cả ba vùng chiến lược, mà nông thôn là hướng tiến công chính. Trong tiến công quân sự, cần đẩy mạnh tác chiến chính quy của bộ đội chủ lực, đồng thời phát triển chiến tranh du kích ở địa phương. Mặt khác, phải tổ chức các tuyến hậu cần đảm bảo thật vững chắc, chú trọng hậu cần tại chỗ, tiếp tục xây dựng, phát triển tuyến đường ống vận chuyển xăng dầu để đáp ứng cho nhu cầu chiến trường khi ta mở những đợt tác chiến quy mô lớn...

Bên cạnh đó, hội nghị một lần nữa khẳng định nhiệm vụ thiêng liêng của miền Bắc xã hội chủ nghĩa là sẵn sàng chiến đấu và chi viện cho các chiến trường miền Nam, Lào và Campuchia. Đặc biệt, khi cuộc đấu tranh ở tiền tuyến miền Nam càng được đẩy mạnh thì vai trò chi viện sức người và vật chất của hậu phương miền Bắc ngày càng lớn.

Nghị quyết hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 18 chỉ ra phương hướng hành động và nhiệm vụ cụ thể cho quân và dân ta trên cả hai miền Nam, Bắc. Cùng với những kết quả giành được trên mặt trận đấu tranh quân sự, chống phá bình định, đấu tranh ngoại giao trong năm 1969, đặc biệt trong nửa đầu năm 1970, phương hướng hành động mà hội nghị Trung ương 18 đề ra trên đây là nhân tố rất quan trọng đảm bảo cho quân và dân ta nỗ lực phấn đấu, vượt qua thử thách, khó khăn. đưa sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước tiếp tục tiến lên.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Tư, 2010, 10:06:18 pm

CHƯƠNG 25
TĂNG CƯỜNG SỨC MẠNH MIỀN BẮC, TÍCH CỰC CHI VIỆN CHIẾN TRƯỜNG,
ĐẨY MẠNH ĐẤU TRANH NGOẠI GIAO


Giữa những tháng năm cách mạng miền Nam đang đối mặt với những thử thách nặng nề, những khó khăn to lớn thì trên miền Bắc, quân và dân ta cũng đứng trước những nhiệm vụ trọng đại. Qua hơn bốn năm chống chiến tranh phá hoại của không quân, hải quân Mỹ, dưới bom đạn đánh phá ác liệt của kẻ thù, “nhân dân miền Bắc đã làm nên một sự nghiệp phi thường, giữ vững và tăng cường lực lượng của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về mọi mặt chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá”...1.

Đầu năm 1969, nhân dịp Tết Nguyên Đán, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư chúc Tết đồng bào, chiến sĩ cả nước, trong đó, Người chỉ rõ phương hướng chiến lược của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trong giai đoạn mới là: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Phương hướng chiến lược đó đòi hỏi miền Bắc phải tiếp tục được củng cố và tăng cường về mọi mặt, đủ sức làm tròn nhiệm vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn.

Nhiệm vụ trọng tâm trước mắt của hậu phương lớn miền Bắc là ra sức khôi phục kinh tế, ổn định và từng bước cải thiện đời sống nhân dân, tiếp tục sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội làm tròn nghĩa vụ đối với tiền tuyến lớn, tăng cường sức mạnh quân sự, sẵn sàng đánh bài mọi âm mưu và hành động mở rộng chiến tranh xâm lược của kẻ thù.


I- PHỤC HỒI VÀ XÂY DỰNG MIỀN BẮC VỮNG MẠNH SAU KHI MỸ NGỪNG NÉM BOM

Chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ cũng như nhiệm vụ đáp ứng sức người, sức của ngày càng tăng cho chiến trường đã tác động mạnh tới toàn bộ đời sống kinh tế, xã hội của hậu phương lớn miền Bắc. Mặc dù, ngay từ những ngày đầu cuộc chiến tranh phá hoại, miền Bắc đã chủ động và bình tĩnh chuyển toàn bộ hoạt động từ thời bình sang thời chiến, đảm bảo cho hậu phương lớn cùng một lúc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ sản xuất, chiến đấu và chi viện mạnh mẽ, toàn diện, liên tục cho chiến trường miền Nam, góp phần quyết định đánh bại nỗ lực cao nhất của đế quốc Mỹ trong những năm tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam, nhưng rõ ràng, trong suốt thời kỳ đó (1965-1968), hơn 10 vạn lần địch đánh phá và hơn một triệu tấn bom đạn các loại của Mỹ dội xuống đã tác động mạnh mẽ tới đời sống của nhân dân miền Bắc, gây thiệt hại về người và của, tàn phá nặng nề hầu hết những thành phố, thị xã, thị trấn miền Bắc và những công trình công nghiệp lớn, làm giảm sút năng lực sản xuất của các ngành then chốt của nền công nghiệp non trẻ miền Bắc như điện, than, ximăng, dệt, giấy... Bên cạnh đó, toàn bộ hệ thống giao thông vận tải như mạng đường sắt, đường bộ, cầu cống, nhà ga... và hàng triệu mét vuông nhà ở, kho tàng... bị phá huỷ. Hệ thống thuỷ lợi cũng bị uy hiếp và tàn phá nặng nề. Để đáp ứng yêu cầu to lớn và ngày càng tăng của cuộc chiến đấu trên cả hai miền, hàng triệu lao động mà hầu hết là lực lượng thanh niên trẻ khoẻ, có trình độ văn hoá ở mọi miền quê ở các cơ quan, trường học. Ở mọi nhà máy xí nghiệp trên khắp miền Bắc được động viên vào lực lượng vũ trang, vào thanh niên xung phong, dân công hoả tuyến hoặc tham gia san lấp hố bom, đào đắp công sự trận địa phòng không phục vụ chiến đấu. Điều đó đã làm xáo động mạnh tổ chức lao động xã hội, đặc biệt ở khu vực nông thôn.

Nhiều địa phương, sản xuất không kịp thời vụ vì thiếu sức lao động; các yêu cầu kỹ thuật canh tác không được bảo đảm khiến cho sản lượng lương thực bị sụt giảm. Năm 1968, sản lượng nông nghiệp trên toàn miền Bắc chỉ đạt 4,6 triệu tấn lương thực quy ra thóc, sụt gần một triệu tấn so với năm 1967 (5,4 triệu tấn). Chiến tranh chẳng những gây thiệt hại to lớn về người, về của, làm xáo trộn tổ chức lao động xã hội mà trên thực tế, còn tác động mạnh tới cơ chế quản lý kinh tế tài chính, làm đảo lộn phương thức và lề lối làm việc đã được xác lập - dù chưa hoàn thiện, trong những năm trước chiến tranh. Ở một chừng mực đáng kể, hết thảy những điều đó đưa đến hệ quả là sản xuất bị ngừng trệ, tổng sản phẩm thu nhập quốc dân sụt giảm, đời sống cán bộ, công nhân viên và nhân dân gặp nhiều khó khăn.

Trước tình hình như vậy, sau ngày Mỹ ngừng ném bom, Đảng và Nhà nước ta chủ trương nhanh chóng khắc phục hậu quả chiến tranh, chuyển dần các hoạt động kinh tế trở lại bình thường cho phù hợp với tình hình mới; ra sức khôi phục và phát triển một bước kinh tế, thực hành tiết kiệm, ổn định và từng bước cải thiện đời sống nhân dân, tăng thêm tiềm lực kinh tế và quốc phòng, đáp ứng đầy đủ mọi yêu cầu của cách mạng miền Nam, củng cố hậu phương vững mạnh, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu mở rộng chiến tranh của đế quốc Mỹ, bảo vệ vững chắc miền Bắc, tiếp tục đưa sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc tiến lên.

Sau những năm dài chiến tranh, để hoàn thành những nhiệm vụ nặng nề trên đây, điều mấu chốt là phải chú trọng nhân tố con người, phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và nâng cao sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng cũng như chất lượng của đội ngũ đảng viên, phải củng cố và tăng cường hiệu lực của bộ máy nhà nước, của chính quyền các cấp từ trung ương tới địa phương...

Chính vì thế, bước vào năm 1969, Ban bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị về việc bồi dưỡng và nêu gương người tốt việc tốt. Chỉ thị nêu rõ: trong những năm qua, nhiều đơn vị, cá nhân thuộc mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi trên khắp mọi miền đất nước đã có nhiều việc tốt. Đó là những biểu hiện sinh động của truyền thống tốt đẹp của dân tộc và đạo đức xã hội chủ nghĩa. Trong giai đoạn mới của cuộc kháng chiến, để phát huy gương người tốt việc tốt, chỉ thị nêu ra các nhiệm vụ trên lĩnh vực công tác này:

- Kịp thời biểu dương những người tốt, việc tốt.


- Biên soạn những tập sách mỏng Người tốt việc tốt, phát hành rộng rãi trong nhân dân;

- Tuyên truyền, cổ động và tổ chức sinh hoạt chính trị, tư tưởng trong toàn Đảng, toàn dân về những gương Người tốt việc tốt; bồi dưỡng và nhân rộng những tấm gương đó, phục vụ cho công cuộc xây dựng xã hội mới, đạo đức mới, nếp sống mới, con người mới.

Việc noi gương và cổ vũ người tốt, việc tốt “không những chỉ có ý nghĩa động viên mọi người hoàn thành các nhiệm vụ cách mạng trước mắt mà còn là một trong những biện pháp cơ bản để xây dựng đảng và các lực lượng nòng cốt của cách mạng”2.
______________________________________
1. Phạm Văn Đồng: 20 năm chiến đấu và thắng lợi, Tạp chí Học tập tháng 9-1970.
2. Dẫn theo: Những sự kiện lịch sử Đảng, Nxb. Thông tin lý luận, Hà Nội, 1982, t.4, tr. 310.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Tư, 2010, 10:07:31 pm

Để xây dựng đảng và các lực lượng nòng cốt của cách mạng, một vấn đề cơ bản mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên quan tâm và dày công rèn luyện là việc trau dồi đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Trong giai đoạn mới, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 39 ngày thành lập Đảng, dưới bút danh T.L, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Người đánh giá: “Trải qua 39 năm đấu tranh oanh liệt, làm Cách mạng Tháng Tám thành công, kháng chiến lần thứ nhất thắng lợi và ngày nay vừa chiến đấu chống Mỹ, cứu nước, vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, nhân dân ta tin tưởng rằng: Đảng ta lãnh đạo rất sáng suốt, đã đưa dân tộc ta tiến lên không ngừng từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong lịch sử đấu tranh của Đảng và trong mọi hoạt động hằng ngày, nhất là trên mặt trận chiến đấu và sản xuất, rất nhiều cán bộ, đảng viên ta tỏ ra anh dũng, gương mẫu, gian khổ đi trước, hưởng thụ đi sau và đã làm nên những thành tích rất vẻ vang.

Đảng ta đã đào tạo một thế hệ thanh niên cách mạng, gái cũng như trai, rất hăng hái, dũng cảm trong mọi công tác”1.

Song bên cạnh đó, vẫn còn có một số ít cán bộ, đảng viên còn mang nặng chủ nghĩa cá nhân, ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hoá, lãng phí, xa hoa, dẫn đến phạm sai lầm có hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân.

Để tăng cường sự lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, làm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên xứng đáng là những chiến sĩ cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Đảng ta phải ra sức tăng cường giáo dục toàn Đảng về lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, về đường lối, chính sách của Đảng, về nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên. Phải thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh trong Đảng. Phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên. Chế độ sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc. Kỷ luật của Đảng phải nghiêm minh. Công tác kiểm tra của Đảng phải chặt chẽ”2. Với mỗi cán bộ, đảng viên Người dạy: “Phải đặt lợi ích của cách mạng của Đảng của nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức Cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật. Phải đi sâu đi sát thực tế, gần gũi quần chúng, thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân. Phải cố gắng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ hiểu biết để làm tốt mọi nhiệm vụ”3.

Đây là một trong những bài viết quan trọng cuối cùng của người đứng đầu Đảng, Nhà nước ta. Những nội dung nêu ra trong bài viết đó thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Người tới các vấn đề thuộc về đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên - nhân tố có ý nghĩa quyết định tới sức mạnh của Đảng, sức mạnh của sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc. Chính vì thế, sau khi được công bố trên Báo Nhân dân số ra ngày 3-2-1969, bài viết trở thành tài liệu học tập quý báu của các tổ chức đảng và toàn thể cán bộ đảng viên.

Ngày 2-9-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời tại Thủ đô Hà Nội, để lại cho nhân dân ta bản Di chúc lịch sử mà ở đó, một loạt vấn đề trọng đại liên quan tới cuộc kháng chiến chống Mỹ. cứu nước, tới công cuộc xây dựng đất nước sau chiến tranh, sự nghiệp xây dựng đảng, bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau, sự nghiệp đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản trong sáng... được Người đề cập. Toát lên từ những lời dặn dò trong Di chúc là niềm tin mãnh liệt của Người vào thắng lợi hoàn toàn của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; là mong muốn cháy bỏng: “Toàn đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”4.
______________________________________
1. Dẫn theo: Những sự kiện lịch sử Đảng, Nxb. Thông tin lý luận, Hà Nội, 1982, t.4, tr. 310.
2, 3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia. Hà Nội, 2000, t. 12, tr. 438, 439.
4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr. 512.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Tư, 2010, 10:08:33 pm

Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra chỉ thị mở đợt sinh hoạt chính trị học tập và làm theo Di chúc của Người. Tiếp đó, các cuộc vận động chính trị lớn được phát động rộng rãi trong mọi tầng lớp nhân dân miền Bắc nhằm động viên mạnh mẽ sức mạnh của hậu phương vào công cuộc phục hồi và phát triển sản xuất. Tháng 3-1970, Bộ Chính trị ra nghị quyết mở cuộc vận động nâng cao chất lượng đảng viên và kết nạp đảng viên lớp Hồ Chí Minh với ba nội dung chủ yếu: giáo dục, bồi dưỡng đảng viên nhằm nâng cao chất lượng đảng viên; kết nạp đảng viên lớp Hồ Chí Minh; đưa những người không đủ tư cách đảng viên ra khỏi Đảng1. Trong thời gian này, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 40 ngày thành lập Đảng (3-2-1930 - 3-2-1970), theo quyết định của Bộ Chính trị, đồng chí Lê Duẩn - Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã viết tác phẩm Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới. Đây là tác phẩm lý luận tổng kết những kinh nghiệm lớn của Đảng trong 40 năm lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, cách mạng xã hội chủ nghĩa và công tác xây dựng đảng.

Trước đòi hỏi của tình hình và nhiệm vụ mới, một yêu cầu đặt ra cho công tác xây dựng đảng là phải nhanh chóng nâng cao hơn nữa trình độ giác ngộ xã hội chủ nghĩa, tinh thần cách mạng tiến công, những hiểu biết mới về chính trị, quân sự kinh tế, khoa học - kỹ thuật, năng lực quản lý kinh tế, quản lý nhà nước cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Trên tinh thần đó, ngày 29-12-1970, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Nghị quyết về công tác chính trị và tư tưởng, trong đó nhấn mạnh: “Cần khẩn trương giáo dục, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên một cách toàn diện về chính trị, văn hoá, kinh tế, kỹ thuật, nâng cao chất lượng cán bộ, đảng viên để đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn mới”2.

Đồng thời với những nỗ lực tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao chất lượng toàn diện của các tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên, thời kỳ này, Đảng, Nhà nước tiếp tục củng cố, tăng cường hiệu lực điều hành quản lý của bộ máy nhà nước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh - quốc phòng và đối ngoại. Trong những năm chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, dưới sự lãnh đạo của Đảng, miền Bắc đã kịp thời chuyển hướng về tổ chức và phương thức làm việc của chính quyền các ngành, các cấp từ trung ương tới địa phương cho phù hợp với thời chiến, kịp thời giải quyết những vấn đề quan trọng và cấp bách của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ trên cả hai miền Nam, Bắc. Căn cứ vào tình hình cụ thể lúc bấy giờ, Nghị quyết của Quốc hội ngày 2-5-1968 quyết định kéo dài nhiệm kỳ của Quốc hội khoá III và giao cho Uỷ ban Thường vụ Quốc hội tổ chức bầu cử Quốc hội khoá IV khi tình hình cho phép.

Từ tháng 4-1971, miền Bắc tiếp tục tiến hành bầu cử Quốc hội đúng kỳ hạn và thường xuyên. Ngày 11-4-1971, cử tri trên toàn miền Bắc đã tiến hành bỏ phiếu bầu Quốc hội khoá IV. Trong số 420 đại biểu trúng cử, có 91 đại biểu công nhân, 90 đại biểu nông dân tập thể, 125 đại biểu phụ nữ, 87 đại biểu trí thức xã hội chủ nghĩa, 27 đại biểu quân đội, 72 đại biểu dân tộc ít người, 55 đại biểu là cán bộ miền Nam tập kết... Từ ngày 6 đến ngày 10- 6-1971, Quốc hội khoá IV họp kỳ thứ nhất. Quốc hội đã bầu Chủ tịch nước - Tôn Đức Thắng, Phó chủ tịch nước - Nguyễn Lương Bằng, Chủ tịch Quốc hội - Trường Chinh, Thủ tướng Chính phủ - Phạm Văn Đồng. Tại kỳ họp này, Quốc hội cũng đã bầu Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và thông qua danh sách Hội đồng Chính phủ Hội đồng Quốc phòng. Đây là khoá Quốc hội của những tháng năm đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ hai của giặc Mỹ, khôi phục kinh tế, tiến lên hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam. Nhìn chung, cũng như những năm chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của máy bay, tàu chiến Mỹ, thời kỳ này, Quốc hội vẫn hoạt động liên tục; mối quan hệ thường xuyên giữa cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, đại diện cao nhất của nhân dân với Hội đồng Chính phủ vẫn được giữ vững và ngày càng được củng cố, tăng cường.

Xuất phát từ yêu cầu phục hồi và phát triển kinh tế sau chiến tranh, một số bộ, ngành được tổ chức lại cho phù hợp. Đầu tháng 12-1969, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn việc chia Bộ Công nghiệp nặng thành Bộ điện và than, Bộ Cơ khí và luyện kim, Tổng cục Hoá chất; thành lập Bộ Lương thực và thực phẩm, Bộ Vật tư, Uỷ ban Thanh tra Chính phủ. Tiếp đó. ngày 1-4-1971, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn việc thành lập Uỷ ban Nông nghiệp Trung ương trên cơ sở hợp nhất Bộ Nông nghiệp, Bộ Lâm nghiệp, Bộ Nông trường và Ban Quản lý hợp tác xã sản xuất nông nghiệp.

Tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương các cấp cũng được củng cố một bước. Ngày 27-4-1969, toàn miền Bắc tiến hành bầu cử hội đồng nhân dân huyện, xã và các cấp tương đương. 99,08% tổng số cử tri đã bầu chọn ra 16 vạn đại biểu của 298 hội đồng nhân dân khu phố, huyện, thị xã và 5851 hội đồng nhân dân xã, thị trấn. Ngày 25-4-1971, toàn miền Bắc bầu cử hội đồng nhân dân cấp tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương. Hoạt động của hội đồng nhân dân các cấp ngày càng đi vào nền nếp. Chính quyền địa phương các cấp luôn phát huy vai trò của mình trong việc tổ chức quần chúng nhân dân phục hồi và phát triển kinh tế, phát triển văn hoá, giữ vững an ninh chính trị, trật tự và an toàn xã hội cũng như trong việc ổn định mọi mặt đời sống hậu phương, đảm bảo mọi yêu cầu về sức người, sức của chi viện cho chiến trường.

Để bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa và tài sản riêng của công dân, ngày 21-10-1970, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa và Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân. Những quy phạm pháp luật này là cơ sở pháp lý góp phần quan trọng và kịp thời vào việc giữ vững kỷ cương của Nhà nước trên lĩnh vực quản lý kinh tế, quản lý xã hội, chống lại mọi hành động xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa và tài sản riêng của công dân.
______________________________________
1. Tiếp theo cuộc vận động này, Ban Bí thư Trung ương ra Chỉ thị về việc đưa những người không đủ tư cách đảng viên ra khỏi Đảng (ngày 26-10-1970) và Thông tri về việc tổ chức báo công, lập công trong nhân dân, tự phê bình, phê bình trong các tổ chức đảng, nhà nước (2-12-1971).
2. Dẫn theo: Những sự kiện lịch sử Đảng, Sđd, t.4, tr.346.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Tư, 2010, 10:09:29 pm

Nhìn chung, những năm sau chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của không quân, hải quân Mỹ, thông qua các cuộc vận động và các đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, vai trò lãnh đạo của Đảng và chất lượng của đội ngũ cán bộ, đảng viên được tăng cường một bước; hiệu lực của chính quyền các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương được củng cố vững chắc. Đó là những nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với nhiệm vụ khôi phục và phát triển kinh tế, phát triển văn hoá giáo dục thời kỳ này.

Trên mặt trận sản xuất nông nghiệp, để từng bước tạo nên sự cân đối giữa công nghiệp với nông nghiệp cũng như để đáp ứng yêu cầu phát triển chung của nền kinh tế, Đảng và Nhà nước chủ trương, ngoài sản xuất lương thực là trọng tâm, phải chú ý đến chăn nuôi gia súc và trồng cây công nghiệp; đẩy mạnh sản xuất bằng việc đưa vào áp dụng những tiến bộ mới về khoa học kỹ thuật bằng biện pháp thâm canh tăng năng suất, tăng vụ và tăng diện tích gieo trồng. Khẩu hiệu hành động giờ đây của nền nông nghiệp hợp tác hoá miền Bắc là phấn đấu đạt ba mục tiêu: mỗi hécta gieo trồng hai vụ lúa đạt năm tấn thóc, bình quân mỗi héc ta gieo trồng nuôi hai con lợn, mỗi lao động đảm nhận một héc ta gieo trồng. “Đây là một bước phấn đấu hết sức quan trọng nhằm tạo nên một thế mới trong sản xuất nông nghiệp, một chất lượng mới về phân công lao động nông nghiệp và lao động xã hội nói chung, để dẩy mạnh hơn nữa việc phát triển công nghiệp và các ngành nghề khác. Ba mục tiêu đó là nội dung cụ thể của chủ trương lớn lấy “nông nghiệp làm cơ sở để phát triển công nghiệp” trong giai đoạn hiện nay”1.

Việc thực hiện ba mục tiêu chủ yếu trên đây trong nông nghiệp đặt trong điều kiện và khả năng thực tế khi miền Bắc vừa trải qua cuộc chiến tranh phá hoại tàn khốc, lao động trên ruộng đồng chủ yếu dồn xuống đôi vai người phụ nữ... là cả một nỗ lực to lớn, có liên quan tới những vấn đề kinh tế cơ bản khác như sự hỗ trợ của công nghiệp, việc áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật, việc tổ chức lao động, trước hết là củng cố quan hệ sản xuất mới ở nông thôn. Nhận thức rõ những yêu cầu bức thiết đối với sự nghiệp phát triển nền nông nghiệp, đảm bảo cho nền nông nghiệp hợp tác hoá có điều kiện trở thành cơ sở để phát triển công nghiệp, tiếp theo bản Điều lệ hợp tác xã bậc thấp ban hành năm 1959, ngày 28-4-1969, Nhà nước đã ban hành bản Điều lệ tóm tắt hợp tác xã sản xuất nông nghiệp (bậc cao). Bản điều lệ lần này quy định rõ tính chất và nhiệm vụ của hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, đề ra những nguyên tắc cơ bản bảo đảm quyền làm chủ tập thể của xã viên, những cơ sở cho việc cải tiến và nâng cao công tác quản lý kinh tế ở các hợp tác xã. Quan tâm sâu sắc tới vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân, những tháng cuối đời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giành thời gian đọc, sửa chữa và viết lời giới thiệu bản Điều lệ tóm tắt. Người dạn: “Phải thực hiện tốt Điều lệ để hợp tác xã càng thêm vững mạnh, nông thôn ngày càng đoàn kết, sản xuất càng phát triển và nông dân ta càng thêm no ấm và tiến bộ.

Vì vậy xã viên và cán bộ phải bàn bạc dân chủ để hiểu cho rõ và làm cho đúng. Đảng viên và đoàn viên phải gương mẫu trong mọi việc.

Làm được như thế là các hợp tác xã góp phần xứng đáng để giành thắng lợi trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội”2.

Việc ban hành Điều lệ hợp tác xã nông nghiệp (bậc cao) được Đảng, Nhà nước coi là công tác trung tâm ở nông thôn và là một nội dung quan trọng trong kế hoạch giải quyết vấn đề nông nghiệp những năm sau chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của giặc Mỹ.

Tiếp đó, ngày 15-3-1970, Bộ Chính trị ra Nghị quyết về việc cuộc vận động phát huy dân chủ, tăng cường chế độ làm chủ tập thể của quần chúng xã viên ở nông thôn, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp phát triển toàn diện, mạnh mẽ, vững chắc, gọi tắt là cuộc vận động tăng cường chế độ làm chủ tập thể của quần chúng xã viên ở nông thôn. Cuộc vận động này tập trung vào các nội dung chủ yếu: phát huy dân chủ, tăng cường chế độ làm chủ tập thể của quần chúng ở nông thôn, trước hết là trong các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp; bảo đảm quyền làm chủ tập thể của xã viên trên các mặt sản xuất, phân phối, bầu cử, ứng cử; tăng cường đoàn kết trong Đảng, trong hợp tác xã, trong nội bộ nhân dân; đẩy mạnh ba cuộc cách mạng ở nông thôn, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển, trước mắt nhằm đạt ba mục tiêu phấn đấu trong nông nghiệp.
______________________________________
1. Lê Duẩn: Nắm vững đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa, tiến lên xây dựng kinh tế địa phương vững mạnh, Nxb. Sự thật, Hà Nội,1968. tr.15-16.
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12. tr.454.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Tư, 2010, 10:10:41 pm

Đầu năm 1971, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp hội nghị lần thứ 19 quyết định những nhiệm vụ về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tăng cường lực lượng của chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đặc biệt là vấn đề phát triển nông nghiệp. Khẳng định những thành tựu và sự đóng góp to lớn của hậu phương miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, hội nghị đồng thời nghiêm khắc chỉ rõ: qua nhiều năm chiến tranh, nền kinh tế miền Bắc gặp nhiều khó khăn, mất cân đối; sản phẩm xã hội và thu thập quốc dân giảm sút; năng lực tiềm tàng về lao động, thiết bị, vật tư chưa được sử dụng tốt và bị lãng phí; thị trường và giá cả chưa thật ổn định... Riêng đối với nông nghiệp, hội nghị nhận định: “Sản xuất nông nghiệp phát triển chậm, chưa bảo đảm được những nhu cầu của đời sống nhân dân, nguyên liệu cho công nghiệp và nông sản để xuất khẩu là do trình độ sản xuất nông nghiệp của ta, về căn bản, còn mang tính tự cấp, tự túc, sản xuất nhỏ theo lối thủ công, năng suất lao động thấp và khối lượng sản phẩm hàng hoá còn ít”1.

Hội nghị chỉ ra phương hướng và mục tiêu quan trọng của công tác kinh tế của hậu phương miền Bắc trong thời gian trước mắt là, nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng (cách mạng về quan hệ sản xuất cách mạng kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hoá), trong đó cách mạng kỹ thuật là then chốt. Đường lối xây dựng kinh tế của miền Bắc lúc này được hội nghị xác định: ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ; xây dựng kinh tế trung ương đồng thời phát triển kinh tế địa phương; kết hợp kinh tế với quốc phòng.

Hội nghị đề ra những nhiệm vụ kinh tế cụ thể trong ba năm từ 1971 đến 1973 và nhấn mạnh: nhiệm vụ trung tâm của nền kinh tế miền Bắc là phát triển sản xuất nông nghiệp. Mục tiêu tổng quát của sản xuất nông nghiệp trong ba năm (1971-1973) là phấn đấu giải quyết về cơ bản nhu cầu lương thực; phát triển mạnh chăn nuôi, đưa chăn nuôi lên thành ngành chính; xây dựng một số vùng kinh tế mới, phát triển nghề rừng, mở rộng diện tích trồng cây công nghiệp; tăng nhanh mức nông sản xuất khẩu.

Hội nghị chỉ rõ phương hướng chính để đạt các mục tiêu tổng quát trên đây của sản xuất nông nghiệp và nhấn mạnh yêu cầu cấp bách của việc chấn chỉnh công tác quản lý hợp tác xã, củng cố các hợp tác xã còn yếu kém, làm tốt công tác vận động định canh, định cư đưa nền kinh tế miền núi tiến lên một bước mới.

Phương hướng và những giải pháp trên đây của Đảng, Nhà nước đối với sự nghiệp khôi phục và phát triển kinh tế miền Bắc nói chung, với mặt trận sản xuất nông nghiệp nói riêng là cơ sở quan trọng để toàn Đảng, toàn dân ta thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế - xã hội chủ yếu đặt ra cho hậu phương miền Bắc những năm sau chiến tranh phá hoại lần thứ nhất.

Trên mặt trận sản xuất nông nghiệp, vừa triển khai các cuộc vận động lớn do trung ương phát động, giai cấp nông dân tập thể miền Bắc vừa gấp rút ổn định tình hình mọi mặt, giành một số lượng ngày công thích đáng cho việc san lấp hố bom, cải tạo đồng ruộng, vỡ hoá khai hoang mở rộng diện tích canh tác, khôi phục các công trình thuỷ lợi bị bom đạn Mỹ tàn phá và xây dựng mới nhiều công trình thuỷ lợi khác phục vụ cho nông nghiệp. Một lần nữa, trên các mặt công tác này, sức mạnh tập thể của giai cấp nông dân miền Bắc đã chứng tỏ trong những năm đạn bom lại được phát huy mạnh mẽ. Những vết thương chiến tranh trên khắp ruộng đồng, trong mọi làng xóm dần lành trở lại. Bên cạnh những công trình thuỷ lợi bị bom đạn Mỹ tàn phá được khôi phục, cho đến năm 1972, đã có hơn 1000 công trình thuỷ nông lớn (hồ chứa nước, đê, đập, trạm bơm, mương máng dẫn nước tưới tiêu…) được xây dựng mới đã hoàn thành và đưa vào sử dụng, trong đó, số công trình được xây dựng từ 1969 đến 1972 tăng gấp hai lần so với những năm 1965 đến 1968 và ba lần so với những năm 1961 đến 1964. Cùng với phong trào làm thuỷ lợi, nhiều tiến bộ khoa học, kỹ thuật mới tiếp tục được áp dụng trên ruộng đồng miền Bắc đã góp phần quan trọng vào việc tăng năng suất cây trồng, vật nuôi...

Về phần mình, nhà nước đã ban hành và thực hiện một số chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp như chính sách về ổn định nghĩa vụ lương thực, thực phẩm và phân phối lương thực trong khu vực hợp tác xã, chính sách về chăn nuôi, chính sách về thu mua sản phẩm cây công nghiệp, chính sách về cung cấp tư liệu sản xuất cho nông nghiệp, chính sách về giá cả, chính sách về việc nhà nước cho nông dân vay vốn để phát triển sản xuất nông nghiệp... Bên cạnh đó, nhà nước khuyến khích các ngành công nghiệp tăng cường hỗ trợ cho nông nghiệp, trước hết là ngành điện, cơ khí, phân bón. So với năm 1965 - năm đầu của chiến tranh phá hoại, thì đến năm 1971, tổng sản lượng điện phân phối cho nông nghiệp tăng 2,42 lần, máy kéo tăng 5,49 lần, phân bón hoá học tăng 61%2. Với sự hỗ trợ của công nghiệp, các điểm cơ khí nhỏ ở nông thôn thời kỳ này tiếp tục hình thành3. Nếu lấy chỉ số phát triển năm 1960 là 1 thì số trạm, đội máy kéo độc lập trên ruộng đồng miền Bắc đến năm 1965 là 3,3 và năm 1971 là 4,9; diện tích gieo trồng được cày bừa bằng máy tăng từ 14,5% năm 1965 lên tới 36,8% năm 1971. Các điểm cơ khí nhỏ chẳng những góp phần tăng năng suất, thúc đẩy sự phân công lao động mà còn có tác dụng củng cố quan hệ sản xuất mới ở nông thôn.

Sự nỗ lực của giai cấp nông dân tập thể cùng sự hỗ trợ đắc lực của các ngành, các cấp đã là những động lực thúc đẩy nền sản xuất nông nghiệp hợp tác xã miền Bắc có những bước phát triển cả về diện tích, năng suất, cơ cấu cây trồng, vật nuôi... Năm 1970, diện tích đất canh tác trên toàn miền Bắc đạt tới con số 3.028.100 ha (trong đó 2.723.700 ha trồng cây lương thực), tăng hơn sáu vạn héc ta so với năm 1969 và gần bằng tổng diện tích đạt canh tác năm 1965. Năng suất lúa cũng từng bước tăng lên. Đến năm 1970 năng suất lúa cả năm trên một hécta ruộng hai vụ đạt 43,11 tạ, so với 31,9 tạ năm 1965. Thái Bình, Hà Nội là hai tỉnh thành có năng suất đạt bình quân trên 5 tấn thóc/hécta. Trên toàn miền Bắc, đến năm 1970, có 30 huyện (so với bảy huyện năm 1965) và 12.265 hợp tác xã chiếm 13,3% tổng số hợp tác xã (so với 4,8% năm 1965) đạt 5 tấn thóc/hécta. Nhờ đó, sản lượng lương thực năm 1970 đạt 5.278.900 tấn, tăng hơn nửa triệu tấn so với năm 1969 và đạt xấp xỉ năm 1965. Đàn lợn thịt năm 1971 tăng hơn năm 1965 tới 70 vạn con. Như thế, về cơ cấu giá trị tổng sản lượng nông nghiệp, đến năm 1971 đạt xấp xỉ năm 1965, trong đó, trồng trọt chiếm 78,8% (năm 1965 là 77,1% và năm 1960 là 81,l%); chăn nuôi chiếm 21,2% (năm 1965 là 22,9% và năm 1960 là 18,9%)4. Bên cạnh đó, trong những năm này tổng giá trị sản lượng cây công nghiệp cũng đạt mức cao. Năm 1971, con số đó tăng gấp 1,8 lần so với năm 1965...

Nhìn chung, ba năm khôi phục kinh tế, diện tích và năng suất cây trồng, vật nuôi tăng, chứng tỏ sự vững vàng của nền nông nghiệp hợp tác xã và hiệu quả chỉ đạo của các cấp các ngành các địa phương trên mặt trận sản xuất nông nghiệp. Những kết quả mà nền sản xuất nông nghiệp hợp tác xã đạt được không tách rời sự hỗ trợ tích cực của các ngành công nghiệp non trẻ.
______________________________________
1. Nghị quyết hội nghị lần thứ 19 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá III), ngày 1-3-1971.
2. Tổng cục thống kê: Niên giám thông kê tóm tắt năm 1973, Hà Nội, 1973, tr.63.
3. Năm 1960, toàn miền Bắc mới có 1.000 điểm cơ khí nhỏ. Con số đó lên đến 6.500 điểm vào năm 1968 và đạt tới 8.730 vào cuối năm 1969, dẫn theo Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 2, tháng 3 và 4-1978, tr.8.
4. Tổng cục thống kê: Việt Nam - con số và sự kiện 1945 -1975, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1990, tr. 109.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Tư, 2010, 10:15:31 pm

Trong những năm chiến tranh, nền công nghiệp miền Bắc bị phá hoại khá nặng. Dù vậy, nhờ chủ động và tích cực sơ tán, phân tán, phòng tránh cũng như với nỗ lực to lớn của giai cấp công nhân, các ngành công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp địa phương, vẫn được duy trì và đẩy mạnh.

Sau khi Mỹ ngừng ném bom, bắn phá miền Bắc, Đảng, Nhà nước chủ trương nhanh chóng phục hồi và phát triển các cơ sở sản xuất, chỉnh đốn và tích cực khôi phục các xí nghiệp do trung ương quản lý, sắp xếp một cách hợp lý các xí nghiệp đã sơ tán, phân tán, ra sức đẩy mạnh sản xuất, nâng cao sản lượng và chất lượng sản phẩm. Trước mắt, các ngành công nghiệp nỗ lực phấn đấu tăng nhanh sản lượng khai thác than, sản lượng điện, cơ khí, khai thác và chế biến gỗ, xi măng; sử dụng có hiệu quả lực lượng cơ khí phục vụ nông nghiệp và giao thông vận tải cũng như đòi hỏi của công nghiệp địa phương; giải quyết tốt việc chế biến lương thực, thực phẩm, tăng thêm hàng tiêu dùng nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và đời sống của nhân dân. Trong khi chú trọng việc khôi phục sản xuất, xây dựng thêm một số xí nghiệp mới, Đảng, Nhà nước đồng thời chỉ rõ cần tiếp tục cải tiến và tăng cường quản lý xí nghiệp nhằm ổn định sản xuất và khắcphục tình trạng buông lỏng quản lý trong những năm chiến tranh phá hoại. Ba xí nghiệp lớn là Cơ khí Trần Hưng Đạo, Dệt 8/3 và Rượu Hà Nội được trung ương chỉ đạo thí điểm về cải tiến quản lý trong thời kỳ này.

Theo phương hướng trên, trong năm 1969, các xí nghiệp, công trường, hầm mỏ đã có những cố gắng trong công tác cải tiến quản lý kinh tế, các ngành công nghiệp vừa đẩy mạnh sản xuất, vừa sắp xếp lại cơ sở thuộc ngành mình. Ở tầm vĩ mô, nhà nước quyết định chia Bộ Công nghiệp nặng thành các bộ: Điện và than, Cơ khí và luyện kim, Tổng cục Hoá chất; thành lập Bộ Vật tư...

Những năm 1970, 1971, tiến độ khôi phục và phát triển sản xuất công nghiệp tiếp tục được chú trọng đẩy nhanh. Trong hai năm này, nhà nước tăng đầu tư cho các ngành công nghiệp trên 40% ngân sách. Cũng như những năm chiến tranh, thời kỳ này, công nghiệp địa phương vẫn tiếp tục được ưu tiên phát triển. Nếu năm 1965, nhà nước đầu tư cho công nghiệp địa phương 403 triệu đồng (so với năm 1960 là 8,1 triệu đồng) thì năm 1970, con số đó tăng lên 106 triệu đồng. Sự đầu tư của nhà nước cùng sự nỗ lực của đội ngũ cán bộ, công nhân trong các ngành công nghiệp đã đưa lại những kết quả tương đối khả quan trên lĩnh vực sản xuất công nghiệp.

Một số xí nghiệp công nghiệp mới được xây dựng. Nếu năm 1965, số xí nghiệp công nghiệp quốc doanh, công ty hợp doanh trên miền Bắc là 1.132 thì đến năm 1971, con số đó lên tới 1.339 (trong đó, do trung ương quản lý là 289 và do địa phương quản lý là 1.050).

Trong khi đó, số hợp tác xã tiểu, thủ công nghiệp cũng tăng lên. Năm 1965, toàn miền Bắc có 2.529 hợp tác xã tiểu, thủ công nghiệp (không kể hợp tác xã đánh cá, làm muối, khai thác gỗ). Năm 1971, con số đó đạt tới 2.647 (trong đó bậc cao là 1.289 và bậc thấp 1.358)1.

Chỉ qua ba năm từ 1968 đến 1970, nhiều ngành sản xuất công nghiệp đã đạt hoặc vượt mức trước chiến tranh phá hoại. So với năm 1965, đến năm 1971, tổng sản lượng điện tăng 20%; máy điêden tăng 19%, động cơ điện các loại tăng 49%, phân bón hoá học tăng 61%...2. Mặc dù bị lụt lội năm 1971 gây nhiều thiệt hại cho nền kinh tế quốc dân nói chung, bao gồm cả sản xuất công nghiệp nhưng trong năm này, giá trị tổng sản lượng công nghiệp và thủ công nghiệp vẫn đạt được mức chỉ tiêu kế hoạch đề ra và tăng 14% so với năm 1970. So với năm 1970 thì năm 1971, điện tăng 34% (810kw/h), than tăng 22% (3,26 triệu tấn), ximăng tăng 38%, súppe lân tăng 21%, vải tăng 17%, giấy tăng 22%...

Báo cáo trước quốc hội khoá IV kỳ họp thứ hai (3-1972), Thủ tướng Phạm Văn Đồng khẳng định: “Năm 1971, chúng ta đã hoàn thành thắng lợi kế hoạch nhà nước trong công nghiệp, năng lực sản xuất của nhiều ngành đã được khôi phục và tăng lên đáng kể, thúc đẩy đà phát triển nhanh hơn hẳn mấy năm gần đây, nhất là ngành than, điện, cơ khí, vật liệu xây dựng. Giá trị tổng sản lượng năm 1971 vượt mức sản xuất thời kỳ trước chiến tranh”3.

Cùng với nông nghiệp, công nghiệp - hai ngành sản xuất chính của nền kinh tế miền Bắc các ngành giao thông; bưu điện, tài chính, ngân hàng, thương nghiệp thời kỳ này cũng có nhiều nỗ lực to lớn và đạt được những kết quả quan trọng, góp phần xứng đáng vào nhiệm vụ khôi phục kinh tế, phát triển văn hoá - xã hội và tăng cường sức mạnh quốc phòng của hậu phương lớn miền Bắc. Trong những năm chiến tranh, lĩnh vực kết cấu hạ tầng mà trước hết và chủ yếu là giao thông vận tải, bị bom đạn Mỹ đánh phá dữ đội, liên tục. Trong bốn năm (1965 -1968), tính trung bình cứ mỗi kilômét đường sắt và đường bộ miền Bắc phải hứng chịu 19,3 quả bom đạn, bị đánh phá 4,1 lần. Riêng tuyến đường sắt Hà Nội - Vinh mỗi kilômét bị đánh phá tới 19,5 lần. Cho đến cuối 1968, toàn bộ hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ miền Bắc bị tổn thương nghiêm trọng, bị tàn phá nặng nề. Khi chiến tranh phá hoại lần thứ nhất kết thúc, công tác khôi phục giao thông được đặt lên hàng đầu. Nếu những năm từ 1955 đến năm 1957, chỉ số vốn đầu tư của nhà nước cho giao thông vận tải trung bình hàng năm là 100% thì tới những năm từ 1966 đến 1971, con số tương ứng là 435,4%. Đó là một tỉ lệ khá lớn, đảm bảo cho việc khôi phục và tiếp tục phát triển toàn bộ hệ thống giao thông vận tải sau những tháng năm dài bị bom đạn Mỹ đánh phá dữ dội, nhằm phục vụ hiệu quả cho nhu cầu kinh tế, văn hoá - xã hội và an ninh quốc phòng của hậu phương miền Bắc. Nhờ sự nỗ lực của toàn dân, toàn quân trên lĩnh vực này, nên một thời gian ngay sau ngày Mỹ ngừng ném bom miền Bắc, các tuyến giao thông quan trọng và hệ thống cầu phà từ Lạng Sơn đến Vĩnh Linh được khôi phục; nhiều tuyến đường khác cũng được mở rộng hoặc nâng cấp. Do vậy, chỉ một thời gian ngắn, khối lượng hàng hoá luân chuyển lại đạt và vượt mức trước chiến tranh phá hoại. Nếu lấy chỉ số khối lượng hàng hoá luân chuyển năm 1964 là 100 thì con số tương ứng là: năm 1969 – 84,2 (trong đó đường sắt là 48, đường bộ là 162,6, đường sông là 125,6 và đường biển là 88,4); 1971 -119,2 (đường sắt là 84,1, đường bộ là 166, đường sông là 161,4, đường biển là 162,3)4.

Bên cạnh những kết quả trên lĩnh vực khôi phục và phát triển kinh tế, thời kỳ này, sự nghiệp giáo dục, văn hoá, y tế cũng có những bước tiến mới. Trong những năm chiến tranh phá hoại, nền giáo dục miền Bắc đã vươn lên đạt được nhiều thành tựu to lớn. Đến năm 1968, “miền Bắc đã có một vạn hai nghìn trường phố thông, mỗi xã đều có trường cấp I, nhiều xã có trường cấp II, các huyện đều có ít nhất một trường cấp III. Số người đi học đã hơn sáu triệu, trong đó có hơn một triệu cán bộ và công nông đang học bổ túc văn hoá. Số người vào học các trường đại học và trung học chuyên nghiệp tăng gần gấp ba lần so với trước chiến tranh chống Mỹ. Hơn 30 trường đại học và 200 trường trung học chuyên nghiệp đã phối hợp chặt chẽ với các ngành và các địa phương, đẩy mạnh công tác đào tạo cán bộ, tập trung cũng như tại chức”5. Giờ đây, trong khung cảnh tạm trở lại yên bình, nền giáo dục miền Bắc tiếp tục được đẩy mạnh. Nếu năm học 1965-1966, toàn miền Bắc có 4,9 triệu người đi học (bao gồm vỡ lòng, phổ thông, bổ túc, trung học và đại học) thì năm 1971-1972, con số đó lên tới hơn sáu triệu, trong đó, riêng học sinh phổ thông (cấp I, II, III) là hơn 4,5 triệu. Tính trung bình cứ một vạn dân miền Bắc, có tới hơn 2.500 học sinh phổ thông, 61 sinh viên đại học. Đặt trong điều kiện miền Bắc vừa qua những tháng năm chiến tranh khốc liệt, còn bộn bề biết bao công việc cấp bách, thành tựu mà sự nghiệp giáo dục đạt được trên đây là rất to lớn, rất quan trọng. Những thành tựu đó không tách rời sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, không tách rời nền tảng là chế độ xã hội ưu việt được xây dựng và không ngừng củng cố trên miền Bắc.

Nhiệm vụ nâng cao đời sống văn hoá tinh thần cho nhân dân vẫn là một trọng tâm trong công tác lãnh đào của các ngành, các cấp thời kỳ này. Trong điều kiện cho phép, ngành văn hoá đã có những cố gắng to lớn. Nếu năm 1965, ngành xuất bản ấn hành 22.411.000 bản sách phục vụ đông đảo bạn đọc thì tới năm 1971 con số tương ứng là 31.299.000 bản. Hệ thống thư viện công cộng tiếp tục được tăng cường. Năm 1965, toàn miền Bắc có 105 thư viện. Năm 1971 con số đó đạt tới 173. Ngoài ra, mạng lưới truyền thanh, số đội chiếu bóng, số phim được sản xuất và số đoàn nghệ thuật cũng tăng nhanh6. Sự nghiệp y tế cũng có bước tiến cả trên bình diện số lượng cơ sở phòng, chữa bệnh tăng, đội ngũ y, bác sĩ ngày càng đông đảo, chất lượng khám, chữa bệnh không ngừng được cải thiện... Đến năm 1971, số bệnh viện tăng từ 252 (1965) lên 431; số bệnh xá tăng từ 350 (1965) lên 587, chưa kể tới các cơ sở khám như viện điều dưỡng, trại phong, viện nghiên cứu y học, trạm vệ sinh phòng dịch, trạm bảo vệ bà mẹ, trẻ em... đều tăng về số lượng. Tương ứng với sự phát triển của các cơ sở phòng, chữa bệnh, đội ngũ cán bộ y tế cũng tăng nhanh. Tính bình quân, vào năm 1971, cứ 10.000 dân có 11 bác sĩ, y sĩ, nhiều hơn hai lần so với năm 1965. “Nhờ những thành tựu của nền y học xã hội chủ nghĩa, sức khoẻ của nhân dân ta hơn hẳn trước, tuổi thọ được nâng lên nhanh chóng, tỉ lệ chết của trẻ em mới đẻ giảm xuống vào mức thấp nhất thế giới, một loạt những bệnh xã hội lần lượt được thanh toán”7.

Sau những tháng năm chiến tranh ác liệt, bị bom đạn Mỹ tàn phá nặng nề, hậu phương lớn miền Bắc từng bước được khôi phục và đạt được nhiều kết quả trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội. Vẫn còn đó biết bao gian khổ, khó khăn, thiếu thốn; còn đó một loạt vấn đề nóng bỏng và bức xúc đặt ra trên tất cả mọi mặt của đời sống đất nước đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải khẩn trương giải quyết. Nhưng những kết quả đạt được của miền Bắc thời kỳ này, xét trong điều kiện hiện thực lúc đó, là rất đáng tự hào. Và nó tạo thêm điều kiện thuận lợi để miền Bắc đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, tăng sức chi viện cho chiến trường, sẵn sàng đập tan âm mưu và hành động mở rộng chiến tranh của đế quốc Mỹ.
______________________________________
1. Tổng cục Thống kê: 30 năm phát triển kinh tế và văn hoá của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nxb. Sự thật. Hà Nội. 1978. tr. 73.
2. Tổng cục thống kê: Niên giám thống kê 1971, Hà Nội, 1974, tr.138, 140.
3. Báo Nhân dân, số ra ngày 28-3-1972.
4. Viện Kinh tế học: 45 năm kinh tế Việt Nam (1945 -1990), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1990, tr.138.
5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr.402.
6. Toàn bộ số liệu dẫn theo Tổng cục Thống kê: 30 năm phát triển kinh tế và văn hoá... Sđd. Có thể tham khảo thêm một vài số liệu sau đây dẫn theo sách trên: năm 1965, hệ thống truyền thanh miền Bắc có 214.200 loa và 137.000 máy thu thanh; 66 đội nghệ thuật. Tới năm 1971, con số tương ứng là 311.900 loa, 328.500 máy thu thanh và 79 đội nghệ thuật chuyên nghiệp.
7. Phạm Văn Đồng: 25 năm chiến đấu và thắng lợi, Nxb. Sự thật. Hà Nội, 1970, tr.28.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Tư, 2010, 10:17:23 pm

II- KHẨN TRƯƠNG TĂNG CƯỜNG TIỀM LỰC QUỐC PHÒNG, XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN, MỞ RỘNG TUYẾN VẬN TẢI CHIẾN LƯỢC 559, TĂNG SỨC CHI VIỆN CHIẾN TRƯỜNG

Sau khi Chính phủ Mỹ tuyên bố đơn phương chấm dứt mọi hành động chiến tranh đối với miền Bắc Việt Nam (ngày 1-11-1968), mặc nhiên thừa nhận sự phá sản hoàn toàn của chiến lược chiến tranh cục bộ, tháng 4-1969, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta ra nghị quyết động viên nỗ lực to lớn của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trên cả hai miền Nam, Bắc phát triển chiến lược tiến công, vươn lên đánh bại chủ trương Việt Nam hoá chiến tranh của đế quốc Mỹ.

Thực hiện Nghị quyết Bộ Chính trị về mặt quân sự, Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh tập trung chỉ đạo các đơn vị lực lượng vũ trang điều chỉnh tổ chức, sắp xếp biên chế cho phù hợp với nhiệm vụ chiến đấu và tình hình bổ sung quân số cũng như khả năng đảm bảo hậu cần ở từng chiến trường, từng địa bàn đơn vị đứng chân và hoạt động. Trên miền Bắc, các lực lượng vũ trang đã rút ra 14.300 cán bộ, chiến sĩ để tổ chức thành chín trung đoàn làm nhiệm vụ sản xuất, khôi phục kinh tế. Trong khi đó, tại những địa bàn đứng chân, cán bộ, chiến sĩ các đơn vị, bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ cũng đã tích cực cùng lực lượng công binh và nhân dân các địa phương khẩn trương tháo gỡ bom mìn, san lấp hố bom, khôi phục và mở rộng các tuyến giao thông, phục hồi và đẩy mạnh sản xuất...

Để nâng cao chất lượng lực lượng vũ trang, một trong số những nhân tố có ý nghĩa quyết định là tăng cường công tác tư tưởng và tổ chức. Trên mặt công tác này, tháng 5-1969, cán bộ trung cấp, cao cấp thuộc cơ quan Bộ Quốc phòng và các quân khu quân chủng, binh chủng, sư đoàn trong toàn quân được triệu tập về Thủ đô Hà Nội nhằm quán triệt tình hình và nhiệm vụ trong giai đoạn mới của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Gửi thư cho lớp học, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn:

“- Vấn đề số một là phải không ngừng nâng cao quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, đánh cho đến thắng lợi cuối cùng. Phải có quyết tâm cao để vượt mọi khó khăn, làm tròn nhiệm vụ. Quyết tâm phải biến thành hành động dũng cảm, chiến đấu kiên quyết, không sợ hy sinh gian khổ, triệt để chấp hành nghiêm chỉnh mọi chỉ thị, mệnh lệnh, trong bất kỳ tình huống nào cũng phải chỉ huy đơn vị quyết đánh, quyết thắng, cũng phải quản lý đơn vị chặt chẽ, giữ nghiêm kỷ luật, chấp hành tốt mọi chính sách.

- Phải có cách đánh giặc tốt. Trong mỗi lần hoạt động phải rút kinh nghiệm và học tập kinh nghiệm tốt các đơn vị đánh giỏi, để đơn vị nào cũng đánh giỏi, địa phương nào cũng đánh giỏi.

- Tinh thần trách nhiệm phải cao. Phải thật sự đồng cam cộng khổ với chiến sĩ.

- Phải giáo dục bộ đội giữ gìn tốt vũ khí trang bị, tiết kiệm từng viên đạn, từng hạt gạo, không để lãng phí”1.

Nói chuyện với đoàn đại biểu lớp học đến chúc thọ nhân dịp Người tròn 79 tuổi, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ thế và lực của quân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Người nói: Quả cân chỉ một kilôgam, ở vào thế lợi thì lực của nó tăng lên nhiều, có sức mạnh làm bằng được một vật nặng hàng trăm kilôgam. Đó là thế thắng lực. Ta đánh Mỹ, lấy ít thắng nhiều được là nhờ cái thế của ta rất lợi. Thế ta thắng đã rõ ràng. Thế địch thua đã rõ ràng; nhưng chúng còn rất ngoan cố, chưa chịu từ bỏ âm mưu xâm lược nước ta2.

Người căn dặn:

“1. Phải cố gắng cùng các địa phương làm tốt hơn nữa nhiệm vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn, để đánh thắng giặc Mỹ. Đó là nhiệm vụ hàng đầu.

2. Phải xây dựng lực lượng thật tốt, chất lượng thật cao. Luôn luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu giỏi, bảo vệ tốt miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Chú ý tiết kiệm sức người và sức của, giữ gìn thật tốt vũ khí, trang bị.

3. Bộ đội phải hết lòng giúp dân, tham gia củng cố hậu phương ta ngày càng vững mạnh. Phải cùng với các cơ quan nhà nước và các đoàn thể, chấp hành thật tốt các chính sách đối với anh em thương binh bệnh binh và các gia đình có công với kháng chiến”3.

Sau khi lớp học của cán bộ trung, cao cấp kết thúc, tháng 6-1969, toàn quân bước vào đợt sinh hoạt chính trị Về tình hình và nhiệm vụ mới. Cũng trong khoảng thời gian này, nhiều đơn vị trong toàn quân mở đại hội thi đua Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược; các quân khu, quân chủng, binh chủng và các đơn vị trên miền Bắc tổ chức tổng kết bốn năm đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ và đề ra phương hướng hành động trong giai đoạn mới của cuộc kháng chiến. Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, cùng toàn Đảng, toàn dân, lực lượng vũ trang mở đợt học tập và làm theo Di chúc của Người, đợt quán triệt tinh thần Nghị quyết hội nghị Trung ương 18. Đây thực sự là những sinh hoạt chính trị rộng lớn trong toàn quân, góp phần quan trọng củng cố quyết tâm, nâng cao ý chí chiến đấu, đảm bảo cho lực lượng vũ trang làm tốt nhiệm vụ chiến đấu ở miền Nam, bảo vệ miền Bắc, làm tròn nghĩa vụ đối với cách mạng hai nước Lào và Campuchia.

Công tác xây dựng đảng, nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ, đảng viên luôn chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng lực lượng vũ trang. Từ tháng 4-1970, các đơn vị toàn quân triển khai thực hiện cuộc vận động lớn Nâng cao chất lượng đảng viên và kết nạp đảng viên lớp Hồ Chí Minh do Bộ Chính trị Trung ương Đảng phát động. Gắn với việc xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, cuộc vận động lớn trên đây được toàn thể cán bộ, chiến sĩ toàn quân hưởng ứng bằng những hành động thiết thực trong chiến đấu, công tác góp phần nâng cao sức mạnh của lực lượng vũ trang.
______________________________________
1, 2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.465-466, 455.
3. Hồ Chí Minh: Toàn tập. Sđd, t.12, tr. 456.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Tư, 2010, 10:18:27 pm

Tháng 11-1970, quân uỷ Trung ương tổ chức hội nghị tổng kết công tác xây dựng chi bộ đảng trong quân đội. Trên cơ sở đánh giá kết quả và những tồn tại, hạn chế về công tác xây dựng chi bộ đảng trong quân đội thời gian qua; chỉ rõ vị trí và tầm quan trọng hàng đầu của công tác xây dựng chi bộ vững mạnh trong việc xây dựng đơn vị cơ sở, xây dựng đảng bộ, xây dựng trung đoàn, sư đoàn mạnh, hội nghị đã đề ra một số giải pháp tiếp tục đẩy mạnh mặt công tác này.

Cuộc vận động Nâng cao chất lượng đảng viên và kết nạp đảng viên lớp Hồ Chí Minh cùng hội nghị tổng kết công tác xây dựng chi bộ đảng là những nỗ lực quan trọng trong sự nghiệp xây dựng quân đội vững mạnh toàn diện, đáp ứng đòi hỏi của tình hình và nhiệm vụ mới. Trên thực tế, đã có 23.000 cán bộ, chiến sĩ ưu tú được kết nạp đảng lớp Hồ Chí Minh đưa tổng số đảng viên trong toàn quân đến cuối năm 1970 lên tới 35 vạn. Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội được tăng cường. Tỷ lệ đảng viên ở các đại đội bộ binh là 25% đến 35% số quân. Tỷ lệ đó ở các đại đội binh chủng là trên 40%...

Đi đôi với việc tăng cường công tác chính trị, tư tưởng, từ mùa hè 1969, toàn quân triển khai thực hiện chỉ thị của Quân uỷ Trung ương về Kiện toàn tổ chức, nâng cao chất lượng và điều chỉnh số lượng bộ đội thường trực một cách thích hợp. Các sư đoàn, trung đoàn bộ binh chủ lực của Bộ Tổng tư lệnh và của các quân khu được kiện toàn, bổ sung đủ về quân số, trang bị. Xuất phát từ tình hình mới, các sư đoàn phòng không 377, 375 và Trung đoàn công binh cầu phà 269 cùng hai trung đoàn tên lửa đất đối không 268 và 278 giải thể; tăng cường cho các đơn vị làm nhiệm vụ bảo vệ yếu địa và các đơn vị chiến đấu ở nam Quân khu IV, ở tuyến vận tải chiến lược 559. Quân chủng hải quân và các quân khu, binh chủng, nhà trường trên miền Bắc giảm bớt quân số ở cơ quan và ở đơn vị phục vụ, rút ra hơn 13.000 cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ trực tiếp chiến đấu. Đoàn vận tải 559 bộ đội Trường Sơn và các đơn vị bảo đảm kỹ thuật cũng được kiện toàn, bổ sung quân số và phương tiện. Trên tinh thần đó, Đoàn 500 - lực lượng vận tải và bảo đảm vận tải từ nam sông Gianh trở vào vĩ tuyến 17 gồm bảy tiểu đoàn xe, tám tiểu đoàn công binh, hai tiểu đoàn pháo cao xạ 37mm, một tiểu đoàn đường ống và các trạm hành quân chuyển thương, các đội điều trị sáp nhập vào Đoàn 559. Đồng thời, số vũ khí, khí tài bị hư hỏng hoặc ngoài biên chế được thu hồi để sửa chữa, bảo dưỡng.

Tiếp theo đợt kiện toàn về tổ chức, biên chế, nâng cao chất lượng của bộ đội thường trực, tháng 2-1970, hội nghị Quân uỷ Trung ương họp bàn việc thực hiện Nghị quyết hội nghị lần thứ 18 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đã chỉ rõ: Nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của quân đội ta lúc này là xây dựng những binh đoàn chủ lực mạnh làm trụ cột cho cả chiến trường Đông Dương, xây dựng bộ đội chủ lực ở miền Nam đủ mạnh để có thể đánh những trận tiêu diệt lớn; nâng cao sức mạnh chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu của lực lượng dự bị chiến lược trên miền Bắc sát với tính chất, yêu cầu, nhiệm vụ của những binh đoàn chủ lực cơ động, có khả năng tác chiến tập trung, hiệp đồng binh chủng trên các chiến trường.

Thực hiện chủ trương quan trọng đó của Quân uỷ Trung ương, bốn sư đoàn bộ binh chủ lực là 308, 304, 312, 320 được khẩn trương củng cố, tăng cường sức mạnh chiến đấu và nâng cao khả năng cơ động; hai sư đoàn 325 và 320B chuyển từ nhiệm vụ huấn luyện quân thành các sư đoàn cơ động của Bộ Tổng tư lệnh; Sư đoàn 316 làm nhiệm vụ chiến đấu trên chiến trường Lào được tăng thêm thành phần binh chủng trong biên chế. Trong khi đó, các binh chủng cũng nhanh chóng tăng cường lực lượng, vũ khí và phương tiện chiến đấu. Binh phóng Pháo binh xây dựng thêm các đơn vị pháo xe kéo, tăng thêm các trung đoàn pháo binh dự bị trực thuộc Bộ Tư lệnh1, trang bị thêm vũ khí và phương tiện cho các đơn vị thuộc quyền nhằm nâng cao khả năng cơ động, uy lực và tầm bắn. Ngoài ra, một số sư đoàn bộ binh chủ lực (Sư đoàn 304 và Sư đoàn 308), các quân khu, mặt trận cũng được tăng cường lực lượng pháo binh; một số trung đoàn xe tăng xe thiết giáp thuộc lực lượng dự bị của Binh chủng Thiết giáp cũng được củng cố. Các binh chủng đặc công, thông tin, công binh đều tổ chức thêm các đơn vị mới và tăng cường sức mạnh toàn diện của các đơn vị thuộc quyền; riêng binh chủng công binh phát triển thêm các trung đoàn, tiểu đoàn công binh công trình, cầu đường, vượt sông, rà phá bom, mìn, đưa tổng quân số của binh chủng lên tới 41.000 cán bộ, chiến sĩ vào năm 1971. Lường trước đòi hỏi của tình hình chiến trường, ngoài lực lượng vũ khí và phương tiện hiện có theo biên chế, các binh chủng còn dự trữ một số cán bộ, nhân viên kỹ thuật vũ khí, phương tiện để khi cần, sẽ nhanh chóng phát triển thêm các đơn vị mới.

Tương ứng với việc củng cố tổ chức, kiện toàn biên chế, tăng cường sức mạnh của lực lượng vũ trang, đặc biệt các binh đoàn chủ lực, một vấn đề đặt ra là phải nhanh chóng nâng cao số lượng và chất lượng của đội ngũ cán bộ quân sự, cán bộ chính trị, cán bộ và nhân viên kỹ thuật nghiệp vụ. Về mặt này, sau ngày thành lập Trường đại học Kỹ thuật quân sự trên cơ sở Phân hiệu 2 Đại học Bách khoa, Bộ Quốc phòng ra các quyết định thành lập Viện khoa học quân sự Việt Nam trực thuộc Bộ Quốc phòng (2-7-1969), chuyển Cục Kỹ thuật (Tổng cục Hậu cần) thành Viện kỹ thuật quân sự thuộc Bộ Tổng tham mưu (29-7-1969), thành lập Cục Kỹ thuật Quân chủng Phòng không - không quân (4-9-1969). Tiếp đó, tháng 3-1970, Thường trực Quân uỷ Trung ương ra nghị quyết chuyên đề Về công tác nhà trường trong quân đội. Theo đó, trong hai năm 1970 và 1971, nhiệm vụ chủ yếu của các nhà trường trong toàn quân là bổ túc, nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ, đảm bảo trình độ của đội ngũ cán bộ các cấp trong toàn quân được nâng lên đồng đều (trừ các trường đào tạo cán bộ kỹ thuật). Bên cạnh đó, các trường vẫn phải hết sức chú trọng đào tạo cán bộ quân sự, chính trị theo hướng cơ bản, toàn diện, đáp ứng yêu cầu trước mắt và lâu dài của sự nghiệp xây dựng quân đội.

Để hoàn thành nhiệm vụ này, ngày 11-5-1970, Bộ Quốc phòng ra quyết định thành lập Cục Nhà trường trực thuộc Bộ Tổng tham mưu, giúp Bộ Tổng tham mưu chỉ đạo công tác nhà trường trong toàn quân. Trong hai năm 1970, 1971, hệ thống nhà trường, hệ thống đội đào tạo và bổ túc cán bộ, nhân viên kỹ thuật, nghiệp vụ trong toàn quân của hơn 100 đơn vị được tổ chức lại thành 16 trường. Các trường đã nỗ lực cải tiến và từng bước đổi mới chương trình đào tạo, huấn luyện; cải tiến công tác quản lý; tăng thêm thời gian học tập, rèn luyện tại trường của các khoá đào tạo, các lớp bổ túc. Nhờ đó, số lượng và chất lượng đào tạo không ngừng được nâng lên. Đến năm 1971, số học viên của các nhà trường quân đội lên tới 20.000 người. Mỗi năm, hàng nghìn cán bộ, nhân viên kỹ thuật thuộc hai hệ đào tạo và bổ túc ra trường, góp phần vào việc nâng cao sức mạnh chiến đấu của các đơn vị trong toàn quân. Bên cạnh đó, một số khá lớn kỹ sư, công nhân kỹ thuật cũng được nhà nước điều vào phục vụ quân đội. Do vậy, đội ngũ cán bộ, nhân viên kỹ thuật công tác trong lực lượng vũ trang ngày càng tăng, đạt tới 30.000 người vào năm 1971. Cũng vào năm này, tổng số quân đội thường trực trên miền Bắc là 436.000, tăng hơn năm 1968 46.000 cán bộ, chiến sĩ; trong đó, thành phần lực lượng thuộc các binh chủng kỹ thuật chiếm 46%, (năm 1965 là 30%).
______________________________________
1. Lực lượng dự bị trực thuộc Bộ Tư lệnh Pháo binh tăng từ ba lên năm trung đoàn và được trang bị các loại pháo 130, 122, 82mm, hoả tiễn BM14, cối 160 mm.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Tư, 2010, 10:19:09 pm

Cũng trong nỗ lực nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang, song song với việc tổ chức, sắp xếp lại hệ thống nhà trường quân đội, Bộ Tổng tham mưu đồng thời tổ chức biên soạn, bổ sung các tài liệu huấn luyện về chiến dịch, chiến thuật, trước hết là chiến dịch tiến công của bộ đội chủ lực trên chiến trường rừng núi, chiến dịch tiến công tổng hợp phá bình định của địch ở vùng nông thôn đồng bằng và cách đánh địch phòng ngự trong công sự vững chắc... Quân uỷ Trung ương và Bộ Quốc phòng triệu tập hơn 300 cán bộ toàn quân dự lớp tập huấn về đường lối quân sự của Đảng, cách đánh mới về chiến dịch, chiến thuật, về công tác tham mưu, công tác đảng - công tác chính trị, công tác đảm bảo hậu cần chiến dịch, chiến đấu... Tiếp sau lớp tập huấn quân sự toàn quân, các quân khu, binh chủng, sư đoàn tổ chức các lớp tập huấn ngắn ngày cho cán bộ chỉ huy đơn vị và cơ quan. Lực lượng vũ trang trên miền Bắc dấy lên đợt thao luyện nhằm làm cho đội ngũ cán bộ cơ sở và chiến sĩ thuần thục 10 môn kỹ thuật cơ bản, đặc biệt là các kỹ thuật đánh xe tăng, xe cơ giới, bắn máy bay, phá gỡ bom mìn, vượt chướng ngại vật và phòng chống hơi độc. Cấp phân đội tập trung huấn luyện bốn hình thức chiến thuật, bao gồm tập kích, phục kích, đánh địch trong công sự vững chắc, vận động tiến công kết hợp chốt. Một số tiểu đoàn trong khi huấn luyện các hình thức chiến thuật cơ bản đã chú trọng vào một số hình thức chiến thuật nhằm tạo nên truyền thống trong cách đánh của đơn vị mình. Cấp trung đoàn, sư đoàn huấn luyện cách đánh tập trung, hiệp đồng binh chủng, bao vây đánh lấn tiêu diệt địch trong hệ thống công sự vững chắc và vận động bao vây tiến công liên tục nhằm tiêu diệt cấp trung đoàn, chiến đoàn địch khi chúng đóng quân dã ngoại. Những đơn vị thuộc các binh chủng vừa triển khai huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật của binh chủng mình, vừa hợp luyện với các sư đoàn bộ binh nhằm nâng cao khả năng đánh hợp đồng binh chủng. Bám sát yêu cầu và nhiệm vụ huấn luyện, chiến đấu trong tình hình mới, công tác đảng - công tác chính trị kịp thời nắm bắt, tổng kết và phổ biến kinh nghiệm các trận đánh đạt hiệu suất cao, các điển hình về huấn luyện quân sự giỏi; quán triệt cho cán bộ chiến sĩ về tư tưởng chỉ đạo tác chiến, về những nội dung và yêu cầu của cách đánh mới... Năm 1970, nhiều đoàn cán bộ được cử vào miền Nam, cùng Bộ Tư lệnh miền, các quân khu, các chiến trường, các mặt trận chỉ đạo việc huấn luyện theo yêu cầu tác chiến trong giai đoạn mới. Tư liệu về cách đánh chiến dịch, chiến thuật do Bộ Tổng tham mưu biên soạn được sử dụng trong các lớp tập huấn cán bộ, tập bài ở cơ quan và trong huấn luyện bộ đội.

Cùng với việc nâng cao chất lượng toàn diện của khối chủ lực, công tác quân sự địa phương những tháng năm này cũng được các quân khu, các tỉnh, thành trên miền Bắc chú trọng đẩy mạnh. Ngày 12-5-1970, Thường trực quân uỷ Trung ương ra nghị quyết Về công tác quân sự địa phương, trong đó xác định rõ: công tác quân sự địa phương bao gồm toàn bộ nhiệm vụ quân sự của Đảng thuộc ở địa phương, là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác quân sự của Đảng, là một trong những công tác chủ yếu của các cấp bộ đảng địa phương. Nhiệm vụ công tác quân sự địa phương giờ đây tập trung vào những nội dung chủ yếu sau đây:

1. Động viên, tổ chức và chỉ đạo toàn Đảng, toàn dân địa phương và các lực lượng vũ trang địa phương chuẩn bị đề phòng chiến tranh trong thời bình và tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân ở địa phương, để bảo vệ địa phương, bảo vệ Tổ quốc trong thời chiến.

2. Cùng với công an nhân dân trấn áp bọn phản cách mạng cũng như mọi âm mưu, hành động phá hoại của địch, bảo vệ sản xuất, bảo vệ an ninh xã hội.

3. Trực tiếp xây dựng lực lượng vũ trang địa phương, lực lượng dự bị vững mạnh làm nòng cốt cho phong trào toàn dân đánh giặc ở địa phương và làm cơ sở vững chắc cho việc xây dựng bộ đội chủ lực.

4. Xây dựng, tích luỹ, bảo vệ tiềm lực kinh tế và quốc phòng ở địa phương, thi hành mọi chủ trương, chính sách củng cố quốc phòng, xây dựng quân đội động viên sức người sức của ở địa phương cho công cuộc xây dựng, củng cố quốc phòng và chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.

Để hoàn thành chức năng, nhiệm vụ chủ yếu đó, tháng 7-1970, Bộ Quốc phòng tổ chức hội nghị quân sự, địa phương toàn miền Bắc, quyết định những biện pháp nhằm đẩy mạnh công tác quân sự địa phương, góp phần vào công cuộc củng cố quốc phòng, xây dựng lực lượng vũ trang trong tình hình mới. Tiếp đó, ngày 11-8-1970, Bộ Quốc phòng trong công văn số 140/QP đã đề nghị Hội đồng Chính phủ quy định rõ thời gian huấn luyện quân sự cho lực lượng tự vệ, quân nhân dự bị ở các cơ quan, xí nghiệp nhà nước.

Đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ quân sự ở địa phương, cơ quan quân sự địa phương các cấp cần tiếp tục được kiện toàn.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Tư, 2010, 10:20:36 pm

Tháng 10-1971, căn cứ vào đề nghị của Bộ Quốc phòng, Hội đồng Chính phủ đã quy định tên gọi và nhiệm vụ của cơ quan quân sự địa phương các cấp. Theo đó, các cơ quan tỉnh đội, huyện đội, xã đội chuyển thành bộ tư lệnh (đối với thành phố trực thuộc trung ương), bộ chỉ huy quân sự (cấp tỉnh), ban chỉ huy quân sự (cấp thành phố trực thuộc tỉnh, huyện, thị xã, khu phố) và ban chỉ huy (cấp xã). Các cơ quan quân sự này có nhiệm vụ làm tham mưu giúp uỷ ban hành chính cấp mình chỉ đạo toàn bộ công tác quân sự địa hương, tổ chức thực hiện chỉ thị, mệnh lệnh của các cơ quan quân sự cấp trên, trực tiếp chỉ đạo, chỉ huy mọi mặt xây dựng và hoạt động của các lực lượng vũ trang địa phương cũng như hướng dẫn toàn dân tham gia xây dựng lực lượng vũ trang, củng cố quốc phòng giữ gìn trị an trên địa bàn mình...

Nhìn chung, cả sau khi Mỹ tạm ngừng ném bom miền Bắc, công tác quân sự địa phương vẫn là một trong số những nhiệm vụ trọng tâm của sự nghiệp củng cố nền quốc phòng; lực lượng quân sự địa phương tiếp tục được tăng cường cho ngang tầm đòi hỏi của tình hình và nhiệm vụ trong thời kỳ mới của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Ngoài việc cơ quan quân sự địa phương các cấp được chấn chỉnh, kiện toàn, thời kỳ này, bộ đội địa phương phát triển thêm hàng chục đại đội và được bổ sung, trang bị một số vũ khí mới; lực lượng dân quân tự vệ lên tới hơn hai triệu người tính đến năm 1971, trong số đó, riêng tự vệ chiến đấu và du kích là 87 vạn. Vũ khí, trang bị của lực lượng đông đảo và rộng khắp này là hàng vạn khẩu súng bộ binh, hàng nghìn súng máy và pháo cao xạ, hàng trăm khẩu pháo mặt đất, súng cối, ĐKZ;... Dân quân, tự vệ các địa phương Quân khu IV còn được trang bị các loại súng cối 60 và 82mm, súng chống tăng B40, B41, ĐKZ. Việc huấn luyện nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ tác chiến cho dân quân, tự vệ cũng như lực lượng dự bị được cấp uỷ đảng, chính quyền và cơ quan quân sự địa phương các cấp chú trọng, tạo điều kiện thuận lợi...

Mặc dù buộc phải đơn phương tuyên bố chấm dứt mọi hành động quân sự chống phá miền Bắc Việt Nam nhưng trên thực tế, từ 1969 đến 1971, đế quốc Mỹ nhiều lần cho máy bay xâm phạm bầu trời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đánh phá một số mục tiêu trên địa bàn Quân khu IV. Trong một cố gắng mưu toan giải thoát tù binh hòng trấn an công chúng Mỹ cũng như gây áp lực để thương lượng với phía Việt Nam trong cuộc đàm phán đang diễn ra căng thẳng tại Pari, đêm 20-11-1970, biệt kích Mỹ bất ngờ tập kích bằng máy bay trực thăng vào khu vực ngoại vi thị xã Sơn Tây... Ngoài khơi, tàu biệt kích luôn rình rập và tiến hành các hoạt động đánh phá vùng ven biển miền Bắc, đặc biệt là khu vực Cửa Hội, Hòn Mát, Hòn Ngư, Hòn La, Hòn Gió...

Trước tình hình đó, đồng thời với việc tập trung tăng cường lực lượng vũ trang nhằm đáp ứng đòi hỏi ngày càng tăng của chiến trường, Bộ Tổng tham mưu khẩn trương chỉ đạo Quân chủng Phòng không và Quân chủng Hải quân bố trí lại thế trận, kiện toàn về tổ chức, đổi mới và tăng thêm trang bị, vũ khí cho lực lượng phòng không, phòng thủ miền Bắc. Ngay sau khi chiến tranh phá hoại lần thứ nhất kết thúc, Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không đã triển khai kế hoạch tác chiến bảo vệ vững chắc vùng trời miền Bắc, chỉ đạo các cơ quan chức năng và các đơn vị thuộc quyền tiến hành tổng kết kinh nghiệm và đi sâu nghiên cứu cách đánh máy bay trinh sát địch, đẩy mạnh công tác huấn luyện nhằm nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu. Các binh chủng không quân, tên lửa, rađa và các sư đoàn phòng không từng bước được kiện toàn về tổ chức, biên chế, bổ sung và đổi mới một số trang bị, vũ khí1. Thêm nhiều tiểu đoàn cao xạ được thành lập nhằm tăng cường khả năng bảo vệ vững chắc các địa bàn, các khu vực mục tiêu trọng yếu. Để phát huy khả năng chiến đấu hiệp đồng của bộ đội không quân trên mặt trận bảo vệ giao thông ở phía nam Quân khu IV, ngày 19-5-1970, Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không ra quyết định điều một số đơn vị rađa phối thuộc chiến đấu với bộ đội không quân và sư đoàn phòng không. Trước đó, Binh chủng không quân đã chuẩn bị sở chỉ huy sân bay Vinh và đã điều một số biên đội thuộc Đoàn không quân Sao Đỏ (Trung đoàn không quân 921) bí mật vào sân bay Vinh. Ngoài ra, Quân khu IV bấy giờ còn được tăng cường một lực lượng khá lớn các đơn vị làm nhiệm vụ bảo vệ, bảo đảm giao thông vận tải gồm hàng chục đại đội pháo mặt đất, hàng chục tiểu đoàn, đại đội pháo cao xạ và nhiều đại đội công binh, trinh sát. Sau khi được tăng thêm lực lượng, Sư đoàn phòng không 367 nhận lệnh hiệp đồng chặt chẽ với quân dân Quân khu IV, Bộ Tư lệnh 559, triển khai thế trận chiến đấu bảo vệ cửa khẩu và các tuyến đường số 18, 20, 12. Vào những thời điểm chiến trường miền Nam mở các hoạt động quân sự lớn, lực lượng phòng không bảo vệ địa bàn Quân khu IV, bảo vệ hệ thống cửa khẩu của tuyến vận tải chiến lược 559 được tăng cường2.

Đối với vùng biển, từ giữa năm 1969, Bộ Tư lệnh Hải quân kiêm Quân khu Đông Bắc đã chấn chỉnh một bước tổ chức lực lượng hải quân. Theo đó, một số đơn vị được tách ra hoặc sáp nhập, trở thành các tiểu đoàn trực thuộc Bộ Tư lệnh. Những đơn vị này có nhiệm vụ hoạt động, tác chiến hoặc độc lập hoặc phối hợp với các đơn vị bạn đánh địch trên những vùng biển được phân công; chuẩn bị chiến trường và các điều kiện bảo đảm khác cho lực lượng cơ động của quân chủng vào hoạt động khi cần; tham gia công tác xây dựng dân quân, tự vệ ở vùng ven biển...
______________________________________
1. Cho đến những tháng cuối năm 1971, tổ chức lực lượng Quân chủng Phòng không được điều chỉnh lại như sau:
    - Thành lập Mặt trận cửa khẩu (tương đương sư đoàn phòng không) gồm các trung đoàn phòng không 224, 227, 243, 250 và các trung đoàn tên lửa 237, 275.
    - Sư đoàn cơ động 367 gồm các trung đoàn pháo phòng không 230, 380, 241.
    - Sư đoàn phòng không 365 gồm các trung đoàn pháo phòng không 282, 284, 232 và Trung đoàn tên lửa 274.
    - Điều Trung đoàn tên lửa 238 về trực thuộc Sư đoàn phòng không 363.
    - Các trung đoàn pháo phòng không 228, 226 về trực thuộc Quân chủng.
2. Phối hợp chiến đấu trong mùa khô 1971-1972, hoả lực phòng không hình thành ba khu vực chính là Quảng Bình - Vĩnh Linh, Thanh Hoá - Nghệ An và khu vực đường số 7. Chiến đấu trên các khu vực này có các sư đoàn phòng không 361, 365, 377...


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Tư, 2010, 10:21:41 pm

Bước sang năm 1970, Thường trực Quân uỷ Trung ương ra quyết định Quân chủng Hải quân tách khỏi Quân khu Đông Bắc. Tỉnh đội Quảng Ninh và toàn bộ lực lượng vũ trang thuộc Quân khu Đông Bắc được bàn giao sang Quân khu Tả Ngạn. Ngay sau đó, quyết định này được thực hiện nhanh, gọn. Bộ Tư lệnh Hải quân, trên cơ sở quán triệt nhiệm vụ mà Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh giao cho, đã khẩn trương sắp xếp, bố trí, chấn chỉnh tổ chức một số đơn vị và cơ quan, khôi phục các khu vực hải quân Sông Mã, Cửa Hội, Sông Gianh1; thành lập thêm một số đơn vị, nhằm tăng cường sức mạnh của toàn quân chủng bổ sung cho chiến trường miền Nam tham gia phát triển kinh tế vùng ven biển và vận tải biển chi viện chiến trường... Đến cuối năm 1970, việc củng cố, chấn chỉnh tổ chức, biến chế và triển khai thế trận mới của lực lượng hải quân đã căn bản hoàn tất. Giờ đây, quân chủng không chỉ đảm nhận nhiệm vụ bảo vệ toàn bộ vùng biển rộng lớn của miền Bắc xã hội chủ nghĩa mà còn trực tiếp chiến đấu ở vùng biển Cửa Việt, tăng cường lực lượng đặc công nước cho các chiến trường sông biển ở phía nam, tham gia xây dựng kinh tế ở hậu phương lớn. Đó thực sự là một cố gắng lớn, một bước phát triển của Quân chủng Hải quân.

Đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của chiến trường, tổ chức và hoạt động của tuyến vận tải quân sự ở hậu phương miền Bắc nhanh chóng được chấn chỉnh. Hầu hết các tuyến đường sắt, đường thuỷ chạy qua miền đất lửa Khu IV đều nhanh chóng được khôi phục sau cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của không quân, hải quân Mỹ chấm dứt. 14 binh trạm trong chiến tranh được tổ chức lại theo các hướng đảm bảo vận chuyển phía sau (2 binh trạm vận chuyển cho chiến trường Lào) và vận chuyển tạo chân hàng cho Đoàn 559, cho Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị. Trong khi đó, hoạt động vận tải quân sự trên địa bàn nam Quân khu IV được chuyển từ trục đường 15 sang trục quốc lộ 1. Toàn bộ hệ thống kho tàng quân sự, bồn chứa xăng dầu được chấn chỉnh và quy hoạch lại theo hướng phục hồi những cơ sở cũ, kiên quyết bỏ những khu kho ở quá xa các trục giao thông, di dời các khu kho ra khỏi nhà dân, nhà kho hợp tác xã, đình, chùa... Điều đó cho phép công tác tiếp nhận, bảo quản hàng hoá quân sự được tiến hành thuận lợi trước khi chuyển tới Đoàn 559. Tuyến bảo đảm hành quân vào Nam và tuyến chuyển thương trên miền Bắc cũng được củng cố.

Nhận rõ tầm quan trọng của công tác chi viện chiến trường trong giai đoạn mới, tháng 6-1970, Bộ Chính trị quyết định thành lập Hội đồng chi viện tiền tuyến Trung ương là cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ do đồng chí Đỗ Mười, Phó Thủ tướng Chính phủ làm Chủ tịch Hội đồng, đề ra phương hướng lớn nhằm động viên mạnh mẽ sức mạnh tiềm tàng của hậu phương miền Bắc vào công cuộc kháng chiến, chi viện sức người, sức của cho chiến trường.

Trên tuyến vận tải chiến lược 559, cuộc chiến ngăn chặn và chống ngăn chặn diễn ra ngày càng quyết liệt. Mục tiêu chiến lược hàng đầu của phía Mỹ, trong cuộc chiến này là triệt để cắt đứt tuyến “đường mòn”, chặn đứng mọi nguồn chi viện của hậu phương lớn nhằm bóp nghẹt cách mạng và chiến tranh cách mạng miền Nam. Thực hiện mục tiêu chiến lược đó, ngay sau ngày buộc phải tuyên bố chấm dứt hoàn toàn việc ném bom miền Bắc (1-11-1968), không quân Mỹ dồn sức đánh phá dữ dội tuyến vận tải 559, rải xuống các cửa khẩu đường 12, 20 sang tây Trường Sơn một số lớn bom từ trường, bom nổ chậm, mìn vướng, mìn lá..., tạo ra các khu vực “chết”, khiến cầu, đường bị tắc nghiêm trọng và rất khó khắc phục.

Trước tình hình đó, Quân uỷ Trung ương chỉ đạo tập trung lực lượng và phương tiện, kiên quyết giải toả các điểm tắc, giữ vững các cửa khẩu hiện có, mở thêm các cửa khẩu và các tuyến đường vòng tránh, kết hợp giữa vận chuyển đường bộ và vận chuyển đường sông. Đồng thời lúc này, Đoàn 500 được lệnh phải nhích lên đảm nhiệm một số trọng điểm ở khu vực các cửa khẩu để giảm nhẹ khó khăn cho Đoàn 5592.

Trong khi đó, Bộ Tổng tham mưu điều gấp hai trung đoàn, 45 đại đội cao xạ, một số tiểu đoàn công binh, ôtô vận tải bổ sung cho tuyến vận tải. Thế nhưng, việc đảm bảo giao thông, việc vận tải chuyển giao hàng hoá của Đoàn 500 cho Đoàn 559 vẫn gặp nhiều trở ngại, khó khăn; lực lượng và phương tiện của ta vẫn tiếp tục bị hao tổn nặng... do sự đánh phá ngày càng gia tăng, bằng nhiều thủ đoạn tương đối hiệu quả của không quân Mỹ.

Từ 1969, cuộc chiến ngăn chặn của Mỹ ngày càng quyết liệt. Lúc này một loạt thành tựu mới nhất của nền khoa học kỹ thuật và công nghiệp chiến tranh Mỹ được áp dụng triệt để trong cuộc chiến tranh này. Một trung tâm điện tử đặt trên đất Thái Lan được xây dựng và đi vào hoạt động, thu thập, xử lý toàn bộ tín hiệu hàng triệu chiếc máy thu phát được mệnh danh là “Tên gác đường” mà không quân Mỹ tung xuống khắp nẻo rừng Trường Sơn, nơi có tuyến đường chạy qua; truyền dẫn tín hiệu đó cho không quân Mỹ - bao gồm hàng trăm máy bay ném bom chiến lược B52 và hàng nghìn máy bay ném bom chiến thuật thực hiện các phi vụ đánh phá ngăn chặn. Các phi vụ này ngày càng gia tăng theo nhịp độ chiến tranh trên bộ ở miền Nam. Trong các năm từ 1969 đến 1971, một khối lượng khổng lồ bom mìn chờ nổ bao gồm nhiều chủng loại được rải dọc tuyến đường mòn, đặc biệt ở các khu vực địa hình hiểm yếu, các đầu mối giao thông, tạo nên các điểm tắc dài ngày rất khó khắc phục. Hơn nữa, để tăng thêm hiệu quả ngăn chặn, địch thường xuyên cải tiến vũ khí đưa vào sử dụng các loại vũ khí, thiết bị mới, thay đổi chiến thuật và quy luật đánh phá, tăng cường hoạt động của máy bay AC130 gắn khí tài quan sát, phát hiện mục tiêu bằng tia hồng ngoại và tiêu diệt mục tiêu bằng rốc két 40mm, đẩy mạnh trinh sát điện tử, mở rộng căn cứ xuất phát của không quân để tăng thêm số lượng máy bay và số lần xuất kích... Những tháng năm ấy trên các nẻo đường Trường Sơn, ngày cũng như đêm hầu như không ngớt tiếng gầm rít của máy bay Mỹ. Những chiếc AC130 dai dẳng bám theo các trục đường, bắn hỏng nhiều xe vận tải của ta.
______________________________________
1. Khu vực hải quân có quyển hạn tương đương cấp trung đoàn. Mỗi khu vực có các phân đội thuyền chiến đấu, đặc công nước, công binh hàng hải, thông tin, rađa.
2. Ví dụ, trên đường 12 và 128. Binh trạm 12 nhích lên đảm nhiệm các trọng điểm phía tây đèo Mụ Giạ tới bắc Na Tông. Trên đường 20, Binh trạm 14 đảm nhiệm trọng điểm Ta Lê, Phu La Nhích đến bắc Ca Cốc...


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Tư, 2010, 10:22:27 pm

Kết hợp với hoạt động ngăn chặn của không quân, đế quốc Mỹ tăng cường các hoạt động thám báo, tung nhiều toán biệt kích liên tục mở các cuộc hành quân hòng chặn cắt bằng được sự chi viện từ miền Bắc vào miền Nam... Tính trung bình mỗi tháng có từ một đến hai cuộc hành quân nống lấn của quân đội Sài Gòn và 18 đến 20 toán biệt kích được tung xuống các khu vực có tuyến đường mòn ngang qua...

Sự đánh phá ngăn chặn dữ dội của địch đã gây nhiều khó khăn, trở ngại cho hoạt động vận chuyển của ta. Hơn bao giờ hết, những tháng năm ấy, cuộc chiến đấu trên tuyến vận tải chiến lược trở nên cực kỳ quyết liệt và rất nóng bỏng. Trong cuộc chiến đấu đó, yêu cầu bức thiết đặt ra là phải bảo vệ vững chắc mạch máu giao thông, phải nhanh chóng mở rộng tuyến đường, phải khẩn trương tổ chức lại và tăng cường thế trận tăng cường lực lượng chiến đấu, công tác trên toàn tuyến, đồng thời hoàn chỉnh hệ thống chỉ đạo, chỉ huy nhằm đảm bảo cho tuyến 559 cùng một lúc đảm trách và hoàn thành ba nhiệm vụ: chi viện chiến lược, đảm bảo hậu cần chiến dịch; tác chiến hiệp đồng đánh bại các cuộc hành quân lớn, bảo vệ vững chắc tuyến vận tải chiến lược và vùng giải phóng; kết hợp chặt chẽ giữa vận tải đường bộ với vận tải đường sông, tăng cường lực lượng và phương tiện cho tuyến 559 đủ sức tác chiến bảo vệ giao thông.

Từ những tháng đầu của năm 1969, Đoàn 559 phối hợp chặt chẽ với Đoàn 500 khẩn trương giải toả một số khu vực trọng điểm vượt khẩu trên đường 12 và đường 20, mở thêm các tuyến 20c, 20d và một số đoạn vòng tránh. Bộ Tổng tham mưu tăng cường cho Đoàn 559 các đơn vị công binh mở đường 18, tạo thêm cửa khẩu mới qua biên giới Việt - Lào để tới khu vực đường 9. Lúc này, 20.000 dân công của tỉnh Quảng Bình được huy động làm đường 10 nối với đường 18 và đường 16. Đồng thời, một số đoạn đường sông cũng được triệt để khai thác để “thả trôi” các kiện hàng... Trong lúc đó, tuyến đường ống xăng dầu vượt Trường Sơn cũng bắt đầu được xây dựng, góp phần rất quan trọng vào việc đảm bảo vận chuyển trên tuyến 559...

Nhằm hợp lý hoá về tổ chức, tập trung lãnh đạo, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác vận tải chiến lược, giữa năm 1969, Quân uỷ Trung ương ra quyết định giải thể Đoàn 500, sáp nhập các cung đoạn, lực lượng, phương tiện trên địa bàn Trường Sơn vào Đoàn 559. Từ đây, tất cả các đường vượt khẩu tiếp giáp với tuyến hậu phương thuộc quyền phụ trách của Đoàn 559; khu vực tây nam Quảng Bình trở thành hậu cứ của tuyến vận tải quân sự cơ giới.

Trong các năm 1970, 1971, Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương đã có những cuộc họp bàn và đề ra phương phương cùng những giải pháp lớn về việc bảo vệ và mở rộng tuyến vận tải chiến lược nhằm đáp ứng cao nhất sự chi viện ngày càng tăng cho chiến trường Nam Đông Dương.

Trong một nỗ lực nhằm hoàn chỉnh hình thức tổ chức và tăng cường năng lực chỉ đạo, chỉ huy lực lượng trên toàn tuyến, chuẩn bị việc vận chuyển lớn chi viện hướng Nam Bộ và Campuchia khi đường biển vào Xihanúcvin bị cắt, tháng 4-1970, Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương cho phép Đảng uỷ, Bộ Tư lệnh 559 thành lập Bộ Tư lệnh khu vực 470. Đây là một đơn vị cấp sư đoàn đầu tiên được thành lập trên tuyến chi viện chiến lược, đứng chân và hoạt động trên một địa bàn quan trọng là khu vực ba biên giới, đồng thời là tiền phương của Bộ Tư lệnh 559.

Tiếp đó, thực hiện quyết định của Bộ Quốc phòng, tháng 7-1970 Mặt trận 968 và Đoàn chuyên gia quân sự 565 ở Hạ Lào được lệnh sáp nhập vào Đoàn 559. Giờ đây, Đoàn 559 đã được tổ chức thành một đơn vị tương đương cấp quân khu, đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ huy trực tiếp của Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh. Đại tá Đồng Sỹ Nguyên giữ chức vụ Tư lệnh và Đại tá Đặng Tính là Chính uỷ đoàn 559. Ngoài Bộ Tư lệnh khu vực 470, trực thuộc Bộ Tư lệnh Đoàn 559 còn có các bộ tư lệnh 471, 472, 473, 5711. Việc tổ chức các bộ tư lệnh khu vực (các sư đoàn khu vực) là một sáng tạo lớn trên tuyến chi viện chiến lược. Cách tổ chức đó chẳng những phát huy được khả năng chỉ huy phối hợp các hoạt động của toàn bộ lực lượng trên từng khu vực mà còn đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ ngày càng nặng nề của tuyến chi viện chiến lược.

Lúc này, Đoàn 559 đảm nhận nhiệm vụ chiến đấu và vận tải chi viện chiến trường trên một khu vực rộng lớn từ nam sông Gianh (Quảng Bình) đến miền Đông Nam Bộ, qua Đông Bắc Campuchia và Hạ Lào, với tổng chiều dài toàn tuyến vận chuyển tới 6000 km ngang qua nhiều khu vực địa hình phức tạp. Để hoàn thành nhiệm vụ, đoàn được tăng cường một lực lượng lớn gồm các đơn vị chiến đấu, các đơn vị đảm bảo và vận tải cùng nhiều phương tiện vật chất - kỹ thuật. Đến cuối năm 1970, thêm 40 trung đoàn, tiểu đoàn vận tải ôtô, vận tải đường sông, pháo cao xạ, công binh chiến đấu và công tác trong đội hình bộ đội Trường Sơn, nâng tổng số quân của Đoàn 559 lên tới 70.000 người. Bên cạnh đó, đoàn còn được bổ sung hơn 3.500 xe tô, 200 khẩu pháo cao xạ và súng cối, 1000 chiến xe ủi, xe kỹ thuật rà phá bom mìn, 700 máy vô tuyến điện. Năm 1971, lực lượng chiến đấu và công tác trên tuyến vận tải chiến lược đạt tới con số 90.000 người.

Toàn bộ lực lượng trên đây được tổ chức thành các bộ phận cơ động và tại chỗ. Bộ phận cơ động gồm bốn trung đoàn ôtô vận tải 11, 12, 13, 27; hai trung đoàn đường ống xăng dầu, ba trung đoàn pháo cao xạ, tám trung đoàn công binh và Sư đoàn 968 bộ binh. Đây là lực lượng cơ động chiến đấu, đảm bảo giao thông trên toàn tuyến; trong đó các trung đoàn ôtô làm nhiệm vụ vận tải đường dài, tập trung vào những hướng có nhu cầu lớn theo yêu cầu của cấp chiến lược. Bộ phận tại chỗ là lực lượng thuộc quyền chỉ huy của năm bộ tư lệnh khu vực, được tổ chức thành các binh trạm, tiểu đoàn, đại đội, bố trí trên địa bàn mà mỗi bộ tư lệnh khu vực được phân công đảm trách. Các lực lượng tại chỗ này triển khai hoạt động của mình trên những cung trạm nối tiếp nhau từ các cửa khẩu đến điểm nhận hàng của các hướng chiến trường. Ngoài các lực lượng cơ động và tại chỗ, trên tuyến 559 còn có hàng vạn thanh niên xung phong, dân công hoả tuyến - những nam, nữ thanh niên từ mọi miền quê hậu phương miền Bắc đêm ngày trụ bám kiên cường trên mọi nẻo đường, dưới các tán rừng Trường Sơn, làm nhiệm vụ mở đường, bảo đảm giao thông, bốc dỡ và gùi thồ hàng hoá... Vào những thời điểm chiến trường chuẩn bị mở các hoạt động quân sự lớn, yêu cầu về quân số, vũ khí, vật chất tăng lên, tuyến vận tải chiến lược còn được phối thuộc thêm một số đơn vị. Chuẩn bị cho cuộc tiến công chiến lược năm 1972, từ tháng 7-1971, Sư đoàn phòng không 377 mới tái lập cùng nhiều trung đoàn công binh và một số biên đội máy bay tiêm kích được điều động gấp vào tham gia chiến đấu mở đường trên tuyến 559...
______________________________________
1. Tháng 10-1971, Bộ Quốc phòng phê chuẩn việc cho phép Đoàn 559 thành lập các bộ tư lệnh khu vực, phụ trách từng địa bàn, chỉ đạo trực tiếp các binh trạm, tổ chức chiến đấu hợp đồng binh chủng trên tuyến chi viện chiến lược nhằm đối phó hiệu quả với các thủ đoạn và cường độ đánh phá ngăn chặn của địch.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Tư, 2010, 10:23:51 pm

Trước kia việc vận chuyển trên tuyến chủ yếu được tiến hành vào ban đêm trong những tháng mùa khô, trên mạng đường phía tây Trường Sơn. Năng lực vận chuyển do vậy bị hạn chế và dễ bị địch ngăn chặn. Giờ đây, trước đòi hỏi của chiến trường, để đẩy mạnh vận chuyển với quy mô lớn, với nhịp độ ngày càng dồn dập, khẩn trương, tuyến vận tải chiến lược phải có tầm vóc vượt xa tầm vóc hiện tại; phương thức vận chuyển phải được cải tiến, hệ thống đường sá phải được xây dựng và mở rộng thêm, hệ thống các binh trạm, kho tàng, trạm sửa chữa phải được tăng cường và bố trí hợp lý... Để đáp ứng đòi hỏi đó, toàn bộ lực lượng công binh, thanh niên xung phong, dân công hoả tuyến được huy động vào công tác mở đường, đảm bảo giao thông. Trong điều kiện địch đêm ngày đánh phá ác liệt, tập thể những người chiến đấu, công tác trên mặt trận này đã khắc phục muôn vàn giàn khổ hy sinh, phát huy trí thông minh và lòng dũng cảm, đêm ngày trụ bám địa bàn, kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ được giao. Họ kết hợp các phương tiện cơ giới và thô sơ, kể cả dùng biện pháp nghi binh lừa máy bay địch dội bom xuống sườn núi để lấy đá, mở đường. Nhiều nơi, lợi dụng suối cạn ẩn dưới tán cây rừng, những người mở đường đã cải tạo thành những đoạn, những cung “đường kín”, “đường xanh” cho các đoàn xe chạy vào ban ngày. Nối các đoạn, các cung này với nhau, Đoàn 559 đã xây dựng thành tuyến “đường kín” dài hơn 1000km từ bắc Lùm Bùm đến khu vực Hạ Lào1. Trong hai năm 1970 và 1971, sáu trục dọc phía tây Trường Sơn và hàng trăm kilômét trục ngang, hàng nghìn kilômét đường vòng tránh các trọng điểm được những người mở đường Trường Sơn làm mới và nâng cấp, đảm bảo cho các đoàn xe cơ giới hoạt động cả ngày và đêm, tăng khối lượng và tăng tốc độ vận chuyển vật chất ra phía trước.

Bên cạnh vận tải đường bộ, trước đòi hỏi cấp bách của chiến trường, Quân uỷ Trung ương chỉ thị “phải tích cực tăng tỉ lệ vận chuyển đường sông, đường ống, phải nhanh chóng cải tạo các dòng sông, khẩn trương đưa đường ống vào càng sớm càng tốt”2.

Trên mặt công tác này, ngay từ giữa năm 1968, Tổng cục Hậu cần bàn bạc, phối hợp với Bộ Tư lệnh 559 tổ chức đoàn khảo sát, chuẩn bị cho việc triển khai lắp đặt hệ thống đường ống dã chiến từ xóm Rục (Quảng Bình) đến Lùm Bùm (Lào). Tiếp đó, Công trường 18 được thành lập và thi công đoạn đường ống qua các khu vực Vinh - Nam Đàn - Linh Cảm dài 42 km. Đoạn đường ống này, ngay sau đó, được chọn làm trung điểm để kéo dài tuyến đường ống ra phía bắc và vào phía nam. Đây quả thật là một nhiệm vụ mới mẻ, đầy khó khăn, đặt ra một loạt vấn đề thuộc về kỹ thuật rất phức tạp trong điều kiện địa hình núi cao, suối sâu, vực thẳm; nhiều khu vực là vùng trọng điểm đánh phá của địch... Được sự hỗ trợ, giúp đỡ tích cực và hiệu quả của nhà nước, của chính quyền và nhân dân địa phương khu vực đường ống đi qua, toàn bộ lực lượng cán bộ, chiến sĩ, nhân viên kỹ thuật làm nhiệm vụ xây dựng tuyến đường ống chiến lược nối từ hậu phương miền Bắc tới chiến trường miền Nam đã khắc phục muôn vàn gian khổ, thiếu thốn, thử thách, khó khăn; trụ bám kiên cường cả những nơi máy bay địch đêm ngày bắn phá, tìm hiểu và nắm vững quy luật hoạt động của máy bay địch để tìm cách đối phó hiệu quả, kiên quyết gia tăng tiến độ thi công. Nhờ đó, trong ba năm (1969 đến 1971), hệ thống đường ống dài gần 1000 km được lắp đặt và đi vào hoạt động. Vượt qua bao khu vực địa hình phức tạp và hiểm trở với những bình độ xấp xỉ gần nghìn mét so với mực nước biển, từ Hà Nội qua sông Hồng, sông Mã, sông Lam, tuyến đường ống Bắc - Nam chia thành hai nhánh lớn, một nhánh vượt Cổng Trời sang tây Trường Sơn, theo Đường số 12 vào Ka Vát, Bản Xôi, Lằng Khằng (thuộc đất Lào); một nhánh vượt sông Gianh, theo các tuyến đường 10, 18, băng qua dòng Sê Băng Hiêng, vươn tới bắc đường 9. Đây thực sự là bước ngoặt lớn, ảnh hưởng mạnh mẽ tới việc bảo đảm vận tải hàng hoá và sức cơ động binh khí kỹ thuật quy mô lớn của lực lượng vũ trang ta trên các hướng chiến trường. Bởi nếu như mùa khô 1968-1969, bằng phương tiện vận chuyển chính là xe xitéc3, ta chỉ đưa vào tuyến 559 được hơn 90 tấn xăng - trong khi nhu cầu xăng dùng cho số đầu xe của chỉ riêng Đoàn 559 cũng đã là 500 tấn, thì tình hình đó, giờ đây, đã được khắc phục một cánh căn bản. Chỉ trong mùa khô 1970 -1971, khi tuyến đường ống có chiều dài 500 km đi vào hoạt động, khối lượng xăng vào đến tuyến 559 nhận tới 40. 899 tấn xăng dầu, bằng 73,9% tổng khối lượng kế hoạch phải giao cho tuyến 559... Nguồn nhiên liệu được bảo đảm, Đoàn 559 và các chiến trường có thêm điều kiện tăng cường hoạt động vận tải cơ giới và sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại phục vụ chiến đấu, đặc biệt vào thời kỳ quân ta mở các chiến dịch quân sự lớn trên chiến trường4. Năm 1969, khối lượng hàng vận tải vào chiến trường qua tuyến 559 là 170.000 tấn, tăng 29% so với năm 1968, bao gồm hàng chục vạn khẩu súng bộ binh, súng B40, B41, ĐKZ và hàng trăm triệu viên đạn các loại, hàng nghìn máy vô tuyến điện và nhiều vật chất đảm bảo khác. Cũng trong năm này, hơn 80.000 quân từ miền Bắc hành quân vượt Trường Sơn vào bổ sung cho các chiến trường toàn miền Nam. Các năm 1970 và 1971, hậu phương miền Bắc đã gửi vào chiến trường một khối lượng lớn vật chất và 195.000 quân, trong đó có nhiều cán bộ, chiến sĩ thuộc các binh chủng kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu kiện toàn tổ chức, biên chế, trang bị của lực lượng vũ trang ba thứ quân, tăng nhanh thành phần binh chủng ở các chiến trường, tạo điều kiện cho bộ đội ta nâng cao trình độ tác chiến, mở các chiến dịch quân sự lớn đánh bằng lực lượng binh chủng hợp thành, góp phần quyết định làm xoay chuyển cục diện chiến tranh.
______________________________________
1. Để giữ bí mật, ở nhiều cung đường, lực lượng đảm bảo giao thông đã có sáng kiến xây dựng trận địa và kho tàng giả để đánh lạc hướng sự chú ý của máy bay địch, đồng thời tích cực ngụy trang cho các đoạn “đường kín” bằng cách bắc giàn cho cây leo, treo các giò phong lan hoặc làm lưới ngụy trang...
2. Dẫn theo: Công tác vận tải quân sự trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước trên đường Hồ Chí Minh (1959-1975), Tổng cục Hậu cần, 1984, tr.86.
3. Để đảm bảo xăng dầu, có lúc bộ đội ta đã phải dùng túi nilông lót vào ba lô để gùi xăng dầu qua các vùng trọng điểm đánh phá của máy bay Mỹ.
4. Đầu mùa khô 1971-1972, tổng số phương tiện cơ giới hoạt động trên tuyến 559 lên tới 11.000 đầu xe máy. Trong điều kiện nguồn khai thác xăng ở Campuchia rất hạn chế; thêm vào đó, tuyến 559 lại phải trực tiếp vận chuyển chi viện cho Khu V, Tây Nguyên, Trung Lào, Hạ Lào và một phần cho Khu VI, Nam Bộ thì việc đảm bảo hoạt động cho các phương tiện cơ giới, kỹ thuật đòi hỏi một khối lượng xăng dầu rất lớn.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Tư, 2010, 10:25:16 pm

III- ĐẤU TRANH NGOẠI GIAO, CÔ LẬP ĐỊCH, TRANH THỦ SỰ ĐỒNG TÌNH, ỦNG HỘ QUỐC TẾ

Hỗ trợ cho nỗ lực Việt Nam hoá chiến tranh, từ năm 1969, Chính quyền Mỹ đồng thời triển khai thực hiện chiến lược ngoại giao nước lớn rất độc ác. Đây là hoạt động đối ngoại thâm độc và xảo quyệt của đế quốc Mỹ, chẳng những nhằm làm suy giảm sự ủng hộ về tinh thần lẫn vật chất của hai nước xã hội chủ nghĩa hùng mạnh là Trung Quốc và Liên Xô đối với sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta mà còn muốn thông qua hai nước này ép Việt Nam phải giảm bớt những nỗ lực quân sự trên chiến trường đến mức thấp nhất, phải chấp nhận những điều kiện của đối phương đưa ra trên bàn hội nghị. Đấy thực sự là toan tính, là âm mưu cực kỳ thâm độc của chính quyền Níchxơn nhằm phối hợp với sức mạnh của Mỹ, ngụy trên chiến trường để kết thúc chiến tranh có lợi cho Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Theo một số tác giả Mỹ thì, thật ra, từ những năm 1967, 1968, nghĩa là trước khi bước chân vào Nhà Trắng, “Níchxơn tin rằng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia độc lập với những mục tiêu cứng nhắc nên không thể giao thiệp với họ mà thành công trong việc cứu Việt Nam Cộng hoà, trừ phi tranh thủ những người ủng hộ là Liên Xô và Trung Quốc của họ cùng với Mỹ gây sức ép”1. Kể tờ ngày đó, Níchxơn đã xem thế tam giác của mối quan hệ Mỹ - Xô - Trung là con đường có thể có để gây sức ép đối với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”2.

Thực hiện ý đồ trên, trong các năm từ 1969 trở đi, chính quyền Mỹ, bên cạnh việc tăng cường cuộc chiến tranh trên không, trên bộ ở miền Nam Việt Nam và mở rộng cuộc chiến đó ra toàn bộ bán đảo Đông Dương, đã ráo riết triển khai chính sách đối ngoại rất nham hiểm. Họ chắc tin rằng, bằng cách ngoại giao qua đầu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đe doạ leo thang chiến tranh ồ ạt đối với miền Bắc và đẩy mạnh nỗ lực Việt Nam hoá chiến tranh sẽ đưa lại thành công cho Mỹ trong vấn đề Việt Nam. Trong khu vực, Mỹ tìm cách lôi kéo, gây sức ép với Chính phủ Campuchia, tăng cường chiến tranh ở Lào. Trên bàn đàm phán tại hội nghị Pari, chủ trương của chính quyền Níchxơn là vừa tham gia, vừa tìm cách hạ thấp hội nghị, đòi hội nghị đi vào “họp hẹp”, đòi có “họp riêng”3; vừa tham gia vừa trì hoãn, kéo dài bằng cách nêu ra và bám giữ những đòi hỏi vô lý... Thực chất, mục tiêu của Mỹ là lợi dụng hội nghị Pari để đánh lạc hướng sự chú ý của dư luận trong nước và trên thế giới, biến hội nghị thành bình phong che đậy những nỗ lực chiến tranh mà Mỹ và chính quyền Sài Gòn đang ráo riết tiến hành trên bán đảo Đông Dương, dùng sức mạnh trên chiến trường để tạo áp lực trên bàn hội nghị, buộc nhân dân Việt Nam phải chấp nhận những điều kiện do phía Mỹ áp đặt.

Trước âm mưu và hành động chiến tranh mới của địch, Đảng và Nhà nước ta chủ trương tiếp tục giữ vững và phát huy chiến lược tiến công địch trên chiến trường, đẩy mạnh cuộc đấu tranh ngoại giao, tăng cường hoạt động quốc tế, ra sức tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ ngày càng cao của các nước xã hội chủ nghĩa, các chính phủ và nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới. Nghị quyết Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 4-1969 nhận định: “Tiến công ngoại giao là một mặt tiến công quan trọng có ý nghĩa chiến lược lúc này. Nó có nhiệm vụ phát huy thế thắng, và thế chủ động của ta, tiến công một kẻ địch đang thất bại, bị động về mọi mặt và phải xuống thang; phát huy thắng lợi quân sự và chính trị trên chiến trường, phát huy thế mạnh của ta trên trường quốc tế, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ lớn nhất của nhân dân tiến bộ trên thế giới, kể cả nhân dân Mỹ; triệt để lợi dụng những mâu thuẫn và bế tắc của địch, làm cho tình hình hậu phương của Mỹ ngày càng bất lợi cho Mỹ, làm cho chúng ngày càng cô lập, lúng túng và bị động, nắm vững thời cơ, phối hợp với tiến công quân sự và tiến công chính trị, tiến công liên tục và sắc bén, kiên trì nguyên tắc, khéo vận dụng sách lược, vừa kiên quyết và linh hoạt buộc Mỹ phải rút quân và nhận một giải pháp chính trị đáp ứng yêu cầu cơ bản của ta”4.
______________________________________
1, 2. Dẫn theo G.Côncô: Giải phẫu một cuộc chiến tranh, Nxb. Quân đội nhân dân. Hà Nội, 1991, t. 2, tr. 89. Cũng theo tác giả này, trong tính toán của giới lãnh đạo cao cấp Mỹ thời kỳ chiến tranh Việt Nam thì, phạm vi rộng lớn của những lợi ích chung Mỹ- Xô ở những nơi khác trên thế giới, kể cả việc kiềm chế các chính sách của Trung Quốc, sẽ làm cho Liên Xô sẵn sàng đáp ứng những sáng kiến của Mỹ. Đồng thời, phía Mỹ cũng thừa nhận rằng, Trung Quốc cần sự giúp đỡ của Mỹ để phá thế bị cô lập của họ. Đưa ra và thực hiện được những thủ đoạn ngoại giao nhằm vào hai nước Xô, Trung, Mỹ tin rằng sẽ tạo nên sức ép mạnh buộc người Việt Nam phải khuất phục.
3. Nguyễn Duy Trinh: Mặt trận ngoại giao thời kỳ chống Mỹ, cứu nước (1965-1975), Nxb. Sự thật. Hà Nội, 1979, tr.98.
4. Những văn kiện của Đảng về cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954-1969), bản lưu tại Bộ môn Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, t. 1.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Tư, 2010, 10:26:18 pm

Tiến công địch trên mặt trận ngoại giao, tại hội nghị Pari, ngay từ đầu, ta kiên quyết đấu tranh buộc phía Mỹ phải chấp nhận Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tham dự hội nghị với tư cách là một bên độc lập và bình đẳng. Trong mấy tháng đầu của cuộc đàm phán, đoàn ta tại Pari vẫn căn cứ vào lập trường bốn điểm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đề ra từ ngày 8-4-1965, khi Mỹ đưa quân vào miền Nam, mà đấu tranh; còn Mặt trận Dân tộc Giải phóng thì dựa vào Cương lĩnh đã công bố để đấu lý. Chủ động tiến công địch, ngày 8-5-1969, trong phiên họp toàn thể lần thứ 16 của Hội nghị Pari, đại biểu Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam bất ngờ đưa ra giải pháp toàn bộ 10 điểm bao gồm các mặt quân sự, chính trị, đối nội, đối ngoại của miền Nam Việt Nam sau này và vấn đề thống nhất lại Việt Nam nhằm giải quyết vấn đề miền Nam. Nội dung chủ yếu của giải pháp toàn bộ 10 điểm là:

1. Tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.

2. Chính phủ Mỹ phải rút hết quân đội, nhân viên quân sự, vũ khí và dụng cụ chiến tranh của Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam mà không được đòi điều kiện gì.

3. Quyền của nhân dân Việt Nam chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc mình là quyền tự vệ thiêng liêng bất khả xâm phạm. Vấn đề các lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam sẽ do các bên Việt Nam cùng nhau giải quyết.

4. Nhân dân miền Nam Việt Nam tự giải quyết công việc nội bộ của mình, không có sự can thiệp của nước ngoài.

5. Trong thời gian từ khi hoà bình được lập lại cho đến khi tổng tuyển cử, không một bên nào cưỡng bức nhân dân miền Nam Việt Nam phải nhận chế độ chính trị của mình.

Các lực lượng chính trị đại diện cho các tầng lớp nhân dân và các khuynh hướng chính trị ở miền Nam Việt Nam, kể cả những người vì lý do chính trị phải cư trú ở nước ngoài, tán thành hoà bình, độc lập, trung lập, sẽ cùng nhau thương lượng để cùng nhau thành lập một chính phủ liên hiệp lâm thời trên nguyên tắc bình đẳng, dân chủ và tôn trọng lẫn nhau, nhằm thực hiện một miền Nam Việt Nam hoà bình, độc lập, dân chủ, trung lập.

6. Miền Nam Việt Nam thực hiện chính sách ngoại giao hoà bình, trung lập.

7. Việc thống nhất nước Việt Nam sẽ thực hiện từng bước bằng phương pháp hoà bình, trên cơ sở bàn bạc và thoả thuận giữa hai miền, không có sự can thiệp của nước ngoài.

8. Hai miền cam kết không tham gia liên minh quân sự với nước ngoài, không cho phép nước ngoài có căn cứ quân sự, quân đội và nhân viên quân sự trên đất nước mình, không công nhận sự bảo hộ của bất cứ nước nào.

9. Giải quyết những hậu quả chiến tranh: các bên thương lượng về việc thả những quân nhân bị bắt trong chiến tranh, Chính phủ Mỹ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về những thiệt hại và tàn phá do Mỹ gây ra cho nhân dân Việt Nam ở cả hai miền.

10. Các bên sẽ thoả thuận về mọi sự giám sát quốc tế đối với việc rút quân đội, nhân viên quân sự, vũ khí và dụng cụ chiến tranh của Mỹ và các nước thuộc phe Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam.

Với những nội dung trên, đây là một giải pháp vừa kiên trì nguyên tắc bảo đảm độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của miền Nam, đòi Mỹ chấm dứt xâm lược, rút hết và không điều kiện quân Mỹ và quân chư hầu ra khỏi miền Nam, để nhân dân miền Nam tự quyết định lấy chế độ chính trị của mình, không có sự can thiệp của nước ngoài; vừa mở ra triển vọng giải quyết hợp lý hợp tình vấn đề Việt Nam. Đây là lần đầu tiên Mặt trận đưa ra một giải pháp thực tế, tỏ rõ thiện chí mở đường cho Mỹ rút ra trong danh dự mà vẫn giữ được chính quyền thân Mỹ ở miền Nam. Bị động chống đỡ với đòn tiến công ngoại giao này của ta, trong bài diễn văn tám điểm của Tổng thống Mỹ Níchxơn, ngày 14-5-1969 và thông điệp sáu điểm của Nguyễn Văn Thiệu ngày 11-7-1969, Mỹ và chính quyền Sài Gòn vẫn bám giữ lập trường ngoan cố, đòi rút quân Mỹ có điều kiện, đòi hai bên - Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cùng xuống thang, cùng rút quân ra khỏi miền Nam và đòi giữ nguyên chính quyền Sài Gòn. Thực chất, đây là những điều kiện ngang ngược, đánh đồng giữa kẻ xâm lược và người bị xâm lược của chính quyền Mỹ.

Dẫu vậy, từ đề nghị của hai bên, lần đầu tiên trên bàn đàm phán đã xuất hiện hai kế hoạch giải quyết vấn đề Việt Nam. Tựu trung, trong kế hoạch của mình, phía Việt Nam đòi giữ nguyên quân miền Bắc ở lại miền Nam sau khi Mỹ rút và đòi xoá bỏ chính quyền Sài Gòn. Ngược lại, hai điểm chủ chốt trong kế hoạch của Mỹ là quân đội miền Bắc phải rút cùng quân Mỹ và giữ nguyên chính quyền Sài Gòn. Đó là hai vấn đề then chốt tồn tại suốt các phiên họp kế tiếp sau đó mà để giải quyết, các bên tham gia đàm phán đều nhận thức rất rõ, trước tiên và chủ yếu phải tạo áp lực bằng ưu thế quân sự trên chiến trường.

Việc thành lập Chính phủ Cách mạng lâm thời đã tạo ra tình thế mới liên quan tới cuộc đàm phán đang diễn ra tại Pari. Từ đây, ở miền Nam, xuất hiện hình thái hai chính quyền song song tồn tại. Hơn nữa, trong một thời gian ngắn, đã có nhiều nước công nhận Chính phủ cách mạng lâm thời, trong đó hơn 20 nước đặt quan hệ ngoại giao và nhiều tổ chức dân chủ quốc tế cũng như khu vực công nhận, do đó có thêm điều kiện thuận lợi để tăng cường hoạt động đối ngoại và đó còn là một thực tế mà Mỹ, ngụy dù không muốn vẫn buộc phải chấp nhận.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Tư, 2010, 10:26:53 pm

Bước sang năm 1970, tình hình Đông Dương có những chuyển biến mới. Ở Lào, quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với bạn mở chiến dịch phản công giải phóng hoàn toàn vùng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, đập tan cố gắng lớn về quân sự của Mỹ và tay sai ở một địa bàn chiến lược quan trọng, giáng đòn nặng vào âm mưu tăng cường chiến tranh đặc biệt ở Lào của đế quốc Mỹ. Tiếp đó, từ ngày 6-3-1970, Mặt trận Lào yêu nước đã đề ra giải pháp chính trị 5 điểm nhằm chấm dứt chiến tranh xâm lược của Mỹ, lập lại hoà bình ở Lào trên cơ sở Hiệp nghị Giơnevơ 1962 và tình hình thực tế hiện nay ở Lào, nhằm xây dựng một nước Lào hoà bình, độc lập, trung lập, dân chủ, thống nhất và thịnh vượng. Ở Campuchia, ngày 18-3-1970, đế quốc Mỹ chủ mưu gây ra cuộc đảo chính lật đổ Chính phủ Vương quốc Campuchia, đưa bè lũ Lonnon lên nắm quyền. Mục tiêu của Mỹ là biến nước trung lập này thành thuộc địa kiểu mới. Tiếp đó, ngày 30-4-1970, mười vạn quân Mỹ và quân Sài Gòn ồ ạt tiến công trên toàn tuyến biên giới Việt Nam - Campuchia, vào sâu từ 30 đến 40 km...

Từ ngày 30-5, phối hợp chặt chẽ với bạn, ta và bạn đẩy mạnh tiến công địch, hỗ trợ cho nhân dân Campuchia nổi dậy giải phóng một vùng rộng lớn từ phía bắc tỉnh Ratanakiri đến nam tỉnh Campốt dọc tuyến biên giới với chiều sâu từ 20 đến 40 km.

Trên đà thắng lợi, trong hai ngày 24 và 25-4-1970, hội nghị cấp cao nhân dân ba nước Đông Dương được tổ chức ở Trung Quốc, tại một địa điểm gần biên giới ba nước Việt Nam - Trung Quốc - Lào. Đoàn đại biểu Chính phủ ta do Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu, đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam, do Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ dẫn dầu, đoàn đại biểu Campuchia do Quốc trưởng Xihanúc dẫn đầu và đoàn đại biểu Lào do Hoàng thân Xuvanuvông dẫn đầu. Tham dự hội nghị còn có Thủ tướng Quốc vụ viện nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa Chu Ân Lai. Hội nghị thảo luận nhiều vấn đề quan trọng liên quan tới sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và nhất trí ra Tuyên bố chung, xem đó như Cương lĩnh đấu tranh chung của nhân dân ba nước trên bán đảo Đông Dương. Tuyên bố chung của hội nghị chỉ rõ mục tiêu chiến đấu của các bên Campuchia, Lào, miền Nam Việt Nam là độc lập, hoà bình, trung lập, không cho phép nước ngoài có quân đội hoặc căn cứ quân sự trên đất nước mình, không tham gia liên minh quân sự nào, không cho phép nước ngoài dùng lãnh thổ mình để xâm lược nước khác. Để đạt tới mục tiêu đó, các bên cam kết hết lòng ủng hộ lẫn nhau theo yêu cầu của mỗi bên và trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, quyết tâm bảo vệ và phát triển tình hữu nghị anh em và quan hệ láng giềng tốt giữa ba nước, trước mắt cũng như lâu dài.

Như vậy, hội nghị này là cột mốc đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của tình đoàn kết gắn bó giữa cách mạng và nhân dân ba nước trên bán đảo Đông Dương. Thành công của hội nghị làm thất bại âm mưu chia rẽ khối đoàn kết giữa ba dân tộc của đế quốc Mỹ. Trên thực tế, liên minh chiến đấu Việt nam, Lào, Campuchia đã hình thành và ngày càng được củng cố vững chắc. Đó là một thắng lợi to lớn trên mặt trận ngoại giao của nhân dân ta.

Tại Pari, ngày 17-9-1970. trưởng đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời đưa ra đề nghị tám điểm nói rõ thêm về một giải pháp chính trị cho vấn đề Việt Nam. Những điểm chủ yếu trong đề nghị tám điểm này là:

- Rút hết quân Mỹ và quân các nước thuộc phe Mỹ ra khỏi miền Nam trước ngày 30-6-1971. Trong trường hợp đó các lực lượng vũ trang giải phóng sẽ không đánh vào quân Mỹ đang rút;

- Thành lập ở Sài Gòn một chính quyền không có Thiệu - Kỳ - Khiêm, một chính quyền tán thành hoà bình, độc lập, trung lập... Và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam sẵn sàng nói chuyện ngay với một chính phủ như vậy về vấn đề chấm dứt chiến tranh Việt Nam.

Những đề nghị đó, cùng với những thắng lợi quân sự và chính trị của quân, dân ta trên chiến trường, là đòn tiến công mạnh mẽ vào âm mưu và hành động của chính quyền Níchxơn muốn dùng Việt Nam hoá chiến tranh để gây áp lực trên bàn hội nghị và dùng thương lượng phục vụ cho Việt Nam hoá chiến tranh. Trước tình hình đó, ngày 7-10-1970 Níchxơn đưa ra đề nghị ngừng bắn gồm năm điểm và năm ngày sau, thông báo sẽ rút thêm 40.000 quân Mỹ trước Nôen 1970. Trong điều kiện tương quan lực lượng ở chiến trường, cho đến thời điểm ấy, vẫn nghiêng về phía Mỹ và chính quyền Sài Gòn thì đề nghị và tuyên bố trên đây của Níchxơn, về thực chất, là nhằm đẩy trách nhiệm trì hoãn thương lượng sang phía Việt Nam, che dấu thái độ ngoan cố, hiếu chiếu và xoa dịu dư luận phản đối chiến tranh, phản đối chính quyền Mỹ đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ ở nước Mỹ và trên khắp thế giới.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Tư, 2010, 10:28:35 pm

Bước sang năm 1971, ta tiếp tục đẩy mạnh thế chủ động tiến công địch trên mặt trận ngoại giao. Tuy nhiên, vào lúc đó, chính sách ngoại giao nước lớn của chính quyền Mỹ nhằm gây sức ép tối đa với Việt Nam đang trên đà tiến triển1. Cuộc đấu tranh của nhân dân ta, vì vậy, giờ đây diễn ra trong những điều kiện vừa thuận lợi nhưng cũng đầy phức tạp, khó khăn.

Theo dõi chặt chẽ toàn bộ diễn biến tình hình trong nước và trên thế giới có liên quan, kết hợp chặt chẽ và nhịp nhàng các mặt đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao, trên bàn đàm phán ta tiếp tục nêu cao thiện chí thương lượng, tố cáo âm mưu và hành động hiếu chiến của đế quốc Mỹ, buộc Mỹ, dù không muốn, vẫn phải tiếp tục xuống thang. Cho đến giữa năm 1971, Mỹ đã phải đơn phương rút 39 vạn quân. Đồng thời, trong nhiều cuộc họp riêng, Mỹ tỏ ý muốn giải quyết sớm vấn đề chiến tranh Việt Nam và không còn nhắc đến đòi hỏi rút quân đội miền Bắc ra khỏi miền Nam. Tuy nhiên, âm mưu của chính quyền Mỹ giờ đây là tách vấn đề quân sự ra khỏi chính trị, chỉ tập trung giải quyết vấn đề quân sự. Mục đích của Mỹ trong vấn đề này là tìm cách rút quân, lấy được tù binh và ngừng bắn nhưng vẫn duy trì và củng cố chính quyền và quân đội Sài Gòn. Âm mưu này của phía Mỹ được thể hiện rõ trong chương trình bảy điểm mà Kítxinhgơ đưa ra ngày 31-5-1971. Chương trình đó của Mỹ gồm những nội dung chính sau:

1. Hoa Kỳ sẵn sàng ấn định một thời hạn cho việc rút quân Mỹ.

2. Người Việt Nam và người các nước Đông Dương sẽ thảo luận với nhau cách thức rút tất cả lực lượng ngoại nhập khác ra khỏi Đông Dương.

3. Ngừng bắn tại chỗ trên toàn Đông Dương bắt đầu từ khi Mỹ rút quân.

4. Không đưa thêm lực lượng ngoại nhập vào các nước Đông Dương.

5. Giám sát quốc tế về ngừng bắn.

6. Tôn trọng Hiệp đinh Giơnevơ năm 1954 về Campuchia và năm 1962 về Lào.

7. Phóng thích tù binh và thường dân vô tội toàn Đông Dương bắt đầu với việc rút quân Mỹ.

Trong khi đó, phía Việt Nam cho rằng hòn đá thử vàng của bất kỳ giải pháp nào về Việt Nam là cách giải quyết vấn đề rút quân viễn chinh Mỹ và vấn đề chính trị nội bộ của nhân dân miền Nam Việt Nam. Không rút hết quân viễn chinh Mỹ thì độc lập, chủ quyền của nhân dân Việt Nam tiếp tục bị chà đạp và không thể được bảo đảm. Rút quân Mỹ mà vẫn giữ ngụy quyền tay sai của Mỹ để tổ chức các cuộc bầu cử tức là thủ tiêu quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam”2. Vì vậy, trong gặp riêng với phái đoàn Mỹ, Bộ trưởng Xuân Thuỷ - Trưởng đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đã đưa ra giải pháp chín điểm (ngày 26-6-1971). Phối hợp với diễn đàn bí mật, trên diễn đàn công khai, ngày 1-7-1971, Chính phủ Cách mạng lâm thời đưa ra sáng kiến bảy điểm. Theo đó, lập trường của Việt Nam là phải giải quyết toàn bộ và chỉ ngừng bắn sau khi giải quyết cả vấn đề quân sự và chính trị:

- Mỹ phải định thời hạn rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam;

- Mỹ phải chấm dứt việc ủng hộ nhóm cầm quyền hiếu chiến do Nguyễn Văn Thiệu cầm đầu.

Lập trường trên đây của phía Việt Nam, ngay lập tức, nhận được sự đồng tình rộng rãi của dư luận thế giới, đặc biệt là ở Mỹ. Phong trào phản đối chiến tranh, phản đối chính quyền phát triển mạnh mẽ, rộng khắp nước Mỹ từ những năm trước đó3, giờ lại bùng lên. Quốc hội, báo chí Mỹ đòi Chính phủ Mỹ không được bỏ qua dịp này để rút quân ra khỏi Việt Nam, đưa tù binh về nước, chấm dứt sự dính líu của Mỹ, lập lại hoà bình, kết thúc chiến tranh. Thêm vào đó, tháng 6-1971, một phần Tài liệu mật Lầu Năm góc4 được đăng tải trên tờ Thời báo Niu Yoóc (The NewYork times). Tuy công trình nghiên cứu này được biên soạn dưới thời Giônxơn làm tổng thống, không liên quan tới chính quyền Níchxơn nhưng việc một tài liệu tối mật bị tiết lộ mà tiết lộ trên báo chí Mỹ, thì bản thân sự việc đó đã làm Chính phủ Mỹ bị mất mặt, đã tạo thêm áp lực mới đối với chính quyền Níchxơn trong vấn đề Việt Nam.
______________________________________
1. Tháng 4-1971, theo lời mời của phía Trung Quốc, Mỹ cử đoàn bóng bàn sang thăm và được đón tiếp trọng thể tại Đại lễ đường nhân dân ở Bắc Kinh. Ngày 21-4-1971, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai chính thức mời Tổng thống Mỹ Níchxơn sang thăm Trung Quốc. Chuẩn bị cho cuộc viếng thăm đó, Kítxinhgơ đã hai lần sang Trung Quốc trong năm 1971...
2. Nguyễn Duy Trinh: Mặt trận ngoại giao thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, Sđd, tr.161.
3. Những năm từ 1969 đến 1971, phong trào phản đối chiến tranh, phản đối chính sách của chính quyền Níchxơn trong vấn đề Việt Nam lan rộng khắp nước Mỹ. Tác giả cuốn Lời phán quyết về Việt Nam - A.Am tơ, gọi đây là “Cuộc chiến tranh trong nước”, và cho biết, sau khi lực lượng cảnh vệ quốc gia đàn áp đẫm máu cuộc biểu tình của sinh viên trường đại học bang Kent, giết chết bốn sinh viên và làm bị thương chín sinh viên khác (ngày 4-5-1970), thì đã có tới 900 khu đại học trên toàn bộ nước Mỹ xuất hiện những làn sóng người biểu tình từ khắp nước Mỹ giận dữ đổ về Thủ đô Oasinhtơn. Chứng kiến quang cảnh này, Kítxinhgơ cho hay, “Oasinhtơn mang tính chất một thành phố bị bao vây. Đỉnh cao của phong trào phản đối công khai của quần chúng đã đạt được vào khoảng ngày 9-5 khi một đám đông khoảng từ 75.000 đến 100.000 người biểu tình vào một buổi chiều thứ bảy nóng bức tại Enlípxơ, công viên ở phía nam Nhà Trắng... Một dãy 60 xe buýt được sử dụng để bảo vệ khu nhà của Tổng thống. Sau ngày 9-5, hàng nghìn sinh viên nữa, thường là do khoa của họ lãnh đạo, đến Oasinhtơn để tố cáo “sự leo thang” và “sự điên rồ” của Chính phủ họ”. Dẫn theo G.A.Am tơ: Lời phán quyết về Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân. Hà Nội. 1985. tr.342-343.
4. Công trình nghiên cứu lớn do tập thể 36 tác giả Mỹ thực hiện theo đơn đặt hàng của R.S.Mác Namara người giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ dưới thời Tổng thống Kennơđi và Giônxơn: người mà cho đến giữa năm 1967, trên cương vị Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, do rất ngán ngẩm với cuộc chiến tranh Việt nam và vì vậy, đã cho tiến hành công trình này để biết lý do và cách thức Mỹ dính líu quá sâu đến như vậy ở Việt Nam trong thời gian từ 1945 đến 1968.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Tư, 2010, 10:30:13 pm

Áp lực này càng gia tăng khi ngày 30-9-1971, Thượng viện Mỹ hầu như nhất trí thông qua nghị quyết buộc Níchxơn rút hết quân trong vòng sáu tháng với điều kiện duy nhất là đưa được tù binh về nước. Trong những điều kiện đó, tại các cuộc gặp riêng nửa sau năm 1971, Mỹ liên tiếp đưa ra đề nghị tỏ ý muốn giải quyết sớm vấn đề chiến tranh Việt Nam, trong đó có một số nhượng bộ mới như Mỹ sẽ công bố một lịch trình rút hết quân Mỹ và đồng ý khả năng để Nguyễn Văn Thiệu từ chức...

Trước những nhượng bộ mới trên đây của Mỹ, phía Việt Nam cho rằng chính quyền Níchxơn vẫn tỏ ra rất ngoan cố, âm mưu rút quân từng bước để thực hiện Việt Nam hoá chiến tranh, đồng thời duy trì một số quân vô thời hạn để làm con bài mặc cả. Hơn nữa, vào lúc đó, “ta đang có khả năng kéo Mỹ xuống một bước nữa để giành một thắng lợi căn bản tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn”1. Muốn vậy, điều quan trọng giờ đây là ta “phải dùng chính trị, ngoại giao kết hợp với quân sự”2. Về quân sự, những tháng cuối năm 1971, ta đang ra sức chuẩn bị mọi mặt cho cuộc tiến công chiến lược 1972. Bởi vậy, ở hội nghị Pari, ta chủ trương giữ vững lập trường bảy điểm mà Chính phủ Cách mạng lâm thời nêu ra ngày 1-7-1971.

Phối hợp với cuộc đấu tranh trên bàn đàm phán, Đảng, Quốc hội và Chính phủ ta ra sức tăng cường các hoạt động quốc tế cử nhiều đoàn đại biểu đi thăm hữu nghị nhiều nước xã hội chủ nghĩa anh em, sử dụng diễn đàn hội nghị Pari để tố cáo âm mưu và hành động xâm lược, hiếu chiến của Mỹ, ngụy trước dư luận thế giới... Bên cạnh đó, các đoàn thể nhân dân ta đẩy mạnh hoạt động trong các hội nghị quốc tế; tăng cường quan hệ với các tổ chức hoà bình, dân chủ trên thế giới, kể cả ở Mỹ, nhằm tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của dư luận tiến bộ ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân ta. Đồng thời, Mặt trận Dân tộc Giải phóng và Chính phủ Cách mạng lâm thời cũng nỗ lực mở rộng các hoạt động quốc tế ở khắp mọi nơi...

Với những nỗ lực trên đây, trong những năm này, mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân Việt Nam tiếp tục được mở rộng. Mặc dù tình hình quốc tế có nhiều phức tạp, mâu thuẫn Xô - Trung vẫn diễn biến gay gắt và đế quốc Mỹ vẫn ráo riết lợi dụng để chia rẽ nước ta với các nước xã hội chủ nghĩa nhưng nhìn chung, cho đến năm 1971, “các nước xã hội chủ nghĩa vẫn tiếp tục ủng hộ đường lối, mục tiêu, lập trường và quyết tâm chiến đấu của nhân dân ta, ủng hộ giải pháp bảy điểm của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam với hai vấn đề được rõ thêm; giành cho nhân dân ta sự giúp đỡ to lớn, quý báu và hiệu quả về quân sự và kinh tế”3. Quan hệ đoàn kết chiến đấu của liên minh ba nước Campuchia, Lào và Việt Nam qua thử thách khốc liệt của chiến tranh đang không ngừng được củng cố và phát triển. Phong trào ủng hộ Việt Nam của nhân dân thế giới ngày càng diễn ra sôi nổi, mạnh mẽ. Tính đến tháng 12-1970, đã có 10 uỷ ban quốc tế đoàn kết với Việt Nam, hơn 100 uỷ ban quốc tế đoàn kết với Việt Nam ở từng nước, hơn 20 uỷ ban điều tra và tố cáo tội ác của đế quốc Mỹ tại Việt Nam4. Phong trào phản đối chiến tranh, phản đối chính quyền của các tầng lớp xã hội - kể cả các nghị sĩ Quốc hội, các cựu binh Mỹ từng tham gia chiến tranh Việt Nam... tiếp tục dâng cao ngay trên đất Mỹ. Trên thế giới, nhiều đoàn đại biểu các nước, các đảng, các tổ chức tiến bộ từ châu Á, châu Phi, châu Âu, châu Mỹ tiếp tục đến thăm Việt Nam và mang đến cho nhân dân ta tình đoàn kết, sự ủng hộ, giúp đỡ quý báu. “Việt Nam đã trở thành hiện thân của một sự nghiệp quốc tế mới... và nó tượng trưng cho một phong trào thế giới rộng lớn và nhiều mặt với một lý tưởng trong sáng mà hàng triệu, hàng triệu không kể xiết nhân dân đã hưởng ứng và tập hợp quanh nó”5. Uy tín và ảnh hưởng của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hoà miền Nam Việt Nam không ngừng được nâng cao trên trường quốc tế. Kể từ năm 1965 đến năm 1971, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã đặt hoặc nâng quan hệ ngoại giao lên với 18 quốc gia. Cho đến năm 1970, số đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam được mời thăm các nước trên thế giới lên tới gần 120 lượt. Sau gần ba năm ra đời (1969-1971), Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 26 nước. Có thể thấy, hiếm có một chính phủ nào sau khi thành lập lại được quốc tế sớm thừa nhận và đặt quan hệ ngoại giao nhanh, nhiều như vậy. Điều đó chứng tỏ sự ủng hộ rộng lớn, mạnh mẽ của mặt trận nhân dân thế giới đối với sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân Việt Nam.

Nhìn chung lại, trải qua ba năm sau khi bước ra từ đổ nát của chiến tranh (1969-1971), hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa đang có những bước tiến đáng kể trên tất cả mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự và đối ngoại. Sản xuất được phục hồi. Đời sống các tầng lớp nhân dân được bảo đảm và có mặt được cải thiện. Niềm tin của người hậu phương vào sự lãnh đạo của Đảng không ngừng được củng cố. Trên cơ sở đó, an ninh chính trị, trật tự và an toàn xã hội được giữ vững; sức mạnh quốc phòng được tăng cường, công tác đối ngoại được đẩy mạnh. Đó là nền tảng đảm bảo cho miền Bắc có đủ điều kiện và sức mạnh để vừa tự bảo vệ, vừa làm tròn nghĩa vụ chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến lớn miền Nam, cho cách mạng hai nước Campuchia và Lào đang cùng Việt Nam chung một chiến hào đánh Mỹ.
______________________________________
1, 2. Lê Duẩn: Thư vào Nam, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1985, tr. 266.
3. Báo cáo tại kỳ họp thứ hai Quốc hội khoá IV (2-1972), dẫn trong Mặt trận ngoại giao thời kỳ chống Mỹ, cứu nước (1965-1975), Sđd, tr.181.
4. Dẫn theo Sức mạnh chiến thắng của cuộc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1985, tr.288.
5. G.Gôncô: Giải phẫu một cuộc chiến tranh, Sđd, tr.83-84.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Tư, 2010, 12:00:01 am

CHƯƠNG 26
PHỐI HỢP ĐÁNH ĐỊCH TRÊN CHIẾN TRƯỜNG BA NƯỚC ĐÔNG DƯƠNG


I- ĐẾ QUỐC MỸ MỞ RỘNG CHIẾN TRANH RA TOÀN CÕI ĐÔNG DƯƠNG - CHỦ TRƯƠNG CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG TA

Nằm trong kế hoạch của chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh, cùng với việc đẩy mạnh nỗ lực quân sự và bình định ở miền Nam Việt Nam, đế quốc Mỹ tăng cường chiến tranh đặc biệt ở Lào, đồng thời từng bước mở rộng chiến tranh sang Campuchia nhằm cắt đường mòn Hồ Chí Minh ngăn chặn nguồn tiếp tế từ miền Bắc vào miền Nam, xoá bỏ hệ thống căn cứ kháng chiến của cách mạng miền Nam được Mỹ mệnh danh là “đất thánh của Việt cộng” ở bên kia biên giới, làm giảm sức tiến công của ta và tiến tới cô lập, bóp nghẹt phong trào kháng chiến của nhân dân ta ở miền Nam.

Tại Lào, khi Níchxơn lên cầm quyền, viện trợ quân sự của Mỹ cho phái hữu Lào tăng từ 90,4 triệu đôla tài khoá 1968 -1969 lên 146 triệu đôla tài khoá 1969 -1970. Mỹ còn đưa thêm hàng ngàn cố vấn, ra sức xây dựng quân phái hữu Lào nhằm biến đội quân này thành lực lượng xung kích chiến lược trong chiến tranh đặc biệt ở Lào; đồng thời Mỹ đẩy cuộc chiến tranh không quân tại đây cả về quy mô lẫn cường độ đánh phá1.

Từ cuối tháng 4-1969 đến tháng 6-1969, Mỹ chỉ đạo các lực lượng quân đặc biệt Vàng Pao, quân phái hữu mở liên tiếp ba cuộc hành mang tên Xamắckhi (Đoàn kết) I, II, III đánh chiếm thị xã Xiêng Khoảng và vùng xung quanh Cánh Đồng Chum. Song chúng bị các lực lượng Quân giải phóng nhân dân Lào (tiểu đoàn 1 và 701) cùng bộ đội địa phương và du kích huyện Mường Khun (Xiêng Khoảng) ngăn chặn và tiêu hao buộc phải rút chạy về Sảm Thông - Long Chẹng.

Thượng tuần tháng 6 đến đầu tháng 7-1969, ta và bạn phối hợp mở chiến dịch Mường Sủi nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, nhất là “lực lượng đặc biệt” quân cơ động của Vàng Pao, khôi phục mở rộng vùng giải phóng, củng cố, giữ vững địa bàn chiến lược quan trọng Cánh Đồng Chum, tạo thế uy hiếp sào huyệt địch ở Sảm Thông - Long Chẹng, chia cắt Luông Pha Băng với Viên Chăn, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động quân sự của ta và bạn trong mùa khô tới.

Tham gia chiến dịch về phía Việt Nam có Sư đoàn 316 (thiếu), ba tiểu đoàn đặc công, hai tiểu đoàn pháo cối 120 mm, hai tiểu đoàn súng máy phòng không 12,7 mm, hai đại đội xe tăng... Phía bạn Lào có hai tiểu đoàn bộ binh, hai tiểu đoàn súng máy phòng không 12,7 mm, một đại đội súng máy 14,5 mm, một trung đội xe tăng và một đại đội cối.

Đêm 23 rạng ngày 24-6-1969, chiến dịch mở màn. Trên tất cả các mũi, các hướng, ta đồng loạt tiến công địch, đến sáu giờ sáng 24-6-1969, ta đã làm chủ một số khu vực, khống chế sân bay Mường Sủi, uy hiếp bản Khai. Từ ngày 28-6 đến ngày 1-7-1969, phát triển tiến công, ta làm chủ toàn bộ Mường Sủi, truy quét tàn quân địch đến tận ngã ba Salaphu khun, tạo thế uy hiếp Sảm Thông - Long Chẹng. Đến đây, chiến dịch kết thúc thắng lợi, hệ thống phòng thủ kiên cố lâu năm của địch trên chiến trường Lào bị phá tan. Đánh giá ý nghĩa của thắng lợi này, đồng chí Khămtày Xiphănđon nói: “Mường Sủi là một hệ thống phòng ngự khá vững chắc, lại được pháo binh Thái Lan và máy bay Mỹ trực tiếp chi viện, thế mà trong một thời gian ngắn, lại đang giữa mùa mưa lũ, liên quân Lào - Việt đã nhanh chóng đập tan cụm phòng ngự của địch. Điều đó chứng tỏ khả năng hiện nay của ta có thể đánh bại cuộc chiến tranh đặc biệt tăng cường của Mỹ ở Lào”2. Hãng UPI thì bình luận: “Mường Sủi là trận đánh tai hại nhất của Mỹ ở Lào từ đầu 1969 đến nay” (Hãng tin Mỹ UPI, ngày 28-6-1969).

Sau thất bại này, đế quốc Mỹ càng tăng cường ném bom, bắn phá ác liệt các vùng giải phóng thuộc hai tỉnh Xiêng Khoảng và Hủa Phăn. Mỗi ngày, Mỹ sử dụng trung bình từ 100 đến 200 lần chiếc máy bay xuất phát từ các căn cứ không quân trên đất Thái Lan và từ các tàu sân bay của Hạm đội 7 vào hoạt động này. Đồng thời, lợi dụng mùa mưa, cuối tháng 7-1969, Mỹ đã tập trung một lực lượng lớn bao gồm cả phỉ Vàng Pao, quân phái hữu Lào và quân Thái Lan3 mở cuộc hành quân lớn mang tên Cù Kiệt. Mục đích của cuộc hành quân này là đánh chiếm Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, lấy địa bàn có tầm quan trọng này làm bàn đạp tiến công sâu vào vùng giải phóng Hủa Phăn - căn cứ địa của cách mạng Lào, thực hiện chiến lược “phòng ngự từ xa”, bảo vệ phòng tuyến sông Mê Công của Mỹ và Thái Lan, che chở khu vực Sảm Thông - Long Chẹng - sào huyệt của lực lượng đặc biệt Vàng Pao do Mỹ trực tiếp nuôi dưỡng và chỉ huy.
_______________________________________
1. Theo thú nhận của Níchxơn trong bài diễn văn về Lào ngày 6-3-1970 thì Mỹ đã ném bom toàn bộ nước Lào chứ không phải chỉ có đường mòn Hồ Chí Minh.
2. Lịch sử Quân đội nhân dân Lào, Bản dịch tiếng Việt, lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, tr.6.
3. Tham gia cuộc hành quân có 18 tiểu đoàn, 52 đại đội thuộc lực lượng đặc biệt và 5.000 quân Thái Lan với sự chi viện tối đa của không quân Mỹ. Có thể nói đây là nỗ lực quân sự lớn nhất của Mỹ và quân phái hữu Lào tính đến thời điểm đó.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Tư, 2010, 12:00:52 am

Ngày 31-7-1969, dưới sự yểm trợ của không quân và pháo binh Mỹ, lực lượng hỗn hợp từ các căn cứ Sảm Thông - Long Chẹng, Văng Viêng ồ ạt tiến công vào trung tâm Cánh Đồng Chum.

Mùa mưa, các công sự phòng ngự của ta ở khu vực Cánh Đồng Chum đều ngập nước, sụt lở, lực lượng ngăn chặn tại chỗ mỏng. Vì vậy, trong những ngày đầu, địch lấn chiếm rất nhanh. Tiến đến đâu, địch thực hiện đốt sạch, phá sạch, giết sạch đến đó, gây nhiều thiệt hại về người và của cho nhân dân các bộ tộc Lào, nhất là ở các huyện Mường Pẹc, Mường Khun, Mường Khăm. Hàng trăm bản làng với hàng ngàn nóc nhà bị huỷ diệt. Một số lớn dân ở khu vực Cánh Đồng Chum phải lánh đi nơi khác.

Cùng với cuộc hành quân Cù Kiệt, địch còn tăng cường hoạt động ở Hủa Phăn, Bôlikhămxay, mở các cuộc hành quân lấn chiếm ở Luông Nậm Thà, đánh phá cơ sở du kích ta ở vùng Mường Nằn (đông nam Luông Phabăng), dùng máy bay rải chất độc hoá học xuống vùng căn cứ du kích Nhọt Ngầm, Pha La Vẹc (tỉnh Viêng Chăn Đông) hòng loại bỏ căn cứ bàn đạp của ta bấy giờ đang uy hiếp phía sau căn cứ Long Chẹng và vùng đồng bằng Viên Chăn của chúng.

Trong điều kiện cực kỳ khó khăn về địa hình, thời tiết, đảm bảo hậu cần, tiếp tế vũ khí đạn dược... các lực lượng thuộc Quân khu Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng cùng quân tình nguyện Việt Nam và lực lượng vũ trang địa phương bền bỉ trụ bám địa bàn, chặn đánh quyết liệt, tiêu hao một bộ phận sinh lực địch suốt gần ba tháng ròng. Song, do lực lượng chênh lệch quá lớn - nghiêng về phía địch, do điều kiện thời tiết không thuận lợi cho hoạt động chiến đấu phòng ngự, ta không cản nổi sức tiến công của địch, thương vong tăng lên. Đến tháng 9-1969, địch đã cơ bản chiếm được Cánh Đồng Chum và tiến sát các cửa ngõ gần biên giới Việt Nam như bản Ban, Noọng Hét. Tình hình bất lợi cho ta. Lực lượng tiếp tục bị tiêu hao, lương thực và đạn dược cạn dần. Cuối tháng 9-1969, bộ đội ta được lệnh rút ra để củng cố, chỉ để lại hơn một tiểu đoàn cùng bạn giữ bàn đạp tiến công.

Quyết không để mất địa bàn chiến lược quan trọng, ta và bạn thống nhất phối hợp mở chiến dịch phản công lấy mật danh là Chiến dịch 139, nhằm tiêu diệt bộ phận quan trọng sinh lực địch (chủ yếu là lực lượng đặc biệt Vàng Pao), khôi phục vùng giải phóng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. tạo thế cho cách mạng Lào phát triển. Tham gia chiến dịch, phía bạn Lào có mười tiểu đoàn bộ binh, một đại đội xe tăng, một tiểu đoàn pháo mặt đất, đại đội đặc công và các đơn vị bảo đảm chiến đấu. Phía Việt Nam có hai sư đoàn (312 và 316), hai tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 866, Trung đoàn pháo binh 16, một đại đội xe tăng, Trung đoàn công binh 45, các tiểu đoàn đặc công 20, 25A, 25B. Tư lệnh chiến dịch - đồng chí Vũ Lập, Chính uỷ - đồng chí Huỳnh Đắc Hương.

Ngày 25-10-1969, sau một thời gian làm công tác chuẩn bị, bộ đội ta bắt đầu đợt hoạt động tạo thế cho chiến dịch phản công Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Lúc này ở Lào mùa mưa chưa hết. Mạng đường chiến dịch vốn đã kém phát triển nay thường xuyên bị sụt lở, lầy lội. Thêm vào đó, không quân Mỹ đánh phá suốt ngày đêm, biệt kích, thám báo tăng cường lùng sục xung quanh khu vực Cánh Đồng Chum. Việc tập kết vật chất và lực lượng, việc triển khai đội hình chiến dịch vì vậy gặp nhiều trở ngại. Không chịu bó tay, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hy sinh, suốt ba tháng ròng, bộ đội ta ngày đêm vừa chiến đấu, vừa mở đường nối thông đường 7B đoạn từ Mường Xén đến thị xã Xiêng Khoảng và khai thông đường 7 đoạn từ Mường Xén qua bản Ban đi bản Noọng Pẹt - Khang Khay - Bản Áng - Mường Sủi tới ngã ba Xala Phukhun đưa lực lượng và vật chất vào các khu vực tập kết xung quanh Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng.

Đầu tháng 2-1970, giai đoạn tạo thế chiến dịch kết thúc, Bộ Chỉ huy chiến dịch quyết định mở đợt hai, đánh thông vào trung tâm Cánh Đồng Chum. Chỉ trong hai ngày đầu đợt hai (ngày 11 và 12-2-1970), ta đã phá vỡ cụm phòng ngự địch ở Noọng Pẹt, chiếm một số điểm cao ở phía đông và phía bắc Cánh Đồng Chum. Ngày 18-2, ta phát triển tiến công địch mạnh mẽ ở trung tâm Cánh Đồng Chum phá vỡ thế phòng ngự của chúng. Ngày 21-2, toàn bộ quân địch buộc phải rút khỏi Cánh Đồng Chum. Ngày 24-2, ta và bạn đánh chiếm Mường Sủi, tập kích mạnh Xala Phukhun, buộc địch phải rút bỏ Xiêng Khoảng, Phu Khe, Pa Đông, Mường Chà.

Trên hướng phối hợp, ngày 16-2-1970, đặc công ta tập kích sào huyệt lực lượng đặc biệt Vàng Pao ở Long Chẹng, phá huỷ 15 máy bay, diệt hàng trăm lính Vàng Pao, cố vấn Mỹ và sĩ quan Thái Lan ngay tại sào huyệt này.

Ngày 25-2-1970, đợt hai chiến dịch kết thúc. Ta chiếm lại toàn bộ khu vục Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, Mường Sủi.

Tuy bị thiệt hại nặng và mất các địa bàn quan trọng nhưng căn cứ cuối cùng ở Long Chẹng của lực lượng đặc biệt Vàng Pao vẫn còn. Mỹ quyết định củng cố lại và tăng cường thêm lực lượng, tăng cường vũ khí, trang bị, lập thêm ba phòng tuyến mới nhằm bảo vệ Sảm Thông - Long Chẹng bằng mọi giá.

Từ tình hình đó, Bộ Chỉ huy chiến dịch trên cơ sở nhận định rằng: địch đang sa sút, hoang mang, bị đánh là tháo chạy; ta cần tranh thủ thời cơ tiêu diệt toàn bộ lực lượng đặc biệt Vàng Pao, xoá bỏ hang ổ cuối cùng của chúng, đã quyết định mở tiếp đợt ba chiến dịch.

Thực hiện quyết tâm đó, đêm 26-2-1970, ta tập kích địch ở Phuphaxay, Phukhimốt... tạo điều kiện cho các lực lượng thọc sâu vào Sảm Thông - Long Chẹng. Đêm 11 rạng ngày 12-3-1970, Tiểu đoàn 20 đặc công cùng hai Tiểu đoàn 1 và 2 thuộc Trung đoàn 141 tập kích BV271 của địch ở Bản Na, Sen Luông. Ngày 15-3, ta tiếp tục đánh chiếm các điểm quan trọng trên tuyến phòng thủ của địch ở Hin Tặng, Hin Đăm, Thẩm Lửng, sau đó phát triển về Sảm Thông, uy hiếp Long Chẹng.
_______________________________________
1. BV: Tương đương tiểu đoàn.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Tư, 2010, 12:01:31 am

Ngày 18-3, Tiểu đoàn 6 của Trung đoàn 148 và đội đặc công Sư đoàn 316 quân tình nguyện Việt Nam tiến công đánh chiếm Sảm Thông và các điểm cao khống chế ngoại vi Long Chẹng, địch buộc phải vội vã điều lực lượng từ các quân khu I, II, III về tăng cường phòng thủ Long Chẹng và tổ chức phản kích quyết liệt hòng chiếm lại Sảm Thông. Bởi vậy, từ đầu tháng 4-1970, chiến sự tại khu vực này diễn ra khá dử dội. Ta và địch giành giật nhau quyết liệt ở khu vực Sảm Thông và các điểm cao khống chế Long Chẹng. Vào thời điểm đó, mùa mưa lại bắt đầu. Việc tiếp tế lương thực, thực phẩm, thuốc men và dạn dược cho bộ đội ta từ tuyến sau lên trở nên khó khăn. Thêm vào đó, không quân Mỹ oanh tạc dữ dội các tuyến đường khiến cho việc tiếp tế và cơ động lực lượng của ta bị hạn chế rất nhiều. Trước tình hình đó, ngày 25-4-1970, Bộ Chỉ huy liên quân Việt - Lào quyết định kết thúc chiến dịch, chuyển sang củng cố lực lượng, tổ chức chiến đấu bảo vệ vùng giải phóng Lào.

Đến đây, sau đúng nửa năm chiến đấu quyết liệt (từ 25-10-1969 - 25-4-1970), bằng Chiến dịch phản công 139, liên quân Việt - Lào đã đánh bại cuộc hành quân lớn nhất của Mỹ và tay sai trên chiến trường Lào. Trong toàn chiến dịch, ta đã tiêu diệt năm tiểu đoàn địch, đánh thiệt hại nặng bốn tiểu đoàn, tiêu hao bốn tiểu đoàn khác của chúng, loại khỏi vòng chiến đấu 6.668 tên, bắn rơi và phá huỷ 117 máy bay, thu 597 súng các loại, giải phóng một vùng rộng lớn khoảng 6.000 km2 với 16.000 dân, nối liền vùng giải phóng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng - Mường Sủi, Sảm Thông - nam Căng Xẻng - San Chồ với Sầm Nưa và bốn tỉnh Bắc Lào.

Với thắng lợi này, ta đã đập tan cố gắng cao nhất về quân sự của đế quốc Mỹ và đồng minh của Mỹ ở Lào, giáng đòn nặng nề vào âm mưu mở rộng chiến tranh đặc biệt ở Lào, làm thất bại toan tính phân tán và giam chân một bộ phận lực lượng chủ lực Việt Nam trên chiến trường Lào để tạo thuận lợi cho việc thực hiện Việt Nam hoá chiến tranh ở miền Nam Việt Nam.

Cùng với chiến thắng ở Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, lực lượng vũ trang cách mạng Lào và quân tình nguyện Việt Nam còn đánh chiếm Pắc Beng (thuộc tỉnh Uđomxay), giải phóng một vùng rộng lớn dọc theo sông Mê Công dài 100 km. Kết hợp đòn tiến công quân sự với binh vận, ta và bạn đã quét sạch phỉ ở tỉnh Sầm Nưa và một phần tỉnh Luông Phabăng, Bôlikhămxay.

Ở Hạ Lào, đêm 28 rạng ngày 29-4-1970, liên quân Lào - Việt tiến công Atôpơ buộc địch phải rút bỏ nơi này, lui về cao nguyên Bôlôven. Tiếp đó, đầu tháng 6-1970, liên quân Lào - Việt tiến công địch ở thị xã Xaravan, giải phóng thị xã này và các vùng lân cận.

Trong lúc cách mạng Lào có bước phát triển tốt thì ở Campuchia, tình hình đang ngày càng trở nên phức tạp do âm mưu và hành động xâm lược của Mỹ.

Khi còn là Phó Tổng thống của nước Mỹ, Níchxơn đã coi Campuchia là một khâu trọng yếu trong việc giành thắng lợi ở Việt Nam. Thay Giônxơn lên làm Tổng thống nước Mỹ, Níchxơn đã đưa ra một kế hoạch nhằm biến Campuchia trung lập thành một quốc gia thân Mỹ. Còn Abram, Tư lệnh quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam thì cho rằng Campuchia là nơi đứng chân của Trung ương Cục miền Nam và Bộ chỉ huy Quân giải phóng miền Nam. Vì vậy, viên tư lệnh chiến trường này nhận định, nếu phá được “thánh đường” Việt cộng ở Campuchia, cách mạng miền Nam sẽ bị bóp nghẹt, chiến tranh Việt Nam sẽ kết thúc trong vòng một năm. Abram đề nghị Níchxơn dùng B52 đánh vào khu căn cứ 353 (vùng Móc Câu và Mỏ Vẹt bên kia biên giới Campuchia), nơi mà Abram cho rằng Trung ương Cục miền Nam đang đứng chân. Đề nghị của Abram được Níchxơn chấp thuận, bởi trong nhìn nhận của giới lãnh đạo Oasinhtơn, “một cuộc chiến tranh không quân ở Campuchia có thể giữ bí mật mà vẫn đạt được các mục tiêu cắt đứt các đường tiếp tế và phá huỷ các căn cứ của địch. Quan trọng hơn cả là nó có thể buộc Campuchia bỏ chính sách lâu nay của họ”1.

Giữa tháng 2-1969, khi quân và dân ta ở miền Nam mở đợt tiến công đầu xuân, lực lượng không quân chiến lược Mỹ được lệnh tiến hành các phi vụ B52 đánh phá căn cứ 353. Ngày 18-3-1969, cuộc tiến công bằng B52 mà phía Mỹ gọi là “hoạt động bữa ăn” được thực hiện nhằm vào khu vực dọc theo biên giới Campuchia - Việt Nam, khởi đầu cho việc leo thang mở rộng chiến tranh sang Campuchia. Từ đó, đất nước Campuchia bước vào một thời kỳ đầy đau thương và biến động. Trong hơn 1 năm (từ tháng 3-1969 đến tháng 4-1970), lực lượng không quân chiến lược Mỹ (B52) đã thực hiện trên 3.630 phi vụ ném bom xuống Campuchia, chiếm 60% tổng số phi vụ B52 trên chiến trường Đông Dương trong cùng thời gian đó.

Cùng với tiến hành một cuộc chiến tranh bí mật bằng việc dùng B52 ném bom Campuchia, phía Mỹ còn ráo riết thực hiện các thủ đoạn chính trị, ngoại giao rất xảo quyệt nhằm xoá chính sách trung lập của Vương quốc Campuchia, lôi kéo đất nước này đứng về phía Mỹ, chống lại cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam.
_______________________________________
1. G. Am tơ: Lời phán quyết về Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội. 1985, tr.274, 175.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Tư, 2010, 12:02:16 am

Tháng 2-1969, sau gần bốn năm gián đoạn, Campuchia và Mỹ đã lập lại quan hệ ngoại giao ở cấp đại sứ. Chính Đại sứ quán Mỹ ở Phnôm Pênh cùng với Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) đã khuyến khích và giật dây cho Lonnon - một đại diện phái cực hữu trong Chính phủ Campuchia do Xihanúc làm Quốc trưởng, tiến hành các hoạt động chống phá cách mạng miền Nam. Đầu năm 1970, thừa lúc Xihanúc đi dưỡng bệnh ở Pháp, Lonnon và Xirícmatắc (Sơn Ngọc Thành) ra tuyên bố huỷ bỏ Hiệp định thương mại với Chính phủ Việt nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hoà miền Nam Việt Nam, đóng cảng Xihanúcvin. Ngày 13-3-1970, Lonnon phát đi tối hậu thư đòi tất cả các lực lượng “cộng sản” phải rời Campuchia trong vòng hai ngày. Hết thời hạn, theo yêu cầu của Lonnon, không quân và pháo binh quân đội Sài Gòn bắn phá dữ dội vào các vùng dọc biên giới Campuchia - Việt Nam, nơi có các căn cứ kháng chiến của ta.

Ngày 18-3-1970, tại Phnôm Pênh, dưới áp lực của 20 tiểu đoàn quân Lonnon - Xiríchmatắc. Quốc hội Campuchia quyết nghị bãi nhiệm Xihanúc, thành lập Chính phủ cứu nguy dân tộc do Cheng Heng làm Quốc trưởng, Lonnon làm Thủ tướng.

Đứng sau tập đoàn Lonnon - Xiríchmatắc và tạo ra tình hình trên đây ở Campuchia là Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA).

Với việc đảo chính lật đổ Xihanúc, Mỹ đã tạo dựng được một chính phủ thân Mỹ, chống Cộng ở Campuchia. Đây là bước đi rất quan trọng để Mỹ thực hiện ý đồ mở rộng chiến tranh ra toàn cõi Đông Dương.

Ngày 22-4-1970, Níchxơn triệu tập Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ để thảo luận về bước đi tiếp theo của Mỹ ở Campuchia. Trong cuộc họp này, giới lãnh đạo Mỹ cho rằng, các vùng “đất thánh” Mỏ Vẹt và Móc Câu, nơi đứng chân của cơ quan chỉ đạo cách mạng miền Nam, sau 14 tháng B52 ném bom, gần như vẫn còn nguyên vẹn. Vì vậy, Mỹ quyết định phát động cuộc tiến công trên bộ vào Campuchia để “chộp bắt” các cơ quan chỉ đạo cách mạng miền Nam, mở rộng chiến tranh ra toàn bán đảo Đông Dương.

Ngày 28-4-1970, theo lệnh của Níchxơn, một số đơn vị quân đội Sài Gòn vượt biên giới Campuchia tiến công khu vực Mỏ Vẹt. Hai ngày sau, ngày 30-4-1970, Mỹ huy động tới 10 vạn quân bao gồm năm vạn quân Mỹ, năm vạn quân Sài Gòn, mở cuộc tiến công quy mô lớn xâm lược Campuchia. Giờ đây, cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ đã thực sự mở rộng ra toàn cõi Đông Dương.

Cùng lúc với việc đưa quân xâm lược Campuchia, Tổng thống Mỹ Níchxơn xuất hiện trên truyền hình toàn Liên bang công khai tuyên bố việc quân đội Mỹ vào Campuchia. Theo Níchxơn, cuộc tiến công quân sự vào Campuchia không phải vì mục đích mở rộng chiến tranh mà là nhằm để chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam (!).

Trong vòng hai tháng (từ ngày 30-4 đến ngày 30-6-1970), quân Mỹ và quân Sài Gòn đã mở 23 cuộc hành quân, ồ ạt đánh sâu vào đất Campuchia 30 km đến 40 km (có nơi đến 80 km), trên toàn tuyến biên giới tiếp giáp với Việt Nam, tập trung vào các hướng đông và đông nam Svay Riêng, Mimốt - Xnun, Ta Keo - đông Campốt, trọng tâm là căn cứ Ba thu và vùng Lưỡi Câu.

Ngay khi cuộc đảo chính ở Campuchia nổ ra, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta đã họp và nhận định: đây là nấc thang mới của đế quốc Mỹ nhằm biến Campuchia thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của chúng, xoá bỏ căn cứ và bàn đạp chiến lược của ta, cắt đứt tuyến tiếp tế hậu cần chi viện cho chiến trường miền Nam, thực hiện âm mưu bóp nghẹt cách mạng miền Nam. Phân tích những thuận lợi và khó khăn của ta cũng như của địch khi cuộc đảo chính xảy ra, Bộ Chính trị chỉ rõ: “Cuộc đảo chính ở Campuchia trước mắt có gây cho ta một số khó khăn về mặt hậu cần tiếp tế, ta cần có những biện pháp thiết thực để khắc phục, nhưng Mỹ và tay sai cũng gặp những khó khăn lúng túng về nhiều mặt, thế và lực bọn phản động ở Campuchia nói chung là yếu. Mỹ đang xuống thang ở miền Nam đưa quân vào Campuchia không phải dễ dàng, nhưng chúng tìm mọi cách để phối hợp. Ta vẫn có nhiều thuận lợi lớn”1. Trên cơ sở phân tích những thuận lợi và khó khăn của đôi bên ta và Mỹ trên chiến trường, Bộ Chính trị chủ trương đẩy mạnh tiến công ở miền Nam, đồng thời tích cực giúp đỡ cách mạng Campuchia giương cao ngọn cờ dân tộc chống đế quốc Mỹ và bọn tay sai cực hữu. Bộ Chính trị chỉ thị cho lãnh đạo, chỉ huy các chiến trường phải “nghiên cứu tổ chức, bố trí lại lực lượng cho thích hợp với tình hình mới bảo đảm đẩy mạnh tiến công ở miền Nam, giúp cách mạng Campuchia có hiệu lực vừa mạnh vừa vững chắc, chủ động và lâu dài”2.

Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, dưới sự chỉ đạo, chỉ huy của Trung ương Cục và Quân uỷ miền, các đơn vị bộ đội chủ lực, hậu cần, lực lượng bảo vệ căn cứ, kho tàng phối hợp với lực lượng cách mạng Campuchia tiến công vào một số thị trấn, chi khu quân sự địch, giải phóng nhiều vùng nông thôn thuộc tỉnh Krachiê (ở phía đông Campuchia), sáu huyện thuộc Ta Keo, Cam Pốt (ở nam và tây nam Campuchia), bao vây nhiều vùng khác, đưa phong trào quần chúng vũ trang ở các tỉnh Soài Riêng, Kan Đan, Ta Keo, Cam Pốt, Plây Veng... phát triển mạnh.
_______________________________________
1, 2. Điện số 99 Bộ Chính trị gửi Trung ương Cục miền Nam ngày 4-4-1970.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Tư, 2010, 12:03:08 am

Cùng với thắng lợi về quân sự, Mặt trận thống nhất dân tộc Campuchia, Chính phủ đoàn kết dân tộc Campuchia và Quân đội giải phóng dân tộc Campuchia được thành lập. Cương lĩnh của Mặt trận thống nhất dân tộc Campuchia xác định quyết tâm của nhân dân Campuchia đứng lên chiến đấu chống mọi âm mưu và hành động xâm lược của đế quốc Mỹ và lật đổ chế độ độc tài của bọn tay sai do Lonnon, Xirích Matắc cầm đầu để xây dựng một nước Campuchia độc lập, hoà bình, trung lập, dân chủ và phồn vinh.

Ba ngày sau khi Hội nghị cấp cao nhân dân Đông Dương kết thúc, trước việc Mỹ chính thức mở cuộc chiến tranh xâm lược Campuchia, Đảng ta nhận định: đây là một trong những sai lầm chiến lược rất nghiêm trọng của Mỹ mà ta phải nắm lấy để đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ba nước Đông Dương sang giai đoạn phát triển mới.

Ngày 30-4-1970, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng trong bức điện gửi Trung ương Cục và Quân uỷ miền, đã chỉ rõ, với việc Mỹ mở rộng chiến tranh sang Campuchia, một đặc điểm mới trong cuộc chiến đấu chống Mỹ xâm lược là “Đông Dương đã trở nên một chiến trường thống nhất”. Ngày 3-5-1970, trong một bức điện khác gửi Trung ương Cục và Quân uỷ miền, Bộ Chính trị xác định: “Nhiệm vụ của lực lượng vũ trang ta hiện nay trên chiến trường là đoàn kết chiến đấu với nhân dân Campuchia, cùng nhau chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, phối hợp chặt chẽ với bạn, làm thất bại âm mưu quân sự của địch trên chiến trường Campuchia, giữ vững và mở rộng cho được những địa bàn đứng chân của ta và căn cứ của bạn, bảo vệ tài sản và tính mạng của nhân dân Campuchia và của Việt kiều, bảo đảm các đường giao thông chiến lược và các cơ sở hậu cần của ta, đồng thời tích cực giúp cách mạng Campuchia phát triển và củng cố theo phương hướng đã định, chủ động đánh nhanh, đánh liên tục nhằm tạo nên một chuyển biến có lợi cho ta trong một thời gian ngắn trong khi địch chưa kịp củng cố, đồng thời chuẩn bị đối phó với khả năng khó khăn và kéo dài”1.

Tại các bức điện chỉ đạo trên đây, Bộ Chính trị xác định, trong bối cảnh quân ngụy Sài Gòn đã trở thành lực lượng nòng cốt trong cuộc tiến công xâm lược Campuchia thì “việc đánh bại các chương trình bình định của Mỹ - ngụy ở miền Nam có ý nghĩa (quan trọng tạo nên bước chuyển biến lớn trong cục diện chiến tranh có lợi cho ta”. Vì vậy, Bộ Chính trị chỉ thị: “Đánh cho quân ngụy miền Nam những đòn chí mạng ở Campuchia đồng thời phá kế hoạch bình định ở chiến trường miền Nam”2.

Theo phương hướng mà Bộ Chính trị đã chỉ ra và với quyết tâm cao, chỉ một thời gian ngắn, lực lượng vũ trang ta đã phối hợp chặt chẽ với bạn chuyển nhanh sang tiến công địch trên khắp các hướng.

Ở hướng bắc, Trung đoàn 205 và 207 phối hợp với bạn tiến công Côngpông Thom, Côngpông Chơnăng dọc Biển Hồ từ phía bắc xuống Précđam, từ Xiêm Riệt xuống Côngpông Thom. Hướng đông bắc, hai trung đoàn thuộc Sư đoàn 5 chủ lực miền tiến công giải phóng tỉnh lỵ Krachiê (ngày 5-5), Stungcheng (ngày 18-5) và Mônđukiri. Cuối tháng 5, Trung đoàn 5 Sư đoàn 5 tiến về phía tây, tăng cường cho mặt trận Bình Long - Phước Long. Tại đây, từ tháng 4-1970, Sư đoàn 1 chủ lực miền và các đơn vị bộ binh, đặc công Quân khu IX đã giải phóng các khu vực Tani, Túcmia, Kôngpông Trạch, Kép... cắt đứt đường số 4, đánh chiếm Côngpông Xpây, Kirirôm, Kimini, giải phóng một vùng rộng lớn ở nam - bắc đường 5 với trên 50 vạn dân.

Tại hai tỉnh Soài Riêng và Srây Veng, Sư đoàn 9 chủ lực miền phối hợp với Quân giải phóng Campuchia đánh chiếm nhiều vùng nông thôn từ biên giới đến sông Mê Công, từ nam đường số 1 đến tây đường số 22, đồng thời liên tục tập kích vào các cụm quân địch trên các trục đường 1, 22, 15, bảo vệ vững chắc hệ thống kho tàng, bệnh viện, các cơ quan Trung ương cục.

Trên địa bàn tỉnh Côngpông Chàm, Sư đoàn 7 chủ lực miền cùng các đơn vị thuộc khu vục Căn cứ 20 và lực lượng du kích cơ quan, bệnh viện đã chiến đấu quyết liệt làm thất bại cuộc hành quân lớn mang tên Summecơ của 21 tiểu đoàn quân Mỹ và quân Sài Gòn. Đây là cuộc hành quân nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não của cách mạng miền Nam và một bộ phận chủ lực ta. Sau khi sử dụng một bộ phận lực lượng tập kích, phục kích ghìm chân và tiêu hao quân địch, tạo điều kiện cho việc di chuyển cơ quan, kho tàng, bệnh viện về phía sau, từ ngày 11-5-1970, ta bắt đầu tập trung lực lượng đánh mạnh vào các cụm hoả lực địch tại Krariêng, Sa Tum, Sóc Chum, bẻ gãy các đợt tiến công của Sư đoàn 25 bộ binh và Trung đoàn 7 thiết giáp của Mỹ.

Tại Thủ đô Phnôm Pênh, đặc công, biệt động ta và bạn đẩy mạnh các hoạt động quấy rối, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch, làm cho Phnômpêng hầu như bị biệt lập với cảng Côngpông Xom từ tháng 5-1970.

Đến tháng 6-1970, sau hai tháng ròng rã, mặc dù phải chiến đấu liên tục trên những khu vực địa hình chưa quen thuộc, thời gian chuẩn bị chiến trường gấp, nhưng lực lượng vũ trang ta đã nêu cao quyết tâm, phối hợp chặt chẽ với bạn, đẩy mạnh tiến công quân sự, giành được thắng lợi to lớn. Theo báo cáo của phía Sài Gòn, đã có 7.450 lính Sài Gòn, và 2.765 lính Mỹ bị diệt.
_______________________________________
1. Điện của Bộ Chính trị gửi Trung ương Cục, quân uỷ miền, ngày 3-5-1970.
2. Điện Bộ Chính trị gửi Trung ương Cục và Quân uỷ miền, ngày 30-4-1970.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Tư, 2010, 12:03:35 am

Trước thất bại nặng nề không gì cứu vãn nổi và dưới áp lực phản đối của nhân dân thế giới và nhân dân Mỹ, ngày 30-6-1970, địch buộc phải rút toàn bộ lực lượng tham gia cuộc tiến công ra khỏi Campuchia. Chúng chỉ để 20 tiểu đoàn quân Sài Gòn ở lại làm nòng cốt cho việc xây dựng và hoạt động của quân Lonnon. Cuộc hành quân mà Mỹ dự định kéo dài đến hết 1970 đã phải bỏ dở giữa chừng mà không một mục tiêu nào của cuộc hành quân được thực hiện: không tiêu diệt được các cơ quan lãnh đạo Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy miền, không triệt phá được hệ thống căn cứ, kho tàng, bệnh viện và các tuyến tiếp tế hậu cần của cách mạng miền Nam. Hơn thế nữa, việc phát động cuộc tiến công sang Campuchia, phía Mỹ đã phạm một sai lầm lớn, có ý nghĩa chiến lược. Cùng với Quân giải phóng Campuchia, lực lượng vũ trang ta đã giải phóng hoàn toàn năm tỉnh Đông Bắc Campuchia với hơn bốn triệu dân. Cách mạng Campuchia có bước phát triển mạnh mẽ. Chính quyền cách mạng hình thành ở nhiều phum, sóc. Lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia từ mười đội du kích buổi đầu, đến giữa năm 1970 lên tới chín tiểu đoàn, 80 đại đội tập trung, hàng trăm trung đội du kích. Việc mở rộng chiến tranh sang Campuchia của chính quyền Mỹ càng khiến phong trào phản đối chiến tranh, phản đối chính quyền dâng lên mạnh mẽ ở khắp nước Mỹ.

Nhân cơ hội quân Mỹ và quân đội Sài Gòn dồn sang và đang bị sa lầy ở Campuchia, tại Nam Việt Nam các lực lượng vũ trang ta kịp thời đẩy mạnh tiến công quân sự, hỗ trợ đắc lực cho phong trào chống phá bình định ở nhiều địa phương miền Nam.

Trên chiến trường Trị - Thiên, trong đợt hoạt động hè từ tháng 4 đến tháng 6-1970, Sư đoàn 324 một mặt duy trì áp lực mạnh trên đường 12, mặt khác cùng một bộ phận chủ lực của quân khu tiến công vào tuyến giữa hệ thống phòng thủ của định ở tây Thừa Thiên (điểm cao 935, 550 - Dốc Mây, Tam Hanh), đánh thiệt hại nặng hai tiểu đoàn dù Mỹ, diệt một đại đội bộ binh và một cụm pháo binh, bắn rơi nhiều máy bay trực thăng. Cùng thời gian, Sư đoàn 304 (được bộ tăng cường cho quân khu) tiến công trại biệt kích địch ở Mai Lộc, Cùa, Cô Tiên - Động Ché. Từ cuối tháng 6-1970, khi cuộc tiến công của quân Mỹ và quân Sài Gòn sang Campuchia bị thất bại nặng nề, mặt trận B4 và mặt trận B5 đã tranh thủ thời cơ đẩy mạnh tiến công quân sự. Từ ngày 1-7 đến ngày 23-7-1970, tại khu vực điểm cao 935 ta đánh quỵ Lữ dù 3 Sư đoàn 101 của Mỹ. Đây là lần đầu tiên trên chiến trường Trị - Thiên, một căn cứ của Mỹ bị chủ lực ta tiến công buộc chúng phải bỏ lại toàn bộ trang thiết bị, vũ khí, đạn dược chạy tháo thân.

Phát huy thắng lợi Bộ Tư lệnh quân khu Trị - Thiên chủ trương mở tiếp đợt bao vây, đánh lấn cứ điểm Cốc Bai (điểm cao 565) ở tây Thừa Thiên và Đá Bàn (điểm cao 677) phía tây Quảng Trị.

Cốc Bai là một điểm cao nằm trên tuyến phòng thủ của địch ở vùng rừng núi Thừa Thiên, cách thành phố Huế 42 km về phía tây bắc. Tại đây, địch xây dựng tuyến phòng ngự rất kiên cố với hệ thống hầm ngầm, lô cốt khá dày đặc. Lực lượng địch ở Cốc Bai thường xuyên có một tiểu đoàn bộ binh, một tiểu đoàn pháo 155mm và 175mm bố trí thành chín trận địa nằm rải rác xung quanh điểm cao để yểm trợ.

Ngày 6-8-1970, cuộc tiến công vào Cốc Bai bắt đầu. Sau hai ngày, ta loại khỏi vòng chiến đấu 100 tên, bắn rơi sáu máy bay. Lo sợ cứ điểm quan trọng này sẽ bị đối phương khống chế, địch tăng quân và cho hàng chục máy bay các loại (kể cả B52) ném bom ác liệt xuống Cốc Bai và các khu vực xung quanh nhằm giải vây. Nhưng mọi nỗ lực của chúng đều không mang lại hiệu quả, không cản nổi sức tiến công của ta. Sau hai tháng bao vây, đánh địch, ta giành thắng lợi hoàn toàn, diệt và làm bị thương 1.800 tên địch, bắn rơi và phá huỷ nhiều máy bay. Ngày 7-10-1970, địch buộc phải rút khỏi Cốc Bai để bảo toàn lực lượng.

Trong lúc chiến sự ở khu vực Cốc Bai đang diễn ra ác liệt, thì ở Quảng Trị, lực lượng vũ trang ta tiến công địch ở căn cứ Đá Bàn (cách thị xã Quảng Trị 22 km về phía tây nam). Cũng như Cốc Bai, ở đây địch xây dựng Đá Bàn thành một cứ điểm kiên cố, thực hiện chiến thuật “đóng chốt trên cao”. Cuộc vây hãm Đá Bàn của lực lượng vũ trang Trị - Thiên, vì vậy, diễn ra ác liệt kéo dài hơn một tháng. Đến ngày 15-9-1970, quân ta làm chủ hoàn toàn cứ điểm, diệt và làm bị thương 800 tên, đánh thiệt hại nặng hai tiểu đoàn quân chủ lực Sài Gòn, bắn rơi và phá huỷ 30 máy bay.

Với thắng lợi ở Cốc Bai và Đá Bàn, ta đã làm phá sản chiến thuật “đóng chốt trên cao” của quân Mỹ và quân đội Sài Gòn, đẩy chúng lún sâu vào thế phòng ngự bị động, tạo điều kiện thuận lợi để lực lượng vũ trang ta tiến sâu xuống đồng bằng, đô thị, hỗ trợ cho phong trào chống phá kế hoạch bình định đặc biệt của quân dân các địa phương Trị - Thiên.

Trên địa bàn Tây Nguyên và Khu V, thực hiện kế hoạch xuân - hè 1970, ngay từ tháng 3-1970, các lực lượng vũ trang và nhân dân trong toàn khu đã đẩy mạnh các hoạt động tiến công và nổi dậy phá thế kìm kẹp, giành quyền làm chủ nông thôn mà nổi bật trong đợt hoạt động này là chiến thắng Đắc Siêng (Công Tum). Với vị trí có tầm quan trọng đối với ta và địch, nơi đây đã từng diễn ra những cuộc tranh chấp quyết liệt giữa đôi bên. Lực lượng địch đóng tại đây có khoảng bốn đại đội biệt kích và được một lực lượng pháo binh tương đối mạnh yểm trợ. Ngày 31-3-1970, bộ đội ta bắt đầu tổ chức vây ép căn cứ Đắc Siêng. Chỉ huy Biệt khu 24 lập tức điều hai tiểu đoàn biệt động quân số 22 và 23 cùng Tiểu đoàn biệt kích số 1 xuống khu vực Pôcô hạ nhằm giải vây cho lực lượng tại chỗ. Lực lượng ứng cứu này chẳng những không giải vây được cho đồng bọn, mà còn bị ta đánh thiệt hại nặng hai tiểu đoàn (Tiểu đoàn 23 và tiểu đoàn 1). Đánh từ phía nam lên không được, chúng chuyển hướng sang đánh ở phía bắc. Ngày 14-4, chúng đưa Trung đoàn 42 (Sư đoàn 22 quân đội Sài Gòn) đánh chiếm núi Éc, một điểm cao lợi hại khống chế phía bắc Đắc Siêng. Lực lượng này ngay lập tức bị ta vây hãm. Tiểu đoàn 1 và 3 của địch bị tiêu diệt, số còn lại của Trung đoàn 42 cũng bị tổn thất nặng. Trước tình hình đó, địch phải rút khỏi Đắc Siêng. Với chiến công tiêu biểu này trong nửa đầu năm 1970, quân và dân ta đã bước đầu làm thất bại công thức: bộ binh ngụy + vũ khí và chỉ huy Mỹ của chiến lượt Việt Nam hoá chiến tranh trên chiến trường Tây Nguyên.

Cùng với đòn tiến công vào Đắc Siêng, bộ đội địa phương các tỉnh Tây Nguyên, bộ đội đặc công, Mặt trận Tây Nguyên còn tổ chức đánh vào sân bay Cù Hanh, Arêa, Tân Tạo, khu kho Mai Hắc Đế, cứ điểm Chư Nga, hậu cứ các trung đoàn 45, 47, Liên đoàn 2 biệt động quân...


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Tư, 2010, 12:04:24 am

Ở đồng bằng ven biển Khu 5, cũng vào ngày 31-5-1970 - ngày ta nổ súng tiến công Đắc Siêng, Sư đoàn 3 tiến công tiêu diệt tiểu đoàn ba trung đoàn 41 quân Sài Gòn ở cứ điểm Núi Lá; sau đó phối hợp với lực lượng vũ trang tỉnh Bình Định đánh diệt 15 cứ điểm địch ở các huyện Hoài Nhơn, Hoài Ân, Phù Mỹ.

Tại các tỉnh Quảng Ngãi, Quảng Đà, Quảng Nam, Sư đoàn 2 và chủ lực Mặt trận B4 tiến công vào hệ thống phòng ngự cơ bản của địch ở Nghĩa Hành, Thượng Đức, Hiệp Đức, các căn cứ chỉ huy của Lữ đoàn 198, Lữ đoàn 11 Sư đoàn Amêricơn. Biệt động và tự vệ mật thành phố Đà Nẵng đẩy mạnh diệt ác ôn, phá các bốt cảnh sát ở ngã tư Thanh Khê, ngã ba Huế, chợ Cồn và bót gác trên cầu Trịnh Minh Thế.

Ở Khu VI, từ đầu năm 1970, Hội nghị Khu uỷ đã xác định nhiệm vụ của Khu trong năm 1970 là: Ra sức đẩy mạnh tiến công và xây dựng lực lượng nhằm làm chuyển biến cho được một bước cục diện chiến trường, đồng thời ráo riết chuẩn bị điều kiện để tiến tới một cao trào tiến công và nổi dậy mạnh mẽ, dồn dập, quyết liệt tạo một chuyển biến có tính chất nhảy vọt”1.

Phối hợp với toàn miền, từ tháng 3 đến tháng 6-1970, Quân khu VI tổ chức đợt hoạt động xuân - hè, trung điểm là Bình Thuận. Tại đây, đêm 31-3, các Tiểu đoàn 8, 40, 186 và 240 tiến công cứ điểm Sông Mao, một cứ điểm lớn trong tuyến phòng thủ của địch ở phía tây huyện Hoà Đa. Nơi đây chúng đang tập trung một lực lượng lớn quân cơ động thuộc Quân đoàn II để chuẩn bị đánh phá vùng giải phóng của ta. Bấy giờ, ở khu vực phía tây Hoà Đa có Sở Chỉ huy nhẹ Sư đoàn 23, Sở Chỉ huy Trung đoàn 44, Sở Chỉ huy Liên đoàn 21 biệt động quân. Quân địch đông nên chúng phải đóng dã chiến cả ở các bãi trống ngoài cứ điểm Sông Mao.

Sông Mao là một cứ điểm từng bị ta tiến công nhiều lần nên bộ đội ta rất thông thạo địa hình và có khả năng tận dụng những điểm yếu trong hệ thống phòng thủ của địch tại đây. Do vậy, chỉ sau 55 phút tiến công, ta đã đánh thiệt hại nặng Sở Chỉ huy nhẹ Sư đoàn 23 và Sở Chỉ huy Trung đoàn 44, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên. Địch vội điều Chiến đoàn 1/50 quân Mỹ từ Tà Dôn lên cứu nguy. Song Chiến đoàn này cũng bị ta đánh thiệt hại nặng. Cuối tháng 3-1970, ta tiến công vào tận căn cứ của Chiến đoàn 1/50 ở Tà Dôn và trại Camp Êsêpíc - căn cứ của Chiến đoàn 506 Mỹ, diệt và làm bị thương hàng trăm tên địch, phá huỷ 13 máy bay.

Sau Bình Thuận, Tuyên Đức được xác định là trọng điểm hai của đợt hoạt động xuân - hè 1970. Tại đây, đêm 28-5, các tiểu đoàn 145, 200C, 810 phối hợp với các đội biệt động và cơ sở mật trong nội đô thành phố Đà Lạt đồng loạt tiến công vào các mục tiêu quan trọng như: Toà Thị chính, Dinh Thị trưởng, Trường Võ bị quốc gia, Trụ sở vô tuyến viễn thông, trận địa pháo Tân Lạc... Bị tiến công bất ngờ, địch lúng túng đối phó. Ngay sau đó, chúng phải điều lực lượng nơi khác đến ứng cứu giải toả. Báo chí Sài Gòn lúc bấy giờ bình luận: “Đây là cuộc tiến công lớn nhất vào một thành phố ở miền Nam Việt Nam kể từ sau Tết Mậu Thân”2.

Tại miền đông Nam Bộ, thực hiện chủ trương chung của Trung ương Cục, Quân uỷ và Bộ Chỉ huy miền, từ 26-3-1970, các lực lượng vũ trang miền đông đã bước vào đợt hoạt động xuân - hè. Trên hướng bắc Tây Ninh, Sư đoàn 9 mở cuộc tiến công nhằm phá việc chuẩn bị của địch đánh vào tuyến biên giới và tạo điều kiện cho các địa phương nơi đây đẩy mạnh phong trào chống phá bình định. Trong vòng chưa đầy một tháng (từ 26-3 - 28-4-1970), sư đoàn đã tổ chức nhiều trận đánh lớn, gây thiệt hại nặng cho Lữ đoàn 1 Sư đoàn kỵ binh không vận Mỹ, trong đó có những trận đạt hiệu suất chiến đấu cao như trận Cẩm Tre (29-3), ta loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm quân Mỹ, phá huỷ, phá hỏng nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh của chúng như xe thiết giáp, pháo, máy bay... Trận Tà Xúa (1-4), ta loại khỏi vòng chiến đấu 300 tên Mỹ, thu và phá huỷ một số lượng quan trọng vũ khí, phương tiện chiến tranh.
_______________________________________
1. Ban Chỉ đạo biên soạn Lịch sử Khu VI kháng chiến chống Mỹ, cứu nước: Khu VI kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 2002, tr.301-302.
2. Sđd, tr.306.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Tư, 2010, 12:04:59 am

Một trong những địa bàn nóng bỏng ở miền đông Nam Bộ trong mùa hè 1970 là Bà Rịa với cuộc chiến đấu của quân và dân huyện Long Đất bảo vệ Chiến khu Minh Đạm. Tại đây, từ sau Mậu Thân 1968, địch đánh phá vô cùng ác liệt nhằm tiêu diệt lực lượng vũ trang và căn cứ cách mạng của ta ở vùng này. Trên một diện tích thưa đầy 8 km2, Mỹ đã trút xuống trên 2000 tấn bom, song chúng vẫn không khuất phục được tinh thần chiến đấu anh dũng, bám trụ kiên cường của quân và dân Long Đất. Cuối tháng 4-1970, Mỹ đưa Lữ đoàn 199 cùng với Trung đoàn quân Ôtxtrâylia và ba liên đoàn bảo an có xe tăng và máy bay B52 yểm trợ, tổ chức bao vây tiến công Chiến khu Minh Đạm một lần nữa. Bộ đội địa phương huyện Long Đất cùng du kích xã Long Mỹ và lực lượng các cơ quan trong chiến khu đã ngoan cường chiến đấu, chặn đứng nhiều đợt tiến công của địch, cầm cự suốt 25 ngày, giữ vững được chiến khu. Xét tương quan lực lượng và sự đánh phá dữ dội của địch thì đây là một chiến thắng oanh liệt của quân dân Long Đất nói riêng, Bà Rịa - Vũng Tàu cũng như cả miền đông Nam Bộ nói chung. Nó chứng tỏ sức mạnh to lớn của chiến tranh nhân dân, chiến tranh du kích ở miền Nam Việt Nam.

Tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, bộ đội chủ lực Khu VIII, Khu IX cùng lực lượng vũ trang địa phương liên tục đánh địch gây cho chúng nhiều thiệt hại.

Đêm 31-3-1970, mở đầu đợt hoạt động xuân - hè, hàng trăm mục tiêu trọng điểm của địch ở Bến Tre bị tiến công. Cũng trong đêm này, ở Mỹ Tho, Tiểu đoàn 269 đặc công tập kích căn cứ 23, đánh thiệt hại nặng Ban Chỉ huy Trung đoàn 12 Sư đoàn 7, loại khỏi vòng chiến đấu 300 tên. Trung đoàn 1 tiến công đồn Xẻo Lác (Hiệp Đức) và đồn Ông Củn (Cái Bè), đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn của Sư đoàn 7 quân Sài Gòn. Tại An Giang, tháng 5-1970, ta tiến công căn cứ Chi Lăng và quận lỵ Tri Tôn. Cùng lúc, một lực lượng lớn quân địch gồm một trung đoàn của Sư đoàn 9, hai tiểu đoàn quân Nam Triều Tiên, 24 xe bọc thép, 12 máy bay và hàng chục khẩu pháo yểm trợ đã mở cuộc càn vào xã Thới Sơn - nơi mà chúng cho là “một khu Cộng sản nòi”, nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng ở đây. Bộ đội chủ lực Khu VIII cùng du kích xã Thới Sơn đã quần lộn với địch suốt hai tháng trời, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên, bắn cháy 12 xe M113, buộc địch phải rút khỏi địa bàn.

Trọng điểm của các đợt hoạt động xuân - hè 1970 của ta ở Khu IX là đánh địch hành quân lấn chiếm khu căn cứ U Minh. Tại đây, từ tháng 9-1969, địch đã sử dụng Sư đoàn 21, Lữ đoàn B thuỷ quân lục chiến, bốn tiểu đoàn biệt động quân, các giang đoàn và hải đoàn với sự yểm trợ của máy bay, tổ chức cuộc hành quân lấn chiếm U Minh lần thứ nhất nhưng không thành. Tháng 2-1970, chúng lại huy động Lữ đoàn A thuỷ quân lục chiến và Sư đoàn 21 hành quân lấn chiếm U Minh lần hai. Kiên quyết trụ bám địa bàn đánh bại cuộc hành quân của địch, giữ vững vùng căn cứ, từ đầu tháng 2-1970, quân khu sử dụng một bộ phận chủ lực cùng du kích xã, du kích cơ quan, bám đánh địch liên tục; đồng thời khẩn trương củng cố lực lượng, chuẩn bị phản công lớn. Sau khi đã tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận lực lượng thuộc Lữ đoàn thuỷ quân lục chiến. Sư đoàn 21, Sư đoàn 9 (hoạt động ở vùng Vĩnh Thuận), ngày 12-3-1970, quân khu sử dụng Trung đoàn 2, Tiếu đoàn đặc công của khu, Đoàn 6 pháo binh tập kích tiêu diệt Sở Chỉ huy Chiến đoàn 33 tại kênh Họa Đồ (gần kênh thứ 11 - An Biên) buộc địch phải rút chạy. Cuộc hành quân lấn chiếm U Minh lần thứ hai của định phải bỏ dở. Cũng vào thời gian này, Trung đoàn 10 mới từ Trị - Thiên vào được bổ sung cho quân khu đã đánh trận đầu tiên diệt Chi khu Giá Ngựa (26-5-1970). Ở Vĩnh Long, Tiểu đoàn 306 thuộc Trung đoàn 3 và một đại đội đặc công tiến công tiêu diệt Chi khu Càng Long, đánh thiệt hại nặng hậu cứ Trung đoàn 14 Sư đoàn 9 quân Sài Gòn. Tại Sóc Trăng, Chi khu Phước Long của địch cũng bị đánh chiếm.

Trên mặt trận chống phá bình định, rút kinh nghiệm năm 1969, bước sang năm 1970, ta mở các hoạt động quân sự, tập trung đánh mạnh vào hệ thống đồn bốt và bộ máy kìm kẹp của định ở cơ sở, hỗ trợ nhân dân nổi dậy diệt ác, phá kìm, giành quyền làm chủ.

Ở Quảng Nam (Khu V) chỉ trong vòng ba tháng (tháng 4, 5, 6-1970), bộ đội địa phương tỉnh đã diệt 45 chốt điểm, phá vỡ từng mảng hệ thống cứ điểm nhỏ và chính vì thế làm mất chỗ dựa cho hoạt động bình định nông thôn của địch. Tại Quảng Ngãi, Tiểu đoàn 48 bộ đội địa phương tỉnh phối hợp với cơ sở bên trong diệt các đoàn cán bộ bình định và các trung đội bảo an ngay tại các xóm ấp khiến bộ máy bình định bị tê liệt ở một số nơi. Phú Yên, Khánh Hoà, ta cũng thực hiện phương án diệt các tên ác ôn, đầu sỏ chỉ huy các đoàn cán bộ bình định, gây hoang mang cho đội ngũ cán bộ chính quyền Sài Gòn ở cơ sở. Sáu tháng đầu năm 1970, toàn Khu V, ta đã diệt 2000 ác ôn đầu sỏ, uy hiếp mạnh tinh thần của những tên khác, đánh mạnh vào chương trình bình định đặc biệt trên địa bàn Khu V.

Nổi bật hơn cả trong phong trào chống phá bình định trong năm 1970 phải kể đến các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Kịp thời lợi dụng việc quân Mỹ và quân Sài Gòn dồn sang tiến công và bị sa lầy ở Campuchia, quân và dân đồng bằng sông Cửu Long đẩy mạnh tiến công địch cả về quân sự và chính trị. Tại đây, trong 6 tháng đầu năm 1970, quân và dân ta đã bao vây, bức rút 1000 đồn bốt, phá 1.600 ấp chiến lược và khu dồn, làm chủ 320 ấp với 40 vạn dân. Nhiều cuộc hành quân lấn chiếm vùng giải phóng của địch bị ta đánh bại.

Với nỗ lực lớn của các địa phương trên toàn miền Nam, chương trình bình định của địch những tháng đầu của năm 1970 bắt đầu bị chững lại. Nửa đầu năm 1970, địch không dồn thêm được dân, lấy thêm được đất. Kế hoạch bình định đặc biệt mà Mỹ và chính quyền Sài Gòn đặt ra dự kiến thực hiện trong vòng bốn tháng đã không đạt được kết quả như mong muốn, buộc chúng phải kéo dài bằng kế hoạch “bình định bổ sung 1970”, dự kiến sẽ kết thúc vào tháng 2-1971.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Tư, 2010, 12:05:25 am

Không chỉ các hoạt động quân sự chống phá bình định có bước phát triển, trên mặt trận đấu tranh chính trị và ngoại giao của ta trong năm 1970 cũng có chuyển biến tích cực.

Phong trào đấu tranh chính trị thời kỳ này tập trung vào các nội dung đòi Mỹ và chính quyền Sài Gòn chấm dứt chiến tranh, vãn hồi hoà bình, đòi quyền dân sinh, dân chủ, chống bắt lính và chống quân sự hoá học đường, đòi Mỹ phải rút quân về nước. Ngoài các cuộc biểu tình thu hút đông đảo các tầng lớp thanh niên, sinh viên, nhân sĩ, trí thức, văn nghệ sĩ, công thương gia, tín đồ các tôn giáo... tham gia, đã xuất hiện nhiều cuộc hội thảo về tình hình chiến tranh, về tương lai đất nước... Tại Sài Gòn, từ tháng 3-1970, thanh niên, sinh viên tổ chức biểu tình phản đối chính quyền Nguyễn Văn Thiệu bắt lính, buộc sinh viên vào lực lượng phòng vệ dân sự, đặt mật vụ ở các trường đại học; đòi bãi bỏ các bài học có nội dung phản động trong nhà trường. Cuộc biểu tình thu hút hàng ngàn thanh niên, học sinh tham gia. Lo sợ trước làn sóng đấu tranh mạnh mẽ của học sinh, sinh viên, ngày 11-3-1970, chính quyền Thiệu đã huy động một lực lượng lớn cảnh sát dã chiến đàn áp, bắt giam 40 sinh viên trong đó có anh Huỳnh Tấn Mẫn - Chủ tịch Hội sinh viên Đại học Y khoa, Quyền Chủ tịch Tổng hội sinh viên Sài Gòn. Ngay lập tức, khắp thành phố Sài Gòn bùng lên làn sóng đấu tranh mạnh mẽ của học sinh, sinh viên thuộc Tổng hội sinh viên Sài Gòn, kể cả sinh viên Phật tử. Ngày 19-3-1970, đại diện sinh viên Sài Gòn đã họp và quyết định thành lập Uỷ ban đấu tranh chống đàn áp sinh viên, học sinh. Ngày 23-3, hơn 6.000 sinh viên Trường đại học Y khoa Sài Gòn bắt đầu bãi khoá. Hưởng ứng phong trào của Đại học Y khoa Sài Gòn, ngay sau đó, tất cả các trường đại học và cao đẳng ở Sài Gòn tổ chức tổng bãi khoá để phản đối hành động khủng bố, đàn áp sinh viên của chính quyền Thiệu - Kỳ, đòi trả tự do cho những sinh viên bị bắt và anh Huỳnh Tấn Mẫn. Đến ngày 26-3, cuộc tổng bãi khoá đã thu hút tới 33.000 sinh viên.

Ngày 28-3-1970, Hội liên hiệp sinh viên giải phóng và Đoàn học sinh giải phóng miền Nam ra tuyên bố nhiệt liệt hoan nghênh và ủng hộ cuộc tổng bãi khóa. Tuyên bố khẳng định: Lúc này hơn lúc nào hết, chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ, đẩy mạnh phong trào đấu tranh ở các địa phương, cùng với học sinh, sinh viên Sài Gòn thành một mặt trận chống Mỹ - ngụy rộng rãi buộc chúng phải thoả mãn những yêu cầu chính đáng nhất của tuổi trẻ học đường.

Từ Sài Gòn, phong trào lan nhanh ra khắp các thành phố, thị xã, thị trấn trên toàn miền Nam. Đặc biệt sau sự kiện Mỹ giật dây cho Lonnon làm đảo chính và đưa quân sang Campuchia, mở rộng chiến tranh ra toàn cõi Đông Dương, phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên toàn miền Nam có thêm nội dung lên án tội ác của Mỹ và chính quyền Thiệu - Kỳ đối với Việt kiều ở Campuchia. Ngày 5-4-1970, 60.000 học sinh, sinh viên các trường đại học Sài Gòn, Huế, Đà Lạt, Cần Thơ cùng hàng vạn học sinh trên toàn miền Nam đã phát động đợt tổng bãi khoá mới. Tại Sài Gòn, đoàn biểu tình vượt qua hàng rào của cảnh sát, kéo đến trước toà Đại sứ quán Mỹ, nhà Quốc hội, trụ sở Bộ Giáo dục, Bộ Tư pháp và Tòa án quân sự đấu tranh đòi thả những sinh viên bị bắt trái phép và phản đối đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh sang Campuchia, tàn sát dã man Việt kiều ở Campuchia. Đây là cuộc tổng bãi khoá có quy mô lớn nhất của học sinh, sinh viên miền Nam tính đến thời điểm đó.

Trước phong trào đấu tranh mạnh mẽ của học sinh, sinh viên miền Nam, chính quyền Sài Gòn buộc phải trả lại tự do cho những sinh viên đã bị chúng bắt. Hơn nữa, hòng xoa dịu sự phẫn nộ của tuổi trẻ học đường, ngày 17-5-1970, Thiệu ra sắc lệnh công nhận Tổng hội sinh viên là một tổ chức hợp pháp của học sinh, sinh viên ở miền Nam.

Trên mặt trận đấu tranh ngoại giao, ngay sau khi Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam được thành lập (6-6-1969), những người đứng đầu Chính phủ lâm thời và Hội đồng cố vấn của Chính phủ đã đi thăm chính thức một loạt nước, bày tỏ lập trường thiện chí của ta trong việc giải quyết vấn đề chiến tranh Việt Nam, vạch rõ âm mưu của đế quốc Mỹ, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của các chính phủ và dư luận rộng rãi trên thế giới. Còn ở trong lòng nước Mỹ, phong trào phản đối chính quyền, phản đối chiến tranh, đòi đưa nhanh chân Mỹ ra khỏi Việt Nam, đưa nhanh binh sĩ Mỹ bị bắt làm tù binh về nước... tiếp tục bùng lên dữ dội, đặc biệt sau sự kiện Mỹ sử dụng máy bay B52 ném bom Campuchia, giật dây cho Lonnon làm đảo chính và huy động quân đội đánh tràn qua biên giới nước này, đẩy đất nước vốn một thời kiên trì chính sách ngoại giao trung lập, đứng ngoài cuộc chiến rơi vào vòng xoáy bạo lực... khiến cho triển vọng chấm dứt cuộc chiến của Mỹ ở Việt Nam trở nên xa vời. Giờ đây, nước Mỹ tiếp tục bị chia rẽ, bị phân cực sâu sắc...

Trước sức ép của phong trào phản đối thái độ và hành động hiếu chiến của chính quyền Mỹ đang dâng lên ngày càng mạnh mẽ trên toàn thế giới cũng như ở ngay chính trong lòng nước Mỹ, ngày 26-4-1970, Quốc hội Mỹ đã bỏ phiếu chấm dứt hiệu lực của Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ - một nghị quyết trao quyền tiến hành chiến tranh cho Tổng thống Mỹ, một nghị quyết đã mở đường cho chính quyền Giônxơn đẩy hàng chục vạn thanh niên Mỹ sang chiến trường Việt Nam để rồi hàng chục ngàn người trong số đó không bao giờ trở về, một nghị quyết đã khiến Mỹ bị sa lầy, bế tắc ở Việt Nam và làm suy yếu nghiêm trọng vai trò, vị trí của nước Mỹ trên phạm vi toàn cầu... Như vậy, với quyết định ngày 26-4-1970, Quốc hội Mỹ chính thức tước bỏ quyền sử dụng quân đội Mỹ ở nước ngoài của Tổng thống. Tiếp đó, ngày 30-6-1970, Thượng viện Mỹ lại thông qua quyết định bổ sung cấm sử dụng thêm quân Mỹ ở Campuchia. Đây cũng là một trong những nguyên nhân buộc Níchxơn phải rút quân khỏi Campuchia.

Mặc dù cuộc chiến tranh còn diễn biến phức tạp, song những thắng lợi của ta trên tất cả các mặt quân sự, chính trị, ngoại giao trong nửa đầu năm 1970 trên chiến trường ba nước Đông Dương là to lớn, toàn diện. Những thắng lợi đó tạo điều kiện cho quân và dân ta vượt qua những thử thách ác liệt, đưa sự nghiệp kháng chiến tiếp tục phát triển.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Tư, 2010, 12:06:09 am

Ngày 19-6-1970, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp và ra nghị quyết về Tình hình mới ở bán đảo Đông Dương và nhiệm vụ mới của chúng ta.

Đánh giá bước phát triển mới trong cục diện cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên chiến trường ba nước Đông Dương, Bộ Chính trị khẳng định: tình hình mới ở Campuchia là điểm nổi bật nhất trong thời gian gần đây trên bán đảo Đông Dương. Tại đây, đế quốc Mỹ đã câu kết với bọn phản động Lonnon gây ra của cuộc đảo chính phản cách mạng. Tiếp đó, “chúng lại mang quân mở cuộc tiến công xâm lược nước này hòng tạo nên thế mạnh mới. Âm mưu của chúng là tiêu diệt cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến ở miền Nam Việt Nam, cắt đứt đường tiếp tế và phá hoại các cơ sở hậu phương của ta, đồng thời lôi kéo nước Campuchia vào qũy đạo của Mỹ, đàn áp phong trào cách mạng của nhân dân Khơme, biến Campuchia thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ”1. Thế nhưng, thực tế cho thấy, trái với những toan tính của chúng, trên chiến trường Campuchia, đế quốc Mỹ đã bị thất bại nặng nề, “chúng không tiêu diệt được cơ quan lãnh đạo kháng chiến của ta, chỉ thu được kết quả hạn chế trong việc đánh phá kho tàng. Trong lúc đó thì hậu phương cuộc kháng chiến của nhân dân hai nước đã được mở rộng nhanh chóng. Quân Mỹ và quân ngụy miền Nam đã bị tổn thất khá nặng ở Campuchia mà vẫn không cứu vãn được tình hình suy yếu nghiêm trọng của chính quyền Lonnon - Matắc. Quân ngụy miền Nam còn bị buộc phải phân tán một bộ phận quan trọng lên chiến trường này, ngày càng sa lầy nghiêm trọng trên một chiến trường không thuận lợi cho chúng. Tình hình đó đây tạo thêm những sơ hở mới ở miền Nam Việt Nam gây thêm khó khăn cho việc thực hiện kế hoạch Việt Nam hoá chiến tranh” của Mỹ2.

Trong khi đó, “trên chiến trường miền Nam nước ta, quân và dân ta đang ra sức thực hiện chủ trương của Trung ương, đẩy mạnh tiến công địch về mọi mặt, đánh bại kế hoạch bình định và âm mưu Việt Nam hoá của chúng”3. Còn tại Lào, âm mưu và hành động mở rộng chiến tranh, đẩy mạnh chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mỹ cũng bị thất bại nặng.

Nhận định về âm mưu và chủ trương chiến lược của đế quốc Mỹ trong thời gian tới, Bộ Chính trị cho rằng, tuy đã bị thất bại nặng nề, nhưng “do bản chất cực kỳ ngoan cố của chúng, lại do chúng còn có tiềm lực, đế quốc Mỹ sẽ tìm cách kéo dài chiến tranh, vừa xuống thang, vừa phản công bộ phận; vừa rút quân Mỹ vừa tiếp tục hành động phiêu lưu. Trong thế bị động thất bại, chúng còn tìm cách mở rộng chiến tranh xâm lược ra các nước trên bán đảo Đông Dương theo phương thức và hạn độ chúng cho là thích hợp và có lợi, nhằm phối hợp với Việt Nam hoá chiến tranh ở miền Nam Việt Nam và để đàn áp cách mạng Campuchia và Lào”4.

Đi vào từng chiến trường cụ thể, Bộ Chính trị chỉ rõ âm mưu của đế quốc Mỹ ở miền Nam Việt Nam, là thực hiện cho được Việt Nam hoá chiến tranh, tạo nên thế mạnh nhằm duy trì chủ nghĩa thực dân mới5. Đối với campuchia, mục đích của đế quốc Mỹ là xây dựng lực lượng tay sai mạnh kết hợp với quân ngụy miền Nam làm nòng cốt hòng đánh bật ta ra khỏi Campuchia, tiêu diệt phong trào cách mạng Campuchia, nhanh chóng thành lập phòng tuyến chiến lược mới ở Đông Nam Á để ngăn chặn phong trào cách mạng”6. Với Lào, Mỹ ra sức “củng cố và tăng cường các lực lượng phản động kết hợp với một bộ phận quân đội Thái Lan và quân ngụy miền Nam đẩy mạnh chiến tranh đặc biệt, lấn chiếm và đánh phá vùng giải phóng nhất là ở khu vực Trung và Hạ Lào hòng ngăn chặn đường vận chuyển chiến lược của ta, đàn áp cách mạng Lào, uy hiếp miền Bắc Việt Nam, xúc tiến việc thực hiện kế hoạch liên minh khu vực ở Đông Nam Á”7.

Mặc dù kẻ thù của nhân dân ba nước trên bán đảo Đông Dương còn những điểm mạnh nhất định như: có tiềm lực lớn về kinh tế và quân sự, quân số còn đông, hoả lực và khả năng cơ động tuy có sút kém so với trước nhưng vẫn còn rất đáng kể; mặt khác, chúng còn giữ được những địa bàn chiến lược quan trọng, nhất là ở thành thị lớn, những vùng đông dân, nhiều của ở miền Nam Việt Nam, Lào và một phần ở Campuchia, nhưng chúng cũng có những điểm yếu rất cơ bản. Những điểm yếu đó là, trong quá trình bị buộc phải tiếp tục rút thêm quân, giảm bớt chi phí chiến tranh, Mỹ càng vấp phải những khó khăn lúng túng ngày càng lớn về chính trị, quân sự, kinh tế, tài chính ở các nước Đông Dương, trên thế giới và ngay ở nước Mỹ. Nội bộ giới lãnh đạo cao cấp Mỹ bị chia rẽ ngày càng sâu sắc về vấn đề Việt Nam. Chính quyền và quân đội tay sai Mỹ ở miền Nam, ở Lào và Campuchia càng thêm phân hoá...

Từ sự phân tích, đánh giá và lường định xu thế diễn biến tình hình trên đây, Bộ Chính trị chủ trương: “Động viên nỗ lực cao nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân trên cả hai miền nước ta, tăng cường khối đoàn kết chiến đấu của nhân dân ba nước Đông Dương, làm cho lực lượng của ba nước trở thành một khối thống nhất, có một chiến lược chung, kiên trì và đẩy mạnh của kháng chiến cứu nước của nhân dân ba nước chống đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai”8.
_______________________________________
1÷8. Nghị quyết Bộ Chính trị, ngày 19-6-1970, lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Tư, 2010, 12:07:06 am

Để thực hiện nhiệm vụ này, Bộ Chính trị lưu ý, cần nắm vững và vận dụng đúng đắn các quy luật của chiến tranh nhân dân và các phương châm chiến lược cho phù hợp với tình hình mới, phù hợp với điều kiện, đặc điểm từng chiến trường ở ba nước Đông Dương.

Đối với miền Nam Việt Nam, chiến trường quan trọng nhất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ba nước Đông Dương phải “kiên trì và đẩy mạnh kháng chiến, kết hợp chặt chẽ hơn nữa đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và binh vận, tiếp tục xây dựng thế tiến công chiến lược mới ngày càng mạnh mẽ, tiêu diệt thật nhiều lực lượng quân sự của Mỹ - ngụy, tiêu diệt và làm tan rã một bộ phận quan trọng quân đội ngụy tay sai, tập trung lực lượng đập tan kế hoạch bình định và âm mưu Việt Nam hoá chiến tranh, làm thất bại chiến lược phòng ngự và kéo dài chiến tranh của chúng”1.

Campuchia là một chiến trường mới mở trên bán đảo Đông Dương. Tại đây đang diễn ra một kiểu chiến tranh xâm lược rất đặc biệt với lực lượng tham gia không chỉ có tay sai bản xứ với sự viện trợ của Mỹ mà có lúc, quân Mỹ cũng trực tiếp tham gia, lại có ngụy quân Nam Việt Nam làm nòng cốt. Thắng lợi của nhân dân Campuchia không những có tác dụng quyết định đối với cách mạng nước này mà còn có tác dụng quan trọng đối với cách mạng miền Nam Việt Nam và Lào. Nhiệm vụ của chúng ta là phải “ra sức giúp đỡ bạn và phối hợp với bạn nắm vững thời cơ, tiếp tục phát triển thế tiến công, liên tục đưa cách mạng Campuchia tiến lên mạnh mẽ”2.

Lào là một chiến trường quan trọng. Từ khi chiến tranh mở rộng sang Campuchia, vị trí của chiến trường này càng trở nên hiểm yếu, nhất là bộ phận Trung, Hạ Lào vì đó là hành lang nối liền hậu phương miền Bắc nước ta với chiến trường miền Nam và Campuchia. Chúng ta cần “ra sức giúp đỡ bạn và phối hợp với bạn tiếp tục khuếch trương thắng lợi vừa qua, kiên quyết tiến công địch về mọi mặt đưa cách mạng Lào tiếp tục tiến lên!”3. Một trong những nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết trong thời gian tới là “giúp đỡ bạn và phối hợp với bạn mở rộng và xây dựng Trung, Hạ Lào thành căn cứ đia ngày càng vững mạnh, có kế hoạch sẵn sàng đánh bại các cuộc tiến công lớn hoặc những hành động lấn chiếm của địch, bảo vệ hành lang chiến lược của ta”4.

Đông Dương đã trở thành một chiến trường thống nhất là đặc điểm mới trong cuộc chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lược. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Đông Dương vì vậy, đòi hỏi phải có một chiến lược chung. Chiến lược đó hướng vào mục tiêu đánh bại âm mưu kéo dài và tăng cường chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trên bán đảo Đông Dương, giành thắng lợi từng bước, tiến tới giành thắng lợi quyết định ở miền Nam Việt Nam, ở Campuchia và Lào, đuổi đế quốc Mỹ ra khỏi Nam Việt Nam và toàn cõi Đông Dương. Miền Bắc lúc này không chỉ là hậu phương của tiền tuyến miền Nam mà còn là hậu phương chung của cả cách mạng Lào và Campuchia. Nhiệm vụ của chúng ta ở miền Bắc là: “Phải ra sức động viên sức người sức của chi viện cho tiền tuyến, góp phần của mình vào sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta ở miền Nam cũng như của nhân dân hai nước Campuchia và Lào”5.

Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 6-1970 là sự phát triển và hoàn thiện Nghị quyết 18 của Ban Chấp hành Trung ương (tháng 1- 1970) trong hoàn cảnh cục diện kháng chiến của nhân dân ba nước Đông Dương đang trên đà chuyển biến. Nó chứng tỏ tầm nhìn chiến lược, bao quát và sắc sảo của Đảng ta, đồng thời nó cũng thể hiện sự nhạy bén sáng tạo trong chỉ đạo chiến tranh của Đảng trước những diễn biến mau lẹ của tình hình. Đó thực sự là một đảm bảo vững chắc cho sự phát triển mạnh mẽ, đúng hướng của sự nghiệp kháng chiến của nhân dân ba nước Đông Dương, nhanh chóng đưa cách mạng mỗi nước vượt qua thời kỳ đầy khó khăn thử thách, tiến lên giành những thắng lợi mới to lớn hơn.

Tiếp theo Nghị quyết trên đây, tháng 7-1970, Bộ Chính trị ra Chỉ thị về việc củng cố và xây dựng căn cứ địa nhằm đảm bảo kiên trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến cho đến thắng lợi, đồng thời tạo điều kiện để xây dựng kinh tế và củng cố quốc phòng, sau khi kết thúc chiến tranh. Trong bản chỉ thị này, Bộ Chính trị một lần nữa khẳng định, phải xây dựng căn cứ địa của cách mạng miền Nam vững mạnh toàn diện, song trước mắt cần tập trung xây dựng kinh tế nhằm đẩy mạnh sản xuất lương thực, thực phẩm, công cụ sản xuất, vũ khí để bảo đảm nhu cầu sinh hoạt và chiến đấu của quân và dân ta. Nhưng trong khi nhấn mạnh nhiệm vụ xây dựng kinh tế là khâu trung tâm. Chỉ thị cũng lưu ý viện xây dựng căn cứ địa vững mạnh về chính trị và quân sự.

Bộ Chính trị chỉ rõ bốn nhiệm vụ mà các cấp uỷ đảng và chính quyền phải thực hiện:

1. Phải quán triệt đầy đủ chủ trương của Trung ương về việc xây dựng căn cứ bởi đây là nhiệm vụ chung của quân và dân cả nước ta.

2. Các chiến trường phải có kế hoạch cụ thể xây dựng căn cứ địa ở chiến trường mình. Thường vụ Hội đồng Chính phủ, các bộ, các ngành của nhà nước phải có kế hoạch sẵn sàng cung cấp nhu cầu mọi mặt cho việc xây dựng căn cứ địa cách mạng.

3. Việc xây dựng căn cứ ở các chiến trường phải đặt dưới sự chỉ đạo tập trung, thống nhất của các cấp uỷ đảng.

4. Cần phối hợp chặt chẽ với nhân dân Lào và Campuchia để triển khai nhanh chóng, có kết quả việc xây dựng căn cứ địa cách mạng.

Ngày 10-12-1970, Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra lời kêu gọi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân sẵn sàng đập tan mọi âm mưu và hành động của đế quốc Mỹ. Khẳng định những thắng lợi to lớn, toàn diện của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thời gian qua của quân và dân ta trên cả hai miền Nam, Bắc; vạch rõ âm mưu, hành động mới của địch đối với ba nước Đông Dương, Lời kêu gọi của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Chính phủ khẳng định, cho dù đế quốc Mỹ điên cuồng đẩy mạnh chiến tranh, nhưng: toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta càng đoàn kết nhất trí, cả nước một lòng, ra sức thực hiện Di chúc thiêng liêng của Hồ Chủ tịch, kiên trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến, quyết chiến, quyết thắng, đánh cho quân Mỹ phải rút hết, đánh cho ngụy quân và ngụy quyền sụp đổ, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến lên hoà bình thống nhất nước nhà. Nhân dân ta quyết kề vai sát cánh với nhân dân Lào và nhân dân Campuchia anh em kiên quyết đánh đuổi đế quốc Mỹ ra khỏi bán đảo Đông Dương6.
_______________________________________
1 ÷ 5. Nghị quyết Bộ Chính trị, ngày 19-6-1970, Tlđd.
6. Dẫn theo Những sự kiện lịch sử Đảng, Sđd, t.3, tr.552.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Tư, 2010, 12:08:13 am

II- ĐÁNH THẮNG QUÂN ĐỘI SÀI GÒN TIẾN CÔNG RA ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO, ĐÔNG BẮC CAMPUCHIA, NGÃ BA BIÊN GIỚI

Bước vào đông xuân 1970 - 1971, đế quốc Mỹ ráo riết thực hiện âm mưu tiếp tục đẩy mạnh chương trình bình định nông thôn, ra sức đôn quân bắt lính xây dựng quân ngụy và ráo riết chuẩn bị tiến hành các cuộc tiến công ra chiến trường ba nước Đông Dương nhằm triệt phá hành lang vận chuyển chiến lược của ta. Tháng 11-1970, Tổng thống Mỹ Níchxơn phê chuẩn đề nghị của Bâncơ - Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn và Tư lệnh quân Mỹ ở Nam Việt Nam Abram đánh ra đường 9 - Nam Lào, Đông Bắc Campuchia và Ngã ba biên giới. Ngày 2-2-1971, Tổng thống Níchxơn họp cùng Cố vấn Kítsinhgơ, Ngoại trưởng Râugiơ, Bộ trưởng Quốc phòng Leđơ và Tham mưu trưởng Liên quân Morơ thông qua kế hoạch ba cuộc hành quân. Ba cuộc hành quân đó mang mật danh Lam Sơn 719, Toàn thắng 1/71 và Quang Trung 4. Nhà Trắng và Lầu Năm góc nuôi tham vọng thông qua các cuộc hành quân này sẽ làm suy yếu sức chiến đấu của nhân dân ba nước Đông Dương, tạo điều kiện cho Mỹ thực hiện chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh rút dần quân Mỹ về nước nhưng vẫn buộc đối phương nhân nhượng trước những điều kiện của Mỹ và chính quyền Sài Gòn.

Để thực hiện chủ trương chiến lược trên, Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ và quân đội Sài Gòn tập trung 88 tiểu đoàn (trong tổng số 214 tiểu đoàn bộ binh mà họ hiện có ở Nam Việt Nam), 15 thiết đoàn xe tăng, xe thiết giáp, 40 tiểu đoàn pháo binh từ 105mm đến 175mm, ba sư đoàn không quân và hàng trăm tàu, xuồng chiến đấu các loại, cùng một lúc mở ba cuộc tiến công quy mô lớn trên ba vùng chiến lược nhằm vào tuyến vận tải chiến lược và hậu phương trực tiếp của ta. Cuộc hành quân Toàn thắng 1/71 địch dự định sẽ từ Tây Ninh, Lộc Ninh (Việt Nam) đánh sang hai tỉnh Côngpông Chàm, Crachiê (Đông Bắc Campuchia). Cuộc hành quân Lam Sơn 719 sẽ từ Trị - Thiên đánh sang khu vực đường 9 - Nam Lào. Cuộc hành quân Quang Trung 4 sẽ đánh ra vùng ba biên giới ở bắc Tây Nguyên bao gồm các khu vực Tà Xẻng, Pa Kha, Sê Sụ (Atôpơ - Lào).

Trong ba cuộc hành quân trên đây thì cuộc hành quân Lam Sơn 719 đánh sang khu vực đường 9 - Nam Lào có mục đích, quy mô và ý đồ lớn nhất trong việc kiểm nghiệm khả năng của quân đội Sài Gòn - và do đó, kiểm nghiệm kết quả của chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh[ sau hơn hai năm triển khai thực hiện... Trong tính toán chiến lược của Mỹ, đường 9 - Nam Lào là nơi ta tập trung nhiều kho tàng dự trữ chiến lược, là “cuống họng” của đường Hồ Chí Minh, là huyết mạch đặc biệt quan trọng để nuôi sống cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam Việt Nam và cách mạng Lào, Campuchia. Cắt đứt, tiến tới phá huỷ hoàn toàn tuyến vận tải và cơ sở hậu cần chiến lược ở khu vực đường 9 - nam Lào, do vậy, là chặn đứng và triệt bỏ được nguồn tiếp tế từ gốc khiến lực lượng vũ trang ta, mà trước hết là bộ đội chủ lực ở miền Nam không thể đánh lớn được trong mùa khô 1971 -1972, buộc phải quay về hoạt động nhỏ lẻ, phân tán trong khuôn khổ một cuộc chiến tranh du kích. Điều này sẽ làm cho cách mạng miền Nam phải bị “tàn lụi” và chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh có thêm điều kiện để thực hiện thành công, quân đội Sài Gòn qua hoạt động quy mô lớn và qua việc giành chiến thắng có ý nghĩa chiến lược này, chứng tỏ được và có thêm cơ sở để mạnh lên đủ sức thay thế vai trò của quân Mỹ trên chiến trường và là lực lượng nòng cốt cho quân đội tay sai Mỹ ở các nước Đông Dương.

Chọn đường 9 - Nam Lào mở cuộc tiến công trong mùa khô 1970 -1971, phía Mỹ và Sài Gòn tính toán rất kỹ về mặt quân sự. Đường 9 - Nam Lào trước hết là khu vực có nhiều thuận lợi trong việc phát huy sức mạnh binh khí, kỹ thuật hiện đại và hiệp đồng tác chiến giữa quân Sài Gòn với quân Mỹ. Từ Cửa Việt tới Khe Sanh, quân Mỹ và quân Sài Gòn đã có sẵn hệ thống căn cứ hoả lực, căn cứ hậu cần, các sân bay dã chiến hạng trung đảm bảo cho máy bay vận tải khổng lồ C130 có thể lên xuống được và mạng lưới giao thông thuỷ - bộ khá thuận tiện cho việc cơ động lực lượng và phương tiện chiến tranh. Dựa vào hệ thống phòng ngự đường 9 - bắc Quảng Trị, địch có thể xây dựng bàn đạp xuất phát tiến công sang Lào ra nam Quân khu IV và tây Trị - Thiên, hoặc sẽ có điều kiện thuận lợi trong việc đối phó với sự tiến công, phản công mãnh liệt của đối phương khi chúng buộc phải rút lui khỏi địa bàn chiến dịch.

Để đạt mục tiêu mang nhiều tham vọng chủ quan trên và trong điều kiện địa hình cho phép, Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ và Sài Gòn đã huy động 42.000 quân, trong đó 33.000 quân Sài Gòn, 9.000 quân Mỹ1 vào chiến dịch này. Toàn bộ lực lượng trên được tổ chức thành 11 trung đoàn bộ binh, trong đó có 10 trung đoàn quân đội Sài Gòn, một trung đoàn bộ binh Mỹ, hai thiết đoàn thiết giáp với 464 xe tăng, xe bọc thép, 16 tiểu đoàn pháo 250 khẩu2... Hầu hết các lực lượng tham gia tiến công sang đường 9 - Nam Lào là những đơn vị thiện chiến, thuộc lực lượng dự bị chiến lược và lực lượng chủ lực cơ động của Quân khu I (Vùng I chiến thuật). Đảm bảo tiếp tế hậu cần, chi viện hoả lực cho các đơn vị tham gia chiến dịch là lực lượng tiếp vận trung ương, không quân và pháo binh Mỹ. Hỗ trợ cho hướng tiến công chính còn có một bộ phận lực lượng bộ binh và thiết giáp Mỹ phối hợp ở phía sau. Ở hướng tây đường số chín, quân phái hữu Lào bao gồm chín tiểu đoàn thuộc hai binh đoàn (GM30 và GM33) ở Sê Nô, Đồng Hến tiến đánh ra khu vực Sê Săng Soi, Sê Ta Mộc và dự kiến sẽ hội quân với các đơn vị quân đội Sài Gòn “ca khúc khải hoàn” ở Pha Lan, Mường Phìn. Rõ ràng, đây là cuộc hành quân lớn nhất và điển hình theo công thức Việt Nam hoá và Đông Dương hoá chiến tranh của đế quốc Mỹ.
_______________________________________
1. Lực lượng Mỹ tham gia yểm trợ mặt đất cho quân Sài Gòn là Quân đoàn hỗn hợp 24 do viên Trung tướng Sơthớclen chỉ huy.
2. Lúc cao nhất (ngày 10-3-1971) địch huy động tới 55.000 lính, gồm 15 trung đoàn bộ binh, ba thiết đoàn thiết giáp 587 xe, 21 tiểu đoàn pháo binh 318 khẩu.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Tư, 2010, 12:08:45 am

Ngay sau khi xác định hướng tiến công chủ yếu ra khu vực đường 9 - Nam Lào, địch bắt đầu thực hiện một kế hoạch nghi binh quân sự lớn. Đầu tháng 1-1971, địch tổ chức họp báo “công khai” tiến công cùng một lúc sang đông nam Campuchia, cao nguyên Bôlôven (Lào), A Sầu, A Lưới (Thừa Thiên). Giữa tháng 1-1971, chúng tung tin sẽ dùng hải - lục - không quân vượt vĩ tuyến 17 đánh ra nam Khu IV để “trả đũa Bắc Việt Nam gia tăng hoạt động ở Nam Việt Nam”. Chứng minh cho “kế hoạch đã dự kiến” này, đầu tháng 2-1971, địch cho ba lữ đoàn (258, 147, 369) lính thuỷ đánh bộ thuộc quân đội Sài Gòn bấy giờ đang đứng chân ở Trị Thiên “tập dượt” vượt phá Tam Giang, sông Bồ, sông Thạch Hãn đánh vào các địa hình đồi núi và đồng bằng ven biển...

Với lực lượng mạnh, kế hoạch nghi binh rộng lớn, Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ tin tưởng sẽ giành được thế chủ động tiến công và đạt được thắng lợi trước khi chủ lực miền Bắc kịp cơ động tới chiến trường tham chiến. Phía Mỹ và Sài Gòn càng chắc tin vào việc cùng một lúc mở ba cuộc hành quân ra ba điểm quan trọng ở Sê Pôn, Ngã ba biên giới Tây Nguyên và Đông Bắc Campuchia, sẽ gây bất ngờ lớn cho đối phương, tạo ra tuyến chia cắt nhiều tầng, chặn đứng hoàn toàn hướng tiếp tế từ miền Bắc qua đường Hồ Chí Minh và cảng Côngpông Xom (Campuchia), lập tuyến ngăn chặn cắt đôi Đông Dương, cô lập cách mạng miền Nam, uy hiếp miền Bắc, hỗ trợ cho chiến tranh đặc biệt ở Lào và xâm chiếm toàn bộ đất nước Campuchia.

Về phía ta, ngay từ giữa năm 1970, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương đã lường tính khả năng địch có thể mở cuộc tiến công quy mô lớn trong mùa khô 1970-1971 ra các vùng Trung, Hạ Lào, Đông Bắc Campuchia. Chính vì thế, ngay từ mùa hè 1970, Bộ Tổng tham mưu đã xúc tiến chuẩn bị kế hoạch tác chiến, chuẩn bị chiến trường, chuẩn bị lực lượng sẵn sàng và chủ động ứng phó với tình huống này. Đồng thời, mọi mặt chuẩn bị được tiến hành khẩn trương. Cơ quan chỉ huy tiền phương Tổng cục Hậu cần được thành lập, phối hợp với Đoàn 559 gấp rút hình thành tuyến hậu cần chiến dịch tại khu vực đường 9. Những tháng cuối năm 1970, các trạm hậu cần và các cụm kho chiến dịch được tổ chức, đảm bảo tiếp nhận một khối lượng vật chất lớn cho chiến dịch từ miền Bắc chuyển vào...

Bộ Chính trị chỉ thị cho Quân uỷ Trung ương nhất thiết phải đánh thắng trận này dù có phải động viên sức người, sức của và hy sinh như thế nào, vì đây là một trong những trận có ý nghĩa quyết định về chiến lược. Chiến thắng trận này, ta sẽ tiêu diệt được một bộ phận lớn sinh lực tinh nhuệ của quân ngụy Sài Gòn và phá huỷ một mảng phương tiện chiến tranh của chúng, làm thất bại cố gắng cao nhất của địch trong quá trình thực hiện Việt Nam hoá chiến tranh, tạo nên những chuyển biến căn bản có tính chất chiến lược cho phong trào cách mạng ba nước Đông Dương. Đồng thời, chúng ta cho đế quốc Mỹ và bọn tay sai biết rõ sức mạnh và quyết tâm của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, củng cố niềm tin cho nhân dân ta và bạn bè trên thế giới, hỗ trợ tích cực cho phái đoàn ta đấu tranh tại Hội nghị Pari.

Với ý nghĩa đó, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương quyết định mở chiến dịch phản công đường số 9 - Nam Lào tiêu diệt lớn sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch. Lực lượng tham gia chiến dịch gồm có Binh đoàn 70 (Sư đoàn 308, 304, 320), Sư đoàn 324, Sư đoàn 2, các đơn vị vũ trang mặt trận B5 (đường 9 - bắc Quảng Trị), B4 (Quân khu Trị - Thiên), Đoàn 559, bốn trung đoàn pháo binh, bốn trung đoàn pháo cao xạ, ba trung đoàn công binh; ba tiểu đoàn xe tăng, thiết giáp và một số tiểu đoàn đặc công của bộ. Ngày 8-2-1971, theo đề nghị của Tổng tham mưu trưởng và Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị: Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, quyết định thành lập Bộ Tư lệnh Mặt trận đường 9 với mật danh Mặt trận 70, đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Quốc phòng. Thiếu tướng Lê Trọng Tấn, Phó Tổng Tham mưu trưởng, làm Tư lệnh. Thiếu tướng Lê Quang Đạo, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, làm Chính uỷ, kiêm Bí thư Đảng uỷ mặt trận. Đại tá Cao Văn Khánh, nguyên Tư lệnh Mặt trận đường 9 - bắc Quảng Trị, Phó Tư lệnh; Đại tá Phạm Hồng Sơn, Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng; Đại tá Hoàng Phương, Phó Chính uỷ. Nhiều cán bộ phụ trách các tổng cục, các quân chủng, binh chủng được tăng cường cho cơ quan mặt trận. Thượng tướng Văn Tiến Dũng, uỷ viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân uỷ Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng được cử làm đại diện của Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh trực tiếp chỉ đạo mặt trận này. Đây là cơ quan chỉ huy mạnh có đủ quyền hạn và khả năng chỉ huy tất cả các lực lượng tham gia chiến dịch và tổ chức hiệp đồng với các chiến trường có liên quan như Quân khu IV, Quân khu Trị - Thiên, Mặt trận đường 9 - bắc Quảng Trị (B5), Đoàn 559 và liên quân Việt - Lào ở Nam Lào.

Chiến dịch phản công đường 9 - Nam Lào diễn ra trên một địa bàn rộng, với chiều dài khoảng 140 km theo hướng đông - tây, từ Cửa Việt, Đông Hà (Việt Nam) tới Mường Phìn, Pha Lan (Lào), chiều rộng (theo hướng bắc - nam) từ Mường Trương đến Mường Noọng, khoảng 60 km. Trên địa bàn gồm khu vực đồng bằng ven biển, đồi núi trung du xen kẽ làng mạc và núi cao rừng rậm từ Cửa Việt tới Lao Bảo dài 80km có trục đường 9 phía đông chạy qua, địch đã tập kết hàng chục trung đoàn, hàng chục kho tàng bến bãi, hàng chục trận địa pháo và sân bay dã chiến các loại ở Đông Hà, Cam Lộ, Khe Sanh, Lao Bảo, sẵn sàng cho cuộc tiến công nhằm vào các mục tiêu chiến lược chủ yếu của ta ở đường 9 - Nam Lào. Đoạn cửa khẩu từ Lao Bảo đến Mường Phìn dài 60 km thuộc địa giới tỉnh Xavanakhẹt (Lào), là khu vực rừng núi. Ở hai phía bắc - nam trục đường 9 kéo dài từ Bản Đông đến Sê Pôn, hầu hết là những dãy núi kế tiếp nhau cao từ 500 m đến 800 m, đôi chỗ thoải dần xuống trục đường 9, tạo ra những chiều, ngả giao thông chạy song song với dòng sông Sê Pôn sâu rộng. Đồng thời, các dãy điểm cao này cũng tạo ra những bức bình phong án ngữ bảo vệ trục đường chiến lược số 9. Nhìn chung, địa thế khu vực Bản Đông, Sê Pôn, Mường Phìn khá thuận lợi cho việc mở đường đảm bảo triển khai binh khí kỹ thuật trong tác chiến hiệp đồng binh chủng của cả hai phía ta và địch.

Đồng thời với việc gấp rút điều chỉnh lực lượng, tổ chức thế trận chuẩn bị tham gia chiến dịch phản công đường 9 - Nam Lào, Bộ Tổng tư lệnh cũng chỉ thị cho Đoàn 559 và Mặt trận đường 9 - bắc Quảng Trị khẩn trương xây dựng mạng lưới giao thông và hậu cần chiến dịch. Về mạng đường cơ động lực lượng công binh và thanh niên xung phong làm thêm đường số 10, nâng cấp mở rộng đường 16, đường 129, mở thêm một số nhánh đường mới, đảm bảo cho các đơn vị vận tải cơ giới đẩy mạnh và hoàn thành việc vận chuyển vật chất vào các khu vực tập kết của bộ đội xong trước khi chiến dịch mở màn.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Tư, 2010, 12:09:14 am

Đầu tháng 1-1971, với sự cố gắng cao nhất của các lực lượng tham gia vận tải hàng hoá quân sự, lượng vật chất đưa vào các hướng chiến dịch đã lên tới 60 nghìn tấn, đảm bảo cho bốn đến năm vạn quân tác chiến trong ba, bốn tháng. Ngoài ra, trên các tuyến vận tải thuộc Đoàn 559, hơn 30.000 tấn vật chất dự trữ cũng đã được tập kết, cất giấu. Lúc này các sư đoàn chủ lực cơ động được trang bị đầy đủ vật chất đang triển khai trinh sát thực địa. Hệ thống thông tin liên lạc phục vụ tác chiến ở khu vực đường 9 - Nam Lào được Bộ Tư lệnh Thông tin và các bộ tư lệnh 70, 559, đường 9 - bắc Quảng Trị khẩn trương hoàn tất. Mạng lưới quân y chiến dịch hình thành trên cơ sở các bệnh viện, bệnh xá của Đoàn 559, của Mặt trận Trị - Thiên, Mặt trận đường 9 - bắc Quảng Trị và các đội điều trị, đội phẫu thuật của Cục Quân y có khả năng cấp cứu và điều trị ở tuyến một cho hàng nghìn thương binh, bệnh binh.

Phòng ngừa tình huống địch mở rộng tiến công bằng bộ binh ra phía nam Quân khu IV, Bộ Tổng tham mưu giao thêm nhiệm vụ cho Binh đoàn 70 chuẩn bị kế hoạch tác chiến phối hợp với các lực lượng vũ trang Quân khu IV sẵn sàng tiêu diệt địch; đồng thời điều động vào Quân khu IV mười tiểu đoàn pháo cao xạ nhằm tăng thêm lực lượng bảo vệ các tuyến giao thông vận tải và các mục tiêu trọng yếu; tăng cường cho các huyện ven biển từ Thanh Hoá đến Nam Hà mười đại đội bộ đội địa phương sẵn sàng đánh địch tập kích đường biển.

Để thu hút giam chân lực lượng địch tạo điều kiện cho các đơn vị bạn chuẩn bị chiến trường, những tháng cuối năm 1970, các đơn vị thuộc Mặt trận đường 9 - bắc Quảng Trị và các đơn vị Liên quân Việt - Lào liên tục mở các đợt tiến công vào lực lượng cơ động quân đội Sài Gòn; đánh phá giao thông và các mục tiêu nằm sâu trong hậu phương địch. Ở hướng đông đường 9 - Nam Lào, trong ba tháng cuối năm 1970, các lực lượng vũ trang Mặt trận đường 9 - bắc Quảng Trị đã đánh hơn 500 trận lớn nhỏ, loại khỏi vòng chiến đấu hàng ngàn tên địch, bắn rơi 50 máy bay, phá huỷ nhiều xe quân sự, 12 tàu, xuồng vận tải và nhiều phương tiện chiến tranh của địch; ghìm chân toàn bộ lực lượng cơ động của Sư đoàn 3 quân Sài Gòn, phá vỡ kế hoạch vận chuyển hàng hoá quân sự ra Ái Tử, Đông Hà của địch. Đặc biệt, trong hai tháng cuối năm 1970 và tháng 1-1971. quân dân hai huyện Gio Linh, Cam Lộ đã bảy lần đánh bại các cuộc hành quân nống lấn của địch hòng đánh phá các bàn đạp của ta ở khu vực hai xã Trung Giang, Gio An (Gio Linh) và bốn xã phía bắc huyện Cam Lộ. Hạ tuần tháng 1-1971, một bộ phận của quân Mỹ (một tiểu đoàn bộ binh, hai tiểu đoàn thiết giáp) được sự chi viện tối đa của không quân và pháo binh, mở trận càn mang mật danh Điuêcunion đánh ra đường 9 phía nam khu phi quân sự, chiếm lại khu vực Khe Sanh. Trận càn này của quân Mỹ vừa nhằm lập bàn đạp, vừa nghi binh cho các đơn vị quân đội Sài Gòn chuẩn bị mở cuộc tiến công ra đường 9 - Nam Lào. Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 27, Tiểu đoàn 2 trung đoàn 84 pháo binh được lệnh đã tiến công, chế áp địch ở khu vực Tân Lâm, Sa Mưu. Tiểu đoàn 3 độc lập tập kích địch ở tây Đầu Mầu. Tiểu đoàn 15 đánh cắt giao thông từ Bồng Kho đi Rào Quán. Hai ngày 6 và 7-2-1971. Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 84 đã dội 200 quả đạn pháo các loại vào căn cứ Đông Hà và Sở Chỉ huy tiền phương Sư đoàn 1 quân đội Sài Gòn ở điểm cao 241.

Trên hướng tây đường 9 gồm Đồng Hến, Pha Lan, Mường Phìn (Lào), Trung đoàn 48 Sư đoàn 320 bộ binh phối hợp cùng Quân giải phóng nhân dân Lào trong hai ngày 25 và 26-1-1971, liên tục tiến công tuyến bàn đạp Pha Lan - Sê Săng Soi, bước đầu làm thất bại ý đồ đánh chiếm Mường Phìn của quân phái hữu Lào - nơi hội tụ từ hai hướng đông - tây của cuộc hành quân Lam Sơn 719 của quân Mỹ và quân Sài Gòn.

Trong khi bộ đội ta đẩy mạnh các hoạt động ghìm chân địch trên hai hướng đông tây đường 9 - Nam Lào và Quảng Trị, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương chỉ thị cho các chiến trường toàn miền đẩy mạnh hoạt động phối hợp nhằm phân tán lực lượng địch. Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương chỉ rõ đây không chỉ là nhiệm vụ phối hợp tác chiến mà còn là nhiệm vụ thiết thân của mỗi chiến trường. Các đảng bộ địa phương và lực lượng vũ trang, lực lượng chính trị, lực lượng binh vận cũng được lệnh nhân cơ hội địch điều phần lớn lực lượng cơ động ra tuyến ngoài, đẩy mạnh tiến công và nổi dậy chống bình định.

Từ ngày 30-1 đến ngày 6-2-1971, bằng đường không và đường bộ, quân Sài Gòn được sự hỗ trợ của quân Mỹ đã vận chuyển 22 tiểu đoàn lính dù, lính thuỷ đánh bộ và bảy tiểu đoàn pháo từ Sài Gòn, Quảng Ngãi, Đà Nẵng, Thừa Thiên ra khu vực Đông Hà, Ái Tử, Khe Sanh. Để nghi binh, ngày 2-2, địch cho Lữ đoàn 147 lính thuỷ đánh bộ diễn tập thực binh trên sông Hiếu ở phía đông thị trấn Đông Hà 1 km và cho Lữ đoàn 258 lính thuỷ đánh bộ từ La Vang (Quảng Trị) vào cửa biển Thuận An (Huế) xuống tàu thuỷ đi lên hướng bắc Cửa Tùng. Từ biển đông, Hạm đội 7 Mỹ cho một số tàu khu trục tiến vào uy hiếp vùng biển phía nam Quảng Bình tham gia nghi binh hòng thu hút sự chú ý của ta.

Căn cứ vào âm mưu và lực lượng triển khai của địch, lúc đầu ta bố trí quân sẵn sàng ứng phó cả hai tình huống địch hành quân ra đường 9 - Nam Lào và tiến công ra nam Khu IV. Nhưng về sau, cuối tháng 1, đầu tháng 2-1971, nhận thấy nam Khu IV chỉ là hướng địch nghi binh, nên Bộ Tổng tham mưu quyết định chuyển trọng tâm chuẩn bị tác chiến vào hướng đường số 9 - Nam Lào. Vì vậy, ngày 7-2-1971, khi địch triển khai xong toàn bộ lực lượng trên các khu vực bàn đạp như Sư đoàn dù do Dư Quốc Đống chỉ huy ở Làng Vây, Ta Kút; Liên đoàn 1 biệt động quân của tên Đại tá Mai Hiển ở Tà Púc, động A Hai; Trung đoàn 3 Sư đoàn 1 bộ binh ở Làng Cát; ba thiết đoàn xe tăng, xe bọc thép do Đại tá Nguyễn Trọng Luật chỉ huy từ Khe Sanh lên Lao Bảo; Lữ đoàn 147 lính thủy đánh bộ ở nam Làng Vây; Lữ đoàn 1 bộ binh cơ giới Mỹ từ Tân Lâm đến Hướng Hoá; tám tiểu đoàn quân phái hữu Lào nống lấn ra Pha Lan và Phađôtuya ở hướng tây đường 9..., thì cũng là lúc các sư đoàn chủ lực thuộc Binh đoàn 70 và lực lượng vũ trang Mặt trận đường 9 - bắc Quảng Trị đã hoàn tất các mặt chuẩn bị chiến dịch và chiến đấu, sẵn sàng đón đánh địch.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Tư, 2010, 12:09:57 am

Ngày 8-2-1971, Bộ Chỉ huy quân Mỹ và quân Sài Gòn ở vùng một chiến thuật ao tên tướng hai sao Sơthớclen và tên tướng hai sao Hoàng Xuân Lãm chỉ huy được lệnh bắt đầu tiến công khu vực đường 9 - Nam Lào. Hàng chục trận địa pháo với hàng trăm khẩu từ 105mm tới 175mm bố trí dọc biên giới Việt - Lào trên một chính diện 30 km và hàng chục tốp máy bay phản lực các loại đồng loạt đánh phá dữ đội các mục tiêu dọc hai bên đường 9 - Nam Lào, mở màn cho cuộc hành quân Lam Sơn 719. Khói lửa của bom đạn bốc lên trùm kín vùng trời biên giới Việt Nam - Lào.

Với sự chi viện tối đa về hoả lực và được sự yểm trợ của Lữ đoàn 1 bộ binh cơ giới Mỹ, bảy trung đoàn bộ binh, dù, thiết giáp quân Sài Gòn chia thành ba cánh vượt biên giới Việt - Lào. Cánh quân trên hướng tiến công chủ yếu của địch do chiến đoàn đặc nhiệm gồm Lữ đoàn dù 1, hai thiết đoàn (11, 17), tiến đánh theo trục đường 9 bằng cơ giới và thiết giáp; Tiểu đoàn 9 Lữ đoàn dù 1 được trực thăng đổ xuống đánh chiếm Bản Đông. Cánh quân bảo vệ sườn bắc gồm Lữ đoàn 3 dù và Tiểu đoàn 39 biệt động quân cơ động bằng máy bay lên thẳng, đổ xuống chiếm các điểm cao và thiết lập các căn cứ hoả lực ở điểm cao 500, 316, bắc Làng Sen, điểm cao 655 (Phu A Rinh), điểm cao 543, 532, 546... Cánh quân bảo vệ sườn nam là Sư đoàn 1 bộ binh do tên tướng Phạm Văn Phú chỉ huy chiếm khu vực Ku Bốc và các điểm cao 619, 537, 550, 532, 540. Trong một vài ngày đầu của cuộc hành quân, tốc độ tiến quân của địch khá nhanh, địch chiếm lĩnh hầu hết các dãy điểm cao hai bên nam - bắc đường số 9, thiết lập bình phong bảo vệ đội hình hành quân chủ yếu của chúng ở Bản Đông.

Về phía ta, từ đầu tháng 2-1971, sau khi địch đưa quân ra đường 9 - bắc Quảng Trị đánh chiếm lại Khe Sanh, Hướng Hoá, thiết lập hệ thống bàn đạp xuất phát tiến công sang đường 9 - Nam Lào, Trung ương Đảng trong lời kêu gọi toàn thể cán bộ, chiến sĩ trên Mặt trận đường 9 kiên quyết phản công và tiến công đập tan cuộc hành quân của địch đã chỉ rõ: đây là trận có ý nghĩa quyết định về chiến lược. Đánh trận này không những để giữ vững tuyến vận tải chiến lược mà còn nhằm tiêu diệt nhiều đơn vị dự bị chiến lược của địch, tạo điều kiện đánh bại một bước quan trọng âm mưu Việt Nam hoá chiến tranh, đẩy cuộc kháng chiến tiến lên mạnh mẽ, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, làm tròn nhiệm vụ quốc tế vẻ vang và rèn luyện bộ đội chủ lực.

Ngày 9-2-1971 - một ngày sau khi quân đội Sài Gòn ồ ạt đánh sang đường 9 - Nam Lào, Quân uỷ Trung ương ra chỉ thị: “Kiên quyết đập tan bước phiêu lưu quân sự mới của đế quốc Mỹ và tay sai, giành toàn thắng cho chiến dịch X” (đường 9 - Nam Lào). Sau khi chỉ rõ tầm quan trọng của chiến dịch có ý nghĩa quyết định về chiến lược, bản chỉ thị xác định: “Thắng lợi của chiến dịch không những bảo đảm cho sự chi viện của hậu phương đối với tiền tuyến mà còn tiêu diệt một lực lượng dự bị chiến lược quan trọng của quân ngụy trên chiến trường miền Nam và một bộ phận quan trọng của quân Mỹ, đánh một đòn rất mạnh vào ý chí xâm lược của Mỹ - ngụy”1.

Quân uỷ Trung ương yêu cầu cấp uỷ đảng và chỉ huy các cấp ra sức động viên chính trị, tinh thần cán bộ, chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên nhận thức rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của chiến dịch, từ đó xây dựng tinh thần triệt để chấp hành chỉ thị, mệnh lệnh của trên, không ngừng nâng cao ý chí quyết chiến, quyết thắng. Quá trình chiến đấu luôn luôn nắm vững tư tưởng chỉ đạo tác chiến chiến dịch, tích cực chủ động liên tục tiến công địch làm chủ chiến trường, bắt tù binh thu vũ khí, giành thắng lợi giòn giã ngay từ trận đầu.

Quân uỷ Trung ương kêu gọi: “Toàn thể cán bộ, chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên hãy ra sức thực hiện Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu và quyết tâm chiến lược của Trung ương Đảng... Tập trung cao nhất tinh thần và sức lực dũng mãnh tiến công, liên tục tiến công tiêu diệt thật nhiều lực lượng tinh nhuệ của địch, quyết bảo vệ con đường Hồ Chí Minh. Xốc tới giành thắng lợi cao nhất trong chiến dịch quan trọng này”2.

Đáp lời kêu gọi của Trung ương Đảng và Quân uỷ Trung ương, toàn quân, toàn dân trên Mặt trận đường 9 - Nam Lào khẩn trương bước vào chiến dịch phản công với khí thế quyết tâm cao nhất. Trên hướng chủ yếu, trong hai ngày 8 và 9-2, bộ đội cao xạ, bộ binh, công binh đứng chân ở các khu vực từ tây Huội San đến Bản Đông đã chặn đánh quyết liệt Lữ đoàn dù 1 và Thiết đoàn 17 quân Sài Gòn hành quân bằng trực thăng và xe cơ giới, bắn rơi 50 máy bay lên thẳng, bắn cháy 12 xe thiết giáp các loại. Sáng ngày 9-2, Trung đoàn bộ binh 24 Sư đoàn 304 - lực lượng tăng cường cho Sư đoàn bộ binh 308, liên tiếp đánh lui 5 đợt tiến công của Chiến đoàn đặc nhiệm dù ở khu vực điểm cao 351, cầu Cha Ky, diệt hơn 100 tên, loại khỏi vòng chiến đấu hai đại đội địch, giữ vững trận địa.

Biết lực lượng ta chốt giữ khá mạnh ở dọc trục đường 9, sáng ngày 10-2, Chiến đoàn đặc nhiệm dù với hơn 100 xe tăng, xe bọc thép và hơn 3.000 lính dù được sự chi viện tối đa của pháo binh và máy bay (kể cả máy bay B52), chia làm ba mũi bám hai bên trục đường 9, dùng tốc độ cao của cơ giời ồ ạt đánh qua các điểm chốt của Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 24 tiến về phía Bản Đông. Do lực lượng có hạn, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 24 không tổ chức xuất kích đánh chặn địch, mà kiên quyết bám trụ hầm hào, giữ vững trận địa, đánh nhỏ lẻ làm chậm bước tiến của địch. Chiều ngày 10-2, bằng cách dùng máy bay trực thăng đổ quân và sử dụng xe cơ giới đột phá dọc đường 9, Chiến đoàn đặc nhiệm dù và các đơn vị hỗ trợ của địch trên hướng chủ yếu đã chiếm được Bản Đông. Tuy nhiên, ngay sau khi Chiến đoàn dù vào chốt giữ Bản Đông, chúng đã bị bộ đội ta vây chặt. Đồng thời, pháo binh ta bắn chế áp, không cho chúng phát triển lên Sê Pôn. Ngày 11-2, tại khu vực cầu Cha Ky, điểm cao 351, Trung đoàn 24 và các lực lượng binh chủng phối thuộc dùng chiến thuật vận động tiến công kết hợp chốt đã đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn 1 dù, phá huỷ 22 xe quân sự các loại, bắn rơi 30 máy bay lên thẳng của địch. Ngày 12 và 13-2, Trung đoàn 24 bất chấp bom đạn địch đánh phá ác liệt, tiến công ra mặt đường 9, cắt đứt một số đoạn hiểm yếu từ tây Lao Bảo đến đông Bản Đông, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên, phá huỷ hàng chục xe quân sự của địch.
_______________________________________
1, 2. Chỉ thị 009/QUTW do Bí thư Quân uỷ Trung ương Võ Nguyên Giáp ký ngày 9-2-1971, hồ sơ 594 - Cục Lưu trữ Bộ Quốc phòng.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Tư, 2010, 12:11:30 am

Trên khu vực phía bắc đường 9, đoạn từ đường 16 đến tây Phu A Rinh dài gần 20 km do Sư đoàn 308, Trung đoàn 64 Sư đoàn 320 và các lực lượng pháo mặt đất, pháo phòng không, công binh, vận tải đảm nhiệm, bộ đội ta ngay trong hai ngày 8 và 9-2, đã phản công mãnh liệt địch ở điểm cao 655 (căn cứ 30), điểm cao 543 (căn cứ 31), điểm cao 316 và điển cao 500, bắn rơi 14 máy bay lên thẳng chở quân, loại khỏi vòng chiến đấu gần 200 tên địch. Ngày 10-2, tại khu vực đường 16, Trung đoàn 88 Sư đoàn 308 sử dụng Tiểu đoàn 6 vận động tiến công đánh thiệt hại nặng Đại đội 2 Tiểu đoàn 21 biệt động quân, diệt 80 tên, bảo vệ an toàn hai trận địa pháo ở bắc Làng Sen. Chiều ngày 11-2, Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 88 và Đại đội 9 tiểu đoàn 11 Trung đoàn 64 phối hợp tập kích Tiểu đoàn 2 dù ở bắc Sê Nun. Đêm 12-2, Tiểu đoàn 4 được tăng cường Đại đội 9 Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 88 tập kích hai đại đội của Tiểu đoàn 39 biệt động quân ở điểm cao 500, buộc địch phải co lại, không dám nống ra lùng sục. Ở hướng Trung đoàn 64 đảm nhiệm, ngày 10-2, Tiểu đoàn 9 chặn đánh hai đại đội thuộc Tiểu đoàn 3 dù từ căn cứ 31 nống ra Rơ Niêm lùng sục, loại khỏi vòng chiến đấu gần một đại đội địch. Tiếp đó, ngày 13-2, Trung đoàn 64 sử dụng hai tiểu đoàn (9 và 10) vận động tiến công Tiểu đoàn 6 dù đổ bộ xuống đồi Không Tên nhằm thiết lập căn cứ 32 bảo vệ Sở Chỉ huy Lữ đoàn dù 3 ở căn cứ 31, tiêu diệt hai đại đội địch, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 200 tên, buộc địch phải đưa Tiểu đoàn 6 về phía sau củng cố. Trong đợt chiến đấu ở đồi Không Tên, Trung đội 2 Đại đội 9 Tiểu đoàn 9 do Trung đội trưởng Phùng Quang Thanh chỉ huy, đã chiến đấu mưu trí dũng cảm, đột phá qua 6 cụm địch, diệt và bắt hơn 50 tên cùng Tiểu đoàn 9 hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Lực lượng tại chỗ Đoàn 559 trên hướng thứ yếu nam Bản Đông bao gồm các khu vực Ku Bốc, điểm cao 619, 537, 550... tích cực đánh chặn địch tạo điều kiện cho bộ đội chủ lực Sư đoàn 324 cơ động tiến công, diệt và đánh thiệt hại nặng hai tiểu đoàn, hai đại đội thuộc Sư đoàn 1 bộ binh quân đội Sài Gòn, bắn rơi 12 máy bay lên thẳng. Ở hướng tây đường 9, Sư đoàn 2 do Sư đoàn trưởng Nguyễn Chơn và Chính uỷ Nguyễn Huy Chương chỉ huy có sự phối hợp của Trung đoàn 48 Sư đoàn 320 và Quân giải phóng nhân dân Lào đánh thiệt hại nặng GM30, GM33 quân phái hữu Lào ở Phađôtuya và Pha Lan, bức địch rút chạy về Saravan và Đồng Hến.

Trên hướng đông đường 9, được Bộ Tổng tham mưu và Bộ Tư lệnh Quân khu IV tăng cường 3 tiểu đoàn đặc công (19, 31, 35), hai tiểu đoàn pháo cao xạ (13,14), tám đại đội pháo mang vác, Bộ Tư lệnh Mặt trận đường 9 - bắc Quảng Trị chỉ đạo các lực lượng khẩn trương đánh địch, hỗ trợ cho hướng chủ yếu. Trong tuần lễ đầu từ ngày 8 đến ngày 14-2, Đoàn đặc công 126 hải quân đánh bốn trận, diệt sáu tàu LST của địch đang trên đường từ Cửa Việt đi Đông Hà, phá huỷ 2.000 tấn hàng hoá quân sự. Sáu trận địa pháo cơ giới và mang vác cơ động của ta bố trí dọc khu vực bắc đường 9 từ miếu Bái Sơn đến Rào Quán, La Rường đã bắn hàng trăm quả đạn cối từ 82mm đến 120mm vào các cụm địch chốt giữ đoạn đường 9 từ Tân Lâm, Sa Mưu, Bồng Kho đến Động Tri, Tia Đông, gây cho chúng nhiều tổn thất về sinh lực và phương tiện chiến tranh.

Sau tuần đầu tiến công (từ ngày 8 đến 13-2) ba cánh quân địch trên ba hướng bắc, nam và trục đường 9 bị chặn đánh quyết liệt, một số đơn vị bị thiệt hại nặng, khiến tốc độ và mục tiêu tiến công trên hướng chính của chúng không đạt được như tính toán ban đầu.

Phát huy chiến thắng, ngày 14-2, Bộ Chỉ huy Mặt trận đường 9 - Nam Lào quyết định tập trung phần lớn lực lượng Binh đoàn 70 (Sư đoàn 308, Trung đoàn 64, Sư đoàn 320) và lực lượng binh chủng phối thuộc đẩy mạnh tiến công, tiêu diệt cánh quân bảo vệ sườn phía bắc đường 9, bao vây, chia cắt các cụm quân địch trên các điểm cao, cô lập cánh quân chủ yếu ở Bản Đông, không để chúng phát triển tiến công lên Sê Pôn. Đồng thời, Bộ Tư lệnh chiến dịch đường 9 - Nam Lào cũng quyết chọn khu vực bắc đường số 9 làm hướng phản công chủ yếu và điểm cao 500 từng được địch mệnh danh là lá chắn thép do Tiểu đoàn 39 thuộc Liên đoàn biệt động quân số 1 chiếm giữ, là mục tiêu then chốt và điểm cao 543 do Tiểu đoàn 3, Lữ đoàn bộ Lữ đoàn 3 dù và trận địa pháo đóng chốt, là mục tiêu đặc biệt quan trọng.

Nhiệm vụ đánh mở cửa điểm cao 500 được giao cho Sư đoàn 308 và điểm cao 543 được giao cho Trung đoàn 64 Sư đoàn 320 tiến công tiêu diệt.

Điểm cao 500 nằm ở khoảng giữa đường 16B và đường 16A, cách Bản Đông 12 km, có vị trí rất lợi hại về chiến thuật. Chiếm giữ điểm cao này, địch có thể khống chế đường 16A, 16B, khu kho hậu cần Đoàn 559 ở Mường Chương, Ngã ba Cha Ky, ngăn chặn bộ đội ta triển khai binh khí kỹ thuật và cơ động xuống hướng nam. Trong Liên đoàn biệt động quân số 1, Tiểu đoàn 39 được đánh giá là đơn vị “công thủ toàn diện”. Tiểu đoàn này được biên chế 500 quân, trang bị bảy khẩu ĐKZ (trong đó có hai khẩu 106,7mm, hai khẩu 75mm), bốn khẩu cối 81mm, chín khẩu đại liên và nhiều súng phóng lựu M79. Với sự chi viện hoả lực của các trận địa pháo binh đặt tại Tà Púc, điểm cao 543, Bản Đông, Lao Bảo và được không quân Mỹ chi viện tối đa, địch vững tin điểm cao 500 là một lá chắn thép ngăn chặn ta trên hướng bắc.

Nhận thức rõ trận đánh chiếm điểm cao 500 có tác động lớn đến quá trình phát triển chiến dịch, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 308 quyết định sử dụng Trung đoàn 102 được tăng cường Tiểu đoàn 6 (Trung đoàn 88), năm đại đội pháo mặt đất và nhiều trận địa pháo cao xạ của mặt trận vào trận đánh quan trọng này. Tác chiến trong điều kiện địa hình rừng núi, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 308 lệnh cho Trung đoàn 102 tổ chức vây lấn, áp sát, tiến tới tiêu diệt quân địch ở điểm cao 500.

Đêm 15 rạng ngày 16-2, Trung đoàn 102 do Trung đoàn trưởng Hoàng Ngọc Tý và Chính uỷ Nguyễn Hữu Ích chỉ huy cùng các lực lượng phối thuộc tiến vào xây dựng trận địa vây lấn quân địch ở điểm cao 500. Tiếp đó, trong hai ngày 16 và 17-2, từ các trận địa vây lấn vừa được đào đắp xong, quân ta dùng hoả lực bắn phá hỗ trợ cho các đơn vị bộ binh áp sát địch đào công sự chiến đấu. Địch phản ứng quyết liệt bằng việc sử dụng phi pháo oanh kích dữ dội trận địa bộ đội ta hòng nới rộng vòng vây, đồng thời sử dụng máy bay trực thăng chở quân và đồ tiếp tế cho lực lượng đang bị vây chặt trên điểm cao 500. Tuy nhiên, hoả lực phòng không của ta đã kịp thời khống chế bầu trời khu vực tác chiến, làm cho máy bay trực thăng địch không hạ cánh nổi. Điểm cao 500 bị vây ép chặt và bắt đầu bị cô lập. Đêm 18-2, Tiểu đoàn 6 đánh chiếm mỏm số 2 thuộc khu vực điểm cao 500. Địch chống trả quyết liệt dồn hoả lực bắn xối xả vào các tổ xuất kích của ta. Bất chấp ác liệt, hy sinh, tiểu đội trưởng Dương Đăng Hải dũng cảm, linh hoạt dẫn tiểu đội thọc sâu xông lên chia cắt địch, tạo thế thuận lợi cho đại đội xung phong. Chiến sĩ Phạm Văn Đỗ dũng mãnh tiến công diệt 17 tên địch và mặc dù bị thương vẫn không rời tay súng, tiếp tục cùng đồng đội truy kích địch cho đến khi trận đánh kết thúc. Sau hơn một giờ chiến đấu, Tiểu đoàn 6 diệt gọn Đại đội 4 Tiểu đoàn 39 biệt động quân, làm chủ trận địa. Ngay sau đó, Tiểu đoàn 6 liên tục đánh lui các đợt phản kích của địch, giữ vững mỏm hai, tạo điều kiện cho Tiểu đoàn 7 phát triển sang mỏm 3 và buộc địch phải dồn về co cụm ở mỏm 4 và mỏm 5. Trước nguy cơ bị tiêu diệt hoàn toàn, sáng 20-2, địch sử dụng hoả lực pháo binh bắn phá dữ dội các khu vực quân ta chốt giữ, sau đó cho máy bay trực thăng tới hòng bốc số quân còn lại đang bị vây chặt trên điểm cao 500. Nắm được ý đồ của địch, lực lượng pháo phòng không của Trung đoàn 102 tập trung bắn trả quyết liệt, bắn rơi ba máy bay trực thăng. Cùng đường sống, lính biệt động quân còn lại trên khu vực điểm cao 500 liều mạng cắt rừng, chạy về hướng điểm cao 316, nhưng tất cả đều sa vào các trận địa đón lõng của quân ta. Đúng 16 giờ 30 phút ngày 20-2, Trung đoàn 102 và các lực lượng tăng cường làm chủ hoàn toàn điểm cao 500, tiêu diệt gọn Tiểu đoàn 39 biệt động quân, bắn rơi sáu máy bay lên thẳng, thu và phá huỷ toàn bộ quân trang, quân dụng, mở tung cánh cửa phía bắc trên hướng phản công chủ yếu của chiến dịch.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Tư, 2010, 12:20:33 am

Trong lúc chiến sự ở khu vực điểm cao 500 đang diễn ra, ngày 17-2-1971, Bộ Tư lệnh chiến dịch đường 9 - Nam Lào lệnh cho Trung đoàn 64 Sư đoàn 320 cùng các lực lượng xe tăng, pháo mặt đất, pháo phòng không, công binh, vận tải phối thuộc tiến công, tiêu diệt căn cứ 31 (điểm cao 543).

Căn cứ 31 án ngữ đường 16 A, có tác dụng ngăn chặn lực lượng ta phát triển xuống Bản Đông. Căn cứ này gồm bốn mỏm đồi kế tiếp nhau. Mỏm 1 là khu trung tâm do Bộ Chỉ huy Lữ đoàn dù 3 quân đội Sài Gòn đóng giữ. Mỏm 2 ở phía đông bắc, mỏm 3 và 4 ở phía tây bắc, do Tiểu đoàn 3 dù chốt giữ. Trận địa pháo và sân bay dã chiến của căn cứ nằm xen kẽ giữa các mỏm đồi. Sau mười ngày đổ quân xuống khu vực này, địch đã xây dựng xong công sự, hào giao thông. Tuy nhiên, do bị pháo binh ta uy hiếp liên tục nên hệ thống phòng ngự của địch tại đây chưa hoàn chỉnh. Vật cản, dây thép gai bảo vệ căn cứ còn thiếu nhiều. Đường cơ giới từ Bản Đông lên căn cứ 31 chưa làm xong. Hoả lực tại chỗ của căn cứ có sáu khẩu pháo 105mm, bốn khẩu 12,8mm. Hoả lực gián tiếp chi viện bị hạn chế, chỉ có trận địa pháo ở Bản Đông là bắn tới được. Sau trận thắng của ta ở đồi Không Tên, quân địch ở căn cứ 31 không dám nống ra lùng sục dọc đường 16A, mà chỉ cố thủ trên bốn mỏm của căn cứ, lực lượng khoảng 650 tên.

Sau ba ngày gấp rút hoàn thành công tác chuẩn bị chiến đấu, sáng 20-2, Trung đoàn 64 và các lực lượng tăng cường do Trung đoàn trưởng Khuất Duy Tiến và Chính uỷ Đặng Văn Trượng chỉ huy, bắt đầu nổ súng tiến công căn cứ 31. Từ ngày 20 đến 24-2, bằng chiến thuật vây lấn, Trung đoàn 64 lần lượt tiêu diệt các trận địa hoả lực và các tuyến chốt phòng ngự vòng ngoài của địch, cắt đường tiếp tế cả trên không và mặt đất, làm cho căn cứ 31 bị cô lập hoàn toàn. Trưa ngày 25-2, sau đòn tập kích bằng hoả lực pháo binh mãnh liệt, bộ binh và xe tăng ta từ hai hướng tây - bắc và đông - nam đồng loạt tiến công căn cứ 31. Địch huy động hàng chục máy bay, hàng chục khẩu pháo từ đường 9, Bản Đông ném bom, bắn phá dữ dội hòng cản sức tiến công của ta, đồng thời tổ chức các đợt phản kích bằng bộ binh nhằm đẩy quân ta ra khỏi khu vực căn cứ. Nhưng với quyết tâm cao, cách đánh sáng tạo, được sự chi viện đắc lực của xe tăng, Trung đoàn 64 lần lượt đè bẹp các đợt phản kích của địch. 16 giờ 30 phút ngày 25-2-1971, bộ đội ta làm chủ căn cứ 31, tiêu diệt Tiểu đoàn 3 dù, tiểu đoàn pháo binh và Sở Chỉ huy Lữ đoàn 3 dù, bắt sống Đại tá Nguyễn Văn Thọ - Lữ đoàn trưởng và toàn bộ Ban Tham mưu lữ đoàn địch. Cùng với thắng lợi to lớn ở điểm cao 500, chiến thắng vang dội ở căn cứ 31 đã tạo điều kiện rất thuận lợi cho quân ta triển khai lực lượng, binh khí kỹ thuật trên đường 16A, 16B tiến công địch trên đường 9 và Bản Đông.

Ở phía nam đường 9, Sư đoàn 324 chốt giữ khu vực Sa Đi, Mường Noòng. Bộ Tư lệnh sư đoàn sử dụng Trung đoàn 2, lực lượng phòng không, công binh mặt trận tiến hành vây lấn trận địa của Trung đoàn 3 Sư đoàn 1 quân Sài Gòn ở Bản Ngan; Trung đoàn 1 vây ép Trung đoàn 1 Sư đoàn 3 quân Sài Gòn ở điểm cao 619. Trên hướng này, Trung đoàn 141 Sư đoàn 2, lực lượng dự bị của mặt trận đứng chân ở Ku Bốc có nhiệm vụ sẵn sàng chi viện cho Trung đoàn 2 và Trung đoàn 1 Sư đoàn 324. Ngày 24-2, được chiến thắng của các sư đoàn bạn ở hướng bắc đường 9 cổ vũ, Trung đoàn 3 do Trung đoàn trưởng Hoàng Trọng Thế chỉ huy, sử dụng Tiểu đoàn 9 vận động tiến công Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 1 địch ở điểm cao 619 bấy giờ đang nống ra lùng sục đánh phá các kho hậu cần của ta ở Đông Bắc Bản Ngan. Bị tiến công dồn dập từ nhiều phía suốt hai ngày 24 và 25-2, hai tiểu đoàn của Trung đoàn 1 quân Sài Gòn chốt giữ khu vực Bản Ngan bị thiệt hại nặng. Sư đoàn 1 quân Sài Gòn buộc phải gọi máy bay trực thăng đến bốc số quân còn lại về điểm cao 504 và Phu Khe Gio. Trong khi đó, ở hướng điểm cao 619, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1 Nguyễn Hữu Thảo và Chính uỷ Phạm Đình Lưu trên cơ sở dự kiến địch từ điểm cao 550 sẽ phản kích cứu nguy cho đồng bọn khi ta vây ép mạnh điểm cao 619, nên đã lệnh cho Tiểu đoàn 1 bí mật phục kích ở bình độ 300 thuộc điểm cao 619. Đúng như dự kiến, khi bị vây ép, địch cho một tiểu đoàn phản kích sang điểm cao 619. Đợi cho hai đại đội địch lọt vào trận địa phục kích, Tiểu đoàn 2 đồng loạt nổ súng. Hoàn toàn bất ngờ, địch không kịp trở tay, phần lớn bị tiêu diệt, số còn lại chạy về điểm cao 550.

Nắm bắt thời cơ địch ở khu vực điểm cao 619 đang rất hoang mang, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 324 quyết định mở đợt tiến công đồng loạt nhằm vào các mục tiêu do Trung đoàn 3 quân đội Sài Gòn chiếm giữ, đánh quỵ trung đoàn này. Đúng 14 giờ ngày 27-2, sau khi pháo binh của mặt trận và sư đoàn bắn chế áp các mục tiêu, Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 1, Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 2 và các lực lượng tăng cường mở đợt tiến công mãnh liệt tiêu diệt Tiểu đoàn 3 quân Sài Gòn và chiếm mục tiêu Phu Khe Gio. Tiểu đoàn 2 địch chốt giữ điểm cao 405 bị hở sườn đã vội vã tháo chạy về điểm cao 619, nhưng trên đường rút chạy, tiểu đoàn này bị Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 2 của ta đón lõng, loại khỏi vòng chiến đấu. Ngày 28-2, chỉ huy Trung đoàn 3 và Tiểu đoàn 1 quân Sài Gòn ở căn cứ 619 bị hoả lực ta khống chế, bộ binh ta vây ép mạnh. Trước nguy cơ bị tiêu diệt, tối 28-2, chỉ huy Trung đoàn 3 bí mật rời căn cứ 619, bỏ mặc binh sĩ Tiểu đoàn 1 bám giữ trận địa. Rạng sáng ngày hôm sau, bộ đội ta tổ chức truy kích địch ở Phu Rộp, loại khỏi vòng chiến đấu gần 200 tên, thu nhiều súng cá nhân. Qua một tuần lễ phối hợp chiến đấu với hướng chính chiến dịch, Sư đoàn 324 đã đánh thiệt hại nặng hai trung đoàn (1 và 3) thuộc Sư đoàn 1 bộ binh quân đội Sài Gòn, phá bỏ căn cứ hành quân 6 19 và hàng chục điểm chốt chiến thuật của địch ở hướng nam đường 9, tạo điều kiện thuận lợi để bộ đội ta từ hướng nam triển khai trận địa vây ép Bản Đông, chia cắt đường 9.

Phối hợp chặt chẽ với lực lượng Binh đoàn 70 hoạt động ở đường 9 - Nam Lào, Bộ Chỉ huy Mặt trận đường 9 - bắc Quảng Trị ở hướng đông chỉ đạo các đơn vị liên tục đánh cắt giao thông, kho tàng và các cụm quân địch cơ động dã ngoại. Ngày 15-2, Tiểu đoàn 15 đánh cắt giao thông đoạn Úc Nghi đi Rào Quán, phá huỷ 10 xe tăng, xe bọc thép. Chiều 17-2, tiểu đoàn tiếp tục tập kích địch ở Bông Kho, điểm cao 620, loại khỏi vòng chiến đấu một đại đội địch. Ngày 18-2, Tiểu đoàn 33 đặc công đột nhập khu tổng kho Ái Tử, đốt cháy hơn một triệu lít xăng, phá huỷ gần 10 nghìn viên đạn pháo các loại. Các phân đội pháo của Trung đoàn 84 đưa pháo ĐKB, AH12 vào sau lưng địch bắn phá khu vực Sa Mưu, Đông Hà, Tân Lâm, Cam Lộ, tiêu hao nhiều sinh lực và phá huỷ một số kho tàng, phương tiện chiến tranh của chúng.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Tư, 2010, 12:21:12 am

Ngày 25-2-1971, trước yêu cầu phát triển chung của chiến dịch, Bộ Tư lệnh Mặt trận đường 9 - bắc Quảng Trị quyết định mở khu vực tác chiến mới ở Khe Sanh, thực hiện vây ép ở Tà Cơn nhằm kiềm chế, tiêu diệt sinh lực, phương tiện chiến tranh của địch, tạo điều kiện cho hướng chính chiến dịch đẩy mạnh tiến công. Lực lượng hoạt động ở Khe Sanh - Tà Cơn gồm Trung đoàn bộ binh 27 của Tỉnh đội Quảng Trị, Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 368 pháo cao xạ, ba đại đội công binh, hai đại đội vận tải do Phó Tư lệnh mặt trận Bùi Thúc Dưỡng và Phó Chủ nhiệm chính trị mặt trận chỉ huy. Từ ngày 25 đến 28-2, Trung đoàn 27, Tiểu đoàn 7, Tiểu đoàn 8 bộ đội địa phương Quảng Trị đánh địch khi chúng đang nống ra khu vực Ba Lào, Tà Cơn, loại khỏi vòng chiến đấu hai tiểu đoàn, phá huỷ 18 xe tăng, xe bọc thép.

Trên hướng chủ yếu chiến dịch, sau khi mất căn cứ 31- vốn được địch xem là tiền đồn có ý nghĩa sống còn đối với cánh cung hướng bắc, cũng như đối với việc bảo vệ đại bản doanh của chúng đặt tại Bản Đông, Bộ Chỉ huy cuộc hành quân của địch đã tập trung Thiết đoàn 17 gồm 70 xe tăng, xe bọc thép và Tiểu đoàn 8 dù từ đường 9 lên phản kích, quyết chiếm lại vị trí quan trọng này. Địch tập trung hoả lực pháo mặt đất và không quân, đánh phá dữ dội khu vực trận địa của ta, có khu vực bị 20 lượt B52 ném bom rải thảm trong một ngày. Dù vậy, các đợt phản kích của Chiến đoàn dù - thiết giáp địch hòng chiếm điểm cao 543 chẳng những không thành công, mà lực lượng của chiến đoàn này còn bị Trung đoàn 36 Sư đoàn 308, Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 64 bộ binh và hai đại đội thiết giáp tăng cường đánh cho đại bại, 220 tên bị loại khỏi vòng chiến đấu, 18 xe tăng, xe thiết giáp bị phá huỷ, số còn lại phải tháo chạy để bảo toàn tính mạng.

Cuối tháng 2, đầu tháng 3, mặc dù đã lâm vào tình thế bất lợi, nhưng Bộ Chỉ huy hành quân địch vẫn quyết định tung lực lượng dự bị chiến dịch - và cũng là lực lượng dự bị chiến lược của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, bao gồm Lữ đoàn dù 2, hai thiết đoàn (11 và 17), hai lữ đoàn lính thuỷ đánh bộ (147 và 258), hai trung đoàn còn lại của Sư đoàn 1 bộ binh vào cuộc chiến. Lúc này, địch chuyển cánh quân phía nam thành hướng tiến công chủ yếu và tiếp tục thực hiện kế hoạch đánh lên Sê Pôn. Sư đoàn 1 cùng các lực lượng lính thủy đánh bộ, lính dù sử dụng máy bay lên thẳng và xe thiết giáp để cơ động lực lượng, nhanh chóng đánh chiếm Sê Pôn. Nỗ lực mới này của địch vấp phải sự chặn đánh quyết liệt của các sư đoàn 2, 324, 304 và các lực lượng binh chủng kỹ thuật tăng cường. Sư đoàn bộ binh 1 quân đội Sài Gòn buộc phải trụ lại ở khu vực điểm cao 723 và dãy Yên Ngựa. Lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến co cụm trên các điểm cao 550, 532 phía đông bắc Sê Pôn 2 km. Tại những khu vực này, ngay sau đó, chiến sự giữa ta và địch diễn ra giằng co quyết liệt trong suốt một tuần. Địch sử dụng nhiều máy bay trực thăng, nhiều tốp máy bay ném bom chi viện cho đồng bọn dưới mặt đất. Tuy nhiên, lưới lửa phòng không của ta ở đường 9 - Nam Lào làm cho quân địch khiếp sợ. Ở nam đường 9, đoạn từ Bản Đông đi Sê Pôn, Sư đoàn 304 chặn đánh quyết liệt số quân địch đến giải tỏa, diệt 300 tên, phá huỷ 16 xe thiết giáp, bắn rơi 15 máy bay. Ở hướng đông Sê Pôn, Sư đoàn 2 diệt 200 tên, bắn rơi tám máy bay. Quân địch chốt giữ Bản Đông ngày càng bị vây chặt. Do đường bộ bị cắt đứt và đường không bị khống chế, nên hơn 30.000 binh sĩ quân đội Sài Gòn bấy giờ đang đứng chân ở khu vực từ Lao Bảo đến giáp Sê Pôn rơi vào tình thế khốn quẫn và phải đối mặt với nguy cơ bị tiêu diệt từng bộ phận.

Đầu tháng 3-1971, mặc dù mục tiêu đánh chiếm Sê Pôn không thực hiện được nhưng bộ máy tuyên truyền của Sài Gòn vẫn tổ chức quay phim, chụp ảnh; rêu rao “Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã chiếm được Sê Pôn” để lừa bịp dư luận. Tuy nhiên sau đó, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu phải thừa nhận với báo chí phương Tây: “Người Mỹ đã có quá nhiều thương vong trong số máy bay lên thẳng, đến nỗi họ giảm cả máy bay tải thương. Đây là lý do tại sao binh sĩ Việt Nam đã không thể tiến quân nhanh hơn. Điều này đã đem lại thuận lợi cho quân đội Bắc Việt phản công. Người Mỹ đã không chấp thuận trả giá cao bằng cả máy bay lên thẳng lẫn phi công”1.

Nắm bắt kịp thời và lượng định chính xác mọi diễn biến mau lẹ trên chiến trường cũng như ở hậu phương của địch có liên quan, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng chủ trương tập trung mọi nỗ lực quyết tâm giành toàn thắng trong chiến dịch này. Ngày 4-3-1971, Quân uỷ Trung ương trong bức điện số 012 QU/TU/A gửi Thượng tướng Văn Tiến Dũng và Đảng uỷ Mặt trận đường 9 - Nam Lào đã phân tích tình hình địch ta và đề ra nhiệm vụ cho quân dân Mặt trận đường 9 - Nam Lào: Tập trung tiêu diệt địch trong khu vực Bản Đông. Tăng cường chỉ đạo đối với cánh nam. Tổ chức trận địa tập kích đối với Khe Sanh (pháo binh và bộ đội đặc công). Tăng cường hoạt động ở hướng đông đường 9 - Bắc Quảng Trị, cắt giao thông, đánh hậu cứ... Kết hợp hoạt động tiến công quân sự với đẩy mạnh công tác phá bình định, vận động nhân dân, phát triển lực lượng mọi mặt của ta trong địa phương...
_________________________________________
1. Về sự “kém hiệu quả của cuộc hành quân”, Níchxơn cử A. Hâygiơ đến Sài Gòn kiểm tra cụ thể để có quyết định cuối cùng. Sau ba ngày thám sát cuộc hành quân, A.Hâygiơ cho rằng, sở dĩ quân đội Sài Gòn với sự yểm trợ hoả lực và hậu cần của Mỹ chưa đạt được thắng lợi 100% ở đường 9 - Nam Lào là vì “cuộc hành quân không nhận được cách chỉ huy và quản lý theo kiểu của Mỹ, mà lẽ ra cuộc hành quân này phải có”. A. Hâygiơ kết luận: “Việt Nam hoá sẽ không bao giờ thành công nếu không có một số lớn quân Mỹ”, (dẫn theo Maicơn Mắclia: Việt Nam - Cuộc chiến tranh mười nghìn ngày. Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1990, tr.192, 193).


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Tư, 2010, 12:22:18 am

Thực hiện chỉ thị của Quân uỷ Trung ương, Bộ Tư lệnh chiến dịch chủ trương tiêu diệt lực lượng Sư đoàn 1 bộ binh của địch ở các điểm cao phía nam đường 9, không cho địch chiếm Sê Pôn, Na Bo. Căn cứ tình hình diễn biến trên từng khu vực, Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định điều Trung đoàn 64 lên phía tây vừa làm lực lượng dự bị cho Sư đoàn 2 tiến công các mục tiêu phía nam đường 9, vừa làm lực lượng dự bị cho hướng Bản Đông; tập trung Sư đoàn 324 (thiếu Trung đoàn 2), tiêu diệt Lữ đoàn 147 lính thuỷ đánh bộ. Các Trung đoàn 2 (Sư đoàn 324), Trung đoàn 102 (Sư đoàn 308) cùng với Trung đoàn 24 (Sư đoàn 304) cắt đường 9 từ Lao Bảo lên Bản Đông và từ Lao Bảo về Hướng Hoá. Sư đoàn 308 chuẩn bị đánh Bản Đông.

Trung đoàn 84 pháo binh trong khi đánh phá các mục tiêu chi viện cho bộ binh phải chuẩn bị thêm nhiều cơ số đạn để đánh địch rút chạy trên các đoạn Bông Kho, Đầu Mầu, điểm cao 241, 513, 300; các đơn vị bộ binh, đặc công, công binh, phòng không chuẩn bị các phương án tác chiến truy kích địch tháo chạy.

Ngày 8-3-1971, quân ta trên các hướng chiến dịch đồng loạt phản công địch. Hơn 40.000 sĩ quan, binh lính quân đội Sài Gòn tham gia cuộc hành quân Lam Sơn 719 bắt đầu rơi vào tình thế khốn đốn. Trên nhiều khu vực từ Lao Bảo đến giáp Sê Pôn, các đơn vị địch đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt. Ghi nhận phần nào thực tế đó, sau này W. Oétmolen trong hồi ký của mình đã cho biết: “Quân Bắc Việt Nam bắt đầu phản công quyết liệt. Sức ép của họ hết sức nặng nề, hoả lực bắn máy bay của họ hết sức ác liệt đến mức trong một số trường hợp không thể tiếp tế được mà việc dùng máy bay trở thành phương tiện duy nhất còn lại. Thế rồi bắt đầu một việc làm khó khăn nhất trong tất cả hoạt động quân sự, rút lui trước cuộc tiến công mãnh liệt của địch”1.

Ngày 13-3-1971, toàn bộ lực lượng tham gia chiến dịch được lệnh gấp rút chuyển từ phản công sang tiến công trên toàn tuyến, vào đội hình hành quân của địch. Ở khu vực ngoại vi Sê Pôn, Sư đoàn 2 và Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 48 tiến công tiêu diệt các cụm địch ở điểm cao 723, 660, tạo thuận lợi cho Sư đoàn 308, 304, 324, Trung đoàn 64 Sư đoàn 320 triển khai đội hình tiến công địch ở Bản Đông và chia cắt đội hình địch. Ở phía đông Bản Đông 4km, Trung đoàn 102 Sư đoàn 308 từ khu vực đường 16B vận động ra hướng đường 9 tiến công một tiểu đoàn dù chốt giữ điểm cao 311. Sau đó, trung đoàn gấp rút củng cố trận địa mới chiếm được, tổ chức đánh lui hàng chục đợt phản kích của Lữ dù 2, loại khỏi vòng chiến đấu gần 500 tên, phá huỷ 35 xe tăng, xe bọc thép. Ở các điểm cao 351, 324, 311 phía đông nam Bản Đông 8km, Trung đoàn 24 Sư đoàn 304 tiến công đánh bại các đợt tiếp tế giải toả trên đường 9 của địch, tiêu diệt gần 200 tên, bắn cháy 20 xe tăng, xe bọc thép.

Từ ngày 14 đến 17-3, các trung đoàn 88, 24, 102 thuộc Binh đoàn 70 kết hợp chốt chặn với vận động đánh giải toả, diệt hàng trăm tên, phá huỷ nhiều xe tăng, xe bọc thép, đẩy địch vào thế bị uy hiếp nặng nề. Sư đoàn 2 (thiếu một trung đoàn), sau năm ngày vây lấn tiến công liên tục, đã loại khỏi vòng chiến đấu Trung đoàn 1 Sư đoàn 1 quân đội Sài Gòn. Trong khi đó, trên hướng chính Bản Đông các trung đoàn 64, 36, 66 bộ binh được xe tăng, xe bọc thép, pháo mặt đất, pháo phòng không phối hợp chi viện, đã vây ép mạnh tập đoàn cứ điểm Bản Đông do Lữ đoàn dù 2 và hai thiết đoàn quân Sài Gòn đóng giữ, đồng thời đánh cắt triệt để nguồn tiếp tế đường bộ và đường không của địch.

Quân địch ở đường 9, Bản Đông không chịu nổi sức ép hết sức nặng nề đang ngày càng gia tăng của quân ta, đã phải dồn lại, tựa lưng nhau chống trả điên cuồng. Nhưng càng chống trả điên cuồng, thì nguồn hậu cần ít ỏi còn lại càng chóng hết. Trong khi đó, hàng trăm vượt chiếc máy bay trực thăng vũ trang, hàng chục chiếc máy bay vận tải C130 vận chuyển hàng hoá tiếp viện cho tập đoàn cứ điểm Bản Đông bị mạng lưới phòng không nhiều tầng của ta khống chế quyết liệt, đã bất lực trước sự kêu cứu của hàng nghìn quân sĩ đang mắc kẹt dưới mặt đất. Ở phía nam đường 9 (khu vực Sư đoàn 324 hoạt động), một số máy bay trực thăng liều mạng xuống được điểm cao 660 do Trung đoàn 2 Sư đoàn 1 chốt giữ, nhưng không sao cất cánh nổi bởi hàng trăm lính bị thương (kể cả lành lặn) bu bám, xô đẩy, hỗn loạn...

Trước nguy cơ bị tiêu diệt, ngày 18-3, quân địch phải bỏ Bản Đông tháo chạy. Nắm chắc thời cơ, bộ đội ta nhanh chóng chuyển sang truy quét địch. Những giờ phút bi thảm nhất của đạo quân chủ lực tinh nhuệ Sài Gòn thực hiện cuộc hành quân Lam Sơn 719 đã diễn ra. Trên đường 9 - Nam Lào, đoạn từ Bản Đông về Lao Bảo, hơn 100 xe tăng, xe thiết giáp bị ta chặn đánh. Hàng trăm binh sĩ Sài Gòn vứt bỏ súng đạn, chạy cắt rừng hòng thoát thân đã bị ta bắt. Ngày 20-3, khu vực Bản Đông - nơi được chọn làm khu vực đánh trận then chốt, đã hoàn toàn giải phóng. Trong trận then chốt quyết định này, bộ đội ta đã diệt và bắt hơn 1.800 tên, thu và phá huỷ 113 xe tăng, xe bọc thép, 24 khẩu pháo, bắn rơi 52 máy bay. Cùng thời gian, trên hướng Sư đoàn 2 và Sư đoàn 324, bộ đội ta cũng giành thắng lợi giòn giã, tiêu diệt Trung đoàn 2 Sư đoàn 1 bộ binh địch ở điểm cao 660, đánh thiệt hại nặng Lữ đoàn 147 lính thuỷ đánh bộ ở điểm cao 550.

Ngày 23-3-1971, chiến dịch phản công đường 9 - Nam Lào kết thúc thắng lợi. Trải qua gần 50 ngày đêm (từ ngày 8-2 đến ngày 23-3) liên tục phản công, tiến công địch, quân, dân Mặt trận đường 9 - Nam Lào đã đánh cho quân đội Sài gòn - lực lượng nòng cốt thực hiện Việt Nam hoá chiến tranh một đòn chí mạng: trên hai vạn tên, gồm sáu trung đoàn, lữ đoàn, 13 tiểu đoàn bộ binh pháo binh bị loại khỏi vòng chiến đấu; ba sư đoàn dự bị chiến lược gồm Sư đoàn dù, Sư đoàn lính thuỷ đánh bộ và Sư đoàn 1 bộ binh bị đánh thiệt hại nặng. Ngoài ra, lực lượng không quân lực lượng tăng - thiết giáp quân Mỹ và quân đội Sài Gòn cũng bị tổn thất lớn. Một số lượng đáng kể vũ khí, đạn dược, quân trang quân dụng của chúng bị phá huỷ hoặc lọt vào tay đối phương.

Tuy nhiên, trong chiến dịch này, bộ đội ta cũng chịu tổn thất lớn: 2.163 cán bộ, chiến sĩ hy sinh và 6.176 bị thương trong chiến đấu.

_________________________________________
1. W. Oétmolen: Một quân nhân tường trình, Sđd, tr.97.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Tư, 2010, 12:26:22 am

Thắng lợi của quân và dân ta trên Mặt trận đường 9 - Nam Lào có ý nghĩa chiến lược rất quan trọng cả về quân sự và chính trị. Cùng với việc đánh bại cuộc hành quân xâm lược Campuchia, thắng lợi này “đã đánh bại quân chủ lực ngụy có sự yểm trợ của chủ lực Mỹ, đánh bại cố gắng quân sự cao nhất của quân ngụy trong chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh, đánh dấu một bước thất bại nghiêm trọng của chiến lược này. Chiến thắng đường 9 - Nam Lào của ta đã chấm dứt quá trình tiến công - phản kích đánh ra vòng ngoài bằng các cuộc hành quân lớn của Mỹ - ngụy”1, “mở ra những triển vọng vô cùng tốt đẹp đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đến toàn thắng”2.

Cuối tháng 1 đầu tháng 2-1971, cùng với việc tập trung binh lực mở cuộc hành quân Lam Sơn 719 đánh ra đường 9 - Nam Lào, địch đồng thời tập trung một lực lượng tương đối lớn mở cuộc hành quân Toàn thắng 1/71 đánh sang vùng Đông Bắc Campuchia. Toàn bộ lực lượng địch sử dụng vào hướng tiến công này gồm khoảng 23.000 quân Sài Gòn, được tổ chức thành chín chiến đoàn hỗn hợp và 22 tiểu đoàn quân Lonnon3. Mục tiêu chủ yếu của cuộc hành quân nhằm bao vây tiêu diệt một bộ phận quan trọng lực lượng chủ lực ta đứng chân tại đây, phá huỷ căn cứ, kho tàng, giải toả đường số 7, lập tuyến ngăn chặn ở đông và đông bắc Campuchia. Mỹ và Sài Gòn coi đây là cuộc hành quân lớn thứ hai trong ba cuộc tiến công chiến lược đánh ra vòng ngoài hòng thực hiện âm mưu Đông Dương hóa chiến tranh của Níchxơn.

Sớm phán đoán được ý đồ của địch trong mùa khô 1970-1971 và một phần kế hoạch cuộc hành quân Toàn thắng 1/71, Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy miền đã sớm chủ động tổ chức chiến dịch phản công với quy mô lớn nhất từ trước tới mùa xuân 1971 ở chiến trường đông Nam Bộ và Đông Bắc Campuchia nhằm đánh bại cuộc hành quân này của địch, giáng cho quân đội Sài Gòn - lực lượng nòng cốt thực hiện chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh của đế quốc Mỹ một đòn quyết liệt. Bộ Chỉ huy miền quyết định sử dụng hầu hết lực lượng chủ lực hoạt động ở miền đông Nam Bộ bao gồm ba sư đoàn bộ binh (5, 7, 9), một sư đoàn pháo binh và các đơn vị binh chủng đặc công, công binh, thông tin, vận tải phối hợp với lực lượng tại chỗ ở các khu căn cứ Đông Bắc Campuchia vào chiến dịch phản công này. Theo kế hoạch, trên hướng phản công chủ yếu ở đường 7 - Côngpông Chàm, Bộ Chỉ huy miền sử dụng hai sư đoàn bộ binh (9, 7) và phần lớn sư đoàn pháo binh Iàm nhiệm vụ chặn đánh tiến tới tiêu diệt cánh quân chủ yếu của địch ở khu vực Đầm Be, Sơ Lông. Trên hướng thứ yếu đường số 13, Sư đoàn 5 và lực lượng binh chủng phối thuộc được giao nhiệm vụ kiên quyết phản công đánh bại quân địch. Một trung đoàn của Quân khu VIII được điều động đến phối hợp tác chiến trên hướng đường số 1.

Sau gần một tháng tổ chức lực lượng càn quét thăm dò, chiếm giữ một số vị trí quan trọng trên tuyến đường 7 và đường 13, mờ sáng ngày 4-2-1971, địch chính thức mở cuộc hành quân Toàn thắng 1/71. Trên hướng Côngpông Chàm, địch tập trung tới năm chiến đoàn bộ binh, Liên đoàn 6 biệt động quân và Lữ đoàn 3 kỵ binh thiết giáp. Trên hướng này, Chiến đoàn 333 biệt động quân và Lữ đoàn 3 kỵ binh thiết giáp chia làm hai mũi, một mũi lợi dụng đêm tối từ ngã ba Krếck theo đường 7 tiến công thị trấn Suông; mũi còn lại chờ trời sáng dùng máy bay trực thăng đổ bộ xuống sân bay Chúp. Ngày hôm sau, Lữ đoàn 3 thiết giáp được hai tiểu đoàn quân Lonnon hỗ trợ phát triển theo tỉnh lộ 2, đánh chiếm Đầm Be. Ba chiến đoàn làm lực lượng dự bị trên hướng tiến công này của địch được rải ra phòng giữ phía sau. Trong khi đó, ở hướng đường 13, Chiến đoàn 9 vượt biên giới, đánh chiếm thị trấn Xnun, Crachiê. Trên hướng đường 1, các đơn vị quân đội Sài Gòn phối hợp với quân Lonnon đánh chiếm cầu Niếc Lương.

Khi quân địch ồ ạt tiến công, Bộ Chỉ huy miền đã lệnh cho các đơn vị khẩn trương hoàn chỉnh mọi mặt chuẩn bị, kiên quyết đánh đòn phủ đầu, đặc biệt, các sư đoàn chủ lực được giao nhiệm vụ phản công địch trên đường 7 - Côngpông Chàm phải tập trung lực lượng tiêu diệt Chiến đoàn 333 quân đội Sài Gòn.

Chấp hành mệnh lệnh chiến đấu của Bộ Chỉ huy miền, Sư đoàn 9 bộ binh do Sư đoàn trưởng Nguyễn Thới Bưng và Chính uỷ Nguyễn Văn Quảng chỉ huy được tăng cường Trung đoàn 174 (Sư đoàn 5) và Trung đoàn 12 (Sư đoàn 7) ngay đêm 5-2, đã sử dụng Trung đoàn 2 Sư đoàn 9 vận động tập kích cụm quân địch ở nam sân bay Chúp, đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn 36 biệt động quân và một chi đoàn xe thiết giáp quân đội Sài Gòn. Để trụ vững trên địa bàn quan trọng này, ngay chiều hôm đó, địch phải đưa lực lượng chủ yếu của Chiến đoàn 333 và một trung đoàn thiết giáp lên sân bay Chúp tăng cường cho đồng bọn, giải toả áp lực và khắc phục tổn thất tại đây. Đêm 6-2, Sư đoàn 9 tập trung hai trung đoàn (2, 3) vận động tập kích cánh quân giải toả của địch ở làng Núi, loại khỏi vòng chiến đấu 300 tên, phá huỷ 30 xe tăng, xe bọc thép. Tiếp đó, Sư đoàn 9 sử dụng Trung đoàn 2 chốt chặn ở phía tây, Trung đoàn 3 chốt chặn ở phía đông, Trung đoàn 1 chốt chặn phía bắc dinh điền cao su Chúp. Tại những khu vực này, Sư đoàn 9 đã đánh bại hàng chục đợt tiến công của Chiến đoàn 333, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên.

Bị chặn đánh và vấp phải sự phản công quyết liệt của ta, ngày 12-2, địch buộc phải điều chỉnh hướng tiến công. Chiến đoàn 333 được lệnh tiến theo đường tỉnh lộ số 2 đánh lên Đầm Be. Trong khi đó, Lữ đoàn 3 kỵ binh thiết giáp đánh lên Nước Đá. Mặc dù được máy bay và pháo binh (kể cả máy bay chiến lược B52) yểm trợ tối đa về hoả lực, nhưng cả hai cánh quân này liên tục bị đánh chặn khiến cho tốc độ tiến công phát triển rất chậm. Đêm 17-2, Trung đoàn 3 vận động tập kích đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn 31 biệt động quân ở Pram, buộc Chiến đoàn 333 phải từ bỏ ý định đánh lên Chi Thiêng. Cùng đêm, Trung đoàn 1 vận động tập kích Tiểu đoàn 2 (Chiến đoàn 43) mới tăng viện ở tây chợ Chúp, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên. Tuy nhiên, trong đợt chiến đấu này, một số đơn vị của ta đảm nhiệm hướng phản công chính do nắm địch chưa chắc, chốt chặn địch chưa chặt nên đã bỏ lỡ cơ hội tiêu diệt Chiến đoàn 333 khi chiến đoàn này rút bỏ Suông - Chúp để chuyển hướng tiến công lên Đầm Be - Sơ Lông hỗ trợ cho quân Lonnon ở khu vực đông - tây sông Mê Công.
_________________________________________
1. Ban Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Sđd, tr.32.
2. Thư của Ban Chấp hành Trung ương gửi cán bộ, chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên thanh niên trên mặt trận đường số 9, ngày 31-3-1971, hồ sơ 594, Cục Lưu trữ Bộ Quốc phòng.
3. Lực lượng địch sử dụng vào cuộc hành quân này cụ thể như sau: ba sư đoàn bộ binh thuộc Quân đoàn III, Lữ đoàn 3 kỵ binh, Liên đoàn 3 biệt động quân, một hải đoàn đặc nhiệm hải quân, 12 tiểu đoàn pháo (216 khẩu từ 105 đến 175mm), 3 thiết đoàn xe tăng, xe bọc thép (400 xe), 15 phi đoàn máy bay Mỹ chi viện và 22 tiểu đoàn quân Lonnon hỗ trợ.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Tư, 2010, 12:27:02 am

Kiên quyết đập tan cánh quân chủ yếu của địch ở tam giáp Đầm Be - Oátthơmây, cầu Cháy - Sơ Lông, Bộ Tư lệnh miền lệnh cho Sư đoàn 7, Sư đoàn 9, Trung đoàn 174 Sư đoàn 5 và các đơn vị binh chủng đẩy mạnh phản công và tiến công quân địch ở khu vực tam giác này. Chấp hành mệnh lệnh của trên, trong những ngày cuối tháng 2, đầu tháng 3-1971, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 9 sử dụng hai trung đoàn (2, 3) liên tiếp tổ chức bốn trận vận động phục kích, đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn 1 và 3 thuộc Chiến đoàn 5 quân Sài Gòn ở khu vực Oátthơmây, Cầu Cháy. Trong khi đó, một bộ phận quan trọng của Chiến đoàn 5 và lực lượng thiết giáp địch ở thị trấn Sa Lông cũng liên tục bị Trung đoàn 165 bao vây kìm chân, tiêu hao sinh lực. Tại Đầm Be, Chiến đoàn 333 và hai chi đoàn thiết giáp thuộc Trung đoàn 15 bị Trung đoàn 209 dùng hoả lực tập kích, bị thiệt hại nặng. Hy vọng đánh phá căn cứ hậu cần ta ở khu vực Đầm Be - Sa Lông của địch càng về cuối tháng 2 càng trở nên mong manh. Điều đó buộc Đỗ Cao Trí - Tổng chỉ huy cuộc hành quân, phải lệnh cho Chiến đoàn 5 lùi về co cụm, cùng đồng bọn chốt giữ Đầm Be. Nhưng trên đường rút chạy, Chiến đoàn 5 bị mất thêm một tiểu đoàn, bộ phận còn lại không vào được Đầm Be phải rẽ sang Oátthơmây. Đêm 2-3, Sư đoàn 9 được lệnh bao vây tiêu diệt Chiến đoàn 333 ở Đầm Be. Trước tình hình đó và tự lượng sức khó có thể chống đỡ, chiến đoàn này rút ra cùng một số chiến đoàn khác lập tuyến phòng ngự dọc theo đường 7 tới ngã ba Krếck. Như vậy, đến ngày 5-3, đợt một chiến dịch phản công trên hướng chủ yếu kết thúc. Bộ đội ta trên hướng này khẩn trương chấn chỉnh đội hình, bổ sung đạn, gạo, chuẩn bị cho đợt phản công mới.

Hướng phản công thứ yếu do Sư đoàn 5 bộ binh chủ lực miền đảm nhiệm. Trên hướng này, ngày 5-2, ngay sau khi chiếm được thị trấn Xnun (Crachiê), Chiến đoàn 9 và Tiểu đoàn 74 biên phòng quân đội Sài Gòn đã mở các hoạt động đánh phá vùng phụ cận nhằm tiêu diệt căn cứ và cơ sở hậu cần của ta. Chủ động bám sát các hoạt động của địch, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 5 Bùi Thanh Vân lệnh cho Trung đoàn 1 chuẩn bị tác chiến tiêu diệt gọn từng tiểu đoàn địch trên hướng hoạt động chủ yếu của sư đoàn, tạo khí thế cho các đơn vị thi đua lập công hoàn thành tốt nhiệm vụ đợt một chiến dịch.

Ngày 6-2, lực lượng trinh sát Trung đoàn 1 phối hợp với tiểu đoàn địa phương bạn chặn đánh Tiểu đoàn 4 Chiến đoàn 9 Sài Gòn tại Sở 3 thị trấn Xnun, đẩy lùi năm đợt tiến công, loại khỏi vòng chiến đấu hàng chục tên, buộc Chiến đoàn 9 phải tung hai tiểu đoàn ra chốt giữ Sở 3. Đây là lúc thuận lợi cho ta bao vây, tiêu diệt địch ở khu vực Sở 3. Ngày hôm sau, mặc dù thời gian gấp, nhưng do bám nắm địch tốt, bộ đội sẵn sàng chiến đấu cao, nên chỉ sau bốn giờ chuẩn bị, Trung đoàn 1 đã hành quân chiếm lĩnh xong trận địa bao vây địch ở khu vực Sở 3.

4 giờ 30 phút ngày 8-2, Trung đoàn 1 đồng loạt nổ súng tiến công Tiểu đoàn 4 quân Sài Gòn chốt giữ Sở 3. Bị đánh bất ngờ từ nhiều phía, binh sĩ địch buộc phải lùi dần vào trong của tuyến phòng ngự, chống trả quyết liệt. Tại xóm Việt Kiều (nam Sở 4), ta và địch giành giật nhau từng chiến hào, từng bờ tường đổ; đôi lúc ta buộc phải chấp nhận tổn thất, thậm chí hai, ba chiến sĩ hy sinh để đổi lấy một mục tiêu. Trận đánh kéo dài đến chiều ngày hôm sau. Trong điều kiện cán bộ, chiến sĩ thương vong nhiều, hoả lực hạn chế, Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 3 (Trung đoàn 1) vẫn kiên cường bám trụ chiến đấu, đập tan mọi sự kháng cự của địch, tiêu diệt Tiểu đoàn 4 Chiến đoàn 9, làm chủ trận địa, bắn cháy tám xe tăng, bắn rơi năm máy bay.

Chiến thắng tại Sở 3 của Trung đoàn 1 tạo khí thế phấn khởi cho cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 5 tiến lên lập công mới. Ngày 14-2, trung đoàn được lệnh bố trí đội hình chiến đấu ở phía bắc Sở 5. Đồng thời, Bộ Tư lệnh sư đoàn giao cho Trung đoàn 3 phục kích chặn địch trên đoạn đường từ Sóc Đông đi Sở 4. 16 giờ chiều cùng ngày, Tiểu đoàn 1 Chiến đoàn 9 quân đội Sài Gòn vừa đặt chân đến lộ 27 Sở 5 đã chạm trán với bộ phận trinh sát Trung đoàn 1. Bộ đội ta nổ súng, địch hốt hoảng lùi ra và không dám tiến vào sâu hơn. Chớp thời cơ, Trung đoàn 1 quyết định sang vận động, bao vây, tiến công Tiểu đoàn 1 Chiến đoàn 9 địch. Trước sức tiến công của ta, Tiểu đoàn 1 co về chống đỡ, chờ sự chi viện.

8 giờ ngày 15-2, Bộ Chỉ huy Chiến đoàn 9 điều 12 xe tăng, thiết giáp với sự hộ tống của bốn máy bay trực thăng Côbra tiến lên giải vây cho Tiểu đoàn 1. Thế nhưng, Tiểu đoàn 1 và cả lực lượng giải vây đã bị các chiến sĩ Trung đoàn 1 Sư đoàn 5 chủ lực miền tiến công mãnh liệt; Sở Chỉ huy Tiểu đoàn 1 bị tiêu diệt. Như rắn mất đầu, lính bộ binh và thiết giáp quân đội Sài Gòn la ó và bỏ chạy khỏi khu vực giao tranh. Đúng 10 giờ 30 phút, Trung đoàn 1 hoàn toàn làm chủ trận địa, diệt và bắt hơn 200 tên, bắn cháy tám xe tăng, xe bọc thép, bắn rơi ba máy bay. Trận vận động tập kích tiêu diệt Tiểu đoàn 1 Chiến đoàn 9 và các đơn vị tăng viện tại Xnun đã gây nên nỗi kinh hoàng trong binh lính và sĩ quan địch.

Chiến thắng Xnun - đường 13 cuối tháng 2 đầu tháng 3-1971 của Sư đoàn 5 khép lại đợt chiến đấu đầy khó khăn, gian khổ, hy sinh trên hướng Đông Bắc Campuchia, để lại kinh nghiệm quý báu trong việc vận dụng linh hoạt các hình thức tác chiến phục kích, tập kích, vận động tiến công kết hợp chốt.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Tư, 2010, 12:27:27 am

Trung tuần tháng 3-1971, trước khi bước vào đợt hai chiến dịch phản công, Quân uỷ và Bộ Chỉ huy miền họp bàn và đi tới quyết định thành lập bộ chỉ huy tiền phương do đồng chí Trần Văn Trà làm Tư lệnh, nhằm tiếp tục đẩy mạnh chiến dịch phản công địch trên chiến trường Đông Bắc Campuchia.

Căn cứ tình hình địch, ta trên chiến trường Bộ Chỉ huy tiền phương miền quyết định chọn mặt trận đường 7 là hướng tác chiến chính của đợt hai. Trên hướng này, ta tập trung một bộ phận lực lượng mạnh gồm hai sư đoàn (7, 9), các đơn vị binh chủng tăng cường, kiên quyết bao vây tiến công Lữ đoàn 3 kỵ binh và Chiến đoàn 48 quân đội Sài Gòn, đập tan sự đề kháng của chúng.

Ngày 16-3-1971, Lữ đoàn 3 và Chiến đoàn 48 chia thành hai mũi đánh vào dinh điền cao su Chúp. Để chặn đánh cuộc tiến công của địch, tiến tới bao vây, tiêu diệt một bộ phận quan trọng lực lượng này, Bộ Chỉ huy tiền phương miền lệnh cho Sư đoàn 9 điều gấp Trung đoàn 2 đang chốt giữ Tà Pao về phía Đông Bắc đường 7 (đoạn giữa Suông và Chúp), mở các cuộc tập kích vào đội hình tiến công của địch. Bị ta tập kích liên tục, lực lượng bị tiêu hao, địch buộc phải co cụm đội hình, tổ chức chống đỡ. Xét thấy thời cơ tiêu diệt lớn quân địch xuất hiện, ngày 28-3, Bộ Chỉ huy tiền phương miền quyết định sử dụng 2 sư đoàn (9, 7) mở trận quyết chiến ở khu vực Tô Tịa - Mông Rêu. Sau hai ngày tiến công liên tục, ta đã đánh thiệt hại nặng Lữ đoàn 3 và Chiến đoàn 48 buộc chúng phải kết thúc đợt tiến công đánh chiếm đường 7.

Bước sang tháng 4-1971, phát huy thắng lợi, Sư đoàn 7 và Sư đoàn 9 tiếp tục vây ép, bức rút, tiêu diệt quân tăng viện ở các khu vực Pra Thiết, Kha Na, Prôvây..., kiên quyết đẩy lùi địch về ngã tư Chrum. Giữa tháng 4, ý định đánh chiếm lại đường 7 của địch hòng lập bàn đạp tiến công vào hậu phương và căn cứ ta đã bị đập tan. Ba chiến đoàn (5, 48, 9) và lữ đoàn 3 kỵ binh liên tục bị vây đánh và bị thiệt hại nặng nề. Từ cuối tháng 4-1971, các đơn vị quân đội Sài Gòn và quân Lonnon phải co cụm lại để giữ địa bàn và tránh bị tiêu diệt.

Trên mặt trận đường 13 - Xnun, 8 giờ sáng ngày 18-3-1971, sau khi máy bay và pháo binh các loại trút bom, đạn dữ dội vào phum Xra Xăng - nằm ở phía tây bắc thị trấn Xnun 10km, 10 máy bay trực thăng thay nhau đổ Tiểu đoàn đặc nhiệm của Chiến đoàn 9 quân đội Sài Gòn xuống khu vực này. Được chuẩn bị trước, nên ngay khi địch cho trực thăng đổ quân, các trận địa hoả lực 12,7mm của ta đã bắn rơi ba chiếc. Tiếp đó, chớp thời cơ tiểu đoàn địch chưa kịp thiết lập xong trận địa, từ ba hướng, các chiến sĩ Trung đoàn 1 đồng loạt xung phong tiến công địch. Trước sức áp đảo của quân ta, Tiểu đoàn đặc nhiệm không chống đỡ nổi đã hoảng loạn bỏ chạy, hơn 100 tên bị loại khỏi vòng chiến đấu, 80 súng các loại bị thu và phá huỷ.

Cay cú trước thất bại này, sáng ngày 19-3, địch tập trung hàng chục lần chiếc máy bay A37, T28 đánh phá ác liệt phum Xra Xăng, sau đó cho một tiểu đoàn bộ binh ứng cứu tàn binh và thu nhặt xác đồng bọn. Mặc dù bộ binh địch được phi pháo chi viện tối đa và liên tục, nhưng chúng vẫn bị các chiến sĩ Trung đoàn 1 tiêu diệt thêm một đại đội và phải tháo chạy khỏi phum Xra Xăng trong ngày để bảo toàn lực lượng, từ bỏ kế hoạch đánh phá hậu cứ của ta ở khu vực bắc Xnun. Sau thảm bại này, Chiến đoàn 8 quân Sài Gòn phải từ bỏ ý định nống lấn đánh phá hậu phương ta, lùi về co cụm phòng ngự xung quanh thị trấn Xnun.

Đầu tháng 5-1971, để tiếp tục thu hút, kiềm chế một bộ phận chủ lực cơ động của Quân đoàn III Sài Gòn, tạo điều kiện cho quân, dân ta trên chiến trường Nam Bộ đánh phá bình định, hỗ trợ cho bạn củng cố, mở rộng vùng giải phóng, Quân uỷ và Bộ Chỉ huy miền quyết định mở đợt ba chiến dịch phản công địch đang chốt giữ một số vị trí xung yếu trên trục đường 7 và trục đường 13. Trong đợt này, Bộ Chỉ huy miền quyết định tập trung hai sư đoàn (5, 7) tiến công địch ở Xnun và cụm quân Lonnon ở dọc sông Tông lê Tút.

Cụm phòng ngự Xnun do Chiến đoàn 8 quân đội Sài Gòn chốt giữ nằm sâu trong vùng giải phóng. Việc tiếp tế chi viện cho chiến đoàn này, vì vậy, phụ thuộc vào đường 13 và tuyến đường không. Nắm chắc thực tế đó, Bộ Chỉ huy miền quyết định sử dụng Sư đoàn 5 và Sư đoàn 7 đánh cắt triệt để đường bộ, khống chế đường không, tiêu diệt Chiến đoàn 8. Nhiệm vụ của Sư đoàn 5 là vây lấn tiêu hao, tiêu diệt Chiến đoàn 8 ở thị trấn Xnun; Sư đoàn 7 đánh cắt giao thông trục đường 13 ở khu vực dốc Lu, đón lõng, tiêu diệt tàn binh địch khi chúng từ Xnun chạy về và phục kích, sẵn sàng đánh chặn địch từ Lộc Ninh sang cứu viện. Phương án tác chiến vây lấn, đánh cắt giao thông địch ở Xnun và đường 13 mà Bộ Tư lệnh miền đề ra được cán bộ, chiến sĩ hai sư đoàn (5, 7) và các lực lượng phối thuộc phấn khởi đón nhận và khẩn trương chuẩn bị.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Tư, 2010, 12:28:00 am

Đêm 25-5-1971, sau hơn một tuần dốc sức chạy đua với thời gian hoàn thành công tác chuẩn bị, bộ đội ta bắt đầu triển khai thế trận vây lấn chiến đoàn địch ở Xnun và chiếm lĩnh trận địa đánh cắt giao thông ở dốc Lu. Ở khu vực trận địa vây lấn, Ban Chỉ huy Sư đoàn 5 sử dụng Trung đoàn 1 và Tiểu đoàn 9 (Trung đoàn 3) đảm nhiệm hướng chủ yếu tây bắc, Trung đoàn 174 và các tiểu đoàn tăng cường đảm nhiệm hướng tây nam, Trung đoàn 3 (thiếu một tiểu đoàn) làm lực lượng dự bị của sư đoàn.

Sau khi kiểm tra lần cuối sự chuẩn bị của bộ đội trên hai hướng Xnun và dốc Lu, đúng 1 giờ ngày 26-5, Bộ Chỉ huy miền phát lệnh nổ súng mở đầu đợt ba. Tám trận địa hoả lực ĐKZ75mm, cối 120mm, cối 82mm, hoả tiễn ĐKB của Sư đoàn 5 bắn phá dồn dập Sở Chỉ huy Chiến đoàn 8, sân bay và các trận địa pháo địch. Trận tập kích hoả lực gây cho địch nhiều thiệt hại, các trận địa pháo ở khu chốt 1 và bộ phận thông tin của Sở Chỉ huy chiến đoàn bị tê liệt, một đại đội chốt tiền tiêu của Tiểu đoàn 4 bị thiệt hại nặng. Khi hoả lực dọn đường vừa chấm dứt, bộ đội ta lập tức dâng cao đội hình vây lấn, tạo thế trận khép kín Sở Chỉ huy Chiến đoàn 8 và Trung đoàn 1 thiết giáp địch.

Bị vây ép mạnh, 8 giờ sáng ngày 26-5, chỉ huy Chiến đoàn 8 cho hai đại đội bộ binh, một chi đoàn thiết giáp chốt giữ hướng tây bắc, phản kích Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 1 hòng nới rộng vòng vây. Trên hướng đông bắc, địch cho 10 xe tăng, xe thiết giáp và một đại đội bộ binh phản kích quyết liệt trận địa vây lấn Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 174 nhằm khai thông điểm nút đường 13 về dốc Lu. Giao tranh giữa ta và địch diễn ra dữ dội. Địch dựa vào sự chi viện hoả lực của máy bay và xe tăng tràn tới khu vực trận địa ta. Các chiến sĩ Tiểu đoàn 4 của ta dựa vào công sự vững chắc chiến đấu kiên cường, bẻ gãy hầu hết các đợt phản công của địch, bắn cháy ba xe thiết giáp, tiêu diệt một đại đội địch. Tiểu đoàn 3 Chiến đoàn 8 từ dốc Lu lên ứng cứu bị Trung đoàn 165 Sư đoàn 7 chặn đánh, buộc phải quay về vị trí cũ.

Trong hai ngày 27 và 28-5, Sư đoàn 5 tiếp tục tăng cường vây ép Chiến đoàn 8. Được hoả lực pháo binh sư đoàn chi viện, Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 1 thọc sâu đánh chiếm khu vực Nhà Thờ, uy hiếp phía tây bắc Sở Chỉ huy Chiến đoàn 8. Cùng lúc, ở hướng đông bắc, Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 174 đánh chiếm ngã ba - khu vực giao nhau giữa đường đường 13 và đường 7, nhằm liên kết chiến tuyến vây ép với Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 1. Bị vây ép từ ba mặt và bị cắt nguồn nước sinh hoạt, địch ở khu chốt một rục rịch chuẩn bị rút bỏ vị trí. Nắm bắt thời cơ địch hoảng loạn, Ban Chỉ huy Sư đoàn 5 ra lệnh cho Trung đoàn 1 đồng loạt xung phong đánh chiếm cụm chốt một. Sau hơn hai giờ tiến công quyết liệt, Trung đoàn 1 đã làm chủ trận địa, khống chế hoàn toàn phía tây bắc, tiếp tục uy hiếp Sở Chỉ huy Chiến đoàn 8. Ngày 29-5, Bộ Chỉ huy miền chỉ thị cho hai sư đoàn (5, 7) theo dõi chặt chẽ tình hình địch, dự kiến chuyển phương án tác chiến vây ép sang tiến công tiêu diệt Chiến đoàn 8 và các lực lượng ứng cứu.

Lúc này, dù bị vây ép mạnh và chịu nhiều tổn thất, nhưng địch đóng giữ thị trấn Xnun vẫn cố trụ bám để chờ quân tăng viện. Sáng ngày 30-5, ngoài việc sử dụng hàng chục tốp máy bay AD6, A37, trực thăng vũ trang bắn phá trận địa ta xung quanh thị trấn Xnun hòng nới rộng vòng vây, Bộ Chỉ huy Quân đoàn III Sài Gòn còn cho Lữ đoàn 3 kỵ binh thiết giáp từ Lộc Tấn (Lộc Ninh) theo đường 13 vượt biên giới lên ứng cứu cho Chiến đoàn 8. Kiên quyết chặn đứng lực lượng chi viện này của địch, chỉ huy Sư đoàn 7 cho Trung đoàn 3 chuyển từ phục kích sang vận động tiến công nhằm vào đội hình hành quân của Lữ đoàn 3 kỵ binh thiết giáp. Sau bốn giờ chiến đấu quyết liệt Trung đoàn 3 và Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 165) đã tiêu diệt một tiểu đoàn, phá huỷ 53 xe tăng, xe cơ giới, bắn rơi ba máy bay, buộc Lữ đoàn 3 kỵ binh thiết giáp phải lui về vị trí ban đầu.

Hy vọng vào quân cứu viện lên giải vây bị dập tắt, bất chấp cả lệnh trên, binh lính Chiến đoàn 8 tháo chạy khỏi Xnun. Từ các trận địa phục kích, Sư đoàn 7 và Trung đoàn 174 (Sư đoàn 5) được lệnh xung phong truy kích, tiêu diệt một bộ phận số quân này. Kết thúc trận đánh, bộ đội ta trên mặt trận Xnun - đường 13 đã loại khỏi vòng chiến đấu Chiến đoàn 8 (Sư đoàn 5 quân đội Sài Gòn) gồm ba tiểu đoàn bộ binh, một tiểu đoàn pháo binh, một trung đoàn thiết giáp, bắt 300 tên, phá huỷ hàng trăm xe quân sự, thu 500 khẩu súng các loại. Đây là một trong những trận đánh hay, thắng lớn của bộ đội ta trên chiến trường Đông Bắc Campuchia.

Chiến dịch phản công Đông Bắc Campuchia kết thúc thắng lợi ngày 31-5-1971. Toàn chiến dịch, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu trên 27.000 tên địch (có 6.000 quân Lonnon), bắt hơn 700 tên, diệt một chiến đoàn, một trung đoàn thiết giáp, đánh quỵ năm chiến đoàn, phá huỷ nhiều xe quân sự, pháo, bắn rơi và phá huỷ một số lớn máy bay; thu gần 2.000 khẩu súng các loại (có 13 khẩu pháo lớn), hơn 300 tấn đạn và hàng chục xe quân sự.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Tư, 2010, 12:28:41 am

Hoà cùng chiến thắng vang dội ở đường 9 - Nam Lào và Đông Bắc Campuchia, trên chiến trường Tây Nguyên, quân và dân ta cũng giành thắng lợi, đánh bại cuộc hành quân Quang Trung 4 của Quân đoàn II Sài Gòn ra vùng ba biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia. Ngay từ giữa tháng 2-1971, khi Quân đoàn II chuẩn bị mở cuộc hành quân Quang Trung 4 đánh ra phía tây tỉnh Kon Tum nhằm triệt phá căn cứ kho tàng và chặn cắt đường vận chuyển chiến lược của ta tại khu vực ngã ba biên giới. Bộ đội Tây Nguyên đang chuẩn bị đợt tác chiến xuân hè 1971 ở hướng Đắc Siêng, được lệnh lật cánh sang hướng nam đường 18 đánh bại cuộc hành quân này của địch.

Ngày 14-2, trong khi các trung đoàn 28, 66, 40 của Mặt trận Tây Nguyên bắt đầu chuyển hướng hoạt động về phía nam đường 18, chuẩn bị cho chiến dịch phản công thì lực lượng địch chốt giữ phía trước đẩy mạnh hoạt động nống lấn các khu Cà Din - Xóm 9, sau đó toả rộng sục sạo hai bên bờ sông Sa Thầy. Tiếp đó, ngày 21-2, địch cho đổ một đại đội pháo 105mm xuống điểm cao 1030, hai đại đội bộ binh xuống phía tây bắc chốt giữ điểm cao này. Ngày 27-2, địch huy động hàng trăm lượt chiếc máy bay lên thẳng chở Trung đoàn 42 bộ binh, Liên đoàn 2 biệt động quân đổ xuống khu vực phía tây sông Sa Thầy, chốt giữ các điểm cao, hỗ trợ cho Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 42 và Tiểu đoàn 2 biệt động quân bấy giờ đang bám theo trục đường 18, đánh phá các căn cứ và tiến dần lên hướng bắc chặn cắt đường vận chuyển chiến lược của ta.

Theo dõi sát mọi động thái của địch, Bộ Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên quyết định bao vây Tiểu đoàn 1 là lực lượng cơ động mạnh nhất của Trung đoàn 42 quân đội Sài Gòn, nhằm buộc địch phải tung quân ra ứng cứu để bộ đội ta tiến công tiêu diệt.

Tối ngày 27-2, Tiểu đoàn 7 thuộc Trung đoàn 66 đón đánh địch ở điểm cao 842, loại khỏi vòng chiến đấu hai trung đội thuộc Tiểu đoàn 1 quân đội Sài Gòn. Lợi dụng đêm tối, Tiểu đoàn 1 đã luồn lách thoát khỏi vòng vây. Sáng ngày 28-2, Trung đoàn 40 pháo binh mặt trận Tây Nguyên đã tập kích bằng hoả lực vào đội hình Tiểu đoàn 1 buộc tiểu đoàn này phải lùi lên điểm cao 935, gọi máy bay và pháo binh chi viện. Chớp thời cơ địch đang hoang mang, đội hình của địch bị chia cắt, Bộ Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên lệnh cho Trung đoàn 66 sử dụng Tiểu đoàn 9 vận động chiếm giữ điểm cao 923, sẵn sàng chặn đánh Tiểu đoàn 22 biệt động quân, tạo điều kiện cho hai Tiểu đoàn 7 và 8 bao vây tiến công tiêu diệt Tiểu đoàn 1 địch. Đồng thời, Trung đoàn 28 cũng được lệnh điều động Tiểu đoàn 3 tiến đến phía nam điểm cao 875 hình thành tiếp vòng vây thứ hai của chiến dịch.

Sáng ngày 1-3, Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên cho Trung đoàn 66 và Trung đoàn 40 nổ súng tiến công địch. Mở màn trận đánh, Đại đội 14 thuộc Trung đoàn 66 dùng cối 82mm bắn gần 100 quả đạn xuống trận địa pháo 105mm và hai đại đội Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 42 quân đội Sài Gòn vừa được máy bay trực thăng đổ xuống phối hợp cùng Tiểu đoàn 22 biệt động quân phản công ứng cứu Tiểu đoàn 1. Cùng lúc, Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 66 chốt giữ điểm cao 923 đã chiến đấu quyết liệt đánh bật hai đợt tiến công của Tiểu đoàn 22 biệt động quân, giữ vững điểm cao. Được các đơn vị bạn hỗ trợ đắc lực, khoảng 12 giờ cùng ngày, hai Tiểu đoàn 7 và 8 của Trung đoàn 66 mở đợt công kích thứ hai vào điểm cao 935. Sau 10 phút bị các loại hoả lực cối, ĐKZ, súng máy 12.7mm, súng phun lửa, B40, B41... của ta tập trung bắn phá, đại đội địch chốt giữ tuyến ngoài của điểm cao này bị tiêu diệt gần hết. Binh lính địch ở tuyến trong hoảng sợ bỏ chạy. Kiên quyết không để địch chạy thoát, Tiểu đoàn 7 (được Tiểu đoàn 8 hỗ trợ hướng đông nam) chia làm hai mũi đồng loạt đánh chiếm các mục tiêu. Đến 14 giờ, Tiểu đoàn 7 và Tiểu đoàn 8 (Trung đoàn 66) đã hoàn toàn làm chủ trận địa, tiêu diệt Tiểu đoàn 1, bắt sống 72 tên, bắn rơi năm trực thăng. Thừa thắng, ngày 3 và 4-3, Trung đoàn 66 và Trung đoàn 40 phát triển tiến công đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 42) và Tiểu đoàn 22 biệt động quân ở khu vực Ngọc Tô Ba.

Bị đòn đau, Quân đoàn II Sài Gòn buộc phải cho Sư đoàn 22 rút khỏi vùng núi tây sông Pô Cô, về lập tuyến phòng ngự phía tây Đắc Tô, Tân Cảnh, củng cố đội hình, chuẩn bị cho bước tiến công thứ hai.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Tư, 2010, 12:36:08 am

Nhận định thời cơ mới đã xuất hiện, Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên lệnh cho các đơn vị tham gia chiến dịch chuyển từ phản công sang tiến công, đẩy địch lún sâu hơn vào thế bị động, buộc chúng phải từ bỏ ý đồ đánh ra vùng ba biên giới để phối hợp với hai cuộc hành quân Lam Sơn 719 và Toàn thắng 1/71. Hướng tiến công của ta lần này tập trung vào khu vực điểm cao Ngọc Rinh Rua - vị trí quan trọng trong tuyến phòng ngự cơ bản của địch, do một tiểu đoàn hỗn hợp pháo binh và bộ binh chiếm giữ. Điểm cao có vị trí lợi hại này nếu bị đánh chiếm thì phòng tuyến Plây Cần - Đắc Mót - Đắc Tô sẽ bị uy hiếp trực tiếp, và chắc chắn điều đó sẽ buộc Quân đoàn II phải tung lực lượng ra giải toả. Đó sẽ chính là thời cơ thuận lợi để ta tổ chức trận địa phục kích nhử địch vào khu quyết chiến xung quanh điểm cao Ngọc Rinh Rua để tiêu diệt.

Đêm 30-3, Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên chỉ đạo Trung đoàn 66 cho Tiểu đoàn 7, Đại đội 19 đặc công và đơn vị hoả lực tăng cường hành quân chiếm lĩnh trận địa tiến công Ngọc Rinh Rua. Hai trung đoàn (28, 31) và Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 66 vào triển khai trận địa phục kích quân địch ở Đắc Tô lên, Đắc Mót vào. Sáng 31-3, Tiểu đoàn 7 bộ binh, Đại đội 19 đặc công và hai khẩu ĐKZ 75mm của Trung đoàn 66 nổ súng tiến công Ngọc Rinh Rua. Sau những loạt đạn ĐKZ 75mm phá huỷ bốn lô cốt, ba hoả điểm của địch, Đại đội 2 đảm nhận đột phá hướng chủ yếu phía tây bắc do Đại đội trưởng Nguyễn Văn Doãn chỉ huy đã đồng loạt xung phong đánh chiếm lô cốt đầu cầu và tuyến phòng thủ vòng ngoài. Tổ xung kích Vương Văn Chài trong 10 phút đánh chiếm được ba lô cốt tiền tiêu, tạo điều kiện cho các tổ xung kích khác phát triển mở rộng phạm vi tiến công. Ở hướng thứ yếu phía đông nam do Đại đội 3 đảm nhiệm, địch dựa vào thế cao, hào sâu phản kích, đánh bật lực lượng Đại đội 3. Trước tình hình đó Đại đội 3 buộc phải chuyển sang hướng cửa mở Đại đội 2 để vào chiến đấu.

Đến 10 giờ ngày 31-3, sau khi củng cố lại đội hình. Tiểu đoàn 7 từ khu vực vừa chiếm được chia làm ba mũi thọc sâu đánh chiếm sở chỉ huy, khu thông tin, trận địa pháo. Hai trung đội địch còn lại hoảng sợ lùi về phía nam căn cứ, gọi máy bay, pháo binh đánh chặn để mở đường tháo chạy. Đại đội 1 đón lõng đúng hướng đã “cất vó” gần như không sót một tên. 14 giờ, Tiểu đoàn 7 (Trung đoàn 66) đã tiêu diệt tiểu đoàn hỗn hợp trong cứ điểm Ngọc Rinh Rua, làm chủ trận địa, thu toàn bộ súng đạn và đồ dùng quân sự.

Ngay trong đêm 1-4, Đại đội 8 pháo binh Trung đoàn 40 được điều động lên Ngọc Rinh Rua đã dùng pháo thu được của địch bắn phá căn cứ Đắc Tô - Tân Cảnh và Sở Chỉ huy Sư đoàn 22 bộ binh quân đội Sài Gòn. Trong hơn một giờ bắn cấp tập pháo binh ta phá huỷ ba dãy nhà tôn chứa hàng quân sự và hai khẩu pháo 105mm, loại khỏi vòng chiến đấu hàng chục tên địch. Lửa cháy và tiếng đạn nổ rung chuyển một góc trời, kéo dài suốt đêm ở cụm căn cứ Đắc Tô -Tân Cảnh.

Ngọc Rinh Rua thất thủ, tuyến phòng ngự tây nam Tân Cảnh bị uy hiếp, buộc Quân đoàn II phải tung lực lượng ra giải toả, nhằm chiếm lại những khu vực đã mất. Chỉ trong tuần đầu tháng 4-1971, Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn cho Quân đoàn II huy động hầu hết lực lượng của 2 Sư đoàn 22 và 23, Lữ đoàn 2, Liên đoàn 2 biệt động quân vào cuộc chiến. Về phía ta, từ ngày 2 đến ngày 16-4, ba trung đoàn 66, 28, 311 và các lực lượng binh chủng kỹ thuật chủ lực Tây Nguyên đã liên tục chiến đấu tiêu diệt ba tiểu đoàn, đánh thiệt hại một số tiểu đoàn khác của địch, loại khỏi vòng chiến đấu hàng nghìn tên. Phối hợp với các đơn vị bộ binh đánh địch ở khu vực Ngọc Rinh Rua, các phân đội đặc công mặt trận táo bạo luồn sâu tập kích vào vùng sau lưng địch ở Trí Lễ, Đắc Tô, diệt 73 xe quân sự, hai kho đạn. Các đoàn xe địch vận chuyển hàng hoá trên đường 14, 18 tiếp tế cho phía trước liên tiếp bị chặn đánh.

Bị tổn thất nặng nề, địch buộc phải co lực lượng về giữ tuyến phòng thủ để tránh bị tiêu diệt. Cuối tháng 5-1971, cuộc hành quân Quang Trung 4 của quân đội Sài Gòn ra vùng ngã ba biên giới hoàn toàn bị đập tan. Lực lượng vũ trang Tây Nguyên không những đánh giỏi, lập công xuất sắc, trưởng thành nhanh chóng, mà còn thu hút, giam chân một lực lượng lớn quân chủ lực cơ động của Quân đoàn II, thực hiện tốt nhiệm vụ phối hợp chiến trường.

Sau gần bốn tháng (từ ngày 8-2 đến 31-5-1971) tiến hành các chiến dịch phản công địch, quân và dân ta trên chiến trường miền Nam dưới sự lãnh đạo của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương, trực tiếp là của Đảng uỷ và Bộ Chỉ huy chiến dịch trên từng khu vực, đã vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, ác liệt hy sinh, phối hợp với quân và dân hai nước Lào, Campuchia, đánh bại hoàn toàn ba cuộc hành quân Lam Sơn 719, Quyết thắng 1/71, Quang Trung 4 của địch trên ba địa bàn chiến lược đường 9 - Nam Lào, Đông Bắc Campuchia và Ngã ba biên giới. Lập được chiến công to lớn, toàn diện vào cùng một thời điểm, các lực lượng vũ trang ta đã thực sự trưởng thành vượt bậc về nghệ thuật tác chiến hiệp đồng binh chủng. Chiến công đó góp phần làm thay đổi cục diện chiến trường có lợi cho cách mạng ba nước trên bán đảo Đông Dương đang kề vai sát cánh, chung một chiến hào đánh Mỹ. Chiến công đó mở ra những điều kiện mới, thúc đẩy quân và dân ta đẩy mạnh phong trào chống phá bình định, khôi phục thế trận chiến tranh nhân dân trên ba vùng chiến lược.
_______________________________________
1. Trung đoàn 31 thuộc Sư đoàn 2 tăng cường cho Mặt trận Tây Nguyên, đến tháng 6-1971, lại trở về Quân khu V.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Tư, 2010, 12:37:18 am

III- ĐẨY MẠNH PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CHỐNG ĐỊCH BÌNH ĐỊNH, MỞ RỘNG VÙNG GIẢI PHÓNG, KHÔI PHỤC THẾ TRẬN CHIẾN TRANH NHÂN DÂN TRÊN BA VÙNG CHIẾN LƯỢC

Tiếp theo những nỗ lực bình định đặc biệt cuối năm 1968, bình định xây dựng năm 1969 mà trọng điểm là những vùng đông dân cư, có tầm quan trọng chiến lược, bước sang năm 1970, Mỹ và chính quyền Sài Gòn triển khai chương trình bình định phát triển nhằm củng cố kết quả bình định đã đạt được, tiếp tục mở rộng quyền kiểm soát ra nhiều vùng khác trên toàn miền Nam. Theo đó, năm 1970, bằng nhiều biện pháp, nỗ lực bình định phải nhằm đảm bảo an ninh cho các vùng chiến thuật, không còn hoạt động của cách mạng đe doạ; phá vỡ liên hệ giữa cơ sở cách mạng ở các thôn ấp với lực lượng vũ trang Quân giải phóng, khiến cho chủ lực Quân giải phóng không còn khả năng tập trung tiến công đại đội, lực lượng vũ trang tại chỗ nói chung bị tan rã, các căn cứ cách mạng bị tê liệt hoàn toàn. Chỉ tiêu cụ thể mà địch đề ra cho chương trình này trong năm 1970 là giữ vững kết quả bình định năm 1969, củng cố 2.320 ấp loại A đã có; mở rộng vùng an ninh, chuyển 3.600 ấp loại B lên ấp loại A, lập thêm 1.260 ấp khác, giảm 75% các hoạt động của cách mạng ở các vùng đang được bình định, tiêu diệt 50% cơ sở cách mạng đã phát hiện1...

Để thực hiện chương trình bình định trên đây, địch triển khai mạnh mẽ các biện pháp quân sự, chính trị kinh tế, xã hội; đẩy mạnh các hoạt động chiến tranh tâm lý, các chiến dịch phượng hoàng rất tàn bạo. Bên cạnh đó, nhằm lôi kéo quần chúng nông dân, tạo thêm cơ sở xã hội cho chính quyền Sài Gòn, ngày 26-3-1970, tại Cần Thơ, Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố ban hành Dự luật tư chính 003/70/CPVNCH được gọi là Luật người cày có ruộng, gồm sáu chương, 23 điều khoản...

Dù vậy, đến giữa năm 1970, chương trình Bình định phát triển bị chững lại và do vậy, địch buộc phải phát động tiếp đợt Bình định bổ túc hòng thực hiện bằng được chỉ tiêu đã đề ra, tạo đà cho việc triển khai chương trình bình định năm 1971.

Trên thực tế năm 1970, mặc dù bị quân, dân các địa phương miền Nam chống phá quyết liệt, nhưng kế hoạch bình định của địch cũng đã thu được kết quả. Chúng lập thêm 2.675 ấp với 1.310.000 dân, nâng tổng số ấp loại A, B trên toàn miền là 5.305 với 65% dân số, đóng thêm 1.023 đồn. Đồng thời, lực lượng bảo an, dân vệ, phòng vệ dân sự và chủ lực địch tiếp tục được tăng về số lượng, được trang bị thêm vũ khí. Nhìn chung, đến cuối năm 1970, cách mạng miền Nam vẫn đứng trước những khó khăn, thử thách; phong trào chống phá bình định ở nhiều địa phương vẫn chưa được đẩy lên thành cao trào. Tại các vùng ven đô thị, vùng nông thôn đông dân, nhiều của, dọc theo các trục đường giao thông huyết mạch, ở các vùng giáp ranh hành lang vận chuyển và vùng căn cứ của ta, địch tiếp tục lấn tới...

Bước vào năm 1971, trong khi tập trung quân chủ lực vượt biên giới đánh sang Campuchia, Lào, tại miền Nam Việt Nam, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đồng thời triển khai chương trình cộng đồng tự vệ và cộng đồng phát triển. Đây là một kế hoạch bình định được chuẩn bị khá công phu, với những chỉ tiêu đề ra đầy tham vọng mà tựu trung, là nhằm củng cố vùng đã kiểm soát, tiếp tục phát hiện và tiêu diệt cơ sở của ta, loại trừ sự nổi dậy của quần chúng nhân dân, kiểm soát chặt 95% số dân trong các ấp loại A, B2, phát triển lực lượng vũ trang địa phương, đảm bảo cho lực lượng này có đầy đủ khả năng “tự phòng”, “tự quản”, “tự túc” mà thực chất là đủ sức trấn áp sự chống đối của quần chúng trong ấp và đè bẹp, đẩy lùi các cuộc tiến công quân sự của lực lượng vũ trang cách mạng từ bên ngoài vào.

Trước tình hình đó, đầu xuân 1971, Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Quân uỷ Trung ương một mặt chỉ đạo đảng uỷ, bộ chỉ huy các chiến dịch tập trung lực lượng, kiên quyết phản công đánh bại các cuộc hành quân nống ra đường 9 - Nam Lào, Đông Bắc Campuchia, Ngã ba biên giới; mặt khác, chỉ đạo Quân uỷ, Bộ Chỉ huy miền, các khu, tỉnh trên toàn miền Nam phải nắm lấy thời cơ khi chủ lực địch bị phân tán ra phía ngoài, “đẩy mạnh tiến công và nổi dậy, đập tan kế hoạch bình định của địch, hướng trọng điểm nhằm vào đồng bằng Nam Bộ, vùng xung quanh Sài Gòn và biên giới Việt Nam - Campuchia”3.

Chấp hành chỉ thị của Bộ Chính trị, Trung ương Cục và các khu uỷ trên chiến trường miền Nam, từ Khu VIII, Khu IX đến Khu V, Trị - Thiên, căn cứ tình hình địch, ta trên chiến trường đã đề ra chủ trương và chỉ đạo quân dân các địa phương đẩy mạnh đánh phá chương trình bình định của địch, khôi phục thế trận chiến tranh nhân dân trên ba vùng chiến lược, đặc biệt là một số vùng trọng điểm mà trước đó đã bị Mỹ và quân đội Sài Gòn tập trung đánh phá thành vùng trắng.
_______________________________________
1. Dẫn theo Hà Minh Hồng: Phong trào chống phá bình định nông thôn ở Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1969-1972), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội. 2000, tr. 61.
2. Địch phân chia các loại ấp theo thứ tự A, B, C... căn cứ vào mức độ bình định được tại các ấp. Thuộc loại A, B là những ấp mà tại đó, đánh giá là về cơ bản, đã hoàn tất công tác bình định.
3. Điện Bộ Chính trị gửi Trung ương Cục, Quân uỷ miền, ngày 9-2-1971.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Tư, 2010, 12:37:47 am

Ở miền đông Nam Bộ, lợi dụng địch sơ hở trên từng khu vực do quân chủ lực Vùng III chiến thuật mở các cuộc hành quân ra ngoài biên giới, quân và dân các địa phương nơi đây đẩy mạnh chiến tranh du kích, kiên quyết đánh phá kế hoạch bình định, khôi phục và mở rộng vùng giải phóng, phục hồi và phát triển lực lượng và thế trận chiến tranh nhân dân. Vận dụng phương thức đấu tranh hai chân, ba mũi, lực lượng vũ trang Tây Ninh vừa mở các hoạt động tiến công quân sự nhằm vào lực lượng địch đang nống ra lấn chiếm các vùng giáp ranh, vừa táo bạo thọc sâu vào huyện lỵ, hỗ trợ cho quần chúng đấu tranh chính trị. Chiến tranh du kích toàn tỉnh nhanh chóng được phục hồi, phát triển. Các vùng ven, từ Trảng Bàng, Gò Dầu phía đông đến Thiện Ngôn, Bến Cầu phía tây, các cuộc hành quân càn quét, lấn chiếm của địch đã bị quân, dân ta chặn đánh, buộc phải chững lại. Một số nơi trước đây quân Mỹ và quân đội Sài Gòn thường mặc sức đánh phá, càn quét, lùng sục cơ sở của ta, nay tình hình đã được cải thiện. Phong trào xây dựng, bảo vệ và mở rộng vùng căn cứ, vùng giải phóng, lõm du kích, lõm chính trị phát triển đã tạo chỗ đứng chân, tạo thế trụ bám vững chắc cho các đội biệt động khu, tỉnh và các đội tự vệ mật củng cố, phát triển và đẩy mạnh hoạt động. Năm 1971, thêm hàng nghìn cơ sở mật được hình thành ở các địa phương trong tỉnh. Tại nhiều xóm, ấp phong trào đòi quyền dân sinh, dân chủ, chống bắt lính phát triển khá mạnh. Nhiều xã, ấp vùng ven căn cứ du kích, các ban tề xã địch hầu như bị tê liệt. Hàng nghìn đồng bào lần lượt vùng lên phá thế kìm kẹp, bung về làng cũ làm ăn.

Ở Long An, mặc dù quân Mỹ đã rút hết, nhưng chương trình bình định của địch những tháng đầu năm 1971 vẫn được giữ vững. Từ 360 đồn bốt được xây dựng từ những năm 1968, 1969 đến giữa năm 1971, qua hàng chục cuộc hành quân bình định kết hợp với càn quét phát quang ở các huyện Đức Hoà, Bến Lức, Thủ Thừa, Châu Thành, Cần Giuộc.. đã tăng lên 596 đồn bốt. Tại các huyện trọng điểm, địch thường xuyên bố trí từ hai đến ba đại đội bảo an, hai đến ba trung đội dân vệ cùng với các nhóm chuyên trách bình định, phượng hoàng càn quét, phát quang địa hình và kiểm soát chặt chẽ từng người dân. Trong khi đó, đối với những vùng có phong trào cách mạng phát triển mạnh, kết hợp với các cuộc hành quân càn quét, địch đẩy mạnh các hoạt động phượng hoàng nhằm “diệt tận gốc hạ tầng cơ sở Việt cộng”. Chỉ trong vòng tháng 2-1971, địch bắt 800 gia đình đi học chính trị ở tỉnh, huyện... Để phục hồi các cơ sở quần chúng cách mạng, đấu tranh chống phá bình định, nhiều đội biệt động khu, tỉnh đã trở lại bám địa bàn, hoạt động theo phương thức phân tán, luồn sâu, thâm nhập từng nhà, vận động từng người. Đến giữa năm 1971, Long An từng bước khôi phục lại được phần lớn cơ sở chính trị ở các vùng nông thôn và vùng giáp ranh. Một số huyện như Đức Hoà, Đức Huệ, Bến Lức... hoạt động quân sự trong sáu tháng cuối năm 1971 mạnh hơn trước. Bộ đội địa phương được dân quân du kích hỗ trợ đã đẩy mạnh tác chiến, diệt được trung đội địch ở An Ninh, Lộc Giang, diệt đại đội địch ở Hoà Khánh, Hậu Nghĩa. Ở nhiều nơi, địch bắt đầu co lại trong đồn; ban đêm, bộ đội, du kích đi lại tự do. Trong năm 1971, quân dân Phân khu 23 Long An đã tổ chức đánh hơn 600 trận, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 5.000 tên địch, bắt sống 57 tên, diệt hai ban tề xã, ấp, hai đại đội, ba trung đội, thu và phá huỷ nhiều phương tiện chiến tranh của địch. Một số huyện đã mở được lõm chính trị, lõm du kích và các lõm này từng bước tạo được thế liên hoàn với nhau. Đó là một trong số những điều kiện thuận lợi cho các tiểu đoàn chủ lực có chỗ đứng chân, chuẩn bị cho những trận đánh nhằm hỗ trợ đắc lực cho phong trào đấu tranh chống địch càn quét, gom dân, lập ấp chiến lược.

Tỉnh Bà Rịa được một số cán bộ ban cán sự miền trực tiếp xuống chỉ đạo phong trào chống phá bình định ở nhiều địa phương trong tỉnh, phong trào đạt kết quả khá hơn trước. Sáu tháng đầu năm 1971, quân, dân trong tỉnh đẩy mạnh các hoạt động tiến công tổng hợp nhằm phá kế hoạch bình định của địch. Trên khắp các huyện lỵ, thị tứ, dựa vào những cơ sở nội tuyến còn giữ được, tỉnh mở rộng mạng lưới hoạt động cài cắm người của ta vào các tổ chức quân đội và chính quyền địch. Đặc biệt, trên vùng cao su Long Khánh, quân dân ta giải phóng hàng loạt sở, đồn điền như Lang Lớn, Xà Bang, Quang Minh, Hoà Lạc, Việt Cường... Thậm chí cả ở một số vùng công giáo vốn là những địa bàn địch tin cẩn, bắt đầu có chuyển biến về chính trị có lợi cho cách mạng. Cuối năm 1971, hàng chục căn cứ kháng chiến trên đất Bà Rịa - Long Khánh được củng cố khá vững chắc; chính quyền xã, ấp của địch ở nhiều nơi hoang mang. Bộ đội tỉnh, huyện đã tuyển lựa được hàng trăm thanh niên bổ sung tại chỗ, tạo điều kiện cho chiến tranh nhân dân địa phương ngày một phát triển.

Phong trào chống phá bình định của quân, dân các tỉnh Tây Ninh, Long An, Bà Rịa đạt kết quả tốt đã nhanh chóng được nhân rộng ra hầu khắp các tỉnh miền đông Nam Bộ. Tháng 4-1971, quân, dân Phân khu Thủ Biên (Thủ Dầu Một - Biên Hoà) và các khu vực ngoại vi Sài Gòn - Gia Định đã học tập quán triệt Chỉ thị 01 của Thường vụ Trung ương Cục về thực hiện bước một đánh phá bình định, kiên quyết phá lỏng, phá rã thế kìm kẹp của địch trên diện rộng, xây dựng lực lượng vũ trang và chính trị của ta ở cơ sở, làm thay đổi tương quan lực lượng để tiến lên thực hiện bước hai mở mảng, mở vùng. Tháng 5-1971, được sự chi viện của quân, dân Bà Rịa, quân, dân Biên Hoà đẩy mạnh hoạt động quân sự và chính trị, giành quyền kiểm soát tại nhiều vùng giáp ranh, hình thành nhiều lõm chính trị ở ven đường quốc lộ, ở thị trấn, thị xã. Ở thị xã Biên Hoà, được cơ sở mật nội thị giúp đỡ, các đội vũ trang công tác miền và tỉnh, bằng các biện pháp nghiệp vụ, đã xây dựng, phát triển cơ sở cách mạng trên nhiều địa hạt cư dân khác nhau. Thị uỷ Biên Hoà, sau khi củng cố lại hai chi bộ Bửu Long và chợ Biên Hoà, đã gây dựng thêm 34 cơ sở mật ở nội ô và vùng ven. Tháng 8-1971, các đội vũ trang công tác luồn sâu vào khu công nghiệp hỗn hợp Biên Hoà xây dựng được tám cơ sở mật trong các nhà máy, phân xưởng. Các vùng giáp ranh khu kho Long Bình và các xã Phước Tân, An Hoà, Long Hưng... tỉnh đội đã xây dựng được xã đội và các trung đội du kích. Ở vùng ven Sài Gòn - Gia Định, để hỗ trợ cho nhân dân vùng sâu chống phá bình định, thành uỷ cho thu gọn Trung đoàn 268 thành Tiểu đoàn 268 và đưa tiểu đoàn này về Trảng Bàng, Củ Chi phối hợp với du kích xây dựng và mở rộng cơ sở cách mạng. Trung đoàn Quyết Thắng thu gọn thành hai tiểu đoàn mạnh, luồn sâu vào vùng đông dân Gò Vấp, Hóc Môn, vừa bí mật tiêu diệt các toán địch đi càn, vừa hỗ trợ cho nhân dân đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ... Được sự hỗ trợ đắc lực của bộ đội chủ lực, phong trào chiến tranh du kích phát triển ở nhiều nơi như An Nhơn, Phú Mỹ Hưng, Trung Lập Thượng... Tháng 4-1971, du kích An Nhơn Tây tiến công đồn Cây Mai, tiêu diệt trung đội địch đóng chốt tại đây. Trong tháng 5-1971, bộ đội địa phương và du kích huyện Củ Chi tổ chức phục kích, phá huỷ, phá hỏng hàng chục xe tăng, xe bọc thép. Sáu tháng đầu năm 1971, du kích mật Củ Chi diệt được 50 tên ác ôn có nhiều nợ máu với nhân dân. Ở phía đông thành phố Sài Gòn, bộ đội đặc công Rừng Sác được nhân dân vùng ven hỗ trợ, khắc phục khó khăn, chủ động chọn thời cơ đột nhập đánh tàu thuyền khu vực cảng Nhà Bè. Tháng 11-1971, Đại đội 13 Đoàn 10 tổ chức một tổ bí mật vượt phòng tuyến địch, tiếp cận sông Lòng Tàu, bắn cháy tàu chở dầu một vạn tấn. Cuối năm 1971, Đoàn 10 Rừng Sác tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động quân sự, hỗ trợ cho nhân dân vùng ven chống phá bình định. Đồng thời, lúc bấy giờ, Đoàn 10 đã phá vỡ thế bao vây của định, bắt đầu nhận được tiếp tế từ đất liền.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Tư, 2010, 12:39:12 am

Thắng lợi trên mặt trận quân sự và chống phá bình định của các tỉnh miền Đông Nam Bộ đã thúc đẩy phong trào đấu tranh chính trị và binh vận của thành phố Sài Gòn - Gia Định phát triển. Mùa xuân năm 1971, hàng vạn đồng bào lao động và học sinh, sinh viên Sài Gòn xuống đường đấu tranh, đốt cháy hàng chục xe ôtô, rải hàng vạn truyền đơn đòi Mỹ rút nhanh, rút hết về nước. Tháng 2-1971, khi địch đánh sang Nam Lào, hàng vạn thanh niên, sinh viên Sài Gòn xuống đường hô vang khẩu hiệu và mang theo biểu ngữ đả đảo Níchxơn, Nguyễn Văn Thiệu. Tháng 4-1971, mười vạn công nhân thuộc các nghiệp đoàn Sài Gòn bãi công đòi huỷ bỏ thuế lương bổng, 700 nữ công nhân xưởng pin Con Ó bãi công chống chủ sa thải. Tháng 9-1971, nhân ngày cầu siêu cho sinh viên Phạm Hạnh chết tại quân trường Quang Trung, 3.000 sinh viên Vạn Hạnh được nhân dân khu Trương Minh Giảng ủng hộ, đã xuống đường trương khẩu hiệu Đả đảo chương trình quân sự hoá học đường, còn Thiệu còn chiến tranh... Nha cảnh sát đô thành Sài Gòn điều hàng trăm cảnh sát đến đàn áp ngăn chặn, học sinh, sinh viên dùng gạch đá chống lại, xô xát dữ dội đã xảy ra và kết quả hai xe cảnh sát và một chốt gác bị đốt cháy. Những tháng cuối năm 1971, thanh niên, sinh viên thành phố tiếp tục xuống đường nhập cuộc với nhân dân đấu tranh chống bầu cử hạ viện, tổng thống; chống dân chủ giả hiệu, chống Mỹ can thiệp vào công việc nội bộ của người Việt Nam... Phong trào đấu tranh chính trị ở đô thành Sài Gòn và các thị xã lân cận góp phần tích cực vào thế trận tiến công tổng hợp của quân dân miền đông Nam Bộ nhằm vào chế độ Sài Gòn.

Trên hướng trọng điểm chống phá bình định đồng bằng sông Cửu Long, mặc dù địch đánh phá hết sức ác liệt các khu vực Cà Mau, U Minh, Rạch Giá, Cần Thơ, An Giang (Quân khu IX), Mỹ Tho, Bến Tre, Kiến Phong, Gò Công (Quân khu VIII), nhưng Trung ương Cục và Quân uỷ miền vẫn tập trung chỉ đạo các địa phương này khắc phục mọi khó khăn gian khổ, tích cực chủ động đánh bại chương trình bình định. Tại Quân khu VIII, quân, dân Mỹ Tho được sự chỉ đạo trực tiếp của lãnh đạo và chỉ huy tiền phương quân khu đứng chân ở Cai Lậy, đã vượt lên muôn và gian khổ, hy sinh1, bền bỉ bám trụ xã, ấp, đẩy mạnh phong trào đấu tranh chống phá bình định. Tháng 3-1971, Tiểu đoàn 269 đặc công quân khu táo bạo luồn sâu, vượt nhiều tuyến chốt của địch, tập kích các trận địa pháo ở Cai Lậy, Vĩnh Kim, phá huỷ năm khẩu pháo 105mm, loại khỏi vòng chiến đấu hàng chục tên. Giữa tháng 4-1971. Tiểu đoàn 261A tập kích khu trù mật Mỹ Phước Tây, diệt đồn Bình Phú (Cai Cậy). Cùng thời gian, Tiểu đoàn 514C tập kích trung tâm huấn luyện Tân Hiệp. Trong khi đó, bộ đội địa phương và du kích dọc theo quốc lộ 4 đã tổ chức các trận tiến công tiêu diệt trên 20 đồn bốt, phá huỷ hàng chục xe quân sự các loại. Phối hợp với lực lượng quân sự, lực lượng chính trị, binh vận ở các địa phương thuộc Cai Lậy Nam, Bình Trưng, Bàn Long, Phú Long, đường 12, Cai Lậy Bắc, Bắc Cái Bè, Nhi Bình... ra sức tuyên truyền vận động binh sĩ Sài Gòn không nã súng vào nhân dân. Đến giữa năm 1971, Mỹ Tho đã khôi phục, củng cố, xây dựng được nhiều cơ sở đảng, nhiều trung đội, đại đội du kích ở các xã trong tỉnh. Chiến tranh du kích nhanh chóng được phục hồi, phát triển. Tháng 7-1971, du kích 77 xã (trong tổng số 90 xã của tỉnh Mỹ Tho) đã đánh trên 200 trận, loại khỏi vòng chiến đấu gần 7000 tên địch. Cuối năm đó, toàn tỉnh giải phóng được 87 ấp với 67.000 dân, hàng trăm xóm ấp khác trước bị địch kìm kẹp gắt gao, nay đã được nới lỏng, du kích và bộ đội ban đêm có thể đột nhập dễ dàng...

Tại tỉnh Bến Tre, sáu tháng đầu năm 1971, mặc dù địch huy động hàng chục tiểu đoàn chủ lực và bảo an càn quét, đánh phá hết sức ác liệt các cơ sở cách mạng trên địa bàn tỉnh, làm cho hàng nghìn cán bộ, đảng viên hy sinh và bị bắt, nhưng được sự chỉ đạo và giúp đỡ của quân khu, quân và dân trong tỉnh đã nhanh chóng khắc phục những tổn thất, gây dựng lại phong trào chống phá bình định. Tháng 6-1971, tỉnh uỷ và tỉnh đội chỉ đạo các đội vũ trang công tác và cán bộ, đảng viên về hai huyện trọng điểm Mỏ Cày, Giồng Trôm thực hiện “ba bám”, vận động lực lượng vũ trang nhân dân địa phương chống phá địch càn quét. Tháng 7-1971, du kích xã Bình Hoà (Giồng Trôm) tập kích vào đội hình đóng quân Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 10, diệt 35 tên. Du kích xã Mỹ Phước Trung (Mỏ Cày Bắc) luồn sâu vào nội ô chi khu Đôn Nhơn gài mìn, phá huỷ 1 máy bay trực thăng, một xe quân sự. Du kích xã Phước Thạnh (Châu Thành) phục kích chặn địch, diệt 90 tên. Tháng 8-1971, Tiểu đoàn 516 phối hợp với du kích Thạnh Phú Đông tập kích vào lực lượng địch khi chúng đang càn quét, khai quang địa bàn, diệt 60 tên. Tiểu đoàn 263 liên tiếp bám đánh địch ở An Phước, Phú An Hoà, diệt ba đoàn bình định... Được bộ đội chủ lực hỗ trợ, nhân dân xã An Định (Mỏ Cày) đã chặn nhiều đại đội địch, không cho chúng chặt phá phát quang, phá hoại vườn tược. Hàng trăm bà con xã Thời Thuận (Bình Đại), Cồn Vững (Thạnh Phong) ôm chặt các cột nhà, không cho địch cày ủi, đốt phá, gom dân lập ấp chiến lược. Cùng với việc đẩy mạnh hoạt động quân sự đánh địch càn quét, tỉnh đội đồng thời chú trọng công tác địch vận, vận động binh lính địch trở về với nhân dân. Một số đồn đã án binh bất động, chấp nhận một số điều kiện của ta. Từ tháng 3 đến tháng 8-1971, quân và dân trong tỉnh đã vận động được nhiều binh lính địch bỏ ngũ trở về với nhân dân. Cuối năm 1971, 115 xã của tỉnh Bến Tre đã khôi phục được cơ sở cách mạng; hầu hết các xóm, ấp đều có các tổ du kích. Phong trào chiến tranh nhân dân địa phương sau một thời gian dài trì trệ đã dần được hồi phục và đang từng bước phát triển.

Tại tỉnh Kiến Phong, sau khi chấn chỉnh lại tổ chức, nắm được lực lượng cách mạng ở cơ sở, tỉnh uỷ đã đưa cán bộ, đảng viên và các đội biệt động có nhiều kinh nghiệm hoạt động trở về các địa phương xốc lại phong trào đấu tranh của quần chúng. Tháng 4-1971, tỉnh đội được một số phân đội đặc công của Khu hỗ trợ đã tổ chức lực lượng luồn sâu vào vùng tôn giáo Cù Lao Tây, Cù Lao Kháng, Chợ Mới... gây dựng lại cơ sở cách mạng, bố trí lại cốt cán mật trong từng khu vực. Giữa năm 1971, quân khu tăng cường Tiểu đoàn 718 cho tỉnh đội. Với lực lượng được tăng cường, tỉnh đội điều một số đại đội luồn sâu vào các điểm nóng chống phá địch càn quét bình định. Qua chiến đấu, Tiểu đoàn 718 và các lực lượng tại chỗ đã mở thêm được một số lõm chính trị, lõm quân sự, lấy đó làm chỗ dựa, làm bàn đạp tiến công địch, gây dựng lại phong trào cách mạng ở cơ sở. Cuối năm 1971, quân, dân Kiến Phong đã giành được quyền kiểm soát ở hàng chục xã phía tây bắc, xây dựng được hàng chục chi bộ, phát triển thêm hàng trăm du kích. Vùng giải phóng Kiến Phong tuy còn hẹp, nhưng đã tạo được thế liên hoàn. Thế và lực cách mạng trong tỉnh từng bước được hồi phục, phát triển.

Tỉnh Gò Công, nhiều địa phương bị địch kìm kẹp hết sức gắt gao. Tại những nơi đó, cán bộ khu, tỉnh và các đội vũ trang công tác thâm nhập cơ sở bị phát hiện và bị truy lùng quyết liệt. Nhiều xã, ấp trong một thời gian dài không có cán bộ, đảng viên... Trước tình hình đó, tỉnh uỷ Gò Công đã thành lập bốn ban cán sự vùng và thị xã thay thế cấp uỷ cũ, đồng thời đẩy mạnh hoạt động của lực lượng biệt động nằm vùng, trừng trị đích đáng những tên ác ôn khét tiếng, gây uy tín và thanh thế trong nhân dân. Dần dần, các cơ sở mật được hồi phục. Cuối năm 1971, vượt lên mọi khó khăn ác liệt, Gò Công đã hình thành được một số lõm quân sự, lõm chính trị, phong trào chống phá bình định bắt đầu có chuyển biến mới. Các tổ du kích và biệt động đã diệt được các bốt địch, nối thông hành lang với Mỹ Tho và Long An...
_______________________________________
1. Tại Mỹ Tho, có thời gian, chỉ trong một tháng, đã có gần 100 cán bộ, đảng viên hy sinh.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Tư, 2010, 12:41:23 am

Đối với địa bàn Quân khu IX, trên cơ sở căn cứ tình hình ta, địch trên từng khu vực đã tổ chức lại địa bàn hành chính, tháng 1-1971, theo chủ trương của Trung ương Cục, chiến trường nơi đây tạm thời được phân chia thành ba tỉnh là Châu Hà (gồm Hà Tiên, Rạch Giá và hai huyện Tịnh Biên, Tri Tôn (An Giang)); Bạc Liêu (gồm một phần Sóc Trăng và Cà Mau); Vĩnh Trà (gồm Vĩnh Long, Trà Vinh). Về chủ trương hoạt động, Bộ Tư lệnh quân khu đề ra bốn quyết tâm lớn:

1. Tập trung nỗ lực đánh bại kế hoạch bình định lấn chiếm U Minh của địch, đồng thời đẩy mạnh phong trào chống phá bình định phía sau, hỗ trợ phong trào quần chúng giành quyền làm chủ trên diện rộng.

2. Tăng cường chỉ đạo, giữ vững hành lang bảo đảm tiếp nhận tốt sự chi viện của trung ương.

3. Tích cực chăm lo xây dựng lực lượng ba thứ quân về mọi mặt, bảo đảm cho lực lượng vũ trang mạnh, hoàn thành mọi nhiệm vụ.

4. Tăng cường công tác hậu phương bảo đảm vật chất tại chỗ.

Chủ trương và biện pháp của Khu uỷ, Quân khu uỷ và Bộ Tư lệnh Quân khu IX về chống phá bình định là tích cực, chủ động, phù hợp với xu thế phát triển chung của tình hình chiến tranh cách mạng toàn miền. Tuy nhiên, cho đến thời điểm đó, tình hình chung trên địa bàn quân khu rất khó khăn. Đến cuối năm 1970, sau hai cuộc hành quân lấn chiếm bán đảo Cà Mau không thành, đầu năm 1971, địch tập trung Sư đoàn 21, Trung đoàn 14 Sư đoàn 9, năm tiểu đoàn pháo 105mm và 155mm, bảy giang đoàn, 12 tiểu đoàn bảo an, 46 đại đội dân vệ mở cuộc hành quân lấn chiếm toàn bộ U Minh Hạ và U Minh Thượng. Trải qua bốn tháng ồ ạt tiến quân lấn chiếm (từ tháng 1 đến tháng 5-1971), lực lượng chủ lực địch ở Vùng IV chiến thuật được lực lượng bảo an dân vệ các tỉnh Vĩnh Trà, Bạc Liêu tới phối hợp, dưới sự yểm trợ đắc lực của không quân (cả máy bay chiến lược B52), đã lấn chiếm được phần lớn U Minh Thượng và U Minh Hạ. Tháng 6-1971, Nguyễn Văn Thiệu xuống căn cứ thứ 11 (U Minh Thượng) dự lễ khánh thành chi khu Hiếu Lễ và “uý lạo chiến binh Việt Nam Cộng hòa chiến thắng”. Tại đây Thiệu đã ra lệnh cho Vùng IV chiến thuật triển khai 120 đồn, tám căn cứ cấp trung đoàn, tiểu đoàn, quyết “kiểm duyệt chặt chẽ U Minh Hạ và U Minh Thượng”. Đồng thời với việc mở các cuộc hành quân Nhổ cỏ U Minh, Bộ Chỉ huy Vùng IV còn cho Sư đoàn 9 và các lực lượng biên phòng mở các cuộc hành quân bình định ở Vĩnh Trà, Chương Thiện và vùng biên giới An Giang, Hà Tiên...

Trước sự đánh phá ác liệt của địch, Bộ Tư lệnh quân khu IX một mặt cho bộ đội phân tán hoạt động nhỏ lẻ, tiêu hao tiêu diệt địch, giữ vững một số lõm có vị trí chiến lược ở Cà Mau, Rạch Giá, Hà Tiên, bảo vệ hành lang ra Trung ương Cục, Quân uỷ Miền; mặt khác, tìm mọi biện pháp ngăn chặn để tiến tới đẩy mạnh tiến công đánh phá kế hoạch bình định của địch. Cuối tháng 5-1971, sau khi bị thất bại nặng nề ở đường 9 - Nam Lào, Đông Bắc Campuchia và vùng ngã ba biên giới, thế và lực của địch sa sút. Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh quân khu quyết định mở đợt phản công lớn vào mùa mưa 1971 ngay tại vùng trọng điểm bình định của địch ở U Minh, nhằm bẻ gãy kế hoạch đóng thêm đồn bốt của địch, cải thiện thế trận chiến tranh nhân dân, đồng thời đánh một đòn thôi động, tạo ảnh hưởng tốt về chính trị, quân sự, hỗ trợ trực tiếp cho phong trào chống bình định tại các tỉnh thuộc địa bàn quân khu.

Tại U Minh (gồm U Minh Hạ và U Minh Thượng), bước vào mùa mưa năm 1971, Bộ Tư lệnh quân khu sử dụng Trung đoàn 2, Trung đoàn 10 và Trung đoàn 20 của miền tăng cường, tiến công Sư đoàn 21 quân đội Sài Gòn đang bình định và lập tuyến phòng thủ từ Cà Mau tới Rạch Giá. Các đơn vị chủ lực quân khu còn lại được điều về đứng chân trên địa bàn các tỉnh, phối hợp với lực lượng địa phương hoạt động hỗ trợ cho nhân dân chống địch kìm kẹp. Ở U Minh Hạ (Cà Mau), ngày 7-9-1971, phát hiện được khu vực ém quân của Trung đoàn 2 tại Kênh Bảy Rầy, Biển Bạch, huyện Thới Bình, địch dùng máy bay và pháo binh đánh phá ác liệt. Mặc dù vậy, cán bộ chiến sĩ Trung đoàn 2 vẫn kiên quyết nổ súng tiến công địch. Tiểu đoàn 7 nằm lọt giữa vòng vây của Trung đoàn 33, Sư đoàn 21 quân đội Sài Gòn đã kiên cường phản công, đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn 3 và một đại đội trinh sát địch. Chiều cùng ngày, Trung đoàn 31 địch đổ quân ứng cứu đồng bọn. Trong ba ngày liên tiếp, toàn bộ lực lượng ứng cứu này bị Trung đoàn 2 phục kích, tập kích, truy kích và đã bị thiệt hại nặng hai tiểu đoàn. Số còn lại buộc phải tháo chạy khỏi khu vục. Một phân đội hoả lực cối ĐKZ 82 của Trung đoàn 2 phục kích bắn chìm bốn tàu địch trên sông Trẹm. Thừa thắng xốc tới, ngày 8-9-1971, Trung đoàn 10 bao vây tiến công căn cứ Nỗng Cạn ở xã Khánh Lâm - nơi đặt Sở Chỉ huy Trung đoàn 32 và do một tiểu đoàn ngụy đóng giữ, loại khỏi vòng chiến đấu gần 300 tên. Trung đoàn 20 (thiếu một tiểu đoàn) đánh thiệt hại nặng căn cứ Rọ Ghe, diệt và bắt hơn 100 tên địch. Ở U Minh Thượng (Rạch Giá), trong tháng 8-1971, đội du kích xã Vĩnh Hoà và bộ đội địa phương huyện Vĩnh Thuận bám trụ trên tuyến Sân Rạch - Nhà Ngang phục kích các tiểu đội, trung đội địch càn quét, diệt gần 100 tên. Ngày 14-9, đội vũ trang công tác huyện An Biên đột nhập chợ thứ 11, diệt hàng chục tên địch (trong đó có hai tên phân chi khu trưởng xã Tân Bằng và Đông Thạnh)...


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Tư, 2010, 12:41:57 am

Cuối tháng 9-1971, đợt phản công quân địch bình định, lấn chiếm U Minh của quân dân Quân khu IX kết thúc, ta đánh thiệt hại nặng bốn tiểu đoàn, năm đại đội, loại khỏi vòng chiến đấu gần 2.000 tên địch, thu và phá huỷ nhiều phương tiện chiến tranh. Địch phải bỏ hai cứ điểm cấp tiểu đoàn ở Rạch Mới và Kênh 22 (Rạch Cái Tàu). Ta thu hồi 7 khu vực trên tuyến sông Cái Tàu, cụm đồn và trận địa pháo ở Đá Bạc, giải phóng xã Khánh Hưng B. Sư đoàn 21 quân đội Sài Gòn bị thiệt hại nặng. Cuộc hành quân Nhổ cỏ U Minh lần thứ ba của địch bị thất bại.

Phối hợp với chiến trường U Minh, lực lượng vũ trang và nhân dân các tỉnh Vĩnh Trà, Cần Thơ, Đồng Tháp, Rạch Giá... vượt lên mọi khó khăn, ác liệt, chủ động chống địch càn quét bình định. Ngày 5-9-1971, Trung đoàn 3 sử dụng Tiểu đoàn 6 và đại đội đặc công tỉnh tiến công tiêu diệt chi khu Càng Long (Trà Vinh). Tiểu đoàn 509 được du kích Long Toàn hỗ trợ đã bao vây, diệt đồn Đình Cũ, đánh thiệt hại nặng một đại đội địch, thu 40 súng các loại. Bộ đội địa phương và du kích Cầu Kè tiến công đồn Rùm Sóc, bao vây bức rút đồn Rạch Miễu, đồn Bà Quít, giải phóng xã Ninh Thới. Đầu mùa mưa, bộ đội địa phương và du kích tỉnh Cần Thơ tổ chức một số trận chống càn ở các huyện Phụng Hiệp, Long Mỹ; pháo kích sân bay Lộ Tẻ, Ngã 5. Tiểu đoàn Tây Đô diệt Đại đội bảo an 479 tại Kênh Chài Đạp thuộc xã Thanh Hoà, hỗ trợ cho du kích nhổ hàng chục đồn bốt. Bộ độ địa phương và du kích các huyện Hồng Ngự, Cao Lãnh (Đồng Tháp) tập kích địch ở các đồn Thông Lĩnh, Cai Sậy, Tâm Tường, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên, cổ vũ hàng nghìn quần chúng nổi dậy phá ấp chiến lược. Ở Rạch Giá, được Đoàn 6 pháo binh, Trung đoàn 20 bộ binh, Đoàn 195 vận tải Quân khu IX hỗ trợ, quân dân các huyện Giồng Riềng, Gò Quao, Châu Thành, Tân Hiệp... liên tục tiến công quân địch bình định lấn chiếm. Tháng 5-1971, bộ đội địa phương và du kích huyện Gò Quao đánh năm trận, diệt gần 200 tên. Tháng 7, du kích xã Hoà Thuận (Giồng Riềng) tập kích năm điểm nhỏ, trong đó có Ban Chỉ huy tiểu đoàn địch ở Kênh Mương Đào. Cùng thời gian, du kích xã Thạnh Đông A, Thạnh Đông B, Tân Hội, (Tân Hiệp) diệt hàng chục ác ôn, hỗ trợ nhân dân làm chủ ba ấp. Trong hai tháng 8 và 9-1971, lực lượng đặc công quân khu đánh thiệt hại nặng căn cứ Xẻo Rô và chi khu Thứ Ba; hai đại đội đặc công và công binh tỉnh đánh chìm 16 tàu địch trên sông Cái Lớn...

Cuối tháng 11-1971, đợt phản công mùa mưa của quân và dân Quân khu IX giành được thắng lợi. Tuy mục tiêu, yêu cầu về diệt địch, giải phóng dân, giữ vững và mở rộng một số lõm quân sự, lõm chính trị đề ra ban đầu đạt được còn hạn chế, nhưng với tinh thần vượt mọi khó khăn thiếu thốn, ác liệt hy sinh, tích cực phản công địch bằng những phương thức và biện pháp thích hợp, quân và dân Quân khu IX đã bước đầu giành lại và giữ được thế chủ động, củng cố niềm tin cho nhân dân và lực lượng vũ trang toàn quân khu, tạo ra thế và lực mới để tiếp tục đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích, đánh bại kế hoạch bình định của địch.

Trên chiến trường Khu VI, cuối năm 1970, đầu năm 1971, Bộ Chỉ huy Vùng II chiến thuật địch đã điều động Sư đoàn 23 bộ binh - sư đoàn được mệnh danh là “nam bình, bắc phạt, cao nguyên trấn” vào phối hợp với lực lượng địa phương quân thực hiện kế hoạch bình định đặc biệt, mở hàng chục cuộc hành quân lớn nhỏ đánh phá ác liệt các tỉnh Lâm Đồng, Tuyên Đức, Bình Thuận, Ninh Thuận... Tháng 2-1971, địch tiếp tục mở rộng kế hoạch bình định phát triển với những yêu cầu củng cố và mở rộng an ninh, gom hết dân vào ấp chiến lược, xây dựng chính quyền và lực lượng vũ trang tại chỗ, khôi phục các đoàn thể phản động, tăng cường khả năng tự vệ, tự quản được các ấp xã, chi khu do chúng kiểm soát.

Đầu tháng 3-1971, Khu uỷ Khu VI họp đề ra chủ trương: tập trung mọi khả năng đẩy mạnh ba mũi giáp công và xây dựng thực lực các mặt trên ba vùng... đánh sụp lực lượng, kìm kẹp ở cơ sở giành quyền làm chủ hầu hết xã ấp, phá lỏng hệ thống kìm kẹp, khống chế ở nông thôn mở rộng phong trào đấu tranh ở thành thị, giữ vững các địa bàn căn cứ, các trục hành lang, tạo ra thế chủ động tiến công mới. Để thực hiện thắng lợi chủ trương trên, phương thức hoạt động quân sự được xác định là: táo bạo đưa bộ đội đặc công, biệt động, phân đội bộ binh, du kích mật thọc sâu đánh hiểm, tuyên truyền hỗ trợ nhân dân diệt ác trừ gian, chống phá địch gom dân lập ấp chiến lược, mở chiến dịch tổng hợp đánh phá bình định trên từng khu vực với quy mô thích hợp; vận dụng linh hoạt các phương thức tác chiến vây lấn, tấn, diệt, tạo thế mở vùng và trụ lại ở xã, ấp, xây dựng phong trào cách mạng.

Giữa tháng 3-1971, để phối hợp với hai chiến dịch phản công đường 9 - Nam Lào và Đông Bắc Campuchia, Khu uỷ Khu VI quyết định mở đợt hoạt động trên toàn khu nhằm đánh bại kế hoạch bình định phát triển mới của địch. Tại tỉnh Bình Thuận - trọng điểm đợt hoạt động, các Tiểu đoàn 840, 482 và một tiểu đoàn của Trung đoàn 33 bộ binh đã phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương, mở các trận tiến công liên tục vào các tiểu đoàn địch khi chúng bung ra giải toả, lấn chiếm vùng ven thị xã Phan Thiết, đường số 8, Ngã Hai - Mường Mán: đánh thiệt hại nặng năm đại đội, 12 trung đội bảo an, dân vệ, cảnh sát, biệt kích địch. Được bộ đội chủ lực hỗ trợ, bộ đội địa phương huyện, các đội vũ trang công tác, du kích đột nhập vào gần 20 ấp chiến lược, diệt bọn bình định, ác ôn, vũ trang tuyên truyền phát động quần chúng nổi dậy phá ấp, phá kìm, trở về làng cũ làm ăn. Tiểu đoàn 186 đột nhập ấp Gò (Thuận Phong), đánh thiệt hại nặng hai trung đội địch. Hai phân đội đặc công Khu tập kích căn cứ Sông Mao, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 100 tên địch.

Đầu tháng 4-1971, lực lượng vũ trang tỉnh Lâm Đồng tiến công hậu cứ Liên đội bảo an Quang Trung, phá ấp Việt Kiều, Tân Lạc, Liên Đầm, Đồng Lạc trên đường 20. Tỉnh Tuyên Đức cho các phân đội biệt động và các tổ vũ trang tuyên truyền đột nhập các ấp ven thị xã Đà Lạt, đường 20, đường 21 xây dựng cơ sở cách mạng, diệt ác; phục kích các đại đội địch nống ra các vùng xung quanh Đức Trọng. Lực lượng vũ trang tỉnh Bình Tuy tiến công địch tại một số bốt và ấp sát chi khu Hàm Tân, đánh thiệt hại nặng hai đại đội ở La Gi. Trong khi đó, lực lượng vũ trang tỉnh Ninh Thuận tiến công một đoàn bình định ở Nhuận Đức và đánh cắt giao thông đường 11 Tháp Chàm...


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Tư, 2010, 12:43:43 am

Đầu tháng 5-1971, Khu uỷ và Quân khu VI quyết định điều một số đơn vị chủ lực quân khu về tăng cường cho các tỉnh đội. Tiểu đoàn 240 bộ binh bổ sung hai đại đội cho tỉnh đội Bình Thuận, hai đại đội cho tỉnh đội Ninh Thuận. Tiểu đoàn 200 đặc công giữ lại một đại đội tăng cường, quân số còn lại bổ sung cho tỉnh đội Tuyên Đức. Đại đội 216 đặc công về tỉnh đội Lâm Đồng. Đại đội 71 trinh sát và Đại đội 10 công binh về tỉnh đội Bình Tuy. Với lực lượng được tăng cường, nên mặc dù trong mùa hè 1971, địch tăng gấp đôi các cuộc hành quân càn quét, nhưng quân và dân các tỉnh thuộc địa bàn Khu VI vẫn giữ vững phong trào chống phá bình định. Từ tháng 5 đến tháng 10-1971, toàn khu xoá được 63 ấp trắng, nối lại hàng trăm cơ sở bị mất liên lạc. Cuối tháng 9 đầu tháng 10-197l, thực hiện chủ trương chống phá bầu cử hạ viện và tổng thống của chính quyền Sài Gòn, quân khu chỉ đạo lực lượng vũ trang các tỉnh mở đợt tiến công đều khắp ba vùng. Trong đợt hoạt động này, ta đã tiêu diệt chi khu Đức Trọng, đột nhập đánh phá thị trấn Phan Rí, Tùng Nghĩa, Cầu Đất, diệt ba phân chi khu cảnh sát, 4 cụm lô cốt. Các đội biệt động, vũ trang công tác và du kích thâm nhập hàng chục làng xã, ấp chiến lược vận động quần chúng nổi dậy. Các đội pháo binh mang vác đã tập kích nhiều mục tiêu ở thị xã Phan Thiết, Blao, Đà Lạt, chi khu Hoà Đa, chi khu Thiện Giáo..., phá huỷ nhiều phương tiện chiến tranh, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên địch.

Được hoạt động quân sự hỗ trợ, hàng nghìn đồng bào ở các thành phố thị xã, thị trấn sôi nổi xuống đường đấu tranh chính trị, đòi quyền dân sinh, dân chủ, chống bầu cử gian lận. Công tác địch vận cũng có nhiều chuyển biến tích cực. Các đội vũ trang công tác khu, tỉnh kết hợp với du kích vừa tuyên truyền chính sách của cách mạng, vừa phân hoá cô lập những tên tay sai ngoan cố, làm cho nhiều binh lính và nhân viên chính quyền địch thức tỉnh, ủng hộ cách mạng. Từ tháng 4 đến tháng 10-1971, trong toàn khu đã có 2.100 binh sĩ quân đội Sài Gòn đào rã ngũ hoặc chạy sang với chính quyền cách mạng. Đến tháng 12-1971, vùng giải phóng Khu VI đã được mở rộng, nối liền phía trước và phía sau, miền núi và đồng bằng, với hơn 50 nghìn dân giành được quyền làm chủ, trở về làng xã cũ làm ăn; hơn 77 nghìn dân ở vùng tranh chấp, 122 nghìn dân đấu tranh nới lỏng sự kìm kẹp của địch... Nhân dân vùng giải phóng cũng như vùng bị địch kiểm soát mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn, còn chịu nhiều gian khổ, hy sinh, nhưng vẫn một lòng tin theo cách mạng. Đây là những điều kiện rất thuận lợi để quân, dân Khu VI tiến lên giành những thắng lợi mới.

Chiến trường Khu V bước vào cuộc chống phá bình định gặp nhiều thuận lợi hơn so với các chiến trường miền đông và miền Tây Nam Bộ. Đầu xuân năm 1971, quân chiến đấu Mỹ tiếp tục rút khỏi các tỉnh Trung Trung Bộ. Tính đến tháng 6-1971, quân viễn chinh Mỹ đã rút 28 tiểu đoàn bộ binh và binh chủng, chín phi đoàn máy bay khỏi địa bàn Khu V. Các tỉnh miền Trung Trung Bộ chỉ còn Sư đoàn Amêricơn và quân Nam Triều Tiên đang co về các căn cứ lớn chờ ngày rút tiếp. Cũng lúc ấy, quân chủ lực Sài Gòn đang bị hút vào ba cuộc hành quân lớn ở đường 9 - Nam Lào, Đông Bắc Campuchia và vùng ngã ba biên giới. Lực lượng cơ động của địch trên các tỉnh đồng bằng ven biển, vì vậy, còn ít; cả ba tỉnh Quảng Đà, Quảng Nam, Quảng Ngãi chỉ có hai trung đoàn bộ binh. Trong khi đó, mật độ đánh phá của máy bay và pháo binh địch sụt giảm 30% so với năm 1969.

Để phối hợp với chiến trường toàn miền, Thường vụ Khu uỷ và Đảng uỷ, Bộ Tư lệnh Quân khu V chủ trương tăng cường lực lượng vũ trang, tổ chức lại Sư đoàn bộ binh 3 và thành lập Sư đoàn 711, xây dựng các đơn vị chủ lực quân khu thành những quả đấm mạnh, có khả năng tiêu diệt tiểu đoàn, trung đoàn địch, đồng thời củng cố, xây dựng lực lượng vũ trang tỉnh, huyện đủ sức đánh bại quân địa phương địch, sẵn sàng đón thời cơ lớn giải phóng địa bàn. Thường vụ Khu uỷ và Đảng uỷ, Bộ Tư lệnh quân khu quyết định mở đợt hoạt động quân sự nhằm tiêu diệt các cứ điểm, phá vỡ từng mảng hệ thống kìm kẹp của địch, mở rộng vùng giải phóng liên hoàn từ các tỉnh phía bắc đến các tỉnh phía nam, từ đồng bằng ven biển đến các tỉnh Tây Nguyên.

Quán triệt chủ trương, nhiệm vụ của Khu uỷ và Đảng uỷ, Bộ Tư lệnh quân khu, các tỉnh đồng bằng ven biển từ Quảng Đà đến Khánh Hoà tích cực, chủ động đẩy mạnh phong trào chống phá chính sách bình định. Tại tỉnh Quảng Đà (Quảng Nam - Đà Nẵng), cuối tháng 1-1971 quân, dân trong tỉnh đồng loạt mở đợt hoạt động xuân 1971 phá kế hoạch bình định đặc biệt của địch, tiêu diệt hơn 60 chốt, đồn cạnh các khu dồn, ấp chiến lược ở khắp vùng đồng bằng và trung du Quảng Nam. Biệt động và tự vệ thành phố Đà Nẵng tiến công hơn 20 mục tiêu, bắn cháy sáu xe quân sự, xe cảnh sát.

Giữa tháng 3-1971, trong khí thế phấn khởi của chiến thắng đường 9 - Nam Lào, Bộ Tư lệnh Mặt trận B4 của quân khu (phụ trách vùng Quảng Đà) quyết định sử dụng một bộ phận bộ đội chủ lực, lực lượng vũ trang địa phương tiến công một số mục tiêu quan trọng, tạo thế trận mới ở Quảng Nam - Đà Nẵng. Đêm 27-3, Tiểu đoàn đặc công 409 quân khu tập kích Tiểu đoàn 1 (thiếu) Lữ đoàn 196, Sư đoàn Amêricơn ở cứ điểm Xã Đốc, loại khỏi vòng chiến đấu nhiều lính Mỹ. Phát huy thắng lợi, ngày 29-3, Bộ Tư lệnh Mặt trận B4 dùng Trung đoàn bộ binh 38, Tiểu đoàn 91 đặc công, Tiểu đoàn pháo binh 577, bộ đội và du kích hai huyện Duy Xuyên, Đại Lộc bao vây tiến công chi khu quận lỵ Đức Dục và căn cứ An Hoà. Sau hơn sáu giờ chiến đấu, bộ đội chủ lực đã tiêu diệt hoàn toàn các chốt điểm trong quận lỵ Đức Dục. Bộ đội địa phương và du kích hai huyện Duy Xuyên, Đại Lộc tiến công các chốt bảo an dân vệ, hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy diệt ác, phá kìm, giải phóng khu dồn Xe Nước, Phú Đa, Gò Chùa, Thanh Xuyên, Đồng Tràm, đưa hơn 13 nghìn dân trở về làng cũ.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Tư, 2010, 12:48:57 am

Cuối tháng 4-1971, Bộ Tư lệnh Mặt trận B4 sử dụng tiểu đoàn đặc công 91 tập kích Đồn Đen, Đồn Cao. Tiểu đoàn pháo binh 577 bắn chế áp các trận địa pháo địch. Trung đoàn bộ binh 38 và du kích tiến công một loạt mục tiêu trong chi khu quận lỵ Đại Lộc. Đêm 26-4, Tiểu đoàn 1 đột phá khu đồn Cồn Lâm. Tiểu đoàn 8 đánh đồn Trường Găng. Bộ đội và du kích huyện Điện Bàn phá khu dồn Gò Mùn. Các chiến sĩ biệt động thành phố Đà Nẵng tiến công Ty Canh sát, Ty Thông tin, tiểu đoàn công binh địch ở Sơn Trà. Tổ biệt động Trương Thị Ái dùng mìn đánh sập trụ sở CIA ở Mỹ Thị. Trong hai ngày 25 và 28-5, Tiểu đoàn 575 pháo binh bắn hơn 100 quả đạn ĐKB vào sân bay Đà Nẵng, phá huỷ hàng chục máy bay các loại.

Lực lượng vũ trang Quảng Ngãi chọn các huyện Mộ đức, Đức Phổ, Bình Sơn làm trọng điểm chống phá chương trình bình định đặc biệt. Trong hai tháng 5 và 6-1971, Tiểu đoàn 7 kết hợp với lực lượng vũ trang huyện Mộ Đức, Đức Phổ tiến công tiêu diệt nhiều chốt điểm dọc trục đường 1, dùng pháo cối 82 bắn phá căn cứ Núi Dâu, diệt chốt Núi Bé (Phố Cường). Tiểu đoàn 83 đánh địch phản kích ra phía tây Mộ Đức, Nghĩa Hành, diệt chốt Vĩnh Thọ, Đình Cương, Quán Hồng, Nghĩa Lập, Đồng Quan. Đại đội đặc công 506 và lực lượng vũ trang huyện Sơn Tịnh tập kích chốt Mả Tổ, điểm cao 47, đánh thiệt hại nặng một đại đội bảo an. Mất các vị trí chiến thuật quan trọng trong tuyến kìm kẹp khu dồn và ấp chiến lược ở bắc huyện Sơn Tịnh, chỉ huy địch ở Quảng Ngãi cho tiểu đoàn bảo an từ Phước Bình lên ứng cứu cho Mả Tổ và điểm cao 47. Tiểu đoàn 48 và bộ đội địa phương huyện Sơn Tịnh tổ chức mai phục, đánh chặn, loại khỏi vòng chiến đấu gần 100 tên địch. Quần chúng các ấp xung quanh thị trấn Sơn Tịnh được bộ đội tỉnh, huyện và du kích hỗ trợ nổi dậy diệt ác, phá kìm, bung về làng cũ. Cuối năm 1971, các lực lượng vũ trang Quảng Ngãi tập trung củng cố, huấn luyện nâng cao sức mạnh toàn diện chuẩn bị cho nhiệm vụ chiến đấu sắp tới.

Ở Bình Định, trung tuần tháng 4-1971, Trung đoàn 12 phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương tiến công căn cứ Quy Thuận (Hoài Nhơn), Trung Thứ, Cầu Cường, Gò Hàng (Phù Mỹ). Bị mất hàng loạt chốt điểm - chỗ dựa quan trọng của lực lượng kìm kẹp, bình định, Trung đoàn bộ binh 41 quân đội Sài Gòn đóng quân ở Phú Tài (Quy Nhơn) sử dụng một tiểu đoàn ra giải toả cho Phù Mỹ và chiếm lại những điểm đã mất. Tiểu đoàn địch mới hành quân đến xã Mỹ Lộc đã bị một tiểu đoàn chủ lực, bộ đội huyện và du kích xã chặn đánh, phải lùi về phía sau 3 km củng cố đội hình. Hai đại đội địch chốt giữ Gò Kế khiếp sợ tháo chạy. Ngày hôm sau, địch cho một tiểu đoàn bộ binh và hai chi đoàn thiết giáp tiếp tục lên giải toả cho Phù Mỹ. Thế nhưng, lực lượng ứng cứu này đã bị bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương chặn đánh, bị tổn thất hai đại đội, sáu xe M113, buộc phải từ bỏ cuộc hành quân giải toả. Phối hợp với lực lượng bên ngoài dồn dập tiến công địch, các đội biệt động, tổ vũ trang công tác ở thị xã Quy Nhơn vừa tập kích vào một số đồn bốt, công sở chính quyền địch trong thị xã, vừa vận động nhân dân đấu tranh chính trị chống Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Ngày 25-4, tại thị xã Quy Nhơn, hơn 30 nghìn người kéo đến bao vây dinh tỉnh trưởng, Ty Cảnh sát, đập phá, đốt cháy 30 xe quân sự làm rung chuyển hệ thống chính quyền thị xã. Cuộc đấu tranh kéo dài một tuần lễ làm cho nhiều hoạt động kinh tế - xã hội của Mỹ và chính quyền Sài Gòn bị ngừng trệ.

Đầu tháng 5-1971, quân và dân các huyện Hoài Nhơn, Hoài Ân, Phù Cát, Bình Khê, Vĩnh Thạnh đồng loạt ra quân tiến công địch. Tỉnh đội Bình Định dùng lực lượng vũ trang tỉnh và huyện Phù Mỹ bao vây tiến công tiêu diệt chốt điểm Gò Cớ do một đại đội địch chốt giữ. Sau bảy ngày đêm liên tục bị tiến công bằng cả quân sự, chính trị và binh vận, quân địch trong chốt điểm này không chịu nổi hoặc đầu hàng, hoặc bỏ chốt, dùng thuyền tháo chạy. Tiếp theo đó, 12 chốt điểm khác ở các xã Mỹ Thành, Mỹ Hiệp, Mỹ Chánh, Mỹ Thắng... cũng bị ba mũi giáp công của quân dân Phù Mỹ uy hiếp nặng nề, một số bị nhổ bỏ.

Giữa tháng 6-1971, nhân dân các xã Hoài Sơn, Hoài Châu, Hoài Hảo, Tam Quan, Hoài Thanh (Hoài Nhơn) được lực lượng vũ trang tỉnh hỗ trợ đã nổi dậy phá khu dồn Thiên Đức, Nhuận An, Thiện Chánh; bao vây bức rút các chốt Núi Bé, Lộ Diêu, Quy Thuận... giải phóng gần 10 nghìn dân. Qua một năm chống phá bình định, quân, dân tỉnh Bình Định đã phá banh hàng chục khu dồn, ấp chiến lược, diệt và bức rút 104 chốt điểm, giải phóng 60 thôn gồm 32 nghìn dân, nâng vùng làm chủ lên 78 thôn với 81 nghìn người, mở rộng vùng giải phóng.

Quân và dân Phú Yên mặc dù gặp nhiều khó khăn về quân số, lương thực, vũ khí đạn dược, nhưng vẫn tổ chức nhiều trận chiến đấu chống phá bình định. Đêm 21-2, Đại đội đặc công 202 cùng Đại đội 3 Tiểu đoàn 96 tập kích cứ điểm Núi Sầm (Hoà Trị), đánh thiệt hại nặng một đại đội bảo an, phá huỷ hai khẩu pháo 105mm. Ba giờ ngày 29-2, Đại đội 3 tập kích tiêu diệt trung đội quân Nam Triều Tiên ở Eo Gió (Hoà Định). Đầu tháng 3, Tiểu đoàn 96 đánh thiệt hại một đại đội quân Nam Triều Tiên ở điểm cao 509. Nửa tháng sau, tiểu đoàn tiến công liên đội bảo an ở Phú Sen, gây thiệt hại nặng hai đại đội, thu 31 súng, bắn rơi hai máy bay trực thăng. Đêm 24-4, Đại đội đặc công 25 tập kích lực lượng bảo an 113 ở Phú Hữu, tiêu diệt 63 tên. Cùng thời gian, tiểu đoàn 14 đánh thiệt hại nặng đại đội bảo an ở cầu Lưới Gõ. Đêm 27-6, đặc công nước của ta dùng thuốc nổ đánh hỏng cầu xe hơi và cầu xe lửa Đà Rằng, làm ách tắc giao thông tuyến quốc lộ 1 hàng tuần liền.

Trước tình hình đó, tháng 7-1971, địch điều Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn bộ binh 40) từ Bình Định vào phối hợp với tiểu đoàn bảo an 226 (mới thành lập) cùng lực lượng địa phương quân ở Phú Yên mở các cuộc hành quân càn quét hòng lập lại trật tự xã, ấp. Tuy nhiên, mọi cố gắng của địch không cải thiện được tình hình là bao. Tháng 8-1971, quân dân Phú Yên mở hàng chục cuộc tiến công vào hàng chục mục tiêu ở Tuy Hoà, Tuy An, Củng Sơn..., loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên địch. Được đòn tiến công quân sự hỗ trợ, nhân dân thị xã Tuy Hoà đã tổ chức hàng chục cuộc đấu tranh chính trị với hàng chục nghìn lượt người tham gia. Đặc biệt, ngày 24-9-1971, 4000 người dân thị xã và vùng ven đã xuống đường biểu tình hô vang khẩu hiệu chống trò hề bầu cử độc diễn của Nguyễn Văn Thiệu, đòi Mỹ phải rút về nước, công việc nội bộ của người Việt Nam phải do người Việt Nam tự giải quyết...

Trong khi đó, tỉnh vùng sâu Khánh Hoà cũng đã chủ động phối hợp với phong trào chống phá bình định đang phát triển ở nhiều địa phương trong quân khu bằng đợt hoạt động quân sự hè - thu mang mật danh HT4. Ngày 15-4-1971, lực lượng vũ trang huyện Ninh Hoà khơi ngòi dụ tiểu đoàn quân Nam Triều Tiên đang càn quét ở căn cứ Hòn Đèo vào trận địa phục kích, đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn này, thu 16 súng. Ngày 20-4, Tiểu đoàn 470 tỉnh đội được du kích địa phương phối hợp tập kích chốt Vườn Dương, chùa Sơn Lộc (Ninh An), sau đó cơ động phục kích diệt địch ở Lạc An, Xuân Phong, Lạc Bình (Ninh Thọ). Ngày 25-4, Tiểu đoàn 480 tập kích khu trung tâm huấn luyện Lam Sơn (Dục Mỹ), diệt và làm bị thương hàng chục tên. Trong đợt hoạt động HT4, Tiểu đoàn 470 đã đánh gần 10 trận lớn nhỏ, loại khỏi vòng chiến đấu gần 300 tên địch. Tại nam Khánh Hoà, đêm 23-5, Đại đội 2 Tiểu đoàn 407 luồn sâu, táo bạo tập kích kho nhiên liệu chiến lược Ô Vũ (Cam Ranh), thiêu huỷ hàng chục triệu lít xăng. Đêm 21-9, Đại đội 5 Tiểu đoàn 407 tập kích kho đạn Mũi Ké, diệt và làm bị thương gần 30 tên Mỹ, phá huỷ một khối lượng lớn bom đạn. Từ tháng 5 đến tháng 10-1971, bộ đội địa phương và du kích ba huyện miền núi Khánh Vĩnh, Khánh Sơn Diên Khánh mở một số trận tập kích, phục kích, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên địch, bắn rơi 13 máy bay các loại...


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Tư, 2010, 12:49:30 am

Phối hợp với các tỉnh đồng bằng Khu V, mặt trận Tây Nguyên chọn trọng điểm đánh phá bình định ở khu vực tam giác Phú Nhơn - Phú Thiện - Mỹ Trạch nhằm phá từng mảng hệ thống ấp chiến lược nơi đây, thu hút, giam chân, tiêu diệt một bộ phận quân chủ lực địch, đồng thời củng cố hành lang đông - tây nối liền hai vùng giải phóng Gia Lai và Đắc Lắc. Đêm 15-3-1971, Tiểu đoàn 20 được tăng cường Đại đội 1 Tiểu đoàn 1 bộ binh tiến công chi khu quận lỵ Phú Nhơn. Sau 4 giờ chiến đấu, Tiểu đoàn 20 và lực lượng phối thuộc diệt gọn hai đại đội bảo an, một trung đội công binh Mỹ, một trung đội thiết giáp cùng toàn bộ lực lượng cảnh sát và cơ quan hành chính. Cũng trong thời gian đó, Đại đội 2 Tiểu đoàn 394 đánh chiếm một đồn bảo an, Đại đội 19 diệt tề điệp ở Đôn Hoà. Đồng bào hai ấp Tung Mơ, Tung Dao được các đội công tác hỗ trợ đã nổi dậy phá ấp, trở về buôn cũ làm ăn.

Bị mất chi khu quận lỵ và hàng chục ấp chiến lược, khu dồn chỉ trong một đêm, Quân đoàn II tức tốc điều quân đối phó. Sáng ngày 16-3, địch cho hai chiến đoàn bộ binh, hai chi đoàn xe bọc thép được máy bay và pháo binh yểm trợ, tổ chức đánh chiếm lại Phú Nhơn. Dưới hoả lực dữ dội của địch, Đại đội 9 Tiểu đoàn 6 và hai trận địa cối 82 chốt giữ buôn Dung, buôn Tao Cho vẫn kiên cường bám trụ trận địa, đánh lui bảy đợt xung phong của hai tiểu đoàn địch. Đại đội 18 công binh được 200 đồng bào các xã E14, E15 (Huyện 5 Gia Lai) tham gia đã xây dựng hai bãi mìn, ba bãi vật chướng ngại, diệt 7 xe M113 và 80 tên địch ở tây bắc Phú Nhơn. Sau năm ngày phản công quyết liệt hòng đánh chiếm lại Phú Nhơn không thành, địch buộc phải dừng lại củng cố, chuẩn bị cho đợt tiến công mới.

Đêm 1-4, hai trận địa cối 82 và ĐKZ 75 của Trung đoàn 95 pháo kích dữ dội vào đồn Mới, gây cho địch nhiều thiệt hại. Cùng lúc đó, Đại đội 1 (Tiểu đoàn 1) và các đội vũ trang công tác huyện đột nhập vào buôn Sâm, ấp Plây Bôi, hỗ trợ cho gần 1.000 đồng bào trở về làng cũ.

Những ngày tiếp theo, Quân đoàn II điều hai chiến đoàn 45, 47 và hai chi đoàn thiết giáp đến tiến công vào trận địa Trung đoàn 95. Ở buôn Sâm, địch cho một tiểu đoàn bộ binh và 12 xe tăng, xe M113 đánh vào Đại đội 3 Tiểu đoàn 1 và trận địa ĐKZ của ta. Dựa vào thế trận liên hoàn, Trung đoàn 95 và các lực lượng tăng cường đã chống trả quyết liệt, đánh bật hàng chục đợt phản kích của bộ binh và xe tăng địch. Trong bảy ngày bám trụ trận địa chiến đấu, bộ đội ta đánh thiệt hại nặng tám đại đội bộ binh, phá huỷ 31 xe tăng, xe bọc thép, bốn khẩu pháo và hai máy bay. Đến ngày 10-4, toàn bộ ấp chiến lược trong khu vực quận lỵ Phú Nhơn và Plây Bôi, Phú Quang bị phá, hơn 3.000 dân được giải phóng.

Thừa thắng, đêm 14-4, Tiểu đoàn 394 phục kích đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn hai trung đoàn 45 quân đội Sài Gòn ở bắc buôn Sâm. Ngày 20-5, Trung đoàn 24 tiến công tiêu diệt ba đại đội bộ binh, một chi đội xe bọc thép ở Mỹ Trạch. Sau đó một tuần, Trung đoàn 95 bằng chiến thuật vận động tiến công kết hợp chốt đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 45 ở điểm cao 364 thuộc dãy Chư Kra.

Giữa tháng 6-1971, Trung đoàn 95 và các đơn vị phối thuộc lật cánh sang đường 14 đánh địch ở khu vực Cẩm Ga hỗ trợ lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương nổi dậy phá ấp chiến lược, khu dồn. Ngày 20-6, Trung đoàn 95 cho phân đội cối 82 luồn sâu tập kích thị trấn Cẩm Ga, diệt một số mục tiêu, làm cho chính quyền địch ở các xã, ấp hoang mang dao động. Ngày 24-6, Tiểu đoàn 394 phục kích giao thông khu vực Kênh Săn, đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 45... Đợt cao điểm phá ấp, giành dân ở khu vực phía nam Gia Lai, bắc Đắc Lắc kết thúc thắng lợi. Sau nửa năm hoạt động chống phá bình định, lực lượng vũ trang và nhân dân Tây Nguyên đã phá vỡ một loạt hệ thống ấp chiến lược khu dồn ở các khu vực ngã ba đường 7, đường 14 và đường 19; giành quyền làm chủ cho hơn 20 nghìn người, giáo dục cho hơn một nghìn gia đình và 772 binh sĩ Sài Gòn hiểu rõ chính sách của cách mạng. Đến cuối năm 1971, phong trào chống phá bình định tiếp tục giành được những kết quả mới tại các vùng địch tạm chiếm ở Tây Nguyên.

Trên chiến trường Trị Thiên, tháng 6-1971, Bộ Tư lệnh Mặt trận đường 9 - bắc Quảng Trị mở chiến dịch A2 tiến công vào Bến Ngự, Bến Xanh (Gio Linh), điểm cao 544, Cà Lu (Cam Lộ). Sau gần một tháng chiến đấu, bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương đánh chiếm được hầu hết các mục tiêu trên giao, tiêu diệt một tiểu đoàn địch trên điểm cao 544, ba đại đội ở vùng đông Gio Linh, ép địch vào sát sông Cửa Việt. Tiếp theo đó, từ ngày 18-8, đến ngày 30-8, lực lượng vũ trang Mặt trận đường 9 - bắc Quảng Trị mở đợt tiến công mới vào quận lỵ Cam Lộ, Gio Linh và khu vực Đồi Tròn, loại khỏi vòng chiến đấu nhiều tên địch, bắn rơi gần 40 máy bay, phá huỷ 66 xe quân sự, 15 tàu xuồng, 10 kho xăng..., giáng đòn nặng vào hệ thống phòng thủ của quân Sài Gòn ở bắc Trị - Thiên.

Được bộ đội chủ lực hỗ trợ, giữa hè - thu 1971, bộ đội địa phương và dân quân du kích Trị - Thiên luồn sâu xuống đồng bằng diệt đồn bốt địch, hỗ trợ cho nhân dân nổi dậy. Tháng 6-1971, lực lượng vũ trang huyện Quảng Điền diệt một trung đội địch ở An Lỗ, phá tan trụ sở chính quyền địch tại xã Phong Điền, diệt một trung đội dân vệ ở Đồng Tâm. Tháng 7, dân quân du kích huyện Hương Thuỷ diệt các tụ điểm ác ôn ở La Sơn; du kích xã Thuỷ Phương phá ống dẫn dầu của địch từ Cửa Thuận về Phú Bài và vận động nhân dân đóng góp được 2.000 tấn lương thực chi viện cho lực lượng vũ trang vùng giáp ranh. Du kích xã Triệu Thượng (Quảng Trị) kiên trì bám dân, bám đất, xây dựng hàng chục cơ sở cách mạng ở thị xã Quảng Trị và vùng ven. Du kích xã Hải Phú đột nhập vào hang ổ bọn cán bộ bình định, giết một số tên ác ôn khét tiếng, vận động một trung đội địch mang súng trở về với nhân dân.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Tư, 2010, 12:49:56 am

Đi đôi với phong trào chống phá địch bình định, phong trào đấu tranh chính trị ở Trị - Thiên phát triển mạnh mẽ ở các đô thị. Trong hai tháng 7 và 8-1971, ở cố đô Huế và thị xã Quảng Trị đã nổ ra hàng chục cuộc đấu tranh đòi hoà bình, hoà hợp dân tộc. Đoàn biểu tình giương cao khẩu hiệu Mỹ rút hết quân, Thiệu phải từ chức, Chương trình huấn luyện quân sự hoá học đường là âm mưu khát máu của Mỹ - ngụy... Tháng 9-1971, hàng nghìn người dân Huế xuống đường đấu tranh lên án bầu cử thượng viện và tổng thống của chế độ Sài Gòn gian lận. Tỉnh Hội Phật giáo Quảng Trị tổ chức lễ cầu siêu chống tăng thuế, chống văn hoá đồi truỵ, chống các tệ nạn xã hội...

Đến cuối năm 1971, phong trào đấu tranh chính trị, chống phá bình định ở Trị - Thiên phát triển ngày càng đồng đều, vững chắc. Ta đã giải phóng 40 thôn, xã vùng giáp ranh, tranh chấp với địch và làm chủ về ban đêm 117 thôn, xây dựng được cơ sở cách mạng ở 472 thôn trong tổng số 841 thôn. Kế hoạch bình định của địch bị đẩy lùi một bước. Phong trào đấu tranh chính trị đã liên kết thành mặt trận chống Mỹ và chính quyền Sài Gòn khá rộng rãi. Nhiều tổ chức yêu nước chống Mỹ ra đời làm cho hậu phương địch ngày càng mất ổn định.

Phối hợp với quân dân miền Nam Việt Nam quân dân hai nước Lào và Campuchia đẩy mạnh các hoạt động tiến công quân sự. Ngày 13-2-1971, quân tình nguyện Việt Nam và Pa thét Lào mở chiến dịch tiến công giải phóng Cánh Đồng Chum - Long Chẹng. Ngày 10-3, Liên quân Lào - Việt nổ súng tiến công địch ở cao nguyên Bôlôven (Hạ Lào). Đến đầu tháng 6, ta thu hồi toàn bộ vùng địch chiếm đóng. Trung tuần tháng 12-1971, ta giải phóng Xaravan và Sa Teng.

Sau thất bại của quân đội Sài Gòn ở Nam Lào và vùng Đông Bắc Campuchia, Mỹ nhận thấy quân đội Sài Gòn không thể làm chỗ dựa cho quân Lonnon, do đó, Mỹ tăng cường viện trợ và thúc giục Lonnon gấp rút bắt lính, nâng quân đội lên gần 170.000 người, tổ chức thành hơn 300 tiểu đoàn - nhiều gấp bốn lần so với trước khi đảo chính. Tháng 8-1971, Lonnon tập trung 50 tiểu đoàn, với sự chi viện của không quân Mỹ, mở cuộc hành quân Chenla 2 đánh lên Côngpông Thom nhằm nối lại tuyến đường 6, cắt hành lang đông - tây, triệt để ngăn chặn nguồn lương thực của ta.

Bộ Chỉ huy quân sự miền quyết định sử dụng Sư đoàn 9 phối hợp với lực lượng vũ trang bạn kiên quyết đánh bại cuộc hành quân Chenla 2 của địch. Sau ba tháng liên tục tiến công (từ 20-8 đến 3-12-1971). liên quân Việt Nam - Campuchia đã đánh hàng chục trận lớn nhỏ, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 10.000 tên định, đánh thiệt hại nặng hai lữ đoàn, 10 tiểu đoàn, bắn rơi 11 máy bay, phá huỷ 36 xe quân sự các loại… Chiến thắng của Liên quân Việt Nam - Campuchia ở Côngpông Thom cuối năm 1971 chẳng những phá được âm mưu dùng lực lượng quân Lonnon có hoả lực Mỹ chi viện để thực hiện Khơme hoá chiến tranh, đánh vào sau lưng ta, mà còn tạo thêm uy thế chính trị cho cách mạng Campuchia trên con đường chống kẻ thù chung, giải phóng dân tộc.

Như vậy, sau hơn một năm mở rộng chiến tranh sang Campuchia, ra sức thực hiện chiến tranh đặc biệt ở Lào, đẩy mạnh chương trình bình định ở Nam Việt Nam, đồng thời ráo riết thực hiện thủ đoạn ngoại giao thâm độc, xảo quyệt, nhưng những nỗ lực quân sự, chính trị, kinh tế ngoại giao của Mỹ đã bị quân, dân ba nước Đông Dương giáng đòn chí mạng. Thắng lợi của các chiến dịch phản công trong năm 1971 ở khu vực đường 9 - Nam Lào, Đông Bắc Campuchia và vùng ngã ba biên giới có ý nghĩa chiến lược to lớn, tác động mạnh mẽ đến cục diện chiến trường ba nước Đông Dương. Trên toàn miền Nam, kế hoạch Việt Nam hoá chiến tranh bị đẩy lùi một bước quan trọng. Các cuộc tiến công ra ngoài biên giới của quân đội Sài Gòn bị thất bại. Quân đội Sài Gòn - xương sống của Việt Nam hoá chiến tranh, đã bị giáng một đòn quyết liệt, tinh thần sĩ quan binh lính địch vốn sa sút càng sa sút thêm. Chương trình bình định bắt đầu bị đẩy lùi từng bước, đặc biệt tại các vùng trọng điểm như đồng bằng sông Cửu Long, vùng ven đô thị, cho dù địch còn đóng nhiều đồn bốt, giữ một số lớn ấp chiến lược, khu dồn. Trong lúc đó, hoạt động quân sự, chính trị, binh vận của ta ở các địa phương đang mạnh lên. Thế trận chiến tranh nhân được khôi phục trên cả ba vùng chiến lược. Các sư đoàn chủ lực Quân giải phóng sau một thời gian dài bật ra ngoài biên giới nay đã trở về đứng chân trên các địa bàn trọng yếu. Mặc dù ta và địch vẫn còn giằng co quyết liệt, nhưng toàn bộ tình hình chiến trường cho đến cuối năm 1971 đang tạo ra những điều kiện thuận lợi rất cơ bản để toàn dân, toàn quân ta trên cả hai miền Nam - Bắc bắt tay thực hiện nhiệm vụ chiến lược trong năm 1972.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Tư, 2010, 12:50:38 am

KẾT LUẬN


Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 với tác động rộng lớn và mãnh liệt của nó đã đập tan nỗ lực quân sự khổng lồ của đế quốc Mỹ trong những năm tiến hành chiến lược chiến tranh cục bộ, góp phần quan trọng làm phá sản chiến lược toàn cầu phản ứng linh hoạt - một chiến lược được giới lãnh đạo nước Mỹ triển khai thực hiện từ năm 1961 nhằm thực hiện âm mưu bá chủ toàn cầu nhưng thực tế cho thấy là vô vọng, là không thể nào thực hiện được.

Trước một thế giới đang trên đà biến chuyển mau lẹ không có lợi cho Mỹ vào những năm cuối thập kỷ 60 của thế kỷ XX mà cuộc chiến tranh Việt Nam là một nhân tố tác động mạnh mẽ, đế quốc Mỹ, từ năm 1969, đề ra chiến lược toàn cầu mới mang tên Học thuyết Níchxơn và chiến lược quân sự răn đe thực tế thay cho chiến lược phản ứng linh hoạt đã bị phá sản. Ứng dụng học thuyết đó vào Việt Nam chính quyền Níchxơn điều chỉnh chủ trương phi Mỹ hoá của Giônxơn thành chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh - một chiến lược toan thay đổi màu da trên xác chết, bằng cách dùng người Việt Nam đánh người Việt Nam, dùng người Đông Dương đánh người Đông Dương với tiền bạc, vũ khí, trang bị của Mỹ và do Mỹ chỉ huy nhằm tiếp tục thực hiện âm mưu cơ bản của Mỹ là bám giữ miền nam Việt Nam, giảm bớt sự dính líu của quân chiến đấu Mỹ trên bộ nhưng phải giành thế mạnh trên chiến trường để kết thúc chiến tranh bằng thương lượng theo điều kiện của Mỹ.

Thực hiện chiến lược đó, từ năm 1969, song song với việc ồ ạt đưa vào miền Nam một khối lượng lớn vũ khí, bom đạn, thiết bị chiến trường; củng cố hệ thống chỉ huy, tăng cường lực lượng quân ngụy, cơ cấu lại bộ máy bình định, Mỹ - ngụy đồng thời dồn sức mở các hoạt động được mệnh danh là chiến tranh giành dân, chiến tranh ngăn chặn, chiến tranh bóp nghẹt rất tàn bạo và thâm độc. Sự phản kích quyết liệt, trên quy mô rộng lớn, bằng những thủ đoạn quân sự, chính trị, kinh tế, tư tưởng, ngoại giao cực kỳ hiểm độc của kẻ thù gây ra cho cách mạng miền Nam những tổn thất nặng nề, những khó khăn gay gắt; đặt cách mạng miền Nam nói riêng, sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ba nước trên bán đảo Đông Dương nói chung trước những thử thách lớn lao, có ý nghĩa sống còn. Giữa lúc cách mạng miền Nam đang trải qua những năm tháng đầy gian khổ, hy sinh thì Chủ tịch Hồ Chí Minh - người thầy của cách mạng Việt Nam, người Cha thân yêu của lực lượng vũ trang qua đời, làm chấn động sâu sắc con tim của mọi người Việt Nam yêu nước và bầu bạn trên khắp thế giới. Trong giờ phút đau thương đó, kẻ thù hy vọng khối đoàn kết và quyết tâm kháng chiến của dân tộc Việt Nam sẽ bị suy giảm. Chúng đẩy mạnh chiến tranh tâm lý hòng gây dao động, hoang mang trong nhân dân và lực lượng vũ trang ta, đồng thời dồn sức phản kích quyết liệt trên các mặt trận quân sự, chính trị, kinh tế, ngoại giao, đặt sự nghiệp kháng chiến của nhân dân ta trước những thử thách to lớn, phức tạp; cách mạng miền Nam chịu những tổn thất nặng nề, lâm vào tình thế hiểm nghèo. Thế nhưng, chính trong gian khổ ác liệt của những tháng năm ấy, càng ngời lên bản lĩnh Việt Nam, sức mạnh Việt Nam!

Với nhãn quan chính trị rộng lớn, sắc sảo, ngay từ tháng 4-1969, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã chỉ rõ những mâu thuẫn không thể nào khắc phục được của chiến lược Việt Nam hoá và vạch ra phương hướng chiến lược cho quân dân ta trong giai đoạn cách mạng mới. Tiếp đó, tháng 1-1970, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 18 trên cơ sở sớm dự kiến việc Mỹ có thể mở rộng chiến tranh trên đất Lào và Campuchia, ném bom trở lại miền Bắc hòng gây sức ép với ta trên chiến trường để giành lợi thế trên bàn đàm phán tại Hội nghị Pari, đã chỉ đạo quân và dân ta trên cả hai miền: kiên trì đẩy mạnh cuộc kháng chiến, tiếp tục phát triển chiến lược tiến công một cách toàn diện, liên tục và mạnh mẽ, đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị và kinh tế, kết hợp tiến công ngoại giao... đánh bại âm mưu của chúng xuống thang từng bước, kéo dài chiến tranh để tạo thế mạnh hòng duy trì chủ nghĩa thực dân kiểu mới của chúng ở miền Nam; làm thất bại thế chiến lược phòng ngự của địch, tạo ra chuyển biến mới trong cục diện chiến tranh, giành thắng lợi từng bước, đi đến giành thắng lợi quyết định. Nhờ vậy, khi Mỹ tăng cường chiến tranh ở Lào, ném bom trở lại các tỉnh phía nam Quân khu IV, đặc biệt giật dây cho bọn tay sai đảo chính lật đổ Chính phủ Xihanúc (3-1970) và sử dụng 10 vạn quân Mỹ, ngụy Sài Gòn đánh tràn qua biên giới, tiến sâu vào đất Campuchia (4-1970), Đảng ta đã kịp thời nhận định đúng diễn biến tình hình, đề ra chủ trương chính xác, chỉ đạo quân và dân ta hành động mau lẹ, kiên quyết, dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, cùng bạn đẩy mạnh tiến công giành thắng lợi to lớn và toàn diện ở Campuchia, ở Lào, ở miền Nam Việt Nam. Trong khi đó, công cuộc phục hồi và phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội, an ninh - quốc phòng trên miền Bắc từ sau ngày Mỹ ngừng ném bom, đang trên đà tiến triển. Miền Bắc được củng cố và tăng cường về mọi mặt, thực sự là hậu phương lớn - căn cứ địa vững chắc của tiền tuyến lớn miền Nam, của cách mạng hai nước Lào và Campuchia.

Trên đà thắng lợi, bước sang năm 1971, ta mở chiến dịch phản công có ý nghĩa chiến lược đường 9 - Nam Lào, đánh bại cố gắng quân sự cao nhất của quân ngụy Sài Gòn trong chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh. Hoà nhịp với chiến thắng đường 9 - Nam Lào, Quân giải phóng miền Nam phản công đánh bại cuộc hành quân Toàn thắng 1-71 và cuộc hành quân Quang Trung 4 quy mô lớn của quân ngụy Sài Gòn ở Campuchia và Tây Nguyên. Mặt trận chống phá bình định của quân dân các địa phương trong hai năm 1970, 1971 cũng giành được kết quả quan trọng. Do khối chủ lực cơ động của địch bị dồn ra ngoài biên giới và bị đánh thiệt hại nặng nên kế hoạch bình định nội địa của chúng không thực hiện được như dự tính. Cho dù trên nhiều vùng nông thôn đồng bằng, vùng ven đô và vùng giáp ranh, hệ thống đồn bốt địch vẫn mọc lên, chúng còn giữ được một số lớn ấp chiến lược và khu dồn, nhưng bộ máy kìm kẹp ở cơ sở rõ ràng bị suy yếu, kém hiệu lực. Thắng lợi trên mặt trận quân sự và chống phá bình định đã thúc đẩy phong trào đấu tranh chính trị phát triển, đặc biệt ở các đô thị lớn như Sài Gòn - Chợ Lớn Huế. Nạn đào rã ngũ trong binh lính ngụy ngày càng tăng. Trong khi đó, phong trào phản đối chiến tranh, phản đối chính quyền, đòi đưa tù binh về nước tiếp tục dâng lên mạnh mẽ trên toàn nước Mỹ. Quốc hội Mỹ lần lượt ban hành các nghị quyết hạn chế vai trò quân đội Mỹ, quy định thời hạn rút quân Mỹ ra khỏi Việt Nam. Trước sức ép ngày càng tăng của đông đảo các bầng lớp xã hội trong nước và những thất bại liên tiếp cả về quân sự, chính trị trên chiến trường, giới lãnh đạo Oasinhtơn ráo riết xúc tiến các hoạt động ngoại giao cực kỳ thâm độc mặc cả với Trung Quốc, Liên Xô hòng cô lập cao độ cách mạng Việt Nam, buộc Việt Nam phải nhân nhượng Mỹ trên bàn đàm phán tại Hội nghị Pari, tạo điều kiện thuận lợi cho chính quyền Níchxơn bước vào năm vận động tranh cử nhiệm kỳ tổng thống mới.

Sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của ba dân tộc trên bán đảo Đông Dương nói chung, của Việt Nam nói riêng, đang đứng trước một tình thế chiến lược mới với những thuận lợi rất cơ bản nhưng cũng đầy thử thách, phức tạp. Với niềm tin vững chắc vào sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, quân và dân ta trên cả hai miền Nam, Bắc tăng cường đoàn kết với quân, dân hai nước Lào, Campuchia, dồn sức hoàn tất mọi mặt chuẩn bị nhằm thực hiện quyết tâm chiến lược mà Bộ Chính trị Trung ương Đảng đề ra tháng 5-1971. Quyết tâm chiến lược đó là: Kịp thời nắm lấy thời cơ lớn, trên cơ sở phương châm chiến lược đánh lâu dài, đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị và ngoại giao, phát triển thế chiến lược tiến công mới trên toàn chiến trường miền Nam và cả chiến trường Đông Dương đánh bại chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh của Mỹ, đánh bại một bước quan trọng kế hoạch xâm lược của chúng ở Campuchia và Lào, giành thắng lợi quyết định trong năm 1972, buộc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh bằng thương lượng trên thế thua; đồng thời, chuẩn bị kiên trì và đẩy mạnh kháng chiến trong trường hợp chiến tranh còn kéo dài.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Tư, 2010, 12:51:51 am

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

1. Giôgiép A. Am tơ: Lời phán quyết về Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1985.
2. Ban Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ chính trị: Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945-1975 - Thắng lợi và bài học, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000.
3. Ban Tổng kết - Lịch sử - Bộ Tổng tham mưu: Thống kê số liệu chiến tranh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tài liệu lưu tại Ban Tổng kết - Lịch sử Bộ Tổng tham mưu.
4. Ban Tổng kết - Lịch sử - Bộ Tổng tham mưu: Tổng kết Bộ Tổng tham mưu trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1997.
5. Báo cáo tổng kết kinh nghiệm cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ (B2), Ban Tổng kết chiến tranh B2, 1979, tài liệu lưu tại Viện lịch sử quân sự Việt Nam.
6. Phòng Tổng kết chiến tranh Khu VI thuộc Ban Tổng kết chiến tranh B2: Báo cáo tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên chiến trường Khu VI (cực Nam Trung Bộ - Nam Tây Nguyên), t. 3, tài liệu lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
7. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), t.2, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1991.
8. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội 2001.
9. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, t.2, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994.
10. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Quân đội nhân dân Việt Nam - Biên niên sự kiện, Nxb. quân đội nhân dân, Hà Nội, 2002.
11. Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Đồng Tháp: Ba mươi năm kháng chiến của quân dân tỉnh Đồng Tháp, 1990.
12. Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Bến Tre: Bến Tre - 30 năm kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, 1990.
13. Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Bình Định: Bình Định-lịch sử chiến tranh 30 năm, 1992.
14. Chiến trường Trị - Thiên - Huế trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Nxb. Thuận Hoá, 1985.
15. Gabrien Côncô: Giải phẫu một cuộc chiến tranh, tập II, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1991.
16. Cục Tác chiến - Bộ Tổng tham mưu: Thống kê lực lượng địch ở miền Nam Việt Nam (1954-1975), tài liệu lưu tại Cục Tác chiến - Bộ Tổng tham mưu.
17. Cuộc tháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975 - Những sự kiện quân sự, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Hà Nội, 1988.
18. Cuộc kháng chiến 30 năm của quân dân Tiền Giang, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Tiền Giang, 1988.
19. Cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Tây Ninh, Ban Tổng kết chiến tranh tỉnh uỷ Tây Ninh, 1984.
20. Cửu Long - 21 năm kiên cường đánh Mỹ, Nxb. Cửu Long 1986.
21. Lê Duẩn: Thư vào Nam, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1979.
22. Lê Duẩn: Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập, vì tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1985.
23. Lê Duẩn: Nắm vững đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa, tiến lên xây dựng kinh tế địa phương vững mạnh, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1968.
24. Phạm Văn Đồng: 25 năm chiến đấu và thắng lợi, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1970.
25. Đồng Nai - 30 năm chiến tranh giải phóng, Nxb. Đồng Nai, 1986.
26. Đường Hồ Chí Minh - một sáng tạo chiến lược của Đảng (Kỷ yếu Hội thảo khoa học), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999.
27. Ilya V. Gaiduk: Liên bang Xô Viết và cuộc chiến tranh Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 1998.
28. Trần Văn Giàu: Miền Nam giữ vững thành đồng, t. 5, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978.
29. L. B. Giônxơn: Cuộc đời làm tổng thống của tôi, Nxb. Buysét Saxten, Pari, 1972.
30. L. B. Giônxơn: Về cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam và cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam, Việt Nam Thông tấn xã phát hành, Hà Nội, 1972.
31. Hậu phương miền Bắc cung cấp người, vật chất cho chiến trường miền Nam từ 1959 đền 1975, lưu trữ Bộ quốc phòng, số 79 1.
32. Hậu Giang - 21 năm kháng chiến chống Mỹ, Nxb. Tổng hợp Hậu Giang, 1987.
33. Giócgiơ C. Hiarinh: Cuộc chiến tranh dài ngày nhất của nước Mỹ, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998.
34. Hồ sơ những văn kiện của Đảng về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975). Lưu tại Bộ môn Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
35. Khu V - 30 năm chiến tranh giải phóng, t.2 Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1968), Bộ Tư lệnh quân khu V, 1989.
36. Kiên Giang - 30 năm chiến tranh giải phóng (1945-1975), Bộ Chỉ huy quân sự Kiên Giang 1987.
37. Henry Kissinger: Những năm ở Nhà Trắng (hồi ký), Thư viện Trung ương quân đội sao lục, 1982.
38. Ban Chỉ đạo biên soạn Lịch sử khu VI kháng chiến thống Mỹ, cứu nước: Khu VI kháng chiến chống Mỹ (1954-1975), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 2002.
39. Lịch sử Bà Rịa-Vũng Tàu kháng chiến (1954-1975), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995.
40. Lịch sử bộ đội đặc công, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1987.
41. Lịch sử Hải quân nhân dân Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1985.
42. Lịch sử hậu cần quân đội nhân dân Việt Nam, t.2, (1954-1975), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999.
43. Lịch sử Quân chủng Phòng không, t.2, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1993.
44. Lịch sử quân đội nhân dân Lào, Bản dịch tiếng Việt, Lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
45. Lịch sử pháo binh quân đội nhân Việt Nam (1954-1975), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1991.
46. Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến(1945-1975), Nxb. Thành phố Hồ Chi Minh, 1994.
47. Lịch sử Viện kỹ thuật quân sự (1960-2000), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2000.
48. Long An - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội,1994.
49. Lưu Văn Lợi: Năm mươi năm ngoại giao Việt Nam 1945-1995, t.I, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 1996.
50. Lưu Văn Lợi - Nguyễn Anh Vũ: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kítxinhgơ, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 1996.
51. Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1980.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Tư, 2010, 12:52:39 am

52. Lực lượng vũ trang ta trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ 1955 đến 1975, Bản số 1, tập thống kê số liệu trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Bộ Tổng tham mưu và Bộ Quốc phòng Quân đội nhân dân Việt Nam, tài liệu lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
53. Lực lượng vũ trang nhân dân Trà Vinh 30 năm kháng chiến (1945-1954), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1988.
54. Mấy vấn đề về chỉ đạo chiến lược trong 30 năm chiến tranh giải phóng (1945-1975), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội,1999.
55. Miền đông Nam Bộ kháng chiến (1945-1975), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1993.
56. Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.12, (In lần thứ hai), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000.
57. Minh Hải - 30 năm chiến tranh giải phóng, Nxb. Mũi Cà Mau, 1986.
58. Một số văn kiện của Đảng uỷ chống Mỹ, cứu nước, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1985.
59. Rôbớt S. Mắc Namara: Nhìn lại quá khứ - tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995.
60. Nghị quyết Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, tháng 12-1967, tài liệu lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
61. Nghị quyết của BCHTƯĐLĐVN lần thứ 21, tháng 7-1973, tài liệu lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
62. Nghị quyết của Bộ Chính trị BCHTƯĐLĐVN, tháng 4 năm 1969, tài liệu lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
63. Nghị quyết Bộ Chính trị BCHTƯĐLĐVN, tháng 6 năm 1970, tài liệu lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
64. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 19 BCHTƯĐLĐVN, ngày 1 tháng 3 năm 1971, tài liệu lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
65. Nghị quyết Hội nghị Trung ương Cục lần thứ 9, tháng 7 năm 1969, tài liệu lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
66. Nghị quyết Hội nghị Trung ương Cục lần thứ 11, tháng 10 năm 1971, tài liệu lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
67. A. V. Nikin: Nước Mỹ, t.2, Nxb. Sự Thật, Hà Nội.
68. Oétmolen: Một quân nhân tường trình, Nxb. Đápbơđây Cămpơny Inh Gađừn Xity, Niu Oóc, 1976, Thư viện quân đội dịch, 1978. Bản đánh máy.
69. Đavít R. Panmơ: Tiếng kèn gọi quân, Nxb. Thông tin lý luận, Hà Nội, 1987.
70. Phú Yên - 30 năm chiến tranh giải phóng, Bộ Chỉ huy quân sự Phú Yên, 1993.
71. J. Pimlốt: Việt Nam - Những trận đánh quyết định,Trung tâm thông tin Khoa học - Công nghệ - Môi trường Bộ Quốc phòng ấn hành, Hà Nội: 1997.
72. Pitơ A. Pulơ: Nước Mỹ và Đông Dương từ Rudơven đến Níchxơn, Nxb. Thông tin lý luận, Hà Nội, 1985.
73. Quân khu IV - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994.
74. Quân khu III - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995.
75. Quân khu IX - 30 năm kháng chiến (1945-1975), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1996.
76. Quảng Ngãi - Lịch sử chiến tranh nhân dân 30 năm (1945-1975), Nxb. Tổng hợp Nghĩa Bình, 1988.
77. Quảng Nam - Đà Nẵng - 30 năm chiến đấu và chiến thắng, t.2, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1988.
78. Quảng Trị - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Trị, 1998.
79. Lê Quốc Sản: Cuộc đọ sức thần kỳ, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1991.
80. H. Y. Schanđờlơ: Sự nghiệp của một tổng thống bị đổ vỡ L. Giônxơn và Việt Nam, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1999.
81. Nâylơ Shihan: Sự lừa dối hào nhoáng - Giôn Pônvan và nước Mỹ ở Việt Nam, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1990.
82. Sông Bé - Lịch sử chiến tranh nhân dân 30 năm, Nxb. Tổng hợp Sông Bé, 1990.
83. Sự thật về những lần xuất quân của Trung Quốc và quan hệ Việt - Trung, Nxb. Đà Nẵng, 1996.
84. Sức mạnh Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1976.
85. Sức mạnh chiến thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1985.
86. Tây Bắc - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội 1994.
87. Tây Bắc - 30 năm chiến tranh cách mạng, t.2, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1992.
88. Thủ đô Hà Nội - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội. 1991.
89. Thái Bình - chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Thái Bình, 1995.
90. Tiếp xúc bí mật Việt Nam - Hoa Kỳ trước Hội nghị Pari, Viện quan hệ quốc tế ấn hành, Hà Nội, 1990.
91. Tóm tắt Tổng kết chiến tranh Việt Nam của Bộ Quốc phòng Mỹ, t.1, bản đánh máy, lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
92. Tổng Cục thống kê: Niên giám thông kê tóm tắt năm 1973, Hà Nội, 1973.
93. Tổng Cục thống kê: 30 năm phát triển kinh tế và văn hoá của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1978.
94. Tổng Cục hậu cần: Công tác vận tải quân sự trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước trên đường Hồ Chí Minh (1959-1975), Hà Nội, 1984.
95. Nguyễn Duy Trinh: Mặt trận ngoại giao thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, Nxb. Sự thật. Hà Nội, 1979.
96. Trong cuộc đối đầu thế kỷ, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1996.
97. Tuy Hoà - Những chặng đường đấu tranh cách mạng (1929-1975), Ban Lịch sử Đảng Tuy Hoà, 1988.
98. Từ điển chiến tranh Việt Nam (The dictionnary of the Việt Nam war), Nxb. Grin Uốt Prét Oétpót (Green Wood Press Westport),.1988.
99. Viện Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh: Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, t.2 (1954-1975), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995.
100. Viện khoa học xã hội Việt Nam - Viện Kinh tế học: 45 năm kinh tế Việt Nam (1945-1990), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1990.
101. Việt Nam - Con số và sự kiện, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1990.
102. Việt Nam - Những sự kiện, t.2 (1954-1975), Nxb. Khoa học xã hội. Hà Nội, 1976.
103. Vĩnh Long - Tổng tiến công và nổi dậy xuân 1968. Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1996.

Hết!