Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thảo luận Lịch sử bảo vệ Tổ quốc => Kiến thức quốc phòng => Tác giả chủ đề:: DesantnhikVDV trong 25 Tháng Năm, 2010, 07:16:43 pm



Tiêu đề: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 25 Tháng Năm, 2010, 07:16:43 pm
LỜI DẪN

Từ điển rút gọn về Không quân bao gồm sự giới thiệu về 122 loại máy bay và trực thăng có mặt trong lực lượng Không quân của các quốc gia khác nhau trong mười năm cuối của thế kỷ 20. Các vấn đề được giới thiệu gồm tính năng kỹ - chiến thuật của máy bay và các trang thiết bị của chúng. Sự mô tả của mỗi máy bay hoặc trực thăng theo tính nối tiếp về thời gian với sự chỉ định của toàn bộ các phiên bản cơ sở, các biến thể cùng sự khác nhau giữa chúng. Tài liệu về những thiết bị bay được sắp xếp theo quốc gia, được bố trí trong sách theo hệ chữ cái Alphabit. Trong các tính năng của trực thăng, chiều dài chung nghĩa là chiều dài của trực thăng với các cánh quạt. Bản thống kê được sử dụng trong bài viết được rút gọn hơn.

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/P1050075.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 25 Tháng Năm, 2010, 08:10:41 pm
THUẬT NGỮ VIẾT TẮT

БРЭО – бортовое радиоэлектронное оборудование: trang thiết bị điện tử trên máy bay

ВВС – военно – воздушные силы: các Lực lượng Không quân

BMC – военно – морские силы: các lực lượng Hải quân

ВМФ – военно – морской флот: hạm đội Hải quân

ВПП – взлетно – посадочная полоса: đường băng cất – hạ cánh

ГСН – головка самосведения: đầu đạn tự dẫn đường

ДИСС – доплероский измеритель скорости и сноса: dụng cụ đo tốc độ và độ lệch của máy bay Đople

ДМА – детектор магнитных аноиалии: bộ dò (tìm) sự/dải dị từ

ДРЛО – дальнее радиолокационное обнаружение: thiết bị vô tuyến định vị tầm xa (ra đa tầm xa)

ИК – инфракрасный: (thuộc về) hồng ngoại

ИЛС – индикатор на лобовом стекле: màn hình ảo trên kính chắn gió

ИНС – инерциальная навигационная система: hệ thống dẫn đường quán tính

КМП – корпус морской пехоты США: binh đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ

КР – крылатая ракета: tên lửa có cánh

ЛСН – лазерная система наведения: hệ thống dẫn đường bằng la-ze

МФИ – многофункциональный индикатор: màn hình đa chức năng

НАР – неуправляемая авиационная: ракета rocket

НУР – неуправляемая ракета: tên lửa không điều khiển

НУРС – неуправляемый реактивный снаряд: đạn phản lực không điều khiển

НОАК – национально – освободительная армия Китая: quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc

ПВО – противозушная оборона: phòng không

ПГО – переднее горизонтальое оперение: cánh nửa trước thân

ПКР – противкорабельная ракета: tên lửa chống tàu

ПНС – прицельно – навигационная система: hệ thống máy ngắm dẫn đường


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 25 Tháng Năm, 2010, 11:12:37 pm
ПЛРК – противолокационная ракета: tên lửa chống ra đa

ПТБ – подвесной топливный бак: thùng nhiên liệu phụ treo (bên ngoài máy bay)

ПТУР – противтанковая управляемая ракета: tên lửa chống tăng điều khiển

ПУ – пусковая установка: thiết bị phóng/đẩy

РГБ – радиогидроаскутический буй: phao tiêu âm thanh thủy lực vô tuyến điện

РЛС – радиолокационная станция: trạm/đài ra đa định vị

РЭБ – радиоэлектронная борьба: tác chiến điện tử

РЭП – радиоэлектронное противодействие: chống (tác chiến) điện tử

СВПП – самолёт вертикального взлета и посадки: máy bay cất và hạ cánh đứng

СПО – станция предупреждения о радиолокационном облучении: đài/trạm cảnh báo về khuyếch tán của (sóng) ra đa

ТВ – телевизионный: (thuộc về) vô tuyến truyền hình

ТВД – турбовинтовой двигатель: động cơ tua bin cánh quạt (chong chóng)

ТРД – турбореактивный двигатель: động cơ tua bin phản lực

ТРДФ – турбореактивный двигатель форсажный: động cơ tua bin phản lực đốt sau

ТРДДФ - турбореактивный двухконтурный двигатель форсажный: động cơ phản lực hai kỳ đốt sau

УР – управляемая ракета: tên lửa điều khiển

УРББ - управляемая ракета ближнего боя: tên lửa điều khiển dành cho cận chiến

УРДД - управляемая ракета большой дальности: tên lửa điều khiển tầm trung

УРСД - управляемая ракета средней дальности: tên lửa điều khiển tầm xa

ЭВМ – электронно – вычислительная машина: máy tính điện tử

ЭДСУ – электродистационная система управления: hệ thống điều khiển điện tử từ xa

ЭЛТ – электронно – лучевая трубка: ống tia điện tử

ЭПР – эффективная площадь рассеивания: bề mặt (diện tích) khuyếch tán hiệu quả


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 26 Tháng Năm, 2010, 12:03:22 pm
1. British Aerospace “Nimrod”

“Nimrod” được chế tạo dựa trên cơ sở máy bay vận tải dân dụng “Cometa” và được tiếp nhận để thay thế máy bay tuần tiễu Avro “Sheklton”. Sự thiết kế máy bay bắt đầu vào năm 1964, khi mà hai máy bay dùng cho nội địa “Cometa” 4C được trang bị bộ dò (tìm) sự dị từ, ra đa trinh sát ở mũi và thiết bị tác chiến điện tử. Phần dưới thân máy bay xuất hiện một khoang hở dài 14,78m, còn thiết bị động lực được trang bị động cơ “Space” Mk 250. Máy bay hoàn thành chuyến bay đầu tiên vào ngày 23 tháng 5 năm 1967, còn vào tháng 10 năm 1969 đã nhận được đơn đặt hàng 46 máy bay “Nimrod” MR. Mk 1 để thành lập 5 phi đội. Bảy máy bay đã chịu những sự thay đổi đáng kể. Phiên bản này nhận tên gọi AEW.Mk 3. Trên máy bay, trong hai thiết bị hình nắp chụp chắn gió ở hai bên tại phía cuối thân máy bay có lắm đài ra đa định vị “Marconi”, nhưng vì lý  do xuất hiện những nhược điểm nên vào năm 1986, những máy bay này bị loại khỏi lực lượng vũ trang.

“Nimrod” MR.Mk 2

Từ năm 1975, 35 máy bay MR.Mk 1 còn lại được đưa vào chương trình hiện đại hóa và mang tên gọi MR.Mk 2. Hệ thống chiến thuật trung tâm cơ bản của chúng trên cơ bản có máy tính điện tử kỹ thuật số và ba quy trình tự động dành cho hệ thống dẫn đường, đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu ngầm và trang thiết bị liên lạc. Trong thời gian xung đột giữa Argentina và Anh năm 1982, “Nimrod” được trang bị các móc hình trụ để treo vũ khí (MR.Mk 2P). Hiện nay, toàn bộ các máy bay trong dòng này được trang bị các thiết bị dành cho việc rải ngẫu cực BOZ 100.

Máy bay trinh sát R.Mk 1

Ba máy bay “Nimrod” R.Mk 1 được đặt hàng theo thiết kế máy bay trinh sát để phục vụ trong thành phần phi đội số 51. So với các máy bay chống ngầm “Nimrod”, chúng khác ở điểm không có bộ cảm biến dị từ ở đuôi và đèn pha tìm kiếm. Thay thế chúng trên phiên bản R.Mk 1 được trang bị hai công-te-nơ bổ xung dành cho thiết bị phản xạ ngẫu cực ở mũi và đuôi trên thân máy bay. Sau khi lắp thêm cần tiếp dầu nghĩa là máy bay được đổi tên gọi thành “Nimrod” R.Mk 1. Để tăng khả năng dẫn đường trên máy bay lắp thêm hệ thống dẫn đường theo quán tính, còn bộ phận mũi của thân máy bay – ra đa khí tượng.

Các thông số kỹ thuật cơ bản:

Tên gọi: British Aerospace (Hawker Sidden) Nimrod MR.Mk 2

Động cơ: động cơ tua bin phản lực hai kỳ đốt sau Rolls – Roys RB. 168-20 “Space” Mk.250, 4x5210 kg lực

Sải cánh: 35m

Chiều dài: 38,63m

Chiều cao: 9,08m

Trọng lượng: tĩnh: 39 010kg; cất cánh tối đa: 87 091kg

Tốc độ: tốc độ tuần tiễu: 787km/h; tác chiến (trên 2 động cơ): 370km/h

Trần bay thực tế: 12 800m

Thời gian hoạt động: bình thường: 12 giờ; tối đa: 15 giờ.

(http://i998.photobucket.com/albums/af107/daibangden/P1050077.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 26 Tháng Năm, 2010, 12:05:18 pm
"Nimrod":

(http://i998.photobucket.com/albums/af107/daibangden/nimrod.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 26 Tháng Năm, 2010, 12:09:24 pm
Các dòng máy bay "Nimrod":

R.Mk 1:

(http://i998.photobucket.com/albums/af107/daibangden/Nimrod_R1.jpg)

MR.Mk 2:

(http://i998.photobucket.com/albums/af107/daibangden/nimrod-mra2.jpg)

AEW. Mk 3:

(http://i998.photobucket.com/albums/af107/daibangden/nimrod_aew3.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 26 Tháng Năm, 2010, 08:20:39 pm
2. British Aerospace “Hawk”

BAe (Hawker Siddeley) “Hawk” T.Mk 1 hoàn thành chuyến bay huấn luyện đầu tiên vào tháng 8 năm 1974. Nó có cánh bố trí thấp, ghế của phi công được lắp thêm một chỗ phía sau và một động cơ quạt tuabin. Tiếp nhận vào lực lượng vũ trang năm 1976 nhằm thay thế cho các máy bay huấn luyện “Hunter” và “Gnat”. 175 máy bay “Hawk” T.Mk 1 thuộc Không quân Hoàng gia được trang bị ba móc treo. Vào năm 1983, 88 máy bay được hiện đại hóa (“Hawk” T.Mk 1A) và có thể thực hiện nhiệm vụ của máy bay tấn công hỗ trợ cho các đơn vị lục quân. Để thực hiện công việc này, chúng sẽ mang thêm 2 tên lửa điều khiển AIM-9L và pháo 30mm. Vào năm 1977, công ty “Bitish Aerospace” giới thiệu “dòng 50” được hiện đại hóa, xuất khẩu sang Phần Lan, Indonesia và Kenia. Phiên bản sau “dòng 60” có động cơ Mk 861 “Adur” mạnh hơn, cánh có hình dạng phù hợp hơn và các cánh tà sau được hoàn thiện. Máy bay “dòng 60” được các nước Abu – Dabi, Dubai, Cô-oét, Arap Saudi, Thụy Sĩ, Hàn Quốc và Zimbabue đặt mua. Tập đoàn “British Aerospace” có khả năng thiết kế các máy bay “Hawk” đa chức năng như máy bay huấn luyện và máy bay tiêm kích hạng nhẹ. Thực tế, “Hawk” 100 gần như tương đồng với “Hawk” 60 và khác máy bay lớp trước ở động cơ mạn hơn và tăng độ dài sải cảnh (với cánh tà sau dành cho máy bay chiến đấu), bộ phận mũi của thân máy bay được kéo dài không nhiều, trong đó bố trí hệ thống hồng ngoại quan sát phía trước và (hoặc) máy đo xa la-ze, tăng cường đèn chiếu sáng của cabin và hệ thống điện tử hàng không hiện đại. “Hawk” 100 cất cánh lần đầu tiên vào tháng 10 năm 1987, sau đó đã nhận được đơn đặt hàng từ Abu-Dabi, Brunei, Malaysia, Oman và Arap Saudi

Phiên bản một chỗ ngồi

Sự thành công của “Hawk” hai chỗ ngồi phiên bản thương mại đã dẫn tới việc tập đoàn “British Aerospace” đưa ra ý tưởng thiết kế máy bay “Hawk” một chỗ ngồi. Trong đó, máy bay có một số thay đổi ở phần mũi trên thân máy bay, ra đa APG-66H và hai pháo 25mm. Chuyển bay đầu tiên của “Hawk” 200 diễn ra vào tháng 5 năm 1986 và đơn đặt hàng dành cho nó đến từ Malaysia, Oman và Arap Saudi.

Các thông số kỹ thuật cơ bản:

Tên gọi: British Aerospace Hawk Mk 100

Động cơ: động cơ tua bin phản lực hai kỳ đốt sau Roll – Roys/Turbomeka “Adur” Mk 871 sức kéo 2650 kg lực

Sải cánh: 9,39m (bình thường); 9,94m (với tên lửa điều khiển AIM-9 trên đầu mút)

Chiều dài: 11,68m

Chiều cao: 3,99m

Diện tích cánh: 16,69 m2

Trọng lượng: tĩnh: 4400kg; cất cánh tối đa: 9100kg

Tốc độ tối đa trên trần bay 11 000m: 1038km/h

Tốc độ nâng dưới mặt đất: 3597 m/phút

Trần bay thực tế: 13 545m

Tầm hoạt động: 510km

Trang bị: pháo 30mm ADEN, tải trọng chiến đấu tối đa 3000kg (khối tên lửa không điều khiển và bom).

(http://c.upanh.com/upload/7/229/LT0.11440985_1_1.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 26 Tháng Năm, 2010, 08:21:18 pm
Máy bay "Hawk":

(http://c.upanh.com/upload/7/229/LT0.11440989_1_1.jpg)

(http://c.upanh.com/upload/7/229/3L0.11441011_1_1.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 26 Tháng Năm, 2010, 08:21:49 pm
Bản vẽ thiết kế "Hawk":

(http://c.upanh.com/upload/7/229/CS0.11440997_1_1.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: longtrec trong 26 Tháng Năm, 2010, 10:14:44 pm
Hì, ném bạn "Lính dù" viên sỏi cái!
УРСД - управляемая ракета средней дальности: tên lửa điều khiển tầm xa
Đây là tên lửa có điều khiển tầm trung
УРДД - управляемая ракета большой дальности: tên lửa điều khiển tầm trung
Đây là tên lửa có điều khiển tầm xa.
РГБ – радиогидроаскутический буй: phao tiêu âm thanh thủy lực vô tuyến điện
[/i][/color]
Đây là phao thủy âm có bước sóng vô tuyến .


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 27 Tháng Năm, 2010, 09:49:07 pm
3. British Aerospace “Sea Harrier”

“Sea Harrier” FRS.Mk 1 là sự phát triển tiếp sau của phiên bản máy bay tấn công cất – hạ cánh đứng “Harrier” GR.Mk 3, có mặt trong lực lượng Không quân Anh. Sự khác biệt so với dòng máy bay trước ở chỗ FRS.Mk 1 có bộ phận mũi của thân máy bay thuôn hơn, trong đó bố trí đài ra đa định vị “Ferranty Blue Focs”, đèn của cabin với hình dáng hoàn thiện hơn và động cơ “Pegasus” Mk 104 sức kéo 9830 kg lực. Trong thành phần trang thiết bị điện tử trên máy bay có hệ thống lái tự động, hệ thống máy ngắm dẫn đường hiện đại và màn hình ảo trên kính chắn gió mới. Vào năm 1975, đơn đặt hàng đầu tiên gồm 24 máy bay FRS.Mk 1 và 1 máy bay huấn luyện T.Mk 4A. Phi đội đầu tiên (số 899), được trang bị những máy bay này, gia nhập lực lượng Không quân Anh tháng 4 năm 1980, còn sau đó không lâu, hai phi đội nữa được thành lập (số 800 và 801). Các phân đội này đã thể hiện rất tốt trong thời gian khủng hoảng tại quần đảo Frankland – các phi công của “Sea Harrier” đã ghi vào trong các thành tích của họ với 23 chiến thắng. Sau cuộc chiến với Argentina, giới chỉ huy quân sự Hải quân Anh quyết định tái trang bị lực lượng Không quân, 57 FRS.Mk 1 đã được đặt mua cùng 4 máy bay huấn luyện (trong đó có 3 T.Mk 4N). Sau đó, trên các máy bay được lắp thêm 4 mấu treo dưới cánh cho 4 tên lửa điều khiển AIM-9, các công-te-nơ lớn hơn với ngẫu cực và đài cảnh báo về sự khuyếch tán sóng ra đa. Năm 1978, Hải quân Ấn Độ trở thành nước thứ 2 sau Anh đặt mua các máy bay “Sea Harrier”. Tổng cộng, Ấn Độ đặt mua 24 FRS. Mk 51 và 4 máy bay huấn luyện T.Mk 60.

Phiên bản hiện đại hóa FRS. Mk 2

Năm 1985, sự hiện đại hóa cho các máy bay “Sea Harrier” được tiến hành nhằm nâng cao chất lượng của máy bay yểm trợ. Tập đoàn “British Aerospace” đã tái trang bị 2 máy bay FRS. Mk 1 trong các nguyên mẫu của máy bay FRS.Mk 2. Chiếc đầu tiên trong số chúng thực hiện chuyến bay vào tháng 9 năm 1988. Trên máy bay mới có lắp thêm khoang (buồng) bổ sung cho các trang thiết bị và thay đổi hình dạng bộ phận mũi của thân máy bay nhằm bố trí đài ra đa định vị  “Blue Vicsen”. Tuy nhiên, “Harrier” FRS.Mk 2 có thân ngắn hơn 0,61m so với phiên bản trước. Trong cabin của phi công có màn hình đa chức năng mới trên ống tia điện tử và hệ thống điều khiển HOTAS. Hợp đồng, được ký kết vào mùng 7 tháng 12 năm 1988, dự kiến trang bị lại 31 máy bay FRS.Mk 1 thành phiên bản FRS. Mk 2. Boong cất cánh thử nghiệm cho máy bay được tiến hành vào năm 1990. Câu hỏi với mục đích đảm bảo sự huấn luyện cho phi công đã được giải quyết với loại máy bay hai chỗ ngồi T.Mk 8N, thiết kế trên cơ sở T.Mk 4N.

Các thông số kỹ thuật cơ bản:

Tên gọi: British Aerospace Sea Harrier FRS. Mk 2

Động cơ: động cơ tuabin phản lực hai kỳ đốt sau Roll – Roys “Pegasus” Mk 106 sức kéo 9770 kg lực

Sải cánh: 7,70m

Chiều dài: 14,50m

Chiều cao: 3,71m

Diện tích cánh: 18,68m2

Trọng lượng: tĩnh:6374kg; cất cánh tối đa: 11884

Tốc độ tối đa trên mặt đất: 1185km/h

Trần bay thực tế: 15 545km/h

Bán kính hoạt động: 750km

Trang bị: 2 pháo 30mm ADEN, tải trọng chung: 2270kg (phiên bản trên tàu sân bay), 3630kg (phiên bản trên mặt đất). Trang bị gồm có 4 tên lửa điều khiển AIM-120, các loại bom, rocket, tên lửa chống tàu “Sea Eagle”.

(http://i998.photobucket.com/albums/af107/daibangden/P1050084.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 27 Tháng Năm, 2010, 09:49:58 pm
Máy bay phản lực "Sea Harrier":

(http://i998.photobucket.com/albums/af107/daibangden/Harrier.jpg)

(http://i998.photobucket.com/albums/af107/daibangden/SeaHarrier.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 27 Tháng Năm, 2010, 09:51:02 pm
"Harrier" Mk 3:

(http://i998.photobucket.com/albums/af107/daibangden/harrier_gr_mk3.jpg)

"Harrier" Mk 51 (phiên bản của Ấn Độ):

(http://i998.photobucket.com/albums/af107/daibangden/HarrierMk51.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 27 Tháng Năm, 2010, 09:51:37 pm
Bản vẽ thiết kế "Sea Harrier":

(http://i998.photobucket.com/albums/af107/daibangden/fseaharrier.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 28 Tháng Năm, 2010, 08:24:06 pm
4. British Aerospace VC10

Theo con đường hiện đại hóa máy bay dân dụng Vikkers/VAS VC10, Không quân Anh đã nhận được một loại máy bay vận tải quân sự hữu dụng. Sự quan tâm tới vấn đề này của giới chỉ huy Không quân Anh đã xuất hiện vào năm 1960. Phiên bản quân sự đầu tiên của VC10 không khác với phiên bản dân sự, nhưng được trang bị động cơ hiện đại “Conway”. “Super” VC10 được trang bị thêm các thùng nhiên liệu bổ sung, cửa bên hông của khoang vận tải, cần tiếp (nhiên) liệu và thiết bị năng lượng hỗ trợ ở bộ phận đuôi. Máy bay vận tải VC10C.Mk 1 có thể vận chuyển 150 hành khách hoặc 76 băng ca với 6 y tá. Chiếc đầu tiên trong số 14 máy bay VC10 hoàn thành chuyến bay vào tháng 11 năm 1965, còn tháng 7 năm 1966, những máy bay này được tiếp nhận vào phi đội số 10 thuộc Không quân Hoàng gia Anh, bắt đầu hoạt động từ tháng 4 năm 1967.

Phiên bản tiếp liệu

Vào năm 1971, một vài máy bay VC10 đã tiếp nhận quyết định tái trang bị thành máy bay tiếp liệu. Sự hiện đại hóa được thực hiện trên 9 máy bay của các dòng khác nhau, nhận tên gọi VC10.Mk 2/3. Trên các máy bay này lắp các thùng nhiên liệu bổ xung, theo theo 3 tổ hợp tiếp liệu (2 dưới cánh và 1 ở bộ phận đuôi của thân máy bay) và hệ thống vô tuyến để quan sát quá trình tiếp nhiên liệu. Những chiếc VC10K.Mk 2 gia nhập phi đội số 101 tháng 5 năm 1984, còn năm 1985, xuất hiện phiên bản K.Mk 3 Sau 4 năm tiếp nhận, 5 máy bay “Super” VC10 được trang bị lại thành máy báy tiếp liệu tầm gần VC10K.Mk 4, còn 8 chiếc C.Mk 1 được hiện đại hóa và nhận tên gọi VC10C.Mk 1 (K). Trên các máy bay này có khoang vận tải và 2 tổ hợp tiếp dầu dưới cánh. K.Mk 4 được trang bị các tổ hợp tiếp liệu Mk 17 và Mk 32, camera quan sát, hệ thống dẫn đường TACAN và động cơ được tiếp nhận trên máy bay K.Mk 3. Các thùng tiếp liệu bổ xung bên trong không có. Năm 1992, quyết định cải tạo 13 máy bay C.Mk 1 thành phiên bản C.Mk 1(K). Toàn bộ các máy bay tiếp liệu VC10 đều đều được trang bị đồng thời hệ thống phân phối thông tin chiến thuật. Trong thời gian chiến tranh với Iraq, các máy bay VC10 đã đảm bảo sự hoạt động cơ bản của lực lượng Không quân Hoàng gia.

Các thông số kỹ thuật cơ bản:

Tên gọi: British Aerospace VC10C. Mk 1

Động cơ: động cơ tuabin phản lực 2 kỳ đốt sau Rolls – Roys “Conway” Rco.43 Mk 301, 4x9898 kg lực

Sải cánh: 44,55m

Chiều dài: 48,38m

Chiều cao:12,04m

Diện tích cánh: 272,38m2

Trọng lượng: tĩnh: 66 224kg; cất cánh tối đa: 146 510kg

Tải trọng: 26 037kg

Tốc độ tuần tiễu trên tầm cao 9450m: 935km/h

Tốc độ nâng dưới mặt đất: 930km/h

Chiều dài cất cánh cần thiết: 2530m (trọng lượng cất cánh tối đa)

Chiều dài hạ cánh cần thiết: 2134m (trọng lượng hạ cánh bình thường)

Tầm hoạt động: 6273km (với tải trọng tối đa).

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/P1050083.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 28 Tháng Năm, 2010, 08:24:57 pm
VC10 phiên bản dân sự:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/vc10dandung.jpg)

phiên bản quân sự:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/VC10_Royal_Air_Force.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 28 Tháng Năm, 2010, 08:26:10 pm
VC10 phiên bản tiếp dầu:
với "Tornado":

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/vc10.jpg)

với "Gripen":

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/gripen-airref.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 28 Tháng Năm, 2010, 08:26:38 pm
Bản vẽ thiết kế VC10:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/VC10banve.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: Su_35 trong 28 Tháng Năm, 2010, 09:38:13 pm
"Harrier" Mk 3:

(http://i998.photobucket.com/albums/af107/daibangden/harrier_gr_mk3.jpg)

"Harrier" Mk 51 (phiên bản của Ấn Độ):

(http://i998.photobucket.com/albums/af107/daibangden/HarrierMk51.jpg)
Con này còn có biệt danh là "Chó Săn " phải không ????


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 29 Tháng Năm, 2010, 05:35:21 pm
5. Panavia “Tornado” ADV

Máy bay tiêm kích đánh chặn tầm xa hạng nặng “Tornado” ADV được thiết kế trên cơ sở “Tornado” IDS một cách đặc biệt cho Không quân Anh và được sử dụng trong các hoạt động yểm trợ tầm xa. Nhiệm vụ chính của nó là bảo vệ các lối tiến vào biên giới từ phía bắc và phía tây các nước NATO và phòng thủ xa bờ cho Hải quân Anh. Khi thiết kế máy bay đánh chặn đã được tính toàn, rằng nó phải mang được 4 tên lửa điều khiển “Sky Flash” với đầu đạn tự dẫn đường bằng ra đa. Sự gia tăng kích thước máy bay nằm trong tính toán đó, và dẫn đến việc tăng thể tích bình nhiên liệu. Đài ra đa định vị AI.Mk 24 “Foxhunter” được lắp trên máy bay có khả năng phát hiện các mục tiêu từ khoảng cách 185km và theo dõi 20 mục tiêu trong số chúng một cách đồng thời. Tuy nhiên, trong quá trình thiết kế máy bay, xuất hiện hàng loạt vấn đề, vì thế sự hoàn thiện của nó trên thực tế bị ngưng trệ, và chỉ vào năm 1989, nó mới đạt đến mức độ như trong quá trình thiết kế. Ban đầu, 3 mẫu máy bay thử nghiệm đã được thiết kế (chuyến bay đầu tiên – 27 tháng 10 năm 1979), sau đó là 18 máy bay “chuyển tiếp” F.Mk 2 với động cơ RB.199 Mk 103. Những máy bay đầu tiên này đã bay với những vật phụ kiện bằng chì thay thế cho các đài ra đa định vị và phục vụ đến tháng 1 năm 1988 trong mục đích đào tạo phi công. Những kế hoạch tái trang bị chúng gần với phiên bản Mk 3 tiêu chuẩn dưới tên gọi F.Mk 2A đã không được thực hiện.

“Tornado” F.Mk 3

Lứa “Tornado” F.Mk 3 thứ nhất thực hiện các chuyến bay đầu tiên vào tháng 11 năm 1985. Tập đoàn “British Aerospace” đã cho xuất xưởng 144 loại máy bay này, gồm có 38 F.Mk 3 với sự điều khiển kép. Oman đã từ chối 8 máy bay, và chúng được chuyển giao cho RAF (Không quân Hoàng gia). F.Mk 3 được trang bị động cơ Mk 104, hệ thống dẫn đường quán tính thế hệ thứ 2 và các giá treo dành cho 4 tên lửa điều khiển AIM-9. Năm 1989, chương trình hiện đại hóa “Cấp độ 1” được tiếp nhận. Những sự thay đổi bao gồm hệ thống “tay quay tác chiến” mới với sự điều khiển thống nhất bởi các động cơ và máy bay (hệ thống HOTAS), nâng cấp đài ra đa định vị, đài cảnh bảo về sự khuyếch tán của sóng ra đa “Hermes”, cải tiến động cơ tuabin phản lực, tăng 5% công suất và thiết bị rải ngẫu cực bố trí ở đuôi của thân máy bay (từ năm 1991). Khả năng tiếp nhận sự tiếp liệu được thực hiện vào giữa những năm 90, trong chương trình hiện đại hóa “Cấp độ 2” mà trong đó, dự kiến cơ bản là nâng cấp đài ra đa định vị. Hiện nay, trong biên chế Không quân Hoàng gia Anh có 7 phi đội được trang bị “Tornado” F.Mk 3. Đơn đặt hàng duy nhất từ nước ngoài là của Arap Saudi ký từ năm 1989 với 24 máy bay. Trong thời gian chiến tranh với Iraq, giống như Anh, các phi công Arap không thu được bất kỳ thắng lợi nào.

Các thông số kỹ thuật cơ bản:

Tên gọi: Panavia Tornado F.Mk 3

Động cơ: động cơ tuabin phản lực hai kỳ đốt sau Turbo – Union RB.199-34R Mk 104, 2x4130/7495 kg lực

Sải cánh: 13,91/8,60m

Chiều dài: 18,68m

Chiều cao: 5,95m

Diện tích cánh: 26,60m2

Trọng lượng: tĩnh: 14 502kg; cất cánh tối đa: 27 968kg

Trần bay thực tế: 21 335m

Bán kính hoạt động: 556km (tốc độ siêu âm); 1852km (tốc độ trước âm)

Trang bị: pháo 27mm “Mouser”, 4 tên lửa điều khiển tầm trung “Sky Flash” và 4 tên lửa cận chiến tầm gần AIM-9L/M.

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/P1050085.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 29 Tháng Năm, 2010, 05:37:26 pm
"Tornado" IDS:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Tornado_IDS.jpg)

"Tornado" ADV:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Tornado-ADV.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 29 Tháng Năm, 2010, 05:38:47 pm
"Tornado" F3:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/TornadoF3.jpg)

"Tornado" ECR:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/tornado.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 29 Tháng Năm, 2010, 05:39:45 pm
Bản vẽ thiết kế:

"Tornado" IDS:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/tornadobanveids.jpg)

"Tornado" ADV:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/banvetornado.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 30 Tháng Năm, 2010, 09:13:12 pm
6. Westland “Lynx”

Westland “Lynx” xuất hiện trong kết quả của sự hợp tác giữa Anh và Pháp vào tháng 2 năm 1967 và có khả năng thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau. Nó được trang bị hệ thống điều khiển bay kỹ thuật số và và chong chóng 4 cánh với sự gia cố bán cứng. Chuyến bay đầu tiên của nguyên mẫu diễn ra vào 21 tháng 3 năm 1974, còn dòng “Lynx” HAS.Mk 2 được sử dụng trong chống ngầm, tìm kiếm cứu nạn, tiêu diệt các mục tiêu nổi, trinh sát và đổ bộ. HAS.Mk 3 trang bị động cơ tuabin cánh quạt Gem 41-1 và có một số sự hiện đại hóa khác. Còn HAS.Mk 3S trang bị thiết bị điện thoại bí mật, HAS.Mk 3ICE được sử dụng ở Nam cực với hai bên thành có hình dạng tàu thủy văn “Endyurens”, HAS.Mk 3CTS có hệ thống cơ bản mới, còn HAS.Mk 3GM – thiết bị bắn bẫy hồng ngoại và hệ thống thả nhiễu ALQ-167. Phiên bản “Lynx” dùng cho Hải quân thế hệ đầu tiên được cung cấp cho Argentina, Brazil, Đan Mạch, Pháp, Cộng hòa Liên bang Đức, Hà Lan, Nigeria và Na Uy. Phần lớn “Lynx” trong trong trang bị của Hải quân Anh và Pháp, được trang bị các giá treo từ vật liệu composit. Trực thăng HAS. M 8, ngoài các trang bị như trên, còn có thiết bị kính ngắm tầm nhiệt di động ở mũi, còn ở đuôi – bộ dò dải dị từ và hệ thống tác chiến và chống tác chiến điện tử “Orindz Crop” và “Eloy Veil”. Nhiều trực thăng “Lynx” Mk 8 được trang bị lại thành phiên bản xuất khẩu “Super Lynx”, đã được Brazil, Hàn Quốc và Bồ Đào Nha đặt mua.

Phiên bản “Lynx” của Quân đội

Trong thế hệ phiên bản thứ hai xuất hiện trực thăng chiến trường “Lynx” AH. Mk 1, chuyến bay đầu tiên diễn ra vào tháng 2 năm 1977. Nó có gầm trượt và có thể mang được 12 lính đổ bộ hoặc tải trọng 907kg trong khoang vận tải. Tổ hợp vũ khí gồm có 8 tên lửa chống tăng điều khiển “Tow” bố trí tại giá phóng hai bên thân trực thăng. Phiên bản “Lynx” AH.Mk 7 trang bị cánh quạt với bộ đảo chiều, động cơ Gem 41 và màn nhiệt nhằm giảm sự bức xạ hồng ngoại. AH.Mk 9 có tính năng vượt trội hơn hẳn só với các phiên bản trước, đồng thời có thiết bị trấn áp tia hồng ngoại và tăng cường trụ chống của bánh xe mới. Chuyến bay đầu tiên của phiên bản này diễn ra vào 20 tháng 6 năm 1990.

Các thông số kỹ thuật cơ bản:

Tên gọi: Westland Lynx AH. Mk 7

Động cơ: động cơ tuabin cánh quạt Rolls – Roys Gem 42-1, 2x1135 kg lực

Chiều dài cánh quạt: 12,80m

Chiều dài chung: 15,16m

Chiều cao: 3,73m

Diện tích cánh quạt: 128,71m2

Trọng lượng: tĩnh: 3072kg; cất cánh tối đa: 4876kg

Tải trọng tối đa: 1361kg

Tốc độ tuần tra: 256km/h

Tốc độ nâng dưới mặt đất: 756m/phút

Trần bay thực tế: 3230m

Bán kính hoạt động: 46km

Trang bị: tải trọng tác chiến chung: 550kg (bao gồm 8 tên lửa chống tăng điều khiển “Tow”)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/P1050086.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 30 Tháng Năm, 2010, 09:14:50 pm
Các phiên bản của "Lynx":

Phiên bản Hải quân Mk 2:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/westland_lynx_hq.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/lynxmk82.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 30 Tháng Năm, 2010, 09:15:40 pm
Phiên bản AH của Quân đội:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Lynx.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/westland-lynx1.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 30 Tháng Năm, 2010, 09:16:36 pm
Bản vẽ thiết kế của "Lynx":

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/westland_lynxbanve.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 31 Tháng Năm, 2010, 09:07:08 pm
7. Westland “Sea King”

Vào năm 1966, tập đoàn “Westland” đã nhận 4 trực thăng Sicors S-61 và đã trở thành cơ sở cho dây chuyền sản xuất “Sea King” HAS.Mk 1. Chuyến bay đầu tiên của loại trực thăng mới diễn ra vào này 7 tháng 5 năm 1969. Nó được trang bị hệ thống chống lại tàu ngầm, gồm có đài ra đa định vị dò tìm, thiết bị thủy âm định vị, trang bị Đople và thiết bị ghi nhiệt độ, đồng thời hệ thống điều khiển bay được tự động hóa. Trang bị của trực thăng gồm các ngư lôi Mk 44, bom chìm Mk 11 hoặc bom hạt nhân chìm WE 177. Sau khi 56 trực thăng phiên bản HAS.Mk 1 được sản xuất là 21 HAS.Mk 2 (và 37 chiếc được tái trang bị) với động cơ được hiện đại hóa, cánh lái 6 trục và bộ chụp lọc của các cửa thông gió. “Sea King” HAS.Mk5 (sản xuất 25 chiếc – một số tái trang bị) có đài ra đa định vị “Sea Secher” và hệ thống chống tác chiến điện tử “Oranz Cron” được nâng cấp. HAS. MK6 trang bị đài thủy âm định vị có độ lặn sâu và thiết bị chống tác chiến điện tử “Oranz Riper”. Năm trực thăng HAS.Mk 6 và 69 chiếc được trang bị lại đã được chuyển giao cho lực lượng phòng thủ bờ biển của Hải quân Anh. Các trực thăng tương tự “Edwanst Sea King” được thiết kế dành cho xuất khẩu. “Sea King” AEW.Mk 2 trang bị đài ra đa định vị “Sechuoter” với ăng ten dạng thuôn lồi. Ba hệ thống tương tự của đài ra đa cảnh báo sớm đã được bán cho Tây Ban Nha để trang bị cho trực trăng SH-3H “Sea King” thuộc Hải quân Tây Ban Nha. Mười chín (19) trực thăng tìm kiếm – cứu nạn “Sea King” HAR.Mk 3 được bán cho Không quân Anh, và 6 chiếc nữa được đặt hàng tháng 2 năm 1992. Những trực thăng sau cùng sẽ được trang bị theo tiêu chuẩn cao hơn, nhận đài ra đa định vị mới, hệ thống điện tử hàng không và thiết bị thông tin liên lạc hiện đại. Các trực thăng “Sea King” phiên bản chống ngầm, tìm kiếm – cứu nạn được xuất khẩu sang Australia, Bỉ, Ai Cập, Cộng hòa Liên bang Đức, Ấn Độ, Na Uy và Pakistan.

“Comando”

Phiên bản vận tải của “Sea King” được bắt đầu thiết kế vào giữa năm 1971. Trực thăng mới nhận tên gọi Westland “Comando”. Nhưng tại Anh không xuất hiện ấn tượng nào về dòng trực thăng mới. Tuy nhiên, Ai Cập và Quata đã bày tỏ sự quan tâm tới chúng. Không quân Hoàng gia tổng cộng đã đặt hàng 41 “Comando” HC.Mk 4 vào năm 1978. Hai phiên bản trực thăng tương tự được sản xuất trong mục đích bay thí nghiệm.

Các thông số kỹ thuật cơ bản:

Tên gọi: Westland Sea King HAS.Mk6

Động cơ: động cơ tuabin cánh quạt Rolls – Roys “Gnom” H.1400-1T, 2x1660 kg lực

Chiều dài cánh quạt: 18,90m

Chiều dài chung/thân: 22,15/17,02m

Chiều cao: 5,13m

Diện tích cánh quạt: 280,47m2

Trọng lượng: tĩnh: 7428kg; cất cánh tối đa: 9752kg

Tốc độ tuần tiễu: 204km/h

Tốc độ nâng dưới mặt đất: 619m/phút

Trần bay thực tế: 1220m

Tầm hoạt động: 1482km

Trang bị: tải trọng tác chiến chung: 1134kg (ngư lôi, bom chìm)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/P1050092-1.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 31 Tháng Năm, 2010, 09:08:27 pm
Trực thăng "Sea King":

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/seaking.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Sea_King.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 31 Tháng Năm, 2010, 09:09:47 pm
Các phiên bản "Sea King":

Mk 41:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/SeaKingMk41.jpg)

Mk 42:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/seakingMk2.jpg)



Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 31 Tháng Năm, 2010, 09:10:15 pm
Bản vẽ thiết kế "Sea King":

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/sikbanve.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 02 Tháng Sáu, 2010, 08:15:45 pm
8. IAI “Kfir”

Sự thiết kế máy bay “Kfir” đã trở thành hiện thực sau khi Israel nhận các máy bay tiêm kích F-4 “Fantom”, và động cơ GEJ 79. Máy bay “Mirage” IIIBJ của Pháp cũng được trang bị loại động cơ này, bay lần đầu tiên vào ngày 19 tháng 10 năm 1970. Trong những năm sau, các chuyến bay với loại động cơ này cũng được sử dụng trên máy bay tiêm kích “Nesher” (phiên bản sao chép của  “Mirage” 5). Trọng lượng lớn của động cơ tuabin phản lực và nhiệt độ tỏa ra cao trong khi làm việc yêu cầu không khí bổ xung để làm mát bộ phận cuối động cơ. Vì thế, trong phần thân trên đã được lắp thêm một cửa thông gió nữa. Phiên bản nguyên thủy của “Kfir” được sản xuất với số lượng không lớn (27 chiếc), và phần lớn các máy bay được hiện đại hóa và nhận tên gọi “Kfir” C1. Hai mươi lăm (25) máy bay tiêm kích sau đó được bán lại cho Hải quân và Quân chủng Lính thủy đánh bộ Mỹ - vào cuối những năm 80, chúng được sử dụng như những sự mô phỏng các máy bay Liên Xô dưới tên gọi F-21A.

“Kfir” C2

Vào năm 1976, xuất hiện phiên bản hoàn hảo đầu tiên của máy bay tiêm kích – “Kfir” C2 với cánh nửa trước thân và những gờ lồi trên mép trước cánh. Thiết kế khí động học mới cho phép tăng cường các tính năng cất cánh của máy bay, độ cơ động và khả năng điều khiển. Hệ thống điện tử hàng không mới được giới thiệu bao gồm máy đo khoảng cách vô tuyến, hệ thống điều khiển bay tự động, hệ thống dẫn đường để ném bom đa chức năng và màn hình ảo trên kính chắn gió. Tập đoàn IAI đã sản xuất 185 máy bay “Kfir” C2 và “Kfir” TC2 (huấn luyện) – hiện nay 120 máy bay trong số đó sẽ được giữ lại trong biên chế. Sau những cuộc đàm phán lâu dài với Mỹ, được quyết định bằng việc bán máy bay với động cơ của Mỹ, Israel đã bán ra nước ngoài chỉ có 12 máy bay mẫu này cho Ecuador và 11 chiếc cho Colombia. Trong mỗi quốc gia này có đồng thời 2 máy bay huấn luyện “Kfir” TC2. Từ năm 1983, phiên bản hiện đại hơn “Kfir” C7/TC7 bắt đầu được sản xuất. Nó có những thay đổi thứ tự trong trang thiết bị điện tử trên máy bay, trang bị đài cảnh báo về khuyếch tán của sóng ra đa, và các thiết bị tác chiến điện tử. Trong những máy bay mới, có trang bị bổ sung 2 móc treo dưới của thông gió của động cơ và nâng cấp trang thiết bị của ca bin.

Các thông số kỹ thuật cơ bản:

Tên gọi: IAI “Kfir” C7

Động cơ: động cơ tuabin phản lực 2 kỳ đốt sau Electric J79-J1E (sản xuất theo giấy phép tại Israel) lực kéo 5390/8510kg lực

Sải cánh: 8,22m

Sải cánh nửa trước thân: 3,73m

Chiều dài: 15,65m

Chiều cao: 4,55m

Diện tích cánh: 34,80m2 (1,66m2)

Trọng lượng: tĩnh: 7285kg; cất cánh tối đa: 16 500kg

Tốc độ tối đa trên độ cao 10 975m: 2440km/h

Tốc độ nâng dưới mặt đất: 14 000m/phút

Trần bay: 22 860m

Bán kính hoạt động: 882km

Trang bị: 2x30 pháo 30mm DEFA 553, tải trọng chung: 6085kg (tên lửa điều khiển “Shaffir” 2 và “Piton” 3, các loại bom Mk 80, tên lửa điều khiển “Shraik” và “Meyveric”, bom GBU-13, bom bi).

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/P1050093.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 02 Tháng Sáu, 2010, 08:17:16 pm
Máy bay tiêm kích "Kfir":

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/IAI-Kfir.jpg)

"Kfir" C1:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/KfirC1.jpg)

"Kfir" C2:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Kfir_C2.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 02 Tháng Sáu, 2010, 08:18:17 pm
"Kfir" C7:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/KfirC7.jpg)

"Kfir" C10:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/IAI_Kfir_C-10.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 02 Tháng Sáu, 2010, 08:19:04 pm
Các bản vẽ thiết kế của dòng máy bay tiêm kích "Kfir":

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Kfir_C-2banve.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/iai_kfirbanve.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 05 Tháng Sáu, 2010, 02:44:13 pm
9. CASA C.101 “Aviojet”

Việc thiết kế “CASA” do các hãng “MBB” và “Nortron” thực hiện. C.101 “Aviojet” được thiết kế trong mục đích huấn luyện và máy bay tiêm kích hạng nhẹ. Chuyến bay của mẫu thí nghiệm đầu tiên diễn ra vào ngày 27 tháng 6 năm 1977. Những đặc điểm nổi bật của máy bay là cánh thẳng, cánh tà sau có khe nứt, động cơ tuabin phản lực hai kỳ có giá trị công nghiệp cao “Harret” TFE731, sự bố trí tiếp đôi của ghế hướng dẫn viên và học viên. Điểm không bình thường là sự xuất hiện của một khoang lớp dưới cabin của phi công, gần phía đuôi, trong đó lắp các hệ thống vũ khí và trang thiết bị khác nhau. Không quân Tây Ban Nha đã đặt mua 88 máy bay C.101 EB-01 trong mục đích huấn luyện dưới tên gọi E-25 “Mirlo”. Trên toàn bộ các máy bay của phiên bản từ năm 1990 đến 1992 đều được trang bị hệ thống dẫn đường được hiện đại hóa.

Phiên bản hiện đại hóa

Các máy bay C.101BB với động cơ được hiện đại hóa xuất khẩu sang Chile dưới tên gọi C.101BB-02. Mười hai (12) máy bay huấn luyện T-36 (gồm 8 chiếc do hãng “ENAER” đóng) sau khi hiện đại hóa nhận ra đa định vị thăm dò và tiếp nhận trong mục đích máy bay huấn luyện để hoàn thiện việc sử dụng vũ khí chiến thuật. Bốn máy bay C.101BB-03 tương tự được giao cho Honduras. Chuyến bay đầu tiên của máy bay tấn công hạng nhẹ C.101 CC vào ngày 16 tháng 11 năm 1983. Sau đó, Không quân Chile đã đặt mua 20 C.101CC-02, đã được tiếp nhận vào biên chế với tên gọi A-36M “Halcon”. Phiên bản sau của loại máy bay này, A-36M mang dưới cánh tên lửa “Sea Eagle”, nhưng nó tỏ ra không thành công. Jocdani đã mua 16 C.101CC-04 để sử dụng làm máy bay huấn luyện.

Máy bay tấn công hạng nhẹ C.101DD

Vào tháng 5 năm 1985, hãng “ CASA” đã hoàn thành mẫu thí nghiệm C.101DD với động cơ “Dach” 5-1J. Đây là phiên bản được trang bị đài ra đa định vị Dople, bệ quán tính, còn sự dẫn đường cho vũ khí tới mục tiêu được thực hiện với sự hỗ trợ của hệ thống máy vi tính trên máy bay và màn hình áo trên kính chắn gió “Ferranty”. Máy bay được trang bị hệ thống điều khiển chuyển mạch của máy bay và vũ khí, có đài cảnh báo về sự khuyếch tán sóng ra đa ALR-66, thiết bị rải phản xạ ngẫu cực, bẫy hồng ngoại và có khả năng mang tên lửa điều khiển “Meiveric”.

Các thông số kỹ thuật cơ bản:

Tên gọi: CASA C.101CC Aviojet

Động cơ: động cơ tuabin phản lực 2 kỳ “Harrpet” TFE731-5-1J sức kéo 1950kg lực

Sải cánh: 10,6m

Chiều dài: 12,5m

Chiều cao: 4,25m

Diện tích cánh: 20,00m2

Trọng lượng: tĩnh: 3500kg; cất cánh tối đa: 6300kg

Tốc độ tối đa trên tầm cao 6095m – 806km/h

Tốc độ nâng dưới mặt đất: 1494m/phút

Trần bay thực tế: 12 800m

Bán kính hoạt động: 519km

Trang bị: 2 súng máy 12,7mm M3 “Browning”; tải trọng mang bom tối đa (trên giá treo) 2250kg (công-te-nơ với pháo treo bom 250kg, tên lửa không điều khiển LAU-10, AGM-65 “Meiveric”, AIM-9L hoặc “Magic”).

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/P1050094.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 05 Tháng Sáu, 2010, 02:45:25 pm
CASA C.101 "Aviojet":

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Casac-101.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/casa_c101_aviojet_l3.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 05 Tháng Sáu, 2010, 02:46:11 pm
(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/C101_2.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/CASA101.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 05 Tháng Sáu, 2010, 02:49:12 pm
Bản vẽ cấu tạo của CASA C.101:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/casa-c-101-aviojetbanve.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/casa101Cbanve.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 06 Tháng Sáu, 2010, 07:43:48 pm
10. Augusta A 129 “Mangusta”

Augusta A 129 “Mangusta” được thiết kế vào năm 1982 nhằm đáp ứng yêu cầu của quân đội Italia về một loại trực thăng trinh sát đa năng. Trên trực thăng, lần đầu tiên được lắp các hệ thống tổ hợp điều khiển được vi tính hóa, dự kiến sự kiếm soát về phía phi công sẽ là thấp nhất. A 129 có ghế ngồi cho phi hành đoàn theo dạng tiếp đôi (phi công – phía sau trên; pháo thủ - phía trước dưới), thể tích cánh với hai móc treo vũ khí có kiểu dáng đẹp, không quá lớn so với kích thước thân, làm trực thăng trở nên cân bằng. Cấu trúc thân của trực thăng với 45% từ vật liệu composit.

Khai thác sử dụng

Chiếc đầu tiên từ trong 5 nguyên mẫu A 129 được trang bị 2 động cơ tuabin cánh quạt Rolls – Roys Gem Mk 2-1004D và hoàn thành chuyến bay đầu tiên vào ngày 11 tháng 9 năm 1983. Còn 15 trực thăng đầu tiên trong số 60 chiếc được phía quân đội đặt mua, đã gia nhập biên chế quân đội Italia vào cuối năm 1987. Tuy nhiên, do những sự cản trở liên quan đến việc thiết kế các hệ thống khác nhau, 5 trực thăng đầu tiên của quân đội chỉ được nhận vào tháng 10 năm 1990. Năm 1993, các trực thăng “Mangusta” được tiếp nhận tham gia vào các chiến dịch hỗ trợ cho lực lượng “mũ nồi xanh” gìn giữ hòa bình tại Somali.

Các phiên bản

Năm 1986, để dành cho các quốc gia châu Âu trong khối NATO, phiên bản hiện đại hóa A 129 đã chức năng đã được giới thiệu. Tuy nhiên, nó đã không được đón nhận bởi vì khi đó đã có những chương trình khác được ưu tiên hơn. Hãng “Agusta” đã đồng thời thiết kế phiên bản xuất khẩu cho A 129, và đã hoàn thành chuyến bay đầu tiên vào tháng 10 năm 1988. Nó được trang bị động cơ Allison “Harrpet” L800 LHTEC (tăng cường sức mạnh thiết bị động lực lên 20%) và tăng khả năng vận chuyển. Nhưng vì việc này mà khối lượng trực thăng cũng tăng lên. Phiên bản vận tải của trực thăng mang tên A 139 và có thể mang 10 – 12 lính đổ bộ. Trên phiên bản xuất khẩu có lắp thiết bị chỉ định mục tiêu (dẫn bắn) (dành cho tên lửa “Hellfire”) và trang thiết bị dẫn đường được hoàn thiện.

Các thông số kỹ thuật cơ bản:

Tên gọi: Augusta A 129 “Mangusta”

Động cơ: 2 động cơ tuabin cánh quạt Rolls – Roys Gem Mk 2-1004D, sức mạnh mỗi động cơ – 825 sức ngựa

Đường kính cánh quạt: 11,90m

Chiều dài thân: 14,29/12,28m

Trọng lượng: tĩnh 2529kg; cất cánh tối đa: 4100kg

Tốc độ tuần tra tối đa: 259km/h

Trần bay thực tế: 3750m

Bán kính hoạt động: 100km (gần 90 phút với tốc độ tuần tra)

Trang bị: 2 súng máy 7,62mm (hoặc 12,7mm) đến 1200kg vũ khí trên 4 móc treo (8 tên lửa chống tăng điều khiển M-65 “Tow”, 6 tên lửa chống tăng điều khiển “Hellfire”, tên lửa điều khiển “Stinger”, “Mistral” hoặc AIM-9, đồng thời 52 rocket cỡ 70mm hoặc 81mm.

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/P1050095.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 06 Tháng Sáu, 2010, 07:44:43 pm
Trực thăng A 129 "Mangusta":

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/a129-41p04.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/a129-41p07.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 06 Tháng Sáu, 2010, 07:45:39 pm
(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/a129.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/A-129_Mangusta.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Agusta.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 06 Tháng Sáu, 2010, 07:46:18 pm
Bản vẽ thiết kế A 129 "Mangusta":

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/agusta_mangustabanve.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 09 Tháng Sáu, 2010, 08:56:45 pm
11. Aermacchi M.B.339

Dựa trên những kinh nghiệm trong sử dụng của máy bay phản lực huấn luyện M.B.326 (đã sản xuất với số lượng khoảng 800 tiêu bản), hãng “Aermacchi” đã thiết kế phiên bản nâng cấp – M.B.339. Nó duy trì động cơ tuabin phản lực của dòng máy bay trước “Vaiper” 632-43 và gargot sau cabin của phi công. Cùng với đó là sự thay đổi về bộ phận mũi của thân máy bay, đèn chiếu của cabin với độ quan sát tốt hơn cũng được lắp. Ngoài ra, máy bay có cánh đuôi lớn và thiết bị điện tử hàng không được hoàn thiện. Sau khi nhận 2 phiên bản thí nghiệm, Không quân Italia đã đặt mua 100 máy bay M.B.339. Chuyến bay đầu tiên diễn ra vào ngày 12 tháng 8 năm 1976.

Khai thác sử dụng

M.B.339 được tiếp nhận vào Không quân Italia tháng 8 năm 1979. Giữa quá trình thiết kế và tái trang bị đã có 19 M.B.339 dành cho các phi đội biểu diễn và 8 chiếc được trang bị một cách đặc biệt cho mục tiêu hiệu chuẩn sóng vô tuyến M.B.339RM. Phiên bản xuất khẩu M.B.339A đã được một số nước đặt mua – Hải quân Argentina (10), Dubash(*) (5), Không quân Gana (2), Malaysia (13), Nigeria (12) và Peru (16)

Phiên bản tiêm kích

Phiên bản cơ sở của máy bay được thiết kế một cách đặc biệt nhất để tấn công các mục tiêu trên mặt đất. Vào năm 1980, xuất hiện phiên bản M.B.339 một (1) chỗ ngồi “Veltro” 2, tuy nhiên đơn đặt hàng cho loại máy bay này sau đó không được thực hiên. Đồng thời, M.B.339B với động cơ mạnh hơn và thùng nhiên liệu phụ có thể tích lớn hơn cũng không nhận được sự quan tâm. M.B.339 là loại máy bay tiêm kích – huấn luyện với giá thành tương đối rẻ, có hệ thống dẫn đường kỹ thuật số và các thiết bị điện tử hàng không hiện đại khác. Chuyến bay đầu tiên của nó diễn ra vào tháng 12 năm 1985. Nó cũng được trang bị động cơ và thùng nhiên liệu dự trữ, như phiên bản M.B.339B. Máy bay được trang bị các móc treo vũ khí. Mười tám (18) M.B.339 đã gia nhập biên chế Không quân New Zealand. Phiên bản Hải quân của M.B.339C dưới tên gọi M.B.339AM sử dụng trong mục đích chống lại các mục tiêu trên biển và được trang bị tên lửa chống tàu “Mart” Mk 2. Trong sự hợp tác với tập đoàn “Rolls – Roys” và “Lockheed”, hãng “Aermacchi” đã sản xuất phiên bản “T-byord” II với động cơ mạnh hơn và nâng cấp trang thiết bị điện tử. Trong phiên bản này tiếp nhận hàng loạt sự thay đổ nhằm mục đích gia tăng thời hạn khai thác sử dụng của máy bay:

Các thông số kỹ thuật cơ bản:

Tên gọi: Aermacchi M.B.339

Động cơ: động cơ tuabin phản lực Roll-Roys “Vaiper” Mk 680-43 sức kéo 1990kg lực

Sải cánh: 11,22m

Chiều dài: 11,24m

Chiều cao: 3,99m

Trọng lượng: tĩnh: 3310kg; cất cánh tối đa: 6530kg

Tốc độ tối đa: 902km/h

Trần bay: 14 630m

Tầm hoạt động: 1965km

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/P1050096.jpg)
Trang bị: tải trọng tối đã trên 6 móc treo – 1814kg (công-te-nơ cho pháo 30mm, bom, tên lửa điều khiển AIM-9P/L, “Magic”, AGM-65 “Mart”Mk II và công-te-nơ với 4 camera để chụp ảnh trinh sát)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 09 Tháng Sáu, 2010, 08:59:13 pm
"Aermacchi" M.B.339:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/MB-339CD.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Aermacchi_MB-339.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 09 Tháng Sáu, 2010, 09:00:11 pm
Một số hình ảnh khác:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/AMB339.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/aermacchi-mb-339.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/MB-339.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 09 Tháng Sáu, 2010, 09:00:59 pm
Bản vẽ thiết kế M.B.339:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/aermacchi_mb339banve.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 09 Tháng Sáu, 2010, 09:01:59 pm
Phiên bản "Aermacchi" M.B.326:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/MB-326.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/aermacchi-mb326.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: huyphongssi trong 09 Tháng Sáu, 2010, 10:47:24 pm
Em ném đá ;D

11. Aermacchi M.B.339

Nó duy trì động cơ tuabin phản lực của dòng máy bay trước “Vaiper” 632-43 và gargot sau cabin của phi công.

Nó (M.B. 339) vẫn dùng động cơ tuốc bin phản lực Viper 632-43 kiểu cũ và khoang ốp lưng sau buồng lái phi công.

Trích dẫn
Trang bị: tải trọng tối đã trên 6 móc treo – 1814kg (công-te-nơ cho pháo 30mm, bom, tên lửa điều khiển AIM-9P/L, “Magic”, AGM-65 “Mart”Mk II và công-te-nơ với 4 camera để chụp ảnh trinh sát)

Thùng pháo treo ngoài và thùng trinh sát treo ngoài


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 14 Tháng Sáu, 2010, 01:14:09 am
12. Nanchang A/Q-5

Các công việc trên máy bay Nanchang Q-5 được bắt đầu vào năm 1958. Được lấy từ cơ sở Mig-19, các công trình sư chỉ giữ lại từ nó phần đuôi của thân máy bay và gầm. Thân máy bay được kéo dài để bố trí thêm khoang vũ khí và nhận bộ phận mũi dạng nón. Máy bay có lỗ hút gió bên hông, diện tích cánh lớn và cánh đuôi được tăng cường. Nguyên mẫu của máy bay hoàn thành chuyến bay vào mùng 4 tháng 6 năm 1965, tuy nhiên, xuất hiện rằng máy bay yêu cầu sự tu sửa căn bản để loại trừ vấn đề với thủy lực, phanh hãm, nhiên liệu và hệ thống vũ trang. Tháng 10 năm 1969, hai nguyên mẫu mới bắt đầu được thí nghiệm, và nhanh chóng được đưa váo sản xuất hàng loạt.

Phiên bản Q-5

Về phiên bản Q-5, có khả năng mang vũ khí hạt nhân, chỉ có thể biết một cách rõ ràng rằng, nó có thể mang đến mục tiêu 1 trái bom sức công phá 5 hoặc 20 kiloton. Q-5I – máy bay tiêm kích bom tầm xa với ghế phóng mới, trang bị thêm 2 móc treo vũ khí và động cơ “Uopen” WP6. Một vài máy bay Q-5I được trang bị lại để mang tên lửa có cánh và hoạt động trong lực lượng Hải quân Quân Giải phóng nhân dân Trung Hoa, có thể, một bộ phận trong số chúng có đài ra đa định vị Đople ở bộ phận mũi của thân máy bay. Những máy bay này có thể đồng thời mang tên lửa chống tàu C-801 do Trung Quốc sản xuất và các mẫu ngư lôi khác nhau. Năm 1985, loạt máy bay Q-5IA bắt đầu được sản xuất, sang bị kím ngắm quang học mới để ném bom và bổ sung các móc treo dưới cánh. Q-5II có đài cảnh báo về sự khuyếch tán của sóng ra đa, nhưng phần còn lại không khác nhiều so với máy bay tiền thân của nó. A-5C (Q-5III) – phiên bản xuất khẩu của Q-5IA với thiết bị điện tử hàng không được nâng cấp và tên lửa AIM-9, được bán cho Pakistan.

Xuất khẩu và hiện đại hóa

Sự sản xuất Q-5 sẽ còn được tiếp tục, và chắc chắn rằng, số lượng sẽ trên 1000. Máy bay được xuất khẩu sang Băng-la-đét, Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên và Pakistan. Một vài chương trình đã được tiếp nhận để trang bị cho máy bay các thiết bị điện tử hàng không của phương Tây. Nhưng sự nghiên cứu tiếp theo của máy bay đã không được tiếp tục mặc dù sự thử nghiệm nguyên mẫu đã thành công vào năm 1989.

Các thông số kỹ thuật cơ bản:

Tên gọi: Nanchang Q-5IA

Động cơ: động cơ tuabin phản lực đốt sau Laiming Uopen-6A, 2x3000/3750 kg lực

Sải cánh: 9,68m

Chiều dài: 15,65m

Chiều cao: 4,333m

Diện tích cánh: 27,95m2

Trọng lượng: tĩnh: 6375kg; cất cánh tối đa: 11 830kg

Tốc độ tối đa trên mặt đất: 1210km/h

Tốc độ tối đa trên độ cao 5000m: 4980 – 6180km/phút

Trần bay thực tế: 15 850km

Bán kính hoạt động: 400km

Trang bị: 2 pháo 23mm, tải trọng chung: 2000kg (các loại bom 250kg, 500kg, tên lửa điều khiển PL-5)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/P1050097.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 14 Tháng Sáu, 2010, 01:14:48 am
Nanchang A/Q-5:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Q5_parked.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/nanchang.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 14 Tháng Sáu, 2010, 01:15:18 am
(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/000-Q-5-4AS.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Q-5-PLAAF-1S.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 14 Tháng Sáu, 2010, 01:15:54 am
Bản vẽ thiết kế Nanchang:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/fq5banve.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Q5banve.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 18 Tháng Sáu, 2010, 01:08:32 am
13. Chengdu J-7/F-7

Năm 1961, Trung Quốc nhận được giấy phép sản xuất máy bay tiêm kích Mig-21 F-13 với động cơ Tumansky R-11F-300. Chuyến bay đầu tiên của mẫu thí nghiệm tại Thẩm Dương (Shenyan) vào ngày 17 tháng 1 năm 1966. Vào tháng 6 năm sau, máy bay được đưa vào sản xuất hàng loạt. Mặc dù trong mọi sự khó khăn, liên quan tới thời kỳ diễn ra cuộc “Cách mạng văn hóa” ở Trung Quốc, tại Thẩm Dương vẫn hoàn thành sản xuất lô máy bay đầu tiên. Sau đó, một số lượng máy bay được bán cho Albani và Tanzania dưới tên gọi F-7A. Những máy bay tiêm kích sau đó được sản xuất tại Thành Đô (Chengdu), nhận tên gọi J-7I. Năm 1975, dòng máy bay J-7II bắt đầu được sản xuất với động cơ “Uopen” mới WP-7B và đèn pha hiện đại trên cabin của phi công. Phiên bản hiện đại hóa của nó là J-7E, lần đầu cất cánh vào tháng 4 năm 1990. Máy bay có cánh với vết gãy theo mép phía trước, động cơ được nâng cấp và có khả năng mang tên lửa “không đối không” PL-8. F-7B có ít điểm khác biệt với dòng máy bay trước và được xuất khẩu cho Ai Cập, Iraq, Sri Lanka (F-7S) và có thể là Jordani.

F-7M và F-7P

F-7M được trang bị hai móc treo bổ sung, trang thiết bị điện tử hàng không hiện đại hơn (bao gồm đài ra đa định vị tầm xa), đồng thời đồng cơ “Uopen” WP-7B(BM). Nó được xuất khẩu sang Băng-la-đét, Iran, Jordani (có thể) và thậm chí là Zimbabue (có thể là F-7B). Máy bay tương tự F-7P khác với F-7M ở toàn bộ các tổ hợp trang thiết bị do phương Tây sản xuất. Đó là ghế phóng “Martin Baker” Mk 10L, thiết bị phóng tên lửa AIM-9 và MATRA “Magic”…. Pakistan đã nhận 20 F-7P và 60 máy bay F-7MP được hiện đại hóa.

Máy bay tiêm kích hoạt động trong mọi điều kiện thời tiết và các phiên bản khác

Máy bay tiêm kích tầm xa hoạt động trong mọi điều kiện thời tiết F-7III có các tính năng như Mig-21M của Liên Xô. Một thời gian làm việc chung với hang “Gruman Seibr” đã cho ra đời máy bay “Super 7” với đài ra đa định vị APG-66, trang thiết bị điện tử trên máy bay cùng trang bị mạnh hơn. Tuy nhiên, sự thiết kế máy bay này đã bị tạm ngừng do sự căng thẳng trong quan hệ giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ.

Các thông số kỹ thuật cơ bản:

Tên gọi: Chengdu F-7M

Động cơ: động cơ tuabin phản lực đốt sau LMC “Uopen”–7B (BM) sức kéo 6100 kg lực

Sải cánh: 7,15m

Chiều dài: 13,95m

Chiều cao: 4,10m

Diện tích cánh: 23,00m2

Trọng lượng: tĩnh: 5275kg; cất cánh tối đa: 7531kg

Tốc độ tối đa trên cao: 2175km/h

Tốc độ nâng dưới mặt đất: 10 800m/phút

Trần bay thực tế: 18 200m

Bán kính tác chiến: 600km

Trang bị: 2 pháo 30mm, tải trọng 1000kg (2 tên lửa điều khiển PL-2; -2A; -5B hoặc -7 hoặc MATRA “Magic”; 18 rocker 57mm, các loại bom hoặc thùng nhiên liệu 500 lít).

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/P1050098.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 18 Tháng Sáu, 2010, 01:09:38 am
Chengdu J-7/F-7:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/J-7Chengdu.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/ShenyangF-7.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 18 Tháng Sáu, 2010, 01:10:24 am
(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/j-7mgchengdu.jpg)

Trong Không quân Pakistan:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/J-7pakistan.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 18 Tháng Sáu, 2010, 01:11:08 am
Bản vẽ thiết kế Chengdu J-7/F-7:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/chengdu-f-7-banve.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/J-7-3view.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 22 Tháng Sáu, 2010, 11:52:49 pm
14. Shenyang J-8

Những đòi hỏi về một máy bay tiêm kích, vượt trội về tính năng so với Mig-21 đã được Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc công bố vào năm 1964. Công trình được thực hiện ở Thẩm Dương được giới thiệu là một loại máy bay có 2 động cơ, giống với Mig-21 và dạng cánh hình tam giác. Chiếc đầu tiên trong số 2 nguyên mẫu được bay thử nghiệm mùng 5 tháng 7 năm 1969, còn sau đó bắt đầu quá trình tinh chế kéo dài trong 10 năm do những nguyên nhân chính trị. Trang bị của J-8 bao gồm pháo 30mm và 4 tên lửa “không đối không” điều khiển PL-2 ở những mấu treo dưới cánh. Máy bay tiêm kích hoạt động trong mọi điều kiện thời tiết J-8I có đài ra đa định vị mới Suchang SR-4 ở giữa thân của lỗ thông gió. Hình dáng khí động lực học của máy bay được cải tiến, còn đèn cabin được chia thành 2 phần. Về trang bị dự định lắp pháo 2 nòng 23mm à 4 thiết bị phóng cho tên lửa diệt vệ tinh. Nguyên mẫu đầu tiên đã cất cánh vào ngày 24 tháng 4 năm 1981, còn số lượng sản xuất chung của J-8 và J-8II vào khoảng 100 chiếc.

J-8II

Sự thiết kế phiên bản cải tiến của máy bay yểm hộ J-8II được bắt đầu vào tháng 5 năm 1981, còn 12 tháng 6 năm 1984, nguyên mẫu đầu tiên được bay thử. Máy bay được trang bị 2 lỗ cửa thông gió mới bên thành, động cơ tuabin phản lực đốt sau WP-13 với mỗi động cơ có sức kéo 6020 kg lực và cân đối dưới sống đuôi của thân máy bay. Dòng J-8II được sản xuất với số lượng không lớn. Phiên bản xuất khẩu của nó, F-8B, được trang bị đài ra đa định vị xung điện Đốp-le, thiết bị điện tử hàng không kỹ thuật số, màn hình ảo trên kính chắn gió và 2 đồng hồ so trên bảng khí cụ. Đơn đặt hàng cho F-8B không được thực hiện. Mùng 5 tháng 8 năm 1987, tập toàn “Grumman” đã ký hợp động thiết kế, sản xuất và thứ nghiệm thiết bị điện tử hàng không hiện đại cho J-8II. Trong thành phần đó có đài ra đa định vị hiện đại AN/APG-66, có khả năng điều khiển tên lửa tầm trung AIM-7 “Sparoww”. Máy bay cũng tiếp nhận đồng thời màn hình ảo trên kính chắn gió mới, ghế phóng do Mỹ sản xuất, hệ thống dẫn đường quán tính và đèn pha của cabin dạng lỏng. Tuy nhiên, vào năm 1989, quá trình này bị phía Mỹ đơn phương hủy bỏ vì lý do chính trị. Phiên bản F-8MII sẽ được thực hiện cùng với các chuyên gia Liên bang Nga. Iran đã bày tỏ sự quan tâm và dự định đặt mua loại máy bay này.

Các thông số kỹ thuật cơ bản:

Tên gọi: Shenyang J-8II/F-8B

Động cơ: động cơ tuabin phản lực đốt say Liyan Uopen-13AII, 2x4350/6720 kg lực

Sải cánh: 9,34m

Chiều dài: 21,59m

Chiều cao: 5,41m

Diện tích cánh: 42,20m

Trọng lượng: tĩnh – 9820kg; cất cánh tối đa – 17 800kg

Tốc độ tối đa trên tầm cao 10 975m: 2338km/h

Tốc độ nâng trên mặt đất: 12 000m/phút

Trần bay thực tế: 20 200m

Tầm hoạt động với thùng nhiên liệu phụ: 2200km

Bán kính hoạt động: 800km

Trang bị: pháo 23mm mẫu 23-3; tên lửa điều khiển PL-2B với đầu đạn tự dẫn đường bằng hồng ngoại, tên lửa điều khiển tầm trung PL-10 với đầu đạn dẫn đường bằng ra đa, giỏ phóng rocket, bom.

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/P1050099.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 22 Tháng Sáu, 2010, 11:54:29 pm
J-8 Shenyang:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Jian-8.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/ShenyangJ-8F-8Finback.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 22 Tháng Sáu, 2010, 11:55:29 pm
(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/J-8B-PLAAF-3S.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/ShenyangJ-8.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 22 Tháng Sáu, 2010, 11:56:13 pm
Bản vẽ thiết kế Shenyang J-8:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/shenyang_j-8banve.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: OldBuff trong 23 Tháng Sáu, 2010, 11:15:07 am
(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/J-7Chengdu.jpg)

Trong Không quân Pakistan:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/J-7pakistan.jpg)

Loại trên là chiến đấu cơ J-7IIIA do Tổ hợp hàng không Thành Đô và Quý Châu nhái mẫu Mig-21MF trong lô 96 chiếc xuất cho Ai Cập năm 1969.


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 26 Tháng Sáu, 2010, 12:14:28 am
15. Antonov An-12

Máy bay trứ danh An-12 do phòng thiết kế OKB O.K.Antonov nổi tiếng thế giới thiết kế. Máy bay được sử dụng song song trong hai mục đích quân sự và dân sự, được sản xuất trong nhiều phiên bản khác nhau để thực hiện đủ mọi nhiệm vụ có thể. Mẫu thí nghiệm đầu tiên thực hiện những chuyến bay đầu tiên vào ngày 16 tháng 12 năm 1957. Tổng cộng cho đến năm 1973, tại Liên Xô đã sản xuất khoảng 1240 An-12. Sáu trăm sáu mươi bảy (667) máy bay dạng này được sản xuất ở Trung Quốc dưới tên gọi Y-8. Được thiết kế song song với An-10, An-12 ban đầu được thiết kế là một bay bay vận tải. Một trong những phiên bản chính, An-12BP, là máy bay vận tải cơ bản của Hàng không Nga. Máy bay có cửa khoang hàng hóa từ ba tuyến chạy ở phía sau thân và khoang hàng hóa không kín. Hai tuyến chạy phía trước của cửa khoang được mở ra theo hai bên, còn phía sau – mở lên trên nhằm vận chuyển hàng hóa một cách trực tiếp dễ dàng hơn từ xe tải. Phía sau cánh đuôi bố trí buồng cho xạ thủ.

Những phiên bản An-12 đặc biệt

Giữa các phiên bản An-12 khác nhau, có thể phân chia An-12BK-IS được trang bị các thiết bị bảo vệ vô tuyến điện riêng biệt “Fasol” và “Siren” hoặc “Barier” và “Siren” với những ăng ten ở bộ phận trước của thân. An-12PP, được thiết kế trên cơ sở An-12B, được lắp hệ thống gây nhiễu bảo vệ. Dành cho mục đích tương tự có An-12BK-PPC với thiết bị của đài “Siren” ở thùng bên ngoài. Các thùng tác chiến điện tử được bố trí theo thành và phía sau thân máy bay, đồn thời theo hai mặt bên của cánh đuôi đứng. Bên cạnh đó các cửa thông gió với trang thiết bị làm mát cũng được bố trí. Dưới cánh đuôi có các ống thả nhiễu. An-12BKT có khả năng tiếp dầu cho các máy bay chiến đấu. Số lượng lớn An-12 được trang bị lại trong các phòng thí nghiệm bay và phương tiện nghiên cứu khoa học.

Sự xuất khẩu

Trong lực lượng Không quân Nga trước đây, số lượng không ít An-12 được khai thác sử dụng. Những máy bay này đã được bán cho Algieri, Băng-la-đét, Ai Cập, Ethiopia, Gine, Ấn Độ, Iraq, Island, Madagaska, Ba Lan, Siry, Yemen và Nam Tư.

Các thông số kỹ thuật cơ bản:

Tên gọi: Antonov An-12

Động cơ: động cơ tuabin cánh quạt ZMKB “Progress” AI-20M, 4x4250 kg lực

Sải cánh: 38,03m

Chiều dài: 33,11m

Chiều cao: 11,44m

Diện tích cánh: 121,73m2

Trọng lượng: tĩnh: 35 340kg; tải trọng tối đa: 61 000 kg

Tải trọng hữu dụng: 20 000 kg

Tốc độ tối đa trên mặt đất: 520km/h

Tốc độ nâng trên mặt đất: 600m/phút

Trần bay thực tế: 9300m

Chiều dài chạy đà cất cánh: 1230m

Chiều dài quãng đường chạy trên đường băng khi hạ cánh: 1125m

Tầm hoạt động: 6200km (không tải)

Trang bị: pháo 23mm kẹp đôi HP-23 ở phía sau thân máy bay.

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/P1050229.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 26 Tháng Sáu, 2010, 12:15:18 am
Một số hình ảnh về Antonov An-12:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/an12bk.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/AN12.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 26 Tháng Sáu, 2010, 12:16:00 am
(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/An12-2.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/an1tonov2.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 26 Tháng Sáu, 2010, 12:16:47 am
Bản vẽ thiết kế của An-12:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/an-12banve.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/an-12-banve.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 26 Tháng Sáu, 2010, 12:17:39 am
An-10 - được thiết kế song song với An-12:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/an10.jpg)

và bản vẽ thiết kế:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/an10banve.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 26 Tháng Sáu, 2010, 07:10:01 pm
16. Antonov An-24/26/32

Chuyến bay đầu tiên của An-24 vào 20 tháng 12 năm 1959. Ban đầu, máy bay được thiết kế theo yêu cầu của hàng Hàng không “Aeroflot”, đã lựa chọn chuyển sang các loại máy tuabin cánh quạt. Tuy nhiên, chất lượng bay và tải trọng của An-24 đã thu hút được sự quan tâm từ bên phía quân sự và đơn đặt mua được tăng cường – cho đến khi ngừng sản xuất vào năm 1978, đã có khoản 1100 An-12 được đóng. Phiên bản phổ biến nhất An-24B có thể mang 28-40 hành khách, được trang bị buồng vận tải và cabin kín. Máy bay cũng được sản xuất ở Trung Quốc dưới tên gọi Y-7.

An-26

Sự khác biệt của An-26 so với An-24 ở chỗ máy bay có buồng vận tải kín hoàn toàn, thang vận tải hàng mới, tải trọng ít hơn và động cơ được hiện đại hóa. Tất cả An-26 được trang bị thiết bị động lực hỗ trợ RU-19A-300, bố trí ở bộ phận phía giỏ phía sau của động cơ bên phải. Bộ máy này phục vụ cho việc đảm bảo năng lượng điện của hệ thống máy bay trên mặt đất và để tạo lực kéo bố sung khi cất cánh. Tổng cộng có khoảng 1000 An-26 đã được sản xuất, chủ yếu là phục vụ cho mục đích vận tải quân sự. Ước chừng 200 máy bay được “Aeroflot” sử dụng trong mục đích dân sự (đặc biệt là dập tắt cháy rừng). Máy bay An-26 được sử dụng tại Afganistan, Lào, Mông Cổ, Rumani, Siry, Yemen, Cuba. Sự sản xuất An-26 cũng được thực hiện tại Trung Quốc.

An-32

An-32 dành cho hoạt động tại những vùng núi cao với tính năng bay vượt trội, trần bay cao và tải trọng lớn. Trong buồng vận tải bố trí được 50 người, 42 lính dù hoặc 24 người bị thương trên cáng (băng ca) với 3 nhân viên y tế. Toàn bộ An-32 được trang bị động cơ tuabin cánh quạt AI-204D, bố trí phía trên cánh, trong các giỏ động cơ lớn, cho phép sử dụng các cánh quạt cỡ lớn. Các máy bay này trong trang bị của các quốc gia thuộc Liên Xô trước đây, đòng thời ở Afganistan, Băng-la-đét, Cuba, Ấn Độ, Mông Cổ và Peru.

Các thông số kỹ thuật cơ bản:

Tên gọi: Antonov An-26B

Động cơ: động cơ tuabin cánh quạt AI-24VT (OKB Ivchenko), 2x2820 sức ngựa; động cơ tuabin phản lực Ru-19A-300 (OBK Tumansky) sức khéo 800 kg lực

Sải cánh: 29,20m

Chiều dài: 23,80m

Chiều rộng: 8,58m

Diện tích cánh: 74,98m2

Trọng lượng: tĩnh: 15 400kg; cất cánh tối đa: 24 400kg

Trọng tải: 5500kg

Tốc độ tối đa trên độ cao 5000m: 540km/h

Tốc độ tuần tra: 440km/h

Tầm xa: 2550km

Tầm chạy đà cát cánh đến độ cao 15m: 1240m

Tầm chạy đã hạ cánh ở độ cao 15m: 1740m.

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/P1050230.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 26 Tháng Sáu, 2010, 07:10:49 pm
An-24:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/P1050230.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Antonov_An-24.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 26 Tháng Sáu, 2010, 07:11:27 pm
An-26:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/an261.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/An26.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 26 Tháng Sáu, 2010, 07:12:07 pm
An-32:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/An32_531.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/AN-32P.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: traitimvietnam trong 27 Tháng Sáu, 2010, 02:32:30 pm
ЭПР – эффективная площадь рассеивания: bề mặt (diện tích) khuyếch tán hiệu quả
ЭПР – эффективная площадь рассеивания: bề mặt (diện tích) khuyếch tán hiệu dụng


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: huyphongssi trong 27 Tháng Sáu, 2010, 06:51:05 pm
ЭПР – эффективная площадь рассеивания: bề mặt (diện tích) khuyếch tán hiệu quả
ЭПР – эффективная площадь рассеивания: bề mặt (diện tích) khuyếch tán hiệu dụng

Các anh giai cứ dịch đổi từ thế thì khó hiểu lắm ;D

ЭПР – эффективная площадь рассеивания là tổng diện tích dội sóng từ hay tổng diện tích phản xạ sóng từ mục tiêu về nguồn phát.


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: traitimvietnam trong 29 Tháng Sáu, 2010, 10:03:35 pm
Các anh giai cứ dịch đổi từ thế thì khó hiểu lắm ;D
ЭПР – эффективная площадь рассеивания là tổng diện tích dội sóng từ hay tổng diện tích phản xạ sóng từ mục tiêu về nguồn phát.
Đúng là khái niệm này phải đầy đù như vậy. Ngắn gọn hơn là diện tích phản xạ (sóng điện từ) hiệu dụng
Tiếng nga không mả lắm chỉ biết mỗi từ эффективная tương đương effective thôi :D


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 30 Tháng Sáu, 2010, 06:46:21 pm
17. Antonov An-124 “Ruslan”
     
Máy bay An-124 được thiết kế cho lực lượng Không quân Liên Xô với mục đích thay thế cho máy bay An-22 đã cũ. Máy bay có thể thực hiện chức năng của một máy bay vận tải hạng nặng cơ cấu cánh đơn với cánh dạng mũi tên và có gầm gồm nhiều trụ với 24 bánh x echo phép thay đổi góc nghiêng của thân máy bay và độ đứng cách đât. Đồng thời đầu trước (bộ phận mũi của thân mở lên trên) và sau của khoang vận tải được đơn giản hóa một cách đáng kể và tăng nhanh tốc độ bốc dỡ các loại hàng hóa khác nhau. Đến năm 1992, Không quân Nga đã nhận 26 An-124. Dành cho các hang hàng không dân dụng có An-124-100. Trên máy bay lắp các thiết bị hàng không điện tử thông thường dành cho việc hoạt động trên các tuyến bay quốc tế thay cho các thiết bị điện tử quân sự. An-124 – một trong những dòng máy bay lớn nhất trên thế giới (lớn hơn An-124 chỉ có máy bay 6 động cơ An-225 “Mrya”). Trên máy bay đã thiết lập các kỷ lục thế giới, trong đó, An-124 đã nâng lên độ cao 2000 mét lượng hàng hóa lớn hơn 53% so với C-5 “Galaxy”. Sàn trong khoang vận tải được làm từ hợp kim titan. Buồng được trang bị băng truyền và các thiết bị đảm bảo dành cho hàng hóa. Khoang vận tải được bịt kín không hoàn toàn, còn khoang hành khác có thể chứa được 88 người, được bịt kín hoàn toàn.

Trang thiết bị trên máy bay

An-124 được trang bị các trang thiết bị điện tử dành cho nhiệm vụ đổ bộ trong bất kỳ điều kiện thời tiết nào vào bất cứ thời điểm nào trong ngày. Máy bay có cánh dạng mũi tên với độ dài lớn, còn trong cấu tạo, vật liệu composite được sử dụng một cách rộng rãi nhằm giảm khối lượng. An-124 có thể mang bất cứ loại hàng hóa nào, bao gồm các tên lửa SS-20, các loại tăng khác nhau, trực thăng và các xe chiến đấu khác. Thể tích của khoang chứa lên đến 1000m3, tương đương với thể tịch của 10 toa xe lửa. Khi cần thiết, trong khoang hàng hóa có thể chứa người. Ví dụ như năm 1990, trên An-124 đã chứa khoảng 450 người tị nạn từ Băng-la-dét.

Các thông số kỹ thuật cơ bản:

Tên gọi: Antonov An-124 “Ruslan”

Động cơ: động cơ “Progress” D-18T, tuabin cánh quạt 4x23 400 kg lực

Sải cánh: 73,30m

Chiều dài: 69,10m

Chiều cao: 20,78m

Diện tích cánh: 628,0m2

Trọng lượng: tĩnh: 175 000kg; cất cánh tối đa: 405 000kg

Trọng tải: 150 000kg

Tốc độ tuần tiễu trên độ cao 10 000m: 800km/h

Chiều dài quãng đường cất cánh (trọng lượng cất cánh tối đa): 3000m

Chiều dài quãng đường hạ cánh(trọng lượng hạ cánh tối đa): 800m

Tầm hoạt động: với tải trọng tối đa: 4500km; với khối lượng tiếp nhiên liệu tối đa: 16 500km.

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/P1050231.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 30 Tháng Sáu, 2010, 06:47:07 pm
An-124 "Ruslan":

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Antonov-An-124-Ruslan_Volga.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/_Antonov-An-124-Ruslan_Volga-Dn.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 30 Tháng Sáu, 2010, 06:47:49 pm
(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/an124_kp.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/An-124_Ruslan.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 30 Tháng Sáu, 2010, 06:48:53 pm
Bản vẽ thiết kế An-124:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/an124banve.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/An-124sodo.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 30 Tháng Sáu, 2010, 06:49:39 pm
An-22:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/An-22.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/AN-221.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Antonov_An-22.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 30 Tháng Sáu, 2010, 06:50:49 pm
An-225 "Mrya":

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/an225-03.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/An-225.jpg)

Bản vẽ thiết kế An-225:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/an225banve.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 06 Tháng Bảy, 2010, 01:51:40 am
18. Ilyushin IL-18/20/38

IL-18m được thiết kế như một máy bay dân sự, nhưng được sử dụng đồng thời trong mục đích vận tải và chuyên cơ của nguyên thủ. Chuyến bay đầu tiên của IL-18 diễn ra vào tháng 7 năm 1957, còn tổng cộng có 75 – 120 máy bay đã được sản xuất với các động cơ AI-20. Số lượng lớn các máy bay này được tính một cách chính thức vào dòng máy bay vận tải dân sự, phục vụ vào mục đích thí nghiệm để thử nghiệm các thiết bị hàng không mới và trang thiết bị khác của máy bay. Để thực hiện các nhiệm vụ khác, mà hàng đầu là quân sự, trong cấu tạo của IL-18 sẽ có những thay đổi quan trọng. Phiên bản mới đầu tiên là IL-20, được sử dụng như thiết bị trinh sát điện tử. Trên máy bay này đài ra đa định vị trinh sát với nắp chụp thông gió hình trụ lớn dưới thân máy bay, các trang thiết bị dành cho không ảnh và các loại ăng-ten khác trên thân và đầu mút cánh. IL-22 có thể sử dụng như một cơ sở chỉ huy trên không hoặc máy bay đảm bảo thông tin liên lạc. Các ăng-ten của hệ thống trang thiết bị điện tử trên máy bay được bố trí ở phía trên cũng như ở dưới thân máy bay.

Máy bay chống ngầm IL-38

IL-38 phục vụ cho nguyên mẫu dành cho dòng máy bay chống ngầm tầm xa. Phiên bản thử nghiệm IL-38 bay lần đầu tiên vào ngày 27 tháng 9 năm 1961. Tổng cộng có khoảng 60 máy bay được sản xuất. IL-38 có những điểm khác biệt rất nhiều so với các máy bay tiền nhiệm và theo thực chất là một máy bay khác. So với IL-18, thân IL-38 dài hơn 4 mét. Cánh hướng về phía trước để bù lại sự thay đổi về phân bố trọng tâm lực sau khi lắp trang thiết bị điện tử mới trên máy bay. Sau cánh đuôi của máy bay trong khoang kéo dài có máy dò dị từ. Trước và sau cánh trên thân máy bay bố trí hai khoang vũ khí. Dưới cabin của phi hành đoàn trong mũ chụp có đài ra đa dò tìm. Trên IL-38 lần đầu tiên tại Liên Xô được lắp hệ thống kính ngắm dò tìm tự động hóa “Berkut”, nguyên tố chính là máy tính điện tử kỹ thuật số. Đối tác duy nhất đặt mua loại máy bay này là Ấn Độ với 5 chiếc đã được giao.

Các thông số kỹ thuật cơ bản:

Tên gọi: Ilyushin IL-38

Động cơ: động cơ tuabin cánh quạt “Progress” (Ivchenko) AI-20; 4x4250kg lực

Sải cánh: 37,42m

Chiều dài: 39,60m

Chiều cao: 10,16m

Diện tích cánh: 140,0m2

Trọng lượng: tĩnh: 36 000kg; cất cánh tối đa: 63 500

Tốc độ tối đa trên độ cao 6400m: 722km/h

Tốc độ tuần tiễu trên độ cao 8230m: 611km/h

Tốc độ trong thời gian trực chiến: 400km/h

Chiều dài quãng đường cất cánh: 1300m

Bán kính hoạt động: 7200km (12 giờ bay tuần tra)

Trang bị: các loại ngư lôi, bom chìm RGB….

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/P1050232.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 06 Tháng Bảy, 2010, 01:52:28 am
IL-18:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/MALEV_IL-18.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/IL-18.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 06 Tháng Bảy, 2010, 01:53:28 am
IL-20:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/99-IL20.jpg)

Bản vẽ cấu tạo IL-20:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Il-20banve.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 06 Tháng Bảy, 2010, 01:54:20 am
IL-22:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/IL-22.jpg)

Bản vẽ cấu tạo IL-22:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/il-22banve.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 06 Tháng Bảy, 2010, 01:55:07 am
IL-38:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/il-38.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/il38.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 07 Tháng Bảy, 2010, 10:56:12 pm
19. Ilyushin Il-76/78/A-50

IL-76 được thiết kế cho những mục đích cả dân sự lẫn quân sự của Liên Xô. Máy bay này so với loại máy bay tương tự C-141 nổi trội hơn hẳn ở kích thước mà sức mạnh. Các trang bị của máy bay được tự động hóa cao trong việc bốc – dỡ hàng hóa và khả năng tải của IL-76 cao hơn C-141. Ngoài ra, IL-76 còn có thể cất và hạ cánh trên đường băng ngắn. Khoang vận tải kín của máy bay với sự hỗ trợ của mô-đun đặc biệt có thể vận chuyển một cách nhanh chóng hành khách, hàng hóa hoặc dụng cụ y tế. Phiên bản thử nghiệm bay lần đầu tiên ngày 25 tháng 3 năm 1971, còn sau đó 3 năm, phi đội đầu tiên trang bị IL-76 được thành lập. Từ năm 1975 đến năm 1993, đã có 750 máy bay được sản xuất.

Các phiên bản

Trên cơ sở IL-76 đã thiết kế được máy bay IL-76T với thùng nhiên liệu phụ đồng thời toàn bộ dòng máy bay cũng có những nhiệm vụ khác nhau: IL-76TD – máy bay vận tải với động cơ D-30KP-1 và các tính năng được tăng cường. Bốn máy bay thí nghiệm IL-76LL – dành cho việc thử nghiệm các loại động cơ máy bay, đồng thời IL-76MDP – dùng cho việc cứu hỏa. Phiên bản vận tải quân sự chỉ có sự khác biệt ở khoang trang bị pháo bố trí ở bộ phận đuôi máy bay. Máy bay phiên bản chiến đấu đầu tiên là IL-76M – tương đương với IL-76T. IL-76MD trang bị động cơ tuabin cánh quạt D-30KP-1. Những khách hàng nước ngoài của IL-76 có Ấn Độ, Iraq, Libia và Siri.

Tiếp dầu và máy bay cảnh báo sớm

IL-78M có 3 tổ hợp tiếp dầu riêng biệt của hệ thống tiếp dầu hình nón dưới cánh và thân máy bay trong khu vực cửa chở hàng phía sau. Tại đó hai thùng nhiên liệu phụ với thể thích 18 tấn mỗi thùng được lắp. A-50 – máy bay của hệ thống “AWACS”. A-50 được trang bị ăng-ten của đào ra đa định vị trong khoang hình chảo phía trên thân và thiết bị tác chiến điện tử ở bộ phận đuôi và mũi của thân. A-50 có thể theo dõi đồng thời 150 mục tiêu. Các phiên bản của loại máy bay này là “967” và “Adnan” được thiết kế tại Iraq.

Các thông số kỹ thuật cơ bản:

Tên gọi: Ilyushin IL-76M

Động cơ: động cơ tuabin cánh quạt D-30KP (phòng thiết kế P.A.Solovyebv); 4x12 000 sức ngựa

Sải cánh: 50,50m

Chiều dài: 46,59m

Chiều cao: 14,76m

Diện tích cánh: 300,0m2

Trọng lượng: cất cánh tối đa: 170 000kg

Tốc độ: tối đa: 850km/h; tốc độ tuần tiễu trên tầm cao 9000-12 000m: 750km/h

Trần bay thực tế: 15 550m

Chiều dài đường băng cất cánh: 850m

Chiều dài đường băng hạ cánh: 450m

Bán kính hoạt động: 6700km

Trang bị: 2 pháo 23mm GSh-23L.

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/P1050233.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 07 Tháng Bảy, 2010, 10:57:31 pm
IL-76:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Ilyushin_Il-76_front.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Il76HeadOn.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 07 Tháng Bảy, 2010, 10:59:24 pm
IL-78:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Il-78s-1.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/il78rk.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/IL-78_001.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 07 Tháng Bảy, 2010, 11:00:30 pm
A-50:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/A-50_AWACS_lg.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/a50_01.jpg)

Bản vẽ thiết kế A-50:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/a-50banve.jpg)



Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 08 Tháng Bảy, 2010, 02:41:18 pm
20. Kamov Ka-50

Ka-50 được thiết kế cùng thời điểm với một trực thăng Liên Xô khác là Mi-28 của phòng thiết kế Mil, và phải trở thành đối thủ xứng tầm với AH-64 “Apache”. Các kỹ sư của phòng thiế kế Kamov đã tìm ra cho trực thăng của họ hàng loạt nét mới, trong đó có cấu tạo đặc biệt khác thường. Đầu tiên là là những cánh quạt đồng trục. Chúng đảm bảo sự tăng cường khả năng cơ động cho trực thăng, cho phép giảm kích thước thân và tăng sức sống cho trực thăng. Sự thành công của cấu tạo này sẽ giải quyết đồng thời nhiều vấn đề lớn - trực thăng được trang bị mạnh, Ka-50 được bọc thép bảo vệ tốt và trang thiết bị điện tử hiện đại. K-50 được thiết kế như trực thăng một chỗ ngồi, tuy nhiên thiết bị điện tử hàng không hiện đại làm cho việc điều khiển trực thăng trở nên đơn giản.

Cabin và ghế phóng của phi công

Cabin một chỗ ngồi lần đầu tiên được thử trong sự hiện đại hóa trực thăng Ka-29TB trong thời gian bay thử. Một trong những điểm mới nhất được tiếp nhận trên Ka-50 là ghế phóng của phi công K-37. Trong quá trình phóng, các cánh chong chóng tự động bắn lại, còn sau đó những quả đạn nổ chuyên dụng sẽ bắn ghế ra khỏi trực thăng. Chuyến bay của mẫu thử nghiệm B.80 diễn ra vào ngày 27 tháng 7 năm 1982. Các thử nghiệm trực thăng của Mil và Kamov hoàn thành gần tháng 10 năm 1986 và Ka-50 được đánh giá cao hơn. Để cho các nghiên cứu sau này, một số lượng trực thăng của cả hai dòng đã được sản xuất.

Hệ thống vũ khí trang bị

Ka-50 trang bị tên lửa chống tăng có điều khiển “Vikhr” – (“Gió lốc”) với hệ thống dẫn đường laze. Các tên lửa này có khả năng bắn cháy mục tiêu cả trên bộ lẫn trên không trên cự ly 10km. Ngoài ra, Ka-50 còn có pháo 30mm với sự thay đổi tốc độ bắn và nguồn đạn từ hai thùng đạn (250 viên/thùng). Pháo được lắp ở bộ phận mũi của thân máy bay và có khả năng bắn theo góc tầm 30 độ và 15 độ theo góc hướng. Khả năng sống còn của trực thăng trong điều kiện tác chiến được đảm bảo bởi khả năng phát hiện thấp của ra đa và thiết bị hồng ngoại, cabin bọc thép của phi công, hệ thống chữa cháy cao cấp, thiết bị thả nhiễu.

Các thông số kỹ thuật cơ bản:

Tên gọi: Kamov Ka-50

Động cơ: TVZ-117VK (phòng thiết kế S. P. Izotov); 2x2226 sức ngựa

Đường kính của cánh quạt: 14,50m

Chiều dài tổng thể/thân: 16,00/13,50m

Chiều cao: 5,40m

Diện tích bề mặt: 330,26m2

Tải trọng cất cánh tối đa: 7500kg

Tốc độ tối đa: 350km/h

Tốc độ nâng gần mặt đất: 600m/phút

Trần bay thực tế: 4000m

Bán kính hoạt động: 250km

Trang bị: pháo 30mm 2A42; 16 tên lửa chống tăng điều khiển “Gió lốc”; 2 giỏ phóng rocket (80 quả)….

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/P1050234.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 08 Tháng Bảy, 2010, 02:42:02 pm
Ka-50:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/ka50_mv.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Kamov_Ka-50_in_Moscow.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 08 Tháng Bảy, 2010, 02:42:45 pm
(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/BlackKa50Maks2005.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Kamov_Ka-50.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 08 Tháng Bảy, 2010, 02:43:29 pm
(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Ka50From11oClock_1.jpg)

Bản vẽ thiết kế Ka-50:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/ka-50bv.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 13 Tháng Bảy, 2010, 04:27:01 pm
21. Micoyan Mig-21

Mig-21 được thiết kế theo tiêu chuẩn máy bay tiêm kích đánh chặn hạng nhẹ. Một trong những phiên bản sớm nhất của máy bay, Mig-21-13, được trang bị 1 pháo HP-30 và 2 tên lửa K-13. Tuy nhiên trên Mig-21P đã lắp đài ra đa định vị RP-21 và tháo pháo. Mig-21PF nhận động cơ R-11F2-300 và tăng diện tích sống thân máy bay. Máy bay tiêm kích Mig-21FL với động cơ R-11F-300 dành cho xuất khẩu. Trên Mig-21PMF với sự tăng cường sống thân một lần nữa xuất hiện pháo hai nòng GSh-30 với thùng treo GP-9. Máy bay được trang bị động cơ R-11F2S-300 và ghế phóng thoát hiểm KM-1.

Các phiên bản sau

Tất các các phiên bản sau cùng của Mig-21 đến có đèn trên cabin từ hai bộ phận, sống đuôi rộng dưới thân và bốn móc treo vũ khí. Được thiết kế trên cơ sở Mig-12 PFM, máy bay trinh sát Mi-21R tăng cường sống dọc thân sau buồng lái và thùng trang thiết bị đặc biệt. Thực tế, Mig-21R tương đồng với Mig-21S được trang bị pháo GSh23mm thay cho thùng treo dưới thân. Trên Mig-21SM bố trí pháo 2 nòng lắp chìm GSh-23L, động cơ mới R-13-300 mạnh hơn. Phiên bản xuất khẩu Mig-21M với động cơ R-11F2S-300 được Ấn Độ sản xuất theo giấy phép, còn Mig-21MF có 4 móc treo cho tên lửa điều khiển. Mig-21SMT được trang bị động cơ R-13F-300, sống thân mở rộng thêm để tăng nhiên liệu dự trữ. Phiên bản xuất khẩu mang tên Mig-21MT. Hiện nay trong trang bị Không quân của nhiều quốc gia khác nhau còn một số lượng đáng kể Mig-21R, Mig-21M, Mig-21MF, đã được hiện đại hóa theo những chương trình khác nhau. Máy bay đa năng Mig-21 bis với động cơ R-25-300 có thiết bị điện tử hiện đại hơn, tên lửa R-60, cấu trúc của sống thân một lần nữa được thay đổi và đài ra đa định vị hiện đại “Sapfir-21”. Máy bay huấn luyện hai chỗ ngồi Mig-21U có thể được trang bị pháo và vũ khí trên hai móc treo. Trên Mig-21US lắp ghế phóng thoát hiểm KM-1M và có một vài thay đổi không lớn trong cấu tạo thân. Mig-21UM có thiết bị điện tử hiện đại được nâng cấp và thiết bị tự lái AP-155.

Các thông số kỹ thuật cơ bản:

Tên gọi: Micoyan Mig-21 bis

Động cơ: động cơ tuabin phản lực đốt sau R-25-300 (OKB S.K.Tymansky) sức kéo 4100/7100kg lực

Sải cánh: 7,15m

Chiều dài: 15,76m

Chiều cao: 4,71m

Diện tích cánh: 23,0m2

Trọng lượng: tĩnh: 5350kg; cất cánh tối đa: 10 400kg

Tốc độ tối đa: 2175km/h

Tốc độ nâng gần mặt đất: 7200m/phút

Trần bay thực tế: 17 800m

Bán kính tác chiến: 450-500km

Trang bị: pháo 2 nòng 23mm GSh-23L; tải trọng tối đa: 2000kg (4 tên lửa điều khiển R-3S hoặc R-60M; giỏ phóng rocket, các loại bom).

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/P1050235.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 13 Tháng Bảy, 2010, 04:29:33 pm
Một số hình ảnh về Mig-21:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/MiG-21_bis.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/MIG-21_MF.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 13 Tháng Bảy, 2010, 04:31:14 pm
Mig-21U:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/MiG-21Fishbed.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/SoCalMig21.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 13 Tháng Bảy, 2010, 04:33:07 pm
Mig-21-13 - một trong những phiên bản sớm nhất:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/P1050006.jpg)

Mig-21-93:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/mig21_93ek.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Mig-21-93.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 13 Tháng Bảy, 2010, 04:35:05 pm
Mig-21 đã và đang hoạt động trong Quân chủng Không quân:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/mig5020.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/VietnameseMig21Taxying.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 23 Tháng Bảy, 2010, 06:19:18 pm
22. Mig-23

Máy bay Mig-23 được thiết kế nhằm thay thế Mig-21 và phải đảm bảo có tầm bay xa, trang bị tốt hơn và có khả năng khai thác sử dụng với đường băng cất – hạ cánh được rút ngắn. Chuyến bay đầu tiên của nguyên mẫu “23-11” với cánh dạng hình học được thay đổi và động cơ R-27F-300 vào ngày 26 tháng 5 năm 1967. Sau đó, máy bay tiêm kích được đưa vào sản xuất hàng loặt dưới tên gọi Mig-23S. Mig-23M, gia nhập biên chế năm 1972, có đài ra đa định vị “Sapfir-23D” được hiện đại hóa, ra đa (máy dò) hồng ngoại và có thể mang tên lửa điều khiển tầm trung R-23P và R-23T. Hai phiên bản xuất khẩu của Mig-23: Mi-23MS với trang thiết bị điện tử trên máy bay và vũ khí được rút giảm cùng Mig-23MF với đài ra đa định vị mạnh hơn và tên lửa tầm gần R-60. Sự phát triển tiếp theo là Mig-23ML tiếp nhận đài ra đa định vị mới “Sapfir-23ML”, động cơ R-35-300 và thân được đơn giản hóa một số chi tiết khác. Loại máy bay này nằm trong biên chế Không quân Liên Xô từ năm 1976, và được đưa sang Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên, Tiệp Khắc, Cộng hòa dân chủ Đức (Đông Đức). Phiên bản đồng nhất trên thực tế là Mig-23P. Phiên bản cuối cùng của Mig-23 là Mig-23MLD, có bộ phận thu áp lực không khí và các vết giũa ở cuối cánh (sát thân máy bay) nhằm nâng cao tính năng khí động học. Mig-23ML đã thể hiện là một đối thủ xứng tầm với các máy bay Mỹ. Ví dụ, trong cuộc chiến tranh Siry – Israel tháng 12 năm 1982, các Mig-23ML của Siry đã bắn rơi 3 F-15 và 1 F-4 mà không mất chiếc nào.

Phiên bản cường kích

Năm 1969, Phòng thiết kế Micoyan đã bắt đầu công việc thiết kế các máy bay cường kích chiến thuật trên cơ sở Mig-23S. Việc tháo đài ra đa định vị (thay cho nó là máy đo xa laze) cho phép tăng cường hình dạng một cách đáng kể từ cabin trên phiên bản máy bay cường kích Mig-23B (chuyến bay đầu tiên vào năm 1970). Trong phần đuôi thân được rút ngắn bố trí động cơ Lylki AL-21F-300 sức kéo 11 200 kg lực. Mig-23B này được thay thế một cách rất nhanh chóng bằng phiên bản mới Mig-23BN với hệ thống dẫn đường hiện đại và động cơ R-29B-300. Phiên bản cường kích sau đó, Mig-23BK và Mig-23BM có sự khác biệt với các dòng trước ở trang bị và vũ khí. Máy bay huấn luyện chiến đấu Mig-23UB được sử dụng cho mục đích huấn luyện phi công cho Mig-23 và Mig-27.

Các thông số kỹ thuật cơ bản:

Tên gọi: Mikoyan Mig-23ML

Động cơ: động cơ tuabin phản lực đốt sau R-35-300 (Phòng thiết kế C.R.Khachaturov) sức kéo 8550/13 000kg lực

Sải cánh: 13,97/7,78m

Chiều dài: 16,70m

Chiều cao: 4,82m

Diện tích cánh: 37,35/34,16m2

Trọng lượng: tĩnh: 10 200kg; cất cánh: 14 700kg; cất cánh tối đa: 17 800kg

Tốc độ tối đa: 2500km/h (tầm cao 11 000m)

Tốc độ nâng trên mặt đất: 240m/s

Trần bay thực tế: 18 500m

Bán kính chiến đấu: 1150km

Trang bị: pháo 23mm 2 nòng GSh-23; tải trọng: 3000kg (2 tên lửa điều kiển R-23; 4 tên lửa điều khiển R-60).

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/P1050236.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 23 Tháng Bảy, 2010, 06:20:20 pm
Một số hình ảnh về Mig-23:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/mig-23s.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Mig-23s1.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/MIG_23.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 23 Tháng Bảy, 2010, 06:21:48 pm
Mig-23ML:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/mig23ml-3291.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/MiG-23ML.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 23 Tháng Bảy, 2010, 06:22:38 pm
Phiên bản cường kích Mig-23B:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Mig-23b1.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/MiG-23b.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 23 Tháng Bảy, 2010, 06:23:49 pm
Mày bay huấn luyện chiến đấu Mig-23UB:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Mig-23UB.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Mig-23UB1.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 26 Tháng Bảy, 2010, 01:32:49 pm
23. Mig-25

Mig-25 được thiết kế nhắm chống lại máy bay ném bom chiến lược XB-70 “Valkyrie” được thiết kế vào thời điểm đó. Trong cấu tạo của Mig-25, thép được sử dụng tới 80%. Bộ phận mũi của thân máy bay được làm đồng thời bằng hợp kim titan. Mẫu thử nghiệm của máy bay với hai động cơ tuabin phản lực R-156-300 cất cánh lần đầu tiên vào ngày 9 tháng 9 năm 1964. Mig-25 bắt đầu được đưa vào sản xuất hàng loạt vào năm 1969, còn sau đó một năm được tiếp nhận một cách chính thức vào trang bị. Máy bay tiêm kích Mig-25PD trang bị thiết bị điện tử hiện đại “Sapfir-25” và động cơ R-15D-300 mạnh hơn. Dưới thân có thể treo một thùng nhiên liệu dự trữ 5300 lít. Trang bị còn lại của Mig-25P được trang bị lại từ phiên bản Mig-25PDS, đạt chuẩn Mig-25PD. Máy bay huấn luyện chiến đấu Mig-25UB có cabin thứ hai dành cho giáo viên hướng dẫn phía trước cabin của học viên phi công. Máy bay này không có đài ra đa định vị. Các máy bay Mig-25 được xuất khẩu tới Algeri, Iraq, Libya và Siry. Trong thời gian chiến tranh vùng Vịnh tháng 1 năm 1991, Mig-25 của Iraq đã bắn rơi F/A-18S của Không quân Mỹ.

Các phiên bản máy bay trinh sát

Mẫu thử nghiệm E-155R-1 của máy bay trinh sát cất cánh lần đầu ngày 6 tháng 3 năm 1964, còn Mig-25R (R = разведывательный = trinh sát) được đưa vào sản xuất hàng loạt năm 1969. Sau đó một năm là phiên bản Mig-25RB, có khả năng trinh sát và mang bom với trần bay cao và tốc độ siêu âm. Các phiên bản máy bay trinh sát sau đó là Mig-25RBK, Mig-25RBS và Mig-25RBV. Phiên bản đầu tiên trang bị đài ra đa định vị và đài vô tuyến điện “Cub” dành cho trinh sát; phiên bản thứ hai có đài ra đa định vị bên hông “Sablia”. Máy bay Mig-25 RBV trang bị hê thống trinh sát vô tuyến điện “Virazh”, bộ phận thu hút áp lực bố trí dưới phần mũi của thân máy bay. Phiên bản Mig-25RB xuất khẩu sang Algieri, Bungari, Ấn Độ, Iraq, Libya và Siry. Máy bay huấn luyện Mig-25RU khác với các phiên bản trước đó ở chỗ không có máy quay – chụp ảnh, nhưng cũng như toàn bộ dòng máy bay trinh sát còn lại, có sải cánh nhỏ hơn so với phiên bản cánh thẳng của bản phác thảo. Mig-25BM được thiết kế đặc biệt dành cho việc chống ra đa. Máy bay có khả năng thực hiện nhiệm vụ ở tầm bay cao với tên lửa chống ra đa X-58 (tầm bắn 400km) được bố trí dưới cánh.

Các thông số kỹ thuật cơ bản:

Tên gọi: Micoyan Mig-25PDS

Động cơ: động cơ tuabin phản lực đốt sau R-15BD-30 (phòng thiết kế S.C.Tumansky); 2x11 200 kg lực

Sải cánh: 14,02m

Chiều dài: 23,82m

Chiều cao: 6,10m

Diện tích cánh: 61,40m2

Trọng lượng: cất cánh: 34 920kg; cất cánh tối đa: 36 720kg

Tốc độ tối đa trên tầm cao 13 000m: 2,8M (3000km/h)

Thời gian cất cánh đạt độ cao 20 000m: 8 phút 54 giây

Trần bay thực tế: 20 700m

Bán kính chiến đấu: 1730km (vận tốc trước âm); 1250 (vận tốc siêu âm)

Trang bị: 2 tên lửa điều khiển R-40; 4 tên lửa điều khiển R-60 hoặc 4 tên lửa điều khiển R-40.

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/P1050237.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 26 Tháng Bảy, 2010, 01:33:58 pm
Một số hình ảnh về Mig-25:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/faf-mig25.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/mig25p_4.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 26 Tháng Bảy, 2010, 01:34:33 pm
(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/492e325d_mig25_1.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/81.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 26 Tháng Bảy, 2010, 01:35:17 pm
(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/mig25rbsh_maxbryansky.jpg)

Hình vẽ:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/mig25p_3.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 26 Tháng Bảy, 2010, 01:35:57 pm
Mig-25UB:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/mig-25ub1.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/mig-25ub.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 29 Tháng Bảy, 2010, 07:08:57 pm
24. Mig-27

Khi thiết kế Mig-27, các công trình sư thử đã tính toán đến các nhược điểm xuất hiện trên phiên bản máy bay tiêm kích bom Mig-23 và lắp trên máy bay cửa thông gió không đều và động cơ với vòi phun cố định trên thân. Việc này làm giảm khối lượng máy bay và tiết kiệm nhiên liệu khi bay. Thay cho pháo 23mm là pháo 30mm 6 nòng GSh-60 với 260 viên đạn. Trên móc treo có thể bố trí thùng pháo SPPU-22, dành cho khả năng tấn công các mục tiêu trên mặt đất. Ngoài ra, máy bay có thể mang một tổ hợp nhiều loại bom và tên lửa điều khiển hoặc bom “ngu” và rốc-két, bao gồm vũ khí hạt nhân chiến thuật. Ngoài khối lượng lớn hơn Mig-23, Mig-27 còn có gầm vững chắc hơn với khả năng chịu áp suất khí động học cao.

Các phiên bản

Nguyên mẫu Mig-27 (Mig-23B) cất cánh lần đầu tiên vào năm 1972, sau đó máy bay được đưa vào sản xuất số lượng lớn. Năm 1977, phiên bản mới Mig-27K đã gia nhập biên chế Không quân Liên Xô. Mig-27K được trang bị màn hình ảo trên kính chắn gió, đài cảnh báo về độ khuếch tán của sóng ra đa và tổ hợp máy ngắm – dẫn đường PrNK-23K với hệ thống kính ngắm vô tuyến – laze “Caira”, cho phép thực hiện việc dẫn bắn vũ khí có điều khiển trong chế độ quan sát hiệu chỉnh. Thiết bị điện tử trên máy bay đem lại cho Mig-27 khả năng tiêu diệt mục tiêu trên mặt đất trong giới hạn quan sát bằng mắt thường và trong điều kiện thời tiết xấu. Mig-27M được trang bị máy do xa – chỉ thị mục tiêu bằng laze “Clen-PM” thay cho hệ thống điều khiển vũ khí “Caira” đắt tiền và tổ hợp máy ngắm – dẫn đường PrNK-23M. Sự sản xuất hàng loạt theo giấy phép sản xuất loại máy bay này dưới tên gọi Mig-27L được thực hiện tại Ấn Độ. Khoảng 500 máy bay của biến thể đầu tiên, được trang bị bổ sung lên cấp Mig-27M, nhận tên gọi Mig-27D và có sự tăng cường cửa sổ quang học của máy do xa - chỉ thị mục tiêu laze trong bộ phận mũi của thân máy bay.

Các thông số kỹ thuật cơ bản:

Tên gọi: Micoyan Mig-27D

Động cơ: động cơ tuabin phản lực R-29B-300 (Phòng thiết kế S.K.Tumansky); sức kéo 8000/11 5000kg lực

Sải cánh: 13,97/7,78,

Chiều dài: 17,08m

Chiều cao: 5,00m

Diện tích cánh: 37,35/34,16m2

Trọng lượng: tĩnh: 11 908kg; cất cánh tối đa: 20 300kg

Tốc độ tối đa trên độ cao 8000m: 1885km/h

Bán kính hoạt động: 540km

Trang bị: pháo GSh-6-30; tải trọng chung: gần 4000kg (tên lửa điều khiển, các loại bom có và không điều khiển; vũ khí hạt nhân chiến thuật, thùng treo với thiết bị trinh sát).

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/P1050238.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 29 Tháng Bảy, 2010, 07:10:00 pm
Một số hình ảnh về Mig-27:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/MiG-27.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/mig27_3.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 29 Tháng Bảy, 2010, 07:10:35 pm
(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Mig-27ml.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/mig27-m.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 29 Tháng Bảy, 2010, 07:11:06 pm
(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/FlyingMig_27.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/f15mig27.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 29 Tháng Bảy, 2010, 07:11:52 pm
Bản vẽ thiết kế Mig-27:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Mig-27thietke.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/banveMig-27.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 31 Tháng Bảy, 2010, 06:02:25 pm
25. Mig-29

Năm 1974, tại Liên Xô đã tiếp nhận quyết định thiết kế mẫu máy bay tiêm kích hạng nhẹ kiểu mới thay thế cho các máy may tiêm kích đã cũ Mig-21, Mig-23 và Su-15. Tổ hợp khí động học tích phân, động cơ tuabin phản lực xoay chiều RD-33, hệ thống vũ khí hiện đại, đồng thời với tên lửa điều khiển mới trở thanh những đặc điểm cơ bản của loại máy bay mới. Sự thiết kế phiên bản thử nghiệm đầu tiên Mig-29 (“sản phẩm 9-11”) được hoàn thành vào tháng 8 năm 1977, còn  ngày 6 tháng 10, lần đầu tiên mẫu thí nghiệm cất cánh. Sự sản xuất hàng loạt của Mig-29 (“sản phẩm 9-12”) bắt đầu từ năm 1982. Trong loạt sản xuất đầu tiên của máy bay có dạng sống thân khí động học, sau này bị hủy bỏ.

Vũ khí và thiết bị điện tử hàng không

Mig-29 có thể mang 2 tên lửa điều khiển tầm trung R-27 và 4 tên lửa điều khiển tầm xa R-60M hoặc R-73 với đầu đạn tự dẫn đường bằng hồng ngoại. Trang bị bổ sung có pháo 30mm. Máy bay được trang bị tổ hợp kính ngắm – ra đa xung Dople RLPK-29, tổ hợp quang học điện tử OEPrNK-29 và đài cảnh báo khuyếch tán sóng ra đa. Đài ra đa định vị có khả năng phát hiện và bám bắt một cách đồng thời 10 mục tiêu. Để dành cho cận chiến, Mig-29 được trang bị hệ thống chỉ thị mục tiêu trên mũi – đầu đạn tự dẫn đường của tên lửa điều khiển được thực hiện bởi phi công.

Các phiên bản mới

Dành cho xuất khẩu có hai phiên bản của Mig-29, khác ở thành phần trang bị và vũ khí. Mig-29A được xuất khẩu cho các nước khối Vác-sa-va, còn Mig-29B cho các nước còn lại. Năm 1984, máy bay tiêm kích Mig-29 “9-13” xuất hiện với sự tăng cường sống dọc thân máy bay, trên đó bố trí thiết bị gây nhiễu tích cực, với lượng chất đốt dự trữ lớn trong hai thùng nhiên liệu dự trữ treo dưới cánh và tăng tải trọng. Loại máy bay này không xuất khẩu. Năm 1989, chuyến bay đầu tiên của Mig-29S “9-13S” với sự hiện đại hóa hệ thống điều khiển vũ khí và các tên lửa mới R-77 và R-27RE, TE. Máy bay huấn luyện chiến đấu Mig-29UB “9-51”, khác với các dòng trước ở chỗ tổ hợp ra đa được tháo bỏ, tên lửa với hệ thống dẫn đường ra đa không nằm trong trang bị vũ khí. Hai cabin được trang bị tổ hợp cơ quan điều khiển và các thiết bị cảnh báo, chỉ thị.

Các thông số kỹ thuật cơ bản:

Tên gọi: Micoyan Mig-29

Động cơ: động cơ phản lực xoay chiều RD-33 (phòng thiết kế V.Ia.Klimova); sức kéo: 2x8300kg lực

Sải cánh: 11,36m

Chiều dài: 17,32m

Chiều cao: 4,73m

Diện tích cánh: 38m2

Trọng lượng: tĩnh: 10 999kg; cất cánh tối đa: 18 500kg

Tốc độ tối đa trên tầm cao 11 000m: 2445km/h

Tốc độ nâng trên mặt đất: 19 800m/phút

Trần bay thực tế: 17 000m

Tầm hoạt động tối đa (với ba thùng nhiên liệu): 2100km

Trang bị: pháo 30mm GSh-301; tên lửa điều khiển R-27, R-60 hoặc R-73, khối rốc két; các loại bom; tải trọng chung – 3000kg.

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/P1050239.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 31 Tháng Bảy, 2010, 06:03:03 pm
Mig-29:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/MIGLanding.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/MIG29low.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 31 Tháng Bảy, 2010, 06:03:54 pm
Mig-29A:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/MiG29a1.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/mig29a.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Mig-29a2.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 31 Tháng Bảy, 2010, 06:04:40 pm
Mig-29B:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Mig29b.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/mig-29b2.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Mig29b1.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 31 Tháng Bảy, 2010, 06:05:30 pm
Mig-29UB:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Mi-29Ub.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/ub2.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Mig-29ub1.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 01 Tháng Tám, 2010, 12:49:52 am
26. Mig-29M/K/SMT

Mig-29M (“sản phẩm 9-15”) là phiên bản nâng cấp của Mig-29 được trang bị thiết bị điện tử điều khiển từ xa với hệ thống dự trữ bốn rãnh và hai màn hình đa chức năng trong cabin. Đài ra đa định vị “Zhuk” bảo đảm cho máy bay bay theo chế độ tự động theo dõi địa hình địa điểm và có khả năng bám bắt đồng thời 10 mục tiêu. Hệ thống quang học – điện tử mới gồm có hệ thống hồng ngoại tìm kiếm mục tiêu, máy ảnh chụp từ xa và máy đo xa laze. Cửa thông gió bố sung ở trên của động cơ được tháo bỏ, và điều đó đem lại sự tăng thêm 1500 lít nhiên liệu dự trữ ở các thùng nhiên liệu bên trong. Cánh đuôi có gờ mép và nâng cao diện tích. Máy bay đồng thời được trang bị động cơ cải tiến RD-33K. Sự thử nghiệm Mig-29M bắt đầu từ năm 1989, tuy nhiên việc sản xuất hàng loạt không được thực hiện vì không được cấp tài chính. Phiên bản dùng cho tàu sân bay Mig-29K không được sản xuất hàng loạt do bị hạn chế bởi sự sản xuất các phiên bản khác nhau của dòng tiêm kích hạng nặng Su-27. Tuy nhiên, sự đa năng của Mig và kích thước nhỏ hơn của dòng máy bay này đang tạo nên sự ưa thích hơn trong việc sử dụng chúng cho lực lượng Hải quân. Mig-29K  có móc hãm, gầm được kéo dài, cánh gấp và thiết bị tiếp dầu trên không. Thay cho cửa hút gió bổ sung phía trên là thùng nhiên liệu dự trũ. Trên 8 móc treo có thể bố trí tên lửa điều khiển, Mig-29M có thể mang được tên lửa chống tàu.

Mig-29SMT

Mặc dù chương trình sản xuất Mig-29M không được cấp tài chính, phòng thiết kế mang tên A. I. Micoyan đã thiết kế phiên bản tiếp sau của máy bay – Mig-29SMT (“9-17”). Máy bay được trang bị đài ra đa định vị hiện đại với chế độ xác định hình họa khu vực, màn hình màu tinh thể lỏng và máy tiếp nhận sự dẫn đường vệ tinh. Trong sự tăng cường sống thân và bộ phận đuôi của máy bay được bố trí thêm nhiên liệu dự trữ. Máy bay được trang bị thiết bị tiếp dầu trên không. Năm 1998, bản thử nghiệm đầu tiên Mig-29UBT (“9-52”) được giới thiệu cho nhiệm vụ đánh chặn trên không mà tấn công mục tiêu trên mặt đất. Máy bay nhận hai thùng nhiên liệu xếp lớp, đài ra đa định vị “Osa”2 trong mũi, còn bộ phận đuôi – đài ra đa định vị quan sát bên thành. Các thiết bị điện tử hàng không mới được lắp trong cabin.

Các thông số kỹ thuật cơ bản:

Tên gọi: Micoyan Mig-29M

Động cơ: động cơ tuabin phản lực xoay chiều RD-33K (phòng thiết kế mang tên V. Ia. Klimova); sức kéo: 2x8880kg lực

Sải cánh: 11,36m

Chiều dài: 17,37m

Chiều cao: 4,73m

Trọng lượng: tĩnh: 10 900; cất cánh tối đa: 18 500kg

Tốc độ tối đa trên độ cao 11 000m: 2445km/h

Tốc độ nâng trên mặt đất: 19 800m/phút

Trần bay thực tế: 17 000m

Tầm xa: 2000km

Trang bị: pháo 30mm GSh-30; tải trọng tác chiến chung: 4500kg (tên lửa điều khiển R-27; R-73; các loại bom X-29L; X-25ML với hệ thống dẫn đường laze).

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/P1050240.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 01 Tháng Tám, 2010, 12:50:43 am
Mig-29M:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Mig-29m3.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Mig-29M1.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/MiG-29M-2aircraft.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 01 Tháng Tám, 2010, 12:51:25 am
Mig-29K:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/mig-29k1.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/MiG-29K4.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Mig-29K.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 01 Tháng Tám, 2010, 12:52:08 am
Mig-29SMT:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/mig-29smt4.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/MiG-29SMT_3_main.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Mig-29SMT1.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 01 Tháng Tám, 2010, 05:48:26 pm
27. Mig-31

Mig-31 được thiết kế một cách đặc biệt nhằm chống lại các thiết bị bay tầm thấp (may bay, trực thăng và tên lửa có cánh). Cùng với các máy bay tiêm kích hạng nặng Su-27 trong Các lực lượng vũ trang Nga, những máy bay Mig-31 có tầm bay xa, được sử dụng cho nhiệm vụ phòng không. Máy bay đánh chặn mới được thiết kế trên cơ sở Mig-25, nhưng trong kết cấu của máy bay sử dụng vật liệu composit, đầu cánh sát thân có một u lồi, còn trên thân lắp động cơ D-30F6. Nguyên mẫu mang tên E-155MP cất cánh lần đầu tiên ngày 19 tháng 9 năm 1975, còn việc sản xuất hàng loạt được bắt đầu sau đó 3 năm. Việc lắp trên máy bay đài ra đa định vị lưới ăng ten mạng pha “Zaslon” cho phép máy bay phát hiện mục tiêu từ khoảng cách 200km và theo dõi chúng từ cự ly 120km. Đài ra đa định vị có thể bám bắt đồng thời 10 mục tiêu và thực hiện dẫn  bắn cho các tên lửa điều khiển ngay lập tức tới 4 mục tiêu. Một phi đội 4 chiếc Mig-31 có khả năng kiểm soát khu vực không gian trên không kéo dài 900km. Hệ thống liên lạc kỹ thuật số mang lại cho máy bay khả năng trao đổi thông tin của các đài ra đa định vị. Mig-31 được trang bị pháo 6 nòng 23mm GSh-6-23, 2 tên lửa điều khiển tầm trung R-40TD và 4 tên lửa điều khiển tầm gần -60 trên các móc treo dưới cánh. Trang bị chủ lực của máy bay đánh chặn Mig-31 là 4 tên lửa điều khiển tầm xa R-33 được bố trí trên móc treo dưới thân.

Các phiên bản sau

Từ đầu năm 1991, Mig-31B được sản xuất với thiết bị tiếp dầu trên không, nâng cấp đài ra đa định vị và hoàn thiện tên lửa R-33S. Tất cả các máy bay được sản xuất trước đó đều được nâng cấp lên chuẩn B và nhận tên gọi Mig-31BS. Năm 1985, xuất hiện phiên bản nâng cấp một cách toàn diện -  Mig-31M với đài ra đa định vị “Zaslon-M” mạnh hơn, có khả năng dẫn bắn 6 tên lửa điều khiển tầm xa đồng thời tới 6 mục tiêu trong một lúc. Hệ thống quang học điện tử mới gồm máy ngắm hồng ngoại và máy đo xa laze. Máy bay được trang bị 3 màn hình chỉ thị trên các ống tia điện tử và các thiết bị chống tác chiến điện tử trên các đầu mút cánh. Các ăng ten đường kính lớn của đài ra đa định vị yêu cầu nắp chụp khá lớn. Cửa kính cabin, u lồi trước cánh được thay đổi, có hình dáng khác. Các máy bay Mig-31 trước đó được trang bị lại lên chuẩn Mig-31M có tên gọi Mi-31BM. Mig-31E – phiên bản xuất khẩu của Mig-31.

Các thông số kỹ thuật cơ bản:

Tên gọi: Micoyan Mig-31

Động cơ: động cơ tuabin phản lực xoay chiều D-30F6; sức kéo 2x15 510kg lực

Sải cánh: 13,46m

Chiều dài: 22,69m

Chiều cao: 6,15m

Diện tích cánh: 61,6m2

Trọng lượng: tĩnh: 21 825kg; cất cánh tối đa: 46 200kg

Tốc độ tối đa trên tầm cao 17 500m: 3000km/h

Trần bay thực tế: 20 600m

Bán kính hoạt động: 1200km

Trang bị: pháo 23mm Gsh-6-23; 4 tên lửa điều khiển R-33; 2 tên lửa điều khiển R-40 và 4 tên lửa điều khiển R-60.

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/P1050241.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 01 Tháng Tám, 2010, 05:49:06 pm
Mig-31:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/mig31-7.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Mig-31.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 01 Tháng Tám, 2010, 05:49:58 pm
Mig-31B:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/mig31b-1.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/mig-31b_06.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 01 Tháng Tám, 2010, 05:50:45 pm
Mig-31M:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/mig31m-4.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/MiG-31MFoxhound.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 01 Tháng Tám, 2010, 05:51:21 pm
Phiên bản xuất khẩu Mig-31E:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/MIG-31E.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/mikoyan-mig-31e.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 01 Tháng Tám, 2010, 05:52:02 pm
Bản vẽ thiết kế Mig-31:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/mig31_1_3v.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/mig-31_blueprints-1.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 10 Tháng Tám, 2010, 06:46:11 pm
28. Mi-8

Trực thăng tuabin khí Mi-8 được thiết kế nhằm thay thế cho Mi-4 và trên máy bay cũng sử dụng cả cánh quạt tải lẫn cánh quạt lái như trên dòng trực thăng trước. Động cơ mới AI-24V được bố trí tại trên thân trực thăng cho phép rút gọn bộ truyền động và tăng thể thích khoang vận tải. Chuyến bay của nguyên mẫu một động cơ được bắt đầu vào năm 1961, còn sau đó một năm xuất hiện phiên bản trực thăng mới với hai động cơ tuabin khí TV2 của phòng thiết kế S.P.Izotov. Sau đó hai phiên bản Mi-8 dân sự Mi-8P và Mi-8S được thiết kế với salon nhằm tăng cường sự tiện nghi.

Các phiên bản quân sự

Mi-8T được sản xuất trong nhiệm vụ vận tải. Trên các cánh bên ngoài có thể tháo lắp có thể đặt 4 rãnh treo vũ khí. Mi-8TV được sản xuất đồng thời với súng máy được lắp ở mũi và 6 móc treo trên cánh bên ngoài có thể lắp tên lửa chống tăng điều khiển “Falang”. Phiên bản xuất khẩu là Mi-8TB trang bị tên lửa chống tăng “Malyutka” thay cho “Falang”. Để nâng cao tính năng bay trên Mi-8 đã lắp động cơ hiện đại TV3-117MT. Các cửa thông gió được trang bị thiết bị lọc bụi, còn cánh quạt lái được lắp tại thành bên trái thay cho bên phải. Những trực thăng này có khả năng chở 24 lính đổ bộ gọi là Mi-8MT, tuy nhiên, trên thị trương thế giới, loại trực thăng này được biết tới dưới tê gọi Mi-17.

Các phiên bản đặc biệt

Mi-8VKP nổi tiếng trong vai trò như một trạm chỉ huy đổ bộ và được trang bị hệ thống đài vô tuyến điện và máy chuyển phát vô tuyến với ăng ten ở trên và dưới thân. Mi-8SMV được tiếp nhận cho nhiệm vụ chống tác chiến điện tử, còn Mi-8PPA – cho việc gây nhiễu các đài ra đa định vị trên mặt đất. Phiên bản sau cùng có các ăng ten ngẫu cực mỗi bên thân và 6 máy trao đổi nhiệt được bố trí dưới phần mũi trực thăng. Phiên bản xuất khẩu Mi-17P cũng có những trang thiết bị này.

Các thông số kỹ thuật cơ bản:

Tên gọi: Mil Mi-8TV

Động cơ: động cơ tuabin khí TV2-117A (phòng thiết kế S.P.Izotov) 2x1700 sức ngựa

Chiều dài chong chóng nâng: 21,29m

Chiều dài chung/thân: 25,24/18.17m

Chiều cao: 5,56m

Diện tích rỗng: 356m2

Trọng lượng: tĩnh: 7520kg; cất cánh tối đa: 12 000kg; tải trọng: 4000kg

Tốc độ tối đa tại độ cao 1000m: 260km/h

Trần bay: 4500m

Tầm xa: 1200km

Trang bị: súng máy 12,7mm; tên lửa điều khiển “Falang”; giỏ roc-ket.

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/P1060206.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 10 Tháng Tám, 2010, 06:51:16 pm
Một số hình ảnh về Mi-8:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/mi8_kp.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Mi-8.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Mi-8_Hip.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 10 Tháng Tám, 2010, 06:52:02 pm
(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Mi-8_W-3_CM.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Mi-8T.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Mi-8t1.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 10 Tháng Tám, 2010, 06:53:06 pm
Mi-8MT - Mi-17:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/CzechMi17.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/MI-17s.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/M-17a.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 11 Tháng Tám, 2010, 06:39:01 pm
29. Mi-24

Mi-24 được thiết kế trên cơ sở trực thăng Mi-8 và có cùng động cơ cũng như chong chóng nâng. Trong khả năng vận tải, Mi-24 có thể chở một tiểu đội lính và có trang bị đủ mạnh và tính năng tốc độ tốt. Nguyên mẫu của trực thăng, V-24 hoàn thành chuyến bay đầu tiên ngày 15 tháng 9 năm 1969, còn Mi-24 bắt đầu gia nhập biên chế năm 1971. Ban đầu, trang bị của Mi-24 bao gồm tên lửa chống tăng có điều khiển “Falang-M”. Trong quá trình sản xuất hàng loạt, trực thăng được trang bị động cơ TV3-117 (trang bị đồng thời trên Mi-17), còn cánh quạt lái bên phải được đổi sang bên trái.

Mi-24D và Mi-24V

Với dòng thời gian, các trực thăng được sử dụng ưu tiên trong vai trò vận tải và phát triển một cách phù hợp trong vai trò chống lại các phương tiện thiết giáp của đối phương. Tuy nhiên từ cabin trên các phiên bản đầu tiên đã được giữ lại và nâng cấp bởi vì trước đó trên thực tế hầu như không được bọc thép. Vì thế trên các trực thăng mới đã được lắp bộ phận mũi mới với 2 cabin bọc thép.được bố trí theo bậc (phi công phía sau, pháo thủ phía trước), còn bên dưới bố trí súng máy 4 nòng 12,7mm. Phiên bản nhận tên gọi Mi-24D (phiên bản xuất khẩu – Mi-25). Phiên bản mới Mi-24V đã thay thế Mi-24D một cách nhanh chóng. Mi-24V được trang bị tên lửa “Shturm V” thế hệ mới. Mi-24P dựa trên cơ sở kinh nghiệm tác chiến tại Apganistan. Thiết bị súng máy 12,7mm không đem lại hiệu quả cao khi chống lại các mục tiêu trên mặt đất và vấn đề này đã được giải quyết triệt để bằng trang bị pháo. Vì thế, Mi-24VP được trang bị pháo 2 nòng GSh-23L với thiết bị mũi di động, còn Mi-24PT – pháo 30mm GSh-30K cố định trong mũ chụp thành bên phải trực thăng. Phiên bản xuất khẩu của Mi-24P là Mi-25P. Mi-24P trang bị thiết bị trinh sát hóa học – phóng xạ và thiết bị dành cho hút đất. được bố trí trên đầu cánh thay cho tên lửa chống tăng điều khiển. Phiên bản trinh sát Mi-24K dành cho việc quan sát chiến trường có máy chụp ảnh điều khiển trong mũ chụp dưới thân và camera tiệu cự dài trong cabin.

Các thông số kỹ thuật cơ bản
:

Tên gọi: Mil Mi-24D

Động cơ: động cơ tuabin cánh quạt TV3-117 dòng III (nhà thiết kế S.P.Izotov); 2x2200 sức ngựa

Đường kính chong chóng nâng: 17,30m

Sải cánh: 6,536m

Chiều dài chung/thân: 19,79/17.51m

Chiều cao: 6,50m

Diện tích rỗng: 235,0m2

Trọng lượng: tĩnh: 8340kg; cất cánh tối đa: 11 500kg

Tốc độ tối đa gần mặt đất: 310km/h

Tốc độ nâng gần mặt đất: 750m/phút

Trần bay thực tế: 4500m

Bán kính hoạt động: 160km

Trang bị: 4 súng máy 12,7mm, tải trọng chung – 2400kg (tên lửa chống tăng có điều khiển “Falang P”; giỏ phóng rocket; các loại bom).

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/P1060207.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 11 Tháng Tám, 2010, 06:40:07 pm
Mi-24:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Mi-24_4.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/mi-24-helikopter.jpg)

Mi-24 của Không quân Nhân dân Việt Nam:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Mi-24vn.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 11 Tháng Tám, 2010, 06:40:57 pm
Mi-24D:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Mi-24D_Hind.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Mi-24D1.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Mi-24D.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 11 Tháng Tám, 2010, 06:42:01 pm
Mi-24V:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Mi24_v.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Mi-24V2.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Mi-24V1.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 11 Tháng Tám, 2010, 06:43:15 pm
Mi-24P:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/mi24-P.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/mi24P.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/HIND_P.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 14 Tháng Tám, 2010, 10:58:23 pm
30. Mi-28

Nguyên mẫu đầu tiên trong số ba mẫu thử nghiệm đã cất cánh lần đầu ngày 10 tháng 11 năm 1982. Trực thăng có cấu tạo truyền thống: pháo được bố trí dưới bộ phận mũi của thân, cabin được bọc thép với ghế ngồi phi công được bố trí theo dạng tầng (phi công – phía sau; pháo thủ - phía trước). Chong chóng 3 cánh trên tiêu bản thí nghiệm thứ 2 và 3 được thay thế bằng cặp chong chóng 4 cánh với bản lề đàn hồi. Các chong chóng lái được lắp dưới các góc 45 độ và 135 độ để giảm độ ồn.

Trang bị

Mi-28 trang bị pháo 1 nòng 30mm 2A42, bố trí dưới bộ phận mũi của thân máy bay. Hai thùng đạn với cơ số đạn tổng cộng 300 viên cùng pháo trên giá chuyển hướng và được bố trí một cách đồng bộ nhằm bảo đảm pháo không bị kẹt đạn. Trên các cánh hỗ trợ có 4 giá treo, trên mỗi giá có thể chịu tải trọng 480kg, thông thường bao gồm 4 tên lửa chống tăng điều khiển “Ataka” và các loại tên lửa khác. Trên các mấu cánh bố trí các thùng rải thiết bị đèn ngẫu cực gây nhiễu.

Bọc thép và hệ thống an toàn

Việc lắp kính cabin được thực hiện bằng cách lắp theo mặt phẳng song song nhằm chống lại mảnh đạn 12,7mm. Chính cabin cũng được bảo vệ bằng giáp titan với các mảnh gốm bên ngoài. Các vị trí quan trọng có tính sống còn của trực thăng được che chắn nhiều hơn bằng các tổ hợp và thiết bị khác nhau, nhiều hệ thống được tăng cường gấp đôi.Trong trường hợp khẩn cấp, sự hạ cánh của các phi công được thực hiện trên các ghế hấp thu năng lượng có khả năng tiếp đất với tốc độ 12m/s. Hệ thống chữa cháy gồm có các cửa phóng khẩn cấp và cánh phẳng, sau đó phi công và pháo thủ có thể thoát khỏi máy bay bằng dù. Cửa bên trái thân là khoang chứa thiết bị ra đa, trong đó có thể bố trí thêm ba người bị thương từ các trực thăng khác. Mi-28N theo dự định được trang bị đài hồng ngoại quan sát phía trước và vô truyến truyền hình để hoạt động trong bất kỳ điều kiện nào, đồng thời được trang bị máy đo xa laze/chỉ thị mục tiêu. Trên cơ sở Mi-28 đang phát triển phiên bản trực thăng vận tải Mi-40.

Các thông số kỹ thuật cơ bản
:

Tên gọi: Mil Mi-28

Tên gọi: động cơ tuabin cánh quạt TB3-117 (phòng thiết kế S.P.Izotov); 2x2200 sức ngựa

Đường kính chong chóng nâng: 17,20m

Sải cánh: 4,87m

Chiều dài chung/thân: 19,15/16,85

Diện tích rỗng: 232,35m2

Trọng lượng: tĩnh: 7000kg/cất cánh tối đa: 10 400kg

Tốc độ tối đa gần mặt đất: 300km/h

Tốc độ tuần tra: 270km/h

Trần bay thực tế: 5800m

Tầm xa: 470km

Trang bị: pháo 30mm 2A42, tải trọng tác chiến chung: 1920kg (16 tên lửa chống tăng điều khiển “Ataka”; giỏ rocket…).

(http://i998.photobucket.com/albums/af107/daibangden/P1060208.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 14 Tháng Tám, 2010, 11:00:36 pm
Một số hình ảnh Mi-28:

(http://i998.photobucket.com/albums/af107/daibangden/mi-281.jpg)

(http://i998.photobucket.com/albums/af107/daibangden/mi28n_nesvetaev.jpg)

(http://i998.photobucket.com/albums/af107/daibangden/mil-mi-28-3.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 14 Tháng Tám, 2010, 11:01:35 pm
(http://i998.photobucket.com/albums/af107/daibangden/mil_mi28_havoc_l8.jpg)

(http://i998.photobucket.com/albums/af107/daibangden/Mi-28-004.jpg)

(http://i998.photobucket.com/albums/af107/daibangden/mil_mi28_havoc_l10.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 28 Tháng Tám, 2010, 02:54:55 pm
31. Sukhoi Su-17

Để thay thế cho máy bay Su-7B vào giữ những năm 60, phòng thiết kế P. O. Sukhoi đã thiết kế kiểu máy bay tiêm kích bom mới với cánh hình dáng hình học của cánh có thể thay đổi, có tầm hoạt động xa và khả năng cất – hạ cánh ưu việt. Dưới tên gọi S22I, máy bay hoàn thành chuyến bay đầu tiên ngày 2 tháng 8 năm 1966. Năm 1969, sự sản xuất với số lượng không lớn máy bay Su-17 đã được bắt đầu, còn sau đó xuất hiện một cách nhanh chóng phiên nâng cấp bản Su-17M với động cơ AL-21F-3 sức kéo 11 200kg lực, tăng cường nhiên liệu dự trữ và hệ thống trang bị điện tử. Phiên bản xuất khẩu của Su-17 mang tên gọi Su-20 đã được chuyển cho Algieri, Afganistan, Iraq, Ba Lan và Siry. Su-17M2 với phần mũi thân kéo dài được trang bị tổ hợp lái – dẫn đường KN-23 và máy đo xa laze “Fon”. Sau đó trên máy bay được lắp dụng cụ Đople đo tốc độ và độ lệch của máy bay trong mũ chụp dưới cửa thông gió (Su-17M2-D). Dưới tên gọi Su-22 và được trang bị động cơ R-29B-30, các máy bay này đã được bán cho các nước như Việt Nam, Libia, Peru, Siri, Iraq và Yemen.

Su-17M3 và Su-17M4

Su-17M3 khác với các dòng máy bay trước ở góc nghiêng của mũi thân, sự thay đổi hình dạng sống dọc thân và có sống dưới thân. Ở cánh giữa của cánh xuất hiện 2 móc treo cho tên lửa điều khiển R-60. Phiên bản xuất khẩu với động cơ tuabin phản lực đốt sau R-29B-300 và thiết bị điện tử được đơn giản hóa được sản xuất năm 1977 – 81 dưới tên gọi Su-22M3 với đầy đủ các thiết bị hàng không. Phiên bản cuối cùng của máy bay tiêm kích bom là Su-17M4, gia nhập dòng Su-17 đầu những năm 80. Máy bay được trang bị tổ hợp kính ngắm – dẫn đường PrNK-54 với máy đo xa – chỉ thị muc tiêu bằng laze “Clen”, hệ thống dẫn đường quán tính, máy tính điện tử. Để làm mát thiết bị điện tử, trên bộ phận trước sống thân có một cửa thông gió. Máy bay được xuất khẩu dưới tên gọi Su-22M4 với động cơ AL-21F-3. Phiên bản trinh sát Su-17M3-R và Su-17-M4-R được trang bị các thùng dành cho tổ hợp thiết bị trinh sát. Để huấn luyện phi công, 2 phiên bản Su-17UM và Su-17 và Su-17UM3. Các phiên bản xuất khẩu của dòng máy bay này mang tên Su-22U, Su-22UM3, Su-22UM3K (với động cơ AL-21F-3).

Các thông số kỹ thuật cơ bản:

Tên gọi: Sukhoi Su-17M4

Động cơ: động cơ tuabin phản lực đốt sau NPO “Saturn” AL-21F-3 sức kéo 7800/11 200kg lực

Sải cánh: 13,68/10,2m

Chiều dài: 19,02m

Chiều cao: 5,13m

Diện tích cánh: 38,49/34,45m2

Trọng lượng: tĩnh: 10 767kg; cất cánh tối đa: 19 630kg

Tốc độ tối đa trên độ cao 10 000m: 1850km/h

Trần bay thực tế: 14 000m

Bán kích hoạt động: 1150km

Trang bị: 2 pháo 30mm NR-30, tải trọng chung – 1000kg (tên lửa điều khiển X-25 hoặc X-29, khối rocket, các loại bom).

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/P1060209.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 28 Tháng Tám, 2010, 02:56:14 pm
Su-17:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Su-17.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/su17_5.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/su17.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 28 Tháng Tám, 2010, 02:57:20 pm
Su-17M2:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/S-17M2.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Su-17m2.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 28 Tháng Tám, 2010, 02:58:22 pm
Su-17M3:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Sukhoi_Su-17M3.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/su-17m31.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 28 Tháng Tám, 2010, 02:59:15 pm
Su-17M4:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/su-17-m4.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Su-17m4.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/SukhoiSu-17Fitter-Su-17M4.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 28 Tháng Tám, 2010, 02:59:51 pm
Su-7B:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/su-7b.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/su7.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 04 Tháng Chín, 2010, 01:56:17 am
32. Sukhoi Su-24

Năm 1963, Phòng thiết kế P. O. Sukhoi đã bắt đầu công việc thiết kế trên máy bay tiêm kích bom S6 để hoạt động tầm thấp nhằm chống lại các mục tiêu trên mặt đất. Hệ thống máy ngắm dẫn đường “Puma” được thiết kế một cách đặc biệt dành cho máy bay. Tuy nhiên, chương trình thiết kế S6 đã bị ngưng lại một cách nhanh chóng và vào năm 1964, các công trình sư đã nghiên cứu mẫu máy bay tiêm kích bom mới T6 với khả năng cất và hạ cánh trên đường băng ngắn, có cánh hình tam giác được bố trí cao và ngoài 2 động cơ đuôi, còn có 4 động cơ nâng bố trí trong phần giữa thân. Nhưng thiết kế này đã không thành công và theo thứ tự, T6-2I, được trang bị có dạng hình học thay đổi và không có động cơ nâng. Chuyến bay đầu tiên được thực hiện ngày 17 tháng 1 năm 1970. Năm 1972, máy bay được đưa vào sản xuất và nhận tên gọi Su-24. Trên máy bay lắp hai đọng cơ tuabin phản lực đốt sau AL-21F-3 và hệ thống máy ngắm dẫn đường PNS-24 “Puma” bao gồm đài ra đa định vị dạng trước “Orion A” và đài ra đa định vị xác định vị trí địa hình “Relef”. Phi công và pháo thủ được bố trí ngòi cạnh nhau trong cabin. Su-24 có thể mang bom hạt nhân, tên lửa điều khiển lớp “không đối đất” Kh-23 hoặc Kh-28, đồng thời có thể mang các loại bom thường và giỏ phóng rocket.

Su-24M và các phiên bản

Phiên bản nâng cấp của máy bay ném bom Su-24M gia nhập biên chế các lực lượng Không quân Liên Xô năm 1983. Su-24M được trang bị thiết bị tiếp dầu trên không và hệ thống đo xa – định vị PNS-24 “Tiger” hiện đại hơn với tổ hợp quang học điện tử “Kaira-24”, cho phép sử dụng các loại tên lửa điều khiển mới nhất và hệ thống dẫn đường vô tuyến. Bên ngoài máy bay khác với máy bay cùng dòng ở phần mũi được kéo dài và phần đuôi hơi nén (tóp). Phiên bản xuất khẩu Su-24MK với sự rút gọn trang thiết bị điện tử và trang bị được xuất khẩu sang Iran, Iraq, Algieri, Lybia và Syria. Su-24M được tiếp nhận đồng thời với các loại máy bay tiếp dầu với tổ hợp tiếp dầu trên không UPAZ. Phiên bản trinh sát Su-24R trang bị đài ra đa định vị bên thành; các cặp máy ảnh và hệ thống hồng ngoại. Với trang bị được bố trí trong thân và trên các thùng treo, máy bay có khả năng thực hiện nhiệm vụ trinh sát trong trong điều kiện ban ngày và ban đêm ở cự ly 400km trên mặt trận. Su-24MP với thùng treo đài rải nhiễu chủ động (tích cực) được sử dụng hỗ trợ cho các hoạt động của Không quân trong điều kiện phải đối đầu với hệ thống phòng không mạnh của đối phương.

Các thông số kỹ thuật cơ bản:

Tên gọi: Sukhoi Su-24M

Động cơ: động cơ tuabin phản lực đốt sau NPO “Saturn” AL-21F-3A; sức kéo: 2x11 200kg lực

Sải cánh: 17,64/10,37m

Chiều dài: 24,53m

Chiều cao: 6,19m

Diện tích cánh: 55,17/51,02m2

Trọng lượng: tĩnh: 22 320kg; cất cánh tối đa: 39 700kg

Tốc độ tối đa trên độ cao lớn: 1700km/h

Trần bay thực tế: 11 000m

Bán kính hoạt động với trang bị vũ khí: 560km

Trang bị: pháo 23mm GSh-6-23M, tải trọng chung: 8 000kg (tên lửa điều khiển laze và đầu đạn tự dẫn đường bằng vô tuyến; các giỏ phóng rocket; các loại bom thường).

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/P1060210.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 04 Tháng Chín, 2010, 01:57:41 am
Máy bay tiêm kích bom Su-24:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/su-24_01.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Su-24_Fencer.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Sukhoi_Su-24.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 04 Tháng Chín, 2010, 01:58:43 am
Su-24M:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/su-24m.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Su-24mp1.jpg)

Su-24MP:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Su-24MP.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 04 Tháng Chín, 2010, 01:59:17 am
Su-24MK:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Su-24mk.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Su-24mk1.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 04 Tháng Chín, 2010, 02:00:09 am
Bản vẽ thiết kế Su-24 (phiên bản"M"):

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/su-24banve1.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/su24banve.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 04 Tháng Chín, 2010, 03:41:41 pm
33. Sukhoi Su-25

Các nhà quân sự Liên Xô đã quay lại với quan điểm của loại máy bay hỗ trợ trực tiếp cho lục quân vào cuối những năm 60 (thế kỷ XX). Nguyên mẫu máy bay cường kích phản lực với tổ hợp máy ngắm – dẫn đường của Su-17M2 cất cánh lần đầu tiên vào ngày 22 tháng 2 năm 1975. Các mẫu thử nghiệm sau đó được trang bị động cơ R-95Sh (phiên bản của động cơ tuabin phản lực đốt sau R-13F-30), pháo 2 nòng 30mm và hệ thống máy ngắm – dẫn đường của Su-17M3. Trong quá trình thử nghiệm, máy bay cường kích được trang bị cabin hàn từ giáp titan, có một vài sự thay đổi về cánh đuôi ngang và các cánh khác, trên đầu mút có gắn thùng với các tấm hãm. Kinh nghiệm chiến tranh tại Afghanistan đã dẫn tới việc trang bị cho Su-25 các thiết bị dành cho việc rải nhiễu và bắn bẫy hồng ngoại. Từ năm 1987, bắt đầu sản xuất máy bay với động cơ tuabin phản lực R-195 với các tấm chắn tia hồng ngoại. Seri sản xuất Su-25 kết thúc năm 1992 và đã có khoảng 700 máy bay được sản xuất với các biến thể khác nhau. Đã có 330 Su-25, bao gồm các phiên bản xuất khẩu Su-25K được bán ra nước ngoài – Bungari, Tiệp Khắc, Irap và Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên.

Phiên bản huấn luyện

Máy bay huấn luyện chiến đấu Su-25UB có sống thân cao hơn và thân kéo dài với sự bố trí ghế phi công tiếp đôi. Phiên bản xuất khẩu Su-25UBK được chuyển giao cho Bungari, Tiệp Khắc, Iraq và Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên. Trên máy bay huấn luyện Su-25UT (Su-28) có lắp hệ thống vũ khí, và máy được đực sự dụng nhằm huấn luyện cho phi công thuộc Không quân và Hải quân. Su-25UGT – phiên bản trên boong tàu với gầm được tăng cường và có móc hãm.

Su-39 (Su-25TM)

Su-39 (tên gọi ban đầu là Su-25TM) được thiết kế trên cơ sở Su-25UB và được giới thiệu là một phiên bản nâng cấp một cách mạnh mẽ. Thay thế cho ghế ngồi sau là thiết bị điện tử hàng không và thùng nhiên liệu dự trữ. Để hoạt động ban đêm, máy bay được trang bị hệ thống máy ngắm vô tuyến “Mercury” với màn hình trên kính chắn gió có hệ thống dẫn đường quán tính và hệ thống quang học điện tử điều khiển tên lửa chống tăng “Vikhr” với máy đo xa laze.

Các thông số kỹ thuật chính:

Tên gọi: Sukhoi Su-25

Động cơ: động cơ tuabin phản lực R-195 (Phòng thiết kế S. C. Tumanski) sức kéo: 2x4500kg lực

Sải cánh: 14,36m

Chiều dài: 15,53m

Chiều cao: 4,80m

Diện tích cánh: 33,70m2

Trọng lượng: tĩnh: 9500kg; cất cánh tối đa: 17 600kg

Tốc độ tối đa gần mặt đất: 975km/h

Trần bay thực tế: 7000m

Bán kính hoạt động: 550km

Trang bị: pháo 30mm GSh-2-30; tải trọng chung: 4400kg (tên lửa điều khiển R-60; S-25; Kh-29L; giỏ phóng rocket; thùng và các loại bom thường).

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/P1060211.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 04 Tháng Chín, 2010, 03:42:52 pm
Su-25:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/su25_frente.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Su25Frogfoot.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/su25Frogfoots1.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 04 Tháng Chín, 2010, 03:44:47 pm
Su-25UB:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/su-25ub2.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/su-25ub1.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/su-25UB.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 04 Tháng Chín, 2010, 03:46:08 pm
Su-25UT:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Su-25ut.jpg)

Su-25UTG:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Su-25UTG.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 04 Tháng Chín, 2010, 03:48:32 pm
Su-39:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/su39.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/su-39.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 04 Tháng Chín, 2010, 03:50:18 pm
Bản vẽ thiết kế Su-25:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/sukhoi_su_25_frogfoot-18713.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/freesu25ublinedrawing.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 05 Tháng Chín, 2010, 07:06:51 pm
34. Sukhoi Su-27

Công việc thiết kế máy bay tiêm kích thế hệ thứ 4 được bắt đầu tại Phòng Thiết kế P. O. Sukhoi năm 1969. Máy bay được thiết kế để đối đầu với F-15 và phải có tầm bay xa và trang bị mạnh. Nguyên mẫu của máy bay mang tên T-10 cất cánh lần đầu ngày 20 tháng 5 năm 1977. Các kiểm tra thí nghiệm đã xuất hiện hàng loạt các lỗi trong cấu trúc máy bay, vì thế thiết kế T-10 đã được thiết kế lại từ căn bản. Máy bay thử nghiệm thứ 7 T-10S-1, bay ngày 20 tháng 4 năm 1981, có cánh, thân và gầm mới hoàn toàn. Trên phiên bản rút gọn của máy bay P-42 với sự tăng cường động cơ đã thiết lập 27 kỷ lục thế giới, trong đó có tăng tốc và độ bay cao. Trong biên chế lực lượng Không quân Liên Xô, Su-27 được tiếp nhận năm 1984 sau khi khắc phục vấn đề với ra đa định vị bên thành máy bay. Hiện nay, các máy bay Su-27 có mặt trong Không quân Nga và Ukraina và được tiếp nhận trong vai trò máy bay tiêm kích chiến trường hạng nặng của lực lượng Phòng không.

Trang thiết bị điện tử hiện đại hóa

Trên Su-27 có lắp đài ra đa định vị xung động Dople, bổ sung tổ hợp kính ngắm quang điện với đài định vị quan điện và hệ thống chỉ thị mục tiêu trên mũ. Đây là tổ hợp cho phép phi công phát hiện, phối hợp và bắn cháy mục tiêu mà không cần sử dụng đài ra đa định vị trong các điều kiện thời tiết đơn giản. Chuyến bay đầu tiên của nguyên mẫu máy bay huấn luyện chiến đấu Su-27UB vào ngày 7 tháng 5 năm 1985. Đây là phiên bản khác biệt bởi có 2 chỗ ngồi trong ca bin và tăng diện tích cánh đuôi đứng cùng với tấm hãm. Su-27UB được tiếp nhận đồng thời để thí nghiệm thiết bị tiếp dầu mới trên không và trang bị để thay đổi véc-tơ lực. Điều này làm cho Su-27UB trở thành máy bay khai sinh cho dòng Su-27 hai chỗ ngồi. Su-27 PU (sau này là Su-30) với cần tiếp dầu trên không được tháo bỏ, tăng cường cánh giữa và gầm, được thiết kế như máy bay tiêm kích đánh chặn tầm xa. Với việc lắp trong cabin của phi công máy quay phim hồng ngoại phân tích bối cánh chiến thuật, Cu-30 có thể hoạt động trong vai trò máy bay cảnh báo sớm loại nhỏ (mini AWACS). Phiên bản một chỗ ngồi Su-27P dành cho hệ thống phòng không thực tế không khác với Su-27. Phiên bản sau của Su-30 mang tên Su-30MK là máy bay đa chức năng và đã được xuất khẩu sang Ấn Độ.

Các thông số kỹ thuật cơ bản:

Tên gọi: Sukhoi Su-27

Động cơ: động cơ tuabin phản lực xoay chiều NPO “Saturn” AL-31F; 2x7600/12 500kg lực

Sải cánh: 14,70m

Chiều dài: 21, 935m

Chiều cao: 5,932m

Diện tích cánh: 62m2

Trọng lượng: tĩnh: 16 000kg; cất cánh tối đa: 30 000kg

Tốc độ tối đa trên độ cao 11 000m: 2500km/h

Tốc độ nâng gần mặt đất: 18 300m/phút

Trần bay thực tế: 18 500m

Bán kính hoạt động: 1500km

Trang bị: pháo 1 nòng 30mm GSh-30; tải trọng chung: 6000kg (10 móc treo cho 6 tên lửa điều khiển tầm trung R-27; 4 tên lửa tầm gần R-73).

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/P1060213.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 05 Tháng Chín, 2010, 07:08:05 pm
Su-27:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Su-27.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Su-27_on_landing.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/kubinka2007010.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 05 Tháng Chín, 2010, 07:08:58 pm
Su-27UB:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/sukhoi-27ub1.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/sukhoi-27UB.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Sukhoi-Su-27UB.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 05 Tháng Chín, 2010, 07:10:15 pm
Su-27SK

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/su27sk.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/su-27sk_0002.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/su27_1sk.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 05 Tháng Chín, 2010, 07:12:12 pm
Su-30 (Su-27PU) (phiên bản MK):

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/su-30_1024001.jpg)

(http://[http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Su30MkClimbing.jpg/img][img]http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/sukhoi-su-30mk.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 05 Tháng Chín, 2010, 07:13:18 pm
Bản vẽ thiết kế Su-27:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/su27_3vbanve.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/su27-1banve.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 11 Tháng Chín, 2010, 10:32:23 pm
35. Sukhoi Su-33/34/35

Năm 1985, mẫu máy bay mới T-10-24 đã được thử nghiệm. Mẫu mới trang bị cánh bằng trước để tăng cường tính năng khí động học. Sau đó, thiết kế này đã trở thành tiêu chuẩn cho phiên bản Su-27 mới. Máy bay được sử dụng trên boong tàu sân bay với tên gọi Su-27K (dòng máy bay mới mang tên Su-33) với cánh gấp và sự ổn định, tăng cường gầm và móc treo dưới cánh. Tổ hợp điện tử hàng không được thiết kế hoàn thiện nhằm đáp ứng các yêu cầu cơ bản, hệ thống điện tử điều khiển từ xa được lắp thêm đồng thời với hệ thống tiếp dầu trên không. Ngày 1 tháng 11 năm 1989, Su-27K đã hạ cánh trên boong tàu sân bay tên lửa hạng nặng “Tbilisi”.

Su-35 và Su-34 (Su-27IB)

Các công việc nâng cấp máy bay tiêm kích hạng nặng tiếp sau đó đã cho ra đời máy bay đa năng Su-27M (sau này là Su-35), nhằm tấn công các mục tiêu cả trên không lẫn mặt đất. Máy bay theo nguyên tắc được trang bị những thiết bị điện tử hàng không mới nhất, bao gồm các bộ phận thông minh, cánh đuôi bằng trước và tăng cường cánh đuôi đứng từ sợi các-bon và thùng nhiên liệu kín. Trong phần mũi lớn hơn của thân bố trí đài ra đa định vị đa chế độ, có khả năng phát hiện mục tiêu trên không ở cự lý 400km (dưới mặt đất – 200km), theo dõi đồng thời 15 mục tiêu và tiêu diệt cùng lúc 6 mục tiêu trong số đó. Trong bộ phận chụp đuôi bố trí đài ra đa định vị tìm kiếm đằng sau, cho phép dẫn bắn tên lửa điều khiển tới mục tiêu đằng sau máy bay. Hệ thống rải nhiễu tự động (như trên Mig-31) mang đến cho Su-35 khả năng hoạt động hiệu quả nhất trong dòng. Một trong những biến thể cuối cùng của dòng Su-27 là Su-34. Su-34 được thiết kế nhằm thay thế máy bay cường kích Su-24. Nguyên mẫy của máy bay, T-10B-1 (Su-27UB được trang bị lại) đã hoàn thành lần bay đầu tiên trong tháng 4 năm 1990. Máy bay được trang bị bộ phận mũi thân mới, trong đó bố trí cabin bọc thép và ghế ngồi cạnh nhau cho phi công và pháo thủ. Máy bay được trang bị hệ thống điện tử điều khiển từ xa kỹ thuật số, cánh trước bằng, động cơ AL-31F với cửa thông gió không đều, đài ra đa định vị nhiều chế độ, đài ra đa định vị quan sát đằng sau, hệ thống dẫn đường quán tính, thiết bị tiếp nhận sự dẫn đường vệ tinh, hệ thống xác định vị trí địa hình tự đồng, màn hình ảo trên kính chắn gió, hệ thống chỉ định mục tiêu trên mũ phi công, màn hình đa năng tinh thể lỏng, thiết bị tiếp dầu trên không và 12 móc treo các loại vũ khí có độ chính xác cao khác nhau.

Các thông số kỹ thuật chính:

Tên gọi: Sukhoi Su-34

Động cơ: động cơ tuabin phản lực xoay chiều AL-31F; 2x7600/12 500kg lực

Sải cánh: 14,7m

Chiều dài: 23,34m

Chiều cao: 6,36m

Diện tích cánh: 62m2

Trọng lượng cất cánh tối đa: 44 360kg

Tốc độ tối đa trên độ cao lớn: 1900kh/h

Trần bay thực tế: 15 000m

Bán kính hoạt động: 1130km

Trang bị: pháo GSh-301; tải trọng chung: 8000kg (tên lửa điều khiển với đầu đạn dẫn đường vô tuyến; tên lửa chống tàu, tên lửa chống ra đa, các loại bom điều khiển, ngư lôi).

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/P1060214.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 11 Tháng Chín, 2010, 10:33:52 pm
Su-33:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/su-33.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Su-33-2.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Su-33-1.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 11 Tháng Chín, 2010, 10:35:36 pm
(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/su33_3.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/su33l.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/su-33-2007.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 11 Tháng Chín, 2010, 10:37:38 pm
Su-34:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/NAPO-Su-34-1.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/sukhoi_su34.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/su-34.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 11 Tháng Chín, 2010, 10:39:04 pm
(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/su34_large.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/NAPO-Sukhoi-34.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/NAPO-Su-34-5.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 11 Tháng Chín, 2010, 10:44:14 pm
Su-35:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Su-35-Russian-airforce.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Su35b_KnAAPO.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/SU_35BM.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 11 Tháng Chín, 2010, 10:46:44 pm
(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/su35.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/su-35.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/sukhoi35.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 23 Tháng Chín, 2010, 12:21:07 am
36. Tupolev TU-16

Sự thiết kế loại máy bay ném bom phản lực tầm xa với dạng cánh hình mũi tên được bắt đầu tại Phòng thiết kế thí nghiệm A. N. Tupolev năm 1948. Sau khi thiết kế hàng loạt các công trình khác nhau, máy bay mới đã xuất hiện vơi tên gọi “88” với chuyến bay đầu tiên ngày 27 tháng 4 năm 1952. Phiên bản rút gọn TU-16, được sản xuất hàng loạt năm 1953, còn năm sau, những máy bay chiến ném bom đầu tiên đã gia nhập biên chế trực chiến. Trên cơ sở máy bay, đã phát triển thành các phiên bản khác nhau; trong đó: TU-16A: mang vũ khí hạt nhân; TU-16T – máy bay phóng ngư lôi và phiên bản tìm kiếm cứu nạn TU-16S với xuồng con “Frigate” trong bụng. TU-16H – máy bay tiếp liệu theo hệ thống “ống dẫn - ống hút”.

Phiên bản mang tên lửa

TU-16KS sử dụng trong mục đích chống lại các mục tiêu nổi, có thể mang hai móc treo ở cánh tên lửa chống tàu KS-1 – tỏ hợp điều khiển và máy tính bố trí trong bụng. TU-16K-10 với sự tăng cường mũ chụp đầu có đài ra đa định vị EH trong mũi được trang bị tên lửa có cánh K-10S bố trí trong thùng treo tại vị trí nửa chìm. Một số TU-16 sản xuất khi trước đã chuyển thành TU-16K-16 với loại tên lửa (đạn bay) KSR-2 hoặc KSR-11 trên các móc treo dưới cánh. Pháo mũi của những máy bay này bị tháo, thay vào đó là ăn ten trinh sát “Ritsa” và đài ra đa định vị “Rubin-1KB”. Phiên bản Tu-16K-26 trang bị móc treo cho tên lửa KSR-15. Phiên bản TU-16K xuất khẩu sang Indonesia, Iraq và Ai Cập.

Các phiên bản đặc biệt

Máy bay trinh sát TU-16R trang bị tổ hợp máy quay phim hoạt động trong điều kiện ban ngày lẫn ban đêm. Dưới cánh máy bay có thể treo các thùng dành cho thiết bị trinh sát vô tuyến và phóng xạ. TU-16P trang bị các hệ thống khác nhau nhằm chế áp các thiết bị điện tử của đối phương. Giấy phép sản xuất TU-16 được chuyển cho Trung Quốc và đã sản xuất từ năm 1968 đến đầu những năm 90. Trong biên chế Hải quân và Không quân Trung Quốc có khoảng 100 máy bay dưới tên gọi H-6A và H-6D. Máy bay mang tên lửa H-6D trang bị 2 tên lửa chống tàu C-601.

Các thông số kỹ thuật cơ bản:

Tên gọi: Jian B-6D (H-6D)

Động cơ: động cơ tuabin phản lực 3M-500; 2x9500kg lực

Sải cánh: 34,19m

Chiều dài: 34,80m

Chiều cao: 10,355m

Diện tích cánh: 167,55m2

Trọng lượng: tĩnh: 38 530kg; cất cánh tối đa: 75 800kg

Tốc độ tuần tra với 2 tên lửa chống tàu C-601: 786km/h

Tốc độ nâng gần mặt đất: 1140m/phút

Trần bay thực tế: 12 000m

Bán kính hoạt động: 1800km

Trang bị: 6 pháo, tải trọng chung: 9000kg (trong đó có 2 tên lửa chống tàu C-601).

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/P1060217.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 23 Tháng Chín, 2010, 12:22:40 am
Một số hình ảnh về TU-16:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Tu-16_01.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/tu16.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Tu-16_.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 23 Tháng Chín, 2010, 12:23:56 am
(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/tu-16_04.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Tu-16_Badger.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/tu-16-DNs.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 23 Tháng Chín, 2010, 12:24:47 am
Bản vẽ thiết kế TU-16:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/btu16_vl.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/tupolev_tu16_3v.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 28 Tháng Mười, 2010, 01:37:13 am
37. Tupolev TU-22

Tu-22 phản ánh quan điểm của Liên Xô về máy bay ném bom giữa những năm 50, có khả năng đạt tốc độ siêu âm, vượt qua các hệ thống phòng không của kẻ thù. Nguyên mẫu của máy bay dưới tên gọi “105A” cất cánh lần đầu ngày 7 tháng 9 năm 1959. Máy bay có cánh dạng mũi tên, gầm chắc với các cặp bánh kép và hai động cơ VD-7M, bố trí ở phần đuôi. Những chiếc Tu-22B đầu tiên được sản xuất số lượng nhỏ, trang bị các loại bom thường và có khả năng gặp sự cố cao do thiết kế không hoàn thiện.

Các phiên bản sau

Khả năng chiến đấu của máy bay được tăng cường một cách đáng kể bằng việc sử dụng các tên lửa có cánh X-22, bố trí nửa chìm dưới thân máy bay phóng tên lửa Tu-22K. Đài ra đa định vị “PN” dẫn bắn tên lửa nằm ở bộ phận mũi thân. Sau đó xuất hiện phiên bản Tu-22KP với tên lửa chống tàu X-22P. Giữa các phiên bản này là phiên bản máy bay trinh sát Tu-22R, được sử dụng cho nhiệm vụ chụp không ảnh vào bất kỳ thời gian nào trong ngày, đồng thời dành cho trinh sát kỹ thuật vô tuyến và ra đa với sự hỗ trợ của các thiết bị “Romb” và đài ra đa định vị “Rubin-1A”. Những máy bay này được trang bị các đài rải nhiễu tích cực và thụ động. Với việc lắp các thùng rải nhiễu APP-22, Tu-22K và Tu-22R còn có thể được tiếp nhận trong nhiệm vụ chống tác chiến điện tử. Phiên bản đặc biệt chống tác chiến điện tử Tu-22P. Trong năm 1963, trong các lực lượng Không quân xuất hiện phiên bản huấn luyện chiến đấu Tu-22U với ca bin của hướng dẫn viên bó trí trên cabin của học viên. Giữa những năm 60, phần lớn Tu-22 được trang bị thiết bị tiếp liệu trên không, sau đó, tên gọi của chúng có thêm chữ cái chuẩn “D” (ví dụ Tu-22KD). Tu-22R và Tu-22U xuất khẩu số lượng không lớn sang Libia và Iraq. Các máy bay Libia tham chiến ở Sad, Sudan và Tanzania. Tu-22 của Iraq, trong chiến tranh Iraq – Iran đã tấn công các cơ sở công nghiệp và hành chính của Iran. Năm 1988, đã đánh đánh chìm hai tàu chở dầu hạng nặng. Ở Nga, đến thời điểm này, các máy bay Tu-22 đã bị loại khỏi bộ phận tác chiến và phần lớn đã mang đi tháo dỡ. Số còn lại được đưa vào bảo quản.

Các thông số kỹ thuật cơ bản:

Tên gọi: Tupolev Tu-22KD

Động cơ: động cơ tuabin phản lực RD-7M (Phòng thiết kế P.A.Kolecov); 2x16 500 kg lực

Sải cánh: 23,17m

Chiều dài: 42,6m

Chiều cao: 10,13m

Trọng lượng cất cánh: 92 000kg

Tốc độ tối đa ở tầm bay 11 000m: 1610km/h (1500km/h với tên lửa X-22)

Trần bay thực tế: 13 300m

Chiều dài đường băng cất cánh: 2700m

Chiều dài đường băng hạ cánh: 1900m

Tầm hoạt động: 4400km

Trang bị: pháo R-23, tên lửa có cánh X-22.

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/P1060218.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 28 Tháng Mười, 2010, 01:38:51 am
Một số hình ảnh của Tu-22:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/tu22-5.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Tu-22_parked.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 28 Tháng Mười, 2010, 01:40:16 am

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/ru_monino_aircraft_tu22_01.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/TU-22_Blinder.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 28 Tháng Mười, 2010, 01:41:30 am
Tu-22P:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/tu22p-3.jpg)

Tu-22K:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/tu22k-11.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 28 Tháng Mười, 2010, 01:42:26 am
Bản vẽ máy bay ném bom Tu-22:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/tu22-1.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/tu22_1_3v.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 28 Tháng Mười, 2010, 09:11:44 pm
38. Tupolev Tu-22M

Các công việc nhằm hiện đại hóa căn bảo máy bay ném bom Tu-22 được bắt đầu tại Phòng thiết kế A. N. Tupolev băm 1965. Máy bay mới trên thực tế khác biệt hoàn toàn so với dòng Tu-22 trước đó. Máy bay có cánh với công thức hình học thay đổi, động ở bộ phân đuôi thân và các cửa thông gió hai bên thành máy bay. Máy bay thí nghiệm mang tên gọi Tu-22M-O cất cánh lần đầu tiên ngày 30 tháng 8 năm 1969. Tổng cộng có 10 nguyên mẫu Tu-22M-O và 9 Tu-22M-1 đã được sản xuất. Phiên bản sản xuất số lượng lớn Tu-22M-2 với động cơ mạnh hơn đã đạt tốc độ 1800km/h với tầm bay 5100km trong các cuộc thí nghiệm. Máy bay bắt đầu gia nhập lực lượng Không quân năm 1975. Trang bị của Tu-22M gồm 3 tên lửa điều khiển Kh-22 (một lắp nửa chìm trong thân dưới, hai tên lửa treo ở các móc dưới cánh) hoặc bom “ngu” có tổng khối lượng 21 tấn. Khả năng phòng thủ của máy bay mới là 2 pháo 23mm điều khiển từ xa, bố trí ở bán cầu sau thân đuôi.

Tu-22M-3

Tu-22M-3 với các động cơ được hiện đại hóa NK-25 có các cửa hút gió mới với chốt chêm nằm ngang, bộ phận mũi thân nhọn hơn và trang bị 1 pháo GSh 23mm. Góc cực đại của cánh máy bay dạng mũi tên được tăng thêm 5 độ để đạt được các tính năng về tốc độ tốt nhất. Trang bị tên lửa của máy bay được tăng cường một cách đáng kể bằng cách bố trí bổ sung 10 tên lửa đạn đạo tầm gần Kh-15. Máy bay trang bị đài ra đa định vị mạnh “PNA”, hệ thống dẫn đường kép, thước ngắm quang học với kênh vô tuyến, hệ thống điều khiển bay tự động và trang bị tổ hợp lớn các thiết bị chống tác chiến điện tử. Năm 1983, Tu-22M-3 được tiếp nhận vào lực lượng vũ trang và đến nay vẫn tiếp tục được sản xuất. Trên cơ sở máy bay này, phiên bản máy bay trinh sát Tu-22MR với các tổ hợp khí tài kỹ thuật vô tuyến và không ảnh hiện đại. Các thiết kế khác dựa trên cơ sở Tu-22M đã không được đưa vào thực tế. Máy bay ném bom Tu-22M không trang bị thiết bị tiếp dầu trên không, đã được lắp trong các thỏa thuận của hiệp ước Hạn chế vũ khí chiến lược số 2 (START-2). Hiện nay, trong các lực lượng Không quân và Hải quân Nga còn 235 máy bay loại này và 55 chiếc nữa trong lực lượng Không quân Ukraina.

Các thông số kỹ thuật cơ bản:

Tên gọi: Tupolev Tu-22M-3

Động cơ: động cơ tuabin phản lực NK-25 (Phòng thiết kế N. D. Kuznetsov); 2x25 000kg lực

Sải cánh: 34.28/23,30m

Chiều dài: 42,46m

Chiều rộng: 11,05m

Diện tích cánh: 175,8/183,57m2

Tải trọng cất cánh tối đa: 124 000kg

Tốc độ tối đa: 2000km/h

Trần bay thực tế: 13 300m

Bán kính hoạt động: 2200km

Trang bị: pháo GSh 23mm; tải trọng chiến đấu tổng thể: 2400kg (tên lửa điều khiển Kh-22 và Kh-15; bom thường hoặc bom hạt nhân).

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/P1060219.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 28 Tháng Mười, 2010, 09:16:44 pm
Tu-22M:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Tu-22M.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/tupolev_tu-22m_backfire_l1.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 28 Tháng Mười, 2010, 09:17:31 pm

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/tupolev_tu-22m_backfire_l2.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/tu22m.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 28 Tháng Mười, 2010, 09:18:27 pm
Tu-22M3 (Ukraina):

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Tupolev_Tu-22m3.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Tu22M3_13.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 28 Tháng Mười, 2010, 09:19:13 pm
Tu-22M4:

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/tu-22m4a.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Tu-22m4.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 10 Tháng Mười Hai, 2011, 07:02:50 pm
39.
Tupolev Tu-95/142

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/P1060220.jpg)

Sự sản xuất hàng loạt máy bay ném bom liên lục địa Tu-95 được bắt đầu ở Kuybưshev năm 1955. Sau đó hai năm đã tiếp nhận vào biên chế phiên bản nâng cấp Tu-95M với 4 động cơ tuabin cánh quạt NK-12M và tăng cường nhiên liệu dự trữ. Gần 50 máy bay đã được sản xuất trong hai phiên bản có khả năng mang theo các loại bom”ngu. Sự xuất hiện các phiên bản sau của máy bay được phát triển vào cuối những năm 50 có thể khả năng mang theo tên lửa có cánh thế hệ thứ nhất. Máy bay mang tên lửa T-95K được trang bị tên lửa có cánh Kh-20 với tầm bắn xa 600km. Tên lửa treo ở vị trí nửa chìm dưới thân máy bay, còn ở mũi là đài ra đa định vị dẫn bắn mạnh. Sau khi lắp hệ thống tiếp dầu trên không, các máy bay phóng tên lửa loại này nhận tên gọi Tu-95KD. Các máy bay này với thiết bị vô tuyến điện tử trên máy bay được hiện đại hóa được biết đến qua tên gọi Tu-95KM. Trong những năm 70, đội máy bay ném bom hạng nặng một lần nữa được nâng cấp. Tu-95K-22 được giới thiệu là phiên bản được trang bị lại của Tu-95KM với tên lửa Kh-22. Tu-95Rts được phát triển trong vai trò máy bay trinh sát – chỉ thị mục tiêu của Hải quân được trang bị ra đa định vị nhìn vòng mạnh ở nắp chụp dưới thân máy bay, các khí tài trinh sát vô tuyến điện và hệ thống chuyển phát thông tin tới trạm chỉ huy và tàu tên lửa.

Tu-142 và Tu-95MS

Máy bay chống ngầm Tu-142 có phần mũi thân được kéo dài, trong đó bố trí trang bị mới. Trên cánh được gia cố lắp động cơ NK-12MV. Đài ra đa định vị dò tìm lắp ở mũ chụp dưới thân máy bay. Khách hàng nước ngoài duy nhất của Tu-95 là Ấn Độ với 8 Tu-142M với từ kế và hệ thống thước ngắm – tìm kiếm mới “Korshun” để phát hiện tàu ngầm tiếng ồn thấp thế hệ mới. Tu-142MR thay cho đài ra đa định vị có ăng ten lai để đảm bảo thông tin liên lạc với tàu ngầm năm sâu dưới nước. Năm 1981, trong trang bị Không quân Liên Xô tiếp nhận máy bay ném bom phiên bản mới – Tu-95MS với trang bị từ 6 tên lửa có cánh Kh-55 trên móc treo hình trống trong thân. Ngoài ra, có thể trang bị 10 tên lửa tương tự bố trí ở các móc treo bên ngoài. Trên máy bay lắp thiết bị vô tuyến điện hàng không mới, các khí tài đối kháng vô tuyến điện chủ động và thụ động. Tu-95MS được sản xuất đến năm 1992 và hiện nay trong biên chế Không quân Nga còn 63 máy bay. Ở Ucraina còn 23 máy bay nơi chúng đã được mang đến nơi chuẩn bị phá hủy.


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 10 Tháng Mười Hai, 2011, 07:06:49 pm
Các thông số kỹ - chiến thuật

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Tupolev_Tu-95.jpg)

Tên gọi: Tupolev Tu-95MS

Động cơ: động cơ tuabin cánh quạt NK-12MV (Phòng thiết kế N.D.Kuznetsov) 4x15 000 sức ngựa

Sải cánh: 50,04 mét

Chiều dài: 49,13 mét

Chiều cao: 13,2 mét

Khối lượng: rỗng – 94 400kg; cất cánh tối đa: 187 700kg

Tốc độ tối đa trên độ cao 7600 mét: 830km/h

Trần bay thực tế: 10 500 mét

Tầm bay xa: 10 500km

Trang bị: 2 pháo GSh-23; tải trọng chung: 12 000kg (tên lửa có cánh Kh-55; các loại bom thường).


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 10 Tháng Mười Hai, 2011, 07:08:20 pm
Tu-95

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Tu-95.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/ef_tu95bear.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Tu95.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 10 Tháng Mười Hai, 2011, 07:10:26 pm
Tu-142

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Tu1424807d3.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Tu-142f.jpg)

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/Tu-142.jpg)


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 03 Tháng Mười, 2012, 03:09:23 pm
Tupolev Tu-160

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/P1150963.jpg)

Tu-160 được sử dụng nhằm thực hiện các cuộc tấn công bằng bom hạt nhân cũng như bom thường vào các mục tiêu quan trong nhất được bố trí sâu trong lãnh thổ đối phương.  Để làm nhiệm vụ này máy bay được trang bị các khí tài vô tuyến điện mang theo hiện đại, có tốc độ bay cáo và các thông số bay tốt. Vũ khí của Tu-160 cho phép sử dụng nó thực tế chống lại các mục tiêu trên biển và trên bộ. Trong 2 thùng phóng, máy bay ném bom có thể mang 12 tên lửa có cánh Kh-55 tầm bắn 3000 kilomet

Cấu tạo

Tu-160 là máy bay với cánh máy bay dạng hình học không cố định và bố cục tích phân bộ phận trung tâm của máy bay. Trong cấu trúc máy bay sử dụng hợp kim titan và vật liệu composite. Thiết bị điện tử điều khiển từ xa đảm bảo cho máy bay ném bom các thông số ổn định tối ưu và khả năng điều khiển trên mọi tầm cao. Cabin phi công trang bị hệ thống điều khiển bằng tay kiểu “máy bay tiêm kích” và các khí tài cơ khí điện tử tiêu chuẩn. Ở đằng sau cabin có nhà vejesinh, bếp và giường gấp để nghỉ ngơi. Máy bay được trang bị đài ra đa định vị đạo hàng – ngắm “Obzor-K”, thước ngắm ném bom quang điện, ra đa tìm phương hồng ngoại, tổ hợp thông tin liên lạc chống nhiễu, hệ thống dẫn đường quán tính và khí tài bắn bẫy nhiễu hồng ngoại, thả mồi nhiễu. Hệ thống tiếp nhiên liệu trên không mang lại cho Tu-160 khả năng thực hiện việc bay xuyên lục địa.

Khai thác sử dụng

Tu-160 lần đầu tiên cất cánh 18 tháng 12 năm 1981, các máy bay đầu tiên được biên chế vào trung đoàn 184 đóng ở Ucraina (thành phố Priluki) từ tháng 4 năm 1987. Tới khi Liên Xô tan vỡ, số lượng máy bay trong trung đoàn là 19. Kế hoạch ban đầu là đóng 100 máy bay loại này, nhưng vào tháng 1 năm 1992, tổng thống Eltsin đã tuyên bố dừng đóng Tu-160. 19 máy bay ném bom ở Ucraina trở thành nguyên nhân các cuộc tranh cãi kéo dài – cuối cùng là 8 trong số đó được bán lại cho Nga, các máy bay còn lại được dự kiến tiêu hủy một cách trang trọng. Sau khi khôi phục sản xuất, một số Tu-160 được biên chế vào trung đoàn máy bay ném bom số 1 đóng căn cứ ở thành phố Enghen.

Các thông số kỹ - chiến thuật

Tên gọi: Tupolev Tu-160

Động cơ: động cơ tuabin phản lực tăng lực 2 mạch vòng NK-32 (Phòng thiết kế N.D.Kuznetsov) 4x14000/25000 kg lực

Sải cánh: 55,7/35,6 mét

Chiều dài: 54,1 mét

Chiều cao: 13,1 mét

Diện tích cánh: 360/400m2

Khối lượng: rỗng – 110 000kg; cất cánh tối đa: 27 500kg

Tốc độ bay tối đa trên độ cao lớn: 2200km/h

Trần bay thực tế: 16000 mét

Tầm bay: 13200km

Vũ khí: tổng tải trong chiến đấu – 40000kg (12 tên lửa có cánh Kh-55 hoặc 24xKh-15, bom không điều khiển, tên lửa điều khiển).


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 03 Tháng Mười, 2012, 03:42:30 pm
Beech C-12/RC-12

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/P1150964.jpg)

Trên cơ sở “King Eyre” được chế tạo trên cơ sở máy bay chở khách lớn hơn Beech “Super King Eyre” 200 với 2 động cơ tuabin cánh quạt chở được 6-10 người. Theo so sánh với các dòng máy bay trước, máy bay mới có cánh đuôi dạng chữ T, tăng sải cánh, nhiên liệu dự trữ lớn và cabin được làm kín hơn. “Super King Eyre” đã chứng tỏ là một thiết kế thành công khi thực tế toàn bộ các quân chủng trong quân đội Mỹ đã sử dụng nó cho mục đích vận tải và trong vai trò máy bay đặc nhiệm. Máy bay nhận tên gọi C-12/UC-12 và đến bây giờ, trong trang bị còn có hơn 300 máy bay loại này. UC-12 có mặt trong biên chế hải quân và thủy quân lục chiến Mỹ, làm nhiệm vụ hậu cần và vận tải hàng hóa. “Super King Eyre” có mặt trong quân đội các nước Argentina, Bolivia, Canada, Chile, Colombia, Ecuador, Ai Cập, Hy Lạp, Goatemala, Gana, Hồng Kông, Indonesia, Nhật Bản, Sri-Lanka, Tây Ban Nha, Pakistan… Phiên bản máy bay tuần tra biển với đài ra đa định vị đang hoạt động ở Algieri, Peru và Uruguay.

Các phiên bản của RS-12

Một số phiên bản C-12 được chế tạo đặc biệt để nghe (lén) kênh thông tin của đối phương. Thông thường, chúng có số lượng lớn ăng ten ngoài và hệ thống điện tử hàng không phức tạp tương ứng. Phiên bản đầu tiên là RU-21J với cabin lắp cửa kính – một cách đúng nghĩa là lắp phương tiện ghi chép điện tử để thu thập và giải mã sự truyền thanh vô tuyến. RC-12D có hơi khác theo chiều rộng lưới ăng ten của các ăng ten dạng dao và lưỡng cực và theo các thùng lớn với các khí tài tác chiến điện tử. Hai phiên bản rất giống nhau, RC-12G và RC-12H chỉ khác nhau theo khối lượng và trang bị khí tài. Phiên bản được sản xuất chủ yếu là RC-12K trang bị kết hợp áp dụng trinh sát điện và vô tuyến. 34 máy bay loại này đã được quân đội Mỹ đặt mua và bán cho các nước Châu Âu. RC-12K theo so sánh với các dòng trước có số lượng ăng ten lớn hơn. Một số phiên bản nâng cấp của nó – RC-12N. Hai RC-12 của hải quân Mỹ được trang bị cho thực hiện các công việc cứu nạn và bố trí đài ra đa định vị trong mũ chụp dưới thân máy bay.

Các thông số kỹ - chiến thuật

Tên gọi: Beech RC-12K

Động cơ: tuabin cánh quạt Pratt Witney Canada PT6A-41, 2x1100 sức ngựa

Sải cánh: 17,63 mét

Chiều dài: 13,34 mét

Chiều cao: 4,57 mét

Diện tích cánh: 28,15m2

Khối lương: rỗng: 3327kg; cất cánh tối đa: 7384kg

Tải trọng có ích: 1043kg

Tốc độ tối đa ở độ cao 4256 mét: 481km/h

Trần bay thực tế: 9420 mét

Chiều dài chạy đà: 869 mét

Chiều dài hạ cánh: 766 mét

Tầm bay: 2935km.


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 04 Tháng Mười, 2012, 04:35:42 pm
Bell 205/212 UH-1D/N “Iroguois”

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/P1150965.jpg)

Trực thăng Bell 205 “Iroguois” được chế tạo trên cơ sở Bell 204, lần đầu tiên cất cánh tháng 8 năm 1961. Nó được trang bị động cơ tuabin trục T53 với cánh quạt đường kính lớn chịu tải nặng, có nhiên liệu dự trữ được tăng cường và thân dài hơn, cho phép nó mang được, ngoài phi công, thêm 12-14 lính đổ bộ, 6 băng ca với nhân viên cứu thương hoặc 1814kg hàng hóa. Đối với quân đội Mỹ, dã chế tạo hơn 2000 UH-1D, đã được thay thế bằng các trực thăng UH-1H với động cơ mạnh hơn. Trong dòng “Iroguois” có thể chia thành các phiên bản sau, như là EH-1H – để rải nhiễu, JUH-1H với ra đa mạnh và UH-IV – trực thăng tìm kiếm – cứu nạn. Ở Canada đã xuất hiện phiên bản huấn luyện CUN-1H. Dành cho không quân Mỹ đã thiết kế máy bay cứu nạn HH-1H. Tổng cộng đã sản xuất 5373 trực thăng UH-1H, vì thể số lượng đáng kể của chúng sẽ còn tiếp tục phục vụ trong quân đội trong thế kỷ XXI. Các máy bay loại này được bán cho gần 50 nước. Trên trực thăng quân sự “Huey” đã lắp khí tài trang thiết bị điện tử hàng không hiện đại, đồng thời cánh quạt mới từ vật liệu composite. Các đối tác nước ngoài cũng tỏ ra quan tâm tới việc nâng cấp các trực thăng cũ. Đối với sự nâng cấp của chúng đã có 3 phiên bản. Trong cơ sở đầu tiên lắp động cơ và chất lượng cơ khí hiện đại của trực thăng, sẽ dẫn tới tăng tầm bay xa và tải trọng. Với mục đích này, đã thiết kế 3 phiên bản – Bell UH-1P “Huey” II, “Huey” 800 và UH-1/T700 “Ultra Huey”. Trên phiên bản cuối cùng lắp động cơ GE T700.

Mẫu (model) 2 tuabin 212/UH-1N

Model 212 được giới thiệu là trực thăng UH-1H 2 tuabin. Hai động cơ tuabin trục PT6T được bố trí cạnh nhau và quay 1 trục. Phiên bản chính cho hải quân Mỹ và thủy quân lục chiến là HH-1N, được sử dụng trong vào trò trực thăng vận tải và yểm trợ hỏa lực. 79 trực thăng UH-1N được sử dụng tham gia các chiến dịch đặc biệt của không quân Mỹ. Công ty “Agusta” sẽ sản xuất trực thăng này theo giấy phép dưới tên gọi AB212, đồng thờ chế tạo nó trên cơ sở phiên bản hải quân AB-212ASW. Dòng sau có thiết bị thủy âm định vị “Bendics”, ra đa tìm kiếm và có khả năng mang ngư lôi, tên lửa chống tàu.

Các thông số kỹ - chiến thuật

Tên gọi: Bell Helicopter Textron Model 205/UH-1H “Iroguois”

Động cơ: động cơ tuabin trục Tekstron “Laicoming” T53-L13 công suất 1400 sức ngựa

Đường kính chong chóng: 14,63 mét

Chiều dài tổng thể/thân: 17,62/12,77 mét

Chiều cao: 4,41 mét

Khối lượng: rỗng: 2363kg; mang theo quân đổ bộ: 2520kg; cất cánh tối đa: 4309kg; tải trọng tối đa: 1759

Tốc độ tuần tra: 204km/h

Tốc độ nâng gần mặt đất: 488 mét/phút

Trần bay thực tế: 4145 mét

Tầm bay xa: 511km.


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 04 Tháng Mười, 2012, 05:09:53 pm
Bell 206/OH-58 “Combat Scout”

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/P1150966.jpg)

Tháng 3 năm 1969, model 206A “Jet Ranger” – trực thăng hạng nhẹ 5 chỗ - đã được lấy làm cơ sở cho việc chế tạo trực thăng trinh sát hạng nhẹ OH-58 “Kiowa” – đã gia nhập biên chế quân đội Mỹ. Việc mua trực thăng bắt đầu từ 23 tháng 5 năm 1969, trong 5 năm, quân đội đã nhận được 2200 trực thăng. Trong số các nước mua trực thăng gồm có: Úc – 56 (chê tạo theo giấy phép trực thăng “Kalkadun”, Áo – 12 OH-58B và Canada – 74 (COH-58A).

Các phiên bản hiện đại hóa

Từ năm 1987, 585 trực thăng OH-58A đã được nâng cấp và nhận được tên gọi OH-58C. Chúng có kính cabin đắt tiền hơn, động cơ tăng công suất với khí tài để áp chế sự bức xạ quang điện và khí tài điện tử hàng không hiện đại. Năm 1981, đã xuất hiện phiên bản trinh sát OH-58D với việc lắp trên ống trục chong chóng khí tài thước ngắm và khí tài điện tử hàng không chuyên dụng. Kế hoạch ban đầu trang bị lại 592 trực thăng OH-58A đang có trong biên chế quân đội Mỹ thành phiên bản D, sau đó giảm xuống còn 363 trực thăng. 15 trực thăng OH-58D “Prime Chance” năm 1987 một lần nữa chịu sự nâng cấp để chống lại các xuống máy cao tốc của Iran trong vịnh Péc xích và nhận tên gọi “Kiowa Warrior”. Theo kế hoạch tổng thể trang bị lại bao gồm 243 trực thăng – có động cơ và bộ truyền động hiện đại hơn, đài cảnh báo sự chiếu ra đa định vị, hệ thống rải bẫy nhiễu, tăng khối lượng có ích và đơn giản hóa kiến trúc thân. “Kiowa Warrior” đã bắt đầu gia nhập biên chế từ tháng 5 năm 1991.

“Combat Scout”

81 trực thăng “Kiowa Warrior” một lần nữa được nâng cấp để sử dụng trong vai trò trực thăng đa năng. Trên đó lắp khung gầm trượt tuyết, chong chóng gập 4 cánh, thiết bị cân bằng ngang và khí tài đặc biệt đẻ vận tải trên máy bay C-130. Phiên bản 406CS “Combat Scout” được giới thiệu là phiên bản trực thăng đơn giản hóa OH-58D, trong đó giữ lại từ phiên bản nguyên thủy chong chóng đuôi và chong chóng chính cùng thiết bị động lực. Từ tháng 6 năm 1990, 15 trực thăng OH-58 được bán cho Arap Saudi dưới tên gọi MH-58D.

Các thông số kỹ - chiến thuật

Tên gọi: Bell Helicopter Textron Model 406/OH-58D Kiowa Prime Chance

Động cơ: tuabin trục Allison T-73-AD-700 công suất 650 sức ngựa

Đường kính chong chóng chính: 10,67 mét

Chiều dài tổng thể/thân: 12,85/10,48 mét

Chiều cao: 3,93 mét

Diện tích rỗng: 89,37m2

Khối lượng: rỗng: 1381kg; cất cánh tối đa: 2041kg

Tốc độ tối đa: 237km/h

Trần bay thực tế: 3660 mét

Tầm bay xa: 463km

Vũ khí: súng máy 12,7mm, các giỏ cho 7 rocket 70mm, tên lửa điều khiển “Stinger” và “Hellfire”.



Tiêu đề: Máy bay chiến đấu của các nước trên thế giới
Gửi bởi: BOM BI trong 04 Tháng Giêng, 2013, 02:53:13 am
Chủ đề này xin được giới thiệu về một số loại máy bay chiến đấu đang được sử dụng trong các lực lượng không quân trên thế giới sử dụng. Các bài viết còn nhiều khiếm khuyết, có gì mong các bác đóng góp thêm.

Mở đầu xin được giới thiệu về bộ đôi máy bay chiến đấu Mitsubishi F-1/F-2 do tập đoàn Mitsubishi của Nhật Bản chế tạo, hiện đang trang bị trong biên chể lực lượng phòng vệ trên không Nhật Bản.

MITSUBISHI F-1

Nguồn : wikipedia.org, airforce-technology.com, hoangsa.net.

Mitsubishi F-1 là một loại máy bay phản lực tiêm kích của Lực lượng phòng vệ trên không Nhật Bản (JASDF) và là máy bay chiến đấu đầu tiên được chế tạo tại Nhật kể từ khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc. Hai tập đoàn Mitsubishi và Fuji đã cùng hợp tác để phát triển F-1. Mitsubishi F1 có chuyến bay đầu tiên vào năm 1977 và được đưa vào trang bị của JASDF cùng năm.

Năm 2006, Mitsubishi F-1 được ngừng hoạt động hoàn toàn trong JASDF, thay vào đó là Mitsubishi F-2. Như vậy, từ khi bắt đầu đưa vào sử dụng đến khi nghỉ hưu, trong suốt 28 năm, chiếc Mitsubishi F-1 chưa từng tham gia vào những hoạt động tác chiến trên chiến trường.

(http://www.airforce-technology.com/projects/mitsubishi-f-1/images/1-f-1.jpg)
Mitsubishi F-1 ở Căn cứ không quân Iwakuni.

Lịch sử phát triển

Kế hoạch máy bay huấn luyện siêu thanh

Tháng 08 năm 1967, tập đoàn Mitsubishi của Nhật Bản bắt tay vào thiết kế mẫu máy bay đa năng mới. Theo yêu cầu, mẫu máy bay mới này sẽ thay thế các máy bay chiến đấu và huấn luyện của Mỹ được trang bị cho Lực lượng phòng vệ Nhật Bản khi đó.

Tháng 10 năm 1968, Mitsubishi khởi động việc thiết kế mô hình thực loại máy bay huấn luyện 2 chỗ ngồi. Tới tháng 01 năm 1969, mô hình này được hoàn tất.

Tháng 03 năm 1970, JASDF đã quyết định ký hợp đồng với tập đoàn Mitsubishi chế tạo hai chiếc máy bay để đưa vào thử nghiệm. Đúng một năm sau, các cuộc thử nghiệm về thông số máy bay được hoàn tất, và tới tháng 04 năm 1971, mẫu thử nghiệm đầu tiên được Mitsubishi hoàn tất. Người phục trách công tác thiết kế mẫu máy bay này là nhà thiết kế K. Ikeda.

(http://www.airforce-technology.com/projects/mitsubishi-f-1/images/4-96.jpg)
Máy bay huấn luyện Mitsubishi T-2

Sau các cuộc thử nghiệm thành công trên mặt đất, mẫu máy bay mới do Mitsubishi chế tạo theo đơn đặt hàng của JASDF được đặt tên là XT-2. Mẫu máy bay này sau đó đã thực hiện thành công chuyến bay đầu tiên vào ngày 02 tháng 12 năm 1971.

Bắt đầu thứ tháng 03 năm 1975, Nhật Bản đã cho sản xuất hàng loạt mẫu máy bay mới này với tên gọi T-2. Đây chính là mẫu máy bay siêu thanh đầu tiên của đất nước mặt trời mọc. Tuy nhiên, nó chỉ là loại máy bay huấn luyện. Có tất cả 96 chiếc T-2 đã được xuất xưởng.

Kế hoạch máy bay tiêm kích – bom

Ngày 07 tháng 02 năm 1972, JASDF đã đặt hàng Mitsubishi chế tạo một mẫu máy bay tiêm kích-bom trên cơ sở của mẫu T-2 (Dự án FS-T2). Để phù hợp với các yêu cầu của JASDF, các kỹ sư của Mitsubishi đã tiến hành sửa đổi chiếc T-2. Các sửa đổi bao gồm :

  - Loại bỏ ghế phía sau và vòm kính thừa phía trên buồng lái, lắp đặt kính chắn gió một mảnh mới, sử dụng không gian trống cho hệ thống điện tử.
  - Hệ thống điều khiển hỏa lực (FCS).
  - Cải tiến tổ hợp vũ khí.
  - Hệ thống dẫn đường quán tính.
  - Hệ thống radar nhận diện cảnh báo (RHAWS).
  - Thiết bị đo độ cao.

Năm 1974, Mitsubishi đã đã chuyển giao cho phía JASDF hai chiếc  FS-T2 để tiến hành thử nghiệm. Chiếc FS-T2 đầu tiên mang số hiệu 107 đã lăn bánh lần đầu vào ngày 03 tháng 06 năm 1975. Ngày 07 tháng 06 năm 1975, chiếc thứ hai mang số hiệu 106 cũng được đưa vào thử nghiệm. Ngày 12 tháng 11 năm 1976, cả hai chiếc 106 và 107 được tiến hành bắn thử tất cả loại vũ khí được trang bị. Thông qua các cuộc thử nghiệm, các chuyên viên của Trung tâm nghiên cứu Bộ Quốc phòng Nhật (TRDI) đã tiến hành xác định, kiểm tra tất cả mọi đặc tính cần thiết và các hệ thống của máy bay, tổ hợp thiết bị trên khoang và các vũ khí.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/ja/thumb/f/f5/T-2_107.jpg/250px-T-2_107.jpg)
Máy bay thử nghiệm FS-T2 số hiệu 106

F-1 được đưa vào sản xuất hàng loạt vào ngày 25 tháng 02 năm 1977. Chiếc đầu tiên được hoàn thành và bay thử vào ngày 16 tháng 06 năm 1977. Tháng 04 năm 1978, 18 chiếc F-1 đã được đưa vào biên chế của JASDF. Ban đầu, kế hoạch của Nhật Bản là sản xuất 160 chiếc F-1, nhưng điều kiện về ngân sách khiến số lượng bị cắt giảm xuống còn 77 chiếc. Chi phí trung bình của F-1 là khoảng 2,6 tỷ yên cho mỗi máy bay. Chiếc F-1 cuối cùng được sản xuất vào tháng 08 năm 1987.

(http://homepage3.nifty.com/prof_m/transport/images/f1_500_1.jpg)
Chiếc Mitsubishi F-1 số hiệu 267, trên cánh đuôi có sơn dòng chữ "Chiếc F-1 cuối cùng"

Toàn bộ 77 chiếc F-1 được biên chế thành ba phi đội, mỗi phi đội có 25 chiếc, có trụ sở chính tại Căn cứ không quân Misawa.

  - Phi đội số 03 được thành lập ngày 31 tháng 03 năm 1978.
  - Phi đội số 08 được thành lập ngày 29 thàng 02 năm 1980.
  - Phi đội số 06 được thành lập ngày 28 thàng 02 năm 1981.

Năm 1991 đến năm 1993, JASDF đã tiến hành nâng cấp 70 chiếc F-1 nhằm kéo dài tuổi thọ của khung thân máy bay từ 3.500 giờ lên 4.000 giờ, chương trình nâng cấp chủ yếu tập trung vào việc cải tiến hệ thống điện tử của máy bay.

Sáu chiếc F-1 cuối cùng ở Căn cứ không quân Tsuiki tại tỉnh Fukuoka, miền Nam Nhật Bản, đã nghỉ hưu vào ngày 09 tháng 03 năm 2006, những chiếc máy bay này đã đạt đến giới hạn tuổi thọ của khung máy bay là 4.000 giờ. Hiện nay, những đơn vị sử dụng F-1 đang lần lượt chuyển sang sử dụng loại Mitsubishi F-2 hiện đại hơn.


Tiêu đề: Re: Máy bay chiến đấu của các nước trên thế giới
Gửi bởi: BOM BI trong 04 Tháng Giêng, 2013, 03:19:29 am
Cấu tạo

Hình dáng sơ bộ

F-1 là loại máy bay chiến đấu một chỗ ngồi với kiểu thiết kế một tầng cánh, cánh cụp rộng thay đổi, được trang bị bộ ổn định xoay chiều và một cánh ổn định đuôi thẳng đứng. Khung máy bay được làm bằng hợp kim titan. Dù hãm đặt ở đuôi, phía trên vỏ động cơ. Bề ngoài của F-1 khá giống với loại máy bay SEPECAT Jaguar của Pháp/Anh.

Buồng lái

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/c/c0/T-2_and_F-1_Canopy.jpg/250px-T-2_and_F-1_Canopy.jpg)
Buồng lái nhìn từ phía trước của T-2 (trên) và F-1 (dưới)

Buồng lái F-1 khá nhỏ và không có vòm kính kiểu bot nước. Dù vậy, tầm nhìn từ buồng lái vẫn khá tốt, nhưng kém hơn so với F-2, đặc biệt là nhìn về phía sau. Phần giữa khung buồng lái và mũi được chế tạo khá dày để đề phòng việc chim chóc lao vào máy bay. Không giống như F-2, phi công ngồi trong một vị trí truyền thống, không có độ dốc ngược ra sau như ghế của F-2. Phi công điều khiển máy bay bằng một cần điều khiển ở giữa và tay ga ở bên trái, kết hợp cả hai thành thanh điều khiển (hands-on-throttle-and-stick) (HOTAS).

Máy bay cũng được trang bị ghế phóng cho phép tổ phi công thoát khỏi máy bay trên bất kỳ độ cao và tốc độ nào.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/7/7b/Ejection_seat_warning.jpg)
Vị trí đánh dấu ghế phóng

Bảng điều khiển của F-1 gồm một màn hình hiển thị trước mặt (HUD) được sản xuất bởi Shimadzu với màn hình radar nằm ở trung tâm bên dưới nó. Phía dưới bên trái là bảng kiểm soát dự trữ, và trên nó là các thiết bị hoa tiêu và hệ thống đo độ cao J-APN-44. Nửa phía phải bảng thiết bị có màn hình hiển thị cho động cơ và các hệ thống. Phía bên trái buồng lái, ngay phía trước thanh điều khiển ga, là các nút kiểm soát thiết bị liên lạc.

Hệ thống điện tử

Các thiết bị điện tử được trang bị cho F-1 gồm:

  - Hệ thống dẫn đường quán tính (INS) J/ASN-1,  thiết bị đo độ cao vô tuyến TRT.
  - Hệ thống điều khiển hỏa lực J/ASQ-1 do Mitsubishi Electric sản xuất
  - Hệ thống điều khiển tên lửa đối hạm J/AWA-1 (tương ứng với ASM-1)
  - Hệ thống đo độ cao J-APN-44.
  - Hệ thống máy tính số trung tâm, kênh dữ liệu số và máy tính dữ liệu trên không.J/A24G-3.
  - Hệ thống thiết bị tiếp sóng LMT, máy thu phát vô tuyến.
  - Thiết bị nhận tín hiệu cảnh báo radar J/APR-3 với một ăngten hình ống bố trí phía sau đỉnh cánh đuôi.
  - Thiết bị trinh sát hồng ngoại.

Radar xung Dopple đa chế độ hoạt động trong mọi điều kiện thời tiết J/AWG-12 được trang bị cho F-1 tương tự loại AN/AWG-12 trên tiêm kích F-4M Phantom của Không quân Hoàng gia Anh. Loại radar này phát triển từ radar AN/AWG-10. Tầm hoạt động hiệu quả đạt 55 - 60 km, nó có khả năng đa nhiệm, thực hiện các nhiệm vụ không đối đất, đối hải, bao gồm cả vai trò chống hạm.

Từ năm 1985, F-1 được lắp đặt hệ thống điều khiển tự động trong mọi giai đoạn bay, gồm bay thấp trong mọi địa hình, bay riêng và theo nhóm chống lại mục tiêu trên không - mặt đất - trên biển. Hệ thống điều khiển tự động được kết nối với hệ thống dẫn đường để đảm bảo máy bay bay đúng đường, tự động tiếp cận địch, tìm được đường về căn cứ và hạ cánh tự động.

Trong thập niên 1970, thiết bị nhận tín hiệu cảnh báo radar J/APR-3 được trang bị cho F-1 là một trong những hệ thống tiên tiến nhất tại thời điểm đó. Sau này để tăng cường khả năng tự vệ của máy bay, một số chiếc F-1 cũng đã được trang bị thiết bị gây nhiễu tần số vô tuyến.

Hệ thống vũ khí

Máy bay cũng có 7 giá treo vũ khí ngoài để gắn các loại vũ khí khác nhau. Điểm treo dưới thân máy bay và 2 điểm gần thân có thể được sử dụng để mang thùng nhiên liệu phụ, tăng tầm hoạt động cho máy bay. Tổng khối lượng vũ khí treo ngoài mà F-1 có thể mang theo lên tới 2.8 tấn.

Hệ thống vũ khí được trang bị cho F-1 gồm :

- Vũ khí gắn trong thân : một khẩu pháo 20 mm JM61A1 Vulcan  với 750 viên đạn. Những khẩu pháo có thể bắn với tốc độ 6.000 viên/phút, trọng lượng đạn là 100g.

- Tên lửa đối hạm

Tên lửa đối hạm siêu thanh ASM-1 Type-80 là vũ khí chính của F-1. ASM-1 Type-80 là loại tên lửa có điều khiển được tập đoàn Mitsubishi nghiên cứu, phát triển trong hơn 7 năm, được triển khai năm 1980.

Tên lửa có chiều dài 3,95 m, sải cánh 1,2 m, đường kính thân 0.35 m, trọng lượng 760 kg, trong đó đầu đạn nặng 150 kg, tầm bắn xa 50 km.

Type-80 có thể bay lướt mặt biển ở độ cao cực thấp. Nó được điều khiển bởi hệ thống dẫn đường quán tính (INS) J/ASN-1 và hệ thống đo độ cao J-APN-44. Khi bay ở giai đoạn kiểm tra cảnh giới, nó bay cách mặt biển 15m, ở giai đoạn cuối khi tiếp cận mục tiêu, nó chỉ cách mặt biển 2-3m, việc bay quá thấp như vậy hoàn toàn ‘làm mù” hệ thống radar cảnh giới của đối phương.

Đầu nổ của đầu đạn Type-80 là loại “bản xuyên giáp”. Trước tiên, dựa vào năng lượng vận động khi bay, đầu đạn có thể xuyên thủng mạn tàu đối phương, ngòi đầu nổ tên lửa có thể xuyên thủng mạn tàu địch, sau mấy giây xuyên vào trong tàu, ngòi đầu nổ tên lửa lại dẫn nổ, từ đó làm nổ tung đầu đạn có chứa lượng thuốc nổ cực mạnh ngay trong thân tàu, cộng với lượng chất đốt vẫn chưa cháy hết của tên lửa cùng tung ra theo tiến nổ, khiến cả khoang tàu bốc cháy, làm tàu địch bị phá hủy nặng nề. Đường kính lỗ đạn phá có thể rộng đến 10m.

Type-80 được trang bị đầu tự dẫn radar kiểu chủ động có khả năng chống nhiễu mạnh. Nó có khả năng hoạt động trọng moi điều kiện thời tiết. Đầu tự dẫn radar kiểu chủ động có thể tự điều chỉnh đường ngắm trúng vào mục tiêu trong mặt phẳng góc + 30o, dẫn tên lửa vào chỗ tập trung mạnh nhất sóng phản xạ từ vỏ tàu mục tiêu về, thường tạo nên “tâm” bề mặt phản xạ của tàu.

- Bom và rocket

F-1 trang bị các loại bom 500 và 700 pound (Mk82 và M117). Bom Mk-82 và M117 có thể được trang bị hệ thống dẫn đường hồng ngoại, trở thành vũ khí được điều khiển chính xác, chúng được điều khiển để tiêu diệt các mục tiêu tỏa nhiệt di chuyển trên biển như tàu hay những mục tiêu trên mặt đất. Khi được trang bị những thiết bị hỗ trợ như vậy, bom được gọi với tên GCS-1.

Trước đây, F-1 còn được trang bị loại bom chùm CBU-87/B. Hiện nay, dẫn theo Hiệp ước cấm bom chùm của Liên hợp quốc, loại bom này bị cấm trang bị trên các máy bay chiến đấu của Nhật Bản.

F-1 cũng được lắp đặt các ống phóng rocket JLAU-3/A cỡ 70 mm, rocket RL-7 70 mm, rocket RL-4 125 mm.

- Tên lửa không đối không

Tên lửa tầm nhiệt không đối không AIM-9 Sidewinder (Rắn đuôi chuông) được mang trên những điểm treo đầu cánh, nhưng nó có thể cũng được mang trên điểm treo phía ngoài dưới cánh khi đảm nhiệm vai trò phòng không của F-1.

Nhìn từ hình dáng bên ngoài, Sidewinter giống như một chiếc gậy tròn nhỏ dài. Cấu tạo của tên lửa gồm bốn bộ phận : đầu trên là đầu tự dẫn điều khiển tên lửa bay được lắp ở sát mũi tên lửa: bộ phận thứ hai là đầu đạn, bên trong chứa thuốc nổ: bộ phận thứ ba là động cơ, có tác dụng đẩy tên lửa bay về phía trước; bộ phận cuối cùng là đuôi tên lửa, phần trên của đuôi có lắp cánh tên lửa dùng để giữ cho tên lửa bay thật ổn định. Tổng chiều dài của Sidewinter khoảng 2m, tầm bắn khoảng 7m.

Ở phía trước đầu đạn tên lửa Sidewinter có lắp một thiết bị có thể phát hiện được và thu được tia hồng ngoại. Thiết bị này phối hợp với đầu tự dẫn điều khiển tên lửa bám đuổi theo máy bay cho đến khi bắn trúng mục tiêu.

Mọi vật trong tự nhiên chỉ cần ở điểm 0 tuyệt đối, nó sẽ không ngừng phát ra tia hồng mà mắt người không thể nhìn thấy được. Nhiệt độ càng cao, tia hồng ngoại phát ra càng mạnh, trong khi đó luồng khí phụt ra ở đuôi máy bay kha 1cao, nên tia hồng ngoại phát ra từ máy bay rất mạnh. Vì thế thiết bị dò tìm hồng ngoại lắp ở đầu đạn tên lửa sẽ dễ dàng thu được  tia hồng ngoại phát ra từ đuôi máy bay, từ đó thông qua đầu tự dẫn mà điều khiển tên lửa bám sát mục tiêu.

Thế nhưng, khi Sidewinter nhanh chóng tiếp cận máy bay, nếu máy bay đến từ một góc mgoặc gấp, luồng khí nóng phát ra từ đuôi máy bay cũng lập tực thay đổi phương hướng. Lúc này tên lửa khó có thể tiếp tục thu dđược tia hồng ngoại mà nó đang bám theo, mà vào thời điểm đó, tia hồng ngoại phát ra từ mặt trời tỏ ra mạnh hơn, vì thế tên lửa có thể bay theo hướng mặt trời làm mất hiệu quả.


Tiêu đề: Re: Máy bay chiến đấu của các nước trên thế giới
Gửi bởi: BOM BI trong 04 Tháng Giêng, 2013, 03:41:24 am
Động cơ

F-1 được trang bị hai  động cơ phản lực cánh quạt đẩy Ishikawa-Harima TF40-801A, cung cấp 22,8 kN lực đẩy khô và 35.6 kN khi sử dụng buồng đốt lần hai. Động cơ được gắn lùi trong thân dành tối đa chỗ bên trong để chứa nhiên liệu, và lấy không khí vào qua cửa hút khí dạng cố định. cửa hút khí được gắn những dốc di động để điều hòa luồng khí nạp vào động cơ ở tốc độ siêu thanh.

Ishikawa-Harima TF40-801A  là một biến thể của động cơ phản lực Rolls-Royce/Turbomeca Adour Mk 102 do Tổng Công ty IHI của Nhật Bản sản xuất theo giấy phép chuyển giao công nghệ.

Trọng lượng khô của động cơ là 3.300 kg.

(http://www.airforce-technology.com/projects/sepecat-jaguar/images/9-sepecat-jaguar.jpg)
Động cơ Rolls-Royce/Turbomeca Adour Mk 102

(Còn tiếp)


Tiêu đề: Re: Máy bay chiến đấu của các nước trên thế giới
Gửi bởi: BOM BI trong 07 Tháng Giêng, 2013, 11:42:35 am
Hình ảnh hệ thống điện tử và tổ hợp vũ khí của máy bay Mitubishi F-1

(http://farm1.staticflickr.com/94/231610066_c5301a3bf3_z.jpg)
Buồng lái và hệ thống điện tử của máy bay Mitubishi F-1

(http://www.vaq136.com/misawa/misawa-259b.jpg)
Tổ hợp vũ khí của Mitubishi F-1




Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: BOM BI trong 10 Tháng Giêng, 2013, 02:05:44 am
Tai nạn

Vào ngày 25 tháng 08 năm 1998, trong một chuyến bay tuần tra đêm tại tỉnh Iwate, hai trong số ba chiếc F-1 của đội bay đã gặp nạn. Tai nạn khiến hai phi công của Phi đội số 08 thiệt mạng. Tang lễ được tiến hành vào ngày 29 tháng 08 năm 1998.

Các biên thể

- Mitsubishi T-2 : Máy bay huấn luyện.
- Mitsubishi F-1 : Máy bay chiến đấu một chỗ ngồi đa chức năng.

Thông số kỹ thuật

- Phi đoàn : 1
- Chiều dài : 17.66 m
- Sải cánh : 7.88 m
- Chiều cao : 4.39 m
- Diện tích cánh : 21.2 m²
- Trọng lượng rỗng : 6.358 kg
- Trọng lượng cất cánh tối đa : 13.674 kg
- Động cơ : Hai động cơ phản lực cánh quạt đẩy Ishikawa-Harima TF40-801A
- Hiệu suất bay :
  
  • Tốc độ tối đa đạt 1.700 km/h ở độ cao 12.200 m.
  • Bán kính tác chiến đạt 555 km.
  • Trần bay là 15.240 m với tốc độ cất cánh 178 m/s.
  • Để cất cánh, F-1 phải chạy đà 1.280 m (với trọng lượng cất cánh tối đa).
- Vũ khí :
  • 1 pháo 20 mm JM61A1 Vulcan
  • Các loại bom, tên lửa không đối không, không đối đất, không đối biển được gắn vào 4 giá treo dưới cánh, 2 đầu mút cánh, và 1 dưới thân máy bay. Vũ khí trang bị bao gồm tên lửa không đối không AIM-9 Sidewinder, tên lửa đối hạm Mitsubishi ASM-1, rocket JLAU-3A 70 mm, rocket RL-7 70 mm, rocket RL-4 125 mm, bom Mk-82 500 lb và M117 750 lb, phiên bản dẫn đường hồng ngoại của Mk-82 và M117.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/3/32/F-1_%28243%29_of_3_Sqn_in_flight_during_Cope_North_%2785-1%2C_-12_Nov._1984_a.jpg/800px-F-1_%28243%29_of_3_Sqn_in_flight_during_Cope_North_%2785-1%2C_-12_Nov._1984_a.jpg)
Chiếc Mitsubishi F-1 số hiệu 243 của Phi đội số 03 trong cuộc tập trận chung Mỹ - Nhật ngày 12 tháng 11 năm 1984.


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: BOM BI trong 10 Tháng Giêng, 2013, 02:25:58 am
(http://img.wp.scn.ru/camms/ar/1653/pics/65_3_b3.jpg) (http://img.wp.scn.ru/camms/ar/1653/pics/65_3_b3_a1.jpg)
(http://wp.scn.ru/camms/ar/1653/pics/65_3_a1.jpg)
Mitsubishi F-1 số hiệu 201 (70-8201) thuộc Phi đội số 06, đây là chiếc F-1 được sử dụng trong đội hình bay trình diễn nghệ thuật của Nhật.

(http://img.wp.scn.ru/camms/ar/1653/pics/65_3_b4.jpg)
(http://img.wp.scn.ru/camms/ar/1653/pics/65_3_b1_a1.jpg)
Mitsubishi F-1 số hiệu 201 (70-8201) khi chuyển sang biên chế của Phi đội số 8, chiếc F-1 này được sử dụng trong cuộc diễn tập hiệp đồng với pháo binh. Trên thân máy bay có sơn hình Báo đen và những tia chớp màu vàng đen.

(http://img.wp.scn.ru/camms/ar/1653/pics/65_3_b2.jpg)
Mitsubishi F-1 số hiệu 201 (70-8201) với màu sơn nguyên thủy

(http://img.wp.scn.ru/camms/ar/1653/pics/65_3_b6.jpg)
Mitsubishi F-1 số hiệu 201 (70-8201) trong dịp kỷ niệm 40 năm ngày thành lập Lực lượng phòng vệ trên không Nhật Bản (JASDF) năm 1996.

(http://img.wp.scn.ru/camms/ar/1653/pics/65_22.jpg)
Mitsubishi F-1 số hiệu 203 (70-8203) thuộc Phi đội số 08 năm 1993.

(http://img.wp.scn.ru/camms/ar/1653/pics/65_15.jpg)
(http://img.wp.scn.ru/camms/ar/1653/pics/65_4_a1.jpg)
Mitsubishi F-1 số hiệu 206 (80-8206) thuộc Phi đội số 06 trong dịp kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Căn cứ Không quân Tsuiki năm 1992.

(http://img.wp.scn.ru/camms/ar/1653/pics/65_20.jpg)
Mitsubishi F-1 số hiệu 215 (70-8215) thuộc Phi đội số 06 năm 1996.

(http://img.wp.scn.ru/camms/ar/1653/pics/65_23.jpg)
Mitsubishi F-1 số hiệu 233 (90-8233) thuộc Phi đội số 03 năm 1994.

(http://img.wp.scn.ru/camms/ar/1653/pics/65_18.jpg)
Mitsubishi F-1 số hiệu 230 (00-8230) thuộc Phi đội số 03.

(http://img.wp.scn.ru/camms/ar/1653/pics/65_21.jpg)
Mitsubishi F-1 số hiệu 220 (80-8220) thuộc Phi đội số 08 năm 1994.

(http://img.wp.scn.ru/camms/ar/1653/pics/65_13.jpg)
(http://img.wp.scn.ru/camms/ar/1653/pics/65_13_a1.jpg)
Mitsubishi F-1 số hiệu 216 (80-8216) thuộc Phi đội số 08, đây là chiếc F-1 được sử dụng trong đội hình bay trình diễn nghệ thuật của Nhật. "Số 08" được sơn trước mũi máy bay.


Tiêu đề: Tổ hợp hàng không Không quân tầm xa
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Ba, 2013, 12:15:43 am
Không dậm chân tại chỗ

Vasily Sưchev (Василий Сычев)


http://lenta.ru/articles/2013/03/04/pakda/

(http://i1290.photobucket.com/albums/b522/shevcheko2004/Tu-160_zpsbf3b215d.jpg)
Tu-160

Không quân Nga đã phê chuẩn dự án tổ hợp hàng không thế hệ mới cho không quân tầm xa, xác nhận sau năm 2020 sẽ thay thế các loại máy bay ném bom – thiết bị mang tên lửa chiến lược Tu-95MS và Tu-160. Phòng thiết kế Tupolev sẽ nhận trách nghiệm chế tạo máy bay mới. Ngược lại với phó Thủ tướng Dmitri Rozogin – người tuyên bố rằng máy bay ném bom thế hệ mới sẽ là siêu âm, quân đội đã lựa chọn dự án máy bay dưới âm với sự tiếp nhận rộng rãi công nghệ tàng hình. Trong thực tế, quân đội đã đi trên con đường ít mạo hiểm nhất, lựa chọn sự tin tưởng các công nghệ đã được xử lý, chứ không phải các khả năng mơ hồ (mù mịt), hơn nữa là không tốt (kém) trong việc nghiên cứu lái máy bay cao 5 March.

Tổng quan

Việc chế tạo tổ hợp hàng không thế hệ mới của không quân tầm xa (PAK DA) đã bắt đầu từ năm 2009, khi Bộ quốc phòng Nga và Phòng thiết kế mang tên Tupolev đã ký hợp đồng tiến hành các công việc nghiên cứu khoa học. Các chi tiết về máy bay mới mà trong tương lai sẽ trở thành cơ sở Không quân tầm xa của Nga khi đó không được hé lộ. Các công việc theo hợp đồng đã hoàn thành mùa hè năm 2012. Khi đó, Tư lệnh Không quân Nga Victor Bondarev đã tuyên bố rằng hình dáng máy bay ném bom thế hệ mới đã được định hình, dự án máy bay thế hệ mới cho không quân tầm xa đã hoàn thành và phê duyệt cũng như bắt đầu các công việc nghiên cứu – thiết kế theo dự án.

Tư lệnh Không quân tầm xa của Nga – Thiếu tướng Anatoli Zhikharev đã công bố một phần các yêu cầu với máy bay chiến lược mới vào cuối năm 2011. Theo lời ông, máy bay mới sẽ được chế tạo với sự tiếp nhận công nghệ tàng hình, nhận tổ hợp đạo hàng – thước ngắm, các khí tài thông tin liên lạc, trinh sát và tác chiến điện tử mới. Sau đó, Nikolai Makarov – cựu Tổng tham mưu trưởng đã nhấn mạnh rằng PAK DA “sẽ vượt trội đáng kể toàn bộ các kiểu máy bay hiện đại trong lớp này, trong đó có các máy bay Mỹ”, và sẽ nhận được máy bay mới.

Trong khi đó, phó Thủ tướng Dmitri Rozogin – lãnh đạo tổ hợp công nghiệp quốc phòng, đã nghi ngờ sự cần thiết chế tạo máy bay với các tính năng này. “Hay xem mức độ phát triển hệ thống phòng không và phòng thủ tên lửa: toàn bộ các máy bay không thể bay tới đó. Không máy bay nào của chúng ta bay tới được đối phương và ngược lại. Cần suy nghĩ về các sản phẩm hoàn toàn khác thường” – Rozogin tuyên bố. Mùa hè năm ngoái, phó Thủ tướng trên Twitter của mình đã viết rằng máy bay mới “không sao chép B-2 (máy bay ném bom tầm xa chiến lược trước âm của Mỹ) và rằng “cần nghiên cứu viễn cảnh và chế tạo hàng không tầm xa siêu âm – cho quân sự và dân sự”.

Đầu năm 2012 đã có cuộc thi mà trong đó có sự tham gia của “Tupolev” và thêm hàng loạt các phòng thiết kế (cụ thể, hiện chưa được làm rõ; có thể là “Sukhoi” và “Beriev”). Quân đội đã nhận được một số các dự án sơ bộ máy bay ném bom thế hệ mới, gồm có cả phiên bản máy bay siêu âm, một trên siêu âm và một dưới âm. Máy bay cuối cùng được “Tupolev giới thiệu. Theo các thông tin từ “Izvestia” dần nguồn từ Không quân Nga, tư lệnh đã phê chuẩn dự án PAK DA do “Tupolev” giới thiệu. Máy bay sẽ được đóng theo sơ đồ “cánh bay” (sơ đồ “không có đuôi”với sự giảm chiều dài thân). Nhờ đó máy bay của “Tupolev” sẽ tàng hình đối với các loại ra đa, nhưng không thể đạt tốc độ vượt âm thanh.

Trong thời gian năm nay, “Tupolev” sẽ nghiên cứu (tính toán) các thông số kỹ chiến thuật của PAK DA, đầu năm 2014 sẽ trình cho quân đội tính toán ngân sách của công việc nghiên cứu – khoa học, còn năm 2015 sẽ hoàn thành hoàn toàn dự án kỹ thuật của máy bay. Cuối năm 2011 đã có thông tin rằng nguyên mẫu đầu tiên của máy bay ném bom thế hệ mới sẽ sẵn sàng vào năm 2020 và tiếp nhận vào trang bị năm 2025. Hiện nay cũng có dự đoàn rằng việc sản xuất hàng loạt máy bay mới sẽ bắt đầu vào năm 2020. Ngoài ra, những thời hạn này có thể bị kéo dài do chương trình trang bị vũ khí quốc gia của Nga tới năm 2020 đã tính toán theo sự dự báo phát triển tối ưu của nền kinh tế đất nước.

Do dự án được tiến hành dưới chữ ký “mật”, thông tin về máy bay ném bom thế hệ mới rất ít. Như phỏng đoán, khối lượng cất cánh tối đa của máy bay sẽ hơn 120 tấn. Máy bay có thể mang theo vũ khí tổng cộng 24 tấn và tầm bay xa 12 000 kilomet. Ngoài ra, nếu tính theo tuyên bố của Tư lệnh Không quân Bondarev về sự vượt trội của PAK DA so với các máy bay ném bom chiến lược của Mỹ, có thể phỏng đoán rằng, khối lượng cất cánh tối đa của các máy bay – mang tên lửa của Nga gần 170 tấn trong tải trọng có ích 27-30 tấn. Có thể, máy bay sẽ có tốc độ tối đa 850-900 km/h và tầm bay xa 12 000 – 15 000 kilomet.


Tiêu đề: Tổ hợp hàng không Không quân tầm xa
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Ba, 2013, 12:19:14 am
Sự chọn lựa khó khăn

Khi lựa chọn phiên bản “Tupolev” cho máy bay ném bom tầm xa tương lai, Không quân Nga đã được chỉ đạo bởi một số yếu tố, bao gồm tầm bay xa của máy bay, tải trọng, tính tàng hình, các tham số tốc độ, các tính toán giá thành hiệu quả trong nghiên cứu chế tạo và các rủi ro. Mỗi đề xuất trong dự án có những điểm tích cực và hạn chế (tiêu cực – điểm cộng và điểm trừ), và quân đội thực tế đã không dễ dàng lựa chọn: một mặt – tốc độ bay cực lớn và khả năng ném bom tương đối nhanh vào lãnh thổ đối phươn (tuy nhiên, nhanh hơn tên lửa đạn đạo hiện nay chưa chế tạo được; thời gian bay tới Mỹ, ví dụ 30-40 phút), còn mặt khác, chậm, nhưng thực tế, máy bay tàng hình đối với mọi loại ra đa.

Trong lớp lớn máy bay siêu âm lớp “ném bom” rất phức tạp khi thực hiện toàn bộ các công nghệ tàng hình hiện có. Như, đối với động cơ phản lực trong trường hợp này cần thiết các bộ rộng dạng hình chữ S, là sự thỏa hiệp giữa việc bảo đảm các thiết bị động lực bằng số lượng không khí vừa đủ và khả năng tàng hình trước các loại ra đa (hình dạng uốn cong của bộ gom không khí được cho là không phản xạ (đóng/tàng hình) đối với sự bức xạ của ra đa vào cánh động cơ, nhưng nó cũng tạo ra bề mặt (trường) áp xuất thấp trước quạt động cơ).

Ngay chính các động cơ, bao gồm các vòi phun, sẽ được che phủ tối đa (giấu) bởi thân máy bay để bảo đảm tính tàng hình đối tia hồng ngoại, nhưng khi đó, không có siêu âm, còn tốc độ bay trên siêu âm càng không được nói tới. Ngoài ra, tia phản lực nóng trên tốc độ siêu ấm khi bay không thể giấu được bằng thân của máy bay – nó sẽ kéo dài sau máy bay hàng chục kilomet. Việc sử dụng công nghệ hình học tàng hình (các hình dáng góc bị biến dạng của thân, các chỗ nối “răng cưa” trên khung) sẽ làm ảnh hưởng tiêu cực đáng kế các thông số khí động của máy bay. Và chỉ có tiếp nhận các vật liệu hấp thụ sóng ra đa trên thực tế không làm ảnh hưởng tới các thông số của máy bay.

Với sự tiếp nhận các công nghệ tàng hình khác nhau trong những năm 1970, ở Mỹ đã chế tạo máy bay chiến đấu F-117 Nighthawk. Trên máy bay sử dụng bề mặt che phủ gốm và hấp thụ ra đa, còn thân máy bay có “nhiều góc cạnh”. Các đài ra đa vô tuyến trong thời gia này rất khó để phát hiện một cách hiệu quả máy bay này. Mặc dù vậy, do thiết kế đặc thù, các tính năng khí động của F-117 đã cao hơn so với dạng thân phẳng (у утюга). Và theo nguyên nhân này, Không quân Mỹ lần đầu tiên lên kế hoạch tiếp nhận các máy bay tàng hình, phân loại lại máy bay thành cường kích. F-117 không thể đạt tốc độ hơn 900km/h, còn tầm bay xa tổng cộng 1720 kilomet (bán kính chiến đấu 860 kilomet).

(http://i1290.photobucket.com/albums/b522/shevcheko2004/f-117-nighthawk-cruising_zps8cb1570e.jpg)
F-117 "Nighthawk"

Các công nghệ hiện nay cho phép chế tạo máy bay ném bom với thân “góc cạnh”, được che phủ để đảm bảo các tính năng khí động cao bằng các vận liệu composite “trong suốt” đối với ra đa vô tuyến. Nhưng theo hướng này bắt buộc phải xác định sự hạn chế các thông số tốc độ của máy bay, làm thiết kế của nó quá phức tạp, còn chi phí tổng thể cho dự án – quá cao.

Sự nghiên cứu máy bay ném bom trên siêu ấm ở Nga trong mức độ phát triển công nghệ hiện nay sẽ mang tới nhiều rủi ro, gồm có thời gian dài nghiên cứu từ đầu, có thể dẫn tới việc thay đổi thời hạn thường xuyên và sự tăng không đồng đều giá thành dự án. Khí tài bay trên siêu âm thực tế sẽ có hình dáng khí động hoàn hảo với đường bao nhẵn, tác động xấu (không thích hợp) với các yêu cầu tàng hình theo hình học. Nếu nói một cách đơn giản, thì trong công nghệ này, tiết diện phản xạ hiệu dụng của thiết bị bay sẽ giảm đi khi sóng vô tuyến bức xạ phát ra từ các loại ra đa sẽ không phản xạ ngược trở về ăng ten thu của đài ra đa vô tuyến.

Rủi ro cao của dự án máy bay ném  bom có tốc độ trên 5 March (5700km/h) được kết luận rằng các nhà nghiên cứu khi đó thậm chí đã không thành công trong việc đạt được sự điều khiển ổn định bay từ xa đối với các thiết bị trên siêu âm trong bất kỳ dự án nào; từ Liên Xô và Nga – “Kholod” và “Kholod-2” cho đến Mỹ - FHTV và X-51A Waverider. Theo một số trong các dự án nghiên cứu với sự thành công khác nhau sẽ diễn ra trong nhiều thập kỷ (không phải trong một thập kỷ).

Trong trường hợp với máy bay ném bom – không phải nguyên mẫu, mà về tải trọng lớn và máy bay có phi công, bắt buộc các nhà khoa học tiến hành các nghiên cứu khoa học thêm vài thập kỷ nữa. Điều này không có nghĩa rằng sau đó sẽ từ bỏ hầu hết ý tưởng chế tạo thiết bị bay trên siêu âm có người lái, mà trong chương trình vũ khí quốc gia của Nga, nó không được nhắc đến. Đây là những công việc cho quỹ các nghiên cứu tương lai của Nga được hình thành trong tháng 10 năm 2012. Nhiệm vụ của quỹ này là thực hiện các dự án có độ rủi ro cao mang tính đột phá trong lĩnh vực vũ khí và khí tài kỹ thuật quân sự. Nếu nghiên cứu công nghệ trên siêu âm được thực hiện thành công, thì có khả năng, máy bay ném bom với sự sử dụng trong tương lai xa sẽ thay thế cho PAK DA. Thời gian sẽ trả lời.


Tiêu đề: Tổ hợp hàng không Không quân tầm xa
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Ba, 2013, 12:26:05 am
Ở tốc độ thấp

Hiện nay, việc chọn lựa sử dụng máy bay ném bom trước âm được cho là hợp lý nhất. Sơ đồ “cánh bay” là ít bị phát hiện nhất đối với các loại ra đa so với các sơ đồ bố cục khác của các thiết bị bay. Phần lớn các giải pháp kỹ thuật theo nó đã được xử lý mặc dù sơ đồ “cánh bay” trong trang bị của Nga hiện nay chưa có. Sự thật, nó sẽ mang đến những rủi ro rõ ràng. Thực tế rằng các thiết bị được thiết kế theo sơ đồ “cánh bay” rất khó điều khiển. Vì thế, máy bay chắc chắn yêu cầu lắp tổ hợp máy vi tính mang theo mạnh, các hệ thống điện tử hiện đạo hoặc sự điều khiển quang học từ xa và tổ hợp đạo hàng.

Ví dụ máy bay ném bom tầm xa trước âm B-2 Spirit của Mỹ được chế tạo theo sơ đồ “cánh bay”, rất phức tạp trong điều khiển, việc lái trực tiếp các máy bay này không hề đơn giản. Thực tế trong khi nó cất cánh, bay và hạn cánh do máy vi tính thực hiện. Phi công chỉ đóng vai trò kiểm soát viên với sự lái thẳng máy bay theo đường băng cất hạ cánh, tiến hành những thay đổi trong nhiệm vụ bay và sử dụng vũ khí. Hệ thống này yêu cầu hoạt động tin cậy của toàn bộ các hệ thống mang theo. Bởi vì hỏng một trong số chúng có thể dẫn đến tai nạn. Việc này có nghĩa rằng việc chế tạo “cánh bay” ở Nga yêu cầu tiến hành toàn bộ các công việc nghiên cứu khoa học và nghiên cứu – thiết kế trong lĩnh vực điện tử.

(http://i1290.photobucket.com/albums/b522/shevcheko2004/B-2spirit_zps988a58b2.jpg)
B-2 Spirit

Việc nghiên cứu chế tạo máy bay ném bom trước âm cho phép quân đội trong tính toán sau cùng nhận được máy bay ném bom có tính kinh tến với tải trọng mang bom lớn và tầm bay xa. Trên máy bay sẽ lắp động cơ phản lực luồng kép với chế độ đốt cao. Ưu điểm của thiết bị động lực này có nhiều. Cụ thể, trong chúng, luồng khí sẽ thổi theo hai luồng: qua máy nén khí và buồng đốt tới đường vòng qua đường bao ngoài. Trong trường hợp thứ hai, luồng không khí không thổi qua buồng đốt, trong trạng thái không đổi, phụt qua vòi phun, tạo thành lực kéo bổ sung và giảm nhiệt độ khí thoát ra từ động cơ. Ngoài ra, động cơ với mức độ phụt lớn mặc dù không thể lên tới tốc độ siêu âm, nhưng có tiếng ồn thấp và yêu cầu ít nhiên liệu.

Ví dụ, động cơ tuabin phản lực luồng kép D-30KP-2 (sử dụng trên máy bay vận tải Il-76) có thể có sức kéo 6800 cân-lực và yêu cầu ít hơn 0,79kg nhiên liệu/kg-lực/h. Các chỉ số tương tự đối với động cơ AL-31F với mức độ đốt thấp (lắp trên máy bay tiêm kích Su-27) là 7800kg-lực (12 500kg-lực trong chế độ tăng tốc) và 0,75kg nhiên liệu/h. (1,92kg – chế độ tăng tốc). Khi đó, theo tính toán, khối lượng cất cánh tối đa của Il-76 là 217 tấn, còn Su-27 hai động cơ – 30 tấn. Mặc dù vậy, sự tiêu thụ nhiên liệu riêng theo tiêu chuẩn của D-30KP-2 cao hơn không nhiều so với AL-31F. Khi tính toán lại trọng tải có ích (đơn vị kilogram), nó (động cơ D-30KP-2) thấp hơn đáng kể.

Quyết định phát triển khái niệm máy bay ném bom dưới âm hầu như phù hợp với xu hướng chung của thế giới. Ví dụ, ở Mỹ, đầu những năm 2000, đã lên kế hoạch chế tạo máy bay ném bom tầm xa siêu âm mới. Năm 2009, ý tưởng này đã bị từ bỏ. Khả năng bay siêu âm đối với máy bay ném bom trước đó là một trong những khả năng vượt qua (chọc thủng) hệ thống phòng không của đối phương. Theo nguyên tắc này, máy bay ném bom Tu-160 của Nga đã được chế tạo cũng như ở Mỹ là B-1B Lancer. Các máy bay này bay phần lớn trên tốc độ tuần tra dưới âm. Còn khi sử dụng tốc độ siêu âm trên tầm cao lớn – để vượt qua hệ thống phòng không.

Các khí tài phòng không hiện đại bảo đảm bắn cháy các khí tài bay trên tốc độ (4,8km/s – S-400), độ cao và tầm xa lớn. Việc chế tạo các khí tài bay tốc độ cao có khả năng chọc thủng các hệ thống phòng không hiện đại theo như ngân sách của Mỹ rất đắt và rõ ràng không đạt hiệu quả 100%. Theo nguyên nhân này, Lầu Năm Góc đã tiếp nhận giải pháp chế tạo máy bay ném bom thế hệ mới NGB với sự tiếp nhận tối đa công nghệ tàng hình. Máy bay cũng được chế tạo theo sơ đồ “cánh bay” và sẽ không bay ở tốc độ siêu âm.

Máy bay Mỹ thay vì tốc độ siêu âm sẽ nhận được sự phòng thủ khỏi hậu quả của vụ nổ hạt nhân, tổ hợp vô tuyến điện tử mang theo mới với sự kết nối vào mạng thông tin toàn cầu của Lầu Năm Góc, vũ khí và các khí tài áp chế điện tử. Có thể, PAK DA của Nga cũng được chế tạo theo nguyên tắc này. Như đã thấy, nếu chỉ có một sẽ không đủ đối với tổ hợp đầy đủ, mà là modul. Rõ ràng nó cho phép trong tương lai rút ngắn thời tiến hành nâng cấp các phần tử cần thiết của máy bay.


Tiêu đề: Tổ hợp hàng không Không quân tầm xa
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Ba, 2013, 12:29:13 am
(http://i1290.photobucket.com/albums/b522/shevcheko2004/pic_1362396871_zpsd1ad663d.jpg)

Hệ thống động cơ tuabin phản lực luồng kép

1. Quạt;

2. Máy nén khí áp suất thấp (thấp áp);

3. Máy nén khí cao áp;

4. Buồng đốt;

5. Tuabin cao áp;

6. Tuabin thấp áp;

7. Vòi phun;

8. Rotor (khối quay) cao áp;

9. Rotor thấp áp.


Tiêu đề: Cánh bay (Летающее крыло)
Gửi bởi: daibangden trong 08 Tháng Ba, 2013, 12:07:26 am
Cánh bay (Летающее крыло)

http://www.lenta.ru/articles/2008/05/23/x48b/

Giữa những năm 1990, công ty McDonnell Douglas (nhanh chóng gia nhập thành phần tập đoàn Boeing) đã bắt đầu tiến hành các nghiên cứu trong lĩnh vực chế tạo máy bay theo sơ đồ Blended Wing Body (BWB) không có (thể hiện) sự kết hợp của cánh và thân. Bố cục này là một trong những biến thể xa của sơ đồ nổi tiếng “cánh bay”. Năm 1997, công ty McDonnell Douglas cùng với cơ quan NASA đã chế tạo mẫu (mô hình) máy bay BWB không lớn đầu tiên (sải cánh – 5,2 mét). Mẫy trang bị động cơ chong chóng (cánh quạt) đơn giản. Trong cùng năm, các thí nghiệm của nó đã diễn ra thành công.

Sau đó, tập đoàn Boeing, NASA và phòng thí nghiệm nghiên cứu Không quân Mỹ đã bắt đầu chế tạo máy bay BWB với ba động cơ tuabin phản lực. Đầu năm 2000, phòng nghiên cứu thuộc tập đoàn Boeing – Phantom Works, trên thực tế là định hướng ngành hàng không vũ trụ thế giới trong tương lai, bằng nghiên cứu của mình, đã dẫn tới việc chế tạo (đóng) trực tiếp mẫu bay không người lái tốc độ thấp BWB-LSV (Blended Wing Body – Low Speed Vehicle), sải cánh của nó bằng 14% so với sải cánh máy bay trong tương lai. Mẫu được chế tạo được dùng để đánh giá những ưu điểm và nhược điểm của sơ đồ BWB khi cất cánh, bay và hạ cánh. Cuối năm 2001, dự án nhận tên gọi chính thức X48A. Chỉ số “X” nhằm xác nhận sự tăng cường quan tâm của Lầu Năm Góc trong nghiên cứu các khả năng chế tạo máy bay chiến đấu theo sơ đồ Blended Wing Body.

Mẫu X48A có sải cánh 10,7 mét và được chế tạo từ vật liệu composite. Trên đó lắp ba động cơ tuabin phản lực nhỏ Williams J24-8. Tuy nhiên vào năm 2002, chính phủ Mỹ do vấn đề trong nghiên cứu hệ thống điều khiển bay của máy bay mới đã ra quyết định dừng dự án X48A. Mặc dù vậy, tập đoàn Boeing và NASA đã tiếp tục nghiên cứu các công việc trong lĩnh vực hệ thống Blended Wing Body và tiến hành các thí nghiệm trên mặt đất của X-48A trong năm 2003 và các thí nghiệm bay năm 2004. Ngoài ra, năm 2002, tập đoàn Boeing đã ký hợp đồng với công ty Anh Cranfied Aerospace để nghiên cứu và chế tạo mẫu máy bay BWB nhỏ (8,5% so với kích thước máy bay thật trong tương lai với sải cánh 6,4 mét).

Tháng 6 năm 2005, máy bay nhận tên gọi X-48B. Tháng 11 cùng năm, các đại diện của tập đoàn Boeing đã tuyên bố rằng đã chế tạo hai mẫu máy bay thí nghiệm (Ship-1 và Ship-2) và sự bay của một trong các mẫu này được lên kế hoạch năm 2006. Vào thời gian này, NASA đã tiến hành thí nghiệm trong ống khí động mẫu máy bay 3% so với kích thước thật (sải cánh 3,7 mét).

Lúc đầu, máy bay X-48B “số 1” (Ship-1) đã trải qua chu kỳ thí nghiệm trọn vẹn trong ống khí động của Viện tổng hợp Old Dominion, nơi các chuyên gia hy vọng nhận được đầy đủ hơn về các thông số của các mẫu bay được chế tạo theo sơ đồ BWB. Sau các thí nghiệm này, mẫu “1” đã được đưa tới Trung tâm thí nghiệm bay Dreiden của NASA ở căn cứ Không quân Mỹ Edwards tại California, nơi bắt đầu các thí nghiệm trên mặt đất của hai mẫu X-48B. Trong quá trình các thí nghiệm trên bộ, đã kiểm tra khả năng hoạt động của hệ thống động cơ và nhiên liệu, thời gian hoạt động của pin, độ tin cậy trong truyền tải thông tin viễn trắc, hệ thống bảo đảm lập trình mang theo, đồng thời các sự lăn bánh thí nghiệm (thí nghiệm trên đường lăn) trên các tốc độ thấp và cao.

Lần bay đầu tiên của mẫu không người lái của máy bay X-48B diễn ra ngày 20 tháng 7 năm 2007. Đối với các thí nghiệm bay đã sử dụng mẫu X-48B “số 2” (Ship-2), con mẫu đầu tiên đóng vai trò dự bị. Mẫu bay được điều khiển từ mặt đất với sự hỗ trợ của bảng điều khiển từ xa và màn hình. Thông tin tới màn hình được nhận từ máy quay phim, lắp đằng trước mẫu.

(http://i1290.photobucket.com/albums/b522/shevcheko2004/First_X-48B_flight_zpsd16788af.jpg)
X-48B

Trong giai đoạn thí nghiệm bay đầu tiên đã thực hiện 11 lần bay trên mẫu thí nghiệm X-48B ở tốc độ thấp, không vượt quá 113km/h. Trong quá trình các thí nghiệm sau cùng, việc cất và hạ cánh được thực hiện trên tốc độ 140km/h.

Trong khuôn khổ giai đoạn hai của các thí nghiệm, đã đánh dấu việc thực hiện 8 chuyên bay của thiết bị không người lái. Sau đó, bắt đầu kiểm tra các thông số lái trên các tốc độ gần âm thanh (tốc độ cận âm). Tổng cộng, chương trình thí nghiệm sẽ diễn ra trong sáu giai đoạn.

Cả hai mẫu có sải cánh gần 6,4 mét và khối lượng gần 500 kilogam. Vỏ bọc cánh được chế tạo từ vật liệu composite. Tốc độ tuần tra của X-48 là gần 200km/h, trần bay – gần 3000 mét.

Theo các nghiên cứu, máy bay được chế tạo theo sơ đồ BWB sẽ tiêu thụ nhiên liệu chất đốt ít hơn 20% so với máy bay chế tạo theo sơ đồ cổ điển. Khi đó, việc không có cánh đuôi và bố trí các động cơ ở bề mặt trên của cánh bảo đảm giảm đáng kể các chỉ số tiếng ồn của máy bay.

Theo tuyên bố của lãnh đạo dự án X-48B, khái niệm mới về máy bay có tiềm năng lớn và có thể đáp ứng nhiều yêu cầu của Không quân Mỹ. Như việc chế tạo máy bay hữu dụng theo sơ đồ BWB sẽ mở rộng (làm tăng) một cách đáng kể các khả năng đưa vào khu vực xung đột các lực lượng mạnh và khí tài trong thời gia rất ngắn. Khi đó, sự cải tạo các máy bay tương tự thành máy bay tiếp liệu sẽ dẫn đến sự điều chỉnh các quan niệm tiến hành các chiến dịch tấn công đường không.

Ngoài ra, thể tích lớn trong máy bay BWB cho phép bố trí trong nó khí tài kỹ thuật tính toán mạnh và thiết bị đi kèm để kiểm soát và điều khiển binh lính, thực tế cho phép chế tạo các trạm chỉ huy trên không đa chức năng, có khả năng tiến hành điều khiển đồng thời các lực lượng trên không, trên biển và trên bộ.

Thông tin thêm: năm 2007, tạp chí Times đã công nhận mẫu máy bay X-48B là sáng chế của năm.


Tiêu đề: Đội bay biểu diễn "Chim én"
Gửi bởi: daibangden trong 23 Tháng Ba, 2013, 05:40:38 pm
Lịch sử đội bay “Chim én”

(http://i1290.photobucket.com/albums/b522/shevcheko2004/41B043E0433043E04420438043F0_41F04130_421044204400438043604380_zps88119b83.jpg)
Phù hiệu đội bay

Đội bay cao cấp (AGVP) “Chim én” thuộc Không quân Nga. Thành lập mùng 6 tháng 5 năm 1991 trên căn cứ Trung đoàn Không quân Cận vệ Cờ đỏ số 237 Proskursky huân chương Kutuzov và Alecsandr Nevski từ trong số các phi công xuất sắc nhất của căn cứ Không quân Kubinka và Nga. Đội bay nằm trong biên chế Trung tâm trưng bày khí tài kỹ thuật hàng không mang tên I.N.Kozhedub (TsPAT).

Sự thành lập đội các phi công chiến đấu để nâng cao khả năng làm chủ khí tài kỹ thuật yêu cầu kỹ năng lái cao để thực hiện bay biểu diễn trên Mig-29 đã bắt đầu ở Kubinka trong những năm 1980. Sau đó, vào tháng 7 năm 1983, trong biên chế Trung đoàn Không quân Cận vệ số 237 Proskurovsky đã gia nhập 20 máy bay tiêm kích Mig-29. Các phi công của 1 phi đội thuộc trung đoàn đã bắt đầu huấn luyện giữa năm 1984. Vài tháng sau đó, đội phi công được huấn luyện đã sẵn sàng thực hiện bay “hình thoi” trên Mig-29. Năm 1990, nhiệm vụ được đặt ra cho các phi công, nắm vững khả năng bay trong đội hình đầy đủ với 6 máy bay và họ đã thực hiện nhiệm vụ thành công một rực rỡ. Các phi công đã bay với tốc độ cao và cự ly giãn cách 3 mét, thực hiện các động tác bay phức tạp.

Ngày “sinh nhật” chính thức của đội là mùng 6 tháng 5 năm 1991, khi đội bay lần đầu tiên bay biểu diễn trên các máy bay được sơn màu riêng với tên gọi “Chim én”. Sau đó, Nguyên soái Không quân Ivan Kozheduv đã tự mình trao cho các phi công trong đội huân chương “Vì sự củng cố hợp tác quân sự giữa các quốc gia”.

Buổi biểu diễn công khai đầu tiên của “Chim én” diễn ra trong tháng 5 năm 1992 ở Pháp nhân ngày lễ trên không, kỷ niệm 50 năm phi đội (thuộc trung đoàn) “Normandi-Neman”. Đội bay đã trình diễn các kỹ năng của mình trước người xem phương Tây. Sáu phi công trong đội hình đã thực hiện thực tế toàn bộ các kỹ thuật lái cao cấp: ngoặt nghiêng gấp, bay nghiêng kiểu Nesterov, bay dạng “kim cương”…Đội hình bay thay đổi liên tục – “góc phương vị” chuyển sang “phong bì”, “chữ thập”, “kim tự tháp”, “cánh” và “hình ngôi sao”. Buổi biểu diễn kết thúc bằng việc các máy bay tản ra theo hình “hoa tu líp” và kèm theo pháo hoa từ thiết bị bắn bẫy nhiệt trên các máy bay tiêm kích.

(http://i1290.photobucket.com/albums/b522/shevcheko2004/chimen_zps4403b08c.jpg)

Năm 1993, “Chim én” tham gia triển lãm hàng không LIMA’93 trên quần đảo Langkawi ở Malaisia, đồng thời ngày lễ trên không ở Bỉ và Thái Lan. Ngoài ra, trong triển lãm ở Thái Lan, đội các chuyên gia hàng không đã lập kỷ lục về tốc độ lắp ráp máy bay: bộ phận thợ máy – kỹ sư của nhóm trong vòng 3 ngày đã lắp ráp và chuẩn bị sẵn sàng bay cho 4 Mig-29 – được đưa tới đó trong dạng tháo rời từng phần trên máy bay vận tải An-124 “Ruslan”.

Năm 1993, đội bay biểu diễn “Chim én” đã được tặng danh hiệu “Đội bay biểu diễn xuất sắc trên thế giới”.

Bắt đầu từ năm 1991, đội bay “Chim én” thực hiện mỗi năm hơn 50 lần bay biểu diễn. Các phi công trong đội đã tới Phần Lan, Thụy Điển, Thái Lan, Malaisia, Bỉ, Đức, Italia, Áo và Trung Quốc… tổng cộng hơn 28 nước. Đội cũng tham gia thường xuyên trong các cuộc duyệt binh trên không ở Tushino và triển lãm hàng không ở Zhucovsky. “Chim én” đã nhiều lần tham gia bay biểu diễn trong các ngày lễ kỷ niệm Ngày thành phố, tham gia ngày lễn 850 năm Moskva.

Kỷ niệm 65 năm thành lập Trung đoàn Cận vệ số 237 thuộc Trung tâm trưng bày khí tài hàng không tháng 3 năm 2003, đội bay “Chim én” cùng với 4 máy bay thuộc “Các dũng sĩ Nga” đã bay trong đội hình chung với 10 máy bay. Ngày 12 tháng 6 năm 2003 – ngày Độc lập của Nga, lần đầu tiên sau lệnh cấm bay thời gian dài, 10 máy bay của hai đội “Chim én” và “Các dũng sĩ Nga” đã bay trên bầu trời Quảng trưởng Đỏ ở Moskva.

Năm 2004, trong đội bay biểu diễn chung của hai đội “Chim én” và “Các dũng sĩ Nga” với 9 máy bay (5 Su-27 và 4 Mig-29) theo đội hình “hình thoi” đã thực hiện đầy đủ các kỹ năng bay cao cấp. Sự kiện này là kỷ lục thế giới trong lịch sử hàng không.

Mùng 9 tháng 5 năm 2005, kỷ niệm 60 năm Chiến thắng Vĩ Đại, “Chim én” cùng “Các dũng sĩ Nga” trong đội hình 9 máy bay đã thực hiện chuyến bay lịch sử trên Quảng trường Đỏ ở Moskva.

(http://i1290.photobucket.com/albums/b522/shevcheko2004/chimenmig-29_zps4cfdd917.jpg)

Từ thời điểm đó, các cuộc duyệt binh trên không của hai đội bay “Chim én” và “Các dũng sĩ Nga” qua Quảng trường Đỏ đã trở thành truyền thống.

Trong triển lãm hàng không MAKS-2007, đội biểu diễn gồm 9 máy bay từ “Chim én” và “Các dũng sĩ Nga” (4 Mig-29 và 5 Su-27) lần đầu tiên trong lịch sử hàng không thế giới đã thự hiện bài bay cấp cao hình “kim cương lớn” (“hình thoi lớn”, “hình thoi kết hợp”).

Các phi công của đội xử lý và thực hiện không chỉ các thao tác bay cao cấp mà còn toàn bộ các nhiệm vụ đối với trung đoàn tiêm kích chiến đấu.. Toàn bộ các chuyến bay biểu diễn của “Chim én” trên máy bay tiêm kích tiền duyên Mig-29.

Việc huấn luyện phi công cấp cao diễn ra theo nguyên tắc chung – “từ đơn giản đến phức tạp”, và, phi công được huấn luyện biểu diễn trên khí tài kỹ thuật hàng không qua 2-3 năm sau khi gia nhập nhóm. Thời gian bay trung bình trong một năm của phi công là từ 60 đến 100 giờ.

Các vấn đề tổ chức bay biểu diễn của đội “Chim én” trên lãnh thổ Nga cũng như ở nước ngoài nằm trong  các Cục tương ứng thuộc Bộ tư lệnh Không quân và Cục hợp tác quân sự thuộc Bộ quốc phòng Nga.

Chỉ huy đội bay “Chim én” – Valery Morozov.


Tiêu đề: Các dũng sĩ Nga - Русские Витязи
Gửi bởi: daibangden trong 24 Tháng Ba, 2013, 12:12:50 am
Lịch sử đội bay "Các dũng sĩ Nga"

(http://i1290.photobucket.com/albums/b522/shevcheko2004/Russian_Knights_logo_zps205b7df3.jpg)
Phù hiệu đội bay

Tên gọi của đội bay “Các dũng sĩ Nga” đã được biết đến lần đầu tiên vào năm 1991. Việc thành lập nhóm phi công cấp cao đầu tiên đã diễn ra từ năm 1989, khi trong biên chế của phi đội không quân Trung tâm trưng bày kỹ thuật hàng không gia nhập các máy bay tiêm kích Su-27. Các phi công thí nghiệm làm chủ khí tài kỹ thuật mới rất nhanh và nhanh chóng tham gia và các chuyến bay huấn luyện theo bay đôi, bay ba, sau đó là bay bốn theo đội hình “hình thoi”. Bay số 1 của “hình thoi” là Anatoli Arestov, bay trái – Alecsandr Dyatlov, bay phải – Ivan Kirsanov và bay cuối cùng (khóa đuôi) – Vladimir Bukin. Cơ động theo nhóm không hề đơn giản. Kích thước và khối lượng máy bay, quán tính cũng như khí động lực ưu tú của máy bay là những nguyên nhân chính gây ra sự phức tạp khi bay cùng nhau trên bầu trời. Chỉ có ước mơ và sự kiên cường lớn mới giúp các phi công Nga vượt qua được mọi khó khăn.

Đầu năm 1991, nhóm bay được thành lập đầy đủ với 6 máy bay: dẫn đầu – Vladimir Basov, bay trước–trái: Aleeecsandre Dytlov, phải – Sergei Ganichev, bay khóa đuôi – Vladimir Bukin, bay (sau) ngoài-trái – Vladimir Bazhenov, bay (sau) ngoài-phải – Alecsandr Lichkun.

(http://i1290.photobucket.com/albums/b522/shevcheko2004/russkie-vityazi-1024_zps5637db83.jpg)

Sự kết hợp chặt chẽ giữa nguồn gốc lịch sử, các bài hát về tráng sĩ Nga, tính thần dũng cảm và lòng quả cảm có một không hai đã hình thành ngay sau đó và không bị gián đoạn trong toàn bộ quá trình tồn tại của nhóm.

Ngày ra đời của “Các dũng sĩ Nga” là mùng 5 tháng 4 năm 1991.

Ngày 24 tháng 8 năm 1991, bốn tháng rưỡi sau khi ra đời, tên gọi “Các dũng sĩ Nga” lần đầu tiên vang lên ở ngoài biên giới – trong triển lãm hàng không tại Poznani (Ba Lan). Khi đó, trưởng nhóm Vladimir Bazhenov đã thực hiện bài bay đơn. Lần bay này là điểm khởi đầu cho việc tạo dựng hình ảnh riêng của “Các dũng sĩ”. Phải mất gần một tháng cho các chuyên gia Phòng thiết kế thí nghiệm “Sukhoi” nghiên cứu thiết kế thống nhất và thực hiện sơn lên toàn bộ các máy bay tiêm kích của đội.

Mùa xuân năm 1991, “Các dũng sĩ Nga” đã xuất hiện trên bầu trời nước Anh. Basov, Dyatlov, Ganichev, Bukin, Bazhenov và Lichkun trên các Su-27 sơn màu tươi sáng đã bay theo đội hình qua cung điện Nữ hoàng ở Scotland. Đội còn tiếp tục bay ở Anh trong các triển lãm hàng không ở Lyukerse và Finninglei, nơi “Các dũng sĩ” đã bay cùng phi đội “Red Arrows” của Anh.

Cũng trong mùa thu này, ở triển lãm hàng không tại Pragha, “Các dũng sĩ Nga” đã giới thiệu Vladimir và Igor Tkacheko bay trên Su-27UB trong bài bay đơn. Hiệu quả của bài biểu diễn rất mạnh, các phi công Mỹ trên F-15 của họ đã nằng nặc từ chối bay biểu diễn vì lo ngại phải làm “nền” cho các phi công Nga.

Một tháng sau khi trở về Tổ quốc, đội bay đã được mời tới Malaisia để tham gia triển lãm hàng không LIMA’91.

Mùa đông đi qua cùng các đợt huấn luyện, tháng 6 năm 1992, hai “cặp” được đưa đến Portland (Mỹ) trong triển lãm hàng không “Hội diễn hoa hồng” (Festival hoa hồng). Bazhenov, Grigoriev, Basov và Lichkun đã đi theo đội. Và sau đó một tháng, một lần nữa bay biểu diễn ở Mỹ - tại Alaska (sân bay Bradley).

Các sự kiện đáng chú ý đối với đội bay là vào mùa thu năm 1992. Đầu tháng 9, đội bay của Không quân Mỹ Blue Angels đã tới căn cứ không quân ở Kubinka. Cùng với các vị khách, các phi công đã biểu diễn trên sân bay của mình và sau đó, là màn bay biểu diễn rực rỡ kỷ niệm Ngày thành phố trên bầu trời Tushino ngoại ô Moskva. Trong tuần sau, “Các dũng sĩ” đã bay biểu diễn kỷ niệm 50 năm trung đoàn nổi tiếng “Normandi-Neman” ở Reims (Pháp), nơi bay theo hai biên đội 4 máy bay. Trên bầu trời, Bazhenov, Kovalsky, Grechanov và Lichkun trên các Su-27 của mình bay cùng với đội bay F-1 Mirage. Khi đó cũng diễn ra sự làm quen của các phi công Nga với đội bay biểu diễn của Pháp “Patrul de France”. Trên sân bay thành phố Salon-de-Provans, “Các dũng sĩ Nga” trên Su-27 đã thực hiện bay biểu diễn chung với các máy bay nhỏ hạng nhẹ Alpha-Jet.


Tiêu đề: Các dũng sĩ Nga - Русские Витязи
Gửi bởi: daibangden trong 24 Tháng Ba, 2013, 12:14:21 am
Tháng 4 năm 1993, các phi công biểu diễn được mời đến Hà Lan, nơi đội bay biểu diễn ở triển lãm hàng không của Không quân Hoàng gia Hà Lan trên sân bay Leuwarden.

Tháng 8 cùng năm, trên sân bay Ebbotsford, lần bay biểu diễn của “Các dũng sĩ Nga” đã kết thúc bằng sự kiện hài hước: các phi công Canada đã tranh cãi với các phi công Nga về việc máy bay tiêm kích Su-27 kém F-18 Hornet của họ. Cuộc tranh cãi đã được giải quyết trước sự chứng kiến của 200 000 người – “Các dũng sĩ Nga” trong trận không chiến giả định (tập dượt) đã dành chiến thắng không bàn cãi (tuyệt đối) trước “Hornet”, và chứng minh ưu thế vượt trội của Su-27.

Tháng 9, đội bay biểu diễn ở triển lãm Hàng không vũ trụ quốc tên lần thứ nhất MAKS-1993. Thậm chí, mây thấp không gây cản trở cho các phi công – ách thể hiễn trình độ của họ khi bay ở tầm thấp.

Ngày 11 tháng 9 năm 1993, đội bay đã biểu diễn trên bầu trời thành phố Gorodets, nơi diễn ra việc khánh thành đài kỷ niệm dũng sĩ huyền thoại của Nga ở thế kỷ XIII – Alecsandr Nevsky.

Tháng 12, đội bay một lần nữa tới quần đảo nhiệt đới Langkawi để tham gia triển lãm hàng không LIMA’93. Hành trình bay qua Taskent, Deli, Kalkutta, Rangon (Yangon). Khách xem và những người tham gia triển lãm đã chứng kiến các bài bay biểu diễn của Vladimir Bazhenov, Alecsandr Lichkun, Vladimir Grưzlov, Boris Grigoriev.

Mùa bay biểu diễn năm 1994 đối với các phi công bắt đầu vào tháng 5. “Các dũng sĩ Nga” đã tới Bratislava để tham gia triển lãm hàng không SAID-94. Phi công của nhóm – đại úy Igor Tkachenko đã biểu diễn bay đơn trên bầu trời thủ đô Slovakia, chiếm vị trí thứ nhất trong đẳng cấp bay này.

Tháng 6, tiếng vỗ tay hoan hô từ người xem dành cho các phi công Nga khi biểu diễn ở sân bay Gardemoen ở Na Uy – triển lãm hàng không quốc gia. Một tháng sau, đội bay Nga đã bay 6 trên bầu trời thành phố Ostend (Bỉ). Sau khi tham gia triển lãm hàng không với hai “cặp” do các phi công Bazhenov và Kilmov cùng Lichkun và Sưrovoi, không lâu sau, họ “tạm vắng mặt” ở nước láng giếng Lucxemburg trong triển lãm hàng không “Zurni Del Eyer”.

Mùng 3 tháng 9 – Ngày thành phố Moskva, “Các dũng sĩ Nga” trong vòng 42 phút đã “vẽ” trên bầu trời đồi Cúi chào (Công viên chiến thắng) những bài bay cao cấp phức tạp nhất. Các phi công đã bay trong khu vực trải tới hướng tây tính từ đài kỷ niệm là 3 kilomet.

Ngày 24 tháng 10 cùng năm, “Các dũng sĩ Nga” đã tham gia cuộc duyệt binh trên bầu trời Ashkhabad – Turmenistan kỷ niệm 3 giành độc lập.

Trong tháng 10, các phi công trong đội tiếp tục công việc truyền thống lâu đời của Kubinka – hộ tống các máy bay của chính khách nổi tiếng. Lần này, họ hộ tống máy bay chở nữ hoàng Anh Elizabeta II.

(http://i1290.photobucket.com/albums/b522/shevcheko2004/Russian_Knights_zpsd1b59cce.jpg)
Bay 4 theo đội hình "hình thoi"

Mùng 9 tháng 5 năm 1995, là ngày lịch sử không chỉ ở Nga và còn là lịch sử đối với nhóm. Toàn thế giới kỷ niệm 50 năm kết thúc Chiến tranh Thế giới thứ hai, trong ngày thiêng liêng mùng 9 tháng 5 này, sáu máy bay của “Các dũng sĩ Nga” lần đầu tiên đã bay trong đội hình lớn khí tài kỹ thuật hàng không trên bầu trời đường Mozhaisky, đồi Cúi chào và đại lộ Kutuzov.

Trên toàn thế giới, các bài biểu diễn của “Các dũng sĩ Nga” nhận được những tràng vỗ tay và sự tán thưởng của người xem như trong triển lãm hàng không sau đó ở Malaisia tháng 12 năm 1995. Nhưng sau buổi trình diễn này, tất cả trong số họ, không trở về nhà - ở Kubinka đầy đủ… Ngày 12 tháng 12, 3 máy bay của “Các dũng sĩ Nga” đã va phải núi do thời tiết xấu. Việc này xảy ra trong khi hạ cánh xuống sân bay Cam Ranh để tiếp nhiên liệu. Bốn phi công trong đội đã hy sinh – Trung tá Cận vệ Boris Grigoriev, các Trung tá Cận vệ Alecsandr Sưrovoi, Nikolai Grechanov và Nikolai Kordyucov. Các phi công đã yên nghỉ ở nghĩa trang làng Nikolskoe gần Kubinka. Tháng 10 năm 1996, trên mộ các phi công hy sinh đã khánh thành đài tưởng niệm.

Đối với các phi công, đây là những giai đoạn khó khăn. Tổn thương về tinh thần là nặng nề nhất. Các phi công đội bay “Red Arrows” đã có sự giúp đỡ lớn cho các đồng nghiệp của họ khi mời “Các dũng sĩ” tới căn cứ của họ.

Chỉ vào tháng 4 năm 1996, “Các dũng sĩ” mới bắt đầu xử lý bay đôi, sau đó, bắt đầu lại “bay ba” và cuối cùng là “hình thoi” (bay 4) với sự tham gia của Lichkun, Klimov, Kovalsky và Bukin. Trong các phân xưởng thuộc xưởng sửa chữa hàng không (ARZ) số 430 đã sơn lại ba máy bay hai chỗ ngồi (UB – số 20, 24, 25) và máy bay “chiến đấu” Su-27 (số 15). Phía trên các máy bay là màu xanh da trời, ở dưới, chuyển từ màu trắng sang xanh lam (xuất hiện “mũi tên” dưới buồng lái), phần đầu cánh và bộ phận giữ thăng bằng ở dưới sơn màu đỏ. Các máy bay, trong hình dạng quen thuộc, gần giống “mũi kim”.


Tiêu đề: Các dũng sĩ Nga - Русские Витязи
Gửi bởi: daibangden trong 24 Tháng Ba, 2013, 12:16:07 am
Bốn máy bay Su-27 trong màu sơn mới lần đầu tiên trình diễn bài bay hình thoi theo nhóm diễn ra trong cùng năm trong triển lãm thủy hàng không “Helendzic-96”. Và cuối cùng, năm 1997, “Các dũng sĩ Nga” đã bay biểu diễn với 6 máy bay. Bay trước, ngoài cùng bên trái là Igor Tkacheko, bên phải – Ivan Kirsanov. Tháng 6, “Các dũng sĩ” lần đầu tiên sau thời gian nghỉ nửa năm một lần nữa biểu diễn các kỹ năng của họ ngoài biên giới: bắt đầu ở thành phố Testweg (Áo), sau đó là thủ đô Bratislava ở Slovakia. Tháng 9 năm 1997, đội bay có chuyến thăm hữu nghị Pháp và tham gia lễ kỷ niệm 55 năm trung đoàn “Normandi-Neman”. Sau đó một thời gian ngắn, các phi công trên máy bay của mình đã hộ tống máy bay chở tổng thống Pháp Jaques Chirac thăm chính thức Nga.

Trong thời gian lễ kỷ niệm 850 năm Moskva, đội bay với 4 máy bay tiêm kích với càng mở (thả càng) và bật đèn pha đã xuất hiện vào buổi chiều trên đồi Chim sẻ, nơi có buổi biểu diễn của Zana-Michel Zarra. Hiệu quả rất mạnh – buổi trình diễn này chưa từng xuất hiện trong lịch sử Moskva.

Tháng 11 năm 1998, đội bay đã tham gia triển lãm hàng không “Chu Hải-98” ở Trung Quốc. “Các dũng sĩ” đã biểu diễn với 5 máy bay được lái bởi Alecsandr Lichkun, Vladimir Kovalsky, Sergei Klimov, Igor Tkacheko và Ivan Kirsanov. Nhiệm vụ dẫn đường khi bay theo các tuyến hàng không quốc tế do hoa tiêu lâu năm thuộc Trung tâm trưng bày kỹ thuật hàng không 237 – Đại tá Sergei Fomin quyết định (đảm nhiệm).

Giai đoạn 1999-2000, “Các dũng sĩ Nga” đã tham gia nhiều cuộc bay biểu diễn trên các thành phố của nước Nga, trong đó, đội đã tham gia buổi kỷ niệm 60 năm thành lập Trường đào tạo phi công quân sự cao cấp Sưzransk. Còn ngày 11 tháng 6 năm 2000, lần đầu tiên trình diễn các kỹ năng của mình trên bầu trời kinh đô Phương Bắc (Saint Peterburg).

Cuối năm 2000, đội bay một lần nữa sang Trung Quốc. Ở đây, trong lần bay sáu, có sự tham gia lần cuối cùng của phi công kỳ cựu Alecsandr Lichkun. Ở các vị trí dẫn đầu và khóa đuôi trong đội là Vicktor Asmyansky và Dmitri Khachkovsky. Trong đội bay đơn, có Igor Tkachenko. Khi trở về Kubinka, Lichkun bị tắt động cơ và bỏ máy bay, chuyển lại vị trí dẫn đầu cho trung tá Sergei Klimov. Trong năm 2001, đội bay đã tham gia vào các triển lãm hàng không khác nhau, trong đó có MAKS-2001. Trong lễ kỷ niệm 450 năm nước Cộng hòa Chuvas gia nhập vào Nga, “Các dũng sĩ Nga” đã bay biểu diễn trên sông Volga.

(http://i1290.photobucket.com/albums/b522/shevcheko2004/136751_zps2f81ec41.jpeg)

Tháng 5 năm 2002, bệnh nặng đã lấy của đội bay chỉ huy và cũng là một người tuyệt vời – Trung tá Cận vệ Sergei Nikolaevich Klimov. Chỉ huy đội bay khi đó là Igor Tkachenko và chỉ còn lại ba phi công huấn luyện: Ivan Kirsanov, Igor Tkachenko và Dmitri Khachkovsky. Vào cuối năm, đội bay được bổ sung Igor Shpak và Oleg Ryapolov để bay “hình thoi”. Mùng 10 tháng 12, họ đã thực hiện bài bay biểu diễn đầu tiên trên vùng trời Kubinka trước phái đoàn Mỹ. Còn bay bay đơn do chủ nhiệm trung tâm Anatoly Omelchenko thực hiện.

Tháng 9, trong triển lãm thủy hàng không “Helendzik-2002”, cặp Tkachenko – Khachkovsky đã tham gia biểu diễn với tổ hợp lái lắp chìm và đồng bộ.

Tháng 4 năm 2003, Omelchenko, Tkachenko, Khachkovsky, Shpak và Ryapolov đã thực hiện học chuyển loại thực tế trên Su-35.

Kỷ niệm 65 năm thành lập Trung tâm Cận vệ trưng bày kỹ thuật hàng không mang tên Kozheduv, tháng 3 năm 2003, 4 máy bay trong đội “Các dũng sĩ Nga” cùng đội bay biểu diễu “Chim én” đã thực hiện bài bay trong đội hình thống nhất với 10 máy bay.

Ngày 12 tháng 6 năm 2003, kỷ niệm Ngày độc lập, 10 máy bay đã bay trên Quảng trường Đỏ. Trong buồng lái các máy bay vào ngày này là Nikolai Dyatel, Gennadi Avramenko, Mikhail Loginov, Victor Selyutin, Vadim Shmigelsky, Igor Sokolov, Igor Shpak, Igor Tkachenko, Dmitri Khachkovsky và Oleg Ryapolov. Sau đó, đội hình “hình thoi” của “Các dũng sĩ” đã biểu diễn thành trong trong triển lãm Hải quân quốc tế ở Saint Peterburg.

Tại MAKS-2003, đội bay “Các dũng sĩ Nga” một lần nữa biểu diễn đội hình sáu máy bay. Trong vai trò bay đầu và khóa đuôi của đội là Oleg Erofeev và Andrei Alekseev.


Tiêu đề: Các dũng sĩ Nga - Русские Витязи
Gửi bởi: daibangden trong 24 Tháng Ba, 2013, 12:17:43 am
Năm 2004, trong đội hình bay biểu diễn phối hợp đã diễn ra bay chung của các nhóm “Các dũng sĩ Nga” và “Chim én” với 9 máy bay (5 Su-27 và 4 Mig-29) trong đội hình “hình thoi” với sự thể hiện toàn bộ các động tác bay cao cấp – dẫn đầu (chỉ huy) – Igor Tkachenko. Đây là kỷ lục thế giới trong lịch sử hàng không.

Trong cùng năm, đội đã biểu diễn thành công ở một số triển lãm hàng không, trong đó có “Festival các đội bay” ở Zhucovsky, trong triển lãm hàng không “Các phi công ách Chiến tranh Thế giới thứ hai” ở Monino và lần thứ ba ở triển lãm thủy hàng không tại Helendzik.

Tháng 1 năm 2005, đội bay lần đầu tiên tới bán đảo Ả rập ở Emrate thuộc Các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất trong triển lãm hàng không “Al Ein-2005”.

Mùng 9 tháng 5 năm 2005, kỷ niệm 60 năm Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, “Các dũng sĩ Nga” cùng với đội bay “Chim én” với 9 máy bay đã thực hiện chuyến bay lịch sử trên Quảng trường Đỏ. Sau đó vài ngày, đội bay chuyển tới căn cứ trên bán đảo Taimưr ở thành phố Dudika, nơi lần đầu tiên biểu diễn trên không ở vùng cực.

Mùa hè cùng năm, đội bay đã biểu diễn kỹ năng của họ ở các thành phố Saint Peterburg và Kazan. Ở các thành phố Cherepovets và Vologda đã bay thẳng 800 kilomet từ sân bay của căn cứ và không hạ cánh.

Tháng 8, “Các dũng sĩ” một lần nữa tham gia triển lãm hàng không “Các phi công ách Chiến tranh thế giới thứ hai” và triển lãm hàng không truyền thống MAKS-2005.

(http://i1290.photobucket.com/albums/b522/shevcheko2004/136744_zps61c7fb76.jpeg)

Mùa xuân, đội bay cất cánh ở Zapolyar trên bán đảo Yamal ở thành phố Salekhard, sau đó bay biểu diễu ở Akhtubinsk kỷ niệm 85 năm Trung tâm bay thí nghiệm quốc gia mà ở đó, kỹ năng bay của “Các dũng sĩ Nga” được đánh giá là các khi công thí nghiệm – chuyên nghiệp thực thụ.

Ngày 19 tháng 10 năm 2005, chỉ huy đội bay là Igor Shpak.

Đầu năm 2006, đội bay sang thăm Các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất. Trên bầu trời sa mạc Ả rập, “Các dũng sĩ” đã chiếm vị trí thứ nhất trong số các đội biểu diễn trên máy bay phản lực với sự trình diễn khả năng và chất lượng cao của Su-27. Đội thực hiện bài bay mới, trong đó có biểu diễn khả năng quay vòng theo trục dọc trong đội bay “Hình nêm”, bay ngoặt chiến đấu kép, “tai” và “thùng”. Các phi công đã được tặng huy chương vàng FAI (Liên đoàn hàng không quốc tế).

Trong năm nay, tháng 3 và tháng 11 đã có các chuyến thăm Trung Quốc, ở đó, “Các dũng sĩ Nga” đã khai trương “Năm Nga ở Trung Quốc” và tham gia triển lãm hàng không vũ trụ quốc tế “Chu Hải-2006”.

Mùng 5 tháng 4 năm 2006, đội bay biểu diễn “Các dũng sĩ Nga” kỷ niệm 15 năm thành lập bằng buổi biểu diễn trên sân bay thân thương của họ.

Cuối tháng 4, Cộng hòa Belarus đã gặp “Các dũng sĩ” trong lễ kỷ niệm trên sân bay Baranovichi. Trong cùng năm, các phi công cao cấp đã trình diễn trên bầu trời Khabarovsk và triển lãm thủy hàng không ở Helendzik. Trong ngày khai trương triển lãm, đội bay thực hiện bài bay sáu. Bay ngoài cùng bên trái là Vladimir Melnik.


Tiêu đề: Các dũng sĩ Nga - Русские Витязи
Gửi bởi: daibangden trong 24 Tháng Ba, 2013, 12:19:21 am
Trong cuộc duyệt binh trên không truyền thống trên bầu trời Quảng trường Đỏ mùng 9 tháng 5 năm 2007, một lần nữa, “Các dũng sĩ Nga” bay cùng đội hình với đội “Chim én” với 9 máy bay.

Sự kiện đáng chú ý trong lịch sử đội bay là MAKS-2007. Khi đó, tháng 8 năm 2007, lần đầu tiên trong lịch sử hàng không thế giới đã thực hiện bay dạng hình “thùng” nằm ngang trong cụm 9 máy bay chiến đấu. Nhờ hình dáng (đường viền) ngoài và tính độc đáo của nó, kiểu bay này còn gọi là “kim cương Kubinka”. Biên chế “kim cương” từ năm 2004 được duy trì thường xuyên. Các máy bay được lái bởi các phi công Igor Tkachenko, Nikolai Dyatel, Ior Sokolov, Igor Shpak, Oleg Erofeev, Andrei Alekseev, Gennady Avramenko, Viktor Selyutin và Oleg Ryapolov.

Năm 2007, đội có một số lần bay biểu diễn ở các thành phố của Nga. Đó là Rostov-na-Dony và Puskin trong mùa hè, Surgut và Khantư-Mansysk vào tháng 9.

Trong lễ kỷ niệm 95 năm Không quân Nga, “Các dũng sĩ” đã trình diễn kỹ năng của họ trên bầu trời Monino. Vài tháng trước đó, tiếng ồn từ động cơ sáu chiếc Su-27 đã vang lên trên bầu trời Saint Peterburg.

Kỷ niệm 70 năm  Trung tâm trưng bày kỹ thuật hàng không số 237, “Các dũng sĩ Nga” cùng với “Chim én” đã bay chung ngày 22 tháng 3 năm 2008 trên bầu trời Kubinka quen thuộc. Trong quá trình biểu diễn đã xếp đội hình “kim cương” trong thành phần (dạng) mới.

(http://i1290.photobucket.com/albums/b522/shevcheko2004/kimcuongkubinka_zps8d7223b5.jpg)
"Kim cương Kubinka trên bầu trời Quảng trường Đỏ (kỷ niệm 60 năm Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại)

Mùng 9 tháng 5 năm 2008, các đội bay lại thực hiện bài bay “kim cương” trong Ngày chiến thắng trên bầu trời Quảng trường Đỏ.

Ngày 28 tháng 5 năm 2008, Trung tá Cận vệ Anderi Alekseev – trước đó bay bên phải đội hình “Các dũng sĩ Nga” – đã trở thành chỉ huy đội bay.

Sau đó 1 tháng, 12 tháng 6, năm “Dũng sĩ Nga” đã bay biểu diễn ở Saransk và Penz, các chuyến bay được thực hiện từ sân bay căn cứ ở Kubinka. Ngày 20 tháng 6 năm 2008, “Các dũng sĩ” đã biểu diễn ở thành phố Kauhava (Phần Lan) trong triển lãm hàng không “Mặt trời nửa đêm”. Các chuyến bay thực hiện ở thời điểm chạng vạng tối, trong thời gian “đêm trắng”.

Cuối tháng 6, biên chế đội bay tăng lên. Trung tá Cận vệ Alecsandr Bogdan đã trải qua chương trình huấn luyện.

Đội bay  với thành phần đầy đủ đã bắt đầu huấn luyện ngay lập tức cho một số cuộc biểu diễn quan trọng trong năm 2009. Đầu tiên trong số đó là bay trên Quảng trường Đỏ mùng 9 tháng 5. Khi bay qua trái tim Moskva, phi công chỉ huy “Các dũng sĩ Nga” – Trung tá Cận vệ Igor Tkachenko đã chúc mừng toàn bộ các cựu chiến binh ngày Chiến thắng Vĩ đại trực tiếp từ buồng lái máy bay Su-27.

Ngày 24 tháng 6, đội một lần nữa bay tới Saint Peterburg, nơi cùng với các phi công đội bay “Chim én” biểu diễu trong triển lãm Hải quân quốc tế.

Ngày 11 tháng 7 năm 2009, “hình thoi” kết hợp giữa 2 Su-72 của “Dũng sĩ Nga” và 2 Mig-29 của “Chim én” đã khai mạc festival nhạc rock “Cuộc xâm lăng”.

Trước thời điểm sự kiện hàng không chính của năm – MAKS-2009 – chỉ còn nửa tháng, các phi công trong đội đã bay tập luyện gần như hàng ngày.


Tiêu đề: Các dũng sĩ Nga - Русские Витязи
Gửi bởi: daibangden trong 24 Tháng Ba, 2013, 12:21:17 am
Hai ngày trước khi khai mạc MAKS, bốn “Dũng sĩ” đã bay huấn luyện trên điểm biểu diễn ở Zhukovsky. Cuộc huấn luyện này đã xảy ra tai nạn bi thảm, chỉ huy trung tâm trưng bày kỹ thuật hàng không 237 – phi công hàng đầu trong đội Igor Tkachenko hy sinh. Nhóm đã tham gia triển lãm hàng không một cách hạn chế khi chỉ bay “hình thoi” trong ngày cuối cùng của MAKS – 23 tháng 8.

“Hình thoi” đã xuất hiện trên sân bay Zhucovsky tuyệt đối yên lặng và đã hoàn thành “bay tưởng niệm” cho Igor Tkachenko đã hy sinh. Tiếng hò reo thán phục sự quả cảm của các phi công và tiếng vỗ tay tưởng niệm về Trung tá Cận vệ Tkachenko thậm chí còn át cả tiếng gầm của 4 chiếc Su-27 trong ngày hôm đó.

Theo mệnh lệnh của Tổng thống Nga số 966 từ 22 tháng 8 năm 2009, Trung tá Cận vệ Igor Valentinovich Tkachenko được phong danh hiệu Anh hùng Liên bang Nga sau khi mất.

Năm mới 2010, chỉ huy phó đội bay – Trung tá Cận vệ Igor Shpak đã lên nắm vị trí chỉ huy “Các dũng sĩ Nga”.

Các chuyến bay huấn luyện được tiếp trục trong mùa đông, trong thành phần đội bay bổ sung Trung tá Cận vệ Sergei Seglov – người đã trải quan chương trình huấn luyện bay và chiến vị trí bay ngoài cùng bên trái trong đội hình “Các dũng sĩ Nga”.

Kỷ niệm 65 năm Chiến thắng Vĩ đại mùng 9 tháng 5 năm 2010, “chín” máy bay của Kubinka do Igor Shpak dẫn đầu một lần nữa xuất hiện trên bầu trời Moskva.

(http://i1290.photobucket.com/albums/b522/shevcheko2004/kimcuong_zps9791d3f2.jpeg)
"Kim cương Kubinka"

Năm ngay sau cuộc duyệt binh trên không ở Quảng trường Đỏ, ngày 14 tháng 5 năm 2010, kỷ niệm 90 năm (tuổi) Ivan Nikitovich Kozhedub, các phi công đội bay “Các dũng sĩ Nga” và “Chim én” đã thực hiện buổi diễn lớn trên căn cứ Kubinka.

Mùng 10 tháng 7 năm 2010, “Các dũng sĩ” và “Chim én” một lần nữa mở màn cho festival nhạc rock “Cuộc xâm lăng”.

Mùng 4 tháng 9, các phi công hai đội bay đã tới Volgagrad để tham gia kỷ niệm Ngày thánh phố và 100 năm trường đào tạo phi công quân sự cấp cao Kachinsky mà một nửa các phi công trong đội bay huyền thoại đã tốt nghiệp ở đây.

Mùa bay biểu diễn năm 2010 kết thúc bằng cuộc biểu diễn của đội ở thành phố Akhtubinsk kỷ niệm 90 năm Trung tâm bay thí nghiệm quốc gia mang tên V.P.Chkalov.

Kinh nghiệm nhiều năm biểu diễn của đội bay trên vũ đài quốc tế nhiều lần đã chứng minh trình độ cao nhất của các phi công trong đội bay “Các dũng sĩ Nga”.

Hiện nay, “Các dũng sĩ Nga” đang tiếp tục thực hiện các bài bay với 9 máy bay cùng với đội “Chim én”. Đội thực hiện một cách độc lập các bài bay cấp cao cùng 6 máy bay, trong đó có bay theo nhóm và bay đơn trong các chế độ chiến đấu giới hạn của các máy bay, không tiếc sức lực bản thân. Bởi vì đây là các phi công của đội bay huyền thoại, đối với họ, bầu trời là nơi thân thiết đã nằm trong tiềm thức.


Tiêu đề: Giải pháp gắn vũ khí Nga lên P-3C Orion
Gửi bởi: f22raptor trong 18 Tháng Tư, 2013, 10:24:28 pm
Khả năng Việt Nam sẽ mua được sát thủ săn ngầm P-3C Orion từ Mỹ là rất lớn, tuy nhiên, em nó lại không được trang bị vũ khí. Điều này có làm giảm giá trị và vai trò sát thủ săn ngầm của nó hay không?
Vấn đề đang được quan tâm ở đây là có giải pháp nào để gắn vũ khí Nga lên P-3 hay không? Nhà ta có đủ khả năng để thực hiện điều này không? Thử tưởng tượng nếu P-3C Orion có thể trang bị Kh-35 hay ngư lôi thì sao nhĩ??


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: daibangden trong 11 Tháng Năm, 2013, 12:13:37 am
Không quân Xô - Đức trong Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại

Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại bắt đầu rạng sáng 22 tháng 6 năm 1941, khi phát xít Đức phá vỡ hiệp ước Xô – Đức năm 1939, tấn công Liên Xô. Phía Đức gồm có Rumani, Italia và sau đó vài ngày là Slovakia, Phần Lan, Áo và Na Uy.

Chiến tranh kéo dài gần 4 năm và trở thành cuộc xung đột vũ trang lớn nhất trong lịch sử nhân loại. Trên mặt trận kéo dài từ biển Barents tới biển Đen, cả hai bên, trong các giai đoạn khác nhau, đã có sự tham gia từ 8 đến 12,8 triệu người; sử dụng từ 5700 đến 20 000 xe tăng và pháo (tự hành); từ 84 000 đến 163 000 pháo và súng cối; từ 6500 đến 18 800 máy bay.

Messerschmitt Bf-109 – máy bay chủ lực của phe phát xít

(http://i1290.photobucket.com/albums/b522/shevcheko2004/messerschmitt_bf109_me109_zps799e7337.jpg)

Me-109 là máy bay tiêm kích chủ lực của không quân Đức trong toàn bộ chiến tranh thế giới thứ hai. Là một trong số loại máy bay được sản xuất nhiều nhất trên thế giới. Phụ thuộc vào biến thể, loại máy bay này được sử dụng như máy bay tiêm kích, tiêm kích đánh chặn, tiêm kích tầm cao, tiêm kích – bom, máy bay trinh sát.

Lúc đầu, tập đoàn “Bayerische Flyugtsoygverke” (từ đầu, các chữ cái Bf được đặt tên cho máy bay) do Wille Messershmitt không được chấp nhận trong hợp đồng chế tạo bởi vì họ không có kinh nghiệm chế tạo các máy bay chiến đấu tốc độ cao và không ai tin rằng Messershmitt có khả năng chế tạo phiên bản thích hợp.

Me-109 lần đầu tiên được công bố trong lễ khai mạc Olimpic Berlin năm 1936.

Các thông số kỹ thuật Bf-109G-6

Tốc độ tối đa, km/h: 618

Tốc độ cất cánh, m/phút: 690

Khối lượng rỗng, kg: 2675

Khối lượng cất cánh, kg: 3400

Công suất động cơ, sức ngựa: 1455

Đội bay, người: 1

Trần bay, mét: 11 500

Tầm bay xa, km: 560.


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: daibangden trong 11 Tháng Năm, 2013, 12:17:42 am
LaGG-3  - máy bay tiêm kích từ gỗ thông và gỗ dán

(http://i1290.photobucket.com/albums/b522/shevcheko2004/lavachkin_lagg3_zps662141ad.jpg)

LaGG-3 là một trong những máy bay tiêm kích thế hệ mới được tiếp nhận vào biên chế Liên Xô ngay trước chiến tranh. Trong số những ưu điểm chính của nó là sử dụng tối thiêu trong thiết kế các vật liệu hiếm: LaGG-3 có phần lớn các bộ phận được chế tạo từ gỗ thông và gỗ châu thổ (gỗ dán, tẩm nhựa).

Gỗ châu thổ - vật liệu, tạo thành từ chất dẻo của lớp gỗ dán theo cách tẩm nhựa fenol-formaldehit hoặc cresol-formandehit, sau đó dán hoặc ép. Gỗ châu thổ có độ nén (khít) gấp đôi so với gỗ thường, nhưng tốt hơn nhiều về độ bền và khả năng chịu lửa.

Dân ủy Công nghiệp hàng không Liên Xô Alecsei Shakhurin đã kể rằng: Stalin, khi muốn kiểm tra “tính không cháy” của gỗ châu thổ, đã dùng tẩu riêng thử đốt cháy mẫu vật liệu.

Các thông số kỹ thuật LaGG-3 (dòng thứ 4)

Tốc độ tối đa, km/h: 486

Tốc độ cất cánh, m/phút: 588

Khối lượng rỗng, kg: 2610

Khối lượng cất cánh, kg: 3280

Công suất động cơ, sức ngựa: 1050

Đội bay, người: 1

Trần bay, mét: 9500

Tầm bay xa, km: 870.


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Năm, 2013, 04:37:11 pm
IL-2 – “Xe tăng bay” của Liên Xô

(http://i1290.photobucket.com/albums/b522/shevcheko2004/Il2_sturmovik_zpsdd6a0060.jpg)

Máy bay cường kích Il-2 của Liên Xô là máy bay chiến đấu có số lượng nhiều nhất trong lịch sử. Nó được sử dụng trong các trận chiến trên toàn bộ các mặt trận trong Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại.  Các công trình sư đã gọi máy bay do họ thiết kế là “xe tăng bay”, còn các phi công Đức, do khả năng sống còn cao đã gọi Il-2 là Betonflugzeug – “máy bay bê tông”.

Tổng cộng đã có hơn 36 000 máy bay được sản xuất trong giai đoạn từ năm 1941 đến 1945.

Do khả năng sống còn cao, quân địch đã gọi Il-2 là “máy bay bê tông” và “máy bay ném bom (được) xi măng hóa”.

Các thông số kỹ thuật Il-2 (biến thể năm 1944)

Tốc độ tối đa, km/h: 414

Tốc độ cất cánh, m/phút: 250

Khối lượng rỗng, kg: 4525

Khối lượng cất cánh, kg: 6360

Công suất động cơ, sức ngựa: 1720

Đội bay, người: 2 (phi công, xạ thủ)

Trần bay, mét: 6360

Tầm bay xa, km: 765


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Năm, 2013, 04:42:45 pm
Junkers-87 – biểu tượng quân xâm lược phát xít

(http://i1290.photobucket.com/albums/b522/shevcheko2004/Ju-87_zpse1d6bde4.jpg)

“Junkers” từ những này đầu chiến tranh đã tham gia ném bom Liên Xô, trở thành biểu tượng Không quân phát xít. Mặc dù tốc độ không lớn, dễ bị thương và tính năng động lực học tầm thường, Ju-87 là một trong những loại vũ khí hiệu quả nhất của Không quân Đức nhờ khả năng ném bom trong khi bổ nhào.

Mặc dù hiệu quả cao, nhưng Ju-87 không đảm bảo khả năng cơ động, không có giáp bảo vệ tốt và vũ khí tự vệ kém dẫn đến nó trở thành mục tiêu dễ bị các máy bay tiêm kích Liên Xô công kích.

Các thông số kỹ thuật Ju-87B

Tốc độ tối đa, km/h: 383

Tốc độ bổ nhào, km/h: 600

Khối lượng rỗng, kg: 2760

Khối lượng cất cánh, kg: 4320

Công suất động cơ, sức ngựa: 1200

Cất cánh lên độ cao 3000 mét, phút: 8,8

Trần bay, mét: 1200

Tầm bay xa, km: 600


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Năm, 2013, 04:45:32 pm
I-16 – chủ lực Không quân tiêm kích Liên Xô

(http://i1290.photobucket.com/albums/b522/shevcheko2004/I-16_zps2cbab0d7.jpg)

I-16 là dòng máy bay cánh đơn tốc độ cao đầu tiên trên thế giới với khung gầm thu gọn. Đầu Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, máy bay đã cũ, tuy nhiên rõ ràng, nó là chủ lực Không quân tiêm kích Liên Xô. Các phi công Liên Xô gọi nó là “con la”, người Tây Ban Nha – “con ruồi”, còn người Đức – “con chuột”.

Các phi công át (ách) nổi tiếng trên I-16

Từ trái sang phải: Tên/Số lần được phong anh hùng Liên Xô/Số lần không chiến/Số máy bay bắn rơi (cá nhân + theo đội)

Alecsandre Ivanovic Pokrưshkin / 3 / 156 / 59+6

Arseny Vasilievich Vorozhenskin / 2 / 90 / 51+4

Vladimir Ivanovich Bobrov / 1 / 159 / 43+ 24

Alecsei Vasilievich Alelyukhin / 2 / 258 / 40+ 17

Lev Libovich Shestakov / 1 / 130 / 29 + 45

Các thông số kỹ thuật I-16 kiểu 10

Tốc độ tối đa, km/h: 448

Tốc độ cất cánh lên độ cao 3000 mét, phút, 3,4

Khối lượng rỗng, kg: 1327

Khối lượng cất cánh, kg: 1716

Công suất động cơ, sức ngựa: 750

Đội bay, người: 1

Trần bay, mét: 8470

Tầm bay xa, km: 525.


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: daibangden trong 26 Tháng Năm, 2013, 12:02:12 am
Hải quân với máy bay không người lái

http://lenta.ru/articles/2013/05/15/x47b/

Василий Сычев

Thiết bị không người lái tấn công trên hạm của Mỹ X-47B UCAS-D lần đầu tiên thực hiện cất cánh bằng máy phóng từ boong tàu sân bay. Trong 2 tháng tới, đây là máy bay không người lái trên hạm duy nhất trên thế giới cất cánh từ tàu đang di chuyển và sau đó – hạ cánh trên boong với sự hỗ trợ của đường lăn bánh. X-47B là sự phô diễn công nghê mà trong hình dạng hiện nay, khí tài chưa được tiếp nhận vào biên chế Hải quân Mỹ nhanh chóng. Tuy nhiên nhờ nó, quân đội Mỹ dự kiến tiếp nhận giải pháp về không quân không người lái trên hạm, hình thành các yêu cầu cho các khí tàu thế hệ mới lớp này và đặt chế tạo chúng từ một trong các công ty của Mỹ.

Các công việc chế tạo máy bay không người lái trên hạm cho Hải quân Mỹ đã bắt đầu vào giữa năm 2000. Có hai công ty đảm nhận chế tạo các khí tài – Boeing, năm 2002 đã giới thiệu máy bay không người lái X-45 và Northop Grumman, chế tạo X-47A Pegasus. Sau đó, Bộ chỉ huy Hải quân Mỹ đã ký với Northop Grumman hợp đồng chế tạo khí tài – phô diễn công nghệ và nhận tên gọi X-47B UCAS-D (Unmanned Combat Air System – Demonstrator). Nhờ dự án này, quân đội đã lên kế hoạch đánh giá khả năng chế tạo máy bay không người lái có khả năng hoạt động cùng trên boong tàu với các máy bay có người lái cũng như nhu cầu về các khí tài lớp này.

Trong quá trình thực hiện dự án X-47B, Hải quân Mỹ nhận trách nhiệm đặt ra các yêu cầu cho máy bay không người lái tấn công trên hạm mà đầu tiên trong đó, như được nhấn mạnh, sẽ được tiếp nhận vào biên chế năm 2018. Cuộc đấu thầu chính thức chế tạo máy bay không người lái đã được tuyên bố vào tháng 3 năm 2010. Theo các yêu cầu được Hải quân Mỹ đặt ra, các máy bay không người lái trên hạm phải có khả năng hoạt động trên không không dưới 11-14 giờ với tải trọng hữu ích trong dạng khác nhau về khí tài cảm biến, vũ khí hoặc nhiên liệu để tiếp liệu từ các máy bay khác trên không. Trong máy bay cũng sẽ sử dụng các công nghệ tàng hình. Trong khi đó, các yêu cầu đặc biệt về bố cục không (chưa) được đưa ra.

Các khí tài thế hệ mới được lên kế hoạch sử dụng, trước hết, là cho nhiệm vụ trinh sát, thăm dò và giám sát, cũng như tiến hành các cuộc tấn công có độ chính xác cao vào các mục tiêu trên bộ. Tuy nhiên, các khả năng của chúng sẽ được tăng cường do áp dụng thiết kế modul. Như là, khi cần thiết, các máy bay không người lái có thể bổ sung các khí tài tác chiến điện tử, các hệ thống chuyển phát tín hiệu hoặc trang bị trinh sát chuyên dụng. Tháng 3 năm 2013, Hải quân Mỹ đã tuyên bố rằng trong các máy bay không người lái mới sẽ sử dụng các công nghệ phóng (cất cánh), hạ cánh, điều khiển và trao đổi thông tin hiện nay. Người chiến thắng trong cuộc đấu thầu chế tạo máy bay không người lái theo kế hoạch, sẽ được công bố năm 2016.

Nếu nói rõ ràng về các khí tài thế hệ mới, rất phức tạp – các công ty Boeing, General Atomics, Lokheed Martin và Northop Grumman tham gia cuộc đấu thầu của Hải quân Mỹ đều không tiết lộ các chi tiết về những dự án của mình. Trong khi đó, bản thân X-47B được chế tạo trong sơ đồ “cánh bay” với việc sử dụng công nghệ tàng hình. X-47B trang bị động cơ phản lực Pratt & Whitney F100-220U không có buồng tăng lực, có lực kéo 79,1 kiliton. Các sải cánh của máy bay là 18,93 mét, dài – 11,63 mét, cao – 3,1 mét. Để so sánh, các tham số tương ứng của máy bay tiêm kích trên hạm F/A-18E/F Super Hornet là 13,62/18,31 và 4,88 mét.

X-47B trnag bị cánh gập và 2 khoang chứa (бомбоотсека) trong bụng cho vũ khí với tổng khối lượng 2 tấn. Máy bay không người lái có tốc độ 1035km/h và tầm bay xa hơn 4000 kilomet. Hiện nay, khí tài mới chỉ được trang bị hệ thống điều khiển và trao đổi thông tin cùng trang thiết bị cần thiết để cơ động khả năng chịu tải của boong tàu sân bay. Chuyến bay đầu tiên của máy bay không người lái trên hạm diễn ra mùng 4 tháng 2 năm 2011; nó đã bị lắng xuống trong thời gian 2 năm.


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: daibangden trong 26 Tháng Năm, 2013, 12:03:26 am
Nhanh chóng sau chuyến bay đầu tiên, X-47B đã bắt đầu chuẩn bị tiến hành các thí nghiệm trên boong tàu sân bay. Tháng 11 năm ngoái, Northop Grumman cùng với các chuyên gia Hải quân Mỹ đã thí nghiệm hệ thống boong điều khiển máy bay không người lái có tên gọi CDU (Control Display Unit). Nó (CDU) kiểm soát hoàn toàn lực kéo động cơ và bộ máy bánh lái của X-47B trong khi di chuyển theo boong tàu. Sau đó, máy bay không người lái đã được đưa lên tàu sân bay “Harry Truman”, nơi đã kiểm tra khả năng cơ động của máy bay trên boong. Các thí nghiệm này đã hoàn thành trong tháng 12 năm 2012. Tháng 11 năm ngoái, X-47B cũng đã lần đầu tiên hoàn thành việc cất cánh với sự hỗ trợ của máy phóng ở bãi tập trên mặt đất.

Mùa hè năm 2013, X-47B đã được đưa lên tàu sân bay “Geogre Bush”. Lúc 11 giờ 18 phút sáng theo giờ địa phương (3 giờ 18 phút giờ Moskva – 6 giờ 18 phút, theo giờ VN) ngày 14 tháng 5, máy bay không người lái đã lần đầu cất cánh bằng máy phóng từ tàu sân bay. Ở thời điểm phóng, tàu sân bay đang ở gần bờ biển bang Virginia. Theo lời chủ nhiệm chương trình UCAS trong Hải quân Mỹ Karl Johnson, sự kiện này có tầm quan trọng thứ hai trong lịch sử Hải quân sau lần cất cánh đầu tiên của máy bay có người lái từ boong tàu sân bay năm 1915. Tổng cộng, X-47B sau khi cất cánh đã bay trên không trong 65 phút. Trong thời gian này, các nhà thí nghiệm đã thực hiện một vài lần bay tầm thấp trên (qua) boong và tiếp cận hạ cánh.

Máy bay không người lái đã hoàn thành thí nghiệm bằng việc hạ cánh trên sân bay căn cứ Hải quân Mỹ Patuxent-River ở Maryland cách địa điểm cất cánh 278 kilomet. Trong quá trình bay, máy bay không người lái đã thực hiện thành công đồng thời một số nhiệm vụ thí nghiệm. Đầu tiên, các nhà thiết kế đã thấy được (tin tưởng được) khả năng X-47B thực hiện bay và cơ động trên không trung quanh tàu sân bay. Thứ hai, đã thí nghiệm khả năng cung cấp sự điều khiển máy bay không người lái từ người điều khiển trên tàu “George Bush” cho người điều khiển ở căn cứ không quân Patuxent-River. Cuối cùng, đã kiểm tra được khả năng máy bay không người lái phối hợp với các hệ thống mang theo trên tàu sân bay.

Trong vài tháng tới, X-47B có thể tham gia thêm một số các thí nghiệm. Cụ thể, lên kế hoạch thực hiện cho máy bay không người lái cất cánh từ boong tàu đang di chuyển. Sau đó, khí tài sẽ thực hiện loạt hạ cánh với việc sử dụng đường lăn bánh trên căn cứ Patuxent-River. Theo lời Don Blottenberger – phó chủ nhiệm thứ nhất của chương trình UCAS, trên đất liền lên kế hoạch thực hiện ít nhất 10 lần hạ cánh với đường lăn bánh. Sau đó, sẽ bắt đầu giai đoạn quan trọng của các thí nghiệm – hạ cánh trên boong tàu sân bay không di chuyển và đang di chuyển, trong điều kiện biển lặng và có sóng biển. Sau đó, sẽ mở rộng thí nghiệm trong các điều kiện thời tiết mà trong đó sẽ thực hiện các chuyến bay từ boong.

Nhìn chung, chương trình thí nghiệm X-47B đang đi đến giai đoạn cuối. Theo lời Blottenberger, nó sẽ kết thúc hoàn toàn cuối năm 2013. Năm 2014, Hải quân Mỹ sẽ tiến hành phân tích toàn bộ các thông tin và kết quả đã nhận được từ việc thực hiện dự án UCAS-D và trên cơ sở đó, sẽ thành lập danh sách sau cùng các yêu cầu cho máy bay không người lái trên hạm. Từ năm 2007, Northop Grumman đã đóng (chế tạo) tổng cộng 2 nguyên mẫu bay X-47B. Hải quân Mỹ chưa có dự định đặt chế tạo thêm các máy bay không người lái. Sau các thí nghiệm cuối cùng, các khí tài đang có sẽ được đưa vào viện bảo tàng hàng không.

Năm 2014, Bộ chỉ huy Hải quân Mỹ dự kiến ký các hợp đồng chế tạo máy bay không người lái trên hạm với toàn bộ 4 công ty tham gia đấu thầu. Tuy nhiên, hợp đồng chế tạo và cung cấp chúng sẽ chỉ được ký với một trong bốn công ty này. Công ty Northop Grumman lên kế hoạch giới thiệu cho quân đội Mỹ máy bay không người lái trên cơ sở X-47B, Boeing – trên cơ sở Phantom Ray, Lockheed Martin – Sea Ghost, còn General Atomics – Sea Avenger (tiếp tục các dòng Predator đang chế tạo: M/RQ-1 Predator, MQ-9 Reaper và MQ-1 Greay Eagle). Trong toàn bộ các khí tài kể trên, hiện nay mới chỉ có X-47B và Phantom Ray tham gia các thí nghiệm bay.

Trong 30 năm tới, Bộ quốc phòng Mỹ dự kiến tăng cường số lượng khí tài không người lái trong trang bị quân đội nước này lên 4 lần – 26 000 chiếc. Việc này được thực hiện không chỉ do việc sản xuất các máy bay không người lái mà còn vì việc thay các máy bay có người lái đang có cũng như chế tạo các máy bay chiến đấu mới. Mỗi năm, số lượng công nghệ mới tăng lên, cho phép giải quyết các nhiệm vụ mà con người không thể thực hiện được. Và trong tương lai, hoàn toàn có thể xảy ra rằng các máy bay không người lái trên hạm sẽ cất cánh từ các tàu sân bay không có thủy thủ đoàn.


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: daibangden trong 01 Tháng Sáu, 2013, 12:38:27 am
Các dòng máy bay của tập đoàn "Mig" (nguồn RIA Novosti)

(http://i1290.photobucket.com/albums/b522/shevcheko2004/dongmigvmh_zps8a240f88.jpg)

từ trên xuống, từ trái sang phải

Mig-15: máy bay chiến đấu phản lưc có số lượng lớn nhất trong lịch sử.

Mi-17: phiên bản nâng cấp của Mig-15.

Mig-19: dòng máy bay tiêm kích siêu âm đầu tiên của Liên Xô.

Mig-21: dòng máy bay tiêm kích phổ biến nhất trên thế giới. Hiện nay vẫn có mặt trong trang bị Không quân một số nước.

Mig-23: máy bay tiêm kích đa năng đầu tiên của Liên Xô sử dụng cánh dạng hình học không cố định.

Mig-25: máy bay tiêm kích với tốc độ bay tới 3000km/h. Được sử dụng trong các cuộc chiến tranh Iran-Iraq, Siry-Israel và chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất.

Mig-27: máy bay tiêm kích – bom, có khả năng sử dụng vũ khí hạt nhân chiến thuật.

Mig-29: máy bay tiêm kích tiền duyên, đã tham gia trong hàng loạt các cuộc xung đột quốc tế những năm 1990.

Mig-31: máy bay tiêm kích đánh chặn hoạt động không phụ thuộc vào điều kiện khí tượng. Đang có mặt trong biên chế Không quân Nga và Kazastan.

Mig-35: máy bay tiêm kích đa năng, khác với Mig-29, trước hết là khí tài điện tử được hiện đại hóa. Lần đầu được giới thiệu trong triển lãm hàng không năm 2007. Tới lúc này, số phận của máy bay được đánh giá ra rất không tốt đẹp. Các máy bay Mig-35 sẽ bắt đầu gia nhập Không quân Nga năm 2014.

Tập đoàn chế tạo máy bay “Mig” đã:

+ thiết kế khoảng 450 dự án máy bay chiến đấu

+ 170 (dự án) trong số đó đã được (ứng) sử dụng trong thực tế

+ 94 máy bay đã được sản xuất hàng loạt

Nhãn hiệu “Mig” được lấy từ họ các Tổng công trình sư đầu tiên của Phòng thiết kế: Artem Mykoyan và Mikhail Gruevich.


Tiêu đề: Máy bay tiêm kích đa năng Su-30
Gửi bởi: daibangden trong 02 Tháng Sáu, 2013, 11:18:55 am
(http://i1290.photobucket.com/albums/b522/shevcheko2004/Su-30_zps1221b610.jpg)
(ảnh minh họa: Su-30MKI)

Một trong những sản phẩm xuất khẩu chính của tổ hợp công nghiệp quốc phòng Nga

Máy bay đang có mặt trong trang bị quân đội của 9 nước trên thế giới. Hàng loạt các biến thể của S-30 đã được chế tạo riêng cho các khách hàng nước ngoài.

Các thông số kỹ thuật

Chiều dài, mét: 21,9

Chiều cao, mét: 6,4

Sải cánh, mét: 14,7

Khối lượng cất cánh, kg

+ tiêu chuẩn: 24 900

+ tối đa: 34 500

Tốc độ tối đa, km/h

+ gần mặt đất: 1350

+ trên độ cao lớn: 2400

Tầm bay xa không cần tiếp dầu,km: 3000

Quá tải tối đa, G: 9

Động cơ: 2xAL-31FP

Đội bay, người (phi công): 2

Vũ khí

+ pháo 30mm GSh-31 với 150 viên đạn

+ 6 tên lửa “không đối không” điều khiển

+ 6 tên lửa “không đối đất” điều khiển

+ 6 bom điều khiển

+ 8 thùng bom 500kg

+ 80 rốc két (tên lửa không điều khiển)

+ trọng tải chiến đấu: 8000kg.


Tiêu đề: Su-35S – máy bay tiêm kích thế hệ 4++
Gửi bởi: daibangden trong 02 Tháng Sáu, 2013, 11:21:09 am
(http://i1290.photobucket.com/albums/b522/shevcheko2004/Su035_zps375f6aa6.jpg)

Lịch sử

Chế tạo bởi Phòng thiết kế thí nghiệm Sukhoi trên cơ sở Su-27.

Lần cất cánh đầu tiên: năm 1988.

Giữa những năm 1990, chương trình bị đóng băng (đã sản xuất tổng cộng 16 máy bay).

Khôi phục sản xuất (sau khi nâng nâng cấp triệt để): năm 2006.

Su-35 mới cất cánh lần đầu tiên: năm 2008.

Phiên bản cho Không quân Nga có số hiệu Su-35S.

Đến năm 2015, Không quân Nga sẽ nhận được 48 máy bay.

Các thông số kỹ thuật

Thế hệ: 4++

Tổ bay: 1 phi công

Khối lượng cất cánh tối đa (trên cao): 34,5 tấn

Tốc độ tối đa (trên cao): 2500km/h

Tầm bay xa (trên cao): 3600 kilomet

Trần bay thực tế: 18 kilomet

Vũ khí

Trong tải chiến đấu: 8 tấn

Bệ treo vũ khí: 12

Pháo đường không 30mm

Các loại vũ khí “không đối không” và “không đối đất” có độ chính xác cao.

Các đặc điểm chính

+ tính cơ động cao

+ tổ hợp điện tử hàng không trên cơ sở các hệ thống kiểm soát – thông tin số hóa

+ đài ra đa vô tuyến phát hiện tầm xa, tăng số lượng các mục tiêu bám bắt và tấn công.

+ các động cơ có sức kéo mạnh và véc tơ lực xoắn/vặn

+ khả năng bị ra đa địch phát hiện thấp (khả năng tàng hình cao, chỉ kém các máy bay thế hệ thứ 5)


Tiêu đề: Máy bay tiêm kích Mig-35
Gửi bởi: daibangden trong 02 Tháng Sáu, 2013, 11:37:44 am
(http://i1290.photobucket.com/albums/b522/shevcheko2004/Mig-35_zps88314d22.jpg)

Mig-35 – máy bay tiêm kích đa năng được chế tạo bởi Phòng thiết kế thí nghiệm Mykoyan trên cơ sở Mig-29, là sự phát triển sâu của các máy bay chiến đấu Mig-29K/KUB và Mig-29M/M2.

Tên gọi: Mig-35

Ký hiệu (cách đặt tên) theo NATO – Fulcrum-F

Phân lớp – tiêm kích tiền duyên hạng nhẹ

Vũ khí

1 pháo GSh-30-1 lắp chìm

Bệ treo vũ khí: 8

Trọng tải chiến đấu: 7 tấn

Có thể sử dụng toàn bộ các loại đạn điều khiển và không điều khiển lớp “không đối không” và “không đối đât” dùng cho các loại máy bay tiền duyên do Nga sản xuất.

Thông số kỹ thuật

Chiều cao, mét: 4,73

Khối lượng rỗng. kg: 11 000

Khối lượng khi mang vũ khí, kg: 17 500

Khối lượng cất cánh tối đa, kg: 29 700

Đông cơ: 2x động cơ tuabin phản lực luồng kép TRDDF kiểm soát véc tơ lực RD-33

Sức kéo tối đa: 2x9000kg lực

Trần bay, mét: 17 500

Tốc độ tối đa ở độ cao lớn, km/h: 2560

Tốc độ tối đa gần mặt đất,km/h: 1450

Khả năng chịu tải tối đa, G: 10

Tầm bay xa không tiếp liệu,km: 3100

Bán kính hoạt động (với trọng tải chiến đấu tiêu chuẩn), km: 1000

Tổ bay: 1 người (trên Mig-35D: 2 người).

Lịch sử

Được chế tạo bởi phòng thiết kế thí nghiệm Mykoyan đầu những năm 2000 trên cơ sở Mig-29 với việc sử dụng khí tài vô tuyến điện tử, động cơ và các hệ thống mới nhất.

Lần bay đầu tiên – năm 2007

Sản xuất hàng loạt – 2010 (theo dự kiến)

Số lượng máy bay đã đóng – từ 4 đến 10 (theo các thông tin khác nhau) và được lên kế hoạch sản xuất số lượng lớn

Các đặc điểm

+ động cơ với véc tơ lực vặn/xoắn

+ khả năng sử dụng vũ khí nhiều kênh

+ ra đa với lưới ăng ten mảng pha chủ động.


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: daibangden trong 22 Tháng Sáu, 2013, 12:10:58 am
Máy bay cường kích Su-25

(http://i1290.photobucket.com/albums/b522/shevcheko2004/su-25_zps8f6a77b6.jpg)

Tên gọi

Cấp quân/binh chủng: Su-25

Ký hiệu của tập đoàn: T-8

Phân lớp: cường kích

Các thông số kỹ thuật

Chiều dài: 15,36 mét

Chiều cao: 4,8 mét

Sải cánh: 14,36 mét

Diện tích cánh: 33,7m2

Tổ bay: 1 người

Khối lượng rỗng: 9500kg

Khối lượng khi mang vũ khí: 14 600kg

Khối lượng cất cánh tối đa: 17 600kh

Động cơ: 2xđộng cơ tuabin phản lực R-195

Sức kéo tối đa: 2x4500 kg lực

Trần bay: 7000 – 10 000 mét

Tốc độ tối đa trên độ cao lớn: 975km/h

Quá tải tối đa: 6,5G

Tầm bay xa không tiếp liệu: 2500km

Bán kính hoạt động không tiếp liệu, phụ thuộc vào nhiệm vụ bay, tốc độ và tải trọng: từ 150 đến 800 km

Vũ khí

1 pháo 2 nòng 30mm GSh-30-2 lắp chìm

4,4 tấn vũ khí trên 11 bệ treo

Có thể sử dụng các loại đạn điều khiển và rốc két “không đối đất”. Để tự vệ, máy bay trang bị các tên lửa “không đối không” R-60M.

Đặc điểm

Buồng lái hàn từ giáp titan

Lịch sử

Chế tạo bởi Phòng thiết kế - thí nghiệm Sukhoi cuối những năm 60-70 để yểm trợ hỏa lực cho Lục quân trên chiến trường bằng việc sử dụng các loại đạn không điều khiển. Được sử dụng nhiều trong các cuộc xung đột quân sự từ những năm 80 tới nay: chiến tranh Iraq-Iran, chiến tranh Afganistan, chiến tranh Etiofia-Eritoria, chiến tranh Chesnhia (2 lần) và các cuộc xung đột khác trên lãnh thổ Liên Xô cũ.

Tới thời điểm này, Su-25 trong Không quân Nga đang được nâng cấp theo dự án Su-25SM mà theo đó, bảo đảm sự dụng các vũ khí chính xác cao trong mọi điều kiện khí tượng.

Cất cánh lần đầu tiên: 22 tháng 2 năm 1975

Sản xuất hàng loạt: năm 1980 (Su-25) và năm 1987 (Su-25UB).

Các nước sở hữu (có Su-25 trong biên chế)

Belarus (khoảng 70 máy bay); Ucraina (khoảng 50); Gruzia (hơn 10 trước năm 2008; sau 2008: 1-2); Armenia: (10-12); Nga (250); Kazastan (khoảng 20); CHDCND Triều Tiên (khoảng 30); Uzbekistan (khoảng 10); Azerbaijan (dưới 10); Iran (khoảng 10); Eritoria (5-6); Etiofia (4).


Tiêu đề: Tu-160
Gửi bởi: daibangden trong 24 Tháng Sáu, 2013, 12:23:41 am
Máy bay ném bom chiến lược TU-160

(http://i1290.photobucket.com/albums/b522/shevcheko2004/tu-160_zpsbbba4ed0.jpg)

Máy bay mang tên lửa chiến lược siêu âm với hình dáng khí động học thay đổi

Lịch sử chế tạo

1975 – bắt đầu chế tạo ở Phòng thiết kế Tupolev

18 tháng 12 năm 1981 – bay lần đầu với tổ bay của phi công – thí nghiệm hàng đầu Boris Veremei

1987 – các máy bay bắt đầu gia nhập biên chế

Trong biên chế Không quân Nga – 15 máy bay

Theo kế hoạch – tăng lên 30.

Nhiệm vụ (mục đích sử dụng)

Tiêu diệt các mục tiêu quan trọng nhất trong các khu vực địa – quân sự tầm xa và sâu trong hậu phương quân địch bằng các loại vũ khí hạt nhân và vũ khí thông thường.

Các đặc điểm

Máy bay Tu-160 giữ lại các đặc điểm nổi bật của máy bay ném bom hạng nặng truyền thống – sơ đồ máy bay cánh đơn không chịu tải, cánh dài, bốn động cơ lắp trên cánh (trên phần cánh cố định).

Khung gầm ba trụ với trụ chống mũi.

Vũ khí tên lửa – bom bố trí trong thân ở hai khoang vũ khí giống nhau (riêng).

Tổ bay được bố trí trong cabin kín ở mũi máy bay.

Theo NATO, máy bay có tên gọi lúc đầu là “RAM-P”. Sau đó được mang tên gọi mã hóa mới “Blacjack”

Các thông số kỹ - chiến thuật bay

Sải cánh

+ kích thước cánh: 55,7/35.6 mét

+ chiều dài cánh: 54,1 mét

+ chiều cao: 13,1 mét

+ diện tích cánh: 360/400m2

+ tổ bay: 4 người

+ động cơ: 3 động cơ tuabin phản lực hai kỳ NK32, động cơ phụ

+ hệ thống tiếp liệu trong khi bay

Khối lượng và tải trọng, tấn

+ cất cánh tối đa: 275

+ cất cánh tiêu chuẩn: 267.6

+ rỗng: 110

+ nhiên liệu: 148

+ tải trọng chiến đấu tiêu chuẩn: 9

+ tải trọng chiến đấu tối đa: 40

Các thông số bay

+ tốc độ tối đa trên độ cao lớn: 2000km/h

+ tốc độ tối đa gần mặt đất: 1030km/h

+ trần bay thực tế: 16 000 mét

+ tầm bay thực tế với tải trọng tiêu chuẩn: 13 200 kilomet.

Vũ khí

+ tổng khối lượng: 40 000 kg

+ tên lửa có cánh

+ tên lửa siêu âm đạn đạo khí động

+ tên lửa Kh-15

+ vi tính hóa mức độ cao trang thiết bị mang theo

+ tay lái được thay bằng các tay điều khiển (như trên máy bay tiêm kích).


Tiêu đề: Số phận của Mig-35
Gửi bởi: daibangden trong 02 Tháng Bảy, 2013, 12:23:39 am
Số phận máy bay tiêm kích đa năng Mig-35

Nguồn: lenta. Tác giả: Vasily Sychev.

(http://i1290.photobucket.com/albums/b522/shevcheko2004/MiG-35D_zpsf6457200.jpg)
Mig-35D

Số phận máy bay tiêm kích đa năng mới của Nga – Mig-35 – cuối cùng đã được xác định. Bộ quốc phòng Nga trong thời gian tới có thể ký hợp đồng mua 24 máy bay loại này. Các cuộc đàm phán mua Mig-35 cho Không quân đã được tiến hành từ năm 2009, tuy nhiên thời gian cụ thể và khối lượng mua không được nói đến. Năm 2011, việc mua Mig-35 đã nằm trong chương trình vũ khí cấp Nhà nước. Và mặc dù hiện nay đã được biết rằng Mig-35 sẽ được trang bị cho Không quân Nga. Như để bảo đảm, nó có số lượng lớn trong Không quân Nga hay không, hiện chưa có cơ sở.

Việc chế tạo Mig-35 ở Nga đã bắt đầu từ nửa đầu những năm 2000 và máy bay được lắp hoàn chỉnh năm 2007. Đến năm 2010, mới chỉ đóng được 3 nguyên mẫu để tham gia thí nghiệm và trong các triển lãm hàng không khác nhau. Thông tin về máy bay trong toàn bộ thời gian chế tạo rất ít, với những lần gián đoạn lớn, và số phận máy bay tiêm kích trong thời gian dài không được xác định. Đặc biệt, trong bố cảnh tập đoàn “Sukhoi” thành công hơn nhiều khi ký với Bộ quốc phòng Nga các hợp đồng bán các máy bay tiêm kích hiện đại Su-27, Su-30 và Su-35 đầy triển vọng (thế hệ mới).

Mig-35 được chế tạo trong hai phiên bản – một (Mig-35S) và hai (Mig-35D) chỗ ngồi. Máy bay có chiều dài 17,3 mét, cao 4,73 mét và sải cánh 11,99 mét với khối lượng cất cánh tối đa 23,5 tấn. Máy bay trang bị các động cơ hiện đại RD-33MK với véc tơ lực xoắn/vặn, có khả năng đạt sức kéo 5400 kilogam-lực và 9000kg-lực trong chế độ tăng tốc. Mức trang bị sức kéo của Mig-35 khi tốc độ cất cánh tiêu chuẩn là 1,03. Máy bay tiêm kích có khả năng đạt tốc độ 2400km/h, tầm bay xa với thùng dầu phụ là gần 3000 kilomet.

Mig-35 trang bị pháo 30mm GSh-30-1 và có 10 bệ treo cho tên lửa và bom, tổng khối lượng 6,5 tấn. Điểm đặc sắc của máy bay tiêm kích thế hệ mới là buồn lái phi công hoàn toàn “số hóa”, đài ra đa vô tuyến “Zhuk-A” với lưới ăng ten mảng pha (phát hiện mục tiêu từ tầm xa 250 kilomet, theo dõi 30 mục tiêu trên không và tấn công đồng thời 8 trong số chúng). Và hệ thống thông tin – thước ngắm thế hệ thứ năm. Mig-35 lúc đầu được thiết kế trong vai trò thay thế các máy bay tiêm kích Mig-29 cũ.

Năm 2009, khi “Sukhoi” đã nhận hợp đồng của quân đội mua 48 máy bay tiêm kích Su-35, đã có thông tin rằng Bộ quốc phòng Nga sẽ nhanh chóng ký hợp đồng với “Mig” để mua Mig-35. Khi đó, đã khẳng định rằng vào năm 2015, Không quân Nga sẽ có trong biên chế không dưới 2 phi đội được trang bị máy bay loại này. Alesei Fedorov, khi đó là chủ tịch tập đoàn chế tạo máy bay Liên hiệp (“Sukhoi” và “Mig” cùng nằm trong tổ chức) đã tuyên bố rằng sẽ tiến hành đàm phán bán cho quân đội 20-30 Mig-35.

Tuy nhiên, không phải năm 2009 mà đến những năm sau đó, hợp đồng bán máy bay mới cho Không quân không hề được ký. Một số chuyên gia cho rằng, sự mới mẻ của Mig-35, được cho là bản nâng cấp sâu của Mig-29M buộc quân đội phải chú ý đến nó. Khi đó, có thông tin rằng số phận sau cùng của máy bay sẽ được xác định sau khi Không quân Ấn Độ tiến hành kết quả đấu thầu MMRCA mua 126 máy bay tiêm kích đa năng. Trong cuộc thi mở ra năm 2007 này, Mig-35 đã cạnh tranh với các máy bay tiêm kích Typhoon, F-16IN Super Viper, F/A-18E/F Super Hornet và JAS 39 Gripen IN. Năm 2011, máy bay Nga đã bị loại khỏi cuộc đấu thầu – phía Ấn Độ không hài lòng với hoạt động của động cơ và ra đa. Hợp đồng lớn mua Mig-35 với Ấn Độ cho phép tăng số lượng máy bay sản xuất hàng loạt, có nghĩa làm giảm đáng kể giá thành sản phẩm đối với Quân đội Nga.


Tiêu đề: Số phận của Mig-35
Gửi bởi: daibangden trong 02 Tháng Bảy, 2013, 12:24:06 am
Tháng 6 năm 2011, cách sân bay Akhtubinsk 43 kilomet, máy bay tiêm kích Mig-29KUB đã bị rơi, các phi công Alecsandr Kruzhilin và Oleg Cpichk hy sinh. Máy bay bị rơi đã tham gia trong các thí nghiệm phiên bản máy bay hai chỗ ngồi Mig-35 mới. Mùa hè năm 2009, nó được trang bị lại thành Mig-35D từ máy bay Mig-29KUB thí nghiệm, thực hiện một số chuyến bay trong vai trò này, năm 2010, máy bay một lần nữa đổi thành Mig-29KUB. Triển vọng của Mig-35 trở nên mờ mịt, mặc dù đã xuất hiện một số lạc quan trong tháng 5 năm 2010 bằng tuyên bố của tổng thống Kazastan Nursultan Nazarbaev về việc Astana quan tâm tới các máy bay Mig-35.

Năm 2011, chương trình vũ khí cấp Nhà nước của Nga kéo dài tới năm 2020 đã bắt đầu. Khối lượng tài chính chi cho chương trình này là 20 000 tỷ rúp (cộng 3 000 tỷ tiến hành các công việc thiết kế - thí nghiệm và nghiên cứu khoa học). Việc mua thiết kế mới của tập đoàn chế tạo máy bay “Mig” cũng nằm trong chương trình này. Mùa thu năm 2012, tổng giám đốc “Mig” – Sergei Korotkov đã tuyên bố rằng việc mua các máy bay mới Mig-35 cho Không quân Nga sẽ bắt đầu vào năm 2014. Tháng 4 năm 2013, trong thời gian “trực tuyến”, tổng thống Nga Vladimir Putin cũng hứa nhanh chóng đưa Mig-35 vào biên chế.

Số phận máy bay tiêm kích thế hệ mới được xác định rõ hơn vào tháng 6 năm nay, khi Korotkov tuyên bố chuẩn bị hợp đồng với Bộ quốc phòng Nga mua 24 Mig-35. Theo đánh giá của tổng giám đốc “Mig”, hợp đồng bàn giao cho Không quân Nga các máy bay chiến đấu có thể được ký vào tháng 6-7 năm 2013. Khi đó, người đứng đầu tập đoàn chế tạo máy bay đã nhấn mạnh rằng, tổng cộng, Không quân Nga yêu cầu 37 máy bay tiêm kích Mig-35. Con số này ít hơn gần gấp đôi số máy bay theo chương trình vũ khí cấp Nhà nước về mua Mig-35 – 72 máy bay. Như vậy, không rõ ràng về số lượng cụ thể Mig-35 sẽ gia nhập biên chế quân đội là bao nhiêu.

Sau khi Liên Xô tan rã, số lượng máy bay tiêm kích hạng nhẹ và hạng nặng trong biên chế Không quân Nga duy trì theo tỷ lệ 1:1. Theo các thông tin đầu năm 2013, trong biên chế Không quân Nga còn 250 máy bay tiêm kích Mig-29 và 260 máy bay chiến đấu Su-27 và Su-30 đang hoạt động. Số lượng lớn Mig-29 đang ở trong biên chế đã có mặt từ thời Liên Xô, đã quá tuổi thọ sử dụng và cần thay thế và có thể, bằng Mig-35. Tuy nhiên, theo thông tin trong chương trình vũ khí cấp Nhà nước về số lượng máy bay loại này đã dẫn đến dự đoán rằng, Bộ quốc phòng Nga đã quyết định nghiên cứu lại tỷ lệ máy bay tiêm kích hạng nhẹ và hạng nặng trong khi, nghiêng về loại sau.

Với tính toán đã được quyết định và các đơn đặt mua được lên kế hoạch đối với Su-35 (tổng cộng 96 máy bay tới năm 2020), cũng như mua các máy bay mới Su-27SM3 và Su-30SM, số lượng máy bay tiêm kích hạng nặng trong biên chế Không quân Nga sau năm 2020 sẽ lên tới 390-400 máy bay. Khi đó, phần máy bay chiến đấu chiến thuật hạng nhẹ sẽ giảm dần, nếu chính quyền quyết định không tăng lượng đặt mua Mig-35 trong khuôn khổ chương trình vũ khí cấp Nhà nước mới giai đoạn 2016-2025 – sẽ được trình tổng thống Nga năm 2015.

Trong khi đó, hợp đồng mua số lượng lớn từ Bộ quốc phòng Nga cũng như bắt đầu bán Mig-35 ra nước ngoài đã cho phép duy trì tập đoàn chế tạo máy bay “Mig” đang ở trong tình hình khó khăn về tài chính. Cặp chứa hợp đồng đặt mua cho phép xí nghiệp hoạt động tới năm 2016. Ở đây, là nói về việc bán Mig-29 cho Myanmar, Mig-29K/KUB cho Ấn Độ và nâng cấp các máy bay Mig-29 của Ấn Độ cũng như dừng hợp đồng với Siry về bán các Mig-29M/M2 sau cùng. Ngoài ra, hợp đồng với Bộ quốc phòng Nga về bàn giao cho Hải quân Nga các máy bay Mig-29K/KUB. Triển vọng sau đó của tập đoàn mà mờ mịt.

Theo tính toán mới được công khai của tập đoàn, năm 2011, khoản thu của “Mig” là 22,6 tỷ rúp, lợi nhuận – 1,4 tỷ. Trong khi đó, nợ tín dụng của tập đoạn tăng lên 45 tỷ rúp.


Tiêu đề: Máy bay tiêm kích đa chức năng Su-35
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 05 Tháng Bảy, 2013, 12:50:23 pm
(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/su-3524687_zpsafe79a7c.jpg)

Su-35 dùng để chiếm ưu thế trên không bằng cách tiêu diệt các thiết bị bay có người lái và không người lái bằng các tên lửa điều khiển ở tầm xa, tầm trung và tầm gần trong các trận chiến tầm xa hoặc tầm gần, khi hoạt động độc lập hoặc theo cụm, tiêu diệt các mục tiêu nổi và trên bộ bằng toàn bộ các loại vũ khí, trong bất kỳ điều kiện khí tượng, cũng như các mục tiêu cơ sở hạ tầng trên bộ được bảo vệ bằng các khí tài phòng không và có khoảng cách xa đáng kể tính từ sân bay mà Su-35 cất cánh.

Máy bay tiêm kích có hình dáng hiện đại với thiết kế được tăng cường, cho phép tăng cường đáng kể tuổi thọ máy bay – lên 6000 giờ hoặc 30 năm khai thác sử dụng (tuổi thọ cho tới lầ sửa chữa  kiểm tra – phục hồi đầu tiên và giữa hai lần sửa chữa tăng lên 1500 giờ hoặc 10 năm khai thác sử dụng.

Theo sơ đồ khí động, Su-35 giống Su-37, khác với Su-30MKI ở chỗ nó không có cánh tà trước. Trong khi toàn bộ ba kênh được thực hiện bằng sự điều khiển điện – từ xa, không có sự lái cơ khí. Su-35 tiếp nhận hệ thống tổng hợp điều khiển KSU-35 mới, thực hiện đồng thời chức năng của một số hệ thống được sử dụng trước đó trên Su-27 (hệ thống điều khiển từ xa, hệ thống điều khiển tự động, các tín hiệu giới hạn, các tín hiệu trên không, điều khiển hãm các bánh gầm, điều khiển quay (trục) bánh trước), tăng cường khả năng lái và cơ động. KCU-35 đồng thời thực hiện chức năng của hệ thống bảo vệ chủ động.

Hệ thống tổng hợp kỹ thuật số điều khiển dự phòng thực hiện các chức năng sau

+ điều khiển bằng tay từ xa việc lái máy bay bằng các thiết bị dẫn động thủy lực theo tín hiệu chỉ huy của phi công và theo tín hiệu của máy cảm biến các tham số bay;

+ điều khiển bằng tay từ xa véc tơ vặn xoắn nhờ bộ phận quay của vòi phun động cơ và kiểm soát lực kéo các động cơ;

+ điều khiển máy bay tự động và bán tự động (директорное управление);

+ đảm bảo kiểm soát di chuyển của máy bay trên mặt đất bằng cách quay bánh (bộ phận hiệu chỉnh) trục bánh trước và hãm, chống trượt các bánh chính ở thân;

+ đo, tính toán và cung cấp cho phi công/khí tài điều khiển thông tin tham số bay theo tốc độ - độ cao;

+ xác định giới hạn các tham số bay cho phép tương ứng với thông tin về tải trọng và tiếp liệu, chế độ bay và tình trạng các hệ thống hoạt động tương tác lẫn nhau;

+ thành lập và cung cấp thông tin tới các hệ thống bên ngoài gần với các tham số bay tới giá trị giới hạn cho phép và ngăn chặn tự động việc các tham số này vượt khỏi giới hạn;

+ đảm bảo tự động tránh va chạm (với mặt đất, máy bay khác, vũ khí tấn công của địch, các mảnh vỡ từ vũ khí tấn công (tên lửa) bắn ra từ chính máy bay…) theo các tín hiệu từ hệ thống kiểm soát thông tin (IUS) của tổ hợp trang thiết bị mang theo (KBO);

+ sự ổn định và kiểm soát máy bay trong quá trình tiếp liệu trên không;

+ kiểm tra tự động tình trạng máy bay trước khi khởi động, kiểm tra liên tục trong khi bay việc ngừng/ngắt và cung cấp thông tin các kết quả kiểm tra.

Điểm đặc biệt trong thiết kế của Su-35, khác với truyền thống của dòng Su-27 mà không có tấm hãm (phanh) trên – chức năng của nó được chuyển bằng độ lệch tay lái dẫn hướng. Cùng với việc tăng khối lượng bay, gầm Su-35 được tăng cường mạnh. Trục trước có hai bánh. Khi chế tạo hình dáng máy bay, có áp dụng công nghệ giảm khả năng bị ra đa phát hiện, đảm bảo giảm khả năng phản xạ trong dải X của sóng ra đa trên phạm vi góc -60…60 độ.

Hình dáng bên ngoài của Su-35 (Su-27BM) giống Su-27 thường hơn so với Su-35 (Su-27M): nó không có cánh tà trước, khe đuôi rút gọn. Cánh máy bay tương đương với cánh tiêm kích trên hạm Su-33 với các cánh phụ lớn (флаперон) chiếm toàn bộ mép sau.

Thiết kế hình dáng tàu bay cũng được tăng cường, cho phép tăng khối lượng cất cánh tối đa lên 34 500kg. Tuy nhiên, do giảm khối lượng trang thiết bị điện tử mang theo, khối lượng rỗng của máy bay thực tế không đổi (16 500kg).

Ngoài ra, diện tích cánh đuôi giảm làm giảm khả năng bị ra đa phát hiện, giảm thể tích khoang ngoài buồng lái (nhờ khí tài điện tử hàng không hiện đại và gọn). Đèn buồng lái phi công chịu thay đổi không đáng kể.

Thiết kế hình dáng Su-35 đảm bảo tăng lượng nhiên liệu trong máy bay lên 20% - khi nạp đầy, khối lượng nhiên liệu là 11500kg so với 9400kg trên dòng Su-27. Ngoài ra, máy bay còn lắp được 2 thùng dầu phụ thể tích mỗi thùng 2000 lít trên các bệ treo dưới cánh. Với các thùng mang theo, tổng khối lượng nhiên liệu của Su-35 là 14 300kg. Máy bay cũng được trang bị hệ thống tiếp dầu trên không theo hệ thống “ống cao su mềm – vòi chụp hình nón” với cần kéo ra được ở thành trái, đầu thân máy bay. Tốc độ truyền nhiên liệu khi tiếp dầu là 1100 lít/phút.

Trong thiết kế máy bay, các động cơ là sự phát triển sâu của dòng AL-31F bằng việc sử dụng công nghệ thế hệ thứ năm. Trên các động cơ sử dụng quạt gió có đường kính tăng 3% (932mm so với 905mm), các tuabin cao áp và thấp áp mới, hệ thống điều khiển và quay vòi phun kỹ thuật số mới. Kết quả việc áp dụng các cải tiến là lực đẩy động cơ trong chế độ đặc biệt tăng lên 16% - 14 500kg, trong chế độ lực đẩy thô tối đa – 8800 kg.

Các tham số cao, trong khi vẫn duy trì các kích thước và khối lượng, đạt được nhờ việc tiếp nhận các máy nén khí thấp áp mới với sự tăng cường tiêu thụ không khí và hệ số hoạt động hiệu dụng, các tuabin mới hiệu quả cao, tăng cường độ tin cậy cùng hệ thống làm mát các cánh quạt và hệ thống kiểm soát động cơ với bộ điều tốc tổng hợp kỹ thuật số, tích hợp với hệ thống điều khiển máy bay.

Theo so sánh với AL-31F, chỉ số tuổi thọ tăng 2-2,7 lần: tuổi thọ giữa các lần sửa chữa tăng từ 500 tới 1000 giờ (tuổi thọ tới lần đại tu đầu tiên – 1500 giờ), tuổi thọ quy định (tiêu chuẩn): từ 1500 lên 4000 giờ.

Máy bay trang bị động cơ hỗ trợ để bảo đảm cung cấp nguồn điện và điều hòa không khí trang thiết bị cũng như buồng lái khi bảo dưỡng trên mặt đất, không cần chuẩn bị khí tài cơ sở vật chất cho sân bay.


Tiêu đề: Re: Máy bay tiêm kích đa chức năng Su-35
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 05 Tháng Bảy, 2013, 12:51:56 pm
Điểm đặc biệt nhất của Su-35 – sử dụng tổ hợp trang thiết bị mang theo mới về nguyên tắc với sự sử dụng rộng rãi các kênh thông tin liên lạc đa chức năng. Về cơ bản, đây là hệ thống kiểm soát – thông tin (IUS), dùng để đồng bộ hóa lập trình, thông tin, tính toán và thực hiện chức năng hệ thống trang thiết bị mang theo trong hệ thống được tích hợp thống nhất và đảm bảo tác động tương hỗ giữa tổ bay và trang thiết bị. Hệ thống kiểm soát thực hiện chức năng các hệ thống điều khiển từ xa và tự động, các hệ thống các tín hiệu hạn chế và tín hiệu đường không, cũng như điều khiển hãm (phanh) các bánh máy bay.  Trong thành phần hệ thống kiểm soát – thông tin có hai máy tính kỹ thuật số trung tâm, các bộ đảo mạch và trao đổi thông tin cùng hệ thống màn hình theo công nghệ “buồng lái kỹ thuật số”.

Cơ sở nền kiểm soát thông tin trong buồng lái Su-35 gồm có hai màn hình màu tinh thể lỏng đa chức năng kiểu MFI-35, bảng điều khiển đa kênh với bộ xử lý lắp chìm, màn hình chuẩn trực góc lớn trên nền kính chắn gió IKSh-1M và bảng điều khiển cùng các màn hình.

Các màn hình đa chức năng MFI-35 với bộ xử lý lắp chìm có kích thước 9x12 inch (đường chéo 15 inch) và độ phân giải 1400x1050 pisel (điểm ảnh). Nó dùng để thu, xử lý và hiển thị trong các chế độ thông tin dạng đồ họa, chữ số và ký hiệu, hiển thị thông tin vô tuyến từ các máy cảm biến vô tuyến mang theo với việc tạo trên đó thông tin tổng hợp dạng chữ số và ký hiệu, cũng như hình thành và cung cấp tín hiệu vô tuyến trong dạng số hóa tới hệ thống đầu thu (видеорегистрация). Bảng điều khiển đa chức năng với bộ xử lý lắp chìm dùng để hiển thị thông tin cần thiết và cung cấp các mệnh lệnh theo cách ấn các nút để đóng khung (lập trình) trong toàn bộ các giai đoạn bay. Màn hình hàng không chuẩn trực IKSh-1 với bộ xử lý lắp chìm dùng để đảm bảo quan sát bối cảnh không gian sau buồng lái theo thông tin chuẩn trực dạng hình ảnh, được hình thành tương ứng với sự kiểm soát các tín hiệu. Phạm vi quan sát – 20x30 độ.

Trang thiết bị kỹ thuật ánh sáng của buồng lái đảm bảo hoạt động của phi công với kính nhìn đêm.

Sự điều khiển trang thiết bị mang theo, các hệ thống và vũ khí trong buồng lái Su-35 được thực hiện bằng các nút và các bộ chuyển mạch trên tay lái máy bay và các tay gạt điều khiển động cơ, cũng như các nút bấm cho các màn hình đa chức năng. Theo đó, máy bay được thực hiện theo khái niệm HOTAS (Hands On Throttle And Stick).

Cơ sở hệ thống kiểm soát vũ khí của Su-35 là hệ thống ra đa điều khiển mới (RLSU) với lưới ăng ten mảng pha N035 “Irbis-E”, là sự phát triển tiếp của đài ra đa điều khiển “Bars” sử dụng trên các máy bay Su-30MKI và Su-30MKM. Nó được biết đến là đài ra đa vô tuyến đa chức năng dải X với lưới ăng ten mảng pha thụ động có đường kính 900mm, bố trí trong thiết bị dẫn động thủy điện hai tầng (cấp – theo góc phương vị và góc lắc), trang bị hệ thống tính toán thế hệ mới với máy tính điện tử kỹ thuật số (BTsVM) mang theo “Solo-35”. Khí tài ăng ten quét tia điện tử theo góc phương vị và góc tà trong phạm vi không dưới 60 độ. Ngoài ra, thiết bị dẫn động thủy điện hai tầng đảm bảo quay ăng ten theo góc phương vụ 60 độ và góc lắc 120 độ. Nhờ đó, góc lệch tối đa của chùm tia theo góc phương vị khi điều khiển điện và quay cơ khí của ăng ten tăng lên 120 độ.

Đài ra đa điều khiển “Irbis-E” cho phép phát hiện, bám sát tới 30 mục tiêu trên không khi quan sát không gian liên tục, thực hiện dẫn bắn đồng thời 8 mục tiêu trên không. Tổ hợp đảm bảo phát hiện, chọn lọc và bám sát 4 mục tiêu trên bộ trong một số chế độ đồ họa với mức độ bố trí khác nhau trên tầm xa 400 kilomet trong khi vẫn duy trì giám sát không gian.

Các mục tiêu trên không với diện tích phản xạ hiệu dụng 3m2, trong phạm vi hoạt động của đài ra đa “Irbis-E”, có thể phát hiện ở tầm xa 350-400 kilomet (trong giới hạn quan sát – 100 độ). Trong tầm quan sát rộng (300 độ), đảm bảo phát hiện các mục tiêu tương tự trong bán cầu trước (trong bối cảnh mặt đất – 170 kilomet) và 80 kilomet ở bán cầu sau (trong bối cảnh mặt đất  - 50 kilomet). Các mục tiêu có tiết diện phản xạ hiệu dụng, ra đa phát hiện ở tầm xa 90 kilomet.

Tầm phát hiện mục tiêu trên bộ (nổi): các mục tiêu kiểu “tàu sân bay” (diện tích phản xạ hiệu dụng 50 000m2) – 400 kilomet; “cầu đường sắt” (tàu hỏa – 1000m2) – 150-200 kilomet, “xuồng máy/tàu loại nhỏ” (200m2) – 100-120 kilomet; “khí tài tên lửa chiến dịch – chiến thuật” và “cụm xe tăng (30m2) – 60-70 kilomet.

Ra đa điều khiển “Irbis” được chế tạo ở Viện nghiên cứu khoa học sản xuất từ năm 2004. Các mẫu thí nghiệm hệ thống đã trải qua các cấp độ thí nghiệm cần thiết. Ra đa đầu tiên trong số này đã được lắp trên máy bay thí nghiệm Su-30MK2 số sườn 503.

Phân hệ thống mới khác của hệ thống kiểm soát vũ khí trên Su-35 là máy ngắm ra đa - quang học OLS-35, kết hợp trong đó máy tìm phương hồng ngoại, máy đo xa – chỉ thị mục tiêu bằng tia laze và kênh vô tuyến. Phạm vi quan sát, phát hiện và bám bắt mục tiêu tự động của máy ngắm quang học là -90…90 độ theo góc phương vị và 60…-15 độ theo góc tà. Tầm phát hiện mục tiêu trên không của máy tìm phương hồng ngoại trong bán cầu trước là không dưới 50 kilomet, bán cầu sau – không dưới 90 kilomet. Máy đo xa laze đo khoảng cách tới mục tiêu trên không trong phạm vi 20 kilomet, mục tiêu trên bộ - 30 kilomet. Sai số đo – 5 mét.

Ngoài ra, để đảm bảo hiệu quả chiến đấu trong chế độ “không đối đất”, máy bay có thể mắc các thùng quang điện – máy ngắm vô tuyến – laze trên bệ treo, đảm bảo phát hiện, bám sát, xác định tầm xa và chiếu xạ bằng tia laze vào các mục tiêu trên bộ. Nhờ sự hỗ trợ của nó, có thể sử dụng các loại bom điều khiển, dẫn đường bằng tia laze.

Trong số các hệ thống trang thiết bị mang theo mới khác của Su-35 – trang thiết bị thông tin liên lạc và đạo hàng hiện đại, các hệ thống đảm bảo hoạt động cho cụm/nhóm/tổ máy bay tiêm kích, cũng như tổ hợp áp chế vô tuyến điện hiệu quả cao gồm có các khí tài gây nhiễu khác nhau, xác định theo yêu cầu của khách hàng.

Vũ khí của máy bay gồm có pháo, tên lửa điều khiển “không đối không”, tên lửa điều khiển “không đối đất”, rốc két và bom.

Pháo tự động 30mm kiểu GSh-301, lắp chìm trên ụ đằng trước cánh bên phải. Cơ số đạn – 150 viên.

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/su-3524766_zpsbb202bf9.jpg)

Su-35 có 10 bệ treo vũ khí ở ngoài. Thêm mút đầu cánh để treo các thùng tác chiến điện tử. Trong thành phần vũ khí Su-35, ngoài tên lửa “không đối không” tầm trung R-27ER1 (8 ), R-27ET1 và R-27EP1 (theo 4), các tên lửa điều khiển tầm trung RVV-AE (12, gồm 4 tên lửa trên bệ treo dưới thân) và tên lửa tầm gần R-73E (6), 5 tên lửa tầm xa loại mới.

Danh pháp vũ khí điều khiển “không đối đất” gồm có 6 tên lửa chiến thuật Kh-29TE và Kh-29L, 6 tên lửa chống tàu và chống ra đa Kh-31A và Kh-31P, 5 tên lửa chống tàu tầm xa Kh-59MK, cũng như 5 tên lửa chống ra đa tầm xa Kh-58UShE, 3 tên lửa tầm xa hệ thống Klub (Klub-A) và 1 tên lửa chống tàu tầm xa hạng nặng “Yakhont”.

Trong số các loại bom điều khiển – 8 bom KAB-500 dẫn đường vô tuyến, KAB-500C-E với hệ thống dẫn đường vệ tinh, cũng như 3 bom 1500kg – KAB-1500 hoặc KAB-1500LG dẫn đường vô tuyến hoặc bằng tia laze. Theo danh pháp bom không điều khiển và rốc két, Su-35, về tổng thể, không khác Su-30MK nhưng trong tương lai, nó có thể tiếp nhận các loại bom mới 500 và 250kg cũng như rốc két 80, 122, 226/240mm với sự dẫn đường (hiệu chỉnh) bằng tia laze. Trọng tải chiến đấu tối đa của Su-35 là 8000kg.


Tiêu đề: Re: Máy bay tiêm kích đa chức năng Su-35
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 05 Tháng Bảy, 2013, 12:53:17 pm
Thông tin lịch sử

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/su-3524771_zps7f28c255.jpg)

Tên gọi Su-35 từ lâu đã được biết đến trong hàng không quân sự thế giới. Dưới tên gọi này, từ năm 1992, trong các triển lãm hàng không, máy bay tiêm kích hiện đại Su-27M, được chế tạo trong thời gian này theo hợp đồng đặt mua của Không quân Nga, đã nhiều lần bay biểu diễn. Ở nước ngoài, trong thế kỷ 21, Su-35 đã tham gia các cuộc đấu thầu của Không quân Hàn Quốc và Brazil. Ngoài ra, còn trong vai trò các máy bay biểu diễn, chúng đã được sản xuất từ nửa đầu những năm 90. Trong thời gian này, đã thấy rõ rằng, để theo kịp thị trường thế giới và đảm bảo tính cạnh tranh với các máy bay tiêm kích thế hệ mới, hiện đại của nước ngoài, máy bay cần nâng cấp triệt để, không chỉ tổ hợp trang thiết bị mang theo và vũ khí mà còn cả hình dáng máy bay, cũng như động cơ. Thiết bị động lực cần đảm bảo tăng cường đáng kể tuổi thọ và thời gian phục vụ của máy bay tiêm kích. Kết quả là nửa đầu những năm 2000, đã hình thành khái niệm mới về nâng cấp sâu máy bay tiêm kích dòng Su-27, tên gọi Su-35 được giữ nguyên (cũng như tên gọi Su-27BM – nâng cấp lớn – Su-35BM).

Điểm khác biệt quan trọng của Su-35 so với các máy bay tiền nhiệm dòng Su-27 là sử dụng thiết bị động lực với động cơ mới tăng sức đẩy. Chúng được chế tạo ở Liên hiệp khoa học sản xuất “Saturn” và được biết dưới tên gọi “sản phẩm 117S”.

Theo chương trình thí nghiệm và hoàn thiện “sản phẩm 117S” đã chế tạo 5 động cơ thí nghiệm. Động cơ đầu tiên đã trải qua thí nghiệm trên bệ năm 2003, thêm 2 động cơ nữa đã trải qua xử lý bay trong thành phần động cơ máy bay thí nghiệm Su-27M số sườn 710. Các thí nghiệm bay đã bắt đầu từ tháng 3 năm 2014. Trong giai đoạn đầu tiên của các thí nghiệm bay, đã thực hiện khoảng 30 chuyến bay đối với máy bay này với các đọng cơ mới, trong đó, có 5 lần – với 2 động cơ. Sau đó, tiêu bản thứ 4 đã thay thế mẫu thí nghiệm đầu tiên trên bệ, còn động cơ thứ 5 được sử dụng trong vai trò dự trữ trong các thí nghiệm bay.

Các thí nghiệm trên bệ thí nghiệm đã chỉ ra rằng, các phương pháp đã được áp dụng cho phép tăng cường đáng kể các tham số của động cơ “117S” so với nguyên mẫu và tăng cường các tham số nhiệm vụ kỹ thuật về lực đẩy và tiêu thụ nhiên liệu riêng.

Hình dáng Su-35 được thực hiện theo thuật ngữ “chế độ nâng cấp mở”. Đây là mong muốn của các công trình sư tránh khói hoặc (nếu cần) phải tiến hành khối lượng tối thiểu các thí nghiệm thống kê tốn kém, cũng như tận dụng tối đa các trang thiết bị sản xuất hàng loạt đang có.

Năm 2006, đã bắt đầu sản xuất lô các máy bay đầu tiên. Các thí nghiệm bay của mẫu đầu tiên của lô mới, lúc đầu, dự kiến vào giữa năm 2007. Tuy nhiên, theo hàng loạt nguyên nhân, đã bị dời tới đầu năm 2008.

Mẫu bay thí nghiệm đầu tiên của Su-35 được lắp ráp hoàn toàn ở KnAAPO tháng 8 năm 2007. Trước MAKS (triển lãm hàng không vũ trụ) 2007, máy bay được đưa tới Moskva, tới sân bay thí nghiệm mang tên M.M.Grmovo ở Zhukovsky, nơi mà sau khi bay biểu diễn trong triển lãm, nó đã tiếp tục hoàn thành giai đoạn xử lý trên mặt đất trước khi bắt đầu các thí nghiệm bay.

Việc sản xuất hàng loạt Su-35 được tiến hành ở tập đoàn chế tạo máy bay mang tên Yu.A.Gagarin ở Komsomol-na-Amur.


Tiêu đề: Máy bay tiêm kích đa chức năng Su-35
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 05 Tháng Bảy, 2013, 12:54:41 pm
Các thông số kỹ thuật

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/su-3524739_zpscd648a90.jpg)

Chiều dài, mét: 21,9

Chiều cao, mét: 5,9

Sải cánh, mét: 15,3

Khối lượng, kg:

+ rỗng: 19 000

+ cất cánh tiêu chuẩn (2 tên lửa tầm xa + 2 R-73E): 25 300

+ cất cánh tối đa: 34 500

Dự trữ nhiên liệu các thùng bên trong, kg: 11 500

Trọng tải chiến đấu, kg: 8000

Kiểu động cơ: động cơ tuabin phản lực luồng kép

Các động cơ: 2x117S

Thời gian lấy đà lên độ cao 1000 mét với 50% lượng nhiên liệu tiêu chuẩn, giây:

+ từ 600 lên 1100km/h: 13,8

+ từ 1100 lên 1300km/h: 8

Tốc độ nâng tối đa (lên độ cao 1000 mét), m/s: hơn 280

Tốc độ tối đa

+ ở độ cao 200 mét, km/h: 1400

+ ở độ cao 11 000 mét, March: 2,25

Tầm bay xa với đầy đủ nhiên liệu, km

+ gần mặt đất với tốc độ M=0,7: 1580

+ trên độ cao lớn với tốc độ trung bình: 3600

Tầm bay không tải tối đa với 2 thùng dầu phụ PTB-2000, km: 4500

Quá tải tối đa, G: 9

Đoạn đường chạy đà trong khối lượng cất cánh tiêu chuẩn trong chế độ đốt tăng lực, mét: 400-450

Đoạn đường hạ cánh trên đường băng bê tông, sử dụng dù hãm và bánh hãm với khối lượng hạ cánh tiêu chuẩn, mét: 650

Tổ bay: 1 người.


Tiêu đề: Máy bay tiêm kích đa năng Su-30MKI
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 06 Tháng Bảy, 2013, 04:42:09 am
Nhà thiết kế: Phòng thiết kế thí nghiệm Sukhoi

Cất cánh lần đầu tiên: 1997

Quốc gia sản xuất: Nga

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/SU-30MKI-g4sp_zps5140202d.jpg)

Ngày 30 tháng 11 năm 1996, Nga và Ấn Độ đã ký hợp đồng bán 40 máy bay tiêm kích và 8 động cơ dự trữ trị giá 1,8 tỷ USD. Ban đầu, việc bán máy bay được nghiên cứu trong phương án Su-30K và sau đó sẽ được nâng cấp. Trong thiết kế phiên bản cho Ấn Độ, máy bay tiêm kích dự kiến sẽ áp dụng những thành quả mới nhất trong lĩnh vực điện tử hàng không, thiết bị động lực và khí tài tác chiến điện tử mà khi đó, chỉ mới được xử lý trên máy bay thí nghiệm dòng Su-27. Cụ thể, Su-30MKI (nâng cấp, xuất khẩu cho Ấn Độ), sẽ có cánh tà trước hoàn toàn không cố định, động cơ có véc tơ đẩy vặn xoắn và ra đa vô tuyến mang theo với lưới ăng ten mảng pha, tổ hợp vũ khí cho phéo tấn công vào bất kỳ mục tiêu nào, trong đó có các mục tiêu khó bị phát hiện trên không; các loại máy bay cảnh bảo sớm, tác chiến điện tử và cất hạn cánh thẳng đứng; tấn công các mục tiêu trên bộ và mục tiêu nổi ngoài tầm bắn của hệ thống phòng không đối phương.

Tám máy bay Su-30K đầu tiên trong dạng tháo rời (2 máy bay trong mỗi chuyến bay, 19-26 tháng 3 và 9-15 tháng 4 năm 1997) đã được đưa tới Ấn Độ trên máy bay vận tải An-124 “Ruslan”. Việc lắp ráp và bay thử tại chỗ được tiến hành bởi các chuyên gia và phi công Liên hiệp chế tạo hàng không Irkut (IAPO). Trong biên chế Không quân Ấn Độ, các máy bay đầu tiên gia nhập ngày 11 tháng 6 năm 1997 và thuộc phi đội không quân số 24 Hunting Hawk, đóng ở căn cứ Lohegaon.

Đồng thời, Liên hiệp chế tạo hàng không Irkut và Phòng thiết kế thí nghiệm (OKB) Sukhoi đã đề xuất các phương án hiện đại hóa máy bay Su-30K theo các yêu cầu mới nhất của Không quân Ấn Độ. Trên Su-30 (số sườn 56) được sản xuất loạt đã lắp cánh tà trước, động cơ mới AL-31FP với sự thay đổi véc tơ đẩy trong 2 mặt phẳng và thích nghi với nhiên liệu của Ấn Độ. Sau đó, khung gầm trước được tăng cường, lắp cặp bánh trước. Ngày 23 tháng 4 năm 1997, máy bay (tên gọi của phòng thiết kế - T-10PMK-2) đã được bàn giao tham gia thí nghiệm ở sân bay thí nghiệm mang tên Gromov, nơi mà ngày 1 tháng 7 năm 1997, phi công thí nghiệm của Phòng thiết kế V.Yu.Averyanov cùng nguyên mẫu Su-30MKI (số sườn 56) cất cánh bay lần đầu tiên.

Các kết quả cuộc thi về trang thiết bị điện tử mang theo của Ấn Độ cho máy bay Su-30MKI vào tháng 3 năm 1998, đã chọn được tổ hợp cấu thành từ các hệ thống của Nga, Pháp, Israel và do Ấn Độ tự sản xuất. Nhà cung cấp chính là các tập đoàn SAGEM và Sextant Avionique của Pháp. Các hãng này không lâu trước đó đã nhận được quyền tham gia chương trình nâng cấp các máy bay Mig-21, Mig-27 và “Juguar” của Không quân Ấn Độ. Hệ thống điều khiển vũ khí tổng hợp gồm có tổ hợp máy ngắm vô tuyến (RLPK) và tổ hợp máy ngắm – dẫn đường quang điện (OEPrNK) trong thành phần tổ hợp lái – đạo hàng, máy ngắm ra đa (OLS), hệ thống chỉ thị mục tiêu lắp trên mũ (NSTs), hệ thống điều khiển vũ khí (SUO), hệ thống hiển thị thông tin (SOI) và hệ thống máy tính kỹ thuật số.

Điểm đặc biệt nhất so với các phiên bản xuất khẩu khác của dòng “Su” trên Su-30MKI là sự xuất hiện trong thành phần tổ hợp máy ngắm ra đa có đài ra đa vô tuyến xung – đốp le N011M mới nhất, hoạt động trong mọi điều kiện khí tượng. Đài này đã trải qua thí nghiệm trên nguyên mẫu dòng Su-35 (số sườn 172) và là sự chuyển tiếp tới mẫu N014, dùng cho các máy bay tiêm kích thế hệ thứ 5 dòng Mig-MFI. Đài ra đa N011M cho phép phát hiện mục tiêu kiểu “máy bay tiêm kích” trong không gian và trong bối cảnh bị gây nhiễu ở bán cầu trước trên tầm xa 350 kilomet và bám sát chúng ở cự ly 200 kilomet. Các chỉ số này cũng tương tự đối với các loại mục tiêu trên bộ và trên biển. Đài ra đa có khả năng bám sát đồng thời 20 mục tiêu và tấn công đồng thời 8 trong số đó, bao gồm trực thăng, các loại tên lửa đạn đạo và có cánh. Ngoài ra, trang thiết bị điện tử mang theo sẽ thực hiện hành trình bay tự động ở tầm thấp của Su-30MKI trong chế độ uốn, lượn theo địa hình và đồ họa của nó.

Bộ phận nắm trong tổ hợp máy ngắm – dẫn đường quang điện cũng làm chức năng như tổ hợp máy ngắm ra đa, nhưng chỉ trong các điều kiện khí tượng đơn giản và khác biệt ở độ chính xác cao cũng như chống nhiễu tốt hơn. Đài vô tuyến quang điện là sự kết hợp của máy tìm phương hồng ngoại và máy đo xa laze. Máy tìm phương hồng ngoại đảm bảo phát hiện mục tiêu theo sự bức xạ nhiệt và góc bám, máy đo xa laze – đo cự ly mục tiêu. Máy cảm biến của đài vô tuyến quang điện bố trí trước đèn buồng lái phi công , trong nắp chụp hình cầu không cố định bên phải.

Để sử dụng phối hợp các loại vũ khí điều khiển “không đối đất” khác nhau với hệ thống dẫn đường vô tuyến và hệ thống tự dẫn bắn bằng tia laze, máy bay được bố sung các thùng treo hệ thống điều khiển vũ khí thay thế được. Khi đó, hệ thống ảnh nhiệt phục vụ cho việc phát hiện mục tiêu bằng hồng ngoại sẽ đảm bảo khả năng hoạt động trong đêm và các điều kiện khí tượng phức tạp. Việc bố trí một phần khí tài trong các thùng trên bệ treo ngoài cho phép nhanh chóng trang bị lại cho máy bay để giải quyết các nhiệm vụ chiến đấu khác nhau phụ thuộc vào yêu cầu chiến trường.


Tiêu đề: Re: Máy bay tiêm kích đa năng Su-30MKI
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 06 Tháng Bảy, 2013, 04:46:51 am
Hệ thống hiển thị thông tin đảm bảo màn hình thông tin lái – đạo hàng và ngắm bắn cần thiết tại màn hình góc rộng trên kính chắn gió và màn hình màu đa năng tinh thể lỏng. Trên Su-30MKI, có thể thực hiện điều khiển tổ hợp trang thiết bị điện tử mang theo mà phi công không cần bỏ tay khỏi cần điều khiển máy bay và động cơ. Các bảng điện tử đa năng với màn hình đa năng MFD-55 (hoặc màn hình màu MFD-56) là hạt nhân của hệ thống điều khiển tổ hợp trang thiết bị điện tư mang theo và cho phép giải quyết các nhiệm vụ khác nhau, từ nhập (nạp) nhiệm vụ bay cho đến giải quyết các nhiệm vụ chiến đấu trên cơ sở kiểu tình hình chiến đấu đã được vạch sẵn.

Tổ hợp lái – đạo hàng giải quyết các nhiệm vụ dẫn đường và lái máy bay trong toàn bộ các giai đoạn bay, trong các điều kiện khí tượng đơn giản và phức tạp, trong cả ngày lẫn đêm, trên mặt đất và trên biển, trong bất kỳ loại địa hình nào.

Hệ thống điều khiển tự động đảm bảo thực hiện bay theo hành trình và trở lại sân bay theo lập trình trước trong các chế độ lái bằng tay, tự động và bán tự động, thực hiện cơ động hạ cánh, tiếp cận đường băng hạ cánh ở độ cao 50 mét trong chế độ tự động và hạ cánh.

Trang thiết bị dẫn đường gồm có khí tài dẫn đường vệ tinh, cho phép hoạt động với các hệ thống GLONASS (Nga) và NAVSTAR (GPS - Mỹ). Trong đó, việc chuyển hệ thống tiếp nhận thông tin được thực hiện tự động, đảm bảo độ chính xác cao nhất.

Tổ hợp khí tài thông tin liên lạc đảm bảo khả năng thông tin hai chiều chắc chắn, đồng thời liên lạc vô tuyến điện được bảo mật và liên lạc vô tuyến mã hóa với các trạm chỉ huy và giữa các máy bay trên không cũng như trao đổi thông tin giữa các máy bay trong tổ khi tác chiến, phân phối và chỉ thị mục tiêu. Việc dẫn đường máy bay tới mục tiêu trong chế độ bán tự động hoặc tự động từ mặt đất hoặc các đài chỉ huy trên không được thực hiện theo đường liên lạc vô tuyến được chống nhiễu thuộc tổ hợp khí tài dẫn đường.

Su-30MKI có thể sử dụng để giám sát, tuần tra tầm xa và thực hiện chức năng cảnh báo sớm trong vai trò đài chỉ huy trên không. Đài ra đa vô tuyến cho phép bảo đảm đồng thời dẫn đường cho 4 máy bay đánh chặn (Su-27, Mig-29…).

Tổ hợp tác chiến điện tử gồm có đài gây nhiễu tích cực (chủ động) L006S (tương tự với AN/ALQ-135), áp chế hiệ quả hệ thống điều khiển vũ khí điện tử của đối phương và đảm bảo phòng thủ cho riêng máy bay khi hoạt động độc lập hoặc cho cả cụm các máy bay khi hoạt động chung.

Trên Su-30MKI không sử dụng các vòi phun động cơ cố định mà bố trí dạng chữ V theo góc -32…32 độ theo mặt phẳng đối xứng với máy bay. Sự khác biệt này đảm bảo kiểm soát máy bay theo độ lắc cũng như theo hướng bay vì nó cho phép đồng thời nhận được véc tơ đẩy thẳng cũng như véc tơ đẩy ngang. Ngoài ra, việc tách các buồng động cơ cho phép điều khiển máy bay theo dạng kênh và các lực đẩy động cơ khác nhau. Phụ thuộc vào động tác cơ động, sự quay các vòi phun được thực hiện đồng bộ hoặc nghiêng cánh đuôi bằng.

Trên máy bay lắp hệ thống tiếp dầu trên không với cần dạng ống lồng, bố trí bên trái, trong khoang trước buồng lái. Việc tiếp dầu có thể thực hiện từ máy bay vận tải Il-78 hoặc các máy bay cùng loại được trang bị hệ thống tiếp dầu trên không tổng hợp. Tốc độ truyền nhiên liệu là 2300 lít/phút. Cần tiếp dầu được trang bị đèn pha chiếu sáng để tiếp liệu trong điều kiện trời mờ tối hoặc ban đêm.

Nguyên mẫu thứ hai của Su-30MKI (số sườn 06, tên gọi theo Phòng thiết kế - T-10PMK-6) được lắp tháng 12 năm 1997. Đối với máy bay này đã sử dụng thân từ một trong số các nguyên mẫu Su-30 – T-10PU-6. Nguyên mẫu cất cánh lần đầu tiên ngày 23 tháng 3 năm 1998, sau đó, hai mẫu thí nghiệm Su-30MKI được đóng trong Phòng thiết kế Sukhoi ở Moskva, đã trình diễn cho phái đoàn quân sự Ấn Độ trên sân bay thí nghiệm mang tên Gromov nhân ngày Không quân ở Tushino. Trong một năm, hai nguyên mẫu này đã thực hiện hơn 140 chuyến bay thí nghiệm.

(http://i736.photobucket.com/albums/xx8/Spetsnaz_VDV/SU-30_MKI_zpsd4b1b22f.jpg)

Ngày 12 tháng 6 năm 1999, trước ngày khai mạc triển lãm kỹ thuật hàng không vũ trụ số 43 ở Le Bourget, nguyên mẫu đầu tiên của Su-30MKI đã bị rơi. Khi thực hiện chuyến bay tập, máy bay (dưới tên gọi Su-30MK, số sườn 01) do phi công thí nghiệm cấp 1 Vyacheslav Yurievich Averyanov và hoa tiêu Vladimir Georievich Shedrik điều khiển sau khi kết thúc động tác bổ nhào, phần đuôi máy bay đã va chạm với mặt đất. Kết quả là hệ thống tiếp dầu tới buồng đốt tăng lực đã bị hỏng, bốc cháy. Mặc dù vậy, máy bay vẫn lấy được độ cao và rơi cách khu vực sân bay 40 mét. Hai phi công đều nhảy dù khỏi máy bay an toàn.

Bất chấp tai nạn, Nga và Ấn Độ vẫn ký hợp đồng mua bán vũ khí ngày 28 tháng 12 năm 2000. “Rosoboronexport” và tập đoàn hàng không Ấn Độ Hindustan Aeronautics Limited (HAL) và tổ chức sản xuất theo giấy phép của Nga Su-30MKI. Trước đó, ở các xưởng HAL, cũng trên cơ sở giấy phép, đã sản xuất các máy bay tiêm kích đánh chặn Mig-25 và máy bay tiêm kích bom Mig-27L “Bahadur” (tới năm 1996). Hợp đồng dự kiến sản xuất theo giấy phép trong các xưởng thuộc HAL 140 máy bay tiêm kích Su-30MKI, trang thiết bị mang theo và các động cơ AL-31FP với véc tơ đẩy vặn xoắn. Trong chương trình dự kiến kéo dài 17 năm, ngoài “Phòng thiết kế thí nghiệm Sukhoi” và IAPO còn có sự tham gia của tập đoàn “A.Lyulka-Saturn”, Liên hiệp sản xuất chế tạo động cơ Ufa, phòng thiết kế chế tạo khí tài Ramen và hàng loạt các xí nghiệp khác của Nga. Trong khuôn khổ hợp đồng, phía Ấn Độ sẽ được bàn giao các tài liệu kỹ thuật và trang thiết bị công nghệ để trang bị lại cho các xí nghiệp của tập đoàn HAL. Đây là hợp đồng lớn nhất (3,3 tỷ USD) trong lĩnh vực hợp tác kỹ thuật quân sự Nga - Ấn. Su-30MKI đầu tiên được sản xuất ở Ấn Độ từ công nghệ của Nga đã cất cánh năm 2004. Theo đánh giá của các chuyên gia, năm 2004 sẽ sản xuất 3 máy bay; 2005 – 6; 2006 – 8, sau đó, phía Ấn Độ sẽ sản xuất 10 máy bay mỗi năm.


Tiêu đề: Re: Máy bay tiêm kích đa năng Su-30MKI
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 06 Tháng Bảy, 2013, 04:48:06 am
Các thông số kỹ chiến thuật

(http://www.airwar.ru/image/idop/fighter/su30mki/su30mki-15.jpg)

Sải cánh, mét: 14,70

Chiều dài không có bộ thu áp suất không khí, mét: 21,935

Chiều cao, mét: 6,375

Diện tích cánh, m2: 62,0

Kiểu động cơ: AL-31FP

Lực đẩy động cơ trong chế độ tăng tốc, kg lực: 2x 12 800

Khối lượng rỗng, kg: -

Khối lượng cất cánh tiêu chuẩn, kg: 29 940

Tốc độ tối đa, km/h: 2175

Trần bay thực tế, mét: 17 500

Tầm bay không tải, km: 3000 (không tiếp dầu; một lần tiếp dầu – 5200; 2 lần tiếp dầu – 6900)

Lấy đà trong chế độ tăng lực, mét: -

Quãng đường chạy đà, mét –

Số lượng bệ treo vũ khí: 12

Trọng tải chiến đấu, kg: 8000

Tổ bay, người: 2.


Tiêu đề: Máy bay tiêm kích đa năng Su-30MKI
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 06 Tháng Bảy, 2013, 04:51:54 am
Nguyên mẫu đầu tiên của Su-30MKI

(http://www.airwar.ru/image/idop/fighter/su30mki/su30mki-2.jpg)


Nguyên mẫu thứ hai của Su-30MKI

(http://www.airwar.ru/image/idop/fighter/su30mki/su30mki-4.jpg)


Buồng lái trước Su-30MKI

(http://www.airwar.ru/image/idop/fighter/su30mki/su30mki-13.jpg)


Buồng lái sau Su-30MKI

(http://www.airwar.ru/image/idop/fighter/su30mki/su30mki-14.jpg)


Tiêu đề: Re: Máy bay tiêm kích đa năng Su-30MKI
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 06 Tháng Bảy, 2013, 04:53:07 am
Vũ khí

Pháo tự động 30mm GSh-301 (150 viên, tốc độ 1500-1800 phát bắn/phút);

Tên lửa điều khiển “không đối không” tầm gần: R-60MK và R-73RDM2;

Tên lửa điều khiển “không đối không” tầm trung: R-77 (RVV-AE – 50km), R-27RE1/TE1 (65km);

Tên lửa điều khiển “không đối đất” Kh-29T/L, Kh-25PM, Kh-31A/P, Kh-59M;

Bom điều khiển KAB-500KR/L và KAB-1500K/L;

Bom không điều khiển từ 100 đến 500 kg, các loại thùng bom khác nhau;

Các loại đạn hạt nhân chiến thuật

Rốc két kiểu B-8M-1 (20x80mm) và B-13L (5x130mm), S-25 250mm.

Có thể mang trên bệ treo các thùng khí tài tác chiến điện tử, các hệ thống tia laze – đo xa – chỉ thụ mục tiêu, các đài gây nhiễu.


Các phương án trang bị vũ khí trên Su-30MKI

(http://www.airwar.ru/image/idop/fighter/su35/su35-2.gif)


Tiêu đề: Su-30KI
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 06 Tháng Bảy, 2013, 08:22:42 pm
(http://русская-сила.рф/guide/air/i/su30ki-6.jpg)

Lần đầu tiên Su-27 và biến thể hai chỗ ngồi của nó biểu diễn công khai ở phương Tây trong triển lãm hàng không Le Bourget tháng 7 năm 1989. Anh hùng Liên Xô – phi công thí nghiệm Pugachev đã thực hiện bài bay cấp cao. Khi đó, rõ ràng, thế giới phương Tây đã sửng sốt trước kỹ thuật lái mới mà nhanh chóng được gọi là “Rắn hổ mang Pugachev”. Tháng 8 cùng năm, kỹ thuật bay cao cấp trên Su-27 đã được biểu diễn nhân ngày Hàng không ở Tushino, thành phố Zhucov. Ngoài ra, năm 1989, Su-27 đã tham gia triển lãm hàng không ở Farnboro, Dubai và Singapore.

Đầu những năm 1990, chính sách xuất khẩu của tập đoàn nhà nước “Vũ khí Nga” không xem xét việc bán các máy bay Su mới nhất ra nước ngoài. Ngoại trừ khi đó, chỉ có Trung Quốc và Việt Nam đã ký các hợp đồng mua phiên bản xuất khẩu của Su-27 và Su-27UB.

Su-27SK được sản xuất hàng loạt ở xưởng hàng không tại Komsomol-na-Amur năm 1991 sau khi ký thỏa thuận liên chính phủ ngày với Trung Quốc 14 tháng 6 năm 1990. Trong đó, dự kiến thực hiện cung cấp vũ khí và khí tài kỹ thuật quân sự đi kèm.

Điểm khác giữa phiên bản xuất khẩu so với máy bay sử dụng trong Không quân Nga (phiên bản gốc), về cơ bản, gồm có trang thiết bị điện tử mang theo và vũ khí, được chế tạo theo tiêu chuẩn xuất khẩu. Máy bay tiêm kích trang bị hệ thống điều khiển từ xa dành cho xuất khẩu kiểu SUD-10. Hệ thống điều khiển vũ khí gồm có máy ngắm ra đa RLPK-27, máy ngắm quang – điện OEPS-27, hệ thống màn hình SEIO-31. Trong RLPK-26 có đài ra đa vô tuyến N001E được chế tạo bởi Viện nghiên cứu khoa học sản xuất Tikhomirov. Nó có thể phát hiện mục tiêu “máy bay tiêm kích” trong bán cầu trước ở cự ly 100 kilomet (40 kilomet trong bán cầu sau) và bám sát mục tiêu ở cự ly 80 kilomet. Đài ra đa có khả năng bám sát đồng thời 10 mục tiêu. Máy bay trang bị hệ thống dẫn đường RNK-10, đảm bảo bay trong điều kiện khí tượng bất kỳ trong cả ngày lẫn đêm. Trong thành phần trang thiết bị điện tử mang theo còn có đài ra đa vô tuyến đốp le tổng hợp “Topaz”, tổ hợp thước ngắm – dẫn đường quang điện, các màn hình màu đa chức năng tinh thể lỏng, hệ thống kiểm tra với sự hiển thị các tham số máy bay cũng như bối cảnh chiến thuật, các máy thu bức xạ ra đa vô tuyến đối phương “Pastel” và SPO-32….

Mùng 6 tháng 12 năm 1996, Nga đã ký với Trung Quốc hợp đồng trị giá 2,5 tỷ USD, dự kiến bán dây chuyền sản xuất Su-27SK với số lượng 200 máy bay trong vòng 5 năm. Một trong các điều khoản hợp đồng là cấm xuất khẩu các máy bay này. Các máy bay đầu tiên được lắp từ các bộ phận được chở đến từ KnAAPO. Sau đó chúng được sản xuất ở Trung Quốc. Mùa hè năm 1997, Trung Quốc đã được bàn giao toàn bộ tổ hợp tài liệu kỹ thuật, cũng trong tháng 12 năm 1998, đã lắp và thí nghiệm 2 máy bay J-11 đầu tiên (tên gọi Su-27SK của Trung Quốc), được lắp ở tập đoàn Sheyan aircraff. Đến năm 2002, theo kế hoạch mỗi năm sẽ sản xuất 40 máy bay. Mặc dù vậy, Trung Quốc vẫn dự định xuất khẩu Su-27UBK.

Năm 1995, đã xuất hiện dự án máy bay tiêm kích Su-27SMK. Nó được KnAAPO giới thiệu trực tiếp là sự phát triển của phiên bản xuất khẩu Su-27SK với hệ thống tiếp dầu trên không, cánh mới, cho phép trang bị thùng dầu phụ, bổ sung 2 bệ treo vũ khí, tăng cường khả năng tấn công mục tiêu trên bộ. Dự án này không nhận được sự phát triển tiếp.

Ngày 29 tháng 8 năm 1997, trong chuyến thăm Moskva của phải đoàn quân sự Indonesia, đã diễn ra buổi ký biên bản ghi nhớ về dự kiến bán 8 máy bayu tiêm kích Su-30KI (phiên bản xuất khẩu cho Indonesia), 4 máy bay 2 chỗ ngồi Su-30MK và 8 trực thăng Mi-17-1V. Hợp đồng chính thức được ký vào tháng 10-11 năm 1997.

Máy bay Su-30KI, thực tế là biến thể Su-27SK, khác ở với phiên bản gốc ở cần tiếp dầu trên không. Trang thiết bị còn lại và hệ thống điều khiển vũ khí, thực tế, giống với Su-27SK.

Mùng 9 tháng 1 năm 1998, do khủng hoảng kinh tế, Indonesia không đủ khả năng chi trả cho các máy bay Su-30KI đã đặt mua.


Tiêu đề: Su-30KI
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 06 Tháng Bảy, 2013, 08:23:23 pm
Các thông số kỹ chiến thuật

Sải cánh, mét: 14,70

Chiều dài không có máy thu không khí, mét: 21,935

Chiều cao, mét: 5,932

Sải cánh, m2: 62,04

Kiểu động cơ: AL-31F

Lực đẩy trong chế độ tăng lực, kg lực: 2x 12 500

Khối lượng rỗng, kg: 19 500

Khối lượng cất cánh tiêu chuẩn, kg: 22 200

Khối lượng cất cánh tối đa, kg: 33 000

Tốc độ tối đa, km/h: 2430

Trần bay thực tế, mét: 18 500

Tầm bay xa không tải, km: 3700 (không tiếp dầu)

Lấy đà trong chế độ tăng lực, mét: 400

Quãng đường chạy đà, mét: 620

Số lượng bệ trao vũ khí: 10

Trọng tải chiến đấu, kg: 8000

Tổ bay, người: 1.


Vũ khí

Pháo tự động một nòng GSh-301 (30mm, 150 viên, tốc độ bắn 1500 viên/phút)

Tên lửa điều khiển lớp “không đối không” tầm trung R-27R1, R-27E1, R-27T1, R-27ET1 và tầm gần R-73E;

Các loại bom FAB-500, RBK-500, FAB-250M62, FAB-250M54 và FAB-100;

Rốc két S-25, S-13 và S-8.


Tiêu đề: Su-30MKK
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 07 Tháng Bảy, 2013, 10:05:31 pm
(http://xn----7sbb5ahj4aiadq2m.xn--p1ai/guide/air/i/su30mkk-6.jpg)

Các công việc về dòng máy bay mới đã gây ra sự chú ý từ Không quân Trung Quốc trong việc mua vài chục máy bay tiêm kích đa năng hai chỗ ngồi để tăng cường các nhiệm vụ “không đối đất” và thay thế các máy bay ném bom thế hệ cũ H-5 (Il-28) và H-6 (Tu-16).

Việc sản xuất Su-30MKK (phiên bản xuất khẩu, nâng cấp cho Trung Quốc) được KnAAPO tiến hành trong thời gian ngắn kỷ lục. Theo sự thừa nhận của một số công trình sư, các công việc đã diễn ra với tốc độ chưa từng thấy từ thời kỳ Liên Xô. Ngoài ra, việc thực hiện chương trình nhanh chóng còn liên quan với việc sử dụng các sản phẩm khi thiết kế được chế tạo trong các dự án Su-35, Su-27SMK, T-10PU-5.

Các nhà thiết kế dưới sự chỉ đạo của Aleksei Knưshev đã trang bị cho máy bay đài ra đa vô tuyến mớ N001VE (các máy bay tiêm kích S-27SK trang bị mẫu N001E) với tầm hoạt động 100 kilomet trong bán cầu trước và 40 kilomet trong bán cầu sau, các hệ thống dẫn đường (chỉ huy) chiến đấu theo nhóm, vũ khí điều khiển với khả năng tự dẫn bắn bằng vô tuyến. Hệ thống điều khiển vũ khí mới cho phép sử dụng tên lửa điều khiển tầm trung RVV-AE, phát hiện các mục tiêu trên bộ, vẽ bản đồ địa hình. Trên máy bay xuất hiện thiết bị dẫn đường vệ tinh, nâng cấp tổ hợp phòng thủ mang theo, màn hình buồng lái được thay mới. Mỗi cabin lắp các màn hình màu đa chức năng 6 đến 8 inch và các bảng điều khiển mới.

(Nguồn khác: Su-30MKK trang bị đài ra đa mang theo nâng cấp N001M được chế tạo ở Viện nghiên cứu khoa học sản xuất mang tên V.V.Tikhomirov, cho phép sử dụng các tên lửa RVV-AE và đài ra đa quang điện mới, được chế tạo bởi phòng thiết kế trung ương “Geofizika”. Tổ hợp trang thiết bị mang theo của máy bay được chế tạo bởi Phòng thiết kế chế tạo khí tài Ramen. Trong tổ hợp trang bị máy tính kỹ thuật số thế hệ mới với sự đảm bảo lập trình mới liên quan tới các phân hệ thống trang thiết bị mang theo và tổ hợp vũ khí bằng các kênh trao đổi thông tin. Trên máy bay lắp hệ thống màn hình đa năng tinh thể lỏng mới. Su-30MKK sử dụng được các vũ khí không điều khiển và vũ khí chính xác cao để tiêu diệt mục tiêu trên bộ. Vũ khí được gắn trên 12 bệ treo với tổng khối lượng 8 tấn).

Nhà thiết kế tổ hợp điện tử hàng không mới và bộ tích hợp hệ thống khí tài mang theo là Phòng thiết kế chế tạo khí tài Ramen, bằng tổ hợp trang thiết bị điện tử mang theo mới của mình, cụ thể, là máy tính điện tử mang theo và hệ thống trao đổi thông tin đa kênh, đã tham gia trong cuộc thi nâng cấp các máy bay đang có mặt trong biên chế, nhưng đã chịu thua trước phương án rẻ hơn, được chế tạo để áp dụng cho hệ thống điều khiển vũ khí đang có – “kênh nhánh” trên Su-30KN và Mig-29SMT trước đó.

Su-30MKK trang bị cần tiếp dầu trên không và hệ thống đảm bảo cuộc sống cho tổ bay, nhờ đó, nó có khả năng hoạt động lâu dài, không cần hạ cánh. Khác với Su-30MKI của Ấn Độ, Su-30MKK không có cánh tà trước và động cơ với véc tơ đẩy vặn xoắn.

Nguyên mẫu Su-30MKK (số sườn 05) được lắp ở Moskva bởi Phòng thiết kế và cất cánh lần đầu tiên ngày 20 tháng 2 năm 1999. Sau đó, ở KnAAPO đã lắp 2 máy bay trước mẫu (số sườn 501 và 502), máy bay đầu tiên đã thí nghiệm vào mùng 9 tháng 3 (thông tin từ Jane’s Intelligence Review – 19 tháng 3) năm 1999. Phi công thí nghiệm Vyacheslav Averyanov đã lái máy bay. “502” cất cánh bay lần đầu tiên vào tháng 6.

Ngày 27 tháng 8 năm 1999, Nga và Trung Quốc đã ký thỏa thuận bán 45 máy bay tiêm kích Su-30MKK trong thời gian 3 năm. Tổng giá trị hợp đồng là 2 tỷ USD. Phía Nga có sự tham gia của “Phòng thiết kế thí nghiệm Sukhoi” và KnAAPO.

Ngày 10 tháng 8 năm 2000, đã lắp xong 7 máy bay tiêm kích Su-30MKK. Toàn bộ chúng được bàn giao cho Trung Quốc năm 2000. Việc này rõ ràng đã gây chú ý lớn đối với các chuyên gia Nga, Trung Quốc và phương Tây cũng như như các nhà báo tới Su-30MKK (số sườn 502), đã tham gia triển lãm hàng không Chu Hải ở Trung Quốc từ mùng 6 đến 12 tháng 11 năm 2000.


Tiêu đề: Su-30MKK
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 07 Tháng Bảy, 2013, 10:06:34 pm
Các thông số kỹ chiến thuật

(http://xn----7sbb5ahj4aiadq2m.xn--p1ai/guide/air/i/su30mkk-4.jpg)

Sải cánh, mét: 14,70

Chiều dài không có máy thu không khí, mét: 21,94

Chiều cao, mét: 6,375

Sải cánh, m2: 62,0

Kiểu động cơ: AL-31F

Lực đẩy trong chế độ tăng lực, kg lực: 2x 12 500

Khối lượng rỗng, kg: -

Khối lượng cất cánh tiêu chuẩn, kg: 26 400

Khối lượng cất cánh tối đa, kg: 34 500

Tốc độ tối đa, km/h: 2200

Trần bay thực tế, mét: 17 300

Tầm bay xa không tải, km: 5200 (với một lần tiếp dầu)

Lấy đà trong chế độ tăng lực, mét: -

Quãng đường chạy đà, mét: -

Số lượng bệ trao vũ khí: 12

Trọng tải chiến đấu, kg: 8000

Tổ bay, người: 2.


Vũ khí

Pháo một nòng tự động GSh-301 (30mm, 150 đạn, tốc độ bắn 1500 phát/phút)

Tên lửa điều khiển “không đối không” RVV-AE (Trung Quốc có thể tự sản xuất với tên gọi R-129); R-27 các biến thể khác nhau và R-73;

Bom FAB-500, RBK-500, FAB-250M62, FAB-250M54 và FAB-100;

Rốc két S-25, S-13 và S-8;

Vũ khí điều khiển “không đối đất”: Kh-29T và Kh-29TE với hệ thống dẫn bắn vô tuyến, K-29L với hệ thống dẫn bắn bằng tia laze và Kh-59M với hệ thống dẫn bắn bằng lênh vô tuyến, tên lửa chống ra đa Kh-31P;

Bom điều khiển với đầu tự dẫn đường hiệu chỉnh bằng vô tuyến KAB-500KR và KAB-1500KR, tên lửa chống tàu siêu âm Kh-31A.


Tiêu đề: Máy bay tiêm kích Su-30K
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 08 Tháng Bảy, 2013, 10:22:08 pm
Khi quan tâm đến vai trò Không quân trong chiến tranh hiện dại, tập đoàn Sukhoi đã quyết định chế tạo máy bay xung kích mới dành cho Không quân tiền duyên. Giải pháp này, cũng để cho nhiều nước khác, trong thời gian đó mua khí tài kỹ thuật quân sự của Nga, trong đó có Mig-23, Mig-27, Su-7 và Su-17 trong các biến thể khác nhau. Các loại máy bay này đã cũ và cần phải thay bằng các máy bay hiện đại, hiệu quả hơn. Trong khi sử dụng Su-30 làm máy bay cơ sở, năm 1993, Phòng thiết kế đã giới thiệu phương án phát triển tiếp theo – máy bay tiêm kích đa chức năng Su-30K (thương mại). Chủ nhiệm dự án này là Alecsandr Barkovsky.

Kết quả việc nâng cấp là các máy bay tiêm kích có chất lượng chiến đấu mới. Chúng có khả năng tiến hành trinh sát, tấn công vào các mục tiêu trên bộ và mục tiêu nổi trong các điều kiện khí tượng phức tạp và ban đêm. Hệ thống dẫn đường chính xác cao sử dụng thông tin từ hệ thống dẫn đường vệ tinh GLONASS hoặc GPS.

Trong tổ hợp trang thiết bị mang theo có áp dụng các phần tử mới, trong có đó bộ xử lý lập trình, thực hiện chức năng xử lý các tín hiệu ra đa để vẽ địa hình bề mặt trái đất, máy tính kỹ thuật số mang theo – để kiểm soát các hệ thống dẫn đường, vũ khí, ra đa được chế tạo ở Phòng thiết kế thí nghiệm “Điện tử hàng không Nga”. Các đặc điểm chính: dư, thiết kế mở, trao đổi thông tin theo bộ góp đa sóng.

Việc lái máy bay vào khu vực phát hiện mục tiêu bằng mắt thường có thể được thực hiện bằng tay hoặc với sự hỗ trợ của hệ thống điều khiển tự động một cách bí mật trong chế độ im lặng vô tuyến ở tầm thấp (радиомолчаниe), theo hành trình xác định trước, hiển thị trên màn hình tinh thể lỏng. Việc này làm giảm đáng kể thời gian của máy bay trong phạm vi hoạt động hiệu quả của hệ thống phòng không địch khi thực hiện tấn công bằng vũ khí dẫn đường vô tuyến. Các thí nghiệm máy bay nâng cấp đã chứng tỏ hiệu quả các chế độ phát hiện mục tiêu nổi và mục tiêu trên bộ.

Theo các thông số của mình, Su-30K có thể sử dụng vũ khí chính xác cao lớp “không đối đất” tấn công mục tiêu trên biển và trên bộ từ tầm xa 250 kilomet. Khả năng sử dụng vũ khí chính xác cao và mở rộng khối lượng nhiệm vụ yêu cầu hoàn thiện hệ thống điều khiển vũ khí và sử dụng trang thiết bị mới, đảm bảo sử dụng vũ khí trong mọi điều kiện khí tượng ban ngay cũng như ban đêm. Thể tích hạn chế của máy bay không cho phép bố trí toàn bộ trang thiết bị mà sẽ mang theo trong dạng thùng khí tài trên các bệ treo ngoài. Trong đó, gồm có hệ thống đo xa và chỉ thị mục tiêu bằng tia laze để sử dụng vũ khí điều khiển với đầu đạn tự dẫn bắn bằng tia laze và khí tài ảnh nhiệt – để phát hiện mục tiêu phát hiện mục tiêu bằng hồng ngoại, cho phép hoạt động ban đêm trong điều kiện thời tiết phức tạp. Máy bayt rang bị các ghế phóng K-36D, lắp nghiêng 30 độ.

Danh pháp vũ khí rộng của Su-30K có thể sử dụng, không chỉ trong không chiến mà còn tấn công các mục tiêu trên bộ và trên biển. Máy bay có khả năng sử dụng vũ khí chiến thuật chính xác cao lớp “không đối đất” – tên lửa chống tàu Kh-31A, tên lửa chống ra đa Kh-31P, các tên lửa dẫn bắn vô tuyến tầm xa Kh-59M và tên lửa tầm gần Kh-29T, bom điều khiển KAB-500 và KAB-1500. Đồng thời, tăng hiệu quả giải quyết nhiệm vụ chiếm ưu thế trên không khi sử dụng tên lửa với đầu đạn dẫn bắn chủ động RVV-AE. Su-30K cũng xuất hiện khả năng lắp trang bị điện tử hàng không mới của nước ngoài, thuận lợi cho xuất khẩu. Các đề xuất của Phòng thiết kế thí nghiệm Sukhoi trở nên rõ ràng vào năm 1993, khi lần đầu tiên, Su-30K (tên gọi trong xưởng 10-4PK) đã xuất hiện trong triển lãm hàng không ở Le Bourget.

Giai đoạn hai nâng cấp máy bay – tạo cho máy bay chất lượng mới, tương đương với các máy bay tiêm kích “Rafale” và “Eurofight”. Các buồng lái Mig-29 và Su-30 sẽ được đồng nhất. Trong các máy bay này lắp cho phi công và hoa tiêu theo 3 màn hình tinh thể lỏng đa chức năng. Với mục đích có thể bắn đồng thời một số mục tiêu trên không trong góc quan sát hơn 100 độ. Ăng ten tổ hợp máy ngắm ra đa được thay bằng lưới ăng ten mảng pha. Sự đồng nhất Mig-29SMT, Mig-29UBT và Su-30K cho phép sử dụng các máy bay này trong cùng tổ chiến đấu. Cụ thể, Su-30K trong vai trò máy bay chỉ huy, có khả năng điều khiển từ 3 đến 4 máy bay Mig, phối hợp với các tổ hợp tên lửa thuộc quân chủng Phòng không và với các trạm chỉ huy Lục quân để trở thành sức mạnh thống nhất và hệ thống phòng thủ - tấn công linh hoạt.


Tiêu đề: Máy bay tiêm kích Su-30K
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 08 Tháng Bảy, 2013, 10:22:44 pm
Các thông số kỹ chiến thuật

Sải cánh, mét: 14,70

Chiều dài, mét: 21,94

Chiều cao, mét: 6,375

Diện tích cánh, m2: 62,40

Khối lượng, kg

+ cất cánh tiêu chuẩn: 29 940

+ cất cánh tối đa: 34 000

Kiểu động cơ: động cơ tuabin phản lực luồng kép AL-31F

Sức đẩy, kg lực: 2x12 500

Tốc độ tối đa, km/h

+ trên cao: 2175

+ gần mặt đất: 1400

Tầm bay xa, km: 3000

Trần bay thực tế: -

Tổ bay, người: 2

Vũ khí

Pháo tự động GSh-301 (150 viên)

Tải trọng chiến đấu: 8000kg trên 12 bệ treo; 10 trong số đó có thể gắn tên lửa điều khiển

Vũ khí tên lửa – 6 tên lửa “không đối không” tầm trung kiểu R-27, 4 tên lửa điều khiển tầm gần R-73;

Các loại bom đến 500kg và tổng trọng tải 6000kg (các túi FAB-250) trên 4 bệ treo;

Rốc két, các thùng rốc két “không đối đất”.


Tiêu đề: Re: Máy bay tiêm kích đa năng Su-30MKI
Gửi bởi: huyphongssi trong 08 Tháng Bảy, 2013, 10:44:29 pm

Buồng lái trước Su-30MKI

(http://www.airwar.ru/image/idop/fighter/su30mki/su30mki-13.jpg)


Buồng lái sau Su-30MKI

(http://www.airwar.ru/image/idop/fighter/su30mki/su30mki-14.jpg)
Có sự nhầm lẫn vì đây là buồng lái đặc trưng của Su-30MKK chứ không phải Su-30MKI


Tiêu đề: Re: Máy bay tiêm kích đa năng Su-30MKI
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 09 Tháng Bảy, 2013, 12:11:29 am

Có sự nhầm lẫn vì đây là buồng lái đặc trưng của Su-30MKK chứ không phải Su-30MKI
Ảnh chú thích sao thì em viết lại vậy cụ à. Hai buồng lái Su-30MKI với Su-30MKK khác nhau chỗ nào hả cụ? Em có phân biệt được đâu :-[

Em lấy nguồn ảnh ở đây: http://www.airwar.ru/enc/fighter/su30mki.html


Tiêu đề: Re: Máy bay tiêm kích đa năng Su-30MKI
Gửi bởi: huyphongssi trong 09 Tháng Bảy, 2013, 01:19:20 am

Có sự nhầm lẫn vì đây là buồng lái đặc trưng của Su-30MKK chứ không phải Su-30MKI
Ảnh chú thích sao thì em viết lại vậy cụ à. Hai buồng lái Su-30MKI với Su-30MKK khác nhau chỗ nào hả cụ? Em có phân biệt được đâu :-[

Em lấy nguồn ảnh ở đây: http://www.airwar.ru/enc/fighter/su30mki.html
Hình nguồn sai đấy. Buồng lái Su-30MKK/MK2 có 4 màn hình đa chức năng MFI-10-5 thiết kế chuyên hiển thị thông tin trạng thái bay, chiến đấu và điều khiển thiết bị của tổ hợp điều khiển vũ khí SUV-P-1 cho các nhiệm vụ không đối đất và không đối hải. Màn hình tinh thể lỏng đa chức năng MFI-10-5 là hàng nội địa của Nga - Nhà máy chế tạo thiết bị Ramenskii

Buồng lái trước của Su-30MKK/MK2 có 2 màn hình MFI-10-5 số 1 (trái) và số 3 (phải).
(http://www.airwar.ru/image/idop/fighter/su30mki/su30mki-13.jpg)

Buồng lái sau của Su-30MKK/MK2 có 2 màn hình MFI-10-5 số 4 (trên) và số 2 (dưới).
(http://www.airwar.ru/image/idop/fighter/su30mki/su30mki-14.jpg)

Buồng lái trước của Su-30MKI/MKM có 3 màn hình đa chức năng MFD55 (sản phẩm của Liên doanh Samtel Ấn) bố trí theo hàng ngang
(http://www.militaryparitet.com/editor/assets/su30mkicockpit1[1].jpg)

Buồng lái sau của Su-30MKI/MKM có 1 màn hình MFD66 ở trên và 3 màn hình đa chức năng MFD55 (sản phẩm của Liên doanh Samtel Ấn) bố trí theo hàng ngang ở dưới
(http://www.militaryparitet.com/editor/assets/su30mkicockpit2.jpg)


Tiêu đề: Máy bay tiêm kích bom Su-34
Gửi bởi: daibangden trong 16 Tháng Ba, 2014, 07:43:07 pm
(http://i1367.photobucket.com/albums/r787/shevchenko1976/SU-34_info_zps850257fc.jpg)

Nhiệm vụ

Dùng để chọc thủng các phần tử thuộc hệ thống phòng không hiện đại trên bộ và trên không của địch, đồng thời tiêu diệt bằng tên lửa – bom với sức mạnh và độ chính xác cao đối với các mục tiêu được ưu tiên trên bộ và trên biển.

Các thông số kỹ thuật

Tổ bay, người: 2

Chiều dài, mét: 23,3

Chiều rộng, mét: 14,7

Chiều cao, mét: 6,1

Diện tích cánh, m2: 62

Sải cánh, mét: 14,7

Trọng lượng cất cánh tối đa, kg: 44 360

Tốc độ tối đa trên tầm cao, km/h: 1900

Tầm bay xa, km: 4000

Bán kính chiến đấu,km: 1100

Trần bay thực tế, mét: 17 000

Động cơ: 2 động cơ phản lực hai tầng

Vũ khí

+ pháo 30mm

+ tên lửa điều khiển “không đối không”/”không đối đất”, bom, bom điều khiển, bom mẹ - con, rốc két trên 12 bệ treo.

Các thành viên trong tổ bay có thể đứng trong buồng lái theo toàn bộ chiều cao, cho phép hồi phục khả năng hoạt động các cơ bị tê. Trong buồng lái có nhà vệ sinh và tủ để làm nóng đồ ăn, đảm bảo khả năng làm việc cao cho các phi công khi thực hiện chuyến bay dài (bay liên tục trong 10 tiếng).


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: Hai Ruộng trong 20 Tháng Tư, 2014, 05:33:00 pm
 Máy bay SU của Nga làm tê liệt hệ thống điều khiển của tàu chiến Mỹ ở Biển Đen nè các Bác :
https://vn.news.yahoo.com/chi%E1%BA%BFn-c%C6%A1-sukhoi-nga-l%C3%A0m-t%C3%AA-li%E1%BB%87t-t%C3%A0u-010408169.html


Tiêu đề: Re: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005
Gửi bởi: SaigonTrai trong 15 Tháng Năm, 2014, 08:17:17 am
Bác Hai Ruộng dễ tin quá. (-: