|
Tiêu đề: Cành thanh mai đã ra hoa (truyện ký - Hà Dũng) Gửi bởi: nttran1979 trong 19 Tháng Chín, 2010, 10:34:08 pm Mình thấy có nhiều bạn tìm đọc sách về đặc công, nên có vài mẩu truyện sưu tầm được nên đưa lên để các bạn cùng đọc.
(Nguồn từ bạn Anh Nguyễn) CÀNH THANH MAI ĐÃ RA HOA (truyện ký - Hà Dũng) Phải đến lúc này, hạ tuần tháng 3, dải rừng già trầm mặc bên sườn phía đông dãy Trường Sơn, nơi đặt sở chỉ huy của Bộ tư lệnh mặt trện đường 9 mới thực sự có đôi chút sắc màu của mùa xuân Tân Hợi. Đó là lúc mà những trận mưa xuân lâm thâm như một làn sương mỏng manh, mơ hồ phủ lên ngàn cây xanh săm, lầm lỳ, gân guốc và khô khốc. Gió mùa đông bắc, trong suốt mấy tháng qua đã rắc lên khoản không gian màu xanh ấy một lớp cát bụi đất đỏ. Mưa sương rả rích, êm dịu đã làm cho cây lá bóng nhãy lên, trở lại vẻ mượi mà muôn thuở. Từng giọt, từng giọt rơi xuống lớp đất dày là mục khô tạo thành những tiếng sột soạt vui vẻ, rồi nhanh chóng thấm vào đất, dần dà tưới ướt những rễ cây. Thế là, giống như người khát được uống, cây rừng ngày đêm rì rầm chuyển động không ngừng đưa nhựa sống lên rải khắp cơ thể khô cằn khiến cho thân cây trở nên tươi tắn, lớn phổng lên và đan khít vào nhau hơn nữa. Những búp lá non nở bung ra như những ngón tay xinh xắn của trẻ sơ sinh, rụt rè bên những chùm lá đã già hay đang đô thanh xuân, khẽ rung rinh khi một làn gió nhẹ lướt qua. Rồi chẳng bao lâu, từ những kẽ lá, đầu cành, nụ hoa nhú ra trắng hay hồng, lúc đầu chỉ bằng đầu kim hay hạt tấm và lớn dần trong lớp mưa bay lạnh ngắt. Rồi muôn loài hoa với đủ sắc màu rực rỡ lần lượt nối nhau trang điểm cho tấm màu xanh muôn thuở của rừng già. Khu rừng được ướp bởi một mùi thơm thanh khiết nhẹ nhàng và kín đáo của hương hoa, càng trở nên hấp dẫn bờ bản hòa tấu của âm thanh ban mai: tiếng vi vu của ong mật, tiếng xào xạo của lá vàng, tiếng hót nhí nhảnh hay vui tươi hay dạo mạo của loài chim, tiếng lo âu hay nũng nịu của nai con gọi mẹ và cả tiếng rỉ rào của gió biển rải về mơn man trên những búp lá thanh xuân. Nhưng cái âm điệu Mùa Xuân ấy, gần như ngày nào cũng vậy chỉ ngự trị không gian được lúc bình minh. Đến khi ánh mặt trời đã quét những ánh nắng rực rỡ đầu tiên trên mặt biển và cảnh vật đã thực sự trở nên rõ ràng thì thinh không bỗng ầm ầm vang động bởi những tiếng rít rú của hàng đàn máy bay phản lực Mỹ cất cánh từ những hàng không mẫu hạm ngoài biển Đông. Chúng lao vào đất liền với dáng hùng hổ của những tên kẻ cướp hung bạo. Chúng rạch nát bầu trời Quảng Trị, tìm săn đuổi những đoàn ô tô ngụy trang xanh rờn chở đạn hay kéo pháo đang lầm lỳ bò chậm chạp trên những nẻo đường mòn tiến vào hướng đường 9, từ Đông Hà đến Khe Sanh, hay nối nhau bổ nhào trút bom xuống những tọa độ mà đêm qua hay ngày hôm qua chúng đã đánh dấu được trên bản đồ bay nhờ trinh sát thám không hay chỉ điểm dưới đất. Phần lớn là chúng bay cao tránh tầm lưới lửa phòng không của ta, tham gia chi viện cho quân của chúng ở tận Bản Đông, cầu Ka Ki hay thị trấn Sê Nô bên đất bạn Lào. Từ lúc ấy cho đến tối mịt, người ta chỉ còn nghe thấy tiếng trầm rền của bom nổ từ xa mãi, tiếng uỳnh oàng không ngớt của đại bác hai bên. Cuộc sống của những con người đang hoạt động dưới màu xanh mướt của ngọn cây mới diễn ra với một nhịp điệu cực kỳ khẩn trương căng thẳng. Chiến dịch đường 9 – Nam Lào đang đi đến giai đoạn cuối và vì thế càng trở nên quyết liệt. Bộ Chỉ huy của ta quyết tâm giáng một đòn chí tử bằng tất cả sức mạnh của mình cho hai sư đoàn rưỡi châu Mỹ và bốn sư đoàn thiện chiến nhất của quân Sài Gòn, đẩy mạnh phối hợp chiến trường nhằm chia lửa và phân tán lực lượng địch, tạo thuận lợi thêm cho mặt trận chính. Sở chỉ huy mặt trận đường 9 vào những ngày cuối tháng ba vì thế càng bị cuốn hút vào cơn bão lốc chiến trường ấy. *** Chiếc lán nhỏ, lợp mái tranh, tường cót nứa, ẩn kín dưới tán lá cây rậm rạp, được ngăn làm hai gian nhỏ: gian trong là phòng ngủ có đặt hai chiếc giường dã chiến. Gian ngoài có vẻ rộng hơn là nơi làm việc có một bộ bàn ghế mộc sơ sài, một chiếc tủ nhỏ chỉ cao khoảng một mét, hai chiếc máy điện thoại. Nổi bật hơn cả là tấm bản đồ chiến sự mặt trận đường 9 – Nam Lào với những ký hiệu xanh đỏ chi chít treo trên cót vách. Tư lệnh đặc công, phụ trách chi huy phó mặt trận đường 9 Nguyễn Chí Điềm đang đứng trước tấm bản đồ. Gọn gàng trong chiếc áo bông quân phục và mặc dầu đã đi giày da, ông cũng chẳng cao hơn thêm lên bao nhiêu. Với tầm vóc nhỏ bé và chiếc điếu cày chỉ dài gang tay do cậu cần vụ sáng tạo nên từ một đoạn ống kim loại máy bay Mỹ, mới trông, ông giống một viên chức dân sự cấp huyện. Nhưng khi ông đeo kính và đứng trước tấm bản đồ với giọng nói sôi nổi có tính chất khẳng định và một chiếc que dài trong tay, thì ông bộc lộ rõ ra là một người chỉ huy có bản sắc riêng. Những lúc này dáng mặt ông băn khoăn, có vẻ không vui. Một chiếc máy điện thoại bỗng reo lên một hồi ngắn nghe cạch cạnh, vừa đủ cho người trong nhà nghe. Tư lệnh Điềm nhắc ống nghe lên: -03 nghe đây Đáp lại giọng nói trầm, hơi khàn của ông, là tiếng nói trong trẻo của cô điện thoại viên thường trực ở phòng trực ban: - Báo cáo đồng chí 03, có phái viên mặt trận Bộ xuống muốn được gặp và làm việc với đồng chí. Có thể đưa vào thẳng chỗ đồng chí không ạ? “Lại cái chuyện đốc chiến đây!” – Đại tá Điềm nghĩ thầm rồi tặc lưỡi trả lời: - Cô nói với trực ban đưa đồng chí phái viên Bộ vào chỗ tôi nhé! Đặt ống nghe, đại tá Điềm thong thả nhồi thuốc vào chiếc điều cày, rồi cũng dáng thong thả như vậy, ông đánh diêm và ghé miệng rít một hơi dài, ngửa cổ lên phun ra một làn khói xanh mù mịt. Ông thoáng nhớ lại những hoạt động chiến đấu của bộ đội. Đặc biệt là của lực lượng đặc công đường 9 trong đợt hoạt động vừa qua. Tự nhiên cặp mắt mệt mỏi của ông lại lướt trên tấm bản đồ một lượt nữa. Ông chuẩn bị để sẵn sàng trình bày với phái viên Bộ những điều vướng mắc của ông đối với việc sử dụng đặc công trong tác chiến hiệp đồng binh chủng trong đợt chiến dịch vừa qua. Anh chiến sỹ cảnh vệ đưa một người có vóc dáng cao lớn, đi đôi giày vải, lưng khoác tấm vải dù Mỹ. - Báo cáo đồng chí phó chỉ huy mặt trận, Xuân Quang có mặt! Người cán bộ vừa bước lên thềm nhà, vừa cất tiếng chào vui vẻ, thân mật. Tư lệnh reo lên: - Ôi, Tưởng ai, hóa ra là cậu đấy à? Tớ đoán cậu xuống có việc gì rồi! Người cán bộ có tên Xuân Quang, chính là trưởng phòng tác chiến của Bộ tư lệnh đặc công, hiện là trưởng phòng đặc công trong Bộ tham mưu của mặt trận Bộ. Khi vào chiến trường tham gia chiến dịch này, anh cùng di với tư lệnh binh chủng nhưng do diễn biến và yêu cầu của tình hình, anh được giữ lại trên mặt trận Bộ đặc trách theo dõi các lực lượng đặc công toàn mặt trận, còn tư lệnh binh chủng thì được Bộ giao nhiệm vụ làm chỉ huy phó mặt trận đường 9, đặc trách các lực lượng đặc công tác chiến trên địa bàn bắc Quảng Trị. Vì là người nhà, nên hai người trò chuyện với nhau rất thân mật, cởi mở. Sau khi hỏi thăm sức khỏe tư lệnh, Xuân Quang đi đến bên tấm bản đồ, quan sát một lượt rồi khẽ nói: - Các “cụ” trên ấy có ý nóng ruột về việc đánh đá của đặc công mình trong đợt vừa qua nên cho tôi xuống hỏi anh lý do vì sao như vậy. Bản thân tôi ở trên ấy cũng rất lo lắng. Chúng ta có nhiệm vụ quan trọng trong chiến dịch và phải chứng minh như thế nào cho những luận điểm mà chúng ta đã tổng kết vừa qua về vai trò chiến dịch, chiến lược của bộ đội đặc công trong chiến đấu hiệp đồng binh chủng. Tư lệnh pha trà, rót nước rồi đẩy chiến cốc đến trước mặt người cán bộ cộng sự rất gần gũi và tâm đắc của mình. Giọng ông không giấu được nỗi băn khoăn: - Quang này! Cậu với mình hai đứa ở với nhau thế nào không nói làm gì. Nhưng bây giờ cậu là cấp trên của mình xuống đây, mình sẽ báo cáo để cậu nắm được tình hình đặc công và chúng mình cùng bàn bạc với nhau xem phải nhưu thế nào. Bởi vì chính mình cũng chưa hài lòng với hiện trạng này. Thằng địch mở chiến dịch Lam Sơn 719, bộc lộ toàn bộ lực lượng ra dã ngoại, thoát ly hậu cứ là cơ hồi rất lớn cho đặc công ta làm bàn. Thế mà ta đã chứng minh khả năng như thế nào? Có làm được một số trận cũng đáng nói đấy, nhưng chưa phải đã phát huy hết khả năng. Mình với cậu sẽ cùng tìm nguyên nhân để kịp thời khắc phục. Bây giờ đã là giữa tháng ba rồi. Nói xong, tư lệnh kéo chiếc xà cột da, mở nắp lôi ra một xấp giấy. Đó là những tờ điện báo của các đơn vị đặc công trực thuộc các sư đoàn và của đặc công trực thuộc mặt trận. Xuân Quang có nước da đỏ au và thể lực rất cường tráng. Với sự thành thục nghiệp vụ của một trưởng phòng tác chiến binh chủng, anh đỡ tập giấy từ tay đại tá Điềm, rồi vừa đọc từng tờ, vừa đưa mắt đối chiếu trên bản đồ treo trên vách: - Như thế là từ đầu chiến dịch tới nay, đặc công 403 không đánh được trận nào. Nó được giao nhiệm vụ vào Lao Bảo nhưng không vào được. Sau đó lại giao nhiệm vụ cho nó vào Bản Đông nhưng cũng không vào được. Loay hoay mãi, sư đoàn cho chuyển sang vác gạo!... thằng d 11 sư đoàn 11, hiệp đồng với bộ binh tập kích cụm cơ giới của thiết đoàn 4 chạy về Bản Đông, đánh được nhưng bị tiêu hao nặng. Trận tập kích vào d 2 dù ngụy ở cao điểm 555 cũng không thành công. Nó đánh được hai trận tập kích dã ngoại, diệt một đại đội địch… Anh đặc công 320 mãi tới ngày 11 tháng này mới nhận nhiệm vụ, mới đánh được vài trận cò con… Đặc công 324 hiệp đồng với bộ binh vây lấn đánh vào chỉ huy sở tạm được… Anh d 10 sư 2 đánh trận này được: ngày 5 tháng ba nó mới nhận lệnh, ngày 7 đã tập kích sở chỉ huy trung đoàn 2 sư 1 ngụy ở điểm cao 725 diệt khoảng một trăm tên, phán bốn pháo, tạo điều kiện thuận lợi cho sư đoàn bước vòa vây lấn… Anh 31 của chúng ta, chuẩn bị hai trận nhưng cả hai trận trong tháng hai và tháng này chẳng nên cơm cháo gì… Làm ăn khá hơn cả có lẽ là anh 35. Từ trung tuần tháng hai đến nay, nó đánh được gần mười trận tập kích vào hậu cứ Ái Tử, Sa Mưu, đốt gần hai triệu lít xăng, phá hủy hơn chín vạn viên đạn đại bác… Như thế là cho đến nay, đặc công chưa đánh được trận nào vào sân bay của chúng. Điều này khiến các “cụ” trên ấy có ý kiến đấy. Những trận đánh được vừa qua, quả thật cũng chưa làm cho chúng ta hài lòng. Mà anh em thì rất cố gắng, quyết tâm rất cao, chịu gian khổ rất lớn. Vậy thì do những nguyên nhân gì? (còn tiếp) Tiêu đề: Re: CÀNH THANH MAI ĐÃ RA HOA (truyện ký - Hà Dũng) Gửi bởi: nttran1979 trong 20 Tháng Chín, 2010, 02:55:07 pm Ngồi vắt chéo chân trên chiếc ghế dựa, hai tay chắp lại trước bụng, đại tá Điềm lắng nghe tiếng đọc rành rọt từng bức điện tuy rằng ông đã gần như thuộc lầu từng câu trong mỗi báo cáo ngắn ngủi. Cặp mắt hơi có màu vàng vì bị bệnh tật của ông thoắt ánh lên một niềm hứng khởi khi nghe nhắc lại kết quả những trận tập kích kho xăng, kho đạn, sở chỉ huy của địch trên một địa bàn trải rộng từ Bản Đông về đến Ái Tử, Sa Mưu và thoáng tối đi khi nghe đến những trận đánh không thành. Khi Xuân Quang đã nghiên cứu xong các bức điện, đại tá Điềm thở phào một hơi, giọng tư lự: - Rốt cuộc, chính là trong chiến dịch này ta phải cố gắng bằng mọi cách, chứng minh bằng hoạt động cụ thể những điều mà chúng mình đã nêu ra trong hội nghị tổng kết cuối nắm sáu tám và mấy lần sau đấy. Từ những hoạt động của đặc công ta trên các chiến trường, nhất là chiến trường miền Nam trong những năm qua cho đến chiến dịch này, chúng ta phải xây dựng cho được hệ thống lý luận hoàn chỉnh về khoa học quân sự của binh chủng ta, khẳng định nghệ thuật chiến đấu đặc công trong các trường hợp đánh độc lập và đánh hiệp đồng. Chúng ta sẽ dựa vào đó mà bồi dưỡng đội ngũ cán bộ của binh chủng và sau nữa, ta sẽ đề nghị với Bộ tổ chức khóa học đặc công trong các nhà trường, học viện, cho các cán bộ chỉ huy binh chủng hợp thành. Đó là trách nhiệm cơ bản của chúng ta. Nó cũng đang la niềm ước vọng cháy bỏn của mình. Trưởng phòng tác chiến lắng nghe tư lệnh với một nỗi cảm thong sâu sắc. Từ lâu, anh rất hiểu con người ông. Điều quý giá nhất mà anh nhận thấy ở tư lệnh từ ngày binh chủng được thành lập đến nay là niềm say mê nghiên cứu những nét đặc thù của lực lượng đặc biệt này. Là người cộng sự gần gũi nhất của tư lệnh, anh hiểu rằng, trên cương vị người đứng đầu một binh chủng đặc biệt của quân đội ta, đại tá ngày đêm lo nghĩ trên những vấn đề cơ bản của nó. Trước khi về đảm nhận trọng trách ngày, ông đã từng là tư lệnh một lữ đoàn dù của quân đội ta. Đó là một binh chủng mới mẻ, hiện đại. Đành rằng lý luận về nghệ thuật chiến đấu của bộ đội nhảy dù thì thế giới người ta đã hoàn chỉnh, nhất là đối với Liên Xô. Ta có thể tham khảo và học tập. Nhưng vận dụng vào điều kiện của ta, vào nền kinh tế xã hội và công nghiệp quốc phòng thì phải xây dựng bộ đội nhảy dù như thế nào? Thế là tư lệnh lao vào nghiên cứu, học hỏi tổ chức bộ đội, tiến hành huấn luyện và nghiêm túc rút kinh nghiệm. Bộ đội dù ai cũng biết rằng bản than tư lệnh rất gương mẫu trong việc tập nhảy, rèn luyện thể lực (ông vốn là một huấn luyện viên thể dục trước đây). Thể trạng ông vốn nhỏ bé, mỗi lần nhảy, gió đẩy dù lạc mục tiêu rất xa, nhiều lần dù rơi xuống sông Chũ, xuống mái nhà, xuống bụi tre gai… ông vẫn kiên trì rèn luyện, ôm dù đi bộ hàng ki-lô-mét về lại đội hình. Kết quả là có được kinh nghiệm phong phú. Từ những cuộc tập luyện nghiêm khắc có bản thân tham gia ông dần dần xây dựng được một hệ thống lý luận về khoa học quân sự cho binh chủng nhảy dù non trẻ Việt Nam và được Bộ tổng tham mưu chấp nhận. Khi bình chủng đặc công được chính thức thành lập vào một ngày lịch sử tháng ba năm sáu bảy, lại chính ông được Bộ Tổng tham mưu chỉ định là người đứng đầu. Điều ấy đã gây ra sự ngạc nhiên lúc đầu đối với cơ quan binh chủng. Nhưng đến khi mọi người hiểu ra rằng, ngay từ đầu cuộc chiến tranh chống Pháp, đại tá Điềm đã từng là trung đoàn trưởng của tỉnh Bình Thuận, đã trực tiếp tổ chức xây dựng những lực lượng đặc công đầu tiên cho địa phương khu 6, đã đánh những trận tiêu diệt có tiếng vang hồi ấy như trận Ngã Hai, Bắc Ái… Và cũng từ ngày ấy, những tư tưởng chiến thuật của đặc công đã dần dần hình thành trong đầu óc của con người ham đánh giặc lại rất có ý thức nghiên cứu này, thì mọi người đều khâm phục sự sáng suốt của trên là nắm vững cán bộ. Đến nay, trên cương vị mới, ông lại nghiên cứu, tìm tòi. Ông đã lắng nghe hàng trăm cán bộ các báo cáo về những trận đánh của họ vào căn cứ hậu cứ, kho tàng sân bay, bến cảng, đã bàn bạc, tranh cãi với họ trước sa bàn hay tấm sơ đồ chiến lệ, trong hội nghị tổng kết của binh chủng lần thứ nhất vào cuối năm 1968, nơi tập trung tinh hoa trí tuệ của các lực lượng chiến đấu đặc công và biệt động của chiến trường miền Nam. Và, điều quan trọng nữa là bản thân ông từ hai năm nay cũng đã mấy lần trực tiếp vào chiến trường, tham gia như một thành viên trong cơ quan tham mưu chiến dịch của Bộ, trực tiếp chỉ đạo lực lượng đặc công chiến đấu trong đội hình binh chủng hợp thành. Từ những kinh nghiệm, những bài học gián tiếp và trực tiếp ấy, tư lệnh dồn mọi tâm sức xây dựng cơ sở lý luận về nghệ thuật chiến đấu của binh chủng đặc biệt, mà thực tế đã chứng minh là rất lợi hại và là một sáng tạo độc đáo của nghệ thuật quân sự Việt Nam, tuy còn rất non trẻ. Trong quá trình biên soạn những tài liệu cơ bản, trưởng phòng tác chiến Xuân Quang là người gần gũi ông nhiều nhất, với tư cách là người chấp bút. Nhưng tư lệnh không chỉ coi anh như một người thư ký mà là một cộng sự ngang hàng. Ông tôn trọng, lắng nghe ý kiến của anh, tranh cãi nhiều khi rất gay gắt với anh trước một đề xuất của anh hay một nhận định của bản thân ông mà anh chưa nhất trí. Nhiều đêm doanh trại đã tắt đèn từ lâu, nhưng ánh sáng trong phòng làm việc của tư lệnh vẫn tỏa ra ngoài cửa sổ và thường là mãi đến mười một mười hai giờ, anh mới có thể gập cặp bìa tài liệu chào tư lệnh ra về. Cũng có nhiều khi, mới năm giờ sáng, cậu công vụ đã chạy sang lay anh thức dậy: Tư lệnh sau đêm suy nghĩ đã có một phát kiến gì mới muốn trao đổi ngay với anh. Lý luận về nghệ thuật chiến đấu của đặc công trong cuộc chiến tranh giải phóng, cùng với sự đánh giá về khả năng, vai trò của nó có thể đảm nhiệm trong chiến đấu độc lập hay trong chiến đấu binh chủng hợp thành, qua những ngày miệt mài của cơ quant ham mưu, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của tư lện dần dần hình thành và hoàn chỉnh. Nó được báo cáo lên Bộ Tổng tham mưu và đem ra tập huấn cho đội ngũ cán bộ binh chủng. Có những luận điểm đã được khẳng định như những vấn đề kỹ thuật hay chiến thuật cơ ở, chủ yếu là vận dụng cho hoạt động chiến đấu độc lập từng địa bàn, từng trận. Nhưng điều mà tư lệnh Điềm dồn nhiều tâm sức là khả năng hoạt động của lực lượng đặc công chiến đấu trong đội hình binh chủng hợp thành trong từng chiến dịch và vấn đề phát sinh vai trò chiến lược của lực lượng trong phạm vi toàn cục. Vì thế, khi Bộ Tổng tham mưu quyết định mở chiến dịch phản công nhằm đập tan âm mưu của Mỹ-ngụy trong chiến dịch Lam Sơn 719, thì mặc nhiên tư lệnh binh chủng được tham gia trong thành phần cơ quan chiến dịch. Tư lệnh lê đường với niềm hứng khởi đặc biệt và với một quyết tâm vững chắc, sẽ lấy thực tế hoạt động của bình chủng mình trong chiến dịch này để chứng minh cho sự đứng vững của luận điểm và công trình nghiên cứu. Cũng dĩ nhiên, ông lại đưa trưởng phòng tác chiến cùng đi như là một người trợ thủ đắc lực và người đồng chí tâm đắc. Vẻ băn khoăn không vui của tư lệnh qua những lời tâm sự như cũng thấm sang trưởng phòng tác chiến. Xuân Quang muốn chia sẻ với người chỉ huy đáng tin cậy của mình: - Theo anh, thì vì sao mà cho đến nay, qua đợt một và cả đợt hai chiến dịch mà đặc công đánh chưa khá, chưa đạt yêu cầu ta đề ra? Tư lệnh Điềm đứng dậy, cầm chiếc điếu cày, khum bàn tay vỗ vỗ cho bã thuốc bật ra, rồi vừa vung chiếc điếu vừa nói với cái giọng Hà Tĩnh, hơi khan vì thuốc lào: - Về phần chủ quan thì cũng phải thấy rằng cán bộ mình chưa quen với lối tác chiến binh chủng hợp thành như thế này, vì trước đây anh em mình vẫn quen đánh độc lập, hoàn toàn chủ động cả về thời gian lẫn mục tiêu. Nhưng nay đánh trong đội hình chiến dịch, mọi cái điều liên quan chằng chịt với nhau nên chuẩn bị có lúng túng. Nhưng theo mình thì về chỉ đạo của ta, cũng có khuyết điểm: đặc công nhận nhiệm vụ của chiến dịch quá muộn. Đợt một không đánh được trận nào, đợt hai chỉ đánh được ba tận ở Ái Tử, Sa Mưu. Phần lớn những trận đánh lớn nhỏ vừa rồi của đợt ba chiến dịch. Thành ra tác dụng chiến dịch không lớn. Những điều mà chúng ta đề ra chưa hẳn đã thuyết phục được những người chỉ huy binh chủng hợp thành. Xuân Quang gật đầu tán thành: - Tôi cũng nhất trí với anh như thế. Bây giờ, theo tôi chiến dịch đang đi vào đỉnh cao của nó. Lực lượng sáu sư đoàn quân Mỹ và ngụy cùng với phương tiện, khí tài của nó rất lớn. Khả năng chi viện của các căn cứ hậu cứ của chúng cho các đơn vị tuyến một khá hùng hậu và phải nói rằng khá hiệu quả. Vì thế, trên Bộ các “cụ” cũng có ý nóng ruột đốc đặc công phải nhanh mạnh hơn nữa để chi viên cho các sư đoàn. Khi cử tôi xuống gặp anh, các anh ấy đã vừa cười vừa bảo tôi: xuống nói với tư lệnh của anh là hãy tìm cách thuyết phục chúng tớ bằng cái gì đáng giá hơn nữa chứ! - Mình đang nghĩ đến Tà Cơn. Phải đánh vào căn cứ sân bay dã chiến này bằng được. Ở đây nó có hàng trăm máy bay trực thăng các loại hàng ngày xuất hiện mấy trăm lần chiếc, chi viện rất đắc lực cho quân nó ở Nam Lào. Bây giờ nên như thế nào? Xuân Quang chẳng còn vẻ gì là “phái viên đốc chiến” của cấp trên xuống nữa, mà đã trở lại đúng vị trí người cộng sự tâm đắc của tư lệnh: - Cần bám chặt “thằng” Sa Mưu, Ái Tử hơn nữa, tổ chức đánh liên tục nhiều đem, đốt phá tối đa kho đạn và xăng dầu của nó. Việc này, đề nghị anh giao cho tôi xuống với 33 để đôn đốc nó. Vừa rồi nó đã bám đánh được một vài trận tương đối khá rồi. Đánh giao thong vận chuyển trên đường 9 thì đề nghị anh giao cho đặc công mấy sư chủ lực. Riêng cái Tà Cơn là quan trọng hơn cả, phải tập trung vào đấy làm cho được. Đại tá Điềm gật đầu, chưa thở hết khói thuốc ra đã nói: - Cái này, mình đã giao cho thằng 35, chủ lực của mặt trận mình. Nó mới thành lập nhưng chất lượng của anh em khá lắm. Mình sẽ gọi cho cán bộ tiểu đoàn lên…À không! Mình sẽ xuống chỗ các cậu ấy. Phải rất khẩn trương kẻo chiến dịch kết thúc đến nơi rồi mà ta chịu để cho không quân nó làm mưa làm gió. Mình thấy chỉ cần sử dụng một đại đội thôi nhưng phải thật tinh nhuệ. Cậu thấy thế nào? - Vâng – Xuân Quang đứng dậy đến trước tấm bản đồ, ước lượng cự ly từ vị trí tập kết của tiều đoàn 35 đến sân bay Tà Cơn – Nhưng địa hình Tà Cơn cũng khá phức tạp. Riêng khu vực sân bay cũng rộng đến tám ki-lô-mét vuông rồi. Chung quanh có nhiều núi cao bao bọc, chúng có phòng ngự từ xa, chủ yếu từ phía bắc. Nên việc mở đường và bảo vệ hành lang tiến vào cũng rất lớn. Đề nghị anh có thể tăng them lực lượng một phần nữa. - Thật ra, từ cuối tháng hai, mình đã giao nhiệm vụ trinh sát cho nó rồi và cũng có những kết quả bước đầu. Nhưng bây giờ là bước quyết định. Rồi cũng phải sử dụng đến hai đại đội, kể cả chiến đấu trong sân bay và bảo vệ hành lang. Mình sẽ bàn cụ thể với nó. Mình nhất trí là một mặt điện chỉ đạo nhiệm vụ rõ ràng thấy mấy anh đặc công sư đoàn, nhưng bản thân chúng mình phải nắm chắc hai thằng 33 và 25 ngay chiều nay đấy. Bàn bạc công việc xong xuôi thì đã đến trưa. Khu rừng khô ráo hơn lúc ban mai, có sáng ra đôi chút. Xuân Quang vươn vai đứng lên, bước ra trước nhà, đưa mắt ngắm nhìn quang cảnh kín đáo và khá nên thơ của khu vực trú quân: cánh rừng già có tán lá dày che kín một cách tự nhiên mợi hoạt động và dấu vết trên mặt đất, hoàn toàn có thể bịt mắt bọn máy bay trinh sát Mỹ. Nhưng dưới tán lá rậm rạp lại rất thoáng. Tầm nhìn có thể phóng ra xa hàng mấy trăm mét qua những qua những cành cây vương cao hùng vĩ. Có tiếng máy bay từ phía ngoài biển, tiếng còi rít lên báo động rồi trong chớp mắt là những tiếng rít xé vụt qua của mấy chiếc máy bay phản lực Mỹ. Xa xa, những tràng sung trọng liên phòng không dội lên nghe quyết liệt. Xuân Quang sực nhớ ra, liền hỏi: (còn tiếp) Tiêu đề: Re: CÀNH THANH MAI ĐÃ RA HOA (truyện ký - Hà Dũng) Gửi bởi: nttran1979 trong 21 Tháng Chín, 2010, 01:24:30 pm - Hầm trú ẩn của anh đâu?
Tư lệnh Điềm trỏ tay vào trong nhà: - Dưới gầm giường ấy, có lối thong ra hầm đào sâu vào sườn núi kia. Ở đây, bị B52 nó quần cho mấy lần vào lúc đang ngủ nên anh em công binh mới làm thế cho bảo đảm. Xuân Quang nhìn ra phía đầu nhà. Bên đống đất đắp cao làm thành căn hầm kèo khá kiên cố, anh bống nhìn thấy một cây giống như cây mận, cao chừng hai mét, đang nở hoa trắng xóa. Lại nhìn thấy mấy giỏ hoa phong lan treo lủng lẳng trước cửa sổ, những chùm hoa trắng và tím sẫm chen vào nhau, buông dài như đuôi trâu. Anh hỏi: - Cây gì giống như thanh mai ấy anh Điềm? - Cây mận dại đấy thôi. Làm gì có thanh mai ở đây. Chắc là do chim tha hạt đến rồi mọc lên. Nhưng cậu có thấy nó đẹp không? Mình chọn chỗ này vì thấy có cây ấy đang chuẩn bị trổ hoa. À này, cậu còn nhớ cành thanh mia mình trồng ở nhà không? Không biết nó còn sống không nhỉ? Xuân Quang sực nhớ đến cành thanh mai mà tư lệnh vừa nhắc đến. Cách đây ít lâu, một hôm sang làm việc với tư lệnh, anh thấy ông đang lúi húi trồng một cành gì đó. Hình như nó mới được cắt từ cây mẹ ra, còn có cả vồng đất. - Tớ xin ở vường thanh mai làng Đông Mỹ đấy – Tư lệnh nói với một vẻ ưng ý – Cậu biết vườn mai trong xóm rồi chứ gì? Vườn mai ấy thì anh biết. Nó ở cuối xóm. Chủ nhân là một vị hưu quan, đã mất từ lâu. Người nhà trông nom bồi bổ mấy chục cây mai và thu hoa lợi không nhỏ do bán quả cho những người làm thuốc từ Hà Nội về mua. Nhưng đáng nói hơn là vẻ đẹp của nó. Vào dịp những ngày đầu xuân, cả vườn mai nở hoa trắng xóa. Khách du lịch, các nhà vắn, nhà báo ở Hà Nội, các cụ đồ nho ở quanh vùng đều tìm đến nơi này ngắm cảnh, làm thơ, viết báo, chụp ảnh. Đến khi hè về, người ta lại kịp tìm đến và tranh nhau đặt tiền để chờ từng thùng quả thanh mai đã chin vàng, quả nào cũng căng trôn như quả trứng gà so. Người ta chế biến làm vị thuốc. Người ta ngâm làm rượu thanh mai. - Mua cũng được – Tư lệnh vừa xúc đất lấp hố, vừa giải thích – nhưng không thích bằng trồng được nó. Nên chính mình đã xin chiết một cành rồi trồng ở đây. Chịu khó tưới tắm vun bón cho nó. Rồi nó sẽ lớn, sẽ thành cây, sẽ ra hoa kết quả. Tha hồ ngâm rượu nhé! Mình sẽ chi viện cho các caauju. Một đời cây phải mấy chục năm. Lúc ấy Xuân Quang đã cười khì: - Ối dào! Tôi thì tôi cứ đăng ký trước. Khi nào nhòm ngó thấy thanh mai trong vườn ấy quả đã bằng hòn bi là tôi đặt tiền giao hẹn. Bà cụ chủ hẹn khi nào có là tôi vào. Anh trồng thế này không được ăn đâu. - Cứ trồng – Tư lệnh nói một cách tin tưởng. Đang nói chuyện thì Thước, cậu cần vụ từ một lối mòn đi về, tay xách chiếc cặp lồng. Cậu ta vọc người thấp lùn, đậm nhưng rất nhanh nhẹn, quản lý rất chắc tiền lương và sự chi tiêu hàng tháng của tư lệnh. Trông thấy Xuân Quang, Thước toét miệng cười: - Cấp trên xuống thăm anh em đấy à? Em đã lấy cả phần cơm của anh rồi đây! Quay sang tư lệnh, Thước nói: - Anh có thư Hà Nội do quân bưu chuyển vào. Của chị Nga đấy mà? Chắc là chị ấy sợ thầy trò mình trong này ăn nhiều B52 quá nên phải hỏi thăm luôn Nói xong, cậu ta cười, vẻ tự nhiên thoải mái như người nhà. Tư lệnh cầm lấy bức thư không dán tem bưu điện. Nhìn nét chữ, ông nhận ra ngay là của vợ. Nghe Thước nói, ông ngẫm nghĩ, mỉm cười, định bóc thư, nhưng rồi lại tặc lưỡi: - Ôi, chắc là bà ấy lại hỏi chung quanh cái B52, cái muỗi sốt rét và cái khoản bia đấy mà! Bà ấy biết mình nghiện bia hơi. Ngoài ấy, ngày nào thằng Thước cũng xách bi đông đi mua cho mình một lít. Thế mà một tháng cộng lại cũng thành một khoản chi khá. Lại còn tí lạc rang nữa. Chà! Lúc này có cốc bia nhỉ? Thôi, ta ăn đi. Đói lắm rồi! Nói thế, nhưng khi hai người vừa ăn được một bát cơm, tư lệnh đã đặt bát xuống, gật gù: - Xem xem ngoài ấy ra sao nào! Ông lấy chiếc kính đeo lên mắt rồi thong thả đọc bức thư có nét chữ rất cứng cáp quen thuộc của vợ. Được mấy phút bỗng ông đặt vội bức thư xuồng bàn, mặt biến sắc: - Hỏng rồi Quang ạ! Xuân Quang giật mình nhìn vào bức thư: - Cái gì thế anh? - Thằng Ngọc chết rồi! - Ối! Xuân Quang chỉ kêu lên một tiếng rồi buông đũa, trân trân nhìn vào những ngón tay run run của tư lệnh. Đại tá Điềm lẳng lặng đọc hết bức thư. Phút chốc, trông ông như già hẳn đi. Cậu cần vụ dáng hớt hải: - Ngọc hy sinh rồi sao thủ trưởng? Tư lệnh trở lại vẻ điềm tĩnh, đọc thành tiếng: …Em báo cho anh một tin đau long: Ngọc hy sinh rồi! Con đã bị trúng đạn trong trận đánh bảo vệ phà Bến Thủy hồi tháng trước. Mãi đến cách đây mấy ngày, một đồng chí thủ trưởng đơn vị của con ra Hà Nội họp có ghé vào nha ta báo cho em biết tin này. Con đã được chon cất cùng với đồng đội của nó ở một địa điểm bên bờ bắc sông Lam. Anh ơi! Em tha thiết mong anh khi nào hết chiến dịch, trở ra anh cố tìm thăm xem mộ con đâu, thắp cho con một nén hương. Còn về phần em, thế nào em cũng tìm cách vào được trong ấy để tìm cho được phần mộ của nó. Con ơi… Giọng đại tá Điềm khàn hẳn đi. Ông không đọc tiếp nữa. Xuân Quang đã đến bên cạnh ông. Giọng anh rầu rĩ: - Thật không ngờ tình hình lại đến như thế. Anh Điềm, tôi xin chia sẻ nỗi đau buồn với chị Nga và anh. Tư lệnh lắc đầu: - Nhưng thôi… Trường hợp của nhà mình cũng không đặc biệt gì. Bao nhiêu con em nhân dân đã ngã xuống trong sự nghiệp này… Điều mà mình sợ nhất là sức khỏe của bà ấy. Bà ấy vốn có bệnh tim. Lúc này mình lại ở xa. Nói xong, tư lệnh nhận thấy vẻ buồn bã trên gương mặt cả hai người đồng đội, liền cất giọng cố làm ra vẻ bình thường: - Thôi, hãy tạm biết vậy. Thước dọn bát đi. Chúng mình bàn thêm một chút nữa rồi phải chia nhau xuống đơn vị thôi. Một giờ sau, trưởng phòng tác chiến Xuân Quang nắm chặt tay tư lệnh binh chủng từ biệt: - Hứa với anh là tôi sẽ cố gắng. Một lần nữa tôi xin chia buồn với anh chị. - Cám ơn. Bây giờ thì chỉ có chiến thắng mới khuây khỏa. Mình cũng đi ngay bây giờ đây. Ông quay máy điện thoại, gọi tiểu đoàn 35 báo ông sẽ xuống. Mười lăm phút sau, tư lệnh và anh cần vụ lên đường. *** Tiểu đoàn đặc công 35 đóng quân trong một vạt rừng cao su cách đường số 1 không xa. Những chiếc lán nhỏ lợp tranh, vách cũng ghép bằng cỏ tranh ẩn kín dưới tán là không lấy gì là rập rạp. Tình hình ăn ở nói chung không được cẩn thận chu đáo như ở cơ quan mặt trận. Ra đón tư lệnh ở đầu suối có hai người: Ích, chính trị viên và Kha, tiểu đoàn phó. Ích vốn là cán bộ quân sự đã làm đại đội trưởng bộ binh hai năm, tính tình điềm đạm, chín chắn, lại là bí thư chi bộ, nên sau khi được đi học một lớp trung cấp của Bộ, được điều về binh chủng và chuyển sang làm cán bộ chính trị tiểu đoàn. Còn Kha là cán bộ đặc công “có hạng” như an hem thường nói, đã chiến đấu nhiều trận ở chiến trường khu 5, đã được thưởng năm huân chương chiến công, nổi tiếng gan lì và được anh em tín nhiệm. Thế mà, bề ngoài Kha trông lầm lì, ít nói, dáng điệu chậm chạp, chẳng có gì hấp dẫn. Vì tiểu đoàn này vốn là quân trực thuộc của bộ tư lệnh đặc công tăng cường cho mặt trận trong này nên cán bộ quen biết tư lệnh lắm. Họ vốn coi ông là “người nhà” nên quan hệ trên dưới cũng cởi mở dễ dàng. (còn tiếp) Tiêu đề: Re: CÀNH THANH MAI ĐÃ RA HOA (truyện ký - Hà Dũng) Gửi bởi: nttran1979 trong 22 Tháng Chín, 2010, 04:14:06 pm Tư lệnh chưa nghe họ báo cáo tình hình đơn vị ngay mà yêu cầu đưa ông đi xem việc ăn ở của các đại đội.
- Ái chà! Làm cả sân bóng chuyền cơ à? Không ngụy trang à? Trinh sát nó phát hiện được thì sao? - Báo cáo! Chả làm sao. Nó cũng như cái sân của nhà dân thôi mà!- Anh chàng tiểu đoàn phó gan lì thẳng thắn đáp. - Nhà các cậu làm toàn bằng tranh cả. Phòng cháy ra làm sao? - Đã có kế hoạch nghiêm ngặt. Với lại nhà đều làm bằng cạnh suối cả. Thủ trưởng cứ yên tâm. - Công sự hầm hố nông choèn thế này, chống B52 thế nào? Lại cũng vẫn anh chàng lầm lì ấy trả lời: - Giữ bí mật là chính thủ trưởng ơi? Với lại anh em có ở đây lâu đâu mà làm cho tốn công. Mục tiêu của anh em là ở phía trước. Còn anh chính trị viên, chín chắn và khôn ngoan thì nhận khuyết điểm một cách thành thật mà không thanh minh gì. Khi ngồi vào bàn làm việc, tư lệnh hỏi: - Tiểu đoàn trưởng đâu? Ích báo cáo: - Anh Chinh đi điều nghiên ở Tà Cơn chưa về. Nhưng nghe anh em báo cáo là anh ấy bị ốm dọc đường nên chưa về được? Nghe nói vậy, trong long tư lệnh nóng như lửa đốt, Tà Cơn là một vấn đề nước sôi lửa bỏng mà tiểu đoàn trưởng bị ốm nằm lại dọc đường thì đánh đá ra sao? Nhưng Kha lại nói: - Thủ trưởng cứ yên tâm. Lần này có tôi đi. Nhìn vẻ lầm lì nhưng chất phác của anh cán bộ tiểu đoàn phó quê Quảng Nam, với chiếc cổ đầy lang ben, tư lệnh Điềm hài long: - Cậu đi được chứ? - Được - Có bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được không? - Trong một tuần nữa đánh được Tà Cơn không? Anh chàng Kha thừ người như tính toán một chút rồi đủng đỉnh: - Đánh được. Đại tá Điềm hài lòng châm lửa hút một điếu thuốc lào rồi hạ lệnh: - Tôi muốn nói chuyện với cán bộ về trận đánh này. Các đồng chí triệu tập ngay cán bộ từ trung đội trở lên. Chú ý phòng không, Cái anh hùng của các đồng chí không phải ở chỗ chủ quan khinh địch, có thể gây tổn thất không cần thiết như thế. Còn ở đây ngày nào phải có công sự chắc chắn. Nghe rõ chưa? Nói chuyện với cán bộ, tư lệnh nói qua về diễn biến chiến dịch cho đến hôm nay, nhấn mạnh đến vai trò của những căn cứ, hậu cứ của địch với mấy sư đoàn Mỹ - ngụy trên đường 9 – Nam Lào, về những trận đánh gần đây của lực lượng đặc công cùng với những hạn chế so với yêu cầu của chiến dịch. Đặc biệt ông nêu ra vấn đề đánh sân bay Tà Cơn với tất cả sự bức thiết của nó. Đêm đó, tư lệnh còn nói chuyện tâm tình rất khuya với hai cán bộ tiều đoàn, tìm hiểu kỹ về gia đình của Ích và chuyện vợ con còn khá long đong của Kha. Ích đang yêu một cô là vợ liệt sĩ và đã có một con, nhưng gia đình thì phản đối. Còn Kha thì đang kén vợ. Anh chàng cục mịch lì xì thế mà hóa ra kén chọn ra trò. Cậu ta đang theo đuổi một cô sinh viên bách khoa là người đồng hương, nhưng theo nhận định của Ích thì kết quả có vẻ bấp bênh. Cho đến nay, anh chàng mới tìm thấy ở cô một chỗ để gửi những thứ riêng tây đáng giá như vải, len, đồng hồ và một chiếc đài bán dẫn National, nhưng còn trái tim thì chưa được cô gái tiếp nhận. Không một ai biết rằng suốt đêm đó và cả ngày hôm sau trên chặng đường về, trái tim ông như rỉ máu: ông nghĩ về Ngọc, đứa con mà ông hết lòng thương yêu mặc dù nó là con riêng của vợ. Những người công tác gần gũi với Đại tá Điềm, ngoài sự mến mộ về đức tính cần cù, tinh thần trách nhiệm cao với công việc và phẩm chất trong sạch liêm khiết, còn có một sự thong cảm với ông về đời sống riêng tư. Hồi kháng chiến chống Pháp, ông hoạt động trong khu rừng núi khu 6. Anh con trai Đức Thọ, xuất thân nhà nghèo nhưng có chí tiến thủ, đã rời làng quê, theo người bà con ra trọ học ở Hà Nội và cả ở Thái Bình. Anh vừa học, vừa làm nghề gõ đầu trẻ, dạy thêm cho con nhà chủ trọ để lấy tiền tự nuôi mình học hệt bậc cao đẳng tiểu học. Rồi khăn gói gió đưa, anh lại theo người bà con phiêu bạt vào tận Đà Lạt sinh sống và chẳng bao lâu anh đã hòa mình với nhân dân địa phương. Cách mạng tháng tám bùng nổ, anh được giác ngộ cách mạng trước ngày khởi nghĩa và đã tham gia công tác ở địa phương với tất cả nhiệt tình của tuổi trẻ Nghệ Tĩnh. Anh được đào tạo thành cán bộ quân sự, từ trung đội đến cán bộ huyện, rồi tỉnh. Rồi anh trở thành trung đoàn trưởng của trung đoàn chủ lực III của khu vực, góp nhiều công sức trong việc đánh giặc và mở rộng vùng giải phóng đại bàn bị địch chiếm đóng. Anh lấy vợ. Vợ anh là một cán bộ cơ sở của Bình Thuận. Đứa con trai đầu lòng ra đời là niềm hạnh phúc lớn lao, nhưng vợ anh đã phải vừa công tác vừa nuôi con một mình trong điều kiện thiếu thốn mọi bề. Hầu như anh đi vắng trong những thời gian dài. Rồi đứa con gái nữa lại ra đời. Vợ anh lại càng vất vả hơn. Bà con thương cảnh neo đơn, làm cho một căn nhà nhỏ. Vì là gần rừng, dân làng thường bị hổ dữ mò vào bắt trâu bắt lợn và cả bắt người nên chung quanh nhà đã dựng nên một hàng rào chắc chắn bằng gỗ. Đứa con trai phải mang gửi nhờ người bà con nuôi đỡ. Căn nhà hẻo lánh chỉ có hai mẹ con trú ngụ. Một đêm hổ dữ về nhảy qua hàng rào gỗ vào nhà. Nó vồ luôn vợ anh đang khiếp đảm ôm chặt đứa con mới được vài tháng kêu thét như xé ruột. Con hổ nhảy qua rào tha người vợ xấu số vào rừng, nhưng đã bỏ lại dưới chân hàng rào đứa trẻ. Hôm sau, dân làng đi qua nghe tiếng trẻ khóc lần tới mới hiểu rõ điều bất hạnh này. Họ mang con bé về thay nhau chăm bẵm. Trong khi ấy anh vẫn vắng nhà. Năm 1954, hòa bình được lập lại, anh tập kết ra bắc, mang theo đứa con trai. Còn đứa con gái thì đành để lại. Có người bà con đã nhận nó làm con nuôi và đưa về thị xã. Từ ấy đến nay, anh không nhận được tin gì. Rồi anh gặp chị Nga. Hai người có cảnh ngộ gần giống như nhau, nên có sự tương đồng sâu sắc. Nga về sống chung với anh cùng với một đứa con trai kháu khỉnh lên ba tuổi. Hai người có với nhau hai đứa con nữa. Nhưng vốn là người có bản lĩnh, đôn hậu, ông đã cư xử với các con rất công bằng và hết sức tế nhị trong việc xử lý những khuyết lỗi của chúng mỗi khi chúng có chuyện va chạm cãi cọ nhau. Thật ra Ngọc, con riêng của vợ ông là một đứa bé ngoan, nên ông cũng yêu thương nó bằng tình cảm chân thật của người cha. Và bản thân nó cũng coi ông như người cha đẻ. Khi học hết lớp 10, một hôm, Ngọc ngỏ ý muốn đi bộ đội để đánh giặc theo tiếng gọi của Tổ quốc. Ông còn nhớ rõ những cuộc trao đổi ấy trong gia đình. Ngọc thì hăm hở: - Con nhất định đi nghĩa vụ đấy. Con đã đăng ký trong lớp cùng với mấy đứa bạn rồi! Vợ ông ngần ngại giây lâu rồi ứa nước mắt: - Thì ai đã gọi con đâu. Con gắng thi vào đại học rồi khi nào cần hãy đi cũng chưa muộn kia mà! - Ai cũng muốn vào đại học cả thì ai đánh giặc? Thằng Mỹ hàng ngày ném bom tàn phá quê hương đất nước mình, chúng con không chịu được. Chị Nga đành quay sang ông cầu cứu: - Ý kiến anh thế nào? Khi ấy, ông cảm thấy mình ở vào vị trí rất khó xử. Ngọc là con chung, ông thương yêu nó như mấy đứa kia, nhưng dù sao thực tế nó vẫn là con riêng của vợ. Nó vào đại học sau này thành bác sỹ, kỹ sư thì không nói làm gì. Nhưng đàng này, nó đi bộ đội, lại muốn vào bộ đội cao xạ, trực tiếp chiến đấu với máy bay Mỹ. Chiến đấu thì đành rằng là nghĩa vụ của mọi thành viên và tất nhiên là anh nào trụ được thì sẽ mau chóng trưởng thành nhưng phải nhận rằng cũng nguy hiểm khôn lường. Có thể tổn thất hoặc bị thương nặng, nhẹ, hoặc hy sinh. Ừ, nếu rằng Ngọc là đứa con chung của cả hai người thì cũng không có gì phải bàn lắm. Nhưng nó là con riêng của vợ, là niềm hạnh phúc và an ủi thầm kín rất riêng tư đối với vợ ông mà cả ông và vợ không ai công khai nói ra được. Nhưng ông thì ông phải cân nhắc. Sau nhiều lần cũng gợi ý với Ngọc về việc tiếp tục học nhưng không kết quả, ông đành bảo vợ: - Thôi, nếu con nó đã quyết như thế, ta có ép nó cũng không học nữa, ở nhà lêu lổng dễ hư thôi. Tôi thấy nên để cho con đi bộ đội. Nó đã quyết thì chúng mình chỉ nên khuyến khích. Có anh em đồng đội dẫn dặt, lại có chí thì nhất định con nó sẽ trưởng thành. Đành rằng chiến đấu thì có gian nguy nhưng có phải chỉ có riêng con mình phải chịu đâu? Khi anh con trai mặc bộ quân phục mới tinh về trình diện gia đình với cặp mắt sáng ngời, ông đã bắt tay anh nồng nhiệt như người bạn ngang hàng. Đêm ấy, hai cha con thức khuya, rì rầm mọi chuyện với nhau như đôi bạn tâm giao. - Với tư cách người lính, ba coi con như người đồng chí nhưng ba muốn hỏi con lần nữa: con tình nguyện nhạp ngũ là để thỏa nguyện chí làm trai hay con có điều gì không ưng ý trong sinh hoạt gia đình? Ba mẹ và anh em con có điều gì khiến con phải cương quyết ra đi không? - Sao ba quả lo nghĩ thế? Con tuy còn ít tuổi nhưng dù sao con cũng đã là một thanh niên, một đoàn viên rồi, con có sự suy nghĩ độc lập của con chứ. Tuy ba không sinh ra con nhưng bao giờ con cũng kính trọng ba và yêu quý các em con. Con nhập ngũ là vì chí trai, truyền thống chiến đấu hy sinh của trai Nghệ Tĩnh, mà con còn vì ba nữa. Con không muốn người khác đặt một câu hỏi trước ba: ông hô hào con người ta hy sinh, đi ra tiền tuyến nhưng con ông thì sao? - Mẹ con sẽ lo nghĩ rất nhiều. Ba rất thương mẹ con. - Con còn thương mẹ con hơn. Nhưng đây là chuyện trong gia đình ta thôi. Ba cứ an tâm, con hứa sẽ sống xứng đáng với gia đình và quê hương. Người cha, lần đầu tiên từ mười mấy năm nay đã có một cử chỉ khác thường với đứa con, ông ôm chặt người lính binh nhì trong vòng tay cứng cáp của mình, trái tim rung động vì tình nghĩa cha con, và tình đồng đội. (còn tiếp) Tiêu đề: Re: Cành thanh mai đã ra hoa (truyện ký - Hà Dũng) Gửi bởi: nttran1979 trong 23 Tháng Chín, 2010, 01:08:52 pm Rồi cả nhà, trừ ông đã đến nơi tập trung để tiễn anh con trai lên đường. Mẹ và hai đứa em thì khóc, người anh thì chỉ mím môi, mắt đỏ lên. Anh vào bộ đội pháo cao xạ. Tám tháng sau, được về thăm nhà ba ngày mang theo một bằng khen đưa cho mẹ. Rồi đơn vị di chuyển vào chiến đấu trong Thanh Hóa bảo vệ cầu Hàm Rồng, rồi lại chuyển vào Nghệ An, thiết lập trận địa cơ bản bên bờ sông Lam, trực tiếp bảo vệ nhà máy điện và phà Bến Thủy.
Trước ngày ông lên đường đi chiến dịch đường 9, ở nhà có nhận được bức thư của anh con trai. Trong bức thư ngắn ngủi viết vội, anh hạ sĩ mười tám tuổi nói rằng anh rất tự hào được chiến đấu bên dòng sông quê hương và những ngày này anh rất vất vả nhưng anh sẽ vượt quá… “ Mấy đứa bạn con bảo sao con không nói với ba xin về đặc công, để đỡ vất vả lại được đi học kỹ thuật hay ra nước ngoài có sướng không? Như con nhiều ông cấp ấy! Con chỉ cười…” Thế mà bây giờ… Ôi! Giá như là thằng Chung hy sinh thì nỗi đau này còn có thể phần nào đỡ làm ta day dứt. Bà ấy cũng nuôi thằng Chung từ khi nó còn bé nhỏ, cũng yêu thương nó như bà ấy đã yêu thương thằng Ngọc. Nhưng dù sao thằng Chung vẫn là con ta, con riêng của ta. Tổn thất này ta phải chịu và có thể chịu đựng riêng mình ta được. Bây giờ ta nói với bà ấy thế nào? Ta có lỗi gì trong việc này không? Bà ấy sẽ nghĩ gì về ta? Thằng Chung đứa con riêng cua ta hiện đang chiến đấu ở trong kia biết tin này sẽ nghĩ gì? Đó là ngày hai mươi mốt tháng ba. Chiến dịch đang đi vào giai đoạn quyết chiến cuối cùng. Bộ chỉ huy chiến dịch quyết tập trung mọi lực lượng giáng cho địch một đòn chí mạng phối hợp với quân bạn trên chiến trường Nam Lào. Phản ứng của địch cũng vô cùng ác liệc. Hàng ngàn tấn bom, hàng vạn quả đại bác của chúng đã đổ ra, hàng ngày chi viện cho quân chủng bị vây hãm và có nguy cơ bị tiêu diệt. Từ các sân bay ở Ái Tử, Tà Cơn, nhất là Tà Cơn, hàng trăm lần chiến trực thăng các loại tới tấp chở quân, chở lương thực tiếp tế cho mấy sư đoàn linh Mỹ và ngụy đang bị căng ra dọc đường 9 cho tới vùng Bản Đông bên Lào. Phải nhận rằng hoạt động “trực thăng vận” này của chúng ta đã có hiệu quả lớn, hạn chế những trận tiến công dứt điểm của quân ta. Mấy ngày nay, buổi sáng giao ban nào đại tá Điềm cũng hận được những bức điện của bộ chỉ huy chiến dịch thúc giục đẩy nhanh việc đánh phá Tà Cơn, sân bay dã chiến chứa gần một trăm máy bay trực thăng và những kho đạn đại bác, xăng dầu. Từ phòng họp giao ban trở về nha riêng của mình, đại tá Điềm đã nghe chuông điện thoại reo lên khẩn cấp. Ông vội nhấc ống nghe lên: - 03 nghe đây! Trong ống nghe vang lên giọng nói trẻ trung, vui vẻ của Xuân Quang: - Anh Điềm đấy à? Tôi xin báo cáo với anh tin chiến thắng mới của 33: đem qua, nó lại đột nhập vào Ái Tử lần thứ bá, đốt được một kho xăng và một kho đạn bằng mìn hẹn giờ. Ước lượng kho xăng là năm mươi vạn lít và kho đạn chừng 3 vạn viên. Thế là trong hai đem liền, nó đánh được vào Ái Tử. Thương vong của ta rất nhẹ vì giữ được yếu tố bí mật hoàn toàn. Tư lệnh nói gần như reo lên: - Tốt lắm! Tốt lắm! Rất là có ý nghĩa trong những ngày này đối với Nam Lào. Gửi lời biểu dương anh em nhé! Động viên anh em cố gắng làm một trận nữa được không? Ông nói chuyện thêm vài phút với Xuân Quang nữa, trong lòng cũng vơi bớt được nỗi niềm phiền muộn. Một giờ sau, khi ông đang cắm cúi ghi chép và suy nghĩ về hoạt động chiến dịch của lực lượng đặc công trên toàn mặt trận thì chuông điện thoại lại reo lên: - 03 nghe đây! P.5 đấy hả? Một giọng nói Sơn Tây vang lên nghe như hát: - Báo cáo đồng chí tư lệnh binh chủng, tôi là d trưởng 33 đây ạ. Báo cáo chúng tôi vừa đánh được một trận nữa vào Sa Mưu, phá hủy thêm một kho đạn đại bác khoảng mười vạn viên và một kho xăng đặc chủng hai mươi vạn lít. Đây là lần thứ năm chúng tôi đánh vào mục tiêu này. Anh em rút an toàn. Dọc đường về, hai đồng chí bị thương vì máy bay trực thăng bắn đuổi theo. - Hoan nghênh anh em! Trực thăng từ sân bay nào? - Báo cáo! Vẫn bọn Tà Cơn. Đặt ống nghe xuống, đại tá Điềm bồn chồn đi đi lại lại trước tấm bản đồ chiến dịch. Trong lòng ông sôi réo lên một lời thúc giục từ các trận địa đổ về: “Đánh ngay Tà Cơn. Nếu không thằng địch có thể dùng máy bay trực thăng xúc quân đi hết và đòn quyết chiến của ta sẽ không thực hiện được để kết thúc chiến dịch”. Mờ sáng hôm sau, đại tá Điềm đã quay máy điện thoại gọi tiểu đoàn 35. Biên kia đầu dây, vẳng lại tiếng nói của Ích, chính trị viên tiểu đoàn: - Các cậu vẫn liên lạc được với bộ phận của Kha đấy chứ? - Vâng ạ! Bộ đội của ta lúc này đã tập kết an toàn ở khu B chân núi Động Trì. Dọc đường, bị trực thăng bắn nhưng chỉ có một đồng chí bị thương nhẹ. - Kế hoạch tiếp theo hôm nay ra sao? - Báo cáo, theo kế hoạch thì trưa nay, hai đội 61 và 91 sẽ phải tập kết ở khu vực Ba, ở nam sông Nguồn Rào. Nếu không có gì trở ngại thì đêm nay sẽ thực hiện kế hoạch. - Hãy chuyển lời tôi thăm anh em. Nhắc anh em rằng tôi vẫn theo dõi anh em từng giờ cho tới khi anh em hoàn thành nhiệm vụ. Đồng chí nhắc Kha chớ có sơ xuất sau khi rút. Đơn vị các cậu đã một lần thiệt hại không phải trong trận đánh mà là trên đường về. - Chúng tôi xin chuyển ngay chỉ thị của đồng chí. - Các đồng chí phải tổ chức trực canh theo dõi suốt ngày và đêm nay. Toàn mặt trận đang chờ tin các đồng chí đấy! Đặt ống nghe xuống, tư lệnh rút khăn mùi xoa lau trán. Ông thấy hồi hộp như chính mình sắp lao vào trận đánh này, một trận đánh hậu cứ mà ông đã thấy tầm quan trọng của nó đối với mặt trận chính ở Nam Lào. Nó sẽ chứng minh một cách vững chắc nhất so với những trận đánh hậu cứ khác vừa diễn ra, nhưng luận điểm khoa học của ông về vai trò khả năng của lực lượng đặc công trong chiến đấu binh chủng hợp thành và chấm dứt những hoài nghi của một số cán bộ chỉ huy chiến thuận và cả cấp chiến dịch vào vần đề này. Đến trưa, khi vừa cầm bát cơm thì một máy điện thoài reo lên. Ông biết à có điện từ trên bộ chỉ huy chiến dịch. - Điềm đấy à? Hồng Minh đây! Đại tá nhận ra, chẳng khó khăn gì giọng nói gân guốc, trầm nặng vùng Quảng Ngãi của đồng chí cán bộ cấp cao trên sở chỉ huy chiến dịch. Nhưng lần này, nó đượm thêm một vẻ nóng ruột: - Khả năng làm ăn đến đâu rồi vậy? Tư lệnh binh chủng báo cáo vắn tắt những gì mà ông đã nắm được cho đến lúc này. - Mình đã tưởng các cậu xì hơi rồi. Nhưng nghe thế cũng có nhiều hy vọng đấy nhỉ? Này, chúng mình vẫn đang cân nhắc những luận điểm của cậu đấy nhé! Một tràng cười dài thoải mái kết thúc cuộc nói chuyện. Chiều hôm đó, đại tá Điềm đi xuống một đại đội của tiểu đoàn 33 vừa từ Ái Tử rút về củng cố. Ông dự cuộc họp rút kinh nghiệm trận đánh của đơn vị, và dự một bữa liên hoan rất thoải mái với chiến sỹ. Mười một giờ đêm, ông mới về tới nhà. Đọc các bức điện, ghi chép một hồi lâu, mãi nửa đêm ông mới vào giường nằm. Thế mà trằn trọc mãi không sao ngủ được. Tâm trí ông trôi theo những bước chân của tiểu đoàn 35 lúc này có lẽ đang đánh phá Tà Cơn. Liệu có trót lọt không? Dọc đường có sự cố gì không? Anh em sẽ đánh được đến đâu? Sẽ rút ra thế nào? Cậu Kha là một cán bộ tin cậy được. Nó là một cán bộ hành động, không lý luận nhiều. Những anh em ấy rồi phải cho đi học văn hóa. Nếu không, sự phát triển sau này sẽ bị hạn chế. Lại còn bao nhiêu anh em cán bộ, chiến sỹ nữa. Từ những trận đánh này, tài năng sẽ được rèn luyện, phẩm chất được thử thách sẽ đào tạo được biết bao nhiêu cán bộ ưu tú làm nòng cốt cho binh chủng về sau. Ngay mai, ngày mai. Nếu 35 hoàn thành nhiệm vụ đêm nay thì quân địch sẽ ra sao? Chúng sẽ rối loạn lên vì không còn được tiếp tế, vì không còn phương diện nào mà chuyển quân, hót quân rút chạy. Trận tổng công kích của chiến dịch sẽ diễn ra hết sức đẹp đẽ. Nhưng nếu đêm nay, rủi anh em ta không đánh được thì sẽ ra sao? Ông bồn chồn lo lắng và tự đưa ra biết bao nhiêu giả thiết cho ngày mai trên chiến trường chính, nếu tình huống đó xảy ra, thì binh chủng ta sẽ ra sao? Sẽ nói năng thế nào khi tổng kết chiến dịch? Sẽ củng cố lòng tin tưởng cho đội ngũ cán bộ như thế nào? (còn tiếp) Tiêu đề: Re: Cành thanh mai đã ra hoa (truyện ký - Hà Dũng) Gửi bởi: nttran1979 trong 24 Tháng Chín, 2010, 01:19:40 pm Ngoài kia, tiếng gãy rắc của một cành cây rơi khiến ông tỉnh hẳn. Ông trở mình. Mùi hương thanh khiết của chùm phong lan ngoài cửa sổ khiến ông bất chợt lại nhớ đến cành thanh mai mà ông đã trồng trước nhà truyền thống binh chủng. Lại nhớ đến một kỷ niệm vui thú của ông trong vười thanh mai Đông Mỹ. Ngày ấy, cách đây đã hai năm, cũng vào dịp này, một người bạn vong niên làm công tác văn hóa ở Hà Nội tới nơi ông làm việc và rủ ông v ào thăm làng mai. Khách vốn có tâm hồn thi nhân, không đi tay không, mà xách theo một chiếc giỏ mây. Khi hai người vào đến vườn mai, sau khi đã xin phép người chủ vườn, người bạn già mới trải một tấm ni long thay cho tấm chiếu ngay dưới gốc một cây mai già có cái gốc vặn vèo và hàng trăm nghìn cành lớn nhỏ vươn ra bốn phía với những chùm hoa mảnh mai, trắng trong tinh khiết. Rồi khách lôi ra một nậm rượu, nậm rượu làm bằng quả bầu khô chứ không phải chai – và một nắm mực khô. Hai người rót rượu, cái chén chỉ to bằng cái mắt trâu, chỉ một tợp là hết – và cứ mỗi lần nâng chén khách lại chúc một điều, hết cho sự trường thọ của hai người, gia đình con cháu lại đến chúc cho sự tồn tại mãi mãi của vườn mai. Khách hào hứng kể vanh vách lai lịch của cái vườn mai nổi tiếng xa gần này, về công dụng tyệt vời của thứ quả quý giá đối với sức khỏe con người, rồi cao hứng ngâm thơ. Còn ông thì mê mải lắng nghe, rung đùi thưởng thức. Cặp mắt vốn chỉ quen xoi mói trên những tấm bản đồ chiến lệ, phút chốc đã trở nên mơ màng, lơ đãng nhìn vô vàn những cánh hóa trắng xanh xao rơi lả tả mỗi khi có làn gió nhẹ lướt qua, mặc cho một vai chiếc cánh mỏng manh rơi xuống như trang điểm cho đĩa mực khô và làm rung rinh chén rượu.
- Cho nên- Khách nói – Năm nào tôi cũng cố tìm cách về thăm lại cái vườn này và hẹn với cụ chủ đến mùa quả chin sẽ về mua lấy vài cân. Lúc ấy, tư lệnh đã hỏi: - Bác đã mê thanh mai thế thì sao không xin giống mà trồng quách lấy vài cây ở vườn nha có hơn không? Khách lắc đầu: - Không. Cái vườn này còn là một cảm hứng bất tận. Nếu trồng ở nhà tôi thì nó sẽ chẳng còn ý nghĩa gì. Mà về khoa học lại còn vấn đề chất đất nữa cơ đấy! vả lại mình ăn bao nhiêu? - Nếu vậy tôi sẽ trồng – Lúc ấy đại tá đã quả quyết nói – Cũng là đất Đông Mỹ cả. Minh ăn, người sau này ăn. Lại được chén thoải mái. Rồi ông ngửa cổ cười một hồi rất sảng khoái. …Đại tá Điềm lại lan man nghĩ về gia đình. Nghĩ tới vợ, trong lòng ông cồn cào một niềm thương xót. Thế là nhà ông lúc này đã phân tán khắp nơi: thằng Chung là trung úy, hiện đang ở xa nhà. Em ruột nó, đứa con gái bất hạnh hiện nay phiêu bạt mãi đâu, chỉ biết rằng nó được người ta nuôi và đang ở vùng Tây Nguyên, Lâm Đồng hay Buôn Mê Thuột. Ông thì đang ở đây. Thằng Ngọc thì đã ngã xuống rồi, ngã xuống ngay trên đất quê hương. Thương thằng bé này bao nhiêu! Ở nhà chỉ còn ba mẹ con với những công việc bận bịu của cơ quan, của con, lại thêm bệnh tim. Phải ra ngoài máy công cộng mà lấy nước. Giá như mình ở nhà thì mình có thể đỡ đần cho bà ấy… Hết chiến dịch, trên đường về, mình phải dừng lại ở Bến Thủy, tìm xem mộ thằng bé nằm đâu. Chắc là khó tìm. Nhưng phải tìm được, nếu không khi về mình nói với bà ấy thế nào? Ngọc, con thứ lỗi cho ba. Chẳng lẽ ba có lỗi khi đồng ý cho con đi bộ đội hay sao? Gần sáng, đại tá Điềm mới chợp mắt, lịm đi trong giấc ngủ nặng nề. Chợt ông giật mình ngồi phắt dậy. Thước, cậu cần vụ đã lay ông, dáng vội vã: - Mời thủ trưởng ra máy. Em nghe như của 35. Không kịp khoác chiếc áo ngoài, chỉ hai bước chân, tư lệnh đã đến bên máy điện thoại. - 03 nghe đây! Tiếng cười vui vẻ của Xuân Quang nghe khác thường: - Anh đã biết tin gì chưa? - Chưa. Chuyện gì thế? - Đánh Tà Cơn rồi! Cả sân bay biến thành một biển lửa. Kho đạn và kho xăng đều bị đốt phá cả. Tin kỹ thuật mới nhận được. Tôi vội thong báo để anh biết. Tư lệnh binh chunrng hét to vào máy: - Hoan hô thằng 35! Thế là mừng rồi! Tình hình thế nào? - Đài Hà Nội sáng nay cũng vừa đưa tin đấy. Anh không nghe à? Cũng mới kịp đưa tin vậy thôi. Đề nghị anh cho nắm tình hình và báo cáo cụ thể với mặt trận ngay. - Tình hình ở chính diện thế nào? - Bọn địch rối như tổ ong vỡ. Bên ta đang mở trận tổng công kích. Các “cụ” đã biết tin Tà Cơn rồi, và có vẻ hài lòng lắm. Xin chúc mừng binh chủng ta và chúc mừng riêng anh. - Tốt lắm! cậu cũng nên thu xếp xuống ngay đây với mình thôi. Hãy trở về với công việc của chúng ta. - Vâng, vâng. Tôi cũng đã định sáng mai xuống chỗ anh. Anh bảo cậu Thước kiếm cái gì anh em mình liên hoan mừng ngọn lửa Tà Cơn chứ! Tiếng nói của Xuân Quang vang ra ngoài ống nghe khiến cho Thước, cậu công vụ nghe cũng rất rõ. Cậu ta mủm mỉm: - Thủ trưởng bảo anh Quang có xuống thì mang theo mấy hộp giò xuống liên hoan chứ thầy trò mình dưới này thì có gì! Đang vui, đại tá Điềm cũng cười theo. Chỉn chu, tằn tiện đến mức nghiệt ngã với mọi người dường như là thuộc tính của mọi anh cần vụ trên đời. Anh chàng Thước này cũng vậy. Hai hôm sau, đại tá Điềm được lệnh của Bộ gọi về Hà Nội. Cùng về với ông còn có trưởng phòng tác chiến Xuân Quang. Ngoài chăn màn quần áo của hai người, Thước còn ném lên xe lỉnh kỉnh những nồi niêu xong chảo, đèn chão, sung săn và cả mấy giỏ phong lan đang trổ hoa rất đẹp. Xuân Quang thì bận bịu với những xấp bản đồ chiến dịch và sơ đồ các chiến lệ cùng với các thứ chiến lợi phẩm phần nhiều là vũ khí mà anh đã có ý thu thập trong chiến dịch mang về triển lãm và sau này chọn lọc đưa vào nhà truyền thống binh chủng. Riêng đại tá Điềm thì chỉ thích xách mỗi chiếc cặp da đen đã cũ trông cũng chẳng lấy gì làm đầy đặn. Chiếc cặp này mỗi khi làm việc tại cơ quan bộ tư lệnh hay cả khi đi chiến trường, ông vẫn mang theo và thường trực tiếp giữ. Lần này cũng vậy, sau khi đã ngồi lên ghế sau của chiếc com-măng-ca, ông cẩn thận đặt chiếc cặp da “từ thời” lên đùi. Thấy Thước nhìn chiế cặp, hiểu ý, ông gật đầu: - Để mình giữ cho. Đối với mình, tất cả chỉ là ở cái cặp này. Nếu không may bị máy bay nó bắn thì có thể vất hết mọi cái lại, trừ cái cặp. Khác với thái độ của Thước, Xuân Quang nhìn chiếc cặp da cũ kỹ đã bợ hết nước xi màu đen và đã tuột cả quai xách với ánh mắt trân trọng. Anh hiểu giá trị của những gì chứa dựng bên trong chiếc cặp ấy. Nó là cơ sở lý luận để xây dựng nền tảng vững chắc về lâu về dài cho một binh chủng non trẻ nhưng hứa hẹn những bước đi lẫy lừng. Nó thực sự là tâm huyết và cũng là sự nghiệp của bản thân tư lệnh. Chiếc xe được ngụy trang cẩn thận, vượt qua những cánh rừng cao su. Rừng khô và sạch. Những chiếc lá đỏ sẫm bị gió ào tới, bứt ra khoi tản cây, bay là đà đậu xuống mui xe, kêu lên những tiếng lạt xạt vui vẻ, hòa cùng với tiếng lép bép của lớp lá khô rải đầy dưới bánh xe. Ra đến đường quốc lộ 1, chiếc xe rẽ trái, chạy ngược lên phía bắc. Hai bên đường, những hàng phi lao xanh mướt đung đưa, uốn mình mềm mại trước những cơn gió xuân mát lạnh và phát ra những tiếng rì rào muôn thuở. Cặp mặt có quầng thâm của tư lệnh thoắt ảnh lên một vẻ bỡ ngỡ lẫn chút ngây thơ. Hóa ra, mặc cho bom đạn Mỹ ngày đêm quần xé con đường này, cây cỏ vẫn sinh sôi, nảy nở. Lúa hai bên đường vẫn mơn mởn xanh tươi trên những vạt ruộng phẳng phiu, loáng nước. Những vạt lúa thẳng hàng tăm tắp thế kia chứng tỏ những con người đã cắm cây mạ xuống, dù ban ngày hay ban đêm, vãn bình tĩnh trước những tiếng gào rú của bom B52 hay của những viên đạn đại bác mấy trăm ly từ các chiến hạm ăn cướp ngoài biển Đông bắn vào. Ừ rõ ràng cỏ cây cũng vẫn có sức sống riêng của nó – tư lệnh thầm nghĩ – cái sức sống của những sinh vật đang ở tuổi thanh xuân. Gần đến phà sông Gianh thì chiếc xe phải giảm tốc độ và len lỏi qua một hàng dài tưởng như vô tận những loại xe lớn nhỏ, ngụy trang kín mít, đậu nép bên đường. Những người trên xe, hầu hết đều mặt quân phục màu xanh đang đi lại bên những hầm trú ẩn đào vội, dáng điệu bồn chồn, hay xúm lại chỗ những cô gái thanh niên xung phong đang chữa đường. Các cô chống những chiếc xẻng cuốc, xà beng, ngắm chiếc xe đang từ từ lăn qua với tốc độ của người đi bộ. Vẻ mặt các cô cũng khác nhau: hớn hở, nhí nhảnh, thờ ơ, lầm lì. Thước hắng giọng ra vẻ: - Các cô có thấy “bu em” ở đây không? Rõ ràng là cậu ta không có kinh nghiệm giao thiệp với cánh “ bà cô” này! Quả nhiên, đó đây đã rộn lên những tiếp đối đáp: - Có đấy! Có đấy! - Anh bộ đội ơi! Đến đây! Chị ấy ở đây này! - Em đây! Bố nó ơi! Một cô vóc dáng cao lớn, có cặp mắt vừa táo tợn vừa dịu dàng lên tiếng xong liền cúi xuống xúc một xẻng đầy đất, từ từ tiếng đến bên chiếc xe. Anh lái xe vốn là tay từng trải, nhác trông thấy đã hoảng hồn, chân nhấn ga, miệng kêu: - Chạy mau! Chết với chúng nó bây giờ! Quả nhiên, chưa lăn bánh được quá hai bước chân, một xẻng đất đã hắt ào vào trong x echo anh chàng Thước lãnh đủ. Các cô cười ré lên giữ những tràng vỗ tay và tiếng hò la hưởng ứng của những chàng bộ đội đứng ngồi ngổn ngang đây đó. Mặc dù cũng bị một nắm đất hắt vào người tư lệnh cũng mỉm cười như bị hút vào cái trò đùa nghịch đó. Những tiến gnosi cười đầy sức thanh xuân khiến ông vui lây. Chúng nó cũng bằng tuổi mấy đưa con mình. Ý nghĩ liên tưởng bỗnglàm ông đau nhói. Ông lại nhớ đến những dòng chữ run rẩy trong thư của vợ. Vẻ mặt ông phúc chốc trở nên rầu rĩ. Khi chiếc xe đã vượt qua sông Gianh, tiếp tục bon trên mặt đường với tốc độ đều, tư lệnh nhắm mắt, ngả lưng về phía sau, im lìm giây lâu, tưởng như ông tranh thủ giờ phút hiêm hoi này để ngủ bù cho những ngày mệt nhọc vừa qua. Nhưng không. Trong lòng ông, lại day dứt môt nỗi đau âm ỉ. Ngọc, con có giận ba không? Có phải tại ba không đồng tình với mẹ con mà con phải hy sinh không? Nhưng ba có thể làm gì khác được? Ba chịu trách nhiệm trước bao nhiều sinh mạng con người. Họ đều ở lứa tuổi của con. Ba biết ơn con khi con nói con đi bộ đội chiến đầu còn là vì ba. Ừ! Người ta sẽ hỏi: anh hô hào con em người ta xông vào chỗ gian nguy, còn con anh, anh để đâu? Nếu anh giấu con anh ở những nơi an toàn, sung sướng thì rốt cuộc anh chỉ là kẻ đạo đức giả. Bao nhiêu bạn bè của con, đồng đội của con đang đứng trước mặt ba đây trên cung đường đầy bom đạn chết chóc này. Ngày mai họ có thể ngã xuống. Và từ nay cho đến ngày đất nước toàn thắng, sẽ còn phải có bao nhiêu người nữa ngã xuống… Tổ quốc trông cậy vào lớp người có sức đào sông lấp biển như các con. Không thể nào khác được. Nhưng lại chính là con đã ngã xuống. Con của cả ba mẹ. Con của mẹ. Con riêng của mẹ con. Ôi, giá như… Bánh xe đang lăn qua một “ổ gà” khiến chiếc xe chồm lên. Tư lệnh bừng tỉnh dậy. Ông chớp cặp mặt mệt mỏi, có quần thâm, khẽ nói: - Trưa nay, về qua phà Bến Thủy, mình muốn dừng lại một ít thời gian Quang ạ! Xuân Quang hiểu ý của tư lệnh. Anh gật đầu nhìn ông với ánh mắt thương cảm. Cặp mi dài của ông khẽ động đậy trên quầng thâm màu gan gà, làm hằn rõ những vết nhăn li ti bên kẽ mắt. Phút chốc, anh có cảm giác tư lệnh đã già đi đến mấy tuổi. Để tưởng nhớ liệt sỹ Nguyễn Chí Điềm Tiêu đề: Re: Cành thanh mai đã ra hoa (truyện ký - Hà Dũng) Gửi bởi: nttran1979 trong 26 Tháng Chín, 2010, 08:28:55 pm TRƯỚC CỬA MỞ (Truyện ngắn - Nguyễn Bảo)
Tôi đã thức từ lâu nhưng vẫn cuộn tròn trong chăn. Rét. Sương muối dày đặc dâng ngập bên ngoài cửa kính. Gió mùa đông bắc réo u u như giận dỗi ai. Những cánh cửa rung lên lạch xạch. Tuồng như có ai gõ cửa? Hay chỉ là gió trêu đùa? Tôi nằm yên nghe ngóng. Cũng dễ đến mười lăm phút sau tôi mới nghe những tiếng gõ cửa dứt dạt, mạnh bạo của cửa. Ai thế? Tôi rời khỏi giường. Cửa vừa hé, Thủ chợt hiện ra. - Đứng đợi một lát mới dám phiền anh. Hôm nay rét dữ anh hỉ - Thủ nói và cười gượng như người có lỗi. - Cậu cũng khách khí quá đấy. Có gì mà phiền, sao lại phải đợi. Vào đi – Tôi trách Thủ. Không kịp cởi chiếc áo bạt ướt đẫm sương đêm, không kịp cả ngồi xuống ghế, Thủ gấp gấp hỏi tôi có biết tin gì về Thông không? Thông là thủ trưởng cũ của Thủ. Tôi có quen Thông hồi chiến tranh chống Mỹ. Sau giải phóng miền nam, Thông được điều ra công tác ở một cơ quan Bộ. Là trưởng phòng gì đó. Thực lòng tôi cũng không quan tâm lắm đến Thông. Tôi trả lời: - Không. Có chuyện gì vậy? - Chết chửa. Tôi vừa nhận được thư của anh Thông, anh ấy đang có chuyện lôi thôi. Cấp trên định chuyển anh xuống dưới đơn vị. Anh không muốn thế nên định xin về hưu. Chả là kho cô quản lý bếp ăn trong cơ quan bị mất mấy chục cân gạo. Chưa rõ nguyên do, nhưng anh Thông nghi cô ta lấy. Chắc là anh Thông có tra hỏi đe nẹt gì. Bức bối cố ta nghĩ quẩn nhảy ào xuống sông tự vẫn. - Chết không? - Cũng suýt, may có người trông thấy với lên kịp. Tưởng thế nào. Chuyện đó cũng không hiếm lắm đâu, không tới mức Thủ phải cuống lên thế. - Không, cũng phải khẩn trương anh ạ… Thủ nói một thôi một hồi nữa và rủ tôi đến thăm Thông ngay. - Mình đi pha trà cho Thủ uống đây. Thủ có muốn đi thì cứ đi, mình hôm nay bận…- Tôi nói với Thủ. Thủ có vẻ sửng sốt trước thái độ của tôi. Tôi hỏi Thủ: - Quả thật Thủ tất tưởi từ biên giới về đây chỉ vì chuyện đó thôi à? - Vâng. Tôi biết tin cả tuần nay rồi. Suốt ruột quá. Dưới đơn vị anh còn lạ gì. Trăm thứ việc, thu xếp mãi mới tranh thủ được ít ngày. - Thủ cũng lắm công đấy nhỉ? – Tôi không giấu được chút ít mỉa mai. Hình như không đoán được tâm trạng của tôi, Thủ trả lời thành thật: - Tàu xe vất vả quá, đáng lẽ đến Hà Nội từ hồm qua, không dè vẫn phải đi suốt đêm. Tôi chỉ sợ đến muộn, anh Thông đã có một quyết định gì đó sau này ân hận. Kể cũng tội, vào Nam ra Bắc đủ cả. Trong quân ngũ từng ấy năm giờ mới về gần vợ, gần con. Chưa được bao lâu, cấp trên lại điều đi đơn vị ai mà không suy tính. Nhưng tính gì thì tính về hưu thì không nên. Về hưu sớm mà làm gì? Lúc này là lúc anh em mình phải xúm vào giúp anh ấy. Nghe Thủ nói tôi bực thực sự: - Gớm, chắc gì ông Thông đã cần đến sự giúp đỡ của Thủ. Mà có cần cũng phải tính toán xem thế nào. Cái việc anh ta vấp váp cũng phải trả giá chứ. Ngày xưa anh ta đã không chịu lãnh lấy bài học cho mình thì hôm nay phải lãnh đủ. Đời là thế. - Anh vẫn còn giận anh ấy? – Thủ hỏi và đưa mắt nhìn tôi dò xét. *** Chuyện xảy ra đã hơn mười năm. Hồi đó tôi được cơ quan cử đến tiểu đoàn đặc công 910 công tác. Người đầu tiên tôi gặp là Thông. Thông là chính trị viên tiểu đoàn. Tôi chỉ ở tiểu đoàn bộ vài ngày rồi xuống đại đội ngay. Tôi “cắm” ở đại đội chủ công của tiểu đoàn khá lâu. Ở đây người tôi thân nhất là đại đội phó Thủ. Thủ cùng quê với tôi, tuổi tôi và Thủ sàn sàn như nhau. Nhưng chúng tôi thân nhau ở một lẽ khác: Từ ngày tiểu đoàn có phương án đánh đồn Bình Long, Thủ thuộc mẫu người buộc tôi phải chú ý. Thủ đi chuẩn bị chiến trường liên tục. Lần nào Thủ cũng kéo tôi cùng đi. Nhờ Thủ tôi mới có thời cơ xuống vùng giáp gianh, xuống đồng bằng – nơi những cuộc giao tranh giữa ta và địch xảy ra quyết liệt. Nhờ Thủ tôi được biết thêm nhiều chi tiết cụ thể của đồn Bình Long. Theo phương án tác chiến, Thủ sẽ chỉ huy mũi tiến công chủ yếu của trận đánh. Không hiểu sao trước ngày làm công tác tổ chức chiến đấu, tiểu đoàn quyết định một cán bộ khác thay vị trí của Thủ. Thủ chỉ đi theo tiểu đoàn làm đội quân dự bị. Được tin này mặt Thủ đỏ căng. Thủ gầm lên nguyền rủa Thông. Theo Thủ, quyết định này không của ai khác ngoài Thông. Lần đầu tiên tôi thấy Thủ khóc. Thủ xấn xổ định lên gặp Thông. Tôi phải ngăn Thủ lại. Tôi khuyên Thủ yên tâm, tôi sẽ lên hỏi cho ra đầu đuôi và xin cho Thủ được dự trận đánh. - Kỷ luật cao nhất đối với cậu ta là không cho dự trận đánh này – Thông trả lời điểm nhiên và kết thúc buổi nói chuyện. Ở chỗ Thông ra, tôi buồn rượi. Tôi đã bất lực trong việc giúp Thủ trở lại vị trí chiến đấu. Tôi không đồng ý với cách lập luận thiếu lô gisch, thiếu tấm lòng của Thông nhưng tôi cũng không đủ bằng chứng để bênh vực cho Thủ. Tôi chỉ là một người khách của tiểu đoàn, còn Thông là thủ trưởng trực tiếp của Thủ. Thủ ơi! Khi cấp trên chưa thật sự tin mình thì dành phải chờ thời gian, chờ thực tế trả lời. Có gì đâu mà Thủ quằn quại đau đớn dữ vậy? Việc Thủ không tham gia tác chiến gây cho tôi nhiều lúng túng. Mấy ngày trước thấy tôi băn khoăn về cách đi đứng, Thủ bảo tôi cứ theo anh. Anh sẽ bố trí đi với đội hình đại đội. Khi bộ đội thọc sâu anh sẽ chỉ cho tôi chỗ đứng, đánh xong anh dón vào điểm quan sát. Tôi chấp nhận ý kiến của Thủ, dù biết đi như thế thật nguy hiểm. Tôi không thể cởi trần bôi lọ nghẹ đi với tổ cắt rào và tổ thọc sâu. Cho là tôi có bốc máu anh hùng lên cũng không ai để tôi làm như vậy. Đi với ban chỉ huy tiểu đoàn là hợp hơn cả, vừa theo dõi được các mũi các hướng, theo dõi được công tác chỉ huy vừa an toàn hơn. Nhưng ngay từ hậu cứ, chính trị viên Thông đã ngăn trở tôi. Anh khuyên tôi không đi theo tiểu đoàn, vất vả và nguy hiểm. Năn nỉ mãi anh mới đồng ý cho tôi đi với đội phẫu tiểu đoàn. “ Ở với đội phẫu thà ở hậu cứ còn hơn”. Thủ nói với tôi thế. Tôi không thuộc nhưng người coi thường cái chết nhưng cũng là người biết tự trọng. Nhiều người lính trong tiểu đoàn sốt rét tím môi, chân đi không vững vẫn nằng nặc đòi đi chiến đấu bằng được. Tôi sẽ ngượng, sẽ xấu hổi biết bao khi lủi thủi với một đôi người ốm liệt giường nằm ở hậu cứ, hoặc chui vào hầm phẫu thuật để chỉ chứng kiến những vết thương của đồng đội, những tiếng rên la và những cặp mắt nhìn tôi lạ lẫm. Tôi hiểu rằng Thông muốn tránh cho tôi nỗi vất vả và nguy hiểm. Khi người ta đã không muốn mà mình cứ cù lần bám theo cũng là người không biết tự trọng. Nghĩ như thế tôi càng quyết tâm đi với Thủ. Thủ rất khoái có tôi đi theo. Chẳng phải anh ít quan tâm đến sức khỏe, tính mạng của tôi nhưng trong anh có một niềm tin thật lạ lung. “Chẳng có gì đâu. Họ dọa anh thế thôi. Bọn tôi lúc vào tận lô cốt cũng chẳng sao. Trận đánh này ngon lành lắm. Đi với lính vui mà nhiều chuyện hay lắm anh ạ”. Thủ đã gãi đúng chỗ ngứa của tôi, muốn tạo cho tôi điều kiện gần chiến sỹ, gần cuộc chiến đấu nóng bỏng của họ. Là một người viết ai không muốn có những thực tế ấy. Vấn đề là anh có dám vào cuộc hay không? Thủ và những người lính trong đạo đội anh đã gây cho tôi niềm mê say và lòng dũng cảm. Tôi hoàn toàn yên tâm, vui là khác khi được đi chiến đấu với Thủ. Tiếc thay… Tôi buộc lòng phải chọn cho mình một phươn án mới. Tôi sẽ đi với ban chỉ huy tiểu đoàn, tự đào lấy hầm và tránh sao đừng để thông biết việc này. *** Trước hôm hành quân đánh Bình Long, Thủ rủ tôi xuống chân ranh cách chỗ đóng quân của tiểu đoàn một buổi đường. Anh nói là có việc không thể dừng, muốn tôi đi cùng cho vu. Tôi không từ chối. Thủ đang có tâm trạng buồn. Đến gần một ngôi mộ dưới chân một dãy núi, Thủ dừng lại. Anh cởi gùi ra lấy một nắm hương. Tới lúc châm hương anh mới nói với tôi: Đây là mộ anh Khang, tiểu đoàn trưởng cũ, người cùng quê với Thủ, người Thủ đã bắn nhầm ở đồn Bình Long năm sáu tám. Che chắn mãi tôi với Thủ mới bật được lửa. Gió. Cái gió vùng giáp ranh sao cho lộng, mà phóng đãng mãnh liệt. Hương bắt gió cháy ào ào, khói thơm ngào ngạt dâng lên bay tỏa một vùng: - Anh Khang… anh Khang ơi! Giọng Thủ se nhỏ nhưng rất rõ. Thủ ngồi xuống xòe tay ôm lấy ngôi mộ: - Bốn năm rồi, anh Khang ơi! Ngay mai tiểu đoàn lại đánh đồn Bình Long. Em đã chờ đợi, đã chuẩn bị bao lâu nay để đánh trận này, trả thù cho anh. Vậy mà… - Thủ bỗng nấc lên – Đành rằng em có khuyết tật này nọ. Thì cứ phê bình em đi, việc gì cấm em không được dự trận. Em có lỗi với anh. Anh giận em lắm phải không anh Khanh? Khôn thiêng anh phù hộ cho tiểu đoàn đánh Bình Long trót lọt. Khôn thiêng anh chỉ đường dẫn lối cho em vào đồn. Em sẽ vào đồn, nhất định thế rồi anh Khang ơi! Em hứa chỉ mắc khuyết điểm một lần này nữa thôi… Thủ nói chuyện với người dưới mồ như nói chuyện với một người đang sống. Hình như trước mỗi trận đánh Thủ vẫn hay tới đây rủ rỉ với Khang nỗi niềm của mình. Trên đường về chúng tôi đi cắm cúi, yên lặng. Tôi không muốn hỏi Thủ một điều gì, sợ đụng đến vết thương lòng của Thủ. Nhưng rồi Thủ vẫn kể: - Anh Khang là người tốt lắm. Đầu năm sáu tám, một tiểu đoàn đặc công được thành lập từ hậu phương đi thẳng vào chiến trường Quảng Đà. Tiểu đoàn này toàn là cán bộ chiến sỹ Thanh Hóa. Anh Khang là tiểu đoàn trưởng. Trận đầu tiên tiểu đoàn tham gia tác chiến là trận đánh đồn Bình Long. Một tiểu đoàn Mỹ đóng ở đồn này. Đêm ấy, bọn tôi đang cắt rào bỗng gặp lính Mỹ đi tuần. Chúng giẫm lên cả người chúng tôi. Không còn giữ được bí mật, chúng tôi vùng dậy choảng nhau với chúng. Bọn lính trong đồn báo động. Tiểu đoàn trưởng Khang ra lệnh cường tập đánh vào đồn. Một cuộc đọ súng quyết liệt xảy ra. Bộ đội ào ào xông vào chiếm gần hết các lô cốt. Còn một góc đồn – chỗ có dựng một chòi cu rất cao, bọn Mỹ trụ lại phản kích. Bộ đội xoay xở đủ cách vẫn không lên được. Nghề đặc công đã phải cường tập là bất lợi lắm rồi. Nếu không dứt điểm được sẽ gay go vô cùng. Tiểu đoàn trưởng lệnh phải diệt cho được chiếc chòi cu, phải diệt toàn bộ bọn địch ở nơi cố thủ trước khi trời sáng. Tôi bị thương ngay từ lúc đánh nhau với mấy thằng Mỹ trong hàng rào cũi lợn. Cả hai chân đều trúng đạn không đi được. Ở đằng sau có người đón, băng bó vết thương. Nhiều người bị thương đã bò ra. Tôi nghĩ: sống cùng sống, chết cùng chết với anh em. Tôi lết về trước, mãi rồi cũng qua hết mấy lớp rào. Trước mặt tôi đạn vẫn bắn ra như mưa. Bộ đội đã xáp hết lên phía trước. Tôi nhìn sự phản kích điên loạn của tụi Mỹ mà lòng căm thù sôi lên sùng sục. Cùng lúc đó tôi nghe nhưng tiến nổ dữ dội của đạn B40 bắn vào chòi cu. Chòi cu đổ rầm rầm, khói bốc mờ mịt. Thủ phải của bộ đội ta nổ dồn dập. Trời đã rạng sáng, thấp thoán trong đường hào ngoằn nghèo phía trước, tôi thấy có bóng người. Cái giống Mỹ cao lớn lắm, đi khom nhưng vẫn nhô cả lưng lên. Đúng là một toán Mỹ cố thủ không nổi đang tìm đường chuồn ra đây. Nòng khẩu AK của tôi rê theo cái lưng gù. Khi nó chỉ cách chừng năm mét đội nhiên người nó rướn lên. Tôi nhằm vào ngực vào bụng nó kéo một loại AK. Im lặng chừng một giây, có một cành cây ngụy trang nhô lên vẫy đi vẫy lại ba lần. Trời ơi! Đấy là tín hiệu của quân mình. Tim tôi như muốn ngừng đập. Tôi đã bắn ai thế? Tôi không còn nghĩ ngợi được gì nữa vội lết đến chỗ có tín hiệu. Mọi người đang xúm lại khiêng người bị thương. Mắt tôi vãi hoa cà hoa cải. Chao! Người tôi vừa bắt một loại AK chính là tiểu đoàn trưởng Khang. Thế này thì còn sống làm gì nữa, mà sống làm sao được! Tôi nhặc ngay lấy khẩu súng ngắn của anh Khang rớt dưới đất. Khẩu súng đã lên đạn. Tôi giơ súng vào đầu bóp cò. Viên đạn nỏ vang, khẩu súng văng ra. Sau này tôi mới biết chính anh Khang đã đạp mạnh và tay tôi để viên đạn bay lên trời. Không biết vì vết thương hay vì quá hoảng sợ, tôi ngất đi. Khi tỉnh dậy tôi đã được nằm ở một bệnh viện dã chiến của mặt trận. Sát bên cạnh tôi là anh Khang. (còn tiếp) Tiêu đề: Re: Cành thanh mai đã ra hoa (truyện ký - Hà Dũng) Gửi bởi: nttran1979 trong 27 Tháng Chín, 2010, 09:17:46 pm - Thủ, em tỉnh rồi đấy à – Giọng anh Khang đứt quãng lào thào, rất khó nghe:
Người anh quấn đầy bông băng, bất động. Đôi mắt anh lờ đờ, nhịp thở không đều. - Chắc anh không sống được đâu. Nhưng lỗi không phải do em. Về nguyên tắc, lúc dó anh không được vào điểm. Anh sợ bộ đội không bám đánh đến cùng. Anh sợ có những tình huống phức tạp không ai chỉ huy. Thế là anh nhảy vào. Anh lại to cao nên em mới nhầm. Thế là không có lỗi. Anh không muốn có một người cùng quê hèn như thế. Hành động ấy chẳng qua chỉ trốn traasnh trách nhiệm. Em phải sống, phải làm việc gấp đôi để gánh phần việc của anh…Em phải cố giết thật nhiều địch trả thù cho anh.. Còn về quê em đến… Thú thật tôi không đủ can đảm nhìn vào anh, vào mắt anh. Tôi gục đầu xuống bên anh lắng nghe. Những lời của anh lúc đó không mạch lạc, tôi phải chắp vá lại mới hiểu hết ý anh. Thấy anh dừng đột ngột giữa câu, tôi người lên. Anh không còn nữa. Những lời trên cũng là những lời trăn trối cuối cùng… Thủ dừng lại rất lâu. Anh đang ngẫm nghĩ gì thế? Tôi không dám hỏi. Một lúc sau giọng anh như đổi khác, đầy trách móc: - Bốn năm nay tôi chờ đánh trận Bình Long. Sáu tháng liền tôi đi chuẩn bị cho trận đánh này, vậy mà người ta nỡ đẩy tôi ra khỏi vòng. Nhưng chẳng sao, tôi đã có cách. Anh có chiếc đèn pin phải không? Anh cho tôi mượn nhé! - Để làm gì? – Tôi hỏi. - Anh cứ cho tôi mượn, đánh xong anh sẽ biết. Mặc dù bận túi bụi ở sở chỉ huy, khi đã hòm hòm công việc, Thông vẫn không quên nhòm ngó người này người kia và hỏi xem tôi có đi theo tiểu đoàn bộ không? Nghe có ai đó nói rằng tôi đã đi với đội phẫu tiểu đoàn. “Tốt, chỉ sợ anh ta quấn chân mình, phiền toái, có chuyện gì lại mang vạ”. Nghe câu nói này của Thông, tim tôi bỗng nhói lên. Khi khuyên tôi không nên đi với chỉ huy tiểu đoàn, Thông giải thích rằng đi như thế vất vả, nguy hiểm. Chứ thực lòng nếu có thể đi được thì rất tốt, chẳng những tốt cho công việc của tôi mà còn tốt cho ban chỉ huy vì tôi có thể cổ vũ động viên, góp ý cho ban chỉ huy việc này, việc kia. Dù tôi muốn nói thế nào anh cũng một mực không cho tôi có mặt ở ban chỉ huy lúc tác chiến. Anh nói chẳng phải anh mà cả cấp trên, cả tiểu đoàn phải có nhiệm vụ tôi… Nhớ lại những lời vui vẻ mà cảm động của anh và nghe anh bộc bạch những lời vừa rồi toi bỗng gai gai rờn rợn… Éo le thay cái miệng lưỡi con người. Hầm chỉ huy được bộ đội chuẩn bị trước. Nó được đào sâu xuống bên một bụi tre ngà trên bờ sông. Dưới bờ sông, các bộ phận đi theo: trinh sát, liên lạc, thông tin, tác chiến, chính trị thi nhau đào hầm ếch vào bờ. Trời tối, dòng nước sông trước mặt cũng chỉ là một khối thẫm, kín đặc. Đụng mặt vào nhau vẫn không nhận ra người nào với người nào. Không được nói chuyện nên không biết ai là ai. Tôi nghiễm nhiên là người của ban chỉ huy. Chiếc hầm ếch của tôi nằm phía sau bụi tre. Tôi lấy làm thỏa nguyện vì vừa nghe được những mệnh lệnh của chỉ huy, vừa nghe được tin tức từ các mũi các hướng báo về qua bộ phận thông tin kề bên. Đào xong hầm, tôi chui tọt vào trong ngồi, yên trí không ai phát hiện ra mình. Tôi biết chỉ có thủ nghi tôi ở đây. Hồi chiều đang hành quân, Thủ hỏi tôi lúc tác chiến đi với bộ phận nào? Tôi trả lời sẽ quyết định khi tới vị trí tập kết. Còn với Thông và một số người khác thì tôi nói là đi với đội phẫu tiểu đoàn. Xung quanh đồn Bình Long giờ này có hàng trăm con người đang lặng lẽ chiếm lĩnh vị trí chiến đấu. Vậy mà sao trong đồn yên lặng đến rợn người. Không thấy pháo sáng, cũng không nghe loạt đạn nào trong đồn bắn ra. Ở sở chỉ huy, ngoài tiếng lào thào rất nhỏ của tiểu đoàn trưởng Mai trong máy bộ đàm không còn tiến gì khác. Ba mươi phút trôi qua, người đầu tiên nói lớn, đi lại mạnh bạo là Thủ. Anh hỏi ai đó hầm chỉ huy ở đâu? Người này suỵt miệng bảo Thủ nói nhỏ. Thủ lại nói to hơn: “Ối dào, từ đây đến đồn còn xa lắc, yên trí đi”. Khi đến chỗ bụi tre anh báo cho Mai biết các mũi các hướng đã vào hết vị trí tập kết. Mũi trưởng đang vào kiểm tra lần cuối để cắt rào. “Tốt lắm, cậu có thể kiếm cái hầm đâu đó, có việc gì bọn mình gọi nghe!”. Thủ cười mỉa: “Ở đây cần gì phải hầm hào, thủ trưởng”. Thủ chê ban chỉ huy chọn chỗ quá xa điểm chẳng? Tôi nghĩ và cười thầm “Anh chàng mồm miệng chẳng giữ, mang vạ vào thân”. Tôi nghe Thủ hỏi Thông có thấy tôi ở đâu không? “Ở đội phẫu”- Thông trả lời. “Không thấy, tôi vừa ở đó ra đây”. “Thật sao, hay tụt về hậu cứ rồi?”- Giọng Thông vút lên ngạc nhiên rồi trầm xuống- “Mấy ông nhà báo hung hằng thế chứ nhát bỏ cha”. Tiếng Thủ - “Nhát gì. Anh ấy xin đi với tiểu đoàn bao nhiêu lần các anh không cho”. “Xin là xin vậy thôi, bố bảo cũng chẳng dám đi đâu”. Tôi bỗng sửng sốt. Sao Thông lại nghĩ về tôi như thế. Mới lúc chiều anh ta nói với tôi đã hỏi tỉnh đội. Họ có điện xuống đề nghị tôi phải ở lại hậu cứ. Anh phải chiếu cố lắm mới để tôi hành quân. Sao bây giờ lại có chuyện trớ trêu vậy? Tôi nghe Thủ sục sạo hầm này hầm kia một chặp rồi đi đâu đó. Một lúc khá lâu Thông đi đến hầm trinh sát hỏi xem có thấy tôi ở đâu không? Một đồng chí trinh sách trách Thông sao không cho tôi đi với tiểu đoàn bộ cho vui. Thông cười mỉa mai “Vui cái nỗi gì; nhỡ anh ta làm lộ ra pháo nó giáng cho cha con vắt chân lên cô. Mà mình có chết không sao, anh ta mà sượt tí da cấp trên tha hồ riềng mình”. Tôi rợn cả người. Tôi vẫn ngờ ngợ đó mới là ý nghĩ thực của Thông nhưng sao Thông lại có thể thay đổi giọng lưỡi lạ lung thế. Vừa mới đây nói với Thủ là vậy mà giờ đã ngoắt sang thế này. Tôi đang nghĩ như vậy thì bỗng thấy người bật lên trong hầm. Một tiếng nổ dữ dội làm tôi ù đặc cả tai, đất cát rơi rào rào. Kế đó mặt đất, mặt sông bừng sáng. Đạn lớn đạn nhỏ thi nhau nổi loạn xạ. Rồi nữa, tiếng la ó, tiếng chửi nháo nhác từ đồng Bình Long vọng ra. Chả lẽ đến giờ nổ súng. Không thể, theo hiệp đồng là 12 giờ đêm kia mà. (còn tiếp) Tiêu đề: Re: Cành thanh mai đã ra hoa (truyện ký - Hà Dũng) Gửi bởi: nttran1979 trong 29 Tháng Chín, 2010, 10:22:13 pm Mai hét lên trong máy bộ đàm: “Vấp mìn à? Ba à, những ai?” Mai gọi Thông mấy lần. Không biết Thông có nghe thấy không nhưng không trả lời. Đạn thẳng bay ra chỗ chúng tôi veo véo. Bọn lính trong đồn hình như đang ùa ra. Mãi một lúc sau Thông mới chui ra khỏi hầm của tổ trinh sát đi lên hầm chỉ huy. Giọng Mai cáu gắt “Anh đi đâu vậy? Gọi hết hơi”. “Tôi đang định đến chỗ phẫu, nghe tiếng nổ vội quay lại. Sao vậy, lộ à hay vấp mìn?”. “C5 Ước, Nông, Phán hy sinh rồi, lớ ngớ thế nào vấp mìn. Tôi đã bảo anh C5 là phải để thẳng Thủ chỉ huy. Anh cứ thành kiến với nó mãi giờ hỏng bét rồi. Làm sao đây?”. “ Anh Mai, giờ mà tranh công đổ lỗi cho nhau ích gì. Vẫn đề là lo việc chung. Hay cho bộ đội tạm rút ra?”. “Rút là rút thế nào? Không rút gì hết. Thông tin đâu, báo cho các mũi các hướng ở chỗ nào nằm nguyên chỗ đó, ngụy trang cho tốt, bất di bất dịch khi chưa có lệnh tiểu đoàn. Thủ đâu rồi anh Thông? Giờ anh lo tìm Thủ, động viên thế nào để cậu ta trở lại C5. Khẩn trương lên không hỏng hết việc”. - Tôi sợ không ổn. Bọn địch làm dữ vậy chắc là nhặt được xác bộ đội ta. Đằng nào nó cũng biết đêm nay mình đánh. Nó cứ làm căng suốt đêm thế này mình làm gì được. Còn cái tay Thủ, có trời mới biết lúc này rúc ở đâu. - Ơ hay, vậy bỏ cuộc chăng? Nhặc xác hay không kệ chúng nó. Mình cứ bí mật thật tốt, cứ bám đến cùng sẽ có thời cơ. Anh không đi tìm Thủ thì cầm lấy máy, để tôi tìm cho… Bầu trời vẫn sáng rực hỏa châu. Tiếng súng cùng tiếng la hét của địch ngày một dữ dằn hơn. Các trận địa pháo đâu đó bắt đầu chỉnh đạn quanh đồn Bình Long. Đạn nổi ở bờ sông, ở giữa sông, ở cạnh hầm chỉ huy tiểu đoàn và cả ở đâu đó rất xa. Thông đã chui vào hầm chỉ huy, cầm máy gọi về các đại đội. Các mũi các hướng vẫn báo về giữ nguyên vị trí. Riêng C3 không bắt được liên lạc. Tiểu đoàn trưởng Mai bước ra khỏi hầm chửi đổng: “Mẹ kiếp, cha con thằng C3 bỏ chạy rồi chăng? Thế mà ông Thông cứ khăng khăng tay Thành “vững”. Vững quái gì mới thế đã dẫn bộ đội chạy”. Thông không nói gì. Mai ra khỏi hầm. Đến bờ sông anh gọi trinh sát đi theo anh. Đi được một đoạn anh bỗng nói như reo: - Thủ hả? Cậu biến đi đâu thế? Bớt bớt cái thói tự do ấy đi nhá! - Ấy, thủ trưởng nói gì vậy? Vừa nãy em không chạy đến chỗ C3 thì tay Thành dẫn bộ đội nhót về rồi. Hắn vin vào chuyện bị lộ và định vù. - Nhưng sao cậu lại biết nó định vù? - Em còn lạ gì, hồi trước nó ở C5- thằng Thành ấy – mấy lần đánh nhau toàn luần quần ở cửa mở băng bó thương binh. Nhát như thỏ, chỉ được cái mồm miệng dẻo như kẹo, nói không ai bằng. Ấy thế nên mới được chính trị viên Thông đưa lên mây. - Nhưng bây giờ sao rồi? – Tiếng Mai gấp gáp có vẻ sốt ruột. - Em đang chạy đến chỗ C3 bỗng nghe bộ đội nháo nhác ở ngã ba Khe. Em đến thì ra lính C3. Em bắt quay lại hết. Dọa anh nào chống lệnh bắn bỏ. Thằng Thành hạch sách em. Em bảo đó là lệnh tiểu đoàn. Lệnh anh Thông. Nghe thế hắn cuống lên, trở lại rồi. Thủ trưởng cho bắt liên lạc đi. Mai và Thủ cùng mấy anh trinh sát quay trở lại hầm chỉ huy. Thông mừng rỡ: - Thủ đấy phải không? - Vâng, có thân tôi đây thủ trưởng. - Cậu lại đây, trời, may quá, đang cho đi tìm cậu. Thế này nhé, chỗ C5 Ước cùng hai b trưởng vấp mìn, hy sinh rồi. C5 có hoàn thành nhiệm vụ được không là do cậu. Cậu về ngay đó, xốc lại đội hình, động viên bộ đội cứ bám vị trí chờ thời cơ – Giọng Thông thiết tha. - Không! Tôi không đi. Tôi có phải cái giẻ rách, khi cần thủ trưởng dùng, không cần thủ trưởng ném. Mấy bữa trước thủ trưởng sợ tôi đi với C5 trận đánh không bảo đảm. Giờ thủ trưởng lại bảo C5 có hoàn thành được nhiệm vụ hay không là do tôi. Tôi không thích đi tàu bay giấy thủ trưởng ạ! - Thủ - Giọng Mai rành rọt – Chuyện cá nhân không được bàn lúc này – Cậu phải về C5 như anh Thông nói. Cậu sẽ chỉ huy C5, chịu trách nhiệm về hướng chủ yếu đó. - Thủ trưởng không ra lệnh em cũng về. Em chỉ chọc thủ trưởng Thông chơi. Tình hình này cứ kiên trì chờ đợi sẽ có thời cơ vào đấy thủ trưởng ạ. - Tớ cũng nghĩ thế. Cậu đi nhanh lên. Lính C5 tốt lắm, mất chỉ huy mà không một ai bỏ đội hình. - Thủ trưởng khen lính C5 có mà khen suốt ngày. Thông im tiếng từ nãy đến giờ lúc này mới lên tiếng: - Nào bắt tay, hoàn thành nhiệm vụ nhé! Mình vẫn đánh giá cậu là người tốt. Giữ cậu lại chẳng qua chỉ vì nghĩ đến tương lai lâu dài của cậu, của tiểu đoàn. Cực chẳng đã mới phải tung át chủ bài ra lúc này. Không biết Thủ có bắt tay Thông không, giọng anh mai mỉa: - Tôi đã nói với thủ trưởng, tôi không thích đi tàu bay giấy. Bốn giờ sáng, đồn Bình Long mới trở lại trạng thái ban đầu. Bọn địch chắc đinh ninh số bộ đội ta vấp mìn chỉ là số đi chuẩn bị nên thôi không bắn nữa. Tiếng hò la bên trong cũng lặng dần. Chỉ có bầu trời Bình Long vẫn thỉnh thoảng rực lên trong ánh đèn pháo sáng. Mai lệnh cho các mũi các hướng vào cắt rào. Từ khi cắt rào đến khi đánh chiếm đầu cầu, thọc sâu và trung tâm không có gì trắc trở. Khi B40, B41 nổ, thủ pháo nổ, từ các chỗ nấp ở bờ sông chúng tôi túa ra, tìm chỗ cao nhìn vào đồng. Mai cùng số dự bị tiểu đoàn chạy hết vào điểm. Không hiểu sao lúc đó tôi cũng hăng thế, khỏe thế. Tôi nhảy vào chỗ cửa mở cõng một thương binh và cũng khoác một khẩu AR15 chạy ra. Tôi cố ý tìm Thủ nhưng không thấy. Bọn địch phản pháo rất nhanh. Trận đánh vừa dứt điểm, pháo Hòn Bằng đã giội vào Bình Long tới tấp. Mai trực tiếp chỉ huy bộ đội giải quyết nhanh gọn chiến trường và rút ra. Bộ đội bị thương vì đạn pháo khá nhiều. Nhiều cán bộ chiến sỹ hỏi tôi có gặp Thông ở đâu không? Trong niềm vui, niềm hào hứng của trận đánh, quả thật tôi đã không còn chú ý đến Thông. Quanh anh là những chiến sỹ trẻ. Mặt họ hào hển, say mê. Họ đang kể về những tình huống xảy ra ở các mũi các hướng của họ. Tôi đến bên Thông hỏi thăm Thủ. Thông khoát tay. Cái khoát tay đó có nghĩa là Thủ không còn nữa. Tôi lặng người bàng hoàng. Chao ôi, vui đó rồi buồn đó, cái trò đánh nhau: - Trường hợp nào vậy anh? – Một ai đó hỏi thay tôi. - Chắc vấp mìn. Cậu này vốn tính ẩu, nóng nảy. Anh em chỉ gặp Thủ ở cửa mở, lúc tiến công không thấy nữa. - Không! Không phải thế đâu. Chắc là thế nào đó thôi. Anh đừng võ đoán lung tung. Tôi quả quyết nói rồi bỏ đi. Rải rác ở phía sau vẫn còn bộ đội, thương binh đi về. Tôi hy vọng và chờ đợi. Tôi không làm sao tin được Thủ đã hy sinh dễ dàng như vậy, mặc dù tôi hiểu rằng: trong chiến tranh không có cái chết dành riêng cho người anh hùng. (còn tiếp) Tiêu đề: Những người mặc áo cỏ Gửi bởi: nttran1979 trong 30 Tháng Chín, 2010, 11:26:43 pm (Mình quên nói từ đầu đây là các tập truyện ngắn trong quyển Những người mặc áo cỏ của nhiều tác giả, mình sẽ cố gắng đưa lên từ từ, lúc ban đầu quên ko để ý cái tiêu đề, đã tìm cách sửa tiêu đề nhưng ko được, có ai có thể giúp ko, cảm ơn)
Ngày hôm đó tôi tạm biệt đơn vị đặc công 901 về quân khu. Trên đường về tôi còn ghé tỉnh đội nắm tình hình chung của mặt trận. Tôi biết rằng có ở lại nữa cũng chỉ thêm buồn. Vắng Thủ, tôi vắng đi một niềm vui, một niềm hào hứng đã đành, Thủ đối với tôi còn là một kỷ niệm cháy bỏng. Tôi biết trong tiểu đoàn không mấy ai hiểu hết về Thủ. Thông càng không biết. Tôi đã nói thẳng với Thông như vậy lúc chia tay. Thông nói với tôi không muốn tranh luận điều đó làm gì vì Thủ đã hy sinh rồi. May thay kết cục câu chuyện, kết cục chuyến đi của tôi đã không dừng ở đó. Ngay chiều hôm sau tôi được gặp Thủ ở tỉnh đội. Cùng đi với Thủ là cậu liên lạc của đại đội. Cậu liên lạc dong theo một tên tù binh đã bị trói gô cả hai tay. Tôi và Thủ ôm chầm lấy nhau. Thủ thật đây mà tôi vẫn ngỡ như mơ. - Mình cứ tưởng Thủ hy sinh rồi chứ!- Tôi nói, nước mắt chực trào ra. - Chết thế nào được. Suốt thời gian đi chuẩn bị tôi đã hình dung ra trận đánh thế nào rồi. Cái khó nhất là diệt thằng tiểu đoàn trưởng liên đội bảo an này – Thủ chỉ vào mặt tên tù binh – Tôi theo dõi rất kỹ quy luật hoạt động của nó. Đụng việc gì nó chui hầm ngay. Tôi mượn cái đèn pin của anh là vậy. Tôi muốn không nhầm nó với thằng lính nào khác. Trước lúc nổ súng tôi đã nằm ngay gần miệng hầm ngầm. Có lệnh rút rồi tôi vẫn nằm lại. Anh có thấy tình huống pháo bắn rất dữ lúc rút không? Chính hắn gọi các trận địa pháo cứ bắn thẳng vào điểm. Nhưng hắn mới gọi được thằng Hòn Bằng đã phải bỏ máy nhắm tít lại. Nhờ cái đèn pin của anh đây. - Bậy quá, thế mà ông Thông… Tôi chưa nói hết câu Thủ đã cắt ngang: - Tôi biết hết rồi. Ông Thông thì nói làm gì. Tôi đến khốn khổ, khốn nạn với ông ta. Nhưng thôi, anh bỏ qua cho ông ấy. Hơn mười năm đã trôi qua. Chiến tranh, bom đạn, chết chóc… Có nhiều lý do để người ta bỏ qua khuyết điểm của nhau, để thương yêu nhau. Thực lòng tôi sẽ chẳng còn nhớ những chuyện trên nếu không gặp lại Thủ. Bây giờ Thủ là một trung đoàn trưởng trấn giữ một vùng biên giới của Tổ quốc. Thi thoảng tôi có gặp Thông, anh đã mang quân hàm đại tá. Nhưng chúng tôi chẳng bao giờ giáp mặt nhau. Cũng không phải ghét bỏ gì nhau nhưng tôi thấy ngượng. Ngượng cho anh và cả cho chính tôi nữa. Tôi có nên chiều Thủ đến thăm Thông không? Thủ vẫn năn nỉ tôi: - Những lúc này người ta rất cần đến người thân, bạn bè. Anh nên đi với tôi. Tôi có ông anh làm ở Bộ thủy lợi, thuộc loại có chức có quyền. Chưa bao giờ tôi nhờ vả ông ấy. Nhưng lần này sẽ nhờ ông giúp anh Thông làm một việc gì đó ở Bộ Thủy lợi. Anh Thông ra làm bên ngoài có khi hợp. Nếu có anh đi theo dễ thuyết phục anh ấy hơn. - Thú thật mình cũng không bận gì. Nhưng mình không muốn gặp ông ấy – Tôi nói với Thủ. Thủ đi rồi. Tôi đóng cửa, định làm việc. Nhưng lạ thay, công việc cũng không làm tôi hào hứng. Công việc cũng không giúp được tôi khuây khỏa. Tại sao tôi khó trở lại với Thông đến thế? Tôi thành kiến với Thông ư? Vậy ra tôi có gì khác Thông? Tôi bỗng thèm khát sự thanh thản của Thủ, thèm khát tấm lòng độ lượng, rộng mở của Thủ. Tôi quyết định dẹp công việc sang bên, mở cửa đi theo Thủ. Hà Nội 1-1986 Tiêu đề: Re: Cành thanh mai đã ra hoa (truyện ký - Hà Dũng) Gửi bởi: nttran1979 trong 01 Tháng Mười, 2010, 09:43:31 am BẾN HẸN (Truyện ngắn - Nguyễn Thị Hồng) Từ dưới bờ sông, Minh trườn nhẹ nhàng như một con thằn lắn tới sát chỗ Bốn lúc nào cô cũng không hay. Bốn ngồi bó gối, khẩu tiểu liên thu trước ngực, mặt thẫn thờ nhìn ra sông như đang mải suy nghĩ điều gì. Minh khẽ đằng hắng: - Muộn rồi, ta về thôi cô Bốn à! Bốn vẫn chăm chú nhìn ra khoảng sông đen ngòm trước mặt: - Ráng chờ thêm chút xíu nữa, anh Minh! Răng ảnh cũng về trong đêm nay. Ba đêm rồi … - Giọng cô du kích chợ se nhỏ lại – Chắc ảnh đói bụng. Có chút lương khô mà nói cách chi anh cũng không chịu mang theo. - Anh Mạc biết có người lo vầy là khỏi đói liền à!- Minh bắt chước giọng Quảng Đà trọ trẹ của cô du kích. Nhưng cô gái hình như không nhận ra giọng trêu chọc của Minh, vẫn tiếp tục theo đuổi luồng suy nghĩ của mình: - Ảnh lặn giỏi ghê ha, anh Minh? Nghe họ kể có lần ảnh đi đánh cầu Bà Rén bị lũ cuỗn ra tới cù lao Chàm mà vẫn bơi trở vô được bờ… - Vậy đã ăn nhằm gì! Ảnh vốn thợ lặn nòi mà. Lính đặc công nước bọ tôi bơi năm, mười ki-lô-mét trên biển là chuyện thường… - Vậy à! – Cô du kích buông môt tiếng thở dài rồi ngập ngừng hỏi tiếp - Ảnh… có vợ chưa anh Minh? Con trai ngoài Bắc là hay lấy vợ sớm lắm. - Cái đó thì cô phải hỏi anh ấy chứ tôi biết chi!- Minh tủm tỉm cười – Nói vậy chứ ảnh kín như hũ ấy. Có lần tụi tôi đồ cả lít rượu cho anh Mạc để khui chuyện ấy mà ảnh càng uống càng tỉnh như sáo mới chết chứ. Hình như ảnh có chuyện buồn… - Vậy à!- Cô du kích lại buông một tiếng thở dài rồi ngôi im nghe, mắt vẫn đau đáu nhìn ra sông. Minh liếc nhìn mặt đồng hồ. Cây kim dạ quang chỉ ở vạch ba giờ hai mươi nhăm phút. Đã quá giờ hẹn với Mạc gần một tiếng rưỡi rồi. Chờ đúng mười phút nữa phải vể kẻo trời sáng bạch ra mất. Từ đây về cứ du kích phải đi qua hai xã vùng trắng, chạy gằn cũng phải mất hai tiếng. Lẽ nào đêm nay anh ấy không về? Nếu không bị cơn sốt rét đột ngột ấp tới thì Minh đã vào trong đó tìm Mạc rồi. Đợt hoạt động này Mạc và Minh lãnh nhiệm vụ đi trinh sách cầu V.Đ, mở màn cho chiến dịch đánh cắt giao thong địch trong toàn tỉnh. Cầu này nằm trên trục đường 1, sát thị trấn V.Đ nên bọn địch bố phòng rất nghiêm ngặt. Đơn vị đặc công của Mạc đã mấy lần cho các tổ vào đánh nhưng đều bị lộ, phải quay ra. Tháng trước, Mạc đã dẫn một tổ ba người đi trinh sát, vào đến trụ cầu thì bị địch phát hiện. Chúng pha đèn, ném lựu đạn xuống nước cho bo bo ra quyết bắt sống “người nhái” Việt Cộng. Hai người đi cũng Mạc thì một bị sức ép nặng, một hy sinh. Phải vất vả lắm Mạc mới đưa được hai đồng chí đó về đến đơn vị. Lần này Minh được cử đi với Mạc, có thêm các đồng chí du kích địa phương giúp đỡ. Nhưng khi đến vị trí tập kết, Mạc bắt Minh phải nằm lại. Đi đông người, dễ tổn thất. Vả lại, Mạc đã quen đường, nắm được mọi thủ đoạn bố phòng của địch. Nếu có chuyện gì không may xảy ra, đồng chí số hai sẽ vào trinh sát tiếp. Minh đành phải nằm lại. Và thật rủi ro, hôm sau Minh lại lên cơn sốt rét hầm hập làm cô du kích xã đi theo lo quýnh quáng. Đêm nào cô cũng ra điểm hẹn đón Mạc đến gần sáng mới về, người tím ngắt, run lập cập. Chiều qua, Minh mới dứt cơn sốt nhưng anh không chịu nằm nhà nữa. Nỗi lo còn cào gan ruột anh. Lẽ ra hôm nay hai người phải về hậu cứ rồi. Chuyện gì đã xảy ra? Minh linh cảm thấy một điều chẳng lành. Mạc gan và táo tợn, đôi khi hơi liều lĩnh. Minh mới ở tiểu đoàn đặc công quân khu bổ sung về đơn vị nhưng anh đã được nghe nhiều chuyện về Mạc. Chẳng biết người ta có thêm dấm thêm ớt gì hay không nhưng chuyện nào cũng gay cấn, ly kỳ. Tỉ như chuyện Mạc và Hiển đi đánh cầu Cao Lâu đợt xuân – hè năm ngoái. Hai người vào đên cầu thì bọn lính gác phát hiện. Mạc liền bắt Hiển quay ra, còn mình lao thẳng vào trụ cầu. Bọn địch trên cầu ném lựu đạn xuống tới tấp, sức ép lạ Mạc cơ hồ muốn ngất đi. Bốn chiếc ghe máy từ bờ phóng ra quây tròn lấy Mạc. Mạc cố sức gắn khối nổ vào trục ầu, nghiến răng rút kíp tức thì. Lạ thay, kíp nổ đã nằm trong tay anh mà khống thuốc vẫn ì ra, không nhúc nhích. Xịt rồi. Một thoáng suy nghĩ rất nhanh, Mạc dứt khối cho trôi theo dòng nước rồi lặn xuống bám vào sườn một chiếc ghe. Bốn chiếc ghe vẫn quây quanh trụ cầu bắn loạn xạ một lúc lâu mới rút. Mạc bám theo chiếc ghe vào đến bờ mới buông tay, thả trôi theo dòng sông. Về đến hậu cứ, anh không nói không rằng, ném phích chiếc kíp nổ trước mặt cậu quân khí… Chuyện Mạc và anh Soát đội trưởng đào hầm nằm cả tuần lễ gần cầu Trịnh Minh Thế để nghiên cứ cách đánh cầu và cảng Bạch Đằng. Rồi chuyện Mạc đi đánh cầu Bà Rén lần thứ hai bị nước lũ cuốn ra tận cù lao Chàm như Bốn vừa nói. Toàn chuyện có thực mười mươi, nhưng có ai hỏi, Mạc chỉ cười hề hề, đánh trống lảng: “ cậu đừng nghe chúng nó tán nhảm. Chúng nó thêm cả ký lô mì chính vào đó”. Vì thế, lần nay được đi với Mạc, Minh hớn hở như người vừa trúng số độc đắc. Là lính đặc công “thủy” thật, nhưng đây là lần đầu Minh được tham gia một trận đánh dưới nước. Được Mạc đi kèm thì an tâm nhất rồi. Chả lẽ lại có điều gì bất trắc xảy ra đến với Mạc? Một giọt sương lạnh buốt lọt vào cổ áo Minh làm anh rùng mình, cơn ho lại ngứa ra trong lồng ngực. Trời đã ràng rạng phía cửa biển. Không thể nấn ná ngồi đây mãi, Minh quả quyết đứng dậy. - Về thôi, cô Bốn. Đêm nay tôi sẽ vào tìm anh ấy! Bốn miễn cưỡng choàng tấm dù lên vai, xốc lại khẩu sung. Hai người lầm lũi đi về vùng trắng. Họ đi qua khu đồn Tân Phú nằm sát đường cái đang ngủ im lìm sau lớp rào kẽm gai. Tịnh không có một tiếng gà gáy, chó sủa. Vừ bước ngang mặt lộ. Minh bỗng thụp xuống, ra hiệu cho cô Bốn lùi lại. Có tiếng chân đi rất nhẹ phía trước, rồi một bóng người thoáng hiện ra sau lùm cây ven đường. Minh nấp sau một gò mối, căng mắt ra nhìn. Một tên lính ngụy mặc bộ quần áo rằn ri, chân dận đôi bốt-đờ-sô to quá khổ thất thểu bước tới. Linh đi càn chăng? Phải tóm cổ thằng này! Bằng một động tác võ thuật chính xác, nhanh như chớp, Minh đã quật ngã tên lính ngụy, khóa cứng hai tay nó lại. Anh thúc vào lưng nó bắt đứng lên. Tên lính ngụy ngoan ngoãn làm theo lời Minh, không hề chống cự. Chợt Bốn kêu lên, giọng thoảng thốt: - Anh Mạc! Chui cha, anh Mạc thiệt nè… Người lính mặc áo rằn ri cụ cựa hai cánh tay, lầm bầm trong miệng: - Minh hả? Cả cô Bốn nữa. Vậy mà tôi tưởng mấy ông du kích xã… Làm sái hết cổ mình rồi đây nè. - Sao anh đi lâu quá vậy? Làm tụi em lo muốn chết – Minh vui sướng siết chặt tay Mạc. - Xong rồi. Lúc về mình lớ ngớ thế nào đi lạc vào tận thị trấn V.Đ. Tưởng bỏ con trong đó rồi chớ! - Vậy à? – Minh tròn mắt nhìn Mạc – Chuyện sao anh? Anh kiếm đâu ra bộ rằn ri này thế? - Ồ, chuyện dài lắm. Giờ phải đi kiếm cái chi bỏ bụng đã. Nhịn đói hai ngày nay rồi. - Răng? Ở nhà có người nhắc hoài mà anh còn đói sao? - Í, cái anh Minh chỉ nói lạp xạp!- Bốn hứ Minh, mặt đỏ rựng lên. Cô hấp tập bứt vội lên trước. *** Chiếc ghe mỏng manh như chiếc lá chỉ chực trôi vèo theo dòng nước mỗi khi định lạng ra xa bờ. Bốn ngồi phía lái, cố sức ghìm mái chèo cho chiếc ghe đi sát những lùm bói khẳng khiu ngả rạp xuống mặt nước. Con sông Thu Bồn mùa nước cạn chảy lờ dờ giữa hai viền cát mà giờ hung hãn chồm lên như muốn cuốn phăng tất cả vào lòng nó. Mới chớm có mấy trận mưa đầu mùa mà nước ở đâu dồn về nhiều thế không biết. Từ cứ du kích giữa cánh đồng Si bỏ hoang, Bốn và Mạc đã phải đẩy ghe ra đến tận bờ sông. Mạc đi kiểm tra lại con đường sẽ đưa khối xuống sông đêm mai. Bằng bất cứ giá nào cũng phải đánh sập cây cầu trước ngày 1 tháng 11. Hôm nay đã là ngày 19 tháng 10 rồi. Cứ tưởng mưa lai rai vài hôm sẽ dứt cơn, ai dè nước trên nguồn vẫn tiếp tục dồn về làm cả một vùng Điện Bàn nước trắng băng. Người bơi vào đến cầu còn khó, nói chi phải dìu theo cả khối thuốc nổ nặng hàng tạ. Trong cuộc họp thông qua phương án đánh cầu, có người đã bàn hay tạm thời hoãn lại vài hôm chờ nước rút. Một tạ thuốc nổ bây giờ quý hơn vàng. Lỡ để sa sảy thì thật làm đem của đổ xuống sông, xuống bể. Mạc cũng đã nghĩ tới điều ấy. Nhưng cái làm anh nóng lòng, thúc bách hơn là ý nghĩa của việc đánh sập cây cầu này. Gần một năm nay tụi ngụy vẫn tự hào cây cầu là nơi bất khả xâm phạm, Việt Cộng không dám động chạm đến. Phải hạ được uy thế của chúng, là đà cho những trận đánh sắp tới của đơn vị. Đã hơn một lần Mạc vào tận trong ruột nó, sờ từng mố cầu, từng thanh dầm sắt nhưng rồi lại phải cắn răng trở ra. Và ngay cả lần đi trinh sát vừa rồi, anh cũng đã suýt nộp mạng cho chúng nó. Thật là một chuyến đi vât vả. Mất hai đêm liền anh mới tìm cách lọt qua được hàng rào bảo vệ vòng ngoài của cây cầu. Đêm đầu tiên anh phải đứng lại ở đạp đá cách cầu 300 mét. Từ đập đã nhìn vào, cây cầu nổi sừng sững trong đêm, cứ cách năm mét lại có một ngọn đèn chụp xuống mặt nước. Hai ngọn đen pha sáng quắc ở hai đầu cầu lừ lừ quét trên mặt nước, thỉnh thoảng lại chiếu hắt lên thành cầu, có cảm giác con chuộc chạy qua cũng nhìn thấy. Mạc buông nhẹ người xuống theo dòng nước chảy. Dòng nước khá mạnh đẩy anh ra giữa sông. Bỗng chân anh va phải một vật cứng chắn ngang đường. Mạc nhận ra đó làm một hàng rào dây thép gai dăng ngầm dưới nước. Anh lần theo hàng rào đó vào bờ. Chúng nó mới rào, có vẻ kỹ lưỡng, chắc chắn lắm. Không thấy kẽ hở nào có thể lọt qua được. Loay hoay mãy Mạc mới phát hiện ở giữa lòng sông có cát, anh liền đạp thành lỗ hổng chui qua. Lại một hàng rào bùng nhùng chắn ngang trước mặt. Chui qua cái hàng rào quái quỷ ấy mất đúng mười lăm phút. Còn cách cầu khoảng 20 mét nữa, Mạc lại vấp phải hàng rào thứ ba. Hàng rào mái nhà. Mạc đã đánh cầu trên dưới chục trận, nhưng chưa ở đâu anh gặp tình huống này. Như thế là phải kéo khối chui qua ba hàng rào. Sẽ gặp không ít rắc rối. Mạc nhô lên mặt nước xem đồng hồ. Đã hơn ba giờ sáng rồi. Phải quay ra, đêm mai vào trinh sát tiếp. Một ngày nhịn đói, nhịn khát trong đám cỏ lung sát bờ sông căng thẳng trôi qua. Mới bảy giờ tối Mạc đã tụt xuống nước, đi thẳng vào ba hàng rào một cách dễ dàng. Nhưng vừa chui qua hàng rào thứ ba, anh đã vội thụt lại. Không hiểu bọn địch đã phát hiện ra anh hay chúng thần hồn nát thần tính mà tên lính đứng ngay tên đầu anh hét vang lên: - Người nhái bay ơi!- Hắn chĩa AR15 xuống nước xỉa một tràng dài, Lựu đạn ném tới tập xuống chỗ Mạc vừa chui qua. Từ bên kia sông, hai chiếc bo bo xé song chạy đến. Mạc vội lùi vào bờ, nấp dưới chân một đám sậy mọc sát mép nước. Bọn lính trên ghe hò hét om sòm, hết ném lựu đạn lại quay ra vớt những đám bèo vừa trôi đến. Chúng vừa bỏ đi, Mạc đã mò vào mố cầu chính giữa dòng sông. Vừa may, đúng lúc bọn lính trên cầu đổi gác. Mỗi trụ cầu có một tên lính. Mạc nằm dưới trụ cầu khỉ, thò cổ lên quan sát. Ánh điện soi rõ mặt hai tên lính một già, một trẻ đang phì phèo đốt thuốc trên đầu anh. Thằng già hơn nặng nề trèo xuống trụ cầu khỉ, chỉ cách Mạc 20 phân. Mạc nín thở, ngụp xuống. Mùi thuốc lá Quân tiếp cụ khen khét, ngầy ngậy làm mũi anh phập phồng. Thèm được rít một hơi cho căng lồng ngực quá. Mạc nghiền thuốc, nghiện nặng là đằng khác. Trong túi anh lúc nào cũng có một lá thuốc Cẩm Lệ, thứ thuốc ngon và nặng nổi tiếng của đồng bào Quảng Đà. Nhưng cái khoản ấy của anh cũng đã cạn từ lâu rồi. Cái đốm đỏ của điều thuốc là chốc chốc lại lóe lên. Chỉ cần với tay là Mạc có thể giật phăng điếu thuốc từ miejng thằng lính đội mũ sắt sùm sụp đang ngồi ngáp vặt, thỉnh thoảng lại nhổ đánh toẹt xuống mặt nước. Mạc quờ tay nắm đám cở vừa tấp vào mố cầu đậy lên mặt, nhô đầu lên quan sát. Trong trụ cầu khỉ cũng rào dây thép gai, rào mái nhà hẳn hoi. Phía trên dầu tên lsinh có một đám rầm gỗ chất ngổn ngang, chắc chúng chưa kịp dọn đi. Lừa lức tên lính quay mặt tránh gió để đốt mợt điếu thuốc khác, bằng một động tác chính xác và nhanh như vượn chuyền cành, Mạc đu người nhảy lên đống gỗ, không một tiếng động. Bây giờ thì anh lại ngồi trên đầu thằng gác. Toàn bộ cây cầu và hệ thống bảo vệ phơi lồ lộ trước mặt anh. Phía bắc là đường đi vào Đà Nẵng. Phía nam là thị trấn V.Đ tất cả có hơn một đại đội lính ngụy bảo vệ. Cũng không có gì đặc biệt hơn những cây cầu Mạc đã vào trinh sá.t Chỉ có điều chúng bố phòng dày hơn, cận mật hơn và cái khó ở đây là đường tiếp cận. Mạc tụt xuống, đi quanh mấy mố cầu tìm vị trí đặt khối rồi lần ra đầu cầu phía bắc, xem lại vị trí mấy khẩu đại liên của địch. Anh đi xuôi theo con nước đến nhà máy bơm quan sát lại toàn bộ cây cầu một lần nữa. Phía hạ lưu bọn địch bố phòng có vẻ lỏng lẻo hơn. Trong óc Mạc đã phác được một cách đánh có hiệu quả nhất. Anh định quay rở lại mố cầu thứ ba một lần nữa, chợt nghe tiếng gà gáy. Nhìn đồng hồ thấy đã hơn hai giờ kém mười, Mạc vội quay về. Anh đã hẹn Bốn và Minh đón ở địa điểm quy định vào lúc hai giờ. Muộn mất rồi. Mạc bơi mải miết. Được khoảng hơn một ki-lô-mét. Mạc lên bờ đi theo hiệp đồng trong phương án. Theo lối dốc bờ sông thoai thoải đi lên, toàn nhà mái tôn trắng lóa đang ngủ chập chờn dưới ánh điện. Không biết đây có phải là cái bến Bốn đã hẹn đón mình không? Mạc quyết định bỏ con đường mòn, đi tắt qua một nghĩa địa mổ mả lô nhô ra cánh đồng. Nhưng vừa ra khỏi nghĩa địa, Mạc thấy mình lạch vào thị trấn V.D rồi – Mạc định thầm nhìn kỹ. Anh chợt thấy chân tay mình rời rã, bải hoải, chỉ muống ngã giụi xuống. Tại cái đói đấy thối. Cả ngày hôm qua Mạc đã phải uống nước trừ cơm, bây giờ dạ dày đang kêu réo, hành hạ anh. Anh ngồi thừ người bên cạnh một cái mả xây hồi lâu, không nhúc nhích. Bây giờ phải tự mò mẫm lấy đường về thôi! Thối nhiên, Mạc bật cười một mình. Cái thằng đặc công nước khố thế đấy. Ở dưới nước thì thỏa sức vẫy vùng, nhưng ném lên cạn thì lúng túng như gà mắc tóc. Lúc này anh mới thấy không cho cậu Minh “lính bộ đánh thủy” đi theo là sai lầm. Đành phải chờ có người đi qua đên hỏi thăm đường. Nhưng gặp ai vào giờ này? Mà lỡ lại gặp phải một kẻ xấu thì còn là lôi thôi, rắc rối. Mạc chợt nhìn thấy có ánh đèn dầu le lói từ một căn nhà tôn giáp nghĩa địa hắt ra. (còn tiếp) Tiêu đề: Re: Cành thanh mai đã ra hoa (truyện ký - Hà Dũng) Gửi bởi: nttran1979 trong 01 Tháng Mười, 2010, 11:08:25 pm Hay là ta vào đó hỏi thăm đường. Mạc rón rén đi lại, nhìn qua khe cửa còn để hé. Căn buồng nhỏ chỉ vừa hé một chiếc tủ ly, một bộ xa long và chiếc giường đôi nằm khuất sau tâm ri đô màu xanh nhạt. Dưới giường có một đôi dép Thái Lan và đôi giày ngụy. Nhà lính. Mạc giất mình định quay lại, nhưng không hiểu sao tay anh lại đẩy nhẹ cánh của làm chiếc bản lề khô dầu hơi rít lên. Mạc nín thở chờ một phút rồi khẽ bước vào. Sau cánh cửa có treo một bộ đồ lính ngụy. Một ý tưởng thoáng qua, Mạc vắt ngay bộ quần áo lên vai, tiện tay, anh nhấc luôn cả đôi giày lính ở dưới đất. Khép cánh cửa lại như cũ, Mạc luồn qua mấy dãy nhà xây ra phía cánh đồng. Anh chui vào một bụi cây, vận thử đồ lính. Bộ đồ vừa khít, nhưng đôi giày thì quá rộng, bàn chân anh như bơi ở trong. Mệt quá, Mạc ngồi tựa và một thân cây ngồi nghỉ, định chợp mắt một lát rồi sẽ đi tiếp. Nhưng khi có một vật gì âm ấm, nhồn nhột ve vuốt trước mặt, Mạc giật mình choàng dậy, thấy trời đã sáng trắng. Cánh đồng đem qua có vẻ um tùm cây cối giờ hiện ra trần truij, với mấy đám dưa leo, khổ qua, xa hơn nữa là những vạt tranh đang được cày lật. Phía bên kia con đường mòn chạy qua cánh đồng có một ông già bận đồ trắng, đội mũ phớt đang cắm cúi tưới khổ qua. Nét mặt ông cụ có vẻ phúc hậu, nếu không kể đến bộ ria mép vểnh lên nom rất nghịch ngợm. Mạc đánh liều tới gần, hỏi theo kiểu lính tráng.
Tiêu đề: Re: Cành thanh mai đã ra hoa (truyện ký - Hà Dũng) Gửi bởi: nttran1979 trong 02 Tháng Mười, 2010, 06:12:03 pm - Nè, chú tưới khổ qua, đây là nơi mô, chú?
Đang mải tưới cây, ông già giật mình ngẩng lên. Thấy bộ dạng của Mạc, ông há hốc mồm buông rơi cai bình tưới đánh xoảng, cắm đầu bỏ chạy. Nguy rồi, Mạc chưa kịp lỉnh đi thì một toán lính ngụy đã ập tới, hò hét om sòm. Bốn phía là đồng trống, chạy hướng nào bây giờ? Mạc suy tính rất nhanh. Phen này chắc không thoát khỏi tay chúng nó rồi. Nhác thấy một đám đông dân trong ấp đang lục tục ra đồng. Mạc đâm bổ về phía họ. Người ta giãn ra cho anh chạy. Bọn lính hò hét đuổi theo sau nhưng không dám bắn vì sợ trúng dân. Mạc đã chay ra tới một vạt tranh mọc lúp xúp, có nhiều hồ bom dầy nước phản chiếu ánh sáng mặt trời lấp loáng. Mạc chạy vòng qua một hố bom to, có lẽ là bom tấn, trên mặt nước phủ đầy bèo tấm và cỏ môi. Bọn lính vẫn bám sát phía sau. Mạc đã định chạy tiếp, nghĩ tế nào, anh lộn lại, ngày xuống giữa hố bom. Mặt nước xao động một chút rồi lại phủ kín bèo như cũ. Bọn lĩnh rượt quá hố bom, gắt gỏng hỏi nhau: - Ửa, thằng Việt Cộng biến mô rồi, tụi bay? - Tao thấy nó chạy về hướng này mà ! - Đù mẹ, để nó thoát thì tao cắt cổ tụi bay! Mạc vừa kịp chui xuống dưới đám cỏ môi thì bọn lính quay lại, ngồi quanh hố bom. Một thằng lia trọn cả băng AR15 xuống nước: - Nè, có khi nó chun dưới hố bom này đó! Dộng cho nó một trái lựu đi bây! - Chun cái con khỉ! – Giọng một thằng có vẻ là chỉ huy – Tản ra, không để sót một gốc cây, ngọn cỏ. Nó chỉ xớ rớ quanh đây thôi. Một thằng lội xuống hố bom, vốc nước rửa mặt. Sợ tụi nó giáng lựu đang xuống hố bom thật, Mạc luồn đến ngồi ngay dưới chỗ tên lính đang khoát nước. Đến gần trưa, tụi lính mới chịu rút làm Mạc ngột thở, cả người anh bợt bạt, mắt đỏ ké vì ngâm nước quá lâu. Ba giờ chiều Mạc mới dám lên khỏi hố bom. Cái đói cộng với sự bực bối căng thẳng kéo dài như đã rút hết gân sức Mạc. Anh cố lết đến một gốc cây ô môi không hiểu sao còn sót lại giữa đám cỏ lung và lại thiếp đi cho tới lúc một tia nắng xiên khoai cuối ngày chiếu vào mặt. Giấc ngủ ngắn nhưng sâu khiến Mạc tỉnh táo trở lại. Anh trèo lên cây ô môi quan sát xung quanh. Toàn nhà tôn và đồn bốt của địch. Không nhìn thấy con sông đêm qua ở phía nào. Chả lẽ mình lại mất phương hướng đến thế! Mạc tự rủa mình. Chợt anh phát hiện ra một ông già mặc áo cộc, quần đùi đang phát ruộng gần chỗ anh nấp. Ông già phát cỏ có vẻ chuểnh choạc, thỉnh thoảng lại bỏ hái xuống, nhìn nhanh về phía gốc ô môi. Mạc hơi chột dạ, hay ông ta đang theo dõi mình. Lại một tên chỉ điểm như hồi sáng. Nhưng lần này, ông ta sẽ không kịp trở tay đâu. Trời tối dần, cánh đồng đã vãn người nhưng ông già vẫn loay hoay trên vạt ruộng lổn nhổn toàn gốc tranh khô xác. Mạc chợt nhớ tới lần đầu tiên anh theo đội trưởng Soát đi xuống vùng sâu. Qua một cánh đồng toàn thứ là nham nháp, mọc đều tăm tắp, Mạc phấn khởi reo lên: - Lúa hả anh? Trời ơi, lúa tốt quá! - Cỏ tranh đấy!- Anh Soát cộc cằn đáp lại. Sự nhầm lẫn tệ hại ấy bây giờ nghĩ lại, Mạc vẫn ngượng chín người. Anh lại thấy hiện ra trước mắt mình những xã vùng trắng, những cánh đồng bỏ hoang mênh mông mọc toàn cỏ tranh và bói. Trong khi đó thì những người của đất lại chen chúc đói khát ở những khu đồn, trại tập trung trá hình mọc nhan nhản khắp nơi. Lần nào đi qua những vùng đất ấy, cái cảm giác nhột nhạt, sần sượng lại cộm lên trong người Mạc. Anh thấy mình như đang mắc một món nợ rất lớn, chưa trả được. Mạc vẫn không rời mặt khỏi ông già. Trông tướng mạo ông ta có vẻ lam lũ, chất phác. Hay mình cứ ra hỏi thử một lần nữa. Mạc quyết định cởi bộ đồ lính ra gặp ông cụ. Biết có người đến gần nhưng ông già vẫn cắm cúi làm như không để ý đến mọi việc xung quanh. Mạc lễ phép chào: - Chào chú! Chú nói giùm con đây là xã nào? Ông già ngẩng lên nhìn Mạc từ đầu đến chân, vẻ xoi mói nhưng đôi mắt lại ánh lên những tia ấm áp, hiền hậu. Mạc nói ngay, không rào đón: - Con đi công tác qua đây bị lạc đường, nhờ chú chỉ giùm con lối lên vùng trắng… Ông già thấp giọng: - Tui không biết ông là Việt Cộng hay Quốc gia, nhưng ngó bộ ông hiền lành nên tui chỉ giùm. Ông ra gốc cây ô môi lúc nãy dó, đi theo hướng tây một đoạn sẽ gặp con đường mòn. Cứ thẳng lối mà đi sẽ tới… Nói xong ông vác cuốc lên vai, ra về được một đoạn, ông quay lại bảo: - Tụi lính hồi trưa về đồn cả rồi, ông khỏi lo. Khéo gặp mìn Việt Cộng đó. Ông già lật đật bỏ đi. Mạc đứng ngây ra nhìn theo, quên cả việc cảm ơn ông cụ. Ra ở giữa lòng địch vẫn có những người tốt thế, âm thầm giúp đỡ cách mạng. Chắc ông cụ đã nhìn thấy bọn lính rượt theo Mạc hồi sáng và đã lặng lẽ theo dõi, bảo vệ cho Mạc. Nỗi xúc động rưng rưng trong lòng Mạc làm anh quên cả cái đói, quên cả sự căng thẳng, mệt mỏi. Theo con đường ông cụ chỉ, Mạc đã tìm thấy lối lên vùng giáp ranh… Mạc đã kể về ông già tốt bụng đó cho Bốn nghe. Cô chỉ lặng lẽ mỉm cười: - Dân mình cả mà anh! Tiêu đề: Re: Cành thanh mai đã ra hoa (truyện ký - Hà Dũng) Gửi bởi: nttran1979 trong 04 Tháng Mười, 2010, 01:14:55 pm Chiếc ghe khéo léo lách qua một đám bói bị bứng trọng cả gốc lẫn rễ đang xoay tròn trôi theo dòng. Mạc lắc đầu ngao ngán. Đợt lũ bất ngờ đã làm đảo lộn dự tính của anh. Phải kiếm thêm bẹ dừa để làm phao cho khối. Thiếu dây ni long buộc khối đã có dây lạt tre, dây dù pháo sáng… Mọi thứ đã được chuẩn bị sẵn sàng, chỉ chờ con nước đêm mai nữa. Bốn cũng lo lắm. Cô được giao nhiệm vụ dẫn đường đưa tổ của Mạc vào vị trí tập kết. Từ đó các anh sẽ đưa khối vào thẳng chân cầu. Công việc của các anh thật vất vả và nguy hiểm, nhưng anh ấy chỉ coi như một trận đánh bình thường, chẳng có gì xảy ra. Ngoài rứa mà ít nói, lành như con gái – Bốn liếc nhìn dáng ngồi im lìm của Mạc, nghĩ thầm – Nhưng ảnh kể chuyện mới hấp dẫn làm sao. Cái duyên mặn mói chỉ toát ra từ những công việc ảnh làm. Đôi lúc Bốn đỏ mặt khi thấy mình nghĩ về Mạc, hoặc thích nghe người ta nói về anh. Mình thiệt là kỳ. Nghe nói ảnh có người yêu ngoài đó rồi. Còn mình… nhưng có ai cấm mình nghĩ về ảnh đâu? Tự nhiên Bốn bật lên một tiếng thở dài:
- Sắp mưa to rồi, cô Bốn à! – Mạc lo lắng nhìn trời – Dừng lại đây cho tôi lên coi bến một chút! Bốn cạy mái chèo gần bờ cho Mạc nhảy lên. Đêm đầu tháng có trăng đã bị những đám mây đen vần vũ làm tối sầm lại. Một vài giọt mưa to tướng rơi lộp độp xuống sàn ghe rồi cơn mưa rào rào trút xuống, phủ kín mặt sông. Khi Mạc trở lại, cô du kích vẫn ngồi lặng lẽ chờ anh. Tự nhiên Mạc muốn nói một câu gì đó thật dịu dàng với cô gái. Đã mấy đêm nay cô vất vả vì các anh. Đối với những người hoạt động vùng sau, có được một người dẫn đường am hiểu quy luật của bọn địch và thông thạo mọi ngõ ngách địa hình như Bốn là quý lắm. Mạc không ước ao gì hơn thế. Anh chỉ ái ngại một điều: cô gái phải dầu dãi mưa gió suốt ngày. Bộ quần áo đen bằng vải ka-tê mỏng của cô lúc nào cũng sũng nước. Cô gái không ríu rít trò chuyện như những cô du kích vùng sâu láu lỉnh, táo tợn khác, chỉ dè dặt hỏi Mạc những điều gì thật cần thiết. Đôi mắt sâu, hơi buồn của cô thỉnh thoảng lại chớp nhìn Mạc một cái thật nhanh. Thấy Mạc cởi áo ngoài ra vắt bớt nước mưa. Bốn vội cởi tấm choàng trên vai đưa cho anh: - Anh quàng một lúc cho đỡ lạnh. Dầm mưa mãi vậy dễ phải cảm lắm đó. - Tôi quen rồi! – Mạc cười – Mưa thế này ăn nhằm gì. Tụi tôi ít choàng áo mưa, vướng víu lắm – Anh đưa lại tấm vải mưa cho Bốn – Đợi ngớt mưa hãy đi, cô Bốn ạ. Bốn “dạ” khe khẽ. Hai người ngồi im một lúc lâu, rồi Mạc ngượng ngùng hỏi trước: - Nhà cô Bốn ở đâu, có đông anh em không? - Nhà em ở Giáng La, gần chợ Phong Thử đó, anh à – Cô gái hoạt bát hẳn lên – Nhà e có bảy người tất cả. Mà chết hết trọi rồi, chỉ còn thằng út đang ở bộ đội địa phương. Cả ba má e nữa… Vụ Thủy Bồ đó anh! – Bốn chợt ngắt câu nói giữa chừng. Mạc sững sờ nhìn cô gái. Có ai không biết đến vụ tán sát đẫm máu của bọn Mỹ với đồng bào ở Điện Thọ, Quảng Đà. Chúng đã lùa hàng trăm người, cả đàn bà, trẻ em, cụ già ra một chỗ rồi xả sung bắn chết hết hàng loạt. Có những em bé miệng còng ngậm vú mẹ, có người đang ăn dở bát cơm, có nười nằm sấp mặt trên miệng lu nước… Trong đó có gia đình Bốn. Mình đã khơi lại nỗi đau của cô ấy!- Mạc thấy giận cho sự vô duyên của mình. Anh đang không biết lái câu chuyện theo hướng nào để thoát khỏi sự lúng túng thì Bốn đã lên tiếng hỏi: - Còn anh! Đi với anh mấy bữa mà không biết anh thứ mấy, anh quê ở mô đó? - Quê nội tôi ở Hải Phòng, cô Bốn ạ. Tôi là con cả, trong ni kêu là thứ hai đó. Cô em út tôi còn đang đi học. Nhà nghèo nên tôi phải bỏ học sớm để đi làm thợ lặn ở sở giao thông Hải Phòng… - Ưa, thợ lặn là thứ chi anh- Bốn tò mỏ hỏi. - Là người chuyên lặn dưới nước để trục vớt tàu đắm, thăm dò đáy sông, hoặc sửa chữa cầu, cống… Làm nghề đó thú vị lắm cô Bốn ạ. Mỗi lần mặc bộ quần áo lặn tôi cứ có cảm giác mình sắp được bước vào một thế giới hoàn toàn mới mẻ, lạ lẫm. Hồi bé, đã có lần tôi lặn hàng nửa tiếng đồng hồ dưới đáy nước làm lũ bạn sợ chết khiếp. Chúng nói tưởng tôi bị nước cuốn trôi ra biển rồi… Không hiểu sao lúc đo Mạc lại kể cho Bốn nghe tỉ mỉ về mình như vậy. Tuổi thơ của anh đã lớn lên ở biển. Lũ trẻ con trần như nhộng, da dẻ đen cháy suốt ngày đuổi nhau trên bãi cát. Một đứa bé tóc sém nắng, đỏ quạch luôn dẫn đầu một tốp trẻ con táo tợn nhất bơi ra đảo cát ở cửa sông. Chúng hò nhau đi cào ngao bắt bọp chán rồi lại đuổi nhau chạy vòng quanh đảo, mặc cho những đám cỏ long chông cứa nát bàn chân. Trên đảo có vô số những con ốc biển, những vỏ trai, vỏ sò đủ màu sắc nằm chỏng chơ trên bãi cát đầy nắng… Lần nào cậu bé cũng ních một cái túi thật đầy mang về cho đứa em gái mới lên ba tuổi. Chiều về, cả bọn chân tay mặt mũi đen nhẻm, lấm láp nhưng đầy hoan hỉ, thỏa mãn. Cậu bé ấy lớn lên, trở thành một chàng thanh niên cứng cáp, rắn rỏi và càng gắn bó với sông nước. Công việc của một người thợ lặn đã giúp Mạc làm quen với nhiều con sông, nhiều luồng lạch, cửa biển. Nhất là trong những ngày giặc Mỹ leo thang phá hoại miền Bắc, Mạc đã cùng đồng đội trục vớt nhiều con tàu, sà lan bị địch bán phá, vớt xác đồng bào hy sinh… Đột nhiên Mạc kể cho Bốn nghe về một người con gái. Cô ấy cùng làm ở một tổ với Mạc nhưng tất nhiên không phải là thợ lặn. Cô ở trên bờ theo dõi và giữ dây nối liền với người đang lặn ở dưới nước. Lần ấy anh phải xuống gài chất nổ vào một chiếc tàu bị bom đắm giữa sông. Công việc lẽ ra chỉ làm trong vòng nửa tiến là xong nhưng anh đã phải loay hoay mất gần bốn tiếng đồng hồ. Anh đã hẹn với cô ấy sẽ đi xem một bộ phim mới nhất đang chiếu ở Hải Phòng. Cô ấy đã nhiều lần giật dây để gọi anh nhưng chẳng lẽ anh lại bỏ dở công việc giữa chừng… Chiếc tàu đắm ở một vị trí khá bất lợi, không thể dùng thuốc nổ trục vớt lên ngay được. Mà người ta thì yêu cầu làm gấp để thông lòng sông cho tàu trọng tải lớn đi qua. Cô ấy vẫn kiên trì ngồi đợi anh trên bờ, nhưng cô giận anh, giận rất lâu… Mãi đến khi anh nhận được giấy báo nhập ngũ, cô mới tìm đến anh. - Vậy ư? Cô ấy bây giờ ở đâu? – Một thoáng buồn trong giọng nói của cô du kích. Mạc nín lặng không trả lời. Anh biết nói gì được. Cô ấy đã hy sinh trong khi đang tham gia rà phá thủy lôi giặc Mỹ phong tỏa ở cảng Hải Phòng… - Sau chiến tranh anh sẽ quay lại nghề cũ chứ?- Bốn ngước lên nhìn Mạc. - Không! Tôi sẽ học nghề xây dựng, cô Bốn ạ. Tôi muốn xây dựng lại những chiếc cầu ở Hải PHòng. Thành phố của tôi ba mặt là sông, cần phải có những chiếc cầu đẹp và hiện đại. Phải xây đẹp hơn, thanh thoát hơn chiếc cầu của tụi nó, cô Bốn ạ… Cô gái nhìn về phía tay Mạc chỉ. Phía ấy là thị trần V.Đ Chiếc cầu sơn màu xám sừng sững bắc ngang sông Thu Bồn. Điện hai mươi nhăm ngọn tháp sáng choang. Dây thép gai quấn chằng chịt các mố cầu. Và đầy sắc lính. Những đoàn xe nặng nề chạy ầm ầm qua cầu, nhức nhối suốt đêm ngày. Chúng nó chở đạn, pháo đi bắn giết, tàn phá làm xóm quê hương cô. Đêm nay các anh sẽ làm nổ tung chiếc cầu đó… - Ta đi thôi, anh!- Bốn giục. Chiếc ghe đột ngột rướn mạnh lên, lao thẳng ra giữa dòng. Bóng tối mênh mang của dòng sông lập tức nuốt chửng lấy chiếc thuyền nhỏ. Cơn mưa vừa dứt hạt được một lúc lại ào ào quất chéo trên mặt sông xem trong tiếng nước chảy cuồn cuộn như đang có một cơn lũ mới đổ về. *** Tiêu đề: Re: Cành thanh mai đã ra hoa (truyện ký - Hà Dũng) Gửi bởi: nttran1979 trong 06 Tháng Mười, 2010, 02:51:20 pm Mới 5 giờ chiều, tổ ba người Mạc, Sử, Minh cùng với cô Bốn du kích xã đã đặt khối thuốc nổ lên ghe xuất phát. Chiếc ghe nhỏ, lại chở nặng mấp mé nên rất khó đi, nhiều đoạn cả bốn người phải nhảy xuống đẩy nhích từng bước một. Từ sáng đến quá ngọ, mưa vẫn trút xuống liên tục làm Mạc càng nóng lòng suốt ruột. Đôi lúc cái ý nghĩ tạm lui lại vài bữa chờ nước rút lại lởn vởn trong đầu anh. Nhưng anh lại tự gạt đi ngay. Mưa cũng là một thời cơ tốt, bọ địch sẽ chủ quan, lơ là canh gác. Và cũng đỡ phải lần mò vượt qua ba lớp rào. Cái khó là làm sao đưa khối bắt đúng mố cầu đã chọn. Đêm qua anh đã kiểm tra lại dòng chảy, thấy kéo khối đi ven bờ lúc này rất khó. Nước từ thượng nguồn đổ về cuốn theo rêu rác, những thân cây mục gãy tấp cả vào hai bên bờ sông. Có lẽ cứ cho khối ra giữa dòng, theo luồng chảy mạnh nhất đi xuống thì rất nhanh, đỡ vướng víu, nhưng nếu không chủ động lái khôi đi đúng hướng thì rất dễ bị vượt qua cầu, hoặc lúng túng giữa dòng sẽ bị địch phát hiện. Mạc rất tin ở Sử và Minh, nhất là Sử, người rất nhanh mặt nhanh tay và tháo vát trong mọi trường hợp bất trắc xảy ra. Gì chứ về môn bơi lội thì cậu ấy cũng chẳng thua kèm gì Mạc, mà còn hơn hẳn ở các khoản bắt cá cải thiện. Sử vốn là tay sát cá mà…
Chiếc ghe chở một tạ rưỡi thuốc nổ ra đến bờ sông đã hơn tám giờ tối. Bốn cho chiếc ghe đi tắt qua cánh đồng đến bến Lở, nơi Mạc chọn làm vị trí tập kết. Đến đây, Bốn phải dừng lại chờ xong xuôi công việc sẽ đón Mạc và hai đồng chí của anh về cứ. Thấy Mạc có vẻ băn khoăn khi để Bốn ở lại một mình, cô lắc đầu: - Hổng sao đâu! Mấy anh cứ đi đi, đừng lo cho tui- Cặp mắt to đen, hơi buồn của cô lại chớp nhanh về phía Mạc – Anh Mạc đi hỉ! Bọn tui chờ nghe tiếng nổ của các anh đó. Đợi cho chiếc ghe nhỏ khuất hẳn bóng trong màn mưa dày đặc. Mạc mới ra lệnh cho Minh và Sử kéo khối xuống nước. Khối nặng mà phao lại làm bằng ống tre ghép với bẹ dừa nên vừa có một đợt sóng ào qua đã chìm mấp mé mặt nước. Họ chật vật kéo khối ra giữa dòng. Luồng nước đẩy ba người trôi đi băng băng, lúc xô về phía bờ này, lúc giúi về phía bên kia sông. Ba người vẫn bám chặt lấy chiếc bè khối, mặc cho nước giằng giật như muốn bứt tung chiếc bè ra khỏi tay họ. Mới đi được khoảng mười lăm phút, tự dưng Mạc thấy chiếc bè nặng trĩu cứ chìm dần xuống. Anh hét lên bảo Sử, Minh: - Hỏng rồi! Bè chìm mất. Dìu khối vào bờ ngay! Bây giờ sức nặng của chiếc bè khối kéo ba người chới với giữa dòng nước. Loay hoay mãi họ mới đưa được nó vào bờ. Thấy một gốc cây đa cụt đứng chơ vơ giữa biển nước mênh mông, Mạc ngạc nhiên đứng ngẩn ra nhìn. Cây đa cụt này thường ngày nằm giữa cánh dồng, khi đi trinh sát, Mạc vẫn lấy nó làm vật chuẩn, bây giờ cũng đã ngập hơn một mét nước. Lụt to rồi. Anh lại gần Sử và Minh đang đứng ỉu xìu bên khối thuốc. Thi ra bẹ dừa khô thấm nước làm sao chịu nổi sức nặng của một tạ rưỡi thuốc nổ. Lấy gì thay thế được nó bây giờ? Bó tay ngồi đây chờ trời sáng à? Mạc sùng sục lội quanh gốc đa. Chân anh chợt đã phải một thân cây gầy đét, trơn nhãy, chỉ còn đôi ba cái lá lơ phơ nhô lên khỏi mặt nước. Cây cuối! Mạc reo lên. Hay quá, thế mà mình không nghĩ ra. Sử và Minh hấp tấp chạy đến. Cả ba mò mẫm một lúc mới tìm được hơn chục cây chuối khẳng khiu. Mất hơn tiếng đồng hồ, họ kết được 1 cái bè tàm tạm. Lần này họ thận trọng kéo bè đi ven bờ gần nửa cây số mới đẩy ra giữa dòng. Mưa vẫn quất ràn rạt trên mặt. Sóng dồi lên dồi xuống như trời sắp nổi cơn dông. Mạc giật dây báo hiệu cho Sử và Minh kiểm tra lại dây an toàn. Đã sắp đến khu vực cầu. Dòng nước đẩy ba người với một tốc độ chóng mặt. Càng gần đến cầu, dòng sông có vẻ như thu hẹp lại nên nước chảy càng mạnh, cuộng xoáy như thác. Không thể lái chiếc bè theo sự điều kiểm của mình nữa. Có chỗ, cả ba người và chiếc bè như bị hút vào một cái vực sâu hoáy hồi lâu mới nổi lên. Sợi dây an toàn nối liền ba người với khối thuốc nổ lúc căng chằng chằng như sắp đứt tung, lúc đấy ba người giúi giụi vào nhau. Đã trông thấy dãy đen điện sáng rực dăng ngang sông. Có điều dãy đèn hôm nay lại như hạ thấy xuống gần mặt nước. Những luồng đèn pha sáng quắc lừ lừ đan chéo vào nhau trên mặt sông rồi lướt dọc theo thành cầu. Mạc chợt giật thót người. Bỏ mẹ, hình như nước dâng ngập mặt cầu rồi. Theo đà này, chiếc bè sẽ lao thẳng vào thành cầu, vỡ tan tành. Nếu không bắt kịp thì cả người cũng sẽ tan mày nát mặt. Mạc ngoái lại, thấy khuôn mặt Minh kề ngay bên cạnh. Anh hét to: - Bám vào thành cầu. Lặn xuống kẻo dây dứt! Sử cũng hét lên một câu gì đó nhưng bị tiếng sóng át đi. Chiếc bè khối vẫn kéo họ đi vùn vụt. Mạc ôm chặt lấy khối thuốc. Đang đà lao mạnh, gặp vật cản lại chiếc bè khối như muốn chồm lên thàh cầu. Mạc đã kịp nhổm cả người đè lên. Một bên vai Mạc va vào thàh cầu đau choáng óc nhưng anh vẫn kịp nhận ra sợ dây an toàn bên hông phải anh chợt nhẹ hẫng. Nghe “bịch” một tiếng đã không thấy Sử đâu nữa, chỉ thấy một xoáy nước hun hút ở mố cầu thứ ba. Minh cũng đang chới với bám vào lan can cầu. Sợi dây buộc khối siết chặt vào người Mạc làm anh đau ê ẩm, những ngón tay nắm chặt sợi dây đến tê dại, cứng đờ. Cũng may là Mạc đã bắt trúng được mố cầu thứ ba, nói anh định gắn khối. Anh vừa tháo xong sợi dây buộc chiếc bè chuối thì từ phía bờ bắc có hai ngọn đèn pha đột ngột chói lên rồi lướt rất nhanh trên mặt cầu. Bọn địch đi tuần tra. Hầu như cùng một lúc, hai khẩu đại liên ở hai đầu cầu cũng rít lên, lia dọc theo thành cầu phía thượng lưu. Mạc ôm khối lặn xuống bám vào mố cầu. Sợi dây bên hông anh nối liền với Minh vẫn căng thẳng. Chắc Minh vẫn đang cố lần đến chỗ anh. Để cả hai lúng túng ở đây lúc này sẽ lộ mất. Không chần chừ, Mạc rút con dao nhỏ cắt phăng sợi dây. Khi nhô lên, anh còn kịp trông thấy đầu Minh trồi lên hụp xuống mấy lần như còn cố bám lấy thành cầu. Chiếc xe dép tuần tra chợt đỗ sịch ngay trên đầu Mạc. Tụi lính trên xe lịch bịch nhảy xuống. Chúng nó bu cả ra lan can cầu ngó xuống dòng nước. Thằng gác cầu nói lắp bắp: - Đó, đó, cái chi đó tụi bây? Mìn… mìn Việt Cộng… Hình như tụi nó đã phát hiện ra chiếc bè chuối còn mắc ở lan can cầu. Bọn địch thi nhau thảy lựu đạn xuống gần ngay chỗ Mạc nấp. Sức ép của lựu đạn làm ngực Mạc như có khối đá nặng hàng tạ đè lên, đầu óc anh choáng váng, quay cuống. Có lúc anh chỉ muốn buông tay cho khối thuốc nổ tuột theo dòng nước. Những ngón tay long ngóng mãi không cột nổi khối thuốc và trụ cầu. Khối có một kíp nổ chứ T, chỉ cần rút nhẹ sợ dây cho nó bật ra là hoàn thành nhiệm vụ. Phải, anh sẽ sử dụng nó khi không thể dùng kíp nổ hẹn giờ được nữa. Mạc hiểu điều đó một cách rành rọt. Hai bàn tay anh cứ lần mãi sợ dây buộc khối như một cái máy cho đến khi khối nổ được áp sáp vào trụ cầu. Vừa lúc ấy, một cột nược lớn kèm theo tiếng nổ ập vào đầu anh. Quả lựu đạn nổ quá gần làm Mạc lào đảo gục xuống nhưng tay anh vẫn bíu chặt lấy khối thuốc nổ chưa được châm ngòi. Không hiểu Mạc xử trí tình huống ấy như thế nào, nhưng nếu có ai may mắn được chứng kiến cảnh tượng xảy ra lúc đó sẽ thấy một ánh chớp bùng lên như một tia sét rạch ngang bầu trời và một tiếng nổ trầm đục hất tung hai nhịp cầu xuống mặt nước. Sau ánh chớp và tiếng nổ, dòng sông lại dửng dưng cuộn mình đổ về xuôi, mang theo mãi mãi trong lòng nó bí mật về những người đánh cầu. Ở bến hẹn, cô Bốn du kích xã đã mỏi mắt trông chờ những người thắng trận trở về, nhưng mãi đến năm ngày sau, Sử và Minh mới tìm về đến được hậu cứ. Còn Mạc thì vẫn bặt vô âm tín. Nhưng thế nào rồi Mạc cũng sẽ trở về. Người ta tin chắc như vậy, bởi vì sau đó, hàng loạt chiếc cầu trên quốc lộ 1, trên đường đi Hội An, Đà Nẵng… vẫn liên tiếp bị đánh gục… Trong chiến tranh, thường có những chuyện như vậy, và biết đâu Mạc chẳng là một trường hợp ngoại lệ… Ngày 10-5-1986 Tiêu đề: Re: Cành thanh mai đã ra hoa (truyện ký - Hà Dũng) Gửi bởi: nttran1979 trong 07 Tháng Mười, 2010, 12:44:27 pm NGỌN LỬA CỦA ANH (Truyện ngắn - Bùi Minh Quốc) Đời bộ đội, ai mà chẳng có kỷ niệm về trận đánh đầu tiên, cái trận đánh khiến anh trở thành một con người khác, một người lính thực sự (cố nhiên, không thể kể vào đây nhưng người từ khi vào bộ đội đã ngồi ở một văn phòng nào đấy và chỉ có các cuộc hành quân từ văn phòng này đến văn phòng nọ). Trận đánh đầu tiên trong đời Kháng là trận đánh vào sân bay Cây Me. Trước đó, hồi còn ở tỉnh đội Quảng Đà, Kháng chỉ tham gia những chuyến trinh sát nhì nhằng. Kháng cho rằng những chuyến trinh sát ấy không thể coi là một trận đánh, tuy nó cũng có góp phần làm cho anh quen dần với tâm trạng của người lính khi tiếp cận kẻ địch. Sân bay Cây Me nằm trong căn cứ của sư đoàn không vận số 1 Mỹ tại An Khê, dùng cho máy bay lên thẳng có tới hàng trăm chiếc máy bay lên thẳng đậu san sát. Bao quanh nó là hăm hai lớp rào kẽm gai với các tuyến mìn sát thương và mìn sáng dày đặc. Rào như thế, mìn như thế, chui một đêm không lọt. Cái đêm đi chuẩn bị, Kháng chui vào hết hăm hai lớp rào, khi trở ra tới hàng rào thứ sáu thì trời sáng, phải nằm chết gí ở đó suốt ngày, đêm sau ra tiếp. Hôm đi đánh, mũi của Kháng chỉ có hai người, đồng chí mũi trưởng và Kháng. Vào đến lớp rào trong cùng, họ báo ra cho trung đội trưởng Nguyễn Văn Xì. Trung đội trưởng Xỉ bò vào kiểm tra rồi ra lệnh cho họ vào tiếp tục trong sân bay. Nhưng đúng lúc ấy, không may một viên đạn địch bắn vu vơ trúng đùi đồng chí mũi trưởng. Băng bó xong, theo lệnh trung đội trưởng Xì, đồng chí này cắn răng bò lui về phía sau. Còn lại một mình Kháng. Trung đội trưởng bảo: “Bám chắc mục tiêu, cứ theo phương án đã định mà đánh… Chú ý mệnh lệnh hiệp đồng là tiến nổ trên đỉnh Hòn Công”. Kháng vào sân bay, ngồi dưới bụng một chiếc máy bay lên thẳng tuần tiễu bay qua bay lại rần rần. Đèn pha từ các đài quan sát trong căn cứ quét lia lịa. Kháng cầm lăm lăm quả thủ pháo trong tay, mắt vừa quan sát chung quanh vừa theo dõi lên đỉnh Hòn Công – nơi bọn Mỹ đóng sở chỉ huy sư đoàn. Trung đội trưởng Xì sau khi hướng dẫn các tổ áp vào hết mục tiêu, quay lại chỗ Kháng. Anh hỏi “ Mục tiêu của cậu là bao nhiêu?”- Kháng đáp “Của tôi mười hai chiếc. Đây!” Kháng chỉ mười hai chiếc máy bay lên thẳng đậu im lìm một dãy trên sân, như mười hai tên tội phạm đã bị kết án chỉ đợi giờ trừng phạt. “Được! Như thế này là coi như gần chắc ăn rồi đấy. Cứ bình tĩnh đàng hoàng mà nện, hả?” Trung đội trưởng nói thì thào, nhưng giọng có vẻ khoái. Trên đỉnh Hòn Công phát một tiếng nổ lớn. Kháng tung quả thủ pháo trong tay vào chiếc máy bay lên thẳng đã nhắm sẵn. Rồi anh lần lượt rút thủ pháo đeo quanh lưng tung vào các chiếc tiếp theo, đánh theo lối cuốn chiếu từ trong đánh ra. Diệt vừa xong mười hai chiếc máy bay lên thẳng thì Kháng cũng vừa ra tới đầu cửa đột phá. Một chiếc máy bay lên thẳng rồ máy bốc lên định tẩu thoát. Trung đội trưởng Xì chĩa AK xả một loạt. Nó phụt cháy, rơi phịch ngay xuốn sân bay giữa các chiếc khác cũng đang nổ cháy rần rật. Cả sân bay là một đám cháy lớn. Tất cả chỉ trong vòng năm phút. Các tổ lần lượt ra cửa đột phá và lui ra ngoài. Kháng và trung đội trưởng Xì ra sau cùng. Xì bắn kiềm chế cho Kháng lao lên đánh hai chiếc lô cốt có bọn Mỹ đang dùng đại liên ngăn chặn đường rút của ta. Diệt xong hai chiếc lô cốt, Kháng định ra thì thấy anh Xì cứ nấn ná ngồi lại trên cửa đột phá. Kháng biết anh còn chờ xem anh em các tổ đã ra thật hết chưa. Kháng bảo “Anh Xì, anh cứ ra trước đi, để tôi chờ cho”. Một khẩu đại liên nữa lại đột ngột xuất hiện bắn chéo trên cửa đột phá. Trung đội trưởng Xì bảo “Mình kiềm chế, cậu lên diệt nốt thằng này đi.” Kháng lên diệt nốt. Họ lui ra an toàn. Trận ấy, Kháng diệt được ba cái lô cốt, mười hai chiếc máy bay lên thẳng. Cả trung đội chỉ bị thương có mình đồng chí mũi trưởng của Kháng, từ trước khi bắt đầu trận đánh. *** Thấm thoắt đã gần ba năm kể từ đêm 29 tháng 2 năm 1966 ấy. Kháng thường nhớ lại kỷ niệm trận Cây Me không phải để nhấm nháp một chiến công đầu trong đời đánh Mỹ của mình, mà như nhớ lại một cái mốc quan trọng của buổi mới trưởng thành. Anh đã đánh thêm nhiều trận, đã qua nhiều chiến trường, đã thành người chỉ huy. Biết bao kỷ niệm, cái điều anh nhớ dai và xúc động hơn cả lại chính là cái giọng nói thì thầm mà dứt khoát của trung đội trưởng Xì, khi tình huống khó khăn xuất hiện: “Bám chắc mục tiêu!”. Bây giờ, Kháng lại chuẩn bị cho một trận đánh mới. Anh đang ngồi với Thế, một chiến sỹ trong đại đội 2 của anh, bên bờ một con suối lớn trên vùng rừng núi cực nam trung bộ. Họ vừa ở dưới suối lên, ngồi nghỉ trên một tảng đá. Trần trụi với mỗi chiếc quần cộc bó sát lấy thân thể chắc nịch, mình mẩy cả hai đều ướt đẫm nước và tái ngắt. Nước từ tóc thi nhau tuôn xuống lướt thướt, và hình như cả từ trong những lỗ chân lông ứa ra. Kháng xem đồng hồ, bảo Thế: - Hôm nay được sáu tiếng. - Sáu tiếng? – Thế tròn mắt hỏi lại. - Chứ sao! Vượt yêu cầu rồi. Cậu thấy trong người ra sao? - Bình thường. - Tốt. Mình cũng rất bình thường. Vậy rõ ràng là sắp đi được rồi. Tập thêm độ một tuần nữa là ta đi. Họ nhìn nhau mỉm cười. Cả hai đều vui vẻ vì kết quả mới sau hơn gần chục ngày khổ luyện. Cách đây mười hai hôm, phân đội bắt đầu tập bơi. Tìm mãi mới chọn được quãng suối này, lòng sâu nhiều nước. Cả phân đội lao xuống. Những ngày đầu, anh nào anh nấy chỉ ở dưới nước được chừng hơn một tiếng đồng hồ là mình mẩy nổi da gà, lòng bàn tay nhăn nheo, trắng trợt như tay người chết đuối. Ai không hiểu công việc của họ, chắc sẽ thấy kỳ cục lắm. Ngày nào cũng ngoi ngóp hụp hoạp dưới nước như nhưng gã vô công rỗi nghề hoặc dở người. Mấy cô gái người dân tộc Rắc Lay mỗi khi đi ngang qua suối, lại rúc rích cười: “Ê, ê, bộ đội làm chi mà cứ tắm miết miết…” Dần dần, chỉ còn Kháng với Thế chịu được lâu hơn cả. Ba tiếng, bốn tiếng, rồi bây giờ sáu tiếng bơi dưới nước. Theo kinh nghiệm của các đồng chí bên đặc công nước, muốn bơi vượt qua vùng biển sang bán đảo Cam Ranh, thì phải bơi được trên nước ngọt bốn tiếng đồng hồ. Một tháng trước, anh Thìn tiểu đoàn trưởng gọi Kháng lên hỏi: - Cậu biết bơi không? - Báo cáo anh, bơi như tôi không hiểu đã gọi được là biết bơi chưa. Hồi nhỏ ở nhà tôi đi thả trâu về, nhảy xuống sông Yên tắm cho trâu rồi bơi được mấy sải tay theo kiểu bơi chó. Vậy thôi. Từ khi đi bộ đội, tôi chưa có bơi lần nào. Tiêu đề: Re: Cành thanh mai đã ra hoa (truyện ký - Hà Dũng) Gửi bởi: nttran1979 trong 10 Tháng Mười, 2010, 12:01:58 pm Tiểu đoàn trưởng mở rộng tấm bản đồ đã cũ trên mặt bàn bằng nứa ghép. Dù là giữa ban ngày, họ cũng phải thắp đèn, vì chiế clasn của ban chỉ huy tiểu đoàn quá thấp và núp dưới tán rừng dày đặc, không mấy khi ánh sáng mặt trời lọt xuống. Chăm chú xem xét kỹ bản đồ, Kháng cũng nhất tries với tiểu đoàn trưởng Thìn rằng không thể tính đến việc đột nhập theo đường bộ, vì đó là hướng địch xây dựng hệ thống bố phòng hết sức cẩn mật. Còn qua đường biển, đo trên bản đồ thấy chỗ gần nhất cũng ba ki-lô-mét, chỗ xa nhất vào khoảng 6 ki-lô-mét. Theo kinh nghiệm, Kháng nghĩ ngay: phải chọn chỗ xa nhất thôi, chính đấy là chỗ địch thường có sơ hở. Như vậy phải trù tính sao cho mỗi người có thể bơi được tám ki-lô-mét. Vốn là những người đặc công đánh cạn, nhưng bây giờ đây trước mắt họ lại là một mục tiêu mà muốn tiếp cận được nó thì phải thông thạo kỹ thuật của đặc công nước. Cả một bước ngoặt đầy thử thách. Nghĩ thế, nhưng Kháng chỉ nói với tiểu đoàn trưởng một lời ngắn gọn: - Báo cáo anh, trước hết tôi sẽ chọn hai đồng chí nữa cùng tôi sang nhờ các đồng chí đặc công nước huấn luyện sau đó về huấn luyện lại cho đơn vị. Tiểu đoàn trưởng Thìn hiểu rằng Kháng không có phân vân gì về nhiệm vụ và trong óc đồng chí đại đội phó đại đội 2 này đã bắt đầu phác ra kế hoạch chấp hành. Kháng về đại đội tổ chức ngay việc luyện tập. Cái dải bán đảo bên kia vịnh biển cứ hiện lên với anh như một ám ảnh, ngày này sang ngày khác, trong lúc ngâm mình dưới nước, trong bữa ăn, và trong cả chiêm bao. Đã có lần anh chiêm bao thấy nó, xa vời vợi, đầy bí hiểm và de dọa. Cam Ranh đấy, với những kho, trại, hệ thống hàng rào, lô cốt, với các loại máy, các phương tiện phát hiện tinh vi cực nhạy, với chế độ canh phòng nghiêm ngặt…Tất cả nhưng thứ ấy anh chỉ ước đoán bằng những kinh nghiệm của các trận đánh trước. Anh nôn nóng muốn chóng hoàn thành giai đoạn luyện tập để có thể bắt đầu đi trinh sát. Giờ đây việc đó sắp tới rồi. - Một tuần nữa là ta có thể đi… Kháng lẩm bẩm lại với Thế, mà như nói với chính mình. Thế vươn vai, nhặt một hòn đá, dang tay nghiêng mình ném thia lia. Hòn đá lướt nhảy vùn vụt trên mặt dòng suối lăn tăn sóng, làm bắn lên những tia nước lóe lóe liên tiếp trong ánh chiều. Nhìn Thế, Kháng thầm quyết định: “Trong chuyến trinh sát sắp tới, chỉ cần hai người, mình và một cậu nữa. Sẽ chọn ai? Chọn Thế”. Trên đường về lán, Kháng tạt qua chỗ trú quân của đại đội đặc công nước, gặp an hem để hỏi thêm một số điều mà trong quá trình luyện tập anh thấy cần tìm hiểu kỹ hơn. Khi trở ra lại con đường mòn chính, anh gặp Cước, chính trị viên của đại đội này vừa đi công tác về. Họ ngồi cạnh nhau trên một thân cây đổ ven đường. - Anh Cước, lâu nay anh được tin gì ngoài quê mình không? - Nghe nói nó xúc hết dân vô khu đồn, cày ủi xóm làng sạch bách như bãi đá banh rồi mày ơi! Cước thở dài. Lòng Kháng quặn đau nghĩ đến quê nhà. Từ ngày ra đi, Kháng không được một tin tức gì của quê hương, của gia đình. Cha bây giờ ra sao? Mẹ đã ra tù chưa? Em Lạc, đứa em gái bất hạnh bị tật mờ cả hai mắt bây giờ ra sao? Cước và Kháng cùng quê ở Hòa Vang, nhưng khác xã. Cước hơn Kháng đến chục tuổi, thuộc vào lớp người đã tham gia kháng chiến chống Pháp. Anh đi tập kết ra Bắc, được họ kỹ thuật đặc công nước, rồi trở về Nam, ở tỉnh đội Quảng Đà. Cước chính là người hồi giữa năm 1964 đã về xã Hòa Khương, quê Kháng, rút Kháng cùng một số thanh niên khác đi thoát ly, tham gia Quân giải phóng, bổ sung cho đơn vị trinh sát của tỉnh đội. Rồi Kháng được điều về tiểu đoàn đặc công 407 của quân khu. Sau đó ít lâu, Cước cũng được quân khu điều trở lại binh chủng cũ của mình, một đơn vị đặc công nước, vào đứng chân hoạt động tại chiến trường cực nam Trung bộ này. Kháng theo đơn vị đi chiến đấu qua nhiều nơi, từ An Khê đến Plây Cu, Bầu Cạn rồi sau cùng cũng vào cực nam Trung bộ. Tuy hai người ở hai đơn vị khác nhau, nhưng cùng một binh chủng, cùng làm nhiệm vụ ở một hướng chiến trường, có quan hệ công tác mật thiết. Thỉnh thoảng họ gặp nhau, thông báo cho nhau những tin tức ít ỏi về tình hình quê nhà mà mỗi người nghe được, động viên nhau cố gắng phấn đấu xứng đáng là người con của đất trung dũng kiên cường đi đầu diệt Mỹ. Đối với Cước, Kháng vẫn giữ nguyên những tình cảm tốt đẹp, quý trọng, nhưng anh cũng đã gạt bỏ được tâm trạng sùng kính ngây thơ hồi trẻ mà anh thường có, đối với người có thâm niên cách mạng nhiều hơn mình. Kháng không khỏi thắc mắc về một vấn đề rất quan trọng ở đơn vị do Cước chủ trì: vì sao bốn năm qua họ không đánh được trận nào? - Mày được đề bạt c phó phải không Kháng? Lên nhanh đó. Số mày may thiệt. Kháng cười, trong bụng gợn lên một sự khó chịu vì bị xúc phạm, nhưng nể Cước, anh cố không để lộ một phản ứng gì. - Tụi bay tập tành tới đâu rồi? - Sắp được rồi anh. Có thể độ một tuần nữa tụi tôi bắt đầu ăn được. Kháng vui hẳn lên. Nhưng nét mặt Cước thoáng một vẻ sa sầm. Kháng lấy làm lạ. Có cái gì đấy ở Cước, Kháng chưa hiểu được. Cũng có thể đó là một tâm trạng thông thường: sự hăng hái, niềm say mê chiến đấu ở Kháng khiến Cước ngượng ngập lúng túng về tình hình rất đáng trách của đơn vị anh ta. Lúc này đây, Kháng hoàn toàn không thể ngờ được rằng, bốn năm sau, năm 1974, có một lần tình cờ anh nhặt được một tờ truyền đơn rải xuống từ máy bay Mỹ, trong đó có in lời kêu gọi đích danh tiểu đoàn 407 của anh “về hồi chánh quốc gia”. Bên cạnh mấy dòng chữ đớn hèn ấy, là tấm hình của Cươc. Lúc này đây, Kháng chưa thể biết rằng, trong con người này, một cái mầm độc của sự suy sụp đã bắt đầu nhú ra. Giờ đây hàng ngày anh ta vẫn cứ nhân danh lý tưởng cách mạng mà giáo dục dắt dẫn các chiến sỹ của mình, nhưng trong sâu thẳm con người anh ta đã có một cái gì khiến anh ta không còn xứng đáng với vị trí đó nữa. Sắp hết năm 1969, cái năm đầy thử thách. Sự phản kích điên cuồng của kẻ thù, những tổn thất lớn của ta, bao nhiêu vùng mất dân mất đất, bộ đội đói dài, các trận đánh không cân sức… Cách mạng tiến lên trong khó khăn, trong sự sàng lọc nghiêm khắc. - Thôi, tôi về nghe anh Cước – Kháng đứng dậy. - Ừ, thôi về. Ráng màn cho ngon nghe mày. Mà đừng có chủ quan, mất “gáo” như không. - Dạ. Kháng đi một mình trên con đường rừng vắng vẻ. Tiếng chim chiều thoi thóp trên các lùm cây. Anh nhớ lại buổi anh rời Hòa Khương ra đi. Đó là một đêm mưa xối xả. Dạo ấy thời tiết tháng sáu nhưng không hiểu sao trời lại mưa dữ đến thế? Mẹ bị địch bắt đang gin ở nhà lao Hội An, Kháng ra đi mà không gặp được mẹ. Cha Kháng chẳng có gì cho con, ông cắt cái ống tay áo cũ đùm vào mấy lon gạo. Chợt nhớ có đôi dép cao su, ông bảo Kháng xỏ chân vào. Déo rộng quá. Kháng nói: “Thôi để ở nhà cha dùng”. Ông choàng lên lưng Kháng tấm ni lông, dặn con một câu với giọng vừa âu yếm vừa de dọa: “Đi thì ráng chịu cực, đừng có chạy về hử!”. Kháng kẹp dưới nách mấy lon gạo ủ trong cái ống tay áo cũ thấm đẫm mồ hôi của cha, bước ra khỏi nhà, dấn mình trong mưa tuôn ào ào, bên tai vẳng tiếng dặn dò chắc như đinh đóng cột. Lời dặn dò ấy lúc nào cũng như vang vọng bên tai anh. Càng trưởng thành, già dặn lên trong cách sống và cách nghĩ, Kháng càng thấm thía. Ngẫm cho kỹ, mấy tiếng đơn giản ấy chứa tất cả kinh nghiệm của người cha đã nếm trải bao nhiêu cơ cực ở đời và cuối cùng đã tìm cái lẽ đời cốt thiết nhất: Đi làm cách mạng thời phải chịu cực. Mà đã đi thời phải đi cho tới cùng… Kháng về đến chỗ trú quân của đơn vị thì trời sụp tối. Anh bước vào lán, quờ tay đụng một chiếc võng mắc gần lối đi đang rung lên bần bật. “Lại cậu nào lên cơn sốt rét rồi đây!”. Trong võng phát ra tiếng rên hừ hừ, tiếng răng va vào nhau lập cập. Kháng giật mình nhận ra tiếng rên giống hệt của Thế. - Thế phải không? Thế run rẩy đáp, lạc cả giọng trong tiếng rên không kìm giữ nổi. - Anh Kha….áng đ….ới… à? Tôi sô…ốt mấ….ất…rồ…ồi. Làm thế…ế nà…ào..
Tiêu đề: Re: Cành thanh mai đã ra hoa (truyện ký - Hà Dũng) Gửi bởi: nttran1979 trong 11 Tháng Mười, 2010, 08:03:54 pm Một tuần sau, Kháng bắt đầu lên đường đi trinh sát vùng bán đảo như kế hoạch đã định. Cho tới gần ngày đi, Thế vẫn chưa cắt con sốt. Không có Thế, Kháng đành chọn Tới đi cùng. Tới là một chiến sỹ tích cực, nhưng bơi không khá. Tới bơi trên nước ngọt chỉ được hai tiếng đồng hồ. Nhưng Kháng tin ở mình. Với sự hăng hái của Tới, cộng với sự hỗ trợ của anh, Tới sẽ bảo đảm được nhiệm vụ. Thấy mình được chọn, Tới rất phấn khởi. Ngoài Kháng và Tới đi trinh sát, còn bốn chiến sỹ khác cùng đi mang giúp trang bị và đưa chân họ từ hậu cứ tới mép nước. Quãng đường này phải đi mất bốn ngày. Họ mang theo hai mươi lít nước ngọt. Thức ăn thì chỉ có bắp rang giã nhỏ - món ăn quen thuộc của vùng quê nghèo miền Trung, người ta thường gọi là lớ. Mấy hôm trước khi đi, anh em trong đại đội lấy ni lông dán hàng chục cái túi để đựng nước và đưng lớ. Dán bằng thuống chống vắt của Mỹ, rất kín. Bảy giờ tối ngày thứ tư, sau khi vượt qua các ấp chiến lược, qua đường số 1, len giữa những căn cứ bọn Nam Triều Tiên đóng khá dày, họ tới mép biển. Bầu trời đêm cuối năm đầy mây. Đây đó, ở những chỗ mây chợt tan, mấy vì sao lác đác hiện ra giây lát rồi bị khỏa lấp trong mây. Sóng biển vỗ ào ạt lên bờ cát trắng. Bên kia vịnh, bán đảo mờ mờ hiện lên với những đốm đèn nhỏ xíu xa với. Bốn chiến sỹ đưa đường rưng rưng nước mặt. Một cậu trẻ nhất bỗng bật nói, giọng nghèn nghẹn:
- Không biết các anh có về nữa không? Kháng cười hì hì: - Chú mày hâm vừa vừa chứ! Cứ yên trí, đúng ba ngày sau tới địa điểm đã quy định đón chúng tớ. Thôi, về! Kháng và Tới xuống nước. Những con nhòng dưới đáy cát cứa vào chân, nước mặn ngấm buốt tận óc. Họ lội bộ đến khi gần gập đầu thì bắt đầu bơi. Nhìn qua đỉnh sóng nhấp nhô, vùng biển hẹp nằm giữa bán đảo và đất liền kia trở nên rộng vô tận. Rặng đèn Mỹ mờ mờ bên kia bán đảo càng trở nên xa vời như không thể nào tới được. Giờ đây mắt họ không còn biết gì khác ngoài nhưng đốm đèn ấy, tai họ không còn nghe gì khác ngoài tiến thở, tiếng khoát nước nhẹ nhàng bí mật của chính mình. Từng phút trôi qua căn thẳng, chậm chạp dài dặc như hàng tháng, hàng năm. Có thể họ sẽ không còn trở về được nữa. Có thể lắm. Bởi vì trên biển không chỉ có sóng và gió, mà còn có những chiếc bo bo Mỹ đi tuần bất thần xuất hiện. Bởi vì đón họ ở bên kia sau chặng bơi dài cực nhọc không phải là một bãi bờ hạnh phúc bình yên, mà là những lớp rào, những tuyến mìn, những tuyến lô cốt trùng điệp, cùng bao nhiêu thứ cạm bẫy chết người hiện đại, tinh vi. Những cái đó, họ có tính đến hay không? Làm sao không tính được, khi tự nguyện bắt tay vào một công việc như công việc của họ, không phải một lần mà nhiều lần, không phải trong một năm mà đã nhiều năm, và sẽ còn nhiều năm. Chắc chắn là vậy, họ đã từng có lúc nghĩ rằng, rồi có một lần nào đấy sẽ không còn trở về. Nhưng giờ đây gần như họ không nghĩ gì nữa hết. Mọi ý nghĩ về những điều thiêng liêng, nghiêm túc nhất đến nhưng điều bông phèng, vụn vặt nhất đều chìm dần đi, keo hết lại thành một ý nghĩ duy nhất, rành mạch và đơn giản: làm sao đến được bờ cát bên kia, cái chỗ đốm đèn nhỏ xíu xa bờ kia… Bơi được chừng hai tiếng đồng hồ, Kháng nghe Tới thở phì phò, anh ghé lại gần bạn: - Sao thế? - Mệt quá anh ạ. - Cố gắng lên nghe Tới. Chú ý bơi cho đúng động tác mới giữa được sức. Bơi được độ một tiếng đồng hồ nữa, gặp một cái phao cắm mốc trên biển, Tới vộ bám vào. Đây là cái phao thứ hai họ gặp trên đường đi. Tới hổn hển thở. Kháng bám nhẹ vào một bên phao, chờ Tới nghỉ. - Tôi đói quá anh Kháng ạ. Anh để cho tôi ăn một tí. - Ừa, ăn đi! Kháng kéo sợi dây có buộc chiếc phao chở thức ăn, nước ngọt của hai người. Anh kéo léo mở lấy một cái túi lớ đưa cho Tới. Tớ vừa bụm được một miếng lớ vào miệng thì một con sóng ập qua. Túi lớ trong tay Tới tuy may mắn không bị văng mất nhưng ngấm đầy nước mặn. Mặc dầu vậy, Kháng vẫng cẩn thuận buộc túi lớ lại. Anh đã có kinh nghiệm của đời lính đặc công. Phải chi li, tỉ mỉ, tằn tiện như một anh kỹ tính đến mức lẩm cẩm, một anh chàng keo kiệt nhất thế gian. Đôi khi, trong tình huống nào đấy, chỉ một túi lớ ngấm đầy nước mặn thế này cũng đủ cứu sống họ và đưa họ ra khỏi tình thế hầu như đã tuyệt vọng. Họ tiếp tục bơi. Được một quãng. Tới lại mệt, thở dốc, chân tay có vẻ ngượng nghịu. Kháng bảo Tới bám vào chiếc phao thức ăn để anh kéo đi. Tốc độ của họ mỗi lúc một kém. Kháng vừa kéo bạn vừa bơi mải miết, rướn tới, rướn mãi trên mặt sóng dập dềnh. Cho tới khi bỗng nhiên anh cảm thấy chân mình chạm cát, sực nhìn lên thấy rặng đèn trên bờ bán đảo đã ở ngay trước mặt. Kháng mừng rõ thở phào một cái, ngoắc tay coi đồng hồ. Qua được chặng đầu. Mọi gay go hãy còn ở đằng trước. Hai người ngồi lại bên mép nước, chăm chú quan sát phía bờ. Trên con đường nhựa chạy dọc ven bờ bán đảo, một chiếc xe jeep mui trần bon bon lượt qua. Dưới anh đèn, thấy rõ bóng mũ sắt mấy tên lính Mỹ cạnh bóng một con chó cao lớn. Bên kia đường là những cồn cát trắng kế tiếp. Kháng biết rằng phải mau chóng vượt qua đường để tới ẩn trong khu vực cồn cát. Luẩn quẩn ở mép này chừng nào nguy hiểm chừng nấy. Nhưng vượt qua cách nào đây? Hai bên đường đều là cát. Luýnh quýnh để lại dấu chân sẽ bị địch theo dấu tóm gọn lập tức. Kháng căng óc kiếm kê. Bỗng anh thấy mấy miếng ván nhỏ, thứ ván văng ra từ các thùng chứa hàng của Mỹ, vương vãi tên bờ cát gần mi nước. Khắc chặc lưỡi: “Được rồi!”. Anh bò lên lượm được bốn mảnh ván. Nhanh nhẹn nai nịt lại các trang bị bên mình, Kháng và Tới mỗi người dùng hai mảnh ván đi trên cát, không để lại dấu chân. Một giờ sau họ tới vùng cồn cát. Ở đây thoát được tầm mắt của bọn tuần tiễu dưới đường. Trong ánh sáng nhập nhờ lúc trời sắp rạng, có thể phân biệt được các khu kho, khu nhà lính. Có một khu vực chúng thắp toàn đèn nê-ông xanh. Chắc hẳn đó là khu sỹ quan. Tới gần sáng. Hai người di chuyển địa điểm để đảm bảo an toàn hơn. Họ lên một đỉnh cồn cát cao. Giữa trời nắng chang chang, bọn Mỹ chẳng hơi đâu mà mò lên những cồn cát chẳng có gì đáng khả nghi. Tại đây, họ có thể mở rộng tầm quan sát. Dưới ánh sáng chói lóa của một ngày đầy nắng, mọi thứ trong cái căn cứ thâm nghiêm cẩn mật vào bậc nhất của Mỹ đều phải rõ mồn một trước mắt hai chiến sỹ trinh sát. Tới thốt reo lên khe khẽ “Thế này thì đánh ngon xơi quá, anh Kháng ơi!”. Suốt ngày họ vùi mình trong cát, chịu đựng cái nóng như luộc người. Đêm, họ mò đi chuẩn bị. Đêm đầu, họ trinh sát khu kho đạn. Đêm thứ hai, họ trinh sát khu kho xăng. Ba ngày qua. Đến ngày phải về, như đã hẹn với an hem đi đón. Nhưng Kháng quyết định phải ở lại dù rằng nước ngọt đã hết (Tới sơ ý làm rách túi). Anh đã nghĩ kỹ. Biết bao công phu mới lọt được vào đây. Địch chỉ chăm bẵm phòng giữa phòng giữ vành ngoài, bên trong rất sơ hở. Phải tranh thủ cơ hội này mà chuẩn bị thêm. Họ đã thấy một khu vực có chừng bốn trăm lính Mỹ tập hợp chào cờ buổi sáng. Chúng không mang súng. Có lẽ đó là bọn đi càn quét xong ở đâu được về đây nghỉ ngơi. Đêm thứ tư, xong việc họ lần ra mép nước. Vừa qua khỏi hàng rào dưới đường nhựa, bỗng cả hai hoảng hồn nằm dán mình xuống cát. Một trái mìn sáng phựt nổ xì xì và sáng lóa. Không thấy loạt súng nào nổ, họ biết là đã gặp may. Lúc này không có bọn Mỹ nào đi tuần quanh đây. Hai người bình tĩnh nằm im, rồi ngụy trang lại, xóa dấu vết đằng sau. Bò đi một quãng, vớ được một con cua, Kháng bẻ còng vứt lại gần chỗ trái mìn sáng vừa nổ cho bọ Mỹ khỏi nghi. (Thiếu gì những con vật làm nổ trái sáng). Lại một đêm nổi chìm trên biển, đánh vật với sóng nước, đánh vật với cơn khát và sự mệt mỏi rã rời sau mấy ngày căng thẳng. Và đón họ trên đất liền, không phải anh em trong đơn vị. Khi hai người bơi gần tới bờ, thì thấy từ trên bãi đường đi lố nhố nhưng bóng người không mang ba lô, mỗi lúc một đông. Địch! Kháng nghĩ ngay. Đúng là địch. Chúng chia nhau từng tốp rải ra nằm im trên dải cát dốc có những bụi cỏ lúp xúp. Kháng giật sợi dây liên lạc nối với Tới bảo Tới nằm lại dưới nước. Chỉ còn cách nằm mà chờ. Kháng đã đoán đúng. Khoảng hai giờ sáng chắc là quá buồn ngủ chúng bắn một phát pháo sáng chiếu lệ rồi lóp ngóp kéo nhau về. Hai người thận trọng lên bờ, biến nhanh vào rừng dương, tới điểm hẹn. Ngồi một lát, họ thấy hai bóng người đi xuống. Cách một quãng, Kháng đã nhận ra cái hơi hướng anh em mình. Một chiến sỹ nói: - Chúng tôi đi đón các anh hai đêm rồi, đêm nào cũng gặp địch. - Ừ. Mình biết. Suýt nữa bọn mình đụng chúng nó. Có nước không? - Có, đây, đây, cả lớ đây, gặp các anh mừng quá quyên béng mất. Kháng, Tới vớ lấy hai chiếc bi đông từ tay hai người đồng đội, tu ừng ực một hơi hết sạch. Và bỗ từng bỗ tướng bột bắp vào đầy miệng, nhai nhồm ngoàm. Tiêu đề: Re: Cành thanh mai đã ra hoa (truyện ký - Hà Dũng) Gửi bởi: nttran1979 trong 13 Tháng Mười, 2010, 06:50:42 am Đã sang tháng 2 năm 1970. Cuộc tiến công lớn của chúng ta mà Mỹ và tay sai thường dự đoán nổ ra vào dịp này hàng năm, vẫn chưa thấy nổ ra. Nhiều đơn vị chủ lực ta bị đẩy lên núi, vật lộn từng ngày với các đói và bệnh sốt rét. Đơn vị Kháng cũng trong tình trạng ấy. Mỗi ngày sau buổi luyện tập, họ ngồi quây lại bên cái bàn nhỏ ghép bằng cành cây trên khoảng sân trống trước lán, xì xụp húp một thứ cháo nấu bằng củ nưa với chút sắn lát thái mỏng. Sắn bị nhiễm chất độc hóa học, ăn vào sôi bụng òng ọc. Còn củ mưa hoàn toàn chỉ là một thứ “bổi” nuốt vào cho đầy ruột để đánh lừa một cách vụng về đòi hỏi khắc khoải triền miên của dạ dày. Thỉnh thoảng các bà mẹ, các cô gái Rắc Lay mang đến cho họ một gùi sắn. Những củ sắn gầy tong teo, nhưng tấm lòng dân thì quý giá không kể xiết. Anh em biết, đồng bào không còn gì cả, chịu lạt muối hàng tháng ròng, vậy mà có chút gì cũng đem cho bộ đội. Nhìn các cô gái, các bà mẹ Rắc Lay mặc những chiếc váy rách xơ may bằng bao đựng cát của Nam Triều Tiên xé ra, lòng các chiến sỹ thắt lại. Đối với họ, ngày toàn thắng mà họ hằng da diết mong mỏi không còn là cái gì trìu tượng, mà giờ đây nó trở nên đơn giản, chắc thiệt như một tấm váy lành cho mỗi người con gái Rắc Lay. Tất cả nhưng điều đó càng thúc giục họ ráo riết chuẩn bị cho trận đánh mới. Kết quả trinh sát của Kháng và Tới đem về được biểu hiện thành sa bàn cho các chiến sỹ nghiên cứu. Kháng lo nhất là vấn đề tiềm nhập trên bãi cát. Chương trình huấn luyện được bổ sung. Chiến trường chung có vẻ yên tĩnh. Ở Cam Ranh lại càng yên tĩnh. Tàu chiến Mỹ vẫn ra vào quân cảng hàng ngày. Lính Mỹ trong căn cứ ngày ngày vẫn ra thị trấn tìm lạc thú với những cửa hiệu đầy ứ hàng Mỹ, hàng Nhật, những biển quảng cáo nhiều màu sắc bằng tiếng Anh, nhưng cô gái Việt ăn mặc hệt như gái Mỹ, khiến cho chúng có cảm giác đây là một góc nhỏ của nước Mỹ, tuy rằng có phần quê kệch nhưng dù sao cũng vừa đậm đà không khí Mỹ lại vừa phảng phất hương vị Á Đông khá quyến rũ. Những cuộc vui nổ trời thâu đêm suốt sáng bằng rượu, gái và cờ bạc cứ diễn ra yên ổn, khiến cho không ít đưa trong bọn chúng nhiều khi đã thực tâm tin rằng rốt cuộc rồi chúng có thể ở lại đây mãi mãi. Cả cái đám người hỗn tạp bám quanh căn cứ để làm giàu bằng đô la đỏ, đô la xanh của Mỹ cũng thực tâm tin như vậy. Chính khi ấy, một ngày cuối tháng hai… Từ cứ hậu trên vùng núi giáp giới giữa Khánh Hòa và Ninh Thuận, đại đội phó Phan Công Kháng dẫn 15 chiến sỹ của mình tiến về phía Cam Ranh. Họ mang theo lương thực đủ ăn ba ngày cho mỗi người. Chẳng có gì ngoài bột bắt giã nhỏ, tứ là lớ, rất tiện cho người đi xa. Vũ khí thì có AK, thủ pháo loại 5-8 kg, kíp hẹn giờ, dao găm và lựu đạn. Dọc đường, hai người phải nằm lại vì sốt rét. Tình huống này bao giờ cũng được lo liệu trước, vì không ai trong họ là tránh khỏi khả năng bị bệnh sốt rét quật ngã bất ngờ. Họ đi hết núi xuống đồng bằng, xuyên qua các ấp chiến lược bị kìm kẹp nặng nề, luồn giữa khe hở các căn cứ Nam Triều Tiên án ngữ hai bên đường 1, và tới bờ biển đối diện với bán đảo. Trời tối. Chín chiến sỹ lặng lẽ xuống nước. Chín người, vì trận đánh chỉ cần chừng ấy lực lượng (bốn đồng chí còn lại làm nhiệm vụ trên bờ). Từng hai người một nối với nhau bằng một sợi dây, cho khỏi lạc. Đại đội phó Phan Công Kháng làm nhiệm vụ mũi trưởng. Họ mau chóng làm công tác tổ chức chiến đấu rồi xuất phát, lấy ngọn đèn sáng nhật trên căn cứ địch bên bán đảo để xác định phương hướng. Cuộc tiến quân êm lẹ, bí ẩn trên mặt biển bắt đầu. Nhưng vừa ra cách bờ chừng năm trăm mét, Kháng được báo có một chiến sỹ bị chuột rút ở bụng. Thấy chưa xa bờ bao nhiêu, Kháng ra lệnh hai đồng chí cùng tổ đưa chiến sỹ đó trở lại. - Không, không! Để tôi lấy dầu xoa một lúc là nó khỏi, tôi lại đi được thôi – Anh chàng không may kia cuống quýt phản đối, khe khẽ nhưng ương ngạnh. Mọi người bơi đứng giữa biển, đứng lại chờ. Lát sau, anh chàng khỏi thật. Họ lại tiếp tục ngậm tăm trườn tới trên mặt nước. Khoảng 9 giờ tối, họ đã ra được gần một ki-lô-mét. Bỗng Kháng nhận thấy có một tổ bị lạc đâu mất. Nhưng biết làm sao bây giờ? Không thể nào tìm nhau trên mặt biển mênh mông đầy bất trắc này được. Đã hiệp đồng chặt chẽ trước rồi. Cứ nhắm cái đốm đèn sáng nhất kia mà tiến. Hy vọng sang tới bán đảo sẽ gặp nhau đủ mặt. Ba tiếng đồng hồ nữa trôi qua. Ở đằng trước, có hai vật đen tròn nhấp nhô theo sóng. Kháng nhìn kỹ: hai cái đầu người. Anh tăng tốc độ, tiến đến gần hơn để cố nhìn cho ra. Đằng trước vẳng lại tiếng hỏi: - Sao các anh đi chậm thế? À, thì ra hai cậu bị lạc hồi nãy. Kháng chưa kịp đáp, hai cái đầu vụt biến mất. Kháng cũng ngụp xuống, bơi chìm. Tất cả đều ngụp xuống, bơi chìm. Đúng lúc đó một chiếc bo bo Mỹ đi tuần chạy qua trên đầu họ. Nó tới hơi chậm, bởi chín cặp tai thính nhạy của họ đã cùng phát hiện được nó từ xa ngay khi họ vừa đuổi kịp hai đội viên bị lạc. Họ bơi chìm, đi được một quãng xa mới nổi lên. Ngoái lại vẫn thấy chiếc bo bo dập dềnh đứng đó. Nó đã xảo quyệt tắt máy đứng im một chỗ. Nhưng họ đã thoát ra được ngoài tầm quan sát của nó, lấp dưới những ngọn sóng nhấp nhô.
Tiêu đề: Re: Cành thanh mai đã ra hoa (truyện ký - Hà Dũng) Gửi bởi: nttran1979 trong 22 Tháng Mười, 2010, 03:48:20 pm Những đoàn xe tải lớn chở đầy đạn nối nhau chạy vào khu kho. Lính Mỹ mình trần trùng trục, mồ hôi nhễ nhại khuân từ trên xe xuống nhưng hòm nặng trịch, đem xếp trong các dãy nhà kho còn để trống. Tiếng la hét của bọn sỹ quan vang lên inh ỏi không ngớt, vọng tới tạn chỗ các chiến sỹ đang nằm vùi mình trên một cồn cát nóng bỏng.
Họ tới mép bán đảo lúc hai giờ sáng, và hơn một giờ sau, tới cồn cát này, cái địa điểm ém quân thuận tiện mà mũi trưởng của họ đã lựa chọn sẵn trong chuyến trinh sát lần trước. Tranh thủ ăn uống nghỉ ngơi trước sáng, và khi mặt trời vừa ló lên khỏi mặt biển, họ đã biến mất dưới cát, chỉ hở hai con mắt. Từ đấy, tai, mắt phải căng ra để theo dõi mọi động tĩnh, thân thể trần trụi bị nung nóng lên mỗi lúc một mềm nẫu ra dưới các nắng thiêu đốt. Hồi đêm, lúc qua rào chỗ ven đường nhựa ở rìa bán đảo, một đồng chí không may bị rách một túi nước. Họ đã chuyền nhau uống hết túi nước ấy để tăng số nước dự trữ trong người. Vậy mà chẳng bao lâu tất cả đều cảm thấy nước trong thân thể đang bị hút kiệt một cách đáng sợ. Kháng nằm ở một vị trí hơi cao hơn anh em để dễ theo dõi bao quát được tình hình đội. Anh biết, mặc dù mọi người đã được huấn luyện tốt, đã tập chịu đựng những thử thách tương tự, nhưng thử thách trong trận đánh thực bao giờ cũng là thử thách khắc nghiệt nhất. Mọi người nằm im lìm dưới tấm “chăn” cát nóng bỏng. Thời gian nặng nhọc trôi qua, từng phút, từng giây. Thỉnh thoảng, một chiếc máy bay lên thẳng bay ngang. Có lần một chiếc phành phạch rà rất thấp, gió từ cánh quạt khiến từng cột lốc cát xoáy lên. Kháng cố nghĩ việc này việc khác để giết thời giờ, để quên đi cái nóng ngột cực kỳ khó chịu đang cắn rứt khắp thân thể. Các ý nghĩ bồng bềnh luễnh loãng trong đầu anh, không đầu không đuôi, chuyện nọ xọ chuyện kia, khi rối rắm, khi mạch lạc, khi trống rỗng… Rồi thì chiều cũng xuống và đêm cũng tới. Bóng đêm xiết bao thân thiết đối với người chiến sỹ đặc công! Chín chiến sỹ ngồi ăn bữa chiều. Bàn tay khô ráo, phủi cát qua loa, dốc lớ ra, bỗ từng bỗ. Bột bắp thơm ngậy, nhưng xít lại trong miệng, mỗi lần nuốt muốn tắc họng. Đói cồn cào. Ăn chỉ vửa đủ êm dạ dày. Nước uống lại càng phải tằn tiện, mặc dù khát kinh khủng. Uống đúng ba ngụm, rồi liếm môi, buộc chặt miệng túi nước lại, quên nó đi. Bảy giờ tối, xuất kích về hướng đông bắc. Khu kho đạn ở đây. Chín người bám nhau đi thưa, mười mét một người, bàn chân kéo thành rãnh, người đi sau cùng, khỏa lại xóa dấu vết. Đêm khuya dần. Chín người chia thành ba tổ, áp sát mục tiêu. Lặng lẽ và khéo léo, họ buộc rào, tạo một luống có thể chui lọt, và chui vào từng người. Ở phía cổng chính của khu kho, các xe tải vẫn tiếp tục công việc đã diễn ra suốt ngày, chở đạn vào kìn kìn. Lính Mỹ vẫn tiếp tục khuân vác vào kho, chất cao thêm từng núi hòm đạn. Một chiếc xe jeep chạy chầm chậm trên con đường nhựa ngay kề chỗ hàng rào mà họ vừa chui qua. Nhưng các chiến sỹ lúc này đã biến mất dưới bóng tối của các nhà kho. Lát sau, họ vào hết các vị trí đã nhắm sẵn, đặt các khối thuốc nổ. Mũi trưởng Phan Công Kháng bò đi kiểm tra các tổ một lượt, và báo: 1 giờ 10, cắn kíp. Kháng trở lại vị trí của mình. Anh đặt khối thuốc, cắn kíp hẹn giờ ba mươi phút, rồi quay người trở ra. Kháng ra sau cùng. Ra được chừng trăm mét, anh gặp một tổ ra trước. Mấy cậu đói quá, định ngồi lại ăn. Kháng xô lưng một cậu, nói với cả bọn: - Ra nữa, ra nữa, ngồi đây nó cho thăng thiên mất xác hết bây giờ. Kháng biết cái kho mà anh vừa đặt thuôc và đang ở gần họ nhất, là kho thuốc nổ C4. Họ lần lượt rút ra xa thêm, nhằm hướng quả đồi trong phương án đã lựa chọn làm vị trí trú ẩn thứ hai. Bỗng Kháng thấy một luồng gió thúc mạnh vào lưng và hất mình văng đi. *** Tiếng gầm rít ghê khiếp của xe tăng mỗi lúc một to hơn. Cái âm thanh quái đản chà xé không khí cứa vào óc người, gây ra cảm giác rờn rợn: khối thép man rợ ấy sắp nghiền nát tất cả. Trái với bản năng thông thường trong tình trạng này, đáng lẽ nhắm mắt lại thì Kháng lại mở mắt. Vẫn giữ nguyên đầu trong tư thế bất động, anh đảo mắt nhìn con quái vật kia. Nó đó. Nó đang trườn lên dốc cái cồn cát mà anh đang giấu mình. Nó đã thấy gì rồi chăng? Nó đang tiến tới chỗ cậu Thế. Trời! Nó nghiền nát Thế mất- Kháng cảm thấy mồ hôi vã ra, dính nhớp lẫn cát chạy nhễ nhại. Anh căng mặt nhìn về chỗ Thế. Cát phủ trên mình Thế vẫn im lìm, không lộ một dấu hiệu khác thường nào. Chiếc xe thăng trường qua, chỉ cách chỗ Thế chưa đầy hai mét, rồi nhấp nhổm bò theo triền xuống chân cồn cát kế bên. Tiếng động cơ nhỏ dần, rồi có lúc bất chợt lại rồi lên, như thể chiếc xe tăng đang lộn trở lên. Từ sáng sớm, địch tung các cánh quân có kèm xe tăng và chó đi lung sục khắp căn cứ. Khu kho đạn vẫn tiếp tục nổ. Nhiều mảnh kim khí, gạch đã và gỗ văng tứ tung đã giúp xóa nốt dấu vết mà các chiến sỹ chưa xóa hết trong đêm. Hồi đêm, kho thuốc C4 phát nổ đầu tiên, đã hất Kháng cùng một chiến sỹ khác văng đi một quãng. Hai người bị tức ngực, nhưng phấn khởi đến muốn nhảy lên mà reo hò trong tiếng nổi và cháy khủng khiếp. Những tốp máy bay lên thẳng chữa cháy chỉ bay chờn vờn vành ngoài rồi lảng dần ra xa. Địch lùng sục ráo riết suốt ngày không kết quả. Chúng không tìm thấy dấu tích gì ngoài một cái túi ni lông đựng nước mà các chiến sỹ đánh rơi trong lúc vội vã. Chúng cho chó ngửi và suỵt chó đánh hơi tìm kiếm. Những con chó săn người được huấn luyện công phu từ Mỹ, sục mõm vào khắp chốn, cũng bất lực. Khu kho xăng được tăng cường canh gác cẩn mật. Nhưng mười hai giờ đêm hôm sau, Phan Công Kháng đã cùng năm đồng chí áp sát được các bồn xăng (có ba đồng chí bị mệt, phải nằm lại vị trí trú ẩn). Những bồn xăng thật lớn. Đứng cạnh nó, nhìn lên mà phát ngợp! Lần đi chuẩn bị, Kháng đã đếm các bậc thang từ dưới chân lên đỉnh bồn để ước lượng cỡ lớn của chúng. Mỗi thang 24 bậc. Khi an hem đặt thuốc, cắn kíp hẹn giờ xong vừa ra đến ngoài thì gặp Mỹ. Kháng nhằm tiếng chúng là: - Vi-xi! Vi – xi! Tên Mỹ vừa giương súng lên, nhưng Kháng nhanh hơn đã quất luôn một loạt AK. Nó gục sấp xuống. Các cỡ súng nhỏ của Mỹ dồn dập nhả đạn. Đạn châu về hướng đông: Kháng đưa anh em rút về hướng tây nam. Cùng lúc ấy bùng lên một tiếng nổ còn khủng khiếp hơn cả tiếng nổ của kho đạn đêm qua. Bầu trời bất chợt sáng lóa. Một ngọn lửa khổng lề phực lên tràn ra. Một biển lửa. Từ những con tàu rất xa ngoài vùng biển quốc tế, người ta cũng nhìn thấy ngọn lửa ấy. Còn các chiến sỹ lúc này đã vùi mình trên một cồn cát bí mật, thì kinh ngạc đến mức không tin rằng đó chính là ngọn lửa của mình, của chính trái tim mình. Tháng 12-1979 Tiêu đề: Re: Cành thanh mai đã ra hoa (truyện ký - Hà Dũng) Gửi bởi: nttran1979 trong 24 Tháng Mười, 2010, 05:56:23 am NƠI DÒNG SÔNG ẤY (truyện ngắn - Đình Kính) .Làm việc với một số cán bộ kỹ thuật trên cầu xong, Giang lần theo con đường mòn trở về lán ở. Nhờ ánh điện từ trên cầu hắt xuống, cô bước khá nhanh. Giang đẩy tấm cửa bằng nứa lách nhẹ người vào lán. Trong lán, mọi người ngồi vây quanh một anh bộ đội, chăm chú nghe anh kể chuyện. Giang rón rén bước lại ngồi bên Hoa. Cô ý tứ vuốt những giọt nước mưa đọng trên mái tóc. Hoa quay lại thì thầm: - Công việc trên cầu ra sao rồi, Giang? - Tạm ổn, nếu ngày mai trời chỉ mưa thế này, chúng mình sẽ đổ bê tong cho móng trụ giữa- Quay nhìn anh bộ đội, Giang ghé sát tai Hoa- Có phải anh ấy ở đơn vị bộ đội về đây cùng chúng mình tham gia xây dựng con đường này? Hoa gật đầu: - Trước đây anh ấy từng chiến đấu ở vùng này. - Nay lại trở về đây để xây dựng… - Anh ấy đề nghị với tổ chức như thế. Đó là nguyện vọng của anh. Mảnh đất này với anh có nhiều kỷ niệm…Thôi, nghe tiếp chuyện đã. Câu chuyện của người chiến sỹ đang làm mọi người thích thú với lối đánh tàu thần kỳ, táo bạo và đầy mưu trí của người anh hùng, thì giọng nói người kể tự nhiên lặng xuống, chậm rãi: -… Rồi sau nhưng lần làm cho bọn địch thất điên bát đảo tại quân cảng với hàng chục chiếc tàu nổ tung, một hôm tổ chúng tôi được lệnh đánh chiếc cầu này, và bữa đó… anh đã vĩnh viễn nghỉ lại nơi đây với con sông… Người chiến sỹ ngừng kể. Cả lán im lặng. Những cặp mắt cùng nhìn ra chiếc cầu, ở đó ánh sáng đèn hàn lóe lên nhấp nháy không ngớt. Từ bờ sông, gió mang theo hơi nước lùa qua kẽ hở những tấm liếp mới dựng tạm, phả vào mặt mọi người lành lạnh. Phía ngoài, mưa bụi bay lất phất. Trời tối sẫm. Tổ trộn bê tong của Hoa ngồi yên hồi lâu. Cái chết của người chiế sỹ đặc công trong câu chuyện kể đã khiến cho họ xúc động. Tổ trưởng Hoa hất nhẹ hai bím tóc đuôi sam mới tết xong ra phía sau, vòng tay ôm gọn lấy lưng Giang, hỏi: - Trận đó rồi có đánh sập được cây cầu không , anh? Có ánh mắt một bạn trai quay về phía Hoa. Cô nhận ra câu hỏi của mình thừa. Nhưng mọi người không chú ý, họ muốn nghe tiếp câu chuyện. Người chiến sỹ ngồi xếp bằng trên phản, giữa những người công nhân xây dựng cầu. Anh trông còn trẻ, đôi mắt linh lợi, da mặt rám nắng, đôi lưỡng quyền nhô cao nên trong anh hơi gầy. Anh vặn bấc đèn dầu cho ngọn lửa tỏa sáng hơn, giọng thong thả: - …Trước lúc ra đi, anh đã thay mặt chúng tôi hứa với ban chỉ huy là bằng giá nào cũng sẽ đánh sập chiếc cầu trong đêm. Sống với anh lâu, chúng tôi hiểu người tổ trưởng của mình lắm. Khi anh đã quyết thực hiện vấn đề gì, tức anh biết giá trị của việc làm đó. Lần này cũng vậy, đêm ấy quân ta sẽ nổ súng ở mặt trận phía bắc. Phá gục chiếc cầu này là chặt đứt con đường tiếp viện của địch lên phía đó, tạo điều kiện cho bộ đội tiêu diệt địch, vì vậy đánh chiếc cầu có ý nghĩa đặc biệt. Tôi, Hồng và anh, mỗi người mang một khối thuốc nổ trên lưng. Chúng tôi lặng lẽ men vánh đã lấn lên phía thượng nguồn, cố tránh không để bọn địch phát hiện. Khoảng 11 giờ đêm, chúng tôi thả mình xuống nước. Dạo đó đang mùa lũ, nước sông cuồn cuộn chảy xiết. Gần đến cầu, bị những chiếc mố lừng lững chặn lại, nước rẽ ra, càng xoáy mạnh. Trên cầu, ánh điện sáng lóa mắt. Lính ngụy mang súng, nện gót giày cồm cộp, mắt lơ láo soi xuống dòng nước và sẵn sàng xả đạn vào bất cứ vật gì khả nghi trên mặt sông. Làm thế nào “bắt” được mỗ cầu để gắn thuốc nổ vào đó mà không bị dòng nước cuốn trôi? Anh bảo chúng tôi cùng buộc mình vào một sợi dây ni lông khá bền, mỗi người cánh nhau độ vài chục mét. Sợi dây đã gắn chúng tôi lại với nhau. Cách mục tiêu khoảng hơn 100 mét, anh ra hiệu cho Hồng và tôi dàn thành hàng ngang, lặn xuống. Nước đẩy chúng tôi lao nhanh vào cầu. Tôi đang lần mò giữ dòng nước sôi lên đục ngầu để tìm mố cầu thì nghi tiếng đạn Ả.15 nổ lụp bụp. Lộ rồi! Tôi vội ngoi lên quan sát. Tiếng bọn địch la hét hoảng loạn, thất thanh. Tôi thấy một tay anh đã bám được vào mố cầu giữa, tay kia anh rút nhanh con dao găm cắt đứt sợ dây. Tôi chưa kịp hiểu thì, sợ dây buộc ngang hông nhẹ tênh, chùng xuống. Rất nhanh, dòng nước giữa hai mố cầu ấp tới, cuốn tôi đi. Tôi chới với cố quanh lại, nhưng không được, dòng nước xiết quá mạnh. Tôi chỉ kịp thấy hai đang hai tay ôm chặt lấy mố cầu. Đôi mắt anh rực lên. Anh nhìn theo tôi. Đôi mặt ấy, cho mãi tới bây giờ, làm sao mà quên được! Đôi mặt như muốn nhắn với chúng tôi rằng hãy nói lại với mọi người là anh đã hoàn thành nhiệm vụ. Tôi giãy giụa giữa dòng sông, nước mắt ứa ra. Bất lực. Tôi cố gắng gọi thật to: Anh Lê! Nhưng một tiếng nổ dữ dội đã dồi tôi lên, giạt ra xa. Hoành cảnh đã buộc anh phải tháo kíp cho khối thuốc nổ nổ ngay. Người chiến sỹ lại ngồi im. Hoa ôm chặt người Giang, cô thấy như bị hẫng, rồi bật lên câu hỏi: - Anh ấy có phải là Nguyễn Hồng Lê không anh? - Đúng. Nguyên Hồng Lê- Người chiến sỹ trả lời đầy vẻ tự hào – Tên anh là Nguyễn Hồng Lê, chiến sỹ săn tàu nổi tiếng của đơn vị đặc công thủy chúng tôi. Giang giật mình, choáng người, tưởng như mình nghe nhầm. Trời, chính anh đã đánh sập chiếc cầu mà hôm nay em tới ư? Chao ơi, sau ba năm xa anh, cái hôm gặp lại anh trên tờ báo Đảng, anh biết không, em lặng đi. Em không tin ở mắt mình nữa. Nhưng em không khóc, em chỉ nhớ. Nỗi nhớ của bao năm xa nhau đều lắng cả vào cái ngày hôm ấy. Chưa bao giờ em thấy anh gần gũi, gắn bó và thân thiết với em đến thế. Nhưng hồi ấy em chỉ biết anh đánh sập một chiế cầu để ngăn địch…Thế ra con sông, chiếc cầu này! Nghe bạn anh kể, em đã ngờ ngợ…Và từ hôm đó, chiều nào cũng vậy, khi mặt trời chỉ còn để lại chút ánh sáng mỏng dát trên vòng mỏ quê mình, em lại cầm tờ báo có hình anh, lại men theo những triền đã nhô ra biển, nơi anh vẫn kể cho em nghe những chuyện kỳ thú, dữ dội của biển và những ước mơ cháy bỏng, những dự định táo bạo của anh. Ừ, thế mà có lúc em chưa hiểu hết anh. Có phải là có lần, em đã ngớ ngẩn hỏi: “Sao anh lại vào ngành xây dựng, chả nhẽ ngành y, ngành sư phạm, ngành dược không thú hơn sao?”. Em nhớ lúc đó anh chỉ cười “Đất nước mình còn nghèo, hết chiến tranh lại cần có nhiều công trình, nhiều con đường em ạ”. Còn em, em có ý định học hết lớp 10 sẽ đi ngành sư phạm. Anh không phản đối, anh nói “Đó là một nghề cao quý…”. Thế mà khi nghe tin anh, em đã quyết định thi vào trường đại học xây dựng. Tổ quốc mở con đường sắt Thống Nhất, con đường bao nhiêu năm bị gián đoạn bởi chiến tranh, em đã xin đi. Em muốn làm cái việc mà anh ao ước. Không ngờ em lại đến với con sông này, chiếc cầu này. Em đã đến chỗ anh… Tiêu đề: Re: Cành thanh mai đã ra hoa (truyện ký - Hà Dũng) Gửi bởi: nttran1979 trong 24 Tháng Mười, 2010, 02:44:44 pm Người chiến sỹ kể tiếp. Anh không nghĩ rằng ở đây, giữa những người thợ cầu trẻ tuổi có một người con gái vừa mới ra trường đang chăm chú nghe anh nói, lại hiểu về cuộc đời người anh hùng hơn cả anh.
- … Anh Lê là học sinh đại học khoa cầu đường, một con người đầy ước mơ. Anh vẫn kể cho chúng tôi nghe về sự giàu có của Tổ quốc, về những dự định đẹp đẽ góp phần xây dựng đất nước của anh. Nhưng anh bảo đất nước hiện tại còn giặc. Tổ quốc đang cần người thanh niên trong bộ quân phục. Ngồi yên sao được khi quê hương mình bị bom đạn Mỹ cày xới hàng ngày. Thế là anh nhập ngũ. Anh về đơn vị săn tàu trước chúng tôi. Anh bơi giỏi và khá dai sức. Một đêm tôi và anh được lệnh đánh gấp chiếc tàu một vạn tấn của địch chở vũ khí vừa vào cảng hồi chiều. Chúng tôi lần mò, né tránh mãi mới vượt qua được hàng rào tàu tuần tiễn và can nô địch ken dày ở vòng ngoài. Gắn xong khối thuốc nổi đã định giờ vào thân tàu, nhìn đồng hồ, đã ba giờ sáng, chúng tôi vội quay ra. Bơi được một đoạn, tự nhiên sợi dây buộc ngang hông tôi không căng như cũ nữa. Tôi cầm lấy, giật nhưng vô hiệu. Sợi dây buộc tôi với anh vướt sắt thép ngổn ngang dưới lòng sông đã bị đứt. Tôi lạc anh. Nhưng chỉ một lát sau, anh đã quay lại tìm tôi. Chúng tôi lại buộc vào với nhau. Ở dưới nước, sợ dây ấy đối với chúng tôi quý lắm. Nó bó bện đồng đội với nhau. Nó báo cho người đi trước biết phía sau có bọn “người nhái” đang theo dõi. Nó nói với người đi sau rằng đồng đội mình phía trước đã “bắt” được thành tàu. Nó làm cho chúng tôi an tâm: có đồng đội bên cạnh. Nó là sợi dây liên lạc… Trong chiến đấu, với chúng tôi, sợ dây ấy thiếng liêng lắm, ấy thế mà lần này đánh cầu, anh lại tự tay nhanh chóng cắt đứt nó. Anh không muốn chúng tôi hy sinh vô ích… Giang nép sát vào Hoa, người cô run run. Ngoài trời gió nổi lên mạnh hơn. Hoa vội siết chặt bạn vào mình. - Lạnh hả, Giang? Giang lắc đầu. Bạn không biết được đâu. Hoa ơi. Mình cũng mong Hoa và mọi người đừng biết quan hệ giữa anh và Giang. Mà quan hệ gì nhỉ? Anh ấy chỉ là bạn học của anh Hữu mình thôi. Hoa sẽ bảo mình nói dối. Không, thật mà, anh đã nói với mình điều gì đâu. Chúng mình chỉ có những kỷ niệm nhỏ nhỏ của tuổi học sinh. Nhưng thú thật, nhưng ngày xa anh, mình sống với những kỷ niệm đó. Hôm anh lên đường, từ trường anh tạt về nhanh hai ngày. Anh bảo mình: “Anh đi bộ đội, tranh thủ về thăm nhà…thăm em”. Mình ngạc nhiên không tin “Thật ư, anh? Anh đang học cơ mà!”. Anh cười “ Anh mà lại dối em. Sau này anh học tiếp cũng chẳng muộn”. Tối hôm ấy mình đi chơi với anh. Anh thường dẫn mình ra những triền đã nhoai ra chơ vơ giữa mép nước. Hôm nay cũng vậy. Hai đứa ngắm trắng lên trên biển. Anh chỉ nói chuyện ở trường, những công trình đang xây những con đường mới làm. Mình chờ đợi điều gì đó mà anh lại không nói. Anh đi, mình đưa anh ra tận phà Bãi Cháy. Mình muốn nói với anh nhiều nhiều mà sao không nói được. Mình vô duyên mà. Mình cũng chẳng tặng anh cái gì để làm kỷ niệm, ân hận quá! Thường thì người ta tặng nhau chiếc khăn tay có thêu đôi chim và hai chữ “nhớ mãi” phải không. Hoa? Có chăng mình chỉ gửi anh sắc hồng hoa phượng đang cháy đỏ trên đôi má thẹn thùng của mình, có lẽ đó là phút bồi hồi đọng lại của bao ngày? Anh nắm tay mình. Bàn tay mình lọt giữa những ngón tay khỏe của anh. Ôi, mình run quá. Anh nhìn. Đừng nhìn em như thế, em đọc được rồi những gì anh muốn nói trong đối mắt ấy… “Em cố gắng học tập. Khi anh về, em sẽ là cô giáo chững chạc…”. Mình chỉ biết gật đầu. Nhưng khi phà ra đến giữa sông rồi , mình mới thấy ân hận là nói ít quá. Mình thấy nhớ. Sao lòng mình bang khuâng, trống trải thế! Mình cứ đứng tần ngần bên mép nước nhìn con phà, mặc cho những đợt sóng đánh vào đôi chân, bắn nước lên người. Thế là xa anh! Biết chyện, Hoa sẽ hỏi mình yêu anh từ bao giờ? Đấy, như vậy thì Hoa bảo mình yêu anh từ bao giờ? Mình cũng chẳng rõ nữa… Người chiến sỹ không thể hiểu nổi những xúc cảm, những suy nghĩ đang rộn lên trong lòng người kỹ sư trẻ ngồi trước mặt anh. Anh lần thời gian, kể tiếp câu chuyện: -…Buổi chiều, trước lúc đi đánh cầu, anh nhận được thư người yêu. Còn gì vui hơn lúc ra trận nhận được lá thứ ấy. Tôi và Hồng định bụng trêu anh một mẻ. Chúng tôi rón rén đi lại sau lưng anh. Anh vẫn chăm chú cúi xuống trang thư, chắc là đang tủm tỉm cười! Tôi định nó to: “Anh thân yêu!” để sau cái giất mình và nụ cười cởi mở có chút thèn thẹn đáng yêu của anh, chúng tôi sẽ giằng lấy lá thư, đọc vài dòng thắm thiết nhất và nói ầm lên cho anh đỏ mặt, thì chợt anh quay lại. Tôi và Hồng chửng hửng. Hai đứa nhìn nhau ngạc nhiên. Khuôn mặt vốn rất hồ hởi của anh hơi tái, đượm một vẻ nét buồn sâu xa. Dường như anh đang cố nén nỗi xúc động của mình xuống một cách ghê gớm. Anh lấy khăn lau hai giọt nước ứa ra ở khóe mắt, gấp vội lá thư, cố không để lộ tình cảm của mình, giọng bình tĩnh “Các cậu chuẩn bị xong chưa?”. Chúng tôi ân hận vì có lẽ đã quấy rầy anh trong phút xúc động, nên không dám đùa nữa. Tôi lấy giọng nghiêm nghị “Báo cáo tổ trưởng, xong cả. Nửa giờ nữa chúng ta xuất phát”. “Mình sẽ kiểm tra lại”. Nói rồi, anh, tôi và Hồng trở lại chỗ đặt ba khối thuốc nổ… Sau trận đánh, khi thu nhặt đồ đạc của anh, chúng tôi mới biết là thư đó, người vợ chưa cưới của anh báo cho anh một tin đau đớn: Bom Mỹ giội xuống vùng mỏ đã giết chết người cha thân yêu của anh. Thế mà anh nén lòng, giấu không cho ban chỉ huy và chúng tôi biết. Anh không muốn có một lý do gì cản trở và ảnh hưởng đến trận đánh chiếc cầu này… Giọng người chiến sỹ trầm hẳn xuống. Có lẽ anh cũng xúc động bởi câu chuyện của chính mình. Mọi người ngồi im, cố nén tiếng thở mạnh. Bên ngoài, nghe rõ tiếng giọt nước từ mái gianh rơi xuốn tí tách. Trời vẫn mưa. Hoa cắn chặt vành môi. Giang tựa vào vai Hoa, đôi mắt lơ đãng nhìn ra con sông… Anh ấy đang nói về lá thư của mình gửi anh đấy. Hoa ạ. Lá thư có làm anh bận lòng khi ra trận không? Mọi người ở nhà bảo đừng báo cho anh biết. Nhưng em cứ viết. Em tin anh nén được nỗi đau đó như từ trước đến nay em vẫn tin anh. Thế là em viết… Ai ngờ được những dòng chữ ấy là những dòng cuối cùng anh đọc của em… Hôm ấy hai tốp máy bay Mỹ thay nhau quần trên tầng than. Bị pháo ta bán rát nên chúng thả bom bừa bãi để chuồn. Một chiếc xe “Gấu” ẩn giữa khe núi bốc lửa. Từ trong hầm, ông cụ chạy ra để cứu xe. Nhưng không kịp. Một loạt rốc két hất cụ ngã sấp xuống. Mọi người ập đến. Cụ nằm sấp, hai bàn tay bám chắc nền đất, máu chảy thấm ướt lớp than mịn. Em có mặt ở đó. Em đã khóc… Tại sao em lại phải giấu anh câu chuyện như thế? Sao em lại không bảo với anh tội ác của kẻ mà anh đang tìm đánh? Em nghĩ mãi. Không báo cho anh ư? Không, em không muốn giấu anh điều gì cả. Anh có hiểu em không? Em đáng trách hả anh? - Chị ấy nay ở đâu anh? – Sau một lúc im lặng, Hoa tò mò hỏi. - Chị ấy đang ở một vùng than. Anh Lê bảo chị ấy sẽ là một cô giáo, bây giờ chắc đã tốt nghiệp rồi. Anh vẫn ước, sau này đất nước thanh bình, anh là một công nhân cầu đường đi xây dựng những công trình, những con đường làm đẹp giàu đất nước, còn chị ấy sẽ là người bồi dưỡng kiến thức cho lớp trẻ, góp phần đào tạo những con người mới cho xã hội. Hai việc làm đều ý nghĩa… - Thế tên chị ấy là gì? - Cũng có nghĩa là một dòng sông… Giang thấy trái tim mình rộn lên, thổn thức. Cô cắn mạnh vào vai Hoa khiến Hoa “ái” lên một tiếng, rôi gỡ tay bạn, Giang vụt ra ngoài. - Giang! Giang! Sao thế, cậu đi đâu thế? – Hoa hốt hoảng hỏi với theo bạn. - Mình ra bờ sông, ra chỗ cầu. Giang bước vội vã. Mưa bụi thấm vào mặt cô man mát. Gió sông vờn lên mái tóc mơn man. Giang cảm thấy dễ chịu, một cảm giác bâng khuâng, thương nhớ trào lên. Giang dừng lại, hít một hơi dài. Ngày mai chúng em đổ mẻ bê tong đầu tiên cho chiếc trụ cầu giữa rồi! Em không phải là một dòng sông, không phải là một cô giáo, em đã thay anh làm một công nhân xây dựng. Trước mặt Giang, con sông dát anh sáng điện trải ra yên ả, phẳng lặng, dịu hiền như tấm gương. Phía cầu, bóng người đi lại rộn rịp. Tiếng búa tán đinh, tiếng sắt thép va nhau hối hả. Ánh đèn hàn lóe sáng nhấp nháy soi xuống làn mặt nước bừng lên, lung linh như một chùm pháo hoa. Xa xa, về phía trước có tiếng còi tàu rúc lên. Trong đêm, tiếng còi vang ấm, thúc giục, thiết tha và gần gũi như một tiếng gọi. Quảng trị, 12-1975 Tiêu đề: Re: Cành thanh mai đã ra hoa (truyện ký - Hà Dũng) Gửi bởi: nttran1979 trong 26 Tháng Mười, 2010, 08:43:36 am VÙNG BƯNG LẶNG LẼ (truyện ngắn - Chu Lai) .Vậy là Việt đang ở dưới nó, nằm sấp ngay dưới chân nó, chỉ cách chiều cao của bức tường lô ốt trấn bao cát xù xì. Nó ngồi trên nóc ụ, còn Việt nằm dưới chân ụ. Nó chỉ cần hạ tay là mũi súng giá buốt chạm ngay da đầu Việt. Cũng thế, Việt khẽ nhổm lên một chút, cổ họng nó sẽ nằm gọn trong những ngón tay quắp chặt. Căng hết sức…. Hai đêm rồi, đột vào đột ra rất ngọt, êm ru. Ngay cả đêm nay nữa, lần luồn vào khảo sát cuối cùng này cũng vào tuốt luốt. Ai dè khi ra lại kẹt cứng ngắc ở đây! Đêm đầu, anh Sáu Châu – đội trưởng kiêm bí thư chi bộ, với bộ ngực bị gai mắc cỡ quào rách nát, bò giáp vòng rào tớt ba lượt cũng phải lắc đầu: chịu! không tìm ra điểm đột! Bọn bảo an “ thổ công” này gác quá dày. Mắt nhìn chỗ nào cũng đụng phải lô cốt. Ánh đèn buốt chói và những đường đạn hiểm độc dai dẳng bất thần cứ nhắm ngay những chân rào, lùm cây găm tới. Việt dùng ngón tay vén nhẹ miếng dù che đồng hồ: hai thanh sáng vuông góc – ba giờ sáng rồi! Chỉ còn hai tiếng nữa. Muộn lắm là bốn giờ phải ra hết rào. Trễ hơn, sao mà băng được qua năm con rạch về cứ trước khi trời sáng? Rồi cái gan bàn chân bị rào lưỡi lam cứ đứt như khứa cá nằm trên thớt, liệu có phản lại mình không? Anh nhẹ cà chân trên mặt cỏ: băng chưa tuột. - Khứt!....Phì…. Cái thằng khó chịu thật! Ngồi lầm bầm, cứ chốc chốc lại khậm khịt rõ mạnh như có con vắt bít nhằng lấy lỗ mũi. Thấy nó im lâu lâu. Việt mừng thầm chờ đợi một tiếng ngáy. Mày chỉ cần ngủ gục một tí ti thôi, tao sẽ thoát. Thế mà nó cứ “Khựt…phì! Khựt…phì!” như tạc đạn lép. Việt uất người lên. Gió mát như thế này mà mày không chợp mắt đi được một tí à? Đồ ngu! Gần một tiếng rồi chứ ít ỏi gì nữa! Việt cảm thấy những thớ thịt trên cơ thể mình oải ra, ê ẩm. Cứ tình trạng chết gí này kéo dài thì ra sao đây? “A!” tiếng kêu ẩn dưới lưỡi. Việt thấy nhói dữ dội ở nách…Những cặp chân li tí giẫm rào rao trên cỏ. Anh mở căng mắt: Một đàn kiến “mụn nhọt!” lòa nhòa, loằng ngoằng đang nhắm anh băm tới. Con đầu chắc đã gặp mồi. Chà! Việt như nảy lên khỏi mặt cỏ: anh nín thở chờ đợi những cây kim nhỏ xoáy vào da thịt. Con thứ hai…thứ ba…thứ tư…anh rân rân cảm thấy tiếng “bực!” khi cặp răng bé tí của nó bặp vào nhả ra nhoay nhoáy, để lại nhưng dấu tròn mọng, tai tái…Hừ! Phải lúc khác tao sẽ bóp náo từng “đứa” cho phọt máu, rồi búng tít lên trời cao cho mất xác luôn. Lợi dụng cái thế tao không cựa đước, chúng mày làm tới à? Bực quá! Ngay cả ái thứ tự vệ mà chúng sợ nhất là nước bọt cũng chẳng lựa dịp nào trút lên đầu bọn cố chày này được nữa… Đó! Nách đó, lưng đó, cắn cho đã đi. Chán chê là tự khắc phải chuồn. - Khựt!...Phì… Kệ mày! Thằng ở trên quan trọng hơn. Tao cứ cho mày là một loài muỗi…”Rắn là một loài bò…” Ồ! Cái câu ngồ ngộ từ thuở nào ấy lại hiện về, lảng vảng lơ vơ trong đầu Việt. Anh nhếch mép cười… Muỗi sình lầy cắn như chó. Nó đập gãi ngay bên tai. Sướng thật! Giá lúc này mà được lên gân cả mười đầu ngón tay mà gãi nhỉ. Không! Phải nhờ ông y tá dùng ngay lưỡi dao găm cạo đứng vào cái chỗ mòng mọng đó mới đã. …Một cục gì tròn tròn cứ thỉnh thoảng lại lăn ngược lăn xuôi trong bụng Việt. Chết! Khéo không…phảo đổi thế nằm ngay! Cứ sấp bụng thế này, nó giở chứng sôi bụng ọc ọc bất tử có mà bằng thác đổ bên tai thằng địch. Tai quái hơn, lại xảy ra cái vụ như cậu Vũ tháng trước: đang ém sát cửa hầm chở nổ lệnh, bỗng bật ra một tiếng giòn tan, làm thằng gác la hoảng đẩy trận đánh lên sớm hơn mười phút! Việt chìa răng cắn nhẹ miếng dù: sắp bốn giờ rồi! Sao cái thanh sáng cứ trượt tuồn tuột thế này? Thời gian réo vù vù qua tai… Khéo nhỡ hết mất. Đêm lặng tờ trong sào huyệt kẻ thù, con kiến bò cũng nghe rõ tiếng, ngọn cỏ gãy tưởng như bẻ củi… Thực ra, theo thói quen đã nhuyễn thành bản năng ngay khi mặt kẹt, Việt đã xếp đặt gọn cả rồi. Tốt nhất là trườn thật êm ra phía sau lô cốt, có nghĩa là sau lưng nó. Nếu được (cũng gian nan đó, gần quá, liệu có lộ không), chỉ việc uốn mình đứng dậy, siết cứng lấy họng nó…và ung dung chui ra. Cùng lắm, cách thứ hai, sẽ vụt dậy tại chỗ, quất gọn một viên chì vào giữa cái mồm khậm khịt của nó. Còn hai trái tạc đạn nhét túi sau xi-líp sẽ lướt tới nện vào hai căn hầm gần nhất, cũng hạ ít nhất chục tên. Nếu ngoan, dành cho hầm chỉ huy một trái, rồi cứ cổng chính la ra, lách khéo qua mấy cái cự mã, gặp thằng nào cản đường, bắn! Chỉ yêu cầu cái gan bàn chân đừng… Chà! Sao nhức quá! Nhưng nhất định chúng phải đổi ca hoặc ít nhất cũng đứng dậy đi lại cho đỡ chồn chân chứ? Chỉ cần thế thôi. Chín hàng rào dày trái, chui mất chừng hai mươi phút, kể cả xóa dấu. Còn lại gần một tiếng, chạy gằn cũng còn kịp… Bất giác, Việt lim dim nghĩ tới cái phút sà vào lòng đồng đội. Sẽ cứ để nguyên thân mình đn thui màu than pin mà gân cổ rít một hơi thuốc, bắt cái tàn trắng phải ló ra phân nửa, rụng xuống mới phà khói. Mười mấy tiếng đồng hồ nhạt mồm nhạt miệng rồi còn gì nữa. Nhất định anh Sáu sẽ mang cho mình một can nhỏ nước muội đã quấy chanh đường sẵn. (tính anh ấy vẫn vậy. Nhưng nếu ai nói anh là “người chị hiền của bầy em trinh sát”, dứt khoát anh sẽ gãi đầu: “Nói lạp xạp hoài… Bộ đội ai mà chị, em” rồi thể nào đôi mắt hiền khô cũng chớp nhìn chị Ba, bí thư chi bộ xã một cái cho coi). Gì nữa? Lúc ấy, mình cứ coi như không có chuyện gì xảy ra, làm một bụng xứng đáng cơm nguội ăn với dưa leo chấm mắm nêm chẳng hạn, ăn đã, chuyện sau… Ô hay! Ông Tôm, tổ trưởng đảng sao cứ nhìn mình mủm mỉm thế kia? Chắc có chuyện gì đây. Cùng lắm, ông sẽ theo mình ra muội tắm rồi bẹo má (ông cứ làm như mình còn trẻ con lắm, khen mình kháu, lại còn hôn nữa chứ. Cằm gì mà râu…xấu hổ đỏ cả mặt): - Việt ơi! Đêm qua, cả đơn vị không một ai ngủ cả, chờ Việt về. Anh Sáu nói với tớ: “Có lẽ sau trận này, về lo chuyện đảng chính thức cho cậu Việt là vừa, xứng đáng quá rồi”. Ôi! Mình trở thành đảng viên chính thức! chỉ sợ khi ấy lại khóc, chị Ba chị ấy cười cho… Mẹ ơi! Kể từ ngày hôm nay, thằng Việt gồ bướng bỉnh của mẹ đã trở thành cộng sản như bố ngày xưa đánh Pháp rồi đấy. Mẹ có vui không? …Ô kìa! Sao đang nhiên mọi người lại lắng xuống thế này? Ánh mắt của anh Sáu sao nghiêm quá. Cả chị Ba nữa, chị cũng quay đi, ngón chân gi gi trên mặt hầm… Hình như anh Sáu vẫn gác chân qua võng mình như mọi hôm, nhưng cái giọng nghe khác quá: - Hành động ấy can đảm đấy. Thực ra ít người làm được. Nhưng nếu rán thêm một chút, một chút thôi, biết đâu tình thế chả xoay ngược. Mục tiêu vẫn còn, phương án tác chiến không bị hủy – Đột nhiên anh đấm mạnh vào nóc hầm nói như quát – Chà ! Thế là hư hết trơn rồi! Nghị quyết cả tháng trời, phong trào cả một xã đang chờ… Uổng quá! Bao công lao – Giọng anh lại đằm xuống – Thôi đừng buồn. Bầy keo khác chứ biết làm sao. Có điều, Việt ạ! Nhưng lúc hiểm nghèo nhất phải biết cắn răng lại, nhích lên, quên mình đi! Nhất định sẽ đạp được lên đầu nó… Hút thuốc đi! Của chị Ba mua cho đó. Chị Ba…Tội nghiệp chị quá! Chi bộ xã này chẳng còn ai, mỗi mình chị là bí thư kiêm nhiệm hết: tối dẫn mũi đưa bộ đội vào đồn, khuya dậy sớm chăm chút bữa cơm, trưa lại bám gò làm công tác tuyên truyền. Chị chỉ mong có một ngày… Thôi! Chiếc khăn này chị quàng đi, Việt đỡ rồi. Chị gầy quá… - Khựt! Phì…. Tiêu đề: Re: Cành thanh mai đã ra hoa (truyện ký - Hà Dũng) Gửi bởi: nttran1979 trong 27 Tháng Mười, 2010, 09:12:09 am Có mùi thuốc đâu đây thơm quá! Anh nhướng mắt: Gió đánh tàn lửa bay tung trên miệng thằng gác. Khi nó rít vào, tảng mặt hốc hõm chứa đầy vùng tối trông như con quỷ đang ngồi trên cây phun lửa… Việt nhắm mắt lại. Cẩn thận không hai con mắt mình lại chứa lửa đầu thuốc nó sáng rực lên thì hỏng cả.
Kiểu này không khá rồi. Nó chẳng gật gù, lại còn bập thuốc nữa thì biết khi nào mới ngáy cho? Xem cái mã nó hít vào nhả ra ngon lành thế kia là còn tỉnh táo lắm. Thật đen đủi cho mình, đêm nay lại vớ phải thằng lính giá khó ngủ. Mày mà chịu khó thêm cái đái dắt nữa thì tao cảm ơn mày. Cái bọn già này thức đêm giỏi trời thần. Đánh đấm chả bằng ai mà gác sách xét nét như mụ dì ghẻ. Thà cứ như bọn trẻ lại hay: đùa giỡn tục tĩu, bắn vung tàn tán nhưng về khuya lại ưa ngủ bậy. Nó hút cái gì thơm thật. Ru –bi? Không! Cô-táp mới ngầy ngậy như vậy. Không có thằng già này, chắc mình đánh đàn mồm rồi đây. Lúc này giá có nằm trên băng tuyết vẫn đổ mồ hôi. Cũng lạ thật! Chính trong những giây phút mỏng tang này, sự sống và cái chết đã nhìn thấy, bắt hơi, tiến đến nhau chỉ còn cách sợi chỉ. Việt luôn luôn nghiệm thấy sự xuất hiện kỳ lạ của một khoảng trống vắng dàn trải: tâm hồn rơi nhẹ nhàng vào cái cảm giác ung dung thảnh thơi của con người đang nằm duỗi dài đón gió trên đê, với niềm tin chắc rằng: mọi việc rồi cũng chiều theo ý muốn của mình. Mớ suy nghĩ tối mù, nóng bỏng đột nhiên đằm xuống gần như không cần cầu cứu tới lý trí, nhường cho sự giãn ra của thần kinh là là vươn lên… Đến một lúc, tiếng gõ của thực tại vang lên khắc nghiệt, cái cồn cào sẽ bất thần thức giấc thành bào xé. Cái vòng luẩn quẩn của sự căng và chùng, chùng và căng diễn ra rất phức tạp, lập đi lặp lại nhiều lần hòa thành sự tỉnh táo: tao càng gần mày thì mày lại càng xa tao. Bởi lẽ mày mù, mày không đủ sức để tưởng tượng nổi đối phương chỉ cách mày chiều dài của hơi thuốc. Việt quên đi mối đe dọa như gầm ghì trên đầu và tua tủa nén chặt bốn xung quanh. Buồn cười, cứ ẩn hiện trong đầu các điệp khúc lộn xộn: “Phải biết cắn răng…nhích lên…đạp lên đầu…”. Nhiều khi chả hiểu nghĩa gì cả, như những đêm hành quân, lòng bâng khuâng trong bao kỷ niệm quê nhà, mà miệng lại hát những bản nhạc đâu đâu. Gió từ bưng ùa về, cù cù mơn man trên da thịt… Sương đêm đâu nặng trịu trên tóc… Buồn ngủ quá, ước gì được chợp mắt một tí nhỉ? Nhỡ ra ngủ quên nó “dòm” thì sao? Chặc! Nghĩ cho cùng, cái đó cũng chẳng ghê gớm bao nhiêu. Đang ngủ, nó “dòm” thì ngủ nữa, coi như ngủ luôn. Thế nhưng…ở truồng mà chết? Không ổn, mất tư thế quá. Bọn khốn nạn nó cười mình, và lại được dịp nói bố láo với bà con rằng đã bắn cháy thành than một tên “Việt cộng” sừng sỏ… Ờ! Lại còn chưa kịp chứng minh cho anh Tôm phải chấp nhận rằng: với cái đồn hình tam giác này, dứt khoát phải đánh từ một điểm nào đó ở chính giữa cạnh thốc vào mới đảm bảo tốc độ và đường ngắn nhất tới sở chỉ huy. …Mình với nó đã kề cận nhau hơn một tiếng đồng hồ rồi (Nhất định không thèm nhìn đồng hồ vặt nữa). Trận tuyến giờ đây được tính bằng chiều dài đốt ngón tay. Chà! Quần áo của thằng này chua quá. Khét nữa, như mù bã trà dính dầu hôi lâu ngày mưa nắng… Tao biết mày, mày không biết tao. Tao đang nghĩ về mày. Còn mày đang nghĩ gì trong đêm khuya lạnh vắng ngan ngát mùi rau xanh cây trái đâu đây. Ừ! Nếu mày không phải là thằng lính đeo súng Mỹ, tao sẽ từ từ đứng dậy vỗ vai mày cười xòa như trò ú tim. Lạnh thế này mà đốt một ngọn lửa ngồi kề cà thì tuyệt. Bất chợt, thằng lính buông tiếng thở dài. Tiếng thở đùn lên từ trong lồng ngực, vấp phải lỗ mũi bị bịt, tạo nên tiếng trầm rè, rít rít. Tiếng thở dài nặng nề vất vả quá. Việt có cảm giác thở xong, toàn thân nó thành rỗng tuếch, xẹp dính lại, sụp xuống. Mày đang có tâm sự gì u uất chưa thoát ra được? Thực ra, mày già hay trẻ? Quái! Sao vẫn chưa thấy nó đổi gác? …Một sự liên tưởng xa xôi đột nhiên lâng lâng trong lòng… Cái thị trấn nghèo nàn bên con sông nhỏ mộng mơ và những tháng năm học trò ngọt ngào kỷ niệm… Buồn cười nhỉ. Sao giống cái đêm mình leo lên cây bàng trước cửa nhà Thư thế! Tán bàng xòe vào tận cửa sổ bàn học cô gái. Đáng lý cô bạn học giỏi văn, có con mắt là răm phải ra nhận từ tay mình mấy trái bàng chín vàng ngọt lịm, rồi nở nụ cười “ý tứ” chết người ra tặng kẻ hái quả; nhưng lại là ông bố, một giáo sư sử học nghiêm khắc, chuyên về khảo cổ! Ông mang cái ghế may ra bao lơn, ngả người hút thuốc, mắt đăm chiêu. Có lẽ lúc ấy ông đang suy ngẫm về sự hình thành các bộ lạc sống du mục trước công nguyên hay sao mà ngồi lâu thê! Hai tiếng vẫn chưa chịu vào. Cách ông già trầm mặc nửa mét, ngay trên đầu, mình ngồi thu lu co quắp như con khỉ ở vườn thú. Có lúc ông đứng dậy, nhìn lên vòm cao suy tưởng. Run quá! Trong nhà, con mắt lá răm nhấp nháy tinh nghịch, có vẻ thích thú lắm. Cô tai lại còn giả tảng giở sách đọc váng lên: “Rắn là một loài bò…bò sát ngọn cây”…sau này mà còn sống trở về, nhất định phải kể cái ý này cho Thư nghe mới được. Sao như có ai đùa nhả, cứ lấy đít chảo nóng áp mãi vào bàn chân mình thế này! “Hãy cắn răng…Hãy nhích lên…”. Đáng ra, đêm đồng bằng lạnh lẽo này, mày phải ở nhà hú hí với vợ con mày. Còn tao, tao chưa có vợ, tao sẽ về với mẹ tao, cũng một miền đồng bằng có “cánh cò xanh bay mải sớm chiều” trong câu dân ca dân gian xa lắm… Mẹ lại bắt ăn đủ thứ cho coi… Mẹ ơi! Mẹ có vui không? Con đã trở thành người đảng viên rồi đấy… Con kể cho mẹ nghe nhé (ấy, để con têm trầu cho). Ở một mảnh đất rất xa, có những chi bộ chà đi xát lại rất đau thương… - Phì…phì…! Khựt! Tiêu đề: Re: Cành thanh mai đã ra hoa (truyện ký - Hà Dũng) Gửi bởi: nttran1979 trong 04 Tháng Mười Một, 2010, 12:56:44 pm Tốt! Cái mũi trời đánh của mày thông báo mọi việc vẫn an toàn, trôi chảy.
Việt tính chờ cho nó hút xong điếu thuốc, bớt độ sáng đi, sẽ trường ra. Trườn từng phân, từng tí một. Chỉ cần ra khỏi cái bùng nhùng chồng ba trước mặt là ổn. Mắc cỡ khô bít bùng, làm sao khỏi gãy tách tách đây? Trời ơi! Giá có phép màu biến mình nhỏ lại bằng con mèo thôi, mọi việc đều đơn giản biết bao! Kìa! Đừng viển vông nữa, nó đã bắt đầu cầm mẩu thuốc bằng ngón tay cái và ngón trỏ rồi, sắp tắt rồi. “ Phải nhích lên…Phải táo bạo…”. Thà chết trong hành động trong dáng tiến công. - Nè! Gác, ai cho hút thuốc đó hả? Tiếng nói vỡ toạc, đổ rầm rằm trên đầu Việt. Anh choáng váng. Một thằng khác từ trong hầm chui ra, quát lên bằng cái giọng nhừa nhựa giả tạo như cháo đặc. ngay sau đó, nó lại cười hức hức! - Anh Hai chơi sang dữ vậy? Còn, cho điếu hút bậy coi! Có tiếng giấy thiếc khua lạo xạo. - A…Ruy-bi-quen! – Nó ré lên như rao hàng giữa chợ - Lửa không? Một giọng nói ồm ồm bí rị không đủ sức thoát ra, quay tròn trong mồm rồi dành chui ực xuống họng: - Rục rồi! Dưới đất ấy. Thằng này lật đật bước xuống… Việt lạnh toát người, tim như đứng dừng, ngón tay luồn vào vòng cò… Hắn cúi xuống phả hơi rượu chua loét, nói chõ vào tai Việt: - Giấy này bọn “cọp đen” nó hết dám vào rồi. Ông về hầm đi. Đến phiên tôi. Đa…ã…a! Thuốc đã quá, giãn gân giãn cốt… - Nghe đâu đêm nay, bọ “lọ lem” lại vượt lộ, tính làm ăn vùng này, mấy cha bắt gác lu bù… Thằng trên thở hắt ra như muốn nhả cái gì xuống đất: - Không biết tình hình này còn cù nhằng tới kiếp nào nữa? Đêm gác toét mắt, ngày cà bấy giờ…Thiệt cực như con chó! Phì…Đậu sắp tỉa được rồi… Mày về đi, tao chịu luôn cho. - Khỏi! Gác bốn mắt càng ngon. Sơ xảy, nó bò vào cho lỗ mũi ăn trầu bây giờ. Ê! Thằng nào nằm đen đen kia?- Nó bỗng quát toáng lên… Tao trông thấy rồi. chui ra ngay, ra ngay…! Tao thảy tạc đạn bể óc ra giờ. Đâu? Đưa “con cóc” bấm mình đây. Chát! Ch…í…u – Đạn rít qua đầu Việt. Việt nhếch mép: lại giở cái trò cũ rích. Được! Mày cứ la lối om sòm như vậy, tao thấy vui đấy. Chà! Hết xí quách rồi; một thằng đã khó, hai thằng…tính sao đây? Cái gì thế này…? Sao cọng cỏ ba ngạnh đang cà cà dưới cổ lại chuyển sang màu xanh thế kia? Cái bao cát mà Việt đang gác tay cho đỡ mỏi, bỗng dưng bàng bạc dần ra? Cái gì chói chói mắt! Chết! Trăng!... Mảnh trăng gần sáng từ rất xa đang nheo nheo, thóc mách nhìn vào mắt Việt. Thật không ngờ mình lại quên mất điều chết người này! Trăng lên cao một chút nữa, dứt khỏi những nóc hầm ù lì góc cạnh, là toàn bộ cái hình hài này sẽ bày toẹt trước anh sáng quái ác. Những mảnh lưng, mảng đùi nghi trang vằn vện, suốt từ đầu đã là mảnh giáp kỳ diệu che chở, lúc ấy chỉ càng tố cáo thêm cái cục đen kỳ dị nằm trơ trẽn trên màu cỏ xanh nhạt… - Khựt!...Phì…khựt! Cái tiếng động đều đều đó, lúc này cũng muốn nhảy xuống, chụp lấy tóc Việt mà gào: - Dậy!...Dậy! Phải hành động ngay! Đừng…Nhưng… “Phải cắn răng lại một chút…chút nữa…” - Chát…chát!...Rè…! Nó bắn náo động khắp các góc đồn. Bắn mừng trăng. Chúng đang reo vui: có trăng là mất sự chết chóc kinh hoàng bửa vây chúng. Như một trò chơi hiểm độc, nhánh cỏ ba cạnh đột ngột mất màu, tối sầm… Chắc con mắt thóc mách kia bị mây che khuất, nhưng sẽ lại hiện ra trơ tráo hơn. Bộp! Việt thót lạnh ở lưng. Nó kề họng súng vào mình rồi! Bộp! Bộp… Không phải? Bộp! Mưa? Mưa! Mưa thật rồi! Thế, lớn nữa đi! Những giọt mưa quý giá quá! Ra nào! Không thể có dịp nào thuận tiện hơn nữa. Lẹ lên! Lần này mà không ra được, mưa trôi hết vết hóa trang trên người, còn quá trăng! Mưa reo sảng khoái trên cây cỏ, trên nóc hầm. Hãy quấn chặt lấy tao nữa đi mưa ơi! Những sợi mưa hãy dệt thành màn che mắt chúng đi. - Phì…khựt! Việt sững người, thôi xong! Không cần quay lại, anh cũng biết chắc nó lại đang ở vị trí cũ, cái mặt day ngay vào rào. Hết nằm xuống được! Trong cái thế khom khom bất động, đít chổng vào mặt nó, dồn toàn lực vào tay trái mỏi nhừ. Việt từ từ luồn tay theo thành bụng, chếch mũi súng lên: mày chỉ cần “á!” một tiếng, tao nháy cò liền. - Xẹ..t!Xẹt… Nó đang bật quẹt hút thuốc? Mày sẽ lóa mắt. Việt êm êm xoay người lại, khuỵu xuống…Cả người chìm trong vũng nước chân rào. Mưa nhỏ giọt rồi tạnh dần. Cái miệng trăng ló ra cười nham nhở. Việt trừng mắt nhìn trăng. Mày hãy nhắm lại đi, đồ xỏ lá! Anh gằm mặt xuống, chỉ có hai lỗ mũi trên mặt nước. Chắc hơn bốn giờ rồi. Con gà trống bên kia sông Đồng Nai vừa dứt tiếng gáy. Các đồng chí còn nằm chờ ngoài rào không? Cứ về trước đi anh Sáu ạ. Các đồng chí cứ tin ở tôi… Chắc các anh nóng ruột về mình lắm. Đừng! Đừng nhé! Đừng vội nghi binh thu hút sự chú ý của chúng để Việt ra thoát nhé! Thoát lấy người mà trận đánh bỏ thì thoát làm gì? Việt không phụ lòng tin của đơn vị, của chi bộ đâu. Cái gì nằng nặng day day ở bụng? Việt khẽ luồn tay xuống… Anh rùng mình, mặt nước chao động: một cục thịt nần nẫn, trơn nhãy nằm vắt ngang rốn. Anh nhịn thở, dứt ra: con đỉa mập mạp bằng cái chuôi thủ pháo ì ạch, khinh khỉnh trườn trên vệ cỏ. Lại ngưa ngứa ở khắp đùi, ở hông…Bàn tay Việt định luồn xuống, lại kéo lên. Kệ! Chết! Ngứa râm ran trong cổ, chả nhẽ lại là đỉa! Không phải! Thôi đúng rồi, ngâm nước lạnh, cơn ho đang gãi trong cổ… Việt há mồm ra, vẫn ngứa. Đừng! Anh chụp cái mũ dù nhét vào miệng, khục!...khục! - Cái gì vậy? - Cái gì đâu! - Tiếng gì giống tiếng người, ông hả? - Chắc vậy. Khựt!...Phì… Tiêu đề: Re: Cành thanh mai đã ra hoa (truyện ký - Hà Dũng) Gửi bởi: nttran1979 trong 04 Tháng Mười Một, 2010, 12:57:57 pm Ánh đèn sáu pin lóe lên. Tóc sáng quá. Việt gắn mũ lên đầu, tay kia dứt cỏ nhồi đầy mồm! Đất nhão nhoẹt, mằn mặn ngai ngái…
Các loại xe gắn máy trong ấp thi nhau phát nổ rền rĩ. Có tiếng chuống nhà thờ ngân dài ngái ngủ, ẩn hiện tiếng kinh nguyện cầu dai dẳng… Thằng trẻ đứng dậy vươn vai răng rắc, ngáp sái cổ: - Á…á..ắp! Vậy là qua một đêm yên lành. Ra quán làm bậy ly cà phê, ông! Nhìn theo cái bóng nhếch nhác, thất thểu của hai đứa đi ra cổng, con mắt Việt xếch lên. Muộn rồi! Ém lại, chỉ còn cách ém lại ngay tại đây! “Nhất chạng vạng, nhì rạng đông”. Nhằm một đám mắc cỡ rậm rạp có cây khô cụt ngọn chọc xéo lên bầu trời tái tái, Việt trườn tới trong những thân cỏ gai góc. Bây giờ tao không ra nữa; ngược lại, tao sẽ vào gần thêm chúng mày. *** Việt vén cỏ nhìn tò mò háo hức. Chưa bao giờ anh lại được thấy kẻ địch rõ nét như sáng nay. Đêm tối, tất cả đều bí hiểm lạ lẫm. Giờ đây, mọi ngóc ngách đều phơi ra tuệch toạc, dễ hiểu kỳ lạ. Một…hai…ba…Ra tất cả là mười sáu hầm. Hồi đêm sao sờ thấy có mười ba? Hầm chỉ huy nó có chác cây ăng ten xa vậy đâu, gần xịch à! Ồ, cái rào chống B40 nào kia? Có phải bao quanh hầm điện đài không? Thôi đúng rồi! Chết thật! Không biết mà cứ nhào vvafo là tù mũi hết. Việt lẩm nhẩm soát lại toàn bộ các chi tiết một lần nữa thật chắc. Buồn cười, chín lớp rào ban đêm dòm thăm thẳm mênh mông thế, mà lúc này nó cứ xếp dồn lại một cách đơn giản. Một hồi còi rít chói tai. Những thằng bơ phờ xốc xếch từ những cửa hầm sứt sẹo chuồi ra. Da trời trắng đục quét lên mặt chúng cái màu nhợt nhạt, trông chúng như những thây ma từ trong mồ ra. Một con đàn bà ăn mặc xộc xệch từ hầm chỉ huy chui ra rồi lầm lũi đi ra cửa. Thằng đốc canh nói đổng theo: - Bữa nào kẹt tiền xài, cứ tới đây bọn anh nuôi nghe cưng! - Ừ! Cứ tới đi, cho mày chết chùm luôn- Việt phì các lá trong miệng ra, lờm lợm nơi cổ. - Cái máu què! Việt nhột người ngoái cổ lại: phía sau anh một đoạn, xuất hiện một đám mũ sắt đang ngó nghiêng. Vẫn cái giọng chửi đổng ấy làu bàu: - Quay mẹ nó về đi! Cả ký lô cứt ở giày rồi đây. Ông cố nội nó, ỉa với đái… - Ta đã nói là khỏi! Khỏi cần kiểm tra dấu vết gì hết trơn. Gác kiểu chó, tía nó cũng lạy chớ nói chi nó. - Khựt! Khựt! Đứng đó mà cự cãi nữa. Việc công vụ lộn xộn sao được. Phì… Cái giọng nói quay quay trong mồm? Việt chợt như bắt gặp người quen ở chốn hoang sơ. Đúng nó rồi! Cao to và trẻ hơn mình tưởng nhiều quá. Ba cái mũ Mỹ nhấp nhô quay về hướng khác. Bỗng một thằng chỉ tay về phía Việt, reo khe khẽ: - Im…im! Con cao cáp bự quá! - Tao! Để tao! - Tầm bậy mày! Để tay súng anh Hai mới chắc ăn. Lẹ không nó vù, anh Hai! Thằng “khựt phì” có vẻ miễng cưỡng, uể oải giương súng lên… Việt ngật cổ, bâng quơ nhìn vuốt theo thân cây mốc thếch: con chim to thật. Nó vẫn vô tình chúi mỏ rỉa rỉa những cái lông màu nâu… Rốp! Con chim nảy lên, đau đớn đập cánh, quay tròn nửa vòng rồi chúi đầu xuống. Thân mình của nó va lịch bịch vào những cành cây khô ráp và nặng nề đập mạnh cái bụng xuống đất, ngay trước mặt Việt, mắt nó hé mở nhìn anh bần thần. Đến lúc đó Việt mới thấy chới với rủn người…Vẫn tiếng nói đó. - Bọn mày ráng sục sạo một chặp nữa đi! Tao vô lượm, chút mang ra quán nước nhậu. Điều ghê gớm ấy sắp xảy ra. Như bị bản năng tự vệ thúc giục, Việt luống cuống cầm con chim định quẳng ra xa…Chậm rồi! Tiếng khậm khịt đã vang ngay bên tai. Lủi ra sau một chút! Không được, tiếng chân nó giẫm cỏ kế bên rồi… Chỉ còn cách “tiếp” nó ở chính tại đây thôi. “Soạt! Soạt…” Việt chà mạnh mặt xuống cỏ ướt, lấy mũ lau sạch vết lọ, vuốt tóc. Dù có chết chăng nữa, mặt mũi cũng phải cho sáng sủa. Xuyên qua những thân cây lung lay, Việt đã nhìn thấy đế giày gồ ghề đen thẫm đang từng bước vung sát mặt mình. Tai đã nghe thấy gai cào trên vải quần áo nó… Anh nhẹ nhổm người lên, thân hình lao ra phía trước trong cái thế nằm chuẩn bị vọt tiến. Anh đưa khoen tròn tạc đạn lên ghì giữa hai kẽ răng. Ngực Việt như có bàn tay khổng lồ bóp nén ngột ngạt, bắp chân tự nhiên run lên, anh nghe tiếng răng mình va vào sắt lanh canh… Việt cắn mạnh vào ngón tay mình muốn đứt lìa. Sao chân tay nó không chịu nghe theo cái đầu nữa rồi, “Không sao, không có gì cả. Cắn răng lại…nhích lên…phải đạp đầu…”. Mắt anh vụt quắc sáng… Một bàn tay sần sùi, vàng khè khói thuốc, gạt mắc cỡ ra. Cái khuôn mặt râu ria vàng võ ngó vào lơ láo… “Ơ!”… Khủng khiếp như bị phang một thanh củi nặng vào giữa mặt, nó nấc giật lên, bật ngửa ra sau, cái mồm có hàm răng đầy xỉ há hốc. Chiếc mũ sắt văng ra để hở chỏm tóc dựng ngược. Một dây kim cang ngoằng vào chân, nó ngồi phệt xuống, hai con mắt tan mất lòng đen, hai chân chòi chòi đạp líu quíu như cố sức giãy ra khỏi cái nọc lo le của con rắn độc đang liếm vào người. Nhưng ngay lúc đó, nó rùng mình chồm dậy, bốc cây súng găm thẳng vào ngực Việt, họng súng đen ngòm hun hút rung rung, lên xuống theo cái khuy áo đưa lê hạ xuống trước ngực… - Tách!- Nó bật khóa an toàn! - Reng!- Việt nhả chốt tạc đạn xuống đất. Tiêu đề: Re: Cành thanh mai đã ra hoa (truyện ký - Hà Dũng) Gửi bởi: nttran1979 trong 04 Tháng Mười Một, 2010, 12:59:44 pm Hai ánh mắt bắn vào nhau.
Ánh xanh của cặp mắt sáng vung lên như hai lưỡi gươm chém nát tia mắt trắng dã, quấn lấy, đẩy nó thụt trở lại tròng mắt thằng lính. Ngón tay nó lẩy bẩy trong sự cóng buốt cao độ, không nghẹo lẫy cò được nữa. Mày đang run bắn lên như con vật đã vặt trụi lông, sắp bị quăng vào đống lửa. Tao nhìn rõ một giọt mồ hôi thật lớn đang lăn trên chóp mũi mày. Mắt mày đang dại đi kia! Mày không ngờ trước mặt mày lại lù lù một con “cọp đen” chính cống phải không? Cái bắp thịt ở ngực, ở vai, ở bắp vế “nó” vằn vện dọc ngang làm mày ớn hả? Mày chớp chớp mắt. Chắc mày không ngờ Việt Cộng “rừng rú” cũng một khuôn mặt như mọi người? Có khi chỉ bằng tuổi em út mày ở nhà nữa. Không? Tao không biết chớp mắt đâu. Ở cái tình thế hiểm nghèo này, tao muốn con mắt tao, con mắt đã được ngọn lửa thiêng của tình đồng chí, đồng đội, của chi bộ thân yêu tiếp sức, sẽ là mũi khoan thép xuyên ngọt, nạo khoét vào tận tim óc mày, sẽ phà lửa vào mặt mày, khiến mà phải bắt buộc nhớ lại những tia chớp xanh lẹt của B40 từ trên tay những đồng đội tao phóng ra, thiêu cháy cả chục thằng bọn mày, trong muôn vàn những vành nón tai bèo bay ra, lao vào đội hình chúng mày trong một trận phục kích nào đó mà chụp xẻ tơi bời. Việt thấy tỉnh táo lạ lùng. Sau một đêm tránh né mệt nhoài, cuối cùng mình cũng giáp mặt nó, giữa ánh sáng ban ngày, như một sự sắp xếp khắc nghiệt của số mệnh. Tao đã nhìn thấy quai hàm mày giật giật dữ dội, phía mang tai, bàn tay cầm báng súng của mày đang nổi gân… Không! Mày không dám bóp cò đâu. Tối thiểu mày cũng phải hiểu, trái tạc đạn trên tay tao có sức công phá gấp hàng ngàn lần chứ! Thì chính mày đang len lét nhìn “nó” kia kìa. Nhưng một trái mà chỉ có đôi… phí quá! Mày chắc thấy nó, tao không đùa đâu! Nói gọn lại là tao không hề sợ mày, cả lũ chúng mày nhung nhúc ở trong kia nữa. Tao sẵn sàng cả rồi, và thấy hoàn toàn thoải mái. Tao đang đợi đây. Nào! Tại sao mày lùi lại, ngón tay mày lỏng ra? A…a…! Tao hiểu… “Nhích lên…nó đang lùi…”. Những thớ thịt trên mặt thằng lính nháy nháy, cái mồm vẹo sang bên nhắp nhắp như sắp lên cơn động kinh. Nước da chuyển từ đỏ qua xanh, rồi từ xanh đổ sang tím ngắt. Nó cúi đầu giống như kẻ kinh bỉ lăng nhục nặng nề… Một tràng đại liên Mãi Lai hộc lên đe dọa, đạn bay về khoảng rừng chồi xa xa. Nó đảo mắt như chớp ra xung quanh. Mày muốn cầu cứu đồng bọn hả? Cũng phải. Mày chỉ cần “ối” lên một tiếng, cả trăm thằng sẽ bu lại gầm gử… Ngón tay nó dè dặt siết lại trong vòng cò… Bàn tay Việt từ từ thả cầm mỏ vịt… “Phải cắn chặt răng lại… Ráng lên! Nhích lên tí nữa…nữa”. Đột nhiên nó nhắm mắt lại, bộ mặt rúm ró. Kìa! Một lần nữa mày lại không chịu nổi rồi. Mày có thể nháy cò được lắm cơ mà? Thằng lính thở hồng hộc, hai đầu gối cứ dần dần…dần dần khuỵu xuống. Cánh tay như bị chuột rút, khẩu súng Mỹ chúi xuống…chúi xuống… Nó sợ mình rồi. sợ thật rồi! Lòng mình đang reo vang, sướng quá! Chả lẽ sự việc chỉ đơn giản thế này thôi ư?... Không hiểu cái đêm mùa hè đầy sao ấy, ông giá sư sử học thình lình phát hiện ra thằng trẻ ranh hàng xóm đang ngồi lù lù ngay trước bàn học cô con gái cưng của mình thì sao nhỉ? Ông sẽ đánh rơi cặp mục kính và làm toáng lên như mọi nhà thông thái không chịu được sự lộn xộn trong cuộc sống, hay ông sẽ trầm lặng ngắm mình trong sự suy tư chưa đứt đoạn: một dấu hiệu của loài vượn chưa tiến hóa? …Nhưng không nên để sự sợ hãi đốt cháy thần kinh nó. Thằng đã điên, không ai lường trước được phản ứng của nó cả. Phải cho nó hiểu rằng, nếu nó đã đầu hàng, mình không khi nào muốn giết nó. Việt chuyển tạc đạn xuống ngực, anh dịu giọng: - Hãy chốt lại!...Ngồi xuống!- Thằng lính làm theo như cái máy –Nhìn vào mắt anh, tôi biết anh chưa đến nỗi nào. Anh hãy giúp tôi bằng cách im lặng. Chúng tôi sẽ là người chiến thắng cuối cùng. Cách mạng không quên anh đâu! Hắn ngồi chết trân, như không nghe thấy gì cả, không hiểu gì cả, nét mặt mềm lại, ngây ngây… Có tiếng la oang oang: - Làm gì mà lâu dữ vậy ông? Tìm thấy không? Người lính choàng tỉnh như bị đổ nước lạnh vào đầu, mắt nhìn dáo dác. - Anh ra đi! Tôi tin anh! – Việt nói. Người lính bối rối, gục gặc đầu. Hắn xây lưng lại, mảng áo đẫm ướt, đôi chân bước đi như mê… Được mấy buốc, một tiếng “sột” sau lưng, hắn quay ngoắt lại kinh hãi, loáng quáng đưa súng lên…Không! Trước mắt hắn, Việt vẫn cười hiền hậu, tay cầm con chim giơ ra… Người lính nhếnh miệng ngờ nghệch, cầm con chim quay đi, bước chân mạnh dạn hơn… Việt căng mắt nhìn theo hắn đi lại phía đồng bọn súng ống đầy người. Rất có thể hắn phản bội. Anh xếp tạc đạn ra đất, soát lại chốt hãm khẩu K54 trên tay… Hắn đang mấp máy môi nói gì cái gì, tay chỉ về phía mình? Bọn kia chụm đầu bàn tán nghe chừng… Việt lạnh toát người. Này! Nó bắn này!...Chỉ cần một phát báo động thôi là…Anh rút chốt một trái tạc đạn…Nhưng không! Đôi giày nặng nề của người lính bắt đầu lê đi. Anh ta đi giữa bọn lính như người mất hồn, tay lơ đãng vặt lông con chim… Đến lúc ấy Việt mới nằm nhoài ra, mệt lả. Trái tạc đạn ướt nhoét mồ hôi rời ra khỏi những ngón tay tê dại… *** Tiêu đề: Re: Cành thanh mai đã ra hoa (truyện ký - Hà Dũng) Gửi bởi: nttran1979 trong 04 Tháng Mười Một, 2010, 01:00:56 pm Trưa trong đồn địch…
Không trung như bốc cháy, lửa phả xuống rừng rực, Việt mường tượng thấy mảng da lưng mình đang uốn cong lên, phồng rộp. Anh sờ sờ vào những cọng tranh âm ấm: nắng một lúc nữa, chắc nó cũng tự nhả khói rồi bùng cháy mất. Việt chui sâu vào trong gai góc, anh không cảm thấy da thịt mình đang rớm máu. Đói, khát và nhức nhối vì suy nghĩ: bàn chân mình chắc đã cháy hết, xương đang lòi ra, anh nhủn người, lịm đi… Bỗng anh bật nhổm dậy: có hai con mắt đang nhìn anh chăm chú… Người lính đã ra từ lúc nào, đang ngồi phía chân Việt tay ôm lưng quần trễ xuống, khóa tuột khỏ dây lưng như người sắp đi cầu. Anh lính lê lại, rụt rè lôi trong túi ra một ổ bánh mì, túi kia mấy trái dưa leo mòng mọng. Việt cắn một miếng dưa nhai ngon lành, cặp môi khô nứt mềm ra, ươn ướt. Anh lính tần ngần ngó trộm Việt ăn…Đôi mắt ấy dừng lại miếng băng chân đã chuyển sang màu bùn, rồi lướt trên những mảng đùi, mảng lưng, cuối cùng vấp phải vết loét trên gáy Việt… Việt cười, hàm răng nhóng nhánh nước: - Tàn thuốc khi đêm của anh đấy. Người lính day mặt qua phía khác…Nhìn nghiêng thấy một bên mắt anh ta hơi đỏ… Việt nhìn sâu vào mắt người lính: - Tại sao anh không bắn tôi? Cái đầu nặng nề của anh ta trĩu xuống, một lát mới ngẩng lên, nói khó nhọc: - “Tôi…tôi không rõ…Con mắt của ông làm tôi sợ…Tôi thấy ông mạnh quá… - Bây giờ thì sao, còn sợ không? Người lính nhẹ lắc đầu, trả lời phào phào trong hơi thở đầy xúc động: - Không…Bây giờ tôi…kính phục ông…các ông… Nói đoạn, anh ta run run đứng bật dậy như sợ hãi trước câu nói của chính mình! Người lính kéo quần lên, gài lại dây lưng, lặng lẽ đi vào… Và đêm hôm đó, có hai người dìu nhau ra khỏi vùng kẽm gai. Một người to lớn mặc quần áo lính, còn người kia nhỏ nhắn, ở trần. Tới bìa bưng, họ đứng lại chia tay nhau. Cái bong to lớn quay lại, dáng đi ngập ngừng, chốc chốc lại nhìn về phía sau ra chiều áy náy. Còn bóng nhỏ nhắn khập khiễng đi thẳng tới, mái đầu ngẩng cao như đinh ninh rằng: mình sắp sà vào tay những người thân yêu đang đón đợi ở đâu đây, rất gần. Đêm vành đai vẫn lạnh sắc, thăm thẳm ẩm ướt. Nhưng từ bưng xa, gió đã đưa về cái hương vị ngọt ngào mới mẻ của một mùa cây trái tốt tươi. Tiêu đề: Re: Cành thanh mai đã ra hoa (truyện ký - Hà Dũng) Gửi bởi: nttran1979 trong 11 Tháng Mười Một, 2010, 08:09:19 pm CHUYỆN KỂ VỀ MỘT TRẬN ĐÁNH ( Truyện ký- Nguyễn Thị Như Trang) Nhóm trinh sát gồm ba người. Ngoài tôi ra còn có Trinh và Mượt. Lại những ngày ăn gạo rang, bí mật luồn rừng le, vượt những bãi sình lầy luôn bất ngờ hiện ra trên một vùng đất lạ. Cộng vào đó là môt mối lo rất lớn, luôn chi phôi tất cả mọi hành động của nhóm trinh sát, từ dấu chân để lại trên đám rêu non ven một con suối cạn, đến một cành cây gãy hơi khác thường có thể gây ra một thoáng nghi ngờ… Nhất nhất đều phải toan tính kỹ càng, đều phải hết sức thận trọng, phải suy đoán đến mọi khả năng có thể để lộ ra, dù chỉ một dấu vết nhỏ nhất của hướng đi và hành động của quân ta trước những con mặt xoi mói của tụi thám báo địch. Đó cũng là trách nhiệm nặng nề nhất của tổ trinh sát. Cái trách nhiệm còn lớn hơn cả tính mệnh của mỗi người chúng tôi, so với những khó khăn và thuận lợ mà đơn vị sẽ phải đương đầu trong trận đánh sắp tới, với phần xương máu lớn hoặc nhỏ của đồng đội sẽ phải đổ xuống…Tất cả đều tùy thuộc ở sự khôn khéo, sự suy nghĩ tỉnh táo ở những người đi trước. Những người có trách nhiệm chuẩn bị cho trận đánh. Nhưng, tất cả những chuyện ấy giờ này đều đã lùi lại phía sau. Chúng tôi đang ở sát nách bọn địch. Một ngày chờ đợi, nằm sát bên đồn giặc mà chờ đợi. Tôi ém mình trong một cái hố vừa hẹp vừa nông, một chân co, chân kia duỗi, má ép sát xuống lớp đất ẩm nồng nặc mùi là mục, mùi nhựa cây ngòn ngọt của những thân le bị giập náp. Cả một rừng le với những phiến lá xanh đen, mỏng và rát sắc kéo dài tới tận bờ con suối cạn dưới chân đồi. Trước mặt là một khoảng trống rộng chừng ba trăm mét địch đã cho cày ủi sạch trơn. Bên kia bãi trống là địch, là cái đích mà tối nay, bằng bất cứ giá nào, mình chũng phải tới đó, phải hiểu tường tận từng ổ súng, từng nhà bạt, từng chiều dày của những lỗ châu mai trong hệ thống lô cốt dày đặc xây theo vòng cung bao quanh vị trí đích. Nằm trọn một ngày trong cái tư thế bó buộc dưới nắng, mồ hoio mặn rịn ra nhớp nháp trên da thịt, thấm vào những vết xước do lá le giằng cứa rất xót. Lúc nào quá mỏi, muốn trở mình, phải đợi lúc có cơn gió ào tới, rừng le nghiêng ngả, mới nhân đó có thể xoay người, duỗi chân, nhắc tay cho đỡ ê ẩm. Khổ nhất là những lúc rừng lặng gió, lũ kiến chúa tha hồ kéo nhau tới châm chính. Nọc kiến buốt thon thót, vừa buốt vừa ngứa dai dẳng kỳ lạ. Nước mắt úa ra, da mặt nóng phừng phừng, còn sống lưng lại lạnh buốt. Khắp người nổi da gà trên từng lỗ chân lông. Tôi cắn răng đến ê ẩm cả quai hàm, cố khắc phục cái cảm giác kiến cắn đang nổi cục bằng những trái táo trên khắp lưng và hai bắp vế. Nhưng tôi vẫn cứ phải nằm im, chỉ thở, thở nhè nhẹ. Một ngày rất căng thẳng. Tôi không chợp mắt lấy một giây. Chỉ một lần nhấm nháp nửa miếng lương khô chẳng bõ bèn gì với cái dạ dày lép, sau hai ngày lội suối luồn rừng. Trong bụng bồn chồn, lo lắng, hết nhìn ngược lại nhìn xuôi. Rất có thể chỉ một tràng đạn vu vơ, một cuộc sục sạo không chủ đích của bọn giặc, là một kế hoạch chiến đấu sẽ phải hủy bỏ, là sẽ dẫn đến những tai họa không có cách nào lường hết được. Bởi một toán lính ngụy đang ở trước mắt chúng tôi. Nằm khuất sau khóm le thưa, tôi vẫn nghe rõ mồn một tiếng đế giày cao su của bọn chúng đang chạy đi chạy lại trên bãi trống. Bọn chúng có một tiểu đội, chia làm ba nhóm, đang đi gài mìn ở khắp trảng trống xung quanh vị trí. Thằng đeo xệ trên lưng một ba lô đầy mìn nặng lặc lè. Đứa nào không mang mìn thì vác những cuộn dây to. Phía tôi đang nằm, một thằng ngụy mặt non choẹt, để hàng ria con kiến, người cao và gầy, rất gầy. Bộ quần áo rằn ri khoác lụng thụng trên đôi vai hẹp của một thiếu niên mới lớn. Thằng ngụy đang quỳ cạnh mô đất cách tôi trên chục mét, giơ xẻng đào đất uể oải. Đứa cùng tốp với nó, một thằng thượng sỹ già, đang dăng dây mìn trên những hố đất thằng lính trẻ vừa đào. Thằng này đứng xa, tôi không nhìn rõ mặt, chỉ thấy một vành mũ sắt úp sụp xuống đến hai hố mắt tối sầm, và một mẩu cằm nhọn luôn mấp máy. Thằng ngụy trẻ đã đào xong một hố nữa. Nó đưa mắt ước lượng chiều sâu, đoạn vứt cái xẻng nằm lăn lóc trên đống đất mới màu nâu sẫm, vương vai đứng dậy, vặn lưng m ấy cái, đoạn xăm xăm bước thẳng về hướng tôi đang nấp sau bụi le. Nó cứ đi thẳng, không ngó trước nhìn sau, cũng không có dáng vẻ vội vã. Khoảng cách giữa tôi và nó ngắn dần. Tôi nhè nhẹ lật sấp người, đưa mũi súng AK tới trước, nín thở trong một nỗi hồi hộp se thắt lồng ngực. Vừa hồi hộp vừa ức không thể tả. Không lẽ bao nhiêu kế hoạch đã được tính toán đến từng chi tiết bỗng nhiên bị phá vỡ chỉ vì thằng trẻ ranh này. Và tôi quyết định rất nhanh: nếu nó không phát hiện ra tôi trước, thì dù nó có trèo lên lưng, tôi cũng cứ để nó sống thêm một vài ngày nữa. Mặt trời đang trưa chiếu nắng loa lóa. Tôi dim mắt, khẽ nghiêng đầu úp nửa mặt bên trái xuống lớp lá mục, ngón tay trỏ ngoéo lại, đặt sẵn trên nấc cò cứng ngắc. Vì mắt đã nhắm lại, nên mọi giác quan khác trong tôi đang được huy động đến mức căng thẳng. Chỉ cần một va chạm nhỏ trên lớp lá trải lên thân mình, một tiếng kêu khẽ trong nỗi ngạc nhiên tắc nghẹn, hoặc một bàn tay nào đó thoạt động vào người…Tất cả sẽ đổi khác, sẽ sụp đổ, sẽ bùng lên dữ dội… Nhưng, điều đó không tới. Một phút trôi qua dài như cả một đời người. Và tôi nghe tiếng bước chân thằng ngụy dừng lại ngay trên đầu mình. Rồi một dòng nước nóng nóng bò lên cổ, thấm ướt những vết kiến cắn. Cái xót càng tăng thêm, cộng với sự nhột nhạt của nước tiểu với mùi lá mục làm thành một nỗi bứt rứt khó lòng chịu dựng. Tôi cắn chặt lấy vành môi khô se cho đến lúc đầu lưỡi cảm thấy vị máu mằn mặn. Cố chịu đựng cái tâm trạng bức bối của chính mình. Chân tay ngứa ngáy chỉ muốn vùng dậy, muốn vung cao báng súng quật bổ xuống đầu cái thằng ngụy đang đứng cách mình chỉ vừa một tầm tay với. Nhưng tôi vẫn nín thở, người cứng ngắc, cố dán mình trên nệm lá ẩm mùi nước đái, dựa đầu lưỡi khẽ liếm những giọt máu ứa ra quanh vành môi nứt nẻ. Lát sau, lại có tiếng bước chân đi giày cao su giẫm xộn xạo trên mặt đất khô. Thằng ngụy đã quay trở về bãi đất trống. Tiếng bước chân nó xa dần, rồi một giọng ca khàn khàn cất lên ư ử: “Em ơi! Mộng không thành, đôi ta đành lìa nhau. Anh ra đi gửi tấm thân đơn chiếc chốn rừng xanh. Còn em đêm năm canh vò võ đất quê người…”. II Chiều ở rừng tối sụp xuống rất nhanh. Tôi cố nán chờ cho đến lúc bóng đêm xóa mờ những hình nét dằng dịt rối rắm của những lớp kẽm gai phía bên kia bãi trống – Lúc này bọn ngụy đi gài mìn đã quay trở về vị trí từ lâu – mới trở mình bởi lớp lá khô phủ dày trên người, từ từ nhoài ra khỏi cái lòng hố chật hẹp, tôi rướn mình đu lên mặt đất bây giờ đã được sương chiều làm cho dịu mát. Một cơn gió rừng tràn đến. Ngàn cây lao xao. Tôi ưỡn ngực thèm khát hít thật căng hai buồng phổi cái không khí mát mẻ, khoáng đãng của một vòm trời đã bắt đầu tối thẫm lại với vô số những ngôi sao trong trẻo mãi xa tít trên đỉnh những cây đại thụ. Bây giờ mới thấy khắp người mỏi ê ẩm, hai ống chân tê dại đang run giật lên rất dữ vì những cơ bắp không được cử động quá lâu. Tôi từ từ nhắm chặt mí mắt, giơ tay vịn một cành cây, cố gắng bước một bước, rồi hai bước… Người đã khoan khoái hơn, lại cảm thấy có tiếng huýt gió nho nhỏ. Tôi đáp lại bằng một tiếng chim rừng. Lát sau, cả ba chúng tôi đã ngồi khuất sau một gốc cây to nhấm nháp gạo rang và một nửa bi đông nước duy nhất còn lại. - Thế nào, tiểu đoàn trưởng? Mượt vừa nhai gạo rang vừa hỏi. Không đợi tôi trả lời, Trinh đáp dấm dẳn: - Vào chứ còn thế nào. Không lẽ ngồi phơi nắng cả ngày chỉ để đếm cọc rào à? - Đã đành là vào. Nhưng phải bàn xem vào thế nào đã chứ. Như lần trước chẳng mất công toi? Mượt vừa nhắc đến lần chúng tôi đi trinh sát trước đây hai ngày. Lần ấy, vì không lường hết những tình huống phức tạp, anh em mình khi lọt qua được tám hàng rào kẽm gai, vượt được hệ thống lô cốt tháp canh dày đặc bố trí thành một vòng cung bao quanh vị trí cái nọ cách cái kia từ mười tới mười lăm mét, vào được tung thâm. Nhưng còn chưa kịp điều tra trận địa pháo lớn của địch bố trí ở đâu, trời đã rạng sáng, đành quay ra. Về tới đơn vị, tôi thay mặt nhóm trinh sát báo cáo với cấp trên về kết quả chuyến đi ấy. Có ý kiến cứ đánh, bởi đã vào được tung thâm, nắm vững quân số giặc. Dù không phá hủy được trận địa pháo cũng tiêu diệt được sinh lực địch. Lúc ấy, tôi ngồi im không phát biểu, nhưng trong lòng bứt rứt không yên. Bứt rứt và lo lắng bồn chồn như có người đang đốt lửa trong bụng. Không lo lắng sao được, bở hơi ai hết, chính chúng tôi từng vừa gặp nhiều khó khăn vì cái trận địa pháo hiểm ác đó. Chúng cứ rót đạn cầm canh suốt dọc đường hành lang, hòng chặn đường chuyển vận của quân ta suốt từ Z tới Y dọc biên giới. Những làng bản nát tan. Đồng bào Vân Kiều phải kéo nhau vào ở trong những hang sâu. Những cánh rừng gãy đổ ngổn ngang. Nhìn những cây đại thụ với những hàng vân gỗ đẹp như tranh vẽ, nay xác xơ gục đổ tả tơi, tôi thấy lòng xót đau giống như khi phải chứng kiến những hy sinh của đồng đội vậy. Có thể cũng bở lẽ tôi đã sinh ra từ miền đất rừng, nên tôi rất quý những cây gỗ từng đứng vững qua bao nhiêu biến động của những trận mưa rừng bão núi, nay phải gục đổ trước bom đạn của quân thù. Lại nữa, một cậu xạ thủ B40 cùng quê với tôi. Hai đứa cùng xã. Trước đây chúng tôi cùng học một lớp, cùng ở trong đội bóng tròn của liên chi đoàn nhà trường. Chúng tôi rủ nhau cùng nhập ngũ một ngày sau khi biết tin cả hai thằng cùng được chuyển lên trường cấp 3 của huyện. Mới cách đây ba ngày, trong lúc đi lĩnh gạo, thằng bạn tôi đã hy sinh vì cụm pháo đó. Bị một mảnh pháo lớn làm gãy xương vai, máu ra nhiều, môi nó tím nhợt, lả đi. Khi tôi chạy tới ôm xốc lấy nó, nó còn cố tỉnh lại, thì thầm: “Sửu ơi! Bao giờ về lại quê mình… Cậu nhớ nói hộ với A Noan…mình…”. Tiếng dặn dò tắt lặng giữa chừng. A Noan là cô gái ở cách nhà bạn tôi một con suối. Cô gái Tày có cặp má đỏ lịm, đôi mắt xếch đen như chì than, và mái tóc dài óng ả. Lúc này, tôi thấy như đôi mặt đen ấy đang nhìn tôi im lặng trong một lời trách cứ nặng nề. Tiêu đề: Re: Cành thanh mai đã ra hoa (truyện ký - Hà Dũng) Gửi bởi: nttran1979 trong 11 Tháng Mười Một, 2010, 08:11:00 pm Tôi báo cáo lên cấp trên, xin đi trinh sát vị trí C một lần nữa.
Trinh và Mượt được chọn cùng đi với tôi. Họ cùng là cán bộ trugn đội của đơn vị. …Tôi với chiếc bi đông uống một ngụm nước có mùi thuốc sát trùng hăng hăng. Tôi ngậm ngụm nước lâu lâu trong miệng, vừa để cho những giọt nước hiếm hoi kịp thấm vào từng chân rặng đã khô se, vừa để ngẫm nghĩ một câu trả lời xác đánh nhất: - Ý kiến của mình thế này. Bây giờ mình sẽ bò vào đó tìm cho ra trận địa pháo… Trinh cắt ngang - Còn chúng tôi? - Các cậu nằm ngoài hàng rào yểm hộ cho mình, khi cần thiết và sẽ thay tế nếu mình hy sinh. Mượt ngồi nhấp nhổm trên ngón chân: - Tôi đi với anh. Gặp chuyện gì hai người vẫn dễ xử trí hơn một. Vượt được bằng ấy hàng rào không phải chuyện dễ dàng đâu. Tôi lắc đầu: - Một mình tớ thôi. Vượt rào thì các cậu khỏi lo, tớ đã có cách. Vạn nhất có chuyện gì ít người càng dễ biến, lo gì. Chúng tôi bò qua trảng đất trống. Tới một đoạn hào sâu ngang bắp vế bên ngoài những lớp rào kẽm gai nhằng nhịt, Mượt nắm tay tôi, giọng trầm xuống: - Anh phải cẩn thận. - Yên trí. - Hai tiếng. Hoặc ba tiếng là cùng. Tớ mò đến được chỗ chúng nó giấu pháo là ra ngay thôi. Trinh cũng lên tiếng: - Anh có nhớ lối vào không? - Lần trước bọn mình đã lục khắp khu nhà bạt rồi. Lần này tớ định vượt đường trục xem thử. Cả một trận địa pháo lớn chứ bé gì. Mấy giờ rồi? - Mười hai giờ bảy phút. Cùng lúc, tôi nắm chặt lấy tay cả hai người bạn giữ lại một giây lâu: - Mình đi. Tôi không nghe rõ Mượt còn nói thêm câu gì. Tôi nhổm lên, tay sờ quanh người. Lớp đất bùn trát trên da thịt còn ướt dấp dính. Trên người tôi chỉ có độc nhất chiếc quần đùi cũng đã nhuộm màu đất. Một quả pháo thủ đeo bên trái. Khẩu súng ngắn bên tay mặt với một băng đạn còn nguyên vẹn. Tất cả chỉ có thế, đều là những thứ gọn nhẹ và cần thiết. Kiểm tra xong mọi thứ, tôi toài người nằm nghiêng trên mặt đất ẩm có lẫn những sợi rễ tranh nhọn như dùi lúc nào cũng sẵn sàng châm chính thả cửa lên những phần da thịt để trần. Hai bàn tay miết trên mặt đất, cùi tay lết theo, bụng thót lại, ép sát xuống, hai đầu gối săn cứng lại, đẩy đi. Cứ thế, tôi bò một quãng ngắn thì đụng hàng rào thứ nhất. Tôi dừng lại, nghiêng mặt, hết sức chăm chú nhìn kỹ từng khóm cỏ, từng mô đất trước mặt mình theo một đường vòng cung hẹp. Nhìn kỹ từ mặt lớp đất xôm xốp đã bắt đầu bạc phếp ra vì mưa nắng, đến lớp rễ cỏ mọc trồi lên, rồi đến những phiến lá cỏ tranh mềm mại. Tuyệt nhiên đôi mặt trinh sát từng trải của tôi không phát hiện ra những dấu hiệu chứng tở rằng ở đây bọn địch có chôn mìn. Không có gì hết! Lạ nhỉ, không có lý thằng địch đem mìn gài đầy rẫy ngoài trảng trống, còn trong hàng rào lại không có cái của giết người ấy. Vô lý! Tôi đưa mắt sục tìm lại một nữa. Và lần này, theo một trình tự ngược lại. Vẫn chẳng có gì. Tôi cắn môi suy nghĩ. Đoạn xoay vai, lật người, ngửa mặt nhìn lên lớp kẽm gai trên đầu mình. A, có thế chứ! Ánh mắt tôi đã chạm phải những sợi dây nhỏ bé, màu xám, rất giống màu dây kẽm gai còn mới, dăng cách mặt đất chừng vai gang. Những sợ dây mỏng manh, không to hơn cây tăm, chạy lẫn vào những đường kẽm gai nhằng nhịt, dẫn đến những trái mìn sáng, hình ống, có chốt an toàn giống như cái mỏ vịt. Một đầu dây được buộc một cách hờ hững vào đầu cái lò xo hết sức nhạy. Chỉ cần một sức bật rât khẽ, một cái va chạm lướt qua, một cử động nhẹ nhàng, là một tiếng “tách” nhỏ nhẹ phát ra: cái chốt an toàn đã bật khỏi nút hãm. Kim hỏa mổ xuống. Và, cả một khối chất hóa học sẽ bùng lên, tỏa màu sáng trắng rực rỡ, sáng đến lóa mắt. Thế là chấm dứt mọt toan tính, mọi suy nghĩ, và những kế hoạch đã vắt óc qua nhiều đêm thức trắng để cân nhắc đến từng chi tiết nhỏ bé. Cuộc đời của người lính trinh sát có khi kết thúc một cách đáng tiếc chỉ ở một sơ suất không đáng kể như vậy. Tôi nhẹ nhàng nhấc cùi tay khỏi mặt đất, vẫn nằm ngửa, gáy đè lên một búi cỏ lưỡi rắn thoảng mùi hăng hăng ngòn ngọt. Rất sẽ sàng, thận trọng, mấy ngón tay tôi khéo léo đóng chốt an toàn, khóa tịt nhưng trái mìn sáng hiểm ác đó lại. Bắt đầu từ trái mìn bên phải, đến một trái khác ngay sát nách bên trái, rồi đến một trái nữa ở cách một tầm tay với. Chúng nó gài mìn sáng dầy đặc ở ngay hàng rào thứ nhất để bảo vệ cho cái vị trí sát biên giới này quả đã lắm công phu. Sau khi đã đóng chốt an toàn những trái mình sáng, tôi nhổm người, nâng vai lên khỏi mặt đất, với tay rút cây kìm vẫn giắt lưng. Rồi tay trái giữ sợi kẽm gai, tay phải đưa kìm, nghiến răng. Tiếng sợi kẽm gai đứt dưới gọng kìm sắc gây một tiếng động khô khan. Tôi đã lọt qua hàng rào thứ nhất. Rồi hàng rào thứ hai. Vô số mìn díp với những chiếc “râu” xoắn hình lò xo chĩa ra ba ngả, nếu vô ý giẫm vào một trong ba sợi dây ấy là mìn nổ. Hàng rà thứ ba. Một loại vũ khí khác: mìn cóc. Loại mìn này khi đạp phải, nó bật nẩy lên tới ngang gối mới nổ. Hàng rào thứ ba. Một loại vũ khí khác: mìn cóc. Loại mìn này khi đạp phải, nó bật lên tới ngang gối mới nổ. Thằng địch quả đã nghĩ ra đủ mọi trò quỷ quyệt. Người lính khi chạm phải loại mìn này, sẽ phải cưa từ ngang đùi trở xuống, có lắp được chân giả cũng còn lắm khó khăn. Hàng rào thức tư: mình định hướng. Rồi hàng rào thứ năm, thứ sáu…. Hàng rào thứ bảy… Thứ tám… Trước mặt tôi, cách một khoảng trống hẹp, lù mù một chiếc lô cốt thấp lè tè. Đằng sau lô cốt là những dãy nhà bạt nằm kề nhau, dăng hàng từ cụm đều đặn trên một trản đất bằng. Những căn nhà bạt này tôi đã biết rõ. Đó là những khung gỗ hình chữ nhật, lợp vải. Xung quanh và trên nóc xếp bao cát. Bên trong có kê những ván nằm. Là nơi trú quân của bọn lính ngụy. Tôi nhìn đồng hồ, đã mất gần một tiếng vượt rào. Giờ này là lúc bọn địch đang ngủ say. Chỉ đáng ngại cại lỗ châu mai hình vuông cách mặt đất một tầm tay với, im lìm trong bóng tối mờ mờ như một con mắt chết kia. Bên trong cái lỗ vuông câm lặng đó có cái gì đang chờ đợi tôi? Những đôi mắt kẻ địch đang vằn lên nhưng tia máu đỏ hận thù? Một ánh lê sáng xanh, nhọn hoặt? Một miệng súng đã nạp sẵn những viên đạn đồng vàng chóe? Tôi cảm thấy một cơn ớn lạnh chạy dọc sống lưng. Và một sự hãi hùng cứ níu lấy thân thể tôi, bắt phải dán chặt xuống mặt đất ẩm. Cái cảm giác rất khó chịu đối với người lính trinh sát khi anh chưa thể lường hết được ở khoảng đất trước mặt anh những gì đang chờ đợi mình. Nằm yên lặng thêm một giây, rồi tôi thận trọng nghiêng đầu, nheo mắt quan sát xung quanh, phía trước mình một lần nữa. Hoàn toàn yên lặng. Chỉ xa xa, theo cơn gió nam khi rõ khi mất, thoáng một mùi khói thuốc thơm hắc loại rẻ tiền của lính tráng. Có lẽ một thằng gác nào đó đang cố chống chọi với cơn buồn ngủ. Cái lô cốt trước mặt tôi vẫn im lìm trong màn sương biên giới dày và nặng. Tôi sẽ miết bàn tay trên mặt đất tìm một hòn sỏi, nắm chắc lấy. Tiêu đề: Re: Cành thanh mai đã ra hoa (truyện ký - Hà Dũng) Gửi bởi: nttran1979 trong 11 Tháng Mười Một, 2010, 08:11:34 pm Rồi tôi lặng lẽ bò lui vài bước, tạt sang phải cũng với một khoảng cách đó. Và bất thần, rất nhanh, tôi giơ tay vụt thẳng hòn sỏi vào cái khoảng trống gần bên cái hình vuông mờ đục, áp sát tai xuống đất, vận dụng hết thính giác, lắng nghe. Một giây. Hai giây… Rồi mười tích tắc qua chậm rãi. Tôi lại lượm một hòn đá lớn hơn. Và lần này, tôi cẩn thận nhắm trúng lỗ châu mai, ném mạnh. Vẫn im lặng. Chỉ có tiếng gió khẽ xào xạc trong những bụi cỏ tranh đan rối vào nhau. Và mùi thuốc lá rẻ tiền thoang thoảng. Tôi thở phào: Lô cốt không người. tôi co hai đầu gối, nhổm ngồi lên, sẵn sàng băng lên phía trước….
Nhưng, đúng lúc ấy, ở phía ngoài hàng rào chỗ tôi vừa luồn qua, một trái mìn sáng bỗng vọt lên. Kẻng báo động trong vị trí địch đột nhập khua dồn dập. Không đợi trái mìn sáng kịp mở ra, ngay khi nó còn vàng nhòe, nhập nhoạng trong phút giây ban đầu, như một mũi tên, tôi vụt chạy. Rất nhanh, tôi băng qua khoảng trống, vụt qua lô cốt trước mặt, lại một khoảng đất rộng nữa, rồi tôi chui tọt vào một căn nhà bạt đầu tiên, luồn nhanh vào môt gầm giường kê ở một góc khuất, trong lúc những tên ngụy ở đây còn chưa kịp mở mắt, chưa kịp tỉnh ngủ trong tiếng kẻng báo động mỗi lúc càng thêm giục giã, khẩn thiết. *** Một giọng con trai mới vỡ cất lên bồn chồn: - Thế là sao, anh Ba? Giọng trầm đáp lại, chủng chẳng: - Vớ vẩn. - Anh nói sao? - Ngủ đi. Im lặng một lát. Rồi vẫn cái giọng trẻ con lo lắng: - Tui không hiểu… Có tiếng cựa mình trên sạp nằm. Những tiếng thở dài. Rồi cái giọng trầm chủng chẳng lại cất lên, vừa đe nẹt, vừa như miễn cưỡng: - Mày thì đã hiểu gì, nhóc. Có khi chỉ là một con chuột chạy qua, một con chồn, biết đâu. Mìn gài bừa ra đấy. Nó chạy qua, vướng. Thế là lại khua kẻng loạn xạ. Mệt xác! Giọng trẻ than vãn: - Chẳng biết thật giả thế nào. - Chứ bộ dễ, hả? - Việt cộng đâu chả thấy, chỉ khổ lính. Đêm báo động ít cũng vài ba lượt. Nói thật, ban ngày ngồi gác, tui chỉ buồn ngủ. - Mày coi chừng thằng thượng sỹ mặt chồn hôi à. Mày ngủ, vô phúc nó bắt được vỡ mặt với nó. Một tiếng thở dài nặng trĩu. Rồi cái giọng mới vỡ lại cất lên, nửa như kể lể nửa như tâm sự: - Có anh là người đồng hương, anh thông cảm dân lính mới như tui lớ ngớ chưa xáp trận lần nào. Còn anh đã quen mùi sa tràng bom đạn, tui hỏi thật anh điều này, lỡ đụng Việt cộng, nên chú ý điều gì? - È hèm, cái đó cũng còn tùy, chú mày ạ? - Dạ, anh Ba nói giùm, tui cảm ơn anh Ba nhiều. Được phỉnh nịnh, cái giọng trầm đã bớt vẻ đe nẹt, miễn cưỡng. - Vậy này, chú mày ạ, nếu đụng độ Vi-xi ở mỗi địa hình khác nhau, lại cần chú ý đến những cách đánh chúng nó ưa dùng cũng rất khác nhau. Ví dụ ở rừng núi chúng ưa tập kích, đánh lén… - Ở đồng bằng? - Đóng quân ở đồng bằng là dễ xơi pháo kích nhất hạng. - Còn nếu cụm lại trong vị trí như ta hiện thời? - Thì…thì mày phải coi chứng mấy ông tướng “lọ lem” con ạ. - Những ông tướng lọ lem? - Ừ. Có khi mà lính đặc công của Việt Cộng nó đang nằm lù lù dưới gầm giường mày rồi cũng nên – Câu trả lời kèm theo một chuỗi cười đắc ý. Tôi giật thót người như giẫm phải lửa, tuy đã thừa biết đấy chỉ là những lời dọa dẫm bông đùa của một thằng ngụy đã quen mùi súng đạn, với một thằng nhóc vừa bước chân vào đời lính với hai bàn tay còn sạch sẽ, hàng ria chỉ mới lún phún non tơ, và một đầu óc còn ngập đầy sự tiếc nuối một quá khử có thể là bình lặng, và tương đối yên ổn của một thiếu niên mới bước vào ngưỡng cửa cuộc đội lính ngụy tàn bạo và sa đọa. Một kiểm ma cũ bắt nạt ma mới. Nhưng biết đâu thằng nhóc non gan lại không vị lời dọa dẫm nọ mà không thử ngó xuống cái khoảng trống tối mờ mờ dưới lưng nó? Đêm mùa thu ở biên giới bắt đầu có sương lạnh, nhưng mồ hôi đã rịn ra hai bên thái dương. Tôi cắn răng, thả lỏng các cơ bắp cho bớt mỏi, gắng nằm im không nhúc nhích. Nhưng, trời ơi, tiếng tích tắc của kim giây đồng hồ trên cổ tay tôi sao nghe to đến thế! Mặc dù tôi đã cố ý thu cánh tay đeo đồng hồ giấu dưới ngực, nằm đè lên. Bây giờ, giả dụ có cách nào có thể quăng cái đồng hồ chết tiệt qua khung cửa sổ mờ mờ sáng kia, nhất định tôi không tiếc, còn thấy nhẹ lòng là khác. Khi tiếng kẻng báo động của bọn lính canh khua ầm lên, tôi đã liều chui hú họa vào một căn nhà bạt gần nhất. Phải lợi dụng những gì chúng nó không thể ngờ tới. Quả nhiên, hai thằng lính mắt nhắm mắt mở vùng dậy, vơ lấy súng, chạy ra ngoài. Cả hai đứa không một mảy may nghi ngờ có một “ông lọ lem Việt Cộng” đã nằm im thít trong một góc nhà của chúng, trong cái khoảng tranh tối tranh sáng của ánh hỏa châu soi qua khung cửa sổ nhà bạt. Khi tiếng chân hai thằng ngụy đã nghe xa, tôi chui ra khỏi chỗ nấp, đến gần khung cửa sổ, nhờ ánh mìn sáng rất tỏ, tôi tranh thủ quanh sát toàn bộ cách bố trí trong đồn giặc. Và tôi phát hiện ra, phía sau khối nhà bạt xếp thẳng hàng vuông vức, cái trận địa pháo mà tôi đang cần tìm. Đó là ba ụ đất lớn bố trí theo một hình tam giác. Và mặc dù chúng đã được phủ kín vải bạt nghi trang tôi vẫn nhận ra những chỗ lồi lõm dưới tấm bạt rất rộng. Những nòng pháo lớn đang nhất loạt hướng về con đường hành lang. Chính đó là những khẩu pháo đã gây khó khăn không ít cho những đơn vị hoạt động dọc biên giới. Vị trí địch chia làm hai khu vực, ngăn cách nhau bởi một con đường trải đá, và một dãy lô cốt dọc theo con lộ. Phía dưới con lộ là một bãi đất rộng, rất rộng, phẳng lì tới tận cái bốt gác giáp cổng vào. Bãi đất hẳn là sân bay. Tôi thầm nghĩ, và tôi hiểu ngay ra rằng, đêm trước, sở dĩ chúng tôi không mò ra những ụ pháo, vì đã đi lạc vào khu sân bay nọ. Tiêu đề: Re: Cành thanh mai đã ra hoa (truyện ký - Hà Dũng) Gửi bởi: nttran1979 trong 11 Tháng Mười Một, 2010, 08:12:10 pm Mất chừng nửa tiếng nhốn nháo. Rồi lệnh báo yên. Bọn lính ngụy chậm rãi lê bước về các nhà bạt. Tôi nghe rõ tiếng giày đinh giẫm xộn xạo lẫn trong những tiếng chửi thề tục tĩu. Rất lẹ, tôi lại luồn về chỗ nấp dưới gầm giường.
Tiếng chân giẫm nặng nề trên nền đất. Một lớp bụi khô như rang lùa vào hai lỗ mũi sặc sụa. Rồi thằng lính trẻ thả người trên sạp nằm, lặng lẽ cởi giày. Tôi thầm mong nó mau mau nằm xuống, kéo tấm chăn dạ lên chùm kín đầu. Nhưng không hiểu vì đâu thằng nhóc cứ thao thức. Nó ngồi ôm má nghĩ ngợi chán chê. Rồi bật lửa châm thuốc, trong lúc thằng trung sỹ đã leo lên giường, trùm chăn, thở đều đều. Ngoài kia, tiếng kẻng từ bốt gác thỉnh thoảng khua rời rạc. Mãi trong phía rừng le, có tiếng nai tác kéo dài nghe buồn đứt ruột. Và những cơn gió rừng chợt đến, xao xác trên chỏm những cây đại thụ. Tôi bỗng nghe thằng nhóc khịt mũi. Rồi dường như khó lòng chịu nổi cái không khí vừa quạnh hiu vừa thấp thỏm không yên của bốt đồn nằm giữa rừng già với bóng tối âm thầm, tên ngụy trẻ ngập ngừng gợi thằng trung sỹ câu chuyện tôi vừa kể. Tôi nằm im, bấm bụng chờ cho cuộc chuyện tàn. Lúc lâu sau, có tiếng thở đều đều, tiếng khịt mũi chốc chốc lại bật lén như người bị bóng đè. Tôi nhẹ nhàng luồn ra khỏi chỗ nấp, nhón chân thêm dăm bước, tôi đã đứng cạnh cửa ra vào khép hờ. Rồi tôi khom người luồn nhanh ra ngoài bóng tối lúc này càng trĩu nặng sương mù. *** Tôi chúm môi giả tiếng gà rừng. Có tiếng đáp lại tức khắc. Hẳn Trinh và Mượt đang rất nóng lòng chờ tôi. Và tôi đã đoán không lầm, vừa chui ra khỏi bụi cỏ tranh xơ xác, một bóng mũ sắt đã nhô lên từ một đoạn hào chống tăng: - Lâu quá! Đợi anh nóng ruột, chúng tôi đã tính vào tìm. Tôi nghiến chặt hai hàm răng, cố khắc phục cái cảm giác ớn lạnh khiến hai hàm răng cứ và nhau lập cập. Tôi nén run, nói: - Lạnh quá đi mất. Có cậu nào còn thuốc? Nằm úp mặt dưới lòng hào, tôi rít mạnh liền mấy hơi thuốc, nuốt khói. Điều thuốc ngún lửa xèo xèo. Hút được nửa điếu, đã thấy dễ chịu hơn, tuy sờ mảng da bụng còn lạnh như đồng, nhưng hai hàm răng đã bớt tranh chưởng, tiếng nói đã thoát ra dễ dàng hơn trước. Tôi rít thêm hơi thuốc, ngậm khói, nói làm thào: - Tớ đã mò vào sờ tận chân súng. Trinh sốt ruột: - Thế nào? - Sáu khẩu tất cả. - Sáu? - Ừ, pháo 105. Trinh hỏi: - Ý anh thế nào? Không trả lời ngay, tôi lẳng lặng rít thêm hơi thuốc, rồi nhô đầu lên quan sát xung quanh lần nữa. Yên trí không có gì đáng ngại, chúng tôi chụm đầu bàn bạc ngay dưới lòng hào. Tôi nói: - Ngày mai, theo ý tôi, ta chỉ nên đưa đi một tiểu đội, đem theo B40 bố trí theo hướng sân bay, chỉ để hai người bí mật luồn sâu, mang theo bộc phá. Lúc nãy tôi đã thử đo, ta có thể đặt bộc phá vào bệ khóa nòng… Trinh hỏi: - Còn pháo thủ và cả một tiểu đoàn bộ binh địch? Tôi ngăn lại: - Để mình nói nốt. Có hai cách. Một, ta vừa triển khai hỏa lực cùng một lúc với tổ mũi nhọn. Hai, tổ mũi nhọn bí mật thọc vào tung thâm. Xong việc đặt mìn, ta triển khai hỏa lức, đánh lạc hướng để tổ mũi nhọn rút ra. Mượt trầm ngâm: - Nếu tổ thọc sâu bị lộ từ lúc chưa lọt vào trận địa pháo? Tôi nói ngay: - Trường hợp đó tổ mũi nhọn sẽ nổ súng ngay. Các đồng chí ở ngoài phải lập tức nổ súng hiệu đồng. Trinh nói: - Điều ấy thì rõ quá. Dù sao, tôi còn lo, lỡ ra, chỉ là một trận đánh tập kích cỡ nhỏ, không phá được mấy khẩu pháo ấy thì tiếc công quá. Tôi nói nghiêm chỉnh: - Tuyệt đối khong thể có trường hợp ấy. Các đồng chí nên nhớ, đây là trận đầu đơn vị tác chiến độc lập trong một hoàn cảnh khá đặc biệt: Đánh một trận địa pháo lớn ở sâu trong căn cứ địch! Bởi thế, theo tôi, ta chỉ có quyết tâm đánh thắng để lấy kinh nghiệm xây dựng đơn vị, không được bàn lùi. Mượt hỏi: - Tiểu đoàn trưởng đã dự kiến những ai ở tổ mũi nhọn? Còn chưa kịp đáp, tôi đã nghe nơi đầu ngón chân mình có ai vừa giẫm nhẹ. Tôi ngẩng lên kịp thấy Trinh vừa hất mũ sắt ra sau gáy, tay gãi gãi cằm. Trời tối, không nhìn rõ mặt cậu ta, nhưng tôi có thể hình dung ra đôi mắt Trinh đang nhìn tôi vừa nài nỉ vừa ngụ ý đe nẹt: “Anh coi chứng đấy! Lần này anh còn lờ tôi là không xong đâu!”. Trong hàng ngũ cán bộ đơn vị, người ít tuổi nhất là tôi, hai mươi mốt tuổi, rồi đến Trinh, một cán bộ trung đội loại cứng. Lẽ dĩ nhiên vì cùng xấp xỉ tuổi đời, Trinh và tôi dễ gần gũi và thân nhau hơn cả. Đó là một chiến sỹ chiến đấu dũng cảm, và biết xử trí mau lẹ. Ngoài ra, cậu ta còn có một biệt tài có thể sử dụng mọi loại vũ khí của địch một cách thông thạo. Đấy cũng chính là điều khiến tôi phân vân lúc này: Tôi đang cần một cán bộ tháo vát như Trinh phụ trách tổ hỏa lực ở bên ngoài. Còn Mượt, anh không có được cái mau lẹ của tuổi trẻ như Trinh. Ở anh, sự thận trọng trong mọi hành động lại là điều nổi bật. Một khi đã phân công cho anh một nhiệm vụ gì, cán bộ cấp trên có thể hoàn toàn tin cậy: công việc ấy sẽ được thi hành đến nơi đến chốn. Đó là một cán bộ giàu kinh nghiệm chiến đấu ít người bì kịp. Lại một mũi dép thứ hai ấn nhẹ trên bàn chân tôi, và những ngón tay Trinh xoa cằm chờ đợi. Tôi nghĩ nhanh: “Tớ biết cậu sẽ giận tớ, Trinh ạ. Nhưng đây là một công việc hệ trọng vượt ra ngoài ý định cá nhân. Mong rồi sau cậu cũng hiểu”. Tôi hít một hơi dài, tránh không nhìn vào đôi mắt Trinh đang nhìn tôi chăm chú: - Tổ mũi nhọn sẽ gồm tôi và … đồng chí Mượt. Tôi sẽ trực tiếp nắm tổ này. Trinh nhổm người lên: - Tôi có ý kiến… Tôi vội gạt ngay: - Yêu cầu các đồng chí chấp hành… Không đợt tôi nói dứt, Trinh đưa bàn tay chạm vành mũ, gằn giọng: - Rõ! Đồng chí tiểu đoàn trưởng. Cu cậu giận rồi. Nghe cái giọng là biết liền. Thường này, những lúc chơi bời thân mật, Trinh và tôi vẫn thường “cậu, tớ” tràn cung mây. Một khi hắn đã gọi tôi theo chức vụ, tức là có chuyện nghiêm trọng. Nếu vào lúc khác, có thể tôi đã ôm lấy hắn, và hai đứa lại xoắn lấy nhau làm một keo vật, thế là hòa cả làng. Còn bây giờ, công việc không cho phép tôi làm thế, vì nhiệm vụ tôi không thể chiều theo ý thích cá nhân của người bạn thân được. Sao cậu ta không chịu hiểu giùm tôi điều đó! Trinh nhổm lên, ấn cái mũ sắt sâu đến tận mắt nghe “cốp” một tiếng khá mạnh. Rõ đồ trẻ con! Hơn hai chục tuổi đầu, là cán bộ hẳn hoi mà vẫn trẻ con. Cả tôi nữa, tôi cũng vừa bắt gặp mình đang nhếch miệng cười thầm. Thế đấy! - Rút!- Tôi khẽ nói trong hai hàm răng nghiến chặt, và đứng lên, đưa thay soát lại quanh mình. Bỗng tôi tái mặt thốt kêu lên: “Chết mẹ rồi!” Trinh quay ngoắt lại, nhìn tôi không chớp mắt. Mượt hỏi: - Gì thế. Cái gì thế? Tôi nói như người hụt hơi: - Quả pháo thủ. - Sao? - Tôi đánh rơi quả thủ pháo. - Ở đâu? - Trong ấy. Tôi nhớ lại, có một lúc nấp trong nhà bạt, vì trái thủ pháo cồm cộm trước bụng, vướng quá, tôi đã nới lỏng dây buộc, xoay nó sang bên sường. Có lẽ, sau đó, nó đã tuột ra mà tôi không hay. Một cái sơ ý chết người! Tiêu đề: Re: Cành thanh mai đã ra hoa (truyện ký - Hà Dũng) Gửi bởi: nttran1979 trong 11 Tháng Mười Một, 2010, 08:12:45 pm Tôi lặng đi một giây. Cứ tưởng tượng cái lúc vừa ngủ dậy, thằng ngụy mặt non choẹt ngó xuống gầm giường tìm giày, bỗng thấy trái thủ pháo nằm lăn lóc ngay dưới lưng. Có lẽ mặt nó sẽ tái xanh như chàm đồ, nó sẽ kêu toán lên, sẽ hô hoán, sẽ làm náo động cả cái vị trí gần bốn trăm tên lính ngụy. Và thế là bao nhiêu công trình chuẩn bị phút chốc trở thành nước lã ra sông. Cũng có thể, biết bao xương máu đồng đội sẽ đổ ra vì kế hoạch của trận đánh đã bị lộ từ trước khi nổ súng. Người tôi nóng ran lên, mạch máu đập nhịp hai bên thái dương buốt nhoi nhói. Tôi nói nhỏ, nhưng rõ ràng từng tiếng:
- Tôi phải vào tìm. - Thôi, ông. Lại vượt tám lớp rào, có mà hết đêm – Trinh gạt đi. Tôi đứng lên: - Dù phải vượt hai chục lớp rào, tôi cũng phải vào tìm bằng được. Tôi sẽ ra rất nhanh thôi. Rồi không để hai người kịp nói thêm, tôi nhoài người biến vào thảm cỏ tranh lúp xúp. III Mờ sáng, chúng tôi về tới căn cứ. Không kịp nghỉ xả hơi, cấp trên đang chờ tôi. Tôi theo cậu liên lạc trung đoàn đi ngay. Báo cáo xong kết quả chuyến đi trinh sát, luôn tiện, tôi trình bày kế hoạch tập kích vị trí C, như đã bàn với Trinh và Mượt. Cấp trên đồng ý với những dự kiến của chúng tôi, chỉ bổ sung thêm những chi tiết cụ thể. Xong việc, tôi lăn ra ngủ, khi chợt thức, tôi nhìn đồng hồ, đã mười hai giờ, giữa trưa. Đơn vị đi tập kích đã được tổ chức chu đáo, gồm mười người, có ba B40. Mười bốn giờ chiều, đơn vị xuất kích. Lại vẫn con đường lỗ chỗ hố pháo. Đi ngang qua nấm mồ người bạn cùng quê có những khóm mua núi màu tím biếc, nhụy vàng vổng lên mềm mại, tôi thâm nói: “Pào à, cậu hãy yên lòng. Đêm nay chúng minh sẽ hót sạch những khẩu pháo đó”. Nhưng, tôi đâu có ngờ, mọi kế hoạch tưởng chừng như đã bàn bạc cặn kẽ đều trở thành vô dụng. Và một tình huống mới, với vô vàn những diễn biến mau lẹ đang đợi chúng tôi ở phía trước. *** Đơn vị luồn rừng đã được hai tiếng. Tính ra, chỉ còn chừng hơn tiếng nữa chúng tôi sẽ tiếp cận địch. Chỏm rừng phía tây, mặt trời đã tà tà đổ bóng. Sốt ruột tôi lấy la bàn xác định phương hướng, rồi cho anh em bỏ đường mòn, cứ đạp góc phương vị mà đi. Đi cách này, nhiều lắm chỉ nửa tiếng nữa là giáp mặt chúng nó. Đến sớm, chúng tôi có thể ém quân ở rừng le phía ngoài hàng rào, tiếp tục theo dõi những hoạt động của bọn địch trong vị trí. Luồn qua một cánh rừng già, rồi ra đến một khoảng trống rải rác những cây khộp còn non mọc lúp xúp. Chẳng còn bao nhiêu đường đất nữa. Qua được trảng trống này là tới rừng le mong đợi. Bỗng tôi chú ý lắng tai nghe, có tiếng trực thăng vận tải è è từ phía V.T. bay tới. Tiếng máy bay bay thấp và gần lại nhanh chóng. Mọi người đứng nép vào những tán lá. Tôi bò ra một quảng trống, lấy khăn dù hoa quấn kín người, chỉ lộ hai con mắt chăm chú nhìn về phía chiếc máy bay sẽ xuất hiện. Nó kia rồi! Một chiếc trực thăng “con lợn”. Chiếc thứ hai bay nối đuôi. Rồi cái thứ ba cũng vừa ló ra khỏi chỏm rừng. Tôi mở tròn mắt nhìn dán vào cái bụng bự của những chiếc vận tải. Loại máy bay này thường làm nhiệm vụ chở bộ binh địch. Mỗi chiếc có thể chở từ bốn nhăm đến năm chục đứa trang bị đầy đủ từ cối cá nhân tới tăng bạt, võng dù… Những chiếc máy bay đã vượt qua chỏm rừng, bắt đầu hạ độ cao. Không khó gì lại không thể phán đoán ra nơi chúng sẽ đổ xuống là vị trí C. Có điều gì đã xảy ra như vậy? Đã có những gì thay đổi về sự bố phòng của tiểu đoàn ngụy ở cái vị trí đã hai lần tôi mò vào trinh sát? Hay chúng đã phát hiện ra dấu vết của cuộc tiềm nhập đêm qua? Dấu vết đó là gì? Điều này thật vô lý. Bởi chính tôi đã vào lại căn nhà bạt tìm được trái thủ pháo đem ra. Ngoài ra, tôi cũng đã cẩn thận soạt lại từng trái mìn, từng ống pháo sáng ở cả tám lớp hàng rào, chú ý để chúng vào nguyên những vị trí cũ. Tôi cũng đã lưu ý từng vệt nhỏ, từng lối mòn… Vậy cái khả năng địch có thể phát hiện ra dấu vết của trinh sát là hoàn toàn không thể có. Phải loại trừ khả năng này. Sức gió của động cơ cánh quạt như muốn dứt mảnh dù ra khỏi hai bàn tay tôi đang ra sức níu giữ. Sợ mảnh vải có thể tung lên, bọn địch nhìn thấy, tôi nghiêng người nằm đè lên mép vải, vẫn không thể rời mắt khỏi những đường lượn rất đáng khả nghi của những chiếc trực thăng “con lợn”. Có lẽ chúng sẽ đổ thêm quân xuống vị trí C? Bao nhiêu đứa sẽ tăng cường thêm cho vị trí đó? Mật danh đơn vị bọn này là gì? Hỏa lực của chúng ra sao? Những câu hỏi rối rắm như một búi rơm vò quằn quanh trong óc tôi. Lại có thêm tiếng trực thăng. Và lần này, ngược lại, rõ ràng tiếng cần cẩu bay nặng nề từ phía vị trí địch dội đến. Tôi liếc những chiếc “con lợn”, đảo mắt về phía rừng le. Tôi thật không dám tin vào mắt mình nữa: rõ ràng tốp cần cẩu bay hai chiếc bay sóng hàng, đang buộc lòng thòng dưới bụng nó những khẩu pháo nòng dài ngoằng, lúc này trông nó có vẻ quá gầy guộc bé nhỏ dưới ánh nắng chiều tà. Tôi đưa tay dụi mắt, trong bụng nóng như lửa đốt, tay chân nhấp nhổm không yên. Hai chiếc cần cẩu bay tới ngang trảng trống. Và phía cuối rừng le lại xuất hiện thêm hai chiếc cần cẩu với những khẩu pháo lắc lư, khẽ tròng trành bên dưới những đôi cánh màu bạc xỉn. Phía trên kia trảng trống, những chiếc vận tải “con lợn” đang hạ độ cao. Tôi nhìn theo những chiếc cần cẩu bay cho tới lúc những khẩu pháo nghềng ngàng khuất vào chỏm núi tím biếc. Nhìn chúng nó chuyển đi những khẩu pháo mà tôi đã mất bao nhiêu công tìm kiếm, trong phút chốc, tôi có cảm giác mình đã bị cướp trắng tay, hệt như những khẩu pháo đó đã thuộc về tôi, thuộc quyền tôi sử dụng vậy. Bứt rứt đến muốn khóc. Không khóc ra tiếng, nhưng gan ruột cứ bồn chồn, ngớ ngẩn như người mất của, còn quá người mất của là khác. Cuộn mình trong tấm dù hoa, tôi lăn tròng tới một gốc khộp. Trinh và Mượt cũng vừa đến. Chúng tôi tranh thủ hội ý ngay dưới gốc cây. Những phiến lá bị sức gió cánh quạt bứt đi, rơi rào rào như giữa một cơn lốc cuốn. Chúng tôi thống nhất nhận định: Bọn địch đang thay quân. Như vậy, kế hoạch tiêu diệt trận địa pháo như đã bàn rõ ràng là phá sản. Trở về hậu cứ lúc này thật tiếc công, phí sức, và ức nữa, rất ức, rất tiếc. Nhưng tổ chức đánh ngay cũng có phần mạo hiểm. Chúng tôi chưa nắm đước những thay đổi về trang bị và quân số của bọn địch vừa tới. Bàn bạc giây lát, rồi cả ba đồng ý cứ đánh. Cuộc xuất quân đầu tiên của một đơn vị mới thành lập không thể là cuộc dạo mát trong rừng một ngày đẹp trời. Dẫu không diệt được những khẩu pháo hiểm ác đó, chúng tôi quyết đánh một trận thật giòn giã để lấy truyền thống xây dựng đơn vị. Tôi cũng quyết định nơi ém quân trong rừng le sát hàng rào đồn địch. Trinh và Mượt sẽ đưa bộ đội tới đó trước đợi. Còng tôi, lợi dụng lúc này trong vị trí địch đang hết sức lộn xộn, tiếng máy bay gào điếc tai, bọn địch mới đến và lũ quân chưa kịp đi đang nhộn nhạo, mọi sự canh phòng đều lơi lỏng, tôi mon theo con đường hào nong từ cửa rừng đi về phía cửa chính của vị trí địch. Mặt trời chiều bỗng úa héo bởi những đám mây xám từ phía tây đùn lên nhanh chóng. Không gian sẫm lại. Rồi trời lất phất đổ mưa. Thằng lính gác khoác chiếc áo bạt rộng thùng thình, tiểu liên cực nhanh kẹp bên nách, phiến lưng rộng như tấm phản đứng im không nhúc nhích. Nó đang dán mắt vào chiếc trực thăng “con lợn” vừa quệt đít xuống mặt đất. Rất lẹn, tôi luồn qua trạm gác. Rồi vừa đưa mắt coi chừng thằng lính gác, tôi vừa sục sạo quãng hào phía trước. Thật là một sự ngẫu nhiên may mắn: bọn địch không gài mìn ở đây. Chiếc trực thăng “con lợn” đang đổ quân. Tụi lính vừa chui ra khỏi thân máy bay, kéo nhau vội vã đi về phía căn nhà xây cất đàng hoàng ở cuối sân bay. Tôi đoán đấy là nhà câu lạc bộ của bọn nó. Thêm hai chiếc trực thăng vận tải đang lượn vòng, chuẩn bị hạ độ cao. Tôi cúi lom khom luồn dưới lòng hào. Khi đến ngang bốt gác, ngó nhìn lên: thằng lính gác vẫn đang nghếch mắt xem máy bay. Tôi vọt lên mặt đất, sài thêm ba bước, tôi đã lọt ra ngoài vị trí địch. Chúng tôi chia bộ đội làm ba mũi. Tôi phụ trách mũi chính đánh thẳng vào sân bay. Còn hai tổ kia do Trinh và Mượt đảm nhiệm sẽ đánh vào hai bên sườn. Mỗi tổ một B40, súng AK, lựu đạn đầy đủ. Mưa đổ mau hơn. Bầu trời chợt như có bàn tay nào đó trộn thêm một lớp tro xám, tối mờ. Đúng là một không gian lý tưởng đối với chúng tôi. Tiêu đề: Re: Cành thanh mai đã ra hoa (truyện ký - Hà Dũng) Gửi bởi: nttran1979 trong 11 Tháng Mười Một, 2010, 08:13:16 pm Tôi dẫn đầu mũi tiến công thứ nhất. Sau tôi là Mạo, một đồng chí tân binh mới được bổ sung vào chiến trường. Hăng hái nhưng xốc nổi. Ban nãy, khi còn ém ngoài rừng le, nhìn thấy những chiếc trực thăng lượn vòng trên đầu, Mạo ngứa mắt, giương súng, toan nổ. Sự thể không biết rồi sẽ dẫn đến đâu, nếu Trinh không kịp ngăn cậu ta lại. Lúc này, tôi ngoảnh nhìn lại sau, qua một lớp không khí màu tro, khuôn mặt Mạo bỗng đổi khác rất lạ. Cái cằm tròn trĩnh lún phún những chân râu bỗng như dài ra, vài sợi tóc dính bệt vào mảng trán dấp dính mồ hôi rủ xuống gần tỉnh mũi bỗng xuất hiện những vết nhăn mờ. Và đôi mắt mở tròn căng thẳng. Lần đầu tiên luồn sâu vào vị trí địch giữa ban ngày, một tân binh có thể mất bình tĩnh là điều hoàn toàn dễ hiểu. Tuy nhiên, Mạo vẫn bám sát tôi không rời nửa bước. Sau Mạo còn hai chiến sỹ nữa, rồi đến tổ của Trinh và Mượt. Tôi quyết định lợi dụng yếu tố bất ngờ, cho toàn đơn vị tiến công mặt chính diện.
Chúng tôi tiến sát tới đầu con hào cụt. Ở chỗ này muốn lọt qua cổng gác còn phải băng qua một khúc đường rộng trải đá. Một đoạn đường nguy hiểm hoàn toàn phơi ra giữa mắt địch. Đứng ép ngực vào bờ đất nhão, tôi khoát tay ra hiệu cho mọi người dừng lại, đoạn ló đầu lên quan sát. Chợt, tôi giật thót người: tên lính gác đứng cách tôi chỉ vừa một tầm tay với, ngay trước của bốt gác. Còn may, nó vẫn chăm chú nhìn về sân bay, nên không nhìn thấy chúng tôi. Lại thêm một thằng “con lợn” sắp sửa tiếp đất. Phải xử gọn thằng này! – Tôi nghĩ nhanh, quài ra sau rút con dao nằm gọn trong tay. Rồi một tay chống lên thành hào, chân phải đạp lên mảnh đất sau lưng. Bằng một cái nhún người chính xác, tôi cất mình lên khỏi lòng hào. Nhưng đúng lúc ấy một mảng đất ướt nhão bỗng lở ra, lăn xuống lòng hố. Một tiếng động mềm và ẩm. Thằng lính gác ngoắt quay lại. Bốn mắt nhìn nhau. Nó đã nhìn thấy con dao nhọn tron bàn tay tôi. Trong một giây ngắn ngủi, tôi nhìn thấy tròng mắt nó đảo lên, hàng ria đen nhích lên, cái miệng nó há to ngáp ngáp như thể một chú cá vừa bị quăng lên cạn, để hở một hàm răng cửa rát to màu vàng sỉn. Không để nó kịp kêu một tiếng, tôi sấn tới, vung dao lên… Thằng lính gác chợt có một cử động như thể muốn đẩy khẩu tiểu liên ra trước ngực. Nhưng lưỡi dao trong tay tôi đã thọc vào nách nó, ngập tới cán. Nó gập người, lả xuống, gục ngay tại chỗ. Tôi ôm xốc lấy nó, kéo cái xác thằng lính ngụy cao to gấp rưỡi tôi vào trong bốt gác. Rồi tôi quay ra, khoát tay ra hiện cho anh em vượt lên. Chiếc trực thăng vừa tiếp đát, hai bánh cao su dưới cái bụng sắt phình to như bụng cá cóc còn nảy bần bật trượt một đoạn ngắn trước lúc chịu dừng hẳn lại. Những cánh quạt còn đang đà quay. Tôi chỉ cái trực thăng, lệnh cho Mạo: - Bắn “thằng” đó! Mạo đặt súng, chỉnh tầm hướng, tay giữ quả đạn, tay giật cò, rất lẹ. Tiếng nổ đầu nòng nghe không lớn lắm. Nhưng quả đạn lửa đã vọt đi theo một đường xiên chéo. Quả đạn vừa lao đi, từ bụng chiếc trực thăng vận tải cũng thấy rơi ra những khối đen, thoạt nhìn như là những bao hàng, nhưng toàn là người, toàn lính ngụy. Bọn chúng đùn nhau ra từ lúc cánh quạt con quay. Thằng thứ nhất còn chưa leo xuống hết mấy bậc thang, một cột khói nữa đã bùng lên, bám sát ngay bên cánh máy bay. Rồi một cột khói đen nữa trúng ngay đoạn đuôi thằng “con lợn”. Đụn khói nhanh chóng nở ra như một tai nấm rất mềm, thấp thoáng một đốm lửa vàng mờ, uốn éo, khi rõ khi mất. Rồi cụm khói nhạt dần. loãng dần. Đốm lửa nở ra nhanh chóng, và cháy bùng lên dữ dội. Một cột khói. Hai cột khói. Thêm một đám cháy nữa. Cái đám lính xám xịt cứ giãn ra rồi lại co vào, rối rít hỗn loạn trong đám khói đen. Có những đứa đổ gập xuống ngay trong đám lửa vàng khè. Thằng nào sống sót hẳn cũng bở vía vì loạt đạn phủ đầu ấy. Giải quyết xong chiếc trực thăng vận tải, tôi cúi lom khom vượt qua một bãi trống, chân đạp bừa lên những vũng nước lạnh, tựa lưng vào một đống sắt, lại giẫm lên những bao dựng cát vây quanh một lô cốt, hai tay nắm chặt hai quả thủ pháo, tôi chạy lao về hướng nhà câu lạc bộ nhốn nháo bóng lính. Nghĩ cũng lạ, lúc ấy, xung quanh tôi, trước mặt, sau lưng, mắt liếc phía nào cũng nhìn thấy những bóng xám áo lính. Còn tôi gần như không hề ẩn nấp, cũng không một lần dừng chân, tôi cứ chạy phơi mình trước mắt chúng nó. Vừa chạy vừa dè chừng có thể một tiếng đạn rít bên tai, một ánh chớp nhoáng lên, một tiếng nổi chát chúa. Nhưng tịnh không, có lẽ bọn chúng còn bàng hoàng vì tiếng súng tiến công chớp nhoáng, vì những bóng áo xanh Việt cộng xuất hiện đột ngột như thể mặt đát ẩm mềm dưới trận mưa nhỏ bỗng nứt ra vậy. Trong căn nhà câu lạc bộ phía cuối sân bay, bọn địch khoác áo mưa đứng lố nhố, đứa chạy ra, thằng thụt vào, nhốn nháo, hỗn loạn, rối rít như một tổ ong vỡ. Nhưng tuyệt nhiên chưa đưa nào kịp hoàn hồn nổ lấy một phát đạn. Cũng có thể chỉ là một sự may mắn rất hiếm hoi, chứ chẳng phải chúng tôi lại có tài tính toán chính xác đến thế. Chỉ biết rằng, tôi đã chạy qua một bãi đất khả rộng mà trong mình không một vết sây sát nhỏ. Khi còn cách nhà câu lạc bộ một tầm tay, tôi hít mạnh một hơi cho căng đầy hai lá phổi, đoạn mắm môi, người ngả về sau lấy đà, tôi vươn tay quăng liền hai trái thủ pháo vào giữa đám lính đang nhốn nháo. Một thằng ngụy đội mũ kết xanh, giơ hai tay lên trời ngạc nhiên trước lúc từ từ ngả người gập xuống cạnh những đứa khác đang giãy giụa trong đám khói xám. Khi quay ra, tôi sờ lưng thấy còn hai trái lựu đạn. Bước chéo dăm bước, gặp một lô cốt nhốn nháo tiếng lính ngụy gọi nhau ơi ới bên trong. Bọn nó đã kịp chạy vào ẩn nấp trong những lớp tường dày này rồi ư? Hay một khẩu đại liên đang sắp sửa nhả đạn? Một ổ đề kháng đã bắt đầu hoàn hồn, đang chuẩn bị kháng cự? Dù là khả năng nào thì bọn nó cũng không kị trở tay nữa rồi. Tôi tựa lưng vào vách lô cốt, men đến bên lỗ châu mai. Đoạn, tôi ghé răng cắn đứt chốt an toàn, nhẩm đếm thêm mấy tích tắc mới buông tay thả quả đạn vào phía trong cái lỗ hổng vuông vuông tối mò ấy cho yên trí. Một tiếng nổ nghe âm âm như trong thùng bịt kín. Lại chạy thêm một đoạn ngắn, gặp một lô cốt khác, thấy cửa vào có mở hé, tôi dừng chân, lẳng nốt quả đạn cuối cùng qua khe cửa. Chạy trở ra, gặp Mạo, tôi lấy thêm lưu đạn của cậu ta, bỏ vào hai túi quần bốn quả, giắt sau lưng hai quả, cầm AK chạy lội lại phía sân bay. Hai mũi của Trinh và Mượt đã vòng qua khu nhà bạt. Đó đây nghe ran ran tiếng súng nhỏ, tiếng nổ của thủ pháo, lựu đạn vẳng lại từ phía nhà bạt và những lô cốt ở quanh sân bay. Tôi chạy vượt qua một lô cốt vỡ toạc, phía trước mặt thấy cánh đuôi của đạn B40, hẳn là mũi của Trinh đã diệt hỏa điểm này. Cách vài bước là xác một tên sỹ quan ngụy nằm vắt người trên hàng rào kẽm gai, quần rằn ri may bó ống, giày đen, cái bao da súng ngắn cứng đơ như mo nang bó táp bên hông. Xung quanh còn những xác nữa. Đứa nằm nghiêng. Có thằng nằm ngửa, tay che mặt, tóc cháy xém một bên má rám đen, tròng mắt lồi ra một cách kỳ dị. Gặp một chiến sỹ chạy ngược lại, tôi hỏi: - Có gặp trung đội trưởng Trinh đâu không? Cậu tan he hàm răng trắng nhớn. Một nụ cười rạng rỡ trên khuôn mặt đen nhẻm, tay ngoắt chỉ về phía có tiếng đạn nổ đì đọp: - Ông Trinh còn ở đấy. Đánh gọn quá, phải không thủ trưởng? Tôi nói: - Cậu quay lại gặp anh Trinh, anh Mượt, bảo tôi ra lệnh rút. Cậu chiến sỹ rất trẻ khoát tay chỉ về phía góc khu nhà bạt còn nguyên vẹn: - Còn khu vực kia? Trận chiến đấu đã diễn ra trong vòng mười phút, với một lực lượng nhỏ bé, chúng tôi đã diệt được hơn năm chục tên địch, một trực thăng bị phá hủy hoàn toàn, với gần chục căn nhà bạt và cũng gần xấp xỉ con số ấy những chiếc lô cốt sụp đổ. Tôi nhìn cậu chiến sỹ, nói nghiêm khắc: - Đồng chí hãy tìm ngay các mũi trưởng truyền đạt mệnh lệnh của tôi. - Rõ – Cậu ta khom lưng chạy biến sau cái lô cốt bị đạn B40 bắn sập. Lại có tiếng động cơ ở phía trái, tiếng xe tăng rất nặng, rú lên, giật từng hồi. Nép người bên mảng lô cốt vỡ, tôi nhìn ra. Một chiếc M41 đang hướng thẳng phía tôi, lù lù xốc tới. Cái miệng khẩu pháo trên tháp xe nhô lên thụt vào đều đặn. Những cụm lửa liên tiếp phụt ra nhấp nhoáng, loa lóa trong ánh sáng chiều mưa đã nhạt. Á, chúng nó đã lại hồn, bất đầu giở trò. Chúng nó định bịt cửa đột phá đấy. Chiếc B41 còn cách chỗ tôi nấp khoảng dăm chục mét, tiếng xích nặng chuyển đất. Đã nhìn thấy cái nắp của mở he hé gần thấp pháo. Tôi quay lại đưa mắt tìm Mạo. Cách chỗ tôi nấp một tầm tay với, sau một bao cát xam xám, khuôn mặt Mạo bỗng nhợt ra, hai gò má nhô lên, môi mím chặt, những ngón tay khẽ run. Mạo quỳ xuống, một tay giữ nòng súng, một tay với ra sau lưng rút quả đạn. Nhưng không hiểu vì sao cậu ta cứ lóng ngóng mãi không cởi được nút buộc. Tiêu đề: Re: Cành thanh mai đã ra hoa (truyện ký - Hà Dũng) Gửi bởi: nttran1979 trong 11 Tháng Mười Một, 2010, 08:13:53 pm Chiếc tăng vẫn rầm rầm lượt tới. Những mắt xích cuộn theo những sợi rễ cỏ, những lá tranh, và một lớp bùn đỏ sền sệt giắt đầy vào đó. Nó giật lên, chồm qua một mô đất nữa. Nó đã đến rất gần chỗ tôi và Mạo đang nấp. Tôi nhổm lên, chân đạo mạnh một tảng đá lởm chởm, nhoài người về phía Mạo. Rồi bằng một động tác rất gọn, tôi đã nằm sấp bên cạnh cậu ta, một tay vươn ra giữ chắc lấy khẩu B40, tay kia siết chặt quả đạn. Lắp đạn xong, tôi nheo mắt ngắm thẳng vào cái nòng pháo trên tháp xe4, ngón tay trỏ móc cứng vào vòng cò, bóp mạnh. Hõm xương bả vai chợ dại đi, toàn thân bất thần bật nảy lên, lùi lại một bước ngắn. Tôi nhanh chóng lấy lại thế cân bằng trong lúc mọi tiếng động rầm rầm nhức óc trước đó một giây bỗng câm bặt. Cái vòng xích của nó đã nằm duỗi trên lớp cỏ ướt, bất động. Chiếc tăng nặng nề đổ nghiêng.
Tôi trao lại súng cho Mạo, ngoắt tay ra hiện, rồi cả hai chạy vòng phía sau cái xe tăng đổ, rút về phía cuối sân bay. Cả sáu người của hai mũi kia đều đã tới. Nhìn anh em còn đủ mặt, tôi mừng quá, rất mừng. Duy có Trinh bị rơi đâu mất cái mũ sắt. Một mái tóc rất đen, rất mềm xõa xuống gần cặp mắt to, sâu và rất sáng, hàng mi dài, cái mũi nhỏ nhắn, đường viền của vành môi rõ và đều đặn, thêm một vệt râu nhìn thoáng giống như cái vệt nhỏ, mờ mờ. Một vạt áo không hiểu sao bị rách toạc lên đến ngực. Mảnh vải rũ xuống, lất phật bay, để lộ một mảng da đỏ au, rắn rỏi, đã không làm đồng chí trung đội trưởng của chúng tôi kém phần điển trai hơn chút nào. Ngược lại, chút màu sắc chiến trận đó giống như một cách làm dáng hơi cầu kỳ khác đời đối với hắn mà thôi. Tôi chăm chú quan sát cậu ta trong một giây với một ý nghĩ thoáng qua hơi có phần ghen tỵ: “cái thằng này rồi con gái khối đứa chết mệt với nó đây”. Trinh đang cúi xuống vê gọn ống quần. Không hiểu hắn đang nghĩ gì, trên môi thoáng một nụ cười tủm tỉm rất tươi. Khi ngẩng lên, đôi mắt hắn chạm phải cái nhìn của tôi, hắn quay nhìn lảng ngay đi nơi khác, cặp môi mím lại thành một nét nhăn bướng bỉnh nơi khóe miệng. Suýt nữa tôi bật cười. Cu cậu vẫn còn nhớ chuyện tối qua. Thù dai ghê nhỉ? Nhưng bây giờ đâu phải lúc có thể dỗ dành hay thanh minh với hắn! Tôi nhìn anh em khắp lượt, nói nhanh: - Tất cả rút theo lối cổng gác. Mũi hai dẫn đầu. Khẩn trương lên! Cái dáng cao cao và một thân hình rất mềm, đầu không mũ đi vượt qua mặt tôi. Một người nữa vai khoác AK tay phải nắm gọn khẩu tiểu liên cực nhanh. Rồi đến Mạo và khẩu B40 với chiếc giỏ đạn sau lưng… Tôi đứng ép lưng vào thành hào ướt, nhường lối rộng cho anh em vượt lên. Bọn địch từ những lô cốt còn sót lại bắn ra rất dữ. Đạn đại liên quét ràn rạt trên con lộ ngăn giữa sân bay và khu nhà bạt. Tiểu liên cực nhanh nổ đoang đoác, rất gần. Thêm tiếng máy bay phản lực xa xa. Tôi luôn miệng nhắc mỗi khi có bóng người vượt qua mặt mình: - Nhanh lên. Khẩn trưởng nữa! Mượt là người thứ chín, người ra cuối cùng. Chờ Mượt đến gần, tôi nói: - Anh em vượt khỏi cổng gác khoảng trăm rưởi mét, đến giữa quãng trống, anh cho tất cả bám ven lộ, ngụy trang kỹ, nằm lại đó đợi lệnh tôi. Đôi mắt Mượt mở to, đờ ra vì kinh ngạc. Anh há miệng toan hỏi lại. Nhưng tôi xua tay ra hiệu. Tiếng phản lực gần lại mau chóng. Các cỡ súng của địch đã bắn chuyển làn. Những tia lửa giật nhoáng nhoàng, chớp loa lóa. Những tiếng nổ ục oàng ràn nạt bay qua đầu chúng tôi. Mùi khói đắng hắc và mùi thuốc súng lờm lợm đã ùa vào đầy lồng ngực. Nước mắt giàn giụa vì khói, vì bụi, vì ánh lửa đạn. Hai hốc mũi cay xè, chảy nước. Tôi giơ tay ẩy nhẹ vai Mượt. Đôi mắt anh nhìn tôi một thoáng, chỉ một thoáng rất nhanh. Rồi anh cúi lom khom luồn theo con hào nông rảo chạy theo anh em. Tôi biết, lúc này Mượt chưa hiểu ngay ý đồ của tôi. Chính cái nhìn câm lặng nhưng đầy băn khoăn vừa nãy đã nói lên tâm trạng của Mượt. Nhưng tôi hiểu rất rõ anh sẽ chấp hành triệt để mệnh lệnh của tôi, dù anh chưa được giải thích những lý do cần thiết. Và điều đó khiến tôi yên tâm. Có lẽ trong lúc gấp rút này chỉ nên yêu cầu ở mức đó. Bởi không thể nào nói rõ cái ý nghĩ chỉ thoáng đến với tôi trong một phút giây bất chợt. Có thể nói, đó là một ý định táo bạo, hết sức táo bạo, mạo hiểm và liều lĩnh nữa. Sẽ phải giải thích cặn kẽ, vì sao anh không cho bộ đội nhanh chóng ẩn mình vào những cánh rừng bạt ngàn kia. Ở đó, dưới những tán lá xanh tốt che phủ trên đầu, những khe suối cạn dưới chân và những con đường mòn chia đi nhiều ngà, anh dễ có cái cảm giác an toàn, tránh cho xa cái nôi đang ngập chìm trong những tiếng rít của hàng trăm viên đạn lửa cùng một lúc được bật ra khỏi nấc hãm trong tay kẻ địch đang trong cơn cay cú vì thua thiệt quá nặng nề. Cái nơi mà ranh giới giữa cái chết và sự sống chỉ cách nhau không đầy gang tấc, cũng là nơi những đám lửa chưa kịp đập tắt cùng với những xác người co quắp bị đốt cháy đang cuồn cuộn dâng lên cái mùi khói lờm lợm gây gây, ngửi vào chỉ muốn nôn muốn mửa. Còn kia là những cánh rừng xanh tốt, là bầu không khí trong sạch, và sự yên tĩnh ngàn đời của thiên nhiên đẹp đẽ. Đó là một tâm lý thông thường. Duy có điều, chắc chắn kẻ địch cũng sẽ phản ứng theo một sự suy đoán tầm thường. Chúng nó sẽ không thể ngờ, ở ngay sát bên nách chúng, trên một trảng trống hẹp, hoàn toàn trơ trụi, có con lộ trải đá dẫn thẳng tới một vị trí được bố phòng nghiêm ngặt. Cái bãi trống ở ngay trong tầm mắt, cũng như trong tầm súng bộ binh, sẽ không thể là nơi để bọn Việt Cộng ẩn nấp, dẫu rằng vừa xuất hiện trước mắt chúng như trong phép màu. Cái dáng người to ngang, tay xách AK của Mượt vừa lọt qua cổng gác, tôi cũng nhổm lên, leo theo anh. Địch đang bắn chặn cửa đột phá. Đạn cối nổ đoang đoác ngay sát cổng vị trí. Một quả đạn bay sạt qua mặt tôi, trúng ngay cái bốt gác. Thằng lính nào bắn quả cối ấy quả là một pháo thủ loại tồi. Một mảng tường vỡ ra, từ từ đổ sụp xuống. Bụi bốc mù mịt. Tôi cúi lom khom, chân đạp lên tảng đất còn nóng hổi, vọt qua đám bụi. Sải thêm dăm bước, lại vượt qua một hàng rao kẽm gai cao ngang bụng, tôi nằm sấp xuống cạnh một mô đất cứng. Hai chiếc F4 từ trong một góc trời nào đó đã cắn đuôi nhau lao xuống những cánh rừng phía bên kia trảng trống, trút bom xuống rầm rầm. Nhìn những cuộn khói đen hình nắm đang cuộn lên, theo gió tán rộng ra, tôi đoán chúng đang oanh tạc quãng rừng khộp chúng tôi vừa trú quân ban chiều. Phía xa hơn chút nữa, một cột khói trắng cũng bay lên. Chưa đầy nửa phút sau, cả một cánh rừng rộng đã mọc lên hàng trăm cột khói. A, những họng súng cối của chúng đều đã chuyển làn, bắn cả sang bên kia cánh rừng ngút ngàn. Và lần này, chúng đã tính toán thật cẩn thận, quá cẩn thận, và chu đáo là khác. Những cột khói đen của bom xăng và lửa đỏ cháy lập lòe từ máy bay giội xuống, lẫn với những cột khói trắng của các loại súng cối từ vị trí bắn ra, khi dựng lên ở quãng rừng vầu, thoắt lại bùng ra ở phía sau mỏm núi đen cô độc, trên khắp một diện tích khá rộng. Những luồn sáng đỏ thi nhau vọt bay qua mặt tôi, nhưng những tiếng nổ lại ở đầu bên kia trảng trống. Tôi lật người, vươn tay, dạng chân thoải mái cạnh mô đất, mắt nhìn lên bầu trời đã chuyển sang màu tím loãng. Hà Nội, tháng 1 -1976 Tiêu đề: Re: Cành thanh mai đã ra hoa (truyện ký - Hà Dũng) Gửi bởi: nttran1979 trong 15 Tháng Mười Hai, 2010, 06:14:05 pm ĐÁNH THỨC (Truyện ngắn - Nguyễn Thị Vân Dung) Đôi tay đeo găng đen của Nhung mơn man trên vòng lái, chiếc Mada bóng nhoáng lao nhanh trên xa lộ ngoại vi Sài Gòn. Ngược đường, từng toán lính ngụy chạy bộ như kiến vỡ tổ. Những bộ mặt đen kịt phơi nắng ngoài tuyến phòng thủ, pha trộn giữa sự kinh hoàng thất trận với chút hy vọng tháo thân để sống. Những cái miệng há như cá đớp vì kiệt sức. Quần áo mũ mãng tả tơi xô lệch. Có những đứa vừa chạy, vừa cởi vứt bỏ lốt lính, trên người chỉ còn chiếc quần lót kẻ sặc sỡ, bộ ngực xăm chàm hình đầu lâu, hình phụ nữ khỏa thân với tòng teng chiếc dây chuyền đeo cổ. Quần áo lính, giày cao cổ, mũ vứt suốt dọc đường hàng chục cây số. Các loại súng M16, súng ngắn, tiểu liên, lựu đạn, dao găm la liệt; cờ hiệu các sư đoàn, quân chủng thêu kim tuyến ném lấp lánh trên bệ cỏ. Những tên lính trần như nhộng, lội tắt đồng, rẽ ngang rẽ dọc mỗi người một hướng. Chiếc Mada phóng lướt gió. Nhung hả hê nhìn cảnh tan ra hoàn toàn của một “quốc gia”. Thật sung sướng được chứng kiến giờ phút cuối cùng của một chế dộ sụp đổ. Sáng nay cũng vậy, Nhung đã đến xem cánh rút chạy ở sứ quán Mỹ. Đỗ chiếc Mada bên đường. Nhung ngắm nhìn những “ông lớn” rơi mũ, tuột cà vạt, những “phu nhân” cổ lấp lánh hột xoàn, mặt méo xệch vì chen chúc. Cánh cổng sứ quán khép chặt. Lính Mỹ súng lăm lăm không cho ai vào. Trong sân, bọn Mỹ hối hả chặt cây sấu lớn vì sợ nó làm trở ngại việc máy bay lên thẳng đỗ xuống sân thượng tòa đại sứ. Bọn người chạy trốn khỏi đất nước điên cuồng bíu lấy hàng rào leo lên, định nhảy vào nhưng bị lính thủy đánh bộ Mỹ đẩy xuống ngã bổ chửng. Tổng trưởng, tướng ta, dân biểu, chính khách chen nhau thục mạng để xích được vào gần cánh cổng sơn trắng. Bọn lính cầm danh sách trên tay đối chiếu, chỉ khẽ hé vừa đủ cho một vài kẻ chui lọt, rồi đóng sập lại. Có viên tướng được vào xãh hai, ba túi du lịch kệ nệ, sung sướng chạy thẳng vào hành lang bỏ mặc cậu con trai bị chặn ngoài cửa đang kêu khóc gọi bố oai oái một cách tuyệt vọng. Từ trong sân sứ quán, chiếc Cadilắc quen thuộc của chính đại sứ Martin nhiề lần tìm cách lách ra cửa mà không được vì đám đông. Nhung nhìn thấy hắn, phải, chính hắn, Nhung đã nhẵn mặt trong nhiều cuộc tiệc tùng khiêu vũ trắng đêm mà Nhung từng dự. Lão đại sứ mở của kính bước ra, lắc đầu. Không có cách nào khác, lão bèn đi bộ qua cửa ngách mặt bên, rồi cũng chen đám đông để về nhà riêng của mình cách sứ quán ba khối nhà lấy hành lý để sắp sửa chuồn. Nhung nhìn Martin chằm chằm. Lão đi ngoài hè phố với mấy thằng cận vệ như một bọ Mẽo tầm thường, chẳng ai thèm để ý. Chỉ một loáng Nhung đã thấy hẵn trở lại, trên trời tiếng máy bay Sinuc phành phạch đáp xuống. Tiếng động cơ át tiếng kêu gào khóc của bọn người chưa lọt được vào sân sứ quán. Sau này theo các phóng thoại cuối cùng của Oasington gọi cho sứ quán Mỹ ở Sài Gòn với đích thân Kitxingiơ nói trước máy truyền lệnh của tổng thống ấn định giờ phút cuối cùng rút chạy. Bọn nhân viên sứ quán bắt đầu đập phá các tủ lạnh, ném uytki xuống thảm, đổ sâm banh lên bàn. Martin tay xách cặp, tay cuốn lá cờ Mỹ cặp nách lên thang máy bay. Bọn lính thủy đánh bộ canh gác đã rút vào buồng khách của sứ quán rồi khóa trái cửa đi ra mé cầu thang lên sân thượng. Khi bọn người bị bỏ rơi, phá được cổng tràn vào thì đã muộn. Bọn lính lên tới nóc bắt đầu phun hơi ngạt và bắn đạn khói làm tê các bắp chân để không ai trèo lên được… Chiếc Matda lướt như không bén đường. Chưa bao giờ Nhung cho xe đi với tốc độ như thế. Làm sao có thể chậm rãi khi trong lòng đang mọc cánh. Tiếng xe Giải phóng phía trước nghe ầm ầm rõ dần. Quân ta đang trên đường tiến vào Sài Gòn. Nhung như cảm thấy những gợn rung nhẹ của mặt đất dười hàng trăm bánh xích nặng nề đằng xa. Chiếc Matda háo hức lao về phía ấy. Nó có nhiệm vụ đi đón và dẫn đường vào Sài Gòn cho cánh quân phía bắc này… *** Biệt thự Macgo, một đêm của Sài Gòn ngày nào. Nhung đang ngồi trong phòng ăn, buông đũa chạy vội vào toilet, cảm giác buồn nôn lại đến. Cô xát mạnh xà bông vào hai tay, kỳ cọ đỏ bóng lên; nhắm mắt xua đuổi hình ảnh tởm lợm đã một tháng nay cứ bám riết lấy đầu óc cô. Đã một tháng nay, Nhung mắc chứng bệnh buồn nôn, cũng giống như cơn đau bụng của người bị chứng dạ dày. Và cứ buồn nôn là Nhung lại như cái máy xát xà bông vào hai bàn tay, xát hoài xát mãi… Trước mắt Nhung lại hiện ra hình ảnh lão già cùi; cái lão già cùi với chiếc mũi bị ăn ruỗng như múi cà chua bị chuột vọc, với bàn tay nhiều ngón đã rụng, lẩy bẩy bước lên bục đá bọc đồng của nhà “Thần tài Ngân hàng” hôm ấy, đúng lúc Nhung đang ngồi làm việc. Nhung giật mình sau cửa kính “ghi sổ”, cô ngoảnh đi không dám nhìn, nhưng lão già tiến sát: - Chào cô, tôi gửi món tiền. Nhung đứng dậy hốt hoảng kinh sợ chực bỏ chạy. Lão già cùi thò bàn tay rụng nham nhở rút từ trong ngực ra một bó tiền to cáu bẩn nhầy nhụa mùi mủ, chìa đến trước mặt Nhung để cô đếm. Nhung rụt tay lùi lại rồi chạy. Lão già gắt gỏng: - Sao? Ngân hàng này không thèm nhận tiền gửi sao…? Mắt lão trừng trừng, ánh mắt của một kẻ cậy của. Lão đập bàn tay lở loét vào mặt kính quát tháo: - Không nhận tiền thì đóng cửa ngân hàng lại. Mụ vợ Lý Quán chủ ngân hàng từ phòng trogn đi ra, nhìn lão cùi nhưng vừa thấy bó tiền to tướng, ánh mắt lập tức dịu dàng. Mụ nói êm ru: - Nhung, thu nhận tiền cho khách đi em. Nhung đứng chết sững. Ánh mắt mụ lạnh lùng nghiêm khắc xoáy vào mặt Nhung hạ lệnh. Khoanh tay kiên nhẫn, mụ đứng chờ Nhung thực hiện điều mình nói. - Thưa bà…- Nhung vừa mở miệng, mụ cắt ngay bằng một cử chỉ phản đối. Mặt mụ rắn lại lạnh lùng. Bó tiền của lão cùi to bằng hộp bích quy cỡ bự, số tiền thật đáng kể. Truyền thống của “Thần Tài Ngân hàng” thương mại là chiều quý, trân trọng các thương chủ đến gửi tiền. Có tiền họ gửi mới có tiền cho Lỹ Quán chồng mụ, phối hợp cùng các nhà tư sản kinh doanh hàng xuất nhập cảng. Mụ mềm mỏng: - Thư quý ông, cảm ơn quý ông đã chiếu cố đến ngân hàng chúng tôi. Quý ông sẽ lĩnh lãi 30%. Nhung làm phận sự đi em… Giọng ngọt sớt, nhưng ái hất hàm thì đầy vẻ quyền hành bà chủ. Nhìn Nhung lúng túng hãi hùng khi bị buộc phải làm một việc đáng sợ, mụ tìm cho mình một cảm giác hả hê. Đối với mụ, Nhung là một kẻ đáng ghét. Một “đứa làm công” nhưng lại là một “địch thủ đáng gờm” mụ không bỏ lỡ dịp nào để “chơi” những vố tai ác. Tiêu đề: Re: Cành thanh mai đã ra hoa (truyện ký - Hà Dũng) Gửi bởi: nttran1979 trong 15 Tháng Mười Hai, 2010, 06:14:52 pm Những đồng tiền của lão cùi nhớp nháp, tanh tưởi lộn mửa; những đồng tiền lão từng ôm ấp gìn giữ ép sát bên dao cùi lở loét đã bao ngày! Nhung cúi đếm như cái máy dưới đôi mắt giám sát nghiêm khắc của mụ chủ. Đống tiền to đếm mãi không hết. Lão cùi gí sát cái mũi cà chua vào đống tiền say sưa theo dõi. Môi lâm bầm đếm theo. Nhung kinh hoàng, đếm đến tờ cuối cùng chỉ kịp kêu lên một con số cho người kế toán làm giấy tờ sổ sách, rồi ù té chạy vào “toilet”. Cô xát xà phòng điên cuồn hai bàn tay, cảm giác buồn nôn bắt đầu dân lên, và từ đây bám riết lấy cô…
…Nhung trở lại phòng ăn một mình, mệt mỏi ngồi xuống. Đĩa trứng rán vàng tươi, đĩa thịt vịt quay nhuộm màu đỏ rực, rau sống, canh chua ngon lanh. Nhung lợm giọng không dám nhìn lâu. Ngoài cửa sổ, hương cây đêm nhè nhẹ. Những vòm lá run rẩy đánh rớt những giọt sương lạnh trong quầng sáng của bóng đèn mờ. Tiếng một con dế rè rè đều đều buồn tẻ. Nhung lững thững đi ra đóng ập các của sổ lại. Những căn phòng trải thảm trong ánh nê ông vắng lặng, các cánh cửa bọ doa không có hơi bàn tay người khép mở. Nhung đi một mình, phòng này qua phòng khác rồi gieo mình trên đệm ngủ. Tiếng máy điều hòa rù rì, Nhung nhìn trong bốn mặt gương to choáng gần hết bốn mặt tường. Căn phòng tưởng như có tới bốn năm người cùng nhìn nhau, cùng cựa quậy một động tác. Bốn năm cái cổ cùng nghiêng một lúc, bốn năm cái tay cùng giơ lên…Những hình người trong gương càng gợi cảm giác cô đơn. Các công tắc đèn lần lượt tắt, chỉ để lại một quầng sáng xanh dịu ru ngủ. Nhưng mắt Nhung mở thao láo. Chiếc khăn rải giường trắng tinh khiết nhưng con người đang nằm trên nó thì không còn tinh khiết nữa. Nằm trên những tiện nghi sang trọng, ý nghĩ quái lạ của Nhung lại trở về mảnh chiếu rạm trải nền đất trong căn nhà lá lụp xụp bìa làng ngày nào. Căn nhà tối tăm, một người mẹ già rách rưới đi nạng và một đứa bé gái vận quần hở rốn lang thang mò cua tép ngoài đồng, tóc tai tanh tưởi khét lẹt. Mỗi tối, căn nhà bập bùng ánh lửa, hai mẹ con bà què ngồi nuốt nước bọt chờ niêu cà tép đang sôi xình xịch bốc mùi thơm. Bà mẹ suốt ngày không nói không rằng, đi ra đi vô lạch cạnh chiếc nạng, còn đứa bé thì tung tăng thoắt cái đã biến mất, chiếc áo đen, cúc đóng xô lệch, chiếc quần cũn cỡn bạc phếch, cong cớn vết bùn khô. Rồi một buổi, đứa bé nghe tiếng súng nổ, xe tăng quân đội quốc gia vây làng. Đầu thôn cháy, cuối thôn cháy. Người ta kêu: quốc gia vây bắt cộng sản! Dân làng chạy tán loạn; đứa bé gái khóc mếu máo dắt mẹ, nhưng bà cụ làm sao đi nhanh được. Chiếc nạng gỗ lọc cọc từng bước. Đạn bay chiu chíu trên đầu; đạn cày tung bụi đường đi. Bà mẹ què đang lêt, cái nạng bị đạn bị đạn bắn bay vèo mất đầu. Những luồng đạn xối xả, bà chỉ kịp kêu lên một tiếng, ngực ộc ra một dòng máu tươi. Đứa bé kinh hãi ôm chầm lấy mẹ kếu thét. Súng vẫn nổ giòn xung quanh, khói mù mịt. Những tên lính rằn rện chạy qua, không thèm nhìn. Đứa bé kêu gào bên người mẹ mắt mở trừng trừng giữa vũng máu đỏ rực, cát không thấm kịp. Một chiếc xe bọc thép rầm rầm lấn lại. Từ trong xe, một tên tướng trẻ oai vệ bước xuống, đứng chống nạnh nhìn em bé. Gương mặt đỏn dáng đỏ hồng của hắn chợt linh động, cái cổ cao và cứng gật gù: - Bé con! Đi với chú! Ở đây bom đạn tùm lum thế này. Hắn quay người, vẫy tay kiểu cách, mấy tên lính chạy lại túm láy đứa bé lôi xềnh xệch vào xe. Đứa é vùng vẫy, áo vẫn dính đầy máu me. Những tên lính cầm chân mẹ em lôi ra rệ đường lấy lối cho xe đi… Hết trận càn, đứa bé được tên tướng đưa về Sài Gòn vào ở trong một tòa nhà nhiều ngắn nhiều tầng mà nó không thể nhớ lối ra lối vô. Hàng tháng liên nó khóc ròng, nhưng người nó vẫn không tan thành nước mắt được. Cùng ở với nó, có tới vài chục bé gái cũng trạc tuổi, mặc đủ thứ quần áo đẹp. Một bà Tàu răng trắng tới nửa hàm bịt vàng, mặc quần hoa, đi giày vảy trong nom cả lũ. Bà dạy chúng cách ăn nói yểu điệu, đi đứng nhún nhảy, luyện tập trang điểm để làm cho cơ thể phát triển đẹp, dạy chúng tập khiêu vũ v.v… Bà đặc biệt chú ý đến con bé tên Nhung mới đến, đôi mắt mênh mông phớt một nỗi buồn và gương mặt thắm đằm của con bé hứa hẹn một vẻ đẹp không bình thường. Bà chăm sóc Nhung tỉ mỉ, lúc rỗi bà dẫn riêng Nhung đến biệt thự của ông chủ Lý Quán. Lần đầu tiên Nhung trông thấy ông chủ. Hóa ra không phải là tên tướng mặt đỏ đã đem Nhung về Sài Gòn trong chiếc xe tăng. Nhung hỏi bà Tàu, bà nói: ông tướng ấy thì “mùi mẻ” gì so với ông chủ. Chỉ là một người bạn, giúp ông chủ một số việc đại loại như việc đem Nhung về Sài Gòn thôi. Lúc ấy Nhung còn bé quá, Nhung chưa biết mình chính là món hàng trị giá vài triệu đồng mà chúng nó đã mua bán với nhau… Kẻ mua, lão chủ Hoa kiều béo phệ, quần trễ hở cả rốn vuốt má Nhung, khen em ngoan, rồi cho một gói bánh ngon, chiếc kẹp tóc dính xa phia lấp lánh… Một buổi tối, Nhung thấy bà Tàu chải chuốt cho cái Hằng, đứa lớn nhất trong bọn, thoa điểm phấn son, rồi khoác tay nó ra chiếc Mercedes đậu sẵn ngoài đường. Cả đêm ấy, ngày sau, không thấy Hằng về. Đến khi nó về thì Nhung kinh ngạc, mặt mày mình mẩy nó thâm tím. Nó khóc ròng và bà Tàu thì cáu gắt. Đêm nằm nó tức tưởi kêu đau, kể cho Nhung nghe điều hãi hùng mà nó vừa phải chịu đựng. Ông chủ đã giày vò nó suốt một đêm như con gấu dữ vò nát con mồi. Tưởng như ông chủ không ăn thịt được nó thì phải chịu, chứ ăn được thì ông ấy đã ăn rồi. Nó kêu khóc làm ông chủ bực mình, đã đánh nó, ra lệnh cho bà Tàu đuổi nó ra đường phố, không nuôi nữa. Rồi nó sẽ đi đâu đây? Đi đâu kiếm được miếng ăn giữa Chợ Lớn này? Nó chẳng biết làm gì cả. Ai sẽ nuôi nó, nó cũng chẳng nhớ lối nào mà về quê nữa. Bố mẹ nó còn đâu… Nó biết làm sao bây giờ… Quả nhiên, sáng hôm sau bà Tàu tập hợp cả bọn trẻ lại. Bà dạy: Ông chủ là người thần thánh, ông giàu vào cỡ ở Hoa Kỳ, Nhựt Bổn phải biết tiếng, cùng làm ăn buôn bán với ông. Ông thương các em, nuôi các em ăn ngon mặc đẹp. Thật là diễm phúc cho em nào được ông chủ âu yếm. Thế mà có em lại hỗn với ông chủ. Không thể để kẻ vô ơn bạc nghĩa ấy ở nhà này. Phải đuổi nó đi cho nó chết đói chết rét ngoài đường. Bà nhìn chòng chọc và Hằng. Bà sỉ mắng Hằng một lúc, rồi dịu giọng: “Đáng lẽ ông chủ sẽ đuổi Hằng hoặc đem bán cho ngoài nhà chứa làm gái điểm, nhưng vốn thương người, ông chủ nghĩ lại. Từ nay Hằng phải ngoan ngoãn cũng như tất cả các em phải ngoan, ông chủ bảo gì nghe nấy, nếu không, hãy coi chừng”. Bốn năm sau cái hôm hãi hùng đến với Hằng, đã đến với Nhung. Nhung được lão chủ Hoa kiều chuyên thích loại chanh cốm, yêu quý đặc biệt. Mười bảy tuổi, Nhung như bông hoa chớm nở ngào ngạt hương sắc. Lão chủ mê mẩn bát ngờ. Hắn chở Nhung trên chiếc Cadilac đi khắp Chợ Lớn mua hạt xoàn, ngọc trai trang sức cho cô. Trong khi các bạn đồng “khóa đào tạo” của Nhung được “phân bổ” về các cơ sở kinh doanh để làm việc và trở thành một thứ cung tần mỹ nữ nghiệp dư của hắn, thì Nhung được đưa đến biệt thự Macgo. Nhung bỡ ngỡ như người ngủ mê. Biệt thự sang trong, đủ tiện nghi, mùi hoa ngâu vườn thoang thoảng. Nhung sẽ được làm chủ nơi này, sẽ được sử dụng tất cả các phòng trang điểm, phòng ăn, phòng khiêu vũ, phòng vui chơi… Một người hầu gái chăm sóc trông nom nhà cửa, vườn hoa, và nấu nướng. - Nơi này từ xưa không ai ở à? – Nhung ngớ ngẩn hỏi chị. - Đây là biệt thực riêng, ông chủ chỉ dùng vào việc tiếp khách thôi, là nơi vui chơi hàng tuần của ông... Nhung đến biệt thực Macgo được ba hôm thì đêm vui chơi của ông chủ được tiến hành. Khắp vườn thắp đèn màu lung linh như sao sa trong các lùm cây. Nhung được trang điểm từ chiều đứng đón khách ngoài thêm. Người đầu tiên cô trông thấy chính là tên tướng đỏn dáng mặt đỏ ngày nào. Tên tướng không già đi bao nhiêu, chỉ có cái cổ hình như to ra, rụt lại một chút. Hắn nhanh nhẹn nghiêng đầu tiến lại. Vẫn những ngù vai lấp lánh như đồ trang kim của hàng mã; đôi môi trác táng hình như có bôi qua một chút son phụ nữ, hắn phác một cử chỉ kiểu cách vô nghĩa rồi xăm xăm bước. - Thưa chuẩn tướng. Chuẩn tướng có biết em đây là ai không? – Lý Quán chỉ Nhung Tên chuẩn tướng nhíu lông mày, vỗ cái trán rộng nhưng rỗng tuếch, không nhớ hoặc làm bộ không nhớ, nhưng đôi mắt lại lóe lên một ánh ngạc nhiên trước sắc đẹp dậy thì của Nhung. - Cô bé mà ngày đã lượm được trong cuộc hành quân “Thiên Nga” đem về cho tôi bốn năm trước đấy. - A!- Tên tướng reo khẽ rồi cúi xuống như anh hề xiếc chào Nhung. Hắc bước lên bậc tam cấp vội vã, vẻ bận rộn sau khi vuốt má Nhung với dáng điệu một người đã gieo rắc ân huệ khắp thiên hạ nhưng không nhớ… Đêm vui chơi không đông, chỉ chừng chục người. Những chai sam banh hảo hạng chở bằng máy bay từ Anh Cát Lợi, Ý Đại Lợi, Hoa Kỳ tới nổ bôm bốp. Trứng cá, tôm hùm bắt ở bờ Địa Trung Hải, Bắc Âu, yến sào ở Côn Đảo… Vừa ăn chúng vừa bàn công việc một cách căng thẳng chẳng có gì là vui chơi cả. Những giá cả, những món hàng, những âm mưu thủ đoạn kinh doanh. Tên tướng bàn chuyện áp phe thông thạo gấp mười lần làm việc ở bộ tham mưu. Chúng chạm cốc ngã giá. No say rồi chúng khiêu vũ với các cung tần mỹ nữ của Lý Quán vừa được điều động đến. Lý Quán “độc quyền” Nhung. Hắn vừa nhún nhảy những bước nặng nề vừa thầm thì bằng cái giọng Hoa lại Việt sặc mùi rượu: - Em…khá lắm…nhưng sau em hơi buồn…em cười vui đi…Anh sẽ thưởng nhiều tiền… Hai tay hắn nâng niu Nhung như hai tay con gấu bưng một cái chén ngọc. Cặp má phị của hắn nhờn mỡ. Nhung thấy gây gây khi phải hôn cặp má ấy để chiều hắn. Tiện tan, khách ra về, chỉ còn Lý Quán và Nhung ở lại biệt thự. Hắn loạng choạng chân nam đã chân xiêu và điên cuồng sống một đêm như thời hoang dã… Nhung ở biệt thự Macgo nhàn rỗi, chẳng có việc gì, chỉ ngày ngày chăm lo trang điểm. Mỗi lần dự tiệc ở đâu, Lý Quán lại đón Nhung cùng đi. Hắn khoác tay Nhung, nặng nề như một cây thịt, hãnh diện bước vào những phòng tiếp tân sang trọng. Nhung quen dần các phòng khách trứ danh của đại diện nhiều hãng buôn Nhựt Bổn, Hoa Kỳ, Anh Quốc, Đài Loan. Nhung dự tiệc tùng với những nhân vật cao cấp của tòa đại sứ Mỹ, Phủ tổng thống, MACVI, và những chính khách, tướng ta cùng chung việc kinh doanh hàng xuất nhập cảng với Lý Quán. Không bao giờ mụ vợ Lý Quán được hưởng vinh dự ấy. Nhưng mụ không cần, mụ già và xấu, không thích ló mặt ở chốn xã giao. Mụ cũng không ghen. Nếu ghen mụ đã chẳng để yên cho chồng nuôi mấy chục bé gái để huấn luyện thành cung tần mỹ nữ sau này. Nhưng mụ khó chịu khi thấy Nhung cặp kè với Lý Quán xuất hiện ở khắp nơi buôn bán làm ăn của chồng mụ. Mụ sợ rồi Nhung tham gia luôn vào công việc kinh doanh của Lý Quán. Với sắc đẹp và sự khôn ngoan- một lợi thế ghê gớm trong việc giao dịch kinh doanh, biết đâu rồi Nhung chả nắm lấy một khâu, một đầu mối công việc. Thời buổi lộn xộn này, phải dè chừng. Mụ đem sự lo ngại ấy ra nói với chồng. Lão già mê gái cười. Chính lão đang sử dụng Nhung làm thứ đưa đẩy vui vẻ trong việc giao dịch kinh doanh. Nhưng lão không lo như điều mụ vợ lo. Lão ậm ừ, nhưng không dám cãi lại vợ. Nói là sợ vợ thì không đúng, nhưng lão nể người đàn bà già và xấu ấy. Dấn vốn ban đầu để phất lên cơ nghiệp lừng lẫy này chính là mụ. Lão không muốn nhưng phải chiều theo ý vợ để Nhung về làm ở ngân hàng thương mại mà mụ cai quản. Cố nhiên Nhung vẫn có mặt ở các phòng khách của giới kinh doanh Sài Gòn, vui chơi cùng Lý Quán như xưa, nhưng mụ vợ Lý Quản cảm thấy yên tâm hơn khi nhìn thấy Nhung ngày ngày phải cặm cụi đếm tiền, tiếp các thương chủ trong ngân hàng của mụ. Với địa vị là chủ, mụ giám sát công việc của Nhung, sai phái bắt bẻ cho bõ ghét. Dù sao nó cũng chỉ là đứa làm công không tài sản. Tiêu đề: Re: Cành thanh mai đã ra hoa (truyện ký - Hà Dũng) Gửi bởi: nttran1979 trong 15 Tháng Mười Hai, 2010, 06:15:15 pm Ngày ngày Nhung đếm tiền như cái máy. Tiền và tiền. Nhung hoa mắt, mệt lử người vì tiền, một vạn, một triệu, mười triệu, một tỷ… Nhung đếm, đếm, gò người xuống đếm, ngón tay khô cứng như khúc que lật từng tờ giấy bạc. Tiền xếp như giấy, thực ra nó là giấy, mà sao trong nó người đời mắt cứ sáng lên. Tiền là những tờ giấy có ma… Nhung nghĩ lẩn mẩn. Trên đời này không có vật gì bẩn bằng tiền, đồng nào cũng qua tay hàng trăm người mang theo mồ hôi, ghét, vi trùng bệnh của hàng triệu người. Mùi tiền nồng nặc, tởm lợm buồn nôn. Nhung không hiểu sao Lỹ Quán lại có một thói quen, một thứ ệnh lạ lùng là thỉnh thoảng bắt vợ trải tiền lên giường rồi hắn nằm đè lên đắm trong cái cảm giác bí hiểm từ những tờ giấy có ma ấy đem lại. Trong mặt hắn lúc đó ngây đi, dại đi. Hắn mê man, cảm hứng đến nhỏ mồ hôi ướt lểu nhểu trên cái thảm tiền bốc mùi khăm khẳm. Chán chê, hắn ngồi dậy, thu tiền lại đếm, bắt Nhung cùng ngồi đếm, tẩn mẩn và thưởng thức một cách say sưa động tác đếm của mình. Hắn tìm lại cảm giác sung sướng của người nghèo có tiền để mà đếm. Đếm, cấm không được dấp ngón tay vào bọt biển. Phải dấp ngón tay lên đầu lưỡi của mình. Ngón tay Lý Quán như quả chuối mắn đưa lên chấm vào cái mồm như cái hang đỏ hỏn một thứ nước bọt lầy nhầy rồi lần lượt tẽ từng tờ. Nước bọt khô, hắn lại nhấp lại, cứ như một người nếm hương vị của tiền vương trên đầu ngón tay. Nhung bị bắt buộc phải làm theo lão, rùng mình vì cái vị gây gây lờm lợm của những đồng tiền…
*** …Tiêng chuông reo từng nhịp ngắn giòn giã ngoài cổng. Nhung ngồi dậy choàng chiếc áo ngủ kiểu Nhựt Bổn uể oải bước ra. Một mình trong biệt thự thì buồn nhưng khi có người đến thì cũng chẳng vui, trái lại còn bực mình nữa. Chắc là Lý Quán lại tới. Nhung lại mất một đêm để chiều chuộng cái cây thịt đỏ rực tắm uytki và nước hoa ấy. Thân phận Nhung khác gì thân phận một con điếm, một con điếm được nuôi dùng riêng trong nhà. Nhung cảm thấy chán ngán ghê tởm tát cả, bắt đầu từ chán ngán ghê tởm bản thân mình. Rồi đến Lý Quán, mụ vợ hắn, và cuộc đời này. Nhung chán cái biệt thự Macgo, nơi cô nửa là chủ nhà, nửa là đứa ở, chán cái ngân hàng thương mại cô ngồi gò lưng đếm tiền dưới con mắt hê hả của mụ quái già. Đã lâu lắm, mấy năm rồi, Nhung thấy mình đã chia thành hai con người: một là bậc phu nhân hoặc nếu không cũng một trang nhân tình xinh đẹp của bậc tỷ phú, cười nói lả lơi yêu đời giữa vòng vay các tướng tá xa lông, các tổng trưởng, các nhà kinh doanh hào hoa phong nhã. Còn con người kia là con bé Nhung cô đơn vô hạn, không gia đình, không bạn bè, không tình yêu, không quê hương. Nhiều khi giữa dạ hội đang ngồi chạm cốc với lũ hói đầu, chợt nhìn ngoài phố thấy những lứa đôi tuổi trẻ dắt nhau dạo chơi mà Nhung ứa nước mắt. Mỗi khi trở về nhà, xích cánh cửa biệt thự Macgo rít lên, rồi đóng sầm lại, một mình Nhung lại lủi thủ trong căn phòng lạnh lẽo. Có phải đây là một thứ nhà tù không?- Nhung tự hỏi, đầu óc chập chờn hình ảnh một gia đinh nhỏ, một tiệm hàng giữa phố đông vuui, vợ chồng con cái quây quần quanh chiếc ti vi xem hát cải lương… Tiếng chuông réo lên nhịp cuối vẻ sốt ruột. Nhung bước ra cổng, nhẹ bỗng người khi thấy trong quần sáng đèn cao áp thủy ngân không có chiếc Cadilac bóng lộn quen thuộc của Lý Quán. Nhung mở cổng. Một người thanh niên dong dỏng, mặt cân đối rất có duyên xuất hiện. - Chào cô Nhung! Xin phéo được tới thăm cô! Nhung há mồm ngạc nhiên. Người thanh niên khép vội cổng lại, cúi xuống Nhung mỉm cười: - Không nhận ra tôi à! Vĩnh đây. Vĩnh thường cho cái bé Nhung những giỏ tép đầy bắt ở đầm Vạc xóm Cỏ mà. - Trời ơi! Anh Vĩnh – Nhung thảng thốt. Làm sao mà Nhung nhận ra được. Gần bảy năm rồi! Nhung luống cuống. Lần đầu tiên từ ngày về ở Sài Gòn, Nhung mới có một người khách đúng nghĩa là khách của cô. - Cảm ơn anh vẫn nhớ em, vào nhà đi anh! Vĩnh cười mủm mỉm bước theo Nhung trên những tấm thảm trải đến tận phòng khách: - Trời! Ở quê nhà đồn cô Nhung giờ thành bậc phu nhân giàu cỡ bự quả không sai! Nhung đi pha cà phê, bày bánh ngọt, mỉm cười chua chát rồi đối lại: - Còn anh Vĩnh trong giờ cũng đặc công tử Sài Gòn. Anh lên đây làm ăn sao? Đi lính hay làm gì? Vĩnh chỉ cười, cái môi đáng yêu và trung thực. Nhung không giận, cô chỉ mừng là gặp người làng. Vĩnh đem lại cho Nhung cái cảm giác ấm áp mà chưa bao giờ cô có từ ngày xa quê. - Trông Nhung thay đổi quá- Vĩnh nhận xét. - Chuyện, em lớn rồi mà lỵ. Vĩnh ngồi nhấp từng ngụm cà phê nhỏ. Nhung ngước lên bỗng gợn cảm giác trước vầng trán trong sạch và ánh mắt hiền hậu của người con trai, người bạn quê hương. Một cái gì làm Nhung xúc động toát lên từ mái tóc đen tươi non, đôi mày cương nghị; một vẻ đẹp giản dị, không trau chuốt nhưng đầy truyền cảm bởi một ánh sáng mới mẻ là lạ bên trong. Nhung thấy mình như bé bỏng lại, và khao khát sự trinh bạch của tuổi thơ. - Đã nhiều lần anh vào ngân hàng – Vĩnh thay đổi cách xưng hô – nhìn Nhung ngồi đó nhưng anh không dám nhận. Vài lần khác, thấy Nhung khoác tay Lý Quán bước ra chiếc Cadilac… Vĩnh dừng đột ngột vì thoáng thấy Nhung cau mày. Anh chuyển sang một chủ để bâng quơ.\ - Nhung ơi, có nhớ ngày xưa mỗi lần sắp mưa, Nhung lại sang nhờ anh trèo cởi áo dừa, tước bỏ tướp kho hộ nhà Nhung. Má Nhung trả công anh một chùm quả… Má Nhung… Vĩnh dừng đột ngột, cúi xuống như hối lỗi vì lại lỡ lời một lần nữa, gợi lên liên tưởng buồn cho Nhung. Anh đưa mắt nhanh quan sát phản ứng trên gương mặt trau chuốt như ngọc chạm của người đang đối thoại. *** Tiêu đề: Re: Cành thanh mai đã ra hoa (truyện ký - Hà Dũng) Gửi bởi: nttran1979 trong 15 Tháng Mười Hai, 2010, 06:15:42 pm Chiếc Cadilac do đích thân Nhung lái- Nhung thích thế- lượn nhẹ nhàng vào cổng giữa hai hàng cảnh sát đeo găng tay trắng đứng canh, rồi tiến vào tầng hầm để xe của lâu đài, ngoan ngoãn xếp hàng bên những chiếc xe bóng lộn của các nhân vật tai to mặt lớn. Nhung khoác tay Lý Quán bước ra, như thường lệ, cô hơi cong môi tỏ ý kinh tởm những thứ súng ống lưỡi lê và những bộ đồng phục cảnh sát đang tấp nập trước sân cỏ. Đèn trong vườn sáng rực. Nhung yểu điệu nép vào cái thân oai vệ nặng nề đầy vẻ cậy của của tên tỷ phú. Mắt nheo hơi lim dim, mặt khinh khỉnh, hắn dửng dưng bước vào thang máy. Tiếng nhạc êm dịu lan tỏa trong phòng tiếp tân lộng lẫy. Những chùm đèn pha lê, những tấm thảm Ba Tư đắt tiền, những người hầu đồng phục trịnh trọng oai vệ đi lại.
Lý Quán đưa Nhung vào một chỗ ngồi danh dự. Cô ngã người gật đầu chào lại các quan khách. Vầng trán thờ ơ, đôi mắt dửng dưng. Nhung nhìn bọn người trước mặt. Những quan chức của sứ quán Mỹ kẻ cả, hách dịch đầy dáng ông chủ; những sỹ quan cao cấp của MACVI ngông nghênh, thiếu sự lịch duyệt trong các phòng khách quý phái; những nhà kinh doanh đầy vẻ hào phóng bốc trời và luôn chăm chăm một âm mưu làm ăn đằng sau những câu chuyện xã giao; những vị tổng trưởng khủng khỉnh cậy quyền; những tướng ta đầy chất lính tẩy chuyên áp phe quân trang quân dụng… Bữa tiệc hôm nay đặc biệt hơn nhiều bữa tiệc khác và có hai vị phó đại sứ và mấy đại diện các hãng sản xuất của mấy nước đồng minh quan trọng vừa đến Sài Gòn để xem xét khả năng giúp quân, và viện trợ cho sự nghiệp chống cộng ở Đông Nam Á. Lý Quán trịnh trọng bắt tay những ông khách quý, mặt hớn hở phập phồng như đánh hơi thấy một miếng mồi béo bở ở những món hàng viện trợ và nhập cảng sắp tới này. Hắn đưa mắt ra hiệu cho Nhung bước lên cúi chào và làm vui lòng các vị ấy như xưa nay Nhung đã quen làm. Một cảm giác nhục nhã ớn lạnh tràn suốt xương sống Nhung. Cô gượng cười, nắm lấy những bàn tay da trắn nhợt, nhầy nhụa mồ hôi. Những câu chúc mừng nịnh đầm nhạt nhẽo; những cái giọng ồ ồ tuồn tuột từ các cổ họng quá rộng; những từ ngữ uốn éo trong vòm lưỡi dẻo quẹo mù mờ; những cái hôn kêu như mở nút chai ở mang tai… Bài diễn văn chúc tụng từ bàn phủ nhung đỏ giữa phòng chát chúa reo lên, rượu trong các vùng trứ danh châu Âu đồ tràn như máu. Máu, hàng trăm cái mồm nhe răng trắng nhởn đang uống máu òng ọc. Các món ăn kỳ lạ của các nhà hàng nổi tiếng Sài Gòn lần lượt được dọn ra. Những cô chiêu đãi vẫn mang đồ ăn tàu ăn mặc như công chúa Trung Hoa, xiêm cài lấp lánh; những chiếu đãi viên nhà hàng mang đồ ăn Tây Âu mặc tựa diễn viên múa ba lê; còn chiêu đãi viên mang đồ ăn Hoa Kỳ thì ngấp nghé khỏa thân. Thức ăn và thức ăn ngồn ngộn. Những cái mồm vừa ăn vừa nói, từng tiếng từng câu bị nhai lẫn tan biến vào ngan ngỗng Anh Quốc, trứng cà Nhựt Bổn. Tiếng Anh rin rít, tiếng Nhật lầu bàu, những cái mặt bự như mặt nạ nghé vào nhau. Bên phòng khiêu vũ, dàn nhạc đã bắt đầu chơi. Những đôi chân chuếnh choáng của các quan chức đã mơn trớn sàn gỗ đánh xi. Những phu nhân, mệnh phụ, tiểu thư và gái đĩ sửa lại xiêm áo. Những nhà kinh doanh độc quyền xuất nhập cũng bắt đầu bám riết lấy những con mồi, các chính khách bắt đầu ve vãn đối tượng. Bọn tướng tá, quan chức và gái đĩ cấu chí nhau cười ngả nghiêng như ở chỗ không người. Không khí buổi tiệc ban đầu trang trọng bao nhiêu thì giờ hỗn độn bấy nhiêu. Nhung xem đồng hồ, cô bỏ Lý Quán đang “săn mồi” bước qua phòng khiêu vũ. Không ai để ý ai, Nhung ra thang máy xuống vườn. Như một kẻ mệt mỏi vì ăn uống nhảy nhót, Nhung bơ phờ ra sân cỏ hít thở sương đêm. Cô gật đầu chào ban ơn mấy thầy cảnh sát đang làm việc mẫn cán. Những tên cảnh sát mắt thèm thuồng nhìn lên phòng tiếp tân tràn ngập ánh sáng và tiếng nhạc. Chúng lủi thủi đi đi lại lại. Lác đác một số khách khứa mệt mỏi cũng bắt đầu xuống dạo trên vườn cỏ đẫm sương đêm. Nhung ra cổng đứng tựa cửa sắt rồi như tiện chân cô lững thững ra dạo ngoài hè phố hòa trong dòng người sôi động nườm nượp trên các đại lộ Sài Gòn. Dưới vòm tối ẩm ướt của một lùm me, bất ngờ cô bước vội vào một chiếc Datson đang ngỏ cửa chờ sẵn. Chiếc xe lao vút đi như tên mất hút trong dòng suối xe. Ba mươi phút sau, một tiếng nổ kinh thiên động địa phát ra từ chiếc Cadilac trứ danh của Lý Quán đậu dưới tầng gầm của lâu đài. Khối thuốc nổ lớn đánh sập lâu đài với hàng trăm quan khách đang tiệc tùng khiêu vũ, thây người chết chồng trong gạch, vữa. *** - Sài Gòn! Sài Gòn trước mặt đó! Nhung líu ríu reo bên người lái tăng. Các chiến sỹ trong xe xô lại nhìn qua cửa kính dày nhỏ xíu. Những cao ốc trập trùng bên cản sông Sài Gòn, những cao ốc một thời kiêu ngạo. Sài Gòn! Nhung đã quá quen mắt đến nhàm, mà sao nhìn từ góc độ của chiếc thiết giáp này, lại có cảm giác khác. Đoàn tăng gầm uy nghiêm lao trên xa lộ nhẵn bóng. Trời ơi, mình đang ngồi trên chiếc chiến xa tiến vào giải phóng Sài Gòn thật sao? Đây là mơ hay thực? Nhung bồn chồn. Nước mắt cô ứa trên gò má như một giọt sương hiếm hoi đọng trên cánh hoa hồng bạch. Anh Vĩnh! Cũng như em, giờ này anh đang dẫn đường cho cánh quân phía nào tiến vào Sài Gòn? Ngày hôm nay, ngày mà anh nói với em từ bao năm xưa đã thành sự thật. Em vẫn nhớ cái lần đầu tiên anh đến tìm em ở biệt thự Macgo trong đêm sương ẩm ướt mà em đang cô đơn vô hạn ấy. Em đang như một con búp bê với nụ cười nhựa, con mặt nhựa, da thịt nhựa tươi hồng trong cái tủ kính mênh mông lạnh lẽo. Cuộc đời em đang bắt đầu hoại thư sau lớp son phấn thơm tho. Cuộc đời em tưởng giãy giụa không thoát được vòng vây của những tập tiền nhầy nhụa mồ hôi, cáu ghét mà em phải vầy vò với nó trong cái ngân hàng đáng ghét… Những đồng tiền của lão cùi. Những vi trùng cùi trong máu mủ thấm trong đồng tiền như bắt đầu đục khoét da thịt em, cuộc đời em… Giữa lúc ấy, anh đã đến. Câu chuyện ban đầu của anh chỉ bâng quơ về những hàng dừa xóm Cỏ, nồi cá tép dầm Vạc má con e kho… những chuyện em đã quên từ lâu rồi. Anh nhắc đến những kỷ niệm êm đềm của tuổi thơ trinh bạch của em; tình bạn thơ ngây giữa em và anh, hai đứa nhỏ sớm biết quấn quýt nhau. Anh ra về rồi, em bỗng bàng hoàng. Em nhớ và mong. Trời ơi, em bắt đầu biết Nhớ và Mong. Trước đây e đâu có Nhớ và Mong bở vì biết nhớ cái gì, mong cái gì? Những đồng tiền đến rùng mình à? Bộ mặt nham hiểm của mụ cáo già vợ Lý Quán à? Hay là những cái vuốt ve tởm lợm từ bàn tay mềm nhũn như khúc dồi lợn của Lý Quán? Những ánh đèn và nhịp nhảy trong các phòng khách lúc nhúc một lũ sõi đầu, bụng phệ lạ xa?... Cuộc đời em chỉ quay trong quỹ đạo ấy, không xê xích ra ngoài. Tâm hồn em đã xơ cứng, đã trơ ra. Em, một thứ đĩ điếm nuôi riêng trong nhà mà; em, một thứ đồ chơi được ưa thích chốc lát mà…! Những lần sau rồi những lần sau nữa, anh đã liên tiếp đến biệt thự Macgo. Sự hiện diện của anh như một lực hút dẫn em ra ngoài cái quỹ đạo ghê tởm hiện tại của em. Anh nói với em rằng anh thương em, anh hiểu em tất cả. Anh nhắc cho em biết cuộc đời còn có tình yêu, tuổi trẻ và con người ta hãy sống như thế nào. Chúng ta đưa nhau về xóm Cỏ ngày xưa, nơi mà em tưởng như chẳng bao giờ còn dám vác mặt đến. Vậy mà em đã vè, vì có anh bên cạnh, có anh em cảm thấy vững tâm lạ lùng. Những người xóm Cỏ nhìn em bằng con mắt thương mến. Tất cả vẫn thương em như trước. Nước mặt em chảy ròng. Những giọt nước mắt của em đánh thức em. Nhưng em khóc còn vì một lẽ khác, cuộc đời xóm Cỏ đâu còn được như xưa. NHà nào trên bàn thờ cũng la liệt những ảnh người đã khuất, cả gương mặt tuổi thơ, cả nụ cười tuổi trẻ. Những đôi mặt đang nhìn em chằm chằm qua làn khói nhang như đang lục vấn lương tâm em, phán xét em. Bao nhiêu năm bom đạn. Hoa Kỳ nhiều bom đạn, những hàng rào kẽm gai, những cuộc đời bị tàn phá hủy hoại cả thể xác lẫn tâm hồn. Anh hỏi em ai giết má em? Câu hỏi làm em sững sờ, đứng bên mộ má em òa khóc. Em thật là đứa con bất hiếu. Nhưng sao mà biết được kẻ nào đã bắn trúng má em? Em ngây thơ hỏi lại anh. Anh cười bảo đừng đi tìm một kẻ thù đơn lẻ ấy. Một kẻ thù đơn lẻ ấy có nghĩa lý gì… Em như kẻ u mê dần bừng tỉnh sau những ngày ở bên anh. Tình yêu của anh với em, giúp em đến với chân lý nahnh mạnh hơn. Rồi anh giao nhiệm vụ cho em , một nhiệm vụ nặng nề mà em đã làm được. Anh nói: em hãy tin sẽ có một ngày cả đất trời này đổi khác. Sẽ có một ngày mọi cửa ô Sài Gòn rầm rập những đoàn chiến xa cắm cờ đỏ sao vàng tiến vào giải phóng. Anh Vĩnh ơi! Cái ngày ấy là bây giờ đây. Kỳ diệu quá, lời anh nói như còn vừa mới hôm qua đây thôi mà…! …Tiếng xe tăng tăng tốc lực rung chuyển cửa kính các ngôi nhà đầu tiên của Sài gòn. Cờ trên các tháp pháo bay phần phật. Đại lộ rộng rênh, vắng ngắt, những tòa nhà đóng cửa hồi hộp, hàng vạn con mắt sau cửa kính nhìn ra. Nhung nhảy lên tháp pháo, tóc cô như một dòng suối bay dưới là cờ. - Rẽ trái, đường này đến Bộ Tham mưu ngụy- Nhung hét to, giọng lạc hẳn. Mặt cô chói bừng, nước mắt giàn giụa trên gò má lấp lánh nắng. Đoàn tăng lao như một cơn bão thép. Từ cổng một cư xá, một lá cờ đỏ lao ra với một đoàn người reo hò. Chỉ phút chốc từ muôn ngàn ngã phố, tiếng reo bắt đầu nổi lên như sấm dậy giữa cờ hoa và nước mắt lưng tròng… 1984 Tiêu đề: Re: Cành thanh mai đã ra hoa (truyện ký - Hà Dũng) Gửi bởi: nttran1979 trong 19 Tháng Hai, 2011, 08:34:46 pm Câu chuyện 40 năm về trước ( trích tiểu thuyết " Cách mạng"). Chuyến tàu chợ Hà Nội xuôi Hải Phòng sáng hôm ấy mãi 9 giờ mới chạy. Văn không ra ga Hàng Cỏ, Văn nhảy xe điện lên đầu phố Hàng Than rồi cuốc bộ lên ga Dầu Cầu. Văn mặc áo dài trắng, quần trắng, đi giày ba-ta trắng và cả chiếc mũ phoóc thầu khoán dày cộp cũng quét phấn trắng. Nhưng tát cả đều nhuôm nhuôm cháo lòng vì bụi bặm và vì lâu ngày không thay giặt. Khuôn mặt của Văn gầy võ vàng, da tái mét, râu ria lởm chởm. văn soi gương thấy khuôn mặt mình rất hợp thời, khuôn mặt của một anh chàng nghiện oặt hoặc của người vừa chạy trốn khỏi nạn đói khủng khiếp. Lúc đó vào mùa Hạ năm 1945, nạn đói vừa đi qua để lại sự tàn phá ghê gớm trên những xóm làng lạnh vắng và sơ xác. Cây cối bị chặt trụi, loại cây có thể ăn được thì bị đào tận củ, tận rễ, loại khác bị tróc đi để bán. Trong vườn, ngoài ruộng, mọi thứ rau cỏ bị vặt sạch, nhà cửa cũng đã dỡ ra làm củi bán, hoặc đốt để sưởi qua trận rét... Và chổ nào cũng thấy những ngôi mả mới mọc lên san sát hai bên vệ đường, có ngôi mả to bằng cả gian nhà, ở dưới nằm hàng vài chục xác chết. Nạn đói đã đi qua nhưng con tàu dường như vẫn chưa hồi sức. Nó hồng hộc thở, phì phò bò trên con đường sắt. Hành khách cũng vắng. Toa của Văn ngồi là toa hạng ba, bẩn thỉu và đen ngòm những bụi than. mấy người đàn bà nhà quê ngồi bệt xuống sàn tàu, quang gánh thúng mủng xếp bên cạnh. Và trên cái ghế dài, một người đang nằm, chẳng rõ đàn ông hay đàn bà, mặt mũi phù thủng húp híp và cả hai ống chân cũng phù nề như hai ống chan voi, làn da xanh bóng những nước ... Mấy người đàn bà đang ngồi nói chuyện với nhau về vụ lúa chiêm: - Chết chết, tôi chưa bao giờ thấy lúa chiêm tốt như năm nay. Lúa chín cứ rục xuống mà chẳng có người gặt. Chết vãn cả rồi còn đâu ra người ... Ở vùng tôi, chẳng ai dám bước chân xuống ruộng. Cứ bước xuống là giẫm phải xương người ... - Ở làng tôi cũng thế đấy ... Lại khổ cái nổi, hết chết đói thì bây giờ chết no... Nhịn đói bao nhiêu ngày rồi nên ruột mình nó mỏng như tờ giấy bản ngâm nước. Cái giống gạo chiêm vừa rắn lại vừa lắm nhựa, ăn vào nó mới bục ruột ra từng khúc. Khổ thế! Khối người nuốt xong bát cơm là lăn đùng ra chết... - Còn là chết... Chết đói, chết no bây giờ lại chết bệnh nữa... Làng tôi đang có bệnh tả... Chết mất hơn chục người rồi... - Bà ôi, mười phần chết bảy còn ba cơ mà... đến khi vua ra, chết ba còn một... Sấm nói thế rồi... Văn nhắm mắt lại, anh không dám nhìn những vẻ kinh hoàng còn đang hằn lên trên các gương mặt họ. Những tròng mắt trũng sâu, những gò má nhọn hoắt và nước da xám xịt... Tất cả gợi cho Văn cái cảnh khủng khiếp của vụ đói, những xác người khô quắt như củi rong nằm chất đầy trên các bãi chợ... Chết, cái chết vẫn chưa buông tha dân tộc mình, nó vẫn chờn vờn quanh đây, ở ngay cả trong toa tàu mà Văn đang ngồi... Tiếng thở cứ rít lên của người đang nằm trên ghế như thiếu hơi, cứ vươn cổ ra để nuốt không khí... Trưa nắng lóa, con tàu ì ạch bò trên đường ray. Gió thổi không át được mùi thối khẳn từ đâu đó bốc lên. Văn úp vành mũ lên mũi, nhìn ra ngoài. Cánh đồng lúa hai bên đường vàng rực dưới nắng và những bông lúa nặng trĩu gục xuống, đan vào nhau thành cái thảm dày đặc. Thỉnh thoảng, một đàn chim sẻ đồng bị động bay rào rào từ dưới lên... Chết thật, sao lúa tốt đến thế? Người chết đói cả, lấy ai chăm bón mà lúa tốt đến như vậy? Hay là có đúng như họ vừa nói không? Lúa được bón bằng xác người? Nạn đói vừa qua như một cơn ác mộng và chính Văn suýt nữa cũng là nạn nhân của nó nếu như Văn không sớm vọt lên Hà Nội, sống lần lữa bám bám vào mấy thằng bạn cũng nghèo như Văn, ăn rình mỗi đứa, bữa cháo, bữa cơm, cùng lắm thì khoai... Chưa bao giờ kẻ thù đánh vào dân tộc mình một đòn đau, nham hiểm và tàn độc như vậy. Chúng nó đã đẩy chúng ta vào sát chân tường, chỉ còn mỗi con đường là tự cứu lấy mình , cứu lấy nòi giống của mình... Xình xịch, xình xịch... Con tàu hổn hển, nặng nhọc như bị quá sức... Xình xịch, tiếng kêu đều đều, buồn bã... Xình xịch... loảng xoảng... Âm thanh ấy khiến Văn buồn ngủ... Đã mấy đêm liền Văn không ngủ rồi... Tiêu đề: Re: Cành thanh mai đã ra hoa (truyện ký - Hà Dũng) Gửi bởi: nttran1979 trong 21 Tháng Hai, 2011, 07:47:33 am Tàu dừng ở ga Phú Thái thì Văn xuống. Anh ôm chiếc cặp da cũ đi men theo con đường sắt và rẽ vào nhà Phúc. Chỉ có vợ Phúc đang ngồi nhặt rau và hai đứa con nhỏ đang chơi trên chiếc chiếu rách trải giữa nhà. Ông ký ga chắc đang bận với chuyến tàu vừa về ở ngoài sân ga.
Vô Phúc ngẩn lên, vội xoa hai bàn tay đứng dậy: - Kìa bác, bác không gặp nhà em ngoài ga? - Tôi có trông thấy anh ấy nhưng không gọi, anh ấy đang mải việc. Tôi xin anh chị cái xe đạp, tôi phải đi ngay mới kịp. - Bác ở lại chơi xơi cơm với nhà em. Ăn xong, bác xuôi về Phòng kịp chán. Hôm nay có giăng mà... Văn vội xua tay: - Thôi, chị để khi khác. Tôi phải xuống Quán Toan có chút việc rồi lại quay về kịp chuyến tàu tối... Văn vừa dắt chiếc xe đạp ra khỏi căn nhà thì gặp Phúc. Ông ký ga xép mắt mũi còn tỏt nhỏen của người vừa ngủ dậy, chắc đêm qua Phúc lại mò ra đám cô đầu phố. Hàm răng hô của Phúc nhô ra, cái cằm đầy râu và tay Phúc phe phẩy cây cờ đỏ quấn tròn như chiếc dùi cui của đội xếp. - Mày trên tàu xuống hả Văn? Sao tao không nhìn thấy nhỉ? Đi ngay à? Văn gật đầu: - Tao phải đi ngay, đêm nay phải có mặt bên Kiền Bái... Mày có đồng nào trong túi không, cho tao vài đồng... Phúc móc túi ra đưa cho Văn ba tờ giấy bạc một đồng nhàu nát. - Méc-xì... Thôi tao đi đây, vài hôm nữa tao về, có thể vào chổ mày nếu không có chuyện gì... Ô-rơ-voa! Hai người bắt tay nhau và Văn nhấc chiếc xe qua đường sắt để sang đường quốc lộ 5. Tiêu đề: Re: Cành thanh mai đã ra hoa (truyện ký - Hà Dũng) Gửi bởi: nttran1979 trong 21 Tháng Hai, 2011, 08:27:56 pm Đến đây là hết địa phận của tỉnh Hải Dương, bên kia là đất Kiến An rồi. Văn tháo chiếc dây lưng, gài chiếc cặp da vào khung giữa xe đạp, rồi buộc lại cẩn thận. Chi61c xe đạp nam cũ kỹ, vành 700 cao lênh khênh, ghi đông ca-re và chẳng có chuông, chẳng có phanh, chẳng có chắn bùn, chắn xích. Văn từ tốn móc túi áo trong lấy ra chiếc cặp sắt, cặp chặt ống quần bên trái, xong vén tà áo phía sau gài gọn ghẽ trong cạp quần. Anh sửa lại cái mũ, đội hụp về phía trán, lấy cặp kính trắng nóc-man đeo lên mắt. Vừa làm, Văn vừa thận trọng nhìn ngó chung quanh. Những người khách đi tàu đã tản hết vào các đường làng, cảnh vật hoang vắng nên chẳng có ai để ý tới cái anh chàng có vẻ là ông giáo nhà quê như Văn...
Văn đạp thong thả, đầu óc nghiền ngẫm cái kế hoạch mà anh đã sơ bộ bàn bạc với anh em trên Hà Nội. Thật ra gọi là kế hoạch cho có vẻ chứ nó chỉ vẻn vẹn câu nói của Khang truyền đạt lại ý kiến của Thành ủy: bằng mọi cách phải khử được tên chó săn ấy. Vậy thôi, và Văn ra đi. Tiêu đề: Re: Cành thanh mai đã ra hoa (truyện ký - Hà Dũng) Gửi bởi: nttran1979 trong 25 Tháng Hai, 2011, 06:38:36 am Gần năm giờ chiều, Văn đạp xe về đến Quán Toan. Ánh nắng đã nhạt chiếu chênh chếch những dãy quán lợp rạ mới với những bức tường đất vừa đắp còn tanh mùi bùn. Có lẽ sau trận đói, dãy quán vừa hồi sinh trở lại. Gần chợ là mấy căn nhà ngói, cửa hàng thuốc bắc của khách trú, rồi đến nhà đại lý rượu Phông-ten của ông ký Đại.
Văn dừng xe, dắt quá lên một chút và rẽ vào nhà Cần. Vừa đẩy cánh cổng, Văn đã thấy Cần đứng sững phía trong y như Cần đứng đó chờ Văn. Nhận ra bạn, Cần khẽ reo, vội vã đưa Văn đi vòng lối sau vào thẳng căn phòng riêng của Cần. Lần nào cũng vậy, mỗi khi bước vào phòng, Văn cũng dừng lại trước tấm ảnh phóng to, tô màu, chụp vợ chồng Cần ngày cưới. Cần đội khăn xếp, mặc áo gấm nghiêng đầu về phía vợ, người con gái chít khăn nhung, mặc áo nhung đen, cổ đeo kiềng vàng… Chỉ trông vào tấm ảnh thì đôi vợ chồng Cần quả là hạnh phúc nhưng lúc này đây họ đang sống trong tâm trạng lo âu và khắc khoải bởi sự túng thiếu và bởi bệnh tình ngày càng nặng của Cần. Cần vốn bị bệnh lao từ ngày còn đi học, chạy chữa mãi mới tạm ổn định. Sau đó Cần đi làm chân thư ký cho hãng buôn Pháp LUCIA ở Hải Phòng rồi Cần lấy vợ. Cuộc sống như vậy tưởng là hạnh phúc nếu như Cần không bị bắt. Cần và một nhóm anh em khác của Hải Phòng bị Nhật bắt trước cái đêm mà Văn cùng với Đạo đen mang cờ, khẩu hiệu và truyền đơn xuống Hải Phòng. Cần được phân công đi đón hai người ở ga An Dương. Chính thằng Phin đã mật báo cho Nhật bắt bọn Cần đem về giam ngay trong trại hiến binh. Ở nhà, ông Tài Hiên, bố Cần lo cuống cuồng, vội bán đi mẫu ruộng cùng với con dâu bổ xuống Phòng chạy cho Cần được tha. Khi Cần được về nhà thì anh không còn hình người nữa, việc làm bị mất và bộ ngực vốn lép kẹp của Cần bị bọn Nhật thúc mũi giầy săng –đá vào càng ọp ẹp, luôn luôn thổ ra máu. Bây giờ Cần ốm đau và thất nghiệp, sống bám vào gánh hàng tấm nhỏ nhoi của vợ, người cứ quắt lại như tàu lá héo. . Tiêu đề: Re: Cành thanh mai đã ra hoa (truyện ký - Hà Dũng) Gửi bởi: nttran1979 trong 25 Tháng Hai, 2011, 06:40:31 am Bước chân vào phòng, Văn đã ngửi thấy mùi thuốc bắc sực nức, ở góc buồng, chiếc siêu đất đun thuốc đang sôi, phì khói:
- Sức khỏe mày hồi này ra sao?- Văn ngồi xuống ghế và khẽ hỏi bạn. Cần đưa tay xoa lên ngực: - Tao lo không chắc có sống được đến ngày ấy không… “Ngày ấy” có nghĩa là ngày cách mạng thành công. Văn ái ngại, an ủi: - Đừng lo lắng quá nhiều. Phải dũng cảm mà sống… Có điều mày phải giữ gìn… Văn vội ngừng lời, không dám nói tiếp. Anh nghĩ đến vóc người đậm chắc và đôi gò má lúc nào cũng hồng rực lên của vợ Cần. Điều ấy, Văn chẳng thể nói ra với Cần được, nó tội tội thế nào ấy… Hai người im lặng, Văn nghe tiếng thở khò khè nặng nhọc của Cần, có cảm giác như bộ ngực lép kẹp, xệu xạo và trống rỗng của Cần đang phát tra tiếng u u của sáo diều… Ở phòng ngoài, ông Tài Hiên đang tiếp khách. Khách là một gã trai chừng hăm nhăm, hăm sáu, mặc sọc trằng, sơ-mi-đét trắng và đầu húi cua, người mập và đô như một tay chơi thể thao nhà nghề. Ông Tài Hiên nói: - Này, tôi nói để anh nghe nhá. Sấm Trạng Trình có câu như thế này: “Lồ lộ mặt rồng, trán thích chữ Vương…”. Câu ấy theo chiết tự thì đúng là chữ Quốc chứ còn gì nữa. Có phải là ông Nguyễn Ái Quốc rồi sẽ ra làm vua thay Bảo Đại không nào? - Xin lỗi chú, chú cho phép cháu nói, trên đời này việc gì cũng phải có trình tự của nó. Ngay như trong sách mác-xít họ cũng viết thế, họ bảo không thể à… đốt cháy giai đoạn, tiếng Tây gợi là Bruler les étapes, đúng vậy đấy. Xã hội phải tiến lên từng bước một, chế độ quân chủ rồi sang chế độ dân chủ, sau đó có muốn mới chuyển thành cộng sản được, chú ạ. Ai chẳng biết ông ta là cộng sản. Nhưng nước ta trước hết phải là dân chủ đã, phải đi theo chủ nghĩa Tam Dân của Tôn Trung Sơn. Tam Dân tức là Dân chủ, Dân sinh và Dân quyền. Làm sao với dân trí lúc này mà theo cộng sản ngay được… - Vậy chứ anh sang Tàu được bao lâu? - Cháu sang đó gần hai năm, lúc thì ở Vân Nam, rồi sang Côn Minh, sau thì ở Quảng Tây. Chú không biết chứ, ở bên đó, người của cụ Nguyễn Hải Thần rất đông, hàn mấy vạn, còn cánh ông Nguyễn Ái Quốc chỉ có một dúm. Họ chỉ giỏi tuyên truyền nên cứ tưởng nhiều thế lực lắm… Nay mai Nhật thua, người của Nguyễn Hải Thần kéo về, chú sẽ biết… Còn mấy cái bố Việt Minh ở đây cứ nho nhoe, trêu chọc thằng Nhật, chúng nó khùng lên, làm thiệt lây cả dân chúng. Thằng Cần nhà chú đấy, trẻ người non dạ biết gì mà cũng học đòi, a dua… cuối cùng thì bò lê bò càng, tiền mất tật mang, khô cha mẹ, khổ vợ con. Chú nên khuyên bảo nó, đừng có đua đòi với đám Việt Minh, chỉ chuyên đi xúi giục bọ khố rách áo ôm nay phá kho thóc này, mai phá kho thóc kia, cứ tưởng Nhật nó để yên à. Nó sợ là sợ quân Đồng Minh chứ sợ gì mấy tướng Việt Minh… Khi Văn nhìn lên, anh thấy gương mặt Cần nhăn nhúm như đang ngậm phải trái ớt cay. Cần hơi nhún vai: - Lão anh họ tao đấy. Hắn làm việc ở Chemin de fer vừa rồi vọt sang Tàu. Hắn ăn phải bả của bọn Tưởng Giới Thạch rồi… - Sau này cách mạng sẽ rắc rồi vì bọ này đây – Văn đứng lên – Thôi tao đi đã… À, những thứ vừa rồi chuyển về, mày còn để ở nhà không? Cần lắc đầu” - Bà cụ tao sợ, không dám cho tao để ở nhà… Tao đã cho chuyển vào nhà thằng Luyện. Nó ở xa đường cái, lại kín đáo. Tao dặn nó hễ thấy động thì sai người quẳng xuống ao, có mà giời tìm được… - Tất cả à? - Tất cả. Cả đá, cả ru-lô, cả mấy hộp mực in… Tao nhận chỉ có vậy thôi mà… - Cũng được. Để trong nhà thằng Luyện cũng được. Bây giờ tao phải vào trong ấy… - Tối nay mày ngủ ở đây à? - Không, tao phải đi, có việc gấp… Văn muốn nói thật công việc của anh cho Cần nghe để Cần có được nguồn vui, nhưng Văn im lặng. Công việc chưa ra sao, chưa biết kết quả như thế nào, không thể nói trước ra được… Tiến chuông đồng hồ treo tường ở phòng ngoài thong thả buông bốn tiếng. Văn từ biệt Cần, dắt xe luồn ra sau nhà rồi ra cổng. Văn nghe giọng nói oang oang khoe mẽ của gã anh họ Cần từ phòng ngoài vẳng ra. Gã đang say chuyện… *** |