|
Tiêu đề: Tạp văn QĐND Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Năm, 2008, 09:55:46 pm Thấy nhiều bài viết của tác giả này vui vui, vậy đưa vào đây để cả nhà đọc chơi ::) :
ĐÀN ÔNG XA XỈ Từ rất lâu, thuật ngữ “xa xỉ” cho dù ở bất cứ vị thế ngữ pháp nào thì vẫn luôn được một vài đàn ông dễ dàng hiểu đấy là sự hoang phí hoặc lãng phí. Những kẻ sĩ bần bạch có tuổi lên án nó và đám trẻ mới lớn sàng điệu mê đắm nó. Từ điển Tiếng Việt còn giải thích “xa xỉ phẩm” là “hàng tiêu dùng đắt tiền không thật cần thiết cho đời sống bình thường”. Có thật thế chăng, hay đấy chỉ là một cách nhìn thuần túy kinh tế, nó vắng hẳn một kích cỡ nhân văn cùng một nỗi khát khao bay bổng khác thường. Đàn ông mà đủ chân đủ tay, mà được ăn được học, mà cứ cố gò bó ích kỉ sống bình thường đến mức tẻ nhạt tầm thường thì đấy mới chính là một kiểu sống xa xỉ hoang phí vào loại nhất. Đám đàn ông này ngăn nắp trật tự, dậy đúng giờ, ngủ đúng giờ, bài tiết đúng giờ. Mùa Đông thì ho, thì kể lể viêm phổi, mùa Hè thì cảm, thì ca thán rức đầu. Ngập mặt trong việc mưu sinh tích lợi, bọn họ tiếc đứt ruột khi bỗng dưng một buổi tối tự nhiên mơ màng nổi hứng đọc một tiểu thuyết. Với họ, một buổi chiều vô nghĩa xa xỉ là vẩn vơ lang thang theo ngắm một thiếu nữ dọc vỉa hè có cô đơn ươn ao nắng hanh. Tất cả đàn ông kể trên đều trùng trùng, điệp điệp, nhang nhác y xì cần thiết như nhau. Ở họ, đạo đức tuy không nát nhưng bã ra thành khuôn. Tất nhiên, nếu xa xỉ dồn đọng ở những đàn ông hung hãn có tiền, rồi trọc phú có quyền, thì ngàn lần kinh hãi. Lịch sử nước Tầu thời Tây Tấn (265-316) là một giai đoạn kinh hoàng xa xỉ. Ở thời đó, nông dân chết đói đầy đường và Tấn Huệ Đế đã chân thành nói một câu cảm thông khét tiếng “Bọn họ không có gạo ăn, sao không đi ăn yến sào nhỉ”. Bố của ông này là Tấn Võ Đế Tư Mã Viêm hoang dâm xa hoa không bàn phím nào tả xiết. Trong toi-lét của phủ công chúa Vũ Dương, ái nữ ông ta, luôn có táo khô Giang Nam để bịt mũi, có trà sâm Tuyết Sơn để rửa tay. Vương Đôn là ứng cử phò mã (tay này nổi tiếng vào cổ tích trong vụ thi của với Thạch Sùng, xuất thân thế gia quen tiêu pha bạc vạn) thế mà khi vào phòng vệ sinh, trước sự xa xỉ tuyệt đỉnh đã ngơ ngác thành “nhà quê”. Họ Vương lấy táo để ăn, lấy trà để uống. Thế nhưng chuyện này chưa là cái đinh gỉ gì. Một lần Tấn Đế đến thăm biệt phủ của một viên hoàng tộc đại thần là Tư Mã Đạo Tử. Nghẹt thở với sự xa xỉ của bạt ngàn lầu son, gác tía, kì hoa dị thảo đẫm đầy mồ hôi lẫn máu của hàng chục vạn thảo dân, Tấn Đế nghẹn ngào thốt “Nhà ngươi cầu kì nhân tạo quá. May mà còn giữ được vẻ tự nhiên của vạt rừng xa xa đồi núi kia”. Tư Mã chủ nhà quay sang dặn nhỏ tay kiến trúc sư đứng cạnh “ta cấm ngươi không được tâu với hoàng thượng là núi đấy rừng đấy cũng chỉ là nhân tạo”. Người ta đồn rằng, trinh nữ nhà bần hàn thời Tấn bán mình giá chỉ xấp xỉ có hai tô mì. Mấy đại gia đang tìm mua gái tân ở ta bây giờ tình cờ đọc được sử cũ cứ tiếc mãi. Rất nhiều đàn ông xa xỉ tầm thường quan niệm rằng, người giàu có là người đang sở hữu nhiều tiền. Thật ra, tiền chỉ là một tiêu chí nhỏ để đánh giá sang giàu. Người thật sự giàu là những người dư dật nhân hậu, người Việt Nam quen gọi là “giàu tình thương”. Họ sẵn sàng xa xỉ bỏ qua một cô gái ngực nở mông đầy để cẩn thận đưa một cụ bà mắt mờ chân chậm sang đường. Họ còn là người sung túc những cảm xúc vớ vẩn sâu sắc nên thỉnh thoảng lại làm một điều xa xỉ với chính mình. Ví như, vô cớ bỏ tiền tiết kiệm ra mua một chai Whisky thật ngon để song ẩm với một người bạn mà bất cần lí do. Và xa xỉ nhất là đôi khi họ vu vơ bỗng yêu một người nào đấy, đương nhiên người đấy đừng là trưởng phòng của họ đừng là giám đốc của họ. Cũng phù phiếm giống như văn nhân, có nhà văn thật có nhà văn dỏm, đàn ông xa xỉ cũng có chân có giả. Chân xa xỉ là đem cái của mình hoang phí cho đời, còn giả xa xỉ là đem những cái hay ho của đời phục vụ xa hoa cho mình. Bạo vương tập tọng làm thơ Neron là tiêu biểu cho loại giả xa xỉ, tay này đã tàn bạo đốt cả kinh thành La Mã để cuồng ngạo tìm phấn hứng trường ca. Những nhà thơ đích thực khác thì ngược hẳn lại, họ luôn sống tuyệt vời lãng phí một cách trong trắng nhất. Họ bất chấp danh, họ không cần lợi. Với họ, thơ không phải là để bán hoặc để kiếm bọt bèo giải thưởng, thơ là một xa xỉ phẩm thiêng liêng của Thượng Đế. Có xa xỉ đàn ông thi sĩ, cuộc đời này bỗng như nên thơ hơn, và đương nhiên nó sẽ bớt đi vô số những xa xỉ dung tục. TRẦN KHÔI VIỆT Tiêu đề: Re: Tạp văn QĐND Gửi bởi: Trungsy1 trong 31 Tháng Năm, 2008, 02:11:37 pm Cảm ơn bác chuongxedap. Bài này đọc thấy khoái đấy !
Tiêu đề: Re: Tạp văn QĐND Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Sáu, 2008, 05:39:25 pm Lại một bài nữa để mọi người xem sao: CHỒNG NGOAN Ở những năm xa xưa, trong văn hóa ứng xử gia đình của nhiều nước phương Đông, đặc biệt là những nước chịu ảnh hưởng từ Nho giáo Trung Quốc, thì việc trong nhà có “con ngoan” hay “vợ ngoan” là điều thường thấy. Tất nhiên, cũng vẫn ở hồi ấy, khái niệm “chồng ngoan” là vô cùng khó gặp. Theo trì trệ tập tục, chồng thường là cột trụ, là ông chủ gia đình. Nếu bố mẹ đã già thì ông ta đương nhiên là ông số một. Khi có quyền, ông ta không hư đã là may, còn chuyện bỗng là ngoan thì lấp lánh vời vợi xa xôi như thần thoại. “Từ điển Tiếng Việt” của nhà xuất bản Lao động tự tin giải thích, “ngoan” là tính từ, nghĩa của nó là “dễ dạy”. Và từ điển của Trung tâm KHXH và NV quốc gia thì dài dòng hơn nhưng chưa chắc đã đúng hơn. “Ngoan (thường nói về trẻ em và các cô gái trẻ). Có khả năng ứng phó phù hợp với khuôn phép trước những tình huống đã được huấn luyện”. Có lẽ vì không chịu tra từ điển nên vô số thiếu nữ đã lâng lâng bước lên kiệu hoa để bay bổng tiến vào hôn nhân mà không biết rằng mình sẽ phải bị thành ngoan. Vợ ngoan có nhiều kiểu, nhưng nói chung theo các bà mẹ chồng thì loại ngoan nhất là sau khi được qua “huấn luyện” chợt tự nghẹn ngào chân thành khai ra toàn bộ số của hồi môn. Nếu đây đã là truyền thống thì rất đáng giữ gìn và cho đến nay hình như lác đác vẫn còn. Ví như kẻ viết bài này, ngay sau đêm tân hôn đã dịu dàng vất vả ròng rã tra khảo suốt nửa năm giời mà hiền thê vẫn kiên quyết không chịu khai. Trong “Từ điển Hán Việt”, học giả Đào Duy Anh gọi chung tất cả những “người vợ cứng cổ” này là “ngoan phụ”, chữ “ngoan” được viết ở đây giống hệt như chữ “ngoan” trong “ngoan cố, ngoan cường”. “Chồng ngoan” là thuật ngữ đương đại, còn kha khá mới, đại loại nó tối tân gần gần như lí luận văn học hậu hiện đại hay như nghệ thuật sắp đặt installation. Xuất xứ của nó rất khó đoán, có người mê xinê cho rằng nó xuất hiện cùng thời với việc điện ảnh nước ta nhăm nhe canh tân khi có thêm giải Cánh diều vàng. Nhưng cũng có người mê nhạc phản bác, nó là hệ quả tất yếu của phong trào nghe ca từ gây sốc ở bài hát Việt, nơi vừa có uốn éo í a dân ca lại vừa có giậm giật pốp rốc ráp. Tựu trung, “chồng ngoan” là tinh hoa đặc sản của một giai đoạn lịch sử có nghệ thuật thịnh trị yên lành. Thành ngữ có câu “giai thời loạn, gái thời bình”. Lúc đánh nhau, đàn ông là nòng cốt. Lúc thanh bình, đàn bà hiển nhiên là chính yếu. Hơn ba mươi năm hòa bình ở ta, thì việc có các bà vợ biết làm chánh phó tổng giám đốc, biết kiếm tiền như rác, biết lái xe hơi, biết sẵn sàng li dị là chuyện không hề hiếm. Nửa đêm giờ tí canh ba, vợ lảo đảo say rượu đi về muốn nôn thì chồng ngoan phải biết “ứng phó phù hợp với khuôn phép”, ân cần lấy khăn ấm, lấy chậu sạch mềm mại nâng niu mà để cạnh. Có điều, lúc vợ đã sâu xa thiêm thiếp ngủ, tất cả các chồng ngoan đều khó cưỡng lại cái ý định mở ví vợ, khe khẽ rút lõi dăm ba tờ tiền không chẵn lắm. Và chồng là thật ngoan thường không dùng tiền ấy vào việc hút hít lô đề cờ bạc, mà tất tả chạy ra phố bán sách giá rẻ Nguyễn Xí mua lấy mươi cuốn còn thiếu trong bộ tổng tập “Cẩm nang dạy làm người”. Cho đến bây giờ, khác hẳn với số lượng tiếp viên nữ ở các quán karaoke hay massage, số lượng chồng ngoan chưa được đầu tư khảo sát một cách chính xác. Đơn giản, nhiều học giả vừa có chữ lại vừa có tử tế, tuy không coi chồng ngoan là thành tựu nhưng cũng không khinh bạc coi đấy là tệ nạn. Thỉnh thoảng hiếm hoi ở vài hội thảo loanh quanh loay hoay xã hội học, thì có để ra vài giờ lẻ miễn cưỡng bàn về hiện tượng này. Phía ngoài hành lang, người ta hay minh họa bằng những chuyện gần như có thật, ví dụ: Một người khét tiếng là chồng ngoan mời khách đến ăn bữa trưa. Khách tới, thấy ông chủ nhà một mình chăm chỉ gọt khoai tây, biết tính bạn thì xin phép vào trong nhà chào vợ. Khi mở cửa buồng, khách tái mặt giật mình vì thấy trên chiếc giường là chị vợ đang xêchxi nằm với một tay râu rậm xồm xoàm. Khách vội vã chạy ra mách, nghe xong ông chồng ngoan hốt hoảng “Bỏ mẹ, thế lại phải chạy ra chợ mua thêm khoai rồi. Tớ không biết trưa nay cô ấy mời thêm khách”. Nhiều người uyên bác khẳng định rằng, tất cả chồng ngoan đều là những người hiền. Có điều lạ, khi đột ngột bất hạnh hay buồn phiền họ không bao giờ buông thả bỏ đi uống rượu, mà thường lặng lẽ cô đơn rưng rưng đi xem phim “Gái nhảy” của đạo diễn Lê Hoàng. TRẦN KHÔI VIỆT Tiêu đề: Re: Tạp văn QĐND Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Sáu, 2008, 11:31:27 pm CHUNG THỦY Qua khảo sát thăm dò gần đây với các phụ nữ mang vẻ phi thường đã và đang thành công trên thương trường lẫn tình trường, thì một phẩm chất mà người đàn ông tuyệt vời nhất bắt buộc phải có, đó là lòng chung thủy. Các bà các cô đã loay hoay xếp sự chung thủy còn cao hơn cả sự dũng cảm, sự đàng hoàng, sự trung thực. Có lẽ là do cái ngày hôm nay chứa quá lắm những nương dâu bãi bể những nhanh nhẹn hoạt bát dịch chuyển theo kiểu dung tục. Đang là ông bỗng tha hóa sa sút thành thằng. Đang là thằng bỗng thăng hoa hoang tưởng thành ông. Hôm qua hôm kia vẫn sang sảng cao giọng nhân - lễ - nghĩa - trí – tín tổng giám đốc, hôm nay bất chợt ủ rũ mặt đầy sụt sịt ngồi tù. Theo các quí bà, nghĩa nôm na tiếng Việt của chữ “chung thủy” chỉ đơn giản là có đầu có cuối. Trước trong trắng như thế nào thì sau vẫn phải trong veo như thế nấy. Triết gia đặc biệt đạo đức Mạnh Tử đã nhấn đậm điều này trong thiên “Đằng văn Công, hạ”. Đã thật là đàn ông thì phú quí không dâm loạn, bần tiện không đổi thay, uy vũ không khuất phục. Từ vất vả “thủy” cho đến tuyệt lộ “chung” nam kẻ sĩ luôn phải kiên tin vững vàng như không khác. Thủy là an pha là khởi nguyên. Chung là Ô mê ga là sau hết. Chẳng cứ gì đàn ông mà bất cứ đàn gì …, biết giữ trước gìn sau, chắc chắn đều là tử tế. Thế nhưng nhiều quí bà khó tính vẫn cằn nhằn nhớ một câu ca dao Việt “Đàn ông dăm bẩy lá gan. Lá ở cùng vợ lá toan cùng người”. Khi yêu, không cần uống rượu, men gan của đàn ông luôn ở trạng thái cao. Theo cuốn “Tâm sinh lí nam nhân giải phẫu” tương truyền của danh y người Trung Quốc Hoa Đà (174-219) đã bị gian hùng Tào Tháo phí phạm đốt, thì bộ phận phụ trách tình yêu ở đàn ông chính là gan, tiếng Tầu quen gọi là đảm. Những kẻ đa tình gan thường to rồi cuối đời hồn nhiên ngã trọng bệnh ung thư. Chiến tướng thuộc loại đẹp trai nhất trong thời Tam Quốc, Hổ oai tướng quân Triệu Tử Long, tuy lang thang đánh Đông dẹp Bắc, được vô số đàn bà có tiền có sắc thông minh mê đắm nhưng suốt đời vẫn chỉ một vợ. Triệu Tử Long được hiệp hội phụ nữ thời đó bình bầu “toàn thân đều đảm”, người Nam Bộ phiên thành chữ rất hay “gan cùng mình”. Đàn ông vừa xinh vừa tài lại khăng khăng duy nhất một vợ thì đương nhiên phải cực kì gan dạ. Những đàn ông gan to một cục như thế tuyệt đối đã thất truyền, ở bệnh viện K bây giờ chỉ còn nhan nhản đám đàn ông tuy tự hào gan đang căng xe nhưng xuất xứ bệnh đều tầm thường, đa phần biến chứng từ vớ vẩn viêm gan A hay B gì đấy. (Thành tựu y học hiện đại khẳng định, viêm gan B được lây lan qua đường tình dục). Tuy nhiên không nên quá bi quan, đàn bà chung thủy đành rằng là nhiều nhưng đàn ông chung tình trong thiên hạ không hề là hiếm. Lí luận nghiên cứu phê bình văn học hậu hiện đại phân tất cả những đàn ông đó đại loại thành ba kiểu. Thứ nhất, loại chung thủy kiểu công chức mà điển hình lỗi lạc là chàng Kim Trọng. Chàng Kim nổi tiếng ngay từ hồi sinh viên “vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa”, mới thoạt nhìn rất dễ lầm với các thiếu gia hợm hĩnh ngông cuồng bạc bẽo con cái nhà tham nhũng thời nay. Chàng Kim gặp Kiều trong một buổi pic nic, yêu luôn, thề luôn, rồi ám ảnh nhớ rất dai. Sau khi học xong, nhận được một chỗ làm thơm tho ở một công sở cấp quận, lúc biết tin Kiều lưu lạc chàng đã “Rắp tâm treo ấn từ quan. Mấy sông cũng lội mấy ngàn cũng qua”. Tư duy công chức mà lãng mạn thoáng đến thế thì thật hiếm lắm. Loại thứ hai là chung thủy kiểu giang hồ. Ở kiểu này đáng kể nhất là Năm Sài Gòn. Đại ca Năm thất học, xuất thân đầu gấu, vô số tiền án tiền sự, có chút ít tiền mặt. Lúc gặp Tám Bính bơ vơ lầu xanh, Năm Sài Gòn rưng rưng nhân hậu nồng nàn rộng tay đón về. Và từ đấy, hoặc hiểm nguy leo tàu hỏa hoặc phiêu lưu nhảy tàu thủy, trải không biết bao thăng trầm, cả hai đã thành một cặp cướp quấn quýt song trùng vĩnh viễn không rời. Nhưng cảm động nhất là loại thứ ba, mà đại diện xuất sắc là cậu bé Rô-mê-ô người Ý. Cậu nhóc này tuy mới lớn nhưng yêu thủy chung sâu sắc gấp mười mấy lần đám già. Khi ái tình bế tắc, cậu thanh thản uống thuốc độc tuẫn tiết theo người mình yêu. Gương của cậu, thanh niên chỉ biết hờn ghen bây giờ méo mó đua đòi học theo. Có điều, khi phải nuốt thuốc chuột thường rất hay nhường cô bé người tình uống trước. Đã nhiều trường hợp, thấy nàng quằn quại đau đớn quá, thì chàng bỗng nảy lòng xót xa, hấp tấp chạy về đồn công an gần nhất báo cấp cứu. Đàn ông vĩ đại đương nhiên sẽ có phẩm cách vĩ đại. Vượt qua kích thước của tình yêu nam nữ, ở họ lòng chung thủy chính là sự gìn giữ tiết khí trước sau như một nhằm nuôi dưỡng những phẩm chất ưu việt khác. Bảo nghĩa hầu Trần Bình Trọng vươn cổ chịu chém, thà làm quỉ nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc đã như vậy. Tiểu ẩn Chu Văn An xoay lưng lại danh lợi trút bỏ mũ áo quan trường dễ dàng như trút dép rách, cũng như vậy. Họ chỉ biết chung thủy với lồng lộng trời xanh, với mênh mông tổ quốc, với chân thành chính mình. Và người đời sau muôn năm thủy chung nhớ họ, trân trọng lập đền thờ. Nguyễn Việt Hà Tiêu đề: Re: Tạp văn QĐND Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Sáu, 2008, 12:42:05 pm ĐÀN BÀ KHÓ DẠY Đây là một cách hiểu tích cực, hơi xa cái câu nguyên văn của Khổng phu tử: “Duy nữ tử dữ tiểu nhân, vị nan dưỡng dã. Cận chi tắc bất tốn, viễn dữ tắc oán”. (Thiên Dương hóa - Luận ngữ). Một vài bậc túc nho có đức hạnh cực kì cao đã dịch. Đàn bà với tiểu nhân là khó nuôi dưỡng lắm. Ở gần thì họ khinh nhờn, ở xa thì họ oán hận. Khoảng hơn một thế kỉ gần đây, phong trào nữ quyền (feminism) cả hai phía Đông Tây đang mạnh dần lên, thì một số học giả khuyết danh giới tính đã coi câu của Khổng Tử là hủ nho lạc hậu, thậm chí còn sặc sụa mùi trọng năm khinh nữ. Khổng phu tử vốn là một người thầy vĩ đại, ngoài những chuyện như kiến thức mênh mông nhân cách cao vút, thì ông luôn được vạn thế đời sau hằng tôn trọng vì ông có một tấm lòng chí thành. Khi ông nói đàn bà “nan dưỡng” là hoàn toàn từ chân tâm lo lắng của một người cha, và hơn hết là của một nhà giáo, bởi có thể lúc ông đang vất vả đi dạy thêm, thỉnh thoảng chẳng may ông đã gặp vài ba nữ học sinh “đầu gấu”. (Tất nhiên theo chính sử, ở thời Xuân Thu Chiến Quốc, tại các trường dân lập tuyệt không thấy có nữ sinh). Việc đức Khổng phu tử trót nói như vậy không hề có hàm ý xúc phạm, nó cũng từa tựa giống như hôm nay người ta đi ăn phở bò ở Hà Nội. Nếu thấy chủ quán là đàn bà, nhất là lại thấy cái bà ấy đứng thái thịt, thì tự nhiên sâu xa tình yêu ẩm thực bỗng chốc trượt xuống loay hoay muốn đổ vỡ. Nói như thế không phải đàn bà không biết nấu phở, nhưng chẳng hiểu tại sao cho đến bây giờ, thực khách sành điệu vẫn hầu như tuyệt đối chưa gặp hàng phở bò nào có phụ nữ nấu ngon. Việc nấu phở cũng như việc đá bóng việc làm chính trị gia thường vẫn được xem là việc của đàn ông, bởi đàn ông vô cùng dễ dạy, họ đơn giản dễ dàng tiếp thu được cái phảng phất như là khổ nhọc như là sâu sắc. Phải chăng do đó, ở thời xa xưa, thật là đàn bà thì không đi lập công ty, không đi đấm bốc, chỉ đôi lúc miễn cưỡng đi làm nữ sĩ, còn đại loại họ tấp nập thanh thản đi bán bún riêu, bán bánh đa cua, bán canh rau rút. Chà chà, ở những món này thì các mẹ, các chị quả là thượng thặng xuất sắc. Không cứ Nho giáo phương Đông, mà ngay cả Thiên Chúa giáo phương Tây đã từ rất lâu đưa ra những luận thuyết rất không “mùng tám tháng ba”. Kinh Thánh phần Cựu ước minh bạch ghi lời Chúa phán với đàn bà. “Ta sẽ cho mày chịu thật nhiều đau khổ lúc thai nghén, mày sẽ phải đau đớn khi sinh con. Mày sẽ phải thèm muốn chồng mày và nó sẽ thống trị mày”. (Sách Sáng thế - 16). Vì ngoan đạo, nên đông đảo đàn ông hiểu quá đà lời của Chúa, nhất là chữ “thống trị”. Khi dạy vợ, họ không chịu tặng túi xách Louis Vuitton và cũng không đánh bằng hoa hồng, mà nói chung phần lớn chỉ toàn dùng đòn càn. Thao tác hùng dũng này hao hao gần giống các nhà phê bình văn học từ tâm uyên bác lúc phấn hứng dạy dỗ đám văn sĩ phóng túng. Thế nhưng, trải mấy nghìn năm bị ăn đòn, phụ nữ vẫn vô cùng “nan dưỡng”. Có lẽ đấy là nhờ truyền thống tuyệt vời ở sâu xa bản chất người nữ, vừa ôn nhu cương quyết “uy vũ bất năng khuất” vừa mềm mại thủy chung trước sau như một. Để khuyên đám con trai vũ phu nông nổi, những bà mẹ khôn ngoan thuần Việt đã vạch ra một tối ưu phương pháp. “Dạy con từ lúc còn thơ. Dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về”. Khi bơ vơ chân ướt chân ráo, bị cô đơn xô đẩy vào môi trường mới, con người ta thường hoang mang rất dễ huấn luyện. Không cứ đàn bà mà ngay cả đàn ông giang hồ can trường như lão luyện thủy thủ Robinson Crusoe bị lạc trên hoang đảo, nào có phải gặp thú dữ như em hay mẹ chồng gì đâu, toàn là những hiền lành dê núi dịu dàng chim rừng thế mà vẫn phải đẫm lệ cúi đầu thích nghi hoàn cảnh. Tuy nhiên, thánh nhân cũng có lúc sai lắm và trải nghiệm dân gian đôi khi cũng không đúng. Sang đến thời hiện đại thế kỉ 21, phụ nữ ở mọi miền mọi nơi bỗng tung tăng trở nên tuyệt khác. Họ tháo vát đầu tư cổ phiếu, họ chính xác buôn bất động sản. Họ ứng cử tổng thống, họ tranh chức thị trưởng. Họ viết báo như bay, viết kịch bản phim như chạy. Và đương nhiên, họ dày dạn về tiền, vững chắc về chức. Khi có đủ hai thứ danh lợi, họ mở tung cửa dạy chồng. Với họ, ngày nào cũng là mùng tám, tháng nào cũng là tháng ba. Họ ít sinh nở nên tất nhiên ít đau khổ, họ đều đặn uống thuốc tránh thai nên việc đau đớn có bầu đã thành xa xỉ. Tóm lại, đàn bà đã thăng hoa thống trị đàn ông. Để có được hiện thực huy hoàng ngày hôm nay, hoàn toàn là nhờ đàn bà có tập tính “nan dưỡng”. Khổng phu tử vĩ đại thật. Khi dạy câu này cho đám nam sinh, chắc đức Khổng có thở dài nghẹn ngào chua chát. TRẦN KHÔI VIỆT Tiêu đề: Re: Tạp văn QĐND Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Bảy, 2008, 08:59:26 pm MỸ NHÂN VÀ QUÁI THÚ Đây là một lãng mạn kinh điển thường thấy trong chuyện cổ tích ngày xưa, đôi khi trong điện ảnh và cải lương ngày nay, và có vẻ hiếm hoi trong văn học nữ trẻ 8x đương đại. Nó không giống như cặp phạm trù Thiện-Ác trong triết học, lại càng không giống cặp khái niệm Cao-Thấp trong số học, nó may mắn hao hao gần tới được cái hằng đẳng thức Trai tài-Gái sắc trong mơ hồ nghi lễ xã hội học. Ở thời phong kiến có nhiều hủ bại tiêu cực, thì mỹ nhân là một danh xưng nôm na dễ hiểu. Đại loại, họ có thể là danh ca như các diva bây giờ, là danh kỹ như ca nương của bến Tầm Dương trong thơ Bạch Cư Dị. Hoặc giả, cũng có thể là cao môn lệnh tộc đoan trang thiếu phụ “bất tri sầu”, cũng có thể là trong trắng ngây thơ dịu dàng thôn nữ mơ “cánh buồm đỏ thắm”. Đã là mỹ nhân thì tất cả đều có dung mạo xuất sắc quyến rũ, đều làm đám đàn ông có tài có tiền lồng lộn khát khao âm thầm nhung nhớ, mặc dầu động lực khởi nguyên của đám đàn ông này lung tung bắt đầu từ tình yêu lẫn lộn tình dục. Có lẽ do thế, tử vi của mỹ nhân thường hẩm hiu giống số phận của văn nhân “cùng một lứa bên trời lận đận”, nói chung là đa đoan thăng trầm ngổn ngang bất trắc. Ở tầm vĩ mô, họ dễ dàng bị thành quà tặng cho một chiến bại lịch sử như người đẹp Tây Thi ở Tàu hay An Tư công chúa ở ta. Ở tầm vi mô, họ chủ động biến thành món tiền chuộc cứu vớt gia đình do lỗi lầm của người bố, ví như Thúy Kiều, trưởng nữ nhà Vương viên ngoại trong kiệt tác “Đoạn trường tân thanh” hay nàng con gái út vo danh trong phim hoạt hình Walt Disney dựa vào cổ tích khét tiếng “Beauty and the Beast”. Truyện Kiều thì hầu hết thiếu nữ Việt đều rành (trích đoạn “Bán mình chuộc cha” là trích đoạn kinh điển trong sách giáo khoa trung học phổ thông), còn chuyện “Mỹ nhân và Quái thú” xin miễn cưỡng sơ lược tóm tắt. Một thương gia không chơi chứng khoán, nhưng do tử tế nên hay thua lỗ trong nhiều thương vụ. Một lần đi buôn xa, hết sạch tiền, ông ta mệt mỏi tá túc một chỗ khả nghi sang trọng nhang nhác như căn hộ cao cấp ngày nay đang được đám cò đất hét giá trên trời. Ăn nghỉ xong thương gia mới biết, chủ của chung cư ấy là một quái thú, tất nhiên vanh vách nói được tiếng người. Quái thú đòi trả công, và y hệt như tất cả các ông bố trong nhà có đông con gái, thương gia đem ái nữ ra thế chấp. Cô con gái út thương cha nhất, tình nguyện đến ở với quái thú để trừ nợ. Trong thời gian loay hoay dọn dẹp ở đấy, bằng sâu xa chân thành tình cảm, cô bé đã chinh phục được chủ nhà. Họ trong trắng yêu nhau và tình yêu trong trắng đã đem quái thú về nguồn. Hóa ra đấy là một hoàng tử tốt bụng kinh hoàng giàu có và đẹp trai. Rồi chuyện kết thúc sẽ giống như vài phim “thị trường” gần đây, đang bị các đạo diễn nghiêm túc nghệ thuật chê là vừa sến vừa rẻ tiền. Nhưng dù có bị đơm đặt thế nào thì cùng với thời gian câu chuyện kể trên vẫn long lanh dồn đọng rất nhiều cảm động. Không phải ngẫu nhiên mà hàng trăm năm nay nó chính là sách gối đầu giường của vô số thế hệ thiếu nữ sắp lớn đang trong trẻo định hướng hôn nhân. Các học giả trí thức ở ta, có lẽ hơi lo xa quá về văn hóa đọc của giới trẻ. Cũng có thể đám trẻ đang yêu không chịu đọc các sách quý vị dịch quý viết quý vị biên soạn, nhưng họ vẫn chăm chỉ đọc “Mỹ nhân và Quái thú”. Câu chuyện rưng rưng hấp dẫn không phải là ở mỹ nhân, mặc dầu người đẹp này vừa không tham tiền vừa ngoan lại vừa đảm đang trung hậu. Cái đấy cũng chẳng qua là nết đương nhiên của phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ Việt. Cái ma mị quyến rũ chính là hình tượng đàn ông “quái thú”. Thường thường, đàn ông khi bị hoàn cảnh khắc nghiệt lột bỏ đạo mạo râu tóc thì hay trơ ra những nhẵn nhụi đểu giả. Đang phương phi như hùm như hổ, thoắt bỗng nhăn nheo thành kẹp lép. Thành ngữ bảo “cháy nhà ra mặt chuột” nghĩa tàm tạm là như vậy. Các đại quan tham nhũng ở ta khi chưa bị cháy, mặt của bất cứ ai cũng đều lung linh dày những là nhân nghĩa lễ trí tín… Tuy nhiên, mỹ nhân mà đi với đàn ông xấu người đẹp nết thì ở ta cũng không phải quá hiếm. Thỉnh thoảng bật tivi xem trực tiếp những lễ trao giải nghệ thuật, sau khi “emxi” giới thiệu xong một cặp đôi tự tin tiến ra sân khấu. Nhìn một trung niên chân ngắn đi với một thanh nữ chân dài, khán giả bỗng nhưng nhức nhớ về câu chuyện cổ tích kỳ diệu nọ. Trần Hà Quyên Tiêu đề: Re: Tạp văn QĐND Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Bảy, 2008, 09:19:40 pm ĐÀN ÔNG ĐỌC SÁCH Ở những đàn ông đã trót biết chữ thì việc đọc sách là một đương nhiên thói quen, nó cũ kĩ hơn cả truyền thống và ở mức nào đấy nó gần như một bản năng gốc. Họ chẳng cần đợi có hội chợ sách hay triển lãm sách mới vội vàng hấp tấp ngồi đọc. Ngày xưa, đàn ông biết đọc sách khi du sơn ngoạn thủy thì thường cầm theo hai thứ, bầu rượu và túi thơ. Rượu là để thăng hoa ngạo khí những lúc một mình an ủi buồn bã xót xa nhìm mưa rừng gió núi. Còn túi thơ thì công năng không hẳn như cặp sách hay laptop bây giờ, nó thanh bạch đựng vài ba thi tập hoặc của mình hoặc của người. Vào thuở ấy, văn nhân cao khí ít khi chịu đọc tiểu thuyết, bởi đơn giản họ cho rằng, tiểu thuyết là thư nôm na “câu chuyện đường phố lời nói ngõ làng, vào lỗ tai ra lỗ miệng” (Lỗ Tấn – Sơ thảo lịch sử tiểu thuyết Trung Quốc-trang 22). Đọc sách là phải đọc những thứ “đại thuyết” ví như Kinh, Sử, Tử, Tập. “Kinh” thì đại loại như Kinh Dịch Kinh Lễ. “Sử” thì đại loại như Tả Thị Xuân Thu, như Tư Mã Thiên sử ký. “Tử” là ghi lại những thuyết pháp của bậc thầy lớn, đại loại như Luận Ngữ. Còn “Tập” thường là thơ, đại loại như Thanh Hiên thi tập của văn hào Nguyễn Du chẳng hạn. Bậc quân tử không mất công đi đọc những thứ in ấn ba lăng nhăng, sau đấy phấn hứng tiểu khí bới lông tìm vết vạch ra chỗ sót chỗ sai, cốt chỉ để khoe mình là hay là giỏi. Cũng giống như tình yêu, đọc sách là cho mình chứ chẳng phải cho đời. Nơi đắc địa nhất cho đàn ông đọc sách thì không đâu bằng thư viện. Ở đấy, người ta có thể trong trắng đọc “cọp” một cách văn hóa nhất. Và cũng chỉ ở đấy mới có cái gọi là chân chính “mọt sách”. Thư viện Quốc gia hồi chưa có điều hòa nhiệt độ, chưa có mấy em sinh viên năm thứ hai, thứ ba nhí nhảnh váy ngắn, thì người ta hay gặp vài ba trung niên hoặc lão niên kính cận đeo “đúp” hai cái thanh thản mê dại sùng kính ngồi giở sách. Khả năng ngồi đọc của họ là vô bờ, kiến văn của họ hình như không giới hạn, do dung tục áo cơm đôi lúc họ cũng dịch kiếm ăn hoặc viết sách khảo cứu. Giống như tuyệt thế cao thủ Lão ngoan đồng Châu Bá Thông trong truyện “chưởng” Kim Dung, luyện võ là vì thích võ, các “mọt sách” cũng vậy. Họ đọc chỉ vì được ngồi đọc là một hạnh phúc. So với họ, tất cả các độc giả khác bỗng dưng trở thành một thứ thực dụng hao hao vụ lợi. Bây giờ, có rất nhiều lý do đàn ông phải đọc sách. Hoặc sắp đi dự hội thảo, hoặc sắp phải làm luận văn. Hoặc đang đeo đuổi một mỹ nhân mà cô nàng thì đầy vẻ đàn bà thích chữ. Cô ta xem phim thì thích phim có chất thơ, xem đá bóng thì thích những trận đấu có chất văn học và khi xem văn học thì thích tác giả đạo mạo trả lời phỏng vấn uyên bác. Đàn ông đang yêu phải gồng lên miệt mài mà đọc. Rồi khi đã đọc in ít, những nam độc giả này vênh vang a dua theo các giáo sư-tiến sĩ cho rằng nên chỉ đọc các sách hay. Hỡi ơi, đã là sách thì làm quái gì có sách dở. Rất nhiều người trong bọn họ ngấm ngầm khoe, đọc sách là một thao tác sang trọng để rèn luyện nhân cách. Thực ra, đọc sách, nó giản dị riêng tư như việc ăn, việc ngủ, việc bài tiết, nó chẳng cao chẳng thấp, chẳng lợi chẳng hại. Trang Tử miễn cưỡng gọi nó là Dưỡng Sinh (nuôi cái sống). Bởi thế, người biết đọc sách nhìn bề ngoài trông nhếch nhác vô học, còn trong nhà tuyệt nhiên không có tủ sách. Đã là kiếm khách cao thủ thì chẳng hề vướng víu đeo kiếm. Theo chuyện kể của Kim Dung lão gia, hành tẩu trên giang hồ người võ lâm sợ nhất ba loại. Mấy ông hiền lành tu hành, mấy tay yếu ớt thư sinh và mấy cô yểu điệu thục nữ. Đám này thoạt nhìn thì vớ vẩn, nhưng khi đã tụ khí vung tay là ra toàn hiểm trở sát chiêu, phong độ luôn nhàn nhã kín đáo hao hao giống quan chức nhận phong bì hối lộ. Đọc sách là nghiêm cẩn thinh lặng suy tư, không khác gì một tín đồ ngoan đạo cầu nguyện. Đấng Tối Cao đâu có nghễnh ngãng mà phải gân cổ vất vả gào to. Ngày nay, đàn ông biết đọc sách trông lộ liễu quá. Họ thường leo lên tivi kể lể là mình đang chăm chỉ nằm đọc cái gì. Hoặc hiếm hơn thì như một tay đạo diễn đẹp giai đã đoạt Cánh Diều Vàng, khét tiếng với thói quen là hay cô đơn sáng tác bên laptop chỗ tấp nập thời thượng cà phê. Lúc mệt mỏi thư giãn bỗng sang trọng rút ra một quyển tiểu thuyết dày cộp trầm ngâm sâu sắc láo liên đọc. Rất nhiều nữ giảng viên đại học trẻ, khi dạy sinh viên về văn hóa đọc, luôn hớn hở đem đạo diễn này ra minh họa làm gương. Độc giả đàn ông như thế mới xứng đáng là thật độc. Nguyễn Việt Hà Tiêu đề: Re: Tạp văn QĐND Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Tám, 2008, 03:45:10 pm CHÂN HOA HẬU “Chân” vốn là một từ rộng nghĩa và ở những vị thế ngữ pháp khác nhau thì nó lại càng có nghĩa mênh mông khác nhau. Từ điển Tiếng Việt giải thích “chân là một bộ phận thân thể dùng để đi đứng chạy, hoặc là phần ở dưới cuối cùng của vật gì để giữ vật ấy cho khỏi ngã”. Từ xưa đến nay, các người đẹp liên tục loạng choạng do thường bị cuộc đời thô bạo xô đẩy, nên cái chức năng giữ để cho khỏi ngã của chân là vô cùng quan trọng. Từ điển Hán – Việt của học giả Đào Duy Anh tiếp tục giải thích “chân là thực, là không giả dối. Là bản chất, là không phải ảo”. Nghĩa phát sinh đàng hoàng của nó thì có rất nhiều, ví như “chân chính, chân lý, chân phương, chân tâm, chân thành, chân tu, chân tình v.v…”. Tôn trọng rồi ngợi ca một hoa hậu chân thực là việc có vẻ rất nên làm. Khi một thiếu nữ trong veo tuyệt vời đẹp xuất hiện thì đông đảo đàn ông xúm vào đồng thanh gọi đấy là mỹ nhân hoặc giai nhân (Chữ “giai nhân” phải hiểu theo nghĩa thanh cao chứ hoàn toàn không có nghĩa ngô nghê là người sẽ bị sở hữu bởi bọn con giai). Và mỹ nhân đẹp nhất sẽ được bình bầu làm hoa hậu. Hoa hậu nghĩa đơn giản là nữ hoàng của các loài hoa, còn nghĩa phức tạp hơn thì mơ hồ xuất xứ từ một câu cổ thi “Thử hoa khai hậu cánh vô hoa”. Một nhà nho bất hạnh lấy phải vợ xấu rồi may mắn ngoại tình được với một người đẹp đã hớn hở dịch xuôi “Cái bông hoa đấy nở thì tất cả các loại hoa khác không dám nở”. Đại loại là một nhan sắc vô tiền khoáng hậu, trước không có mấu cũng không có. Tuy nhiên, có vài ba người biết nhiều chữ vẫn cằn nhằn cho rằng, gọi hoa hậu là bất nhã, phải gọi là hoa khôi. Bởi hoa hậu dễ bị nông nổi hiểu thành “phần phía sau của hoa”. Phía sau của bất cứ tuyệt đại mỹ nhân nào đương nhiên cũng là lưng. Phía dưới lưng được dân gian gọi là “mông”, còn từ điển gọi là “đế”. Dưới đế thì thường có chân và với phái đẹp, theo những định nghĩa đã dẫn, chân đặc biệt quan trọng. Ngoài việc giữ thăng bằng, chân là cấu trúc tuyệt vời gợi cảm. Tất nhiên, thỉnh thoảng cũng có mỹ nhân không có tay, điển hình như kiệt tác điêu khắc “Vệ nữ ở Milo” chẳng hạn. Thiếu nữ này tay cụt cả hai nhưng cực kì xếchxi quyến rũ. Hoa hậu mà không chân thì chưa ai tưởng tượng nổi. Cố nhiên, hoa hậu này vẫn có thể mặc được bikini, vẫn có thể uyên bác vanh vách trả lời trôi qua vòng thi ứng xử, nhưng nếu gặp phải ban giám khảo trung thực kĩ tính sẽ rất dễ dàng bị đánh trượt. Cho đến giờ, trong lịch sử thi hoa hậu, tuyệt đối chưa thấy ai không có chân. Chân hoa hậu không những phải mịn màng thon mà bắt buộc phải dài. Đây có lẽ là theo tiêu chuẩn ngặt nghèo của cổ xưa phương Đông “trường túc bất chi lao”. Nghĩa nghiêm túc là “chân dài không biết mỏi”. Hoa hậu vốn là người đi nhiều. Vĩ mô thì đi làm từ thiện, đi làm đại sứ hòa bình. Vi mô thì đi đóng phim, đi trên sàn catwalk. Chân ngắn quá đương nhiên sẽ dấn đến lao lực. Do vậy, đã là chân chính hoa hậu thì chân càng ngày càng phải dài. Người đẹp cũng giống như người tài, muốn thành danh là phải đi thi. Ở thời phong kiến, người ta hiếm khi tổ chức thi hoa hậu. Thảng thốt nếu có, đều là những cuộc tuyển chọn mỹ nhân để thành cung nhân. Trong đám đó cũng vài ba người số đỏ chợt nhiên mà thành cung phi, thậm chí đăng quang hoàng hậu. Sách Tư trị thông giám của Tư Mã Quang đời Tống bên Tầu có tường thuật một vài thể lệ. Tiêu chuẩn đầu tiên xét tuyển là mùi. Giữa mùa hè, đám người đẹp phải mặc áo bông rồi chạy quanh sân rồng khoảng ba vòng. Đến đích, một số giám khảo chức tước cỡ nhất nhị phẩm sẽ dùng mũi ngửi. Mồ hôi vã ra ngửi mùi là biết ngay. Vì thế trong hoàng cung đâu có ai dùng mỹ phẩm. Thế mà đám dân đen vất vả ngày ngày kiếm ăn đi ngang qua, chỉ thấy sực nức nồng nàn mùi lan, mùi huệ. Sau đấy chọn tướng mặt, sau nữa mới đến chân. Ứng xử cũng cần nhưng đề thi không sáng tạo. Quanh đi quẩn lại vẫn là câu “cái nết đánh chết cái đẹp”. Tương truyền, một vị giám khảo cỡ đại thần có thầm yêu một thí sinh. Ông ta rưng rưng làm một bài thơ tỏ tình chủ đề là chân. Đáng tiếc, nguyên tác đã thất lạc chỉ còn bản dịch giữ nguyên nhịp điệu có thể. Ôi bàn chân em Có đủ năm ngón không thừa ngón nào. Hãy giữ gìn nó cho thật ấm vì trời đã sang đông. Vâng, dù rằng tình anh là rất nóng. Nhưng xin em cứ đi đôi tất ni lông. Ngày nay, nhiều hoa hậu có học cao cho đây là bài giả thơ, không xứng đáng là chân thi. TRẦN KHÔI VIỆT Tiêu đề: Re: Tạp văn QĐND Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Tám, 2008, 12:07:19 am MỸ NHÂN VÀ HOA HẬU Theo những lời tự bạch chân thành của rất nhiều mỹ nhân, kể cả lúc các nàng đang bốc đồng trên một diễn đàn lá cải nào đấy, kể cả trong những giấc mộng đẫm ướt lãng mạn thầm kín nào đấy, thì tự cổ chí kim, tuyệt chưa bao giờ có một ai trong số bọn họ lại đủ liều lĩnh tự tin để mơ rằng, ngày mai mình sẽ thành hoa hậu. Họ có thể dám mơ mình sẽ là nghĩa nữ của đương kim tổng thống, là người tình của một đại thương gia. Thậm chí, họ có thể ao ước thành quý phi thành hoàng hậu, đại loại là một thứ xa xỉ vợ vua, thế nhưng với họ vương miện hoa hậu vẫn luôn là một khát khao mông lung mịt mờ xa tít. Thực ra, theo nghĩa từ điển thì hoa hậu (beauty queen) không hề là một khái niệm quá to tát, lại càng không phải là thiên hạ đệ nhất đại mỹ nhân. Cũng như chữ “hoa khôi”, vốn đơn giản nhằm chỉ một thiếu nữ hoặc một thiếu phụ đẹp nhất của một vùng, danh hiệu hoa hậu là dành tặng cho người con gái đẹp nhất trong một kì thi chọn người đẹp. Danh hiệu này thường bị giới hạn bởi thời gian (hoa hậu của năm chẳng hạn), bởi không gian (hoa hậu Đền Hùng chẳng hạn). Đã thế nhiều lúc nó còn luẩn quẩn tủn mủn trong một ngành nghề (hoa hậu thể thao, hoa hậu ngân hàng chẳng hạn). Nói dại, nếu cái ngành nghề ấy chỉ toàn thiếu nữ méo mồm thì đương nhiên hoa hậu của ngành sẽ là mồm méo. May thay, cho đến bây giờ, tất cả các loại hoa hậu đều trông nhang nhác giống như người đẹp. Nói chung ở phương Đông, thiên nhiên trong trẻo mưa gió thuận hòa, nên người đẹp vô cùng phong phú. Hoặc run rẩy thấp thoáng mong manh như sương sa. Hoặc đoan trang đằm thắm rực rỡ như nắng sớm. Có người càng già lại càng đẹp như nữ hoàng Võ Tắc Thiên. Có người càng cao lại càng xinh như hoa hậu Mai Phương Thúy. Thế nhưng hồi xa xưa, chẳng thấy một thiếu nữ nào bỗng dưng đi tham gia cái việc thi hoa hậu. Cũng có thể hồi ấy văn minh măn rợ chưa có hở hang áo tắm bikini, chưa có nông nổi ngây ngô thi trắc nghiệm ứng xử. Và đặc biệt vô cùng khó kiếm một ai đấy đã vừa tử tế lại vừa có chữ mà chịu ngồi làm giám khảo. Những người hội đủ cả hai phẩm tính trên đa phần là đám nho sĩ (Tăng hoặc Đạo thì xuất thế rồi, bọn họ nhìn thấy gái đẹp thì kinh hoàng như nhìn túi đựng cơm như nhìn giá treo áo, tuyệt chẳng rung động gì). Mà nho sĩ, hầu hết là nghèo khó thanh bạch thường lấy phải vợ xấu nên ngấm ngầm coi sắc đẹp là tai họa. Có phải thế chăng mà lịch sử mấy nghìn năm nước Tầu, vất vả nghẹn ngào mãi mới tàm tạm bình bầu được bốn người cho đội chung một vương miện hoa hậu, chính sử hay gọi là “tứ đại mỹ nhân”. Người xếp số một có tên Tây Thi, con nhà kiếm củi ở chân núi Trữ La, đã bị Việt vương Câu Tiễn đem cống nộp cho vua Ngô Phù Sai vị thua trận. Tây Thi bình nhật đã đẹp nhưng đẹp nhất là lúc đang quằn quại đau bụng. Ngô vương yêu vẻ nhăn nhó ấy lắm, nên trong thực đơn dành riêng cho nàng, thường bắt đầu bếp phải dọn toàn những món hải sản tươi sống mất vệ sinh. Nếu còn đến bây giờ, Tây Thi cô nương chắc sẽ được các hãng dược phẩm chọn đi đóng viđêô clip để lên truyền hình quảng cáo cho thuốc chữa đại tràng hoặc thuốc chữa dạ dày. Người xếp số hai là Bao Tự, vợ của Trụ vương thời Đông Chu. Nàng này suốt ngày đần mặt ngồi ủ rũ, tất nhiên vẫn rất xinh, nhưng tuyệt vời mê hồn là lúc nàng nhe răng tủm tỉm cười. Bao Tự thích nghe tiếng vải xé. Chồng của nàng vốn là một bạo vương đầy lòng yêu thương chiều vợ, kệ đám dân đen đang nheo nhóc chết đói, vua Trụ thành lập hẳn một tổng công ty bông vải sợi với hàng vạnh nhân viên chăm chỉ ngồi tám tiếng xé vải cho ái thê nghe. Và để thấy vợ yêu được thật sự thư giãn, Trụ vương hóm hỉnh đem cả chuyện an ninh quốc gia đi diễn tấu hài. Ông ta giả vờ là có chiến tranh, đốt lửa cầu viện các nước chư hầu đem quân lại cứu. Mọi người hốt hoảng hồng hộc chạy tới thì tẽn tò khi chỉ thấy Bao Tự đang sằng sặc bật cười. Dân gian khốn khổ có câu “cười một cái thì nghiêng cả nước” (nhất tiếu khuynh nhân thành) là ở điển này. Nhân vật xếp thứ ba là Dương quý phi vợ của ông vua nghệ sĩ Đường Minh Hoàng, cũng thích vải nhưng là loại để ăn. Cứ mỗi lẫn Dương quý phi nhạt mồm thèm “đét xe” thì có hàng chục nghìn dân công gánh vải lao lực mà chết, bởi đơn giản quả lệ chi chỉ có ở vùng Nam Việt, cách kinh đô Tràng An hàng chục vạn ki-lô-mét. Cuối cùng, xếp thứ bốn thì có người chọn Điêu Thuyền thời Tam Quốc, có người chọn Đát Kỷ thời vua Kiệt. Nói chung, hai nàng này đều xứng đáng vì nói dối như ranh (nickname của bọn họ là Thần điêu hiệp nữ), thói xấu nhiều như game show trên tivi, làm hại cho nhà chồng lẫn xã hội nhiều không kể xiết. Khác với mỹ nhân, hoa hậu chẳng bao giờ gây ra tai họa. Nước ta người đẹp rất hiếm nhưng hoa hậu lại đông, để có sự may mắn này nhiều học giả lạc quan cho là nhờ ở sự phát triển dân trí. Từ hoa hậu chính danh đầu tiên Bùi Bích Phương tới hoa hậu mới toe Nguyễn Thùy Lâm, tất thẩy đều là những tấm gương sáng ngời về nhân cách về lao động. Không phải ngẫu nhiên mà các lò luyện thi hoa hậu nở rộ tràn lan khắp nước. Quả là một thành tựu rất đáng trân trọng. Trần Hà Quyên Tiêu đề: Re: Tạp văn QĐND Gửi bởi: Galaxy trong 16 Tháng Tám, 2008, 12:20:38 am Người xếp số hai là Bao Tự, vợ của Trụ vương thời Đông Chu. Nàng này suốt ngày đần mặt ngồi ủ rũ, tất nhiên vẫn rất xinh, nhưng tuyệt vời mê hồn là lúc nàng nhe răng tủm tỉm cười. Bao Tự thích nghe tiếng vải xé. Chồng của nàng vốn là một bạo vương đầy lòng yêu thương chiều vợ, kệ đám dân đen đang nheo nhóc chết đói, vua Trụ thành lập hẳn một tổng công ty bông vải sợi với hàng vạnh nhân viên chăm chỉ ngồi tám tiếng xé vải cho ái thê nghe. Và để thấy vợ yêu được thật sự thư giãn, Trụ vương hóm hỉnh đem cả chuyện an ninh quốc gia đi diễn tấu hài. Ông ta giả vờ là có chiến tranh, đốt lửa cầu viện các nước chư hầu đem quân lại cứu. Mọi người hốt hoảng hồng hộc chạy tới thì tẽn tò khi chỉ thấy Bao Tự đang sằng sặc bật cười. Dân gian khốn khổ có câu “cười một cái thì nghiêng cả nước” (nhất tiếu khuynh nhân thành) là ở điển này. Em thấy đoạn trên có 1 số chỗ không đúng : + Bao Tự không phải là vợ của Trụ Vương + Trụ vương không phải là vua thời Đông Chu. Trụ vương là vua cuối cùng của nhà Thương. + Bao Tự là vợ của Chu U Vương thời Tây Chu, chính vì vụ "tấu hài" lừa chư hầu để đổi lấy nụ cười mỹ nhân mà sau này, khi quân Khuyển Nhung tấn công thật thì đốt lửa chẳng ai thèm đến cứu nữa. Chu U Vương và Bao Tự đều bị giết. Con U Vương là Bình Vương rời đô tới Lạc Dương, bắt đầu nhà Đông Chu. Tiêu đề: Re: Tạp văn QĐND Gửi bởi: hoacuc trong 16 Tháng Tám, 2008, 06:44:08 am Cuối cùng, xếp thứ bốn thì có người chọn Điêu Thuyền thời Tam Quốc, có người chọn Đát Kỷ thời vua Kiệt.
----------------------------------- Em thấy đoạn trên có 1 số chỗ không đúng : + Bao Tự không phải là vợ của Trụ Vương + Trụ vương không phải là vua thời Đông Chu. Trụ vương là vua cuối cùng của nhà Thương. + Bao Tự là vợ của Chu U Vương thời Tây Chu, chính vì vụ "tấu hài" lừa chư hầu để đổi lấy nụ cười mỹ nhân mà sau này, khi quân Khuyển Nhung tấn công thật thì đốt lửa chẳng ai thèm đến cứu nữa. Chu U Vương và Bao Tự đều bị giết. Con U Vương là Bình Vương rời đô tới Lạc Dương, bắt đầu nhà Đông Chu. -------------------------------------------------------------------------- Mình cũng bổ sung thêm: Trụ Vương mới là người mê Đát Kỷ chứ không phải vua Kiệt, vua Kiệt nhà Hạ say đắm nàng Muội Hỷ đến nỗi làm hỏng chính sự và mất nước về tay nhà Chu. Tiêu đề: Re: Tạp văn QĐND Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Tám, 2008, 10:17:17 am Cuối cùng, xếp thứ bốn thì có người chọn Điêu Thuyền thời Tam Quốc, có người chọn Đát Kỷ thời vua Kiệt. ----------------------------------- Mình cũng bổ sung thêm: Trụ Vương mới là người mê Đát Kỷ chứ không phải vua Kiệt, vua Kiệt nhà Hạ say đắm nàng Muội Hỷ đến nỗi làm hỏng chính sự và mất nước về tay nhà Chu. Ừ, có hơi sai một chút, nhưng như thế mới là "tạp văn" chứ! Nếu chính xác tuyệt đối đúng thì đã là viết sử, là không phải "tạp văn" ;D ;D ;D, mà mọi người thấy đấy hồi đó làm gì có "anh tơ nét" để các nàng sử dụng "nickname" là Thần-điêu-hiệp-nữ :o ;D ;D Trụ vương và vua Kiệt mất nước ngoài lí do mê đắm người đẹp, còn vì quá tàn bạo. Nhưng như phần bổ sung trên thì ai là người mất nước về tay nhà Chu nhỉ? Tiêu đề: Re: Tạp văn QĐND Gửi bởi: Galaxy trong 16 Tháng Tám, 2008, 05:25:51 pm Ơ, chính xác phải là thế này chứ ạ :
+ Vua Kiệt nhà Hạ mất nước về tay vua Thành Thang nhà Thương + Vua Trụ nhà Thương mất nước về tay vua Võ Vương nhà Chu === Nhưng mà em cực lực phản đối việc đổ tội “làm mất nước” cho “người đẹp”. Mấy ông vua ăn chơi trác táng, làm chính trị kém, đối xử với dân bạo tàn ... mất nước thì lại toàn đổ tội cho người đẹp là không đúng. Tiêu đề: Re: Tạp văn QĐND Gửi bởi: dongadoan trong 16 Tháng Tám, 2008, 06:01:39 pm Nhưng mà em cực lực phản đối việc đổ tội “làm mất nước” cho “người đẹp”.
Mấy ông vua ăn chơi trác táng, làm chính trị kém, đối xử với dân bạo tàn ... mất nước thì lại toàn đổ tội cho người đẹp là không đúng. ---------------------------------------------------- Hờ...hờ, thế cho nên thằng Xồm nó mới gọi chú là "Thiên Hà cô đơn", lấy vợ đi đã rồi hãy bàn chuyện nhá! ;D Anh nói chú nghe, như một anh bạn của anh, ra đường thì cũng chả đến nỗi nào, gái đẹp chả dám tính "từng đàn" nhưng đang ngồi uống bia mà thích có người rót cũng chỉ cần một cú alô là có 1, 2 em chân dài, váy ngắn đến rót bia, lau bát (xinh đẹp, đàng hoàng nghe! ;D), đệ tử thì thôi rồi, hô một tiếng là cả trăm thằng từ Nam chí Bắc dạ ran, chạy trối chết! Vậy mà, vợ chú chàng đau bụng, đau đầu, buồn chuyện cơ quan hay đơn giản hơn là bị con mèo nó...lườm ;D là chú chàng sợ run như cầy sấy, một điều vâng dạ, năn nỉ ỉ ôi, pha trò, bắt chước Xuân Bắc,...để hòng mua một cái cười, một cái lườm yêu, một câu mắng yêu của vợ đấy! Chú nghĩ vì cái gì? Đơn giản là vì man in love, chú nó ạ ;D Lấy ví dụ gần hơn thì cô motthoang nhà ta ngang tàng là thế, phong trần cũng chả kém ai nhưng dính tí tình yêu, tình báo vào là anh em ta được xem xanh, đỏ, tím, vàng loạn cào cào ở đây (http://www.quansuvn.net/index.php?topic=2100.0) này! ;D Tóm lại, cứ có đàn ông là sẽ có đàn bà để đàn ông bị "bắt nạt", giống như đã có trungsy1 nhất định phải có trungsy2 vậy! ;D Tiêu đề: Re: Tạp văn QĐND Gửi bởi: dongadoan trong 17 Tháng Tám, 2008, 09:40:19 am Cái này không phải tạp văn của VNQĐ nhưng đọc thấy hay nên để nhờ ở topic của bác chuong:
Người từng gặp 7 Nguyễn Quang Lập Tản văn Nhận được cái còm của thằng Nãm, thấy cảm động quá, mới đó đã gần ba chục năm. Thằng Nãm cùng trung đoàn, cùng sinh hoạt trong đội văn nghệ Trung đoàn với mình, nó viết nhạc khá hay, không hiểu sao bây giờ bỏ nhạc đi làm báo. Thằng Nãm nói Lập có nhớ thủ trưởng Thu không, viết về ông ấy đi. Trời đất, ai chứ anh Thu đến chết mình không quên. Anh Thu ở ban tham mưu, đại uý tham mưu phó trung đoàn, mình là trung uý trợ lý kĩ thuật bên ban kĩ thuật, anh em chẳng mấy liên quan, ít khi chuyện trò với nhau. Chỉ nhớ mỗi lần gặp, anh hắng giọng một cái, nói Lập à, rồi đi, mặt khi nào cũng ngước ngước lên trời. Anh luôn mặc bộ quân phục bạc phếch, gấu quần treo quá mắt cá vài xăng ti, đi đôi dép cao su, mặt ngước ngước như có cái gì trên trời hay lắm, không nhìn không được. Cứ đi kiểu ngước ngước thế mà không hiểu sao anh nhặt được của rơi lắm thế, 18 lần cả thảy, ít thì một chỉ vàng, nhiều thì 400 ngàn ( bằng 400 triệu bây giờ). Anh nổi tiếng khắp sư đoàn về thành tích được của rơi trả lại. Thằng Bê cờ lê mê tê lên phòng truyền thống sư đoàn tỉ mẩn cộng số của rơi anh Thu nhặt đựơc trả lại nói hoặc làm được hai nhà lầu, hoặc mua được hai ô tô. Thằng Bê cờ lê mê tê trắng trẻo đẹp trai, đi đứng thong dong, nói năng nhỏ nhẹ, hễ mở mồm là ông già tao thế này, ông già tao thế kia. Nó nói ông già gửi tao vào quân đội rèn luyện cho cứng cáp thôi, không phải đi quân dịch như chúng mày. Ra quân phát là tao làm phó giám đốc nhà máy điện liền. Một hôm không nhớ họp hành cái gì, trung đoàn chiêu đãi một sĩ quan một bát bún bò gì heo, đội văn nghệ mỗi người cũng được một bát. Mình bê bát bún bò tới bàn thằng Bê cờ lê mê tê nói đùa: tao được hai bát, một bát sĩ quan, một bát văn nghệ he he. Ăn xong, mình đang đứng tán phét với mấy em văn nghệ xinh đẹp thì anh Hảo trung đoàn trưởng vẫy vẫy tay nói Lập Lập lại đây. Tưởng anh Hảo gọi đến nói chuyện chơi vui, mình lơng xơng chạy đến, cười cười. Anh Hảo trợn mắt nói đồng chí Lập đứng nghiêm, mình tái mặt rập chân dứng cứng ngắc. Anh Hảo chỉ tay vào mặt mình nói miếng ăn là miếng xấu, đồng chí là sĩ quan ăn uống thế xấu hổ lắm, nói xong thì hầm hầm bỏ đi. Mình đứng trơ chết giấc. Thì ra không biết thằng nào tâu với anh Hảo mình ăn hai bát. Mâm mình ngồi có thằng Bê cờ lê mê tê và 4 người nữa, chẳng biết nghi ai. Thằng Bê cờ lê mê tê nói thằng cha Hảo tởm, nó ăn cắp xăng dầu trung đoàn cả tấn không ai nói gì, người ta ăn thêm có bát bún mà làm nhục ngươì ta. Mình nói tao ăn hai bát khi nào. Nó nói giả sử mày ăn hai bát thì sao nào, tiêu chuẩn mày được hưởng mà. Mình thấy nhục quá, không biết tâm sự với ai, mua một bi đông rượu, ra bãi cỏ sau doanh trại ngồi uống một mình, vừa uống vừa khóc. Anh Thu ra nói anh Hảo biết chúng nó nói bậy rồi, anh muốn xin lỗi em nhưng sợ em đang giận nên nhờ anh ra xin lỗi. Mình nói anh có nói em đâu mà xin lỗi, anh nói thôi đừng giận nữa mà, vào uống rượu với anh. Mình ngồi uống rượu với anh Thu, anh nói đông nói tây không hề nhắc chuyện vợ con, mình hỏi thăm, anh nói nhà mình cực lắm, thôi quên đi nói chuyện khác cho vui. Anh nói Lập giỏi thơ, làm giúp anh bài, anh gửi về động viên vợ con. Mình làm một bài dài, anh mừng lắm chép lại gửi vợ ngay, tháng sau nói vợ con anh đọc thơ cảm động lắm, đọc đi đọc lại thuộc lòng. Từ đó anh em thân nhau. Sau mới biết anh một vợ hai con, một mẹ già đau ốm luôn luôn. Anh toàn mặc đồ cũ vì bao nhiêu quân trang mới phát anh đều bán lấy tiền gửi về cho vợ. Thằng Bê cờ lê mê tê nói lần nào ông Thu được của rơi trả lại, người ta đều hậu tạ, chê không lấy, khổ là vì ngu. Một hôm mình vừa tắm xong vào, thằng Bê cờ lê mê tê nói sang mà chia buồn vớí ông Thu bạn mày kìa. Mình hỏi sao, nó bảo mất tiền, 500 đồng chứ không ít. Mình chạy sang phòng anh. Ba bốn người đang đứng ngồi nghe anh kể chuyện. Anh nói anh tiết kiêm cả quí được 500 đồng, bỏ túi sau đi bộ ra bưu điện gửi về cho vợ, gặp người bị tai nạn, anh bế người ta lên xe đi cấp cứu xong thì cái bóp túi sau cũng mất. Thằng Bê cờ lê mê tê nói đó, ngu chưa, trời cho, chê không lấy, trời ghét trời đòi lại đó. Đêm đó anh ngồi ôm bi đông rượu ra bãi cỏ sau doanh trại ngồi uống rượu. Anh uống rượu kém, chỉ hơn chén đã say, bây giờ cứ ngồi tu tì tì, sợ lắm. Mình ra ngồi với anh, nói anh ăn ở hiền lành sao rồi trời cũng thương. Anh xua tay nói thôi thôi Lập đừng nói nữa, rồi nôn thốc nôn tháo. Từ đó anh như người mất hồn, vẫn ăn, vẫn thể dục, vẫn trồng rau, vẫn giao ban nhưng trông anh không còn sinh khí, nói cười gượng gạo. Thằng Bê cờ lê mê tê nói vợ ông Thu viết thư nguyên văn thế này bà con nghe nha: Nếu anh không gửi tiền về thì gửi về ba cái hòm cho mẹ con em, he he sao có người khổ đến thế nhẩy. Tối thứ 7mình trực ở chỉ huy sở, nửa đêm ngủ gà ngủ gật, bỗng có kẻng báo động, rồi còi nổi liên hồi kì trận bốn phương tám hướng, giật mình choàng tỉnh chẳng biết chuyện gì. Nửa giờ sau thì thấy bốn cảnh vệ áp giải anh Thu đi vào. Hoá ra anh Thu ăn cắp cái ti vi Nep-tuyn cuả trung đoàn, bị bắt khi anh chưa về tới phố. Sáng sau người ta giải anh đi đâu mất. Chụyên hi hữu xưa nay chưa từng có, cả trung đoàn suốt tháng bàn tán, tuyệt không ai ghét anh, chỉ ngồi chép miệng thương anh thôi. Cũng tháng đó thằng Bê cờ lê mê tê ra quân, nó nói nó ở gần nhà anh Thu không đầy 2 cây số. Anh Đông trưởng ban kĩ thuật nói thôi anh em ai có nhiêu góp nấy gửi về vợ thằng Thu kẻo tội. Ai cũng góp, mình có nhuận bút hai bài thơ in ở tạp chí Đất Quảng được 60 đồng cũng đưa hết cho thằng Bê cờ lê mê tê. Bốn năm sau mình cùng thằng Phú ghé qua nhà anh Thu. Anh gầy, đen, râu ria xồm xàm, mới bốn tư tuổi mà y chang ông già sáu mươi. Thằng Phú nói anh em Ban kĩ thuật có góp tiền lại, gửi thằng Bê cờ lê mê tê đem về cho chị, không biết chị có nhận đựơc không. Anh cười nhẹ lắc đầu. Anh nói thằng đó đời nào đến nhà anh. Nó làm phó giám đốc nhà máy điện, con gái anh học xong trung cấp điện lực, xin vào chỗ nó làm công nhân mà nó chẳng cho. Mình nói hồi đó sao anh nghĩ quẫn thế? Anh cười nói cũng tại anh ngu nữa, đi bói thầy nói phải ăn cắp cái gì thì đời mới khá lên được Nói xong anh ngửa cô cười hậc một tiếng, nói thì cũng coi như xong một đời thôi, có gì đâu. Nguồn: http://trannhuong.com/index.php?option=com_content&task=view&id=2582&Itemid=52 (http://trannhuong.com/index.php?option=com_content&task=view&id=2582&Itemid=52) Tiêu đề: Re: Tạp văn QĐND Gửi bởi: motthoang_hn02 trong 05 Tháng Chín, 2008, 09:36:13 am Lấy ví dụ gần hơn thì cô motthoang nhà ta ngang tàng là thế, phong trần cũng chả kém ai nhưng dính tí tình yêu, tình báo vào là anh em ta được xem xanh, đỏ, tím, vàng loạn cào cào ở đây (http://www.quansuvn.net/index.php?topic=2100.0) này! ;D Ôi chời, bi chừ mới mò thấy cái đám nài, hông bít còn bao nhiu " uẩn khúc " nữa cơ, chết dở ;D Tiêu đề: Re: Tạp văn QĐND Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Chín, 2008, 09:48:03 pm PHỤ NỮ Ở SÀI GÒN Một dạo cũng lâu lâu rồi, thỉnh thoảng ở vài công sở phía Bắc, những nơi có đông nhân viên nữ, ví như ngân hàng hay tài chính chẳng hạn, khi phải chọn tiết mục tốp ca để hội diễn văn nghệ ngành, thì họ thường chọn bài “Cô gái Sài Gòn đi tải đạn” của nhạc sĩ Lư Nhất Vũ. Đây là một ca khúc có tiết tấu lạc quan, nhịp điệu vui tươi và cũng đôi phần dễ hát. “Chim kêu (chim kêu) ven rừng suối gọi, ta lên đường nặng trĩu hai vai… Từ ngày đô thị vùng lên, chị em mình đi tải đạn, để các anh đi diệt thù”. Các nữ công chức gốc Hà Nội thường đứng thành một hàng cong cong theo hình bán nguyệt, mặc áo bà ba đen thắt trễ nải khăn rằn và đặc biệt ai đấy đều tô lông mày cho thật đậm. Đại loại, khuôn mặt cố làm sao cho giống nữ diễn viên Ái Vân, người đóng chính vai một nữ biệt động Sài Gòn trong bộ phim Chị Nhung vô cùng khét tiếng của thời ấy. Theo lí luận của ông họa sĩ trang điểm được mời đến từ một đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp nào đó, thì các thiếu nữ đậm chất Nam bộ đa phần đều ngăm ngăm khỏe mạnh, họ hoạt bát phóng khoáng nên lông mày thường rậm. Nghe giải thích thì biết vậy thôi, chứ đúng-sai khó bàn vì lúc đấy nước nhà còn chưa thống nhất, các công chức nữ mỏng manh Hà thành biết đến Nam bộ hoàn toàn một chiều là qua sách báo, phim, ảnh. Có lẽ vì thế, cũng vào những năm đó người ta tin chắc như đinh đóng cột rằng, món bún bò Nam bộ là đúng đặc sản, xuất xứ từ Nam bộ. (Hiện tại hôm nay ở Hà Nội, duy nhất chỉ còn một hàng kha khá đông khách ở phố Hàng Điếu). Nó đơn giản gồm bún tươi trộn nước chấm chua ngọt với thịt bò xào giá đỗ. Chẳng qua nó chỉ là một ẩn ức ẩm thực nhang nhác như mì Quảng hay cao lầu Hội An mà trong thời khó khăn bao cấp nhân một ngày nghỉ xông xênh tem phiếu rồi mấy cô, mấy bà miền Nam tập kết bỗng dưng ngẫu hứng nghĩ ra. Sau ngày giải phóng năm 1975, người Bắc sành ăn vô Nam đông lắm, thế nhưng đi mỏi cả chân khắp lục tỉnh cũng chẳng gặp ở đâu cái món bún bò Nam bộ ấy. Tuy nhiên, qua lông mày mà đoán được gần đúng tính cách đàn bà con gái “phía trỏng” thì cũng đáng kể là nhìn xa tinh tế. Nhà văn Sơn Nam, một người miệt vườn và sâu xa hiểu Sài Gòn đã viết: “Ta thấy đàn bà khá tháo vát, để lại dấu ấn trong tên chợ, tên kênh rạch. Tại Sài Gòn, ngoài rạch Bà Thuông (Thông), Bà Tiệm, còn chợ Bà Quẹo, Bà Điểm, Bà Hoa còn rạch Bà Nghè. Tra cứu địa bạ đời Minh Mạng, thấy phụ nữ đứng tên bộ điền với tỉ lệ cao so với miền Bắc, miền Trung. Các bà có tài kinh doanh đất đai, khi bất trắc dám dùng đòn gánh, liềm hái đánh nhau với cọp. Từ thời chúa Nguyễn, phụ nữ gần như nắm độc quyền về mua bán sỉ, lẻ rau cải vải bố. Phụ nữ Hóc Môn cứ khuya là rũ nhau gánh rau cải xuống Chợ Rẫy (Chợ Lớn). Đi bộ để phòng cọp, đoàn người cười nói vang rân, có người cầm đuốc đi trước đi sau”. Truyền thống đánh cọp này, ngày nay tại thành phố Hồ Chí Minh, đôi khi người ta vẫn thấy ở những trường trung học có đông nữ sinh. Đoạn phim nữ sinh đánh lộn được nhiều báo mạng đưa lên làm một số phụ huynh đứng đắn không thuộc lịch sử kinh ngạc rùng mình. Như vậy chỉ riêng về chuyện mạnh bạo hoát bát, con gái Hà Nội thua xa con gái Sài Gòn. Với căn chất ấy, ngay từ hồi người Pháp vừa sang thực dân, phụ nữ Sài Gòn đã đi tiên phong vào những nghề mới mẻ Tây phương rất khó như nghề xuất bản, nghề báo. Bà Phạm Thị Bách Vân người Gò Công mở nhà xuất bản “Nữ lưu thư quán”. Bà Nguyễn Đức Nhuận chủ trương tờ “Phụ nữ tân văn”. Về văn chương báo chí cũng nhiều khuôn mặt cực kì điển hình. Bà Sương Nguyệt Ánh (con gái cụ đồ Chiểu) chẳng hạn, sau một chút là bà Tùng Long chẳng hạn. Họ đều là những cây bút tài hoa sắc sảo, làm ngay cả những kẻ sĩ đất Bắc vốn khinh bạc cũng phải âm thầm tâm phục. Nói chung, những phụ nữ đó đã làm nên một phong cách vô cùng độc đáo rất “gái trời Nam”. Nhân đây cũng xin bàn qua chữ “gái”. Cả về bình thường xã hội lẫn bình thường học thuật thì đây là một từ lành mạnh mang vẻ thuần Việt. Bác Hồ đã nhiều lần khuyên những người sính chữ là đừng quá lạm dụng khi viết “nữ dân quân” hay “tốp ca nữ” mà nên bình dị gọi là “dân quân gái” hoặc “tốp ca gái”. Từ điển giải thích “Gái: người thuộc giống cái và thường còn rất trẻ. Ví như Trai tài Gái sắc”. Trong văn viết ở phía Bắc, chữ “gái” ít được sử dụng vì nó tương đối hoang dã minh bạch, còn ở miền Nam chữ “đàn bà” và “gái” được dùng nhiều hơn và thường ở văn cảnh trìu mến thân thương. Nhà thơ Nam bộ Nguyễn Đình Chiểu có cặp lục bát tuyệt hay: Trai thời trung hiếu làm đầu. Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình. Sài Gòn vốn là đất tụ hội nhiều tinh hoa dữ dội của khắp các vùng miền nước Việt, lịch sử trẻ trung mới chừng hơn 300 năm. Viên ngọc miền Viễn Đông này luôn long lanh sáng, nhờ một phần ở sự phơi phới đầy sức sống của những cô gái. Trần Hà Quyên Tiêu đề: Re: Tạp văn QĐND Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Chín, 2008, 10:48:45 pm MẤT ĐÁY Văn xuôi đô thị hiện đại Việt Nam viết về lớp người dưới đáy, ngay từ hồi chập chững khai mở ở thời rực rỡ 30-45 đã có những thành công đáng kinh ngạc. Người ta có thể dễ dàng kể ra những “Ngoại ô” của Nguyễn Đình Lạp (1913-1952), những “Sống mòn” của Nam Cao (1915-1951), và đặc biệt là kiệt tác “Bỉ vỏ” của nhà văn mười bảy tuổi Nguyên Hồng. Đấy là phiến diện chưa tính đến nhiều truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, nhiều phóng sự của Tam Lang hoặc Vũ Trọng Phụng. Không phải ngẫu nhiên mà văn nhân của chủ nghĩa hiện thực phê phán sống ở đô thị thời ấy thường hay quan tâm đến lớp người dưới đáy. Đại loại có vài lẽ. Thứ nhất là lẽ chủ quan, nhà văn chỉ cảm động khi viết những thứ ở gần mình hoặc giống hệt mình. Hồi xa xưa, quá nửa trong số bọn họ đều là bần hàn thị dân, thậm chí xuất xứ của vài người còn vất vả cư trú ở chính những chỗ tuyệt cùng của đau khổ. Sự chia sẻ nhân văn, sự hiểu biết kiến văn cũng như sự khát khao muốn vượt thoát, làm lòng nhân ái của họ phẫn nộ chua chát không thể không viết. Họ chẳng cần phải đi thực tế, chẳng cần phải dự trại sáng tác, bởi tâm hồn họ luôn rưng rưng đẫm đầy “những điều trông thấy mà đau đớn lòng”. Lẽ thứ hai mang vẻ khách quan hơn. Phàm bất cứ thứ gì đã ở đáy, nhất là đáy của đời sống đô thị, ngoại trừ hiếm hoi của vài ba kết tụ tinh hoa, hầu hết đều có thể thành cặn thành đọng. Ở cái nơi “vừa lừa đảo vừa xót thương” này, con người ta bỗng dưng trở thành phong phú phức tạp mang các giá trị nghịch nhau nhưng đồng nhất. Họ vừa có thể thô bạo hào sảng lại vừa có thể tinh tế ranh ma. Hoặc có lúc tha hóa tụt xuống lưu manh hoặc có lúc thăng hoa vươn lên nghĩa hiệp. Tốt bụng nhân hậu lẫn lộn cùng bạc bẽo dối trá. Với những yếu tính bản năng đặc trưng điển hình như vậy, những người dưới đáy thường lưu giữ được bản lai diện mục vào loại thật nhất của một bộ mặt xã hội trong một thời đoạn nhất định. Tất nhiên với nhà văn, đây chính là quà tặng của Chúa, là một mảnh đất cực kì màu mỡ để họ phát tiết tung hoành cày xới những ấm ức viết của mình. Có lẽ vì thế mà bất kì một nền văn chương đô thị chân chính lành mạnh nào cũng không thể không quan tâm tới lớp người dưới đáy. Và như đương nhiên, cặp tình nhân khét tiếng Tám Bính – Năm Sài Gòn đã sừng sững trở thành một tự hào độc đáo của tiểu thuyết Việt. Vậy nên có một điều lạ, hơn hai chục năm gần đây, trên văn đàn đô thị ở ta tự nhiên thưa đi, thậm chí vắng hẳn những nhà văn sống ở những thành phố lớn viết về những kẻ khốn nạn ấy. (Những kẻ khốn nạn là chữ của học giả Nguyễn Văn Vĩnh khi ông dịch cuốn Les Misérables của Victor Hugo ra Việt ngữ. Ở thời điểm đó, chữ này được trong trắng hiểu theo nghĩa khốn khó và hoạn nạn). Những người dưới đáy chỉ nhếch nhác hiện lên qua lỏng lẻo một vài bộ phim truyền hình hoặc dăm ba phóng sự báo chí có văn mang tính điều tra xã hội học. Những tay lưu manh, những cô gái điếm, các con sen và thằng ở, đám xích lô ba gác của mọi ngóc ngách đường phố đã hoàn toàn biến mất khỏi tiểu thuyết Việt. Văn đàn nồng nặc những nỗi buồn sang trọng, những tình dục ẩm ướt, những “phản tỉnh” vĩ mô. Thỉnh thoảng người ta có viết về “Ô sin” thì cũng chỉ để cười, hoặc giả, để trịch thượng thông cảm. Đơn giản bởi lẽ, người viết luôn nhân văn nhân hậu nhân nghĩa theo tâm thế chủ nhà. Độc giả cố đọc thì cũng mong manh thấy thấp thoáng hình hài “bọn dưới đáy”, nhưng không hề thấy xót xa không hề thấy phức tạp đau đớn, đôi khi lại thấy nhan nhản những xoi mói nông nổi đểu giả. Cố nhiên, do sự phát triển tiến bộ xã hội với hàng loạt thành tựu xây dựng nâng cao con người cả vật chất lẫn tinh thần, càng ngày lớp người dưới đáy ở ta càng mỏng đi, nhưng “đám người nhỏ mọn” (chữ của văn hào vô sản Nga M.Gorki) ví như kẻ cắp chợ Đồng Xuân hay tiếp viên nữ làm mát-xa chẳng hạn thì chẳng bao giờ hết. Hai mươi năm sau đổi mới với nền kinh tế thị trường ồ ạt đô thị hóa, sự phân tầng giàu nghèo đang được các nhà quản lí coi là vấn nạn nóng hổi, thì việc những người dưới đáy bị mất quyền hiện diện trên văn chương quả cũng là một điều day dứt đáng tiếc. Vài độc giả Hà Nội có tuổi gốc gác nhiều đời cho rằng, tại người viết bây giờ không còn ai ở đáy nữa. Hoặc ở lưng lửng hoặc ở đỉnh. Nhà văn mà là công chức mà là dư dật, thì chỉ quen nhìn cao nhìn xa chứ làm sao mà nhìn thấp nhìn sâu được. Ý kiến có vẻ nông nổi này, được một số nhà văn trẻ đang sung sức viết về chủ đề tình dục cùng một số lí luận gia mải mê cách tân văn học cho là vừa buồn cười vừa vớ vẩn. Trần Khôi Việt. Tiêu đề: Re: Tạp văn QĐND Gửi bởi: taisaolainhuvay trong 26 Tháng Chín, 2008, 10:14:36 am Nhưng mà em cực lực phản đối việc đổ tội “làm mất nước” cho “người đẹp”. hình như anh bạn của bác này họ Trần ::) ::) ::)Mấy ông vua ăn chơi trác táng, làm chính trị kém, đối xử với dân bạo tàn ... mất nước thì lại toàn đổ tội cho người đẹp là không đúng. ---------------------------------------------------- Hờ...hờ, thế cho nên thằng Xồm nó mới gọi chú là "Thiên Hà cô đơn", lấy vợ đi đã rồi hãy bàn chuyện nhá! ;D Anh nói chú nghe, như một anh bạn của anh, ra đường thì cũng chả đến nỗi nào, gái đẹp chả dám tính "từng đàn" nhưng đang ngồi uống bia mà thích có người rót cũng chỉ cần một cú alô là có 1, 2 em chân dài, váy ngắn đến rót bia, lau bát (xinh đẹp, đàng hoàng nghe! ;D), đệ tử thì thôi rồi, hô một tiếng là cả trăm thằng từ Nam chí Bắc dạ ran, chạy trối chết! Vậy mà, vợ chú chàng đau bụng, đau đầu, buồn chuyện cơ quan hay đơn giản hơn là bị con mèo nó...lườm ;D là chú chàng sợ run như cầy sấy, một điều vâng dạ, năn nỉ ỉ ôi, pha trò, bắt chước Xuân Bắc,...để hòng mua một cái cười, một cái lườm yêu, một câu mắng yêu của vợ đấy! Chú nghĩ vì cái gì? Đơn giản là vì man in love, chú nó ạ ;D Lấy ví dụ gần hơn thì cô motthoang nhà ta ngang tàng là thế, phong trần cũng chả kém ai nhưng dính tí tình yêu, tình báo vào là anh em ta được xem xanh, đỏ, tím, vàng loạn cào cào ở đây (http://www.quansuvn.net/index.php?topic=2100.0) này! ;D Tóm lại, cứ có đàn ông là sẽ có đàn bà để đàn ông bị "bắt nạt", giống như đã có trungsy1 nhất định phải có trungsy2 vậy! ;D Tiêu đề: Re: Tạp văn QĐND Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Chín, 2008, 08:23:54 pm MỘT NỬA Ở ĐÀN BÀ Trong những gia đình của người Việt, khi một bà mẹ nhân hậu không cần sắc sảo lắm, đôi lúc bị chứng kiến cảnh hai cô con gái dung tục cãi nhau về chuyện tủn mủn tiền nong, thì thường nói “Thôi, im cả đi. Rõ là đồ đàn bà”. Thỉnh thoảng ngoài đường, một vài đàn ông mang vẻ cao đạo trượng phương có thói quen kể lể lèm bèm, cũng hay bị người đời đại loại mắng như vậy. Đương nhiên khi bị coi là “đồ đàn bà”, đám đàn ông sẽ lồng lộn tự ái. Chẳng hiểu ở phụ nữ, câu này có sâu xa làm họ tổn thương hay không. “Đàn bà”, theo từ điển giải thích thì nghĩa nôm na là “Người lớn thuộc nữ giới nói chung”. Nếu đúng thế thì chữ “đàn bà” tuyệt không hề có vẻ xấu. Bởi đơn giản, phía sâu trong của nó luôn tàng ẩn một thiêng liêng người mẹ, một dịu dàng người chị và một tần tảo của người vợ. Không phải ngẫu nhiên mà báo chí ở ta hồi xa xưa quốc ngữ, luôn có hơn một tờ hãnh diện mang măng-sét với tên “Đàn Bà”. Tuy nhiên, do sự phong phú thăng trầm của tiếng Việt, rất nhiều chữ khi ở một văn cảnh, ngữ cảnh, hoàn cảnh nào đó, nghĩa đã bị ngoặt theo một hướng cheo leo vừa bất thường vừa phi thường. Ví dụ như chữ “người nhà quê” chẳng hạn. Nhiều năm gần đây, cái chữ mộc mạc chân chất ấy hay được bọn người đô thị dùng theo ý không trân trọng, nhất là ở trường hợp một cái hật sự tinh tế văn minh vấp phải một cái cùng cục trì trệ nông thôn bảo thủ. Kẻ viết bài này có một anh bạn nhà văn gốc Quảng Bình, anh là tài năng, hễ cứ đặt bút viết về bất cứ thể loại gì cũng đều thành độc đáo (hiện nay anh đang là một Blogger cực kì hot trên mạng). Anh ra Hà Nội lập nghiệp mới chừng chục năm và đã hơn chục lần mắng những tay Hà Nội gốc là “đồ nhà quê”. Những người ngồi cùng chứng kiến không hề thấy một sự lố bịch một sự hợm hĩnh hay một sự mặc cảm nào cả, mà chỉ thấy một sự chân thành vừa đúng vừa hóm. Một ông nhà quê đặc mà mắng một ông sành sỏi Tràng An là nhà quê thì cũng cảm động chẳng khác gì bà mẹ kể trên mắng hai ái nữ là đàn bà. Đại thi hào Nguyễn Du từng ngậm ngùi “Đau đớn thay phận đàn bà”. Cuộc đời của một phụ nữ nói chung, do dịch chuyển của tự nhiên mà bỗng thành nhiều khúc. Có khúc là thiếu nữ, có khúc là thiếu phụ rồi có khúc là mẹ của thiếu phụ. (Trong tiểu thuyết Tàu thì các bà mẹ này hay hoành tráng tự xưng là lão nương). Thiếu nữ thì do được nhiều người khác nuôi nên thường hồn nhiên trong trắng nhí nhảnh. Đến thiếu phụ thì đã phải chơm chớm tự nuôi nên đôi chút có xoay xở tính toán phảng phất âu sầu. Đại loại, kể từ khúc thiếu phụ, chất “đàn bà” bắt đầu nảy nở manh nha rồi cùng năm tháng vùn vụt phát triển. Và tới thời “lão nương” thì có cơ tuyệt đối hoàn thành. Nhiều người ham chơi thể thao cho rằng, thiếu nữ thì giống như bóng đá, hầu hết đàn ông đều xúm vào giở cả chân chính kỹ thuật lẫn lắt léo tiểu xảo để tranh giành. Đến thiếu phụ thì giống như bóng bàn, hai bên vất vả tận lực đẩy đi đẩy lại. Còn “lão nương” thì giống hệt chơi gôn, bóng vụt được càng xa càng tốt. Thật ra ở mức độ nào đó, “đàn bà tính” chính là “nữ tính” được thời gian cô đậm theo chiều hướng có cả tích cực lẫn tiêu cực. Chính vì thế mà đám con gái mới lớn thường bị lừa bán qua biên giới, chứ một khi đã thập thành 28 - 30 tuổi thì toàn chủ động lấy được đại gia. Tuy nhiên, có khôn đến mấy đàn bà cũng chỉ “sâu sắc như cơi đựng trầu” (ca dao Việt). Học giả Phan Kế Bính đã tỉ mỉ liệt kê một số đặc tính rất đàn bà trong cuốn Việt Nam phong tục. “Gian dối, chua ngoa, cay độc, bạc bẽo, hoang toàng, lừa lọc, lẳng lơ, tráo trở, giang hồ, trăng gió, khinh chồng như lợn như gà, rủa con có ngành có ngọn, mắt quằm quặm như diều hâu, mồm toang toác như quạ cái, điêu toa, hớt lẻo, tức tối, ghen tuông, lăng loàn, nghiệt ngã. Lại còn ngu si đần độn, hay ăn làm biếng, ăn chẳng nên đọi nói chẳng nên lời, buôn bán vụng về, nói năng cẩu nhẩu v.v…” (Trang 421 - NXB Văn hóa Thông tin - phần: Tính tình đàn bà). Tất nhiên trước đó cụ Phan cũng cẩn thận điểm xuyết không biết bao nhiêu là tính hay nét đẹp chỉ riêng có ở phụ nữ. Văn chương của đàn ông, khi bốc đồng a dua theo Kinh Thánh có khẳng định “một nửa đàn ông là đàn bà”. Tuy mồm nói như vậy nhưng trong bụng vẫn ngấn ngầm đó kỵ gia trưởng, coi cái nửa đấy chưa bằng cái nửa của mình. Vậy còn chị em thì sao, liệu cái nửa kia ở phụ nữ có phải là đàn ông. Chưa chắc, hình như cái nửa còn lại đấy vẫn cao quý mang phẩm chất đàn bà. Trần Khôi Việt Tiêu đề: Re: Tạp văn QĐND Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Mười, 2008, 09:40:49 pm NGƯỜI Ở HÀ NỘI Trái đất của ngày nay, nhan nhản chỗ nào cũng chỉ toàn người là người. Không còn hoang đảo, không còn cô sơn. Những thủy thủ bất hạnh kiểu như Robinson Crusoe sẽ càng bất hạnh vì nếu có lỡ bị đắm tàu thì vừa mới bò lên bờ đã tấp nập gặp không những đám thổ dân Thứ Sáu, Thứ Bảy mà còn thấy bạt ngàn bọn hoa hậu, người mẫu theo chân các đại gia dư dật đang xếchxi nằm ườn hưởng thú hoang dã trong khu “rì dọt” sinh thái. So với chưa lâu lắm ngày xưa, quả thật khác xa. Thỉnh thoảng ở những đỉnh núi cao, người tử tế vẫn gặp được thần. Và trong hang sâu rừng thẳm, đám bất lương đôi khi vẫn bị gặp quỷ. Còn bây giờ, tuyệt vọng đành chịu. Hà Nội hiện tại thì cũng thế thôi. Làm gì còn âm thầm tiếng sấu rụng, làm gì còn tĩnh mịch tiếng rao khuya. Tất cả bị lẩn bị lẫn, bị đè bẹp gí trong cơ man những ồn ào của đông nghịt tiếng người. Hoặc mất trật tự chen lấn nhau, hoặc ngăn nắp xếp hàng hai, hàng bốn, mặt ai nấy đều phừng phừng sinh lực quyết liệt đua tranh mưu sinh. Khoảng ba chục năm gần đây, do xô đẩy từ lịch sử, người ở Hà Nội luôn có nét lẫn lộn của nhiều vùng miền. Tất nhiên, không phải vùng miền nào cũng mang tới Hà Nội một kiểu sâu sắc văn hóa. Vì thế người ở Hà Nội đương đại hằn đậm vô số những thói quen có vẻ không Hà Nội. Điều này làm phong phú thêm bản sắc của “đây Đông Đô, đây Thăng Long”. Vài học giả đáng kính người ngoại tỉnh, xa xưa được tốt nghiệp đại học ở ngoại thành khẳng định là như vậy. Cuốn “Hà Nội địa dư” bản in năm Tự Đức thứ tư (1852) phần phong tục có viết “Đất Long Đỗ, đàn ông chuộng lễ nghĩa, đàn bà chăm chỉ vá may. Lớp trí thức phần nhiều ghét chuyện tranh giành, hạng dốt nát cũng biết liêm sỉ mà không phạm tội”. Có được liêm sỉ, chuyện không dễ nhưng là lẽ đương nhiên. Còn giữ được liêm sỉ mới là điều tuyệt khó. May thay, người ở Hà Nội giờ đây, tuy chưa hết vất vả nhưng vẫn luôn cố giữ gìn liêm sỉ. Cuốn “Đồng Khánh địa dư chí” cụ thể hơn. “Người trong tỉnh Hà Nội có nơi chất phác, ít chuộng văn hoa, có nơi hào hoa phù phiếm. Cũng có nơi bướng bỉnh điêu bạc, cũng có nơi người dân hung hãn. Đặc biệt dân các mặt phố thuộc Thọ Xương, Vĩnh Thiện thì thói tục chuộng xa xỉ quá đáng.”. Người xưa khi nói thường không bàn chuyện đúng sai, chỉ chú trọng vào họa phúc, hay dỡ. Hơn nữa thời thế có khúc, có đoạn, đến mây trên trời lang thang vô tư mà còn có lúc hình rồng (vân long) lúc hình chó (vân cẩu), huống nữa là thói đời. Người đã ở Hà Nội trên chục năm đã khang khác, trên ba chục năm lại càng khác. Thực ra, khái niệm “người Hà Nội” là trong trắng nhưng sâu xa có đôi phần mập mờ. Điều trân trọng đáng quý là khi đứng trước cái khái niệm mờ ảo này, người ta đều khao khát rồi tự tước đi những dung tục. Nỗi mong muốn trở thành một người Hà Nội là một cố gắng rất thật. Nó phảng phất ở văn ở thơ ở cách ăn cách mặc. Về nhiều mặt, Hà Nội có một vị thế tạm gọi là trũng. Chỗ trũng thì nước đọng. Nhưng cho dù là đọng nhưng tuyệt đối cũng không tạp. Làm gì có phong khí bán hàng “cháo thì chửi, phở thì quát” như vài bài phóng sự của mấy cô cậu tuổi trẻ vừa tốt nghiệp khỏi khu kí túc xá ngoại ô. Họ nhầm tưởng đấy là nét kiêu bạc của Tràng An đô thị. Đã thật là người Hà Nội thì đương nhiên kiêu bạc nhưng tinh tế thuần hậu. Và nếu cái ông bà “Hà Nội gốc” hàng phở, hàng cháo nào đó có “quát chửi” thì cũng lựa mặt khách. Ai đời đi “Le xợt”, đi Honda 3.0 đỗ xuống mà đòi ăn phở ngan hoặc gọi cháo gà bắt kèm theo bát rau sống to tổ đùng. Thực khách như thế thì chủ quán sẽ như thế. Trước đây làm gì có quán (kể cả hàng rong) đề biển bán “phở bún bò ngan vịt”, dòng dưới cùng là bún riêu. Thảm thay. Mươi năm gần đây, hầu hết các bát bún riêu còn có thêm đỏ lòm một lạng tái bò. “Thôi đành, có cầu là phải có cung”, chị hàng bún mỗi bát lấy hai chục nghìn, hớn hở thanh minh thế. Gánh bún ba đời nhà chị nằm ở ngã tư nhìn ra mặt hồ Hoàn Kiếm nhấp nhô mái ngói nâu trầm, nếu còn bà ngoại hay bà mẹ, chắc các cụ sẽ chua chát thở dài. Sau hết xin kể một chuyện nhỏ. Là người vô tích sự, vợ đảm bận kiếm tiền nên thường bị sai đi chợ. Quanh quẩn lối quen, hay đến chợ Hàng Bè hoặc chợ Hàng Da. Có lần gặp một thiếu phụ trẻ đi Vespa LX mặc quần áo hàng hiệu. Đang mùa vịt, nàng sành điệu mua một con, đưa cả tờ tiền chẵn kiêu sa không lấy lại tiền lẻ. Bà cụ bán măng ngồi cạnh, khẽ khàng tư vấn”Cô mua vịt thì nên mua thêm mấy mớ húng Láng”. Nàng trịch thượng quay sang, giọng thanh thanh của vùng đồng chiêm trũng “Người Hà Nội chỉ ăn húng Hà Nội chứ ai lại ăn húng Láng”. Đại loại bây giờ, người ở Hà Nội thừa tiền mua nhà phố cổ, thường có kiểu tinh tế như vậy. Trần Khôi Việt. Tiêu đề: Re: Tạp văn QĐND Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười, 2008, 09:19:16 pm MÙA THU VÀ ĐÀN ÔNG “Một lá ngô đồng rụng, thiên hạ biết là Thu”. Với đa số đàn ông đã mệt mỏi nhớ, đã vất vả yêu, có đôi chút đau đớn thì mùa lá rụng thường là mùa bị thao thức day dứt nhiều nhất. Phức cảm tội lỗi về những việc đã làm chợt nhiên quấy rầy. Tự soi vào gương thấy cái mặt của mình vừa đáng thương vừa đáng tởm. Người xưa bảo, “Xuân sinh Hạ trưởng Thu liễm Đông tàng”. Vạn vật nẩy nở trong tiết xuân, trưởng thành trong nắng hè, cô đơn trong đông lạnh. Còn chữ “liễm”, từ điển khô khan giải thích “Kết tụ lại – giảm bớt xuống”. Đây là một trạng thái cảm xúc đặc biệt oái oăm, nó vừa hiu hắt chán vừa mênh mông buồn, vừa gắng gượng vui. Thật là một mùa quái lạ, hiện diện cả chính, cả tà, cả thiện, cả ác. Đại loại ở sâu xa, mùa Thu giống hệt như một tiếng thở dài cố nén. Không phải ngẫu nhiên mà ở mùa này, đàn ông thường thích làm thơ và thích đánh nhau. Mùa Thu thuộc hành Kim, xa xưa là mùa người ta hay hành quyết tử tội. Ở những thời đỉnh cao của tử tế, văn minh, chiến tranh, hầu hết các bậc minh quân đều chọn ngày khởi binh là ngày Thu. Gió Thu, mưa Thu não nề dầm dề sát khí, nên nhỡ có giết nhầm phải ai đó thì lương tâm cũng chỉ khe khẽ cắn dứt một tí tẹo. Khí Thu làm cảnh sắc nhầu nhĩ tiêu điều, chẳng cần chứng khoán phải xuống, chẳng cần giá vàng phải lên. Thậm chí, chẳng cần bạn hiền mưu mô bán rẻ, chẳng cần người tình quắt quay phản bội, chỉ cần quanh quẩn ngồi ở những quán dọc sông Hồng hay bên hồ Tây ngắm mưa phùn heo may là vô số đàn ông nhạy cảm đã tự nhiên rưng rưng bi lụy, khát khao tự tử. Thi hào người Tàu Bạch Cư Dị có bài “sông Thu tiễn khách” khét tiếng. “Mông mông nhuận y vũ. Mạc mạc mạo phàm vân Bất túy Tầm Dương tửu Yên ba sầu sát nhân” (Mưa lâm râm bay thấm ướt áo Mây u ám đè thấp cánh buồm Rượu Tầm Dương uống chẳng thấy say Khói sóng sông làm lòng người buốn chết) Chao ôi, có mùa nào kinh dị như mùa Thu. Sinh viên đang thất tình, thương gia đang thua lỗ, đạo diễn đang chờ làm phim “cúng cụ”, hoa hậu đang bị xì căng đan, những lúc trời đang sắp sửa vào Thu thì tuyệt đối đừng nghe hoặc đọc thơ ông Bạch. Ngoài lê thê mưa, ngoài rền rĩ gió, mùa Thu rợn lạnh như vậy vì nó thường có trăng. Trăng Thu là biểu tượng rõ ràng nhất của Thái Âm, nó vừa tròn đầy vừa sáng trắng, cô liêu tích tụ cuồn cuộn âm khí. Những vụ án xẩy ra dưới ánh trăng bàng bạc ma quái, tất thẩy đều kinh hoàng tội ác, sát thủ như có thêm máu lạnh phóng túng thẳng tay giết người bất cần nguyên cớ. Chính vì thế, lễ cúng rằm đêm Thu đàn ông phương Đông tuyệt không bái nguyệt. Mặt Trăng lúc ấy là lãng mạn với đàn bà với trẻ con với quan chức chứ với đạo đức đàn ông nó vô cùng nguy hại. Chỉ trăng mà thề, ngoài lừa lọc Sở Khanh, ngoài liều lĩnh Chí Phèo thì chẳng đàn ông lương thiện nào lấy đấy là nguyện ước trăm năm. Chỗ âm khí dầy chặt như thế mà đột nhiên có thằng con trai thì từ xưa đến nay duy nhất chỉ có thằng Cuội. Cái thằng này xuất thân chăn trâu, bản tính quen lừa các bà các cô ăn tục nói phét bay bổng thành thần. Đàn bà nông nổi mê trăng thề lắm, nên những lúc vượt quá lẳng lơ thì dân gian hay gọi đám phụ nữ ấy là “đồ trăng gió”. Tuy nhiên, mùa Thu vẫn là một mùa nhân hậu đẹp tuyệt vời. Bởi đơn giản, cái buông bỏ thê lương của nó làm người ta tự có một khoảng lùi để sám hối lại mình. Các mùa khác, kể cả mùa Đông, thường làm người ta ăn nhanh ngủ kĩ, tỉnh dậy là hừng hực đua tranh giẫm đạp nhau kiếm sống. Vào mùa Thu, thức ăn fast food đều bị ế, các hoạt động cơ bắp đều bị chùng. Trong lịch sử thể thao không có đại hội Ô-lim-pích mùa Thu, ở tiết trời ấy đàn ông cô đơn cùng lắm chỉ đi câu. Trong bài “Thu điếu” đại thi hào người Việt Nguyễn Khuyến buông cặp câu tình thế tuyệt vọng. “Tựa gối ôm cần lâu chẳng được Cá đâu đớp động dưới chân bèo” Phải là hoang mang mùa Thu mới cho đàn ông một cảm thán lắng đọng vô hạn đến thế. Có lẽ do vậy, để được gọi là thi sĩ thì bất cứ đàn ông nào cũng phải làm cho được ba bài thơ Thu. Vì có những phẩm chất ưu tú độc đáo, mùa Thu được bọn đàn ông thích lắm, đặc biệt là đám tham nhũng đang kiếm bổng lộc nhờ hoạn lộ. Đám này ao ước bốn mùa cả năm đều là mùa Thu, đừng bao giờ là mùa chi. Và trong mùa Thu, ngày đáng yêu nhất không phải là “Trung Thu” hay “Thu phân” mà là những ngày bội thu. Trần Khôi Việt Tiêu đề: Re: Tạp văn QĐND Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Mười, 2008, 11:19:59 pm THIẾU PHỤ VÀ MÙA THU Trong bốn mùa có ở quanh năm, thì mùa Hè giống như trai trẻ, mùa Đông giống như cụ già, mùa Xuân giống như thiếu nữ. Thế còn mùa Thu, cái mùa có đỏng đảnh điệu đà heo may, có u uẩn vẩn vơ mây xám, có buồn bã lá vàng rơi của sang trọng suy tàn, sao mà nó giống hệt như một thiếu phụ. Theo từ điển giải thích thì thiếu phụ là đàn bà đã có chồng, cho dù tuổi đời còn rất trẻ, tiếng Tây kêu là jeune femme. Tất nhiên thỉnh thoảng cũng có vài thiếu nữ chẳng bao giờ chịu đi qua hôn nhân nhưng do vẫn phải ăn phải ngủ phải già rồi bị thời gian rêu phong đè nét nhầu nhĩ vào mặt, trông “mợ” quá, thì cũng vẫn được xã hội kính trọng gọi là thiếu phụ. Mùa Xuân đương nhiên khác mùa Thu, thiếu phụ khác thiếu nữ nhiều lắm. Phong tục của người Thái cho phép thiếu phụ tự phân biệt để khẳng định mình bằng cách búi tóc cao, gọi là tằng cẩu. Trong tiếng Việt, không cần phải tỉ mỉ đi sâu vào nội hàm chỉ cần nghe phát âm suông chữ “thiếu phụ” thôi đã thấy tự nhiên rưng rưng buồn hơn rất nhiều so với chữ “thiếu nữ”. Thiếu nữ do ngây thơ chưa quen lao động nên được đông đảo người khác yêu mến cho tiền, vì thế thường tung tăng hồn nhiên, nhí nhảnh đôi khi nông nổi làm bậy khiến cho bố mẹ, ông bà hoặc người tình nhăn nhó rức đầu. Thiếu phụ thì ngược hẳn lại, họ đã phải chấp chới loay hoay kiếm kế mưu sinh để nuôi mình, nuôi con, nuôi chồng, thậm chí nếu số đen, phải nuôi cả người tình nên thường man mác mệt mỏi u sầu. Có lẽ bản chất là vậy, nên ở những nơi vui chơi vô tư kiểu như vũ trường hay động lắc, khi xẩy ra chuyện linh tinh tiêu cực, các cơ quan bảo vệ pháp luật rất hiếm khi bắt được những thiếu phụ. Mùa Thu với mưa phùn thê lương mịn bay mặt hồ, với thân cây gầy guộc lác đác chút lá xanh. Lòng đường như sẫm hơn mái phố như nâu hơn, cái cảnh sắc cô quạnh hiu hắt ấy dễ làm người ta liên tưởng tới một mĩ nhân có lưng lửng tuổi. Không phải ngẫu nhiên mà thi ca viết về mùa Thu ngập đầy các “khuê trung thiếu phụ”. Bài thơ theo trường phái lãng mạn “Tiếng Thu” của cố thi sĩ Lưu Trọng Lư chẳng hạn. “Em không nghe mùa Thu. Dưới trăng mờ thổn thức. Em không nghe rạo rực. Hình ảnh kẻ chinh phu. Trong lòng người cô phụ”. Hai câu kết âu yếm ví thiếu phụ thơ ngây giống như con nai. Đám thiếu nữ nhà báo 8x bây giờ hơi hơi nghi ngờ đố kị có sửa lại thành “Con nai vàng ngơ ngác. Đạp chết bác thợ săn”. Hỡi ôi, không biết mất bao nhiêu mùa lá rụng thì một thiếu nữ lương thiện mới hoang mang trở thành một thiếu phụ đạp giỏi như thế. Nhân đây cũng xin bàn rộng thêm một tí. Vì trót đã có chồng, phần đông các thiếu phụ đại loại chia thành hai kiểu dạng. Nếu có chồng đi xa, ví như trấn thủ lưu đồn biên viễn, nhưng vẫn có hi vọng được về và thực tế thỉnh thoảng vẫn về thì người đàn bà nhấp nhổm ngong ngóng đứng chờ đấy được gọi là chinh phụ. Kiệt tác văn chương “Chinh phụ ngâm” của ông Đặng Trần Côn (người làng Mọc, huyện Thanh Trì phía Tây thành Thăng Long) được bà Đoàn Thị Điểm (tuy hiệu là Hồng Hà nữ sĩ nhưng chịu làm lẽ ông tiến sĩ Nguyễn Kiều) phiên sang quốc âm xúc động kể về nỗi lòng người vợ chờ chồng đi xa: “Nghĩ mệnh bạc, tiếc niên hoa. Gái tơ mấy lúc xẩy ra nạ dòng”. Còn nếu cũng có chồng đi xa, nhưng quá xa tới mức sang thế giới bên kia thì thường gọi là sương phụ, quả phụ hoặc nôm na là góa phụ. Chinh phụ và sương phụ tuy xa chồng nhưng khi sống nghiêm cẩn giữ được tiết hạnh thì gọi là tiết phụ. Một vài học giả trẻ lúc bàn về văn hóa ẩm thực có nhầm đấy là tên một loại thức ăn, kiểu như đậu phụ, thật là lỗi lẫn lộn rất lớn. Thuở xa xưa phong kiến, tiết phụ thường là những phụ nữ được vua ban sắc “Tiết hạnh khả phong” cao quý vô chừng. Ở ta thời Nguyễn mạt, tây tàu nhố nhăng, thiếu phụ me tây Tư Hồng cũng được vua ban sắc phong này. Cụ Nguyễn Khuyến có gửi bài thơ mừng, câu kết là “Nghìn năm danh giá của bà to”. Giai thoại kể rằng, tiết phụ Tư Hồng sướng lắm, cứ một dịp Thu về lại đem chữ của cụ Tam Nguyên Yên Đổ ra khoe. Mãi về sau một kẻ sĩ say rượu thấy buồn cười quá, mới giải thích nghĩa chữ “của” trong tiếng Việt nó là cái giống gì. Bà này vừa ngượng nhưng vừa ngấm ngầm tự hào, đơn giản bà có khoảng vài đời chồng và ba vạn chín nghìn nhân tình. Giống như hồng phấn và giai nhân, kiếm báu và hiệp sĩ, thiếu phụ và mùa Thu đã đạt tới phẩm cấp đôi lứa tuyệt xứng, trên đời còn gì hợp và lạ lùng quyến rũ đến thế. Một nhà thơ ham làm thể lục bát đã dựa vào ca dao cảm thán: “Còn trời còn nước còn non. Cứ còn thiếu phụ là còn mùa Thu”. Trần Hà Quyên Tiêu đề: Re: Tạp văn QĐND Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Mười Hai, 2008, 08:16:43 pm XEM BÓI Ở ĐÀN ÔNG Khoảng mươi năm lại đây, ở bên Tàu cũng như bên ta, vô số các nam đại gia ở đủ mọi nghề, bỗng nhiên bị cơ quan pháp luật chính danh đến bắt. Khi khám nhà riêng hoặc xét nơi công sở, thì ở phí sâu trong riêng tư két sắt người ta hay tìm thấy vàng, đô-la và bao cao su là thỉnh thoảng vài tờ sớ hoặc lá số tử vi. Các đại gia này đều đắm đuối tin vào mệnh số. Ra trước công đường bọn họ đồng thanh thành thật khai, đã kiêng đã cữ đã chăm chú giữ gìn ví như không ăn ba ba rang muối vào ngày sóc, không ăn thịt chó vào ngày vọng. Thậm chí, đã giải đen bỏ hàng chục triệu tìm mua thứ “trinh” thứ thiệt. Vậy mà không hiểu sao, vẫn cứ “đáo tụng đình”. Hơn hai nghìn năm trước, Khổng phu tử than “đã đắc tội với trời thì cầu cúng mà làm gì”. Hoạch tội ư thiên, vô sở đảo giã (Luận ngữ-bát dật). Nghề bói vốn là một nghề thuộc loại lâu đời nhất của lịch sử nhân loại. Quyển sách vĩ đại Kinh Dịch, được trân trọng gọi “quần thủ chi thư” (vua của các sách), có xuất xứ khởi nguyên là một cuốn sách bói. Các vương triều hùng mạnh cả Đông lẫn Tây đều chân thành thích sử dụng bói toán. Việc lớn như khai mở chiến tranh, dời đô lập thành v.v.. Việc nhỏ như lấy vợ cho hoàng tử, gả chồng cho công chúa, không gieo quẻ hoặc cầu đồng là không yên tâm. Ở Hy Lạp cổ đại, người nói lời tiên tri thường là các nữ tư tế trụ trì ở các đền lớn. Ở Trung Quốc cổ đại, nhân vật nắm sự khai thông giữ thần và người, nữ thì gọi là “vu”, nam thì gọi là “nghiễn”. Vu, Nghiễn thường dùng hai loại kỹ thuật đặc biệt để thăm dò ý thần. Đó là “chiêm” (xem điềm đoán tốt xấu) và “bốc” (đốt mu rùa để bói). Đến thời nhà Chu thì chuyên môn hóa hẳn một viên quan phụ trách gọi là “thái bốc”. Trong dân gian địa vị thầy bói cũng cao lắm, không kém gì thầy thuốc. Hai nghề này thường ít người dám theo, bởi đơn giản cổ nhân xác định “Nhân nhi vô hằng bất khả dĩ tác vu y”, nôm na là, làm bói và làm thầy thuốc phải có đức hạnh cực kỳ bền vững. Có lẽ do một nghề thì sờ nắn chỉnh sửa cơ thể người ta. Còn một nghề thì sờ nắn chỉnh sửa tinh thần người ta, nếu không đủ sức, rất dễ mang nhục. Vì thế xã hội có mạt người đời cũng không quá khinh rẻ, cho dù đấy là thầy bói giả hay thầy thuốc giả. Giống như nhà văn giả, bọn họ đều có đôi chút thực tài. Đàn ông say mê xem bói bởi bản chất vốn trong trắng hay vội vả sốt ruột. Cái vấn nạn mà bọn trẻ con bi bô hát, biết ra sao ngày sau, làm họ day dứt nhức đầu. Thật ra, tương lai cũng chính là hiện tại mà hiện tại lại là đương nhiên quá khứ. Sự đời trôi chảy tự nhiên, thăng hay trầm đều do tâm mình cả. Được làm con rể ông lớn cũng không nên lấy làm mừng. Bố vợ thứ trưởng có đi tù cũng không nên lấy làm lo. Toàn chuyện hai lần hai là bốn. Thầy bói bây giờ ở các đô thị lớn thường phán, ở bên cạnh nhà ông có đứa dở hơi. Hỡi ơi đúng quá. Xã hội chật hẹp chen chúc giành nhau san sát sống, mới cơi nới thêm một tí đã đánh nhau vỡ đầu thì bọn hàng xóm đương nhiên phải dở hơi chứ sáng suốt làm sao được. Đàn ông bị xem bói đã thê thảm, đàn ông vớ vẩn chủ động đi bói lại càng thê thảm hơn. Đầu tiên đơn giản chỉ là tán gái, sau đó mon men kiếm tiền rồi liều lĩnh kiếm danh. Đạo trời “hốt hề hoảng hề” thâm sâu cao viễn, đâu dễ dàng cho phép phàm tục hiển lộ. Thế mà, cậy chút thông minh đọc dăm quyển sách, bốc đồng lên nói toạc cả huyền cơ. Bởi vậy, Quản Lộ vốn bốc sư đại tài tự biết nghiệp chướng của nghề nên đoán mình yểu thọ. Quách Phác, tổ sư phong thủy, điểm huyệt dò long mạch cho người khác như thần nhưng âm thầm thấy tổn đức tự xác định mình sẽ chết vào thế “phát địa hàm đao”. Do đó, nghề bói ngày xưa miễn cưỡng phải truyền thừa thì cực kỳ cẩn thận lựa người nối nghiệp. Ngày nay, mọi sự bỗng như đùa nên mới có người đem Dịch lý đi gieo quẻ đoán tỷ số bóng đá. Hào 1 là thủ môn, hào 2 là hậu vệ. Ý áo xanh thuộc “mộc” thì hiển nhiên khắc “thổ” sẽ thắng Bra-xin áo vàng. Kết quả lộn ngược thì thanh minh rằng, tại cái tiền đạo Ý ăn mừng bàn thắng đột ngột cởi trần. Da thằng này trắng quá nên thuộc hành Kim, số bỗng đảo lại hại chính đội nhà. Kết thúc dông dài xin kể một chuyện. Chồng chung thủy có vợ đi công tác xa, lo lắng xã hội bây giờ nhố nhăng dễ làm vợ mình nghiêng ngả. Muốn vậy phải làm sao vợ toàn nóng ruột chỉ nhớ tới chồng. Sửa chữa bữa rượu mời thầy đến tư vấn, thầy bảo tốt nhất đem nội y của vợ mà rang lên. Chồng khấp khởi phê phê mở tủ lấy nhầm quần “sịp” của chính mình cho vào chảo. Kể từ đấy, 24/24 giờ lòng lúc nào cũng như lửa đốt. Bài học nho nhỏ rút ra, đàn ông xem bói chỉ nên mua quần đùi. Nguyễn Việt Hà Tiêu đề: Re: Tạp văn QĐND Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Mười Hai, 2008, 11:14:13 pm HÔN NHÂN LÀ GÌ? Ở nghi lễ văn minh phương Đông, việc một người đàn ông tử tế bỗng lo lắng bối rối rồi chính thức đi cưới hỏi một người đàn bà thì trên chữ nghĩa người ta hay gọi cái sự nghiêm trọng đấy là hôn nhân. Thời tít tắp chân thật của các bộ lạc xa xưa, hôn nhân không quá rườm rà lích kích mang vẻ thùng thình đạo đức giống như thời tối tân gần đây bây giờ. Theo sách “Ngữ lâm thú thoại”, thoạt kỳ thủy, chữ “hôn” trong “kết hôn” của Hán tự được trong sáng viết giống hệt chữ “hôn” trong “hoàng hôn”. Đấy là do con trai hồi ấy khi lấy vợ thì tiệc cưới thường tổ chức vào lúc nhá nhem hoàng hôn chiều muộn. Cùng với lễ nghĩa hình thức lăng nhăng phát triển, để tỏ vẻ phân biệt minh bạch người ta thêm chữ “nữ” vào trước chữ “hôn” nguyên thủy nhằm chỉ việc gia tộc bên nam cưới vợ cho con trai. Tiếp đến thời vị thế đàn bà được nâng hơn một tý (Xuân Thu Chiến Quốc 722 – 221 tr.CN) ngoài chữ “hôn” thì có thêm chữ “thú” (dùng cho nhà giai) và chữ “giá” (dùng cho nhà gái). Tại sao đàn ông ở thời trong veo ngày xưa nhất thiết lại tổ chức lấy vợ vào lúc hoàng hôn. Cũng sách trên cho rằng, đây là hệ quả của tập tục cướp vợ trong thời kỳ quá độ, xã hội đang chuyển từ chế độ mẫu quyền sang chế độ phụ quyền. Để khẳng định vị thế nghênh ngang của mình, đàn ông hay hung hăng thích đi cướp. Và đã là cướp giật thì ai chả chọn lúc tranh tối tranh sáng. Tuy nhiên khổ một nỗi, giá đấy là vàng là bạc là công danh là sự nghiệp thì còn đỡ, đây hoàn toàn thuần chỉ là đàn bà, cái của ăn cướp được này đích đáng là của bất hạnh. Đàn ông sau khi liều lĩnh khênh cái của nợ ấy về nhà rồi thì hối hận lắm. Ở phương Tây, nơi văn minh đẫm đầy tư tưởng Thiên Chúa giáo còn cực đoan hơn, việc ly hôn tuyệt đối bị cấm. “Sự gì Thiên Chúa kết hợp, con người không được phép phân ly” (Kinh Thánh). Bí tích hôn phối là một trong bảy bi tích thiêng liêng nhất. Trong hôn lễ trang trọng tại nhà thờ, vì sợ chú rể rồi đây tỉnh táo sẽ tháo chạy, người ta thường bắt cả hai bên đương sự đeo nhẫn cưới vào ngón tay áp út, một biểu tượng tế nhị của sự ràng buộc xiềng xích. Theo Tiến sĩ Lê Vương Văn Vệ, Giám đốc trung tâm Nam học và hiếm muộn Hà Nội thì “nhẫn cưới là nguyên nhân gây ra những rối loạn về khả năng tình dục, thậm chí làm đàn ông “bất lực”. Đây là kết luận trong đề tài khao học nghiêm túc của bác sĩ Seigei Gagarin người Belarus”. (Báo điện tử giadinh.netvn ngày 17-5-2008). Nhiều thành tựu của ngành khảo cổ học cho thấy rằng hôn nhân đã có từ rất lâu, lâu không kém gì nếu so với những tai họa mà nhân loại hay phải gánh chịu kiểu như hỏa hoạn hay tai nạn giao thông, những tai họa không được gọi là thiên tai mà thường là do sự nông nổi chủ quan bất cẩn của con người. Sử liệu thời phong kiến cũng cho thấy lễ nghi cưới hỏi hồi ấy lằng nhằng lắm, đại loại là phải có đủ “tam thư lục lễ”. Tam thư là ba lá thư do nhà trai gửi sang thông báo về việc chuẩn bị sắp xếp hôn lễ. Còn lục lễ thì theo học giả Phan Kế Bính, gồm “Nạp thái, vấn danh, nạp cát, nạp tệ, thỉnh kỳ, thân nghênh. Có chữ rằng, lục lễ bất trị trinh nữ bất hành. Nghĩa là sáu lễ không đủ thì người gái trinh không đi. Sáu lễ ấy đái khái phiên nôm sang ta mà thành lễ Dạm, lễ Hỏi, lễ Sêu, lễ Cưới…”. (Việt Nam phong tục – trang 178-NXB Văn Học). Ở thời bây giờ các lễ này được gộp lại và đơn giản hơn. Hôn nhân vốn là một đại sự, và vì là việc lớn nên đương nhiên trong nó ẩn nấp nhiều gian nan nguy hiểm, rất dể gây cho đám chú rể những tuyệt vọng không đáng có. Tiểu thuyết gia kiếm hiệp Cổ Long cả đời độc thân vài lần suýt lấy vợ có cảm thán: “Hôn nhân giống như nghĩa khí, biết là chuyện không đáng làm nhưng không thể không làm”. Không phải ngẫu nhiên mà tất cả đàn ông trong ngày cưới đều phảng phất có vẻ của kẻ trượng phu đại hiệp. Trần Khôi Việt. Tiêu đề: Re: Tạp văn QĐND Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Mười Hai, 2008, 06:10:18 pm ĐÀN BÀ ĐỌC TAM QUỐC Đàn bà nói chung là những người ham đọc sách, có người đọc xong thì còn chăm chỉ viết, không phải ngẫu nhiên mà gần đây trên văn đàn của Tây của Tầu của Ta có rất nhiều lừng lẫy nữ sĩ. Thế nhưng theo một khảo sát nông nổi sinh viên, không hiểu sao rất ít, thậm chí tuyệt hiếm đàn bà bỏ công đi đọc trọn bộ “Tam Quốc diễn nghĩa”. Lý thì phức tạp nhưng lẽ thì đơn giản. Với hầu hết nữ độc giả, đã là kiệt tác văn chương thì đương nhiên phải mang đậm đà thiên tính nữ. Thị trường đương đại văn đàn bà ở Trung Quốc, sách best-seller vẫn là “Hễ sướng thì hét lên” của Trì Lợi, hoặc “Xin lỗi em chỉ là con đĩ” của Tào Đình. Ở ta điều này càng hiện rõ. Từ tủn mủn truyện ngắn đoản thi đến rộng dài trường ca tiểu thuyết, luôn luôn có ảnh hình của một người mẹ, một người chị, một người tình gái. Sở dĩ tác phẩm kinh điển “Truyện Kiều” trở thành vĩ đại là một phần nhờ nhân vật chính vốn xuất thân tiểu thư kỹ nữ, nếu chẳng may Kiều mà là hảo hán thì chưa chắc 3.564 câu lục bát ấy đã thành quốc bảo. Truyền thống ưu tú này vẫn được giữ tới ngày hôm nay, giải thưởng cao quý của hội nhà văn thường trao cho những tác phẩm phảng phất nồng nàn dịu dàng âm khí. Với “Tam Quốc” thì mọi chuyện bỗng dưng ngược hẳn lại. Văn “Tam Quốc” là thứ văn thuần dương hằn đậm kiêu ngạo phóng khoáng nam tính. Suốt từ hồi 1 “Tiệc vườn đào anh hùng kết nghĩa” đến hồi 120 “Bắt Tôn Hạo hợp nhất tam phân”, người ta chỉ thấy toàn đàn ông là đàn ông. Hoặc cao thượng thông minh, hoặc đê tiện ngu xuẩn. Hoặc chí lớn trùm trăng sao, hoặc hèn nhát hơn giun dế. Có lẽ do chiến tranh không mang khuôn mặt của đàn bà nên “Tam Quốc” hầm hập nóng mùi đàn ông. Nó liên miên đau đớn kể về những trận đánh ngùn ngụt binh đao sát khí, ở đấy chỉ có “Hạ Hầu Đôn rút tên nuốt con ngươi. Quan Vân Trường cạo xương chữa thuốc”. Chữ nghĩa rừng rực lạnh lùng thẳng băng như mũi thương đầu giáo. Tuyệt không xếchxi, tuyệt không ướt mi, tuyệt không mếu máo đoan trang thề bồi, tuyệt không dùng dằng hẹn ước bịn rịn. Thảng thốt nếu có phụ nữ thì bét nhất cũng phải tiết phụ khả kính, liệt nữ phi thường. Hoặc đấy là từ mẫu tuẫn tiết để rèn dạy nhân cách con trai, hoặc đấy là hiền thê trẫm mình để trinh bạch thủ nghĩa với chồng. Những thao tác sống mà những quý bà quý cô của thời bây giờ quen chơi cổ phiếu, quen đi xe hơi 3.0, quen tung tăng nghỉ “rì dọt” không sao hiểu và không thể chia sẻ. Đàn bà đương đại chán đọc “Tam Quốc” là vì vậy. Tuy nhiên, không nên quá cao đạo hóa giới tính ở sự thích và không thích. Một nam đại gia phê bình của văn đàn Tầu là Kim Thánh Thán (ông này bị Thanh Thế Tổ chặt đầu vào năm 1661) cũng chưa bao giờ đánh giá cao tiểu thuyết “Tam Quốc diễn nghĩa”. Khi xếp chỗ cho văn chương, họ Kim có thuật ngữ “lục tài tử thư” (đại loại như kiểu tóp 6) bỏ “Tam Quốc” mà thay vào đấy bằng truyện tình lâm ly “Tây sương ký”. Truyện này hao hao giống như đàn bầu ở ta chỉ có một dây nên mang vẻ thuần âm, tình thì đơn điệu rầu rĩ, tiếng thì day dứt nhu buồn. Có phải do vậy mà các cụ nhà ta đề nghị “Làm thân con gái chớ nghe đàn bầu”. Văn nghệ ở ta dạo này nhiều đàn bầu quá. Vì thế mà hơn tháng gần đây, để thêm tính cương mãnh, trên một kênh truyền hình thời thượng đã phát lại bộ phim dài tập “Tam Quốc diễn nghĩa”. So với phim nhựa “Xích Bích” của Ngô Vũ Sâm làm nịnh Tây thì phim tivi này cũng chẳng lỗi lạc hơn gì, đa phần chỉ minh họa cho tiểu thuyết. Nhưng với các chị em đang tò mò thèm hiểu biết thì thế là phấn khởi rồi. Đã vậy, sau mỗi tập lại còn có người bình. Một người trẻ xinh giai thì tung, một người già kháu lão thì hứng. Bình ngựa Xích Thố thì khen là chạy nhanh, bình Gia Cát Lượng thì khen là lắm kế. Kỹ thuật tán học theo ca dao “Nửa đêm giờ tí canh ba. Vợ tôi con gái đàn bà nữ nhi”. Tam Quốc diễn nghĩa vốn là kỳ thư, mỗi hồi mỗi điển của nó là chắt lọc không biết bao nhiêu thăng hoa trải nghiệm của vất vả sống, nhiều kẻ sĩ đã nương vào nó mà thoát khỏi tuyệt lộ của dung tục. Phi là kỳ nhân, người tử tế bình thường đọc nó xong là ngậm khẩu. Có phải thế chăng mà gian hùng Tào Tháo, lúc được các mưu sĩ vớ vẩn tán tụng, thường hay hô hố cười “Đúng là thứ kiến thức đàn bà”. Tào A Man ngược ngạo khinh rẻ phụ nữ như vậy nên khi xem phim xong, các quý bà, quý cô đang phấn đấu khoe khôn mong thành doanh nhân đều cáu kỉnh bực mình căm ghét. Cổ nhân bảo “Có trí hơn chim thì bắt được chim. Có trí hơn người thì bắt được người”. Đức Chúa Giê-su tuy ở gần biển nhưng không đánh lưới bắt cá mà đan lưới “bắt” người. Nhà văn La Quán Trung cũng làm một chuyện hao hao như thế. Vài trăm năm lại đây, vô số độc giả đã rơi vào lưới “Tam Quốc”, duy chỉ đám chị em hầu hết là thoát. Điều này lý giải cho việc, tại sao đàn bà thường vô minh và văn minh hơn đàn ông. Trần Khôi Việt Tiêu đề: Re: Tạp văn QĐND Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười Hai, 2008, 05:54:20 pm THỜI GIAN Ở PHỤ NỮ Với hầu hết phụ nữ, thời gian là một khái niệm luôn ám ảnh và quấy rầy. Nó quan trọng không kém gì mĩ phẩm và thời trang, thậm chí ở mức độ nào đấy nó còn hơn cả chuyện ái tình. Thiếu phụ Nam Xương chờ chồng, nàng Tô Thị vọng phu, cái thời gian ướt đẫm mang khuôn mặt thủy chung đàn bà này chỉ có thể đo được bằng nước mắt. Khi yêu, phụ nữ thường mong mỏi là yêu được thật lâu và nhỡ có bất hạnh đau đớn, tan vỡ thì họ sẽ day dứt lạc quan an ủi “Rồi thời gian sẽ là liều thuốc tuyệt vời để chữa”. Cố nhiên, do cấu trúc cơ địa, họ trịnh thượng không thèm để ý cho lắm đến một số đặc tính siêu hình mang vẻ triết học của thời gian. Ví như nó có mấy chiều hoặc nó khởi nguồn từ đâu. Bể dâu biến đổi thương hải tang điền, liệu hệ số giãn nở của nó có tung tăng giống như sự lên xuống của giá vàng hay sự thăng trầm của giá đô. Có lẽ vì thế, nên lúc miễn cưỡng phải giải thích những thuật ngữ rắc rối cao siêu của khái niệm “thời gian tương đối”, vật lí gia lỗi lạc vừa có vợ vừa có người tình Anh-xtanh đã dịu dàng đem phụ nữ ra minh họa. Ông nói rằng, cái thời gian mà đang được ôm rồi được hôn một hoa hậu một siêu mẫu một nữ minh tinh nổi tiếng, luôn là ngắn hơn cái thời gian phải nhọc nhằn rồi lảm nhảm ngồi viết một bài báo để kiếm tiền. Anh-xtanh đã dùng toán học chứng minh, đây không hề là hệ lụy của một thứ thuần túy cảm giác tâm lí mà là một hiện tượng vật lí rất thật. Trong một khoảng không gian đặc biệt nào đó thì thời gian luôn có một độ giãn nở tương ứng. Luận cứ này hình như bị nhiều phụ nữ ở phương Đông cho là nghiêm trọng hóa vớ vẩn. Với họ, việc một chàng trai háu gái si tình kiểu như Kim Trọng thì thời gian ngong ngóng tăm tia mĩ nhân của anh ta có bị nén “ba thu dồn lại một ngày dài ghê” cũng là lẽ đương nhiên. Nó từa tựa như bây giờ các bà, các chị đi gửi tiền tiết kiệm ngắn hạn có lãi suất cao. Vẫn cái tuần ấy, tháng ấy, vậy mà ngày đáo hạn bỗng nở ra thăm thẳm dài. Cũng bởi bản chất vị tha tần tảo yêu lao động, đa phần phụ nữ khi miệt mài cống hiến tuổi thanh xuân cho gia đình, cho xã hội, họ thường không kịp nhớ đến những bước đi của thời gian. Trừ vài quý cô quá đảnh đót đanh đá hoặc quá kém may mắn bị thời gian cho việt vị như ca dao tường thuật “Đi đâu mà chẳng lấy chồng. Người ta lấy hết chổng mông mà gào” thì tất thảy phụ nữ đều tuần tự nhi tiến từ ngây thơ người tình, lên đảm đang người vợ, rồi thành thiêng liêng người mẹ. Trong dòng chảy bận rộn mải miết của đời sống, họ bỗng đột ngột bàng hoàng khi một gã đàn ông ngốc nghếch, nông nổi hỏi năm sinh của họ. Choáng váng nình lại bờ vai, nhìn lại cần cổ, họ không thể nào tin nổi màu thời gian đã vô tình quệt lên vài nét nghệch ngoạc nhăn nheo rêu phong. Nhất là ở cái thời bây giờ, nhan nhản nhiều các thẩm mĩ viện, các shop thời trang thì vô số thiếu phụ vẫn luôn loay hoay nghĩ, hình như mình đang còn hoang mang thiếu nữ. Họ nhí nhảnh mặc áo rộng ngực, bối rối cắn móng tay, rồi tự tin phong phanh đứng trước chồng hoặc người tình. Tuy nhiên, chính sử bên Tàu nghiêm túc có chép, mấy phụ nữ càng có tuổi lại càng đẹp. Ví như nàng Hạ Cơ ở nước Trần thời Xuân Thu chẳng hạn, Võ Tắc Thiên hoàng hậu rồi thành hoàng đế đời Đường (684-705) chẳng hạn. Họ ở tuổi lục thập mà vẫn “không khác đóa hoa lê ở dưới bóng trăng, chùm mai nhị ở trong đám tuyết, quyến rũ không biết nhường nào”. Tất nhiên, với dung nhan ma mị bất chấp thời gian theo kiểu yêu khí này, cả hai người đàn bà đấy đã đẩy vương triều thời họ vào thế tiêu vong tuyệt lộ. Đại văn hào người Nga Đốt-xtôi-ép-xki đã hơn một lần nồng nhiệt ngợi ca nhan sắc của một thiếu phụ “Tuy đã bốn mươi ba tuổi nhưng bà vẫn giữ được những nét kiều diễm của ngày xưa, bà trẻ hơn tuổi rất nhiều. Những người đàn bà đã già mà vẫn giữ mãi được sự trong sáng của tâm hồn, những tình cảm tươi mát, tấm nhiệt tình chân thật và thanh cao thường hay có vẻ đẹp đó. Và nhờ giữ được tất cả những đức tính này, họ không bao giờ bị mất vẻ đẹp ngay cả khi đã nhiều tuổi” (Tội ác và hình phạt – NXB Văn học – trang 253) Đốt là một nhà văn vĩ đại, ông đã sáng tạo nên những chân dung phụ nữ tuyệt vời đoan trang kiêu hãnh và đằm thắm. Văn của ông chân xác và thẳm sâu tinh tế, các bà các cô trên toàn thế giới đều kính trọng và tin tưởng ở nơi ông. Vì thế, những phụ nữ muốn đương đầu rồi khuất phục thời gian thường kiên nhẫn gìn giữ sự trong sáng sự tươi mát sự chân thật và thanh cao. Trần Hà Quyên. Tiêu đề: Re: Tạp văn QĐND Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Hai, 2008, 11:55:12 pm KHI ĐÀN ÔNG CÓ TUỔI Đức Phật lúc chưa ngộ đạo, tuy tuổi đang còn trẻ nhưng đã hơn một lần hoang mang siêu việt nhận thấy “già” là một trong bốn nỗi khổ rất lớn, Sinh Lão Bệnh Tử. Mặc dầu sau đó chính Đức Phật đã thậm hậu giảng thuyết theo hướng chân thực giải thoát, nhưng đa phần tục nhân vẫn nông nổi vật chất hiểu khái niệm “lão” như một mặc cảm có phần buồn bã. Nói chung, tới một ngày nào đó, bỗng tự nhận ra rằng mình đã có tuổi thì hầu hết cảm khái thở dài. Thi hào đời Đường, Lưu Vũ Tích có bài thơ kiệt tác. Kim nhật hoa tiền ẩm. Cam tâm túy sổ bôi. Đãn sầu hoa hữu ngữ. Bất vị lão nhân khai. Dịch giả Tương Như phiên thành lục bát. Hôm nay uống rượu bên hoa. Cạn dăm ba chén gọi là mua vui. Chỉ e hoa nói nên lời. Em không chịu nở cho người già nua. Thật ra, khác với những phụ nữ, thỉnh thoảng ở đàn ông lại có nhiều người muốn già. Lí do cũng không đến nỗi quá bí hiểm phức tạp. Nhà văn Nguyên Hồng lúc đang viết sung sức được nhiều bạn văn và độc giả trân trọng mến bởi cái sở thích hồn nhiên ham uống rượu. Do vài ba nguyên cớ có vẻ “lăng nhăng”, đại loại to thì như cuộc đời xô đẩy, bé thì như lương thiện mưu sinh nên mới ngoài bốn mươi ông Nguyên Hồng đã đem cả gia đình về chỗ cũ Nhã Nam vất vả ở. Nhã Nam là vùng trung du, đất và đá hình như đều cằn làm cho rượu ở đấy hiếm khi ngon. Vì thế, nhà văn trong lúc tiện thể đi công tác ngược xuôi thì có lọ mọ tìm kiếm cầm theo một ít hảo tửu. Vào hồi ấy, nước ta còn nghèo và đang đói, nên Chính phủ có quy định cấm những loại rượu nấu từ gạo, đại khái gọi chung là “rượu lậu”. Để tránh những phiền toái không đáng, nhà văn đành phải để râu mà già. Phòng thuế công an chấp gì cái ông lão nhà quê đem theo bong bóng rượu, hoặc là thỉnh thoảng để ngắm hoặc là thỉnh thoảng để uống. Cát bụi chân ai của ông Tô Hoài có đoạn “Cán bộ thuế khám, Nguyên Hồng hạ chiếc bị trên vai áo nâu bạc xuống, một tay khoành lại đấm lưng, một tay lôi hũ rượu. “Đau lưng, đau lưng, phải có thang thuốc ngâm gia truyền này mới được. Anh thông cảm”. Không biết trên bộ râu ngụy trang, hai con mắt nhanh như chớp”. Nguyên Hồng nổi tiếng bần bạch, và tất nhiên khi ông chơi râu để chứng tỏ già thì không hẳn là chuyện rượu, đại loại ông còn muốn khỏa lấp phủ che vài nỗi rưng rức đau lòng khác, nó hoàn toàn khác xa cái ông cụ cố trong hoạt kê tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng. “Chí bình sinh của cụ chỉ là muốn được làm một cụ Cố. Cho nên chưa năm mươi tuổi, cụ đã làm ra vẻ già cả sắp chết: ra phố cụ phải mặc áo bông, chưa đến mùa rét cụ đã khoác cái áo ba đờ xuy dày xù; trước khi trả tiền phu xe, cụ phải ôm ngực ho rũ rượi hàng năm phút và đếm nhầm một xu để phu xe tưởng cụ đã lẫn lộn. Nằm dài bên khay thuốc phiện, nghe ai nói chuyện, cụ cũng nhắm nghiền mắt lại, nhăn mặt khẽ gắt “Biết rồi, biết rồi, khổ lắm, nói mãi” mặc dầu cụ chưa hiểu đầu đuôi ra làm sao, mặc dầu cụ vẫn vui lòng lắng tai nghe”. Cài cụ cố này khát khao được già vì nghĩ rằng thế là “oách”. Trọng xỉ, kính lão đương nhiên là truyền thống phải giữ, bởi tuổi già luôn là sự thăng hoa của kiến thức, của kinh nghiệm. Nhưng nói như Khổng Tử, cái gì “quá” cũng dễ dẫn đến “tệ”. Ở thời quân chủ xa xưa thói quen “trọng nam khinh nữ” thì có nhiều “cụ cố” được lùng tùng tôn kính. “Nếu chỉ tính râu dài thì những con dê xồm xứng đáng là học giả”. Một triết gia Hy Lạp cổ đã cay đắng thốt. Đàn ông trẻ của ngày hôm nay, ở bất cứ đâu, ở bất cứ chỗ nào cũng luôn chân thành sùng kính tôn trọng những đàn ông già, những người đã đúng là cha là anh của họ vì thế, họ sẽ vô cùng đau đớn khi có vài đàn ông có tuổi quá lo “Hoa không chịu nở cho người già nua” mà bỉ ổi đê tiện bỏ tiền đi bứt hoa. Một khuôn viên sẽ là tuyệt vời đẹp khi bên những luống hoa mơn mởn là những cây đại thụ trang nghiêm nhân hậu rủ bóng. Trần Hà Quyên Tiêu đề: Re: Tạp văn QĐND Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Giêng, 2009, 12:30:23 am THIẾU NỮ ĐÁNH CỜ Có một cuốn tiểu thuyết Tầu đang rất thời thượng ở Pháp, từng đoạt giải Goncourt dành cho giới trẻ năm 2001, tên chính xác là “Thiếu nữ đánh cờ vây” (bản Việt ngữ của NXB Văn học). Tac sgiar là Sơn Táp, một thiếu nữ sinh năm 1972 tại Bắc Kinh. Không hiểu sao từ xưa tới nay, phụ nữ đã mê chơi cờ thì hầu hết tuổi đời đều rất trẻ. Có lẽ do niềm say mê kỳ lạ đó chỉ có thể nuôi dưỡng bằng sự ngây thơ lầm lạc mang nữ tính trong trắng. Khi đã lớn và đã già, phụ nữ bỗng đau đáu quay sang quan tâm vài thứ thiêng liêng khác, ví như vàng bốn số chín hay sổ đỏ nhà đất chẳng hạn. Cuốn sách của Sơn Táp có bối cảnh Không – Thời gian cũ kỹ ở vùng Mãn Châu, tình tiết quanh co dữ dội lằng nhằng, đại loại kể về một cô bé quý tộc sa sút mười sáu tuổi vừa chơi cờ (cờ vây hay còn gọi vi kỳ, rất thịnh hành tại Nhật Bản và Trung Quốc) vừa hoang mang yêu rồi bi thảm trưởng thành làm đàn bà. Đối thủ của cô bé là một sỹ quan tình báo Nhật Hoàng, bản tính sâu sắc rắn lạnh. Qua liên tiếp nhiều ván cờ, cả hai vô thức chập chờn yêu nhau. (Một điều rất khó xẩy ra nếu đôi này chung vốn đầu tư chơi cổ phiếu chứng khoán). Bọn họ đồng một quan niệm “Tôi mê cờ vì các mê lộ của nó. Mỗi nước cờ là một bước dấn sâu vào lối xuống của tâm hồn, vô cùng khó lường trước. Giống như biến động của cuồn cuộn tầng mây, mỗi thế cờ là một sự phản bội”. (sách đã dẫn). Quan niệm này kể ra cũng khá tiêu cực, nhưng biết sao được, lúc ấy cô bé đang bải hoải rơi vào tuyệt lộ. Còn nếu cứ nhí nhảnh vô tư như đám 8X, 9X bây giờ thì chẳng có ma nào lại đi tìm đến cờ cả. Hoặc sẽ ngây ngô ngồi nhà xem truyền hình “Cô gái xấu xí” rồi “Bỗng dưng muốn khóc”, hoặc sẽ tưng tưng đi vào vũ trường mà lúc lắc vật vã. Do vài thói quen văn hóa, các thiếu nữ ở ta không có nhiều người ham mê chơi cờ. Nhưng cũng giống như việc uống rượu, người nào đã ham thì thăng hoa thành luôn cao thủ. Hồi Hà Nội bao cấp, ở đầu phố Phùng Hưng rẽ sang Hàng Bông có một nữ kỳ thủ độc thân mắt xếch chừng 27-28 tuổi tên Loan, xuất thân phe tem phiếu ở chợ Hàng Da, lừng danh vỉa hè với chiêu khai cuộc Pháo đầu Mã đội. Đây là một thế cờ thiên về công, rất hợp với đàn bà vừa lắm mồm vừa hấp tấp. Và không may gặp phải đối thủ điềm đạm chơi Bình phong Mã, thì khi lui về thường vỡ trận. Cờ độ rong dạo khó khăn ấy giải không quá to, quy ra thóc ước khoảng chục bát phở bò, nhưng liên miên thua thì cũng đại thảm họa. Loan cô nương chơi ăn gian cực kỳ, nạn nhân đa phần là mấy gà trung niên ngoại tỉnh ngồi chờ tầu điện. Dưới mạn dốc Thọ Lão gần cửa hàng bán dầu hỏa cũng có một tay cờ nữ trẻ chơi Pháo tuần hà hay lắm, đàn ông thua cả mớ. Tất nhiên, cũng khét tiếng giang hồ là tay tháu cáy. Nói như vậy không có nghĩa, cứ thiếu nữ chơi cờ đều tủn mủn ăn gian, ở lịch sử cờ tướng Việt có không ít nữ danh kỳ trẻ lẫy lừng minh bạch. Đặc cấp quốc tế Đại sư Lê Thị Hương ở thành phố Hồ Chí Minh chẳng hạn. Lúc chưa lập gia đình, Hương trấn kỳ đàn quốc gia hơn chục năm ròng. Đám kỹ thủ đàn ông sợ xanh mặt, tâm phục khẩu phục tôn xưng cô là Diệt Tuyệt sư thái. Ngoài Lê Thị Hương, làng cờ nữ Việt còn hai Quốc tế Đại sư đáng kể, Ngô Lan Hương sinh 1979 và Hoàng Hải Bình sinh 1977. Cờ tướng đang thịnh hành ở ta có xuất sứ bên Tầu với tên gốc là Tượng kỳ. Lịch sử hình thành rồi hoàn thiện nó đẫm đấy không biết bao nhiêu công sức tâm huyết của kỳ sư và kỳ thủ. Bọn họ hầu hết là cao nhân dị sĩ, khi gặp phải hiểm trá của công danh, bạc bẽo của lợi lộc thì chán ngán thế sự quay về ngồi nhà qua cờ mà cao ngạo nhìn đời. Vì ở cờ cũng có giả dối loanh quanh Tướng, cũng có gian giảo lầm lũi Sĩ. Hoặc xông xáo nghênh ngang như Xe, hoặc lắt léo tiến thoái như Mã. Cái đắc thời của Tốt qua sông vừa tiểu nhân tiểu khí lại vừa cần mẫn chăm chỉ. Cái bơ vơ của Pháo không ngòi sao mà giống sự bi tráng của anh hùng mạt lộ. Không phải ngẫu nhiên cờ được xếp vào tứ đại cao nhã “Cầm Kỳ Thi Họa”, bởi qua nó con người ta phát tiết được tận cùng những niềm vui những nỗi buồn. Các thiếu nữ thế gia vọng tộc, sau khi đã giỏi đàn giỏi thơ giỏi họa, bắt buộc phải thật giỏi cờ. Người xưa cho rằng, chơi cờ sẽ khử bớt được hấp tấp ham hố kiểu đàn bà, các thiếu nữ cao cờ sẽ không sốt ruột mà nhẫn nhịn yên tâm ngồi chờ ngày cưới. Nữ sĩ Hồ Xuân Hương, hồi chưa đi làm lẽ tương truyền là tay cao cờ cực kỳ. Thơ bà phồn thực nhan nhản những là Tướng Sĩ Tượng. Bài “Đánh cờ người” của bà xếch xi đến mức các văn bản chính danh đều lưỡng lự đạo đức để ở phần tồn nghi. “Mới vào đầu chàng liền nhẩy ngựa. Thiếp vội vàng vén phứa tịnh lên…”. Thực ra trò đánh cờ người rất được chuộng ở các lễ hội làng quê Bắc bộ. Nhiều nơi, quân cờ là những thiếu nữ ngăm ngăm xinh đẹp tuyệt vời. Cờ bàn xem đã thú, cờ người xem thú vị gấp trăm lần. Hiềm một nỗi, trò này cần một bãi đất rộng có “viu” đẹp. Vài năm gần đây, những bãi đất xôi mật kiểu đấy đã bị chuyển thành sân gôn thành chung cư cao cấp. Trò đánh cờ người có nguy cơ tuyệt tích, hình như chỉ có phảng phất đâu đấy trong ký ức của vài thiếu nữ muộn chồng. Trần Khôi Việt Tiêu đề: Re: Tạp văn QĐND Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Hai, 2009, 11:21:25 am THĂNG TRẦM PHONG THỦY Trong vô số tinh hoa có phảng phất mơ hồ do những lớp người đi trước văn minh để lại, thì thuật phong thủy đáng kể là thứ cực kỳ vất vả thăng trầm. “Từ Nguyên” viết phong thủy là cách xem địa thế phương hướng đất nhà ở hoặc đất phần mộ. Người ta căn cứ vào đó để luận lành dữ tốt xấu về nhân sự. Xưa cũng như nay, nhân sự quan trọng vào bậc nhất vẫn là danh vọng, là tiền tài. Phong thủy được nhiều người khát khao tin bởi nó là cái thuật tương đối chú trọng vào việc dò tìm ra cách phát phú phát quý, ngõ hầu nhanh chóng biến một người bình thường trở thành vinh hoa khác thường. Tất nhiên, ở những thời loạn lạc lung linh sinh tử, phong thủy cũng bi đát bế tác lắm. Các “kham dư gia” (một cách gọi khác cho các nhà phong thủy học) lang thang nhớn nhác đi lại đầy đường, gần giống các nam nữ diễn viên đi dự liên hoan phim chưa được ban tổ chức kịp thời bố trí khách sạn. Ở vào cái thời mạt của bần hàn ấy, mạng người là nhất. Cơm chỉ mong đủ no, áo chỉ mong đủ mặc. Binh lửa thiêu đốt khắp nơi, nhà cửa hoang tán phiêu dạt, dương trạch lồ lộ còn không người sở hữu nói gì đến âm phần ở sâu ba thước đất. Thế rồi hết động thì đến tĩnh, con người dịu dàng trở lại bình hòa an cư, mà an cư vững chắc nhất không gì bằng được một cái nhà. Gia đình bé thì căn phòng, công ty lớn thì trụ sở. Chung cư cao cấp mọc lên như nấm, vừa lừa vừa bán chưa kịp sây đã hết chỗ đặt mua. Giá đất mặt tiền đường Đồng Khởi một mét vọt lên xấp xỉ gần trăm triệu. Người sống đã mê man sướng rồi thì người chết hiển nhiên cũng phải khang trang. Dân tình nhiều vùng cằn cỗi bão lụt, vẫn hoàng tráng xây cả một thành phố nghĩa địa. Cũng trệt cũng lầu, cũng tả Thanh Long ốp đá xanh cũng hữu Bạch Hổ gắn cẩm thạch trắng. Trên cái nền rừng rực của danh vọng tiền tài ấy, đương nhiên phong thủy vùn vụt lên ngôi. Thực ra công năng của phong thủy là khá rộng, tuy nó không đi dò tìm long mạch của tình yêu, tình bạn, nhưng nó đâu chỉ bó hẹp trong danh lợi của dăm ba đời người. Hơn hết, nó thăng hoa bao quát cả một đạo lý. “Thuyết văn giải tự” nói “Kham là thiên đạo. Dư là địa đạo”. Thể của nó là khí. Dụng của nó là nước là gió. Kể cả ở hai cảnh giới âm dương, bất cứ một sinh thể trong trắng lành mạnh nào muốn tồn tại bắt buộc phải thanh thoát tụ khí. Mà muốn đắc khí (có thể hiểu là Đạo) thì không gì bằng điều hòa cho được phong hoặc thủy. Con người ta sống bám nhờ tự nhiên, hoặc nương thế đất hoặc theo hình trời. Sâu xa, phong thủy không phải là chuyện vớ vẩn huyền hoặc. Phong thủy hoàn toàn không phải là đặc sản chuyên biệt của Tầu, Tây cũng có mà ta cũng có. Kim tự tháp Ai Cập trục chính luôn chạy đúng theo hướng Nam Bắc. Các linh trụ chấn yểm Obelisk từ lâu đã xuất hiện trên vùng đất người Maya cổ đại. Trụ sở Bộ Quốc phòng Mỹ, Lầu Năm góc khét tiếng là đồ hình bắt quái đổ lật ngửa. Tuy xuất xứ từ Trung Quốc, nhưng phong thủy học vào ta đã được Việt hóa một cách thượng thặng tinh tế. Đời nhà Lê, ông Nguyễn Đức Huyên người làng Tả Ao, huyện Nghi Xuân (Nghệ Tĩnh) lừng danh là thầy địa lý cực giỏi. Chứng kiến ông chọn đất điểm huyệt, nhiều thầy Tàu lăn ra mà tâm phục khẩu phục. Tương truyền, sách ông Tả Ao viết hay không kém gì kinh “Thanh Nang” đời Tần, bộ “Bình xa ngọc xích” đời Hán, nó chỉ hơi thiếu uyên bác kỹ lưỡng nếu so với kiệt tác “Táng Kinh” của đại tông sư Quách Phác nhà Tấn mà thôi. Và cũng giống như đa phần các thiêng liêng kinh điển, sách của ông Tả Ao đã thất truyền. Là cát bụi lại trở về cát bụi. Ngày nay, đám lăng nhăng hậu sinh hành nghề địa lý, đi đến đâu kiếm ăn cũng lấp lửng khoe là trong tráp có giấu giếm sách này, cốt huyênh hoang dụ xôi dụ thịt. Ca dao Việt bật cười: “Hòn đất mà biết nói năng. Thì thầy địa lý hàm răng chẳng còn”. Bây giờ thái bình thịnh trị, xã hội nhan nhản người tài, nhỡ có vào hiệu sách lớn nào là mênh mông thấy lòe loẹt sách phong thủy xanh đỏ. Chưa ra đến cửa, đã rầm rập gặp “phong thủy gia”, com lê com táo cao đạo, ca táp lích kích những là thước Lỗ Ban rồi tróc long, rồi la bàn. Nhà chung cư xây đã có khuôn, ban công ngó thẳng vào ô vang hàng xóm cũng bày đặt chuyện Minh Đường tụ thủy. Hỡi ơi, lăng Ly Sơn của Tần Thủy Hoàng quy mô to lớn phương vị tuyệt đúng. Tiền Chu Tước có dòng sông Vị cuồn cuộn chảy, hậu Huyền Vũ có núi xanh mướt nghìn trượng cao. Mỗi ngách mỗi cửa có bạt ngàn bùa chú trấn yểm. Thế nhưng nó được xây trên xương máu của bảy mươi vạn dân công binh lính nên cái giấc mộng vạn thế đế vương chưa đầy hai đời đã tuyệt hậu. Ông Trương Tử Phòng, ngoài chuyện là một chính trị gia lỗi lạc, còn là một nhà phong thủy cao tay ấn đã từng khuyên Tiên tích đức, hậu tầm long (Chứa đức trước đã rồi sau hãy tìm đất). Lời khuyên đơn giản này bị các doanh nhân đang trúng cổ phiếu lùng sục đi mua biệt thự hoặc các quan chức thăng tiến đang hồ hởi xây sửa lại mộ ông bà coi là lời vớ vẩn lạc hậu bàn lùi. Nguyễn Việt Hà Tiêu đề: Re: Tạp văn QĐND Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Hai, 2009, 11:56:37 am ĐÀN ÔNG TỎ TÌNH Theo Kinh thánh, thì con người đầu tiên có mặt trên cái thế gian đầy bất trắc này rủi ro họa phúc này vốn là một người đàn ông. Giống như các tạo vật mong manh nhỏ nhoi khác, người đàn ông ấy được Thiên chúa đặt một tên riêng, Ađam. Ở cái thời hỗn mang bắt đầu của khởi nguyên, Trái Đất hầu như chỉ toàn có nước, nó trong vắt không tivi, không internet và tuyệt không đàn bà. Ađam có buồn không, có cô đơn không. Lúc hoang mang bối rối, liệu anh ta có uống rượu hay viết văn, một điều chỉ có Chúa biết. Chính vì thế: “Thiên chúa phán: Ngươi ở một mình không tốt. Ta sẽ cho ngươi một kẻ giúp đỡ tương xứng. Thiên chúa làm cho A đam mê thiếp và ngủ say rồi rút một xương sườn của A đam và lấp thịt thế vào. Từ cái xương sườn được rút ra, Thiên chúa dựng nên một đàn bà và dẫn đến với A đam. A đam kêu lên: Đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi, nàng sẽ được gọi là đàn bà vì đã được rút ra từ đàn ông. Bởi thế đàn ông sẽ lìa cha mẹ để kết hợp với vợ mình và cả hai nên một thân xác”. (Sách Sáng thế - 18, 24). Người đàn bà đấy gọi là Eva, và theo các nghiên cứu thần học mới nhất, thì A đam dễ dàng lấy được Eva mà hoàn toàn không phải phí phạm mất thời gian cho việc tỏ tình. Từ khi có đàn bà, đàn ông bỗng có thêm một thứ mà bây giờ người ta quen gọi là ái tình. Tất nhiên, tình yêu chung chung ở đàn ông thì luôn luôn có, ví như tình yêu thiên nhiên, tình yêu cuộc sống hoặc bình dị hơn, tình yêu ẩm thực. Trong quá trình đàn ông đi tìm kiếm xây dựng tình yêu thì thao tác tỏ tình chiếm vị trí quan trọng hàng đầu. Và cũng giống như mỗi công ty có mỗi loại cổ phiếu, trên đời có bao nhiêu đàn ông thì có bấy nhiêu phương cách tỏ tình. Nếu thanh nhã nho sinh rụt rè như Kim Trọng, thì công đoạn tỏ tình là lôi thôi, rắc rối, cực kỳ tốn kém. Sau một hồi “tăm tia” địa chỉ của ý trung nhân, chàng Kim bốc đồng bớt tiền ăn, tiền học, tiền bố mẹ cho, hì hục thuê luôn một cái nhà ngay sát cạnh nhà nàng, kiên nhẫn rình chờ người đẹp nhỡ tay làm rơi hoặc để quên một cái gì đó. Thế rồi trời xanh không phụ lòng thành, Thúy Kiều quả thật có đánh rơi một chiếc kim thoa, đại loại là một thứ cặp cài đầu vớ vẩn mạ vàng mà bây giờ ở phố Cầu Gỗ vẫn thấy bán hàng rổ. Có lẽ Thúy Kiều là người “ki bo”, nên có vẻ nàng loay hoay tiếc lắm. Sáng sớm đã mò mẫm đi tìm “Tan sương đã thấy bóng người. Quanh tường ra ý tìm tòi ngẩn ngơ”. Chỉ chờ có thế, chàng Kim hăm hở lao ra trình bày tình yêu. Ngoài những lời ngọt ngào có cánh, chàng Kim còn cực kỳ ga-lăng. “Vội về thêm lấy của nhà. Xuyến vàng đôi chiếc, khăn là một vuông”. Trích đoạn xa xỉ cảm động này đã được dạy nhiều lần ở chương trình văn phổ thông, các thiếu nữ trung học hôm nay hầu hết bị tỏ tình vội vã bằng tin nhắn, bỗng thấy xót xa thương nhớ những loại đàn ông như chàng Kim vô cùng. Ngược lại với Kim Trọng, thằng Xuân tóc đỏ có lối tỏ tình rất côn đồ. “Đương lúc rạo rực, đương cáu đến cực điểm lại thấy trước mắt cái cảnh tượng khiêu dâm ấy, Xuân tóc đỏ chẳng nghĩ ngợi gì nữa, bèn bắt đền cái sự thiệt hại cho mình bằng cách ôm xốc lấy vị tiết phụ đáng kính trọng. Rất tiếc cho cái công thủ tiết với hai đời chồng của mình, bà Phó Đoan phản đối một cách rất kiên quyết bằng cách khẽ kêu: - Ơ kìa! Hay chửa kìa! Ơ hay, ơ hay” (Số Đỏ - NXB Hội VN – Trang 167). Kiểu tỏ tình cơ bắp của thằng Xuân, cho đến nay được nhiều đôi nông nổi a dua cho là thời thượng. Những cặp yêu nhau ấy dịu dàng tỏ tình trong những nhà nghỉ có tên là “chiều tím”, rồi lãng mạn đáng vần ngược lại là “tìm chiếu”. Tình yêu đã bị dung tục, ở những nhà nghỉ tím màu chung thủy đó thì bói đâu ra những “giăng thề” với “mây hẹn ước” mà nó chỉ lổn nhổn những thứ “ơ hay” với “ô kìa”. Sâu xa ở bản chất, tình yêu muôn đời là trong trắng, vì thế những lời ấp úng của nó luôn thăng hoa dị ứng với những gợn vẩn. Lời tỏ tình đương nhiên phải là những lời xanh non, thành thực nhất, nó vượt lên trên thật giả đúng sai, kể cả những chuyện khó nói như sex, như đạo đức. Và để tôn vinh sự trong trẻo vĩ đại ấy, từ lâu lắm rồi (bắt đầu ở năm 269) người ta lấy ngày tuẫn tiết 14 tháng Hai của thánh tử vì đạo Valentin làm ngày lễ Tình Yêu. Sống trong một thời u ám ngấm đầy đạo đức giả, thánh Valentine vốn là một linh mục quèn, đã không biết bao lần cưu mang che chở cho những cặp chân thành yêu nhau thoát khỏi các định lệ phi nhân hà khắc. Ông bị bạo vương Claudius 2 hành hình bằng cách ném đá và chặt chân. Nhớ ông, những người chỉ biết nồng nàn yêu nhau đã rưng rưng chọn cái ngày bi tráng ấy để tỏ tình. Ở cái ngày thiêng liêng mà tình yêu đã bị ném đá này, không một ai dám nói dối mình và dối người. Và theo truyền thống, những lời mặn chát nước mắt của con tim thường được bày tỏ bằng thanh bạch hoa hồng hoặc bằng giản dị bưu thiếp. Hạnh phúc thay cho những người nhận được lời yêu trong ngày lễ Tình Yêu. MÃ PÍ LÈNG Tiêu đề: Re: Tạp văn QĐND Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Ba, 2009, 04:43:03 pm PHỤ NỮ CÓ MỘT NGÀY Trong mênh mông các loài sinh vật được thụ tạo từ hai khí Âm Dương của trời đất, thì con người ta là một loài vừa quen lại vừa đặc biệt lạ. Quen là vì cũng chia ra đực cái, cũng ăn cũng ngủ, cũng phù du sống rồi cũng mơ hồ chết. Lạ là vì tự biết khóc biết cười, biết rưng rưng khi làm thơ, biết dằn vặt trước tội lỗi. Đàn bà thì biết nhu mì thủy chung, đàn ông thì biết can đảm cao thượng. Theo chương “Tề vật luận” của Nam Hoa Kinh thì trong thế giới tự nhiên, con người cũng chẳng quá cao quý gì, cho dù có biết hát biết làm điện ảnh, nhưng cũng không đến nỗi quá thấp hèn. Tuy nhiên, theo nhiều nhà nhân chủng học chưa nổi tiếng thì khả năng khác biệt độc đáo nhất ở con người (hầu hết là giống đực) chính là khả năng “nịnh đầm”. Sau một hồi trịch thượng quan sát thấy phụ nữ quần quật quanh năm thực thi đạo đàn bà “thờ chồng nuôi con” không ngơi nghỉ, lương tâm đám đàn ông bỗng dưng cắn dứt, họ bèn chọn đại một hôm vào lưng lửng đầu tháng (mùng 8-3) để cố chân thành tôn vinh phụ nữ. Ở cái ngày mang vẻ thiêng liêng hiếm hoi giả dối ấy, trời và đất sáng choang long lanh ngập đầy hoa. Đàn bà hớn hở đi lại mua sắm cười vô cớ, đàn ông nao nao nghẹn ngào móc ví trả tiền. Những nam chính trị gia diều hâu nhất đều ân hận rằng, tại sao nội các của mình không có nữ thủ tướng. Những tay cục súc vũ phu quen thói đánh vợ chợt trầm ngâm sám hối, mồm ngân nga cặp lục bát của Bảo Sinh “Vợ là thánh chỉ vua ban. Có sao dùng vậy không bàn đúng sai”. Tất cả những kênh truyền hình có ca nhạc đều phát những bài về mẹ, về chị do các Diva chưa chồng hoặc sắp bỏ chồng véo von lĩnh xướng. Tất cả các báo viết nhan nhản bài phỏng vấn các nữ tổng giám đốc, các nữ diễn viên và các nữ thi sĩ. Các nữ Tổng âu lo than thở về những sự tụt trong nền kinh tế vĩ mô, đặc biệt là sự tụt của chỉ số chứng khoán, mà theo họ, nguyên nhân chính là do sự nông nổi của các nhà đầu tư nam giới. Các nữ diễn viên bộc bạch lý do làm họ vẫn chưa chịu lấy chồng. Đa phần đều cho rằng đàn ông hôm nay ít nam tính quá, những đàn ông vừa có tiền lại vừa có hồn chỉ còn đếm được trên vài đầu ngón tay. Các nữ thi sĩ thì hấp tấp lạc quan, suốt cả bài phỏng vấn chưa đầy một trang có kèm ảnh tác giả tự cung cấp để hở vai trần, liên tục là những mở ngoặc (cười). Ở những công sở nhà nước, nơi mà thường có trưởng phòng là nữ, không ngẫu nhiên lắm công đoàn tổ chức bình bầu lao động tiên tiến. Những nhân viên nam thường nhật vốn cò kè nhỏ nhen, bỗng đột ngột bốc đồng trăm phần trăm bỏ phiếu đề nghị cho sếp danh hiệu chiến sĩ thi đua. Thật là một ngày kinh hoàng và lãng mạn. Có lẽ vì thế mà kha khá đấng trượng phu hoặc có học vị cao hoặc vừa bị người tình phản bội bỗng nẩy lòng đố kỵ, họ cằn nhằn tự hỏi tại sao không có ngày dành riêng cho đàn ông. Họ soi mói so sánh với chuyện thi tuyển sắc đẹp chẳng hạn, sau hoa hậu Mai Phương Thúy chân dài áo tắm thì lập tức xuất hiện ngay nam vương Ngô Tiến Đoàn chân chất đẹp giai ngây ngô “nhà quê”. Để trấn an dư luận, vài nhà phê bình vừa có lý luận vừa có giới tính nhập nhằng mạnh dạn giải thích. Theo họ, đàn bà thì giống như thơ hậu hiện đại còn đàn ông thì giống như văn xuôi cổ điển. Đã là thơ thì tất yếu phải có ngày kỷ niệm chứ văn xuôi thì chưa bao giờ có tiền lệ. Ở ta, ngày thơ là ngày rằm Nguyên tiêu. Ở Tây là ngày 21-3 theo quyết định từ năm 1999, tại đại hội lần thứ 30 của tổ chức Văn hóa – Khoa học và Giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO). Và còn hơn thế, thơ đương đại và đàn bà đương đại là những thứ rất nên phải tôn vinh bởi một phẩm chất cao quý tự thân, đấy là tính liên tục đổi mới. Phụ nữ của thời nay thay đổi các cuộc tình như thay dép. Thảng thốt nếu có ai còn giữ nguyên thì bàn chân chắc hẳn phải có ngón giao chỉ. Thơ mới tinh của những phụ nữ mới tinh lẫn lộn trúc trắc bí hiểm vừa dữ dội xếch-xi, làm những người sống cùng vừa hoang mang hạnh phúc lại vừa nồng nàn tuyệt vọng. Văn xuôi và đàn ông đương nhiên tẻ hơn nhiều. Mặc dầu ra sức gắng gượng cách tân thì vẫn vướng vào những giá trị kinh điển cũ kỹ ví như lòng tốt chẳng hạn, ví như tình thương chẳng hạn. Mà ở ngày hôm nay, đại loại đấy là những thứ vớ vẩn đang dần dần thui chột, có họa bị dở hơi mới đi tôn vinh hoặc kỷ niệm những cái rồi đây tương lai tuyệt nhiên không có. Kiến thức nhập môn ngôn ngữ học của người Ăng-lê cho rằng, chữ đàn bà (woman) được tạo ra từ sự đau khổ (woe) của người đàn ông (man). Căn cứ vào đấy, nhiều nam triết gia lương thiện bi thảm xác định, đó là một tiên đề bất khả sửa chữa, một kiểu chấp nhận số phận hao hao như sống chung với lũ. Tuy nhiên, họ vẫn cố khuyên những thằng con giai mới lớn hãy nên nhìn sự hồn nhiên vui đời của những nông dân Nam Bộ trong mùa nước ngập. Người ta vẫn nhậu, vẫn đờn ca cải lương, vẫn sòn sòn đẻ năm một không nửa lời oán thán. Nói cho cùng, phụ nữ đã trót có ngày mùng tám tháng ba, xin các quý ông cao thượng giản dị xem đây là một ngày đỉnh lũ. NGUYỄN VIỆT HÀ Tiêu đề: Re: Tạp văn QĐND Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Tư, 2009, 05:40:16 pm ĐẠO CHÍCH Vào những ngày yên bình của hôm nay, ở mảng sách báo có liên quan đến mục an toàn trật tự xã hội, người ta hay gặp phải cụm từ “phường đạo chích”. Ví như “Các quý ông hãy nêu cao cảnh giác với phường đạo chích mang vẻ sang trọng thiếu nữ” hoặc “Nạn đạo chích đang có dấu hiệu lây lan trong giới nữ ca sĩ”. Những nam độc giả tử tế thường hốt hoảng hiểu đấy là bọn càn quấy trộm cắp thỉnh thoảng có cả lừa đảo cướp giật. Đại loại thì đúng vậy. Tuy nhiên, nếu phải truy nguyên tới những ngày xa xưa. Thì “Đạo Chích” lại là tên riêng của một người đàn ông ở nước Lỗ tận bên Tàu thuộc thời Xuân Thu Chiến Quốc (722-221). Đạo Chích trộm cướp lừng tiếng thiên hạ đến mức thành danh từ chung, hoàn toàn không phải do đạo đức hay trình độ nghiệp vụ, mà do xuất xứ của anh chàng này có hai điều đặc biệt. Thứ nhất, quê hương của Đạo Chích là một trung tâm văn hoá lớn, có bề dày vào loại nhất của Trung Quốc cổ đại. Ở nơi đó có đánh rơi mô bai hàng hiệu đầy đường cũng chẳng ai thèm nhặt. Nước Lỗ vốn là đất Thiên tử phong cho Chu Công Đán, một vị thánh, một chính trị gia đại tài có văn hoá cực kỳ cao. Cũng chính từ tay ông mà phong kiến Trung Hoa mới hình thành những điển chế luật pháp, những nghi lễ tế tự, những thi ca âm nhạc. Rất nhiều những cái đó đến nay vẫn còn giữ gần gần như nguyên. Ví như cái tinh thần trọng nam khinh nữ coi đám đàn bà là thừa chẳng hạn. Lịch sử Trung Quốc hầu như không có nữ hoàng, một điều ở nhiều nước phương Tây coi là man rợ, nếu chẳng may bị có thì đấy là tiếm hiệu (Võ Tắc Thiên là ví dụ) một dạng trái tự nhiên như kiểu gà mái mà cũng ngông nghênh dám gáy. Nhiệm vụ chính của đàn bà là thờ chồng nuôi con, việc mù chữ xem như đương nhiên chứ đừng nói tới chuyện viết văn hay viết báo. Bây giờ vật đổi sao dời, hội trưởng hội nhà văn Trung Hoa lục địa là nữ văn sĩ Thiết Ngưng, dung nhan thì mặn mà xinh, tiểu thuyết thì dữ dội xếch. Còn ở ta, nữ sĩ cũng đông lắm, nếu phải xếp thì chật cả một cánh đồng bất tận. Theo các nhà phê bình vừa biết lý luận vừa biết tôn trọng vợ, đây đáng kể là một thành tựu. Thứ hai, Đạo Chích tuy là thằng đại côn đồ nhưng lại có một ông anh ruột là đại hiền sĩ Liễu Hạ Huệ, tự Quý. Liễu Hạ Huệ “văn nhã ôn hoà biết nhiều nghĩa lý, chỉ vì làm quan không hợp thời nên từ chức bỏ về” (Đông Chu liệt quốc - Hồi 39 – NXB Văn học), và ông đi vào chính sử bằng một nhân cách đặc biệt. Ở một tối mùa đông lạnh buốt, ông từng ôm rất chặt rất lâu một thiếu nữ tuyệt vời xinh cốt để cứu cho nàng khỏi chết rét. Ôm xong, ông thả ra, thiếu nữ vẫn sáng ngời vẹn toàn trinh tiết. Vạn thế sư biểu Khổng phu tử, cũng người nước Lỗ, tâm phục khẩu phục lắm, trân trọng xem ông là tấm gương tiêu biểu của chính nhân quân tử. Á thành Mạnh tử từng nói “phú quý bất năng dâm” (dư dật mà không sa đoạ) chính là nhờ nương vào điển này. Ngày nay các bậc quân tử bỗng trở nên tuyệt hiếm, hoàn toàn không phải do tư cách sa sút. Đơn giản là vì ngoài đường quá khó hiếm những thiếu nữ bị đột ngột cảm lạnh. Tóm lại, nước Lỗ có rất nhiều người hiền, vậy mà bỗng tòi ra một thằng thiên hạ đệ nhất đạo tặc. Đạo Chích thành danh lưu xú vạn niên cũng là điều tương đối dễ hiểu. Đạo chích tuy chẳng phải là một thứ đạo gì, nhưng vẫn có tín đồ, vẫn có lịch sử. Tuy nhiên, phôi pha cùng thời gian, bản chất của đạo chích càng ngày càng khác. Bọn đạo chích hiện đại tương truyền rất yêu thể thao, bọn họ thường luyện tập sành sỏi ba môn điền kinh phối hợp mà thành ngữ Việt quen gọi là “Ném đá giấu tay”, “Chọc gậy bánh xe” và “Gắp lửa bỏ tay người”. Thoạt kỳ thuỷ, đã là thằng ăn cắp thì trông giống hệt như một thằng ăn cắp. Hôm nay đâm ngược lại, các đạo chích mặt mũi đều phương phi mang vẻ đàng hoàng, phong độ dung nhan y xì như Liễu Hạ Huệ. Làm học thuật thì trộm ý trộm chữ, làm kinh tế thì trộm chức trộm tiền, vô cùng khó phát hiện. Ngày xưa, ăn trộm xong thì trốn vào xó xỉnh nào đấy vừa xấu hổ vừa nuốt vừa tiêu. Còn ngày nay tuy vẫn “bòn nơi khó rách đãi nơi quần hồng” nhưng nghênh ngang xưng xưng mặt dầy đi rao giảng cho thiên hạ về Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín. Làm từ thiện thì đài báo tivi phải rầm rộ biết, cúng được chút công quả thì lải nhải kể lể rưng rưng. Đạo chích ở thế kỷ 21 cả người nồng nặc mùi đạo đức. Phần “tạp thiên” của Nam Hoa Kinh, hậu học có người giả danh cụ Trang tử dành riêng cho Đạo Chích hẳn một chương. Ở chương đấy, Đạo Chích thả cửa giả nhân giả nghĩa huênh hoang về đạo lý của mình. Học giả Lâm Tây Trọng đời Thanh đọc xong cảm thán “Người mà không có đạo người, thế gọi là hạng người thối nát. Mượn miệng quân trộm cướp chửi suốt lượt các thánh nhân xưa nay, thế là muốn xui thiên hạ đi theo quân trộm cướp cả”. Hình như đến bây giờ, Đạo Chích vẫn xui bẩy được vô khối người quân tử. Nguyễn Việt Hà Tiêu đề: Re: Tạp văn QĐND Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Tư, 2009, 12:52:16 pm NGƯỜI ĐÀN ÔNG HÁT Hồi chưa lâu lắm, khoảng cuối thập niên bảy mươi của thế kỷ trước, có một bộ phim của nước Liên Xô hùng cường “người đàn bà hát” được rất nhiều các thiếu phụ thị dân Việt, thỉnh thoảng lẫn lộn có cả nam trung niên, cực kỳ thích. Phim hư cấu dựa vào vài chi tiết đời thực của người đóng vai chính vốn là một nữ ca sĩ beo béo có thật, rất nổi danh tên là Alla Pugacheva. Nữ ca sĩ này hát tuyệt vời hay, có bốn hoặc năm lần hôn nhân gì đó, đương nhiên cuộc đời thăng trầm đau khổ, hỉ nộ ái ố lung tung hết cả. Bộ phim thành công ở ta tới mức, kể từ đấy trở đi, hễ bất cứ nữ ca sĩ nào beo béo một tý, hát hay một tý, đam mê dữ dội yêu một tý thì báo chí lại đồng thanh gọi đấy là “người đàn bà hát”. Điều này gây ra một sự hiểu lầm nhất định, hình như đàn ông ở phương Đông ít thích hát. Thật ra, ngay từ thuở vời vợi xa, đàn ông đã biết và vô cùng thích hát. Cách đây hơn hai nghìn năm “Sử ký Tư Mã Thiên” đã dành những chữ trân trọng nhất để chép về một “người đàn ông hát” có tên là Kinh Kha, với nhiệm vụ vào tận kinh đô nước Tần hành thích bạo vương Tần Thủy Hoàng. “Mọi người đều mặc áo mũ trắng để tiễn. Đến trên sông Dịch Thủy, sau khi làm lễ tiễn hành lên đường, Cao Tiệm Ly gẩy đàn trúc, Kinh Kha vỗ nhịp mà hát theo điệu biến chủy, kẻ sỹ đều sụt sùi nức nở “Gió hắt hiu, chừ, Dịch Thủy lạnh ghê. Tráng sỹ ra đi, chừ, không bao giờ về”. Tiếng hát theo điệu vũ khảng khái, mọi người trợn mắt, tóc đều dựng đứng xiên lên mũ”. (Sách đã dẫn – NXB Văn Học – trang 205). Các nam ca sỹ của ngày hôm nay, tuy không hề là thích khách, nhưng đôi khi cũng a dua bi tráng hát. Khán giả nhao nhao đứng xem, tóc tai tất thảy đều dựng đứng, một phần là do xịt keo một phần là bởi giá vé. “Người đàn ông hát” thứ hai, cũng được sử minh bạch chép có tên là Từ Thứ, tự Nguyên Trực, một mưu sỹ đẳng cấp vào loại nhất thời loạn lạc Tam Quốc (213-280). Từ vốn người chí hiếu, bố mất sớm chỉ còn mẹ già (Từ mẫu rồi đây đi vào lịch sử Trung Hoa như là một tấm gương sáng ngời nhân cách, bà đã tuẫn tiết để ngay thẳng răn dạy con). Từ Thứ hồi trẻ lang thang giang hồ tìm chân chúa, cố ý ngẫu nhiên gặp Lưu Bị (về sau làm vua nước Thục), lúc ấy đang thất cơ lỡ vận. “Thứ bèn đứng giữa chợ, đội khăn cát bá, mặc áo vải thắt lưng thâm, vừa đi vừa hát “Non sông có bậc anh hào. Muốn tìm minh chúa, chúa nào biết ta” (Tam Quốc diễn nghĩa – bản dịch Phan Kế Bính). Lưu Bị cũng là loại quân vương biết thẩm âm, thoạt nghe lòng run rẩy kính trọng lắm, mời Thứ về làm quân sư. Từ Thứ chịu ơn lòng liên tài, giúp Lưu Bị giành những chiến thắng quân sự kinh hoàng. Thiên hạ hồi đấy đồn rằng, quân sỹ dưới trướng của Từ, hoặc hát tốp ca hoặc hát đơn ca đều hùng hồn hoành tráng. Tuy nhiên, kiểu hát chủ động xin việc của Từ Thứ đã thất truyền, bây giờ các nam ca sỹ trẻ mới nho nhoe năng khiếu hát, đã có một đống bầu sô núp đằng sau lăng xê đủn đít. Nói như vậy không có nghĩa ngày xưa đàn ông chỉ toàn hát những tráng ca những hùng ca mà họ hát tình ca cũng vô cùng “mả”. Tư Mã Tương Như đời Hán (179-117 trước CN) có văn tài, vừa đẹp giai vừa đàn giỏi, tính khí phóng túng hào hoa. Một lần được một đại gia mời đến chơi nhà, nhác thấy ái nữ Trác Văn Quân của ông này đẹp dã man thì động tâm, bèn giở chiêu “đàn sáo” gân cổ nỉ non nài “Phượng cầu hoàng” với ca từ thiết tha quyến rũ hao hao sễn gần bằng các tác phẩm của các nhạc sĩ họ tên có chữ “Bảo”. Tất nhiên cô bé kia (cũng giống hệt các cô bé bây giờ) nông nổi trúng mưu, nửa đêm trèo tường bỏ nhà bỏ bố bỏ mẹ trốn theo giọng ca vàng. Có điều, Tư Mã Tương Như khác hẳn một số đàn ông biết hát đương đại, sau khi rủ rê con gái nhà người ta xong thì chung thủy sống cho đến lúc răng long đầu bạc. Hai vợ chồng vất vả lương thiện mở quán rượu mưu sinh, những lúc ế khách thì rũ rượi nhìn nhau song ca hát. Thế nhưng, về chuyện bi thảm ái tình thì chàng Tư Mã không làm sao so được với Trương Chi, một ngư dân Việt bình dị. Trương Chi có giọng ca bẩm sinh, và chàng chỉ hát bằng máu bằng nước mắt cùng nỗi thăm thẳm cô đơn cao ngạo của thiên nhiên. Cái giọng ca đấy thì trình độ cách tân như ban giám khảo “bài hát Việt” cũng đành chịu, nó duy nhất chỉ lọt vào tim một thiếu nữ. Tai hại thay, thân phụ của nàng là một quan chức tai gỗ không biết cảm thông. Tuyệt vọng vì thất tình, chàng Trương kiệt sức tắt giọng. Khối u tình trong trắng của chàng Trời Đất không nỡ phụ, vì thế hôm nay nó vẫn còn ngân nga ở những vùng sâu xa sông nước nơi không có truyền hình tivi. Có thể nói, ở bất cứ thời nào đàn ông thích hát cũng đông chẳng hề kém đàn bà, đặc biệt là thời nay số đàn ông đi hát luôn là con số vượt trội. Cứ nhìn các quán karaoke có tiếp viên nữ thì biết. Đàn bà ở những chỗ đấy thỉnh thoảng cũng được phép hát nhưng nói chung kĩ thuật thanh nhạc còn non. Đại loại, phải luyện tập chăm chỉ lắm thì may ra mới lọt vào vòng hai của “Sao Mai điểm hẹn”. Trần Khôi Việt Tiêu đề: Re: Tạp văn QĐND Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Năm, 2009, 05:26:52 pm Đọc truyện KINH DỊ Truyện kinh dị là một thể loại văn xuôi lúc nào cũng hồi hộp thời thượng, hoặc đoản thiên hoặc trường thiên rất đậm đà nữ tính. Nữ tác giả thành công ở thể loại này có nhiều và độc giả nữ hâm mộ nó lại càng nhiều. Tất nhiên cũng có người là nam, ví như văn hào Mỹ khét tiếng Edgar Poe (1809-1849) chẳng hạn. Ông này chết yểu và hầu hết sáng tác đều dành để tặng cho vợ hoặc người tình. Theo một hot blogger vừa sợ ma lại vừa thích dọa ma, vốn là một nữ sĩ viết tiểu thuyết kinh dị, thì việc đàn bà ham đọc sách kinh dị là lẽ đương nhiên, bởi sâu xa trong đó luôn ẩn hiện những tội lỗi bí hiểm và vô số nông nổi độc ác. Thoạt kỳ thủy, cảm hứng của truyện kinh dị là từ những truyền thuyết hoang đường cổ tích, nó khác hẳn cái thời đương đại hôm nay, đa phần những rùng rợn đều có xuất xứ từ hiện thực đời thường mà chuyện nữ sinh cắt cổ đại gia trên xe “Le xợt” là ví dụ tiêu biểu. Trong các truyền thuyết thăng hoa để thành những tác phẩm kinh điển kinh dị, hot nữ bogger đánh giá cực cao hai truyền thuyết kể về các loài biết hút máu. Ở phương Tây là ma cà rồng (Vampire còn có nghĩa là người đàn bà mồi chài đàn ông) và ở phương Đông là sự tích con muỗi. “Bạn là phụ nữ yêu du lịch và bạn đã bao giờ ở một mình qua đêm trong cô phòng của một khách sạn loại ba lẻ loi giữa lưng chừng núi lần nào chưa. Khung cảnh vừa âm u vừa lãng mạn kiểu như Tam Đảo, Sa Pa hay Đà Lạt chẳng hạn. Thường thì tivi của vùng sơn cước đang a dua văn minh đều đã có chảo. Bạn vô tình bật một kênh hú họa và như là cố tình cái kênh đó đang bắt đầu chiếu một bộ phim kinh dị. Đúng vào lúc tay sát thủ cầm cưa máy xuất hiện, chợt rèm cửa sổ phòng bạn bỗng mật mờ phồng bởi một cơn gió ngẫu nhiên là lạ. Mồ hôi vã ra, có cái gì đấy muốn vãi ra, bạn rùng mình thèm khát nhìn toa-lét nhưng không dám bước vào. Quờ quạng tìm “rì mốt” tắt màn hình, bật đèn sáng với đại một cuốn sách đọc. Và không hiểu sao cuốn sách đem theo lại là cuốn “Bá tước Dracula” của Bram Stoker, một tiểu thuyết rợn người nhất của mọi thời đại. Xin đảm bảo là từ sau cái đêm kinh hoàng đó, bạn sẽ hoang mang manh nha trở thành một nữ văn sĩ chuyên viết truyện kinh dị”. (Trích từ Blog: manungaytho.com). So với “Bá tước Dracula” thì “Sự tích con muỗi” có một kiểu rùng rợn tuyệt khác. Đại loại, ma cà rồng hóa thân thành sói thành dơi có nguồn gốc từ một xấu giai trung niên đàn ông, còn con muỗi thì có xuất xứ từ một thiếu phụ xinh đẹp đàn bà. “Có hai vợ chồng nhà nọ yêu nhau rất mực. Ngày mới lấy nhau, họ thề hẹn sẽ không bỏ nhau. Nếu không may một trong hai người chết đi, thì người kia sẽ chết theo để xuống âm ty cho có bạn. Sau đó không bao lâu, người vợ trẻ bị bạo bệnh đột ngột mất. Khỏi phải nói người chồng đau đớn thế nào, anh chàng đã mấy lần toan tự tử…”. (Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam – Nguyễn Đổng Chi – Trang 123, tập 1). Vì là cổ tích kinh dị nên câu chuyện dài dòng lắm, đành miễn cưỡng tóm tắt như thế này. Theo lời khuyên của Đức Phật, người chồng chích ba giọt máu để tái sinh người vợ. Cô nàng sau khi roi rói khỏe lại, thì lập tức bỏ chồng rồi chạy theo một khách thương đại gia. Thấy anh chồng vật vã tội nghiệp, Đức Phật từ bi bảo: Thôi, tiếc làm quái gì cái của nợ ấy, con chỉ cần đòi lại ba giọt máu đã cho. Cô nàng đang phởn kia, cứ nghĩ là mình sẽ phải đền tình bằng sổ đỏ hay xe hơi, nghe thấy rẻ thế thì khoái quá, hấp tấp chích giả ngay ba giọt máu. Hãi hùng thay, vừa chích xong thì nàng ta lăn dùng ra chết và biến thành con muỗi. “Vì thiếu máu, nên lúc nào muỗi cũng lén lút đi chích trộm của mỗi người một tí để sống” (Sách đã dẫn). Đàn bà ham đọc tiểu thuyết kinh dị cho rằng, chuyện “Sự tích con muỗi” cũng được nhưng chẳng hấp dẫn bằng sự tích ma cà rồng. Bọn họ bĩu môi, đúng là văn nội, còn xa mới bằng văn ngoại. Hơn nữa, việc bỏ một tay chồng nghèo để đi theo một người tình giàu rỗi nhỡ có chết thì cũng chẳng lấy gì làm rùng rợn. Việc này thường thôi, “hơi bị muỗi”. Vĩ thanh. Theo vài nghiên cứu khoa học tối tân, hình như muỗi cũng có đực cái. Các nam độc giả đã từng bị phụ tình hay tin vào cổ tích thì tất thẩy đều phân vân hoài nghi, bởi đàn bà có biến hóa kiểu gì thì vẫn là đàn bà. Bọn họ khẳng định, bọn muỗi đều bay lượn uốn éo giống như thiếu nữ uống thuốc lắc. Và không phải ngẫu nhiên khi chế thuốc xịt muỗi, người ta thường vất vả cố làm có mùi thơm như nước hoa hay dùng cho phái nữ. Trần Khôi Việt Tiêu đề: Re: Tạp văn QĐND Gửi bởi: Trinhsat trong 11 Tháng Năm, 2009, 10:26:20 pm Tất cả chúng ta đều là "tham nhũng" (!?) Nhiều năm gần đây, người ta nói nhiều về chuyện "tham nhũng". Nào là, đó là tệ nạn xã hội, là bệnh dịch, là quốc nạn nguy hại đến đất nước, vân vân và v.v… Tôi không hiểu nhiều lắm, cũng không mấy quan tâm. Tôi chỉ nghĩ đơn giản: những kẻ "tham nhũng" là những người có chút địa vị và quyền hành gì đó trong xã hội, vơ lấy cái lợi vật chất của xã hội, của tập thể cho cá nhân mình. Hành động đó là xấu và cần phải loại bỏ. Nhưng cái chuyện loại bỏ như thế nào thì không phải phần việc của tôi, và tôi cũng chẳng bao giờ liên quan đễn chuyện đó, vì tôi chỉ là một anh cán bộ kỹ thuật thuần túy trong đơn vị. Ấy thế mà rồi cuối cùng té ra, tôi cũng chính là một kẻ "tham nhũng". Không những thế, tất cả mọi người trong cơ quan tôi đều là những kẻ tham nhũng. Và không biết chừng, ngay cả các bạn nữa, những người đang đọc bài viết này của tôi cũng chính là những người "tham nhũng", chỉ có điều bạn không nhận biết ra mà thôi. Các bạn ngạc nhiên và không tin ư? Thế thì cứ đọc hết bài viết đi thì sẽ rõ. Có một lần, cách đây mấy năm gì đó, khi chuyện chống "tham nhũng" đang được người ta hô thành khẩu hiệu, cơ quan tôi cũng tham gia, thành lập hẳn một "Ban chống tham nhũng" hẳn hoi, do đích thân sếp trưởng làm Trưởng Ban. Đương nhiên rồi, phải là người có đầy đủ uy quyền cao nhất mới cầm lái được con thuyền đi đến đích chứ. Nhưng sếp làm như thế nào là việc của sếp. Tôi chỉ là cái anh kỹ thuật, nên chăm chắm lo hoàn thành phần việc được giao của mình, để mà cuối mỗi tháng nhận đủ đồng lương đem về hớn hở giao cho vợ. Nhưng hóa ra không phải mọi chuyện chỉ đơn giản như vậy. Và tôi hiểu rằng nhận thức của con người đừng tưởng cứ nghĩ chủ quan là xong. Còn cần phải học, phải nghe nhiều thì mới sáng đầu ra được. Đó là lần sếp tôi họp toàn cơ quan để lên lớp cho chúng tôi hiểu về lý luận, thế nào là "tham nhũng" và chúng tôi sẽ phải chống như thế nào? Sếp bảo: "Tham nhũng, không nên hiểu đơn thuần chỉ là sự làm tổn hại đến xã hội về vật chất. Những hành động "tiêu cực" cũng phải được coi là tham nhũng, vì tiêu cực cũng chính là sự làm hại xã hội." Sếp giải thích loằng ngoằng một chút nữa, rồi tuyên bố tiếp: "Trong con người ta chỉ có hai trạng thái là tốt và xấu, không thể có trạng thái lơ lửng thứ ba. Vì thế, tốt là tốt hẳn, còn xấu là xấu chứ không phân biệt xấu nhiều hay xấu ít. Ví như anh đã ăn cắp thì dù ăn cắp 1 đồng hay ăn cắp cả tỷ đồng thì cũng thằng ăn cắp, xấu như nhau. Ăn cắp là loại tiêu cực, nên có thể coi đó cũng chính là tham nhũng". Lũ chúng tôi ngồi thuốn mặt ra nghe cái mớ lý luận ấy và hân hoan với niềm tin là những kẻ tham nhũng trong cơ quan sẽ bị xử lý, mọi người sẽ được bình yên hưởng không khí trong lành. "Ban chống tham nhũng" đã hoạt động, tất phải có thành tích, không nhiều thì ít. "Mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh" cho nên cơ quan tôi cũng phải có cách làm riêng của mình, chẳng cần phải bắt chước ai. Bạn có nhớ ngày xưa khi đi thi Toán, thày giáo thường dạy rằng, "các em hãy đọc lướt toàn bộ đề bài, xem câu nào dễ thì làm trước để gỡ điểm, câu nào khó làm sau…"?. Cơ quan tôi đã làm theo cái phương pháp khoa học ấy đấy. Vụ xử lý tham nhũng đầu tiên trong cơ quan là vụ hai tay bảo vệ cùng hai gã lái xe chơi bài tá lả có ăn tiền vào giờ trưa, bị sếp bắt quả tang. Bỏ vị trí canh gác, lại còn đánh bạc, thế là phạm hai tội. Vừa thiếu trách nhiệm, vừa sa vào tệ nạn cờ bạc, thế là tiêu cực. Mà tiêu cực cũng là tham nhũng, chạy đằng trời. Kết quả là 4 tên "tham nhũng" bị trừ nửa tháng lương. Nếu chỉ có thế thì chúng tôi cũng chỉ coi là chuyện tất nhiên, nhưng khi nghe sếp phủ dụ rằng, "đó là còn chưa xét đến cái tội ăn cắp thời gian của nhà nước đấy nhé". Tội "ăn cắp thời gian", nghe có vẻ có điều gì không ổn đây. Quả nhiên tháng sau, hơn một chục vị hay đi làm muộn bị đưa vào thước ngắm. Đây là tội "ăn cắp thời gian". Sếp lại phân tích, "các cô các cậu nay đi muộn một tí, mai đi muộn một tí, cộng dồn lại thì một tháng ăn cắp của nhà nước biết bao nhiêu thời gian? Mà cái đó qui ra tiền cũng gây thiệt hại cho cơ quan không phải nhỏ. Đó chính là tham nhũng đấy, chứ phải tìm đâu xa". Kết quả là cứ vị nào đi muộn quá 15 phút là bị trừ phắt nửa ngày lương hôm đó. Con người ta không thể "nắm tay suốt ngày" (các cụ đã dạy thế) và hiển nhiên là tôi cũng không nằm ngoại lệ. Mặc dù đã cố dậy sớm và lúc nào cũng nhăm nhăm nhìn đồng hồ (cứ như là trông đồng hồ để khỏi mất cắp chứ không phải là để xem giờ), tôi vẫn có lúc bị đi làm muộn, có khi là hỏng xe, lúc lại kẹt đường... Thế là chỉ cố gắng giữ được vài tháng, tôi cũng bị rơi vào danh sách "tham nhũng". Có rất nhiều vị tỏ ra cẩn thận, "sáng cắp ô đi, tối cắp ô về" rất đúng thời gian. Nhưng cứ nhăm nhăm cho việc đi làm đúng giờ nên tính chủ động sáng tạo giảm hẳn. Cả năm phật phờ chẳng có một phát mính cải tiến gì, làm việc như cái máy. Cuối năm tổng kết tưởng được biểu dương về thành tích "không đi làm muộn trong năm", thì lại bị sếp dội cho lời phán xanh rớn: "Đã làm việc là phải chủ động, động não suy nghĩ tìm cách làm tốt cho mình và giúp cả cho người khác nữa chứ. Chỉ chăm chăm như kiểu "thiên lôi chỉ đâu đánh đấy" thì vai trò tích cực sáng tạo ở đâu? Lười suy nghĩ cũng là hành động "thủ tiêu sáng tạo", xét cho cùng cũng là tiêu cực. Mà tiêu cực là một dạng của tham nhũng, nên như thế cũng là tham nhũng đấy". Thế là tiu nghỉu cả lũ. Cuối năm đó, đơn vị tôi cũng tổng kết thành tích, trong năm xử được gần hai chục vị "tham nhũng", chủ yếu là loại đánh tá lả ăn tiền và đi làm muộn nhiều lần. Tât cả các vị đó đều bị trừ tiền lương. Vẫn phải ký nhận đầy đủ ở tài vụ cái khoản tiền bị trừ ấy. Còn số tiền đó đi về đâu, không ai biết và tốt nhất là không nên hỏi. Tôi cũng bị đi làm muộn một số lần, nhưng không phải loại thường xuyên, nên chỉ bị sếp nhắc nhở chứ chưa bị trừ tiền. Hú vía. Thôi thì cứ biết thân phận mình là xong. Kiếm được đồng nào đưa về ngay cho vợ là yên tâm về đồng tiền đó. Vì hầu như trong cơ quan tôi, chả ai thoát khỏi cái tội "tham nhũng" (không nhiều thì ít), nên tất cả đều hài lòng với cái thành tích "xử" được gần hai chục vụ tham nhúng trong năm như tổng kết của cơ quan. Kết thúc Hội nghị năm đó, sếp lại tuyên bố: "Con người ta ai cũng có khuyết điểm, cho nên việc chống tham nhũng tốt nhất là chuyển về cho từng cá nhân, Ai cũng phải tích cực tự "chống lại tham nhũng" trong bản thân mình thì tự nhiên cơ quan sẽ tốt lên, cần phải Ban, bệ làm gì cho mệt". Thế là Ban chống tham nhũng tự nhiên giải tán, vì tất cả chúng tôi đều đã tham gia "tự chống bản thân" mình rồi. Câu chuyện là như thế đấy. Và "một ngày lại như mọi ngày" cứ tiếp tục... Tiêu đề: Re: Tạp văn QĐND Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Năm, 2009, 06:55:00 pm BI KỊCH CỦA LẠ Theo sử Tầu, mùa thu niên hiệu Càn Đức thứ hai (964), Tống Thái Tổ là Triệu Khuông Dẫn, khởi đại binh tấn công tiểu quốc Hậu Thục nằm ở Tây Xuyên. Sau hơn bốn ngày vây hãm Thành Đô, quân Tống tràn vào bắt sống vua Thục là Mạnh Sưởng. Có một điều làm kinh hãi quân Tống, đấy không phải tinh thần kháng cự của đối phương mà là sự xa xỉ kinh hoàng của Thục chúa. Trong khi dân tình chết đói đầy đường, thì vua quan nhà Hậu Thục hoang toàng hưởng lạc đến mức khó tin. Cung nữ hàng ngàn, nô tỳ hàng vạn. Chạn bát của đám đại thần tất thẩy đều làm từ bạc trắng gán minh châu. Còn chuồng nuôi ngựa tại cấm thành được lót cỏ Linh chi, tẩy mùi bằng Long diên hương và khung bao quanh ghép đủ loại gỗ quý. Khi biên tịch của cải ở hậu cung, viên đại tướng cầm quân là Vương Toàn Bân tìm thấy một vật cực lạ. Nó là một thùng nhỏ được đẽo ra từ nguyên khối ngọc lục bảo, hai bên quai xách là hai bàn đế bằng vàng ròng nạm chi chít kim cương. Là người hiểu nhiều biết rộng nhưng Toàn Bân cũng chịu không biết đấy là vật gì, đành gửi về kinh đô Khai Phong cho Triệu Khuông Dẫn. Sau khi hợp nội các và nghiên cứu mất hơn một ngày, vua Tống mới đoán định được cái vật kỳ lạ đó là cái bồn cầu, thuật ngữ nội thất đương đại nôm na gọi là bệ toalét. Hoàng đế nhà Tống tuy sang trọng quen thói nhưng cũng phải ứa nước mắt kinh ngạc cảm thán. “Bồn cầu mà xa xỉ đến mức này thì đồ ăn thức uống còn xa hoa đến đâu. Hoang phí như vậy làm gì mà không mất nước”. Từ xưa đến nay, những người vất vả thành công lúc dư dật tiền thường ham thích thu thập các kỳ trân dị bảo, đại loại đều là những đồ vật lạ lùng hiếm quý. Những vật lạ độc nhất vô nhị này miễn cưỡng tạm chia làm hai loại. Loại một là những vật sẵn có trong tự nhiên, may mắn hấp thụ được tinh khí lẵng đọng của trời đất rồi cùng thời gian dần dần mà thành hình. San hô đỏ cao hơn mười thước của trọc phú Thạch Sùng là một ví dụ. Viên ngọc Dạ minh châu to gấp đôi mắt đứa trẻ con nhà nghèo lúc đứt bữa mà Từ Hy thái hậu đính ở nóc màn để đọc kinh Phật là hai ví dụ. Còn nữa, hoa hậu mặt xinh, người mẫu chân dài, nói chung là những người đẹp thích làm vợ các đại gia sâu xa cũng thuộc ở loại này. Loại hai là những sản vật kỳ khu tinh xảo do tài năng bàn tay khối óc của con người cực nhọc vắt mồ hôi nước mắt mà tạo thành. Cao thì như những họa phẩm của các danh họa, thấp thì như du thuyền, như xe hơi, như dàn âm thanh tối tân Hi-tech chẳng hạn. Tất nhiên, xuất xứ của mọi phi thường kỳ vật thì nguồn gốc lúc đầu cũng chỉ mang vẻ bình thường. Hổ phách là nhựa thông trăm tuổi, phục linh là hổ phách đã trăm năm. Mỹ nhân đại loại thì cũng thế. Cái con bé mò cua bắt ốc tay chân cong queo ghẻ ruồi của thủa nào, chợt một ngày đắc thời đắc thế, vượt qua vòng hở hang áo tắm rồi vượt tiếp vòng ứng xử ngô nghê bỗng thăng hoa mà đăng quang thành hoa hậu. Tứ đại mỹ nhân tuyệt đẹp trong sử Tầu thì cả bốn đều có xuất thân bần tiện. Đứng đầu như Tây Thi thì cũng hành nghề lam lũ giặt vải, có bố gốc gác tiều phu thậm chí vài thuyết còn cho là lâm tặc. Tuy nhiên, nói gì thì nói, đã là kỳ vật thì tất cả đều tuyệt đối khác thường. Chính vì thế, ở cuộc đời nhiều thăng trầm bất trắc này, phải là kỳ nhân mới có thể cầm giữ được kỳ vật. Ngựa Xích Thố là dành riêng cho mông đít của Lã Bố hoặc Quan Công, các chiến tướng tầm thường khác cũng đua đòi trèo lên, không trượt chân dập mặt mới là chuyện lạ. Ở ta bây giờ có quá đông những kẻ liều lĩnh không biết rằng y phục xứng kỳ đức. Mới nho nhoe được ít tiền bán đất đã ngông cuồng đi sắm bàn ghế thời Minh, gốm sứ thời Trần. Bọn họ nên giản dị hiểu rằng, đồ vật mà có giá trị vượt qua cả chủ thì người cầm nó không những không thọ mà còn rước đại họa cho cả nội ngoại tứ thân. Bi kịch của nhan nhản thương gia đáng thương thời nay là tấm gương nhãn tiền. Chỉ trông vào chút ít tiền buôn lậu điện thoại di động, đã dám yêu rồi thành thật lấy nguyên cả một hoa hậu thì việc ngồi tù là chuyện đương nhiên. Cho dù Nguyễn Gia Thiều có nuốt lệ hối hận thì cũng xong rồi một khúc ngâm cung oán. Theo đà tha hóa của lòng tham con người, của lạ trong thiên hạ đã dần dần hao hụt rồi tuyệt tích. Vào cái thời buổi hung hãn văn minh này, lấy đâu ra những ngà voi trắng mươi thướt, sừng tê đen trăm phân. Khái niệm của lạ ở ngày hôm nay đang dùng với nghĩa dung tục, nó đơn giản chỉ là những thứ mình khao khát chưa từng được dùng. Cái câu “cũ người mới ta” hợm hĩnh trở thành chân lý. Ví như những công nghệ kỹ thuật, những trào lưu điện ảnh, Tây Tầu nhai chán đã nhả ra thì mình rưng rưng ôm về coi là kỳ trân gia bảo. Ví như cái cô vợ đoảng vị của nợ đang ở nhà mình nhưng đôi khi sang nhà khác là báu vật. Phong trào rầm rộ ngoại tình rồi vỡ mộng tự tử, chính là hệ lụy của việc mù quáng ham thích của lạ. Minh quân Trần Nhân Tông của nước Đại Việt hùng cường, vốn là hóa thân của Biến Chiêu Tôn Phật đã nhân hậu răn dạy “Của báu lạ vốn sẵn trong nhà, đừng phí công đi tìm đâu khác”. (Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch). Chắc chắn là vậy. Một tâm thức trung thực yêu thương với sâu sắc kiến thức, bao giờ cũng là nơi phát sinh và dung dưỡng của không biết bao nhiêu kỳ vật. Phải chăng, của lạ chính là sự sáng tạo từ sâu thẳm nội tâm rồi chân thành ngắm nó bằng cặp mắt xanh non hồn nhiên tự lại. Trần Khôi Việt Tiêu đề: Re: Tạp văn QĐND Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Năm, 2009, 10:49:00 pm NGƯỜI ĐẸP ĐI XE ĐẠP Thông thường, người đẹp đã biết đi thì đi được trên nhiều loại phương tiện lắm. Có người tự tin đi trên xe “mẹc” như các nữ doanh nghiệp đang trúng mánh, có người ngây ngô đi trên sàn catwalk như đám người mẫu chân dài. Có người nhờ khéo léo có thể đi trên dây như nữ diễn viên xiếc, có người nhờ gan lỳ có thể đi trên tường như các nữ hiệp hành tẩu giang hồ. Lại có loại tần tảo vất vả thì đảm đang quang gánh hàng rong đi bộ. Lại có loại cậy xinh trắc nết thì lăng loàn trịch thượng đi trên đầu chồng. Thế nhưng cho dù bất cứ đi loại gì thì đa phần các người đẹp cũng đều chú trọng cố gắng tạo dáng, và kiểu dáng chuyển động quyến rũ nhất trên đời này thì không gì tuyệt vời bằng người đẹp đạp xe đạp. Miền Bắc hồi còn bao cấp, xe đạp là một khối tài sản cực kỳ lớn. Vào những thập niên sáu mươi, bảy mươi của thế kỷ trước, xe đạp bắt buộc phải có số khung và thẻ đăng ký, nó được các ông bố lo lắng giữ gìn gần ngang như giữ gìn đức hạnh của mấy cô con gái chậm chồng trong nhà. Thành ngữ “xe đạp không khóa để Bờ Hồ” đau xót ám chỉ việc để cho vợ hoặc người tình đi Đông Âu, mặc dầu lý do chính đáng là đi xuất khẩu lao động hay du học. Xe đạp thì đương nhiên mất cả chiếc nhưng thỉnh thoảng vợ và người tình cũng có quay về. Tất nhiên rất hiếm khi còn nguyên, đương nhiên là còn khung còn lốp. Những thứ chẳng may mất đại để đều là phụ tùng lặt vặt, kiểu như chuông hay cái đèo hàng (porte-bagages). Mất xe đạp là một nỗi tuyệt vọng không thua gì thất tình. Rất nhiều thiếu nữ trong trắng khi gặp phải một trong hai đại họa ấy thì hoặc là trẫm mình ở Hồ Tây hoặc là uống thuốc ngủ mua lậu ở đầu phố Hàng Mã. Nếu thiếu nữ đấy đen tới mức, vừa gặp phải thằng Sở Khanh rồi vừa trong lúc cao chạy xa bay thằng mất dạy này lại lấy luôn cả xe đạp thì trước khi lao mình xuống nước các cô thường cẩn thận uống vã thêm vài vỉ Séduxel. Thế nhưng ở đâu không biết chứ phong thủy thành Thăng Long vốn là nơi mảnh đất “phi chiến địa” (sấm Trạng Trình), nên hầu hết các câu chuyện rùng rợn kể trên đều có kết hậu (happy-end). Hoặc thiếu nữ bất hạnh ý thức rơi xuống chỗ quá nông, hoặc ham rẻ mua phải thuốc ngủ dỏm. Người thì không sao nhưng giun trong bụng lử đử say chết cả búi. Vì thế các thiếu nữ mới quyên sinh hụt nhìn là biết ngay, đại loại khi đang phục hồi sức ăn giả bữa họ thường tự tin ăn rau sống, gỏi cá sống và phở bò chần thật tái. Người Việt biết đi xe đạp vốn dĩ là nhờ người Pháp. Trong lúc xâm chiếm tàn bạo thực dân, người Pháp tiện tay ào ạt khai hóa đem lối sống phương Tây văn minh tràn vào. Theo nhà văn Nam Bộ Sơn Nam thì cho đến “trước và sau năm 1930, phụ nữ ở Sài Gòn đã vươn lên. Họ đua xe đạp (loại tay cầm ngang), đánh bóng bàn, lái ôtô. Đặc biệt là lên võ đài (võ tự do) ở hội chợ phiên”. Tuy nhiên, xêm xêm cùng lúc ấy, các bà các cô ở Hà Nội hầu như vẫn giữ nguyên rất nhiều nếp cũ. Răng vẫn đen, ăn uống vẫn tinh tế âm thầm. Gần như chưa có ai đi xe đạp, hiếm hoi lắm mới có người một mình dạo phố. Phần đông là ngồi nhà túm năm tụm ba lãng mạn khe khẽ đọc trộm tiểu thuyết “Tố Tâm” của văn sĩ rất sến Hoàng Ngọc Phách. Cứ đọc “Cô Kếu gái tân thời” của nhà văn Nguyễn Công Hoan thì biết. Kếu là tên cúng cơm của một thiếu nữ, sau đó cô liều lĩnh tự đổi thành Bạch Nhạn. “Mang tiếng là con gái Hàng Đào nhưng các bạn cô, cô Bích Ngọc đã được mặc quần trắng và áo sáu khuy. Cô Song Khê đã được cạo răng. Đến ngay như cô Mộng Lê mà mẹ cũng chiều để chị đánh phấn và mặc áo mầu nữa là”. Vì thế Kếu Bạch Nhạn bức xúc tự sắm một bộ tân thời, gửi nhà bạn để mỗi buổi chiều cô đơn đi bộ đến đấy ăn diện. “trong độ nửa giờ cô ngắm chán, cô trút hết bộ cánh ra xin thau nước lau kỹ cái mặt rồi quần áo thâm đi về”. Chao ôi là tội nghiệp. Tuy nhiên, chính là vì mảnh mai nhu mì văn minh muộn mà khắp các đô thị Việt, chưa ở đâu lại có phụ nữ đạp xe đạp xêchxi quyến rũ như các thiếu nữ Hà Nội. Vẫn hồi bao cấp, quanh Bờ Hồ hoặc dọc đường Thanh Niên bỗng một vài thiếu nữ thong thả đạp xe, đã thế lại đạp Điamăng (một dáng xe mà người đạp phải mềm mại thẳng lưng kiêu sa vươn ngực ưỡn mông). Trong rờn rợn của chiều tà mong manh tàn Thu, thật là một kiểu dáng hút hồn không bàn phím nào tả xiết. Rất nhiều nam thanh niên lương thiện của Hà Nội, chỉ vì nhất thời nhìn sau mê cái dáng ấy rồi chới với rơi vào hôn nhân, vĩnh viễn sống chung với một của nợ cho đến hết phần đời còn lại. Ký túc xá của sinh viên những năm xa xưa, các nữ sinh hay kể cho nhau nghe một chuyện có thật. Một thiếu nữ nhan sắc trung bình nhưng nồng nàn thầm yêu một chàng trai có ngoại hình của các đạo diễn đoạt giải Cánh diều vàng. Nàng sở hữu một chiếc xe đạp Thống Nhất, nếu phải so với ôtô bây giờ thì nhang nhác tương đương với Matiz hay Kia gì đấy. Nàng nhờ chàng đèo lên chỗ vắng núi Nùng giữa vườn Bách Thảo, sau khi cẩn thận dựng xe thì nàng lim dim mắt thì thào dâng hiến “Em yêu anh. Em xin tặng anh cái quý giá nhất của đời em”. Chàng trai hạnh phúc hỏi “thật không”. Nàng gật và khi mở mắt ra thấy chàng đang bon bon ngất ngây đạp xe mất hút. Người xưa bảo chữ trinh đáng giá nghìn vàng, vậy giá trị chân chính của xe đạp cỡ khoảng nghìn mốt. Nguyễn Việt Hà Tiêu đề: Re: Tạp văn QĐND Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Năm, 2009, 12:57:00 pm MẸ VÀ CON TRAI Trong suốt những chuyên luận vừa rắc rối nhầm lẫn vừa khai sáng minh triết của mình, Tâm lý gia lỗi lạc người Áo Sigmund Freud (1856-1939) đã cảm hứng trên huyền sử bi kịch Hy Lạp rồi đưa ra một thuật ngữ đến nay hầu như chắc chắn được coi là kinh điển. Đấy là thuật ngữ “phức cảm Ơ Đíp” (Complex d’Oedipe). Ơ Đíp là một hoàng tử xứ Thébes, kha khá anh hùng, sau một hồi lưu lạc tha hương thì khi quay về đã vô ý giết cha lấy mẹ. Loại đi vài ba cái lăng nhăng tùy theo quan niệm đạo đức của từng thời, Freud muốn trắng trợn minh bạch hóa một điều, đã là con trai thì vô cùng yêu mẹ. Đám người phương Tây thích chữ nên rắc rối thật, chứ ở phương Đông vốn dĩ điềm đạm và trong trẻo thì từ xửa xưa đến nay, chuyện tình cảm giữa mẹ và con trai (mẫu tử chi tình) luôn là điều đương nhiên vừa tuyệt vời thiêng liêng vừa giản dị cao cả. Trong văn tự tượng hình tối cổ, chữ “mẫu” là hình chữ “nữ” có điểm nhô thêm ra hai núm vú. Với tất cả bọn đàn ông từng oe oe biết bú tí, nghĩa gốc của chữ này không cần giải thích cũng hiểu, đó chính là Mẹ. Đôi bầu sữa nhỏ nhoi vĩ đại ấy nồng nàn ám ảnh hết thảy những thằng con trai, kể cả rồi đây nó huênh hoang may mắn trở thành đại văn hào hay đại chính khách. Chao ôi, từ vú mẹ đến vú người tình là cả một sự tha hóa của trưởng thành. Một nhà văn người Nga bị cai sữa sớm đã rưng rưng cảm thán như thế. Nhà thơ Thu Bồn còn dữ dội hơn “Mẹ đã thả neo vào miệng con bằng núm vú. Giông tố bão bùng không đánh bật được mẹ ra”. Trên cõi đời bất trắc đang dần dần bị ô nhiễm này, duy nhất chỉ còn một thứ tình cảm vĩnh viễn không bao giờ gợn tạp, đấy là nỗi lòng của người mẹ dành cho con trai. Bằng hữu đôi khi có bội bạc, người tình thường xuyên có phản lừa. Huynh đệ thỉnh thoảng vì lợi mà tổn thương nhau, thầy trò nhiều lúc vì danh mà đem bán rẻ. Duy chỉ tình mẫu tử là kim cương bất hoại. Lúc lóc nhóc chưa có răng thì mẹ nhịn đói lừa xương lọc thịt nhá mớm cho con. Lúc phương trưởng nhỡ gặp gian nan thì mẹ sấp mặt oằn lưng sẵn sàng đỡ chịu. Thậm chí, có những thằng mất dạy vì mê đắm nữ sắc vì rồ dại công danh cuồng loạn giẫm đạp ngay lên mẹ đẻ, thì mẹ vẫn nghẹn ngào hạnh phúc cam nguyện làm bậc, từ đáy lòng chỉ mong thằng con đừng bao giờ chệnh choạng. Và thằng con trai cậy chữ cậy khôn tâng bốc cho đấy là sự hy sinh sự vị tha. Khốn nạn thay cho cái nhân loại, tuyệt đại đa số đều không biết rằng, trái tim thương yêu vô bờ bến của người mẹ đã cứu chúng ta ra khỏi kiếp nạn bị trượt xuống thành cái thứ có sừng có đuôi có móng. Tất nhiên những thằng con trai rồi cũng sẽ hiểu, đứa con được kết tụ từ bao nhiêu nước mắt của từ mẫu thì làm sao có thể hư hoại được. Đã có bà mẹ như Mạnh Mẫu thì đương nhiên phải có người con như Mạnh Tử, vị á thành khét tiếng hiếu hạnh của Nho giáo. Và cho dù phải bôn ba loay hoay ngược xuôi hòng hóng hớt chút ít lợi danh thì nỗi nhớ về mẹ luôn da diết tức tưởi. Thi hào lãng tử Mạnh Giao đời Đường có câu thơ ngóng mẹ giàn giụa tới đứt ruột. “Từ mẫu thủ trung tuyến. Du tử thân thượng y”. Đại loại là, áo sợi mà tình mẹ hiền dệt cho, thằng con lang thang lúc nào cũng khư khư mặc trên mình. Chính vì thế, kẻ sĩ thời xưa vinh dự xác định “Một ngày được phụng dưỡng mẹ thì có đem chức Thừa tướng cũng không đổi” (Nhất nhật đại dưỡng bất dĩ tam công hoán). Ngày nay đạo hiếu văn minh hơn, nhiều thằng con trai dư dật tiền đang hăng say phấn đấu trên hoạn lộ thường “phụng mẫu” ở nhà dưỡng lão. Khi phải thấy những đứa con làm các điều xấu xa rồi ngập vào tha hóa, các bà mẹ không bật khóc mới là chuyện lạ. Trần Khôi Việt Tiêu đề: Re: Tạp văn QĐND Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Năm, 2009, 06:33:40 pm NHỮNG NGƯỜI VỀ NHÌ Ở những giải thưởng của văn chương gần đây, không hiểu sao người ta hầu như chỉ trao có một giải. Nhà tài trợ đoàn kết cùng ban giám khảo đồng thanh cho đây là một cách thức rất văn minh, hoàn toàn không phải vì đang ở thời tài chính khủng hoảng mà là sự tập trung tôn vinh một giá trị độc sáng. Đã là nhất thì đương nhiên vô nhị. Kiệt tác được giải tuyệt đối không phải dành cho đám đông, do vậy sau khi nhận thưởng xong, những kiệt tác này đem ra rộng rãi bán thường rất ế. Người mua trung thành đa phần là tứ thân nội ngoại của tác giả, may mắn thì có thêm vợ và người tình. Đã là số một thì chỉ dành cho hữu hạn số một. Điều này hao hao giống như việc hôn nhau ở cái thời tình yêu còn trong trắng cổ điển. Môi của nàng là duy nhất chàng sở hữu, vì thế nó luôn luôn đậm đà tím chung thủy hình trái tim, chức không phải như bây giờ, do công việc quảng giao phải đi hôn nhiều người quá, nên dù đã vất vả phẫu thuật thẩm mỹ, kha khá nhiều làn môi của các thương gia thiếu nữ đều phảng phất bàng bạc trắng mang hình quả cật. Tuy nhiên cũng vẫn là nghệ thuật, bên điện ảnh lại khác hẳn. Liên tiếp trong hai năm liền, các nhà chấm giải cao quý của hội phim nhựa ở ta chỉ khăng khăng trao cho các tác phẩm đứng hàng thứ hai, danh xưng nôm na gọi là Cánh diều bạc. Những người lĩnh giải ngoài mặt cố vẫn tươi nhưng trong bụng chắc hẳn không khoái lắm. Bởi cánh diều có đông tây bay lượn kiểu gì thì sâu xa mình vẫn chỉ là “thằng” về nhì chân chậm. Trên một số báo ra ngày mùng 2-3-2009, một ông beo béo có ria, trông vừa sang trọng lại vừa phúc hậu chua chát than thở: “Là những người làm phim chúng tôi không bao giờ ganh tỵ. Tiếc thay ban tổ chức đã không làm thế. Giải Cánh diều vàng mà không trao giải Vàng thì tôi thấy rất buồn cười”. Một nhà thơ chuyên viết văn xuôi thấy thế cũng buồn cười quá nên a dua mượn ca dao chia sẻ “Trông xa cứ tưởng là vàng. Lại gần mới biết làng nhàng bạc thôi”. Theo Từ điển Hán Việt của cụ Đào Duy Anh, thì để chỉ những người về nhì, tiếng Tầu thường rất hay dùng chữ “á”. “Á thánh” là những vị xếp ngay dưới bậc chân thánh, ông Nhan Hồi, ông Tử Tư, ông Tăng Sâm, ông Mạnh Tử đang được thờ (tứ phối) trong văn miếu là ví dụ chẳng hạn. “Á khôi” là những người đỗ cao chỉ dưới thủ khoa của kỳ thi Hương. “Á hậu” là những mỹ nữ cực kỳ xinh, suýt tí nữa thì thành hoa hậu với lý do bị trượt xe ra vô cùng vớ vẩn. Khi mặc áo tắm ở vòng thi ứng xử do hùng biện nồng nhiệt quá, mảnh trên đã ngây thơ suýt tụt. Và cũng đọc như thế nhưng viết khác, chữ “á” còn có nghĩa là tuyệt không nói (á khẩu). Qua đây thì thấy, việc hoa hậu hay hớn hở trả lời phỏng vấn hoàn toàn không phải do thói quen lắm mồm hay sướng quá hóa ba hoa mà là do xuất xứ có truyền thống từ học thuật. Những người về nhì, đặc biệt là phụ nữ, thường là những người ôn nhu đoan trang, phía trong chứa chất rất nhiều chung thủy. Khác với đám ồn ào thiết tha về nhất, họ cam chịu nhường nhịn. Khi thua chứng khoán họ không hét tướng lên mà âm thầm nuốt lệ. Họ sống hướng nội, xem phim Lê Hoàng, nghe nhạc Đàm Vĩnh Hưng và đọc thơ Đỗ Trung Quân. Đôi khi trời mưa họ cũng bâng khuâng làm thơ, và nhất quyết chỉ chọn thể lục bát, sau đó lẳng lặng mở email tự gửi. Phía thẳm sâu họ không ham giải nhất nhưng cũng hơi hy vọng ở giải khuyến khích. Do lá số tử vi cung Phúc có Khoa, Khúc, Lưu Hà, Thanh Long, cung Mệnh có Nhật sáng, Xương được Lương ở Ngọ chiếu nên họ thường e lệ chỉ yêu một lần rồi lưỡng lự lấy chính người ấy. Đến khi có con, họ hy sinh vị tha, nhẫn nại làm lụng, nhặt nhặn buôn bán, tiết kiệm một món cho con đi du học nước người. Họ rưng rưng tỉnh táo biết rằng, mình là người mẹ đang ở hạng nhì nhưng đứa con của mình kiểu gì cũng phải lên hạng nhất. Hạnh phúc thay cho những đàn ông lấy được vợ quen nếp về nhì. So với đàn bà, đàn ông về nhì số lượng có vẻ ít hơn nhưng chất lượng bất hạnh lại lớn hơn. Rất nhiều kinh tế gia đang thua lỗ trên sàn giao dịch vàng đã đau đớn cho rằng, bi kịch về nhì ở đàn ông có nguồn gốc từ việc liên tục phải cạnh tranh rồi mù mờ hoang tưởng. Hoặc kiếm tiền hoặc kiếm danh, cái khát khao thèm về nhất triền miên dằn vặt không biết bao nhiêu bậc trượng phu chính nhân quân tử. Ngập ngụa trong giấc mộng vô địch, họ bất chấp đạo giời đạo người, nhắm mắt lao đầu co cẳng chạy nước rút về đích. Đáng thương thay, vô số kẻ cho tới lúc đến đích, mới bàng hoàng nhận thấy mình trắng tay tuyệt đối. Vậy thế nào là nhất thế nào là nhì, rốt ráo cũng chỉ là sự lẫn lộn hư vọng của lòng tham con người. Phương ngữ miền Bắc gọi đại ca là anh Cả, còn miền Nam lại gọi anh Hai. Cụ Lãng Nhân kể trong tập “Chơi chữ” về cuộc thi thời thực dân phong kiến, có vế đối ra “Vợ cả vợ hai, hai vợ đều là vợ cả”. Cho đến nay, đã rất nhiều vế đối lại, câu chữ thì đúng nhưng sự nhân hậu thì thua xa. Trần Khôi Việt Tiêu đề: Re: Tạp văn QĐND Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Sáu, 2009, 10:43:28 pm QUÁ KHỨ CÓ ĐƯỜNG VỀ Mẹ Teresa (1910-1997), một trong những nữ tu bình dị vĩ đại nhất của mọi thời đại, người đã dành cả cuộc đời để chăm sóc an ủi những kẻ bần cùng tuyệt lộ, có một lần đến thăm một tay tướng cướp trẻ đang nằm viện. Gã cướp hung bạo với hai bản án tử hình này đang bị cảnh sát tạm giam do bất thần trắc ẩn xả thân cứu mạng ba đứa nhỏ. Xúc động trước sự tận tâm của vị nữ thánh, người vừa được giải Nô-ben hòa bình 1979, gã nức nở với mẹ rằng liệu mình còn có cơ hội để trở thành người lương thiện. Mẹ Teresa điềm đạm từ bi trả lời: “Nếu con biết chân thành yêu thương thì mọi thứ đều có thể. Bởi tất cả các thánh nhân, ai ai cũng có quá khứ”. Ở cuộc đời con người ta, trừ bọn nhóc đang ngồi bô độc quyền sở hữu chiều thuận của tương lai thì tất tật đều nặng nề mang vác một quá khứ có không ít sai lầm. Nguyên nhân đến từ những ngu dại non nớt chủ quan hoặc những khắc nghiệt bạc bẽo khách quan. Có thể hôm nay đang là triệu phú, ngày ngày chăm chỉ tô tượng đúc chuông xây chùa, thế nhưng thuở xa xưa lúc đang còn lận đận trên hoạn lộ thì không ít lần bị báo chí coi là trắng trợn tham nhũng. Lại có thể bây giờ đang là một sáng ngời phu nhân nhất phẩm, sáng sáng cao giọng răn dạy đạo đức ngăn nắp cho con dâu, cháu dâu, tuy nhiên hồi còn bồng bột thiếu phụ đã không dưới vài lần hoang mang ngoại tình rồi thỉnh thoảng nổi hứng đanh đá cãi nhau cả với mẹ chồng. Có lẽ vì vậy mà vô số nhiều người, đặc biệt là những đàn bà vừa xinh vừa thông minh thường hay day dứt nuối tiếc, thậm chí xót xa ân hận muốn làm lại những việc mình trót làm hoặc đáng ra mình đã không làm. Vương Thúy Kiều trong kiệt tác “Đoạn trường tân thanh” của đại thi hào đa đoan Nguyễn Du là điển hình ví dụ. Ở cái buổi trong veo đang yêu Kin Trọng, đôi khi do quá yêu chàng Kim có gạ gẫm đói “chuyện ấy”. Mặc dầu chẳng bao giờ tham gia diễn đàn “Sống thử trong giới trẻ, một hiện tượng cần cảnh báo”, thế nhưng Thúy Kiều vẫn để hẳn ra một tối cắt nghĩa cho chàng Kim về cái lợi của việc “gìn vàng giữ ngọc”. Và khi biết mình phải chắc chắn kết hôn với thằng Mã Giám Sinh hành nghề doanh nhân “Khác mầu kẻ quý người thanh. Ngẫm ra cho kỹ như hình con buôn” thì nàng đau đớn vật vã ân hận “Hoài công nắng giữ mưa gìn… Nhị đào thà bẻ cho người tình chung”. Tiếc thay, con người ta không thể tắm nước cùng một dòng sông được hai lần (Heraclitus) nên sự trinh bạch của Thúy Kiều bị dòng đời phũ phàng đẩy tới chỗ ngầu đục ngay sdats chân lầu Ngưng Bích. Đám thiếu nữ 8X, 9X đương đại hình như coi đây là bài học kinh nghiệm, bọn họ liền hấp tấp quan niệm khác hẳn về cái việc “bẻ nhị”. Không phải ngẫu nhiên mà thời gian gần đây, số lượng nữ sinh trót mang bầu ở ta lúc nào cũng nằm trong tốp ba thế giới. Rất nhiều học giả có vẻ đạo đức cho rằng, lối sống phóng túng của giới trẻ hôm nay chịu hệ lụy từ những trò chơi game trên net. Phần lớn các trò này có mã lệnh láu cá “undo”, khi người chơi nhỡ trượt chân sa ngã, chỉ cần khẽ click vào đây lập tức mọi sự chợt nhiên hoàn hảo trở lại. Từ xưa tới nay, việc sửa chữa sai lầm vốn là việc thiên niên vạn nan, thế mà bỗng dễ như vậy thì trên đời chẳng có việc quái gì là khó. Có phải thế chăng mà tivi hào hứng đều đặn phát các chương trình kiểu như bỗng dưng thành triệu phú rồi làm giàu quá dễ. Thậm chí cái nón vốn là vật dụng mưu sinh tầm thường chỉ nên dành cho những người già cả ốm đau mưu sinh thì cũng mỹ miều thêm vào hai chữ “kỳ diệu”. Đương nhiên, trò chơi là một phần của trò đời, và nó hiển nhiên phản ánh một phần tâm thức của thời đại. Người xưa xếp bốn trò “Cầm, Kỳ, Thi, Họa” vào bậc “tứ đại thanh cao” là bởi sâu xa ở đấy nó dung dưỡng những tố chất giúp cho con người ta bớt đi sự sai lầm. Chơi cờ chẳng hạn, quy định đầu tiên phải tuân theo là “hạ thủ bất hoàn”, đã để tay đẩy quân đi thì thuyệt đối không được phép hoãn. Điều này giống hệt như đời thực, sống một ngày là phải chịu trách nhiệm với một ngày, vì thế hãy yêu thương nâng niu tôn trọng tối đa nó. Cô bé tuyệt vời vị tha trong tiểu thuyết khét tiếng “Chuyện tình” của Erick Segal cũng đưa ra thông điệp tương tự “yêu nghĩa là không bao giờ để mình phải nói lời ân hận”. Quá khứ của một bình thường con người, hầu hết đều được đan dệt bằng những sai lầm. Muốn vượt thoát khỏi nó, duy nhất chỉ có một phương cách là chân thành sám hối (Ksamayati). Sám là ăn năn tội trước, hối là chừa phạm lỗi sau. Đây cũng chính là con đường độc đạo để người ta quay về thanh thản tự tin sống cùng quá khứ. Bể khổ mênh mông quay đầu là thấy bến (Khổ hải mang mang, hồi đầu thị ngạn). Hơn bốn nghìn năm trước, Đức Phật đã từ bi rao giảng lý thuyết về “undo” một cách giản dị như vậy. Trần Khôi Việt Tiêu đề: Re: Tạp văn QĐND Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Bảy, 2009, 10:18:31 pm NHANH ĐỂ ĐẾN ĐÂU THẾ? Tốc độ, thế kỷ hai mươi mốt này tôn thờ tốc độ. Tốc độ càng nhanh càng tốt. Thế giới đang phi như một chú ngựa, hơn cả ngựa, phi như chiếc xe đua công thức Một. Ai cũng muốn đến đâu đó thật nhanh. Anh này thì muốn cái giàu nó đến thật nhanh để đỡ phải cặm cụi nhặt từng đồng còm cõi. Chị kia thì muốn chồng từ đại úy lên tướng thật nhanh để đỡ phải đi chợ bằng xe máy mà đi bằng ô tô. Học sinh vừa khai giảng hôm trước, hôm sau đeo cặp sách nặng như cái cùm trên lưng lòng dạ đã muốn “ve ve ve hè về” thật nhanh. Người già tuồng như cũng bị cuốn vào vòng mê hoặc của tốc độ, mới nhúc nhắc cầm xẻng trồng cây na, gốc chưa lấp kín đã muốn chỉ nửa năm là quả đậu trĩu trịt. Các cậu các cô có “gien” phong tình, đa đoan thì bỏ cái công nghệ cưa cẩm đẩy qua đẩy lại lề dề, mà vác cưa máy đến với nhau, xòe xẹt trong nửa ngày là cả hai cùng đổ luôn. Những cậu chàng đeo kính cận dày như kính lúp, thuộc diện “trên đời chỉ biết mỗi gêm” thì ngay cả trong giấc ngủ cũng luôn ngỏ sẵn cửa với hy vọng Bụt hay Bin-ghết lạc bước vào, để có cơ hội cầu xin cho ra lò loại vi tính có tốc độ nhanh siêu phàm, nhanh đến kinh hoàng thì càng tốt. Đại khái thế, thời này cái gì người ta cũng muốn nhanh, chỉ có tuổi già và cái chết là ai ai cũng muốn nó đến thật chậm, không đến thì còn tốt nữa. Con người là vậy, con người thời này ấy. Vì muốn nhanh mà người ta bắt đầu rút bớt các công đoạn ở mọi lĩnh vực. Học cũng rút ngắn công đoạn và hậu quả là có bằng cấp nhưng không có học vấn thực. Đến cả ăn cũng rút ngắn công đoạn nhai cho nên bệnh đau dạ dày ngày càng phổ biến. Ngày trước, người ít tuổi đưa hay nhận bất cứ cái gì từ người lớn tuổi hơn đều phải dùng hai tay, giờ để cho nhanh thì đưa và nhận cũng chỉ có một tay. Ngày trước đi xe đạp thong dong, hai tay nắm ghi đông, giờ để tiết kiệm công đoạn và sức lực thì lúc đi xe máy một tay, tay kia còn “sờ nắn” điện thoại. Trước tố độ vừa vừa phai phải, muốn ga xe máy cũng phải qua mấy chặng, nay thì rút gọn công đoạn lại, chỉ cần vít nhoàng một cái là đang từ tốc độ 30km vọt tiến thẳng lên thời kỳ tốc độ 90km, bỏ qua giai đoạn quá độ 45km. Cái sự rút gọn này để đến nhanh cái đích nào thì chưa biết chứ đến bệnh viện hoặc đến nghĩa trang Văn Điển nhanh là cái chắc. Về công nghệ rút gọn thì thiên hạ vẫn lưu truyền câu chuyện nổi tiếng sau: Có kẻ kể rằng: Một người nước Sở đánh mất cây cung, tìm mãi rối người nước Sở ấy cũng thấy lại cây cung. Cụ Khổng Tử nghe thấy giọng xem ra con cà con kê quá mới rút gọn câu chuyện lại thành: Người Sở mất cung, người Sở lại tìm thấy cung. Tưởng rút đến thế thì các biên tập viên khắp cả thiên hạ phải chịu rồi, ấy vậy mà đến cụ Lão Tử thì cụ đúc còn “oanh liệt” hơn, “tàn bạo” hơn nữa, chỉ còn có 5 chữ: Mất cung, lại thấy cung. Phía sau câu chuyện mang tính biểu trưng này dĩ nhiên là vấn đề có liên quan đến triết lý.. Thời trước, người trẻ gặp người già, thường lễ phép và “dài dòng” hỏi: Dạ thưa bác, bác đi đâu đấy ạ? Nay thì đã học theo cách rút gọn của cụ Khổng Tử, câu hỏi lễ phép “dài dòng” ấy ngắn lại thế này: Bác đi đâu đấy? Vậy là còn tàm tạm chấp nhận được, chứ sợ rồi dấn thêm tý nữa học theo cụ Lão Đam, trẻ gặp già lại xếch ngược mắt lên hỏi: Đâu đấy? thì chả biết bình luận thế nào. Nên nhớ nhiều thứ có thể rút ngắn công đoạn để đạt đến “nhanh”. Nhưng cũng có nhiều thứ không thể “nhanh” được. Anh nhanh trong thăng tiến thì phụ nữ tấm tắc thán phục, nhưng có những thứ mà anh “nhanh” quá thì họ lại bĩu môi khinh khỉnh với câu hỏi xách mé: Có tí thế thôi à? Người phàm tục quan niệm đơn giản: Tiền trong túi, tiêu nhanh thì hết nhanh. Nhà Phật quan niệm: Sống chậm là đến với cái chết chậm. Nguyễn Tân Phương Tiêu đề: Re: Tạp văn QĐND Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Bảy, 2009, 05:33:41 pm NGỤY QUÂN TỬ Ở tiểu thuyết võ hiệp của nhà văn Kim Dung, ngoài những tình tiết phiêu lưu ly kỳ, những chiêu thức đánh nhau ngoạn mục, thì có một điều làm văn ông hồi hộp khác hẳn những cây bút viết “chưởng” khác, đó là việc tiên sinh dần dần từng tí kiên nhẫn vạch trần những đàn ông mang vẻ cao đạo. Độc giả thót tim nhẹ nhõm thở phào khi thấy lần lượt các mặt nạ Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín của mấy tay đạo đức giả từ từ tụt xuống, đặc biệt có kẻ còn lộ nguyên hình là thằng mặt người dạ thú. Để có được bút lực gai sắc thâm hậu ấy, người đọc lương thiện đồ rằng, cuộc đời của tiên sinh chắc phải thăng trầm đa đoan lắm. Bởi từ xưa đến nay, để nhìn cho thấu chân diện của một ngụy quân tử là việc thiên nan vạn nan kinh khủng khó. Đàn ông đạo đức thật vốn dĩ đã không hề đơn giản, do trót có tài năng có phẩm hạnh, họ thường bị đun đẩy kẹt giữa những đỉnh cao ngóc ngách của các mối quan hệ xã hội. Hành trình hướng Chân Thiện Mỹ của họ liên tục đứt đoạn lổn nhổn đúng sai đa tầng đa nghĩa, và thật nông nổi hời hợt khi vội vàng xét đoán thành kiến đánh giá. Thế nhưng độ phức tạp ở họ vẫn chưa là gì nếu phải so với những đàn ông đang tha hóa trở thành đạo đức giả. Và mọi sự càng chồng chất phức tạp hơn khi đám đạo đức giả ấy tiếp tục dùng trí thông minh tự xây cho mình những giá trị nhang nhác giống hệt như đạo đức. Nôm na có thể nói, ngụy quân tử chính là những kẻ có đạo đức giả hai lần. Chưởng môn phái Hoa sơn Nhạc Bất Quần là điển hình lỗi lạc cho đám ngụy quân tử. Cái tham vọng mụ mị điên cuồng muốn làm thiên hạ đệ nhất cao thủ được tỉnh táo khôn khéo che giấu dưới cái vỏ bọc chí công vô tư không thèm danh lợi. Giống như nhan nhản đàn ông cao đạo thời nay, mồm thì nói không cần nhưng âm thầm phấn đấu. Những đàn ông đó thích ra vẻ dè bỉu đám đông nhưng trong sâu thẳm luôn bị ám ảnh dằn vặt bởi cái hư danh do vẫn cái đám đông ấy lẫn lộn phong tặng. “Bất quần” theo nghĩa đen là chẳng thiết số nhiều, vì thế khi đám ngụy quân tử xuất hiện trên các phương tiện truyền thông, tất thảy trông đều rưng rưng cô đơn đẫm đầy cô độc. Bọn họ phẫn nộ nói về các hiện tượng đang tự đánh bóng tên tuổi, rồi chua chát thở dài là phong khí học thuật bây giờ nhố nhăng quá. Sau một hồi nhiệt huyết diễn thuyết, bọn họ rút môbai gọi về cho vợ hiền, con ngoan là tối nay vẫn bận họp, rồi ủ dột đi theo vài ba Mạnh Thường Quân dung tục thẳng tiến ra bãi biển Đồ Sơn. Trong bữa nhậu ê hề hải sản, họ bật khóc khi tivi đang chiếu cảnh bão lũ miền Trung và họ thành thật tự thú rằng miếng tôm hùm hôm nay đắng ngắt như miếng nhút. Lúc vào phòng karaoke hoặc mát-xa, họ trân trọng gọi các nữ tiếp viên là con gái, giở ví cho xem đứa út cũng ngang tuổi các “con” đang du học ở Mỹ. Tối muộn quay về phòng riêng, họ cau mặt khi thấy trong phòng xuất hiện một thiếu nữ trẻ. Sau một hồi cằn nhằn lương tâm, họ tặc lưỡi là đêm nay sẽ mất kiềm chế vì buổi chiều chót uống quá nhiều. Tất nhiên, do có đạo đức dày gấp hai lần người bình thường, họ cẩn thận đòi xem chứng minh thư. Bất hạnh thay, cô bé vẫn đang ở tuổi vị thành niên, họ đau đớn lên án bọn tú ông tú bà buôn người, vật vã nuốt lệ cho phép gái trẻ ngồi lên lòng mình rồi không làm gì, sang sảng kể cho thiếu nữ nghe về tấm gương của ông Liễu Hạ Huệ ở bên Tầu. Bình minh lên, dưới ánh mặt trời rạng rỡ, họ thanh thản tự hào, không hiểu sao mà mình lại vĩ đại nhân văn đến thế. Ở từ vựng của Nho giáo, khái niệm “quân tử” là một khái niệm thanh sạch cốt để chỉ một đàn ông có phẩm hạnh trong trắng, có nhân cách thành thực hoàn thiện. Thuở ban sơ thời Thương-Chu (khoảng một nghìn năm tr.CN) khái niệm quân tử mặc định chỉ người có vị thế tôn quý, đối lập với tiểu nhân là đám thảo dân không có địa vị gì. Phải đến thời Khổng Tử khái niệm này mới vượt thoát khỏi thông tục. Khổng Tử cho rằng, dẫu bần cùng khổ sở, quân tử vẫn là cao thượng quân tử, còn tiểu nhân tuy có quyền chức sang trọng vẫn là hèn hạ tiểu nhân. Người quân tử đại loại là “Tâm tính thanh minh, biết điều gì thì càng ngày càng tinh thâm thuần thục. Họ dốc lòng làm việc nghĩa không để ý đến nhỏ nhen danh lợi. Cái bụng người quân tử tự nhiên thành thực, hòa với mọi người nhưng không về hùa với người. Lúc khốn cùng thì cứ lấy nghĩa mệnh mà tự yên chứ không như tiểu nhân, thế nào cũng làm điều bậy bạ. Với trời đất họ thận trọng kính cẩn, với người họ nhân hậu từ ái”. (Nho Giáo – Trần Trọng Kim). Đương nhiên những người như thế thì thiên hạ (tất nhiên có phụ nữ) yêu thương kính trọng lắm. Chính vì vậy mà vô số đàn ông cứ mở mồm là nói đạo đức đều ra sức phấn đấu để mong được người đời coi mình là quân tử. Và khi phải cố đạt điều gì, người ta thường giả dối với chính mình. Ngụy quân tử ra đời. Thành ngữ chuyện “chưởng” cay đắng cảm thán “chân tiểu nhân còn hơn ngụy quân tử”. Ở xã hội đương đại đang tươi đẹp của chúng ta, nhỡ có đông đông tiểu nhân một tí thì cũng đừng nên bi quan xem đấy là tai họa. Trần Khôi Việt Tiêu đề: Re: Tạp văn QĐND Gửi bởi: chuongxedap trong 31 Tháng Bảy, 2009, 02:56:03 pm THƯƠNG Ở nhiều buổi đấu giá các tác phẩm nghệ thuật với mục đích từ thiện được truyền hình trực tiếp, người ta hay gặp những thiếu phụ đôi khi có thể là thiếu nữ beo béo một tí, ăn mặc tương đối khó tả, thường trả giá rất cao cho một bức tranh hay một tập thơ nào đó. Lúc ban tổ chức xướng tên kèm chức danh, hầu hết khán giả đều không thấy bất ngờ lắm bởi thiếu phụ hoặc thiếu nữ đấy chắc chắn phải là một nữ doanh nghiệp. Thời xa xưa chưa có nền kinh tế thị trường mang vẻ tri thức, thì những doanh nhân nữ thạo buôn thạo bán này, thỉnh thoảng bị người đời suồng sã gọi là “thương nữ”. Thương nữ hoàn toàn không phải là một phụ nữ đáng thương mà đại loại là những đàn bà do đặc thù công việc cả dối trá lừa gạt vào đảm đang tần tảo. Bọn họ thường hoạt bát đi đông đi tây, một vốn bốn lời hành nghề thương mại. Tuy nhiên, thuở còn chế độ phong kiến hủ bại chỉ biết trọng chữ chứ chưa biết trọng tiền thì thương nhân nói chung bị đánh giá thấp, xếp dưới cùng theo thứ tự vị thế Sĩ, Nông, Công, Thương. Nam thương nhân lẫy lừng cỡ như Lã Bất Vi biết buôn cả vua mà còn chẳng là cái đinh gì, huống nữa đấy lại là thương nữ. Có lẽ với thành kiến như vậy, một giáo sư giỏi tiếng Hán không bao giờ đi hát “ka-ra-ô-kê ôm” đã nhỡ dịch hai câu kết ở bài tứ tuyệt khét tiếng “Bạc Tần Hoài” của nhà thơ lớn người Tầu Đỗ Mục (803-852) “Thương nữ bất tri vong quốc hận. Cách giang do xướng Hậu Đình Hoa” nhầm lẫn thành “Gái buôn không biết hờn mất nước. Bên sông vui hát khúc dâm ca”. Thực ra, Hậu Đình Hoa (bông hoa ở sau đình) là tên một điệu khúc nịnh đầm không xếchxi, vừa sáo vừa sến lâm ly giống hệt như nhiều ca khúc của các nhạc sĩ trẻ đương đại. Chỉ có điều đặc biệt, người sáng tác ra nó là một vị vua có tên Trần Thúc Bảo, ông này nghiện hát đến mức vong quốc. Thường thì người ta hoặc uống rượu hoặc mê đàn bà rồi lú lẫn mất nước, chứ yêu ca nhạc như Trần Hậu Chủ thì chắc lịch sử chỉ có một. Không phải ngẫu nhiên mà ở nền ca khúc hôm nay người ta hay tặng cho nhạc sĩ và ca sĩ một giải thưởng mang âm hưởng tuẫn tiết, giải “Cống Hiến”. Còn “thương nữ” theo đúng mặt chữ nghĩa đen là cô gái trẻ tóc vẫn còn xanh, thành ngữ đau đớn đa đoan “thương hải tang điền” (biển xanh hóa nương dâu) là ví dụ. Vì thế có bậc túc nho đã thoát dịch “thương nữ” là “con hát” (Thơ Đường – NXB Văn Học, trang 263), nôm na là cave. Cách dịch này vừa hay vừa chính xác bởi thi hào họ Đỗ vốn là một tay chơi sành điệu, ông có hơn mười năm lăn lóc trong các quán rượu đông kỹ nữ ở Dương Châu. Thơ tự thuật của ông chân thành giễu cợt tự thú “Thập niên nhất giác Dương Châu mộng. Doanh đắc thanh lâu bạc hạnh danh”. Nói cho cùng, chữ nghĩa gốc gác thì là vậy, nhưng dân gian vẫn hồn nhiên, họ chỉ thích hiểu “thương nữ” là chữ viết tắt của “nữ thương gia”. Hồi ở ta con bao cấp, nền kinh tế có rất ít tư hữu, thương nữ bị xếch mé gọi là “con phe”. Nhiều học giả biết rộng uyên bác giải thích, đó là do xuất xứ từ chữ affair ở tiếng Tây. “Con phe” điển hình đương nhiên phải là đàn bà, tuổi khoảng hăm nhăm đến bốn nhăm, ăn mặc lành lặn nhưng lam lũ. Và do suốt ngày vất vả bêu nắng, da họ ngăm ngăm đen còn tóc hơi hoe hoe vàng. Bọn họ mỏi mệt thường đứng trước các cửa hàng mậu dịch quốc doanh có bán lương thực, thực phẩm hoặc rạp chiếu phim hay rạp hát, mua đi bán lại tem phiếu tích kê mong chênh lệch kiếm chút lời còm cõi. Thân phận của họ nhang nhác như lời bài thơ “thương vợ” của Tú Xương, “quanh năm buôn bán ở mom sông” rồi “lặn lội thân cò” cốt chỉ để “nuôi đủ năm con với một chồng”. Tuy vẻ bên ngoài gân guốc đanh đá nhưng sâu thẳm bên trong “con phe” ướt đẫm nhân hậu vị tha. Họ thường xuyên nhịn bữa sáng, tối sẩm về nhếu nháo nhai cơm nguội, dành dụm tiết kiệm tiền lo lắng cho sự nghiệp của chồng, ăn học của con. Tới thời nước ta mở cửa đổi mới, rất nhiều đàn ông may mắn trở thành những trí thức ngay thẳng tử tế, phần lớn nhờ vào có mẹ là tần tảo “con phe”. Chao ôi, lịch sử đau thương của nhân loại nhiều bi tráng này, có không ít trang được rực rỡ là nhờ từ cặm cụi nước mắt của những hiền mẫu vốn xuất thân thương nữ. Xã hội đương đại của ta càng ngày càng văn minh tươi đẹp, người dân được minh bạch khuyến khích làm giàu, việc thương nữ đông đảo xuất hiện là chuyện hiển nhiên. Trên sàn chứng khoán, sàn giao dịch vàng nườm nượp toàn những là nhà đầu tư nữ. Và cứ ra đường là nhan nhản bị gặp các giám đốc gái. Thương nữ bây giờ nếu đang manh nha làm ăn chưa thành công thì đi “ma tít”, còn nếu đã trôi chảy đắc thời thì họ ngồi “le xợt”. Tóc họ vẫn hoe hoe vàng nhưng không phải do bêu nắng, và ngoài chuyện đảm đang nuôi con thì đôi lúc một vài thương nữ có vị tha nuôi bồ. Họ dư dật ăn sáng ăn trưa ăn chiều, tối sẩm nhếu nháo đi dưỡng sinh luyện thiền cho thon bụng mỡ. Giống như cô gái ở thơ Đỗ Mục, họ vô cùng yêu ca hát. Có điều lạ là khi chọn bài, họ thường thích những bài tan tình hoặc vỡ tình bảng lảng buồn của các nhạc sĩ trong họ tên có chữ “Bảo”. Có phải như thế chăng mà nhiều nam thi sĩ lạc quan cho rằng, tâm hồn của những thương nữ đương đại, so với ngày xưa thì sâu hơn hẳn. Trần Khôi Việt Tiêu đề: Re: Tạp văn QĐND Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Tám, 2009, 07:27:53 pm MỒM CỦA ĐÀN ÔNG Với một số đàn ông phi thường thì mồm là một bộ phận rất đáng kể. Và cái đáng kể nhất trong mồm của bọn họ thì hình như là lưỡi. “Sử ký Tư Mã Thiên” trận trọng chép chuyện Trương Nghi, một thuyết khách lỗi lạc thời Chiến Quốc (478 - 221 tr CN). Trương Nghi do nói quá hay và quá nhiều nên bị mấy gã không biết nói lôi ra đánh đòn, khắp mình thâm tím đa chấn thương đại loại giống như danh thủ Denilson người Braxin mà câu lạc bộ bóng đá Xi măng Hải Phòng trót mua hớ. Trương Nghi lê lết trở về nhà, cô vợ hả hê mỉa mai: “Hừ, nếu ông không đọc sách đi du thuyết thì sao đến nỗi phải cái nhục này. Trương Nghi chìa mồm ra bảo vợ: nhìn xem lưỡi ta còn không. Vợ cười, lưỡi còn. Nghi nói, được rồi”. (Sách đã dẫn – NXB Văn Học – Tập 2, trang 34). Quả nhiên về sau nhờ cái mồm lành lặn, Trương Nghi tiếp tục đi du thuyết làm tới thừa tướng nước Tần rồi tướng quốc nước Ngụy, vừa sang vừa giàu không những làm cả họ nhà vợ vừa sợ vừa thẹn mà còn làm vô số những đàn ông khác cũng có mồm khát khao thèm thuồng đến mức sùi bọt mép. Danh nho tài tử ở ta là ông Nguyễn Công Trứ nghiêm túc khen rằng, trừ đi vài phần gian trá giảo hoạt thì đấy là một kiểu đàn ông “lập ngôn” rất đáng được tôn trọng. Ông Trứ lúc bần bạch, bất đắc dĩ phải mưu sinh làm thầy đồ nghêu ngao dùng mồm dạy chữ cho đám trẻ quê, long đong vất vả vô chừng nên có chua chát đùa cái nghề giáo là nghề “Dĩ thiệt canh độ nhật” nôm na là dùng lưỡi để cầy bừa qua ngày. Hỡi ơi, cách ví von sao mà xót xa xác đáng. Ở Sài Gòn dăm bảy năm trước cũng có một nhóm nam thi sĩ tài cao lấy tên là “mở miệng”. Cái tên hơi sái, báo hiệu đám nhà thơ này sẽ chắc chắn bần hàn. Ngày xưa các cụ đã dạy, muốn ăn tiền thì phải ngậm miệng. Theo “Ma Y tướng pháp” thì miệng còn gọi là “Xuất nạp quan, thuộc hành Thủy. Cửa ngoài của Tâm mà cũng là biên ải của thị phi phải trái”. Nó quan trọng vô cùng, hoặc đóng hoặc mở nên cẩn thận tùy theo thời. Tuy nhiên cuốn “Từ điển tiếng Việt phổ thông” của Viện Ngôn ngữ học lại tầm thường định nghĩa. “Mồm: miệng của con người, thường được coi là biểu tượng cho việc nói năng không hay, không đúng lúc. Ví dụ, lắm mồm. Chõ mồm vào việc của người khác”. Sau đấy còn kê cứu dẫn thêm các thành ngữ: mồm loa mép giải, mồm miệng đỡ chân tay… Có lẽ, ban biên soạn cuốn từ điển này lúc đang khai triển công việc chắc cũng bị nhiều tay “chõ mồm vào” góp ý nên các tác giả có đôi chút bực mình. Định nghĩa về mồm đã nêu tuy hơi tiêu cực nhưng sâu xa phản ánh đúng cái thời “A còng” “anh tơ nét”, một thời mà đám đàn ông nói năng lẫn lộn đến mức, ông thì nhang nhác ti tiện giống thằng, còn thằng thì huênh hoang hợm hĩnh giống như ông. Chưa bao giờ trong lịch sử nhân loại đàn ông lại lắm mồm như ở thời đương đại bây giờ Tô Tần, Trương Nghi là cái đinh. Vì nói cho cùng, lời của hai biện sĩ này tuy cao đàm khoát luận nhưng sâu xa thiết thực gần giống như đạo lý, lập luận có minh có bạch hướng tới người nghe. Đàn ông hôm nay khi nói đa phần đều rỗng tuếch, nếu có chút hào hùng khẩu khí thì lại sặc sụa mùi lợi danh. Còn không thì ngô nghê ra vẻ khoe khôn, cốt chỉ thỏa mãn cái tôi nông nổi. Hoặc hóng hớt đơm đặt, hoặc xếch mé xỏ xiên, lê la buôn chuyện, đám đàn bà phải coi là sư phụ. Có những anh trẻ, câu cú viết không thành, nửa đêm tự giận mình đâm mất ngủ bèn chui hết từ “oép” này sang “bờ lốc” kia, nặc danh ẩn danh comment dung tục, gọi nữ văn sĩ là con, gọi nam đạo diễn là thằng. Lại có những ông mặt dày hơn, quanh năm suốt tháng hiện hình lên tivi nói như hai với hai là bốn, rồi bốn với bốn là mười sáu, người nghe hoang mang ù tai chỉ thấy lấp lánh những là cách tân, những là hậu hiện đại. Nhà thơ kiêm phê bình gia T.S. Eliot (1888 – 1965) khi bàn về truyền thông đã cảm thán “Minh triết mất thì còn lại tri thức, minh triết ấy đâu rồi. Tri thức mất thì còn lại thông tin, tri thức ấy đâu rồi”. Kinh hãi thay, qua những mồm đàn ông hình như thông tin cũng mất nốt, vậy cái còn sẽ là cái gì. Cho dù hay bị liên hệ đến chỗ này chỗ nọ, thế nhưng nói chung mồm của đàn ông vẫn luôn được coi là bộ phận cao quý. Kẻ viết bài này cũng thường bị những người có vẻ đứng đắn có vẻ đạo đức chế là hạng tán nhảm lắm mồm. May mà phúc nhà to hơn Trương Nghi, không những lấy được vợ cực kỳ đa ngôn cằn nhằn suốt ngày mà khi giao du với bằng hữu cũng hạnh phúc toàn gặp được những người nói lắm. Phải vậy chăng mà từ khi trưởng thành đến lúc đã già, chưa từng bao giờ bị ăn đòn. Trần Khôi Việt Tiêu đề: Re: Tạp văn QĐND Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Chín, 2009, 01:17:31 pm TIỀN ĐÈ ĐÀN ÔNG Đàn ông cũng như đàn bà thường bị nhiều thứ đè. Có thứ cứ tưởng là to ví như công danh, sự nghiệp, lại có thứ cứ nghĩ là nhỏ ví như miếng cơm manh áo. Trong tiếng Việt, nghĩa của chữ “đè” nôm na là, bị một cái gì đó dùng sức nặng áp đặt lên. Khi bị đè người ta thường ú ớ nửa tỉnh nửa mê, vừa vô thức muốn vùng thoát ra, vừa ý thức khoan khoái muốn đắm chìm vào. Đàn ông ở trong trạng thái đấy lúc đang chập chờn ngủ thì dân gian gọi là “bóng đè”. Còn nếu trúng chứng khoán hay bất động sản thì các thiếu nữ kính trọng gọi là “tiền đè”. Thực ra nguyên văn của câu thành ngữ đương đại này là “Anh ấy (hoặc sỗ hơn là lão ấy) tiền đè chết người”. Đây là một câu cảm thán tích cực hàm ý chân thành chan chứa nể phục, được vô số các thiếu nữ tuổi teen đang mon men tính toán bước vào hôn nhân rất hay dùng. Những teen nữ khác đứng xung quanh hồi hộp lắng nghe rưng rưng thèm khát, rồi nồng nhiệt đố kỵ chúc mừng bạn mình gặp số đỏ. Trước đấy chừng chục năm, để mô tả một đại gia lắm của thì các quý bà và quý cô cũng hay sử dụng một thành ngữ tương đương “tiền nhiều như quân Nguyên”. Tất nhiên, trong đám quân xâm lược hung hãn đã vào nước ta thì quân Nguyên không phải là nhiều nhất, nhưng cái tỉ lệ kẻ thù mà một chiến binh Đại Việt từng phải dũng cảm đương đầu thì hình như quân Nguyên vẫn là đông nhất. Đem chuyện thừa mứa dư dật ra ví với tàn bạo quân Nguyên, quả thật các nàng đã vừa hóm lại vừa chính xác. Đàn ông được tiền đè nói chung có xuất xứ không quá phức tạp, phần lớn bọn họ đều minh bạch thừa tự từ sự chăm chỉ tích góp của bố, của mẹ, của ông, của bà. Do không phải vất vả rồi lại đột ngột thừa hưởng một cục tiền quá lớn, bọn họ ngông nghênh vung tay nửa thiện nửa tà hoang phí. Điển hình cho loại này ở ta chính là nhị vị công tử, Hắc (cậu ba Qui) và Bạch (Tư Phước Georges) khét tiếng người Bạc Liêu. Những cố sự “phá gia chi tử” của hai đại thiếu gia này đã thành truyền kỳ, học giả Vương Hồng Sến sơ lược có kể “Tư Phước ngọt với em út bao nhiêu thì cậu Ba cũng ngọt với bồ bịch bấy nhiêu, duy “chiến lược” mỗi chàng một khác. Phước chuộng người phải cho đẹp, cậu Ba chọn người phải cho “ngon”. Cậu Tư cho tiền không bao giờ lấy lại. Cậu Ba lúc gặp buổi đầu gái lựa mua gì cậu cũng không từ chối. Nhưng khi cậu chán chê thì giở ngón đểu, giả đò thua me, mượn cầm đỡ vào tiệm mà không bao giờ chuộc lại. Và cậu lánh mặt luôn với chiếc xe chạy ngày mấy trăm cây số ngàn, có giỏi lội bộ theo mà “bắt” (Sài Gòn tạp pín lù – NXB Hội Nhà văn, trang 135). Hắc và Bạch công tử là đại diện xuất sắc cho kiểu đàn ông tiền đè chết người khác. Tuy nhiên nói cho cùng, lấy tiền của chính bố mẹ mình đem tiêu cũng vẫn là chuyện thường tình, đàn ông được tiền đè mà nguồn tiền ấy lại từ vợ mới đáng kể quái chiêu, Thúc Sinh là trường hợp đáng kể. Theo “Kim Vân Kiều truyện” thì thư sinh họ Thúc vốn tài cao học giỏi nên chọn được nhà vợ rất giàu, vừa mừng vừa sợ âm thầm ăn chơi phóng túng “Trăm nghìn đổ một trận cười như không”. Đàn ông đến lầu xanh mà mê cave thì thiên hạ có đầy, cứ đọc các báo lá cải của thời nay là thấy nhan nhản. Nhưng dám rút tiền của vợ để yêu rồi lấy cave thì xưa nay tuyệt hiếm. Tên tự của Thúc Sinh là Kỳ Tâm, quả xứng đáng, tâm hồn của anh chàng này đương nhiên có chỗ kỳ lạ khác hẳn đám đàn ông bình thường. Về sau Thúc Sinh bị vợ phát hiện nên gặp nhiều chuyện phiền muộn cay đắng lắm, suýt nữa tha hóa trở thành thằng nát rượu. “Sinh càng như dại như ngây. Giọt dài, giọt ngắn chén đầy chén vơi”. Nói chung họ Thúc là điển hình cho kiểu đàn ông tiền đè chết mình. Thế nhưng đàn ông theo đúng nghĩa bị tiền đè thì phải kể đến lão hà tiện Fêlix Grăngđê, một tay người Pháp có xuất thân phó thùng trong kiệt tác “Tấn trò đời” của Đại văn hào Balzac. Gã này tàn bạo, độc đoán, chuyên nhìn người qua lỗ đồng xu. Hoặc bóc lột bọn người ở hoặc lợi dụng đám cầu hôn. Không những nhẫn tâm với cháu mà còn phá hoại hạnh phúc của con gái, biến vợ thành nô tỳ rồi giày vò bà này cho đến chết. Tính keo kiệt của lão ta đến mức quái đản “cái gì cũng muốn dè sẻn, cho đến cả cử động”. Khi lạnh lẽo hấp hối gã chỉ còn đòi nhìn vàng vì nó làm gã “trong người ấm lại”. May thay, xã hội hôm nay bỗng tuyệt hiếm những người giàu có bẩn thỉu như Grăngđê. Bởi gã này bủn xỉn là do vật lộn kiếm tiền từ chắt chiu mồ hôi nước mắt. Còn đám đàn ông thừa mứa bây giờ biết nhai tôm hùm biết nuôi bồ nhí, đa phần đều do liều lĩnh chộp giật, hoặc thảm hơn, may mắn hớt trộm mót nhặt được của rơi của vãi. Đàn ông có tiền đôi khi vẫn có những người có tài có đức. Đồng tiền luôn mang bộ mặt của người cầm nó. Ở người tiêu xài phóng khoáng thì đồng tiền rộng rãi cao thượng. Ở người bần tiện tính toán thì đồng tiền nhơ nhớp chật chội. Tuy nhiên, cao hơn cả vẫn là những đàn ông mang khuôn mặt mà bất cứ kiểu tiền nào cũng không thể bắt chước. Đại loại, đấy là những người chẳng bao giờ bị tiền đè. Trần Khôi Việt Tiêu đề: Re: Tạp văn QĐND Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Chín, 2009, 12:16:18 am ANH EM RỂ Từ xưa đến nay ở phương Đông, trong bất cứ một xã hội có cơ cấu chính trị tôn giáo kiểu nào thì gia đình vẫn là một hạt nhân quan trọng nhất. Trong gia đình thường là có ông bà, có bố mẹ, có các anh chị em, có các con, các cháu thương yêu chịu đựng lẫn nhau theo nguyên tắc kính trên nhường dưới. Gia đình bền vững là nhờ sự biết nuôi dưỡng đầm ấm những mối quan hệ trong gia tộc và trong các mối chằng chịt ấy thì mối quan hệ của nhóm “các anh chị em” đáng kể là phức tạp. Tục ngữ người Việt có câu “Yêu nhau chị em gái. Rái nhau chị em dâu.Đánh nhau vỡ đầu là anh em rể”. Chuyện chị em dâu ghét sợ nhau (rái hoặc dái là từ Việt cổ) đương nhiên là chuyện dễ hiểu, nhưng anh em rể lại choảng nhau đến vỡ đầu mới thật là chuyện lạ. Bởi sâu xa bọn họ đều bất hạnh, đều có một “đối tác” chung đầy khó chịu là nhà vợ. Thành ngữ bảo “con rể như khách” hàm ý cho rằng, “thằng rể” dù được yêu hay bị ghét thì mọi cư xử của nhạc phụ, nhạc mẫu vẫn chỉ là nhan nhát ngọt nhạt xã giao đưa đẩy. Không phải ngẫu nhiên mà người ta lại cay đắng gọi đám đàn ông có chung bố mẹ vợ là anh em đồng hao. Nếu không bị thiệt thòi hao hụt mà còn phát tài phát lộc phát vinh hoa, chắc hẳn hoi sẽ được gọi là anh em đồng phát. (Để khách quan học thuật, xin đưa thêm một luận giải của vài học giả chỉ có toàn con gái. “Đồng hao” là tên của loại rau tần ô, ở ta kêu là cải cúc, một thứ rau dại mọc nông, khe quơ là bật rễ. Quan hệ giữa anh em rể đại loại như vậy, chính vì thế nó còn được gọi là anh em cọc (cột) chèo. Thường đã là mối buộc thì phải chắc chắn, nhưng mối buộc ở cọc chèo lại rất lỏng lẻo, cốt để cho mái chèo còn khua khoắng. Có người cẩn thận chú, mái chèo ở đây là mấy nàng vợ). Ở nước ta, khắp mọi xó xỉnh, chỗ nào cũng lầm than có nhan nhản đám anh em rể. Theo kết quả cuộc điều tra dân số mới đây thì tỷ lệ đàn bà tuy ít hơn đàn ông nhưng nhà có đông chị em gái vẫn rất nhiều. Đây là một tiềm năng phong phú cho hiện tượng đàn ông sẽ bị vỡ đầu. Ở những nhà này, thường thì “con chị đi, con dì lớn” lần lượt thứ tự xếp hàng hớn hở vào hôn nhân, nhưng thỉnh thoảng cũng hay gặp cái cảnh “còi to cho vượt”. Cô chị cả đang “chổng mông mà gào” thì cô em út bỗng dưng phởn chí lên xe hoa. Rồi phải mất vài năm nỗ lực phấn đấu, mấy cô chị mới kiếm được chồng. Ở trường hợp này đám anh em rể xung khắc lắm. Cái thằng rể út đáng nhẽ non nớt ít phải chịu đựng chuyện gì, bỗng đâm ra thành thạo thâm niên bất hạnh nhất. Tuy nó không dám cằn nhằn nhưng lại hoàn toàn không biết bao dung chia sẻ. Ngày giỗ ngày chạp, anh em đồng hao bùi ngùi ngồi uống với nhau, cái giọng của nó tự nhiên phảng phất như có cạnh có khóe. Đã thế bố mẹ vợ từ xa ngồi nhìn, ngấm ngầm như khuyến khích, hiển nhiên có vài chai Vodka đập vào đầu nó cũng là chuyện vô cùng dễ hiểu. Cố nhiên, không phải cứ anh em cọc chèo thì phải đánh nhau, đôi khi vẫn nhiều cặp anh em rể nồng ấm thân thiết. Cuốn tiểu thuyết “Số đỏ” của nhà văn thiết tha yêu vợ Vũ Trọng Phụng có đưa ví dụ. Thằng nhân vật chính Xuân Tóc Đỏ được giời ỉa vào đầu nên may mắn lấy được cô Tuyết, một thiếu nữ nhà giàu teen ơi là teen. Tuyết có cô chị ruột đã hôn nhân nhưng vẫn dửng mỡ hồn nhiên ngoại tình. Ông chồng làm ở bưu chính viễn thông hiền lành chịu đựng và sâu xa tràn đầy phẫn uất. Ông này nhờ thằng Xuân, cứ trước đông đảo quan khách thì trỏ thẳng mặt ông ta mà nói: “Thưa ngài, ngài là một người chồng mọc sừng”. Thù lao thỏa thuận sẽ là 5 đồng (theo thời giá bây giờ xấp xỉ một cái xe máy Tầu). Thằng Xuân xuất xứ hạ lưu vốn vụ lợi nên nhận lời ngay và xuất sắc thực hiện. Đương nhiên nhà vợ bẽ mặt lắm, còn ông Phán hả hê biết ơn thằng em rể. Qua đây thì thấy, anh em cọc chèo vẫn có thể yêu mến lẫn nhau, với điều kiện cả hai phải có chung một địch thủ, đấy là nhà vợ. Tuy nhiên, những nhà có đông con gái chưa chắc đã có hiện tượng “đồng hao”, trường hợp của Kim Trọng trong tác phẩm kinh điển Truyện Kiều là điển hình. Thư sinh họ Kim vốn người thanh sạch không có thói “hoa thơm đánh cả cụm”, việc chàng vĩnh viễn không có em rể là do hoàn cảnh nghiệt ngã xô đẩy. Gần đây người ta đồn rằng trên khu phổ cổ Hoàn Kiếm cũng có một chàng hao hao giống chàng Kim. Chàng này yêu vợ kinh khủng và không may vợ gặp bạo bệnh đột ngột mất. Sau một thời gian đau xót, chàng tái hôn với chính cô em vợ, rất giống chị. Nhiều người nghe chuyện cảm động lắm, tin rằng chàng chung tình, muốn lưu nhớ hình ảnh người vợ cũ, tò mò tìm đến hỏi kỹ. Chàng rưng rưng trả lời: “Vì ba con còn nhỏ nên miễn cưỡng đành tục huyền. Bất đắc dĩ phải làm thế bởi quá sợ có thêm bố mẹ vợ”. Trần Khôi Việt Tiêu đề: Re: Tạp văn QĐND Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Hai, 2010, 07:23:24 pm NHẬN QUÀ Quà tặng là thứ đẹp nhất mà con người ta nghĩ ra để bày tỏ tình cảm với nhau. Khởi đầu quà tặng nào cũng trong vắt như pha lê, sau dần, qua thời gian, qua quan niệm, qua sự “tiến hóa” của chủ nghĩa thực dụng, quà tặng cứ đục dần đi. Đôi lúc quà tặng không còn là tình cảm nữa, nó trở thành nhân viên ngoại giao siêu đẳng, cũng đôi lúc nó còn nhảy hẳn sang cả lĩnh vực “nội gián”. Từ chối quà tặng không phải dễ vì các món quà bao giờ cũng có ma lực cám dỗ rất ghê gớm. Những món quà trong sáng thì giá trị trọng tâm nằm ở tình cảm người tặng, còn những món quà được biến tướng đi, trở thành vật trao qua đổi lại, trở thành vật “lót tay”, thành công cụ “mở đường” hay “kết thúc” thì giá trị bản thân món quà mới là thứ trọng tâm. Nhưng xét cho tận cùng của sự việc thì quà tặng nào cũng hàm chứa một sợi dây. Một người lúc nào cũng chìa tay ra nhận quà tặng thì cùng đồng nghĩa người đó đưa tay ra nhận lấy những sợi dây chằng vào mình. Có thể người tặng không có ý định cài sợi dây vào nhưng bản thân quà tặng đã là sợi dây. Có thể người nhận không ý thức được về sợi dây đó nhưng rõ ràng là sợi dây chả vì thế mà mất đi, nếu nó có mất đi thì cũng mất đi tạm thời thôi. Tôi tặng anh một món quà vì tôi quý anh, tôi không có chút vụ lợi, gửi gắm nào trong đó. Anh nhận quà của tôi thì anh xúc động, vì xúc động cho nên chả quên được mặc dù tôi không đề nghị anh phải nhớ. Bản thân anh không quên được cho nên cứ canh cánh ởchox nào đó trong vô thức, rồi có dịp là anh phải “đền đáp” lại tôi, ở khía cạnh khác, thể loại khác, tức là tôi có thể ưu tiên nghĩ về anh những điều tốt đẹp, có thể ưu tiên cho anh lên trước hay lên sau một trật tự nào đó mà tôi có quyền quyết định. Thế là không còn trong sáng nữa rồi. Khi nhận quà thì phần lớn là chúng ta mất khả năng vô tư. Vì vậy hãy hạn chế nhận quà. Hơn thế, phải xét tới vị trí của mình khi nhận quà. Những tòa báo lớn của Mỹ còn in hẳn một mẫu thư từ chối quà tặng để phát cho các nhân viên của mình. Làm như thế vì họ rất ý thức được vấn đề quà tặng. Có những món quà thoạt đầu tưởng như không có gì, nhưng khi nhận rồi mới thấy nó không phải “không có gì” mà có rất nhiều là đằng khác. Có những món quà tạo ra mê cung, nó dẫn cho con người ta đi xa khỏi sự vô tư và lạc vào một thế trận nào đó. Người hay nhận quà là người sẽ không có những quyết định sáng suốt. Một thủ trưởng hay nhận quà của cấp dưới thì thủ trưởng đó khó điều hành cơ quan cho công bằng, chính trực. Những cô gái dễ dàng nhận quà từ tay các chàng trai thì thường hay bị lùng nhùng trong khu rừng tình cảm. Đến như các nguyên thủ quốc gia, khi nhận quà tặng của nước này, nước kia hay cá nhân này, cá nhân kia, cũng phải có cả một cơ quan phân tích đánh giá hết mọi tình huống sau trước rồi mới nhận hay không nhận, chứ đâu phải ai đưa cho cái gì cũng hồ hởi chìa tay đón cái đó. Từ chối quà tặng rất khó, nhưng không phải là không từ chối được. Còn nhận quà tặng thì rất dễ nhưng sau đó ta lại thấy vô cùng khó. NGUYỄN TÂN PHƯƠNG .Tiêu đề: Re: Tạp văn QĐND Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Hai, 2010, 11:14:43 pm DU XUÂN Mùa xuân là mùa yêu, là mùa thăng hoa của những xuân nữ khát khao rạo rực. Trong tiết Xuân, dương khí manh nha khởi sinh, mọi vật đều như muốn nẩy nở động đậy. Đường phố bỗng có đông các thiếu nữ ăn nhiều hơn, ngủ ít hơn, ồn ào xô đẩy nhau loanh quanh đi lại. Tại các đô thị lớn, ở những siêu thị trung tâm, ngồn ngộn các quý bà quý cô dư dật tranh giành mua sắm. Vì là cuối năm, hàng đạo đức giả khuyến mãi sẵn, nên người đã có nồi thì mua thêm nồi, người đã có quần thì mua thêm quần, ai nầy đều bừng bừng muốn chứng tỏ rằng mình đang cố qua cái đoạn no đủ để thời thượng vươn tới cái giá trị mang vẻ cao sang, ngon và đẹp. Những cậu ấm cô chiêu con cái đám quan chức thương gia mới phát thì kênh kiệu đài các hơn, bọn họ tội nghiệp nhìn đám người đang háo hức mua bán. Với họ, sành điệu là vác xe hơi nhà đi lên núi hoặc kiếm vé phi cơ xuyên lục địa tung tăng ra nước ngoài. Rất nhiều thiếu nữ ngày nay ngây thơ nghĩ rằng, du xuân đại loại phải là như vậy. Thực ra, “du xuân” đang là khái niệm bị rêu phong, ở thuở xa xưa nó được hiểu một cách khác lắm. Chính vì mùa Xuân đậm đà tươi mới nên vô số người sâu sắc có tử tế thường bồi hồi nhớ về những thiêng liêng cũ. Họ rưng rưng nhớ những anh hùng liệt nữ đã tuẫn tiết hy sinh cho nước cho dân được Trời Đất cảm động phong thành thần muôn đời tế tự. Hoặc gần gũi hơn là tổ tiên ông bà, những người chỉ biết tần tảo vất vả đã khuất để hôm nay cháu con được đê mê dồi dào sống trong an nhàn vật chất. Do vậy, với thiếu nữ ở các nhà gia giáo thì tháng Chạp là một tháng bận rộn. Cùng với sắc hồng của hoa đào, họ cũng đi ra ngoài nhưng đa phần là theo bố mẹ tới các đình đền miếu để cầu cúng. Ngoài việc xin anh linh tiền thân phù hộ độ trì cầu phúc cầu đức cho gia đình bằng an, họ còn âm thầm cầu riêng cho mình một tấm chồng hoành tráng mà bét nhất cũng phải là cơ Kim Trọng. Đó là một thứ hôn phu lý tưởng, tuổi vừa trẻ lại vừa có tiềm năng ẩn chứa phát xuất tràn trề ra danh ra lợi. Đến ngoài Tết, ở những có đông con gái thì mấy chị em lễ phép xin bố mẹ cho mình lang thang du xuân. Hoặc giữ gìn trân trọng quá khứ thì bọn họ đi lễ “tảo mộ”. Hoặc cồn cào kiếm tìm tương lai thì đi dự hội “đạp thanh”. (Nghĩa nômna của từ này là dẫm lên cỏ xanh mà đám trẻ đương đại gọi là đánh bóng vỉa hè). Trong lúc loay hoay thưởng tết có định hướng như thế, nếu số đỏ thì thỉnh thoảng chị em cũng vớ được “gà”. Thường đấy là một thư sinh tre trẻ “Đề huề lưng túi gió trăng. Sau chân theo một vài thằng con con”, vừa có ngựa cưỡi vừa có người hầu, đại loại bây giờ là một thứ sinh viên hay dở dang thạc sĩ con ông cháu cha du học tự túc đang tự lái xế hộp. Tất nhiên, a dua theo người xưa nên mông đít anh ta phải giắt một chai “Giôn” còn nách thì kẹp một cuốn “quản trị kinh doanh” bằng tiếng “inh gờ lích”. Vừa nhác thấy chàng, mặc dầu sóng lòng cuồn cuộn “tình trong như đã” nhưng ngay lập tức chị em giở chiêu bẽn lẽn “Hai Kiều e lệ nép vào dưới hoa”. Đương nhiên là chàng mắc mưu, mùa Xuân hay làm đàn ông trở nên lẫn lộn, thế là số môbai, thế là địa chỉ email chân thành đưa tuốt. Lúc về già cứ mỗi dịp Tết đến, những chàng bị rơi vào hôn nhân theo kiểu này thường ôm mặt nức nở khóc ân hận lắm. Truyền thống các thiếu nữ du xuân săn tình đến nay bỗng dưng bị đứt, lác đác chỉ còn thấy trong phim truyền hình của ông đạo diễn cực “sến” chuyên phục vụ tuổi teen Vũ Ngọc Đãng. Tuy nhiên, du xuân thích nhất là ở tâm trạng đang chơi vơi yêu. “Chơi vơi yêu” đôi khi vẫn phảng phất có trong hôn nhân nhưng cái chữ trong veo siêu hình này thường chỉ hằn đậm ở những cặp đang mộng mơ trong trắng chưa kịp “thăng đường”. Du xuân mà đi với bồ nhí thì làm sao có sự lâng lâng thanh thản. Tết nhất, đường phố bỗng thưa vắng một cách huyền hoặc, đi tới đâu cũng chỉ gặp người quen. Chuyện lén lút giấu giếm kiêng khem quanh năm, thì vừa tới năm mới đã giông bởi tiếng gầm của “Hà Đông sư tử”,ái tình biết bao công phu nâng niu thoắt trở thành nát bét. Vì thế, tuyệt vời nhất vẫn là du xuân với người yêu sắp cưới, không những nó trinh bạch giữ được vẻ nguyên sơ thiết tha mà còn làm cho xã hội có thêm phần an toàn. Không phải ngẫu nhiên, từ điển Hán Việt lại giảng “trai gái yêu nhau thì gọi là Xuân”. Bất hạnh lớn nhất trong cuộc đời của một thiếu nữ là trót loay hoay tính toán rồi để rơi mất xuân thì. Thi sĩ đàn bà khét tiếng Đỗ Thu Nương có bài thơ “Kim lũ y”, từng được tuyển vào Đường Thi tam bách thủ đã nghẹn ngào cảnh báo “Hoa vừa lúc bẻ thì bẻ. Chớ để hoa rơi chỉ bẻ cành”. (Hoa khai kham chiết trực tu chiết. Mạc đãi vô hoa không chiết chi). Mùa Xuân đang chín, các thiếu nữ chưa yêu thì nên yêu đi. Và cách tốt nhất để có được tình yêu là mang vẻ ngây thơ đi “ru” Xuân. TRẦN KHÔI VIỆT Tiêu đề: Re: Tạp văn QĐND Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Ba, 2010, 05:11:35 pm VÀ MỘT NGÀY DÀI HƠN THẾ KỶ Ở cấp tiểu học, các bé trai và các bé gái được các cô giáo vào tuổi đang yêu dạy rằng, một năm thì có 365 ngày và một thế kỷ thì có 100 năm. Rồi các bé trai sau khi uống sữa không có melamine và có đủ đạm cao tử tế lớn lên trở thành một đàn ông sắp sửa yêu, bỗng hoang mang nhận thấy cái kiến thức nền đấy hình như là ấu trĩ. Bởi đều đặn hàng năm, vào lưng lửng đầu tháng ba, luôn có một ngày thăm thẳm dài hơn thế kỷ. Ngày đó chính danh gọi là Ngày Quốc tế phụ nữ, hoặc nôm na hơn thì gọi là ngày của đàn bà. Theo Kinh Thánh (Cựu Ước) thì tội lỗi đầu tiên được khởi nguyên từ một người nữ, bà này có tên là Eva sống nhàn rỗi ở vườn Địa Đàng, vừa có chồng lại vừa ham ăn quà vặt. “Trong tất cả các loài dã thú mà Đức Chúa Trời đã tạo ra, Rắn là xảo quyệt hơn cả. Nó nói với người nữ “Có phải Đức Chúa Trời cấm bà là không được phép ăn bất cứ thứ quả nào trong vườn không” (Sách Sáng Thế 3; 1). Thật là một câu hỏi cực kỳ quyến rũ và người đàn bà đương nhiên nghe theo nó xui. Ăn no táo xong, người nữ cầm một quả về cho chồng. Tuy nhiên vốn là đàn ông, nên khi đứng trước bất cứ sự sa ngã nào cũng đều có ngập ngừng, quả táo nghẹn ngào dừng lại giữa cổ. Nói chung từ xưa tới nay, đàn bà thì luôn giấu được tội còn ở đàn ông thì vô cùng dễ lộ. Giáo lý dân gian cho rằng đấy là nguyên nhân tại sao đàn ông lại lộ yết hầu và đàn bà thì không có. Vì cái tội a dua ăn táo, đàn ông bị Chúa phạt oan ức đi theo đàn bà xuống làm lụng vất vả ở dưới Trái Đất. Có lẽ do thế mà Thiên Chúa mặc định với đàn bà “Mày sẽ đau đớn khi sinh nở. Mày phải đon đả với chồng và chồng mày sẽ thống trị mày” (Sáng Thế 3; 16). Tất nhiên đàn ông hớn hở tuân theo lời Chúa. Rồi cùng thời gian, do văn minh nhân loại phát triển, đàn ông ý thức thêm về sự bình đẳng, họ galăng dành ra một ngày để đàn bà chút ít được quyền thống trị. Tương truyền, đây hình như là một trong vài xuất xứ để có ngày mồng tám tháng ba. Khi đang vò đầu nhằm hoàn thiện thuyết Tương Đối, qua quan sát đàn bà, thiên tài vật lý Albert Einstein, người từng sở hữu một hôn nhân tan vỡ nhận thấy rằng, bản chất của thời gian là linh tinh giãn nở. Ông ví dụ: Khi ta ngồi vào lòng một mỹ nhân, thì cả cái ngày ấy chỉ dài bằng một phút. Nhưng vẫn cái mông đấy, nếu ta ngồi lên một lò lửa thì một phút lại dài quá một ngày. Cổ thi phương Đông cũng có ý tương tự “Nhất nhật bất kiến như tam thu hề”. Nguyễn Du day dứt chuyển thành lục bát “Sầu đong càng lắc càng đầy. Ba thu dồn lại một ngày dài ghê”. Với nhiều đàn ông vừa có vợ lại vừa có người tình, thì ngày 8-3 quả là một ngày liên tục ngồi trên lò lửa. Ngay từ sáng sớm, giá hoa đã điêu toa tăng và trời chưa kịp chiều giá váy cũng giả dối tăng. Vừa mới bảnh mắt, vợ đã lê thê buôn điện thoại xa xỉ rủ rê mẹ vợ đi siêu thị. Rón rén mở tin nhắn, kinh hoàng thấy một dòng chữ có đủ dấu, ngữ điệu tuyệt vời dịu dàng “Anh không có quà cho em à? Tối mai vẫn chỗ hẹn cũ nhé”. Bật tivi thì thấy tràn ngập các nữ sĩ đọc thơ và nhỡ tay mở báo thì dày đặc những bộc bạch của bao nhiêu chân dài người mẫu. Bình nhật, thơ của giới nữ 8X, 9X đều thiên về bí hiểm phức tạp, chủ đề là vỡ tình, nợ tình, thỉnh thoảng có loạn tình. Riêng hôm nay bỗng đơn giản trữ tình, tâm thế nồng nàn thủy chung của người tình trăm năm, của người vợ hiền thảo. Tâm sự của các nữ người mẫu thì chân thành xúc động, họ rưng rưng khi nói về những cuộc tình đã nát, vị tha khi nhắc tới chồng cũ, tin tưởng khi nói đến bạn trai mới. “Phụ nữ chúng em là những người thiết tha nhớ lâu và vô tư hay quên. Vì thế mẫu đàn ông lý tưởng là phải từng trải điềm đạm. Từng trải là phải thành công trong thương mại. Còn điềm đạm nghĩa là, khi chúng em trót sa ngã thì phải bình tĩnh chia sẻ, nâng đỡ”. Trong không gian lâng lâng toàn những lời có cánh, đàn ông, kể cả những tay bần tiện nhất cũng thẫn thờ, liêu xiêu đi về hướng có máy rút tiền tự động. Lúc ấy ngoài đường, tấp nập thiếu nữ đoan trang phong phanh, tự tin, cởi mở, tung tăng đi lại. Nhà thơ dân gian Bảo Sinh ham luyện thiền hành nghề nuôi chó, vốn là người trân trọng am hiểu phụ nữ, nhân một ngày 8-3 hoang mang cảm thán “Hôm nay quần trễ rốn lồi. Khổ tôi, khổ cả bố tôi đang thiền”. “Và một ngày dài hơn thế kỷ” là tên tiểu thuyết của nhà văn Aimatov (1928-2008), người dân tộc Kyrghyzstan, từng được coi là một trong vài kiệt tác ở nền văn học Xô Viết. Nó đã được dịch ra Việt ngữ và có giá bìa không quá đắt. Nhiều sinh viên đang yêu hay mua nó làm sang trọng quà tặng cho bạn gái vào dịp ngày Quốc tế phụ nữ. Người ta nói rằng, những mối tình mang quà tặng trong trắng như thế, thường thủy chung kéo dài khoảng một thế kỷ. Trần Khôi Việt Tiêu đề: Re: Tạp văn QĐND Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Sáu, 2010, 09:48:43 pm CẠC-VI-DÍT CỦA ĐÀN ÔNG “Cạc” là nôm na tiếng Việt theo nghĩa đen để gọi cái thẻ. Hồi chưa có những loại tối tân thời thượng như kiểu thẻ sim điện thoại di động, thẻ rút tiền ATM nhà băng… thì “cạc” là chữ vắn tắt được chuyên dùng nhằm chỉ tấm danh thiếp mà ở cái thuở vừa huênh hoang khai hóa vừa dã man thực dân nước ta, người Pháp đọc là carte de visite. Danh thiếp (người Ăng-lê ngắn gọn còn gọi là name card) đương nhiên lịch sự riêng tư thông tin về tên về chức danh nghề nghiệp về những địa chỉ liên lạc cần thiết của người có “cạc”. Cố nhiên, vì dính líu đến chữ “danh” nên hầu hết trên mặt của “cạc” người ta trân trọng nhất vẫn là những dòng thông tin về chức vị. Ngay từ hồi mới xuất hiện, hiếm hoi lắm mới có người cầm được một cái “cạc” chỉ thuần trong trắng có tên và địa chỉ. Ở cuốn “Chi Chữ”, học giả sống từ thời Pháp thuộc là cụ Lãng Nhân đã khổ cứu “Chúng tôi xin đề cập đến một tấm danh thiếp khá gọi là kỳ quan: Trần Văn Có - tức Huyện Có - Láng giềng quận công Hoàng Cao Khải. Thì ra tên tuy là có mà chính thật là không. Không có gì hết nên buộc lòng phải lôi ông hàng xóm ra làm chứng để thơm lây”. (Sách đã dẫn - trang 340, NXB Văn học). Rồi có vẻ chưa hết bức xúc về thói dị hợm háo danh của đàn ông Việt, học giả minh họa thêm bằng mấy tấm “cạc” mang nội dung kinh hoàng. Đốc cử “Lý Văn Giầu - tức Huyện Giầu - tri huyện hàm được thưởng đệ ngũ đẳng bắc đẩu bội tinh do văn thư số 811 ngày 15/8/1927”. Ngày xưa ngây thơ ấu trĩ nên khi đàn ông khoe khoang trên “cạc” có đôi phần ngô nghê. Ngày nay văn minh tiến bộ, khoe khéo hơn nhiều “Giáo sư - Vũ sư - Giám đốc chưa hưu”. Đã là đàn ông, không cứ người Việt, đa phần đều lành mạnh ham danh. Nhà Nho lãng tử cực kỳ mạnh là cụ kỳ nhân Nguyễn Công Trứ khẳng định “Đã mang tiếng ở trong trời đất. Phải có danh gì với núi sông”. Bởi thế, từ lừng lẫy đại quan thừa kế xe hơi nhà lầu đến đám đầu tắt mặt tối vất vả thương gia đều cố sức hùng hục kiếm danh. Với đàn ông đẫm đầy hoài bão chí khí, thì cái Danh lại càng to tát hơn hẳn cái Lợi, nên cho dù phi lê la chịu nhục nhịn đói nhịn khát bọn họ vẫn nghiến răng dành dụm “ba vạn để mua danh”. Thật ra chữ “danh” sâu xa vốn sạch, ví như núi mà cô ngạo tự nhiên ngất ngưởng hùng vĩ thì gọi là “danh sơn”. Người mà có chữ (thường thường không có chức) tài cao đức dày thì gọi là “danh sĩ”. Lời mà thẳng ngay minh chính, làm tất thẩy tâm phục khẩu phục thì gọi là “danh ngôn”. Và tất cả những thứ “có tiếng” này luôn được yêu mến gọi là “thanh danh”. Người hoặc vật đã “thanh danh” thì cho dù bị vùi dập nhúng bẩn cũng không thể mất danh. Và vì thế “danh sạch” là thứ đồng tiền vĩnh viễn không bao giờ mua nổi. Phi là kẻ ngu xuẩn tha hóa lắm thì sau khi chạy chức mới hoang tưởng liều lĩnh đi chạy danh. Cạc-vi-dít thường là những tấm thiếp nho nhỏ xinh xinh, cốt để đàn ông cho vừa vào ví, vì vậy nếu danh vị mà quá dài thì khổ cho nó lắm. Danh hiệu dùng cho một người vào loại dài nhất nước ta thuộc về Lý Thái Tôn. Và sử gia lỗi lạc là Lê Văn Hưu đã nghiêm khắc bình luận “Đế vương đời sau thích khoe khoang mới có tôn hiệu đến hàng chục chữ. Thái Tôn nhận lời bề tôi… thì trong việc khoe khoang lại thô bỉ nữa. Thái Tôn không có học không biết, mà bọn nho thần dâng lên những chữ ấy để nịnh hót không thể bảo là không có tội”. (Đại Việt sử ký toàn thư - NXB Khoa học Xã hội, trang 216). Thế nhưng nghĩ cho cùng. Thái Tôn vẫn là một trong những vị vua kiệt hiệt anh hùng, nhỡ tôn hiệu có in tất vào “cạc” thì cũng là chuyện chính đáng “y phục xứng kỳ đức”. Đám đàn ông bây giờ có nhiều kẻ khoe “cạc” mới thực sự kệch cỡm. “Nhà văn-nhà thơ-nhạc sĩ-họa sĩ-nghệ sĩ ưu tú…”. Nhiều nhà chen chúc ở gần nhau như thế chắc chắn phi gọi là phố. Còn nhiều phố song song dài như thế thì phi gọi là quận. Thời phong kiến thối nát có chức “quận công”, nghĩa đen đại loại là “ông nhiều nhà”, cái chức này nên khôi phục lại để tiện lợi dành cho những quý ông là hội viên của không biết bao nhiêu hội. So với đàn ông, đàn bà có vẻ ít dùng “cạc” hơn, nhưng một khi đã dùng thì cực kỳ hoành tráng. Kẻ viết bài này từng đã nhận “cạc” của một bà luật sư rộng chừng gần nửa trang A4 in trên giấy quý chứa miên man những chức danh mà quý bà muốn kể. Đám đàn ông đang nhớn nhác trên hoạn lộ hoặc thương trường khi nhìn thấy đều rúng động kinh hãi khao khát. Tóm lại, “cạc” là một bộ phận không thể thiếu ở những đàn ông sang trọng yêu giao tiếp. Trao “cạc” của mình cho người khác, nhất đấy lại là phụ nữ thì luôn là một hành vi văn hóa mang tính vừa tin tưởng vừa lịch sự. Vì thế, đàn ông đã có tiền và đã có danh, không thể nào lại không có “cạc”. Trần Khôi Việt Tiêu đề: Re: Tạp văn QĐND Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Giêng, 2011, 10:31:15 pm ĐÀN ÔNG BẦY TRẬN Vào thời sơ kỳ trung đại, thậm chí cho đến ngấp nghé chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918), khi đám đàn ông đã trưởng thành văn minh, thì lúc hoành tráng đánh nhau bọn họ rất hay sự dụng trận pháp. Đại loại, bọn họ thường rủ nhau ra những bình nguyên bát ngát cỏ mượt hoặc những cánh đồng phẳng phiu vừa gặt, dàn quân thành từng khối. Bộ binh riêng, kỵ đội riêng, tướng đứng riêng rồi cử mấy gã mồm to đanh đá được gọi là mạ thủ ra trước cửa trận gào thét chửi bới thách đấu. Xong xuôi những thủ tục “đét xe”, sau vài hồi trống hoặc kèn, hai đạo quân sầm sập sát khí lao vào nhau. Bên thua hầu hết là những bên bị vỡ trận, vì thế đám đàn ông thích thao lược ngày xưa bắt buộc phải rèn luyện cái tài bài binh bố trận. Trong cuốn tiểu thuyết “Chiến tranh và Hòa bình” có một trường đoạn kể về công tước Andrey Bolkonsky (một nam quý tộc đặc biệt tinh hoa, kiểu đàn ông mà nay đã tuyệt hiếm) ở Bộ Tổng tham mưu Nga. Công tước chứng kiến hàng loạt các danh tướng tranh luận về cung cách bầy trận cho chiến dịch sắp tới nhằm chống lại đám đàn ông xâm lược Pháp. Tất cả các danh tướng đều lắm mẹo nhiều mưu, họ hùng biện, họ phản biện, họ tự biện, nhưng tất thẩy cuối cùng đều toát ra một nỗi thăm thẳm sợ hãi về Napoleon Bonaparte, kẻ đối địch được mặc định là thiên tài quân sự. Duy chỉ có một người, đại tướng Pful gốc Đức là được công tước Andrey âm thầm kính trọng nhất. Tướng Pful chỉ tôn trọng những ai đánh nhau mà biết bầy trận. Với ông ta, Napoleon chỉ là cái đinh gỉ, bởi khi tả quân hình vuông tiến lên 200 mét thì hữu quân hình thoi phải đi chếch 300 mét. Nếu đàn ông đánh nhau mà không đi đúng trận pháp “và tách rời khỏi những quy luật chính xác của khoa học quân sự thì chỉ là bọn man rợ dốt nát và phản khoa học”. (Sách đã dẫn - tập 3, trang 58). Cái tinh thần lý thuyết đầy dũng cảm hiệp sĩ này tuy rất dở hơi nhưng sâu xa nó hun đúc cho các nam chiến binh một thiêng liêng danh dự. Đàn ông bước vào một cuộc chiến (chưa bàn chuyện đúng sai) mà vắng thiếu danh dự thì chỉ còn là lũ ô hợp. Ngày nay thiên hạ thái bình, thương trường đã thay chiến trường, và trong cái hỗn loạn thương trường ấy, đàn ông đánh nhau bất cần trận pháp nên cái gọi là danh dự đương nhiên là một thứ xa xỉ. Lịch sử thao lược phương Đông thường xếp Gia Cát Khổng Minh là một tay đàn ông giỏi bầy trận vào loại đệ nhất. Theo lời đệ tử ruột, danh tướng Khương Duy toàn đánh thua, thì Gia Cát sư phụ “bầy trận có cả thẩy 365 phép biến theo độ số xung quanh mặt trời. Nên quân giặc thách đấu trận pháp thì chẳng khác nào múa rìu qua mắt thợ”. (Tam Quốc diễn nghĩa - Hồi 113). Lần đầu trận pháp hay nhất của Gia Cát Võ Hầu là lần đấu với Tư Mã Ý, đại tướng nhà Ngụy, người rồi đây tạo lập ra vương triều Tấn. Tư Mã Ý tuy đọc được vanh vách kết cấu trận pháp của Khổng Minh, nào là Trường xà quyển địa hình con rắn, nào là Bát môn kim to có cửa tử cửa sinh, nhưng do không thuộc cách biến hóa nên khi liều lĩnh xông vào trận liền lập tức thảm bại. Tóm lại, tài Tư Mã Ý giống tài các nhà phê bình văn học đương thời, thao thao chỉ ra nhan nhản những phép tu từ, những trường phái hiện đại, những chủ nghĩa hậu hiện đại nhưng thử cầm bút viết thật một truyện ngắn thì thối không thể ngửi. Dã sử cho rằng Khổng Minh học trận pháp từ sách của Mã Viện rồi tự hoàn thiện nâng cao. Chẳng biết binh pháp của họ Mã có cao minh không, chỉ biết ông này khi đánh nhau với nhị vị vua bà họ Trưng của người Việt thì toàn bại, bèn dầy ra một trận pháp quái dị đến phản cảm. Biết quân của đối phương đa phần là phụ nữ, ông ta cho những hàng lính đứng đầu trăm phần trăm thoát y. Mã Viện kém quá, ông ta không biết rằng các nữ chiến binh Việt khi lâm trận thì bất cần biết đối phương ăn mặc kiểu gì, kẻ thù càng phong phanh càng dễ bị bắn trúng. Sau lần thua dại dột ấy, quân Hán rút kinh nghiệm toàn mặc áo giáp kín mít và những chỗ nhậy cảm luôn che chắn cận thận. Khổng Minh bầy trận người đã giỏi, ông ta còn bầy “bát trận đồ” bằng đá (thạch trận) rất siêu. Trận chia thành tám cửa Hưu, Sinh, Thương, Đỗ, Cảnh, Tử, Kinh, Khai nguy hiểm sánh ngang bằng mười vạn tinh binh. Đại tướng Đông Ngô bằng cấp đầy mình là Lục Tốn lạc vào mê trận đó suýt chết, may mà nhờ bố vợ Khổng Minh thương tình cứu ra. Theo tiểu thuyết gia võ hiệp Kim Dung thì “bát trận đồ” được truyền đến đảo chủ đảo Đào hoa là Hoàng Dược Sư thì tuyệt. Hoàng lão Đông Tà công phu bầy mê trận vì trót có một cô con gái xinh đẹp tới tuần cập kê. Công năng chủ yếu của bát trận đồ xếp bằng hoa đào là dùng để ngăn chặn mấy thằng cầu hôn vớ vẩn. Có lẽ vì thế mà Hoàng bố vợ bị gã con rể Quách Tỉnh đấm cho không biết bao lần. Nói cho cùng, đàn ông biết bầy trận pháp cũng là việc vô cùng bất đắc dĩ bởi chuyện chiến tranh là chuyện chẳng ai muốn. Ngày nay, hòa bình kéo dài, đám đàn ông chỉ còn biết bày trò. TRẦN KHÔI VIỆT Tiêu đề: Re: Tạp văn QĐND Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Hai, 2011, 12:23:51 pm LÀM SẾP Làm sếp chả dễ chút nào. Đừng có nghĩ đơn giản làm sếp tức là chỉ có ra lệnh. Không phải cứ ngồi vào vị trí sếp, chả cần động não gì cả mà bộ máy dưới quyền anh nó cứ thế mà tự động vận hành đều đều đâu. Phải động não đấy, động não từng ly từng tí một đấy. Chỉ đơn giản ở lĩnh vực quan niệm về vị trí của mình để đối xử với cấp dưới thôi, đã là cả một vấn đề rồi. Cấp dưới của anh không phải là con anh, rõ ràng rồi, lại càng không phải là một cỗ máy vô tri vô giác lắp ráp bằng sắt thép. Cấp dưới của anh, trước tiên là một con người, một công dân, sau đó họ là cộng sự của anh, cuối cùng mới là cấp dưới hoặc nhân viên của anh. Quan hệ của anh với họ trước hết là quan hệ giữa một con người với một con người, một công dân với một công dân. Nếu anh làm sếp mà cứ luôn luôn đặt yếu tố trên dưới lên hàng đầu thì anh thực sự gặp vấn đề. Anh sẽ lấn át mọi người và tính dân chủ không còn. Nhân viên của anh sẽ trở thành công cụ, trở thành máy móc chứ không phải con người. Đã đến mức ấy thì nhân viên của anh cũng ắt hẳn sẽ phản ứng lại. Anh coi cấp dưới như máy móc thì họ sẽ làm như máy móc, đều đều, vô cảm. Nếu có trục trặc thì máy tự nó không giải quyết được. Có trục trặc gì thì nhân viên của anh sẽ không sốt sắng khắc phục mà họ sẽ ườn ra đấy chờ anh giải quyết. Vì máy là chỉ biết vận hành theo chỉ lệnh mà thôi. Anh sẽ phải tự giải quyết những trục trặc mà không có sự thông cảm, trợ giúp nảo từ cấp dưới. Khi anh coi cấp dưới là máy thì hiển nhiên là anh sẽ cho mình quyền áp đặt cái đúng hay sai lên tất cả mọi thứ. Anh là chúa trời. Trong cuộc họp anh sẽ nói mà bất cần phản ứng của cấp dưới anh thế nào. Mà khi như thế đồng nghĩa với việc anh mãi mãi không thể biết mình đang ở đâu. Cấp dưới là tai mắt của sếp, là tay chân của sếp. Tóm lại, là toàn thể thân thể của sếp, xét trong sự vận động công việc. Anh coi trọng tai mắt thì gió bão đến lù lù ngay trước mũi anh chả biết. Làm sao anh có thể chuyển động khi anh coi thường cái chân cái tay của chính anh. Anh bước tới miệng hố thì cái chân nào cần báo cho anh vì vốn dĩ thường ngày anh coi khinh họ. Biết bao nhiêu tấm gương tày liếp về sự ngã ngựa trời giáng của những vị sếp vì không coi trọng nhân viên, cấp dưới mình. Con người ta tồn tại trong quan hệ xã hội. Anh là sếp, anh coi trọng cấp dưới tức anh coi trọng chính anh. Anh khinh thường họ có nghĩa anh khinh thường chính anh. Thái độ của sếp với cấp dưới giống hệt bóng nước. Trên thế nào thì dưới ứng lại như thế. NGUYỄN TÂN PHƯƠNG Tiêu đề: Re: Tạp văn QĐND Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Ba, 2011, 11:00:19 pm ĐỊNH NGHĨA ĐÀN BÀ Theo từ điển thì khái niệm đàn bà là tương đối đơn giản. Từ điển ở ta cho rằng, đấy là nữ giới nói chung và phải là những người đã trưởng thành. Từ điển ở tây cũng hao hao như vậy, cuốn Petit Larousse (bằng tiếng Ăng-lê) đầy uy tín của người Pháp giải nghĩa: 1) A female human being – Distingguished from man. Đại loại, đàn bà là sinh vật giống cái cốt để phân biệt với nam giới. 2) An Adult female human being – Distingguished from girl. Đại khái vẫn là sinh vật giống cái, cốt để phân biệt với đám lóc nhóc thiếu nữ. Nghĩa một thì dễ hiểu quá rồi, còn nghĩa hai hơi mang tính cơi nới nhưng kha khá nghiêm ngặt. Nếu tuân thủ theo đúng nghĩa (2) thì đàn bà không có ở tuổi teen, và hiển nhiên sẽ không được phép mặc đồng phục trung học vào nhà nghỉ. Bọn họ vẫn có thể mang vẻ ngây thơ nhưng không thể cùng một lúc nhuộm tóc hai màu xanh đỏ rồi nhí nhảnh kẹp ba phi xe đánh võng. Thêm nữa, quan chức đàn ông nếu nhỡ có thân thiết với đàn bà thì đạo đức mặc nhiên sẽ thăng hoa bởi không bao giờ mắc phải cái tội ngớ ngẩn, lạm dụng vị thành niên. Từ điển học thuật rắc rối quá, dân gian quan niệm dịu dàng trong sáng hơn nhiều. Đàn bà đương nhiên chỉ giản dị hoặc là vất vả mẹ hoặc là tần tảo chị. Họ cũng có thể là cần mẫn vợ hoặc là bạc bẽo người tình. Họ đôi khi tài sắc vẹn toàn như Thúy Kiều, lại có lúc thỉnh thoảng xấu xí ít học như Thị Nở. Có người trong trắng thủy chung như tiểu thư Juliet trong kịch Shakespeare, lại có người dâm loạn điêu trác như Mã phu nhân trong trường thiên kiếm hiệp “Thiên long bát bộ”. Có người lại chót vót “phụ nữ của năm” như diễn viên Đỗ Hải Yến, lại có người là tột cùng tội phạm quốc gia như nữ lưu manh Phúc “bồ”. Nói chung, đàn bà giống như thơ, bởi có bao nhiêu người làm thơ là có bấy nhiêu định nghĩa. Vì thế, nếu phải miễn cưỡng rốt ráo định nghĩa đàn bà thì vẫn đành dựa vào các trước tác kinh điển. Theo Kinh Thánh, sau khi đã sáng tạo ra mọi loài, Thiên Chúa phát chán bèn rút xương sườn của “đàn ông nông nổi giếng khơi” để rồi làm ra một thứ “đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu”. Chắc là xót xa đau quá nên đàn ông đã hốt hoảng cảm thán “Đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi, người này sẽ được gọi là đàn bà vì đã được lấy ra bởi đàn ông”. (Sách Sáng thế 2; 23). Về sau, đàn bà bị con rắn quyến rũ xui nuốt táo phạm vào tội lê la ăn quà vặt nên Thiên Chúa đã mặc định bọn họ “Ta sẽ làm cho mày chịu nhiều đau khổ lúc thai nghén. Mày sẽ phải đau đớn khi sinh con, mày sẽ phải quỵ lụy chồng mày và chồng mày sẽ làm chủ mày”. (SSt 3; 16). Kinh Cựu ước được nhiều học giả lắm bằng ở ta cho là quá mang quan điểm thành kiến phương Tây. Ở phương Đông, kinh Phật của người Việt do minh quân thiền sư Trần Thái Tông khởi tác mang quan niệm về đàn bà có vẻ hay hơn. “Lưng ong tóc mượt hay khiến tính hoặc tâm mê, Sắc én mày ngài đưa đến hồn xiêu phách lạc. Kẻ mê say đoạn nghĩa thầy bạn, kẻ tham đắm đức mất đạo tan. Vậy có kệ rằng: Mặt trắng môi son điểm phấn đào. Long lanh đưa mắt gây lao đao. Chẳng qua một túi da nhơ bẩn. Cắt đứt ruột người không cần dao”. (Khóa hư lục – Văn giới sắc). Hình như hai quan niệm kể trên bị nhiều đàn bà hiện đại nhăn nhó không thích. Thôi đành dẫn Khổng Tử, một bậc Thánh của đạo Trung Dung. “Duy nữ tử dữ tiểu nhân, vị nan dưỡng dã. Cận chi tắc bất tốn, viễn dữ tắc oán” (Luận ngữ, thiên Dương Hóa). Nôm na ý của cụ Khổng là, đàn bà với tiểu nhân khó nuôi lắm. Ở gần thì bọn họ nhờn, ở xa thì họ oán. Có phải thế chăng mà rất đông nho sĩ thường để móng tay lá lan thật dài, chắc họ cẩn thận đề phòng những khi bắt buộc phải vuốt ve vợ. Thế nhưng nói cho cùng, thì ở phía trong thăm thẳm sâu xa của đạo Thiên Chúa, đạo Phật hay đạo Nho, luôn đẫm đầy trân trọng tính nữ. Trên cuộc đời có nhiều cay đắng phiền muộn này, còn gì thiêng liêng trinh bạch hơn được Đức Mẹ Maria, còn gì từ bi cao cả hơn Đức Phật bà Quan thế âm bồ tát cứu khổ cứu nạn. Và đã biết bao nhiêu thế hệ nhà Nho rưng rưng tâm phục khẩu phục khi chợt nhắc đến bà Mạnh mẫu, người mẹ tần tảo nghiêm khắc hết mực yêu con của á Thánh Mạnh tử. Có thể nói, tất cả những giá trị đậm đặc tinh hoa nhất của đàn bà đều thăng hoa đọng lại trong hai từ vĩ đại “người mẹ”. Chẳng cần biết đàn bà có thể tệ đến đâu, chỉ cần họ trưởng thành làm mẹ là lập tức cái nhân loại khốn khổ này được cứu rỗi. Bởi cái đám đàn ông quen chật hẹp đố kỵ khoe khôn soi mói kia, có thể không có chị, có thể không có vợ, có thể không có bồ nhí nhưng vĩnh viễn chưa bao giờ bọn họ lại không có hiền mẫu. Chính ở đây, câu hỏi tưởng hoành tráng, “đàn bà là gì”, bỗng rơi rụng thành vớ vẩn. Không phải ngẫu nhiên mà ngày Quốc tế Phụ nữ mồng 8-3 lại được tất thẩy đàn ông, kể cả những tay đã bất hạnh ly hôn hay bị người tình bán rẻ, luôn nghẹn ngào nức nở gìn giữ. TRẦN KHÔI VIỆT Tiêu đề: Re: Tạp văn QĐND Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Tám, 2011, 08:09:44 pm XE ÔM SÀI GÒN Từ trên chung cư cao nhìn xuống, anh xe ôm nhỏ bằng một cái hạt chôm chôm. Khi có khách, cái xe máy cũ đi từ từ dưới chiếc mũ bảo hiểm cũ. Thường anh đầu trần chờ khách đầu đường nội bộ, lạc lõng cạnh mấy bác tài xế taxi ăn mặc bảnh bao. Chung cư này có mấy người đi xe ôm. Chủ nhà nào chả có ô tô, có khi không chỉ một chiếc, phải mua thêm chỗ đỗ trong tầng hầm của khối nhà bên. Nghèo nhất là những người thuê nhà, thì người thuê nhà sát vách tôi cũng chẳng bao giờ đi xe ôm. Cô có tài xế riêng, người đàn ông bao cô đã bao thêm cả khoản tài xế lẫn ô tô. Tôi thường tránh giáp mặt cô, vì cô nhìn tôi với cái nhìn đồng lõa và dửng dưng. Anh xe ôm dưới đường biết trước tôi sẽ ra cửa giờ nào, đi đâu, làm gì. Tôi chỉ rời nhà để đi tới Hồ Con Rùa từ sáng rất sớm và từ đó quay về mà thôi, khi đã xong việc. Ở quán cà phê Hồ Con Rùa, tôi cũng hầu như chỉ ngồi một chiếc ghế, và những người lần lượt đúng giờ hẹn sẽ tới ngồi đối diện, đạo diễn, diễn viên, biên kịch, nhà báo, người có tài, người vừa tài vừa có tiền, người vừa có tài vừa có tiền vừa đẹp trai, nói xong, dạy tôi xong, thương lượng với tôi xong, bật mí với tôi xong, tán phét với tôi xong, rồi đi. Anh xe ôm thì thuộc cả lịch khám thai định kỳ của tôi, vì tháng nào anh cũng nhắc tôi thời gian. Anh vô cùng ân cần và thân thiện, anh làm cả những việc mà không được trả tiền. Ví dụ như, đi book vé máy bay liên tục cho tôi bay đi bay về. Ví dụ như, chờ tôi trước cửa phòng khám, ngồi với những ông chồng đang chờ vợ ôm bụng lặc lè đợi siêu âm trong phòng sản khoa, ngồi và tán phét như thể được tôi trả tiền cho những giờ chờ đợi ấy. Ví dụ như, đề nghị để anh mua đồ ăn mang lên phòng cho, khỏi xuống. Anh nói, anh ở một mình nên anh biết, ai cũng ngại nấu nướng. Và anh đoán nhiều bữa tôi nhịn đói khi không ra khỏi phòng. Những hôm tôi không đi ra đường, tức là tôi rất buồn. Anh cũng chiều khách để lượn vòng vòng tìm quán cà phê nào đẹp, quán ăn Ý nào dễ thương, tôi mới xuống. Anh luôn bảo tôi là, cho bao nhiêu thì cho, nên tôi thường cho anh khoản thù lao gấp rưỡi so với đi xe ôm như thế tại Hà Nội. Tôi chỉ có Hà Nội làm chỗ bấu víu, cái gì cũng phải lấy Hà Nội ra làm chuẩn mực, hoặc lấy chính mình ra làm chuẩn mực. Đấy là thói xấu của một người táo tợn nhưng tự ti. Sự chờ đợi của anh xem ôm xa lạ đất Sài Gòn là thứ để lại ấn tượng sâu sắc cho tôi nhất là khi tôi rời thành phố này. Nếu nói về quần áo ăn mặc và hình thức chiếc xe, thì anh thua xa đồng nghiệp Hà Nội, nhưng nói về thái độ phục vụ cũng như sự thân thiện với khách hàng, anh xe ôm ăn đứt những người tôi từng quen. Ăn đứt cả những người ban đầu tôi tưởng quen thuộc, thân thiết. Nhất là người mà vì họ, tôi đã quyết vào Sài Gòn. Để rồi thất vọng sâu sắc. Một ngày, tôi nói với anh xe ôm dưới chiếc mũ bảo hiểm cũ kỹ, anh biết quanh đây có nhà nào cho thuê không, mách giúp, tôi muốn chuyển đi, vì nhiều lý do. Nhưng tôi muốn thuê ở gần đây, vì tôi vẫn muốn đi xe ôm của anh. Anh nói, không sao, nếu cô đi thuê nơi khác, cần cứ gọi điện, tôi chạy tới đón. Bây giờ thì tôi đang viết những dòng này ở Hà Nội. Tôi đã xóa số máy của anh xe ôm, vì sợ mình nhỡ tay gọi từ Hà Nội. Trang Hạ |