|
Tiêu đề: Vũ khí nước mẹ Tây Phú Lãng Sa trong Nhà Nguyễn, Thuộc Pháp và Kháng chiến. Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 08 Tháng Chín, 2010, 03:18:02 pm Các bác cựu chiến binh K ky bo ghê nhể, Phúc mới rẽ qua chút đã cấm phúc vào topic của các bác rùi, thế thì trả 81-1 thức đây.
http://www.militaryheritage.com/muskets.htm Hén, mở một topic về mục này. Các bạn biết Mẹ Ghẻ nhà ta rùi. Ban đầu, người Tầu phiên âm tên Phờ Răng Xoa thành Phật Lăng, tk16. Sau đó, nhà ta gọi là Phú Lãng Sa, tầu gọi là Pháp Lan Tây gọi tắt là Pháp. Tên Pháp được dùng cho đến nay ở ta. Ngoài ra, nước này còn được gọi là Tây, dân Âu ngày đó được gọi là Tây, nhưng do hầu như chỉ có Pháp nên Pháp là Tây. Nước Pháp nằm ở Tây Âu, nhưng giáp biên giới và va đập về chiến tranh cũng như buôn bán nhiều với Đông Âu. Trong 600 năm qua, hầu như dòng chảy kỹ thuật truyền từ Đông Âu (gồm cả Đức, vì Phổ thống nhất Đức mà Phổ là Đông Âu), sang Tây Âu, kèm theo những khoa học quản lý xã hội, chủ yếu là các xưởng thợ, rồi đến cả CNTB, CNXH và CNCS. Đông Âu cấp súng và kỹ thuật, Tây Âu đi chiếm thuộc địa. Những lúc lên cơn gian dối, Tây Âu tự chế hàng lởm đi nhồi thuộc địa, không share lợi cho Đông Âu. Nhiều khi bực mình, Đồng Âu đem quân sang tẩn, tẩn không được bằng súng thì lại tẩn bằng kỹ thuật. Cuối cùng thì Đức Ý Nhật cũng phá tanh bành hệ thống thuộc địa. Trong suốt 200 năm gần đây, từ 1700-1900, Đông Âu thực hiện công cuộc lâu dài là đẩy lùi Ottoman, thống nhất miền trung Âu, nổi lên 3 đế quốc lớn là Nga, Phổ và Áo-Hung. Pháp cùng vài nước công nghiệp Tây Âu khác luôn tìm cách bán súng cho đối địch như Ottoman, Thuỵ Điển, Ba Lan... từ nguồn lợi này, Tây Âu trực tiếp can thiệp quân sự và đỉnh cao là hai cuộc thế chiến. Tây Âu thắng trận mà lại thua, không còn là các đế quốc nữa, mà mất thuộc địa và bi h đã vào tròng nước Đức, tâm phục nhưng vẫn chưa khẩu phục, còn già mồm lắm. Pháp đến Việt Nam trong những cuộc bại trận lớn, tàn phá nặng nề chính quốc, nổi bật là Đại Quân thất bại ở Nga-> Oa-Téc-Lô Waterloo, rồi Pháp Phổ 1870. Từ sự khó khăn khi mất thế quân sự, kém cạnh tranh kỹ thuật... ở châu Âu, Anh Pháp càng tăng cường chiếm thuộc địa. Đến đầu tk20, giữa 2 thế chiến, hầu hết thế giới thứ 3 ( ngoài Đông và Tây Âu) nằm trong Anh Pháp Mỹ. Liên Minh Tây Âu có thêm nước Mỹ như hậu phương bền vững, nhưng rồi, cái hậu phương ấy cũng đến ngày thê thảm hôm nay, bại trận triền miên, kinh tế kém cạnh tranh kỹ thuật, và không còn thuộc địa để chiếm. Tất nhiên, Tây Âu còn cựa quậy dài dài, có thêm chú đồng tính chất là một phần lớn nước Tầu, tăng cường can thiệp quân sự, chính trị... để bòn mót những thuộc điạ cuối cùng. Hài hước là những cụ cựa đó lại sẽ phải cạnh tranh với chính những thuộc địa cũ đang lớn lên mạnh mẽ về kinh tế và quân sự, vì cùng là đẳng... mua kỹ thuật và gia công phần cuối. Đông Âu có thêm các nước cũng cùng tính chất, Canada, Nhật, Bắc Âu.... thì các nước thuộc địa cũ càng lớn chúng càng khoái, vì bán kỹ thuật. Trong thời gia từ sau chiến tranh Napoleon đến sau chiến tranh Pháp Phổ, nước Pháp có chính trị rối beng beng. Trong suốt khánh chiến 9 năm cũng vậy. Người ta ví nước Mẹ Ghẻ ta là một madame, bà Đầm, rất quý phái, bị thằng phát xít to con nó cưỡng bức, ấy đi ấy lại. Bà có tâm thần rối loạn của người vừa thích, vừa tức, vừa thèm, vừa sợ, vừa thoả, vừa nhục... cái sự ấy. CỤ thể hơn, mỗi lần bại trận, chính trị Pháp lại ổn định chút trong trạng thái phát rồ, lúc đó thì khoa học, khoa học súng ống tiến bộ chút. Nhưng lâu không bị ấy, thì chính trị lại bị hủ thối, thành một đống bát nháo. Ví dụ, nhờ Napoleon bại mà quân Pháp được trang bị tầu hơi nước, súng trường có hạt nổ. Hay sau 1870 đầu hàng Phổ có Gras lừng danh, vỏ đồng. Sau 1945 có MAS 49 (MAS = Manufacture d'armes de Saint-Étienne), kiểu súng ấp ủ từ đầu tk20, nhưng chưa bị ấy, chưa phòi ra được. Nói rõ ra, chính trị Pháp đã quá già, hủ thối, khi thường thì không ai nói được ai, rất cần .... ấy cho có cảm giác trẻ trung. Trong suốt thời gian dính dáng đến ta, Mẹ Ghẻ luôn có trào lưu nhái lại Đông Âu một cách mù quáng, xen kẽ những phát minh riêng chết yểu, yểu vì cập cợi, chỉ xem trọng những vỏ ngoài, mà không hiểu được cốt lõi khoa học súng, bắt chước như vẹt. Ví dụ Casimir Lefaucheux và nhiều người khác ở Anh, Mỹ a dua phong trào nạp đạn sau, đoán mò rằng các bác học Đông Âu mò mẫm nạp đạn sau để bắn nhanh, đâu có phải, người ta nạp đạn sau để bắn được đạn khít, xoắn, chính xác. Vậy nên Lefaucheux không đưa ra được khẩu súng nào ưu thế từ lần trình bầy phát minh đầu tiên năm 1826. Cũng vì lý do đó, "Le mousqueton de cent-gardes de 9 mm Treuille de Beaulieu modèle 1854 du premier type", http://armesfrancaises.free.fr/Mousq%20Treuille%20de%20Beaulieu%20mle%201854%201er%20type.html , có hẳn đạn vỏ đồng, bắn nhanh, bắn nhanh hơn các súng khai hậu Đông Âu lúc đó, đường kính 9mm ưu việt, nhưng lại kém chính xác do búa rất rung đứng, cuối cùng, kiểu "siêu hiện đại" này nhường chỗ cho súng nạp miệng cũ Fusil d'infanterie de 17,8 mm modèle 1857 http://armesfrancaises.free.fr/fusil%20d%27infanterie%20Mle%201857.html . Đến fusil d'infanterie de 11 mm modèle 1866 Chassepot lại vỏ giấy bắt chước M1841 Phổ quá lạc hậu so với các vỏ đồng khai hậu Đông Âu đương thời, như Krnka. Tabatière Mle 1867 Fusil khai hậu như Đông Âu không được trang bị nhiều trong quân chính quy, nhưng lại được dùng rộng rãi (đến kháng chiến 9 năm còn nhiều, chống Mỹ vẫn dùng=chúng bắn rất chậm nên lâu mòn, và cùng với đó là rất nhiều các phiên bản khai hậu không rõ nguồn gốc, cho thấy, tuy quân chính quy chê, nhưng dân sự và lê dương khoái, dùng nhiều, thuê làm nhiều). Và sau bại trận 1870, lại bắt chước trào lưu Berdan II, IG71, dùng khoá nòng xoay vỏ đồng, nhưng không cải gì nhiều từ modèle 1866 Chassepot. Việc sử dụng thuốc nổ mới cũng thế, cho đến nay, liệt não các xứ vẫn tập hợp trong wiki khoe nước Pháp dùng thuốc nổ có năng lượng / khối lượng lớn, ưu việt .... thật ra, thuốc nổ mới chỉ là chất liệu cho thuốc viên, và không có kỹ thuật viên thuốc, Anh Mỹ dùng cordite dẻo cho đến sau WW2, còn Cardinal de Richelieu văng nòng trong trận đánh đầu tiên. Poudre_B của wiki "three times more powerful than black powder for the same weight" http://en.wikipedia.org/wiki/Poudre_B và lợn, Gras vẫn vậy. Thuốc khoẻ thì phải bớt liều đi (5,25-> 3,3), và vẫn vậy. Đức Hồng Y Giáo Chủ bị liệt não bởi wiki nên mới sính sáng "three times more powerful than black powder for the same weight", và bay mất mũi trong trận đầu tiên, phát bắn đầu tiên trong đời của khẩu đó (chắc thuốc đã sai cộng thêm khuyết tật gì đó về cơ khí)). Nòng của Đức ông luyến tiếc viên đạn, toác ren nối receiver, bay về trước 8 mét, đây là nói đại pháo của thiết giáp hạm=loại súng to nhất quả đất, tức 380 mm CaL 45 Modèle 1935 , nạp đạn bằng thuỷ lực, chứ hổng phải súng trường nha. Ngay sau đó, tháp pháo khác của Đức Ông cũng liệt , cũng vì lỗi thuốc. Những khẩu còn lại được rút liều sẵn sàng chiến đấu, nhưng lại dẫn đến đo tầm sai và thế là Đức Ông không bắn trúng phát nào. May mà địch không biết điều đó, cho là nguyên nhân khí hậu, co cằng chạy. Đức Ông sống sót được ở châu Phi vì Đồng Minh không dánh nữa, hy vọng Đức Ông chuyển sang phía Đồng Minh, điều đó thành sự thật 10-1942, Đức Ông rụng nòng (tháp pháo số 2 tình từ trước ra sau, nòng thứ 2 trong 4 nòng, tính từ phải sang, nhìn về trước), khật khưỡng đến Newyork nằm viện. http://armesfrancaises.free.fr/fusil%20d%27infanterie%20Mle%201874.html http://armesfrancaises.free.fr/Car%20de%20cavalerie%20GRAS%20Mle%201866-74%20M80.html Trong trào lưu súng có băng kẹp đạn), Lebel nhái vội vàng phiên bản cổ lỗ Gendarmerie Repetier Gewehr System - Früwirth M1872 với băng dọc, trong khi đó, bản thân Gras rất dễ cải tiến sang có băng, do đã mất khối lượng và kích thước cho cơ cấu bịt đáy nòng không quay (do ban đầu chưa thiết kế được móc vỏ đạn cho phép bịt đáy nòng quay), bịt đáy nòng không quay rất dễ dàng thêm móc đạn trong băng.Trong khi, Mannlicher Model 1886 phải cải lại khoá nòng thành không quay để móc đạn từ băng (khai sinh ra khoá nòng chèn nghiêng). Vì đạn chọc nhau phát nổ trong thời đạn đồng cứng, nhọn (Früwirth M1872 là đạn chì), mà Lebel cải tiến cải lùi, cuối cùng dùng băng ngang như thiên hạ trong model 1892. Nhưng, người ta làm bịt đáy nòng xoay để làm khoá nòng xoay có tai, rất nhẹ, do vùng chịu lực mạnh rất ngắn, nhưng các Lebel dù cải tiến cải lùi thì vẫn dùng cái tay kéo và thân hộp khoá nòng (receiver) to khủng của thời Gras còn chịu áp lực đạn nổ, hài đến cái cơ cấu nối bịt đáy nòng-tay kéo, M1892 quay cùng nhau nhưng vẫn dùng cái móc của thời... ly hợp Gras, đây là đỉnh cao của hài hước trong thiết kế súng, model này là tiền thân cho Anh Đô Si Noa chúng ta được thừa kế. Tuy vậy, ở sát Đông Âu, thì trong khối Tây Âu Anh Pháp Mỹ, bà Đầm Son loè được khối Mèo. Người Anh ngay gần Đông Âu thì bĩu môi, họ cũng biết nhái súng Mannlicher của Áo. Còn các bác Mèo sái cổ ngưỡng mộ Đầm Son. Ví dụ, loại đạn lõm đuôi đã được dùng nhiều ở Đông Âu (không dùng ở Dreyse M1841 Phổ thời gian đầu do đặt hạt nổ đúng chỗ lõm), ví dụ, các mẫu đạn ban đầu Kammerlader-1842 của Na Uy. Thế nhưng, ở Mỹ, đạn này có tên Miniê, một sỹ quan Pháp mang sang đó năm 1859. Ngày nay, người Mỹ vẫn gọi đó là đạn Miniê, và họ có nhiều phát minh nhất thế giới, trong đó có toàn bộ các chi tiết AK, cũng là từ đó. Suốt tk20, Mỹ nhái pháp Pháp, lựu pháo và pháo săn tăng như nhau...(như Longtom dùng ở ta), cũng vì ngưỡng mộ Đầm Son. Đỉnh cao của ngưỡng mộ là câu chiện hài Colt, Chauchat->BAR, Chauchat 20 viên, BAR cũng 20, Mèo ngưỡng mộ luôn cả cái cố tật đạn côn với gờ Lebel, gia thêm dốt nát của Chauchat, băng quá cong, không quá được 20 viên (đã cong kịch). Các bạn biết ko, người Mỹ và rất đông dân tiếng Anh gọi kiểu khoá nòng quay cán tròn xoay là "kiểu Pháp", mặc dù, nó xuất phát từ Dreyse M1841 Phổ, qua các kiểu súnng khác nhau, và Mauser, Mosin, AK vẫn thế. Cũng tôm cá đồng bóc, các bác Mèo cũng như Đầm Son, bàn thiết kế vũ khí trong salon, mục tiêu là bắn thủng các quý bà quý cô cầm cổ phiếu, chứ không vì mục tiêu bắn thủng địch, và trong các "trận đánh" đó bên mèo hồi cuối tk19 đầu tk20, thì "kiểu Pháp" rất sang trọng, chứ không bác Mèo nèo nói đó là toàn "kiểu nhái Đông Âu". Cái duyên Đầm Mèo có bác vua buôn vua súng trường Colt, chiện về bác còn nhiều. Sau 1945, trong trào lưu súng trường xung phong, Armalite chưa kiểm tra kỹ đã nhai lại cái "key" của AG-42 Thuỵ Điển, key này có nguyên lý giống đúc, nhưng hình dáng làm ngược với phát minh mà chỉ riêng Mẹ Ghẻ Đại Tây Phú nhà ta dùng trên thế giới, đích thị là kiểu Pháp, là trích khí ống dẫn, đẩy trực tiếp bệ khoá nòng, sau một thời gian rất dài đình đốn (bắt đầu có bản vẽ từ 1900), mới thấy trong MAS-49 ( ta gọi là MAS bán tự động, max bán tự động ). Tuy vậy, MAS này có key ngược với Armalite AR-15 và AG-42. Thật ra, người Thuỵ Điển không cần nhiều súng tốt, chỉ cần có thiết kế súng, để không phải mua của bên nèo trong WW2, mà mua của bất cứ thằng nèo, cũng bị thằng kia bắn vẹo sườn tắp lự, và họ đã thực mục sở thị và kêu ca nhiều về cái kiểu trích khí này rùi. (Và cũng thật ra, MAS-49 chỉ hoàn thiện khi nhái AG-42 cái khoá nòng với bệ khoá nòng rất dễ sản xuất, theo mẫu SVT, chính xác hơn là khoá nòng MAS-49 rất giống SKS xê ca xê). http://www.gotavapen.se/gota/artiklar/ag42/ag42.htm http://world.guns.ru/rifle/rfl17-e.htm http://www.gotavapen.se/gota/artiklar/ag42/ag42eng.htm Sau đó, thay mặt AG-42, đến khẩu AR-18, phiên bản hoàn thiện của AR-15, đã bê cái trích khí của SVT về. Chán đời cho Tokarev, ông chót theo + sản trong thời chiến tranh lạnh, không thì đòi được khối măn ni license của AR, FN FAL, G36, XM8.... Ngay cả G43 vẫn thế, có điều, sau 1945, SVT mải vui chiến thắng quá mà quên đòi... xiền license của chú tù binh. Nhưng chú đẻ non AR-15 vẫn lên ngôi sống cạnh AR-18, bất chấp tất cả những đồng minh thân cận nhất của Mỹ như Nhật, Anh, Canada, Úc.... đều dùng FN FAL và AR-18. Đó là cái mà nước Pháp xuất khẩu được về mặt kỹ thuật súng ống, kỹ thuật chính trị rối ren, kỹ thuật nhồi súng lởm, kỹ thuật vua súng trường-tức độc quyền súng trường tiêu chuẩn, kỹ thuật bảo vệ vua đẻ non, vua lởm... Và kỹ thuật bại trận triền miên, không khi nào thắng trận... nhưng vẫn xưng là siêu cường. Kỹ thuật đó mút ngân sách không phải bằng vật lý, pháp lý... mà bằng sinh lý, loè loẹt, phấn son, đồng bóng, ảo giác, nhồi sọ... và gian trá. Thực chất, đó là kỹ thuật bê bối, càng bê bối, càng không cạnh tranh kỹ thuật, càng kém kỹ thuật, càng bê bối. Sau chiến tranh VN, thì về khoản này, anh Mèo cũng quay sang Đức, lúc đó nhảy từ Đông sang Tây Âu, bà Đầm Son, Mẹ Ghẻ của chúng ta lại vêu mõm, đến cả cái đó cũng không xuất được. Nước Pháp bán súng ống cho Việt Nam từ thời Gia Long cõng rắn cắn gà. Gia Long cắm con, lấy tiền mua súng, tranh thủ lúc nhà người ta có loạn mà cướp lấy, và bán nước từng mẩu, dần thành từng mảng, và bán hết, chúng ta biết rồi. Trong thời gian nhà Nguyễn cầm quyền, thật ra, súng pháo Pháp không nhiều. Về pháo, đa phần vẫn là pháo thừa kế kỹ thuật Thần Cơ Pháo, với cốc mồi vuông, có nắp trên sâu, để cắm chèn gỗ phòng ẩm, rất đặc trưng của nhà ta. Một số pháo nhập khẩu đa phần kiểu Anh, được Mỹ bán tháo vũ khí quân miền Nam sau Nội Chiến, đặc trưng bởi kiểu cốc mồi có nắp bản lề = phát minh của Armstrong-Frederick đầu tl18 ở Anh (rất giống các cốc mồi trong các loại Thần Cơ tầu tk15, khi người Anh đi đến các xứ ẩm, họ thấy cần kiểu này). Ngoài ra, Một số khẩu Carronade và hải pháo nhỏ (kiểu ship of the line Anh trước Nội Chiến Mỹ, lai giữa lựu pháo và pháo nòng dầy Đông Âu, để bắn đạn xuyên đường kính lớn, không xiên vào gỗ bởi lỗ nhỏ ít chảy nước, mà phá vỡ gỗ). Điều này cho thấy, tiền của Pháp không dành mua súng Pháp, sau đó, tiền của Triều Nguyễn cũng thông qua các thương lái mua lại súng... cũ, về pháo thì chủ yếu từ Anh và hàng thải nội chiến Mỹ. Và cũng tất nhiên, với trang bị lôm côm như thế, nhà Nguyễn không hề có một học thuýen quân sự đúng đắn, một thiết kế tiêu chuẩn rút từ học thuyết đó, dẫn đến hướng phấn đấu đúng đắn. Không những thế, những tài nguyên quý bị dồn vào các pháo lế, như 9 khẩu "Cửu Vị Thần Công", lại còn 3 khẩu "Bảo Quốc An Dân" không rõ mục đích, trên đường chở ra bắc bị đắm, mới cẩu lên được, tất cả các khẩu này đều có thiết kế Đại Cồ Cạc, đặc trưng ở cốc mồi. Nói về cái mạt hạng của Nguyễn Triều thì còn rất nhiều. Tiêu đề: Mẹ Ghẻ xét con trước khi chén. Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 08 Tháng Chín, 2010, 03:48:26 pm Chúng ta cần ghi nhớ rằng, đến MLE 1874 GRAS, súng vẫn được thiết kế để chủ yếu làm thủ công. Một số khâu như khoan và xọc pháy đứng), đã có máy, nhưng đều được thiết kế để có thể làm thủ công, rãnh xoắn GRAS vẫn dùng loại dao như giũa luồn trong nòng.
Cái máy tốt nhất của Tây lúc đó có khi là bế lò rèn, lò nấu thép... có động cơ công suất lớn, nhiều khi chỉ là guồng nước được dùng đến sau WW2 ở Szech và Hung. Schreiner viết: “Vũ khí của họ thuộc loại chậm hơn một thế kỷ. Thí dụ, súng trường là loại súng từ thời đá lửa (loại Saint E1tienne, kiểu năm 1777 về trước). Ở đó có cả súng châm ngòi kiểu Tàu”. Thái Hồng, sđd ( Đại Nam thực lục ), tr. 160 Đó là loại thạch cơ, hay thường gọi là súng điểu thương, là vũ khí thông dụng trong thời Trung Cổ (thế kỷ XIV trở về trước): “Súng điểu thương cò bằng đá lửa, bắn xa độ 250 đến 300 thước là cùng. Mỗi đội 50 lính thì chỉ có 5 người có súng điểu thương, mỗi người chỉ được bắn có 6 phát mà thôi. Hễ ai bắn quá số ấy thì phải bồi thường. Muốn bắn phải lấy thuốc súng (đựng trong một cái bao mang ở nịt lưng) bỏ vào nòng súng, dùng cây thông hồng nén thuốc vào cho chặt rồi bỏ viên chì (đựng ở cái bầu mang ở cổ) rồi bóp cò cho viên đá nảy lửa làm cháy thuốc ngòi. Bắn được một phát tốn nhiều thời giờ. Chưa kể là có nhiều khi bóp cò, mà đá lửa không bật lửa, lại phải tháo ra nhồi lại tốn hơn gấp đôi thời giờ”. Thái Hồng, sđd, Tr 160 Súng cá nhân đã vậy, pháo thì sao? Chính tướng Rigault De Genouilly miêu tả pháo của ta: “Hỏa lực của địch không làm thiệt hại chúng tôi mảy may nào, cho dù đạn pháo của họ bắn trúng vỏ tàu của ta”. De Larclause viết: “Người An Nam đã cố gắng cải tiến rất nhiều, nhưng họ vẫn không thể làm chúng ta lo lắng, vì đường đạn đại bác của họ chỉ đạt đến 1.200m là cùng... Đại bác của họ bằng đồng hay bằng gang, đủ các kiểu, trông thì đẹp nhưng khó di chuyển, bố trí kém, thuốc lại xấu...”. Schreider nhận xét chung các loại pháo của ta: “Không một khẩu pháo nào của họ đạt tầm bắn 1.500m”. Tiêu đề: Musket Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 08 Tháng Chín, 2010, 05:10:17 pm Về vũ khí. Chúng ta đi cái dễ hiểu hơn là súng trường đã, súng trường, dẫu sao vẫn là vũ khí quan trọng nhất của quân đội. Mẹ Con nhà ta có quan hệ súng ông lâu dài 2 tk rồi, và súng trường có mặt từ buổi đầu MLE 1777, thuỷ chung đến buổi cuối, MLE 1949, MAS-49. Bắt đầu của súng trường Pháp là FlintLock Musket. Musket không có từ tương đương trong tiếng loài cạc cạc. Musket trong tiếng châu Âu bao gồm các đời từ Hoả Thằng Câu Thương=kiểu hoả mai mồi thừng có máy lò xo, cho đến liền trước đời có vỏ, câu là cái móc, vòi muỗi, musket là con muỗi tiếng Ottoman thời 15xx, trên đời kiểu serpentine có cò của nỏ hình chữ S, xuất hiện ở Âu trước musket, nhưng vẫn dùng thừng mồi=hoả thằng, hoả mai. Cho đến các đời dùng hạt nổ như MLE 1822, MLE 1842, MLE 1857... Không có ranh giới thật chính xác, vì định nghĩa từ mỗi nước có độ lôm côm khác nhau, ví dụ, Berdan trong bản vẽ đệ trình lên hội đồng vẫn khi là musket, nhưng sau đó, được quy định là vin tov ka Винтовка Бердана. Nhưng, có thể hiểu, musket trong tiếng châu Âu là súng nhồi miệng nòng, có máy cò dùng búa lò xo. Súng musket có các loại hoả mai mồi thừng Điểu đầu súng WHEEL LOCK, Điểu đầu súng Snaphaunce, Điểu đầu súng Flintlock, điểu đầu= đá lửa, thêm Snapping matchlock= hoả mai mồi thừng nhưng búa có lò xo, máy cò kiểu hạt nổ Caplock mechanism những vẫn dùng máy kiểu flint lock như MLE 1822T. Khác với serpentine , búa (cả mồi thừng, đá lửa, và hạt nổ) lò xo có hoạt động dứt khoát, không lượn lờ điểm hoả bậy, khi điểm hoả thì bật tưng mạnh mẽ, đảm bảo ít thối và thời điểm nổ chính xác theo đường ngắm. Musket không phải hoả mai, gọi hạt nổ MLE 1822T là hoả mai thì người ta khinh cho như khinh chó sa mạc thối não. Đến thời MLE 1866 Chassepot nạp sau có vỏ thì không còn là musket theo nghĩa hiện tại. Nhiều súng khai hậu (hoán cải từ musket sang có vỏ bằng mở sau nòng, mở sau=khai hậu), vỏ đồng, nạp sau, đạn nhọn, có rãnh.... vẫn dùng búa kiểu flint lock, thời của chúng, chúng vẫn được gọi bằng tên musket, có lý, vì chúng vẫn có vòi muỗi, tức búa ngoài, nhưng nay thì không. Ví dụ, Fusil à tabatière système 1867 là khai hậu. Quân chính quy Pháp chỉ có 1 đời tabatière système 1867 và một đời chế tạo mới sai hướng Le mousqueton de cent-gardes de 9 mm Treuille de Beaulieu modèle 1854 du premier type (có 1853 ) là khai hậu. Nhưng dân sự và bán quân sự có rất nhiều khai hậu các loại, ở ta phổ biến khai hậu Pháp là lạ, có khoá nòng đứng như Beaulieu modèle 1854 , nhưng búa quay chính giữa báng sau nòng, kiểu búa xuất hiện khi có lò xo nhẹ nhỏ hơn từ 186x, 187x, có thể không có tên chính thức trong quân Pháp. Súng kíp là súng dùng hạt nổ như súng kíp Người Mèo, MLE=modèle 1822T, 1842, 1857. Súng kíp là một loại musket . Musket trang bị chính thức trong quân Mẹ Phú có nhiều, bắt đầu chính thức từ 1714. Có các đời chính (và dĩ nhiên mỗi đời có nhiều bản), là MLE 1717, đá lửa. 1728. 1766. 1777. 1822 MLE 1822T (hạt nổ). 1842. 1857. Các phiên bản này về cơ sở giống 1822, tức 1777, cải sang hạt nổ. Ngoài ra, còn có súng ngắn các thể loại. Súng trường trợ chiến (như trung liên ngày nay), có MLE 1831 22mm, Le fusil de rempart de 21,8 mm modèle 1831 http://armesfrancaises.free.fr/fusil%20d%27infanterie%20Mle%201777%20an%20IX.html Trong tk18, năm 1717, Pháp bắt đầu chính thức trang bị súng trường tiêu chuẩn cho quân đội. Điều này đánh dấu 2 điểm, một là, loại súng trường mới, súng trường thật sự, vua vũ khí cá nhân, đã đến nước Pháp. Hai là, Pháp đã có quân đội chính quy hiện đại, thống nhất toàn quốc, chữ không còn là thời phân tán phong kiến, hay các đơn vị đánh thuê, mạnh ai trang bị lấy. Loại súng trường mới dựa trên ưu thế nòng khoan, nên dài và nhẹ cỡ 4-5kg, thay cho 9-10 kg trước đây, dùng làm cán lê được trong giáp lá cà, và vì thế, giáo dài về hưu hẳn sau 300 năm hộ vệ "súng trợ chiến", tức súng cá nhân nặng mà ngày nay là trung liên. Thời điểm này đi sau Ottoman, Thuỵ Điển, Nga, Phổ, Áo... cuối tk17 và trong Đại CHiến Bắc Âu những năm đầu tk18. khoảng 166x, kiểu máy cò flintlock, kiểu máy cò đá lửa tin cậy khoẻ mạnh xuất hiện ở Paris. Kiểu máy có này có thuộc tính, ngoài chất kỹ thuật, là sự chuyên môn hoá trong sản xuất bộ máy cò. Nó được làm ở các xưởng riêng, như Tuyn (nay là Nationale d'Armes de Tulle , MAT, có cái MAT-49 nhà ta quen dùng, gọi là các khẩu Tuyn), từ đó chuyên môn hoá khác khâu gia công kim loại, kết hợp được các trung tâm kỹ thuật với các chuyên môn và đẳng cấp rất khác nhau, cho ra súng trường thống nhất, nhiều, tốt. Ban đầu, máy cò kiểu này được nhập từ Đông Âu, chủ yếu là vùng Nam Đức ngày nay, ngoài ra còn có Thuỵ Điển, Phổ và một vài vùng ở Đức và Áo-Hung sau này, việc khoan nòng thực hiện ở Anh Pháp theo tiêu chuẩn Phổ và Áo. Sau này, Anh Pháp tự đề ra tiêu chuẩn thống nhất riêng và làm lấy máy cò. Vào 1700, bộ máy cò flint lock từ con số rất ít đã chiếm sản lượng lớn, Tulle chuyển sang chuyên làm máy cò, tạo tiền đề cho việc áp dụng lần đầu tiên súng trường tiêu chuẩn. Trong suốt thời gian cho đến hết chiến tranh Napoleon và những năm đầu tiên của chính quyền mới, cho đến model 1822, kiểu súng trường trên không biến đổi nhiều. Ban đầu, chúng nặng 6kg MLE 1717, đường kính 19mm MLE 1717. Sau đường kính 17-18mm MLE 1777, nặng cỡ 4,5 kg MLE 1777 (5kg cả lê). Ban đầu 1,6 mét MLE 1717, sau là 1520 mm không lê. MLE 1777 1,9-2 mét có lê. MLE 1777 bắn đạn nhỏ hơn cỡ nòng 1mm (vì nòng đạn nhiều dị tật sai số, nhỏ dễ nạp, và do đó rất phân tán); đạn 16,5mm; trung bình 27,19 g; liều 12,24 g; Sơ tốc (sử dụng nòng giả cồ khoan máy, thuốc tốt bằng hoá chất đẳng thí nghiệm ngày nay), 420m/s. Tốc độ bắn tối đa 3 phát / phút; Tầm sát thương 250 mét. Tầm tối đa ước 1000mét. Tất cả các súng này đều dùng máy flint lock, tức kiểu máy đá lửa đời cuối sau này dùng cho cả hạt nổ. Máy này có 3 nấc búa, nấc nghỉ (đã bắn rồi), nấc nạp đạn ở giữa=không đủ sức đánh lửa để an toàn, nấc đã lên cò sắn sàng bắn sau cùng. Liều đạn được đặt trong hộp đeo thắt lưng, liều đã đong sẵn đựng trong ống giấy hình trụ, cắn xé đầu ống , ống nhỏ đổ gọn vào nòng. Kiểu súng này được nhà Nguyễn gọi là "thạch cơ điểu thương". Súng đá lửa dược các nước chữ vuông gọi là Điểu đầu thương, điểu thương (tầu), điểu đầu súng, điểu súng (Nhật, Cao Ly, Mông Cổ, Vịt Ngan).... Riêng cái nhà Nguyễn danh giá xin sử Thanh về dèm Quốc Sử trong Khâm Giám thì dùng từ Tầu= thương. Nói rộng ra chút, từ súng là cái lỗ tra cán dao, được nhà Nguyên dùng, nghĩa quân miền Nam nhặt được súng Triều Đình và dùng năm 1352, sau đó nhái được với chất lượng thuốc tồi, nhưng không biết Triều Đình gọi là gì, mới đặt tên là Hoả Thương=Giáo Lửa, từ đó, Tầu không dùng từ súng. Những ông nho tác tộ như Thiều Chửu mới viết "súng là từ chỉ cái súng cổ", được chó sa mạc la liếm đến nay, vì ông này có công tự tử bởi lý do gì đó. Tầm đạn sát thương cao, nhưng tầm bắn hiệu quả theo nghĩa ngày nay rất thấp, chỉ dưới 50 mét, còn cụ thể là bao nhiêu ở dưới 50 mét thì khỏi bàn nữa, chắc chắn là đa phần không đến cỡ 30 mét như nhiều súng ngắn ngày nay. Tầm bắn hiệu quả thấp do tầm bắn chính xác thấp, ở 50 mét, bắn trung bia hình người với tỷ lệ thấp, do đó, súng không cần thước ngắm mà chỉ có mẩu đầu ruồi đơn sơ, thường là đồng thau hàn lên (hàn đúc) rồi gò, giũa lại. Do tầm đạn chính xác thấp và tốc độ bắn chậm như thế, nên chiến thuật chủ yếu của súng này là đội hình dàng hàng ngang hình chữ nhật, tuỳ đơn vị cần bắn nhanh chậm mà cànng nhanh càng nhiều hàng, hàng đã sẵn sàng bắn lên đầu nhả đạn rồi lui xuống dưới, mỗi hàng có một số, sỹ quan hô 1 số thì các hàng cộng với số của mình mà ra hiệu lệnh cho mình: chống súng, cắn vỏ, đổ thuốc, lắp đạn, nhồi miệng, lên cò, bắn. Khi ít quân thì bớt hàng đi, đa phần rút tối thiểu là 3 hàng khi tấn công.... Dàn hàng như thế để bắn lấy hàng, bắn diện tích, và dàn hàng như thế không chết nhiều vì địch cũng chính xác như ta mà thôi. Khi xung phong, thì chạy cấp tập và dùng lê, súng hầu như không tác dụng, vì vậy, các đơn vị công kiên, hải quân khi xáp tầu... đều mang theo nhiều súng ngắn, thậm chí mỗi người có nhiều súng ngắn hay súng ngắn nhiều nòng, nhưng cũng chả được bao, vẫn lê là chủ yếu. Kiểu 1777 là định hình cho súng trường Pháp dùng suốt chiến tranh Cách Mạng , Napoleon... và có sản lượng cao nhất, dĩ nhiên, sau này bán thải và hoán cải cũng nhiều. Kiểu 1822T dùng hạt nổ rất giống kiểu 1777, có thể hoán cải từ súng cũ hay làm mới. MLE 1877 có tên thuyết minh đẩy đủ, lơ phu sin, là "Le fusil d'infanterie de 17,5 mm modèle 1777 modifié an IX". Các kiểu không cải tiến nhiều của MLE 1822T, tức vẫn là MLE 1777 nhưng dùng hạt nổ, là 1842, 1857. Từ đá sang hạt, cũng như từ nạp miệng thành khai hậu, có nhiều khẩu thiết kế mới chế tạo mới, có khẩu hoán cải từ súng cũ, có khẩu chế tạo mái nhưng theo mấu hoán cải... Riêng về hoán cải từ MLE 1777 sang hạt nổ rất nhiều, nhưng sang khai hậu thì chỉ nhiều ở thị trường tự do, quân Pháp ít dùng. Phiên bản MLE 1877 là súng trường sang nhất nhà Nguyễn, "thạch cơ điểu thương", quân sang trọng kinh thành 50 người 5 khẩu, thằng nào bắn quá 6 viên phải đền... như trên. Đến khi gần mất nước, nhà Nguyễn chế được bộ cò Thạch Cơ Điểu Thương, các thối não la liếm là tự hào lắm lắm. Phải chế là vì Tây dừng sản xuất lâu rồi và bán hết hàng tồn từ tám hoánh, bọn Mã Tà Ma Ní, cũng như Tầu Ấn muốn thải cũng chả còn. Và trong lúc đó, chúng ta có từ lâu súng kíp Mèo sang hơn Tây MLE 1857, cũng như sắp có Gras nòng trơn của Cao Thắng. Tiêu đề: Bình Ảnh Pháo Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 08 Tháng Chín, 2010, 06:46:26 pm phát minh của Armstrong-Frederick đầu tl18 ở Anh , loại pháo ngoại phổ biến của nhà Nguyễn, không phải pháo Pháp. Đáng chú ý, kiểu cốc mồi này có phần giống với Thần Cơ Thương = súng nhỏ Tầu thời Hồ Nguyên Trừng 14xx.
(http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/nong_day/can71.jpg) (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/200881314170555.jpg) Một vài súng cá nhân trong thế hệ "Thần Cơ Thương Pháo", tên hiệu danh giá mà nhà Minh từ Mình Thành Tổ gán cho súng Đại Cồ Cạc, để phân biệt với súng lởm nhà họ. Thần Cơ là nguyên lý, máy móc của thần thánh. Trong hình, cái cốc mồi có bản lề đây, kiểu Tây trên chỉ là đơn giản hoá cái cốc mồi này. Cốc mồi Thần Cơ còn có đe, lỗ dẫn hoả và máng rất đặc biệt, ngoài việc châm thừng và nắp khi đặt trên súng đơn giản, nó còn có đồ gá để lắp máy cò đến nay vẫn chưa rõ. Đồng thời, Thiên Tự (trên cùng) đã đào được 1 khẩu có "mộc mã tử", trước đây vẫn là điều bí ẩn trong sách cổ. Thời Kháng Chiến Chống Mỹ, trong một chương trình nghiên cứu mà bạn Tầu Béo Tốt giúp ta, có đào được 1 khẩu còn đạn giải thích từ này, tức đạn có lèn gỗ để chống ẩm buồng thuốc và làm kín nòng khi bắn. Trong khi mua lại súng cũ thải Tây có cốc mồi nhái không đầy đủ Hồ Nguyên Trừng sau 400 năm, nhà Nguyễn hèn hạ xin sử Thanh về dèm Quốc Sử, bôi xấu ông. Tây Anh Cát Lợi dùng đồ này chắc là cho mục tiêu ăn cướp miền nhiệt đới mưa nhiều. (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/minh_trieu/01300000358407124094415796814.jpg) Một số khẩu Carronade, loại cối bắn ngang đặt trên tầng trên cùng của ship of the line kiểu Anh Quốc, thấy ở Nguyễn.Trong "bộ sưu tập thần công" dưới chân thành cột cờ, có một khẩu (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/6/69/Caronnade-schematics.jpg/800px-Caronnade-schematics.jpg) Cốc mồi của Thần Cơ Pháo=súng to kiểu nhà ta truyền từ thời Hồ, nhìn trên xuống, cốc hình vuông, đoạn miệng lỗ to để cắm gỗ lèn chống ẩm. Kiểu cốc mồi Tây hình phễu cũng được nhà Nguyễn đúc. (http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/may_sung/thaanf_cow_thuwowng_phaos_vowis_-1.jpg) Không hiểu bảo tàng xác định của Tây Sơn hay Nguyễn. http://www.mientrung.com/content/view/4557/128/ Cốc mồi Armstrong-Frederick ở khẩu thứ 2 từ dưới lên, đó là nòng đặc trưng của Anh Quốc, khá nặng so với pháo dã chiến lục quân, thường được dùng cho tầu hạng ship of the line thờ trước nội chiến Mỹ (thời Nelson). Pháo đa năng có thể bắn trái phá ( chức năng lựu pháo howitzer ), lại vừa có thể bắn đạn xuyên ( gun). Trên tầu, khi bắn đạn xuyên phá, người ta không dùng đạn nhỏ, gang đặc như ở trên bộ, mặc dầu đạn gang đặc đường kính nhỏ bắn tin và xuyên đất đá sâu hơn. Khi bắn tầu địch, nhiều khi vỏ gỗ dầy cả mét, thường là nửa mét, đạn gang đặc xuyên lỗ nhỏ, gỗ nở ra, ngấm nước rất chậm. Vì vậy, tầu chiến thường dùng đạn lớn, gang rỗng. Khi nhồi thuốc nổ (đạn phá), thì sơ tốc quá lớn của gun có thể làm trái phá phát nổ trong nòng hay lúc đập vào vỏ tầu địch=giảm tác dụng xuyên, để tránh điều này, người ta trộn vào trong thuốc các cầu gang, đá, hoặc vách gỗ, làm giản áp lực trong khối thuốc khi gia tốc lớn. 3 khẩu trên là súng lớn bắn đạn xuyên trên bộ, thuần chủng, không lai lựu pháo thành đa năng, sơ tốc lớn, đạn nhỏ, tỷ khối đạn lớn, bắn rất tin. Thường được dùng trên bộ, để công thành hay bắn thiết bị công thành, bắn mục tiêu di động. Cả hai loại pháo này đều rất có thể do người nước ngoài mang từ Âu Mỹ đến hay là đúc bởi chuyên gia nước ngoài, kiểu này được chế tạo vào khoảng cuối tk18 ở Anh, và các nước thích nhái theo Anh, từ Tây Ban Nha cho đến Ấn Độ, Iran, Đông Timor (Hà Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha). Ở Hà Nội, pháo bắn đạn xuyên đồ nội (pháo nội không có lựu pháo), chủ yếu có tỷ lệ chiều dầy và cấu tạo nội, hơi khác. Việc xác định pháo đích xác của Anh hay không thì phải căn cứ vào cỡ nòng, tỷ lệ chiều dài, tất nhiên là cấu tạo chi tiết như đầu ruồi, cốc mồi, chữ khắc.... (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/phao_co_viet/images17222_daophathien311.jpg) Súng hộ thành cung đình Trung Ương Huế. Gần là lựu pháo Cách Mạng Pháp, còn có tên là kiểu Nã Phá Luân Napoleon. Loại lựu pháo đa năng, bắn đạn trái phá đường kính lớn, nặng, mà thân pháo lại nhẹ. Khi bắn đạn không nổ công thành hoặc tầu biển cũng dùng cầu gang rỗng, đạn đá như hải pháo Anh Quốc, nhưng thân pháo nhẹ hơn, cơ động hơn. Pháo Cách Mạng Pháp học nhái theo một số đặc điểm rất ưu việt hình thành trong pháo Lục Quân Nga tk18, nhưng nặng hơn Nga, sau đó, ở thời đại mới, xe to đóng nhiều ngựa tốt hơn, bánh pháo cũng tốt hơn do nhiều thép (đai bánh trước đây khá tệ, làm bằng đồng=yếu, hay thép Damacus=đắt), pháo Nga cũng to nặng ra và có hình dáng như pháo Pháp, bắn đa năng, cả nổ cả xuyên, đầu tk19 Xa xa là Carronade, loại cối bắn ngang, nhưng kiểu Pháp Quốc, cấu tạo đơn sơ hơn Anh Quốc. Điều này cho thấy, cũng như Thạch Cơ Điểu Thương, pháo Pháp được nhập về số lượng ít, chỉ đặt ở kinh thành. Đồng thời, của đáng tội, Caronnade là pháo thải của Hải Quân Pháp. Súng cối được dùng hộ thành trong các sách của Vauban và Coehorm cuối tk17 đầu 18, nhưng hai ông chưa kịp xuất bản thì thành quách đã lỗi thời. Cỗi lúc đó dùng để bắn trái phá tầm rất gần xuống chân thành, sát thương biển người, hay gõ đầu thiết bị công thành. Nhưng sau đó, các pháo công thành lớn (siege gun to, pháo bắn đạn xuyên to), có tầm xa, cối hết thời. Caronnade được dùng trên tầng trên cùng của tầu biển vì nó giật nhẹ, trong điều kiện ship of the line không có hướng, toàn bộ pháo mỗi mạn chung một hướng, đồng loạt nhả đạn, tàn trên giật quá mạnh sẽ làm tầu đổ. Caronnade đắc dụng khi xáp tầu tràn sang giáp lá cà = chiến thuật chủ yếu của Horatio Nelson, trong trận đánh lớn nhất của ship of the line là TRAFALGAR 1805. Nhà Nguyễn phá thành Hà Nội xây Vauban khi nó lạc hậu 1 tk, về sau, pháo thành HN bị hạ bởi.... súng trường, địch bê thuốc nổ và kéo pháo công thành đến sát cổng. Còn Kinh Đô Huế không dự định dương buồm đến TRAFALGAR , nhưng được bảo vệ bởi Carronade, đích thị dùng cối kiểu Vauban và Coehorm. Sau Oa Téc Lô Waterloo (mình viết cả phiên âm để tránh phát âm theo tiếng Anh Ngọng là ghe tơ lu), quân Pháp thất nghiệp tràn ra kiếm ăn khắp thế giới, vừa buôn bán, vừa buôn có vốn và buôn không vốn, đôi khi làm chiên ra. (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/phao_co_viet/06-10Av04L.jpg) Cửu vị thần công. Tên riêng của 9 khẩu súng lễ nhà Nguyễn, từ đó, nhiều người gọi nhầm thần cơ là thần công. Cốc mồi vuông đặc trưng của Đại Cồ Cạc, cần nhỡ, chúng ta đã có lúc là đỉnh thế giới này về súng, đương nhiên không phải là thời Nguyễn dèm pha Quốc Sử. (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/phao_co_viet/HE1BB8Da_tiE1BABFt_sC3BAng_thE1BAA7n_cC3B4ng.jpg) Minh Mạng nhị niên tuế thứ Tân Tỵ cát nguyệt nhật chú, mệnh danh Bảo quốc an dân Đại tướng quân, tam vị chi nhị (chi nhất, chi tam). Nghĩa là súng được đúc vào ngày tháng tốt năm Tân Tỵ, Minh Mạng năm thứ hai (1821), có tên Bảo quốc an dân đại tướng quân (http://camxuyen.net/home/uploads/spaw2/images/cd74sung2.jpg) Vũng tầu, xem phim hành động nhiều, thay thừng mồi bằng đuốc. Có lợn mới tin người ta đổ thuốc rời nhồi pháo bên cạnh bó đuốc cháy đùng đùng. Khối lợn không biết súng pháo cổ hoả mai = mồi thừng, chứ không là đăng mai mồi đèn. Để tránh cốc mồi phụt lửa tan đuốc mù mắt, các lợn sáng tạo ra ngòi pháo Bình Đà căm vào đại pháo công thành. Cần châm thực tế là một khúc gập, do đó, mồi khi đầu lửa của thừng cháy=hoả thằng đã nằm gọn trong côc, được che chắn bởi chiều cao pháo. Đầu cần châm có một vòng (đông ) hay kẹp (Tây), để xỏ thừng mồi, đoạn thừng chưa cháy cuộn sau cần, được xạ thủ kéo dần ra. http://vietbao.vn/Van-hoa/Chum-anh-Sung-than-cong-khai-thong-nam-moi/20666674/181/ (http://a8.vietbao.vn/images/vietnam2/van_hoa/20666674_images1241281_9.jpg) Thứ nhất, đây không phải pháo phiếc cổ nhà Nguyễn, đây là cối Tây nửa sau tk19, loại dùng hộ thành hay đặt trên các pháo đài bờ biển. Thứ 2, vì không biết bắn nên mới bịt đầu bịt đuôi bằng gẻ (http://www2.vietbao.vn/images/vietnam2/van_hoa/20666674_images1241265_1.jpg) Tiêu đề: Re: Vũ khí nước mẹ Tây Phú Lãng Sa trong Nhà Nguyễn, Thuộc Pháp và Kháng chiến. Gửi bởi: chiangshan trong 08 Tháng Chín, 2010, 06:54:44 pm Bác Phúc bảo của này là cái gì?
(http://i378.photobucket.com/albums/oo229/chiangshan1/IMG_1858.jpg) Tiêu đề: Re: Vũ khí nước mẹ Tây Phú Lãng Sa trong Nhà Nguyễn, Thuộc Pháp và Kháng chiến. Gửi bởi: huyphongssi trong 08 Tháng Chín, 2010, 07:02:39 pm Đấy là Máy phóng bom (Бомбомёт) anh chiangshan ạ!
Tiêu đề: Re: Vũ khí nước mẹ Tây Phú Lãng Sa trong Nhà Nguyễn, Thuộc Pháp và Kháng chiến. Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 08 Tháng Chín, 2010, 07:05:47 pm Bác Phúc bảo của này là cái gì? (http://i378.photobucket.com/albums/oo229/chiangshan1/IMG_1858.jpg) Chịu, chụp toàn cảnh xem. Phần cuối giống như loại pháo Pháp có khoá nòng kiểu chống dùng trongh đanh Đề Thám, nhưng khang khác, còn cái hốc bên trên thì chịu nhậu xong mai bới. Tiêu đề: Re: Vũ khí nước mẹ Tây Phú Lãng Sa trong Nhà Nguyễn, Thuộc Pháp và Kháng chiến. Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 08 Tháng Chín, 2010, 07:07:20 pm Đấy là Máy phóng bom (Бомбомёт) anh chiangshan ạ! À, ra là một loại cối cơ động à ? cối cơ động (tiền thân của cối nay) xuất hiện khá muộn, cuối 19, đầu 20, có nhiều kiểu rất khác nhau chứ chưa thống nhất. Tiêu đề: Re: Vũ khí nước mẹ Tây Phú Lãng Sa trong Nhà Nguyễn, Thuộc Pháp và Kháng chiến. Gửi bởi: huyphongssi trong 08 Tháng Chín, 2010, 07:11:11 pm Đấy là Máy phóng bom (Бомбомёт) anh chiangshan ạ! À, ra là một loại cối cơ động à ? cối cơ động (tiền thân của cối nay) xuất hiện khá muộn, cuối 19, đầu 20, có nhiều kiểu rất khác nhau chứ chưa thống nhất. Loại này chơi đạn lớn hơn cỡ nòng. Gá chuôi đạn vào cái ống đó để phóng. Của Tây phú có mấy loại. Loại dưới đang gắn bom gọi là Moóc chi ê 58 li (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/0/06/Musee-de-lArmee-IMG_0992.jpg/800px-Musee-de-lArmee-IMG_0992.jpg) Tiêu đề: Re: Vũ khí nước mẹ Tây Phú Lãng Sa trong Nhà Nguyễn, Thuộc Pháp và Kháng chiến. Gửi bởi: Ngocvancu trong 08 Tháng Chín, 2010, 07:19:52 pm Huy Phúc cho hoỉ cái.Dùng pháo thì trên thế giới nước nào dùng trước,có phải là Trung Quốc không?hay là Châu Âu chế tạo và dùng trước nhất.
Tiêu đề: Re: Vũ khí nước mẹ Tây Phú Lãng Sa trong Nhà Nguyễn, Thuộc Pháp và Kháng chiến. Gửi bởi: chiangshan trong 08 Tháng Chín, 2010, 07:37:35 pm Trong BT họ chú thích là súng trên pháo thuyền Pháp thời TK19 xâm lược VN.
Tiêu đề: Re: Vũ khí nước mẹ Tây Phú Lãng Sa trong Nhà Nguyễn, Thuộc Pháp và Kháng chiến. Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 08 Tháng Chín, 2010, 08:35:58 pm (http://www2.vietbao.vn/images/vietnam2/van_hoa/20666674_images1241265_1.jpg) Cái khẩu ngơm trên, mình chưa bít nó là đời nèo, nước nèo. Chính xác đây là cối chuyên dùng cho các pháo đài, tầm xa đạn nặng, thuộc vào 184/5/6x, chính xác vào khoảng 185x, nhưng không rõ lắm, đang tra. Có điều, loại cối đấy phát triển lại không thành cối hiện đại, mà thành... pháo, pháo hiện đại, với phương pháp làm nòng dầy, máy lùi-đẩy về của lựu pháo sau này. Cái xe này vẫn là thời pháo giá cứng, tức lùi cả xe, chinh cái sự lùi này đặt yếu cầu ra giá pháo hiện đại, và cối này thành.... pháo, khoảng cuối tk19. Trong khi đó, các dòng cối cơ động trở thành cối hiện đại trong trận đánh Cảng Đại Liên, Nga-Nhật. Moóc chi ê vào cuối tk 19 là khủng hoảng, đơn giản là vì thiếu nhân viên làm toán, người biết chữ còn thiếu nữa là người làm toán. Trước đó cối to nặng cồng kềnh, vì nó bắn gần, cần gì làm toán, người ta không dám làm xa vị sợ toán. Đến khi nó gần quá, quá vô dụng, thì khủng hoảng. Mình còn có lần cầm được quả cối 57mm, mặc cả thế nèo lão chủ hàng nước cũng không bán, cối 57 mm thòi 9 năm, nhiều nhôm với tôn rồi, là cối hiện đại (có điều mâm chưa đều), chắc tính năng sát thương chỉ ngang M79 nên hết thời. Thời cối trung gian này rất đa dạng, cũng nên thu thập đủ để sau dễ tra. Đấy là Máy phóng bom (Бомбомёт) anh chiangshan ạ! À, ra là một loại cối cơ động à ? cối cơ động (tiền thân của cối nay) xuất hiện khá muộn, cuối 19, đầu 20, có nhiều kiểu rất khác nhau chứ chưa thống nhất. Loại này chơi đạn lớn hơn cỡ nòng. Gá chuôi đạn vào cái ống đó để phóng. Của Tây phú có mấy loại. Loại dưới đang gắn bom gọi là Moóc chi ê 58 li (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/0/06/Musee-de-lArmee-IMG_0992.jpg/800px-Musee-de-lArmee-IMG_0992.jpg) Tiêu đề: Re: Vũ khí nước mẹ Tây Phú Lãng Sa trong Nhà Nguyễn, Thuộc Pháp và Kháng chiến. Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 08 Tháng Chín, 2010, 08:43:17 pm Trong BT họ chú thích là súng trên pháo thuyền Pháp thời TK19 xâm lược VN. Hồi Tây mới vào 185x (chiến tranh bán đảo Sơn Trà với Ông Ích Kiêm, và mộ 2 ngàn mạng nay vẫn còn), kể cả cho đến đánh thành HN, thì vẫn là quân lôm côm, nửa cướp, nửa quân, chính phủ Pháp có thể cho vay, nhưng thua là bùng, (tất nhiên, thắng là "Bảo Hộ"). Quân thì chủ yếu là Mã Tà Ma Ní. Đại khái theo mô hình "Công ty Đông Ấn" của Anh bến Ấn Độ. Người Pháp còn lôm côm hơn người Anh vì thừa kế những mảnh vỡ của "cộng hoà" sau Waterloo, đói, tan ra kiếm ăn khắp nơi, súng thời nhà Nguyễn cầm quyền chủ yếu thế. Các thuyền cướp biển thì bạ đâu trang bị đấy, không theo khuôn mẫu nào. Nhưng Huy Phong Si nói có vẻ đúng, có vẻ giống cối cơ động lắm. Mình thì phải tra kỹ mới quyết được. Cái của chiangshan , nêis là cối cơ động thì giá hơi... thừa cân, xem đã. Mình định thôi, nhưng phê lòi, sợ thêm vài chén thì mai ú ớ. Có phải là "Phật Lăng Cơ" nhưng lộn dưới lên trên ko ?, nếu là Phật Lăng Cơ thì trông hiện đại lắm, không như "Đông Ấn Hoà Lan" mối mọt. Tân cổ giao duyên ??? Vừa ngó lại, đến chịu. Rất giống kiều pháo có khoá nòng chống (dùng trong đanh Đề Thám), nhưng thanh chống quá yếu, lại có lai tính năng vỏ đạn cộp của coulevrine = Vogler , Vogelfänger, Vogheler, Vögler. Cái cốc chổng lên có phải là ngõng khi quay xuống dưới ? nhưng lại có ốc vít bản lề siêu hiện đại ?? nghe như "vũ khí tự tạo" ?? Con Vịt Mai cũng chả chế nổi thứ này. Tiêu đề: Re: Vũ khí nước mẹ Tây Phú Lãng Sa trong Nhà Nguyễn, Thuộc Pháp và Kháng chiến. Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 08 Tháng Chín, 2010, 08:58:24 pm Huy Phúc cho hoỉ cái.Dùng pháo thì trên thế giới nước nào dùng trước,có phải là Trung Quốc không?hay là Châu Âu chế tạo và dùng trước nhất. Pháo, súng, cối... chỉ là các từ gọi kác nhau của súng. Pháo là súng to, thì các phiên bản đầu tiên, nay gọi là cối, có tên ghi sử, là Oản Khẩu PHáo (cối), và Trực Thang Pháo ( cũng ngắn nhưng nòng dài hơn Oản Khẩu chút), Hồng Vũ (137x). Có điều súng Minh Hồng Vũ tệ quá, nhồi thuốc Thiên Tự Đại Cạc thì thành.... trái phá giết quân mình. Bên Tây thời đó cũng có súng to như thế. Trận công thành Đại Đô, Tầu vẫn dùng máy bắn đá, bắn "pháo" là quả nổ, trái phá, fire ball. Nhưng năm 145x, Ottoman đã bắn sập Đông La Mã bằng khẩu "đại pháo thổ nhĩ kỳ vĩ đại", có nòng 700mm luôn, lại có cả khoá nòng, nạp sau.... hiện đại nữa, khẩu này chế 143x. Khẩu "Pháo Vò" Âu, nay vẫn đào được mẫu, từ 12xx, tuy là đơn sơ, yếu... http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/7/7a/EarlyCannonDeNobilitatibusSapientiiEtPrudentiisRegumManuscriptWalterdeMilemete1326.jpg đây là hình vẽ thực hiện 1326. cỡ 5 năm sau có Chí Thuận Tam Niên, khẩu súng cá nhân nhưng có kiểu như phun lửa, coi như Pháp, nhà Nguyên. Hơn 50 năm sau mới có Oản Khẩu với Trực Thang. Dĩ nhiên, hình vẽ chỉ thực hiện khi pháo xuất hiện đã lâu. Chữ Pháo của Tầu đã biến đổi 3 lần, xuất phát từ chữ Pháo đầu tiên chỉ là máy bắn đá, thì từ thời Tống đã dùng. Pháo biến thành bào chế thế nào mình đã nói rồi. Trong tiếng Hán Việt dùng trong "văn tự pháp lý" nhà Vịt, thì thời Lê, Pháo chỉ súng nói chung, to nhỏ kể cả bộc phá. Còn nói về thuỷ tổ thuốc nổ, hoả khí, thì Cựu Ước đã nói, đừng ai kiện nhau xem Pháo Bình Đà do đất nào nghĩ ra trước, như dân Tầu Khựa ngày nay, chỉ tổ khoe ngu. Tiêu đề: Re: Vũ khí nước mẹ Tây Phú Lãng Sa trong Nhà Nguyễn, Thuộc Pháp và Kháng chiến. Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 09 Tháng Chín, 2010, 03:06:25 am Bác Phúc bảo của này là cái gì? (http://i378.photobucket.com/albums/oo229/chiangshan1/IMG_1858.jpg) Nhức hết cả đầu. Đúng là tân cổ giao duyên, chiangshan thử nói nó ở đâu tớ đến xem hay là có ảnh ba bề bốn bên thì cho tớ xem. Theo mình đoán, nó là khẩu pháo nòng dài có giá tầm hướng, thường đung trong công sự hay trên tầu (cố định). Cái nằm dài bên dưới là cái nòng, dĩ nhiên là đầu về bên trái. Cái thanh sắt tròn gác lên là khoá nòng chống (kiểu này không khác gì nhiều coulevrine = Vogler , Vogelfänger, Vogheler, Vögler của tk15. Cái cối chổng lên đáng ra chổng xuống, là cái ngõng hướng. Hình như nòng đúc đồng, vậy là cỡ 1880 hất về trước. Nhưng lại có bù loong và sắt cắt gọt, vậy là cỡ 1880 hất về sau, vậy nó nằm vào cỡ 188x-189x. Cỡ pháo này rất nhỏ, 10-30mm, nhưng nòng dài ??? Tiêu đề: Cối Tây Phú Lãng Sa thời "tiền hiện đại" Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 09 Tháng Chín, 2010, 08:47:00 am Cối cổ chúng ta biết rồi, rất to nặng. Đặc biệt, trước cách mạng Pháp, cối Pháp thừa kế các sách Vauban và Coehorm, có thiết kế quá cổ, đặc biệt buồng đốt bị cô lập, và không sử dụng các kỹ thuật đã biết bên Nga để tránh tản mắt, như lăn đạn bằng buồng đốt lệch. Cối cổ đó và cả bản cải tiến trong Cách Mạng Pháp đều như các nước khác, nặng, khó di chuyển.
Cối Pháp tk18 trước cách mạng, thừa kế Vauban buồng đốt cách ly để tăng áp suất đốt=cháy ổn định thời thuốc còn lởm. Nhưng khi thuốc tốt, buồng đốt kiểu cổ hũ này làm giảm áp lực đẩy đạn, sau đó, thời cách mạng, thay bằng buồng đốt hình nón Nga, dễ thoát khí, nhưng không áp dụng nghiêng lệch buồng đốt để lắn đạn=khắc phục đạn tản bán do nẩy trong nòng như Nga. (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/0/0f/French_mortar_diagram_18th_century.jpg) Buồng đốt nón, vừa kín tạo áp cao=cháy ổn định, vừa không làm tắc khí như cổ hũ. Đây là buồng đốt Nga cuối tk17, trước Đại Chiến Bắc Âu của Piotr (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/coi_co/13721.gif) Lăn Nga đạn trong tk18. Pháo Cách Mạng Pháp sử dụng "hệ tiêu chuẩn Gribeauval", tức một nhóm các tiêu chuẩn về pháo và đạn, để tiện sản xuất, hậu cần (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/coi_co/16261.gif) 12 " (300mm), kiểu hộ thành hay dùng ở các pháo đài bờ biển, 1806, "hệ tiêu chuẩn Gribeauval" (http://s972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/coi_co/Invalides-film143jpg.jpg) Gomer mortar 12 " buồng đốt hình nón, năm thứ 2 cộng hòa (1793, 1794) (http://s972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/coi_co/Gomer_mortar_12_pouces.jpg) Lạc hậu hơn Nga 1805, nòng Nga dài, buồng đốt dài, cơ cấu vận động tiến bộ hơn nhiều. Trong Cách Mạng, Pháo Cối pháp tiến bộ liên tục, kỹ thuật tạo hình nòng học theo Nga để tăng sức cơ động, nhưng nhiều kỹ thuật mới hơn được áp dụng (http://s972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/coi_co/335-___1805.jpg) Chưa có thông tin về khẩu "Thần Công" biểu diễn như lợn làm xiếc trên. Cối Nga kiểu phòng thủ bờ biển cuối tk19, model 1867. Model này trong quá trình phát triển của nó đã tạo ra pháo hiện đại cho châu Âu, mặc dầu chính quyền suy đồi Nga Hoàng chỉ cho sản xuất khoảng vài chục khẩu đến 1906, và thuê ngoại băng gia công cối lởm. Coi Như M1867 là một chuỗi mẫu thử nghiệm, kỹ thuật làm nòng tiến bộ từ đồng đúc, gờ hẹp, sang thép 2 lớp có gờ xoắn như ngày nay. Máy lùi và máy đẩy về, cũng như máng pháo hình thành đầy đủ trong 188x thay đế giá cứng truyền thống, từ nguyên lý đó, người Âu phát triển các phiên bản thực tế và thành pháo hiện đại 189x-190x. Kiểu lùi, đẩy về này áp dụng ở cối bờ biển M1867 các model 67-77. Nó bắt chước y hệt động tác lùi của pháo giá cứng trước, một bên là hãm lùi thuỷ lực, còn một bên là đẩy về lò xo khí nén, máng pháo đơn sơ chính là cái đế, đã là khẩu pháo hiện đại với đủ các bộ phận. Sau này, hãm lùi và lò xo khí nén cùng làm trên một ống, ngắn cách bởi piston trôi. 1877, Tây Phú vẫn là pháo cổ, mặc dù đã có rãnh chữ nhật và khoá nòng ren cắt, nhưng giá càng vẫn như 1700 .De Bange screw breech là tên Pháp đặt cho ren cắt. http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/d/d2/Bange_155_L_back_Memorial_de_Verdun.JPG Model 1867/1877, do hưởng được lợi ích của hãm-đẩy, mà thoả thích tăng tầm, nòng dài. Những tiến bộ đã biến cối cổ thành pháo hiện đại như vậy. Tuy vậy, đây là nguyên ly cơ bản, còn những máy hãm-đẩy về tinh vi thì phải đợi đến Đ44 chống tăng 85mm mà nhà ta cũng có khối. Đó là pháo chống tăng, còn lựu pháo thì có hãm-đẩy về đa năng của M46 130mm. http://s972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/coi_co/6-djujmowaja_pushka_na_beregowom_la.jpg 1867, nòng composite 2 lớp, nguyên lý chung của phần buồng đốt ngày nay. Khi di chuyển thì bằng bánh xe, khi chiến đấu, thì pháo đặt trên đế = kiêm vai trò máng , như hình trên http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/4/41/152_mm_mortar_M1867_Suomenlinna_1.JPG Model 1867 nguyên thuỷ, lùi-đẩy về đặt bên ngoài. (http://s972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/coi_co/9-djujmowaja_beregowaja_mortira.jpg) Khi cối biến thành pháo, thì một phần khác của cối, chiến tranh Nga Nhật, Trận cảng Đại Liên 1904-1905, Leonid Gobyato và Roman Kondratenko, hai viên sỹ quan Nga, đã sáng tạo ra cối nhẹ cơ động đầu tiên. Đây là tiền thân của cối hiện đại. (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/coi_co/Gobyato_mortar.jpg) 12" 1778. Pháo có xe kiểu hộ thành, trưng ra đây để so sánh pháo cổ, khi bắn, pháo lùi vào trong lỗ châu mai, nạp miệng xong đẩy ra bắn tiếp. Fort La Latte, Côtes d'Armor, France (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/2/21/200707_Fort_La_Latte_30.JPG/800px-200707_Fort_La_Latte_30.JPG) Đây là nòng pháo đặt trên xe hộ thành, nhưng các bạn thấy cái lỗ dể căng chão dùng trên tầu chiến, dây là một pháo đài bảo vệ bờ biển, thường được xây dựng trên bờ các cửa biển quan trọng. Lúc này, thành quách đã hết thời, nhưng cửa biẻn thì không cơ động được. Thành quách kiên cố được thay bởi công sự dã chiến, xây và sửa nhanh. Trong ảnh là công sự xây, nhưng không phải thành quách, ta có thể hiểu nó cũng như chiến hào xây trong thời bình, bền và tiết kiệm hơn đất đắp, khi chiến trận thì hỏng đâu thay bằng đất đắp đấy. Hải pháo được dùng ở các pháo đài ven biển và tầu chiến, cũng như hải quân độc lập với quân đội == đặc trưng của các nước tây Âu với Mỹ và Tầu sau này, để Hải Quân tương đối tự do khi ăn cướp và quân đội được xây dựng không theo tính cướp biển để... đỡ đòn từ quân chính quy Đông Âu. (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/phao_dai/falmouth-11.jpg) Carronade, giá kiểu tầu chiến. Pháo lùi và hãm bằng ma sát giữa hai thớt gỗ, có sợi chão rất to để chống lùi quá, đặt nghiên cao phía sau để tăng khả năng hãm và dễ đẩy về, cũng lùi về đẩy lên như hộ thành (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/b/bc/Le_Pouliguen_canon.jpg/800px-Le_Pouliguen_canon.jpg) Các pháo khác trên ship of the line trước nội chiến Mỹ cũng thế này. Carronade có thể hiểu là cối bắn ngang, pháo bắn tầm gần, thường đặt trên tầng trên cùng của tầu. hãm lùi và lò xo đẩy về là cái dốc giữa 2 thớt ván, cái chão để hãm súng lùi quá đà, như một thứ... lò xo hãm cứng hơn hãm thường. (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/6/69/Caronnade-schematics.jpg/800px-Caronnade-schematics.jpg) Dây chão được căng hình chữ V thế này (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/tau_chien/shipoftheline/linien10.jpg) Cối 90mm Đế Quốc Phổ, được dùng ở Áo Hung và Phổ. Nặng 114 kg, đạn 3,8kg, đướng kính 91,5, chiều dài nòng 595, bắn xa 450 mét, rất đăc dụng rót từ trong hầm an toàn ở WW1 sang chiến tuyến địch, đây là khẳng định hướng đi cối Nga, kiểu này có các model M14, M17... . Rất dễ nhận ra rằng, hướng này, so với các hướng dưới đây, là chính đạo đi thẳng đến cối hiện đại. Phiên bản này vẫn giống cối Nga của 1906 Đại Liên. Điểm khác chính về thuật bắn của các phiên bản này so với cối hiện đại và tương quan giữa khối lượng nòng-đạn. Nòng càng nặng, thì nó càng ít hưởng năng lượng từ phát bắn và càng dễ hãm lùi, điều này là nguyên lý của cối cổ. CÒn cối hiện đại, thì người ta làm nòng nhẹ cơ động, nhưng đỡ bằng cái mâm đế cối to tướng truyền thẳng xuống đất, hay nói cách khác là mượn khối lượng đất mà hãm. Như vậy, các bước này là trung gian, nòng nhẹ đi nhưng chưa nhẹ hẳn. (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/5/55/Lanz_91_mm_Memorial_de_Verdun.jpg/628px-Lanz_91_mm_Memorial_de_Verdun.jpg) Người Đức cải tiến sơn pháo để bắn góc cao, gọi là "súng rải mìn"=Minenwerfer, còn gọi trong tiếng ta là "phóng bom". Đây là một hoàn thiện cối thành cối cơ động ngày nay, kiểu bánh xe mà nay vẫn dùng cho cối lớn hay cối vừa nhưng bắn tự động , bắn góc ngang. 170mm , nặng 483 kg nhưng bắn đạn 50 kg, nạp miệng, trơn, Cal 3,8-4,5 (646mm-765mm), sơ tốc cỡ 200 m/s, tầm bắn hiệu quả / tối đa 300 mét / 1600 mét. Góc bắn cao 45-90, tốc độ bắn cao vì bắn thả như cối nay. Có hãm lùi thuỷ lực. (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/f/f9/Captured17cmMinenwerferWWI.jpg) 75mm, đã có đủ đế cối, giá tầm hướng, mặc dầu vẫn chưa giống nay cho lắm = vẫn có bánh, lùi-đẩy về như pháo. Cối lai pháo này chưa hưởng được đặc tính gọn nhẹ dễ vác như hiện đại, mặc dù đã nhẹ hơn nhiều sơn pháo cùng đường kính và cùng thời. Cối này vẫn nòng xoắn dầy, cái mà đáng ra dùng để bắn chính xác, tiện cho pháo bắn góc thấp xạ kích như công phá công sự. Có điều này vì nhà sản xuất quả cáo rằng, khi đắp đất thành tường làm càng cày, thì cối này bắn ngang xạ kích cũng.... được, gọi là chửa thoát thai hẳn. http://www.landships.freeservers.com/schw_minenwerf_25cm.htm (http://www.landships.freeservers.com/P0003346.jpg) Cũng giá Nga, nhưng Pháp để đạn ngoài, phóng bom 58mm mà Huy Phong Sy đã nói (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/d/d3/Mortar_58_mm_Memorial_de_Verdun.JPG/800px-Mortar_58_mm_Memorial_de_Verdun.JPG) Đây là phần giới thiệu qua, mình sẽ dề cập đến các hệ thống tiêu chuẩn từ hồi Cách Mạng Pháp sau. Đây là thời điểm Tây Phú Mẹ Ghẻ cải tiến cối. CŨng có đóng góp, là đạn có cánh đuôi, như ngày nay, nhưng trông kỳ hình dị tướng. Hoá ra, lại bệnh truyền thống, đặt nguyên lý sai. Đầm định dùng góc cao rót đúng... đầu công sự, nên dùng đạn ngoại cỡ bến ngoài để phóng to đạn. Ngày nay, cối chủ yếu để bắn sát thương diện tích, không thể chính xác lắm (trừ đạn tự hành), điều này đẻ ra các thứ ngòi để đạn không cắm sâu vào đất mới nổ. Kiểu này của Mẹ Ghẻ Phú Lãng Sa thì được cái chả cần ngòi khó kiếm gì, ngòi nào cũng được, vì càng cắm sâu càng thích. Góc bắn 45° - 82,5°, có hãm tầm không hướng. Cối hiện đại vì mục tiêu sát thương nên thu bé đạn để bắn xa. Mortier de 58 mm type 2. đạn nhẹ 18 kg chứa 5,35kg thuốc (LS bomb) 6 cánh, 1450 mét 35 kg 6.4kg (ALS) vừa, 3 cánh 1250 mét 20 kg, 10kg (DLS) nặng, 6 cánh 670 mét (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/0/06/Musee-de-lArmee-IMG_0992.jpg/800px-Musee-de-lArmee-IMG_0992.jpg) http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/6/64/MWP_Dumesille_mortar.JPG (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/6/64/MWP_Dumesille_mortar.JPG) Mortier de 150 mm T Mle 1917 Fabry. Có đế đơn giản, có hãm hướng, có lùi đẩy về. Hãm lùi được trợ lực bởi tuye phản lực. bắn xa 2000 mét sơ tốc 156, góc bắn 45° - 72°, góc hướng 27°, nặng 615 kg. Nòng 150 / 2100mm http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/2/2b/FabryTrenchMortar.jpg (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/2/2b/FabryTrenchMortar.jpg/586px-FabryTrenchMortar.jpg) Phiên bản 240mm 1915, Mortier de 240 mm CT ("court de tranchee"), thì lại chỉ là cối cổ tân trang, có thêm tầm hướng, bắn 87 kg xa 1030 mét, liều 670 gram. Mortier de 240 mm LT ("long de tranchée") bắn liều 1300gram xa 2071 mét. 75° to 45° đứng, 18°x2=36 ngang. Đạn cho vào trong nòng. Trừng nguyên lý chiến đấu bắn công sự thì cũng có cấu tạo như ngày nay http://www.landships.freeservers.com/ah_ww1mortars.htm (http://www.landships.freeservers.com/jpegs/24cm_minenwerfer_m16_11.jpg) (http://www.landships.freeservers.com/jpegs/flyingpig.jpg) (http://www.landships.freeservers.com/jpegs/24cm_minenwerfer_m16_8.jpg) Tiêu đề: Re: Vũ khí nước mẹ Tây Phú Lãng Sa trong Nhà Nguyễn, Thuộc Pháp và Kháng chiến. Gửi bởi: chiangshan trong 09 Tháng Chín, 2010, 06:47:38 pm Theo mình đoán, nó là khẩu pháo nòng dài có giá tầm hướng, thường đung trong công sự hay trên tầu (cố định). Cái nằm dài bên dưới là cái nòng, dĩ nhiên là đầu về bên trái. Cái thanh sắt tròn gác lên là khoá nòng chống (kiểu này không khác gì nhiều coulevrine = Vogler , Vogelfänger, Vogheler, Vögler của tk15. Cái cối chổng lên đáng ra chổng xuống, là cái ngõng hướng. Hình như nòng đúc đồng, vậy là cỡ 1880 hất về trước. Nhưng lại có bù loong và sắt cắt gọt, vậy là cỡ 1880 hất về sau, vậy nó nằm vào cỡ 188x-189x. Cỡ pháo này rất nhỏ, 10-30mm, nhưng nòng dài ??? Khẩu này ở BT cách mạng, hôm đó em chụp mỗi kiểu. Hehe, vấn đề nằm ở chỗ không thấy kết cấu nào có vẻ khả dĩ để nạp đạn cho khẩu "nòng dài" ::) À mà tiện thể vào đấy bác Phúc thử nghiên cứu hộ em khẩu 40mm ở trong góc gần cầu thang lên tầng 2 nhé (nhớ phải mang đèn pin ;D) Tiêu đề: Re: Vũ khí nước mẹ Tây Phú Lãng Sa trong Nhà Nguyễn, Thuộc Pháp và Kháng chiến. Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 09 Tháng Chín, 2010, 07:02:54 pm Theo mình đoán, nó là khẩu pháo nòng dài có giá tầm hướng, thường đung trong công sự hay trên tầu (cố định). Cái nằm dài bên dưới là cái nòng, dĩ nhiên là đầu về bên trái. Cái thanh sắt tròn gác lên là khoá nòng chống (kiểu này không khác gì nhiều coulevrine = Vogler , Vogelfänger, Vogheler, Vögler của tk15. Cái cối chổng lên đáng ra chổng xuống, là cái ngõng hướng. Hình như nòng đúc đồng, vậy là cỡ 1880 hất về trước. Nhưng lại có bù loong và sắt cắt gọt, vậy là cỡ 1880 hất về sau, vậy nó nằm vào cỡ 188x-189x. Cỡ pháo này rất nhỏ, 10-30mm, nhưng nòng dài ??? Khẩu này ở BT cách mạng, hôm đó em chụp mỗi kiểu. Hehe, vấn đề nằm ở chỗ không thấy kết cấu nào có vẻ khả dĩ để nạp đạn cho khẩu "nòng dài" ::) Mai đi liền, đang rỗi, mà vé vào đấy bi h nhiu nhể. Mình đã trông một khẩu khoá nòng thanh chống, không nhớ là dùng ở nghĩa quần Yên Thế hay địch đánh Đề Thám. Cái chính là nó có nòng để nạp không, thì chiangshan chụp như thế ai mà xem được. Khoá nòng thành chống là kiểu đơn giản nhất, áp dụng luôn coulevrine = Vogler , Vogelfänger, Vogheler, Vögler của tk15, để tận dụng xoắn cắt gọt mới có. Cái này thì thanh chống, nếu như thế, quá yếu đuối ?? Khoá nòng thanh chống rất hiếm gặp, cũng như Vogler , vỏ đạn phải có độ bền nhất định, chứ không là cái túi vải hay giấy đựng thuốc như pháo nạp sau Nga Phổ, Áo Hung thời đó. Thực chất, kiểu đó là "giật gấu vá vai" của các hãng nhỏ Tây Âu bán cho cướp biển, mà khi thắng thì chính quốc vơ vào cướp biển xưng "bảo hộ", kiểu các công ty Đông Ấn của Anh, Hoà Lan, Pháp.... Mai xem, nếu cái thanh tròn nằm dưới không có lỗ để làm cái nòng, thì nhìn chẳng bằng sờ, ra liền. Tiêu đề: Re: Vũ khí nước mẹ Tây Phú Lãng Sa trong Nhà Nguyễn, Thuộc Pháp và Kháng chiến. Gửi bởi: huyphongssi trong 09 Tháng Chín, 2010, 07:23:38 pm Một giả thiết khác: có vẻ đấy là bản nhái của pháo hạm Hotchkiss. Mai anh giai huyphuc đi làm loạt ảnh sẽ có kết quả ngay ;D
Tiêu đề: Re: Vũ khí nước mẹ Tây Phú Lãng Sa trong Nhà Nguyễn, Thuộc Pháp và Kháng chiến. Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 10 Tháng Chín, 2010, 11:55:53 am Bác Phúc bảo của này là cái gì? (http://i378.photobucket.com/albums/oo229/chiangshan1/IMG_1858.jpg) Nhức hết cả đầu. Đúng là tân cổ giao duyên, chiangshan thử nói nó ở đâu tớ đến xem hay là có ảnh ba bề bốn bên thì cho tớ xem. Theo mình đoán, nó là khẩu pháo nòng dài có giá tầm hướng, thường đung trong công sự hay trên tầu (cố định). Cái nằm dài bên dưới là cái nòng, dĩ nhiên là đầu về bên trái. Cái thanh sắt tròn gác lên là khoá nòng chống (kiểu này không khác gì nhiều coulevrine = Vogler , Vogelfänger, Vogheler, Vögler của tk15. Cái cối chổng lên đáng ra chổng xuống, là cái ngõng hướng. Hình như nòng đúc đồng, vậy là cỡ 1880 hất về trước. Nhưng lại có bù loong và sắt cắt gọt, vậy là cỡ 1880 hất về sau, vậy nó nằm vào cỡ 188x-189x. Cỡ pháo này rất nhỏ, 10-30mm, nhưng nòng dài ??? Chính xác, đây là khoá nòng thanh chống. Khẩu này mình đã nhìn thấy một lần, nhưng chắc chắn không phải chỗ này vì đây là lần đầu tiên vào bảo tàng này. chiangshan1 à, bạn lộn ngược cái cốc bên trên xuống, cái cốc đó là cái ngõng để pháo hạm xoay trên một cái cọc mọc lên từ sàn tầu. Phía trái là nòng súng, phải là khoá nòng. Cái thanh sắt vằn gác chéo là thanh chống, trong cái hộp hình khối hộp sau nòng là cái ngăn kéo , đẩy ngăn này lên (trong hình là sang trái), gác thanh chống vào, là nó không lùi về được = khoá nòng. Đạn có vỏ đặt trong ngăn kéo. Khi tháo vỏ, kéo ngăn kéo về sau, thì cũng lên búa luôn. Nhưng nhãn mác thì mình vẫn chịu, các bạn thử so các ảnh xem, việc này khó quá, có khi phải nhiều người làm. Kiểu khoá nòng thanh chống này rất yếu, ít được dùng, thường, như mình nói, các xưởng lôm côm trang bị cho các quân lôm côm. Quân xâm lược nước ta cũng vậy, thực chất là quân tự túc tự cấp, đánh thắng thì nhận "bảo hộ" của chính quyền, lấy xiền mua súng mộ quân. Đánh thua thì đi cướp biển, làm loạn các biển Đông Nam Á cho đến năm 2000. Bạn có thể dễ dàng so sánh tính bất hợp lý, khoá nòng và nòng rất khoẻ, nhưng thanh chống yếu, và như vậy phí phần lớn khối lượng của khoá nòng và nòng đi. Thêm nữa, bù long đai ốc cần cơ khí cắt gọt hạng sang, mà khoá nòng này là sơ khai, như vậy, "nhà sản xuất" là một xưởng nhỏ mua bù long đai ốc tiêu chuẩn bán trên thị trường về, để giảm gia công cắt gọt. Trong khi đó, nếu là quốc gia, hãng mẹ, sở hữu thật sự kỹ thuật, thì không ai làm thế, ví dụ, họ làm ren cắt hay khối trượt ngang nòng như thường thấy = phải sở hữu các máy công cụ có cùng đẳng cấp, nhưng được chế tạo chuyên dùng. Còn khẩu này, ngoài các vật liệu tiêu chuẩn, như thép thanh, bù long, đai ốc, thì chỉ thực hiện bằng nhưng máy gia công cũng tiêu chuẩn dễ kiếm, như mài, tiện, phay. Loại pháo này vẫn giữ nguyên nguyên tắc của súng bắn nhanh trên tầu, mà ngày nay vẫn là pháo mũi của các tầu khu trực, và có từ coulevrine = Vogler , Vogelfänger, Vogheler, Vögler của tk15. Đó là các pháo nòng dài, bắn qua lỗ châu mai, giá trên cái gậy cắm lỗ sàn tầu, hay cái cối cắm gậy mọc lên từ sàn tầu, dễ xoay, bắn nhanh, nòng dài, nhưng không to lắm. Pháo này diêt các mục tiêu nhỏ chạy nhanh, như thuyền bơi chải ngày trước hay là tàu phóng lồ tk20, hoặc fast attack ngày nay. Nhìn được một cái nòng Canon de 75 modèle 1897 vỡ, may mà nó vỡ, minh chứng rõ ràng cho cấu tạo composite ở phần dầy (buồng đốt), học theo cối bờ 1867 Nga = hình mẫu cho pháo hiện đại. Cấu tạo nòng được phát triển từ các model 185x đến 1867. Cũng xem kỹ súng Cao Thắng, bực mình, hay là làm giả cổ một khẩu bằng máy mài rồi quay phim lại, lão đây không xương cốt già cả thì lão cho đám bồi lưỡi mồi mõm bằng răng. Cái súng đó cùng loại với "Súng kíp Hồ CHí Minh dùng", là súng kíp đặc trưng của châu Á, lai kỹ thuật Tây, có máy cò kiểu Nhật Bản, không theo tiêu chuẩn nào và được dùng cũng rất đa năng. Đến đoạn súng của ông Tăng Bạt Hổ thì phá ra cười. Chú thích là "súng của ông TBH (xxxx-1907), hoạt động ABC từ 1904-1908), tức là ống ấy ngồi nóc tủ tham gia ABC, đóng góp bằng việc trông hoa quả. Đó là một khẩu Lefaucheux, đến thời ông Hổ thì cổ lỗ quá. Còn súng du kích chế tạo K44, Mosin M1930 thì cũng nhìu, du kích thay 1 con ốc là bảo du kích làm súng. Có 1 Thompson SMG đúng là có tiếng Vịt trên vỏ, nhưng mà du kích làm được cái bịt đáy nòng của nó thì đã chả phải đánh Mỹ đánh Pháp, chúng nó sợ run cầm cập hàng luôn. Ở ĐIện Biên, bộc phá ống được gọi là "thủ pháo", thủ là cầm trong nắm tay, danh từ là cái nắm tay ?? Ngoài cửa có 2 khẩu pháo, đứng trong nhìn ra, phải là hải pháo của Ship ofthe line thời trước Paxihan (trước nội chiến Mỹ đặc trưng bởi kiểu to như Henri Joseph Paixhans). Bên trái là khẩu cùng cỡ nhưng kiểu lục quân, nhưng trông dại dại, có vẻ như là hàng nhái nhà Nguyễn, nhái rất ngu ngốc. pháo của Ship ofthe line hết thời sau Nelson năm 1805, từ đó bán tống band tháo khắp thế giới, đặc biệt sau nội chiến Mỹ thì cả lục hải pháo đều bắn rầm rỹ, nhà nguyễn có rất nhiều. pháo bắn nhanh của tầu chiến, xưa và nay http://www.navweaps.com/Weapons/WNRussian_39-70_ak100.htm (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/800px-EarlyCoulevrines.jpg) QF 6 pounder Hotchkiss, 1885 (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/3/30/Elswick6PounderGuncirca1897.jpg) Ordnance QF 3 pounder Vickers, 1908 (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/d/d2/QF3pounderVickersMkI1918.jpg) (http://www.fas.org/programs/ssp/man/moremanpics/mk45-5-inch_shooting_naval_gun.jpg) (http://www.navweaps.com/Weapons/WNRussian_39-70_ak100_Kulakov_pic.jpg) Tiêu đề: Re: Vũ khí nước mẹ Tây Phú Lãng Sa trong Nhà Nguyễn, Thuộc Pháp và Kháng chiến. Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 10 Tháng Chín, 2010, 06:01:48 pm À, đặc biệt có một số cái hay hay. Trung liên trung đoàn thủ đô dtoanf quốc kháng chiến, rất gần chỗ ĐBP, có một quả chính xác là ZB 26 Tiệp Khắc, không hiểu lưu lạc thế nào mà lại đến Trung Đoàn Thủ Đô. Trên tường đối diện chô ĐBP là anh em của nó, Bren (sao ZB 33). Các bạn có biết, trong cuộc hành quân con nhạn, Tây Phú có nói đến Skoda LMG ? vậy, nó là LMG gì và dùng ở đâu, các thông tin khác ??
ZB 26. ZB-26 có cái trích khí xiên ngược thuỷ tổ của AK. Trích khí này có điểm ưu việt là tiết kiệm khí mà vẫn to, thẳng, nó dùng khí động chứ không phải tiết lưu để làm giảm lượng khí trích. Cụ thể hơn, trích khí lộn ngược làm donhf khí mất nhều thời gian để lộn lại, và tích động năng trong ống thẳng, tiếp tục làm việc khi áp suất nòng đã giảm. Tuy vậy, ZB không hoàn thiện trích khí này bà bỏ đi ở các phiên bản sau, thuỵ điển, anh... http://world.guns.ru/machine/mg52-e.htm Bren http://world.guns.ru/machine/mg10-e.htm Tiêu đề: Trung liên Skoda Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 10 Tháng Chín, 2010, 08:46:52 pm Skoda là hãng cơ khí lớn nhất Đế Quốc Áo Hung, Czech & Slovakia (Tiệp Khắc) và Czech ngày nay. Ở vùng đất Czech ngày nay, xưa có trung liên Brno lừng danh, với các đại diện là ZB 26, được dùng ở nhiều nước Âu Mỹ Á, Đức dùng với tên MG 26(t) , Thuỵ Điển có bản ZB 26 mang tên Kg m/1940 cải trích khí, các ZB khác sau thành các đời trung liên Anh Quốc. Nhưng không hề có Skoda LMG. Câu trả lời = ;D ;D ;D lại là ;D
Có 3 kết quả tìm kiếm trên web cho địa chỉ của ;D, có và chỉ có của "Cuộc hành binh Chim Én", trong lịch sử quân sự ta là "cuộc hành quân Con Nhạn" (Hồi Ký của Đại Tướng). http://vn.360plus.yahoo.com/romance_cr/article?mid=374&fid=-1 "Tiểu đoàn dù thuộc địa số 6 đang kiểm tra súng trung liên Skoda của Tiệp" Hình của nó đây (http://www.quansuvn.net/index.php?action=dlattach;topic=3981.0;attach=1690;image) Và http://www.quansuvn.net/index.php?topic=3981.155 http://www.quansuvn.net/index.php?topic=8643.35 http://www.quansuvn.net/index.php/topic,3981.msg56933.html#msg56933 http://www.quansuvn.net/index.php/topic,8643.msg137498.html#msg137498 Hình ảnh trên đó rất có thể là DP46 ?? tất nhiên, ;D các xứ không bao h chụp 1000 khẩu bằng ảnh 1 khẩu và không đem mẫu về, để nửa thế kỷ sau còn nghi án. Giải thích giúp cho ;D ? một khẩu súng lạ được ;D đặt tên bừa bãi theo hãng lớn nhất của nước có ký tự đó, hết. http://world.guns.ru/machine/mg34-e.htm chiangshan vẫn đanh dấu ? về DPM, DP 46 ở ĐBP, đây chăng ? chiangshan xem sao ? Tiêu đề: Re: Vũ khí nước mẹ Tây Phú Lãng Sa trong Nhà Nguyễn, Thuộc Pháp và Kháng chiến. Gửi bởi: chiangshan trong 10 Tháng Chín, 2010, 10:07:15 pm chiangshan vẫn đanh dấu ? về DPM, DP 46 ở ĐBP, đây chăng ? chiangshan xem sao ? Hehe, theo em nó là cách gọi theo thói quen, giống như nhà ta gọi M-3 giảm thanh là "tiểu liên Mã Lai", hay lính Anh Mẽo gọi MP-40 là Schmeisser. Còn về vũ khí, thì nhận định của em thế này: hồi đó Nga chưa viện trợ trực tiếp nên không kể chiến lợi phẩm (chiếm tỉ lệ lớn), súng của chủ lực ta đều từ TQ. Mà TQ thì suốt từ thời nội chiến vẫn phổ biến nhất ở cả 2 phe là hệ Mauser, ZB-26, Maxim MG08 (Tàu đều có bản copy) dùng đạn 7,92x57. Súng đạn 7,62x54 Nga nếu có thì cũng ít và chắc cũng sẽ không mang ra trang bị cho chủ lực để khỏi phức tạp hóa vấn đề hậu cần. Khẩu ZB-26 của trung đoàn Thủ đô nếu là đúng thì có lẽ được mua hoặc cướp từ quân Tàu Tưởng. Tiêu đề: Các vẫn đề để lại Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 11 Tháng Chín, 2010, 09:06:53 am (http://a8.vietbao.vn/images/vietnam2/van_hoa/20666674_images1241269_3.jpg)
Khẩu này có kiểu dáng giống của Anh Pháp sản xuất trước 196x, sau này, khi cải làm nạp sau thời đầu, có Amstron gun Mỹ. Nạp sau Amstron gun siêu đơn giản, ban đầu là cái bịt đáy nòng + khoá nòng chỉ là cái vít ren to, sau đó, cuối tk 19, mới cải là ren cắt. Những cái bịt đáy nòng ban đầu không hề làm thay đổi hình dáng nòng pháo, kiểu nòng này còn được gọi là Henri-Joseph Paixhans người Pháp, ông này chả phát kiến phát ong gì, chỉ cỗ vũ cho phong trào sử dụng pháo to thay cho các pháo nhỏ vô ký của Ship Of The Line thời trước nội chiến Mỹ. Giá pháo thì mình chỉ rồi, đó là giá pháo của cối phòng thủ bờ biển. Hải Pháo Paixhans được Nga chấp nhận sử dụng đầu tiên. Anh Pháp Mỹ áp dụng quá muộn, còn lạc hậu một cách ngu si khi cố dùng pháo này lắp trên tầu kiểu Ship Of The Line cũ và dùng ở Nội CHiến Mỹ, quân miền nam, lại là nạn nhân của đại dịch liệt não ăn cướp ngân sách. Trận đanh cuối cùng của Ship Of The Line cũ, hay Ship Of The Line pháo to, Ship Of The Line độc chiến... là CSS Virginia 9 tháng 3 năm 1862, nó đối đầu với USS Monitor. USS là chiếc battle ship đầu tiên, được đóng theo công trình sư người Thuỵ Điển John Ericsson, trận này USS thua, chạy khỏi sới, kẹt đạn, thuyền trưởng mù và đắm sau đó vì bão. Nhưng thực chất, kẻ thua thật sự là CSS, nó không thể sửa chữa được và bị huỷ, đồng thời CSS mất mục tiêu trận đánh là bảo vệ tuyến đường. Cái này là một vấn đề nhờ các bạn bới xem nó là loại gì. Vả luôn vào mõm bọn Vũng Tầu, dám bảo đây là thần công An Nam. http://vietbao.vn/Van-hoa/Chum-anh-Sung-than-cong-khai-thong-nam-moi/20666674/181/ 24/2, lần đầu tiên bà con thành phố Vũng Tàu được tận mắt chứng kiến những khẩu thần công 200 năm tuổi khai hỏa. Người ta sinh ra cốc mồi = flash pan, để có thời điểm nổ đúng. Cốc mồi là một cái cốc chứa thuốc, có đường ống lửa dẫn vào buồng thuốc chính. Khi cốc mồi nổ thuốc của nó, áp lực cao thổi lửa vào buồng chính, do đó, súng phát nổ tức thời. Kiểu ngòi xì xì này cần sắm thêm cái loa "mày ơi, mày đứng yên cho tao bắn mày trúng cái nhờ". 2 k ngu dân đi xem súng đểu, đúng là cái thói dân An Nam Mít. (http://a8.vietbao.vn/images/vietnam2/van_hoa/20666674_images1241281_9.jpg) ======== (http://i378.photobucket.com/albums/oo229/chiangshan1/IMG_1858.jpg) Cái này cũng nên tìm xem xuất xứ nó là gì, chiangshan đúng, đây là hạm pháo = Pháo dùng trên tầu chiến. Cái kiểu ngõng ngáng này sẽ rất cồng kềnh khi dùng trên giá xe lục quân, nhưng lại rất gọn gàng khi cắm vào cái cọc mọc lên từ sàn tầu. Ở trên bộ, cho đến cuối tk19, Tây Âu vẫn phổ biến là pháo giá cứng, chỉ có ngáng tầm, không có ngõng hướng. Sau này, khi đã có ngõng ngãng hãm tầm hướng, thì pháo trên bộ cũng đặt nòng lên ngõng hướng, rồi mới đặt cả bộ lên ngáng tầm, không đặt thế này = ngáng trước ngõng sau. CŨng vì lý do gọn gàng, mà thời kéo tay, pháo mặt đất thường có nòng ngắn và cùng lắm là trung bình, chữ không dài thế này. Puteaux 37mm đây (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/3/35/Puteaux_37mm_gun2.jpg/800px-Puteaux_37mm_gun2.jpg) Vậy, khẩu này không phải là pháo mặt đất, nó là gì, dùng ở tầu nào, lại cần giản đáp. =========== Tiêu đề: Re: Vũ khí nước mẹ Tây Phú Lãng Sa trong Nhà Nguyễn, Thuộc Pháp và Kháng chiến. Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 11 Tháng Chín, 2010, 09:31:27 am chiangshan vẫn đanh dấu ? về DPM, DP 46 ở ĐBP, đây chăng ? chiangshan xem sao ? Hehe, theo em nó là cách gọi theo thói quen, giống như nhà ta gọi M-3 giảm thanh là "tiểu liên Mã Lai", hay lính Anh Mẽo gọi MP-40 là Schmeisser. Còn về vũ khí, thì nhận định của em thế này: hồi đó Nga chưa viện trợ trực tiếp nên không kể chiến lợi phẩm (chiếm tỉ lệ lớn), súng của chủ lực ta đều từ TQ. Mà TQ thì suốt từ thời nội chiến vẫn phổ biến nhất ở cả 2 phe là hệ Mauser, ZB-26, Maxim MG08 (Tàu đều có bản copy) dùng đạn 7,92x57. Súng đạn 7,62x54 Nga nếu có thì cũng ít và chắc cũng sẽ không mang ra trang bị cho chủ lực để khỏi phức tạp hóa vấn đề hậu cần. Khẩu ZB-26 của trung đoàn Thủ đô nếu là đúng thì có lẽ được mua hoặc cướp từ quân Tàu Tưởng. Đúng rồi, cái này, mình đánh giá bạn cao kiến. Thêm nữa, việc nghiên cứu thận trọng và kỹ lưỡng của bạn đã rút ra một kết luận rất có giá trị với mình. Tức, súng bộ đội chủ lực đến 53-54 là Mauser, Mauser được chuyển giao có license cho Tầu Trắng ( Trung Chính Bộ Thương, ban đầu theo mẫu Mauser M1924, sau là M1935=K98k). Nhưng ngay từ khi lập quốc 1911, Tầu Trắng đã mua và nhái rất nhiều các loại Mauser, tiếng Tầu là Mao (lông) Sắt (đàn), được phiên âm trong Thép Đã Tôi bản tiếng Cạc là Mao-de, kể từ C96... cho đến K98k. chiangshan cũng đã nói có 2 luồng Mosin, một là Mosin cổ 1891/1891 nguyên thủy, thu được của Nhật, Nhật lưu từ Nga-Nhật 1905-1906, trang bị cho quân lôm côm. Nguồn nữa là viện trợ sau 1950, do không thống nhât hậu cần, nên ta cũng trang bị cho quân lôm côm. Trong Hắc Long Giang, chắc chắn Nhật cũng có ít nhiều M1930, nhưng cũng chắc chắn, lần này họ thua trận nên không có quá nhiều để cấp cho lính viễn chinh. Có điều, ở BTQS, khẩu Cách Mạng 1945 thu được của Nhật năm 1945 là model 1930 của Hồng Quân hoành tráng, nòng dài hơn 700mm, đặc trưng là thước ngắm và đầu ruồi rất dễ nhận từ xa. ;D ;D ;D ;D ;D Bảo tàng chúng nó vả mõm bạn chiangshan. Theo mình hiểu, Nhật Nga hữu hảo, Hồng Quân viện trợ cho Nhật model xịn M1930 . Đây là vấn đề khác http://vn.360plus.yahoo.com/romance_cr/article?mid=374&fid=-1 http://www.quansuvn.net/index.php/topic,3981.msg56933.html#msg56933 (http://www.quansuvn.net/index.php?action=dlattach;topic=3981.0;attach=1690;image) Đây là Vz. 52 and Vz.52/57 Machine gun (Czechoslovakia) http://world.guns.ru/machine/mg29-e.htm 59 http://world.guns.ru/machine/mg28-e.htm ZB 53 / Vz.37 machine gun (Czechoslovakia) (Anh copy là Besa) http://world.guns.ru/machine/mg60-e.htm Vích Cơ http://world.guns.ru/machine/mg82-e.htm Bren light machine gun (UK) http://world.guns.ru/machine/mg10-e.htm So sánh hinh dáng báng, chiều dài trích khí và vị trí càng, thì phần lớn khả năng ảnh trên là dòng DP, có thể là DP 27 / 46 / M. Tất nhiên, không thể là trung liên nào của Tiệp Khắc và Tiệp Khăc hoàn toàn không có "Trung liên Skoda", chỉ có ô tô Skoda , điện hạt nhân Skoda mà thôi. Nhà máy vũ khí của Tiệp Khắc là Brno. Rõ ràng, cả hai loại Tiệp và Nga đều không có số lượng trăm hay ngàn khẩu trong 9 năm ? http://world.guns.ru/machine/mg34-e.htm Tiêu đề: Ship of the line Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 11 Tháng Chín, 2010, 11:57:41 am Trong số các pháo phiếc mà Triều nguyễn ngu hèn mua của Tây, có rất nhiều pháo thải của Ship Of The Line cũ, thời trước Nội CHiên Mỹ. .... Chân thành Cột Cờ có một khẩu Carronade, còn khẩu bên phải (đừng trong nhìn ra ) của bảo tàng cách mạng là một khẩu gun chuyên dụng cho kiểu tầu này. Carronade là một loại cối bắn ngang, thường được đặt trên nóc Ship Of The Line, các nước Anh Pháp và Tây Bán Nhà đều thế, tuy nhiên, của Anh do hãng Carronade chế tạo, thường đúc gang, Pháp có đúc đồng. Carronade có những hoạ tiết bên ngoài riêng rất dễ nhận. Các hải pháo của Ship Of The Line cũ, như HMS Victory của Horatio Nelson, có đặc trưng rất dễ nhận là cái vòng quàng dây sau đuôi, trong khi đó, lục pháo bộ pháo pháo đất là cái chuôi cầm tay, cũng quấn dây được, nhưng không pờ rồ.
Giá pháo có thể là xe giống như xe hộ thành, cũng có thể là dốc ván trượt. Sử dụng thì các bạn biết rồi, khi bắn, pháo lùi lại, thụt vào trong lỗ châu mai, pháo thủ nhồi xong, đẩy lên, bắn tiếp, ván trượt thì dốc ra cho ngon. Ship Of The Line cũ, thời trước Nội CHiên Mỹ, như HMS Victory của Horatio Nelson, không lấy hướng riêng cho mỗi pháo gun trong HMS Victory của Horatio Nelson (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/ship_of_the_line/450px-HMS_Victory_Gun_Deck.png) Carronnade trong HMS Victory của Horatio Nelson (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/ship_of_the_line/450px-HMS_Victory_68lb_Carronade.png) Lính bộ đánh thủy, quấn dây không pờ rồ (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/ship_of_the_line/sixpdrprov.jpg) Có thể không xe, mà thay bằng dốc trượt (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/ship_of_the_line/800px-Caronnade-schematics.jpg) Cải tiến sau này khi làm nòng dầy như Henri-Joseph Paixhans người Pháp. Ông này không phát kiến phát ong gì, mà chỉ là chủ một thương hiệu pháo và chăm cổ súy cho pháo mới. Thực chất, kiểu pháo to dầy nặng này là thành quả chung của thế giới, sau khi sáng mắt bởi Trafalgar. Đây là thiết kế Nội CHiến Mỹ (Công Trình Sư John Ericsson). (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/ship_of_the_line/800px-Barbette_FrontPintleIron.jpg) (http://www.old-picture.com/civil-war/pictures/Cannon.jpg) ==================== Lịch sử quân sự các nước phương Tây Anh Pháp Mỹ Tây Bán Nhà ghi nhiều dấu ấn đậm nét về đại dịch chế tạo hàng loạt liệt não, ăn cướp tiền ngân sách, mà mỗi kế hoạch như thế, ít thì nửa tk , nhiều là hàng trăm năm. Có thể ví dụ, quân Giáp Kỵ, máy bay rải thảm của WW2, bước tường thiết giáp hạm= battle ship của WW2, và dĩ nhiên là Ship of the line. Một kế hoạch khổng lồ của các nước Anh Pháp Tây Bán Nhà , kéo dài trong suốt hơn 1/2 thế kỷ, xây dựng được các hạm đội vô cùng tốn kém, và kết thúc bởi Battle of Trafalgar (21 October 1805). Nhưng nó chưa kết thúc hẳn, mà còn tiếp tục nhồi sọ ... để có CSS Virginia 9 tháng 3 năm 1862. Các nước Nga Đức không bao h chế tạo những hạm đội dở người như vậy. Nga có những Ship of the line, nhưng thực chất đó là các pháo hạm có nhiệm vụ trợ chiến cho bờ biển, hoàn toàn khác nhiệm vụ đối kháng tầu diệt tầu. Trong lịch sử , tầu chiến phát triển qua nhiều thời kỳ. Ga Lê, Galleons Ban đầu là các thuyền chèo tay, như thuyền trên trống đồng, phía trước là mũi cao và sàn cho chiến binh, phía sau là đội phu chèo thuyền. Sau này, đổi thành boong thượng của chiến binh, một hay nhiều tầng bên dưới là của phu được bảo vệ. Quinquereme , Pentere , hexeres, hepteres ... Các thuyền đó châu Âu gọi là Ga Lê, Galleons. Sức mạnh chiến đấu của các tầu này là đội chiến binh chuyên nghiệp đổ sang tầu địch giáp lá cà, bằng lợi thế của dốc mũi hay boong cao, có trợ chiến bởi nỏ cung lớn lắp trên tầu. Nhiều khi tầu có cái mũi rât cứng để đâm thủng địch tạo lợi thế. "Động cơ" và bánh tái lớn, giúp tầu cơ động hơn các tầu thường, đuổi, chạy, đâm.... đều thuận tiện. http://www.quansuvn.net/index.php/topic,544.msg19568.html#msg19568 Vào 1643, Dũng Lễ Hầu guyễn Phúc Tần đã dùng thuyền này đánh tan bọn Đông Ấn Hoà Lan, chặn đứng làn sóng cướp bóc đầu tiên của Tây Dương. man of war Trên cơ sở các tầu đó, khi có súng, có man of war. Thay cho chèo tay không buồm, thì các man of war có buồm để chở nặng đi xa, tiện cho viễn chinh và cũng nhờ đó mà mang được súng to. Cụ thể hơn, thời đại của súng trên tầu buồm có hai đoạn, lành mạnh là man of war. Ung thư ngân sách, hoá già, biến thái là Ship of the line... Man of war vẫn kết hợp người chèo, ở các vùng biển gió tốt như Anh Quốc, họ có thể bỏ hoàn toàn mái chèo, nhưng vẫn cấu tạo cũ. Súng có 1-2 khẩu, được bố trí trên tháp riêng như cũng nỏ lớn trước đây. Khi chiến đấu, thì mái chèo tạo tốc độ và sức cơ động vượt trội, kết hợp với súng nặng chở đi xa được bằng buồm. (http://www.mandragore2.net/dico/lexique2/navires2/galeasse-gd.jpg) Quy Giáp Thuyền Người Cao Ly thường vỗ ngực phát minh Quy Giáp Thuyền đánh thắng Nhật cuối tk16. Thực chất, tầm bậy. Đây là phát minh xuất hiện ở nhiều vùng, nhiều nước trước đó lâu rồi. Cuối tk16 thì châu Âu đã nhiều súng, không còn dùng đồ này. Cao Ly chỉ đóng theo mẫu Minh Triều viện trợ kỹ thuật. Minh Triều thì xài lại Hồ Nguyên Trừng đóng thuyền chiến hai tầng, chính là cái đó, trước Cao-Nhật 200 năm. Đáng tiếc là chưa kịp chuẩn bị xong, địch quá mạnh, lại có bọn Trần đã ươn thối cõng rắn cắn gà làm gián điệp, sau Đa Bang, thuyền 2 tầng ngược sông Hồng phản công tiếp viện Thăng Long. Do gián điệp, địch biết được kế hoạch này, bố trí trên các nhánh Đuống và Đáy, kẹp quân Hồ lại, thuyền Việt đại bại. Quy giáp thuyền Cao Ly cũng như man of war, nhưng thực chất chỉ là thiết kế biến thái, giống như bỏ giáp xe tăng mà lắp bành voi. Cao Ly thiếu thuốc tốt, không thể có súng tốt, thay tháp pháo trợ chiến bằng cái đầu rồng phun khói trước cửa mũi, mở đường xung phong. Thuyền cũng có 2 tầng, nóc tầng 2 được làm giáp tốt và đóng đinh phòng thủ, nhưng súng ống cực tệ. Hai bên và trước có lỗ châu mai, nhưng vì súng tệ, nên chủ yếu là loại lỗ châu mai thò giáo chọc, có một số lỗ để chọc lên nóc. http://www.quansuvn.net/index.php/topic,544.msg6484.html#msg6484 (http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/quy_giap_thuyen_ve.gif) Biến thái Ship of the line = tầu tiền tuyến Từ khi có buồm, lý sự dễ vào đầu liệt não là tầu càng nhiều súng càng tốt, hạm đội càng nhiều tầu càng tốt. Trong tk18, nạn thầu khoán lại nổi bùng lên. Sau các Vauban và Coehorm, đến tk18, có các tiêu chuẩn súng pháo (Pháp gọi là hệ thống), điều này làm thống nhất trang bị, tạo ra quân chính quy, thay cho thời cát cứ phong kiến. Có điều, sự thống nhất này cũng tạo thuận lợi cho thống nhất tham nhũng, thống nhất cướp ngân sách, và trào lưu tệ nạn mới ra đời, chỉ kết thúc bởi nội chiến Mỹ. Tầu tiền tuyến được hiểu là tầu ở mặt trận. Hai hạm đội dàng hàng đanh nhau, loại ở mặt tiền dàng hàng ngang ra bắn là Ship of the line = tầu tiền tuyến. Hồi Nelson, Anh Quốc chia tầu chiến ra thành 3 hạng lớn, mỗi hạng lớn có 3 hạng nhỏ, cộng là 9 hạng. Hạng (rate) có 3, là Ship of the line = tầu tiền tuyến. frigate (trong tiếng Cạc là phờ-rai-ghết, cũng là có nhiệm vụ đánh nhau, nhưng thường là ở trong các cửa trận do Ship of the line = tầu tiền tuyến tạo ra, hoặc cửa sông. Dưới nữa là các tuần tiễu cruiser, chuyên bắt nạt thuyền không vũ trang, nhóm bét này có nhiều, kể từ thứ không đáng gọi là tầu, như sà lúp vũ trang, cho đến các tầu tuần dương, có thể đi xa, nhưng ít súng ít quân. Ship of the line = tầu tiền tuyến thường có nhiều tầng pháo, không có lấy hướng pháo, mà toàn bộ mỗi mạn chung một hướng. Người ngắm là thuyền trường, ông quay tầu đúng hướng và hô lệnh, toàn bộ mạn tầu nhả đạn, rồi chuyển sang mạn khác. Ví dụ, chiếc HMS Victory của Horatio Nelson có 5 tầng pháo, 4 tầng chứa pháo nòng dài gun và gác thượng là Carronade (cối bắn ngang). 3500 tấn, 850 lính và sỹ quan, 104 pháo. Dĩ nhiên, tầu đi rất chậm chứ không như cái nợ wiki vống lên là 9 hải lý / giờ. * Gundeck: 30 × 2.75 ton long pattern Blomefield 32 pounders (15 kg) * Middle gundeck: 28 × 2.5 ton long 24 pounders (11 kg) * Upper gundeck: 30 × 1.7 ton short 12 pounders (5 kg) * Quarterdeck: 12 × 1.7 ton short 12 pounder (5 kg) * Forecastle: 2 × medium 12 pounder (5 kg), 2 × 68 pounder (31 kg) carronade Không như lục quân Nga, trong tk18 phân biệt rõ ràng pháo nòng dài gun và pháo bắn trái phá Howitzer. Pháo của Ship of the line trừ Carronade, đều là loại pháo lai. Nguyên nhân là khi dùng đạn tỷ khối lớn và đường kính nhỏ, đạn xiên vào trong gỗ tầu địch, không tạo lỗ to. Người ta dùng đạn to nhưng rỗng, hay là nhồi thuốc, đạn đá, để giảm tỷ khối và tăng đường kính đạn, khi đó, đạn đập vỡ vỏ vỗ chứ không xiên vào. Thêm nữa, không lấy hướng, thì cũng chả cần nòng dài, sơ tốc lớn, đạn mật độ cao giảm tản mát làm gì. Để chống trái phá phát nổ do gia tốc lớn trong nòng, lớn hơn các howitzer của lục quân, người ta dùng nhiều kỹ thuật từ tk18, như nhét vào cac bi gang, bi đá, các bĩ này đỡ đòn cho thuốc, làm thuốc không bị nén mạnh do gia tốc. Hoặc nhồi thuốc trong các cầu rỗng, rồi nhét các cầu đó cùng thuốc ngoài vào trong đạn. Các kỹ thuật khác như các vách gỗ.... cũng được dùng. Nước Anh, Pháp, Tây Ban Nha đã bỏ nửa tk đóng 3 hạm đội khổng lồ, rồi nướng sạch bởi Battle of Trafalgar (21 October 1805), bất kể thắng hay là thua. Quá dễ hiểu, có hai cái biến thái ... Một là về trận. Các bạn biết cách bắn đồng loạt như thế rất chậm. Đồng thời, các pháo này cũng có tầm bắn hiệu quả rất kém, gun dài chỉ vài trăm mét, cho đến cả các nòng to dầy như Paixhans cũng chỉ vài trăm mét. Còn Carronade chỉ 100 mét , mà là tầm bắn xa tối đa đó. Với tốc độ bắn và tầm như thế, các Galeon lao đến quăng bộc phá chai cháy sang rồi co cẳng ra xa cười. Thêm nữa, hàng trăm tầu dàn thành trận hàng chục km, trong khi, hai bên chỉ cách nhau có vài trăm mét, không thể cứu được nhau. (http://www.mandragore2.net/dico/lexique2/navires2/vaisseau-escadre-gd.jpg) Hai là pháo. Trẻ con cũng thấy, đổi 104 cái pháo còi xương không hướng của HMS Victory lấy 2-4 pháo to, có hướng. Thế là cứ đứng ở góc chết tầu địch mà tỉa, như USS Monitor làm sau này với chú Viếc CSS. Kết hợp ? làm một cái chèo tay chạy nhanh, chỉ cần 1 pháo to, chạy vào góc chết địch, nã một cái, lại chạy ra nhồi pháo. Như thế là hiệu quả hơn khi không có tiền mua pháo, phải đem đồ cháy hay bộc phá. Đại chiến Bắc Âu Chả phải đợi đến khi Liên Xô chế ra 53 ngàn T-34, khi Hồng Quân vừa nhậu vừa tè lụt cả châu Âu. Nhờ thế mạnh của Ga Lê, Piotr Đại Đế làm đường ray chở tầu vượt từ Bắc Hải sang Baltic, tầu ngàn tấn không thể như thế được. Anh Quốc mang hạm đội Ship of the line sang cứu .... Dưng cơ mừ chỉ lượn lờ ngoài xa. Hạm đội Ga Lê xông xáo triệt hạ chính quốc Thuỵ Điển, buộc Caler 12 ký hiệp định, giành thắng. Đó là 1700-1710. Thời điểm này quá sớm để các nước Tây Âu có súng trường tiêu chuẩn (Pháp Anh 1714-1736), và quá sớm hơn nữa để Pháp Anh đủ sức tích luỹ hạm đội Ship of the line mà chơi quả Trafalgar . Nga hay Liên Xô sau này không bao h có các hạm đội Ship of the line, battle ship hay carrier hoành tráng cả. Nhưng họ chế tạo ra cá tầu phóng lôi (186x, đánh Ottoman), say này là fast attack dùng đạn tự hành (như KS-2, đạn đầu tiên của thế giới), và sau đó là tầu sân bay bay TU-16 đánh tầu sân bay bơi. Ai giết ai lúc nào ? Lý do thứ nhất, Horatio Nelson, đô đốc hạm đội Anh, đã tiêu diệt cả ba hạm đội Anh, Tây Ban Nha, Pháp, trong trận đánh Trafalgar (21 tháng 10 năm 1805) ?? May mà sau đó ông bị thương rồi mất. Ông dùng chiến thuật của Galeon, ném ...nó nửa tk bò ra đóng tầu dở người. Trong khi liên quân Pháp-Tây đang quay quay lộn lộn, thì Horatio Nelson không dàn ngang như "chiến thuật tiên tiến", không tận dụng "đại pháo hiện đại", mà dàng hàng dọc lao thẳng vào giáp lá cà, bắt sống địch. Tớ cũng tôn trọng Nữ Hoàng Anh, không thì tớ cam đoan, Horatio Nelson chết do một thằng sỹ quan Anh ăn tiền của bọn chủ thầu. Ông mà không chết, ông về ông làm cỏ triều đình và cái quân xưởng Portsmouth. Tớ cam đoan cái cảnh đó thế này, Horatio Nelson dàn hạm đội chĩa pháo vào Triều Đình hay Portsmouth, hét to "mái chèo của ta đâu". Lý do thứ 2, USS Monitor bé hơn nhiều, rẻ hơn nhiều, cười khành khạch làm CSS Virginia phát điên phát rồ ngày 9 tháng 3 năm 1862. Bé cứ chạy vòng quanh, nhè góc chết, nhồi được phát nèo là beng lun, mặc con con kỳ đà chả giống ai quay lộn. Thật ra, đóng Ship of the line đã là ... để cướp ngân sách. Ship of the line mà lại đòng trong thời đại hơi nước nữa thì đúng là rồ hết thuốc chữa. Sau Trafalgar (21 tháng 10 năm 1805) là kết thúc giai đoạn 1 của Ship of the line. Horatio Nelson lạnh lùng vung gươm ra sa trường quét sạch cả 3 hạm đội lớn nhất thế giới. Nhưng đại dịch ngu dân còn nhiều, mới phải đợi đến USS Monitor. Sau Trafalgar , pháo trên Ship of the line bán thải tràn ngập thế giới, các bạn thấy, bao nhiêu vạn khẩu đã được đúc ? Chưa xong, sau nội chiến Mỹ, lại ngững kẻ khư khư giữ ngu ở Miền Nam bị quân thắng trận bán thải. Có rất nhiều khẩu ở xứ Vịt có kích thước như hồi Trafalgar ? Liệu có phải chúng 3 đời bại trận không ? bán thải sau Trafalgar về Miền Nam Mỹ, rồi bán thải sau nội chiến Mỹ về xứ Cạc ?? rồi lại bại trận lần nữa ở Huế, Vũng Tầu, Hà Nội ?? ... ---- huyphuc chú ý: - Trong bài viết không dùng lẫn tiếng nước ngoài nếu đã có thuật ngữ tiếng Việt thay thế. - Không dùng từ ngữ miệt thị, phản cảm trong bài viết. Tiêu đề: Re: Vũ khí nước mẹ Tây Phú Lãng Sa trong Nhà Nguyễn, Thuộc Pháp và Kháng chiến. Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 11 Tháng Chín, 2010, 02:12:17 pm Trong quá trình khai thác hải sản trên biển Quy Nhơn, người dân Hải Minh (Quy Nhơn) đã phát hiện một khẩu súng thần công. Khẩu súng đã được anh Trần Văn Trọng (Bằng Châu, Đập Đá, An Nhơn) mua và giao lại cho Bảo tàng Tổng hợp Bình Định để bảo quản, trưng bày.
Khẩu súng đúc bằng chất liệu hợp kim gang, nòng súng hơi loe, miệng loe, thân tròn to, hai bên có hai tai gắn bánh xe để tiện di chuyển. Súng dài 2,4m, đường kính nòng 0,20m, chu vi đáy thân 0,98m, nặng khoảng 500kg, thân súng trang trí bằng các đường viền tròn. Trong những khẩu thần công hiện lưu giữ tại Bảo tàng, đây là khẩu súng có kích thước dài nhất. Đây là khẩu thần công thứ ba được phát hiện trên đầm Thị Nại (một khẩu do nhà Nguyễn đúc, hai khẩu do phương Tây đúc) và là một hiện vật quý liên quan đến lịch sử giai đoạn này của vùng đất Bình Định. Tuàn tự nhi tiến, 1 bác Tiêu đề: Carronade, tự sướng, cối nóc của Nelson ra Nguyễn Ánh Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 11 Tháng Chín, 2010, 02:25:19 pm (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/nguyen/090703195356-455-862.jpg)
(http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/nguyen/090703195356-93-409.jpg) (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/nguyen/than-cong-2.jpg) (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/nguyen/1246624693img.jpg) Chiều 2-7, ông Nguyễn Lịch (SN 1955) đã hoàn tất thủ tục bàn giao cho Bảo tàng tỉnh Quảng Ngãi một khẩu thần công thời Nguyễn do ông trực tiếp trục vớt tại cảng Sa Kỳ, tỉnh Quảng Ngãi. Tiến sĩ Đoàn Ngọc Khôi đang đo khẩu thần công Tiến sĩ Đoàn Ngọc Khôi đang đo khẩu thần công Khẩu thần công cổ có chiều dài 1,17m, đường kính đáy súng 37cm, họng súng 13cm, đường kính lọt lòng của súng 10cm và nặng khoảng 200kg. Trên mặt súng có hình khắc chữ 6/P và hình vương miện. Theo tiến sĩ Đoàn Ngọc Khôi, chuyên viên bảo tàng tỉnh Quảng Ngãi, khẩu thần công này thuộc thời Nguyễn, cách đây khoảng 300 năm. Đây là loại súng được gắn trên thuyền và nhiều khả năng xuất xứ từ Bồ Đào Nha. Người dân vận chuyển thần công về bảo tàng Cùng thời gian này, gia đình ông Võ Tiến (chủ khai thác sắt phế liệu tại thôn Định Tân, xã Bình Châu, Quảng Ngãi) cũng trục vớt được một kho đạn khoảng 5 tấn. Mỗi viên đạn có đường kính 10-12cm, trọng lượng 8-10 kg/viên. Hiện các ngành chức năng đang động viên gia đình ông Võ Tiến hiến tặng số đạn trên cho bảo tàng tổng hợp tỉnh. Nguồn đọc thêm: http://www.xaluan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=128755#ixzz0zCgI5XT1 ============================================= Đây, Carronade, loại cối nhẹ, rẻ nhất trong các ship of the lile trước 1805. Mình nhấn mạnh là Carronade Anh Quốc, chứ không phải loại tương đương Mẹ Ghẻ làm đã post. http://www.cadn.com.vn/News/Van-Hoa/Van-Hoa-Van-Nghe/2008/8/30/13220.ca Carronade bắn xa 2km, Nelson đội mồ sống dậy lại như tế sao CA VN. Lạy các anh, em đánh trận còn.... còi. Và lễ hội bắn súng thần công theo nghi thức truyền thống Việt Nam tại Festival Biển - Vũng Tàu tháng 4-2006 đã ra đời trong sự cố gắng đáng quý đó (http://www.cadn.com.vn/Images/Infor/Chung/2008/209/412%20%286%29.jpg) ============================================== ... http://www.soixam.com/c4/1006071/sung-than-cong-duoc-su-dung-tu-trieu-vua-nao Ở đâu đó, mình đã phân tích võ kih tổng yếu rồi. ...Đơn giản, Thắng tự hồng vũ nếu có thuốc súng thật sự thì là quả lựu đạn chầy chứ không phải khẩu súng. ... Không bàn, Carronade bên chân thành cột cờ, chỗ bé gái (http://news.image.soixam.com/content/1006071_1S.jpg) Trong quân sự, súng thần công được coi là vũ khí nóng (hỏa khí) dùng sức mạnh của thuốc nổ để phân biệt với vũ khí lạnh (bạch khí - gồm các loại như gươm, giáo, đao, dao găm, cung tên...) dùng sức mạnh của cơ bắp. Thuốc súng được người Trung Hoa phát minh khá sớm, nhưng việc sử dụng thuốc súng phục vụ cho chiến tranh lại quá chậm chạp. Chính vì thế, sự ra đời của các loại súng sử dụng thuốc nổ ở Việt Nam khá muộn. d Súng thần công được trưng bày tại Viện Bảo tàng Lịch sử Quân đội, Hà Nội. Theo các tài liệu lịch sử và kết quả các cuộc nghiên cứu khảo cổ học cho thấy, các cuộc chiến tranh vệ quốc của dân tộc ta dưới các triều đại Ngô Quyền chống quân Nam Hán, vương triều Lý chống Tống, vương triều Trần chống quân Nguyên - Mông chưa thấy có sử dụng súng. Tài liệu lịch sử ghi chép sớm nhất cho thấy cuối triều Trần trong cuộc chống xâm lược của quân Chiêm Thành, tướng nhà Trần là Trần Khát Chân đã sử dụng khá thành thạo các loại súng. "Khát Chân liền ra lệnh các cây Hỏa súng nhất tề nhả đạn, bắn trúng thuyền Bồng Nga, xuyên suốt ván thuyền, Bồng Nga chết..." (theo Đại Việt Sử ký toàn thư). Như vậy, có thể thấy vào cuối thời Trần, hỏa khí - súng thần công đã được sử dụng khá nhiều và có thể coi là một binh chủng của quân đội Trần. Để chuẩn bị kháng chiến chống quân Minh, nhà Hồ đã cho đúc khá nhiều súng thần công. Theo Lê Quý Đôn chép trong Vân Đài Loại Ngữ, súng thần công thời Hồ có 3 loại: súng lớn đặt trên lưng voi; súng nhỡ hai người khiêng, súng nhỏ vác vai. Năm 1407 khi cuộc kháng chiến chống xâm lược giai đoạn cuối, nhà Hồ vẫn "đúc hỏa khí, đóng chiến thuyền để chống giặc". Người đúc súng thần công nổi tiếng nhất là Hồ Nguyên Trừng - Con cả của Hồ Quý Ly, Tả tướng quốc quân đội nhà Hồ. Cuộc kháng chiến thất bại, Hồ Nguyên Trừng bị bắt đưa về Trung Quốc, được nhà Minh sử dụng để chế tạo súng thần công cho quân đội và sau này được người Minh coi là ông tổ súng thần công. d Những cuộc khai quật tại Thành nhà Hồ (Thanh Hóa) đã tìm được khá nhiều đạn đá hình khối cầu tròn đều, với nhiều kích cỡ khác nhau. Nghiên cứu đạn sử dụng cho thấy, súng thần công thời Hồ có thân hình ống tròn, dài đều, nòng trơn; phía sau thân hơi phình to để nạp thuốc súng. Trên thân có lỗ nối ngòi nổ với phần thuốc súng để khi sử dụng châm lửa kích thuốc nổ đẩy viên đạn khỏi nòng súng đi xa về phía trước. Đạn được chế tác từ chất liệu đá, đất nung có độ cứng cao, khi bắn viên đạn có sức mạnh công phá lớn. Đạn có nhiều loại, kích cỡ to nhỏ khác nhau chứng tỏ xưa có nhiều loại súng cỡ nòng khác nhau. Súng thần công tùy theo kích thước to nhỏ, có thể được gá cố định hay di chuyển trên các bánh xe trang bị sử dụng trong phòng thủ các tòa thành hay di chuyển theo các đội quân trong các trận đánh. Vào thế kỷ XV, vương triều Lê được thành lập, việc binh bị hết sức được quan tâm. Thời kỳ này nhà Lê bắt tay vào xây dựng binh chủng pháo binh. Sức mạnh của hỏa khí được phát huy với nhiều loại kích cỡ khác nhau. Theo tài liệu cho biết thời kỳ đầu nhà Lê: trong nước có các Cục làm súng với các loại súng bằng gỗ, bọc da, tên lửa, thuốc lửa, đạn lửa... Các quản binh đều có súng riêng. Súng có hai loại súng bắn tay và súng trụ. Nhưng có lẽ tác dụng của binh chủng này còn hạn chế nên chưa phát huy được tác dụng nhiều. (còn nữa) Kỳ sau: Biểu tượng sức mạnh của các vương triều Từ nhà Lê cho tới nhà Nguyễn, súng thần công đã tỏ rõ sức mạnh của loại vũ khí mới trong chiến tranh, trở thành biểu tượng sức mạnh của các vương triều. Tiêu đề: Pause Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 11 Tháng Chín, 2010, 04:40:49 pm Càng nói càng nhục. Ôi xời, triều đình nhà ta bị bọn... ăn cướp đánh gục. Triều đình nhà ta xài pháo bại trận nối dòng.
Carronade ? .... Chắc các bạn đã hiểu tại sao mình lấy ví dụ đó mà không lấy khẩu ... ở bên phải của Bảo Tàng. Loại cối bắn ngang trên gác thượng ... mỗi nước một khác. Thông thường, gác thượng tàu không nhiều cối đó, nhưng chúng có thể nhả đạn đè đầu địch để Horatio Nelson sang giáp lá cà 1805. Nhưng, Horatio Nelson đã lấy cái chết mà chứng minh sức mạnh ... của .... Và sau ông, người ta chứng minh tính di truyền của ... bằng cách bán thải nó sang cái xứ đã khai sinh ra cách mạng súng ống, .... Carronade rất dễ nhận từ xạ từ gần, đời này, véc si ông nọ.... và những điểm đó dơn giản hơn các ..., mặc dù gun nhiều hơn nhiều. Và các bạn thấy, mình cũng không bênh gì Anh Các Lợi, mình đã ... hình của loại tương đương mà Mẹ Ghẻ cho chúng ta thừa kế. ..., để đỡ nhục , một vài ảnh vui, ví như Đông Hà Quang Trị (xạ thủ trong link ảnh, tự xem(. http://www.saigoncdclub.com/forum/showthread.php?t=4127&page=3 (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/phao_co_viet/ABCD0008.jpg) (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/phao_co_viet/ABCD0007.jpg) Các bạn đừng xem bố cục trong đây, vì nó đã được trộn đều. Mình đã mất công làm lại, càng làm càng thấy.... hay. http://www.quansuvn.net/index.php/topic,1307.80.html Cái khẩy cối Đông Hà trên nó tương đương với cấu tạo này, http://www.quansuvn.net/index.php/topic,1307.msg21697.html#msg21697 Đây lại khác, một cái nòng nội chiến Mỹ. Không dưng mà mình trình bầy cối Tây Phú ww1, các anh chung ý tưởng.... rồ không nhiều. Từ mùng 1 đến mùng 10 Tết Nguyên Đán Mậu Tý, Bà Rịa - Vũng Tàu khai hội với nhiều chuỗi sự kiện văn hoá - du lịch. (http://www2.vietbao.vn/images/viet2/van-hoa/20764434_images1483734_sungthancong.jpg) Tiêu đề: Chiến trận Ship of the line= tầu tiền tuyến Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 11 Tháng Chín, 2010, 07:00:56 pm .... Pháo to nhà Nguyễn toàn bộ là nhặt nhạnh lạc hậu 3 đời, thậm tệ đến phần lớn là loại rẻ tiền nhất trên loại tầu bị thải loại sau 1805. Sau 1805, đến Nội Chiến Mỹ, dù Miền Nam Mỹ vẫn đóng ..., nhưng pháo to đã nhiều. Triều Đình Huế không có xiền mua pháp to (Paixhans) đó, mà tuyền là pháo con. Sau khi Pháp vào, mới đặt ở các pháo đài cửa cảng vài khẩu cối thải, to thì tho, chưa có nạp sau, mà Vũng Tầu xưng là pháo 200 năm 300 năm, thuê cả nhà máy Quốc Phòng làm đạn, bán 2k vé cho ... các kiểu chiêm ngưỡng, cúng khấn lạy vái đủ cả. Ngộ nghĩnh nhất là cầm đuốc châm ngòi xì xì như phim hồng công.
không đến 150 năm sau khi khẩu cối bờ biển Tây đó đến vũng tầu, mà dân vũng tầu đã thế ? mất nước là phải. Đại nạn chế tạo hàng loạt .... vẫn liên tục phát triển. ...Các bạn có thể thấy, Ship of the line= tầu tiền tuyến là tầu buồm, battle ship thiết giáp hạm, và cả là tầu sân bay. Nhất quả đất. http://en.wikipedia.org/wiki/Ship_of_the_line http://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%A0u_chi%E1%BA%BFn_tuy%E1%BA%BFn http://ja.wikipedia.org/wiki/%E6%88%A6%E5%88%97%E8%89%A6 ... Đây là sơ đồ trận đánh Trafalgar 21 tháng 10 năm 1805 . Sau nửa tk tích luỹ đóng tầu, 3 nước Tây Ban Nha, Pháp, ANh có 3 hạm đội Ship of the line= tầu tiền tuyến lớn nhất thế giới, trang nhau xứng bá đại dương. Liên quân Pháp-Tây Ban Nha và quân Anh va chạm nhau ở vùng biển Gribanta, cửa ngõ Địa Trung Hải ra Đại Tây Dương, lúc đó là cửa ngõ quy nhất của Địa Trung Hải, và ngày nay, người Anh đã sát nhập vùng Gribata chiếm được của Tây Ban Nha. Trận đanh là một bộ phận của chiến tranh Napoleon, xảy ra sau khio Napoleon bỏ đại quân lại Ai Cập, quay về trang cướp ngai vàng. Trước đó, hải quân Anh do Đô Đốc-Hiệp Sỹ Horatio Nelson ( Admiral Horatio Lord Nelson ), đã thắng thế vì kỹ thuật chiến đấu, săn lùng hạm đội Phá ở Địa Trung Hải. Napoleon sau thất bại này, đã kiêu căng ...từ chối sản xuất tầu hơi nước, thứ mà có thể làm Pháp lật lại thế cờ vì tốc độ cao, ông đã hối hận về sự nghiệp hải quân của mình khi trên đường đến Saint-Helena, song song với chiếc tầu chở tù, có một chiéc tầu hơi nước chạy chung một đoạn, trên đường từ bờ biển châu Âu đến đảo Cap, như con đường mà tầu bè thường đi sang Mỹ lúc đó. Sau Trafalgar , nước Mỹ lớn mạnh vì lấn các thuộc địa Pháp , chỉ còn lại Toronto tẹo tèo teo, lúc đó Mỹ còn yếu, không tự đánh được, người Mỹ kích động và trang bị cho quân da đỏ cùng đánh. Trafalgar làm hết thời Ship of the line= tầu tiền tuyến. Sau này, dù thắng dù thua thì các tầu đều đóng mới, huỷ hay hoán cải. Người ta không dùng hàng trăm khẩu súng còi xương không hướng, mà dùng số ít, nhưng súng to, có mâm quay hướng. Thật ra Henri-Joseph Paixhans chỉ là chủ một thương hiệu pháo, còn loại hải pháo Paixhans đươc cổ suý cũng là các giải pháp chung. Henri-Joseph Paixhans nôi tiếng vì ông quản cáo đúng thời điểm, Nga đang cần mà thiếu tiền xây dựng công nghiệp chế tạo, mua Henri-Joseph Paixhans về, đánh thắng Ottoman. Trafalgar diễn ra cùng lúc Nguyễn Ánh phá thành Hà Nội, xây kiểu Vauban, mà chính Vauban đã lạc hậu hơn 100 năm cùng với thành quách nói chung. Bại trận, người Pháp càng nỗ lực nhồi đồ thải cũng như chiếm thuộc địa, và rác rưởi càng tràn ngập xứ Vịt mạt vận. Đây là làn sóng nhập pháo thải Tây đầu tiên của nhà Nguyễn ... làm sóng thứ 2 là pháo thải của quân Miền Nam sau Nội CHiến Mỹ. Trận đánh đơn giản, thực chất, đó là chiến thuật hiệu quả tấn công thẳng vào ... bản chất của Ship of the line= tầu tiền tuyến . 27 tầu Anh và 33 tầu liên quân, trong đó tầu Pháp to hơn, súng to và nhiều súng hơn. Quân Anh chia làm 2 hàng dọc, theo kiểu chiến thuật cổ đển của các thuyền chèo tay cổ, lao vào giữa hàng ngang liên quân, giáp là cà, bắt sống địch rồi chia làm hai hướng hai bên phát triển trận đánh. ... Thực chất, các Ship of the line= tầu tiền tuyến rất đắt, nhưng quá kém về tính năng so với các thuyền chèo tay cổ, và cũng không phải là lần đầu. Trước đó 1 tk, trong Đại Chiến Bắc Âu, Piotr không đối kháng nhưng cũng làm hạm đội Anh bó tay khi tấn công chính quốc Thuỵ Điển, kết thúc mặt trận này. Không may, Admiral Horatio Lord Nelson bị thương rồi mất trong giáp lá cà, thế là, ...các giống thoả sức thừa hưởng thắng lợi của ông. Sự ...còn kéo dài cho đến trận đánh 9 tháng 3 năm 1862 của USS Monitor và CSS Virginia. Nhưng, sự .... hồi sinh khi loạt tầu USS Monitor = thiết giáp hạm=chiến đấu hạm=battle ship hết thời sau chiến tranh Nga-Nhật 1906, đỉnh điểm là "bức tường thiết giáp hạm" của Mỹ, cái bị tơi tả dom máy bay, lớp mới nhất bị tháp sắt vụn toàn bộ là Montana. Đến lượt mình, các tầu sân bay của Hạm đội kiểu Nhật nhập hồn vào Mỹ, và lại hoá già, không còn hợp thời trước các đạn tự hành missile... Sơ đồ trận đánh, quân Anh vứt tuốt tuồn tuột khoa học quân sự với kỹ thuật đóng tầu "hiện đại", dùng giáp lá cà của thời Hy La. ĐIều này cho thấy, sự bất mãn với trào lưu ..., rất nhiều người đã nhìn rõ sự độc địa của 1 tk Ship of the line= tầu tiền tuyến thế hệ đầu (pháo bé). (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/2/20/Trafalgar_1200hr.svg/606px-Trafalgar_1200hr.svg.png) Hàng dọc lao vào hàng ngang (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/2/2f/Trafalgar1.jpg/800px-Trafalgar1.jpg) và giáp lá cà bắt sống địch, bức tranh vẽ có tên Nelson ngã, mô tả cảnh bi thương khi ông bị thương, mù mắt trước chiến thắng vĩ đại. Chiến thắng của ông không chỉ chiếm Gribanta, Địa Trung Hải, Pháp, hay Tây Ban Nha, mà đánh sập hoàn toàn ảo tưởng ...i, tham nhũng 1 tk. http://www.nmm.ac.uk/collections/nelson/viewObject.cfm?ID=BHC0552 (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/6/68/Fall_of_Nelson.jpg/800px-Fall_of_Nelson.jpg) Sau Trafalgar , pháo trên Ship of the line kiểu cũ (pháo nhỏ, nhiều pháo)... được bán thải ồ ạt, tràn ngập xứ Vịt thời mạt vận. Nhưng sự ...còn tiếp diễn khi có pháo to, miền nam nước Mỹ vẫn đóng những thứ như CSS Virginia, nó là miến ngoạm khổng lồ cho các nhà thầu cắn ngân sách. Tầu rất đắt, được bọc thép, có máy hơi nước, nhiều pháo to, nhưng vẫn là cấu tạo pháo mạnh không có hướng của Ship of the line= tầu tiền tuyến trước 1805. ...(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/5/59/CSSVirginia1862.2.ws.jpg) (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/en/f/f3/Mariners_Museum_2007_015a.jpg) USS Monitor là chiếc battle ship đầu tiên , nó chứng tỏ ưu việt trong trận đánh Battle of Hampton Roads on 9 March 1862. Thật ra, trận này, về hình thưc mà nói, Monitor thua, súng kẹp đạn và thuyền trưởng mù, sau đó tầu chìm trong cảng vì bão. Monitor nhỏ bằng 1/1 Viếc, (1 ngàn tấn và 4500 tấn),chỉ có 2 pháo 280 mm Dahlgren guns, so với Viếc có rất nhiều pháo hiện đại hơn, 2×7 inch (178 mm) nòng xoắn , 2×6 inch (152 mm) nòng xoắn, 6×9 inch (229 mm) Dahlgren trơn , 2×12-pounder (5 kg) lựu pháo. Nhưng thực chất, Monitor đã thắng, Viếc không thể sửa được và sau đó bị phá huỷ. http://upload.wikimedia.org/wikipedia/en/thumb/9/94/USS_Monitor.png/350px-USS_Monitor.png (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/en/9/94/USS_Monitor.png) Monitor với giáp tốt và tháp pháo quay. Giáp tốt vì phần nổi lên nhỏ, bọc dầy cũng không nặng. Monitor lượn đi lượn lại cười khành khạch con khủng long tân trang, nhè góc chết mà lượn, bắn bay nóc Viếc. Sau Trafalgar , kết thúc ội chiến Mỹ, pháo quân miền Nam bị bán thải ồ ạt và được nhập về Vịt rất nhiều, đặc trưng bởi cốc mồi. (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/1/17/Monitorvirginia.jpg) Pháo cối Pháp từ sau Cách Mạng chia thành các "hệ thống", tức các bộ tiêu chuẩn. Mình chưa thu thập đủ danh sách và ảnh chụp của các loại pháo cổ, thời thuốc nổ đen, nòng đúc chưa chắt gọt, đề cập sau vậy. Ngoài ra, pháo Phú Lãng Sa chỉ có rất ít ở Kinh Thành Huế, và cũng không hiện đại tốt đẹp gì, có mấy khẩu lựu pháo Napoleon (tên của kiểu pháo Cách mạng), thuộc loại có hiệu quả, nhưng lại dùng hộ thành chứ không dùng chức năng ưu việt của chúng là lựu pháo lục quân cơ động. Điều này cũng như Hà Nội Vauban được xây dựng khi Vauban đã lạc hậu hơn 100 năm bởi súng trường và pháo. Sau này, quân ô hợp nửa cướp biển cướp thành Hà Nội bằng cách lấy súng trường khống chế .... pháo nhà Nguyễn. ... Pháo Pháp được chia thành các thời. Trước cách mạng (dư âm Vauban và Coehorm), Cách Mạng (còn có tên Napoleon), sau Cách Mạng ( sau Cộng Hoà)=đến 185x, tiền hiện đại đến 189x, và hiện đại. Riêng về cối thì chỉ có Cách Mạng thay đổi chút, một số cối trung gian quái thai WW1, sau đó, cối hiện đại Pháp ...theo các nước khác, chủ yếu, toàn thế giới học theo cách ...của Liên Xô và Đức giữa 2 thế chiến. Nhưng pháo Pháp của triều Nguyễn rất ít. Phàn lớn pháo Nguyễn tự đúc và nhập khẩu có nguồn gốc Anh-Mỹ = hàng bán thải các đời, rất nhiều nét đặc trưng về cấu tạo. Pháo tự đúc cũng có đủ gang đồng, cho đến thời Minh Mạng, vẫn là cấu tạo truyền thống Đại Việt, với kiểu cốc mồi mộc mã tử từ thời Hồ Nguyên Trừng, có phần trên hình vuông để cắm nắp gỗ rất đặc trưng. Sau này, pháo đúc chủ yếu là loại gun bằng gang nhái theo pháo Ship of the line Anh-Mỹ, loại trước thời Trafalgar 1805, được bán thải ồ ạt khắp nơi. Sau đó, trào lưu thứ 2 rất nhiều pháo kiểu miền nam Mỹ sau nội chiến, nhưng không thấy đúc nhái. Pháo đúc nhái ...Anh-Mỹ, loại trước thời Trafalgar 1805 có cốc mồi Tây đơn giản, hình phễu nhỏ, thay vòng xỏ dây đằng sau bằng tay nắm truyền thống. Chúng thường dùng gang xấu, ngoài thì giống, nhưng trong đường kính nhỏ hơn Anh-Mỹ, bắn đạn đá thay cho cầu gang. CHúng thường được dùng hộ thành, như truyền thống, dùng để bắn thiết bị công thành, xe cộ tầu thuyền. Bi h, ta tham khảo súng trường, qua ảnh. Mình chỉ giới thiệu sơ qua về toàn bộ các model trước 1777. Tập trung vào 1777. Gọi là 1777, nhưng có nhiều đời con=cải tiến, màg tập trung vời đời , không rõ là năm ấy cộng hoà hay là phiên bản cải tiến số ấy. Sau Basti, Pháp vẫn đánh năm làm súng y như Thiên Tự 1409, tức súng ghi nắm thứ xyzt Cộng Hoà. Tiêu đề: súng trường Nguyễn: hoả thằng câu thương Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 12 Tháng Chín, 2010, 11:12:06 am 火繩鉤槍=hoả thằng câu thương, súng có móc thừng lửa, hoả mai mồi thừng, match lock. Châu Âu là arquebus harquebus, harkbus, hackbut, haakbus... đều là ống có móc câu, súng móc, nhưng sau này được dùng nhiều với cái tên musket từ tiếng Ottoman.
http://vndefence.info/modules.php?name=Forums&file=viewtopic&p=54871#54871 Theo các nguồn tài liệu đã dẫn, thì nhà Nguyễn không có súng hạt nổ, mà chỉ tối đa là súng đá lửa. Phần lớn máy đá lửa được nhập khẩu, chỉ đến khi gần mất nước mới tự làm được. Súng đá lửa cũng như pháo Pháp chỉ có ở Kiêu Binh nơi Kinh Thành, với tỷ lệ rất nhỏ (5 súng / 50 người, bắn quá 6 phát phỉ đền, SĐD). Chủ yếu súng vẫ là loại hoả mai mồi thừng, thậm chí, còn chưa là súng trường, chỉ là súng trợ chiến=pháo nhỏ và nhỡ bắn đạn đặc, như "súng cựa gà , súng mãng , súng tự mẫu , súng chụ , súng bảo lân". Súng hoả mai mồi thừng nhà Nguyễn ươn hèn, cũng như xin sử Thanh về dèm một cách bịa đặt hèn hạ Hồ Nguyên Trừng, là loại súng Tầu xin mẫu qua đường đi sứ, có thiết kế từ thời Minh liền sau thời hai cha con Hồ Nguyên Trừng, nòng khoan, nhưng còn thô nặng, có càng kiêm lê (2 chân như trung liên, thường bỏ đi ). Đây là hình ảnh của súng chủ lực nhà Nguyễn. Súng được Minh Triều thiết kế và sản xuất khoảng nửa đâut tk 16, sau Tây Thảo Loan Chi Chiến, cùng thời với súng Nhật, nhưng cấu tạo khác. Do sự cô lập, súng Nhật thuộc loại rất ưu việt, có nòng 10mm dài đến 1,4 mét=kỹ thuật gia công thép rèn siêu đẳng, chất thép cũng rất tốt, được rèn bằng kỹ thuật thép hoá gang xám như kiếm Nhật, khác với châu ÂU thời trước là thép hoá sắt xốp. Nhưng bên cạnh những ưu việt quá trội đó, người Nhật làm toàn bộ máy cò bằng.... đồng thau, kể cả lò xo. Từ 153x, người Nhật đã chuyên nghiệp hoá các khâu làm súng như nước Pháp sau 166x, Tuyn (Tulle MAT) làm cò cho Xanh Ể CHiên MAS. Súng Tầu được hình thành sau Tây Thảo Loan CHi CHiến 1520. Từ khi con trai Hồ Nguyên Trừng là Lê Lâm (Hồ Thúc Lâm) về hưu 1470 cho đến trận chiến đó, Minh Triều bước vào thời kỳ suy đồi, khoa học thành rác rưởi, với cuộc đại cách mạng văn hoá vô sản, toàn dân làm gang thép ngày đó là chuyển sản xuất súng độc quyền trung ương của Hoả Khí Doanh sang các công xường địa phương, sinh ra cái Thắng Tự đời 3 (có 3 đời Thắng Tự Minh và 1 Thắng Tự Cao Ly ), đặc trưng của Thắng Tự đời 3 là không có serial number, mỗi "hãng" một khác, không bắn được đạn của nhau, đặc biệt cấm dùng thuốc trung ương của Thiên Tự, vì dùng thuốc đó, súng địa pương nổ như lựu đạn chày. Thiên Tự có cỡ nòng cực kỳ ưu việt, dùng đạn chì, chứ không phải đạn đá như các đời Thắng Tự. Cỡ nòng 17mm, sau này, châu Âu chỉ dùng trong tk18, đạn Thiên Tự còn có các tên Mộc Mã Tử (vì có lèn gỗ chống ẩm), trọng bát tiền diên tử = đạn chì 30 gram như châu Âu tk18. Trong giai đoạn xấp xỉ 1tk sau 1470, súng Tầu chỉ có đi xuống, với cấu tạo đa nhãn lừng danh=súng ngắn nhiều nòng=đi sai hướng súng trường.... Sau 1520, thì Tây đã có nhiều căn cứ ở Đông Nam Tầu, Đông Nam Á.... tổ chức sửa chữa và sản xuất súng ống. CHúng ta cần biết, Công Ty Đông Ấn Hoà Lan, cái bọn đẻ ra Hội An, bọn sau này bị đánh đuổi vì tội cướp biển, thời kỳ đầu còn nhập khẩu khá nhiều Thiên Tự về dùng, căn cứ chính của công ty này là Đông Timor ngày nay. Kiểu nửa buôn, nửa cướp, tự mộ quân, cướp được đất nhà người ta thì xin chính phủ nước nào đó ở châu Âu bảo hộ.... là mô hình chung của các đội quân xâm lược đó, và không hề có một đạo quân chính quy nào, toàn cướp biển ô hợp với một dúm quân đã hạ các Huế, Hà Nội. Quân chính quy chỉ có khi chế độ thuộc địa đã được xác lập, và chỉ Đề Thám, Phan Đình Phùng, Cao Thắng.... mới được diện kiến trên chiến trường, chứ không phải loại quan quân cá thối nhà Nguyễn. Từ nguồn đó, nước Nhật có súng trường hoả thằng câu thương với bộ máy rất khác châu Âu, mà rất giống kiểu Ấn Độ, và phát triển nguyên lý chiến đấu cũng như cấu tạo cơ khí vượt bậc, do cô lập mà được dùng cho đến tk19, không thay đổi nhiều, như là phiên bản hoá thạch sống. Súng Tầu rất giống súng Nhật, cũng chỉ có tay cầm nhỏ không báng và có hai càng như Trung Liên, kiêm chức cái lê. Như vậy, Tầu và Nhật đã bắt đầu thời kỳ mà Anh Pháp đi qua tk18, súng trường nòng dài nhẹ có ở Tầu Nhật từ giữa tk16. Tuy vậy, người Tầu hủ thối có số lượng súng tốt rất ít, chủ yếu là gươm giáo và các súng lôm côm như tam nhãn en nờ nhãn.... kiểu trăm hoa đua nở mà người Nga gọi là "tính Tầu", đặc trưng của rác rưởi hàng lởm. CŨng như vậy, kiểu ô vuông luân hàng mà Phú Lãng Sa dùng trong Napoleon (các hàng sau chuẩn ị bắn, hàng đầu bắn), được Minh Triều dùng lúc đó, tất nhiên, chỉ có một dúm quân cận vệ kinh thành là đủ trang bị, cũng như các mặt khoa học quân sự thui chột sạch. http://vndefence.info/modules.php?name=Forums&file=viewtopic&p=54814#54814 Có một số đặc điểm súng Tầu khác súng Nhật, Tầu không có thép tốt, nòng to (15-19mm) và không có phần đầu nòng to ra (người Nhật dùng làm cái vồ đập khi giáp lá cà, sau này bỏ hẳn càng-lê). Không hiểu trước thế nào, sau này, Tầu dùng máy cò kiểu Tây, không thấy đồng thau như Nhật. Trong các tk18-19, súng kiểu càng-lê vẫn chiếm sản lượng chủ yếu ở Tầu, Vịt, Tây Tạng... nhưng có một số đổi khác như báng Tây. Hoả Khí Doanh trong tk16-tk17 cũng có điểu súng đá lửa, nhưng sau đó không thấy sản xuất nhiều, chắc chắn là do không hoàn thiện kỹ thuật lò xo. Máy lò xo đồng của Nhật đương nhiên là hơn xa vời vợi máy Tầu. SÚng nhà ta lôm côm như kiểu Tầu. Đây, súng trường nhà Ta , trang bị chủ yếu nhà Nguyễn đây, loại hoả thằng câu thương Minh Triều đây, những cái đồ oẹ ra của cái triều đình đốn mạt đã xin sử ngoại quốc về bịa đặt Hồ Nguyên Trừng đây, súng Tầu tk16 đây. Điệp trận, kiểu luân hàng đi kèm với súng trường cá nhân nhồi miệng nòng, sau đời pháo cá nhân=súng trường trợ chiến của Vauban, mà nay là trung liên, trước thời súng trường đối kháng battle rifle như Gras, Mauser, Mosin.... (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/Ming_musketeers_chu_thich.jpg) tk18-19, súng có báng như Tây, súng này rất giống nhà ta, trong ảnh là súng Tây Tạng tk19. (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/Ming_matchlocks.jpg) hạ càng (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/matchlocks.jpg) Nhật tk16 với các chuyên gia Bồ Đào Nhà. Đây là thời Chiến Quốc đanh nhau loạn xị ngậu bên đó. (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/p90-hokusai-matchlock-gun-6859.jpg) Người ta ví súng Nhật như hoá thạch sống, nó không thay đổi gì nhiều từ tk16, dùng đến tk19 trước Duy Tân Minh Trị. SÚng Nhật có kỹ thuật gia công kim loại cao cấp, đồng đều .... khác hằn Tầu và Vịt có chính trị đã hủ rữa. http://vndefence.info/modules.php?name=Forums&file=viewtopic&p=55015#55015 (http://s972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/nhat_ban/MatchlockRifleMuzzleT.jpg) (http://s972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/nhat_ban/MatchlockRifleActionR.jpg) (http://s972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/nhat_ban/20099301142556679.jpg) (http://s972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/nhat_ban/MatchlockRifleMuzzleR.jpg) (http://s972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/nhat_ban/20099301142556679.jpg) Trên thế giới có 3 loại máy cò của súng mồi thừng. Loại 1 đơn giản nhất, là loại sử dụng ngay cái cò của nỏ, là một thanh hình chữ S, gọi là serpentine lock, hỏa mai có cò. Nó đã cho phép xạ thủ rảnh mắt để lấy đường ngắm, điểm xạ đúng lúc. Nhưng cò tự do rất nguy hiểm. Hoả thằng câu thương này thường gọi là bóp không lò xo. Loại thứ 2. cũng khá giống serpentine cũ, gọi là serpentine lò xo, hay là matchlock đời đầu, nhưng có thêm cái lò xo luôn đẩy cò ra xa khỏi cốc mồi, an toàn trong khi nạp đạn. Tuy vậy, vẫn dùng lực bóp cò để đẩy thừng mồi vào cốc, cò mổ không dứt khoát. Lò xo duy nhất của máy này có tác dụng như lò xo đẩy về của cò súng ngày nay, sau khi bóp bắn, thả ngón tay ra, thì lò xo này đẩy cò về vị trí sẵn sàng. Lò xo đơn giản này dễ dàng làm bằng tre gỗ đồng và thép xấu. Hoả thằng câu thương này thường gọi là bóp có lò xo. loại thứ 3, đầy đủ nhất, có máy móc dùng nguyên lý như súng đá lửa sau này, nên nhiều sách vở Tầu ngố dùng Điểu đầu = súng đá lửa. Bộ máy cò có 2 lò xo. Lò xo đẩy về của cò như loại 2 trên. Máy súng có thêm lò xo búa, tức là, cò không trực tiếp đẩy thừng mồi điẻm hoả, mà móc kẹp thừng mồi được đẩy bằng một lò xo thứ 2, trước khi bắn, phải lên búa như ngày nay. Móc kẹp thừng mồi (như búa ngày nay), sau khi lên, được hãm bởi lẫy cò, khi bắn, lẫy cò nhả cho búa đập. Hỏa thằng câu thương bật, Snapping matchlock. Hoả thằng câu thương bật có khả năng điểm hoả chính xác cả về không gian và thời gian, trong khi ngón tay hoạt động rất nhẹ, khi xạ kích chính xác. Snapping matchlock có búa và lò xo để ngoài cho súng trường lớn, tin cậy. CÒn súng nhỏ thì để trong báng cho gọn. Đặc sắc của Nhật Bản là lò xo đều làm bằng đồng thau. Dĩ nhiên, lò xo đẩy về của cò nay không quan trọng lắm và nhiều súng bỏ đi. Cốc mồi. Nhiều người nhầm và ... Vũng Tầu cũng ... Súng cổ không cắm ngòi xì xì, trừ loại ... thượng hạng là nông dân Tầu tự chế. Ngòi xì xì ngăn cản viẹcđiểm hoả đúng lúc, chỉ tiện cho pháo Bình Đa và ... 1326 châu ÂU, hơi muộn so với Mông Cổ. CHâu Âu học các kỹ thuật thuốc và súng từ các làn sóng xâm lẫn của Mông Cổ. Các cuộc chiến tranh khác nhau của Mông Cổ có vai trò lớn với phát triển thế giới, mọi mặt kỹ thuật quân sự chính trị đều được tập trung tinh hoa, và phát tán tinh hoa đã được chọn lọc đó. Thời ngắn ngủi súng pháo có ngòi xì xì, pháo vò Âu. http://homepages.ihug.com.au/~dispater/handgonnes.htm http://homepages.ihug.com.au/~dispater/lgepeterson_1326.JPG pháo vò nhỏ, súng cá nhân, tk14, Âu http://homepages.ihug.com.au/~dispater/lgehlp_1300.JPG Suốt mấy thế kỷ phát triển, người ta chỉ hoàn thiện máy điểm hoả cho nhanh gọn chính xác cả không gian và thời gian, không dưng cắm ngòi xì xì để vứt công mất tk đó đi. Hồ Nguyên Trừng có cốc mồi đã rất hoàn thiện, thích hợp cho nhiều loại máy cò , đặc biệt thích hợp cả hạt nổ (có đe lồi) và thời tiết nhiệt đới ẩm. Đầu tk16 thì các cỡ súng to nhỏ lớn bé đều không ai cắm ngòi, mà cốc mồi xứu nèo xứ đó đã giống của chính xứ đó xứ ấy vào tk19. Với thời gian tk18, ANh Quốc tiến đến vùng nhiệt đới và làm kiểu cốc mồi khá giống súng nhỏ Hồ Nguyên Trừng, nhưng Anh Quốc là của pháo. Cốc mồi, đứng ra là cốc chớp, flash pan, là một cái cốc đựng thuốc. Khi thuốc này nổ, áp lực cao thổi khí nóng vào buồng đôt chính, chứ không truyền cháy chậm. Cốc mồi có nắp, có súng được mở tự động bởi cơ cấu máy móc, nhưng đa phần mở thủ công, coi như khoá an toàn. Phần lớn các súng Âu đều có cốc mồi làm riêng. Nhật Bản và người Mèo ta có đe kíp + cốc mồi rèn liền với phôi làm nòng. (http://s972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/nhat_ban/20083302055324476.jpg) ... kiểu náy Nhật Bản từ nửa đầu tk16. Nhật Bản biết dùng súng trường trong thập niên 149x. Năm 153x, một chiếc thuyền buôn Bồ Đào Nhà bị bão dạt vào NHật Bản, ông ta dâng súng cho lãnh chúa đại phương cầu cứu. Gặp may lớn, viên lãnh chúa thời oánh nhau lộn bậy CHiến Quốc liền chi tiền mua thêm và tự làm, thuê đám người này làm chuyên ra. Kiểu dang máy móc ngay lập tức được cải tiến để thích hợp với điều kiện Nhật. Kỹ thjuaatj gia công thì các bạn xem ảnh, không văn hoa màu mè, nhưng chính xác đồng đều như hàng công nghiệp, Tầu và Vịt, cả Tây gọi bằng cụ. SÚng có kỹ thuật khoan và chất thép siêu đẳng, 10mm / 1, 4 mét tối đa chiều dài nòng, Tây tk18 là 180-19mm / 1,2 mét. SÚng NHYaatj vì thế rất nhẹ nhàng, tin cậy và bền. Có điều, sau đó, vì cô lập, súng Nhật không phát triển đến tk19. Trong ảnh dưới, các súng trường lớn của Nhật để lò xo bên ngoài, còn cò vẫn giữa bàng phía sau, trong máy cò, cò kéo một cần tháo chốt lẫy búa đặt bên trong. (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/match_lock/Matchlock-2.jpg) Chu đáo, sau báng có (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/match_lock/Japanese_matchlock_serpentine_Asian.jpg) Mở nắp cốc mồi như mở chốt an toàn (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/match_lock/nhat/A64_I3.jpg) Cốc mồi Tây (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/match_lock/matchlock-1.gif) Snapping matchlock Tây, làm kiểu nông dân nhố nhăng không chuyên, nếu như so với Nhật Bản. Kiểu này rất giống người Mèo ta, nhưng người Mèo ta có hạt nổ. Lò xo đẩy về của cò bị ... người Mèo ta cũng có hẳn cái lò xo này. (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/match_lock/00088c.jpg) Nòng Nhật, Mỹ Miều. Người Nhật hay là to miệng súng ra (chỗ đầu ruồi), để các Samurai dùng làm nắm đấm giáp lá cà, chứ không dùng lê, vì Samurai đã mang sẵn 2 kiếm. (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/match_lock/sub2.jpg) Cái cốc tăng tốc độ bắn Nhật Bản. đạn và liều được đong sẵn, đổ một lần cả đạn lẫn liều chui tụt vào nòng, chỉ còn lấy quen tống. (http://s972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/nhat_ban/20083302064934361.jpg) serpentine đơn giản hơn nhiều. Nó là cái lò lấy từ nỏ, được dùng từ những ngày đầu tiên có cò, cuối tk13. Loại cò này được dùng dài dài vì quá dễ chế tạo, dễ dàng làm từ tre gỗ thời kim loại đắt lòi kèn, 10 cân sắt đổi lấy.... .... http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/7/76/PS8004046.jpg loại không lò xo trên cùng, dưới là có lò xo với 2 kiểu búa mổ ngược và mổ xuôi. Búa mổ ngược hay được tây dùng, làm súng ngắn gọn hơn một chút vì máy đặt dưới nòng. Ấn Độ, Tầu và Đông Nam Á, trong đó có Vịt Cạc sử dụng búa mổ về trước, búa (kẹp thừng mồi) và máy đặt phía sau nòng, ở trong báng, chỉ thò cò bên dưới và búa ở trên , thường búa bên phải, vì ngắm mắt phải, mắt trái bên trái ít ảnh hưởng. (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/match_lock/mushket2.jpg) (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/match_lock/serpentine.gif) Tiêu đề: Ảnh so sánh các loại hoả thằng thương Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 12 Tháng Chín, 2010, 04:53:53 pm Hoạt động của kiểu Tây hay dùng, búa mổ ngược từ trước (bên trái ) ra sau (bên phải, chỗ có cò bên dưới)
(http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/match_lock/Matchlock_motion.gif) Thêm một chi tiết, là có cái cò khá hiện đại, dễ cầm hơn (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/match_lock/MatchlockAnim.gif) (http://www.ugca.org/ugca1001/old4.jpg) (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/match_lock/lock.jpg) Nhìn cái thừng Tây đã có cảm giác bừa bãi lôm côm, có mỗi cái lỗ xỏ dây cũng bớt xén. (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/match_lock/matchlock2.jpg) Báng Tây tk16, hay thấy ở các di chỉ công ty Đông Ấn Hoà Lan, bọn đã lần đầu tiên định cướp bóc nhà Vịt Cạc. CHo đến tk18, Tây Âu mới bỏ hẳn gươm giáp bằng súng trường nòng khoan dài và nhẹ. CÒn trước đó, Vauban dùng súng trường trợ chiến, nặng khoảng 10kg, vai trò như trung liên ngày nay. Kiểu báng ngang này trông như pháo nhỏ. Trước khi dùng súng trường nhẹ, thì Tây Âu, trước là Tây Bán Nhà+ Bồ Đào Nhà hay đi lang thang dặt dẹo, đã học Ottoman kiểu báng đứng cùng với cái tên musket vào tk17, thay cho gun=gonna, Musket là con muỗi, cái vòi muỗi là câu, móc, chúng ta nói rồi. Tuy nhiên, trong tk16-17, Ottoman có trình chế và dùng súng cao hơn nhiều, trình còi nên Tây Âu không đánh giá được đúng đắn và học theo các cỡ nòng 17-20mm dài 1,4 mét, nên áp dụng súng trường nhẹ chậm hơn Tầu, Nhật, Ấn, Ottoman sát nách hàng thế kỷ. Châu Âu chỉ khôn ra sau khi Nga mạnh lên sau 1700, Nga, Phổ, Áo Hung .... thi thoảng uống nhiều Vodka vác súng sang Tây ÂU nghịch. Tây Phú Lãng Sa biết kiểu máy cò flint lock năm 166x do lái buôn mang đến cung Palais du Louvre. Nhưng cho đến 1700, thì ghi chép ở xưởng Tulle, nát là mát, Manufacture Nationale d'Armes de Tulle MAT, nới chuyên làm máy cò thời đó (MAS làm súng tổng thành), thì 1700 vẫn còn ít flint lock, mà vẫn sản xuất nhiều máy cò kiểu cũ Snaphaunce. Điểu đầu súng Snaphaunce có máy giống hệt hoả thằng câu (match lock) Tây , chỉ thay kẹp thừng mồi bằng đá lửa. Phú Lãng Sa có súng trường tiêu chuẩn đầu tiên, cũng như là súng trường nòng dài nhẹ đầu tiên, cũng như là giáo dài hoàn toàn về hưu đầu tiên, sau khi Vauban chết vài năm, model 1714 nặng 6kg đường kính 19mm mà chúng ta sẽ đề cập qua sau. (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/match_lock/img_11_21_01210839434.jpg) Châu Âu vùng phía Đông còn có chút văn minh, còn Phú Lãng Sa, Tây Ban Nha, Anh Cát Lợi, Bồ Đào Nhà... thì không có hoả thằng câu thương với tư cách là súng cá nhân đúng nghĩa. Khi Vauban chết, 1714, Phú Lãng Sa mới trang bị súng trường nòng nhẹ dài, thay cho loại súng trường trợ chiến nặng 10kg được hộ vệ với giáo dài trong binh pháp Coehorm và Vauban, Anh Cát Lợi 1736. Trước đó, từ musket lần đầu tiên xuất hiện ở Tây Bán Nhà, khi nhái súng Ottman, nhưng ban đầu trình nhái còn còi, không nó nòng 22mm dài 1,48 mét khoan như Ottoman, nên dùng đúc, và do đó nòng to ngắn nặng, không xiên lê được, chiến đấu với vai trò như trug liên ngày nay, là súng trường trợ chiến, khoảng 9-10 kg. Dĩ nhiên, trung liên thì văn minh nào cũng dùng, model 1831 Tây Phú Lãng Sa cỡ nòng 22mm, nặng 10kg, xoắn và cắt gọt rồi, nhưng vẫn là loại đó, trong khi súng cá nhân là model M1822T (M1777 cải sang hạt nổ). Như vậy, Tây Âu chỉ có hoả mai mồi thừng của đời súng cổ, súng trường trợ chiến, chứ không có súng trường cá nhân, vì lúc đó đã dùng máy đá lửa rồi. Các súng có báng dẹt đầu tiên xuất hiện ở Ấn Độ trước, rồi qua Ottoman mà vào Châu Âu. Kỹ thuật nòng khoanh nhỏ dài xuất hiện đồng loạt ở châu Á trong tk16, Nhật, Ottoman và Ấn. Súng cớ cỡ nòng nhỏ bắn đạn 30gram đầu tiên là Thiên Tự, Hồ Nguyên Trừng sản xuất ở Tầu, nhưng chưa có thép khoan dài, vẫn là đồng đúc. Súng trường trợ chiến http://armesfrancaises.free.fr/fusil%20de%20rempart%20mle%201831.html (http://history.wisc.edu/sommerville/351/351images/matchlock.gif) (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/LeFusil1831/Fusil20de20rempart20mle201831-VD-WEB.jpg) Kiểu Ấn Độ. Ấn Độ đã tự làm được flint lock ngay tk18, nhưng do tình trạng cát cứ , mà các vùng khác nhau có trang bị khác nhau, trình độ và độ giầu nghèo khác nhau. (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/match_lock/arf_0030.jpg) Ấn Độ tk18 (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/match_lock/An_do/1197034.jpg) (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/match_lock/An_do/1196996.jpg) (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/match_lock/arf_0030.jpg) (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/match_lock/arf_0030a.jpg) Baburnama, đế quôc xưng là con cháu Mông Cổ ở Ấn Độ, theo Hồi Giáo, tk16. Đây là thời điểm súng trường có báng dẹt đứng xuất hiện, dễ thấy, chúng là mẫu cho súng Nhật trong tk 16 (lái Bồ Đào Nhà gặp bão lạc vào Nhật Bản năm 1536), hoàn toàn vượt xa Tây Âu lúc đó. (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/Flintlock/tk16/early_matchlocks-fullinit.jpg) Tây Tạng vẫn sản xuất và trang bị súng này cho đến đầu tk20, trừ cái báng Ấn Độ theo Tây thì ít khác thời Minh tk16, như súng Nhật, nó là hoá thạch sống. Súng có đường kính 15mm nòng dài 1 mét = kiểu súng trường thông dụng của Đông Nam Á. (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/match_lock/tay_tang/hb_36252174_av1.jpg) (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/match_lock/tay_tang/hb_36252174.jpg) Thanh và Vịt Cạc vẫn dùng báng thời Minh tk16 nhiều hơn, đến tk 19 Vịt Cạc mới cải báng. Nhưng máy Ấn Độ, Đông Nam Á , Tây Tạng và Minh Thanh như nhau, kém nhật chút. Các súng vào Nhật 149x-153x không phải là súng ÂU, mà chính xác là súng ĐÔng Nam Á-Ấn Độ, từ đó người Nhật cải thành cái kiểu của họ. Do thiếu thợ khéo, nên Đông Nam Á dần dần dùng loại cò cải lùi này. Thanh, cuối tk 19 (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/match_lock/matchlock-3.jpg) Chú lính tầu, William Alexander (1767–1816), 1793. Chú ý bức tranh này vì nõ giống nhiều súng nhà Nguyễn, đồng thời, khá chi tiết. http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/8/8d/ChineseSoldierByWilliamAlexander1793.JPG (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/8/8d/ChineseSoldierByWilliamAlexander1793.JPG/415px-ChineseSoldierByWilliamAlexander1793.JPG) Từ tk16-17, Ottoman có trình độ sản xuất và sử dụng súng cao hơn nhiều Tây Âu. Họ sớm bỏ kiểu pháo cá nhân, nòng đúc to ngắn, mà dùng các cỡ đạn nhỏ cho kiểu nòng dài 1,4 mét. Ottoman có 3 thứ quân hay dùng súng. Một là là "xe tăng", tức lính cưỡi lạc đà. Bộ đội xung kích, bộ đội công kiên Janissary. Và bộ binh thường. Vì nhiều thứ quân như thế, nên Ottoman sản xuất nhiều loại súng. Janissary được ưu tiên trang bị hai tếch, tức súng trường nòng dài đạn 30 gram (17-22mm), nòng thép khoan, đỉnh cao công nghệ cuối tk15 sang 16, gọi là Sakaloze. Đây là thời điểm súng trường nhẹ dài, có tính cá nhân, đủ sức đuổi giáp về hưu vĩnh viễn xuất hiện sớm nhất trên mặt đất. Trong khi đó, Ottoman cũng có nhiều súng lao tếc cho quân lôm côm, nòng đúc to ngắn bắn đạn đá, và loại súng to nặng dùng trên "xe tăng" bắn đạn 150 gram. Tham khảo cuốn sách rất hay, Gun for the Sultan, mô tả súng ống đã truyền vào ÂU qua Ottoman. http://assets.cambridge.org/97805218/43133/frontmatter/9780521843133_frontmatter.pdf http://www.cambridge.org/catalogue/catalogue.asp?isbn=9780521843133&ss=fro http://books.google.com.vn/books?id=dNqzjfWABSAC&pg=PA88&lpg=PA88&dq=Sultan+musket+gun&source=bl&ots=APH7h9yEeB&sig=08ygzJkZQmA8LmTQsMuiUROskAA&hl=vi&ei=8I-MTMWEG4vGvQP_kJ3dBw&sa=X&oi=book_result&ct=result&resnum=1&ved=0CBQQ6AEwAA#v=onepage&q&f=false http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/match_lock/ottoman/IstanbulTopkapi074.jpg (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/match_lock/ottoman/450px-IstanbulTopkapi074.jpg) Đây là khẩu ở bảo tàng cách mạng, ghi là súng Cao Thắng, dễ thấy, kiểu máy cò của Tầu, Ấn, Đông Nam Á... được đặt trên một cái báng kiểu Tây và thước ngắm bắt chước Anh Mỹ. Thước ngắm xuất hiện cùng với nòng xoắn. Kiểu máy hoả thằng câu thương được các thứ dân châu Á giữ nguyên cấu tạo rồi chuyển sang hạt nổ. Khẩu này đã mất máy móc, chỉ còn kiểu dáng, nên không hiểu vẫn dùng thừng mồi hay đã là hạt nổ. Gần đó "súng kíp Hồ CHí Minh" dùng, cũng tương tự. http://www.quansuvn.net/index.php/topic,1237.msg36211.html#msg36211 Các bạn đã biết ý mình khi vòng vo rông dài rồi. Súng trường chủ lực của nhà Nguyễn là loại hoả thằng câu thương giống Thanh. Sử xin Thanh, luuật chép Thanh, súng nhái Thanh.... Đó là thứ súng mà nhà Minh chế ra trong tk16, hết sức lạc hậu. Trong số các máy mồi thừng, thì nó kém xa kiểu máy Nhật Bản tk16 và máy người Mèo, đó là chưa kể, người Mèo dùng hạt nổ. Trên thế giới, đến nửa sau tk19, cõ lẽ chỉ có Đại Cồ Cạc và Tây Tạng dùng cái thứ này. Kiểu máy này chưa có lò xo búa, mà chỉ có lò xo đẩy về của cò, loại máy đơn giản đến mức dễ dàng làm từ tre gỗ. Dĩ nhiên, súng không thể chiến đấu mọi thời tiết như súng người Mèo. Người Mèo trong trận san có thể nhồi thuốc, chèn chống ẩm bằng nựa cây rồi hàng mấy ngày sau vẫn bắt tốt, điều hạt nổ hơn thẳng thừng mồi. Dĩ nhiên, không ai đánh du kích, phục kích Phú Lãng Sa, rình thú rừng.....với cái thừng mồi cháy nghi ngút mà châu Âu bỏ từ tk16. http://vndefence.info/modules.php?name=Forums&file=viewtopic&p=54893#54893 Bi h, chúng ta tìm hiểu loại súng quý phái, chỉ ở Kinh Đô mới có "50 người có 5 súng, mỗi người được bắn 6 phát, quá phải đền". Tức là "thạch cơ điểu thương", súng trường flint lock dùng máy đá lửa nhập từ Phú Lãng Sa. Sau này, khi gần mất nước, Triều Đình Nhà Nguyễn vinh quang đã tự làm được máy này, làm được vì là Tây Phú Lãng Sa từ lâu không làm và bán nữa (model 1822 đã là hạt nổ), chắc kho đồ thải cũng đã hết từ lâu. Triều Minh Mạng thì mỗi vệ (500-600 lính) có 2 khẩu thần công và 200 khẩu thạch cơ điểu thương với tỷ số 4 tay súng cho mỗi 10 lính. Sang triều Tự Đức thì mỗi đội (50 lính) có 5 khẩu điểu thương nên tỷ số rút thành 1 tay súng cho mỗi 10 lính. Hằng năm thì tập bắn chỉ một lần và mỗi tay súng chỉ có quyền bắn 6 viên đạn. Ai bắn hơn số ấy phải bồi thường. Súng Tây đây, lưỡi lê Tây đàng hoàng, và hộp thuốc hộp đạn, 1874 http://dlxs.library.cornell.edu/cgi/t/text/pageviewer-idx?c=sea;cc=sea;idno=seaA11;q1=Tong-kin;size=S;frm=frameset;seq=21;view=image;page=root xem link này , link kia lúc chết lúc sống http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/6/61/Vietnamese_Tirrailleurs_of_Nguyen.jpg Cần làm rõ, không lại có lợn như hoả mai là thạch cơ điểu thương, và thạch cơ điểu thương bắn đá. ;D ;D ;D ;D ;D http://cadao.org/index.php?option=com_content&view=article&id=892:th-phat-ha-chan-dung-ngi-linh-thi-xa&catid=72:lichsu&Itemid=125 Nói có sách, mách có chứng, tớ không bịa, ít ra là nếu có bịa thì không phải tớ. http://www.quansuvn.net/index.php/topic,656.msg141938.html#msg141938 Người Mèo và Cao Thắng đều không gây nên cảnh này, không tôn sùng Thạch Cơ Điểu Thương vinh quang. http://www.quansuvn.net/index.php/topic,1441.0.html http://www.quansuvn.net/index.php/topic,1237.0.html Schreiner viết: “Vũ khí của họ thuộc loại chậm hơn một thế kỷ. Thí dụ, súng trường là loại súng từ thời đá lửa (loại Saint E1tienne, kiểu năm 1777 về trước). Ở đó có cả súng châm ngòi kiểu Tàu”. Thái Hồng, sđd, tr. 160 Đó là loại thạch cơ, hay thường gọi là súng điểu thương, là vũ khí thông dụng trong thời Trung Cổ (thế kỷ XIV trở về trước): “Súng điểu thương cò bằng đá lửa, bắn xa độ 250 đến 300 thước là cùng. Mỗi đội 50 lính thì chỉ có 5 người có súng điểu thương, mỗi người chỉ được bắn có 6 phát mà thôi. Hễ ai bắn quá số ấy thì phải bồi thường. Muốn bắn phải lấy thuốc súng (đựng trong một cái bao mang ở nịt lưng) bỏ vào nòng súng, dùng cây thông hồng nén thuốc vào cho chặt rồi bỏ viên chì (đựng ở cái bầu mang ở cổ) rồi bóp cò cho viên đá nảy lửa làm cháy thuốc ngòi. Bắn được một phát tốn nhiều thời giờ. Chưa kể là có nhiều khi bóp cò, mà đá lửa không bật lửa, lại phải tháo ra nhồi lại tốn hơn gấp đôi thời giờ”. Thái Hồng, sđd, Tr 160 Súng cá nhân đã vậy, pháo thì sao? Chính tướng Rigault De Genouilly miêu tả pháo của ta: “Hỏa lực của địch không làm thiệt hại chúng tôi mảy may nào, cho dù đạn pháo của họ bắn trúng vỏ tàu của ta”. De Larclause viết: “Người An Nam đã cố gắng cải tiến rất nhiều, nhưng họ vẫn không thể làm chúng ta lo lắng, vì đường đạn đại bác của họ chỉ đạt đến 1.200m là cùng... Đại bác của họ bằng đồng hay bằng gang, đủ các kiểu, trông thì đẹp nhưng khó di chuyển, bố trí kém, thuốc lại xấu...” Tiêu đề: Thạch cơ điểu thương Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 12 Tháng Chín, 2010, 06:46:13 pm "Trong "Châu bản triều Tự Đức" có đoạn "do các nước phương Tây chế ra súng trường kiểu mới, ko chế loại đá lửa như cũ nữa nên ta ko thể nhập tiếp, tuy nhiên thợ ta cũng đã tự chế tạo được." Câu này được dân ... truyền đi truyền lại la liếm cho sự tài giỏi cuả Nhà Nguyễn. Sự việc trên được thực hiện trong triều Tự Đức, ông vua cuối cùng trươc khi mất nước, trích "Châu bản triều Tự Đức".
Việc phát triển cơ khí và máy súng phụ thuộc nhiều vào luyện kim, đặc biệt vứi máy cò là lò xo. Nhật Bản do bị cô lập, làm lò xo đồng không đủ khoẻ, nên không có thời đá lửa. CHúng ta đã biết, có 2 cách làm ra thép ngày trước. Một là kiếm Nhật, gập đi gập lại thanh gang, phía gần mặt gang nóng đỏ, không khí thấm vào đốt chay bớt cảbon thành thép, gọi là thép rèn. Phương pháp nữa là làm ra sắt xốp không chảy, rồi thấm carbon, châu ÂU đa thực hiện cái này và có sản lượng thép làm súng lớn, cũng như loaoij thép đồng đều làm lò xo. Lò so tốt hơn chút thì nhảy từ thừng sang đá lửa, rồi .... Đến khi có lò xo xoắn tốt nữa thì có Dreyse súng Mỳ, Phổ, M1841. Phương pháp làm thép này đã được in ở Praga http://vndefence.info/modules.php?name=Forums&file=viewtopic&p=54890#54890 Châu Âu chia tay thừng mồi khá sớm để tăng khả năng chiến đấu mọi thời tiết. Tuy vậy, súng đá lửa vẫn có cốc mồi như trên và khó mà chịu được mưa ẩm, nó chỉ có lợi hơn là không cần phải nuôi thừng mồi, phục kích rình thú được. Cũng vì lý do đó, mà Nhật Bản không thích thú lắm việc cải tiến thừng mồi. Loại súng thật sự chịu được mưa phải là súng hạt nổ, trong đó, hạt nổ lông vũ của súng kíp người Mèo đi trước Tây xa và cũng ưu việt hơn nhiều những loại hạt nổ Tây ban đầu. Có 3 loại máy đá lửa châu Âu. Loại 1 là bánh xe như bật lửa, xuất hiện ở châu Âu ban đầu là miền Áo Hung, Nam Đức ngày nay, nơi giành đi giật lại và cũng trao đổi mjua bán với dân châu Á, đặc biệt là Ottoman và các mảnh vỡ Mông Cổ khác, như Kim Trướng, cũng như thuận tiện đường biển Địa Trung Hải. Kiểu này được gọi là WHEEL LOCK. Ban đầu, hàng hai tếc này được dùng nhiều trong các súng ngắn làm cảnh, dĩ nhiên, khi đánh chiếm mục tiêu giữa hai chân chị em, trong bãi chiến trường salon, thì cái thừng mồi cháy nghi ngút rất chi bất tiện. Nhà Hasburg đã mang về Tây Âu, trong các lãnh địa của mình ở Tây Ban Nha, cả một xưởng như vậy từ Nuremberg, Puffer Nurnberg. CŨng như nhiều hàng khác, các trờ chơi của giới quý tộc không tiếc tiền đã mở đường kỹ thuật, súng nhà Trần và máy hơi nước Ottoman cũng như vậy. Loại máy này có khoảng nửa sau tk16. http://vndefence.info/modules.php?name=Forums&file=viewtopic&p=54893#54893 (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/WHEEL_LOCK/wheel_huyphuc_vngif.gif) Loại thứ 2 là Snaphaunce. Nó có máy như kiểu hoả thằng thương có lò xo búa, như là loại hoả thằng thương Nhật Bản trên kia. Người ta thay thừng mồi bằng đá lửa. Đá lửa trước đây là đá phiến silic, tức cuội trong ở suối, ở đâu cũng sẵn. máy súng có thêm cái thớt đánh lửa, khi bắn, mở nắp cốc mồi ra để đá lửa sẵn sàng đập vào thớt. Snaphaunce ra đời ngay khi loại bánh xe hoàn thiện, cỡ 157x. (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/SNAPHAUNCE/snap_huyphuc_vn.gif) Loại thứ 3 là Flintlock. Sử ghi rằng, Marin le Bourgeoys (1550 - 1634), trợ lý của xưởng điện Louvre, phục vụ vua Pháp Henri IV, đã loay hoay thử làm một mẫu. Nhưng Louvre chỉ có thật sự thứ này vào thập niên 166x, chắc là, đến lúc đó, mới có mẫu thật sự từ Ottoman và Đông ÂU đem sang, chứ không phải theo trí nhớ của một ông nèo đó mới nhìn sơ sơ. Về sau, đến 1700, theo những ghi chép sổ sách còn lại, thì MAT Tulle vẫn sản xuất chủ yếu là Snaphaunce. Flint lock gọn gàng đơn giản hơn Snaphaunce, nó không khoá an toàn bằng nắp cốc mồi thừa kế từ hoả thằng câu thương, mà khoá an toàn bằng 3 nấc búa, nấc nghỉ là an toàn, nấc trung gian hơi lên cò, mở được nắp cốc mồi, nhưng không đủ lực đánh lửa, dùng khi nhồi cốc mồi. Nấc sẵn sàng bắn là kéo hết búa về sau. (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/Flintlock/flintlck_huyphuc_vngif.gif) (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/Flintlock/flintlock4b.jpg) (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/Flintlock/flintlock5b.jpg) (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/Flintlock/flintlock6b.jpg) Sau khi bắn, cốc mồi mở (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/Flintlock/flintlock4a.jpg) lên một nấc, nhồi được cốc mồi, nhưng không dủ để bắn (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/Flintlock/flintlock5a.jpg) Lên hết để sẵn sàng bắn (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/Flintlock/flintlock6a.jpg) (http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/Flintlock/flintlock.jpg) Đến đầu tk18, sau châu Á và Đông Âu rất xa, sau khi Vauban chết 1707, Phú Lãng Sa mới bỏ học thuyết quân sự của ông, tức là chuyển sang dùng súng trường nhẹ, dài, chứ không phải là pháo trợ chiến cá nhân. SÚng nhẹ dài được làm bằng hai tếch lúc đó, tức thép rèn khoan, nhờ dài nhẹ mà làm cán lê được, làm giáp dài vẫn hộ vệ súng Vauban thất nghiệp, về hưu vĩnh viễn, model đầu tiên là 1714. Từ đó, flint lock phục vụ Phú Lãng Sa đến model đầu tiên của 1822, loại súng tiêu chuẩn đầu tiên của chính quyền mới bên Phú, sau đại loạn Napoleon. Tuy nhiên, chỉ model 1822T thì đã dùng hạt nổ. Rât nhiều flint lock được hoán cải sang hạt nổ, một phần khác các hạt nổ được chế tạo mới. Cho đến 1857, thì các flint lock và hạt nổ đều có format chung tương tự model 1777. Sản lượng Thạch Cơ Điểu Thương lớn nhất của Phú Lãng Sa là MAS, Manufacture d'armes de Saint-Étienne, và thời chiến tranh Napoleon, tức cách mạng Pháp. MAS làm súng tổng thành, trong khi đó, MAT = Manufacture Nationale d'Armes de Tulle (tiếng ta là Tuyn), lại chuyên làm máy cò. Vào năm 166x Tiêu đề: Re: Vũ khí nước mẹ Tây Phú Lãng Sa trong Nhà Nguyễn, Thuộc Pháp và Kháng chiến. Gửi bởi: OldBuff trong 13 Tháng Chín, 2010, 11:36:14 am Thông báo:
- Từ/cụm từ miệt thị, văng bậy, ngoại ngữ, lạc đề trong bài viết: Xoá. Tái phạm: Xóa toàn bộ bài vi phạm. - Bài lạc đề không có thông tin thảo luận hữu ích: Xoá - Bài lạc đề có thông tin thảo luận hữu ích: Chuyển tới chủ đề phù hợp Cảnh cáo: - Lặp lại việc dùng ngoại ngữ thay tiếng Việt tương ứng, viết tắt, sai chính tả trong bài viết. - Thái độ thảo luận thách thức Nội quy Diễn đàn. Tái phạm: Hạn chế gửi bài trong 1 tuần để nghiên cứu Nội quy. Tiêu đề: Re: Vũ khí nước mẹ Tây Phú Lãng Sa trong Nhà Nguyễn, Thuộc Pháp và Kháng chiến. Gửi bởi: anhlinhcuHo trong 19 Tháng Ba, 2011, 11:16:38 pm Chả hiểu làm sao, từ việc tranh luận về khẩu súng trong bức ảnh mà lan man ra bao nhiêu chuyện khác. Nhân đây cho tôi xin góp vài ý kiến.
Khẩu súng trong ảnh có thể là khẩu ZB26 (hoặc Vz26) của Tiệp hoặc khẩu trung liên Trung Chính của Trung Quốc, lí do: - vị trí của chân súng ở giữa nòng, (BREN của Anh hay trung liên kiểu 1924/29 của Pháp thì chân súng ở gần sát miệng nòng), khẩu RP-46 (chứ không phải là DP-46) thì có đặc điểm chung của họ DP là có hộ nòng, do đó chân súng nằm trên hộ nòng, trong khi khẩu trong ảnh hoàn toàn ko giống thế. - hình dạng của báng súng, cái này thì khó diễn tả, vì nó gần như là kĩ năng của dân kĩ thuật rồi, nhưng mọi người cứ quan sát trực tiếp hình dạng báng súng thì sẽ thấy cái hình dáng đặc trưng của nó, khác so với những khẩu khác. Nhân tiện so sánh với RP-46 thì bên trên báng súng của RP-46 còn có cái ống bọc lò xo đẩy về nữa, trong ảnh làm gì có. Có ý kiến về cái tên Mao Sắt, thì tôi xin được giải thích theo cách hiểu của mình thế này: người TQ thường phiên âm những từ tiếng nước ngoài (đa âm tiết) thành những cụm từ đơn âm tiết trong tiếng TQ, với cách làm như vậy, thì ta chỉ thu được kết quả gần đúng, và từ Mao Sắt cũng là một trường hợp trong số đó. Cụ thể thế này nhé : Mao Sắt đọc theo âm Bắc Kinh sẽ là máo-sưa ~> Mauser. Tương tự, nước Pháp Lan Tây đọc theo âm BK sẽ là fả-lan-xi ~> phờ răng xi. |