Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Văn học chiến tranh => Tác giả chủ đề:: macbupda trong 03 Tháng Tám, 2010, 10:48:03 am



Tiêu đề: Sáng tác của Nam Cao trong kháng chiến chống Pháp
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Tám, 2010, 10:48:03 am
Nam Cao là một nhà văn nổi tiếng. Từ trước Cách mạng tháng Tám, ông đã có nhiều tác phẩm nổi tiếng: Nghèo, Một bữa no, Tư cách mõ, Chí Phèo, Lão Hạc, Đời thừa, Mua nhà, Cười, Trăng sáng, Nửa đêm, Sống mòn…

Trong kháng chiến chống Pháp, ông tiếp tục cầm bút. Ông là một nhà văn - chiến sĩ. Ông đi, ông thấy và ông viết để phục vụ kháng chiến. Nam Cao tiếp tục có những tác phẩm giá trị cho đến lúc ông hi sinh vào năm 1951. Những tác phẩm của ông cho ta hiểu được nhiều mặt của cuộc kháng chiến chống Pháp, từ đời sống nhân dân, hậu phương cũng như địch hậu, tinh thần tham gia kháng chiến của người nông dân cũng như người trí thức, những gương chiến sĩ anh hùng, cái khí thế dồn dập của chiến dịch Biên Giới…

Các tác phẩm được giới thiệu ở đây rút từ cuốn Nam Cao tuyển tập - Tập hai - Nhà xuất bản Văn học năm 2005


Tiêu đề: Nỗi truân chuyên của khách má hồng
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Tám, 2010, 10:49:11 am
NỖI TRUÂN CHUYÊN
CỦA KHÁCH MÁ HỒNG

Suốt đêm hôm ấy, ông thầy thuốc Nguyễn Văn Thinh không sao ngủ đươc. Tôi hỏi ông rằng: sáng mai ông đi cưới vợ rồi thì đêm nay ông có ngủ được không? Ông có là thánh, tôi chắc ông cũng không ngủ được!

Ông thầy thuốc Nguyễn Văn Thinh không là thánh. Ngày mai là ngày ông được ra thề với các quan Tây. Đó là điều kể ra cũng không thú vị gì… - Thề thốt làm chi cho nó nặng lời! Nhưng thú vị ở chỗ thề xong, ông tức khắc thành thủ tướng kiêm nội vụ. Thủ tướng kiêm nội vụ, ngài nghe rõ chưa? Ông thầy thuốc Nguyễn Văn Thinh tưởng có thể điên người lên được.

- Thủ tướng kiêm nội vụ… Thủ tướng kiêm nội vụ…

Ông thầy thuốc Nguyễn Văn Tinh cười lặng tiếng một cái cười rộng lớn, nhắc đi nhắc lại một cách say sưa như vậy. Hai bàn tay múp míp của ông, mở rộng ra, khoát một cái hình tròn trước mặt ông. Ông vuốt ve trong tưởng tượng cái Thủ tướng kiêm nội vụ hiện hình hiện khối.

- Thủ tướng kiêm nội vụ!... Thủ tướng kiêm nội vụ!…

Ông thầy thuốc Nguyễn Văn Thinh nhắm hẳn hai mắt lại, rên lên những tiếng sung sướng ấy, đúng như một anh chàng dâm dục rên lên ở trong ngực một ả giang hồ. “Thủ tướng kiêm nội vụ!... Thủ tướng kiêm nội vụ!...”.

Ông lịm đi một phút. Người không biết đã tưởng ông mệt quá, chợp mắt, làm một giấc. Nhưng bỗng ông lại bật người lên như một con lật đật. Cái lò xo giường tung ông xuống khỏi giường. Ông vội vã đi lại gần cái tủ áo có gương kê ở một góc tường nhà. Một hình người múp míp hiện lên trong gương, với một bộ mặt phởn phơ. Cái mặt mãn nguyện ấy mỉm cười, mấp máy môi. Ông Nguyễn Văn Thinh, nhắc lại câu điệp khúc yêu quý của ông: “Thủ tướng kiêm nội vụ!... Thủ tướng kiêm nội vụ!...”.

Ông mở tủ. từng chồng quần áo cao ngất hiện ra. Ông Nguyễn Văn Thinh gật gù nhìn từ trên xuống dưới lại từ dưới lên trên.

Ông lục chồng này lại chồng kia. Ông lần lượt lấy ra, ngắm nghía, rồi lại cất vào ba cái sơ-mi. Đến cái thứ tư thì ông tạm vừa lòng. Một tay ông giơ nó ra xa, Ông ngả đầu về đằng sau, ngắm nghía. Mồm ông cười một cái cười xếch lên đến mang tai. Đôi mắt híp lại, ông vừa gật đầu, vừa lẩm bẩm: “Cũng phải thế này mới coi được chứ! Cũng phải thế này mới coi được chứ! Thủ tướng kiêm…”.

Ông giật mình. Một hồi chuông gắt gỏng đã phạt đứt một mẩu câu nói của ông. Ông lắng tai nghe, mặt hơi tái đi một chút. Ai? Ai có thể đến vào lúc khuya khoắt thế? Máu ông như ngừng lại, lạnh giá trong huyết quản, tuy mồ hôi ông toát ra đẫm trán. Nghe tiếng người bồi dậy, ông vội vàng gọi hắn:

- Bồi!

- Me xừ!

- Viens ic! (vào đây!)

Anh bồi vào.

- Chi vầy?

Ông thở ra hai tiếng ấy thì đúng hơn là ông nói: hai tiếng nói bị hơi thở hổn hển đẩy ra. Mắt ông như mắt một người mất vía…

- Chi vậy mày? Ông nhắc lại.

-Bẩm có chuông kêu cứu.

- Ai kêu cứu?

- Dạ chưa biết… Để ra coi…

- Nè!

Ông nắm lấy tay áo anh bồi, giữ lại, thì thầm báo:

- Coi chừng, nghe không? Ngó cẩn thận rồi hãy mở. Tụi nó ghê lắm đó.

- Dạ!

Anh bồi cố giấu một nụ cười mai mỉa rồi lui ra. Ông Nguyễn Văn thinh ngồi phịch xuống một cái ghế bành, thở hắt ra một tiếng lớn, giơ một tay lên và lắc đầu chán nản. Tụi chúng nó thật là khó chịu! Sao không muốn làm Tây, lại cứ khăng khăng làm người Việt Nam!


Tiêu đề: Nỗi truân chuyên của khách má hồng
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Tám, 2010, 10:49:52 am
Anh bồi vào…

- Bẩm, một người cao lớn, mặc quần áo quan võ, đeo nhiều mề-đay lắm, tự xưng là đại tá…

Ông sửng sốt:

- Tự xưng là đại tá? Người Việt hay là người Pháp?

- Bẩm không thể biết, bởi vì trông cũng giông giống như bác sĩ.

Ông Nguyễn Văn Thinh vụt nhớ ra:

- A! Vậy thì chắc là ông Cô-lô-nen Xuân. Đúng rồi. Ra mời ông vô.

Anh bồi ra rồi, mặt ông thầy thuốc có vẻ băn khoăn, lo lắng.

Ông Xuân đến làm gì khuya khoắt thế? Hay là có sự thay đổi ý kiến gì của ông quan thấy Pháp chăng?

Đại tá Nguyễn Văn Xuân. Ông đúng như anh bồi tả thật: to lớn, mặt đỏ gay, mũi chính thật không lõ như ông đã cố kéo ra cho lõ, ngực nhiều mề-đay ngang với ông Tạ Duy Hiển khi ông này cầm roi điện ra bắt hổ nhảy qua vòng lửa.

Chẳng kịp chào nhau, ông Nguyễn Văn Thinh vội hỏi:

- Thế nào? Lành hay dữ? Có việc chi mà đến chơi khuya thế?

- Có việc này, cần lắm…

Chợt trông thấy chiếc áo của ông Thinh còn mở và chiếc sơ-mi lúc nãy ông đã vất tạm lên chiếc ghế, ông Xuân hỏi:

- Định đi đâu hay sao mà thay áo thế?

Ông Thinh hơi bẽn lẽn:

- À!... không!... Tôi định lấy bộ lễ phuc mặc thử, rồi tập đọc những lời tuyên ngôn ngày mai xem nó ra thế nào. Phải tập cho quen, lúc đọc trông ra vẻ một chút. Xập xệ, người ta cười cho chết. Thủ tướng kiêm nội vụ kia mà! Quan trên trông xuống, người ta trông vào. Có phải không ông phó?

- Trời ơi! Giá ông biết việc gì vừa xảy ra!...

Ông Thinh hoảng hốt:

- Việc gì? Việc gì vậy?

- Người Pháp định không cho chúng mình thề vội.

- Không cho chúng mình thề vội? Sao lại có thể vô lí như thế được? Họ sợ chúng mình trung thành với họ quá chăng?

- Thì chính thế. Thí dụ như tôi chẳng hạn; ai còn không biết tôi trung thành với họ hơn chó “béc-giê”? Trong lúc tất cả người Việt Nam vùng dậy chống họ, thì một mình tôi lùi vào thành với họ, dạy họ tập giáo, tập gậy để đánh người Việt Nam.

Ngờ rằng ông Nguyễn Văn Xuân kể công như vậy là có ý tranh ngôi thủ tướng với mình, bác sĩ vội bảo:

- Tôi còn trung thành bằng mười ông ấy, ông bạn ạ. Trong thời kì người Nhật ở dây, các quý phu nhân còn cần phải giao thiệp với họ nhiều, tôi đã phải đem hết tâm lực ra mà phụng sự những người bỏ nước Pháp để phụng sự quân đội của Thiên hoàng ấy. Như thế nghĩa là tôi trung thành với họ cả trong sự không trung thành của họ.

- Ấy thế cho nên chúng mình mới hỏng. Chúng mình là những con đĩ lứa quá rồi. Họ muốn có những con đĩ kín đáo hơn một chút để có thể lòe thiên hạ là vợ chứ không phải là hạng đĩ.

- À! Ra vậy!


Tiêu đề: Nỗi truân chuyên của khách má hồng
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Tám, 2010, 10:50:26 am
Bây giờ ông bác sĩ mỡi vỡ lẽ như vậy. Ông thâm tím mặt. Ông thâm tím hai tai. Ông sắp thâm tím đế cả hai bàn tay thì may sao đại tá Xuân lại bảo:

- Nhưng mà phúc làm sao lại chỉ có bọn mình là trung thành với họ thôi. Họ không biết làm sao đành lại ưng để cho bọn mình thề vậy.

- Ừ, thế chứ!

Bác sĩ Thinh vỗ tay xuống đùi, đắc ý, cười lên ha hả. Ông bảo tiếp:

- Ta cứ thách già họ tìm được những người Việt Nam ghét làm người Việt Nam hơn chúng mình. Một đồng nghiệp của tôi đấy, ông Xuân ạ. Họ mua chuộc chán không được, xoay ra dọa dẫm, cố ép hắn đứng ra đòi Nam kì cho họ. Hắn trốn đi. Họ chỉ còn một cách là đốt nhà cho hả giận. Ông xem đấy: tìm được những người như chúng mình có phải là đễ đây?

- Đã đành!... Nhưng trách móc họ có ích gì? Chúng mình đã nhất định trung thành với họ thì chúng mình cứ trung thành…

Ông Nguyễn Văn Thinh lại vội vàng giơ cả hai bàn tay ra trước mặt như phân bua với bạn:

- Vâng, vâng… chính thế! Tôi thề với ông rằng tôi rất trung thành với họ. Tôi mà dám trách họ thì tôi không phải là tôi nữa. Có ông biết đấy!

Đại tá Xuân mỉm một nụ cười mệt mỏi:

- Vâng, tôi biết lắm. Nhưng tôi đến để hỏi xem ông đã sửa soạn gì chưa?

- Có rồi! Có rồi! Đủ cả… Ông Thinh bảo vậy.

- Quốc kì?

- Đã! Đã! Các quan tây đã đưa kiểu cho tôi chế tạo.

- Cái cờ vàng có ba gạch xanh giữa hai gạch trắng ấy à?

- Vâng, các quan đưa cho tôi hôm có cả ông ở đấy.

- Ông có hiểu ý nghĩa nó ra thế nào không?

- Hiểu lắm chứ! Thế ông không nghe các quan Tây bảo đấy à? Màu vàng là màu Việt Nam…

- Nhưng chúng mình có còn là Việt Nam đâu?

- Không biết, nhưng các quan Tây bảo thế tất nhiên là như thế. Ba gạch xanh là con sông Cửu Long Giang.

Đại tá Xuân lắc đầu:

- Tôi ngờ rằng họ xỏ chúng ta. Có lẽ chính ra thì màu vàng là màu hoàng kim, Tổ quốc của bọn mình. Còn màu xanh là màu mắt các bà đầm, vì là màu mắt nên mới có viền thêm tí trắng.

Ông thủ tướng kiêm nội vự tương lai trở nên nghĩ ngợi. Đại tá Xuân bảo tiếp:

- Cả Quốc ca cũng thế. Tôi ngờ rằng anh chàng nhạc sĩ cũng muốn xỏ chúng mình. Ông nghe nhé:
      Thuở trời đất nổi cơn gió bụi,
      Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên
      Xanh kia thăm thẳm từng trên
      Vì ai gây dựng cho nên nỗi này!...

Đúng là giọng một con nhà thổ ế vào hồi loạn lạc.

Ông thủ tướng vẫn cúi đầu nghĩ ngợi. Sau cùng ông tặc lưỡi:

- Chà! Thì đã sao? Tôi hỏi ông, ông ó muốn làm phó thủ tướng kiêm phó nội vụ không?

Đại tá Xuân toét miệng ra cười:

- Tôi đùa ông đấy. Thật ra thì tôi cũng nghĩ rằng cái gì các quan Tây bảo đều tốt cả. Chúng mình chỉ việc nghe là có phận nhờ đấy. Tôi đã mạn phép ông đi lùng được một bọn đào kép ở Phú Nhuận trước để ngày mai chúng nó cử Quốc ca.

- Ấy chết! Ấy chết!... thủ tướng Thinh trợn trừng hai mắt, xua tay lia lịa và kêu lên như thế.

- Sao vậy?

- Bọn cô đầu ở nước Bắc kì vào cả đấy.

Đại tá Xuân mìm môi, trợn mắt, đập mạnh nắm tay xuống bàn một cái:

- Chẳng hề chi cả! Tôi sẽ ra lệnh cho chĩa hết súng vào mặt chúng. Đứa nào láo lếu là… “Đoàng! Một phát cho về âm phủ mà đòi Việt Nam thống nhất. Ông hiểu chữa?

Ông sùi bọt mép, mắt quắc lên, nảy lửa. Bác sĩ Thinh tái mặt đi run cầm cập. Cười gượng để lấy lòng nhà võ:

- Vâng… vâng. Ông nói phải; ông không kém gì Hít-le.

Hai người bắt tay nhau, ông Thinh chỉ tay trái vào ngực mình, mỉm cười, dõng dạc:

- Thủ tướng kiêm nội vụ.

Ông Xuân cũng làm như vậy:

- Phó thủ tướng kiêm phó nội vụ.

Rồi hai người cũng ngả nghiêng cười ha hả:

- Hà hà!... Nam kì tự trị và tự do…


Tiêu đề: Nỗi truân chuyên của khách má hồng
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Tám, 2010, 10:51:11 am
*
*   *

Sáng hôm sau, lễ tuyên thệ cử hành rất long trọng trong thành phố Sài Gòn. Người đến dự khá đông. Người ta đếm được sáu ngàn một chục người trong đó có mười ông Chính phủ (ông Lưu Văn Lang không hiểu vì cớ gì vắng mặt) và sáu ngàn lính kín chuyên việc giữ tự do cho địa hạt Sài Gòn - Chợ Lớn, ấy là chưa kể một đoàn ca nhạc một một kép ba đào, một đội lính Pháp có xe tăng và liên thanh và mấy quý quan người Pháp.

Đúng giờ, ông Lơ-cờ-léc, nụ cười hóm hỉnh ở trên môi, một tay dắt bác sĩ Thinh, một tay dắt đại tá Xuân, bước lên đài. Công chúng - cái công chúng toàn lính kín - nhìn nhau: anh nào cũng nghĩ đến việc nhìn xem người bên cạnh mình có tỏ ý gì phản đối không. Thành thử không ai nhớ vỗ tay. Bọn lính Pháp chĩa súng vào đám đông, hô:

- Vỗ tay đi, không ta bắn!

Tức thì tiếng vỗ tay nổ lên như pháo nổ. Đại tá Xuân ưỡn cái ngực mề-đay ra. Bác sĩ Thinh cười chúm chím, đung đưa đôi mắt. Bọn lính Pháp lại hô:

- Im! Im không ta bắn!

Tức thì im. Súng chĩa vào bọn cô đầu. Đàn nổi điệu phưng phưng. Tiếng ca sĩ ai oán của “khách má hồng” cũng nổi lên theo, hòa với tiếng đàn. Lá cờ màu vàng điểm mắt xanh từ từ kéo lên như một tấm khăn người ta vừa rút ở trong một cái hộp quỷ thuật ra.

Giữa lúc ấy thì ông Nguyễn Văn Tâm, nguyên chủ huyện Cai Lậy tỉnh Mỹ Tho, hiện giờ giữ chức tổng trưởng phụ trách chính trị, lật đật ở dây hạy đến. Tay ông cầm một cái hộp có nắp kín, to bằng cái hộp bánh bích quy…

- Xin lỗi các ngài! Tôi đến hơi muộn quá. Nhưng tôi còn phải cố tìm cho được cái bảo vật này.

Ông vừa giơ cái hộp của ông ra, vừa bảo vậy. Mọi người ngơ ngác:

- Hộp gì? Ấn ngọc chăng? Hay bạc giấy? - Ông lắc đầu, cười:

- Sai! Sai! Thưa các ngài đoán sai tất cả. Bẩm, chính là tổ kiến. Vâng, tổ kiến !Tổ kiến để trị những đứa nào còn cứ khăng khăng muốn quay về Tổ quốc.

Công chúng, dù chỉ là cái công chúng toàn lính kín, bật cười. Ông quắc mắt lên:

- Chúng bay cười? Trói cổ những đứa nào cười lại cho ta! Bỏ tổ kiến vào ống quần chúng nó, thắt cho chặt lại.

Ý chừng ông chợt nhớ ra bọn người đứng đấy đêu là thủ hạ của ông, ông hơi bẽn lẽn nhưng vốn nhanh trí vội quát tiếp một câu, chữa thẹn:

- Quân này ngu quá! Chỉ biết cười! Ngoài kia, hỗ nào cũng nhanh nhản những đứa đòi thống nhất Việt Nam, không biết đi tóm cổ mấy mụ đàn bà về để ta cho kiến đốt chơi.

Bọn lính kín dạ ran. Chúng chạy đi. Một lái sau, một bọn lôi về một xâu đến chín, mười người đàn bà, quần áo khá sang. Nguyễn Văn Tâm hếc mũi lên, hít vào, như một con thú dữ đánh hơi thấy mồi ngọn. Đôi mắt vọ của y sáng lòe lên. Y cầm cái hộp, xăm xăm chạy ra, đón sẵn.

Nhưng khi y tiến đến chỗ chỉ còn cách những người đàn bà chừng mười bước, y bỗng đứng dừng lại, há hốc mồm. Ôi chao! Y lóa mắt chang? Này đây là bà Nguyễn Văn Thinh, bà Nguyễn Văn Xuân, bà Trần Văn Tánh… các bà Nguyễn Thành Lạp, Bảo Toàn, Nguyễn Thành Vinh… đủ mặt các bà chồng có chân trong Chính phủ Nam kì tự trị. Lại cả bà Nguyễn Băn Tâm nữa mới chết người ta chứ! Bọn lính kín này định xược ông tổng trưởng Nguyễn Văn Tâm đây phỏng?

Mới đầu, ông Nguyễn Văn Tâm nội giận. Rồi bỗng ông sợ hãi. Ông lấm lét nhìn thật nhanh về phái các quan Tây, rồi cuống quýt nhìn đó, nhìn đây, như muốn tìm một cái lỗ nẻ để chui, sau cùng ông đành phải quát bọn lính kín quá ư sốt sắng kia:

- Chúng bay đáng chém đầu! Tao biểu chúng bay đi bắt những con mụ nào đòi Nam kì là đất Việt Nam kia mà!

Bọn lính kín nhao nhao thưa một lượt:

- Bẩm chính nhng mụ này đi biểu tình, đòn Nam kì phải là đất Việt Nam đấy.

- Bậy nào! Chúng mày không biết rằng toàn là những bà vợ các ông tổng trưởng đấy ư?

Bọn lính kín đứng sững người, chưa biết đáp ra sao thì chính bà Nguyễn Văn Tâm đã xấn xổ buốc lên, chỉ vào tận mặt chồng:

- Phải chúng tôi chính là vợ các ông đây. Nhưng vợ các ông cũng không muốn chịu lấy cái nhuc bán nước của các ông. Vợ các ông ăn cơm hẳn hoi chứ không ăn bẩn bao giờ, nên không lú lẫn cho Nam kì không phải là đất Việt Nam, người Nam kì không phải cùng nòi giống với tất cả những người Việt Nam ở Bắc, Trung, và giở trò đòi Nam bộ tự trị để bản đất nước, bán đồng bào cho người ngoài.

Ông tổng trưởng Nguyễn Văn Tâm chết đứng như Từ Hải. Cái hộp tổ kiến từ cái bàn tay rã rời của ông buột rơi xuống đất. Người ta vội khiêng ông vào nhà thương Sài Gòn, tiêm

Nam bộ ngày 9-6-1946
Tiền phong 1946


Tiêu đề: Đường vô nam
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Tám, 2010, 10:51:57 am
ĐƯỜNG VÔ NAM

Trong thực tế thì chưa có, nhưng đã có một thời, trong văn chương nước mình, phát ra một chứng bệnh người ta gọi là “bệnh giang hồ”. Cũng như phần nhiều những thói bệnh khác ở nước mình mấy năm trước, bệnh ấy cội rễ vốn ở ngoài. Chẳng biết nó phải bệnh truyền nhiễm nào - hình như là một quyển sách của một tên Pôn Mơrăng (Paul Morano) nào đó từ bên Pháp tải sang - một nhà văn ở dây mắc phải nó trước tiên. Mà bởi nhà văn ấy lại là một con người nổi tiếng tài hoa nên bệnh lan ra cũng khá nhanh. Chẳng bao lâu, trong giới trí thức lau nhau gồm những ông tập ngông nghênh và tập viết văn, chỗ nào người ta cũng nói đến giang hồ, và cũng thở dài, rên lên nỗi thèm đi, tuy rằng phần đông vẫn ở nhà vì không có thuốc gì cai được cái cơm ngày hai bữa cả mẹ hay của vợ và mặc dầu họ vẫn bô bô chủ trương rằng họ “đi chỉ để mà đi”, đi chẳng để đến đâu”, phần nhiều các cuộc “giang hồ vặt” của họ chỉ đến xóm cô đầu đã cùng đường để họ sa vào một chị Cúc, chị Liên nào đó, học lấy một thứ bệnh khác ít người muốn thổ lộ ra như thổ lộ cái bệnh giang hồ, nhưng cũng làm họ rên không kém và tai hại thì cũng rất mực là tai hại.

Nhắc lại chuyện cũ này, tôi chẳng có ý gì bới móc đâu. Mà còn bới móc ai? Trừ ra một số người thật cứng cỏi và sáng suốt được giống nòi kí thác cho cái phần tinh anh va bất diệt của dòng máu Việt Nam, còn thì trong cái thời đại mà ông Hoài Thanh gọi là “thời đại cái tôi”, hầu hết chúng ta, nếu không là một “tội nhân” thì cũng là một “nạn nhân” thường thường vừa là kẻ nọ, vừa là kẻ kia, lẫn lộn nhau. Nhưng là gì thì kết quả cũng chỉ có một mà thôi: chúng ta đã phá sức chúng ta vào những việc chẳng có nghĩa lí gì… Không! Tôi không dám nói rằng tất cả chúng ta đây đều đã mắc phải cái bệnh loăng quăng, cái bệnh “đi chỉ để mà đi, đi chẳng cần phải đến đâu”. Có những người có chỗ đến hẳn hoi, nhưng họ lại lạc đường. Thành thử họ đi có một cái địch rõ ràng, cái đích ấy hút họ đi rất chăm chỉ, rất say mê, họ mải miết, can đảm, hăng hái bước, bước không hề trầy chân trật gối ở dọc đường, buộc, bước chí chết đấy mà kết cục vẫn không đến được những nơi cần đến, những nơi họ vẫn định tâm rằng phải đến. Trái lại, lại càng xa ra nữa. Mà lại thiệt riêng cho chính họ là cái thú đi la cà, đi vớ vẩn. Cân nhắc điều dại khôn của hai hạng người nói trên chẳng ích gì. Vả lại tôi đã nói rồi: tôi nhắc những chuyện cũ lại đây, chẳng hề có ý gì chê hoặc trách ai. Chính tôi cũng chỉ là một người trong bọn đó thôi. Tôi nhắc lại đây để mà cười, như người ta cười khi nhắc đến những cái lầm lỗi, điên rồ của chính mình một thời đã qua rồi. Và tôi chắc các bạn đọc, đọc đến đây, nếu có bạn nào hấy mình cũng có chỗ giống tôi, cũng chỉ cười theo cái kiểu tôi cười đó. Chẳng ai lấy làm phật ý.

Bởi vì mấy năm chiến tranh và đói khổ vừa qua và hiện vẫn cò dư dang trên mảnh đất này, đã làm thức tỉnh hẳn chúng ta. Chúng ta đã biết nhìn hẳn vào sự thật rồi. Những kẻ đi lầm đường thấy ngay rằng mình phải trở về con đường đúng mà đi. Cả dân tộc đã dồn cả vào một con đường: ấy là con đường ra mặt trận, con đường cứu quốc, con đường vào Nam.

- Con đường vào Nam là con đường vui có phải không?

Lúc khởi hành, ông bộ trưởng Bộ Nội vụ, thấy cả chúng tôi hớn hở vì được ra đi, bảo đùa chúng tôi như vậy. Chỉ là một câu nói đùa thôi, nhưng mà đúng như thế thật. Những buổi mai sáng sủa, có những tù nhân tuyệt vọng ngồi trong phòng giam chật hẹp và kiên cố, thẫn thờ nhìn mẩu không gian bên ngoài cái cửa sổ có song sắt và to bằng một cái bàn tay mà để cho hồn mình đi lang thang trên các nẻo đường của những kẻ tự do. Đời có hàng ngàn lối đi thênh thang, nhưng chúng ta là những kẻ bị giam cầm. Cái “gió đã lên!...” của Nguyễn Tuân là một tiếng thở dài hơn là một tiếng reo. Nhưng bây giờ thì gió đã lên rồi. Gió mạnh mà chỉ có một chiều. “Gió reo, gió reo, gió Việt Nam reo”(1). Con đường vô Nam phơi phới bóng cờ đỏ sao vàng và vang Tiến quân ca. Dưới bóng quốc kì và cuốn theo nhạc quốc ca, từng đoàn thanh niên hùng dũng và vui vẻ tiến vào Nam, nơi đang bị xâm lăng. Nỗi vui, hăng của họ tất nhiên là không giống nhau tất cả đâu, vừa thoát ra khỉ ngục tù, vôi xông vào đâm chết những kẻ ức hiếp mình và đập tan những bức tường dày đã giam hãm mình trông bấy nhiêu lâu. Người thì nghĩ đến Tổ quốc, non sông. Người thì nghĩ đến cái bổn phận làm dân. Người thì muốn phá cái chế độ thực dân. Người thì chỉ thích làm một người lính mà thôi… Tất cả đều giống nhau ở chỗ này: họ đi đến chỗ nguy hiểm, nếu không vui vẻ thì ít nhất cũng bình tĩnh, vững dạ, hoặc nghĩ bụng: “Mình chẳng về nữa thì cũng chẳng làm sao cả!”. Họ đi, lòng nhẹ nhõm không bịn rịn, không lo lắng. Ai cũng bằng lòng vì được đi.


(1) Xuân Diệu: Ngọn quốc kì.


Tiêu đề: Đường vô nam
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Tám, 2010, 10:52:57 am
*
*   *

Tôi có một anh bạn người làng, nhà chẳng giàu gì nhưng cũng thừa ăn - trong cái xã hội nhà quê, như vậy đã có thể gọi là sướng lắm rồi. Anh có học hẳn hoi. Lanh lợi, thông minh, tính tình có thể gọi là ngay thẳng nữa, mà thật ra thì chưa vị tất đã lười; anh kể cũng có nhiều đức tính. Tất cả cái lỗi của anh, có lẽ chỉ là không cần phải làm cũng có ăn. Bởi vậy cho nên học xong ban thành chung đỗ được cái bằng rồi, anh nhất định chẳng làm gì. Anh lĩnh cái bằng đem về quê, lấy một người vợ vừa đẹp vừa ngoạn, vừa có tiền lại đảm đang. Chị vợ gánh vác gả gia đình, làm cho những của chìm, của nổi của hai vợ chồng đẻ ra hoa lợi để nuôi chồng ăn trắng mặc trơn còn anh chồng chỉ việc “trông coi cho chị làm ăn” nghĩa là không cần làm gì cả, mà cũng không cần trông coi gì cả, chỉ cốt làm sao có mình ở dó để người đàn bà không bị ai nhũng nhiễu - cái trò ở làng trước đây bao giờ mà chả thế - Nói vậy để hiểu rằng anh bạn tôi vốn nhàn hạ lắm. Tất cả công việc của anh có lẽ chỉ làm thế nào cho vợ anh đẻ đều đều vài năm một đứa con. Cái việc ấy, anh làm cũng đều đều. Chị vợ rất bằng lòng và anh lại càng bằng lòng anh lắm. Anh bằng lòng anh quá, đến nỗi có hồi tôi đến phải sốt ruột lên. Tôi cố kéo anh đi Hà Nội với tôi. Hai chúng tôi chung nhau mở một cái trường tư. Con người ta đã là người, cho dẫu là người không cần phải kiếm tiền, thì cũng phải làm việc đi một tí chứ cứ ngồi không mà hú hí với vợ con, ai mà chịu được? Tôi thật thà bảo anh như vậy. Anh cũng cho là có lí. Anh cộng tác với tôi chăm chỉ lắm. Rõ là một giáo viên tận tụy. chỉ khổ một cái là tối nào tôi cũng phải nghe anh nói đến vợ con anh. Anh rất hay về. Thế rồi đến hồi chiến tranh bắt đầu ành hướng đến nước ta, tàu xe đi lại khó khăn, anh ngại sự đi về và nhất định về ở nhà quê hẳn. Không dạy học ở Hà Nội nữa. Vợ anh mừng lắm. Riêng có tôi thì tôi đã thở dài. Tôi chua chát bảo tôi: “Vợ đẹp, con khôn, một gia đình quá êm đềm, nhiều khi chính là cái chăn nhung ấm áp nó làm người ta ngại dậy những buổi sáng myà đông giá rét. Sao lại có người hền đến thế!...”. Mãi đến hồi tháng chín, tháng mười vừa rồi, tôi mới lại được gặp anh. Chính anh đến tìm tôi. Tôi tưởng tôi mơ! Anh bạn tôi mặc y phục Vệ quốc đoàn. Anh hớn hở bao tôi biết rằng anh vừa học xong lớp quân chính và sắp đi Nam Bộ…

- Đi Nam Bộ?

Tôi tròn hai mắt, hỏi anh như vậy. Anh cười đắc chí:

- Anh đã thèm hay chưa? Thật cũng phúc đời nhà tôi đấy! Đáng nhẽ là không được đi đâu nhé!

Và anh kể:

- Tôi dại quá! Hôm hết khóa học, chúng tôi có phải trả lời bằng giấy câu hỏi này: “Nguyện vọng của anh thế nào”. Tôi ngờ nghệch, tưởng không được ra mặt trận ngay nên trả lời: muốn về làm việc ở địa phương nhà. Thành thử đến lúc chọn người vào Nam thì những anh kia được đi cả rồi, chỉ trừ tôi và mấy người học kém quá thôi. Những anh kia khôn, chỉ trả lời: “xin sẵn sàng đợi lệnh của Chính phủ để đi làm bất cứ đâu, miễn là được giúp ích cho nước”. Có anh lại trả lời thẳng: “xin ra trận”. Vì thế họ được đi mà tôi thì tưng hửng, tuy tôi vào hạng khá. Toi ức quá. Tôi cố kêu nài mãi. Anh hiệu trưởng sốt ruột phải cho tôi đi nốt, cho đỡ phải nghe tôi lài nhài mãi.

Anh lại cười ầm ĩ, như cho đó là một cái khéo của mình, tài lắm. Tôi nghĩ ngay đến cái mặt sa sầm của chị vợ khi nghe đến tin này, và cười ranh mãnh, hỏi anh:

- Anh không sợ chị nhà khóc hết nước mắt ư?

- Chẳng đến nỗi thế đâu! Tôi bỏ nhà tôi ở nhà ra đi còn chẳng sao thì nhà tôi ở nhà không có tôi cũng không sao. Anh không nên quá khinh đàn bà!

Anh lại cười…


Tiêu đề: Đường vô nam
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Tám, 2010, 10:53:36 am
*
*   *

Tôi có một thằng cháu, năm nay mới xấp xỉ hai mươi, cũng con nhà giàu ở nhà quê. Xưa kia, nó là một thằng mất dạy, nói thẳng ngay là như thế. Cho đi học thì lười biếng, lếu láo, tháng tháng tiêu bạc trăm mà chữ vào bùng thì cơ hồ chẳng được chữ nào. Đó chính là những lời của ông bố nó. Có một cái bằng tiểu học mà thi mãi không sao đỗ nổi, cậu cả đành bỏ học. Một cớ nữa: cũng tại bố mẹ nó sợ nó còn ở tỉnh mãi thì phá hết cơ nghiệp mất. Nhưng về quê, nỗ vẫn cứ phá như tường. Không tiêu phí quá quắt như trước nữa thì lại đánh bạc. Răn dạy mãi không được, đánh mắng không được, bố mẹ nó đã chán nản, coi như nó là một con người hỏng, chẳng còn trông mong gì nữa. Tôi cũng vẫn đinh ninh như vậy. Và tôi nghĩ bụng: nuông nó lắm, nó hư là phải lắm!”.

Trước hồi tổng khởi nghĩa vài ba tháng, tôi ở Hà Nội về quê. Một sự ngạc nhiên: ônng cháu bất trị của tôi đến thăm tôi, việc ấy không thường. mà việc này mới lại không thường nữa: ông ấy hỏi thăm tôi về tình hình Hà Nội, về Nhật, về Pháp, về các mặt trận, về sự hoạt động của Việt Minh trên các chiến khu và trong khắp nước. - Ông ấy thở ra mùi chính trị. Tôi hơi chột dạ: “Coi chừng nhé! Thằng nào chứ thằng này thì có đủ tư cách làm mật thám”. Tôi nghĩ vậy. Trong câu chuyện, tôi hết sức dè dặt và kín đáo.

Ngay từ hôm sau, tôi bắt đầu ngấm nầm điều tra về y ngay. Lại một sự ngạc nhiên: y đã chừa hẳn chơi bời cờ bạc. Bây giờ, động nói đến đánh bạc là y chửi. Bố mẹ y cũng không ngờ y lại có thể đột nhiên thay đổi thế, cho là sự gở và chỉ lo y chết. Tôi thì tôi hiểu. Tôi cứ thầm phục mãi ông cán bộ nào đã giác ngộ nổi con người như vậy.

Tổng khởi nghĩa xong y được bầu vào ủy ban làng. Y làm việc rất hăng, cấm cờ bạc, bài trừ trộm cướp, mở các lớp bình dân, thúc đẩy việc tăng gia sản xuất. Lòng đổi khác đi nhiều lắm. Tôi nghĩ bụng: “Thằng này thế mà có nhiều năng lực. Nó cứ chịu khó làm việc làng một vài năm chắc là láng khá lắm”. Nhiều người ở làng cũng nghĩ như tôi vậy. Ông bố bà mẹ thì hả lắm. thỉnh thoảng ông lại bảo: “Lạ thật! Tôi cứ nghĩ ngợi, cho rằng cũng tại cái vận nước mình đến hồi khá rồi, nếu không thế thì sao người ta lại đổi khác đi như thế được? Này, tôi xem cái thằng trước kia là ngu dộn lắm, ăn không nên đọi, nói không nên lời, thế mà bây giờ cũng hiểu biết hẳn hoi, đến như thằng cháu nhà tôi mới lạ lùng: có ai tưởng nó lại thành ra như bây giờ được? Tôi mừng quá. Thật không dám nói sai, nó ăn cơm nhà, làm việc làng, đi lại tiêu tốn của tôi, tôi vẫn thích: còn hơn để nó đánh bạc!...”. Khỏi phả nói rằng, ông quý nó và chiều nó lắm.

Tôi cũng sinh mến hắn. Mỗi lần về làng, tôi không bao giờ quên đến thăm hắn, khuyến khích hắn, khuyên hắn cố mà theo đuổi công việc làng, đừng đi đầu cả (bởi vì đã có lần hắn ngỏ ý muốn đi với tôi ra Hà Nội). Lần vừa rồi, tôi về, thì được tin hắn đi rồi…

- Đi đâu?

- Đi mặt trận.

Tôi hỏi người ta cho biết tin như vậy.

- Sao vậy?

- Còn ai biết vì sao? Hắn thích đi. Mà có riêng gì hắn! Làng này, nếu xin đi dễ thì còn bao nhiêu người cũng rối mãi lên. Anh nào cũng nóng lòng sốt ruột, đúng như những “Con cháu nhà Thánh” đến kì hội Vương, hội Mẫu chưa đi trẩy hội được thì khó ngồi đâu, đứng đâu cho yên; cho nên dù bận việc nhà việc cửa đến đâu cũng phải thu xếp đi cho bằng được.

A! Thì ra bây giờ như vậy đó. Ở Hà Nội, ngươi ta háo hức đi ra trận. Cái thú đi ra trận quyến rũ đến cả các ông già. Một ông bác tôi, đầu tóc bạc phơ, thấy tôi về tỏ vẻ ngạc nhiên:

- Thế ra anh vẫn ở Hà Nội đấy à?

Ông hỏi tôi như vậy. Và khi thấy tôi cười ngượng nghịu, thú nhận rằng tôi vẫn cầm cây bút hiền lành ngồi trong một cái tòa soạn báo ở chốn thủ đô yên ổn, ông không giấu nổi vẻ bực mình:

- Hiền nhỉ! Tôi mà còn trẻ như các anh thì không khi nào tôi chiu thế. Thế nào tôi cũng đi đánh giặc.

Rồi, không biết định khích tôi hay nói thật, ông lại hỏi:

- Không biết tôi xin đi đánh giặc Chính phủ có cho đi không anh nhỉ?

Chính phủ chưa đến lúc cần các ông già đi vác súng. Ngay đến tôi đây chưa chắc đã cần. Một anh bạn tôi bảo tôi rằng:

- Cái cổ tay như cẳng gà như thế thì cứ ao nước cầm súng làm gì cho khổ? Cầm bút trong lúc này chưa hẳn đã là cái nhục. Người ta có thể cầm cày hay cầm bút mà vẫn là chống giặc.

Thì đã hẳn. Nhưng không hiểu sao tôi vẫn thấy tui tủi thế nào ấy. Cây bút của tôi bất lực. Nó không khác ra lửa và đạn như cây súng. Nó ì ạch chạy theo phong trào mãi mà không kịp. Các bạn tôi cũng đêu thấy na ná như tôi. Họ thấy rằng bàn tay họ, nếu chưa cầm súng một phen thì cầm bút cũng vụng về. Sống đã rồi hãy viết. Lắm lúc chúng tôi muốn vứt cả bút đi để cầm súng. Tất cả con dân nước Việt Nam lúc này chỉ muốn được cầm súng đi ra trận…

- Thời bệnh!... Có người sẽ mỉm cười bảo thế. Sao lại gọi la thời bệnh? Hiếu động, cương cường, quả cảm mà thói thường của những kẻ mới lớn mà sung sức. Những cái ấy báo hiệu một cái tuổi hai mươi thừa máu và khí lực. Sức sống của dân tộc chúng ta đang độ lớn lên, rất dồi dào. Nay mai, những xiềng xích tháo tung rồi, chúng ta sẽ lớn rất mau và rất mạnh.

20/1/1946
Tiền phong 1946


Tiêu đề: Đợi chờ
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Tám, 2010, 10:54:27 am
ĐỢI CHỜ

Liễu cẩn thận đưa Huyền vào tận giường trong, giúp cho nó nằm xuống cạnh em bé và đặt cái quạt vào tận tay cho nó. Chị lại trở ra giường noài. Quân, đứa con trai lên năm tuổi, nằm dạng chân tay, ngủ mệt, đầu hơi ngoẹo đi một chút, mặt nghiêng ra phía cửa. Chị đi vòng về phía trong giường, ngồi ghé xuống cạnh đầu con, đặt bàn tay lên trán nó. Trán và tóc Quân ướt đẫm mồ hồi. Chị vừa lấm bẩm chửi yêu con, vừa lau mồ hôi và quạt cho con. Chị quạt cho con như vậy một lúc lâu, vừa quạt vừa nghĩ vẩn vơ. Những phút được ngồi bên cạnh đưa con này hay đứa con kia, bao giờ chị cũng muốn kéo dài ra không biết chán.

Nhưng chị ngáp. Gió kiu kiu lọt qua những kẽ mành, trải hơi mát lan nhè nhẹ trên da thịt. Tuy cả ngày hôm nay, chị mới chỉ cuốc được vẻn vẹn vài luống đất, nhưng lục đục chạy Tây ba bốn lần cũng đủ mệt nhoài rồi. Chị muốn ngả lương một tí, nhưng rồi chống lại ý muốn ấy, bời vì biết trước rằng bây giờ mà đặt mình xuống một lúc, thế nào cũng ngủ say như chết. chị chưa thể đi ngủ được. Tiện sáng trăng, chị muốn cuốc xong mảnh vườn trước cửa, vì ban ngày vừa làm vừa ngay ngáy lo Tây đến, không làm được mấy. Mà không cố làm thì lấy tiền đây mà thuê người? Lấy gì mà nuôi con?

Chị tần mần vuốt tóc Quân một lúc rồi quả quyết đứng lên, vươn vai ngáp và ra sân. Trăng lồng lộng. Trăng rất bao la trên những khu vườn bằng phẳng như liền cả với nhau. Bóng chuối ngỏn ngang. Những tàu chuối rười rượu ánh trăng khẽ du đưa uể oải, ánh sáng và không khí bên ngoài làm chị tỉnh táo và khỏe khoắn. Chị nhanh nhẹn đi lại chỗ cái cuốc dựa vào cây na cầm lại chỗ vườn đang cuốc dở, bắt đầu chăm chú cuốc. Những nhát cuốc đều dặn vang những tiếng “sụt” gọn và ngon xớt. Những tiếng cuốc khác đáp lại ở bên vườn hàng xóm, như những tiếng vang. Lắng nghe còn những tiếng khác xa hơn. Thi ra ở chung quanh người ta cũng đang cuốc vườn đem. Cả làng chẳng có ai chịu thua ai. Ai cũng cố lợi dụng tuần trăng để làm bù thì giờ phải chạy Tây, bù cả cho những người vì việc nước mà đi vắng. Chị mỉm cười, nghĩ đến một lúc này, ai cũng nói: “Tăng gia sản xuất”… Sản xuất! Sản xuất! Những tiếng cuốc xa tới tấp như vọng lại những tiếng trong lòng chị. Đêm tĩnh mịch. Những tiếng cuốc mỗi lúc một rõ thêm. Trăng từ trên cao.


Tiêu đề: Đợi chờ
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Tám, 2010, 10:55:02 am
*
*   *

Trăng đã lên cao lắm. Đêm đã khuya càng vắng lặng. Người ta nghe rõ cả tiếng rì rầm của lá tre. Tiếng cuốc thưa dần. Nó tắt ở vườn này rồi lại tắt ở vươn kia. Giấc ngủ lan dần, trải rộng dần và đè nặng trĩu xóm làng, tĩnh mịch. Vài tiếng cuốc lẻ tẻ còn sót lại. Liễu đã ngáp mấy lần. Cái cuốc bắt đầu loạc choạc. Nhưng vẫn còn tiếng cuốc ở vườn bên cạnh. Liễu nhất định chưa chịu đi nghỉ. Người ta không có con thơ ban ngày có thể làm cho tận đến lúc chắc chắn là có Tây đến mới cần chạy trốn. Liễu những ba con, cùng bé cả. Chị phải chạy sớm hơn mọi người. Công việc ban gnày chẳng được bao nhiêu, chị phải cố kéo lại bằng cách làm khuya hơn người khác: “Rồi ban ngày ngủ”, chị tự nhủ như vậy.

Tiếng cuốc ở vườn bên tắt nốt. Tay Liễu rã rời thêm. Mỗi lần cất cái cuốc lên, chị phải vận động cả người. Người chị cũng cũng đã thành một cái gì nặng trĩu, chị phải lấy sức ra mà lay động. Giấc ngủ đè nặng trên mi mắt chị. Bóng tối lần vào trong đầu chị. Tiếng cuốc rời rạc của chị vnag lên khó nhọc và cô độc quá. Không còn gì vây bọc chị, nâng đỡ và kích thích. Một mình sao người ta yếu đuối và buồn nản thế.

Trắng đã đứng đỉnh đầu. Những bụi chuối, bụi tre như ngủ gục trên cái bóng của chúng đã thu gọn lại. Liễu thở hổn hển, xách cái cuốc về. Ngồi ghé xuống đầu hè nghỉ một lúc cho ráo mồ hôi, rồi chị lấy quần áo đi ra sân tắm. Nước lại cho chị nhẹ nhõm khoan khoái lạ.

Về đén sân, chị nghe tiếng người hát nho nhỏ từ ngoài ngõ đưa vào.

Chiều về trên cánh đồng xanh
Có nàng gánh lúa cho anh diệt thù.
Từ ngày chinh chiến mùa thu.


Chị nhận ra là Nhàn. Nhàn hay hát những cây ấy quá đến nỗi Liễu chi nghe mà cũng thuộc. tiếng hát êm đềm ngân trong đêm khuya và trong lòng Liễu. Nhàn thấy Liễu cởi trần đứng ở sân, ngạc nhiên hỏi:

- Chị chưa đi ngủ kia à?

- Chưa, vừa cuốc vườn xong.

- Hoan hô phụ nữ tăng gia sản xuất.

Cô con gái đang tuổi ngổ ngáo, reo lên to quá.

Liễu ra hiệu tay, ngăn lại:

- Khẽ mồm chứ. Cô ả! Để cho con người ta ngủ.

Nhàn chợt nhớ ra:

- Chết thất! Tôi vô ý quá. Cháu nó chịu ngủ với chị nó, hở chị?

- Cũng phải chịu chứ. Thời kháng chiến này mà không thế thì chết đói… Bây giờ mới tan học kia à?

- Tan lâu rồi. nhưn em còn đi khai hội nên đến giờ mới về.

- Bàn gì mà khuya thế?

- Định chương trình thi đua ái quốc.

Nhàn nhìn kĩ Liễu, nắm lấy cổ tay chị:

- Bà chị tôi lớp này đen mà gầy lắm. Trông già sọm hẳn đi khéo ông anh tôi về không nhận nữa thì nguy đấy.

Liễu cười:

- Tôi ba con rồi, chả sợ. Nhưng cố chưa có chồng mới lo.

Nhàn thẹn đu đưa tay Liễu:

- Em cũng chả lo!

Liễu nhìn Nhàn âu yếu. Nhàn là vợ chưa cưới của em trai Liễu. Chính Liễu mối manh. Sắp cưới nhau thì súng nổ. Đường vào du kích rồi vào vệ quốc, di ra mặt trận suốt từ hồi ấy…


Tiêu đề: Đợi chờ
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Tám, 2010, 10:55:22 am
Nhàn hỏi:

- Anh có thư về không chị?

- Nhà tôi đi xa không bao giờ viết thư về.

Nhàn nhìn Liễu như ái ngại, rồi buột miệng:

- Anh gan quá.

Liễu mỉm cười. Chị biết Nhàn cũng hiểu lắm chòng chị. Kiện, chồng Liễu được mọi người mến phục, nhưng ai cũng hơi phàn nàn anh hờ hững với vợ con. Người ta cho rằng anh ở tỉnh thành lâu, thích con gái tân thời, chê vợ quê mùa. Thật ra thì không ai yêu vợ con bằng Kiện.

Đời làm vợ của Liễu khổ cực rất nhiều, nhưng chị vẫn coi mình sung sướng hơn người vì được chồng quý mến. Chưa bao giờ Kiện nói nặng lời Liễu nửa lời.

Còn Liễu, Liễu chẳng được hiểu rõ lắm những công việc của chồng, nhưng chị yêu tính nết và phục tư cách của chồng, chị tin chồng, nên chồng làm việc gì chị cũng cho cho là phải. Chị yêu những cái chồng yêu và ghét những cái chồng ghét. Chị không bao giờ đòi hỏi chồng điều gì, mà cũng không bao giờ ngăn cản chồng điển gì.

Súng nổ được độ một tuần, Kiện ở tỉnh về. Trái hẳn với mọi lần, anh trốn lủi tất cả các anh em đồng chí ở làng. Sợ họ biết anh về mà kéo đến tìm anh, Anh bảo Liễu: “Tôi muốn dánh cho chúng mình vài ngày hoàn toàn riêng của chúng mình”. Kiện sắp đi xa. Anh biết rằng kháng chiến se rất gian nan. Có thể rằng giặc sẽ tràn đến làng. Giặc sẽ phá làng. Liễu sẽ phải đem con đi tản cư xa. Rời vười ruộng, không quen buôn bán, trong tay không có một đồng vốn liếng, một thân đàn bà với ba đưa con thơ, rồi Liễu sẽ ra sao? Anh trông trước thấy tất cả nỗi đau đớn khổ cực, nguy nan đang chờ đợi vợ con anh. Nhưng đoàn thể gọi anh đi. Đoàn thể đó là một cái gì rất thiêng liêng đối với anh. Anh sống chết với nó. Không bao giờ anh từ chối nó một điều gì. Ngước nhà đang cần đến những bàn tay, những hi sinh.

Hi sinh không phải là không đau đớn. Đêm hôm ấy, sau khi ba đứa con ngủ cả rồi, Kiện và liễu nằm sát đầu nhau trên một gối, thức gần hết cả đêm để chẳng nói gì nhiều lắm. Liễu đã nhận thấy tất cả lòng yêu tha thiết của chồng đối với mình, đêm từ biệt ấy. chị vừa sung sướng vừa buồn rũ rượi. Tiếng súng từ đằng xa vọng lại lúc mau lúc thưa. Nằm sát bên chồng nghe tiếng súng, chị thấy cùng với hơi nóng của chồng thấm sang người chị, một cảm giác êm đềm và ảo não. Ôi! Chao! Hạnh phúc có thể rất dễ dàng. Nhưng bàn tay tàn nhẫn của những kẻ lòng tham không đáy đã chụp xuống những cuộc đời và đã gây ra tủi nhục đau đớn, chia lìa, chết chóc! Chưa bao giờ Liễu hiểu õ như lúc này, câu nói hằn học của chồng vẫn nới với chị xưa: “Chưa đuổi cổ được thằng Tây ra khỏi đất này, thì hãy khoan nói đến hạnh phúc. Đời người dân mình chỉ là đời con chó”.

Kiện rầu rầu bảo Liễu: “Lấy tôi, mình thật khổ. Những lúc điêu đứng nguy nan nhất, những lúc mình cần đến sự giúp đỡ của tôi nhiều nhất thi tôi lại để mặc mình bơ vơ với lũ con thơ. Mình có giận tôi không?”. Liễu không nói gì, chỉ âu yếm vuốt tóc chồng. Và Kiện cười buồn, bảo tiếp: “Kháng chiến thành công, nếu còn sống về làng thì tìm nhau nhé?”. Liễu hé trông thấy cả một cảnh chia lìa tan tác. Chị lạnh người. Chị muốn khóc òa lên, nhưng cố nghiến răng không khóc. Kiện nhè nhẹ nắm lấy bàn tay chị, như những ngày mới cười. Họ guc mặt vào nhau mà ngủ.

Hôm sau Kiện ra đi. Anh tránh nhìn các con. Liễu biết rằng anh sợ khóc. Liễu cũng không khóc, chị tươi cười chế giễu chồng: “Bộ áo rét của anh tã lắm rồi. mặc vào, trông già hẳn đi”. Nhưng chồng đi được một lúc thi chị xua lũ con đi chơi, ngồi khóc. Nhớ lại phút chia li ấy, Liễu nghẹn ngào.

Nhàn cũng tưởng chị uất ức vì chồng, an ủi:

- Thôi, bây giờ chịu khổ, bao giờ độc lập tha hồ mà sung sướng. Độc lập thì anh ấy làm to lắm.

Liễu lắc đầu:

- Cũng chẳng làm gì mà to. Độc lập rồi, vợ chồng lại gặp nhau làm ăn dễ dàng hơn, con cái được học hành. Tôi chỉ mong ước thế thôi, nhà tôi không ưa danh vị, chỉ thích sống xuềnh xoàng. Tôi cũng thế.

- Độc lập rồi, anh lại về làng làm việc vậy. Có anh đứng ra, kiến thiết tha hồ chóng.


Tiêu đề: Đợi chờ
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Tám, 2010, 10:56:07 am
Liễu và Nhàn cùng nhớ lại những buổi tối sáng trăng xưa, anh chị em tụ tập cả ở cái sân nà nói chuyện. Kiện phác những việc sẽ làm: Xây một cái cống ở chỗ giáp làng Sơn, cứu được non một trăm mẫu ruộng, mỗi năm lợi cho làng được hàng chục vạn đồng. Không cờ bạc, khao vọng, ma chay phí phạm, lại chịu khó làm ăn hợp lí, lợi dụng từng cái đầm cái ao, chỗ thả cá, chỗ thả sen, giồng nhãn khắp vệ đường, khuếch trương việc giồng bông kéo sợi, mấy lúc làng mình khá? Chỉ ba năm. Nhất định tất cả những đường làng này đều lát gạch. Trường học phải làm thêm hai cái nữa. Chúng mình phải có câu lạc bộ thư viện ra hồn. Phòng thông tin phải có máy vô tyến điện… Hợp tác xã chúng mình lúc ấy to lắm nhé.

Nhàn chép miệng:

- Mẹ cha thằng Tây! Chúng nó chỉ muốn bóp cổ chúng mình cho chúng mình không sao ngóc đầu lên được. Nhưng ai người ta chịu nó.

Như trả lời đúng câu của Nhàn, tiếng súng và lựu đạn bỗng nổ ran. Nhàn reo lên:

- Đã bảo mà! Chắc lại du kích làng ta. Các anh bây giờ đánh khá lắm rồi.

Liễu bảo

- Cố đánh làm cho tan hẳn vị trí của nó đi, để chúng mình đỡ phải chạy, làm được nhiều hơn nữa.

Tuy chẳng hiểu rõ thế nào là giai đoạn hai, Liễu cũng mừng. Ta đã đi được một đoạn đường rồi. Liễu thấy cuộc chiến đấu của nước nhà gần thắng lợi nơn một bước.

- Khổ thật, nhưng rồi cũng quen đi, Nhàn ạ. Sáng sớm mai lại chạy. Đêm nay mà nó chết thục thằng, thế nào sáng mai cũng lên đây khủng bố. Lại đến đốt mấy cái nhà nữa là cùng thôi chứ gì! Bây giờ đốt, người ta ít cần… Đi ngủ chứ, cô?

- Vâng, đi ngủ để mai dậy sớm. Chị nhớ đánh thức em nhé. Ít lâu này, đổ đốn ra, hay ngủ mệt.

Nhàn chỉ còn có bà ngoại, già ngót tám mươi đi tản cư hẳn không về. Mình Nhà ở nhà trông coi vườn đất. Đêm nào Nhàn cũng sang ngủ với Liễu, vừa để cho có bạn, vừa để giúp đỡ Liễu những khi cần chạy. Hai người vào nhà, Trăng chênh chếc ngả bóng trên nửa ngoài mấy cái giường. Liễu trông thấy Huyền, đứa con gái ngủ gục mặt vào em, khẽ kêu lên.

- Con đĩ! Sao nó lại gục mặt vào con tôi thế này? Bức chết thôi!

Nhàn cũng chạy lại xem, khẽ cười hì hì:

- Để tôi ẵm nó ra giường này cho.

Nhàn luồn tay xuống bên dưới gáy và đùi Huyền nhắc nó lên đem ra giường giữa.

- Ôi chà! Cháu tôi nóng quá. Bao giờ có chồng cho cô ăn trầu?

Liễu cười, mắng yêu Nhàn:

- Rõ chán! Cô hãy hỏi thân cô ấy?

Chị gục vào hôn con, má chạm vào cái áo sơ mi rách của chồng. cái áo lụa mềm nhũn, mát rượi da tay iễu. Từ khi chồng đi vắng, chiếc áo sơ mi cũ ấy không đêm nào rời Liễu.

Chị nhắm hai mắt lại, nựng con:

- Thương con tôi quá! Con tôi ngủ với nó từ chập tối đến giờ. Mẹ bỏ đi mất. Mẹ hư quá! Bố thằng Tây làm khổ con!

Chị ôm chặt thằng bé vào sát ngực. Hình ảnh Kiện tươi cười hiện ra… Ngày thắng lợi! Ngày độc lập! Chị như trông thấy thằng bé lon ton chạy ra đón bố! Và Kiện reo lên: “A ha! Con tôi đã nhớn thế này ròi kia?”.

Những hình ảnh đẹp đẽ ấy chập chờn trong đầu chị, đi vao giấc mơ.

1948
In trong tập “Đôi mắt”


Tiêu đề: Ở rừng (Nhật kí)
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Tám, 2010, 04:15:28 pm
Ở RỪNG
(Nhật kí)

19/10/47: - Thỉnh thoảng cơ giới của địch chạy rầm rập ở ngoài đường lớn cách chỗ chúng tôi chỉ độ ba cây số. Dân chúng đã làm vườn không nhà trống, đã ở lán bí mật cả rồi. Không còn một tiếng gà, một bóng ngươi. Suối vẫn chảy ào ào tiếng vọng rõ hơn. Những tiếng ken két của cái cối nước vẫn điểm vào đây, hôm nay không còn nữa. Vắng vẻ tiếng rất quen thuộc của những các nhạc gỗ lủng lẳng ở cổ những con trâu thả rông, kêu lốc cốc. Mình tiếng suối chảy ào ào nhất thống khoảng vắng lặng mênh mông quá.

Công việc cất giấu của chúng tôi đã tạm xong. Luôn ba ngày khuân vác, mỏi dừ người. Đêm qua ngủ rừng, sáng dậy, mặt, cổ và tay chân bê bết máu vì vắt cắn. chưa buồn rửa ráy, chúng tôi mở một cuộc khai hội bất thường, bên cạnh một cái kho bí mật vừa làm xong. Cuộc họp không đầy mười lăm phút. Cũng chẳng có gì phải bàn cãi lâu dài. Mọi việc được giải quyết gẫy gọn va chóng vánh. Bộ phận quan trọng nhất của cơ quan sẽ rời ngay đến một địa điểm xa, dự bị từ lâu. Một bộ phận nhỏ sẽ để lại đây, tiếp tục hoạt động theo một chương trình mới; Tư, Khang và tôi thuộc trong số những người ở lại.

Ngay sau cuộc họp, chúng tôi sửa soạn ba lô lên Mán. Mán là một thế giới hoàn toàn bí mật, đối với chúng tôi. Làng Thổ ở ngay dưới chân đồi nơi có làng Mán ở trên. Thế mà có những ông già Thổ ngoài sáu mươi, chưa lên Mán một lần nào. Bởi đến người Mán, từ đồng chí chủ nhiệm Việt Minh xã là người đã bỏ được hết những thành kiến sai lầm xưa nay vẫn chia rẽ hai giống người sống sát cạnh nhau đã lên khai hội với các đồng chí Mán nhiều lần, còn hầu hết những người Thổ chúng tôi quen đều lộ vẻ kinh sợ vừa khinh bỉ: úi chà! Ké không được biết Mán đâu! Không dám lên đâu! Mán nó ở nhà đất đây, không ở nhà sàn như người Thổ đâu? Có con rắn bò vào nhà đấy! Mán không biết tiếng Kinh đâu! Mán có nhiều rận lắm. Mán nó bí mật lắm không muốn cho ai lại gần đâu. Lại gần nó giết dấy!...

Cần phải nói ngay rằng: tiếng “nó” người Thổ dùng, không có ý gì khinh bỉ cả. Nói đến người trên, họ cũng dùng tiếng “nó”. Nhưng vẻ mặt và giọng nói của họ, khi họ nói đến người Mán, tỏ rõ ý nghĩ sợ và khinh bỉ.

Nhưng Tư, người giữ cái nhiệm vụ đi tìm chỗ đặt cơ quan cho bọn chúng tôi, đã lên tận Mán. Anh chỉ cho chúng tôi một cái sườn núi dốc gần như dựng đứng. Không có đường đi. Cả đến lối mòn cũng gần như không có. Rất ít người qua lại đây. Chúng tôi sẽ phải cố tìm ra những vết chân trên lá rới, cỏ rậm mà đi. Không có một cái mặt bằng con dao nào để mà ngồi. Chỗ nào cũng là dốc cả. Luôn sáu cây số, người ta đi, đường đi lù lù ngay trước mũi. Tất cả cái đáng sợ chỉ thu vào có thế. Người Mán chẳng có gì đáng sợ. Họ khác người Thổ, người Kinh ở chỗ khỏe, tìm ra lối đi ngay trong rừng rất giỏi, giỏi đến mức mắt họ có thể nhận thấy đường đi lại của một con chuột trên bãi cỏ. Họ mặc rách hơn người Thổ, người Kinh. Họ ăn ở khổ lắm. Họ thích ở thật cao, thật xa lánh mọi người. Có thế thôi. Họ chẳng giết ai và cũng chẳng có gì là quái gở.

Vì mới đi lần đầu, nên những chẳng chân Hà Nội của chúng tôi đi chậm và khó nhọc lắm. tháng mười ở miền núi tiết trời khá lạnh. Chúng tôi để nguyên áo rét, ra đi. Qua một cái suối phải lội, anh nào cũng rùng mình. Nhưng mới trên một quãng dốc xoàng xoàng, chúng tôi đã theo nhau hạ ba lô, cởi áo rét ra. Anh nào cũng mặt đỏ gay, mồ hôi vã dầm đìa. Nóng quá! Và khát! Anh đi đằng sau chỉ trông thấy gót chân anh đằng trước, nhưng nghe rất rõ tiếng anh đằng trước hồng hộc thở. Có anh nghiến chặt răng để bước. Mỗi bước là một động tác thể thao hạng nặng. Cứ độ vài trăm mét bước chúng tôi lại dừng lại, chân trước cong, chân sau thẳng, nhìn nhau thở phì phi và cười với nhau. Tôi cứ vừa đi vừa ắn bắp thịt đùi và có cảm giác như nó to ra, rắn lại, sờ thấy được.

Càng đi càng vào sâu trong rừng rậm. Đường càng rắc rối quanh co. Hết cây lại đến cây. Chẳng chỗ nào ra vẻ lối đi. Nhưng nếu nhìn kĩ để tìm thì chỗ nào cũng có thể có ba bốn lối đi. Thế mới rầy! Vòng quanh quẩn nhiều quá đến nỗi phương hướng cũng không biết lối nao mà nhận nữa. Nhìn lên thì những cành với lá. Cành lá chồng lên nhau, che kín cả trời. Ánh sáng âm u, không còn biết trưa hay đã chiều. Chỉ thấy mỗi lúc một tối hơn. Rừng rậm thêm hay mặt trời đã nhạt? Không một túp lều, một người đi để hỏi đường. Tư qua lại bốn lần rồi mà vẫn lạc. Chúng tôi phải trở đi trở lại hai ba lượt. Chân đã mỏi nhừ, cổ đã khô cháy thì may quá, đến một chỗ rẽ kia, chúng tôi đột nhiên gặp một người. Tư reo lên:

- A! Nhình Pin!

Tư giảng cho chúng tôi biết nhình là chị. Anh chàng phải giao thiệp với đồng bào địa phương luôn, đã học được ít nhiều tiếng Thổ. Để nói chuyện với người Thổ thì chẳng đủ dâu. Anh thích dùng tiếng Kinh tiếng phổ thông để họ khỏi cười. Trừ những bà già, còn hầu hết người Thổ đều nói thạo tiếng Kinh. Nhưng người Mán nắm chắc cẳng keo. Tiếng Thổ họ cũng chỉ biết tạm đủ thôi. Vi thế, tiếng thổ của anh Tư rất có ích ở dây. Anh cũng thích nói tiếng Thổ với người Mán lắm.


Tiêu đề: Ở rừng (Nhật kí)
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Tám, 2010, 04:17:22 pm
Chị Pin là một thiếu nữ vào hàng “chân tròn như cột”. Người vạm vỡ, mặt tròn vành vạnh, trán nhẵn thín dưới cái khăn xếp màu đỏ thêu chỉ trắng che cái đầu cạo trọc. Nhình cũng mặc áo dài quần chàm như phụ nữ Thổ, nhưng cũ kĩ và rách rưới hơn. Cổ, tay đeo òng bạc, vòng đồng. Chị em miền núi ưa những đồ trang sức lắm.

Cái chúng mình không quen, chính là cái khăn to vành bọc vải thêu. Nó gợi cho tôi một cảm giác sờ sợ mơ hồ, cảnh giác khi ta gần những cái man rợ và bí mật. Gần giống như ngày còn bé, tôi gần những bà đồng áo khăn ặc sỡ.

Nhưng chị Pin chẳng man rợ và bí mật một tí nào. Đứng trước mặt Tư, mặt chị đỏ bừng lên. Miệng chị, đôi mắt chị cười. Khi cười cũng đưa ngang cái tay che miệng như những cô gái e lệ dưới xuôi. Và khi Tư đùa hỏi “kỉ lai pi” (bao nhiêu tuổi) chị cũng thẹn thò trả lời: “nắm chắc” (không biết).

Nhình Pin ở rẫy về. Chị cõng một cái giỏ đầy thóc còn cả bông ở trên lưng. Tay chị cầm một quả dưa to. Tư hỏi:

- Mắc ca lăng? (Quả gì).

- Mắc qua (quả dưa).

- Kin đầy bố? Ăn được không)

- Kin đầy. (Ăn được).

Chị đưa tay về đắng sau lưng, rút con dao, bổ quả dưa, đưa cho Tư.

- Kỉ lai chèn? (Bao nhiêu tiền?)

- Nắm âu chèn (Không lấy tiền)

Tư chỉ lấy một nửa thôi. Chị bảo Tư đưa nốt nửa kia cho bọn tôi ăn. Đang khát, trông thấy dưa, thích mê người. Nhưng quái lạ? Mình vẫn thấy ngài ngại, như sợ bẩn. Tại sao mà bẩn? Quả dưa vừa mới lấy ở ruộng về. Cái bàn tay to lớn và múp míp của người cho bẩn chăng? Mới đến giang sơn Mán, mình vẫn nhìn mọi cái với con mắt của người Hà Nội. Nhưng Tư đã cắn vào miếng dưa rồi. Chúng tôi cũng mỗi người một miếng, ngoạm ăn. Giống dưa to như dưa hấu, nhưng thịt và ruột lại giống dưa gang. Chất dai hơn. Và sau khi chúng tôi đã đỡ khát rồi, chúng tôi thấy vị nó hơi chua, chứ không được ngọt.

Xẩm tối, chúng tôi bước vào nhà một ông già. Cái nhà bằng gỗ còn cả vỏ và bương, tre, đứng đơn độc có một mình, ấy thế mà là cả một làng, có tên riêng của nó hẳn hoi. Chuồng lợn, chuồng gà ở ngay trong nhà, lẫn với người. Nhưng không có lợn gà, chỉ có phân với bọ hung. Chủ nhà bảo Tư: gà lợn ở pây cơ. Nghĩa là đi lán cả rồi. Tư cắt nghĩa thêm:

- Cơ, tức là cơ quan. Tiếng này có ngay từ thời kì bí mật trước đây. Người Mán đã phải làm vườn không nhà trống, ở lẩn lút ngay tư thời kì ấy kia rồi. Vì vậy, nhà nào cũng có cơ quan bí mật dể giấu thóc lúa, lợn gà. Lán bí mật riêng của nhà họ, cũng cũng gọi là cơ quan.

Anh Đức bảo Tư hỏi xem cơ của ông ké có xa không? Ông ké bảo: “Quây lại” xa lắm! thế là khổ chúng tôi! Vẫn tưởng đến nơi có thể mua được một con gà làm thịt, thổi cơm ăn. Nhưng gà lại đi cơ mất rồi. Đành lại ăn cơm với muối.

Cơm xong, cả bọn lăn quay ra đất, chung quanh bếp lửa. Ông già nhường cái giường độc nhất của nhà ông cho chúng tôi, nhưng chúng tôi không chịu nhận. Ông già bèn lẳng lặng đi lấy củi chất thêm vào bếp, lại đốt thêm một đống lửa nữa ở phía ngoài. Ấm cúng vậy, tuy rải cái áo đi mưa nằm ngay dưới đất, đắp sơ sài bằng chiếc áo vét tông, đầu ghé ngay gần cái chuồng gà, tôi vẫn ngủ ngon lắm. Luôn mấy đêm lạnh và chập chờn rồi. Lại đến nửa ngày lên dốc, ba lô, bị gạo nặng ê vai. Nằm một lúc, ngủ ngay. Nửa đêm, tỉnh dậy vẫn thấy lửa cháy đều. Bên đống lửa, một thiếu phụ ngồi. Người đàn bà còn xuân mà lúc mới đến chúng tôi đoán là vợ kế ông già. Nhà chỉ có hai người, một đàn ông, một đàn bà, thì tát nhiên là vợ với chồng. Nhưng hai tuổi chênh lệch nhau một cách đáng băn khoăn. Chúng tôi đã trao đổi với nhau tối hôm qua. Lúc đi ngủ tôi thấy ông già vào buồng, còn người thiếu phụ nằm còng queo một mình ở rên giường. Lửa xa mà chăn chiếu cũng không. Bây giờ người đàn bà lại ngồi đây. Ánh lửa hồng hắt lên khôn mặt trái xoan điểm một cái miệng nhỏ rất thanh và đôi mắt lá răm hơi xếch. Người ta nghĩ đến những nàng công chúa Đông phương, đẹp lặng lẽ và bí mật, tả trên màn ảnh. Đêm khuya vắng lặng, giữa những người ngủ mệt ngáy khò khò người đàn bà thức một mình, ngồi coi đống lửa. Lạnh quá không ngủ được hay là ý muốn săn sóc đến giấc ngủ ấm áp của những người khác lạ? Lửa chập chờn. Nhá lửa dỏ vờn nhau với những miếng tối lung linh. Tôi thấy buồn, nhơ nhớ, chẳng hiểu nhớ ai và buồn vi sao.


Tiêu đề: Ở rừng (Nhật kí)
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Tám, 2010, 04:18:09 pm
20/10/47: - Sáng sớm thức dậy đã thấy ông ké ra máng nước đầu nhà, lấy nước vào đun cho chúng tôi rửa mặt. Ông già cao lớn, lúc nào cũng lom khom như sợ đụng mái nhà, cử chỉ chậm chạp, mặt chất phác, phuc hậu, lúc nào cười và lầm rầm những tiếng ấp úng, chúng tôi không hiểu nỏi vì ông chỉ biết dăm ba tiếng Thổ, trông đẹp và đáng yêu đến nỗi anh chàng Khang họa sĩ cứ tấm tắc khen và chỉ muốn thế nào vẽ được một bức chân dung ông. Nhưng chưa hiểu họ có kiêng kị gì không, anh hàng không dám nhờ ông ngồi để cho anh vẽ. Vả lại cũng chẳng biết nói thế nào cho ông hiểu. Anh chàng đành để đến khi nào đôi bên quen thuộc nhau hơn đã.

Tôi ra ngoài để quan sát quanh nhà. Rừng cỏ ngập đầu. Chỉ ba bước đã vào rừng. Mấy hôm trước còn ở một chỗ súng nổ loạn xạ, người chạy nháo nhác và hoảng hốt, đến đây tôi thấy an toàn, chắc chắn lạ lùng, mặc dầu vẫn nghe hấy tiếng súng rất gần. Giặc có bao giờ còn lập lại nổi chính quyền, nắm hết dân chúng trong tay? Chỉ khi ấy, chúng mới dám sục sạo đến dây. Đặt cơ quan ở chốn này, chúng tôi có thể yên lòng làm việc lâu dài được.

Tôi bỗng giật mình, chỉ vì đột nhiên thấy bóng người. Tôi không đợi gặp một người nào khác ở chỗ hoang vắng này. Một cái đầu nhấp nhô trên cỏ. Mặt to, da vàng sạm, hai mắt xếch, khăn xanh quấn rối. Trông như một cái đầu tướng Tàu nặn bằng bột, một anh Khách vẫn bán cho trẻ con chơi, hồi tôi còn nhỏ. Một cái mặt trông vừa buồn cười, vừa dữ dội, không ra già, không ra trẻ, không biết cho vào hạng tuổi nào cho đúng. Nhưng cái búi tóc bé ngủn ngắn cho tôi cái cảm giác anh vừa mới lớn.

Đôi mắt xếch thao láo nhìn tôi. Một tiếng to tát và vồn vã:

- Chào đồng chí!

- Chào đồng chí!

Tôi đáp lại. Cái đầu bệp bềnh trôi trên sóng cỏ, đến gần tôi. Một người to nhưng thấp hiện ra, gò cúi dưới một cái giỏ gì nặng lắm. Cái áo chàm ngắn cũn cỡn để hở một cái bụng lồi ra và cái quần, không thể bám vào được cái bụng rồi trật cạp xuống gần đến háng. Học được mấy tiếng Thổ tối hôm qua, tôi hỏi:

- Ca lăng à, đồng chí! (Gì đấy, đồng chí)

- Mắc qua.

Dưa! Dưa cũng tốt rồi. Cắt nhỏ ra, chấm muối mà ăn cơm còn tốt hơn chỉ có muối không. Tôi bảo anh đem vào để chúng tôi mua. Anh vào, đặt cái giỏ nặng xuống, rút hai tay ra khỏi cáí dây đeo, thở dài thật to thành một tiếng rên. Anh ra máng rửa chân. Anh lại gần lửa dể hơn. Bỗng anh kêu lên một tiếng:

- Ú già!

Anh tặc lưỡi, chúng tôi hỏi;

- Cái gì

- Con vắt! Con vắt cắn.

Anh gỡ nó cho vào bếp. Đức reo lên:

- A! Đồng chí biết tiếng Kinh!

- Không biết nói đâu! Biết ít thôi.

Chúng tôi xúm lại giỏ của anh. Hàng chục quả dưa, lại có rau bí nữa. Chúng tôi hỏi:

- Đồng chí lấy bao nhiêu?

- Không lấy tiền đâu. Cho các đồng chí ăn thôi.

Đức cố nhét hai cái giấy mười đồng thật mới vào tận tay anh. Anh ngần ngừ mãi mới chịu cầm một cái.

Ông già thong thả đeo dao vào thắt lưng, khoác khẩu súng kíp, cười cười, lắp bắp nói những tiếng lầm rầm, ý chừng là từ biết chúng tôi. Ông di rừng. Trông ông đeo bao, khoác súng vào, càng đẹp. nhưng ra ngoài vẫn lom khom, cái đầu hơi lao về đằng trước. Không phải là vì già. Đó chỉ là dáng đi của một kẻ quen cái đời chui lách trong rừng rậm. Ông đi lừ đừ như một con thú dữ. Tôi mới chợt nhận ra rằng người đàn bà cũng đã biết đi mất từ lúc nào, chúng tôi cũng không để ý. Trơ lại trong nhà còn bọn chúng tôi với một anh chàng bán dưa. Tự anh đi tìm mẹt, xếp dưa, xếp rau ra cho chúng tôi. Anh xông xáo vào cả trong buồng. Anh thu xếp cửa nhà. Anh quét. Anh thở dài thành tiếng rên (cứ độ 15 phút anh lại thở dài thật to như vậy, chẳng ra sao cao!).

- Nhà bẩn quá! Không có giường nằm. Các đồng chí ở dưới xuôi sướng, lên đây khổ quá.

Anh làm như anh là người nhà vậy. Nói chuyện với anh một lúc chúng tôi mới biết anh là người nhà thật. Anh là con rể ông cụ. Người dàn bà trẻ tuổi là con giá ông cụ và là vợ anh ta. Ông cụ góa vợ đã lâu. Người ta gọi ông là ké Nhàn, - ông Nhàn - còn anh, tên như tên trong tiểu thuyết Tàu: Triệu Văn Hương. Và thật không ngờ, anh đã bốn mươi hai tuổi.

Tối hôm ấy, cả nhà ông ké Nhàn ngủ lán. Tối hôm sau cũng vậy. Ban ngày, có người nào về cũng chỉ một chốc một lát thôi, về để lấy một vật gì, hay lấy củi hộ chúng tôi. Chúng tôi hoàn toàn làm chủ cái nhà. Chúng tôi e mình có làm phiền đến đời sống của họ không. Nhưng Tư bảo:

- Họ ưa như vậy. Vả lại ở, đối với họ có thành vấn đề đâu. Họ ngủ đâu cũng được.


Tiêu đề: Ở rừng (Nhật kí)
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Tám, 2010, 04:19:14 pm
21/10/47: - Tư vẫn chưa cho chỗ ông ké Nhàn là kín! Anh dùng làm một chỗ tạm đó thôi. Hôm nay anh sẽ đưa Khang và tôi đi xem một chỗ khác để hỏi ý kiến chúng tôi. Cơm nước vừa xong, thì một người Mán đeo súng đến. Anh chàng trạc độ ngoài ba mưoi. Búi tó, quán khăn. Mặt sáng sủa, người nhã như một anh đồ trẻ vào thời Nguyễn Trãi. Nhưng áo cũng ngắn cũm cỡn, và quần mòn mất gấu, luội thuội, lựng chựng những cái bắp chân chắc nịch nhưng bẩn và có nhưng vết lở to rỉ mủ. Tư gọi anh ta là đồng chí Quân. Đồng chí Quân sẽ thay mặt cho đồng chí Chẩn trưởng thôn đi vắng để dẫn chúng tôi đi tìm địa điểm.

Sau ngót một giờ lội suối chiu rừng, vắt bám gỡ ra không kịp, qua hết rừng cây lớn, rừng lau, rừng chuối rồi lại rừng cây lớn, men, lách, leo, trèo, bở hơi tai, chúng tôi đến Vàng Khẹt. lại một làng! Ba góc nhà như ba cái chuồng chim đeo lủng lẳng ở ngọn núi. Được cái quang đãng và nhìn ra một phong ảnh sáng sủa và tuyệt đẹp. Núi lại núi. Núi kế tiếp nhau, cuốn những đợt sóng mềm mại vờn trờì. Chỉ có trời với núi. Tôi có cảm tưởng như trên trái đất chúng ta ở ngoài núi ra, không còn gì nữa. Anh chàng Khang yêu màu sắc và ánh áng chắc phải thỏa lòng. Những quả núi gần khoe những mảnh áo rất xinh. Từng miếng vàng tươi của ruộng, những miếng khác màu vàng rơm. Và màu xanh. Đủ các thứ màu.

Những buổi sáng, ửng hồng rìa núi. Mây tắng ngập các thung lũng. Một cảnh bể, trong đó nhô lên những cù lao.

Những buổi chiều, ánh sáng chiếu rọi đúng như đèn pha rọi những phong cảnh rạp hát. Phong cảnh đổi từng khắc một, đúng như trên sân khấu. Khang ghi chép cẩn thận, nói là sẽ dùng vào việc bài trí sân khấu khi về Hà Nội.

Đêm trăng. Một cây trụi lá, đen, rướn lên trời xanh phót. Một nét đẹp đơn sơ. Núi đằng sau. Và trăng nằm giữa mây, mềm xốp như dệm gối.

Nhưng nhà thì bẩn ghê gớm quá. Chuồng lơn ở ngoài hè. Gà lợn đi lại, ăn nằm và phóng uế rất tự do, trong nhà ngập đất và rác rưởi. Cả bếp ở giữa một gian, thẳng hàng với chạn bát nhơm nhớp như phủ một lượt bùn ở đầu trong và cái lò nấu “ruốc mu” (thưc ăn của lợn) ở đầu ngoài. Cối giã gạo cũng ở trong nhà. Mồ hóng khắp nơi. Ba cái buồng nhở vừa một cái giường, chưa bao giờ quét. Mạng nhện đầy tro, bụi, mồ hóng bám chằng chịt trên mái các tấm phên làm vách. Đất tầm lên, rác rưởi ngập gầm giường và cả trên những cái giường không chiếu.

Cả làng đã đi gặt vắng. Chỉ con một ông già, một người dàn bà bận con thơ, và một thằng bé mười một tuổi, mũi quệt đất vẽ hề trên mặt. Thấy có người lạ đến, tất cả trốn vào rừng. Chúng tôi thấy nhà không. Nhưng một lát sau, nghe tiếng đồng chí Quân, người đàn bà ẵm con về tiếp chúng tôi. Thằng bé con cũng chạy về hếch mặt nhìn vào mặt chúng tôi một cách rất tò mò, khẽ chạm ngón tay vào tay áo tôi rồi vột rụt lại như ta sờ một con vật lạ để xem nó động tĩnh ra sao, rồi lè lưỡi ra một cái, cười nhăn nhó cả mặt nhưng không thành tiếng. Mấy hôm sau tôi mới biết cái điệu lè lưỡi, chỉ trỏ và cười câm ấy cũng thịnh hành ở nó không kém gì tiếng thở dài của đồng chí Vân Hương. Cho đến tận lúc đó, tôi không nghe thấy nó nói lần nào. Không hiểu có phải nó câm không. Người đàn bà không biết tiếng Thổ. Đồng chí Quân đưa chúng tôi đến cái nhà ở trên cùng; gặp ông già đã lò dò ở bụi rậm chui ra. Quân gọi ông già là ké Xếch. Nói gì ông cũng chỉ cười. Quân bảo, mới biết là ông ta điếc. Chẳng chuyện trò gì được với ông. Đồng chí Quân cứ tự tiện dẫn chúng tôi đi xem cả ba nhà và bảo chúng tôi tùy ý muốn ở nhà nào cũng được. chúng tôi chọn cái nhà đầu từ là cái nhà ngoài phòng chính hình thước thợ, còn có ba phòng tả ở đoạn trên. Nó rộng rãi nhất và sạch nhất.

Ngay từ sáng hôm sau, chúng tôi bắt đầu vận chuyển gạo muối, đồ dùng từ đằng nhà ông ké Nhàn sang. Vẫn không thấy chủ nhưng nhà đã được dọn sạch sẽ hơn. Chúng tôi chỉ cần quét dọn thêm một lượt nữa là ở cũng tạm được rồi.

Chủ nhà tên gọi là Kim. Anh ta đi rừng, đi ruộng suốt ngày. Vợ anh ta ngủ ở cơ. Từ hôm chúng tôi đến, anh cũng ngủ cơ. Thình thoáng mới về nhà một hôm, vác theo một đoạn cây chuối thật to. Anh ta kê đoạn chuối nghiêng nghiêng, cưỡi lên trên, mồm ngậm một cái tẩu thuốc lá bằng đồng lấy một cái cán làm bằng một đoạn tre, cả hai tay ầm một con dao dài và mỏng xoẹt xoẹt thái cây chuối rất nhanh, rất nhẹn. thái xong, anh hốt tất cả, cho vào một cái chảo to đặt lên lò, đổ nước vào ninh. Anh ninh suốt một ngày cho cây chuối nhừ tươm. Thế là thành ruốc mu, nấu một ngày đủ cho lợn ăn năm ngày. Lúc cho ăn, chỉ cầy vầy với nước, rắc thêm vài nắm cám như rắc hạt tiêu. Thức ăn chỉ có vậy, nên phân người là mĩ vị đối với tu mu (con lợn). Mỗi buổi sáng ra ngồi ở gốc cây, phải cầm cái roi để xua chúng nó đi. Lợn lớn, lợn con chực ở chung quanh, hầm hè nhau, liều chết xông vào, xộc ăn toăng toắc. Chúng nó tranh nhau, cắn nhau như chó vậy. Lại còn trâu! Một khám phá đối với chúng tôi: cứ thấy người ta vén quần là các chú tu vài nghênh ngang hai cái sừng đến, hếch mõm lên nhìn và đợi. Dòng nước tiểu tia ra, các chú tranh nhau há mồm, lè lưỡi, đón lấy uống, thỏ phì phì. Nước tiểu vào cả mũi. Xong rồi, còn chúi mõm, liếm những giọt vương trên dất. Mới đầu, tôi tưởng trên núi xa nước nên chúng nó khát. Nhưng trước cửa nhà, có những vũng nước đầm đìa mà trâu không uống. Có lẽ trâu thèm chất muối.


Tiêu đề: Ở rừng (Nhật kí)
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Tám, 2010, 04:21:15 pm
Muối trên này quý lắm. Chúng tôi cho mỗi nhà một bát. Họ rất mừng. Thế mà muối chúng tôi để ở nhà họ có hàng hồ, họ không động đến bao giờ. Có lần chúng tôi đi vắng mấy ngày luôn. Lúc về thấy thằng Hùng, Lí Kì Hùng - con ông ké Xếch, mách với chúng tôi: vợ anh Kim, người đàn bà có đôi mắt to và môi nở như đầm thỉnh thoảng chúng tôi mới thấy về nhà, hết muối ăn, định lấy muối của chúng tôi. Kể chị ta có lấy cũng chẳng sao, vì chúng tôi đã dặn anh ta khi cần thì cứ lây mà ăn. Nhưng người chồng bảo vợ: “Việt Nam độc lập, không ăn trộm của nhau”. Và vợ chồng nhà anh ăn cơm nhạt.

Anh ở nhà bên cạnh, tên cũng là Kim, Kim này đã đi giao thông hồi bí mật. Chiều chiều, tôi nghe thấy anh hát Tiến quân ca. Gần đúng giọng, nhưng mất chữ luôn. Anh là bố thằng bé hay lè lưỡi và là anh ruột nhình Pin, cô con gái cho chúng tôi dưa hôm nọ.

Nhình Pin vẫn hay đỏ mặt. Chị hay nói chuyện với Tư. Một lần chị cho Tư mấy bắp ngô. Tư không lấy, bởi vì thấy một lần hỏi mua, chị không chịu lấy tiền. Chị hỏi Tư:

- Ngô già, có phải không?

Tư không để ý đến câu nói ấy. Nhưng chiều hôm ấy, khi chúng tôi quây quần chung quanh bếp với ông ké Xếch và hai đồng chí Kim, cùng nướng ăn. Tư kêu ngô già thì ông ké xếch cười và bảo:

- Ngô không già, người già.

Hai anh Kim cùng cười to. Tư bỗng sinh ngờ. Một lối nói tình tứ chăng?

Nếu Tư đi tôi với Khang gặp khó khăn ngay. Bởi vì ở Vàng Kheo người ta không biết tiếng Kinh. Tiếng “Tày” cũng biết ít thôi. Chúng tôi cũng chẳng biết được bao nhiêu. Họ nói hơi dài, ngoài mấy tiếng thường dùng, là mỉnh ngẩn mặt ra. Mình nói, họ cũng lắc đầu: nắm chắc! (không biết). Nhưng hỏi đến cụ Hồ thì ai cũng chắc (biết). Chắc cả đồng chí Văn (tức là Đại tướng Võ Nguyên Giáp), đồng chí Thạch.

Vì không nói cho họ hiểu được, mới đầu Khang với tôi cứ cơm muối tràn. Hỏi mua gì họ cũng nắm mi (không có), về sau học được lối của Tư: muốn gì, cứ bào họ pày đông (đi rừng, hay pây cơ du hử khỏi (đi cơ lấy cho tôi). Quả nhiên, có rau ăn. Họ bán rất rẻ, ít thì cho không, không chịu lấy tiền. Rau cải luộc chấm muối ăn, ăn mãi cũng chán mồm. Tôi phát minh ra lối nấu canh rau cải với muối và nước lã, cho thêm một ít gừng. Cũng tốt. Gà cu, thịt dai như thịt trâu, cũng không mua được. Ở đây, nuôi gà đến lúc nó hết sức lớn rồi cũng không chịu bán đi, nuô gà nhỏ cho có lãi. Nhưng gà cu già, phú quý ra thì con cháu tế thượng thọ cũng đáng rồi, vẫn được sống như thường. Họ nuôi, như để làm cảnh vậy.

Cũng may mà mật ong thì được ăn luôn. Có lần mua được của một người đi giao thông cả một cái tổ ong anh ta gặp ỏ rừng, dúm lá đem về. Cầm cả cái mà ăn, thú vô cùng. Có khi cơm ăn trộn mật ong. Thuốc lá Mán tẩm mật ong, hút thì ngon tuyệt. chẳng bao lâu, Khang và tôi đã nổi tiếng khắp mấy làng Mán là những thằng đốt thuốc lá chứ không phải hút nữa.

Một cái thú nữa ở Vàng Kheo là đi tắm. Quãng suối chảy xiết. Đá sỏi trắng và vàng óng ánh dưới lòng. Những hòn đá tròn trĩnh, nhẵn nhụi để ngồi. Có một chỗ, những tảng đế kết chung quanh thành một cái bồn ngồi lọt cả người. Một thác nước trắng xóa đổ trên đầu. Nước rất trong. Mặc dầu trời lạnh, ngày nào tôi cũng đến chỗ ấy tập thể thao, rồi nhoài người xoai xoải dưới thác nước cho nước chảy từ cổ đến chân. Khoái lắm!

Nhưng từ nhà đến suổi, phải qua một cái dốc chừng vài trăm thước. Mỗi ngày trèo mấy lượt có mệt thật, nhưng lấy làm thích vì đó cũng là một cách vận động để cho đùi to ra. Càng thấy phải khuân vác, phải vất vả, càng vui. Cách mạng đã đổi hẳn óc mình. Kháng chiến chẳng những làm già dặn thêm khối óc đã đổi mới kia, còn thay đổi ngay chính thân thể mình, một ngày kia khi trở về!..


Tiêu đề: Ở rừng (Nhật kí)
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Tám, 2010, 04:21:54 pm
1/11/47 - Trong khi đợi anh em công nhân thu xếp cơ quan in, Khang và tôi in đá. Nhưng mới làm việc được độ một tuần thì Tư lại lên, bàn nên thiên lại chỗ nhà đồng chí Chẩn, liên lạc với ở dưới tiện hơn.

Lại việc chuyển gạo, vải, đá luôn hai ngày. Mình khuân vác đã khá khỏe rồi. Đi núi, cũng nhanh hơn, đỡ mệt hơn. Đường đến nhà đồng chí Chẩn, bây giờ mình thấy thường rồi. Nhưng đường lên cơ thì thật là cơ cực. Hoàn toàn không có đường đi. Dốc chết người. Nhiều chỗ phải bám lấy cây, đánh đu lên. Thế mà mình vẫn đèo nửa bị dó gạo, cố đi cho bằng được. Đi ba, bốn chuyến liền, mỗi chuyến vừa lên vừa xuống đến một giờ. Lúc này mình mới biết được sức của mình. Thì ra minh cũng khỏe chẳng kém gì ai. Thường thường, người ta chưa bao giờ dùng đến tất cả sức lực của mình. Một phần khả năng của ta vẫn bỏ phí hoài, đến nỗi ta không biết rằng ta có nó. Tôi thấy rằng sau kháng chiến, nếu tôi thích đi cày, đi cuốc hơn cầm bút, tôi có thể đi cày đi cuốc được. Cực nhọc không đáng sợ.

Anh bạn hỡi! Hôm đi Phú Thọ, mới phải ngồi thuyền chật, anh đã cằn nhằn suốt cuộc hành trình. Anh thật là thảm hại.

Thiên ơi! Cha sẽ mạnh dạn ném con vào cuộc đời và cuộc đời sẽ luyện con nhanh chóng hơn cha luyện. Con sẽ không chết. Cón sẽ thành cứng rắn.

Tôi nghĩ đến Liên. Vợ tôi từ trước đến nay chưa bao giờ rời khỏi quê hương. Làng tôi, địch chiếm rồi. Liên đã tay bồng tay dắt, bỏ nhà cửa vườn đất, đưa con nhỏ và một bị quần áo ra đi. Tôi đã bỏ liều Liên ở một chỗ đối với Liên hoàn toàn xa lạ, Liên có oán chăng? Riêng tôi, mặc dầu có thương Liên, tôi vẫn phải đinh ninh rằng Liên sẽ chẳng chết đói đâu. Liên sẽ đổi, như tôi đã đổi. Phải bơi mới biết rằng mình bơi khỏe. Và thật ra, ai cũng bơi được cả.

2/1/47 - Đêm qua, hơi đau mình mẩy. Nửa đêm trắng sáng. Dậy uống nước rồi thao thức mãi không ngủ được. Gần sáng, lạnh. Sáng dậy, cơm nước xong rồi đi chặt tre chặt cây về điểm lại nhà. Nhà: lán bí mật của đồng chí Chẩn, đứng giữa hai lán nữa, vừa bằng một cái quán bán báo tết ở Sài Gòn. Cành cây làm cột buộc sơ sài. Mái lợp bương tươi, trông đẹp. Sàn hơi thấp, bằng một cái giường to. Cạnh sàn, một khảng đất trống, chạy từ cửa nọ sang cửa kia, dùng làm bếp. Hai người ở vừa thích.

Lán bên cạnh: ba đứa trẻ con. Một anh Mán. Tội nghiệp! Anh ta sốt rét nặng quá rồi. Bụng báng to phình. Mặt phù. Chân tay phù. Da bủng và mốc meo. Mấy hôm sau, biết tên anh. Chúng tôi gọi anh ta là đồng chí Minh. Anh ốm quá, không đi làm được, nên lên lán ở với mấy đứa con. Sang chơi bên lán chúng tôi, anh ta chỉ ngồi lừ thừ nhìn chúng tôi làm việc, mồm ngậm một cái tẩu như cái tẩu của Kim, thỏng thả hút và thởi khói. Hiếm họa anh mới nói. Tiếng anh rạn vỡ.

Làm dược một cái giá để giầy, ba lô, sách vở, một bếp để cho sạch xong thì vừa trưa. Buổi chiều, nghỉ ngơi cho lại sức. Mình định đọc sách. Nhưng viết nhật kí xong thì đã gần hết chiều rồi. Ngày nào cũng ngắn, vì mình muốn làm việc nhiều quá.

Đồng chí Chẩn mang một cuộn giấy và một cái chải lên để chúng tôi dùng, cho biết Tư bị sốt. Có lẽ vì hôm qua anh chàng làm gắng quá.


Tiêu đề: Ở rừng (Nhật kí)
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Tám, 2010, 04:22:26 pm
3/1/47 - Tư chỉ mệt xoàng, anh vẫn đi tìm con đường bí mật đi xuống cơ quan dưới. Cơm chiều xong, tôi đi rửa bát về thì Khang, đang đọc mảnh giấy nhỏ Tư gửi bà mẹ Chẩn lên. Tối nào, bà cũng đèo thằng con côi của Chẩn lên lán ngủ. Cùng với bức thư, bà cụ còn đem cho chúng tôi củi, - tội nghiệp! Củi ở trên này có thiếu gì? - một mớ rau bí, hai quả bí ngô non, bốn của sắn và một cái bị của Tư. Trong bị, ngoài mấy đồ dùng lặt vặt để in đá, có một cái chân giò.

Thế có bực mình không? Lúc này, ăn nửa bát hết vừng, tôi bực mình rang hẳn một bát để ăn cả ngày mai. Khang thái thịt ra, kho với nước lã và muối, để ăn dè. Xương, cho vào nồi một nắm gạo ninh nhừ để sáng mai ăn.

Ông láng giềng to bụng, sợ đêm chó nhà ông ăn mất thịt của hai đồng chí, sang tận nơi dặn cất vào trong cho cẩn thận. Nhưng Khang đã cẩn thận lắm rồi. Liễn thịt để lên cao. Nồi cháo bắc xuống cạnh đống than, đã bịt lá lên trên vung và buộc chặt còn phủ một lượt tre tươi và đè những súc củi nặng trình trịch lên trên. Anh chó chắc phải rất sầu đời! Khang hứa sáng hôm sau sẽ cho nó một bữa xương xứng đáng! Nhưng sáng hôm sau, nó theo bà cụ về nhà. Đen nó quá!

Hôm sau, lạnh ngay từ chập tối. Chúng tôi đốt một đống lửa to, nhưng về khuya tắt mất. Cái chăn hơi hẹp. Hai thằng nằm co quặp, xương đau mỏi.

Thức giấc, nghe gió thổi ào ào. Trăng xiên qua kẽ mái, qua bức phên thưa, lọt vào nhà. Tôi dậy thổi lửa, mũi hít phải tro. Sờ bếp, lạnh. Đành lại vào màn nằm đắp chăn, nhưng không ngủ được. Nghĩ loăng quăng. Vợ con. Bà cụ nhà Chẩn. Gia đình anh ta người Mán…

Băn khoăn rất nhiều đến thằng con đồng chí Chẩn. Nó gầy như một con nhái bén, mềm như một lá rau úa, suốt ngày vắt trên lưng bà cụ, trong khi bà cụ đun bếp cũng như lúc đi lấy nước, nhặt củi hay vò lửa.

Mẹ chết sớm, có lẽ bà nuôi từ thuở mới sinh. Mỗi lần bà mớm cơm cho nó, tôi thấy nó khóc, sặc, ho rũ rượi. Không sữa, lại mang trong máu bao nhiêu vi trùng sốt rét rừng, thằng bé quắt queo và thiểu não. Nó sống được cũng là sự lạ.

Bố nó năm nay hăm tám tuổi. Trông anh già hơn thế. Từ hôm có chiến sự ở đây, không ngày nào không có người đến nhà anh tạm trú và nhờ dẫn lối. Anh tốt lắm. Một lần dẫn Tư đến một địa điểm kia, nghi ngờ có Tây ở đấy rồi, anh bắt Tư đứng chờ ở ngoài, để anh một mình vào thăm dò trước. “Đồng chí vào, tôi không yên lòng”, anh bảo Tư như vậy.

Một lần Tư hỏi anh:

- Sợ Tây không?

- Không sợ.

- Súng kíp bắn Tây chết không?

- Chết chứ.

- Sao đồng chí không đi đánh Tây?

- Người Thổ không lên rủ.

Anh đợi người Thổ lên rủ đánh Tây, như rủ đi săn chung một con gấu vậy.

Anh có một em trai, đồng chí Bảo, hăm hai tuổi. Biết nhiều tiếng Kinh hơn tất cả những ngươi khác ở đay. Đọc được chữ quốc ngữ và dạy được cả cho anh đọc. Bảo bị gấu vồ, hôm chúng tôi mới đến, những vết thương vẫn chưa khỏi hẳn. Lần sau, chúng tôi đến, anh đã gần lành. Nhưng vẫn ăn kiêng, ăn nguyên cơm với muối ớt, không dám chạm đũa đến món trứng tráng lẫn đậu nhà đồng chí Chẩn chính tay làm để thiết chúng tôi. Thông thường, chẳng ăn kiêng, thì món này cũng chỉ có muốt ớt thôi. Cơm gạo rẫy thổi nát, ăn dẻo như cơm nếp, nhưng chóng ngán. Họ quen thổi một bữa, nắm một nửa cất đi để bữa sau ăn. Họ ăn chậm rãi và ăn rất ít. Không dám ăn nhiều hay sức chỉ ăn được thế? Đời sống như vậy, chống lại với vi trùng sốt rét thế nào? Nếu nước mình không độc lập, đời sống của họ không được nâng cao, họ sẽ chết mòn hết mất thôi. Trông những làng Mán xơ xác, lèo tèo, buồn như một cái gì sắp tắt.


Tiêu đề: Ở rừng (Nhật kí)
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Tám, 2010, 04:23:31 pm
Thế mà người Mán tốt. Nhắc đến chuyện những nhà cách mạng hoạt động ở đây hồi bí mật, người vợ Triệu Vân Hương luôn luôn bảo với Tư:

- Cần cách mạng khổ lai! (người cách mạng khổ lắm!).

Chị cảm động nhắc lại lời một đồng chí bảo chị ngày xưa;

- Người Mán đứng giết người cách mạng, đứng bắt người cách mạng nộp cho Tây nhé!

Người Mán không bắt người cách mạng. Người Mán đã cưu mang người cách mạng. Họ nhịn ăn, giấu cơm, đem cho người cách mạng ăn. Tây mà bắt được cơm ấy, thì họ mất đầu. Có người đã mất đầu. Nhưng họ vẫn hủng hộ cách mạng như thường. Tôi nhớ lời Đại tướng Võ Nguyên Giáp một lần nói chuyện với tôi:

- Nếu khởi nghĩa chậm một tháng, cả một làng Mán đã chết đói vì nhịn ăn ủng hộ một đội quân giải phóng.

Cứ xem cách họ săn sóc chúng tôi, đủ biết họ có cảm tình với cách mạng thế nào… Thấy Khang cựa mình, tôi biết anh cũng thức dậy rồi. Tôi nói những ý nghĩ tôi đang nghĩ với anh. Anh cũng ca tụng những nhà cách mạng say mê đã rọi ánh sáng giác ngộ vào những người gần như chưa có ý thức gì về xã hội. Những người ấy, trước kia gần như xa lánh mọi người. Bây giờ họ cũng nói đến Việt Nam dân chủ cộng hòa, độc lập, tự do, hạnh phúc, cũng biết Pháp dân chủ và Pháp thực dân, cũng treo ảnh Cụ Hồ và viết khẩu hiệu dán lên phên, cũng đi dự mít tinh và khai hội.

Một buổi tối ngồi chung quanh bếp lửa, chúng tôi với anh, em đồng chí Chẩn dạy nhau học lẫn tiếng của nhau. Tôi chỉ vào cái nồi đồng hỏi:

- Cằng Tầy, cẳng ca lăng? (Tiếng Thổ gọi là gì?)

- Mỏ toòng: Cẳng heo? (Nồi đồng. Tiếng Kinh gọi là gì?)

- Cẳng heo: Nồi đồng (Tiếng Kinh nói: nồi đồng)

Anh dán to mắt nhìn tôi: Nồi đồng? Thế còn anh? Sao người ta gọi anh là hội đồng nhân dân.

Thật ngây ngô! Nhưng con người “ngây ngô” ấy đã ăn củ hàng tháng để nhường gạo cho những người cách mạng. Cả gia đình, cả làn anh, mọi người trìu mến, săn sóc, bảo vệ, chia ngọt sẻ bùi với chúng tôi, cũng chỉ vì coi chúng tôi là những người cách mạng.

Nghĩ như vậy, tôi thấy rất phàn nàn về một bọn người xuôi qua đây, ngủ nhờ một đêm, ở làng này. Họ tranh nhau, đòi mua hết thức nọ đến thức kia, người ta không muốn bán cũng cố vật nài. Trả tiền thì trả rẻ. Lúc ăn, người có  ăn, người không có ngồi nhìn. Ăn xong, bày bừa ra nhà, phóng uế bừa bãi ở quanh nhà. Lúc đi, đem cả bát của nhà người ta đi.

Sau khi họ đi rồi, đồng chí Bảo bảo chúng tôi:

- Nó không đàn kết. Nó là cái đàn bò!

Và anh nói những điều nhận xét của anh:

- Các đồng chí với bọn khỏi (bọn tôi) tốt. các đồng chí ăn, bọn khỏi ăn. Những người kia, không tốt. Người nào có, ăn. Người không có, không được ăn. Không đàn kết.

Chúng tôi đỏ mặt, bởi vì chúng tôi thấy nhục lây. Nhưng nghĩ kĩ, chẳng qua bọn này vụng xử đó thôi. Họ không chịu luôn luôn nhớ rằng dân chúng rất chú ý nhìn vào họ để phán đoán tinh thần của người miền xuôi. Họ không cẩn thận giữ cử chỉ. Họ không phải là cán bộ. Chúng tôi giải thích cho Bảo hiểu họ chỉ là số ít. Bảo gật đầu:

- Đâu cũng thế. Có người tốt, có người không tốt. Người Mán cũng có người không tốt. Hồi bí mật, cũng có người Mán bắt cách mạng nộp cho Tây. Người giác ngộ thì tốt.

Gần gũi với những người Mán đói rách và dốt nát, thấy họ rất biết yêu cách mạng, làm cách mạng chân thành, sốt sắng và tận tụy, chúng tôi thấy tin tưởng vô cùng. So sánh họ với những thằng “bố vấu” mà Khang gọi là trí thức nửa mùa, Khang rất bất bình đối với hạng này. Chúng nó chẳng yêu một cái gì, chẳng làm gì. Chúng nó chỉ tài chửi đổng.


Tiêu đề: Ở rừng (Nhật kí)
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Tám, 2010, 07:05:35 am
I4/11/47 - Mở mắt ra, trăng lấp ló qua kẽ mái bên mặt. Lạnh, gió to, nghe ở lán bên cạnh có tiếng thổi lửa phù phù, chúng tôi cũng dậy đốt lửa cho đỡ rét

- Dên lai! (rét lắm).

Khang kêu lên thế. Mấy người đàn bà ở lán bên cười, nhắc lại:

- Dên lai!

Nướng mấy củ sắn, ăn xong, vừa sáng hẳn. sau khi rửa ráy, Khang mài đá, mài mực. tôi ghi nhật kí. Gà bay loạn xạ, kêu quang quác ở chung quanh. Có tiếng máy rền: ô tô hay máy bay?

Có lẽ Tư đi Pic Cáy, hay đi hội nghị tỉnh ở Lũng Trang? Nếu ở nhà, thế nào chẳng lên. Định để ngày hôm nay đọc sách. Nhưng chẳng biết có thì giờ đọc không? Lát nữa, phải đi chặt củi. Sắp sửa thổi nấu ăn. Rồi gì nữa? Có lẽ cũng nên hạ sơn, lấy thêm gạo hay một thứ gì để luyện chân cho dẻo.

6/11/47. Đêm qua, thằng bé bên cạnh khóc. Nghe giống Thành khóc quá. Buồn… Nhớ con.

Sáng nay, trời u ám. Tập thể thao và tắm xong trời hơi mưa. Đọc nốt một quyển sách nói về Liên Xô. Đẹp đẽ biết bao công trính xây dựng của nước Xô viết đầu tiên ấy!

Hai thằng xuống nhà đồng chí Chẩn lấy gạo. Bà cụ nhìn khắp nhà, chẳng tìm được thứ gì cho, đong cho một ống gạo rẫy và đưa cho một củ gừng. Lên lán được một lúc thì mưa to. Rừng có biết bao nhiêu lá. Thanh âm rậm và buồn.

12/11/47. Tư gửi một con vịt lên, rồi lên định ở với chúng tôi vài ngày. Tôi lấy làm ưng ý vì thấy mình tự nhiên thành một tay đầu bếp khá. Pha thịt gọn. Rán vịt khéo. Thỏi cơm nếp đậu xanh không nát. Món bí ngô nấu với đậu xanh và gạo nếp để làm món ăn tráng miệng, anh em cho là tuyệt lắm. Làm bếp đã thành một cái thú. Tôi là tay bếp trên “cơ quan Một” này.

Ô tô giặc chạy rầm rập dưới đường. Súng nổ nhiều. Lắm lúc nghe như ngay ở chân núi chúng tôi. Nhưng Tư bảo: thật ra còn cách những năm quả núi. Chúng tôi cứ ung dung hút thuốc lá và nói chuyện.

Bỗng noọng Liễu, em gái Chẩn và Bảo, lên tìm Tư xuống. Có ngươi muốn gặp. Cơ quan dưới đã gặp sự gì chẳng hay chăng? Chúng tôi rất nóng ruột, vì công việc xếp đặt mãi chưa xong. Tờ báo định ra vẫn chưa ra được. Cơ quan “nhận tin” cũng chưa bắt đầu làm việc dược. Hàng tháng nay, chỉ biết ít tin tức quanh vùng, do Tư liên lạc với các cơ quan địa phương, lấy về. Một tiểu đoàn hoạt động ở quãng này. Một đại đội luôn luôn chủ ý bảo vệ mấy cơ quan, trong đó có cả cơ quan của chúng tôi. Địch chết lẻ tẻ khá nhiều Nghe chừng, chúng chẳng ăn thua gì cả. Ta chặn giữ, chúng không tiến được. Mặt Cao Bằng, nhờ mượn được đường Tàu(1) để tiến, chúng lợi thế hơn, nhưng cũng bị mấy vố điếng người rồi. Bắc Cạn tuy chiếm được, nhưng chẳng hoạt động được mấy. Ở chợ Mới, chợ Đồn, chúng nó thiệt hại nhiều. Đánh Việt Bắc quả là chẳng dễ. Mình hở có tí chút, một vài cơ quan bị thiệt hại ít nhiều. Thế thôi.

Người tìm Tư chỉ là một chú giao thông, nghe súng sợ tái mặt chạy một mạch lên đây. Tư cáu lắm. Không thể nhút nhát, hoảng hốt như thế được. Cơ quan đặt sát địch, cần những người gan dạ, luôn bình tĩnh. Tư tin rằng địch chưa dám tiến vào chỗ cơ quan dưới.

Anh lại lên họp mặt với chúng tôi. Cơm chiều xong, đốt lửa. Đốt lửa thật to rồi nằm nhìn, đó là một cái thú mới của chúng tôi. Hôm nào ấm, không đốt lửa được, hơi buồn. Ba thăng nằm, hát bố láo đủ mọi thứ bài, từ cổ chí kim. Nhiều bài chỉ nhớ một vài câu. Lũ trẻ bên cạnh cùng hát với chúng tôi. Chúng thuộc một bài hát lạ chúng tôi không biết; một bài nữa theo điệu Hướng đạo sinh tạm biệt chúng tôi có thể hóa theo bằng lời riêng của chúng tôi, mấy câu trong bài Hồ Chí Minh muôn năm và trọn bai Tiến quân ca. thành thử gặp nhau nhiều nhất, chỉ ở bài Quốc ca.

Quên chưa nói rằng: tối hôm nay, hàng xóm đông hơn. Có lẽ vì tiếng súng nổ dữ lúc ban chiều. Thêm ba đứa trẻ nữa. Và bà cụ nhà đồng chí Quân.

Thằng con đồng chí Quân mặt mũi sáng sủa, nhưng bẩn lắm. Những đứa kia cũng bẩn. Riêng con Pú, ở với chúng tôi luôn, đã theo chúng tôi rửa mặt hàng ngày và rửa cả cho thằng Lí, em trai nó, cho nên hai đứa sạch sẽ hơn. Chúng nó cởi truông. Con gái cũng vậy, tuy đội khăn và đeo vòng, nhẫn. Có đứa trần truồng ngồi sưởi, mặc dầu đói rét. Quần áo thiếu.

Họ cho chúng tôi gạo nếp, bánh chưng, chanh, sắn, bỉ, rau. Ai có gì, cho thức đấy. họ cho luôn. Chúng tôi có gì ở dưới gửi lên cho, cũng cho lại họ. Thân mật như người nhà. Nhiều khi con Pú nấu đậu nhà, cũng đong cho chúng tôi một bát. Cười, lẳng lặng đưa, không nói, bởi vì nó không biết tiếng Thổ. Lần đầu, cầm cho vui lòng nó. Lần sau, từ chối, vì sợ nó cứ cho mãi, tốn kém cho nhà nó.

Hát, đua với lũ trẻ một lúc, thấy mệt và buồn. Tư nghĩ đến làng, đến những nơi làng quê ngày trước đi gặp gỡ người yêu. Khang nghĩ đến Hà Nội, ánh sáng của Nhà hát lớn, sân khấu, ngươi xem. Tôi, đến vợ con. Những ngày nghèo khổ sống bên nhau… Khao khát được ôm chặt lấy thằng Thiên gầy một cái. Ngoạm cái chân múp míp của thằng Thành đang chúi mặt vào vú mẹ. Vuốt ve mái tóc mềm của con Hồng. Nghĩ đến những lúc ở nhà, mình mắng mỏ con Hồng, thương nó quá… Nghĩ loăng quăng, đôi lúc nhớ đến Sâm. Ôi! Thằng đàn ông!...

13/11/47 - Tư đổi ý. Anh sốt ruột. Anh không thể nằm đây nghỉ vài hôm, như đã định. Cơm sáng rồi anh đi.

Khang và tôi bắt đầu in truyền đơn cho cô Vẩu. Chúng tôi gọi đủa chị là cô Vẩu. Hơi vẩu thật, nhưng thùy mị và nhanh nhẹn. Con nhà đặc! Người mảnh khảnh, da trắng và anh, đã sốt rét khá nhiều, nhưng say mê công tác, có tư cách va hăng hái lắm. Chị thuộc vào lớp cán bộ đầu tiên, xung phong lên Việt Bắc. Đồng bào địa phương rất mến.

Bóc tờ giấy ở phiến đá lên. Khang có vẻ vừa ý lắm:

- Rõ và đẹp lắm. Cô Vẩu tha hồ thích nhé!

Giọng anh âu yếm. Lần đầu tiên tôi thấy anh như vậy. Quen anh rất lâu, tôi chưa nghe thấy anh nói chuyện trai gái bao giờ. Người họa sĩ đã ngoài ba mươi tuổi ấy hình như chưa bao giờ nghĩ đến tình. Anh ghét về đàn bà. Đứng trước một phụ nữ, mặt anh lạnh như tiền. Nói theo Tư thì giáp mặt mĩ nhân, mấy cái râu chuột trên mép không hề động đậy. Cảnh hiu quạnh hay cái gì đã xui dại anh buột miệng ra câu nói êm ái ấy? Tôi cười nụ.

Chúng tôi vừa in vừa cắn hạt bí bà cụ Quân cho. Ba cụ sang xem chúng tôi in, nói chuyện. Người phúc hậu, mặt đẹp. Hay chuyện. Âu yếm cháu.

Buổi chiều, thấy chúng tôi không có rau ăn, chỉ có một ít nấu canh lõng bõng, bà ái ngại. Bà chạy vào rừng, lấy về một cái hoa chuối và một nắm lá gì giống lá ngội. Bà gọi là phiến phan - rau phan vậy. Bà bảo chúng tôi đợi bà xào cho một bát. Ăn hơi chát, vì hoa chuối không luộc trước. Cũng cứ khen là ngon đi? Một lần Chản mời ăn thịt huột nướng rồi nấu với muối và nước lã. Tư cũng gắp ăn không nhăn mặt và khen ngon.

Tối nay, nôn nao và mệt rũ. Làm nhiều? Hút thuốc lá nhiều. Hay say hạt bí?… Đi nằm sớm, chuyện lẻ tẻ. Lửa tắt cũng không buồn dậy thổi. Nhưng một lúc sau, buồn quá, tôi lại dậy thổi lửa, chất thêm củi cho cháy thật to, cuộn thêm một điếu thuốc lá nữa, trầm ngâm hút. Có lửa, vui hơn một chút.

Con hươu lại kêu. Nó kêu luôn mây đêm rồi. Tiếng man rợ và thảm thiết. Nghe gần lắm. Sao không ai bắn nó.


(1) Quốc dân đảng Trung Hoa.


Tiêu đề: Ở rừng (Nhật kí)
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Tám, 2010, 07:06:18 am
14/11/47 - Trẻ con, người lớn lại xuống hết cả, trừ con Pú, thằng Lí và thằng em chúng nó, địu trên lưng con Pú. Vắng. Thức ăn hết, cơm gạo tẻ trộn lẫn đậu xanh, rắc vừng. Tư và Khang vẫn gọi đùa tôi là bác sĩ, vì khi ăn tôi hay tính xem bữa ăn có đủ chất bổ không. Thiếu thịt tôi cố tìm đậu để thay. Chất mỡ ở vừng. Đủ lắm.

Hôm nay nghỉ in li tô, đọc sách. Tôi muốn nhân lúc này, học thật nhiều, đã có đủ một số vốn tri thức giúp tôi, khi cần, có thể trông coi một tờ tuần báo chẳng hạn.

Chiều nay lại xôn xao và mỏi mệt. Viết nhiều? Thuốc lá? Kí ninh vàng? Đói? Hay thể thao nặng quá.

15/11/47 - Đêm qua, bà ké Chẩn ho nhiều, rên và lảm nhảm nói mê luôn. Thằng bé con anh Chẩn ho rũ rượi, ho như xé phổi, ho không còn khóc được. Sáng nay, súng liên thanh nổ ran. Chừng hơn chục phát đại bác tiếp theo. Nghe rất gần. Súng tắt một lúc, có tiếng động cơ.

Trời giở mưa. Con Pú mải mốt cầm doa đi chặt lá chuối về che lán. Em vẫn địu ở trên lưng. Con bé mới tám, chín tuổi mà làm đủ việc: kiểm cúi, thổi cơm, giữ hai em. Nó là nội trợ. Bố mẹ nó đi ruộng, đi rẫy suốt ngày Nó phải quán xuyến tất cả công việc ở nhà. Đứa em bé không lúc nào rời lưng nó, có thể vẫn ngủ lắc lư cái dầu ngoẹo xuống hết bên nọ đến bên kia trong khi con chị làm các việc, kể cả việc chặt những cành cây súc. Thằng em lớn muốn khóc lúc nào thì khóc, rồi lhắc lặng. Mới độ ba, bốn tuổi, nó đã và cơm lấy. Tôi thấy nó gắp mấy miếng bí ngô xào, chầm muối ớt, rồi trộn vào bát cơm rẫy, lắm nhựa như cơm nếp. Trên này, ớt như muối vậy; trẻ con cũng ăn mà không hề xuýt xoa. Ớt nướng, có một cái vị hay hay, chúng tôi thích lắm…

Mưa. Mưa thì buồn. Nhà có thể dột. Rừng nhiều vắt, lần mưa trước, tôi đã bị một con vắt chui vào tận háng lúc nào không biết, máu đã đũng quần và chảy đến tận chiều mới cầm lại được.

19/11/47. - Nhiều lần chúng tôi bắt gặp lũ trẻ con đọc khá đúng những bài học trong quyển sách quốc ngữ của Bình dân học vụ. Tưởng chúng nó học, nhưng chạy sang xem, không thấy sách. Chúng nó đọc thuộc lòng. Chắc là nghe người lớn học. Ai? Chỉ có Bảo đã học hai mươi ngày ở cơ quan bí mật của cán bộ bên rừng Vàng Kheo ngày trước.

Anh chàng ấy tối hôm qua lên chơi với húng tôi. Nhân tiện mang cho chúng tôi cái va li sách chúng tôi chưa kịp đem lên. Lân la nói chuyện mà bảo nói nhỏ cho biết rằng cả nhà đồng chí Quân có ma gà. Có ma gà, không tốt. hay “làm cắn” lắm. Đến nhà ai cũng “làm cắn”, không trẻ con thì trâu, bò, gà, lợn.

Ma gà là thế đấy! Người trên nay, ai chẳng có vi trùng sốt rét trong người? Bệnh có thể đến bất cứ lúc nào. Ốm đột ngột là thường. Họ bảo ma gà.

Vô phúc cho anh, nếu luôn mấy lần, sau khi anh đến chơi nhà một ngươi nào, tự nhiên một người trong nhà sinh ra ốm, hay lợn, gà nhà ấy chết. Họ nhất định bảo:anh có ma gà. Tiếng dữ ấy đồn đi. Mọi người sợ anh, ghét anh, coi anh như người hủi. Có ma gà là một cái khổ, cái nhục của ông cha truyền lại. Không ai muốn có. Không ai muốn lấy vợ, lấy chống có ma gà. Con trai có ma gà chỉ còn một cách là lấy vợ có ma gà, như người có mả hủi lại lấy người mả hủi. Người ta cho rằng có ma gà thì phải chúng nó và mỗi năm nhuận, ít nhất phải cho nó vật chết một người hay một con gì, nếu không có thì nó vật chết người nhà hay gà lợn của nhà.

Tôi hỏi:

- Đồng chí Quân làm ma gà cắn tôi được không?

Bảo trả lời:

- Muốn làm thì cũng được.

- Ma gà cắn có chết không?

- Trẻ con chết. Người lớn, cúng thì khỏi.

Thật là dễ hiểu. Trẻ con, sức chống bệnh yếu, dễ chết vì bệnh sốt. Người lớn khỏe và đã quen với bệnh hơn, ốm ốm, khỏi khỏi là thường. Cứ theo Bảo thì trong số những người Mán chúng tôi quen, có đến sáu, bảy người có ma gà. Tôi thấy họ đều rất hiền lành, Chưa ma gà, ma rừng nào cắn chúng tôi. Tôi cười, bảo người bạn Mán:

- Chúng tôi mới chập tối đã vào màn, mỗi tuần uống ba viên kí ninh vàng, ma không làm ốm được.

Cố nhiên là Bảo không tin. Trách gì anh? Chán người miền xuôi, học khoa học hẳn hoi, nhưng vẫn sợ ma gà đấy!


Tiêu đề: Ở rừng (Nhật kí)
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Tám, 2010, 07:08:01 am
20/11/47. - Lớp này rau hiếm lắm. Mỗi lần lên, trông thấy chúng tôi, bà cụ lại cười ngượng nghịu:

- Nắm mì phiếc. (Không có rau)

Bà có vẻ băn khoăn, bịn rịn vì nỗi không có gì để cho chúng tôi ăn. Chúng tôi cười bảo:

- Cơm với muối cũng ngon, ké ạ.

Bà cười:

- Cơm với muối, ăn khổ lắm. Các đồng chí ở đây, khổ lắm.

Hôm nay bà đem cho chúng tôi một dúm lớn đậu đen. Không giống hẳn đậu đen ở dưới xuôi. Hạt nhỏ hơn. Tôi hỏi nấu thế nào, bà không đủ tiếng để nói cho tôi hiểu. Khang bảo:

- Chắc lại như món đậu nành: rang qua, cho một tí mỡ vào; đổ nước rồi bỏ muối thôi chứ gì?

Mỡ cũng hết rồi. Tôi cho đậu với nước vào, đun dừ, rồi bỏ muối. Chỉ có thế mà vẫn nuối nổi năm, sáu bát cơm. Từ ngày chui vào rừng ở, phát minh ra nhiều món lạ.

Và cũng phát minh ra nhiều điều lạ nữa. Lạ nhất là chúng tôi thấy rừng núi chẳng có gì lạ cả! Hồi còn ở dưới xuôi, cứ nghe mấy ông hàng xóm đi bè về nói chuện rừng rú, hổ báo, gấu, trăn là đủ dựng tóc gáy lên rồi. Mình tưởng lên đến rừng phải ở nhà sàn thật cao, rào giậu thật kiên cố ở chung quanh, đi đâu phải đông người và phải mang theo cái thanh la để dọa hùm, đêm đến muốn đi đái cũng không dám mở cửa ra ngoài, đành cứ đứng trong nhà đái! Bây giờ chúng tôi ở những chỗ sâu thẳm trong rừng rậm, chót vot trên đỉnh núi. Nhà ở không bao giờ đóng cửa, vì không có cửa. Nhiều đêm chỉ có hai người. Đi đâu cũng chỉ có hai người, đôi khi lại chỉ một mình tôi. Hay chỉ một cái gậy nhỏ, để chống mà trèo núi chứ không phải để phòng thân. Thế mà vẫn ung dung như ở trong nhà mình, đi trong vườn nhà mình vậy. Mà “nhờ giời thương thánh độ”, cũng chưa một anh nào trong bọn chúng tôi được táng hàm hổ cả!

Anh chàng Khang ngạo mạn với các ngài chúa sơn lâm, thỉnh thoảng lại hỏi tôi:

- Mẹ kiếp! Chúng nó đi đâu hết nhỉ? Ở rừng hàng nửa năm giời, chẳng trông thấy mặt chú cọp, chú beo nào cả!

Có đêm con Pú, thhằng Lí và cả đến con tăm lơ lơ (con chó nhà con Pú) cũng xuống nhà để mo phỉ (cúng ma) mà còn trơ lại hai thằng trên lán. Khang cười, bảo:

- Quái lạ! Sao không có hồ li tinh nào đến trêu chúng mình?

Một lần tôi hỏi Bảo:

- Rừng này có hổ không?

- Đã lâu không thấy. Năm ngoái có bắn được một con.

- Sao năm nay không thấy?

- Không biết. Hôm nọ bên Pic Cáy bắn được một con. Nó về tha một con bò, người ta biết.

- Có gấu không?

- Nhiều lắm.

- Sao không thấy?

- Mùa rét nó ở nhà, không đi dường.

- Không ra ngoài, nó lấy gì mà ăn?

- Nó không ăn.

- Không ăn, sao sống được?

- Sống, nhưng nó không có mỡ. Đi ăn được, nó nhiều mỡ lắm.

Mấy hôm sau, họ rủ nhau đi giết gấu. Tôi hỏi:

- Ở đâu?

- Ở rẫy đồng chí Quân. Nó đến ăn ngô. Bẫy được.

Chẩn trả lời vậy. Rồi anh hỏi:

- Đồng chí có thấy nó không?

- Không.

- Nó đi qua lán đồng chí đấy.

- Sao biết?

- Xem vết chân. Nó ở trên núi đi qua đây để xuống rẫy đồng chí Quân. Nó ăn ngô. Ái già! Nó ăn mất nhiều ngô lắm. Đêm nào cũng ăn.

 Khang cười:

- Cũng lạ! Người anh em toàn đi ăn mảnh. Qua nhà mà không vào rủ chúng mình cùng đi, làm mấy bắp nướng ăn.

Chúng tôi bảo nhau: từ rầy coi chừng lơ mơ ra ngoài mà có khi nát mặt. Nhưng chỉ giữ được mấy hôm, rồi lại ra vào bạt mạng. Và tặc lưỡi:

- Bao nhiêu Giải phóng quân hồi trước, có thấy nói đến một người nào chết vì hùm, vì gấu đâu?


Tiêu đề: Ở rừng (Nhật kí)
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Tám, 2010, 07:10:07 am
23/11/47. - Đang sốt ruột mãi chưa ra được báo thì Tư và Tâm lên. Hai cậu mang theo một con vịt, măng khô, một nắm thư, sách báo mới và tin tức.

Ở vùng chúng tôi, địch đã bỏ mấy đồn. Ở những đồn còn giữ, chúng chỉ cố thủ, không dám xông xáo nữa. Tiếp tế hoàn toàn bằng máy bay.

Tình hình như vậy, chúng tôi phân tán lắm, chỉ mất thì giờ. Chúng tôi sắp hạ sơn dể tiện việc hơn. Cơ quan dự bị.

Khang thấy sắp phải rời chỗ tu tiên, ngày nào cũng đem giá vẽ ra, chăm chú vẽ.

30/11/47. - Nhà in đã có thể bắt đầu làm việc được rồi.

Cơ quan nhận tin điện cũng gần xong. Chúng tôi xuống ở nhà đồng chí Chẩn đã hai hôm, đợi ngày trở về làng. Nay mai, báo ra chúng tôi sẽ bận hơn. Có lẽ khá lâu không có thì giờ đến chơi đây. Chúng tôi muốn xuống ở hẳn với họ mấy hôm để được chuyện trò với họ nhiều hơn.

Tối hôm nay, ngồi quây quần chung quanh bếp lửa với gần đủ mặt cả làng, chúng tôi hỏi đồng chí Văn, đồng chí Tống(1). Họ tả lại mấy trận đánh đồn. Họ hát những bài cách mạng hồi ấy cho chúng tôi nghe.

Chúng tôi nói với họ về miền xuôi, về Hà Nội, những ngày khởi nghĩa, về Trung Bộ, Nam Bộ có ý cho họ hiểu nước mình rộng lớn thế nào, nhiều người nhiều của thế nào và họ thuộc về một khối người dự vào một phong trào to lớn đến đâu. Chúng tôi nói với họ về thế giới, về phong trào cách mạng đang sôi nổi khắp từ Á sang Âu. Nói một cách thật giản dị, thật cụ thể thôi. Chúng tôi nói đến Cụ Hồ nhiều nhất và họ cũng thích nghe chuyện Cụ Hồ nhiều nhất. Họ khoe với chúng tôi rằng hồi bí mật, Cụ Hồ vẫn đi qua đây. Nhiều lần Cụ đi đêm. Đi đêm, những con đường dốc ngược, gồ ghề, quanh co và rậm rạp thế này? Thì ra chúng tôi mới chỉ là những anh chàng “con nhà”, tập tọng sống cái đời gian khổ của những người tranh đấu. Nỗi thiếu thốn vất vả của chúng tôi hiện nay chỉ như một hạt cát bụi bên cạnh trái núi lớn, nếu so với nỗi gian lao của những nhà cách mạng thời bí mật. Cuộc kháng chiến rồi đây có thể đẩy chúng tôi vào những hoàn cảnh khó khăn hơn hiện nay gấp nghìn lần. Nhưng chúng tôi không nản sợ một chút nào. Chúng tôi tin ở sức chịu đựng của chúng tôi và sự giúp đỡ, che chở của đồng bào. Khi mà ở tận chốn thâm sơn cùng cố này, vẫn còn những người bạn Mán sống nghèo khổ lẻ tẻ, tha thiết với cách mạng và độc lập, tự do thì chúng tôi có quyền vững lòng và tin tưởng.

Câu chuyện mỗi lúc thêm náo nhiệt. Mắt những người Mán ngồi với chúng tôi sáng và nhanh nhẹn hẳn lên. Một cái gì vừa thức dậy trong nhưng tâm hồn rừng núi âm u. Chẩn và Bảo hát vang. Họ bảo nhau: khi nào kháng chiến thành công sẽ kiếm tiền may mấy cái áo tốt, về dưới xuôi chơi. Triệu Vân Hương cũng hứng chí lên. Anh ta hứa sẽ cố bắn lấy một con hươu, lấy da may áo để mặc về Hà Nội.

Liên cũng tươi tỉnh hẳn lên. cô thiếu nữ mảnh người như liễu ấy rất hay nhìn trộm Tư. Khi những tiếng cười nói đã ngớt rồi, cô rủ rỉ bảo Tư:

- Kháng chiến thành công. Đồng chí Tư giú nảy âu mê cần đông, thu mà (kháng chiến thành công, đồng chí Tư ở đây rồi lấy vợ người Mán mà làm ruộng).

Muốn tránh tất cả những sự lôi thôi có thể làm cho chúng tôi mất tình cảm của đồng bào địa phương, từ đây, mỗi lần ở đâu lâu, chúng tôi thường tìm cách nói khéo, cho mọi người biết tất cả chúng tôi đều có vợ, có con rồi. Nhưng khổ cho chúng tôi, những anh chàng trai trẻ vẫn khao khát chuyện yêu đương nhưng lại phải luôn luôn kiềm chế lòng mình. Các cô con gái Thổ da trắng đỏ, mặt rất xinh và cử chỉ hồn nhiên lại rất hay cười đùa, bảo chúng tôi:

- Không phải đâu! Các anh chưa có vợ. Việt Minh không lấy vợ.

Có những lúc con người cũ của chúng tôi chồm dậy con người phóng túng và ích kỉ. Những lúc ấy là những lúc chúng tôi bảo nhau, nửa đùa cợt, nửa chua chát:

- Giá chúng mình không phải là Việt Minh!

Những cử chỉ đứng đắn, lễ độ của chúng tôi khiến mọi người chung quanh rất mến phuc chúng tôi. Có người khi nói chuyện với chúng tôi, đã đem cái tư cách gương mẫu của chúng tôi so sánh với những thằng Tây đồn ngày xưa, bắt các làng phải thay phiên nhau nộp cho nó mỗi ngày một cô gái thật đẹp để hầu hạ nó và quạt cho nó ngủ. Chúng tôi lại càng thấy sự giữ gìn tư cách là cần lắm. Và mỗi khi gặp một người đẹp chỉ đành thở dài vụng thôi.

2/12/47. - Hôm qua xuống núi, cả làng Mán quyến luyến tiễn đưa. Nhà đồng chí Chẩn cho chanh, đậu nành với trứng gà. Bà ké đồng chí Quân chạy theo, đưa cho một bó rau cải thật to. Đi được một quãng còn thấy thằng con trai đồng chí Minh đuổi theo, gọi ơi ới. Tưởng quên gì. Nhưng không, nó thở hồng hộc, vừa đưa cho một xâu gừng. Tuy đã “thồ” dủ mọi thứ nạng chết người, vẫn còn phải cầm tất, để cho vừa lòng họ. Mọi người dặn: bao giờ được rồi, các đồng chí lên chơi.

Chiều hôm ấy, xuống đến chân núi! Những anh em đã lâu ngày chưa gặp chúng tôi, mới trông thấy chúng tôi đều phải kêu lên. Họ cho rằng chúng tôi tu tiên đã dắc đạo, nghĩa là gần hóa ra gấu cả rồi. Tóc gần lâp cả vai, chờm xuống gáy. Da và quần áo ám khói, vàng khè. Râu ria tua tủa. Chúng tôi có cảm giác như chợt đến một chỗ đông đúc, sáng sủa, văn minh lắm. trông người nào cũng đẹp, quần áo ai cũng như mới cả. Đi đường ria núi, bờ ruộng đã cho là bằng phẳng lắm.

Hôm nay, đi mượn cái “tông đơ”, húi đầu lẫn cho nhau. Nhẹ hẳn người. Ra một cái suối thật to, ngụp cả đầu xuống gội. Khoái lắm, tuy rét tím cả da. Mặc quần áo mới đi về, thấy mình đã hoàn toàn lột xác. Gặp một chuỗi cô gái Thổ đi sau một ông già vào lán bí mật, mình chào:

- Chào ông ké! Chào các đồng chí!

Ông ké gật đầu, ừ. Các cô líu ríu:

- Chào hai đồng chí!

Một cô gái nói thật to:

- Đồng chí đẹp lắm.

Các cô phá lên cười. Mình đỏ mặt lên, sướng tỉnh người. Tiếc rằng không tìm đâu ra một cái gương để xem mình có đẹp thật không. Nhưng ngay buổi chiều, tôi trở về biết rõ mình hơn. Bởi vì Tư chẳng cho rằng có đến quá nửa số anh em trong cơ quan được các cô khen là đẹp. Non nửa kia chưa được cái may mắn gặp một cô nào cả. Vai lệch lại trở về vai lệch!


(1) Bí danh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Thủ tướng Phạm Văn Đồng ngày trước, quãng năm 1940-1941 ở khu giải phóng.


Tiêu đề: Ở rừng (Nhật kí)
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Tám, 2010, 07:10:48 am
2/3/48. - Từ hôm ra báo, bận nhiều việc, quên hẳn việc ghi nhật kí. Và cũng chẳng có gì nhiều đáng ghi.

Mỗi ngày ngồi cặm cụi viết bàì. Từ bài “phòng” đến một cái tin vặt đều phải cố viết sao cho thật ngắn, thật dễ hiểu, viết xong đưa cho một chú giao thông Thổ đọc trước, hỏi xem có hiểu cả không. Chỗ nào chú không hiểu, viết lại. Chữ nào chú chưa quen thay bằng chữ khác.

Đã từ lâu, tôi mong ước có một tờ báo nhỏ, hợp trình độ của người mới biết đọc, nghĩa là với số đông. Trước ngày kháng chiến toàn quốc ít lâu, tôi đã bỏ Hà Nội, về một tỉnh nhỏ để làm một cuộc xem sao. Dịp may mắn cho tôi thử thực hành đã đến dây. Tôi làm rất chăm chỉ, rất ham thích cái công việc mà giá bốn năm trước đây người ta bắt tôi làm tôi có thể điên người lên được. Hồi ấy, tôi viết văn cho người ta biết đến cái tên tôi. Tôi ao ước tạo một cái gì nó sẽ sống lại sau tôi. Tôi thèm lời khen của các bạn văn, của những kẻ sành văn, của những nhà phê bình có tiếng. Những người ấy là tất cả, tôi không hê quan tâm đến sự được những người sơ lược đọc. Họ đọc để làm gì? Họ hiểu thế nào được văn chương? Và văn chương có ích gì cho họ, những người cằn cỗi về tình cảm, thấp kém về học thức. Họ muốn giải trí thì đã có đố mười, lắc đĩa hay rượu và thịt chó. Họ không cần đến sách và đôi khi có đọc sách, cũng chẳng bao giờ thèm nhớ đến tác giả.

Tôi đã nghĩ đến tôi nhiều quá. Sau cuộc Cách mạng tháng Tám, càng ngày tôi chàng thấy rằng cái “tôi” của mình thật ra chẳng nghĩa lí gì. Nó có một chút giá trị nào là khi nó biết hòa hợp nó vào với những ngươi chung quanh. Nhiều khi phỉa biết quên mình đi, quên cái tên tuổi của mình, nếu muốn thành một người có ích. Có cần gì phải cầy cục tìm cách ghi tên mình lại cho lịch sử. Tạo ra lịch sử là một việc lớn biết bao, nhưng tạo ra lịch sử lại là mọt sự nghiệp của số đông. Ta nên nghĩ đến số đông nhiều hơn ta. Tôi đã cố gắng rất nhiều và vẫn còn đang cố gắng để có thể thích những công việc nhũn nhặn, thầm lặng, nhưng có ích.

Tôi biết tôi còn phải cố gắng nhiều hơn nữa. Vẫn còn những lúc thằng nghệ sĩ cũ trong người tôi, vùng dậy. Tôi chợt thấy buồn rầu vì luôn mấy năm nay không viết được một tác phẩm nào khiến cho các bạn tôi nhắc nhở? Hết làm chủ tịch làng thì lại đi tuyên truyền lưu động, làm báo i tờ! Bao giờ đây, cuốn tiểu thuyết lớn, không mấy đêm tôi không nghĩ đến, luôn mấy năm nay?

Nhưng cái tác phẩm mơ ước ấy, có phải tận đến bây giờ tôi mới phải gác nó lại đâu? Tôi đã gác nó lại ngay từ ngày nó mới chớm nở trong óc tôi. Phần lớn thì giờ của tôi trước đây đều dùng vào việc viết những truyện ngắn, truyện dài, truyện trẻ con tôi không vừa ý một chút nào, nhưng nó giúp tôi moi được tiền của bọn buôn văn, để đem về nuôi cái thân tôi và nuôi vợ, nuôi con. Nước mình còn nô lệ thì tiếng nước mình còn bị chê khinh và bọn nhà ăn còn bị rẻ rúng, bạc đãi, coi như một hạng người không có cũng chẳng thiệt thòi gì. Tôi đã làm ngược hẳn ý muốn của tôi, chỉ vì cần duy trì đời sống của tôi. Sao tôi lại không thể dằn cái ý muốn kiêu căng của tôi xuống, để góp sức vào công việc “không nghệ thuật” lúc này chính là để sửa soạn cho tôi một nghệ thuật cao hơn. Nếu tôi có đủ tài để viết cac tác phẩm lớn của đời tôi, nó sẽ được hàng chục người đọc chứ không phải chỉ vì vài ba nghìn người như trước nữa.

Chiều chiều, các anh, các chị Thổ ở các lán chung quanh đến lán chúng tôi nói chuyện hay đọc báo. Tôi càng có dịp hiểu trình độ hiểu biết, lời ăn tiếng nói, cách làm ăn và những băn khoăn, mong muốn của họ hơn. Dựa vào đấy, tôi uốn nắn lời văn và tìm ra những đầu để viết. Nói được một điều thiết thực, đăng được một cái tin làm ngươi ta phải kể lại với nhau, làm được những câu ca dao thật mộc mạc nhưng không đến nỗi thành vè, viết được một bài thật ít lời nhưng vẫn đủ ý và đọc lên đàn bà, trẻ con nghe cũng hiểu, tôi cũng thấy sung sướng như viết được một truyện ngắn chính tôi ưng ý. Đôi lúc, anh em và chúng tôi cùng lo rằng lối viết như vậy có thể làm hỏng lối văn tiểu thuyết đã có ít nhiều người thích của tôi. Nhưng số người đọc tờ báo nhỏ của chúng tôi cứ mỗi ngày một tăng lên. Các bạn tuyên truyền, các cán bộ cho biết nó rất hợp với đồng bào ở trên này. Nhưng bạn đọc mới của tôi có đến bốn, năm nghìn. Bốn năm nghìn người này ít ra cũng đọc hay nói lại cho bốn, năm nghìn người khác nghe. Làm sao có thể nói được rằng hàng vạn độc giả trực tiếp lẫn gián tiếp mới này không đáng cho tôi chú ý bằng bốn năm nghìn người đọc những tiểu thuyết của tôi ngày trước. Lúc đâu tôi cũng rất băn khoăn về ảnh hưởng của những tác phẩm cũ của tôi. Nó chẳng nói được những điều gì sâu sắc lắm đâu. Nhưng nó làm cho người đọc hiểu biết hơn, tin tưởng hơn vào cuộc kháng chiến của toàn dân và gợi cho họ những việc họ có thể là để giúp ích ho kháng chiến. Tôi chỉ mong có thế.

Ngoài thì giờ viết báo, tôi đọc sách. Chúng tôi tổ chức những lớp học trong nhóm anh em cùng tình độ và mởi những lớp lo cho anh em trình độ kém ở “cơ quan ấn”. Buổi tối, ngồi bên bếp lửa, tôi dùng lối hỏi chuyện, giảng những điều thường thức về địa dư, lịch sử, chính trị… cho chú giao thông Thổ ở với tôi. Và nửa đêm, trong lúc chú giao thông ngủ, tôi lặng lẽ chui ra khỏi chăn, cầm lấy ống tre đi chân không lần từng bước xuống một cái dốc khá hơn để đi lấy nước ở một cái vũng nước nhỏ, ban ngày cạn vì nhiều người lấy quá. Từ chủ nhiệm, chủ bút đến giao thông tiếp tế, chúng tôi ăn ở với nhau thân mật và bình đẳng, hòa thuận hơn anh em ruột. Vì vậy mà ai cũng hết lòng, cố gắng. và mặc dầu khí hậu độc, ăn ở khổ, lương rất ít, xa gia đình quê hương, chúng tôi đều vui trông vào có lòng yêu. Nhiều người đem con em nhờ chúng tôi dạy học hay xin cho vào hẳn trong cơ quan, và học nghề vừa học chữ. Họ hứa cơ quan đi dâu, họ bằng lòng cho con họ theo đấy.

Trong khi ấy, Tư giao thiệp mật thiết với chính quyền, với các đoàn thể dân húng và đồng bào địa phương. Anh nhận làm giảng viên các lớp huấn luyện và làm cán bộ phụ trách việc dân trong vùng ấy. Khang mở một lớp dạy in đá và trình bày báo cáo cho các anh em tuyên truyền ở mấy tỉnh chung quanh về học. cuộc dời cũng khá vui. Và cũng chẳng thay đổi gì nhiều. Thỉnh thoảng anh, chị Mán xuống thăm, cho rau cái, nấm hương, hạt bí, sắn, gừng hay thịt gấu.

Chúng tôi gọi đùa trên Mán là nhà quê của chúng tôi. Tết đến, Tư gọi tôi phải bỏ một ngày “về quê” đi chúc tết mọi nhà. Vớ được trong cái va li của một anh bạn giử, mấy cái kiềng, xuyến mạ vàng, chúng tôi dem theo làm quà cho mấy cô con gái chưa chồng và lũ trẻ con. Những bà mẹ trông thấy mừng rú lên. Thịt lợn sống để từ hôm nào ở trong bồ, họ lấy ra xào nấu cho chúng tôi ăn. Cũng phải cố ăn. Anh chàng Tư ăn quá thực thà, đêm hôm ấy nôn mửa và đi tả. Tôi nhờ lẩn khéo chỉ toàn ăn đậu nên không việc gì.

Mấy ngày nghỉ tết, tôi dùng để viết một truyện ngắn cho đỡ nhớ. Truyện “Tiên sư thằng Tào Tháo!”. Nhưng sau tôi đặt cho nó một cái tên  giản dị và đứng đắn hơn: “Đôi mắt”.


Tiêu đề: Ở rừng (Nhật kí)
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Tám, 2010, 07:12:43 am
6/3/48. - Lợi nhận được thư nhà. Vùng ấy lập tề rồi. Thế là nửa năm giời, thằng Tây nhích được vừa đúng một làng! Nhưng nếu nó tiến song song cả hai mé sông như trước, thì làng tôi cũng ở trong vùng địch mất. Tôi nghĩ đến bố mẹ, anh em, nhà cả, ruộng vườn. Tôi nghi đến các đồng chí thanh niên. Các anh có còn giữ vững được tổ chức không? Các anh hãy bảo vệ lấy làng yêu quý của chúng ta…

Hồi Tây, tôi ghét làng tôi. Từ ngày độc lập, tôi thấy yêu làng tôi tha thiết. Khang và Tư đã khổ lắm vì cứ phải nghe tôi kể lại chuyện làng tôi và chuyện các anh thanh niên làng tôi.

7/3/48. - Trời mưa. Lớp này mưa nhiều quá. Vắt vào tận trong nhà.

Tôi xắn cao quần, mặc áo mưa, chống gậy đi sang một làng bên, nói về tình hình thế giới và trong nước cho một lớp huấn luyện, thay Tư có việc mới về xuôi.

Hơn hai chục học viên vừa trẻ, vừa già. Toàn anh em Thổ, Mán. Có người đã ngoại năm mươi, bệ vệ như chánh tổng. Hầu hết, chỉ biết vừa đủ tiếng Kinh. Giảng thến nào đây?

Tôi rất sung sướng khi thấy đôi mắt rất chú ý của một đồng chí có tuổi đột nhiên lóe sáng vì hiểu được điều tôi nói. Đến giờ nghỉ, đồng chí ấy vui vẻ bảo tôi:

- Giờ tôi mới được biết đấy. Trước khi không hiểu gì đâu. Không có báo đọc. Đọc không hiểu hết.

9/3/48. - Vẫn ở lớp huấn luyện. ngồi bếp, hút thuốc lào nói chuyện với anh em. Họ đều than phiền thuở bé không được học.

Nói là không được học, không ai tin. Không học, sao biết chữ, sao được đi làm cán bộ? Nhưng cán bộ có được đi học bao giờ đâu? Ngày bé, coi trâu. Lớn lên, đi phu, làm để đóng thuế. Con quan con nhà giàu mới học.

Một anh sừng sộ bảo tôi như vậy. Các anh phần lớn đều tự học. Nhiều anh vừa trăn trâu vừa vạch chữ lên mặt đất. Thế mà rồi cũng biết.

- Thế mà nhiều thằng con nhà giàu cho di học chỉ chơi, ba, bốn năm không biết mặt chữ.

Tôi có vẻ không tin. Anh trợn mắt:

- Thật dấy. Nó ngu quá. Không biết chim gái, lấy vợ bằng tiền đấy.

Các anh kể lại những chuyện Pháp khủng  bố ngày xưa…

- Người đi hoạt động khổ một phần, người ở nhà khổ mười phần. Nhưng đến lúc chúng nó đem gia đình các cán bộ tập trung cả vào một chỗ để giam giữ, thì các cán bộ không cần gì nữa. Không lo cho gia đình nữa. Càng hoạt động già. Việt gian lo sốt vó.

16/3/48. - Mới nắng được ba ngày, lại mưa. Mưa nhiều quá. Mùa xuân miền núi là mùa của mưa và của vắt. Không có sách thì buồn chết được!

18/3/48. - Cái giọng nghiện trong đài phát thanh của bù nhìn ở Hà Nội sáng nay cho biết: hôm qua, chúng nó đã kí với nhau hiệp ước năm nước. Trong cái mào đầu hiệp ước, có nói đến phẩm cách của con người, tự do của mỗi cá nhân trong xã hội… Mình như đột nhiên bị một cái cật nứa gại vào cân não. Y như hồi nào nghe chính miệng một thẳng quản đề lao chuyên môn hành hạ những người bị giam để tống tiền, nói đến chuyện nhà nó ba đời tu nhân tích đức. Muốn chửi to một tiếng.

Những tin tối hôm qua cho biết Giải phóng quân Trung Hoa vẫn tiến. Khi mà làn sóng dân chúng đã đang lên! Nó cứ tràn đi mạnh mẽ và cuốn đi, và rửa sạch tất cả những nhây nhớp của một xã hội đã thối nát. Vàng của bọn tài phiệt sẽ vô hiệu quả. Hỡi những anh bạn chiến đấu đang tiến mạnh! Chúng tôi đợi ngày giơ nắm tay chào các anh…

19/3/48. - Vẫn mưa. Đêm qua càng mưa dữ dội hơn. Bị nước lọt qua màn rỏ vào mặt, tôi thức giấc. Quay đầu lại phía chân. Cố thu hẹp người lại để tránh nước từ trên mái nhà giột xuống. Rất lâu không ngủ được. Mưa đến từng đợt như đợt sóng. Ào ào rồi ngớt, rồi lại ào ào, rồi lại ngót. Nước không gõ trống trên lá nữa. Nước chảy thành thác trên lá rậm. Tiếng dòng suối dưới gầm sàn như một cái nhọt vỡ mủ, ăn loang đêm tối.

Ôi chao! Cái giống bọ vô hình ở cái chăn bông rách bò ra, ngứa ran trên mặt, trên cổ. Không sao ngủ được. Cố nhiên là lại nhớ đến Liên, nhớ các con. Những lần mưa trong đời mình. Đời mình như toàn mưa cả. Mưa vào những dịp quan trọng. Mưa vào những ngày bước ra đi. Mưa!! Mưa! Cái đêm mưa trên thuyền mía. Những đêm mưa nhà dột trong cái lều nhà bà cụ Xoan.

Nhưng mỗi lúc ngớt mưa, lại nghe tiếng súng nổ ran; tiếng súng đã nổ ran suốt ngày hôm qua; mặc dầu mưa. Trong cái đêm mưa tầm tã này, súng vẫn nổ như thường. Súng không biết có giờ mưa. Lòng súng không ỉu xỉu bao giờ. Ôi súng! Ôi nghững cây súng thép! Ôi những anh vệ quốc quân! Tôi biết các anh nhiều khi phải nhịn cơm ăn cháo, đứng dưới mưa suốt ngày, suốt đêm mà đánh giặc. Lòng các anh cũng là nòng súng thép tôi già. Tôi xấu hổ cho tâm hồn ủy mị của tôi. Vẫn chưa mạnh hẳn ư? Các anh? Các anh chiến sĩ không tên! Các anh hãy dạy tôi biết hi sinh, biết chiến đấu, chiến đấu lặng lẽ, chiến đấu không nghĩ gì đến tên mình, không nghĩ gì cả đến thân mình nữa. Các anh hãy rọi vào lòng tôi ánh nắng rực rỡ trong đôi mắt và cõi lòng của  các anh. Lòng tôi vẫn còn u ám lắm. Những đám mây đen xưa cũ vẫn con lởn vởn. Các anh hãy quét sạch nó hộ tôi. Quét sạch! Để cho tâm hồn quang quẻ và mới hẳn!...

Súng vẫn nổ ròn. Tôi lắng tai, cố nghe tiếng súng. Tiếng súng máy cười khành khạch. Hôm qua hai lính Pháp ở Phủ Thông ra hàng. Chúng nó chịu làm sao nổi cảnh u ám và nhưng ngày mưa ở miền rừng? Chúng  nó chịu làm sao cảnh ăn cháo đánh nhau? Mưa! Mưa! Mày cứ mưa mãi cho tao! Chúng nó sẽ còn ra hàng nhiều nữa.

1948
In trong tập “Đôi mắt”


Tiêu đề: Đôi mắt
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Tám, 2010, 07:15:11 am
ĐÔI MĂT

Anh thanh niên làng chỉ một cái cổng gạch nhỏ, quay lại bảo tôi:

- Ngõ này đây, ông Hoàng ở đây.

- Cám ơn anh nhé. Lát nữa tôi sẽ sang nhà anh chơi.

Tôi vỗ vai anh bảo vậy. Tôi toan vào. Anh vội ngăn tôi lại:

- Khoan đã. Anh để em gọi cho anh trong nhà xích con chó lại. Con chó to và dữ lắm.

Tôi mở to đôi mắt, khẽ reo lên một tiếng thú vị. Tôi nhớ đến những lần đến chơi nhà anh Hoàng ở Hà Nội. Bấm chuông xong, bao giờ tôi cũng phải chờ anh Hoàng thân hành ra nắm chặt cái vòng da ở cổ một con chó tây to bằng con bê, dúi đầu nó vào gầm cái cầu thang, rồi mới có đủ can đảm bước vội qua đằng sau cái đuôi nó để vào phòng khách.

Tôi rất sợ con chó giống Ðức hung hăng ấy. Sợ đến nỗi một lần đến chơi, không thấy anh Hoàng ra đứng tấn để giữ nó mà lại buồn rầu báo cho tôi biết nó chết rồi, thì mặc dầu có làm ra mặt tiếc với anh, thật tình thấy nhẹ cả người.

Con chó chết vào giữa cái hồi đói khủng khiếp mà có lẽ đến năm 2000, con cháu chúng ta vẫn còn kể lại cho nhau nghe để rùng mình. Không phải vì chủ nó không tìm nổi mỗi ngày vài lạng thịt bò để nó ăn. Anh Hoàng là một nhà văn, nhưng đồng thời cũng là một tay chợ đen rất tài tình. Khi chúng tôi đến nỗi chỉ còn một dúm xương và rất nhiều bản thảo chẳng biết bán cho ai, anh Hoàng vẫn phong lưu. Con chó của anh chưa phải nhịn bữa nào. Nhưng xác người chết đói ngập phố phường. Nó chết có lẽ vì chén phải thịt người ươn hay vì hút phải nhiều xú khí. Thảm hại thay cho nó.

Thế mà bây giờ đến thăm anh Hoàng ở chỗ gia đình anh tản cư về, cách Hà Nội hàng trăm cây số, tôi lại được nghe đến một con chó dữ. Thật là thú vị!... Tôi cười nho nhỏ. Chẳng biết tôi cười gì, anh thanh niên cũng nhe răng ra cười. Ðáp lại tiếng anh gọi, tiếng những chiếc guốc mỏng mảnh quét trên sân gạch nổi lên, lẹc khẹc và mau mắn. Một thằng bé mũ nồi đen, áo len xám, chạy ra.

Một đôi mắt đen lay láy nhìn tôi...

- Bác Ðộ, ba ơi! Bác Ðộ!...

Thằng Ngữ, con anh Hoàng. Nó chẳng kịp chào tôi, ngoắt chạy trở vào, reo rối rít.

- Cái gì? Cái gì? Hừm!

Tiếng trầm trầm nhưng lại có vẻ nạt nộ của anh Hoàng hỏi nó. (Bao giờ nói với con, anh Hoàng cũng có cái giọng dậm doạ buồn cười ấy). Thằng bé líu ríu những gì tôi nghe không rõ. Rồi thấy tiếng thanh thanh của chị Hoàng giục con:

- Ngữ xích con chó lại. Xích con chó lại cái cột tít đằng kia.

Anh Hoàng đi ra. Anh vẫn bước khệnh khạng, thong thả, bởi vì người khí béo quá, vừa bước vừa bơi hai cánh tay kềnh khệnh ra hai bên, những khối thịt ở bên dưới nách kềnh ra và trông tủn ngủn như ngắn quá. Cái dáng điệu nặng nề ấy, hồi còn ở Hà Nội anh mặc quần áo tây cả bộ, trông chỉ thấy là chững chạc và hơi bệ vệ. Bây giờ nó lộ ra khá rõ ràng trong bộ áo ngũ màu xanh nhạt, phủ một cái áo len trắng nó nịt người anh đến nỗi không còn thở được.

Anh đứng lại bên trong cổng, một bàn tay múp míp hơi chìa về phía tôi, đầu hơi ngửa về đằng sau, miệng hé mở, bộ điệu một người ngạc nhiên hay mừng rỡ quá. Tôi có thì giờ nhận rõ một sự thay đổi trên bộ mặt đầy đặn của anh: trên mép một cái vành móng ngựa ria, như một cái bàn chải nhỏ.

Sững người ra một lúc, rồi anh mới lâm li kêu lên những tiếng ở trong cổ họng:

- Ối giời ơi! Anh! Quý hoá quá!

Anh quay lại:

- Mình ơi! Anh Ðộ thật. Xa thế mà anh ấy cũng chịu khó đến thăm chúng mình.

Chị Hoàng lúc bấy giờ đã chạy ra, tay còn đang cài nốt khuy chiếc áo dài màu gạch vừa mới mặc vội vào để ra đón khách. Người đàn bà vồn vã:

- Mong bác mãi. Lúc thằng cháu mới chạy vào, nhà tôi cứ tưởng nó trông nhầm. Cứ tưởng bác ở cách hàng mười lăm hai mươi cây số...

Bắt tay tôi xong, anh Hoàng dịu dàng đẩy tôi đi trước. Chị vợ đã nhanh nhẹn chạy trước vào nhà, dọn bàn dọn ghế. Sao lại có sự săn đón cảm động như thế được? Tôi đâm ngờ những ý nghĩ không tốt của tôi về anh, từ hồi Tổng khởi nghĩa trở về.

Sau Tổng khởi nghĩa, anh Hoàng đối với tôi đột nhiên nhạt hẳn đi. Mấy lần tôi đến chơi với anh, định để xem anh thay đổi thế nào trong cuộc thay đổi lớn của dân tộc chúng ta, nhưng đều không gặp anh. Cửa nhà anh đóng luôn luôn. Thằng nhỏ nhà anh đứng bên trong cái cửa nhìn qua một lỗ con, bao giờ cũng hỏi cặn kẽ tên tôi, để một lúc sau ra bảo tôi rằng ông nó không có nhà. Mấy lần đều như vậy cả nên tôi đã sinh nghi. Lần cuối cùng, trước khi bấm chuông, tôi còn nghe thấy tiếng vợ chồng anh. Nhưng thằng nhỏ vẫn quả quyết rằng ông bà nó về trại những từ tối hôm trước kia rồi. Ðã đích xác là anh không muốn tiếp tôi. Chẳng hiểu vì sao. Nhưng từ đấy tôi không đến nữa. Mỗi lần gặp nhau ở ngoài đường, chúng tôi chỉ bắt tay nhau một cách rất lạnh lùng, hỏi thăm nhau một câu chiếu lệ, rồi ai đi đường nấy.

Tôi đã biết Hoàng vẫn có tính tự nhiên “đá” bạn một cách đột ngột, vì những cớ mà chỉ mình anh biết. Có khi chỉ là vì một tác phẩm của người bạn ấy được cảm tình của một nhà phê bình đã chê một vài tác phẩm của anh. Có khi cũng chẳng cần đến thế. Anh có thể là một người bạn rất thân của anh Hoàng khi anh chỉ là một nhà văn ở tỉnh xa chỉ góp mặt với Hà Nội bằng những bài gửi về đăng báo, nhưng nếu anh lại về sống hẳn ở thủ đô, giao thiệp với ít nhiều nhà văn khác, anh sẽ không phải là bạn anh Hoàng nữa. Có lẽ anh Hoàng biết cái giới văn nghệ sĩ Hà Nội chửi anh nhiều quá.

Riêng tôi, trước đây, tôi vẫn không hiểu sao người ta có thể khinh ghét anh nhiều thế. Tận đến lúc bị anh đá tôi mới hiểu. Tôn còn được hiểu rõ ràng hơn. Vào cái hồi quân đội Ðồng minh vào giải giáp quân Nhật ở nước ta, một số gái kiếm tiền trút bộ đầm ra để mặc bộ áo Tầu. Còn anh bạn của tôi, chẳng biết bám được ông má chín nào, ra một tờ báo hằng ngày để chửi vung lên. Chửi hết cả mọi người rồi anh mới lôi đến một số bạn cũ của anh ra. Toàn là những người hiền lành, xưa nay chưa hề chạm đến một sợi tóc của anh. Nhưng tên họ trên những tờ báo của phong trào giải phóng quốc gia được hoan nghênh là ngứa mắt anh. Anh hằn học gọi mỉa họ là những nhà văn vô sản và cho họ là một bọn khố rách áo ôm đã đến ngày mả phát, ăn mặc và tẩm bổ hết cả phần thiên hạ. Tôi cười nhạt. Không phải tôi khó chịu vì những lời vu cáo của anh. Tôi khó chịu chính vì thấy đến tận lúc ấy mà vẫn còn một số nhà văn Việt Nam dùng ngòi bút mình để làm những việc đê tiện thế. Anh Hoàng vẫn là con người cũ. Anh không chịu đổi. Tôi đã tưởng anh với tôi chẳng bao giờ còn thân mật với nhau trở lại... Nhưng sao gặp tôi lần này anh lại hân hoan đến thế? Anh đã đủ thì giờ để lột xác rồi chăng? Hay cuộc kháng chiến mãnh liệt của dân ta đã quét sạch khỏi đầu anh những cái gì cũ còn sót lại? Thật tình, tôi rất cảm động khi nghe thấy anh kể lể:

- Chẳng ngày nào chúng tôi không nhắc đến anh. Nguyên một hôm xem tờ báo của ông hàng xóm, thấy có bài của anh, tôi đoán anh làm tuyên truyền ở tỉnh này. Tiện gặp một cán bộ về làng, tôi nhờ gửi cho anh một bức thư. Cũng là gửi cầu may. Thật không dám chắc thư đến tay anh. Mà có đến, có lẽ anh nhiều việc, cũng khó lòng về chơi với chúng tôi. Thế mà lại được gặp anh. Trông anh không lấy gì làm khoẻ mà sao anh đi bộ tài thế? Mà sao anh lại tìm vào được đúng làng này? Hồi mới đến đây, tôi ra khỏi nhà độ mươi bước là đã lạc. Nhiều ngõ quá mà ngõ nào cũng giống ngõ nào. Có khi ra đồng về cũng nhầm ngõ...


Tiêu đề: Đôi mắt
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Tám, 2010, 07:17:00 am
*
*   *

Cái nhà Hoàng ở nhờ có thể gọi là rộng rãi. Ba gian nhà gạch sạch sẽ. Hàng hiên rộng ở ngoài. Sân gạch, tường hoa. Một mảnh vườn trồng rau tươi rười rượi. Xinh xắn lắm.

Thích nhất là gia đình anh được ở cả nhà. Chủ nhân cũng là người buôn bán trên Hà Nội. Ông thường nhờ vốn liếng và mối hàng của vợ chồng anh. Còn gì hơn là lúc này trả nghĩa lại nhau. Ông đã dọn sang nhà ông bố ở liền bên, nhường lại nhà cho anh hoàn toàn sử dụng. Anh cho tôi biết thế và bảo tiếp:

- Giá chúng tôi chưa tìm được nhà ông thì chưa biết ra sao. Tôi thấy nhiều người tản cư khổ lắm. Anh tính có đời nào anh ruột tản cư về nhà em mà đến lúc vợ đẻ, em bắt ra một cái lều ngoài vườn để đẻ!

Tôi cho anh biết người nhà quê mình có tục kiêng...

- Thì đã đành là vậy - Anh nói giọng tức tối và bất bình - Thì đã đành là vậy, nhưng lúc này còn kiêng kị gì? Mà có những thế thôi đâu! Thấy anh bây giờ khổ sở, em đã chẳng thương, lại còn xỉa xói, nhắc đến những lúc hoang phí trước để mà xỉ vả. Nào “lúc có tiền thì chẳng biết ăn biết nhịn để dè, chỉ biết nay gà mai chó!” nào “lúc buôn bán phát tài, bảo gửi tiền về quê tậu ruộng vườn thì bảo không cần vườn ruộng, để tậu nhà ở tỉnh kia, bây giờ không bám lấy nhà ở tỉnh đi!...” Tệ lắm! Anh tính mấy đời mới có một phen loạn lạc thế này? Có tiền, thằng nào chẳng ăn chơi? Có mấy người cứ còm cọm làm như trâu, ăn chẳng dám ăn, mặc chẳng dám mặc, ở thì chui rúc thế nào cho xong thôi, để tiền mà tậu vườn, tậu ruộng như họ?

Chị Hoàng tiếp lời chồng:

- Họ làm chính chúng tôi cũng đâm lo. Có thể nói rằng trong một trăm người thì chín mươi người cho rằng Tây không đời nào dám đánh mình. Mãi đến lúc có lệnh tản cư tôi vẫn cho là mình tản cư để doạ nó thôi. Thế rồi đùng một cái, đánh nhau. Chúng tôi chạy được người chứ của thì chạy làm sao kịp? May mà còn vớt vát được ít tiền, một ít hàng để ở cái trại của chúng tôi, ở ngoại thành. Khéo lắm thì ăn được độ một năm. Ðến lúc hết tất nhiên là phải khổ rồi. Chỉ sợ đến lúc ấy, họ lại mỉa lại. Thành thử bây giờ lí ra thì có muốn ăn một con gà chưa đến nỗi không mua nổi mà ăn, nhưng ăn lại sợ người ta biết, sau này người ta nói cho thì nhục. Họ tàn nhẫn lắm cơ, bác ạ!

Anh Hoàng cười:

- Mà sao họ đã bận rộn nhiều đến thế mà vẫn còn thì giờ chú ý đến những người chung quanh nhiều đến thế? Anh chỉ giết một con gà ngày mai cả làng này đã biết. Này, anh mới đến chơi thế mà lúc nãy tôi đã thấy có người nấp nom rồi. Ngày mai thế nào chuyện anh đến chơi tôi cũng đã chạy khắp làng. Họ sẽ kể rất rạch ròi tên anh, tuổi anh, anh béo gầy thế nào, có bao nhiêu nốt ruồi ở mặt, có mấy lỗ rách ở ống quần bên trái.

Tôi mỉm cười, cắt nghĩa cho anh hiểu: lúc này họ cần để ý đến những người lạ mặt tới làng. Tôi chắc mấy người nấp nom tôi là mấy người có trách nhiệm trong ủy ban mấy anh tự vệ.

- Lại còn các ông ủy ban với các bố tự vệ nữa mới chết người ta chứ! Họ vừa ngố vừa nhặng sị. Ðàn bà chửa mà đến nỗi cho là có lựu đạn giắt trong quần! Họ đánh vần xong một cái giấy ít nhất phải mất mười lăm phút, thế mà động thấy ai đi qua là hỏi giấy. Anh đi, hỏi. Anh về, hỏi, hỏi nữa. Anh vừa ra khỏi làng, sực nhớ quên cái mũ, trở lại lấy, cũng hỏi rồi mới cho vào. Lát nữa anh ra, lại hỏi. Hình như họ cho cái việc hỏi giấy là thú lắm.

Anh cười gằn một tiếng, nhìn bao trùm cả người tôi, hỏi:

- Anh sống ở nhà quê nhiều, anh có hiểu tâm lí của họ không? Anh thử cắt nghĩa hộ tôi tại làm sao họ lại nhiêu khê đến thế? Từ trước đến nay, tôi chỉ hoàn toàn ở Hà Nội, thành thử chỉ mới biết những người nhà quê qua những truyện ngắn của anh. Bây giờ gần họ, tôi quả là thấy không nhịn được. Không chịu được!

Nỗi khinh bỉ của anh phì cả ra ngoài theo cái bĩu môi dài thườn thượt. Mũi anh nhăn lại như ngửi thấy mùi xác thối. Vợ chồng anh thi nhau kể tội người nhà quê đủ thứ. Toàn là những người đần độn, lỗ mãng, ích kỷ, tham lam, bần tiện cả. Cha con, anh em ruột cũng chẳng tốt với nhau. Các ông thanh niên, các bà phụ nữ mới bây giờ lại càng nhố nhăng. Viết chữ quốc ngữ sai vần mà lại cứ hay nói chuyện chính trị rối rít cả lên. Mở miệng ra là thấy đề nghị, yêu cầu, phê bình, cảnh cáo, thực dân, phát xít, phản động, xã hội chủ nghĩa, dân chủ với cả dân tân chủ nữa mới khổ thiên hạ chứ! Họ mà tóm được ai thì có mà chạy lên trời! Thế nào họ cũng tuyên truyền cho hàng giờ. Có lẽ họ cho những người ở Hà Nội về như vợ chồng anh đều lạc hậu, chưa giác ngộ nên họ không bỏ lỡ một dịp nào để tuyên truyền vợ chồng anh. Mà tuyên truyền như thế nào!...

Anh trợn mắt bảo tôi:

- Tôi kể cho anh nghe chuyện này thế nào anh cũng cho là bịa. Nhưng tôi có bịa một tí nào, tôi chết. Một hôm, tôi đi chợ huyện chơi. Ở nhà đã hỏi đường cẩn thận rồi, nhưng đến một ngã ba, lại quên béng mất, không biết phải rẽ lối nào. Ðành đứng lại, chờ có người đi qua thì hỏi. Chờ mãi mới thấy một ông thanh niên nghễu nghện vác một bó tre đi tới. Tôi chào rồi hỏi: “Ði chợ huyện lối nào, ông làm ơn chỉ giúp tôi!” Anh ta trố mắt nhìn tôi chẳng rằng chẳng nói, như nhìn một giống người lạ mới từ Hoả tinh rơi xuống. Tôi biết hiệu, rút giấy đưa cho anh xem rồi lại hỏi. Bây giờ anh ta mới bảo: “Ông cứ đi lối này, đến chỗ có một cây đa to thì rẽ về tay phải, đi một quãng lại rẽ về tay trái, qua một cách đồng, vào đường gạch làng Ngò, vòng qua đằng sau đình, rẽ về tay phải, đi một quãng nữa là đến chợ”. Ðại khái thế, chứ không hoàn toàn đúng thế. Chỉ biết là nó lôi thôi rắc rối, nhiều bên phải bên trái quá, đến nỗi tôi không tài nhận nhận được. Anh ta bày cho tôi một cách: đứng đợi đấy, gặp ai gánh hàng đi chợ thì theo. Tôi cho là phải. Anh ta cười bảo: “Thôi thế chào ông. Cháu vô phép ông đi trước. Cháu vội lắm. Cháu phải vác ngay bó tre này lên Thượng để làm công tác phá hoại, cản cơ giới hoá tối tân của địch. Cuộc trường kì kháng chiến của ta phải chia làm ba giai đoạn: giai đoạn phòng ngự, giai đoạn cầm cự, giai đoạn tổng phản công. Giai đoạn phòng ngự nghĩa là...” Anh ta cứ thế, đọc thuộc lòng cho tôi nghe cả một bài dài đến năm trang giấy.

Chị Hoàng cười rú lên. Tôi cũng cười, nhưng có lẽ cái cười chẳng được tươi cho lắm. Anh thấy cần phải thề lần nữa:

- Tôi có bịa thì tôi chết. Mà tôi lại thề với anh rằng lúc ấy tôi ngạc nhiên quá, không còn cười được, vả lại cũng không dám cười. Cười, nhỡ anh ta đánh cho thì tai hại. Nhưng từ hôm ấy ngày nào tôi cũng bắt nhà tôi đóng cổng suốt ngày không dám đi đâu nữa.

Tôi cười gượng. Ðiều muốn nói với anh, tôi đành giấu kín trong lòng không nói nữa. Tôi biết chẳng đời nào anh nhận làm một anh tuyên truyền nhãi nhép như tôi. Vả lại dầu có rủ được anh làm như tôi, khoác cái ba lô lên vai, đi hết làng nọ đến làng kia để nhận xét nông thôn một cách kĩ càng hơn cũng chẳng ích gì. Anh đã quen nhìn đời và nhìn người một phía thôi. Anh trông thấy anh thanh niên đọc thuộc lòng bài “ba giai đoạn” nhưng anh không trông thấy bó tre anh thanh niên vui vẻ vác đi để ngăn quân thù. Mà ngay trong cái việc anh thanh niên đọc thuộc lòng bài báo như một con vẹt biết nói kia, anh cũng chỉ nhìn thấy cái ngố bề ngoài của nó mà không nhìn thấy cái nguyên cớ thật đẹp đẽ bên trong. Vẫn giữ đôi mắt ấy để nhìn đời thì càng đi nhiều, càng quan sát lắm, người ta chỉ càng thêm chua chát và chán nản.

Tôi biết lắm. Trước mặt người đàn anh trong văn giới ấy, tôi chỉ là một kẻ non dại, mới tập tọng học nghề. Bởi vậy tôi không dám nói hết những ý nghĩ của tôi ra. Tôi chỉ rụt rè và đưa ra vài điểm nhận xét:

- Có nhiều cái kì lạ lắm. Người nhà quê dẫu sao thì cũng còn là một cái bí mật đối với chúng ta. Tôi gần gũi họ rất nhiều. Tôi đã gần như thất vọng vì thấy họ phần đông dốt nát, theo nhếch, nhát sợ, nhịn nhục một cách đáng thương. Nghe các ông nói đến “sức mạnh quần chúng”, tôi rất nghi ngờ. Tôi vẫn cho rằng đa số nước mình là nông dân, mà nông dân nước mình thì vạn kiếp nữa cũng chưa làm cách mạng. Cái thời Lê Lợi, Quang Trung, có lẽ đã chết hẳn rồi, chẳng bao giờ còn trở lại. Nhưng đến hồi Tổng khởi nghĩa thì tôi đã ngả ngửa người. Té ra người nông dân nước mình vẫn có thể làm cách mạng, mà làm cách mạng hăng hái lắm. Tôi đã theo họ đi đánh phủ. Tôi đã gặp họ trong mặt trận Nam Trung Bộ. Vô số anh răng đen, mắt toét, gọi lựu đạn là “nựu đạn”, hát Tiến quân ca như người buồn ngủ cầu kinh, mà lúc ra trận thì xung phong can đảm lắm. Mà không hề bận tâm đến vợ con, nhà cửa, như họ vẫn thường thế nữa. Gặp họ, anh không thể tưởng tượng được rằng chính những người ấy, chỉ trước đây dăm tháng, giá có bị anh lính lệ ghẹo vợ ngay trước mặt cũng chỉ đành im thin thít mà đi, đi một quãng thật xa rồi mới dám lẩm bẩm chửi thầm vài tiếng, còn bao nhiêu ghen tức đành là đem về nhà trút vào má vợ.

Hoàng nhếch một khoé môi lên, gay gắt:

- Nhưng anh vẫn không thể chối được rằng họ có nhiều cái ngố không chịu được. Tôi thấy có nhiều ông tự vệ hay cả vệ quốc quân nữa táy máy nghịch súng hay lựu đạn làm chết người như bỡn. Nhiều ông cầm đến một khẩu súng kiểu lạ, không biết bắn thế nào. Như vậythì hăng hái cũng vất đi. Nhưng mà thôi! Nước mình như vậy, suốt đời không được mó đến khẩu súng thì làm gì biết bắn, họ đánh mãi rồi cũng biết. Thì cứ để cho họ đánh Tây đi! Nhưng tai hại là người ta lại cứ muốn cho họ làm ủy ban nọ, ủy ban kia nữa, thế mới chết người ta chứ! Nói thí dụ ngay như cái thằng chủ tịch ủy ban khu phố tôi ở Hà Nội lúc chưa đánh nhau, nó là một anh hàng cháo lòng. Bán cháo lòng thì nó biết đánh tiết canh, chứ biết làm ủy ban thế nào mà bắt nó làm ủy ban? Ông chủ tịch làng này, xem giấy của nhà tôi, thấy đề Nguyễn Thục Hiền, cứ nhất định bảo là giấy mượn của đàn ông. Theo ông ấy, thì đàn bà ai cũng phải là thị này, thị nọ.

Chị Hoàng cười nhiều quá, phát ho, chảy cả nước mắt ra. Rút khăn tay lau nước mắt xong, chị chép miệng lắc đầu, bảo tôi:

- Giá bác ở đây thì nhiều lúc bác cũng cười đến chết. Thế mà ông chủ tịch ấy cứ nằn nì mãi hai ba lượt, yêu cầu nhà tôi dạy bình dân học vụ hay làm tuyên truyền giúp.

Anh chồng tiếp:

- Tôi chẳng có việc gì làm, lắm lúc cũng buồn. Nhưng công tác với những người như vậy thì anh bảo công tác làm sao được? Ðành để các ông ấy gọi là phản động.

Muốn lảng chuyện, tôi hỏi:

- Lúc này nhiều thì giờ thế, chắc anh viết được. Anh đã viết được cái gì thú chưa?

- Chưa, bởi vì ngay đến một cái bàn viết ra hồn cũng không còn nữa. Nhưng thế nào chúng mình cũng phải viết một cái gì để ghi lại cái thời này. Nếu khéo làm còn có thể hay bằng mấy cái “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng. Phụng nó còn sống đến lúc này phải biết!


Tiêu đề: Đôi mắt
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Tám, 2010, 07:18:46 am
Cơm chiều xong vào lúc bốn giờ, Hoàng mời tôi cùng đi với vợ chồng anh đến chơi nhà mấy người ở phố cũng tản cư về. Có đâu một ông tuần phủ về hưu, một ông đốc học bị thải hồi vì một vụ hiếp học trò, một cụ phán già trước đây chuyên môn sống về nghề lo kiện, hay chạy cửu phẩm cho thiên hạ. Anh chẳng ưa gì họ bởi vì họ chẳng biết gì đến văn chương nghệ thuật, chỉ tổ tôm là giỏi. Nói chuyện với họ chán phè. Nhưng nếu chẳng giao thiệp với họ thì cũng chẳng biết đến chơi nhà ai được nữa... Anh vừa đi vừa tâm sự nhỏ với tôi như vậy, và thì hầm kề sát tai tôi những cái thối nát, ngu ngốc, gàn dở, rởm đời của từng người một, trong khi chúng tôi bước chầm chậm để đợi chị Hoàng ra sau chúng tôi một chút.

Chị Hoàng rảo bước để theo kịp chúng tôi. Hai má đỏ ứng vì lửa bếp, chị cắt nghĩa sự chậm trễ của chị:

- Tôi xem lại nồi khoai lang vùi, để lát nữa về ăn. Ở đây cao lương mĩ vị chẳng có gì, nhưng được cái thức ăn vặt thì sẵn. Bác ở chơi đây, mai tôi xem nhà ai có mía to mua mấy cây về ướp hoa bưởi ăn thơm lắm.

Ðến một cái cổng gạch lớn có dây leo, anh Hoàng giật dây chuông.

Một thằng bé chạy ra, lễ phép chào:

- Lạy ông!

- Không dám. Cụ Phạm có nhà không cậu?

- Bẩm ông, cụ sang bên ông đốc.

- Sao thấy nói ông đốc ở đây chơi từ sáng?

- Bẩm không ạ! Sáng nay không thấy ông đốc sang chơi bên này.

Chúng tôi quay trở lại. Qua mấy cái ngõ ngoằn ngoèo khác, đến một cái cổng gạch có dây leo khác. Một chị vú ẵm em đứng cổng:

- Lạy ông! Lạy bà!

- Không dám. Ông đốc có nhà hay đi chơi vắng?

- Bẩm ông, ông đốc con sang cụ tuần.

- Sao bên cụ tuần bảo sang đây?

- Bẩm ông, không ạ!

Anh Hoàng quay ra. Ði được mấy bước, anh quay lại khẽ bảo vợ:

- Các bố lại tổ tôm. Mụ Yên Kỉ cũng không có nhà, phải không? Con mụ ấy cũng là đệ tử tổ tôm hạng nặng. Chắc họ tụ tập ở đây hay ở bên nhà cụ Phạm, sai người gác cổng.

Chị Hoàng không có ý kiến gì. Anh Hoàng vỗ vai bảo tôi:

- Anh nghĩ có buồn không? Tri thức thì thế đấy. Còn dân thì... như anh đã biết.

Tôi thầm rủa sự tình cờ sao lại xô đẩy anh về đây cùng với bằng ấy thứ cặn bã của giới thượng lưu trí thức. Sao anh không đi theo bộ đội, đi diễn kịch tuyên truyền nhập bọn với các đoàn văn hoá kháng chiến để được thấy những sinh viên, công chức sung vào vệ quốc quân, những bác sĩ sốt sắng làm việc trong các viện khảo cứu hay các viện quân y, những bạn văn nghệ sĩ của anh đang mê mải đi sâu vào quần chúng để học họ và dạy họ, đồng thời tìm những cảm hứng mới cho văn nghệ?

Tôi cười nhạt:

- Nghe anh nói, tôi nản quá. Như vậy cuộc kháng chiến của ta có lẽ đến hỏng à?

Anh chộp lấy câu của tôi, nhanh như một con mèo vồ con chuột:

- Ấy đấy, tôi bi lắm. Cứ quan sát kĩ thì rất nản. Nhưng tôi chưa nản có lẽ chỉ vì tôi tin vào Ông Cụ. Tôi cho rằng cuộc Cách mạng tháng Tám cũng như cuộc kháng chiến hiện nay chỉ ăn vì người lãnh đạo cừ. Hồ Chí Minh đáng lẽ phải cứu vãn một nước như thế nào kia, mới xứng tài. Phải cứu một nước như nước mình kể cũng khổ cho Ông Cụ lắm. Anh tính cường quốc là Ðại Pháp, mà chỉ có đến thằng Ðờ Gôn.

Tôi nhắc đến tên mấy nhân vật kháng chiến khác của Pháp, còn đáng tiêu biểu bằng mấy Ðờ Gôn. Anh lắc đầu:

- Bằng thế nào được Hồ Chí Minh!

Và anh tiếp:

- Ông Cụ làm những việc nó cừ quá, đến nỗi tôi cứ cho rằng dù dân mình có tồi đi nữa, Ông Cụ xoay quanh rồi cũng cứ độc lập như thường. Những cú như cú Hiệp định sơ bộ mồng 6 tháng 3 thì đến chính thằng Mĩ cũng phải lắc đầu: nó cho rằng không thể nào bịp Ông già nổi. Thằng Pháp thì nghĩa lí gì? Bệt lắm rồi. Không có thằng Mỹ xui thì làm gì Pháp dám trở mặt phản Hiệp định mồng 6 tháng 3? Mình cho nó như vậy đã là phúc đời nhà nó lắm rồi. Ðáng lẽ nó phải bám chằng chằng lấy chứ?


Tiêu đề: Đôi mắt
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Tám, 2010, 07:19:23 am
Buổi tối ăn khoai vùi xong, uống mấy tuần trà rồi đi nằm sớm. Anh sợ tôi đã đi hàng mười cây số, lại ngồi nói chuyện suốt từ lúc đến, chắc không thể ngồi được nữa. Vả lại tuy chưa buồn ngủ nhưng nằm đắp chăn cho ấm và buông màn cho khỏi muỗi thì vẫn tốt. Hai cái giường nhỏ kề song song, cách nhau có một lối đi nhỏ. Màn tuyn trắng toát. Chỉ trông cũng đã thấy thơm tho và thoải mái.

Hoàng với tôi đi nằm trước. Một gói thuốc lá thơm và một bao diêm đặt ở bên cạnh cái đĩa gạt tàn thuốc lá ở đầu giường. Tôi để nguyên cả quần áo tây và chỉ ngay ngáy lo đêm nay một vài chú rận có thể rời sơ mi tôi để du lịch ra cái chăn bông thoang thoảng nước hoa. Mọi hôm tôi vẫn đắp chăn chung với anh em thợ nhà in, cái giống kí sinh trùng hay phản chủ ấy, ở người tôi, không dám cam đoan là tuyệt nhiên không có.

Chị Hoàng thu dọn đồ đạc, đóng cửa, rồi đem một cây đèn to lại chỗ cây giường chúng tôi, lấy ra một cái chai. Anh Hoàng trông thấy, hỏi:

- Mình thắp đèn to đấy à?

- Vâng, tôi đổ thêm dầu đã.

Anh Hoàng hỏi tôi:

- Anh có thích đọc Tam Quốc không?

Tôi thú thật là chưa bao giờ được xem trọn bộ.

- Thế thì thật là đáng tiếc. Trong tất cả các tiểu thuyết Ðông Tây, có hai quyển tôi mê nhất là Tam Quốc và Ðông Chu Liệt Quốc. Về cái môn tiểu thuyết thì thằng Tàu nhất. Nhưng cũng chỉ có hai bộ ấy thôi. Thủy Hử cũng hay, nhưng kém Tam Quốc và Ðông Chu Liệt Quốc. Những tiểu thuyết khác hay đến đâu, anh cũng chỉ đọc một lần. Ðọc đến lần thứ hai là giảm thú rồi. Nhưng Tam Quốc với Ðông Chu thì đọc đi đọc lại mãi vẫn thấy thú như mới đọc.

- Anh có hai bộ ấy ở đây không?

- Bộ Ðông Chu mất ở Hà Nội, không đem đi được. Thế mới sầu đời chứ! Hận quá, may mà bộ Tam Quốc lại để ở ngoại thành, đem đi được. Nếu không thì buồn đến chết.

Anh gạt tàn thuốc lá rồi bảo tiếp:

- Sở dĩ lúc này tôi hỏi anh là có thích đọc Tam Quốc không là vì mỗi tối trước khi đi ngủ, chúng tôi có cái thú đọc một vài hồi Tam Quốc rồi mới ngủ. Nhưng hôm nay anh không biết có nên bỏ cái lệ ấy đi không? Nếu anh thích nói chuyện thì nghỉ một tối để chúng mình nói chuyện cũng chẳng sao.

Cố nhiên là tôi mời vợ chồng anh cứ giữ lệ thường. Anh có vẻ mừng rỡ lắm:

- Vâng, nếu anh cho phép thì ta cứ đọc. Chúng mình cùng nghe rồi lúc nào buồn ngủ thì ta ngủ. Tôi trông anh hơi mệt có lẽ cần ngủ sớm. Không biết đèn sáng lại đọc thế có phiền anh không?

Tôi cho anh biết là tôi vẫn ngủ ngay trong nhà in, đèn sáng và máy chạy ầm ầm, ở đây chăn ấm thế này thì dẫu súng có nổ ngay ở liền bên tôi vẫn ngủ ngon lành lắm... Anh cười cùng cục trong cổ như một con gà trống:

- Vâng thế thì ta cứ đọc. Mình lấy ra đi.

Chị Hoàng chạy lại buýp-phê lấy một quyển sách bìa dày, gáy da, đem lại.

- Mình đọc hay tôi đọc?

- Mình đọc đi.

Chị để cây đèn lên trên cái đôn thấp ở đầu giường, cởi áo dài lên giường nằm cạnh thằng con đã chui vào chăn trước.

- Hôm qua đọc đến đâu rồi nhỉ. Hình như...

- Không cần, mình đọc lại cái đoạn thằng Tào Tháo nó tán Quan Công ấy. Thế nào? Theo ý anh thì Tào Tháo có giỏi không?

Tôi trả lời qua loa cho xong chuyện:

- Tôi thấy nói là nó giỏi.

- Giỏi lắm anh ạ! Giỏi nhất Tam Quốc. Sao nó tài đến thế.

Chị Hoàng đã tìm thấy, bắt đầu cất tiếng thanh thanh đọc. Anh Hoàng vừa hút thuốc lá vừa nghe. Mỗi khi đọc đến đoạn hay anh lại vỗ đùi kêu:

- Tài thật! Tài thật! Tài đến thế là cùng! Tiên sư anh Tào Tháo.

1948
(In trong tập “Đôi mắt”)


Tiêu đề: Những bàn tay đẹp ấy
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Tám, 2010, 04:09:27 pm
NHỮNG BÀN TAY ĐẸP ẤY

Ba thằng nói láo, bảo rằng: “Phún có xấu và ế chồng, chiến đấu mới hăng!”. Tôi đã gặp một nữ du kích ấy rồi. tôi có thẻ nói ngay rằng: Những thằng nói thế là những thằng nói láo. Các chị không xấu. Cũng không ế muộn.

Chị tổ trưởng ngội nói chuyện với tôi, mới độ mười chín đôi mưoi. Chị đẹp như một cô gái Bắc Ninh. Khăn vuông mỏ quạ yếm trắng bong, áo nâu dài, hai vạt trước lỏng lẻo bắt tréo nhau,bên ngoài dải thắt lưng xanh, quần nái đen buông đến mắt cá chân. Đây là lúc nghỉ ngơi, không phải lúc đánh giặc các chị vẫn duyên dáng lắm. và cũng thùy mị nữa. Khuôn mặt trái xoan rất dịu dàng. Da nhỏ, mơn mởn trăng hồng. Mắt bồ câu. Miệng nhỏ xinh xinh. Mỗi khi cười, đôi má bầu bầu lúm đồng tiền. cô con gái nền nếp xứ quê này, mặc dầu cái mộc mạc nâu sồng, cũng khả dĩ làm nhiều chàng trai mơ nước. Tôi cũng không biết lúc xông vào trại giặc thì chị có dữ dội, ngổ ngáo không. Lúc này đây, chị cũng khép nép như bất cứ cô thôn nữ đẹp nào ngồi trước mặt đàn ông. Trong khi nói chuyện, đôi mắt chị luôn luôn nhìn xuống, đôi bàn tay trắng mịn, đặt trên đùi. Những ngón tay búp măng muồn muột chít vào nhau. Những bàn tay nhỏ nhắn này đã từng cầm súng bắn Tây, ném lựu đạn vào Tây, hoa đao lăn xả vào Tây, nó cũng không kém mềm mại chút nào. Trước kia, hẳn là nó dưa thoi rất nhẹ nhàng. Và ẵm em rất khéo.

Tôi nhìn những bàn tay xinh ấy. Những bàn tay rất mềm yếu, nhưng cũng biết rời mái tóc mềm như tơ của trẻ con, để cầm vũ khí giết quân thù, bảo vệ tấm thân trong trắng của mình và tương lai của những đứa con mình sẽ đẻ ra. Tôi thương hại cho biết mấy cái bày tay nam nhi tận đến lúc này mà vẫn chưa biết gì. Hay là chỉ biết chiều vuốt mái tóc buồn của người yêu, nhớ tiếc những chiều mông, nắm tay nhau đi trên đường Cổ Ngư hay trên bờ Hồ Hoàn Kiếm viền liễu rủ. Những bàn tay ủy mị! Chúng có còn nhiều nữa không, vào cái lúc hàng triệu thanh niên đang náo nức đầu quân vào toàn quốc phấn khởi đi như nước lũ làm lung lay những cái đầu thiếu lòng tin, đã có những bàn tay “mềm yếu” cương quyết cầm dao súng. Đâu có phải những bàn tay ấy không có mái đầu nào để vuốt ve? Đâu có phải những bàn tay ấy không biết làm món ăn ngon vừa miệng người chồng hay một cái áo xinh xinh cho đứa con mong đợi của vợ chồng.

Chị tổ trưởng du kích bảo tôi:

- Hai phần ba chúng em đã có chồng, một vài người đã có con.

Tôi băn khoăn không hiểu những đứa con ấy bây giờ ở với ai. Chúng nó có thấy thiếu mẹ lắm không? Và những người chồng có vui lòng thành thật khi thấy vợ vào du kích không?

Chị mỉm cười:

- Các anh ấy rất bằng lòng. Bởi vì các anh ấy cũng đi công tác cả. Hiểu nhau lắm.

- Còn các em?

- Anh không biết đấy thôi, chứ ở những vùng buôn bán không mấy khi chính người mẹ được nuôi con? Bán hàng cứ lần lượt đi hết chợ nọ đến chợ kia. Thường thường ở cữ xong độ một tháng hay hơn một tháng, chị em đã phải đem con gửi u nuôi để đi chợ. Các chị phu nữ nông dân cũng hẳng làm gì có thì giờ ôm ấp trẻ một ngày. Chị em chúng tôi người nào có con, đã có chị em nuôi giúp. Có thể nói rằng chúng nó được săn sóc chu đáo lắm. Chị em phụ nữ địa phương coi sóc chúng nó còn hơn chính con các chị. Chúng có nhiều mẹ lắm!

Chị cười hóm hỉnh. Đôi mắt đen lay láy rời đôi bàn tay đẹp để nhìn một chút, vẻ hơi chế nhạo:

- Ý các anh thế nào? Nếu các anh có con, các anh có thích để vợ đi công tác hay chỉ công tác ở nhà thôi?

Tôi chưa từng đặt với tôi câu hỏi ấy bao giờ. Bây giờ có người đột ngột đặt nó ra trước mặt tôi, tôi mới chợt nhận thấy rằng trong đầu óc dàn ông của tôi vẫn còn nhiều thành kiến với đàn bà lắm. Tại sao chúng ta lại cứ muốn giữ rịt phụ nữ ở nhà, cầm họ không được làm cái bổng phận công dân của họ trước khi họ muốn?

Tôi chợt nghĩ đến anh con trai cầu tự của một bà hiếm hoi kia. Bà không dám cho con ra tỉnh học, vì không dám xa con. Mặc dầu anh ta đã ngoài hai mươi, đã lấy vợ bảy năm rồi, đêm đêm bà vẫn thích nằm cùng giường với con, quạt cho nó. Kết quả của sự nâng niu ấy là mặc dầu đã lớn lộc ngộc rồi, anh vẫn chỉ là một đứa con bé bỏng thôi. Trong khi những đứa trẻ lên sáu đã biết tìm cái vui tập đoàn trong đoàn thể nhi đồng, anh ẫn chỉ ru rú ở nhà. Anh muốn vợ anh cũng ru rú ở nhà. Anh càu nhàu với vợ, khi tối tối chị vợ cắp sách đến lớp học bình dân. Anh ấm ức như bị hóc xương gà, khi thấy vợ vào phụ nữ. Không biết bao nhiêu năm rồi, người vợ đáng thương kia tủi vì chồng. Chị cứ đi học, cứ vào phụ nữ như tất cả các chị em. Chị tham gia công tác đoàn thể hăng hái lắm. Và từ ngày vào đoàn thể, chị cố nín nhịn mẹ chồng, cố nín nhịn chồng, cố làm công việc nhà gấp bội trước kia. Một chuyến địch tiến đến gần làng, mặc cho chồng run sợ cuống cuồng, chị đã nai nịt gọn ghẽ, xách mã tấu, đeo lựu đạn, theo anh chị em du kích đi phục kích.


Tiêu đề: Những bàn tay đẹp ấy
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Tám, 2010, 04:09:49 pm
Tôi thành thực nghĩ rằng trong một gia đình như gia đình ấy, nếu họ có con, có lẽ anh chồng nên yên phận ẵm con để cho chị vợ thay anh làm bổn phận công dân!... Vấn đề không phải là thích hay không thích. Vấn đề chính là cần hay không cần…

Chị nữ du kích ngồi trước mặt tôi vẫn mỉm cười. Bây giờ thì chị không e lệ một chút nào. Chị nhìn thẳng vào mặt tôi, chị bảo:

- Cần thì có lẽ chưa cần lắm. Phụ nữ còn khối việc làm ở hậu phương.

Nhưng chúng tôi khó chịu vì có những người đàn ông nhút nhát. Vả lại chúng tôi cũng muốn thử xem phụ nữ có thể đi đánh giặc được như đàn ông không?

- Chị thấy thế nào?

- Anh muốn sao?

- Tôi không biết các chị đi chiến đấu có thấy vất vả lắm không?

Đôi mắt chị lại cười. Chị tủm tỉm trả lời tòi:

- Chúng tôi không thấy vất vả bằng làm ruộng.

Người thiếu nữ này muốn nhạo báng tôi. Đôi bàn tay trắng muốt kia chưa từng quen với nắng tháng sáu đốt cánh dồng. Nhưng còn các chị đứng xung quanh. Trông chị nào cũng đen giòn. Các chị cho tôi biết bây giờ các chị vẫn làm ruộng như thường. Làm ruộng giúp đồng bào. Cả chị trắng trẻo đang ngồi tiếp chuyện tôi trước kia thật ra chỉ chăn tằm, dệt lụa ở nhà, cũng đã học chị em, hoạt động trong vùng địch mà không biết làm ruộng thì thiệt lắm.

Tôi muốn biết tình độ học thức của các chị thế nào.

- Phần nhiều kém…

Chị bảo tôi như vậy. Hầu hết các chị là con nhà nông, trước kia chưa bao giờ được học. Mới học từ sau hồi khởi nghĩa cả đó thôi. Có chị từ khi vào du kích mới bắt đầu. Lại có chị hiện giờ vẫn chưa đọc thạo. Tất cả đều lấy làm đau xót vì trình độ văn hóa quá thấp kém của mình và đang ráo riết học thêm. Cả đội, chỉ có một mình chị chính trị viên là đã học hai năm trung học…

Chị N. học trường Hà Nội trước, chắc anh có biết.

Chị bảo thêm như vậy. Làm như Hà Nội chỉ có một trường và có ở Hà Nội thì người ta phải biết tất cả những người Hà Nội khác! Nhưng dù sao thì cũng làm một điều rất lí thú đối với tôi. Một nữ sinh Hà Nội làm chính trị viên đội du kích phụ nữ này. Bây giờ lại có quyền đội trưởng chỉ huy cả về quân sự nữa. Mà xung trận rất gan, đánh rất hăng. Thì ra không phải chỉ phụ nữ nông dân đã quen với những công việc nặng nề mới có thể thành đội viên du kích…

- Các cụ ở nhà đối với việc các chị vào đội du kích như thế nào?

- Đều bằng lòng cả… Chúng tôi không nhận những chị không được gia đình ưng thuận.

- Nghĩa là vẫn có những cụ không ưng thuận?

- Tất nhiên là phải có. Các cụ lo con đua chị, đua em như vậy rồi thành ra lêu lổng. Nhưng chúng tôi giữ hết sức đúng đắn. Bây giơ thì hầu hết các cụ đã hiểu rồi. Một ngươi hư thì không phải đợi và du kích mới hư. Trái lại vào du kích, được rèn luyện theo kỉ luật, còn ngoan ra nhiều nữa. Vả lại, ở trong vùng địch, Tây khủng bố, phụ nữ muốn giữ thân cần biết quân sự. Có thể nói rằng phụ nữ trong vùng địch thích quân sự hơn chính trị.

Mấy hôm trước mấy anh cán bộ vùng địch cũng đã bảo tôi như vậy. Kể cũng là một điều đáng cho chúng ta suy nghĩ. Trong vùng địch phần lớn nam giới thích đi làm cán bộ; chị em phu nữ thì lại thích vào du kích; hơi nghe nói có lớp quân sự nào là các chị đòi đi học. Mà không phải chỉ học cho biết thôi đâu. Các chị thích đi đánh lắm. Bộ đội tới thường được các chị đem xôi chuối, quà bánh ủng hộ luôn. Ủng hộ để dược ngắm nghía khẩu súng cho đỡ thèm. Và để gạ: “Các anh cho chúng em đi đánh với”.


Tiêu đề: Những bàn tay đẹp ấy
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Tám, 2010, 04:10:19 pm
Người ta kể với tôi mẩu chuyện nhỏ, nhiều ý nghĩa. Hôm ây là một ngày kỉ niêm. Trong một gia đình có hai vợ chồng và một đứa con kia, cơm chiều xong, anh chồng chực ra đi. Chị vợ gọi giật lại hỏi:

- Đi đâu?

Anh chồng bảo:

- Đi có việc.

- Việc gì?

Trong vùng địch không bao giờ hỏi thế. Bởi vì việc ai người ấy biết thôi.

Nhưng dễ thường chị không có việc của chị sao?

Chị nằng nặc bảo anh:

- Việc gì cũng giữ em hộ tôi một lúc. Tôi phải đi đằng ngày một lát.

Anh chồng gắt:

- Đi đâu hãy để đấy đã. Người ta không đợi được. Việc cần.

Anh đi. Chị vợ đứng tần ngần… Chị em bây giờ chắc đã đến cả rồi. Họ đang đợi mình đây. Mình đã hứa chắc chắn kia mà!... Chị băn khoăn, nóng lòng nóng ruột lạ lùng. Y như là một tai nạn gì lớn sắp xảy ra. Nếu lỡ việc của chị em? Nếu vì mình mà chị em hỏng việc? Trong vùng địch một người hẹn đến mà không đến, đó là một việc gieo hoang mang vào đầu óc mọi người. Phải chẳng bị chộp giữa đường? Nhiều khi chỉ vì thế, mà cả một kế hoạch đã định, không dám đem thi hành nữa. Hôm nay là ngày kỉ niệm sinh nhật Hồ Chủ tịch. Để lỡ việc thì chị em trách chết! Chị “chặc lưỡi” một cái. Chị đem con sang bà hàng xóm gửi, nói là bà mẹ đẻ cho tìm đến ngay có việc. Chị đến chỗ hẹn với chị em. Vì dêm hôm ấy chị cùng chị em đi đột kích.

Ai khen? Ai trách? Tôi chỉ muốn tìm để hiểu. Cái gì đã thúc chị em trong vùng địch thích vào du kích? Một chút lãng mạn chăng? Hay là nỗi căm giận lũ giặc đi đến đâu cũng giở trò hãm hiếp? Thà chết còn hơn bị làm nhục. Và biết đâu không phải là lòng phẫn nộ đối với cái nhỏ nhen cái hèn hạ, cái bất công của những kẻ đàn ông phụ bạc, ruồng bỏ, hắt hủi những chị phụ mữ đáng thương và bị sa vào tay giặc? Hay là một lời thách thức nói với bên nam giới?

Dù sao, cuộc giải phóng dân tộc không thể bỏ qua một nửa lực lượng nhân dân, ở trong những bàn tay đẹp mà những người đàn ông ích kỉ, tưởng chỉ có thể dùng để làm bếp và giặt quần áo ở nhà? Và cuộc giải phóng phụ nữ phải do chính bàn tay phụ nữ săn sóc lấy. đấu tranh không làm mất vẻ dịu dàng. Đôi mắt nảy lửa phóng vào mặt lũ giặc mọi rợ, dâm cuồng vẫn biết tình tứ với chồng và âu yếu với con. Những bàn tay nữ du kích khi chịt cổ quân thì cứng cáp như kìm, nhưng khi nắm lấy cái bàn tay bé tí xíu và hồng hồng của đứa con yêu, vẫn êm đềm như bàn tay tất cả những bà mẹ trên dời. Người đàn bà bó chân của đất nước Trung Hoa phong kiến và những cô gái cầm cung trong cổ tích Việt Nam đã thành cổ tích rồi. Người đàn ông tự do và tự trọng không cần đến những nô lệ, những con hầu, những đồ chơi. Chúng ta vui sướng nhìn vẻ đẹp dũng mãnh của người nữ chiến sĩ điều khiến khẩu súng phóng lựu đạn trong trận đầu tiên đánh vào thị xã H.Đ.

Những bàn tay đẹp cầm súng chiến đấu cùng một lúc giải phóng cho dân tộc và giải phóng cho phụ nữ. Sự ấy không chướng mắt. Sự ấy đáng cho ta cảm phục.

(Trích ở tập tài liệu “Sức mạnh dân quân”
do nhà xuất bản Quân du kích
xuất bản năm 1948.


Tiêu đề: Trên những nẻo đường Việt Bắc
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Tám, 2010, 04:11:04 pm
TRÊN NHỮNG CON ĐƯỜNG VIỆT BẮC

Ông ké cầm tay tôi, tần ngần nhìn vào mặt tôi. Lối lịch sự Tây phương ấy không ngờ lại gặp đất ở đây. Vốn dĩ là đồng bào miền ngược rất thích tỏ tinh thần thân ái, lòng lưu luyến bằng cách nắm tay, bá vai một cách nhẹ nhàng, yêu yêu. Đúng như chúng ta xoa đầu vuốt tóc một đứa bé nhỏ, trong khi hỏi chuyện…

- Đồng chí đi, ké thương nhớ để đâu cho hết?

Những câu nói ấy rất thường ở trên này, nghe ra cũng bóng bảy như thế đấy. Ké còn nói rằng ké tiếc tôi như tiếc một con ba ba rơi xuống bể. Có lẽ ông già miền núi ấy suốt đời chưa trông thấy bể bao giờ. Lời ông thành thật hay khách sáo? Thì cũng có cả hai thứ ở trong. Người trên này cũng chẳng chất phác quá như người ta thường thích tả đâu. Cũng thích mua rẻ bán đắt, cũng thích có thể nào cho được thật nhiều lợi về mình. Cái đấy dẫu có làm cho ta đôi lúc phải bực mình nhưng ta cũng thừa hiểu rằng đó chỉ là thói thường của hầu hết mọi người trong cái xã hội có tục bán và mua. Cũng nhiều khi họ thiển cận hơn nhưng đó là tại trình độ hiểu biết và suy nghĩ kém miền xuôi. Nhưng được cái cũng yêu nước, cũng ghét Tây, cũng thích Cụ Hồ. Rất ghét Tây và rất thích Cụ Hồ. thế là đủ lắm rồi, chúng ta dễ nhiểu nhau, dễ yêu nhau lắm.

Vả lại gần gũi đồng bào trên này, tôi thấy rằng họ cũng dễ thân. Chúng tôi đến ở chỗ nào, chỉ vài tháng là đã quen cả bản rồi. Đám ma, đám cưới nào cũng có mặt chúng tôi. Các anh thanh niên đến xem báo, đọc sách nhờ, hoặc nói oang oang ở lán chúng tôi. Các ông già đến uống chè, nói chuyện trầm ngâm. Và các thiếu nữ, các lục sao má đỏ hây hây, thì đến xin ảnh Cụ Hồ hay xin bài hát. Mỗi khi phải rời một chỗ để đi chỗ khác bao giờ cũng có sự dùng dằng, quyến luyến.

Ông ké vẫn không chịu buông tay tôi ra, cứ nghẹo đầu ngoẹo cổ dặn mãi:

- Đồng chí đi mạnh khỏe chứ! Bao giờ đi công tác qua đồi, nhớ ghé vào chơi với ké nhé!

Ba, bốn lần như vậy rồi tôi mới rút tay ra được để đi. Chẳng biết ông già trỏ về có vương vấn gì không, nhưng riêng thôi cũng thấy bùi ngùi. Thì ra những người, vật ở đây với tôi đã như có một chút tình nghĩa gì rồi. Lúc đầu, chúng ta tưởng rằng chúng ta chỉ làm việc dân vận thôi: chúng ta cố gây cảm tình với đồng bào địa phương đối với chúng ta. Dần dần chính chúng ta sinh ra có cảm tình với họ, cái cảm tình ấy nó đến êm thấm quá đến nỗi chính chúng ta không biết nữa.

Từ khi xảy ra kháng chiến, có dịp thay đổi chỗ ở rất nhiều, tôi mới tìm ra điều này thật ấm lòng, là ở bất cứ chỗ nào trên đất nước Việt Nam, chúng ta đều có những người thân thuộc của chúng ta, chỉ chỉ tỏ cho họ biết chúng ta là những người thân thuộc họ, lòng yêu nước, lòng quý mến đồng bào, lòng xót xa đến những người cùng mục đích, cùng số phận với mình, hồi này mới được đồng bào ta ở khắp nơi tỏ ra một cách thật rõ rệt. Không đến chỗ nào chúng ta bị cái cảnh quê người đất khách. Trái lại, ở đâu ta cũng có cảm giác là ở một nơi thân thuộc.

Hồi tôi mới bước chân lên Việt Bắc, một anh bạn hỏi cảm tưởng đầu tiên của tôi khi tới miền rừng núi. Tôi nghĩ mãi chẳng thấy cảm tưởng gì. Tôi trả lời một câu có vẻ tuyên truyền:

- Tây không dời nào dám lên đây. Nó sẽ chết vì vấn đề tiếp tế.

Anh bạn không được thỏa. Anh nói rõ ý anh hơn:

- Tôi có ý muốn hỏi cảm giác riêng của anh kia. Anh thấy thế nào? Khi qua các núi rừng, có thấy rợn không?

A! Rợn thì không rợn tí nào, tôi chỉ thấy thú như một người đi ngắm cảnh. Con đường tôi đi cũng tấp nập in như một con đường ở dưới xuôi. Và khi đi sâu vào những con đường nhỏ, vượt qua núi hoặc xuyên rừng, tôi cũng chỉ coi như qua đồng vắng… chỉ có giống vắt là làm tôi hơi khó chịu.

Anh bạn tôi cười khẽ một tiếng rồi lại hỏi:

- Trước đây, anh đã lên Việt Bắc lần nào chưa?

- Tôi lên lần này là lần thứ nhất.

- Thế thì anh không nhận thấy sự thay đổi đấy. Ngày xưa, nghe nói đến mạn ngược là đã thấy một cái gí bí mật, ghê gớm. Thổ, Mán, Mèo là những giống người gì khác hẳn chúng ta khiến chúng ta ghê gớm, sờ sợ. Một phần nữa, các con đường mà anh thấy tấp nập bây giờ, ngày xưa vắng ngắt. Năm chừng mười họa mới có người đi bộ. Thành thử ngày xưa đi qua các con đường mạn ngược, rợn lắm.

Đúng như thế thật. Cuộc cách mạng đã đổi hẳn bộ mặt xứ này đi. Đổi cả những con người. Con người mới, tin tưởng ở chính quyền nước mình, tin tưởng ở chính mình và những người sống quanh mình, mất hết cả tính e dè sợ sệt. Anh ta không còn sợ núi rừng. Tỉnh thành đã trà trộn với thôn quê và miền xuôi đã hòa lẫn cùng miền ngược. Vấn đóng khung trong nhưng biên giới cũ, lãnh thổ Việt Nam có vẻ như đã mở rộng. Trước mắt chúng ta cả một vùng rừng núi mênh mông, không còn là chỗ ma thiêng nước độc, bất khả xâm phạm nư xưa, mà là một miền rộng rãi có rất nhiều khả năng khai thác. Những nhà máy sau này sẽ mọc lên rất nhiều ở trên này, bên cạnh những thác nước dùng làm động lực. Những đồn điền chăn nuôi sẽ lớn lập nên cùng với các nông trường. Đèn điện sẽ sáng trưng. Bệnh sốt rét sĩ hết chỗ nương thân. Hà Nội sẽ lên đây nghỉ hè. Những thanh niên nam nữ Thổ, Mán, Mèo về học trường đại học ở thủ đô. Không còn phân biệt miền ngược với miền xuôi, cũng như sẽ hết sự ngăn cách giữa thôn quê và thành thị. Những ngày kiến thiết sau này vui biết mấy…

Ra gần đến bờ suối, tôi gặp chị Quyên. Chị đem gạo ra đổ vào cái cối nước về. Hôm qua tôi đã đến chào những “người già” nhà chị, nên vừa trông thấy to, chị hỏi ngay bằng tiếng Kinh rất sõi:

- Anh Tâm về xuôi hả?

- Vâng, chào chị nhé!

- Chào anh Tâm. Anh Tâm đi mạnh khỏe nớ. Anh Tâm về xuôi có nhớ chị Tình không?

Chị cười tít mắt. Hai má bầu và trắng hồn của chị lúm xuống hai lỗ đồng tiền nhỏ tí. Tôi cười, trả lời lại bằng tiếng Thổ:

- Xuống chứ lai! Xuống chứ nhình Quyên lai (Thương nhớ lắm. Thương nhớ chị Quyên lắm).

Má chị đỏ thêm. Đôi mắt long lanh chị nhình tôi:

- Không nhớ tôi tôi đâu! Thương nhớ vợ anh Tâm ấy.

Chị lại cười đột ngột:

- Thôi anh Tâm đi nớ, mạnh khỏe nớ! Chúc công tác thắng lợi nớ!

Chị lướt qua tôi và soàn soạt vạt áo chàm, thoăn thắt đi về bản. Hồn nhiên như vậy đấy. Các cô nói chuyện tình tứ rất tự nhiên. Nói một cách vui vẻ thắng thắn thế đấy. Có vẻ chỉ nửa giờ sau là chị Quyên đã quên rồi.

Cũng chẳng làm sao cả. Nhưng tôi cúi đầu vơ vẩn một mình, thích nghĩ rằng đi khỏi mấy bước rồi chị còn ngoảnh mặt lại nhìn tôi. Để cho đời đẹp thêm một chút. Cũng chẳng làm sao cả!...


Tiêu đề: Trên những nẻo đường Việt Bắc
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Tám, 2010, 04:11:50 pm
*
*   *

Qua một cái dốc đi một mạch hết vừa đúng ba giờ, trong lúc đó mỗi bước nặng của ta cứ như ghì ta xuống. Tôi đến một làng mán bám cheo leo vao lưng chừng một quả núi cao. Cả làng vẻn vẹn có ba nhà, xếp bậc lên nhau. Nhà rất sơ sài, từ vách đến mái, toàn tre nứa. Cột kèo ở trong là những cây gỗ để nguyên cả vỏ. Không có một cái lỗ đục, một con xỏ vì dụng cụ độc nhất của người Mán là con dao rừng mà đi đâu anh ta cũng đeo lủng lẳng ở sau lưng. Tre gỗ buộc vào với nhau bàng những sợ dây leo. Cái lò bếp nấu “ruốc mu” (thức ăn của lợn) với cái chảo to tướng ở trên lù lù ngay ở giữa nhà. Ở đây người và vật sống gần gũi và bình đẳng lắm.

Nhưng hôm nay, người vật đi làm cả. Nhà cửa vắng teo. Người Mán ở tân đậy, đúng như một cái tổ chim giữa rừng sâu trên gần đỉnh núi cao, vẫn còn thấy chỗ của mình trống trải và vẫn còn thấy cần phải làm vườn không nhà trống, đem hết trâu, bò, gà, lợn, ngô, thóc, gạo, muối và người già con trẻ vào cơ quan bí mật ở một chỗ mà trừ họ ra khó có ai biết và tới được. Có khi rồi họ bỏ hẳn chỗ nhà cũ, chẳng cần nữa. Ở rừng, tre gỗ sẵn. Làm nhà mới lúc nào cũng được và chẳng tốn kém gì. Vì thế người Mán rời chỗ ở, rời một chỗ đất hết màu hay một chỗ mà họ cho là chẳng dược lành hoặc có nhiều ngươi qua lại quá, dễ dàng như một người đi đường rời quán trọ. Phong tục du mục vẫn còn vương lại đôi chút trong tâm tính họ.

Tôi đứng lại trước cái làng bé con kia, thở những hơi dài cho đỡ mệt. Vi cố gắng đi một mạch, mắt tôi hơi hoa lên một chút. Áo đẫm mồ hôi. Cổ thì khô cháy. Không thể vào nhà xin nước uống, tôi nhặt những quả trám trắng rụng nhan nhản ở dưới chân ăn. Trám trắng chan chát, lờ lợ, chẳng lấy gì làm ngon lắm, nhưng nuốt xong, còn chút gì ngọt lững lờ trong cổ. Cũng làm một cách cho đỡ khát.

Anh em Mán thường bảo tôi rằng: chỗ nào có nhiều quả trám thì gấu thường hay đến. Tôi đứng đấy có một mình. Tôi nhớ đến một anh Mán bị gấu vồ nát cả mặt và cổ vai ra. Nhưng ở rừng đã nhiều, chính mắt tôi chưa trông thấy gấu bao giờ. Người bị gấu vồ, tôi cũng mới chỉ trông thấy có một anh Mán ấy thôi. Vì thế, tôi vẫn cho rằng việc bị thú dữ vồ ở rừng chẳng qua cũng chỉ như một việc bị ô tô đè ở những thành phố náo nhiệt như Hà Nội, Sài Gòn. Tất nhiên là cũng có thể xảy ra luôn. Nhưng không phải vì thế mà động ra đường là người ta nơm nớp. Cảnh hoang vắng lúc này không gợi cho tôi một tí thấp thỏm nào.

Bên dưới tôi một suối nước chảy xiết đổ ào ào. Cái thứ tiếng dông bão ấy dâng lên tận chỗ tôi và tỏa rộng ra làm một cái nền hơi sẫm tôi cho những tiếng chim lảnh lảnh, vui và sáng. Trước mắt tôi là những ngọn núi trọc hoặc um tùm, ấy là trăm ngọn núi khác, lớp lớp, nhấp nhô, hòa hợp với trời xanh như những đợt sóng xanh lơ vô cùng tận. Đó đây một vài điểm mây trắng lởn vởn, là bọt sóng. Không khí trong nhưng dịu. Nắng rất êm. Một ngày xuân đẹp như hôm nay kể cũng là một sự hiếm có ở miền rừng, nơi mà mùa xuân chỉ là một chuỗi dài những ngày mưa xám xịt và bẩn thỉu. Xuân ở đây là mùa của vắt.

Rừng mênh mông. Rừng hỗn độn. Rừng lại rừng, tiếp giáp nhau, trà trộn lên nhau, chồng chất lên nhau. Núi trùng trùng điệp điệp, hết núi này sang núi khác, vô cùng tận. Rừng núi không có đường đi, nhưng lại có hàng vạn lối đi. Thằng Tây liều mạng nhảy dù xuống mấy điểm chính ở Việt Bắc, tưởng làm bế tắc được chúng ta. Nhưng chúng ta vẫn đi lại, chuyên chở được như tường. Sự chật vật, khó khăn đối với chúng ta chẳng nghĩa lí gì. Một dòng máu lạnh có những cách lưu thông rất lạ lùng, lưu thông mà bất cần đến những mạch máu thường ngày, mặc kệ những bế tắc ở đoạn này hay đoạn khác, nó khơi ra hàng trăm đường máu khác.

Thử để ý mà xem! Có phải từ ngày chúng ta bắt đầu phá đường thì những con đường của ta mới bắt đầu thật là tấp nập không? Nghĩ một tí thì thú vị lạ lùng! Trước đây, đường nhựa, đường đá thênh thang, xe lửa, ô tô sẵn, những phương tiện xê dịch có thiếu gì đâu, mà cuộc đời của chúng ta ngừng trệ biết bao! Kiếp sống tu hãm thật là thảm hại. từ ngày phá đường, hết tàu xe đến nay thì cả một dân tộc lên đường. Cuộc sống lưu thông. Toi không ghét gì bằng thi vị hóa cuộc đời. Nhưng thật tình từ hồi kháng chiến, mặc dầu những tàn phá, chết chóc chia lìa cưc kì đau đớn, bộ mặt nước mình vẫn có vẻ tươi trẻ, vui mạnh hơn lên. Chỉ cần bước ra đường là đủ biết.

Đường phá, đường tắc nghẽn, nhưng dòng người thì vẫn chảy như thường, chảy lưu loát, mạnh mẽ, chưa bao giờ mạnh mẽ và lưu loát thế. Thì ra máu chúng ta ngừng trệ ngày xưa, không phải vì mạch máu, mà chỉ vì những kí sinh trùng. Mạch máu nước ta, những con đường thời kháng chiến này bị cào cắt đứt lung tung, nhưng máu lành mạnh vẫn chảy như thường, huyết mạch vẫn lưu thông. Chỉ phiền cho những kí sinh trùng, những sinh vật phá hoại chở bệnh tật bằng xe tăng. Chúng nó bị những mạch máu kháng chiến của ta đọng lại.


Tiêu đề: Trên những nẻo đường Việt Bắc
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Tám, 2010, 04:12:15 pm
Rồi đây rút lui khỏi Việt Bắc, có nơi chúng phải đốt hàng chục xe hơi, chôn hàng tấn đạn dược và đồ hộp, vì không có đường về. Chúng nó chỉ ỷ vào sức mạnh của máy móc tối tân. Nhưng khi ta đã làm cho máy móc tối tân của chúng nó hết là sức mạnh thì chúng nó còn gì? Một lũ người buồn nản, sợ sệt, cáu kỉnh, mất tinh thần, lúc nào cũng kêu ca càng ngày càng sốt ruột.

Người mình thì kiên nhẫn. Cái nghị lực của dân tộc ta là một thứ nghị lực bình tĩnh, lặng lẽ, tiềm tàng. Nó không nổ tung ra một cách ầm ĩ như trái phá, cốt mình. Nó không chuyển đất rung trời như núi lửa. Nó là dòng sông cần cù, đêm ngày mài giũa đôi bờ để tạo cho mình một con đường rộng mãi ra, đêm ngày bồi đắp những cành bãi phì nhiêu và ngày càng bát ngát. Nó biểu lộ ra ngoài một cách giản dị thản nhiên, gần như không tự biết.

Ai đi lại nhiều trên những con đường Việt Bắc những con đường vượt núi, xuyên rừng, luồn khe, lội suối, lên xuống hàng trăm cái dốc, mũi chạm đất và chân cứ sắp khô thì lại được đầm xuống nước - ai đã từng đi lại nhiều như vậy, đều phải ngạc nhiên về cái tài chịu đựng của dân mình và sự cố gắng của dân mình để vượt những khó đối vói chúng ta. Cái gì cần làm, cái gì muốn làm, chúng ta đều cho là làm được, và cố gắng làm cho bằng được.

Tây vừa nhảy dù hôm trước thì hôm sau, những xưởng máy hàng ba bốn trăm người làm đã biến dần dần từng bộ phận của nó, bắt đầu là những bộ phận quan trọng nhất. Anh em công nhân xuất lực gấp bốn ngày ngày thường để tháo, chuyển và chôn giấu. Họ quần quật suốt ngày đêm, ăn vội vàng, ngủ qua loa, bỏ cả đánh răng rửa mặt. Chỉ mấy hôm sau là ngay đến cái xác nhà cũng không còn. Các nhà máy đã ra đi, không để lại một vết tích gi đặc biệt. Cả một cái nhà máy lên đường. Nó tự phân nó ra thành từng phần nhỏ, vượt hàng trăm cây số núi rừng để đi nơi khác.

Việc chuyển đi thật là nặng nhọc, công phu. Gang sắt thì khiêng ngay trên một con đường rộng rãi, bằng phẳng cũng đủ nhức vai, sụn xương sống lưng rồi. Đắng này không có đường đi. Toàn là những lối nhỏ, lầy lội và lắm vắt, những dốc gần dựng đứng, những khe suối lởm chởm đá tai mèo, hết lên thì lại xuống, hết trèo thì lại lội. Có những cái dốc khổ sở, chỉ một người với một cái ba lô cũng đã phải đu vào từng cái cây để kéo người lên. Làm thế nào mà khiêng được ở những chỗ như thế này? Đứng vào đâu mà khiêng, nếu mà tuột chân hay tuột tay một cái thì tránh sao khỏi bị gang sắt đè giập xương hay gãy cẳng? Người ta phải dịch đi từng bước một, vưa dịch vừa chèn, vừa dùng xẻng cuốc đào bực để dịch thêm bước nữa. Phải đến bốn năm người phục dịch cho một bộ máy chỉ nặng chừng nửa tạ. Nếu nặng hơn thì lại càng nhiều sự vất vả.

Ấy thế mà người ta cứ nhất định tha đi cho bằng được, tha đến hết. Đúng là một đàn kiến tha mồi, đánh vật với mồi. Hàng mấy chuc tấn sát đã qua đoạn đường này và đã vượt hàng trăm cây số. Và chỉ chừng một tháng sau, cái nhà máy của chúng ta đã tái sinh ở một chỗ khác chắc chắn hơn, ung dung sản xuất những thức cần thiết cho kháng chiến.

Như vậy đấy, thằng Tây đấm chúng mình cứ như đấm bị, đau tay mà chẳng được tích sự gì. Đấm vào chỗ này thì sức mạnh của chúng ta lại bật ra chỗ kia. Chẳng có cái gì gãy nát, chỉ tay chúng sứt thêm một chút, hay là thêm rất nhiều.

Tôi nghĩ đến những đô thị mới của chúng ta. Những đô thị nhỏ tí nhưng cũng khá sầm uất tươi vui. Chúng nó mọc lên một cách rất tự nhiên. Mới đầu là một vài hàng cơm, để tiện cho khác qua đường. Rồi thì hàng cà phê, hàng tạp hóa ũng đến bâu vào. Hiện nay, hiệu giày cũng hiện ra. Các căn nhà lá cứ làm thêm, nói vứ dài thêm. Thấy đồn chỗ ấy vui, những người tản cư kéo đến,góp thêm vào chỗ ngồi hàng và những khách qua đường cố thu xếp độ đường, để có thể ngừng một đêm ở đây, hướng cái thú đông người một tí. Đôi lúc cũng phải như vậy chứ! Cân não người ta cứ căng thẳng mãi thì chịu làm sao được? Một cốc cà phê, một điều thuốc lá, một căn phòng sáng sủa và tấp nập, cô bán hàng vui vẻ và mau mồm miệng, những cái ấy kể thì chẳng có cũng chẳng chết ai, nhưng lâu lắm được sống trong cái không khí ấy một vài giờ cũng làm cho đời thêm vị lên nhiều lắm. Kháng chiến thì kháng chiến. Người ta vẫn phải giải trí, vui vẻ. Có điều cũng đừng vô ý thức.

Có những thức quyến rũ nó giống như thuốc phiện, làm sức người ta phải hao mòn. Bởi vậy, thà nhạt miệng một tí còn hơn là nhấp những chất độc nồng thơm, nhưng giết chết người. Rượu của Tây, thuốc lá của Tây, xa xỉ phẩm ủa Tây chúng ta thèm chết thì thôi nhất định không để những thức ấy giết chúng ta. Một cố cà phê đường hoa mai, một điếu thuốc lá sứng bò cũng khả dĩ làm cho ta vui chốc lát. Lúc này đừng khó tính.

Có những cái ấy nếu người ta cắt ngọn nó đi, nó sẽ mọc lên rất nhiều cành.

Nếu người ta cắt một cái cành của nó đi, nó sẽ mọc mười cái cành khác. Sức sống mạnh mẽ, cần có để vọt ra. Một đô thị cũ của chúng ta bị phá hủy hay bị thối, hàng chục mầm đô thị khác mọc ra. Sức sống quá dồi dào, không bao giờ chịu để vùi giập cả. Tôi có thể đoán trước một số những mầm độ thị mới mọc hiện nay sẽ thành những đô thị lớn ngày mai. Ngay trong cảnh tàn phá chiến tranh, ngay trong cơn rung chuyển bão táp những mầm non đã nhú, bộ mặt của Việt Nam tương lai đã lờ mờ hiện.

1948


Tiêu đề: Từ ngược về xuôi
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Tám, 2010, 09:17:32 am
TỪ NGƯỢC VỀ XUÔI

Việt Bắc nhiều rừng núi. Núi rừng Việt Bắc kín đáo và hiểm trở. Tôi đã sống ở đây hơn một năm, chắc chắn và yên ổn quá.

Tôi rời rừng cây Việt Bắc để trở về rừng người ở miền xuôi. Rừng người ấm áp biết bao!

Người miền xuôi mở to đội mắt ngạc nhiên và cảm phục khi nghe tôi nói chuyện về cuộc đời Việt Bắc của tôi. Người miền xuôi rất sợ cái bí mật của của rừng sâu. Sợ từ con chim lợn trở đi. Tôi đã ở toàn rừng. Chúng tôi chỉ còn biết có rừng. Những cánh đồng phẳng, những bãi dâu xanh, những con đường có xe chạy là những kỉ niệm kiếp trước, còn sót lại trong tiềm thức.

Đồng bào Mán thích ở cao. Cón lần tôi ở một chỗ cao hơn họ. Một cái lều không cửa, chơ vơ trên đỉnh núi. Nhưng ngọn núi tôi ở còn phải tựa vào một quả núi khác, cao hơn. Và ở cao hơn chúng tôi, là một anh chàng gấu. Ban đêm, khi anh Thọ họa sĩ và tôi vào màn nằm hút một thứ thuốc lá Mán tẩm mật ông rất đậm vị, nhìn đống lửa to bằng nửa cái nhà tí hon của chúng tôi, thì chú gấu len lén đi ở bên ngoài vào, xuống rẫy để ăn trộm bắp. Gấu chưa vồ chúng tôi lần nào cả. Người Mán đã bẫy được gấu một lần, người Mán cho chúng tôi ăn thịt gấu. Chúng tôi không sợ gấu.

Một hôm, tôi rất ham đọc những truyện đường rừng của Lan Khai. Bây giờ tôi tôi thấy rừng Lan Khai mới chỉ đứng ở ven rừng để nhìn vào. Nhà văn đoán ra dủ điều rùng rợn ở bên trong. Nhưng nhà văn lại đoán nhầm. Người đã sống ở giữa rừng - giữa rừng đại ngàn của những đội giải phóng quân đã đánh các đồn Phay Khắt, Nà Ngần… - người ấy chỉ thấy rừng rất bình thường. Cũng chẳng có gì ghê gớm.

Khi chưa biết được rừng, tôi cũng tưởng rằng rừng ghê gớm lắm. Tôi từ biệt vợ con ra đi, như làm một việc hi sinh. Bạn bè tôi ái ngại nhìn tôi. Họ cười buồn, bảo tôi rằng: “Anh sẽ không phải sốt đến hai cơn”. Tôi đã sốt đúng hai cơn. Nhẹ nhàng tôi. Trước sau, vừa đúng một năm hai tháng mười một ngày, mới phải tiêm có hai ống kí ninh.

Các bạn cũ của tôi lạ lắm. Vợ con tôi đã khóc nức nở khi đột nhiên thấy tôi về. Người đàn bà ấy mới khóc có một lần, vào độ chết một đứa con. Tôi mỉm cười, nhìn tất cả những cái ngây thơ của người miền xuôi, nghĩ đến núi rừng. Người miền xuôi vẫn không dám tin tôi. Nhưng sự thực trờ trờ là tôi vẫn sống mà về được đến đây. Có đen đi, có già đi, nhưng lại rắn rỏi hơn. Giao nước cũng chẳng sốt siếc gì.Cái thân thể cò hương, cái tâm hồn chỉ có một chiều u ám cũng đủ làm rủ hết, không ngờ lại có sức chống chọi ngang bướng ấy. Họ cho là ngang bướng lắm.

Riêng tôi, về giữa họ, tôi thấy tôi là một thằng nhút nhát. Và lạc hậu. Đồng bào miền xuôi đã đi sâu vào kháng chiến. Tàu bay, tiếng súng, giặc cướp làng, ở một vài vùng đã thành chuyện hằng ngày. Họ đã quen. Cũng như ở miền rừng núi, người ta đã quen với ve, với vắt.

Tôi đã cười rất nhiều một anh bạn mới ở xuôi lên. Lúc nào làm gì, đi đâu cũng sợ hổ vồ. Ban đêm, người anh vẫn giật mình mỗi khi nghe tiếng sột soạt ở những bụi cây quanh nhà. Dường như anh cứ đinh ninh rằng: nếu hổ nó bỗng thấy hứng muốn chộp một người để điểm tâm, thì nhất định nó phải soi đèn tìm đến xác anh để mà vồ, chứ không chịu vồ người khác!

Tôi đã bị anh em cười lại còn dữ hơn tôi đã cười anh bạn. Mới về đến Sơn, tôi đã hỏi người ta đủ thứ: Đêm ngủ ở đây có được không? Chúng nó tiến thế nào? Nếu gặp chúng nó thì nên hạy như thế nào? Nên đi bộ hay đi đò? Đi đêm hay đi ngày?...

Ngờ nghệch! Muốn yên lòng, tôi chỉ việc nhìn ra chung quanh một tí. Cánh đồng rất thái bình. Lúa xanh rờn, lúa có đòng đòng xen lẫn với những mảng lúa đã hoe vàng hay đã chín hẳn, bông nặng trĩu. Đã lác đác có người đi gặt. Họ nói rằng: đáng lẽ lúa năm nay tốt lắm; mấy cơn bão có hại ít nhiều; nhưng tình hình thóc gạo không có gì đáng lo ngại.

Người đi buôn ồn ào trong các chợ, tấp nập trên các con đường, tươi cười trong quán nước, hàng cơm. Phần nhiều là những người đầu đội vai mang, đổ hàng suối mồ hôi để cho hàng hóa đất nước được lưu thông. Có những người chỉ khoác một cái bị con con hay xách một cái túi nhỏ xinh xinh. Đó chính là hạng buôn to. Họ cũng mặc quần áo vải nâu hoặc đen, nhưng lối may đỏm dáng hoặc “du”. Nói năng thì thầm, dùng nhiều tiếng lóng, mà mặt múi thì láu lỉnh. Tiêu xài lớn. Nhưng thời kiếm mỗi chuyến hàng vạn bạc đã qua rồi. Họ ghét công an lắm. Các bố ấy bây giờ hắc tợn! Nhiều tay chợ đen lão luyện đã nghĩ đến sự bỏ cái nghề hại nước hại dân ấy, để tìm nghề khác.

Tàu bay sục suốt ngày. Chúng nó bắn gì mà bắn luôn luôn, có lúc, trút luôn hàng chục quả bom. Một lúc, một chiếc lượn vèo vèo ở chỗ tôi. Tôi tưởng nó bắn ngay trên nóc nhà tôi trọ. Môt lát sau, hỏi ra mới biết là nó bắn sông. Có gì đâu? Một chiếc thuyền nhỏ chở chuối qua sông trên chỉ có hai người. Hai người nhảy cả xuống sông. Một người bám lấy một sợi dây buộc vào thuyền, cứ chạy quanh cái thuyền để tránh làn đạn của máy bay. Nước bắn tóe lên ở chung quanh. Nhưng họ không chết. Thuyền cũng không trúng đạn.

Trong khi ấy, ở cánh đồng vẫn gặt. Người đi đường vẫn cứ đi. Ông giáo ở trường bên đọc chính tả vẫn choang choang. Thằng bé ẵm em ngồi ở võng bảo tôi:

- Pi-phia, anh ạ!

Lúc sáng ngày nó bảo:

- Bố già!

Nó phân biệt tiếng động cơ máy bay giỏi thật!


Tiêu đề: Từ ngược về xuôi
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Tám, 2010, 09:18:38 am
Ngay sau đấy, một anh tuyên truyền xã vác loa mời mọi người đi đự một cuộc mít tinh tuyên bố kết quả ba tháng thi đua. Tối nay, có diễn kịch ở thôn trên. Tiêng trống ếch và tiếng hát của đoàn thiếu nhi thúc giục mọi người. Đàn ông, đàn bà, phụ lão, thanh niên ơi ới gọi nhau, kéo nhau đi. Ông cụ chủ nhà mải đập lúa không đi được, luôn miệng xin lỗi các cụ đi qua ngõ:

- Đón các cụ đi thôi. Nhà cháu dở nắm lúa, làm cho xong phơi phóng, còn cất giấu đi. Ta cái gì cũng cận thẩn là hơn. Đề phòng nó tấn công. Nhà cháu xin khất các cụ để lần sau…

Bà cụ đứng vò lúa ở gốc cau, cũng phàn nàn:

- Trông thấy cảnh các cụ, lại nghĩ đến cảnh nhà cháu mà buồn!

Bà cụ buồn chi! Hình như đôi vợ chồng giá ấy cho cái sự mình bận việc nhà bỏ việc công là đáng lấy làm xấu hổ. Họ phân trần mãi với tôi. Họ bảo nhau: “Tăng gia sản xuất cũng là giúp nước”.

Tối hôm sau, chúng tôi vào nhà ngủ nhờ một làng đã bị địch cướp phá nhiều lần. Mấy hôm nay báo động luôn. Tôi vẫn tưởng người ta sống ở đây lặng tiếng im hơi như ở các làng gần vị trí địch, khi địch mới tràn ra. Nhưng người ta chỉ xem những mảnh lúa nào gặt được thì gặt gấp thôi. Vào một nhà, thấy thóc lúa đầy sân. Người đập lúa, giũ lúa, tới tấp dưới trăng. Con gái, con trai. Những bó lúa quật xuống cối đá thình thịch. Lúa băn tóe, rào rào. Tiếng cười ròn. Chỉ nghe tiếng cười cũng đoán ra được những cặp má đầy căng lúm đồng tiền và những con mắt long lanh. Bỗng nhiên, chó sủa ran. Những tiếng gắt gỏng gọi nhau. Một anh con trai quăng cái néo xuống sân, lững thững vào nhà. Anh hút một điếu thuốc lào, hỏi chuyện tôi một vài câu có tính cách xã giao. Rồi anh lùi lại gian bên, trật khăn vải bịt đầu, giũ sạch những hạt thóc ở đó đi, dùng nó phủi quần, phủi áo. Du kích đang gọi nhau đi họp. Anh đi họp.

Cuộc đời bình thưởng. Ở những vùng như vùng này, súng nổ là chuyện bình thường. Súng không nổ, đó mới là bất thường. Những hôm ấy, ngươi ta bảo: “Hôm nay, chưa thấy súng”. Nhưng đừng tưởng sống như vậy, người ta chỉ còn nhgĩ đến một việc là đối phó với tiếng súng thôi đâu! Ông cụ chủ nhà vừa cưới vợ cho thằng con trai thứ hai, tốn hơn một vạn đồng. Tôi rất gạc nhiên. Tiêu hơn một vạn đồng vào việc cưới lúc này? Một đám cưới nhà quê?...

- Thưa ông, ăn uống đã tinh giảm đi nhiêu rồi đấy ạ! Nhà cháu có dám bày vẽ gì đâu. Nhưng chết cái may mặc bây giờ đắt quá.

Ông phân trần như vậy. Ngoài đường bây giờ hiếm họa lắm mới gặp một cái áo dai. Nhưng vẫn còn có những cô dâu, lức sắp về nhà chồng, đòi cho được có đủ áo đơn, áo kép, khuyên vàng, xà tích.

Tảng sáng hôm qua, chúng tôi ra đi được mấy bước thì có tiếng súng máy nổ ran. Giặc đánh vào cá làng lúc tang tảng sáng. Cũng chẳng sao. Một người đàn bà gánh nặng, từ một cái ngõ tối ra, đặt gánh nhìn ra phía sau lưng một chút rồi lại đi, cái đòn gánh kĩu kịt trên vai. Chúng tôi đi theo chị. Thanh niên một làng đang tập thể thao. Họ chỉ mặc mỗi người một cái quần đùi. Võ khí đặt sẵn trên bờ ruộng.

Súng nổ mỗi lúc một xô xát thêm. Tôi có cảm giác như không phải vì nó gần thêm, nhưng trời càng sáng thêm làm ngươi ta nghe càng rõ. Là vì đường càng sáng thì lại càng đông người qua lại. Người đàn bà chúng tôi theo đã nhập vào một chuỗi đàn bà, con gái gồng gánh khác. Họ chuyện giòn, cười cũng rất giòn. Chuyện chạy Tây, vừa kể vừa cười. Ngày xưa họ kể chuyện nhà cửa, chuyện chồng đánh bạc, chuyện nàng dâu, chuyện mẹ chồng. Bây giờ họ nói chuyện đánh giặc và đi học.

Mặt trời đã nhô lên, nắng buổi sáng xiên chênh chếch. Súng càng dữ dội. giặc đuổi thế hay sao mà chúng nó bắn rất nhiều súng lớn. Mỗi tiếng súng, người ta kêu; “Đấy đấy!”. Nhưng người ta vẫn bước đến. Người ta mải chuyện vẫn chuyện đều. Những cái gánh vẫn nhấp nhô nhấp nhỉnh theo nhịp bước chân thoăn thoắt.


Tiêu đề: Từ ngược về xuôi
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Tám, 2010, 09:19:33 am
Chúng tôi ngừng lại ở một cái chợ nhỏ họp ngay trên đường để ăn cơm.tôi hỏi bà hàng:

- Cụ có biết tiếng súng ở đâu không?

- ở T.

- T. ở mạn nào, chụ nhỉ?

- Ở ngay trước mặt này. Cứ đi thẳng con đường này, sáu cây số.

Tôi sửng sốt:

- Cách có sáu cây số thôi à? Ta có đánh chặn không?

- Nếu ta không đánh, nó đến đây từ bao giờ rồi.

- Thế cụ không chạy à?

- Nó đã đến được đâu mà chạy? Nhiều khi chúng nó đến tận nơi chúng tôi mới chạy.

- Chạy lối nào?

- Tùy đấy. Nó ở đầu kia lại thì chạy đầu này. Nó ở đầu này lại thì chạy đầu kia. Nó ở hai đầu lại thì chạy vào mạn núi. Có khi nó ở cả trong con đường ven núi, vây ba mặt, chúng tôi ở giữa.

- Thế mà không sợ nhỉ?

- Nhiều khi cũng sợ.

Thật ra không ai sợ. Người ta ăn cơm vẫn ăn cơm. Người ta hút thuốc lào vẫn phồng má thổi cái mồi rơm. Một thiếu phụ bế nách một thằng bé con đang phụng phịu, đang mặc cả mua cho nó mấy quả hồng. Bà hàng phở ở trước cửa, ý chừng vào hạng tản cư, nhéo nhéo mời khách qua đường:

- Mời các ông nghỉ chân, vào xơi cơm, xơi phở.

Miền xuôi quả có khinh địch thật. Tôi cứ tưởng sau vụ Vân Đình, những đất chợ có tiếng của miền xuôi tản cư hết cả rồi. Nhưng mấy cái chợ ấy vẫn còn chật nứt người. Đông, nhộn, không khác gì Hà Nội trước. Hàng tạp hóa, hàng thuốc, hàng vải, hàng cơm, tiệm cà phê, có phòng ngủ và buồng tắm. Có cả những tiệm ăn rất sang, đủ các món ăn Tây. Cũng may mà cạnh những phố xa xỉ ấy, những phố kĩ nghệ đang cựa quậy để thành hình. Người ta đang làm khá nhiều máy cán bông, máy kéo sợi, máy dệt, máy in. Thuyền san sát ở bến sông. Vẫn vui vẻ, sâm uất lắm.

Miền xuôi đã đi sâu vào chiến tranh, song những vùng tự do miền xuôi - nghĩa là chín phần mười đất miền xuôi - là có vẻ thái bình. Một vài quãng sông, vẫn còn ca nô chở khách. Nhiều con đường có xe tay. Rất nhiều vùng địch chưa chạm đến bao giờ, người dân vẫn sống rất yên ổn ở nhà mình, chưa phải xê xích một bước. Những vùng khác phần nhiều mới bị địch lướt qua vài ba trận. người giạt đi trong chốc lát rồi lại kéo nhau về. Họ lại sửa sang lại nhà cửa, lại làm ăn. Lúa lại xanh. Chợ lại đông. Trẻ con lại ríu rít đến trường. Chúng đến trường đông hơn ngày trước bội phần. Dân quân, du kích, không có Tây để đánh, thay phiên nhau đem tiền lưng gạo bị, mỗi tháng mười ngày ra các mặt trận dự chiến cho quen tiếng súng. Tập trận giả mãi cũng nhạt trò. Họ muốn chơi trận thật.

Nhiều nơi như vậy. Chiến tranh mới chỉ lướt qua một đô lần như những con bão ngắn.

Và cả những cơn bão nữa. Năm nay bão hai lần. có vùng thiệt hại ít nhiếu. Nhưng cũng có những vùng không thiệt, còn lợi thêm ra nữa. Người ta bảo:

- Đáng lẽ thì lúa sấu, vì lúa đã có sâu. Bão không làm đổ lúa nhưng lại giũ sạch sâu. Thành ra được màu. Nếu gặt hái trót lọt, nhất định không sợ đói.

Sự thật, dân mình no hơn trước. Gà lợn nuôi nhiều. số thịt bán ở các chợ tăng lên. Bông vải cũng đã tăng chút ít. Hạng người vay nợ hầu như không còn nữa. Quỹ nghĩa sương lập ở hầu khắp các làng. Nhưng ở hầu khắp các lang, hiện nay quỹ nghĩa sương không thể sinh sôi nảy nở. Không có người vay thóc.

Tình cảnh đồng bào ở các thành phố tản cư, bối rối hồi đầu, cũng ổn lại dần dần. Mỗi người cố kiếm ra nghề nghiệp để làm. Cố nhiên là cuộc đời chật vật hơn xưa. Đôi khi, có thể nói: thảm thê. Nhưng nói chung, vẫn sống. Có người lại sống đàng hoàng hơn trước nữa.

Một người quen bảo tôi:

- Anh cứ mở một lớp dạy tư. Tôi cam đoan rằng anh có thể kiếm thiền mỗi tháng từ năm trăm đến một nghìn. Bây giờ người ta ham học lắm.

Người ta ham học thật. Các trường học, mặc dầu mở thêm khá nhiều, vẫn không đủ nhận hết học trò. Người lớn đã hai, ba con cũng cố xin vào học cùng một lớp với trẻ con. Ở một trường tiểu học kia, có cả một nhà sư trong số các học sinh. Những lớp dạy tư mở nhan nhản ở các làng. Nhiều ông chủ tịch xã, buổi sáng ra trụ sở, buổi chiều đi học trường trung học. Đến đâu cũng thấy kêu thiếu sách. Tôi đem theo mấy quyển sách cũ để xem, bị anh em cướp hết. Nhất định không trả lại. Muốn lấy bao nhiêu thì lấy!

Trong cuộc thi đua ái quốc vừa mới nhóm, việc thi đua học tập sôi nổi và có kết quả nhiều hơn hết.

Tháng mười 1948


Tiêu đề: Bốn cây số cách một căn cứ địch
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Tám, 2010, 09:22:01 am
BỐN CÂY SỐ CÁCH MỘT CĂN CỨ ĐỊCH

Những người ở vùng chung quành cho biết rằng thường thường cứ độ bốn giờ chiều hay quá bốn giờ một tí là những toán quân Pháp đi ăn cướp đã trở về căn cứ hết. Mặc dầu vậy tôi đợi tận tối mịt mới sang đò. Sang ở một bên cách làng tới hai làng.

Tôi có cảm tưởng như đã đêm khuya lắm. Làng xóm im lìm. Không một tiếng chó cắn. Không một ánh lửa. Không một tiếng người ho. Người canh gác cũng không. Tản cư hết rồi sao. Tôi không khỏi hơi thấp thỏm và gần như không nghĩ đến, tôi tự nhiên đi chậm lại và cố bước cho thật nhẹ. Mắt tôi chăm chú nhìn vào trước mặt. Nghi ngờ từng bụi cây lù lù ở bên đường, tai nghe ngóng. Chẳng có gì. Tôi chỉ nghe thấy tim tôi đập. Đường vắng quá.

Tôi chợt thấy hơi ngần ngại. biết đâu giặc đã chẳng xích vị trí đến gần hơn? Tôi đứng lại một chút nhưng rồi lại bước. Bỗng có tiếng hô: “Ai? Đứng lại!”. tôi có cảm giác như không phải tôi gật mình mà chính cái cảnh vắng lặng giật mình. Tôi đứng lại nhìn quanh không đoán được tiếng hỏi từ chỗ nảo ra. Hai bên đường là giậu che kín mít. Chừng nửa phút sau mới có hai bóng người tiến lại trước mặt tôi:

- Ai đi đâu đấy?

- Tôi về Đại.

- Ông ở đâu đến?

Tôi đưa giấy. một người tự vệ biến đi một lúc để xem rồi trở lại.

- Mời ông đi.

- Ông cho tôi hỏi thăm một chút. Từ đây đến đại có Tây không?

- Không có đâu. Nó cách Đại một làng, ở làng Bái Thượng.

Tôi vững dạ hơn một chút. Rõ thật là anh chàng nhát gan vừa ở chỗ an toàn đến! Tôi tự cười tôi như vậy. Trời lành lạnh. Đến tận bây gời tôi mới biết là trời lành lạnh. Tôi bỗng ngừng phắt lại. Có người. Tôi vội né ra vệ đường, nép người vào một bụi tre để họ không nhìn thấy. Họ lại gần. Mấy người vừa đàn ông vừa đà, đội gánh đi lặng lẽ, mải miết.

- Các ông các bà đi đâu thế này?

- Chúng tôi đi tản cư đây.

- Các ông các bà ở tận đâu?

- Chúng tôi ở Bái.

- Ở Bái sao người ta nói có Tây ở đấy?

- Có Tây, nhưng chúng tôi vẫn lẻn về luôn luôn. Lẻn về lấy lương thực hàng hóa đi.

Tôi lại càng thấy tôi là hèn. Tôi không sợ nữa. Nhưng đã đến địa phận làng tôi được một lúc rồi. Chỉ còn một quãng nữa là đến nhà tôi. Vẫn hoang vắng, im lìm. Vẫn tối tăm. Vẫn cái nhà lặng lẽ không lửa không người. Ôi chào! Đâu là cảnh tấp nập những buổi tối trước đây: những thanh niên tập gậy chan chát ở đường, nhi đồng hát, những ông già ngồi nói chuyện, hút thuốc lào trong quán nước, lớp bình dân học vụ mới bắt đầu, tiếng giáo viên choang choang và tiếng học trò râm ran… Gia đình tôi chạy đâu rồi? Xóm tôi có còn ai ở nhà nữa không? Sau nửa năm giời xa vắng chính làng tôi, tôi lại không thể nắm một đêm ấm cúng bên vợ con, ở trong cái nhà gỗ xinh xắn mà tôi đã phải chật vật mãi mới làm nên được? Nhà tôi bây giờ chắc đã có cái mùi ẩm mốc và lạnh lẽo của những nhà không người ở. Liệu có còn một chiếc chiếu nào ở nhà không? Tôi thấy trước rằng đêm nay nằm co quắp ở đây, tôi sẽ thao thức suốt đêm, lòng tê tái chết lịm đi trong cảnh cô quạnh, mênh mông của căn nhà rộng quá. Không có cái đèn ấm áp hắt lên tưởng; không có cái nói cười ríu rít của thằng Thiên, con Hường xúm xít quanh mẹ, đùa với thằng me nhỏ mười lăm tháng đang vừa cười với chúng vừa áp má ào ngực vợ tôi; không có nụ cười dịu dàng của vợ tôi cúi xuống các con, căn nhà của tôi chỉ là một căn nhà chết. Tôi biết trước rằng nước mắt tôi sẽ chảy suốt đêm nay trong căn nhà ấy. Tôi thấy có một cảm giác uất ức xông lên mạnh trong óc và một cục gì nghèn nghẹn trong cổ họng. Đôi mắt căm giận của tôi nhìn qua bóng tối về làng Bái Thượng nơi có quân hùm sói đang gây cảnh chết chóc điêu tàn. Làng tôi… chao ôi! Chón làng quê yêu dấu của tôi sao lại đến nỗi thê thảm như thế này! Tôi dừng lại ở dốc đê đầu lối rẽ xuống con đường nhỏ đưa vào xóm tôi, do dự. Tôi nhìn vào con đường nhỏ ấy, con đường chỉ thấp thoáng giữa những cái ao lớn, nước đen loang loáng - rồi lại nhìn trở xuống. Về nhà chăng? Hay là đi đâu?... Tôi muốin đi tìm một người nào để nói chuyện, để được nghe tiếng người một chút. Nhưng mà tìm ai, con những ai ở nhà?... tôi lại gần một cái nhà ở vệ đường: cổng đóng. Cửa chắn liếp im lìm. Tôi đến một cái nhà nữa cách đấy chừng mười thước: cổng đóng, cửa chắn liếp, im lìm. Tôi đằng hẳng: chẳng có ai ra. Có lẽ đi đến nhà nữa thì cũng thế thôi!...tôi lại do dự một lúc rồi toan quay trở lại.


Tiêu đề: Bốn cây số cách một căn cứ địch
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Tám, 2010, 09:22:22 am
Nhưng bỗng có tiếng cười dột ngột. Những tiếng cười vui vẻ thật to, thật mạnh bạo rung lên giữa cảnh im lìm tha ma ấy, rung lên một cách lẻ loi, nghe lạ lắm. Tôi mừng rỡ; cái tiếng lảnh lảnh ấy là tiếng Hiến một anh thanh niên làng. Còn cái tiếng hơi ồm ồm pha vào đấy, tôi nhận ra tiếng Khôi. Hai người trẻ tuổi khoác tay vào nhau, vừa đi vừa kể cho nhau chuyện ông chi Bình ghẹo gái. Khổi bắt chước ông chi Bình, dặng lên è một tiếng trịnh trọng, và nhại cái thứ tiếng khệnh khạng của ông, hỏi:

- Ai?

- Tôi.

- Tôi là đàn ông hay đàn bà?... Đàn bà à? Già hay trẻ?

Hiến lại cười khanh khác, cười ngặt nghẹo. Khôi hòa tiếng cười hừ hừ của anh theo. Họ nghiêng ngả, vừa cười đùa như vậy vừa đi tới.

Tôi đột nhiên thấy lòng sáng rực. Không! Làng tôi không chết; làng tôi vẫn sống. Một dòng nhựa thanh xuân vẫn ứ đầy trong gió. Cái tiếng trẻ trung ở đây, nghe sao nó phấn khởi lạ lùng! Tôi thấy mạnh mẽ thêm lên. Hết cả nỗi buồn nhà vắng vườn hoang. Có gì thất vọng đâu? Người tạm đi nhưng màu đất vẫn phì nhiêu, cây côi vẫn tốt tươi. Và giữa cảnh tĩnh mịch này, tiếng cười vẫn vang lên. Chỉ có hai tiếng cười thôi nhưng nó đã dám vang lên bất chấp tất cả, và mạnh mẽ, và ngạo nghễ. Vẫn có những người ở lại. Vẫn có những mầm sống dư sức ở đây trong lòng cái vỏ chết chóc này, những mầm sống đầy căng và cựa mạnh như một tấm thân mười tám tuổi, nó đang lớn nhanh, nó phù phù, chống chọi lại cái chết, ăn lấn cái chết, cố bửa toang nó ra, trồi ra ánh sáng, không khí và khoảng rộng để lớn mạnh, lớn nhanh gấp trăm nghìn lần nữa. Không cái gì bóp nghẹn được cái sức mạnh tuổi trẻ đang lớn ấy…

Tôi hỏi to như một tiếng reo:

- Khôi, Hiến đấy phải không?

- Ai dấy?

Tôi lại gần họ, đặt tay lên vai họ. trời tối và quần áo tôi có khác nên phải mọt lúc họ mới nhận ra tôi…

- A, anh Vinh, anh ở đâu về thế?

Khôi nắm chặt tay tôi, Hiến rú lên:

- Úi giời ơi, anh Vinh, anh Vinh! Sao mãi anh không về thế? Chúng tôi cứ tưởng anh đi xa mất rồi.

Tôi cảm động. Tôi vốn yêu họ và họ vốn yêu tôi lắm. Chúng tôi là những ngươi đồng chí cùng hoạt động với nhau từ hồi bí mật. Tổng khởi nghĩa xong, tôi phải xa làng, xa họ, theo đuổi nhưng công việc họp với sở trường của tôi hơn, nhưng dù sao tôi vẫn không uên những bạn tranh đấu rất trung thành của tôi ở quê nhà. Tên tôi vẫn có trong bản danh sách những đoàn viên thanh niên cứu quốc ở làng tôi. Tôi vẫn gửi Hiến tiền để đóng góp dần nguyệt phí cho tôi. Mỗi lần về thăm nhà tôi lại đến họp với anh em. Tôi gây một cái quỹ chung có nhiều tiền rồi dùng tiền ấy mở hợp tác xã, chăn nuôi, thầu cái ao đầm thả cả, trồng sen, mua ruộng đất để tăng gia sản xuất. Dần dần đoàn thanh niên trở thành đoàn thể cột trụ đông nhất vững vàng nhất, chặt chẽ nhất, hoạt động nhất trong làng. Lúc này được thấy họ vẫn ở lại, và tinh thần vững tôi sướng lắm.

Tôi hỏi họ:

- Các anh vẫn ở nhà?

- Thanh niên mà cũng chạy thì hỏng bét: chúngtôi đã quyết nghị thanh niên cứ ở làng tất cả.

- Thế gia đình?

- Gia đình thì phải chạy, chứ ở nhà lúc nó đến thì làm sao được?

- Bọn mình có chết nhiều không?

- Mới có sáu người.

Hiến kể tên. Anh kể lại nhưng chiến công và cái chết anh hùng của từng người. Tôi không khỏi đau đớn nhưng đồng thời lại thấy lòng kiêu hãnh nữa. Hiến cho tôi biết gia đình tôi đã tản cư hết cả, nhà không còn chăn chiếu. tôi hỏi họ:

- Có chỗ nào ngủ không?

- Nhiều lắm. Đi vào Ngữ. Ở liền ngay đây.

- Sao lại ở liền ngay đây?

- Ấy thế. Chúng tôi đổi chỗ ở lung tung. Không anh nào ngủ ở nhà. Mẹ chúng nó! Chúng nó sục bọn mình ghê lắm!


Tiêu đề: Bốn cây số cách một căn cứ địch
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Tám, 2010, 09:22:50 am
Tôi phải bám lấy vai Hiến để Hiến dắt tôi đi. Mấy hôm trước trời mưa. Cái lối đi vừa hẹp vừa trơn, lại khúc khuỷu quanh co hết ruộng đến ao, bên những rặng tre rậm rạp. Khỏi một cái cầu tre chúng tôi vào một cái vườn rộng um tùm; đi hết cái vườn ấy chui qua một cái giậu vừa tre, vừa duối sang một cái ngõ khác cũng có ao ỏ hai bên, rồi lại chui giậu, lại tạt qua vườn, quanh co một lúc tôi bỗng trông thấy lập lòe ánh lửa. Lại gần thì là một cái nhà tre nhỏ. Ngữ đang cởi trần ngồi, vừa đun bếp vừa bắt rận bỏ vào bếp nướng, chị vợ ngồi một bên vừa xếp chuối vào một cái rổ sề to và cười. Anh chồng vừa mới bảo: “Phải tiễu trừ hết cái giống thực dân hút máu này đi mới được! Mình tóm đến một đại đội ròi mà vẫn chưa ra sự hết”.

Tôi bịt mũi bắt chươc giọng Tây mui lõ, hỏi bằng một câu tiếng Pháp:

- E, tu ve, làm gì đấy?

Anh quay ra, chắp hai tay, vái:

- Laiu quan lớn ạ, mời quan lớn vào đây mà xơi tống.

Anh tưởng chỉ có Khôi và Hiến.Thấy có người thứ ba, anh dán mắt nhìn và bỗng nhận ra tôi:

- Cậu nào như Vinh, có phải không?

- Đúng rồi, Vinh đây.

Anh vất áo ngay xuống đất, chạy ra:

- Úi giời ơi, máy thì chết với ông! Mày bỏ chúng ông đi đâu mãi nửa năm giời không thấy ló mặt về? Ngộ Tây nó xơi hết chúng ông rồi thì mày sống mà ở với ai? Lần này thì mày có chạy đằng giời. Đội du kích của chúng ông còn thiếu chính trị viên cừ, chúng ông cứ tiếc mãi không có mày.

Tôi chỉ còn biết ghì chặt lấy cổ anh cười. Khôi bảo:

- Lần này thì cứ cột cổ cậu ấy ở nhà. Bây giờ thì dụng vỡ cứ uỵch Tây cho cẩn thận chứ còn văn chương gì!

Hiến cũng thêm vào:

- Nói thật đấy, chứ chằng đùa đâu. Lớp này câu ở nhà với chúng tôi, vui lắm.

Tôi vừa bước vào nhà vừa bảo:

- Vui thật. Nhưng ở nhà thì tôi lấy gì mà ăn. Vợ con đi hết cả rồi còn bám víu vào đâu được?

Ngữ bĩu môi và đưa vộ bàn tay lên, xua xua trước mũi:

- Cậu thật xoàng! Có cần quái gì đến vợ con. Vẫn sống như thường. Chúng tớ tổ chức thần tình lắm.

Họ tổ chức thần tình thật. Thanh niên bỏ một số tiền ra. Dân làng góp vốn thêm, họ đi mua bông và sợi rồi đem đến chỗ tản cư cho đàn bà à con trẻ kéo sợi và dệt vải. Đàn ông và đàn bà khỏe mạnh mà không bận con thơ có thể đi về được thì ban đêm cứ việc về, thu hoa lợi ở vườn, đem đi bán mà ăn. Ai nhanh nhẹn trốn lẩn tài, cứ việc ở nhà, làm, nhưng phải dự bị sẵn chỗ bí mật đề phòng khi giặc đến. Lại chỉ được giữ trong nhà một số lương thực đủ năm ngày, hết sẽ lấy thêm: giữ nhiều ở nhà, sợ Tây về cướp mất. Đó là chung cho cả làng. Còn riêng đoàn thanh niên, họ sống tập đoàn, làm hợp tác xã và tổ chức dổi công giúp đỡ lẫn nhau. Còn rỗi thì làm thuê cho các làng. Họ lại còn sắm thuyền để giúp co sự vận tải lương thực và hàng hóa của dân làng được dễ dàng, giao tiền cho mấy người thành thạo đi buôn, kiếm thêm về để anh em ăn mà làm việc. Làng chia ra từng khu, mỗi khi đặt một tiểu tổ thanh niên, có nhiệm vụ giữ gìn vườn đất và nhà cửa cho những gia đình ở trong khu vực của mình. Giặc đến thì báo hiệu cho nhau, liệu đánh được thì đánh, nếu không đánh được thì chỉ việc chui vào chỗ bí mật nằm mà nhịn thở. Thỉnh thoảng kéo nhau theo bộ đội đi đột kích. Cũng có khi mình anh em đi quấy rối địch cho quen và để thêm kinh nghiệm về quân sự…

Nhờ cách tổ chức khá hoàn bị ấy mà dân làng đi tản cư vẫn có việc làm, có cơm ăn; vườn không đến nỗi bỏ hoang, hoa mầu vẫn thu hoạch được gần đầy đủ như xưa, và mặc dầu là không mấy ngày là không có Tây đến thăm làng, chính quyền vẫn giữ được như thường, không hề xảy ra một vụ trộm cướp nào, tài sản của nhân dân vẫn không suy suyển; số người bị hiếp bị bắt có thể nói là ít hơn nhiều vùng khác…


Tiêu đề: Bốn cây số cách một căn cứ địch
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Tám, 2010, 09:23:13 am
Ngữ bảo tôi:

- Như vậy cũng là tạm ổn rồi. Không như hồi mới đầu, dân chúng rất hoang mang. Bây giờ họ đã quen. Riêng trong bọn chung mình thì tinh thần lên một cách không ngờ. Số đoàn viên tăng gấp năm lần. Ấy thế mà đã mất đi đến hơn 100 gười xin vào Vệ quốc đoàn, hay vào các cơ quan khác. Kỉ luật vẫn chặt chính xác như thường, có phần còn chặt chẽ hơn xưa. Những nhân tài mới nảy rất nhiều cho nên số ít bị hỏng không thấm tháp. Thí dụ như thằng Còm chẳng hạn. mày có bao giờ dám ngờ rằng có ngày nó dám một mình mang lựu đạn theo Tây để ném không? Thế mà nó chơi như vậy đã mấy lần. Một lần chết hai thàng, Tây cáu lắm vào đốt mẹ hai cái nhà của xã Ngân. Một lần nó với Khôi, một thằng phục bên này đường, một thằng trèo lên nóc cổng xây nằm, đợi một bọn Tây tám thằng qua. Tây đến, Còm ở trên nóc cổng xây mở chốt lựu đạn choảng luôn. Lựu đạn câm, Khôi ở bên này đường vội tương luôn một quả theo. Cũng may mà quả ấy nổ nên cả hai thằng chạy thoát. Chắc là Tây có chết, nhưng các cậu mải chạy quá không dám trông lại xem nó chết bao nhiêu thằng. Chỉ biết là có vết máu ở đường. Nhưng buồn cười nhất là có có mọt lần cu cậu đang nằm ở trong nhà thấy có ba thằng Tây với một thằng Việt gian ở ngoài đường, ngứa mắt quá, còn hai quả lựu đạn thủ vào túi đi theo. Đến chỗ ngõ nhà ông cửu Biểu, cu cậu tưởng một quả. Lựu đạn rơi đến bịch một cái như một quả na xanh rồi lăn long lóc, thằng Việt gian sấn vào túm lấy ngực cậu, gọi Tây: “Ê xừ! Việt Minh, xừ! Bí thế còn một quả nhữa, cu cậu rút nốt ra nhưng không thèm mở kíp, chỉ việc nắm chặt trong tay nhè mặt thằng Việt gian quật vào sống mũi. Thằng Việt gian đau quá phải buông ra. Còm chạy thoát. Hụt chết rồi cu cậu vẫn còn nói khoác: “Mẹ kiếp, ông chỉ có lựu đạn thối, Tây cũng đếch làm gì nổi ông. Ném không nổi ông dùng làm quả đấm. Không vỡ mặt Việt gian đấy à?”.

Tôi cười bò ra. Sao mà có những con người thú thế! Tôi thấy yêu họ lạ. Thật tình lúc ấy tôi rất muốn ở quách làng làm chính trị viên du kích để được sống chung với họ…

Khôi chợt bảo;

- Này cái tay lí Tôn bây giờ hay lắm nhé! Hẩu với tụi mình ghê lắm.

Tôi sủng sốt. Sửng sốt không phải vì lí Tôn có thể thành tử tế với thanh niên nhưng vì thanh niên đã dám tin rằng lí Tôn có thể là người tốt. Tôi đã vất vả về chuyện ấy mấy lần mà vẫn chưa dược kết quả gì. Tôi thì chủ trương rằng phải cố lôi kéo tất cả những hạng người vào hạng lí Tôn. Họ thì cứ khăng khăng rằng những người ấy đục khoét quen rồi, không thể dưa họ ra làm việc. Phép lạ nào đã gây được sự hợp tác tôi vẫn mong chờ ấy.

Ngữ cười:

- Có gì đâu! Cu cậu có mấy trăm thùng thóc chưa kịp tải đi. Muốn thuê người chẳng có ai. Thanh niên chúng tớ tình nguyện tải cho muốn trả công hay không cũng chẳng cần. Thật ra chúng mình chỉ muốn tải đi để khỏi thóc sa vào tao tay giặc. Nhưng cu cậu thì mừng sút đầu gối cảm kích, sáng mắt ra, đã chịu cho chúng mình thật công tâm. Vì thế hết sức ủng hộ anh em, lại lôi kéo cánh tổng lí theo. Chưa lúc nào làng mình đoàn kết hơn lúc này.

Tôi vỗ đùi nói:

- Đã thấy chưa? Tôi đã nói mãi ràng phải tin như “ông già” rằng ai cũng có thể tốt được mà các cậu cứ đa nghi, chủ trương hẹp mãi, không chịu lôi kéo họ.

Ngữ bĩu môi chiệp chiệp mồm:

- Không có thời cơ thuận lợi thì có mà lôi. Phải có những dịp như dịp này để họ hiểu lòng dạ chúng mình mới ăn cờ chứ!

Dù sao thì cũng là việc rất đáng mừng. Tôi còn mừng hơn được nghe nói họ giết được Tây. Tôi bảo:

- Phen này độc lập rồi tha hồ mà kiến thiết. Thành một khối rồi không còn những người cản trở, mở mang gì mà chẳng được?

Hiến gật đầu:

- Tất nhiên như thế rồi. Nhưng các cậu định nói chuyện suốt đêm đấy à? Có lặng im cho chị Ngữ chị ấy ngủ không. Sáng mai chị ấy còn đội chuyối đi sớm kẻo lại gặp Tây thì đi đời nhà chuối!

Ngữ bảo:

- Cứ việc nói. Nhà tôi xếp chuyện đi ngay bây giờ, không ngủ nhà.

Tờ mờ sáng hôm sau, cơm nước xong rồi, tôi mải miết ra đi. Thế mà vẫn muộn quá rồi. Mới đi được một quãng đã nghe có tiếng súng nổ dữ dội ở mạn trên, các anh tự vệ bảo tôi:

- Anh giở lại đi. Tây về chợ Vu. Chúng nó đi lối đường Nam - Trử.

Tôi sợ nó có thể đi cả lối đường dưới nữa nên không trở lại. Tôi rẽ xuống bờ sông. Nghe báo động người ta dìm hết cả thuyền rồi. Tôi cởi quần áo cho vào bị, đội lên đầu rồi lội qua sông. Nước lạnh toát như nước đá. Sang được đến bờ bên kia tôi tím cả người, run lập cập. Nhưng cái ấy có nghĩa lí gì với tôi lúc bấy giờ. Một đêm gần gũi Hiến, Ngữ, Khôi tôi đã nhiễm được cái tính vui, hăng, bất chấp tất cả, của những thanh niên phải chiến đấu hằng ngày trong vùng sát địch kia. Tôi vừa mặc quần áo vừa cười rất khinh nhờn những tràng liên thanh rèn rẹt ở cách minh có hai cây và mỗi lúc một gần thêm. Ở bên bờ này trống báo động cũng đang truyền dây hết làng nọ đến làng kia. Còi của tự vệ rít lên những tiếng ngắn gọi nhau. Họ rình rịch chạy, bố trí ở trong làng, ở cánh đồng, ở vệ sông. Mắt anh nào cũng nẩy lửa lên.

1949


Tiêu đề: Vui dân công
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Tám, 2010, 10:37:57 am
VUI DÂN CÔNG

Tôi đã được nghe người ta ca tụng đồng bào Cao - Bắc - Lạng nhiều. Đồng bào Cao - Bắc - Lạng quả rất xứng đáng với những lời ca tụng.

Khi ta còn đang sửa soạn chiến dịch, tôi có hỏi một cán bộ Cao Bằng về việc huy động dân công. Anh trả lời tôi:

- Nhân dân Cao Bằng đã được huy động ráo riết luôn sáu tháng rồi. Nhưng nhân dân Cao Bằng vẫn sốt sắng góp thêm người, thêm của. Chúng tôi cương quyết huy động được.

Anh không nói quá. Luôn sáu tháng rồi, nhân dân Cao Bằng hết lớp nọ đến lớp kia, đi sửa đường, đắp thêm đường, tham gia công việc vận tải, tiếp tế, cứu thương. Nhưng người dân Cao Bằng không tỏ ra mệt mỏi một chút nào. Họ đi dân công vui vẻ như đi hội.

Tôi nghỉ tạm mấy ngày ở nhà một người Nùng. Chủ nhà ngoài bốn mươi tuổi mà trông đã già như quá năm mười. Đời sống cực khổ in hằn trên nét mặt màu sốt rét. Người con trai lớn, 21 tuổi, đi vệ quốc quân. Anh thứ nhì, 19 tuổi, tối hôm qua còn lau láu nói chuyện với chúng tôi về những người Thổ, người Nùng áo ngắn, áo dài, những tiếng nói khác nhau… sáng hôm nay đã khăn gói lên đường đi vào địa phương quân. Còn lại hai vợ chồng và ba đứa con biết ăn nhưng chưa biết làm gì. Họ có rất ít ruộng, không có trâu, ở một cái nhà lá chật hẹp làm ngay trên mặt đất chứ không đủ tiền làm nhà sàn như những nhà kia. Của chìm chẳng biết có gì, nhưng của nổi là một đàn vịt hai chục con quây ngay ở đầu giường chúng tôi nằm. Họ ăn cháo ngô suốt nửa năm. Lũ con mặc áo không quần và người lớn thì cả quần và áo đều rách rưới. Họ hà tiện từng miếng giẻ, từng hạt muối. Nhưng đôi với chúng tôi những người đi công tác, đối với cuộc kháng chiến chung, họ không hà tiện một chút nào. Họ nhường cái giường tốt nhất, cái chiếu sạch nhất cho chúng tôi nằm. Họ đi lấy củi về cho chúng tôi đun. Và một buổi chiều, thấy chúng tôi hết gạo thổi cơm, họ mời chúng tôi ăn cháo ngô với họ:

- Không ngon đâu, ăn một bát cho đỡ đói thôi. Nhà nghèo lắm không có gạo.

Người con thứ nhì ra đi sáng sớm trước thì sáng hôm sau ông bố ra đi. Ong đem theo một bộ quần áo và một túm bột ngô với một ống muối con…

- Ông ké đi đâu?

- Đi vận tải.

- Máy ngày?

- Mười ngày hơn.

Ông cười gật gật, hai bàn tay hiền lành sờ cánh tay tôi, chỉ có hai tiếng “đồng chí” thoát ra. Tôi nhớ đến ông ké Nhàn, một ông già Mán đã cho chúng tôi mượn nhà sau cuộc Pháp nhảy dù Bắc Cạn năm 1947. Cái dáng điệu chất phác, trìu mến, sao mà giống nhau đến thế. Tôi muốn ôm chặt lấy ông mà hôn ông một cái. Nhưng tôi kìm lại được. Tôi chỉ nắm chặt cái bàn tay cục mịch của ông. Bà vợ nhìn tôi cười, ông đi khỏi rồi tôi mới hỏi bà:

- Ông ké đi vận tải mấy lần rồi?

- Nhiều lắm đấy, không nhớ hết.

- Có xa không?

- Xa lắm đấy. Có lần đi Phú thọ. Có lần đi Thái Nguyên. Mua được cái bút máy, hồi ấy có năm chục đồng thôi cho thằng con cả, bấy giờ nó còn làm Đoàn trưởng Thanh niên. Nó bỏ vào cái túi, đeo vào khuy áo, thỉnh thoảng lấy ra để viết. Úi già! Đẹp lắm. Nó đánh mất rồi, tiếc quá! Đi khai hội đêm về rồi mất.

Bà tiếc cái bút máy đánh rơi. Bà không bận tâm gì đến ông ké phải bỏ công việc nhà đi vận tải. Việc ấy, bà cho là tự nhiên hết sức. Cũng như việc các con của bà đi bộ đội.

Đàn ông, con trai Cao Bằng đi bộ đội, đi công tác rất nhiều. Vì vậy trong các đoàn dân công, phụ nữ đông gấp mấy lần đàn ông. Một buổi sớm tinh sương, tôi đã gặp hàng trăm phụ nữ Mán, tụ tập ở một chân đồi, đợi lệnh ra đi. Họ ngồi như họp chờ. Đã lâu lắm rồi,tôi xa những người bạn Mán. Tôi dừng lại nhìn vào đám đông tìm những bộ mặt quen. Quả nhiên có người quen. Một thân hình mảnh dẻ tách ra, thoăn thoắt đi lại phía tôi. Những tiếng ríu rít reo:

- Đồng chí! Đồng chí!

Noọng Liễu vẫn mảnh khảnh, vẫn gầy gò như trước. Cả cái thôn nhỏ hồi ấy đã rời cái sườn núi cũ hết màu, để đến một chỗ khác làm ăn. Họ vẫn hăng hái tham gia công tác kháng chiến như hồi ấy. Noọng Hùng đã đến tuổi tòng ngũ và đầu quân. Hai vợ chồng ông ké Xếch chỉ còn được mình nó là con. Ông ké điếc, bất cứ ai nói gì với ông, ông không nghe thấy, nhưng cứ cho bừa là người ta hỏi Noọng Hùng. Ông hấp háy mắt cười móm mém và phều pháo bảo:

- Hùng đi bộ đội lố. Đi đánh thực dân Pháp lố…


Tiêu đề: Vui dân công
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Tám, 2010, 10:39:04 am
Liễu còn đang líu rúi kể lại cho tôi nghe những chuyện ở trên bản Mán thì có lệnh tập hợp để rai đi. Liễu chạy vào. Tôi vẫy tay chào Liễu rồi đến dốc. Đến lưng chừng đồi, tôi dừng lại một lúc để thở và để nhìn lại sợi dây chàm lượn quanh mấy quả đồi, dài một đường viền thẫm ngoài rìa thảm lúa xanh rười rượi. Sương bắt đầu tan. Một chút ánh hồng  ửng đỏ của không gian. Chưa bao giờ tôi thấy đời thanh xuân đến thế và không khí ngon lành đến thế.

Có những đêm chúng tôi phải ngủ đường. Ngủ đường cũng là một cái vui. Giữa những người đồng chí không quen mà lại rất thân, ấm vô cùng. Họ bắc đá, đốt lửa, thổi cơm. Cơm ăn rồi, vẫn để lửa, vừa đỡ muỗi, vừa vui. Lửa lập lòe. Một cuộc cắm trại hàng ba bốn trăm người. Nhưng thật tình những người mệt nhọc nằm ngồi lố nhố ở quanh tôi, không thấy khổ. Từng đám, từng đám một, họ cười đùa, họ nói chuyện với nhau. Họ quên đi cái hiện tại ngủ đường, có sương đêm và muỗi rừng. Họ nghĩ đến tương lai và nói chuyện nay mai. Tương lại ặng trĩu trên vai họ, nặng trĩu bởi vì chứa đựng nhiều cuộc hứa hẹn. Họ mang nó đến, mỗi ngày vất vả của họ là mông ngày nó đến gần hơn. Mỗi cái dốc họ trèo lại làm họ nhớ đến Cụ Hồ. cuộc kháng chiến càng gần đến chật vạt, nhưng càng chật vật lại càng gần thắng lợi. Nay mai những cái họ mang nặng trên vai sẽ nổ tung. Lô cốt giặc sẽ tan tành. Những dây xích đồn giặc gãy nát, các đô thị lần lượt trở về ta. Những đất đai giải phóng, lúa sẽ mọc và nhà sẽ dựng lên. Cuộc sống no ấm reo vui trong kki hòa bình và dân chủ. Họ bán tán về Liên Xô, về nước Trung Hoa mới, về nước Triêu Tiên đang giành giải phóng khỏi ách xâm lược Mĩ. Còn cuộc chiến đấu nào chật vật hơn cuộc chiến đấu của dân tộc Trung Hoa? Nhưng kết cục lại thì nhân dân Trung Hoa đã thắng. Nước Trung Hoa mới đang kiến thiết. Thế giới dân chủ mới rộng lắm rồi, bọn đế quốc càng nổi điên chỉ càng chóng chết thôi. Chúng ta còn vất vả, nhưng nhất định rồi chúng ta phải thắng… Ý nghĩ tin tưởng làm thư thái những tâm thần mệt nhọc. Họ nằm dài quanh những đồng lúa và ngủ say sưa giấc ngủ của những kẻ biết mình có quyền ngủ không thắc mắc. Công việc một ngày của họ đã đầy đủ lắm. Và ngày mai tốt đẹp.

Nhưng thời tiết mùa này thường thường không được đẹp lắm đối với những người khách đường trường. Ít khi được trời lạnh mà râm. Ngày nào không nắng gắt, tất mưa trơn. Nhiều khi một cơn mưa đột ngột trút nước như thác đổ ngay giữa cơn ắng gắt. Chỗ ẩn tránh không có, người đi đường đang mồ hôi nhễ nhại, bỗng được xối nươc mưa. Chỉ một lúc rét run. Rất có thể cơn sốt đến.

Một buổi chiều nắng gắt, chúng tôi đã gặp một cơn mưa chết người như vây. Chúng tôi chen chúc nhau trong một căn lều hẹp bên đường, dưới chân một cái đèo cao. Lều dột lung tung. Đứng chỗ nào cũng bị nước rỏ xuống đầu. Quần áo chúng tôi dần dần bị ướt đẫm. Nền nhà bị lầm lên, bẩn không kém gì chuồng lợn. Chúng tôi đứng trong đó, ướt át và nhớp nháp, mặt bi thảm và lòng bực tức. Nhưng trận mưa ngót hẳn chúng tôi đã thấy những người dân công Nùng, Thổ, Mán, đàn bà lẫn đàn ông, áo chàm đẫm nước mưa, người xắn đến đùi, người gánh, người khiêng, xình xịch chạy qua trước cửa lều. Chúng tôi chạy ra xem một cảnh tượng rất đẹp mắt hiện ra trước chúng tôi. Hàng trăm người khiêng gánh - nhiều như mối sau một trận mưa rào - từ trên đồi đổ xuống, tỏa ra ở trên dốc thành hai ba dòng uống éo. Những dòng người như chạy toi với những dòng nước cùng thi nhau lao xuống dốc, thành những dòng uốn éo. Những chiếc nón mây xinh xinh, nghiêng nghiêng trên những mái đầu. Đến lưng chừng đèo, chỉ còn một lối đi, những dòng người chập lại nhau. Cả một thác người đổ xuống, mạnh hơn thác nước. Chúng tôi không thể nào sầu thảm nữa, cũng không thể nào đứng yên trước cửa lều. Thác vui đổ xuống đã làm trời đột nhiên như sáng bừng lên. Màu núi thêm tươi và lòng chúng tôi phấn khởi. Một người reo lên. Cả bọn reo lên. Chúng tôi hò nhau xắn quần xách dép, thi nhau lên dốc. Mạnh người nào người ấy vạch cây, bám đá, tìm lối mà lên, nhường lối đi chính cho các thác dân công xuống đèo. Có những lúc, dòng lên, dòng xuống gần chập vào nhau, chúng tôi đứng lại để nhường đường. Chúng tôi âu yếm nhìn những người bước bành bạch sát trước mặt chúng tôi, hỏi dịu dàng:

- Các đồng chí có nặng không?

- Nắc lố(1).

Và ông ké trả lời chúng tôi nhe những chiếc rắng vàng ra cười.


(1) Nặng đấy.


Tiêu đề: Vui dân công
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Tám, 2010, 10:39:41 am
- Tây chết mất!

- Tây thua lố!

- Hoan hô các đồng chí đi vận tải!

- Chào các chị!

- Các chị hăng hái quá!

- Phải hăng hái chứ!

Tiếng cười ròn rã. Vui vẻ quá! Người lầm lì nhất trong bọn chúng tôi cũng la hét, cũng reo cười. Ai cũng trở nên bồng bột cả. Những người từ trước đến nay hoàn toàn xa lạ, đối với nhau đột nhiên thấy gần gũi, thân mến quá. Các chị thấy chúng tôi ngừng lại để nhường đường. Mặt chị đầy đặn, trắng hồng thùy mị một cách đáng yêu. Chị chào chúng tôi bằng một giọng dịu dàng, cũng rất đáng yêu.

- Các đồng chí mà công tác? (các đồng chí về công tác).

Nghe như một lời thân mến của một em gái. Chúng tôi thấy ấm lòng quá. Chưa bao giờ tôi thấy tình đồng bào, đồng chí, sự thông cảm của những con người cùng chiến đấu cho một mục đích chung, thấm dịu lòng như lúc ấy. Gia đình thật! Đêm hôm ấy, trải bạt còn ướt nước, ngủ với nhau, anh em chúng tôi vẫn thấy lòng hả hê.

Nửa đêm thức giấc, tôi thấy những đoàn dân công lườn lượt đi qua. Đoàn ngược, đoàn xuôi. Bộ đội hành quân. Bộ đội và dân công trong đêm tóii, đang bí mật sửa soạn một trận đánh bất ngờ vào một thị trấn vững vàng trong tay giặc.

Bộ đội và nhân dân đã góp sức với nhau để sửa soạn chiến dịch. Bộ đội và nhân dân đã đi sát nhau trong chiến dịch. Phần góp của nhân dân thật là vĩ đại.

Vào những bản ở phạm vi mặt trận, chúng tôi phải ngạc nhiên: nhà trong các bản ấy gần như không có chủ. Những người khỏe mạnh đi dân công cả rồi. Bà già, trẻ con dắt nhau đi ở hang, ở lán. Tây bị bộ đội đánh, chỉ còn biết báo thù bằng cách cho máy bay đi khủng bố dân, không một chỗ nào có nhà mà chưa bị máy bay giặc đến thả bom, nã liên thanh. Nhà cửa xác xơ. Nhưng các bản lại sầm uất về đêm. Nó thành những trạm nghỉ của dân công. Cứ chièu tôi đến, từng đoàn dân công tới, vào các nhà đốt lửa thôi cơm ăn, ngủ một đêm, rồi sáng hôm sau lại ra đi. Nhà đã thành của chung của mọi người. Họ ngủ ở đây, trong khi chính nhà họ, những đoàn dân công khác ngủ.

Nhưng thường thường không đủ nhà để ngủ. Dân công ngủ đường, ngủ bãi, ngủ rừng. họ đóng cọc nhóm bếp, thổi cơm, nước sẵn suối, củi sẵn rừng. Ăn xong, nằm ngay trên cỏ ngủ. Đúng như bộ đội.

Có những đoàn dân công đi theo liền bộ đội. cũng thành công thành tiểu đội, trung đội, có đội trưởng, chính trị viên. Cũng chia thành tổ ba người để săn sóc, giúp đỡ, nương tựa, thúc đẩy lẫn nhau. Họ hành quân cùng bộ đội, ở lẫn với bộ đội, đi ra mặt trận cùng bộ đội.

Bộ đội thấy dân công tấp nập, phấn khởi hơn. Nhân dân ta hăng hái thế này thì Tây sống làm sao? Họ lo nhiệm vụ hơn: làm thế nào cho xứng đáng với sự cố gắng của nhân dân? Nhân dân thấy bộ đội nhiều, cũng phấn khởi hơn: nhiều bộ đội, nhiều súng đạn thế này thì Tây phải chết. Nhân dân động viên bộ đội. Bộ đội động viên nhân dân. Bộ đội với dân công thật là quấn quýt.


Tiêu đề: Vui dân công
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Tám, 2010, 10:40:29 am
Đơn vị chúng tôi cũng có nửa tiểu đội dân công toàn phụ nữ đi theo.. Một buổi chiều, gạo chưa đem tới kịp, chúng tôi bàn nhau: tất cả anh em đều nhịn, ai còn sót được chút gạo nào, dồn cả lại, nhường cho các chị dân công. Các chị lẳng lẳng lĩnh gạo đi ra suối, chẳng nói gì. Nhưng hơn một giờ sau, một chị về gọi chúng tôi:

- Các anh đi ăn cháo.

- Mời các chị. Gạo về, chúng tôi sẽ ăn sau. Sao các chị không thổi cơm ăn?

- Nấu cháo tôi, nhiều lắm, các anh đến cùng ăn.

- Chúng tôi chẳng ăn đâu.

- Ăn chứ! Có cơm cùng ăn cơm, có cháo cùng ăn cháo. Các anh nhịn, chúng tôi không ăn vớ!...

Các anh ở xuối mới lên, trông cái thắt lưng của các chị Thổ trên này, có thích không? Cái thắt lưng, mui trễ tràng ở đằng sau, làm tăng vẻ thắt đáy lưng ong của các chị em lên. Nhưng các anh sẽ mến cái thắt lưng của một chị dân công dự trận Đông Khê. Người ta gọi là chị Dậu. Trong trận giải phóng Đông Khê lần thứ nhất, chị Dậu dã đi dân công và được sung vào đội tải thương. Chị ra tận mặt trận để cõng các thương binh về mặt trận sau, giữa những lúc đạn đôi bên bắn như mưa, Một lần, chị cõng một anh thương binh ở bả vai. Anh đau rũ rượi, nhưng không bám vào vai chị được mà chị sơ anh đau, không dám ghì tay vào anh, thành ra người anh cứ lắc lư chực ngã về sau, chị khó đi. Chị bèn cởi thắt lưng, nhờ người quàng ra sau lưng, dưới nách anh, buộc anh áp vào lưng chị, để đi cho dễ. Chiếc thắt lưng của chị đẫm máu anh. Trận đánh xong, về nhà chị giặt sạch thắt lưng rồi lại dùng nó như thường. Ta lại đánh Đông Khê, chị Dậu lại xung phong xin đi tải thương. Trước khi ra đi, chị mua xà phòng, giặt thật sạch chiếc thắt ưng, đề phòng có lúc dùng đến nó chăng. Lần sau, chị không phải dùng đến nó lần nào. Nhưng chị cũng đã cõng nhiều thương binh và chiếc thắt lưng của chị cũng như quần áo chị vẫn đẫm máu như lần trước. Rồi sẽ giặt, chẳng làm sao cả. Nhưng chiếc thắt lưng của chị, chị sẽ quý nó hơn. Và chúng ta thấy những chiếc thắt lưng của các chị Thổ đẹp hơn lên nhiều ắm. Có những vật trang sức giản dị nhưng rất đẹp. Một thiếu phụ có con nhỏ, con đang bú. Chị gửi con, đi dân công đã mười ngày. Không ngày nào chị không phải vắt sữa đi. Mỗi lần vú tức sữa, chị vừa đau, vừa nhớ đến con; lại ứa nước mắt ra. Chị mong chóng hết hạn để về nhà. Nhưng hết hạn, bộ đội vẫn đuổi Tây, vẫn còn cần có người tải gạo cho ăn, đoàn chị tình nguyện ở lại làm thêm. Chị cũng tình nguyện ở lại thêm. Chị thương con. Nhưng bộ đội đang đuổi đánh Tây bảo vệ cho con chị. Biết bao nhiêu trẻ đã bị Tây xé xác hay quật chết!

Biết bao nhiêu ruộng lúa đã bị Tây phá phách. Lúa đã sắp chín rồi. Vụ gặt đến nơi, phải rút ra khỏi ruộng đất để đi dân công là một việc rất khó làm. Nhưng người ta vẫn lũ lượt ra đi, không đánh chúng nó trước đi thì thế nào thu đông này cũng bị chúng nó tấn công. Chúng nó sẽ thả lừa ngựa, cho xe tăng quần nát hết lúa thôi. Bộ đội mở chiến dịch để giữ thóc lúa, giải phóng ruộng đất cho dân. Dân phải hăng hái đi vận tải, tiếp tế, cứu thương, gúp đỡ cho bộ đội. Mỗi người đều hiểu thế.

Chính vị các cán bộ đã kiên nhẫn giải thích được cho mọi người đêu hiểu thế, đã chịu khó đến từng xóm, từng nhà, cho nên họ đã huy động được toàn thể nhân dân phục vụ cho chiến dịch. Cuộc huy động thật lớn lao. Cao Bằng có 18 vạn dân: Ba vạn đã vào bộ đội hoặc đi làm cán bộ rồi. Trừ người già, trẻ con, phụ nữ có mang hoặc chưa thể rời con, những người ốm yếu, v.v… chỉ còn 6 vạn nhân công, 5 vạn 6 nghìn người đã tham gia chiến dịch này  và đã góp hơn một triệu ngày công rồi đấy.

Tôi chưa kịp hỏi rõ những con số của Lạng Sơn. Nhưng tôi đã gặp rất nhiền dân công của Lạng Sơn. Một anh quê ỏ Bắc Sơn cùng đi với tôi trên một con đường mới đắp vào khoảng giữa Đông Khê với Thát Khê đã bảo tôi: “Khi tôi đến đây con đường này chưa có; những cánh ruộng này vừa mới cấy. Bây giờ lúa đã vàng. Tôi vẫn chưa về. Đợi bộ đội đánh xong Thất Khê đã vớ”. Cao Bằng và Lạng Sơn góp nhiều nhân công hơn cả, nhưng không phải chỉ rêng Cao - Lạng góp, Bắc Cạn cũng góp phần. Có những đoàn vận tải từ Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh… lên. Có những đội thanh niên xung kích tình nguyện đi theo chiến dịch. Chỗ nào cũng có dân công. Trà trộn đủ hạng tuổi, đủ giống người, đủ các giới. Một hình ảnh toàn dân kháng chiến, toàn dân đoàn kết bày ra trong chiến dịch này. Bộ đội với nhân dân, nhân dân địa phương này với nhân dân địa phương kia. Thổ, Mán, Nùng, Kinh… sát cánh nhau. Nắng, mưa, sương, gió, đói khát, mệt nhọc, ốm đau, cùng nhau nếm đủ mùi. Vất vả gian nan thì quả là rất mực vất vả, gian nan. Nhưng ồ ạt, cấp tập cùng vui. Vui nhất là vào lúc thị trấn vừa mới trở lại tay ta, được trông thấy Tây chết, xác ngổn ngang, chiến lợi phẩm nhiều. có người cuống quá, kêu lên như một người điên: “Các ông, các bà trông kìa, các ông các bà ơi! Thế này thì có hả không? Tôi muốn đi dân công mãi, đi cho đến tận ngày cả nước ta hoàn toàn giải phóng”.


Tiêu đề: Trần Cừ
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Tám, 2010, 10:41:07 am
TRẦN CỪ

Người đội trưởng da ngăm ngăm đen ấy, có đôi mắt sắc và nụ cười rất yêu đừi. Anh dễ cười đùa. Cũng như anh dễ giơ tay xin nhận lấy những nhiệm vụ khó khăn, nguy hiểm một cách tự nhiên, giản dị .Anh thường bảo:

“Khó đến đâu, người cộng sản cũng tin rằng mình làm được. Và làm cho kì được”.

Mỗi lần trao nhiệm vụ cho anh, cấp trên rất vững tâm. Anh tin chắc ở đơn vị của anh, an tin chắc ở chính anh. Những phương tiện cho anh có thể đến mức nào, anh biết, anh không đòi hỏi quá.

Ở hội nghị phổ biến kế hoạch đánh Đông Khê đi ra, một người bạn vỗ vai anh, khẽ bảo:

- Phen này gay lắm đấy. Chắc chắn làm phải hi sinh lớn. tao sợ mày ngoẻo mất.

Cừ cười:

- Ngơẻo thì ngoẻo, cần gì! Cúng mình không sợ chết vì nhiệm vụ. Chỉ sợ không làm tròn nhiệm vụ.

Một chút băn khoăn thoáng qua đôi mắt sức. Anh lượng biết tất cả những khó khoăn của trận này. Công sự địch tăng cường. Lực lượng địch tăng cường.

So với trận Đông Khê trước, khó gấp trăm, mà cũng do trận Đông Khê trước, địch phòng bị ngày đêm, không xao lãng một phút nào. Chúng cố giữ đến cùng. Ta nhất định phải diệt cho bằng đwọc, không có quyền được rút…

Nhưng mắt Cừ trong trẻo, bình tĩnh lại ngay. Anh ngẩng mặt, nhì xa, miệng nở cười:

- Tớ có ngoẻo, cũng nhất định ngoẻo ở trong đồn, không chịu ngoẻo ở vùng ngoài. Ngoẻo cũng phải làm xong nhiệm vụ rồi mới ngoẻo.

Chiều 15, trước khi từ bàn đạp ra trận địa, Cừ nói với đội tiêm đao:

- … Nếu không xong nhiệm vụ tôi quyết không còn làm đội trưởng tiêm đao, mà các anh cũng không xứng đáng là đội viên đội tiêm đao nữa.

Đoàn xung kích đi bố trí. Tập công kiên luôn mấy tháng nay rồi. Anh nào cũng mong được đi đánh thật một trận để xem kĩ thuật của mình đã tiến đến mức nào Lúc thử đã đến đây! Mỗi người thấy náo nức trong lòng, nhưng đồng thời cũng thấy một chút gì hồi hộp nữa. Trận đầu…. Trận quy mô lớn đầu tiên từ khi vào bộ đội đến nay… Phải tiêu diệt toàn bộ lực lượng địch mới thôi… Nếu không giải quyết nhanh được, có thể trận đánh sẽ kéo dài, sẽ thêm nhiều khó khăn. Địch có thể tiếp viện rất nhanh. Chúng nó sẽ nhây dù ngay trên lưng mình. Chắc chắn là máy bay của chúng sẽ quần khỏe lắm, bắn và trút bom dữ lắm… ta sẽ có những cách đối phó sẵn sàng. Nhưng vẫn có thể còn nhiều cái mới không thể lường trước được. Phải đánh mới biết… Những vừng trán dầu dãi nặng trĩu những dự tính, những lo toan. Những bộ mặt sém nắng lầm lì. Những con người đi và cuộc chiến đấu suy nghĩ rất nhiều. Họ không sợ chết, nhưng không coi cuộc chiến đấu là một trò đùa. Một viên đạn còn phải tính, sao lại có thể đi đến cuộc vật lộn gay go với giặc như đi dự một “trò chơi ngồ ngộ”?...

Chiếm lĩnh trận địa xong, họ lập tức đào công sự. Pháo binh chưa tới kịp. Cứ một lát lại có điện thoại của ban chỉ huy gọi, hỏi. Ông T. chạy lên chạy xuống rất băn khoăn. Ông vốn nhiều râu, lúc ấy, trông như tua tủa mọc ra thêm. Chốc chốc ông lại xem giờ.Điện thoại của ban chỉ huy hỏi dồn thêm…

- Alô! Alô! Pháo binh đã tới chưa?... Đến đâu rồi?... Sao thế?...

Liên lạc này đi rồi lại liên lạc khác. Đường đốc quá, khó đi quá. Có anh giập chân rồi. Anh em bật cả máu vai. Họ vẫn cố đi, cốt tới kịp giờ. Nhưng cố gắng thế nào, mỗi giờ cũng chi đi được bốn năm trăm thước…

Ông T. bực bội:

- Tính giờ sát quá! Không căn cứ tỉ mỉ vào tình hình, từng quãng đường, chỗ khó, chỗ dễ, chỗ bằng, chỗ dốc, chỗ núi đá, chỗ núi đất, chỗ đường to, dường nhỏ thế nào. Chỉ căn cứ vào những con số ở bản đồ. Nguy hại thật…

Ông vò đầu, vò tai, khổ sở. Cũng may mà liên lạc về báo: một toán sắp tới rồi. Ông T. nhẹ hẳn người. Anh em xung kích đào công sự đã xong. Mấy bát cháo loãng lúc chiều hết veo rồi. Người mệt. Bụng đói meo. Nhưng nghe tin pháo binh đã tới, họ mừng. Họ biết anh em pháo binh đi chật vật như vậy, đến nơi thế nào cũng mệt nhoài. Họ bảo nhau, một số đi đào công sự, dọn chỗ sẵn để khi anh em pháo binh đến, chỉ việc đặt súng xong rồi nghỉ cho lại sức. Các cán bộ xung kích cũng đi tìm chỗ đặt súng sẵn cho những khẩu đến sau,  đỡ cho các cán bộ pháo binh, trong khi các cán bộ pháo binh còn bận chỉ huy toán trước.

Kế hoạch đổi. Mặc dầu ở mạn Bắc, ta đã nổ súng, mạn Nam vẫn chưa thể đánh vào sáng ngày 16. Một ngày chờ đợi, sốt ruột và xót ruột. Hỏa lực địch dồn cả lên mạn Bác. Chừng hơn một giờ sau, có tiếng động cơ. Tàu bay địch lượn rất lâu, trút liên thanh. Nhảy dù chăng? Có giỏi thì cứ nhảy dù đi! Có những người đang đợi. Nhưng cả ngày hôm ấy không có nhảy dù. Chỉ thả bom và bắn.

Năm giờ chiều, lệnh tiến. Một giờ, tất cả các vị trí trao chúng ta phải chiếm, đều chiếm xong tất cả. Điện thoại cho biết: Phía Bắc đồn to, ta chiếm được rồi. Quân ta đang tung hoành ở trong đồn. Lệnh cho tiến vào nhà thương và đồn to. Nhưng tiến vào, thấy địch ở phía Nam đồn vẫn bắn rất hăng. Tìm địch không ra. Chúng nó chúi hết cả vào các lô cốt, các hầm. Chỉ huy xung kích báo cáo tình hình lên. Yêu cầu cho pháo binh bắn vào phía Nam đồn. Xung kích vừa tiến vừa liên lạc bằng dây nói với pháo binh.

- Alô! Hụt rồi. Chỉnh hỏa lại đi! Lên mười thước nữa… Alô! Chệch về bên phải mất năm thước… Alô!... Xa quá, lùi lại năm thước nhé…

Nhờ vậy pháo binh bắn rất hay. Nhưng gần sáng, địch phản công. Nhờ có công sự kiên cố và ngoắt ngoéo, chúng chưa bị diệt bao nhiêu. Trời sáng, chúng trông ta rõ hơn. Chúng hi vọng có tiếp viện, có máy bay… Tình thế không có lợi cho ta. Lệnh cho tạm rút ra ngoài, vây chặt đồn…


Tiêu đề: Trần Cừ
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Tám, 2010, 10:41:47 am
Đoàn trưởng Huyền bước lại gần một người đang ngồi tí tay lên má:

- Ai đấy?

Trần Cừ ngoảnh mặt lại. Huyền thấy một đôi mắt đỏ hoe, mòng mọng nước. Anh cau mặt:

- Hừ! Trần Cừ đấy à? Anh khóc chắc?...

Cừ ngước đôi mắt sắc nhưng lúc ấy rơm rớm nước, nhìn Huyền. Huyền cười gằn:

- Cán bộ gì mà xoàng thế?

Từ ngày Cừ vào bộ đội, chưa ai bảo Cừ là xoàng cả. Anh đã vào sinh ra tử rất nhiều, ngay đêm vừa qua, anh đã xông xáo rất ghê. Đạn như mưa. Những lúc quyết liệt nhất, anh vẫn xông lên trước, dẫn đầu đơn vị… Cừ nghẹn ngào không nói được. Nhưng đôi mắt cương quyết của anh trả lời người Đoàn trưởng. Huyền hơi dịu giọng:

- Đánh nhau thì phải có thương vong. Anh đã biết trước trận này có thể phải hi sinh lớn. Chịu hi sinh lớn để làm xong nhiệm vụ. Sẽ ảnh hướng đế toàn chiến dịch. Càng không sợ hi sinh, càng làm giảm bớt số hi sinh. Anh hiểu cả đấy. Cán bộ không bình tĩnh, quyết tâm, giữ làm sao được tinh thần đội viên? Ủy mị thì lạ thật!...

Cừ không ủy mị. Anh đang kiểm điểm lại trận đánh đêm qua. Xung kích rất gan dạ. Trợ chiến tỉnh táo, đi rất sát, yểm hộ cho xung kích tiến. Có những anh kề súng máy vào tận lỗ châu mai, bắn. Bắn hết đạn, anh chưa kịp rút ra, thì bị địch bắn lại, trúng anh. Anh đổ xuống. Anh khác tiến lên ngay, người đến sau ngày ngay súng lên xác người vừa tử trận, để lia vào địch. Rồi mìn. Rồi lựu đạn. Địch không còn ngóc được đầu lên. Lắm lúc tưởng như địch chết hết cả rồi. Nhưng chúng vẫn còn. Thế có uất người không? Chúng rút xuống hầm. Ta chỉ xông xáo ở trên. Không biết sục xuống hầm. Không biết chặn chúng lại, chặt chúng ra từng khúc, bao vây chúng, tiêu diệt hẳn từng bộ phận, không cho chúng rút. Lối đánh của ta hỏng, nên có anh dũng mà chưa làm xong nhiệm vụ… Cừ bực lắm…

Cừ thấy như mình có lỗi. Tại sao không nghĩ ra điều ấy ngay lúc vào vị trí? Muốn giải quyết được chiến trường phải tiêu diệt được sinh lực địch. Tiêu diệt sinh lực địch là điều chính cốt. Có lẽ ngay các đơn vị bạn cũng quên điều ấy! Báo cáo không đầy đủ. Chỉ nói đã chiếm được đồn mà không nói đến số địch chết bao nhiêu, bị bắt bao nhiêu. Vì thế mà ban chỉ huy không nắm rõ được tình hình. Mãi dến sáng, thấy hỏa lực địch còn mạnh, mới có lệnh tạm rút ra. Thiệt hại nhiều chính là lúc rút.

Cừ thấy thương các bạn chiến đấu của anh. Trông những cái cáng rời mặt trận… Những chị dân công mắt đỏ hoe, lúc gạt nước mắt vừa đi… Nghĩ đến những đồng chí bị thương không kịp cõng còn nằm lại trong đồn… Các đồng chí rút về, mặt hậm hực lầm lì… Làm sao không uất được? Nhưng uất nhất là chưa làm xong nhiệm vụ. Mà đáng lẽ có thể xong ngay đêm qua rồi!...

Cừ muốn nói tất cả những điều ấy với Huyền. Nhưng Huyền bảo Cừ hãy theo anh, đi gặp các anh kia. Các cán bộ họp, rút kinh nghiệm với nhau, rồi phổ biến kinh nghiệm cho các đội viên.

Một điều khiến họ băn khoăn: đơn vị đã bị tổn thương. Rất có thể ban chỉ huy sẽ cho họ rút về làm hậu bị, điều đơn vị khác lên thay. Tất cả các cán bộ nhìn Huyền, nhưng Huyền ngẩng mặt lên cương quyết:

- Không! Chúng mình sẽ đề nghị với ban chỉ huy đừng thay thế. Đơn vị đánh xung kích đêm qua rất có tinh thần, chỉ vì ta đánh phố lần đầu, chưa có kinh nghiệm, nên chưa làm xong nhiệm vụ. Qua đêm đầu, có kinh nghiệm rồi, lại thuộc địa hình địa vật hơn. Nó đang muốn trả thù. Cứ bổ sung cho nó, rồi cho nó trả thù, làm xong nhiệm vụ của nó chưa làm xong đêm trước. Không nên thay thế.

Mọi người đều phấn khởi. Cừ vui vẻ lại gần đội viên tiêm đao:

- Chúng ta sẽ làm xong nhiệm vụ nội đêm nay. Nhiệm vụ chưa xong, nhất định chúng ta không chịu ra khỏi đồn.

Những bộ mặt tươi lên. Những con mắt lòe ánh sáng…

Ba giờ chiều, lệnh của bna chỉ huy cho chuẩn bị, nằm giờ rưỡi, từ chỗ nghỉ tiến lên. có kinh nghiệm đêm trước rồi, nên họ tiến bình tĩnh, chắc chắn, vừa tiến vừa quan sát tình hình. Chín giờ mở đột phá khẩu tiến vào. Sau một giờ kịch chiến, một bộ phận chiếm xong nhà phú Thiện. Đồng thời bộ phận kia cũng chiếm xong trường học, tiến ra nhà cũ, thấy đơn vị bạn đã ở đó rồi. Nhiệm vụ xong! Nhưng lệnh của ban chỉ huy lại trao thêm: đánh vào phía Tây - Nam đồn to, hợp sức với đơn vị bạn đã đánh vào mạn Bắc. Trần Cừ xông lên:

- Các anh em! Báo thù cho các đồng chí của chúng ta!

Một chú liên lạc chạy trước anh, tay chú cầm lựu đạn lăm lăm. Chú rướn mãi người lên, chực “cả cái” vào một lỗ châu mai. Nhưng chú thấp quá, không với tới. Trần Cừ bước lên, bảo:

- Chú đưa anh!

Tiếng lựu đạn nổ vang. Nhưng đồng thời một băng đạn súng máy lia trúng Trần Cừ. Cừ lảo đảo hô:

- Hồ Chủ tịch muôn năm!

Anh gục xuống, lấp một lỗ châu mai…

- Anh Cừ!…


Tiêu đề: Trần Cừ
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Tám, 2010, 10:42:16 am
Mấy đội viên xồng xộc tiến lên. Liên thanh, lựu đạn, mìn. Khói bốc mù. Gạch đá tung lên. Nhưng bóng người thoăn thoắt xông vào đám khói…

- Đánh sập hầm xuống! Chặn chúng nó lại!...

Đột nhiên, Thân, một anh tiểu đội trưởng bị thương nằm ở gần đấy từ đêm qua, bỗng vùng lên:

- Thích quá! Cho tôi đánh với, các anh ơi!...

Và trước một lô cốt khác, Xuân Minh ôm bụng. Anh vừa trúng đạn. Anh đã hơi lảo đảo, những vẫn chỉ huy, đôn đốc anh em. Một tiếng nổ vang trời. Lô cốt bị phá tung. Đội phó Minh thét anh em:

- Đánh vào lô cốt thứ hai đi!

Anh chực ngã. Một đội viên đỡ anh…

- Để tôi cõng anh ra.

Minh đẩy anh đội viên ra:

- Tiến lên đi!

Và thấy anh đội viên do dự, anh hơi gát:

- Mặc kệ tôi! Tôi còn đi được.

Anh một mình lủi về mạt sau…

Đoàn trưởng Huyền đang cầm ống điện thoại, liên lạc với đoàn phó ở mặt trận:

- Alô! Bằng! Alô! Bằng! Bằng đâu?

Trận đánh đang xô xát. Súng đang ầm ầm. Những tia lửa phùn phụt, chi chít, liên hồi. Thỉnh thoảng một tiếng nổ to chớp lập lè… Tiếng đoàn trưởng lạc hẳn giọng đi:

- Alô! Bằng! Alô! Bằng!...

Mãi mãi mới chó trả lời, Huyền mừng rỡ, nói như reo:

- À, Bằng đấy à? Thế nào? Giữ liên lạc với Huyền luôn luôn nhé! Alô!

Huyền lắng tai nghe. Anh bỗng sửng sốt:

- Cái gì? Alô!... trần Cừ? Trần Cừ bị rồi à?

Anh nghe thêm một tí nữa rồi phũ phàng buông mạnh ống điện thoại xuống, ngẩn mặt ra. Anh nuốt nghẹn. Chính anh cũng khóc, nhưng chỉ trong một phút anh lại vồ lấy máy…

- Alô! Bằng!... Có thể về thay cho mình lên một lúc không?… Không được à? Ừ! Thế nào? Địch bắn rát lắm à?... Không sao cả. Cứ tiến lên! Phải giải quyết xong nội đêm nay. Bằng nghe không? Nội đêm nay. Giải quyết cho xong nọi đêm nay. Giải quyết  cho bằng đươc… Đạn à? Có rồi đấy! Anh em văn phòng, cũng xung phong đi tải đạn với dân công đấy. Quyết tâm đấy nhé! Giải quyết xong nội đêm nay. Không lùi một bước. Lệnh của ban chỉ huy như vậy… Được rồi. Bằng đi đi! Báo thù cho Trần Cừ!...

Ở đầu kia dây, đoàn phó Bằng trao máy cho người khác chuyển theo anh. Anh xông lên, thét lớn;

- Báo thù cho Trần Cừ! Tiến lên!...

Hết đêm hôm ấy, địch chúi ở dưới hầm phải ra hàng. Đông Khê giải phóng.

(1950
In trong tập Truyện Biên giới)


Tiêu đề: Vài nét ghi qua vùng giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Tám, 2010, 10:31:56 am
VÀI NÉT GHI QUA
VÙNG VỪA GIẢI PHÓNG

Tôi cùng đi với một anh người tỉnh Cao Bằng. Vừa được tin quân Pháp rút khỏi thị xã Cao Bằng, anh tất tưởi đi ngay. Mặc dầu mâm bát đã bưng lên, anh cũng không thể nào nán lại độ mươi phút để ăn cơm. Anh còn biết đói là gì! Anh lên dốc băng băng. Anh xuốc dốc vèo vèo. Anh nhảy qua hố, rãnh như một con dê. Tôi đuổi theo anh mà thở gần hết cả hơi. Anh luôn luôn quay lại, khuyến khích tôi: “Cố đi! Cố đi! May ra kịp ô tô”. Tôi chợt nhận thấy mặt anh như đổi khác hẳn đi: “da hồng hào, mắt long lanh, mũi hếch lên, phớn phở lạthường. Tôi mỉm cười, đoán trước xem khi tới cầu sông Bằng, anh sẽ làm gì? Ôm ghì lấy một thanh sắt, rít lên, hay lao người qua cầu, chạy thẳng vào phố, kêu la ầm ĩ như một người hóa dại?

Anh có thể làm như thế lắm. Con người mọi ngày vốn lầm lì, hôm nay đột nhiên trở nên bồng bột hơn tất cả mọi người. Qua một cánh bãi có nhiều đám dân ông đang băc bếp thổi cơm, anh quay vào phía họ, reo to:

- Anh em ơi, Cao Bằng giải phóng rồi!

Những cái đầu đang thổi bếp, quay ra, ngơ ngác trong phút đầu, nhìn anh. Anh vẫn bước phăng, vung tay, nhắc lại tin vui:

- Cao Bằng giải phóng rồi. Tây rút thị xã Cao Bằng vớ!

Từ đám dân công, vọt lên hai tiếng “hoan hô”. Đám người nhốn nháo lên. Tiếng reo. Tiếng vỗ tay. Những hị má vụt đỏ ửng, bá lấy ai nhau, xô đẩy nhau, hay vỗ lưng nhau bồm bộp, cười to. Những anh thanh niên nảy cẫng lên. Những bộ mặt già, giãn hẳn những nếp răn…

-A lúi! Cao Bằng giải phóng!

- Sung sướng vớ!

- Sung sướng nhiều lắm vớ!

Tôi đi khỏi, tiếng cười sau lưng tôi vẫn kéo dài. Đằng trước tôi, anh bạn Cao Bằng vẫn bước phăng phăng, mỗi lúc một nhanh hơn, và vẫn vung tay, giọng đắc thắng báo tin vui:

- Pi noọng à! Cao Bằng giải phóng. Tây rút thị xã Cao Bằng. Sung sướng vớ. Về ăn mừng đi vớ!

Và những tiếng reo cười hoan lạc nổi lên. Lại dân công! Dân công nghỉ ở hai bên đường hợp thành rừng người lồng vào những rừng cây. Trời tối hẳn. Những đám lửa phập phồng chống lại bóng đêm dày đặc chực bóp nghẹt tất cả ánh sáng đi. Những bóng người lung linh lẫn với bóng búi, bóng cây. Đường núi gập ghềnh, tuy có ánh lửa hắt lên, nhưng là thứ ánh lửa lập lòe, nên rất khó đi. Tôi không tài nào còn theo kịp anh bạn Cao Bằng. Anh bỏ tôi xa. Nhưng một quãng dài, tôi vẫn còn nghe vọng hai tiếng vang vang như kèn chiến thắng của anh. Và làn sóng reo cười chưa kịp tắt hẳn ở sau lưng tôi thì một đợt cười mới lại nổi lên ở phái trước mặt tôi. Vẫn dân công! Chỗ nào cũng gặp dân công. Như vậy suốt từ ngày tôi bắt đầu lên mạn trên này, nghĩa là hai, ba tháng trước trận Đông Khê. Các bản không đủ chỗ nằm, ban đêm họ toàn ngủ đường, ngủ bãi thế thôi. Tạnh hay mưa, cảnh màn trời chiếu đất vẫn chung cho cả bộ đội và nhân dân tham dự chiến dịch này. Họ bảo nhau: “Mưa chịu, tạnh được nhờ”. Tạnh hay mưa là việc của trời. Giải phóng quê hương là việc chung của bộ đội với nhân dân. Luôn mấy tháng nhân dân mạn trên này chuẩn bị gạo, uối, bò, lợn, đắp đường, tải vũ khí, sửa soạn cho bộ đội đánh Tây. Cuộc chuẩn bị lặng lẽ, bị mật, ở xa không ngờ, nhưng lớn lao, vất vả, tốn kém công phu ngoài sức tưởng tượng của chúng ta. Ta chiếm lại Đông Khê. Tây rút lui khỏi thị xã Cao Bằng. Toàn tỉnh Cao Bằng giải phóng rồi! Sung sướng vớ. Súng sướng nhiều lắm vớ!...


Tiêu đề: Vài nét ghi qua vùng giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Tám, 2010, 10:34:34 am
*
*   *

Lần mò ra mấy quãng rừng xen lẫn với những cánh đồng,tôi đã đến đường cái vào lúc đã quá khuya và vào cái quán đầu tiên ở ven đường. Không thấy anh bạn Cao Bằng nghỉ ở đấy. Không hiểu nỗi vui đã đẩy chân anh đi đến tận đâu, tôi lấy làm may gặp được một cái quán còn đèn để có thể vào trút cái ba lô xuống, hỏi mua một tí gì ăn và điều đình một chỗ nằm để nghỉ.

Nhà chật quá. Nứa tươi, rạ mới cho tôi biết rằng nhà làm được độ mấy ngày thôi. Tây là Tây báo thù trận thua đau ở Đông Khê: chúng nó cho tàu bay đi nã liên thanh và trtú bom lửa bừa bãi vào nhà của thường dân. Không còn một phố nhỏ nào chưa bị quấy rầy. Các phố tập trung phải phân tán thật rải rác ra… Chủ cái quán này có lẽ cũng vừa mất gần hết cơ nghiệp ở Truùg Khánh hay ở Quảng Yên, chạy đến đây, làm lại ngôi hàng không còn biết là thứ mấy từ ngày phải tản cư, để lại kiên nhẫn làm ăn; người ta đã sinh ra lì.

Cái tinh thần bền bỉ ấy như toát ra bừ bộ mặt nhẫn nại của người đàn bà Nùng vừa mới ngừng tay kim, chậm rãi ngước nhìn tôi. Chị ngồi khâu ở cạnh giường. Cây đèn dầu trẩu đặt ngay ở trên giường, soi tỏ ba cái đầu trẻ con đã ngủ say, thò ra khói cái chăn cũ chỉ còn trơ lại cái mền bông đen bẩn, đã rách tươm; lần vải bọc có lẽ đã phá ra may áo từ lâu. Cái cảnh trông vừa đấm ấm lại vừa rất ngậm ngùi, cũng như mặt người đàn bà rất bình lặng, rất hiền từ, nhưng mặt vẫn phảng phất một nỗi gì u uất.

- Không có gì đâu, đồng chí ạ!

Tôi cứ đặt ba lô xuống rồi nhìn ra cái chõng hàng, nhìn vào bếp hỏi:

- Còn bánh chưng không?

- Hết rồi.

- Phở vậy.

- Không có phở.

- Nồi gì kia?

- Bánh chưng đấy, nhưng chưa chín.

- Sắp chín chưa?

- Còn lâu, gần sáng kia.

Tôi thất vọng. hàng quán hồi này như vậy đó: khi họ không sẵn thức ăn thì ta chỉ chòn một cách là nhịn đói, đừng mong họ nghĩ ra một thứ gì cho ta ăn. Tôi đành bảo:

- Không có ăn thì nhịn vậy. Nhưng tôi mệt lắm rồi, chị làm ơn cho tôi ngủ nhờ ở đây.

- Nhà chật lắm, không có giường đâu.

- Tôi nằm đất… à đây! Tôi kê hai chiếc ghế sát nhau nằm cũng được.

Chị nhìn hai chiếc ghế rồi lại cúi xuống khâu không nói gì. Tôi bắt đầu loay hoay thu xếp. Kê chỗ nằm, trải bạt, giũ chăn xong, tôi mới lại bếp, xin nước uống. Tôi uống nhiều nước quá. Có lẽ chị nhận thấy và biết rằng tôi mệt và đói lắm. tôi thấy chị lại ngừng tay, ngước nhìn tôi một lúc rồi bỏ cái áo đang vá dở, đứng lên. Chị lại góc trong nhà, lục lọi một lúc, rồi đem ra một bát cơm nếp, đưa cho tôi:

- Cơm nếp, đồng chí có ăn không?

- Còn gì bằng nữa? Có cơm nếp mà tôi không biết chứ!

- Nấu nhà ăn thôi, không bán. Trẻ con ăn thừa.

Như sợ tôi phật ý, chị bảo thêm:

- Nhà có gạo đồng chí muốn ăn cơm cũng được, nhưng không có rau gì cả.

Tôi bảo:

- Không cần, tôi ăn đây đủ rồi.

Tôi vừa ăn vừa gợi chuyện. Tôi hỏi đến chồng chị. Chị ngập ngừng một lúc rồi khẽ bảo:

- Xa cách nhau lâu rồi.

Tôi hỏi:

- Anh đi bộ đội?

Chị càng lúng túng. Mãi một lúc, mới cười ngượng nghịu và nói như thú tội:

- Cách xa nhau mãi, không gặp được nhau nữa đấy. Khác nhau về tư tưởng.

Tôi ngạc nhiên hết sức. Phụ nữ thôn quê, phụ nữ miền núi nói danh từ, giờ không phải là một điều gì lạ lắm. Nhưng quả thật tôi chưa từng nghe một người thất học nói đến mấy chữ: “Khác nhau về tư tưởng”. chị muốn cho tôi hiểu ra sao vậy? Chắc hẳn là chị dùng sai chữ. Ý chừng đây chỉ là một chuyện trái duyên lỡ kiếp hay cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt gì đó thôi. Nhưng không!… Dần dần, chị tỉ tê kể cho tôi nghe chuyện anh chồng. Tấn thảm kích bắt đầu từ hồi quân Quốc dân đảng Trung Hoa mượn danh nghĩa Đồng minh sang chiếm đóng ở miền Bắc nước ta. Một trong những việc phá rối của chúng là tung đặc vụ, gây phong trào Hoa kiều hóa, dụ dỗ một số người dại dột. Chồng chị cũng bị dử vào tròng. Đến khi chúng rút về, anh cũng trốn sang bên kia, bắt cả vợ con theo. Chị cố can nhưng anh chẳng chịu nghe. Anh theo đuổi bọn phản động, làm thổ phỉ. Chị không biết làm sao được, một đêm liền đem con trốn về đất Việt Nam. Bố mẹ đẻ chị theo cách mạng từ lâu, em trai chị đi Vệ quốc quân. Chị không thể nào ở với chồng làm bậy. Vợ chống xa cách nhau từ đó… Rồi giặc chiếm Cao Bằng. Ông bố đẻ chết ở thị xã vào lúc chúng nhảy dù. Bà mẹ chạy được ra ngoài, nhưng ít lâu sau cũng chết theo. Một mình chị buôn bán nuôi ba đứa con thở, chẳng khác gì người góa bụa…

Tôi hỏi chị:

- Tây rút khỏi thị xã Cao Bằng rồi, chị biết chưa?

- Cũng vừa mới được nghe người ta nói lúc nãy thôi.

- Chị có định về thăm thị xã không?

- Cũng muốn về, nhưng chưa được rồi.

Chị ngồi im một lúc. Đôi mắt chị nhìn xuống đất, trông rất âu sầu. Đột nhiên chị thở dài, nói nghẹn ngào:

- Thấy nói anh ta đã trở về Cao Bằng, theo Tây. Tôi nghĩ đi nghĩ lại, chưa muốn về.


Tiêu đề: Vài nét ghi qua vùng giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Tám, 2010, 10:35:07 am
*
*   *

Đường tới thị xã Cao Bằng tấp nập những người. Mặt người nào cũng hớn hở, tươi cười. Bây giờ mới giữa trưa. Tối hẳn công an mới cho vào. Người nào cũng biết thế đấy, nhưng người nào cũng bước mỗi bước bằng bốn bước thường ngày và thỉnh thoảng lại hò nhau chạy một quãng chơi. Các chị, má đỏ như uống rượu, mắt long lanh, động một tí lại cười. Các anh, đồn gánh vác chổng ngược lên trời, vừa đi bình bịch vừa lố lố nói rất to. Các cụ già cũng đi rất khỏe, nói khỏe ra tuồng.

Có những người là dân ở thị xã trước kia, nóng ruột muốn xem nhà cửa ra sao. Nhưng cũng nhiều chỉ là dân ở các làng. Chảng có nhà cửa gì ở thị xã để thăm nom nhưng họ cũng nô nức lắm. Họ đem theo quang gánh, tình nguyện gia nhập vào đoàn vận tải chiến lợi phẩm, để vào xem thị xã.

Tới một con suối lớn, cầu đã bị phá từ lâu. Ở bờ suối bên kia, nay ở đầu đường là một cái ụ gác của địch trước đây. Nước suối chảy ào ào qua một thân cây lớn ngả xuống, chặn ngang dòng suối để làm cầu. Treo lên đó mà nước chảy siết còn ngập đến đùi, nước xô trượt chân người lần từng bước trên cây gỗ trơn rêu. Những người mang nặng có ý ngại ngùng.Lập tức mấy thanh niên khỏe mạnh đi người không, xông xuống nước. Các anh chống đòn gánh, sang để dò đường. Biết rõ chỗ đi sâu nông rồi, các anh chia nhau đứng từng chặng, dang tay chống đòn gánh cho tất cả mọi người bám mà đi. Rồi các anh lại mang đỡ xe đạp, ba lô cho những người nặng quá.

Qua suối được tất cả rồi, mọi người hô nhau chạy. Một mình tôi đứng lại, tần ngần nhìn kĩ cái ụ gác của Tây. Ụ đắp bằng những bao cát lẫn với nhưng hòn đá tảng to, để hở những lỗ, súng để bắn ra. Bên trong có hầm sâu, kê gỗ ván để nằm… Tôi đang lẳng lặng nhìn, bỗng nghe tiếng lội suối uồm uồm. Quay lại thì ra một ông già quần xắn lên đến háng, đang xồng xộc lội bừa sang. Nước ngập đến háng, rồi đến thắt lưng, tóe cả lên chiếc áo cộc nhuộm chàm! Mặc! Ông già cứ lội bừa.

Ông sang đến bờ, giậm chân bèn bẹt rồi ngẩng đầu lên, toan chạy qua cái dốc lên đường, bây giờ mới thấy tôi.

- Chào đồng chí!

- Chà cụ, cụ đi đâu thế?

- Đi về thị xã.

- Cụ có nhà ở thị xã không?

- Có. Có ba cái đấy.

- Có còn cả không?

- Không biết. Tôi tản cư mấy năm nay. Tản cư uốt từ ngày Tây nhảy dù đây vớ!

- Cụ tản cư đi đâu ?

- Xa lắm vớ! Cách đây ba ngày đường. Tôi đi làm thuê. Tôi làm cho sở thuộc da. Tôi biết làm da. Tay tôi đây này, thuốc nó ăn két lại, rửa không sạch nữa, như đã chín đấy.

Cụ giơ cho tôi xem hai bàn tay to lớn, tím thẫm màu da thuộc rồi cười và sừng sộ bảo:

- Tôi làm suốt từ hồi ấy, Gần ba năm nay rồi vớ. Không đi dâu, không xin nghỉ ngày nào, cứ làm thôi. Mãi đến bây giờ, giải phóng Cao Bằng, tôi mới xin nghỉ sáu ngày về thăm nhà cửa. Đốc công không cho nghỉ, bảo: phải tìm người thay. Tôi bảo: vợ tôi thay. Đốc công bảo: đàn bà không thay được… Tại sai không thay được? Vợ tôi nó vẫn làm phụ với tôi. Tôi dạy nó biết làm tất cả rồi. Tôi chỉ xin đi đúng có sáu ngày: ba ngày đi, ba ngày về. Không ở ngày nào. Thế mà đốc công vẫn không bằng lòng cho đi: sợ tôi bỏ việc. Bỏ việc thế nào? Vợ, con tôi còn ở đấy; tôi chỉ đi một mình, có đem cả gia đình đi đâu? Với lại bỏ việc làm gì? Kháng chiến, ai cũng phải làm, biết nghề gì làm nghề ấy. Tôi biết làm da, tôi làm da, tôi đã cần về thị xã đâu? Tôi chỉ thăm nhà xong tôi lại về làm cho sở. Sao không bằng lòng cho tôi nghỉ? Không bằng lòng, mặc kệ! Tôi bực mình, không xin về phép nữa. Cứ đi! Đi sáu ngày thôi. Hết sáu ngày, tôi lại về. Đốc công cho tôi làm nữa thì làm, không bằng lòng cho làm nữa thì thôi! Tôi cám ơn ông đốc công rồi tôi đi. Tôi có ruộng ở gần thị xã, tôi về làm ruộng, tôi không cần.

Cụ vừa nói vừa làm nhiều bộ điệu hùng hổ bằng đầu, mắt, tay, chân. Cứ như là cụ cự tôi, chứ không phải là phân bua với tôi về việc đi vô kỉ luật của cụ. Tôi mỉm cười, bảo cụ:

- Cụ ướt hết cả rồi! Cứ đi thong thả, không cần vội đâu, cụ ạ. Còn sớm, công an không cho vào.

Cụ trợn mắt, vung tay dữ dội:

- Mặc kệ! Tôi cứ vào. Công an giữ tôi lại, không cho vào, cũng phải cho tôi đến đầu cầu. Tôi chỉ đến đâu cầu chứ có vào đâu mà cấm tôi? Nhất định công an phải cho tôi đến đầu câu. Tôi chỉ cần đến đầu cầu, đứng đấy, nhìn vào phố, thấy cái nóc nhà tôi một tí, rồi quay ra ngay lập tức. Toô phải đi đêm về sở, cho đúng hết sáu ngày là lại về đến sở… Chào anh? Tôi đi nhá! Tôi phải đi nhanh mới được.

Cụ lại hung hăng bước, những bàn chân vững chãi nện xuống đường bình bịch. Sáu mươi tuổi rồi còn khỏe mạnh quá! Cụ vừa đi vừa vung vẩy vừa oang oang nói lướn như say rượu:

- Công an đuổi tôi cũng không chịu ra.Tôi không vào. Tôi chỉ đến đầu cầu thôi…

Với những con người đầu óc đang “bốc” lên như vậy, công an cũng thật khó xử. Thị xã giải phóng rồi. Dân chúng mừng rỡ quá. Họ như điên. Họ đòi được vào để thăm nhà. Đến lúc được vào trông thấy nhà, niều người che mặt rưng rức khóc. Bao nhiêu ngày mong mỏi! Bao nhiêu ngày cực khổ, nhà mất, cửa mất, có khi ngươi chết nữa. Bây giờ lại thấy nhà; cố nhiên mừng rỡ khóc, nhưng cũng khóc vì nhớ lại những lúc cực khổ, những người đã mất mất rồi. Đây là nơi vợ chồng yên ấm khi xưa… Đây là nơi đứa bế đầu lòng… Trước cửa nhà, trước đây, có một cây to, chiều chiều bà ngoại lại đem cái chõng nhỏ ra ngồi tựa gốc cây, chơi với đứa cháu yêu… bao nhiêu đổi thay rồi! Cái cây đã mất lúc nào. Bà mẹ già bị Tây bắn chết trong một trận chúng đi càn. Đứa con chết vì sốt rét lúc tản cư. Nhà bị phá phác, đào xé lung tung, tường long lở, đục lỗ châu mai; cánh cửa bị tháo ra, lát ụ ở ngoài đường: đồ đạc mất hết; có những cái cửa bị chúng nó xây bịt kín đi một cách rất thô kệch bằng cách xếp gạch rồi trát đất… Trông không còn ra cái nhà nữa! Rồi lô cốt ở đằng sau. Dây thép gai. Ống bơ gỉ. Vỏ đồ hộp chất đống với rác rưởi ngập ngụa và bẩn tỉu… Có những người đứng trước cửa nhà mình, che mặt rưng rức khóc. Những người khác thì cười thì chửi., chạy lăng xăng nhà nọ, nhà kia, đá cái này, quăng cái nọ, đập phá lung tung cho hả. Rồi lại có những kẻ tham vặt, nhặt nhạnh cái cốc, cái chén, cái nồi chì cái chảo linh tinh. Những kẻ không ý thức trọng của công cho rằng của Tây, của Việt gian, ai muốn lấy thì lấy, nên xông xáo lấy bừa bãi. Bọn tay sai của giặc, bọn cầu gió bẻ măng, phao đi những tin láo, làm cho dân chúng tưởng rằng có thể vào thị xã mà lấy của tự do. Vì vậy cảnh dân chúng kéo vào thị xã có hơi mất trận tự lúc đầu. Nhưng cán bộ kịp thời giải thích ngay. Trật tự trở lại rất nhanh. Dân chúng tự động trao trả lại các nhà chức trách những thức đã lấy về.


Tiêu đề: Vài nét ghi qua vùng giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Tám, 2010, 10:36:46 am
*
*   *

Chung quanh thị xã Cao Bằng, nhan nhản những lô cốt, những đồn. Đồn và lô cốt trấn ngự những đỉnh đồi cao, có thể kiểm soát tất cả những lối vào, lại có thể tưới đạn vào thị xã, khi cần. Từ lối đường số 4 là lối ta khó dùng để tiến quân vào, con hai lối chính vào thị xã đều phải qua cầu; tất cả những lối khác, phải vượt sông. Cầu có đồn canh ở bên ngoài, lại có bóp gác ở bên trong. Đồn, bóp đều là những công sự kiên cố, những ổ súng nguy hiểm cả. Dọc bờ sông là những lô cốt chìm dưới đất, chỉ nhô một tí đầu lên, vừa đủ để hé cái miệng lỗ châu mai để có thể phun đạn súng máy là là mặt đất, mặt sông. Ngay trong lòng thị xã, bóp canh, ụ súng, lô cốt nổi hay chìm… cũng nhản nhản ở khắp nơi. Nhà ở cũng biến thành công sự: cửa bị xây bịt kín bớt đi, tường đục lỗ châu mai. Các giao thông hào, các đường hầm chằng chịt, nối khu nọ với khu kia, lô cốt này với lô cốt khác.

Đánh vào thị xã Cao Bằng còn khó gấp vạn lần vào hang cọp. Hang chọp chỉ có một lối thôi. Cái hang khổng lồ bọn Pháp tạo ra ở thị xã Cao Bằng thì nhiều ngách lắm. Đứng chỗ nào của chúng ta cũng ở ngay trước miệng súng lien thanh của giặc. Chỗ nào cũng có công sự cho giặc nấp để bắn ta. Chỗ nào cũng là hầm hố cho giặc tiến, lui. Giặc có thể tiến sát đến ta mà ta vẫn không ngờ. Ta khó biết chỗ nào có chúng, chỗ nào không có chúng.

Không! Giặc không còn cố dám giữ thị xã Cao Bằng mặc dầu từ trước đến nay chúng vẫn chủ trương phải giữ đến cùng theo kế hoạch. Rơve do phản động Mĩ đọc cho

… Những tiếng nổ ở Đông Khê đã rung chuyển cả những công sự kiên cố của giặc ở cao Bằng, ở Thát Khê, ở Na Sầm, ở Đồng Đăng, ở Lạng Sơn. Giặc không còn dám tin vào công sự.

Tôi đã gặp ở thị xã Cao Bằng một người phu, một ngụy binh, một người Pháp. Cả ba cùng trốn ra khỏi thị xã Cao Bằng, tìm liên lạc với các nhà chức trách địa phương, sau ngày ta tiêu diệt Đông Khê và trước khi Pháp rút khỏi Cao Bằng. Nhờ họ, tôi biết rõ hơn thị xã trong thời kì giặc chiếm và vào những ngày chúng sắp rút đi.

Người Pháp đã đem súng ra hàng, cùng với một người bạn đồng ngũ cũng là người Pháp, anh này hiện hãy còn đang ốm, nên tôi không tiện gặp. Chính anh tôi gặp cũng vừa mới ốm dây. Trông anh còn thảm lắm: da vàng khè, bàn tay to xương nổi gân xanh, mặt nhăn nhó, bộ điệu mệt mỏi, già nua tuy mới hai mươi tám tuổi. Anh phàn nàn với tôi rằng anh sang Đông Dương được hai tháng thì bị sốt ngay; từ bây giờ, cứ sốt đi sốt lại mãi, có khi sốt liên miên; kí ninh uống cũng như tiêm mãi phát sợ rồi mà bệnh thì không khỏi, từ ngày chạy sang hàng ngũ ta, anh cũng chưa được việc gì, chỉ toàn dưỡng bệnh… thật ra thì anh đã giúp chúng ta nhiêu việc trong việc tìm ra những bẫy mìn và những kho quân nhu, vũ khí địch để phân tán và giấu kín.

Theo anh thì sau khi ta giải phóng Đông Khê, bọn chỉ huy Pháp ở Cao Bằng vẫn nói cứng như thường: “Việt Minh biết Cao Bằng là miếng khó nhai… Tập trung tất cả những lực lượng có thể huy dộng ở Đông Bắc, Việt Minh cũng chỉ đủ lực lượng để đánh Cao Bằng… Sau Đông Khê, bị cản trở vì thiệt hại nhiều, Việt Minh không dám đánh Cao bằng, hay có định đánh thì chương trình ít ra cũng chậm hơn…”. Chính tôi đọc một bài truyền đơn, chúng nó thách bộ đội ta: “Các anh đã luyện tập kĩ. Các anh đã được cấp đầy đủ khí giới tốt. Tại sao các anh vẫn chưa dám đánh Cao Bằng? Các anh sợ mìn chúng tôi sẽ làm tan xác các anh chăng? Hay các anh sợ dưới làn đạn súng máy của chúng tôi: hàng nghìn xác các anh sẽ để lại cầu sông Bằng, sông Hiến?”. Chúng nó vẫn làm bộ không nao núng như vậy đó. Nhưng cái đuôi run run vẫn thò ra, chúng ra lệnh thiết quân luật; chúng định hiệu báo động; chúng đặt kế hoạch chống giữ khi bị đánh; chúng bắt chuẩn bị sẵn những chỗ bí mật để cất giấu tài liệu khi không kịp đem đi; chúng thu xếp cho vợ, con về Hà Nội… Tất cả những hành động cuống cuồng ấy khiến bọn lính biết chắc chán rằng thế nào ta cũng đánh Cao Bằng, mà ta đánh Cao Bằng thì mạng chúng khó còn. Những quán rượu đắt hàng hơn. Những anh chàng lê dương mặt tối sầm, ngồi lặng hàng giờ, nốc rượu mạnh hết chai nọ đến đến chai kia. Chúng thì thầm với nhau chuyện Đông Khê, chuyện ta sắp đánh Cao bằng. Tin chán nản từ quán rượu truyền đi. Bọn Việt gian, bọn Việt gian, bọn ngụy binh phờ phạc, lo âu. Vợ con chúng xôn xao. Đêm đêm tiếng loa địch vận vọng vào. Một hôm giữa ban ngày, một cái bè chuối cắm cờ đỏ sao vàng và biểu ngữ lững thững trôi trên sông Hiến.

Có những lính Âu và lính ngụy binh trốn đi, đem cả súng đi theo. Bọn chỉ huy sợ đến lúc quyết liệt, ngụy binh, những người chúng đi càn bắt được, ép về thị xã ở, có khi cả những tên Việt gian vẫn trung thành với chúng, sẽ bó chúng hoặc quay súng bắn vào đầu chúng. Chúng có tàu bay chở hết đàn bà, con gái, người già, trẻ con, cha mẹ, vợ con những người ở trong tay chúng đi, để bắt buộc họ phải trung thành. Đó là cái lệnh cho dân thị xã Cao Bằng tạm tránh đi, để tránh “Việt Minh khủng bố!”. (Dân đây chỉ là gia đình Việt gian, ngụy binh, gái điếm, một số người các nơi bị chúng bắt được trong các cuộc đi càn quét đem về để làm phu sân bay. Chính những người ở thị xã Cao Bằng trước trận nhảy dù năm 1947, đã thoát ra ngoài; một số nhỏ còn vướng lại, bị giặc tra tấn hay giết chết.

Người phu trốn ra được là một thanh niên quê ở Hà Đông. Anh ta bị giặc bắt được ở làng anh, và cho đi máy bay lên đây cùng với bọn da đen vào những ngày bọn Pháp ở đây đã sửa soạn để bỏ Cao Bằng. Ở trên máy bay bước xuống, anh nhìn thấy những người đàn bà ôm con lên chiếc máy bay tới trước, mặt mếu máo, nước mắt ròng ròng. Bọn kiểm soát chỉ cho họ mang theo rất ít đồ. Quần áo, đồ đạc thừa của họ bị chúng giật lấy một cách rất thô bỉ, quẳng xuống đất. Dưới sân bay, những đám người khác lếch thếch đi, lính quát tháo thúc bách ở đằng sau. Lính tới từng nhà, điểm mặt, gọi đi. Đàn ông khỏe mạnh phải ở lại, không được cùng đi với vợ con; học sinh đi cùng với lính sau, để làm phu. Tôi đã thấy ở sân bay những cốc chén, quần áo, đồ đạc của thường dân vất bừa bãi. Tôi thấy cả nhữnh hôm sổ sách, giấy má, tài liệu không quan trọng của Pháp, bên cạnh những đống tro tàn giấy…

Mặc dầu có đủ thì giờ cán bộ, địch đã rút một cách hấp tấp, vội vàng. Chúng nơm nớp lo đã lâu rồi. vì vậy, nhận được lệnh cho rút là mải mốt rút ngay. Vào thị xã ngay sau khi chúng rút, người ta nhận thấy điều ấy rất rõ ràng: trong nhiều nhà, đồ đạc bị xô lệch, tỏ sự hoảng hốt, cuống cuồng; bàn ăn hay mâm cơm đang ăn dở với những đồ ăn chưa ăn hết, những hộp mới chưa mới mở chưa kịp ăn, chai rượu uống thừa chừng cốc rượu chưa cạn hẳn, hoặc nồi cơm bắc lên chưa kịp xới, rau đổ bừa ra nhà để lấy nồi… Tất cả những thứ ấy cho ta biết từ bọn võ quan đến những người phu, nhiều người chưa kip hay chưa ăn xong cũng phải lập tức bỏ cả đây mà đi; cái kim của một chiếc máy khâu còn cắm trên đường chỉ mới chạy đến nửa chừng của một cái áo đang khâu; quần áo, giày dép, bít tất, mũ, mề đay, các đồ dùng lặt vặt cho đến cả sổ tay, tập ảnh, ví đựng tiên và giấy má… vương vãi ở trong nhà, ở trước cửa, ở ngoài đường; các kho quân nhu võ khí còn nguyên; ba khẩu đại bác mới kịp phá qua loa; máy phát điện chữa lại được ngay; chiếc máy chiếu bóng vẫn còn nguyên, cuộn phim còn lắp nguyên trong máy…


Tiêu đề: Vài nét ghi qua vùng giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Tám, 2010, 10:38:35 am
*
*   *

Tôi đã xem xét kĩ các phố. Tôi đã xem xét kĩ các nhà. Tôi đã nhìn tỉ mỉ từng cái giường, cái bàn, cai ghế trong tất cả cá hạng nhà, từ nhà bọn võ quan cao cấp, bọn Việt gian gto đầu đến nhà lính, nhà phu, mấy quán rượu, mấy hiệu buôn… Tất cả lộ một sự thiếu tin tưởng, một lối sống tạm bợ, cái tâm lí ăn xổi ở thì. Nhà nát, không buồn chữa; tưởng bẩn không muốn quét vôi; cừa long, lấy một sợi dây thép buộc qua loa, chân giường gãy thay bằng mấy hòn gạch xếp bên nhau.Đồ đạc toàn là đồ đạc cũ của đồng bào thị xã tản cư để lại. Những thứ tốt, bọn võ quan Pháp, Việt gian đầu xỏ lấy về chỗ chúng ở để dùng. Còn lại là những thứ đã mối mọt long gãy, ọp ẹp, chẳng ra hồn. Những thứ đồ đạc mới một tí, có nữa cũng chỉ là những thứ xấu xa, bằng gỗ tạp. Buôn bán gòm mấy hàng tạp hóa, mấy quán rươu, mấy hiệu ăn. Anh ngụy binh ra hàng cho tôi biết rằng: Hồi Pháp còn đóng nhiêu vị trí, kiểm soát được một số dân không thể bỏ ruộng đất mà đi, những người dân bắt buộc phải giả vờ theo chúng nó cứ đúng kì hạn phải đến trình giấy, nên thị xã còn có người lui tới; bấy giờ chúng bày ra những trò bán vải, mở sóng bạc ngay ở chợ, để dử một số dân đi chợ; nhưng từ ngày chúng phải bỏ tất cả các đồn lẻ để rút về cố thủ ở thị xã, chúng bị ta vây chặt; thị xã đứt hẳn mọi liên lạc với ngoài; buôn bán rút lại chỉ còn một số nhỏ người quẩn quanh mua, bán lẫn của nhau. Một vài kẻ sừng sỏ, dùng tiền hay gái dựa vào thế lực mấy thằng quan, được chúng cho về Hà Nội buôn hàng Tây để lên bán cho Tây; mấy đứa con buôn vô liêm sỉ ấy làm giàu. Mấy thằng nửa ma cô nửa bồi tiêm, mấy con nhà thổ hay cả ba thứ ấy hỗn hợp với nhau, kiếm ăn về bọn lê dương. Vợ ngụy binh, chị nào được chồng khéo xoay thì sống dựa vào chồng; chị nào phải chồng vụng xoay nhưng chính mình lại khéo xoay thì vừa sống dựa vào chồng, vừa sống dựa vào các thứ Tây trắng, Tây đen hay ngụy binh nhưng không phải là chồng. Những chị hiền lành buôn bán cò con hay làm phu sân bay như tất cả những người nghèo đói khác bị Tây bắt về. Cuộc sống ô nhục, bứt rứt và tẻ nhạt. Thức ăn thường ngày của Tây là đồ hộp: các thứ cá hộp, thịt bò hộp, bắp cải hộp… Anh em dân công ta mới vào thì tưởng là quý hóa, nhưng phải ăn tạm mấy hôm đã chán kinh, phát ốm rồi. Gạo phát cho nguy binh và phu là gạo tải từ Sài Gòn ra, trống thì trắng lắm, nhnưng ăn thì nhạt nhẽo và khét lẹt, vì là gạo máy và cũ quá, thường thường là đã mục. Tôi có cảm tưởng như chưa một bức tường nào được quét vôi lại một lần nào. Chúng mới chỉ phá được một ít nhà để lấy gạch bịt những cái nhà khác cho lính của chúng nằm. Chúng đắp những ụ súng, đào những đường hầm. Chúng treo được rất nhiều dây thép gai để treo những ống bơ gỉ lên. Nghãi là biến cả một cái thị trấn xinh xinh thành một chốn ẩn nấp rất bẩn mắt để chui, hàng ngày ăn đồ hộp vào gạo mục, nơm nớp đợi ta tấn công vào! Ngoài những thức ấy ra, chúng chỉ mới làm được một cái nghĩa địa ngót ba trăm mộ.

Chỉ có ngót ba trăm mộ thôi ư? Hơn một nghìn ngày; chạm phải hàng trăm quân phục kích, đột kích, chống càn quét của bộ đội và du kích ta, lại còn sốt rét, đi tả, thương hàn với một trăm thứ khác nữa, chúng phải chết đến mấy nghìn. Mấy nghìn mạng con người mà chỉ còng giữ được ngót ba trăm xác! Ngay cái nghĩa địa cũng không xứng đáng. Tôi nhìn kĩ từng ngô mộ. Mỗi mộ một con số, một tên người. Tôi nhận ra mấy tên võ quan Pháp, chết ngay trong trận nhảy dù xuống Cao Bằng. Đây là những mộ người Âu, phân biệt bằng những hình thập tự. Đây là những mộ lính da đen, có hình mặt trăng vẽ lên mộ chí, điểm thấy nhiều hơn. Nhiều hơn nữa là những mộ ngụy binh, chúng đề là “Partisan”.

Tôi đọc những dòng chữ:”Chết cho nước Pháp”… “Chết vinh quang…” rất mai mỉa.

Chết cho nước Pháp! Chết vinh quang! Mẹ già, vợ dại có lẽ khóc đến giờ vẫn chưa nguôi.

Bọn buôn máu và mồ hội đã biến những chỗ thiêng liêng thành nhữưg tờ giấy bạc giả để đối lấy tính mạng những người khờ dại…

Chung quanh thị xã Cao Bằng, cỏ gianh phồn thịnh lắm. Có những con đường hoàn toàn bị vùi lấp dưới cỏ gianh. Những con đường khác chỉ còn được một tí mặt đường. Hai bên là cỏ gianh dày và ngập đầu người. Người ta không còn nhận ra những nền nhà ở cạnh đường, cỏ gianh đã mọc rậm như rừng. Cỏ gianh chờm lên tận mái một ngôi đền, chỉ còn thò một tí nóc đen ra. Cây hoang cỏ dại um tùm che kín những bản thôn lẻ tẻ, bị đốt phá dở dang, chỉ còn sót lại một, đôi nhà, cửa vách trống hoang, không có một tí đồ đạc nào ở bên trong, dường như không có người nào ở, nhưng thật ra vẫn có dăm, ba người ở; những ông già lẩn lút ở lại, chăm nom những mảnh ruộng khuất, trong khi vợ con tản cư đi làm ăn chỗ khác.


Tiêu đề: Vài nét ghi qua vùng giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Tám, 2010, 10:38:58 am
Tôi vào nhà cụ già đã ở lại làng suốt trong thời kì tạm chiếm. Cụ đã bảy mươi tuổi nhưng còn khỏe lắm. Cụ bảo: “Tôi như con ngựa của thằng Tây: cả ngày không ngủ; cứ ăn cơm tối xong mới đi nằm, ngủ một giấc cho đến sáng”. Một mình cụ làm ba mẫu ruộng, thóc ăn không hết, giấu giếm một ít ở gần làng, còn bao nhiêu con về gánh ra ngoài. Mắt còn sáng, xỏ kim lấy được. Nghe động, chạy nhanh như con cầy, con cáo; lẩn cũng tài như con cầy, con cáo; nhưng hôm nào chúng nó đến tận nơi mới biết, không kịp chạy, cụ làm ra bộ già yếu: lưng còng xuống, mắt hấp hem, vừa thở vừa họ sù sụ, nói bải hoải, tai nghiêng nghêng ghé ghé, mặt thẩn thơ như người điếc đặc. Chúng nó hỏi một đằng, cụ trả lời một nẻo. Chúng nó chửi, cụ gật gật đầu, móm mém cười đần độn.thỉnh thoảng lại thở dài chán nản: “Con theo Việt Minh đi đâu mất rồi, không biết. Cụ già lắm, đi tản cư không làm gì nên ăn, ở nhà giồng bẹ thôi”. Một lần, một tháng Tây lại quát vào tai cụ hỏi: “Có thấy Việt Minh không?”. Cụ chắp tay khúm núm, cười cười, bảo: “Vợ chết rồi. Vợ chết rồi. Vợ chết lâu lám rồi…”.

Cụ kể với tôi những chuyện nưh vậy và cười khoái chí. Cụ bảo tôi: “Sao nó hỏi ngu thế nhỉ? Cụ thấy Việt Minh không? Việt Minh đây chứ Việt Minh đâu! (cụ chỉ vào ngực cụ…). Rồi nó lại hỏi: có thấy bộ đội không? Sao không thấy, nhưng ai bảo nó? Tôi vẫn dẫn đường cho bộ đội, cho du kích. Bộ đội, du kích vẫn ăn cơm nhà tôi luôn. Hôm nào có anh em, tôi ra tận đường canh gác, nhỡ có chúng nó đến thì báo hiệu cho anh em biết…”.

Thấy tôi mở bản đồ ra xem, cụ cũng ghé lại xem. Cụ hỏi tôi:

- Bản đồ gì đây?

- Bắc Bộ.

- Có tỉnh Phú Thọ không?

- Có chứ, Phú Thọ đây.

Tôi chỉ một cái khoanh tròn nhỏ tí. Cụ thích lắm, hỏi thêm:

- Yên Bái chỗ nào?

Thấy Yên Bái rồi, lại hỏi:

- Sơn La?

Tôi chỉ Sơn La cụ hỏi:

- Ở Tây Bắc, có phải không?

- Vâng, Tây Bắc.

- Chuyến này có đánh trận nào không?

- Đánh Pa Kha, chỗ này đây.

Tôi chỉ lên bản đồ và thuật lại cho cụ nghe những trận đầu tiên bộ đội và nhân dân Tây Bắc đánh để phối hợp với bên này. Cụ lại càng thích lắm. Cụ bảo tôi:

- Con trai thứ hai ở mặt trận Tây Bắc đấy. Trước làm Trung đoàn trưởng. V… đồng chí có biết không?

Cụ kể chuyện anh:

- Nó hoạt động lâu rồ, từ hồi Nhật chưa sang. Nó được sang Trung Quốc học. Ngày ấy, tôi sợ tây bắt nó nên bảo nó: “Con đi theo Cách mạng đánh Tây, cứu nước, thầy cũng biết là phải lắm. Thầy cũng muốn đánh Tây, cứu nước, nhưng không thấy con có một khảu súng, viên đạn nào, mà Tây thì có nhiều súng đạn, thì con đánh chúng nó làm sao được?”. Nó bảo: “Thầy đừng lo! Rồi bao nhiêu súng đạn của chúng nó sẽ thành của ta cả đấy”. Tôi nghe nó nói vậy cũng biết vậy, nhưng không hiểu ra sao. Bây giờ thành ra thật: của cải của Tây ở Đông Khê, ở Cao Bằng thành của ta rồi nhỉ? Lấy được bao nhiêu súng đạn thế, tha hồ đánh. Đánh được chúng nó, lại được thêm súng đạn…”.


Tiêu đề: Vài nét ghi qua vùng giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Tám, 2010, 10:40:11 am
Tôi từ nhà ông ké, quay trở về thị xã. Mưa vừa mới tạnh. Chiều rồi. Trời ảm đạm. Mây vương trên các đỉnh đồi. Người đợi vào thị xã tránh mưa cả trên đường sá vắng ngắt. Nước sông Hiền trôi không tiếng động.Chiếc cầu đen thủi vươn qua sông. Không một bóng người. Thành phố im lìm. Trông từ đắng xa nó giống như một mảnh đồ chơi cũ kĩ của một thắng bé đã chết, lâu này bị bỏ quên giữa những đồi trọc bãi hoang. Bên trên cái hoang tạnh của đồi, bãi mênh mông là cái hoang tạnh mênh mông của trời chiều. đã có biết bao nhiêu buổi chiều ảm đạm như thế rồi? Những cái lô cốt chót vót, cô lẻ giữa mảnh đất trời hoang vu bát ngát. Người lính Pháp xa quê hương, nghĩ ngọi gì, khi đứng trên những cái lô cốt chơ vơ giữa không gian, lạnh lẽo kia, những chiều buồn? Anh tình báo của bộ đội ta một mình và vùng địch, nắm ở cái nhà nát của ông ké, trong một ngõ xác xơ, thấy ấm lòng và vững dạ biết bao! Không cái gì có thể thay thế được lòng người. Tên lính Pháp đứng gác trên lô cốt, mặc dầu có công sự chắc chắn và võ khí lợi hại trong tay vẫn thấy mình lạnh lẽo, cô độc và nhỏ yếu.

Tôi đã vào một quán rươu, trước đây bọn chúng hay đến nhất. Đó là một ái nhà ọp ẹp, một tầng, mà cũng vẻn vẹn có một căn. Hai bộ bàn ghế lùn bằng gỗ tạp, một cái quầy còn lổng chổng nhũng chai cốc, sặc sụa mùi rượu mạnh; đồ đạc không có gì đáng chú ý, ngoài vẻ tồi tàn. Thềm nhà tiết ra hơi ẩm. Ba bức tường có vẽ.

Bức tường bên phải vẽ một cảnh phố như ở Pari. Phố rất đông người nhưng làm sao trông rất quạnh hiu? Những cặp trai gái khoác tay nhau, đi vật vờ như đi trong cõi hoang lạnh của lòng mình. Một anh đi đường mặt chưa già nhưng dáng người lụ khụ, mặt húp híp, bì bì trên đôi vại cụp xuống, bên cạnh một chị người xộc xệch, mặt phờ phạc, đầu ngoẹo xuống vài và và hai mắt nhìn xuống đất. Bức tường bên trái vẽ một cảnh loạn xạ hơn: một cảnh đua ngựa; một cảnh đánh bài; một anh chàng lảo đảo, ngửa cổ dốc ngược một cố rượu vào mồm bằng một tay và tay kia cầm sẵn cái chai để rót thêm; môt lão già híp mắt nhìn thân hình con gái lõa lồ; những cặp khiêu vũ nhảy như điên, tất cả những cái ấy quay cuồng chung quanh cái tháp Ephen nghiêng ngả, có chăng cờ của Pháp, Mĩ, Anh cùng với cờ của Giáo hoàng, và bên trên nữa, ở chỗ sát mây, một cái biển viết một dòng chữ Pháp: “Septiène ciel à lauer” - từng trời thứ bảy cho thuê”… “bức thứ ba, vẽ ở góc bên phải bức tường trông ra cửa, giản dị hơn. Đây chỉ là một cảnh quen thuộc với đội quân viễn chinh Pháp ở đây: một gã lê dương cao lớn, một tay xách tai một con lợn, khiêng nó với một gã lê dương khác, tay kia giơ cao lá cờ ba sắc, mặt hớn hở, mồm há hốc như hô to một khẩu hiệu lớn lao nào đó, sau lưng là một chú ngụy binh xun xoe, đê tiện, tay cầm gà…

Tôi rời thị xã Cao Bằng để đi về phía Lạng Sơn, bấy giờ cánh quân vừa bỏ thị xã Cao Bằng cũng như những cánh quân đi đón nó, đi cứu nó - chín tiểu đoàn vào hạng tinh nhuệ và gan góc nhất của Pháp - tất cả đã tiêu tan. Hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn hoàn toàn giải phóng. Biên giới không còn bị khóa. Một số đường giao thông cần thiết trở về ta. Đồng bào Cao, Lạng cày cấy lại được những ruộng đất bị bỏ hoang. Đồng bào toàn quốc vui mừng. Thế giới dân chủ vỗ tay, hoan nghênh trận chiến thắng lớn của Việt Nam. Nỗi vui chiến thắng, chan hòa ở lòng mọi người, như chiếu rọi cả ra ngoài, rung lên thành sanh sáng trong nắng óng ả mùa thu. Con đường rậm rịt đang được những con người ca hát sửa sang. Giặc đã bị đánh lui, cái hoang vu cũng bị đánh lui theo. Người tấp nập trở về. Những người lẩn lút trước đây, bắt đầu sống ngang nhiên. Nhà nát chữa lại, nhà mới dựng thêm. Lối đi được phát quan. Qua các bản, các thôn, đã nghe tiếng gà lợn, tiếng gà con. Từng cánh ruộng cỏ gianh đốt, thơm mùi cỏ mật. Nay mai lại mắc máng dẫn nước vào, lại dày lên. Lúa thuần thúc trở về, thay thế loài cỏ dại.

Tôi đọc thấy những tờ cáo thị của ủy ban kháng chiến hành chính địa phương, kêu gọi những đồng bào đã lầm đường hoặc bị bắt ép đi theo giặc, còn tản mát ở cá nơi, hãy trở về. Và tôi gặp họ trở về. Chính họ ngạc nhiên: Pháp vẫn dọa họ rằng Việt Minh sẽ báo thù, họ cũng nghi ngại một đôi phần, họ không ngờ việc trở lại của họ lại gọn ghẽ, dễ dàng đến thế. Bộ đội ta cho họ nhập vào các đội dân công. Khi hết nhiệm vụ rồi, họ được về nguyên quán.

Một bọn vào ngủ nhờ cùng với chúng tôi, trong một cái quán của một chị Thổ vừa dựng ở ven đường. Họ tự xung là những người buôn bán ở Cao Bằng, bị Pháp bắt đi. Chị thổ nhìn họ chăm chăm, rồi quay vào, nói nhỏ với tôi;

- Không phải người buôn bán đâu, anh ạ.

Tôi hỏi:

- Sao chị biết?

- Em nhận được một người. Người đứng tuổi, mặc áo tây đen, đứng mãi ở bên kai đường, anh có thấy không? Nó làm việc với Tây đấy. Nó là páctidăng già, chứ buôn bán gì!

- Sao chị biết?

- Em vẫn ở đây, em lạ gì? Em nấp trong bụi, trông thấy nó luôn. Có lần nó đứng bên kia, sai lính xuống vườn nhà em cắt quả bí. Em giận lắm. Trông thấy cái mặt nó, ghét, cũng chẳng muốn cho uống nước nữa. Nhưng nghĩ cho cùng thì Chính phủ ta tha cho người ta còn được nữa là mình… Tay cũng có ngón dài, ngón ngắn, phải không anh? Người cũng có người khôn người dại…


Tiêu đề: Vài nét ghi qua vùng giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Tám, 2010, 10:40:39 am
Tôi tán thành ý kiến chị. Chị quay ra, đổ nước thêm, mời mấy người đang uống, rồi gọi với sang người mặc áo tây đen, ngồi mãi vệ đường bên kia:

- Mời bác sang đây xơi nước. Có nước nóng.

Người kia do dự một tí rồi mới sang, - có lẽ vì cũng biết mặt chị hàng. Anh có vẻ hơi ngượng. Nhưng chị đổ nước cho anh một cách rất tự nhiên và hỏi chuyện anh rất vui vẻ… Tôi nghĩ đến chị Nùng có chồng theo quân của Tưởng Giới Thạch rồi theo Pháp. Nếu anh ta còn sống, vẫn có thể trở về với vợ, con. Chính phủ khoan hồng. Đồng bào rộng lượng. Nhưng liệu anh ta còn sống nổi không, hay là đã tan xác trong khi bị đẩy ra đỡ đạn cho Tây ở Cốc Xá, Khâu Luông hay nơi nào rồi?

Tôi gặp ở Đông Khê một đội tân binh gồm toàn những nguy binh mới ra hàng ta trong trận vừa rồi. Khi thấy Tây bị ta chặn đánh, họ đã quay sang bắn lại Tây rồi chạy sang với bộ đội ta. Cảm kích với cách đối đãi thân ái của bộ đội ta, họ không muốn về quê; họ xin tòng ngũ để đi đánh giặc lập công, chuộc những lỗi lầm trước. Tôi đến vào lúc họ đang học hát. Bây giờ họ mới được biết có những buổi tối sinh hoạt của anh em Vệ quốc quân. Họ thấy khác xa vơi cái đời làm lính cho đế quốc trước đây. Họ có cảm giác như người vừa sống lại.

Không phải chỉ ngụy binh mới cảm thấy nỗi sung sướng được thoát khỏi tay đế quốc. Lính Âu, lính Phi cũng đều cảm thấy. Tội gặp trên đường nhiêề tù binh hoặc da trắng, hoặc da đen. Họ không có vẻ những người bị bắt mà lại có vẻ những người mới thoát tù. Họ cười đùa. Một anh hút cái tẩu vừa lắc lư cái đầu một cách hài lòng, bảo:

- Thế là tổng phản công rồi!

Ông giáo đang nói chuyện với anh, lắc đầu, bảo:

- Chưa phải là tổng phản công.

Anh ngạc nhiên:

- Tại sao chưa?

- Chúng tôi còn phải đánh nhiều trận to lớn hơn nữa.

- Vậy thì các anh đánh luôn đi! Tôi nóng về nước lắm…

Có những anh đáng lẽ chỉ có mấy ngày nữa là đến hạn được hồi hương. Một anh bảo:

- Tôi đã viết thư báo cho vợ tôi biết tôi sắp về. Được tin này chắc nó lại tha hồ mà khóc!

Anh ngẩn mặt ra một lúc rồi anh nhổ bọt và chửi tục. Tự nhiên một anh bật lên giơ nắm tay, phùng má, trợn mắt hô:

- Treo cổ Sáctông lên!

Tôi còn gặp nhiều toán đồng bào, phân đông là phụ nữ bị Pháp bắt lên máy bay tải từ Cao Bằng về Lạng Sơn, được bộ đội ta giải phóng, lũ lượt kéo nhau trở lại Cao Bằng. Chồng con họ bị Tây bắt đi cùng với chúng, chẳng biết sống chết ra sao, lạc lõng ở đâu. Họ bị bọn lính Pháp lục soát, có vòng, nhẫn, tiền hay vật gì đáng giá, tước hết cả rồi. Sau khi đã để mặc cho bọn lính làm cái việc ăn cướp trâng tráo ấy, bọn chỉ huy còn bảo họ: “Cá c quan đi ít lâu rồi trở lại đây. Ai đi theo được thì đi. Ai không đi được thì ở lại. Nhưng ở lại thì coi chừng đấy! Việt Minh nó vào nó cắt đầu cả lũ!”. Có những người ngờ nghệch vẫn còn tin lời chúng. Họ đi theo. Bị ta đuổi riết, chúng thúc đi nhanh. Những người phải mang con nhỏ, không đi nhanh được. Chúng bắt đặt con xuống đường, bỏ đấy mà đi. Chúng đi rồi, đồng bào ở ven đường thấy có trẻ con bỏ đường, ẵm về nuôi. Người ta kể chuyện rằng, Vợ một tên Việt gian, không đi theo kịp, thấy chồng đi mất rồi, bơ vơ với một đứa con còn bế ngửa, sợ quay về cũng bị ta giết, liều lĩnh ném đứa con xuống sông rồi nhảy theo. Những người trông thấy, cũng đang lo sợ, nên chỉ ngồi xúm lại với nhau khóc lóc, chẳng ai can. Trông họ đi lếch thếch mà ái ngại! Những người mẹ mắt đỏ hoe giàn giụa nước, gánh những đứa con mặt nhếch nhác, ngẩn ngơ, những đứa trẻ mặt buồn thiu hay nhăn nhó, chân quấn giẻ để đi trên đá cho đỡ đau, không còn muốn bước. Những ông già mặt phờ phạc, ngồi xuống vệ đường để rên và thở. Họ đã bị lừa dối quá lâu, sự thật ở ngoài vùng tự do bị lũ giặc che đậy, bưng bít, xuyên tạc hết. Cuộc giải phóng đột nhiên mở toang các thị trấn, làm họ tiếp xúc lại được với đồng bào ở bên ngoài, với cuộc sống ở bên ngoài. Họ ngạc nhiên khi qua Thất Khê san sát những cờ đỏ sao vàng, vẫn thấy có rất đông những người Pháp đi, đứng rất ung dung. Trong một thị trấn đã về ta, đã đầy những bộ đội chiến thắng của ta, vẫn còn những người Pháp cười nói, đi bách bộ trong vườn hay ngồi hút thuốc lá một cách yên hàn, bình tĩnh thế kia ư? Lại có cả cái tàu bay Pháp ở sân bay nữa! Thế là nghĩa làm sao? Một người đàn bà tức quá, không chịu được. chị đặt cái ganh trẻ con xuống, hỏi một anh bộ đội đi qua:

- Đồng chí ơi! Có phải ta với Pháp, đình chiến rồi không?

Anh bộ đội ngạc nhiên, nhìn chị từ đầu đến chân, rồi nghiêm khắc hỏi:

- Ai bảo chị?

- Không. Nhưng sao em thấy Tây ngồi nhan nhản cả kia?

Anh bộ đội bật cười:

- Đó là những tù binh, những binh lính Pháp ta bắt được.

- Thế chiếc tàu bay kia?

- Ta cho chúng nó đem tàu bay đến để tải một số xác chết và một số Pháp bị thương về Hà Nội. Cái này hỏng máy, không có người chữa, chưa đi được. Ta cho gửi…

Sao lại thế? Họ đã thấy mỗi lần Pháp bắt được ta, bất kể là bộ đội du kích hay có khi chỉ là những thường dân bị tình nghi, chúng tra tấn dã man, rồi chúng cắt tiết hay chặt đầu đem bêu ra phố cho mọi người trông thấy. Họ không ngờ cách ta đối lại với chúng nó lại dễ dãi, khoan hồng đến thế…


Tiêu đề: Vài nét ghi qua vùng giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Tám, 2010, 10:41:17 am
*
*   *

Tôi trở về hậu phương. Luôn mấy tháng nay, các vùng hậu phương ở đây cũng vắng hẳn người như ở Cao Bằng; dân đi phục vụ tiền tuyến cả. Nhưng bây giờ thì đồng bào đi phục vụ tiền tuyến đã về. Lập tức họ đổ xô ra cánh đồng, gặt hái ngay. Các cán bộ họp để rút kinh nghiệm về việc huy động dân công phục vụ chiến dịch vừa qua và ấn định những công tác mới. Cả một vùng rộng lớn vừa mới được giải phóng, để ra bao nhiêu việc phải làm: tổ chức các việc tăng gia sản xuất, giáo dục nhân dân, phát triển dân quân du kích… Phải cung cấp thêm cán bộ các ngành cho các vùng ấy, để trong một thời gian ngắn, hết sạch những ruộng hoang, những khối óc mù mịt, do lũ giặc đã gây ra trong mấy năm chiếm đóng… Những đồng bào bản cư nhộn nhịp trở về với ruộng đất cũ của mình. Họ bỏ nghề buôn bán tạm bợ để quay lại với công việc sản xuất vững chắc hơn. Mấy phố buôn bán vãn hẳn, những tiệm cà phê, những hàng quà. Hàng giảm giá, gạo rẻ hơn: một phần vì người ta nóng nảy muốn về ngay, bán rẻ cho chóng hết, nhưng một phần cũng vì chiến dịch thắng lợi mở cho người ta nhiều triển vọng.

Tôi về thị xã. Gặt hái chưa xong. Nhà nào cũng làm bún, bánh giầy, giết gà, vịt ăn tết tháng mười. Vẫn là theo cái tục hàng năm. Nhưng tết com mới năm nay có ý vị riêng: đồng bào vừa ăn tết, vừa ăn mừng chiến thắng. Họ băn khoăn một điều: không hiểu bộ đội có được nghỉ ngơi, ăn mừng chiến thắng không? Họ đã được trông thấy bộ đội đánh giặc cực kì vất vả, đánh luôn mấy ngày liền, bỏ cả ăn để đánh, ăn bí xanh để đánh, bởi toàn chạy đuổi giặc, cấp dưỡng không đuổi kịp. Ăn hạt gạo mới nhớ đến công lao cấy cày chăm bón suốt một mùa, nhưng cũng nhớ đến người chiến sĩ đuổi giặc, giữ gìn thóc lúa cho dân. Xã này cũng như tất cả các xã khác đều có nuôi sẵn bò, lợn để bộ đội ăn mừng chiến thắng: chưa thấy có người về lấy.

Tôi rất cảm phục cái tinh thần giác ngộ của những người nông dân miền núi còn rất chất phác này. Bây giờ nhiều người khi ốm thích tiêm thuốc hơn là mổ gà, mổ lợn, cúng ma. Đó chỉ là một hiện tượng mới thấy chừng hơn một năm nay. Nhưng từ hơn một hậu cầnụ năm trước, đã rất nhiều người tin Cách mạng rồi. Các nhà cách mạng Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Trần Đăng Ninh, Chu Văn Tấn… là những người đồng bào ở đây nhắc đến nhiều, bằng giọng nói và lời lẽ rất cảm phục, rất mến yêu, trong những câu chuyện nói với chúng tôi trong những buổi tối ngồi nướng sắn quanh bếp lửa. Từ hơn một chục năm trước, ở đây đã nổ ra những cuộc chống đi phu, chống nộp thuế cho đế quốc. Đế quốc đã bắt bớ chém giết, tù đày rất nhiều người. Chúng nó đã đốt làng, dồn làng, bắt dân ở tập trung cả một chỗ, ngày đêm canh gác. Nhưng Cách mạng vẫn âm ỷ như thường để những cuộc trách nhiệm đấu thỉnh thoảng lại bùng ra. Bị dập ở chỗ này, Cách mạng lại lẩn chỗ khác. Nó len cả vào nhưng xã tập trung, có lính canh gác ngày đêm - lính canh gác, gần gũi những người dân cách mạng, dần dần cũng theo Cách mạng. Bọn thực dân dùng trăm hình, trăm cách, cũng không làm tắt nổi phong trào. Năm 1940, nổ ra cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn. Cái mầm võ trang tranh đấu được Đảng Cộng sản Đông Dương săn sóc, chăm nuôi. Nó lớn lên. Nó lan xuống Đình Cả, Võ Nhai rồi tỏa ra cả Thái Nguyên, Bắc Giang, Tuyên Quang. Nó nối liền với phong trào Bắc Cạn, Cao Bằng. Từ chiến khu Cao - Bắc - Lạng, cuộc tranh đấu tiến xuống phía Nam, bao trùm cả Việt Bắc, rồi toàn quốc. rồi Tổng khởi nghĩa giải phóng hoàn toàn đất nước.

Người Bắc Sơn nhắc lại bước đường trước ấy vào dịp giải phóng Cao - Lạng này.

Chúng tôi được tin giặc phải rút khỏi Lào Cai, Hòa Bình. Bộ đội liên khu III diệt hai mươi vị trí địch, bức chúng rút hai mươi vị trí. Chắc chắn rằng ở Trung Bộ, ở Nam Bộ, giặc cũng bị thiệt hại nhiều trong những trận bộ đội ta ở những nơi ấy đánh để phối hợp với Cao - Lạng vừa rồi. Chúng nó đang lên kêu gào Mĩ giúp thêm. Chúng nó cho tàu bay đi bắn phá bừa bãi các chợ, các phố, các làng, bắn đến cả đàn trâu dưới ruộng, tốp người lẻ tẻ trên đường. Chúng nó đang bắt người, cướp thóc ở các vùng tạm chiếm để lập ngụy quân; cũng có nơi chúng nó lại lùng giết hết những thanh niên nam nữ, chỉ để lại những người già yếu… Ta thắng lớn thì địch tất phải đối phó mạnh hơn. Chúng ta còn phải vượt nhiều dốc lắm. có điều chúng ta không sợ dốc…

Đồng bào ở xã tôi tạm trú cũng tin như vậy. mặc dầu địch đã xa, họ không coi thường địch. Họ cất giấu thóc lúa, đào hầm để tránh máy bay khủng bố. Họ thảo luận chương trình tăng gia sản xuất mùa chiêm. Họ tăng cường du kích, dân quân. Nhiều người đi lên tỉnh đầu quân. Cái đà mạnh đã có rồi, phải nhân đó mà đẩy cho cuộc chuẩn bị tổng phản công tiến thật mạnh, thật nhanh. Địch đã bị một vết thương đau. Phải đánh chúng túi bụi, không thể nào gượng lại được nữa. Cao, Lạng đã được giải phóng, nhưng toàn quốc chưa giải phóng thì Cao, Lạng vẫn chưa yên ổn. Nhân dân Cao, Lạng vẫn chưa yên ổn. Nhân dân Cao, Lạng vẫn đề phòng. Và nhân dân Cao, Lạng vẫn sẵn sàng đi dự các chiến dịch khác, cũng như đồng bào ở Trung du, ở đường số 5 đã gửi những đoàn vận tải lên Cao, Lạng.

Cao Bằng 7-10-1950
Bắc Sơn 24-10-1950
(Tạp chí Văn nghệ số đặc biệt chiến thắng Cao - Lạng)


Tiêu đề: Hội nghị nói thẳng
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Tám, 2010, 04:47:32 pm
HỘI NGHỊ NÓI THẲNG

“… Tập luyện kĩ. Trang bị đủ. Tất cả những điều kiện vật chất chuẩn bị đủ cả rồi. Nhiệm vụ cũng đã hiểu rõ lắm rồi. Nhưng nếu trong bộ đội còn có những người thắc mắc, buồn bực, chán nản trong lòng, sức chiến đấu chung sẽ giảm đi. Phải cho họ trút tất cả những cái gì bận vướng đầu óc họ ra.  Có điều gì canh cánh trong lòng, nói ra cho bằng hết. Muốn nói gì thì nói, phê bình cách đối xử của cán bộ từ cấp dưới cùng đến cấp cao nhất: phê bình Cục, phê bình bộ, phê bình Chính phủ… cứ việc phê bình; rồi chuyện nhà cửa, vợ con… Cho nói tất. Nói để tìm cách giải quyết cho họ cả. Có vậy, họ mới có thể lòng nhẹ thênh thênh đi ra trận, để hết tâm trí vào chiến đấu”.

Câu chuyện vừa đến đấy, anh chính trị viên dừng lại. Chúng tôi đã đến trước cửa một cái nhà sàn lớn. Dưới gầm sàn sạch sẽ, các đội viên đang tới tấp lĩnh quần áo, giày, bạt, bình toong. Họ ướm thử. Họ hỏi nhau. Họ cười nhau… Anh chính trị viên đứng ngoài bóng tối với tôi, nhìn. Ánh lửa hắt ra soi rõ trên mặt anh một nụ cười sung sướng.

Chúng tôi lên sàn. Các khẩu hiệu viết trên giấy màu sặc sỡ cả chung quanh. Những khẩu hiệu rất vui: “Nói hết!! -  Nói toạc móng heo - Người nói không e ngại, người nghe không giận - Yêu nhau mới nói thẳng với nhau - Không nói thẳng là không đoàn kết…”.

Mấy phút sau, các đoàn cán bộ lên, rồi cả trong trung đội lên. Hội nghị cử chủ tịch, thư kí rất nhanh. rồi bắt đầu nói thẳng.

Chủ tịch đứng lên:

- Các đồng chí chú ý! Tôi đề nghị tiểu đội 1 nói trước. Chúng ta lần lượt phê bình các cán bộ, từ tiểu đội lên đến trung đoàn. Sau đấy, có những vấn đề gì thắc mắc trong bộ đội, nói hết ra. Rồi những điều thắc mắc ngoài bộ đội. Bắt đầu, ta phê bình anh tiểu đội trưởng. Mới anh tiểu đội trưởng đứng lên.

Một thanh niên chừng độ hai mươi tuổi đứng phắt dậy giữa đám đông lố nhố, sấn sổ bước lên phía bên phải chủ tịch và thư kí. Anh ta ngồi xệp xuống, xếp bằng tròn, tì cổ tay lên đùi và cầm sẵn bút chì, ưỡn thẳng cái đầu lên toét miệng cười và dặng hắng. Một thứ tiếng mạnh bạo bật ra:

- Yêu cầu các đồng chí kể tội tôi. Tôi thì nhiều tội lắm!

Một người dặng một tiếng thật to đáp lời anh. Mọi người cười. Chủ tịch mới cười được một nửa, sực nhớ ra nhiệm vụ, cố làm nghiêm và trịnh trọng:

- Yêu cầu im lặng! Các tổ đã hội ý với nhau trước cả rồi, có phải không? Yêu cầu nói.

Một cánh tay vung lên khỏi những cái đầu san sát;

- Tôi xin nói.

Nhiều cái đầu động đậy, quay mặt nhìn vào phía người xung phong nói. Anh ta nói:

- Tôi có ý kiến là anh hay gắt lắm. Anh em tập hơi  luống cuốn một tí là quát ngậu lên, làm người ta luống cuống thêm. Có lần lại  văng tục nữa. Anh Thản mới nhập ngũ, cố nhiên còn chậm chạp. Thế mà hơi một tí là anh tiểu đội gắt: “Tay hậu đậu, gờ ruộng như con khẹc!”.

Anh tiểu đội trưởng xích cái đùi lại bên đèn, ngoẹo đầu, xếch một bên mép lên, hí hoáy ghi. Chủ tịch chắp tay dưới cằm, nghếch mặt nhìn bao quát mọi người:

- Thế nào? Các đồng chí khác có thấy đúng không?

- Đúng ạ!

- Đúng thế nào?

- Thế đấy ạ! Anh ấy hay nhiếc anh em.

- Đồng chí đã bị nhiếc lần nào chưa?

- Có ạ! Một lần tôi ốm, không đi vào rừng lấy vỏ cây về đan lưới được, anh ấy nhiếc tôi: “Cơm thì nồi lớn, nồi bé, bằng nào cũng hết. Chỉ biết ăn phưỡn bụng ra như cái ró mẹ ấy rồi dủng đà đủng đỉnh kêu nhức đầu, sốt rét!”. Chúng tôi vào bộ đội mục đích là để cứu nước, chứ có phải là để kiếm cơm đâu? Cơm là cơm Chính phủ, chúng tôi ăn chúng tôi khắc phải nghĩ, chúng tôi có lỗi thì phê bình, cảnh cáo, việc gì phải nhiếc móc như chủ nhà với thằng ở vậy?

Chủ tịch đưa bàn tay úp sáp ra phái trước, gật đàu:

- Được rồi. Các đồng chí khác?

Các đội viên tranh nhau kể. Đại khái toàn là những câu nói nặng, những cử chỉ cục cằn. Chủ tịch hỏi:

- Anh em đồng ý cả là anh tiểu đội trưởng hay gắt gỏng có phải không?

- Đồng ý.

- Còn gì nữa?

Im lặng, người nọ nhìn người kia. Chủ tịch nhắc lại:

- Ngoài tính hay gắt, anh tiểu đội trưởng còn có tính xấu gì nữa không?

Hai ba tiếng cùng kêu:

- Hết!

- Bây giờ mời anh tiểu đội trưởng trả lời anh em.


Tiêu đề: Hội nghị nói thẳng
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Tám, 2010, 04:48:07 pm
Anh tiểu đội trưởng cố cười, rồi anh cất giọng trả lời;

- Tôi xin nhận là tôi có hay nóng tính. Lúc tức lên thì nói năng không được ôn tồn. Nhưng xin anh em cũng xét cho rằng thật ra trong anh em, cũng có đội, ba người không tích cực. Mà tôi thì sốt ruột, muốn anh em thật hăng hái cho học tập chóng kết quả, công tác chạy, đơn vị ta tiến thật lực để thi đua với các đơn vị khác, chóng được giết giặc cho thật hả. Cơm gạo của Chính phủ chứ có phải cơm gạo của tôi đâu, cho nên tôi nói thế cũng không có ý gì xỉ vả anh em. Nhưng dầu sao tôi cũng có lỗi, tôi xin nhận và hứa cố gắng sửa chữa. Tôi xin lỗi tất cả những anh em đã bị tôi nói những lời quá đáng…

Anh ngây mặt ra một chút, như quên mất những lời định nói. Rồi đột ngột:

- Tôi nói hết.

- Hoan hô!

Tiếng vỗ tay bôm bốp. Đám đầu nhốn nháo, tiếng cười tiếng nói trào lên. Chủ tịch đứng lên:

- Yêu cầu im lặng! Mời anh tiểu đội trưởng về. Bây giờ đến lượt anh tiểu đội phó. Mời anh lên.

Anh tiểu đội phó bẽn lẽn lên. Anh la người Thổ. Anh lẳng lặng ngồi xuống, nhìn vào đám đông, ngập ngừng không nói. Có tiếng cười nho nhỏ ở dưới.Chủ tịch muốn lấp đi:

- Yêu cầu các đồng chí phê bình.

- Tôi xin xung phong nói trước.

- Đồng chí nói.

- Anh tiểu đội phó lì xì quá.

Chủ tịch ngẫm nghĩ một giây rồi bảo:

- Đồng chí tiểu đội phó lì xì cõ lẽ chỉ hại cho công tác đồng chí ấy. Thiếu tư thế quân nhân: cử chỉ nói năng không mạnh dạn. Phê bình vào một cuộc hội nghị bình cán thì đúng. Nhưng ở đây chỉ nói những cái gì đụng chạm đếm quyền lợi của anh em tôi tưởng không cần đưa điểm lì xì.

- Có ạ!

- Có thế nào?

- Có hại cho anh em! Thí dụ: khi đi lĩnh quần áo cho anh em, anh ấy không tranh đấu, cứ để các đơn vị khác chọn, lấy hết những cái tốt, đơn vị mình chỉ còn toàn cái xấu.

- Thế chưa chắc… à! Nhưng mà thôi, để các đồng chí nhận xét thêm.

Chủ tịch nhận ra mình cứ đối đáp anh em chan chát, có thể làm những người không quen nói, rụt rè không nói nữa. Anh nhắc lại:

- Các đồng chí nhận xét thêm.

- Anh tiểu đội phó còn kém thân mật với anh em, cả ngày không nói, không biết là anh giận hay không giận, thành thử có muốn nói chuyện với anh cũng không dám nói…

Còn nữa. Người ta còn trách anh tam vặt: mượn một cái bát ăn cơm của nhà chủ, lờ đi không trả, người ta kêu cũng không chịu nhận, làm người ta không biết ai lấy, đành chịu mất.

Anh tiểu đội phó phân trần: điểm thứ nhất, vì anh không có bản vị, cùng là anh em cả, tranh nhau làm gì? - điểm thứ hai: tính anh ít nói, không phải kiêu ngạo hay quan liêu, lên mặt; - điểm thứ ba: không phải anh tham vặt, chỉ tại anh mất ca, lấy một cái bát của nàa chủ, ăn xong để ở nhà đi tập, về thấy mất, đến lúc nhà chủ kêu, vì không lấy gì đền, nên đánh ngồi im, không nhận là mình mượn, làm cả anh em mang tiếng. Anh xin lôi về chỗ ấy; làm cả anh em mang tiếng, không nhận là mình tham…


Tiêu đề: Hội nghị nói thẳng
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Tám, 2010, 04:48:28 pm
Cuộc phê bình cứ tiếp tục như vậy mãi. Các cán bộ có khuyết điểm đều được chỉ vạch rõ ràng. Anh này có lỗi phạt bắt đứng nghiêm, bắt bò, bắt đứng chuồng trâu; anh em cho thế là làm nhục đội viên, là bắt chước cách thi hành kỉ luật của bọn người đế quốc, không biết rằng kỉ luật của quân đội dân chủ nhân dân thì phải dựa vào tinh thần tự giác của quân nhân. Anh kia chỉ đứng khoanh tay coi anh em chặt tre hoặc cuốc vườn; như vậy là coi thường lao động, là không gương mẫu. Anh có chăn đắp một mình, mặc người nằm cạnh nằm trơ; ích kỉ, không thương xót đội viên. Anh thích đội viên gọi “bằng ông”, thích ở riêng, thích bàn giấy thật oai; rất quan liêu. Anh dùng giấy chung viết thư riêng, ăn bớt của công; không liêm khiết… Anh em nghĩ thế nào, nót tất, không nể nang, che đậy. Các cán bộ trả lời thẳng thắn và hòa nhã. Điều gì có, nhận là có, và xin sửa chữa. Điều gì không bày tỏ là không, để mọi người nhận xét chung. Nhiều người thấy anh em không vạch lỗi nào, lại tự mình vạch những khuyết điểm của mình, để anh em biết mà giúp mình sửa chữa. Mọi người vui vẻ cả…

- Bây giờ đến những thắc mắc riêng của từng người…

- Tôi!

Người hăm hở xin nói ấy kể một việc làm nhiều nguói sửng sốt.

- Hồi tôi mới vào bộ đôi, tôi ở đại đội ông C. Một hôm anh ruột tôi đến thăm tôi, cho tôi một nghin đồng. Ông C.biết. Anh tôi về rồi, ông gọi tôi lên, bảo: phải đưa tiền gửi ông, khi nào tiêu sẽ lấy. Tôi mới vào,không hiểu ra sao, nên đưa cả một nghìn gửi ông. Ít lâu sau, tôi muốn mua vải may áo, đến xin ông, ông bảo: để lúc khác. Lúc khác tôi đến, ông cũng không chịu giả. Mấy lần đều như vậy. tôi hỏi anh em. Anh em bảo: Không có lệ phải gửi. tôi lại đến đòi ông. Ông gắt với tôi. Tôi cự. Ông rút súng lục, vất lên bàn, quát tháo tôi. Tôi sợ phải đi ra. Thế rồi ít lâu sau ông có giấy gọi lên trung đoàn, rồi đổi đi đâu mất, ông khác về thay, tôi không biết đòi đâu được nữa.

Cả phòng im lặng. Không ai ngờ lại có một việc quá ư vô lí thế. Đại diên trung đoàn bộ đứng lên, nghiêm nghị hỏi:

- Ngay sau khi ấy đồng chí có báo cáo với tiểu đoàn không?

- Không, vì tôi không biết ông ấy đổi đi.

- Không cần biết đến việc ông ấy bị đổi đi. Nguyên một việc ông ấy không trả tiền đồng chí, còn quăng xúng ra dọa nạt, đáng lẽ đồng chí phải báo cho cấp trên chứ?

- Tôi không dám báo cáo. Bấy giờ tôi còn ở dưới quyền ông ấy. Tôi sợ ông ấy thù.

Đại diện trung đoàn lắc đầu, cười nhạt:

- Các đồng chí đã thấy mình chưa? Khi thấy sự trái, phải có can đảm nói. Thù oán cũng không cần. Trong bộ đội ta, đôi khi cũng có người xấu, nhưng bộ đội ta là bộ đội cách mạng, quyết không dung túng những thủ đoạn cai, đội của quân đế quốc. Trung đoàn chưa biết việc đồng chí vừa mới nói. Lỗi tại đồng chí. Nhưng trung đoàn cũng đã chú ý đến tư cách không xứng đáng của ông C. vì thế, ông C. đã bị gọi về. Không phải để đổi đi nơi khác, mà là để đưa đi huấn luyện: ông C. cần có một thời kì kiểm thảo lại tư tưởng của ông, nhìn rõ những vết tích nhơ nhớp, xấu xa, tẩy rửa xạch những tính xấu đi. Bao giờ sửa đổi được rồi, sẽ trở về công tác. Nhờ cuộc hội nghị ày, biết thêm được một việc về ông C. Trung đoàn sẽ hỏi ông C. Nếu điều tra lại việc đồng chí gửi tiền là có thật, ông C. sẽ phải trả lại tiền đồng chí. Ông C. sẽ bị thi hành kĩ luật.

Việc ấy xong. Một đội viên khác giơ tay:

- Tôi cấy rẽ ruộng. Chính phủ đã ra sắc lệnh giảm tô. Khi tôi còn ở nhà, chủ ruộng hứa với tôi: mùa sau sẽ giảm. Mùa sau, tức là mùa đông năm ngoái. Thế mà tôi vừa nhận được thư của vợ tôi, nói rằng: chủ ruộng cứ bắt nộp nguyên như cũ, nếu không thì lấy ruộng về, vì tôi đi vắng, vợ tôi không có quyền giữ ruộng.

- Chị cấy có làm ruộng lấy không?

- Vợ tôi vẫn làm. Chỉ phải thuê người một ít thôi.

- Thuê cũng chẳng sao. Chỉ trừ chị ấy nhận ruộng rồi lại cho người khác làm lại. Anh sẽ làm một lá đơn, kể rõ đầu đuôi. Trung đoàn sẽ can thiệp để giữ ruộng cho chị ấy làm ăn, nuôi các cháu. Anh hài lòng chứ?


Tiêu đề: Hội nghị nói thẳng
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Tám, 2010, 04:48:47 pm
Anh nhe răng ra cười… Một anh khác phàn nàn: anh đi bộ đội, mà Ủy ban xã cũng coi như anh  những người đi vắng khác, truất phần công điền của anh đi.

Chủ tịch ỏi:

- Các nơi khác, có thế không?

Tiếng trả lời ran:

- Không ạ!

Chủ tịch:

- Tại ủy ban ở xã đồng chí kém, không chú trọng quyền lợi của chiến sĩ. Chúng tôi ghi, để nhờ trung đoàn can thiệp.

Một anh khác cũng phàn nàn:

- Ủy ban và các đoàn thể ở xã tôi cũng kém. Tôi thấy ở các xã khác, khi nhận được công văn báo có người thuộc xã bị hi sinh ngoài mặt trận, bao giờ xã cũng tổ chức lễ truy điệu, cử người đến an ủi gia đình. Tôi có ba anh em, đi bộ đội cả ba. Năm ngoái, em tôi tử trận. Ngay ở xã đơn vị em tôi đóng, đồng bào còn biết làm truy điệu, mà ở xã tôi, Ủy ban không làm gì.

Có anh lo:

- Không biết đoàn thể phụ nữ xã có chú ý giác ngộ, giáo dục vợ tôi, để nó hiểu tôi đi là vì nhiệm vụ, mà vui vẻ làm ăn, coi sóc gia đình tôi không?

Có nhiều nữa. Bao nhiêu là thắc mắc, nhiều khi khá rắc rối, lôi thôi. Anh em phơi bày hết cả ra. Rồi cán bộ, đội viên bàn cách giải thích lẫn cho nhau. Cuối cùng, anh chính trị viên kết luận:

- Các đồng chí đã nói rất thẳng. Thế là can đảm, có tinh thần đoàn kết. Có như vậy, cán bộ mới biết lỗi mình mà sửa chữa, hay điều bị gị hiểu lầm thì phân trần cho anh em khỏi giận oan. Cán bộ, đôi viên sẽ hiểu nhau thêm, thân mến nhau thêm.

Quyền lợi của anh em bộ đội, là những người vất vả nhất hi sinh nhất trong kháng chiến, Chính phủ chú ý lắm. Nhưng có khi vì nước còn nghèo, mà không giải quyết được, đó là một điều chính phủ rất lấy làm khổ tâm. Có khi vì chính sách Chính phủ đề ra, một số ủy ban địa phương không hiểu hay không tích cực thi hành; ta sẽ đề nghị Chính phủ trừng phạt những kẻ không tốt ấy. Nhưng cũng có những việc chưa giải quyết được: thí dụ như những anh em ở những làng còn ở trong tay giặc, giặc khuyến khích bọn tay sai cướp nhà cướp thóc của chúng ta. Như vậy chỉ còn một cách là đánh khỏe. Đánh khỏe, giặc chết hết, nước độc lập sẽ tiến rất mau, chẳng vấn đề gì không giải quyết được. Các đồng chí có đồng ý với tôi không?

- Đồng ý.

- Còn thắc mắc gì nữa không?

- Hết.

- Hả chưa?

- Hả rồi.

Có người khẽ nói:

- Chưa.

- Gì nữa?

- Cho đánh Cao Bằng!

Mọi người cười. Anh chính trị viên tủm tỉm:

- Đánh thì sẽ được đánh nay mai. Nhưng đánh đâu, còn tùy trên quyết định.

- Đánh đâu cũng được.

- Hoan nô!

Và vỗ tay…


Tiêu đề: Định mức
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Tám, 2010, 04:49:50 pm
ĐỊNH MỨC


Hội nghị thảo luận đến mục đích gay go nhất: định mức tạm vay cho các xã. Hầu hết các xã đều xôn xao trước con số phác định trong dự án.

Bí thư xã Tam Vịnh:

- Vụ chiêm vừa qua Tam Vịnh chỉ cấy được 51 mẫu ba sào. Cánh ven sông ba mươi mẫu, chỉm nghỉm mất rồi. Chỉ còn 21 mẫu 3 sào. Ruộng xấu. Chưa có kinh nghiệm làm chiêm. Mỗi mẫu chỉ thu được 3 tạ là nhiều. Tất cả tính già dặn lắm, mới được 63 tạ 9 cân. Thế là huyện đặt mức 6 tấn.

Bí thư xã Sơn Hòa

- Quá nửa chiêm của Sơn Hòa cũng bị ngập nước như ở Tam Vinh, 31 mẫu còn lại, bị mưa đá, còn tệ hơn ở Tam Vịnh. Lại toàn là ruộng lẻ tẻ, chỗ năm sào, chỗ ba sào, cho nên chỉ béo ri sẻ, chứ người thì chưa chắc có gì để gặt. Thành thử có mảnh chưa chín hẳn, dân đã gặt về ăn. Chẳng còn được mấy tí đâu. Mức 8 tấn huyện định, Sơn Hòa xin cho nghĩ lại.

Bí thư Yên Ninh:

- Yên Ninh đã mất mùa hơn hai năm. Hai năm nay có mấy tí thóc đâu? Ngô, có thể nhiều. cho nên cái mức huyện đặt cho, không có nghĩa lí gì đối với chúng tôi. Chúng tôi có thể vay gấp 4 lần. Nhưng mức thóc, mặc dầu chỉ có 2 tấn rưỡi cũng không thể đạt được, không biết trông vào đâu mà vay được. Có chiêm, nhưng chiêm nay nay mới là vụ đầu tiên. Khuyến khích mãi người ta mới chịu làm. Có tính cách làm thử, nên mỗi người chỉ mấy sào thôi. Không  may gặp mưa đá sâu ăn. Đang lo người ta chán, sang năm khó mà còn có thể vận động cấy chiêm khổ sở ấy nữa, thì thậ khó cho chúng tôi sau này lắm.

Bí thư xã Châu Cầu:

- Đồng chí Trúc về đã biết. Chu Cầu thật đã cạn ao, bèo đến đất. năm ngoái mát mùa, tỉnh đã phải đề nghị Chính phủ miễn thuế cho Năm nay cũng mong được đóng góp nhiều hơn các xã khác, để bù vào những lúc không đóng góp được tí nào. Nhưng hiện bây giờ, thóc mùa đã nhẵn củ tỏi rồi. Chiêm không có. Tứ thì chưa được gặt. Chỉ có một ít lúa nương, phần nhiều là của mấy gia đình Mán, ân nhân của cách mạng. Ngô cũng ít. Sắn, đến tháng 8 mới ăn được. Khoai mới bằng cái ngón tay. Thành thử muốn thì thật muốn, nhưng vẫn chưa biết lấy đâu ra cho dủ mức.

Rồi Hoàn Thanh. Rồi Xuân Trạch. Rồi Vân Lộc… Xã nào cũng vấp phải những khó khăn đại khái như thế cả. Chiêm ít. Thời tiết xấu. Dân bán thóc non hay nợ những người đặt đỗi, gặt về, trang trải xong, chửng còn được bao nhiêu. Cho nên nhiệm vụ trao cho xã nào cũng hứa: sẽ cố gắng làm. Nhưng liệu có đạt mức huyện ấn định không? Đa số xác xã đều cho rằng: khó lằm.

Đồng chí bí thư huyện đen sạm mặt, đứng lên:

- Khó thì nhất định là khó lắm. Nhưng khó thì đành phải chịu hay sao? Chúng ta phải có kế hoạch giải quyết cho bằng được.

Cả phòng nín lặng. Những con mắt căng ra. Gân góc căng ra.  Mươi cái đầu nghiêng xuống, trán tì lên bàn tay nổi cục, mắt đọc những con số trong bản dự án in đá, phát cho mỗi đại biểu một bản ngay từ đầu hội nghị. Ở đầu hàng ghế thứ ba, một anh tuổi xấp xỉ 40, nhưng không có một tí râu nào, hếch cái mặt gồ ghề, cằng cặc như một hòn đá ráp, đôi mắt sâu hoắm nhìn lên mái hội trường, một bên quai hàm vênh vênh về phía ánh sáng, nổi bật lên. Anh ngồi bên cạnh mím môi, cúi mặt, bực tức lăn đi lăn lại cái bút máy hạng bét giữa ngón tay trỏ và ngón tay ái của một bàn tay gân guốc.

Đồng chí bí thư huyện nhìn khắp cán bộ một lượt rồi cao giọng nhưng thân ái, hỏi:

- Thế nào? Các đồng chí có đồng ý thế không?

Vẫn câm như thóc cả. Cái mặt gồ thề, cằng cặc ở đầu hàng thứ ba, vẫn vênh một bên quai hàm nổi bật, soi ra ánh sáng. Dưới đôi lông mày rậm, đôi mắt sâu hoắm cứ nửa phút lại chớp một cái, đều đặn như những giọt mái nhà. Cái mặt bên cạnh vẫn cắm xuống bàn. Hai ngón tay lăn cái bút máy một cách bực dọc hơn. Thêm mấy cái mặt nữa cúi xuống, soi mói những con số trong dự án. Đôi vai béo lẳn của một chị cán bộ phụ nữ so lên một cái, như người ngồi lâu mỏi đít và như phụng phịu…

Bí thư Vân Phúc nẩy người lên như bị một con ruồi ve đốt. Anh vung tay giận dữ:

- Từ nãy đến giờ, Vân Phúc chỉ ngồi im. Vì sao? Vì Vân Phúc biết rằng: mặc dầu các xã đều gánh nhẹ hơn Vân Phúc, nhưng với khả năng ít ỏi của các xã bạn, thì gánh nhự như vậy đã đủ rồi. Vân Phúc không muốn tị nạnh với ai. Óc tị nạmh không thể có chỗ trong hội nghị của chúng ta. Cái lối đánh bùn sang ao không giải quyết được gì. Sẩy vai chị đến vai em. Mà chị cũng nặng rồi, em cung nặng rồi. Vậy chỉ còn cách là cùng mang.

Anh nói đây ra đấy lắm. Tình hình ruộng đất, tình hình dân chúng ở xã anh nhìn cho rõ thì quả đúng là tiếng cả nhà thanh. Hơn 200 mẫu chiêm nhưng ngót một nửa chìm dưới nước rồi. Có vài chủ ruộng thu hoạch nhiều, nhưng họ lại ở ấp của họ, thuộc địa hạt xã khác kia. Còn thì ruộng cũng xé lẻ, linh tinh. Dân cũng ăn chịu, ăn nợ như các xã xung quanh. Huyện đã xuống tận nơi điều tra, hiểu rõ Vân Phúc chỉ giàu có cái vỏ thôi, nên đặt mức có 36 tấn. Hôm nay, thấy Yên Ninh, Chu Cầu kêu ca mãi, chính Vân Phúc đã tự nguyện nhận thêm 4 tấn nữa, để gánh đỡ cho 2 xã bạn. Dám nhận 4 tấn, là Vân Phúc đã cố gắng lắm rồi.


Tiêu đề: Định mức
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Tám, 2010, 04:50:15 pm
Anh nói xong, ngồi mạnh xuống. Chủ tịch - tức anh bí thư huyện - nét mặt nghiêm nghị vì lo lắng, cất giọng trầm trầm đề nghị:

- Khoan đã! Các đồng chí hãy ngồi yên. Đồng chí thuyết trình viên sẽ trình bày lại một lần nữa, cặn kẽ hơn, những nhận định của huyện ủy về khả năng và những khó khăn của từng xã một để các đồng chí hiểu rằng: khi định mức huyện ủy đã đắn đo, cân nhắc rất kĩ càng. Sau đó, nếu các đồng chí thấy nhận định của huyện ủy có chỗ nào sai, các đồng chí sẽ cho ý kiến.

Hội nghị trở lại im phăng phắc. Những bộ mặt trang nghiêm lại và những con mắt nhìn lên bàn chủ tịch đoàn. Thuyết trình viên ngồi bên cạnh chủ tịch, lật đám giấy dặt lên bàn và đứng dậy. Anh là người Thổ còn trẻ lắm. Bản tính chất phác của người miền núi đã được những kinh nghiệm đấu tranh mài giũa cho sắc sảo thêm, nên anh có được một cái cốt cách vừa vững chắc, vừa nhanh. Ngay cái thể chất của anh cũng đã lộ ra một vẻ người như vậy. mặt vuông, vai  ngực rộng. Lưng rất thẳng. Bàn tay chắc nịch. Da mai mái. Đôi mắt to, nhìn thẳng nhưng chuyển động luôn luôn. Nói sấn sổ, mạch lạc, kèm những điệu tay dứt khoát. Lời nói mà làm nổi từng dấu phẩy, dấu chấm câu:

- Tiếp theo lời đồng chí bí thư, tôi xin vạch rõ cho các đồng chí thấy: huyện ủy đã căn cứ vào những khả năng và những khó khăn của từng xã thế nào, trong khi đặt mức cho từng xã, như trong dự án. Bắt đầu là xã Vân Phúc…

Thuyết trình viên tỏ ra hiểu rất sát tình hình các xã. Về mỗi xã, anh có thể nói thật rõ: diện tích cấy chiêm của nó, vụ mùa này được bao nhiêu; bao nhiêu mẫu, bao nhiêu sào bị ngập mất hẳn rồi; bao nhiêu mẫu, bao nhiêu sào còn vớt vát được nhiều ít thế nào; bao nhiêu  mẫu, bao nhiêu sào có thể thù được nhiền; dân số bao nhiêu, trong số ấy, nhà no, nhà đói, nhà còn thóc mùa, nhà đã thiếu ăn, nhà nào có thể trông vào sắn, vào ngô, thôn nào có thể vay nhiêu, thôn có thể cho vay ít ra sao… Và sau cùng, tính phác cho người ta thấy tại sao có thể thực hiện được những con số định mức cho xã ghi trong dự án…

Trình bày xong về mỗi xã, anh ngừng lại, mời hội nghị cho ý kiến. Hội nghị suy nghĩ mức định sát lắm rồi.

Thuyết trình viên ngồi xuống. Bí thư huyện đứng lên. Anh cất giọng nghiêm trang, nhỏ nhẹ lúc đầu, nhưng càng nói càng thiết tha khẩn khoản:

- Các đồng chí đã nghe rõ cả rồi. Các đồng chí không có ý kiến gì. Thật ra xã nào cũng cần cố gắng, đang có thể tiến, không có lí gì lùi, nhiệm vụ tiền phương bắt buộc chúng ta phải lãnh đạo nhân dân vượt mọi trở lực tiến lên. Nhu cầu của tiền tuyến nhất định phải giải quyết xong. Vầy thì căn cứ vào tình hình cụ thể của xã mình, đề nghị các tính cho thật cụ thể! Xã nào xét có thể thực hiện được mức, thì xung phong nhận. Còn xã nào quả là không nhận được, ta sẽ xét sau. Tôi đề nghị các đại biểu từng xã hội ý với nhau trong khi hội nghị tạm nghỉ 15 phút.

Hết 15 phút, Chủ tịch lớn tiếng mời các đại biểu vào họp lại. Anh nhắc lại lời kêu gọi của anh lúc nãy. Ngươi có cái mặt gồ thề và đôi mắt sâu hoắm đứng lên trước nhất:

- Tôi xin xung phong nhận mức.

Bí thư huyện mừng ra mặt:

- Văn Lộc hoan hô!

Hội nghị vỗ tay, reo. Có đà rồi. Một người vừa đứng lên. Rồi người nữa. Rồi người nữa. Rồi hai, ba người cùng đứng lên một lượt. Tiếng reo tiếng vỗ tay mỗi lúc thêm dồn dập. Mắt, mũi, môi bí thư huyện mỗi lúc một nở ra. Cứ mỗi người đứng lên, tay anh lại khệnh ra thêm một chút, đầu anh cất cao lên một chút. Miệng anh tươi như hoa, đọc lên một cái tên. Thuyết tình viên cắm cúi tìm trong dự án, điểm một cái gạc chữ thập chéo với cái tên vừa nghe đọc. Không khí nhẹ hẳn đi. Nhiều bộ mặt phởn phơ. Chị cán bộ phụ nữ cười tít mắt, đôi má non ướt như má trẻ con để lún xuống đôi lỗ đồng tiền thật là xinh. Riêng cái mặt đá ráp của người xung phong trước nhất vẫn không nhúc nhích. Nó trơ trơ như đá giữa những tiếng vỗ tay mỗi lúc một thêm vang dội. Chủ tịch mải theo dõi  những người đứng lên sau, không để ý. Mãi đến hết người xung phong ngớt tiếng vỗ tay, thuyết trình viên đọc lại tên những xã đã bằng lòng nhận mức rồi, cái mặt đã ráp mới vênh lên:

- Tôi xin nói.

Chủ tịch có một cái nhích mặt gần như sửng sốt. Bí thư Vân Lộc nói:

- Việc tạm vay ở huyện ta là một việc hết sức khó khăn. Cứ  gọi là mình vứ việc trầy máu mắt ra cũng chưa vị tất đã làm xong cái nhiệm vụ Đảng giao cho. Nhưng bàn cãi mãi cũng thế thôi. Việc phải làm nhất định cứ phải làm. Vất cho ai? Vì vậy, chúng tôi xin nhận mức ngay, để đỡ mất thì giờ cho hội nghị, nhưng chúng tôi xin nói trước điều này: Muốn làm xong việc này, nhất định phải cương quyết, mạnh tay. Không có mệnh lệnh của chính quyền, nhất định không xong. Không những thế, nếu chúng tôi có đề nghị một vài phương sách đặc biệt, huyện ủy cũng phải cố chuẩn y cho chúng tôi, chúng tôi mới có thể làm được việc.


Tiêu đề: Định mức
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Tám, 2010, 04:50:40 pm
Nét mặt chủ tịch trở nên lo lắng. Tiếng anh nghiêm khắc bảo:

- Coi chừng đấy chúng mình hay mắc phải cái lối bất cứ việc gì cũng dùng mệnh lệnh, xao nhãng việc giải thích, thuyết phục, động viên dân hiểu chính sách mà vui vẻ, tự nguyện, hăng hái thi hành. Đồng chí tưởng chính quyền chỉ có việc hạ mệnh lệnh bắt buộc thôi ư? Không phải, chính quyền cũngp hải vận động dân, giải thích thuyết phục phải đi đôi với mệnh lệnh, phải nặng hơn là mệnh lệnh. Bởi vì chính quyền của chúng ta là chính quyền cách mạng, là chính quyền của nhân dân, phục vụ quyền lợi của nhân dân. Chính quyền của ta do dân bâu ra để làm việc cho dân, mưu lợi ích cho dân, thì tại sao lại không thể giải thích cho dân hiểu những chính sách toàn toàn vì lợi ích chung do Chính phủ đề ra, để dân thi hành một cách sốt sắng, vui vẻ không ca thán?

Bí thư Vân Lộc đáp:

Chúng tôi hiểu thế. Nhưng riêng trong trường hợp này, trong hoàn cảnh huyện ta, giải thích, thuyết phục không, không đủ. Cần mệnh lệnh. Tôi thí dụ, nếu vụ chiêm này, ta để cho dân trả nợ thì có ông thánh về đây cũng không thực hiện nổi mức tạm vay. Dân trong làng, từ hạt muối, bánh thuốc lào đều mua chịu, đợi trông vào hạt thóc. Công nợ cũng trông vào hạt hóc. Bây giờ thóc chưa gặt về, nhưng chủ nợ, con buôn, những người đi đặt đổi đã nhăm nhăm quang gánh, chỉ đợi có thóc về để quẩy đi. Để cho họ quẩy đi, tức là thóc bị phân tán hết rồi. Có còn lại tí nào, cũng chỉ đủ thóc giống, thêm chút ít để độn với ngô, khoai. Còn thóc đâu mà vay nữa? Cho nên tôi đề nghị: Chính quyền ra lệnh hoãn nợ lại, cấm đòi nợ, cấm trả nợ, cấm đem thóc ra khỏi xã.

Anh nói xong,ngồi xuống. Lập tức cái mặt gồ ghề lại hếch lên giời và cái quai hàm nổi bật lên vênh ra phía ánh sáng. Ý kiến mới làm xôn xảo cả hội trường. Người kêu “đúng đấy!” ngươi quầy quậy lắc đầu. Những đám tranh luận nho nhở ở chỗ này, ở chỗ kia. Chủ tịch cắn môi suy nghĩ, mặt sầm tối lại. Anh quên cả nhiệm vụ giữ trật tự để hội nghị sắp ồn ồn như chợ. Nhưng từ hàng ghế cuối cùng, một người đứng phắt lên. Anh làm dữ dội như một cơn giông. Năm tay đấm xuống bàn để bắt mọi người im, anh hét:

- Không thể được! Đảng chủ trương đoàn kết toàn dân. Chúng ta phải nắm vững chủ trương đoàn kết. Phải giữ gìn khối đoàn kết hơn giữ gìn con mắt của chúng ta…

Người đang nói chỉ còn một mắt. Hai mí mắt bên liền tịt. Một đồng chí muốn kháy anh ta, hỏi một câu:

- Chắc đồng chí có nhiều kinh nghiệm đoàn kết với bọn cho vay nợ lãi rồi?

Anh nổi giận. con mắt độc nhất của anh long lên sòng sọc. Giọng anh càng bão táp:

- Đồng chí muốn nói: tôi đã mất một mắt vì bọn cho nợ lãi chứ gì? Vậy đó, đã làm sao? Bọn chủ nợ cay nghiệt có thể làm hỏng một mắt của tôi. Nhưng đế quốc có thể móc cả hai mắt của chúng ta, chủ nợ cũng như con nợ. Vả lại ngày trước khác, bây giờ khác. Những món nợ mà các đồng chí định bắt người ta phải hoãn đây là những món nợ thế nào? Phần nhiều là nợ của bà con vay giật lẫn nhau. Nó giữa bần nông với trung nông, trung nông với trung nông. Có tính cách giúp đỡ nhau nhiều hơn là bóc lột nhau. Hai là nợ của người tản cư buôn bán nhỏ, đòn gánh chúc vai, ngày ngày kiếm bữa gạo cho con. Vậy thì chính quyền can thiệp vào đó làm gì? Bắt người ta giữ thóc lại, không được trả nợ tức là gây lục đục giữa nông dân với nông dân, giữa nông dân với đồng minh rất gần gũi của họ, và cũng là của chúng ta - là những người nghèo thành thị, những người buôn bán nhỏ. Là làm cho bần nông từ nay trở đi không còn vay được nợ những khi túng thiếu. Bao vây, không cho thóc ra khỏi xã, lại càng nguy hiểm. Thật sự những kẻ ngoan cố vẫn có cách lén lút phân tán thóc đi. Những người hiền lành oán chúng ta. Dân hoang mang. Bọn đầu cơ tích thóc. Thị trường khan gạo. Giá sinh hoạt lên cao. Việc tạm vay có khó khăn, bất quá chỉ khó khăn trong huyện mình thôi. Nhiều lắm là trong một số đồng bào đặc biệt ít chiêm. Thế mà ta chỉ biết nhìn vào một huyện ta, quyết định những kế hoạch quá mạnh tay như ậy, sao khỏi làm hại lây đến bao nhiêu huyện khác? Bất cứ một lời nói, một cử chỉ nào có hại cho đoàn kết, tôi phản đối.

Anh ngồi xuống. Những cái mặt vừa cười cợt, đỏ bừng hay tái mét đi. Những con mắt nhìn xuống hoàn toàn nhận lỗi. Cái mặt gồ ghề vẫn không nhúc nhích. Nhưng con mắt sâu hoắm đờ ra một lúc. Chị cán bộ phụ nữ ngoái lại nhìn trộm anh đồng chí chột một lcái thật nhanh rồi lại quay lên, ngồi lệch hẳn người, ngoẹo cái đầu vê một bên, cúi mặt xuống bàn, cái miệng nhỏ bụm lại như phụng phịu. Hội nghị im phăng phắc. Chủ tịch dặng hắng cho thông cổ họng rồi lên tiếng.

- Huyện ủy hoàn toàn tán thành những ý kiến của đồng chí bí thư Hạ Liễu và huyện ủy nhắc lại với các đồng chí phương châm đã ghi trong dự án: phải bảo đảm iệc cung cấp cho tiền tuyến - phải giữ vững đoàn kế t- phải nặng về giải thích, thuyết phục, vận động hơn là về mệnh lệnh - mệnh lệnh chỉ dùng đối với những kẻ đặc biệt ngoan cố, những kẻ cố tình ngang ngạnh, cố tình phá hoại. Tóm lại, phải giữ sao cho trong ấm, ngoài êm, trên thuận, dưới hòa, mà vẫn vay được thóc đủ cung cấp cho tiền tuyến.

- Thế mới thật là khó đây!

Người vừa nói câu ấy một cách thủng thà thủng thắng, là anh Mán Cao Lan, mặt nhợt nhạt, môi anh nhợt nhạt, đến đôi mắt cũng lờ đờ nhợt nhạt. Anh giơ tay lên, không đứng lên, cũng không nhìn chủ tịch, cứ ngồi nguyên, uể oải nói như nói một mình:

- Ở đây chúng tôi lại còn cái này: đồng bào thiểu số chỉ có lúa cụm thôi. Lúa gặt về để cả cụm, gác lên gác bếp, không vò, đập. Bây giờ vay thế nào? Biết đằng nào mà tính. Bao nhiêu cụm là một tạ?

Chủ tịch vội gạt đi:

- Khpan đã vấn đề lúa cụm cũng khá rắc rối đấy…

Có người cãi:

- Dễ lắm, rắc rối gì!

Chủ tịch ra hiệu tay:

- Được rồi. Nhưng tôi cắt. Hội nghị sẽ àn sau. Bây giờ tiếp tục thảo luận về vấn đề nhận mức đi.


Tiêu đề: Định mức
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Tám, 2010, 04:51:12 pm
Im một lúc. Rồi…

- Khó lắm!

Chủ tịch cười, hỏi ôn tồn:

- Khó thì chúng mình chịu hay sao? Đồng chí Hạ Liễu có ý kiến gì hay không?

Anh đứng lên. Anh không vũ bão như lúc nãy, mà ung dung như chơi. Con mắt độc nhất lấp lánh cười. Miệng anh cũng tươi cười. Mạt anh phẳng phiu, bình thản, mát mẻ như tời buổi sáng. Anh bí thư Trung Lí, áo cánh dũi thùng thình, xoay hẳn người lại, khuỳnh cánh tay phải lên tên cái bàn dưới, gần ngay trước mắt chi cán bộ phu nữ chống thẳng tay kia lên ghế anh ngồi, hếch mũi nhìn anh chột, gật gù nói bâng quơ:

- Nới thế ấy mà khối con gái trẻ hơn hớn còn mê như điếu đổ cũng phải.

Chị cán bộ phụ nữ lừ đôi mắt lá răm một cái, miệng bùm bụm càng thêm phụng phịu. Anh chột trợn mắt dọa anh chàng đĩ tính, rồi mỉm cười đưa ý kiến:

- Theo ý tôi thì những nguyên tắc huyện ủy đề ra, chúng mình nhật định phải theo. Cụ thể ra thì phải thế này: vẫn cứ phải để cho dân giả nợ. Bà con vay giật tạm của nhau, bận này còn bận khác. Con nợ, chủ nợ ở đây na ná như nhau cả. Có tính cách đồng lần thôi. Nếu không giả cho người ta, chính người ta cũng đói… Nhưng nợ của nhà giàu thì sao? Theo nguyên tắc vẫn là phải giả. Nhưng ban vận động vay thóc sẽ đến nhà họ để điều đình. Họ thu được nợ về, sẽ cho Chính phủ vay. Hay là họ thỏa thuận hoãn nợ cho con nợ, để con nợ cho Chính phủ vay cũng được. Đến vụ mùa, thuế nông nghiệp tính xong sẽ đâu có đấy.

Chủ tịch gật đầu:

- Nghe ổn đấy! Các đồng chí thấy thế nào?

Một ý kiến hoài nghi:

- Chỉ sợ nói thì nghe ổn, nhưng đến lúc làm tới thì lại chẳng ổn tí nào. Người nghèo thường hăng hái xung phong, nhưng để họ xung phong mãi thì thóc giống của họ cũng không còn. Người giàu hay tiếc của, để cho họ đem quang gánh tới đòi nợ, xúc hết thóc của nhà giàu, rồi họ tẩu tán, giấu giếm đi, còn có thóc đâu mà vay nữa?

Con mặt độc nhất của anh chột lại long lên sòng sọc. Anh nổi giận:

- Đừng đánh giá thấp sức hi sinh của nhân dân. Kháng chiến đã sáu năm rồi. Đã bao giờ dân phải để Chính phủ thúc bách mới chịu đóng góp chưa? Dân hiểu nhiệm vụ của họ lắm, chỗ nào dân không hiểu là vì cán bộ tồi. Dân ỳ là vì cán bộ ỳ. Cán bộ biết vận động dân không bao giờ ỳ cả. Các đồng chí của chúng ta để làm gì? Chi bộ để làm gì? Hồi bí mật, người nào giúp cách mạng, đế quốc cắt gân. Làng nào giúp cách mạng, đế quốc triệt hạ cả làng. Ta chẳng đã thấy đồng bào Mán ở huyện ta ăn cám để nhường gạo cho giải phóng quân đấy à?

Anh cán bộ Mán vẫn ngồi y nguyên, buông một câu thủng thà thủng thẳng:

- Ngày trước họ hăng hái thế. Bây giờ vận động họ, họ lại bảo: “Chúng tôi được cấp giấy ân nhân cách mạng mà cũng phải đóng thuế à?”?

Anh chột cười, dịu lời hơn:

- Thì ta giải thích với họ thế này: Các cụ cày bừa rồi, gieo mạ rồi, cấy lúa rồi. Lúa lên tốt lắm rồi. Bây giờ pải làm cỏ, bón phân đi. Tận đến lúc được ăn cũng còn gặt hái về. Gặt xong lại phải làm vụ khác. Cách mạng là như thế. Cách mạng là ruộng nương của các cụ, các cụ phải săn sóc, chăm chút nó mỗi ngày một hơn lên, để nó càng này càng đem lại nhiều hoa lợi cho các cụ.

Anh bí thư huyện phát triển ý kiến thêm. Anh nhắc lại những thắng lợi mỗi người một lớn hơn của dân ta. Thắng lợi quân sự, thắng lợi ngoại giao. Chiến thắng Cao Lạng, Chiến thắng Trung Du, Chiến Thắng đường số 18, Chiến thắng Ninh Bình… Bộ đội lớn khỏe lên là nhờ thóc gạo của dân. Bộ đội lớn khỏe lên đánh chết được nhiều Tây. Muốn đánh chết được nhiều Tây thì dân phải lo tìm thóc gạo thật nhiều để nuôi cho bộ đội lớn, khỏe… Anh nhắc lại câu chuyện đồng bào Mán ăn cám để nhường gạo cho giải quyết quân ăn, rồi bảo:

- Giác ngộ được nhân dân, thì tinh thần của nhân dân lên cao như thế đó. Tinh thần của nhân dân bây giờ càng có điều kiện lên cao. Và, huyện ta dù có thiếu gạo, vẫn có thể trông vào ngô, đỗ, sắn, khoai. Cho nên tôi nghĩ rằng từ sáng đến giờ, chúng ta quá lo xa. Thật ra thì khéo vận động, việc tạm vay không đến nỗi như ta tưởng. Các đồng chí thấy thế nào?


Tiêu đề: Định mức
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Tám, 2010, 04:51:41 pm
Có những nụ cười đồng ý nhưng chưa ai đáp thẳng. Cái mặt đá ráp quay lại, nhìn khắp phòng một lượt - vẫn gồ ghề, câng cấc, lạnh lẽo thế thôi. Chỉ có đôi mắt sâu hoắm ngước lên nhìn chủ tịch chớp nhanh một cái, đồng thời với một cái gật đầu rất khẻo và đôi mắt nhúc nhích.

- Vậy được.
Chủ tịch lại cười. Mọi người cười theo. Cùng lúc, tiếng vỗ tay đồm độp nổi lên. Chị cán bộ phụ nữ được dịp rùng rình cả đôi vai, rùng rình cả cái lưng, và ngoái ngác cười tít mắt. Chỗ anh chột bàn tán xôn xao, nháo nhác. Riêng anh chàng có cái mặt gồ ghề vẫn trơ trơ. Anh lại hếch mặt lên nhìn mái, vếch cái quai hàm nổi bật ra ánh sáng, như lúc nãy. Nhưng bỗng nhiên anh đứng lên và đội ngột:

- Tôi có ý kiến. Chính Ủy ban huyện phải phối hợp với Liên Việt huyện mời các thân hào đến đây để điều đình.

Anh bí thư huyện tán thành:

- Không những thế. Huyện ủy sẽ phân phối tất cả các cán bộ xuống giúp đỡ cho các xã.  Chính huyện ủy cũng xuống một xã, thực hành chỉ đạo riêng. Các đồng chí với chúng tôi liên lạc chặt chẽ với nhau. Báo cáo thật đều, để gặp khó khăn, kịp thời giải quyết. Các đồng chí đồng ý chứ?

- Đồng ý lắm!

Lại vỗ tay, nhốn nháo. Chủ tịch tuyên bố: Hội nghị tạm nghỉ mười lăm phút…

Thật ra thì họ nghỉ đến nửa giờ. Bởi vì ra khỏi hội trường, từng tốp, từng tốp một, tụm năm, tụm ba, tiếp tục bàn cãi rất hăng.Anh bí thư huyển ủy lảng vảng lại gần tóp này mây phút, ghé vào tốp kia mấy phút, nghe ngóng ý kiến và góp chuyện. Nói chung, ồn lắm rồi. Anh nào cũng nhận là khó nhưng đa số tin rằng làm được. Anh chột có vẻ rất phởn, chạy lăng xăng từ đám này qua đám khác. Ai kêu ca, anh cũng múa tay lên, bảo:

- Nói cho thật các đồng chí đều quá ư dè dặt cả. Ước lượng ăn chắc quá. Chiêm xấu? Ừ thì xấu! Nhưng xấu, mỗi mẫu cũng phải được dư ba tạ. Còn thóc cũ? Chỉ còn rất ít thôi? Nhưng ít cũng phải tính chứ. Năng nhặt không chặt bị đấy à? Góp cây thành rừng chứ!...

Riêng anh bí thư xã Chu Cầu với anh bí thư xã Yên Ninh vẫn lầm bầm tính nhỏ với nhau. Mặt nhăn nhăn nhó nhó. Có vẻ lo lắng lắm. Anh bí thư huyện lại nói chuyện riêng với họ.

- Thế nào? Liệu có trôi không?

Bí thư Yên Ninh cười gượng:

- Không trôi cũng phải cố nuốt chứ biết sao?

Bí thư Chu Cầu ngoẹo cổ:

- Hai anh em chúng tôi khổ tâm hết sức. Hai xã nhẹ nhất rồi. Còn kêu ca mãi các đồng chí cho là tiêu cực. Mà nhận bừa, chỉ sợ không làm nổi thôi.

- Các đồng chí đề nghị thế nào?

- Chúng tôi cũng chẳng dám đề nghị nữa. Chỉ xin hứa: sẽ hết sức. Được đủ mức, càng hay. Nhưng nếu có khó khăn quá, bị thiếu chút ít, xìn huyện ủy cũng hiểu rõ tình cảnh cho.

- Hiểu thì hiểu rõ lắm rồi. Chúng tôi vừa gạt nước mắt vừa chất lên vai đồng chí đó thôi. Biết trước rằng dân có thể đói. Mà đói trước tiên là cá đồng chí chúng mình. Đa số nghèo, bận công tác luôn. Lại động viên có việc gì cũng xung phong. Việc này, gay go thế, tất nhiên họ lại phải xung phong để làm gương.


Tiêu đề: Định mức
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Tám, 2010, 04:52:03 pm
Đúng như lời đồng chí ấy. Anh bí thư huyện đờ mặt ra một chút. Mắt anh thờ thẫn, giọng nói rất băn khoăn, anh hỏi:

- Ăn ngô, khoai thì nhất định không tránh được rồi. Nhưng liệu dân có chết đói được không?

Anh bí thư Yên Ninh cười nhạt:

- Chết đói thì không đến nỗi. Đói thôi.

- Để lát nữa vào ta tính lại. Không thể để cho dân đói. Đói qua quýt, đói vừa vừa, đói ít ngày, còn được. Đói quá, đói lâu thì không được.

- Phải động viên cho những những người sung túc cũng trồng ngô, trồng sắn. Ăn độn thêm vào. Người giàu phải gánh đỡ người nghèo, đồng cam cộng khổ với nhau. Anh nghèo đói quá, không tham gia sản xuất được nữa, anh giàu cũng chết.

- Cần xét lại!...

Mặt anh bí thư huyện lại đờ ra, suy nghĩ. Hai người bí thư xã nhìn vào anh, ái ngại. Trông gần, họ thấy rõ hai quầng mắt của anh. Gò má anh đã nhô ra. Má hóp vào. Bốn năm trước đây khi mới tới huyện này, người thanh niên Hà Nội còn trẻ măng, trắng đỏ, rất đẹp trai. Bây giờ da anh đã tai tái, vàng vàng. Lúc suy nghĩ, mặt trông già. Hai anh chàng nông dân miền núi tự nhiên chép miệng:

- Kháng chiến thì phải khổ. Đồng chí còn chịu khổ được, dân chịu được.

- Hạ Liễu xin gánh thêm hai tấn nữa, đỡ cho hai xã bạn.

- Hoan hô!

Tiếng vỗ tay vang nhà. Chủ tịch có một thoáng ngần ngại trong mắt. Anh quay sang, nói nhỏ với thuyết trình viên. Thuyết trình viên ngẫm nghĩ trên bản dự án trước mặt anh, rồi đứng lên.

- Trước hết tôi xin thay mặt huyện ủy, hoan hô tinh thần của đồng chí bí thư Hạ Liễu. tôi mời hội nghị vỗ tay, hoan hô đồng chí bí thư Hạ Liễu một lần nữa, mặc dầu hội nghị đã vỗ tay hoan hồ rồi.

Lại vỗ tay và hoan hô vang nhà. Thuyết trình viên mỉm cười. Khi phòng họp im lặng, anh nói tiếp:

- Nhưng huyện ủy nhận thấy rằng Hạ Liễu gánh vác vừa phải rồi, chứ chẳng còn nhẹ nhõm đâu. Vậy Hạ Liễu cần đắn đo một chút. Nhận rồi không làm nổi, là hỏng việc. Có làm cho bằng được, nhưng dân oán, càng có hại. Đồng chí Hạ Liễu cần cân nhắc kĩ.

Anh bí thư Hạ Liễu mỉm cười:

- Huyện ủy nhìn thật là thấu suốt. Kể thì Hạ Liễu gánh 34 tấn cũng là khướt rồi, chư chẳng còn vừa phải như đồng chí thuyết trình viên vừa nói đâu. Có điều nếu cần cố gắng thêm, thì Hạ Liễu vân có khả năng hơn Yên Ninh, Chu Cầu.

Anh bí thư Vân Lộc cũng đứng lên, cái mặt cầng cậc vãn trơ trơ như hòn đá ráp. Giọng anh cũng lạnh lùng như vẻ mặt:

- Vân Lộc xin gánh 1 tấn cho Hạ Liễu.

Bí thư huyện reo lên và vỗ tay thật khỏe:

- Hoan hô Vân Lộc!

- Hoan hô! Hoan hô!

Tiếng hoan hô và tiếng vỗ tay kéo dài, trong khi anh bí thư huyện đứng lên vung mạnh hai tay mở rộng như một con chim đập cánh, miệng cười ngoác ra không khác gì muốn chồm qua cái bàn để sà xuống ôm lấy anh bí thư Vân Lộc. Anh này lại hếch cái mặt gồ ghề, nhìn lên mái nhà…