Lịch sử Quân sự Việt Nam

Máu và Hoa => Về lại chiến trường xưa... => Tác giả chủ đề:: tuanquoc19 trong 20 Tháng Bảy, 2010, 07:48:36 am



Tiêu đề: Phú Yên - Đất & Người Đất anh hùng
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 20 Tháng Bảy, 2010, 07:48:36 am
chào mọi người! dưới đây là những trận đánh oai hùng của quân và dân Phú Yên đươc sưu tâp trên trang phuyenonline. Mong mọi người đóng góp thêm...


Tiêu đề: Sơn Hòa - vùng căn cứ cách mạng Phú Yên trong kháng chiến
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 20 Tháng Bảy, 2010, 07:50:15 am
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, quân và dân Sơn Hòa đã không quản gian khổ, hy sinh đấu tranh bảo vệ Đảng, bảo vệ cách mạng, giải phóng quê hương góp phần cùng quân dân cả nước đưa cuộc kháng chiến chống ngoại xâm đến thắng lợi hoàn toàn. Những tên đất, tên người, những ngọn đồi, từng khu rừng...ở Sơn Hòa đã trở thành những địa danh ghi vào lịch sử, làm rạng rỡ truyền thống vẻ vang của quê hương Phú Yên.
 
 (http://www.baophuyen.com.vn/Portals/0/2009/05/16/sh-090516.jpg)Các cựu chiến binh về thăm lại cơ quan Tỉnh ủy Phú Yên (xã Sơn Long, huyện Sơn Hòa) trong kháng chiến chống Mỹ    –Ảnh:  LÊ KHA
 
Thực hiện Nghị quyết của Đảng bộ huyện Sơn Hòa lần thứ II năm 1950, huyện chủ trương “Kiên quyết chống địch lấn chiếm, đẩy mạnh phong trào làm hầm chông cạm bẫy để đánh địch, bảo vệ vùng tự do, bao vây kinh tế địch. Đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm, tiếp tục động viên nhân dân góp nhân tài vật lực cho kháng chiến”. Huyện ủy Sơn Hòa phát động phong trào luyện tập quân sự, học tập lý luận chiến tranh nhân dân, thực hiện bố phòng sẵn sàng chiến đấu. Đại hội Đảng bộ tỉnh Phú Yên lần thứ IV, họp từ 27/4 đến ngày 5/5/1951 đã thảo luận sôi nổi chỉ thị của Trung ương Đảng, tích cực cầm cự, chuẩn bị chuyển sang tổng tiến công, ra sức chi viện cho chiến trường các tỉnh bạn như Khánh Hòa, Đắk Lắk, Gia Lai, Bình Định; xây dựng miền tây Phú Yên thành căn cứ địa của tỉnh. Nhân dân vùng căn cứ cách mạng ra sức phục vụ tiền tuyến, đi dân công tiếp vận, phục vụ chăm sóc thương bệnh binh… với khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”. Từng đoàn dân công hàng trăm người và ngựa thồ xuyên rừng lội suối, trèo đèo len qua các khu đồn bót địch, đưa gạo, muối, mắm đến chiến trường vùng sau lưng địch ở Tây Nguyên và bắc Khánh Hòa.
 
Qua hai cuộc kháng chiến, nhân dân vùng căn cứ cách mạng tỉnh Phú Yên đã phát huy truyền thống đoàn kết các dân tộc anh em một lòng chiến đấu và chiến thắng với kẻ thù, bám trụ giữ vững địa bàn chiến lược vùng căn cứ Tỉnh ủy Phú Yên. Kết hợp với đấu tranh chính trị, phong trào nhân dân du kích chiến tranh ở các xã Cà Lúi, Phước Tân, Sơn Định, Sơn Long, Sơn Xuân, Sơn Hà… cũng phát triển mạnh mẽ. Nhân dân ở vùng căn cứ vót hơn 100.000 mũi chông, đặt hàng ngàn cạm bẫy, mở nhiều tuyến đường số phục vụ cho kháng chiến chống kẻ thù. Nhân dân chi viện sức người sức của, đóng góp hàng ngàn con heo, bò, nhiều tấn lương thực, thực phẩm… phục vụ cho bộ đội địa phương và chủ lực.
 
Sơn Hòa có núi non hùng vĩ, có nhiều sông suối, trong đó có con sông Ba phát nguyên từ tỉnh Kon Tum chảy qua. Sơn Hòa có rừng và đất rừng nhiệt đới rất đa dạng, phong phú. Trong chiến tranh, rừng không chỉ là nơi kín đáo cho ta xây dựng căn cứ cách mạng để hoạt động, che giấu lực lượng, tàng trữ vũ khí, xây dựng kho tàng mà còn là nguồn tài nguyên vô tận để khai thác, phục vụ đời sống và chiến đấu. Sơn Hòa vừa có tiềm năng kinh tế dồi dào, vừa giữ một vị trí hết sức quan trọng của tỉnh Phú Yên. Đó là một bộ phận hành lang chiến lược Quân khu 5, là cửa ngõ tỉnh lộ 7 (quốc lộ 25 bây giờ) nối liền Tây Nguyên với đồng bằng Tuy Hòa, có vị trí chiến lược kinh tế, quốc phòng nối liền giữa đồng bằng với miền núi. Chính vì lợi thế này mà Tỉnh ủy Phú Yên đã chọn huyện Sơn Hòa là vùng căn cứ địa cách mạng từ năm 1945 đến năm 1975. Xây dựng căn cứ địa cách mạng, nhất là xây dựng về chính trị, nâng cao giác ngộ của đồng bào, củng cố khối đại đoàn kết với các dân tộc anh em, thực hiện các chính sách dân tộc của Đảng. Đó là ra sức phát triển sản xuất, chăm lo cải thiện đời sống vật chất văn hóa, xây dựng cơ sở hậu cần tại chỗ… Trên hết, quyết định thành công của nhiệm vụ xây dựng căn cứ  địa là công tác xây dựng Đảng và đào tạo cán bộ, nhất là cán bộ cơ sở, chăm lo công tác xây dựng chi bộ cơ sở vững mạnh khắp các buôn làng, gắn bó mật thiết với nhân dân. Trong hai cuộc kháng chiến, Sơn Hòa đã xây dựng hậu phương vững chắc về nhiều mặt, có thể phòng thủ vững mạnh, triển khai nhiều đơn vị chủ lực, địa phương tấn công tiêu diệt địch.
 
 
Sơn Hòa hôm nay – Ảnh: LÊ KHA
 
Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Phú Yên, Đảng bộ và nhân dân huyện Sơn Hòa đã phát huy truyền thống yêu nước, vừa sản xuất vừa chiến đấu chống giặc ngoại xâm, giành thắng lợi hoàn toàn về tay nhân dân. Với những thành tích đặc biệt xuất sắc đó, ngày 22/12/1994, nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân huyện Sơn Hòa vinh dự đón nhận danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” do Nhà nước trao tặng. Các đơn vị được phong tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” là các xã Sơn Long, Phước Tân, Cà Lúi, Sơn Xuân và Sơn Định - những vùng căn cứ vững chắc, sắt son của cách mạng Phú Yên.
 
Từ năm 1975 đến nay, trải qua 34 năm xây dựng và phát triển, được sự quan tâm giúp đỡ của các ngành các cấp, Đảng bộ và nhân dân Sơn Hòa không ngừng phấn đấu vươn lên, xây dựng và phát triển kinh tế xã hội, cơ sở vật chất phục vụ dân sinh. Nhờ đó, đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện, từng bước vượt qua đói nghèo, bộ mặt nông thôn và các xã vùng căn cứ địa năm xưa nay đã được đổi mới, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa quê hương


Tiêu đề: Những trận đánh “chia lửa” với chiến trường Điện Biên Phủ
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 20 Tháng Bảy, 2010, 07:51:55 am

Trong những năm chống thực dân Pháp, Phú Yên là vùng tự do, là nơi nghĩa tình sâu đậm của cán bộ chiến sĩ Tiểu đoàn 365 cũng như cả Trung đoàn 803 anh hùng. Cứ sau chiến dịch, anh em lại về nghỉ ngơi như gia đình thứ hai. Nhưng đến ngày 20/1/1954, Pháp mở chiến dịch Át-lăng, đưa quân vào các tỉnh Bình - Phú và Tây Nguyên với 22 tiểu đoàn, 4 binh đoàn. Trong đó có những đơn vị tinh nhuệ như binh đoàn 10, binh đoàn 41-42 và 100, cộng với 2 tiểu đoàn dù ngụy.
 
 (http://www.baophuyen.com.vn/Portals/0/2009/04/29/sc2090429.jpg)
Vùng đất này năm 1954 đã diễn ra trận thắng lẫy lừng của quân ta khi chặn đánh lực lượng của quân Pháp thực hiện Chiến dịch Át-Lăng - Ảnh: L.KHA
 
HẠ ĐỒN ĐẮC ĐOA
 
Theo lệnh trên, để “chia lửa” với chiến trường Điện Biên Phủ, Tiểu đoàn 365 và Trung đoàn 803 tập trung diệt ổ địch ở Cà Hê, Bù Bốp, sau đó cùng với Trung đoàn 108 đánh giải phóng Mang Đen, Cam Rây, U Bat, giải phóng hoàn toàn thị xã Kontum. Lúc này, ở đường 14 và 19 - trục lộ giao thông Bình Định lên, Đắk Lắk ra sát Pleiku, địch xây dựng đồn Đắc Đoa gồm 2 đại đội Âu - Phi chiếm giữ, có sự chi viện của pháo 105. Trung đoàn 803 lệnh cho Tiểu đoàn 365, dưới sự chỉ huy trực tiếp của Trung đoàn phó Hà Vi Tùng, Tiểu đoàn trưởng Phạm Đình Dư và Chính trị viên Cao Thượng Lương, phải diệt gọn đồn Đắc Đoa trong đêm 16.
 
Tiểu đoàn phân công Đại đội 211 làm chủ công là hướng đột phá chính, trực tiếp chỉ huy là Đại đội trưởng Lê Công Khai, Chính trị viên Lê Quang Sán; Đại đội 212 mở đợt phá cánh phụ, Đại đội 213 làm dự bị và 214 có nhiệm vụ tập trung pháo kích vào đền. Đúng 1g30, chúng ta phát hỏa. Sau 3 giờ rưỡi chiến đấu quyết liệt, đến 4g30, ta làm chủ hoàn toàn đồn Đắc Đoa kiên cố, hai đại đội Âu - Phi bị xóa sổ, ta bắt sống 150 tên, thu 3 trọng liên 12,7; 2 cối 81; 10 trung liên; 33 tiểu liên và cadin; 3 súng ngắn; 3 vô tuyến điện; 20 tấn đạn dược các loại. Sau trận này Tiểu đoàn được Bác Hồ gửi thư khen và tặng Huân chương Quân công hạng nhất, Đại đội trưởng Lê Công Khai được tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
 
ĐÁNH TAN TÁC ĐỒN PLERING
 
Sau chiến thắng Đắc Đoa, Trung đoàn 803 hành quân cấp tốc vượt núi băng rừng về đánh địch ở tây Phú Yên. Trên đoạn đường dài vừa đi vừa đánh địch, đến ngày 20/3/1954, cả trung đoàn vào đầu đường số 7 tiếp với đường 14 xuống thị xã Tuy Hòa. Khi trung đoàn đến gần sông Đăkcơdưng, gặp đồn Plering do quân ngụy chiếm giữ. Tại đây, chúng tăng cường một đại đội Âu - Phi nằm ngoài, có nhiệm vụ canh giữ khống chế đường số 7. Chúng tôi nhận được điện của trên cho biết, đồn Plering lúc bấy giờ còn có lực lượng mạnh của binh đoàn cơ động 100 mà địch vừa mới tăng cường chiều 20/3.
 
Lúc này đã 1g sáng ngày 21/3/1954. Trung đoàn trưởng Phan Hàm triệu tập gấp cuộc họp Thường vụ Đảng ủy Trung đoàn, nhưng đồng chí Chính ủy đi họp vắng, nên chỉ còn đồng chí Nguyễn Nam Khánh là Trưởng ban chính trị. Hai đồng chí hội ý chớp nhoáng và đi đến thống nhất là phải đánh và quyết thắng. Quyết tâm đó được báo cáo về Quân khu và được chấp nhận.
Đúng 2g30 sáng 21/3/1954, các đơn vị 39, 59 và trợ chiến trung đoàn báo cáo xong phương án. Trung đoàn trưởng kiểm tra lần cuối cùng và ra lệnh phát hỏa. Trên chục khẩu cối của trung đoàn đua nhau nhả đạn tới tấp và rất chính xác vào đồn giặc. Trung liên đầu bạc của ta bắn như mưa, quân của binh đoàn 100 và đại đội Âu - Phi của giặc nằm ngoài công sự bị hỗn loạn; hỏa lực trong đồn của chúng bị dập tắt ngay từ đầu nên chúng không bắn trả lại được. Tiếng kèn vang lên thúc giục bộ đội ta nhất tề xung phong mãnh liệt. Bộ đội ta tấn công vào đồn, thấy giặc chết chồng chất như rạ, các nhà bạt dã chiến, xe pháo ngổn ngang, số địch còn sống sót vất vũ khí chạy vào rừng thoát thân. Khoảng 4g sáng, ta làm chủ trận địa hoàn toàn. Kết quả, địch công nhận chúng bị chết 936 tên, 20 xe bị phá hủy, 200 xe cơ giới và pháo binh bị hư hỏng nặng...
 
Chiến thắng Plering đã đập tan mưu đồ mở cuộc hành quân lớn xuống đường số 7 uy hiếp đập Đồng Cam của Pháp.
 
CHIẾN THẮNG SUỐI CỐI LẪY LỪNG
 
Sau chiến thắng Đắc Đoa, Tiểu đoàn 365 được Trung đoàn 830 cho tách khỏi đội hình trung đoàn để vượt sông Con về lại Phú Yên. Anh em tiểu đoàn rất mừng vì đã bao nhiêu ngày xa cách để lên Tây Nguyên bị đói cơm lạt muối. Khi chúng tôi về đến Kỳ Lộ, Đồng Xuân, được bà con đón tiếp như mẹ đón những đứa con đi xa lâu ngày trở về. Tiểu đoàn 365 được Trung đoàn phó Hà Vi Tùng trực tiếp chỉ huy, Tiểu đoàn trưởng là Phan Đình Dư và Chính trị viên là Cao Thượng Lương.
 
Tối ngày 20, sáng ngày 21/3/1954, toàn tiểu đoàn gồm 4 đại đội đã đến xã Xuân Quang, huyện Đồng Xuân và trú quân trong một khu rừng cạnh Hòn Ông. Tiểu đoàn đang cử người đi liên lạc với tỉnh để nắm tình hình, các đại đội đang nấu chè, Chính trị viên Cao Thượng Lương chuẩn bị nội dung động viên anh em, thì trinh sát tiểu đoàn phát hiện một đơn vị địch vừa rời khỏi vị trí trú quân qua đêm ở khu đất cao cách khoảng 3km. Chúng đang hướng về nơi Tiểu đoàn 365 trú quân. Cuộc hành quân này do tiểu đoàn ngự lâm quân số 2, còn gọi là “Con hổ xám” chuyên bảo vệ dinh Bảo Đại từ Đà Lạt mới ra, là một đơn vị thiện chiến, để phối hợp với một cánh quân có pháo binh tại La Hai, Phú Giang nhằm càn quét và tiến về căn cứ địa Phú Yên.
 
Đồng chí Hà Vi Tùng hội ý chớp nhoáng với Chính trị viên Cao Thượng Lương và lệnh cho đơn vị chuẩn bị đánh địch theo phương án đã vạch. Trung đoàn phó Hà Vi Tùng lệnh cho Đại đội 211 chặn đầu ở tây Hòn Ông, Đại đội 212 đánh lướt sườn từ chân núi phía nam ra đường mòn cạnh dòng suối có địch đang hành quân từ đông lên; chỉ huy Hà Vi Tùng, Tiểu đoàn trưởng Phạm Đình Dư sẽ trực tiếp ở 212 do đồng chí Phan Văn Nhạ làm chỉ huy đại đội; Đại đội 213 khóa dưới ở hướng đông.
 
Khoảng 13g cùng ngày, tốp đầu của địch rơi vào trận địa phục kích của ta. Đại đội 211 chặn đầu nổ súng đồng loạt. Trung liên, đại liên của ta nổ như mưa vào bọn đi đầu của địch, khiến chúng bị động lúng túng, nhiều tên chết và bị thương. Đại đội 212 nhanh chóng vận động xung phong lướt sườn dưới sự yểm trợ của Đại đội trợ chiến 214, kèn xung phong của Lê Hớn Thời vang giục giã. Đại đội 213 nổ súng khóa đuôi nên tiểu đội ngự lâm quân ngụy nằm trong tầm bắn.
 
Suốt 4 giờ liền ta quần địch trên một đoạn suối. Tiểu đoàn 2 ngự lâm quân của địch la hét, bỏ chạy tán loạn. Tên Tiểu đoàn trưởng Qui bị thương, hướng thẳng vào rừng trốn; tên trung úy đại đội trưởng Trần Văn Chánh cố xua quân chống cự thì bị dính đạn ta, chết tại chỗ; bọn sống sót kéo cờ trắng đầu hàng.
 
Đúng 18g ngày 21/3/1954, ta làm chủ hoàn toàn trận địa. Tiểu đoàn ngự lâm quân số 2 kiêu căng hung hãn của địch bị xóa sổ hoàn toàn. 123 tên chết, 90 tên bị bắt sống, nhiều tên bị thương vứt súng đạn chạy vào rừng tẩu thoát; ta thu 300 súng các loại, 8 máy vô tuyến điện và nhiều quân trang quân dụng khác.
 
Chiến thắng Suối Cối có tiếng vang lớn. Bọn địch cho rằng “anh Hai” đã về Phú Yên, nên quân – thầy các cứ điểm Sông Cầu, Chí Thạnh lung lay, bỏ chạy.
 
Tư lệnh Liên khu 5 tuyên dương Tiểu đoàn 365, nhân dân Phú Yên phấn khởi. Tỉnh ủy, Ủy ban hành chính tỉnh Phú Yên trực tiếp đến khen ngợi, biểu dương và tặng quà khuyến khích. Chiến thắng lẫy lừng này đã đi vào ca dao:
 
Ai qua Suối Cối mà xem
Xác giặc chồng chất như nêm đầy đồng
Ai qua Suối Cối đã từng
Phú Yên anh dũng diệt phường xâm lăng
 
Sau chiến thắng Suối Cối, cán bộ chiến sĩ lại tiếp tục hành quân vào nam Tuy Hòa, một chiến trường được chuẩn bị sẵn...
 
TRẦN THÀNH CHÍNH
(Chiến sĩ trực tiếp chiến đấu ở Đại đội 212, Tiểu đoàn 365)
 


Tiêu đề: Địa đạo Gò Thì Thùng - vùng đất thép của nhân dân Phú Yên thời chống Mỹ
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 20 Tháng Bảy, 2010, 07:55:10 am
Địa đạo Gò Thì Thùng - vùng đất thép của nhân dân Phú Yên thời chống Mỹ
Trong cuộc chiến tranh thần thánh chống Mỹ xâm lược, nhân dân ta đã sáng tạo nhiều hình thức đánh giặc độc đáo, khiến cho chúng dù dựa vào quân đông, vũ khí hiện đại nhưng cuối cùng phải chuốc lấy thất bại cuốn cờ rút quân về nước. Từ lâu chúng ta được biết địa đạo Củ Chi (TP Hồ Chí Minh), địa đạo Vĩnh Mốc (Quảng Trị) là những địa danh nổi tiếng trong kháng chiến chống Mỹ. Ở đó chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân dân ta được phát huy cao độ và nơi kẻ thù phải kinh ngạc trước một thế trận kỳ lạ mà chúng chưa hề được “tập dượt” ở một lớp huấn luyện nào trong cuộc chiến tranh hiện đại. Tại Gò Thì Thùng thuộc xã An Xuân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên, quân và dân ta ở đây đã biết dựa vào địa hình thế đất xây dựng công trình địa đạo với một trận địa liên hoàn bao gồm hầm chông, cọc nhọn, giao thông hào… lập nên chiến công xuất sắc góp phần bẻ gãy kế hoạch “Năm mũi tên” trong cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965 – 1966 đánh vào đồng bằng Khu V của đế quốc Mỹ.
 
 (http://www.baophuyen.com.vn/Portals/0/2009/02/03/dai-dao3.gif)
Lối vào địa đạo Gò Thì Thùng - Ảnh: D.T.XUÂN
 
Năm 1964, chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” đứng trước nguy cơ bị phá sản, Tổng thống Giônxơn quyết định triển khai quân viễn chinh Mỹ ồ ạt cùng với vũ khí, phương tiện chiến tranh vào miền Nam, tiến hành thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ”. Lính Mỹ có mặt ở miền Nam vào cuối năm 1964 là 26.000 người, đến cuối năm 1965 lên tới 180.000 người và 20.000 lính các nước chư hầu (1) cùng với lực lượng không quân và hải quân hùng hậu ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương sẵn sàng tham chiến. Trước tình hình đó Trung ương Đảng nhận định: “Mặc dù đế quốc Mỹ đưa hàng chục vạn quân viễn chinh vào miền Nam, lực lượng so sánh giữa ta và địch vẫn không thay đổi” (2) và chỉ đạo cách mạng miền Nam “phải giữ vững và phát triển thế chiến lược tiến công địch” (3).
 
Phú Yên là tỉnh có phong trào Đồng Khởi nổ ra tương đối sớm ở Khu V (12/1960). Đến cuối 1964 hầu hết các huyện, xã trong tỉnh đã được giải phóng, chính quyền ngụy chỉ còn chiếm giữ vùng ven biển, ra sức củng cố đồn bốt bảo vệ các chi, khu quân sự đối phó các cuộc tiến công của quân giải phóng. Thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, Mỹ liên tiếp đổ quân viễn chinh và chư hầu xuống chiến trường Phú Yên: 5 tiểu đoàn Mỹ, 7 tiểu đoàn Nam Triều Tiên, 1 tiểu đoàn lính công binh Úc và ra sức xây dựng căn cứ quân sự Đông Tác – Vũng Rô (4) với âm mưu chiếm lại vùng giải phóng, tiêu diệt lực lượng vũ trang ta, dồn dân lập ấp, củng cố chính quyền tay sai đang rệu rã.
 
Quán triệt tinh thần Nghị quyết 12 của Ban chấp hành Trung ương Đảng, Thường vụ Tỉnh ủy Phú Yên chỉ đạo các địa phương và lực lượng vũ trang tỉnh chuẩn bị sẵn sàng chủ động đánh địch, làm thất bại các cuộc càn quét của chúng, giữ vững vùng giải phóng. Vấn đề cấp bách đặt ra lúc này là bảo vệ căn cứ địa cách mạng vùng miền Tây của tỉnh, bằng mọi cách phải bám trụ, bám dân, xây dựng trận địa đánh giặc, chuẩn bị đối phó với âm mưu và kế hoạch mới của địch.
 
Ngày 24/4/1964 tại nhà đồng chí Lê Chí vùng 2 xã An Xuân, huyện Tuy An, Tỉnh ủy Phú Yên tổ chức cuôïc họp bàn những vấn đề quan trọng liên quan đến sự phát triển lực lượng cách mạng trong tình hình mới. Tham dự có đồng chí Đỗ Hòa Thái, Thường vụ Tỉnh ủy; đồng chí Huỳnh Là, Bí thư Huyện ủy Tuy An. Cuộc họp đã quyết định tiến hành đào địa đạo tại Gò Thì Thùng thuộc địa phận xã An Xuân, huyện Tuy An. Đây là vùng đất có bình độ cao, chất đất rắn, địa hình thuận lợi giáp vùng căn cứ cách mạng phía Tây của tỉnh. Tại cuộc họp, đồng chí Huỳnh Là đã xác định mục đích và quyết tâm trong việc đào địa đạo: “Âm mưu chiến tranh của địch không còn ở trạng thái như trước, hiện nay chúng nâng chiến tranh lên mức độ qui mô và ác liệt hơn để đánh ta nhiều mặt. Bọn chúng kết hợp nhiều loại quân: Không quân, Lục quân, Hải quân với vũ khí hiện đại, áp dụng chiến thuật binh 3, pháp 7. Ngoài ra chúng được Mỹ trang bị binh khí kỹ thuật mới nhất. Ta áp dụng chiến thuật dùng yếu đánh mạnh, đấu tranh lâu dài, thế mạnh của ta là nhân dân, du kích chiến, áp dụng vũ khí thô sơ để đánh thắng chiến tranh hiện đại. Vì vậy phải tạo một địa hình và thế trận kiên cố để đánh địch. Việc đào địa đạo là việc làm rất cần thiết và là chủ trương lớn của Đảng. Cần phải huy động sức dân các xã chủ yếu là xã An Xuân để đào địa đạo” (5). Như vậy, chủ trương đào địa đạo là chủ trương lớn của tỉnh Phú Yên để đối phó với chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ trên vùng đất Khu V lúc này.
  
(http://www.baophuyen.com.vn/Portals/0/2009/02/03/dia-dao-2.gif)
Bên trong địa đạo Gò Thì Thùng - Ảnh: D.T.XUÂN
 
Gò Thì Thùng thuộc vùng 2, xã An Xuân nằm cạnh ranh giới 3 huyện: Tuy An, Đồng Xuân, Sơn Hòa, có độ cao 400m so với mực nước biển; chiều dài trải theo hướng bắc – nam gần 5km, chiều rộng theo hướng đông – tây là 4km. Vùng này tiếp nối căn cứ địa cách mạng của tỉnh Phú Yên về phía nam ở các xã Sơn Long, Sơn Định huyện Sơn Hòa. Từ nơi này có thể phóng tầm nhìn ra phía bắc các điểm địch đang đóng quân: La Hai – Đồng Xuân, thị trấn Sông Cầu, thị trấn Chí Thạnh hoặc phía nam có thể quan sát đến Tỉnh lỵ Tuy Hòa. Đây là vị trí quân sự có tầm chiến lược quan trọng án ngữ cửa ngõ đi vào vùng căn cứ cách mạng của tỉnh Phú Yên.
 
Sau khi có Nghị quyết Tỉnh ủy về xây dựng địa đạo Gò Thì Thùng, Tỉnh đội Phú Yên phối hợp Huyện đội Tuy An bắt tay vào việc tổ chức, huy động lực lượng khởi công. Ban chỉ huy xây dựng địa đạo được thành lập gồm:
 
- Đồng chí Đỗ Tấn Cảnh, Tỉnh ủy viên trực tiếp chỉ huy, chịu trách nhiệm đôn đốc công việc hàng ngày.
 
- Đồng chí Trần Bình, Đại đội trưởng đại đội 220 (lực lượng vũ trang tỉnh) phụ trách khâu kỹ thuật.
- Ủy ban mặt trận giải phóng xã An Xuân và đoàn thể các thôn được phân công phụ trách từng mảng:
 
+ Đồng chí Võ Minh, Bí thư chi bộ xã An Xuân làm trưởng ban thực hiện đào địa đạo.
 
+ Đồng chí Lê Mai, Phó bí thư chi bộ xã An Xuân làm phó ban.
 
+ Đồng chí Võ Đình Hà, xã đội trưởng làm thư ký theo dõi tiến độ thực hiện.
 
+ Đồng chí Phạm Dũng, trưởng ban an ninh xã chịu trách nhiệm an ninh.
 
+ Đồng chí Nguyễn Mỹ Hiệu, Bí thư nông hội xã chịu trách nhiệm huy động các đoàn thể tham gia.
 
+ Đồng chí Võ Đức Dương, Bí thư đoàn thanh niên chịu trách nhiệm huy động lực lượng thanh niên tham gia.
 
+ Đồng chí Lê Thị Nhương, cán bộ phụ nữ xã có nhiệm vụ phối hợp lực lượng phụ nữ với các đoàn thể khác, tổ chức học tập việc phòng gian bảo mật, ngụy trang công trình trong thời kỳ xây dựng.
 
+ Thôn trưởng 7 vùng trong xã được cử làm thành viên Ban tổ chức khu địa đạo gồm: Phan Xầy (vùng 1), Mai Văn Muôn (vùng 2), Nguyễn Lữ (vùng 3), Bùi Hải (vùng 4), Nguyễn Huệ (vùng 5), Phạm Văn Tương (vùng 6), Trần Ngọc Minh (vùng 7).
 
Các tầng lớp nhân dân xã An Xuân được tổ chức học tập, phổ biến tầm quan trọng công tác đào địa đạo nhằm mục đích bảo vệ căn cứ địa cách mạng, sẵn sàng đánh địch bảo vệ làng xóm, quê hương. Vì thế ai cũng hăn hái tham gia, góp công góp sức vào công trình vĩ đại này. Cả xã An Xuân được phiên chế thành 7 đoàn công tác theo 7 thôn; dưới đoàn là các tổ công tác (gồm 10 người). Thanh niên là lực lượng chính trong việc đào địa đạo, không phân biệt nam nữ. Trung niên từ 40 tuổi đến 60 tuổi vào rừng chặt gốc tre, cọc nhọn về làm gác. Người già phụ trách đan ki, làm thang, cần vọt. Lực lượng phụ nữ thiếu nhi thì vót chông, theo dõi mọi biến động có thể lộ công việc đào địa đạo để báo cho ban bảo vệ khu địa đạo xử lý. Ngoài ra chi bộ xã còn vận động nhân dân ủng hộ tre để đan ki, cây để làm gác, dầu đèn để thanh niên đi đào. Cấp huyện và tỉnh mỗi ban ngành đều cử 1 cán bộ cùng tham gia, kịp thời giải quyết những khó khăn phát sinh trong khi đào địa đạo.
 
Ngày 10/5/1964, việc đào địa đạo Gò Thì Thùng được khởi công. Đồng chí Trần Suyền (Bí thư Tỉnh ủy Phú Yên) bổ nhát cuốc đầu tiên phát lệnh. Khu ủy Khu V cử đại tá tư lệnh Y Hơd tham gia chỉ đạo. Ban chỉ đạo hàng ngày đi kiểm tra, đốc thúc cán bộ, đảng viên và nhân dân đào địa đạo đúng theo kế hoạch nhằm đáp ứng nhu cầu đánh Mỹ lúc bấy giờ. Cứ 4 giờ chiều mỗi ngày, nhân dân, du kích An Xuân và các xã lân cận An Nghiệp, An Định, Sơn Long mang theo cuốc, xẻng, ki, rổ đất, đèn lồng đi đào địa đạo, khung cảnh thật nhộn nhịp nhưng yếu tố bí mật được đặt lên hàng đầu. Mỗi đêm lực lượng nhân công được huy động để đào là 500 người.                
 
Trước tiên là đào thành những giếng sâu 4 – 5m với đường kính 2m, các giếng cách nhau 10m. Khi đào xong giếng thì đào móc sâu vô phía trái hoặc phải 0,8m và bộ phận du kích, công binh Đại đội 220 phụ trách đào đường hầm để đảm bảo bí mật. Lực lượng đào đường hầm được chia làm 2 nhóm, mỗi nhóm 5 người đào từ hướng 2 giếng quay lại, vừa đào vừa dùng thước đo để khỏi lệch. Khi đã vào sâu khoảng 3m thì lắng nghe tiếng động của nhau để đào tới, cứ thế, khi nào hai bên gặp nhau, kể như đã thông một đoạn địa đạo. Sau khi đào xong đường hầm, từng tổ lại trở ra miệng giếng khoét sâu vào hướng ngược lại. Phía bên kia cũng đào từ giếng mới với các động tác như trên, cứ như vậy đường hầm được nối dài ra. Đường hầm cao 1,8m, rộng 0,8m đủ để người mang ba lô đi lại dễ dàng, cứ khoảng 15m có đào ngách cán chỏ làm chỗ tránh. Các lỗ thông hơi được khoét từ dưới lên xuyên vào các hốc cây cho không khí lọt vào lòng địa đạo. Đất đào được đưa vào ki, móc vào cần vọt kéo lên trên chuyển đi nơi khác hoặc trang trải ra trồng cỏ lên trên. Sau khi đào xong các đoạn địa đạo thì giếng được lấp kín, phủ đầy cỏ.
 
Bộ phận quan trọng của địa đạo là các miệng hầm, được trổ từ dưới lên để khỏi bị lở khi gắn nắp hầm. Nắp hầm địa đạo được thiết kế giống hầm bí mật, dùng tre cật đan dày, trồng cỏ lên trên, cứ 20m có một nắp hầm. Các miệng hầm được sử dụng cho du kích từ dưới lòng địa đạo xông lên đánh địch hoặc rút đi an toàn.
 
Toàn bộ địa đạo Gò Thì Thùng có 486 giếng đào, chiều dài 1.948m với các hệ thống hầm chỉ huy (dưới vườn thơm nhà ông Chầu), hầm chứa lương thực, vũ khí, nước uống dự trữ… có thể chống được đạn pháo và bom loại nhỏ. Điểm cao giữa Gò Thì Thùng được chọn làm nơi đặt vọng gác quan sát, xung quanh gò là hệ thống giao thông hào chằng chịt sâu 1,5m, rộng 1m chạy ngang dọc dài hơn 10km kéo dài ra đến bìa rừng và hàng trăm hố cá nhân chiến đấu. Các bãi đất trống được cắm chi chít chông tre và những cọc nhọn to bằng bắp chân chôn thẳng đứng để chống máy bay đổ bộ. Như vậy hệ thống địa đạo Gò Thì Thùng là một trận địa quân sự liên hoàn, một “tử địa” chờ kẻ thù đến để tiêu diệt, biểu hiện quyết tâm đánh Mỹ đến cùng của quân và dân Phú Yên.
 
 (http://www.baophuyen.com.vn/Portals/0/2009/02/03/dia-dao3.gif)
Lối vào địa đạo Gò Thì Thùng - Ảnh: D.T.XUÂN
 Công trình địa đạo Gò Thì Thùng đến tháng 8/1965 thì hoàn thành. Nhân dân Phú Yên đã huy động trên 100.000 ngày công, chủ yếu là dân quân du kích các xã An Xuân, An Nghiệp, An Định, Sơn Long để xây dựng địa đạo. Việc hoàn thành khu địa đạo là một quyết tâm lớn của cán bộ, đảng viên và nhân dân Phú Yên mà trực tiếp là nhân dân xã An Xuân. Tại Đại hội chiến sĩ thi đua Quân khu V, đồng chí Lê Mai phó Bí thư chi bộ xã An Xuân được vinh dự thay mặt cho cán bộ và nhân dân các xã miền Tây Phú Yên nhận cờ do Khu ủy Khu V tặng về thành tích đào địa đạo Gò Thì Thùng.
 
Đầu mùa khô năm 1966, Mỹ bắt đầu mở cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất mang mật danh “Van-bua-ren” từ ngày 19/1 đến cuối tháng 4/1966 đánh vào Nam Phú Yên với trọng điểm là huyện Tuy Hòa 1. Lực lượng gồm lữ đoàn 1 sư đoàn 101 Mỹ, lữ đoàn lính thủy đánh bộ “Rồng xanh” Nam Triều Tiên, trung đoàn bộ binh 47 ngụy cùng với phi pháo, xe tăng, máy bay yểm trợ. Quân và dân Tuy Hòa đã chiến đấu anh dũng, đánh bại các cuộc càn quét của địch tiêu diệt 1.753 tên Mỹ, 1.105 lính Nam Triều Tiên và 544 lính ngụy. Đây là lần đầu tiên các lực lượng vũ trang ta ở Phú Yên đọ sức với lực lượng viễn chinh Mỹ với quân số đông, trang bị hiện đại, chiến đấu trên chiến trường đồng bằng nơi địch có điều kiện phát huy lợi thế về hỏa lực.
 
Thất bại lớn ở chiến trường Nam Phú Yên, địch sắp xếp lực lượng chuẩn bị mở những đợt phản công mới. Lãnh đạo Quân khu V và tỉnh Phú Yên quyết định mở chiến dịch hè 1966 kéo địch ra chiến trường Bắc Phú Yên để tiêu diệt. Chiến dịch diễn ra trong 2 đợt: Đợt 1 từ 15/5/1966 đến 31/5/1966; đợt 2 từ 1/6/1966 đến 30/6/1966. Trong chiến dịch này Quân khu V tăng cường cho Phú Yên 2 trung đoàn chủ lực: trung đoàn Trần Hưng Đạo (trung đoàn 20) và trung đoàn Ngô Quyền (trung đoàn 10).
 
Theo kế hoạch chiến dịch, đêm 23/6/1966, một số đơn vị bộ đội tỉnh phối hợp với bộ đội huyện Tuy An tiến đánh đồn Bà Cò (Xuân Quang – Đồng Xuân); đồng thời bố trí sẵn lực lượng ở vùng 1, 2, 4 xã An Xuân và vùng 11, 12 xã An Nghiệp chờ địch ra để đánh. Bộ chỉ huy trung đoàn Trần Hưng Đạo đặt tại nhà ông Lê Hữu Đức xóm Suối Bướm vùng 2 xã An Xuân để chỉ đạo trận đánh.
 
Đúng như dự đoán của ta, 9 giờ sáng ngày 24/6/1966, Mỹ ồ ạt đổ quân xuống Bằng Chính xã An Nghiệp liền bị ta chặn đánh cho đến tối. Sáng 25/6/1966 chúng đổ quân xuống vùng 2, 4, 5 và các gò cao xã An Xuân: Gò Thì Thùng, Gò Dũng, Gò Sống Trâu, Gò Sân Cu… Tại Gò Thì Thùng diễn ra cuộc chiến đấu hết sức ác liệt. Một tiểu đoàn Mỹ thuộc sư đoàn không vận số 1 từ Gò Sống Trâu chia thành nhiều cánh tiến lên Gò Thì Thùng. Tiểu đoàn 11 (trung đoàn Trần Hưng Đạo) và tiểu đoàn 7 (trung đoàn Ngô Quyền) bố trí sẵn tại địa đạo Gò Thì Thùng chặn đánh quyết liệt, diệt hàng chục tên địch. Quân Mỹ dùng 3 trận địa pháo Phú Tân, Xuân Phước, Chí Thạnh bắn dồn dập hàng ngàn quả, dùng hàng chục tốp máy bay trút bom xuống trận địa ta. Cứ mỗi đợt địch tập trung hỏa lực đánh phá quân ta rút vào địa đạo, chờ địch đến gần đồng loạt nổ súng. Một số nơi chiến sĩ ta dùng lưỡi lê đánh giáp lá cà thực hiện chiến thuật “Nắm lấy thắt lưng Mỹ mà đánh”, giành giật với chúng từng đoạn chiến hào. Có những tên Mỹ thấy chiến sĩ ta từ địa đạo bất thần xông lên, đầu súng lưỡi lê sáng loáng, chúng kinh hoàng dùng hai tay che mặt trước khi bị lưỡi lê xuyên qua người. Đồng chí Thanh, chiến sĩ Đại đội 1, Tiểu đoàn 7 một mình dùng lê đâm chết 6 tên Mỹ.
 
Đến 14 giờ ngày 25/6/1966 địch đổ thêm 34 lượt máy bay trực thăng HU1A xuống Gò Dũng cách Gò Thì Thùng 500m về phía đông bắc tấn công vào trận địa ta. Đại đội 7 trung đoàn Ngô Quyền nhanh chóng đánh phủ đầu khi máy bay vừa sà xuống đổ quân, bắn rơi 2 chiếc và diệt nhiều tên Mỹ.
 
Ngày 26/6/1966 lính Mỹ tăng cường lực lượng từ Quy Nhơn vào, liên tiếp mở 12 đợt tấn công. Quân ta dựa vào hệ thống địa đạo, giao thông hào bẻ gãy các đợt tiến quân của địch. Theo lời anh Tôn Trung – Đại đội phó Đại đội 220 kể lại: Bộ đội ta dùng lưỡi lê đánh cận chiến với địch trên các chiến hào, nhiều tên Mỹ to lớn áo mũ kềnh càng vật lộn với quân ta tưởng như “lấy thịt đè người” nhưng cuối cùng phải bỏ mạng, nhiều tên khác bị sụp hầm chông tre kêu la inh ỏi. Quân ta kiên quyết giữ vững trận địa. Đến tối ngày 26/6/1966, quân ta chủ động rút khỏi địa đạo Gò Thì Thùng qua vùng An Lĩnh, Sơn Long sau khi đánh thiệt hại nặng sư đoàn không vận số 1 của Mỹ.
 


Tiêu đề: Địa đạo Gò Thì Thùng - vùng đất thép của nhân dân Phú Yên thời chống Mỹ
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 20 Tháng Bảy, 2010, 07:55:50 am

Như vậy, cuộc chiến đấu ác liệt trong 2 ngày tại khu vực Gò Thì Thùng, lực lượng chủ lực Quân khu V phối hợp với lực lượng bộ đội địa phương Phú Yên dựa vào công trình địa đạo chiến đấu dũng cảm tiêu diệt 378 tên Mỹ, bắn rơi 6 máy bay lên thẳng (6). Trận đánh này, mặc dù quân Mỹ với lực lượng đông, vũ khí hiện đại, cơ động nhưng vẫn phải bị động đối phó với ta, đưa quân vào chiến trường rừng núi do ta bày sẵn thế trận. Địa đạo Gò Thì Thùng trở thành địa danh lịch sử của nhân dân Phú Yên.
 
Cùng với thắng lợi chiến dịch hè Phú Yên năm 1966, chiến thắng Gò Thì Thùng thể hiện ý chí của quân và dân Phú Yên quyết đánh Mỹ, góp phần làm thất bại cuộc phản công chiến lược mùa khô của chúng. Nhân dân An Xuân và huyện Tuy An cho đến nay vẫn còn truyền tụng mấy câu thơ ca ngợi chiến công vang dội này:
 
Thì Thùng địa đạo những căn hầm
Hóa thành lũy thép dưới tầm bom rơi
Đánh cho giặc Mỹ tơi bời
Hơn trăm xác giặc chết phơi đầy gò.
 
Ngày nay trở lại khu địa đạo Gò Thì Thùng hơn 40 năm sau cuộc chiến, nhưng vết tích của trận đánh thuở nào vẫn còn, mặt đất đó đây với những chiến hào, một vài cửa hầm địa đạo như khắc ghi chiến thắng năm xưa. Những người tham gia trận đánh ngày nào nay đã thành người thiên cổ, một số trở thành những cụ già tóc bạc. Họ đều có chung một niềm tự hào về vùng đất lịch sử – đất thép Gò Thì Thùng – khi đã được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia. Trên cơ sở đó, địa đạo Gò Thì Thùng sẽ được các cấp có thẩm quyền có kế hoạch bảo tồn, trùng tu, gìn giữ để cho bao lớp con cháu sau này mãi mãi tự hào về chiến công của cha anh, tự hào về miền đất thép trên chiến trường khu V ngày nào.
 
Thạc sĩ ĐÀO NHẬT KIM
 
(1). Đại cương lịch sử Việt Nam, tập 3, NXB GD 1998, trang 200
(2) (3) – Trích Nghị quyết hội nghị BCH TW Đảng lần thứ 12 (12/1965)
(4). Lịch sử Phú Yên kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Ban tuyên giáo Tỉnh ủy Phú Yên 1996, trang 114
(5) Tuy An theo dòng lịch sử – Đảng bộ huyện Tuy An 1997. Trang 150
(6) Phú Yên 30 năm chiến tranh giải phóng, Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Phú Yên, 1993, tr.275


Tiêu đề: Chuyến đi mở đường vào miền Nam
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 20 Tháng Bảy, 2010, 09:24:44 am
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, 4 lần tôi tháp tùng với thủ trưởng đi Hà Nội. Có lần đi từ cơ quan Liên khu ủy 5 ra đến Hà Nội đi mất một tháng 20 ngày, nhưng cũng có lúc đi ô tô chỉ 10 ngày. Nhưng có một chuyến đi tôi không bao giờ quên vì đó là chuyến đi bộ dài ngày nhất, đi bộ gần 3 tháng trời từ Trung Lào đến Hạ Lào. Đó là chuyến đi mở đường vào miền Nam của đồng chí Trần Lương, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng khóa II, Bí thư Liên khu ủy 5 đầu năm 1961.

 

(http://www.baophuyen.com.vn/Portals/0/2009/03/10/bo-doi-phuyen.gif)

Bộ đội Phú Yên trên đường ra chiến dịch Xuân 1975 - Ảnh: TRẦN KHẢ QUANG

 

Sau Hội nghị Trung ương Đảng khóa II lần thứ 15 năm 1959, việc mở đường vào miền Nam vô cùng bức thiết. Thời điểm lúc bây giờ đường dây Nam - Bắc chỉ có một con đường duy nhất là đường đi qua làng Ho chuyên trách việc đưa cán bộ từ miền Nam ra miền Bắc và ngược lại. Chúng tôi thường gọi đây là sợi chỉ đỏ nối liền bờ Nam ra bờ Bắc sông Bến Hải. Các lớp cán bộ đi B từ các năm 1959 đến năm 1960 đều đi qua đường này. Anh Nguyễn Phụng Minh, Khu ủy viên Khu 5 khi còn sống thường nói con đường này là con đường đặc biệt, là con đường nhớ đời của cán bộ khi đã đi qua… Nói là con đường nhưng thật ra không có đường. Từ miền Bắc đi vào thì phải nửa ngày đường leo núi ở bờ Bắc sông Bến Hải, đi đến dãy núi cao nhất. Từ đó không được đi dép cao su và đi cả chân cả tay xuyên rừng, trụt xuống một con suối lớn. Đôi dép cao su luồn vào thắt lưng cho chắc vì đi bộ đôi dép quý như vàng và tuyệt đối không được để rơi vãi một cái gì, nhất là mấy hạt gạo để địch biết có dấu người đi qua lại. Thường là 12 giờ trưa mới bắt đầu xuống đầu nguồn suối và lội suối cho đến 5 giờ chiều mới gần giáp quốc lộ 9 Đông Hà đi Sa-va-na-khet của Lào. Nghỉ ở đó cho đến 9 giờ tối thì bắt đầu tiếp tục theo suối đi qua cống dưới đường 9 và cũng tiếp tục theo suối đi ra bờ Bắc sông Bến Hải. Ở đó có một chiếc thuyền độc mộc của dân làng Ho chờ sẵn. Nếu thuận lợi thì 9 giờ qua sông Bến Hải, nhưng thường là 10 giờ tối thuyền mới từ Bắc sông Bến Hải đi qua bờ Nam sông Bến Hải. Mỗi đêm thuyền có thể đi qua lại 10 chuyến, mỗi chuyến đi được 3 người, mức cao mỗi đêm đi được 30 người. Qua sông Bến Hải vẫn phải tiếp tục đi chân không và leo núi đến 3 giờ sáng mới treo võng ngủ. Cơ sở làng Ho phải dậy sớm kiểm tra lại đường, xóa bỏ các dấu vết đề phòng địch phát hiện. Tôi trao đổi với đồng chí Phan Du, Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Vĩnh Linh nên tính cách làm sao tăng được số lượng đi B có thể gấp đôi, nhưng đồng chí nói địch kiểm soát và thường lùng quét, rất khó có thể tăng lên.

 

Đồng thời, Đoàn 559 triển khai chỉ thị của Bộ Tổng tham mưu cũng mở một đường xuyên núi giáp ranh biên giới Việt Nam và Lào, dùng lực lượng vũ trang chuyển tải vũ khí vào Liên khu 5, vừa đánh địch càn quét vừa gùi thồ, nhưng sau hơn một năm triển khai chỉ đưa được vào trạm tiếp nhận vũ khí của Liên khu 5 ở A Xo, A Lưới 70 tấn vũ khí.

 

Đồng chí Trần Lương (tức Trần Nam Trung) mời đồng chí Trần Văn Trà, Phó Tổng tham mưu trưởng, đồng chí Nguyễn Đôn, Tư lệnh Quân khu 4 bàn việc khắc phục các khó khăn của việc mở đường vào miền Nam, nhất trí báo cáo Bộ Chính trị xin Bộ chính trị gặp các đồng chí bạn Lào và xin mở đường qua đất Lào. Bộ Chính trị nhất trí đề nghị của các đồng chí Liên khu 5 và Bộ Tổng tham mưu, cử đồng chí Trần Lương đi gặp và làm việc với anh Bảy (tên thường gọi đồng chí Kay-xôn Phôm-vi-hãm - Tổng Bí thư Đảng Nhân dân Cách mạng Lào). Anh Bảy nhất trí đề nghị của Liên khu 5 và Bộ Tổng tham mưu quân đội nhân dân.

 

Vùng căn cứ cách mạng của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào rất vững mạnh nhưng chưa có sự nối liền giữa Trung Lào với Hạ Lào, anh Bảy yêu cầu ta giúp đỡ bạn xây dựng một số mặt ở vùng căn cứ của bạn. Cái khó là có 2 đồn địch trên đường 9 ở Mường Phìn và Sê-pôn, hai đồn cách nhau 60km. Đồng chí Nguyễn Đôn quyết định điều một trung đoàn của quân khu 4 đánh đồn Sê-pôn và ra lệnh cho tiểu đoàn 19, tiểu đoàn con cưng của Quân khu 5 cũ đánh đồn Mường Phìn. Tình hình ở Lào lúc đó có lực lượng trung lập do Kông-le cầm đầu nổi dậy. Các đồng chí lãnh đạo của ta quyết định lực lượng đi qua đất bạn đều mặc quân phục của lính Kông-le. Anh Nguyễn Đôn mời cựu chính ủy Quân khu 5 Trần Lương làm công tác tư tưởng cho tiểu đoàn 19.

 

Và cuộc mở đường vào miền Nam đi qua đất Lào được bắt đầu do đồng chí Trần Lương dẫn đầu. Chúng tôi ăn mặc theo trang phục lính Kông-le, xe ô tô được bịt kín từ Hà Nội vào đến Đô Lương tỉnh Nghệ An rồi đi lên phía tây theo đường huyện Kỳ Sơn qua tỉnh Khăm Muộn của Lào. Không có giao liên dẫn đường, nhưng rất quý là đoàn đồng chí Trần Lương có giấy giới thiệu của anh Bảy. Dựa vào bản đồ, chúng tôi nhờ dân Lào dẫn đường từ buôn này đến buôn khác theo hướng tiến vào Nam. Bộ Tổng tham mưu sử dụng máy bay Liên Xô cũ tiếp tế hậu cần cho đoàn đồng chí Trần Lương, đoàn đồng chí Nguyễn Đôn và tiểu đoàn 19 trên đường từ Khăm Muộn vào đến đường 9. Đoàn đồng chí Trần Lương đi đầu còn có nhiệm vụ làm dấu đường cho đoàn đồng chí Nguyễn Đôn và lực lượng vũ trang cùng đi với đồng chí Nguyễn Đôn. Do chỉ dựa dân dẫn đường, nên cuộc hành quân hơi chậm. Sau hơn 1 tháng chúng tôi mới đến đường số 9.

Tiểu đoàn 19 mặc quần áo lính Kông-le tiến hành vây đồn Mường Phìn. Lính của Chính phủ Lào bị ta bao vây hoảng sợ bỏ quần áo lính dựa vào gia đình chạy trốn vào rừng. Do đó khi quân ta tiến vào đánh chiếm đồn thì chỉ còn là một cái đồn không có lính. Đồng chí Trần Lương gặp mấy đồng chí bạn gợi ý ta nên dùng loa gọi chúng về hàng, nếu ngoan cố bộ đội ta sẽ đánh tiêu diệt. Bọn lính Lào lần lượt ra hàng. Đồng thời, một trung đoàn của ta do đồng chí Hạp làm Trung đoàn trưởng đánh diệt và chiếm đồn Sê-pôn. Chúng tôi dùng xe ô tô địch chạy từ Mường Phìn đến Sê-pôn và chạy từ Mường Phìn lên Mường Pha-lan quê hương của Kông-le. Theo chỉ thị của đồng chí Trần Lương, tất cả chiến lợi phẩm đều giao cho các đồng chí bạn quản lý, ta không được đụng đến. Rất nhiều mùng tuyn và bi đông Mỹ, các đồng chí bạn yêu cầu ta nhận mỗi người 1 cái nhưng hơn 10 đồng chí của đoàn tôi đến Sê-pôn chỉ nhận mỗi người 1 cái bi đông Mỹ để dùng trong cuộc tiếp tục hành quân về Liên khu 5. Để bảo đảm sức khỏe cho đồng chí Trần Lương, chúng tôi xin bạn con ngựa của tên đồn trưởng Mường Phìn để anh dùng trên đường về lại Liên khu 5. Con ngựa này rất khôn, không chịu phục tùng những người chưa biết cỡi ngựa và rất thích ăn xôi.

 

Nhân dân Lào đón đồng chí Trần Lương và đoàn chúng tôi hết sức nhiệt tình, thể hiện rất sâu đậm tình đoàn kết đặc biệt Lào - Việt. Lúc đầu tôi cứ nghĩ cả tháng ăn xôi thì làm sao chịu được, nhưng dần dần chúng tôi ăn quen và thấy cũng ngon, nhất là mấy hôm có thức ăn ngon. Đồng chí Khịa người quê Bình Thuận làm quản trị cho đoàn luôn mua được gà và mua toàn gà trống, vì mỗi lần vào làng đồng chí đều nói ò ó o nên dân làng tưởng bộ đội ta thích mua gà trống. Phát hiện việc này tôi dặn đồng chí Khịa, lần sau nên nói tục tục - tục tác… thì đúng là mua được nhiều gà mái. Đồng chí Khịa hy sinh sau khi về đến Liên khu 5, nhưng cái tính vui nhộn và lạc quan cách mạng của đồng chí tôi không thể nào quên khi nhớ lại chuyến đi này.

 

Ở Mường Phìn hơn 1 tuần, đoàn đồng chí Trần Lương được các đồng chí bạn cho thức ăn hộp: mắm ruốc, cá hộp, nước mắm Đài Loan…

 

Từ Mường Phìn, chúng tôi theo đường ô tô địch bỏ lâu ngày vào cầu Xu-pha-nu-vông (cầu này do đồng chí Xu-pha-nu-vông xây).

 

Vào đến Đất chưng Hạ Lào, đoàn đồng chí Trần Lương cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình thắm tình đồng chí của nhân dân và cán bộ Lào, tổ chức vượt sông về huyện 40 của tỉnh Kon Tum.

Nam nữ thanh niên huyện 40 rất ham học chữ quốc ngữ, nhưng thiếu giấy để học. Chúng tôi xé vở cho giấy trắng cho thanh niên học.

 

Một số thanh niên người dân tộc Dẻ đã đi bộ đội ta hỏi đồng chí Trần Trọng Tân đi phép chỉ một ngày về gặp vợ mà có con, dân làng không chấp nhận và cho đó là con của ma, đồng chí kiên trì giải thích làm nhiều thanh niên rất mừng.

 

Tôi tranh thủ đem tiểu thuyết Ruồi Trâu tôi mua ở Hà Nội trước khi đi ra đọc. Có lẽ đây là cuốn tiểu thuyết đầu tiên tôi đọc, càng đọc càng thấy hay và luôn như được tăng thêm nghị lực cách mạng. Thấy tôi đốt ngo đọc tiểu thuyết, đồng chí Trần Lương cũng đốt ngo đọc tiểu thuyết Ruồi Trâu.

 

Chuyến đi mở đường vào miền Nam đầu năm 1961 qua đất Lào đã đi vào lịch sử như một cái mốc quan trọng về mở đường từ miền Bắc vào miền Nam, tạo cho ta mở rộng đường dây Bắc - Nam, không chỉ đường bộ đi lại dễ dàng hơn nhiều, mà ta mở được một tuyến đường ô tô đi từ miền Bắc vào miền Nam, tiếp tế vũ khí cho miền Nam đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Tuy địch phát hiện và đánh phá ác liệt, nhưng đường vận tải ô tô tiếp tục được củng cố và mở rộng cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.

 

Do quen thạo đường Trường Sơn, được Khu ủy tin tưởng, tôi 2 lần đi Hà Nội nhận hàng Trung ương chi viện cho Khu 5. Một lần đi nhận 6 chiếc xe “Oát” của Trung ương cho Khu 5. Một lần đi nhận 6 thùng tiền ngụy và đôla. Nhận 6 xe “Oát” và tiền TW cho Khu 5, đồng chí Trần Kiên, Ủy viên Ban Thường vụ Khu ủy 5, Trưởng ban Kinh tài Khu ủy nói: “Cách làm của mày tao nghe hơi mạo hiểm và rất may đều an toàn”.

 

HUỲNH TRÚC

Nguyên Phó Bí thư thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Phú Yên


Tiêu đề: Kỳ 1: CUỘC ĐỜI SĂMBRĂM
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 20 Tháng Bảy, 2010, 09:26:37 am
Sămbrăm và phong trào chống Pháp những năm 1935-1939
Kỳ 1: CUỘC ĐỜI SĂMBRĂM

Sămbrăm là người dân tộc Chăm tên thật là KsoLơ, dân làng gọi là Ma Chàm (cha của Chàm) theo tập tục khi đã sinh người con đầu. Cũng có tài liệu viết Sămbrăm tên là Mang Lơ, Mang Chàm, Hội Chàm. Ông sinh vào khoảng những năm đầu thập niên 70 thế kỷ XIX tại buôn Suối Ché, tổng Bầu Bèn, nay là thôn Tân Hải, xã Phước Tân (huyện Sơn Hòa).

 
(http://www.baophuyen.com.vn/Portals/0/2008/05/05-06/080506-nha-tu.jpg)


Nhà ngục Buôn Ma Thuột, một trong những nơi giặc Pháp giam cầm Sămbrăm – Ảnh: HỮU AN

 

Buôn Suối Ché cùng nhiều buôn làng khác ở gần dãy núi La Hiên miền Tây Phú Yên đã từng là hậu cứ của phong trào Tây Sơn vào cuối thế kỷ XVIII, phong trào Cần Vương chống Pháp ở Phú Yên vào cuối thế kỷ XIX, cuộc khởi nghĩa Võ Trứ, Trần Cao Vân (1898 – 1900). Sămbrăm sinh ra và trưởng thành trên vùng đất qua bao lần là căn cứ địa của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Điều đó có tác động mạnh mẽ đến việc hình thành ý thức chống thực dân Pháp ở ông. Từ lúc còn là thanh niên, Sămbrăm đã từng tham gia phong trào chống pháp do Nguyễn Hào Sự tổ chức và ủng hộ khởi nghĩa Võ Trứ.

 

Trước khi tổ chức phong trào chống Pháp, Sămbrăm là một thầy cúng có uy tín. Ông thường đi lại nhiều nơi ở miền núi và đồng bằng. Sự giao du, tiếp xúc rộng rãi ấy giúp Sămbrăm thấy được cảnh cơ cực lầm than của đồng bào do ách áp bức, bóc lột tàn bạo của thực dân phong kiến. Ông cũng thấy được nơi đồng bào ước mơ chính đáng là đánh đuổi giăïc Pháp, đòi lại quyền tự do làm ăn sinh sống, không phải đi phu, nộp thuế. Từ đó, Sămbrăm quyết định tổ chức lực lượng đánh đuổi giặc Pháp, giành độc lập cho các dân tộc. Những hoạt động chống Pháp bắt đầu diễn ra vào đầu năm 1935, để quy tụ và đoàn kết nhân dân xây dựng lực lượng, Sămbrăm thiết lập đàn cúng Giàng và tổ chức lễ rải nước phép. Thông qua hoạt động đó, Sămbrăm đã thông báo cho những người đến dự biết mục tiêu chống Pháp của mình, ai tán thành mục tiêu này, người đó trở thành thành viên của phong trào. Họ được nhận chức sắc và huấn thị rồi trở về buôn làng, thực hiện mục tiêu khởi nghĩa.

 

Ngôi nhà sàn rộng lớn của Sămbrăm trở thành nơi tập hợp dân làng đại biểu các làng, các dân tộc gần xa. Các buôn làng Ê đê, Ba na, Chăm ở miền núi Phú Yên đều hướng về Sămbrăm. Phong trào lan rộng đến các tỉnh Tây Nguyên và vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở các tỉnh phía bắc Phú Yên. Người Ba na từ  Vân Canh, An Lão (Bình Định) người H’Rê, Ca Dong, từ Ba Tơ, Sơn Hà, Trà Bồng (Quảng Ngãi), người Kor, Xơ Đăng từ Trà My, Phước Sơn (Quảng Nam) vượt hàng trăm cây số đường rừng để đến với Sămbrăm. Người dân ở các buôn làng gần thì đi bộ, ở các buôn làng xa dùng ngựa, voi, có người phải qua hành trình hàng tháng mới đến được buôn Suối Ché. Các đoàn người càng về sau càng đông, nối tiếp nhau kéo về miền núi Phú Yên(1).

 

Công sứ Pháp ở Phú Yên nhiều lần đi đến thị sát tình hình. Sămbrăm giải thích đó là ý của Giàng, là phong tục tập  quán của đồng bào Thượng, phải cúng trời khi nắng hạn, mưa dầm thì mùa màng mới tươi tốt, cây cối muôn loài mới mong sống được. Đó cũng là lập luận mang tính hợp pháp để bọn thực dân không thể bắt bẻ, ngăn cấm Sămbrăm thực hiện ý định của mình (2). Các đại biểu đến với Sămbrăm đều mang theo một số xu đồng do dân làng quyên góp, một ít lễ vật, và khi ra về họ mang theo một chai nước phép. Số xu đồng mà các làng gần xa góp lại, có người cho rằng Sămbrăm định mua vũ khí cho cuộc chiến đấu. Có ý kiến đoán rằng bằng cách mỗi người góp một xu, Sămbrăm tính ra được số người tham gia phong trào. Còn thứ nước phép ban phát thực ra là nước sông Cà Lúi. Nó có tác dụng truyền bá rộng rãi, cổ vũ phong trào và như mối liên hệ giữa buôn làng này với buôn làng khác, dân tộc này với dân tộc khác, làm cho phong trào ngày càng có quy mô rộng lớn lan xa, và cuộc đấu tranh phát triển với một khí thế mạnh mẽ (3).

 

Trước những hoạt động yêu nước có tiếng vang rộng lớn của Sămbrăm, năm 1936, công sứ Pháp tại Đắk Lắk đã cử đồn trưởng cảnh sát Buốc- gơ -ri (Bougerie) đến vây bắt ông đem về giam tại nhà giam Buôn Ma Thuột. Trong phiên tòa ngày 2/9/1938, tòa án phong tục thiểu số tỉnh Đắk Lắk xử  Sămbrăm 10 năm tù giam và buộc nộp phạt 500 đồng (4). Sămbrăm bị thực dân Pháp giam cầm ở nhiều nơi như nhà tù Buôn Ma Thuột, nhà lao Sông Cầu, nhà lao Thanh Hóa… Mãi đến năm 1945, sau khi Nhật đảo chính Pháp, ông mới được trả tự do.

 

Cách mạng Tháng Tám thành công, Sămbrăm ngoài 70 tuổi, vẫn tiếp tục làm công tác cách mạng, ông tham gia Mặt trận Liên việt tỉnh Phú Yên và Mặt trận Liên việt huyện Đồng Xuân. Ngôi nhà của ông là nơi cán bộ công tác ở địa bàn miền Tây Phú Yên và đơn vị vũ trang trung đoàn 84 thường xuyên đi lại làm việc, ăn nghỉ, được cả gia đình ông quan tâm giúp đỡ (5). Sămbrăm mất năm 1949.

 

(còn nữa)

KIM CHI - HỮU AN


Tiêu đề: Kỳ 2: PHONG TRÀO SĂMBRĂM Ở MIỀN TRUNG - TÂY NGUYÊN
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 20 Tháng Bảy, 2010, 09:29:31 am
Sămbrăm và phong trào chống Pháp những năm 1935 -1939
Kỳ 2: PHONG TRÀO SĂMBRĂM Ở MIỀN TRUNG - TÂY NGUYÊN


Sau khi tiếp tục tinh thần chống Pháp và nhận nước thánh từ Sămbrăm, các đại biểu của buôn làng trở về vận động đồng bào tổ chức những cuộc đấu tranh ngay tại quê hương. Phong trào đồng loạt nổ ra ở miền tây các tỉnh Phú Yên, Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam và các tỉnh Tây Nguyên. Người ta gọi phong trào này là Phong trào Sămbrăm, có nơi gọi là phong trào xu nước hay nước xu đỏ, cũng có nơi gọi lập phong trào lấy nước phép đánh Tây.

 
(http://www.baophuyen.com.vn/Portals/0/2008/05/07-08/080507-calui.jpg)
Sông Cà Lúi, nơi Sămbrăm tắm mát thuở thiếu thời. – Ảnh: K.DUY

 

Ở Phú Yên, thanh niên đồng bào Chăm, Ba na ở vùng Thồ Lồ, nay thuộc xã Phú Mỡ huyện Đồng Xuân, đã náo nức luyện tập bắn cung, ném lao chuẩn bị vũ khí và phương tiện chiến đấu, kéo đến xin chỉ thị của Sămbrăm để tiến đánh đồn Pháp, nhưng cuộc tập kích chưa kịp nổ ra thì Sămbrăm bị giặc Pháp bắt.

 

Mặc dù Sămbrăm - vị thủ lĩnh tối cao bị bắt, nhưng phong trào chống Pháp vẫn không ngừng phát triển, biến thành những cuộc đấu tranh vũ trang. Đồng bào vùng Thồ Lồ kiên quyết không hợp tác với giặc Pháp, đấu tranh không đi làm xâu, không cống nạp các loại vật phẩm theo yêu cầu của Pháp. Quân đội Pháp nhiều lần kéo đến chinh phục  vùng này nhưng đều thất bại. Từ đó, Thồ Lồ nổi lên như một hình ảnh thần kỳ, danh tiếng dội vang khắp vùng chung quanh. Trong suốt quá trình cai trị, thực dân Pháp không hề thiết lập được chính quyền tay sai tại vùng Thồ Lồ (6).

 

Tại Kon Tum và Gia Lai, phong trào Sămbrăm phát triển thành những cuộc đấu tranh vũ trang rất sôi nổi của người Xơ Đăng ở Đắc Tô, Đắc Glây, Tumơrông, Công Plông, của người Ba na ở vùng An Khê, Kannát, Đắc Bot. Thực dân Pháp phải huy động 4 tiểu đoàn đến đàn áp cả năm trời mà vẫn không dập tắt được. Tại Côngplông, phong trào nước xu do ông Thuần lãnh đạo được toàn thể nhân dân trong vùng hưởng ứng. Trong những năm đầu, ông Thuần phát động phong trào bất hợp tác với giặc, không đi phu, không đóng thuế, không đi lính cho Pháp. Đến năm 1936, ông xây dựng lực lượng vũ trang công khai chống giặc. Quân Pháp mở nhiều đợt tấn công vào Côngplông nhưng đã bị nghĩa quân chống trả mãnh liệt. Đặc biệt, với chiến thắng Con Biêu năm 1937, nghĩa quân đã bẻ gãy được cuộc tấn công quy mô của địch.

 

Tại các vùng Lonki, Paklao, xã Panran, đồng bào Xơ đăng nhanh chóng xây dựng lực lượng vũ trang, lập làng chiến đấu, đặt bẫy gài chông chống lại giặc Pháp. Cuộc chiến đấu diễn ra liên tục và sôi nổi, nghĩa quân đẩy lui nhiều đợt tiến công của địch, làm chết và bị thương nhiều tên xâm lược và một chánh tổng tay sai đã bị nghĩa quân trừng trị.

 

Đặc biệt trong các năm 1936-1937, cuộc khởi nghĩa vũ trang do ông Đăng lãnh đạo đã huy động phần lớn các chánh tổng, chủ làng thuộc các huyện Đắc Tô, Đắc Glây tham gia. Sau khi thành lập lực lượng vũ trang, ông Đăng lấy làng La Luar quê hương ông làm căn cứ, xây dựng phòng tuyến cắm chông trên sông Đắc Pao (chạy từ Đắc Tô đến Đắc Glây), bọc quanh căn cứ  La Luar khá vững chắc. Tất cả thanh niên trong các huyện Đắc Tô, Đắc Glây đều được huy động vào lực lượng nghĩa quân, ngày đêm canh gác, bố phòng cẩn mật quanh phòng tuyến. Tại căn cứ này, vào đầu năm 1939, lực lượng khởi nghĩa đã tổ chức một cuộc chiến đấu quyết liệt với một lực lượng lớn quân đội Pháp có trang bị hỏa lực mạnh.

 

Tại Đắk Lắk, phong trào Sămbrăm phát triển đều khắp trong tỉnh. Ở các vùng người Ê đê, mỗi buôn đều có lực lượng vũ trang, lấy lực lượng tự vệ công khai làm nòng cốt. Đồng bào rèn giáo mác, làm cung tên, mua súng kíp để chờ ngày khởi nghĩa. Ở khu vực nguời M’Nông (huyện Lak) thủ lĩnh N’Yan tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang khắp các buôn làng người M’Nông Rlăm, Mnông Gar và biến núi Yang Krinh thành căn cứ địa vững chắc. Công sứ Đắk Lắk mở nhiều cuộc càn quét vào căn cứ Yang Krinh quyết bắt cho được N’Yan, đàn áp phong trào, nhưng các cuộc hành quân của chúng đều thất bại trước sự chống trả mãnh liệt của nghĩa quân. Mãi về sau, núi Yang Krinh vẫn là vùng bất khả xâm phạm của người M’Nông.

 

Ở huyện Vân Canh tỉnh Bình Định, phong trào Sămbrăm phát triển đến các vùng thuộc xã Canh Sơn và Thừa Lãnh. Đồng bào các địa phương rầm rộ đi lấy nuớc thần để cầu mong khỏe mạnh, giàu có, thực dân Pháp sẽ bỏ đi, không còn cảnh sưu thuế. Người ta dùng hình tượng dê trắng, trâu trắng (ám chỉ thực dân Pháp), heo xấu (chỉ bọn phong kiến tay sai), vận động đồng bào các dân tộc đoàn kết đấu tranh chống thực dân, phong kiến, bỏ những tập tục lạc hậu, phạt vạ. Phong trào có ảnh hưởng mạnh mẽ, nhiều cuộc đấu tranh du kích nổ ra, mặc dù bị địch khủng bố dã man, song phong trào này vẫn kéo dài đến năm 1939.

 

Ở Quảng Ngãi, từ năm 1937, nhân dân các dân tộc miền tây của tỉnh đã tham gia phong trào Sămbrăm. Quyết liệt và mạnh mẽ nhất là đồng bào Cor ở Trà Bồng do Phó mục Gia đứng đầu, trung tâm là vùng núi Cà Đam. Mùa hè năm 1938, nhân dân các dân tộc Trà Bồng dưới sự chỉ huy của ông Phó mục Gia, Đinh Hốt… đã kéo về châu lỵ Trà Bồng đốt phá nhà lao, giết Chánh Tam, tay sai gian ác của địch và đánh đồn Tràø Bồng. Tiếp đến đầu năm 1939, nghĩa quân  dưới sự chỉ huy của các ông Đinh Chân, Đinh Nhâm, Đinh Bói phục kích đánh địch tại Gò Rô, giết một số lính Pháp đi càn quét các làng quanh vùng Tà Dục. Bọn địch càn lên làng Khuông, bị quân ông Đinh Rức chặn đánh tại Kônglăng. Tháng 10/1939, nghĩa quân các ông Đinh Hốt, Đinh Na chặn đánh địch đi càn quét làng Tà Dục tại đèo Tà Ớt, buộc địch phải bỏ cuộc càn quét. Từ đó trở đi, địch không còn kiểm soát nhiều làng xã ở vùng cao miền tây Quảng Ngãi.

 

Tại Quảng Nam, đồng bào các dân tộc Xơ đăng, Ca dong ở Trà My, Phước Sơn hưởng ứng mạnh mẽ phong trào nước xu dưới sự lãnh đạo của các thủ lĩnh địa phương là ông Điền, ông Đúc. Cuối năm 1937, đồng bào ở các bản làng thuộc các xã Trà Nam, Trà Linh, Trà Cang, Trà Mai… (huyện Trà My) rào làng, làm lễ cúng Giàng và tổ chức lực lượng nổi dậy chống thực dân Pháp. Đầu năm 1938, bằng vũ khí cung nỏ, lực lượng khởi nghĩa đã lập được chiến công tại dốc Dược, giết nhiều tên địch, trong đó có một sĩ quan chỉ huy, đồng thời làm phá sản cuộc hành quân lớn của giặc Pháp lên vùng cao Trà My. Sau đó, đồng bào Ca dong làng Tu Du dưới sự chỉ huy của Xen Đung đã chủ động bố trí trận địa, phục kích tại Non Đoan, chặn đánh quân Pháp khi chúng kéo vào làng Tu Du. Bị đánh bất ngờ, giặc Pháp hốt hoảng, tháo chạy về đồn Trà My.

 

Phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp do Sămbrăm phát động và tổ chức vào nửa cuối thập niên 30 thế kỷ XX có những đóng góp quan trọng đối với công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân cả nước nói chung, khu vực Tây Nguyên và miền Trung nói riêng. Phong trào có ý nghĩa to lớn, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý thức độc lập tự chủ của đồng bào các dân tộc thiểu số chống ách áp bức nặng nề của chế độ thực dân cai trị. Sămbrăm, vị thủ lĩnh cao nhất của phong trào, đã chọn phương pháp đấu tranh, cách tổ chức xây dựng lực lượng, đoàn kết các dân tộc phù hợp với phong tục tập quán, điều kiện thực tại, kinh nghiệm đấu tranh của đồng bào nên phong trào đã được hưởng ứng mạnh mẽ và phát triển trên một địa bàn rộng lớn. Bề ngoài, phong trào mang màu sắc thần bí, nhưng bên trong sôi sục tinh thần yêu nước, chống ngoại xâm.

 

Nhiều buôn làng, dưới sự chỉ huy trực tiếp của các thủ lĩnh ở địa phương, đã xây dựng không gian cư trú của buôn làng thành căn cứ chống giặc. Tuy chỉ bằng những phương tiện đấu tranh thô sơ là cung tên, lao, giáo, cạm bẫy, chông gai… nhưng với tinh thần gan dạ, dũng cảm vì quê hương, đồng bào các địa phương đã chống trả ngoan cường, làm phá sản nhiều cuộc hành quân càn quét đánh phá của quân đội Pháp. Nhiều nơi, phong trào bị thực dân Pháp huy động lực lượng khủng bố tàn khốc. Song có những buôn làng bằng nhiều cách đối phó khác nhau vẫn giữ vững tinh thần đấu tranh, tồn tại kiên cường trước sức mạnh chiến tranh của quân xâm lược.

 

Thủ lĩnh Sămbrăm và cuộc đấu tranh gắn liền tên tuổi của ông xứng đáng được ca ngợi, tôn vinh bằng nhiều hình thức khác nhau. Việc bảo tồn, phát huy những di tích gắn với sự kiện và nhân vật lịch sử này là cách làm mang lại hiệu quả tốt, góp phần làm cho các thế hệ đi sau nhận thức rõ hơn về truyền thống tốt đẹp của cha ông, hun đúc tình yêu quê hương, đất nước. Ngôi mộ Sămbrăm, một di tích quan trọng trong hệ thống các di tích đó, đang được Bảo tàng Phú Yên tiến hành lập hồ sơ trình xếp hạng để tạo cơ sở pháp lý cho việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị di tích, di sản văn hóa.

 

KIM CHI - HỮU AN


Tiêu đề: Ba người lính già và Tết Mậu Thân 1968
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 20 Tháng Bảy, 2010, 09:36:25 am
Ba người lính già và Tết Mậu Thân 1968
Không hiểu sao, mỗi lần gặp những người lính già ấy- những người lính từng vào sinh ra tử, người trẻ nhất giờ cũng đã gần 70 tuổi - nghe họ kể về 30 năm trường chinh giải phóng dân tộc, về những ngày ác liệt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tôi lại nhớ về hai câu thơ đời Trần:

Người lính già đầu bạc

Kể mãi chuyện Nguyên Phong

 

 Và trong dịp kỷ niệm 40 năm Tết Mậu Thân 1968, tôi lại được nghe họ kể về những ngày không thể nào quên khi ta đánh thẳng vào thị xã Tuy Hòa, sào huyệt của Mỹ- ngụy ở Phú Yên 40 năm về trước.

 
(http://www.baophuyen.com.vn/Portals/0/2008/02/21-22/080222-MO-LS.jpg)
Nghĩa trang liệt sĩ Đông Tác (TP Tuy Hòa) - nơi yên nghỉ của nhiều đồng chí hy sinh trong Tết Mậu Thân 1968 -  Ảnh: X.HIẾU

 

Ông Hoàng Kim Giai là một  trong những người lính già ấy. Ông đã trực tiếp tham gia vào một trong những điểm ác liệt nhất trong cuộc tổng tiến công vào thị xã Tuy Hoà Tết Mậu Thân 1968. Lúc đó ông Hoàng Kim Giai 43 tuổi, là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 12, có nhiệm vụ đánh chiếm sân bay, nhà lao, nhà 18 gian… (thuộc khu vực phía tây phường 2 và phường 8, thành phố Tuy Hòa bây giờ). Không thể kể hết mức độ ác liệt của những trận đánh lúc đó. Điều đọng mãi trong ông Hoàng Kim Giai là tinh thần dũng cảm vô song của các chiến sĩ ta. Có những đồng chí bị pháo địch bắn dập cả hai chân vẫn chiến đấu, bắn hết viên đạn cuối cùng thì vung lựu đạn vào địch. Địch bị thiệt hại nặng, nhưng bên ta thương vong cũng không ít. Ông nhớ lắm những đồng đội, có những người mới 18, 20 tuổi, mới tối qua còn cười đùa vô tư như không hề có chiến tranh, vậy mà hôm nay đã mãi mãi nằm lại. Ông vẫn thường đạp xe qua trận địa cũ, để nhớ về những trận đánh, để nhớ về những đồng đội năm xưa mà suy ngẫm về những đổi thay nơi đây hôm nay. Ông nói: “Bây giờ nhà cửa mọc lên san sát, lại có cả trường học nữa, nghe các cháu ríu rít, thấy mừng. Và lại nhớ anh em”.

 

Vâng, với người lính, có tình cảm nào thiêng liêng hơn tình đồng đội! Với ông Huỳnh Tấn Hoan (tức Mười Hoan), lúc đó là Phó Thị đội trưởng Tuy Hòa, tết vừa qua, ông cảm thấy như còn đâu đây không khí đón tết giữa chiến trường thị xã Tuy Hòa năm xưa. Sát cánh bên nhau trong chiến đấu, có một vài khoảnh khắc bình yên hiếm hoi, họ lại kể cho nhau những kỷ niệm, và cùng nhau nhớ về tết cổ truyền dân tộc. Nghe tiếng pháo tết râm ran, nhiều anh em không giấu được nỗi nhớ quê, nhớ nhà,  mong  được ăn một cái tết yên bình không tiếng súng.           

                       

Vậy mà rất nhiều đồng đội đã không thể cùng ông đi qua trọn vẹn  mùa xuân năm đó. Ông nhớ như  in tên gọi từng người, còn sống, đã chết, trong đội Quyết Thắng do ông làm đội trưởng. Ông còn sống được đến ngày hôm nay để ôn lại những kỷ niệm này cũng là nhờ đồng đội đã chết thay ông. Người chiến sĩ đó tên Tranh. Khi pháo địch từ núi Nhạn vãi đạn xuống trận địa ta, chính anh đã xô ông xuống giao thông hào rồi nằm lên mình ông, che cho ông, giành cái chết về mình. Ông nghẹn ngào nói với tôi: “Đó là hình ảnh cảm động và sâu sắc nhất trong cuộc đời chú. Chú Tranh quê ở Liên Trì. Tết nào chú và chú Mười cũng ra nhà thắp hương cho chú Tranh. Cái ơn này quá lớn, trọn đời chú cũng không trả được”.   

                 

Chú Mười mà ông Hoan vừa nhắc là ông Trần Văn Mười, nguyên Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh, hiện là Chủ tịch Hội Cựu chiến binh tỉnh. Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 ở Phú Yên, ông Mười mới 26 tuổi, là trợ lý tác chiến của Tỉnh đội. Cũng như ông Mười Hoan, đối với ông Mười, nhớ về Tết Mậu Thân 1968  là nhớ về những trận đánh ác liệt, là nhớ về những tấm gương rực sáng, sẵn sàng hi sinh, là nhớ về đồng đội, người mất, người còn...                     

 

Tết Mậu Thân năm 1968, nhớ tình đồng đội, nhớ nghĩa đồng bào. Không có dân thì không có Mậu Thân 1968, cả ông Hoàng Kim Giai, Huỳnh Tấn Hoan, Trần Văn Mười đều khẳng định như vậy. Ăn tết trên trận địa nhưng các chiến sĩ vẫn có đủ bánh kẹo do nhân dân tiếp tế. Dân dẫn đường, dân che chở, đùm bọc, chăm sóc. Ông Hoan bị thương nặng, không có dân chắc chắn ông không thể rút ra ngoài mà trở về căn cứ. Đồng đội tưởng ông đã chết. May mà bà con Ninh Tịnh phát hiện ra ông, đưa về che giấu, chăm sóc ông suốt 2 tuần rồi đưa ông lên Chóp Chài. Nhiều đồng đội ông cũng được nhân dân Phước Hậu, Ninh Tịnh, Liên Trì, Cẩm Tú đùm bọc, đưa ra vùng căn cứ an toàn. Ông Mười nói thêm: “Bao nhiêu năm sống trong vùng địch, bị địch kìm kẹp, thế nhưng dân vẫn một lòng với cách mạng. Mậu Thân 1968 cho thấy trận địa lòng dân bao la và vững chắc như thế  nào!”.                           

                 

Mới đó vậy mà đã 40 năm, họ đã trở thành những người lính già. Và như thông lệ hằng năm, tết vừa qua ông Hoàng Kim Giai, Trần Văn Mười và  Huỳnh Tấn Hoan lại  đến nghĩa trang liệt sĩ, thắp hương cho những đồng đội nằm lại trong chiến dịch Tết Mậu Thân năm 1968, thăm gia đình họ, thăm những đồng đội cũ. Trong hành trang  trĩu nặng của người lính, có một cái tết không thể nào quên: Tết Mậu Thân 1968. Sự kiện hào hùng đó với bao kỷ niệm, từ lâu đã thành một phần của cuộc đời họ. Và những người lính già ấy vẫn còn kể, kể mãi cho thế hệ hôm nay và mai sau được biết về một thời oanh liệt của cha anh.

 

XUÂN LUẬT


Tiêu đề: Học sinh Phú Yên biểu tình bạo động đốt Chi cảnh sát Tuy Hòa năm 1972
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 20 Tháng Bảy, 2010, 09:38:34 am
Học sinh Phú Yên biểu tình bạo động đốt Chi cảnh sát Tuy Hòa năm 1972


Ngày 10/3/1972, hơn 5.000 học sinh Tuy Hòa đã rầm rập xuống đường bao vây Chi cảnh sát ngụy để phản đối việc chúng bắn chết một học sinh trường Nguyễn Huệ một ngày trước đó. Học sinh đã đốt cháy Chi cảnh sát, giải thoát 46 người yêu nước bị địch giam giữ tại đây...   

(http://www.baophuyen.com.vn/Portals/0/2008/01/09-10/080109-ngay-9-thang-1.jpg)
Học sinh Nguyễn Huệ (Tuy Hòa) biểu tình, đốt Chi cảnh sát ngụy.                                                    Ảnh: D.T.X (chụp lại)

 

21 giờ ngày 9/3/1972, cảnh sát ngụy bắn chết anh Hà Trấp – học sinh lớp 11 trường Trung học tổng hợp Nguyễn Huệ. Cái chết của anh Hà Trấp gây sự xúc động lớn trong dư luận. Nhân dân thị xã Tuy Hòa căm phẫn, nguyền rủa bọn cảnh sát ngụy khát máu, hung hăng bắn giết học sinh giữa trung tâm thị xã. Học sinh các trường trung học Nguyễn Huệ, Đặng Đức Tuấn (nay là trung tâm giáo dục thường xuyên), Bồ Đề (nay là trường trung học cơ sở Nguyễn Văn Trỗi), Tân Dân (trụ sở cũ của Sở Giáo dục – góc đường Trần Hưng Đạo – Ngô Quyền) rầm rập xuống đường biểu tình đòi công lý và yêu cầu nhà cầm quyền trừng trị hung thủ giết người.

 

Phong trào lúc đầu là tự phát nhưng đội biệt động thị xã do anh Nguyễn Trung Thành (bí danh A5) đã cùng với đồng đội vào cuộc và lãnh đạo cuộc đấu tranh.

 

Anh Nguyễn Trung Thành gặp thầy giám học trường Nguyễn Huệ (phó hiệu trưởng chuyên môn) Lê Ngọc Giáng xin ý kiến thầy cho phép học sinh xuống đường đấu tranh yêu cầu nhà chức trách giải quyết ngay cái chết oan ức của anh Hà Trấp.

 

Dù thương học trò, tình thế buộc thầy Giáng phải nói theo giới cầm quyền:

 

“Các anh không được manh động, đừng để Việt cộng kích động gây loạn”.

 

Anh Nguyễn Trung Thành nhỏ nhẹ:

 

“Thưa thầy, tôi là gia đình học sinh, thấy cái chết oan ức thảm khốc của học sinh, nên cần phải đấu tranh đòi công lý để nhà cầm quyền không để xảy ra những trường hợp bắn giết học sinh tương tự”.

 

Thầy Giáng suy tư và im lặng.

 

Anh Nguyễn Trung Thành tìm gặp anh Diệp Xang  (nay là họa sĩ) – trưởng lớp trường Bồ Đề bàn bạc và viết hai băng rôn “Đả đảo bọn độc tài giết người vô tội”, “Yêu cầu giải quyết ngay cái chết vô tội của học sinh Hà Trấp”, đồng thời in truyền đơn kêu gọi học sinh các trường đoàn kết đấu tranh.

Băng rôn và truyền đơn được viết và in xong trong đêm 9/3/1972.

 

Rạng sáng ngày 10/3/1972, các anh trong đội biệt động thành Tuy Hòa (Nguyễn Trung Thanh, Lê Đoàn, Võ Tám, Mã Á, Võ Ân…) phối hợp cùng lực lượng cốt cán ở các trường thống nhất hành động. Học sinh trường Bồ Đề đi theo đường Trần Hưng Đạo, học sinh trường Nguyễn Huệ đi theo đường Lê Lợi và Lê Thánh Tôn, học sinh trường Đặng Đức Tuấn đi theo đường Phạm Phú Quốc (nay là Lê Trung Kiên), học sinh trường Tân Dân đi theo đường Nguyễn Công Trứ, Tản Đà…

 

Lực lượng 4 cánh với trên 5.000 học sinh rầm rập xuống đường như thác đổ tiến về bao vây chi cảnh sát (nay là vườn hoa Diên Hồng).

 

Đúng 7 giờ sáng ngày 10/3/1972, học sinh hô vang những khẩu hiệu trên băng rôn, phát truyền đơn kêu gọi đấu tranh cho tất cả những người qua đường.

 

Lực lượng vũ trang của địch tại thị xã Tuy Hòa và tỉnh Phú Yên lúc đó rất hùng hậu: Trung đoàn 47 chủ lực (thuộc sư 22 bộ binh), 14 tiểu đoàn địa phương, 2 đại đội cảnh sát dã chiến, một đại đội thiết giáp, một đại đội pháo binh, 16 trung đội nghĩa quân, một toán phượng hoàng và các đơn vị.

 

Đại Hàn (lính đánh thuê Nam Triều Tiên) và một ít lực lượng quân Mỹ.

 

Cạnh Chi cảnh sát là Ty Công Chánh (nay là Công ty Thủy nông Đồng Cam) có một bãi đá củ đậu (dùng để rải đường) được học sinh sử dụng ném như mưa vào chi cảnh sát.

 

Chi cảnh sát cầu cứu quận trưởng, tỉnh trưởng. Đích thân tỉnh trưởng ngụy quyền Nguyễn Văn Tố trực tiếp chỉ huy đàn áp cuộc biểu tình. Tỉnh trưởng Nguyễn Văn Tố điều lực lượng mạnh bao vây các ngả đường, ném lựu đạn cay mù mịt để giải tỏa nhưng không có kết quả.

 

Tỉnh trưởng Nguyễn Văn Tố điều động máy bay trực thăng bay rè rè trên đầu học sinh quay phim, chụp ảnh và ngọt nhạt kêu gọi học sinh quay về trường. Thấy không có kết quả, ông ta hăm dọa: “Sẽ nổ súng bắn chết nếu không giải tán”.

 

Song, trong biển người biểu tình của học sinh hôm ấy, có cả các “cậu ấm, cô chiêu” quý tử của tỉnh phó nội an, trưởng ty cảnh sát… nên biện pháp mạnh đã không xảy ra.

 

Đội biệt động và các lớp đàn anh lớp 12, 11 mua một phuy xăng 800 lít đổ vào bịch nhựa mỗi bịch hai lít ném vào bốn chi cảnh sát, nơi có đặt 4 cây đại liên 50.

 

Các anh cắt dây dép cao su châm lửa ném vào bốn lô cốt. Xăng gặp lửa bốc cháy, khói lửa mịt mù một góc trời.

 

Cảnh sát ngụy cố thủ trong chi cảnh sát hoảng hốt tháo chạy tán loạn. Học sinh uà vào chi cảnh sát phá nhà lao giải thoát 46 người yêu nước đang bị giam giữ ở đây, đập phá văn phòng mật vụ, văn phòng thẩm vấn, văn phòng căn cước, đốt cháy hai xe Ford hai xe Jeep, 65 xe gắn máy, xe đạp của nhân viên cảnh sát và đốt kho vũ khí gây cháy nổ mấy giờ liền.

 

Địch dùng lựu đạn cay đàn áp khốc liệt. Đến 15 giờ ngày 10/3/1972, học sinh rút lui sau khi đã đập phá và đốt tan tành chi cảnh sát.

 

Ngay đêm ngày 10/3/1972, ngụy quyền sử dụng lực lượng mạnh đàn áp khốc liệt, lùng bắt 400 học sinh và các chiến sĩ biệt động thành và kéo dây thép gai rào các nẻo đường ra vào thị xã để thu dọn hiện trường đổ vỡ ngổn ngang.

 

Bà con thị xã và học sinh tiếp tục đấu tranh đòi trả tự do cho những học sinh bị bắt giữ. Trước sức ép của dư luận, ngụy quyền lần lượt thả học sinh. Riêng các chiến sĩ biệt động bị lưu đày Côn Đảo cho đến ngày giải phóng.

 

THÀNH NAM


Tiêu đề: Học sinh Phú Yên biểu tình bạo động đốt Chi cảnh sát Tuy Hòa năm 1972
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 20 Tháng Bảy, 2010, 09:38:58 am
Học sinh Phú Yên biểu tình bạo động đốt Chi cảnh sát Tuy Hòa năm 1972


Ngày 10/3/1972, hơn 5.000 học sinh Tuy Hòa đã rầm rập xuống đường bao vây Chi cảnh sát ngụy để phản đối việc chúng bắn chết một học sinh trường Nguyễn Huệ một ngày trước đó. Học sinh đã đốt cháy Chi cảnh sát, giải thoát 46 người yêu nước bị địch giam giữ tại đây...  

(http://www.baophuyen.com.vn/Portals/0/2008/01/09-10/080109-ngay-9-thang-1.jpg)
Học sinh Nguyễn Huệ (Tuy Hòa) biểu tình, đốt Chi cảnh sát ngụy.                                                    

21 giờ ngày 9/3/1972, cảnh sát ngụy bắn chết anh Hà Trấp – học sinh lớp 11 trường Trung học tổng hợp Nguyễn Huệ. Cái chết của anh Hà Trấp gây sự xúc động lớn trong dư luận. Nhân dân thị xã Tuy Hòa căm phẫn, nguyền rủa bọn cảnh sát ngụy khát máu, hung hăng bắn giết học sinh giữa trung tâm thị xã. Học sinh các trường trung học Nguyễn Huệ, Đặng Đức Tuấn (nay là trung tâm giáo dục thường xuyên), Bồ Đề (nay là trường trung học cơ sở Nguyễn Văn Trỗi), Tân Dân (trụ sở cũ của Sở Giáo dục – góc đường Trần Hưng Đạo – Ngô Quyền) rầm rập xuống đường biểu tình đòi công lý và yêu cầu nhà cầm quyền trừng trị hung thủ giết người.

Phong trào lúc đầu là tự phát nhưng đội biệt động thị xã do anh Nguyễn Trung Thành (bí danh A5) đã cùng với đồng đội vào cuộc và lãnh đạo cuộc đấu tranh.

Anh Nguyễn Trung Thành gặp thầy giám học trường Nguyễn Huệ (phó hiệu trưởng chuyên môn) Lê Ngọc Giáng xin ý kiến thầy cho phép học sinh xuống đường đấu tranh yêu cầu nhà chức trách giải quyết ngay cái chết oan ức của anh Hà Trấp.

Dù thương học trò, tình thế buộc thầy Giáng phải nói theo giới cầm quyền:

“Các anh không được manh động, đừng để Việt cộng kích động gây loạn”.

Anh Nguyễn Trung Thành nhỏ nhẹ:

“Thưa thầy, tôi là gia đình học sinh, thấy cái chết oan ức thảm khốc của học sinh, nên cần phải đấu tranh đòi công lý để nhà cầm quyền không để xảy ra những trường hợp bắn giết học sinh tương tự”.

Thầy Giáng suy tư và im lặng.

Anh Nguyễn Trung Thành tìm gặp anh Diệp Xang  (nay là họa sĩ) – trưởng lớp trường Bồ Đề bàn bạc và viết hai băng rôn “Đả đảo bọn độc tài giết người vô tội”, “Yêu cầu giải quyết ngay cái chết vô tội của học sinh Hà Trấp”, đồng thời in truyền đơn kêu gọi học sinh các trường đoàn kết đấu tranh.

Băng rôn và truyền đơn được viết và in xong trong đêm 9/3/1972.

Rạng sáng ngày 10/3/1972, các anh trong đội biệt động thành Tuy Hòa (Nguyễn Trung Thanh, Lê Đoàn, Võ Tám, Mã Á, Võ Ân…) phối hợp cùng lực lượng cốt cán ở các trường thống nhất hành động. Học sinh trường Bồ Đề đi theo đường Trần Hưng Đạo, học sinh trường Nguyễn Huệ đi theo đường Lê Lợi và Lê Thánh Tôn, học sinh trường Đặng Đức Tuấn đi theo đường Phạm Phú Quốc (nay là Lê Trung Kiên), học sinh trường Tân Dân đi theo đường Nguyễn Công Trứ, Tản Đà…

Lực lượng 4 cánh với trên 5.000 học sinh rầm rập xuống đường như thác đổ tiến về bao vây chi cảnh sát (nay là vườn hoa Diên Hồng).

Đúng 7 giờ sáng ngày 10/3/1972, học sinh hô vang những khẩu hiệu trên băng rôn, phát truyền đơn kêu gọi đấu tranh cho tất cả những người qua đường.

Lực lượng vũ trang của địch tại thị xã Tuy Hòa và tỉnh Phú Yên lúc đó rất hùng hậu: Trung đoàn 47 chủ lực (thuộc sư 22 bộ binh), 14 tiểu đoàn địa phương, 2 đại đội cảnh sát dã chiến, một đại đội thiết giáp, một đại đội pháo binh, 16 trung đội nghĩa quân, một toán phượng hoàng và các đơn vị.
Đại Hàn (lính đánh thuê Nam Triều Tiên) và một ít lực lượng quân Mỹ.
Cạnh Chi cảnh sát là Ty Công Chánh (nay là Công ty Thủy nông Đồng Cam) có một bãi đá củ đậu (dùng để rải đường) được học sinh sử dụng ném như mưa vào chi cảnh sát.

Chi cảnh sát cầu cứu quận trưởng, tỉnh trưởng. Đích thân tỉnh trưởng ngụy quyền Nguyễn Văn Tố trực tiếp chỉ huy đàn áp cuộc biểu tình. Tỉnh trưởng Nguyễn Văn Tố điều lực lượng mạnh bao vây các ngả đường, ném lựu đạn cay mù mịt để giải tỏa nhưng không có kết quả.

Tỉnh trưởng Nguyễn Văn Tố điều động máy bay trực thăng bay rè rè trên đầu học sinh quay phim, chụp ảnh và ngọt nhạt kêu gọi học sinh quay về trường. Thấy không có kết quả, ông ta hăm dọa: “Sẽ nổ súng bắn chết nếu không giải tán”.
Song, trong biển người biểu tình của học sinh hôm ấy, có cả các “cậu ấm, cô chiêu” quý tử của tỉnh phó nội an, trưởng ty cảnh sát… nên biện pháp mạnh đã không xảy ra.
Đội biệt động và các lớp đàn anh lớp 12, 11 mua một phuy xăng 800 lít đổ vào bịch nhựa mỗi bịch hai lít ném vào bốn chi cảnh sát, nơi có đặt 4 cây đại liên 50.
Các anh cắt dây dép cao su châm lửa ném vào bốn lô cốt. Xăng gặp lửa bốc cháy, khói lửa mịt mù một góc trời.
Cảnh sát ngụy cố thủ trong chi cảnh sát hoảng hốt tháo chạy tán loạn. Học sinh uà vào chi cảnh sát phá nhà lao giải thoát 46 người yêu nước đang bị giam giữ ở đây, đập phá văn phòng mật vụ, văn phòng thẩm vấn, văn phòng căn cước, đốt cháy hai xe Ford hai xe Jeep, 65 xe gắn máy, xe đạp của nhân viên cảnh sát và đốt kho vũ khí gây cháy nổ mấy giờ liền.
Địch dùng lựu đạn cay đàn áp khốc liệt. Đến 15 giờ ngày 10/3/1972, học sinh rút lui sau khi đã đập phá và đốt tan tành chi cảnh sát.
Ngay đêm ngày 10/3/1972, ngụy quyền sử dụng lực lượng mạnh đàn áp khốc liệt, lùng bắt 400 học sinh và các chiến sĩ biệt động thành và kéo dây thép gai rào các nẻo đường ra vào thị xã để thu dọn hiện trường đổ vỡ ngổn ngang.
Bà con thị xã và học sinh tiếp tục đấu tranh đòi trả tự do cho những học sinh bị bắt giữ. Trước sức ép của dư luận, ngụy quyền lần lượt thả học sinh. Riêng các chiến sĩ biệt động bị lưu đày Côn Đảo cho đến ngày giải phóng.


THÀNH NAM


Tiêu đề: Mẹ đã khóc hết nước mắt
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 20 Tháng Bảy, 2010, 04:11:35 pm
Mẹ Đinh Thị Chuyện sinh ngày 20/10/1910 (Canh Tuất), ở thôn Phước Lương, xã Hòa Xuân (nay là xã Hòa Xuân Tây) cạnh sông Bàn Thạch. Những tháng năm tuổi nhỏ Chuyện gắn bó với bao kỷ niệm ở dòng sông quê hương này. Ngày nào Chuyện cũng cùng với bọn con gái cùng lứa tuổi trong làng ra sông Bàn Thạch tắm giặt, bơi lội thỏa thích. Lớn lên cô ra sông Bàn Thạch vớt bèo, hái rau dại mọc quanh bờ sông về nấu cháo heo và phiên chợ Bàn Thạch nào cũng có mặt cô với gánh hàng tạp hóa nhẹ tênh vắt vẻo trên đôi vai gầy, đi đi, về về ven bờ sông Bàn Thạch. Ở thôn Phước Lương hồi đó Đinh Thị Chuyện là người con cái cao ráo, trắng trẻo thùy mị, hiền dịu, đẹp người, đẹp nết, bà con trong làng ai ai cũng quý mến.

 

(http://www.baophuyen.com.vn/Portals/0/2007/10/29-31/071030-tham-cu.jpg)

Chúc thọ Mẹ VNAH Đinh Thị Chuyện khi mẹ tròn 90 tuổi - Ảnh: MINH KÝ

Một hôm, bà Nguyễn Thị Tồn là mẹ của Đinh Thị Chuyện về thôn Phước Giang thăm người bà con. Bà rất xúc động khi được biết câu chuyện về Đặng Văn Cang, con bà Nguyễn Thị Đích. Trong lúc dọn dẹp nhà cửa, Cang lỡ tay làm vỡ cái gạt tàn thuốc lá, bà Đích bảo Cang nằm xuống giường để bà đánh mấy roi cho nhớ để sau này làm việc gì sẽ cẩn thận hơn. Cang răm rắp làm theo lời mẹ. Mẹ đánh xong ba roi, Cang đứng dậy vòng tay xin lỗi mẹ. Đặng Văn Cang lúc đó đã 18, 19 tuổi, đang học trung học ở thị xã Tuy Hòa. Bà Tồn cảm mến nghĩ rằng thằng nhỏ học trò này cũng đã lớn tuổi mà có hiếu với mẹ, mẹ nói sao nghe lời vậy, biết nhận khuyết điểm của mình. Bà đến nhà thăm bà Nguyễn Thị Đích. Ngoài những chuyện làm ăn của người lớn với nhau, bà Tồn hứa gả con gái của mình là Đinh Thị Chuyện làm vợ Đặng Văn Cang nếu hai đứa nó ưng thuận và bà Đích đồng ý.
Bà Đích nói lại chuyện đó với Cang và hỏi xem ý Cang như thế nào. Cang chỉ cười hè hè và nói: “Nhưng con còn đang đi học mà mẹ!”.
Năm sau bà Đích bàn với bà Tồn tổ chức cho Cang đến nhà dạm mặt (coi mắt). Buổi dạm mặt lại có chuyện trục trặc. Đinh Thị Chuyện lên pha nước trà mời khách xong rồi đi xuống nhà dưới ngay vì mắc cỡ, nên Cang không kịp chú ý. Người đứng ở cửa sổ nhìn Cang không chớp mắt là chị Nguyễn Thị Thìn, con ông bác nhà ở bên cạnh sang chơi, tò mò muốn xem mặt chú em rể tương lai thế nào nên đứng nhìn. Cang tưởng đó là người... Về nhà mẹ hỏi:

- Mày nhìn kỹ con nhỏ đó có được không Cang?

Cang chỉ cười và lắc đầu. Biết con mình không đồng ý nên bà Đích rất buồn. Từ đó bà đi sâu tìm hiểu đầu đuôi bữa dạm mặt mới biết Cang đã nhìn nhầm chị Thìn con ông bác chứ không phải Chuyện. Thế là sau đó gia đình bố trí cho Cang dạm mặt lại và Cang đồng ý ngay. Còn với Chuyện, khi bà Tồn hỏi:

- Con thấy thằng Cang thế nào?

Chuyện vui vẻ trả lời:

- Tưởng ai chớ anh ấy thì con thường xuyên gặp trên các chuyến xe ngựa lúc con đi buôn bán, còn ảnh đi học trung học trên thị xã Tuy Hòa.
Bà Tồn gặng hỏi:
- Thế mày có ưng thằng Cang không để tụi tao còn tính chuyện tiếp theo?
Chuyện tươi cười thưa:
- Mẹ đặt đâu, con ngồi đó!
Hơn một năm sau (1932) Chuyện tròn 22 tuổi, hai bên gia đình tổ chức đám cưới cho Cang và Chuyện. Chuyện theo chồng về quê ở thôn Phước Giang - một vùng đất khô cằn ở xã Hòa Xuân (cũ). Ở quê chồng, Chuyện vẫn cần cù lao động, vừa làm ruộng vừa tiếp tục buôn bán hàng tạp hóa ở chợ Bàn Thạch. Năm 1933, Cang mở lớp dạy học tại nhà không lấy tiền những học sinh nghèo. Lớp học cũng là địa điểm để liên lạc với những người hoạt động cách mạng như các ông Nguyễn Hồng, Phạm Thuận, Trần Đức... Ngày đêm trăn trở với nỗi nhục mất nước, Đặng Văn Cang từ giã làng quê nghèo vào Sài Gòn cùng với những người đồng chí hướng tham gia hoạt động cách mạng từ cuối năm 1934, sau đó trở lại quê nhà tích cực tham gia nhiều hoạt động trước Cách mạng Tháng Tám, là một trong những người lãnh đạo chủ chốt cuộc khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám tại quê hương Hòa Xuân.
Năm 1946, Đặng Văn Cang được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ đó ông trở thành một trong những cán bộ chủ chốt của xã Hòa Xuân.
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, xã Hòa Xuân bị địch chiếm đóng. Giặc đóng đồn ở núi Hiềm, ngày đêm chúng nó xua quân càn quét, lùng sục khủng bố những người yêu nước. Chuyện tất tả ngược xuôi, lúc bám trụ quê nhà, lúc tản cư ra vùng tự do nuôi các con khôn lớn và thường xuyên tìm cách tiếp tế cho chồng và đóng góp tích cực cho kháng chiến.

 

*

*    *

 

Ngày 20/7/1954, Hiệp định Giơnevơ về đình chiến ở Việt Nam có hiệu lực. Tháng 9/1954, bọn Đại Việt (tay sai của địch) lùng bắt được Đặng Văn Cang ở khu rừng Đồng Bé. Chúng giam ông ở nhà lao Ngọc Lãng hơn một tháng, nhưng không khai thác được gì nên phải thả về. Cơ sở bảo vệ và đưa ông ra khu vực chuyển quân tập kết 300 ngày ở Quy Nhơn (tỉnh Bình Định). Một nách với năm con nhỏ ở lại quê nhà, mẹ Chuyện dõi theo bóng chồng và ấm lòng lên khi biết rằng vào giờ chót tổ chức đã phân công chồng - đồng chí Đặng Văn Cang - ở lại miền Nam có nhiệm vụ xây dựng chiến khu miền Đông với cương vị là Phó Bí thư Huyện ủy Tuy Hòa.

Ngày ngày ngước nhìn lên núi Đá Bia, dõi nhìn chiến khu miền Đông và màu xanh ngút ngàn của núi rừng trùng điệp, mẹ Chuyện mong được gặp lại chồng trong những năm tháng đen tối nhất của cách mạng miền Nam. Nỗi niềm mong đợi đó cũng được đáp đền. Chồng mẹ ngược dòng sông Bàn Thạch đến từng thôn xóm xây dựng lại cơ sở cách mạng, thắp sáng niềm tin mới cho cả vùng đồng bằng phía đông huyện Tuy Hòa. Gặp lại chồng chưa lâu thì ông bị sa vào tay giặc.

Đêm hôm ấy trong một chuyến công tác về xã Hòa Tâm để củng cố và phổ biến công tác cho các cơ sở cách mạng, trên đường về, khoảng nửa đêm, sao Bánh Lái đã chìm sau dãy núi phía xa, ông gặp một người đàn ông có thân hình cao lớn, vác cuốc đi lấy nước ruộng. Xáp mặt, ông nhận ra đó là Nguyễn Ruộng, người cùng xã. Ông nói ngay: “Thấy sao hay vậy, nghe Ruộng!”. Tên Ruộng “Dạ” một tiếng khá to rồi tiếp tục đi tới rồi rẽ về phía đồi gò có cây lúp xúp. Nó biết ở đó đang có bọn địch phục kích. Tên Ruộng la to lên: “Có Cộng sản về nằm vùng! Có Cộng sản về nằm vùng!”. Chả là lúc đó bọn địch ở huyện Tuy Hòa treo giá hàng chục lượng vàng nếu ai bắt được, hoặc chỉ đúng chỗ Đặng Văn Cang ẩn náu thì được thưởng. Nghe tiếng la to của tên Ruộng, bọn địch đang phục kích gần đó ùa ra bủa vây các ngả. Hết đường đi, Đặng Văn Cang liền nhảy xuống một đám ruộng sình, có nhiều bụi dứa dại để ẩn nấp. Bọn lính bảo an, dân vệ và tên Ruộng  cũng phán đoán rằng Đặng Văn Cang chưa ra khỏi khu vực này và chỉ có thể ẩn mình dưới các đám ruộng sình. Thế là chúng xua quân vào nhà dân kề đó để cướp rơm rạ phủ kín những chỗ chúng nghi ngờ rồi đốt. Lửa bốc cháy ngất trời. Bà con trong làng ra xem rất đông, trong số đó có một số cơ sở cách mạng đang tìm cách lợi dụng đông người để giải vây cho ông, nhưng không được. Sau trò đốt rơm rạ, chúng nó lại cho quân tràn xuống ruộng đào bới. Cuối cùng chúng nó đã bắt  được Đặng Văn Cang. Chúng giam ông ở nhà lao Ngọc Lãng một thời gian rồi chuyển qua nhà lao Khu Chiến. Năm 1957, chúng nó lại chuyển vào giam ở nhà lao Phú Lợi (Bình Dương). Năm 1958, địch đày ông ra Côn Đảo. Nhiều năm Đặng Văn Cang bị biệt giam trong nhà đá, khu chuồng bò, chuồng cọp, kẻ thù dùng đủ mọi cực hình dã man nhất tra tấn ông chết đi sống lại nhiều lần, nhưng với khí tiết của người cộng sản kiên cường, thà chết chứ ông không hề khai báo nửa lời.

Ở quê nhà, mẹ Chuyện bị địch đàn áp, khống chế, o ép đủ điều. Chúng nó treo bản đen trước ngõ ghi 4 chữ thật to: “Gia đình Cộng sản”. Chúng nó theo dõi, ai đến gia đình này là có liên hệ với Cộng sản. Mẹ đã nhiều lần vào tù ra khám, bị địch tra tấn rất dã man, chết đi sống lại nhiều lần. Nhưng chúng nó không thể nào khuất phục được mẹ.

Ngày 1/1/1963, Dương Văn Minh đảo chính lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm. Thực hiện chiêu bài mị dân, Dương Văn Minh ra lệnh thả một số tù chính trị ở các nhà lao, nên năm 1964, Đặng Văn Cang được ra tù. Từ Côn Đảo trở về, mặc dù sức khỏe còn rất yếu, ông liền bắt liên lạc với các đồng chí của mình và trở lại chiến khu miền Đông trên núi Đá Bia tiếp tục nhận nhiệm vụ mới của cách mạng.
Năm đó, sau những năm xa cách, lần đầu được gặp lại chồng ở nhà một cơ sở cách mạng, mẹ Chuyện nói:
- Những tháng năm mình bị tù đày ở các nhà lao của địch, ở nhà tui cố gắng buôn bán làm ăn và nuôi dưỡng các con học hành khôn lớn nên người. Bây giờ cả ba đứa: thằng Vĩnh, thằng Chính và thằng Việt đòi được thoát ly để tham gia cách mạng, ý của mình thế nào?
Ông Cang suy nghĩ hồi lâu rồi xúc động nói:
- Tôi rất biết ơn mình. Tôi đi ở tù thì mình ở lại cũng đi ở tù, thế mà một nách lặn lội nuôi dưỡng, dạy bảo 5 đứa con ăn học trưởng thành. Công lao của mình thật là to lớn. Nay thằng Vĩnh 23 tuổi, thằng Chính 21 tuổi và thằng Việt 18 tuổi, đứa nào cũng đã học hành đến nơi đến chốn cả rồi. Nếu chúng nó muốn thoát ly tham gia hoạt động cách mạng thì nên cho nó đi. Cuộc chiến đấu chống kẻ thù xâm lược còn lâu dài, gian khổ và ác liệt. Các con của mình đã trưởng thành, chúng nó có ý xin được thoát ly để đóng góp sức lực vào sự nghiệp chung là rất tốt. Duy chỉ có điều tôi đang băn khoăn là chúng nó ra đi cùng một lúc, mình ở lại sẽ khổ cực, ai chăm sóc lúc ốm đau cho mình. Theo tôi, mỗi năm sẽ lần lượt thoát ly một đứa có được không?
Mẹ Chuyện nói ngay:

- Mình ạ! Điều này tui đã suy nghĩ rất nhiều. Một là hiện nay cả ba đứa đều muốn thoát ly. Lòng hăng hái của tuổi trẻ thật khó mà ghìm chúng nó được. Hai là, chúng nó ra đi một lúc, tui sẽ gặp một số khó khăn trong cuộc sống, nhưng khó khăn sao bằng lúc còn ở trong tù. Ba là, ở nhà còn có con Bê nữa mà. Con Bê nó cũng nhất trí để cho cả ba anh em cùng lên đường một lúc. Ở lại nhà Bê sẽ làm lụng nuôi dưỡng tôi. Xem ra con nhỏ đảm đang lắm. Mình đừng lo gì cả. Với lại tui cũng còn làm lụng được, chưa đến lúc ngồi một chỗ.
Ông Cang phấn khởi nói:
- Nghe mình nói vậy, tôi yên tâm lắm. Lần này về mình lo thu xếp cho các con nó lên đường. Tôi chẳng có gì để gởi về tặng cho chúng nó cả. Mình nói với chúng nó rằng tôi chúc các con lên đường mạnh giỏi và ra sức làm tròn nhiệm vụ của cách mạng giao phó.

Mẹ Chuyện hồ hởi nói:

- Việc này mình yên tâm đi. Tui đã tính toán trước tất cả rồi. Hiện nay trong chuồng còn hai con heo lớn, tui sẽ bán để góp tiền sắm sửa tăng, võng, bạt, giày dép và may cho mỗi đứa vài bộ áo quần. Tui nghĩ, túng bấn thì túng bấn, nhưng con của chúng mình lên đường cũng phải đầy đủ những thứ cần thiết để chúng nó đỡ khổ, phải không mình?

Hai người bịn rịn chia tay nhau vào nửa đêm cuối tháng. Ông tiễn mẹ Chuyện ra tận mép rừng Bãi Xép. Ánh trăng lưỡi liềm vừa mọc không đủ ánh sáng để soi đường cho mẹ đi giữa vùng đồi núi gập ghềnh. Vài ba lần mẹ bị vấp ngã, nhưng lòng mẹ tràn đầy niềm vui khi nghĩ đến cái ngày ba người con trai của mẹ đang học ở Trường Nguyễn Huệ sẽ xếp bút nghiên nối gót cha anh lên chiến khu để tham gia hoạt động cách mạng.

*

*    *

 


Tiêu đề: Mẹ đã khóc hết nước mắt
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 20 Tháng Bảy, 2010, 04:13:33 pm
-tiếp theo-

Thế là ba người con trai của mẹ Chuyện là Đặng Văn Vĩnh, Đặng Văn Chính và Đặng Văn Việt phấn khởi mang balô lên đường đi theo cách mạng cùng một ngày. Đặng Văn Vĩnh và Đặng Văn Chính được huyện giao nhiệm vụ làm giáo viên dạy cấp hai. Trường học lúc đó ở xã Hòa Thịnh. Đặng Văn Việt được biên chế về làm chiến sĩ  đại đội 377 của Huyện đội Tuy Hòa. Các anh thường xuyên nhắn tin hoặc gửi thư tay báo về cho mẹ biết tất cả đều khỏe mạnh, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

 

Giặc Mỹ ào ạt nhảy vào miền Nam, chiến tranh diễn ra vô cùng khốc liệt, địch cố biến miền Đông huyện Tuy Hòa trở thành vùng trắng để bảo vệ yết hầu của chúng ở phía nam tỉnh. Mẹ Chuyện lại bị chúng bắt bỏ tù và tra tấn rất dã man về cái tội cho các con thoát ly đi hoạt động cách mạng. Ra tù, mẹ Chuyện lại ngày ngày với gánh hàng xén trên vai, lặn lội đi khắp các chợ để vừa buôn bán kiếm sống vừa nhận sự đóng góp ủng hộ lương thực, thuốc men của bà con rồi tìm cách chuyển ra căn cứ cho cách mạng.

Một hôm mẹ Chuyện đi chợ Bàn Thạch về vừa tới nhà thì nhận được hung tin xé lòng do một chiến sĩ giao liên của huyện đến báo: Chồng mẹ - ông Đặng Văn Cang - vừa hy sinh trong một trận chống càn ngày 19/8/1966. Mẹ lăn ra khóc rồi ngất xỉu trong vòng tay con gái của mình là Đặng Thị Bê.

Mẹ Chuyện không ngờ rằng lần gặp ông vừa rồi để bàn việc cho ba đứa con trai thoát ly đi làm cách mạng lại là lần gặp cuối cùng của hai người.

Chưa mãn tang chồng, thì ngày 16/8/1967, mẹ Chuyện lại nhận được tin Đặng Văn Việt hy sinh. Trước đó mấy tuần, đại đội 377 của huyện phối hợp cùng dân quân du kích xã Hòa Xuân tổ chức đánh bọn địch bảo vệ cầu Bàn Thạch, tiêu diệt rất nhiều sinh lực địch nên chúng nó rất cay cú, tìm cách phản kích. Đêm 15/8/1967, đại đội 377 lại diệt gọn bọn lính bảo vệ cầu Bàn Thạch rồi rút về bám trụ ở thôn Thạch Chẩm, cách cầu Bàn Thạch hơn một ki-lô-mét. Sáng ngày 16/8/1967, chúng nó dùng máy bay đến thả bom vào thôn Thạch Chẩm, Đặng Văn Việt đã hy sinh trong trận ném bom đó của địch.

Đặng Văn Việt hy sinh trong lúc đang ngồi lau lại súng đạn để chuẩn bị sẵn sàng cho những trận chiến đấu tiếp theo. Bà Lê Thị Mười, chủ nhà, là cơ sở cách mạng, mặc cho nhà cửa bị bom địch phá nát, đã huy động bà con xung quanh chăm sóc các chiến sĩ bị thương và cùng với đơn vị lo việc mai táng các chiến sĩ đã hy sinh. Sau đó bà chạy về thôn Phước Giang tìm gặp mẹ Chuyện. Bà Mười vừa thở vừa nói một hơi thật dài:

- Ngày hôm qua đại đội 377 đánh to, thắng lớn. Bọn lính bảo vệ cầu Bàn Thạch chết ráo. Chúng nó cay cú nên sáng nay cho máy bay đến thả bom rất sớm. Nhiều nhà trong thôn Thạch Chẩm cháy rụi, nhà tui cũng sập và cháy rồi. Cháu Việt lúc đó đang ở trong nhà tui lau súng đạn thì bị bom vùi, nó hy sinh rồi. Tui đang hái rau heo ngoài ruộng nên thoát chết. Đơn vị và bà con trong thôn làm lễ truy điệu và mai táng chu đáo. Tui biết mặt cháu Việt nên chạy liền đến đây để báo cho bà biết. Tui sẽ dẫn bà lên mộ cháu Việt thắp nhang, rồi rước hồn nó về nhà mà thờ.
Mẹ Chuyện không nói được lời nào. Nước mắt đầm đìa trên khuôn mặt tái nhợt. Mẹ ngất xỉu trong vòng tay của chị Bê và bà Mười. Tưởng rằng hai cái tang lớn ụp xuống trong vòng có hai năm sẽ làm mẹ đau buồn, sinh ra ốm đau và kiệt sức. Nhưng được sự giúp đỡ của bà con trong làng, kẻ miếng cháo, người thang thuốc, cùng với những lời động viên, an ủi chân thành, mẹ đã nguôi ngoai dần dần.
Mẹ lại gượng dậy gánh hàng xén đi chợ. Chị Bê bảo mẹ ở nhà nghỉ ngơi, mọi việc để chị lo. Mẹ bảo ở nhà buồn lắm, để mẹ đi chợ cho khoây khỏa.

Tròn một năm sau ngày Đặng Văn Việt hy sinh, mẹ lại nhận được tin Đặng Văn Chính hy sinh. Năm 1967, địch thả bom san phẳng trường dạy học ở Hòa Thịnh nên Chính được huyện điều về dạy văn hóa cho đồng bào dân tộc ở Hòn Nhọn. Một lần đi vận động bà con đến lớp, Chính bị bọn phản động ở địa phương dùng dao sát hại. Rất may vết thương phần mềm ở bụng không nguy hiểm đến ruột gan nên chỉ điều trị ở bệnh xá huyện một thời gian là lành hẳn. Ra viện Chính được điều động về nhận công tác ở Ban Tuyên huấn huyện Tuy Hòa. Ngày 20/7/1968, trên đường đi công tác cơ sở, lọt vào ổ phục kích của địch ở thôn Mỹ Điền xã Hòa Thịnh và Đặng Văn Chính đã hy sinh. Tin này làm mẹ Chuyện khóc và ngất lịm nhiều ngày. May nhờ có thầy Tám Bình cắt cho chục thang thuốc nam uống, mẹ mới tỉnh dần. Chưa thật khỏe hẳn, nhưng mẹ Chuyện cứ đòi đi thăm mộ của Chính. Khu vực Chính hy sinh đang còn địch kiểm soát nên các đồng chí lãnh đạo ở huyện chưa thể đưa mẹ đi thăm mộ của Chính ngay được.

Vết thương lòng và nỗi đau xé ruột về chồng và hai con đã hy sinh chỉ trong một thời gian rất ngắn chưa thật lắng dịu, thì mẹ Chuyện lại nhận được giấy báo tử: Đặng Văn Vĩnh đã hy sinh ngày 25/7/1970. Cũng như người em là Đặng Văn Chính, Vĩnh nhận công tác dạy cấp 2 ở xã Hòa Thịnh. Máy bay địch đến ném bom làm 8 học sinh chết và nhiều em bị thương. Vĩnh cũng bị thương ở bụng. Được trạm xá của huyện cứu chữa lành vết thương, ra viện Vĩnh được điều về Ban Tuyên huấn huyện Tuy Hòa. Trên đường đi công tác cơ sở ở xã Hòa Tân thì bị địch phục kích, Vĩnh bị thương rất nặng và sau đó đã hy sinh.

Cũng như các lần trước, lần này khi nhận được tin Vĩnh hy sinh, mẹ lại khóc nức nở và ngất lịm. Năm 1970 mẹ đã 60 tuổi, cộng với sự chịu đựng quá nhiều đau khổ trong tù đày và tang tóc đè nặng, thân thể của mẹ như cành liễu trước cơn gió mạnh. Tưởng rằng với cái tang thứ 4 này mẹ sẽ không gượng dậy được nữa. Nhưng rồi sức khỏe của mẹ dần dần trở lại bình thường nhờ sự chăm sóc hết lòng của người con gái độc nhất - chị Đặng Thị Bê - và của bà con làng xóm.

Ngày 17/12/1994, mẹ Đinh Thị Chuyện được Nhà nước phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Tòa soạn Báo Phú Yên nhận chăm sóc, phụng dưỡng mẹ Đinh Thị Chuyện đến cuối đời. Chúng tôi - những người con phụng dưỡng - thường xuyên về với mẹ, ngồi bên mẹ hàng giờ, hàng buổi, nghe mẹ kể chuyện đời xưa, chuyện một thời chiến đấu, hy sinh, máu lửa của quê hương mẹ và đôi lúc mẹ đọc vài câu ca dao, hoặc yêu cầu chúng tôi hát cho mẹ nghe vài điệu bài chòi, vài bài ca thời kháng chiến.

Bây giờ thì mẹ Đinh Thị Chuyện đã đi vào cõi vĩnh hằng, nhưng chúng tôi vẫn nhớ mãi những lời tâm sự của mẹ lúc sinh thời. Mẹ nói: “Hơn 90 tuổi đời, từng chịu đựng 4 cái tang vừa chồng vừa con, mẹ đã khóc hết nước mắt rồi các con ạ! Nhưng cái an ủi lớn nhất đối với mẹ là những người thân yêu nhất trong gia đình mẹ đã đóng góp xương máu của mình cho cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc thắng lợi hoàn toàn


Tiêu đề: Chuyện về bà Phó Phát - giao liên hợp pháp của Tỉnh ủy Phú Yên
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 20 Tháng Bảy, 2010, 04:20:41 pm
Trong căn nhà đơn sơ nép dưới bóng dừa ở thôn Long Thạnh xã Xuân Lộc (huyện Sông Cầu), bà Phó Phát sống những năm tháng cuối đời bình yên bên con cháu. Cụ bà 93 tuổi này từng là giao liên hợp pháp của Tỉnh ủy Phú Yên trong kháng chiến chống Mỹ, và ngôi nhà mà bà đang ở là trạm giao liên của Sông Cầu cách đây hơn 40 năm.

 
(http://www.baophuyen.com.vn/Portals/0/2007/09/23-24/070924-ME.jpg)


Bà Phó Phát - Ảnh: Tư liệu

Thời gian đã nhuộm trắng tóc bà. Và tuổi tác đã làm cho mắt mờ, chân yếu. Tuổi tác lạnh lùng xóa đi hầu hết chuyện xưa trong ký ức của bà. Vậy mà khi nhắc tới hai từ “liên lạc”, đôi mắt bà Phó Phát sáng lên: “Liên lạc hả? Tui đây. Tui là liên lạc. Tui đi cùng khắp, từ La Hai cho tới Tuy Hòa.”

Tên khai sinh của bà là Trần Thị Mẹo. Song người dân ở xã Xuân Lộc vẫn quen gọi là bà Phó Phát, bởi bà có chồng là Phó Lý trước Cách mạng tháng Tám và có người con đầu tên Phát. Sau khi đình chiến (1954), một người con của bà Phó Phát đi tập kết. Lúc này, quân địch ráo riết lùng sục, bắt bớ giam cầm, thủ tiêu các đảng viên cộng sản, cán bộ cách mạng. Sau vụ thảm sát Ngân Sơn - Chí Thạnh, Tỉnh ủy Phú Yên đóng ở Diêu Trì (Bình Định) khẩn trương tổ chức đường dây giao liên để liên lạc với bộ phận Tỉnh ủy được phân công bí mật ở lại nhằm thống nhất sự chỉ đạo trong toàn tỉnh. Đồng chí Hai Tín, tức Đỗ Hòa Thái, Bí thư Huyện ủy Sông Cầu đã móc nối và cử bà Phó Phát ra chợ Cây Đa ở Lộc Lễ (Diêu Trì) để liên lạc với Tỉnh ủy. Vậy là bà trở thành giao liên của tỉnh. Sau đó, theo sự phân công của đồng chí Võ Xuân Vinh, Ủy viên thường vụ Tỉnh ủy phụ trách Chánh văn phòng, bà Phó Phát đóng giả làm người đi buôn bán, vô Phú Lâm gặp một người thợ rèn tên Châu và gặp ông Di ở Đông Tác để nhận thư từ tài liệu của Huyện ủy Tuy Hòa; tới chợ Thủy, chợ Giã ở An Ninh Tây để nhận thư của Huyện ủy Tuy An. Tài liệu thư từ, khi thì bà giấu trong cái yếm bị, khi thì giấu trong những miếng trầu đã têm. Rủi gặp địch soát xét thì bà ung dung bỏ miếng trầu vô miệng.

Bà Phó Phát chuyển thư cho các cán bộ của Tỉnh ủy dựa vào những dấu chấm trên lá thư, số dấu chấm tương ứng với tên gọi gắn theo thứ của người đó, ví dụ như hai chấm là gởi cho anh Hai, ba chấm thì chuyển cho anh Ba… Thư không có chấm nào thì  bà chuyển cho anh Thừa, tức đồng chí Lê Đài, Bí thư Tỉnh ủy Phú Yên.

Những hồi ức rời rạc của một bà cụ đã sống gần một thế kỷ không đủ để chúng tôi chắp nối thành bài viết. May mà tìm được tư liệu về bà trong bài Bà ngoại giao liên của tác giả Phan Thanh, đăng trong tập sách Phú Yên thăm mẹ. Theo tư liệu của tác giả Phan Thanh, trong những ngày đồng chí Hai Tín về Xuân Lộc, bà Phó Phát cùng tổ giao liên (gồm ông Nguyễn Ngàn, bà Hoa và bà Miền) bố trí bảo vệ, lo ăn ở chu đáo. Nhiều cán bộ từ Diêu Trì về Sông Cầu đến tìm bà. Khi đã nhận đúng ám hiệu, bà bố trí cho họ ăn ở hàng chục ngày. Sau khi đồng chí Bảo - một chiến sĩ giao liên bất hợp pháp vừa móc nối liên lạc với các xã, xây dựng cơ sở vừa tự túc kiếm sống giữa rừng sâu để nuôi Huyện ủy - hy sinh anh dũng trong một lần đi công tác, bà Phó Phát lên La Hai theo yêu cầu của cấp trên. Đầu năm 1955, Tỉnh ủy phân công đồng chí Bùi Tân chuẩn bị chỗ ở cho cơ quan Tỉnh ủy bí mật. Tại nhà bà Lý ở chợ Đồng Dài, bà Phó Phát đã nhiều lần gặp ông Bùi Tân để nhận nhiệm vụ.

Về chuyện này, bà Phó Phát vẫn còn nhớ: Cậu Tân đưa tôi gặp anh Ba, anh Thừa, anh Bút tại Xuân Quang để các anh biết mặt. Sau đó, tôi mới biết anh Thừa là đồng chí Lê Đài.

Thế rồi có một người cán bộ chuyển vùng hoạt động và bị bắt, khai ra bà Phó Phát. Bà bị địch bắt giam ở nhà lao Ngọc Lãng. Cho tới bây giờ, những ngày tháng bị giam cầm vẫn hiện lên loáng thoáng trong tâm trí bà. Sau khi rơi vào tay địch, bà lanh trí, tỏ ra “thành thật” và “khai báo” việc mình “tiếp tế cho cộng sản”. Bà nói với chúng: “Ai khổ thì tui cho ăn. Nấu nồi cơm trên bếp, thấy người ta đói thì tôi bới cho người ta. Vậy thôi hà”.

Ông Lê Đài đã bị bắt trước đó. Địch dẫn ông tới để nhận diện, nhưng chúng hoàn toàn thất bại. Đến khi ông Lê Đài chết, địch hỏi móc méo bà: Ông nộïi mày chết, mày có khóc không?


Sau khi ra tù, bà Phó Phát tiếp tục hoạt động cách mạng, lặng lẽ đóng góp sức mình vào công cuộc giải phóng quê hương Phú Yên. Bà được Đảng, Nhà nước trao tặng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất.

 

LÂM VY


Tiêu đề: Chùm ảnh Phú Yên góp phần vào đại thắng mùa xuân 1975
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 20 Tháng Bảy, 2010, 04:56:41 pm
Khí thế tiến công hừng hực như vũ bão của quân giải phóng miền Nam đã làm nên chiến thắng lịch sử và chấn động vào mùa xuân 1975.

Quân và dân Phú Yên, với sự chuẩn bị kỹ lưỡng và chu đáo, đã chớp thời cơ giải phóng toàn tỉnh vào ngày 1/4/1975. Chiến thắng của Phú Yên đã góp phần quan trọng vào việc giải phóng toàn khu V, tạo hậu phương vững chắc để các cánh quân tiến vào giải phóng Sài Gòn một tháng sau đó. Xin giới thiệu một số hình ảnh về những ngày lịch sử trong mùa xuân 1975 trên chiến trường Phú Yên.

 
(http://www.baophuyen.com.vn/Portals/0/2007/04/26-31/070429-gp18.jpg)
Cảnh hoảng loạn của đoàn quân ngụy bỏ Tây Nguyên tháo chạy xuống đồng bằng trên đường 7 - Ảnh: TƯ LIỆU

 

 
(http://www.baophuyen.com.vn/Portals/0/2007/04/26-31/070429-gp2.jpg)
Lực lượng giải phóng quân tấn công tỉnh đường ngụy Phú Yên Ảnh: TRẦN KHẢ QUANG
(http://www.baophuyen.com.vn/Portals/0/2007/04/26-31/070429-gp5.jpg)
Bộ đội Phú Yên trên đường ra chiến dịch xuân 1975 - Ảnh: TRẦN KHẢ QUANG
(http://www.baophuyen.com.vn/Portals/0/2007/04/26-31/070429-bo-doi.jpg)
Quân giải phóng vượt sông Ba truy kích địch tháng 4/1975 - Ảnh: TƯ LIỆU

 


Tiêu đề: Diễn biến “Chiến dịch Át-Lăng” tại chiến trường Phú Yên
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 20 Tháng Bảy, 2010, 04:59:57 pm
(Dựa theo tài liệu Lịch sử Quân khu 5 và Lịch sử 30 năm giải phóng Phú Yên)

Xuân hè năm 1953, quân viễn chinh Pháp thất bại nặng nề và liên tiếp ở chiến trường chính đồng bằng Bắc bộ, Tây Bắc, Bình Trị Thiên, Liên khu 5, đồng bằng Nam bộ. Để ngăn chặn thất bại lớn của thực dân Pháp ở Việt Nam, chính phủ Pháp đề ra chủ trương chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh” kết thúc chiến tranh Việt Nam trong vòng 18 tháng. Để thực hiện chủ trương trên, tướng Nava – tân Tổng tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương đã đề ra kế hoạch đánh chiếm các tỉnh đồng bằng, vùng tự do Liên khu 5 mà trước tiên là đánh chiếm Phú Yên để làm bàn đạp. Cụ thể như sau:

Giai đoạn 1: Có tên là “Arêtút” tiến hành vào cuối tháng 1/1954, địch sử dụng 22 tiểu đoàn bộ binh, 2 tiểu đoàn công binh, 3 đơn vị pháo binh từ Đắk Lắk đánh xuống, Khánh Hòa đánh ra, đổ bộ đường biển vào hai phường 6, 7 (thị xã Tuy Hòa), đổ bộ đường không vào sân bay Tuy Hòa – sân bay Đông Tác. Sau đó tiếp tục phát triển đánh chiếm toàn bộ tỉnh Phú Yên.

Giai đoạn 2: Có tên “Axen” tiến hành vào đầu tháng 3/1954, sẽ tăng thêm lực lượng đánh chiếm thị xã Qui Nhơn và toàn tỉnh Bình Định bằng 3 cánh quân từ Phú Yên đánh ra, từ Gia Lai – An Khê đánh xuống theo đường 19 và từ biển đánh vào.

Giai đoạn 3: Có tên “Attila” bắt đầu vào tháng 5/1954 chúng sử dụng 45 tiểu đoàn bộ binh, 8 đơn vị pháo binh, bao vây từ 4 hướng để đánh chiếm thị xã Quảng Ngãi và toàn tỉnh Quảng Ngãi hoàn thành mục tiêu xóa bỏ vùng tự do Liên khu 5.
Chủ trương của ta
Chấp hành chỉ thị, mệnh lệnh của Trung ương, Liên khu ủy Khu 5 trước tình hình và nhiệm vụ cấp bách, trọng tâm của quân dân Phú Yên và quân dân Liên khu 5 được xác định là phải tập trung lực lượng củng cố căn cứ địa bảo vệ vùng tự do chống địch càn quét lấn chiếm.
Ngày 10/1/1954, Tỉnh ủy Phú Yên mở Hội nghị để quán triệt Nghị quyết Liên khu ủy và thông qua  kế hoạch chiến đấu của lực lượng vũ trang địa phương, Tỉnh ủy Phú Yên đề ra phương châm chung là: tích cực chủ động tiêu diệt, tiêu hao địch bảo vệ tính mạng tài sản của nhân dân, về tác chiến các lực lượng vũ trang địa phương và du kích phải triệt để vận dụng chiến thuật du kích với phương châm “Tích cực chủ động linh hoạt” cũng trong thời gian đó đại diện Tỉnh ủy Phú Yên, Tỉnh ủy Khánh Hòa, Ban cán sự tỉnh Đắk Lắk đã họp bàn việc phối hợp để bộ đội chủ lực tập trung lên chiến trường chính Tây Nguyên. Lực lượng vũ trang tỉnh Khánh Hòa được phân công đẩy mạnh hoạt động đánh địch trên tuyến quốc lộ 1A phía nam đèo Cả. Lực lượng vũ trang tỉnh Đắk Lắk đẩy mạnh đánh địch trên đường MaĐrắc, Sông Hinh, Cheo Reo xuống Phú Bổn, Củng Sơn (Sơn Hòa). Lực lượng tỉnh Phú Yên ngoài nhiệm vụ đánh địch tại chỗ, còn phải làm tốt nhiệm vụ tiếp viện cho các đơn vị chủ lực tiến công về hướng Buôn Ma Thuột, Tây Nguyên.

Tương quan lực lượng địch – ta trong chiến dịch Aùtlăng

* Địch: 22 tiểu đoàn, 4 binh đoàn cơ động số 10-100-41-42, 2 tiểu đoàn dù để chi viện cho bộ binh cơ giới tiến công, địch sử dụng hàng chục máy bay ném bom và nhiều trọng pháo từ tàu chiến bắn hàng ngàn quả đạn vào thị xã Tuy Hòa, quốc lộ 1A trước và trong quá trình bộ binh cơ giới tiến công.

* Ta: Lực lượng vũ trang của tỉnh có 3 đại đội được bố trí như sau: Đại đội 377 trực tiếp chiến đấu địa bàn thị xã Tuy Hòa, Đại đội 392 trực tiếp chiến đấu ở đèo Cả và phía Nam Đà Rằng, Đại đội 389 trực tiếp chiến đấu Bắc Phú Yên và Tây Tuy Hòa.
Lực lượng vũ trang huyện có 4 đại đội bộ đội được bố trí như sau: Đại đội 380 Sơn Hòa, Đại đội 371 Đồng Xuân, Đại đội 374 Tuy An, Đại đội 378 Tuy Hòa.

Tháng 2/1954, Quân khu chỉ đạo cho Phú Yên thành lập Tiểu đoàn 375 (d375) trên cơ sở sát nhập 3 đại đội (Đại đội Quyết tử của d40 Quảng Nam, Đại đội Độc lập của Quảng Ngãi và Đại đội 392 Phú Yên). Cuối tháng 3/1954, Quân khu điều d365/ e803 về tăng cường cho Phú Yên. Tỉnh đội Phú Yên điều động du kích các xã, phường bổ sung khôi phục biên chế cho các đại đội độc lập của tỉnh.
Đợt 1: Từ ngày 20/1/1954 đến 30/1/1954.

Sáng ngày 20/1/1954, quân Pháp bắt đầu mở cuộc tiến công ồ ạt, qui mô chưa từng có ra chiến trường Phú Yên.

Trên hướng thị xã Tuy Hoà, địch dùng 2 tiểu đoàn lính thuỷ đánh bộ, đổ bộ lên phường 6, 7 (thị xã Tuy Hoà). Sử dụng 2 tiểu đoàn nhảy dù xuống sân bay Chóp Chài, sân bay Đông Tác. Chúng bị Đại đội 377 và du kích các xã, phường kết hợp với thế trận phòng thủ, phục kích bao vây, bắn tỉa và chặn đánh quyết liệt tiêu hao, tiêu diệt kìm chân chúng tại chỗ không cho chúng lấn ra phía Bắc.

Ngày 21/1/1954 từ Khánh Hoà, địch sử dụng binh đoàn số 10 có hàng trăm xe cơ giới và xe bọc thép theo trục quốc lộ 1A đánh ra đèo Cả, Hoà Xuân, Hoà Hiệp (Tuy Hoà). Tuy nhiên, chúng đã bị Đại đội 392 cùng du kích xã Hoà Xuân, Hoà Hiệp bố trí sẵn chông mìn cạm bẫy, át chiến điểm chặn đánh liên tục. Cùng với đó, quân dân ta đã phá hoại cầu cống và đường giao thông, làm chậm bước tiến công của bộ binh và cơ giới địch. Mãi đến 10 ngày sau, Pháp mới liên lạc được với hướng thị xã Tuy Hoà.

Ngày 25/1/1954, hướng Đắk Lắk, địch sử dụng 2 binh đoàn 41-42 từ Cheo Reo đánh xuống thị trấn Củng Sơn (huyện Sơn Hoà), chúng bị Đại đội 389 phối hợp cùng Đại đội 378 cùng du kích các xã phía tây Tuy Hoà, Sơn Hoà ngăn chặn tiêu hao tiêu diệt nhiều sinh lực địch, gây cho chúng nhiều thiệt hại, làm chậm bước tiến công của địch.

Với lối đánh mưu trí sáng tạo, linh hoạt của bộ đội và du kích ta, qua 10 ngày đầu chiến dịch Aùt-lăng, lực lượng vũ trang và nhân dân Phú Yên đã chiến đấu ngoan cường, dũng cảm chống lại cuộc tiến công ồ ạt của thực dân Pháp. Pháp choáng váng khi bị tổn thất nặng nề: ta đã giết và làm bị thương gần 800 tên địch, phá huỷ nhiều phương tiện chiến tranh, thu nhiều vũ khí đạn dược.

Ngày 2/2/1954, Đại tướng Võ Nguyên Giáp điện khen quân dân Tuy Hoà và vùng địch hậu Liên khu 5, bức điện có đoạn viết “Dân quân Tuy Hoà và vùng địch hậu Liên khu 5 đã tích cực hoạt động tiêu hao và tiêu diệt nhiều sinh lực địch bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân. Trong lúc chiến thắng các đồng chí cần đề phòng, không chủ quan khinh địch, ra sức củng cố vùng giải phóng, củng cố và khuếch trương thắng lợi, thi đua cùng các đơn vị anh em ở mặt trận khác trên toàn quốc tiêu diệt địch nhiều hơn nữa, giật cho được cờ thưởng của Hồ Chủ tịch”.

* Sau 10 ngày tiến công địch tạm chiếm các vị trí như sau:
Ở huyện Tuy Hoà 1: Địch chốt chặn ở núi Hiềm, Bàn Nham (Hoà Xuân).

Ở thị xã Tuy Hoà: 4 tiểu đoàn, bố trí ở núi Nhạn, sân bay Khu chiến cũ, khu Thị đội, dọc phường 6; 3 đại đội bộ binh bố trí ở chùa Hồ Sơn, dọc đường sắt và Núi Sầm.

Ở huyện Sơn Hoà: địch chốt ở đồi MaPu, Cà Lúi, Ba Bảng (Củng Sơn), Bà Lá, Gò Lớn, Sơn Định, Trụ Bọt (Sơn Hội).

Ở huyện Sông Hinh địch chốt đồn Tuy Bình – Hai Riêng.

Để chuẩn bị đánh chiếm Bắc Phú Yên, Na-va đã tung ra một lực lượng lớn lên đến 34 tiểu đoàn cơ động (hơn 1 vạn rưỡi quân).

Ta: Quá trình chiến đấu, ngoài lực lượng tập trung của tỉnh, huyện; du kích các xã, phường luôn được bổ sung kiện toàn.

Đầu tháng 2/1954, Quân khu quyết định thành lập tiểu đoàn 375. Tháng 3/1954, Liên khu 5 điều động tiểu đoàn 365 thuộc (e803) về tăng cường cho chiến trường Phú Yên, với những thắng lợi giòn giã, lực lượng ta càng đánh càng lớn mạnh, quân và dân Phú Yên đã tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ, Bác Hồ. Từ đó ra sức thi đua giết giặc lập công.

Đợt 2: Từ ngày 16/2/1954, địch thực hành tiến công ra các huyện phía Bắc Phú Yên.

Binh đoàn 41, 42 tiến theo đường Vân Hoà xuống xã Xuân Phước, Xuân Quang – La Hai (Đồng Xuân). Một cánh quân tiến xuống xã: Sơn Long, An Xuân, An Nghiệp (Tuy An) đã bị đại đội 371 Đồng Xuân và 380 Sơn Hoà phối hợp cùng du kích các xã Sơn Hội, Sơn Long, An Xuân, An Nghiệp tổ chức đánh phục kích ngăn chặn tiêu diệt tiêu hao hơn 100 tên địch và phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh, làm chậm bước tiến công của địch.

Binh đoàn số 10 tiến công phía Đông theo quốc lộ 1A từ thị xã Tuy Hoà ra Chí Thạnh, Sông Cầu đã bị đại đội 389 của tỉnh phối hợp với đại đội 374 (Tuy An) cùng du kích xã An Chấn, An Mỹ, An Hiệp, An Cư liên tục chặn đánh tiêu diệt trên 500 tên, phá huỷ hơn 100 xe quân sự và nhiều phương tiện chiến tranh, hành quân mất 4 ngày mới liên lạc được với hướng La Hai.

Đến ngày 21/2/1954 địch đã chiếm giữ được một số vị trí trọng yếu tại thị xã Tuy Hoà, ngả ba Chí Thạnh, Sông Cầu, La Hai. Trên trục đường 1, đường 6 chúng bố trí thêm một số đồn như Núi Hùng, An Chấn, Gò Đều, đèo Quán Cau.

* Ngày 18/2/1954, tướng Nava phải tuyên bố tạm đình chỉ chiến dịch Át - Lăng ở mặt trận Tuy Hoà – Phú Yên. Sau khi thất bại liên tiếp ở chiến trường Điện Biên Phủ và Liên Khu 5, địch thực hiện kế hoạch “Ê ly rút” là thu hẹp phạm vi chiếm đóng để bảo toàn lực lượng. Ở vùng đồng bằng Phú Yên chúng bắt đầu rút dần các đồn, bót nơi bị ta uy hiếp để tập trung đối phó những vị trí then chốt.


Tiêu đề: Diễn biến “Chiến dịch Át-Lăng” tại chiến trường Phú Yên
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 20 Tháng Bảy, 2010, 05:09:52 pm
Đợt 3: Đánh địch càn quét, lùng sục đánh phá vùng hậu cứ của ta.

Ngày 7/3/1954, tiểu đoàn 375 tiêu diệt 1 đại đội Âu Phi và 25 xe quân sự tại Bầu Vườn – thôn Phú Hoà và xã Xuân Sơn – huyện Đồng Xuân.

Ngày 8/3/1954, tiểu đoàn 375 cùng du kích xã An Nghiệp chặn đánh tiểu đoàn Ngự Lâm Quân, tiêu diệt và làm bị thương hàng trăm tên.

Ngày 10/3/1954, tiểu đoàn 375 cùng du kích xã An Lĩnh tiêu diệt tiểu đoàn Ngự Lâm Quân số 1 tại Đồng Tròn, xã An Lĩnh. Cũng trong ngày 10/3/1954, đại đội 371 Đồng Xuân và du kích Xuân Thọ, Xuân Lộc, Xuân Cảnh, Xuân Thịnh phục kích trên đèo Cù Mông, diệt và làm bị thương hơn 100 tên.

Ngày 21/3/1954, tiểu đoàn 365 vừa hành quân từ Nam Bình Định vào xã Xuân Quang (Đồng Xuân) phát hiện tiểu đoàn Ngự Lâm Quân số 2 hành quân càn quét lên vùng Suối Cối xã Xuân Phước. Tiểu đoàn tổ chức phục kích và sau 45 phút chiến đấu dũng cảm, ngoan cường, đã tiêu diệt 100 tên địch, bắt sống 200 tên, thu toàn bộ vũ khí, đạn dược, quân trang, quân dụng, xoá sổ tiểu đoàn Ngự Lâm Quân số 2 của thực dân Phá

Đêm 10/4/1954, tiểu đoàn 375 phối hợp với đại đội 374 (Tuy An) tập kích quân địch ở đèo Quán Cau (An Hiệp) diệt và làm bị thương 85 tên lính Âu Phi.
Ngày 20/4/1954, tiểu đoàn 365 cùng với tiểu đoàn 375 tiến công 1 tiểu đoàn địch tại Bàn Nham (Hoà Xuân), tiêu diệt hơn 100 tên lính Âu Phi.
Ngày 30/4/1954, tiểu đoàn 375 và tiểu đoàn 365 xoá sổ tiểu đoàn Ngự Lâm Quân số 6 tại ga Gò Mầm (Hoà Bình), tiêu diệt 100 tên, bắt sống 200 tên.
Ngày 10/5/1954, tiểu đoàn 375 tiêu diệt đồn Núi Sầm, tiêu diệt hơn 50 tên, tịch thu nhiều vũ khí, đạn dược, quân trang, quân dụng.
Ngày 24/5/1954, tiểu đoàn 375 đánh lui 2 tiểu đoàn địch đang trên đường càn lên Hoà Quang, tiêu diệt 50 tên, bắt sống 15 tên.
Ngày 28/5/1954, tại Quang Quang – Minh Đức, tiểu đoàn 375 tiếp tục đánh tan trung đoàn nguỵ quân đi càn quét tại cầu Minh Đức, tiêu diệt hơn 60 tên.
Cuối tháng 5/1954, Bộ tư lệnh Quân khu điều trung đoàn 803 tăng cường cho chiến trường Phú Yên. Ngày 1/6/1954, Trung đoàn 803 tập kích tiêu diệt cụm cứ điểm Truy Bình – Hai Riêng – Củng Sơn, tiêu diệt và bắt sống hơn 500 tên. Ta đã giải phóng hoàn toàn các huyện phía Tây Nam Phú Yên. Sau đó trung đoàn được lệnh truy kích và tiếp tục phát triển tiến công xuống Tuy Hoà.
Trước nguy cơ bị tiêu diệt và để ngăn chặn sự sụp đổ hoàn toàn của nguỵ quân, Tướng Êly mới sang thay Nava làm tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương đã ra chủ trương “Thu hẹp phạm vi chiếm đóng có trọng điểm để bảo toàn và tập trung lực lượng”.
Ngày 16/6/1954, địch rút chạy khỏi Sông Cầu.
Ngày 19/6/1954, địch rút chạy khỏi Chí Thạnh.
Đêm 21/6/1954 trận tấn công lớn nhất, quyết liệt nhất của quân ta vào cứ điểm, đồn, bốt địch ở thị xã Tuy Hoà và vùng ven, tiểu đoàn 365, tiểu đoàn 39 (e 803), đại đội đặc công của tỉnh, đội đặc công e803, các đại đội trợ chiến trung đoàn cùng tiểu đoàn 375, đại đội 377, bộ đội địa phương đồng loạt tấn công địch.
Tại khu vực Màng Màng, Núi Hùng (An Chấn), tiểu đoàn 375 đã đánh và gây thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn địch, phá huỷ 100 xe quân sự.
Tại Trung tâm thị xã Tuy Hoà đội đặc công tỉnh, đội đặc công của e 803 tập kích sở chỉ huy địch tiêu diệt hơn 200 tên, phá huỷ hơn 200 xe quân sự, đốt cháy 1 kho xăng hơn 1 triệu lít.
Ngày 25/6/1954, trung đoàn 803 chặn đánh một đoàn xe quân sự 90 chiếc của địch tại đèo Cả, diệt và bắt sống 300 tên, bắn cháy 79 xe, thu nhiều vũ khí, quân trang, quân dụng gây cho chúng nhiều thiệt hại nặng nề.
Phối hợp chặt chẽ cùng với chiến trường Quân khu 5, quân và dân Phú Yên thừa thắng siết chặt vòng vây quân địch trong thị xã Tuy Hoà và khẩn trương chuẩn bị cho trận tiến công tiêu diệt toàn bộ quân địch giải phóng hoàn toàn Phú Yên. Nhưng đến ngày 20/7/1954, Hiệp định Giơnevơ được ký kết, lệnh ngừng bắn được các đơn vị chấp hành nghiêm túc.
* Ý nghĩa thắng lợi của chiến dịch Át - Lăng:

Quân và dân Phú Yên dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Liên khu uỷ khu 5, Tỉnh uỷ, Tỉnh đội Phú Yên với truyền thống tự lực, tự cường, chủ động, dũng cảm ngoan cường, mưu trí linh hoạt sáng tạo, phát huy sức mạnh tổng hợp, thế trận chiến tranh nhân rộng khắp, bằng lối đánh du kích kết hợp vũ khí thô sơ tự tạo, chông, mìn, cạm bẫy tập trung phân tán phù hợp đánh cả ban ngày, ban đêm, quần lộn đánh bên sườn, phía sau lưng địch đã độc lập tác chiến tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, phương tiện chiến tranh. Vây hãm 3 cánh quân cơ động tinh nhuệ của thực dân Pháp, buộc chúng sa lầy ở Tuy Hoà không cho chúng tự do lùng sục đánh phá, bảo vệ được tính mạng tài sản của nhân dân và cơ quan Nhà nước, bảo vệ kho tàng dự trữ lương thực, thực phẩm, góp phần bảo vệ vùng tự do Liên Khu 5.

Đánh bại chiến dịch Aùtlăng của thực dân Pháp, quân dân Phú Yên nói riêng, quân và dân Liên Khu 5 nói chung đã góp phần đập tan kế hoạch “Đánh nhanh thắng nhanh” của tướng Nava, đập tan âm mưu thủ đoạn của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ nhằm giành thế chủ động về quân sự trên chiến trường Việt Nam và xoay chuyển cục diện chiến tranh ở Đông Dương.

Sự phối hợp nhịp nhàng cùng các chiến trường trên toàn quốc, những chiến thắng to lớn của quân và dân Phú Yên góp phần làm suy yếu, phân tán lực lượng của địch trên chiến trường Liên khu 5, cùng cả nước kiềm chân địch tạo thế thuận lợi để quân và dân ta chủ động tiến công giành thắng lơi ở mặt trận Tây Bắc, Tây Nguyên và chiến thắng lịch sử ở Điện Biên Phủ chấn động địa cầu buộc địch ký Hiệp định Giơnevơ lập lại hòa bình ở Đông Dương. 


HỘI CỰU CHIẾN BINH PHÚ YÊN

 


Tiêu đề: Quân giới Phú Yên phục vụ toàn quốc kháng chiến
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 20 Tháng Bảy, 2010, 05:12:34 pm
Cách mạng Tháng Tám (1945) thành công, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa vừa mới ra đời đã phải đương đầu với muôn vàn khó khăn. Nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương do Hồ Chí Minh đứng đầu, đã sáng suốt lãnh đạo nhân dân ta nâng cao tinh thần đoàn kết, ý chí kiên cường, quyết tâm giữ vững lời thề của Tuyên ngôn độc lập, nguyện “đem hết cả tinh thần và lực lượng, tính mạng, của cải và tài sản để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”.

 (http://www.baophuyen.com.vn/Portals/0/2006/12/w3/061211-ducluudan.jpg)

Đúc lựu đạn bằng khuôn đất sét – Ảnh: Tư liệu
Bởi vậy từ ngày 23-9-1945 thực dân Pháp gây hấn đánh chiếm nam Bộ, ở Phú Yên đã nổi lên phong trào toàn dân vũ trang bằng vũ khí thô sơ và thành lập các đơn vị vũ trang tập trung; hàng loạt các lớp huấn luyện quân sự ngắn ngày được mở ra ở Sông Cầu để đào tạo cấp bách số cán bộ quân sự cần thiết. Và ngày 10 tháng 10 năm 1945, xưởng quân giới đầu tiên của Phú Yên chính thức thành lập. Sự kiện này không chỉ là mốc mở đầu cho sự phát triển của một ngành khoa học quân sự ở tỉnh, là khởi điểm quan trọng để từ đó Quân giới Phú Yên khẳng định vai trò của mình trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc.(http://)
Dù chưa có đủ những điều kiện vật chất cần thiết, song do những yêu cầu, đòi hỏi cấp thiết của lịch sử, Quân giới Phú Yên ra đời bắt đầu từ những khốn khó, thiếu thốn của một mô hình sản xuất công nghiệp nhỏ bé lạc hậu đang từng bước cố gắng định hình và định hướng đi ban đầu của ngành Quân giới Phú Yên còn non trẻ… Ngay từ những bước đi ban đầu này, Quân giới Phú Yên đã hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình trong khả năng có được để phục vụ cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp.
Cuối năm 1945, quân Pháp từ Nam bộ đánh lấn dần ra Nam Trung bộ và Tây Nguyên. Tình thế chiến sự diễn biến nhanh chóng. Tổ chức quân sự cũng có những thay đổi. Chi đội 4 Phú Yên được thành lập thay cho Ủy ban Quốc phòng, do đồng chí Lê Văn Đức làm đội trưởng. Đồng chí Ngô Hoàng Anh được rút sang lực lượng chiến đấu. Việc tiếp tục xây dựng và phát triển lực lượng Quân giới được giao cho đồng chí Nguyễn Hữu Dũ. Để kịp thời đối phó với tình hình chiến sự ngày một lan rộng, Ủy ban Việt Minh và Ủy ban Cách mạng lâm thời tỉnh ra lời kêu gọi toàn dân tham gia làm vũ khí và chủ trương tổ chức các công binh xưởng, đáp ứng nhu cầu vũ khí trang bị cho các lực lượng vũ trang đủ sức ngăn cản bước tiến của quân thù.
Hưởng ứng lời kêu gọi này, hầu như toàn bộ các tổ chức thợ thuyền ở thị xã Tuy Hòa đã tập trung về Sông Cầu để chuẩn bị lập công binh xưởng. Mọi tầng lớp nhân dân lao động trong tỉnh, từ những thợ kim hoàn, thợ da, thợ hớt tóc, công nhân Nhà máy đường Đồng Bò v.v… đến những thợ thủ công có tay nghề giỏi như ông Hồ Kiến Mão, ông Xáng, và cả những người có trình độ kỹ thuật cao đã từng tốt nghiệp ở trường kỹ nghệ thực hành của Pháp – tất cả đều tình nguyện tham gia lực lượng những người sản xuất vũ khí. Họ hiến dâng vô tư cho Tổ quốc, cho Cách mạng tài sản, máy móc, nguyên vật liệu và cả chính cuộc đời mình. Những chiếc xe than của ông Đỗ Trực, Nguyễn Tiếm, Nguyễn Thanh ngay đêm chuyên chở những khối máy móc thiết bị từ garage Công Tín Xương, garage Hoàng Văn Cái, xưởng của ông Hồ Kiến Mão, ông Sáng…, từ những lò rèn của ông Sáu Méo, ông Hoàng Mây, ông Mười Do… hối hả đổ về Sông Cầu khẩn trương xây dựng xưởng.
Sau khi cơ bản hoàn thành công việc tập kết trang thiết bị, ngày 10 tháng 10 năm 1945, công binh xưởng Cao Thắng đứa con đầu lòng của ngành Quân giới Phú Yên chính thức ra đời. Đồng chí Đỗ Trực – một trong những người đã tốt nghiệp trường Kỹ nghệ thực hành, có tay nghề cao và có ý chí trong chuyên môn được anh em tín nhiệm cử ra tuyên bố thành lập xưởng. Cùng với đồng chí Nguyễn Hữu Dũ, đồng chí Đỗ Trực đã trực tiếp chỉ đạo sản xuất, hướng dẫn hoạt động của công binh xưởng.
Khi tiếng súng kháng chiến đã lan ra trên toàn quốc cũng là lúc yêu cầu về vũ khí, súng đạn trở nên cấp thiết hơn, một số công binh xưởng khác tiếp tục ra đời. Hơn một năm, sau ngày thành lập công binh xưởng đầu tiên, cuối năm 1946 công binh xưởng 83 thuộc Trung đoàn 83, đại đoàn 27 ra đời. Khi mới thành lập công binh xưởng 83 đóng tại thôn Ngọc Sơn, xã Hòa Mỹ, do đồng chí Nguyễn Hữu Chiêu (còn gọi là Hội Đồng Chiêu) phụ trách. Lực lượng khá mỏng, với gần 20 công nhân, xuất thân từ tổ cơ khí chi đội 4 cũ, đảm nhiệm các nhiệm vụ: đốc công, kế toán, quản lý, đúc, nguội, liên lạc và sưu tầm nguyên vật liệu.

Cùng thời gian này, trước yêu cầu phát triển của lực lượng vũ trang địa phương – các đơn vị dân quân ở các huyện cần phải được trang bị vũ khí phù hợp với chiến trường chiến tranh du kích. Tỉnh ủy Phú Yên quyết định thành lập công binh xưởng dân quân Phú Yên, tên thường gọi là “Cơ xưởng dân quân”. Tỉnh đội Phú Yên chịu trách nhiệm tổ chức công binh xưởng này, đồng chí Nguyễn Tất Dung phụ trách, biên chế ban đầu khoảng 25 người mà nòng cốt là những cán bộ dân quân được đào tạo tại công binh xưởng Cao Thắng. Cơ xưởng dân quân khi mới thành lập đóng tại xóm Vườn, thôn Phú Vang, xã Xuân Sơn, huyện Đồng Xuân.


Như vậy đến cuối năm 1946, ở Phú Yên đã có 3 công binh xưởng được thành lập và bắt đầu đi vào hoạt động. Đó là công binh xưởng Cao Thắng, công binh xưởng 83 và cơ xưởng dân quân. Nhìn chung, bên cạnh những thuận lợi không nhỏ là lòng yêu nước, tinh thần nhiệt tình cách mạng và ý chí quyết tâm cao của đội ngũ những người thợ quân giới, những khó khăn cơ bản mà ngành quân giới Phú Yên từ buổi ban đầu đã phải trực tiếp đương đầu, đó là con người có kỹ thuật, trang thiết bị và nguyên vật liệu.

Trong số những công binh xưởng đã thành lập, Cao Thắng là công binh xưởng mang tính quy mô hơn cả, và ngay từ đầu nó đã xứng đáng là con chim đầu đàn của ngành quân giới Phú Yên, là nơi hội tụ đông nhất, mạnh nhất về trí và lực của tầng lớp công nhân cách mạng Phú Yên trong thời kỳ lịch sử đầy biến động này.

 

ĐỖ THÍNH


Tiêu đề: Tư thế của người chiến thắng
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 20 Tháng Bảy, 2010, 05:15:02 pm
Ngay sau ngày giải phóng, việc truy quét tàn quân nguỵ được Ban lãnh đạo xã An Hiệp (huyện Tuy An) rất quan tâm. Dưới sự chỉ đạo, giúp đỡ của công an huyện, ông Nguyễn Thành, Trưởng Công an xã An Hiệp cùng với đồng đội đã đi Nha Trang  (Khánh Hòa) truy bắt Trần Hinh - một tên ác ôn khét tiếng có nhiều nợ máu với cán bộ và nhân dân xã trong thời kỳ địch mở chiến dịch tố Cộng 1954 – 1955, ngoan cố không chịu ra trình diện.

 
(http://www.baophuyen.com.vn/Portals/0/2006/09/t4/060927-nguyen-thanh.jpg)

Ông Nguyễn Thành – Ảnh: T. L
Gặp lại ông Nguyễn Thành trong tư thế của người chiến thắng, giữa thành phố biển rực rỡ sắc cờ hồng, nhân dân náo nức đón chào cách mạng, Trần Hinh mặt cắt không còn giọt máu. Anh xã đội trưởng trẻ măng được cử đi làm nhiệm vụ với ông Thành đã chuẩn bị sẵn một sợi dây dù dài 2 mét. Khi thấy ông Thành làm xong mọi thủ tục với cán bộ phường nơi tên Hinh đang lẩn trốn, anh nói với ông Thành:

- Con trói nó lại nghe bác?
- Khỏi cần, trong không khí bừng bừng thế này, nó có thể trốn vào đâu? Con cứ lên trước ngồi với lái xe, còn  để nó cho bác.
Nghe ông Thành nói thế, tên Hinh líu ríu bước theo lên xe. Những năm tháng làm tay sai, hắn đã tham gia tra tấn, bắn giết biết bao chiến sĩ cách mạng, đồng bào. Bây giờ tất cả đang hiện về trong tâm trí hắn  như một cuốn phim quay  nhanh...

Tháng 10 năm 1954, Trần Hinh với chức danh là ủy viên quân sự của cái gọi là Hội đồng hương chính xã An Hiệp do chính quyền nguỵ nặn lên đã đánh đập, tra khảo dã man, đi nhiều người dân lương thiện. Ngày đó hắn là “ông trời con” ở An Hiệp. Ông Nguyễn Thành đã từng bị hắn sai lính đào hầm, dùng khăn lông bịt mắt đem  đi chôn sống. Ngày đưa ông đi chôn, đích thân hắn  bước theo sau lưng, thúc ông phải nhanh chân tới huyệt trong khi mắt bị bịt kín như bưng. Hắn còn nhớ, ngày đó huyệt để chôn cạn ông Nguyễn Thành, bọn lính chỉ lấp đất ngang tới cổ. Vì vậy, ông không chết. Hắn hậm hực sai lính kéo ông lên, đưa về trụ sở chính quyền nguỵ tiếp tục tra tấn. Chính hắn là kẻ đã lấy dao kề sát cổ, hỏi ông có trăng trối điều gì không? Trước sau như một, hắn chỉ nhận được câu trả lời dứt khoát: -  Không!

Khi gặp lại Trần Hinh, những hồi ức kỷ niệm cũ cứ cuồn cuộn thức dậy trong lòng ông Nguyễn Thành… Sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ ký kết,  là chính trị viên xã đội, ông Thành đã tổ chức chôn vũ khí, đạn dược, giúp đỡ những gia đình có người đi tập kết để chờ hai năm tổng tuyển cử thống nhất nước nhà. Thế nhưng lũ nguỵ quyền Ngô Đình Diệm đã về gây bao đau thương tang tóc. Đòn tra của kẻ thù cứ xoay đi xoay lại quanh hai câu hỏi: - “Vũ khí đạn dược bọn bây cất ở đâu? Thằng nào còn nằm vùng ở đây?”. Nhưng thà chết chứ ông không chịu khuất phục kẻ thù. Ông nhớ như in cái ngày  bị kẻ thù lôi đi tra tấn với các thủ đoạn man rợ như “đi máy bay”, “lộn mề gà”…, khắp mình mang đầy thương tích, áo quần sũng máu. Tra tấn xong bọn chúng đưa ông gặp gia đình. Sợ vợ con buồn, bác mượn cái áo khô của người bạn tù thay rồi đi ra. Nhìn mặt ông bầm tím xen lẫn vết máu lợn cợn, vợ hỏi:
- Ông có bị chúng nó đánh đau lắm không?
Sợ vợ buồn, ông trả lời tỉnh queo:
- Tụi nó hỏi rồi nhưng tui không sao đâu. Bà cứ yên tâm về đi.
Giật mình, vì mải chìm trong những hồi ức buồn nhiều hơn vui, ông Nguyễn Thành bảo lái xe dừng lại ở đèo Cả. Tên Hinh lo sợ toát mồ hôi, mặt tím ngắt! Ông nói:

- Anh xuống đi vệ sinh đi, không việc gì mà phải sợ. Đừng nghĩ tới những chuyện gì anh đã làm với tôi và với nhân dân xã An Hiệp. Anh cứ nghĩ rằng, chúng ta ở cùng làng, về mùa hè thường rủ nhau đi cày, xong rồi rủ nhau đi ăn đường đen, xuống sông uống ngụm nước mát, rồi vác cày, lùa bò về. Anh cứ nghĩ về những chuyện đó cho lòng thanh thản.

Trấn an tên Trần Hinh xong, ông Nguyễn Thành chợt thấy lòng càng thanh thản, rộn ràng niềm vui. Về đến Tuy An,  ông giao tên Trần Hinh cho công an huyện. Khi về tới An Hiệp, mọi người đang tập trung chờ ông để hỏi chuyện đi bắt tên Trần Hinh. Nghe ông nói là đã giao tên Trần Hinh cho công an, ai nấy đều giãy nảy:
- Tội ác của  tên Trần Hinh là phải đem về đây banh thây, xẻ thịt nó ra thì cũng chưa xứng đáng. Tại sao bác lại giao nó  cho công an huyện? Tại sao bác không đánh nó?
Ông Thành từ tốn trả lời:
- Với những gì nó đã gây ra cho nhân dân thì nó đang phải chịu như vậy. Nhưng ông cha ta có câu “Đánh kẻ chạy đi, không ai đánh người chạy lại”. Cấp trên bảo bàn giao thì mình  nên giao để nó được hưởng lượng khoan hồng của cách mạng mà, bà con à!

Từ cách hành xử nhân hậu,  bao dung đó, ngay sau những ngày giải phóng,  tại xã An Hiệp không có một tên ác ôn nào bị xử bắn hay bị bạc đãi. Tất cả đều được đưa đi cải tạo để sau này trở thành những công dân có ích dưới chế độ mới…


HOA NGUYỄN

 


Tiêu đề: Trận đánh sân bay Đông Tác oai hùng 38 năm trước
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 20 Tháng Bảy, 2010, 05:20:20 pm
Đúng vào ngày này cách đây 38 năm về trước, ngày 28-8-1968, với tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, bộ đội đặc công Phú Yên đã bất ngờ tấn công sân bay Đông Tác gây cho địch nhiều thiệt hại: phá huỷ 6 máy bay phản lực, 1 máy bay vận tải 130 và làm hỏng 4 chiếc khác; bắn cháy 1 xe tăng, làm sập 4 nhà lính, 1 lô cốt, 1 tháp canh;  phá huỷ 1 cối 60, 2 đại liên; diệt 46 tên Mỹ...

 
(http://www.baophuyen.com.vn/Portals/0/2006/08/tuan4/060827-san-bay.jpg)

Sân bay Đông Tác ngày nay do Đoàn C10 quản lý

Sân bay Đông Tác (sân bay Tuy Hoà ngày nay) vốn là sân bay dân dụng cỡ nhỏ, chỉ có một đường băng bê tông nhựa chiều rộng 10 mét, chiều dài 1.500 mét sử dụng cho máy bay vận tải cỡ nhỏ hạ cất cánh. Để phục vụ cho yêu cầu chiến tranh ngày càng mở rộng, vào cuối tháng 12 năm 1965, Mỹ đổ quân, phương tiện kỹ thuật và một lữ đoàn quân Nam Triều Tiên vào xây dựng căn cứ liên hợp: Đông Tác - Hoà Hiệp - Vũng Rô. Ngoài hai đường băng chính dài 3,5 km cho các loại máy bay phản lực chiến đấu, vận tải hàng nặng (C130) cất và hạ cánh dễ dàng, Mỹ còn cho xây dựng hai đường băng phụ để tiện điều chỉnh trong lúc máy bay hạ, cất cánh nhiều lượt trong ngày. Toàn bộ sân bay nằm trên địa hình bằng phẳng, cát trắng, trống trải, dễ quan sát, tiện cơ động xe cơ giới và bộ binh.

Trở thành sân bay quân sự cỡ lớn cấp 1 nằm trong một căn cứ liên hợp có nhiệm vụ hoạt động trong một phạm vi rộng: Phú Yên, Bắc Khánh Hoà, Nam Bình Định và chiến trường Tây Nguyên. Tại sân bay này luôn túc trực từ năm phi đội máy bay phản lực chiến đấu trở lên (15 đến 25 chiếc). Máy bay vận tải có từ 3 đến 5 chiếc (C47–KIARAYBOU–C130), trực thăng các loại thường có từ 20 đến 30 chiếc (vũ trang, quan sát, chỉ huy, cứu thương, vận tải), lúc phục vụ cho càn quét lên tới hàng trăm chiếc. Ở phía nam đường băng, địch xây năm dãy nhà vòm cho máy bay để tránh đạn pháo của ta, xung quanh sân bay có năm đến bảy lớp rào kẽm gai, trong các lớp rào gài nhiều loại mìn nhảy, KCALAYMO tự động, mìn ríp. Ngoài ra, địch còn xây dựng tuyến lô cốt bê tông cốt thép, mỗi lô cốt cách nhau 50 mét, khoảng 150 mét có một lô cốt hai tầng vừa là lô cốt chiến đấu, vừa là tháp canh. Bên trong có một tiểu đoàn lính Mỹ bảo vệ, một đại đội xe tăng, một tiểu đoàn vận tải cơ giới có từ 80 đến 150 xe, một trận địa pháo 155 ly và 105 ly (18 khẩu), hai khu thợ máy, nhân viên kỹ thuật và giặc lái, một khu trung tâm thông tin, hai bãi trực thăng, một kho xăng có 7 bồn lớn khả năng chứa trên một triệu lít, một hệ thống ra đa và trung tâm chỉ huy nằm sát biển, phía đông nam sân bay.

Phát huy tinh thần tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, nhằm phá tan và đánh bại chiến lược “tìm diệt và bình định” của Mỹ buộc địch phải quay về phòng giữ trong thế bị động, tiêu diệt sinh lực địch và phương tiện chiến tranh cao cấp, tạo thế mới cho lực lượng ta tiếp tục làm chủ chiến trường. Đại đội 201 đặc công được giao nhiệm vụ: đánh sân bay Đông Tác, một nhiệm vụ hết sức nặng nề.

Do căn cứ và sân bay có khoảng cách khá xa không thể hành quân tiếp cận trong suốt một đêm được, ta phải đưa lực lượng ta ra trước lót lại hầm bí mật ở cơ sở thôn 3, xã Hoà Vinh từ tối hôm trước. 14 đồng chí tổ chức thành hai bộ phận. Một bộ phận luồn sâu gồm có 9 đồng chí trực tiếp đánh vào mục tiêu (máy bay, nhân viên giặc lái), do đồng chí Nguyễn Hồng Sơn đội trưởng chỉ huy. Bộ phận này được chia thành 2 tổ trang bị 2 B40, mỗi khẩu 4 quả đạn, 4 súng AK, trang bị cá nhân mỗi đồng chí có từ 12 đến 18 quả lựu đạn và thủ pháo. Một bộ phận có 5 đồng chí do đồng chí Nguyễn Văn Lưu chính trị viên đại đội chỉ huy, trang bị 3 AK, có một y tá, một nữ cơ sở dẫn đường chốt ở bìa làng sát hàng rào phía nam để đón lực lượng đánh xong rút ra.

Đến 20 giờ 30 phút ngày 27-8 lực lượng ta đã đến vị trí triển khai chiến đấu. Sau 30 phút tổ chức kiểm tra bổ sung nhiệm vụ xong, bộ phận luồn sâu cắt rào và bí mật đột nhập, áp sát mục tiêu (máy bay, nhà bọn giặc lái). Đúng 0 giờ 55 phút ngày 28-8, hai tổ đồng loạt nổ súng, đánh từ trong đánh ra, dùng thủ pháo lựu đạn  đánh vào máy bay đang nằm ở hai dãy nhà vòm số 1 và số 2, đồng thời dùng B40 bắn vào các nhà nằm kế cận. Gần 10 phút  sau  địch mới có phản ứng. Chúng dùng pháo sáng bắn nhiều ở phía tây nam, hướng cửa mở của ta. Xe tăng từ phía tây bắc cơ động vừa chạy vừa bắn. Bọn địch từ các trại lính ở phía đông nam tiến về hướng cửa mở. Hoả lực đại liên, M79 của địch từ các lô cốt đều tập trung bắn về phía cửa mở. Trực thăng vũ trang cất cánh thả đèn và bắn dọc theo hàng rào đồng ruộng phía tây.


Trong lúc địch tập trung xe tăng bộ binh và trực thăng vũ trang đánh chặn cửa mở, lực lượng ta dùng B40 bắn sập một lô cốt, một tháp canh nhưng cũng không tạo được cửa mở để vượt ra khỏi trận địa. Trong thế bất lợi, với tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, toàn bộ cán bộ chiến sĩ bộ phận luồn sâu đã vòng đánh trở lại vào bên trong. Trận đánh kéo dài hơn hai giờ đồng hồ mới im tiếng lựu đạn, thủ pháo của ta. Tuy gây cho địch nhiều thiệt hại, nhưng do lực lượng quá chênh lệch, vũ khí, toàn bộ cán bộ chiến sĩ luồn sâu đã hy sinh anh dũng.


Sau trận đánh này, Đại đội 201 đã được Chính phủ lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba, 9 đồng chí hy sinh được truy tặng Huân chương Chiến công hạng nhất. Đồng chí Nguyễn Hồng Sơn được truy phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân ngày 30-10-1978.

 

N.V.L


Tiêu đề: Ba lần giải thoát Luật sư Nguyễn Hữu Thọ
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 20 Tháng Bảy, 2010, 05:29:17 pm
“Tôi trở về Phú Yên như người con trở về với gia đình. Tôi rất tự hào được là người con của Phú Yên, một vùng đất anh hùng, nơi lá cờ Đảng đã tung bay từ năm 1930. Tôi đã ở Phú Yên trong thời gian đen tối nhất của cách mạng miền Nam và tận mắt tôi đã chứng kiến Đảng bộ và nhân dân Phú Yên đấu tranh bất khuất kiên cường. Trận đánh tiêu diệt chi khu Củng Sơn để giải thoát tôi năm 1961 chính là trận tiêu diệt chi khu địch đầu tiên ở Trung bộ…” - đó là ý kiến trả lời phỏng vấn của Luật sư Nguyễn Hữu Thọ với Báo Phú Yên trong chuyến về thăm Phú Yên ngày 10-3-1993.

Ngày 11-3-1993, một cụ già 83 tuổi trầm tư dạo bộ trên nhiều đường phố thị xã Tuy Hòa và dừng lại ở khách sạn Vĩnh Đông Á. Nhiều lúc cụ dừng lại chuyện vãn tay bắt mặt mừng. Cụ già ấy là Luật sư Nguyễn Hữu Thọ – nguyên Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận giải phóng miền Nam Việt Nam, nguyên quyền Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang làm một cuộc hành hương về nơi đã cưu mang mình trong những năm tháng bị Mỹ ngụy lưu đày.

Mở đầu bài phát biểu với cán bộ, nhân dân trong buổi mit tinh chào mừng luật sư trở về thăm người xưa chốn cũ Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ bày tỏ niềm xúc động sâu lắng: “Cách đây 32 năm, mảnh đất Phú Yên này đã là nơi kẻ địch quản thúc, giam lỏng tôi và những đồng chí khác trong phong trào hòa bình Sài Gòn – Gia Định, mà người dân Phú Yên vẫn quen gọi là mấy Ông hòa bình. Qua 6 năm trời ròng rã, đến khi tôi được tổ chức mốc nối và được cán bộ, chiến sĩ, đồng bào Phú Yên giúp đỡ đưa ra vùng căn cứ cách mạng, thì những Củng Sơn, Tuy Hòa, Nhạn Tháp, Chóp Chài, Đà Rằng… với những tấm lòng yêu nước, gắn bó với cách mạng của đồng bào, đồng chí ở đây đã thực sự trở thành một phần tâm hồn tôi.

Hôm nay, tôi bồi hồi xúc động có dịp được thăm lại những chốn cũ, gặp lại những người xưa. Bao nhiêu kỷ niệm của một thời kỳ gian lao mà anh dũng như cuốn phim quay ngược đã làm sống lại trong tôi những hình ảnh thân thiết và những tình cảm không thể phai mờ. Tình cảm đầu tiên của tôi là lòng biết ơn vô hạn đối với nhân dân Phú Yên”.

Ngày 15-11-1954, Mỹ-Diệm bắt luật sư Nguyễn Hữu Thọ và một số đồng chí của ông đưa ra quản thúc tại Phú Yên. Kẻ thù đã lưu đày luật sư ở những nơi hẻo lánh như Hòa Thịnh (huyện Tuy Hòa), thị trấn Củng Sơn (huyện Sơn Hòa), chúng hy vọng đường xa cách trở, dân trí những nơi đó thấp nên sẽ cô lập luật sư với bên ngoài. Nhưng chính ở những nơi hẻo lánh này, nhân dân đã bày tỏ tình cảm quý mến đặc biệt đối với nhà cách mạng bị Mỹ-Diệm lưu đày. Tổ chức Đảng bám tình hình sát sao và luôn tìm cách bắt liên lạc với luật sư.

Sau Nghị quyết 15, việc thành lập Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam là vấn đề bức thiết nhưng vị chủ tịch đã được Bác Hồ và đồng chí Lê Duẩn lựa chọn lại đang bị địch quản thúc tại Phú Yên. Trung ương giao trách nhiệm cho ông Trần Nam Trung (Trần Lương) – Ủy viên thường vụ Trung ương Cục miền Nam, Bí thư Khu ủy V và Tỉnh ủy Phú Yên thực hiện kế hoạch giải thoát luật sư Nguyễn Hữu Thọ.

Nhận thức đầy đủ tầm quan trọng trong chỉ thị của Trung ương và Khu ủy V, Bí thư Tỉnh ủy Phú Yên Trần Suyền giao nhiệm vụ cho đồng chí Công Minh – Bí thư Huyện ủy Tuy Hòa 2 và đồng chí Tâm – cán bộ trinh sát ban quân sự tỉnh tổ chức đưa người vào thị xã bắt liên lạc với Luật sư Nguyễn Hữu Thọ. Lúc này luật sư đang chữa bệnh tại bệnh viện Tuy Hòa.

Để có căn cứ làm niêm tin, Trung ương đã chuyển vào Phú Yên lá thư của giáo sư Phạm Huy Thông – người bạn chiến đấu gần gũi của Luật sư Nguyễn Hữu Thọ trong phong trào hòa bình, lúc đó là Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Bà Thừa Hoàng (Phan Thị Bỉnh) cơ sở cách mạng hợp pháp ở thị xã Tuy Hòa trực tiếp chuyển lá thư này đến tay Luật sư Nguyễn Hữu Thọ như ám tín hiệu liên lạc đáng tin cậy.

Luật sư Nguyễn Hữu Thọ thổ lộ: “Hôm bà Thừa Hoàng mang lá thư của giáo sư Phạm Huy Thông từ Hà Nội gởi cho tôi, tôi mừng đến run cả người, suốt đêm không ngủ. Tôi thầm phục Trung ương, thán phục sự tinh tế đến từng chi tiết của Bác Hồ. Một lá thư với vài dòng chữ thăm hỏi bình thường nhưng nếu không có lá thư này thì làm sao tôi tin được những người tôi gặp là của Đảng. Và cảm động xiết bao, lá thư thấm bao mồ hôi và cả máu của hàng chục con người để cuối cùng được bà Thừa Hoàng trao cho tôi”.

Sau khi liên lạc với Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, đồng chí Công Minh triệu tập ông Nguyễn Sự – cơ sở cách mạng hợp pháp ở thị xã Tuy Hòa lên căn cứ để bàn kế hoạch giải thoát.
Theo kế hoạch đã định, nhóm Luật sư Nguyễn Hữu Thọ có sẵn hai xe đạp. Ông Thọ đưa tiền cho ông Sự mua chiếc thứ ba. Đến giờ hẹn, nếu có xe đem lại là mọi việc ổn, cứ thế mà lên đường thoát ra vùng căn cứ dọc đường số 7 (nay là Quốc lộ 25 nối liền Phú Yên với Cheo Reo). Một tiểu đội trinh sát cảm tử sẽ đón đoàn tại chùa núi Cam, đưa đến mả Ba Liêm ở bìa rừng phía tây Tuy Hòa. Tại đó có một trung đội quân giải phóng chờ sẵn để bảo vệ đoàn về cơ quan Tỉnh ủy.

Chiều ngày 10-9-1960, địch đánh hơi bố trí cảnh sát dày đặc từ ga xe lửa đến cầu Ông Chừ (điểm mở đầu của đường số 7). Ông Thọ ở bệnh viện chờ mãi không thấy anh Sự trở lại. Tối hôm đó, luật sư mạo hiểm đến nhà ông Sự thì được biết là công việc bị trục trặc.

Sáng 11-9-1960, ông Nguyễn Sự từ thị xã lên núi Sầm (cách thị xã Tuy Hòa 3km) báo cáo đồng chí Công Minh về kế hoạch bị hỏng và xin chỉ thị trở lại. Chưa đến được điểm hẹn, thì công an ngụy đã đuổi theo bắt anh Sự đánh hộc máu mồm và đưa về bệnh viện đặt trước phòng bệnh của Luật sư Nguyễn Hữu Thọ. Chúng tra tấn ông Nguyễn Sự vô cùng dã man ngay trước mặt luật sư. Ông Sự kiên cường cắn răng chịu đựng không hé răng khai báo nửa lời và cả hai người giữ vẻ thản nhiên như chưa từng quen biết nhau.
Nhờ vậy, tuy địch có nghi ngờ nhưng chưa moi được điều gì. Kế hoạch giải thoát Luật sư Nguyễn Hữu Thọ vẫn giữ được bí mật. Chúng tức tối đưa luật sư lên quản thúc ở Củng Sơn (Sơn Hòa).

Ngày 20-12-1960, Mặt trận giải phóng dân tộc Việt Nam ra đời nhưng vị Chủ tịch được Đảng chọn vẫn còn nằm trong nanh vuốt của kẻ thù. Việc giải thoát luật sư càng trở nên cấp thiết.

Khu ủy V cử đồng chí Bùi Dinh (Tư Khiêm) Khu ủy viên về Phú Yên cùng đồng chí Nguyễn Lầu – Ủy viên Ban thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng ban quân sự tỉnh – nghiên cứu tìm phương án tối ưu giải thoát luật sư. Đồng chí Nguyễn Đùng (Ba Suối) cơ sở cách mạng ở Củng Sơn và đồng chí Võ Minh – phụ trách đội công tác A12 đã phát hiện Mỹ-Diệm giam giữ luật sư  trong khu vực chi khu của quận lỵ Củng Sơn. Do địch quản thúc nghiêm ngặt, ta không thể giải thoát luật sư bằng con đường bí mật.
Thường vụ Tỉnh ủy Phú Yên quyết định dùng phương án tập kích quận lỵ Củng Sơn để giải thoát luật sư Nguyễn Hữu Thọ. Thường vụ Tỉnh ủy chỉ thị cho đồng chí Nguyễn Văn Đông – cơ sở cách mạng hợp pháp ở Củng Sơn điều tra trinh sát, vẽ sơ đồ bố trí lực lượng địch ở chi khu quận lỵ Củng Sơn. Phương án tiến công của Tỉnh ủy Phú Yên để giải thoát luật sư được Khu ủy khu V nhất trí phê chuẩn.

Để bảo đảm kế hoạch giải thoát, Khu ủy V tăng cường cho Phú Yên một đại đội của tỉnh Đắc Lắc, một đại đội (thiếu một trung đội) của tỉnh Gia Lai, một tiểu đội đặc công của khu V gồm 6 đồng chí do đồng chí Ý phụ trách, một tổ đặc công Đắc Lắc do đồng chí Hào phụ trách. Lực lượng Phú Yên tham gia trận đánh Củng Sơn có đại đội 375 tăng cường một trung đội của huyện Tuy Hòa 1; một tiểu đội trinh sát do đồng chí Hoan phụ trách, một tổ đặc công tỉnh do đồng chí Thanh phụ trách. Tỉnh thành lập thêm một trung đội để bổ sung vào đại đội thiếu… của Gia Lai. Theo kế hoạch, trận đánh Củng Sơn được thực hiện tháng 5-1961. Đại đội 375 chủ công của tỉnh đang huấn luyện tại Suối Ché thì địch càn quét quy mô lớn lên buôn Ma Phu. Đại đội 375 tổ chức đánh phục kích diệt cả trung đội nhưng do địch có ưu thế về quân số và hỏa lực nên ta hy sinh 17 đồng chí.

Đại đội 375 cần được củng cố bổ sung thêm quân số. Tháng 6-1961, công tác chuẩn bị mọi mặt bảo đảm cho trận đánh Củng Sơn hoàn thành. Phương án này do đồng chí Nguyễn Ánh Hồng chuẩn bị, được đồng chí Tư Khiêm và Thường vụ Tỉnh ủy thông qua.

Đêm 18 rạng ngày 19-6-1961, trận tập kích quận lỵ Củng Sơn thật dũng mãnh dưới sự chỉ huy trực tiếp của đồng chí Tư Khiêm và đồng chí Nguyễn Lầu, đóng chỉ huy sở ngay tại Hòn Ngang thị trấn Củng Sơn.
Quân ta san bằng chi khu Củng Sơn, tiêu diệt 70 tên địch, thu nhiều vũ khí. Hai tổ đặc công Phú Yên và Đắc Lắc do đồng chí Thanh và đồng chí Hào chỉ huy với sự dẫn đường của cơ sở luồn vào khu vực quản thúc luật sư nhưng một sự cố bất ngờ ngoài dự kiến xảy ra. Chiều hôm trước (18-6-1961), vợ con luật sư từ Sài Gòn ra thăm, địch cho ông về Tuy Hòa gặp vợ con. Cơ sở của ta ở Củng Sơn biết việc này nhưng không báo tin kịp cho chỉ huy sở. Quân giải phóng trân trọng mời các vị trong đoàn hòa bình: giáo sư Nguyễn Văn Hiếu, bác sĩ Phùng Văn Cung ra vùng căn cứ.

Đây là chi khu quân sự đầu tiên ở Trung bộ bị tiêu diệt. Báo cáo của Ty công an ngụy quyền Phú Yên số 4835 ngày 21-6-1961 chua xót thú nhận: “Quận lỵ Sơn Hòa bị tấn công, vị trí này bị thất thủ. Việt cộng gây thiệt hại nặng cho ta về nhân mạng cũng như vũ khí”.
Sau sự kiện Củng Sơn, địch đưa luật sư Nguyễn Hữu Thọ về quản thúc nghiêm ngặt tại thị xã Tuy Hòa.
Qua hai lần giải thoát luật sư không thành. Tỉnh ủy Phú Yên giao nhiệm vụ cho đồng chí Trần Suyền – Bí thư Tỉnh ủy và đồng chí Nguyễn Lầu – Tỉnh đội trưởng lên kế hoạch tổ chức giải thoát Luật sư Nguyễn Hữu Thọ. Đó là một kế hoạch táo bạo bất ngờ và khá mạo hiểm. Ông Lưu Trọng Điểu và ông Nguyễn Đùng (Ba Suối) là hai cơ sở cách mạng trung kiên được đồng chí Trần Suyền giao nhiệm vụ bắt liên lạc với luật sư, thống nhất kế hoạch và ám tín hiệu.

Điểm hẹn giải thoát đón Luật sư Nguyễn Hữu Thọ là mả bà Dũ Ký – một ngôi mộ người Hoa bề thế nằm trong khu nghĩa địa Hoa kiều dưới chân núi Chóp Chài ven đường Quốc lộ I, cách thị xã Tuy Hòa 4 km về hướng bắc.
Theo kế hoạch, luật sư mua một chiếc xe đạp chiều chiều đạp xe vòng quanh thị xã như tập thể dục. Lúc đầu bọn mật vụ bám sát từng bước đi nhưng thấy “ông hòa bình” đạp vòng vòng rồi về khách sạn Vĩnh Đông Á (nơi địch quản thúc), bọn địch dần dần lơ là theo dõi. Hàng tháng như vậy, bọn địch mệt mỏi và chỉ còn một hai tên theo dõi lấy lệ.

Trong thời gian này, đồng chí Tỉnh đội trưởng Nguyễn Lầu chọn ba đồng chí đặc công trinh sát gan dạ ở cùng quê của ông ngay dưới chân núi Chóp Chài (điểm hẹn giải thoát) về bám cơ sở địa phương hàng tháng trời để chuẩn bị đón luật sư. Đó là đồng chí Trần Quyền (Trần Nựu), Phan Văn An (Phan Văn Trường), Đàm Viết Thanh (Thái) (cả ba chiến sĩ đã hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ).
Đến ngày hẹn, ta điều trung đội trinh sát, đại đội đặc công 220 và một trung đội vũ trang bố trí ở cánh đồng Màng Màng sau núi Chóp Chài để đánh địch phản kích khi chúng phát hiện luật sư trốn thoát và tổ chức truy lùng. Về phần mình, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ tìm cách dò hỏi những người dân tốt ở thị xã như bà giáo Sáu để xác định vị trí điểm hẹn mả bà Dũ Ký. Đúng ngày hẹn, giờ hẹn, 5 giờ chiều ngày 30-10-1961, sau một hồi đạp xe vòng vòng các đường phố trong thị xã, lúc trời chạng vạng luật sư Nguyễn Hữu Thọ tự tin đi xe đạp dọc Quốc lộ I như đi dạo mát.

Các tổ thanh niên mật xã Bình Kiến theo sự phân công của cách mạng bám sát người đàn ông đi xe đạp mặc bộ đồ bà ba trắng. Vừa đến Cổ Rùa (cách điểm hẹn 100 mét) luật sư vào hỏi mả bà Dũ Ký thì lực lượng vũ trang cách mạng ùa ra đón luật sư, tay bắt mặt mừng như thân quen tự thuở nào và đưa lên Eo Gió. Đồng chí Phan Công Thanh chỉ huy tổ đặc công phân công cơ sở chôn chiếc xe đạp xóa dấu vết truy tìm của địch và đưa luật sư vượt núi Chóp Chài, lội đồng Màng Màng ngay trong đêm, mừng rỡ gặp đồng chí Nguyễn Lầu, Đỗ Tiến Vạn cùng đại quân phục sẵn đồng Màng Màng đón tiếp và đưa luật sư về căn cứ an toàn. Đồng chí Trần Suyền cùng các đồng chí trong Tỉnh ủy Phú Yên lòng vui như mở hội, đưa luật sư về căn cứ rừng già Phước Tân (huyện Sơn Hòa). Sau một thời gian ngắn, thực hiện chỉ đạo của Trung ương, Tỉnh ủy Phú Yên tổ chức một đơn vị tinh nhuệ hộ tống luật sư theo đường dây về căn cứ Trung ương Cục. Ít lâu sau, Đài phát thanh giải phóng đưa tin Luật sư Nguyễn Hữu Thọ được bầu làm Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận giải phóng miền Nam Việt Nam.

Ba lần giải thoát luật sư Nguyễn Hữu Thọ là một trong những điểm son trong bản hùng ca chống Mỹ của quân dân Phú Yên. Tỉnh ủy Phú Yên đặt mật danh kế hoạch giải thoát luật sư Nguyễn Hữu Thọ là kế hoạch “chị Nghĩa”, nghĩa là vì nghĩa cả phải giải thoát bằng được luật sư theo yêu cầu của Đảng và Bác Hồ. Và Luật sư Nguyễn Hữu Thọ đã chọn bí danh là Nghĩa để ghi nhớ một kỷ niệm sắt son trong đời hoạt động. Việc giải thoát luật sư Nguyễn Hữu Thọ – anh ba Nghĩa đã trở thành chiến công huyền thoại.


PHAN THANH

 


Tiêu đề: Hai bài học thời chiến
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 20 Tháng Bảy, 2010, 05:31:17 pm
Chiến tranh đã lùi xa hơn 30 năm, nhưng những bài học thực tế của nó vẫn còn nguyên giá trị đến hôm nay. Một ngày đầu năm, Đại tá Trần Văn Mười, nguyên Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh - năm 1968 là trợ lý tác chiến Tỉnh đội Phú Yên - nhớ lại…

BÀI HỌC THỨ NHẤT: DỄ TRĂM LẦN KHÔNG DÂN CŨNG CHỊU, KHÓ VẠN LẦN DÂN LIỆU CŨNG XONG


Đoàn văn công Phú Yên đến phục vụ Đại hội Đảng bộ tỉnh lần 1
Cuối năm 1967, sau khi phân tích tình hình ta, địch Bộ Chính trị quyết định đã đến lúc đưa cuộc chiến tranh cách mạng phát triển cao nhất bằng phương pháp tổng công kích, tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định. Chiến trường Phú Yên bấy giờ chỉ vỏn vẹn 2 tiểu đoàn cùng với lực lượng vũ trang huyện từ 1-2 trung đội. Trong khi binh lực địch có đến 2 tiểu đoàn bộ binh thuộc lữ dù 173, 1 tiểu đoàn pháo, 2 trung đoàn lính Nam Triều Tiên thuộc sư đoàn Bạch Mã và Mãnh Hổ; 1 trung đoàn quân ngụy, 25 đại đội bảo an, 8 đại đội biệt kích, 24 trung đội biệt kích, 54 tổng đoàn dân vệ, 4 đại đội công an và cảnh sát dã chiến. Cả về binh lực và hỏa lực, địch hơn ta gấp nhiều lần. Nhưng với tinh thần chiến đấu ngoan cường của chiến sĩ và dựa vào sức dân tiếp tế, che chở, trong chiến dịch đầu tiên T25 trong cuộc tổng tiến công mùa Xuân năm 1968 quân ta đã giành thắng lợi đáng kể. Chỉ trong vòng 1 tuần lễ từ 30-1 đến 5-2, ta đã có lúc làm chủ được nhiều mặt trận, đã loại khỏi vòng chiến đấu 1.114 tên địch; đã phá hủy một khối lượng lớn phương tiện chiến tranh của Mỹ – ngụy. Nhưng vì tương quan lực lượng, quân ta đành rút lui tiếp tục chuẩn bị cho chiến dịch đợt 2 mang bí số T26.

Đó là một chiến dịch khó khăn hơn bao giờ hết. Quân địch đã tăng cường phòng bị chặt chẽ, ta không thể hành quân đánh thẳng vào thị xã Tuy Hòa mà phải cử 1 tổ công tác đặc biệt trinh sát trước gồm: Tôi, tổ trưởng, trợ lý tác chiến, Thị đội trưởng Mười Hoan, Chính trị viên Nguyễn Út, Đại đội trưởng đặc công 202 Lê Trung Kiên và 2 chiến sĩ đặc công. Lợi dụng sự sơ hở của địch, tổ công tác đã đến được thôn Long Thủy (thuộc xã An Phú, TP Tuy Hòa bây giờ) thì trời sáng, chúng tôi đành phải vào nhà dân trú nhờ qua mắt kẻ địch, tiếp tục nắm tình hình địch trước khi mở màn chiến dịch đợt hai.

Nhà chị Nguyễn Thị Nga, bán hàng tạp hóa trong thôn là điểm trú chân. Biết quân giải phóng, chị Nga nhanh chóng đưa lên rầm nhà (ngày trước thường làm la phông nhà bằng đất trét, gọi là rầm nhà – PV) nhằm ngụy trang lính bảo an tuần tra. 8 giờ sáng bọn lính kéo đến. Cuộc đấu trí giữa cô bán hàng và bọn lính diễn ra nhưng chỉ đúng 1 câu hỏi và trả lời.
- Có Cộng sản trong nhà không? – bọn chúng hất hàm hỏi.
Chị Nga không chút ngần ngại lớn tiếng trả lời:
- Có! Mấy ổng ở trên rầm nhà ấy, mấy ông lên mà bắt.

Thấy thái độ tự tin, dứt khoát của chị Nga, bọn lính bảo an không còn nghi ngờ, sau đó tán tỉnh vài câu rồi đi luôn, trong khi chúng tôi lo đến thót tim và đã sẵn sàng phương án chiến đấu! Nhưng chúng cũng chưa tin hẳn. 3 giờ chiều chúng quay lại và hạch hỏi. Chị Nga vẫn bình tĩnh, trả lời như đùa:
- Hồi sáng nói có, mấy ông không bắt, bây giờ mấy ổng (tổ công tác của chúng tôi – PV) đi rồi!.

Nhờ vậy, tổ công tác đã vào được vòng trong, hoàn thành công tác chuẩn bị cho trận chiến.
Một bài học mà chúng tôi luôn tâm niệm: Phải biết dựa vào dân, được dân giúp sức thì việc gì cũng dễ. Đúng là “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”.


BÀI HỌC THỨ HAI: GIÁO DỤC PHẢI BẮT ĐẦU TỪ THỰC TẾ
Đánh! Tiếp tục đánh! Đó không còn là sự lựa chọn mà là mệnh lệnh.
Vì thế sau “Hội nghị Diên Hồng” dưới sự chủ trì kiên quyết của Tư lệnh mặt trận Lư Giang, mọi người vẫn quyết đánh. Dù biết rằng lực lượng ta yếu hơn nhiều so với sự phòng thủ dày đặc của địch. Hơn nữa, yếu tố bất ngờ, táo bạo cũng không còn, vậy mà đánh. Tất cả đều nhất tề, mỗi người đều xung phong nhận những phần việc cam go, nguy hiểm nhất.

Đêm ngày 3 rạng sáng 4-3 đợt tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 mở màn. Quân ta triển khai 3 mũi tiến công. Phía xóm Chùa tiểu đoàn 12 tiến công vào Ty cảnh sát, mũi thứ hai gồm tiểu đoàn 85 và đại đội đặc công 202 tiến đánh Chi khu 47, phát triển lên Trung tâm Tỉnh đường. Trung đoàn 10 đánh thọc xuống và chặn đường tháo chạy của địch từ hướng xóm Lẫm (Hòa Trị). Trong chiến dịch lần này, ta bị tổn thất nặng nề. Nhiều đồng chí hy sinh, trong đó có đại đội trưởng Lê Trung Kiên đã ngã xuống khi băng lên dẫn đầu đại đội vượt rào.

Đại tá Trần Văn Mười dừng lại trong xúc động, rồi mới tiếp tục câu chuyện chiến đấu oai hùng với hình ảnh một chiến sĩ tân binh người Hải Phòng mà ông cũng không kịp biết tên.

12 giờ ngày 4-3 thì hầm Chỉ huy mặt trận tiền phương bị công phá dữ dội. Trước tình hình nguy cấp một chiến sĩ mới đã liều chết bám trụ lại. Cùng với thủ pháo và lựu đạn, anh đã chiến đấu tiêu diệt được xe tăng địch. Đồng chí Trần Tất Lưu, Tỉnh đội trưởng, Nguyễn Khánh chính trị viên và rất nhiều đồng chí hy sinh, trong đó có người chiến sĩ trẻ kia không hề tiếc nuối cuộc sống của riêng mình!

Không ai lý giải nổi vì sao lúc ấy chúng tôi đã chiến đấu ngoan cường mà không một chút phân vân, toan tính. Thời ấy những người lính chúng tôi cũng có được học hành nhiều gì đâu, sự giáo dục lý tưởng có chi bài bản như bây giờ? Nhưng khi đứng trước kẻ thù, trước quyền lợi chung của đất nước, dân tộc, không ai mảy may toan tính, nghĩ đến lợi lộc cho riêng mình. Và tất cả đều trưởng thành qua sự tôi rèn của chiến tranh khắc nghiệt ấy.

Còn hôm nay thì sao? Tôi nghĩ giáo dục lý tưởng, nhân cách cho thế hệ trẻ hôm nay cũng phải bắt đầu từ thực tế của truyền thống và hiện tại thôi!

THẾ NHƠN

(ghi chép theo lời kể của Đại tá Trần Văn Mười)


Tiêu đề: Phú Mỡ vùng đất nghĩa tình
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 20 Tháng Bảy, 2010, 05:33:36 pm
Nằm ở phía Tây Đồng Xuân, cách huyện lỵ 50km, xã vùng cao Phú Mỡ có các buôn Phú Giang, Phú Tiến, Phú Lợi, Phú Đồng và Phú Hải. Dân số Phú Mỡ hiện có khoảng 3000 người, chủ yếu dân tộc Ba Na, còn lại Chăm Hroi, Giá Rai. Phú Mỡ là một trong những nơi có phong trào cách mạng sớm nhất tỉnh, là căn cứ địa cách mạng, căn cứ hậu cần của chiến tranh nhân dân trong các thời kỳ kháng chiến, là vùng đất ấm áp nghĩa đảng tình dân, vừa mới được nhà nước phong tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Trong 80 năm đô hộ, thực dân Pháp vẫn không chiếm được trái tim của đồng bào xã Phú Mỡ. Nhân dân trong xã đã đoàn kết nhau lại, chọn người có uy tín, đứng ra tự quản lý buôn làng. Cho đến ngày cách mạng tháng tám thành công, bọn thực dân Pháp và tay sai ở La Hai (Phú Yên) vàVân Cảnh (Bình Định) không dám đặt chân lên vùng đất này. Trong kháng chiến chống Mỹ, đồng bào các dân tộc trong dạ một lòng một dạ theo đảng, theo cách Bác Hồ làm cách mạng, là nơi có phong trào tự tạo vũ khí thô sơ đánh giặc có hiệu quả. Dù địch có đưa quân càn quét, khủng bố, dồn dân lập ấp nhiều lần nhưng đồng bào ở đây vẫn cương quyết đấu tranh bám trụ, giữ thế hợp pháp nuôi nấng, che dấu cán bộ, giữ vững đường dây liên lạc bảo vệ an toàn cho cơ quan đầu não của tỉnh.

 (http://www.baophuyen.com.vn/Portals/0/ImgNews/05.11.24-phu-mo.jpg)
Ảnh: Dương Thanh Xuân

 

Những người lớn tuổi ở Phú Mỡ bây giờ còn nhớ chuyện chủ làng Ma Phôm đã mưu trí và anh dũng thoát hiểm, giữ vững được bí mật của cách mạng. Năm ấy, khi cách mạng còn ở trong thời kỳ cực kỳ đen tối, một hôm, bọn địch càn lên Phú Mỡ. Chúng bắt Ma Phôm dẫn đi tìm dấu vết cán bộ, cụ không chịu. Mãi đến khi chúng rút súng dí vào đầu, Ma Phôm mới giả vờ chịu và suy nghĩ  tìm kế thoát. Khi đi ra khỏi rừng, chọn nơi vắng vẻ, thừa lúc bọn lính sơ ý, Ma Phôm rút mũi chông tre mới vót, đâm vào chân mình. Máu tuôn lai láng, ông kêu la nên bọn lính không thể ép Ma Phôm để làm người dẫn đường để tiếp tục thực hiện cuộc càn quét được nữa. Khi nghị quyết 15 của Trung ương Đảng ra đời vào cuối năm 1959, lực lượng cách mạng bắt đầu phát triển. Cán bộ và bộ đội miền Bắc lần lượt vào Nam, tạm dừng chân tại Phú Mỡ – Thồ Lồ. Thanh niên đồng bằng thoát ly lên căn cứ cũng tạm dừng chân nơi đây, bởi vì lúc này, chỉ có Thồ Lồ – Phú Mỡ là vùng ta làm chủ, còn các nơi khác chưa giải phóng , nhân dân Phú Mỡ lại đùm bọc, cưu mang, nuôi dưỡng cán bộ chiến sĩ, nuôi dưỡng các trạm giao liên Ma Dơi – Ma Dú, đảm bảo khách đi lại an tòan, nuôi dưỡng lực lượng vũ trang đầu tiên của tỉnh (1 đại đội). Từ cuối năm 1959 đến tháng 12 – 1960 giặc liên tục càn đi quét lại nhưng không làm lay chuyển được ý chí kiên cường, tấm lòng trung kiên với đảng của bà con. Một lần, tên Thảo quận trưởng Vân Canh  cùng một trung đoàn lính cộng hòa kéo lên, bắt được hai đảng viên cộng sản Ma Ngoe, Ma Hó.

Hai anh bị nhận nước, bị uống nước xà phòng và chịu nhiều nhục hình dã man khác nhưng vẫn không hé môi khai báo một lời. Nhờ làm tốt công tác binh vận, hai anh được một người lính cởi trói, lại trở về với đảng, với dân, tiếp tục con đường đấu tranh giải phóng. Tháng 10-1960, các buôn làng ở Phú Mỡ thành lập đơn vị vũ trang, các đội công tác, diệt nhiều toán biệt kích ác ôn, phối hợp với các đơn vị bạn đánh vào ấp chiến lược Phú Giang – Cây Vừng. Chỉ trong không đầy nữa giờ chiến đấu khu đồn sụp đổ.

Tên Hưng, đại diện trưởng mất tích, tên phó đại diệ xã bị một lưỡi dao găm vào bụng, ngã gục tại chổ. Một trung đội dân vệ của địch bị đánh tan tành. Phú Mỡ xây dựng chính quyền tự quản ở 5 buôn, mở ra một vùng rộng lớn phía Tây Bắc Phú Yên.

Hàng trăm thanh niên trong xã lên đường nhập ngũ, hàng trăm tấn sắn, lúa, hàng trăm con heo, bò của đồng bào được huy động ủng hộ cách mạng. Ngày 19-2-1965, tại Suối Gấm, dân quân Phú Mỡ cản không cho địch lùa dân, diệt 7 tên lính, thu 5 súng. Ngày 24-6-1965, tại làng Xí, du kích cũng chống càn, làm chết 4 tên Mĩ, khiến địch co cụm lại, không dám lùng sục nữa. Ngày 8-6-1970, tại Cây Vừng, dân quân xã Phú Mỡ lại diệt 7 tên biệt kích, thu 6 cây súng chiến lợi phẩm. Thế là từ đó, địch không dám héo lánh tới Phú Mỡ nữa …

Như thế, trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ và bọn tay sai, quân và dân Phú Mỡ đã đánh tổng số 273 trận, trong đó, 133 trận phối hợp với bộ đội chủ lực, 140 trận độc lập tác chiến, diệt và làm bị thương 972 tên, thu 102 súng các loại. Đồng thời, bắn cháy 2 chiếc máy bay trực thăng đổ độ, đấu tranh chính trị 12 lần địch dồn dân xuống Vân Cảnh, Xuân Lãnh, Xuân Phước, đấu tranh chính trị kết hợp với vũ trang diệt 15 tên ác ổntong xã và các nơi khác đến. Quân và dân Phú Mỡ đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng 148 Huân chương kháng chiến hạng nhất, 262 Huân chương giải phóng hạng 2 và 3, 125 Huân chương kháng chiến hạng 3 và nhiều phần thưởng cao quý khác. Mới đây, kỷ niệm 55 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, Phú Mỡ lại được phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân.

Từ sau ngỳa quê hương giải phóng, Đảng bộ và quân dân xã Phú Mỡ tiếp tục phát huy tốt truyền thống anh hùnh trong kháng chiến. Bí thư xã Ma Dưng cho biết: Nhiều năm liền, Đảng bộ xã được công nhận là đơn vị trong sạch, vững mạnh. Qua các nhiệm kỳ HĐND, chính quyền xã được củng cố, đội ngũ cán bộ cố gắng nâng cao năng lực quản lý, các đoàn thể luôn giữ vững tổ chức... để xây dựng buôn làng ngày càng phát triển, cải thiện, nâng cao đời sống nhân dân. Về kinh tế, toàn xã đã có hàng chục nhà xây mái ngói khang trang, 15 máy ép mía, hơn 10 máy xay xát gạo và nhiều phương tiện sinh hoạt có giá trị khác. Về văn hóa xã hội, xã có trường tiểu học và các phân trường tại các điểm dân cư, hàng ngàn trẻ em biết đọc biết viết, công tác phổ cập tiểu học, chống nạn mù chữ đã được triển khai tích cực. Hiện nay, khi lưới điện quốc gia được kéo về, nhiều hộ trong xã đã có điện thắp sáng mở ra nhiều triển vọng phát triển kinh tế – xã hội của Phú Mỡ.

Chương trình 135 của Chính phủ đầu tư cho các xã đặc biệt khó khăn đang được triển khai sẽ tạo điều kiện thuận lợi để Phú Mỡ đẩy mạnh phát triển sản xuất, xóa đóa giảm nghèo, ngày càng nâng cao đời sống nhiều mặt cho nhân dân. Cũng theo Ma Dưng, tuy đất nước đã hòa bình nhưng các thế kực thù địch vẫn chưa thôi âm mưu, kế hoạch chống phá hòng xóa bỏ sự nghiệp cách mạng. Vì vậy, chính quyền xã thường xuyên phát động nhân dân xây dựng vững chắc phong trào bảo vệ an ninh trật tự buôn làng, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân ổn định. Xã đã thành lập một đại đội dân quân tự vệ có một trung đội cơ động, lực lượng này vừa sản xuất, vừa luyện tậpthường xuyên để sẵn sàng chiến đấu. Chính lựuc lượng này đã kết hợp với dân quân tự vệ các xã trong huyện, với công an, huyện đội Đồng Xuân và huyện Vân Cảnh truy quét bọn phản động FULRO, bắt được 5 tên, thu 5 súng, liên tục mở các đợt truy quét làm trong sạch ở địa bàn ở vùng giáp ranh với các tỉnh Bình Định, Gia Lai. Một số tội phạm nguy hiểm trốn trại cải tạo A20 Xuân Phước mò lên Phú Mỡ đã bị dân quân xã mưu trí, dũng cảm tóm gọn giao lại cho trại, giữ vững sự bình yên cho cuộc sống…

Phú Mỡ đất anh hùng ở miền Tây Bắc Phú Yên luôn sáng ngời tình dân nghĩa đảng hôm qua, hôm nay và mai sau.

 

THẠCH BI SƠN


Tiêu đề: Huyền thoại mẹ Hòa Đồng
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 20 Tháng Bảy, 2010, 05:37:14 pm
Có những câu chuyện như huyền thoại xảy ra trong thời đại nguyên tử. Có những thứ vô hình còn mạnh hơn cả vũ khí tối tân. Có người phụ nữ tay không đã đẩy lùi cả đoàn xe tăng địch. Đó là bà mẹ Lê Thị Kính, 75 tuổi, ở xã Hòa Đồng (huyện Tây Hòa).

Những năm đầu thập niên 60, chiến trường Tuy Hòa 1 bước vào giai đoạn quyết liệt. Quân đội ngụy được Mỹ trang bị vũ khí tận răng, xe tăng M.113 hống hách tung hoành như không biết sợ ai trên đời. Lúc bấy giờ bộ đội chưa có vũ khí chống tăng, ai cũng lo lắng: Làm sao cản được M.113 để bớt gây tổn thất cho cách mạng?

Giữa lúc đó có một tin vui làm nức lòng chiến sĩ: các mẹ, các chị ở Hòa Đồng đã dùng hình thức đấu tranh chính trị chặn đường chi viện bằng xe tăng của địch, tạo điều kiện cho bộ đội tiêu diệt giặc ở Hòa Mỹ.

Sáng ngày 28-7-1964, một đoàn xe tăng 7 chiếc khởi hành từ thị trấn Phú Lâm. Vì đường sá đã bị du kích đào phá nên chúng lội nước băng qua cánh đồng thôn Phú Phong, bánh xích hung hãn chà xéo những đám lúa gòn tươi tốt. Lập tức, nhân dân kéo ra phản đối, đi đầu là một bà cụ chống gậy, mái tóc bạc phơ.

Chiếc xe đi đầu vẫn giữ nguyên tốc độ xông thẳng tới cụ trong khi cụ vẫn đứng yên như một pho tượng. Bánh xích đã kịp ngừng khi vừa chạm vào vạt áo của bà. Một tên lính tức giận quát: “Bà muốn chết hay sao hả? Việt Cộng biểu bà chận xe tụi tui phải không?”. Bà nói: “Không có Việt Cộng nào biểu hết. Tại sao mấy ông cho xe giậm nát lúa của đồng bào?”. Tên chỉ huy phân bua: “Mong bà con thông cảm. Tụi tui không còn cách nào khác là phải đi qua đường này. Việt Cộng đánh đàng mình dữ quá nên tụi tui phải tiếp viện gấp. Mong bà con né ra cho”.

Từ lâu, cụ Kính đã căm ghét bọn này, lại nghĩ thân mình đã già, gần đất xa trời, thôi thà chết để đem lại lợi ích cho xóm làng và cách mạng. Thế là cụ nằm dài trước mũi xe tăng. Tên chỉ huy điện về xin ý kiến cấp trên. Người ta thấy khuôn mặt hắn tái nhợt. Nếu không hoàn thành nhiệm vụ thì rất có thể bị cách chức, mà muốn hoàn thành nhiệm vụ thì ít nhất một mạng người phải ra đi.

Hắn đưa tay sờ khẩu súng col nhưng chợt lạnh người khi nghĩ tới đoàn biểu tình rầm rộ khiêng xác người chết xuống quận lỵ, tỉnh lỵ đòi bồi thường nhân mạng và ra yêu sách này nọ. Hắn đành làm lành, đỡ bà cụ dậy và năn nỉ: “Xin lỗi bác, tụi tui không muốn làm trái ý bác nhưng cũng không dám cãi lời cấp trên. Mong bác né đường cho tụi tui đi rồi chánh quyền sẽ cảm ơn bác”. Mẹ vẫn dứt khoát không nhượng bộ: “Xe cộ thì có đường có sá, mấy ông lên đó mà đi. Còn đây là ruộng lúa do đồng bào khổ cực làm ra, không ai có quyền phá. Các người có giỏi thì đạp lên thân con già này mà đi đi!”.

Tên chỉ huy hầm hầm bước lên xe. Chiếc xe tăng gào rú dữ dội và nhích tới. Mọi người nín thở lo lắng cho vận mệnh bà cụ, nhưng cụ vẫn không chịu lùi. Không thể lay chuyển được ý chí sắt đá của bà cụ, đoàn xe tăng đành thảm hại tháo lui. Có lẽ đây là lần đầu tiên những con mãnh hổ này nếm mùi thất bại.

Hành động dũng cảm của cụ Lê Thị Kính đã mang một ý nghĩa rất lớn. Nó dấy lên phong trào đấu tranh chính trị của đội quân tóc dài các xã miền Tây Tuy Hòa. “Thành tích đó được biểu dương phát huy. Chỉ trong vòng một tháng từ 28-7 đến 29-8-1964, đồng bào 3 xã Hòa Đồng, Hòa Mỹ, Hòa Thịnh đã 28 lần chận xe M.113 trong 11 trận (…).

Gương đấu tranh của đồng bào xã Hòa Đồng và của huyện Tuy Hòa 1 chứng minh tính đúng đắn, sáng tạo các chủ trương của Tỉnh ủy tại phiên họp Tỉnh ủy mở rộng vào tháng 5-1964” (Lịch sử Đảng bộ tỉnh Phú Khánh thời chống Mỹ cứu nước, trang 76). “Chiến công của mẹ gần như một câu chuyện thần thoại truyền đi trong nhân dân.
Nó đã trở thành một tấm gương sáng để mọi người học tập” (Tuy Hòa bất khất, tập 1, trang 15). Hình tượng mẹ Hòa Đồng được nhắc đến trong hầu hết các cuốn sách nói về lịch sử cách mạng tỉnh Phú Yên, được thể hiện trong thơ văn, điêu khắc, hội họa. Trong “Bài ca Phú Yên” của nhạc sĩ Văn Chừng có đoạn:


Qua bao năm quân dân chung sức chung lòng

Bừng lên ánh đuốc thắp sáng những đêm đồng khởi từ Hòa Thịnh

Mẹ Hòa Đồng chặn xe tăng, góp phần nên chiến thắng

Quân ta nao nức tiến về giải phóng quê hương.

 

PHẠM NGỌC HIỀN


Tiêu đề: Gậy ông đập lưng ông
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 20 Tháng Bảy, 2010, 05:44:08 pm
Cuối tháng 2/1956, địch ráo riết chuẩn bị cho cuộc bầu cử quốc hội bù nhìn. Anh Sáu được Huyện ủy phân công cùng với các đồng chí Đinh Từ, Phan Ngọc Giáo, Trương Bá Lánh công tác các xã Hòa Mỹ, Hòa Đồng, Hòa Phong và Hòa Thịnh để xây dựng cơ sở và vận động nhân dân chống trò hề bầu cử bịp bợm của địch.

Do một vài cơ sở Hòa Mỹ bị địch bắt nên bọn địch ráo riết truy lùng để bắt anh.
Những tháng cuối năm 1955, đồng chí Trần Suyền, Phó Bí thư Tỉnh ủy Phú Yên kiểm tra tình hình Huyện ủy Tuy Hòa. Trước khi trở về tỉnh, đồng chí triệu tập cuộc họp Thường vụ Huyện ủy vào cuối tháng 3/1956 để triển khai công tác. Trên đường về thôn Phú Khánh xã Hòa Tân để họp Thường vụ, khi đến thôn Quảng Phú, xã Hòa Mỹ thì trời tối. Thấy bọn lính gác canh phòng cẩn mật, anh tránh vào một nhà cơ sở bên đường nhưng chị cơ sở đi vắng. Thấy người lạ, bọn lính ập đến hỏi giấy, anh Sáu thản nhiên đưa thẻ kiểm tra  cho chúng xem. Vì khả nghi nên chúng giữ anh lại và báo khẩn cấp về xã. Tên Nguyễn Y Chi, Trưởng ban công an xã Hòa Mỹ, là một tên ác ôn khét tiếng, trực tiếp dẫn một trung đội địa phương quân đến áp giải anh về trụ sở xã. Hắn sai lính cởi trói, nói vài câu an ủi để lấy lòng rồi đem bia và thuốc thơm ra mời. Anh Sáu vẫn thản nhiên trước những lời mời mọc của hắn, lắc đầu và nói:

- Tôi không quen uống bia, còn thuốc lá tôi có.

Vừa nói, anh Sáu vừa móc túi lấy gói thuốc ra quấn hút. Tên Chi gọi bọn tay chân dẫn mấy người cơ sở vào gọi là để nhận mặt. Xong hắn đuổi ra ngoài rồi kể lể nào là trước đây hắn cũng là người kháng chiến cũ nhưng hắn đã thấy lỗi thời, nào là hắn đã tìm được cho mình một lối đi thích hợp… Mặc cho hắn lải nhải, anh Sáu ngồi ung dung hút thuốc, nhìn những bóng khói tan dần trong khoảng không và suy nghĩ kế hoạch đối phó với tên ác ôn khét tiếng cáo già.

Bỗng anh quay phắt lại nhìn thẳng vào mặt tên Chi với cái nhìn sắc lạnh và buông giọng mỉa mai:

- Lỗi thời hay không là do suy nghĩ của mỗi người. Các ông làm việc cho quốc gia thì các ông nói cách mạng là lỗi thời. Còn chúng tôi, những người cách mạng đấu tranh cho hòa bình thống nhất, vì lợi ích của nhân dân, chúng tôi cho việc làm của chúng tôi là đúng.

Mặt tên Chi đỏ bừng như vừa bị một cái tát. Mạch máu của hai thái dương hắn co giật liên hồi, hắn đang kiềm chế một cơn thịnh nộ. Không tranh cãi nữa, Chi chuyển sang làm lành, giả vờ rối rít cảm ơn anh Sáu vì đã có lần tha tội chết cho nó. Nhân đó, anh Sáu giải thích cho hắn nghe chính sách của Mặt trận đối với những người đang làm việc trong chính quyền Sài Gòn. Vừa nghe được vài câu, tên Chi hằn học phản kích những điều anh Sáu vừa nói. Hắn lấy tờ truyền đơn của Mặt trận ra đọc và nói bô bô:

- Những điều  nói trong tờ truyền đơn của các ông là bịp bợm, là phi lý. Các ông định gây hoang mang, xúi giục dân chúng nổi lên làm loạn ở cái đất này chứ gì?

- Không! Chính các ông mới là những người làm loạn vì các ông bắt bớ, chém giết, trả thù những người kháng chiến cũ, những người yêu nước, gây hoang mang trong nhân dân. Còn trong tờ truyền đơn của Mặt trận kêu gọi đồng bào chống lại trò hề bịp bợm  của các ông, vì bầu cử là âm mưu chia cắt lâu dài đất nước. Nguyện vọng của nhân dân là muốn sớm có hòa bình, thống nhất nước nhà. Việc các ông làm mới thật sự phi lý và bịp bợm. Nhưng thôi! Chỉ có tôi với ông tranh luận mấy ngày cũng không xong. Muốn biết ai đúng, ai sai thì phải có đồng bào để họ nhận xét. Nếu ông đồng ý ta nên họp nhân dân lại đọc cho họ nghe.

Tên Chi hí hửng như vớ được của rơi. Hắn chấp nhận ngay ý kiến của anh Sáu, cho loan báo mời đồng bào đến. Hơn bốn trăm bà con xã Hòa Mỹ và các xã Hòa Thịnh, Hòa Đồng, Hòa Phong đi chợ Phú Nhiêu kéo đến đứng vây quanh hai cái bàn kê giữa sân trụ sở, mỗi cái cách nhau chừng vài mét. Anh Sáu và tên Chi mỗi người đứng trên một cái bàn cao. Để chiếm thế thượng phong, tên Chi huênh hoang nói trước:

- Thưa đồng bào! Quốc gia bắt được anh Sáu tối hôm qua, anh Sáu sẽ nói chuyện với đồng bào. Còn đây là tờ truyền đơn của Việt cộng - Hắn vừa nói vừa cầm tờ truyền đơn giơ lên cao cho mọi người thấy - Tôi sẽ đọc để đồng bào nghe chung rồi cho ý kiến.

Hắn đọc chậm rãi từ đầu đến cuối, rồi giải thích theo kiểu của hắn. Sau khi giải thích xuyên tạc tờ truyền đơn, hắn giới thiệu anh Sáu phát biểu. Trước bà con của mình, anh Sáu bình tĩnh diễn đạt đầy đủ ý mình cần nói:

- Kính thưa toàn thể đồng bào, thực hiện nghiêm chỉnh Hiệp định Giơ-ne-vơ, cán bộ, bộ đội ta đã tập kết ra Bắc. Ngày 20/7 sắp đến, hai miền sẽ tổ chức hiệp thương tổng tuyển cử tự do trong cả nước để thống nhất nước nhà. Hôm nay may mắn được gặp đồng bào, tôi xin gửi lời thăm hỏi sức khỏe. Nhân có tờ truyền đơn của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam gửi cho đồng bào mà ông Chi vừa đọc, tôi xin giải thích cho đồng bào rõ.

Thứ nhất, anh vạch trần âm mưu của chính quyền miền Nam cố tình chia cắt lâu dài đất nước, không nghiêm chỉnh chấp hành những điều khoản đã ký kết, không đảm bảo các quyền tự do dân chủ, ngăn cấm việc đi lại và thư tín giữa hai miền, giết hại trả thù những người kháng chiến cũ.

Họ từ chối việc hiệp thương tổng tuyển cử tự do để thống nhất hai miền. Đây là nguyện vọng tha thiết nhất của đồng bào, của anh em binh lính và của những người đang làm việc trong chính quyền Sài Gòn. Đến nay họ lại bày trò bầu ra cái gọi là quốc hội ở miền Nam. Để làm gì? Đồng bào nghĩ xem có phải là cố tình chia cắt lâu dài đất nước ta không?

Anh giải thích điểm thứ nhất, đến điểm thứ hai rồi thứ ba. Nhân dân lắng nghe từng câu, từng chữ, còn tên Chi mặt tái xanh, chỉ có hai tai và hai thái dương là đỏ ửng, không hiểu vì xấu hổ hay giận dữ. Hắn giục mấy tên lính đến kéo anh Sáu xuống. Mấy cụ già nói với bọn lính: “Để ổng nói cho chúng tôi nghe chứ sao các ông lại kéo xuống. Ổng giải thích rõ ràng và hay lắm”. Nhân dân công khai bàn luận những điều anh Sáu vừa giải thích. Rồi họ nhích vào nhau làm hàng rào cản đường, không cho mấy tên lính kéo anh Sáu xuống, vì cuộc đấu lý công khai của hắn đã phản tác dụng, lòng dân vẫn hướng về cách mạng.  Cuối cùng tên Chi phải đích thân mời anh xuống.

Dựa vào súng đạn, uy quyền, tên Chi tưởng đâu là cơ hội tốt để đánh đòn tâm lý chiến vào lòng dân. Ngờ đâu hắn bị một vố “hồi mã thương” đau điếng. Chính hắn và đồng bọn đứng ra tổ chức một cuộc mít tinh cho cộng sản. Thật là một trận đánh không có tiếng súng đã diễn ra ác liệt mà phần thắng thuộc về những đảng viên cộng sản đang tồn tại giữa lòng nhân dân. Đến ngày nay nhân dân xã Hòa Mỹ vẫn còn nhắc đến anh Sáu.

Địch cản không cho anh Sáu nói nữa, nhưng làm sao ngăn được ánh sáng của chân lý cách mạng đang thấm sâu vào lòng người như nắng ấm tháng ba chan hòa trên đồng ruộng quê nhà quang hợp cho những mùa vàng trĩu hạt.

Bị thất bại chua cay, Nguyễn Y Chi hiện nguyên hình là tên ác ôn khát máu. Hắn chuyển anh Sáu lên Ty Công an ngụy Phú Yên. Đồng bọn hắn đã giở trò trả thù anh  hèn hạ, dã man với những trận đòn thù chết đi sống lại, nhưng cũng chẳng khai thác được gì! Cuối cùng, Ty Công an ngụy Phú Yên kết luận anh Sáu là một trong những người cộng sản ngoan cố, phải lưu đày ra nhà tù Côn Đảo.

 Anh Sáu còn có tên là anh Mười, tên thật là Trần Quang Hiệu, quê xã Hòa Xuân, huyện Tuy Hòa, là một trong những Huyện ủy viên đầu tiên của Tuy Hòa trong những năm đầu của thời kỳ chống Mỹ cứu nước.


PHAN THANH ghi theo lời kể của đồng chí TRẦN QUANG HIỆU


Tiêu đề: Hai chiến sĩ Điện Biên Phủ quê Phước Hậu
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 20 Tháng Bảy, 2010, 08:55:59 pm
Trong chiến dịch Đông - Xuân 1953-1954, với tinh thần quyết thắng, quân và dân Phú Yên đã đập tan một mũi tiến công chiến lược của địch, làm thất bại âm mưu đánh chiếm vùng tự do các tỉnh Liên khu 5, đẩy địch vào thế bị sa lầy ở Tuy Hòa. Ít ai biết rằng cách xa Điện Biên Phủ hơn 1.500 cây số, ở Phước Hậu - thị xã Tuy Hòa có hai chiến sĩ Điện Biên Phủ, một trực tiếp phục vụ chiến đấu và một trực tiếp chiến đấu tại mặt trận. Đó là đồng chí Nguyễn Chấn - nguyên Bí thư Tỉnh ủy Phú Yên và đồng chí Lê Công Hậu, đại úy pháo binh.

 
(http://www.baophuyen.com.vn/Portals/0/2008/05/29-31/hoa080530.jpg)
Trong vườn hoa xuân ở làng Phước Hậu (TP Tuy Hòa) - Ảnh: D.T.XUÂN

1. Đồng chí Nguyễn Chấn, Bí thư Tỉnh ủy Phú Yên, năm 1951 được Đảng điều động đi học trường Mác-Lênin ở Trung Quốc. Sau khi học xong, đồng chí về nước, được Trung ương điều động phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ, làm đoàn phó phụ trách một công đoạn vận chuyển lương thực, vũ khí phục vụ cho chiến dịch Điện Biên Phủ. Năm ấy, đồng chí tròn 40 tuổi. Nhiều đồng chí cùng hoạt động đều có nhận xét là đồng chí Nguyễn Chấn rất dũng cảm và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ phục vụ cho bộ đội chiến đấu.

Lịch sử lại lặp lại, năm 1974, khi tròn 60 tuổi, đồng chí Nguyễn Chấn lại được Hội đồng chi viện Trung ương giao nhiệm vụ tổ chức vận chuyển lương thực, vũ khí chi viện cho miền Nam qua tuyến lửa Liên khu 4, đưa sức người sức của của miền Bắc xã hội chủ nghĩa vào phục vụ cho bộ đội chủ lực của ta chiến đấu, giải phóng hoàn toàn miền Nam mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử xuân 1975.

Năm 1968, theo ý kiến của đồng chí Võ Chí Công, Bí thư Khu ủy khu 5, tôi ra Hà Nội xin đồng chí Nguyễn Chấn về phụ trách giao thông vận tải của khu 5. Biết Khu ủy 5 xin vào chiến trường B, đồng chí Nguyễn Chấn nhanh chóng nhận trang bị để đi B. Trước khi đi, đồng chí đến chào đồng chí Phạm Văn Đồng - người anh cả của khu 5 mà đồng chí vô cùng quý mến, thì đồng chí Phạm Văn Đồng giữ lại và nói: “Đồng chí Nguyễn Chấn là một cán bộ giỏi, có năng lực tổ chức thực hiện, để Trung ương sử dụng có lợi hơn ở địa phương”. Do vậy, mong muốn về lại miền Nam, về lại quê hương Phú Yên mà đồng chí Nguyễn Chấn ấp ủ từ lâu không được thực hiện.

Sau ngày giải phóng miền Nam năm 1975, đồng chí về hưu ở nhà số 20 Tô Hiến Thành, TP Nha Trang tỉnh Khánh Hòa. Đầu năm 1985, đồng chí lâm bệnh nặng, vào nằm ở bệnh viện Nha Trang. Đồng chí cho người gọi tôi - người học trò mà đồng chí trực tiếp dạy chữ, dạy làm cách mạng trong Cách mạng tháng Tám, vào bệnh viện. Tôi không thể nào quên cái buổi chiều đầy u buồn ấy, đồng chí ôm tôi và khóc sướt mướt. Đồng chí Nguyễn Chấn tâm sự rằng “rất đau khổ về tinh thần” vì Đảng ở Bộ Giao thông - Vận tải hiểu sai đồng chí, đồng chí bị oan, không được công nhận là cán bộ cũ, hoạt động trước Cách mạng tháng Tám. Đêm ấy sau khi ôm ghì tôi vào lòng, đồng chí trút hơi thở cuối cùng ở bệnh viện trong sự trìu mến tiếc thương của nhân dân và Đảng bộ Phú Yên!

2. Đồng chí Lê Công Hậu, đại úy pháo binh, nguyên học sinh trường trung học Lương Văn Chánh. Năm 1949, đồng chí xung phong nhập ngũ. Do có trình độ văn hóa khá và có tinh thần ham học tập, đồng chí  được Quân khu 5 chọn đi học pháo binh ở Trung Quốc. Năm 1954, khi về nước, đồng chí Hậu là trung úy pháo binh phụ trách một khẩu đội pháo 105 ly, tham gia việc “kéo pháo vào và kéo pháo ra”, đã nã hàng trăm viên pháo 105 ly vào đầu quân địch ở Điện Biên Phủ. Năm 1967, binh chủng pháo binh điều động đồng chí tăng cường cho Quân khu 5. Đồng chí chia tay người yêu là cô giáo Dung, người Hà Nội, hẹn sẽ đón cô về Phước Hậu, thị xã Tuy Hòa sau ngày giải phóng. Nhưng mơ ước ấy mãi mãi không thành hiện thực. Trên đường hành quân vào đến địa phận tỉnh Gia Lai, đồng chí hy sinh!

Đồng chí Lê Công Hậu là con một gia đình có 6 người con, 3 anh em trai và 3 chị em gái. Trong đó, có đến 3 anh em trai và 1 em gái hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Mẹ là bà Huỳnh Thị Bân, được Nhà nước phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Nhưng điều day dứt của gia đình là cho đến nay, thi hài đồng chí Lê Công Hậu ở Gia Lai và thi hài người em ruột hy sinh ở Phú Quốc (tỉnh Kiên Giang) vẫn chưa tìm được.


HUỲNH TRÚC

Nguyên Phó Bí thư Tỉnh ủy Phú Yên


Tiêu đề: Chuyện chưa kể về nữ tướng Nguyễn Thị Định và những nữ du kích Phường 6
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 20 Tháng Bảy, 2010, 08:57:18 pm
Lâu nay, khi nói đến Đường Hồ Chí Minh trên biển, người ta thường nghĩ đến Vũng Rô- nơi cập bến của những chuyến tàu chở vũ khí từ Bắc vào Nam. Ít người biết đến một điểm trung chuyển vũ khí vào Nam ngay từ những ngày sau Cách mạng tháng 8/1945 tại Phường 6 (TP Tuy Hòa). Tại đây, nữ tướng Nguyễn Thị Định (cô Ba Định) đã từng hoạt động một thời gian. Góp công lớn trong chuyến vận chuyển vũ khí vào Nam hơn 60 năm trước là những nữ du kích phường 6. Những chuyện chưa biết về nữ tướng Nguyễn Thị Định và các nữ du kích phường 6 ngày ấy, giờ được những cựu chiến binh ở tuổi xưa nay hiếm kể lại.

(http://www.baophuyen.com.vn/Portals/0/2008/03/21-22/080321-tu-lieu-1.jpg)

Nữ tướng Nguyễn Thị Định về thăm điểm xuất phát tàu vận chuyển vũ khí về Nam cuối năm 1946 tại cửa sông Đà Rằng (Phường 6 – TX Tuy Hòa) năm 1982 – Ảnh: TRẦN KHẢ QUANG

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam vừa giành được độc lập, các cường quốc thực dân lấy danh nghĩa giải giáp quân Nhật ồ ạt kéo vào nước ta, âm mưu bóp chết chính quyền cách mạng non trẻ. Trong khi nhân dân miền Bắc đấu tranh với 20 vạn quân Tàu Tưởng để bảo vệ chính quyền cách mạng, thì nhân dân miền Nam cũng đứng lên đấu tranh chống lại sự xâm lược của thực dân Pháp.

Trước tình hình đó, ngày 25/10/1945, Xứ ủy Nam kỳ họp mở rộng đề ra những giải pháp cấp bách cho cách mạng miền Nam: Quyết định thành lập Ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam và hệ thống các ủy ban kháng chiến từ cơ sở trở lên; Tổ chức xây dựng và chấn chỉnh lại lực lượng vũ trang các khu và dân quân du kích địa phương; Thực hiện chiến tranh nhân dân, tiêu hao lực lượng địch, bao vây, chặn từng bước tiến của quân địch.

Thực hiện sự chỉ đạo theo tinh thần của cuộc họp trên, toàn thể nhân dân Nam Bộ đã tổ chức lực lượng và trang bị vũ khí để đánh địch. Đầu năm 1946, một đoàn cán bộ của các tỉnh phía Nam, trong đó có bà Nguyễn Thị Định (sau này là Thiếu tướng Phó Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Nước CHXHCN Việt Nam) dùng thuyền vượt biển ra miền Trung, sau đó tiếp tục đi bằng tàu hỏa ra miền Bắc gặp Bác Hồ và Chính phủ  xin chi viện vũ khí cho chiến trường miền Nam. Sau khi làm việc, Trung ương đồng ý chi viện vũ khí và cho phép đoàn của bà Nguyễn Thị Định nhận vũ khí tại Quảng Ngãi rồi vận chuyển bằng tàu lửa vào Phú Yên, để từ đó tiếp tục đi bằng đường biển vào Nam.

Ở Phú Yên, sau Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945, chính quyền cách mạng các cấp được thành lập. Bầu không khí nô nức phấn khởi dâng cao trong mọi tầng lớp nhân dân. Đặc biệt, khi thực dân Pháp gây chiến ở Nam Bộ thì Phú Yên - với lợi thế là vùng tự do, đã trở thành địa bàn dừng chân cho những đoàn quân Nam tiến và những chuyến hàng chi viện cho chiến trường cực Nam Trung Bộ và Nam Bộ.

Tại Phường 6 (TX Tuy Hòa, nay là TP Tuy Hòa), cuối tháng 8/1945, chính quyền cách mạng được thành lập. Sau đó các tổ chức chính trị, đoàn thể yêu nước khác cũng lần lượt ra đời, như đội dân quân tự vệ nam, đội dân quân tự vệ nữ, Hội Nông dân cứu quốc, Hội Phụ nữ và Hội Mẹ, chị chiến sĩ, Hội Phụ lão cứu quốc và đội Bạch đầu quân… Những hoạt động của chính quyền và các tổ chức chính trị đoàn thể đã mang đến một bầu không khí sôi nổi tại địa phương, công tác an ninh chính trị được đảm bảo, khối đại đoàn kết toàn dân được mở rộng, chính quyền nhân dân và thành quả cách mạng được củng cố, giữ vững.

Trong bầu không khí chung đó, khoảng đầu tháng 6/1946, theo lệnh của cấp trên, bà Nguyễn Thị Định đã đến Phường 6, TX Tuy Hòa, để chuẩn bị việc tiếp nhận vũ khí chuyển về Nam. Ông Mai Sanh, ở Phường 6, TP Tuy Hòa, nguyên tiểu đội trưởng du kích thời bấy giờ, kể lại sự kiện bà Nguyễn Thị Định đến phường 6 và hoạt động của tổ du kích nữ thời bấy giờ: “Năm ấy, bà Định được phụ nữ và lãnh đạo thị xã cùng một số cán bộ khác đưa đến phường giới thiệu để sinh hoạt tại đây. Thời gian ở Phường 6, bà Nguyễn Thị Định được bố trí ở tại nhà bà Châu Thị Nghĩa , Hội trưởng Hội Phụ nữ Phường 6 và Hội Mẹ, chị chiến sĩ Phường 6 (nay là số nhà 285, đường Nguyễn Công Trứ). Ngoài ra, bà Nguyễn Thị Định còn ở nhà bà Phan Thị Nhi, Hội phó Hội Phụ nữ và Hội Mẹ, chị chiến sĩ Phường 6 (nay là số nhà 248 đường Nguyễn Công Trứ). Bà Nguyễn Thị Định sinh hoạt cùng chị em trong Hội Phụ nữ phường. Ban đêm, bà  phổ biến một số chủ trương chính sách của Đảng Cộng sản Đông Dương, tình hình trong nước và thế giới cũng như phong trào cách mạng. Ban ngày bà cùng với trung đội dân quân du kích luyện tập quân sự và tập bơi lội, bơi thúng chai rồi bơi xuồng… Có hôm bà còn đánh liều bơi sang tận gò đất bên kia sông. Tính tình đôn hậu lại dễ gần nên chị em ai cũng mến, xem chị Ba như người trong nhà”.

Trong thời gian công tác ở Phú Yên, cô Ba Định tham gia phát động quần chúng ở nhiều địa phương trong tỉnh.

Sau một thời gian chuẩn bị, số vũ khí do Trung ương cấp đã tập kết đầy đủ tại Phú Yên. Đợi đến mùa gió bấc, bà Nguyễn Thị Định được lệnh xuất phát chở vũ khí về Bến Tre. Trung đội du kích và đội Bạch đầu quân Phường 6 được giao nhiệm vụ bảo vệ và chuyển vũ khí xuống thuyền. Bà Nguyễn Thị Định lưu luyến tạm biệt nhân dân Phường 6 theo con thuyền tiến ra cửa sông Đà Rằng, vượt biển về Nam. Đến cuối năm 1946, con thuyền đã cập bến Thạnh Phong (huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre) an toàn, mang theo 12 tấn vũ khí Trung ương chi viện cho chiến trường Nam Bộ.

Ông Mai Sanh năm nay đã 80 tuổi, vẫn nhớ như in cái đêm đưa cô Ba Định rời bến ra cửa Đà Diễn vào Nam: “Đêm ấy trời tối đen như mực, tầm hơn 2 giờ sáng, một chiếc thuyền từ đằng xa từ từ tiến vào, chúng tôi nhận lệnh từ cấp trên yểm trợ cho chị Ba, một toán khác trong đó có ông Mai Don nay ở Phường 4 trực tiếp chuyển vũ khí xuống thuyền, mọi việc xong xuôi trước 3 giờ và con tàu từ từ nhổ neo rời bến. Nhưng thời ấy việc ai làm người ấy biết, chúng tôi không tiện tìm hiểu. Mãi đến tận sau này tôi mới biết đó là bà Nguyễn Thị Định”.

Bà Lê Thị Thuẫn, năm nay 76 tuổi, là thế hệ du kích nữ phường 6 những năm 1949 đến 1952, tuy không được trực tiếp hoạt động sinh hoạt cùng nữ tướng Nguyễn Thị Định, nhưng với bà và những chị em thời đó, chính tấm gương chiến đấu của bà Định đã cổ vũ tinh thần của chị em tích cực tham gia kháng chiến và bảo vệ thôn xóm, phấn đấu học tập, tôi luyện. Những phụ nữ Phường 6 giờ đây mãi tự hào về lịch sử một thời, ngày mà họ thâu đêm tuần canh, ban ngày đan lưới, sản xuất và góp công cùng nữ tướng năm xưa làm nên lịch sử, mở ra một bến vận chuyển vũ khí vào Nam từ những ngày đầu sau Cách mạng tháng Tám ngay tại cửa sông Đà Rằng.

 
NGUYỄN DANH HẠNH


Tiêu đề: Ngục Trà Kê - một chứng tích tội ác thực dân
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 20 Tháng Bảy, 2010, 08:58:58 pm
Ngục Trà Kê (thôn Tân Hội, xã Sơn Hội, huyện Sơn Hòa) là nơi từng ghi dấu tinh thần đấu tranh, học tập, rèn luyện của các chiến sĩ cách mạng. Di tích này đang được Bảo tàng Phú Yên lập hồ sơ đề nghị tỉnh công nhận là di tích lịch sử cấp tỉnh.

Đầu thập niên 30 thế kỷ XX, Đảng ra đời. Dưới sự  lãnh đạo của Đảng phong trào yêu nước, đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam ở khắp nơi diễn ra mạnh mẽ. Trước sự lớn mạnh của phong trào, thực dân Pháp tăng cường đàn áp, khủng bố, truy lùng, bắt bớ các cán bộ cách mạng, đảng viên cộng sản. Trong thời gian này, thực dân Pháp đẩy mạnh việc xây dựng nhà tù, trại giam trên khắp đất nước Việt Nam để giam hãm các nhà yêu nước và chiến sĩ cộng sản. Tại khu vực miền Trung, Tây Nguyên, bên cạnh những địa điểm giam cầm nổi tiếng như nhà ngục Lao Bảo, ngục Kon Tum, nhà đày Buôn Ma Thuột... là hàng loạt trại tập trung an trí bắt buộc (thực chất là nhà tù).


Trong bối cảnh đó, năm 1940, thực dân Pháp thành lập ở Phú Yên trại an trí Trà Kê, còn gọi là ngục Trà Kê (vị trí ngục Trà Kê nay thuộc thôn Tân Hội, xã Sơn Hội, huyện Sơn Hòa). Bên cạnh ngục Trà Kê có đồn  lính khố xanh với quân số có mặt thường xuyên trên dưới 100, do một viên sĩ quan người Pháp cấp bậc thiếu úy làm đồn trưởng. Trại an trí Trà Kê tồn tại trong 5 năm, giải tán vào tháng 3/1945, sau sự kiện Nhật đảo chính Pháp. Trong thời gian 5 năm đó, Trà Kê trải qua sự cai quản khắc nghiệt của 3 tên đồn trưởng là Sampave, Renun và Bazia. Theo hồi ký ngục Trà Kê của  đồng chí Huỳnh Lắm, Phan Sung, ngục Trà Kê xây dựng trên một đồi trọc, có nhiều cỏ tranh, chung quanh có nhiều cụm rừng, dân cư thưa thớt… Trại làm bằng tranh tre, vách đất, dài khoảng 100m, ngang 15m, quanh trại có hàng rào dây thép gai, có đường hào cắm chông tre, có sạp nằm bằng tre. Ở phía đông nhà lớn có một phòng cách ly, giam những người bị bệnh truyền nhiễm, ở phía tây nhà lớn là nhà ăn chung cho cả trại giam.

Trước trại có một cửa ra vào, 20 lính luân phiên canh gác cả ngày lẫn đêm. Ngục Trà Kê lúc cao điểm có hơn 100 tù nhân, thành phần chủ yếu là đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương. Trong đó, một số đã hết hạn tù giam ở nhà lao Buôn Ma Thuột, Côn Đảo hoặc các nhà lao khác, nhưng địch không thả về quê hương mà chuyển đến giam giữ lại đây như các đồng chí Hà Huy Giáp, Bùi Công Trừng, Nguyễn Hưng, Hồ Tùng Mậu, Nguyễn Duy Hài. Một số khác, sau khi đi tù về, hoặc mới tham gia phong trào dân chủ cũng bị địch bắt tập trung ở đây như: Phan Sung, Huỳnh Lắm, Trần Chí Hiền, Trần Đình Tri, Lưu Quí Kỳ… Mục đích của thực dân Pháp là kìm hãm, cách ly những cán bộ hoạt động cách mạng với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong tù còn có một số ít là những phần tử thân Nhật, Cao Đài và những can phạm khác…

Ngục Trà Kê theo cách gọi của thực dân Pháp là trại an trí, nhưng thực chất đây là nhà tù. Những người bị giam tại đây về danh nghĩa là người lao động đặc biệt, nhưng thực ra đó là lao động cưỡng bách, bắt buộc. Thực dân Pháp rất coi thường phẩm giá và tính mạng của tù nhân, ra sức bóc lột những người tù dưới mọi hình thức. Chúng bắt tù nhân phải đốn gỗ, cắt tranh, hái củi, làm ruộng, đan đát, làm bàn ghế, rèn dao, cuốc, làm vườn nhà cho tây đồn…

Tại ngục Trà Kê này, các đồng chí cách mạng đã tổ chức nhiều cuộc đấu tranh. Ban đầu là đòi cải thiện sinh hoạt, chăm sóc sức khoẻ, về sau là đòi đáp ứng yêu cầu về tinh thần như nắm bắt thông tin qua sách báo, nội bộ trại tù được tổ chức học tập chính trị, văn hóa… Tuy bị đánh đập, trừng phạt, nhưng về cơ bản, những cuộc đấu tranh đó đều giành được thắng lợi, phía thực dân quản trại phải nhượng bộ và từng bước đáp ứng yêu cầu của các đồng chí cách mạng.

Sau những lần kiên trì đấu tranh và thắng lợi, những cán bộ cách mạng trong tù có điều kiện để hỗ trợ lẫn nhau hơn, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận chính trị, kinh nghiệm công tác cách mạng, kiến thức văn hóa, lòng tin vào sự thắng lợi của cách mạng. Qua quá trình học tập, rèn luyện đó, bản lĩnh của những người cách mạng càng được tôi luyện, và khi thoát khỏi trại giam của địch, họ trở thành những người ưu tú phục vụ cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Sau sự kiện Nhật đảo chính Pháp ngày 9/3/1945, phát xít Nhật tiếp tục sử dụng ngục Trà Kê để giam cầm những người yêu nước. Sau khi Nhật hoàng đầu hàng quân Đồng minh vô điều kiện ngày 15/8/1945, các đồng chí trong trại giam Trà Kê đã tự giải thoát. Sau khi thoát khỏi sự kiểm soát của địch, những cán bộ cách mạng và đảng viên cộng sản tỏa về nhiều hướng. Có người trở về quê cũ hoạt động, người đi xây dựng cơ sở cách mạng ở nhiều nơi, người ở lại tiếp tục hoạt động tại Phú Yên. Họ đã góp phần quan trọng trong việc củng cố các cơ sở Đảng, tuyên truyền vận động xây dựng lực lượng khởi nghĩa, làm nên thắng lợi to lớn của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945.

Ngục Trà Kê là chứng tích tội ác của thực dân Pháp, đây cũng là trường học của những chiến sĩ cách mạng trong cuộc đấu tranh sinh tử với kẻ thù. Nếu được tôn tạo và phát huy, chắc chắn di tích này sẽ là một địa chỉ quan trọng để giáo dục truyền thống đối với thế hệ trẻ và cũng có thể là điểm du lịch lịch sử, tìm về cội nguồn.

 

AN CHI


Tiêu đề: Cuộc giải thoát bất thành và những ngày ở nhà lao Ngọc Lãng
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 20 Tháng Bảy, 2010, 09:00:47 pm
Đời người có những việc mà bụi thời gian không bao giờ che phủ được. Với tôi, việc tham gia giải thoát đồng chí Lê Đài (Bí thư Tỉnh uỷ Phú Yên) bị địch bắt là một dấu ấn hằn sâu vào ký ức. Và nhà lao Ngọc Lãng cũng để lại biết bao chuyện khó quên.

 

VỤ GIẢI THOÁT KHÔNG THÀNH

 

Đồng chí Lê Đài bị địch bắt  ngày 29/12/1945 tại thôn Lãnh Trường,  xã Xuân Lãnh (huyện Đồng Xuân). Chúng chuyển đồng chí về giam tại Ty Công an Phú Yên (đóng tại cuối đường Phan Đình Phùng, phường 1, thị xã Tuy Hòa). Đồng chí bị địch tra tấn chết đi sống lại nhưng vẫn kiên cường,  không hề hé lộ các đầu mối cơ sở… Sau đó, chúng dùng kế nhốt chung tên Đặng Văn Cảnh, nguyên là bộ đội Tỉnh đội Phú Yên ra chiêu hồi (sau này tôi mới biết) vào biệt phòng với đồng chí Lê Đài. Ban ngày, chúng cho tên Cảnh đi ra ngoài hành dịch, tối về giả vờ chăm sóc đồng chí  để tạo lòng tin, để đồng chí viết thư liên lạc cho cơ sở bên ngoài.

 

(http://www.baophuyen.com.vn/Portals/0/2007/01/11-15/070115-trong-cay.jpg)

Bà Võ Thị Hồng Giác (hiện ở phường 1, TP Tuy Hòa), nữ chiến sĩ cách mạng kiên cường đã từng ở nhà lao Ngọc Lãng - Ảnh: MINH NGUYỆT


Hồi đó,  Ban cán sự Đảng thị xã Tuy Hoà do ông Đặng Chuyển (Hậu Sanh) làm Bí thư, bà Võ Thị Kim Đính làm Phó Bí thư, các ủy viên là Trần Thị Cháu, Võ Oai (Giáo Sáu) và Diệp Bảo Giang (tức Gấm). Ban cán sự được thông báo tin đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ Lê Đài bị bắt và trên chỉ đạo phải tìm cách giải thoát đồng chí.

Khi tên Cảnh chuyển thư của Lê Đài cho Trần Thị Cháu, chị đã liên lạc với Võ Thị Kim Đính bàn kế hoạch gởi thuốc men cho đồng chí Lê Đài. Thư ra thư vào đều bị tên Cảnh trình cho địch trước khi chuyển. Sau đó, phương án giải thoát cho đồng chí Lê Đài đã được cơ sở lập.

Giờ G hành động là 0 giờ ngày 20/1 rạng ngày 21/1/1956 nhằm ngày 8 tháng Chạp âm lịch, ngày lễ Phật Thích Ca, tín đồ Phật giáo sẽ đến chùa dự lễ. Số trực gác ở Ty về khuya sẽ ngủ say, tên Cảnh mở cửa phòng giam đồng chí Lê Đài ra  cửa Ty.

20 giờ, chúng tôi tập kết tại nhà chị Võ Thị Hồng Giác. Tên Cảnh nói là nhân xin phép ra ngoài mua thuốc lá, ghé lại để gặp cho chắc ăn. Cảnh và tôi so lại 2 đồng hồ của nhau cho khớp. Trong căn buồng ngủ, chúng tôi duyệt lại kế hoạch lần cuối. Tên Cảnh  trở về Ty, còn chúng tôi ém lại chờ giờ xuất phát.

23 giờ 40 phút, giờ  hành động đã điểm, tất cả lên đường. Chị Võ Thị Kim Đính và tôi là mũi xung kích tiến về phía đối diện Ty Công an, anh Trần Châu mang võng đòn khiêng đi sau. Khi đồng chí Lê Đài vượt ra khỏi cửa Ty, tôi và chị Đính sẽ khiêng anh đi về phía ngã 3 đường Phan Đình Phùng  - Tản Đà, Trần Châu sẽ chặn hậu. Từ ngã 3 này, chị Võ Thị Hồng Giác, anh Nguyễn Tài Soa sẽ khiêng tiếp lên ngã tư Diên Hồng, tôi và chị Đính chặn hậu. Từ Diên Hồng, các chị Trần Thị Cháu, Lê Thị Cụt sẽ khiêng tiếp đồng chí Đài lên cầu Ông Chừ. Từ buổi chiều, chị Hà Thị Vận, Hà Thị Lý (cơ sở ở Hoà Trị) đã đưa 2 chiếc  sõng  xuống neo tại cầu Ông Chừ  giả làm sõng đánh cá của dân. Theo kế hoạch,  cơ sở ở thị xã sẽ chuyển đồng chí Đài xuống sõng và cơ sở ở Hoà Trị sẽ đưa về bến Lội, rồi từ đó đưa tiếp đồng chí Đài lên núi. Ám hiệu liên lạc là dùng đèn pin 3 màu. Màu trắng là an toàn, màu vàng là chờ đợi và màu đỏ là báo động có nguy hiểm.

Đêm ấy  trời tối mịt, cách hai bước chân  là không nhìn rõ mặt nhau. Lúc 0 giờ ngày 21/1/1956,  cửa Ty Công an hé mở nhẹ nhàng. Chúng tôi thấy 2 bóng đen dìu  nhau đi khập khiễng từng bước một. Những năm đó, thị xã Tuy Hoà  chưa có điện đường, đêm lại đầy sương mù, chúng tôi chỉ thấy hai  bóng  mờ mờ  đỡ nhau tiến sang điểm hẹn. Tôi và chị Đính áp sát vào đồng chí Lê Đài và tên Cảnh. Bỗng “Lê Đài” vung tay chĩa  2 họng súng côn vào mang tai tôi và chị Đính! Thì ra chúng đóng giả Lê Đài. Tôi  vội bấm đèn bin màu đỏ ra sau báo động thì bị chúng bẻ quặt hai tay. Tôi và chị Đính bị chúng thúc súng  vào lưng đưa vào Ty Công an.  Khi nhận được ám hiệu báo động, biết bị lộ, các anh chị Châu, Soa, Giác, Cháu, tìm đường rút. Nhưng vì tên Cảnh biết trước kế hoạch, báo cáo nên địch đã đón  lỏng bắt hết. Khi tất cả bị nhốt vào phòng giam chờ khai thác, tôi nhìn thấy ống quần chị Giác, anh Châu, Soa đều có dấu đạn xuyên qua, may  mắn là không ai bị thương.

Vậy là kế hoạch giải thoát đồng chí Lê Đài không thành, cơ sở đồng chí Võ Thị Kim Đính bị bắt gọn. Chỉ riêng cơ sở ở Hoà Trị của Hà Thị Vận không bị lộ vì những người bị địch bắt đã  không hề khai báo…

NHỮNG NGÀY CƠ CỰC Ở NHÀ LAO NGỌC LÃNG


Nhà lao Ngọc Lãng là nhà lao đầu tiên của Mỹ-Diệm xây dựng ở Phú Yên, còn Ty Công an ngụy hồi đó đóng tạm tại nhà cô mụ Hỷ. Cả hai nơi đều là “địa ngục trần gian” của những người tù chính trị. Bọn địch gọi nơi đây là Cải hối thất Ngọc Lãng. Nhưng chúng tôi gọi là nhà lao chứ  không  gọi là “Cải hối thất”, vì tuy bị chúng giam giữ nhưng chúng tôi không hề có tội. Đã không có tội thì cần chi phải cải hối!

Lúc đầu chúng tôi  bị giam ở Ty Công an và bị chúng đánh đập suốt cả tháng ròng. Ban ngày, chúng nhốt tất cả vào biệt giam tối mò mò. Đợi sau 1 giờ khuya, chúng mới lần lượt đưa đến phòng tra tấn. Ban ngày bị nhốt trong bóng tối, khuya lại bị đưa ra dưới ngọn đèn điện mấy ngàn oát, chúng tôi đều bị choáng. Rồi bị thúc cùi chỏ, lên đầu  gối, “ăn” cây sắt, roi  gân bò, “được” cho uống nước xà phòng , “trói cảm tưởng”(*),  móc điện vào các bộ phận sinh dục  (bất kể nam hay nữ để tra tấn hòng tìm ra sự thật), cứ như lũ hung thần xâu xé con mồi!  Đứa này tra tấn mỏi tay, đứa khác thay vào, thậm chí còn “tra hội đồng” (tức nhiều đứa đánh một người). Cứ người này chết giấc, chúng cho khiêng về biệt phòng, rồi đưa người khác đến để  tra tiếp. Chúng tôi vẫn một lòng một dạ không  hé lộ bất cứ thông tin gì ngoài việc bị bắt tại chỗ, do vậy  phải   nhận đủ những trận đòn tàn bạo. Nhiều lần, các anh chị em phải thay phiên  chăm sóc lẫn nhau. Mấy lần khiêng chị Giác về phòng chỉ còn thoi thóp thở, các chị phải  cởi áo quần ra lau sạch máu trên người rồi xoa dầu. Có lần, phải mượn đũa cạy miệng chị Đính ra mới mớm được một ít sữa vào…

Sau đó, chúng tôi bị chuyển sang nhà lao Ngọc Lãng. Những tưởng đến trại giam mới này sẽ không còn bị đánh đập, tra tấn nữa, nào ngờ hàng ngày,  bọn thẩm vấn bên Ty Công an vẫn  mò sang,  muốn đánh lúc nào là kéo chúng tôi ra đánh lúc ấy. Chúng liệt cả nhóm vào “loại cứng đầu” nên luôn giam giữ  ở các phòng giam đặc  biệt. Hết bị cùm, chúng lại xiềng chung  hai người lại với nhau. Đấu tranh không chào cờ là bị đánh, bị phơi nắng giữa sân. Đấu tranh  không học tập, lại bị đánh, bị “trói cảm tưởng” cúp khẩu phần ăn, cúp luôn nước uống.

Ở nhà lao Ngọc Lãng bấy giờ, mấy ngàn người bị nhốt vào  dãy nhà chữ U như bầy vịt. Từ dưới đất lên tận trính nhà, phải treo đến 5, 7 lớp  võng để nằm. Đêm tiểu tiện, đại tiện đều phải ở trong phòng, “đi’’ vào các ấm đất, nồi đất, đợi sáng mai khi chúng lùa ra sông Chùa rửa mặt, mới đem đổ. Khi đó, bốn  cây đại liên chúng đặt bốn góc. Cả mấy ngàn người xuống sông lấy nước, súc miệng, rửa mặt. Tắm giặt mỗi tuần được một lần, cũng kiểu tắm chung như vậy. Còn đại tiện cũng ngồi  hàng ngang trên  bãi cát…

Ban đêm, người nằm võng phía trên lỡ “chột bụng” đi đại tiện nhiều lần hoặc thường tiểu tiện thì  mấy người nằm lớp võng phía dưới không ngủ được. Vì người trên cứ đạp đầu võng người nằm dưới để xuống đất giải quyết “việc” rất người kia.

Đến bữa,  chúng chỉ cho ăn lưng bát cơm hẩm với vài cọng rau muống luộc chấm  nước mắm. Thỉnh thoảng có  canh thì chỉ toàn là nước, chia mỗi người một miếng thịt mỡ cỡ ngón tay với miếng cơm cháy vét ở đít chảo để ăn …

Nhà tù cũng là trường học của những người đi theo con đường cách mạng. Bởi vào đây, được gần gũi với các đồng chí đảng viên, được sự động viên giáo dục của các đồng chí, một số quần chúng cơ sở được giác ngộ. Khi ra tù, chúng tôi tiếp tục hoạt động, nhiều người sau này trở thành những đảng viên cộng sản kiên trung. Tôi được cùm  chung với đồng chí Bùi Hoá - nguyên là Chánh văn phòng Ty Công an Phú Yên, được anh yêu thương, động viên, kèm cặp. Thấy tôi nhỏ tuổi nhất nên các đồng chí Nguyễn Đình Thành, Nguyễn Như, Lương Thúc Quý thường gần gũi trò chuyện. Sự gan dạ của các đồng chí Lê Quyết Chiến, Lương Thúc Quý… đã tiếp thêm sức mạnh, ý chí cho tôi.  Sự  yêu  thương, che chở của các chị Võ Thị Kim Đính, Võ Thị Hồng Giác, Phạm Thị Lành và nhiều anh  chị em khác đã giúp cho chúng tôi trưởng thành sau này.

Từ Ngọc Lãng, sau khi được trả tự do, nhiều anh chị em lại tiếp tục hoạt động. Một số là cơ sở trong các đường dây liên lạc  khắp tỉnh, một  bộ phận thoát ly lên căn cứ. Nhiều đồng chí khác bị địch chuyển đến các nhà lao Phú Lợi, Côn Đảo.

Bài viết nhỏ  này của tôi, người tù mang số hiệu 1130, mong được đến với bạn bè, đồng chí từng  có thời “ăn cơm chảo” ở nhà lao Ngọc Lãng, để nhớ về cái thuở không thể nào quên…

* “Trói cảm tưởng”: trói giật cánh khuỷu, quặt chặt hai  tay ra sau lưng.

 

LÊ KHÁNH NAM

 


Tiêu đề: Vây địch ở Đèo Cả và Củng Sơn, phá hoại để kháng chiến
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 20 Tháng Bảy, 2010, 09:02:48 pm
Chỉ một tháng sau Cách mạng Tháng Tám, ngày 23/9/1945 thực dân Pháp núp bóng quân Anh gây chiến tranh với dã tâm chiếm đóng Nam Bộ. Ngày 23/10/1945, thực dân Pháp chiếm đóng Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa trở thành vùng địch tạm chiếm. Từ Khánh Hòa, thực dân Pháp tiến công và tạm chiếm Tây Nguyên. Tỉnh Phú Yên bị địch uy hiếp ba mặt: tuyến biển, phía nam và phía tây. Phú Yên là tỉnh địa đầu của vùng tự do Liên khu V, bị địch liên tục tấn công.

 
(http://www.baophuyen.com.vn/Portals/0/2006/12/w2/061213-Duong-ham-Deo-Ca.jpg)

Lính Pháp tuần tra hầm Đèo Cả năm 1946, nơi mà sau đó, quân ta đã đánh chúng tan tác trong cuộc kháng chiến toàn quốc  – Ảnh: Tư liệu
Ngày 12/6/1946, quân Pháp tập trung một trung đoàn bộ binh cơ giới từ Nha Trang theo quốc lộ 1 đánh ra Tu Bông và cho một tiểu đoàn đổ bộ lên Đại Lãnh (Vạn Ninh-Khánh Hoà) đánh lên tuyến Đèo Cả, mở đường ra Phú Yên. Tiếp đó, ngày 22/6/1946, ở hướng Tây, một tiểu đoàn lính Âu- Phi từ Mađrắc tiến đánh Củng Sơn (Sơn Hoà). Như vậy là quân Pháp tập trung gần 2 trung đoàn cùng lúc tấn công Phú Yên từ hai hướng phía Nam  và phía Tây.

Quân dân Phú Yên đã chuẩn bị sẵn sàng thế trận nên kịp thời chặn đánh địch ngay từ đầu. Các phòng tuyến của quân ta tại Tu Bông, đèo Cổ Mã chặn đánh quân Pháp từ Nha Trang gây ra thiệt hại nặng nề. Cánh quân Pháp đổ bộ lên Đại Lãnh cũng bị một bộ phận trung đoàn 79 của ta đánh đòn phủ đầu khi chúng chưa kịp tiến lên đèo. Bị thiệt hại nặng, quân Pháp phải vội vàng tháo chạy, mặt trận Đèo Cả được giữ vững. Nhà thơ Hữu Loan, đến mặt trận Đèo Cả vào những ngày này đã viết:

 

Giặc từ Vũng Rô bắn tới

Giặc từ trong tràn ra

Nhưng Đèo Cả vẫn đứng vững

Đèo Cả Nam

máu gặc

mấy lần

nắng khô
…


Ở hướng Tây Phú Yên, tiểu đoàn “Cao Thắng” chặn đánh địch tại Cà Lúi, Chấn Dơn, buôn Xã Ninh, Lỗ Dương tiêu diệt sinh lực địch. Quân Pháp không thực hiện được kế hoạch chiếm đóng Củng Sơn, phải lui về cụm lại ở Cà Lúi, Bà Lá… Kế hoạch từng bước đánh chiếm Phú Yên của quân Pháp bước đầu đã bị quân dân Phú Yên đánh bại. Quân dân Phú Yên phấn khởi, ra sức lao động sản xuất, xây dựng lực lượng mọi mặt sẵn sàng chiến đấu đánh bại những cuộc tiến công mới của quân Pháp, nhất là củng cố các tuyến phòng thủ tại mặt trận Đèo Cả và mặt trận Củng Sơn.

Đầu tháng 12/1946, Uỷ ban kháng chiến miền Nam tổ chức phòng liên lạc Nam bộ đóng quân ở Tuy Hoà. Công tác vận chuyển bằng đường biển vào các chiến trường cực Nam Trung bộ được đẩy mạnh. Tỉnh tổ chức đóng thêm nhiều ghe bầu đi biển trọng tải hàng chục tấn. Chuyến thuyền vượt biển đầu tiên vào Nam bộ xuất phát từ Hoà Hiệp (bây giờ thuộc huyện Đông Hoà), đưa đồng chí Nguyễn Thị Định và một số vũ khí của Trung ương chi viện đã vượt qua các tuyến kiểm soát, phong toả nghiêm ngặt của giặc, vào đến Nam bộ an toàn.

Ngày 18/12/1946, Tỉnh uỷ nhận được điện của Trung ương: “Theo tình hình bên Pháp và lòng tham của thực dân Pháp, chỉ có một cuộc chiến tranh toàn diện, lâu dài, găy gắt, khó khăn mới giải quyết được chủ quyền của Việt Nam. Chủ trương của Đảng đã nhất định gấp rút chuẩn bị. Tình hình rất căng thẳng. Phải cho đồng chí và dân chúng hay. Nhận rõ trường kỳ kháng chiến, thế nào thắng lợi cũng về ta”.

Quân và dân Phú Yên trước đó đã cương quyết kháng chiến, giờ đây càng tỏ rõ quyết tâm cùng toàn Đảng, toàn quân và toàn dân cả nước nắm chắc vũ khí, xiết chặt hàng ngũ xung quanh Trung ương Đảng và Bác Hồ, quyết chiến và quyết thắng.
Kháng chiến bùng nổ. Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến.
Theo lời kêu gọi của Người, nhân dân Phú Yên thấy rõ trước thảm hoạ Tổ quốc bị xâm lăng, cần thiết phải phá hoại để địch không thể lợi dụng đánh lại ta. Đồng thời, tích cực chuẩn bị về mọi mặt cho cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược lần thứ hai. Ở mặt trận đèo Cả và miền Tây tiếp giáp với vùng tạm chiếm, bộ đội và nhân dân xây dựng các tuyến bố phòng, phá hoại cầu đường, nhà kiên cố, đào hào giao thông, đắp ụ cản xe địch. Dọc bờ biển, dân quân dựng các bồ canh gác trên các điểm cao theo dõi tàu chiến và máy bay địch.

Nhân dân thị xã Tuy Hoà tản cư về nông thôn tham gia sản xuất, các trục đường lớn đều bị đào phá thành hầm, hào chống xe cơ giới, tháo gỡ đường ray, đắp ụ cản… Các đội dân quân và thanh niên dùng xà beng, búa tạ kéo đổ các nhà kiên cố như Băng-gô-la, kể cả các nhà dân như Dũ Ký, Dũ Khương…

Các thị trấn và các làng ven biển trục đường giao thông nhân dân đều phân tán, đào hầm cất giấu tài sản, lương thực, chỉ để lại ít đồ dùng thiết yếu và lương thực. Nhân dân quyết làm cho giặc Pháp đi đến đâu cũng thấy đô thị tan hoang, nông thôn vườn không nhà trống. Hàng ngàn cây tre được vót nhọn cắm trên hầu hết các  cánh đồng, đồi trọc để chống quân nhảy dù. Công cuộc phá hoại để kháng chiến, chuẩn bị kháng chiến được tất cả mọi người, mọi lứa tuổi dốc sức tham gia không kể ngày đêm. Đây là một thành công lớn mang tính quần chúng tự giác rộng rãi, thể hiện lòng yêu nước cao độ và lòng căm thù giặc sâu sắc của nhân dân Phú Yên. Đây còn là sự thành công trong lãnh đạo của Tỉnh uỷ và Đảng bộ, các cơ quan trong tỉnh. Các lực lượng vũ trang nhân dân đều cùng chí hướng, đoàn kết một lòng, cương quyết kháng chiến, giành thắng lợi.

 

TRẦN VĂN


Tiêu đề: Trận đánh cắt đứt giao thông, phá kho xăng dầu ở đèo Cả năm 1971
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 20 Tháng Bảy, 2010, 09:04:54 pm
Bộ Chỉ huy Quân sự Phú Yên vừa xuất bản tập 2 cuốn sách “Những trận đánh tiêu biểu” của Lực lượng vũ trang tỉnh Phú Yên qua 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Tập sách dày 200 trang, gồm 25 trận đánh tiêu biểu của quân và dân Phú Yên. Dưới đây, xin giới thiệu một trận đánh với bạn đọc...

(http://www.baophuyen.com.vn/Portals/0/2006/08/tuan3/060816-bia-sach.jpg)
Khu căn cứ Đông Tác  - Hòa Hiệp được xác định là khu vực quan trọng trong chiến đấu cũng như tháo lui của địch. Mỹ - ngụy đã thiết lập một hệ thống ống dẫn từ cảng Vũng Rô dọc theo đường sắt chạy thẳng về đây. Mặt khác, từ quốc lộ 1A chúng cho mở đường ô tô nối liền bến cảng để vận chuyển hàng hoá, vũ khí từ các chuyến tàu về căn cứ. Trên đoạn đường này có một chiếc cầu gọi là cầu Lớn, dài 20 mét. Do tính chất vô cùng quan trọng của tuyến giao thông huyết mạnh và quần thể căn cứ Đông Tác - Hoà Hiệp -  Vũng Rô nên địch bố trí lực lượng dày để chốt giữ cẩn thận.

Thực hiện chiến dịch Xuân – Hè 1971, ta tiến công liên tục, dồn địch vào thế bị động. Mục tiêu đầu tiên là phải cắt đứt tuyến giao thông vận chuyển hàng hoá và hệ thống ống dẫn dầu của địch vào căn cứ Hoà Hiệp - Vũng Rô. Lực lượng đảm nhiệm chính là Đại đội K65 Công binh của tỉnh trực thuộc Tiểu đoàn 14 Đặc công. Đại đội được tổ chức thành 3 mũi tấn công. Mũi thứ nhất  gồm 8 đồng chí được trang bị 6 súng AK, 80 kíp thuốc nổ, có nhiệm vụ phục kích đánh sập cầu Lớn, cắt đứt giao thông. Mũi thứ hai gồm 9 đồng chí được trang bị 6 súng AK, 1 M79, 2 B40, 2 quả mìn ĐH 10, có nhiệm vụ phục kích đánh địch, giải toả phía nam đồi Pi - đông khu vực đèo Cả. Mũi tiến công thứ 3 có 6 đồng chí được trang bị 4 súng AK, 1 M79 và 14 kg thuốc nổ, có nhiệm vụ phá hệ thống ống dẫn dầu vào căn cứ của định.

Đúng 0 giờ ngày 16-3-1971, các bộ phận phục kích của ta đã hoàn tất việc đặt mìn, thuốc nổ ở các mục tiêu đã định, chờ lệnh phát hoả. 5 phút sau, một tiếng nổ  lớn vang lên ở khu vực cầu Lớn, rung chuyển cả khu vực bắc Vũng Rô. Tiếp theo là tiếng nổ  phá đường ống dẫn dầu dọc theo tuyến đường sắt. Lửa khói bốc cao đến hơn 20 mét và cháy lớn đến 5 giờ sáng ngày 17-3. Cầu Lớn bị sập hoàn toàn, đường ống dẫn dầu bị phá huỷ. Hai bộ phận làm xong nhiệm vụ rút quân về nơi ẩn tránh.

Đúng như dự kiến, 2 tiếng nổ vừa dứt, trận địa pháo của địch ở Trung đoàn 28 Bạch Mã và đồi Bằng - Vũng Rô bắn hàng ngàn quả pháo 105 và 155 dọc theo sườn núi phía nam quốc lộ 1A từ nam Hảo Sơn đến đồi Pi-đông và dọc tuyến đường sắt. Đồng thời, địch tăng cường máy bay quần đảo quan sát thả bom cày xới. 7 giờ sáng ngày 17-3, một trung đội lính Nam Triều Tiên, 6 chiếc thiết giáp và 5 xe chở 1 đại đội lính Mỹ vào giải toả khu vực cầu Lớn. Vừa đến nơi, chúng đã lọt vào trận địa phục kích. Ta lập tức lệnh bấm mìn, nổ súng, một tốp lính Nam Triều Tiên chết ngay tại chỗ.

Chỉ trong vòng chưa đầy 8 giờ đồng hồ, 3 mũi tấn công của Đại đội K65 đã phá sập hoàn toàn cầu Lớn, làm tắc nghẽn giao thông 2 ngày; phá 20 mét đường ống dẫn dầu, đốt cháy hàng vạn lít xăng, tiêu diệt 11 tên lính Nam Triều Tiên, thu được 1 khẩu M79, 2 súng AR15, 12 quả lựu đạn. Phía ta không thương vong.
Trận đánh cắt đứt giao thông đèo Cả, phá đường ống dẫn dầu của địch  thắng lợi hoàn toàn góp phần lớn làm tiêu hao sinh lực địch, phá phương tiện chiến tranh, làm rối loạn hậu cứ địch, buộc phải đối phó phòng giữ rơi vào thế bị động. Ta giành lấy thế chủ động cho những chiến dịch tiếp theo.

 
TRẦN QUỚI (giới thiệu)

 


Tiêu đề: Re: Phú Yên - Đất & Người Đất anh hùng
Gửi bởi: haanh trong 20 Tháng Bảy, 2010, 09:25:39 pm
hehe spam tí , nghe nhắc tới Phú Yên nhớ đồng đội quá , lính PY đánh nhau rất gan lì lại sống có tình nghĩa với đồng đội , đồng hương . Quê hương PY thật đáng tự hào có những người con như thế .


Tiêu đề: Từ tấm ảnh gia đình người liệt sĩ đến chuyến đi sâu nặng nghĩa tình Nam - B
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 21 Tháng Bảy, 2010, 04:14:33 am
Chiều 27/10/1986, khi tôi và anh Phạm Uyển – Quận đội trưởng Lê Chân đang ngồi trao đổi công việc thì đồng chí văn thư đưa báo tới. Báo Quân Đội Nhân Dân hôm ấy đăng ảnh một người đàn ông chụp chung với vợ và hai con nhỏ kèm theo mấy dòng chữ nhắn tìm thân nhân người liệt sĩ trong ảnh. Người nhắn tin là ông Lê Vy Tân ở huyện Tuy Hòa, Phú Khánh (nay thuộc tỉnh Phú Yên).

 (http://www.baophuyen.com.vn/Portals/0/2008/04/03-04/080404-nghia-trang.jpg)
Nghĩa trang Liệt sĩ Đông Tác, nơi an nghỉ của những anh hùng đã xả thân vì nền độc lập của Tổ quốc, trong đó có nhiều chiến sĩ miền Bắc – Ảnh: DƯƠNG THANH XUÂN


Vừa thoáng nhìn, anh Uyển đã thảng thốt kêu lên: “Trời! Đúng anh Hùng”. Rồi anh cho tôi biết người trong ảnh chính là đại úy Phạm Việt Hùng, nguyên Trưởng ban Huấn luyện Quận đội Lê Chân, sau đó là Trưởng ban Tác huấn phòng Tham mưu Bộ Tư lệnh 350 - Hải Phòng, đi B từ năm 1966 và đã hy sinh.
Hồi đó, tôi là lính của Quân đoàn 2 mới được điều về làm Quận đội phó nên không biết anh Hùng. Song tôi biết rõ chị Mỹ, vợ anh – một đối tượng chính sách rất quen thân với Quận đội Lê Chân chúng tôi. Người phụ nữ trong ảnh còn trẻ nhưng đúng là chị Mỹ. Chỉ khác là chị Mỹ bấy giờ đã có ba con, cháu nhỏ nhất cũng đã 20 tuổi.

Ngay chiều hôm đó, hai anh em chúng tôi rủ nhau đạp xe đến nhà chị Mỹ. Mấy chục năm đằng đẵng thờ chồng, một mình tần tảo nuôi con, người phụ nữ xinh đẹp trong ảnh này đã khác xưa nhiều lắm. Mắt chị đã lòa không nhìn rõ nữa, nhưng các con chị đều nhận ra bố mẹ và bản thân mình trong bức ảnh hơn 20 năm trước. Ôm tờ báo, nơi có bóng hình của người chồng thân yêu vào lòng, chị Mỹ nước mắt rưng rưng kể lại:

- Đầu năm 1966, khi anh Hùng được lệnh đi B thì tôi đang mang thai cháu thứ ba bây giờ. Mấy ngày phép ngắn ngủi anh dành trọn cho vợ con. Anh kéo cả nhà đi chụp ảnh kỷ niệm. Rồi anh lên đường ra mặt trận mang theo bức ảnh gia đình. Đến năm 1969, tôi nhận được tin anh hy sinh. Trong giấy báo tử, cấp trên chỉ cho biết chồng tôi đã hy sinh anh dũng ở chiến trường. Từ đó đến nay tôi vẫn canh cánh trong lòng vì không biết anh đã ngã xuống nơi đâu. May nhờ tấm lòng của bà con cô bác Tuy Hòa, nhờ Báo Quân Đội Nhân Dân mà nay mẹ con tôi đã biết được nơi anh yên nghỉ.
Nét mặt, cử chỉ và câu chuyện đầy nước mắt của người vợ liệt sĩ khiến anh em chúng tôi vô cùng xúc động.

Sáng hôm sau, anh Uyển giao tôi thảo công văn gửi về Tòa soạn Báo Quân Đội Nhân Dân trả lời rằng đã có địa chỉ của người liệt sĩ, đồng thời gửi thư cảm ơn đồng chí Lê Vy Tân ở số nhà 137 quốc lộ 1 Tuy Hòa. Chúng tôi cũng báo cáo ngay việc này với Bộ Chỉ huy quân sự TP Hải Phòng và Bộ Tư lệnh Quân khu. Ít ngày sau, chúng tôi nhận được thư của đồng chí Lê Vy Tân. Bức thư cho biết rõ: Người có công chôn cất liệt sĩ và giữ gìn tấm ảnh là bà Hai Hòa, chị ruột của đồng chí ở Hòa Vinh.

Chuyện về bức ảnh liệt sĩ Phạm Việt Hùng và lời nhắn tìm thân nhân liệt sĩ từ Tuy Hòa xa xôi nhanh chóng gây xúc động lớn cho nhân dân Lê Chân và nhân dân thành phố cảng Hải Phòng; làm ấm lòng các mẹ, các chị có người thân đi chiến đấu mãi mãi không về. Chúng tôi đề nghị với Quận ủy, UBND quận Lê Chân và Bộ Chỉ huy quân sự TP Hải Phòng tổ chức một đoàn đại biểu đưa mẹ con chị Mỹ vào Tuy Hòa để nhận mộ anh Hùng, đồng thời cảm ơn má Hai Hòa, cảm ơn lòng dân Tuy Hòa đối với những người con miền Bắc đã vì Tổ quốc hy sinh trên mảnh đất miền Nam yêu dấu. Đề nghị đó của chúng tôi được cấp trên hoan nghênh và nhiệt thành ủng hộ. Chúng tôi đặc biệt xúc động khi được Quân khu báo cho biết, đại tướng Nguyễn Quyết, lúc đó là Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, đã chỉ thị cho Xưởng phim Quân đội cử một bộ phận đi theo đoàn để ghi lại hình ảnh về tấm lòng của một bà mẹ miền Nam đối với anh bộ đội Cụ Hồ, đối với hậu phương miền Bắc. Bộ phim tài liệu thời sự Những ngôi sao không tắt nói về chuyến đi này về sau đã nhận được giải thưởng lớn trong một liên hoan phim.

Ngày 20/5/1987, đoàn đại biểu quân – dân – chính – đảng quận Lê Chân do đồng chí Nguyễn Văn Quy, Phó Chủ tịch UBND quận làm trưởng đoàn, lên đường. Tôi là phó đoàn, lo tổ chức, dẫn đường. Cùng đi còn có chị Mỹ và con trai, con rể của chị.

Dọc đường đi, đoàn vào thăm nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn, thắp hương kính viếng hương hồn các liệt sĩ ở khắp mọi miền đất nước, trong đó có các liệt sĩ Hải Phòng đã ngã xuống trên tuyến đường mang tên Bác Hồ vĩ đại.

Chiều 23/5/1987, đoàn vào tới Tuy Hòa. Xe dừng trước cơ quan Huyện ủy và UBND huyện. Tôi được giao nhiệm vụ vào báo cáo trước với các đồng chí lãnh đạo địa phương. Người tôi gặp đầu tiên là đồng chí Phó Bí thư thường trực Huyện ủy. Tôi nói:


- Thưa đồng chí, Thành ủy, UBND, Bộ Chỉ huy Quân sự TP Hải Phòng và lãnh đạo quận Lê Chân cử chúng tôi vào đây nhận mộ anh Hùng và cám ơn tấm lòng của má Hai Hòa, nhân dân Tuy Hòa đối với các chiến sĩ miền Bắc, trong đó có Hải Phòng, đã vào chiến đấu ở trong này. Đoàn cũng mong ước được hiểu thêm truyền thống cách mạng của Đảng bộ, nhân dân địa phương.

Vừa nghe tôi báo cáo, nước cắt đồng chí Phó Bí  thư thường trực Huyện ủy đã trào ra. Anh ôm chặt lấy tôi mãi không rời. Rồi anh chạy vội ra sân đón đoàn và đích thân dắt chị Mỹ bước vào phòng khách. Anh nghẹn ngào nói về những ngày đất nước cách chia và máu lửa, về tấm lòng của miền Bắc đối với miền Nam, về các học sinh miền Nam trên đất Bắc, được đồng bào miền Bắc, đồng bào Hải Phòng nuôi dưỡng, nay đã trưởng thành.

Tin đoàn đại biểu quận Lê Chân vào thăm Tuy Hòa nhanh chóng truyền đi. Các cơ quan, ban, ngành và nhân dân huyện Tuy Hòa đều xúc động. Tối hôm ấy, các đồng chí Bí thư Huyện ủy và Chủ tịch UBND huyện vừa đi họp ở tỉnh về đã đến ngay nhà khách gặp đoàn. Như thể những người ruột thịt xa nhau lâu ngày, chuyện miền Bắc, miền Nam, chuyện gia đình, phố phường, làng xóm kéo dài đến canh khuya không dứt.

Sáng 24/5/1987 đã diễn ra cuộc gặp gỡ đậm đà tình nghĩa giữa đoàn đại biểu quận Lê Chân với đại biểu các cơ quan, ban, ngành và nhân dân Tuy Hòa. Sau lời phát biểu của đồng chí Phó Chủ tịch quận Lê Chân, đồng chí Bí thư Huyện ủy Tuy Hòa phát biểu đáp từ. Ông là một chiến sĩ cách mạng đã ở tuổi 60, từng bị địch bắt đày đi Côn Đảo. Ông vừa nói vừa khóc:

- Vì miền Nam, vì Tổ quốc đã có biết bao thanh niên miền Bắc, thanh niên Hải Phòng ngã xuống trên mảnh đất này. Mỗi xóm làng ở tỉnh Phú Khánh này, cũng như ở khắp miền Nam, đâu đâu cũng có những nấm mồ người chiến sĩ miền Bắc. Nghĩa tình miền Bắc sống mãi trong lòng miền Nam. Nhân dân Tuy Hòa, nhân dân miền Nam còn nhiều điều ân hận vì chưa tìm được hết địa chỉ của các nấm mồ liệt sĩ để mời các bà má và người thân miền Bắc vô để nhận mộ người thân.

Bài phát biểu của người chiến sĩ cách mạng kiên cường khiến đoàn Lê Chân và các đại biểu dự cuộc gặp mặt đều vô cùng xúc động.
Trong tiếng vỗ tay không dứt, trong nước mắt chứa chan, đồng chí Bí thư Huyện ủy lần lượt ôm hôn mẹ con chị Mỹ và các thành viên trong đoàn đại biểu quận Lê Chân. Hiếm có cuộc đón tiếp nào cảm động đầy nước mắt đến như thế!

Đồng chí trưởng đoàn đại biểu quận Lê Chân trao tặng huyện Tuy Hòa bức tranh sơn mài mang hình vị nữ tướng Lê Chân, biểu tượng tự hào của thành phố cảng Hải Phòng. Huyện ủy, UBND Tuy Hòa tặng Quận ủy, UBND Lê Chân bức tranh sơn dầu có mô hình trạm điện mới xây, biểu tượng của Tuy Hòa đi lên chủ nghĩa xã hội và tặng vật kỷ niệm cho mẹ con chị Mỹ – những người ruột thịt của liệt sĩ Phạm Việt Hùng.
Chiều 24/5/1987, đồng chí Bí thư Huyện ủy đích thân dẫn đoàn đến đặt vòng hoa tại nghĩa trang Đông Tác, nơi đặt phần mộ anh Hùng. Chúng tôi thành kính đặt vòng hoa và làm lễ dâng hương. Những nén hương ngào ngạt thắp lên những nấm mồ liệt sĩ, đem tấm lòng của người dân đất Cảng đến với các chị, các anh. Với lòng mến thương vô hạn, má Hai Hòa dẫn mẹ con chị Mỹ quỳ trước mộ chồng, mộ cha, nước mắt đầm đìa trong bâng khuâng thương nhớ. Chị Mỹ nắm tay má Hai và bác Lê Vy Tân, em trai của má, nói trong tiếng nấc:

- Nhờ có má mà mẹ con con hôm nay mới được nhận mộ chồng, mộ cha của mình. Ơn má, trọn đời gia đình con không sao quên được...

Là một người lính đã mấy chục năm lăn lộn trên các chiến trường, đã từng tiễn biệt nhiều đồng đội hy sinh trong chiến đấu, nhưng suốt đời tôi không quên cảm giác khi thắp nén hương rồi đặt chiếc mũ có gắn quân hiệu của mình lên phần mộ người đồng đội mà tôi chưa một lần gặp mặt. Cho đến hôm nay, mỗi khi nghĩ lại giây phút ấy, tôi vẫn cảm thấy như có mùi hương ngào ngạt và làn gió nhẹ gai người thổi qua, như thể vong linh người liệt sĩ về quanh quẩn đâu đây chứng giám tấm lòng thành của vợ con, của nhân dân và đồng đội.

Rời nghĩa trang Đông Tác, má Hai Hòa dẫn chúng tôi về xã Hòa Vinh. Từ tối hôm trước, được tin đoàn Lê Chân vào, má Hai cho người đi báo tất cả cháu con ở các nơi về sum họp rồi mới lên huyện gặp mẹ con chị Mỹ cùng anh em trong đoàn. Bây giờ, ở giữa nhà má, cả mẹ con chị Mỹ và chúng tôi đều ôm lấy nhau mà khóc. Má Hai chỉ lên bàn thờ rồi nói:

- Từ sau Tết Mậu Thân, nhà má có ba bát nhang. Bát nhang ở giữa thờ gia tiên, bát nhang bên phải dành cho con trai má, còn bát nhang bên trái dành hương khói cho thằng Hùng!
Rồi giữa cả nhà đông đủ, má Hai vừa khóc vừa kể về những ngày chống Mỹ gian lao, kể về ngày anh Hùng hy sinh trên mảnh đất Hòa Vinh. Đó là ngày mồng 2 Tết Mậu Thân. Hôm đó má Hai Hòa lang thang khắp nơi tìm người con trai là bộ đội địa phương mà má được tin vừa hy sinh hồi đêm. Khi đến một căn nhà đổ, má thấy một chiến sĩ đã hy sinh, bên cạnh anh là khẩu súng AK. Trước lúc đưa anh đi chôn, má tìm thấy trong túi áo người chiến sĩ đó có một bức ảnh gia đình, có lẽ là đôi vợ chồng và hai con nhỏ. Má Hai giữ lại bức ảnh rồi tìm một tảng đá đặt lên mộ để làm dấu. Sau ngày chiến thắng, theo sự chỉ dẫn của má, hài cốt của người chiến sĩ miền Bắc đã được bà con đưa vào nghĩa trang liệt sĩ địa phương. Còn má Hai vẫn giữ tấm ảnh chờ mong có dịp báo được cho người thân của anh. Cho đến tháng 10/1986, khi em trai của má là đồng chí Lê Vy Tân có dịp ra Hà Nội, má gửi bức ảnh nhờ Báo Quân Đội Nhân Dân tìm giúp địa chỉ của thân nhân người liệt sĩ. Cuộc gặp gỡ hôm nay đã toại nguyện niềm ước ao của má, toại nguyện tấm lòng bao la của má.

Cả nhà chị Mỹ nghẹn ngào thắp nhang lên bàn thờ của con trai má Hai, của chồng và cha thân yêu của mình. Chiếc bàn thờ mà suốt 20 năm, má Hai vẫn đều đặn thắp nhang lúc ngày rằm, khi đầu tháng. Chị Mỹ thành kính trao tặng má Hai chiếc quần sa tanh Nam Định, chiếc áo lụa Hà Đông – quà của cơ quan quân sự quận Lê Chân cùng quà kỷ niệm của nhân dân trong quận và của mẹ con chị. Con trai chị Mỹ treo bức chân dung của bố lên bàn thờ, rồi thưa với má Hai trong nước mắt:

- Bà ơi! Mẹ con cháu ở xa, phần trông nom mộ bố cháu xin gửi nhờ bà. 20 năm qua bố cháu có bà chăm sóc, từ nay về sau bố cháu vẫn được sống trong tình thương của bà...

Má Hai Hòa lại khóc. Bà ôm mẹ con chị Mỹ vào lòng:

- Bay về, nhưng thỉnh thoảng vô thăm. Mộ chồng con, cha con, má sẽ trông nom như con trai má, như mọi người đã hy sinh cho Tổ quốc ở đây. Nếu má qua đời thì còn cháu má, còn nhân dân Hòa Vinh. Thấy cháu con mạnh khỏe lớn khôn, má nhẹ lòng và vui thay ba cháu...

Lời bà má miền Nam đã ngót 80 tuổi khiến cả đoàn Lê Chân, cả những người có mặt ở đó không ai kìm được xúc động.

Tạm biệt gia đình má Hai Hòa, chúng tôi tới dự cuộc gặp mặt thân mật với Đảng ủy, UBND và những người có công với cách mạng ở xã Hòa Vinh, thăm tượng đài và phòng truyền thống của xã. Sau đó, đoàn về gặp gỡ các đồng chí trong Ban Chỉ huy Quân sự huyện Tuy Hòa. Thay mặt lực lượng vũ trang quận Lê Chân, tôi trao tặng lực lượng vũ trang huyện Tuy Hòa lá cờ truyền thống của quân dân Hải Phòng mang dòng chữ “Trung dũng Quyết thắng” do Chủ tịch Hồ Chí Minh khen tặng. Các đồng chí trong cơ quan quân sự Tuy Hòa trao tặng lực lượng vũ trang quận Lê Chân khẩu súng AR15 chiến lợi phẩm đã ghi nhiều chiến công trong những năm đánh Mỹ.

Mấy ngày đến với Tuy Hòa, nơi yên nghỉ của liệt sĩ Phạm Việt Hùng, chúng tôi đem đến Tuy Hòa nghĩa tình sâu nặng của miền Bắc hậu phương. Các đồng chí lãnh đạo và bà con Tuy Hòa đón chúng tôi như đón người thân trở về.  Từ đó đến nay, Tuy Hòa - Lê Chân trở thành hai địa phương kết nghĩa, càng làm gần thêm tình Nam nghĩa Bắc, làm gần gũi thêm tình cảm sâu nặng của gia đình chị Mỹ với má Hai Hòa và bà con cô bác Hòa Vinh.

Hơn 20 năm đã trôi qua, song những kỷ niệm nồng thắm của chuyến đi vẫn còn mãi trong lòng cán bộ chiến sĩ cơ quan quân sự quận Lê Chân, còn mãi trong lòng cán bộ chiến sĩ Bộ Chỉ huy Quân sự Hải Phòng, giúp chúng tôi càng hiểu thêm nghĩa tình non nước, nghĩa tình Nam – Bắc, nghĩa tình của dân. Nghĩa tình ấy là cội nguồn tạo nên sức mạnh của quân đội ta, giúp người lính yên lòng hành quân, vượt qua mọi gian lao thử thách, sẵn sàng hy sinh, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ Tổ quốc và nhân dân giao phó.

                         
Đại tá HỒ LUYỆN

Nguyên Phó Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự Hải Phòng (kể)

VŨ TANG BỒNG (ghi)



Tiêu đề: H02-xứng danh đơn vị anh hùng
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 21 Tháng Bảy, 2010, 04:16:23 am
Đầu năm 1964, sau khi chương trình “bình định” miền Nam trong vòng 18 tháng bị phá sản, đế quốc Mỹ chuyển sang kế hoạch Mắc Na-ma-ra, nhằm “bình định” miền Nam trong vòng  hai năm. Riêng các tỉnh đồng bằng liên Khu 5, chúng đặt kế hoạch trong 12 tháng sẽ “bình định” xong. Ở Phú Yên, địch ra sức tập trung quân cơ động, đánh phá liên tục, dài ngày, có trọng điểm vào căn cứ ta, tăng cường mật độ hoạt động phi pháo, rải chất độc hóa học phá hoại sản xuất ở vùng giải phóng... Giữa lúc cuộc chiến chống quân xâm lược diễn ra vô cùng gay go và ác liệt, ngày 28/2/1964, Đại đội Đặc công 202 được thành lập.



(http://www.baophuyen.com.vn/Portals/0/2008/02/21-22/080222.jpg)
Chiến sĩ đơn vị HO2 hoá trang chuẩn bị luyện tập

 

 QUÁ KHỨ VẺ VANG


Ngay trận đầu ra quân tập kích cứ điểm Phú Cần (xã An Thọ, huyện Tuy An), Đại đội Đặc công 202 (H02) đã phối hợp với Tiểu đoàn 85 lập công đầu xuất sắc, tiêu diệt gọn Đại đội Bảo an 945 ngụy trong công sự vững chắc và một trung đội dân vệ đứng trong ấp, diệt và bắt hơn 70 tên địch, thu toàn bộ vũ khí của chúng.


Ra quân trăm trận trăm thắng. Chiến công tiếp nối chiến công. Từ ngày thành lập đến khi nước nhà thống nhất, đơn vị H02 đã tham gia đánh hơn 200 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 4.500 tên địch, trong đó có 1.150 tên Mỹ và chư hầu; diệt gọn 22 đại đội, thu 500 súng, phá hủy 2 máy bay… Đặc biệt, trong Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, đơn vị đã nêu cao ý chí quyết chiến quyết thắng, khắc phục khó khăn, không ngại hy sinh, ác liệt, ba lần tấn công vào thị xã Tuy Hoà, lập công hiển hách, làm cho kẻ thù kinh hoàng, khiếp vía.

Trong quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, đơn vị đã được tặng nhiều phần thưởng, huân chương các loại. Ngày 20/9/1971, H02 được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Liệt sĩ Lê Trung Kiên, liệt sĩ Lương Tấn Thịnh – hai tấm gương sáng của H02 - cũng được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý này.

 

(http://www.baophuyen.com.vn/Portals/0/2008/02/21-22/080222-ho2.jpg)
Các chiến sĩ đơn vị H02 diễn tập

 

HIỆN TẠI XỨNG ĐÁNG

Trong thời bình, đơn vị H02 làm nhiệm vụ A2 trên phạm vi toàn tỉnh. Phát huy truyền thống của đơn vị anh hùng trong chiến tranh chống Mỹ, với bất kỳ nhiệm vụ và hoàn cảnh nào, trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, tăng gia sản xuất, làm công tác dân vận… đơn vị luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Trung úy Lê Văn Nhơn, Chính trị viên đại đội, tự hào cho biết: Mới đây, qua kiểm tra công tác huấn luyện chiến đấu, Quân khu đã xếp đơn vị vào loại khá, riêng huấn luyện chuyên ngành trinh sát và bắn súng đạt loại giỏi. Tham gia huấn luyện chiến đấu, giáo dục chính trị và các đợt tập huấn do Phòng Tham mưu, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh và Quân khu tổ chức, đơn vị đều đạt khá, giỏi.

Để đạt được những kết quả đó, đơn vị luôn chủ động lập đầy đủ các kế hoạch và tổ chức thực hiện, luyện tập theo phương án đã được duyệt. Đơn vị cũng đã thực hiện tốt kế hoạch trực chiến đấu, trực chỉ huy, trực chiến và bảo vệ an toàn các mục tiêu, đồng thời làm tốt nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát địa bàn; nắm tình hình theo kế hoạch của trên, không để lộ bí mật; nắm chắc tình hình hoạt động của địch và kịp thời xử lý các tình huống không để bị động bất ngờ.

Một trong những việc làm của đơn vị trong thời gian qua được chính quyền các cấp và lãnh đạo Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh đánh giá cao là công tác dân vận. Mỗi năm đơn vị tổ chức 2-3 đợt hành quân đến các xã miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số giúp dân tu sửa đường giao thông, tăng gia sản xuất, làm đẹp cảnh quan môi trường; sẵn sàng ứng cứu, giúp dân phòng tránh lụt bão. Trong mùa mưa bão 2007, đơn vị đã có mặt kịp thời giúp hàng trăm hộ dân ở xã Hòa An (Phú Hòa) chạy lũ đến nơi an toàn; cùng với các đơn vị lực lượng vũ trang hỗ trợ bà con làng biển Long Thủy (An Phú, TP Tuy Hòa) khắc phục hậu quả triều cường… Vì vậy, không người dân nào không bịn rịn khi đơn vị rút quân.

Năm 2007, đơn vị H02 chuyển vị trí đóng quân nên củng cố lại doanh trại là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong công tác chính quy, rèn luyện kỷ luật. Đây cũng là năm đầu thực hiện “Năm Điều lệnh”. Nhờ triển khai quán triệt tốt các nghị quyết, kế hoạch của trên và của chi bộ, thực hiện nghiêm kỷ luật quân đội nên trong năm không có trường hợp nào bị kỷ luật phải xử lý. Đơn vị đạt đơn vị tiên tiến, một đồng chí được công nhận Chiến sĩ thi đua, 11 đồng chí được công nhận Chiến sĩ tiên tiến, ba đồng chí được tặng giấy khen, 4 đoàn viên ưu tú vinh dự được đứng vào hàng ngũ của Đảng. Bên cạnh chăm lo đời sống vật chất, bảo đảm đúng, đủ tiền ăn, tiền lương cho bộ đội theo chế độ…, lãnh đạo, chỉ huy đơn vị quan tâm và thường xuyên tổ chức các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao, sinh hoạt giao lưu với các đơn vị kết nghĩa nên 100% cán bộ chiến sĩ yên tâm công tác và thi đua hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

 

LẠC VIỆT


Tiêu đề: Kinh nhật tụng - Cẩm nang của người chiến sĩ cách mạng
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 21 Tháng Bảy, 2010, 04:19:07 am
Cuối năm 1954, tôi đang dự hội nghị Tổng kết công tác cải cách ruộng đất đợt 1 tại Tam Đảo, được Ban tổ chức Trung ương quyết định điều động về lại miền Nam công tác. Đoàn có 12 đồng chí ở các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên.

 

(http://www.baophuyen.com.vn/Portals/0/2007/09/23-24/070924-nha-lao.jpg)

Trong ảnh là nhà lao Tuy Hòa, một trong những trung tâm giam giữ và tra tấn, nhục hình cán bộ, đồng bào yêu nước Phú Yên trong thời Mỹ - ngụy. Trong những ngày tháng ác liệt đó, nhiều cán bộ cách mạng tù đày đã học thuộc nằm lòng “Kinh nhật tụng” - Ảnh tư liệu

 

Tỉnh Phú Yên có tôi, đồng chí Công Minh và cụ Huỳnh Lưu – người cao tuổi nhất đoàn, là đảng viên trước Cách mạng tháng Tám 1945. Cụ rất giản dị, vui tính, hay ngâm thơ, thường chỉ cho anh em những bài thơ cách mạng, gọi là Kinh nhật tụng. Tôi được tiếp thu Kinh nhật tụng từ cụ Huỳnh Lưu, nội dung dễ hiểu. Vì vậy, cả đoàn ai cũng thích thú học và động viên nhau lên đường làm nhiệm vụ.

 

Ban tổ chức cử cụ Nguyễn Văn Chi (Khánh Hoà) tiễn chúng tôi xuống Sầm Sơn lên tàu thủy về Quy Nhơn (Bình Định), được bộ phận thường trực Khu ủy 5 tiếp nhận, tổ chức học tập tình hình nhiệm vụ cách mạng miền Nam và chuẩn bị bố trí công tác. Tôi được chuyển về Phú Yên và được Tỉnh ủy quyết định bổ sung vào Huyện ủy Tuy Hòa. Tôi lên đường nhận nhiệm vụ với khí thế sẵn sàng.

 

Trong những năm công tác gian khổ ở miền Nam, Kinh nhật tụng đã giáo dục động viên, tiếp sức cho tôi vượt qua những lúc hiểm nguy, nhất là đấu tranh chống địch trong các nhà tù Mỹ ngụy.

 

Khi bị địch bắt vào tháng 3/1956, bị Ban bảo an dân vệ giải về xã, tôi vừa đi vừa suy nghĩ: “Khi sa vào tay địch phải chịu đựng gian khổ hy sinh” và đầu óc gợi lên những câu Kinh nhật tụng:

 

Người chiến sĩ trung với nước, hiếu với dân

Vì dân vì nước quên thân quên nhà

Người chiến sĩ phải là khí tiết

Khinh gian nguy không thiết công lao

 

Tôi xác định phải chiến đấu và chiến thắng. Bọn ngụy giải tôi đến trụ sở xã Hoà Mỹ Đông, tấn công tôi với lời lẽ bán nước, buộc tôi lên đài kêu gọi đồng bào chống cộng sản. Thoáng nghe mấy câu thơ Tố Hữu:

 

Giữa lúc giặc hằm hằm tay lắp đạn

Anh hùng lên tấm ván vẫn hiên ngang

Vẫn oai nghi như bao thuở đường hoàng

Hồn chiến sĩ vẫn rền vang dõng dạc

…

Quyết hy sinh phá tan hết gông xiềng

Cho Tổ quốc muôn năm độc lập

 

Không một phút chần chừ, với tư thế là một cán bộ cách mạng, tôi bước mạnh lên khán đài, kêu gọi đồng bào đoàn kết đấu tranh đòi ngụy quyền miền Nam thi hành hiệp định Geneve, thực hiện tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Đồng bào phấn khởi hoan hô. Kẻ thù dao động trước thất bại cay đắng, lập tức chúng áp giải tôi lên Ty Công an ngụy khai thác và giam tại nhà lao Ngọc Lãng. Chúng dùng đủ cực hình liên tục tra khảo, những lúc ấy trong tôi lại sáng lên những dòng Kinh nhật tụng:

 

Vì rủi phải mắc vòng xiềng xích

Đành cắn răng một chịu chết không khai

Chết là cái chết hình hài

Sắt son một tấm gương đời treo cao

 

Gần 5 tháng bị cùm xiềng cầm cố, bị đánh đập tàn nhẫn nhưng tôi thường xuyên nhận được sự động viên, trợ lực của tập thể và liên tục cảnh giác, đối phó âm mưu tấn công của địch. Tôi không tiết lộ điều gì gây hại cho Đảng và phong trào cách mạng ở địa phương. Kết thúc bản cung, bọn Ty Công an ngụy ghi vào hồ sơ: “Tên cộng sản ngoan cố phải lưu đày biệt xứ”!

 

Những năm lưu đày ở Côn Đảo, sau trận đấu tranh không ký kiến nghị ủng hộ Ngô Đình Diệm ngày 7/7/1957 của anh em tù chính trị, bọn chúa đảo thẳng  tay trả thù, mặc sức đàn áp man rợ, giam biệt phòng, cắt nước, giảm cơm, khổ sai nặng nhọc… Phấn khởi trước thắng lợi, những lời ca, tiếng hát, câu thơ liên tục vang lên. Nhiều đồng chí có trách nhiệm của các tỉnh có dịp phổ biến Kinh nhật tụng. Một lần nữa, Kinh nhật tụng lại đến với tôi từ cụ Tôn Diêm (Quảng Ngãi). Câu này tiếp đến câu khác, hàng ngày cứ rộn lên trong các phòng cầm cố:

 

Thuở nô lệ dân ta nước mất

Cảnh cơ hàn trời đất tối tăm

Cuộc đời đau suốt trăm năm

Chim treo trên lửa, cá nằm dưới dao…

 

Từ đây, việc học Kinh nhật tụng và thơ ca cách mạng được kết hợp với việc học chính trị, văn hoá…trở thành một sinh hoạt chính trị thường nhật trong tù, động viên chúng tôi vững vàng vươn lên, tiếp tục đấu tranh chống chào cờ ngụy, chống ly khai…

 

Hơn 8 tháng cầm cố tại chuồng cọp, tôi không thể nào quên cảnh đói cơm lạt muối, thiếu nước, thiếu chỗ nằm, hằng ngày bị đánh đập, hành hạ tàn nhẫn, bị rải vôi bột, xối nước lạnh…, anh  Lê Quyết Chiến lạnh cóng, bị ngất xỉu phải đi cấp cứu. Mỗi lần bọn ác ôn mở cửa là chúng đánh anh Nguyễn Đình Thành tới tấp, thùng cầu bị đổ ướt cả người. Tôi cùng các anh Thái Thọ Dưỡng,  Bùi Cương vừa ra cửa nhận cơm liền bị chúng đánh đổ hết, thế là anh em đành phải nhịn đói. Những cảnh khủng khiếp cứ diễn ra triền miên tại Côn Đảo. Căm thù, ngậm đắng nuốt cay nhưng anh em vẫn lạc quan với những câu Kinh nhật tụng, những dòng thơ cách mạng và luôn động viên nhau:

 

Đừng để giặc đè đầu cỡi cổ

Tám mươi năm đô hộ sờ sờ

Mưu xưa dại nước cờ

Một lần há dại, bây giờ nữa ư?

 

Không thể nữa lưng chừng hay tính toán

Trọn đời ta rút gọn ở giờ này

Bão đã rốc thời già trên biển loạn

Sống là đây mà chết cũng là đây

 

Chính những dòng Kinh nhật tụng và thơ cách mạng đã phát động lòng căm thù và đã động viên anh em tăng  thêm sức chiến đấu trong những giờ phút gay go ác liệt. Anh em vẫn tiếp tục đấu tranh, buộc bọn chúa đảo phải thả ra khỏi chuồng cọp trở lại phòng để được chăm sóc.

 

Sau khi ra tù, về lại đời thường đến nay, tôi luôn tâm đắc với Kinh nhật tụng thâm thuý:

 

Với Tổ quốc trọn đời yêu quý

Hơn cha mẹ sinh đẻ cù lao

Mẹ cha ơn nặng nghĩa cao

Đất nuôi, nước dạy xiết bao công tình

 

Với tôi, Kinh nhật tụng là cẩm nang tinh thần, tăng sức chiến đấu của người chiến sĩ cách mạng.

 

TRẦN QUANG HIỆU


Tiêu đề: Những ngày đói cơm lạt muối
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 21 Tháng Bảy, 2010, 04:19:54 am
Tôi được Trung ương điều vào Phú Yên công tác trong những năm tháng đen tối nhất của cách mạng miền Nam. Lực lượng vũ trang cũng như cán bộ các ngành, tỉnh thiếu muối, thiếu gạo. Nhân dân vùng được giải phóng, nhất là vùng có bà con dân tộc sinh sống đói muối gay gắt, ăn tro tranh thay muối.

 

Tỉnh ủy có cuộc họp mở rộng để bàn phá thế bao vây của địch, mở rộng giao lưu kinh tế với các tỉnh lân cận và vùng địch còn tạm chiếm.

 

Trong cuộc họp đó lãnh đạo giao trọng trách cho tôi nhiệm vụ Trưởng tiểu ban Mậu dịch gồm: tiểu ban lương thực và tiểu ban động viên khai thác vùng giải phóng.

 

Khi xã Xuân Quang được giải phóng từ Phú Mỡ đến Kỳ Lộ, cấp trên điều tôi và anh Chín Rụng, Ba Cao xuống kết hợp cán bộ Đồng Xuân động viên lương thực. Địch càn lấn chiếm vùng giải phóng, ba anh em chạy ngược lên Phú Mỡ, không gạo, không bắp, không muối, ăn trái sung cho đỡ đói qua ngày.

 

Tôi bàn với anh em cùng đi khảo sát địa hình, địa bàn của các huyện và để mở các cửa khẩu Sơn Thành, An Nghiệp, An Định.

 

Về lại Sơn Long, tôi may mắn được gặp anh Sáu Suyền đang ở nhà anh Bốn Khảo thôn Trung Trinh, báo cáo kết quả khảo sát hướng mở khẩu.

 

Và trở về căn cứ đóng (Suối Rễ) bàn bạc lại cụ thể. Trên đường vào Tuy Hòa I, các anh Chín Rụng, Ba Cao, Thắng, Tân, Liên, Bốn Lùn cho biết có con đường chuyển muối từ Tuy Hòa I lên  Miền Tây, muốn xuống đó phải có tiền mới mua được hàng.

 

Đồng chí Liễm hỏi: “Tỉnh không tiền à”. Tôi trả lời: “Nay chưa có, mà sẽ có”.

 

Liễm nói với tôi: “Em có hai lượng vàng vợ mới gởi lên. Tôi hỏi: “Vàng đâu nhiều thế”. Liễm bảo vợ bán ruộng được 5 lượng gởi lên 2 lượng vàng để em bồi dưỡng. Nay anh cần em cho anh mượn. Tôi viết giấy mượn đưa cho Liễm bảo cất cho kỹ sau này có gì xảy ra thì Liễm đưa cho Ban lãnh đạo giải quyết. Trong kháng chiến sống chết không ai lường trước được.

 

Nhờ 2 cây vàng của Liễm tôi tổ chức lực lượng xung kích xuống Tuy Hòa I, tranh thủ ghé vào vùng Đất Bằng, Quang Hiển.

 

Tôi có mang theo khoảng 3 ký muối xin được của Hai Văn (Tuy An), chia từng gói nhỏ để biếu bà con dân tộc làm ngoại giao. Đêm ở buôn Đất Bằng, tôi nghe trẻ con khóc. Già làng bảo nó đói muối nên khóc đấy.

 

Tôi hỏi đây thiếu muối thế sao không bán bò mua muối.

 

Già làng bảo ai mua mà bán, bán lấy tiền để làm gì?

 

- Ai có muối thì đổi bò.

 

- Tôi nói với già làng, sẵn đi công tác qua đây có đem theo ít muối hộ thân, vậy nay xin giúp dân.

 

- Vậy buôn này bao nhiêu bếp. Già làng bấm tay nói: 31 bếp. Trong ba lô tôi có 50 gói muối. Tôi tặng riêng già làng 2 gói và tặng cho buôn 31 gói. Già làng gọi bà con đến chia muối. Bà con nhận muối, mở ngay ra bốc từng hạt muối bỏ vào miệng nhắp một cách ngon lành.

 

Đêm ấy trẻ không khóc nữa. Sáng ra già làng cho biết nhờ có muối của cán bộ Cụ Hồ nên trẻ con không khóc nữa.

 

Tôi xuống Tuy Hòa I gặp Sáu Lục và đồng chí Chín Cao bàn bạc mở cửa khẩu Hòa Thịnh và về lại Sơn Thành bám lực lượng địa phương tìm cách bán hai lượng vàng được 10.000 đồng. Tôi tổ chức móc nối cơ sở mua muối tại chợ Phú Thứ (muối 2đ/1kg). Chúng tôi mua được 2 thùng muối và một số gạo, đi 3 ngày lên Đất Bằng - Quang Hiển đổi được 5 con bò, dắt thẳng xuống Sơn Định, Sơn Long, Vân Hòa nhờ anh Bảy Long, Trưởng ban Kinh tài Tuy Hòa II tiêu thụ hộ, bán bình quân 1 con bò 15.000đ, tổng cộng 75.000đ. Tôi mua lại hai cây vàng 11.000đ trả cho Liễm, còn lại 64.000đ.

 

Các anh cấp trên hỏi tôi: Làm như thế có ảnh hưởng với nhân dân vùng giải phóng không?

 

Tôi trả lời, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước với mục đích vì dân, do dân và của dân, bên bộ phận thương nghiệp chúng tôi làm như thế vì lợi ích tập thể, không dính dáng gì lợi ích cá nhân cả.

 

Dân thừa bò cần muối, ta có muối đổi bò, trên cơ sở dân định giá trước hai bên đều có lợi. Dân có muối ăn đỡ thiếu lại tiêu thụ được bò, nếu để địch bắn chết thì dân có gì.

 

Ta có công tiêu thụ, của một đồng công một lượng, của này do tỉnh quản lý, còn anh em chúng tôi một mặt tự túc, thiếu thì xin trên phụ cấp thêm về lương thực, công bằng như cán bộ khác.

 

Được cấp trên nhất trí, tôi mở rộng ra hoạt động: mua muối đổi gạo cho Đắc Lắc, 1kg muối = 3kg gạo, còn bò thì tùy nhỏ, lớn, cái, đực miễn là có sự thỏa thuận của chủ bò.

 

Bộ phận thương nghiệp chúng tôi làm nhiệm vụ cái gì dân thừa thì đổi cho dân, cái gì dân cần và thiếu thì trao đổi, không mua bán bằng tiền với dân vùng giải phóng.

 

Từ đó, đổi muối lấy gạo với Đắc Lắc, đổi muối lấy bò với Gia Lai, đổi muối lấy bắp chi viện cho Bắc Khánh Hòa, Nam Bình Định.

 

Nhờ vậy, 4 tỉnh lân cận cảm ơn Phú Yên, Ban Kinh tài Khu V khen ngợi ngành Tài mậu Phú Yên có nhiều sáng tạo để giải quyết hậu cần tại chỗ.

 

LÊ HỒNG CHUYÊN

(Nguyên Trưởng ban Kinh tài huyện Sơn Hòa)

 

 

 


Tiêu đề: Trường Lương Văn Chánh trong khói lửa Toàn quốc kháng chiến
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 21 Tháng Bảy, 2010, 04:20:48 am
Sau Cách mạng Tháng Tám, một trong những công việc đặc biệt quan trọng của chính quyền cách mạng non trẻ tỉnh Phú Yên là nỗ lực xây dựng một trường trung học để nâng cao dân trí, đào tạo cán bộ, bồi dưỡng nhân tài.

 

Sau hơn một năm chuẩn bị, trường trung học đầu tiên của tỉnh Phú Yên mang tên Lương Văn Chánh – vị tiền hiền mở đất Phú Yên cuối thế kỷ XVI – chính thức khai giảng tại thị xã Tuy Hòa (nay là Trường trung học cơ sở Lê Lợi, 77 Lê Lợi, TP Tuy Hòa).

 

Năm học đầu tiên có trên 200 học sinh đăng ký theo học nhưng do mới thành lập, nhà trường chỉ tuyển 90 học sinh chính thức và 10 học sinh dự bị.

 

Là ngôi trường trung học đầu tiên (thời Pháp thuộc trước 1945, muốn học trung học – lớp 6 trở lên – phải ra Quy Nhơn hoặc Huế, Hà Nội), những người thầy của trường là những vị trí thức tiêu biểu nhất của tỉnh Phú Yên thời bấy giờ.

 

Đó là các vị: đốc học Trần Sĩ – Hiệu trưởng, cựu sinh viên Đại học Canh nông năm thứ 3 Trần Suyền, kỹ sư nông học Lê Duy Trinh (Chủ tịch tỉnh), nhà giáo Bùi Xuân Các (tốt nghiệp Cao đẳng mỹ thuật Đông Dương – Trưởng ty thông tin tuyên truyền), cử nhân Hán học Phạm Đàm (đã từng là tri huyện),v.v…

 

Vừa khai giảng được hơn hai tháng, kháng chiến toàn quốc bùng nổ.

 

Với phương châm trường kỳ kháng chiến, toàn diện kháng chiến, kháng chiến để kiến quốc, kiến quốc để kháng chiến, lãnh đạo tỉnh Phú Yên vẫn cố gắng duy trì trường trung học Lương Văn Chánh dù là trong khói lửa ác liệt của cuộc chiến tranh.

 

Chủ tịch tỉnh Phú Yên – kỹ sư nông học Lê Duy Trinh đánh giá rất cao vai trò của tri thức trong công cuộc kháng chiến kiến quốc nên đã tạo mọi điều kiện để thầy và trò Trường Lương Văn Chánh tiếp tục duy trì dạy và học dù cho hoàn cảnh chiến tranh có khắc nghiệt đến đâu.

 

Được Chủ tịch giao nhiệm vụ và cổ vũ động viên, thầy Trần Sĩ đã dời trường từ Tuy Hòa về thôn Định Phong xã An Nghiệp – quê hương của thầy Hiệu trưởng. Lúc này, toàn tỉnh chia thành 6 chiến khu, khói lửa chiến tranh cũng tràn về An Nghiệp. Cũng như các địa phương khác trong toàn tỉnh, An Nghiệp cũng tiêu thổ kháng chiến, vườn không nhà trống.

 

Để duy trì trường lớp, thầy Trần Sĩ lại phải dời trường về Hóc Lá (vùng 2 xã An Nghiệp) học trong nhà mượn của dân chỉ đủ kê 5 bộ bàn ghế học sinh.

 

Chiến tranh nổ ra, học sinh tản mác, chỉ còn độ 20 học sinh theo thầy hiệu trưởng về Hóc Lá kiếm cái chữ. Thầy và trò như một gia đình, tự lo ăn ở, học hành và hoàn thành lớp đệ nhất niên trung học đầu tiên của năm học đầu tiên. Thầy Hiệu trưởng Trần Sĩ xứng danh với mỹ từ “con cọp vùng Hóc Lá” của lãnh đạo, nhân dân, phụ huynh và học sinh khen tặng.

 

Dù trong hoàn cảnh kháng chiến ác liệt, lớp học đầu tiên của Trường trung học Lương Văn Chánh năm học 1946 – 1947 vẫn được duy trì với một đội ngũ giáo sư chính thức và kiêm nhiệm đức độ và tài hoa, hết lòng vì sự nghiệp giáo dục như Trần Sĩ, Bùi Xuân Các, Trần Suyền, Đinh Nho Bát...

 

Đầu tháng 7-1947, lãnh đạo tỉnh Phú Yên quyết định làm lễ bế giảng năm học đầu tiên nhân dịp Đại hội văn hóa cứu quốc tỉnh.

 

Lễ bế giảng này được tổ chức cực kỳ long trọng với sự có mặt của Chủ tịch Ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam Phạm Văn Bạch (đang công tác ở Phú Yên), lãnh đạo tỉnh Phú Yên, nhà thơ Trần Mai Ninh (Nguyễn Thường Khanh) và nhiều vị khác.

 

Trường Lương Văn Chánh vinh dự tham gia Đại hội văn hóa cứu quốc tỉnh Phú Yên và công bố bế giảng năm học đầu tiên bằng vở kịch tự biên tự diễn “Lê Lai liều mình cứu chúa”, được các đại biểu và nhân dân nồng nhiệt hoan nghênh.

 

Trong điều kiện “Toàn quốc kháng chiến” cực kỳ khó khăn gian khổ, Trường Lương Văn Chánh vẫn vượt qua lửa đạn, đứng vững và hoàn thành năm học đầu tiên, năm học lịch sử đầy bi tráng và vinh quang của một ngôi trường cách mạng.

 

THÀNH NAM

(Ghi theo lời kể của thầy Bùi Xuân Các)


Tiêu đề: Bản hùng ca dưới chân núi Hiềm
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 21 Tháng Bảy, 2010, 04:21:48 am
Ngày 13/1/1947, từ vùng tạm chiếm Khánh Hoà, thực dân Pháp tập trung hai trung đoàn chủ lực tinh nhuệ chia làm hai cánh quân ồ ạt tiến công ra mặt trận Đèo Cả nhằm thực hiện âm mưu chiếm đóng vựa lúa Tuy Hoà (dạ dày của vùng tự do liên khu V)

 

Bị quân ta chặn đánh quyết liệt, ngày 16/1/1947, giặc Pháp đổ một trung đoàn vào Vũng Rô và Bãi Xép kết hợp với cánh quân theo đường quốc lộ I và truông Gia Long có máy bay và pháo binh yểm trợ tiến công chiến khu II. Để bảo tồn lực lượng, quân dân ta vừa đánh địch vừa rút lui ra tuyến sau.

 

Chọc thủng mặt trận Đèo Cả, giặc Pháp hí hửng tiến quân ra ven quốc lộ I. Ngày 19/1/1947, quân dân ta mở nhiều đợt phản công ở thị trấn Phú Lâm, ga Gò Mầm đến cầu Bàn Thạch, gây cho địch nhiều tổn thất nặng nề. Giặc Pháp tháo chạy về Hoà Xuân, lập cứ điểm tại núi Hiềm và co cụm ở đó.

 

Giặc Pháp bắt đầu lập bót, xây đồn thành lập ngụy quyền, khống chế nhân dân. Hoà Xuân trở thành vùng tạm chiếm.

 

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Hoà Xuân xây dựng làng chiến đấu, tổ chức phá đường, canh gác, bám địch, tổ chức nhiều hoạt động quấy phá địch, làm cho chúng nơm nớp lo sợ khi ra khỏi đồn.

 

Ngày 24/1/1947, du kích Hoà Xuân do đồng chí Phan Tiên Nam chỉ huy đã phục kích đánh một toán quân Pháp từ chợ Xéo làm cho một tên quan tư Pháp bị thương nặng.

 

 Ngày 27/1/1947, một bộ phận trung đoàn 80 phối hợp cùng du kích tấn công đồn cầu Bàn Nham, đánh địch tiếp viện tại chợ Xéo. Trung đội địch canh giữ bị tiêu diệt, chỉ còn vài tên sống sót tháo chạy vào cứ điểm núi Hiềm.

 

Cuối tháng 3/1947, hơn 6.000 dân bị o ép trong vùng tạm chiếm Hoà Xuân đồng loạt tản cư qua vùng tự do ở Hoà Thịnh, Hoà Đồng, Hoà Tân, Hoà Vinh, Hoà Hiệp… một số rút vào Đồng Nẩy để tránh giặc và sản xuất lương thực phục vụ kháng chiến lâu dài. Riêng lực lượng du kích vẫn bám trụ tại Hoà Xuân quấy rối, tấn công địch.

 

Tháng 5/1947, du kích Hoà Xuân phối hợp với đại đội Cảm tử quân của trung đoàn 80 tập kích địch đồn Bầu Lãng. Chính trị viên đại đội Nguyễn Ngọc Thọ (người con của quê hương Hoà Xuân) vượt lên diệt ổ súng máy, dập tắt hoả điểm của địch và anh dũng hy sinh. Giặc Pháp kinh hoàng khiếp sợ phải rút khỏi đồn Bầu Lãng. Đại đội Cảm tử quân mang tên liệt sĩ Nguyễn Ngọc Thọ trong suốt cuộc chiến tranh chống Pháp.

 

Tiếp đó, bộ đội và du kích Hoà Xuân liên tục phối hợp luồn sâu vào đèo Cả đánh giao thông diệt những đoàn xe địch trên đường đèo, liên tiếp tập kích đồn Pê-tí trên đỉnh đèo Cả, phá cầu Sông Lớn.

 

Tháng 6/1947, giặc Pháp mở rộng càn quét các xã phía nam sông Đà Rằng. Tỉnh chủ trương cho đồng bào Hoà Xuân hồi cư, bám trụ, đồng thời đẩy mạnh công tác diệt tề, trừ gian. Nhân dân lần lượt trở về bám làng để sản xuất, tổ chức đào hầm bí mật để nuôi giấu cán bộ, du kích, bộ đội. Lực lượng ta liên tiếp đánh địch đồn cầu Sông Tra, cầu Sông Ván, phục kích đánh Pháp đến lấy nước ở suối Hóc Vườn, Hóc Ao, Hóc Cây Xoài…

 

Giặc Pháp tìm mọi cách kiểm soát dân. Chúng buộc bà con ta phải vào đồn Hiềm lãnh  cạc (card), ai có cạc mới được  vào đồng sản xuất và nộp tranh tre cho chúng. Du kích Hoà Xuân đã tổ chức đánh vào nơi địch phát cạc, giết chết tên thông ngôn. Âm mưu phát cạc  của thực dân Pháp bị phá sản.

 

Ngày 3/1/1948, du kích Hoà Xuân kết hợp cùng lực lượng chủ lực 224 (đại đội độc lập của Liên khu 5, chịu trách nhiệm mặt trận Nam Đà Rằng) đánh địch tại chợ Xéo, đánh tạc đạn vào xe địch, diệt nhiều tên. Quân dân Hoà Xuân tổ chức phá đường, đánh giao thông đoạn từ chợ Xéo đến cầu Bàn Thạch ngăn chặn địch cơ động bằng cơ giới, đồng thời rào làng chiến đấu, tăng cường canh gác bố phòng.

 

Ngày 4/1/1948, giặc Pháp ở đồn Hiềm rải truyền đơn hăm dọa đồng bào ta. Sau đợt rải truyền đơn, chúng mở các đợt càn quét lớn vào Bàn Thạch-Bàn Nham bằng xe bọc thép để gom dân lập tề.

 

Tỉnh tăng cường đội công an xung phong về Hoà Xuân trừ gian diệt ác, tổ chức diệt chánh tổng hội tề và nhiều tên khác, ném lựu đạn vào trụ sở phát căn cước của địch và phá tan âm mưu địch lập chợ ở núi Hiềm.

 

 Đầu năm 1948, du kích Hoà Xuân phát triển thành trung đội tập trung do đồng chí Lê Đức Tâm làm trung đội trưởng và tôi (Trần Quang Hiệu) làm chính trị viên. Một thời gian sau trung đội du kích tập trung phát triển thành đại đội.

 

Tháng 4/1948, bộ đội và du kích bẻ gãy cuộc càn quét của địch ra các xã tự do phía bắc sông Bàn Thạch. Những tên địch vượt qua cầu Lưới Gõ đều bị  tiêu diệt.

 

Tháng 7/1948, giặc Pháp huy động một tiểu đoàn từ Bắc Khánh Hoà phối hợp với đồn Hiềm tổ chức càn quét cướp lúa, trâu bò của dân. Quân ta phục kích và tập kích ở nhiều nơi, đồng thời tổ chức đánh địch ở trại Hội, đuổi chúng chạy thục mạng, thu lại trâu bò, lúa gạo.

 

 Tháng 3/1949, giặc Pháp cướp lúa ở Phước Giang bị du kích phục kích tại Gò Đình giết một tên quan hai

 

Tháng 8/1949, lực lượng ta, gồm du kích Hoà Xuân và tiểu đoàn 365, do đồng chí Hà Vi Tùng chỉ huy đánh trận Nhà Dù (Phú Khê), tiêu diệt một trung đội lính Pháp và nhiều tề nguỵ có nợ máu với nhân dân.

 

Tháng 7/1949, lực lượng ta nhờ tai mắt của  nhân dân tóm gọn 127 tên gián điệp làm tay sai cho Pháp.

 

Tháng 11/1949, lực lượng ta đánh tiêu diệt một trung đội công binh Pháp tại xóm Quán.

 

Năm 1950, cấp trên bố trí tiểu đoàn 365 do đồng chí Hà Vi Tùng chỉ huy về đóng ở phía bắc sông Bàn Thạch phối hợp cùng đại đội du kích tập trung xã Hoà Xuân và 5 trung đội dân quân thường trực của 5 thôn Nam Bình, Thạch Tuân, Thạch Chẩm, Phú Khê, Bàn Nham liên tục tấn công bao vây địch ở căn cứ núi Hiềm, tổ chức đánh lẻ giặc Pháp ở đồn Pê-tí, Py-đông (Cầu Lớn), tháp canh Cầu Mới, sông Ván, sông Tra; phục kích đánh địch đi lấy nước ở Hóc Lựu, tiêu diệt 3 tên…

 

Ngoài việc tấn công trực diện bằng lực lượng vũ trang, diệt tề điệp, cắt đứt nguồn tin tức của giặc Pháp, lực lượng ta còn tổ chức mạng lưới điệp báo để nắm tình hình địch. Công tác địch vận cũng được đẩy mạnh. Quân ta tổ chức rải truyền đơn, phát loa kêu gọi lính ngụy và vận động cha mẹ vợ con họ vào đồn Hiềm đòi chồng con về với gia đình.

 

Do những thất bại liên tiếp và bị bao vây nhiều ngày, giặc Pháp ở núi Hiềm hoang mang dao động tột độ. Để tránh nguy cơ bị tiêu diệt hoàn toàn, chúng phải tháo chạy khỏi núi Hiềm ngày 5/12/1950.

 

Bản hùng ca chiến công núi Hiềm đã bóp nát tham vọng của giặc Pháp coi đây là tiền đồn làm bàn đạp đánh chiếm tỉnh tự do Phú Yên.

 

TRẦN QUANG HIỆU


Tiêu đề: Về một trận đánh oanh liệt của 30 năm trước
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 21 Tháng Bảy, 2010, 04:25:16 am
Vào những ngày này cách đây 32 năm, vào đêm 18 rạng ngày 19-7-1974, đại đội 3, tiểu đoàn 96 (nay thuộc tiểu đoàn 85 anh hùng) đã bất ngờ tấn công vào cứ điểm Suối Trầu (Xã Xuân Phước, huyện Đồng Xuân) - căn cứ quân sự của địch, làm nên chiến công vang dội Quân khu 5: diệt gọn một trung đội Bảo an, một sở chỉ huy tiểu đoàn, một ban chỉ huy đại đội, một trung đội pháo binh 105 mm, một trung đội thông tin, thu nhiều quân trang quân dụng.

 

Trận đánh ấy đã góp phần điểm tô thêm trang sử vẻ vang của lực lượng vũ trang tỉnh Phú Yên và là một trong những trận đánh hay, tiêu biểu của quân và dân Quân khu 5 trong kháng chiến chống Mỹ. Đến nay nhiều người trong cuộc vẫn còn nhớ về trận đánh nổi tiếng này.

 

Điểm suối Trầu dài khoảng 90 mét, rộng 60 mét, nằm giữa cánh đồng Xuân Phước, cách quận lỵ-chi khu La Hai khoảng 10 km, phía Đông có Suối Trầu vắt ngang, phía Bắc giáp đường 6 và sân bay. Địch trong điểm có một trung đội bộ binh, một sở chỉ huy tiểu đoàn, một ban chỉ huy đại đội, một trung đội pháo binh hai khẩu 105mm và một trung đội thông tin. Cấu trúc công sự điểm này có lô cốt, hầm ngầm, thông hào, hố chiến đấu, nhà làm nửa chìm nửa nổi. Quanh điểm có ba hàng rào bùng nhùng và một hàng rào đơn, giữa các hàng rào gài mìn, lựu đạn. Ban đêm địch tuần tra canh gác, chiếu đèn quan sát thường xuyên và dùng M79, AR15 bắn ra xung quanh bất kể lúc nào. Buổi sáng hàng ngày, chúng kiểm tra phát hiện từng dấu vết của ta.

 

Nhìn chung, điểm Suối Trầu có hệ thống công sự chướng ngại tương đối vững chắc, nằm trong cụm cứ điểm Xuân Phước nên được sự chi viện của các điểm chốt lân cận của địch, là “cái gai” mà ta cần phải nhổ.

 

Trong chiến dịch Thu 1974 của tỉnh, điểm Suối Trầu được xác định là một trong hai điểm then chốt của trọng điểm chiến dịch. Tỉnh đội giao nhiệm vụ cho tiểu đoàn 96 diệt điểm Suối Trầu bằng hình thức chiến thuật tập kích hiệp đồng binh chủng. Thực hiện mệnh lệnh trên giao và để đánh điểm này, tiểu đoàn sử dụng đại đội 3, gồm 50 đồng chí; trang bị một cối 60mm, hai cối 82mm, hai ĐKZ75mm, hai B41, một trọng liên, một đại liên và 10 đồng chí bộ binh làm lực lượng dự bị. Lực lượng tập kích trên hai hướng:

 

Hướng chủ yếu gồm 33 đồng chí, trang bị ba B40, một trọng liên còn lại AK, lựu đạn, thủ pháo do ban chỉ huy đại đội trực tiếp chỉ huy, triển khai ở Tây Nam chia làm bốn tổ: Tổ mở cửa đánh chiếm đầu cầu 6 đồng chí; tổ thọc sâu năm đồng chí; tổ phát triển bên phải năm đồng chí; tổ phát triển bên trái ba đồng chí.

 

Hướng thứ yếu 18 đồng chí, trang bị ba B40, AK, lựu đạn, thủ pháo do đồng chí đại đội phó chỉ huy, chia làm ba tổ từ phía Bắc đánh vào: Tổ mở cửa đánh chiếm đầu cầu sáu đồng chí; tổ phát triển bên  phải bốn đồng chí; tổ phát triển bên trái ba đồng chí. Lực lượng dự bị năm đồng chí.

 

Bộ phận hoả lực ĐKZ75mm, cối 82mm, cối 60mm và ba khẩu B41 bố trí trên hướng chủ yếu.

 

Mười đồng chí trên tăng cường có nhiệm vụ đánh chiếm lô cốt ngoại vi, chặn đường địch tháo chạy và làm lực lượng dự bị.

 

Đúng 1 giờ 15 phút (ngày 19 tháng 7), được lệnh nổ súng, hoả lực ĐKZ75mm, cối 82mm, cối 60mm, đại liên, B41, B40  của ta trên hai hướng, đồng loạt bắn vào các mục tiêu quy định. Sau ba phút, các mục tiêu ngoại vi và một số mục tiêu quan trọng trung tâm bị tiêu diệt, đồng thời hướng chủ yếu nổ mìn mở cửa và xung phong đánh chiếm đầu cầu. Địch ở lô cốt số 1 trên hướng cửa  mở bắn ra, ta phải dùng B40 tiêu diệt hoả điểm địch và tiếp tục xung phong chiếm lô cốt đầu cầu và hai nhà lính. Cùng lúc, tổ thọc sâu đánh thẳng vào khu trung tâm chiếm nhà số 10 và lô cốt 11. Tại đây, chiến sĩ ta phát hiện hầm ngầm, dùng bộc phá đánh tiêu diệt địch trong đó và đánh chiếm chiến hào. Địch dùng đại liên bắn ra, đại đội lệnh cho chiến sĩ giữ B41 tiếp cận tiêu diệt. Hiệp đồng với tổ thọc sâu, tổ bên phải, bên trái cũng nhanh chóng đánh chiếm nhà, lô cốt và tảo trừ địch dưới chiến hào.

 

Ở hướng thứ yếu, khi được lệnh nổ súng tiến hành mở cửa, gặp hoả lực địch ngăn chặn, ta  phải tổ chức hoả lực B41, B40 và trung, đại liên tiêu diệt rồi tiếp tục kiềm chế địch, nhanh chóng dùng bộc phá liên tục phá rào, đánh chiếm đầu cầu, phá huỷ hai lô cốt, một nhà. Lúc này theo hiệp đồng, tổ cánh trái phải vào nhưng bị mất liên lạc. Do vậy, tổ đánh chiếm đầu cầu phải tiếp tục phát triển tiêu diệt lô cốt thứ ba, đánh nhà gác, tảo trừ địch và bắt liên lạc được với mũi chủ yếu.

 

Sau 15 phút chiến đấu, ta làm chủ trận địa, tiếp tục phá huỷ công sự, hầm ngầm, xe pháo địch, giải quyết thương binh, tử sĩ, thu chiến lợi phẩm và hành quân về Phước Hoà làm nhiệm vụ mới.

 

N.V.V


Tiêu đề: Tìm lại chân dung anh Tiến
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 21 Tháng Bảy, 2010, 04:32:49 am
Từ những năm 1960 cho đến mãi bây giờ, điệu bài chòi ngợi ca tấm gương hy sinh anh dũng của “anh Tiến Thọ Lâm Hòa Hiệp” vẫn vang vọng mãi trong lòng nhiều người ở đất Phú Yên. Anh Tiến là ai mà câu bài chòi về anh sống mãi? Chúng tôi đã tìm lại chân dung người liệt sĩ  đã vang danh đó.

 

MỘT CHUYỆN LẠ LÙNG

 

Quê anh Tiến: Thọ Lâm, Hòa Hiệp,

Gia đình anh mẹ mất sớm còn cha

Chị Bốn anh đã có tư gia

Còn đàn em dại sống qua ngày tháng.ư

Anh vẫn biết làm trai trong thời loạn

Không thể ngồi yên nhìn bầy quạ đen xâu xé nước non nhà.

Thế là anh từ giã quê cha

Nhập vào lực lượng giải phóng ta cho trọn tình.

Ngày đêm công tác quên mình

Người anh vui vẻ, tính tình dễ thương.

Chấp hành nghị quyết, chủ trương

Đánh bọn tổng dân vệ phá trục đường số năm.

Mọi người đều hạ quyết tâm,

Bắt đầu xuất phát tìm hành tới nơi.

Aùnh trăng sáng tỏ thấy người

Nhưng nhờ kỹ thuật tuyệt vời của ta

Anh vào trong nổ súng đánh ra

Bốn tổng dân vệ chạy đà thất kinh.

Rủi thay anh Tiến của mình

Viên đạn của địch vô tình nó trúng xuyên qua

Ngực anh máu chảy trở ra

Anh liền ráng sức kêu mà anh Long.

Vào băng mới đã vừa xong,

Thì anh tắt thở không nói năng một lời.

Anh Tiến ơi! Anh đã qua đời,

Gia đình anh mất một người con ngoan,

Chúng tôi mất một bạn vàng

Cùng chung chiến đấu giữ làng giành dân.

Nhớ anh công tác xa gần

Anh đều tích cực không ngần ngại chi

Thanh nhàn nhớ buổi lâm ly

Nhớ anh công tác ở khi trên rừng già

Hành quân leo dốc đường xa,

Xuyên rừng, lội suối, băng qua cánh đầm lầy

Giờ đây thấy cảnh thế này

Anh em ca hát vui vầy thiếu anh

Thiếu người chiến sĩ trung thành

Vì dân vì Đảng anh đấu tranh cho đến cùng

Xứng danh quân đội anh hùng

Chúng tôi nhớ Tiến muôn đời là phai không phai.
“Quê anh Tiến: Thọ Lâm, Hòa Hiệp/ Gia đình anh mẹ chết sớm còn cha…”. Lẽ ra, chúng tôi phải “vin” vào lời mở đầu của câu bài chòi ấy mà tìm về quê của liệt sĩ Tiến để hỏi thăm. Thế nhưng, khi đang chuẩn bị cho chuyến đi tìm tư liệu về người liệt sĩ vang danh đó thì chúng tôi nhận được một bức thư của Nhà giáo ưu tú Nam Đà gởi. “Vừa mới đây thôi, trong khi tôi và anh Nguyễn Ngọc Thanh, một cựu chiến binh đang sống ở Hòa Bình 2 (huyện Tây Hòa), nghỉ dưỡng tại Long Thủy thì nghe một chị thai (hát) bài chòi “Tấm gương anh Huỳnh Tiến sáng ngời”. Bởi anh Thanh là đồng đội cùng đơn vị của anh Tiến nên đã hỏi thăm thì được người phụ nữ này cho hay: Đó là bài chòi các đồng đội viết để ngợi ca chồng chị. Chị cho biết tên là Nguyễn Thị Tưởng, người ở xã Hòa Đồng (huyện Tây Hòa). Chị Tưởng nói rằng hồi anh Tiến hy sinh, chị 24 tuổi, con trai được 2 tuổi. Hiện nay, con trai chị là Huỳnh Long, một kỹ sư xây dựng, con dâu là Nguyễn Thị Hường, giáo viên trường THPT Lê Hồng Phong, các cháu là Huỳnh Hiếu, Huỳnh Trung, Huỳnh Quang và Huỳnh Tèo...” – cụ Nam Đà viết.

Vậy là, chúng tôi quyết định về Hòa Đồng để tìm gặp người vợ anh Tiến. Thật tình mà nói, chúng tôi không biết cụ thể anh Tiến họ gì, bởi trong bài chòi không nói rõ. Tại UBND xã Hòa Đồng, anh Đinh Ngọc Sum, cán bộ phụ trách công tác thương binh – xã hội xã, tỏ vẻ ngạc nhiên khi chúng tôi hỏi thăm về “bà Nguyễn Thị Tưởng, vợ liệt sĩ Huỳnh Tiến”. Giở sổ chỉ cho chúng tôi xem, anh Sum bảo: “Ở xã chúng tôi, tại thôn Vinh Ba đúng là có bà Nguyễn Thị Tưởng, nhưng bà là vợ liệt sĩ Huỳnh Giảng, người ở khu vực này, vừa được công nhận liệt sĩ năm 2002 thôi, đâu phải vợ liệt sĩ Tiến?”. Dù vậy, tôi và anh Sum vẫn tìm đến nhà của bà Nguyễn Thị Tưởng để tìm hiểu rõ hơn. Không may, bà Tưởng đang đi nghỉ dưỡng tại Long Thủy. Nhưng trong nhà bà rõ ràng đang treo Bằng Tổ quốc ghi công liệt sĩ Huỳnh Giảng, không phải Huỳnh Tiến. Anh Huỳnh Thắng (không phải Huỳnh Long như bà Tưởng nói với cụ Nam Đà), con trai duy nhất của liệt sĩ Giảng và bà Tưởng, sinh năm 1961, khẳng định rằng chưa hề nghe mẹ anh nói cha anh có một bí danh nào liên quan đến tên Tiến. Và cha anh quê quán ở Hòa Bình, không phải ở Thọ Lâm, Hòa Hiệp! Còn vợ anh Thắng thì thú thật với chúng tôi rằng gần đây chị có nghe câu chuyện giống hệt như thư Nhà giáo ưu tú Nam Đà viết và khẳng định: “Bà già tôi còn minh mẫn, chỉ có điều hay nói giỡn lắm. Tôi nghĩ đó chỉ là một chuyện bà nghĩ ra vậy thôi”.

Dù hết sức thất vọng, nhưng chúng tôi cũng cố tìm thêm một “chứng cớ” khác: cô giáo Nguyễn Thị Hường. Vậy nhưng, một giáo viên thâm niên ở Trường THPT Lê Hồng Phong là anh Đỗ Ngọc Lãm khẳng định rằng ở trường anh không có cô giáo nào tên Hường cả!

 

Đúng là một chuyện lạ lùng hết sức!

 

CHÂN DUNG ANH TIẾN TỪ “CHỊ BỐN”

 (http://www.baophuyen.com.vn/Portals/0/ImgNews/051128-bondan.jpg)

“Chị Bốn” – Trần Thị Dân: “Sinh thời, Tiến không có cơ hội để chụp hình, nên cho đến giờ vẫn phải lấy Bằng Tổ quốc ghi công để thờ”

Chỉ tự trách mình ham tìm “ngọn” mà không chịu truy từ “gốc”, chúng tôi đã quyết định đến xã Hòa Hiệp Nam (huyện Đông Hòa), nơi có thôn Thọ Lâm – quê hương anh Tiến. Tại UBND xã, anh cán bộ phụ trách thương binh – xã hội và một số cán bộ khác, dù rất rành điệu bài chòi có câu khởi đầu “Quê anh Tiến: Thọ Lâm, Hòa Hiệp...”, nhưng lại không rõ anh Tiến này họ gì vì ở Thọ Lâm có rất nhiều liệt sĩ tên Tiến! Cuối cùng, sau khi cũng khá tích cực hỏi thăm những người khác, anh cán bộ thương binh – xã hội Hòa Hiệp Nam nói với chúng tôi: “Có lẽ đó là liệt sĩ Nguyễn Tiến. Nhà đó có hai liệt sĩ, ngoài anh tiến còn có liệt sĩ Nguyễn Tỏ. Mẹ của họ vẫn còn sống đấy!”. Tôi quay ngược từ trụ sở xã ở thôn Đa Ngư, về thôn Thọ Lâm với suy nghĩ hơi... hoang mang: Không biết mẹ anh Tiến hiện bao nhiêu tuổi, chắc là bà già lắm, biết còn có nhớ nhiều điều không. Tôi quyết định ghé vào nhà của một người quen, thương binh Phạm Văn Quyết ở thôn Thọ Lâm. Ngay sau khi nghe tôi hỏi về liệt sĩ Tiến trong điệu bài chòi, may mắn thay, chú Quyết biết khá rõ: “Ổng là anh bà con với tôi đó, tên chính xác là Trần Tiến. Ngoài anh Tiến, gia đình còn có hai liệt sĩ nữa là các anh Trần Ba và Trần Văn Nghĩa. Nhưng ngôi nhà ngày trước mà anh Tiến sinh trưởng đã bị bán rồi. Bây giờ chỉ có em ông ấy ở đây là anh Trần Xã”. Nói rồi chú Quyết dắt tôi đến nhà ông Xã. Một ngôi nhà cấp bốn cũ kỹ, cửa đóng im ỉm, đầy vẻ hoang vắng. Chú Quyết bảo: “Nhà anh Xã nghèo lắm, luôn thuộc diện cứu đói. Vợ con anh phải đi làm mướn, bán vé số cả ngày, anh thì cũng lo việc đồng áng, việc này việc nọ, hiếm khi có ở nhà lắm”. Rồi chú nói thêm: “Ông Xã là em sinh sau này, sợ không biết nhiều về anh Tiến. Tốt hơn là chú về thôn Vũng Tàu (xã Hòa Hiệp Nam), tìm chị Bốn Dân đi, đó là “nhân vật” chị Bốn trong bài chòi về anh Tiến đó. Chị Bốn nhớ chuyện rất lớp lang”.

 

Cuối cùng thì tôi cũng tìm được “chị Bốn” – Trần Thị Dân. Nghe chúng tôi hỏi thăm về liệt sĩ Tiến, bà nhớ lại chuyện trong nỗi xúc động nghẹn ngào. “Nhà tôi có đến 7 chị em. Tôi thứ bốn, nhưng là người con đầu của gia đình, còn Tiến thứ năm. Tôi sanh năm 1939, Tiến nhỏ hơn tôi 2 tuổi. Mẹ chúng tôi mất năm Tiến 12 tuổi, cha thì đau bệnh liên miên, mấy chị em phải đùm bọc nhau mà sống. Vì gia cảnh khó khăn quá, thậm chí một đứa em sinh đôi với cậu Xã phải cho người ta nuôi,  nên tôi lấy chồng sớm để nhà đỡ miệng ăn. Còn Tiến thì đến 18 tuổi đã thoát ly theo cách mạng. Hiếm khi Tiến về nhà, ngoại trừ những chuyến công tác ở khu vực này. Mỗi lần về, cậu ấy đều ghé thăm tôi. Thương em, mỗi lần tiến về, tôi đều mua cho cậu những món đồ thiết yếu: khi dăm sợi dây dù mắc võng, lúc cái đồng hồ, khi bộ quần áo. Thương nhất là Tiến ước ao có một chiếc bi đông đựng nước thay mấy cái ống tre vướng víu. Khi tôi mua được cái bi đông, chưa gởi được thì cậu Năm đã hy sinh...”. Bà Bốn Dân nhớ chính xác ngày hy sinh của liệt sĩ Trần Tiến là 14-6-1964 (âm lịch). “Cậu ấy hy sinh mà cả tháng sau nhà tôi mới biết. Chúng tôi chạy giặc vô Vạn Giã (huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa), sau đó trên đường trở về nhà, nghe có người thai câu bài chòi về Tiến, hỏi thăm mới biết đó là bài hát ca ngợi em mình! Người báo tin Tiến hy sinh đầu tiên cho tôi là bạn gái thân thiết của cậu ấy ở thôn Đa Ngư này. Vài ngày sau, cậu Nghĩa, người thôn Xóm Rẫy (Hòa Hiệp Nam), mang kỷ vật của Tiến về và báo với gia đình rằng cậu ấy đã hy sinh khi đánh tổng dân vệ ở Hòa Bình”.

 

Bà Bốn Dân khóc và kể với chúng tôi rằng cho đến nay, phần mộ của liệt sĩ Trần Tiến vẫn chưa được tìm thấy. Còn ngày giỗ, theo lời bà, phải giỗ chung với ông nội bởi người em trai còn lại của liệt sĩ Tiến quá khó khăn. “Thậm chí, một bức di ảnh của em tôi cũng không có, vì sinh thời, cậu ấy đâu có cơ hội chụp bức ảnh nào, đành phải thờ bằng tấm bằng Tổ quốc ghi công” – bà Bốn Dân tràn nước mắt, nói.

 

VÀ TỪ MỘT ĐỒNG ĐỘI CŨ

 

Nhà của thương binh Nguyễn Ngọc Thanh nằm tận vùng xóm soi của thôn Phước Mỹ Tây (xã Hòa Bình 2, huyện Tây Hòa). Ông Thanh năm nay 65 tuổi, là một trong những đồng đội hiếm hoi của liệt sĩ Trần Tiến còn sống đến bây giờ. Ông Thanh kể: “Chúng tôi ở chung đại đội 377 của Huyện đội Tuy Hòa, khi đó thường gọi là lực lượng 84. Đại đội chúng tôi có nhiệm vụ “cắm” ở những vùng bị địch chiếm đóng, tìm cách giải phóng được nhiều chừng nào hay chừng đó để vừa gây thanh thế, vừa tiêu hao sinh lực địch. Địa bàn hoạt động của chúng tôi khá rộng, bao trùm khắp Hòa Hiệp, Hòa Tân, Hòa Mỹ, Hòa Định, Hòa Phong, Sơn Thành...”.

 
(http://www.baophuyen.com.vn/Portals/0/ImgNews/051127-ongthanh.jpg)
Cựu chiến binh Nguyễn Ngọc Thanh: “1 tuần sau khi Tiến mất, chúng tôi đã sáng tác câu bài chòi để nhớ đến anh”

 

Cùng sống chung, ăn ở và chiến đấu với Trần Tiến, ông Thanh nhớ khá nhiều về liệt sĩ vang danh này. “Tiến rất năng động, công tác thì tuyệt vời. Cấp trên giao nhiệm vụ gì cậu ấy cũng hoàn thành xuất sắc. Tôi, Tiến, anh Long y tá, anh Nghĩa (còn có bí danh là Quy) đại đội trưởng... rất thân với nhau. Tiến hát bài chòi cũng khá lắm”. Về hoàn cảnh hy sinh của Trần Tiến, ông Thanh nhớ lại: “Đó đúng là ngày 14-6-1964 âm lịch. Tại khu vực ga Gò Mầm tập trung bốn tổng dân vệ của địch (tương đương một đại đội). Ban ngày, chúng tổ chức càn quét khắp nơi, tối thì trở về ăn ngủ tại đó. Nếu đánh sập được đồn này, thì mọi con đường tiếp tế của địch đến khu vực này đều bị cắt đứt. Nghiên cứu kỹ quy luật hoạt động của chúng, chỉ huy đại đội quyết định đánh đồn này một cách bất ngờ, đúng vào thời điểm bọn dân vệ vừa đi càn về, chưa ăn uống, còn mệt mỏi. Khoảng 4 giờ chiều, chúng tôi triển khai lực lượng, chia làm 4 mũi tấn công: Mũi của Trần Tiến đánh trực diện ở trục đường số 5, tôi thì ở mũi Bầu Bèo (Phú Nông, Hòa Bình), một mũi khác triển khai ở Hòa Thịnh nhằm chặn đánh địch về Phú Thứ và mũi còn lại chốt ở Hòa Tân. Trận này, chúng ta thắng dòn giã. Sau 2 giờ chiến đấu, địch tan tác hết. Bốn mũi tấn công họp lại, hành quân về đơn vị. Khi chúng tôi đang đi trên con đường giáp giới giữa hai xã Hòa Tân và Hòa Bình, anh Tiến đang đi giữa đoàn thì bất ngờ một tiếng súng nổ lên: một tên dân vệ nấp ở dưới lù đã nhắm bắn anh. Tiến chỉ bị một viên đạn duy nhất vào ngực. Chính tôi là người đã ẵm Tiến để anh Long y tá băng bó tạm vết thương. Ngay lập tức, chúng tôi đã khiêng anh vô Hòa Đồng để giao cho dân công đưa Tiến về trạm xá của huyện đội đặt tại đồng Cỏ Ống thuộc xã Hòa Thịnh. Nhưng ngày hôm sau, chúng tôi đau đớn nhận được tin rằng Tiến đã trút hơi thở cuối cùng khi còn đang trên đường đưa đến trạm xá”.

 

Một tuần sau khi Trần Tiến hy sinh, một đêm khuya trăng mờ, ông Thanh cùng các đồng chí thân thiết như Long, Thoại, Tỏa, Trường... đã ngồi lại và góp mỗi người vài câu, làm nên câu bài chòi “Quê anh Tiến: Thọ Lâm, Hòa Hiệp...” nổi tiếng cho đến bây giờ.

 

VĨ THANH

 

Trong quá trình đi tìm chân dung liệt sĩ Trần Tiến, chúng tôi tình cờ gặp cựu chiến binh Lê Tiến Thành ở thôn Mỹ Lệ, xã Hòa Bình 2. Ông Thành nổi tiếng vùng này bởi là người thuộc nhiều thơ ca hò vè. Ông đọc cho tôi chép lại nguyên văn bài chòi về anh Tiến (chúng tôi xin đăng lại, có hiệu đính của đồng tác giả Nguyễn Ngọc Thanh), rồi nói: “Không ai dạy tôi đâu. Hồi tôi còn nhỏ, tôi nghe các anh bộ đội hát câu bài chòi này trong một đêm văn nghệ được tổ chức ở Gò Điếm (thôn Phú Thứ, xã Hòa Bình) và thuộc nằm lòng cho đến nay. Thời của chúng tôi, chỉ cần nghe những câu ca như vậy là nhiều thanh niên ngay lập tức xung phong vào bộ đội đánh giặc. Cùng với bài chòi về anh Tiến, tôi còn nhớ các bài ngợi ca những liệt sĩ anh dũng khác như Lê Văn Ngọc, Nguyễn Trọng Tía, anh Lưu công binh... Họ, tuy không được công nhận là anh hùng, nhưng trong lòng mọi người, họ là những người hùng đích thực”.

 

NGUYỄN QUỐC KHƯƠNG


Tiêu đề: Câu chuyện của một chiến sĩ cách mạng người Chăm H’roi
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 22 Tháng Bảy, 2010, 10:44:33 pm
Ngồi đối diện với tôi là một ông già mang nhiều vết sẹo… Sau những tháng năm chiến đấu nơi chiến trường, ông trở thành thương binh hạng 1/4. Đó là Y Thái, 65 tuổi, dân tộc Chăm H’roi ở thôn Hòn Ông, nay là thôn Tân Hòa, xã Sơn Phước, huyện Sơn Hòa.

 

MỘT CHIẾN SĨ QUẢ CẢM

 
(http://www.baophuyen.com.vn/Portals/0/2007/12/03-04/071203-Y-thai.jpg)

Thương binh Y Thái  - Ảnh: T.C.TRÍ

Bởi căm thù bọn cướp nước và bán nước, ngay từ tuổi thiếu niên, cậu bé Y Thái đã ước mơ được cầm súng chiến đấu với quân thù bảo vệ quê hương. Đến năm 1960, khi vừa tròn 18 tuổi, ông tham gia cách mạng. Được các chú các anh chấp nhận cho làm cách mạng là niềm vui khó tả, người thanh niên dân tộc Chăm H’roi này lên đường ngay, không kịp từ giã cha mẹ.

Buổi đầu cầm súng đứng trong hàng ngũ du kích, ông thấy mình chững chạc hơn nhiều, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Ông làm du kích được mấy tháng thì có lệnh cấp trên điều động vào đơn vị 85, vừa chiến đấu vừa huấn luyện. Sau đó, Y Thái được chuyển đến đơn vị 375 thuộc Tỉnh đội Phú Yên.

Suốt thời gian 7 năm (1960-1967), ông xông pha trên chiến trường, tham gia 12 trận đánh ác liệt. Khởi đầu là hai trận đánh lớn tại gò Thì Thùng, một trận tại gò Sân, một trận tại Chí Thán, một trận tại Bắc Lý và hai trận tại Ngân Điền – Thạnh Hội… Trận nào quân ta cũng làm cho quân thù khiếp sợ, tháo chạy, hoang mang.

Ông còn nhớ như in, năm 1967, trong một trận chiến đấu với kẻ thù, mũi xung kích của ông thừa thắng tấn công đến Đá Bàn – Sơn Nguyên mới hay đã lọt vào ổ phục kích của Mỹ. Sau hơn một giờ chiến đấu quyết liệt, bọn Mỹ vừa chạy, vừa kêu tăng cường máy bay và đại bác yểm trợ. Mặc dù trận đánh không cân sức, nhưng mũi xung kích của ông vẫn gan dạ và quyết tâm bám trận địa diệt Mỹ đến cùng. Trận đó, Y Thái bị thương nặng và bị địch bắt. Chúng ném ông lên máy bay. Khi tỉnh lại, ông mới biết mình đã nằm trong xà lim tối om, nóng bức.

Trải qua hàng chục trận đòn tra tấn dã man, nhưng ông không hé răng tiết lộ một lời. Do bị thương quá nặng, mất rất nhiều máu và bị chúng tra tấn liên tục, nhiều lần ông tưởng mình không gượng nổi. Nhưng với ý chí sắt thép, người cộng sản đó đã vượt lên tất cả. Địch đưa ông vào bệnh viện Pleiku chăm sóc, điều trị vết thương. Mặc dù tại đây chúng bố trí canh phòng nghiêm ngặt, nhưng ông đã được bác sĩ của bệnh viện bí mật đưa ra vùng cơ sở cách mạng và tìm cách đưa về lại Phú Yên. Đến năm 1974, ông được tổ chức đưa ra Bắc điều trị.

CHỖ DỰA CỦA NGƯỜI THƯƠNG BINH 1/4

Bà Nguyễn Thị Trang, 53 tuổi, quê ở Hải Dương, vợ của ông Y Thái tâm sự: “Năm 1974, tôi vừa tốt nghiệp phổ thông cơ sở (lớp 7 hệ 10 năm) xin vào Nam tham gia chiến đấu nhưng không được chấp nhận, bởi tuổi còn nhỏ. Thầy u tôi bảo tuổi con còn nhỏ, không tham gia chiến đấu được thì ở nhà chăm sóc thương binh Y Thái, bởi anh ấy cần người giúp đỡ. Con chăm sóc thương binh nơi hậu phương thì ngoài tiền tuyến bộ đội mới an tâm chiến đấu. Anh Y Thái không chỉ bị gãy tay, liệt chân mà còn bị thương ở đầu rất nặng. Khi trái nắng trở trời, vết thương tái phát, ảnh hưởng thần kinh, anh ấy ôm đầu luôn miệng la hét, trông rất thương tâm. Anh ấy là bộ đội, chiến đấu chẳng tiếc máu xương giành độc lập tự do rồi bị thương tật như thế nên tôi tự nguyện chăm sóc anh ấy suốt đời”.
Suốt 33 năm qua bà Nguyễn Thị Trang đã đem lại cho ông Y Thái một gia đình hạnh phúc, đầm ấm. Ngoài việc chăm sóc đỡ đần cho chồng, bà Trang còn tần tảo lao động nuôi 10 con bò, sản xuất 2ha mía, 1ha sắn, 1ha vừa mè vừa lúa, nuôi dạy các con nên người. Các con của ông bà cũng thấu hiểu sự tảo tần vất vả của mẹ và sự mất mát của cha, đều ngoan ngoãn chăm chỉ học hành, đỡ đần giúp mẹ, anh em hòa thuận, bảo ban thương yêu đùm bọc lẫn nhau. Gia đình là chỗ dựa của người thương binh hạng 1/4 Y Thái.


TRẦN CAO TRÍ

 


Tiêu đề: Nhớ một cái Tết trong tù
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 24 Tháng Bảy, 2010, 10:09:14 pm
Sau tết Mậu Thân (1968), địch chủ trương đưa một số đông anh chị em tù chính trị đi đảo Phú Quốc, Côn Đảo và quân lao Nha Trang. Một số khác đang ở độ tuổi thanh niên, trung niên, chúng cho xe nhà binh đến nhà lao bắt lính chở đi các tiểu khu.

 

Mặt khác, chúng tăng cường càn quét, đàn áp, bắt bớ dân chúng ở các vùng tranh chấp, vùng giải phóng, các gia đình có thân nhân tham gia cách mạng đưa vào trại giam Ty cảnh sát, nhiều nhất là ở xã Hoà Kiến, Bình Kiến. Chúng nêu khẩu hiệu: Nhớ Tết Mậu Thân để phòng Kỷ Dậu!

 
(http://www.baophuyen.com.vn/Portals/0/2007/12/17-18/071217-tu-chinh-tri.jpg)

Mô hình tù chính trị trong nhà giam của chế độ cũ – Ảnh: VNN

Trong trại có anh Nguyễn Kiên quê ở  Tuy An cắt giấy màu, làm hoa giấy rất đẹp và đã hướng dẫn anh em làm… Mấy tên cảnh sát trong Ban giám thị trại giam thấy vậy cũng đem giấy màu đến nhờ anh em cắt làm hoa giấy giúp. Nhân tiện, anh em cắt và làm cho chúng mấy bình hoa, còn phần giấy thừa tận dụng làm một bình hoa giấy cho nhà giam để anh em trong tù đón Tết. Phần dưới của bình hoa được làm bằng giấy màu xanh, phần trên được làm bằng giấy đỏ, ở giữa là năm chiếc hoa màu vàng tượng trưng cho cờ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam…

Gần Tết, tên Bùi Văn E, Giám đốc Trung tâm Thẩm vấn, vào trại giam. Nhìn thấy những bình hoa giấy mà anh em làm giúp cho bọn giám thị và bình hoa của trại giam chuẩn bị đón Tết, hắn nói: Những bình hoa kia (của trại giam) cũng đẹp đấy chứ, sao không có thêm hoa trắng? Anh em trả lời: Tận dụng giấy thừa nên không có giấy trắng ông ạ ! Nghe xong câu trả lời của anh em, hắn không nói gì cả…
 
Vậy là từ việc làm một bình hoa, chúng tôi đã nhất trí phải chuẩn bị ăn Tết sao có ý nghĩa để nâng cao niềm tin vào cách mạng, an ủi, động viên, tương thân tương ái trong lao tù.

Việc theo dõi thực hiện chế độ ăn uống trong nhà tù do tù thường phạm hoặc một vài tù chính trị đảm trách. Do chưa có nhận thức đúng nên trong quá trình đi chợ mua thực phẩm hay đi nhận gạo, họ bị cảnh sát ở trại giam áp đặt, lợi dụng cắt xén tiêu chuẩn của anh em tù. Vì vậy,  khẩu phần của anh em thường bị thiếu, cơm ăn không no, thực phẩm không ra gì. Trước thực tế như vậy, anh em đấu tranh, kiến nghị với Ban giám thị đòi công khai về chế độ, tiêu chuẩn của tù chính trị  và đạt được kết quả. Anh chị em cử  người đi chợ mua thực phẩm, mua củi, nhận gạo… rồi thanh toán từng ngày. Tất nhiên mỗi khi họ đi chợ, chở củi, nhận gạo (theo từng lệnh) đều có cảnh sát đi kèm. Từ đó, khẩu phần ăn của anh em được nâng lên, nhiều khi cơm ăn vẫn còn thừa. Chị em nhà bếp lấy cơm đó đem phơi khô, cứ cuối tuần thì các giám thị đem bao bố chở về nhà làm thức ăn cho heo, gà... Anh em thấy vậy mới đặt vấn đề: Đây là phần ăn trong chế độ của anh em mình, phải tìm cách sử dụng cho hết. Tôi và anh Võ Đình Diệm, người Hòa Đồng (huyện Tuy Hòa cũ), bàn nhau và trao đổi với chị em nhà bếp đi chợ mua một con heo với số tiền là 1.900 đồng về nuôi. Heo được cột qua phần bụng hai chân trước vào cây trứng cá gần nơi rửa chén, cho ăn cơm thừa và giao người canh giữ, nới dây cột theo sự lớn lên của nó. Đến cuối năm, heo nặng cỡ 160 kg. Ngày 22 tháng Chạp, giám thị trại giam gọi vào bảo anh em mổ thịt con heo. Tôi đại diện nói rằng: Mới bữa hôm nay mà cho mổ heo thì quá sớm, thế là chúng chẳng nói gì. Đến ngày 26 tháng Chạp, chúng nhắc lại một lần nữa. Anh em nhận định: Nếu như chúng ta cho mổ heo sớm, bọn chúng cứ  vào xách đi từng miếng thì còn gì cho anh em trong tù… Cứ đợi đến ngày Tết, bọn chúng một số nghỉ phép, một số thì về nhà, số trực còn lại ít. Như vậy,  anh em mình mới được nhiều thịt… Lần này, tôi cũng được cử làm đại diện trả lời: Thưa các ông, trong ngày Tết cổ truyền của dân tộc, các ông được về nhà thắp nhang cho ông bà tổ tiên, sum họp với vợ con, được đón giao thừa. Còn chúng tôi ở đây, trong hoàn cảnh chiến tranh bị tù đày, không thắp được nén hương cho ông bà tổ tiên, chúng tôi đau lòng lắm. Nếu như hôm nay mà cho mổ heo thì đến ngày mùng một Tết không có gì, trong trại giam anh em chúng tôi buồn lắm… Mong các ông suy nghĩ lại để đến Tết thì chúng tôi sẽ mổ heo… Bọn chúng trầm ngâm, không nói gì rồi cho qua luôn.

Thế là con heo ấy được mổ đúng ngày 29 tháng Chạp (tháng Chạp năm ấy chỉ có 29 ngày). Con heo gần một tuổi, mổ xong cân được 140kg, anh chị em nhà bếp làm nhiều món. Đến sáng mùng một Tết thì bày 20 mâm có cả cháo, bánh tráng, thịt phay, thịt nướng… Để cho buổi nói chuyện của anh chị em trong ngày Tết Nguyên Đán được chủ động, đủ thời gian, chúng tôi chuẩn bị một số món thịt và bia, phân công một anh làm bếp đem đến bàn trực cửa trại giam phía trước cho tên Năm Do, cảnh sát trực hôm ấy, ăn uống và phục bia giữ chân  hắn.


Thế là yên tâm. Ở nhà ăn phía sau, tất cả anh em tù chính trị được ngồi vào mâm… Đặc biệt, có cờ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam dưới hình thức là một bình hoa được đặt trang trọng trên bàn thờ. Tôi tuyên bố lý do:


- Thưa các anh chị em, hôm nay là ngày Tết Nguyên Đán cổ truyền của dân tộc. Nếu không có chiến tranh thì chúng ta đã sum họp đón Tết ở gia đình, thắp nén hương cho ông bà tổ tiên. Nhưng do hoàn cảnh, chúng ta bị tù đày thế này… Bây giờ, tất cả chúng ta hãy nhìn vào bình hoa để trên bàn đây để hồi tưởng lại, xem như chúng ta đang có mặt ở gia đình và hướng về dân tộc…

Tôi nói đến đây, một số anh chị em ràn rụa nước mắt. Rồi chúng tôi vừa ăn vừa nói chuyện, theo từng đối tượng mà trao đổi… Cuối bữa ăn, các chị nhà bếp và anh em đem lên mỗi mâm một đĩa bánh ngọt gồm bánh in, cốm, bánh men… Mỗi đĩa đều có 5 bánh thuẫn vàng (số bánh này là của người nhà thăm nuôi tập trung lại) tượng trưng cho ngôi sao vàng năm cánh.


Thoáng nhìn qua chiếc bình hoa và đĩa bánh, một số anh em tù chính trị có ý thức nhận biết thâm ý sâu xa, đưa tư tưởng, lòng người hướng về kháng chiến, về cách mạng. Có ông cụ già tuổi ngoài 70 nói với chúng tôi:

- Các chú khéo quá, hay quá.

Tôi giả vờ hỏi:

- Hay thế nào hả bác?


- Tôi hiểu, tôi biết, tôi chịu các chú đấy! Các chú ở đâu cũng làm được việc cho dân - Cụ trả lời.


(Theo “Những năm tháng trong tù”)

 

XUÂN LỘC

 


Tiêu đề: Trên quê hương An Xuân anh hùng
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 24 Tháng Bảy, 2010, 10:15:08 pm
Trong kháng chiến chống Mỹ, địa đạo gò Thì Thùng (xã An Xuân, huyện Tuy An) là minh chứng sống động của tinh thần quyết chiến, quyết thắng của quân và dân ta, cũng là nỗi kinh hoàng của kẻ địch. Ngày nay, vùng đất anh hùng này đang quyết tâm xây dựng cuộc sống mới.

 

(http://www.baophuyen.com.vn/Portals/0/2007/03/26-31/070331-Hoc-sinh-o-Vung-6-An.jpg)
Học sinh ở vùng 6 xã An Xuân (Tuy An) vui với nguồn nước sạch được đưa về tận sân trường - Ảnh: DƯƠNG THANH XUÂN

 

CHIẾN TRƯỜNG - CÔNG TRƯỜNG AN XUÂN NGÀY ẤY

 

Tháng 9/1961, xã An Xuân (huyện Tuy An) được giải phóng. Ngay sau khi xóa bỏ chế độ ngụy quyền tại địa phương, chi bộ xã An Xuân được xây dựng lại, Ủy ban Mặt trận giải phóng đã được thành lập, lực lượng vũ trang địa phương và các đoàn thể từ xã đến thôn cũng được hình thành. An Xuân từng bước ổn định về mọi mặt và trở thành vùng căn cứ vững chắc liên hoàn với khu căn cứ kháng chiến của tỉnh nằm trên ba xã Sơn Long - Sơn Định - Sơn Xuân của huyện Sơn Hoà. Những năm đầu sau khi thành lập vùng căn cứ, quân dân xã An Xuân luôn phải liên tục đối phó với những cuộc đổ quân càn quét của địch với sự hỗ trợ của những phương tiện chiến tranh hiện đại nhằm đánh phá, lấn chiếm vùng giải phóng của ta.

 

32 năm sau ngày đất nước thống nhất, trong những buổi sinh hoạt truyền thống, những du kích, bà mẹ đào hầm địa đạo năm xưa nay đã ở tuổi 60, 70 lại ngân nga những điệu bài chòi ca ngợi tinh thần quả cảm và niềm tự hào về truyền thống đấu tranh anh dũng kiên cường của quân dân ta bằng cách mượn lời một lính Mỹ thất thủ tại gò Thì Thùng: “ Em ơi, Cộng sản nó là là thánh là thần. Nó thiện xạ đánh xa nó giỏi đánh gần, nó bí mật tấn công bất thình lình như thần thông vũ bão. Từ các cửa hầm địa đạo, nó táo bạo xông lên súng nổ vang rền, nó đánh giáp mặt, nó đánh xáp la cà làm quân ta hoàn toàn thất thủ...”
Trước tình hình đó, để chuẩn bị cho những trận đánh lớn, bảo vệ vùng giải phóng và sẵn sàng đối phó với âm mưu, hành động mở rộng chiến tranh của địch, ngày 22/4/1966, Tỉnh ủy Phú Yên và Huyện ủy Tuy An thống nhất xây dựng hệ thống công sự địa đạo tại gò Thì Thùng thuộc xã An Xuân. Sau thời gian chuẩn bị, ngày 10/5/1964, công trình địa đạo gò Thì Thùng được khởi công xây dựng, do đồng chí Đỗ Tấn Cảnh, Trưởng ban xây dựng căn cứ địa của tỉnh trực tiếp chỉ huy công trình. Bà Nguyễn Thị Miễn, một trong những cán bộ được phân công về căn cứ Thì Thùng cùng đồng bào địa đạo ngày ấy, nhớ lại: “Ngày ấy, ban ngày bà con An Xuân vừa tránh máy bay địch, vừa tổ chức bảo vệ bí mật cho cán bộ ta và công trình địa đạo. Ban đêm, người tay cấy tay cày, người giã gạo, cả xã An Xuân là một công trường sản xuất. Những ruột nghé gạo, hột mít xắt lát khô, hũ mắm mít nuôi bộ đội đều do bà con làm ra...”.

 

32 năm sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất, bà Đào Thị Chì, năm nay tròn 90 tuổi, tai đã nặng nhưng vẫn nhớ như in cuộc sống của những năm 1960 trên đất An Xuân, đó là những năm tháng bà cùng chị em của tổ công tác thâu đêm mang đất đào hầm đi đổ trong rừng, trong vườn chuối; những đêm trắng giã gạo nuôi bộ đội, những đêm đi cấy lúa, trồng khoai, cùng bầy con đi trốn máy bay của địch.

 

Sau 15 tháng liền vừa xây dựng công trình địa đạo, vừa phải đối mặt với những cuộc càn quét của địch, bằng công sức và máu của cán bộ, chiến sĩ,  nhân dân An Xuân và một bộ phận nhân dân ở các xã An Nghiệp, An Lĩnh, An Định, đến tháng 8/1965 công trình địa đào gò Thì Thùng đã được hoàn tất và trở thành trận địa vững chắc. Nhờ công trình quân sự này mà quân dân ta đã đánh bại nhiều cuộc đổ bộ, hành quân của địch với ý đồ tiêu diệt vùng căn cứ cách mạng trong gần 10 năm.

 
NGÀY MỚI TRÊN QUÊ HƯƠNG ANH HÙNG

 

Ngày nay, Đảng bộ và nhân dân An Xuân đang ra sức xây dựng cuộc sống mới. Do điều kiện, địa hình tự nhiên trắc trở, An Xuân vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong phát triển kinh tế. Tuy nhiên, Đảng bộ và nhân dân An Xuân đã và đang quyết tâm từng bước khắc phục khó khăn, xây dựng quê hương xứng đáng với truyền thống anh hùng. Ông Nguyễn Đình Thành, Bí thư Đảng uỷ xã An Xuân, cho biết: Để phát triển kinh tế địa phương, hiện nay chủ trương của Đảng bộ An Xuân là tận dụng diện tích tự nhiên lớn để đẩy mạnh trồng rừng và phát triển chăn nuôi đại gia súc, nhất là bò và xem đây là ngành kinh tế mũi nhọn của địa phương. Hiện An Xuân có đàn bò 4.000-5.000 con.

 
(http://www.baophuyen.com.vn/Portals/0/2007/03/26-31/070331-Go-Thi-Thung-2.jpg)

Gò Thì Thùng năm xưa nay trở thành nơi tổ chức một hoạt động văn hóa – thể thao nổi tiếng của Phú Yên: Hội đua ngựa mùa xuân. Nơi đây đang được đề nghị Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia - Ảnh: D.T.XUÂN

 

Chiều xuống, những tốp người từ nương rẫy trở về với trên 550 nóc nhà nằm rải rác trên 7 vùng là những ngọn đồi của khu căn cứ năm xưa. Những đàn bò no cỏ cũng lững thững về chuồng. Những chuyến xe chở đầy sắn mì, đậu đỏ, bắp và những thân cây bạc hà vừa bóc vỏ chạy về xuôi.

 

Tôi rời An Xuân mang theo câu hát bài chòi của ông Phạm Xuân Hồng, một chiến sĩ du kích ở vùng 2, xã An Xuân năm xưa:

 

“Ơi quê mẹ An Xuân nay khác xưa nhiều lắm

Ta đi lên từ cuộc sống nghèo nàn

32 năm là 32 độ xuân sang

Bao kỷ niệm chứa chan lòng nhiệt huyết

Đến hôm nay một tình yêu tha thiết

Lại về đây sưởi ấm trái tim hồng”

 

MỘT NGÀY TIÊU DIỆT HƠN 1.000 ĐỊCH

 

Tư liệu lịch sử về gò Thì Thùng có ghi rõ: “7 giờ ngày 24/6/1966, một tiểu đoàn Mỹ từ gò Sống Trâu chia làm nhiều cánh tiến lên gò Thì Thùng. Tiểu đoàn 11 Trung đoàn Ngô Quyền và Tiểu đoàn 7 Trung đoàn Trần Hưng Đạo bố trí trận địa tại gò Thì Thùng chặn đánh quyết liệt các cánh quân Mỹ, diệt hàng trăm tên. Trận đánh diễn ra rất ác liệt, kéo dài trong nhiều giờ đồng hồ, hỏa lực và phi pháo của địch bắn phá dữ dội, bộ đội ta vẫn bám chắc công sự địa đạo để chiến đấu. Cứ mỗi đợt địch tập trung hoả lực đánh vào, ta rút xuống địa đạo chờ địch đến gần rồi bất ngờ xông lên đồng loạt nổ súng. Hàng trăm tên địch đã bỏ mạng trên gò Thì Thùng sau những trận đánh xáp lá cà. Có những lúc trọng liên 12,7 ly của ta hạ ngang nòng súng bắn thẳng để quét lính Mỹ đổ bộ dày đặc. Đến 14 giờ ngày 24/6, địch đổ bộ thêm 34 lượt máy bay trực thăng HU1A xuống gò Dũng, cách gò Thì Thùng 500 mét về phía đông bắc, hình thành một mũi tấn công mới vào trận địa ta. Một đại đội của Tiểu đoàn 7 Trung đoàn Trần Hưng Đạo bố trí ở gò Dũng liền đánh phủ đầu khi máy bay trực thăng vừa hạ cánh đổ quân, diệt hàng chục tên Mỹ. Như vậy sau một ngày dựa vào công sự địa đạo chiến dấu dũng cảm, kiên cường ta đã đánh thiệt hại nặng sư đoàn không vận số 1 của Mỹ, diệt hơn 1.000 tên, bắn rơi và bắn hỏng 9 máy bay.

 

Đây là trận diệt Mỹ lớn nhất Phú Yên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và đây cũng là chiến công lớn nhất của quân đội và nhân dân ta gắn với gò Thì Thùng, góp phần quan trọng đánh bại cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất năm 1966 của đế quốc Mỹ trên chiến trường Phú Yên”.
 


Tiêu đề: Nữ chỉ huy Khẩu đội pháo năm xưa
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 24 Tháng Bảy, 2010, 10:16:28 pm
Sinh ra và lớn lên ở quê hương Đồng Khởi Hòa Thịnh, năm 1960, mới 14 tuổi, Lê Thị Tạo đã tham gia cách mạng. Gia đình chị là cơ sở bí mật, chị được bố mẹ giao cho nhiệm vụ cảnh giới và nắm thông tin liên lạc với các cơ sở bí mật khác. Chị đã tham gia nhiều cuộc biểu tình chống lại những chính sách đàn áp, áp bức nhân dân của Mỹ-ngụy. Năm 1965, chị vào Đội biệt động của xã Hòa Thịnh và cũng trong thời gian này, cái tên Lê Thị Tạo đã lọt vào sổ đen của bọn mật thám. Vì không thể ở lại địa phương hoạt động nên tháng 2/1966  chị thoát ly lên núi gia nhập vào quân đội. Lúc đầu được đơn vị phân công làm công tác Binh địch vận, đến tháng 1/1967, chị được chuyển về Trung đội Khởi nghĩa, Huyện đội Tuy Hòa. Công tác ở bộ phận nào, chị vẫn luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Chị đã vận động và tổ chức quần chúng nhân dân nổi dậy đấu tranh chính trị, kết hợp với các lực lượng vũ trang của huyện tiến công ngăn chặn các cuộc càn quét của Mỹ–ngụy, đấu tranh đòi quyền độc lập tự do, đấu tranh phá ấp chiến lược… Với những thành tích đạt được, tháng 12/1967 chị Lê Thị Tạo được đơn vị tuyên dương và kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.
(http://www.baophuyen.com.vn/Portals/0/2006/12/w4/061222-ba-chi.jpg)
Tháng 2/1968, Huyện đội Tuy Hòa thành lập Khẩu đội cối 82 nữ và chị Lê Thị Tạo được cử sang làm Khẩu đội trưởng. Từ đây, chị bước sang một lĩnh vực mới, lĩnh vực mà lâu nay cánh đàn ông thường đảm nhận đó là: “Pháo thủ”. Có thể nói, chị Lê Thị Tạo là người phụ nữ đầu tiên chỉ huy pháo của tỉnh Phú Yên trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Năm 1969, Đại đội pháo binh 7 thuộc Tiểu đoàn pháo binh 561 về Phú Yên và được tỉnh bổ sung thêm Đại đội vận tải 16 để thành lập Đại đội pháo binh 167. Đại đội 167 gồm có: 1 trung đội súng cối 120ly, 1 trung đội cối 82ly, 1 trung đội súng ĐKZ 75ly. Đến tháng 10/1969, Đại đội 167 được bổ sung thêm Khẩu đội cối 82 nữ. Chị Tạo kể: “Khẩu đội có 9 chị em, tuy đến từ những đơn vị khác nhau nhưng rất đoàn kết và thương yêu nhau như chị em ruột. Khi mới thành lập, chị em nào cũng viết Quyết tâm thư xin được trực tiếp chiến đấu. Khẩu đội cũng viết Quyết tâm thư sẵn sàng nhận bất cứ nhiệm vụ nào và hứa sẽ hoàn thành xuất sắc.”

Tháng 11/1969, Đại đội pháo 167 ra quân trận đầu. Với 2 khẩu ĐKZ 75ly, họ có nhiệm vụ pháo kích vào trận địa pháo 175 của Mỹ ở Xuân Phước. Cả khẩu đội nữ đều xung phong đi để phục vụ chiến đấu, học hỏi kinh nghiệm. Theo kế hoạch, sau khi pháo kích xong là rút ngay, mà trận địa chỉ duy nhất một đường rút. Đang rút thì bị địch phản công rất ác liệt. Máy bay địch bắn rốc két, B57 dội bom, pháo tự hành bắn đạn như mưa, cối 106,7 của địch ở trận địa Hòn Cò bắn xuống… Một số anh em bị thương, có đồng chí đã hy sinh. Chị em lao vào trận địa để đưa anh em thương binh và những đồng đội đã hy sinh ra khỏi tầm pháo của địch. Sau trận đánh này, Đại đội 167 nói chung và Khẩu đội cối 82 nữ nói riêng rút ra một bài học xương  máu, nhanh chóng huấn luyện bổ sung về mặt kỹ, chiến thuật và công tác chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu.

Chị nhớ lại: “Đêm 21/12/1969, Khẩu đội cối 82 nữ ra quân trận đầu, có nhiệm vụ pháo kích vào trận địa pháo 175 của Mỹ ở Hòn Ngang, Củng Sơn, Sơn Hòa. Sau khi bắn quả đầu tiên bị lệch mục tiêu, Khẩu đội đã nhanh chóng chỉnh độ hướng… Đến quả thứ hai đã trúng mục tiêu nên ngay sau đó, chị em bắn cấp tập hàng loạt đạn. Ra quân trận đầu mà thành công như vậy nên tất cả chị em trong Khẩu đội rất phấn khởi”. Sau trận đó Khẩu đội được tỉnh tặng bằng khen, cá nhân chị Tạo cũng được tỉnh tặng bằng khen. Cả 9 chị em trong Khẩu đội được tặng Huy hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ cấp I.

Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, chị Lê Thị Tạo đã chỉ huy Khẩu đội cối 82 nữ tham gia trên 100 trận đánh lớn nhỏ. Chị đã được Đảng và Nhà nước tặng: 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng 2 và 3; 3 Huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng 1, 2 và 3; Huân chương Kháng chiến hạng 3; Huy hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ cấp I và các loại huy hiệu khác; Bằng khen của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và trên 20 bằng khen, giấy khen các cấp. Chị đang được tỉnh đề nghị lên Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Tháng 4/1972, bắt đầu chiến dịch Hè, Đại đội 167 triển khai 6 khẩu đội chia làm 2 hướng Xuân Phước và La Hai. Khẩu đội cối 82 nữ được giao nhiệm vụ pháo kích vào quận lỵ La Hai, Đồng Xuân. Trận đánh đó, Khẩu đội của chị Tạo đã chiếm lĩnh Trảng Bàng, chân Hòn Bứa, suốt một ngày đêm bám trụ chiến đấu với bọn lính Nam Triều Tiên. Địch dùng máy bay L19 trinh sát trận địa ta và bắn dẫn đường cho bộ binh địch nống ra. Vì địch chỉ cách ta khoảng 300-400m nên Khẩu đội đã luồn lách, bằng mọi cách bám sát địch và dùng cối bắn ứng dụng. Trong trận này, Khẩu đội của chị phải thay đổi trận địa đến 12 lần. Địch bắn đạn như mưa, một số chị em bị thương, chị Liễu hy sinh. Chị Tạo đã vác khẩu cối 82 đến một trận địa khác  để triển khai và tiếp tục chỉ huy khẩu đội chiến đấu. Mấy ngày sau, Khẩu đội cối 82 nữ được lệnh vượt sông ở Xuân Sơn, Đồng Xuân, chốt trên mỏm núi, cơ động di chuyển trên trận địa khoảng 10 lần trong 2 ngày đêm và liên tiếp pháo kích vào quận lỵ La Hai nhằm chi viện cho bộ binh ta tiến công địch. Địch phản kích bằng máy bay ném bom và kêu pháo từ các nơi bắn về rất ác liệt. Có lần bom thả cách Khẩu đội không xa, sức ép của bom hất cả Khẩu đội xuống vực. Trong trận này, một số chị em bị thương, trong đó có chị Lê Thị Tạo. Nhưng các chị tiếp tục bám trận địa để kịp thời chi viện cho bộ binh ta chiến đấu.
Trận đánh mà chị Tạo nhớ nhất là trận đánh địch ở cầu Ngân Sơn. Đêm 23/7/1972, phối hợp với Đại đội đặc công 201, Tiểu đoàn 13 và Tiểu đoàn 96 tập kích vào Ban chỉ huy tiểu đoàn lính bảo an của địch đóng ở phía bắc cầu Ngân Sơn, Tuy An. Khẩu đội cối 82 nữ đóng ở đồi Đá, có nhiệm vụ bắn phá mục tiêu của địch. Đến sáng hôm sau, lực lượng của ta đã chốt lại và đánh chặn lực lượng địch phản kích. Hai bên đánh nhau rất ác liệt. Chị em đào hầm rất kiên cố, địch phản pháo đến nhưng không hề hấn gì. Tiếp đó, Khẩu đội được lệnh chuyển đến đóng tại Hòn Bà và tập kích hỏa lực vào cứ điểm Núi Một, An Chấn. Trong đợt đánh này, Khẩu đội có hai đồng chí hy sinh và một đồng chí bị thương nặng nhưng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Khẩu đội được tặng Huân chương Chiến công hạng 3, cá nhân chị Tạo và hai đồng đội khác được tặng bằng khen.
Đến cuối năm 1972, chị Tạo được điều về làm Trợ lý Tiểu ban pháo Tỉnh đội Phú Yên, nhưng vẫn thường xuyên xuống bám trận địa và chỉ đạo Trung đội cối 82 nữ trong các trận đánh sau này cho đến ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Hòa bình, vợ chồng chị mới gặp lại nhau. Chưa hết mừng vui thì tai họa lại ập xuống. Cũng trong năm 1975, chồng chị là anh Phạm Ngọc Anh, Chính trị viên phó Đại đội 4, thuộc Tiểu đoàn 96 Tỉnh đội Phú Yên, trên đường đi công tác thì gặp tai nạn và từ trần. Khi đó chị mang thai được 3 tháng. Từ đây, cuộc sống của người nữ thương binh hạng ¾ gặp nhiều khó khăn, lận đận…


NGỌC CHUNG

Đội nữ pháo binh  Ảnh: TƯ LIỆU


Tiêu đề: Trận đánh oanh liệt lầu Ông Lợi
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 24 Tháng Bảy, 2010, 10:22:03 pm
Chiến tranh đã lùi xa hơn 30 năm, song nhiều người dân  Phú Lương (Hòa Tân Đông, Đông Hòa) vẫn không thể nào quên trận phục lót đánh địch của tiểu đoàn đặc công và đại đội 377 bộ đội địa phương (huyện Tuy Hoà) diễn ra vào ngày 4- 9 -1972.

 

Hồi ấy, sau chiến dịch hè 1972 của ta, địch bị dồn vào thế bị động, lúng túng. Trên chiến trường Phú Yên, quân viễn chinh Mỹ đã rút hết, chỉ còn lại hai trung đoàn Nam Triều Tiên đang hoạt động ráo riết để mở rộng địa bàn trước khi bàn giao cho quân nguỵ. Đến tháng 7, việc bàn giao cơ bản đã xong, quân Nam Triều Tiên chỉ chờ ngày về nước. Thực hiện âm mưu khống chế kẹp dân, lấn chiếm vùng giải phóng và phong tỏa giao thông quốc lộ 1A, ngăn chặn không cho lực lượng  của ta tiếp cận xã Hoà Vinh, địch sử dụng đại đội bảo an 219 (quân số hơn 70 tên) cứ khoảng 3 đến 4 giờ sáng hành quân từ Phú Lâm hoặc thôn Nhất (xã Hoà Vinh) bí mật kéo đến lầu Ông Lợi (tổ 19) nằm im. Mờ sáng chúng toả ra các xóm lân cận để kiểm tra dấu vết “Việt cộng” về làng, khống chế,  bức hiếp người dân. Đến 16  hoặc có lúc 18 giờ, chúng lại rút về Phú Lâm hoặc các vùng do chúng kiểm soát.

 

(http://www.baophuyen.com.vn/Portals/0/2006/09/t4/060926-lau-ong-loi.jpg)

Lầu Ông Lợi hiện nay, nơi diễn ra trận đánh vào tháng 9-1972 – Ảnh: X.H
 

Chấp hành mệnh lệnh của Tỉnh đội, sau khi nắm được quy luật hoạt động của địch,  tiểu đoàn 14  đặc công chuẩn bị vị trí lót quân và  lập phương án tác chiến.

Đêm 1-9, tiểu đoàn cơ động về đứng chân ở Xuân Thạnh, Hội Cư (nay thuộc Hoà Tân Tây-Tây Hoà). Tiểu đoàn có 3 đại đội (1, 3 và 7). Mỗi đại đội có từ 35 đến 40 tay súng và được trang bị một đại liên, một cối 82 và 3 đến 4 khẩu B40, B41. Ngay trong đêm 2-9, tiểu đoàn đi nghiên cứu và chuẩn bị chiến trường.

Địa hình thôn Phú Lương bằng phẳng, dân cư quần tụ thành từng xóm nhỏ, chủ yếu ở phía nam mương dẫn thuỷ, xung quanh có luỹ tre bao bọc, xen kẽ với ruộng lúa, có chướng ngại vật, dễ cơ động trú quân, phục lót, tầm quan sát khống chế xa và rộng. Đây là vùng tranh chấp giữa ta và địch. Một phương án “đánh nhanh diệt gọn” đã được xác định. Cùng phối hợp với tiểu đoàn có đại đội 377, bộ đội địa phương huyện. Đại đội có 35 tay súng, trong đó có 3 trung liên. Đội hình được bố trí: đại đội 1 lót trong ruộng lúa phía đông-bắc mương có nhiệm vụ đánh đối diện và khoá đuôi, đại đội 3 lót ở khu vực phía tây – nam mương sát với đại đội 7 đảm nhận hướng chính diện còn đại đội 377 lót ở ruộng lúa phía đông-nam, có nhiệm vụ đón lỏng địch (nếu có) để chặn đánh một cách chủ động. Chỉ huy tiểu đoàn đóng ở nhà cơ sở sát với lực lượng khoá đuôi giữa đại đội 1 và đại đội 377, ngăn chặn địch có thể hành quân từ Đông Mỹ (Hoà Vinh) lên.

Ngày 3-9, khi màn đêm vừa buông xuống, ta đưa lực lượng đến khu vực tác chiến và đến 1 giờ sáng 4-9, toàn bộ đã bí mật ém vào các vị trí đã định.

 
(http://www.baophuyen.com.vn/Portals/0/2006/09/t4/060926-lau-ong-loi-2.jpg)
Đồng Phú Lương – nơi bộ đội đặc công ém quân – Ảnh: X.H
Thời gian trôi qua chậm chạp, mặc cho gió rét và muỗi cắn, bộ đội vẫn nằm im chờ đợi. Khoảng 4 giờ 30 phút, từ phía quốc lộ 1A theo con mương nước những bóng đen (lính đại đội bảo an 219 của địch)  lần lượt kéo lên. Chúng chia làm hai cánh, một cánh tiến dọc theo con mương nhỏ phía đông, một cánh từ cánh đồng phía đông-bắc mương cùng tập kết về lầu Ông Lợi (phía bắc mương). Sau đó, một trung đội triển khai đội hình sang phía nam mương  ở ngôi nhà năm gian của bà Sáu Lục đối diện. Toàn bộ đội hình của địch đều nằm trong tầm hoả lực của ta. Từ những địa điểm mai phục, ta có thể nhìn thấy và kiểm tra được quân số địch.

Thời điểm quyết định đã đến, đại đội 3, đại đội 7 đồng loạt dùng B40, B41 tấn công. Bị hoả lực tập trung đánh bất ngờ, địch tháo chạy tán loạn, lớp chạy về hướng đông, lớp chạy ra đồng, men theo con mương nước, nhiều tên không kịp mang giày. Một số tên chưa kịp chạy và định thần  đã bị đại đội 1 nổ súng bao vây, chia cắt tiêu diệt gọn. Đại đội 377 đảm nhận nhiệm vụ đón lỏng địch chạy về  hướng đông - nam, nhưng khi không có địch xuất hiện ở hướng này, chỉ huy đã chủ động cho một bộ phận vượt qua phía bắc mương phối hợp cùng đại đội 1 truy kích tiêu diệt địch. Ta dùng cối 82 đánh chặn địch tháo chạy và chặn cánh quân từ Phú Lâm vào, bắn cháy một xe Jeep làm 3 tên, trong đó có một tên đại úy thiệt mạng.

Do trở tay không kịp và hoàn toàn bị tê liệt nên địch không kịp chống trả. Vì vậy, trận đánh này gần như chỉ có tiếng súng của ta. Sau hơn 10 phút tấn công chớp nhoáng, ta diệt 41 tên, làm bị thương 8 tên, bắt sống 7 tên,  phá huỷ 1 xe Jeep, thu 11 súng, 2 máy PRC25. Đại đội bảo an 219 của địch bị loại khỏi vòng chiến đấu. Phía ta chỉ bị thương một chiến sĩ.

 

LƯƠNG PHÚ


Tiêu đề: Sống trong lửa đạn
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 24 Tháng Bảy, 2010, 10:26:03 pm
Cuộc đời chiến sĩ thanh niên xung phong(TNXP) trải qua nhiều khó khăn gian khổ, từng đói cơm lạt muối, trèo đèo lội suối thế nhưng anh em không nản lòng. Nhiều lúc đi trong mưa bom bão đạn vẫn vững lòng, đưa hàng về an toàn để giúp cho bộ đội ta đánh thắng hết trận này đến trận khác.

Gia nhập đơn vị TNXP từ  năm 1969, sau đó đơn vị cử tôi, đồng chí Phan Ngọc Dũng cùng với một số người đi xuống cửa khẩu An Định( huyện Tuy An) mua thực phẩm. Trên đường về đến đoạn đường qua trảng sim Gò Rộng bị máy bay địch phát hiện, chúng tôi buộc phải chạy sâu vào rừng. Lúc này mọi người đều mang vác rất nặng, nên không thể chạy kịp, đành bỏ hàng lại để thoát thân. Địch phát hiện thấy người nên thả bom dữ dộị Cả cánh rừng, quần áo, hàng hoá, tư trang của cả đoàn đều bị cháy trụi, mỗi người chỉ còn duy nhất một bộ quần áo đang mặc. Sau đó, đoàn cũng về đến đơn vị an toàn. Đến tháng 3-1970, tôi và một số đồng chí khác bám cửa khẩu mua thực phẩm cho đơn vị, khi về thì bị phục kích ở Quốc lộ1. Chúng bắn liên tục làm đội hình tán loạn, pháo sáng thấy rõ người nhưng chúng tôi vẫn giữ gùi hàng trên vai không thể để mất được và thoát chết trở về cứ.

Nhớ nhất là có một lần, chỉ một mình tôi xuống cửa khẩu nhận hàng, khi đi đến giữa đường thì gặp bọn địch đổ bộ tại Hòn Lúp rồi bao vâỵ Tôi bị kẹt giữa rừng sim nên không dám đi xa vì máy bay oanh tạc suốt ngày đêm. Một mình, vừa sợ, vừa đói, 3 ngày đêm liền tôi sống trong cảnh không thức ăn, nước uống. Đến khi địch rút đi khỏi thì tôi cũng không còn đủ sức để đi nữa, phải bò ra ngoài đường chờ người ngang qua nhờ giúp đỡ và may mắn thay có anh Trần Văn Bảy tìm thấy nấu cho một chút cháo để ăn. Đợt sau, tôi được phân công xuống Tuy Hoà 2 nhận lương thực, khi đi đến dốc Gò Rộng, xã Hoà Trị thì gặp biệt kích. Bọn chúng cho máy bay oanh tạc bốn phía, phải chạy vào rừng núp dưới giao thông hào gần đường. Lúc này, tôi và đồng chí Long bàn cho anh em tản vào rừng, nếu ở đây sẽ bị máy bay thả bom chết. Vừa vào được khu rừng nhỏ thì bị biệt kích thả bom xăng, anh em chạy đến đâu lửa bom “chạy” theo đến đó. Mọi người ra khỏi thì đã cháy hết tư trang, chỉ còn một số hàng hoá anh em góp lại mang lên. Khi đến suối thì gặp đồng chí Hồng Quang và đồng chí đưa chúng tôi về căn cứ an toàn.

Đến tháng 6-1971, tiểu đội tôi mang đạn xuống Tuy Hoà 2. Đoàn đi có các đồng chí Lê Thị Tuyết Nga, Nguyễn Thị Hoa, Trương Thị Diệu, Nguyễn Thị Chín, Lê Nguyên Đức Thị, Trần Văn Bảy, Nguyễn Văn Lộc  và Lê Trần Thị Giọng. Chúng tôi đang trên đường xuống suối Cái thì máy bay địch đổ quân ở Gò Sân, Gò Chợ, tiểu đội bị kẹt chính giữa cùng với tổ thu mua lương thực tỉnh. Trong lúc này, pháo bắn tung vào giữa đội hình làm cho một số chị em bị thương nặng, nhưng lại không có dụng cụ để rửa, phải vót cây làm kẹp để thay băng và rửa bằng nước muốị Đến khi địch rút khỏi, chúng tôi mới chuyển về đơn vị, số còn lại tiếp tục xuống làng mang gạo, muối lên để nuôi cán bộ.

Năm 1972, địch càn Suối Ché, tôi cùng đơn vị di chuyển qua Tân Lương vào buôn Ma Lức tránh địch. Sáng hôm sau, địch đổ bộ vào buôn, tất cả các đồng chí đều tránh và dời bà con dân làng đi hết, còn lại một mình tôi vừa mang hàng, vừa dắt đồng chí Phạm Kỳ Châu (lúc đó đang bị bệnh) chạy theo anh em, đến một góc rừng mới gặp nhau, rồi nghỉ lại chờ đến tốị Sau đó mọi người đưa đồng chí Châu vượt  qua Tân Lương về lại Suối Ché.

Đến tháng 11-1972, tôi được cử đi công tác tại xã An Chấn (huyện Tuy An), cùng đi với đồng chí Ánh Hồng, Trương Văn Khanh. Xuống đến xã An Thọ phát hiện có địch, tôi liền kéo hai người chạy trở lại thì gặp các anh đi xuống, chúng tôi cản lại không cho đị Vừa dứt tiếng, chúng tôi chạy lên phía trước thì bọn địch cũng vừa giáp đường, chúng bắn làm anh Khanh bị thương.

Năm 1973, đơn vị phân công tôi cùng đồng đội xuống mua hàng về cung cấp cho toàn ngành giao thông vận tải, đi lên đến cầu Bảy Bổ thì gặp lính Đại Hàn phục kích. Trời lúc đó sáng trăng, chúng thấy người đồng thanh hô “Vi-xi” (VC – Việt cộng). Chúng tôi phải nhào xuống ruộng. Lúc này đồng chí Nguyễn Thị Phận không chạy nổi phải kéo chạy, còn đồng chí Phụng thì bám đường vượt qua, chúng tôi về đến nơi yên ổn cả người lẫn hàng. Tháng 2-1974, tôi được phân công đi nhận hàng chi viện tiền phương, làm trung đội phó trung đội 2 thuộc đoàn 20 Ban chi viện tỉnh Phú Yên, đóng quân bên địa phận tỉnh Đắc Lắc. Trung đội chúng tôi toàn là nữ làm nhiệm vụ chuyển hàng vượt qua đường 14 để giao cho đơn vị bên kia đường. Khi vượt qua bên kia đường 14 thì bị địch bắn nhưng chúng tôi thoát nạn, vẫn bảo toàn lực lượng hàng hoá đưa đến nơi tập kết đầy đủ.


Không biết bao nhiêu mồ hôi, nước mắt và máu của TNXP đã đổ xuống trên chiến trường đấu tranh chống kẻ thù xâm lược. Song, ý chí và tinh thần chiến đấu anh dũng của những người TNXP đã chiến thắng được kẻ thù.               

HỒ THỊ HỒNG CỬU (Cựu TNXP thời chống Mỹ)

 

KIM CHI (ghi


Tiêu đề: Hai bài học thời chiến
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 24 Tháng Bảy, 2010, 10:27:49 pm
Chiến tranh đã lùi xa hơn 30 năm, nhưng những bài học thực tế của nó vẫn còn nguyên giá trị đến hôm nay. Một ngày đầu năm, Đại tá Trần Văn Mười, nguyên Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh - năm 1968 là trợ lý tác chiến Tỉnh đội Phú Yên - nhớ lại…

 

BÀI HỌC THỨ NHẤT: DỄ TRĂM LẦN KHÔNG DÂN CŨNG CHỊU, KHÓ VẠN LẦN DÂN LIỆU CŨNG XONG

 

Đoàn văn công Phú Yên đến phục vụ Đại hội Đảng bộ tỉnh lần 1
Cuối năm 1967, sau khi phân tích tình hình ta, địch Bộ Chính trị quyết định đã đến lúc đưa cuộc chiến tranh cách mạng phát triển cao nhất bằng phương pháp tổng công kích, tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định. Chiến trường Phú Yên bấy giờ chỉ vỏn vẹn 2 tiểu đoàn cùng với lực lượng vũ trang huyện từ 1-2 trung đội. Trong khi binh lực địch có đến 2 tiểu đoàn bộ binh thuộc lữ dù 173, 1 tiểu đoàn pháo, 2 trung đoàn lính Nam Triều Tiên thuộc sư đoàn Bạch Mã và Mãnh Hổ; 1 trung đoàn quân ngụy, 25 đại đội bảo an, 8 đại đội biệt kích, 24 trung đội biệt kích, 54 tổng đoàn dân vệ, 4 đại đội công an và cảnh sát dã chiến. Cả về binh lực và hỏa lực, địch hơn ta gấp nhiều lần. Nhưng với tinh thần chiến đấu ngoan cường của chiến sĩ và dựa vào sức dân tiếp tế, che chở, trong chiến dịch đầu tiên T25 trong cuộc tổng tiến công mùa Xuân năm 1968 quân ta đã giành thắng lợi đáng kể. Chỉ trong vòng 1 tuần lễ từ 30-1 đến 5-2, ta đã có lúc làm chủ được nhiều mặt trận, đã loại khỏi vòng chiến đấu 1.114 tên địch; đã phá hủy một khối lượng lớn phương tiện chiến tranh của Mỹ – ngụy. Nhưng vì tương quan lực lượng, quân ta đành rút lui tiếp tục chuẩn bị cho chiến dịch đợt 2 mang bí số T26.

 

Đó là một chiến dịch khó khăn hơn bao giờ hết. Quân địch đã tăng cường phòng bị chặt chẽ, ta không thể hành quân đánh thẳng vào thị xã Tuy Hòa mà phải cử 1 tổ công tác đặc biệt trinh sát trước gồm: Tôi, tổ trưởng, trợ lý tác chiến, Thị đội trưởng Mười Hoan, Chính trị viên Nguyễn Út, Đại đội trưởng đặc công 202 Lê Trung Kiên và 2 chiến sĩ đặc công. Lợi dụng sự sơ hở của địch, tổ công tác đã đến được thôn Long Thủy (thuộc xã An Phú, TP Tuy Hòa bây giờ) thì trời sáng, chúng tôi đành phải vào nhà dân trú nhờ qua mắt kẻ địch, tiếp tục nắm tình hình địch trước khi mở màn chiến dịch đợt hai.

 

Nhà chị Nguyễn Thị Nga, bán hàng tạp hóa trong thôn là điểm trú chân. Biết quân giải phóng, chị Nga nhanh chóng đưa lên rầm nhà (ngày trước thường làm la phông nhà bằng đất trét, gọi là rầm nhà – PV) nhằm ngụy trang lính bảo an tuần tra. 8 giờ sáng bọn lính kéo đến. Cuộc đấu trí giữa cô bán hàng và bọn lính diễn ra nhưng chỉ đúng 1 câu hỏi và trả lời.

 

- Có Cộng sản trong nhà không? – bọn chúng hất hàm hỏi.

 

Chị Nga không chút ngần ngại lớn tiếng trả lời:

 

- Có! Mấy ổng ở trên rầm nhà ấy, mấy ông lên mà bắt.

 

Thấy thái độ tự tin, dứt khoát của chị Nga, bọn lính bảo an không còn nghi ngờ, sau đó tán tỉnh vài câu rồi đi luôn, trong khi chúng tôi lo đến thót tim và đã sẵn sàng phương án chiến đấu! Nhưng chúng cũng chưa tin hẳn. 3 giờ chiều chúng quay lại và hạch hỏi. Chị Nga vẫn bình tĩnh, trả lời như đùa:

 

- Hồi sáng nói có, mấy ông không bắt, bây giờ mấy ổng (tổ công tác của chúng tôi – PV) đi rồi!.

Nhờ vậy, tổ công tác đã vào được vòng trong, hoàn thành công tác chuẩn bị cho trận chiến.

 

Một bài học mà chúng tôi luôn tâm niệm: Phải biết dựa vào dân, được dân giúp sức thì việc gì cũng dễ. Đúng là “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”.

 

BÀI HỌC THỨ HAI: GIÁO DỤC PHẢI BẮT ĐẦU TỪ THỰC TẾ

 

Đánh! Tiếp tục đánh! Đó không còn là sự lựa chọn mà là mệnh lệnh.

 

Vì thế sau “Hội nghị Diên Hồng” dưới sự chủ trì kiên quyết của Tư lệnh mặt trận Lư Giang, mọi người vẫn quyết đánh. Dù biết rằng lực lượng ta yếu hơn nhiều so với sự phòng thủ dày đặc của địch. Hơn nữa, yếu tố bất ngờ, táo bạo cũng không còn, vậy mà đánh. Tất cả đều nhất tề, mỗi người đều xung phong nhận những phần việc cam go, nguy hiểm nhất.

 

Đêm ngày 3 rạng sáng 4-3 đợt tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 mở màn. Quân ta triển khai 3 mũi tiến công. Phía xóm Chùa tiểu đoàn 12 tiến công vào Ty cảnh sát, mũi thứ hai gồm tiểu đoàn 85 và đại đội đặc công 202 tiến đánh Chi khu 47, phát triển lên Trung tâm Tỉnh đường. Trung đoàn 10 đánh thọc xuống và chặn đường tháo chạy của địch từ hướng xóm Lẫm (Hòa Trị). Trong chiến dịch lần này, ta bị tổn thất nặng nề. Nhiều đồng chí hy sinh, trong đó có đại đội trưởng Lê Trung Kiên đã ngã xuống khi băng lên dẫn đầu đại đội vượt rào.

 

Đại tá Trần Văn Mười dừng lại trong xúc động, rồi mới tiếp tục câu chuyện chiến đấu oai hùng với hình ảnh một chiến sĩ tân binh người Hải Phòng mà ông cũng không kịp biết tên.

 

12 giờ ngày 4-3 thì hầm Chỉ huy mặt trận tiền phương bị công phá dữ dội. Trước tình hình nguy cấp một chiến sĩ mới đã liều chết bám trụ lại. Cùng với thủ pháo và lựu đạn, anh đã chiến đấu tiêu diệt được xe tăng địch. Đồng chí Trần Tất Lưu, Tỉnh đội trưởng, Nguyễn Khánh chính trị viên và rất nhiều đồng chí hy sinh, trong đó có người chiến sĩ trẻ kia không hề tiếc nuối cuộc sống của riêng mình!

 

Không ai lý giải nổi vì sao lúc ấy chúng tôi đã chiến đấu ngoan cường mà không một chút phân vân, toan tính. Thời ấy những người lính chúng tôi cũng có được học hành nhiều gì đâu, sự giáo dục lý tưởng có chi bài bản như bây giờ? Nhưng khi đứng trước kẻ thù, trước quyền lợi chung của đất nước, dân tộc, không ai mảy may toan tính, nghĩ đến lợi lộc cho riêng mình. Và tất cả đều trưởng thành qua sự tôi rèn của chiến tranh khắc nghiệt ấy.

 

Còn hôm nay thì sao? Tôi nghĩ giáo dục lý tưởng, nhân cách cho thế hệ trẻ hôm nay cũng phải bắt đầu từ thực tế của truyền thống và hiện tại thôi!

 

THẾ NHƠN

(ghi chép theo lời kể của Đại tá Trần Văn Mười)

 


Tiêu đề: Vùng đất thép
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 24 Tháng Bảy, 2010, 10:31:14 pm
Nơi ấy có những rặng núi màu lam nhạt xa mờ. Mỗi tinh mơ sương chập chùng trắng xóa, mỗi hoàng hôn gọi về tổ những đàn chim. Dân xóm tôi kể rằng: Mấy chục năm trước, người ta đã đào một địa đạo dài gần 2 cây số và đã diễn ra trận chiến khiến kẻ thù rúng động: Trận chiến Gò Thì Thùng. Suốt những năm tháng tuổi thơ, tôi dõi mắt về phía trùng điệp núi non, cố hình dung sự kỳ vĩ của con đường ngầm, của một vùng đất thép…

 

Trong những ngày cả nước ngược dòng thời gian về với trận mở màn chiến dịch Tây Nguyên, trên Gò Thì Thùng, những cây bạch đàn reo vui trong gió và dàn bò thong dong gặm cỏ. Cuộc sống bình yên - sự bình yên như đã hiêïn hữu từ bao đời, như trên những ngọn đồi, bãi cỏ này, bom đạn kẻ thù chưa bao giờ dội xuống. Ba mươi sáu năm đi qua, con đường ngầm vẫn còn đó minh chứng cho tinh thần yêu nước, ý chí quật cường của người An Xuân cùng nhân dân các xã phía Tây Tuy An.

 
(http://www.baophuyen.com.vn/Portals/0/ImgNews/anh-go-thi-thung.jpg)
Địa đạo Gò Thì Thùng, xã An Xuân, huyện Tuy An - Ảnh: Dương Thanh Xuân

 

Ngày 10/5/1964, đồng chí Trần Suyền, Bí thư Tỉnh ủy Phú Yên bổ nhát cuốc đầu tiên khởi công đào địa đạo. Dưới sự chỉ huy, hướng dẫn của cán bộ Tỉnh đội, Huyện đội và Ban chỉ huy đại đội 220, nhân dân các xã An Xuân, An Nghiệp, An Định, An Lĩnh với cuốc xẻng, rổ đất, đèn lồng… nô nức đi khai thông lòng đất. Dân đào buổi chiều, du kích cảnh giới, lực lượng du kích đào vào ban đêm; mỗi ngày huy động 500 nhân công. Biết bao công sức đổ ra trên từng tấc đất để đến tháng 8/1965, công trình hoàn thành. Địa đạo sâu 4,5m, rộng  0,8m, dài 1.948m xuyên qua Gò Thì Thùng. Toàn bộ địa đạo có 486 giếng, trên miệng giếng cách mặt đất 3m lấy gỗ đặt rầm, cách nhau 20m chừa một cửa hông có ngụy trang. Chung quanh địa đạo là hệ thống giao thông hào chằng chịt sâu 1,5m rộng 1m, bên trên đặt đài quan sát.


Huy động trên 100 nghìn công đào đường ngầm chống giặc, địa đạo Gò Thì Thùng là thắng lợi to lớn trong cuộc chiến không tiếng súng của nhân dân các xã phía Tây huyện Tuy An. Sau khi công trình hoàn thành, Khu ủy khu 5 đã tặng cờ luân lưu về thành tích đào địa đạo.

Bao năm nghe kể về con đường ngầm kỳ tích, hôm nay tôi mới được chạm tay vào cửa địa đạo. Thành giếng rêu phủ xanh mờ. Tôi hình dung dưới ánh chiều vàng rực, những đoàn người từ các nơi hăm hở đến đây. Tiếng cuốc xẻng rộn ràng trong lòng đất, gọi mời đất tham gia chiến đấu chống kẻ thù. Tôi thấy mồ hôi đầm đìa trên lưng áo bạc và những nụ cười thắm đỏ như màu đất An Xuân. Khao khát, chờ mong chiến thắng. Ba mươi sáu năm. Hàng ngàn con người đã lập nên chiến công thầm lặng ấy, ai mất ai còn?

Chủ tịch xã Đặng Ngọc Ninh bảo: “Dân An Xuân hồi ấy không ai mà không tham gia đào địa đạo, từ những cô cậu thanh niên mười sáu mười bảy cho tới những người xấp xỉ năm mươi”.


Tôi gặp ông Phạm Xuân Hồng, du kích xã năm xưa nay tóc đã hoa râm. Những năm tháng đẹp nhất của cuộc đời, ông dành cho cách mạng. Cũng như bao người dân An Xuân, mồ hôi của ông hòa trộn trên từng tấc đất đường ngầm. Ông Hồng nhớ lại: “ Bắt đầu đào địa đạo từ phía Tây vùng 2 An Xuân. Trước hết đào thành giếng sâu chừng 4-5m, giếng này cách giếng kia 10m. Cứ ba người một nhóm, thay nhau làm việc. Đào xong thì dùng cần giọt kéo đất lên. Gặp đá to phải lấy xà beng nạy, đập bể rồi chuyền lên từng miếng một. Hai bàn tay chai ngắùt. Mệt mà vui lắm. Nhóm này thi đua với nhóm kia. Nhiều lúc đang đào, máy bay địch phát hiện. Nó bắn, nó thả bom. Mọi người chạy trốn dưới giao thông hào…”

Khi đó ông Hồng 16 tuổi. Hai năm sau, ông tham gia vào Tiểu đoàn 85 rồi bị địch bắt trong chiến dịch Mậu Thân tại thị xã Tuy Hòa. Giặc giam ông ở nhà giam Pleiku rồi đưa ra Phú Quốc. Trong tù, ông làm thơ tố cáo tội ác Mỹ-Ngụy, ca ngợi quê hương An Xuân anh hùng. Người lính già cất giọng sang sảng:

       
“… An Xuân là chiếc nôi cách mạng

An Xuân là niềm tin của Đảng

Một niền tin trong sáng

Một thành lũy kiên cường

Gò Thì Thùng đất thép hiên ngang

Chính nơi đây giặc Mỹ hung tàn

Đã bỏ xác hàng ngàn tên đền tội”

Bài thơ mộc mạc của ông làm tôi xúc động. Tôi hiểu rằng trong trái tim người An Xuân, chiến thắng Gò Thì Thùng mãi mãi là bản anh hùng ca được viết bằng mồ hôi và máu. Các bậc lão làng kể lại: Gần một năm sau khi địa đạo hoàn thành, Trung đoàn Trần Hưng Đạo và Trung đoàn Ngô Quyền về, chuẩn bị đánh lớn. Sáng ngày 24/6/1966, Mỹ đổ bộ xuống Bãi Chính - An Nghiệp, lập tức bị quân chủ lực của ta chặn đánh. Hôm sau, chúng đổ quân xuống vùng 2, vùng 4, vùng 5 An Xuân. Tại Gò Thì Thùng, cuộc chiến diễn ra vô cùng ác liệt. Ban đầu, ta dựa vào công sự chiến đấu. Khi quân địch gọi máy bay đến thả bom, ta rút vào địa đạo, chờ chúng đến gần mới đồng loạt nổ súng. Giặc chết như ngã rạ, hoang mang kinh sợ trên chiến địa vô hình. Sau 2 ngày đêm oanh liệt, bộ đội chủ lực cùng du kích và nhân dân An Xuân, An Nghiệp tiêu diệt 1030 lính Mỹ, bắn rơi và bắn bị thương 9 chiếc trực thăng. Lữ đoàn dù 101 của Mỹ bị ta đánh tan tành.

Trước đó, sáng 24/4/1964, du kích xã An Xuân và Đại đội 220 đã nổ súng tấn công Đại đội biệt kích Đồng Tre do Khằng – biệt kích khét tiếng ở khu vực Xuân Phước cầm đầu cùng 2 cố vấn Mỹ. Khằng và 12 biệt kích khác chết tại chỗ. Quân ta thu được 1 đại liên, 1 cối 60 ly, 10 khẩu súng cùng nhiều quân trang quân dụng. Với chiến công đánh tan Đại đội biệt kích Đồng Tre, quân và dân An Xuân được trao tặng Huân chương chiến công giải phóng hạng nhì.

Về An Xuân, tôi được nghe nhiều vè những chiến công đánh địch bằng vũ khí tự tạo và ong vò vẽ của  lực lượng du kích. Họ tìm tổ ong vò vẽ, lấy phân bò tươi “hàn” kín các cửa ong bay ra vào, sau đó cưa cành cây rồi đem tổ ong đi. Giữa đường bố trí một hầm chông, ngụy trang và buộc sợi dây nhỏ nối liền với tổ ong đặt gần đường. Khi giặc bị sập hầm chông thì làm động cả tổ ong. Lũ vò vẽ bay ra tứ phía, tha hồ mà đốt. Trận chống càn vào tháng 5/1962, du kích An Xuân cũng áp dụng cách đánh này. Quân giặc chạy tán loạn, vướng phải chông mìn bỏ mạng… Ngoài ra họ còn sáng tạo và khéo léo gài mìn trên cành cây, thả giữa những nơi máy bay địch thường hay đổ bộ. Máy bay tan xác…

Tôi tìm đến nhà ông Lê Văn Hết ở vùng 2 An Xuân. Người du kích năm xưa đang mê mải bên những nọc tiêu, mồ hôi thấm đẫm chiếc áo lính đã bạc màu. Ông không nhớ mình đã “cải tạo” và gài bao nhiêu quả M79, cối 81, bom bi… trong suốt thời kỳ kháng chiến. “Cả mấy ngàn trái. Lính Mỹ chết, lính Nam Triều Tiên chết, nhiều lắm…” Vui vẻ và rất nhiệt tình, ông kể cho tôi nghe từng “công đoạn”: Một ống bom bi nó thả có 24 ống dài, mỗi ống dài có 24 quả. Trước tiên mình tháo nắp ống dài, tháo chốt điện, lấy ra từng quả. Quả vừa ló ra thì phải nắm thật chặt, nếu không nó sẽ bung kim hỏa và phát nổ ngay. Sau đó lấy dao găm cạy nắp bom bi, đem kim hỏa ra, gài kim hỏa vào hạt nổ rồi gài bom bi lại. M79 thì cắt đầu, chuyển hạt nổ chính kim hỏa, gài chờ địch…”


Tôi hỏi:


- Có ai chết vì cắt bom mìn chưa?

- Đã có một người chết vì quả bom bi rơi ra, phát nổ.

- Vậy ông không sợ sao?

Ông Hết cười hỏi lại:

- Ai ai cũng coi trọng mạng sống thì lấy ai cắt mìn, gài mìn? Điều quan trọng là phải hết sức cẩn thận.

Trong trận đánh với quân Nam Triều Tiên, “chuyên gia gài mìn” bị thương. Bảy mảnh đạn nằm lại trong thân thể ông, đau buốt mỗi khi trái gió trở trời. Nhưng với người cựu du kích 56 tuổi này, điều đó dường như không quan trọng. Ông tự hào vì đã góp sức góp công vào cuộc chiến chống ngoại xâm trên mảnh đất quê hương. Ông hãnh diện vì thời trai trẻ đã sẵn sàng chấp nhận cái chết chẳng toàn thây vì đại cuộc. Niềm kiêu hãnh ấy, mặc cho thời gian, vẫn lấp lánh trong đôi mắt tuổi xế chiều. Ông Lê Văn Hết xứng đáng với Huân chương khán chiến hạng nhì mà nhà nước trao tặng.

Chiến tranh đi qua, 158 người con ưu tú của An Xuân vĩnh viễn nằm lại trong lòng đất mẹ. 20 người lính trở về cùng những vết thương. Nỗi đau lặn sâu vào trong đôi mắt những Bà mẹ Việt nam anh hùng. Máu đỏ thấm vào đất đỏ, thấm vào những mạch rễ cội nguồn tạc nên một An Xuân bất khuất, kiên cường.


Trên Gò Thì Thùng, những cây bạch đàn reo vui trong gió, cỏ xanh non tơ và thời gian đã xoa lành lặn những hố bom. Rêu phong lối vào địa đạo. Nhưng con đường ngầm vẫn còn đó – như một bức thông điệp về chặng đường giữ làng giữ nước của cha ông gởi cho thế hệ sau.                   

                                                           

Và tôi nghe bản anh hùng ca chiến thắng Gò Thì Thùng âm vang…

 

PHƯƠNG TRÀ


Tiêu đề: Qua làng Tân Thạnh, nhớ đảnh Xuân Đài
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 24 Tháng Bảy, 2010, 10:33:11 pm
Làng Tân Thạnh nằm bên quốc lộ 1A, cách TP Tuy Hòa khoảng 40km về phía bắc, nay thuộc phường Xuân Đài, TX Sông Cầu. Đây là một làng cổ được hình thành vào loại sớm nhất ở Phú Yên. Địa bạ triều Nguyễn lập dưới thời vua Gia Long vào những năm 1814-1815 đã chép: “Tân Thạnh thôn: Đông giáp núi, Tây giáp địa phận thôn Triều Sơn, Nam  giáp xã Xuân Đài, Bắc giáp địa phận thôn An Vĩnh”. Đây cũng là một trong 176 làng cổ ở Phú Yên được lập địa bạ thời bấy giờ. Vì thế, tại làng Tân Thạnh hiện nay còn dấu tích của một hệ thống các công trình kiến trúc cổ như đình, chùa, đền, miếu tương đối phong phú.

 
(http://www.baophuyen.com.vn/Portals/0/2010/07/14/tan-thanh100714.jpg)

Biển Vũng Lắm - Ảnh: L.BIẾT

Sự hình thành và phát triển của làng Tân Thạnh gắn liền với thương cảng cổ Vũng Lắm mà biểu hiện rõ nhất là về mặt thành phần dân cư. Ở Tân Thạnh ngoài cộng đồng người Việt thì còn có cả cộng đồng người Hoa. Người Hoa đến sinh sống tại làng Tân Thạnh trong nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau. Những nhóm người Hoa đến sinh sống ở Tân Thạnh sớm nhất hầu như không còn mối liên hệ nào với quê hương bản quán – đó chính là người Minh Hương. Trong khi đó, cộng đồng người Hoa hiện nay ở Tân Thạnh đến đây vào khoảng nửa cuối thế kỷ XIX do điều kiện làm ăn thuận lợi. Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, người Hoa chiếm khoảng một nửa dân số ở làng Tân Thạnh, bao gồm các dòng họ Diệp, Dương, Ngô… Trong đó tổ tiên họ Diệp, họ Dương vốn gốc người Hải Nam đến Phú Yên vào khoảng giữa thế kỷ XIX. Phần lớn người Hoa đến làm ăn, buôn bán ở Tân Thạnh đều trở nên giàu có, nhiều người giữ vai trò quan trọng trong cộng đồng người Hoa như ông Diệp Năng Xi từng làm Ban trưởng người Hoa ở Phú Yên vào những năm đầu thế kỷ XX. Cho đến giữa thế kỷ XX, do những biến động nhiều mặt về kinh tế, chính trị, xã hội, cộng đồng người Hoa ở Tân Thạnh bắt đầu di chuyển đến những nơi khác để làm ăn, sinh sống, vì thế số lượng người Hoa ở Tân Thạnh bắt đầu giảm dần. Hiện nay, người Hoa ở làng Tân Thạnh chỉ còn lại một số lượng nhỏ.

Làng Tân Thạnh nằm ở một vị trí thuận lợi, đây là đầu mối giao thông cả về đường bộ và đường thủy. Từ làng Tân Thạnh có thể đi đến nhiều địa phương trong phạm vi toàn tỉnh cũng như trên phạm vi cả nước một cách dễ dàng. Về đường thủy, cảng Vũng Lắm nằm ngay phía trước làng Tân Thạnh là đầu mối giao thông quan trọng nhất của vùng đất Phú Yên dưới thời kỳ phong kiến. Từ hải cảng này tàu thuyền đi ra biển qua cửa Xuân Đài để đến các hải cảng khác khắp cả nước. Ngoài ra, tàu thuyền từ Vũng Lắm ra cửa Tiên Châu rồi có thể theo sông Cái đi ngược lên các vùng phía tây của Phú Yên.
Nằm ở một vị trí giao thông thuận lợi nên sự hình thành và phát triển của làng Tân Thạnh gắn liền với nhiều sự kiện kiện liên quan đến lịch sử của vùng đất Phú Yên cũng như của cả nước.

Cuối thế kỷ XVIII, khu vực làng Tân Thạnh là nơi xảy ra nhiều trận đánh trong cuộc chiến tranh giữa quân nhà Tây Sơn với quân chúa Nguyễn. Vào khoảng tháng 6/1775, tướng Tống Phước Hiệp của chúa Nguyễn Phước Thuần đánh chiếm Phú Yên, quân bộ và quân thủy đều đóng tại khu vực Xuân Đài. Nhưng tháng 8 năm đó, đội quân này bị quân Tây Sơn đánh bại, phải lui vào Hòn Khói (Khánh Hòa). 18 năm sau, tháng 6/1793, Nguyễn Ánh đích thân chỉ huy đại quân đánh chiếm Phú Yên. Đến tháng 4/1794, Phú Yên bị quân Tây Sơn giành lại. Tháng 6/1800, quân của Nguyễn Ánh tiếp tục đánh chiếm  Phú Yên, thủy quân đóng tại Vũng Lắm. Nhưng đến tháng 4/1801, quân Tây Sơn bí mật đột kích Vũng Lắm, tướng của của Nguyễn Ánh là Lưu Tiến Hòa bị tử trận, quân Nguyễn Ánh thua to. Nhưng không lâu sau đó quân của Nguyễn Ánh đánh bại quân Tây Sơn, đồng thời tiêu diệt cả vương triều Tây Sơn để lập ra vương triều Nguyễn.

Đầu thế kỷ XIX, tại Vũng Lắm đã diễn ra hoạt động ngoại giao đầu tiên giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Năm 1832, phái đoàn ngoại giao Hoa Kỳ do Edmund Robert và George Thompson mang theo thư của Tổng thống Andrew Jackson đến Vũng Lắm. Vua Minh Mạng cử Ngoại lang Nguyễn Tri Phương và Tư vụ Lý Văn Phức đến cùng quan tỉnh Phú Yên tiếp đón. Phái đoàn Hoa Kỳ cho biết họ đến đây để xin giao hảo thông thương. Khi dịch quốc thư ra Hán Việt thì có chỗ không hợp thức nên vua Minh Mạng giao quyền Lãnh thương bạc (cơ quan ngoại giao) trả lời không có gì trở ngại trong việc thông thương, nhưng phải tuân theo pháp luật của nước ta và lần sau nếu có đến thì vào vụng Sơn Trà cho tiện.

Vào năm 1885, cuộc khởi nghĩa hưởng ứng phong trào Cần Vương do Lê Thành Phương lãnh đạo nổ ra ở Phú Yên, Vũng Lắm được nghĩa quân chọn đặt căn cứ thủy quân. Từ Vũng Lắm, lực lượng nghĩa quân tiến theo đường thủy vào các tỉnh Nam Trung Bộ như Khánh Hòa, Bình Thuận. Vũng Lắm đồng thời cũng là đầu mối tiếp nhận lương thực, vũ khí từ bên ngoài. Lo sợ sự lớn mạnh của nghĩa quân Cần Vương, tháng 6/1887, quân viễn chinh dưới sự chỉ huy của Chevreux, Tirant và Trần Bá Lộc đã đổ bộ vào vịnh Xuân Đài để đàn áp cuộc khởi nghĩa. Căn cứ của nghĩa quân đóng ở vịnh Xuân Đài do Bùi Giảng chỉ huy nhanh chóng bị thất thủ, hai tuần sau đó cuộc khởi nghĩa bị dập tắt. Các thủ lĩnh chỉ huy của cuộc khởi nghĩa bị bắt và bị hành hình, trong đó có Ngô Kiêm Ký, một Hoa kiều tại Vũng Lắm chuyên cung cấp vũ khí cho quân khởi nghĩa.

Đến cuối thế kỷ XIX, Vũng Lắm lại trở thành một thương cảng nhộn nhịp, thực dân Pháp lập Sở Thương Chánh ngay tại Vũng Lắm để tăng cường hoạt động thương mại thông qua đường thủy. Do vậy, vào năm 1888, thủ phủ của Phú Yên lúc bấy giờ đang đóng tại thành An Thổ đã được chuyển về làng Tân Thạnh. Nhưng chỉ một năm sau đó, bộ máy quan lại phong kiến lại chuyển về thành An Thổ vì lúc này toàn bộ hoạt động của người Pháp đã chuyển ra khu vực trung tâm TX Sông Cầu hiện nay.

Mặc dầu là địa bàn xảy ra nhiều sự kiện lịch sử nhưng những dấu tích về các sự kiện trên không còn nhiều. Chỉ còn lại dấu tích một con đường cổ còn khá rõ. Con đường này bắt đầu từ khu vực làng Triều Sơn, chạy men theo sườn núi phía sau làng Tân Thạnh để lên đỉnh Xuân Đài, sau đó đổ dốc xuống khu vực Đồng Đèo ở xã An Dân thuộc huyện Tuy An. Đây là con đường đá được xây đắp công phu, tương truyền là con đường quân sự được hình thành trong cuộc chiến tranh giữa nhà Tây Sơn với nhà Nguyễn. Sau đó đoạn đường này đã trở thành một phần trong tuyến đường thiên lý Bắc – Nam. Do vị thế địa lý nên đoạn đường đi qua đỉnh núi Xuân Đài có một vị thế hiểm yếu, vì thế ngay tại đỉnh Xuân Đài có một pháo đài cổ có đặt hai khẩu súng thần công để canh giữ đoạn đường này.

Đến nay hai khẩu súng không còn và pháo đài thì cũng đã trở thành phế tích, nhưng hình ảnh về một pháo đài cổ thì vẫn còn lưu truyền trong dân gian: “Ngó ra ngoài đảnh Xuân Đài/ Thấy hai ông súng nằm dài giữa truông”. Trước đây dốc Xuân Đài là đèo dốc hiểm trở, vượt qua được dốc Xuân Đài được xem như vượt qua được thử thách khó khăn: “Đèo nào cao bằng đèo Phú Cốc/ Dốc nào ngược bằng dốc Xuân Đài/ Đèo cao, dốc ngược đường dài/ Anh còn qua đặng huống chi vài lạch sông”. Đến đầu thế kỷ XX, đoạn đường đi qua dốc Xuân Đài không còn đáp ứng được nhu cầu đi lại của nhiều phương tiện vận tải lớn vì thế người Pháp đã nắn lại đoạn đường này chạy dọc ven biển qua trước làng Tân Thạnh, qua Gành Đỏ, vào dốc Vườn Xoài rồi nhập vào con đường cũ tại khu vực Đồng Đèo. Hiện nay, con đường này còn dấu tích một vài đoạn có chiều rộng khoảng 3-4m, mặt đường lát đá, hai bên đường có các bờ thành đá rộng khoảng 2m và cao khoảng 1,5m.

Hiện nay, làng Tân Thạnh đang chuyển mình đổi mới, những dấu tích về một thời kỳ lịch sử sôi động ở đây không chỉ là nguồn tư liệu để tìm hiểu về làng Tân Thạnh, về thương cảng cổ Vũng Lắm mà còn là những nguồn tư liệu để góp phần tìm hiểu về lịch sử và văn hóa của vùng đất Phú Yên.

___________________

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Trần Hiền Ân, Phú Yên miền đất ước vọng, NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 2004

2. Ban công tác người Hoa TX Tuy Hòa, Người Hoa ở Phú Yên, 2003.

3. Nguyễn Đình Đầu, Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn - tỉnh Phú Yên, NXB TP Hồ Chí Minh, 1997.

4. Châu Hải, Các cộng đồng người Hoa ở Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội 1992

5. Quốc sử quán triều Nguyễn - Đại Nam thực lục, tập XXXI, NXB Khoa học Xã hội,  Hà Nội 1974.

6. Quốc Sử quán triều Nguyễn: Đại Nam liệt truyện, Nhà xuất bản Thuận Hóa - Huế 1993.

 

NGUYỄN DANH HẠNH


Tiêu đề: Đường 7 xưa...quốc lộ 25 nay
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 24 Tháng Bảy, 2010, 10:35:30 pm
Đường 7 tên gọi một con đường đi qua địa phận hai tỉnh Gia Lai và Phú Yên có chiều dài 181km, được người Pháp xây dựng từ những năm đầu thế kỷ XX với mục đích làm tuyến giao thông để khai thác vùng Tây Nguyên. Sau năm 1975 được đổi tên thành quốc lộ 25. Quốc lộ 25 có điểm đầu của đường nối với quốc lộ 1A tại km1332 thuộc địa phận TP. Tuy Hoà (tỉnh Phú Yên) và điểm cuối giao với quốc lộ 14 tại km 567+ 800, thuộc địa phận huyện Chư Sê (tỉnh Gia Lai). Đây là một trong hai tuyến đường ngắn nhất nối Tây Nguyên với các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ với các nước Campuchia, Nam Lào và Đông Bắc Thái Lan; đồng thời là trục đường thứ hai trong vùng Bắc Tây Nguyên nối liền hai trục xuyên quốc gia là quốc lộ 1A và quốc lộ 14 đi Đăk Lăk tại ngã 3 Chư Sê.

 (http://www.baophuyen.com.vn/Portals/0/2010/05/09/d7100509.jpg)
Khu vực Sơn Hà, tháng 3-1975. Không ảnh chụp quân đoàn 2 Việt Nam cộng hoà rút chạy trên đường số 7 – Ảnh: TƯ LIỆU


ĐƯỜNG 7 NĂM XƯA…


35 năm trước đường 7 đã đi vào lịch sử dân tộc với những chiến công chói lọi. Những tên đất, tên làng… dọc tuyến đường 7 đã trở thành những địa danh huyền thoại của thế kỷ 20. Chính nó đã làm cho quân thù khiếp sợ… và đó cũng là niềm tự hào của quân và dân hai tỉnh Phú Yên – Gia Lai. Trong trang sử vàng của dân tộc đã ghi rõ, 35 năm trước vào những ngày tháng ba lịch sử năm 1975, cả Tây Nguyên rạo rực trong không khí giải phóng sau khi bộ đội ta giải phóng Buôn Ma Thuột (ngày 10/3/1975). Bị thua tan tác, bọn tàn quân Mỹ ngụy buộc phải rút xuống đồng bằng thông qua con đường duy nhất là đường 7 với mục đích co cụm lực lượng ở duyên hải miền Trung để đối phó với các mũi tiến công của ta và tìm cơ hội phản công chiếm lại Tây Nguyên.

Đoán trước sự di chuyển của địch, Bộ Tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên đã lệnh cho Sư đoàn 320 phải thần tốc truy kích, tiêu diệt địch tại Cheo Reo - Phú Bổn, không cho địch tháo chạy về Duyên hải miền Trung. Trước đó, từ đầu tháng 3/1975, lực lượng Trung đoàn 95 của Bộ Tư lệnh B3 và lực lượng địa phương của H11 Gia Lai và H37 Đăk Lăk đã được lệnh chủ động đánh bật các chốt phòng vệ của địch dọc theo đường 7, giải phóng ấp chiến lược và giải phóng dân, chia cắt thường dân ra khỏi đội hình tháo chạy của địch, tạo điều kiện cho Sư đoàn 320 cắt rừng từ Đăk Lăk qua chiếm lĩnh các núi cao bao vây khu vực Cheo Reo - Phú Bổn, tiêu diệt địch...

Từ sáng ngày 18/3, lực lượng của ta đã bao vây khu vực Cheo Reo - Phú Bổn. Trong 2 ngày 18 - 19/3, nhiều trận đánh ác liệt, dữ dội giữa Sư đoàn 320 của ta và quân địch đã diễn ra ở trại Ngô Quyền, sân bay Phú Bổn, cầu sông Bờ, cầu Cây Sung, đèo Tô Na... Đến 12 giờ ngày 19/3/1975, Sư đoàn bộ binh 320 của ta đã làm chủ chiến trường, giải phóng hoàn toàn tỉnh Phú Bổn (nay là huyện Phú Thiện, Ia Pa, Krông Pa và thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai).

Sau khi thất thủ, quân địch kéo nhau chạy về Củng Sơn (Sơn Hòa), tiến hành bắt cầu phao dã chiến vượt Sông Ba qua đường 5 để chạy về Tuy Hòa. Cầu phao dã chiến Sông Ba bị sập khiến cho đội hình di tản của địch bị dồn ứ, xe pháo, xác lính chết chồng chất, hàng chục nghìn lính ngụy bỏ xe chạy tắt vào rừng kiếm đường xuống Củng Sơn khiến tình hình càng thêm náo loạn. Tiểu đoàn 96, Trung đoàn 9 và các lực lượng vũ trang Sơn Hòa, Tuy Hòa 2 được phân công triển khai chốt chặn đường rút lui của địch theo Tỉnh lộ 7. Tiểu đoàn 13, Đại đội 7, 377, 203 và các lực lượng vũ trang huyện Tuy Hòa 1 được phân công chốt chặn đường 5. Trên đường 5, tuy tương quan lực lượng địch đông hơn ta nhiều lần cả về quân số và trang bị vũ khí, nhưng với tinh thần quyết chiến, quyết thắng, lực lượng vũ trang Phú Yên đã nhanh chóng làm chủ trận địa, kiên quyết tiến công địch, làm tan rã và tiêu diệt hoàn toàn lực lượng địch rút chạy từ Tây Nguyên xuống. Cùng với cánh quân chủ lực thuộc Sư đoàn 320 truy đuổi địch, ngày 24/3/1975 quân và dân Phú Yên đã giải phóng thị trấn Củng Sơn và toàn huyện Sơn Hòa, tạo điều kiện để giải phóng thị xã Tuy Hòa.

Chiến thắng đường 7, đã từng được Đại tướng Văn Tiến Dũng đánh giá là cuộc truy kích mang tầm nghệ thuật quân sự lớn chưa từng có trong lịch sử chiến tranh Đông Dương tính đến thời điểm đó.

VÀ QUỐC LỘ 25 NGÀY NAY

Sau ngày giải phóng thống nhất đất nước, đường 7 được đổi tên thành quốc lộ 25, trở thành tuyến giao thông huyết mạch nối liền các tỉnh Tây Nguyên và Trung Trung Bộ. Nhưng với nhiều lý do khác nhau, một thời gian dài, quốc lộ 25 gần như rơi vào cảnh bị lãng quên và hầu như không được đầu tư lớn để nâng cấp, cải tạo. Theo đánh giá của Cục Đường bộ Việt Nam, hiện trạng quốc lộ 25 chỉ đạt tiêu chuẩn đường cấp V miền núi- cấp đường thấp nhất hiện nay, trên tuyến có nhiều đoạn đường đèo chỉ rộng 3,5 mét- 4,5 mét, lớp láng nhựa mặt đường bị bong tróc khá nhiều; đó là chưa kể đến việc có tới 34 cầu cũ tải trọng thấp đã bị hư hỏng nặng. Vì thế từ lâu quốc lộ 25 đã mất sức “cạnh tranh” về chuyên chở hàng hóa, hành khách so với quốc lộ 19 (từ Pleiku xuống thành phố biển Quy Nhơn và ngược lại). Nhu cầu cấp thiết về mở rộng, nâng cấp để “đánh thức” quốc lộ 25 đã trở thành niềm khát khao của hàng triệu người dân Tây Nguyên và Phú Yên từ nhiều năm nay. Dự án cải tạo nâng cấp quốc lộ 25 được Bộ Giao thông vận tải giao cho Cục Đường bộ làm chủ đầu tư, tổng vốn hơn 1.389 tỷ đồng từ nguồn trái phiếu Chính phủ. Dự án triển khai trên địa bàn hai tỉnh Phú Yên và Gia Lai, với tổng chiều dài toàn tuyến 88,12 km, phạm vi dự án chia làm hai đoạn, đoạn 1 từ Km 21+ 600 đến Km 99 + 432; đoạn 2 từ Km 113 đến Km 123. Sau khi cải tạo nâng cấp quốc lộ 25 đạt tiêu chuẩn kỹ thuật đường cấp III, nền đường rộng 9 m, mặt đường rộng 7 m, tốc độ thiết kế 60 km/giờ; toàn tuyến có 13 cây cầu xây mới và các công trình cống, rãnh thoát nước, nút giao thông. Hiện nay, Ban quản lý dự án 6 thuộc Cục Đường bộ Việt Nam đang phối hợp hai tỉnh Phú Yên và Gia Lai tổ chức bàn giao hồ sơ, tài liệu liên quan để các địa phương này triển khai công tác giải phóng mặt bằng, tổ chức thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư để thi công dự án đúng tiến độ và dự kiến dự án sẽ hoàn thành trong quý IV-2012.

 
(http://www.baophuyen.com.vn/Portals/0/2010/05/09/hai-duong100509.jpg)

Đường Hải Dương TP Tuy Hòa nối với QL 25

Theo ông Phạm Ngọc Biên, Phó Tổng giám đốc Ban QLDA 6 - đơn vị được giao làm đại diện chủ đầu tư, việc sớm “đánh thức” QL25 thông qua đầu tư, nâng cấp, mở rộng tuyến đường đang là một yêu cầu cấp thiết. Ngoài việc rút ngắn quãng đường từ khu vực Tây Nguyên ra biển, đặc biệt là cảng biển khu vực tỉnh Phú Yên, khi cảng Vũng Rô được đầu tư nâng cấp có thể tiếp nhận tàu có trọng tải 10.000 tấn, giúp chi phí vận chuyển hàng hóa lên Tây Nguyên và ngược lại giảm đi rất nhiều, QL25 còn có ý nghĩa lớn hơn rất nhiều là đánh thức tiềm năng kinh tế của nhiều địa phương 3 nước Đông Dương. Mục tiêu đầu tư xây dựng QL25 nối QL1A với đường Hồ Chí Minh tạo ra tuyến giao thông quan trọng nối liền các tỉnh Đông Bắc Campuchia, Nam Lào và các tỉnh Tây Nguyên xuống Nam Trung Bộ và các cảng biển lớn. Đây sẽ là tuyến đường đi qua nhiều vùng đất đai rộng lớn có tiềm năng kinh tế nằm trong tam giác phát triển kinh tế 3 nước Đông Dương. Hơn nữa, đầu tư xây dựng QL25 còn có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển kinh tế- xã hội, quốc phòng, an ninh trong khu vực miền Trung - Tây Nguyên và các tỉnh lân cận. Dự án cải tạo nâng cấp quốc lộ 25 đang được triển khai và dự kiến dự án sẽ hoàn thành đưa vào sử dụng trong quý IV-2012õ.

Việc đánh thức quốc lộ 25 thông qua đầu tư, nâng cấp mở rộng tuyến đường đang là một yêu cầu cấp thiết. Nó không chỉ đem lại động lực cho cả vùng kinh tế mà còn là tuyến đường nối liền Phú Yên với các tỉnh Tây Nguyên và các nước tiểu vùng sông Mê Kông trong việc trung chuyển hàng hóa ra biển đông và ngược lại. Quốc lộ 25 từ Gia Lai về Phú Yên sẽ tạo ra một lối ra biển gần nhất cho Tây Nguyên .

35 năm sau ngày giải phóng, trong những ngày tháng Tư lịch sử này, đi trên con đường 7 năm xưa – quốc lộ 25 hôm nay, chúng ta không khỏi ngạc nghiên trước sự đổi thay của vùng đất. Đi qua biết bao sự tích hào hùng của quân và dân hai tỉnh Gia Lai – Phú Yên, những tên làng, tên đất ghi bao dấu tích hào hùng một thời giờ cũng đang trở thành những đô thị đông vui Chư Sê, Phú Thiện, AyunPa, Phú Túc, Củng Sơn, Phú Hòa, Tuy Hòa… Những làng mạc, những công trình mới, những trang trại, hồ tiêu, những cánh đồng lúa, mía ngút ngàn đã và đang hình thành dọc theo tuyến đường báo hiệu một sự hồi sinh mạnh mẽ, một sức sống mới ấm no, thanh bình, hạnh phúc trên chiến trường xưa.

Theo ông Phạm Ngọc Biên, Phó Tổng giám đốc Ban QLDA 6 - đơn vị được giao làm đại diện chủ đầu tư, việc sớm “đánh thức” QL25 thông qua đầu tư, nâng cấp, mở rộng tuyến đường đang là một yêu cầu cấp thiết. Ngoài việc rút ngắn quãng đường từ khu vực Tây Nguyên ra biển, đặc biệt là cảng biển khu vực tỉnh Phú Yên, khi cảng Vũng Rô được đầu tư nâng cấp có thể tiếp nhận tàu có trọng tải 10.000 tấn, khiến chi phí vận chuyển hàng hóa lên Tây Nguyên và ngược lại giảm đi rất nhiều, QL25 còn có ý nghĩa lớn hơn rất nhiều là đánh thức tiềm năng kinh tế của nhiều địa phương 3 nước Đông Dương. Mục tiêu đầu tư xây dựng QL25 nối QL1A với đường Hồ Chí Minh tạo ra tuyến giao thông quan trọng nối liền các tỉnh Đông Bắc Campuchia, Nam Lào và các tỉnh Tây Nguyên xuống Nam Trung Bộ và các cảng biển lớn. Đây sẽ là tuyến đường đi qua nhiều vùng đất đai rộng lớn có tiềm năng kinh tế nằm trong tam giác phát triển kinh tế 3 nước Đông Dương. Hơn nữa, đầu tư xây dựng QL25 còn có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển kinh tế- xã hội, quốc phòng, an ninh trong khu vực miền Trung - Tây Nguyên và các tỉnh lân cận.
 
ANH KIỆT


Tiêu đề: Phước Hậu quê hương tôi
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 24 Tháng Bảy, 2010, 10:37:44 pm
Quê hương yêu dấu mà “mỗi người chỉ một” của tôi là Phước Hậu, thuộc thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên. Phú Yên là tỉnh duyên hải miền Trung, có biển một bên còn ba bên là núi. Danh xưng Phú Yên có từ năm 1611, lúc đầu là phủ sau là dinh (1692), rồi trấn (1808), đạo (1853) và tỉnh (1888). Đến năm 2011 Phú Yên sẽ mừng sinh nhật lần thứ 400 danh xưng của mình.

 (http://www.baophuyen.com.vn/Portals/0/2010/Bao%20cuoi%20thang%201/phuoc-hau.jpg)

Một góc Phước Hậu Bình Kiến - Ảnh: LÊ MINH

 

Tôi đã viết được mấy bài về quê hương Phú Yên đăng trên báo và tạp chí:

Phú Yên tên có tự bao giờ?

Phú Yên thời mở cõi.

Phú Yên – Sông dài, biển rộng.

“Cầu Đà Rằng dài theo nỗi nhớ”.

Bên mộ cha.

Dọc đường 25.

Dọc đường thiên lý…


Nay tôi đang là chủ nhiệm đề tài khoa học nghiên cứu “Lịch sử Phú Yên thế kỷ XVII - XVIII”. Càng biết nhiều, càng tự hào về quê hương Phú Yên.


Danh xưng Tuy Hòa cũng xuất hiện từ năm 1611. Đó là một trong hai huyện của phủ Phú Yên: Tuy Hòa và Đồng Xuân. Vùng đất Tuy Hòa đó nay là ba huyện  (Phú Hòa, Tây Hòa, Đông Hòa) và Thành phố Tuy Hòa.

Nơi “cắt rốn chôn nhau” mà tôi mang nặng ơn sâu cả cuộc đời này và hết lòng yêu dấu là làng Phước Hậu.


Danh xưng Phước Hậu có khá lâu, khi lập địa bạ vào đời Gia Long (1815) đã thấy ghi, nhưng làng này hình thành từ giữa thế kỷ XVII, trước gọi là Pháp Đông của Phước Toàn xã.

Một tên gọi dân dã trước đây còn được biết  tới là “Xóm Sủng”. Ngữ âm và ngữ nghĩa của danh xưng này phản ánh địa bàn không bằng phẳng của Phước Hậu. Tên các xóm (Ngoài, Giũa, Trong, Lẫm, Đường, Quán, Hóc, Rừng, Mới…), các gò (Thủ Kỳ, Thượng Điền, Ông Dõi), các dốc (Cây Châu, Cây Sanh, Ông In, Ông Quỡn…), Các giồng (Điếm), các động cát… cho thấy bức tranh địa mạo của làng Phước Hậu. Nhà tôi ở Xóm Đường, gần dốc Cây Sanh.

Phước Hậu không xa biển lắm. Quốc lộ 1A và đường xe lửa Bắc Nam chạy ngang qua ngôi làng ở ngay sát chân núi Chóp Chài (cao 390m) này. Thuở ấu thơ, tôi nhìn thấy Chóp Chài hằng ngày. Lớn lên, khi về ngoại ở làng Liên Trì, cách Phước Hậu độ hai cây số, cũng chỉ là đi từ chân núi góc Đông – Nam sang chân núi Phía Đông. Ở gần quá nên tôi thường không thấy cả hòn núi, ít khi nhìn thấy đỉnh núi nhưng hình ảnh Chóp Chài sâu đậm trong ký ức tôi và lúc đi xa thì nhớ nhiều.

Phước Hậu là một làng ven Đô. “Cây số 3” là cách chỉ đường dễ nhìn nhất cho những ai ở xa muốn đến Phước Hậu. Từ Chợ Dinh (Trung tâm đô thị Tuy Hòa) ra “Cây số 3” trước đây đi xe ngựa, xe kéo hoặc đi bộ cũng dễ dàng. Gần đô thị, nên dân làng Phước Hậu có nhiều người đi học, nhưng chỉ đến hết tiểu học. Học cao hơn nữa phải đi xa: Sông Cầu, Qui Nhơn, Huế… Khi trường trung học đầu tiên mở ở Tuy Hòa (tại Lò Tre) năm 1950 thì tôi là một trong những học sinh đầu tiên.

Phước Hậu vón là một thôn nông, dân làng hầu hết là nông dân, nguồn sống chính là nông nghiệp, một số hộ làm nghề thủ công, buôn bán nhỏ. Dân làng Phước Hậu chất phác, cần cù, lao động giỏi. Cánh đồng Phước Hậu rộng hơn 260 ha (chiếm 2/3 diện tích cả làng) có mương dẫn nước từ đập Đồng Cam, nên dọi là “Đồng Thủy”. Mỗi năm hai vụ lúa. “Cày sâu, cuốc bẫm”, bón phân nhiều, làm cỏ kỹ… Kỹ thuật thâm canh của người dân mang lại năng suất cho cánh đồng cao sản Phước Hậu. Mùa cày, trên khắp cánh đồng, những cặp trâu to khỏe cần mẫn kéo cày vỡ đất theo tiếng “dí, thá” của người cầm cày đội chiếc nón cời. Mùa lúa chín, từng tốp thợ gặt từ Tuy An, từ Bình Định vào, đến khi về ai cũng gánh hai bao đầy lúa. Có người vào Phước Hậu để mót lúa cũng đủ gánh nặng.


Vườn tược ở Phước Hậu toàn đất cát nên cày, cuốc không nặng công lắm, nhưng tưới nước thì mất nhiều sức. Cả xóm chỉ có một giếng nước, toàn làng chưa đến 20 giếng nước, sâu đến hàng chục sải dây gàu. Vậy mà từng gánh nước, đi thật xa, múc từng gáo tưới cho từng gốc cây thuốc lá hoặc lãnh rau, rò hành hay vồng sắn nước… Làm thâu đêm, cần cù và nhẫn nại. Thế nhưng, “thuốc lá xóm Sủng” ngon nổi tiếng, “sắn nước Phước Hậu” ngọt mà giá rất rẻ.

Nghề phụ thì có làm võng. Tối đến hoặc lúc nông nhàn phụ nữ thường làm võng. Những bó sợi cây trân hoặc chỉ thơm tàu, qua đôi tay thoăn thoắt trên một bắp chân được bôi chút ít dầu rái, các chị xe sợi, đan võng. Làm nôi cho trẻ thơ, làm chỗ ngã lưng nghỉ trưa cho người già… là những chiếc võng được sản sinh ở đây.

Chợ Phước Hậu xưa nhóm họp ở đầu dốc Cây Sanh nên gọi chợ Cây Sanh. Không to bằng Chợ Dinh, cũng không lớn như chợ phiên Màng Màng, chợ Sơn Triều… nhưng là ngôi chợ làng lâu dời.

Dân làng Phước Hậu rất yêu thích văn nghệ. Ban đêm, tiếng hò khoan vang lên khắp các xóm. Ở những sân có nhiều cô gái xe võng, con trai làng và cả ngoai làng kéo đến hò đối đáp thâu đêm. Ở những cối giã gạo nam nữ cùng nhau vừa giã gạo vừa hò khoan, có khi hết gạo đổ trấu vào giã, kéo dài cuộc hò. Hô bài chòi thường được tổ chức ở Giồng Điếm, Xóm Lẫm. Đây là lễ hội vui mà hấp dẫn đông người nhất. Hát bội thôi thúc mọi người trong làng bằng tiến trống chầu, kéo nhau đến chen chúc xem vui vẻ. Ở Phước Hậu có những bà cụ già không biết chữ mà đọc diễn ngâm cả truyện kiều Lục Vân Tiên. Có những ông cụ say mê gảy đờn kềm, kéo đờn cò, những nhạc cụ nhiều nhà có sẵn.

Dân làng Phước Hậu rất yêu nước, có truyền thống cách mạng đáng tự hào. Những trang sử của làng Phước Hậu từ khi có Đảng đến nay thật vẻ vang. Phước Hậu đã có chi bộ Đảng đầu tiên từ ngày 20-10-1935 với ba đảng viên trong làng: Nguyễn Quốc Thoại, Nguyễn Chấn, Đỗ Tương. Năm 1938 dân làng  Phước Hậu đã bầu những đảng viên cộng sản làm lý trưởng, hương hộ cho làng mình. Phước Hậu là cái nôi cách mạng khi khởi nghĩa giành chính quyền năm 1945. Ủy ban Việt Minh lâm thời Phủ Tuy Hòa ra đời  ở đây (4-1945). Đại hội thành lập Mặt trận Việt Minh tỉnh Phú Yên cũng tổ chức ở đây (17-7-1945). Ngày khởi nghĩa 25-8-1945 Ban chỉ huy khởi nghĩa phủ Tuy Hòa do Nguyễn Quốc Thoại làm trưởng ban cùng đại đội tự vệ từ Phước Hậu ra đi cướp chính quyền ở Phủ Tuy Hòa thắng lợi. Hàng chục người được công nhận là niềm tự hào của làng Phước Hậu.

Trong kháng chiến chống pháp, có 27 liệt sĩ là con em Phước Hậu. Con số liệt sĩ trong kháng chiến chống Mỹ là 92 và có năm bà mẹ được công nhận là bà mẹ Việt Nam anh hùng.

 

PGS.TS NGUYỄN QUỐC LỘC


Tiêu đề: Ký ức làng Phú Hội
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 24 Tháng Bảy, 2010, 10:42:24 pm
Thôn Phú Hội ở về hướng đông bắc của huyện Tuy An, có đầm và con sông nhỏ trước mặt, sau lưng là dãy núi  Động Giả, phía tây bắc là cửa sông Bình Bá đổ ra vịnh Xuân Đài.

Thôn có chùa Long Phú, có nhà thờ Thiên Chúa giáo ở xóm Đồng Quao, có cảng cá, có đồng ruộng làm hai vụ, có núi đồi làm rẫy, làm vườn.

Thôn Phú Hội có 1.135 hộ, 4.787 dân, sống chủ yếu bằng nghề nông, nghề biển và buôn bán nhỏ.

Phú Hội có hai chợ: chợ Cầu và chợ Bến. Chợ Cầu nay chuyển xuống phía đông thoáng mát rộng rãi, họp một tháng 6 phiên và buổi chiều hàng ngày, chợ Bến họp buổi sáng hàng ngày. Nhờ có chợ Cầu và chợ Bến, bà con buôn bán làm ăn thuận lợi.

Thôn Phú Hội thời trước không có trường công, chỉ có hai trường tư ở xóm Chùa do thầy Hai (người Huế) mở dạy, Thầy Nguyễn Văn Hiển mở lớp ở xóm Đồng Quao. Hai thầy dạy chữ Quốc ngữ đến hết cấp một, dạy chữ Nho viết hàng năm hàng sáu. Nhờ hai trường tư này, con, em ở địa phương biết được cái chữ, sau trở thành cán bộ phục vụ cho kháng chiến chống Pháp.

Thôn Phú Hội có một số ít gia đình khá giả, còn đa số là nghèo, phải lĩnh canh, làm thuê mướn chịu tô thuế nặng nên rất nghèo khổ. Thời Pháp thuộc có một số người làm lý hương tranh giành quyền lợi cá nhân nên hay kiện nhau. Do đó người ta thường nói “Phú Hội Kiện Làng”.

Trước Cách mạng Tháng Tám, những người lớn tuổi đi học, làm ăn xa như các ông Nguyễn Thanh Kiết, Đỗ Ngô Đồng, Mai Xuân Liễu, Nguyễn Phước… sớm giác ngộ cách mạng và lãnh đạo nhân dân vùng lên giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám 1945.

Sau Cách mạng Tháng Tám, nhân dân Phú Hội nô nức xây dựng cuộc sống mới, ra sức bảo vệ chính quyền cách mạng. Toàn quốc kháng chiến bùng nổ, thôn Phú Hội cũng như các nơi khác chuẩn bị mọi mặt để trường kỳ kháng chiến.

Phú Hội là vùng tự do của xã An Ninh, huyện Tuy An. Địch âm mưu đánh chiếm vùng tự do Phú Yên nên chúng thường dùng máy bay oanh tạc, sử dụng tàu chiến, đổ bộ lên vùng biển thôn Phú Hội bắn phá, đốt làng, giết hại nhân dân. Phong trào du kích chiến tranh ở Phú Hội phát triển khá mạnh, ngăn chặn có hiệu quả các cuộc tiến công của địch. Phú Hội có địa thế tốt, ở sát cửa biển, thuận tiện cho tàu thuyền ra vào, nên Ban tiếp tế miền Nam (Nam Bộ) làm việc ở đây, như các đồng chí Hoàng Minh Châu, Phạm Văn Bạch, Nguyễn Thị Định. Nơi ở làm việc của Ủy ban kháng chiến miền Nam là nhà các ông Đỗ Ngô Đồng, Nguyễn Thanh Kiết, Nguyễn Mỹ Thuật. Phú Hội là nơi chuẩn bị vật chất, lương thực, tiền, vũ khí chuyển vào Nam. Phú Hội có một số người làm thủy thủ đưa tàu thuyền ra vào Nam Bộ như ông An và nhiều người khác.

Trong kháng chiến chống Pháp, thôn Phú Hội phát triển sản xuất, phục vụ đời sống nhân dân và phát triển mạnh công tác giáo dục, y tế, giữ vững an ninh trật tự.

Trong kháng chiến chống Pháp, Chi bộ Đảng Phú Hội có 50 đồng chí và nhiều người trở thành cán bộ chủ chốt như các đồng chí: Đỗ Ngô Đồng, Đỗ Ngô Công, Huỳnh Định, Huỳnh Tịnh, Huỳnh Lơ, Huỳnh Là, Nguyễn Tài (Thử), Nguyễn Phước (Bông), Nguyễn Dụng, Nguyễn Tưởng, Phạm Giói, Nguyễn Tám (Sỹ), Nguyễn Dư, Nguyễn Phước, Nguyễn Đức, Thị Sáu (Bà Phúc), Mai Xuân Liễu, Trần Phú, Lương Bụi, Nguyễn Lượng, Nguyễn Cườm, Nguyễn Nhuận, Nguyễn Đức Phổ, Huỳnh Tống Ngọc, Quỳnh, Nguyễn Thị Lượng, Thị Liên, Nguyễn Thị Cứ, Phạm Mua, Nguyễn Tú, Nguyễn Hiền, Nguyễn Mỹ Thuật, Nguyễt Phát…

Nhờ đội ngũ cán bộ đảng viên ưu tú nên chi bộ Đảng đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng ở địa phương. Nhiều đồng chí thoát ly làm công tác ở huyện, tỉnh như: Nguyễn Thanh Kiết, Mai Xuân Liễu, Huỳnh Là, Nguyễn Đức Phổ, Nguyễn Phước, Nguyễn Đức, Nguyễn Biện, Đỗ Ngô Công, Nguyễn Cườm.

Một số học sinh trường Lương Văn Chánh tham gia bộ đội, tập kết ra miền Bắc được đào tạo trở thành trí thức như: Mai Bá Thiện, kỹ sư Nguyễn Phước, Nguyễn Thanh Cưu.

Bước vào thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thôn Phú Hội có nhiều cán bộ hoạt động chín năm kháng chiến, nên sau đình chiến chính quyền Ngô Đình Diệm bắt bớ, giam cầm, đánh đập rất dã man những người kháng chiến cũ. Nhiều đồng chí bị bắt tra tấn hết sức tàn nhẫn như đồng chí Võ Văn Tư, Nguyễn Đức Phổ, Nguyễn Thị Cứ, Huỳnh Tịnh… Có đồng chí lợi dụng sơ hở của địch để trốn thoát, có đồng chí đấu tranh với đối phương nhờ Ủy ban quốc tế can thiệp để đưa ra Bắc như đồng chí Nguyễn Văn Tư. Nhiều đồng chí ở lại bị tù đày, bị thương tật.

Chính quyền Ngô Đình Diệm xây dựng nhà lao Phú Nhuận để giam cầm những người kháng chiến rất khắc nghiệt. Bọn chúng gây nhiều đau thương tang tóc trong các cuộc tố cộng.

Cuối năm 1959, thực hiện Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, nhân dân vùng lên đấu tranh với địch bằng chính trị kết hợp với vũ trang. Ở thôn Phú Hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân đứng lên lật đổ tên đại diện ác ôn Huỳnh Kim Anh. Chính quyền ngụy ở địa phương tan rã, cách mạng lập Ủy ban nhân dân tự quản.

Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng và chính quyền cách mạng, nhân dân bám trụ quần nhau với địch, bảo vệ quê hương.

Những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, lớp cán bộ, đảng viên bị đàn áp khủng bố đều hăng hái hoạt động cách mạng. Có nhiều đồng chí thoát ly đi lên căn cứ học tập đường lối chủ trương nhiệm vụ và về lại quê hương hoạt động như Nguyễn Thị Thỏi, Nguyễn Phát, Trần Đức…

Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, cán bộ miền Nam ở thôn Phú Hội tập kết lần lượt trở về Nam hoạt động. Đợt đầu năm 1959, các đồng chí Hai Văn (Huỳnh Là), và sau đó là các đồng chí Nguyễn Độ (Phước), đồng chí Quyết Tâm (Biện), đồng chí Huỳnh Lo… trở về quê hương chiến đấu.

Nhờ cán bộ Trung ương tăng cường về và cán bộ tại chỗ thoát ly như đồng chí Mai Văn Minh, Nguyễn Tám (Sỹ), Nguyễn Văn Làm (Hoài Phương), Huỳnh Lửng, Nguyễn Thị Ngọc (Hiện), Nguyễn Thị Hảo, Nguyễn Thị Tâm, Nguyễn Văn Dũng, Huỳnh Khanh, Đào Thị Kim Xuân…, phong trào cách mạng ở Phú Hội phát triển khá mạnh

Thời kỳ Việt Nam hóa chiến tranh, địch bố trí ở Phú Hội một đại đội, có lúc lên đến tiểu đoàn quân ngụy, quân Nam Triều Tiên và địa phương quân đóng chốt các đồi núi cao như Hòn Bù, đồi Bà Cánh để đánh phá, đàn áp phong trào cách mạng. Tuy địch đóng chốt đánh phá như vậy, nhân dân và cán bộ vẫn đấu tranh anh dũng, bảo vệ cách mạng; chi bộ và nhân dân Phú Hội làm công tác chính trị binh địch vận để hạn chế hành động gian ác của địch, nhờ vậy tạo thế và xây dựng lực lượng, góp phần cùng xã, huyện giải phóng tỉnh nhà vào ngày 1/4/1975.

Qua 64 năm đấu tranh và xây dựng, thôn Phú Hội có nhiều người con hy sinh bảo vệ Tổ quốc, có 7 Bà mẹ Việt Nam anh hùng và hàng trăm gia đình có công cách mạng.


Từ sau ngày 1/4/1975 đến nay, dưới sự lãnh đạo của chi bộ Đảng, nhân dân thôn Phú Hội ra sức khôi phục phát triển sản xuất nâng cao đời sống. Công tác giáo dục, y tế phát triển, công tác an ninh quân sự được bảo đảm vững chắc. Phú Hội đã có nhiều công trình mới như đường sá, trường học, cảng cá Tiên Châu.
Thôn Phú Hội đã và đang vững bước đi lên trong sự nghiệp xây dựng nông thôn mới ấm no, hạnh phúc.


QUYẾT TÂM

(Nguyên Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy kể,

              PHƯƠNG VÂN ghi


Tiêu đề: Đồng Xuân: Phát hiện địa đạo trên núi Hòn Trung
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 24 Tháng Bảy, 2010, 10:43:50 pm
Mới đây, nhiều người dân đi rà phế liệu ở xã Xuân Quang 2 (huyện Đồng Xuân) đã phát hiện một địa đạo dài khoảng 100m trên đỉnh núi Hòn Trung. Địa đạo vẫn còn khá nguyên vẹn với bếp Hoàng Cầm, những ngách giao thông nối với nhau ngoằn ngoèo trong lòng đất như một trận địa liên hoàn.

 

(http://www.baophuyen.com.vn/Portals/0/2009/07/13/dd.090713.jpg)
Cửa vào địa đạo trên núi Hòn Trung - Ảnh: V.TÀI

 

Sau khi xem lại hình ảnh mà phóng viên Báo Phú Yên thực hiện tại địa đạo, ông Trần Ngọc Quế, cán bộ lão thành ở thôn Triêm Đức (xã Xuân Quang 2) khẳng định: Lúc đó, tôi là cán bộ kinh tài của huyện và địa đạo là nơi đóng quân của Tiểu đoàn 13, Trung đoàn Ngô Quyền được đào những năm mùa khô 1965-1966 để đối phó với chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ trên vùng đất Khu V lúc bấy giờ. Sau khi kết thúc chiến tranh, không mấy ai để ý đến vấn đề này. Bây giờ, việc phát hiện địa đạo trên núi Hòn Trung rất có ý nghĩa lịch sử. Các cấp có thẩm quyền nên sớm có kế hoạch khảo sát, trùng tu địa đạo để giáo dục truyền thống cho lớp con cháu sau này. 


Tiêu đề: Gặp một người trong 500 chiến sĩ đầu tiên của Đoàn 559
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 24 Tháng Bảy, 2010, 10:45:46 pm
Ông sống bình dị, chan hòa trong một khu phố nhỏ gần ga Tuy Hòa.  Bà con khu phố chỉ biết ông là cán bộ về hưu và quen gọi ông là ông già Quảng Nam. Ít ai biết rằng, ông là một trong số 500 chiến sĩ đầu tiên của Đoàn 559, mở những lối mòn đầu tiên của đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh huyền thoại.

 (http://www.baophuyen.com.vn/Portals/0/2009/05/18/ong-trong.jpg)
Ông Trương Bình Trọng với những kỷ vật về đường Trường Sơn năm xưa – Ảnh: X.LUẬT


CHUYẾN HÀNH QUÂN LỊCH SỬ

Sinh năm 1932 tại xã Duy Phương, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, 15 tuổi, cậu thiếu niên Trương Bình Trọng đã xin vào bộ đội đánh Tây. Ông đã từng tham gia nhiều trận đánh lớn, lập nhiều chiến công, đặc biệt là thành tích dùng bộc phá ống đánh 3 tầng thép gai trong trận hạ đồn Măng-đen (Gia Lai). Với chiến công này, ông Trọng được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng nhì. Sau Hiệp định Geneve năm 1954, ông Trương Bình Trọng là thành viên trong Sư đoàn 305 tập kết ra Bắc.

Trò chuyện cùng chúng tôi trong ngôi nhà ấm áp tại đường Nguyễn Huệ, phường 2, TP Tuy Hòa, ông nói, sống trên miền Bắc thanh bình, nhưng ruột gan ông như lửa đốt, lúc nào cũng nhớ về miền Nam, nhớ về làng lụa Mã Châu xinh đẹp. Nơi đó có ba, mẹ và những người thân yêu nhất đang rên xiết dưới gót giày Mỹ - Diệm. Ông vẫn linh cảm sẽ có ngày được trở về miền Nam chiến đấu, nhưng không biết là lúc nào. Rồi ngày đó cũng đến, nhưng đến trong một hoàn cảnh đặc biệt ông không ngờ tới. Hôm đó, như mọi ngày, ông đang tập luyện ngoài thao trường thì được lệnh lên xe về tại nông trường Vân Lĩnh, tỉnh Phú Thọ. Lên đến  đó, ông thấy rất nhiều bộ đội từ nhiều đơn vị, đông tới 500 người, tất cả đều là con em các tỉnh miền Nam: Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Đà Nẵng, Bình Định, Phú Yên…Mọi người được cấp trên phổ biến là chuẩn bị sang Liên Xô học tập. Rồi tất cả lên những chiếc xe tải bịt kín, chạy suốt ngày đêm. Ông không biết xe chạy theo hướng nào, về đâu. Chỉ đến khi vào Vĩnh Linh, xuống đi bộ ông mới biết mình đang vinh dự được làm một nhiệm vụ vô cùng đặc biệt: đưa thuốc men, vũ khí vào Nam. Ông nói, ngày xuất phát là 19/5/1959, vào đúng sinh nhật lần thứ 69 của Bác và đoàn gồm 500 người, vì thế mà có tên là Đoàn 559.

KÝ ỨC HÀO HÙNG

500 chiến sĩ đầu tiên của Đoàn 559 dựng lều tại những nơi hẻo lánh, hầu như không có người qua lại. Để bảo đảm bí mật, đồ dùng cá nhân đều phải xóa  hết mọi dấu hiệu xuất xứ từ miền Bắc hay các nước XHCN… Nhiệm vụ là bằng sức người, cõng thuốc men, đạn dược sang bờ Nam sông Bến Hải, giao hàng cho đường dây phía bên kia sông. Những chuyến hàng cho miền Nam ruột thịt chỉ được thực hiện âm thầm trong đêm. Không thể nào tả hết hiểm nguy, khó khăn, gian khổ. Cõng hàng trong  mưa. Cõng hàng qua những con dốc cao thăm thẳm. Cõng hàng qua suối sâu cuồn cuộn nước lũ. Cõng hàng trong giá rét. Bàn chân bật máu, thịt da gai cào. Nhưng, tất cả vì miền Nam ruột thịt, không một ai chùn bước. Đã không ít đồng đội ngã xuống trong những chuyến hàng như thế. “Ở không nhà, đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng”, hơn ở đâu hết, kỷ luật của những chuyến hàng vào Nam được tuân thủ vô cùng nghiêm ngặt. 5 giờ chiều xuất phát, bằng mọi giá phải về bờ Bắc trước khi trời  sáng. Việc giao hàng chỉ bằng ám hiệu; kiểm tra hàng, bắt tay nhau, thế là xong, không được phép biết tên nhau. Phải bảo đảm bí mật tuyệt đối. Trước khi về đến căn cứ, phải xuống suối, lau rửa sạch sẽ, dùng thanh nứa gạt hết sên, vắt, bôi thuốc, không để lại một chút dấu vết.

Ông Trương Bình Trọng còn nhớ một kỷ niệm không bao giờ quên. Lần ấy, tổ của ông đang vượt đường 9 thì một đoàn xe của địch từ Quảng Trị chạy lên. Gặp địch, nhưng may mắn là có chiếc cống bắc qua đường, anh em chui ngay vào. Không ngờ, khi đến đúng địa điểm anh em đang ẩn nấp, một chiếc xe địch chết máy dừng lại. Cách địch  trong gang tấc, chỉ một tiếng động nhỏ là chúng phát hiện ra ngay. Mặc cho đỉa bám đầy người, nước lạnh cắt da cắt thịt, anh em vẫn chịu đựng nằm im đến hơn nửa tiếng đồng hồ, chờ  chúng sửa xe xong. Ông Trọng nói thêm, lên bờ rồi lại còn phải xóa sạch dấu vết, nếu không, cả một chủ trương lớn của ta có thể bị lộ chỉ vì một sơ suất nhỏ.

Cho đến bây giờ, ông Trọng cũng không nhớ mình đã cõng bao nhiêu chuyến hàng, nhưng ông cho biết, chỉ trừ sốt rét vật xuống không thể dậy nổi, còn ông và đồng đội không bỏ một chuyến hàng nào. Mỗi đêm mỗi người chỉ có thể cõng được nhiều nhất là 10 khẩu súng trường hoặc cơ số đạn, thuốc men, quân nhu chừng 30 kg. Nhưng “kiến tha lâu đầy tổ”, cứ như thế, ròng rã hơn nửa năm trời,  họ âm thầm cõng những chuyến hàng vào Nam,  tất cả vì miền Nam ruột thịt.

 
(http://www.baophuyen.com.vn/Portals/0/2009/05/18/Xaycau1966.jpg)

Bộ đội xây dựng cầu trên đường Trường Sơn


NHỚ VỀ ĐỒNG ĐỘI

Vạn sự khởi đầu nan, sau này đường Trường Sơn thông về phía nam, thay vì phải gùi, phải cõng là xe đạp thồ, hàng được vận chuyển bằng ô tô; trên đường còn có cả đường ống xăng dầu… Nhưng ông Trọng nhớ nhất là những ngày đầu tiên cùng 500 chiến sĩ mở lối mòn đường Hồ Chí Minh huyền thoại. Ông vẫn tiếp tục gắn bó với tuyến đường Trường Sơn trong một đơn vị bảo vệ tuyến đường. Có hồi ông được ra Bắc làm nhiệm vụ huấn luyện, nhưng rồi lại dẫn quân vào  Trường Sơn và tiếp tục chiến đấu trên tuyến đường này.

Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, như một cơ duyên, Phú Yên trở thành quê hương thứ hai của ông Trọng và ông gắn bó với mảnh đất này từ đó đến nay. Ông tham gia Đảng ủy, HĐND phường 2 và làm Chủ tịch Hội Cựu chiến binh phường nhiều  năm liền.


Bây giờ ông Trọng đã gần tuổi bát tuần. Vật bất ly thân mà ông còn giữ được là đôi dép cao su và chiếc hăng-gô một thời Trường Sơn. Ông cho biết: Trong 500 chiến sĩ Trường Sơn năm xưa, bây giờ số anh em còn sống không còn nhiều. Tất cả đều đã ở tuổi “xưa nay hiếm”. Người thủ trưởng đầu tiên của Đoàn 559, thiếu tướng Võ Bẩm cũng đã vĩnh biệt đồng đội. Trong giấc mơ hằng đêm, những đồng đội cũ vẫn luôn hiện về, ông gọi tên từng người: những Tuyên, Thản, Quyền, Sát, Tơ… Họ đã mãi mãi nằm lại với đại ngàn Trường Sơn. Ước mong của ông Trọng là được một lần gặp lại những chiến sĩ đầu tiên của Đoàn 559 hiện còn sống. “Với tôi, đó chính là điều hạnh phúc lớn nhất trong quãng đời còn lại” – ông bộc bạch.

PHAN XUÂN LUẬT

 


Tiêu đề: Quy hoạch đường sắt Phú Yên - nhìn lại thời Pháp thuộc
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 24 Tháng Bảy, 2010, 10:52:30 pm
Ngày 12/8, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt quy hoạch xây dựng vùng duyên hải Nam Trung Bộ gồm bốn tỉnh Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận và Bình Thuận với diện tích tự nhiên 21.432km2. Theo đó, từ nay đến năm 2025, vùng duyên hải Nam Trung Bộ được xây dựng theo hướng kinh tế tổng hợp, là cửa ngõ hướng biển của các tỉnh vùng Tây Nguyên, các tỉnh Nam Lào, Đông Bắc Campuchia, Thái Lan, được cụ thể hoá qua từng giai đoạn với nhiều chính sách khác nhau. Tựu chung là xác định theo hướng tận dụng thế mạnh của mỗi tỉnh gắn liền với phát triển ba vùng văn hóa văn hoá biển, văn hoá đồng bằng, văn hoá bán sơn địa và miền núi. Tỉnh Phú Yên nằm trong khu vực trên, ở vị trí đặc biệt là cửa ngõ phía Bắc tiếp giáp với vùng kinh tế trọng điểm – Trung Trung Bộ và khu vực Tây Nguyên, là đầu mối giao thông quan trọng thúc đẩy việc giao lưu kinh tế, văn hóa, xã hội với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Với vị trí có ý nghĩa về giao lưu vùng và khu vực, Thủ tướng chính phủ quyết định đầu tư nâng cấp cảng Vũng Rô, xây dựng tuyến đường sắt Phú Hiệp – Buôn Ma Thuột phục vụ vận chuyển hàng hóa cho vùng Tây Nguyên và ba nước láng giềng Lào, Campuchia, Thái Lan. Nhân sự kiện này, chúng tôi gửi đến bạn đọc báo bài viết với niềm suy tư ôn cố tri tân về thời Pháp thuộc với những chính sách khai thác thuộc địa trên đất Phú Yên.

 

(http://www.baophuyen.com.vn/Portals/0/2008/08/21/ban-do-080821.jpg)

Bản đồ quy hoạch các ga và trạm chờ của đoạn đường sắt xuyên Việt qua địa phận tỉnh Phú Yên (1936). Nguồn : Projet de classement des routes d’accés au gares du chemin de fer. 1936. RSA/HC 3327, tại Trung tâm lưu trữ quốc gia IV.
Việc du nhập loại hình giao thông đường sắt vào Việt Nam thời Pháp thuộc ban đầu chỉ phục vụ cho quyền lợi thực dân là phục vụ công cuộc khai thác, vơ vét bóc lột thuộc địa, nhưng về sau có ý nghĩa tạo ra những cú hích về mặt giao lưu kinh tế, văn hoá, xã hội giữa các vùng miền trong cả nước. Cho đến cuối chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 – 1918), tổng số chiều dài đường sắt được xây dựng 1.300km, gồm các tuyến Hà Nội – Đồng Đăng, Sài Gòn – Mỹ Tho và Hà Nội – Sài Gòn. Tuyến đường sắt Bắc Nam hoàn thành với tổng chiều dài 906km với 3 đoạn: Hà Nội – Vinh, Đông Hà – Đà Nẵng, Nha Trang – Sài Gòn(1). Trong quá trình thám sát xây dựng đoạn đường sắt Sài Gòn – Nha Trang, người Pháp cũng có những dự án nghiên cứu về việc nối ray ra vùng Tuy Hoà. Năm 1900, chính quyền Pháp giao cho Đại úy Dunal (Capitaine de Dunal) chịu trách nhiệm nghiên cứu, thăm dò việc xây dựng đường sắt ở Phú Yên(2). Nội dung của dự án như hoạch định về số lượng nhân công từ 500 – 600 nhân công cho một ngày do phòng Giám binh Sông Cầu chịu trách nhiệm, khảo sát địa hình, quy hoạch hướng và các tuyến đường sắt cùng với đó là xây dựng đường sá cầu cống, đồng thời dự án cũng nêu lên lợi ích và tính cần thiết của việc xây dựng đường sắt ở Phú Yên. Dự án quy hoạch, khảo sát trên phân làm ba khu vực: phía nam từ khu vực Đèo Cả đến Tuy Hòa, phía bắc từ Cù Mông đến phủ Tuy An và vùng trung tâm tỉnh.

Năm 1901, thực dân Pháp nghiên cứu khu vực phía nam chủ yếu đoạn Đèo Cả và dọc bờ tả sông Ba đến M’Drăk (Đắk Lắk), dự tính nối đường sắt từ Ninh Hòa đến Tuy Hòa và Tuy Hòa lên Đắc Lắk(3), tạo thành tam giác vận chuyển và trao đổi hàng hoá giữa Cao Nguyên, Trung Kỳ và Nam Kỳ. Tại đây đoàn khảo sát do Trung uý Kerler (Lieutenant Kerler) dẫn đầu nghiên cứu khá kỹ khu vực Củng Sơn (Phú Yên), đoàn mở rộng thám sát lên khu vực Đắc Lắc và Lang Biang(4). Tiếp đó vào năm 1904, đoàn kỹ sư người Pháp khảo sát khu vực phía bắc tỉnh, họ dự trù trong tương lai con đường sắt nối tỉnh Phú Yên với Bình Định sẽ đi theo ngã La Hai đến Vân Canh (Bình Định)(5). Nhưng tất cả những dự án trên dừng lại ở mức thể nghiệm, thăm dò chứ chưa được triển khai thực hiện trong thời gian này, nguyên nhân của tình trạng này như lời báo cáo của Đại úy Dunal (Capitaine de Dunal) khi tiến hành khảo sát khu vực phía nam: “Đường sắt chạy qua khu vực Đắc Lắc, khu vực người dân tộc thiểu số không thể thực hiện được do những khó khăn đang diễn ra; qua Đèo Cả và bờ biển thì chúng tôi cử nhân viên khảo sát ở nhiều địa phương và tình trạng của những con đường, kết luận là không thể khai thông con đường vượt qua đèo”(6).

Tình hình trên phù hợp với khả năng tài chính cũng như bản chất của chủ nghĩa thực dân Pháp không muốn đầu tư những cái gì tốn kém về kinh phí, công sức. Nếu như người Pháp triển khai dự án nối ray Tuy Hoà với Sài Gòn trong giai đoạn này sẽ giúp cho nhà cầm quyền khai thác được các nguồn lợi lớn không những ở Phú Yên mà bao gồm cả vùng Cao Nguyên. Trong thời kỳ khai thác thuộc địa lần I (1897 – 1914), chính quyền thực dân Pháp mở rộng xuất khẩu các mặt hàng nông thổ sản ở Phú Yên, đặc biệt là xuất khẩu lượng lớn trâu bò sang Philippin, mà theo thống kê sở Thương chính vào năm 1908 đạt hơn 4,1 triệu tấn. Số lượng gia súc đáp ứng như cầu khai thác trên tập trung chủ yếu ở các đồn điền lớn như Montpezat, Lyard, Duval, Dombret.. (7)phân bố tập trung chủ yếu ở khu vực phía tây nam tỉnh Phú Yên, nên việc vận chuyển gặp nhiều khó khăn. Cuối cùng người Pháp lựa chọn giải pháp phát triển hệ thống vận chuyển đường thủy với hai cảng chính yếu là Cù Mông và Vũng Lắm. Thêm vào đó, người Pháp thể hiện ý đồ chính trị trong việc triển khai đường sắt Tuy Hòa – Đắk Lắk đã được thể hiện trong chính sách biến Phú Yên trở thành địa bàn “Tây tiến”, với những nhiệm vụ hậu thuẫn, bảo vệ những nhà thầu người Âu đầu tư lập đồn điền và khai thác khoáng sản; quản lý việc trao đổi buôn bán giữa người Kinh với người dân tộc thiểu số; bình định, thu phục các cuộc nổi dậy của người dân tộc thiểu số. Mặc dù những kế hoạch xây dựng đường sắt không được triển khai, nhưng điều này thể hiện người Pháp đã có những nghiên cứu đến việc thiết lập loại hình giao thông hiện đại nhất thời bấy giờ ở Phú Yên từ đầu thế kỷ XX và những dự án nghiên cứu trên là tiền đề định hướng cho việc xây dựng đường sắt vào đầu những năm 30 thế kỷ XX.

 

(http://www.baophuyen.com.vn/Portals/0/2008/08/21/Tam-bia-duong-sat-080821.jpg)

Tấm bia đá ghi dấu sự kiện hợp long đường sắt tại ga Hảo Sơn (huyện Đông Hòa)  - Ảnh: D.T.XUÂN


Sau chiến tranh thế giới lần thứ I (1918), tư bản Pháp tiếp tục xây dựng một số tuyến đường sắt mới ở Việt Nam và Đông Dương, nhằm hoàn thành hệ thống đường xuyên Đông Dương để phục vụ cho chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai (1918 – 1939). Các tuyến đường sắt được xây dựng trong thời kỳ này gồm: Tuyến Krôngpha – Đà Lạt dài 43 km; Tân Ấp – Xóm Cục – Banaphao (Lào) dài 59km; Sài Gòn – Lộc Ninh dài 140km và tuyến đường sắt xuyên Việt (Lạng Sơn – Mỹ Tho). Trong đó tuyến đường sắt xuyên Việt được hoàn thiện với hai đoạn bỏ dở là Vinh – Đông Hà và Đà Nẵng – Nha Trang. Đoạn Vinh – Đông Hà khởi công xây dựng vào năm 1922 và hoàn thành năm 1927, dài 299 km với tổng kinh phí 34 triệu frăng. Năm 1931, chính quyền thực dân Pháp khởi công xây dựng đoạn đường sắt xuyên Việt cuối cùng từ Đà Nẵng đi Nha Trang và đến năm 1936 hoàn thành với chiều dài 524km, chi phí hết 38 triệu frăng(8).

Chính quyền thực dân Pháp phác họa đoạn đường sắt xuyên Việt chạy qua địa phận tỉnh Phú Yên chủ yếu dựa trên kết quả nghiên cứu khảo sát của Đại uý Dunal tiến hành từ năm 1900 – 1904 với chiều dài hơn 100km vượt qua hai dãy núi Cù Mông, đèo Cả và nhiều sông, suối (sông Cái, Đà Rằng, Bàn Thạch…). Đến cuối năm 1928, dự án xây dựng đường sắt đi qua địa phận Phú Yên được phê duyệt, đoạn đường sắt ở phía bắc tỉnh Phú Yên thiết kế chạy dọc theo đường liên tỉnh Chí Thạnh – Phước Lãnh, men theo sông Cái và thung lũng sông Cô, vượt qua đường hầm Đèo Thị đến Vân Canh (Bình Định), đoạn đường sắt này dài trên 30km, km 1134 (ga Mục Thịnh) đến Km 1171 (ga Chính Thạnh) chạy qua các ga Mục Thịnh, Phước Lãnh, La Hai, Hà Bằng, Phong Niên và Chí Thạnh. Đoạn đường sắt ở vùng trung tâm tỉnh từ Chí Thạnh đến Tuy Hòa (từ Km 1171 đến Km 1198) được xây dựng dọc theo đường thuộc địa, đi qua các ga và nhà chờ Phú Tân, Mỹ Phú, Hòa Đa, Chính Nghĩa, Minh Chính và Tuy Hòa. Đến đoạn đường sắt ở phía nam tỉnh đi qua hai cửa sông lớn Đà Rằng và Đà Nông, đặc biệt phải đi qua dãy núi Đèo Cả, người Pháp đã xây dựng 3 cây cầu bắc qua sông Chùa, Đà Rằng và Bàn Thạch, được thiết kế dùng chung cho đường bộ và đường, đoạn đường sắt chui qua bảy đường hầm tại vùng núi Đại Lãnh và một đường hầm dài trên 1km vượt qua dãy núi Đèo Cả. Đến ngày 2-9-1936, tuyến đường sắt Bắc – Nam làm lễ nối ray tại Km 1222 phía nam ga Hảo Sơn. Hoạt động vận chuyển đường sắt qua địa phận Phú Yên chính thức từ ngày 29/9/1936 với lịch tàu Hà Nội – Tuy Hoà và ngày 1/10/1936 chuyến tàu đầu tiên từ Hà Nội đến ga Tuy Hòa vào lúc 11 giờ 30 phút. Như vậy đoạn đường sắt xuyên Việt qua địa phận tỉnh Phú Yên đi qua 18 ga và nhà chờ gồm: Mục Thịnh (Km 1134), Phước Lãnh (Km 1140), Phước Long (halte, Km 1145), La Hai (Km 1155), Hà Bằng (Km 1160), Phong Niên (Km 1166), Chí Thạnh (Km 1171), Phú Tân (Km 1174), Mỹ Phú (1179), Hoà Đa (Km 1184), Chính Nghĩa (halte, Km 1189), Minh Chính (halte, Km1193), Tuy Hoà (Km 1198), Phú Lâm, Đông Mỹ (halte), Phú Hiệp, Thạch Tuấn và Hảo Sơn(9).

Sau tuyến đường sắt xuyên Việt, người Pháp lập dự án thiết kế tuyến đường hoả xa nối Tuy Hoà với vùng Tây Nguyên, tuyến đường này chạy qua Củng Sơn theo thung lũng sông Ba tới Cheo Reo, rồi theo sông Ea Ayan đi lên Gia Lai, Kon Tum. Dự án cũng dự định nối đường sắt từ Củng Sơn qua Buôn Ma Thuột rồi tới Bù Đốp và Lộc Ninh, tại đây có đường hoả xa qua Thủ Dầu Một đến Sài Gòn. Dự án chỉ mới bước đầu trù liệu, đến năm 1939 chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ, chính quyền thực dân Pháp đã thôi đầu tư xây dựng. Cũng trong thời kỳ này, tư bản Pháp còn xây dựng đoạn đường sắt từ Nhà mày đường Việt Nam (1927) đến Phú Thuận (nay thôn Phú Thuận, Hòa Mỹ), đoạn đường sắt này phục vụ việc vận chuyển mía về nhà máy.

Việc hoàn thành đoạn đường sắt xuyên Việt đánh dấu bước chuyển biến lớn trong lĩnh vực giao thông nói riêng và lĩnh vực kinh tế - xã hội Phú Yên nói chung trong giai đoạn Pháp thuộc, dịch vụ vận tải đường sắt và đường bộ phát triển, mang lại sự giao lưu kinh tế, văn hoá, xã hội và giáo dục giữa Phú Yên với các vùng miền trong cả nước, từ đây Phú Yên mở rộng gắn kết với các xứ bên ngoài mà trước đây được xem là “một cái phòng rộng ba bề kín mít”(10). Ngày nay với cách nhìn mới thông qua việc mô tả, tái hiện lại thời Pháp thuộc với những chính sách mà họ đã triển khai trong suốt thời gian cai trị ở Phú Yên (1887 – 1945) để ngẫm nghĩ về quy hoạch xây dựng Phú Yên nói riêng và khu vực duyên hải Nam Trung Bộ nói chung trong thời đại toàn cầu hóa.


_____________


(1),(8). Nguyễn Văn Khánh. 2000. Cơ cấu kinh tế - xã hội Việt Nam thời thuộc địa (1858 – 1945). Hà Nội: Nxb. Đại học quốc gia,  tr.45, tr.110.
(2). Rapporte Economique province de Phu yen, Residence de Song Cau, anée 1900, TVHP/VV 319, tr.23.

(3),(6). Rapporte Economique province de Phu yen, Residence de Song Cau, anée 1901, TVHP/VV 323, tr.18.

(4) Chemen de fer: Khanh Hoa - Tourane - Hue, Phan Thiet. Main d’oeuvre - Indeminite de déguerrissement. Rapporte des cheysa de mission d’etude. 1901 - 1903. RSA/HC 594.

(5) . Rapporte Economique province de Phu yen, Residence de Song Cau, anée 1904, TVHP/VV 325, tr.23.
(7) Ngô Minh Sang. Những chuyển biến kinh tế - xã hội Phú Yên thời Pháp thuộc (1887- 1945). Luận văn thạc sỹ Lịch sử, Đại học Đà Lạt, tr.51.

(9) Projet de classement des routes d’accés au gares du chemin de fer. 1936. RSA/HC 3327.

(10)  Nguyễn Đình Cầm, Trần Sĩ. 1937. Địa dư tỉnh Phú Yên. Qui Nhơn, tr.3.


NGÔ MINH SANG

(Phòng Quản lý khoa học Viện phát triển bền vững vùng Nam Bộ)


Tin, bài liên quan


- Đường sắt Phú Hiệp- Buôn Ma Thuột sẽ vận chuyển hàng hóa cho Tây Nguyên, Campuchia, Thái Lan, Nam Lào

- Giấc mơ “vượt ngàn” đang thành hiện thực


Tiêu đề: Re: Phú Yên - Đất & Người Đất anh hùng
Gửi bởi: lixeta trong 27 Tháng Bảy, 2010, 11:20:05 am
Chào bạn tuanquoc19!
Mình vừa có một chuyến đi "chớp nhoáng" tới Tuy Hòa.
Thật tiếc là không có điều kiện để liên hệ gặp được TQ!
Mặc dù không nhiều thời gian nhưng ấn tượng về một Tuy Hòa xinh đẹp, mến khách thì rất sâu đậm.

Bên ghềnh Đá Đĩa:

(http://i627.photobucket.com/albums/tt353/datavehu/Nhatrang024.jpg)

Với Nhạn Tháp:

(http://i627.photobucket.com/albums/tt353/datavehu/Nhatrang033.jpg)

Tận thấy Vũng Rô (hơi tếc vì người ta đang xây dựng lại khu tưởng niệm nên bia cũ đã bị dỡ đi):

(http://i627.photobucket.com/albums/tt353/datavehu/Nhatrang044.jpg)


Tiêu đề: Re: Phú Yên - Đất & Người Đất anh hùng
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 27 Tháng Bảy, 2010, 05:13:00 pm
cảm ơn bạn nhiều, mong mọi người đóng góp cho ý kiến về vùng đất Phú Yên


Tiêu đề: Một thời đói muối
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 04 Tháng Tám, 2010, 07:25:51 pm
Trong hai năm 1960-1961, lực lượng cách mạng phát triển nhưng trong kho không có hạt muối. Mỗi bữa ăn phải dùng lá chua cây chành ngạnh thay muối, nuốt không trôi nhưng ai cũng phải ráng. Rồi anh em lấy rễ tranh đốt thay muối mặn. Mỗi lần đi công tác xuống làng đồng bào dân tộc thiểu số ở buôn Ma Lố, trưởng buôn nói: “Cách mạng ơi! Cán bộ ơi! Cho chúng làng viên thuốc mặn. Trẻ em khóc thâu đêm cả làng đau bệnh bị chết thôi, chết không phải do bom đạn địch mà do không có muối”. Tôi có lần gặp đồng chí Tám Yên (tức Lương Thúc Mậu)- Tỉnh ủy viên, Trưởng ban Tuyên huấn tỉnh Phú Yên, đồng chí  nói: “Ái ơi cho tao hột muối để trong chân răng the the mằn mặn cái mồm”.       

Lòng càng day dứt trăn trở khi hàng nghìn cán bộ, bộ đội, nhân dân vùng căn cứ hàng ngày hàng giờ trông chờ hạt muối. Nếu khai thông được cửa khẩu thì mới có đủ muối ăn.

Nhớ lại trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, Phú Yên sản xuất hàng vạn tấn muối, không chỉ đủ ăn mà còn dự trữ, ngoài ra còn chi viện cho Đắc Lắc, Khánh Hòa, nam Gia Lai. Bây giờ tìm hột muối khó quá!

Đồng chí Văn Công bàn với tôi: Ta lên Khu 7 Gia Lai mượn tạm một ít về ăn cho đỡ ngặt. Tôi, với đồng chí  Tư Nóc (Nguyễn Thẳng), Trưởng tiểu ban sản xuất đi cùng với hai cán bộ nữa. Định mượn cho được 5 tạ, nhưng các đồng chí Kinh tài Khu 7 chỉ cho mượn 1 tạ. Bốn anh em mang về. Cán bộ nghe có muối thì rất  mừng.

Địch phong tỏa, đánh phá dai dẳng các hành lang từ căn cứ xuống vùng giáp ranh đồng bằng nên việc đi lại giao lưu giữa hai vùng càng khó khăn. Tháng 4-1962, Ban Tài mậu tỉnh tổ chức đội vận chuyển muối gồm 15 thanh niên khỏe mạnh, biết bơi, người huyện Tuy Hòa 1, thạo đường sá đi lại, trang bị mỗi người một bao bột mì, phân chia hai toán. Đồng chí  Nguyễn Kỳ Viết, quê ở thôn Phú Lạc, xã Hòa Hiệp làm trưởng đoàn. Từ căn cứ Phước Tân, anh em theo đường giao liên đường 7, sông Ba, sông Chống Gậy, sông Bánh Lái men theo dãy núi Tuy Hòa 1, bắc đèo Cả, vượt Quốc lộ 1, đường sắt xuyên Việt và các đồn bốt địch để đến Bãi Xép -  căn cứ lõm của xã Hòa Hiệp nhận muối do cơ sở vận động bà con Phú Lạc ủng hộ. Mỗi chuyến mang về Phước Tân được 500 ký, phân chia cho mỗi cán bộ, bộ đội 3/4 lon sữa bò, đồng bào vùng căn cứ 1/4 lon sữa bò ăn cho đỡ lạt miệng. Mỗi chuyến đi và về mất 10 hôm, nếu gặp địch càn thì mất cả tháng.

Bà cụ Thừa Hoàng ở Văn phòng Tỉnh ủy nhận được 3/4 lon muối, bèn  lấy thìa US lường 3/4 lon muối để ăn trong một tháng. Nhiều cuộc hội nghị ở tỉnh bao giờ cũng có câu “Phải mang theo muối ăn”.

Một quyết định, táo bạo được thực hiện ngay để gỡ bí. Ban Tài mậu cử đồng chí Dương Thành Dũng, cán bộ thương nghiệp xuống bám dân ở vùng 1 An Định (Tuy An) và ấp Rượu, Xuân Sơn (Đồng Xuân) xây dựng cơ sở tiểu  thương từ vùng địch kiểm soát đưa hàng hóa lên vùng giáp ranh. Gạo, mắm, muối, cá, vải, thuốc chữa bệnh được đưa lên từ đó. Ta mua hàng ngày 10 ký rồi 20 ký, 30 ký. Chuyện lạt muối đã được giải quyết ổn thỏa hơn.

Rút kinh nghiệm từ thực tiễn ở cửa khẩu vùng 1 An Định và cửa khẩu ấp Rượu Xuân Sơn, ngành thương nghiệp triển khai ở các cửa khẩu Tuy Hòa 1, Tuy Hòa 2, đồng thời xoi luồng đưa muối từ đồng muối Tuyết Diêm (Xuân Lộc), Lệ Uyên, Trung Trinh (Xuân Phương) lên. Số chuyển bằng đường biển, số đi theo đường bộ, lượng muối khá và có đều ở các cửa khẩu.

Đến năm 1964- 1965, Phú Yên giải phóng rộng, thu hẹp phạm vi kiểm soát của địch chỉ còn 8 cụm cheo leo (thị xã, thị trấn, quận lỵ). Chiến lược chiến tranh đặc biệt đã bị phá sản. Tỉnh kịp thời có chủ trương: tận dụng thời cơ khai thông cửa khẩu muối Tuyết Diêm, Lệ Uyên, Trung Trinh; huy động mọi lực lượng: bộ đội, cán bộ các ngành Dân, Chính, Đảng xuống tận ruộng muối lấy muối về ăn và dự trữ  cho đơn vị mình. Lực lượng vận chuyển thương nghiệp chuyên lo thu mua vận chuyển muối về căn cứ dự trữ lâu dài. Các đồng chí ở huyện Vân Canh (Bình Định) cũng lấy muối ở đồng Tuyết Diêm, tổ chức một số đồng bào ở Tầm Tướng, Đa Lộc… xuống đồi Dốc Tranh, Lệ Uyên nhận muối do đoàn vận chuyển của thương nghiệp giao, mang về ăn và san sẻ cho đồng bào ở địa phương. Để bảo đảm an toàn cho lực lượng lấy muối, bộ đội chốt giữ 2 đầu ở Xuân Lộc vào Tuyết Diêm và thị trấn Sông Cầu ra đồng muối Lệ Uyên, Trung Trinh.

Trong một thời gian, ta huy động hàng trăm tấn muối cho tỉnh có ăn, có dự trữ và còn giúp Đắc Lắc, Khánh Hòa, nam Gia Lai, Vân Canh. Cách mạng đã giải quyết cơ bản nạn đói muối. Đồng bào, cán bộ, lực lượng vũ trang rất phấn khởi, bỏ chế độ tiêu chuẩn khắc nghiệt 3/4 lon, 1/4 lon. Bây giờ muối ăn được dự trữ để cán bộ chiến sĩ đối phó với thời kỳ chiến tranh cục bộ và chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của địch.

Hạt muối trong thời kỳ chiến tranh phải đổi bằng mồ hôi, nước mắt và cả xương máu. Nhiều đồng chí đã hy sinh như Trương Liễm, Nguyễn Văn Thắng, Lê Hồng Ca, Hồ Thi, Nguyễn Kiên, Lê Bác, Nguyễn Thang, Nguyễn Mai, Nguyễn Hồng Sơn, Đỗ Đức Nhuận...

 

                                      NGUYỄN HỮU ÁI

(Nguyên Trưởng ban Kinh tài Tỉnh ủy Phú Yên trong kháng chiến chống Mỹ)


Tiêu đề: Phú Yên hình thành 6 chiến khu
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 04 Tháng Tám, 2010, 07:36:21 pm
Ngày 20/11/1946, thực dân Pháp đánh chiếm thành phố Hải Phòng, thị xã Lạng Sơn, mở rộng qui mô chiến tranh xâm lược trên đất nước ta và toàn Đông Dương.

 

Trước sự uy hiếp nghiêm trọng của địch, chủ tịch Hồ Chí Minh viết văn kiện “Công việc khẩn cấp bây giờ” chỉ đạo: “Công việc khẩn cấp là kháng chiến và kiến quốc: một mặt phá hoại, một mặt kiến thiết. Phá hoại để ngăn địch, kiến thiết để đánh địch… ta phải hiểu và phải cho dân hiểu rằng: cuộc kháng chiến sẽ rất gay go, cực khổ”.

 

(http://www.baophuyen.com.vn/Portals/0/2006/12/w3/061215-cam-chong-rao-lang.jpg)

Cắm chông rào làng – Ảnh tư liệu


Chấp hành chỉ thị của TW Đảng, Chính phủ và Ủy ban hành chính Trung bộ, tháng 11/1946 toàn tỉnh Phú Yên được chia thành 6 chiến khu:

Chiến khu 1 gồmcác xã phía nam sông Đà Rằng (hiện nay là huyện Đông Hòa và Tây Hòa). Chiến khu 2 gồm các xã phía bắc sông Đà Rằng (hiện nay là huyện Phú Hòa và thành phố Tuy Hòa); Chiến khu 3 gồm các xã huyện Tuy An; Chiến khu 4 gồm các xã huyện Sơn Hòa; Chiến khu 5 gồm các xã phía tây huyện Đồng Xuân; Chiến khu 6 gồm các xã phía đông huyện Đồng Xuân (nay là huyện Sông Cầu).

Mỗi chiến khu có Ủy ban kháng chiến khu. Nhiệm vụ Ủy ban kháng chiến khu là động viên chỉ đạo trực tiếp các công tác chuẩn bị và sẵn sàng đánh địch, tổ chức huấn luyện dân quân tự vệ, sản xuất vũ khí, phá hoại đường sá, tiêu thổ kháng chiến xây dựng làng chiến đấu, bảo vệ vùng tự do.

Ngày 19/12/1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Thực dân Pháp ra sức đánh chiếm tỉnh Phú Yên – điểm địa đầu của vùng tự do Liên khu V, hậu phương trực tiếp của chiến trường Tây Nguyên và Khánh Hòa.

Vào thời điểm này, bộ đội tập trung trên đất Phú Yên có 3 trung đoàn: trung đoàn 80 đứng chân ở phía nam tỉnh; trung đoàn 79 đứng chân ở miền Tây (giáp Đăk Lăk); trung đoàn 83 mới thành lập, quân số 700 đứng chân ở phía bắc tỉnh (Sau một thời gian, trung đoàn 79 hợp nhất với tiểu đoàn N1 Trang-Lơng thành Trung đoàn 84 phụ trách chiến trường Đăk Lăk, trung đoàn 80 chuyển vào Khánh Hòa, tại Phú Yên chỉ còn trung đoàn 83). Ngoài các đơn vị chủ lực, Phú Yên có bộ đội địa phương, dân quân du kích hình thành thế trận chiến tranh nhân dân.

Ngày 13/1/1947, Pháp huy động hai trung đoàn từ Khánh Hòa tấn công phòng tuyến Đèo Cả bằng hai ngả chính diện và truông Gia Long (phía tây đèo Cả). Trung đoàn 80 cùng bộ đội địa phương và dân quân chiến khu 1 chặn đánh ác liệt. Ngày 15/1/1947, quân ta phản công chiếm lại một số vị trí ở nam Đèo Cả.

Ngày 16/1/1947, quân Pháp huy động thêm một trung đoàn đổ bộ lên Bãi Xép (Hòa Hiệp) đánh bọc sau lưng bộ đội ta, phối hợp với hai cánh quân trên Đèo Cả và truông Gia Long. Địch huy động cả máy bay và tàu chiến hỗ trợ. Để bảo toàn lực lượng, bộ đội ta rút khỏi đèo Cả về bố phòng ở Đông Mỹ (Hòa Vinh); Phú Lương, Cảnh Phước (xã Hòa Tân). Ngày 18/1, địch tiến quân dọc Quốc lộ I. Quân ta chặn đánh ác liệt. Gần hai ngày, địch mới tiến ra được thị trấn Phú Lâm. Cầu Đà Rằng, bị ta phá sập trước đó, nên địch không thể tiến ra thị xã Tuy Hòa.

Ngày 19/1, quân ta tập trung lực lượng phản công.

14 giờ ngày 19/1, tiểu đoàn Ba Dương (tiểu đoàn của Nam Bộ ra Phú Yên củng cố, đang trên đường trở về Nam Bộ) phối hợp với một bộ phận trung đoàn 80 và dân quân chiến khu 1 tập kích cụm quân địch ở Phú Lâm, tiêu diệt tên quan tư chỉ huy và hàng trăm lính địch, đuổi địch chạy dài qua bờ nam sông Bàn Thạch.

Địch lập đồn bót ở núi Hiềm và co cụm ở đó.

Bộ đội ta tiếp tục bao vây đánh địch ở núi Hiềm.

Tháng 2/1947, Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Côn về Hòa Xuân chỉ đạo “không nên bao vây địch bằng lập phòng tuyến mà cần chuyển sang đánh du kích bao vây, liên tục tấn công địch”. Các tổ biệt động nhiều lần cải trang đột nhập đồn địch giữa ban ngày diệt tề, bắn tỉa, làm rung chuyển đồn Hiềm.
Tháng 6/1947, thực dân Pháp huy động một trung đoàn mở cuộc càn quét chiến khu 1 nhằm giải tỏa áp lực bao vây của quân dân ta đối với đồn Hiềm. Quân dân ta chặn đánh địch ở Phú Lâm, Hòa Thành, Hòa Bình, Hòa Tân, ga Gò Mầm…

Sau 5 ngày bị chặn đánh liên tục, địch tổn thất nặng nề phải rút quân, không thực hiện được âm mưu mở rộng chiếm đóng chiến khu 1.

Phong trào chiến tranh du kích vùng tạm chiếm Hòa Xuân và các xã nam sông Đà Rằng phát triển mạnh mẽ. Bộ đội huyện phát triển quy mô đại đội cùng với lực lượng du kích các xã xây dựng làng chiến đấu, bao vây chặt đồn Hiềm, làm cho địch phải dùng máy bay tiếp tế.

Ở miền Tây Phú Yên, giữa năm 1946 địch đóng một hệ thống cứ điểm ở vùng giáp ranh Phú Yên – Đắk Lắk và Phú Yên – Gia Lai nhằm mở rộng phạm vi chiếm đóng. Ở vùng giáp ranh M’Drak địch đóng đồn A-ê-riêng (nay là thị trấn Hai Riêng). Ở vùng giáp ranh Cheo Reo, địch đóng quân ở đồn B’Lá Ai Nu. Ở Sơn Hòa địch đóng đồn ở Cà Lúi. Các xã Krông Pa, Cà Lúi, Suối Trai bị địch uy hiếp nhưng địch không lập được tề. Địch nhiều lần tiến công Củng Sơn nhưng đều thất bại phải rút về co cụm ở đồn Cà Lúi. Tình hình tạm ổn, vùng tự do Phú Yên vẫn giữ vững. Tỉnh ủy và Ủy ban hành chính kháng chiến Phú Yên bỏ cấp chiến khu, thống nhất ủy ban hành chính và Ủy ban kháng chiến, xây dựng lại cấp huyện như cũ gọi là Ủy ban hành chính kháng chiến.


NGUYỄN HỮU ÁI

 


Tiêu đề: Ký ức về Tuy Hòa 60 năm trước
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 15 Tháng Tám, 2010, 04:54:26 pm
Hồi tưởng lại chặng đường qua 60 năm từ cuộc kháng chiến toàn quốc, tên tuổi và từng bước thăng trầm đều có những ký ức đáng nhớ và kỷ niệm khó quên.
 (http://www.baophuyen.com.vn/Portals/0/2007/01/0-5/070101-chien-dau.jpg)
Qua cuộc kháng chiến 9 năm đầy gian khổ và thật hào hùng, Tuy Hòa - thành phố của Phú Yên, khi đó chỉ là một thị xã nhỏ nằm án ngự bên này đèo Cả, đã không cho thực dân Pháp từ Khánh Hòa càn lấn qua. Những cuộc đổ bộ của địch từ biển lên, từ đất liền ra đều bị đánh lùi và thất bại. Tuy Hòa vẫn giữ danh xưng là vùng “tự do” nằm trong bốn tỉnh “tự do” của Liên khu 5: Nam, Ngãi, Bình, Phú  cho đến tận Hiệp định Geneve năm 1954.
 
 
Đại liên 20 ly đại đội Trợ chiến hạ chiếc máy bay Morane của Pháp tại đập Đồng Cam, 1950
Suốt 9 mùa kháng chiến, thị xã nhỏ mà xưa kia, trong sách giáo khoa về địa lý có câu: “Sông Cầu là bà già lão luyện, Tuy Hòa là một thiếu nữ xuân xanh”. Hay có ca dao ngợi ca “Gái Phú Yên như Tiên Lầu Cát…”. Quả là như vậy, vì nơi đây, những ai đã từng trải qua cùng đồng bào, đồng chí thì quên sao được khí thế hừng hực, nhiệt huyết dâng trào của ngày phát khởi mệnh lệnh “Toàn dân, toàn diện, toàn quốc kháng chiến” của Bác Hồ. Cùng với đồng bào cả nước, nhân dân thị xã Tuy Hòa cùng đồng bào cả tỉnh Phú Yên một lòng một dạ hưởng ứng. Thị xã Tuy Hòa lúc bấy giờ đã trở thành nơi hội tụ các lực lượng vũ trang “Nam tiến” từ Bắc, từ Bình Trị Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi tiến vào. Ngày, đêm vui như hội. Các đoàn quân Nam tiến của Chi đội Vi Dân, của Thu Sơn, của Chi đội “du kích Ba Tơ” còn có danh xưng bộ đội Lê Trung Đình, bộ đội Thái Phiên từ Quảng Nam, Quảng Ngãi vang khúc quân hành trên các đoàn tàu hỏa ngày ngày tiếp nối vào. Những đoàn quân mà “quân phục không đồng loạt, vũ khí không đồng chủng, tiếng nói không đồng âm” thế mà nhất tề nhất loạt tuân thủ răm rắp mệnh lệnh chỉ huy. Ga Tuy Hòa là ga cuối để chuyển tải quân từ phía Bắc vào. Và Tuy Hòa là nơi được tôn vinh “thánh địa” làm nhiệm vụ phân phối, điều quân vào các chiến trường Bắc Khánh, Tây Nguyên… Cấp tập, rập ràng như một trục ly tâm giữa chiến trường và hậu phương. Ngoài lực lượng dân quân tỉnh, khi ấy lực lượng vũ trang chính quy có Chi đội 4, sau đó biên chế thành Đại đoàn 27 trực thuộc Bộ Quốc phòng. Tiểu đoàn I Độc Lập và các Tiểu đoàn Trần Tạo dần dần được chính quy hóa để hình thành các Trung đoàn Chủ lực 803, trung đoàn 84 Tây Nguyên. Cùng phối hợp với chiến trường cả nước, những trung đoàn chủ lực đã hợp đồng tác chiến cùng các lực lượng binh đoàn chính quy lập nên những thành tích lớn như chiến dịch Cao Bắc Lạng, Điện Biên Phủ mà ngày nay biên niên sử quân đội ta vẫn còn ghi lại những chiến tích hào hùng của Bộ đội Liên khu 5. Đó là bước trưởng thành chính quy hiện đại trong các chiến dịch Bắc Khánh, Nam Tây Nguyên, Hè 52 phá tan các cuộc càn quét của địch trong chiến dịch Atlant, Latérit, Tahiti. Tên tuổi của các đơn vị anh hùng lập công vang dội như Tiểu đoàn 365 (thường gọi là “Bộ đội lá mít”, của Tiểu đoàn 5 Nha Trang, của Tiểu đoàn 39… còn đậm dấu son trong lòng người dân Tuy Hòa. Từ sự lớn lên trong thời kỳ đánh địch theo đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung tiến tới trung đoàn chính quy, trận địa chiến.
 
Hồi tưởng lại thời kỳ còn phôi phai, trứng nước của những 1940 – 1946 thì hình tượng tình “quân với dân như cá với nước” của đồng bào và quân đội nhân dân ta là trường tồn và sức mạnh phi thường. Sự hợp sức đồng tâm của dân và quân từng bước trong cuộc chiến tranh nhân dân thật kỳ vĩ. Vùng lên từ đơn vị nhỏ, với dao găm, mã tấu, thực thi triệt để mệnh lệnh “tiêu thổ kháng chiến” thì chỉ trong khoảnh khắc thời gian ngắn, những khu nhà ngói đồ sộ, những ngôi nhà tường vách kiên cố trong thị xã đã đục vách, khoan tường lập thành chiến lũy xuyên từ tuyến này với tuyến kia để hợp đồng tác chiến. Trên các cánh đồng lúa mới gặt xong đã loang loáng những thân tre vót nhọn chống quân nhảy dù. Con đường lớn từ thị xã đi ra Màng Màng, Mỹ Á, tận Hòa Đa, Chí Thạnh đã ngày đêm xẻ dọc xẻ ngang chữ I chữ T nhằm không cho xe cơ giới của giặc tiến quân. Từ xóm này rẽ đường sang xóm khác đã nhanh chóng hình thành “làng chiến đấu”, liên hoàn dọc theo các giao thông hào. Chỉ có người dân trong xóm mới tường tận đường đi lối thoát. Đâu đâu cũng có tai mắt của dân giám sát và cảnh giác tại mỗi trạm gác đầu xóm, đầu làng. Cùng một lúc củng cố lực lượng vũ trang chiến đấu, các đoàn thể quần chúng, thanh niên, phụ nữ. Mẹ chị chiến sỹ được tăng cường và phát triển mạnh mẽ. Tất cả các hội và đoàn thể tích cực hoạt động. Các phong trào “Diệt giặc ngoại xâm, diệt giặc đói, diệt giặc dốt” phát triển rầm rộ. Đêm đêm, anh Bộ đội Cụ Hồ đến lớp dạy bình dân học vụ. Các vị bô lão, các chị các mẹ chiến sỹ cùngnhau vận động cho “hủ gạo nuôi quân”, “chiếc khăn tay kỷ niệm”… Ngoài ra, còn phát động phong trào “Không dùng hàng ngoại hóa” tạo thành một sức mạnh tổng hợp, tổng hóa làm nên chiến thắng chiến dịch Hồ Chí Minh năm1975, thống nhất nước nhà.
 
Mỗi lần trở lại thăm Tuy Hòa, là người lính trẻ của thời ấy, một đội viên trẻ nhất của đội súng máy 20 ly và 12 ky 7 gác trên đỉnh núi Nhạn Tháp với nhiệm vụ khi tàu bay địch xuất hiện thì gõ “tà vẹt” báo động, khi tàu thủy địch xuất hiện giữa biển khơi thì kéo “bồ”* để làm dấu hiệu cho bà con đánh cá ngoài khơi dạt vào nơi đánh giặc. Lòng tôi tràn ngập nhiều ấn tượng về hào khí và nghĩa tình sâu nặng giữa đồng bào và quân đội trên đất Tuy Hòa, Phú Yên một thời gắn bó bảo vệ đất nước. Chắc hẳn bà con Tuy Hòa không bao giờ quên những người con thân yêu của mình thời ấy, tuy chưa gặp lại hay có người đã ra đi vì hy sinh, vì giá yếu như các đồng chí Cao Văn Khánh – nguyên Đại đoàn trưởng Đại đoàn 27, Phan Hàm – Trung đoàn trưởng, Lư Giang – nguyên Truung đoàn trưởng Trung đoàn 803, Nguyễn Bân – nguyên tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn I – Độc Lập và Hà Vi Tùng – Tiểu đoàn “Lá mít” 365 đã từng làm cho quân giặc kinh hồn khiếp vía. Tình cảm quân dân ruột rà, gắn bó ấy mãi mãi thấm đượm và khắc sâu trong lòng mỗi người chúng ta, cho con cháu chúng ta khi hồi tưởng lại những ngày đầu Tuy Hòa bước vào cuộc kháng chiến toàn quốc cùng với toàn dân làm nên chiến thắng vẻ vang trong trang sử hồng của dân tộc.
 
* “Bồ”: Cái bồ đan bằng tre cật lợp lá buông treo cao để báo hiệu cho ngư dân ngoài biển xa
 
MINH LƯƠNG


Tiêu đề: Sống trong lửa đạn
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 15 Tháng Tám, 2010, 04:56:51 pm
Cuộc đời chiến sĩ thanh niên xung phong(TNXP) trải qua nhiều khó khăn gian khổ, từng đói cơm lạt muối, trèo đèo lội suối thế nhưng anh em không nản lòng. Nhiều lúc đi trong mưa bom bão đạn vẫn vững lòng, đưa hàng về an toàn để giúp cho bộ đội ta đánh thắng hết trận này đến trận khác.
 
Gia nhập đơn vị TNXP từ  năm 1969, sau đó đơn vị cử tôi, đồng chí Phan Ngọc Dũng cùng với một số người đi xuống cửa khẩu An Định( huyện Tuy An) mua thực phẩm. Trên đường về đến đoạn đường qua trảng sim Gò Rộng bị máy bay địch phát hiện, chúng tôi buộc phải chạy sâu vào rừng. Lúc này mọi người đều mang vác rất nặng, nên không thể chạy kịp, đành bỏ hàng lại để thoát thân. Địch phát hiện thấy người nên thả bom dữ dộị Cả cánh rừng, quần áo, hàng hoá, tư trang của cả đoàn đều bị cháy trụi, mỗi người chỉ còn duy nhất một bộ quần áo đang mặc. Sau đó, đoàn cũng về đến đơn vị an toàn. Đến tháng 3-1970, tôi và một số đồng chí khác bám cửa khẩu mua thực phẩm cho đơn vị, khi về thì bị phục kích ở Quốc lộ1. Chúng bắn liên tục làm đội hình tán loạn, pháo sáng thấy rõ người nhưng chúng tôi vẫn giữ gùi hàng trên vai không thể để mất được và thoát chết trở về cứ.
 
Nhớ nhất là có một lần, chỉ một mình tôi xuống cửa khẩu nhận hàng, khi đi đến giữa đường thì gặp bọn địch đổ bộ tại Hòn Lúp rồi bao vâỵ Tôi bị kẹt giữa rừng sim nên không dám đi xa vì máy bay oanh tạc suốt ngày đêm. Một mình, vừa sợ, vừa đói, 3 ngày đêm liền tôi sống trong cảnh không thức ăn, nước uống. Đến khi địch rút đi khỏi thì tôi cũng không còn đủ sức để đi nữa, phải bò ra ngoài đường chờ người ngang qua nhờ giúp đỡ và may mắn thay có anh Trần Văn Bảy tìm thấy nấu cho một chút cháo để ăn. Đợt sau, tôi được phân công xuống Tuy Hoà 2 nhận lương thực, khi đi đến dốc Gò Rộng, xã Hoà Trị thì gặp biệt kích. Bọn chúng cho máy bay oanh tạc bốn phía, phải chạy vào rừng núp dưới giao thông hào gần đường. Lúc này, tôi và đồng chí Long bàn cho anh em tản vào rừng, nếu ở đây sẽ bị máy bay thả bom chết. Vừa vào được khu rừng nhỏ thì bị biệt kích thả bom xăng, anh em chạy đến đâu lửa bom “chạy” theo đến đó. Mọi người ra khỏi thì đã cháy hết tư trang, chỉ còn một số hàng hoá anh em góp lại mang lên. Khi đến suối thì gặp đồng chí Hồng Quang và đồng chí đưa chúng tôi về căn cứ an toàn.
 
Đến tháng 6-1971, tiểu đội tôi mang đạn xuống Tuy Hoà 2. Đoàn đi có các đồng chí Lê Thị Tuyết Nga, Nguyễn Thị Hoa, Trương Thị Diệu, Nguyễn Thị Chín, Lê Nguyên Đức Thị, Trần Văn Bảy, Nguyễn Văn Lộc  và Lê Trần Thị Giọng. Chúng tôi đang trên đường xuống suối Cái thì máy bay địch đổ quân ở Gò Sân, Gò Chợ, tiểu đội bị kẹt chính giữa cùng với tổ thu mua lương thực tỉnh. Trong lúc này, pháo bắn tung vào giữa đội hình làm cho một số chị em bị thương nặng, nhưng lại không có dụng cụ để rửa, phải vót cây làm kẹp để thay băng và rửa bằng nước muốị Đến khi địch rút khỏi, chúng tôi mới chuyển về đơn vị, số còn lại tiếp tục xuống làng mang gạo, muối lên để nuôi cán bộ.
 
Năm 1972, địch càn Suối Ché, tôi cùng đơn vị di chuyển qua Tân Lương vào buôn Ma Lức tránh địch. Sáng hôm sau, địch đổ bộ vào buôn, tất cả các đồng chí đều tránh và dời bà con dân làng đi hết, còn lại một mình tôi vừa mang hàng, vừa dắt đồng chí Phạm Kỳ Châu (lúc đó đang bị bệnh) chạy theo anh em, đến một góc rừng mới gặp nhau, rồi nghỉ lại chờ đến tốị Sau đó mọi người đưa đồng chí Châu vượt  qua Tân Lương về lại Suối Ché.
 
Đến tháng 11-1972, tôi được cử đi công tác tại xã An Chấn (huyện Tuy An), cùng đi với đồng chí Ánh Hồng, Trương Văn Khanh. Xuống đến xã An Thọ phát hiện có địch, tôi liền kéo hai người chạy trở lại thì gặp các anh đi xuống, chúng tôi cản lại không cho đị Vừa dứt tiếng, chúng tôi chạy lên phía trước thì bọn địch cũng vừa giáp đường, chúng bắn làm anh Khanh bị thương.
 
Năm 1973, đơn vị phân công tôi cùng đồng đội xuống mua hàng về cung cấp cho toàn ngành giao thông vận tải, đi lên đến cầu Bảy Bổ thì gặp lính Đại Hàn phục kích. Trời lúc đó sáng trăng, chúng thấy người đồng thanh hô “Vi-xi” (VC – Việt cộng). Chúng tôi phải nhào xuống ruộng. Lúc này đồng chí Nguyễn Thị Phận không chạy nổi phải kéo chạy, còn đồng chí Phụng thì bám đường vượt qua, chúng tôi về đến nơi yên ổn cả người lẫn hàng. Tháng 2-1974, tôi được phân công đi nhận hàng chi viện tiền phương, làm trung đội phó trung đội 2 thuộc đoàn 20 Ban chi viện tỉnh Phú Yên, đóng quân bên địa phận tỉnh Đắc Lắc. Trung đội chúng tôi toàn là nữ làm nhiệm vụ chuyển hàng vượt qua đường 14 để giao cho đơn vị bên kia đường. Khi vượt qua bên kia đường 14 thì bị địch bắn nhưng chúng tôi thoát nạn, vẫn bảo toàn lực lượng hàng hoá đưa đến nơi tập kết đầy đủ.
 
Không biết bao nhiêu mồ hôi, nước mắt và máu của TNXP đã đổ xuống trên chiến trường đấu tranh chống kẻ thù xâm lược. Song, ý chí và tinh thần chiến đấu anh dũng của những người TNXP đã chiến thắng được kẻ thù.               
HỒ THỊ HỒNG CỬU (Cựu TNXP thời chống Mỹ)
 
KIM CHI (gh


Tiêu đề: Chuyện hai nữ thầy thuốc ở chiến khu
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 15 Tháng Tám, 2010, 04:59:30 pm
Ngay khi rời ghế nhà trường, cả hai lên đường vào Nam, góp sức mình vào cuộc chiến đấu giải phóng dân tộc. Họ không tiếc tuổi xanh của mình, không sợ khó, sợ khổ, hết lòng vì thương bệnh binh trên các mặt trận.
 
Cả hai nữ bác sĩ ấy đều đã về hưu, mỗi người một công việc, nhưng vẫn còn tâm huyết, gắn bó với nghề vì sức khỏe của cộng đồng.
 
NGƯỜI PHỤ NỮ NƠI TUYẾN (http://www.baophuyen.com.vn/Portals/0/ImgNews/060228-bac-si-tin.jpg)

Hai nữ bác sĩ Huỳnh Thị Kim Huê và Phan Thị Tín - Ảnh: Tư Liệu
Trong căn nhà của mình ở hẻm Ngô Quyền (phường 4, TP Tuy Hòa), bác sĩ Huỳnh Thị Kim Huê bồi hồi nhớ lại những năm tháng gian khổ nhưng ấm áp tình thương, dồn hết tâm sức cùng các đồng nghiệp cứu từng thương bệnh binh khỏi tay tử thần. Tốt nghiệp Trường đại học Y khoa Hà Nội vào tháng 2-1966, hưởng ứng lời kêu gọi của nhà trường, cùng một số sinh viên khác, Kim Huê viết đơn tình nguyện vào Nam phục vụ kháng chiến. Tháng 4 năm đó, bà được học chính trị và đến tháng 6 bắt đầu cuộc hành quân vào chiến trường miền Nam. “Chỉ có những ngày đầu tiên là được đi ôtô nhưng cũng phải ngụy trang rất khéo. Đến làng Ho (Quảng Trị) cả đoàn bắt đầu đi bộ theo đường mòn Hồ Chí Minh để vào Nam.” Bà Huê kể. Ròng rã suốt 3 tháng trời băng rừng, lội suối, có lúc máy bay Mỹ lượn trên đầu, tới tháng 9, cả đoàn đến Ban Y tế Phú Yên. Vừa chân ướt chân ráo tới bà gặp ngay một trận càn rất ác liệt của Mỹ. Địch đóng quân và càn quét cả tháng mới rút đi. Tình hình yên ổn, bà được phân công về Tuy An hoạt động. Bà bộc bạch: Tới Tuy An, tôi rất ngỡ ngàng, mọi thứ  không như lúc đầu mình tưởng tượng. Không có nhà cửa, phòng ốc gì cả, trạm xá huyện lúc bấy giờ chỉ là một bãi đất trống. Tôi hoang mang vô cùng nhưng rồi hiểu ra: chiến tranh mà. Thế là bắt tay vào làm việc. Thương bệnh binh ở trạm chưa đông lắm, chỉ khoảng vài chục người. Ban ngày mắc võng giữa rừng để nghỉ ngơi, tiêm thuốc, rửa vết thương, thay băng cho thương binh, khi có địch thì tất cả đều di tản. Ban đêm, tôi cùng các y tá, hộ lý hấp các dụng cụ chuyên dùng vào việc cứu chữa thương bệnh binh. Nếu làm ban ngày thì sợ khói bay lên, địch sẽ phát hiện ra chỗ chúng ta đang ở. Lúc này Tuy An đang là vùng chiến tranh ác liệt vì giáp ranh với vùng địch chiếm đóng. Địch càn vùng này thì ta lại phải di chuyển tới vùng khác. Chính vì thế, một tháng trạm xá di chuyển không biết bao nhiêu lần. Ác liệt nhất là giai đoạn 1966 – 1968. Địch ra sức càn quét, bắn phá khắp nơi, thế mà tại trạm xá, thương bệnh binh vẫn được bảo vệ an toàn. Máy bay của địch quần trên cao kêu gọi thầy thuốc của ta chiêu hồi. Có khi kêu đích danh bà. Nhưng tinh thần của những chiến sĩ áo trắng không lung lay, hết lòng cứu chữa cho thương bệnh binh để họ tiếp tục cầm súng ra chiến trường, tất cả vì độc lập dân tộc.
 
Có một kỷ niệm mà bà Huê không bao giờ quên. Đó là năm 1968, địch càn dữ dội, bệnh xá phải chuyển lên đồi lau vùng 1 An Lĩnh. Đêm, địch thả bom liên tục làm ba cô y tá bị thương. Bệnh nhân có lúc phải nhịn đói suốt 2, 3 ngày liền. Y, bác sĩ có bao nhiêu thức ăn cũng đều dành cho bệnh nhân của mình, chỉ uống nước cầm hơi. Đến ngày thứ năm, các đồng chí bảo vệ của ta lần xuống để nắm tình hình và lấy nước về uống, luộc rau ăn qua ngày. Sau đó, địch rút quân, ta  kiểm tra tình hình chắc chắn rồi đưa bệnh nhân về lại trạm xá an toàn.
 
Trong những năm chiến tranh ác liệt ấy, ngay tại vùng 2 An Lĩnh, bệnh nhân bị sốt rét ác tính khá nhiều, nhiều người chết phải chôn gần trạm xá. Cũng trong thời gian đó, chính cô cũng đứng ra mổ thành công cho một sản phụ mẹ tròn con vuông. Sau giải phóng, mẹ con tìm đến nhà cảm ơn.
 
Bà Huê tâm sự: “Hồi đó, ai cũng sống xa nhà nên rất thương yêu nhau, mọi người đều làm việc hết mình, tận tình chu đáo, không ai lo nghĩ đến bản thân mình cả”. Sau giải phóng, bà về công tác tại bệnh viện tỉnh. Năm 1991, bà được chuyển qua Bảo hiểm y tế cho đến năm 1996 thì nghỉ hưu. Hiện nay, hằng ngày bà vẫn đạp xe đến Phòng khám tư nhân Lê Lợi để góp sức mình vì sức khỏe cộng đồng.
 
NHỮNG KỶ NIỆM Ở BỆNH XÁ TRÚC BẠCH
 
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện, lâu dài, khó khăn đầy gian khổ hy sinh. Bệnh xá Trúc Bạch là nơi điều trị các thương bệnh binh nặng. Và ở đó, đội ngũ y bác sĩ không quản ngại ngày đêm giành giật sự sống cho bệnh nhân.
 
Bác sĩ Phan Thị  Tín đã trải tuổi xuân của mình ở Bệnh xá Trúc Bạch. Bà nhớ lại chặng đường vào Nam phục vụ sau khi tốt nghiệp Đại học Y khoa Hà Nội năm 1966: 25-12 đi vào Nam, mãi cho đến tháng 4-1967 mới đến được Phú Yên, được Ban dân y đón và phân công xuống bệnh xá huyện Đồng Xuân. Bà làm việc tại đó một thời gian, đến năm 1971 về Bệnh xá Trúc Bạch làm bác sĩ điều trị. Qua các chiến dịch, thương bệnh binh nặng từ các nơi chuyển về khá đông. Đội ngũ y bác sĩ ở bệnh xá làm việc quên ăn, quên ngủ với mong muốn duy nhất là làm sao cứu sống được những đồng đội, đồng chí của mình. “Lực lượng y bác sĩ rất ít, tất cả đều dồn sức mình lo chạy chữa cho các bệnh nhân. Người thì lo thuốc men điều trị, người lo phần hậu cần, ăn uống. Tinh thần làm việc hăng say đoàn kết, ý thức tập thể rất cao. Trong suốt thời gian diễn ra các trận càn của địch (từ năm 1966 đến năm 1968), Bệnh xá không để xảy ra sai xót nào” - Bà Tín kể.
 
Năm 1973 bà trở thành Bệnh xá trưởng. Hai năm sau đó, khi tỉnh nhà giải phóng, chính bà là người đầu tiên đi tiếp quản Bệnh viện Phú  Yên. “Lúc đó, Bệnh viện chỉ là một căn nhà dã chiến, mọi thứ đều thiếu thốn nhưng ai cũng làm việc hăng say và tích cực, phục vụ bệnh nhân tận tình chu đáo” - Bà nhớ lại. Đến năm 1977, bà về Bệnh viện Y học cổ truyền, năm 1978 làm Trưởng khoa Sản Bệnh viện đa khoa tỉnh. Năm 1994 công tác tại UBDSGDTE, đến năm 1999 về nghỉ chế độ.
 
Cùng tốt nghiệp một trường, cùng vào Nam một năm, cả đời phục vụ nhân dân, giờ đây thanh thản tuổi già bên con cháu thân yêu của mình, hai nữ bác sĩ ở chiến khu ngày nào mong sao cuộc sống yên bình, mọi người đều mạnh khỏe để cùng nhau xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp.
 
KIM CHI
 
 


Tiêu đề: Re: Phú Yên - Đất & Người Đất anh hùng
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 20 Tháng Mười, 2010, 11:06:08 am
Quân giới Phú Yên phục vụ toàn quốc kháng chiến


Cách mạng Tháng Tám (1945) thành công, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa vừa mới ra đời đã phải đương đầu với muôn vàn khó khăn. Nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương do Hồ Chí Minh đứng đầu, đã sáng suốt lãnh đạo nhân dân ta nâng cao tinh thần đoàn kết, ý chí kiên cường, quyết tâm giữ vững lời thề của Tuyên ngôn độc lập, nguyện “đem hết cả tinh thần và lực lượng, tính mạng, của cải và tài sản để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”.

(http://www.baophuyen.com.vn/Portals/0/2006/12/w3/061211-ducluudan.jpg)

061211-ducluudan.jpg

Đúc lựu đạn bằng khuôn đất sét – Ảnh: Tư liệu
Bởi vậy từ ngày 23-9-1945 thực dân Pháp gây hấn đánh chiếm nam Bộ, ở Phú Yên đã nổi lên phong trào toàn dân vũ trang bằng vũ khí thô sơ và thành lập các đơn vị vũ trang tập trung; hàng loạt các lớp huấn luyện quân sự ngắn ngày được mở ra ở Sông Cầu để đào tạo cấp bách số cán bộ quân sự cần thiết. Và ngày 10 tháng 10 năm 1945, xưởng quân giới đầu tiên của Phú Yên chính thức thành lập. Sự kiện này không chỉ là mốc mở đầu cho sự phát triển của một ngành khoa học quân sự ở tỉnh, là khởi điểm quan trọng để từ đó Quân giới Phú Yên khẳng định vai trò của mình trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc.(http://[img])[/img]
Dù chưa có đủ những điều kiện vật chất cần thiết, song do những yêu cầu, đòi hỏi cấp thiết của lịch sử, Quân giới Phú Yên ra đời bắt đầu từ những khốn khó, thiếu thốn của một mô hình sản xuất công nghiệp nhỏ bé lạc hậu đang từng bước cố gắng định hình và định hướng đi ban đầu của ngành Quân giới Phú Yên còn non trẻ… Ngay từ những bước đi ban đầu này, Quân giới Phú Yên đã hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình trong khả năng có được để phục vụ cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp.

Cuối năm 1945, quân Pháp từ Nam bộ đánh lấn dần ra Nam Trung bộ và Tây Nguyên. Tình thế chiến sự diễn biến nhanh chóng. Tổ chức quân sự cũng có những thay đổi. Chi đội 4 Phú Yên được thành lập thay cho Ủy ban Quốc phòng, do đồng chí Lê Văn Đức làm đội trưởng. Đồng chí Ngô Hoàng Anh được rút sang lực lượng chiến đấu. Việc tiếp tục xây dựng và phát triển lực lượng Quân giới được giao cho đồng chí Nguyễn Hữu Dũ. Để kịp thời đối phó với tình hình chiến sự ngày một lan rộng, Ủy ban Việt Minh và Ủy ban Cách mạng lâm thời tỉnh ra lời kêu gọi toàn dân tham gia làm vũ khí và chủ trương tổ chức các công binh xưởng, đáp ứng nhu cầu vũ khí trang bị cho các lực lượng vũ trang đủ sức ngăn cản bước tiến của quân thù.

Hưởng ứng lời kêu gọi này, hầu như toàn bộ các tổ chức thợ thuyền ở thị xã Tuy Hòa đã tập trung về Sông Cầu để chuẩn bị lập công binh xưởng. Mọi tầng lớp nhân dân lao động trong tỉnh, từ những thợ kim hoàn, thợ da, thợ hớt tóc, công nhân Nhà máy đường Đồng Bò v.v… đến những thợ thủ công có tay nghề giỏi như ông Hồ Kiến Mão, ông Xáng, và cả những người có trình độ kỹ thuật cao đã từng tốt nghiệp ở trường kỹ nghệ thực hành của Pháp – tất cả đều tình nguyện tham gia lực lượng những người sản xuất vũ khí. Họ hiến dâng vô tư cho Tổ quốc, cho Cách mạng tài sản, máy móc, nguyên vật liệu và cả chính cuộc đời mình. Những chiếc xe than của ông Đỗ Trực, Nguyễn Tiếm, Nguyễn Thanh ngay đêm chuyên chở những khối máy móc thiết bị từ garage Công Tín Xương, garage Hoàng Văn Cái, xưởng của ông Hồ Kiến Mão, ông Sáng…, từ những lò rèn của ông Sáu Méo, ông Hoàng Mây, ông Mười Do… hối hả đổ về Sông Cầu khẩn trương xây dựng xưởng.

Sau khi cơ bản hoàn thành công việc tập kết trang thiết bị, ngày 10 tháng 10 năm 1945, công binh xưởng Cao Thắng đứa con đầu lòng của ngành Quân giới Phú Yên chính thức ra đời. Đồng chí Đỗ Trực – một trong những người đã tốt nghiệp trường Kỹ nghệ thực hành, có tay nghề cao và có ý chí trong chuyên môn được anh em tín nhiệm cử ra tuyên bố thành lập xưởng. Cùng với đồng chí Nguyễn Hữu Dũ, đồng chí Đỗ Trực đã trực tiếp chỉ đạo sản xuất, hướng dẫn hoạt động của công binh xưởng.

Khi tiếng súng kháng chiến đã lan ra trên toàn quốc cũng là lúc yêu cầu về vũ khí, súng đạn trở nên cấp thiết hơn, một số công binh xưởng khác tiếp tục ra đời. Hơn một năm, sau ngày thành lập công binh xưởng đầu tiên, cuối năm 1946 công binh xưởng 83 thuộc Trung đoàn 83, đại đoàn 27 ra đời. Khi mới thành lập công binh xưởng 83 đóng tại thôn Ngọc Sơn, xã Hòa Mỹ, do đồng chí Nguyễn Hữu Chiêu (còn gọi là Hội Đồng Chiêu) phụ trách. Lực lượng khá mỏng, với gần 20 công nhân, xuất thân từ tổ cơ khí chi đội 4 cũ, đảm nhiệm các nhiệm vụ: đốc công, kế toán, quản lý, đúc, nguội, liên lạc và sưu tầm nguyên vật liệu.

Cùng thời gian này, trước yêu cầu phát triển của lực lượng vũ trang địa phương – các đơn vị dân quân ở các huyện cần phải được trang bị vũ khí phù hợp với chiến trường chiến tranh du kích. Tỉnh ủy Phú Yên quyết định thành lập công binh xưởng dân quân Phú Yên, tên thường gọi là “Cơ xưởng dân quân”. Tỉnh đội Phú Yên chịu trách nhiệm tổ chức công binh xưởng này, đồng chí Nguyễn Tất Dung phụ trách, biên chế ban đầu khoảng 25 người mà nòng cốt là những cán bộ dân quân được đào tạo tại công binh xưởng Cao Thắng. Cơ xưởng dân quân khi mới thành lập đóng tại xóm Vườn, thôn Phú Vang, xã Xuân Sơn, huyện Đồng Xuân.

Như vậy đến cuối năm 1946, ở Phú Yên đã có 3 công binh xưởng được thành lập và bắt đầu đi vào hoạt động. Đó là công binh xưởng Cao Thắng, công binh xưởng 83 và cơ xưởng dân quân. Nhìn chung, bên cạnh những thuận lợi không nhỏ là lòng yêu nước, tinh thần nhiệt tình cách mạng và ý chí quyết tâm cao của đội ngũ những người thợ quân giới, những khó khăn cơ bản mà ngành quân giới Phú Yên từ buổi ban đầu đã phải trực tiếp đương đầu, đó là con người có kỹ thuật, trang thiết bị và nguyên vật liệu.

Trong số những công binh xưởng đã thành lập, Cao Thắng là công binh xưởng mang tính quy mô hơn cả, và ngay từ đầu nó đã xứng đáng là con chim đầu đàn của ngành quân giới Phú Yên, là nơi hội tụ đông nhất, mạnh nhất về trí và lực của tầng lớp công nhân cách mạng Phú Yên trong thời kỳ lịch sử đầy biến động này.

 
ĐỖ THÍNH


Tiêu đề: Re: Phú Yên - Đất & Người Đất anh hùng
Gửi bởi: tuanquoc19 trong 20 Tháng Mười, 2010, 11:08:24 am
Đồng Xuân êm ả chiều cuối năm

Không náo nhiệt như các nơi khác, không gian chiều cuối năm ở Đồng Xuân yên tĩnh đến mênh mông.Tại thị trấn La Hai, chợ hoa tết không tập trung ở một điểm mà dàn trải, lác đác ở nhiều nơi: ở các ngã ba, ở trước các hiên nhà ven con đường chính chạy dọc theo thị trấn , và nhiều nhất là ở trước cửa Chi cục Thuế Đồng Xuân.

 

Nhưng ở một góc độ khác, chúng tôi ghi nhận được một Đồng Xuân chiều cuối năm thật sâu lắng: Đó là những sinh hoạt gia đình đầm ấm, các cháu nhỏ quây quần cùng bà bên một nồi bánh chưng đang lên khói, phía trong, một bàn thờ gia tiên nghi ngút hương và những màu sắc độc đáo trong một sân trường đang tạm nghỉ tết, nơi có cây bàng đang mùa thay lá mới, dăm ba đứa trẻ quây quần với nhau vui một trò chơi  trong một khung trời tuổi thơ tuyệt đẹp.

 

Có một Đồng Xuân êm ả chiều cuối năm.

 
(http://www.baophuyen.com.vn/Portals/0/2008/02/05-06/080206-Cho-La-Hai.jpg)
080206-Cho-La-Hai.jpg

Chợ La Hai
080206-Cho-hoa-tet-DX.jpg
(http://www.baophuyen.com.vn/Portals/0/2008/02/05-06/080206-Cho-hoa-tet-DX.jpg)
Điểm bán hoa Tết trước Chi cục Thuế Đồng Xuân
080206-Khoi-bep.jpg
(http://www.baophuyen.com.vn/Portals/0/2008/02/05-06/080206-Khoi-bep.jpg)
Khói bếp chiều cuối năm
080206-bang-thay-la.jpg
(http://www.baophuyen.com.vn/Portals/0/2008/02/05-06/080206-bang-thay-la.jpg)
Mùa bàng thay lá

 

Nhóm ảnh của Dương Thanh Xuân