|
Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Mười, 2010, 08:10:09 am (https://www.quansuvn.net/index.php?action=dlattach;topic=31677.0;attach=23312;image) Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Tác giả: TRẦN GIANG; Tựa của Giáo sư TRẦN VĂN GIÀU Nhà xuất bản: Chính trị quốc gia Năm xuất bản: 1996 Số hóa: macbupda NAM KỲ KHỞI NGHĨA 23 THÁNG MƯỜI MỘT NĂM 1940 Xin kính dâng công trình nghiên cứu này tới vong linh đồng bào, chiến sĩ đã chiến đấu kiên cường và hy sinh anh dũng vì độc lập, tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân, trong cuộc KHỞI NGHĨA NAM KỲ năm 1940-1941 Tác giả (http://img249.imageshack.us/img249/7895/bieutuong.jpg) Biểu tượng do nghĩa quân vẽ bằng mực tím, địch bắt được Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Mười, 2010, 08:10:35 am (http://img196.imageshack.us/img196/2663/bantuyenduong.jpg) Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Mười, 2010, 08:11:55 am LỜI TỰA Của Giáo sư TRẦN VĂN GIÀU NAM KỲ KHỞI NGHĨA nổ ra ngày 23 tháng 11 năm 1940. Đến nay, cuối năm 1995 sự kiện lịch sử lớn ấy đã tròn 55 tuổi, mà tiếng gọi của nó như hãy còn vang trong lòng của mỗi người chúng ta. NAM KỲ KHỞI NGHĨA thất bại, bị thực dân Pháp nhận chìm trong máu, mà NAM KỲ KHỞI NGHĨA là tiếng còi báo hiệu tổng khởi nghĩa Tháng Tám toàn thắng không đầy năm năm sau. Những người tiếp nối sự kiện vinh quang có bao giờ quên được những đàn anh đi trước đã lót đường cách mạng giải phóng dân tộc bằng chính tấm thân mình! Máu đồng chí, đồng bào đổ càng nhiêu thì tình đồng chí, nghia đồng bào càng sâu nặng. Tôi xin được quan niệm quyển sách NAM KỲ KHỞI NGHĨA của nhà nghiên cứu lịch sử TRẦN GIANG là một cách hay nhất nói lên tình sâu nghĩa nặng của chúng ta, những người đang xây dựng quê hương, đối với những đồng chí đồng bào đã anh dũng hy sinh năm 1940. * * * Mãi đến 55 năm sau ngày 23 tháng 11 năm 1940, chúng ta mới ra đời một cuốn sách lớn về NAM KỲ KHỞI NGHĨA. Trễ quá. Khuyết điểm của các nhà sử. Nhưng trễ còn hơn không. Vả lại, nửa thế kỷ qua, tuy chưa có một quyển sử NAM KỲ KHỞI NGHĨA xứng đáng với tầm quan trọng của biến cố, song báo chí, sách mỏng tuyên dương, nhắc nhở, nghiên cứu trên cả nước, nếu kể hết cũng đến số trăm bài như thường niên thắp nén hương cho liệt sĩ, nhằm gợi nhớ, gợi thương, nhằm biến cái thất bại tạm thời ra cái thành công vĩnh cửu. Riêng anh TRẦN GIANG lặng lẽ và công phu để rất nhiêu thời giờ đi vào các kho lưu trữ của Pháp, của Việt Nam, của Trung ương, của địa phương, phát hiện cho đến gần cạn những tư liệu quý giá giống như vàng để rương trấp, nhờ vậy mà hôm nay Anh TRẦN GIANG có thể cống hiến cho độc giả đang khao khát một quyển “NAM KỲ KHỞI NGHĨA”. “NAM KỲ KHỞI NGHĨA” của Giang đúng là một quyển lịch sử, không phải chỉ là một bài bình luận dài. Theo tôi đánh giá, “NAM KỲ KHỞI NGHĨA”, chủ yếu không phải là một nỗ lực để rút ra sự kiện năm khởi nghĩa 1940 những bài học kinh nghiệm cách mạng. Bài học kinh nghiệm đó rất phong phú, nhiều người và nhiều lần trước đã nghiên cứu khá kỹ rồi, bắt đầu từ đồng chí TRƯỜNG CHINH. Đến nay, nếu có gì thêm nữa, tưởng cũng không nhiều lắm, cũng không khác mấy. Về phần người được Trần Giang giao cho nhiệm vụ giới thiệu quyển sách, tôi nhận định rằng đặc điểm số 1, giá trị nổi bật, đóng góp lớn nhất của ” NAM KỲ KHỞI NGHĨA” là thành tựu trong việc thu thập, thẩm tra, chọn lựa và sắp xếp những tư liệu bấy lâu nay nằm chờ trên những kệ dài hàng trăm mét, liên quan gần hay xa đến đề tài mà Trần Giang quan tâm, tư liệu đó, quý thay, lại là những tư liệu gốc, nói chung không phải là những tư liệu đã qua nhiều tay “chế biến”. Trong tư liệu ấy, việc có ngày tháng, người có tên tuổi. Bạn đọc nào đó có thể chê một số là “tủn mủn”; một tư liệu này kể lại anh nghĩa quân vật ngã tên hương quản, lấy một súng hai nòng; một tư liệu khác kể một ngồi chùa làm lựu đạn từ những hộp chao… Vâng “tủn mủn” thật nếu so với 30 năm sau, 40 năm sau khi Giải phóng quân,Vệ quốc quân diệt từng căn cứ tiểu đoàn, trung đoàn của pháp, Mỹ. Nhưng 55 trước đây, nghĩa quân chỉ có tầm vông trong tay mà giật được một súng hai nòng là quan trọng lắm, là dũng cảm lắm! Xin đừng coi thường vài đoạn ngắn trong một bài ca vọng cổ tìm thấy trong túi dết của nghĩa quân ở căn cứ Mớp Xanh - Bo Bo (Thủ Thừa), bởi vì nó là bằng cớ sống rất hiếm nói lên được tâm hồn của những người chiến sĩ đã thất trận mà không thất vọng nản chí; gọi đó là “tủn mủn” sao? Là độc giả, trái lại, tôi tiếc rằng sách “NAM KỲ KHỞI NGHĨA” còn ít quá thứ “tủn mùn” ấy. Nếu tôi có trách gì anh Trần Giang, thì tôi tiếc rằng Trần Giang đôi gối còn cứng mà hình như thiếu đi đó đi đây để nghe, để chép những số việc, số người lâu ngày quá đã bị quên như những phút cuối cùng của đồng chí Bình người làng Tân Phú Trung (Hóc Môn), của đồng chí Giác - chồng chị Mười Thập - ở chợ Bưng (Mỹ Tho); và vô vàn những sự thật trăm phần trăm của thời 1940, khởi nghĩa Nam Kỳ, nếu góp lại một số, chỉ một số thôi, thì những “sự thật - huyên thoại” đó có thừa khả năng làm cho những người đọc sách trẻ tuổi bình thường, trở thành chiến sĩ anh hùng! Nhng đòi hỏi anh Giang đến mức đó, sao được? Quyển “NAM KỲ KHỞI NGHĨA” cũng đã hấp dẫn rồi, tuy rằng cái văn của các nhà sử, gồm cả cái văn của người giới thiệu, thường là khô khan như ruộng sau Tết! Trong số “tư liệu” quý giá mà, lần này Trần Giang phát hiện, có cái quả là vô giá. Đó là quyết định của Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên dương công đức, đại nghĩa của chiến sĩ Nam Kỳ 1940. Tuyên dương ngay trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống pháp. Mãi cho đến nay, quyết định ấy của Cụ Hồ chưa được biết rộng rãi. Muôn người đã chết năm 1940, triệu người đang sống bây giờ, nhất là đồng bào Nam Bộ, xiết bao cảm mến tấm lòng ưu ái của Cụ Hồ bao giờ cũng thiết tha với Miền Nam Tổ Quốc. Hãy nhắc mãi câu tâm huyết của Cụ Hồ “Nam bộ là thịt của thịt Việt Nam, là máu của máu Việt Nam. Sông có thể cạn, múi có thể mòn, sông chân lý đó không bao giờ thay đổi”. Tôi đề nghị đưa quyết định này của Cụ Hồ lên trang đầu của sách NAM KỲ KHỞI NGHĨA. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Mười, 2010, 08:13:35 am * * * Về những bài học kinh nghiệm rút ra từ cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ thất bại, thì Trần Giang tiếp tục những đồng chí đi trước đã viết trên sách báo, đã giảng ở các lớp huấn luyện cán bộ, không có gì trái, cũng không có gì thêm nhiều; tất cả anh em chúng ta đều nghiên cứu trên lập trường chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đều phê bình, tự phê bình một cách xây dựng. Góp ý thì, ở chỗ này Trần Giang sẽ thỏa mãn độc giả hơn nữa nếu anh trích lục các bài đả phá của thực dân và việt gian lúc ấy, bạn đọc sẽ biết thêm tâm trạng của bọn này trong và sau cuộc khởi nghĩa, cũng là tư liệu lịch sử cả. Riêng tụi tôi, mấy trăm tù ở trại giam Tà Lài bị bắt nhốt sau khi chiến tranh thế giới nổ ra, chúng tôi không quên nổi lời tuyên bố của viên chủ tỉnh Maurice Larivière mấy tuần sau khi khởi nghĩa Nam Kỳ bị Pháp nhận chìm trong máu. Hắn tập trung tất cả chúng tôi lại. Đứng trên dốc, tay trên bao súng lục, sau lưng có một trung đội bảo an mút cơ tông lên đạn, hắn nói giọng hùng hổ: - Hãy nghe đây! Thừa lúc nước Pháp thua trận ở châu Âu và mắc kẹt ở biên giới Thái, đảng của các người đã nổi lên định giết hết người Pháp trên đất Nam Kỳ, mà làm không được. Người Pháp đã không bị tiêu diệt mà chính đảng của các người bị tiêu diệt hoàn toàn. May lắm thì mươi mười lăm năm nữa, đảng của các người mới có thể ngóc đầu dậy Bây giờ các người phải trả lời cho bản chức câu hỏi này: hỏi vậy ở Tà Lài các người có đồng tình với anh em đồng chí của các người vừa mới nổi lơạn không? Hãy trả lời ngay! Như thường lệ, đã được toàn thể anh em bầu ra, tôi có trách nhiệm trả lời cho câu hỏi gài bẫy của thằng chủ tỉnh. Tính rằng sẽ có đại biến đẫm máu, tôi sẽ tay ra hiệu cho non già 400 trại viên đứng giãn ra, tôi chọn một tảng đá cao gần bằng chỗ đứng của thằng chủ tỉnh, với ý thức rằng, nếu lát nữa hắn nổ súng thì tôi thà đổ xuống chứ không chịu ngã ngang. Tôi thong thả nói, đồng chí Văn(1) dịch cho anh em: - Ông chủ tỉnh hỏi vậy chúng tôi ở Tà Lài đồng tình hay phảin đối cuộc khởi nghĩa vừa xảy ra ở Nam Kỳ. Ông ơi, nước Việt Nam của tôi bị Pháp cai trị mấy chục năm nay cũng giống như nước Pháp yêu quí của ông bị Đức xâm chiếm thống trị bây giờ. Chắc ông cũng như tôi đều được tin phấn khởi là nhân dân Pháp kiên cường không cam chịu mang ách Đức Hitler, nhân dân Pháp không chịu đầu hàng, mà trái lại đã anh dũng cầm súng tiếp tục đánh quân phát xít xâm lược tàn bạo. Tuy ông chủ tỉnh không nói ra, nhưng tôi biết chắc lòng ông khâm phục và đồng tình với những người Pháp kháng chiến đó. Vậy thì, thưa ông chủ tỉnh, chắc ông thừa hiểu rằng ở xó rừng Biên Hòa này, cũng như ông thôi, chúng tôi tự nhiên thông cảm với đồng bào chúng tôi ở Nam Kỳ trong biến cố tháng 11 vừa qua. Tôi trông thấy Larivière nãy giờ tay phải để trên vỏ súng lục, bây giờ bỏ tay xuống. Tôi nói tiếp: - Còn như ông chủ tỉnh bảo rằng mươi mười lăm năm nữa đảng chúng tôi mới có thể ngóc đầu dậy nổi, thì ông ơi, ai mà biết trước cho đúng, nhưng ông, tôi, tất cả chúng ta hôm nay chắc còn sống, chúng ta sẽ thấy là trong 10, 15 năm hay trong 5 năm thôi, nước Pháp yêu quý của ông và nước Việt Nam yêu quý của tôi sẽ được hoàn toàn giải phóng. Chủ tỉnh Larivière đột nhiên làm “đờ mi tua”, xoay lưng đi về trụ sở, toán lính bảo an xuống cò, theo sau lặng lẽ. Mấy trăm anh em chúng tôi thoát nạn, cười thút thít, ai về trại nấy, bàn bàn luận luận về cuộc “thiệt chiến” nguy hiểm. Đảng ủy trại giam họp rút khởi nghĩa buổi đối đầu vừa xong và để hết tâm trí tiếp tục nghiên cứu nguyên nhân thát bại của Nam Kỳ khởi nghĩa qua hàng chục báo cáo tỉ mỉ của những đồng chí mới bị bát đưa lên trại giam Tà Lài. Có lẽ lần này là lần thứ nhất, không phải qua tư liệu lưu trữ mà qua tự thuật của mấy chục cán bộ hoạt động đã trực tiếp nghe thấy, tham gia nổi dậy, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ được phân tích, được hội thảo, được tạm thời kết luận với mục đích được tuyên bố là giáo dục chính trị, giải đáp thắc mắc hoang mang gây ra bởi cuộc thất bại nặng, và với mục đích không được hở môi là trang bị tư tưởng cho số đồng chí đang chuẩn bị vượt Tà Lài, cuộc vượt đó sẽ được thực hiện vào đầu năm 1941. Cho đến nay, 1995, hãy còn sống các anh Năm Đông, anh Tô Ký, anh Tào Ty, anh Ba Nhâm v.v… làm nhân chứng rằng kết luận sơ bộ của Đảng ủy Tà Lài và kết luận trong sách không của Trần Giang, về căn bản là giống nhau. Một trong những nguyên nhân thành công của Nam bộ ngày 24, 25 tháng Tám năm 1945, bắt nguồn từ kinh nghiệm thất bại của Nam Kỳ Khởi Nghĩa tháng 11 năm 1940. Người đi trước lấy thân mình lót đường cho người tới sau là thế. Thất bại - mẹ thành công là thế. Ngày 22 tháng 12 năm 1995 (1) Đồng chí Trần Văn Kiệt đã đi học ở Liên Xô về, bí danh Rémy. Khi có sức lệnh 20-1-1940, Pháp đã lùng sục, nhưng mãi đến 13-7-1940, mới bắt được đ/c Kiệt ở Vĩnh Long và nhốt vào trại Tà Lài (T.G). Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Mười, 2010, 08:15:26 am PHẦN THỨ NHẤT NHỮNG TIỀN ĐỀ CỦA CUỘC KHỞI NGHĨA NAM KỲ I.- CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI VÀ NHỮNG CHÍNH SÁCH PHẢN ĐỘNG CỦA ĐẾ QUỐC PHÁP Ngày 1-9-1939, phát xít Đức tiến công Ba Lan. Chiến tranh thế giới thứ hai chính thức bùng nổ như hậu quả tất yếu của quá trình phát triển mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản thế giới, xuất hiện ngay sau Hội nghị phân chia quả thực không đều, không đáp ứng tham muốn của nhiều nước ở Versailles năm 1920. Tuy nhiên có khác với cuộc chiến tranh thứ nhất, lần này có Liên Xô, Nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới, ra đời từ tháng 11-1917. Đế quốc Pháp là một bên tham chiến, cho nên trong chính sách đối nội, ngay sau khi nhảy vào cuộc chiến, vin cớ Đảng cộng sản Pháp ủng hộ Liên Xô ký hiệp ước không xâm lược với phát xít Đức, ngày 26-9-1939 Tổng thống Pháp Albert Lebrun ký sắc lệnh giải tán Đản cộng sản Pháp và đàn áp những người tiến bộ. Đông Dương là thuộc địa giàu có của Pháp, tạo cho đế quốc Pháp có vị trí mạnh ở châu Á. Pháp lo lắng số phận của Đông Dương, nhất là từ năm 937, phát xít Nhật mở rộng việc đánh chiếm Trung Quốc. Tháng 10-1938, Nhật chiếm Quảng Châu. Tháng 2, tháng 3-1949, Nhật chiếm Trường Sa và đảo Hải Nam, án ngữ vịnh Bắc Kỳ. Việc phòng thủ Đông dương khẩn trương hơn và Pháp ủng hộ Tưởng Giới Thạch, tạo điều kiện cho hàng tiếp tế của Mỹ qua cảng Hải Phòng, bằng đường sắt đi Côn Minh. Tất nhiên, Pháp có lợi trong thỏa thuận này. Việc bảo vệ chủ quyền thống trị Đông Dương bằng quân sự đã dẫn tới tháng 7-1939, có quyết định Georges Catroux, một viên tướng sang làm toàn quyền thay cho Brévié. Thế là Pháp quay trở lại thời kỳ cai quản Đông Dương bằng các đô đốc, tướng lĩnh. Có điều khác trước là lần này từ Catroux, Decoux cho đến Henri Navarre năm 1954, tất cả cuốn gói ra về, Pháp mất hẳng thuộc địa Đông Dương. Ngày 2-9-1939, G. Catroux đặt chân đến Đông Dương. Bọn cai trị thuộc địa thực thi ngay hàng loạt chính sách phản động. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Mười, 2010, 08:20:15 am 1. Đánh vào Đảng cộng sản cùng những tổ chức Đảng và những người có tư tưởng chống phát xít.
Hai ngày sau khi ở chính quốc ban hành sắc lệnh giải tán đảng cộng sản, ngày 28-9-1939 Toàn quyền Đông Dương ký nghị định đánh vào đảng và các tổ chức quần chúng do đảng lãnh đạo, nội dung như sau: “Cấm tất thảy mọi hoạt động trực tiếp hay gián tiếp tuyên truyền các khẩu hiệu của quốc tế cộng sản hay những tổ chức do quốc tế cộng sản kiểm soát. Giải tán tất cả các hội ái hữu, tổ chức hay cá nhân nào có liên hệ với đảng cộng sản, những tổ chức có hay không có liên hệ với đảng cộng sản mà hoạt động theo khẩu hiệu của Đệ tam quốc tế cũng bị giải tán. Nếu cần thiết quan tổng trưởng bộ Nội vụ sẽ ký nghị định tịch thu tài sản của các tổ chức bị giải tán đó. Cấm tất cả những ấn phẩm, phát hành tặng hay bán hoặc trưng bày, những ấn phẩm hay tranh vẽ, nói chung là cấm tất cả những tài liệu tuyên truyền của Đệ tam quốc tế hay của các tổ chức có liên quan với Đệ tam quốc tế. Không kể rằng họ sẽ bị xử tội theo sắc lệnh ngày 29-7-1939, những ai phạm điều nói trên đây sẽ bị kết án từ 1 đến 5 năm tù và bị phạt từ 1000 đến 5000 quan. Tòa án có thể tùy theo những tội trong điều khoản 42 luật hình sự mà kết án”. Ngày 17-11-1939, Catroux lại ra tiếp nghị định tịch thu và phát mại tài sản của Đảng cộng sản Đông Dương: G. Catroux tuyên bố: “Lần này chúng tôi không chờ cho mụn độc phát triển. Phải mổ nó trước khi nó phát triển. Chúng tôi đã đánh toàn diện và mau lẹ vào các tổ chức cộng sản. Chống cộng là một cuộc đấu tranh hàng ngày. Trong cuộc đấu tranh này, phải tiêu diệt cộng sản thì xứ Đông Dương mới được yên ổn và mới trung thành với nước Pháp. Chúng tôi không có quyền không thắng. Tình thế chiến tranh bắt buộc chúng tôi phải hành động không chút thương tiếc nào”(1). Đối chiếu với danh sách tù chính trị được ân xá hồi 1936 và đảng viên, quần chúng hoạt động thời kỳ công khai, chúng ra sức lùng bắt, ở cả thành thị và thôn quê, đặc biệt ở các thành thị lớn như Hà Nội, Sài Gòn, Hải Phòng, Huế… Chỉ tính tháng 9-1939, Pháp đã lùng bắt khoảng 2000 cán bộ, đảng viên trong cả nước, riêng Nam Kỳ 800(2). Những đồng chí bị bắt hầu như rơi vào tình trạng quen hoạt động công khai, chần chừ, ngại rút vào bí mật. Nhiều đồng chí nhậy bén trước thời cuộc, nắm được tinh thần chỉ đạo của Trung ương đã kịp thời rút vào hoạt động bí mật. Chính Pháp cũng thừa nhận điều đó: “Đảng cộng sản Đông Dương đã ra lệnh cho những người lãnh đạo quan trọng nhất lẩn trốn”(3). Đó là điện báo của mật thám cấp dưới, còn đích thân Thống đốc Nam kỳ gửi điện số 417c báo cáo với Toàn quyền Đông Dương ngày 20-9-1939 như sau: “Tất cả những người cộng sản cảm thấy bị theo dõi rất chặt chẽ đã cảnh giác đi ẩn náu. Veber”(4). 8 ngày sau, y lại điện tiếp: “Giới chiến sĩ cộng sản đã kịp thời lẩn trốn trước những biện pháp giải tán đảng chính quốc”(5). Hàng loạt tổ chức quần chúng tiến bộ của Đảng, các tờ báo của Đảng và có khuynh hướng tiến bộ bị đóng cửa, bị kiểm kê, bị tịch thu tài sản theo sắc lệnh của Tổng thống Pháp. (1) Tuyên bố của Toàn quyền G. Catroux trước Hội đồng chính phủ Đông Dương ngày 4-1-1940. Dẫn lại của Giáo sư Trần Văn Giàu trong Thành công của chủ nghĩa Mác Lê nin Tư tưởng Hồ Chí Minh. NXB Thành phố Hồ Chí Minh 1993, tr.465-466. (2) Sách đã dẫn, như trên, tr.472. (3) Điện của chánh cảnh sát Sài Gòn số 3255 ngày 30-8-1939 RICARDONI gửi tổng nha mật thám Hà Nội. Nguyên văn: “Leparti communiste indochinois aurait donné l’ordre de se cacher à ses plus importans dirigeants”. (4) “Tous communistes se sentant étroitemnt surveillé font preuve réserve, la conseillent et se dissimulent stop Veber” Báo cáo gửi Toàn quyền Đông Dương. Hồ Sơ IIA. 45/205. Trung tâm Lưu trữ Trung ương 2, tại Thành phố Hồ Chí Minh. (5) T.O. NQ 432c 28.9.39 Goucoch à Gougal “Mileux communistes militants se dissimulaien déjà avant mesures dissolution parti métrôple Veber”. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Mười, 2010, 08:23:48 am Riêng ở Nam Kỳ, Thống đốc ra liên tục một loạt nghị định giải tán các hội, cấm các báo chí như sau:
(http://img808.imageshack.us/img808/684/p19p.jpg) (1) Có hội viên tham gia bãi công năm 1936-1937 (Chú thích của Pháp) (2) Hồ sơ: Báo cáo gửi Toàn quyền Đông Dương bằng điện văn. IIA. 45/205 (5) TT.L.T.T.Ư.2 tại TP Hồ Chính Minh. (T) Báo của Trốt kít. Để mở rộng phạm vi khủng bố đàn áp, ngăn ngừa những người hoạt động chống đối chính quyền cai trị của chúng, ngày 20-1-1940, Tổng thống cộng hòa Pháp ban hành sắc lệnh thực hiện trên toàn bộ lãnh thổ Đông Dương đố với những người mà chúng cho là nguy hiểm cho phòng vệ quốc gia hoặc an ninh công cộng, đều bị xử lý bằng một trong ba hình thức như sau: - Buộc phải ở một trung tâm chỉ định, thực chất là quản thúc. - Bị tống khứ khỏi nơi cư trú (vì chúng sợ hoạt động ở địa phương). - Bị giam giữ trong những thể thức (formalités) quân sự đặc biệt, tức là giam trong các trại (thường gọi là căng) đặc biệt của những người lao động. Chúng đã lập hàng loạt căng ở khắp nước ta, nhưng căng Bắc Mê, Nghĩa Lộ, Chợ Chu, Đá Vân ở Bắc Kỳ, căng Đaklay, Đakmin ở Trung Kỳ. Riêng ở Nam Kỳ Pháp lập các căng Bà Rá, Tà Lài (sau vụ vượt ngục của một số đảng viên cộng sản khỏi Tà Lài thì chúng hủy bỏ căng này), căng Bặc Liêu, Rạch Giá, căng Tân An dành cho một số người ốm sau chuyến sang Tây Ninh… Nay tại nhà tù Côn Đảo, thực hiện sắc lệnh này, Pháp cũng mở một căng để giam tù chính trị lẽ ra đến hạn phải tha, nhưng không cho về mà chuyển ngay vào căng. Ở đất liền, chúng cũng thực hiện như thế. Trường hợp đồng chí Trần Văn Giàu bị Pháp kết tội ngày 25-6-1935, 5 năm tù và 10 năm quản thúc, ngày 23-4-40, được tha, nhưng chúng không cho về, mà ném ngay vào căng Tà Lài… Thực hiện Sắc lệnh 20-1-1940, tính cho đến ngày 31-12-40, không kể những người bị bắt vì tham gia khởi nghĩa, Pháp đã bắt: 246 người giam tại căng những người lao động tà Lài (Biên Hòa), trong đó có 18 nữ giam ở căng Bà Rá; buộc 145 người phải ở một số trung tâm tỉnh lỵ chỉ định; buộc 78 người phải xa nơi cư trú. Cộng: 487 người(1). Sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, sang năm 1941, Pháp đã tận dụng săc lệnh này, bắt nhiều người hơn nữa. (1) Báo cáo số 736/API ngày 14-1-1941 của Thống đốc Nam Kỳ. HS. IIA. 45/204(2). Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Mười, 2010, 08:29:06 am 2. Thi hành lệnh tổng động viên.
Ngay trong ngay nổ ra chiến tranh thế giới, bọn cai trị Đông Dương đã ban hành lệnh tổng động viên nhằm “cung cấp cho mẫu quốc tiềm lực tối đa của Đông Dương về quân đội nhân lực, các sản phẩm và nguyên liệu”(1). Catroux nói: “Dù có tham gia trực tiếp hay không vào cuộc chiến, Đông Dương cũng không được có phương hướng riêng của nền kinh tế mà tài chính của mình mà phải quy tụ nó vào những mục đích do mẫu quốc chỉ định. Đông Dương phải sát nhập hệ thống mậu dịch của mình vào hệ thống của mẫu quốc, phát triển sản xuất của mình vì lợi ích của mẫu quốc, cung cấp những sản phẩm của đất đai và trong lòng đất mà nước Pháp đòi hỏi. Đồng thời, Đông Dương phải để cho nước Pháp sử dụng nhân lực của mình, hoặc làm trong các công binh xưởng, hoặc cung cấp những quân số quan trọng được tổ chức và biên chế để điều đến các chiến trường phương tây”(2). Đúng như ý của Catroux, ngày 12-9-1939, hai nghìn lính Đông Dương có học thức (instruits) được cấp tốc rời cảng Sài Gòn sang Pháp. Số người này sẽ được đưa vào các xí nghiệp quốc phòng đào tạo thành kỹ thuật viên và cho vào các trường quân sự để luyện tập thành bộ khung sĩ quan, hạ sĩ quan dự bị trẻ cho các đợt tăng quân sắp tới. Tiếp đó đợt tăng viện thứ hai, Đông Dương phải gửi khoảng 65000 quân chia thành 65 đơn vị (détachements), mỗi đơn vị khoảng 1000 người không học thức (non instruits) lần lượt sang Pháp thứ tự như sau: Tháng 1-1941: 5 đơn vị Tháng 2-1941: 5 đơn vị Tháng 3-1941: 5 đơn vị Tháng 4-1941: 5 đơn vị Tháng 5-1941: 5 đơn vị Tháng 6-1941: 10 đơn vị Tháng 7-1941: 10 đơn vị Tháng 8-1941: 10 đơn vị Tháng 9-1941: 10 đơn vị Tháng 10-1941: 10 đơn vị Trong lần tăng viện thứ hai, Nam kỳ phải gửi 7500 người. Ngoài ra, có khả năng phải cung cấp, thêm, nếu có biến cố đòi hỏi(3). Do đó, một làn sóng kéo dài bắt lính diễn ra ồ ạt ở Nam Kỳ. Việc tổng động viên bắt lính gây ra nhiêu hậu quả tai hại. Ở hãng thuốc lá BASTO Sài Gòn, do giám đốc và kỹ sư trưởng bị động viên, máy phải ngưng việc: 400 công nhân mất việc làm(4). Nhân dân phản ứng gay gắt việc bắt lính của Pháp. Có hành động chống đối tự phát. Ngày 17-10-39, một ngời làm công ở An Đông xã (Gia Định) tự chém vào tay trái của mình. Đưa đến nhà thương Lalung Bonnaire (Chợ Lớn), anh ta thuyên bố tuần trước người anh đã bị bắt lính, nay còn anh là người duy nhất nuôi mẹ già, cho nên anh làm như thế để khỏi phải đi lính(5). Trước chinh sách bắt lính phản động của Pháp, Đảng ta nêu các khẩu hệu chống bắt lính “không một người lính đi chết thay cho đế quốc Pháp”. Khẩu hiệu ấy phù hợp ý dân. Một phong trào phản đối trò bắt thăm lấy lính nổ ra khắp các tỉnh Nam Kỳ. Trong một đợt tuyển lính không chuyên (O.N.S) ngày 21-10-1939, dân các làng An Lộc Đông, Xuân Hòa, Xuân Thới Sơn, Tân Xuân, Tân Phú Trung (Gia Định), dưới sự hướng dẫn của chi bộ địa phương, từ chối không điền vào tờ khai để tiến hành bắt thăm lấy lính, rồi cùng nhau hô to “Không đi làm bia đỡ đạn trong một cuộc chiến tranh phục vụ cho quyền lợi của người điên”(6). Ở Rạch Giá, 40% dân chúng lẩn tránh vào vùng đồng sâu đi tới rất khó khăn, không cho tề làng đến gặp tận nhà, ghi tên vào bản danh sách bắt thăm lấy lính. Còn dân làng Tri Tôn dọc kênh trốn tránh vào rừng khi thấy bọn sen đầm, cảnh sát đi lùng sục(7). Hầu như ai ai cũng ghét việc động viên bắt lính. Công chức người Việt lo mất lương nếu bị gọi nhập ngũ, vì chỉ còn được phụ cấp phục vụ quân đội. Địa chủ, nhà buôn, nhà côn kỹ nghệ đều tỏ vẻ không thích thú gì khi bị gọi vào lính. (1) G. Catroux: Deux actes du drame indochinois Ed. Plon, Parí 1959. p.7. (2) Phát biểu của Catroux trong buổi khai mạc Đại hội đồng kinh tế và tài chính Đông Dương tháng 11-1939. Dẫn theo Lịch sử Việt Nam tập II, NXB KHXH Hà Nội, 1985, tr.305. (3) Báo cáo chính trị tháng 1-1940 số 174c/API ngày 1-2-1940 của thống đốc Nam Kỳ Veber gửi Toàn quyền Đông Dương. H.S. IIA. 45/204 TT.LT. TƯ 2 tại TP.HCM. (4) Báo cáo hàng ngày bằng điện của mất thám Pháp Hồ sơ : Về tình trạng tinh thần của dân chúng. H.S. IIA. 45/205 (1). (5) Báo cáo hàng ngày của mật thám Pháp. Hồ sơ : Về tình trạng tinh thần của dân chúng. H.S.IIA.45/205 (1) TT.LT2.TP.HCM. (6) Báo cáo số 4096 ngày 21-10-1939 của mật thám Pháp. Hồ sơ: Như trên. (7) Báo cáo số 4242s ngày 21-10-1939 của mật thám Pháp. Hồ sơ: Như trên. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Mười, 2010, 08:32:17 am Khắp các tỉnh đều có những cuộc biểu tình chống bắt lính. Lớn nhất là những cuộc nổ ra ở Mỹ Tho. Vào tháng 3-40, Pháp bắt được một số lính cho lên xe chở về Sài Gòn. Hàng trăm bà mẹ, trẻ em và người già đổ ra đường, từ thành phố Mỹ Tho đến ngã tư Trung Lương, kêu gào đòi tha chồng con về với gia đình. Nhiều người nằm lăn ra đường cản xe địch không cho chạy, gây ra cảnh lộn xộn huyên náo. Trong khi đó, một số các bà, các mẹ tranh thủ giải thích cho những người chỉ huy, làm cho họ lúng túng. Cảnh sát được lệnh đến giải tán, bà con lại tranh thủ giải thích cho họ thấy tình cảnh khó khăn cỉa gia đình neo đơn…
Sang tháng 4, lại có một cuộc biểu tình khoảng gần 4 nghìn người của một số xã thuộc quận Châu thành kéo vào thành phố Mỹ Tho giương cao khẩu hiệu và hô to: - Chống bắt lính! - Tăng tiền lương cho lính! Hốt hoảng trước khí thế đấu tranh chống bắt lính, chủ tỉnh vội báo động và huy động toàn bộ cảnh sát, mã tà, mật thám tới đàn áp. Quần chúng biểu tình kháng cự mãnh liệt. Có thể nói đây là những cuộc đấu tranh chống lấy lính lớn nhất lúc đó. Bọn cai trị còn sử dụng lệnh trưng dụng theo sắc lệnh tổng động viên để bắt công nhân hết hợp đồng đòi về địa phương phải ở lại làm việc, như trường hợp 82 công nhân Bắc Kỳ làm ở đồn điền cao su Trảng Bom (Biên Hòa). Anh chị em công nhân kiên quyết phản đối, chúng đưa ra tòa kết án ngày 31-5-1940, 81 người 3 tháng tù, 1 người 2 tháng tù(1). Cùng với việc động viên bắt lính, Pháp tăng thêm sưu thuế, trưng dụng phương tiện giao thông (ghe đò, xe thổ mộ (cả xe và ngựa), ô tô…), mở quốc trái, lạc quyên, chợ phiên… Việc trưng dụng xe đò dẫn tới việc tăng cước phí vận tải; chủ phương tiện mất nguồn sinh sống nuôi gia đình. Ngày 14-9-1939, hàng trăm tài xế xe bị trưng dụng đóng ở trường học Chợ Đũi ttừ chối không đến doanh trại đường Lagrandière ăn cơm. Chúng cho rằng Triều Cái (quê ở Quy Đệ - Nam Định) là người câm đầu xúi dục, cho lệnh bắt luôn. Sự viêc càng gây bực tức, xúc động trong anh em lái xe đang đóng ở đại đội lái xe thuộc sư đoàn bộ binh Nam Kỳ - Cao Miên. Chính viên Sư đoàn trưởng DERENDINGER phải báo cáo rằng: “Sự hiện diện của những người tài sế bị trưng dụng ấy, phần lớn là người Sài Gòn - Chợ Lớn là mối nguy hiểm cho kỷ luật tốt của doanh trại”(2). Bọn cầm quyền Đông Dương thực thi chính sách kinh tế thời chiến gọi là kinh tế chỉ huy, kiểm soát gắt gao xuất nhập khẩu, kiểm soát sản xuất và phân phối, định giá một cách độc đoán. Trong vòng tám tháng đầu năm 1940, đế quốc Pháp đã vơ vét của Đông Dương đưa về Pháp 37.955 tấn nguyên liệu, cùng thời gian này năm trước chỉ lấy 15.093 tấn. Những chính sách phản động về kinh tế gây tác động dây chuyền rất tai hại. Sở giao dịch lúa gạo (Bourse duriz) đóng cửa. Ngân hàng Đông Dương hạn chế chỉ cho rút 500 đồng mỗi tháng(3). Nhiều hãng buôn lớn như Denis Fréres, Charner… tích trữ hàng hóa, không cấp tín dụng cho các hãng nhỏ. Nhiều nhà máy xay lúa ở Chợ Lớn đóng cửa vì không có đơn đặt hàng. Nhiều xí nghiệp dãn thợ, kể cả người Âu giúp việc cũng bị sa thải. Người ta đổ xô đến các tiệm cầm đồ (mont de piété) để rút vàng bạc đá quý. Những người giàu có sợ bị ném bom chạy về miệt vườn. Địa chủ, công chức cao cấp, nhà giàu có con đang học các trường Đồng Nai, Châu Thành, Lê Bá Cang… cũng rút con đưa về nông thôn(4). Giá cả các mặt hàng đều tăng tác động đến đời sống của tất cả các lớp nhân dân chỉ trừ tư sản mại bản và lớp người đầu cơ tích trữ… Báo Công Nông Thương viết: “Gần đây ai cũng phàn nàn sinh hoạt đắt đỏ. Nếu lấy con số căn cứ là 100 vào tháng 9 tây 1939 thì giá hàng hóa lẻ vào tháng 12 tây tăng tới 145% ở Sài Gòn và 166% ở Hà Nội. Thế là giá hàng hai nơi trong vòng ba tháng đã tăng lên gấp rưỡi, mà công xá thì không được tăng như vậy, nhiều nơi công xá vẫn như trước”(5). Những cải tiện do luật xã hội được ban hành ở nước ta sau khi Mặt trận nhân dân Pháp lên cầm quyền, mà gia cấp công nhân và người lao động được hưởng, như thế là đều bị thủ tiêu. Nghị định của Toàn quyền Đông Dương đã tăng giờ làm việc của công nhân từ 60 lên 72 giờ một tuần, tiền lương bị giảm, cộng thêm bị sa thải mất việc. Pháp cũng quan tâm xây dựng lực lượng phản động như cho ra đời và nâng đỡ “đảng trật tự xã hội Đông Dương”, Hội cựu chiến binh thực chất là các tổ chức phát xít. Pháp còn quan tâm, tìm mọi cách lợi dụng và nắm những người đứng đầu một số tôn giáo… Có thể nói tất cả những chính sách phản động trên đây Pháp thực thi cho chiến tranh thế giới nổ ra đã làm cho mâu thuẫn giữa dân tộc ta với đế quốc Pháp vốn đã có càng thêm gay gắt, đặt dân tộc ta đứng trước thảm họa chưa từng có, không còn con đường nào khác ngoài con đường đấu tranh để sinh tồn. (1) Báo cáo điện tín số 3078s của mật thám Sài Gòn cho Tổng Nha Mật thám Hà Nội ngày 28-5-1940. Hồ sơ : IIA.45/293 (2). (2) Báo cáo của Sư đoàn trưởng Derindinger số 112/2 ngày 18-9-1939. H.S. IIA. 45/205 (1). (3) Báo cáo của chánh mật thám Ricardoni số 3255 ngày 30-8-1939. Hồ sơ : Như trên. (4) Báo cáo của mật thám Pháp số 5-9-939. Hồ sơ: Như trên. (5) Báo Công Nông Thương Hà Nội, số ra ngày 19-3-1940. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Mười, 2010, 08:39:19 am II. - SỰ CHUYỂN HƯỚNG CHỈ ĐẠO CHIẾN LƯỢC, SÁCH LƯỢC VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐẤU TRANH CỦA ĐẢNG.
Tình hình chiến tranh và những chính sách phản động của bọn cai trị Đông Dương đặt ra cho Đảng ta phải có những nhận xét mới về thời cuộc, phải kịp thời có sự chuyển hướng về chỉ đạo chiến lược, thảy đổi về sách lược và phương pháp đấu tranh, trong điều kiện hoàn toàn đứt liên lạc với Quốc tế cộng sản. Ngày 29 tháng 9 năm 1939, Trung ương Đảng đóng ngay tại thành phố Sài Gòn đã ra Thông cáo gửi cho tất cả các cấp cán bộ Đảng trong cả nước, chỉ rõ: “… Mấy năm gầy đây, Đảng ta còn ở thời kỳ đấu tranh thế thủ, ủng hộ các quyền tự do dân chủ đơn sơ của quần chúng và đòi các quyền tự do dân chủ rộng rãi. Nhưng hiện hay tình hình đã thay đổi nhiều. Hoàn cảnh Đông Dương sẽ tiến bước đến vấn đề giải phóng dân tộc, hoàn toàn vấn đề ấy mau hay chậm là thùy theo tình hình thế giới và năng lực của các đồng chí”. Về tổ chức và các hình thức đấu tranh, Thông cáo nhắc nhở “Hiện thời tình hình quốc tế đã cho chúng ta thấy rõ vấn đề dân tộc giải phóng sẽ đi đến chỗ kết quả, thế thì chúng ta còn dại gì mà chui vào nhà tù”. Chúng ta phải “chọn người nào trung thành, hăng hái, có giác ngộ chính trị thì tổ chức vào hội bí mật… Những hội viên này phải hoàn toàn bí mật… Còn sự lấy nguyện vọng và biểu tình thì phải đình. Như thế không phải chủ trương không tranh dấu. Hiện giờ ta không thể đưa lực lượng của Đản bày tỏ cho bọn thống trị biết… Tuy thế mặc dầu nếu nơi nào quần chúng thúc dục và say mê đấu tranh thì Đảng phải lãnh dạo”(1). Như vậy, trước sự biến chuyển của tình hình, Đảng đã vạch ra những nét phác họa đầu tiên cơ bản cho việc chuyển hướng đấu tranh cho phù hợp với hoàn cảnh mới. Nhiệm vụ giải phóng dân tộc đã nổi lên và trách nhiệm đó, Đảng ta phải gánh vác. Hai tháng sau, tại xã Tân Thới Nhất (Bà Điểm - Gia Định), Trung ương Đảng đã họơ Hội nghị từ ngày 6 đến ngày 8-11-1939, do đồng chí Nguyễn Văn Cừ chủ trì. Hội nghị phân tích tình hình thế giới nhận định rằng trong thời kỳ đế quốc vì sự phát triển không đều của chủ nghĩa đế quốc vì sự phát triển không đều của chủ nghĩa tư bản, các đế quốc thiếu nguyên liệu, thiếu thị trường phải đánh nhau để chia lại thế giới. Giữa chúng bộc lộ mâu thuẫn gay gắt không thể điều hòa được, nhưng chúng đều có âm mưu xoay cuộc chiến chĩa vào Liên Xô… Chiến tranh sẽ phát triển, phát xít Nhật sẽ mở rộng chiến tranh ở Viễn Đông. Trật tự cũ lại lay chuyển tận gốc. Các nước thuộc địa, hết thảy dân tộc bị áp bức sẽ vùng dậy đấu tranh liều sống chết với đế quốc xâm lược để cởi vất cái ách tôi đòi. Về tình hình trong nước, Hội nghị nhận định rằng hai nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam chống đế quốc và chống phong kiến Đảng đề ra năm 1930 là đúng. Nhưng trong điều kiện chiến tranh thế giới đã nổ ra và bọn cai trị thực hiện chế độ phát xít vô cùng tàn bạo, bọn phát ít Nhật lăm le nhảy vào Đông Dương xâm chiếm, đời sống của toàn thể dân tộc ta bị chà đạp nghiêm trọng, thì ”bước đường sinh tồn của các dân tộc Đông Dương không có con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ đế quốc Pháp, chống tất cả ách ngoại xâm, vô luận da trắng hay da vàng để tranh lấy giải phóng dân tộc”. Hội nghị nêu cao nhiệm vụ giải phóng dân tộc “tất cả mọi vấn đề của cách mạng cả vấn đề điền địa, cũng phải nhằm vào mục đích ấy mà giải quyết”. Để tập trung mọi lực lượng phục vụ nhiệm vụ chủ yếu là chống chiến tranh đế quốc, giành độc lập dân tộc, Hội nghị chủ trương tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruông đất mà thay bằng khẩu hiệu tịch kỳ ruộng đất của đế quốc pháp và những địa chủ phản bội quyền lợi dân tộc. Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương, thay cho Mặt trận dân chủ Đông dương, dựa trên cơ sở liên minh công nông, đoàn kết tất cả các tầng lớp, các giai cấp, các dân tộc ở Đông Dương, chĩa mũi nhọn vào kẻ thù chủ yếu của dân tộc là chủ nghĩa đế quốc và tay sai của chúng. Khẩu hiệu lập chính phủ xô viết công nông đề ra từ năm 1930 nay cũng thay bằng khẩu hiệu lập “Chính phủ liên bang cộng hòa dân chủ Đông Dương”. Các hình thức đấu tranh cần được thay đổi cho phù hợp với nhiệm vụ mới và phải chuẩn bị “bước tới làm nhiệm vụ giải phóng dân tộc”. “Song phải hết sức tránh những cuộc đấu tranh non, tranh đấu vô phương pháp, vô chuẩn bị, vì như thế tức là đưa quần chúng đén chỗ tự sát uổng mạng”. Các hình thức đấu tranh cần được thay đổi cho phù hợp với nhiệm vụ mới và phải chuẩn bị “bước tới làm nhiệm vụ giải phóng dân tộc”. “Song phải hết sức tránh những cuộc đấu tranh non, tranh đấu vô phương pháp, vô chuẩn bị, vì như thế tức là đưa quần chúng đén chỗ tự sát uổng mạng”. Hội nghị chú trọng đặc biệt đến công tác xây dựng Đảng, đề ra những nguyên tắc và biện pháp cụ thể nhằm củng cố Đảng về mọi mặt như: phải liên hệ mật thiết với quần chúng, phải vũ trang lý luận cách mạng, phải khôi phục hệ thống tổ chức và liên lạc Trung Nam Bắc, phải lựa chọn cán bộ, kiểm soát việc thực hiện nghị quyết, phải chống nạn khiêu khích mật thám, phải thực hiện tự phê bình và đấu tranh trên hai mặt trận chống “tả” khuynh và hữu khuynh, đặc biệt chú trọng thống nhất ý chí và hành động trong toàn Đảng(2). Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 11-1939 đánh dấu bước chuyển hướng đúng đắn về chỉ đạo chiến lược, về sách lược và phương pháp đấu tranh của Đảng, mở đầu cho thời kỳ đấu tranh mới của cách mạng nước ta. Nghị quyết được phổi biến trong cả nước, nhưng Nam kỳ tiếp thu sớm nhất và nó có tác động lớn đến cuộc khởi nghĩa Nam kỳ. Sau này chúng ta sẽ thấy về chiến lược, sách lược và những khẩu hiệu đấu tranh, tập họp lực lượng đấu tranh của Nghị quyết Hội nghị trung ương này in đậm dấu ấn vào cuộc khởi nghĩa. Cũng trong tháng 11 năm 1939, Đảng cộng sản Đông dương phát lời kêu gọi “Dân tộc chúng ta đương ở vào tình thế một còn một mất. Dòng dõi tinh anh của Trưng Vương, Triệu Ẩu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Huệ, Phan Đình Phùng… dân tộc Việt Nam hãy mau đoàn kết lại, thống nhất Trung Nam Bắc, liên hiệp với Miên, Lào và tất cả các dân tộc thiểu số khác, dưới ngọn cờ Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương, kẻ xuất công, người xuất của, ra sức đấu tranh chống đế quốc chiến tranh và giải phóng các dân tộc Đông Dương khỏi ách đế quốc. Chỉ có đấu tranh giải phóng các dân tộc mới thật sự là chiến tranh vì công lý, vì tự do”(3). (1) Thông cáo cho các cán bộ. Văn kiện Đảng tập III (1939-1945), Nhà Xuất bản Sự thật, 1963, tr.21-29. (2) Những chỗ có ngoặc kép là những đoạn trích trong Nghị quyết của Hội nghị T.Ư. tháng 11-1930. Xem Văn kiện Đảng đã dẫn trên. (3) Tuyên ngôn của Đảng cộng sản Đông Dương. Novembre 1939. Văn kiện Đảng đã dẫn trên, tr.96. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Mười, 2010, 08:41:04 am III. - PHÁT XÍT NHẬT NHẢY VÀO CHIẾM ĐÔNG DƯƠNG TẠO THÊM NHỮNG TÁC NHÂN MỚI CHO CUỘC KHỞI NGHĨA NAM KỲ.
Chiến tranh thế giới phát triển và ngày càng lan rộng. Sau khi chiếm đóng một loạt nước Đông Âu, Bắc Âu, chưa tiến đánh Liên Xô vội, mà ngày 10-5-1940, phát xít Hít le cho quân đánh Pháp. Chỉ cầm cự hơn một tháng, Pháp tuyên bố Paris bỏ ngỏ. và ngày 17-6-1940, xin đình chiến ký kết đầu hàng phát xít Đức, để cho Đức chiếm đóng Paris và một phần lãnh thổ Pháp. Phần đất con lại ở phía ở phía Nam đặt dưới sự quản lý của một chính phủ bù nhìn đóng ở Vichy. Đảng cộng sản Pháp, những người yêu nước của Pháp chiến đấu chống Hít le ngay trong nước Pháp. Một bộ phận tướng tá, binh lính không cam chịu mất nước, tuy trong hàng ngũ họ còn chính kiến khác nhau, kể cả những người nặng đầu óc thực dân, lần lượt ra nước ngoài xây dựng lực lượng cùa “nước Pháp tự do” chống phát xít, do de Gaulle cầm đầu. Pháp thua trận, mất nước làm cho bọn cai trị Đông dương vô cùng hoang mang bối rối. Còn đối với nhân dân ta, thế là rõ Pháp không phải mạnh mà yếu. Uy tín về sức mạnh của đế quốc “nước mẹ” Pháp hoàn toàn sụp đổ trước nhân dân ta. Tuy nhiên, Toàn quyền Catroux vẫn lên gân lên cốt: “Vận mệnh xứ Đông dương này còn trong tay tôi ngày nào, thì xứ này vẫn còn là đất Pháp. Tôi quyết định không chịu hạ cờ hiệu của tôi, vì nó là cờ hiệu của nước Pháp”(1). Phát xít Nhật là một trong ba đồng minh phe trục phát xít Đức - Ý - Nhật, vốn đã nhòm ngó Đông Dương từ lâu. Nắm được Đông Dương, Nhật sẽ có đường tiến về phía Nam, nơi có những quốc đảo như Philippin, Nam Dương giàu tài nguyên, nhất là dầu lửa. Nắm được Đông Dương, Nhật sẽ chặn được con đường tiếp tế của đồng minh Mỹ, Anh cho Tưởng Giới Thạch. Chỉ một thời gian ngắn sau, ai cũng thấy rõ, nắm được Đông Dương, đặc biệt đất Nam Kỳ, Nhật sẽ có thế thuận lợi đánh mau lẹ Philippin, Đông Ấn thuộc Hà Lán, Malaysia, Singapore, tiếp sau đó đánh Pearl Habor (Trân Châu Cảng), ngày 7-12-1941, phát động cuộc chiến tranh Thái Bình Dương. Từ cuối năm 1938, đại sứ Nhật đã gặp Toàn quyền Brévié cai trị Đông Dương lúc đó, đề nghị ngưng việc giúp đỡ chuyên chở hàng tiếp tế của Mỹ cho Tưởng Giới Thạch. Nhưng không có kết quả. Nay Pháp thua Hít-le tháng 6 năm 1940, thật là cơ hội tuyệt vời cho Nhật. Ngày 17-6, Pháp xin đình chiến đầu hàng Đức, thì ngay hai hôm sau, Nhật đưa cho Toàn quyền George Catroux một tối hậu thư đòi chấm dứt vận chuyển xe tải, dầu lửa và các hàng quân dụng khác qua đường sắt Hải Phòng - Lao Kay đi Côn Minh và đường bộ Hải Phòng - Bằng Tường cho Trung Quốc. Sau khi Pétain lên nắm chính phủ Vichy, thì y cho Đô đốc Jean Decoux sang làm Toàn quyền Đông Dương thay Catroux (19-7-1940). Catroux rời Đông Dương và theo phong trào nước Pháp tự do của de Gaulle. Tokyo thương lượng trực tiếp với chính phủ Vichy. Ngày 30-8-1940, một hiệp ước được ký kết trong đó nước Pháp cộng nhận vị trí ưu việt của Nhật ở Viễn Đông, đồng ý cung cấp cho Nhật một số điều kiện dễ dàng về quân sự ở bắc Kỳ. Ngược lại, Nhật tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ Đông Dương thuộc Pháp. Tiếp đó, Nhật làm việc với Decoux ngày 2-9 và đến ngày 20-9, hai bên ký kết một hiệp nghị cụ thể cho Nhật đóng 6.000 quân ở Bắc Kỳ, phái Bắc sông Hồng và không vượt 25.000 quân trên toàn Đông Dương. Nhật phải dùng sức ép bằng một tối hậu thư, cho đến phút chót Decoux mới hạ bút ký. Nhưng quân của sư đoàn 5 Nhật đóng ở Quảng Tây, ngay 22-9 vẫn tiến đánh một loạt đồn của Pháp ở Đồng Đăng, Lạng Sơn. Thực chất đây là hành động làm áp lực bắt Pháp phải chấp nhận mọi yêu cầu, vì Nhật sẽ còn tiếp tục đòi hỏi Pháp nữa. Quân Pháp đóng trên các đồn biên giới bị Nhật đánh đại bại, hoảng hốt tháo chạy về Đồng Mô và giương cao cờ trắng đầu hàng. Quân lính Pháp hỗn loạn chạy qua đường Bắc Sơn, dọc đường vứt cả súng. Trước tình hình đó, đảng bộ địa phương đã lãnh đạo nhân dân châu đánh tan quân Pháp, tước vũ khí và nêu cao khẩu hiệu đánh đuổi phát xít Pháp - Nhật. Pháp bại trận ở chính quốc. Rồi Nhật nhảy vào chiếm Đông Dương, Pháp lại tỏ thái độ bạc nhược đầu hàng. Cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn bùng nổ. Tất cả những tin tức đó tác động mạnh đến Xứ ủy Nam Kỳ trong lúc Xứ ủy đang khẩn trương chuẩn bị khởi nghĩa. Thêm một yếu tố nữa. Trong khi thực hiện chiến lược Đại Đông Á, phát xít Nhật đã tranh thủ được chính phủ Hoàng gia Thái ngả theo Nhật. Thái hy vọng kiếm lợi khi đi theo phát xít Nhật. Lúc phát xít Nhật gây chuyện rắc rối làm áp lực ở phía Bắc Đông Dương, thì ở phía Tây Nam, Nhật xúi dục Thái đưa quân tới biên giới Lào và Campuchia, chuẩn bị gây chiến với Pháp, với lý do năm 1907, Pháp đã chiếm của Thái một số đất giao cho lào và Campuchia, nay Thái đòi lại. Dĩ nhiên lính Thái không phải là quân Nhật, cho nên trong vài trận thử sức, quân Pháp mạnh hơn, thiện chiến hơn, đánh cho quân Thái thiệt hại. Phát xít Nhật lại đứng ra đóng vai trò “ngư ông” dàn xếp. Bọn cai trị Đông Dương ở vào tình thế khó khăn, không còn sự tiếp sức của chính quốc, không có viện trợ của Anh, Mỹ, không có khả năng kéo dài cuộc chiến, cho nên đành ôm hận trả cho Thái 70.000 kilômét vuông đất nằm bên kia sông Mêkông thuộc lãnh thổ Lào và mấy tỉnh miền Tây Campuchia. Việc nổ ra chiến tranh Pháp - Thái, buộc Pháp phải điều quân đội ra biên giới Tây Nam. Lính người Việt đóng ở Nam Kỳ và phần nhiều là người Nam Kỳ không muốn ra trận chết thay cho Pháp, không muốn chết vì quyền lợi của đế quốc Pháp. Trong quân đội của Pháp ở Nam Kỳ, Đảng lại có cơ sở khá mạnh, đã tiến hành làm công tác binh vận một thời gian khá dài. Anh em binh lính tán thành khẩu hiệu không đi làm bia đỡ đạn chết thay cho Pháp. Anh em muốn nổi dậy khởi nghĩa, thà chết cho cách mạng, còn hơn chết vì quyền lợi của đế quốc. (1) Các báo ở Sài Gòn và Hà Nội Tân Văn, ngày 18-6-1940. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười, 2010, 10:15:33 am PHẦN THỨ HAI CHỦ TRƯƠNG KHỞI NGHĨA CỦA XỨ ỦY NAM KỲ VÀ CÔNG CUỘC CHUẨN BỊ I. - HÌNH THÀNH CHỦ TRƯƠNG KHỞI NGHĨA Từ tháng 3-1940, đã xuất hiện Đề cương khởi nghĩa Nam Kỳ, thực chất là đề cương khởi nghĩa vũ trang do Xứ ủy đề ra. Nhưng phải trải qua nhiều cuộc tranh luận, nhiều cuộc hội nghị lớn của Xứ ủy, dần dần chủ trương khởi nghĩa vũ trang mới ngày càng hình thành rõ ràng và dứt khoát. Một trong những công tác mà Xứ ủy rất quan tâm trong nhiều công tác quan trọng chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa là công tác binh vận. Thật ra công tác này Xứ ủy chú ý đã lâu. Trong Nghị quyết Hội nghị toàn thể Xứ ủy Nam Kỳ ngày 3 và 4 tháng 12 năm 1939, phần nới về công tác tổ chức quần chúng, tài liệu mà Pháp đã bắt được, có một đoạn địch trích lại như sau: “Hoạt động trong quân đội cực kỳ quan trọng trong thời chiến. Đảng tổ chức các ban tuyên truyền trong binh lính. Về phần mình, các đảng bộ địa phương phải cố gắng nhiêu hơn nữa vào công tác tuyên truyền này. Lính tập (khố đỏ) trở về nhà họ mỗi chủ nhật, các đảng địa phương phải giải thích làm cho họ hiểu sự cần thiết đấu tranh đòi hỏi cải thiện những điều kiện sinh sống của binh lính và trợ cấp cho gia đình họ. Nếu một người lính thức tỉnh với hoạt động của chúng ta, cần phải giới thiệu họ ngay vào ban tuyên truyền trong binh lính. Chúng ta không chỉ tuyên truyền trong lính tại ngũ, mà cả trong giới trử từ 18 đến 35 tuổi…”(1). Ngày 23-4-1940, mật thám địch bắt được ở một ngôi chùa (Gò Vấp, Gia Định) một bản báo cáo của Ban binh vận gửi Xứ ủy về công tác điều tra nghiên cứu về tình hình binh bị của Pháp, nói rõ các địa điểm đóng quân người Việt, lính Âu, những nơi bố trí các loại vũ khí ở Sài Gòn và các tỉnh Mỹ Tho, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Châu Đốc, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Bà Rịa, Vũng Tàu, Gia Định…(2) 1. Hội nghị Tân Hương Từ ngày 21 đến ngày 27-7-1940, đồng chí Tạ Uyên, thay đồng chí Võ Văn Tần, Bí thư Xứ ủy đã bị bắt ngày 21-4-1940, triệu tập cuộc khoáng đại hội nghị toàn xứ tại nhà bà Năm Dẹm (Lê Thị Lợi) ấp Tân Thuận, xã Tân Hương, quận Châu Thành (Mỹ tho), với sự tham gia của 24 dại biểu thuộc 19 trong số 21 tỉnh Nam Kỳ. Đồng chí Phan Đăng Lưu ủy viên Thường vụ Trung ương đến dư. Lúc này Pháp vừa đầu hàng phát xít Đức ở chính quốc. Sau khi kiểm điểm tình hình thế giới và trong nước, đánh giá địch và lực lượng của ta, nhiều ý kiến cho rằng tình thế rất khẩn trương, quần chúng và đảng viên muuốn khởi nghĩa, nếu Đảng không lãnh đạo thì quần chúng sẽ manh động. Cũng có ý kiến cho rằng mâu thuẫn giữa nhân dân ta và địch tuy rất sâu sắc, nhưng ta chưa đủ điều kiện để khởi nghĩa, tức là chưa có thời cơ khởi nghĩa. Hội nghị nhất trí cử đồng chí Phan Đăng Lưu ra Bắc liên hệ với các đảng bộ Miền Trung và Miền Bắc bàn việc phối hợp hành động. Tuy nhiên để khẩn trương chuẩn bị cho một cuộc khởi nghĩa sắp tới, Hội nghị đã đề ra những công việc cần kíp trước mắt phải làm, như kiện toàn cơ quan lãnh đạo đảng ở các cấp, phát triển mạnh các đoàn thể quần chúng trong Mặt trận phản đế, tiến tói lập Mặt trận phản đế toàn Xứ, tổ chức lực lượng du kích, mua sắm thêm vũ khí và luyện tập quân sự, đẩy mạnh công tác vận động binh lính Một số Ban cần thiết chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa như Ban tham mưu, Ban phá hoại, Ban giao thông, Ban Cứu thương, Ban tuyên truyền, Ban quân báo, Ban địch vận, Ban tài chính cũng được phân công người phụ trách, không phải chỉ ở cấp toàn Xứ, mà ở cả cấp tỉnh. Hội nghị đã bầu đồng chí Tạ Uyên làm Bí thư Xứ ủy thay đồng chí Võ Văn Tần, ủy viên Trung ương Đảng kiêm Bí thư xứ ủy đã bị bắt, cùng hai đồng chí Phan Văn Khỏe, Lê Văn Khương vào Ban thường vụ và các ủy viên Phan Văn Bảy, Quảng Trọng Hoàng, Phạm Thái Bường, Dương Công Nữ, Thái Văn Đẩu, Phạm Hồng Thám. (1) Báo cáo chính trị tháng 4/40 số 797c/API của Thống đốc Nam Kỳ gửi Toàn quyền Đông dương. H.S.IIA.45/204 (2). (1) Lưu trữ Viện sử Đảng CJB/6. Xem phụ lục. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười, 2010, 10:17:59 am 2. Thông cáo ngày 4-9-1940 đối với thời cuộc
Sau hơn một tháng các địa phương tiến hành các công tác đấu tranh và chuẩn bị mọi mặt cho cuộc khởi nghĩa, Xứ ủy Nam Kỳ ra Thông cáo ngày 4-9-1940 đối với thời cuộc hiện tại. Đây là một tài liệu thể hiện chủ trương khẩn trương chuẩn bị khởi nghĩa vào lúc phát xít Nhật nhảy vào đông dương, chỉ còn tính ngày giờ. Phần đầu nói khái quát tình hình thế giới, trong nước, Thông cáo nhận định: “Vấn đề cấp bách trước mắt đối với Nhật bản là xâm chiếm lấy Đông Dương hòng biến Đông Dương thành thị trường tiêu thụ hàng hóa, thành nơi khai thác nguyên liệu, thành căn cứ để tiến công Trung Quốc và cũng từ đó thọc tay vào các thuộc địa của Anh, Mỹ… Chính phủ (Đông Dương) đã tìm mọi cách bưng bít những tin tức về những cuộc xung đột đổ máu ở biên giới Trung - Việt, bọn chúng đã tăng thuế đến hai triệu, ra tay cướp đoạt của cải cua nhân dân để cung cấp cho cuộc chiến tranh phản động của chúng, biến Đông dương thành chiến trường của phát xít Nhật. Trước nguy cơ đó, Đảng cộng sản chúng ta phải tập trung mọi lực lượng… ráo riết chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang để giành lại chính quyền”. …“Từ nay các đảng bộ địa phương phải có tinh thần khẩn trương và tinh thần hy sinh, đặt sự nghiệp cách mạng lên trên hết. Đảng bộ phải lãnh đạo mọi hình thức đấu tranh từ các cuộc mít tinh, biểu tình, đình công cho đến các cuộc biểu tình vũ trang, tổng đình công và tổng biểu tình của công nhân, nông dân và binh lính tiến tới khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền… Đảng còn phải lãnh đạo đấu tranh nhằm củng cố nội bộ, đánh đổ những xu hướng khuynh “tả” và khuynh hữu của một số đồng chí chúng ta và đánh đổ tư tưởng cho rằng: “Bị khủng bố dữ dội khó mà vận động được quần chúng ra đấu tranh, phải chờ thời cơ khởi nghĩa hãy đưa quần chúng ra đấu tranh giành chính quyền…”. Thông cáo đề cập tới vấn đề thành lập Mặt trận dân tộc phản đế, giao thông liên lạc, tài chính cho thời kỳ chuẩn bị khởi nghĩa. Về việc thành lập và huấn luyện các đội tự vệ ở khắp nơi, Thông cáo viết: “Muốn khởi nghĩa thành công giành lại được chính quyền ngay từ bây giờ chúng ta phải có một đội quân cách mạng giác ngộ và có tổ chức chặt chẽ. Do đó các đảng bộ địa phương phải tổ chức cho được thật nhiều tự vệ… Chúng ta phải chọn những người hăng hái dũng cảm, có tinh thần hy sinh đưa vào các đội tự vệ. Phải huấn luyện tự vệ cho thích hợp: học cách nhận định tình hình trong nước và thế giới, học chính trị thường thức, chiến thuật du kích và những tri thức thực hành về quân sự. Chúng ta có thể chỉ định những đồng chí nguyên là cựu binh sĩ để phụ trách việc huấn luyện đó. Ở mỗi đảng bộ phải cử ra 2 hoặc 3 đồng chí hiểu biết về quân sự để nghiên cứu kế hoạch huấn luyện và phụ trách tổ chức tự vệ địa phương.”. Thông cáo dành hẳn một mục nhắc nhở mỗi đơn vị phải đảm nhận một công tác của đảng với một tinh thần mới. Mỗi đồng chí, mỗi chi bộ, mỗi cán bộ đảng bộ đều phải ra sức hoạt động để làm tròn nhiệm vụ mà Xứ ủy đã chỉ định rõ cho mình trong bản thông cáo này nhằm tiến tới khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền”(1). (1) Thông cáo của Xứ ủy Nam Kỳ ngày 4-9-1940. Lưu trữ BNCLSĐ Trung ương. Bản sao lưu trữ BLSĐ TP.HCM B40-V/400. Xem phụ lục. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười, 2010, 10:20:25 am 3. Hội nghị Tân Xuân.
Ngay trong tháng đã ra thông cáo, trong 3 ngày từ 21 đến 23-9-1940, đồng chí Phan Đăng Lưu ra Bắc chưa về, đồng chí Tạ Uyên đã triệu tập họp Xứ ủy mở rộng tại Tân Xuân (Hóc Môn, Gia Định). Đây là cuộc họp nối tiếp Hội nghị Tân Hương, mang tính chất quan trọng ở chỗ hội nghị này vạch rõ đường hướng cho cuộc khởi nghĩa sẽ nổ ra hai tháng sau đó và thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn là nơi được chọn làm trọng điểm, là nơi phát lệnh khởi nghĩa chung cho toàn Nam Kỳ. Về tình hình quần chúng, Hội nghị nhận định 30% nhân dân muốn lật đổ Pháp và chống phát xít Nhật. Đại bộ phận quần chúng ghét Pháp, khinh Pháp, nhưng còn mơ hồ về Nhật, vì thấy Nhật đang còn thắng thế ở một số nơi. Tuy nhiên cũng có thiểu số thân Pháp, thân Nhật. Về tình hình khách quan, chính phủ thuộc địa đang bị rối ren về chính trị, nhất là sau khi Pháp thua phát xít Đức, bị cô lập về kinh tế, quân sự. Đội ngũ những người cầm đầu chia rẽ thành cánh ủng hộ de Gaulle, cánh ủn hộ Pétain, cánh sợ Nhật, cánh chống Nhật. Nhưng phần nhiều tự lo bảo vệ quyền lợi riêng. Về chủ quan, lực lượng đội tiên phong còn tương đối yếu, tổ chức chưa được củng cố sau mấy đợt khủng bố, phong trào đấu tranh của quần chúng chưa mạnh, tóm lại chủ quan chưa chín muồi. Nhưng, nếu không khởi nghĩa thì có hại, quần chúng sẽ tan rã mất tinh thần, nếu ta lùi bước, quần chúng sẽ xa rời Đảng. Đảng sẽ mất ảnh hưởng và mất tín nhiệm trong quần chúng. Pháp Nhât thực hiện âm mưu chia rẽ nội bộ ta, làm cho cách mạng tan rã… Trái lại, tiến hành khởi nghĩa sẽ có lợi: biểu thị được một cách hùng hồn lực lượng đấu tranh giành dộc lập, làm cho nhân dân thấy rõ tính ưu việt của chế độ dân chủ cộng hòa, giữ vững được Mặt trận dân tộc phản đế góp phần xây dựng Mặt trận quốc tế và ủng hộ cách mạng Trung Hoa đang đấu tranh giải phóng dân tộc. Khi bàn đến thời cơ khởi nghĩa vào lúc nào, Hội nghị thảo luận rất sôi nổi và nêu lên 4 tình huống sau đây: 1. Khi nào Pháp - Nhật đánh nhau ở Đông Dương. 2. Khi nào Nhật dùng bất kỳ cách nào chiếm Đông Dương. 3. Khi nào Pháp cho Nhật vào Đông Dương, dùng con đương Hà Nội - Vân Nam tiến công Trung Hoa. 4. Khi nào xung đột Nhật - Mỹ bùng nổ ở Đông Dương. Về công tác tuyên truyền trong quân đội, Hội nghị đề ra tìm mọi cách tuyên truyền binh lính Đông Dương bao gồm cả binh lính Việt, Miên, Pháp làm cho rối loạn hàng ngũ địch, làm nội ứng và tham gia khi bùng nổ khởi nghĩa. Về tài liệu khởi nghĩa, các cấp ủy phải thận trọng khi phân phát, chỉ phát cho những người thật giác ngộ, thật trung thành, thật dũng cảm…. Về tình hình nội bộ, Hội nghị nhật xét Sài Gòn, Gia Định,Cchợ Lớn… là những khu quan trọng, nhưng cơ sở đảng còn chưa vững chắc. Hội nghị quyết định bổ sung một số đồng chí xuống đó tiến hành ngay việc phát triển đảng và tổ chức quần chúng. Đồng chí Tạ Uyên, Bí thư Xứ ủy phụ trách chung, đồng thời trực tiếp phụ trách Sài Gòn - Chợ Lớn. Các cấp bộ phải loại trừ ngay những phần tử xấu ra khỏi đảng. Cần chú ý lãnh đạo chống khuynh hướng manh động, khủng bố cá nhân, cần phải kiểm soát những người, những trường hợp manh động bằng thuyết phục lý lẽ và kìm giữ… Trong tình hình mới hiện nay, phải nối ạiị ngay các mối liên lạc, từ trên xuống dưới và giữa các cấp bộ đảng. Tổ chức huấn luyện cấp tốc những đội du kích ở các xí nghiệp, đồn điền và nông thôn trong toàn Xứ. Phát động một phong trào đấu tranh mạnh mẽ, tiến hành tuyên truyền sâu rộng, tổ chức ngay ban tuyên truyền. Cuối cùng, Hội nghị quyết định tất cả các cấp cán bộ phải nghiêm túc thực hiện chủ trương của Xứ ủy đã đề ra(1). Dựa theo tinh thần nghị quyết hội nghị, ba trong bốn tình huống tạo ra thời cơ khởi nghĩa đã có, nhưng Xứ chưa thể phát động quần chúng nổi dậy, vì đồng chí Phan Đăng Lưu ra Bắc chưa đơn vịề, các đồng chí còn ngóng đợi ý kiến của đồng chí Lưu. Và điều quan trọng hơn là lúc đó chuẩn bị chưa kịp, nhất là tại Sài Gòn. (1) Bản dự thảo Quyết nghị Hội nghị đại biểu Xuất sắc ủy Nam Kỳ các ngày 21, 22, 23-9-1940 này. Cò cảnh sát Vĩnh Long, có chỉ điểm, đã bắt được cùng với nhiều tài liệu khác ở Long Hồ ngày 26-9-40, tại nhà đồng chí Trần Văn Bảy, Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Long. Như thế nghĩa là chỉ ba ngày sau khi kết thúc hội nghị, địch đã bắt được nghị quyết của Xứ ủy. Tư liệu BNCLSĐ TP. Hồ Chí Minh K.H. B40-V/389. xem phụ lục. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười, 2010, 10:25:39 am 4. Hội nghị Ban Thường vụ Xứ ủy ngày 3-10-1940 và bản Thông cáo uốn nắn những sai lầm trong lúc chuẩn bị khởi nghĩa.
Chỉ sau Hội nghị Tân Xuân 10 ngày, Ban Thường vụ Xứ ủy lại họp để uốn nắn những sai lầm, lệch lạc về tư tưởng cũng như hành động, xuất hiện trong quá trình chuẩn bị khởi nghĩa và nhắc thêm một số việc mà Hội nghị Tân Xuân chưa đề cập tới. Những ý kiến của Hội nghị được thể hiện trong bản Thông cáo của Thường vụ Xứ ủy Nam Kỳ với nội dung chủ yếu sau đây: a) Uốn nắn những lệch lạc “tả” và hữu. Thông cáo viết: “Trong lúc đối với ngoài, phát xít Pháp lỳ lợm đầu hàng Nhật Bổn, ở trong vì sợ phong trào cách mạng dân chúng, chúng thẳng tay đàn áp. Theo tin tức đích xác chúng đang chuẩn bị một cuộc đại khủng bố mới, bắt nhốt hết thảy những người tình nghi. Trước tình thế ấy một số đồng chí nảy ra những tư tưởng và hành động sai lầm. Có kẻ đòi phải gấp rút bạo động, có kẻ chủ trương ám sát tụi việt gian, có kẻ bỏ việc làm, đi trốn để thoát thân. Trong lúc chuẩn bị chưa chắc chắn mà muốn nổi dậy làm liều là tư tưởng manh động, nguyên nhân chánh của cuộc thất bại trước như Phan Xích Long, Yên Bái… Không tuyên truyền tổ chức tranh đấu chuẩn bị chuẩn bị lực lượng để đánh vào người thù chính mà chỉ lo khủng bố cá nhân như thế là lặp lại bài học rất đau đớn hồi 1930-1931. Đảng đang lo chỉnh tề hàng ngũ để kéo ra chiến đấu với quân thù mà mình bỏ trốn để giữ lấy xác như thế là đào ngũ, là hèn nhát, không xứng đáng với một người chiến sĩ cách mạng”. b) Nhắc nhở công tác bí mật để đối phó với chính sách khủng bố của phát xít Pháp: Thông cáo nêu lên 10 điểm phải nghiêm túc thực hiện: “1. Các đồng chí đã bị ghi tên vào sổ tình nghi, phải luôn luôn tìm hết cách đề phòng để có thể lẫn lộn hoạt động trong quần chúng. 2. Các cơ quan lãnh đạo đã bị lộ phải dời đi nơi khác ngay. 3. Cơ quan phải dời ngay khi một đồng chí ở cơ quan đó mới bị bắt. 4. Không nên cho quá nhiều người biết cơ quan. Chỉ những đồng chí có quan hệ mật thiết mới được lui tới cơ quan. 5. Một đồng chí đi công tác phải hẹn giờ trở về. Nếu đến giờ đó mà không về thì phải điều tra ngay. 6. Trước khi đến một cơ quan hoặc đến nhà một đồng chí, phải rất thận trọng, vì sau khi bắt đồng chí ấy rồi, địch có thể cài bẫy lại. 7. Đối với đồng chí mới được tha, phải điều tra kỹ và chưa nên tin ngay. 8. Các cuộc họp không nên kéo dài nhiều ngày. Nếu cần, phải họp ở hai, ba nơi khác nhau, phải đặt tự vệ canh gác. 9. Trước khi đi xa có mang theo tài liệu trong người, phải tìm hiểu xem dọc đường địch có hay khám xét hay không, và tránh đi vào ngày kỷ niệm đỏ. 10. Những người liên lạc đã bị lộ phải điều đi công tác nơi khác”. c) Thông cáo nhắc nhở trong công tác tuyên truyền phải làm cho nhân dân thấy rõ bộ mặt thật của phát xít Nhật, phải phản đối nạn xâm lăng của phát xít Nhật và của Thái Lan. Phải gỡ mặt nạ bọn việt gian và đập tan ảnh hướng của chúng trong nhân dân. Ở Bắc kỳ,bọn cầm đầu Việt Nam quốc dân đảng đã phải bội, tổ chức một nhóm thân Nhật với danh nghĩa là một đảng quốc gia, công khai hoạt động, tuyên truyền kêu gọi binh lính theo Nhật. Ở Nam Kỳ cũng mọc lên một nhóm thân Nhật gồm những tên Trốtkít như Đào Duy Phiên, bác sĩ Thinh, Nhựt… lập ra một tổ chức lấy tên là Việt Nam thống nhất cách mạng đảng. “Phải giải thích rõ ràng cho nhân dân hiểu rằng sau khi đánh thắng thực dân Pháp, chúng ta sẽ thành lập một chính phủ dân chủ cộng hòa, chúng ta vân giữ vững và mở rộng một mặt trận thống nhất, chúng ta sẽ đặt mối quan hệ chặt chẽ với cách mạng thế giới…”. d) Cuối cùng Thông cáo nêu vấn đề Lạc quyên đặc biệt: “Các đồng chí đều thừa hiểu rằng hiện nay hơn lúc nào hết, Đảng đặc biệt cần tiền nên lạc quyên lúc này có một ý nghĩa rất lớn. Do đó các đồng chí phải hết sức cố gắng làm sao cho cuộc lạc quyên thu được kết quả tốt đẹp. Chính các đồng chí phải nêu gương hy sinh đóng góp trước. Hy sinh như vậy chưa đủ, các đồng chí phải gây một phong trào giúp đỡ rộng lớn bằng cách kêu gọi lòng hào hiệp của nhân dân, của các tầng lớp tư sản, giải thích rõ “kẻ có tiền giúp tiền, người có công giúp công”. Phải trình bày rõ ràng cho họ hiểu quan điểm đó đặng thuyết phục họ vui lòng ủng hộ cuộc cách mạng giải phóng… Chúng ta đang sống trong một thời kỳ phải cứu vớt toàn thể đồng bào, toàn thể dân tộc chúng ta. Một đồng bạc lúc này bằng nghìn viên đạn bắn vào đầu quân thù, cũng như hàng nghìn viên gạch góp vào viêc xây dựng sự nghiệp của chúng ta. Các đồng chí phải khích lệ những nhà hữu sản và có lòng hào hiệp giúp đỡ chúng ta”(1). Sau mấy cuộc họp của Xứ ủy và Ban Thường vụ vào tháng 10 va tháng 11-1940, tư tưởng về khởi nghĩa vũ trang của Xứ ủy đã hình thành về cơ bản. Vấn đề còn lại là ra sức thúc đẩy công tác chuẩn bị và chọn ngày giờ để hạ lệnh khởi nghĩa. Tuy nhiên cũng cần nói đến, trong nội bộ Xứ ủy còn ý kiến chưa thật đồng tình với việc phát động khởi nghĩa. Trong một số cuộc tạo đàm và sách viết có nhắc đến ý kiến của xứ ủy viên Phan Văn Khỏe, Phan Văn Bảy, Phạm Hồng Thám… nói rằng chưa nên chủ trương phát động khởi nghĩa(2). Trong báo cáo chính trị tháng 11-1940 của Thống đốc Nam Kỳ gửi cho Toàn quyền Đông Dương có một đoạn đáng lưu ý như sau: Sau khi nhắc tới một loạt những hoạt động chứng tỏ đảng cộng sản đang ráo riết chuẩn bị khởi nghĩa, báo cáo viết: “Tuy nhiên, ngày 15-11-1940, cảnh sát đặc biệt đã tiếp xúc được với hai thông báo của Xứ ủy, trong đó tổ chức này làm nản lòng những chiến sĩ muốn phát động ngay một cuộc khởi nghĩa vũ trang, cho rằng khi những điều kiện cần thiết chưa đủ, mà đã muốn chuyển sang hành động một cách mù quáng thì sẽ dẫn đến thất bại. Những quan điểm trái nhau ấy trong hàng ngũ những người cộng sản giải thích vì sao trong một số vùng nhất định, những tin tức thu nhận được cho thấy có những chiến sĩ tích cực thực hiện chỉ thị của đảng chuẩn bị khởi nghĩa, trong khi đó, một số khác chỉ tổ chức mít tinh và rải truyền đơn”(3). Tuy rải rác và có lúc có ý kiến chưa thật đồng tình, nhưng chủ trương muốn phát động khởi nghĩa vũ trang là khuynh hướng đa số, chi phối và quyết định. (1) Thông cáo gửi Thường vụ Xứ ủy Nam Kỳ. HS B40-V/390 Lưu trữ BSĐG thành phố HCM Trích nguyên văn những đoạn trong ngoặc kép. (2) BNCLSĐ TP.HCM: Nam Kỳ Khởi Nghĩa (1940) NXB.TP.HCM 1990; tr.43. (3) Báo cáo chính trị tháng 11-1940 số 2448c/API của Thống đốc Nam Kỳ gửi Toàn Quyền Đ.D.HS, HS45/204 (2). TTLT2 tại TPHCM. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười, 2010, 10:27:25 am II. - THỰC HIỆN CHỦ TRƯƠNG CHUẨN BỊ KHỞI NGHĨA CỦA XỨ ỦY
Các tỉnh đều hăng hái thực hiện nghị quyết của Xứ ủy. Về công tác tuyên truyền, tờ báo TIẾN LÊN, cơ quan tranh đấu của Mặt trận phản đế với nội dung hướng dẫn mọi mặt công tác chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa ban đầu được in tại thành phố, phát hành tới tất cả các tỉnh, chưa kể một số tỉnh lại có báo riêng. Nhưng từ sau vụ vỡ ngày 30-7-1940 ở chợ Lớn, các đồng chí Nguyễn Hữu tiến và Nguyễn Thị Minh Khai bị bắt, thì cơ quan báo chuyển về Mỹ Tho rồi Vĩnh Long. Nhiều cuộc mít tinh được tổ chức khắp nơi, cả thành phố và nông thôn vào các dịp kỷ niệm để giải thích đường lối chính sách của đảng, của mặt trận, vạch tội ác của bọn phát xít. Hình thức rải truyền đơn thực hiện khắp nơi, thật phổ biến, nhất là dịp Pháp thua trận và các đợt kỷ niệm. Truyền đơn của ủy ban vận động thành lập Mặt trận phản đế giải thích tôn chỉ, ý nghĩa, mục đích và kêu gọi mọi người tham gia Mặt trận. Truyền đơn chống đế quốc khủng bố, chống bắt lính, chống sưu cao thuế nặng với khẩu hiệu: “Không một đồng xu, không một người lính cho Pháp!”. Vào dịp tháng 7, kỷ niệm cách mạng tư sản Pháp thì vạch mặt đế quốc Pháp hèn yếu, đầu hàng Đức, phản bội tổ tiên, đưa Pháp vào vòng nô lệ… Có truyền đơn chuyên kêu gọi binh lính, rải trong ngoài trại lính và ở khắp nơi có lính đống. Dưới đây là một truyền đơn mà địch thấy nhiều ở Sài Gòn và các tỉnh còn lưu lại trong kho lưu trữ: “Hỡi quốc dân đồng bào! Hỡi các dân tộc Đông Dương và anh em binh lính! Hiện nay Chính phủ Pháp bại trận, Pétain hàng Đức một cách nhục nhã, Chính phủ Pháp bạc nhược quỳ mọp dưới chế độ phát xít Nhật. Chính phủ Pháp đã đến thời kỳ diệt vong rồi. Hỡi dân tộc đồng bào! Những bằng chứng rõ ràng cho chúng ta thấy những sự phong trào cách mạng giải phóng Đông Dương, nên đem toàn lực khủng bố phút cuối cùng, bắt bớ, bắn giết tù đầy, nào tàu bay, nào mút cơ tông, minh tai ơ(1), nhưng chưa đủ lại còn phao vu cho cộng sản cướp của giết người, hiệp lực với bọn cáo gian mà tuyên truyền tàn sát cộng sản. Hỡi dân tộc đồng bào và binh lính! Cộng sản hoàn toàn nhân đạo cương quyết sống chết đam lại hạnh phúc cho quê hương, xứ sở, cho quốc dân đồng bào. Ai cướp của giết người? Chính phủ Pháp đi bắt bớ, giết người bắt gà heo, tiền, mà lại hãm dâm đàn bà con gái. Ai dã man? Chính phủ Pháp. Chúng tôi đoán chắc rằng nếu các dân tộc Đông Dương chúng ta không cương quyết hy sinh tranh đấu được giải phóng thì rồi đây không một người nào tránh khỏi sự giam cầm như Hội đồng Huy, Tú tài Nhựt ở làng Bình Chánh (Tân An), như cụ hương quản Dụ ở làng Thanh Hà (Chợ Lớn) v.v…. là những người lương thiện, làm ăn mà cũng phải bị tù đày trà tấn, còn non nước nào mà dân chúng không chiến đấu! Hỡi quốc dân đồng bào! Hỡi anh chị em binh lính và các vị Hương thúc hội tề! Hỡi các vị giáo viên! Hỡi anh em thợ thuyền và dân cày! Mau đứng lên hiệp lực với Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương! 1. Đánh đổ đế quốc Pháp, chống phát xít Nhật xâm lược! 2. Đả đảo bọn việt gian thân Nhật chó săn cho đế quốc! 3. Đả đảo bọn cáo gian cộng sản giết người! 4. Chống khủng bố trắng! 5. Thả hết chính trị phạm Đông Dương! 6. Liên lạc mật thiết với cách mạng thế giới! Ủng hộ Liên bang Xô viết! Ủy ban Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương Cùng với truyền đơn thường xuất hiện cả biểu ngữ, cờ đỏ búa liềm… Cho đến cuối tháng 10 sang tháng 11, nhất là gần khởi nghĩa, dần dần ít thấy rải truyên đơn ở thành phố cũng như các tỉnh. (1) Mousqueton là súng trường. Miltrailleuse là súng máy. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười, 2010, 10:31:28 am Về tổ chức lực lượng và đấu tranh.
Xứ ủy quan tâm thúc đẩy nhanh việc thực hiện tập thợp quần chúng vào mặt trận thống nhất dân tộc phản đế để tạo thành lực lượng quần chúng mạnh mẽ. Công việc xúc tiến từ cơ sở làng xã lên quận huyện, tỉnh và đang hình thành cấp toàn Xứ. Khác hẳn thời kỳ trước, tham gia Mặt trận phản đế là tham gia hàng ngũ đấu tranh cách mạng, đấu tranh sống chết với địch khi nổ ra khởi nghĩa, không phải chỉ đòi hỏi quyền dân sinh, dân chủ, mặc dầu lợi ích trước mắt đó vẫn phải quan tâm. Trong Mặt trận, công nông làm vai trò nòng cốt, còn tập hợp các tần lớp như ở thành phố có thanh niên học sinh công chức, giới văn nghệ sĩ, ở nông thôn thì tranh thủ tập hợp những người trong bộ máy tề làng, những người giàu, có lòng yêu nước sẵn sàng ủng hộ cách mạng. Trong Mặt trận có các hội như Công hội, Nông hội, Thanh niên phản đế, Phụ nữ giải phóng… để tập hợp thật đông đảo nhân dân. Thành phố Sài Gòn, các tỉnh đều thành lập Ban khởi nghĩa đến quận và xã, ở những xã có phong trào mạnh. Ban khởi nghĩa có trách nhiệm chuẩn bị cụ thể tất cả các mặt cho cuộc nổi dậy, nhất là việc điều tra lực lượng binh lính địch, các kho vũ khí, số lượng vũ khí, kho tàng, nơi xung yếu cần đánh chiếm như đồn bót, cầu phà, công sở… Phong trào quyên tiền mua sắm vũ khí diễn ra nhộn nhịp. Nhiều lò rèn chuyển sang chuyên rèn dao găm, gươm dáo. Có chỗ tự tạo súng thủ công và mua sắm nguyên vật liệu làm đạn, lựu đạn. Ở nhưng nơi có chi bộ đảng và có phong trào mạnh đều tổ chức đội tự vệ, đội cảm tử. Một số xí nghiệp của thành phố Sài Gòn và tỉnh lỵ cũng có đội tự vệ. Các đội cảm tự, tự vệ luyện tập vào ban đêm. Ở các nơi hẻo lánh vùng sâu, tổ chức luyện tập cả ban ngày. Nội dung huấn luyện, học tập quân sự thường có những điểm chủ yếu như sau: - Kỷ luật tạm thời của du kích, - Cách đánh du kích, - Công tác phá hoại… Về Đảng, tuy địch khủng bố bắt bớ ngày càng gắt gao, ta có bị thiệt hại, nhất là bị mất một số cán bộ chủ chốt, nhưng cơ sở đảng vẫn duy trì và phát triển. Theo nhận xét của Hội nghị 7 của Trung ương tháng 11-1940, “Đảng và các tổ chức do Đảng lãnh đạo nẩy nở nhanh chóng. Đặc biệt là đảng bộ Nam Kỳ trong ba tháng, từ cuối tháng 6 đến đầu tháng 10 (1940) số đồng chí Nam Kỳ tăng 60%”(1). Nhìn chung, công tác thực hiện nghị quyết về chuẩn bị khởi nghĩa diễn ra sôi nổi, nhất là từ khi phát xít Nhật nhảy vào nước ta, cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn ở phía Bắc nổ ra, tình hình người Việt được điều tra diễn ra mặt trận biên giới Campuchia - Thái Lan. Chính địch cũng phải thừa nhận sự chuẩn bị khẩn trương của Xứ ủy Nam Kỳ đối với cuộc khởi nghĩa. Xin trích dưới đây một đoạn báo cáo về vấn đề này. Tháng 10, tức là tháng gần khởi nghĩa “một số hành động cho thấy trong nhiều vùng thuộc Nam Kỳ, các thành công cộng sản địa phương trong tháng đã cố gắng thực hiện một số chỉ thị của Đảng Cộng sản Đông Dương, nhất là việc phá hoại, chuẩn bị đạn dược và tổ chức các đơn vị (sections) du kích. Ngày 17-10, Tỉnh ủy Long Xuyên trong một cuộc họp đã quyết định mở ngay tức khắc việc lạc quyên một số tiền 6.000 đồng (Đông Dương) cho Xứ ủy để chi tiêu cho chiến tranh (pour les dépenses de guerre) và chuyển một số Ban thành Ban khởi nghĩa(2). Ngày 14-10, các chiến sĩ của tỉnh Tân An đã bóc 3 tấm ván bằng gỗ trên cầu sắt EIFFEL, cách tỉnh lỵ vài kilômet. Ngày 20-10, một người tham gia vụ gây rối ở Long Hưng (Mỹ Tho) ngày 10, đã bị bắt ở làng Vĩnh Kim, trong người có mang một cuốn sổ tay ghi chép những điều chỉ dẫn về tổ chức các đội du kích. Ngày 25-10, cảnh sát đặc biệt Miền Đông đã bắt được ở Sài Gòn một người đang rải truyền đơn, khám nhà y, tìm thấy một ít dụng cụ cơ khí và một ít nguyên liệu làm đạn và ngòi nổ. Ngày 29-10, viên giám đốc F.A.C.I thấy khoảng 30 khuôn bom đặc biệt dành cho máy bay, không dùng nữa, trong xưởng của ông”(3). Đây chỉ là một vài việc ít ỏi mà chỉ điểm, cảnh sát mật thám của Pháp tìm thấy. Còn hầu khắp các tỉnh chắc chắn sôi động và nhiều hơn nữa. (1) Văn kiện Đảng 1939-1945, Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương xuất bản, Hà Nội, 1963, tr.143. (2) Theo chúng tôi, địch biết rõ như thế này là do chúng cài được tên Chà vào làm bí thư tỉnh ủy Long Xuyên. (3) Báo cáo chính trị tháng 10/1940, Hsơ đã dẫn. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười, 2010, 10:33:46 am III.- ĐỐI PHÓ CỦA ĐẾ QUỐC PHÁP
Từ khi chiến tranh thế giới bùng nổ, Pháp đã đánh phá mạnh mẽ vào Đảng cộng sản, các tổ chức quần chúng của Đảng cũng như các tổ chức đảng phái chống đối những chính sách phản động của đế quốc Pháp. Hầu như các tổ chức đảng phái khác và những người trốt kít bị tiêu vong hoặc nằm im. Chỉ duy nhất Đảng cộng sản, tuy có bị tổn thất, nhưng vẫn tồn tại. Dù bi khủng bố dã man như thế nào, những người cộng sản vẫn tỏ thái độ đấu tranh không khoan nhượng với địch, không hề run sợ và nản chí. Đảng có đường lối đúng, những khẩu hiệu sát với yêu cầu của từng giới, từng lớp người và toàn dân tộc. Những người cộng sản luôn luôn coi đế quốc Pháp và bất kể đế quốc nào xâm lược và thống trị nước ta, là kẻ thù không đội trời chung của dân tộc. Những người cộng sản lại luôn luôn đi đầu trong tất cả các cuộc đấu tranh vì quyền lợi của dân tộc. Cho nên, Đảng được nhân dân ủng hộ và bảo vệ. Đế quốc Pháp càng khủng bộ mạnh, uy tín của Đảng càng lên cao. Sang năm 1940, nhất là từ khi nhận được những tín hiệu đảng cộng sản đang chuẩn bị một cuộc khởi nghĩa vũ trang, thì đé quốc pháp lại càng tăng cường lùng sục bắt bớ và đưa ra xét xử đảng viên và quần chúng tích cực của đảng. Thượng sách của Pháp là bắt, đưa ra tòa, rồi ném vào các nhà tù, các trại tập trung. Bộ máy cảnh sát, mật thảm, chỉ điểm được tăng cường. Trong việc đàn áp, cho đến trước khi nổ ra khởi nghĩa, Pháp đã gây cho Đảng bộ Nam Kỳ và chung cho toàn Đảng mấy cuộc thiệt lại lớn sau đây: 1. Cuộc bắt đồng chí Nguyễn Văn Cừ ngày 17-1-1940 Ngày 17-1-1940, Pháp bắt được Nguyễn Văn Cừ và một số đồng chí quan trọng khác. Do có chỉ điểm, Pháp huy động cảnh sát, mật thám cả tòa án bao vây một ngôi nhà ở ngõ Nguyễn Tấn Nghiệm (Sài Gòn) bắt được các đồng chí Nguyễn Văn Cừ Tổng bí thư Đảng, Lê Duẩn, Vũ Đình Hiếu và nhiều tài liệu. Chúng gài bẫy, mấy hôm sau bắt tiếp Phan Văn Voi, Phạm Chung… Trong vụ này, chúng bắt tất cả 17 người, trong đó có 5 người mà Pháp cho là đảng viên, đảng cộng sản Trung Quốc. Trong các tài liệu chúng bắt được 6 tài liệu, đặc biệt 4 cái dưới đây mà chúng cho là quan trọng, được gửi lên cấp trên. a) Công tác chính trị trong binh lính. “Tài liệu này làm nản lòng binh sĩ, gây căm thù đế quốc, phát triển tư tưởng giải phóng dân tộc, phục vụ cho cuộc cách mạng thuộc địa… Những khẩu hiệu chính là: - Đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc Pháp nhưng không chống tất cả những người Pháp. - Cho về Pháp lính ngoại quốc đóng ở Đông Dương. - Ủng hộ Liên bang Xô viết. - Ủng hộ cách mạng Trung Quốc”. b) Tiến tới thực hiện Mặt trận thống nhất phản đế. “c) Công tác chi bộ là tài liệu huấn luyện đảng viên mới nói rõ một cách rất chính xác tổ chức hoạt động và vai trò của chi bộ. Nhiệm vụ căn bản của chi bộ là phát triển cuộc đấu tranh chống đế quốc được sửa đổi bằng nguyên tắc “dân tộc trên hết”, nó như một nhân tố hòa hợp những quyền lợi của địa chủ và tư sản dân tộc và quảng đại quần chúng. “Chi bộ phải dựa vào tinh thần đấu tranh của quần chúng, lợi dụng việc bắt thăm lấy lính, việc trưng dụng tài sản, tăng giờ làm việc để động viên huy động quần chúng, tất cả không phân biệt giai cấp, tôn giáo nhằm đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc Phấp, chống chiến tranh đế quốc và gắn phát triển chống đế quốc với phát triển giải phóng dân tộc. Hình thức nào cần dùng trong hành động dành cho những người lãnh đạo thực hiện”. “d) Dự thảo điều lệ Liên đoàn chống chiến tranh Dự thảo này trình bày những điều kiện trong đó Đảng cộng sản Đông Dương đề nghị tất cả các tổ chức, các nhan vật bằng tinh thần hay hành động chống những hành động chiến tranh đế quốc thành một Mặt trận thống nhất để phối hợp và lãnh đạo có phương pháp và thành công phong trào chống chiến tranh. Như vậy là tố cáo chính trị áp bức và bóc lột, động viên, trưng thu, tăng thuế, cho vay…” Bắt được những nhân vật quan trọng và những tài liệu này, Pháp cho nơi đây là một trong những trụ sở của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương(1). Trong đợt lùng sục này, ngày 18-1-1940, mật thám Pháp bắt được Triệu Văn Xuân (lai Trunh Quốc) ở Chợ Lớn. Chúng dưa ảnh cho xem, Xuân nói có biết đó là Lê Hồng Phong. Địch truy lùng đến ngày 6-2-1940, chúng bắt được đồng chí Lê Hồng Phong. (1) Báo cáo chính trị tháng Giêng 1940, số 174c/API của Thống đốc Nam Kỳ gửi Toàn quyền Đông Dương. HS. Như trên và Báo cáo tuần từ 18-1 đến 24-1-1940 của chánh mật thám Ricardoni số 528s gửi Thống đốc nam kỳ và Tổng mật thám Hà Nội. H.S.IIA.45/29 (2), TTLT2 TP HCM. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười, 2010, 10:38:58 am 2. Vụ bắt đồng chí Võ Văn Tần ngày 21-4-1940
Trong một đợt truy lùng kéo dài một tuần lễ ở Thủ Dầu Một, ngày 18-1, địch bắt được 8 cán bộ của tỉnh Thủ Dầu Một và nhiều tài liệu, trong đó có địa chỉ 5 lính tập (khố đỏ) liên lạc với cách mạng. Hôm sau, địch tiếp tục lùng soát bắt được ở Phú Văn một phụ nữ lai Trung Quốc, nhận là liên lạc viên giữa cộng sản tỉnh Thủ Dầu Một và Biên Hòa. Ngày 21-4, vào buổi sáng, theo lời khai của một người mà địch cho là ủy viên tỉnh Thủ Dầu Một, cảnh sát, mật thám khám xét một nhà ở đồn điền làng Tân Xuân, quận hóc Môn (Gia Định), bắt được Võ Văn Tần tức Biện Tần, ủy viên Trung ương Đảng, đồng thời lãnh đạo liên tỉnh Cần Thơ nhiều năm nay, dưới cái tên Ông già(1). Tại chỗ đồng chí Võ Văn Tần ở, địch bắt được một bó truyền đơn về ngày 1-5, một bản mẫu một tờ báo bí mật và báo cáo viết tay về tình hình đảng ở Trung Kỳ. Cùng với đồng chí Tần, chúng bắt 4 đồng chí nữa. Ngay trưa hôm đó, địch khám xét ngôi nhà gần đó cũng nằm trong đồn điền cao su, đồng chí ở đó đã kịp thời trốn thoát, nhưng Pháp tóm được nhiều tài liệu mà chúng cho rằng đây là nơi lưu trữ tài liệu của một tổ chức cao cấp của Đảng cộng sản Đông Dương. Chúng thấy nhiều bản in xu xoa, in đá nghị quyết hội nghị từ nhiều năm nay của các tổ chức lãnh đạo của Đảng, những bản viết tay của các đồng chí ủy viên trung ương bị bắt mấy tháng gần đây và một bản tài liệu đề ngày 4-4-1940 cho biết chi tiết tổ chức đảng của Liên tỉnh ủy Cần Thơ. Hôm sau, ngày 22-4 buổi sáng, mật thám Pháp lại bắt được ở Hóc Môn (Gia Định) một người làm nghề thợ mộc tên là Nguyễn Văn Xát tức Thắng mà Pháp cho là ủy viên Xứ ủy Nam kỳ với tên thường gị là Thắng Chợ Lớn. Thắng nhận là có biết Cô Duy (tức Nguyễn Thị Minh Khai) và Lê Hồng Phong hiện đang bị giam ở Khám Lớn. Mấy ngay tiếp theo, Pháp lùng bắt được một loạt đảng viên và quần chúng cốt cán của Đảng ở xã Bình Chuẩn (Thủ Dầu Một), Tân Triều, Bình Y (Biên Hòa) 7 người, hai công nhân trong chi bộ Ba Son; một số ở đề pô xe lửa Dĩ An, Hải quân, Gò Vấp (Gia Định); 9 người ở sở Hỏa xa trong đó có 3 người Trung kỳ, 2 người Bắc Kỳ. Chúng cũng thu hồi được nhiều tài liệu, báo chí, những bản viết tay giống chữ viết chúng bắt được ở cơ quan ngõ Nguyễn Tấn Nghiệm. Đây là một trong những vụ lùng bắt của Pháp gây cho ta nhiều thiệt hại, nhất là bắt đồng chí Võ Văn Tần, ủy viên Trung ương Đảng kiêm Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ. 3. Vụ bắt có đồng chí Nguyễn Hữu Tiến và Nguyễn Thị Minh Khai này 30-7-1940 Sau môt thời gian dài ráo riết truy lùng ngày 30-7-40 tại một cơ quan của Đảng ở Chợ Lớn, Pháp đã bắt được hai nhân vật quan trọng ta là đồng chí Nguyễn Hữu Tiến, ủy viên Trung ương đảng và Nguyễn Thị Minh Khai, ủy viên Xứ ủy Nam kỳ kiêm Bí thư Thành ủy thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn. Trước đó, ngày 22-5, cảnh sát Pháp bắt được ở đường Lý Thanh Nguyên (Chợ Lớn) (nay là đường Đỗ Ngọc Thạnh) một nữ liên lạc viên chúng lầm tưởng là Nguyễn Thị Minh Khai, hý hửng báo cáo lên cấp trên, nhưng lần này mới đúng. Bắt được đồng chí Tiến, địch rất mừng. Năm 1931, Pháp đã kết án tử hình đồng chí Tiến, sau hạ án chung thân rồi đầy ra Côn đảo. Đêm 30-4-1935, đồng chí Tiến cùng các đồng chí Tạ Uyên, Tống Văn Trân và 2 đồng chí nữa vượt ngục Côn Đảo về Bạc Liêu(2) hoạt động ở Liên tỉnh ủy Long Xuyên, Hậu Giang. Chỗ các đồng chí bị bắt là nơi in và phát hành báo Tiến lên, cơ quan của mặt trận thống nhất dân tộc phản đế. Trong một khối lớn tài liệu, truyền đơn, dụng cụ in ấn, Pháp thấy có một tài liệu mà chúng cho rà rất quan trọng chúng phải cấp tốc báo cáo lên cấp trên. Đó là bản kế hoạch khá tỷ mỷ về khởi nghĩa, địch trích dẫn mọt đoạn, đưa vào báo cáo như sau: “Kẻ thù (chính phủ thuộc địa Pháp) phải bị tiến công bất ngờ và vào chỗ yếu. Đánh chiếm tất cả đồn bốt và tất cả những nơi quan trọng, như trại lính, nhà tù, bưu điện, vô tuyến điện, nhà băng, cơ quan cai trị, sân bay, kho xăng… Khi khởi nghĩa bùng nổ, việc phân phối nhiệm vụ gồm một kế hoạch toàn diện về phá hoại (như cắt giây điện tín, điện thoại, đướng xá, phá cầu phà…). Giành được chính quyền, ra lênh tịch thu toàn bộ tài sản của bọn tư bản chủ nghĩa thực dân, nhà băng, bọn tư bản cho vay lãi và bọn phản bội… Chính quyền (cách mạng) phân phát gạo cho quần chúng, và tịch thu ruộng đất của bọn địa chủ phản động chia cho nông dân”. Tài liệu kết thúc: “Nếu chúng ta xem xét tình hình thế giới và trong nước hiện nay, chúng ta thấy những điều kiện khách quan ngày càng thuận lợi cho cách mạng và còn kẻ thù ngày càng suy yếu”(3) Cùng với việc tập trung truy lùng bắt cơ quan Trung ương, Xứ ủy, thành ủy tại Sài Gòn, Pháp cũng đặc biệt chú ý lùng bắt các cấp lãnh đạo các tỉnh như Cần Thơ, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Bạch Liêu, Rạch Giá, Thủ Dầu Một… các đồng chí Bí thư tỉnh ủy, tỉnh ủy viên trong thời gian này bị bắt khá nhiều. Trong năm 1940, nhất là thời gian khẩn trương chuẩn bị khởi nghĩa, Pháp bắt được những cán bộ quan trọng nói trên, là tổn thất rất lớn đối với đảng ta nói chung, đặc biệt đối với đảng bộ Nam Kỳ. Tổn thất này có ảnh hưởng nhất định đến việc nhận định, chủ trương và phát động khởi nghĩa. (1) Có ý kiến nơi bị bắt của đồng chí Võ Văn Tần là ấp Tân Thới Trung, xã Tân Xuân. (2) Cuộc vượt ngục Côn Đảo này có 5 đồng chí đảng viên là: Tạ Uyên, Nguyễn Hữu Tiến, Tống Văn Trân, Phạm Hồng Thám và Nguyễn Văn Trọng. Ngoài ra còn có 4 quần chúng người Bạc Liêu, quen thung thổ tạo điều kiện cho các đồng chí bắt liên lạc và hoạt động. (3) Báo cáo chính trị tháng 8-1940 số 1834c/API của Thống đốc Nam kỳ Toàn quyền Đông Dương. Hồ sơ như trên. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Mười, 2010, 05:28:42 pm 4. Đưa ra xét xử ở tòa án
Một biện pháp quan trọng nữa Pháp dùng để khủng bố, trấn áp phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta với hy vọng có thể dập tắt được, là dùng tòa án - công cụ bạo lực phản cách mạng - để xử những người hoạt động cách mạng và ném vào trong nhà tù. Những người phản đối lệnh tổng động viên, phản đối việc lấy lính, bất kể dùng hình thức gì (như rải truyền đơn, trốn bắt lính, gây khó, biểu tình, tuyên truyền…) đều bị đưa ra tòa án binh xử. Mấy năm trước khi có cuộc khởi nghĩa nổ ra, chưa có năm nào về tốc độ, về số lượng, về phạm vi (không phải chỉ tòa án binh, tòa tiểu hình, tòa thượng thẩm thành phố, mà ở tất cả các tòa án tỉnh) Pháp đưa ra xử án chính trị, nhiều như năm 1940. Nhìn bảng thống kê so sánh dưới đây, chỉ tính xét xử tại Sài Gòn, thấy rõ điều đó. (http://img543.imageshack.us/img543/512/p58a.jpg) (Xem trong Báo cáo chính trị tháng 7-1940 số 1632c/API ngày 21-8-40 của Thống đốc Nam Kỳ gửi Toàn quyền ĐD. H.S. IIA.45/204(2) TT.LT2 tại TP.HCM). Chỉ riêng năm 1940, cũng căn cứ vào báo cáo chính thức của viên Tổng Chưởng lý tòa thượng thẩm, chúng đã xử tại tòa thượng thẩm và các tòa thuộc thẩm quyền tại Sài Gòn là: 408 người: 1117 năm tù; 143 năm quản thúc(1) Như trên đã nói. Ngoài biện pháp đưa ra tòa án, bộ máy đàn áp của bọn cai trị Đông Dương còn xử theo sắc lệnh ngày 20-1-1940, xử tại tòa án binh… A. Án xử sơ thẩm về những hoạt động lật đổ hoặc chống “nhà nước”, kể từ ngày 1-9-1939 đến nay (tháng 8-1940) là 389. Hầu hết khi phúc thẩm đã y án hoặc tăng án. Án tù hầu như bao giờ cũng kèm theo thời gian bị quản thúc và mất quyền công dân hoặc chính trị. Con số trên đây không kể những án đã xử vì tội tham gia các tổ chức bất hợp pháp, theo sắc lệnh ngày 26-9-1939. Số này rất nhiều, nhưng thường thời gian bị giam ngắn. B. Thực hiện sắc lệnh ngày 20-1-1940: Cho đi căng đặc biệt của những người lao động: 193 Buộc phải ở một nơi cư trú nhất định: 167 Buộc phải xa nơi cư trú: 105 Cộng: 465 C. Cho đi căng đặc biệt những du thủ, du thực (malandrins): 205 D. Số can phạm vì hoạt động lật đổ hoặc vi phạm điều 91 của luật hình Bị kết án: ở tòa án quân sự: 62 Bị kết án ở tòa án chung (mixte): 117 (Sài Gòn: 67, các tỉnh: 50) Tất cả, hơn 1200 người đã bị đưa ra xét xử và giam giữ khoảng một năm nay. Thống đốc Nam Kỳ cũng báo cáo với Toàn quyền rằng, thời gian đầu còn xử nhẹ, càng về sau càng xử nặng(2). (1) Báo cáo của Tổng chưởng lý tọa thượng thẩm số 1055Pg. ngày 3-6-1941 gửi thống đốc Nam Kỳ. HS. IIA.45/212 (1) TT.LT2. TP HCM. (2) Báo cáo về đàn áp những hoạt động chống an ninh công cộng và quốc phòng của Thống đốc Nam Kỳ ngày 23-8-1940 số 1659c/AP gửi Toàn quyền Đông Dương. HS. IIA45/306(1) TT.LT2. TP.HCM. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Mười, 2010, 05:32:55 pm Trong hàng loạt vụ án Pháp đưa ra xét xử trong thời gian này, đáng chú ý nhất là phiên xử ngày 27-8-1940 tại tòa tiểu hình Sài Gòn, sau đó một tuần ngày 3-9-1940 mới kết án 17 người, trong đó có một số đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng Cộng sản.
- Đồng chí Nguyễn Văn Cừ: 5 năm tù, 10 năm quản thúc. - Hà Huy Tập: 5 năm tù, 10 năm quản thúc. - Lê Hồng Phong (Lê Huy Doãn): 5 năm tù, 10 năm quản thúc. - Lê Văn Duẩn (Lê Duẩn): 5 năm tù, 10 năm quản thúc. Nhiêu đồng chí lãnh đạo cấp Xứ (Trình Ân, Nguyễn Văn Nghi Thường vụ xứ ủy, Bùi Văn Thủ Xứ ủy viên...) cấp liên tỉnh, cấp tỉnh… bị chúng bắt, bị đưa ra xử và ném vào nhà tù. Các nhà tù đều quá tải. Như Khám Lớn Sài Gòn xây dựng để đủ chứa 700 đến 800 người tù, đến ngày 28-6-1940 theo viên Thanh tra chính trị hành chính BRASEY đã giam tới 1.167(1). Và đến ngày 30-9-1940 là 1.525 người tù(2). Bị giam trong tù, những người cách mạng không ngừng đấu tranh. Tại Khám lớn, chiều ngày 27-8-1940, trong số 255 người bị tòa án binh kết tội, 17 đã bị biệt giam vào các phòng nhỏ, 7 phụ nữa đưa đi nhà tù Phú Mỹ, một số ốm đi nhà thương, còn lại 197 người vin cớ để nước mưa vào cơm, đã bãi thực, bỏ về phòng. Bọn coi ngục ban đầu còn đe dọa, nhưng rồi viên giám đốc Khám lớn đến giải thích. Tất cả vẫn phản đối bằng cách hô khẩu hiệu chống đối xử tàn bạo đối với những người tù. Chúng phải huy động xe vòi rồng đến trấn áp(3). Phát xít Pháp dùng mọi biện pháp để dẹp tắt mọi phong trào, cá nhân chống đối chúng, nhất là từ khi chúng bắt được những tín hiệu. Đảng cộng sản đã và đang khẩn trương chuẩn bị phát động cuộc khởi nghĩa vũ trang. Chúng tung mật thám đi lùng sục, tìm cách cài người vào hàng ngũ những người hoạt động, sử dụng những người trước đây có hoạt động cách mạng, nhưng sau khi bị chúng bắt, không chịu nổi đòn tra tấn và bị chúng mua chuộc, cìa lại trong tổ chức để lấy tin cho chúng. Đồng thời, chúng luôn luông thông tin cho các cấp dưới những hoạt động của cách mạng, nhắc nhở phải đề phòng cảnh giác sự nổi dậy chống đối của nhân dân ta. Trong những thông báo cho các chủ tỉnh, thống đốc Nam kỳ đều nhắc đến những tài liệu mà chúng đã bắt được ngày 30-7 ở Chợ Lớn (vụ bắt các đồng chí Nguyễn Hữu Tiến và Nguyễn Thị Minh Khai) và ngày 26-9 ở Long Hồ Vĩnh Long (vụ bắt Trần Văn Bảy, bí thư Vĩnh Long). Những tài liệu này đôn đốc các cấp dưới của đảng cộng sản phải tổ chức tự vệ, du kích, vận động binh lính lấy súng, tổ chức làm vũ khí, chuẩn bị đánh chiếm những nơi quan trọng, nhất là chợn thời điểm khởi nghĩa làm cho địch (Pháp) bất ngờ. Ngày 16-1-1040, tức là trước khi cuộc khởi nghĩa Nam kỳ nổ ra hơn một tháng. VEBER Thống đốc Nam kỳ giử thông tri mật nhắc các chủ tỉnh phải kiểm tra các biện pháp an ninh, lưu ý đề phòng việc lấy cắp vũ khí, đạn dược, thuộc thẩm quyền và trách nhiệm của mình. Đồng thời bản sao thông tri này cũng được gửi tới phòng lục sự của Tổng chưởng lý, đô đốc tư lệnh Hải quân và tướng tư lệnh sư đoàn trưởng sư đoàn Nam Kỳ - Cao Miên. Ngày 11-11, VEBER lại báo cáo khẩn lên cấp trên, đồng thời thông tin cho cả cấp dưới, y vừa bắt được ở Vĩnh Long một bản viết tay phân tích thời cơ thuận lợi để phát động khởi nghĩa. Trong tài liệu này có nhắc các tổ chức cộng sản hiên có trong binh lính phải nhằm sẵn các kho vũ khí, đạn được và chuẩn bị đánh chiếm khi thời cơ đến. Việc ăn cắp súng riêng cũng được nhắc nhở(4). Như vậy, rõ ràng đế quốc Pháp một mặt lùng bắt những người cách mạng để chặn không cho cuộc khởi nghĩa có thể xảy ra, mặt khác cũng chuẩn bị đề phòng nếu cuộc khởi nghĩa có nổ ra thì chúng sẵn sàng dập tắt. (1) Báo cáo của BRASEY ngày 28-6-40 số 442 gửi Thống đốc Nam kỳ về tình trạng Khám lớn, HS. IIA.45/322(1) TT.LT2. TP.HCM. (2) Thông báo của Thống đốc Nam kỳ VEBER cho các chủ tỉnh về tình hình nhà giam. HS. Như trên. (3) Hồ sơ về tình trạng Khám lớn Sài Gòn. Ký hiệu: Như trên. (4) Xem trong Báo cáo chính trị tháng 10-1940, số 2293c/API ngày 21-11-1940 của Thống đốc Nam kỳ gửi Toàn quyền Đông Dương. Hồ sở IIA. 45/204 (2)/TTLT2. TP.HCM Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Mười, 2010, 05:38:22 pm PHẦN THỨ BA DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO TRỰC TIẾP CỦA XỨ ỦY, SÀI GÒN TÍCH CỰC CHUẨN BỊ KHỞI NGHĨA, NHƯNG CUỘC KHỞI NGHĨA KHÔNG NỔ RA I. - NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG Từ khi cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra, nhất là từ khi Pháp thua và đầu hàng phát xít Đức, cộng thêm phát xít Nhật nhảy vào Đông Dương, bọn cai trị Đông dương cúi đầu chấp nhận hết đòi hỏi này đến đòi hỏi khác của Nhật, thì uy tín chính trị của đế quốc Pháp hoàn toàn suy sụp trước nhân dân ta. Mặc dù một số người nh Lê Quang Liêm, Tòa Tỳ, Hội đồng Khá… có cố gắng làm vài cuộc mít tinh rồi hô Nam Kỳ muôn năm! Nước Pháp muôn năm! Thì cũng chẳng tác động gì mấy đến nhân dân ta vốn. sẵn ghét Pháp. Phát xít Nhật tung quân đánh biên giới Lạng Sơn và xúi dục Thái gây ra chiến tranh ở biên giới Tây Nam Đông Dương, làm cho nhiều người hoảng hốt. Người Hoa, sợ phát xít Nhật đánh nhau với Pháp ở Đông Dương, không giữ tiền, tung ra mua vàng, đá quý và tích trữ lương thực. Nhiều người Việt cũng đổ xô đến các tiệm đồ (mont de Piété) rút tiền, vàng, bạc. Không khí ở Sài Gòn và các tỉnh Sa Đéc, Cần Thơ, Châu Đốc… cũng diễn ra như thế. Chiến tranh thế giới ngày càng mở rộng, ở chính quốc Pháp thua Đức, giao thông đường thủy khó khăn, làm cho thuộc địa Đông Dương bị cô lập. Nền kinh tế Đông Dương nói chung và Nam Kỳ nói riêng khốn đốn, vì sản xuất nội địa và xuất nhập khẩu ngưng trệ. Về nhập khẩu, tàu vào cảng Sài Gòn giảm hẳn. Ai ai cũng thấy rõ thiếu xăng dầu nghiêm trọng, ô tô phải chạy bằng cồn thay xăng; thiếu sắt, thép và các thành phẩm công nghiệp hiện đại sản xuất; thiếu cả thuốc chữa bệnh… Thiếu mặt hàng nào là nẩy sinh tích trữ, đầu cơ nâng giá mặt hàng ấy. Về xuất khẩu, mặt hàng gạo đóng vai trò quan trọng; trước đây trung bình hằng năm thường xuất 1.467.414 tấn Năm 1940, chỉ còn: Xuất sang Pháp 91.733 tấn (do giao thông khó khăn) Xuất sang Trung Quốc 468.000 tấn (So với trước có tăng hơn trước kia trung bình xuất 355.000 tấn) Xuất sang Nhật 479.000 tấn (tăng lên bằng 1/3 khối lượng xuất cả năm) So sánh mặt hàng gạo xuất khẩu trung bình hàng năm, năm 1940 giảm: 428.661 tấn. Những sản phẩm chính, trong đó kể cả gạo và sản phảm từ gạo, xuất qua cảng Sài Gòn, so sánh giữa năm 1939 và 1940 như sau: Năm 1939: 2.250.263 tấn Năm 1940: 1.879.065 tấn Giảm: 353.198 tấn Sản xuất và xuất nhập khẩu giảm sút tác động mạnh đến việc tiêu dùng của quần chúng nhân dân và ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người lao động và các tầng lớp ăn lương. Hãng vô danh gạo Đông dương (S.A.R.I Société anonyme de riz indochinois) ở Chợ Lớn, công ty Denis Prères quyết định giảm 20%. Kể từ ngày 1-8-1940 đối với cả người Âu và người Việt(2). Công ty xuất khẩu Á - Phi phải giảm một nửa công việc tức là phải cho nghỉ việc khoảng 200 công nhân và người lãnh đạo, kể từ ngày 1-10-1940(3). Xưởng cao su Labbé giảm 25% công nhân(4). 4 xưởng dệt Chợ Lớn ngưng hoạt động, 17 xưởng khác của người Hoa có từ 9 đến 12 người làm công, phải dãn một nửa(5) . (1) Cụ thể những sản phẩm chính xuất khẩu qua cảng Sài Gòn năm 1940 so với năm 1939. Hạt tiêu: 1940: 3.126.830kg; 1939: 4.457.669kg Ngô: 1940: 226.001.000kg; 1939: 331.731.000 kg Cao su: 1940: 65.554.951kg; 1939: 66.018.684kg Cùi dừa khô: 1940: 489.767kg; 1939: 9.869.199kg Cá khô, xông khói, mặn: 1940: 29.876.829kg; 1939: 28.902.259kg Da và các loại da thuộc: 1940: 1.266.425kg; 1939: 1.384.148kg Bông: 1940: 564kg; 1939: 331.689kg Bông gòn (kapok): 880.556kg; 1939: 2.688.793kg Cánh kiến thỏi: 1940: 164.103kg; 1939: 83.001kg Mỡ và dầu cá: 1940: 2.568.217kg; 1939: 1.228.414kg Quả mã tiền: 1940: 289.924kg; 1939: 688.440kg Hàng hóa khác: 1940: 97.410.824kg; 1939: 122.018.835kg Cộng: 1940: 429.651.000kg; 1939: 569.441.000kg Gạo và sản phẩm từ gạo: 1940: 1.467.414.000kg; 1939: 1.680.822.000kg Tổng cộng: 1940: 1.879.065.000 kg; 1939: 2.250.263.000kg Giảm: 353.198 tấn Thống đốc Nam kỳ: Rapport sur la situation de la conchinchine de Mai 1940 à Avril 1941. p.86. Ký hiệu NV.2051. TT.LT2 TP.HCM. (2) Hồ sơ: Tình trạng tinh thần của dân chúng IIA. 45/205(1), Báo cáo số 4094s ngày 9-7-1940 của Mật thám Pháp. (3) Hồ sơ: Như trên. BK số 6197s ngày 4-10-1940 của mật thám Pháp. (4) Hồ sơ: Như trên. BK số 4634s ngày 31-7-1940 của mật thám Pháp. (5) Hồ sơ: Như trên. BK số 4530s ngày 26-7-1940 của mật thám Pháp. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Mười, 2010, 05:44:32 pm Các hãng buôn lớn Descours Cabaud, Comptoirs généraux, Grand magasin Charner, Poinsnrd et Veyret và các nhà sách, nhà in Portaill… đều giảm giờ mở cửa, cho bớt thợ thôi việc. Đời sống khó khăn do giá cả sinh hoạt tăng, lại thêm mất việc đẩy người lao động và gia đình họ tới bước đường cùng. Cho nên mặc dù hoàn cảnh chiến tranh, nhiều cuộc đấu tranh vẫn nổ ra. Theo số liệu của chính quyền địch từ cuối năm 1939 sang năm 1940 công nhân và những nười lao động đã có 18 cuộc bãi công, 18 cuộc yêu sách tập thể, 136 khiếu nại cá nhân, 81 cuộc xô xát tranh chấp giữ người làm công và chủ…(1)
Cùng với công nhân, các tầng lớp khác như tiểu thương, tiểu chủ, công, tư chức… đều bị ảnh hưởng trước những chính sách kinh tế phản động của Pháp và của hoàn cảnh chiến tranh. Do đời sống khó khăn và lo sợ chiến tranh bùng nổ, nhiều học sinh bỏ học về gia đình ở nong thôn, như trường trung học nữ sinh (collège des jeunes filles), trường thành phố (École municipale)… Số lượng học sinh tới trường giảm sút rõ rệt. Học sinh trung học: - Lycée Chasseloup Laubat 1940: 170.503 học sinh; 1941; 160.693 học sinh; giảm: 9.810 học sinh - Trường công và tư: 1940: 220.056 học sinh; 1941: 214.493 học sinh; giảm 5.562 học sinh - Trường Pétrus Ký: 1940: 908 học sinh; 1941: 860 học sinh; giảm 48 học sinh Collège des Jeunes filles 1940: 595 học sinh; 1941: 556 học sinh; giảm 39 học sinh Lớp sư phạm chỉ tiêu tuyển năm 1940: 48 nam giáo sinh Nhưng chỉ tuyển được: 33 người Sang năm 1941 tuyển được 22 người Còn tuyển nữ giáo sinh chỉ được 12 người cho năm 1941 Học sinh tiểu học: Năm 1939 có 164.701 học sinh Năm 1940 còn 154.558 học sinh Giảm 10.143 học sinh(1) Trong lúc các tầng lớp nhân dân đều căm ghét chế độ cai trị của bọn cầm quyền Đông Dương, thì phong trào đấu tranh chuẩn bị cho cuộc nổi dậy diễn ra ngày càng sôi nổi, khẩn trương ở khắp các tỉnh Nam Kỳ. Trong hàng ngũ của địch, những người lính có tinh thần yêu nước, được giác ngộ, không muốn ra mặt trận chết thay cho bọn cai trị, sẵn sàng đứng lên khi đảng phất cờ khởi nghĩa. Thậm chí họ còn thúc giục, mong muốn khởi nghĩa sớm. Nội bộ bọn Pháp ở Đông Dương cũng phân hóa. Ngoài những người vì quyền lợi, địa vị trước mắt trung thành với chế độ Pétain, ủng hộ và tuân theo lệnh của bọn cai trị Đông Dương, có những người muốn theo de Gaulle chiến đấu cho nước Pháp tự do. Ngày 6-11-1940, ba người: Trung úy Hải quân JUBELIN, Trung úy công binh ARRNOUX và Đội bộ binh DUCORPS đã lấy một máy bay của câu lạc bọ hàng không sang Mã Lai thuộc Anh(3). Tiếp sau đó ngày 25-12, 4 lính thủy của tàu LAMOTHE PICQUET lại dùng thuyền đi biển từ bãi Long Hải (Bà Rịa) ra khơi đi Mã Lai(4)… Những điều nói trên đây, tuy chưa đầy đủ, nhưng đã cho thấy, đó là những biểu hiện của cuộc khủng hoảng của chế độ cai trị thực dân pháp. Tuy nhiên, phát xít Nhật chưa đánh Pháp ngay, phát xít Nhật đang thi hành chính sách thông qua bộ máy chính trị của Pháp để nắm Đông Dương. Do đó bọn Pháp vẫn còn quân đội, bộ máy cảnh sát, tòa án… Chúng vẫn đủ sức đàn áp phong trào cách mạng của nhân dân ta. (1) Thống đốc Nam Kỳ: Rapport sur la situation de la cochinchine de Mai 1940 à Avril 1941. Chapitre II: Inspection du travail, P.15. KH Như trên (2) Như trên. Chapitre V. Service de enseignemet p.35. (3) H.Sơ IIA.45/204 (2). Báo cáo chính trị tháng 11-40 số 2448c/API của Thống đốc Nam Kỳ gửi Toàn quyền Đông Dương. (4) Như trên Báo cáo chính trị tháng 11-40 số 2448c/API của Thống đốc Nam Kỳ gửi Toàn quyền Đông Dương. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Mười, 2010, 05:48:02 pm II. - THÀNH PHỐ SÀI GÒN - CHỢ LỚN TÍCH CỰC CHUẨN BỊ KHỞI NGHIÃ
Thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của Nam Kỳ, là nơi đóng cơ quan cai trị đầu não của Pháp, đồng thời cũng là nơi đóng trụ sở của trung ương Đảng và Xứ ủy Nam Kỳ. Sau vụ đổ bể cơ quan Trung ương ngày 17-1-1940 ở đường Nguyễn Tấn Nghiệm, Trung ương chuyển về ở đồn điền cao su thuộc xã Tân Xuân (Hóc Môn - Gia Định), nhưng sau vụ Pháp bắt đồng chí Võ Văn Tần tại đó ngày 21-4-1940, hầu như Ban lãnh đạo Trung ương không còn và Xứ ủy cũng mất người lãnh đạo chủ chốt. Tiếp đến ngày 30-7-1940, các đồng chí Nguyễn Hữu Tiến và Nguyễn Thị Minh Khai bị bắt ở Chợ Lớn, Xứ ủy mất thêm cán bộ lãnh đạo, Thành ủy mất bí thư, báo Tiến Lên cơ quan ngôn luận của Mặt trận phản đế do Trung ương Đảng chủ trương và Xứ ủy trực tiếp nắm, phải chuyển về Vĩnh Long, miền Trung Nam Kỳ. Sau hội nghị Xứ ủy ở Tân Hương (Châu Thành, Mỹ Tho) tháng 7, đầu tháng 8 Hội nghị Thành ủy mở rộng Sài Gòn - Chợ Lớn được tiệu tập, do đồng chí Tạ Uyên, Bí thư Xứ ủy mới được cử tại Hội nghị Tân Hương thanh đồng chí Võ Văn Tần, chủ trì, họp ở khu lao động Cầu Kho, đang họp thì bị động phải chuyển sang Xớm Mới, Tân Định. Đồng chí Tạ Uyên truyền đạt tinh thần nghị quyết Hội nghị Tân Hương, nhận định tình hình chung, đặc biệt tình hình Sài Gòn, Chợ Lớn từ sau khi Pháp thua trận và đầu hàng phát xít Đức. Đồng chí Nguyễn Như Hạnh báo cáo phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân, nhất là công tác binh vận, một công tác được Xứ ủy rất quan tâm trong việc chuẩn bị khởi nghĩa. Bàn về củng cố lại vai trò lãnh đạo của thành ủy, tất cả các đồng chí đều nhất trí cần có 9 đồng chí, nhưng đang có mặt tham gia hội nghị 7 đồng chí là Nguyễn Như Hạnh, Huỳnh Văn Hớn, Phan Nhung, Trần Văn Sở, Nguyễn Oanh, Trần Văn Út, Hoàng Xang (Năm Khương). Về sau, bổ sung thêm đồng chí Nguyễn phụ trách công vận của Thành ủy. Đồng chí Nguyễn Như Hạnh trước đó là phó bí thư, nay được cử làm Bí thư Thành ủy thay đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai vừa bị bắt. Như thế là Thành ủy, từ khi chiến tranh thế giới bùng nổ, sau mấy lần liên tục bị vỡ, do chính sách khủng bố gắt gao của địch, đã bước đầu được củng cố và tăng cường để chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa sắp đến. Sau Hội nghị Xứ ủy cuối tháng 9 tại Xuân Thới Đông (Tân Xuân, Hóc Môn), ngay sát nách thành phố, phía Bắc đã có tin cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn bùng nổ, dội vào. Thành ủy lại họp để kiểm điểm việc chấp hành các nghị quyết về chuẩn bị khởi nghĩa của Xứ ủy, lần này cuộc họp bàn kỹ lưỡng nhiều mặt. Về Đảng, toàn thành đã có trên 50 chi bộ với ngót 300 đảng viên. Đa số các đồng chí đảng viên hoạt động tích cực, bám sát cơ sở, liên lạc chặt chẽ với quần chúng. Các tổ chức của công nhân do Đảng lãnh đạo được mở rộng như ở Bến cảng Nhà Rồng, đề pô xe lửa Dĩ An, xưởng Ba Sơn, F.A.C.I., nhà đền Chợ Quán, hãng Brossard Mopin, các hãng dầu bên Nhà bên Nhà Bè, nhà máy điện Paul Blanchy (Hai Bà Trưng, hãng vận tải Đông dương (S.I.T.)… Tuy bị o ép, trấn áp, nhiều cuộc đấu tranh của công nhân vẫn diễn ra. Chỉ trong tháng 5-1940 đã có 6 cuộc đấu tranh: - Ngày 1-5-1940, đúng ngày Quốc tế lao động, tại Chợ Lớn đại diện của 14 nam công nhân và 6 nữ công nhân làm ở chành lúa, Dân Hưng, phản đối lệnh dãn thợ không báo trước và đòi tiền thường. Chủ phải chấp nhận trả tiền thường 5 ngày cho mỗi công nhân. - Ngày 4-5-1940, tại Sài Gòn chủ hãng SIMCA vin có mất phụ tùng ô tô, quyết định giữ lại của mỗi công nhân 0đ80 (Đông dương), lập tức công nhân họp bàn quyết định bãi công. Sau khi chủ chấp nhận hoàn lại đủ tiền công, ngày 6-5 công nhân lại đi làm trở lại. - Ngày 7-5 tại Chợ Lớn 30 công nhân người làng Bình Trị Đông của hãng rượu Bình Tây đòi: Lương công nhật 1 đồng với 0đ30 ứng trước làm tiền ăn trưa. Ngày làm việc 8 giờ, nghỉ 15 phút uống trà. Trả lương đúng kỳ hạn không chậm. Bị tai nạn thì hãng phải trả tiền chữa. Ban đầu chủ không chịu, công nhân bỏ hãng về làng. Sau đó, chủ chấp nhận công nhân trở lại làm việc tiếp. - Ngày 13-5-1940, 30 công nhân xưởng sửa chữa tàu trên đường Phú Định (Phú Lâm), công nhân Chành Lúa Dân hưng, hãng rượu Bình Tây, xí nghiệp Lamorte, công trường Chí Hòa Bãi công chống dãn thợ, đòi tăng lương, phản đối đánh thợ… Sang tháng 7, 8, 9, 10 vẫn liên tiếp có các cuộc đấu tranh của công nhân xưởng dệt Coppin, Bret garage Charner, hãng nạo vét bùn công trường xây dựng, xe kéo, hãng thuóc lá Cotab… phản đối trả lương chậm, giảm lương… Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Mười, 2010, 05:50:54 pm Phong trào thanh niên học sinh lên káh. Tại các trường Pétrus Ký, Đồng Nai, Huỳnh Khương Ninh, Lycesum Paul Doumer… đã thành lập được những chi bộ. Theo báo cáo của mật thám còn lưu lại, học sinh năm thứ 4D trước Pétrus Ký Trần Ngọc Điệp có liên lạc với giáo viên trường tư Nguyễn Như Hạnh, được Hạnh giao cho xây dựng chi bộ học sinh, bị đưa ra tà xử ngày 3-3-1941 và giam tại trại trừng giới Ông Yêm (Thủ Dầu Một)(1).
Ban chấp hành thanh niên thành phố gồm Võ Giới Sơn, Hồ Đắc Bật, Phan Phú, Nguyễn Văn Bình, Trần Ngọc Điệp, Nguyễn Thị Bảy (nữ sinh áo tím) và có cả giáo viên(2). Nhiều cuộc rải truyền đơn, bảo vệ các cuộc nói chuyện do tổ chức của học sinh đảm nhiệm. Ảnh hưởng của phong trào cách mạng do Đảng lãnh đạo lan tới giới viên chức các công sở và tư sở, như ở bệnh viện Chợ Rẫy, cơ cở cách mạng đã tập hợp được y tá, y sĩ (anh Tự Cao, anh Khuyến), bác sĩ Trần Vọng Kim… Cán bộ cách mạng ốm đau đưa đến đây chữa chạy được chăm sóc tận tình. Một số trí thức có tên tuổi, Đảng cũng tranh thủ được, đã đứng về phía cách mạng như bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, Trần Vọng Kim, bác vật Lưu Văn Lang, Giang Văn Khánh, luật sư Trịnh Đình Thảo, giáo sư Lê Văn Huấn, kỹ sư Kha Vạng Cân, Phước George… Nhiều cuộc họp của Thường vụ Xứ ủy được bố trí họp ngay tại nhà anh Phước George. Các văn nghệ si nỏi tiếng như Năm Châu, Phùng Há, Tư Chơi, Tám Danh… tỏ thái độ tình cảm và ủng hộ cách mạng. Hội nghị Thành ủy được nghe đồng chí Lê Văn Khương (Mười Đen) phụ trách về công tác quân sự và binh vận trong Ủy ban khởi nghĩa của Xứ ủy, trình bày về tầm quan trọng của công tác vận động binh lính địch,về tình hình quân số, vũ khí, cách bố phòng của quân Pháp ở thành phố. Hội nghị đã nhấn mạnh việc tạo cơ sở và nhân mối trong các trại lính của địch. Về công tác này, theo đồng chí Nguyễn Như Hạnh, hồi đó cách mạng có liên hệ được cả với một số đảng viên Đảng cộng sản Pháp là sĩ quan trong quân đội pháp. Các đồng chí này giúp ta nắm tình hình chung cả nước và có giúp ta một phần về trang bị. Đồng chí Phan Nhung là Thường vụ thành ủy được giao nhiệm vụ lo vũ khí trang bị cho tự vệ và du kích. Lúc đó, đồng chí Phan Nhung là giáo viên trường Bách Nghệ Sài Gòn(3) trực tiếp lãnh đạo phong trào của trường, đồng thời có liên lạc với các cơ sở đảng ở Ba Son, F.A.C.I. và nhiều xí nghiệp khác. Những ơ này có nhiều cán bộ kỹ thuật, đa số thường tốt nghiệp từ trường Bách Nghệ. Đồng chí Nhung qua đồng chí Bảy (thường gọi là Thày đội Bảy) còn tạo được một số cơ sở trong cơ quan hậu cần (intendance) của địch. Đồng chí Bảy ngoài việc kiếm vũ khí thuốc nổ trang bị ho tự vệ, du kích, còn có năng lực làm công tác binh vận. Về sau việc đổ bể, Pháp đã đưa ra tòa án binh kết tội tử hình(4). Một điều thật tiếc là Pháp đã bắt và xử rất nhiều đảng viên và quần chúng tích cực của ta trong hàng ngũ lính địch, trong đó có nhều án tử hình và chung thân, nhưng chúng để hồ sơ riêng, chưa tìm được. Đánh giá về cơ sở ở các khu phố, Hội nghị thấy rằng ngoài những cơ sở được gây dựng từ trước, nay đã củng cố và mở rộng thêm ở một số khu lao động như Bàn Cờ, Chợ Đuỗi, Xóm Chiếu, Ngã Sáu, Xóm Mới (Tân Định) Thị Nghè, Phú Nhuận, Long Kiên… Trong một số khu lao động, đường phố, các trường học Pétrus Ký, Hình Khương Ninh, Kỹ nghệ thực hành, trường máy (écoledes mécaniciens), trường dạy lái ô tô… đã tổ chức được những đơn vị tự vệ vũ trang đáng tin cậy. Thành ủy cũng đã mở mấy lớp huấn luyện ngắn ngày cho đảng viên cốt cán về tình hình và nhiệm vụ cần kíp trước mắt, nhằm khẩn trương chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa. Xứ ủy đã nhắc nhở thành ủy hết sức cố gắng chuẩn bị và lãnh đạo khởi nghĩa trong phạm vi trách nhiệm của mình. Xứ ủy lãnh đạo toàn xứ, nhất là sẽ lãnh đạo các địa phương chung quanh phối hợp hoạt động và hỗ trợ tích cực cho thành phố. (1) Xem hồ sơ IIA. 45/222 (2bZ). TT.LT2 tại TP. Hồ Chí Minh. (2) Bản viết: Tư liệu góp thêm để nghiên cứu Khởi nghĩa Nam Kỳ được đồng chí Nguyễn Như Hạnh, nguyên Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn lúc nổ ra khởi nghĩa, 76 trang. Lưu trong hồ sơ riêng của Giáo sư Trần Văn Giàu. (3) Chính xác là trường Thương mại và Kỹ nghệ (École commerciale et industrielle) đồng chí Phan Nhung làm contre - maitre (đốc công có giảng dạy (T.G.). (4) Bản viết: Tư liệu góp thêm để nghiên cứu Khởi nghĩa Nam kỳ của đ/c Nguyễn Như Hạnh. Như trên. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Mười, 2010, 05:52:55 pm III. - Ý KIẾN CỦA TRUNG ƯƠNG ĐẢNG VỚI CHỦ TRƯƠNG KHỞI NGHĨA CỦA XỨ ỦY NAM KỲ
Từ Nam Kỳ ra, đồng chí Phan Đăng Lưu đã bắt được liên lạc với Trung ương và tham dự Hội nghị lần thứ VII của Trung ương Đảng tại Đình Bảng (Phủ Từ Sơn, Bắc Ninh) từ ngày 6 đến ngày 9-11-1940, do đồng chí Trường Chinh chủ trì. Sau khi bàn về đường lối chung vàn hững công tác co phong trào chung của cả nwóc, vấn đề khởi nghĩa vũ trang được đặt hẳn vào chương trình nghị sự của Hội nghị. Cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn đã nổ ra ngày 27-9-1940 và không khí sục sôi muốn khởi nghĩa ở Nam Kỳ cho thấy dưới hai tầng áp bức bóc lột của phát xít Pháp - Nhật “một cao trào cách mạng sẽ nổi dậy. Đảng phải chuẩn bị để gánh cái sứ mệnh thiêng liêng lãnh đạo cho các dân tộc bị áp bức Đông Dương vũ trang bạo động giành lấy quyền tự do độc lập”(1). Tuy nước ta “chưa đứng trước một tình thế trực tiếp cách mạng”(2), nhưng trong điều kiện thế giới và trong nước hồi bấy giờ, cuộc cách mạng của nước ta có thể nổ ra bàng những cuộc khởi nghĩa địa phương ở những nơi có điều kiện (chẳng hạn như Bắc Sơn) để tiến lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền cả nước. Về đề nghị khởi nghĩa của Xứ ủy Nam Kỳ, sau khi nghe đồng chí Phan Đăng Lưu báo cáo tình hình Nam Kỳ, Hội nghị cân nhắc cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn vừa thất bại, ở Nam Kỳ chưa có đủ điều kiện khách quan và chủ quan bảo đảm cho cuộc khởi nghĩa thắng lợi, cho nên Hội nghị quyết định hoãn việc phát động khởi nghĩa ở Nam Kỳ. Đảng bộ Nam Kỳ cần chờ tình hình phát triển ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, sẽ phát động khởi nghĩa theo kế hoạch chung của Trung ương. Đồng chí Phan Đăng Lưu được giao trách nhiệm truyền đạt chủ trương này cho Xứ ủy Nam Kỳ. Đồng chí Phan Đăng Lưu trên đường về còn có nhiệm vụ phổ biến Nghị quyết Hội nghị lần thứ VII của Trung ương cho các cấp đảng bộ Trung Kỳ, do đó đến ngay 22-11-1940, mới về tới Sài Gòn. Trong khi đó, vì chờ đợi lâu không thấy đồng chí Phan Đăng Lưu về, Thường vụ Xứ ủy đã hạ lệnh khởi nghĩa và gửi đi khắp các tỉnh. Như vậy, Xứ ủy Nam Kỳ không được biết và không được phổ biến chủ trương hoãn phát động khởi nghĩa của Hội nghị lần thứ 7 của Trung ương Đảng. (1) và (2) Văn kiện Đảng (Từ 25-1-1939 đến 2-9-1945). Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội, 1963, tr.142. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Mười, 2010, 05:56:20 pm IV. - XỨ ỦY QUYẾT ĐỊNH KHỞI NGHĨA
Ngày 15-11, theo đồng chí Nguyễn Như Hạnh, Xứ ủy lại họp ở một địa điểm thuộc Hóc Môn. Đồng chí Phan Đăng Lưu vẫn chưa về. Ai nấy đều sốt ruột chờ đợi. Hội nghị nghe báo cáo công tác chuẩn bị khởi nghĩa của các địa phương, thấy rằng tuy địch tăng cường khủng bố, nhưng mọi mặt phong trào vẫn phát triển, nhất là lực lượng vũ trang của cách mạng tỏ thái độ quyết tâm nổi dậy đánh đổ chính quyền địch. Hội nghị chăm chú nghe đồng chí Lê Văn Khương báo cáo về lực lượng quân sự và cách bố phòng của Pháp. Hiện thời tại thành Ô ma đóng một trung đoàn lính tập (tirailleurs) (R.T.A) người Việt, lính Pháp đóng ở đường NORODOM, công binh đường d’Espangne (Lê Thánh Tôn), Hải quân đường RIGAULT de GENOUILLY (Phạm Viết Chánh cạnh Rạch Thị Nghè). Ở Chợ Lớn, đòn Cây Mai, Rạch Cát mỗi noi có một đơn vị vệ binh. Bộ Tham mưu Pháp đóng ở đường Chaseloup Laubat (Nguyễn Thị Minh Khai). Kho súng đạn của địch để ở đường Rousseau (công viên Văn Lang, góc đường Hùng Vương và An Dương Vương). Khí giới và súng lớn có nhiều ở thành pháo thủ. Nhà Bè có súng đại bác bắn máy bay và mô bắn. Cát Lái có kho súng (Thành Tuy Hạ). Kho trữ xe hơi tại Chợ Đũi, Đa Kao, chợ Thái Bình. Xe thiết giáp và xe súng máy để ở thành pháo thủ. Tất cả thành Sài Gòn và Chợ Lơn có lối 20 ngàn lính đa số là người Việt. Tỉnh Gia Định có lính thủ hộ (brigade mobile) lối 120 người, luyện tập giỏi, khó vận động. Mỗi tỉnh có 120 lính mã tà, tập luyện khá, có thể tuyên truyền được. Các tỉnh Mỹ Tho, Vĩnh Long, Biên Hòa, Bà Rịa có lính người Việt, các tỉnh Sóc Trăng, Châu Đốc lính người Miên. Thủ Dầu Một có trại lính Pháp và Nam. Cấp (Vũng Tàu) có lính Pháp và lính bộ binh pháo thủ người Việt, chút ít lính thủy, Sở máy bay của địch ở Biên Hòa, Cát Lái(1). Lính lưu hậu và lính cũ đang học ở trường đạo tạo sĩ quan (E.O.R.) và hạ sĩ quan (E.S.O.R.) và trường huấn luyện lính mới. Mới đây Pháp chuyển trường huấn luyện sĩ quan và hạ sĩ quan từ Sài Gòn đi Thủ Dầu Một, trong đó có một số nhân mói và cơ sở tốt của cách mạng, có lẽ Pháp có điều gì lo lắng, cho nên mới chuyển như vậy. Tình trạng trong binh lính đang xôn xao mạnh từ tháng 10. Binh lính ở Nam Kỳ thì Pháp điều sang Lào, Campuchia để chuẩn bị đối phó với chiến tranh Pháp - Thái. Chúng lại điều lính Miên từ Nam Vang và lính từ Bắc Kỳ, Trung Kỳ vào Nam. Đây là thủ đoạn nham hiểm của Pháp, nhằm đối phó với phong trào đang lên ở Nam Kỳ. Cơ sở từ trong binh lính báo cáo ra, nhiều anh em binh lính muốn khởi nghĩa, chứ không đợi bị điều ra mặt trận chết thay cho đế quốc Pháp. Trong hội nghị cũng còn ý kiến của đồng chí Phan Văn Bảy cho rằng tinh thần địch có khủng hoảng sa sút, nhưng binh lính địch còn nhiều và còn ổn đinh, mạnh hơn cách mạng, cho nên cần cân nhắc thận trọng. Ý kiến đó chỉ là thiểu số, đa số cho rằng phát động khởi nghĩa lúc này là thuận lợi. Ngoài những điều đã nêu trên, lúc này bọn cai trị Đông Dương đang ở thế khó khăn, tại chỗ chúng luôn luôn lo bị Nhật o ép, ở chính quốc đã đầu hàng Đức, không còn là hậu phương tiếp tế cho bọn thuộc địa Đông Dương nữa. Hội nghị Xứ ủy nhất trí quyết định phát động toàn Nam Kỳ nổi dậy đánh đổ chính quyền địch giành lấy chính quyền cách mạng về tay nhân dân. (1) Dựa vào tài liệu của ta do địch bắt được ở một chùa Gò Vấp. Lưu trữ Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Tư. Ký hiệu C.IB/6. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Mười, 2010, 05:57:55 pm Các tỉnh và thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn đều đã có Ban khởi nghĩa, có nhiệm vụ lãnh đạo toàn thể nhân dân nhất tề nhổi dậy cùng lúc. Tuy nhiên, Xứ ủy chọn Sài Gòn là nơi trung tâm của cuộc khởi nghĩa, vừa là nơi phát lệnh, vừa là đón đánh quyết định thắng lợi của cuộc khởi nghĩa. Vì vậy, đồng chí Tạ Uyên, trưởng Ban khởi nghĩa của Xứ ủy trực tiếp làm trưởng Ban khởi nghĩa thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn. Các đồng chí Thường vụ, Xứ ủy viên trong Ban khởi nghĩa xứ, trực tiếp làm trưởng Ban kinh nghiệm các tỉnh chung quanh như Gia Định, Chợ Lón, Tân An, để phối hợp và hỗ trợ thành phố Sài Gòn. Xứ ủy đã bổ sung hai đồng chí trong thành ủy vào Xứ ủy là đồng chí Nguyễn Như Hạnh, Huỳnh Xang (hai đồng chí này có trong Ban khởi nghĩa thành), để tăng cường vài trò lãnh đạo của Xứ ủy đối với cuộc khởi nghĩa ở thành phố(1).
Kế hoạch khởi nghĩa tại thành phố Sài Gòn đại thể như sau: các địa phương chung quanh như Đức Hòa, Trung Huyện, Cần Giuộc thuộc tỉnh Chợ Lớn; Gò Vấp, Hóc Môn, Thủ Đức, Nhà Bè thuộc tỉnh Gia Định; một số nơi thuộc Tân An, Thủ Dầu Một… do Ban khởi nghĩa lãnh đạo, bí mật đưa lực lượng trung kiên, đã được luyện tập, phần nhiều là đảng viên, quần chúng cốt cán, có vũ trang thô sơ, súng… chia thành từng tốp nhỏ thường 3 người, bằng mọi phương tiện (đi bộ, xe đò, xe điện, thổ mộ, đi thuyền…) tới những địa điểm đã được quy định, cận thành phố, khi nghe súng nổ, có liên lạc và phương tiện hướng dẫn tiến vào thành phố phối hợp với lực lượng tại chỗ đánh chiếm những nơi quan trọng, trước hết là Khám Lớn, khám Chí Hòa để giải thoát tù chính trị, trong đó có nhiều cán bộ cao cấp của Đảng. Các đồng chí thoát tù sẽ bổ sung ngay vào lực lượng lãnh đạo; đánh Sở Cảnh sát (Đường Trần Hưng Đạo), Sở lính kín (Catinat), cơ quan hiến binh Gia Định, nhà máy đèn Chợ Quán, xưởng Ba Son, các xí nghiêp quốc phòng, sân bay; dựng chướng ngại vật ở những chỗ quy định như ở phố Général Lizé (Điện Biên Phủ quãng từ Cách mạng Tháng Tám tới Lý Thái Tổ), để chặn pháo binh, cắt giây điện, chặt cây, phá cầu cản trở giao thông… Chi bộ bồi bếp có nhiệm vụ đầu độc những viên quan cầm quyền người Âu, những viên chỉ huy quân sự cao cấp. Các trại lính có nội ứng phá kho lấy súng, diệt chỉ huy ngoan cố, cướp trại, chiếm đồn và tỏa đánh các nơi. Vũ khí hiện đại cung cấp cho nghĩa quân, dựa vào binh lính nổi dậy theo cách mạng, chiếm trại, phá kho lấy ssúng. Phương tiện vận chuyển trong khởi nghĩa, đưa nghĩa quân các địa phương vào phối hợp, chuyển tù chính trị cứu được ra ngoài, đã có khoảng 10 xe vận tải được bố trí trước đêm khuya ở sở cao su Bình Hòa, phố Bà Quẹo, Chợ Quán, Chợ Lớn… Hội nghị có nêu khởi nghĩa thắng lợi thì thành lập chính phủ lâm thời cộng hào dân chủ và trường hợp đấu tranh quân sự lâu dài sẽ dựa vào căn cứ Truông Mít ở Tây Ninh, Lộ Ninh, Biên Hòa, vùng châu thổ Cửu Long, U Minh Rạch Giá… Vì sao lấy những chỗ này và ở đó cơ sở quần chúng ra sao không nói rõ… Hội nghị giao cho Ban thường vụ Xứ ủy quyết định ngày giờ nổ ra khởi nghĩa. Ngày 20-11-1949, đồng chí Phan Đăng Lưu vẫn chưa về. Ban Thường vụ Xứ ủy họp khẩn cấp hạ lệnh cho tất cả các nơi nổi dậy vào 24 giờ đêm ngày 22-11-1940. Lệnh được phát đi từ thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn. Vì sao chọn ngày giờ đó? Ngày đó cuối tháng không trăng, trời tối, giờ đó địch lơ là mất cảnh giác. Một lý khác giải thích, ngày 22-11 dương lịch trùng với ngày 23 tháng Mười âm lịch. Vào ngày đó, tháng đó, theo lịch Nga, cuộc cách mạng vô sản đầu tiên trên thế giới do Đảng cộng sản Bôn sê vích Nga lãnh đạo, đã thắng lợi. Mong muốn cuộc khởi nghĩa của ta cũng thắng lợi như thế! (1) Theo đồng chí Nguyễn Như Hạnh, Tài liệu đã dẫn. theo các tài liệu chính thức của Đảng từ trước đến nay thì chưa bao giờ thấy nói các đồng chí Nguyễn Như Hạnh, Huỳnh Xang là Xứ ủy viên Xứ ủy Nam kỳ (T.G). Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười, 2010, 06:48:51 am V. - THỨ SÁU, NGÀY 23 THÁNG 11 NĂM 1940 TẠI SÀI GÒN
Dưới sự chỉ đạo của Ban khởi nghĩa thành, các quận, các cơ sở đều khẩn trương chuẩn bị mọi việc do cấp trên đã đề ra. Đồng chí Tạ Uyên, bí thư Xứ ủy kiêm trưởng Ban khởi nghĩa thành, triệu tập một cuộc hội nghị mở rộng gồm Thành ủy, Ban khởi nghĩa thành đến bí thư, trưởng ban cán dsự quận và các đồng chí phụ trách các bộ phận chuyên trách của Thành ủy vào 12 giờ trưa ngày 22-11, để nghe truyền đạt mệnh lệnh khởi nghĩa và phân công kế hoạch thực hiện. Chọn 12 giờ trưa để họp, vì vào giờ đó công nhân viên công, tư sở, xí nghiệp đi về nghỉ trưa, tránh sự chú ý của địch. Đồng chí Nguyễn Như Hạnh, Bí thư Thành ủy được phân công đi bắt liên lạc với các cơ sở trong các trại lính, trong đó có anh em binh lính đóng ở trại Ô ma (camp aux marres) mới bị điều đi Thủ Dầu Một, đến đêm 21 rạng sáng ngày 22 mới về tới thành phố. Sáng ngày 22, đồng chí Hạnh được đưa đến gặp đồng chí Tạ Uyên ở nhà 160 đường Dayot (Nguyễn Thái Bình)(2). Đây là tiệm cắt tóc của tên Lợi ở Đà Nẵng vào, đồng chí Hạnh có nghe nói tên này làm chỉ điểm, cho nên ngần ngừ không muốn vào. Theo đồng chí Hạnh, đồng chí Tạ Uyên cho gọi mấy lần đồng chí Hạnh mới vào. Đồng chí Tạ Uyên lấy nhà này làm mơi gặp gỡ cán bộ là do tên Quới (tức Đức Huy) bố trí. Tên Quới còn có tên là Mập làm ở sở xe điện, vốn là một tên trốtkit, sau vào đảng cộng sản, làm công tác công đoàn. Quới đã được giới thiệu tham gia Thành ủy và lúc gần khởi nghĩa được cử phụ trách Ban công vận của Xứ. Khi nổ ra khởi nghĩa Quới không bị bắt. Sau Cách mạng Tháng Tám, thời kháng chiến chống Pháp, Quới đã lên tới chức Bí thư Khu ủy Miền Đông, làm trưởng ban tảo thanh Bình Xuyên của Bảy Viễn, trong lúc Bảy Viễn đang dự lễ phong chức Khu trưởng khu 7 do tướng Nguyễn Bình trao. Kết thúc kháng chiến chống Pháp, ta phát hiện, y nhận hết tội lỗi… Đồng chí Tạ Uyên phổ biến mệnh lệnh khởi nghĩa, mở bản đồ tham mưu Sài Gòn - Chợ Lớn(2), chỉ cho đồng chí Hạnh những chỗ cần đánh chiếm và làm chướng ngại vật chặn địch, trao cho đồng chí Hạnh Lời kêu gọi khởi nghĩa dặn dò làm truyền đơn kêu gọi lính Âu, Phi. Cuối cùng hẹn cùng nhau đến chỗ họp. Khoảng 11 giờ, làm việc xong, mỗi người đi một ngả. Đồng chí Hạnh theo đường Alssace Lorraine (Phó Đức Chính) để đế nhà đồng chí Hoành ở xí nghiệp xửa chữa ca-nô đường Quai Belgique (Chương Dương) là nơi liên lạc của Thành ủy. Nhưng vừa đi được khảng 500 mét, thì đồng chí Hạnh bị mật thám bao vây bắt. đồng chí vội la lớn “Giáo Hạnh bị bắt! Giáo Hạnh bị bắt!” cố để báo động với cơ sở, ở gần đấy. Giải về sở lính kín Catinat, địch khám thấy đồng chí Hạnh giấu ở gấu quần một bản hiệu triệu như sau: “Hãy tiến lên! Hỡi tất cả đồng bào bị áp bức Đông Dương! Hỡi tất cả những người yêu nước! Hãy kiên quyết tiên lên! Đánh đổ chủ nghĩa phát xít Pháp, bọn vua chúa bản xứ cũng như bọn tay sai người Việt phản bội nhân dân. Thành lập một chính phủ cộng hòa dân chủ Đông Dương để liên hệ với Mặt trận kháng chiến ở Trung Quốc! Đứng lên chống chủ nghĩa phát xít Nhật và quân đội Thái Lan xâm lược! Đông Dương hoàn toàn độc lập!”(3) (1) Theo bản viết của đồng chí Nguyễn Như Hạnh năm 1986, lưu hồ sơ của Giáo sư Trần Văn Giàu, thì nhà đó số 160 Dayot. Theo lời cung cấp của đồng chí Hạnh cho Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương, ký hiệu 25 NK thì là nhà 41 Dayot. Tài liệu của mật thám Pháp nói Hạnh vừa ở nhà 41 Dayot ra thì bị bắt. (2) Bản đồ này do người giúp việc của cố đạo Dumontier lấy và giao cho đồng chí Hạnh; đ/c Hạnh đưa cho đ/c Tạ Uyên. Lưu trữ Ban NCLSĐ. T.Ư. Ký hiện: 25.NK. (3) Báo cáo số 7489s của Mật thám gửi Thống đốc Nam Kỳ. Lưu trữ BNCLSĐ. T.Ư.K.H.07 NK. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười, 2010, 06:51:03 am Việc Pháp bắt được đồng chí Bí thư thành ủy là do cảnh sát đặc biệt (mật thám) Sài Gòn được một tên chỉ điểm nằm ở trong nội bộ ta, báo cho chúng biết chiều nay những người cộng sản có một cuộc họp, chưa biết để làm gì. Chúng liền bủa người đi canh gác và lục soát tất cả những nơi tình nghi và do đó chúng bắt được đồng chí Hạnh. Ngoài bản kêu gọi, chúng còn thấy trong người đồng chí Hạnh địa chỉ nhà 160 phố Dayot.
Chúng liền cho bố trí bao vây, đến 16 giờ thì chúng bắt được đồng chí Tạ Uyên(1). Trong người đồng chí Tà Uyên có một bản viết tay, nội dung như sau: “Anh Thày, Chúng ta hành động như chúng ta đã quyết định hôm trước. Tôi yêu cầu: 10 ô tô chở người, 2 chiếc phải đỗ ở phố Bình Hòa (sở Cao su), 3 chiếc phải đỗ ở phố Bà Quẹo, chợ Lớn ở bờ dốc không có cỏ mà anh đã biết ở bên ngoài chợ. Từ 11 giờ đến 11 giờ rưỡi phải có ở tại chỗ, 5 chiếc ô tô phải có mặt tại chỗ vào giờ nhứt định. Về việc chướng ngại vật. Tùy thuộc các đường quan trọng trong thành phố để dựng lên. Riêng phố Général Lizé và ngã tư phố Verdun phải dành một chô tự do dễ dàng cho việc cứu viện cho khám lớn. Phố Verdun phải đặt chướng ngại vật quãng trên đường Général Lzé để chặn pháo binh đến. Phải tổ chức một nhóm ám sát để khử tên đại tá trại Ô ma. Phải đặt chướng ngại vât ở phố Pétrus Ký (Lê Hồng Phong), sau trại Ô ma. Phải khử tên đại tá và tên thiếu tá ở phố Verdun. Dựng chướng ngại vạt phố Chasseloup (Nguyễn Thị Minh Khai) để chiến đấu chống những nhà người Pháp gần R.T.A bis (Trung đoàn lính tập người Việt phụ). Vũ khí đã sẵn sàng chưa? Khẩu hiệu. Mỗi nơi phải có những nhó cứu viện, tốt nhứt lựa dùng những sinh viên biết nói tiếng Pháp. Tất cả khẩu hiệu ở thành phố tùy các đồng chí quyết định. Lực lượng của chúng ta không manh lắm. Phải thận trong và hành động có phương pháp. Về việc thuốc độc đã có chưa? Nếu có thì có thể dùng nó để giảm quân người Pháp. Phải dùng thứ có tác dụng sau 2 hoặc 3 giờ”(2). Bị tra khảo, đồng chí Tạ Uyên khai một nơi ở cũ đã bỏ ở Chợ Lớn. Chẳng ngờ, khi chúng khám nhà đó không thấy gì, nhưng ở cạnh đó mấy căn, đồng chí Phan Đăng Lưu vừa ở miền Bắc về, đang trú tại đó để bắt liên lạc. Thế là chúng bắt đượ đ/c Phan Đăng Lưu. Ngay tối hôm đó Pháp còn bắt được đồng chí Phan Nhung, Thành ủy viên và gần 50 người nữa. Khám nhà Nhung, địch bắt được một máy chữ, nhiều tài liệu và 1 dao găm. Đồng chí Tạ Uyên bị địch tra tấn chết ngay tại nơi giam giữ. Mấy ngày tiếp theo, Pháp bắt thêm một số, tất cả ở Sài Gòn - Chợ Lớn là 98 người. Trong đợt này, chúng đã bát một lính tập tên là Qui, đã bị chúng theo dõi từ lâu, chúng cho là người cầm đầu tuyên truyền và tổ chức cộng sản ở trại Ô ma. Sau chúng đã đưa đi xử tử. Như vậy là Pháp đã biết Xứ ủy Nam Kỳ đã ban hành lệnh khởi nghĩa vào nửa đêm nay 22-11. chúng còn biết Xứ ủy chủ trương cướp 7 xe camions nhà binh ở Chợ Quán, lúc 22 giờ và cho: - 3 chiếc chạy về Thủ Dầu Một, ngừng trước sở cao su có tín hiệu đèn pin thì xe ngừng. Người hỏi mật hiệu: Ai đó? Người trên xe trả lời: Ái quốc1 Đúng mật hiệu mọi người lên xe để đi về Sài Gòn. - 4 chiếc nữa đi tới cầu Ông Lãnh, đậu trước chợ, cũng mật hiệu như trên. Đúng, thì cho lên xe đi về khám lớn. - Những xe ô tô ừ nơi khác đến bao quanh khám lớn phải dành đường La Grandière (Lý Tự Trọng) cho 7 xe nói trên tới khám lớn. - Ngoài ra các xe caminons khác cho một nhóm đậu gần trại Ô ma để chờ lệnh. Trong trại có tiếng hô và nổ súng thì bên ngoài xông ra cướp súng. - Một đơn vị từ 4 đến 5 người chạy khắp thành phố, để diệt cảnh sát và đoạt súng. - Kiên quyết và khẩn trương xông vào khám lớn để giải thoát tu ctỉ. Ủy ban liên lạc đã báo cho tất cả chuẩn bị, sẵn sàng khởi nghĩa. - Sau khi cướp được khám lớn thì chia làm hai cánh: Một cánh đi đánh sở Ba Son. Một cánh đi đánh F.A.C.I. để đoạt vũ khí. - Mỗi nghĩa quân có một khăn tay cột cổ, cái gút xoay về phía sau chỗ ót. Mật hiệu cho tất cả là Ái quốc. Sau khi thành lập chính phủ lâm thời cộng hòa dân chủ, phải nêu các khẩu hiệu trên các băng treo khắp nơi. Khi nổ súng phải tuyên truyền rộng rãi kêu gọi nhân dân tham gia đông đảo…(3) (1) Hồ sơ, Như trên. (2) Hồ sơ, Như trên. (3) Xem tài liệu lưu trữ bản viết tay về Nam Kỳ Khởi nghĩa. Ký hiệu CJ/B.70. Lưu trữ Viện lịch sử Đảng Trung ương. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười, 2010, 06:54:01 am Việc các đồng chí Bí thư Xứ ủy và Bí thư Thành ủy mặc dù trong lúc thật khẩn trương gấp rút, mang theo tài liệu là một sai lầm. Nhân vụ này, chúng ta thấy sau Hội nghị lần thứ VIII của Trung ương (tháng 5-1941) ở Pác Bó (Cao Bằng) trước khi các đại biểu về xuôi, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã cảnh giác, cho kiểm tra thu lại các tài liệu mà các đại biểu đã tìm mọi cách dấu trong người. Đồng chí nhắc nhở các đại biểu về công tác bí mật và nói rằng tài liệu sẽ có giao thông đưa về tận địa phương cho các đồng chí.
Còn việc địch bắt các đồng chí lãnh đạo chủ chốt trước giờ nổ súng là do chúng đã cài được vào nội bộ cơ quan lãnh đạo Thành ủy và Xứ ủy tên Quới (Trần Đức Huy), môt tên phản bội đầu hàng. Được tin Cộng sản đã hạ lệnh khởi nghĩa lúc nửa đêm và lại bắt được những nhân vật quan trọng, Thống đốc Nam Kỳ vội chỉ thị cho: - Viên Tư lệnh sư đoàn trưởng sư đoàn Nam Kỳ - Cao Miên phải kểm soát chặt chẽ các đơn vị binh lính, không để tham gia cuộc bạo động, phải bảo vệ xưởng F.A.C.I và Ba Son. - Viên Thủy sư đô đốc phải bảo vệ xưởng Ba Son. - Viên đại úy Sở cảnh sát phụ trách cá khám nhốt tù phải tăng cường canh phòng, đề phòng bất trắc, hạn chế sự ra vào các nhà tù. - Viên giám đốc khám lớn đề phòng nổi loạn trong khám. - Viên chánh cẩm tăng cường canh gác những nơi quan trọng, những đường giao thông chính, bắt những người tụ tập trên đường phố. - Viên chủ tỉnh Biên Hòa canh gác bảo vệ kho thuốc nổ Tân Mai, tăng cường canh gác căng Tà Lài và Bà Rá… Đồng thời thống đốc Nam Kỳ gửi điện khẩm mật báo cáo vắn tắt với Toàn quyền Đông Dương có tin đêm nay cộng sản có thể đánh một số nơi ở Sài Gòn như Trại lính, Ba Son, Kkhám lớn cơ sở kỹ nghệ. Đã báo các tỉnh. Đã bắt một số ở Sài Gòn. Tiếp theo sẽ họp tướng, đô đốc, mật thám bàn biện pháp an ninh cho cơ sở quân đội, hải quân. Cấm trại, tăng gấp đôi canh gác kho súng đạn. gọi lính trở về, tăng nhiều tuần tra, báo động hoàn toàn cho mã tà…(1) Trong vòng 2 giờ, từ 13 đến 15 giờ 30, Chánh mật thám Arnoux liên tiếp giử hai điện khẩn số 7325s và 7328s cho các cấp dưới và các chủ tỉnh báo rằng đêm nay cộng sản sẽ đánh một số nơi ở Sài Gòn. Phong trào có thể nổ ra ở một số điểm khác Nam Kỳ, phải bằng mọi cách chặn trước những hành động phá hoại(2). Cảm thấy chưa yên tâm, đến 16 giờ 45 Veber thống đốc Nam Kỳ lại gửi tiếp điện khẩn số 317 cho tất cả các chủ tỉnh nhắc tăng cường cảnh giác và kiểm soát đặc biệt các kho vũ khí có liên quan với phong trào cộng sản phát động đêm nay ở Sài Gòn(3). Ngay tại Sài Gòn, Arnoux cho cảnh sát đến kiểm tra khám lớn. Chúng thấy thiếu 12 người tù chính trị cho đi nằm chữa bệnh ở nhà thương Chợ Quán, trong đó có các đồng chí Nguyễn Văn Tạo, Vũ Đình Hiếu, Dương Bạch Mai, Bùi Văn Ngữ và một số phần tử trốtkit. Lập tức, chúng hạ lệnh điều ngay về khám, vì chúng sợ họ mượn cớ ra nhà thương rồi tham gia nổi dậy. 21 giờ, địch cho lính bủa đi tuần kháp các đường phố chính, kiểm soát giấy tờ những người từ ngoài vào thành phố, cho xe mô tô gầm rú khắp các ngả đường… Các kho súng đạn đều bị bọn sĩ quan đến tận nơi kiểm tra và cho khóa lại. Binh lính bị cấm trại. Những lính đang nghỉ phép cũng bị gọi về… Cuộc họp để phổ biến lệnh khởi nghĩa của Xứ ủy của Ban khởi nghĩa Thành không có; các đồng chí lãnh đạo chủ chốt đã bị bắt, cùng tất cả các biện pháp đề phòng đối phó của địch, làm cho cuộc khởi nghĩa tại thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn không nổ ra. Thấy vậy, Veber hý hửng báo cáo với Toàn quyền Đông Dương bằng điện khẩn số 1358 như sau: “Hai mươi tư giờ hoàn toàn yên tĩnh khắp nơi”(4). Chúng có ngờ đâu rằng, nội thành Sài Gòn không nổi dậy, nhưng chính vào lúc đó các chiến sĩ nghĩa quân toàn Nam Kỳ đang hồi hộp chờ đợi giờ nổ súng. Ngòi nổ đang cháy, thùng thuốc sắp nổ tung! Có lẽ, cũng vì báo cáo quá chủ quan, mà một tuần sau Toàn quyền Đông Dương đã cho thay Veber và cử Rivoal về làm Thống đốc Nam Kỳ. (1) Điện chính thức số 1357 ngày 22-11 của thống đốc NK gửi Toàn quyền Đông Dương. Hồ sơ II.45/326(1): Những rắc rối tháng 11-1940. Phần điện văn (Les incidents de Novembre 1940). (2), (3), (4) Hồ sơ: Như trên. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười, 2010, 06:57:23 am PHẦN THỨ TƯ TOÀN NAM KỲ NỔI DẬY I. - NHỮNG PHẢN ỨNG TỨC THÌ CỦA PHÁT XÍT PHÁP Cuộc khởi nghĩa không nổ ra ở Sài Gòn như Xứ ủy mong muốn. Nhưng, toàn Nam Kỳ đã nổi dậy mặc dù Pháp đã cảnh giác đề phòng ngăn chặn. Kể từ khi Pháp sang xâm lược và thống trị ntước ta, cho đến lúc đó, chưa bao giờ có một phong trào nổi dậy chống đế quốc mạnh mẽ và rộng lớn như thế ở Nam Kỳ, cũng như ở cả nước ta. Và cho tới lúc đó, cũng chưa có một phong trào chống đối nào bị đế quốc Pháp đàn áp khốc liệt, dã man và tàn bạo như thế. Xứ ủy Nam Kỳ chủ trương phát động một cuộc tổng khởi nghĩa ở Nam Kỳ, mà nơi được chọn nổ pháo phát lệnh đầu tiên và quyết định là thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn. Nhưng thực tiễn diễn ra lại không như thế. Vì sao? Điều đó chúng tôi sẽ lý giải ở phần sau. Theo đúng lệnh của Xứ ủy đã ban hành, hàng loạt tỉnh chung quanh Sài Gòn như Gia Định, Chợ Lớn, Tân An và các tỉnh như Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ, Sóc Trăng, Long Xuyên… từ không giờ ngày 23-11, nghĩa quân đã vùng dậy như vũ bão và mấy ngày đầu hầu như làm chủ tình thế. Điện tới tấp khắp nơi gửi về Sài Gòn vừa báo cho bọn cầm quyết biết cộng sản nổi dậy đã chiếm đồn, lấy súng, đốt nhà việc, phá cầu, bắn chết lính, bắn bị thương cả chủ tỉnh Sóc Trăng…, vừa cầu cứu cho quân hỗ trợ. Những tin tức chẳng tốt đẹp gì đó lập tức được chuyền tới Toàn quyền Đông Dương. Thật bất ngờ đối với chúng. Bất ngờ ở chỗ tại sao chúng đã biết trước mà vẫn không chặn được cuộc nổi dậy của cộng sản và tại sao cộng sản nổi dậy lại rộng và mạnh như thế. Ngay sáng sớm ngày 23-11, Toàn quyền Decoux một mặt điện cho các viên cầm đầu các xứ yêu cầu phải sẵn sàng chuẩn bị đối phó với trường hợp mà những rắc rối như thế (xảy ra ở Nam Kỳ T.G.) trở thành phong trào chung toàn lãnh thổ Đông Dương(1), đồng thời điện cho thống đốc Nam Kỳ và các cấp dưới: “Tôi yêu cầu kiên quyết thi hành ngay tức khắc bằng tất cả những biện pháp nhiêm ngặt để tránh lặp lại những rắc rối như đã xảy ra ở Nam Kỳ. Kinh nghiệm những sự kiện cộng sản năm 1930-1931 mà một số cuộc biểu tình mang dáng dấp như đã nổ ra ngày 23-11. Các ngài hãy dùng quyền lực và an ninh thi hành ngay tức khắc những biện pháp có hiêu lực. Cần phải đuổi những tên cầm đầu phiến loạn Nam Kỳ và bắt chúng không thương tiếc và những tên đã bị giam giữ tuyệt đối không cho liên lạc vói bên ngoài…”(2). Sau đó Decoux lại điện tiếp: “… Việc đàn áp phải tiến hành hết mức. Yêu cầu sử dụng rộng rãi sự hợp tác của quân đội và hải quân… cho đến khi nào làm chủ toàn toàn tình thế”(3). Ngày 1-12-40, Decoux lại điện cho Thống đốc Nam Kỳ: “Tôi xin báo cho ngài biết rằng những biến động đó có thể lặp lại sắp tới bằng một phương tiện khác, cần thiết dùng tối đa các biện pháp và bóp nghẹt không thương tiếc bọn phiến loạn”(4). Đó là thái độ và chủ trương của tên cầm đầu cơ quan cai trị cao nhất Đông Dương. Còn bọn cai trị trực tiếp Nam Kỳ đã chủ trương đối phó như sau: Ngay trong ngày 23, Thống đốc Nam Kỳ liên tiếp ra mấy nghị định. - Nghị định số 1082, gửi cho tất cả các cấp, trong đó điều 1 quy định: “Mọi tụ tập trên đường công cộng đều dứt khoát bị cấm trên toàn lãnh thổ Nam Kỳ cho đến khi có lệnh mới”(5). - Nghị định đi ban đêm phải có thẻ đặc biệt, nội dung như sau: “Điều 1. Trên toàn lãnh tổ Nam Kỳ ở phía đông BASSAC, tuy nhiên trừ các tỉnh Bà Rịa, Biên Hòa, Vũng Tàu và vùng Sài Gòn - Chợ Lớn, tạm thời những người bản xứ hoặc viên chức được coi như quân nhân và những người nước ngoài châu Á được hưởng quy chế đặc biệt, phải có một giấy phép đặc biệt mới được đi đêm, kể từ lúc mặt trời lặn đến năm giờ sáng. “Điều 2. Các ông Hội đồng thuộc địa và hàng tỉnh, các ông Đốc phủ sứ, Phủ và Huyện, các chánh, phó cai tổng, Bang biện và sung biện, chánh phó Bang (congrégation) hội tề đang chức và những viên chức đang làm việc, sẽ nhận được một thẻ đặc biệt nói ở điều 1” Các thẻ sẽ do các ông chủ tỉnh hoặc viên chức do ông ủy quyền phần phát. Quân đội, mã tà, lính làng và nhân viên phụ thuộc mặc trang phục được loại trừ không phải theo điều bắt buộc này”. (1) Điện số 5305 ngày 23-11-40. HS.IIA.45/326 (1). TT.LT2. TP.HCM. (2) Điện khẩn, mật, ưu tiên tuyệt đối số 5306. Hồ sơ: Như trên. (3) Điện khẩn, mật, ưu tiên tuyệt đối số 5323 ngày 15-11. Hồ sơ: Như trên. (4) Điện khẩn, mật, ưu tiên tuyệt đối số 5489 ngày 1-12. Hồ sơ: Như trên. (5) Nghị định ngày 23-11-40 số 1082 của Thống đốc Nam kỳ Veber Hồ sơ: Như trên. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười, 2010, 07:00:20 am Thực hiện nghị định này, chúng phát hành hai loại thẻ đỏ và xanh, phân phát như sau:
Hai nghị định trên đây cho thấy bọn cầm quyền Nam Kỳđã thực hiện thiết quân luật. Còn về tăng thêm lực lượng quân sự, Thống đốc Nam Kỳ lệnh cho Tư lệnh sư đoàn trưởng, đồng thời thông báo cho các chủ tỉnh biết ngoài lực lượng có sẵn tại chỗ, tăng ngay khẩn cấp cho: Một: Đức Hòa và Thủ Thừa 1 đại đội lính Việt. Hai: Tam Bình, Vũng Liêm, Cầu Kè, Càng Long 1 đại đội lính Miên. Ba: Cao Lãnh, Châu Đốc và Chợ Mới 1 đại đội lính Miên. Bốn: Phước Long, Cà Mau 1 đại đội lính Miên. Ba đại đội lính Miên nói trên đi bằng sà lúp từ Phnom Pênh đến Vĩnh Long chiều 26-11. Các nơi đưa xe đến đón chở về địa phương do chủ tỉnh điều hành(2). Riêng Mỹ Tho, chúng tăng thêm 1 tiểu đoàn lính lê dương, không kể mấy đại đội đang có mặt tại chỗ. Ngay lúc 7 giơ 5 phút sán ngày 23-11, Tham mưu trưởng hải quân ra lệnh cho 2 thủy phi cơ cất cánh từ Cát Lái, mang đầy xăng, súng máy thật đầy đủ đạn, đi Vĩnh Long, ở dưới quyền điều khiến của Tỉnh trưởng, đàn áp cuộc nổi dậy của cộng sản (répression éventuelle de l’insurrenction communiste). Các phi cơ này đi đến Vĩnh Long có nhiệm vụ quan sát các lộ giao thông lớn và khu dân cư. Phải báo cáo bằng vô tuyến những gì đã quan sát được cho tham mưu trưởng và tất nhiên cho cả Tỉnh trưởng. Tàu Lamothe Picquet thường xuyên đi tuần tra canh gác(3) Thống đốc Nam kỳ đã triệu tập ngay một cuộc họp thành phần gồm những Tướng tư lệnh sư đoàn trưởng, Đô đốc hải quân, Chánh mật thám, Tư lệnh mã tà để đối phó với cuộc nổi dậy của nghĩa quân(4) Trên đây là một số chủ trương đối phó tức thì ban đầu của các cơ quan cai trị toàn Đông Dương và Nam Kỳ. (1) Nghị định số 6843 ngày 23-11 của Thống đốc và công văn thi hành nghị định, số 10864 phân phối cho các nơi. HS. Như trên. (2) Điện của Thống đốc Nam kỳ cho các chủ tỉnh số 327c328c ngày 25-11. Hồ sơ: Như trên. (3) Lệnh của Tham mưu trưởng Hải quân Đông Dương số 2941 ngày 23-11-40 cho Sở máy bay hải quân Cát Lái và tàu Lamothe Picquet. Hồ sơ: Như trên. (4) Điện báo cáo của Thống đốc Nam kỳ cho Toàn quyền Đông Dương số 1372 ngày 25-11-40. Hồ sơ: Như trên. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười, 2010, 07:01:44 am II. - CUỘC NỔI DẬY Ở GIA ĐỊNH(1)
Gia Định có vị trí quan trọng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ trên nhiều năm. Nằm sát cạnh Sài Gòn, tỉnh lỵ Gia Định chỉ cách trung tâm Sài Gòn 5 kilômét, bao bọc Sài Gòn từ Tây Bắc sang Đông Bắc và từ Tây Nam sang Đông Nam, là nơi nhiều năm, sau Sài Gòn được chọn làm chỗ đóng cơ quan Trung ương Đảng và Xứ Ủy Nam Kỳ. Hội nghị lần thứ VI tháng 11-1939 của Trung ương Đảng, mấy cuộc họp của Xứ ủy và Ban Thường vụ Xứ ủy đề ra chủ trương khởi nghĩa, kể cả quyết định ngày giờ khởi nghĩa, đều diễn ra trên địa bàn Gia Định. Đế quốc Pháp coi Hóc Môn, Gò Vấp của Gia Định và Đức Hòa của Chợ Lớn là vùng đỏ (zônes rouges). Đồng chí Lê Văn Khương, Thường vụ Xứ ủy, ủy viên Ban khởi nghĩa xứ phụ trách Ban quân sự được phân công làm Bí thư tỉnh ủy, trưởng ban khởi nghĩa tỉnh Gia Định (Đồng chí Khương là người Tân Thới Tây). (1) Vào thời điểm nổ ra cuộc khởi nghĩa, Gia Định chia 4 quận: Gò Vấp: 3 tổng, 22 làng; quận trưởng Đốc phủ sứ René Lê Văn Thạnh Hóc Môn: 4 tổng, 22 làng; quận trưởng Thọ Thủ Đức: 6 tổng, 20 làng; quận trưởng Trần Văn Viễn Nhà Bè: 4 tổng, 19 làng; quận trưởng Albert Lê Minh Cảng Chủ tỉnh: J.Monlau Dân số trên 300.000ng (1937: 304.728 ng. 1941: 342.752 ng) Chiều dài tỉnh 110 kilômét, rộng trung bình 25 kilômét. Tỉnh có nhiều công ty, xí nghiệp quan trọng, kể những cái chính: hãng dầu Nhà Bè, công ty điện nước Gia Định, Công ty xe điện đông đưởng Gò Vấp, Xí nghiệp Guyonnet ở thạnh Mỹ An, Hãng Ngói Thủ Đức, Hãng cơ khí và xưởng Xây dựng ở xã An Khánh, xí nghiệp Foinet ở Thạnh Mỹ An, Hãng gạch marcel Gay có lò ở Thủ đức, nhà in Marcel Bentz ở Phú Nhuân, Xà phòng Parel vieux ở xã Bình Hòa, Standart gazozène ở Thạnh Mỹ An. Có nhiều đồn điền của thực dân: Riêng đồn điền cao su có 88 cái chiếm 11.700 ha Phần lớn ở Hóc Môn: 8.706 ha Thủ Đức: 2.203 ha Gò Vấp: 470 ha Mía trồng khoảng 3.900 ha, sản xuất khoảng 88.000 tấn đường, trồng trên đất Thủ Đức, Hóc Môn, Gò Vấp cung cấp cho 114 lò đường làng và một phần quan trọng cho xí nghiệp Hiệp Hòa. Về quân sự có sở Địa lý (Géographique) do đại tá S.Clichon), chỉ huy. Một đơn vị mã tà (Garlc civile) 170 lính và một cơ lính thủ hộ lưu động (Brigade mobile) 223 người, làm nhiệm vụ canh gác công thự, nhà giam, căng, huấn luyện và những việc đột xuất lưu động toàn Nam kỳ kể cả áp tải tiền, tù… (theo báo cáo của Thanh tra Esquivillon. Ký hiệu Hồ sơ: IIA. 45/303(4) và hồ sơ: Tình hình tù nhân Khám lớn IIA.45/222(2d) TT.LT2. TPHCM. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười, 2010, 07:03:15 am 1. Công tác chuẩn bị
Gia Định vốn có truyền thống cách mạng từ lâu, qua các thời kỳ những năm 1930-1931 và 1936-1939, dưới sự lãnh đạo của Đảng phong trào luôn luôn mạnh, cho nên từ khi chiến tranh thế giới nổ ra, tuy đế quốc Pháp khủng bố mạnh, nhiều đồng chí bị bắt, nhưng được lệnh chuẩn bị khởi nghĩa, khắp nơi đều hăng hái hưởng ứng và náo nức chờ đợi. Sau mỗi lần họp Xứ ủy và Ban Thường vụ, đồng chí Lê Văn Khương đều triệu tập Tỉnh ủy để phổ biến nghị quyết và bàn kế hoạch thực hiện. Tỉnh ủy quan tâm công tác tuyên truyền vận động quần chúng tham gia Mặt trận phản đế. Hầu hết các xã, tổng thuộc các quận Gò Vấp, Hốc Môn và một số xã các quận thủ Đức, Nhà Bè đều đã hình thành các tổ chức Thanh niên phản đế, Phụ nữ phản đế, Nông hội phản đế, binh sĩ phản chiến, Nhi đồng cứu vong. Ban chấp hành Mặt trận đã có ở cấp quận và cấp tỉnh. Quần chúng tham gia đông đảo đã tạo điều kiện thuận lợi cho các đồng chí lựa chọn những thanh niên hăng hái, dũng cảm, thành lập các đội tự vệ, du kích, xung kích… Công tác tuyên truyền trong nội bộ nhân dân cũng như rộng rãi, thực hiện khá rầm rộ, nhất là các dịp có lễ kỷ niệm. Hình thức rải truyền đơn, treo cờ đỏ búa liềm, căng hoặc cắm khẩu hiệu được dùng khá phổ biến. Liên tục mấy ngày đầu tháng 7-1940, cò Bétallle Etienne đi kiểm soát các nơi, đến làng An Nhơn xã bọn tề báo cáo cho y biết trên đường đi tới bắc An Phú Đông có rải nhiều truyền đơn, 2 tờ tam giác giấy đỏ, 1 băng có chữ: “Hỡi tất cả những người bị áp bức Đông Dương! Hỡi tất cả anh chị em quốc dân đồng bào! Mau mau đoàn kết thành lập Mặt trận phản đế Đông Dương Phản đối đế quốc Pháp! Phản đối đế quốc Nhật! Phản đối bọn vua chúa và việt gian thân Nhật, thân đế quốc. Lập chính phủ cộng hào dân chủ Đông Dương. Mật thiết liên lạc Nga xô!” Tề làng Thanh Lộc thấy trên làng số 12 gần cầu treo Thanh Phước giáp Hóc Môn 2 băng chữ nhật giấy đỏ, có khẩu hiệu như trên và tề làng Tân Thới Nhứt thấy ở xóm Đông Lân 3 áp phích, 1 lớn, 2 nhỏ đem nộp cho Bétallle(1). Ngày 7-11-1940, đúng dịp kỷ niệm cách mạng tháng Mười Nga, một số nơi trong tỉnh Gia Định xuất hiện truyền đơn, tuy có ít hơn so với những tháng trước. Tề làng Thạnh Lộc, Tân Thới Hiệp, Bình hưng Hòa mang nộp cho quận trưởng Lê Văn Thạnh nhiều băng cờ truyên đơn, trong đó ghi: “Kỷ niệm 23 năm cách mạng! Ủng hộ Liên bang xô viết! Đánh đổ phát xít Pháp! Lập chính phủ dân chủ cộng hòa Đông Dương! Chống Xiêm Nhựt xâm lược! Liên hiệp nhơn dân Tàu chống Nhựt! Mặt trận dân tộc phản đế Đông Dương (1) Xem trong hồ sơ: IIA.45/292 (1). LT.2. TP.HCM. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười, 2010, 07:04:53 am Còn cò Bétaille, trưởng đồn Bà Điềm, 1 giờ sáng đi tuần đến các xóm, ruộng thuộc các làng Bình Hưng Hòa, Vĩnh Lộc thấy áp phích, 3 cờ đỏ treo trên cây cắm ở ruộng. Áp phích vẽ cờ búa liềm, ngôi sao và khẩu hiệu như trên.
Lúc 6 giờ sáng quay trở về, y lại thấy 4 cờ, áp phích treo trên cây tre cắm giữa ruộng ven đường làng số 8 đi Vĩnh Lộc và Tân Thới Nhứt, cách chợ Bà Điểm 1 kilômét. Khẩu hiệu viết ở áp phích như trên. Y liền cho gọi 6 người làng Vĩnh Lộc là Bùi Văn Quới, Lại Văn Kính, Trương Văn Nhung, Trần Văn Phinh, Trần Văn Tập, Lại Văn Sơ bị y tình ghi lên hỏi. Vì y gặp những người này trong lúc y đi tuần đêm(1)… Những đảng viên và quần chúng tốt được sung vào các đội tự vệ, du kích, xung kích đều tham gia học tập do các thầy nghề giỏi võ có cảm tình với cách mạng hướng dẫn. Thường thường anh em luyện tập vào ban đêm trong rừng cao su. Các môn học như đánh côn, đánh quyền, roi, kiếm, tập nhảy cao, chạy nhanh, vật, võ. Gần khởi nghĩa có cán bộ ở trên xuống dạy cách đánh đồn, đánh du kích, phá hoại… Đồng chí Oắng phụ trách Gò Vấp được đồng chí Lê Văn Khương huấn luyện về du kích 3 lần ở Cầu Sa phía gò Mây, 1 lần 3 ngày, 1 lần 2 ngày và 1 lần 1 ngày(2). Tỉnh ủy, Quận ủy phải lo trang bị vũ khí cho tự vệ và du kích như kiếm, dao dài, dao ngắn, búa, xà beng, cưa cá mập, mủ cao su, bao bố, giây thừng… Xã và anh em cũng tự tìm hoặc mua sắm. Các chi bộ quyên hoặc mua sắt cun cáp cho các lò rèn dao găm, kiếm… Tỉnh ủy cũng quan tâm đến công tác binh vận, tuyên truyền, khêu gợi lòng yêu nước trong binh lĩnh mã tà, một số tỏ thái độ cảm tình với cách mạng. Nhưng, công tác tuyên truyền vận động lính thủ hộ (briagde garde civile mobile) thì khó khăn. Ban binh vận đã tình hìnhến hành điều tra vị trí, quân số sở hiến binh, trại lính thủ hộ, mã tà và một số cơ quan cai trị trong tỉnh, một số đồn bốt… Sau Hội nghị ngày 15-11 của Ban Thường vụ Xứ ủy tại Hóc Môn, quyết định khởi nghĩa, đồng chí Lê Văn Khương triệu tập ngay tỉnh ủy, Ban Khởi nghĩa tỉnh mở rộng đến các đồng chí lãnh đạo các quận. tham dự hội nghị có đồng chí Giáp tỉnh ủy viên trong ban khởi nghĩa tỉnh, đồng chí Hà Đăng Nam cán bộ của Xứ tăng cường cho Gia Định, các đồng chí Nguyễn Văn Sáng bí thư quận ủy Hóc Môn, đ/c Cỏ quận ủy viên, đồng chí Tiến và đồng chí Phúc quận ủy Gò Vấp, hai đồng chí quận ủy Đức Hòa (lúc này quận Đức Hòa đang có liên hệ với Gia Đinh dưới sự lãnh đạo của Liên tỉnh ủy Gia Đinh, sau này lúc khởi nghĩa không thành công, các đồng chí Đức Hòa đã cùng với nghĩa quân Gia Định kéo lên Truông Mít, Tây Ninh)… Hội nghị nghe đồng chí Khương phổ biến tình hình chung, nghị quyết khởi nghĩa của Xứ ủy, nhất là nhiệm vụ xứ ủy giao cho Gia Định. Hội nghị nghe các quận báo cáo về công tác chuẩn bị và tình hình thực lực cho đến lúc đó. Hội nghị thấy rằng phía Thủ Đức và Nhà Bè phong trào chuẩn bị chưa mạnh bằng Gò Vấp, Hóc Môn, nhưng Xứ ủy đã quyết định khởi nghĩa, không thể chần chừ chơ đợi. Tỉnh ủy và ủy ban khởi nghĩa cần có cán bộ tăng cường giúp đỡ, trước mắt tổ chức, huấn luyện những đơn vị cảm tử đưa vào tham gia đánh chiếm những nơi quan trọng trong thành phố… Hội nghị đã vạch ra kế hoạch lãnh đạo cuộc nổi dậy của quần chúng ở Gia Đinh đại thể như sau: - Các quận Gò Vấp, Nhà Bè, Thủ Đức có nhiệm vụ lựa chọn những đảng viên, quần chúng cốt cán, khỏe manh có tinh thần cách mạng cao, phiên chế thành từng đội, nhóm, trang bị vũ khí thô sơ, chuẩn bị sẵn sàng, khi có lệnh sẽ tiến vào thành phố tham gia khởi nghĩa tại thành phố. Ngày, giờ đợi mệnh lệnh của Xứ ủy. Địa điểm tập kết khẩu lệnh, phương tiện di chuyển và thành phố… do đồng chí Lê Văn Khương phổ biến. Bộ phận tham gia khởi nghĩa tại thành phố do đồng chí Khương trưởng ban khởi nghĩa tỉnh trực tiếp chỉ huy. - Quận Gò Vấp, ngoài lực lượng tham gia khởi nghĩa ở thành phố Sài Gòn, tại địa phương lãnh đạo quần chúng nổi dậy đánh chiếm các đồn bốt Bà Điểm, Phú Lâm, Bình Trị, Chợ Gạo, Vườn Tiêu, Ngã năm Vĩnh Lộc… phá tề làng, tổng. - Quận Hóc Môn, đánh chiếm quận lỵ Hóc Môn, phá tề làng phá cầu, phá cột điện, cắt giây điện, chặt cây ngăn đường giao thông. Đưa lực lượng xung kích tham gia khởi nghĩa ở thành phố.. Trong khi huy động quần chúng xuống đường biểu tình hỗ trợ việc đánh chiếm các nơi nói trên, chú ý việc cản trở giao thông tạo điều kiện cho các đội xung kích đánh chiếm xe địch, cướp vũ khí trang bị cho nghĩa quân. Cuối cùng, đồng chí Khương nhấn mạnh: Tất cả các đồng chí phải nêu cao tinh thần kỷ luật, nghiêm chỉnh thực hiện kế hoạch khởi nghĩa đã bàn. Mệnh lệnh cuối cùng và ngày giờ, mật hiệu do Xứ ủy quyết định và sẽ được chuyển tới các nơi bằng đường nhanh nhất. (1) Hồ sơ: Activités communistes. 23e - Annivrsaire (du) triomple de la Bévolution Russe (7-11) 1940. IIA. 45/204 (7)TT. LT2. TP.HCM (2) Bản ý kiến đ/c Oắng về Nam Kỳ Khởi nghĩa. Lưu trữ Ban NCLSĐ. Trung ương, ký hiệu 19 NK. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười, 2010, 07:06:18 am 2. Cuộc khởi nghĩa bùng nổ
Mệnh lệnh khởi nghĩa đến Gia Định rất sớm, vì đồng chí Lê Văn Khương là thành viên cùng được họp bàn quyết định với đồng chí Tạ Uyên, bí thư Xứ ủy. Mệnh lệnh đó nhanh chóng được truyền đạt tới các cấp. Nhưng chính vào lúc đó, địch cũng đã viết và ra lệnh bắt bớ ngăn chặn. Tuy nhiên, khác vứi nội thành Sài Gòn và tỉnh lỵ Gia Định, vùng nôn thôn các quận của tỉnh Gia Định quá rộng, lực lượng trấn áp của địch mỏng, trái lại cơ sở cùng phong trào cách mạng của ta lại rất mạnh, cho nên du Pháp có tăng cường tuần tra canh gác cũng không thể nào ngăn cản được quần chúng nổi dậy như vũ bão. Ngay từ chiều 22-11, lực lượng được tuyển chọn ở các quận Gò Vấp (Xuân Hòa, Thới Hòa, Vĩnh Lộc, Bình Hưng Hòa… thuộc Tổng Bình Chánh Thượng), Nhà Bè, Thủ Đức, chia thành từng toán nhỏ, dùng các phương tiện xe thổ mộ, xe điện, đi bộ… đến địa điểm tập kết đã quy định, đợi giao thông liên lạc và phương tiện chuyển đến đánh phá khám lớn và một số nơi phân công như Gia Định. Trang phục của những đội xung kích này rất gọn nhẹ, quần cụt, áo bà ba đen, cổ tay cột khăn trắng làm hiệu, trang bị dao găm, gươm, dây thừng, bải bố và mủ cao xu làm chất cháy… Đến gần nơi tập kết, anh em nghĩa quân tản khắp chỗ đợi lệnh. Nhưng đến nửa đêm, tới giờ rồi vẫn chưa thấy liên lạc đến đón. Phía thành phố cũng không thấy tiếng súng nổ, đèn thành phố vẫn sáng. Biết là không xong rồi, vì thấy ô tô của địch chạy gầm, rú tuần tra khắp các lộ. Nghĩa quân liền bảo nhau quay về chiến đấu ở địa phương. Cũng có những đơn vị cố gắng nán lại chờ tin, nhưng không thể ở mãi, vì trời sắp sáng. 1. Quận Gò Vấp Các đồng chí Ban khởi nghĩa phân công mỗi đồng chí chịu trách nhiệm cùng với quần chúng các xã nỏi dậy uy hiếp và đánh chiếm các đồn Lang Cha Cả, Vườn Tiêu, Ngã năm Vĩnh Lộc, Bà Điểm, Phú Lâm… Trong trận đánh đồn Ngã Năm Vĩnh Lộc, các đồng chí bàn bày trò cờ bạc, vì bọn gác đồn rất ham đánh bạc. Cai Triều, bếp Dũng phụ trách đồn, đến đánh. 23 giờ, đúng lúc đang vui và cũng đã đến giờ quy đinh, ta liền tước hai súng. Bị mất súng bất ngờ và ta thuyết phục, 2 người quay về gọi đồn mở cửa. Nghĩa quân ập vào tước nốt 2 súng. Việc chiếm đồn diễn ra rất nhanh, gọn, nghĩa quân lấy được 4 súng và 48 viên đạn. Sau khi giáo dục, Cai Triều, Bếp Dũng và lính được cách mạng thả ngay trong đêm. Trong khi đó, nhân dân các xã chung quanh nổi trống mõ, phèng la, mang theo đuốc, đổ ra mừng thắng lợi. Đội xung kích dẫn đầu cùng nhân dân các xã man theo vũ khí thô sơ, hò reo kéo đến bao vây các đồn Lăng Chả Cả, Vườn Tiêu. Thấy trống mõ nổi khắp nơi, rất đông người kéo đến đầy khí thế, lính giữ đồn rút chạy. Một lực lượng nghĩa quân thuộc tổng Long Tuy Thượng đã phục sẵn trong các rừng Bà Kêu, rừng Ông Thê, rừng làng Trung Chánh Tây… sẵn sàng đánh chiếm đồn Bà Điểm. Nhưng có tin Pháp tăng thêm lính cho đồn và chúng tuần tra liên tục, cho nên nghĩa quân được cấp trên chỉ huy cho rút về xã. Trong khi nghĩa quân đánh đồn, một bộ phận khác có quần chúng giúp sức, chặt cây ngả xuống ngăn đường, cắt giây thép, phá cột điện. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười, 2010, 07:08:06 am 2. Quận Hóc Môn
Theo kế hoạch cảu Ban khởi nghĩa quận do đồng chí Nguyễn Văn Sáng bí thư quận ủy, lãnh đạo, nghĩa quân ở tổng xã có nhiệm vụ đưa quần chúng xuống đường phá nhà việc, chặt cây chặn đường, phá cầu, cắt giây thép ngay tại địa phương mình. Trọng tâm là đánh chiếm quận lỵ Hóc Môn, có bốn lực lượng tham gia: - Nghĩa quân Tổng Long Tuy Hạ, gồm 80 xung kích ăn mặc gọn, trang bị vũ khí thô sơ cùng hàng trăm quần chúng tập trung tại Ấp bến đò Tân Phú Trung, do đồng chí Nguyễn Văn Sáng lãnh đạo tiến về Hóc Môn. Trong đoàn nghĩa quân này có đồng chí Bình người Tân Phú Trung, chỉ huy chiến đấu rất ngoan cường can đảm. - Nghĩa quân Tổng Bình Thạnh Trung, do đồng chí Nguyễn Văn Cội chỉ huy, chia thành nhiều toán, mỗi toán từ 25 đén 30 xung kích từ Phú Hòa thôn xuyên qua đường An Nhơn đếu Cầu Dừa rồi phân tán qua ngõ Tân Hiệp, bí mật tiếp cận quận lỵ Hóc Môn. - Nghĩa quân thuộc Tổng Long Tuy Thượng, gồm các làng bao quanh quận lỵ Hóc Môn, có khoảng 40 xung kích và vài trăm quần chúng, tập trung tại làng Xuân Thới Trung (Tân Xuân) cách quận khoảng 2 kilômét, đợi giờ và đợi lệnh tiến vào quận. - Nghĩa quân tổng Long Tuy Trung ở xa hơn cả, do đồng chí Nguyễn Văn Dậy chỉ huy. Cánh này trên đường đi thấy đã quá muộn, không thể đến kịp giờ đã quy đinh, cho nên quay về khởi nghĩa ở xã. Riêng đồng chí Nguyễn Văn Dậy lấy xe đạp đi trước, đến kịp giờ nổ súng. Đồng chí chiến đấu rất dũng cảm và đã hy sinh trong cuộc đánh chiếm quận lỵ Hóc Môn. 0 giờ ngày 23-2, tất cả các cánh nghĩa quân đã về tựu đầy đủ hung quanh quận lỵ đợi lệnh. Phía Sài Gòn rất yên tĩnh. Không thể chờ đợi lâu, Ban khởi nghĩa hạ lệnh nổ súng và kêu gọi quần chúng xuống đường. lúc đó là 1 giờ 30 ngày 23. Rất nhanh chóng, nghĩa quân chiếm được Nhà việc xã, dinh quận và hầu như đã chiếm được đồn Hóc Môn. Quận Thọ và gia đình rút lên lầu cao cố thủ bắn xuống. Quân ta dùng súng đã chiếm được bắn lên kéo dài hơn hai giờ, đến gần sáng. Nghĩa quân quyết chiếm, có người tìm cách leo lên lầu cao, nhưng bị địch bắn rớt xuống. Do lầu cao kiên cố, ta lại chỉ có mấy khẩu súng trường và chưa có khởi nghĩa đánh đồn, cho nên quận Thọ thoát chết. Địch cho 6 lính ở đồn gần đó đến ứng cứu, nhưng trên đường đi một tên bị giết, 4 tên bị thương tháo chạy, một tên mất tích (có lẽ lẩn vào dân, trốn). Khi nghĩa quân tiến vào quận, chưa cắt được giây điện thoại quân Thọ đã kịp kêu cứu chủ tỉnh. Được tin báo quận Hóc Môn bị cộng sản chiếm giữ, từ Sài Gòn và tỉnh lỵ Gia Định, Pháp vội cho 2 viên cò 4 tên thanh tra, 3 tên sen đầm, 20 lính cảnh sát 30 lính mã tà trang bị đầy đủ súng ống kéo xuống. đồng thời báo cho tỉnh trưởng Thủ Dầu Một cho quân ứng cứu. Nhưng, vì phải đi đường vòng, do nghĩa quân đốn cây chặn đường, lại sợ bị phục kích, cho nên trời sáng rõ, chúng mới tới, thì nghĩa quân và quần chúng đã rút. Trong cuộc đánh chiếm quận lỵ hóc Môn, nghĩa quân thu được 8 trên 21 khẩu súng, 6 trên 13 lưỡi lê của địch, diệt 3 lính và làm bị thương 6. Phía ta, 2 nghĩa quân hy sinh, trong đó có đồng chí Nguyễn Văn Dậy, quận ủy viên, 17 quần chúng bị thương, để lại hiện trường 9 dao găm, 11 dao bếp, 2 dao cầu thái thuốc, 1 dù, nhiều băng khẩu hiệu, truyền đơn… Như vậy là, ngay sát nách thành phố, cơ quan cai trị đầu não của địch, nhân dân đã nổi dậy làm chủ quận lỵ trong khoảng 4 giờ đồng hồ, mặc dù chúng đã được báo trước và đã có đề phòng… Cùng vào lúc 23 giờ, cánh nghĩa quân thuộc Tổng Long Tuy Hạ, hoạt động tại chỗ, cắt giây điện thoại, ngả cây chặn đường Hóc Môn đi Trảng Bàng, kéo đến chiếm Nhà việc Tân Phú Trung, tước 4 súng, diệt một tên ngoan cố chống lại. Trên đường tiến về phía cầu Bông (Pháp gọi là cầu Tân Phú Trung cách Sài Gòn 24 kilômét) nghĩa quân gặp lính đồn Ba Điểm đi tuần. Thấy lực lượng quần chúng quá đông, chúng hốt hoảng bỏ chạy. Ta diệt đội Tước vì y bắn lại nghĩa quân. Nghĩa quân định phá cầu Bông, nhưng cầu kiên cố, anh chị em dùng mủ cao su và vải bố rải trên cầu đốt và cho bóc ván. Sau khi nghĩa quân rút đi, ô tô của chủ đồn diền cao su Arnaud mang tiền từ Sài Gòn về tây Ninh. Đến cầu, xe không qua được, Arnaud vào làng gọi tề cho dân ra sửa. Quần chúng cho đó là tên cò Bétaille, Trưởng đồn Bà Điểm rất ác độc, liền hò nhau cầm dao giết chế. Xe và tài xế cho đi, trên ôtô vẫn còn một vạn đồng Đông Dương. Sau vụ này Pháp cho xây ngay một đồn bảo vệ cầu. Nghĩa quân va quần chúng còn tiến hành mấy cuộc biểu tình biểu dương lực lượng nữa, nhưng tương quan lực lượng, địch mạnh hơn nên cuộc nổi dậy xuống dần. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười, 2010, 08:05:35 am 3. Sự tàn bạo của địch
Đối phó với cuộc nổi dậy của nhân dân Gia Định, đế quốc Pháp đã tàn sát rất dã man. Chúng cho xe tăng, xe thiết giáp lên quần thảo nát ruộng thuốc lá, hoa màu của đồng bào ta, đốt phá nhà cửa, cho cả máy bay lên ném bom tàn sát dân làng Tân Phú Trung, cho lệnh đốt làng, đốt rừng… Tên cò Etienne Bétaille, trưởng đồn Bà điểm như điên, như dại gặp ai bắn nấy, giết người xong, cắt tai xỏ xâu mang về tỉnh lỵ Gia Định để khoe “chiến tích” không thua gì bọn phát xít Hít le đang gây tội ác trên đất Pháp và Châu Âu. Dưới đây là một bức thư của người dân Gia Định gửi cho Toàn quyền Đông Dương tố cáo tội ác của đế quốc Pháp đối với nhân dân Gia Định, còn được lưu trữ trong hồ sơ của chúng “Sài Gòn, ngày 30 tháng Mười Một năm 1940 Thưa ông Toàn quyền, Chúng tôi là những người dân yên lành trong tỉnh Gia Định, nơi đã ó những hoạt động cộng sản, như ông đã biết. Ông Toàn quyền cũng đã biết, những người cầm quyền quân sự và dân sự đã tiến hành đàn áp… Nhưng điều mà ngài không biết, chính là những cuộc đàn áp ấy cực kỳ dã man, chúng tôi có thể nói là trái phép. Người ta đến vài làng, người ta bắt dân, phần nhiều là những người dân lương thiện (bởi vì đó chỉ là những người dân lương thiện, những người cộng sản, họ bao giờ cũng chạy thoát). Cho đến bây giờ cũng đúng như vậy. Còn những người dân khốn khổ ở trong ruộng ngập nước, mà những nhà cầm quyền mang giày không qua được, thế là họ bắn dân, bắn cả bằng súng liên thanh. Nhà cửa của dân bị các nhà cầm quyền đốt. Đã có bao nhiêu người bị ông cò Bà điểm bắn(1)? Họ bắn dân và họ để xác dân ở ruộng vườn. Mùi hôi thối thây người chết tỏa ra hàng trăm mét. Các ông mới lập một đồn ở cầu Tân Phú Trung cũng vì để đàn áp. Chúng tôi yêu cầu một cuộc điều tra và bất ngờ, không cho những người cầm quyền Pháp và khác của tỉnh Già Định biết trước. Những cuộc hỏi người nông dân sẽ sớm cho biết sõ sự thật. Người ta giết người như giết chó. Thật dã man! Và nhân danh công lý người ta làm những việc đó. Thật mỉa mai thay! Người ta giết người và người ta xẻo tai. Ông cò dũng cảm Bà Điểm ngay 27 tháng Mười Một năm 1940 đã cắt hai tai người và mang chiến công này về cơ quan thanh tra tỉnh Gia Định(2) Vì danh dự nước pháp, mong ông Toàn quyền hãy hành động. Ngài sẽ thấy sự thật và trách nhiệm”(3). Quận lỵ Hóc Môn thuộc tỉnh Gia định và vùng lân cận, được đế quốc Pháp lựa chọn làm một trong nơi dựng nhiều địa điểm xử bắn các chiến sĩ cách mạng để uy hiếp tinh thần nhân dân ta. Ngay trong lúc cuộc nổi dậy của quần chúng còn đang diên ra, Pháp đã xử và kết án 4 nghĩa quân tội tử hình vì đã nổi dậy ở Tân Phú Trung và giết Arnaud. 4 nghĩa quân là: - Phạm Văn Thêm, người Tân Phú Trung. - Trần Văn Đức, người Tân Phú Trung - Võ Văn Kiết, người Mỹ Thạnh, nhưng ở Tân Phú Trung - Nguyễn Văn Luân, ở Tân Thông. Vì sợ quần chúng kéo đến cướp lại những nghĩa quân, ngày 15-1-1941, Thống đốc nam Kỳ ra lệnh cho quân đội và chủ tỉnh Gia Định điều: Quân đội: Đơn vị thực hiện hỗn hợp (Peloton d’exécution mixte): 90 người Đơn vị dẫn giải; 25 người với xe tù. Mã tà Sài Gòn: 1 đơn vị hộ tống: 20 người, nếu cần thêm một số lính làng nếu ông yêu cầu. Về những xác người bị tử hình, theo luật pháp chôn trong một trả lại cho gia đình nếu họ muốn. Chuẩn bị trường hợp cuối cùng, đào sẵn một hố chung trong một nghĩa địa cạnh đó, thí dụ Chu Hòa hoặc trong khuôn viên nhà thương Gia Định(4). Từ đó cho dến hết năm 1941 sang năm 1942, đế quốc Pháp còn xử bắn hàng trăm chiến sĩ cách mạng tại Hóc Môn và mỗi lần chúng đếu phải chuẩn bị một lực lượng đông như thế. (1) Cò trưởng đồn cảnh sát Bà Điểm lúc bấy giờ là Etienne Bétaille. (2) Hành động này xảy ra 3 ngày trước khi viết lá thư này. (3) Thư viết bằng tay. Llưu Hồ sơ IIA. 45/222. TT.LT2. TP.HCM (4) Lệnh số 78c ngày 15-1-1941 của Rivoal thống đốc Nam kỳ. Hồ sơ: Những việc rắc rối tháng 11-1940. IIA.45/325 TT.LT2.TP.HCM. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười, 2010, 08:07:37 am 4. - Nghĩa quân Gia Định cố gắng duy trì lực lượng
Trong những ngày nổi dậy, nghĩa quân Gia Định đã làm chủ quận lỵ Hóc Môn khoảng 4 giờ, phá nhiều nhà việc, trừng trị một số ác ôn, lấy được 16 súng các loại, làm cho hệ thống tề làng, tổng rung động, đế quốc Pháp bất ngờ… Về phía ta một số nghĩa quân hầu hết là đảng viên, quần chúng cốt cán, bị bắt cho đến ngày 31-12-1940 hơn 360 người, nhiều nhà dân bị đốt, hoa màu bị phá hoại, nhiều người bị chết trong cuộc ném bom của phi cơ địch ở Tân Phú Trung. Do địch tung lực lượng lớn đàn áp, nghĩa quân phải rút và nhân dân tỏa về làng. Đêm ngày 25-11, nghĩa quân đánh quận Hóc Môn rút về rừng Cây Sộp làng Phước Vĩnh An. Tại đây nghĩa quân đã tổ chức lễ truy điệu đồng chí Dậy (quận ủy viên Hóc Môn), đồng chí Nghé, đồng chí Kinh và một số khác cùng đồng bào hy sinh trong cuộc nổi dậy ở Hóc Môn. Mấy ngày sau, nghĩa quân theo đường rừng cao su Huỳnh Công Trí ra ngã ba Ấp đồn rồi băng đồng bưng về Tân Phú Trung. Đi tới đâu cũng được bà con tiếp tế. Từ Tân Phú Trung Nghĩa quân kéo sang Giồng Ông Hòa (còn gọi là Vọng Hòa), thuộc quận Đưc Hòa (Chợ Lớn). Tại đây, ba cánh nghĩa quân Hóc Môn, Gò Vấp và Đức Hòa đã gặp nhau. Nghĩa quân Đức Hòa sau khi diệt quản Nên, Bếp Nhung và chuẩn bị đánh quận Đức Hòa mấy lần không thành, bị máy bay địch và quân chính quy địch truy kích cũng rút về đây. Sau đó, tất cả kéo về Đức Lập. Đồng bào và cả tề làng đã tiếp tế cho nghĩa quân rất chu đáo. Biết tin địch tổ chức đánh, nghĩa quân chuẩn bị phục kích, nhưng như thế nhân dân sẽ bị khủng bố. Nghĩa quân quyết định rút về vườn điều làng Tân Phú Trung (Hóc Môn). Một cuộc họp giữa các đồng chí lãnh đạo ba bộ phận nghĩa quân để bàn việc thống nhất chỉ huy và kế hoạch đối phó với đế quốc Pháp đang truy lùng nghĩa quân. Việc thống nhất lực lượng được nhất trí nhanh chóng, mỗi cánh quân cử từ 1 đến hai người vào Ban chỉ huy đội, lấy tên là Đội nghĩa quân Hóc Môn - Gò Vấp - Đức Hòa, gồm 150 người trong đó có một phụ nữ tham gia. Trong bay chỉ huy có những đồng chí kiên cường và nổi danh lúc đó như đồng chí Đặng Công Bỉnh người Tân Phú Trung tham gia chỉ huy đánh Hóc Môn, các đồng chí Nguyễn Văn Yến (tức Năm Hổ) hoạt động từ những năm 1936, Bí thư Quận ủy Đức Hòa, Lê Văn Lao 23 tuổi, Phó bí thư Quận ủy và cả người chưa tham gia Đảng, nhưng hoạt động rất hăng hái kiên cường như Huỳnh Văn Một (tức Ỷ), đã từng đi lính tập, nhiều kinh nghiệm quân sự. cả ba người Đức Hòa… Về việc đối phó với địch, hầu như tất cả đều nhận thấy, đế quốc đã huy động lính chính quy, lính lê dương, lính Miên, xe cơ giới, thiết giáp, súng máy kể cả máy bay, đối phó với cuộc đấu tranh của nhân dân. Nghĩa quân không thể đủ sức chống lại chúng, cho nên cần rút lên Truông Mít (Tây Ninh, từ đó tìm đường ra phía Bắc, theo đường dẫy Trường Sơn. Trong khi bàn, anh Huỳnh Văn Trí, người Bà Quẹo (Gò Vấp) cho rằng việc rút ra phía Bắc nguy hiểm và khó thực hiện. bởi vì, đường xá ta chưa biết, nhân dân ta chưa hiểu, không có dân thì không có người cho lương ăn, chỉ đường và bảo vệ. Huỳnh Văn Trí(1) và một số anh em Gò Vấp tỏ ý muốn ở lại và dựa vào vùng Đồng Tháp Mười để duy trì lực lượng và chiến đấu. Đại bộ phận rút lên Truông Mít, dựa vào nhân dân địa phương tiếp tế lương thực. Địch cài chỉ điểm vào trong hàng ngũ nghĩa quân, biết được đường đi, cùng nơi ăn, ở sinh hoạt của nghĩa quân. Chúng tổ chức nhiều cuộc bao vây phục kích. Nghĩa quân ở trong tình trạng luôn luôn phải đối phó với những cuộc càn quét của địch, cộng thêm Pháp tìm mọi cách ngăn dân tiếp tế cho nghĩa quân, cho nên nghĩa quân lại phải quay về địa phương. Một số trở về nhà, còn một số người Gia Định theo anh em Đức Hòa về Đồng Tháp Mười(2). (1) Huỳnh Văn Trí là dân anh chị ở Gò Vấp, năm 1931 bị tù khám lớn, gặp đồng chí Phạm Hùng, Trí đã phục người cộng sản. Mấy lần ở tù Côn Đảo, Trí lại càng hiểu về cộng sản hơn. Năm 1940, Trí tham gia khởi nghĩa. Sau đó lại bị đưa đi tù Côn Đảo. Kháng chiến chống Pháp Trí là người chỉ huy dũng cảm một đơn vị. Được Huỳnh Phú Sổ phong Sư Thúc, Trí trở thành người lãnh đạo Hòa Hảo. Trí đã tham gia đảng cộng sản. (2) Một số sự kiện, nhân vật viết ở đoạn này, chúng tôi dựa vào bản: Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ của Gia Định (năm 1940). Hệ thống sự kiện (1859-1940) của Ban nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh Gia Định. Lưu trư BNCLSĐ. TP.HCM. Bản đánh máy 34 trang ký hiêu: B40-3/217. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười, 2010, 08:08:40 am Tình hình nghĩa quân trong thời gian ở Truông Mít ra sao, cả về lực lượng, chiến đấu, sinh hoạt thế nào, hầu như không có tài liệu để lại, kể cả trong nhiều cuộc tọa đàm về cuộc K.N.NK không thấy nhắc tới.
Ở đây, chúng tôi dẫn một tài liệu báo cáo của một tên chỉ điểm của viên quận Hậu, quận trưởng Đức Hòa (Chợ Lớn) được cài theo nghĩa quân ngay sau vụ nghĩa quân giết quản Nên và bếp Nhung ở Đức Hòa. Đây là tình hình nghĩa quân nhìn theo cách nhìn của một tên chỉ điểm, để tham khảo. Chỉ điểm tên là Nguyễn Văn Chàm, sinh năm 1899, thẻ thân số 09821, người Mỹ Hạnh. Ngày 15-12-1940, quận Hậu cho Chàm 10 đồng (Đông Dương) làm tiền lộ phí đi dò la nghĩa quân. Nội dung báo cáo viết: Tôi theo dấu vết của Yến (Nguyễn Văn Yến tức Năm Hổ) và Một (Huỳnh Văn Một tức Huỳnh Văn Ỷ) đến tận Giồng Ông hòa và Đức Lập. Không gặp được hai người này, nhưng tôi thấy Phó Công, một tề nhỏ có cảm tình với cộng sản ở Đức Lập. Công thường lấy tin cung cấp cho cộng sản. Công hứa sẽ giới thiệu tôi với Yến và Một. Công hẹn ngày 2-12 dẫn tôi đi gặp, nhưng hôm đó quan Quận lại bắt Công. Tôi đến Cầu Khởi, lên tới Mỹ Hạnh (vẫn thuộc đất Đức Hòa). Tại đây, tôi gặp Re và Tên. Hai người này nói cho tôi biết Yến và Một đang ở nhà tên Thảo làng Xuân Thới Sơn (Gia Định). Tôi nói với Re và Tên dùng thuyền qua dầm làng đến nhà Thảo (làm thầy thuốc. T.G.). Tại đây, tôi đã gặp được Yến và 6 người nữa, một người trẻ là bí thư cộng sản, một chánh đội trưởng. Hôm tôi gặp chỉ huy cộng sản, họ hỏi tôi mục đích. Tôi kể rằng tôi bị bao vây tứ phía, tôi đến đây để được nhờ bảo vệ. Cộng sản cho tôi 15 lít gạo, một gói cá khô và khuyên tôi tìm chỗ ẩn ở “Ao Ba làng” trong 5 ngày. Sau đó theo đi nữa, lên Truông Mít. Khi tới Truông Mít, tôi biết họ có 3.000 đồng (Đông Dương). Chi rồi (mua thức ăn T.G.), hiện còn 2.300 đồng, do chánh đội trưởng giữ. Chỉ huy của họ có 5 súng, 4 mousquetons, 50 viên đạn, 1 súng calibre 24 và 9 viên đạn. Ở truông Mít tất cả có 81 người. 35 Tân Phú Trung 12 Mỹ Hạnh và Đức Hòa 33 Tân Sơn Nhứt, Bà Quẹo, Hóc môn. có 15 súng calibre 24 và 100 viên đạn 5 súng mousquetons không kể súng lục của Yến. Sau mấy cuộc chạm trrán (với quân đội Pháp), một số chết và bị thương, phần lớn giải tán đi các nơi. Tôi theo 15 người (phần lớn là người Đức Hòa T.G.) trở về Mộ Ba Làng, Gia Định, với 6 súng trong đó có 4 mousquestons, 2 súng lửa (fusils gras) và 1 súng lục của Yến. Tôi gửi những tin tức thu lượm được cho ông quận trưởng Đức Hòa qua Hương Giáo ở Mỹ Hạnh. Nhưng viên tề này báo cáo những tin ấy không đúng cho ông Quận trưởng, cho nên ngày 15-1-1941 (tức là 1 tháng kể từ ngày tên Chàm ra đi T.G.) ông Cò Bà Điểm chỉ bắt Thảo và tên thư ký bé con. Tên thư ký khai man với ông cò là của con Thảo. Vì vậy ông cò thả hắn cùng với tên Thảo. Các nhà chức trách vây một nhà khác, như nhà Thảo. Tên chánh đội trưởng, một “thị Ba” nào đó (có thể đây là nữ nghĩa quân Tơ, em ruột của Yến (Năm Hổ) và là người yêu của Lê Văn Lao, Phó bí thư quận ủy Đức Hòa T.G). Một và Yến trốn được về làng Thới Ni mang theo dụng cụ in truyền đơn, 4 súng và một súng lục, bằng đường nhỏ rậm rạp… Tên chánh đội trưởng đã đi Sài Gòn để bắt liên lạc với người của Nguyễn Ái Quốc ở Trung Quốc giử về liên lạc với bọn phiến loạn ở đây. Các tên Yến va Một đã đi Thủ Dầu Một để trao đổi với một hoặc hai người Trung Quốc ở đó, chỉ cho cách làm bom. Phong trào khởi nghĩa này nói cho đúng, chưa hoàn toàn bị dẹp, những người cộng sản chưa chịu bị đánh bại. Trong sáu tháng nữa, một phong trào khác có thể xảy ra mạnh và nghiêm trọng hơn. Nguyễn Ái Quốc lúc đó đã gửi 200 máy bay Trung Quốc tới Đông Dương, giúp đảng cộng sản Đông Dương và những người Nam kỳ tiến hành chiến tranh. Để giết hẳn chủ nghĩa cộng sản và phòng giữ Đông Dương khỏi mọi nguy hiểm biến động nghiêm trọng, cần phải bằng mọi giá bắt bọn chánh đội trưởng, Yến, Một… Các tên Di và Sung cùng tôi từ Ao Ba Làng đến nhà Thảo (Xuân Thới Sơn), Di và Sung được chánh đội trưởng giao cho một cây súng lửa Calibre 24 và 9 viên đạn. Tôi rủ hai ngươi về Mỹ Hạnh. Rồi tôi cho em tôi đến báo cho hương quản, bảo y đi báo cho quận trưởng Đức Hòa. Quận trưởng cho tề và lính lang đến Mỹ Hạnh và vây bắt cả ba người vào lúc 5 giờ sáng ngày 19-1-1941… Hiện nay, họ đã biết tôi đứng về phía chính phủ. Tôi không thể đi làm chỉ điểm được nữa. Nhưng tôi giới thiệu với các quan hai người là Tên và Hẹ. Họ sẽ thay tôi lấy tin tức cho các quan. Tôi tiếp tục trung thành với các quan, hết lòng phục vụ các quan, theo các cuộc vây càn của các quan. Ngày 20-1-1940(1). (1) Xem trong: Báo cáo về phong trào khởi nghĩa tháng 11 năm 1940 ở quận Đức Hòa (Chợ Lớn). Hồ sơ K.H.IIA. 45/326 (1/5). TT.LT2. TP.HCM. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười, 2010, 08:10:36 am Hôm sau, ngày 21-1-1941, hai tên Tên và Hẹ đến trình diện quận Hậu và quân Hậu chuẩn bị tổ chức một cuộc càn quét vùng Xuân Thới Sơn (Gia Định).
Ngày 26-1-1941, có sự thỏa thuận trước của quận Thọ, quận trưởng quận Hóc Môn, quận Hậu (Đức Hòa) mang theo súng máy và 40 lính tới Xuân Thới Sơn. Trên đường từ Đức Hòa đi Hóc Môn, cách Đức Hòa 3 kilômét, bên bờ một đầm lầy giáp ranh Mỹ Hạnh và Xuân Thới Sơn, trong một gian nhà lá của Bà Mười Bài (chồng là nghĩa quân đã bị Pháp bắt, đang giam ở nhà tù, quân của quận Hậu thấy có nhiều nghĩa quân. Quận Hậu ra lệnh cho linh tiến từ từ thận trọng, nấp sau các gò mả, còn cách lán 100 mét, thì từ phía nghĩa quân bắn 3 phát. Trong khi đó, 15 nghĩa quân phục sẵn cách đó vài trăm mét nhả đạn. Quân của quận Hậu nằm rạp xuống tránh đạn và tia súng máy như vãi đạn. 5 nghĩa quân trong lán cùng nghĩa quân phục bên ngoài bảo vệ, rút theo đường bụi rậm đầm lầy về phái Mỹ Hạnh… Sau đó kéo vào Đồng Tháp Mười chiến đấu bên cạnh nghĩa quân căn cứ Mớp Xanh - Bo Bo. Chúng tôi sẽ trình bày cuộc chiến đấu tiếp diễn tại đây ở phần cuộc khởi nghĩa ở Tân An. Khi nghĩa quân rời Truông Mít, ngoài số anh chị em người Đức Hòa rút về địa phương như trên đã nói, một số về làng, một số khác tuy người Gia Định, nhưng cũng kéo vào Đồng Tháp Mười, tiếp tục cuộc chiến đấu. Riêng toán nghĩa quân Tổng Long Tuy hạ theo đồng chí Đặng Công Bỉmh trở về Tân Phú Trung. Trên đường về nghĩa quân mấy lần chạm trán với địch đang truy lùng. Toán đồng chí Bỉnh lần vê tới ấp Xóm Mới thuộc làng Trung lập, thì bọn chỉ điểm phát hiện. Chúng liền báo cho tề nổi mõ báo động và huy động dân bao vây. Đồng chí Bình hạ lệnh cho nghĩa quân tản ra lẩn tránh, còn đồng chí chui vào một cây rơm để ẩn núp, nhưng do vội vàng sơ ý để lộ đầu súng ra ngoài. Tên Rường, cháu Hương quản Tước trông thấy liền nổ súng, trúng gẫy chân đồng chí Bình. Bọn tề xua dân vào bắt đồng chí Bỉnh. Nhưng dân cứ đứng ngoài, không làm theo lệnh bọn tề. Hương quản Tước lên tiếng dọa dân: “Các người theo cộng sản hay sao mà không chịu vào bắt cộng sản?”. Thấy vậy, tuy bị gẫy chân, đồng chí gắng gượng nói với người dân: “Tôi còn súng đây, nhưng tôi không bắn lại nhân dân”. Nó xong, đồng chí giương súng bắn lên trời một phát. Đồng chí nói tiếp: “Súng đạn này để bắn vào đầu bọn đế quốc Pháp, đuổi chúng đi, giành lại độc lập tự do cho nhân dân ta. Tôi không làm hại gì nhân dân. Bỉnh này có chết con trăm ngàn Bỉnh khác, còn nhân dân, cách mạng tnước ta nhất định thành công”. Hương quản Tươc bảo tên Rường cháu y, bắn chết đồng chí Bỉnh, vì chúng sợ không dám đến gần. Cai tổng Lệnh nhanh chân vội vàng đến gần đồng chí Bỉnh, nói để y cõng và gọi xe thổ mộ đưa đồng chí Bỉnh về quận, lập công với quận Thọ. Sau đó cai tổng Lệnh được khen thưởng. Bắt đồng chí đồng chí Bỉnh, quận Thọ rất súng sướng, y cho người săn sóc vết thương và giở trò tranh thủ, hy vọng đồng chí Bỉnh khuất phục. Nhưng đồng chí Bỉnh rất vững vàng, tỏ thái độ không đội trời chung với bọn đế quốc cướp nước và tay sai. Cuối cùng chúng đưa đồng chí Bỉnh ra tòa, kết án tử hinh và đem thi hành ngay tại Hóc Môn. Quần chúng rất kính phục tinh thần chiến đấu và thái độ bất khuất trước kẻ thù của đồng chí Bỉnh. Địch gọi đồng chí Bỉnh là “nguyên soái Bỉnh”(1). Đế quốc Pháp xử bắn đồng chí Bỉnh cùng lúc với đồng chí Sáng bi thư quận ủy, chỉ huy đánh quận Hóc Môn và hai đồng chí nữa. Sau đó Pháp còn xử bắn một loạt đồng chí đảng viên và nghĩa quân nữa của Gia Định tại Hóc Môn, như các đồng chí Vàng, vợ đồng chí Giềng, vợ đồng chí Phi, đồng chí Lạc, đồng chí Tư…(2). (1) Theo tài liệu: Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ của Gia Định. Như trên đã dẫn. Ký hiệu B40-S/217. (2) Theo tài liệu: Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ của Gia Định. Như trên. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười, 2010, 08:12:31 am III. - CUỘC NỔI DẬY Ở CHỢ LỚN
Chợ Lớn(1) có vị trí rất quan trọng, nằm sát cạnh thành phố Sài Gòn. Phần đất tỉnh lỵ Chợ Lớn được đô thị hóa nhanh chóng dưới chế độ cai trị và khai thác của thực dân Pháp, cho nên Pháp chủ trương cắt ra và nhập với Sài Gòn thành thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn. Chợ Lớn là đất có truyền thống cách mạng lâu đời. Từ khi đế quốc Pháp xâm lược, ở Chợ Lớn liên tục có phong trào yêu nước nổi dậy chống thực dân Pháp. Khi Đảng cộng sản thành lập năm 1930, tại Chợ Lớn đã có cơ sở đảng và phong trào cách mạng do Đảng lãnh đạo khá mạnh, nhất là ở các xã Đức Hòa, Mỹ Hạnh, Hữu Thạnh, Bình Tả, Hòa Khánh, Tân Phú Thượng (Đức Hòa), Bình Trị Đông, Tân Tao (Trung quận)… Cuộc biểu tình ngày 4-6-1930 của 1.500 nông dân cá xã Hữu Thạnh, Mỹ Hạnh, Đức Hòa kéo vào quận lỵ Đức Hòa do đồng chí Châu Văn Liêm, phụ trách liên tỉnh ủy Gia Đinh - Chợ Lớn, đích thân lãnh đạo, là sự kiện lịch sử truyền thống của phong trào cách mạng tỉnh Chợ Lớn, đồng thời gây ấn tượng mạnh làm cho bọn cai trị tỉnh Chợ Lớn luôn luôn quản ngại mỗi khi chúng nhắc tới. Chính trong cuộc biểu tinh này, theo lệnh của tên Renault, chủ tỉnh Chợ Lớn và tên chánh mật thám Nam Kỳ Nadaud, viên sen dầm Dreuil đã bắn đồng chí Châu Văn Liêm, chỉ cách có 2 mét… Trong cuộc vận động dân chủ chống phả động thuộc địa và tay sai, chống phát xít và chiến tranh xâm lược, đòi tự do, cơm áo, hòa bình (1936-1939), phong trào của tỉnh Chợ Lớn khá mạnh. 1. Công tác chuẩn bị Từ tháng 4-1940, Tỉnh ủy Chợ Lớn đã được thông báo tinh thần đề cương khởi nghĩa của xứ ủy, nhưng phải sau mấy cuộc hội nghị chính thức của Xứ ủy tháng 7 và tháng 9-1940, mới được phổ biến kỹ càng và Tỉnh ủy chủ trương thực hiện nghị quyết của Xứ ủy. Đồng chí Dương Công Nữ, Xứ ủy viên được phân công tiến hành công tác chuẩn bị và lãnh đạo cuộc nổi dậy giành chính quyền ở Chợ Lớn và hỗ trợ cho cuộc khởi nghĩa ở thành phố Sài Gòn. Trong công tác tuyên truyền: vạch âm mưu thâm độc của bọn phát xít Pháp - Nhật, kêu gọi quần chúng đấu tranh chống sưu cao, thuế nặng, vận động quần chúng gia nhập các hội phản đế, ngoài hình thức rải truyền đơn, mít tinh nói chuyện, các quận ủy còn dùng cả hình thức báo chí, như ở Đức Hòa xuất bản tờ báo bí mật Dân nghèo, ra từ những năm 1937-1938 được duy trì cho đến lúc khởi nghĩa. Đảng bộ càng chú trọng vận động quần chúng phản đối việc bắt lính, tiến hành việc giải thích chính sách của Đảng cũng như âm mưu của địch trong binh lính tại ngũ của Pháp. Về công tác chuẩn bị lực lượng vũ trang, các quận, tổng đều thành lập đội du kích, mở lớp huấn luyện quân sự, mua sắm vũ khí. Trung bình mỗi xã có từ 10 đến 15 du kích, nhưng có nơi tới một trung đội như xã Long Hiệp thuộc tổng Long Hưng Hạ (Trung quận)… Các đội du kích ngoài việc học đánh võ, côn quyền, kiếm, phóng lao, tên, một số động tác quân sự cơ bản, còn học công tác phá hoại cầu đường, cứu thương, đánh trận giả (như ở Đức Hòa) có Huỳnh Văn Một đã đi lính cho Pháp giải ngũ, hướng dẫn). Lãnh đạo chung cuộc khởi nghĩa toàn tỉnh do đồng chí Dương Công Nữ (không có Ban khởi nghĩa tỉnh). Ở cấp quận, tổng đều thành lập Ban khởi nghĩa. Cấp quận đều do đồng chí Bí thư quận ủy làm trưởng Ban khởi nghĩa, như Trung quận do đồng chí Nguyễn Văn Nhâm; Cần Đước - đồng chí Phan Văn Mảng; Cần Giuộc đồng chí Nguyễn Thị Bảy; Đức Hòa đồng chí Nguyễn Văn Yến (tức Năm Hổ). Thành viên trong Ban khởi nghĩa phần lớn gồm các đồng chí đảng viên, nhưng cũng có quần chúng cốt cán dũng cảm có nặng lực và hăng hái hoạt động. Các xã cũng có Ban khởi nghĩa, nhưng chưa đều khắp. Riêng tổng Long Hưng Hạ (Trung quận) do đồng chí Dương Công Nữ, Xứ ủy viên kiêm bí thư tỉnh ủy phụ trách, đã lập được 6/7 Ban khởi nghĩa xã. Theo kế hoạch của Ban khởi nghĩa Xứ, mỗi quận của tỉnh Chợ Lớn phải tổ chức một đội quân tiếp ứng vào nội thành chiến đấu, dưới sự chỉ huy của Ban khởi nghĩa Xứ. Mỗi đội của quận thường có từ 60 đến 70 người. Đội của Trung quận do Nguyễn Văn Trấn, của Cần Đước do Nguyễn Đình Tri (Ba Tri), Của Cần Giuộc do Nguyễn Văn Trân và của Đức Hòa do Huỳnh Văn Một (Huỳnh Văn Tiến tức Ỷ) chỉ huy. Các đội đều tự trang bị, nhận mật lệnh, địa điểm tập kết, phương tiện di chuyển vào phút chót do đồng chí Nữ phổ biến. (1) Tỉnh Chợ Lớn có 4 quận: 12 tổng, 72 làng. Đức Hòa: 2 tổng, Tổng Cầu An thượng: Lộc Giang, An Ninh, Hiệp Hòa, Tân Phú Thượng, Đức Lập, Mỹ Hạnh, Hòa Khánh, Đức Hòa. Tổng cầu An Hạ: Hữu Thạnh, Lương Hòa, An Thạnh, Tân Tạn, Tân Nhựt, Tân Bửu. Quận trưởng: Tri phủ Nguyễn Hữu Hậu. Trung quận: 3 tổng, 15 xã. - Tổng Long Hưng Thượng: Bình Trị Đông, Tân Tạo, Tân Nhật, Tân Kiên, An Lạc. - Tổng Long Hưng Trung: An Phú Tây, Tân Túc, Bình Chánh. - Tổng Long Hưng Hạ: An Thạnh, Thanh Hà, Phước Lợi, Long Hiệp, Long Phú, Tân Bử. Cần Giuộc: Quận trưởng, Tri phủ Sửu. Cần Đước: - Chủ tỉnh: Gouttes Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười, 2010, 08:13:30 am 2. Cuộc khởi nghĩa bùng nổ
Mệnh lệnh khởi nghĩa của Xứ ủy tới tỉnh Chợ Lớn về tới cac quận không cùng một lúc, cho nên việc thực hiện không đồng loạt. Dứoi sự chỉ huy của đồng chí Dương Công Nữ, nghĩa quân của tỉnh Chợ Lớn chia làm hai lực lượng: Một lực lượng được chọn những người trung kiên của Trung Quận, Cần Đước, Cần Giuộc, Đức Hòa, nằm dọc đường chiến lược số 4, Sài Gòn đi Miền Tây, đưa lên hỗ trợ và tham gia nổi dậy ở thành phố Sài Gòn. Một lực lượng nổi dậy tại chỗ. Về lực lượng đưa lên thành phố: Người của Trung quận tập trung tại Thanh Hà, khoảng 60 nghĩa quân chia làm hai cánh, một cánh theo đường thủy với 3 ghe vũ khí, xuất phát từ rạch Cây Trôm, lên tập kết ở Xóm Cúi (Sài Gòn), do đồng chí Cương và Lẹt chỉ huy. Một theo đường bộ bằng mọi phương tiện kể cả xe lửa, lên nội thành cùng tập kết ở Xóm Cúi do đồng chí Trấn chỉ huy. Quận Cần Đước cử 10 người của tổng Thượng do đồng chí Tri chỉ huy, 20 người của tổng Hạ do đồng chí Mão chỉ huy, sang nhập với nghĩa quân Trung Quận, đi lên thành phố. Nghĩa quân của Trung Quận và Cần Đước đã tập kết ở Xóm Cúi đúng giờ hẹn, tản ra rải rác trước các rạp xi-nê, quán giải khát cung quanh đầu cầu Xóm Củi. Mỗi người mang theo quần đui, áo cộc tay, một khăn tay trắng để buộc sát nách khi hành động. 3 thuyền vũ khí cũng đã vượt qua hai đồn Bình Điền và Rạch Cát lên tới chân cầu Xóm Củi, để phát cho nghĩa quân trước giờ hành động. Đúng 12 giờ khuya, đèn Sài Gòn và Chợ Lớn vẫn sáng, không thấy có tiếng súng nổ. Đồng chí chỉ huy cho anh em biết liên lạc với các nơi đã bị đứt, lính Pháp chặn các ngả đường ra vào thành phố, xét giấy tờ tất cả những ai qua đường. Lính đang đi chơi phố cũng bị đưa lên xe về doanh trại, có lẽ không xong rồi, cho nên đồng chí chỉ huy ra lệnh anh em rút về địa phương kể cả mấy thuyền vũ khí. Ở Đức Hòa, nghĩa quân Mỹ Hạnh và Hữu Thạnh do đồng chí Huỳnh Văn Một chỉ huy đã theo đường 9 đến tập kết ở Bàu Xen đợi xe camion, chuyển về thành phố. Nhưng đến giờ gần sáng, không thấy tiếng súng nổ, đèn phía Sài Gòn vẫn cháy và cũng không thấy xe đến, đồng chí Huỳnh Văn Một vội cho nghĩa quân rút về Giồng Cám. Còn ở Cần Giuộc, khoảng 100 nghĩa quân, trong đó có anh em Bình Xuyên, đồng chí đồng chí Nguyễn Văn trân chỉ huy, đã tập trung tại xóm Các Chú và vùng Chánh Hưng, đợi lệnh tiến vào thành phố, nhưng thấy cuộc khởi nghĩa ở Sài Gòn chưa nổ ra, cho nên đến gần sáng thì lực lượng này giải tán. Như vậy là cùng với Thủ Dầu Một, Gai Định, tỉnh Chợ Lớn đã đóng góp một lực lượng nghĩa quân quan trọng cho cuộc khởi nghĩa thành phố Sài Gòn, nhưng cuộc khởi nghĩa ở thành phố đã không nổ ra. Tuy nhiên, theo mệnh lệnh chung, quần chúng của tất cả các quận thuộc tỉnh Chợ Lớn đã vùng dây. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười, 2010, 08:14:15 am 1. Tại Trung Quận:
Khoảng 12 giờ trưa ngày 22-11, mệnh lệnh khởi nghĩa đã đến Ban chỉ huy tổng Long Hưng Hạ (nơi đóng cơ quan của đ/c Dương Công Nữ), rồi đưa tới các tổng khác. Ban khởi nghĩa quận tức tốc chuẩn bị lực lượng đưa lên thành phố, đồng thời các chi bộ xã sẵn sàng đưa quần chúng xuống đường vào nửa đêm ngày 22 rạng ngày 23-11. Đúng 0 giờ ngày 23, nghĩa quân chiếm Nhà việc An Thạnh, đốt hết hồ sơ sổ sách, rồi kéo sang chiếm Nhà việc Long Phú. Cuộc nổi dậy do đồng chí Nguyễn Văn Nhâm chỉ huy. Trước khí thế tiến công của quần chúng, lính mã tà bỏ chạy. Hương quản Kiên bị nghĩa quân An Thạnh đánh bất tỉnh, còn hương hào Phươc bị đập chết vì tội chống phá cách mạng… Nghĩa quân bao vây nhà tên phủ Trần Văn Cương, thu 1 súng. Đội du kích do đồng chí Bốn chỉ huy tiến đến Cầu Bến Lức tước 2 súng của lính và để cho lính về nhà. Còn ở nhà máy xay Năm Thông, đồng chí Khéo dẫn nghĩa quân đến tước 1 cây súng. Ở Long Phú, nghĩa quân chặn bọn lính đi tuần, chúng hoảng sợ bỏ chạy. Nghĩa quân đánh Tua Doi Lá, thu 2 súng; trong khi đó nghĩa quân có quần chúng cốt cán hỗ trợ cắt giây thép, đốn ngã cột điện và phá banh một đoạn đường sắt dài 3 kilômét từ Bến Lức đi Gò Đen (Gò Đen - Ngã ba Long Kim). Nghĩa quân do đồng chí Phan Văn Hảo chỉ huy chiếm đồn Gò Đen, còn tại Nhà việc Phước Lợi thấy nhân dân sôi sục, tề và lính bỏ chạy trươc khi nghĩa quân kéo tới. Ở Tân Bửu, nghĩa quân do đồng chí Chát chỉ huy, phá Nhà việc, đốt hết giấy tờ, thu 1 súng. Tại Thanh Hà, từ đêm ngày 22, nghĩa quân đã chiếm nhà việc treo cờ đỏ búa liềm. Sáng ngày 23, tước 1 súng của Hương quản Ngựa. Trước khí thế cách mạng của nhân dân, Hướng chánh Lung vội đem nộp 1 súng. Ở Mỹ Yên, nghĩa quân do đồng chí Lại Văn Dưỡng chỉ huy, tước 1 súng của Hương chánh Mười. Tổng Long Hưng Thượng do đồng chí Nguyễn Văn Kỉnh chỉ huy (sang tháng 1-1941 thì đồng chí Kỉnh được vào Xứ ủy Nam Kỳ, chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa lần 2) đã cử đồng chí Lê Công Thép đi liên lạc với thành phố Sài Gòn, khi được tin Sài Gòn không có nổi dậy, đồng chí Kỉnh đã ra lệnh phân tán lực lượng, nhưng địch vẫn bắt của ta một số đảng viên và cốt cán. Ngày 23-11, địch đưa lính về tăng cường cho bốt Thanh Hà, lùng bắt hơn 30 người (trong đó có 2 nghĩa quân, giam ngay tại xã. Ngay đêm đó, Thanh Hà cử người sang Long Hưng Hạ mượn thêm 3 súng, đến 9 giờ tối, nghĩa quân có hàng trăm dân làng hỗ trợ, bao vây bốt. Bọn lính hoảng sợ bỏ chạy, ta giải thoát được số người bị giam giữ. Mấy ngày tiếp theo, nghĩa quân tổng Long Hưng Thượng vây nhà Cai tổng Bắc, Hương quản Nhu, bắn gẫy chân tên này), Hương quản Ngời, Hương sư Khôi ở Tân Tạo, thu 2 súng. Sau đó nghĩa quân ở đây nhập với nghĩa quân Bình Hưng Đông (Gia Định), thành một đội du kích trên 30 người do đồng chí Nguyễn Văn Kỉnh chỉ huy. Lúc này đội chỉ dựa vào dân, tránh địch càn quét nhằm duy trì lực lượng cho cuộc khởi nghĩa tới. Nhưng chỉ khoảng một tháng sau, phải giải tán. Ngày 26-11, bọn tề dẫn lính đi bắt vợ chồng đồng chí Chất, dẫn qua xóm Ngọn (Long Phú), nghĩa quân chặn đánh phục kích, bắn bị thương Hương quản Rớt và Hương chủ Hiếu. Cuối tháng 11, sau 7 ngày nổi dậy, Ban khởi nghĩa tổng Hưng Hạ họp bàn, quyết định phân tán lực lượng, dân về làng, còn cán bộ, cốt cán lộ mặt, đi lẩn tránh nơi khác… Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười, 2010, 08:15:24 am 2. Quận Cần Đước
Ban khởi nghĩa quận do đồng chí Phan Văn Mảng, tỉnh ủy viên kiêm bí thư quận ủy, làm Trưởng ban. Ngày 22-11, một bộ phận được cử đi nhập với du kích Trung Quận để tiếp ứng cho thành phố, như trên đã nói. Khởi nghĩa của tổng Hạ (Khu B) còn lại, theo chủ trương của Ban khởi nghĩa chia làm hai bộ phận. Bộ phận thứ nhất gồm nghĩa quân 3 làng Phước Tuy, Tân Ân, Tân Chánh khoảng 100 người có nhiệm vụ đánh chiếm bắc (phà) Cầu Nối và kinh Nước Mặn. Bộ phận thứ hai, gồm nghĩa quân các xã còn lại của Tổng Hạ, khi nào thấy súng lệnh đánh chiếm quận lỵ, thì tiến vào phối hợp. Khoảng 10 giờ đêm ngày 22-11, có hai bộ phận đã vào các vị trí tập kết. Nhưng đội tiên phong của bộ phận thứ nhất đến cầu Chú Thơ (quận lỵ Cần Đước) thì đụng phải dân binh đi tuần. Chúng hoảng sợ, vừa chạy vừa la hét kêu cứu. Nghĩa quân đuổi theo bắt được 3 dân binh, nhưng bọn cai trị trong quận liền bố trí đối phó. Thế là kế hoạch đánh chiếm quận lỵ bị lộ trước giờ nổ súng. Bộ phận nghĩa quân thứ nhất phải phân tán rút lui. Mục tiêu đánh chiếm trại lính và dinh quận, diệt tên đội Bực khét tiếng ác ôn, không thực hiện được. Bộ phận thứ hai chờ mãi không thấy pháo lệnh của bộ phận thứ nhất, gần sáng thì có tin họ đã rút, cho nên cũng phải lui về Tân Lân, Phước Đông chờ lệnh mới. Sáng ngày 23-11, nghĩa quân tổng Hạ (Khu B) chiếm Nhà việc Phước Vân, Long Định, đốt toàn bộ sổ sách, treo cờ búa liềm trước nhà Việc. Xã Bàng ở Phước Vân xin nộp súng cho nghĩa quân. Từ ngày 24-11, địch cho quân cùng bọn cảnh sát đi lùng bắt nghĩa quân. Chúng bắt anh Giao, Bà Bảy Sen, đồng chí Ngự (tức Phạm Trường Sanh), đồng chí Năm Bè. Chúng đem bà Bảy Sen phơi nắng một ngày. Ngày 29-11, chúng bắt đồng chí Ngự và anh Giao tại bến đò xã Bảy, còn đồng chí Năm Bè bị Pháp thủ tiêu mất tích… Trong tình thế không có liên lạc với cấp trên và địch khủng bố mạnh, ngày 30-11, các đồng chí quận Cần Đước họp bàn lập lại Ban khởi nghĩa lần 2, do nữ đồng chí Ơn làm trưởng ban. Nhưng cũng không hoạt động được, cho nên số nghĩa quân cùng nữ đồng chí Ơn phải giải tán, tạm lánh đi nơi khác. 3. Quận Cần Giuộc Ngày 22-11, ban khởi nghĩa nhận được mệnh lệnh lãnh đạo quần chúng nổi dậy của tỉnh. Khoảng 100 nghĩa quân trong dó có anh em Bình Xuyên, được tập hợp để đưa lên thành phố như trên đã nói. Lực lượng nghĩa quân tại chỗ, ngay trong đêm 22-11, dưới sự chỉ huy của đồng chí Nguyễn Thị Bảy, Tỉnh ủy viên, bí thư quận ủy trực tiếp làm trưởng Ban khởi nghĩa, đã chiếm nhà việc xã Phước Lại, đốt hết sổ bộ, kéo đến bao vây nhà hương hào Kiên, tước 1 súng, định đến nhà Hương chánh Trung lấy thêm súng, nhưng y đi vắng. 3 giờ sáng ngày 23-11, các chi bộ lãnh đạo quần chúng xuống đường đốt Nhà việc Long Đức Đông, Long Hậu Tây, phá cầu Rạch Giơi, cắt dây điện thoại, điện tín Cần Giuộc - Trường Bình. Nghĩa quân các xã Phước Hậu, Mỹ Lộc đốn cây chặn đường giao thông. Chiều ngày 23, nghĩa quân Phước Lại tước 1 súng lửa của Hương trưởng Tích ở Phước Vĩnh Đông. Ngay trong ngày 23-1, chủ tỉnh Chợ Lớn tăng thêm lính cho Cần Giuộc. Chúng lùng sục bắt bớ quần chúng. Để chặn lính đi càn, nghĩa quân đốt cầu Ông Chuồng, cầu Rạch Đạp, ngả cây trên hương lộ 19 và 22, đoạn đường Phước Vĩnh Tây - Tân Thanh. Ngày 26-11, nghĩa quân tiếp tục truy lùng bọn tề, đốt Nhà việc Long Hậu, chống địch khủng bố. Trong khi càn quét, địch bắn bừa bãi vào nhân dân, bắn chết Năm Nhàn, một tướng của anh em Bình Xuyên tại Phước Lại, nhằm khủng bố tinh thần nhân dân. Đồng chí Trần Phấn Đấu từ Sài Gòn về cho các đồng chí lãnh đạo Cần Giuộc biết cuộc khởi nghĩa ở thành phố đã thất bại, địch đang khủng bố rất dã man các nơi đã nổi dậy, Xứ ủy có lệnh cho các nơi rút vào bí mật và bảo vệ lực lượng chuẩn bị khởi nghĩa lần hai. Cuối tháng 11-1940, Ban khởi nghĩa Cần Giuộc đứt liên lạc với cấp trên, các đồng chí họp bàn củng cố lại Ban khởi nghĩa, vì một số đã bị bắt và phiêu bạt nơi khác. Ban lãnh đạo sau khi được củng cố, đã rút vào rừng Sác. Ngày 8-12-1940, trên đường vào rừng Sác, nghĩa quân diệt 2 tên ác ôn là Hương quản Tuấn và Hương hào Ngà, thu 2 súng. Như vậy ở Chợ Lớn nghĩa quân đã lấy được tất cả 16 cây súng các loại. Ngày 14-1-1941, trong một cuộc càn quét của lính địch ở bến đò Long Đước Đông, chúng đã bắn chết đồng chí Trần Chí Nam (Ban khởi nghĩa quận Cần Giuộc) và bắt được đồng chí Nguyễn Thị Bảy. Những cuộc càn quét khủng bố tiếp theo, địch đã bắt nhiều người, đốt phá nhiều nhà cửa, trong đó có nhà ông Trần Chí Mười, một địa chủ lớn, thân sinh đồng chí Trần Chí Nam. Ngày 18-1-1941, Pháp đưa các đồng chí Nguyễn Thị Bảy, Đang. Châu Tiếp, Thiệp… ra sân banh Cần Giuộc xử bắn. Đồng chí Nguyễn Thị Bảy cùng các đồng chí khác đã tỏ thái độ rất hiên ngang dũng cảm, hô to các khẩu hiệu: - Đả đảo đế quốc Pháp! Đảng Cộng sản Đông Dương muôn năm! Ngay bọn Pháp cũng phải khâm phục tinh thần dũng cảm của đồng chí Nguyễn Tị Bảy, chúng đã gọi chị là “Hoàng hậu đỏ”(1) (1) Một số tư liệu, sự kiện trên đây, chúng tôi dựa vào cuốn Lịch sử Chợ Lớn - Tân An trong Nam Kỳ khởi nghĩa do Ban Thường vụ Tỉnh ủy Long An, xuất bản năm 1995. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười, 2010, 08:16:38 am 4. Quận Đức Hòa
Đức Hòa là nơi có truyền thống cách mạng lâu đời, Pháp phải kiêng nể và luôn luôn đề phòng từ những năm 1930. Trước cuộc nổi dậy, cơ sở Đảng và tổ chức quần chúng ở đây khá mạnh. Địch thấy truyền đơn, biểu ngữ luôn luôn xuất hiện ở các xã. Chúng đã đề phòng trước, trang bị cho đồn Đức Hòa một tủ gỗ sao rất chắc chắn để cất súng, cho làm hàng rào chung quanh bảo vệ đồn và có lệnh không cho ai được đến gần. Đức Hòa có hai tổng, theo địch đánh giá tổng Cầu An Hạ là cái nôi của bọn hoạt động chống đối, vài trung tâm cộng sản ở phía Bắc quận. Tổng Cầu Am thượng có cộng sản ở Xóm So Đo, Tân Quí Hạ. Địch cho rằng Tỉnh ủy Chợ Lớn đóng ở xã Mỹ Hạnh (Tổng Cầu An Hạ) sát quận Hóc Môn (Gia Định). Luôn luôn có những cuộc hội họp từ 3 đến 5 người, có khi vài chục người ở các rừng tràm thuộc các xóm Giồng Lớn và rừng Dầu của xã Mỹ Hạnh. Bọn tề mà Pháp cho là trung thành nhất với chúng là Hương trưởng Trương Văn Nhưng, Hương quản Nguyễn Văn Dừa, Hương hào Lai Văn Dậu… Không an tâm về tình hình Đức Hòa, ngày 26-10-1940 viên quận trưởng Đức Hòa, tri phủ Nguyễn Văn Hậu đã triệu tập toàn thể bọn tề trong quận về Mỹ Hạnh để nghe y hiểu dụ, kêu gọi lòng trung thành với nước mẹ Pháp, đồng thời tung ra lời đe doạ trấn áp, nếu có cuộc nổi dậy chống “Nhà nước”. Ngày hôm sau, bọn tề đem nộp cho quận trưởng một bức thư của chi bộ cộng sản Mỹ Hạnh gửi cho các đảng viên triệu tập họp vào ngày hôm sau (28/10) ở rừng thưa Giồng Lốt (xã Đức Hòa), nơi giáp ranh các xã Mỹ Hạnh, Đức Hòa và Đức Lập. Nội dung bức thư như sau: “Không cần thiết phải tổ chức nhiều cuộc biểu tình trong một tổng. Cần phải tập hợp lực lượng của chúng ta vào một chỗ mà thôi, như thế chúng ta tăng thêm sức mạnh quyết định… Chúng ta cũng không cần đấu tranh chống nhân viên cảnh sát và tề làng, bởi nhiệm vụ của chúng ta là đem lại độc lập cho tổ quốc và giải phóng đồng bào ta. Nhân viên cảnh sát và tề làng là đồng bào của chúng ta. Họ đã và đang cùng chúng ta trong tình trạng bị chinh phục. Chúng ta phải tuyên truyền tốt, nhằm kéo họ ra khỏi cõi u mê và sai lầm của họ, để họ gia nhập với ta, mời họ đi với ta. Địa điểm chỗ họp của chúng ta. Tìm chỗ xa trung tâm, tức là những chỗ lính làng và tề khó vào để làm chỗ họp. Chúng tôi đã quyết định nơi họp là một trong những rừng thưa Giồng Lốt. Một khoảng khá rộng đã được lựa chọn để họp vào 5 giờ sáng ngày 28-10-1940 cho tất cả các đồng chí. Cuộc họp sẽ thảo luận trong một giờ…”. Nhận được tin này, chủ tỉnh cho ngay viên cò Jacquot xuống cùng với quận Hậu tổ chức việc bao vây địa điểm nói trong thư. Ngya từ 1 giờ đêm ngày 28-10, chúng chia làm hai bộ phận, theo hai hướng: một hướng do Jacquot chỉ huy có cảnh sát, lính làng, từ Đưc Hòa theo đường hàng tỉnh số 10, gặp đường 8 rẽ tay phải tới Đức Lập, tiến vào rừng thưa Giồng Lốt. Một hướng do quận Hậu chỉ huy mang theo lính mã tà, từ quận lỵ theo đường hàng tỉnh số 9 khoảng vài trăm mét thì vào đường mòn, đường này nhiều quãng bị đào cắt đứt, lội bùn ngập đến đầu gối, nước dâng đến bụng. Vất vả lắm mãi tới 5 giờ sáng ngày 28-10, hai bộ phận mới tới được rừng thưa Giồng Lốt. nhưng cũng chẳng thấy gì cả. Chúng cho là bị cộng sản đánh lừa. Ngay ngày hôm sau (29-10), quận Hậu triệu 2 cai tổng và các viên chức đồn Đức Hòa đến nghe y truyền đạt sự hoạt động của cộng sản và bàn cách đối phó, ngăn chặn. (http://img97.imageshack.us/img97/8712/p125g.jpg) Sơ đồ bao vây cuộc họp chi bộ ở Giồng Lốt của địch ngày 28-10-1940 Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười, 2010, 08:19:13 am (http://img530.imageshack.us/img530/4200/98192654.jpg) Bản đồ Đức Hòa Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười, 2010, 08:20:26 am Địch cố gắng ngăn chặn cuộc khởi nghĩa của quần chúng Đức Hòa
Chiều ngày 22-11, quận Hậu đã được chủ tỉnh Gouttes báo cho biết cần phải đề phòng, đêm nay có thể cộng sản nổi dậy đánh chiếm nhiều nơi, nhất là các đồn, quận lỵ. Quãng 11 giờ đêm ngày 22-11 Dubois Tổng Giám Đốc hãng đường Đông Dương ở Hiệp Hòa, từ Sài Gòn về, có ghé qua quận lỵ, nhắc nhở quận Hậu phải đề phòng đêm nay cho đến sáng ngày 23. (http://img837.imageshack.us/img837/5581/p126y.jpg) Ảnh trụ sở quận trưởng Đức Hòa Ngay tức khắc, quận Hậu lấy xe có ký Mỹ, trường đồn Cảnh sát Phó quản Trần Văn Nên, đi bóa động cho các cai tổng và tề làng. Đúng 12 giờ đêm, xe ô tô của quận Hậu đến ruộng mía của ông Sơn, cách quận lỵ khoảng 500 mét thì chúng nghe thấy tiếng súng phía làng Tân Phú Thượng bên sông Vàm Cỏ vang lại. bọn chúng dừng lại và xuống xe. Chúng không biết rằng lúc đó đã có khoảng 400 nghĩa quân tập kết sau chùa, đợi lệnh tiến công quận lỵ Đức Hòa (Mãi 4 ngày sau bọn tề mới báo lại cho quận hậu biết sự việc này). Bọn quận Hậu lên xe đi tiếp, đến 1 giờ 30 sáng ngày 23, xe của chúng đến cầu đúc thuộc xã Mỹ Hạnh, nơi giáp ranh Đức Hòa và Hóc Môn, chúng thấy tiếng súng phía Hóc Môn nổ dữ dội… Đức Hòa nổi dậy Sau khi nhận được lệnh khởi nghĩa, các đồng chí trong Ban khởi nghĩa gồm Nguyễn Văn Yến, bí thư quận ủy, trưởng ban, Lê Văn Lao, Vườn, Huỳnh Văn Một, Võ Thị Phái (em Võ Văn Tần) họp bàn quyết định đưa một bộ phận do Huỳnh Văn Một chỉ huy lên chiến đấu ở thành phố. Địa điểm tập kết ở Bàu Sen, nhưng không thấy xe đến đón, cho nên rút về Gồng Cám. Còn lực lượng nổi dậy tại chỗ, nghĩa quân các làng Đức Hòa, Mỹ Hạnh do đồng chí Lê Văn Lao chỉ huy, tập trung sau chàu Am, có ruộng mía của ông Sơn che khuất, cách quận lỵ khoảng 500 mét, đợi tiếng súng nổ ở Sài Gòn là kéo vào chiếm đồn và quận lỵ (Xe quận Hậu vào lúc 24 giờ đêm đậu đúng chỗ nghĩa quân đang tập trung như trên đã nói). Đợi mãi chẳng thấy động tĩnh gì, các đồng chí Yến và Lao cho nghĩa quân rút về Giồng Cám. Nghĩa quân Tân Phú và các làng lân cận tập trung tại vùng Mía Láng, theo kế hoạch được phổ biến, chờ xe chuyển súng từ Sài Gòn, để đánh chiếm nhà máy đường Hiệp Hòa. Trong nhà máy đã có sẵn một tiểu đội tự vệ làm nội ứng. Nhưng chờ mãi đến 3 giờ sáng không thấy gì, nghĩa quân phải phân tán, tiểu đội tự vệ ở nhà máy đường cũng không nổi dậy một mình. Khoảng 10 giờ đêm, nghĩa quân thôn Bình Thủy làng Đức Hòa trong đó có đảng viên và quần chúng cốt cán Ngọ, Hứa, Súng, Đức, Mách, É, Túc, Ngọn… tất cả khoảng 50 người kéo đến bao vây nhà hương thân Sai. Đầy được nghĩa quân giao cho gọi hương thân Sai báo rằng đang có cướp. Hương thân Sai vừa ra khỏi nhà với cây súng, liền bị nghĩa quân tước luôn. Sau đó, tất cả kéo đến sau chùa Am nhập bọn với nghĩa quân các xã khác đang tập hợp ở đấy, chuẩn bị tiến công quận lỵ Đức Hòa, như trên đã nói. Sau khi nghĩa quân kéo về tập trung ở Giồng Cám, Ban khởi nghĩa họp bàn đề ra một kế hoạch rất táo bạo. Nghĩa quân đào sẵn 14 tăng-xê sau bụi tre rậm rạp của nhà bà Truyện để làm nơi ẩn náu phục kích của nghĩa quân (có thể do đồng chí Huỳnh Văn Một hướng dẫn và chỉ huy đào tăng-xê, vì đồng chí Một đã đi lính cho Pháp). Sau đó cử Hương quản Dần (đã theo cách mạng) lên đồn Đức Hòa báo cho trưởng đồn, có vụ giết người ở Giồng Cám. Phó quản Nên vội vàng mang lính theo đường 10 rồi rẽ vào Giồng Cám. Thoáng thấy bóng bọn lính, ở nơi phục kích một nam, một nữ lên tiếng kêu cứu. khi quản Nên đi xe đạp tới chỗ phục kích, nơi đó có bùn lầy lội, thì bị khoảng 100 nghĩa quân đợi sẵn sau lũy tre và tăng-xê nổ hai phát súng. Một phát trúng vai phó quản Nên và một phát trúng bếp Nguyên Văn Nhung, cả hai chết ngay tại chỗ. Súng vừa nổ, thì nghĩa quân xông ra chém bếp Thái Kim Hưng và lính Trần Thanh hai bị thương, địch chuyển về nhà Thương Lalung Bonnaire (Chợ Lớn). Còn những lính khác bỏ chạy. Trận phục kích này, ta thu dược 4 súng trường, 1 súng lục. Và sau đó nghĩa quân chia làm hai rút về đầm lầy Hậu Hòa, Nhơn Hòa (xã Đức Hòa) và Đức Lập, Mỹ Hạnh (Xem sơ đồ chỗ Phó quản Trần Văn Nên, trưởng đồn cảnh sát Đức Hòa bị phục kích do địch vẽ). Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười, 2010, 08:21:41 am (http://img524.imageshack.us/img524/5017/p130.jpg) Sơ đồ nơi quản Nên, bếp Nhung bị phục kích ở Giồng Cám, Đức Hòa (http://img94.imageshack.us/img94/9887/p131a.jpg) (http://img834.imageshack.us/img834/2221/p131b.jpg) Ảnh tăng-xê do nghĩa quân đào phục kích ở Giồng Cám, Đức Hòa. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười, 2010, 08:23:52 am Nữ nghĩa quân Trần Thị Tơ (em đồng chí Nguyễn Văn Yến và người yêu đồng chí Lê Văn Lao) được cử đi trinh sát cho biết: đồn Đức Hòa có 13 lính, súng 23 đã bị hết và bị thương 4, 2 lính được cử đi giúp cai tổng Cầu An Hạ, như vậy đồn chỉ còn 7 người phải chưa ra chốt giữ 3 nơi là bàn giấy quận lỵ; trường tiểu học Đức Hòa và chòi canh đóng ở nhà giáo Kiệt.
Ban khởi nghĩa đã quyết định huy động lực lượng đánh chiếm quận lỵ vào đêm 23-11, vì thấy lực lượng của địch quá mỏng; xe thiết giáp, mô tô, xe súng máy đầy lính lê dương, lính tập quần thảo tên các đường 8, 9 và 10, đã rút hết về thành phố vào lúc 6 giờ chiều rồi. Nhưng khoảng 11 giờ đêm, vào quận lỵ lấy tin cuối cùng, nữ nghĩa quân Tơ thấy Pháp đã tăng cường một trung đội lính tập cùng 4 súng máy, để bảo vệ đồn Đức Hòa và quận lỵ. Tức tốc chị chạy về Giồng Lốt, Giồng Ông Tướng báo cáo cho Ban khởi nghĩa. Nghĩa quân quyết định hoãn cuộc tiến công vào quận lỵ. Sáng ngày 24-11, Pháp rút trung đội lính tập đêm trước tăng cường cho Đưc Hòa về Sài Gòn lúc 6 giờ sáng. Hai giờ sau, một trung đội Lê dương do trung úy Peronard chỉ huy cùng hai tên sen đầm Jacquot và Martineau mang theo lính thủ hộ thuộc cơ lính lưu động Gia Định và Chợ Lớn (Brigade mobile) được điều về Đức Hòa, thực hiện càn quét Giồng Cám, Bình Thủy và Đức Lập. Trong lúc đó máy bay và lượn bên trên thám thính, vừa bắn phá, bỏ bom vùng chúng càn quét bên dưới, vào lúc 3 giờ chiều. Sau một ngày hành quân càn quét, trung đội lê dương do Trung úy Peronard chỉ huy, chuyển về Hiệp Hòa và tên sen đầm Madou cùng 15 lính thủ hộ đến thay thế cho Martineau. Ngày 25, nghĩa quân đánh đồn điền mía Roly ở Hòa Khánh của một người Pháp gốc Ba Lan, Bá tước Seibor Rylski. Nghĩa quân bắn mấy phát súng săn, Y bị thương nặng, tới 280 viên chì vào người trong đó một viên chì chỉ cách tim một xăng-ti-mét, phải cấp cứu đưa về bệnh viện Sài Gòn. Thấy nhân dân nổi dậy ngày càng mạnh, vừa bị mất người, mất súng, Pháp huy động một lực lượng lớn để trả đũa. Chúng đã điều: 1 đại đội khố đỏ do đại úy Dinabot chỉ huy, 2 đại đội người Rađê do 1 đại úy và thiếu úy Agostini chỉ huy, 80 lính tập (khố đỏ) do thiếu úy Cazenave chỉ huy, một đại đội thuộc trung đoàn bộ binh thuộc địa thứ 11 (11e.R.I.C.) do 1 trung úy chỉ huy, có cả xe tăng, xe thiết giáp, ô tô súng máy, môtô và máy bay yểm rợ càn quét lại suốt tháng 12-1940 sang đầu năm 1941. Nghĩa quân ngày càng khó khăn. Một số do các đồng chí Nguyễn Văn Yến, Huỳnh Văn Một và Lê Văn Lao lãnh đạo rút sang đất Gia Định, cùng nghĩa quân Hóc Môn, Gò Vấp thống nhất rút lên Truông Mít, rồi lại quay về, như phần nói về cuộc khởi nghĩa ở Gia Định đã trình bày. Một lực lượng khác của Đức Hòa cùng với nghĩa quân Trung Quận thì rút về Hòa Khánh (Chợ Lớn), Thạnh Lợi, Bình Hòa (Thủ Thừa, Tân An) thống nhất với nghĩa quân Tân An, dựa vào vùng Đồng Tháp Mười này, tiếp tục chiến đấu thêm một thời gian nữa, dưới sự chỉ huy của đồng chí Lưu Dự Châu (Giao Châu) (Năm 1931 đã làm bí thư tỉnh ủy Gia Định), có nhiệm vụ củng cố và duy trì nghĩa quân còn lại, chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa lần thứ hai. Cuộc chiến đấu của nghĩa quân tại đây, chúng tôi sẽ trình bày ở phần khởi nghĩa của tỉnh Tân An. Đế quốc Pháp đã tàn sát cuộc nổi dậy của nhân dân Chợ Lớn rất dã man. Chúng ném bom, đốt phá nhà cửa làng mạc của dân chúng, hãm hiếp đàn bà con gái, bắn giết bừa bãi… Ngoài việc tử hình các đồng chí Nguyễn Thị Bảy và một số khác như phần trên đã nói, tháng 4-1941, địch đóng cọc rồi trói đồng chí Lê Công Thép tại ngã ba Lương Bèo (làng Tân Tạo, Trung quận), xử bắn… Ngày 9-1941, tại trường bắn Đức Hòa, Pháp xử bắn đồng chí Nguyễn Văn Dương (tức Dường). Trước khi chết, đồng chí Dương hô to: “Tôi sắp chết, chúc bà con ở lại mạnh giỏi. Trong 4 năm gần đây, tôi làm bổn phận của tôi…”. Đồng chí chưa nói hết câu thì địch hô: bắn! Đồng chí Dương guc xuống(1). Pháp cũng bắn chết đồng chí Lê Văn Lao, Phó bí thư quận ủy, tron Ban khởi nghĩa quận Đức Hòa… Đọc các biên bản hỏi cung các nghĩa quân bị địch bắt còn lại trong hồ sơ của địch, một ấn tượng mạnh, sâu sắc, xúc động khi đọc bản trả lời của đồng chí Lê Văn Lao, 23 tuổi, con ông Lê Văn Thưa và bà Nguyễn Thị Lan ở Giồng Cám (Đức Hòa) ngày 24-12-1940 với quận Hậu và bọn mật thám, cảnh sát: “Tôi nói với các ông điều tôi suy nghĩ. Mặc dù tôi làm quần quật từ sáng đến tối, tôi vẫn không thể kiếm đủ ngày hai bữa ăn. Tuy sống, nhưng tôi coi như đã chết rồi. Không phải chỉ một mình tôi như vậy. Tôi quyết định cùng với bạn bè tôi phải giành lại độc lập cho nước Việt Nam, cứu vớt đồng bào tôi khỏi ách nô lệ và làm cho đồng bào tôi có đời sống sung sướng hơn. Chừng nào chủ nghĩa đế quốc Pháp còn thống trị ở đây, chúng tôi còn sống trong nghèo khổ. Chúng tôi không có ý định giết những người Việt là đồng bào của chúng tôi. Chúng tôi trù định giết tất cả người Pháp xâm lược. Để làm việc đó, chúng tôi phải có súng và chúng tôi đã tước súng của những người nắm giữ nó. Tôi thà chết còn hơn sống nô lệ. Tôi có phần trách nhiệm trong việc giết quản Nên và bếp Nhung. Chính tôi với con dao trong tay đã kêu lên để làm cho bọn lính đi vào chỗ phục kích của chúng tôi, nhằm tước súng của chúng. Sau vụ giết đó, tôi đưa cho Tam khẩu súng trường, hai ổ và 6 viên đạn. Những người tước những khẩu súng khác tôi không biết. Tôi đi theo Tam và ẩn trong rừng tràm gọi là rừng U Du. Ngày hôm nay tô ibị bắt đúng chỗ của Lê Văn Dâu. Có thể Tam đang ở trong đầm lầy những cỗ gọi là U Du hay làng Cát. Đức Hòa, ngày 24 tháng 12 năm 1940(2) (1) Tháng 7-1941, Pháp xử tử 29 nghĩa quân trong đó có đồng chí Nguyễn Văn Dương. Những lời nói của đ/c Dương ghi đúng theo báo cáo của địch. Xem trong HS IIA.45/326(1/5). TT.LT2.TP.HCM. (2) Rapport sur le mouvement insurrentionnel du mois de Novembre à Đức Hòa số 31-c ngày 10-3-1941 của Tri Phủ Nguyễn Hữu Hậu, Quận trưởng Đức Hòa gửi chủ tỉnh Chợ Lớn và chủ tỉnh chuyển lên Thống đốc Nam Kỳ. Hồ sơ: Như trên. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Một, 2010, 02:26:37 pm IV.- CUỘC NỔI DẬY Ở TÂN AN(1)
Tân An nổi dậy cùng một lúc với hầu hết các tỉnh, theo lệnh của Xứ ủy Nam Kỳ. Nghĩa quân Tân An vùng dậy ngắn ngày, nhưng mạnh, đó là nhận định của tên chủ tỉnh Edouard Vilmont. Tuy nhiên Tân An lại là nơi nghĩa quân các tỉnh Gia Định, Chợ Lớn, Mỹ Tho và tại chỗ kéo vào, dựa vào địa thế Đồng tháp Mười để bảo vệ lực lượng còn lại, chiến đấu dài ngày. Nhân dân Tân An thừa hưởng truyền thống yêu nước lâu đời của ông cha và có tinh thần cách mạng cao. Ngay sau Hội nghị họp nhất Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đầu năm 1930, các chi bộ đảng đã được thành lập ở các quận Châu Thành, Thủ Thừa và thị xã Tân An, để tuyên truyền vận động tổ chức và lãnh đạo nhân dân đấu tranh theo đường lối của Đảng. Những năm 1936-1939, phong trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ dựa vào thế công khai hợp pháp dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương đã diễn ra khá mạnh ở Tân An. Trên cơ sở đó, khi chiến tranh thế giới nổi ra tuy Pháp khủng bố mạnh, nhưng Tỉnh ủy lâm thời Tân An vẫn tích cực thực hiện chủ trương của Xứ ủy Nam Kỳ, khẩn trương chuẩn bị mọi mặt cho cuộc khởi nghĩa. Những nghị quyết tháng 7, tháng 9-1940 của Xứ ủy Nam Kỳ về việc cán bộ khởi nghĩa, đều được phổ biến đến các cơ sở Đảng. Tháng 9-1940, Ban khởi nghĩa tỉnh đã được thành lập do đồng chí Trần Trung Tam làm trưởng ban. Sang tháng 10, thành lập Ban khởi nghĩa các quận: quận Thủ Thừa đồng chí Nguyễn Văn Ban trưởng ban; quận Châu Thành và tỉnh lỵ do đồng chí Ba Tam và Nguyễn Văn Hoằng… Các ban khởi nghĩa tổ chức và đôn đốc các đội du kích luyện tập, tổ chức việc mua sắm vũ khí, chủ yếu vũ khí thô sơ; tổ chức các bộ phận giúp việc như giao thông, tuyên truyền, binh vận… Các đồng chí đã vận động và có nhân mối trong lính gác quận thủa Thừa. Công tác được đặc biệt chú trọng là vận động quần chúng tham gia các hội trong Mặt trận phản đế, vận động tề làng, kêu gọi nhân dân ủng hộ phương tiện làm vũ khí. (1) Tình hình Tân An vào năm 1940. Tân An có diện tích 366.000 ha, chia làm hai vùng khác nhau rõ rệt. Vùng 1 gồm quận Châu Thành, tỉnh lỵ và nam quận Thủ Thừa là vùng hào toàn trồng lúa, có giá trị lớn, rộng khoảng 60.000 ha. Chỉ riêng lúa trồng tại đây đã đủ nuôi sống toàn tỉnh. Vùng 2 nằm giữa hai sông Vàm Cỏ gồm Bắc Thủ Thừa và quận Mộc Hóa, phần lớn nằm trong lòng chảo, chưa được khai phá gọi là Đồng Tháp Mười khoảng 300.000 ha được trồng mía dọc sông Vàm Cỏ, vài khoảng rộng và cây trồng khác. Đầu thế kỷ một vài tên thực dân đã định khai thác, nhưng thất bại. Dân ở đây nghèo sống thưa. Dân số toàn tỉnh: 1837: 135.000 ng, 1942: 160.000 ng. Tỉnh có 1 tỉnh lỵ, 3 quận với 10 tổng, 62 làng. Q. Châu Thành 4 tổng, 19 làng; Q. trưởng Nguyễn Văn Hoài Q. Thủ Thừa 4 tổng, 26 làng; Q. trưởng Huỳnh Văn Sang Q. Mộc Hóa 2 tổng, 17 làng; Q. trưởng Trần Văn Tân Để đàn áp cuộc nổi dậy Pháp cho lập đại lý Bình Hòa và cử tri phủ Nguyễn Văn Hoài nắm. Pháp còn lập thêm bốt lính mã tà ở bình Hòa, bốt lưu động cảnh sát làng Thạnh Lợi. cởn Mỹ Quí có một viên hội đồng cai trị hành chính. Chủ tỉnh là Edouard Vilmont. Từ 31-12-1941 là Sylvestre. (Theo báo cáo của Thanh tra chính trị - Hành chính Esquivillon gửi Thống đốc Nam Kỳ - HS.IIA4/303(4). TT.LT2.TP.HCM). Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Một, 2010, 02:28:49 pm 1. Quận Thủ Thừa
Ngay từ sáng ngày 22, tỉnh ủy lâm thời Tân An đã nhận được mệnh lệnh khởi nghĩa của Xứ ủy Nam Kỳ. Như vậy so với các tỉnh khác là khá sớm. Ban khởi nghĩa tỉnh đã quyết định quận Thủ Thừa lựa chọn một bộ phận cử đi thành phố tham gia khởi nghĩa. Bộ phận này có trên 10 chiến sĩ cốt cán, do đồng chí Lê Văn Tạo chỉ huy. Vũ khí do đồng chí Nguyễn Văn Siêu dùng thuyền chở đến làng Bình Nhật, trang bị cho nghĩa quân, xong hai đồng chí Bảy Siêu và Hai Tạo giao cho đồng chí khác phụ trách, rồi quay lại địa phương chiến đấu. Bộ phận này không bắt được liên lạc, do đó cũng không lên được thành phố, đành quay về tham gia khởi nghĩa tại địa phương. Ban khởi nghĩa đã đặt kế hoạch chia làm hai vùng và cử cán bộ lãnh đạo nhân dân nổi dậy, lậy lộ Đông Dương số 1 (lộ số 16 cũ) làm ranh giới gọi là vùng Nam và Bắc. Vùng Bắc lộ Đông Dương, do đồng chí Lưu Dự Châu (Bùi Văn Châu, Giáo Châu) phụ trách, có các đồng chí Quang và Lê Văn Tương (phụ trách quân sự). Trước giờ hành động, sáng ngày 22, đồng chí Phẩm Văn Giáo phó bí thư quận ủy Thửa Thừa được cử đi kiểm tra việc chuẩn bị của các nơi, đến Nhị Bình thì đồng chí Giáo bị địch bắt, nhưng chúng, không biết đồng chí Giáo là thành viên của Ban khởi nghĩa quận Thủ Thừa. Từ 5 giờ sáng ngày 22, nghĩa quân hai làng Thạnh Lợi và Bình Hòa ở Vàm Cỏ Đông kéo đến nhà quán Hữu và cả Bộ làng Thạnh Lợi tước hai khẩu súng, khống chế bọn tề làng(1). Sau đó nghĩa quân rút vô ngọn Rạch Sắt chờ lệnh. Nếu đúng sự việc diễn ra từ sáng 22-11 thì có thể nói, đây là cuộc nổi dậy sớm nhất trong toàn bộ khởi nghĩa Nam Kỳ. Đêm ngày 23, nghĩa quân với hai khẩu súng vừa tước được uy hiếp đồn Thạnh Lợi, kêu gọi lính đồn đầu hàng. Chúng cố thủ bên trong, không bắn ra và ta cũng không bắn vào. Sau đó nhĩa quân kéo đến vây Nhà việc Thạnh Lợi và nổi dậy đốt Nhà việc. Nghĩa quân do chi bộ làng Bình Thành lãnh đạo tước 2 khẩu súng của tên Một Thượng, rồi nhập cùng nghĩa quân Thạnh Lợi, Bình Hòa. Cùng lúc đó, nghĩa quân phía Vàm Cỏ Tây, do đồng chí Lưu Dự Châu lãnh đạo phối hợp với nghĩa quân do đồng chí Lê Văn Của (Mười Râu) và đồng chí Lê Văn Nhỏ chỉ huy, bàn kế hoạch tiến công đồn Trà Cú (Long Ngãi Thuận giáp Thuận Nghĩa Hòa). Theo kế hoạch đã bàn, sáng ngày 23-11, nghĩa quân bí mật cho một số vào ẩn trong nhà dân sát đồn, còn lại chia làm 3 cánh giả giạng người đi bắt chuột, bắt rắn. Tất cả hơn 30 người. Tám giờ sáng, đồng chí Đặng Văn Truyện, cựu lý trưởng làng Long Ngãi Thuận, thường hay lui tới chơi với bọn cai lính đồn, cùng với đồng chí Đặng Văn Vị, Đăng Văn Yến cho thuyền cặp đồn, rủ bọn cai, lính đánh bài. Sòng bài vừa bày ra, hai đồng chí Vị và Yến lại gần giá súng, giả vờ xem. Cai Sửu vội đứng dậy không cho hai người tới gần giá súng. Bất thần đồng chí Truyện đá cai Sửu ngã lộn ngoài. Y lao ngay xuống rạch Trà Cú, trốn luôn. Từ bên noài nghĩa quân tràn vào đồn, sẵn súng trong tay, nghĩa quân uy hiếp và bắt gọn tất cả, cai Sam và 6 lính, thu 6 súng. Đồn Trà Cú bị chiếm, nghĩa quân treo cờ đỏ búa liềm. Nhân dân hai bên sông Vàm Cỏ Tây nổi trống mõ hò reo, hô khẩu hiệu và hoan nghênh đoàn thuyền của nghĩa quân tiến về hướng quận lỵ Thủ Thừa. Nhân dân các làng Thuận Nghĩa Hòa, Thủy Đông, Long Ngãi Thuận, Tân Đông… đổ ra hai ven sông ngày càng đông, vừa reo mừng, vừa động viên nghĩa quân. Đoàn thuyền nghĩa quân tới Vàm Rạch Đình, một toán nhảy lên chiếm Nhà việc làng Long Ngãi Thuận, lùng bắt Hương cả Bùi Công Đình. Nhưng y và lũ tề đã chạy trốn. Đồng chí Đặng Văn Truyện và Lê Văn Nhỏ (Hai Lâm) hướng dẫn nghĩa quân chiếm đồn, diệt hương sự Nhiều. Sau đó, đồng chí Truyện được Ban khởi nghĩa phân công ở lại lãnh đạo làng Long Ngãi Thuận. Một bộ phận nghĩa quân khác cùng nhân dân chiếm Nhà việc làng Tân Đông, lùng bắt Hương cả Tôi, Nhưng y cùng bọn tề làng đã bỏ trốn. Nghĩa quân tiếp tục chiếm Nhà việc Mỹ Lạc Thạnh. Ngày 24-11, nghĩa quân qua Phú Mỹ, bắt xã trưởng Hai, thu 1 súng. Ban khởi nghĩa đã bàn kế hoạch đánh chiếm huyện Thủ Thừa, nhưng việc phối hợp không ăn khớp, cộng thêm không có tín hiệu khởi nghĩa ở Sài Gòn, cho nên đã không thực hiện được kế hoạch. (1) Theo tài liệu Lịch sử Chợ Lớn - Tân An trong Khởi nghĩa Nam Kỳ của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Long An xuất bản năm 1995. Đọc các bức điện mật khẩn của mật thám và báo cáo của Pháp lưu trữ trong kho, thì cuộc nổi dậy nhiều nơi chỉ thấy ghi từ đêm 22 rạng ngày 23-11, không thấy chỗ nào báo cáo từ sáng 22 đã có nổi dậy, tước súng v.v… (T.G.). Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Một, 2010, 02:30:15 pm 2. Quận Châu Thành
Quận Châu Thành và tỉnh lỵ Tân An do Ban khởi nghĩa vùng Nam lộ Đông Dương phụ trách. Đồng chí Trần Trung Tam, bí thư tỉnh ủy lâm thời làm trưởng ban, phụ trách chung. Đồng chí Nguyễn Văn Hoàng chỉ huy trực tiếp, có các đồng chí Võ Văn Lừa, Bùi Văn Khánh, Trần Văn Đước là ủy viên. Nhiệm vụ quan trọng của ban khởi nghĩa ở đây là tổ chức và lãnh đạo nhân dân cướp chính quyền tỉnh lỵ Tân An. Nhưng chủ tỉnh Tân An đã được thống đốc Nam Kỳ báo trước, chúng tăng thêm quân lính, cấm trại, tổ chức canh gác các nơi quan trọng một cách chặt chẽ, cộng thêm các nơi chungquanh nhân dân đã chặt cây, phá đường… Cho nên địch lại càng canh phòng cẩn mật. Vì vậy, đối sánh lực lượng, địch mạnh hơn ta và lợi thế hơn ta rất nhiiều, nghĩa quân không đủ sức đánh chiếm tỉnh lỵ, như kế hoạch đã định. Tuy nhiên ở bên ngoài tỉnh, đồng chí Khánh vẫn cho phá cầu Bà Tàu, đốn cây, cắt dây điện thoại, điện tín. Quần chúng các làng Thạch Phú Long, An Lục Long, Thanh Vĩnh Đông, Thuận Mỹ (quận Châu Thành) dưới sự chỉ huy của các đồng chí Mai Văn Phát, Nguyễn Văn Thanh (Cá Canh), Lương Văn Biện (thày chùa Lửa), Mười Mươi, Ba Tân, Bày Gia… kêu gọi quần chúng xuống đường, biểu tình thị uy chiếm Nhà việc, bắt Biện Cương, tước 1 súng. Tại các làng An Vĩnh Ngãi, Hòa Phú, Dương Xuân Hội, Long Trì, Vĩnh Công… (thuộc quận Châu Thành) và một số làng bên Mỹ Tho, các đồng chí Ba Phước, Năm Điếc, Ba Khánh, Tư Lo, Ba Lửa, Hai Hoành, Sáu Khai huy động nhân dân chiếm Nhà việc, làm chủ một số này, trừng trị Lý Đang và giáo dục các tề khác. Các đồng chí Năm Thắm, Tư Lùng, Hai Trầu chỉ huy cuộc nổi dậy của Tân Lý, Tân Hương (thuộc Mỹ Tho) tạo khí thế sục sôi cách mạng ở nông thôn. Một cánh nghĩa quân do đồng chí Giáo Khương, Ba Bòng lãnh đạo, nổi dậy ở Quê Mỹ, đập phá Nhà việc, bắt Hương sự Đáng, Hương quản Xuyến ra nhận tội trước nhân dân. Ở quận Mộc Hóa, ngoài lực lượng nghĩa quân Thuận Nghĩa Hòa do đồng chí Mười Râu, Hai Nhỏ chỉ huy, phối hợp với nghĩa quân Thủ Thừa đánh đồn Trà Cú (Thuận Nghĩa Hòa), chiếm Nhà việc Tân Đông, rồi định kéo xuống đánh chiếm quận lỵ Thủ Thừa như trên đã nói. Ở Tân Hòa, Nhơn Ninh quần chúng nổi dậy chiếm trụ sở, sau đó trở thành nơi rút và tiếp tục hoạt động của nghĩa quân Mỹ Tho khá lâu, do Phạm Văn Kỳ chỉ huy, phần kéo dài cuộc chiến đấu của Mỹ Tho sẽ trình bày ở phần cuội nổi dậy ở Mỹ Tho. Ở phía giáp tỉnh Sa Đức, các làng Vĩnh Thạnh, Hưng điền quần chúng có các đảng viên cộng sản lãnh đạo, cũng nổi dậy phá Nhà việc, trừng trị bọn tề gian ác…. Cuộc nổi dậy ở vùng nông thôn tỉnh Tân An chỉ rầm rộ vài ngày, diệt một số tề ác ôn, phá nhiều tề làng, tổng, thu tất cả 22 súng. Nhưng, ngya tối ngày 23-11, Tỉnh ủy lâm thời đã nhận được thông tin cuộc khởi nghĩa của thành phố Sài Gòn không thành. Tỉnh ủy chủ trương cho các nơi ngưng nổi dậy, nghĩa quân lộ mặt tạm lánh đi nơi khác, còn dân trở lại sống hợp pháp. Do đó cuộc nổi dậy của Tân An không kéo dài, thêm nữa Pháp điều lính tăng cường cho Tân An để đàn áp cuộc nổi dậy của nhân dân. Pháp đã dùng thủy, lục, không quân đánh phá các làng nổi dậy dọc hai sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây. Lính lê dương, cảnh sát ác ôn cùng bọn tề phản động đi đến đâu ruồng bố, bắn giết, đốt phá làng mạc đến đấy. Trong đợt càn quét đầu tiên của địch, các làng ven sông Vàm Cỏ Tây thuộc quận Thủ Thừa bị thiệt hại nhiều nhất. Làng Long Ngãi Thuận có 60 nhà bị đốt, 80 người bị bắt, hàng ngàn dạ lúa bị cháy, trên 50 trâu bò bị bắn chết. Nhà ông Bùi Văn Lầu cả 6 cha con đều bị bắt. Gia đình ông Đặng Văn Phiên có 3 người con bị bắt, 2 người con ông Dặng Văn Phái bị Pháp bắt đưa lên kinh Xáng Mù (làng Lương Hòa) xử bắn. Chúng đã bắt hàng trăm người ở làng Thạnh Lợi, Bình Thành, Thủy Đông, Thuận Nghĩa Hòa thuộc Thủ Thừa và Mộc Hóa. Theo con số của Thống đốc Nam Kỳ báo cáo cho Toàn quyền Đông Dương thì từ ngày 23-11 đến hết tháng 12-1940, chúng đã bắt của Tân An 261 người, không kể số người chúng đã bắn chết tại chỗ, bắt rồi thả ngay. Chắc chắn con số báo cáo này còn xa mới đúng sự thật. Pháp đã bắt đồng chí Bùi Văn Khánh, thành viên Ban khởi nghĩa làn An Vĩnh Ngãi, đưa về Nhà việc làng Trung Hòa (Mỹ Tho) dùng gươm đâm. Trước hàng trăm dân làng bao quanh, đồng chí Khánh tỏ thái độ dũng cảm không hề sợ địch. Về sau, chúng đày đi đi Côn Đảo…(1) (1) Một số sự kiện trên đây chúng tôi dựa vào cuốn Lịch sử Chợ Lớn - Tân An trong Khởi nghĩa Nam Kỳ (23-11-1940), Ban Thường vụ tỉnh ủy Long An xuất bản 1995. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Một, 2010, 02:31:31 pm 3. Căn cứ Mớp Xanh - Bo Bo
Nghĩa quân cố gắng duy trì cuộc chiến đấu Trước tình hình khó khăn do địch khủng bố và tỉnh ủy đã có lệnh ngưng cuộc nổi dậy, các đồng chí chỉ huy rút nghĩa quân về các làng có cơ sở và phong trào mạnh, phần lớn tề đã ngả về phái cách mạng. dó là các làng Bình Hòa, Bình Thành, Thạnh Lợi. Nghĩa quân của các quận Châu Thành, Cai Lậy (Mỹ Tho), các tỉnh Gia Định, Chợ Lớn, kể cả bộ phận rút lên Truông Mít (Tây Ninh), cũng lân lượt kéo về Mớp Xanh, Trấp (đầm lầy) Rùng Rình, Kinh Bo Bo xây dựng thành căn cứ Mớp Xanh, còn gọi là căn cứ Bo Bo, duy trì củng cố lực lượng, tiếp tục đánh du kích. Việc nghĩa quân của Tân An cũng như của các tỉnh chung quanh rút vào đây như một nhu cầu từ đấu tranh thực tiễn, nhưng theo chúng tôi cũng có tác động nhất định của Hội nghị Xứ ủy Nam Kỳ tháng 1-1941, Xứ ủy đã kiểm điểm việc thất bại của cuộc khởi nghĩa tìm ra những nguyên nhân, bàn việc củng cố lại Xứ ủy mới và chủ trương chuẩn bị lực lượng tiến hành khởi nghĩa lần thứ hai. Chính Xứ ủy đã dựa vào đây cũng như dựa vào các tỉnh miền Tây để chuẩn bị khởi nghĩa. Đây là vùng nằm giữa hai sông: Vàm Cỏ Tây và Vàm Cỏ Đông. Sông Vàm Cỏ Đông chia ranh giới hai tỉnh Tân An và Chợ Lớn, phía Chợ Lớn là đất Đức Hòa. Toàn vùng rộng khoảng 35 kilômét, dài 70 kilômét, phía Bắc giáp Đồng Tháp Mười, có 11 làng, hạt nhân là 3 làng mạnh nhất: Bình Hòa, Bình Thành, Thạnh Lợi, kênh rạch chằng chịt, phần lớn là Trấp, đầy lau, sậy, tràm, sáo và cỏ cây hoang dại. Có một đồn điền Bình Hòa rộng 160 ha, nhiều Gồng như Giồng Mật Cật (40 ha), Giồng Cù Lao Dài (20 ha), Cây Xoài (40 ha), Giồng Thủ Tỉnh (60ha), Tầm Ba Làng (60ha)… (Xem bản đồ vùng này do địch vẽ). (http://img222.imageshack.us/img222/6262/p142.jpg) Theo báo cáo của địch, nghĩa quân tập hợp ở căn cứ này khoảng 150 người(1). Để đối phó, tháng 1-1941, Pháp cho lập quận đặc biệt Bình Hòa cở quận trưởng Châu Thành, tri phủ Nguyễn Văn Hòa phụ trách, làm nhiệm vụ thường xuyên phối hợp với quận trưởng Mộc Hóa Trần Văn Tân và các thanh tra cảnh sát Pháp, càn quét vùng này. Đêm 25 rạng 26-12-140, nghĩa quân được trang bị súng, đèn pin lại tiến công đồn Trà Cú, các bốt cảnh sát Thị Đông và Ong Sung Hiếu. Đồn Trà Cú (thuộc làng Thuận Nghĩa Hòa) cố thủ. Nghĩa quân bắt và mang theo Hương sự Nhiều; bắt rồi tha ngay vợ Hương Kiểm Nhân làng Thị Đông và rút về căn cứ. Theo báo cáo của quận trưởng Mộc Hóa Trần Văn Tân (số 136c ngày 27-12-1940) gửi chủ tỉnh Tân An, trong số nghĩa quân đánh đồn Trà Cú có cựu lý trưởng Truyện (tức đ/c Đặng Văn Truyện) làng Long Nghĩa Thuận, đã theo cộng sản. Chúng đề nghị cho máy bắn phá can thiệp. (1) Báo cáo số 177c ngày 31-1-1941 của Rivoal thống đốc Nam Kỳ gửi Toàn quyền Đông Dương. HS. IIA. 45/222 (2b). TT.LT2.TP.HCM. Một báo cáo khác của địch nói có tới 250 nghĩa quân. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Một, 2010, 02:33:13 pm 4. Trận phục kích địch đi càn ngày 29-12-40
Ngày 29-12-40, quận trưởng Mộc Hóa Trần Văn Tân tới Thị Đông từ chiều hôm trước, để chuẩn bị hôm sau càn quét vùng ba làng Thạnh Lợi, Bình Thành, Bình Hòa. Viên quận trưởng chia lực lượng ra làm hai mũi: một mũi vượt sông Vàm Cỏ Tây theo rạch Cả Sơn và một theo Rạch Trà Cú, rồi gặp nhau ở Kênh Bo Bo. Chúng đến làng từ đêm, đến 5 giờ sáng hôm sau có thể xuất phát và phải chuẩn bị bữa ăn trưa, làm thế nào quay lại địa điểm xuất phát, trước 16 giờ. Lực lượng của quận trưởng gồm 11 lính làng (trong đó có một lái thuyền), cai tổng cùng 4 vệ sĩ tin cẩn chuyên bắt người. Tất cả đều được trang bị vũ khí. 22 giờ khuya, quận trưởng đến Nhà việc Thị Đông, thì gặp đúng lúc nghĩa quân vừa đốt Nhà việc và đã rút đi. Lúc đó, không có lực lượng bảo vệ Nhà việc, vì 20 lính giữ đồn Trà Cú, sau cuộc tiến công và đốt đồn đêm 25 rạng 26 của nghĩa quân, chủ tỉnh đã cho lệnh rút hết lính về quận lỵ, vì y sợ bị nghĩa quân tiếp tục đánh úp. Quận trưởng giao cho cai tổng dẫn 5 lính, con trai cai tổng, 4 vệ sĩ của cai tổng cùng mấy tề làng, tất cả 15 người đi trên5 thuyền, trang bị đầy đủ vũ khí. Đoàn thuyền vừa từ đất Thuận Nghĩa Hòa vượt sông Vàm Cỏ Tây, thì trinh sát của nghĩa quân đã phát hiện chúng. Nghĩa quân náu trong bụi lau sậy chờ đợi. Thuyền đi đầu có Hương chánh Phạm Văn Liêng, bếp mã tà Tạ Văn Mao, vừa vào tầm phục kích của nghĩa quân thì tên lái thuyền thấy thoáng có bóng người, liền hỏi: - Ai đó? - Lập tức có tiếp hô: - Bắn! Một loạt đạn nổ. Nhiều tên bị trúng đạn, thuyền lật đổ. Bị đánh bất ngờ, đoàn thuyền địch chỉ bắn vu vơ lại được 2 phát. Nghe thấy tiếng súng, nhưng quận trưởng không dám đến ứng cứu, vì sợ lại rơi tiếp vào ổ phục kích. Nghĩa quân nhảy lên bờ và rút vào rừng. Lúc đó trời mới tờ mờ sáng. Quận trưởng cho kiểm điểm lại thì không thấy bếp Tạ Văn Mao; hương chánh Thị Đông Phạm Văn Liềng bị đạn chì vào tay trái, con trai cai tổng Nguyễn Văn Hiệu bị đạn súng săn vào phầm mềm bắp chân, cựu Hương bổ Nguyễn Văn Khuyên bị một nắm đạn chì vào cùi tay trái, lái thuyền Nguyễn Văn Ngữ và Nguyễn Văn Tân bị đạn vào đùi và tay, lái thuyền Nguyễn Văn Lũy bị viên đạn sượt qua trán, cai tổng Hiệu bị mấy viên chì vào đùi. Mãi hai ngày sau chún mới tìm thấy xác Bếp Mao, 1 viên đạn xuyên qua cổ. Nghĩa quân thu 2 súng, bỏ lại 4 xuồng nốp, trong đó có 2 ký iệu: 9AE làng Thạnh Lợi và AL.290 làng Bình Nhựt…(1) Trong khi nghĩa quân ở đây hoạt động, thì trên đất Mộc Hóa, Mỹ Tho và vùng giáp ranh Campuchia, nghĩa quân do Phạm Văn Kỳ vẫn hoạt động nay đây mai đó, không liên hệ được với Ban chỉ huy ở căn cứ Mớp Xanh - Bo Bo. Có điều đáng lưu ý, trong vùng dội du kích do Phạm Văn Kỳ chỉ huy, đôi khi xảy ra một vài vụ lấy của dân ở chợ, còn ở đây có sự lãnh đạo chặt chẽ của đảng, kỷ luật nghiêm minh, cho nên không thấy địch nói đến một vụ nào nghĩa quân lấy của cải của dân làng. (1) Báo cáo số 1c ngày 3-1-1941 của quận trưởng Mộc Hóa gửi Chủ tỉnh Tân An. Địch mất 5 súng, nhưng 3 súng rơi xuống sông, sau địch lấy lại được. HS. II.A45/222 (2c) TT.LT2.TP.HCM. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Một, 2010, 02:34:52 pm 5. Thống nhất lực lượng
Sang tháng 1-1941, nghĩa quân các nơi đã tụ họp thống nhất tại đây. Một Ban chỉ huy chung do đồng chí Lưu Dự Châu làm trưởng đã được thành lập. Có nhiều tiểu ban như tiểu ban quân sự và tác chiến do các đồng chí Lê Minh Quang, Lê Văn Tưởng; tiểu ban tạo tác do các đồng chí Trần Văn Trừ, Huỳnh Văn Xá, tiểu ban quân khu do đồng chí Phèn, Giống, tiểu ban tuyên truyền báo chí do đồng chí Nguyễn Văn Hưng, tiểu ban Y tế do đồng chí Hoài phụ trách… Có cả bộ phận tòa án do đồng chí Đấu phụ trách để duy trì kỷ luật. Các đồng chí dã củng cố Đảng bộ, thành lập các chi bộ ở các đơn vị chiến đấu, xuất bản báo, thực hiện việc thông báo tin tức thời sự. Địch tung nhiều mật thám và mỗi tên quận trưởng Bình Hòa, và Mộc Hóa đã có hàng chục chỉ điểm, được tung vào theo sõi sự hoạt động của nghĩa quân, như trường hợp tên Cmà nói ở phần khởi nghĩa ở Gia Định. Qua tất cả những tin tức thu lượm được, địch cho rằng nghĩa quân ở căn ứ Mớp Xanh Bo Bo được chia thành ba đội. - Một đội ở Trấp Thầy cạnh các làng Thuận Nghĩa Hòa, Bình Thành do Giáo Châu chỉ huy, mạnh nhất có 1 súng trường, 5 súng hai phát, 1 súng Browning cal, 16, 2 súng lửa. - Một đội ở Kênh Bo Bo và Giồng, do Nguyễn Văn Đang chỉ huy, có 1 súng hai phát, 2 súng lửa. Tất cả địa chủ, tề các làng Mỹ Thạnh Đông, Bình Hòa, Bình Thành đều nể sợ Đang cho Đang là cộng sản nguy hiểm. Đang đã chỉ huy lấy súng của Hương cả Tường, Hương sự Khỏe, Hương quản Long, đã bắt và xử Hương quản Thạch ở Bình Hòa…. - Một đội lưu động trên sông Vàm Cỏ do Võ Văn Lửa chỉ huy (Võ Văn Lửa là thành viên Ban khởi nghĩa tỉnh Tân An, 54 tuổi). Đội này có 1 súng hai phát, 2 súng lục. Vì địch liên tục khủng bố can quét, cho nên các đội nghĩa quân thường xuyên trong tình trạng di chuyển. Cũng theo một báo cáo của chủ tỉnh Tân An E.Vilmont gửi cho Thống đốc Nam Kỳ, y dựa vào tài liệu bắt được của nghĩa quân tỏng một cuộc càn vùng Thạnh Lợi, chép lại phần lực lượng ghi trong tài liệu của những người nổi dậy như sau: Quân phiến loạn ở Tân An chia làm 3 toán: Toán 1: số lượng 24 người, trong đó có 17 người tin cẩn. Bình Thành - 8 đảng viên địa phương - 5 đảng viên - 7 dự bị Mỹ Hạnh Đông - 1 đảng viên bí mật. - 1 dự trữ bí mật. Thạnh Phú 2 đảng viên vũ khí có 5 súng. Toán 2: số lượng 23 người, trong đó có 15 người tin cẩn. Thạnh Lợi 11 đảng viên Bình Hòa - 3 đảng viên và - 4 dự bị Chi bộ mật - 3 đảng viên và - 2 dự bị Toán được dân chúng ủng hộ vũ khí có 4 súng Toán 3: Số lượng 11 người, trong đó có 9 người tin cẩn. Long Ngãi Thuận - 3 dự bị Nhị Bình - 1 đảng viên - 2 dự bị Mỹ Hòa (xóm Mỹ Lạc Thành) - 1 đảng viên và - 2 dự bị Được dân chúng địa phương ủng hộ, tiếp tế. Bị bao vây, nên thiếu lương thực. vũ khí có 5 súng. Chuẩn bị quân sự - Hàng ngày luyện tập - Chuẩn bị di chuyển gạo khô, bình nước, túi dết (musettess) - Mua khẩn cấp: cá Sức khỏe: 1 thày lang tham gia đội. Mua thuốc bắc, bột và hạt. Có một ủy ban kinh tài Tổ chức in truyền đơn, sách cộng sản. Đạn dược: - Mua kíp, vỏ đạn rỗng 50$ - Các thứ khác 100$ - Cấp rút làm mìn nổ - Đạn có khoảng 300 (các cỡ 24, 16, 22) rất ít cỡ 24, nhiều cỡ 16. Đã mua 500 viên cỡ 24 và 16, 40 viên cỡ 12. - Mua hai thùng thuốc Tổ chức mua 600 súng, phần nhiều súng lục. Cứ 7 ngày lại họp một lần”(1) Qua những báo cáo của địch phần nào chúng ta thấy lực lượng tổ chức đảng, tổ chức đội, các mặt hoạt động của nghĩa quân, kỷ luật của nghĩa quân, mỗi quan hệ với nhân dân của nghĩa quân, đặc biệt việc chuẩn bị cho cuộc chiến đấu lâu dài. (1) Báo cáo của Evilmont, chủ tỉnh Tân An. HS. II.A45/222 (22c). Như trên. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Một, 2010, 02:37:50 pm Sốt ruột vì sự tồn tại của nghĩa quân, nhất là tình hình nông thôn không ổn định, hệ thống tề ngụy rất hoang mang, Pháp tăng thêm một loạt tên Thanh tra sen đầm như Issot, Jacquot, Giron cả tên Bazin… về hỗ trợ cho các tên quận trưởng Mộc Hóa, Thủ Thừa, Bình Hòa thực hiện việc càn quét, bắt những người nổi dậy. Chúng lập thêm 1 đồn lính mã tà ở chợ học Thơm trên đường làng số 2, ven sông Vàm Cỏ Đông giữa Đức Hòa và Hiệp Hòa để chặn đường ra vào của nghĩa quân ở căn cứ Mớp Xanh - Bo Bo.
Tuy phải luôn di chuyển, tránh càn quét, của địch, nhưng nghĩa quân vẫn chủ động gây cho địch lúng túng, bối rối. Ngày 10-2-1941, mượn cớ vào Giồng Đế mua lợn dễ dàng, thực ra là đi lấy tin tức, hồi 17 giờ, phó Hương quản Phạm Ngọc Thạch (làng Bình Hòa) cùng em rể Nguyễn Văn Nhì đi tới ranh giới Bình Hòa và Mỹ Thạnh Đông thì bị nghĩa quân bắt, và dẫn tới Giồng Nho. Nhì được tha còn Thạch bị xử. Một tuần sau, đêm 16 rạng ngày 17-2-1941, vào 21 giờ một đội du kích khoảng 30 người đột nhập nhà dịa chủ Sầm, phá kho lấy 22 dạ gạo, nổ súng chỉ thiên cảnh cáo rồi rút đi. Xin lệnh chủ tỉnh, ngày 19-2-1941, quận trưởng Bình Hòa đưa lính đến đóng đồn tại đồn điền Sầm, biến kho lúa thành đồn canh. Sơ đồn đồn canh như sau: (http://img821.imageshack.us/img821/53/p149t.jpg) Ban đêm, chúng huy động 24 dân làng chia ra canh giữ 6 chốt A, B, C, E, F, mỗi chốt 24 người, chặn tất cả các đường nghĩa quân có thể thình lình xâm nhập. 4 lính canh 4 góc, giữ mõ. Khi có tiếng mõ, thì các chòi canh phải đánh mõ đáp lại. Nếu có động, thì bắn pháo để thông báo và liên lạc giữa dồn tại nhà địa chủ Sầm với các đồn Thạnh Lợi và Trà Cú. Kể từ ngày 20-2-1941, sau khi ổn định việc lập thêm đồn, bọn thanh tra cảnh sát Pháp cùng với 3 quận trưởng Bình Hòa, Thủ Thừa, Mộc Hóa (Tân An), Cai Lậy (quận, Tâm) phối hợp với nhau và chia nhau từng vùng, dùng quân lính các đồn, tề làng liên tục hết ngày này qua ngày khác lùng sục, tìm kiếm nghia quân. Mỗi lần đi càn chúng thường huy động từ vài chục đến 150, 200 dân xục xạo khắp nơi. (http://img840.imageshack.us/img840/6797/p150.jpg) Deligué spécial de Bình Hòa accuille son collègue de Đức Hòa Quận trưởng đặc biệt Bình Hòa đón quận trưởng Đức Hòa, phối hợp đi càn Chúng đốt nhà của nghĩa quân điều đó dễ hiểu, nhưng chúng đốt cả nhà dân làng, đốt rừng, đốt tất cả những nơi nào chũng cho rằng nghĩa quân có thể ẩn nấp. Chúng đe dọa nhân dân, tìm mọi cách ngăn cả việc tiếp tế lương thực của nhân dân cho nghĩa quân. Nhưng nhân dân vẫn tìm mọi cách giúp đỡ các chiến sĩ. Một chứng cớ. Ngày 7-3-41, chủ quận Thủ Thừa Huỳnh Văn Sang cho dẫn lên tỉnh 3 người là bà Nguyễn Thị Kha cùng 2 con Phạm Thị Nghi 16 tuổi và Phạm Thị Trang 13 tuổi, là vợ và con của nghĩa quân Phạm Văn Chung (Cựu hương hào Chung làng Long Ngãi Thuận) để tham gia đánh chiếm đồn Trà Cú ngày 23-11. bọn cảnh sát Thủ Thừa đi tuần trên kênh bo Bo đã bắt được đò của Bà Kha đang đi ngược lên phía Bắc (thuộc địa phận làng Bình Thành), trên đó có 3 bao gạo, 30 trái dừa xanh, 20 kilô khoai, 3 bát lớn hạt cau khô, 200 lá trầu, vại dưa cải, lít muối, chục lít bột gạo, một sắc 7 quần và 9 áo. Bà và các con khai tên khác, nhờ tề làng bọn mật thám mới biết tên thật; còn nhất định địch hỏi thế nào bà và các con cũng không chịu khai chỗ ở của Phạm Văn Chung…(1) (1) Báo cáo số 87 ngày 7-3-41 của chủ quận Thủ Thừa Huỳnh Văn Sang cho chủ tỉnh. Hs. IIA. 45/222 (2c) TT.LT2. TP.HCM. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Một, 2010, 02:39:00 pm Chúng chủ trương đẩy nghĩa quân vào vùng đầm lầy nước có mùi thối (eau fétide), nóng không thể chịu được và đầy muỗi, không có gì để ăn…
Nhưng chúng vẫn phải thừa nhận nghĩa quân làm mưa làm gió giữa Rạch Cần xe và Cần Giè, do Võ Văn Lửa chỉ huy. Ngày 10-3, nghĩa quân bắt người gác Nhà việc Thạnh Lợi, đưa đi 5 kilômét, rồi tha cho về cầm theo một giấy gửi cho tên Ban Biện nói rằng “Cộng sản không chết, xem đây chúng tôi đang chuẩn bị cú thứ hai”. Cùng ngày 10-3, quận trưởng Bình Hòa mang theo 5 lính đi ngựa lùng xục Giồng A Rạt, lúc 9 giờ trở về thấy cắm ở giữa rừng Tràm một ngọn sào dài trên có treo một mảnh giấy viết như sau: “Vài lời với ông tri phủ. Chúng tôi thấy ông trong tầm súng, nhưng chúng tôi không bắn ông, vì điều đó trái với chủ trương của chúng tôi đã đề ra, chỉ trừng phạt những viên chức ác. Tuy nhiên, ông hãy cẩn thận và đừng có ác”… Trung tuần tháng 3-1941, có mấy cuộc càn của địch gây thiệt hại cho ngĩa quân. Từ đêm 11-3, quận trưởng Bình Hòa có sự phối hợp của các quận trưởng chung quanh, dùng 12 lính đồn Bình Hòa, 8 lính đồn Thạnh Lợi, 8 lính Chợ Lớn, 7 lính đồn Trà Cú bao vây Giồng A Rật. Sáng sớm ngày 12, dưới sự chỉ huy của quản Sĩ cùng Cai Đơn, Cai Giáp, chia làm 3 mũi tiến thẳng vào nơi ở của nghĩa quân trước rừng tràm. Trong khi đó 8 lính đồn Tạnh Lợi cùng đánh và 8 lính Chợ Lớn rải ra chặn dọc sông Vàm Cỏ Đông, không cho nghĩa quân vượt sông chạy sang đất Hiệp Hòa và Đức Hòa của Chợ Lớn. 7 lính đồn Trà Cú rải ra ở phía đối diện bên này ngăn không cho nghĩa quân chạy vào kênh Trà Cú và Bo Bo. Lính của Quảng Sĩ, Cai Đơn, Cai Giáp dùng thuyền chèo tới. Nghĩa quân phát hiện thấy địch liền nổ súng. Hai bên bắn nhau hơn một giờ. Nghĩa quân lợi dụng rạch kênh đầy lau sậy rút lui. Lính địch rượt đuổi hơn một kilômét thì mất hút. Trong lúc lính địch bao vây nghĩa quân bên dưới, thì Pháp cho máy bay quần tháo bên trên quan sát và uy hiếp tinh thần nghĩa quân. Mấy ngày sau liên tiếp Pháp đều cho máy thám sát tìm kiếm nghĩa quân ẩn núp trong vùng này. (http://img87.imageshack.us/img87/9826/p153.jpg) Ngày 14-3, trong một cuộc lùng xục Giồng Đế, lính của đồn Thạnh Lợi đã chạm trán nghĩa quân. Hai bên bắn nhau và trận tao ngộ này đồng chí Võ Văn Lửa hy sinh. Đồng chí Võ Văn Lửa là thành viên Ban khởi nghĩa tỉnh tân an, Ban chỉ huy căn cứ Mớp Xanh - Bo Bo và trực tiếp chỉ huy một đội nghĩa quân. Như vậy, chỉ trong 3 ngày nghĩa quân bị mất hai đồng chí chỉ huy chủ chốt và dũng cảm. 4 ngày sau, ngày 18-3, địch dùng 16 lính của đồn Bình Hòa, 18 lính của đồn Thạnh Lợi càn vùng Đìa Bàu Mốp thuộc làng Thạnh Lợi, giáp ranh Bình Hòa. Chúng bị nghĩa quân bắn lại. Nhưng sau khi nghĩa quân rút đi, chúng vào thấy có cả tăng-xê chiến đấu, lấy được 2 súng cal, 16 và 88 viên đạn, cùng rất niều tài liệu, thì chúng cho đây là một trung tâm chỉ huy phối hợp giữa 3 đội nghĩa quân. Chúng tôi thấy cần thiết liệt kê dưới đây những thứ địch đã lấy được của nghĩa quân, đặc biệt là những tài liệu, để căn cứ vào đó có thể rút ra những nhận định về vị trí, tính chất, mối quan hệ của hoạt động của nghĩa quân tại đây. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Một, 2010, 02:40:46 pm Những vật dụng địch đã thu được:
1. Một xắc đựng dụng cụ 2. Một cờ đỏ thêu ngôi sao 3. Một gói có nhiều truyền đơn và tài liệu 4. 11 túi dết 5. Một hộp pháo (có thể dùng thay tiếng súng trong hoạt động) 6. Ba lô vải đỏ 7. Một túi gạo khô 8. 4 cái chăn 9. 1 sừng trâu (làm tù và) 10. 19 cái nốp 11. 5 cái giáo 12. 2 liềm và 4 dao 13. 2 súng cỡ 16 (1 súng một phát và 1 súng hai phát) 14. 1 túi dết có 88 viên đạn. Gạo đô nấu bếp cho 20 người. Bản kê giấy tờ, truyền đơn lấy được 1. Hỡi anh em binh lính đông Dương! (47 bản) 2. Hỡi anh em lính lê dương, thủ hộ, cảnh sát, mã tà! (100 bản) 3. Hỡi các dân tộc bị áp bức Đông Dương! Hỡi anh em, chị em quốc dân đồng bào! (31 bản) 4. Hỡi quốc dân đồng bào! Hỡi các dân tộc phản đế Đ.D (30 bản) 5. Giải phóng số 1 ra ngày 1-1-1941 (6 bản) Giải phóng số 2 ra ngày 25-1-1941 (12 bản) Giải phóng tờ phụ (2 bản) 6. Phấn đấu (báo tháng) Số 1, 20-1-1940 (1 bản) 7. Cứu quốc (báo tháng) Số 1, 30-4-1940 (1 bản) 8, Tiến lên (Số 3 và 4) (2 bản) 9. Thông cáo (2 bản) 10. Thông cáo Nghị quyết của toàn Ban Xứ ủy nam Kỳ ngày 6 Févirier 1939 (1 bản) 11. Quyết định nhiệm vụ của Đảng đối với tình hình hiện thời của Trung ủy Đ.C.S Tàu họp 10/11/1939 (2 bản) 12. Điều lệ của M.T.T.N.D.T.P.Đ (2 bản) 13. Chủ nghĩa phát xít (1 bản) 14. Thông cáo của Thường vụ Xứ ủy Nam Kỳ (1 bản) 15. Điều lệ tạm thời của Hội thanh niên Tân Tiến (1 bản) 16. Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản Đông Dương (1 bản) 17. Chống chủ nghĩa tự do của Mao Trạch Đông (1 bản) 18. Vấn đề thiếu đồng xu và sinh hoạt đắt đỏ (1 bản) 19. Ủng hộ Liên bang Xô viết chống trận giặc vu khống và âm mưu tấn công của đế quốc chủ nghĩa (1 bản) 20. Hỡi quốc dân đồng bào, Hỡi các dân tộc Đ.D! (1 bản) 21. Chủ nghĩa Lê Nin (2 bản) 22. Nghị quyết của Xứ ủy Nam Kỳ về cuộc bạo động vừa qua và đối với thời cuộc hiện tại (21, 22/1/1941 (13 bản) 23. Nghị quyết của Xứ ủy Nam Kỳ (2 bản) 24. Thư của Trung ương gửi cho X.U.N.K và các đ/c (1 bản) 25. Tuyên ngôn của U.B.P.Đ.Đ.D đối với K.N. 8/3 (1 bản) 26. Nghị quyết của Thường vụ X.U.NK (3-5-1939) 1 bản 27. Tập y học (1 bản) 28. Giải bài: Cách mạng Tư sản dân quyền (1 bản) 29. Thông cáo bí mật của các cán bộ Đảng (20-3-1937) (1 bản) 30. Giả bài Marx Lénin chủ nghĩa (t bản) 31. Đảng viên ta phải tu luyện thế nào (2 bản) 32. Bài Tuyên ngôn của Quốc tế cộng sản (C.S.T.T.) (1 bản) 33. Chủ trương tổ chức mới của dảng CSTT số 13, 26-3-1937 (1 bản) 34. Tuyên ngôn của Q.T.C.S về ngày 1 tháng 5 (2 bản). 35. Tuyên ngôn của ĐCSDD với thời cuộc (16-2-1941) (7 bản) 36. Nghị quyết của Đại biểu Hội nghị của Hội Phụ nữ giải phóng Nam Kỳ (1 bản) 37. Công tác của QTCS. Nghị quyết của thế giới Đại hội thứ 7 QTCS. Về công tác của Ban chấp ủy QTCS (ngày 1-8-1935) (1 bản) 38. Công tác vận động quần chúng (1 bản) 39. Điều lệ phản đế cứu quốc hội (6 bản) 40. Chiến thuật cơ sở (1 bản) 41. Tuyên ngôn của Chánh phủ lâm thời dân chủ công hòa quốc Đông Dương (1 bản) 42. Lịch sử Đảng Cộng sản vận động ở Đông Dương (1 bản) 43. Đối với thời cuộc (3 bản) 44. Những nhiệm vụ căn bản của cách mạng Đ.D (2 bản) 45. Tập ca (4 bản) 46. Những điều yêu cầu (1 bản) 47. Tuyên ngôn của ĐCSĐD đối với thời cuộc hiện tại (1 bản) 48. Kỷ niêm 8 năm thống nhứt ĐCSĐD ( bản) 49. Hỡi quốc dân đồng bào! (B.T.B) rất nhiều bản 51. Kỷ niệm 11 năm thành lập ĐCSĐD (1 bản) 52. Hỡi quốc dân đồng bào! Hỡi dân tộc bị áp bức Đ.D! (1 bản) 53. Kỷ luật tạm thời của du kích (2 bản) 54. Thông cáo Ban quân sự (Ủy ban tham mưu quân sự) (2 bản) 55. Lịnh giới nghiêm. Cùng quốc dân đồng bào! (1 bản) 56. Thiết lập trật tự (1 bản) 57. Luật thi hành của Chánh phủ (1 bản) 58. Điều lệ Đảng Cộng sản Đông Dương (2 bản) 59. Điều lệ công hội (2 bản) 60. Điều lệ hội phản chiến (2 bản) 61. Điều lệ nông hội (2 bản) 62. In a) Ban y tế (2 bản) b) Ban Quân sự bộ (Giấy xin phép vắng mặt) (demande d’autoristion d’absence) c) Ch. Tr. B. tr. d) Ban kinh tế f) Quân sự Bộ g) Q.S.B. 63. Bảng về tổ chức đội (nghĩa quân) (1 bản) 64. Muốn hiểu rõ tình hình quân sự Tàu (1 bản) 65. Gương chí sĩ Phan Tây Hồ lịch sử toàn biên (1 bản) 66. Đường hạnh phúc. Thợ thuyền Nga (1 bản) 67. Vượt ngục (Phóng sự tiểu thuyết) (2 bản) 68. Đông Dương Tạp chí (1 bản) 69. Dân chúng (1 bản) 70. Cuộc chiến tranh năm 1914-1918 (1 bản) 71. Bản đồ Trung Quốc - Đông Dương - Mã Lai (3 bản) 72. Ngày 1 tháng 5 (1 bản) 73. Bản án những lãnh tụ cộng sản (1 bản) 74. Công tác phá hoại (1 bản) 75. Điều lệ của tổng công hội Thống nhứt Đ.D (1 bản0 76. Bì thư đựng tài liệu của tổ chức băng Tân An (tức đội nghĩa quân Tân An) (1 bản) Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Một, 2010, 02:44:52 pm Qua bản thống kê những tài liệu địch bắt được trong cuộc càn quét ở Địa Bàu Mốp, làng Thạnh Lợi, chúng ta có thể rút ra mấy nhận xét sau đây:
1. Chắc chắn nghĩa quân hoạt động ở căn cứ Mớp Xanh - Bo Bo có liên hệ với Xứ ủy Nam Kỳ mới được củng cố lại, sau khi cộc khởi nghĩa thất bại. Trong một số hồi ký, sách báo thường viết về Hội nghị Xứ ủy mở rộng ở làng Đa Phước, huyện Cần Guộc(1). Nay thì có thể khẳng định, Hội nghị có được tiến hành vào các ngày 21, 22 tháng 1 năm 1941 (số 22 trong bản kê khai) Hội nghị này có kiểm điểm rút khởi nghĩa về những nguyên nhân dẫn đến thất bại của cuộc khởi nghĩa, chúng tôi sẽ nhắc tới ở phần chủ trương của Xứ ủy sau khi cuộc khởi nghĩa thất bại. Đồng chí Lưu Dự Châu (năm 1931 đã làm bí thư tỉn Gia Định, trong Ban khởi nghĩa tỉnh Tân An, được cử lãnh đạo căn cứ Mớp Xanh - Bo Bo, làm chỉ huy trưởng các lực lượng nghĩa quân của nhiều tỉnh tập trung về đây, chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa lần hai, do Xứ ủy chủ trương. Số lượng Nghị quyết của hội nghị Xứ ủy tháng 1-1941 có tới 13 bản, chứng tỏ rất mới và rất quan trọng. Việc Xứ ủy chủ trương ra báo Giải Phóng, sau cuộc nổi dậy thất bại chứng minh đúng, vì đã được gửi tới căn cứ số 1. 2 và tờ phụ, và lại nhiều bản. Những cuộc càn quét sau, địch còn bắt được báo Giải Phóng số 9 và 10. Rất tiếc bản nói về tổ chức nghĩa quân (mục 63) và bì thư đựng tài liệu về tổ chức nghĩa quân Tân An (mục 7), địch chỉ kê mục, không còn nội dung. 2. Một số tài liệu cho thấy, Xứ ủy đã dự iến những công việc sau khi cuộc khởi nghĩa thắng lợi, như Tuyên ngôn của Chánh phủ lâm thời dân chủ cộng hòa quốc Đông Dương (mục 41). Hỡi quốc dân đồng bào! (rất nhiều bản, mục 49), Lịnh giới nghiêm, Cùng Quốc dân đồng bào! (mục 55), Thiết lập trật tự (mục 56), Luật thi hành của Chính phủ (mục 57)… Có thể đây là những tài liệu được chuẩn bị từ cuộc khởi nghĩa ngày 23-11 còn lại. 3. Những tài liệu kỷ luật tạm thời của du kích (mục 53), tài liệu in cho 7 ban (mục 62), cho thấy tổ chức của nghĩa quân khá chặt chẽ và có quy mô nhất định. 4. Sau khởi nghĩa Trung ương Đảng đác có liên lạc với Xứ ủy nam Kỳ và đã đến được căn cứ Mớp Xanh - Bo Bo qua Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản Đông Dương đối với thời cuộc (16-2-1941) (mục 5), Thư của Trung ương gửi cho Xứ ủy Nam Kỳ và các đồng chí (Không có ngày, có thể thư cũ (muc 24). Như vậy ý kiến cho rằng khoảng 6 tháng 2, tháng 3-1941, Trung ương Đảng rất lo cho Nam Kỳ, đã cử một đoàn cán bộ gồm 3 người gồm các đồng chí Nguyễn Hữu Ngoạn, Nguyễn Hữu Xuyến và nữ đồng chí Nam vào tiếp xúc với đồng chí Phan Văn Khỏe, Bí thư Xứ ủy mới được bầu lại thay đồng chí Tạ Uyên, là có khả năng hiện thực(2). Đó là chưa kể những vấn đề lý thú khác thuộc sinh hoạt của nghĩa quân như tập ca, tập y học… Sau cuộc càn quét của địch đánh trúng trung tâm căn cứ ở Thạnh Lợi của nghĩa quân, theo tài liệu của Ban Thường vụ tỉnh Long An và Lịch sử Chợ Lớn - Tân An trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, thì Xứ ủy cử đồng chí Nguyễn Văn Tiếp Xứ ủy viên cùng hai cán bộ của Tỉnh ủy Tân An Trần Trung Tam, Võ Ngọc Đại đến căn cứ Mớp Xanh - Bo Bo truyền đạt chủ trương giải thể căn cứ của Xứ ủy. Đồng chí Lưu Dự Châu và một số nghĩa quân rời căn cứ. Đến ngày 28-7-1941, Pháp bắt được đồng chí Châu ở Hóc Môn (Gia Định) và cả đồng chí Tiếp, Xứ ủy viên)(3). Đồng chí Châu rời căn cứ, nhưng đồng chí Lê Văn Của (Mười Râu) phụ trách bộ phận còn lại và tiếp tục chiến đấu. (1) Ban nghiên cứu LSĐ. TP.HCM: Nam Kỳ khởi nghĩa (1940). NXB. TP.HCM 1980, tr.118 (2) Như trên, tr.110. 120. (3) Như trên đã nói, Tỉnh ủy Tân An do đồng chí Trần Trung Tam làm bí thư đã có chủ trương định khởi nghĩa, cho nghĩa quân rút vào bí mật cho nên việc đồng chí Tam cùng đi với đ/c Tiếp vào truyền đạt ctr giải thể căn cứ là dễ hiểu. Sự thật, Xứ ủy chưa bao giờ họp bàn đình hoãn khởi nghĩa và giải thể căn cứ. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Một, 2010, 02:47:00 pm Ngày 2-4-1941, trong đợt lùng xục vùng Ba Thu (Mộc Hóa giáp Campuchia) mang theo 26 lính và 30 dân binh, địch bắt được nghĩa quân Lê Văn Dâu, người tham gia cuộc phục kích diệt quản Nên và bếp Nhung.
Ngày 20-4-1941, đơn vị lính do phó quản Huỳnh Văn Sĩ chỉ huy càn Bàu Voi, vùng giã Thuận Nghĩa Hòa và Bình Thành, chúng bắn bị thương nghĩa quân Trịnh Văn Biệt, người đã dự cuộc đánh chiếm đồn Trà Cú và bắn chết nghĩa quân Lê Văn Tiêng, đã tham gia cuộc phục kích Cai tổng Thanh Hoa Hạ ngày 29-12-1940, bắn chết bếp Tạ Văn Mao… Cả hai đồng chí đều trong đội do các đồng chí Giáo Châu và Giáo Hích (làng Thuận Nghĩa Hòa và Bình Thành) chỉ huy. Chúng tổ chức khen thưởng cho các tên tay sai đắc lực phỏ quản Sĩ, cai Giáp, cai Đơn và một số tề trung thành với chúng trong cuộc biểu dương lực lượng ở đại lý Bình Hòa. Được chỉ điểm báo cáo có nghĩa quân đang ở xóm Thạnh Hưng (Thạnh Lợi), nửa đêm ngày 9 rạng ngày 10-11-1941, trưởng đồn cảnh sát Thạnh Lợi, cai mã tà Nguyễn Văn Nghĩa mang theo 5 lính, 3 tay hân, trang bị đầy đủ vũ khí tới Rạch Bà Hạt để truy lùng. Khoảng 4g30, cách rừng Dung 200 mét, thì chúng trạm chán khoảng 15 nghĩa quân. Bị nghĩa quân bắn lại, bọn lính ẩn náu, chờ trời sáng. Nhưng lợi dụng trời tối, rừng rậm, nghĩa quân dễ dàng rút đi, để lại 4 xuống ba lá không số, trong đó có chăn màn, quần áo cũ, đồ dùng nhà bếp, 1 hộp thuốc súng, bản tuyên bố của Đảng Cộng sản và hai bài vọng cổ. Nội dung 2 bài vọng cổ có nói tới nguyên hân thất bại của cuộc khởi nghĩa, việc tiếp tục chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa lần hai(1). Từ đây, dưới sự chỉ huy của chủ tỉnh Tân An, lính địch ở Bình Hòa chuyển sang hỗ trợ và phối hợp với bọn cai trị Mộc Hóa tổ chức lùng xục, càn quét lực lượng nghĩa quân Phạm Văn Kỳ, sẽ trình bày ở cuộc nổi dậy ở Mỹ Tho. Chúng tôi thấy cần thiết ghi lại một đoạn trong báo cáo của chủ tỉnh Tân An E. Vilmont, nhận định về tính chất và ý nghĩa của cuộc nổi dậy của nghĩa quân tỉnh Tân An, gửi Thống đốc Nam Kỳ: “Với sự lùi lại của thời gian, những thông tin thu lượm được, người ta có thể nhận định rằng Đảng Cộng sản Đông Dương phát động vào giờ đã định, cuộc khởi nghĩa trên lãnh thổ Tân An, nhằm góp phần tổ chức (cấu tạo) một mặt trận đỏ liên hoàn, từ phía Bắc lộ lớn, thâm nhập về phía Tây, Sài Gòn - Mỹ Tho - Vĩnh Long, chúng chọn khu vực hành động này, vì dễ dàng di chuyển, nhanh chóng trong tiến công, nhưng nhờ đường sông, kênh rạch, chúng lại bảo vệ an toàn cho lực lượng của chúng, bởi vì chúng làm chủ một hệ thống, mà ở đó những phương tiện can thiệp của bản thân chúng ta,về an ninh và phòng vệ, không có. Sự lưu thông đường sống từ Sài Gòn đến các sông Vàm Cỏ - các kênh phía Bắc Mỹ Tho; kênh Xáng (Arroyo commercial); kênh Tổng đốc Lộc cho tới tận Châu Đốc, giúp cho bọn nổi loạn một vùng di chuyển không chút rủi ro bất trắc, mà chúng biết tận dụng những thuận lợi ấy. Vùng đỏ này được tạo ra, rõ ràng Đảng Cộng sản Đông dương có một kế hoạch to vào những thành tựu cai trị, xã hội và công nghiệp của chúng ta. Những hoạt động liên tục của bọn phiến loạn, với mục đích chiếm quận lỵ Thủ Thừa, để nối tiếp với Chợ Lớn, vượt qua đương sắt Sài Gòn - Mỹ Tho, hướng tới trung tâm đô thị Tân An, để phối hợp với các cuộc nổi loạn các làng giáp ranh của Mỹ Tho (như Chợ Gạo và Bến Tranh). Trong khi dó, vùng trải dài từ Bến Lức đến Đức Hòa là miếng mồi của bọn cộng sản hung dữ làng Thạnh Lợi… … Việc chiếm đóng Mỹ An Phú hồi 19 giờ ngày 24-11-1940 của Hải quân, đã ngăn cản cuộc tiến công của bọn cộng sản vào quận lỵ Thủ Thừa, mà bọn chúng đã dự định tiến vào sông Vàm Cỏ xuống, lúc nửa đêm. Ôtô súng máy, đội cơ động đặc biệt, đã cứu Bến Lức (Chợ Lớn), chặn bọn thâm nhập từ phía Mỹ Tho. Và đẩy bọn du kích vào Đồng Tháp Mười, như vào vùng Viễn Tây (un Farwest) vào một vùng đất không người (un No-man’s land) hoặc vào rừng. Vì vậy, cuối tháng 1-1941, bọn phiến loại phải tập hợp trong phía Bắc vùng giữa hai sông Vàm Cỏ”…(2) (1) Báo cáo số 1162/AG ngày 13-11-1941 của chủ tỉnh Tân An Vilmont do Thống đốc Nam Kỳ. HS. IIA.e/222 (2c) TT.LT 2 Xem bài vọng cổ ở phần phụ lục. (2) Báo cáo số 42c ngày 11-4-1941 của chủ tỉnh Tân An gửi Thống đốc Nam Kỳ. HS. IIA45/222(2c) TT.LT2. TP.HCM. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Mười Một, 2010, 06:10:10 am V. CUỘC NỔI DẬY Ở MỸ THO(1)
Sau những cuộc họp của Xứ ủy (tháng 7, 9 và 10-1940), Tỉnh ủy Mỹ Tho đã có ba cuộc họp, cũng ngay vào cuối tháng đó, đều ở vùng Xoài Hột (xã Thạnh Phú, huyện Châu thành) để bàn kế hoạch triển khai thực hiện theo hướng khẩn trương chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa. Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, khắp nơi quần chúng náo nức hưởng ứng chuẩn bị nổi dậy. Ở tất cả các quận ChâuThành, Cai Lậy, Chợ Gạo, An Hóa, Cái Bè công tác tuyên truyền được đẩy mạnh. Rất nhiều xã tổ chức mít tinh diễn thuyết, kêu gọi quần chúng đấu tranh chống khủng bố, chống bắt lính, chống sưu cao thuế nặng… Ban đầu, các cuộc mít tinh thường tổ chức vào ban đêm, có nơi chuyển thành biểu tình thị uy, dần dần mít tinh và biểu tình cả ban ngày. Ở một số quận các chi bộ thành lập những đội tuyên truyền xung phong trương băng cờ và nói chuyện ở những nơi đông người, gây không khí náo động, háo hức muốn vùng lên đấu tranh sống chết với bọn đế quốc phát xít. Công tác vận động kêu gọi binh lính người Việt, mã tà, cảnh sát… được Tỉnh ủy rất chú trọng. Nhiều địa phương đưa cán bộ, đảng viên của ta vào hàng ngũ lính địch, một đồng chí tỉnh ủy viên bị động viên đi lính, đã hoạt động gây được nhiều nhân mối trong các trại lính và hăng hái trong việc chuẩn bị khởi nghĩa (Cai Tốt). Do sự vận động của ta, một lính da màu (den) trong quân đội địch đã ủng hộ cách mạng 4 khẩu súng gồm 3 súng săn, một súng lục (Saint Etienne). Những khẩu súng này đã được đem dùng ngay trong cuộc nổi dậy đầu tiên của nghĩa quân xã Long Trung (quận Cai Lậy)(2). Nhiều bài ca kêu gọi các tầng lớp quần chúng đứng lên khởi nghĩa và kêu gọi binh lính địh cầm súng quay về với cách mạng được lan truyền rộng rãi. Dưới đây là một bài ca kêu gọi binh lính người Việt trong quân đội Pháp còn lưu lại: “Hỡi anh em binh lính! Bước ra đấu tranh với lũ quân binh, Lợi quyền chia nhau chung hưởng cùng nhau, Màng chi lon dỏ, lon trắng, lon vàng (chỉ cấp bậc trong quân đội Pháp) Ham chi quan tước với tấm mề đay (médaille, huân chương) Quân nó khinh mình, quân nó gạt mình. Chúng nó nói: phải ái quốc, phải ái quốc, nên yêu dân, nên yêu dân, Phải cứu dân cùng chung mẫu quốc, mẫu quốc, Nhưng nào có thấy nó cứu dân, Ta thấy dân cơ hàn, có ai thèm lo, nỡ nào làm ngơ, Hỡi này anh em binh lính! Cùng với công nông cướp lấy chính quyền về tay ta. Theo bóng ngọn cờ hồng. Theo bóng ngọn cờ hồng! Việt Nam cộng sản muôn năm!” Tài liệu tuyên truyền, huấn luyện, truyền đơn, báo chí(3) cờ, băng, chuẩn bị cho khởi nghĩa do Tỉnh ủy phụ trách, đặt làm ngay tại căn cứ rừng Lầu Thày Kiện, ấp Tân Lập thuộc xã Tân Lý Đông, quận Châu Thành. Đó là trụ sở của Ban lãnh đạo khởi nghĩa. Ngoài ra còn mấy địa điểm in ấn nữa đóng ở nhà đồng chí Nguyễn Văn Dẹm (xã Tân Hương), nhà ông Hội đồng Nhiều (xã Kim Sơn) quận Châu Thành, nhà ông Trần Vĩnh Hoài (xã Tân Thuận Bình, quận Chợ Gạo)… Các quận cũng có cơ quan in của mình như quận ủy Châu Thành đặt ở nhà ông Đăng ấp Đông, xã Kim Sơn, quận ủy Cai Lậy đặt ở xã Mỹ Hạnh Đông, sau rời về Nhị Quý… (1) Vào 1940-1941, tình hình địa lý, dân số. lính địch ở Mỹ Tho như sau : Tỉnh trải dài 115 ki-lô-mét theo sông Tiền, một nhánh lớn của sông Mê Kông, rộng 30 ki-lô-mét, diện tích 223.660 ha. Sông có hai cửa đổ ra bể là cửa Đại và cửa Ba Lai, cách ngoài đảo An Hóa. Sản xuất chủ yếu ruộng lúa chiếm 132.660 ha. Về hành chính, ngoài tỉnh lỵ là cấp thành phố, có quận: 1. Quận Châu Thành 3 tổng, 42 làng; Quận trưởng. Ng. Văn Quí 2. Quận An Hóa 2 tổng, 19 làng; Quận trưởng Trương Công Thiện 3. Quận Cái Bè 2 tổng 18 làng; Quận trưởng Ngô Ngọc Biêu 4. Quận Cai Lậy 3 tổng 23 làng; Quận trưởng Nguyễn Văn Tâm 5. Quận Chợ Gạo 3 tổng 20 làng; Quận trưởng Nguyễn Văn Năm Dân số khoảng 400.000 người. Thường xuyên đóng tại Mỹ Tho có 2 đại đội lính tập (khố đỏ, Tiralleurs); 17 lính mã tà (garde civile) Lúc khởi nghĩa thường xuyên có mặt tại Tỉnh 1 tiểu đoàn lính tập; không kể tiểu đoàn lê dương được điều đến để đàn áp. Chủ Tỉnh là GAUTHIER. Từ 1-12-1940 thì DUFOUR về thay. (2) Người lính da màu này có vợ người Việt là bà Nguyễn Thị Son ở thành phố Mỹ Tho. Khi chúng tôi đi tìm hiểu thực tế ở Mỹ Tho năm 1984 thi bà còn sống. (3) Như tờ TIẾN LÊN! Cơ quan tranh đấu của Mặt trận thống nhất phản đế Đông dương, số 5 ra vào tháng 8-1940 được xuất bản ngay tại Mỹ Tho và phát hành đi các nơi. Vì ngày 30-7-1940, cơ quan in báo Tiến lên đóng ở Chợ Lớn bị vỡ, các đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai và Nguyễn Hữu Tiến bị bắt. Điều đó cũng chứng tỏ Mỹ Tho mà một cơ sở mạnh của Xứ ủy lúc đó. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Mười Một, 2010, 06:14:05 am 1. Về công tác tổ chức xây dựng lực lượng
Tỉnh ủy Mỹ Tho được củng cố, đồng chí Phan Văn Khỏe, Xứ ủy viên trực tiếp làm bí thư tỉnh ủy. Các quận đều có quận ủy, riêng quận Chợ Gạo, mới có quận ủy lâm thời. Lúc đó ở Mỹ Tho có 112 xã mà đã có tới 60 chi bộ xã, xí nghiệp, đường phố, tức là gần 50% tổ chức cơ sở có lãnh đạo trực tiếp của Đảng. Tỉnh ủy phổ biến chủ trương khởi nghĩa đến từng chi bộ, đảng viên, trao nhiệm vụ lãnh đạo cho từng cán bộ, đồng thời giáo dục vai trò tiên phong gương mẫu, tinh thần kiên cường bất khuất của người cộng sản trong cuộc đấu tranh sống còn với quân thù. Theo chủ trương của Trung ương Đảng và Xứ ủy, Tỉnh ủy Mỹ Tho đã tập hợp quần chúng trong Mặt trận phản đế Đông Dương dưới nhiều hình thức: Thanh niên phản đế, Phụ nữ phản đế, Nông hội phản đế, Binh sĩ phản chiến, Nhi đồng cứu vong. Riêng tổ chức Thanh niên phản đế được thành lập ở nhiều xã quận Cai Lậy, Châu Thành, Chợ Gạo. Các xã có tổ chức Thanh niên phản đế mạnh là Thạnh Phú, Long Hưng Vĩnh Kim (Quận Châu Thành), Mỹ Hạnh Đông, Mỹ Hạnh Trung, Mỹ Phước Tây (quận Cai Lậy), Quơn Long (quận Chợ Gạo). Một ủy ban vận động Mặt trận phản đế được thành lập để tuyên truyền phổ biến mục đích, tôn chỉ, cương lĩnh đấu tranh của Mặt trận và tiến hành lập Mặt trận từ làng xã lên quận, tới tỉnh. Những quần chúng hăng hái, trung kiên có tinh thần yêu nước vào có cảm tình đối với Đản đều chuyển từ từ Mặt trận Dân chủ sang Mặt trận phản đế. Qua thực tiễn đấu tranh, những quần chúng tốt trong Mặt trận phản chiến được giới thiệu vào Đảng. Mặt trận được tổ chức rộng rãi, ngoài lực lượng công nông làm nòng cốt còn có các tầng lớp nhân dân khác. Đáng chú ý, Mặt trận đã vận động được một số trong các Hội đồng tề thôn, xã, một số người giàu có ở nông thôn, mà sau này trong cuộc nổi dậy họ đã ủng hộ hoặc chiến đấu tích cực. Có cả một số người vốn trước kia là “anh hùng hảo hớn” hay bất bình trước những cảnh không công bằng của xã hội, căm ghét bọn đế quốc thống trị, bọn cường hào hà hiếp nhân dân, nhưng chưa được giác ngộ, đã có hành động lấy của người giàu (địa chủ) giúp người nghèo (như Phạm Văn Kỳ (Mười Kỳ), Hà Tôn Hiến…). Nhờ sự giáo dục của Đảng, của mặt trận, những người này đã đứng vào hàng ngũ nhĩa quân, cùng đấu tranh “sống chết” với nhân dân, trở thành những chiến sĩ chiến đấu rất ngoan cường trong nổi dậy và anh dũng lúc hy sinh. Thực hiện quyết định của Tỉnh ủy, nhiều chi bộ đã tổ chức các đội cảm tử. Phần lớn các xã trong quận Châu thành và một số xã trong các quận khác đã thành lập một trung đội cảm tử, cá biệt có nơi tới một đại đội. Như ở xã Thạnh Phú đã thành lập nhiều đội vũ trang ở Bờ Xxe, Bờ Đá, Cây Xanh, Miếu Hội, Xóm Chùa, Xóm Vong, Ấp Chợ, Xoài Hột. Trong các hãng, xưởng ở tỉnh lỵ cũng có đội tự vệ vũ trang, trang bị vũ khí thô sơ như: gươm, giáo, mác, dao găm, gậy, tầm vông… Phong trào mua sắm vũ khí và quyên góp tiền, xu, lập lò rèn làm gươm, dao găm rất hăng hái ở các xã Tân Lý Tây, Long hưng, Kim Sơn, Mỹ Hạnh Đông. Riêng ở xã Vĩnh Kim làm được 12 cây súng tự tạo. Ở một số nơi thực hiện cả việc tích trữ lương thực, thực phẩm, thuốc… Các đội cảm tử luyện tập thường xuyên và thường tập vào ban đêm. Tỉnh mở lớp đào tạo cán bộ quân sự tại căn cứ, rồi cho tỏa về huấn luyện ở địa phương. Nội dung học tập quân sự gồm: Kỷ luật tạm thời của du kích. Cách đánh du kích, Công tác phá hoại… Để thiết thực chuẩn bị cho cuộc nổi dậy, Tỉnh ủy đã quyết định chọn vùng rừng Lầu Thầy Kiện hay còn gọi là Rừng Ba U, toàn cây tràm, măng, lác rậm rạp, thuộc xã Tân Lý Đông (quận Châu Thành), làm căn cứ cách mạng của tỉnh. Vùng này giáp ranh 3 xã Long Định, Tam Hiệp, Tân Lý Đông, kế cận vùng Đồng Tháp Mười rộng mênh mông, kênh rạch chằng chịt và măng lác um tùm. Tỉnh ủy chia căn cứ này ra làm ba khu, đặt cho mỗi khu một bí danh: - Khu Marseille (Mác-xây, một cảng miền Nam nước Pháp là nơi sản xuất vũ khí. - Khu Paris (Pa-ri, thủ độ nước Pháp) là nơi dự trữ lương thực, may cờ, làm khẩu hiệu, in truyền đơn… - Khu Đà Lạt là nơi tiếp đón cán bộ từ ngoài vào. Căn cứ là nơi cán bộ về báo cáo tình hình và hội họp. Các quận cũng chọn những nơi có phong trào mạnh làm căn cứ như Bắc Châu Thành, Bắc Cai Lậy, Bắc Cái Bè… Nhìn trên bản đồ thấy những căn cứ này gần căn cứ của tỉnh và đều kề sát vùng Đồng Tháp Mười. Gần ngày khởi nghĩa, Tỉnh ủy lập ủy ban khởi nghĩa có các Ban như Ban Tham mưu, Ban Tác chiến, Ban Binh vận, Ban Hậu cần, Cứu thương… Riêng về giao thông, Tỉnh ủy lập một mạng lưới nhiều tuyến nhằm bảo đảm cho việc chỉ huy được thông suốt và kịp thời. Trạm giao liên của tỉnh ủy đặt tại cầu đúc Trung Lương (nay thuộc cã Trung An, thành phố Mỹ Tho) chịu trách nhiệm: Liên lạc giữa Tỉnh ủy với Xứ ủy, Tỉnh ủy với Liên tỉnh ủy, Tỉnh ủy với các quận và cơ sở trực tiếp. Trung Lương là ngã ba đường từ thành phố Sài Gòn đi miền Tây và vào thành phố Mỹ Tho; đồng thời cũng là ga đường sắt từ Sài Gòn qua ga Trung Lương đến Mỹ Tho. Việc giao liên dùng mọi phương tiện: đi bộ, đường thủy, đường sắt, đường ô tô… Riêng lệnh khởi nghĩa thì dùng xe location (lô-ca-xi-ông như xe taxi hiện nay), để nhanh chóng truyền đạt lệnh khởi nghĩa đi các nơi. Trong công tác lãnh đạo tất cả các quận đều quy vào một khối do Tỉnh ủy chỉ huy. Riêng chi bộ các xã Thanh Bình, Trung Hòa, Mỹ Tịnh An, do sự khủng bố của địch đầu năm 1940, đã bị đứt liên lạc với quận ủy Chợ Gạo, cho nên các đồng chí đã bắt liên lạc với Tỉnh ủy Tân An và đã được Tỉnh ủy Tân An cử cán bộ về tận nơi giúp đỡ. Nhìn chung, công việc chuẩn bị khởi nghĩa của Mỹ Tho rất sôi nổi, nhất là sau khi Pháp thua trận ở chính quốc, phát xít Nhật nhảy vào Đông Dương, cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn ở Bắc Kỳ đã nổ ra, quân đội người Việt nằm trong quân đội pháp bị điều sang biên giới Thái - Campu-chia, để chuẩn bị chiến tranh Pháp - Thái. Chỉ còn đợi mệnh lệnh cuối cùng của Xứ ủy quyết định ngày giờ là quần chúng nổi dậy. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Mười Một, 2010, 06:14:57 am 2. Cuộc khởi nghĩa bùng nổ
Mệnh lệnh khởi nghĩa của Xứ ủy gửi đến trạm giao liên Trung Lương của Tỉnh ủy Mỹ Tho vào hồi 20 giờ ngày 22 tháng 11 năm 1940. Mệnh lệnh nói rõ: 0 giờ ngày 23-11-1940 sẽ đồng loạt nổi dậy đánh chiếm các đồn, thị trấn, nhà việc, cắt đứt đường giao thông, nhất là lộ 4 Đông Dương (nay là đường số 1), chặn không cho địch kéo về ứng cứu Sài Gòn. Sau khi ta chiếm được Sài Gòn, thì quân khởi nghĩa sẽ kéo về tỉnh phối hợp với lực lượng tại chỗ đánh chiếm tỉnh lỵ. Lập tức, bằng mọi phương tiện, lệnh khởi nghĩa được gửi đi khắp nơi. ĐỊCH CỐ GẮNG NGĂN CHẶN Nhưng, ở Mỹ Tho bọn cai trị lại được thông báo trước. Vào hồi 5 giờ chiều ngày 22-11 (tức là trước khi lệnh khởi nghĩa của Xứ uỷ tới tỉnh), Chủ tỉnh và bọn chỉ huy quân sự đã nhận được bứ điện số 7325 của mật thám Sài Gòn và tiếp sau đó vào lúc 6 giờ 45 tối, lại nhận được điện số 317 của Thống đốc Nam kỳ. Nội dung của hai bức điện này báo cho bọn cầm quyền ở tỉnh biết rằng: Theo nhiều nguuồn tin tình báo, đêm nay (22-11) cộng sản sẽ nổi dậy đánh chiếm nhiều nơi, có lính bản xứ tham gia. Tát cả các nơi phải đề phòng, ra lệnh báo động, không cho lính ra khỏi trại, gác kho súng đạn, huy động cảnh sát, mật thám, mã tà… đi tuần tra, kiểm soát chặt chẽ. Nếu có biến động thì thẳng tay đàn áp. Nhận được điện, lập tức Gauthier, Chủ tỉnh My Tho truyền đạt cho các cấp dưới của y và ra lệnh cho cảnh sát, mã tà đi tuần tra, canh gác chu đáo. 19 giờ Nguyễn Văn Quí, chủ quận Châu Thành vội vã cùng thanh tra mật thám, mang theo lính đi kiểm tra tất cả các đồn cảnh sát trong quận, cho đến 1 giờ sáng ngày 23 thì quay về tỉnh lỵ. Rồi lại đi tiếp đến vùng Bến Tranh và Tân Thuận Bìnhi, đến 4 giờ sáng mới qauy về quận lỵ. Chủ quận Cai Lậy Nguyễn Văn Tâm mãi đến 2 giờ đêm mới nhận được tin. Y vội vã lên đường chấp hành mệnh lệnh. Bọn chỉ huy cảnh sát, mã tà phân công như sau: Viên Đội xếp pháo binh Antouard cò cảnh sát dùng ô tô đi tuần từ 20 giờ đến 22 giờ ngày 22-11, tiếp đến 1 giờ sáng ngày 23 tên các đường địa phương số 4 và số 6, đường thuộc địa số 4, 21, 5 đườsng hàng tỉnh 25, kiểm tra tất cả các đồn trên các lộ đó và kề cận. Viên chánh cò Issot chỉ huy lính mã tà đi tuần từ 21 giờ đến 24 giờ trên các đường địa phương số 4 và số 6, đường hàng tỉnh 25, một số đường làng và thanh tra các đồn. Riêng viên hiến binh (gendarme) Tolosani, chỉ huy mã tà tỉnh, rời tỉnh lỵ Mỹ Tho bằng ôtô lúc 22 giờ cũng đi làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát các đồn nằm trên các con đường nói trên. Như vậy là địch ở Mỹ Tho đã có chuẩn bị đối phó trước. Nhưng chúng có ngờ đâu, chính vào lúc đó, nghĩa quân đang hồi hộp chờ đợi giờ nổ súng và đã vùng dậy khi được lệnh. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Mười Một, 2010, 06:17:06 am 3. Tại quân Châu Thành
Gần nửa đêm ngày 22-11, đồng chí Nguyễn Văn Tân phụ trách khu vực từ kênh Long Hưng xuống Mỹ Tho và từ Xoài Một ra Bình Đức, mới nhận được mệnh lệnh khởi nghĩa. Nhờ có chuẩn bị từ trước và đã có tập dượt, đồng chí tập trung đội cảm tử và một số quần chúng trung kiên trang bị vũ khí thô sơ vào hồi 1 giờ sáng ngày 23, rồi kéo nhau ra đánh đồn Thạnh Phú (quận Châu Thành). Cuộc đánh đồn do đồng chí Danh chỉ huy diễn ra rất nhanh, gọn. Một tên cảnh sát đóng lon bếp, chống lại bị đồng chí Danh vung mã tấu diệt ngay tại chỗ. Ta còn bắt hai người nữa, cai trưởng đồn Thạnh Phú Bùi Văn Trí và bếp Lê Văn Khương vừa đi tuần tra về. Một tuần sau (30-11), ta thả cả hai người này, sau khi đã đưa ra giáo dục trước tòa án nhân dân cách mạng mở tại Long Hưng. Nghĩa quân lấy được 3 súng lửa và nổi lửa đốt đồn. Trong lúc ta đánh chiếm đồn Thạnh Phú thì viên chủ quân Châu Thành và thanh tra mật thám còm đang tuần tra ở Bến Tranh và Tân Thuận Bình. Khi đồng chí Tân huy động lực lượng đánh đồn Thạnh Phú thì chi bộ xã Tam Hiệp (quận Châu thành) cũng điều du kích và quần chúng cùng ới nhân dân các xã Thôn Cửu nghĩa, Long An, Trung An kéo đến tập trung tại xã Nhơn Huề phối hợp với lực lượng của đồng chí Nguyễn Thị Thập, mang theo cờ, khẩu hiệu, vũ khí thô sơ, từ rừng Ba U, nổi trống mõ, pháo tre, kéo ra đánh đồn Chợ Bưng (xã Tam Hiệp) vào lúc 8 giờ sáng ngày 23-11. Lính trong đồn thấy quần chúng kéo đến quá đông, khí thế hừng hực tiến công, hốt hoảng bỏ chạy. Nghĩa quân nhanh chóng chiếm đồn, bắt được 5 lính, thu 6 khẩu súng. Lính mã tà, cảnh sát mật thám đang trên đường tuần tra được tin, chạy đến ứng cứu, giải thoát 5 lính và bắn bị thương 2 nghĩa quân (trong đó có đồng chí Khanh là bí thư chi bộ) Tất cả tề ngụy của các xã trên đây, một số tham gia khởi nghĩa, còn lại khuất phục cách mạng hoặc chạy trốn về tỉnh. Sau khi phá xong đồn Thạnh Phú, nghĩa quân do đồng chí Tân chỉ huy kéo ra xóm Dựa (Long Hưng) phối hợp với lực lượng của đồng chí Nguyễn Văng Ghè và các đồng chí chỉ huy các xã Nhị Bình, Long Định, Long Hưng nằm hai bên đường thuộc địa 4, kéo đi đánh đồn cầu đúc Long Định. Đây là chiếc cầu nằm trên lộ 4 từ Sài Gòn đi các tỉnh Miền Tây, qua đất Mỹ Tho. Quần chúng khởi nghĩa đã chạm trán với đơn vị đi tuần bằng ôtô của quân Tâm, chủ quận Cai Lậy. Sẵn trong tay số súng mới chiếm được, nghĩa quân liền nhả đạn. Lính địch ỷ thế có liên thanh bắn như vãi đạn. Ta và địch bắn nhau khoảng một giờ. Kết quả, nghĩa quân thu được hai súng lửa, nhưng hai chiến sĩ hy sinh (trong đóc đồng chí chín Thạn) và 10 người bị thương. Sau đó, nghĩa quân chia làm đồi: một cánh rút về bảo vệ Long Hưng, nơi đã thành Sở chỉ huy của Ủy ban khởi nghĩa; một cánh khác rút về Long Định, theo kênh rạch chuyển thương binh về căn cứ rừng Ba U. Trong lúc khắp nơi quần chúng đang nổi dậy, tại Long Hưng, nơi được Đảng bộ tỉnh chọn làm trụ sở Ủy ban khởi nghĩa tỉnh, lá cờ đỏ sao vàn nằm cánh cùng với cờ Đảng (búa liềm) phấp phới bay trước đình Long Hưng, nằm kế cạnh bờ kênh Lacombe (Kênh Nguyễn Tấn Thành). Cờ đỏ sao vàng còn được treo trước trụ sở các Ủy ban khởi nghĩa các xã Vĩnh Kim, Kim Sơn, Song Thuận, Bình Trung, và Ấp Đông xã Nhị Bình. Còn hầu khắp các nơi khác vẫn treo cờ đỏ búa liềm. Thế là chính ngay trong cuộc nổi dậy tháng 11 năm 40 của nhân dân Nam kỳ nói chung và của Mỹ Tho nói riêng, lần đầu tiên xuất hiện lá cờ đỏ sao vàng 5 cánh, sau này tại Hội nghị lần thứ VIII của Trung ương (tháng 5-1941), đã được cọn làm quốc kỳ của nước ta. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Mười Một, 2010, 06:19:39 am Sáng ngày 23-11, dưới sự lãnh đạo của chi bộ Tân Lý Tây, Tân hương, Tân Lý Đông mấy trăm quần chúng trang bị cây roi, gươm, giáo, mác kéo đến tập trung tại Gò Ông Lãnh (xã Tân Lý Đông), rồi tiến thắng tới Nhà việc Tân Lý Tây.
Trên đường đi, hàng trăm người gia nhập đội ngũ làm cho đoàn quân khởi nghĩa thêm đông, thêm rầm rộ, khí thế thật mạnh mẽ! Khi nghĩa quân kéo ra tới đường số 4, thì đồn Tam Hiệp đã được mật báo, chúng vội cho quân lính tới ứng cứu Nhà việc Tân Lý Tây. Cùng lúc đó bọn tề với 8 lính đồn Tây Lý Tây huy động thêm tay sai ra bảo vệ Nhà việc. Lính đồn Tam Hiệp phục sẵn sát bên lộ 4, nổ súng trước, nhưng vì thấy nghĩa quân quá đông, cho nên chúng hoảng sợ và bỏ chạy. Mặc dù bị bắn, nhưng nghĩa quân vẫn ào ào tiến lên, vượt qua lộ 4 xông vào Nhà việc, diệt 2 tề, một lính mã tà và làm bị thương một số tên khác(1) ttrong đó có một tên địa chủ. Ngoài ra, nghĩa quân còn bắt sống một lính mã tà, thu 4 súng (3 súng trường, 1 súng hơi), đốt hết hồ sơ sổ sách. Trong trận này, về phía ta, đồng chí Thuận bị thương và sau đó hy sinh. Sau trận phá Nhà việc Tân Lý Tây, nghĩa quân kéo về Tân Lý Đông, cửa ngõ căn cứ Rừng Ba U, hạ cây cản đường, tổ chức canh gác, tịch thu lúa của địa chủ Xập chia cho dân nghèo, lấy súng của Hương Cả Trưng ở xã Hòa Tịnh, giải tán tề các xã chung quanh, vận động nhân dân ủng hộ nghĩa quân. Trận đánh Nhà việc, Tân Lý Tây diễn ra vào lúc 10 giờ sáng ngày 23, làm cho địch hốt hoảng. Trong báo cáo gửi lên cấp trên, Chủ tỉnh Mỹ Tho phải thừa nhận rằng quân khởi nghĩa rất dũng cảm, dám chiếm Nhà việc Tân Lý Tây, nằm ngay lộ 4 và đường sắt từ Sài Gòn đi Mỹ Tho vào giữa ban ngày(2). Vì thế, ngay lập tức, chúng hạ lệnh gọi lính các đồn mang theo súng ống rút về tỉnh lỵ, như các đồn Phú Mỹ, Dưỡng Điềm, Vĩnh Kim, Phú Phong… để đề phòng nhân dân nổi dậy đánh chiếm. Dù các đồn Vĩnh Kim và Dưỡng Điềm đã bỏ trống, vẫn bị nghĩa quân đốt vào lúc 20 và 21 giờ ngày 23-11. Đêm 22 và ngày 23 thật sôi động. Tuy chủ tỉnh liên tục cho các đội đi tuần tra, nhưng vẫn không ngăn cản được quần chúng xuống đường, hạ cột điện, cắt giây thép, ngả cây chặn đường các lộ lớn nói trên. Gauthier, chủ tỉnh Mỹ Tho đã phải thừa nhận và than thở: “Kể từ lúc này (ngày 23-11) tình hình là như sau, các đội tuần tra của lính mã tà chỉ làm chủ được mảnh đất đang đứng. Bọn phiến loạn đốn cây, hạ cột điện hàng vài trăm mét. Họ phải liên tục dùng súng để giải tỏa, ngay cả trên lộ thuộc địa số 4. “Các băng cộng sản mạnh từ 200 đến 200 người tỏ ra dũng cảm, mặc dù chỉ được trang bị vũ khí thô sơ, gậy tre, phạng và họa hoằn mới có súng”(3) Mấy ngày tiếp theo, bọn cai trị Mỹ Tho phải liên tục chống đỡ phong trào nổi dậy của quần chúng ở quận Châu Thành. (1) Trong số bị thương có lính mã tà Nguyễn Văn Bộ về sau đã bị chết (Theo báo cáo của địch). (2) và (3) Xem báo cáo số 7s ngày 15-1-1941 của Chủ tỉnh Mỹ tho Dufour gửi thống đốc Nam Kỳ. H.S. Ký hiệu IIA. 45/236 (2) Trung tâm Lưu trữ 2 tại TP Hồ Chí Minh. Nguyên văn: “À partir de ce moment, la situation est telle que les patrouilles de la Garde civlle ne sont maitré que du terrain qu’elles occupent. Les rebelles abattent les arbres et potaux télégraphes à quelques centaines de mètres. Elles doivent sans cesse faire úage de leurs armes pour se dégager, même sur la route coloniale4. Les bandes communistes sont fortes de 2 à 300 individus qui font preuve de beaucoup de mordant bien, ils soient arrés que coupe coup, de bambou et de rares fusils". Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Mười Một, 2010, 06:21:16 am Ngày 24-11. Vào 7 giờ sáng, viên cò Tolossano dẫn lính mã tà và một số nhân công theo lộ 4 và 5 lên Đông Hòa để sửa lại cầu đã bị nghĩa quân đốt. Nhưng gặp một đoàn biểu tình, chúng phải dùng súng để giải tán và phải rút, cầu cũng chẳng sửa được.
Sau đó, đến 9 giờ Tolossano lại gặp một đoàn biểu tình ở Vĩnh Kim và 11 giờ lại chạm trán một đoàn biểu tình ở Thạnh Phú. Trong lúc đó, các đồng chí Nguyễn Văn Ghè, Nguyễn Hữu Thường, Nguyễn Thị Thập, Lê Văn Giác lãnh đạo nghĩa quân đánh chiếm kho lúa của địa chủ Nguyễn Thành Long ở xã Nhị Bình. Quần chúng đang xúc lúa thì Quận Tâm dẫn một trung đội lính từ Cai Lậy xuống ứng cứu bảo vệ tài sản cho địa chủ Long. Nhưng khi chúng vừa tới bờ tre nhà tên Long thì bị nghĩa quân phục sẵn bắn xả hai bên sườn. Chúng vội rút chạy. Quần chúng tiếp tục chia lúa. Hồi 20 giờ, đồn Tam Hiệp lại bị nghĩa quân đốt. Ngày 25-11. Hồi 9 giờ sáng, lính mã tà đi tuần tra trên đường địa phương số 4, thấy nhiều cây bị đốn ngã chặn đường và đường giây thép bị cắt. Khi chúng đến cầu TOURTET (cầu kênh xáng Lacombe) thì gặp nghĩa quân đang nổi lửa đốt cầu. Hai bên chạm trán, nghĩa quân tỏa ra và rút về xã. Ngày 26-11. Khoảng 10 giờ, cò cảnh sát Antouard cùng thanh tra cảnh sát quân pháp (Police judicaiaire militaire P.J.M.) Lamlo dẫn lính mã tà đến Tây Lý tây, vì được tin báo có cộng sản đang tập hợp và đồn Tân Hiệp đã bị đốt. Nhưng khi chúng tới nơi thì nghĩa quân đã giải tán. 16 giờ một đội mã tà kéo đến Long Định, chúng đã thấy nhiều cột giây thép trên lộ địa phương 4 bị đốn ngã; Nhà việc, đình làng đã bị đốt. Đến 22 giờ, đồn Phú Mỹ lại bị đốt, nhiều cây cối, cột giây thép bị hạ. Ngày 27-11. Từ 9 giờ sáng, nhiều đội mã tà được phái đi giải tỏa lộ thuộc địa 4 vùng thuộc xã Long Định. Thống đốc Nam Kỳ điều bổ sung cho Mỹ tho mấy trung đội lính lê dương. Ngày 28-11. Từ 8 giờ sáng, phối hợp với lính đi càn dưới đất, địch cho máy bay từ Cát Lái đến rải bom và bắn phá các xã Tam Hiệp, Thân Cửu Nghĩa và Long Hưng. Lính địch tạm ngưng hành quân ở những nơi máy bay địch bắn phá. Lợi dụng lúc đó, quần chúng tiếp tục đốn cây năn lộ, hạ cột điện, cắt giây thép. Đến 2 giờ chiều, một trung đội lê dương tiến vào Tam Hiệp, nhưng bị nghĩa quân bắn chặn, chúng phải rút lui. Bọn cảnh sát theo gót lính lê dương bắt một cựu khố đỏ, chúng cho rằng người này giúp nghĩa quân sửa chữa các súng nghĩa quân đã lấy được và dạy nghĩa quận học tập kỹ thuật quân sự. Ngày 29-11. Từ 6 giờ sáng đến 12 giờ trưa, địch dùng một trung đội lê dương, một trung đội lính tập, không kể mã tà, cảnh sát đi phá cuộc biểu tình và càn quét vùng Thạnh Phú. Ngay buổi chiều hôm đó, từ 3 giờ đến 7 giờ, địch lại dùng lực lượng này đi càn tiếp Thạnh Phú và Long Hưng. Toàn bộ lực lượng địch được chở bằng 3 tàu, trong đó có hai chiếc AVALANCHE và BOURDAIS, theo sông Mỹ Tho vào kênh xáng, rồi thả trôi đến Long Hưng và định đổ quân lên bờ. Nhân dân đã tản ra thực hiện “vườn không nhà trống”. Bất thình lình nghĩa quân do đồng chí Đặng và Hà Tôn Hiến chỉ huy, nấp hai bờ kênh nổ súng. Chúng vội cho tàu tháo lui. Trận này nghĩa quân bắn bị thương tên cai lính thủy Gallouet. Khoảng chập tối (7 giờ), viên đội xếp lê dương PIETRI (lúc gấy giờ dân thường gọi là cò Piétri) mang một đơn vị lên Xoài Hột. Lúc y vượt qua cầu Thành Tùng (xã Long Hưng), một chiếc cầu tạm bắc qua rạch Xoài Hột, thì bị đồng chí Nguyễn Văn Quới cùng anh em phục kích bắn chết, ngã lộn xuống rạch cùng cây súng. Bọn còn lại chạy thục mạng. Ta lấy được cây súng lục và vùi xác Piétri ngay mé sông. Được tin dữ, Thống đốc Nam Kỳ vội ra lệnh cho chủ tỉnh Mỹ Tho và Belloc Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 3 thuộc Trung đoàn 5 lê dương đi tìm kiếm Piétri. Ngày 30-11. Ngay từ sáng sớm tinh mơ, đích thân chủ tỉnh cùng Belloc mang theo 60 lính lê dương đến Long Hưng để kiếm xác Piétri, nhưng không kết quả. Đến hai giờ chiều thì máy bay địch lồng lộn trên bầu trời Long hưng điên cuồng bắn phá để trả thù. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Mười Một, 2010, 06:24:49 am 4. Tại quận Cai Lậy
Từ sáng sớm ngày 23-11, hàng nghìn quần chúng xuống đường mang theo vũ khí thô sơ, kéo tới phá Nhà Việc Mỹ Hạnh Đông, Mỹ Hạnh Trung, đốt tất cả hồ sơ tài liệu, rồi kéo đến phá đồn Mỹ Phước Tây. Dưới sự chỉ huy của Ủy ban khởi nghĩa quận, đoàn biểu tình vác cờ, biểu ngữ, hô vang các khẩu hiệu: - Đánh đổ đế quốc pháp, phát xít Nhật, giành chính quyền về tay nhân dân. - Đả đảo địa chủ phản động! Tịch thu ruộng đất của địa chủ phản động chia cho dân cày! (Khẩu hiệu theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 của Trung ương 11-1939 đề ra). Đoàn biểu tình thị uy kéo tới Vịnh Bà Thu (xã Tân Bình) gần quận lỵ Cai Lậy thì gặp một toán lính mã tà. Lúc đầu, do ta làm công tác binh vận, cho nên lính ãm tà không bắn vào đoàn biểu tình. Khi tên quận trưởng Nguyễn Văn Tâm đến, hạ lệnh nổ súng. Quần chúng vẫn ào ào tiến lên. Lính địch và quần chúng biểu tình đánh nhau áp lá cà. Địch nhắm bắn chị đang phất cao cây cờ hò reo kêu gọi anh chị em tiến lên. Chị bị ngã, một chị khác nhảy lên thay thế không cho cây cờ rớt xuống… Trong trận này, nghĩa quân bị chết một chiến sĩ, bị thương 7 và sau đó địch lùng bắt 38 người. Ngay buổi chiều, một đoàn biểu tình khác từ Nhị Bình (quận Châu Thành) và từ Tân Phú (Quận Cai Lậy) hai xã giáp nhau phối hợp hành động, đốt đồn cảnh sát Dưỡng Điềm, rồi cùng nhau tiến về thị trấn Cai Lậy. Đã có đề phòng từ cuộc biểu tình ban sáng, quận Tâm huy động lính ra đàn áp, đoàn biểu tình tản ra và rút về Tân Phú Đông. Trước khí thế nổi dậy của nghĩa quân, chủ quận vội vàng cho rút lính các đồn Ba Dừa, Cái Chuối (Kênh 12)… về tập trung ở thị trấn. Ngày 24-11. Nhân dân xuống đường biểu tình bắt đầu từ Long Trung, khi qua cầu Thầy Cai, trên đường hàng tỉnh 20, nghĩa quân nổi lửa đốt cầu. Được tin, chủ quận điều lính tới, nhưng quần chúng đã giải tán. Buổi tối, nghĩa quân lại ra đốt cầu, bóc 5 mét ván và cưa trụ cầu. Biết tin, nhưng vì đêm tối chủ quận không dám cho quân đến đó. Đề phòng nghĩa quân kéo đến chiếm quận lỵ, quận Tâm xin chủ tỉnh và được bổ sung thêm cho đồn Cai Lậy 20 lính mã tà. Ngày 26-11: Quần chúng các xã tiếp tục nổi trống mõ, dự mít tinh. Nghĩa quân ngả cây, cắt giây thép… Tề các xã nằm im. Nghĩa quân Long Hưng ra Lộ 4, gần Cai Lậy phá cầu. Địch đưa lính ra bắn liên hồi để bảo vệ cầu. Trận này theo báo cáo của chủ quận cho chủ tỉnh, Lưu Hạc Hiến bị thương nhẹ. Ngày 26-11. Về chiều, hai đoàn biểu tình thị uy của quần chúng ở Thuộc Nhiêu và xã Nhị Quý nổi trống mõ, đốt pháo tre, hô khẩu hiệu là huyên náo một vùng. Chủ quận được tin, nhưng không dám cho lính đến can thiệp, vì trời tối. Hai ngày 27 và 28-11. Khí thế các xã vẫn sôi động. Nhưng vì lính mã tà, cảnh sát ít, cho nên chúng không dám kéo về thôn xã trấn áp. Ngày 29-11. Chủ tỉnh cho lính lê dương và lính tập diễu qua các làng Long Tiền, Tân phú Đông, Mỹ Long để uy hiếp tinh thần quần chúng. Ngày 30-11. Nghĩa quân xã Long Hưng (quận Châu Thành), do Hà Tôn Hiến chỉ huy, phối hợp với nghĩa quân các Xã Cẩm Sơn, Xuân Sơn, Hiệp Đức (quận Cai Lậy) kéo qua Cù lao Nghĩa Hiệp (Cù Lao Năm thôn) thuộc quận Cai Lậy, đánh chiếm Nhà Việc và kho lúa của địa chủ Đốc Phủ Mầu. Số lúa rất nhiều, quần chúng phải chuyển ba ngày mới hết. Ngoài ra còn tịch thu được 50 nghìn đồng (tiền Đông Dương năm 1940)(1). Khi chủ quận được tin, cho lính xuống cứu thì quần chúng đã hoàn thành việc cho chia lúa. Sau vụ này, nghĩa quân còn lấy lúa của địa chủ ở Cẩm Sơn, Mỹ Hạnh Đông, Mỹ Phước Tây (Cai Lậy), Thới Sơn, Bình Đức (Châu Thành), Kho Bảy Căn ở Thiên Hộ xã Mỹ Thuận (Cái Bè), chia cho dân nghèo không phân biệt tôn giáo và dành một phần để nuôi quân. (1) Số tiền này, Hà Tôn Hiến đã ủng hộ Xứ ủy mới được lập lại tháng 1-41, gần 30 nghìn đồng để sắm vũ khí chuẩn bị khởi nghĩa lần 2. (Ý kiến của đ/c Ngô Tám trong buổi Tọa đàm về Nam Kỳ khởi nghĩa do BNCLSĐ TP Hồ Chí Minh tổ chức ngày 23-11-1982) H.S. Ký hiệu Lưu trữ BNCLSĐ. T.P. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Mười Một, 2010, 06:26:28 am 5. Tại quận Chợ Gạo
Sau khi được đại diện Tỉnh ủy phổ biến mệnh lệnh khởi nghĩa, đồng chí Sáu Hòa, bí thư quận ủy liền chỉ đạo Ủy ban khởi nghĩa ngay sáng 23-11 huy động quần chúng các xã Quơn Long, An Thạnh Thủy, Bình Phan, Bình Ninh, Bình Phục Nhất đi biểu tình thị uy đánh trống mõ, đốt pháo tre, rải trryền đơn… gây không khí sục sôi cách mạng. Chiều ngày 23-11, vào hồi 5 giờ, chi bộ xã Quơn Long lãnh đạo quần chúng nổi dậy giành chính quyền xã. Quận Nẫm, chủ quận chợ Gạo điều lính về đàn áp. Nhưng trước khí thế quần chúng dang lên, bọn lính hoảng sợ bỏ chạy. Mấy hôm sau, chủ tỉnh dùng một lực lượng mạnh đầy đủ vũ khí kéo đến đốt phá nhà cửa của đồng bào xã Quơn Long. Chúng bắt được đồng chí Kiết, giết ngay tại chỗ, rồi chặt đầu mang về bêu ở thị trấn Chợ Gạo nhằm uy hiếp tinh thần nhân dân ta. Cũng trong ngày 23, Ủy ban khởi nghĩa tổng Thanh Quơn huy động quần chúng các xã Thanh Bình, Trung Hòa và Mỹ Tịnh An biểu tình thị uy phá Nhà việc, đốt hết hồ sơ các xã này, truy lùng bọn tề xã, tổng, kéo ra phá cầu Tịnh Hà (Mỹ Thịnh An). Tề phản động hoảng sợ bỏ chạy ra tỉnh lỵ Mỹ Tho. Nghĩa quân bắt một số, đưa ra giáo dục rồi tha cho về gia đình. Chúng hứa không chống lại cách mạng. Ngay tối hôm đó, trên một nghìn quần chúng 3 xã biêu tình thị uy rồi kéo đến Miếu Điền (Mỹ Tịnh An) dự mít tinh. Tiếng trống mõ, tù và, pháo tre, chiêng và tiếng hò reo nổi lên liên hồi. Đuốc đốt sáng rực một góc trời. Cuộc nổi dậy của quần chúng ở các xã do chi bộ đảng lãnh đạo. Tuy nhiên trong cao trào cách mạng, nhiều xã chưa có chi bộ đảng, chưa có cơ sở như Tân Hội Đông, Phú Mỹ, Hưng Thạnh Mỹ ở phía Bắc tỉnh, giáp Đồng Tháp Mười, hoặc Phú Phong, Bàn Long ở phía Nam tỉnh giáp sông Mỹ Tho, hoặc như Tân Hòa Thành mới có quần chúng tích cực, chưa phải đảng viên, quần chúng đã xuống đường biểu tình thị uy phá tề, trấn áp phản động, giữ trật tự thôn xã… Vào lúc nhân dân nỏi dậy, tại Mỹ Tho địch scó hai đại đội lính tập, 33 lính mã tà không kể cảnh sát, lính làng (miliciens). Sau đó chúng tăng thêm mấy trung đội lê dương, hai tàu hải quân. Tuy địch đã cố gắng tìm mọi cách ngăn chặn và đối phó, nhng vì cao trào đang lên mạnh và rộng, địch vẫn không đủ sức. Vì vậy, 8 ngày đầu tiên của cuộc nổi dậy, nghĩa quân Mỹ Tho hầu như làm chủ hoàn toàn một vùng rộng lớn nông thôn. Trong một báo cáo của chủ tỉnh Mỹ Tho đã phải thừa nhận. “Mặc dù đã có sự phối hợp giữa cảnh sát, hải quân, lục quân và không quân, đã giữ những nơi quan trọng ngày 23-11, đã đàn áp cuộc khởi nghĩa, nhưng vì những người nổi dậy đã được động viên bởi những chiến thắng và đã cướp được một số súng đạn, cho nên chúng vẫn mở rộng cuộc tiến công từ 23 đến 30 tháng 11..”. Báo cáo của Rivoal, Thống đốc Nam kỳ gửi Toàn quyền Đông dương số 2415c ngày 8 tháng 12 năm 1940 viết: “… Những người cộng sản hầu như làm chủ tuyệt đối trong một bản kính khoảng 30 ki-lô-mét ở phía Tây và phía Đông tỉnh Mỹ Tho. Trong khu vực này đường xá, cầu ống, đường điện thoại, điện tín đã bị cắt. Trong một số xã, tăng xê và chỗ trú ẩn tránh bom đã được bố phòng”. Báo cáo của chủ tỉnh Mỹ Tho nói cụ thể hơn: “Như thế quân phiến loạn làm chủ tuyệt đối trong khu tứ giác được giới hạn: Phía Đông bởi lộ thuộc địa 4, Phía tây bởi đường hàng tỉnh 20, trên con lộ này, chúng đã phá cầu Rạch Tân. Phía Bắc bởi đường địa phương 4 Phía Nam bởi lộ hàng tỉnh 25. Vùng này gồm các xã Bình Đức, Thạnh Phú, Long hưng, Đông Hòa, Vĩnh Kim, Bình Trung, Bàn Long, Kim Sơn, Phú Phong và Tam Bình… “Bọn phiến loạn cũng làm chủ tất cả vùng phía bắc lộ thuộc địa 4 (giữa ngã tư Trung Lương và cầu TOURTET) và giới hạn ở phía Đông bởi lộ địa phương 4, từ Trung Lương lên Tân Hiệp, rồi bởi lộ làng, từ Tân Hiệp đi Phú Mỹ. Vùng này gồm các làng Tam Hiệp (Chợ Bưng), Thân Cửu Nghĩa, Tân Lý Đông, Long Định và Hưng Thạnh Mỹ(1). (1) Báo cáo số 7 ngày 15-1-1941 của chủ tỉnh Mỹ Tho cho Thống đốc Nam kỳ. HS. IIA 45/236 (2) Trung tâm LT. 2 TP.HCM. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Mười Một, 2010, 06:29:17 am Trong 8 ngày đầu tiên, dưới sự lãnh đạo của Ủy ban Kng tỉnh, quận, xã quần chúng nổi dậy đã:
Đánh và đốt hàng loạt đồn của địch như Thạnh Phú, Tam Hiệp, Tân Lý Tây, Long Định, Vĩnh Kim, Kim Sơn, Kênh 12, Ba Dừa, Bình Đức, Dương Điềm, Phú Mỹ… diệt đội xếp (Piétri), 2 lính mã tà, 1 cảnh sát, 8 tề, làm bị thương 1 cai lính thủy (Gallouet), 1 mã tà, 2 cảnh sát, 7 tề, thu được 34 súng các loại(1)… Đánh sập và đốt phá hàng loạt cầu như: cầu sắt Kênh Xáng, Thạnh Phú, cầu Thày Tùng, càu Thày Khánh, cầu đúc Phú An, cầu Bưng, cầu Rạch Trà Tân, cầu Bình Đức, cầu kênh Xáng Nguyễn Tấn Thành (Lacombe), cầu Kim Sơn, cầu Bà Đôn, cầu Rao Răm, cầu cây số 18, cầu Đôn Hòa, hai cầu Phía nam Vĩnh Kim… hầu như thất cả các cầu trên các lộ đều bị phá trừ số cầu ở tỉnh lỵ và ở vài nơi phong trào chưa lên kịp. Đào hàng trăm ki-lô-mét đường lộ như lộ Ba Dừa xuống Mỹ Tho, tháo dỡ một đoạn đường sắt Sài Gòn - Mỹ tho, hạ hàng trăm cột bê tông từ Cai Lậy đến Ngã ba Trung Lương, lộ từ An Đức qua Chợ Bưng, lộ Tân Hiệp đi Phú Mỹ… làm hỏng hoàn toàn 4 đường điện thoại, 8 đường điện báo, hệ thống liên lạc của địch bằng những đường này bị tê liệt. Đốn cây, cừa cừa hàng kênh, hàng sông kông cho tàu đich qua lại như kênh Xáng Xoài Hột, Rạch An Đức chạy vào Thạnh Phú, sông Rạch Gầm, kênh Tổng Đốc Lộc, sông Bánh Tét, Kênh Ba Rài, sông Cẩm Sơn, sông vào Cai Lậy, kênh 12… Chặt hàng nghìn cây cản giao thông trên hầu khắp các lộ. Riêng lộ từ Nhị Quý đến Cai Lậy do anh thợ hồ Nguyễn Văn An cùng hàng trăm đồng bào thực hiện. Trước khí thế cách mạng của quần chúng đang lên, một số địa chủ đem hiến ruộng, thóc, trâu bò, heo, thực phẩm khác cho nghĩa quân và Ủy ban khởi nghĩa. Một số quần chúng khá giả cũng ủng hộc cách mạng như ông Sáu Phê (Long Hưng) ủng hộ một số kho lúa, có người ủng hộ heo, máy may, quần áo, vải may cờ, túi… cho nghĩa quân, hiến nhà máy xay cùng nhiều thứ khác. Quần chúng nổi dậy đã thành lập chính quyền cách mạng tỉnh và ở nhiều xã, tổng đã được giải phóng, trương cờ đỏ sao vàng, cờ búa liềm và khẩu hiệu trước các trụ sở, thực hiện việc trấn áp phản động. Ở cấp xã, chính quyền cách mạng thường được thành công và phân công như sau: Chủ tịch: Nhiều nơi do Bí thư chi bộ trực tiếp nắm. Quân sự: Chỉ huy biểu tình, đánh đồn, phá cầu, đào tăng xê tránh máy bay bán phá, ném bom, chống địch khủng bố… một đồng chí đảng viên nắm. Tiếp tế: Thường do Nông hội nắm. Tuyên truyền: Phổ biến chính sách Mặt trận, thông báo tin tức. Củ soát: Do người trong Nông hội hoặc ngoài đảng nắm, làm nhiệm vụ trật tự, trị an. Chính quyền cách mạng tỉnh đã thành lập một Hội đồng tòa án của tỉnh gồm các đồng chí Lê Văn Giáp, Nguyễn Văn Quới, Đặng Văn Hiệp, Nguyên Văn Thường, Trương Văn Ty, Nguyễn Thị Thập… đặt trụ sở chính ở Đình Long Hưng, cùng nơi với tỉnh ủy và Ủy ban khởi nghĩa. Ban đầu, Tòa án xử lưu động ở một vài xã, nhưng sau gặp nhiều khó khăn, cho nên tập trung những người có tội chủ yếu là chống cách mạng, về xử tại Long hưng. Trong suốt thời gian tồn tại, tòa án tỉnh chỉ xử tử một tên Hương quản Sâm, cảnh cáo mấy tên khác, còn hầu hết giáo dục khoan hồng, nhằm làm cho họ ăn năn, hối cải, nhất là về sau thấy khởi nghĩa khó thành công, tòa án chỉ dùng biện pháp giáo dục những người lầm đường lạc lối để họ khỏi chống phá cách mạng. Việc này có đem lại kết quả nhất định là đến lúc khởi nghĩa thất bại, nhiều cán bộ đảng viên của ta phải trốn tránh, bất ngờ gặp lại những người đã bị đưa ra tòa án cách mạng xử, họ biết rõ ta, nhưng họ vẫn lờ đi, có nười còn chỉ chỗ trốn thoát. Trong khi thế đang lên, tòa án bao giờ cũng xử công khai, quần chúng tham dự đông đảo, góp ý việc luận tôi, kết tội hoặc bào chữa. Việc làm của tòa án, trong điều kiện, và hoàn cảnh lúc đó, có tác dụng nâng cao trình độ giác ngộ và tinh thần cách mạng của quần chúng và ảnh hưởng đến người bị đưa ra xét xử. Trào lưu cách mạng dâng cao lúc ban đầu làm cho bộ máy cai trị của địch ở tỉnh từ trên xuống dưới hoảng sợ. Tin đồn về một cuộc tiến công vào tỉnh lỵ của nghĩa quân, làm cho đường phố trung tâm vắng hẳn, trường học bị đóng cửa, trường được dùng làm chỗ đóng quân cho lính lê dương, vợ con công chức người Âu, người Việt và địa chủ giàu có, di tản về Sài Gòn. Các quận tưởng, đặc biệt tên quận trưởng Cai Lậy Nguyễn Văn Tâm ra sức đàn áp những người nổi dậy. Sau này thực dân pháp quay lại xâm lược nước ta, Nguyễn Văn tâm đã ra làm Thủ tướng chính phủ bù nhìn. Một số ít tề xã hoạt động hăng hái theo gương quận Tâm, còn hầu như nằm im chờ thời. Số khá đông thàng ngày sinh sống và có quan hệ mật thiết với nhân dân tỏ thái độ hưởng ứng và tham gia cuộc nổi dậy của nghĩa quân. Theo báo cáo của chủ tỉnh Mỹ Tho cho Thống đốc Nam Kỳ đoạn kết có viết như sau: “5 trong số 11 tề xã Long Hưng bị tống giam 5 tề xã khác bị bắt 9 tề xã cho thôi việc 14 tề bị cách chức 1 hương cả và 1 bang biện giữ chức cai tổng buộc phải từ chức..”(2) (1) - N.quân lấy ở Châu Thành 4 súng trường, 11 súng lửa, 3 súng săn, 11 súng hơi - N. quân lấy ở Chợ Gạo 5 súng săn Cộng: 34 súng (4 súng trường, 11 súng lửa, 8 súng săn, 11 súng hơi) Đây mới tính Hai quận, chưa kể các nơi khác. Toàn tỉnh 37 cây. H.S. Như trên. (2) Hồ sơ: Như trên. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Mười Một, 2010, 06:40:41 am 6. Đối phó của địch
Thấy Mỹ Tho đang ở tình thế khó khăn, ngày 30 tháng 11 Thống đốc Nam Kỳ điều Gauthier đi và cho Dufour đang làm Trưởng phòng chính trị thuộc dinh Thống đốc (chef bureau des affaires politiques de l’Indochine-A.P.I) về thay làm Chủ tỉnh. Còn tướng Derindinger, tư lệnh Sư đoàn Nam Kỳ - Cao Miên, sau khi trao đổi ý kiến với thống đốc, cấp tốc đưa ngay một tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 5 quân nước ngoài, trong đó có 2 đại đội lê dương và một số đơn vị hỗ trợ, không kể 2 đo lính tập (khố đỏ), các loại lính khác có sẵn ở Mỹ Tho để tiến hành đàn áp những người nổi dậy. Derindinger ra mệnh lệnh tác chiến số 6845, đại ý như sau: 1. Một cuộc tác chiến càn quét sẽ được tiến hành vào các ngày và 4-12 trong khu vực Mỹ Tho - Cai Lậy - Làng trước - chợ Giữa. 2. Các đơn vị dưới đây sẽ tham gia các cuộc tác chiến càn quét dưới quyền của Belloc, Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 3 thuộc Trung đoàn nước ngoài ở Đông Dương. - Ban tham mưu của Tiểu đoàn 3 thuộc Trung đoàn 5 REI. - 2 đại đội của Tiểu đoàn 3 thuọc Trung đoàn 5. - 1 trung đội súng máy và đội công binh của Tiểu đoàn 3. - 1 đại đội của Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 19 (Đại đội Dinahet). - Đơn vị cơ giới (1 trung đội ô tô liên thanh và 1 trung đội mô tô). - Các đơn vị hải quân đang trên xe vận tải nhỏ hiện dóng tại Mỹ Tho. - 1 điện đài 20W trên xe vận tải nhỏ. - Pháo hạm nhỏ “thiếu tá BOURDAIS”. Tùy tình hình có các đơn vị thuộc tiểu đoàn 3, Trung đoàn lính tập người Việt (III/R.T.A.) đang đóng ở Mỹ Tho. 3. Việc vận chuyển tập trung các đơn vị trong vùng nói trên sẽ được qui định bằng lệnh đặc biệt miệng hoặc điện thoại. 4. Một máy bay tháp tùng, dưới quyền điều khiến của Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3 thuộc Trung đoàn 5 và sĩ quan quan sát. 5. Thể thức của cuộc tác chiến sẽ được giải quyết trực tiếp giữa Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 5 và chủ tỉnh Mỹ Tho(1). Như vậy là để đối phó với quần chúng nổi dậy tay không và trang bị vũ khí thô sơ ở Mỹ tho, đế quốc Pháp đã phải điều động tới một tiểu đoàn lê dương và mấy đại đội chủ lực, không kể lực lượng quân sự thuộc tiểu đoàn lính tập người Việt đang đóng tại địa phương. Tổng cộng trên 1.000 quân gồm cả lục, hải, không quân được trang bị vũ khí hiện đại, kể cả máy bay, tàu chiến, xe cơ giới. Từ đây, một cuộc đấu tranh quyết liệt, đối sánh lực lượng không cân xứng, giữa quần chúng khởi nghĩa và bọn đế quốc thống trị: một bên chống địch càn quét khủng bố để giữ thành quả đã đạt được và một bên dùng bạo lực phản cách mạng diệt những người lãnh đạo, những người cộng sản, quần chúng cốt cán, khủng bố quần chúng, tiểu đoàn phong trào cách mạng nhằm bảo vệ quyền thống trị và quyền lợi của chúng. Hình thức đấu tranh của nghĩa quân cũng chuyển dần, không còn mít tinh, biểu tình tuần hành thị uy rầm rộ mà chuyển sang chiến đấu du kích, phá hoại… (1) Xem nguyên văn ở phần phụ lục. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Mười Một, 2010, 06:41:51 am Ngay sau khi đặt chân về Mỹ Tho, việc đầu tiên của Dufour là tăng thêm lính cho quận Chợ Gạo, An Hóa, Cái Bè, chặn dân các nơi này không cho nổi dậy. Đồng thời, y cho lệnh bắt phu có lính vũ trang đi kèm, để sửa lại các cầu bảo đảm cho các cuộc hành quân càn quét, dựng lại hàng trăm cột điện bằng bê tông, nối lại đường điện thoại, điện báo mà mãi tới ngày 14 tháng 12 chúng mới báo cáo với cấp trên cho là tạm ổn(1).
Chủ trương của Pháp luôn luôn gặp khó khăn. Những ngày đầu tháng 12, hễ quân của chúng sửa xong chiếc cầu nào là lại bị du kích và quần chúng của ta phá, có cầu bị phá đi phá lại tới 3 lần như cầu Tourtet trên kênh Lacombe (Nguyễn Tấn Thành). Có những cầu chúng phải lập đồn mới để bảo vệ như cầu Bình Đức, cầu Tam Bình, cầu Chợ Bưng, cầu Tourtet… Chấp hành lệnh của Tướng sư đoàn trưởng và sau khi trao đổi với chủ tỉnh Mỹ Tho, tiểu đoàn trưởng Belloc ra lệnh tác chiến số 1 gồm những điểm sau đây: NHỮNG ĐƠN VỊ THAM GIA TÁC CHIẾN - Đại đội 9, đại đội 11, 1 trung đội của đại đội 10. - 1 trung đội súng máy, đội công binh của Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 5 và 1 đại đội lính tập tác chiến ở phía Tây Mỹ Tho các ngày 3 và 4-12-1940, dưới sự chỉ huy của Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3. - Đơn vị cơ giới, trung đội mô tô, môt pháo hạm và máy bay. NHIỆM VỤ Bắt những phần tử cộng sản ở giữa lộ thuộc địa 16 (tức lộ thuộc địa 4) từ Cai Lậy đi Mỹ Tho và sông MêKông (Mỹ Tho). Phá lò rèn vũ khí giáo mác nằm ở kênh ngang tầm Bình Thạnh. Thu hồi súng săn, súng trận. TIN TÌNH BÁO THU ĐƯỢC NGÀY 1-12 TRONG TỈNH Được tin báo những phần tử cộng sản đang ở Dưỡng Điềm và xa hơn ở phía Nam chỗ gặp nhau của con rạch ngang tầm Bình Trong (xem bản đồ 1/100.000 vùng Mỹ Tho). Đường Ấp Trung - Vĩnh Kim bị cắt nhiều chỗ bởi những đống chướng ngại vật và tăng xê. Tại chỗ có lò rèn vũ khí nằm ở kênh ngang tầm Bình Thạnh, các đơn vị có thể tỏa ra tiến về Xoài Hột. Một trong những đơn vị này có thể tìm được đôi xếp Piétri. Vĩnh Kim là cơ quan chỉ huy của phong trào vùng này. Nó có 1 hoặc nhiều chục súng trận hoặc súng săn. Chắc chắn những người ở Vĩnh Kim và Song Thuận đã phá hoại bóc các ván gỗ của các cầu dọc theo sông Mỹ Tho. Vùng đất này đã bị chia cắt nhỏ bởi các lộ, kênh, rạch thể hiện dưới hình thức một bãi lầy. Ruộng sâu ngập lụt. Cây lúa cao hơn một mét. Tầm nhìn hầu như bị che khuất bởi các lùm cây, dựa, bùi tre. Các bờ kênh bị cắt bởi vô vàn rạch nhỏ sẽ dẫn nước vào ruộng. Tất cả các lộ và đê nhỏ đều bị những người cộng sản phá hoại. MỤC TIÊU CỦA TIỂU ĐOÀN TRƯỞNG Cuộc tác chiến sẽ chia thành hai thời kỳ: Thời kỳ thứ nhất: Ngày N. đi từ đường thuộc địa 4 theo hướng phía Nam chia lực lượng ra làm 4 đội (colomnes) làm nhiệm vụ trên các vùng đất đi qua. Càn quét toàn khu vực hoạt động từ Bắc đến Nam, nhằm đẩy lùi tất cả những phần tử nghi vấn về con đường dọc theo sông Mỹ Tho, ở đó các đơn vị cơ giới và trung đội mô tô có trách nhiệm bắt giữ chúng. Cuối ngày (N. 3-12) chiếm một căn cứ xuất phát trên tuyến DƯỠNG ĐIỀM - VĨNH KIM - KIM SƠN để chuẩn bị cho cuộc tác chiến hôm sau. Thời kỳ thứ hai: Ngày N. xuất phát từ những điểm nói trên theo hướng phía Tây cho đến đường Cai Lậy - Sông Mỹ Tho, tại đó các đơn vị cơ giới (A.M.C) và trung đội mô tô có trách nhiệm bắt giữ bọn chạy trốn. Tổ chức các phân đội (Détachements) Ngày N. Đội (Colonne) phía Tây: Đại đội 9. Điểm xuất phát: ẤP DƯƠNG Đội Trung Tâm: 1 trung đội của đại đội 10. Trung đội chỉ huy của Tiểu đoàn 3. Trung đoàn 5 nước ngoài 1 trung đội liên thanh 1 khẩu đội mortier Điểm xuất phát: ẤP TRUNG Đội phía kênh: Đại đội 11. Điểm xuất phát: Cầu trên kênh đường thuộc địa 4. Đội phía Đông: Đại đội lính tập. Điểm xuất phát ẤP HAN HAO và chỗ gặp nhau của con đường ngang tầm PHƯỚC THẠNH. (1) Xem trong báo cáo đã dẫn, nằm ở Hồ sơ nói trên. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Mười Một, 2010, 06:43:24 am NHIỆM VỤ CỦA CÁC PHÂN ĐỘI
Đội phía Tây: Từ DƯỠNG ĐIỀM đi xuống theo bờ trái rạch THUỘC NHIÊU, không chậm trễ lục soát BÌNH TRUNG và chốt trên đường mòn rạch phía Tây VĨNH KIM, để bắt những phần tử chạy khỏi vùng này theo hướng phía Tây. Sau khi chiếm VĨNH KIM, ngược theo rạch và chốt ở DƯỠNG ĐIỀM và nghỉ qua đêm ở đó. Đội Trung tâm: Tiến thẳng vào VĨNH KIM chiếm làng, lục soat làng thật kỹ càng và chốt ở đó qua đêm. Đội phía kênh: Lục soát bờ kênh, phá hủy lò rèn. Khi đến ngang LONG HƯNG, tách 1 trung đội về hướng VĨNH KIM, trong khi đó trung đội khi đi tiếp theo kênh. Hai trung đội gặp lại nhau ở ngã ba phía Nam SONG THUẬN và rồi đi tiếp theo kinh đào, tại đó nghỉ qua đêm. Đội phía Đông: Càn tất cả vùng hoạt động bao gồm khu tứ giác Đường thuộc địa - Kênh - Sông Mỹ Tho - Đường hàng tỉnh - Chợ Xoài Hột. Đơn vị cơ giới (A.M.C.) và mô tô: Tuần tiễu trên đường dọc sông Mỹ Tho từ KIM SƠN đến AN QUỚI. Bắt giữ tất cả bọn chạy trốn ra khỏi vùng càn quét. Hạm đội nhỏ: Tuần canh bờ sông Mỹ Tho đặc biệt chỗ gặp nhau rạch KIM SƠN (tức Rạch GẦM T.G.). Cấm đi vào sông những phần tử đến từ phía Bắc. Máy bay: - Ném bom VĨNH KIM từ 6 giờ và 7 giờ. - Thám sát từ 7 giờ đến 10 giờ. - Các đơn vị cắm sào đánh dấu đường đi của máy bay. Liên lạc - thông tin: Tiểu đoàn trưởng sẽ đi cùng đội Trung Tâm. 2 hỏa tiễn bắn lên báo hiệu khi ông đã đến VĨNH KIM. Liên lạc dưới đất - máy bay bằng vô tuyến trong lúc càn quét. Giờ G. Ngày N. 5 giờ 45’ Chuẩn bị xong tại chỗ 5 giờ 30. Mệnh lệnh chi tiết Các trung đội lê dương ở HIỆP HÒA và ĐỨC HÒA sẽ được điều bằng xe vận tải ngày 2-12 lúc 14 giờ và tiến về Mỹ Tho. Đại đội lính tập sẽ vận động từ Tân An đến Mỹ Tho theo lệnh trực tiếp của Sư đoàn trưởng Nam Kỳ - Cao Miên. Các đơn vị lê dương đóng ở Sài Gòn và được chỉ định tham gia tác chiến sẽ được chuyền bằng xe vận tải ngày 2-12-1940 lúc 14 giờ ở trại 11. Lên xe lúc 13 giờ 45’. Quần áo cộc (soọc). Quân trang đầy đủ. Các chỉ huy đơn vị để lại 1 hạ sĩ quan và hai hoặc ba người yếu mệt để bảo vệ vật tư và doanh trại. Đạn dược: - Trang bị cá nhân theo người. - Hai thùng đạn phụ được giao trước. - Mang theo súng phóng lựu (V.B). - Súng máy: Mỗi khẩu 4 hòm đạn. - Moóc-chie: 50 quả mỗi khẩu. - Hỏa tiễn : 10 hỏa tiễn (pháo lệnh). - Dụng cụ cho tham mưu tiểu đoàn 10 xẻng, 10 cuốc. Thực phẩm Bữa ăn chiều ngày 2-12 ở Mỹ Tho (ăn nóng). Ngoài ra phân phát bữa ăn tạm. Vật tư nhà bếp: Đủ cho đơn vị. Điểm danh tất cả mọi người. Ngày 2-12-1940. Dậy ngày 3-12: 40 giờ 30 Lên xe: 5 giờ 15 Xuất phát: 5 giờ 25 Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3 - Trung đoàn 5 nước ngoài bộ binh. Belloc Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Mười Một, 2010, 06:46:05 am Thực hiện chủ trương đàn áp
Ngày 3-12-1940. Quân lính địch càn quét các làng Phước Thạnh, Thạnh Phú, Bình Đức, Long Hưng, Đông Hòa, Vĩnh Kim, Kim Sơn, Bình Trưng. Đặc biệt càn quét Vĩnh Kim mà Pháp cho là trung tâm “phiến loạn”. Ngày 4-12-1940. Quân lính địch tiếp tục càn quét các làng Dưỡng Điềm, Hữu Đạo, Bàn Long, Phú Phong, Mỹ Long, Tam Bình, Long Tiên, Phú Quí, Nhị Quý. Trong 2 ngày càn quét đó tàu chiến, ca nô, mô tô tuần tiễu dọc sông Mỹ Tho, trên các tỉnh lộ 25, 20 từ sông Mỹ Tho đến Cai Lậy, bắt giữ những người định vượt khỏi vùng càn quét của địch. Đồng thời ngăn tất cả thuyền bè từ các kênh rạch chạy ra sông. Trong hai ngày càn đi quét lại, quân đội Pháp đã triệt hạ cả một vùng Cù Lao Ngũ Hiệp, ném bom Chợ Giữa (Vĩnh Kim) đúng lúc chợ đang đông, làm chết hàng trăm người và ném bom nhiều thôn xóm khác. Riêng Chợ Giữa, máy bay địch vừa ném bom xong, lính lê dương tràn vào chiếm chợ, bắt đồng bào ta đào một hố lớn giữa chợ, lăn xác người chết xuống đó, không cho gia đình mang xác người thân về. Khoảng 10 ngày sau, quá hôi thối, quần chúng đấu tranh mạnh, địch mới chịu cho gia đình mang xác về chôn(1). Quân lính địch còn xả súng bắn vào ghe, xuồng của đồng bào chạy giặc, xác chết lềnh bềnh trên sông. Chúng đốt nhiều nhà cửa của đồng bào, đặc biệt của 5 xã chung quanh Long Hưng là các xã Thạnh Phú, Vĩnh Kim, Bình Đức, Bình Trưng, Đông Hòa, đốt cả xưởng cưa Chợ Giữa(2), khói lửa ngút trời mấy ngày đêm liền. Sau trận Pháp cho ném bom Chợ Giữa, ta có săn sóc hỏi thăm và cứu tế, cấp cho mỗi gia đình bị nạn 20 đồng. Ngay trong lúc địch càn quét, nhiều gương chiến đấu anh dũng đã xuất hiện. Em bé Trọng ở Vĩnh Kim mới 15 tuổi, hăng hái xuống đường cùng nhân dân nổi dậy, em bị địch bắt. Địch dụ dỗ, tra tấn em, bắt em khai báo. Nhưng em cắn răng chịu đau không hé một lời với địch. Em còn chửi mắng địch cho đến phút cuối cùng. Đồng chí Ba Cò, xã Long Hưng, bị địch vây quét leo lên ngọn cây dừa trốn tránh. Địch phát hiện, kêu gọi đồng chí đầu hàng. Biết không thể thoát, đồng chí bình tĩnh giải thích cho binh lính. Chúng giương súng bắn. Đồng chí bẻ dừa ném lại và anh dũng hy sinh. Đồng chí Huỳnh Văn Hành, tức Hiệp, Bí thư chi bộ xã Long Định bị địch bắt và đưa ra cầu đúc Long Định tra tấn nhiều trận, đồng chí kiên quyết không khai. Về sau đồng chí lừa địch bảo chúng cho đồng chí sang sông để chỉ chỗ người của ta còn ẩn nấp. Khi thuyền ra giữa sông, đồng chí liền nhấn mạnh cho thuyền lật nghiêng, rồi nhảy xuống sông hy sinh. Nhiều quần chúng trung kiên tỏ rõ tinh thần kiên cường bất khuất như chị Thanh bị địch dùng mọi hình thức tra tấn, nhưng chị vẫn không khai ra người cán bộ chị đang dấu trong hầm. Trong lúc địch càn khu tứ giác này, nghĩa quân vẫn cố gắng bảo vệ lực lượng và duy trì hoạt động. Có những vụ làm cho địch cũng phải kinh hoàng. Như đồng chí Lê Văn Giác, giữa ban ngày đã đột nhập xã Bình Đức, cách tỉnh lỵ Mỹ Tho 7 kilômét, nằm trên tỉnh lộ 25, để bắt một tên phản động đem đi xử tội, mà cách đó chỉ một tiếng đồng hồ, một đơn vị lê dương vừa càn qua. Hai hôm sau lại đột nhập xã đó, bắt một tên phản động đang cùng bọn tề canh gác. Tuy nhiên, do địch càn mạnh, ngoài số bị địch bắt, nghĩa quân tìm cách thoát ra khỏi vòng vây, tỏa đi khắp nơi. Có một số bị tề địa phương bắt(3). (1) Khoảng một tuần sau, trong báo cáo ngày 10-12-1940, địch còn nói hai quả bom chưa nổ, một quả ở cạnh nhà máy xay lúa, một quả ở vườn cạnh nhà Hộ sanh (Vĩnh Kim). (2) Việc đốt xưởng cưa ngày 3-12, do Huỳnh văn Lành, trưởng đồn cảnh sát Vĩnh Kim đi theo quân lê dương, cho tay sai thực hiện. (3) Chủ tỉnh Sa Đéc André Landron đã gửi báo cáo số 302c cho Thống đốc Nam kỳ như sau: “Ngày 5-12-1940 vào lúc 15 giờ, hương giáo Nguyễn Ngọc Thuần làm chức năng Hương quản làng Tân Xuân (Sa Đéc) thấy 6 đàn ông và 2 đàn bà dùng thuyền đi đến giần chùa làng, đã bắt tất cả 8 người: - Nguyễn Văn Dên tức Võ Văn Đang - Huỳnh Văn Thao - Võ Văn Sến - Võ Văn Sa - Lê Văn Dương - Phạm Văn Tông - Hằng Thị Yến - Trần Thị Bạch Có mang theo 1.654$,00 (Đông dương), định chạy về Long Xuyên. Dên tức Võ Văn Đang nhận là chỉ huy section Long Trung (Mỹ Tho) tham gia lấy lúa, tiền nhà vợ góa Đốc Phủ Mẫu ở Ngũ Hiệp (Mỹ Tho), lấy 2 súng, phá cầu Hưng Long trên đường Mỹ Tho - Cái Bè. Đề nghị: - Thưởng tiền cho Hương cả Trần Minh Tăng, Hương giáo Nguyễn Ngọc Thuần - Nhân viên truy tìm (agent de recherche) Võ Văn Xê, Đội bậc 2 mã tà. - Nguyễn Văn Đông, Cai bậc 2, cảnh sát làng Khen tất cả Hội đồng tề Tân Xuân. Khen Đốc phủ xứ Lưu Văn Tàu, đại lý hành chính tỉnh lỵ. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Mười Một, 2010, 06:47:53 am * * * Sau hai ngày càn quét, Belloc ra tiếp mệnh lệnh số 3(1). Lần này quân số cũ được tăng thêm một đại đội lính tập và một trung đội pháo. Chúng tập trung đối phó với nghĩa quân ở phía Đông - Bắc tỉnh. Chúng càn quét vùng Tam giác BẾN TRANH - TAN AN - CHỢ TÀI YÊN, chủ yếu chống phá các xã Tân Hương (nơi họp Hội nghị Xứ ủy tháng 7), Tân Lý Tây, Thân Cửu Nghĩa, Tam Hiệp, Hòa Tịnh, Chợ Cổ Chi, Chợ Tân Yên, các Ấp Tân Thành, Tân Hóa, An Phú, Thịnh Thi… một mặt dùng lực lượng quân sự mạnh, có máy bay ném bom các xã có phong trào mạnh như Thân Cửu Nghĩa, Tân Lý Tây… uy hiếp tinh thần nhân dân, lùng bắt cán bộ, cốt cán cách mạng, đồng thời ngăn chặn không cho nghĩa quân chạy vào vùng Đồng Tháp Mười. Mục đích chủ yếu của địch là phải giành lại quyền lực của các làng xóm mà đã hơn 10 ngày nằm trong tay nghĩa quân, bộ máy tề ngụy của chúng đã tan rã, tê liệt. Quân lính địch thả sức bắn giết, hãm hiếp cướp bóc… Ở Tân Hương, lính lê dương bắt được hai vợ chồng, chúng trói người chồng, rồi hiếp luôn người vợ trước mặt người chồng, còn đang nằm cạnh đó. Có người mới sinh con vài ngày đã bị lính địch hiếp đến chết. Có nơi địch thực hiện bắt người rồi cho lính về đốt ngay nhà của người bị bắt. Chúng bắt, bắn bừa bãi. Theo báo cáo của của Dufour, chủ tỉnh Mỹ Tho cho Thống đốc Nam Kỳ, ngày 3, 4 và 6-12, chúng đã bắt hơn 400 người, riêng cuộc ném bom Chợ Giữa Vĩnh Kim giết hơn 100 người. Tiếp đó, từ ngày 6 đến hết tháng 12-1940, chúng bắt hơn 2.500 người nữa. Tức là chỉ trong vòng chưa đầy một tháng (12-40), Pháp đã bát gần 3.000 người, gửi đi Sài Gòn 500, lấy cung 1.100 và thả 500 người sau khi xét hỏi(2). (1) Xem phụ lục. (2) Báo cáo số 7 của Chủ tỉnh Mỹ Tho gửi Thống đốc ngày 15-1-1941. H.S. IIA.45/236 (2). Trung tâm L.T.2 TP.HCM. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Mười Một, 2010, 06:49:25 am 7. Cố gắng duy trì cuộc chiến đấu
Để bảo vệ và tiếp tục chiến đấu, từ sau những càn quét lớn của địch, nghĩa quân đã chuyển sang chiến đấu du kích. Đây là lực lượng gồm những đảng viên, quần chúng trung kiên, can đảm, thông minh, thông thạo địa hình địa phương và có uy tín trong nhân dân. Dần dần, đã hình thành 5 trung tâm gồm những người địa phương tại một chỗ và nghĩa quân nơi khác chạy đến. Đó là: - Thân Cửu Nghĩa đo Nguyễn Văn Chương (tức Bốn Chương) - Tam Hiệp do Nguyễn Văn Phá (tức Ba Phá) - Long Hưng - Vĩnh Kim - Thạch Phú - Bình Đức do Lê Văn Giác (tức Năm Giác), Bẩy Ghè, Bẩy Quới. - Long Trung do Lưu Đạo Hiến tức Hà Tôn Hiến - Tân Lý Đông - Tân Hòa Thành do Nguyễn Văn Mè (tức Bẩy Mè) chỉ huy. (http://img101.imageshack.us/img101/8766/p199.jpg) Đây là những nơi có truyền thống cách mạng, cơ sở Đảng và quần chúng tốt, nhân dân giác ngộ cao, đã được đấu tranh và rèn luyện qua cac phong trào 1930-1931, 1936-1939 và thêm nữa dựa vào địa thế thuận lợi. Như các đồng chí Bốn Chương, Ba Phá, Bẩy Mè thường xuyên chỉ huy nghĩa quân phá cột điện, cắt giây thép, ngã cây trên đường 4, phá từng quãng đường sắt Sài Gòn - Mỹ Tho xong lại rút vào đàm lầy rậm rạp Đồng Tháp Mười. Trong một bức điện số 366 ngày 11-12-1940 của Chủ tỉnh Mỹ Tho gửi Thống đốc Nam kỳ nói rằng, chúng vẫn: “Được tin cộng sản định tăng cường hoạt động trên đường thuộc địa 4, ngang Tân Hiệp và vùng Lacombe (Nguyễn Tấn Thành), Vũng Lầy 1km phía Tây Tân Hiệp - Phú Mỹ. Chỉ có thể phá hủy bằng máy bay. “Đã bắt thêm 565 người, không đủ chỗ giam, xin cho chuyển bớt về Sài Gòn”. Đêm nào, cũng từ chập tối cho đến sáng, địch liên tục cho ô tô chở lính đi tuần canh. Từ ngày 31-12-1940 đến 5-1-1941 (5 ngày) chỉ trên quãng đường thuộc địa 4 từ làng Nhị Bình đến địa phận Tân An, địch đã có 120 cuộc tuần tra, cứ hai giờ một cuộc, dưới sông thì có tàu Alvalanche, Bourdais án ngữ mà vẫn không ngăn được hoạt động của du kích. Đặc biệt ở Long Hưng nơi mà địch phải công nhận đó là cái nôi của “phiến loạn”. Xã này trải dọc theo hai bờ kênh Lacombe (Nguyễn Tấn Thành) nằm giữa tỉnh lộ 25 và lộ thuộc địa 4, vốn có truyền thống cách mạng từ lâu và phong trào rất mạnh. Từ 1927, 1928, Long Hưng đã có tổ chức Thanh niên cách mạng đồng chí Hội và tới tháng 5-1930 thì đã ra đời chi bộ cộng sản đầu tiên của Mỹ Tho. Trong khởi nghĩa, Long Hưng trở thành trụ sở của tỉnh ủy và Ủy ban khởi nghĩa. Nhân dân có trình độ giác ngộ cao, thâm gia đông đảo các tổ chức quần chúng của Đảng.Hầu hết tề xã ngả theo phong trào nổi dậy của nghĩa quân, 5 trên 12 tổng Ban tề đã cùng nhân dân nổi dậy. Địa thế xã khá hiểm trở, vào xã đặc biệt khó khăn. Hai bờ kênh cây cối rậm rạp. Muốn vào xã phải theo đường kênh. Chung quanh Long hưng là những xã có quần chúng nổi dậy rất mạnh tương tự như Long Hưng. Đó là các xã Thạnh Phú, Vĩnh Kim, Bình Đức, Bình Trưng… thuộc tổng Thuận Bình… Tất cả tạo thành thế liên hoàn, nương tựa vào nhau. Vì vậy việc càn quét của địch gặp khó khăn. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Mười Một, 2010, 06:51:02 am Để tạo điều kiện cho việc đàn áp trước mắt cũng như về lâu dài, Pháp đã cho cấp tốc làm một con lộ mới, ô tô có thể chạy dọc theo kênh Lacombe vào xã, bắt đầu từ ngày 27-12-1940 đến 13-1-1941 thì hoàn thành, tức là 18 ngày xong một con lộ dài 6 kilômét.
Ngày 27-12, ngày khởi công, chúng mới bắt được 200 dân. Hai hôm sau, cho đến khi kết thúc, mỗi ngày chúng bắt 1.200 người của nhiều nơi đến phục kích làm con lộ đó. Tình thế của Mỹ Tho ngày càng khó khăn. Trên Sài Gòn không nổ ra khởi nghĩa như dự kiến. Các nơi chung quanh như Chợ Lớn, Gia Định, Tân An, Vĩnh Long có quần chúng nổi dậy, nhưng đều đã bị đàn áp. Tại Mỹ Tho, Pháp tăng thêm lính, thẳng tay khủng bố. Tề ngụy làng xã đã qua con hương mang giao động, không còn hoảng sợ như lúc ta mới phát động quần chúng nổi dậy. Pháp đưa ngay một số nghĩa quân xét cử công khai để uy hiếp tinh thần quần chúng(1). Trước tình thế đó, Ủy ban khởi nghĩa tỉnh họp bàn quyết định cho cán bộ phân tán và rút vào bí mật, súng ống đem chôn dấu. Lực lượng khởi nghĩa còn lại một phần kéo vào Đồng Tháp Mười, một phần qua Biên Hòa xây dựng chiến khu. Đối với quần chúng đã tham gia nổi dậy thì giải thích cho họ hiểu tình thế và đề ra các tình huống để họ từ giải quyết. Trong trường hợp bị địch bắt đi canh gác hoặc đi ruồng bố cùng với dân thì tranh thủ giáo dục dân không báo động, không bắt cán bộ, quân cảm tử. Nhờ vậy, trong một số cuộc khám xét và càn quét ngoài ruộng thấy người của ta, dân đã không báo cho địch mà còn chỉ đường trốn tránh(2). Đối với các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy trực tiếp cuộc khởi nghĩa, Ủy ban khởi nghĩa chủ trương, trong trường hợp bị bắt, các đồng chí phải tự giải quyết để giữ vững lòng trung thành với Tổ quốc, với Đảng không để tổn hại đến thanh danh bản thân. Tất cả chủ trương đều cố gắng duy trì lực lượng để chờ đợi thời cơ cho cuộc khởi nghĩa mới theo hướng Xứ ủy Nam kỳ vừa khôi phục để ra, mà liên lạc đưa tin về Mỹ Tho. Đêm 30-12-1940, gần 100 cán bộ, quân cảm tử và quần chúng trung kiên tập trung tại mộ Bà Cô trên cánh đồng Long Hưng giáp ranh xã Thạnh Phú, nghe đồng chí Thái Văn Đẩu, Xứ ủy viên vốn là Bí thư Vĩnh Long, lúc này quay về Mỹ Tho, phổ biến chủ trương mới và đợi liên lạc dẫn vào Đồng Tháp Mười. Nhưng tiếp luôn cả mấy hôm sau, vẫn không thấy liên lạc tới. Các đồng chí lãnh đạo và nghĩa quân đều phải trở về nhà. Có đồng chí đem chôn súng, tài liệu, dấu súng lên ngọn dừa, trong hốc bụi. Một số đồng chí thấy không thể ở lại địa phương đã tự động phân tán, tỏa đi khắp nơi. Ngày 4-1-1941, được một tên phản bội khai báo, chủ tỉnh tập trung quân bao vây vùng Đồng Cây Xanh, gần gò Trâm Bầu. biết khó có thể chống lại quân chính quy vừa đông, vừa mạnh của địch, các đồng chí lãnh đạo chủ trương cho anh em du kích phân tán rút ra khỏi vùng này. Chỉ còn lại Lê Văn Giác và Nguyễn Văn Ghè (Bẩy Ghè) hai đồng chí tỉnh ủy viên trong Ủy ban khởi nghĩa, Lê Văn Quới (Bẩy Quới) thường vụ Huyện ủy Châu Thành, người đã bắn chết đội xếp Piétri, Nguyễn Văn Huân (Hai Huân) cán bộ Huyện ủy Châu Thành người trẻ nhất trong 4 người, mới có 20 tuổi. Vòng vây của địch xiết chặt, 4 đồng chí rút lên Gò Cây Me bắn lại địch cho đến viên đạn cuối cùng, quyết không để địch bắt, không đầu hàng địch. Trước khi hy sinh, các đồng chí còn bắn chết tên Cai Công. Chỉ còn lại một cây gươm. Các đồng chí thề cùng nhau không để giặc bắt. Đồng chí Quới lần lượt cắt cổ các đồng chí Giác, Ghè, Huân rồi tự sát. Đồng chí Quới chết ngay. Còn 3 đồng chí Giác, Ghè, Huân hấp hối. Pháp bắt được và đưa ra tòa án binh kết án tử hình hai đồng chí Giác, Ghè. Còn đồng chí Huân bị kết án tù chung thân, đày đi Côn Đảo(3). (1) Pháp cho xử ngay những người nổi dậy ngày 23-11 và cho đăng trên các báo công khai như báo Đông Pháp như sau: “Tòa án quân sự hôm vừa rồi xử một nhóm 52 bị cáo đã dự vào các vu rối loạn hồi trước ở các làng Tân Lý Đông, Tây Lý Tây, Tân Hưng (Mỹ Tho). “Tòa tuyên án sau đây: Tử hình: Nguyễn Văn Tạo, Huỳnh Văn Phước, Nguyễn Văn De, Nguyễn Văn Thô, Nguyễn Văn Bôm, Lê Văn Quan, Nguyên Văn Hộ, Lê Văn Ba, Huỳnh Văn Liêng, Trần Văn Nga, Lê Văn Cát, Mai Văn Xiêng (12 người). Chung thân khổ sai: Trần Văn Diễm. 20 năm khổ sai: Lê Văn Tư, Lê Văn Tam, Đặng Văn Biên. 15 năm khổ sai: Huỳnh Văn Liên, Phạm Văn Ty, Cao Văn Lan, Nguyễn Văn Phiệt, Bùi Văn Đang, Phạm Văn Di, Trương Văn Sai, Nguyễn Văn Phó, Nguyễn Văn Lương. 10 năm khổ sai: Phạm Văn Huỳnh, Nguyễn Văn Giao, Bùi Văn Tôn, Nguyễn Văn Nhung, Nguyễn Văn Sĩ, Phạm Văn Tươi, Huỳnh Văn Xi, Nguyễn Văn Rai, Đặng Văn Tôi, Nguyễn Văn Hiếu, Lê Văn Mẹo, Lê Văn Thân, Đặng Văn Tinh, Đăng Văn Te. 5 năm khổ sai: Phạm Văn So, Nguyễn Văn Dơi, Lê Văn Thu, Nguyễn Văn Do, Nguyễn Văn Giao, Lê Văn Bộ tức Bếp Bộ…” (đã đi lính cho Pháp đóng lon bếp. T.G.) Báo Đông Pháp. Thư viên quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. (2) Theo Đ/c Lê Văn Côn (Chín Côn) đã tham gia khởi nghĩa còn sống cho biết. Trong một cuộc càn anh Giáo Tân bị địch bắt đi xét nhà anh Tám Cảnh, thấy chị Mười Thập nấp sau tủ, anh đã ấn đầu chị xuống. Nhờ đó chị Thập thoát nạn. (3) Nhờ đồng chí Nguyễn Văn Huân sống sót kể lại mới biết sự việc cụ thể này. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Mười Một, 2010, 06:52:45 am * * * Khi bộ phận do Ủy ban khởi nghĩa tỉnh tập trung tại Đồng Cây Xanh bị tan vỡ, thì đơn vị do đồng chí Phạm Văn Kỳ tức Mười Kỳ chỉ huy còn hơn 100 du kích vẫn tiếp tục hoạt động ở Phú Mỹ, Tân Hòa Thành, Hưng Thạnh Mỹ. Lúc di chuyển vào Đồng Tháp Mười đất Mộc Hóa, lúc rút sang Bàn Bàng hoặc “Hưng Môn” huyện Cai Lậy hoặc Rạch Láng Cát (Phú Mỹ). Một mặt quân du kích phải tránh địch càn quét, nhưng mặt khác vẫn trừng trị những tên tay sai chỉ điểm của địch như đã diệt Trùm Mới Mỹ An Phú (Tân An), hoặc diệt tên An chỉ điểm của chủ tỉnh Tân An. Suốt tháng 2 và tháng 3-1941, Pháp huy động lực lượng càn đi quét lại vẫn không thể vào chạm trán với du kích. Cánh cẩm Issot, chỉ huy trưởng Mã Tà tỉnh Mỹ Tho đích thân chỉ huy lùng bắt mà vẫn không kết quả. Khi bộ phận của đồng chí Phạm Văn Kỳ rút vào đất Mộc Hóa, thì các đồng chí ở Chợ Lớn, Tân An, Gia Định sau khi nổi dậy thất bại, cũng rút vào vùng Bình Thành, Bình Hóa và xây dựng nơi đó thành chiến khu để chiến đấu và chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa tới.Tất cả những vùng này đều nằm trong đất Đồng Tháp Mười. Tiếc rằng những đơn vị này không gặp được nhau và phối hợp hoạt động. Có lúc địch không thấy đồng chí Kỳ đâu nữa. Và theo báo cáo của địch, ngoài đất Mỹ Tho, Tân An, đồng chí còn biết rành rọt vùng Sa Đéc, Long Xuyên, Châu Đốc, Rạch Giá và vùng biên giới Campuchia. Tháng 5-1941, địch lại thấy dấu vết của du kích do đồng chí Kỳ chỉ huy ở Mộc Hóa. Theo báo cáo của chủ quận Mộc Hóa Trần Văn Tân, ngày 2-5-1941, tên Hương cả lê Văn Cốt ở Nhơn ninh đã bị nghĩa quân thuộc đơn vị của đồng chí Kỳ trừng trị. Tên Cốt là một trong những điền chủ chính của Hãng nông - công nghiệp Tháp mười (Société âgricole et industrielle de Tháp Mười). Hai cuộc khởi nghĩa nổ ra tại Nhơn Ninh (ngày 27-11-1940), tên Cốt là Hương chủ(1), nhờ có công với địch mới được lên chức Hương cả(2). Lúc quần chúng xuống đường biểu tình thị uy kéo tới chợ Cậu Mười Bảy, thì y núp trong nhà đại lý rượu mạnh kênh Phụng Thớt, ghi tên những người lãnh đạo và tham gia, sau đó báo cho Pháp bắt. Trừng trị tên Cốt xong, đồng chí Kỳ dẫn anh em du kích rút vào đồn điền Tommassini, qua Cao Lãnh (Sa Đéc) rồi lại quay về Phú Mỹ (Mỹ Tho). Được tin nghĩa quân cộng sản vẫn hoạt động, Thống đốc Nam Kỳ liền cử viên Thanh tra chính trị hành chính Brasey về tận nơi xem xét và đối phó. Khoảng nửa tháng sau, ngày 28-5-1941, Brasey gửi báo cáo về cho thống đốc trong đó nói rằng y đã họp với các chủ tỉnh Tân An, Mỹ tho và Sa Đéc để bàn cách chống lại nhóm cộng sản do Mười Kỳ cầm đầu. Trong công văn này (số 31-C, ngày 28-5-1941, Brasey trình bày việc đàn áp gặp rất nhiều khó khăn, vì vùng Đồng Tháp Mười quá rộng, nhiều kênh rạch, cây cối um tùm rậm rạp, hầu như không có đường giao thông, thêm nữa bọn cộng sản lại được nhân dân ủng hộ, bảo vệ. y đề nghị tăng thêm lính tập, lập thêm đồn gác, giải tán Hội đồng tề Nhơn Ninh, vì y cho rằng hội đồng này không giúp đắc lực cho chủ tỉnh Tân An trong việc lùng kiếm cộng sản. Thay vào đó, y đề nghị lập một ban hành chính. Thống đốc Nam Kỳ hoàn toàn đồng ý những biện pháp do Brasey đề ra. Hai ngày sau, Brasey lại báo cáo bổ sung hai biện pháp nữa, trong đó nâng tiền thưởng từ 500$ (Đông Dương) lên 1.000$ cho người nào bắt được hoặc chỉ cho “Nhà nước” bắt được Mười Kỳ (Công văn số 33-C ngày 30-5-1941). Ban đầu chúng hy vọng ba, bốn ngày là có thể bắt được Mười Kỳ. Nhưng, liền trong hai tháng 6 và 7, Pháp cho nhiều toán lính thường xuyên tiến vào vùng Đồng Tháp Mười ráo riết ruồng bố các chiến sĩ ta, nhưng không đem lại kết quả cụ thể nào. Có lúc chúng lại ước đoán cả bọn “cộng sản” có lẽ đã chạy sang đất Campuchia. Nhưng rồi lại thấy xuất hiện ở Đồng Tháp mười. Các tên Vilmont, Issot… dưới quyền của Brasey liên tiếp gửi báo cáo về nói rằng vùng này quá rậm rạp, nhiêu cây và hầu như không thể nào vào được, cho nên việc tìm kiếm lục soát rất khó khăn. Chỉ có đường từ tỉnh xuống Mộc Hóa đi được ô tô, còn hầu hết ngập nước đến tận tháng Giêng dương lịch. Việc bao vây lùng bắt thật khó khăn. Trong khi đó, thỉnh thoáng du kích lại trừng trị bọn tay sai của địch, như đã diện Hương Bổn Do tức Cai Tuân, Sáu Huề (Sáu Huề trước có đi với cách mạng nhưng sau quay lại làm chỉ điểm cho Pháp) ở Tân Hòa Thành (Mỹ Tho), Trùm Voi, Phan Văn An ở Mỹ An Phú (Tân An)… (1) Hương chủ: chức vụ coi việc giấy tờ của xã. (2) Hương cả: chức vụ coi việc chung của xã. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Mười Một, 2010, 06:54:51 am Đầu tháng 8-1941, Pháp phải rút quân đi càn về, vì sợ quân Nhật. Ngày 2-8, Brasey gửi báo cáo số 306 về cho Thống đốc Nam Kỳ như sau;
“Kính gửi Ngài thống đốc Sài Gòn, Tôi hân hạnh báo cáo với Ngài, việc một đơn vị Nhật đóng tại Mỹ Tho, đã buộc ông Dufour (chủ tỉnh Mỹ Tho T.G.) phải gọi chánh cẩm Issot đang trong Đồng Tháp Mười trở về. Tôi đã đồng ý với ông Dufour. Việc tìm kiếm bọn Mười Kỳ sẽ được tiép tục ngay khi chúng tôi có thể làm được, nhưng cũng chỉ có thể sau những thay đổi các cơ quan chỉ huy tỉnh lỵ Tân An, Mộc Hóa và làng Nhơn Ninh Thanh tra chính trị - hành chính BRASEY” Lợi dụng điều kiện hơi yên, tháng 10-1941, đơn vị du kích của đồng chí Kỳ lại quay về hoạt động ở Rạch Làng Cát(1) (Mộc Hóa, Tân An). Trong quan hệ với Nhật, Pháp tỏ thái độ đầu hàng, nhân nhượng và cảm thấy trước mắt quận Nhật chưa ra tay hành động, cũng như không tỏ thái độ liên lạc, giúp đỡ những người nổi dậy, cho nên đầu năm 1942, chúng lại chủ tâm vào việc truy lùng những chiến sĩ du kích. Thống đốc Nam Kỳ Rivoal giao cho Esquivillon, Thanh tra chính trị hành chính triệu tập một cuộc họp vào ngày 20 tháng 2 năm 1942 tại dinh chủ tỉnh Mỹ Tho, gồm các chủ tỉnh Mỹ Tho Pateau đã về thay Dufour, Sa Đéc (Landron), Chợ Lớn (Pommez), Tân An (Sylvestre) và các tên Fribourg Eynard chỉ huy sen đầm (hiến binh), Bazin chánh cẩm cảnh sát đặc biệt miên Đông, Simoni chánh cẩm Mỹ Tho, Lageat chánh cẩm đặc biệt Sa Đéc, Lovichi phó cẩm Vĩnh Long cùng nhiều tên khác… Đây là một cuộc họp quan trọng phối hợp giữa các tỉnh và các ngành đàn áp của Pháp ở chung quanh Đồng Tháp mười. Và Mỹ Tho, nơi nổi dậy mạnh cũng được chọn làm nơi họp bàn kế hoạch đàn áp. Tên Esquivillon điều khiến cuộc họp. mục đích chủ yếu của cuộc họp là bàn một chương trình hành động thống nhất nhằm chấm dứt sự hoạt động của cộng sản còn kéo dài trong vùng Đồng Tháp Mười. Nội dung cuộc họp của chúng chia làm hai phần đại ý như sau: - Phần thứ nhất, chúng bàn tập trung lực lượng, phương tiện và kế hoạch cụ thể bao vây, đánh đuổi lực lượng du kích của ta. - Phần thứ hai, chúng bàn thành lập một quận mới trong vùng Đồng Tháp Mười, gọi là quận Mộc Hóa để thuận tiện và nhanh chóng triển khai việc đàn áp những hoạt động của du kích và giữ gìn trật tự an ninh của chúng trong vùng(2). Cuộc họp kéo dài 3 giờ, từ 8 giờ đến 11 giờ trưa ngày 20-2-1942 và ngay sau đó nửa giờ biên bản đã được gửi về cho Thống đốc Nam Kỳ ở Sài Gòn. Bằng một kế hoạch quy mô và tập trung người, phương tiện lớn như vậy, Pháp vẫn không thể nhanh chóng lùng bắt được nghĩa quân. Cho mãi tới ngày 26-5-1942, trong một cuộc chiến ác liệt ở phía Tây cách Cổ Chi hơn 2 kilômét, đồng chí Phạm Văn Kỳ bị tử thương, một phát đạn xuyên qua người. Đến đây mới thực sự chấm dứt tiếng súng của nghĩa quân Mỹ Tho. (1) Theo chỉ điểm của địch, đơn vị của đ/c về Rạch Làng Cát (Làng Heo) thuộc xã Tân Đông (Mộc Hóa, Tân An) có 6 người xã Phú Mỹ, (Mỹ Tho0, 5 người xã Thạnh Lợi, quận Thủ Thừa (Tân An). (2) Xem nguyên văn bản Biên bản ở phần phụ lục. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Mười Một, 2010, 08:02:51 am VI. CUỘC NỔI DẬY Ở VĨNH LONG
Vĩnh Long(1) một tỉnh đồng bằng nằm giữa hai sông Tiền và sông Hậu, hai nhánh chính của sông Cửu Long. Nhân dân Vĩnh Long có truyền thống yêu nước lâu đời. Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, Đảng đã có cơ sở ở Vĩnh Long và trong cao trào cách mạng năm 1930-1931, Đảng bộ đã lãnh đạo nhiều cuộc đấu tranh, trong đó có cuộc xuống đường của hơn một nghìn nông dân của 3 quận Châu Thành, Vũng Liêm, Tam Bình tại Long Hồ. Sang thời kỳ 1936-1939, Đảng bộ Vĩnh Long được củng cố, phát triển mạnh hơn và được rèn luyện trong cuộc đấu tranh kết hợp công khai với bí mật, nửa hợp pháp, trong phong trào đấu tranh đòi dân sinh dân chủ, chống phát xít, chống chiến tranh xâm lược… Khi chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra, tuy Đảng bộ bị khủng bố, nhưng các đồng chí phấn khởi đón nhận chủ trương khởi nghĩa của Xứ ủy Nam Kỳ. (1) Vào lúc cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra, tỉnh Vĩnh Long có 1 tỉnh lỵ, 4 quận là Châu Thành, Tam Bình, (quận trưởng, tri phủ Nguyễn Phước Lộc), Vũng Liêm (quận trưởng Phủ Hải) Chợ Lách với 47 làng và 6 thị trấn: Ngã Tư, Cái Nhum, Ba Kè, Cái Ngang, Ba Càng, Ngã Trung ương Nhà Đài. Diện tích khoảng 1.200 kilômét vuông. Dân số khoảng 220.000 người. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Mười Một, 2010, 08:05:44 am 1. Vĩnh Long khẩn trương chuẩn bị khởi nghĩa
Trước khi khởi nghĩa nổ ra, Đảng bộ Vĩnh Long nằm trong Liên tỉnh ủy Vĩnh Long gồm các tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh, Sa Đéc. Vì vậy, về mặt tổ chức, nhất là cán bộ các tỉnh có quan hệ rất chặt chẽ với nhau, có cán bộ lúc thấy phụ trách ở Trà Vinh, rồi lại thấy xuất hiện ở Vĩnh Long. Đồng thời, Đảng bộ Vĩnh Long cũng có quan hệ với Tỉnh ủy Cần Thơ, sau khi khởi nghĩa Vĩnh Long nằm trong liên tỉnh ủy Hậu Giang. Đồng chí Tạ Uyên, sau khi vượt ngục Côn Đảo về, đã hoạt động nhiều năm ở các tỉnh miền Tây, sau Hội nghị Tân Hương (Mỹ Tho) cuối tháng 7-1940, đồng chí được cử làm Bí thư Xứ ủy thay đồng chí Võ Văn Tần, thì đồng chí đã về trực tiếp phổ biến nghị quyết của Xứ ủy về việc chuẩn bị khởi nghĩa cho Liên tỉnh ủy Cần Thơ và Vĩnh Long(1). Lúc đó, đồng chí Trần Văn Bảy làm bí thư tỉnh ủy Vĩnh Long. Trước đó đồng chí Bảy làm bí thư Tỉnh ủy Cần Thơ, được điều về Vĩnh Long từ cuối năm 1939 đầu năm 1940. Tỉnh ủy gồm các đồng chí Trần Văn Bảy (Bảy Xệ), Ngô Thị Huệ, Mai Văn Tám (Tám Lùn), Lê Quang Phòng, Sáu Thông, sau bổ sung đồng chí Lưu Văn Tài. Bàn triển khai việc thực hiện nghị quyết của Xứ ủy, Tỉnh ủy đề ra trước hết củng cố các chi bộ đảng các làng, nhất là các làng Long Mỹ, Long Hồ (nơi có cơ quan của Tỉnh ủy, thuộc quận Châu Thành) và Phú Lộc Cựu thuộc Tam Bình, giao cho các chi bộ (nơi nào chưa có chi bộ thì giao cho cốt cán, cảm tình của cách mạng) tiến hành vận động quần chúng tham gia các hội phản đế, tổ chức mít tinh (tùy nơi tập họp nhiều hay ít) để nghe nói chuyện vạch âm mưu lấy lính của đế quốc Pháp, các chính sách động viên, tăng thuế của Pháp, âm mưu xâm lược phát xít Nhật, kêu gọi nhân dân đánh đổ đế quốc thống trị giành độc lập cho dân tộc. Theo báo cáo của địch, đêm ngày 6 rạng ngày 7-7-1940, tại ruộng làng Phú Trường Yên (Tam Bình) trên 50 người đã tham dự cuộc mít tinh để nghe nhiều người lên nói chuyện, trong đó có Hoàng Văn Đạt kêu gọi mọi người chống mọi bắt bớ của địch, không thừa nhận quyền của bọn tề làng, đó là bọn tay sai của đế quốc cai trị dân ta. Sau đó, quận trưởng Tam Bình đưa lính về bắt một số người, những người bị bắt thừa nhận ở Phú Trường Yên có một chi bộ cộng sản(2). Mười ngày sau, đêm 17 rạng ngày 18-7, tại làng Phú Lộc (Tam Bình) hơn một trăm người do Phạm Minh Khiết và Nguyễn Văn Nhu (Sáu Bôn) tổ chức, nghe nói chuyện tình hình, sau đó kêu gọi ủng hộ và tham gia Đảng cộng sản. Cuộc nói chuyện kết thúc bằng khẩu hiệu Liên Xô muôn năm và hát quốc tế ca. Được tin bọn tề báo cáo, chủ tỉnh Vĩnh Long đã huy động bọn cảnh sát lưu động Vĩnh Long cùng với bọn cảnh sát đặc biệt Cần Thơ về lùng bắt hai người nói trên và 22 người đã dự nghe(3). Cùng thời gian đó, tại xóm Hiệp Phú (Càng Long) hơn 30 người tập trung nghe Phan Văn Phan và My nói về tội ác của đế quốc Pháp đối với nhân dân Việt Nam, kêu gọi mọi người đấu tranh chặn sự xâm lược của phát xít Nhật, đánh đổ đế quốc Pháp và tay sai để đòi độc lập cho đồng bào. Sau đó bọn địch lùng bắt Phan và My, không thấy, chúng liền bắt người anh của Phan(4)… Trong các tháng 7, 8, 9 truyền đơn, băng cờ biểu ngữ rải và treo khắp nơi, như ở Rạch Trung Lương, Quới Hiệp, Hiếu Ân (Vũng Liêm), ở nhiều xã thuộc Càng Long, Tam Bình, Tỉnh lỵ… Ngoài những cuộc mít tinh nói trên còn rất nhiều cuộc nữa được tổ chức ở đám Trâm Bầu làng Mỹ Lộc (Tam Bình), Đìa Chảo thuộc làng Trung Hiếu, đồng Ca Dặm làng Hiếu Thành (Vũng Liêm), Rừng Dơi làng Phước Hậu (Châu Thành)… Cuộc mít tinh ở Đìa Chảo do nữ đồng chí Nguyễn Thị Hồng, Bí thư quận ủy Vũng Liêm, làm diễn giả chính, quần chúng tham gia đứng chặt mấy mươi công đất cỏ lác, làm cho bọn tề hoảng sợ. Về lực lượng vũ trang, các quận (trừ quận Chợ Lách mói gây được cơ sở Đảng) đều tổ chức các đội du kích ở các làng. Mỗi đội từ 10 đến 15 người chọn trong số quần chúng khỏe mạnh, dũng cảm, nhanh nhẹn trong các Hội phản đế. Hàng ngày du kích luyện tập võ nghệ và động tác quân sự cơ bản. Để có cán bộ về làng hướng dẫn, tỉnh mở lớp huấn luyện đào tạo cán bộ quân sự do đồng chí Phan Văn Bảy (Bảy Cùi), thường vụ Xứ ủy, về trực tiếp hướng dẫn. Để có vũ khí trang bị cho du kích, Tỉnh ủy chủ trương vận động các lò rèn trong tỉnh bí mật rèn vũ khí thô sơ như kiếm, dao găm, mã tấu… Có tổ chức chỗ làm bom, vỏ bom bằng hủ cải bắc thảo, lon sữa bò hoặc xi măng, trong có thuốc nổ trộn thủ công. Việc rèn vũ khí thô sơ cho chi bộ và bản thân mỗi du kích cũng tự kiếm… (1) Sau khi vượt ngục Công Đảo về hoạt động ở miền Tây, đồng chí Tạ Uyên được đoàn thể giới thiệu lấy vợ ở Tam Bình. Gia đình nhà vợ, nhiều người tham gia hoạt động cách mạng từ những năm 1930 và trước khi cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra, nơi đây là một cơ quan của Liên tỉnh ủy. (2) Xem trong Báo cáo chính trị tháng 7-1940, số 1632/API ngày 21-8-1940 của Thống đốc Nam Kỳ gửi Toàn quyền Đông Dương. H.S. IIA.4/204 (2) TT.LT2. TP.HCM. (3), (4) Xem trong Báo cáo chính trị tháng 7-1940, đã dẫn trên. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Mười Một, 2010, 08:07:32 am 2. Địch đối phó
Giống như các nơi khác, cách đối phó của địch ở Vĩnh Long chủ yếu là huy động lực lượng đàn áp cùng với hệ thống tề làng đi lùng xục bắt cán bộ, đảng viên và quần chúng cốt cán của Đảng. Ngày 13-7, địch bắt được đồng chí Trần Văn Kiệt, (tức Rémy) một đồng chí được đào tạo ở Nga về. Nằm trong danh sách những người bị ném vào trại lao động đặc biệt theo sắc lệnh ngày 20-1-1941 của địch, nhưng đồng chí Kiệt vẫn lẩn trốn và đến nay mới bị địch bắt được ở Vĩnh Long. Cùng ngày lính đồn Mỹ Trường (Càng Long) bắt được hai người đang cắm sào treo lời kêu gọi của Đảng cộng sản ở Bờ Rạch Lời. Tuy nhiên, những cuộc bắt địch trong tháng 9-1940 đã gây tổn thất nặng cho tỉnh ủy Vĩnh Long. Theo báo cáo của địch, ngày 14-9 quận trưởng Tam Bình, tri phủ Nguyễn Phước Lộc được bọn chỉ điểm báo cho biết ở Mỹ Hưng, nhà cựu lính tập (khố đỏ) Lê Văn Chức có cộng sản đang họp bàn. Chúng tổ chức bao vây, bắt được Mai Văn Tám (Tám Lùn, tỉnh ủy viên trực tiếp làm bí thư quận ủy Tam Bình). Còn Phan Thị Tốt chạy thoát theo dụng cụ in và nhuiều truyền đơn vừa in xong. Qua khai thác, chúng bắt tiếp cùng ngày Phạm Văn Quơn ở Phú Lộc Đông với nhiều báo Tiến lên, rồi tiếp đến ngày 26-9, khám xét trụ sở tỉnh ủy ở Long Hồ chúng bắt được đồng chí Trần Băn Bảy (Bảy Xệ), bí thư tỉnh ủy, Trần Văn Minh, Lưu Văn Tài, Nhan Thai, Nguyễn Thị Hai. Đồng chí Lưu Văn Tài là tỉnh ủy viên kiêm bí thư quận ủy Châu Thành. Khám một nhà ở bên kia rạch, gần nơi ở của Trần Văn Bảy, là cơ quan ấn loát của Liên tỉnh ủy, địch tìm thấy: - 11 gờ báo Tiến lên số 7 ra ngày 15-9-1940, (số mới ra). - 30 bản công tác bí mật. - 6 bản Thông cáo của Liên tỉnh ủy Cần Thơ các ngày 5, 6 và 7-9-1940. - 2 truyền đơn tiếng Hoa. Điều lệ Liên đoàn chống Nhật Đông Dương. - 3 sổ tay ghi chữ quốc ngữ. - 1 bản về tổ chức Đảng cộng sản Đông Dương (đang thảo). - 1 truyền đơn tiếng Pháp, nhắc nhở người Pháp hãy tỏ ra xứng đáng với tổ tiên đã làm cuộc cách mạng 1789, hãy đánh đổ chính phủ đầu hàng và phản cách mạng, kiên quyết chống sự xâm lược của Nhật bổn. - Nhiều tài liệu tiếng Hoa đang thảo. - Dự thảo nghị quyết đại biểu Xứ ủy Nam Kỳ ngày 21, 22 và 23 tháng 9 năm 1940 (tức là nghị quyết của Xứ ủy Nam Kỳ vừa họp ở Tân Xuân, cách đó 3 ngày). Tiếp đó, địch còn bắt được đồng chí Lê Quang Phòng, tỉnh ủy viên kiêm bí thư quận ủy Vũng Liêm. Như thế trong đợt này, địch bắt được hầu hết các đồng chí chủ chốt của cơ quan lãnh đạo tỉnh Vĩnh Long. Có thể nói do mất cảnh giác, đây là một tổn thất nặng cho Vĩnh Long trước khi cuộc khởi nghĩa nổ ra và có ảnh hưởng nhất định tới cuộc khởi nghĩa của Vĩnh Long(1). Cũng cần nới thêm, vào ngày 30-7-1940, địch bắt được đồng chí Quảng Trọng Hoàng, Xứ ủy viên vừa được bầu ở Hội nghị Tân Hương (Mỹ Tho), tại Vĩnh Long, nhưng địch đưa về Cần Thơ tạm giam, thì đồng chí Hoàng trốn thoát. Sau cuộc đổ bể này, để Vĩnh Long có thể khẩn trương chuẩn bị nổi dậy, Xứ ủy củng cố lại cơ quan lãnh đạo tỉnh. Đồng chí Thái Văn Đẩu, Xứ ủy viên được cử về làm bí thư tỉnh ủy, đồng chí Ngô Thị Huệ phó bí thư phụ trách quận Châu Thành, đồng chí Hiểu Tự tỉnh ủy viên kiêm bí thư quận ủy Tam Bình, đồng chí Nguyễn Thị Hồng, tỉnh ủy viên kiêm bí thư quận ủy Vũng Liêm. Cơ quan tỉnh ủy mới khẩn trương đôn đốc những công việc đã đề ra để chuẩn bị cho cuộc nổi dậy. Tháng 10, Tỉnh ủy họp ở Gò Ân Nước Xoáy để nghe phổ biến nghị quyết Xứ ủy Nam Kỳ vừa họp tháng 9 ở Tân Xuân. Tỉnh ủy nhất trí những nhận định và những công việc do Xứ ủy đề ra. Kiểm điểm phong trào địa phương, Tỉnh ủy nhận thấy địch khủng bố, ta có bị thiệt hại, nhưng các chi bộ vẫn được duy trì, quần chúng căm ghét địch, hăng hái tham gia các cuộc mít tinh, ủng hộ và phấn khởi thấy các đội du kích luyện tập. Tỉnh ủy quyết định đẩy mạnh hơn nữa việc chuẩn bị cho cuộc nổi dậy, theo hướng nghiêm chỉnh thực hiện nghị quyết của Xứ ủy đã đề ra. Hội nghị thàn lập Ban khởi nghĩa toàn tỉnh gồm các đồng chí: - Thái Văn Đẩu trưởng ban. - Ngô Thị Huệ lãnh đạo cuộc nổi dậy ở tỉnh lỵ và quận Châu Thành. - Hiếu Tự lãnh đạo cuộc khởi nghĩa ở Tam Bình. - Nguyễn Thị Hồng lãnh đạo cuộc khởi nghĩa ở Vũng Liêm. Ngoài ra đồng chí Quảng Trọng Hoàng, Xứ ủy viên kiêm bí thư liên tỉnh ủy đang có mặt tại Vĩnh Long, trực tiếp phụ trách Ban chỉ huy quân sự tỉnh có đồng chí Nguyễn Hoàng Phước hỗ trợ. Các quận cũng thành lập Ban khởi nghĩa để đề ra kế hoạch lãnh đạo nhân dân nổi dậy tại địa phương. Kế hoạch khởi nghĩa toàn tỉnh đại thể như sau; Du kích tiến vào chiếm những nơi yếu hầu của địch, riêng trại lính tập ta đã có phân phối, khi nghĩa quân tiến đến, sẽ làm nội ứng chiếm trại lấy súng, phân phát cho nghĩa quân, phá nhà tù là một mũi quan trọng để cứu các đồng chí đang bị giam giữ trong đó, tăng cường cán bộ của tỉnh trong cuộc nổi dậy. Trong khi du kích tiến vào thành phố, tihì các chi bộ công nhân, đường phố huy động quần chúng xuống đường hỗ trợ làm áp lực chính trị gây cho địch hoang mang hỗn loạn. Các quận nổi dậy đánh chiếm quận lỵ, các đồn bốt thị trấn, phs các Nhà việc, trấn phá tề làng, cưa cây cản bộ, phá cột diện, cắt giây điện tín, đinệ thoái, phá cầu, phà… Sau khi giành được chính quyền thì trương cờ đỏ sao vàng thành lập chính quyền cách mạng, ban bố quyền dân chủ cho nhân dân và trấn áp bọn chống đối cách mạng… Trường hợp gặp khó khăn không thành công thì nghĩa quân rút về Rừng Dơi, làng Phước Hậu (Châu Thành), để duy trì lực lượng tiếp tục chiến đấu. (1) Theo đồng chí Ngô Thị Huệ, phó bí thư Tỉnh ủy lúc đó, kể lại: có một đồng chí trong cơ quan Tỉnh ủy bị bắt. Tỉnh ủy đã dời đi nơi khác; nhưng khoảng một tháng sau, đồng chí Trần Văn Bảy thấy yên yên, cho nên lại về đóng cơ quan Tỉnh ủy ở đó và vì thế đồng chí Bảy cùng một số đồng chí khác, bị địch bắt. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Mười Một, 2010, 08:08:26 am 3. Cuộc khởi nghĩa bùng nổ
10 giờ sáng ngày 22-11, lệnh khởi nghĩa của Xứ ủyđã tới trụ sở Ban khởi nghĩa tỉnh Vĩnh Long. Lệnh nói rõ, tất cả cùng nổi dậy vào lúc 12 giờ đêm ngày 22-11. Nhưng phải đợi tin cuối cùng của Xứ ủy mới được hành động. Ban khởi nghĩa tỉnh hội ý và thông báo ngay cho các Ban khởi nghĩa quận. Lệnh này do nữ liên lạc viên Mão đem về. Đến sáu giờ chiều cùng ngày thì đồng chí Nguyễn Thị Liên (Hai Văn Bê) đem lệnh cuối cùng của Xứ ủy cho Ban khởi nghĩa. Tức tốc lệnh được chuyển đi khắp nơi. Nhưng cũng chính vào chiều hôm đó, chủ tỉnh Vĩnh Long Elie Pommz, đã nhận được chỉ thị của Thống đốc Nam kỳ phải thực hiện mọi biện phá để chặn cuộc nổi dậy có thể nổ ra vào đem nay. Do đó, địch đã cấm trại không cho lính ra ngoài, khóa các kho súng, tăng cường canh gác các nơi; quan trọng nhất là nhà tù, cho lính thường xuyên tuần tra canh gác các ngả đường trong tỉnh lỵ… trong khi đó, ta đã có liên lạc thông báo cho các đồng chí trong nhà tù, sẵn sàng nổi dậy. Nổi dậy ở tỉnh lỵ Vĩnh Long và quận Châu Thành Thực hiện chủ trương của Ban khởi nghĩa, các đồng chí Nguyễn Hùng Phước, Nguyễn Hùng Minh, thợ máy, đã chuẩn bị sẵn sàng một lực lượng khoảng 50 nghĩa quân, để tiến đánh tỉnh lỵ và phát động nhân dân nổi dậy. Nhưng do địch đề phòng, kế hoạch đó không thực hiện được. Các đồng chí liền thuê xe ôtô, đưa nghĩa quân đi phá phà Mỹ Thuận, chặn đường của địch từ Sài Gòn xuống Miền Tây. Đường đi bị địch kiểm soát, tài xế sợ, bỏ trốn, cho nên sáng ra, các đồng chí kéo anh em về Rừng Dơi. Ngay tối hôm đó, ngày 23-11, các đồng chí lãnh đạo nghĩa quân đi phá cầu Cây Me… Đồng chí Quảng Trọng Hoàng, Xứ ủy viên, Bí thư liên tỉnh ủy, lúc đó đang có mặt tại Vĩnh Long, ngay đêm 22-11, đã lãnh đạo một lực lượng du kích đi đánh đồn và phá phà Nước Xoáy. Nghĩa quân đánh chiếm đồn rất nhanh chóng, tức được 3 cây súng (2 súng trường và 1 cây hai lòng), sau đó cùng quần chúng tích cực hò reo, phá hai phà, nhằm chặn đường liên lạc của địch giữa Vĩnh Long và Trà Vinh. Trời sáng, đồng chí Quảng Trọng Hoàng cùng nghĩa quân kéo về Rừng Dơi. Cũng ngay đêm 22-11, đồng chí Ngô Thị Huệ dẫn khoảng 50 nghĩa quân đến Long Hồ đốt sách giấy tờ Nhà việc của địch, cắt giây thép, cưa cây cản lộ… Sáng 23, nghĩa quân rút vào Rừng Dơi, làng Phước Hậu (Châu Thành), như dự kiến lúc đầu. Lực lượng nghĩa quân kéo vào đây khá đông, đêm ngày 23-11, các đồng chí lãnh đạo nghĩa quân vượt phá Nước Xoáy, đánh chiếm đồn Long Khương (Hòa Hiệp) và đồn Chánh Hội (Tân Long Hội, Cái Nhum). Mấy đêm sau liên tục, nghĩa quân cùng quần chúng chặt cây cản lộ, cắt giây điện thoại, điện tín… Đêm 29-11 nghĩa quân vẫn còn đánh chiếm Nhà việc chánh Hội (thị trấn Cái Nhum), đốt sổ sách thu 2 súng của tề làng… Quận Tam Bình Nhận được lệnh khởi nghĩa của Xứ ủy do tỉnh ủy chuyển tới, Ban khởi nghĩa liền họp bàn và đề ra kế hoạch như sau: Nghĩa quân xã Tường Lộc khoảng gần 100 người, do đồng chí Hiệu Tự, bí thư quận trực tiếp chỉ huy, đánh trại lính và dinh quận. Nghĩa quân xã Mỹ Thạnh Trung, do các đồng chí Ngôn, Tịnh, Cư chỉ huy, đánh chiếm Nhà việc, phá cầu trên lộ 33 chặn địch ở tỉnh Vĩnh Long xuống. Nghĩa quân xã Loan Tân do đồng chí Phạm Văn Đính chỉ huy, đánh chiếm đồn Trà Luộc. Nghĩa quân Phú Lộc Đông, Phú Hưng, Phú Lộc Cựu khu vực Cái Ngang, khoảng 100 người do đồng chí Bôi, Gia lãnh đạo, đánh chiếm đồn Phú Trường Tây, giải tán các tề làng, nắm lấy chính quyền cách mạng. Đúng 12 giờ đêm, tiếng pháo lệnh, trống mõ nổi lên trấn động khắp vùng, lẫn tiếng hò reo của quần chúng, các mũi nghĩa quân giương cao cờ đỏ, rầm rập tiến đến các nơi đã định. Nghĩa quân đã nhanh chóng chiếm Nhà việc Mỹ Thạnh Trung, đồn Trà Luộc, đốt cầu Ba kè, Cái Sơn, Bằng Tăng… Riêng cánh nghĩa quân do đồng chí Hiếu Tự chỉ huy, chỉ chiếm được trại lính, không chiếm được dinh quận, vì địch dựa vào công sự, cố thủ, còn nghĩa quân khí thế và dũng cảm có thừa tuy nhiên chỉ có vũ khí thô sơ, không thể tiến vào dinh. Đến gần 4 giờ sáng ngày 23, lính địch từ Vĩnh Long kéo xuống ứng cứu, nghĩa quân mới rút. 10 giờ sáng, các lực lượng nghia quân nói trên, về tập trung tại Gò Cỏ ống thuộc làng Mỹ thạnh Trung (Tam Bình), để củng cố lực lượng. Nghĩa quân được nhân dân tiếp tế, úy lạo. Riêng nghĩa quân các xã chung quanh vùng cái Ngang, đúng giờ đã định, nổi dậy đột nhập thị trấn Cái Ngang, có dân tại chỗ nội ứng, đánh chiếm đồn, giết đồn trưởng, bắt một số lính, thu 2 súng trường và 3 súng lửa. Nhân dân thị trấn cùng hàng trăm thuyền xuống đậu dọc sông, với hàng nghìn quần chúng vui mừng chào đón thắng lợi của nghĩa quân. Những người có thẻ thân xé bỏ trắng trên sông… Nghĩa quân làm chủ thị trấn 17 giờ, cho đến khi thấy hàng đại đội lính địch, mang theo vũ khí hiện đại kéo tới, mới rút vào Cây Điều, Phú Lộc Cựu, chuẩn bị đối phó với địch. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Mười Một, 2010, 08:09:23 am Quận Vũng Liêm
5 giờ chiều ngày 22, Ban khởi nghĩa quận nhận được lệnh khởi nghĩa của cấp trên gửi tới. Các đồng chí liền triệu tập họp tại Trà Khang (nay thuộc xã Trung Thành), gồm Nguyễn Thị Hồng, tỉnh ủy viên kiêm bí thư quận ủy, các quận ủy viên Phạm Văn Ba, Nguyễn Văn Nhung, Trần Ngọc Đảnh, Phan Văn Hòa (Võ Văn Kiệt) và các cán bộ Hồ Chí Thiện (Năm Tép), Huỳnh Văn Đắc, Nguyễn Ngọc Yến, Trần Văn Nghị (Trần Kim Giảo). Hội nghị nhất trí kế hoạch: Mũi thứ nhất: khoảng 80 nghĩa quân thuộc các xã Trung Thành, Trung Hiếu do các đồng chí Nguyễn Thị Hồng, Phạm Văn Ba Út, Tạo chỉ huy, có nhiệm vụ đánh chiếm quận lỵ, đồn lính mã tà, nhà bưu điện… Sau khi làm xong nhiệm vụ, đưa anh em đi chiếm đồn lính làng Trung Ngãi, hỗ trợ cho mũi thứ ba. Mũi thứ hai: Nghĩa quân do anh Năm Lục Lạc (đồng chí Võ Văn Kiệt) chỉ huy có nhiệm vụ đánh bắc Nước Xoáy (Hồi Luông nay là Tân An luông thuộc đất Vũng Liêm) chặn giao thông của địch từ Vĩnh Long xuống Trà Vinh. Mũi thứ ba: Khoảng 30 nghĩa quân làng Trung Ngãi do đồng chí Nguyễn Văn Nhung (Ba Sa) chỉ huy, có nhiệm vụ phá cầu Mê Tức, cầu Giồng ké cắt giao thông của địch từ Trà Vinh lên Vũng Liêm. Đây là ba mũi chính do Ban khởi nghĩa quận trực tiếp tiến hành, còn các chi bộ, các làng có nhiệm vụ lãnh đạo quần chúng nổi dậy chiếm Nhà việc, phá tề, chặt cây chặn lộ, cắt giây điện thoại, điện tín… Đúng 12 giờ đêm, đồng chí Nguyễn Thị Hồng phát loa kêu gọi nhân dân nổi dậy. Khắp nơi hưởng ứng, các mũi đồng loạt tiến công Mũi thứ nhất, nghĩa quân nhanh chóng tiến vào, bắt sống hai tên gác, chiếm được dinh quận, trại lính, nhà bưu điện. Thấy nghĩa quân hò reo, ào ào tiến đến, quận Hải hoảng sợ bỏ chạy. Nghĩa quân nổi lửa đốt quận, lửa bốc cao, ngày càng cháy mạnh. Chung quanh biết rằng cách mạng đã làm chủ quận lỵ, vô cùng phấn khởi. Còn bọn tay sai thì hoang man mất tinh thần. Quân khởi nghĩa phá trại giam giải thoát 45 cán bộ và đồng bào đang bị địch giam giữ. Lá cờ đỏ sao vàng được đồng chí Phạm Văn Ba, Nguyễn Ngọc Yến treo trên nóc trại lính, phấp phới bay trong tiếng hò reo trống mõ của quần chúng… Đây là quận lỵ duy nhất nghĩa quân hoàn toàn nằm quyền làm chủ 8 giờ và do một nữ đảng viên mới 25 tuổi, lãnh đạo. Cùng lúc đó, khoảng 100 nghĩa quân, phần lớn là thanh niên thuộc hai xã, do anh Năm Luc Lạc (đồng chí Võ Văn Kiệt) chỉ huy đi đánh bắc Nước Xoáy, trên sông Măng Thít. Nghĩa quân vượt sông san đất Tam Bình, gặp anh em do đồng chí Quảng Trọng Hoàng lãnh đạo, đã cùng nhau phối hợp phá cầu lấy súng, hoàn thành nhiệm vụ của mũi thứ hai. Mũi thứ ba, nghĩa quân cũng nhanh chóng chiếm được đồn Trung Ngãi, làm chủ tình hình tại đây. Nghĩa quân làng Tân An Luông có 17 người, do các đồng chí Nguyễn Văn Đốc và Lê Văn Tu chỉ huy, chiếm Nhà viêc Gò Ân, đốt hết sổ sách. Lũ tề đều bỏ chạy. Sáng ra, khảu hiệu, biểu ngữ Hoan nghênh Đảng cộng sản, Mặt trận phản đế dán khắp nơi. Hai lá cờ đỏ Búa Liềm treo trên một giây thép cao 30 mét ngay tại Bến đò ấp 8 và một lá cờ lớn được nghĩa quân căng giữa giòng sông Măng Thít… Ở Hiếu Thành gần 100 nghĩa quân chiếm công sở Nhà Đài bắt hai tên, thu 3 súng lửa. Sau đó nghĩa quân vào các ấp, giải tán tề, đốt sổ sách… Trên Cù Lao Dài (nay là Thanh Bình và Quới Thiện) đồng chí Trần Ngọc Đảnh chỉ huy nghĩa quân chiếm bốt canh Nhà việc làng Thanh Bình, thiêu hủy giấy tờ, thu 1 súng và làm chủ 3 ngày. Trong những ngày đó, nghĩa quân đến các làng Thạnh Phú, Thanh Lương, Rạch Vọp giải tán tề, lấy lúa của địa chủ chia cho dân làng. Ngày 26-11, Pháp cho máy bay, tàu chiến dưa quân đến chiếm lại, nghĩa quân mới rút đi. Chủ tỉnh Trà Vinh Bohn bị thương trên đất Vĩnh Long Khi nghĩa quân nổi dậy chiếm đóng quận lỵ Vũng Liêm, thì xã Tôn và Hào Mẫn vôi đi báo cho chủ tỉnh Trà Vinh. Trong khi đó, Ban khởi nghĩa được biết lộ Vũng Liêm - Trà Vinh chưa phá được, nhằm chặn đường tiếp viện của Trà Vinh cho Vũng Liêm, Ban khởi nghĩa liền phái các đồng chí Yến và Viên lấy xe ôtô mang một số du kích đi phá cầu Mê Tức. Xe đến cầu Trung Ngãi (Giồng Ké), cây số 27 cách Trà Vinh, thì trời đã sáng. Không thể tới cầu Mê Tức kịp, nghĩa quân liền nổi lửa đốt cầu Giồng Ké và bắt được xã Tôn và Hào Mẫn vừa từ Trà Vinh về tới đó. Nghĩa quân thấy có tiếng xe ôtô, liền tỏa ra ẩn núp, chờ đợi. Được tin báo Vũng Liêm bị cộng sản nổi dậy chiếm đóng, Bohn liền mang theo Borel của Sở mật thám Cần Thơ, sen đầm Richard chỉ huy cơ liính mã tà và bác sĩ Abadie cùng mấy xe lính xuất phát từ 5 giờ sáng, đi cứu đồn Vũng Liêm. Đến cầu Giồng ké, xe của chúng phải dừng lại, vì ngọn lửa đang bốc cao. Chúng vừa ra khỏi xe thì nghĩa quân nổ súng, đồng thời xung phong nhảy vào đánh, chém. Chủ tỉnh Trà Vinh bị trúng ngay phát đạn đầu tiên, một tên cai bị thương nặng ở chân, ngay cạnh Bohn. Viên bác sĩ Abadie bị đánh mạnh vào vai, tên lái xe cũng bị đánh vào trán chỗ trên mắt phải. Bọn địch nhảy khỏi xe, sả súng bắn lại liên hồi. Đồng chí Viên hy sinh tại chỗ. Còn đồng chí Phòng vác kiếm lội qua sông, nhảy vào chém địch, thì bị chúng bắt. Về phía nghĩa quân ít súng, ít đạn, lính địch vừa nhiều vừa mạnh hơn cho nên nghĩa quân phải rút lui. Cùng với việc xin máy bay bắn phá chống lại cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta, địch phải xin ngay thủy phi cơ y tế đến Vàm Trà Vinh, chuyển Bohn về nhà thương Grail Sài Gòn, vì đường bộ đã bị những người nổi dậy, cắt… Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Mười Một, 2010, 08:11:34 am 4. Đế quốc Pháp đàn áp
Thấy nhiều nơi của Vĩnh Long có nhân dân nổi dây, nhất là bị mất quận lỵ Vũng Liêm, bọn cai trị Pháp liền vội trả đũa. Ngay từ sáng sớm ngày 23, chúng đã ra lệnh cho máy bay chở đầy xăng, súng đạn đi ứng cứu Vĩnh Long. Bên dưới, chúng huy động toàn bộ máy cảnh sát, mã tà của Vĩnh Long có sự hỗ trợ của Bạc Liêu và Sa Đéc. Ngay ngày đầu, chúng huy động một đại đội lính tập, mấy ngày sau chúng tăng thêm cho một đại đội lục quân người Miên, một đại đội lê dương dưới sự chỉ huy tên đại úy Hallery, các trung úy Poulet, Rougerie, về sau bổ sung thêm trung úy Cazenave, điều từ Chợ Lớn về. Một đơn vị nhiều tàu chiến được dùng vừa đi càn, vừa tuần tra canh gác. Ngay trong ngày 23-11, Pháp cho một trung đoàn lính Miên đến Càng Long và một trung đội lính lê dương đi giành lại những nơi đã mất. Bên trên có máy bay quan sát và bắn phá dữ dội. Liên tục trong nhiều ngày đế quốc Pháp xua lính, có bọn tay sai đắc lực chỉ đường và thực hiện việc bắt bớ. Chúng bắn phá làm chết nhiều người dân vô tội, đốt nhà cửa của dân, có nơi bị cháy trụi cả xóm. Bọn tay sai theo địch gây nhiều tội ác với nhân dân như ở Tam Bình có quản Sửu, linh Bê, lính Sơn, cai tổng Triêm, cả Tần… Vũng Liêm có xã Tôn, Hào Mẫn, ban biện Giáo… thị xã có xếp Kỳ, cai Phát… Tại Cù Lao Dài, binh lính địch đốt trên 40 ngôi nhà, bắt trên 70 người. Ở Hiếu thành (Vũng Liêm), lính địch xua dân đi trước, khắp các cánh đồng, truy bắt nghĩa quân mấy ngày liền, bắt hơn 80 người, trong đó có 10 cán bộ đảng viên, giết hai người, đốt hàng 100 ngôi nhà, bắt nhiêu heo, gà vịt của dân làng. Riêng làng Phú Hậu một trung tâm nhỏ ở chỗ gặp nhau giữa cầu Rạch Ba kè, Cái Ngang và Ba Càng, thuộc Tam Bình, cách quận lỵ 4 giờ di chuyển, bị nằm dưới quyền kiểm soát của nghĩa quân gần 12 ngày (từ 23 đến 4-12-40)(1) đế quốc Pháp đã tiến hành 3 lần càn quét ngày 23, 25/11 và 4/12/40. Lần một, một trung đội lính tập do 1 viên đội chỉ huy dùng thuyền đi vào, định đổ bộ lên làng, thì bị nghĩa quân dùng súng mới cướp được của đồn Phú Hậu đêm trước bắn, đồng thời dân làng nổi trống mõ, hò reo uy hiếp tinh thần lính địch. Thấy ở thế bất lợi, viên đội vội ra lệnh cho lính rút lui. Lần hai, ngày 25-11 địch điều hơn 70 lính, do viên trung úy Rougerie chỉ huy, có viên sen đầm Berbouet mang theo 15 lính làng phối hợp. Chúng ỷ thế mạnh, bắn phá loạn xị, đốt phá tất cả các nhà kể cả của người Hoa, chỉ còn sót lại nhà việc, trường và chợ. Nghĩa quân và dân làng tản ra, rút vào vùng sâu. Sau khi lính địch rút đi, thì nghĩa quân và dân làng trở về và nắm quyền làm chủ, tự giữ gìn trật tự trị an, tề ngả theo cách mạng thì ở lại, còn những tên phản động phải chạy trốn nơi khác. Bị mất quyền kiểm soát vùng Cái Ngang, lần thứ ba ngày 4-12-40, địch huy động một lực lượng mạnh hơn nữa đàn áp nghĩa quân để nắm lại quyền cai trị. Ngoài lực lượng lần trước, chúng tăng thêm một trung đội lính Miên, tất cả chia làm hai cánh, một xuất phát từ tỉnh lỵ qua Ba Càng và một từ Tam Bình, hai cánh gặp nhau ở Phú Lộc, từ đấy chúng cho quân càn tất cả xóm làng trongvùng mà chúng cho rằng những người nổi dậy ẩn nấp. Binh lính của chúng được lệnh thẳng tay bắn giết đốt phá, chúng đốt hàng nghìn ngôi nhà, giẫm nát hoa màu, thả cửa cướp gà vịt, heo của dân. Để trả thù cho tên chủ tỉnh Trà Vinh bị thương, 1 mã tà bị chết, 4 lính và 6 cảnh sát bị thương, mất 23 súng và nhất là mất quyền kiểm soát quận lỵ Vũng Liêm và nhiều nơi khác, đế quốc Pháp đã tàn sát dã man dân làng của Vĩnh Long, bắt hơn 600 người dùng cực hình tra tấn, bỏ tù và đưa đi đày hàng trăm những người cách mạng(2). Khoảng cuối tháng 11, đầu tháng 12-1940, địch bao vây khám xét nhà đồng chí Chín Hòa ở Rạch Kỳ Hà (Đất Méo), chúng bắt được một cây súng dấu trong ruột cây chuối, chúng liền bắn chết đồng chí chín Hòa tại chỗ. Thấy địch đến, đồng chí Quảng Trọng Hoàng đã trườn theo cây lúa để trốn, nhưng không thoát. Trong người đồng chí Hoàng, địch bắt được một sơ đồ bố trí cuộc nổi dậy đánh chiếm tỉnh lỵ Vĩnh Long. Chúng đưa đồng chí Trọng Hoàng ra tòa và xử tử hình vào ngày 22-7-1942. Đồng chí Thái Văn Đẩu, bí thư tỉnh ủy Vĩnh Long, khi cuộc khởi nghĩa nổ ra, đã chạy dạt về Mỹ Tho là quê của đồng chí và bị địch bắt tại đó. Riêng đồng chí Ngô Thị Huệ, Phó bí thư tỉnh ủy lẩn tránh được. Năm 1942, đồng chí Huệ được Xứ ủy triệu tập, thay mặt cho tỉnh ủy Vĩnh Long, lên thành phố Sài Gòn đẻ nghe phổ biến kế hoạch công tác. Khi vừa tới địa điểm hẹn ở Cây Gõ (Chợ Lớn), thì rơi ngay vào ổ bẫy của địch. Thế là đồng chí Huệ và Dương Công Nữ, xứ ủy viên bị bắt. Lúc đưa ra tòa, vì không có một chứng cứ gì, cho nên địch phải thả đồng chí Huệ, còn đồng chí Dương Công Nữ, địch kết án tù 5 năm. (1) Báo cáo của Chủ tỉnh Vĩnh Long số 225-CG ngày 12-12-40 cho Thống đốc Nam Kỳ. HS. IIA. 45/222 (2a) TT.LT2.TP.HCM. (2) Viết phần này, chúng tôi có lấy một số sự kiện và tư liệu trong cuốn Khởi nghĩa Nam kỳ ở Vĩnh Long, do Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Vĩnh Long xuất bản, năm 1995. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Mười Một, 2010, 08:12:11 am (http://img89.imageshack.us/img89/8617/p225.jpg)
Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Mười Một, 2010, 08:14:28 am VII. - CUỘC NỔI DẬY Ở TRÀ VINH
Trước khi cuộc khởi nghĩa nổ ra, Trà Vinh là tỉnh có lực lượng cách mạng khá mạnh. Theo báo cáo của chủ tỉnh Trà Vinh Desardin (thay Bohn bị thương khá nặng ở câu Giồng Ké phải đưa về Sài Gòn) thì quận Càng Long nằm trong “Khu Đỏ” có liên hệ chặt chẽ với Cầu Kè - Tam Bình - Vũng Liêm. Theo điều tra và khai thác những người bị bắt của địch, quận Càng Long có 12 chi bộ cộng sản. Những làng bị ảnh hưởng cộng sản và hoạt động chống Pháp mạnh là các xã An Trường, Mỹ Cẩm sát ngay gần quận lỵ và Long Đức, Hòa Đa Lộc, chung quanh tỉnh lỵ Trà Vinh. Còn các làng có phong trào, có cơ sở nhưng không mạnh bằng là Đức Mỹ, Nhị Lang, Bình Phú, Đa Phước, Phương Thạnh, Huyện Hội, Xong Lộc (thuộc Càng Long), và Mỹ Long, Hiệp Mỹ (thuộc quận Cầu Ngang). Các quận khác như Tiểu Cần, Trà Cú chưa có cơ sở Đảng và phong trào yếu(1). Đồng chí Phan Văn Bảy (Bảy Cùi), Xứ ủy viên trực tiếp làm bí thư tỉnh ủy Trà Vinh. Trong Hội nghị Xứ ủy ở Tân Hương (Mỹ Tho), tháng 7-1940, đồng chí Phan Văn Bảy là một trong những đồng chí chưa tán thành phát động khởi nghĩa. Tuy nhiên, sau các nghị quyết của Xứ ủy, đồng chí đều phổ biết trong tỉnh ủy và bàn kế hoạch thực hiện. Khoảng tháng 8-1940, lúc đồng chí Trần Băn Bảy, bí thư tỉnh ủy Vinh Long chưa bị bắt, đồng chí Ngô Thị Huệ còn công tác ở Trà Vinh, đồng chí Huệ đã cùng với nữ đồng chí Bảy Lê, theo kế hoạch của tỉnh ủy, về tổ chức cuộc họp quận ủy mở rộng tại ấp Nhì. Tham dự có các đồng chí quận ủy và bí thư chi bộ các xã Hiệp Mỹ, Long Mỹ, Long Hậu (Hựu), Mỹ Thập, Vĩnh Kim, Mỹ Hòa, để bàn những công việc cần làm, chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa. Cuộc họp đang bàn dở dang thì bị lọ, lính địch bao vây, bắt hai đồng chí Huệ và Bảy Lê và một số đồng chí nữa. trên đường vê quận, do đồng bào vận động, chúng thả hai nữ đồng chí Huệ và Bảy Lê. Sau cuộc nọp này, các đồng chí ở quận Cầu Ngang vẫn xúc tiến thành công du kích luyện võ, mua sắm vũ khí, sôi nổi là ở Mỹ Thập, Long Hậu. Ở quận Càng Long, cuộc chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa cũng được xúc tiến như ở Bình Phú đã lập lò rèn ở Bạch Dừa, mời thày dạy võ cho khoảng 15 du kích, tổ chức các cuộc mít tinh động viên quần chúng. Cũng theo báo cáo của địch gần đến ngày khởi nghĩa, những hoạt động của ta làm chúng phải lo ngại là: Khu vực một Càng Long, các làng An Trường, Mỹ Cẩm có liên hệ trực tiếp với Vũng Liêm (Vĩnh Long). Khu vực hai, các làng Phương Thanh, Đại Phước gần tỉnh lỵ. Khu vực ba, Cầu Ngang, so với hai nơi trên mới bắt đầu. Vào lúc này quận trưởng quận Càng Long, phủ Truyền tỏ ra không sốt sắng trong việc đi ngăn chặn, bắt bớ, chủ tỉnh Bohn cho thay bằng Phủ Cang. Hôm trước ngày nổ ra khởi nghĩa, đội Can (người ta đã bắt mối, làm nội ứng cho cuộc nổi dậy), phản bội, báo cho Đốc phủ Hoài biết, ta đang chuẩn bị đánh tỉnh. Hoài báo cáo ngay cho Bohn. Lập tức, ngày 21-11, chủ tỉnh huy động lực lượng cho đi lùng sục các làng Bình Phú, Phương Thanh, Đại Phước bắt 14 người, mà chúng cho là những người cầm đầu phong trào. Như vậy, địch chặn trước được những cuộc nổi dậy ở các xã chung quanh quận lỵ và tỉnh lỵ Trà Vinh. Ở Càng Long, tên sen đầm Richard mang một trung đội lính tập và lính mã tà cùng phủ Cang, tuần tiễu liên tục và bắt những người tình nghi ở các làng An Trường, Đức Mỹ… Do đó đêm ngày 22-11 rạng ngày 23-11, chỉ có một cuộc nhân dân nổi dậy phá nhà việc An Trường, một vụ nhân dân đốt và phá nhà của tề làng Phương Thanh… Tuy nhiên, do hoảng sợ cuộc nổi dậy ở các nơi, chủ tỉnh Trà Vinh phải ra lệnh cho tất cả các đồn lẻ đều rút quân mang vũ khí về quận lỵ, trừ đồn 9 lính làm nhiệm vụ canh giữ bắc Cổ Chiên(2) ở Trà Vinh địch bắt tất cả 120 người, bỏ tù nhiều nghĩa quân. Ở Trà Vinh, không có cuộc khởi nghĩa như các tỉnh, nhưng đau nhất cho địch là tên Bohn, chủ tỉnh đã bị nghĩa quân bắn trọng thương ở cầu Giồng Ké, khi y mang quân đi ứng cứu quận Vũng Liêm, như đã nói ở phần cuộc nổi dậy Vĩnh Long. (1) Xem Báo cáo của chủ tỉnh Trà Vinh gửi Thống đốc Nam Kỳ 23c ngày 16-1-12941. HS. IIA.4/326(1) Xem bản đồ phong trào cách mạng Trà Vinh do địch vẽ kèm theo HS. như trên. (2) Xem Báo cáo đã dẫn trên. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Mười Một, 2010, 08:14:57 am (http://img204.imageshack.us/img204/1372/travinh.jpg)
Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Mười Một, 2010, 06:22:46 am VIII. CUỘC NỔI DẬY Ở SÓC TRĂNG
Tỉnh Sóc Trăng, khi cuộc nổi dậy của quần chúng nổ ra, có 4 quận: Châu Thành, Lế Sách, Long Phú, Phú Lộc và tỉnh lỵ. Quận Phú Lộc sau đổi là huyện Thạnh Trị. Dân số khoảng hơn 200.000 người, ngoài người Kinh, còn đồng bào Khmer, Hoa… Vào năm 1940, Đảng bộ Sóc Trăng còn nằm trong Liên tỉnh ủy Cần Thơ gồm 4 tỉnh ủy: Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau. Đảng bộ Sóc Trăng có cơ sỏ đảng từ năm 1930 và phát triển khá trong thời kỳ 1936-1939. 1. Chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa Khi nghị quyết chuẩn bị khởi nghĩa của Xứ ủy được Liên tỉnh ủy Cần Thơ phổ biến tới Sóc Trăng, địa phương mới có Ban cán sự tỉnh do đồng chí Dương Minh Quân làm trưởng ban, chưa có tỉnh ủy chính thức. Ban cán sự đã tích cực tuyên truyền vận động quần chúng tham gia các Hội phản đế, rải truyền đơn vạch trần những chính sách phản động của đế quốc Pháp như bắt thăm lấy lính, chính sách trưng thu, trưng dụng, tăng thuế…. Kêu gọi nhân dân chống thu thuế, chống bắt lính, đòi tăng cường phòng thủ Đông Dương, chống sự xâm lược của phát xít Nhật. Theo báo cáo của mật thám và cảnh sát địch, các ngày 10-5, 11-6, 16-6, 26-6, 9-7, 22-8-1948 ở tỉnh lỵ Sóc Trăng và nhiều địa phương trong tỉnh xuất hiện nhiều truyền đơn, băng cờ khẩu hiệu, cờ… Riêng ngày 9-7, chúng thu lượm được hàng nghìn truyền đơn. Một thiệt thòi cho phong trào ở Sóc Trăng lúc đó là, ngày 11-7-1940, Pháp bắt được đồng chí Dương Minh Quan bí thư Ban cán sự tỉnh và một số đồng chí khác. Chỉ hơn 10 ngày sau, ngay 25-7, chúng đưa ra toàn án Vĩnh Long xử đồng chí Quan một năm tù, Nguyễn Văn Bách, Trần Sơm mỗi người 8 tháng tù với lý do tải và giữ truyền đơn. Đồng chí Quan bị đưa đi Côn Đảo và hy sinh tại đó. Ban cán sự tỉnh được củng cố gồm 3 đồng chí Phạm Hồng Thám, Nguyễn Tấn Khương và Bùi Thị Trường; đồng chí Thám làm Bí thư(1). Trong Hội nghị Tân Hương (Mỹ Tho), đồng chí được cử vào Xứ ủy và tại hội nghị này đồng chí Thám là một trong những đồng chí phát biểu chưa nên tiến hành khởi nghĩa. Cũng nên nói thêm, sau cuộc khởi nghĩa thất bại chỉ duy nhất đồng chí Thám trong Xứ ủy, không bị địch bắt, vì đồng chí rút về Bạc Liêu, Rạch Giá ẩn náu, cho đến Cách mạng Tháng Tám. Gần khởi nghĩa thì Xứ ủy rút các đồng chí Phạm Hồng Thám và Bùi Thị Trường về Ban Binh vận Xứ ủy, đồng chí Nguyễn Tấn Đạt, bí thư chi bộ Hòa Tú (quận Phú Lộc) lên thay làm thường trực Ban cán sự tỉnh ủy. Để thiết thực chuẩn bị cho cuộc nổi dậy, về công tác Đảng, Ban cán sự đã khôi phục, chấn chỉnh và phong trào các chi bộ Trường Khánh, Châu Khánh (quận Châu Thành), chi bộ Cù Lao Dung (quận Long Phú), chi bộ An Lạc Thôn (quân Kế Sách) thành lập chi bộ đồn điền La Bách (Kế Sách). Riêng chi bộ Hòa Tú (quận Phú Lộc), tỉnh đã rút đi 2, nhưng lại phát triển thêm, thành 8 đảng viên trước lúc bùng nổ khởi nghĩa. Đồng chí Văn Ngọc Chính được cử làm bí thư chi bộ thay đồng chí Nuyễn Tấn Đạt, đã lên tỉnh làm Thường trực Ban cán sự tỉnh ủy. Các chi bộ đã tiến hành vận động giáo dục quần chúng tham gia các hội phản đế. Các hội quần chúng cách mạng đã phát triển ở Bàng Long, Giếng Nước, Thân Thạnh, Phú Hữu (quận Long Phs), Xuân Hòa, đồn điền La Bách (Kế Sách)… Từ hội viên phản đế các chi bộ lựa chọn những thanh niên hăng hái, khỏe mạnh, tổ chức thành các đội vũ trang luyện tập võ, đánh côn quyền động tác quân sự… Chi bộ Hòa Tú là chi bộ mạnh, các đồng chí đã thành công thành các đội mít tinh, có cuộc ở gò Ba Thu, ấp Rạch Rò tới 200 người tham dự. Hàng trăm người đã gia nhập các Hội phản đế trong đó có cả một số tín đồ đạo Hòa Hảo; đội thanh niên vũ trang có tới 60 người, trang bị vũ khí thô sơ thường xuyên luyện tập. Trong lúc chuẩn bị, riêng chi bộ Mỹ Quới (Phú Lộc) có liên lạc với quận ủy Phước Long (tỉnh Rạch Giá), các đồng chí đã tiến hành công tác chuẩn bị dưới sự chỉ đạo của quận ủy Phước Long. Một khó khăn trong công tác chuẩn bị của tỉnh Sóc Trăng là tỉnh mới có Ban cán sự Tỉnh ủy, còn tất cả các quận đều chưa có tổ chức cấp ủy, mọi việc do Ban cán sự tỉnh chỉ đạo trực tiếp tới các chi bộ. Vào lúc nổ ra khởi nghĩa, tỉnh cũng như các quận đều không có Ban khởi nghĩa. Dó đó, cả quá trình từ lúc chuẩn bị, khi phát động và lãnh đạo cuộc nổi dậy đã nổ ra rồi, gặp nhiều khó khăn. (1) Phạm Hồng Thám, người Vũ Thư, Thái Bình. Năm 1927 tham gia V.N.T.N.C.M.Đ.C.H 1930 là Đảng viên cộng sản, bị Pháp bắt và xử 20 năm tù, đày đi Côn Đảo. Ngày 30-4-1935 đ/c Thám cùng các đ/c Tạ Uyên, Tống Văn Trân, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Văn Trọng… vượt ngục Côn Đảo về đất liền hoạt động cách mạng. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Mười Một, 2010, 06:27:27 am 2. Cuộc khởi nghĩa bùng nổ
14 giờ ngày 22-11, lệnh khởi nghĩa của Xứ ủy do giao thông của Liên tỉnh mang tới Sóc Trăng. Đồng chí Thường trực Ban cán sự chuyển mệnh đó đến các chi bộ và ơ sở cách mạng. Trừ tỉnh lỵ nơi gần cơ quan Ban cán sự tỉnh, còn mệnh lệnh khởi nghĩa tới các nơi đều chậm. Chủ tỉnh Sóc Trăng đã nhận được lệnh của Thống đốc Nam Kỳ, y tăng cường canh gác, kiểm soát chặt chẽ trại lính, kho súng và cho đi tuần tra liên tục, cho nên kế hoạch cho phá cầu ở tỉnh lỵ do Ban cán sự tỉnh chỉ huy, không thực hiện được. Tại quận Long Phú, đêm 23-11, dưới sự lãnh đạo của chi bộ Long Phú, nghĩa quân cùng quần chúng cốt cán đốn cây làm chướng ngại vật cản lộ, từ Sóc Trăng đi Long Phú và đốt cầu Saintard. Tại quận Kế Sách, đêm 25 rạng ngày 26-11, nghĩa quân dùng bao tải tẩm dầu đốt cầu Cái Trâm, Bến Đôi(1). Trước đo chi bộ đã huy động quần chúng biểu tình thị uy ở An Lạc Thôn… Nơi duy nhất quần chúng nổi dậy mạnh ở Sóc Trăng, gây tiếng vang lớn là Hòa Tú (quận Phú Lộc). 14 giờ ngày 23-11, chi bộ Hòa Tú mới nhận được lệnh khởi nghĩa. Như thế là lệnh từ Ban cán sự tỉnh tới chi bộ mất 1 ngày. Đồng chí Văn Ngọc Chính, bí thư chi bộ liền cấp tôc triệu tập họp toàn chi bộ bàn kế hoạch thực hiện. Chi bộ đã nhanh chóng quyết định 3 việc cần làm để lãnh đạo quần chúng nổi dậy giành chính quyền. Một là, cho người hỏa tốc xuống cấp ủy, huy động quần chúng đến tập trung tại đình làng nghe phát động nổi dậy. Thứ hai, phân công cụ thể cho từng đồng chí đảng viên, cán bộ chủ chốt lãnh đạo các tổ chức quần chúng, đội vũ trang chịu trách nhiệm giải quyết những vấn đề nảy sinh trong lúc quần chúng nổi dậy. Thứ ba, cho đội vũ trang bắt ngay một số tay sai địch như Giáo Vàng, Tuần Ngọ, Tuần Mai…, để chặn không cho chúng đi thông báo cho địch. Để chỉ huy chung, chi bộ quyết định thành lập Ban khởi nghĩa 6 người gồm: Văn Ngọc Chính, trưởng ban Tư Bối (cán bộ cấp trên cử về), Hà Thành Nguyên, Lý Thanh Sử, Trần Văn Tấn, Lương Đơn Quế. Giúp cho Ban khởi nghĩa có các Ban tuyên truyền, Tải thương, Hậu cần, Tiếp tế, Ám sát… Tiếp ngay sau đó, Ban khởi nghĩa dã họp và đề ra kế hoạch đánh chiếm như sau: Cánh thứ nhất, do đồng chí Tư Bối và Trần Văn Tấn chỉ huy, đánh nhà Hương quản Tệt, lấy súng. Cánh thứ hai, do đồng chí Văn Ngọc Chính và đồng chí Hà Thành Nguyên chỉ huy, đánh chiếm đồn Cổ Cò. Hai cánh sẽ gặp nhau ở đồn Cổ Cò tổ chức mít tinh quần chúng tuyên bố xóa bỏ chính quyền địch… Chỉ mấy tiếng sua ngay chiều hôm đó, lúc 18 giờ hơn 100 quần chúng trong các hội phản đế ở Rạch Rò, Trà Thê, Cây Gừa trang bị gươm giáo, mã tấu, dao găm, gậy gộc… rầm rập kéo đến tập trung tại đình Hòa Tú. Các đồng chí Tư Bối, Văn Ngọc Chính lên nói chuyện vạch rõ những nỗi khổ của nhân dân dưới sự cai trị độc ác của bọn đế quốc xâm lược và tay sai, kêu gọi nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, nổi dậy đấu tranh, giành lại quyền độc lập, tự do, ruộng đất, thoát khỏi ách nô lệ, làm thuê, đói nghèo… Quần chúng hô vang khẩu hiệu hưởng ứng. Sau dó đồng chí Văn Ngọc Chính hạ lệnh xuất quân. Theo kế hoạch cánh quân thứ nhất tiến đến nhà Hương quản Tệt (Trịnh Ứng Đức), cách đồnCổ Cò khoảng 300 mét. Nghĩa quân dùng mưu, giao cho Tuần Ngọ, vừa bị ta bắt hồi chiều, đến cửa nhà Quản Tệt, gọi và báo có cộng sản đang họp. Quản Tệt vừa mở cửa, nghia quân liền ập ào, bắt trói và tiến vào nhà đập tủ, tước một khẩu súng lửa với 10 viên đạn. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, tất cả kéo về phía dồn Cổ Cò hỗ trợ cho cánh quân thứ hai. Đồn Cổ Cò án ngữ ba sông, có 4 lính làng do Cai Tốt chỉ huy. Đồn đồng thời cũng là trụ sở của Ban hương chức hội tề làng Hòa Tú. Cánh quân thứ hai do đồng chí Văn Ngọc Chính và Hà Thành Nguyên chỉ huy ào ào tới hò reo, đánh trống, mõ, gây áp lực uy hiếp tinh thần lính địch. Nghĩa quân kêu gọi chúng đầu hàng, nhưng chúng đóng chặt cửa, định cố thủ. Nghĩa quân liền hô to, nhảy tới đạp đổ vách cửa, vung vũ khí thô sơ đánh bọn lính. Bị thương vào tay, nhưng cai Tốt cùng hai lính lao kịp xuống sông trốn thoát, còn bếp Thành bị nghĩa quân bắt. Nghĩa quân chiếm được 3 súng lửa đã cải tiến cùng 15 viên đạn. Hai cánh nghĩa quân gặp nhau và đã giành được thắng lợi Đúng hai giờ sáng ngày 24-11, lá cờ đỏ sao vàng phấp phới bay trên nóc Nhà việc (và cũng là đồn) Hòa Tú. (1) Theo báo cáo của địch ố 3028 ngày 10-12-1940, là cuầ Ba Trinh. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Mười Một, 2010, 06:30:38 am Ngay sáng sớm, trên mấy trăm đồng bào kéo đến tham dự cuộc mít tinh do nghĩa quân tổ chức. Dọc hai nhánh sông thuyền bè đồng bào đều hò reo hưởng ứng thắng lợi của nghĩa quân.
Trong số đồng bào dự mít tinh có người theo đạo Hòa Hảo, giáo dân và linh mục Trần Quang Nghiêm. Ai nấy đều hồ hởi, hô khẩu hiệu chào mừng thắng lợi của nghĩa quân. Thay mặt cho Ban khởi nghĩa, đồng chí Văn Ngọc Chính tuyên bố xóa bỏ chính quyền địch, cho lệnh đốt hết sổ sách, giấy nợ của tá điền và người nghèo. Nghĩa quân làm chủ hoàn toàn vùng Hòa Tú. Lúc này nghĩa quân đã lên tới gần 500 người tham gia. Ban khởi nghĩa quyết định tiến đến các đồn Trà Thê và Tầm Lon, qua đường có nhà thờ thiên chúa giáo. Tại đây nghĩa quân được linh mục Nghiêm và giáo dân chào đón hoan nghênh(1). Được tin báo trước có nghĩa quân kéo tới, Nguyễn Tấn Lễ bỏ đồn điền chạy trốn. Nghĩa quân rời Trà Thê tiến đến Tầm Lon, nơi có đồn điền của Trương Vĩnh Khánh. Khánh đang bị động viên vào quân đội. tại đồn điền còn hương sư Nguyễn Văn Trừ làm quản lý và người cháu Trương Vĩnh Khánh là Jeam Bergé. Ban đầu, bọn trông coi đồn điền định nổi trống mõ chốn lại, nhưng thấy nghĩa quân đông quá và khí thế rất hăng hái, cho nên bó tay, để nghĩa quân tước 2 súng săn và 1 carabine hơi, nhiều đạn cùng rìu, búa, dao… Trong tá điền của đồn điền Tầm Lon đã có người theo cách mạng, làm nội ứng chỉ cho nghĩa quân biết mọi ngóc ngách. Nghĩa quân tịch thu mọi sổ sách, văn tự nợ của tá điền tập trung lại giữa sân và nổi lửa thiêu hủy… Đến 3 giờ chiều Jean Bergé, cháu của Trương Văn Khánh được nghĩa quân tha cho về. Như vậy, nghĩa quân đã thu được 7 súng đủ loại và nhiều đạn, chiếm được đồn, Nhà việc Hòa Tú, hoàn toàn khống chế bọn hội tề ằ nắm quyền xã Hòa Tú. Nghĩa quân kéo về Ba Chùa củng cố đội ngũ, nghỉ xã hơi và định đêm sau sẽ vượt rạch đánh Thị tứ Nhu Gia, thị Tứ Bãi Xàu và tỉnh lỵ Sóc Trăng. Được tin cấp báo dân nổi dậy đã chiếm đồn, đốt Nhà việc, vào các đồn diền… Chủ tỉnh Sóc Trăng B.Maillard mang theo tên sen đầm Martin, chánh án, một quản mã tà và 16 lính dùng ô tô tải và ô tô ca trưng dụng của dân, đi đến Rạch Nhu Gia, rồi dùng ghe xuồng vào đồn điền Tầm Lon. Đến đây, chúng đã thấy nghĩa quân rút về Ba Chùa, cách đó 8 kilômét. Chủ tỉnh dẫn quân đi theo đường mòn, nhiều nơi bị bắt, mỗi trăm mét lại gặp hố bùn lầy ngập đến đùi, dưới trời náng chang chang. Phải sau hai giờ đi vất vả, chúng mới đến được Ngọn Ba Chùa. Nghĩa quân đã biết trước. Biết địch có nhiều súng hiện đại hơn, Ban chỉ huy quyết định cho đại bộ phận nghĩa quân rút đi chỉ để lại một bộ phận chiến đấu chặn địch, do đồng chí Văn Ngọc Chính chỉ huy. Quân Pháp xuất hiện, nghĩa quân liền nổ súng. Quân Pháp bắn lại liên hồi. Nghĩa quân ẩn sau mô ruộng, quân Pháp rất khó phát hiện. Gần một giờ sau, hết đạn nghĩa quân rút lui để lại đồng chí Nguyễn Văn Lời hy sinh trong chiến đấu. Quân Pháp rút đi, nghĩa quân vẫn làm chủ Hòa Tú. Ngày 28-11, B. Maillard điện số 483c cho Thống đốc Nam Kỳ đề nghị cho thêm quân và cho lệnh san bằng (raser) Hòa Tú, cho đốt hết nhà dân, trừng trị theo luật Gia Long. Liên tiếp các ngày 11-12-13/12/1940, Thống đốc Nam kỳ cử các viên thanh tra Brasey, Fridori và ra lệnh cho các chủ tỉnh Bạc Liêu, Cầu Thơ phải phối hợp với chủ tỉnh Sóc Trăng để đuổi bọn “phiến loạn chống chính phủ” ra khỏi Hòa Tú. Quân Pháp đi tới đâu gây tội ác với nhân dân ta tới đó. Chúng đốt trụi nhà cửa của dân hai bên bờ sông Ấp Rạch Rò, Ba Chùa, Cây Gừa (nay là Ấp Hòa Trung A), đánh đập mọi người, hãm hiếp phụ nữ… Cho đến ngày 16-12-40, bọn Pháp còn truy lùng đồng chí Văn Ngọc Chính cùng 5 người nữa là: Văn Ngọc Tố (em của Chính), Văn Ngọc Nhị (tức Mười Nhị), Lê Thị Lộng (vợ của Văn Ngọc Tố), Lâm Văn Chức, Trần Văn Tạo, chúng cho rằng trong lúc tránh càn đã chạy dạt sang Long Mỹ, quận Phước Long (Rạch Giá)(2). Địch bắt 187 người đánh đập tra khảo rất dã man. Chúng đưa ra tòa kết án (Theo lời các đồng chí bị kết án còn sống): 12 đồng chí 5 năm tù khổ sai 9 đồng chí tù 15 năm khổ sai 6 đồng chí tù 20 năm khổ sai trong đó có anh em Văn Ngọc Chính(3), Văn Ngọc Tố. Tất cả đưa đi đày Côn Đảo. Cho đến khi bọn Pháp bắt được Văn Ngọc Chính, cuộc nổi dậy của nhân dân Hòa Tú mới chấm dứt. (1) Linh mục Trần Quang Nghiêm là người yêu nước, đứng về phía cách mạng trong kháng chiến chống Pháp. Về sau tập kết ra Bắc. (2) Công văn số 31068 của Robert Perroche thanh tra đặc biệt mật thám gửi các chủ tỉnh Bạc Liêu, Rạch Giá, Sóc Trăng. HS. IIA.45/326 (1/1) TT.LT2. TP.HCM. (3) Đồng chí Văn Ngọc Chính bị Pháp đưa đi đày ở Côn Đảo; sau Cách mạng Tháng Tám, đồng chí được về cùng các đồng chí khác. Đồng chí Chính tham gia kháng chiến chống Pháp, rồi chống Mỹ Diệm, giữ chức vụ tỉnh ủy viên, kiêm bí thư huyện ủy huyện Thạnh Trị (Phú Lộc cũ). Tháng 6 năm 1955, đ/c Chính bị chính phủ Diệm bắt và tra tấn, nhưng đ/c không chịu khai. Đêm 23-8-1955, chúng bí mật đưa đ/c ra cầu Đại Ngãi, cho vào bố, rồi bọn ác ôn dùng lưỡi lê đâm buộc thêm đá, vứt xuống sông. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Mười Một, 2010, 06:31:09 am (http://img576.imageshack.us/img576/2729/p237.jpg)
Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Mười Một, 2010, 06:32:06 am IX. CUỘC NỔI DẬY Ở CẦN THƠ
Cần Thơ là một tỉnh lớn, trung tâm của các tỉnh miền Tây. Cơ sở Đảng ở Cần Thơ được thành lập từ những năm 1930 và liên tục phát triển cho đến trước khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra. Khi Xứ ủy Nam Kỳ chủ trương chuẩn bị khởi nghĩa, Đảng bộ Cần Thơ hăng hái thực hiện. Việc tuyên truyền vận động quần chúng tham gia các Hội phản đế, tuyên truyền vận động binh lính, rải truyền đơn khêu gọi các tầng lớp nhân dân đấu tranh chống các chính sách phản động của đế quốc như bắt lính, tăng thuế, trưng thu, trưng dụng, diễn ra sôi nổi. Ngày 1-7-40, địch nhặt được nhiều truyền đơn ở hàng rào trại lính mã tà, đường Cái Khế, sân vận động, trước cửa bốt cảnh sát bắc Cần Thơ, bắc Cái Vồn với nội dung kêu gọi binh lính đứng lên theo cách mạng quay súng bắn lại bọn đế quốc cướp nước. Từ sau ngày đó, cho đến cuối tháng7, liên tục truyền đơn các loại xuất hiện ở tỉnh lỵ, các quận lỵ. Ở các làng có chi bộ và phong trào khá đều tổ chức đội du kích, sắm vũ khí thô sơ và luyệm tập. không khí chuẩn bị khá náo nhiệt, nhất là ở các làng Long Tuyền, Thới Bình gần tỉnh lỵ, Cù Lao Tân Quí (quận Cầu kè), Phú Hữu, Đông Phú (quận Phụng Hiệp)… Ngay trong tỉnh lỵ, Tỉnh ủy cũng đã xây dựng được cơ sở công nhân phản đế ở Nhà Đèn Xưởng mộc, xưởng sửa chữa xe hơi, lò gạch, Thanh niên học sinh phản đế ở các trường Bassac, collège (Trung học) Cần Thơ, Nam Hưng… Các chi bộ Trại Mộc Văn Cừ, Xóm Chài, Cái Da, hãng xe Renault… đều được phổ biến tinh thần nghị quyết của Tỉnh ủy và được giao nhiệm vụ lãnh đạo quần chúng khi cuộc khởi nghĩa nổ ra. Cuối tháng 9, đầu tháng 10-40 đồng chí Quảng Trọng Hoàng, Xứ ủy viên được rút lên Xứ, thì Tỉnh ủy được củng cố, đồng chí Lê Văn Nhung (Lý Hồng Thanh) làm bí thư, Đoàn Bá lợi phó bí thư, Ngô Hữu Hạnh (Ngô Văn Khỏe) thường vụ… Ban thường vụ tỉnh ủy đồng thời là Ban khởi nghĩa tỉnh. Ở các quận cũng lập Ban khởi nghĩa. Do tính chất của cuộc nổi dậy ở tỉnh lỵ có tầm quan trọng quyết định, cho nên các đồng chí Lê Văn Nhung và Ngô Hữu Hạnh được phân công trực tiếp lãnh đạo. Trụ sở thường trực của Tỉnh ủy đồng thời cũng là của Ban khởi nghĩa tỉnh, ở căn nhà bên ngoài là tiệm may Thanh Hồng, tiệm vàng, tiệm hớt tóc (nay là nhà số 51 đường 30 tháng 4, thành phố Cần Thơ). Riêng với trại lính tập và trại lính mã tà, tỉnh ủy đã cấy được nhân mối và vận động được một số lính có cảm tình với cách mạng, sẵn sàng đứng về phía cách mạng khi cuộc khởi nghĩa nổ ra. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Mười Một, 2010, 06:33:16 am Gần sát ngày khởi nghĩa, Ban khởi nghĩa tỉnh có bàn và đề ra một kế hoạch nổi dậy trong toàn tỉnh đại thể như sau:
Tại tỉnh lỵ, trọng điểm quyết định của khởi nghĩa: Du kích làng Thới bình được huy động tập họp trước giờ nổ súng ở Chòm Mã Tây, đợi cuộc nổi dậy của binh lính cướp được súng trang bị cho du kích, lúc đó du kích cùng lực lượng học sinh, công nhân vệ binh tiến đánh chiếm dinh Tỉnh trưởng, Tòa hành chánh, Sở bưu điện, Nhà đèn… Du kích Long Tuyền cũng được phục sẵn ở Gò Xáng Thổi (thuộc phường An Cư hiện nay), sau khi nhận được vũ khí, sẽ cùng với công nhân trại Mộc, Trại Cưa đánh chiếm khám lớn giải thoát tù chính trị và đánh chiếm bắc Cần Thơ. Trong lúc đó tại khám lớn, ta đã có lính Thanh làm nội ứng, cùng với những lính cảm tình khác, khi thấy quần chúng kéo đến liền phối hợp phá khám giải thoát tù chính trị, rồi cùng phối hợp đánh chiếm bắc Cần Thơ. Các lực lượng khác đánh đồn cảnh sát và công sở. Theo chốt là cuộc nổi dậy của binh lính tại lính tập và mã tà, vừa là tiếng súng pháo lệnh, vừa cướp vũ khí trang bị cho du kích đánh chiếm các hơi đã dự định. Đích thân 2 đồng chí Lê Văn Nhung và Ngô Hữu Hạnh đến truyền lệnh cho binh lính nổi dậy khởi nghĩa. Tại quận Cầu Kè, do đồng chí Đoàn Bá Lợi, phó Ban khởi nghĩa lãnh đạo, Vĩnh Xuân là xã có chi bộ mạnh và đội du kích mạnh, Đồn Vĩnh Xuân có 5 lính và dồn quận chỉ có 2 tiểu đội mã tà. Các đồng chí trong Ban khởi nghĩa dự kiến huy động du kích cùng quần chúng chiếm đồn Vĩnh Xuân, phá tề rồi phối hợp với các lực lượng quần chúng của các làng khác nổi dậy đánh chiếm quận lỵ Cầu Kè, riêng đồn Cầu Kè đã có nhân mối làm nội ứng. Các xã khác trong quận đồng thời nổi dậy cướp chính quyền… Tại quận Châu Thành, các chi bộ Thường Phước, Tân Phú Thanh có nhiệm vụ lãnh đạo quần chúng phá cầu Cái Răng… Tại quận Phụng Hiệp, các chi bộ Phú Hữu, Đông Sơn huy động du kích đánh đồn Đông Phú, Phú Hữu, phá tề các làng, phá cầu ngã Bảy (Phụng Hiệp), phá các nhà việc… Tại quận Trà Ôn, các chi bộ Thới Lai, Thới Thạnh lãnh đạo quần chúng chiếm đồn Cờ Đỏ, phá tề xã… 12 giờ trưa ngày 22-11, lệnh khởi nghĩa của Xứ ủy đến Ban khởi nghĩa tỉnh Cần Thơ. Không thể triệu tập toàn Ban khởi nghĩa tỉnh và các Ban khởi nghĩa quận, đồng chí Bí thư tỉnh ủy đồng thời là trưởng Ban khởi nghĩa toàn tỉnh chuyển ngay lệnh đó đi các lơi, nhắc nhở các nơi quyết tâm thực hện theo kế hoạch đã bàn. Đồng chí Lê Văn Nhung và Ngô Hữu Hạnh được phân công cùng lãnh đạo cuộc nổi dậy ở tỉnh; đồng chí Lê Văn Nhung còn phải chỉ huy chung toàn tỉnh, đồng chí Ngô Hữu Hạnh trực tiếp điều động lực lượng du kích và quần chúng đến các nơi đã qui định. Khoảng 10 giờ khuya ngày 22, du kích làng Thới Bình và Long Tuyền đã có mặt tại địa điểm tập kết Chòm Mả Tây và Xáng Thốt. du kích đã được phân công nhiệm vụ, nhận mật hiệu, sẵn sàng vùng lên chiến đấu đánh đổ quân cướp nước. Nghĩa quân không lường trước được, từ chiều tên chủ tỉnh Cần Thơ đã nhận thông báo của Thống đốc Nam kỳ nhắc nhở đề phòng cuộc nổ dậy của nhân dân. Y ra lệnh cấm trại, điểm danh ở trại lính tập cũng như ở trại lính mã tà, khóa các kho súng, tăng thêm lính gác kho đạn dược, lện cho tất cả các dồn canh phòng cẩn mật, cho xe ô tô đưa lính liên tục tuần tra, đặc biệt ở tỉnh lỵ, tăng thêm lính gác bảo vệ nhà tù. Như vậy là lực lượng phuc sẵn chở binh lính hai trại nổi dậy, chiếm súng, để chuyển đi các nơi, không thành hiện thực. Chờ mãi đến hai giờ sáng ngày 23-11 vẫn không thấy động tĩnh gì, lực lượng du kích các làng Thới Bình và Long Tuyền được lệnh rút về địa phương. Cuộc nổi dậy ở tỉnh lỵ Cần Thơ không thành. Nhưng trên đường rút, nghĩa quân Long tuyền, Thới Bình chặt cây cản lộ, phá cột điện, cắt giây điện thoại, điện tín… Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Mười Một, 2010, 06:34:28 am Mấy ngày sau, vào cuối tháng 11-40, Ban khởi nghĩa họp bàn rút kinh nghiệm cuộc nổi dậy, tại trụ sở tiệm may Thanh Hồng thì bị cảnh sát địch bao vây bắt được một số đồng chí trong đó có đồng chí Lê Văn Nhung và Ngô Hữu Hạnh. Sau một thời gian tra khảo, đưa ra xử án, ngày 3 tháng 6 năm 1941, Pháp dẫn hai đồng chí ra sau khám lớn Cần Thơ và bắn hai đồng chí tại đó.
Tại quận Cầu Kè, đồng chí Đoàn Bá Lợi giao cho chi bộ Vĩnh Xuân có nhiệm vụ lấy đồn, việc này các đồng chí cho là dễ dàng, vì đồn ó 5 lính thì 2 đã là nhân mối của ta, sau đó phá Nhà việc rồi huy động quần chúng cùng các lực lượng làng khác tiến đánh quận lỵ Cầu Kè. 3 giờ chiều ngày 23-11 (vì lệnh khởi nghĩa đến Cầu Kè trễ), Ban khởi nghĩa làng Vĩnh xuân, do đồng chí Thiệt chủ trì, đang họp bàn phân công thực hiện kế hoạch của quận giao, thì bọn cảnh sát, mật thám mang lính quận đến bao vây và bắt được các đồng chí lãnh đạo chi bộ Vĩnh Xuân, vì vậy cuộc nổi dậy cũng không nổ ra như dự kiến. Nhưng, kế hoạch tiến công quận do đồng chí Đoàn Văn Lợi chỉ huy vẫn được xúc tiến. Nghĩa quân các làng Tam Ngãi, An Phú Tân, Hữu Thạnh, Hòa Tân tất cả khoảng 800 người trang bị giáo mác, gậy gộc, dao búa băng cờ, khẩu hiệu rầm rập kéo đến địa điểm tập trung. Riêng lực lượng nghĩa quân Hòa Tân có 200 người thì một nửa là đồng bào Khmer. Nghĩa quân chia làm hai cánh do hai đồng chí Biện và Bụng chỉ huy, sau hai giờ vượt qua cánh đồng lầy lội, trời tối, nghĩa quân đã tiếp cận dinh quận. Nhận được tín hiệu của trinh sát, thay mặt cho Bna khởi nghĩa, đồng chí Lợi hạ lệnh cho nghĩa quân tiến thẳng vào cổng chính. Trước sự hò reo và ào ào xông lên của nghĩa quân, lính gác bỏ chạy, lính bên trong dinh quận vội đóng chặt cửa. Một số không chạy vào kịp, bị nghĩa quân diệt tại chỗ. Từ bên trong địch bắn ra loạn xị, cố thủ. Nghĩa quân đã có người bị thương, nhưng vẫn tiên lên áp sát dinh. Nghĩa quân dùng búa phá cổng chính, cổng bị bung ra, các đồng chí Bụng và Biện liên tiếp nhảy vào, lính địch bắn ra xối xả. Hai đồng chí bị thương, được nghĩa quân chuyển ra phía sau. Địch cố thủ bằng nhiều súng, nghĩa quân không thể vào dinh vì chỉ có vũ khí thô sơ, mặc dù về số người nhiều hơn. Trước tình hình đó, đã gần sáng, đồng chí Lợi cho nghĩa quân rút về địa phương. Cùng lúc nghĩa quân đnáh Cầu Kè, ở quận Châu Thành, chi bộ Thường Phước, Tân Phú Thạnh huy động quần chúng đi phá cầu Cái Răng, nhưng địch đã tăng thêm nhiều linh canh phòng, cho nên không phá được cầu, nghĩa quân tuần hành thị uy hò reo trên đường về làng. Còn ở quận Phụng Hiệp, ngay đêm 23-11, một lực lượng nghĩa quân của các làng Phú hữu, Đông Sơn với hơn 60 du kích kéo nhau đến cầu Ngã Bảy, dùng búa phá cầu. Nhưng do cầu chắc chắn nghĩa quân lại chưa có khởi nghĩa, cho nên việc phá cầu không kết quả. Trong khi đó, một lực lượng nghĩa quân khác kéo đến phá Nhà việc Phú hữu, thiêu hủy sổ sách, bắt 1 quản cơ, lấy được một súng. Ngay sau đó, chi bộ tổ chức mít tinh hoan nghênh thắng lợi, quần chúng kéo đến nghe nói chuyện, hô khẩu, hò reo chúc mừng nghĩa quân. Được tin báo, quận trưởng Trà Ôn vội dùng thuyền máy đưa lính đến ứng cứ tề làng Phú Hữu. Nhưng thợ máy là đồng chí Đàm, đảng viên của Trà Ôn, nửa đường làm chết máy. Chúng đe dọa, nhưng đồng chí Đầm không hoảng sợ, mà lại dùng luôn búa phá máy. Đồng chí Đầm hy sinh trước họng súng của địch. Tại quận Ô Môn và Trà Ôn, chi bộ Thới Lai đã huy động nghĩa quân tới địa điểm đã định, chờ trên đưa súng về để đánh đồn điền Cờ Đỏ và chi bộ Thới Thạnh đã tập hợp 300 quần chúng tại Cây Gáo, nhng cả hai nơi chờ mãi tới hai giờ sáng không thấy gì, các đồng chí chỉ huy ra lệnh cho tất cả trở về làng… Mấy ngày tiếp sau, địch huy động cảnh sát, binh lính đi càn quét khủng bố, đốt phá làng mạc của đồng bào. Chúng đã bắt 387 người (số liệu của địch) tra tấn nghĩa quân rất man rợ, bỏ tù, đày ra Côn Đảo, nhiều người đã hy sinh trong tù. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Mười Một, 2010, 02:25:01 pm X. CUỘC NỔI DẬY Ở BẠC LIÊU
Bạc Liêu là tỉnh tận cùng của đất nước ta mà mũi cuối cùng là Năm Căn - Cà Mau, ngoài khơi có một số đảo. Trước năm 1945, Bạc Liêu có bốn quận: Cà Mau, Vĩnh Lợi, Vĩnh Châu, Giá Rai và tỉnh lỵ Bạc Liêu. Vào lúc nổ ra cuộc khởi nghĩa năm 1945, chủ tỉnh là Pierre Paris, chủ quận Cà Mau cũng là một người Pháp De Beauregard. Bạc Liêu nhận được nghị quyết chuẩn bị cuộc khởi nghĩa của Xứ ủy Nam kỳ khá sớm và đã chuẩn bị khá tích cực. Nhưng nổ ra khởi nghĩa lại chậm hơn và chỉ nổ ra ở Hòn Khoai. 1. Công tác chuẩn bị Khi chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra, địch khủng bố mạnh, nhiều đồng chí bị bắt, cơ quan lãnh đạo tỉnh bị xáo trộn, một số đồng chí được cấp trên điều đi công tác các tỉnh lân cận. Tháng 5-1940, hội nghị đại biểu tỉnh Đảng bộ họp tại Tắc Ông Do, xã Tân Hưng Tây, có đồng chí Tạ Uyên, đại diện Xứ ủy và Phạm Hồng Thám đại diện Liên tỉnh ủy Cần Thơ dự. Đồng chí Tạ Uyên và Thám là hai trong năm người vượt ngục Côn Đảo về Vĩnh Châu. Đồng chí Tạ uyên ở lại công tác tại địa phương một thời gian, rồi cùng các đồng chí khác rời Bạc Liêu (năm 1935), chỉ còn đồng chí Phạm Hồng Thám ở lại Năm Căn. Do đó, hai đồng chí là những người rât quen thuộc với Bạc Liêu. Hội nghị đã nghe đồng chí Tạ Uyên truyền đạt tinh thần chuẩn bị khởi nghĩa của Xứ ủy và bàn kế hoạch thực hiện. Hội nghị bầu ra tỉnh ủy mới gồm các đồng chí: Trần Văn Thời, bí thư, Trần Văn Phán, và Quách văn Phẩm Ủy viên thường vụ, Nguyễn Văn Hoành, Nguyễn Văn Đáng… tỉnh ủy viên. Sau hội nghị hày và tiếp sau đó, được phổ biến các nghị quyết của Hội nghị Xứ ủy ở Tân Hương (tháng 7), ở Tân Xuân (tháng 9-1940) và của Hội nghị Thường vụ Xứ ủy, Tỉnh ủy Bạc Liêu đã đẩy mạnh công tác chuẩn bị mọi mặt cho cuộc nổi dậy tại địa phương. Về Đảng, Tỉnh ủy đã củng cố khôi phục được hầu hết các chi bộ xã, thị trấn trước đây gặp khó khăn do địch khủng bố và phát triển thêm chi bộ mới. Tỉnh lỵ Bạc Liêu và thị trấn Giá Rai đã thành lập được chi bộ Đảng. Riêng chi bộ tỉnh lỵ Bạc Liêu được cấp trên tăng cường thêm nhiều đồng chí để làm công tác vận động quần chúng và binh vận, như nữ đồng chí Hai Thà và Ba Son, Thái Ngọc Sanh, Nguyễn Hùng Minh, Nguyễn Hùng Phước… Tháng 10-4940, chi bộ Tân Hưng Tây đã có 12 đảng viên, với hơn 500 hội viên phản đế gồm (Nông dân, Thanh niên phản đế, Phụ ngữ giải phóng…) Thường vụ tỉnh ủy cử đồng chí Phan Ngọc Hiền cùng hai quần chúng cốt cán là anh Nguyễn Văn Giai và chị Nguyễn Thị Quít ra gây cơ sở ở Hòn Khoai. Về công tác tuyên truyền cổ động, các cơ sở dùng nhiều hình thức như rải truyền đơn, dán biểu ngữ, treo cờ, tuyên truyền xung phong… ở những nơi đông người như chọ, đám ma chay, cưới hỏi, nói rõ tội ác của đế quốc, những chính sách bắt lính, tăng thuế… phản động của chúng và kêu gọi nhân dân gia nhập Hội phản đế đứng lên đánh đổ đế quốc cướp nước giành độc lập và ruộng cày. Ở Giá Rai có mít tinh tại lộ cũ Long Điền, Cậy Xộp xã Phong Thanh, Nghĩa trang xã Vĩnh Mỹ, Trà Kha, Vĩnh Lợi. Về tổ chức lực lượng, nhiều xã đã thành lập được đội tự vệ, du kích, trang bị gươm giáo, kiếm, dao găm, mã tấu… luyện tập võ thuật khá sôi nổi. Các xã Tân Hưng Tây, Phong Lạc, Khánh Bình… có đội du kích khá mạnh thường xuyên luyện tập kể cả động tác quân sự, cách đánh du kích… Việc rèn vũ khí sôi nổi. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Mười Một, 2010, 02:26:39 pm Đánh hơi thấy những hoạt động của ta, địch tìm chác ngăn chặn. Ngày 18-9-1940, cảnh sát pháp lý lưu động Bạc Liêu mang theo nhiều lính về bắt một số đảng viên và cốt cán của Tân Hưng. Ngày 3-10, chúng lùng sục bắt tiếp một số ở Thạnh Phú, Phong Lạc…
Trong công tác chuẩn bị khởi nghĩa, công tác vận động binh lính địch được tỉnh coi trọng. Tỉnh ủy cử hẳn một số đồng chí có năng lực đảm nhiệm công tác này. Trong cơ lính mã tà, ta đã xây dựng được một chi bộ, đóng tại tỉnh lỵ Bạc Liêu… Lệnh khởi nghĩa của Xứ ủy mãi tới đêm ngày 23 mới tới Ban khởi nghĩa tỉnh Bạc Liêu. Theo các đồng chí Tỉnh ủy, trong lệnh của Xứ ủy còn nói, Bạc Liêu đón đợi xe vũ khí từ Sài Gòn gửi về để trang bị cho du kích của tỉnh và đợi tin cuối cùng của Xứ ủy. Thường vụ tỉnh ủy cử ngay nữ đồng chí Tám Nhân đi lên cơ quan Liên tỉnh ủy ở Cần Thơ để lấy tin tức các nơi và xin lệnh cuối cùng như lời Xứ ủy đã dặn. Chờ đợi mãi mấy ngày không thấy liên lạc trở về, Tỉnh ủy quyết định triệu tập hội nghị hai ngày (26 và 27-11-1940) tại Lũng Lá, Nhà Thế, ấp Rạch Mũi, xã Tân Hưng. Dự hội nghị ngoài các đồng chí tỉnh ủy viên còn có đồng chí Trần Văn Sớm (Hà Văn Nam), bí thư quận ủy Giá Rai và một số đại biểu các chi bộ Tân Hưng, Tân Hưng Tây, Phong Lạc. Mặc dù liên lạc chưa về, tin các nơi chưa nắm được, Hội nghị nhất trí cấp hành nghị quết của Xứ ủy, các nơi đã ra trận, Bạc Liêu phải đi đôi với anh em thôi. Hội nghị tán thành kế hoạch khởi nghĩa của tỉnh chia làm ba khu vực: - Khu vực Một: Vùng Năm Can gồm thị trấn và một số xã chung quanh Năm Căn trong đó có Hòn Khoai, do đồng chí Quách Văn phẩm, thường vụ tỉnh ủy phụ trách cùng các đồng chí Phan Ngọc Hiển, Trần Thị Lộc, Trần Văn Nhâm, Trần Văn Yến (bí thư và phó bí thư chi bộ Tân Hưng Tây). Đồng chí Phan Ngọc Hiển trực tiếp phụ trách Hòn Khoai. - Khu vực Hai: Thị trấn Cà Mau và các xã chung quanh, do đồng chí Trân Văn Thời phụ trách. - Khu vực Ba: Tỉnh lỵ Bạc Liêu, cac quận Giá Rai, Vĩnh Lợi, Vĩnh Châu do các đồng chí Trần Văn Phán, Nguyễn Văn Đáng phụ trách cùng đồng chí Trần Văm Sớm, bí thư quận Giá Rai. Ban chỉ huy khởi nghĩa chung toàn tỉnh là các đồng chí Trần Văn Thời, Trần Văn Phán. Hội nghị nhất trí chọn Hòn Khoai làm nơi nổ súng đầu tiên của cuộc khởi nghĩa trong tỉnh, vì ở đó lực lượng địch yếu, ở xa, ta có khả năng giành thắng lợi gọn, nhanh, tạo khí thế cho cuộc khởi nghĩa, vừa lấy thêm được súng. Các đồng chí trở về địa phương khẩn trương chuẩn bị, xem xét cách tiến hành nổi dậy tốt nhất. Đợi mấy này vẫn chưa có tin gì ở trên giử về, liên lạc cũng chưa trở lại, ngày 5-12-1940, Ban khởi nghĩa họp tại địa điểm cũ: Lũng Lá, Nhà Thể. Cuộc họp này không có mặt đồng chí Phan Ngọc Hiển, vì ở xa không triệu tập kịp. Ban khởi nghĩa quyết định cuộc nổi dậy ở tỉnh sẽ nổ ra vào giữa đêm 13 tháng 12 mở đầu ở Hòn Khoai, sau đó mở rộng theo kế hoạch đã đề ra cho khu vực Một. Các khu vực Hai và Ba, so với yêu cầu cũ có thấp hơn, chỉ phá lộ, cắt dây điện thoại, điện tín, phá nhà giam, cứu tù chính trị, các xã chung quanh nổi dậy cướp vũ khí của lính, phá tề xã, tổng rồi kéo về thị trấn, tỉnh lỵ phối hợp với nhân dân nổi dậy tại chỗ… Nhưng đến ngày 12-12-1940, Ban khởi nghĩa nhận được lệnh đình chỉ khởi nghĩa của cấp trên gửi về, đồng thời được biết cuộc khởi nghĩa của các tỉnh chung quanh đã bị đàn áp(1). Ban khởi nghĩa chỉ kịp báo cho các quận gần, còn Hòn Khoai ở xa, không thể báo kịp. (1) Có ý kiến Xứ uỷ chưa bao giờ có lệnh đình chỉ khởi nghĩa. Có thể lệnh được đưa ra của một đồng chí hoặc một số đồng chí nào đó. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Mười Một, 2010, 02:28:15 pm 2. Cuộc đánh chiếm Hòn Khoai
Hòn Khoai ở phia Đông Nam mũi Cà Mau, cách bờ biển 20 kilômét. Chung quanh Hòn Khoai có Hòn Lớn, Hòn Tương, Hòn Sao, Hòn Khó, Hòn Đồi Mồi. Nhưng Hòn Khoai vừa rộng, vừa cao hơn cả. So với mặt nước biển cao của Hòn Khoai là 318 mét, nếu lấy điểm cao của đèn biển thì tới 335 mét. Dân cư ở Hòn Khoai thưa thớt, sống bằng nghề trồng rẫy, đánh bắt cá… Pháp chọn Hòn Khoai để xây đèn biẻn, nằm trong hệ thống đèn Cần Giờ, Bãi Cạnh (Pouli Condore), Hòn Khoai (Pouli Obi), Phú Quốc… Về nhân sự và vật tư, đèn Hòn Khoai ở dưới quyền của Sở Hàng Hải đèn biển và cọc tiêu (Service de la navigation pharses et balises), có một người Pháp trông coi, lúc đó là Olivier, vốn là thủy thủ tàu đánh cá Breton. Olivier có mang theo vợ và một con gái nhỏ. Đèn biển Hòn Khoai có một trạm vô tuyến điện, hàng ngày có nhiệm vụ hai lần phải liên lạc với Sài Gòn và các đèn biển bạn, vào lúc 9 giờ 30 và 15 giờ, do trạm trung tâm của Hệ thống vô tuyến điện phía Nam quy định. Hàng ngày, đèn biển Hòn Khoai nhận thêm 4 lần phát tin thời tiết của Sở Thiên văn Sài Gòn, công việc này chủ yếu do phát tin viên Nguyễn Văn Cự làm. Địch thường xuyên đi kiểm tra các đèn biển. Ngày 17-10, chủ sự Bưu điện Vallot cùng với De Beauregard quận trưởng Cà Mau đi kinh lý Hòn Khoai, sau đó ngày 2-11, y lại đến và y thấy ở nhà một tài công có một người đàn bà trẻ, y đã để ý. Theo báo cáo của Vallot, trong lần đến Hòn Khoai ngày 2-11, Olivier có than phiền với Vallot rằng y chịu trách nhiệm về thiên văn, hàng tháng có phụ cấp, y có chia cho thư ký điện tín một phần nhỏ, nhưng Cự nói rằng anh ta làm là chính, cho nên phải trả nhiều cho anh ta… Sau cuộc họp cuối tháng 11-1940, đồng chí Phạm Ngọc Hiển đi Rạch Gốc củng cố chi bộ, xây dựng lực lượng nhất là đội du kích sau đó ra Hòn Khoai tiến hành vận động quần chúng. Đồng chí đã kết nạp anh Giai và chị Quít vào Đảng, thành lập chi bộ Hòn Khoai, do đồng chí làm bí thư. Sau Hội nghị ngày 5-12 của Ban khởi nghĩa tỉnh thì Phan Ngọc Hiển nhận được lệnh phải tiến hành khởi nghĩa và đêm 12-12 và phải giành cho được thắng lợi ở Hòn Khoai. Lệnh này do Bông Văn Nở (Bông Văn Dĩa)(1) đảng viên chi bộ Tân Ân, chuyển ra. Ngày 12-12, chi bộ Hòn Khoai họp ở Suói Ông Hành phía Dồ Tre, có thêm đồng chí Bông Văn Dĩa cùng dự, để bàn kế hoạch thực hiện chủ trương của Ban khởi nghĩa tỉnh. Chi bộ nhất trí đánh chiếm Hòn Khoai vào lúc 20 giờ đến 23 giờ là thuận tiện nhất, vì vào lúc đó Olivier phải đến phòng điện đài, ta phục sẵn và bắt luôn… Trước 20 giờ, đồng chí Phan Ngọc Hiển lại họp lần cuối trước giờ hành động. Cuộc họp tiến hành ở nhà đồng chí Đỗ Văn Sến, cạnh chân núi tháp đèn Hòn Khoai, gồm tất cả những người tham gia cuộc nổi dậy. Việc phân phối bố trí lực lượng như sau: - Các đồng chí Đỗ Văn Sến (gác đèn - gardien de phare), Đắc Đạt (gác đèn, Nguyễn Văn Cẩn (Đặng Văn Cát, người Hạnh Phú, Gia Định, thợ máy đèn), Võ Văn Đình (tài công, người Hai Hang, Quảng Ngãi), phục sẵn ở phòng điện đài đợi Olivier đến. - Các đồng chí Phan Ngọc Hiển, Dương Ngọc Giai (công nhật), cùng một số quần chúng đến nhà Olivier. Đồng chí Nguyễn Văn Cự trực ở phòng điện đài, hỗ trợ các đồng chí bắt Olivier. Đồng chí Bông Văn Nở (Bông Văn Dĩa) và anh chị em còn lại lo chuẩn bị canô, ghe đưa người của ta và gia đình về đất liền. Bộ phận này lo may cờ đỏ sao vàng năm cánh to và khẩu hiệu Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương, chuẩn bị cả loa… Riêng đồng chí Đỗ Văn Biên (tài công, người Tân Ân) phải trông coi bảo đảm đèn phát sáng). Cũng ngay tại cuộc họp này, sau khi lấy ý kiến của tất cả đảng viên, đồng chí Phan Ngọc Hiển trịnh trọng tuyên bố kết nạp hai đồng chí Đỗ Văn Sến và Nguyễn Văn Đắc vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Hai đồng chí tuyên thệ suốt đời chiến đấu cho lý tưởng của Đảng… (1) Đến thời kỳ chống Mỹ cứu nước, đồng chí Bông Văn Dĩa có công trong việc vận chuyển vũ khí bằng đường biển từ Bắc vào Nam được chính phủ phong danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Mười Một, 2010, 02:29:40 pm Các đồng chí tỏa đi thi hành nhiệm vụ.
Khoảng 9 giờ, như thường lệ Olivier đến phòng điện đài đưa tin cho đồng chí Cự phát. Các đồng chí phục sẵn sau cửa, nhảy tới khóa tay vật ngã Olivier. Tên này to xác chống lại quyết liệt. Đồng chí Cần thủ sẵn hòn đá liên đập vào đầu nó. Vì quá mạnh y chết ngay tại chỗ. Dự kiến bắt sống Olivier để giải về đất liền, không thực hiện được. Trong lúc đó, đồng chí Phan Ngọc Hiển và anh em cho giải vợ và con Olivier ra canô đưa về Năm Căn và tịch thu 2 súng trường Label, một súng lục cùng nhiều đạn. Đồng chí Cự và một số anh em phá máy. Cuộc chiếm Hòn Khoai diễn ra nhanh chóng đúng như dự kiến. Tất cả thu dọn khuân vác đồ đạc chuyển xuống canô, xuống máy rời đảo về Rạch Gốc. Về đến Năm Căn, vì đã có lệnh hoãn khởi nghĩa, cho nên du kích ở đây không tập hợp đón đồng chí Phan Ngọc Hiển như kế hoạch đã định trước(1) Đồng chí Hiển không liên lạc được với Ban khởi nghĩa khu vực Một, đồng chí ra lệnh cho canô qua Rạch Hốc Năng ra biển chạy đến Cứa Bồ Đề đến trạm kiểm lâm Tân Ân ở Thủ Tam Giang. Theo tên Lê Toàn Đông (dân thường gọi là Đốc Đông) báo cáo với tên tỉnh trưởng, lúc đồng chí Hiển tới, mặc áo đỏ, canô cắm cờ đỏ. Lúc đó khoảng 9 giờ sáng ngày chủ nhật 15-12 Đốc Đông tiếp đón đồng chí Hiển, nghe đồng chí Hiển thông báo cách mạng đã chiếm Hòn Khoai và đang mở rộng việc đánh đổ chính quyền cai trị của bọn cướp nước. Đồng chí hiển cũng cho tên Đông biết Olivier đã bị cách mạng trừng trị, vợ con Olivier đang bị cách mạng giam giữ. Tên Đông khiếp sợ, đồng chí Hiển bảo gì nghe nấy(2). Sau đó đồng chí Hiển lệnh cho canô, thuyền máy trở về Rạch Gốc… Sáng thứ bảy 14-12, đến giờ thường lệ, Sài Gòn và chung quanh không nhận được tín hiệu từ Hòn Khoai đánh đi. Ban đầu chúng cho rằng trạm vô tuyến Hòn Khoai có sự cố bị hỏng. Sau đó Thống đốc Nam Kỳ được chủ tỉnh Bạc Liêu báo cáo Olivier đã bị giết, Hòn Khoai đã bị quân nổi dây chiếm, máy vô tuyến bị phá. Thống đốc Nam Kỳ vội cho ngay viên đại úy Colon mang theo một đơn vị lính dùng tàu “Đô đốc Charner” với đủ dụng cụ sửa đèn pha, trạm vô tuyến rời Sài Gòn ngày 17-12. Ra tới Hòn Khoai, chúng thấy vắng tanh và cũng phải sửa chữa tới ngày 23-12, việc liên lạc Hòn Khoai và các nơi mới trở lại bình thường. R. Plotkine được cử ra thay Olivier trong coi đèn biển Hòn Khoai. Trưa ngày 14-12, chủ tỉnh Bạc Liêu Pierre Paris nhận được tin tức về việc mất Hòn Khoai, những người đánh chiếm hiện đang có mặt ở Rạch Gốc. Lập tức, ngay chiều hôm đó, Paris mang theo chủ sự bưu điện Vallot, cò cảnh sát pháp lý lưu động Miền Tây R. Coltelloni, cảnh sát mật thám Lovichi cùng một đơn vị lính tập người Miên dùng canô, xà lúp rời tỉnh, đến 4 giờ 30 sáng ngày 15-11 đến Tân Ân. Sau khi hỏi han tình hình chúng đi tiếp, khoảng 8 giờ sáng đến Rạch Gốc. Các chiến sĩ ta dựa vào rừng cây rậm rạp bố trí phục kích. Vừa thấy tàu địch, nghĩa quân nổ súng, một tên lính tập bị thương, bọn còn lại hốt hoảng núp trong tàu dùng liên thanh bắn lại loạn xị, rồi tìm cách rút dần. (1) Theo đồng chí Tràn Văm Sớm, bí thư quận ủy Giá Rai lúc bây giờ, chưa bao giờ có họp bàn hoãn khởi nghĩa. Chi bộ ở Năm Căn đã ước hẹn với đồng chí Phan Ngọc Hiển sẽ đón vào lúc 3 giờ sáng ngày 13-12 và đã huy động lực lượng đón. Nhưng đ/c Hiển về trễ, đã sáng rồi, cho nên anh em giải tán. (2) Theo tên Lê Toàn Đông báo cáo với Pháp, y đưa cho đồng chí Phan Ngọc Hiển 200 đồng (Đông Dương). Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Mười Một, 2010, 02:31:07 pm Trong rừng Rạch Gốc, chi bộ họp kiểm điểm tình hình và bàn chủ trương đối phó với địch. Có ý kiến nêu ra nghĩa quân nên rút đi Phú Quốc, nếu gay quá rút sang vùng biển Thái Lan, đợi thời Nhưng đồng chí hiển cho rằng cần phải chờ liên lạc với cấp ủy, xin ý kiến cấp ủy, hơn nữa đây là vùng ta quen thuộc có thể dựa vào để tránh địch. Thuận theo ý kiến đó, ngày 17-12, nghĩa quân dùng ghe biển dến Xẻo Già. Địch bám theo. Nghĩa quân phải làm bè vượt sông đến Kinh Ba. Tại đây lương thực hết, nước uống không còn, phải tìm nước trong bọng cây để uống, nghĩa quân lại phải chuyển sang Rẫy Khai Long. Địch dùng ghe xuồng máy tiếp tục truy lùng, có tề và tay sai địa phương chỉ lối. Ngay 22-12, sau nhiều ngày đêm lẩn tránh trong rừng rậm, sông, biển, tại Bãy Rây binh lính địch đã bắt được các đồng chí Hiển, Sến, Cự, Luân, Giữ và Nở (Dĩa), trong tình trạng đói khát, đang ngủ thiếp. Riêng đồng chí Giai và Búp kịp trốn thoát, vì không ngủ, nhưng hai ngày sau cũng bị địch bắt.
Những ngày tiếp sau, địch càn quét, bắt tới 228 người của Bạc Liêu (con số của địch). Chúng tra kháo đánh đập nghĩa quân và những người bị bắt tàn bạo và dã man. Ngày 21-4-1941, có bọn tề hỗ trợ địch bắt 7 người thu được 10 súng do ta sản xuất, nửa thùng thuốc súng, một số dụng cụ làm vũ khí tại Khánh Bình. Ngày 27-2-1941, Pháp đưa 52 người tham gia cách mạng ở Rạch Gốc - Cà Mau và đánh chiếm Hòn Khoai ra xử trước tòa án. Chúng kết tội: - 10 người tử hình. - 5 người chung thân - 1 người 20 năm tù khổ sai và 20 năm quản thúc. - 3 người 20 năm tù khổ sai và 10 năm quản thúc. - 3 người 15 năm tù khổ sai và 15 năm quản thúc. - 12 người 10 năm tù khổ sai và 10 năm quản thúc. - 5 người 8 năm tù khổ sai và 8 năm quản thúc. - 2 người 5 năm tù khổ sai và 5 năm quản thúc. 11 người được tha. Mười người bị chúng xử tử hình là các đồng chí: - Quách Văn Phẩm, thường vụ tỉnh ủy, lãnh đạo khởi nghĩa khu vực Một. - Phan Ngọc Hiển chỉ huy đánh chiếm Hòn Khoai. - Nguyễn Văn Cự. - Đỗ Văn Sến. - Nguyễn Văn Cẩn (Đặng Văn Cát) - Đỗ Văn Biên. - Võ (Lê) Văn Bình. - Lê Tôn (Văn) Khuyên. - Nguyễn Văn Đắc (Đạt). - Ngô Kinh Luân, bí thư chi bộ Rạch Gốc. Ngày 12-7-1941, Pháp đưa 10 đồng chí ra sân vận động Càm Mau để xử bắn. Các đồng chí tỏ thái độ bình tĩnh, hiên ngang trước kẻ thù. Đồng chí Phan Ngọc Hiển giựt vải che mắt, nhìn về phái đồng bào hô to: - Đả đảo đế quốc Pháp! - Đông Dương độc lập muôn năm! - Đảng Cộng sản Đông Dương muôn năm! Các đồng chí khác cùng hô theo. Trong báo cáo tháng 7 năm 1941 của địch còn lưu lại, một đoạn như sau: “Trước lúc bị bắn, Ngô Kinh Luân (Cà Mau) hô to: Ôi! Hỡi đồng bào dân tộc! Tôi sắp chết vì Tổ quốc, vì giống nòi! Cách mạng thế giới thành công!...” Pháp còn đày 27 chiến sĩ cách mạng của Bạc Liêu ra Côn Đảo, về sau chỉ còn 16 người trở về. 11 người đã hy sinh ở Côn Đảo, sau những trận đòn tra tấn và ốm đau bệnh tật, thiếu thốn. Sau cuộc nổi dậy thất bại, có sự chỉ đạo của Xứ ủy mới, tỉnh ủy Bạc Liêu được lập lại. tỉnh ủy đã chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa lần thứ hai… Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Mười Một, 2010, 02:33:37 pm XI. CUỘC NỔI DẬY Ở LONG XUYÊN, CHÂU ĐỐC
Ngay sau khi Đảng ta ra đời, trong cao trào cách mạng 1930-1931, cùng với Hóc Môn (Gia Định), Đức Hòa (Chợ Lớn), Cao Lãnh (Sa Đéc), Chợ Mới (Long Xuyên) là những nơi có phong trào cách mạng rất mạnh ở Nam Kỳ. Đế quốc Pháp luôn luôn quan tâm lo ngại những nơi này. Thi hành nghị quyết của Xứ ủy về việc chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, Long Xuyên thực hiện khẩn trương và tích cực. Tuy nhiên một điều tai hại cho Long Xuyên là địch đã cài được một tên lính kín vào hàng ngũ những người cộng sản và nắm chức bí thư tỉnh ủy. Vì vậy đến lúc nổi dậy so với các tỉnh khác, ở Long Xuyên chỉ nổ ra có vài nơi rời rạc, và không mạnh. Tháng 8-40, sau hội nghị của Xứ ủy ở Tân Hương (Mỹ Tho) đồng chí lương Văn Cù, bi thư liên tỉnh ủy Long Xuyên trực tiếp phụ trách tỉnh Long Xuyên Châu Đốc triệu tập cuộc họp tại nhà đồng chí Bội (xã Kiến An, quận Chợ Mới) gồm có Nguyễn Ngọc Uẩn, Nguyễn Ngọc Quang, Hình Văn Hây, Võ Văn Tổng, Lê Duy Hinh, Nguyễn Văn Cự (Chà, bí thư tỉnh ủy, lính kín)… Hội nghị đề ra những công tác chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động quần chúng gia nhập các Hội phản đế như nông dân, thanh niên phản đế, phụ nữ giải phóng… tổ chức các đội vũ trang, sắm vũ khí, luyện tập võ nghệ, cách đánh du kích… Về Đảng, các chi bộ phỉ nghiên cứu nắm vững chủ trương của Xứ ủy, lãnh đạo địa phương thực hiện những công tác do hội nghị tỉnh vạch ra. Trong tháng 8, 9/40, khắp các quận Chợ Mới, Tân Châu, Châu thành đêu có rải truyền đơn, căng biểu ngữ, treo cờ… Quần chúng góp gạo, góp tiền cho cách mạng; góp sắt để rèn giáo mạc, dao găm… cho du kích. Nhiều cuộc mít tinh được tổ chức để động viên và tuyên truyền quần chúng hưởng ứng và ủng hộ cuộc khởi nghĩa do Đảng phát động, có cuộc hàng mấy trăm người dự. Trước tình hình sôi sục như thế ở nông thôn, cả ở các thị trấn, địch tăng thêm việc lùng xục bắt bớ. Ngày 11-8, chúng bắt 3 người ở Châu Thành, hôm sau chúng bắt 2 người ở Chợ Mới, vì chúng cho rằng những người này đã rải hàng trăm truyên đơn. Theo báo cáo của địch, ngày 14-8 bọn cảnh sát mật thám vào làng Kiến An (Chợ Mới) bắt Nguyễn Van Linh vì khám trong nhà thấy 20 truyền đơn kêu gọi chị em phụ nữ vùi trong đống thóc. Chỉ trong một ngày 3-9-40, địch đã thực hiện 7 cuộc kiểm soát làng Kiến An (Chợ Mới) bắt 5 đàn ông, 2 đàn bà, vì chúng cho rằng những người này đã rải truyền đơn… Cũng theo báo cáo của địch còn lưu lại, ngày 17-10, Tỉnh ủy Long Xuyên đã họp và quyết định ngay việc lạc quyên sáu nghìn đồng Đông Dương (6.000 đ) cho Xứ ủy để chi tiêu cho “chiến tranh” và chuyển một số cấp ủy thành Ban Khởi nghĩa(1) Địch biết quá rõ như thế này, vì bí thư tỉnh ủy là lính kín. Lệnh của Xứ ủy cho các nơi phải nổi dậy vào đêm ngày 22 rạng gnày 23-11. Nhưng lệnh đó đến Ban khởi nghĩa tỉnh chậm 7 ngày, vì tên Chà (Cự) nhận được, nhưng y đã giữ lại, không đưa ngay cho tỉnh ủy (lúc đó các đồng chí Tỉnh ủy chưa biết, chưa nghi ngờ và cũng chưa phát hiện tên Chà là lính kín). Đồng chí Lương Văn Cù liên thay mặt liên tỉnh ủy triệu tập ngay cuộc họp vào ngày 28, 29-11-1940, tại nhà bà Cúc xã Long Điền (quận Chợ Mới), do đồng chí Lương Văn Cù chủ trì. Sau khi thông báo lệnh của Xứ ủy, Hội nghị thảo luận và đã nẩy sinh hai ý kiến khác nhau. Có ý kiến đề nghị hoãn cuộc nổi dậy, vì các nơi nổi dậy đã bị đàn áp, kẻ địch ở tại chỗ đã đề phòng đối phó, tương quan so ta với địch, ta không thể giành thắng lợi. Ý kiến hoãn còn dựa vào việc từ ngày 25 đến 27-11-1940, Chủ tỉnh Legeat cùng chủ quận Chợ Mới đã lục soát các làng Kiến An, Long Điền, Mỹ Hiệp, Tân Mỹ (Chợ Mới), bắt 19 người. Nhưng, nhiều ý kiến cho rằng Long Xuyên, Châu Đốc phải chấp hành nghị quyết của cấp trên, phải nổi dậy để căng, kéo địch ra, hỗ trợ cho các nơi, hơn nữa đảng viên quần chúng đang náo nức chờ đợi, ta đã bố trí lực lượng, nếu Đảng bộ không lãnh đạo khởi nghĩa, có thể có nơi tự động, đảng bố sẽ có tội với cấp trên… (1) Báo cáo chính trị tháng 10 năm 1940 của Thống đốc Nam kỳ gửi Toàn quyền Đông Dương, H.Sơ IIA45/204(2) TT.LT2. TP.HCM. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Mười Một, 2010, 02:34:19 pm Thảo luận khá lâu, cuối cùng Hội nghị quyết định chấp hành lệnh khởi nghĩa của Xứ ủy. Căn cứ vào tình hình thực tế của Long Xuyên và Châu Đốc do Ban khởi nghĩa phụ trách, đã phân công như sau:
- Trọng điểm tiến công của Long Xuyên là Chợ Mới. Trọng điểm tiến công của Châu Đốc là Tân Châu. Cuộc nổi dậy ở Chợ Mới do đồng chí Nguyễn Ngọc Quang chỉ huy, có nhiệm vụ lãnh đạo các xã cùng nổi dậy và đánh chiếm quận lỵ. Cuộc nổi dậy ở Tân Châu do các đồng chí Hẳn, Đua chỉ huy dùng lực lượng các xã Phú lâm, Long Sơn tiến hành đánh quận. Đồng thời huy động lực lượng các xã Hòa Hảo, Phú Thuận, Phú An… phá tề giành chính quyền. - Để hỗ trợ cho Tân Châu, ở Tịnh Biên, đồng chí Phạm Văn Thừa dùng lực lượng quần chúng Nhơn Hưng, Thới Sơn, Xuân Tô, quấy rối tỉnh lỵ Châu Đốc, gây cho địch khó khăn lúng túng. - Còn ở quận Hồng Ngự, chi bộ Thường Thới dùng lực lượng quần chúng đánh dinh quận. - Tỉnh lỵ Long Xuyên, quận Châu Thành do Nguyễn Văn Cự (Chà) bí thư Long Xuyên chỉ huy, có nhiệm vụ dùng lực lượng du kích đánh phá Vàm Cống, chặn đường tiếp vận của địch, huy động quần chúng đốt phá các cơ quan của địch ở tỉnh… Hội nghị quyết định thời điểm khởi nghĩa cho cả hai tỉnh Long Xuyên, Châu Đốc là 0 giờ ngày 2-12-1940. Các tỉnh chung quanh đã nổi dậy, địch tại Long Xuyên và Châu Đốc đã đề phòng, lại có thêm tên Chà làm lính kín biết rõ kế hoạch của ta, cho nên diễn biến của các nơi cho thấy, hầu như địch đều chặn trước. Ngya 27-11-1940, chủ tỉnh Long Xuyên Legeat đang có mặt tại Chợ Mới điều khiến càn quét, bắt bớ, đã ra lệnh cho Trung úy Gaillard chỉ huy đại đội lính tập người Miên, phải gọi các đồn nhỏ về, tăng thêm quân cho bốt quận và Mỹ Luông; kêu gọi các điền chủ giàu có gửi tiền vào nhà băng và đưa gia đình về tỉnh lỵ, thị trấn lớn; tăng thêm quân canh gác, bảo vệ hai bên bờ Vàm Cống. Ở tỉnh lỵ Long Xuyên và quận Châu Thành, tên Cự (Chà) nằm nhà không hành động. Tại quận Chợ Mới. Theo đúng mệnh lệnh, nghĩa quân của Kiến An, Long Điền tập kết ở bãi Cồn Chín Dư, chia thành hai mũi, một mũi từ mé lộ đánh vào và một mũi từ hai sông đánh lên, nhưng cả hai đêu bị phục kích không thể nào đột nhập quận lỵ, đê hỗ trợ cho nghĩa quân tại quận lỵ. Trước tình thế ấy, nghĩa quân liên chuyển theo dọc lộ Long Điên để phối hợp với nghĩa quân Mỹ Luông do đồng chí Tám Hoành phụ trách, đào lộ, đốn cây, cắt giây điện tín, điện thoại, đốt phá cầu kinh Thầy Cai, Kinh Cựu Hội, kinh Trà Thôn, mương Ông Cha, mương quản Bèn… Không vào được quận, nghĩa quân Kiến An phá 2 nhà tề phản động, tước 2 súng do Pháp giao cho chúng, 1 lính mã tà chống lại liền bị đâm trọng thương. Ở phía bên kia sông, nghhĩa quân đốt Nhà việc An Phong cùng toàn bộ hồ sơ sổ sách, lấy một súng. Đồng bào khắp các xã chung quanh quận lỵ Chợ Mới nổi trống mõ, hò reo, hô khẩu hiệu: - Đả đảo chính quyền đế quốc Pháp! - Chính quyền về tay nhân dân! - Đảng Cộng sản Đông Dương muôn năm! Trong lúc nghĩa quân các xã chung quanh tập trung tại địa điểm tập kết chuẩn bị vào hỗ trợ, thì đồng chí Nguyễn Ngọc Quang chỉ huy một đội du kích xông tới chiếm nhà dây thép. Bị địch bắn chặn, biết không thể chiếm được, đồng chí Quang cho lệnh đốt, rồi rút lui. Kết thúc cuộc đánh vào Chợ Mới. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Mười Một, 2010, 02:34:51 pm (http://img812.imageshack.us/img812/4057/p261.jpg) Sơ đồ vùng nghĩa quân Chợ Mới (Long Xuyên) bị bao vây Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Mười Một, 2010, 02:36:29 pm Tại các quận Tân Châu, Hồng Ngự, Tịnh Biên cũng gặp tình trạng tương tự, địch đều chặn trước.
Nghĩa quân các xã Long Phú, Long Sơn, Long Thuận… đã được huy dộng tiến vào quận lỵ Tân Châu, nhưng binh lính địch canh phòng, ta không thể vào được. Chi bộ Thường Thới đã tập trung lực lượng quần chúng từ Mương Kinh băng đồng tiến đến địa điểm tập kết cách dinh quận 200 mét chờ lệnh, nhưng phía Tân Châu bị lộ không hoạt động, trong tình thế bất lực, các đồng chí cho rút, cuộc đánh Hồng Ngự không thành. Ở Tịnh Biên lực lượng do đồng chí Phạm Văn Thừa chỉ huy đánh vào Châu Đốc cũng không thực hiện được. Sau mấy ngày nổi dậy sôi sục mở một số xã thuộc các quận Chợ Mới (tỉnh Long Xuyên) và Tân Châu, Hồng Ngự, Tịnh Biên (tỉnh Châu Đốc) nghĩa quân chuyển sang đối phó với những cuộc càn quét của địch. Không kể lực lượng cảnh sát mã tà có tại chỗ, Pháp cho lệnh điều ngay một đại đội linh tập, lính Miên bổ sung cho Long Xuyên và Châu Đốc. Ở những nơi có phong trào nhưng không manh, chúng cho bọn sen đầm, cò Pháp mang lính đi bắt cán bộ và quần chúng cốt cán của ta. Riêng Chợ Mới chúng dùng lực lượng quân sự chính quy có vũ khí hiện càn quét liên tục nhiều ngày(1). Ngày 10 và 11-2, dưới sự chỉ huy của chủ tỉnh Long Xuyên Logeat cùng với chủ quận Chợ mới, Finidori mang một trung đội lính tập và lính miên càn Chợ Mới, chúng cho lính đốt nhà, bắn phá bừa bãi. Chúng đã đốt gần 200 ngôi nhà và bắt 40 người… Nghĩa quân các xã Kiến An, Long Điện, Mỹ Luông… khoảng 100 người phải rút vào Gồng Bánh Lái, khu vực nằm giữa cánh đồng 3 xã Kiến An, Mỹ Hội Đông, Nhơn Mỹ, mà trong báo cáo của địch gọi là vùng giữa Rạch Ông Chương và Vàm Hào, để đối phó. Trong hai ngày 13 và 14-12, Trung úy Gaillard chỉ huy một trung đội lính tập người Miên bao vây càn quét đốt phá bắt thêm mấy chục người nữa… Lần này cũng do chủ tỉnh Lageat chỉ huy. Theo số liệu của địch trong các cuộc càn, chúng đã bắt của Long Xuyên 227 người, của Châu Đốc 88 người, trong đó phần lớn là các đồng chí lãnh đạo từ xã thôn trở lên. Pháp đã xử tử hình: đồng chí Lương Văn Cù taị Hóc Môn; đồng chí Lê Minh Quang tại Cần Thơ còn 3 đồng chí Nguyễn Lương Dược, Lê Minh Ngươn, Huỳnh Văn Hây, chúng bắn tại núi Sam. Pháp đã kết án: - Đồng chí Nguyễn Ngọc Quang tù chung thân - Đồng chí Hinh tù chung thân - Đồng chí Giáp tù chung thân - Đồng chí Chi tù chung thân - Đồng chí Diện 20 năm tù và 20 năm quản thúc - Đồng chí Tần 15 năm tù và 15 năm quản thúc - Đồng chí Giáo 5 năm tù và 5 năm quản thúc… Sau khi cuộc nổi dậy bị thất bại, Long Xuyên là một trong nhiều tỉnh được Xứ ủy chọn làm nơi chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa thứ hai, nhất là tích trữ vũ khí cho cuộc chiến đấu. Ngày 15-8-1941, trong một cuộc khám xét nhà đồng chí Trần Văn Ký tức Râu Lớn, bọn cảnh sát Sa Đéc đã bắt được: 1 súng lửa cải tiến, 29 súng do ta tự tạo, 1857 vỏ đạn, 13 kilô thuốc súng, 30 kilô diêm tiêu (salpêtre), 3 kilô diêm sinh (soufre), 1 kilô chlorate de potasse, 25 vỏ bom, 1 dụng cụ làm súng và bom… (1) Để chuẩn bị đưa quân càn Chợ Mới, ngày 8.12.1940, Thống đốc Nam Kỳ điện số 369C báo cho chủ tỉnh Sa Đéc chuẩn bị chỗ đóng quân cho 2 sĩ quan, 3 hạ sĩ quan, 26 lính tập; tất cả là 3 sĩ quan, 17 người Âu, 144 bản xứ, từ Sài Gòn tới. HS. IIA.45/326 (1) TT.LT2. TP.HCM Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Mười Một, 2010, 02:38:02 pm XII. RẠCH GIÁ VÀ VIỆC CHUẨN BỊ KHỞI NGHĨA LẦN THỨ HAI
Một khó khăn của Rạch Giá là khi tiến hành chuẩn bị khởi nghĩa, địa phương chưa có tỉnh ủy, và như vậy không có Ban khởi nghĩa toàn tỉnh. Sau mấy cuộc hội nghị Xứ ủy tháng 7 và tháng 9/40, Xứ ủy đã chủ trương tăng cường cán bộ cho các tỉnh, riêng cơ quan lãnh đạo tỉnh Rạch Giá vẫn chưa được; công tác chuẩn bị còn yếu. Cuối tháng 9-40, đồng chí Lý Hồng Thanh do Liên tỉnh ủy Cần thơ cử về, đã tới quận Châu Thành đôn đốc các mặt công tác chuẩn bị cho cuộc nổi dậy. Đồng chí tiệu tập cuộc họp liên chi bộ tại Đồng Cây Gáo (ấp Mỹ Thuận, xã Mỹ Lâm), để phổ biến tình hình chung, phổ biến chủ trương khởi nghĩa của Xứ ủy và bàn việc thực hiện tại địa phương. Các cơ sở khác cũng được phổ biến. Chi bộ Mỹ Lâm đã lựa chọn những người hăng hái, khỏe, tin cẩn để thành lập một đội du kích, sắm vũ khí, thô sơ như gươm, kiếm, mác, dao găm… và luyện tập. Ở Phước Long, quận ủy tiến hành công tác tuyên truyền vận động quần chúng và binh lính địch. Quận ủy cùng chi bộ Mỹ Quới thành công những cuộc mít tinh ở cánh đồng Lớn của Vĩnh Lợi, nơi có cỏ rậm hoang vu, để vạch tội ác của bọn cướp nước va tay sai, kêu gọi quần chúng đứng lên đánh đổ chúng giành lấy chính quyền. Ở các quận Long Mỹ, Gò Quao, Châu Thành đều có chuẩn bị. Riêng đội tự vệ tỉnh lỵ Rạch Giá, chi bộ nhà đèn đá có kế hoạch phá máy móc. Xư ủy đã phát lệnh nổi dậy đi các nơi. Tại Rạch Giá trước ngày hành động, nữ giao liên Ngô Thị Bưởi (tức Liên) của Liên tỉnh ủy Cần Thơ, từ Sài Gòn về cho biết, phải đình chỉ cuộc khởi nghĩa ngay tức khắc, vì kế hoạch bại lộ, đế quốc Pháp đang đàn áp dữ dội(1). Tin đó truyền tới các quận; các nơi nghiêm chỉnh thi hành, chỉ còn làm một số việc như rải truyền đơn, tổ chức mít tinh nghe nói chuyện… Tuy nhiên, địch vẫn tiến hành bắt bớ đảng viên và quần chúng tích cực. Kể từ ngày 22-11 đến hết tháng 12-40, Pháp đã bắt ở Rạch Giá 196 người (số liệu của địch). Sau khi cuộc nổi dậy bị thất bại có ý kiến cho rằng ngày cuối tháng 12-1940 Xứ ủy Nam Kỳ đã họp kiểm điểm nguyên nhân thất bại, củng cố lại Xứ ủy và chủ trương tiến hành chuẩn bị cuộc khởi nghĩa lần thứ hai, đồng chí Phan Văn Bảy vẫn ở lại Xứ ủy. Trong Hội nghị vào tháng 1-1991, Xứ ủy lại khẳng định việc chuẩn bị khởi nghĩa lần thứ hai và bàn lựa chọn các tỉnh miền Tây làm một trong những nơi lập căn cứ, chuẩn bị cho cuộc nổi dậy. việc này Xứ ủy giao cho các đồng chí xứ ủy viên miền Tây và đề ra làm thế nào để nhanh chóng xúc tiến thành lập Liên tỉnh ủy Hậu Giang. Thực hiện chủ trương của Xứ ủy, các đồng chí Phan Văn Bảy, phó bí thư xứ ủy, Lưu Nhân Sâm, xứ ủy viên tổ chức cho một số cán bộ ở Vĩnh Long, Cần Thơ… đã lộ mặt, chuyển vùng về Rạch Giá, như các đồng chí Ngô Thị Huệ, Nguyễn Thị Hồng, Phan Văn Hòa (Võ Văn Kiệt) cùng các đồng chí cán bộ giao liên Ba Đời, Chín Liên… Môt bộ phận được cử đi tiền trạm, chọn nơi lập căn cứ. Một bộ phận được giao đi mua xuống ba lá, một loại xuồng đi 3 người, chuẩn bị đầy đủ thực phẩm, thuốc men, dụng cụ… rồi tất cả đóng vai những ngừoi đi gặt mướn, làm thuê, lần lượt theo sông, kênh đi xuống Rạc Giá. Riêng đoàn của nữ đồng chí Hồng trong đó có đ/c Võ Văn Kiệt… thì theo tàu sông công khai đi về Rạch Giá. (1) Xứ ủy và Liên tỉnh ủy không có chủ trương đình chỉ khởi nghĩa. Có thể việc đình chỉ này do 1 đồng chí hoặc 1 số đồng chí nào đó tự động đưa ra. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Mười Một, 2010, 02:39:32 pm Với cương vị phó bí thư Xứ ủy kiêm bí thư Liên tỉnh ủy Cần Thơ, đồng chí Bảy đã triệu tập hội nghị cán bộ các tỉnh trong phạm vi mình phụ trách, tại rừng U Minh, thuộc xã Vĩnh Thuận, quận Phước Long (Rạch Giá), để phổ biến tinh thần nghị quyết mới của Hội nghị Xứ ủy, bàn việc xây dựng căn cứ làm nơi đào tạo cán bộ chính trị và du kích cho Liên tỉnh; làm nơi sản xuất vũ khí chuẩn bị cho cuộc nổi dậy.
U Minh nằm vùng ranh giới hai tỉnh Bạc Liêu và Rạch Giá, được Hội nghị nhất trí chọn làm căn cứ, vì địa bàn có nhiều thuận lợi hơn các nơi. Quận ủy Phước Long được tỉnh ủy lâm thời Rạch Giá (mới được thành lập) giao nhiệm vụ bảo vệ căn cứ U Minh… Ngày 13-2-1941, thực hiện chỉ thị của Xứ ủy, đại biểu của 9 tỉnh Miền Tây Nam Kỳ đã họp tại tỉnh lỵ Rạch Giá để lập lại Liên tỉnh ủy với tên gọi mới Liên Tỉnh ủy Hậu Giang(1). Hội nghị đã đề ra những nhiệm vụ trong tình hình mới: - Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tổ chức quần chúng và công tác binh vận để chuẩn bị lực lượng đón thời cơ mới (Cuối tháng 6-1941, khi phát xít Đức tiến công Liên Xô, có ý kiến cho đó là thời cơ để khởi nghĩa). - Bổ sung một số đồng chí có năng lực cho các tỉnh phong trào còn yếu, bồi dưỡng cán bộ tại địa phương, bổ sung kiện toàn cấp ủy. Các tỉnh cử người đi dự lớp huấn luyện đào tạo cán bộ chính trị và du kích, để về xây dựng phong trào và thành lập đội du kích của địa phương. - Ra báo làm cơ quan tuyên truyền của Liên tỉnh ủy. - Phân công người lo tài chính cho Đảng. Các tỉnh đều có nhiệm vụ và có biện pháp cụ thể về vấn đền này (Ở phần nổi dậy ở Mỹ Tho đã có nói phần lớn số tiền nghĩa quân lấy được ở nhà địa chủ Đốc phủ Mầu, Cù Lao Năm thôn đã được đóng góp cho việc sản xuất vũ khí chuẩn bị cho cuộc nổi dậy) - Tổ chức sản xuất vũ khí để tự trang bị… Sau đó, ngay tại U Minh, đồng chí Phan Văn Bảy đã trực tiếp huấn luyện các lớp bồi dưỡng chính trị cho các tỉnh. Trong vùng u Minh, việc sản xuất vũ khí được để ở khu riêng,. Để phục vụ cho việc sản xuất vũ khí, phải cử người đi các địa phương, quyên góp hoặc mua nguyên liệu như bạc cắc, ống đồng, thuốc súng hạt nổ, giây cháy… có khi phải lên Sài Gòn, Bến lức (Tân An), Hố Bò (Biên Hòa) để lùng kiếm. Số người làm ở nơi sản xuất vũ khí là 13 người, đã tự tạo được súng lửa cỡ lòng 24, lóng súng bằng đồng; làm được bom tay ruột tằng thuốc súng trộn mảnh gạng, sắt, hoặc thủy tinh bên ngoài quấn băng nhiều lớn dây chì và sơn dầu hắc, hoặc cho vào lon sữa bò… Chỉ từ tháng 1 đến tháng 4-1941, xưởng u Mnh đã chế tạo được 662 bom tay, 24 súng trường, nhiều đạn… Số vũ khí này được phân tán nhiều nơi. Trong căn cứ U Minh, ngoài nơi sản xuất vũ khí còn có nơi cho cơ quan in tấp bằng xu xoa, để in truyền đơn, tài liệu. Các chiến sĩ trong căn cứ được đồng bào tiếp tế, bảo vệ, tuy nhiên các chiến sĩ cũng lo sản xuất tự túc và giúp đỡ đồng bào. Việc bảo vệ căn cứ, Tỉnh ủy Rạch Giá đã giao cho quận ủy Phước Long, nhưng Liên tỉnh ủy vẫn tổ chức một bộ phận quân sự do đồng chí Phan Văn Hòa (Võ Văn Kiệt) phụ trách để tự bảo vệ và huấn luyện cán bộ du kích cho các tỉnh. (1) - Báo cáo chính trị tháng 6-1941 của Sở mật thám Nam Kỳ. HS B41-V/1443 Lưu trữ Ban N.C.L.S. Đảng thành phố Hồ Chí Minh. - 9 tỉnh gồm: Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Long Xuyên, Châu Đốc, Rạch Giá, Hà Tiên, Sa Đéc. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Mười Một, 2010, 06:17:25 am Vụ vỡ cơ sở cách mạng tại chùa Tam Bảo
Trong lúc Liên tỉnh ủy Hậu Giang đang tích cực thực hiện nghị quyết của Xứ ủy, các đảng bộ dần dần hồi phục và phát triển công tác có kết quả, nhất là các tỉnh Bạc Liêu, Rạch Giá, Cần Thơ, Châu Đốc… thì địch liên tục lùng xục bắt bớ gây cho ta nhiều thiệt hại, nhất là chúng bắt được một số cán bộ chủ chốt. Trong tháng 4-1941, Pháp bắt đảng viên của các chi bộ làng Trà Côn, Vĩnh Xuân và một loạt cán bộ của tỉnh Cần Thơ. Khám nhà Tám Mên, địch bắt được nghị quyết cuộc họp thành lập Liên tỉnh ủy Hậu Giang ngày 13-2-1941 (cuộc họp này ở U Minh, Rạch Giá như trên đã nói), giấy ghi công thức làm thuốc đạn, làm bom… Sang tháng 5 trong hai ngày 7 và 8, cảnh sát Sa Đéc phối hợp với cảnh sát pháp lý lưu động Rạch Giá, bắt ở tỉnh lỵ Rạch Giá một loạt cán bộ của tỉnh Rạch Giá và Liên tỉnh ủy Hậu Giang, trong đó có nữ giao liên của liên tỉnh ủy là Nguyễn Thị Hai (tóc cắt ngắn gọi là Hai Bom-Bê) và 7 đảng viên của các chi bộ Mỹ Lâm và Sóc Sơn. Những cuộc bắt ở tỉnh lỵ Rạch Giá đã giúp cho bọn Pháp tìm được nhiều tài liệu, dụng cụ in với hàng trăm truyền đơn, tài liệu về hoạt động du kích và chiến tranh du kích, nhất là lại thấy công thức làm thuốc súng, làm bom như đã bắt được ở nhà Tám Mên tại Cần Thơ, và bắt được khoảng 3 kilô cholrate de potasse, một chai glycérine, một ít thuốc súng, 1 kilô chì, hai ống tròn bằng sắt dùng làm lòng súng… Tiếp tục đánh phá, ngày 5-6-1941, cảnh sát đặc biệt Sa Đéc phối họp với cảnh sát Pháp lý lưu động Châu Đốc khám xét một nơi chúng cho là cơ quan giao liên của Liên tỉnh ủy miền Tây và một căn nhà nhỏ ở tạm do Phan Văn Bảy thuê, chúng bắt được Phan Văn Bảy (Bảy Cùi) và 10 người nữa trong đó có 3 phụ nữ. Tại đây (tỉnh lỵ Châu Đốc), chúng thu được một số dụng cụ in, nhiều số báo Giải Phóng, khoảng 50 bức thư gửi cho những thân hào, trí thức, địa chủ… 7 ngày sau (12-6), Pháp bắt được đồng chí Lưu Nhơn (Ngân) Sâm, Xứ ủy viên tại Mỹ Hòa (Cần Thơ). Như vậy là những nhân vật chủ chốt ở miền Tây kể cả Quảng Trọng Hoàng đều đã sa vào tay giặc. Những cuộc bắt bớ liên tục này, đã dẫn tới vụ vỡ cơ sở cách mạng của Đảng tại Chùa Tam Bảo Chùa Tam Bảo ở tỉnh lỵ Rạch Giá có từ lâu đời. Năm 191, chùa được trùng tu như hiện nay, do nhà sư Thích Trí Thiền trụ trì. Là nhà sư yêu nước, từ lâu Thích Trí Thiền đã ủng hộ và giúp đỡ cách mạng. Thời kỳ Mặt trận Dân chủ Đông Dương, chùa Tam Bảo là trụ sở của tạp chí TIẾN HÓA, một tạp chí cách mạng xuất bản bí mật tại Rạch Giá. Cho đến trước khi bị vỡ cơ sở này vẫn giữ được bí mật. Lúc chuẩn bị khởi nghĩa lần hai, Tỉnh ủy đã chọn chùa làm cơ quan liên lạc cho Liên tỉnh ủy và tàng trữ vũ khí sản xuất tại U Minh chuyển ra, để phân phối đi các nơi. Lúc này, cách mạng đã cho đồng chí Trần Văn Thâu, Pháp danh Thích Thiện Ân và một số đồng chí nữa đến ở chùa với nhà sư Thích Trí Thiền mà nhân dân chung quanh thường gọi là ông Đạo Đồng với lòng kính trọng. Do có chỉ điểm kết hợp với việc khai thác, cảnh sát Sa Đéc cho khám xét chùa Tam Bảo. Cùng với lính, địch còn dẫn theo một số đồng chí bị bắt như Phan Văn Bảy, Lưu Nhơn Sâm… tới chùa lục soát. Chúng đào bới khắp nơi lục lọi khắp chỗ, thu thập được 59 trái bom do ta chế tạo ở rừng Ù Minh và một số tài liệu. Chúng tập trung bom để trên một chiếc bàn, dẫn hai nhà sư, các đồng chí Phan Văn Bảy, Lưu Nhơn Sâm và một số nữa, tất cả đều bị trói, đứng gần bàn để bom, co chúng thẩm vấn. Chúng tra khảo rất dã man, nhất là đồng chí Trần Văn Thâu (sư Thiện Ân, Phan Văn Bảy, Lưu Nhơn Sâm, với hy vọng moi được lời khai. Nhưng vô ích. Chính trong lúc tra khảo không hiệu quả thì một quả bom phát nổ làm bị thương nhiều người. Chúng tôi xin trích một đoạn trong báo cáo của địch miêu tả sự việc, để rộng đường tham khảo. Trong khi tra khảo “nơi cất giấu bom và truyền đơn, y (Trần Văn Thâu tức Thiện Ân) đã giả vờ ngất và trong khi mọi người săn sóc y, y đã nhảy về phía chiếc bàn trên có xếp những trái bom và không thể dùng các cánh tai bị trói, y đã tìm cách dùng người hất đổ chiếc bàn. Bị lúng túng trong cử chỉ của mình, đương sự chỉ đạt được việc làm rơi một trái bom, trái bom nổ và các mảnh của nó đã làm bị thương nặng một viên cảnh sát thị xã Sa Đéc, làm bị thương nhẹ viên cò cảnh sát đặc biệt tỉnh Sa Đéc, cùng với các tên phiến loạn Phan Văn Bảy và Lưu Nhơn Sâm cũng có mặt trong cuộc phỏng vấn. Trong khi định hất đổ chiếc bàn, nhà sư ngoảnh về phía những người đang có mặt tại đó và kêu to: “Hãy làm như tôi, hãy làm như tôi!”. “Xét nghiệm mấy trái bom, chúng tôi thấy nó làm bằng lon sữa bò, có quân dât sắt hoặc chì, ngoài phét dầu hắc. Các lon này chứa đầy chất nỏ gồm diêm tiêu và miểng chai cà nhỏ. “Loại vũ khí này chạm nhẹ vào bất kỳ đâu là nổ tung thật mạnh, tạo tiếng nổ long trời và bùng lên một cụm khói dầy đặc. Miểng bom mà tên Trần Văn Thâu hất nổ đã bay xa hai chục mét và một miếng cắm sâu khoảng 3 xăng-ti-mét vào một tấm tranh bằng gỗ hồng sắc (loại gỗ cứng như sắt T.G). Theo điều tra của cảnh sát đặc biệt tại Phước Long thì những trái bom đó có thể được sản xuất tại Phước Long (Rạch Giá) với những nguyên liệu mà ta đã bắt được trong cuộc khám xét tại cơ quan liên tỉnh ủy Rạch Giá ngày 7/5 vừa qua, và nó được chuyển tới đây”(1). Sau vụ này, địch lùng xục và phá căn cứ U Minh của ta. Pháp đã đưa ra tòa và kết án tử hình các đồng chí: Phan Văn Bảy, Lưu Nhơn Sâm, Trần Văn Thâu. Xử tù nhà sư yêu nước Thích Trí Thiền và đầy đi Côn Đảo. Năm 1943, Sư Thiền đã hy sinh tại nhà tù Côn Đảo… (1) Báo cáo chính trị tháng 6-1941 của Mật thám Nam Kỳ Hồ sơ B42-v/1443. Lưu trữ B.N.C.L.S.Đ. TP. Hồ Chí Minh. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Mười Một, 2010, 06:19:18 am XIII. CUỘC NỔI DẬY Ở BẾN TRE
Khi chuẩn bị cũng như tiến hành khởi nghĩa theo chủ trương của Xứ ủy Nam Kỳ, Đảng bộ Bến Tre gặp nhiều khó khăn, bởi vì sau lúc chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra, đế quốc Pháp khủng bố, Đảng bộ bị tổn thất nặng, nhiều cán bộ và đảng viên bị bắt. Các tổ chức quân chúng cũng bị vỡ. Do đó, Xứ ủy phải cử đồng chí Phạm Thái Bường Xứ ủy viên về trực tiếp làm bí thư tỉnh ủy để củng cố phong trào, tiến hành chuẩn bị cho kịp với các tỉnh. Cho đến lúc Xứ ủy ra lệnh khởi nghĩa, đồng chí Phạm Thái Bường cũng chỉ quan hệ được với một số nơi, chưa lập đươc Ban khởi nghĩa tỉnh và Ban khởi nghĩa các quận. Đồng chí Phạm Thái Bường ở trong Xứ ủy, đã dự nhiều cuộc hội nghị Xứ, cho nên đã nắm được chắc nhiệm vụ kế hoạch, cũng như thời điểm của cuộc nổi dậy. Đêm ngày 22 rạng sáng 23-11, một số nơi của Bến Tre đã nổi dậy theo lệnh của Xứ ủy. Quận Mỏ Cày, do đồng chí Phạm Thái Bường trực tiếp chỉ huy, nghĩa quân đã phá hai cầu Cát Chát Lớn và Cái Chát Nhỏ, cắt lộ giao thông từ Bến Tre đi Trà Vinh, phá cột điện, cắt dây điện thoại, điện tín… Tại quận Châu Thành, nghĩa quân cùng đông đảo quần chúng tập hợp tại Ấp Miễu nghe cán bộ nói chuyện và kêu gọi vùng lên đánh đổ đế quốc và tay sai. Cuộc mít tinh chuyển thành biểu tình thị uy kéo đến phá nhà việc tại các làng Long Quới, Phong Mỹ, đốt hết sổ sách và phá đường từ Mỹ Lồng xuống Giồng Trôm, đốn cây chặn giao thông, cắt dây điện thoại, điện tín… Tại quận Ba Tri, nghĩa quân các làng Mỹ Nhơn, Mỹ Chánh Hòa, Tân Xuân lùng bắt tề làng, tổng; nổi trống mõ, hò reo náo động vùng nông thôn. Cho đén ngày 22-1-1941, nghĩa quân Bến Tre còn chặn được bọn lính đi tuần ở Giao Thạnh, tước 1 súng… Ở Bến Tre, quần chúng nổi dậy không rộng và mạnh, cho nên chủ tỉnh E. Thierry cho lính đi đàn áp dễ dàng. Cho đến ngày 31-12-1940, ở Bến Tre Pháp đã bắt 53 người trong tổng số người chúng bắt ở Liên tỉnh Mỹ Tho 2.901 người, chia ra như sau: - Địch bắt ở Mỹ Tho 2.581 - Địch bắt ở Tân An: 261 - Địch bắt ở Bến Tre: 53 - Địch bắt ở Gò Công: 6 Đây là số liệu của địch và cũng chỉ mới tính đến hết ngày 31-12-1490. Từ sau ngày 1-1-1941, địch còn tiếp tục khủng bố bắt người nhất là ở Mỹ Tho cuộc chiến đấu của nghĩa quân còn kéo dài, và ở hai trung tâm Mộc Hóa - Phú Mỹ và căn cứ Mớp Xanh - Bo Bo trong Đồng Tháp Mười…(1) (1) Trong cuốn NAM KỲ KHỞI NGHĨA (1940) của Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Tp Hồ Chí Minh, NXB. TP.HCM, 1990, tr.103 viết ở Bến Tre, Pháp bắt trên 400 người. Sách Địa chỉ Văn hóa tỉnh Bến Tre, đoạn nói về cuộc khởi nghĩa năm 1940, ở Bến Tre, cũng đưa số liệu 400 người bị bắt. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Mười Một, 2010, 06:22:45 am XIV. CUỘC NỔI DẬY Ở CÁC TỈNH SA ĐÉC, TÂY NINH, THỦ DẦU MỘT, BIÊN HÒA
Tại Sa Đéc, Đảng bộ bị khủng bố nặng, chưa hồi phục, chưa lập lại được cấp ủy tỉnh cũng như quận. Do đó, Sa Đéc không nhận được chủ trương chuẩn bị khởi nghĩa cũng như lệnh khởi nghĩa của Xứ ủy. Tuy nhiên, chịu ảnh hưởng của Mỹ Tho và Long Xuyên, hai tỉnh có phong trào mạnh, một số nơi của Sa Đéc cũng nổi dậy bắt tề như các làng Mỹ Quí (gần Mỹ Tho), Phong Mỹ và Tân An (gần Long Xuyên), thấy quận Chợ Mới nổ ra mạnh cũng hưởng ứng treo cờ, băng khẩu hiệu, truyền đơn… Tuy không có nổi dậy mạnh, nhưng Pháp cũng lùng bắt của Sa Đéc 16 người (Số liệu của địch tính đến hết ngày 31-12-1940). Tại Tây Ninh. Tỉnh chưa có Đảng bộ, cho nên chưa được học Nghị quyết của hội nghị rung ương tháng 11-1939 và kể cả các nghị quyết để chuẩn bị khởi nghĩa của Xứ ủy Nam Kỳ. Vùng Phước Chi, các đồng chí đảng viên nhận chủ trương nổi dậy của các đồng chí quận Đức Hòa. Các đồng chí đã nhận phối hợp hành động, huy động quần chúng đào lộ, đốn cây ngăn giao thông từ Bến Đò Lộc Giang và Rạch Tràm, chiếm đồn cảnh sát, phá phà qua sông Rạch Tràm… Nhưng địch tăng cường canh gác bổ sung lính canh đồn, cho nên không thực hiện được kế hoạch đã nhận. Các đồng chí ở Phước Trạch, huy động quần chúng chặt cây cản lộ 22 Gò Dầu, Tây Ninh. Ở một vài nơi khác như ở Bắc tỉnh lỵ, vườn cao su, Giồng Năng (Gia Hóa)… cũng có chuẩn bị hành động nổi dậy, nhưng cũng không hoạt động gì được đáng kể. Riêng phía Truông Mít, Bầu Đồn, nghĩa quân của Gia Định, Đức Hòa (Chợ Lớn) rút lên đó định duy trì lực lượng chiến đấu lâu dài, các đồng chí đã lãnh đạo đồng bào địa phương tiếp tế, giúp đỡ nhiều mặt. Nhưng do địch bao vây càn quét liên tục, nghĩa quân phải rút về địa phương, đồng bào đã bị địch khủng bố nặng. Tuy không có nổi dậy, nhưng Pháp đã khủng bố, bắt của Tây Ninh 18 người (Số liệu của địch cho đến hết ngày 31-12-1940). Tại Thủ Dầu Một Tỉnh Thủ Dầu Một ở sát cạnh Thành phố Sài Gòn, Xứ ủy rất quan tâm. Thủ Dầu Một có trại lính tập, gần khởi nghĩa Pháp còn chuyển trường đào tạo sĩ quan và hạ sĩ quan từ Sài Gòn về Thủ Dầu Một, đồng chí Nguyễn Như Hạnh bí thư thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn được Xứ uy cử về tận nơi để bắt mối và vận động, tổ chức. Ngoài ra, có lẽ Xứ ủy trực tiếp nằm một số cơ sở trong công nhân đồn điền cao su, cho nên Xứ ủy đã có chủ trương điều động công nhân cao su vào thành phố tham gia khởi nghĩa đánh phá khám lớn, cứu tù chính trị, như ở phần Sài Gòn chuẩn bị khởi nghĩa đã nói. Tỉnh ủy Thủ Dầu Một do đồng chí Hồ Văn Cống làm bí thư, đã vạch kế hoạch thực hiện hiệu lệnh của Xứ ủy. Ngay trong đêm 22 sang ngày 23-11, tại Châu Thành và tỉnh lỵ do đồng chí Hồ Văn Cống chỉ huy, bắt liên lạc với lính thành săng đá, đợi lính nổi dậy lấy súng, phân phối cho nghĩa quân đánh chiếm các nơi. Nhưng Pháp cấm trại, canh cẩn mật, lính không nổi dậy được, kế hoạch không thành. Ở Tân Khánh, chi bộ đảng chỉ rải truyền đơn, chặt cây cản đường… Tại Lái Thiêu, quần chúng đánh trống mõ, hò reo, treo cờ, rải truyền đơn. Tối 23-11, ở chùa Thuận Giao, ta tổ chức mít tinh trên 100 quần chúng dự, nghe nói chuyện, động viên xuống đường. Cuộc mít tinh giải tán khi được tin có lính địch kéo đến. Quần chúng phía gần Hóc Môn, ở Bến Cát, thấy bên Hóc Môn nổi dậy mạnh, cũng đi cắt dây điện tín, điện thoại… Pháp khủng bố bắt của tỉnh Thủ Dầu Một 5 người (số liệu của địch). Tại Biên Hòa. Giống một số tỉnh bạn, sau khi chiến tranh thế giới nổ ra, Pháp khủng bố bắt nhiều cán bộ đảng viên của Biên Hòa. Các cấp ủy thiếu cán bộ. Sau hội nghị tháng 9-40, Xứ ủy cử đồng chí Sáu xuống làm bí thư tỉnh ủy Biên Hòa. Trong tỉnh ủy còn các đồng chí Huỳnh Liễn, Lê Văn Tôn, Trần Minh Triết, Lê Hồng Hỳ. Tỉnh ủy đã giao cho đồng chí Huỳnh Liễn tổ chức một đội vũ trang trên 30 người ở Mỹ Lộc, luyện tập võ nghệ để chuẩn bị nổi dậy. Theo báo cáo của chủ tỉnh Biên Hòa Maurice Larivière gửi cho Thống đốc Nam Kỳ(1) đêm 24 rạng ngày 25-11, tại làng Mỹ Lộc, tổng Chánh Mỹ Hạ, quận Tân Uyên, khoảng trên 20 người định vượt sông Đồng Nai đến bờ tả xóm Bình Ninh, làng bình Long, tổng Phước Vĩnh Hạ. Trong toán có súng do Lê Văn Tôn và Vương Văn Tân giữ, súng lửa cỡ lòng 12. Súng này có thể bọn Tôn trước của Nguyễn Văn Thày cựu Hương cả ở Chánh hưng, tổng Chánh Mỹ Hạ, Nguyễn Văn Thày là cha vợ của người Pháp lai Lucien Berge… Thấy tình hình lộn xộn, chủ tỉnh Biên Hòa đã ra lệnh cho các cấp phải tăng cường bảo vệ kho xang, kho đạn, giao cho sen đầm hàng đêm phải thêm nhiều cuộc tuần tra. Kể từ ngày 1 tháng 12 năm 1940, kho mìn phải chuyển về chỗ để hỏa pháo thành Tuy Hạ. Đồn cây số 125 bảo vệ đường vào Trại Tà Lài cũng phải tăng thêm từ 4 đến 16 lính gác. Không cho tuyển thêm người vào các đồn điền cao su…(2) Căng đặc biệt giam giữ những người bị Pháp bắt theo sắc lệnh ngày 20-1-1941, đặt tại Bà Rá trên đất Biên Hòa, cũng làm cho chúng rất lo ngại, bởi vì ngày 12-12-1940, 4 người bị giam cầm ở trại C đã giết 1 lính gác, lấy 1 súng và 5 viên đạn, rồi bỏ trốn…(3) Tuy Biên Hòa không có nổi dậy như các nơi khác, nhưng Pháp cũng đã lùng bắt 27 người (số liệu của địch tính tới ngày 30-12-1940). (1) Xem trong Hồ sơ IIA. 45/326(1) TT.LT2 TP.HCM. (2) Báo cáo ngay 3-12-1940 của chủ tỉnh Biên Hòa gửi Thống đốc Nam Kỳ. HS. IIA.4/326(1) TT.LT2. TP.HCM. (3) Như trên. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Mười Một, 2010, 06:25:20 am XV. SỰ THIỆT HẠI CỦA ĐỊCH TRONG CUỘC KHỞI NGHĨA
Sự thiệt hại của đế quốc Pháp trong cuộc nổi dậy của nhân dân ta, về vật chất cũng như tinh thần, cũng là thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ. Chỉ trong 10 ngày, tư 22-11-1940 đến ngày 2-12-1940, địch đã bị nghĩa quân diệt và làm bị thương như sau; - Khoảng 30 lính và tề bị giết. - Khoảng 20 lính và tề bị thương. - 2 tên Pháp bị giết (Arnaud chủ đồn điền cao su Tây Ninh, tên đội xếp lê dương Pétri) - 3 tên Pháp bị thương; Chủ tỉnh Trà Vinh Bohn chủ điền nhà máy đường Scibor Rylki và tên Cai lính thủy Gallouet(1) Cuộc nổi dậy tiếp diễn và sau đó là những cuộc càn quét của địch, hàng chục tên lính và tề bị nghĩa quân bắn chết và bị thương (ở Chợ Lớn, Tân an, Mỹ tho, Vĩnh Long, Châu Đốc…) Bộ máy cai trị của đế quốc Pháp bị nghĩa quân chiếm 130 khẩu súng các loại, cụ thể như sau: - Ở Mỹ Tho: 37 khẩu - Vĩnh Long: 23 khẩu - Tân An: 22 khẩu - Chợ Lớn: 16 khẩu - Gia Định: 15 khẩu - Sóc Trăng: 7 khẩu - Bạc Liêu: 3 khẩu - Long Xuyên: 3 khẩu - Châu Đốc: 1 khẩu - Cần Thơ: 1 khẩu - Bến Tre: 1 khẩu (sang tháng 1-41, giựt 1 súng của bọn đi tuần) - Bà Rá: 1 (Người bị tống giam trong căng giựt súng bắn chết lính canh rồi trốn) Tuy nhiên, theo Thống đốc Nam kỳ trong một văn thư gửi viên Tướng sư đoàn trưởng Tư lệnh Sư đoàn Nam Kỳ - Cao Miên, thì thiệt hại quan trọng nhất trong nhưng thiệt hại do những người cách mạng gây ra trong những biến động vừa rồi, là phá đường giây điện thoại, điện tín. Những đường kể dưới đây dã bị cắt hoặc hoàn toàn phá hủy: Bến Tre - Ba Tri Vĩnh Long - Vũng Liêm Vĩnh Long - Trà Vinh Vĩnh Long - Tam Bình Mỹ Tho - Chợ Gạo bắc Gò Công Trung Lương - Cai Lậy hơn 8 km hoàn toàn bị phá Sài Gòn - Pháp đài Rạch Cát Sài Gòn - Phnom Pênh Hóc Môn - Thủ Dầu Một Và nhất là hệ thống (résseau) đường Sài Gòn - Vĩnh Long hoàn toàn bị phá trên nhiều kilômét từ 3 đến 4 đêm(2) Ngoài đường điện thoại, điện tín rất nhiều cầu, phà (bắc) bị phá, bị đốt, nhiều nhất là Mỹ Tho… gây cho địch nhiều khó khăn trong giao thông, liên lạc. Đế quốc pháp còn mất quyền kiểm soát ở hai quận lỵ: Hóc Môn mất gần 4 giờ, tuy còn Quận Thọ trốn trên lầu lô cốt cao. Quận lỵ Vũng Liêm thì mất hoàn toàn, quận Hậu bỏ chạy trốn, từ nửa đêm ngày 22 đến 6 giờ sáng hôm sau, ngày 23 quân đội kéo đến mới giành lại quyền cai trị. Ở vùng nông thôn thì nhiều nơi hệ thống tề tổng, làng hoàn toàn tan rã, nghĩa quân làm chủ. Từ khi đế quốc Pháp ổn định việc cai trị ở Nam Kỳ, cho tới năm 1940, chưa bao giờ hệ thống cai trị ở nông thôn của Pháp tại Nam kỳ lại bị tan rã, rệu rã mất quyền lực mất tinh thần như trong cuộc Khởi nghĩa Nam kỳ. Đế quốc Pháp phải dùng bộ máy bọa lực phản cách mạng, nhất là phải dùng quân đội chính quy trang bị vũ khí hiện đại như máy bay, xe tăng, xe thiết giáp, tàu chiến, súng liên thanh…, dùng cả quân lê dương, quận người Miên, ngươi dân tộc ít người, để giành lại quyên cai trị và bóc lột. Chúng đã bóp chết cuộc khởi nghĩa Nam kỳ, nhưng bản thân hành động đàn áp cực kỳ dã man của đế quốc Pháp lại đẩy thêm mâu thuẫn giữa nhân dân ta với bọn cướp nước thống trị, vốn đã sâu sắc càng thêm sâu sắc. Cuộc thất bại tạm thời trong biển máu, chỉ hun đúc thêm lòng căm thù của nhân dân ta đối với bọn đế quốc thống trị, rèn luyện thêm ý chí chiến đấu, tiếp tục đấu tranh, chờ đợi thời cơ vùng dậy giành lại quyền độc lập và tự do. (1) Báo cáo chính trị tháng 11-40, số 2448 C/API ngày 12-12-40 của Thống Đốc Nam Kỳ gửi T.Q.Đg Dg. HS IIA.45/204 (2) (2) Văn thư số 2470c ngày 18-12-1940 của Thống đốc Nam kỳ gửi cho Tướng Sư đoàn trưởng,Tư lệnh sư đoàn Nam Kỳ - Cao Miên HS.IIA. 45/326 (2) TT.LT2.TP.HCM. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Mười Một, 2010, 06:29:43 am PHẦN THỨ NĂM TRUNG ƯƠNG ĐẢNG VỚI CUỘC KHỞI NGHĨA ĐÃ NỔ RA, VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA XỨ ỦY SAU KHI CUỘC KHỞI NGHĨA THẤT BẠI 1. Thông cáo khẩn cấp của Ban Thường vụ Trung ương Đảng Lời kêu gọi binh lính của Đảng Cộng sản Đông Dương Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng 11 năm 1940, sau khi nghe đồng chí Phan Đăng Lưu báo cáo chủ trương khởi nghĩa của Xứ ủy, đã yêu cầu Xứ ủy Nam kỳ hoãn lại, nhưng không kịp. Ngay lúc dược tin cuộc khởi nghĩa ở Nam kỳ đã bùng nổ, ngày 24-11 Ban thường vụ Trung ương Đảng đã ra một bản thông cáo(1) Và hơn 10 ngày sau lại ra tiếp một bản Thông cáo khẩn cấp nội dung như sau: THÔNG CÁO KHẨN CẤP của Ban Thường vụ Trung ương Đảng cộng sản Đông dương Các đồng chí! Các chiến sĩ cách mạng! Cuộc bạo động ở Nam Kỳ bùng nổ từ hôm 23 tháng 11 năm 1940, các dân tộc Đông Dương đã đến lúc phải dùng khí giới giết quân thù để tự giải phóng cho mình. Muốn như vậy nhiệm vụ của Đảng bộ Trung - Bắc kỳ là phải tổ chức những cuộc hưởng ứng Nam kỳ đặng gây thêm thanh thế cho quân bạo động, đặng phân chia lực lượng đế quốc không để chúng tập trung quân đội đàn áp phong trào cách mạng. Hơn mười hôm nay cuộc bạo động Nam kỳ diễn ra liên tiếp. Lực lượng cách mạng và lực lượng thống trị đương vật lộn nhau kịch liệt. Tuy nhiên nhưng phương pháp hưởng ứng của các nơi vẫn yếu ớt quá. Những phương pháp nói trong bản Thông cáo Trung ương ngày 24 tháng 11 năm 1940, các đồng chí các nơi chưa thi hành được 1/10. Đó tỏ ra rằng các đồng chí ta vẫn quen hoạt động theo thời kỳ bình thường chưa đặt mình vào thời kỳ tranh đấu võ trang quyết liệt. Các đồng chí phần nhiều chưa nhận thức mọt cách cụ thể cái trách nhiệm hưởng ứng đồng bào Nam kỳ là thế nào. Bản thông cáo ngày 24 tháng 11 năm 1940 các đồng chí cán bộ chi bộ phần nhiều không đem thảo luận kỹ để thực hành nhưng điều trong đó. Điều sơ suất ấy không phải là nhỏ. Trong lúc này môt phút bỏ qua là một phút lợi cho quân thù tập trung lực lượng phá cách mạng. Vậy các đồng chí phải cấp tốc thi hành những phương pháp hưởng ứng Bắc Sơn, Nam Kỳ có hiệu quả như sau đây: 1) Tổ chức những cuộc bãi công, bãi khóa, bãi thị ở thành phố cùng một ngày đưa các giới quần chúng tranh đấu đi tuần hành thị oai. Chỗ nào tuần hành như thế không thể được thì ít nhất cũng phải tổ chức cuộc tổng mít tinh của quần chúng. 2) Nơi nào có thể phát động du kích chiến tranh thì biến đội tự vệ thành đội du kích để tuỳ thời đánh úp các đồn trại, cướp khí giới, tiêu diệt bọn phản quốc, tịch thu tài sản của chúng, thực hành những khẩu hiệu tư sản dân quyền. Những nơi nào gồm các đường giao thông vận tải quốc tế hay các kho tàng trọng yếu của đế quốc (như các đường xe lửa, đường nhựa, các kho súng đạn v.v…) thì các đảng bộ địa phương đó phải tổ chức ngay đội biệt động gồm những phần tử hăng hái, can đảm nhất để thi hành những việc như: phá đường sắt, cắt giây điện, cướp xe cộ chở lương thực, khí giới của đế quốc. Hiên nay quân thù đang tìm cách phá cuộc bạo động Nam kỳ, Đảng bộ Trung Bắc kỳ phải thi hành ngay những việc trên kia để kiêm chế và chia rẽ lực lượng quân thù,. Chú ý: Muốn phá đường sắt phải điều tra đích xác xe chở quân lính, khí giới đi chuyến nào, đường nào, vào giờ nào rồi phá đường sắt, cầu cống đặng cản trở riêng chuyến ấy. 3) Tổ chức những cuộc diễn thuyết ở cổng nhà máy, trường học, cao lâu, tửu quán, sân vận động, chỗ ngã ba đường, các đồng ruộng đông người làm, ở đình làng… tóm lại, bất cứ ở nơi nào có tập trung quần chúng. 4) Ngoài các cách trên đây, dùng hết phương pháp tuyên truyền, cổ động khác như: Truyền đơn, biểu ngữ, cờ, băng, viết khẩu hiệu lên đường nhựa, trên những bức tường, treo đèn lồng có khẩu hiệu trên cây, thả đèn có khẩu hiệu dưới sông, hồ, ao… (những phương pháp này ta dùng, nhưng chưa được chưa được chu đáo, hoặc có cái chưa dùng đến). trong những cuộc bãi công, biểu tình, mít tinh đều phải cử người diễn thuyết tuyên bố ý nghĩa và khẩu hiệu của cuộc bạo động Bắc Sơn, Nam kỳ kêu gọi dân chúng đứng dậy hưởng ứng hai nơi ấy vạch rõ tội ác đế uốc Pháp hàng Nhật và đàn áp cách mạng. Trong những cuộc đấu tranh trên kia phải huy động đội tự vệ ủng hộ quần chúng và diễn giả, giữ trật tự trong hàng ngũ quần chúng, canh gác các ngả đề phòng quân thù đến đàn áp. Khi gặp quân thù lính hay tuần đến đàn áp, nếu chỗ nào quần chúng tranh đấu mạnh có tinh thần thì lập tức cử người (nhất là được phụ nữ càng hay) đứng lên cổ động thuyết phục tuần lính làm cho họ đừng bắn nhân dân cứu quốc, quay súng lại bắn quan thù chạy vô phe cách mạng; chỗ nào xét ra không đủ lực lượng thì khi tin đội tự vệ báo quân thù sắp đến, phải điều khiến cho dân chúng giải tán có trật tự, tản mác theo nhiều ngả đến chỗ khác đã định trước đặt tiếp tục tranh đấu. Muốn làm những việc kẩn cấp trên đây phải tổ chức Ủy ban bao động của Xứ, ngoài Ủy ban ấy ở Trung kỳ phải tổ chức Ủy ban bạo động liên tỉnh cũng như ở Bắc Kỳ phải tổ chức Ủy ban khu, lại phải tổ chức Ủy ban bạo động thành, tỉnh phủ, huyện quan trọng để chỉ huy bạo động cho được thống nhất. Thợ thuyền ở nhà máy phải tổ chức Ủy ban bãi công cách mạng, dân cày trong làng tổ chức Ủy ban nông dân cách mạng đặng thi hành những phương pháp đã nói. Muốn tổ chức những Ủy ban trên đây cần phải lựa chọn những đồng chí hăng hái, quả quyết, có mưu lược, kèm theo những đồng chí hiểu biết chính trị. Khi phong trào sôi nổi những đường lối giao thông rất dễ bị tắc nghẽn. Vậy tổ chức ngay những ban giao thông gồm những đồng chí thông thạo đường lối, có kinh nghiệm, lấy những phụ nữ, ông già, trẻ con đặt kế hoạch cho họ làm việc giao thông giữa các cấp Đảng bộ. Các đồng chí phải thực hành cho sát những chỉ thị trong bản thông cáo này. BAN THƯỜNG VỤ TRUNG ƯƠNG ĐẢNG CỘNG SẢN ĐÔNG DƯƠNG (1) Hiện nay chưa tìm được bản Thông cáo này. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Mười Một, 2010, 06:31:09 am Ngoài việc cử giao thông mang tài liệu nói trên cho các đồng chí ở Nam Kỳ, ngay đầu năm 1941, Trung ương Đảng đã cử ba đồng chí Nguyễn Hữu Ngoạn, Nguyễn Hữu Xuyến và nữ đồng chí Nam vào Nam và đã bắt liên lạc được với đồng chí Phan Văn Khỏe, bí thư Xứ ủy Nam kỳ mới lập lại, để nắm tình hình đã diễn ra và truyền đạt những ý kiến của Trung ương. Nhưng rất tiếc sau đó hầu hết Xứ ủy Nam kỳ mới lập lại lần lượt rơi vào tay địch. Trung ương Đảng lại đứt liên lạc với Đảng bộ Nam kỳ…
Ngoài những chỉ thị cho Đảng bộ Nam kỳ và các cấp đảng bộ trong cả nước, Trung ương Đảng còn có nhiều truyền đơn cho các tầng lớp nhân dân, trong đó có lợi kêu gọi binh lính còn lưu lại được như sau: LỜI KÊU GỌI BINH LÍNH CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN ĐÔNG DƯƠNG Hưởng ứng Cách mạng Bắc Sơn và Nam kỳ. Hỡi đồng bào, quản, đội, cai, binh lính. Bắt đầu từ đêm hôm 22 Novembre vừa rồi anh em công nông binh và các giới đồng bào yêu nước ở Nam kỳ đã nổi dậy dưới quyền chỉ đạo của Đảng cộng sản Đông Dương phất cao cờ khởi nghĩa, giết giặc Pháp giành quyền độc lập tự do cho Tổ quốc. Giờ giải phóng của dân ta đã đến! Anh em binh lính Bắc kỳ hãy cùng thợ thuyền, dân cày và các giới nổi dậy mau mau hưởng ứng Nam kỳ. Hơn 70 năm nay, đế quốc Pháp đè đầu cưỡi cổ ta, hành hạ bóc lột ta. Ngày nay chúng lại để cho giặc Nhật giày xéo đất nước ta, đối đãi dân ta cực kỳ tàn nhẫn. Thuế má dân ta phải đóng đã quá nặng, giá sinh hoạt lại ngày thêm dắt đỏ. Bọn quan trường tha hồ ăn của đút, tha hồ bắt bớ nhân dân. Những trại giam thành lâp khắp nơi. Cả xứ Dông Dương như một nhà ngục lớn. Binh lính ta sang Pháp chết bao nhiêu, bị bắt làm tù binh bao nhiêu, giặc Pháp đều im đi không nhắc tới. Chúng lại lăm le bắt ta đi làm lính giúp Nhật đánh Tàu, thỏa mãn lòng tham tàn bạo ngược của giặc lùn. Hôm 22 tháng 9 tây khi giặc Nhật đánh Lạng Sơn, giặc Pháp bắt anh em binh lính ta đi đầu làm bia đỡ đạn. Phải chết thay cho Pháp vô ích, anh em không hăng hái hy sinh, bọn quan binh Pháp đằng sau liên hạ lệnh cho lính lê dương và lính Pháp bắn giết anh em tàn nhẫn. kế đó binh lính bại trận ở Lạng Sơn chạy về châu Bắc Sơn hiệp lực với nhân dân Bác Sơn, nổi dậy giết giặc Pháp và bọn tham quan hại dân chúng. Bọn Pháp lại đang bắt binh linh chúng ta đi đàn áp anh em đồng bào cách mạng ở Bắc Sơn. Hỡi anh em cai, đội, binh lính đồng bào thân ái! Anh em phần nhiều là những htợ thuyền, dân cày xuất thân. Giặc Pháp cưỡng bức anh em giơ súng cho chúng để áp bức bóc lột thợ thuyền, dân cày và nhân dân ta, chúng lại sai anh em ta giết hại đồng bào máu mủ của chúng ta đi biểu tình cách mạng. Chúng luôn luôn lấy người Đông Dương giết lẫn người Đông Dương để chúng yên hưởng địa vị chủ ông cõi đất này. Anh em cách mạng chịu làm cánh tay cầm súng cho giặc Pháp mãi sao? Anh em hãy nhớ lại lịch sử vẻ vang đầy hy sinh phấn đấu của binh lính Đông Dương, của các chiến sĩ Thái Nguyên, Yên Bái, Bắc Sơn, Nam Kỳ! Anh em hãy mau mau đứng dậy vì đồng bào Tổ quốc giết lũ giặc tham tàn. Anh em hãy dùng ngay khí giới của giặc Pháp bắn vào đầu giặc Pháp. Hãy nổi lên hưởng ứng đồng bào Nam kỳ! Anh em có khí giới trong tày, chỉ có anh em nổi lên mới làm cho giặc Pháp, giặc Nhật hoảng vía, chỉ có anh em mới có thể làm cho khí giới quân thù biến thành khí giới của đồng bào cách mạng. Hỡi anh em quản, đội, cai, binh lính! Hãy noi gương chiến đấu vĩ đại của các chiến sĩ Thái Nguyên, Yên Bái, Bắc Sơn, Nam Kỳ mở mặt cho nòi giống, đánh đuổi đế quốc ra ngoài bờ cõi. Dưới ngọn cờ của Đảng cộng sản Đông Dương hãy xếp thành hàng ngũ tiến lên làm cách mạng dân tộc giải phóng! Đả đảo đế quốc chiến tranh! Đr đảo giặc Pháp, giặc Nhật! Đả đảo bọn Việt gian thân Pháp, thân Nhật! Đông Dương cách mạng thành công muôn năm! Thế giới cách mạng thành công muôn năm! Tinh thần cách mạng binh lính Đông Dương muôn năm! ĐẢNG CỘNG SẢN ĐÔNG DƯƠNG Trung ương Đảng đề nghị Xứ ủy hoãn phát động khởi nghĩa, nhưng khi cuộc khởi nghĩa đã nổ ra, Trung ương Đnagr kêu gọi cả nước hưởng ứng, ủng hộ, các cấp bộ Đảng phái hành động hỗ trợ, chia lửa với cuộc khởi nghĩa Nam kỳ. Chủ trương của Trung ương Đảng đối với cuộc khởi nghĩa Nam kỳ giống như mác và Ăng ghen đối với Công xã Paris và Lê nin đối với cuộc khởi nghĩa năm 1905 của cách mạng Nga. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Mười Một, 2010, 06:36:11 am 2. Chủ trương của Xứ ủy Nam Kỳ sau khi cuộc khởi nghĩa thất bại
Cuộc khởi nghĩa tại thành phố Sài Gòn không thành, các tỉnh tuy nổ ra, nhưng cũng không giành thắng lợi, ngay trong tháng 12-1940, theo tài liệu của cuộc tọa đàm về Nam kỳ khởi nghĩa của Ban nghiên cứu lịch sử Đảng thành phố Hồ Chí Minh(1), Xứ ủy đã họp ở nhà bà Châu xã An Phú Tây (nay thuộc Bình Chánh) để kiểm điểm về sự thất bại của cuộc nổi dậy. Hội nghị kết luận: Xứ uỷ phải chịu trách nhiệm, nhưng trách nhiệm chính là hai đồng chí Tạ Uyên và Lê Văn Khương Thường vụ Xứ ủy. Hai đồng chí phải chịu kỷ luật trước Đảng. Đồng chí Tạ Uyên đã bị địch đánh chết tại nhà tù, trong lúc nó tra tấn. Có mặt tại hội nghị, đồng chí Lê Văn Khương nhận kỷ luật với Đảng và nói: đồng chí tiếp tục chiến đấu cho lý tưởng của Đảng. Ngày 14-5-1941, cảnh sát Miền Đông bắt được đồng chí Khương, sau đó ngày 16-6-41, chúng đã bắn chết đồng chí Khương không qua xét xử, với lý do báo cáo lên trên, đồng chí Khương đã bỏ chạy trong khi chúng dẫn đi đường. Hội nghị không có biên bản và được kể lại theo trí nhớ hoặc được nghe nói rồi kể lại. Sang tháng 1-1941, Xứ ủy họp mở rộng ở xã Đa Phước (quận Cần Giuộc), lần này thì chúng ta biết rõ là các ngày 21, 22, nhờ tài liệu do địch bắt được trong cuộc càn quét ở xã Thạnh Lợi (Tân An) ngày 18-3-1941, trong phần cuộc nổi dậy ở Tân An chúng tôi đã nói. Hội nghị đã phân tích những nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của cuộc khởi nghĩa. Tôn trọng tính lịch sử và để mở đường tham khảo, chúng tôi xin trích phần nói về nguyên nhân thất bại trong số tài liệu địch đã bắt được trong cuộc càn quét Đài Bàu Mốp ở Thạnh Lợi ngày 18-3-1941: “A. Nguyên nhân thất bại. 1. Mệnh lệnh khởi nghĩa chỉ do 4 người trong bộ tham mưu và không phổ biến đúng lúc cần thiết cho tất cả các đảng viên cộng sản. 2. Đội ngũ những người cộng sản bị phân tán. 3. Quân khởi nghĩa không có vũ khi hiện đại. 4. Chuẩn bị chưa xong, chưa hoàn toàn sẵn sàng. 5. Giao thông liên lạc và tổ chức bị xáo trộn. 6. Kế hoạch “đánh chiếm Sài Gòn - Chợ Lớn” bị mật thám bí mật khám phá do thiếu cảnh giác, không thể hoãn hành động. 7. Không có họp phối hợp giữa các liên tỉnh và địa biểu các cơ quan lãnh đạo…” Hội nghị chủ trương chuẩn bị lực lượng đón thời cơ tiếp tục khởi nghĩa. Cũng theo tài liệu dẫn trên, phần nói về vấn đề này như sau: “- Tổ chức lại những nơi chưa bị đàn áp, tập hợp dưới sự chỉ huy chung. - Tổ chức giao thông liên lạc hai chiều, ngang và dọc, giữ liên lạc chặt chẽ giữa các cấp. - Thanh sát địa hình trước khi hành động. - Vừa rồi đã tổn hại, sắp tới tập trung vào Sài Gòn - Chợ Lớn, 4 hoặc 5 tỉnh Miền Tây và Trung Nam Kỳ. - Chuẩn bị gấp đạn dược vũ khí, thuốc nổ, học đánh du kích”. Những việc cụ thể đã làm và tiếp chúng tôi đã trích dẫn trong báo cáo của chủ tỉnh Tân An Vilmot, xin xem phần cuối của cuộc nổi dậy ở Tân An. Nhân đây, nói về nguyên nhân về việc chuẩn bị khởi nghĩa tiếp theo, Pháp có bắt được trong một cuộc càn ở xóm Hưng Thạnh, làng Thạnh Lợi, nằm trong căn cứ Mớp Xanh - Bo Bo (Tân An) ngày 10-11-1941, hai bài vọng cổ, trong đó có đề cập tới vấn đề này. Dĩ nhiên những vấn đề thuộc về chính trị đưa vào văn nghệ quần chúng thường không thể lúc nào cũng hoàn toàn chính xác, nhưng chúng tôi xin trích dẫn để mở đường tham khảo. Từ câu 1 đến câu 7 của bài vọng cồ 1, nói lên không khí tưng bừng của cuộc nổi ậy phá tan gông xiềng nô lệ, niềm hy vọng của mọi tầng lớp nhân dân, đến câu 8 nói về sự thất bại: “8. Nhưng mà đáng tức thay, cũng căm giận thay đảng ta lắm đều khuyết điểm, tuổi thơ ngây nên quá chuyện sai lầm, còn nhiễm bao nhiêu thiên-tánh độc hại cực tả, vì bôn chôn mà phải chịu sự thất bại đớn đau… “11. Thời cuộc đẩy đưa đêm ấy chúng ta cam đành thất bại, lại được tin chủ trương tân-tiến ráng hợp cùng nhau khán chiến theo bản trường kỳ. “12. Nghị quyết thi hành không mẫy bữa, lại đưa tin đồng sửa thế thủ là hay hãy tạm yên lo sắp đặt hàng ngũ cho đàng-hoàn. “13. bao nhiêu tinh thần của anh em ta đang phấn khởi thoạt nghe qua lời tuyên bố phần-đông nhau-nhố trong nhìn nhéo mặt với cắn răng”…(2) Những câu cuối nói lên lòng tin và sự thắng lợi cuối cùng. (1) Xem biên bản cuộc tọa đàm về K.N.N.K. do BNCLSĐ Thành phố tổ chức ngày 22, 23-11-1982. HS. B 40-S/1400 LT. BNCLSĐ TP. (2) Báo cáo số 1162 AG của chủ tỉnh Tân An Vilmont ngày 13-11-1941. HS IIA45/222 (2c) (xem bài vọng cổ ở phần phụ lục). Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Mười Một, 2010, 06:39:16 am Để củng cố cơ quan lãnh đạo, Hội nghị bầu ra Xứ ủy Nam Kỳ mới gồm các đồng chí:
1. Phan Văn Khỏe, Bí thư (Thường vụ Xứ ủy cũ) 2. Phan Văn Bảy, Phó Bí thư (Xứ ủy viên cũ) 3. Phạm Thái Bường (Xứ ủy viên cũ) 4. Dương Công Nữ (Xứ ủy viên cũ) 5. Phạm Hồng Thám (Xứ ủy viên cũ) 6. Nguyễn Văn Tiếp (Xứ ủy viên mới) 7. Nguyễn Văn Kỉnh (Xứ ủy viên mới) 8. Phạm Văn Săng (Xứ ủy viên mới) 9. Ngô Tám (Xứ ủy viên mới) 10. Nguyễn Văn Trọng (Xứ ủy viên mới) 11. Lưu Nhân Sâm (Xứ ủy viên mới) Xứ ủy chủ trương ra báo Giải Phóng, cử đồng chí Nguyễn Văn Kỉnh phụ trách, đặt cơ quan ở vùng ven phía Tây thành phố Sài Gòn. Báo Giải Phóng ra được nhiêu số, đến khi đồng chí Kỉnh bị bắt thì báo ngưng(1). Trong một bản Thông cáo của Ban Thường vụ Xứ ủy Nam Kỳ tháng 4-1941 gửi cho tất cả các đồng chí đảng viên có nhắc phải đặc biệt lưu ý đến các vấn đề quan trọng sau đây: “I. Chuẩn bị một cuộc khởi nghĩa lần thứ hai Tuy nghị quyết của Xứ ủy lâm thời về cuộc khởi nghĩa lần thứ hai đã được tất cả các đồng chí thông qua, nhưng có một số đồng chí chưa ra sức tuyên truyền giải thích cho quần chúng hiểu rõ mục đích của cuộc khởi nghĩa. Nguy hiểm hơn nữa là thấy những cuộc xung đột Pháp Thái đã được Nhật Bản dàn xếp xong nhiều đồng chí tưởng lầm rằng cuộc khởi nghĩa lần thứ hai đó còn xa xăm và chúng ta có thể chậm chuẩn bị cũng được. Các đồng chí phải thấy rằng hiệp ước Pháp Thái chỉ là tạm thời và xét tình hình nội bộ hiện nay Trung Quôc đã tiến tới bước ngoặt quyết định của lịch sử. Tình hình đó buộc chúng ta phải khẩn trương chuẩn bị để kịp đối phó với những biến cố có thể bùng nổ nay mai. Nhận xét về tình hình nội bộ Đảng Chúng ta phải chắp lại các mối liên lạc, tổ chức lại các ban lãnh đạo và củng cố tổ chức các ban lãnh đạo ở các tỉnh. Ngoài ra còn phải kết nạp thêm đảng viên mới, tập hợp những đồng chí chân thành của phong trào trước và không nản trí trước sự khủng bố của quân địch. Đồng thời phải lưu ý chuẩn bị xong xuôi trước khi phát động phong trào mới, loại trừ khỏi hàng ngũ những phần tử do dự, sợ sệt và mất tinh thần và cũng như những phần tử có tư tưởng cá nhân có thể làm trở ngại cho công việc chuẩn bị. II. Vấn đề vũ trang và nơi tàng trữ vũ kí Rút kinh nghiệm của cuộc khởi nghĩa lần trước, chúng ta không thể giao phó cho một người hoặc ngay cả cho một nhóm người phụ trách tìm vũ khí và đạn dược cho toàn xứ Nam Kỳ. Vì khi người đó hoặc nhóm đó bị bắt thì toàn bộ kế hoạch bị tan vỡ. Do đó mỗi tỉnh ủy hoặc ít nhất mỗi liên tỉnh ủy phải tổ chức một ủy ban quân sự đặc biệt chuyên trách sản xuất gấp vũ khí, bom, mìn v.v…. và chọn nơi tàng trữ…”(2) Thực hiện chủ trương của Xứ ủy, việc chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa tiếp theo được tiến hành khẩn trương ở căn cứ Mớp Xanh - Bo Bo, ở căn cứ U Minh (Rạch Giá - Bạc Liêu), ở Long Xuyên, Châu Đốc, Cần Thơ… Chúng tôi đã trình bày ở cuối phần nổi dậy ở các tỉnh nói trên. Chỉ một thời gian ngắn sau, các đồng chí Xứ ủy mới cũng bị bắt: Đồng chí Nguyễn Văn tiếp (4-1941, đồng chí Phan Văn Bảy (5-6-1941), đồng chí Lưu Nhân Sâm (12-6-1941), đồng chí Phan Văn Khỏe (11-7-1941), đồng chí Nguyễn Văn Kỉnh (4-8-1941)… Pháp đã xử tử hình các đồng chí: Phan Văn Bảy, Lưu Nhân Sâm. Pháp đã kết án tử hình, sau hạ xuống chung thân các đồng chí: Phan Văn Khỏe, Nguyễn Văn Tiếp, Nguyễn Văn Kỉnh. Các đồng chí khác bị đưa đi đày. Duy nhất đồng chí Phạm Hồng Thám không bị bắt, nhờ chạy xuống vùng hẻo lánh Bạc Liêu, Hà Tiên ẩn, cho đến Cách mạng Tháng Tám 1945… Phong trào cách mạng ở Nam Kỳ từ đây bước vào thời kỳ khó khăn. (1) Báo Giải Phóng ra số 6; 1-5-1941, số 7:18-5-1941, số 8: 1-6-1941, số 9: 18-6-1941, số 10… (2) Thông cáo của Ủy ban thường vụ Xứ ủy Nam Kỳ ngày 10-4-1941. Lưu trữ BNCLSĐ TP. HCM, ký hiệu B 41-V/414. Xem ở phần phụ lục. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Mười Một, 2010, 06:41:46 am PHẦN THỨ SÁU SỰ TÀN BẠO CỦA ĐẾ QUỐC PHÁP ĐỐI VỚI CUỘC NỔI DẬY CỦA NHÂN DÂN NAM KỲ 1. Chủ trương của đế quốc Pháp: Huy động toàn bộ Bộ máy bạo lực phản cách mạng đàn áp sự chống đối của nhân dân Nam Kỳ. Ở phần tứ tư; Toàn Nam Kỳ nổi dậy, chúng tôi đã nói về những phản ứng tức thì của bọn phát xít Pháp, đó là những chủ trương đối phó, đàn áp tàn bạo ban đầu của địch, ở phần này, chúng tôi xin trình bày một cách bao quát, và kể cả khi cuộc nổi dậy đã thất bại, đế quốc Pháp vẫn tiếp tục dùng mọi biện pháp để đàn áp và khủng bố tinh thần nhân dân ta. Cùng với những điện, chỉ thị, thông tri mật, khẩn cho các cấp dưới, tên Toàn quyền J. Decoux công khai tuyên bố: “Cuộc bạo động ấy (Nam Kỳ khởi nghĩa), các người vẫn biết là của cộng sản gây ra, nó đã bị đàn áp thảng tay tức thì, vì cần phải như vậy. “Bổn chức đã chẳng dung thứ và chằng hề dung thứ trong tương lai cho một nhóm người phản nghịch nào cả gan quấy rối xứ này là xứ đã giao cho bổn chức giữ cuộc trị an(2). Có điều sỉ nhục cho J. Decoux cùng toàn bộ máy cai trị Đông Dương với hàng chục vạn quân lại sẵn sàng quỳ gối dâng Đông Dương là xứ đã được giao cho chúng giữ cuộc trị an, cho phát xít Nhật. J. Decoux đã huy động ca hải lục không quân với vũ khí hiện đại để đàn áp nhân dân nổi dậy không hoặc chỉ bằng vũ khí thô sơ. Ở My Tho, chúng thực hiện hai cuộc càn, mỗi cuộc hàng nghìn quân, trong dó có một tiểu đoàn lê dương và 3 đại đội lính tập, đủ tàu chiến, xe thiết giáp, xe cơ giới, máy bay… Ở Chợ Lớn, Gia Định, Vĩnh Long… chúng dùng 2 tới 3 đại đội mỗi lần càn quét, với đủ loại quân lê dương, lính tập, cả hàng đại đội người Miên, người dân tộc ít người, và cũng dùng đủ xe tăng, tàu chiến, máy bay, xe cơ giới… Không kể cho đi thám thính, mỗi lượt Pháp huy động hàng chục máy bay đi ném bom xuống các làng xóm thuộc các tỉnh Gia Định, Chợ Lớn, Tân An, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Long Xuyên… ném bom cả lúc dân cư đang họp chợ như ở Chợ Giữa (Vĩnh Kim) chết hàng trăm người… Không có cuộc càn quét nào chúng không đốt phá nhà cửa của dân chúng, nhiều nơi chúng đốt cả làng, bắn chết người dân chúng chưa hả, bắn cả lợn, gà, vịt. Chúng cho đốt rừng với hy vọng không còn chỗ cho nghĩa quân lẩn tránh. Trong khi nhân dân ta đang nổi dậy và đế quốc đang ra sức đàn áp, đích thân Toàn quyền Đông Dương đi kinh lý tại chỗ những nơi có phong trào nổi dậy. Trong 3 ngày 9, 10 và 11 tháng 12 năm 1940, Toàn quyền Decoux đi xem xét những nơi có đấu tranh mạnh như Gia Định, Chợ Lớn, Tân An, Mỹ tho, Bến Tre, Mỏ Cày, Trà Vinh, Càng Long, Vũng Liêm, Tam Bình, Cái Bè, Cai Lậy rồi về Sài Gòn. Đi tới đâu thì chủ tỉnh ở đó đón tiếp dẫn đường. Decoux nghe bọn tay chân các cấp báo cáo, cho ý kiến thẳng tay đàn áp và tặng mề-đay, tiền cho bọn tề, quan lại, sĩ quan đã giết hại nhiều nhân dân ta(2). (1) Báo Dân Hiệp số ra ngày 28-12-1940. Thư viện Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. (2) Chương trình đi kinh lý của Toàn quyền Đông Dương trong Hồ sơ IIA.45/326 (1) TT.LT2. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Mười Một, 2010, 06:43:15 am 2. Đế quốc Pháp bắt những người nổi dậy
Theo số lịệu trong báo cáo chính thức của Pháp, từ ngày 22-11 tức là ngày Xứ ủy ra lệnh khởi nghĩa, cho đến ngày 31-12-1940, chúng đã bắt ở các nơi như sau: Liên tỉnh Gia Định - Chợ Lớn: 396 người - Gia Định: 359 người - Sài Gòn - Chợ Lớn: 98 người - Biên Hòa: 27 người - Tây Ninh: 18 người - Thủ Dầu Một: 5 người Cộng: 903 người Liên tỉnh Mỹ Tho - Mỹ Tho: 2581 người - Tân An: 261 người - Bến Tre: 53 người - Gò Công: 6 người Cộng: 2901 người Liên tỉnh Cần Thơ - Vĩnh Long: 611 người - Cần Thơ: 381 người - Bạc Liêu: 228 người - Rạch Giá: 196 người - Sóc Trăng: 187 người - Trà Vinh: 120 người Cộng: 1729 người Liên tỉnh Long Xuyên - Long Xuyên: 227 người - Châu Đốc: 72 người - Sa Đéc: 16 người Cộng: 315 người Tất cả là: 5848 người Cũng vẫn theo số liệu của địch, tính cho đến hết ngày 31-1-1941, chúng đã bắt 7048 người, có nghĩa là trong tháng 1-1941, chúng đã bắt thêm 1200 người(1). Ước tính cho đến hết năm 1941, Pháp đã bắt hàng vạn người của ta. (1) Xem báo cáo chính trị tháng 12-1940 và tháng 1-1941 của Thống đốc Nam Kỳ. HS. IIA.45/204 (2) TT.LT2.TP.HCM. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Mười Một, 2010, 08:38:56 am 3. Tình trạng man rợ trong các nhà tù.
Đế quốc Pháp ra lệnh ào ạt bằt người hàng loạt, cho nên các nhà tù địa phương chật ních, không đủ chỗ chứa, có lúc chúng phải dùng cả Nhà việc của làng để giam người. Tình trạng này thật nguy hiểm, như trường hợp địch bắt hơn 30 người giam ngay tại xã Thanh Hà (Trung Quận, Chợ Lớn) đã bị nhân dân kéo đến bao vây giải thoát số người bị giam. Các tỉnh đều muốn đưa người bị bắt về giam tại Sài Gòn. Nhưng các nhà tù ở Sài Gòn cũng không đủ chỗ chứa. Chúng đã đề nghị được dùng đồn Cây Mai, Rạch Cát để nhốt tù quân sự. Thiếu đến mức, ngày 27-12-1940, Thống đốc Nam Kỳ Rivoal phải ra lệnh trưng dụng kho C (hangar C) của hãng vận tải đường bển (Messageries maritimes) để giam tù các tỉnh gửi về chuẩn bị đưa ra tòa án binh xét xử, đồng thời có văn thư cho Đô đốc tư lệnh Hải quân Đông Dương đóng tại Sài Gòn, yêu cùa cho lính hải quân đến gác, bảo vệ(1). Ngày 25-1-1941, Rivoal lại có lệnh cho Giám đốc Hãng L.RONDON và Công ty, ở đường De la Somme (Hàm Nghi) trưng dụng hai kho ở đường Long Kiên (Xóm Chiếu) theo sắc lệnh ngày 2-9-1939, thời gian không hạn định để giam những người bị bắt vì tội chống lại “Nhà nước”(2). Vẫn chưa đủ, ngày 7-2-1941 Thống đốc Nam Kỳ lại gửi cho Giám đốc hãng vận tải Đông Dương, trưng dụng 4 sà lan (Chalands) để nhốt tù nổi loạn(3). Theo những người bị giam ở sà lan kể lại, mỗi sà lan Pháp giam khoảng 200 người. Ta có thể hình dung tình trạng khủng khiếp của 200 con người bị nhốt trong sà lan bằng sắt lềnh bềnh trên sông dưới thời thiết nóng bức, dưới ánh sáng mặt trời gay gắt, lại thêm thiếu nước uống, không có nước làm vệ sinh, thiếu ăn, bệnh tật… Khám lớn, nhà đày Côn Đảo, các nhà tù tỉnh đều không đủ chỗ chứa, kể cả đã lấy thêm một số kho ngoài cảng. Thống Đốc Nam Kỳ đã phải đi đến quyết định, cho xây thêm hai kho giam khoảng 500 người tù ở Chí Hòa, ngay cạnh trại lính thủ hộ (Garde mobile) và xin với Toàn quyền cấp ngay trong năm 1941, 200.000 đồng (Đông Dương) để làm việc này(4). Tại khám lớn Chỉ căn cứ vào các báo cáo chính thức của địch còn lại, chúng ta đã thấy tình trạng những người tham gia khởi nghĩa bị đế quốc pháp bắt giam tại khám lớn, thật man dợ, không còn được đối xử như những con người. Tính cho đến ngày 1 tháng 1 năm 1940, sau khi đã chuyển một số tù phụ nữ đi giam ở nhà tù phụ Phú Mỹ, chuyển đi Côn Đảo, kể cả đưa đi trại ông Yêm (Thủ Dầu Một) số vị thành niên, tại Khám lớn bị nhốt 1.145 người đã thành án. Cho đến ngày 22 tháng 11 năm 1940, tức là ngày nổ ra cuộc khởi nghĩa, Khám lớn giam 1581 người. Sau cuộc nổi dậy, số lượng người tù bị Pháp giam ở Khám lớn tăng nhanh khủng khiếp. Tới ngày 31-12-1940 giam 2.275 người, so với ngày 22-11 tăng 768 Tới ngày 31-01-1941 giam 2.676 người, so với ngày 22-11 tăng 1169 Tới ngày 28-02-1941 giam 2.922 người, so với ngày 22-11 tăng 1415 Tới ngày 31-03-1941 giam 2.888 người, so với ngày 22-11 tăng 1381 Nếu lấy mức Khám lớn xây dựng để giam 700 người, thì số người bị giam trong tháng 2 và tháng 3 tăng hơn 4 lần. Ngày 5-3-1941, Agostini giám đốc khám lớn báo cho tòa án binh biết rằng khám lớn đã quá tải, không thể nào nhận được thêm phạm nhân, cho đến khi có lệnh mới…(5) (1) TĐ. NKỳ gửi Đô đốc Hải quân số 2554c ngày 27-12-1940. HS IIA.45/326 (1/1) TT.LT2.TP.HCM. (2) Văn Thư số 857c ngày 25-1-1941. Hồ sơ như trên. (3) Văn thư số 1079 ngày 7-2-1941. Hồ sơ như trên. (4) Báo cáo số 546c ngày 5-4-1941 của Thống Đốc Nam Kỳ gửi Toàn quyền Đông Dương. Hồ sơ: Về tình trạng người tù ở Khám lớn. IIA.45/222(2d). TT.LT2.TP.HCM. (5) Văn thư số 375, gnày 5-3-1941 của Agostini gửi Gardon thẩm phán quân sự Sài Gòn. Hồ sơ: Như trên. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Mười Một, 2010, 08:42:15 am Tình hình người bệnh ở khám lớn và các nhà tù khác tại Sài Gòn.
Ngày 28-3-1941, trong công văn khẩn mật số 540c, Desjardin (đã thay Agostini làm giám đốc khám lớn) báo cáo với Thống đốc Nam Kỳ hiện trạng trong khám lớn như sau: “Tôi vừa được thầy thuốc của khám cho biết có hơn 800 người tù bị bệnh hoại thư (gangrène) (tức là gần bằng 1/3 số lượng người đang bị giam ở khám lớn. T.G.) Qua điện thoại, ông giám đốc y tế địa phương cho tôi biết nhà thương Chợ Quán không còn chỗ có thể nhận được người tù bị bệnh nào nữa. Việc săn sóc người bệnh chỉ có thể ở tại chỗ và tạm bợ. Việc cách ly nggười bệnh không thể thực hiện được, vì vậy nguy cơ lây lan trong người tù thật đáng sợ… Tôi nhấn mạnh cần có ngay một cuộc họp không thể chậm trễ để xem xét, nhất là chuyển số tù bị hoại thư đi LAZARET Nhà Bè”(1) Ngay tức khắc, trong ngày hôm ấy, Thống đốc Nam kỳ ra lệnh cho giám đốc khám lớn chuyển số 800 người tù bị hoai thư đi LAZARET Nhà Bè.(2) Đồng thời, giao nhiệm vụ cho tướng tư lệnh (quan sáu) Sư đoàn nam Kỳ - Cao Miên cử hai trung đội dưới quyền điều khiến của một sĩ quan, bảo vệ lúc di chuyển và canh gác. Cụ thể số lính được cử đi canh gác bảo vệ và di chuyển tới nhà tù LAZARET Nhà bè như sau: 36 lính tập (tirailleurs), 1 đội (sergent), 2 cai (caporal) người Pháp, 2 cai người bản xứ và 1 đội người Pháp, 1 thiếu úy người Pháp. Cùng ngày, Rivoal ra lệnh thành lập một hội đồng, sẽ họp vào 15 giờ để xem xét những điều kiện khám lớn và nhà giam ở kho ngoài cảng(3). Sáng ngày 29-3-1941, Hội đồng Giám thị Khám lớn đã họp và làm báo cáo cho Thống đốc Nam Kỳ. Thành viên tham gia họp: René Gouttes Chủ tỉnh Chợ Lớn làm chủ tịch René Bouin thay mặt cho Chưởng lý René Grange Thày thuốc khám lớn René Seurin Cố vấn thành phố Nguyễn Minh Chiến Cố vấn thành phố người Việt Hội nghị cho rằng khám lớn xây dựng để giam 700 can phạm và người tù thành án, nhưng đến hôm nay đã giam tới 2.80 người, tức là tăng gấp 4 lần. Những điều kiện vệ sinh của nhà giam đã thực sự gây nên bệnh truyền nhiễm hoại thư, không thể nào bảo vệ cho người chưa mắc bệnh. Số lượng người đã mắc bệnh này như sau: Ngày 25-3: 635 người Ngày 26-3: 722 người Ngày 27-3: 806 người Ngày 29-3: 843 người. Con số (đúng nguyên văn ghi trong biên bản) vượt qua mọi bình luận. Thày thuốc của nhà giam tuyênbố rằng hiên nay có 50 trường hợp phải cưa, cắt và tuần tới phải lên tới hàng trăm. Sau đó Hội đồng đi thăm các nơi giam, họ đã nhìn thấy cảnh tượng thật sự ghê tởm (une véritable vision d’horeur) Hội đồng xin với ngài Toàn quyền cho một quyết định cải thiện trong một thời hạn ngắn nhất, số 67 người bị kết án tử hình hiện giam tại khám, xuống chỉ còn nhận 30. Xin ngừng các phiên xử của tòa đề hình (Cour martiale) để khỏi tăng số người bị giam giữ do bị kết án. Nhân dịp ngừng này gửi đi các nhà tù tỉnh số tối đa tù nhân quân sự là 1882. Xin cho sử dụng đồn (Fortin) Cây Mai để giam tù. Tuy nhiên hội đồng ngại rằng nhà cầm quyền quân sự không khoan nhượng, không cho dùng đồn Cây mai vào việc này. Hội đồng thấy cần phải nhắc lại rằng việc nhận những can phạm và tù nhân quân sự vào khám lớn chỉ có thể được, tới khi nào nhà cầm quyền quân sự xây dựng xong một nhà tù đặc biệt. Tình trạng tạm thời khốn khổ này của khám lớn đã kéo dài từ những năm 1916-1917. Hội đồng đề nghị số lượng ấn định giam tạm khám lớn là 1.800 người tù…(4) (1) Xem trong Hồ sơ Như trên (2) Văn thư số 2598c ngày 28-3-41 của Thống đốc Nam kỳ gửi Giám đốc khám lớn. Hồ sơ: Như trên. (3) Lệnh số 1401 ngày 25-3-1941 của Thống Đóc lập Hội đồng gồm có: - Bác sĩ BOURGIN thanh tra thày thuốc, Chủ tịch - Bác sĩ DARBES Thày thuốc ủy viên - Bác sĩ FAVORT Thày thuốc ủy viên có nhiệm vụ xem xét những điều kiện trong nhà giam khám lớn và ngoài cảng (4) Xem biên bản Hội đồng giám thị Khám lớn ngày 29-3-1941. Hồ sơ: Như trên. Con số 1800 người là đã hơn gấp dôi số lượng tụ quy định giam tại Khám lớn. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Mười Một, 2010, 08:46:27 am Trong một báo cáo khác về Khám lớn viết như sau:
Khám có 3 phòng lớn, mỗi phòng dài 21 mét 80, rộng 16m40, cao 5 mét bằng 377,50 mét vuông, giam khoảng 520 người, như vậy mỗi người chỉ được một không gian bằng 0,68 mét vuông. Tất cả đều mắc ghẻ, phần lớn sâu quảng ở chi dưới hoặc tay… Đó là tình hình ở Khám lớn, chúng ta chuyển sang xem xét tình hình những người nổi dậy bị giam ở các kho ngoài cảng. Đây là ahi kho của hãng RONDON và Công ty, nằm trên đường Long Kiên, cảng Khánh Hội (Xóm Chiếu), Pháp trưng dụng để nhốt những người ở các tỉnh giải về, chưa phân loại, chờ đợi đưa đi nhận dạng, ra tòa án, hoặc sang kiểm soát quân sự… Trong khi Thống đốc có lệnh kiểm tra nhà giam tại kho RONDON hai ngày, các ngày 27 và 28-3-41, Sở Y tế vệ sinh thành phố đã cho xem xét tình trạng sức khỏe của những người bị giam giữ tại đây và có báo cáo gửi Thống đốc Nam Kỳ như sau: Tại kho A - Khỏe: 512 người - Ốm yếu, tiền suy mòn: 80 người - Suy mòn: 24 người - Sâu quảng: 100 người - Đau mắt: 10 người - Thủy đậu: 1 người Cộng 727 người Tại kho B - Khỏe: 518 người - Ốm yếu, tiền suy mòn: 60 người - Suy mòn: 20 người - Sâu quảng: 76 người - Thủy đậu: 2 người Cộng 676 người 44 người đã được gửi đi bệnh viện Chợ Quán vì bị sâu quảng nặng. Khi vào kho giam giữ người mùi hôi thối không thể nào chịu được. Sở yêu cầu Thống đốc Nam Kỳ cho lấy thêm 1 kho thứ ba để giam người tù bị bệnh(1) Ngày29-3-41, thi hành lệnh của Thống Đốc Nam Kỳ, Hội đồng thày thuốc do Thống Đốc bổ nhiệm gồm Bougin, Darbes, Favot, Reyne, đã xuống kiểm tra nhà giam tù chính trị ở kho RONDON & Cty sau đó làm báo cáo như sau: Hội đồng đã nghe Testanière, Cò đặc biệt ở Cảng, chịu trách nhiệm Giám thị tù chính trị giam tại kho cho biết hiện có 1.414 người: Kho A: 719 người Kho B: 695 người Mỗi kho chiều dài: 33 m, rộng; 17 m Cao đến đỉnh nóc: 8 m; cao đến xao ngang: 6 m Diện tích: 561m2 Như vậy ở kho A có một người tù ở khoảng 0m278 Như vậy ở kho B một người tù được ở khoảng 0m280 Tính ra trung bình một người được: 1m60 x 0m50 = 0m280, chỉ có thể nằm duỗi dài Lẽ ra mỗi người phải được ở từ 3 đến 4m2 và như thế mỗi kho chỉ có thể giam từ 150 đến 200 là cùng. Tình hình ăn uống thiếu thốn, ở quá chột chội, nóng bức do kín mít, chỉ có hai cửa lớn ra vào, một ngày hai lần được rửa nước sàn bằng xi măng, cho nên rất nhiều người bị mắc bệnh suy mòn, ho lao, một số người chỉ còn bộ xương. Cuối cùng là tất cả không từ một ai đều mắc ghẻ. Bệnh ghẻ được coi là điểm xuất phát của chứng lở loét có mủ hoặc sâu quảng và hoại thư(2). Cũng cần nói thêm, cuối tháng 3-41, hai kho này còn giam hơn 1.400 người, nhưng trước đó ngày 13-3-41, Pháp đã giam tại đó 1.800 người(3), và ngày 22-3-41 còn 1.600 người(4). Với số lượng người bị giam đông như thế thì mỗi người tù chỉ được một khoảng diện tích là 0m231 và 0m235. Thật là kinh khủng và không thể hình dung nổi tính man rợ của việc giam người của bọn đế quốc thực dân Pháp! (1) Báo cáo tình trạng sức khỏe người tù bị giam ở kho Khánh Hội số 294 H.S. ngày 29-3-41 của Sở Vệ sinh cho Thống Đốc Nam Kỳ. Hồ sơ: Như trên. (2) Báo cáo số 1401 của Hội đồng thày thuốc ngay 29-3. HS Như trên. (3) Báo cáo Số 235/2 của dại úy Fribourg-Eynard, tư lệnh Sen đầm Nam Kỳ - Cao Miên gửi thống đốc Nam kỳ. HS: Như trên. (4) Công văn số 4770 ngày 22-331 của P.Arnoux Chánh mật thám gửi G.Đ. y tế Vệ sinh Sài Gòn. HS: Như trên. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Mười Một, 2010, 08:47:56 am Tình trạng chết trong nhà tù
Bị đánh đập tra tấn, lại bị cầm giữ trong những điều kiện nói trên, tất nhiên dẫn đến nhiều người bị chết trong tù. Nhưng chết bao nhiêu? Câu trả lời thật khó khăn, bởi vì chúng tôi đã cốt hết sức truy cứu tài liệu, mất khá nhiều thời gian, thâm chí cộng từng ngày khi có một tài liệu đến nay. Ở đây chúng tôi cũng không nói đến số đồng chí đã bị chết ở Côn Đảo và các nhà tù tỉnh, ở các căng lao động đặc biệt… Mà chỉ nói tới mấy nhà tù ở thành phố là Khám lớn, kho Rondon, Lazaret Nhà Bè và Chợ Quán. Từ đó có thể hình dung được những nghĩa quân trong cuộc nổi dậy tháng 11-1940 đã bị hy sinh như thế nào trong lúc bị cầm giữ. Tại Khám Lớn, trong tháng 1-1941, có 18 người tù bị chết trong đó có 16 người bị ho lao. Tháng 2 diến ra bình thường như thế. Đột nhiên chỉ trong 5 ngày từ ngày 26 đến 31-3, chết 12 người, trong đó 8 người do hoại thư, 4 người nhiễm khuẩn máu (septicémie). Cùng ngày 31-3, ở kho Rondon, 18 người bị hoại thư chuyển đến Chợ Quán thì chết(1). Căn cứ vào báo cáo hàng tuần, thống kê số tù nhân bị chết trong tháng 4-41 của 4 nhà tù: Khám lớn, Rondon, Chợ Quán và Lazaret Nhà Bè là 105 người trung bình 3 người rưỡi một ngày. Ngày chết cao nhất trong tháng, ngày 1-4-41: 16 người: Chợ Quán 4, Lazaret Nhà Bè 12 người. Sang tháng 5, từ ngày 1 đến 17, chết: 52 người(2) Chúng tôi chỉ xin lấy số liệu 1 tháng rưỡi để phán ánh tình hình chết của những người khởi nghĩa bị giam trong nhà tù. Từ đó chúng ta có thể suy ra việc giam giữ của đế quốc Pháp kéo dài hàng mấy tháng trời ròng rã thì số người chết là bao nhiêu. Thật là tàn bạo! (1) Báo cáo số 546 ngày 5-4-41 của thống đốc Nam kỳ gửi Toàn quyền Đông Dương. Hồ sơ: Như trên. (2) Cộng số liệu tù chính trị chết hàng ngày trong các nhà tù tại thành phố Sài Gón, căn cứ vào số liệu báo cáo hàng tuần của chúng. Hồ sơ IIA.45/222 (2d) TT.LT2.TPHCM. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Mười Một, 2010, 08:53:06 am 4. Dùng Tòa án để trấn áp những người nổi dây.
Kể từ tháng 1 năm 1941 trở đi, Đế quốc Pháp mới thực sự đưa những người bị chúng bắt trong các cuộc nổi dậy ra xét xử trước các tòa án. Cho đến hết năm 1941, đế quốc Pháp đã kết án những người tham gia khởi nghĩa như sau: (http://img695.imageshack.us/img695/793/p302.jpg) 20 năm khổ sai và 20 năm quản thúc: 221 người 15 năm khổ sai và 15 năm quản thúc: 331 người 12 năm khổ sai và 12 năm quản thúc: 23 người 11 năm khổ sai và 11 năm quản thúc: 13 nười 10 năm khổ sai và 10 năm quản thúc: 469 người 9 năm khổ sai và 9 năm quản thúc: 2 người 8 năm khổ sai và 8 năm quản thúc: 34 người 7 năm khổ sai và 7 năm quản thúc: 80 người 6 năm khổ sai và 6 năm quản thúc: 25 người 5 năm khổ sai và 6 nam quản thúc: 722 người Cộng: 1920 người Tử hình: 158 người Chung thân: 180 người Tổng cộng: 2258 Để so sánh tính khốc liệt của sự đàn áp tàn bạo của đế quốc Pháp từ đầu thế kỷ 20 cho đến cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ chúng tôi xin nên lên vài số liệu. Trong vụ đầu độc Hà thành có liên hệ với phong trào Hoàng Hoa Thám và Phan Bội Châu, đế quốc Pháp đã xử tử 13 người(2) Trong cuộc khởi nghĩa Yên Bái, Phú Thọ, Hải Dương, đế quốc Pháp đã kết án tử hinh: 80 người, chung thân khổ sai: 102 người và đưa đi đày các loại năm 289 người(3). Đối với cuộc khởi nghĩa Đô Lương của ông Đội Cung, đế quốc Pháp kết án tử hình 10 người. Có thể nói từ khi Pháp sang thống trị nước ta, chưa có cuộc nổi dậy chống đối nào bị đế quốc Pháp xử tử hình, tù chung thân và các loại tù khác nhiều như cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940: 158 người bị tử hình, 180 người bị chung thân. Đây là con số cụ thể bị Pháp dùng tòa án để trị, không kể hàng trăm, hàng trăm người bị chúng bắn trong các cuộc càn quét và ném bom, hoặc bị đánh chết, thủ tiêu ngầm trong tù, chặt đầu bêu ở chợ… Cùng với việc bắt và đưa ra xử án những người nổi dậy, chúng ta cũng cần nói tới đế quốc Pháp dùng sắc lệnh ngày 20 tháng 1 năm 1940, để bắt bớ giam cầm những người cộng sản và cách mạng, cho đến hết năm 1941, chúng đã: - Đưa 521 người đi các căng đặc biệt của những người lao động, như Bà Rá, Bạc Liêu, Tây Ninh… Trong số này có 49 phụ nữ. - 252 người bị quản thúc tại nơi cư trú. - 88 người bị buộc phải ở một trung tâm nhất định xa nơi cư trú. Và trong số những người trên dây đã có biết bao nhiêu bị bỏ mạng trong các nhà tù, các căng, ngoài đảo…? (1) Mới tính hết năm 1941, chưa kể số ngời bị địch xử năm 1942 (2) Patrice Morlat: La répression coloniale au Việt Nam (1908-1940). Recherches asitiques. Harmanthan. Paris : 1990 P.17. (3) Như trên, P.122. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Mười Một, 2010, 08:56:53 am PHẦN THỨ BẢY Ý NGHĨA LỊCH SỬ VÀ BÀI HỌC CỦA CUỘC KHỞI NGHĨA NAM KỲ I. Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA CUỘC KHỞI NGHĨA NAM KỲ Từ khi thực dân Pháp sang xâm lược nước ta và đặt ách thống trị, bóc lột lên đầu lên cổ dân ta, thì chưa bao giờ, nhân dân ta ngừng tiếng súng đấu tranh chống lại chúng Tuy nhiên, rõ ràng là, từ sau cuộc khởi nghĩa Trương Định cho đến tháng 11 năm 1940, chưa có cuộc nổi dậy nào vừa mạnh, vừa rộng như cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ. Đây là cuộc nổi dậy do Xứ ủy phát động và lãnh đạo, là sự kiện chói lọi bùng lên ngay khi phong trào cách mạng của nước ta bước vào thời kỳ mới: Thời kỳ Đảng ta có sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, nêu cao ngọn cờ chống đế quốc giải phóng dân tộc, do Hội nghị Trung ương tháng 11 năm 1939 tại Bà Điểm (Gia Định) đề ra và được các hội nghị Trung ương tiếp theo (tháng 11 năm 1940 và tháng 5-1941) hoàn chỉnh. Cuộc khởi nghĩa Nam kỳ với khí thế “tiến công trời” (lời của K.Marx đánh giá các chiến sĩ Công xã Paris) phất cao ngọn cờ đỏ sao vàng đã làm rung chuyển chính quyền thống trị của đế quốc Pháp và của bọn phong kiến tay sai, làm tan rã bộ máy cai trị của địch ở một số vùng nông thôn Nam Kỳ và nắm lấy quyền làm chủ ở những nơi đó. Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ đã bó trần mâu thuẫn vô cùng sâu sắc giữa toàn dân tộc ta với bọn thống trị cướp nước, đã vạch rõ bọ mặt tàn ác của bọn đế quốc cầm quyền và lũ tay sai phản động. Đúng như Trung ương Đảng ta đã đánh giá cùng với cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn (tháng 9-1940) cuộc Khởi nghĩa Nam kỳ là “những tiếng súng báo hiệu cho cuộc khởi nghĩa toàn quốc, là bước đầu đấu tranh bằng võ lực của các dân tộc Đông Dương”(1) Cuộc khởi nghĩa cho thấy, khi Đảng cộng sản ra lời kêu gọi, hạ lệnh khởi nghĩa thì quần chúng nhân dân nhất là công nhân, nông dân và các tầng lớp yêu nước khác, đã biểu lộ sức mạnh của mình sẵn sàng nổi dậy đấu tranh, dù có phải hy sinh đổ máu, để giành lấy quyền sống, giành độc lập tự do. Bởi vì qua thực tế chiến tranh của hai cao trào cách mạng 1930-1931 và 1936-1939, quần chúng nhân dân thấy rằng: chỉ có Đảng cộng sản mới vạch ra đường lối cách mạng đúng đắn: đánh đổ đế quốc và phong kiến tay sai, giành lại độc lập cho dân tộc, xóa bỏ giai cấp địa chủ đem lại ruộng đất cho nông dân, đưa nước ta lên chủ nghĩa xã hội. Đảng là người trung thành nhất với quyền lợi sống còn của dân tộc và nhân dân lao động. Khi Đảng phất cờ, thì nhân dân nổi dậy hành động và khi cuộc khởi nghĩa bị dìm trong biển máu, thì nhân dân vẫn thực sự gắn bó với Đảng, vẫn bảo vệ Đảng, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sẵn sàng chờ lệnh phát động một cuộc khởi nghĩa sắp tới. Tinh thần của cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ là tinh thần quật khởi của dân tộc ta, tinh thần cách mạng sẵn sàng chiến đấu chống đế quốc, phong kiến, không sợ hy sinh, vì độc lập tự do của Tổ quốc và vì một xã hội công bằng, văn minh và hạnh phúc. Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ là một cuộc nổi dậy kế tục và phát triển truyền thống yêu nước của tổ tiên ta, chiến đấu dưới ngọn cờ của chủ nghĩa MácLê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Do những du kích khách quan và chủ quan, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ chưa thành công và bị đàn áp vô cùng tàn bạo, nhưng cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ đã đê lại nhiều bài học vô cùng quý báu. Chính trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, lần đâu tiên trong lịch sử tnước ta, ngọn cờ đỏ sao vàng 5 cánh phấp phới tung bay, biểu tượng của tinh thần yêu nước, tinh thần yêu quý độc lập tự do. Chỉ sau đó nửa năm, Hội nghị lân thứ Tám của Trung ương Đảng (tháng 5-1941) tại Pắc bó, Cao Bằng đã lấy ngọn cờ đỏ làm quốc kỳ cho cả nước, lá cờ hiệu triệu, tập hợp toàn dân tộc nổi dậy, làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại năm 1945. Tinh thần chiến đấu anh dũng của cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ mãi mãi sống trong lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc ta. Ngày 14 tháng 4 năm 1948, thay mặt Đảng và chính phủ Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tặng thưởng HUÂN CHƯƠNG QUÂN CÔNG HẠNG NHẤT, huân chương cao quý nhất lúc bấy giờ, cho cuộc KHỞI NGHĨA NAM KỲ năm 1940, do “đã nổi lên lên chiến đấu oanh liệt với địch và đã biểu dương được ý chí quật cường của dân tộc”. (1) Văn kiện Đảng, Tập III, 1939-1945, NXB Sự thật Hà Nội 1963, tr.189 Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Mười Một, 2010, 08:58:23 am II. NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA CUỘC KHỞI NGHĨA NAM KỲ
Ngay sau khi cuộc khởi nghĩa Nam kỳ bị thất bại, khoảng nửa năm sau, ngày 6-6-19412, trong bức thư gửi đồng bào cả nước, Bác Hồ với danh nghĩa lão đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã viết về nguyên nhân chưa thành công của mấy cuộc khởi nghĩa nổ ra liên tiếp. “… Gần đây cuộc khởi nghĩa ở Nam kỳ, Đô Lương, Bắc Sơn đã chứng tỏ rằng đồng bào ta quyết noi theo dấu máu vinh quang của người trước mà mạnh mẽ ra giết quân thù. Nhưng việc lớn chưa thành được, đó thực chẳng phải vì sức mạnh của bọn Pháp, mà chính vì cơ hội thuận tiện chưa đến và đồng bào toàn quốc chưa một lòng một dạ để lo việc lớn”. Đi tìm nguyên nhân thất bại của cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ chính là rút những bài học khởi nghĩa để góp phần đưa cách mạng đến thắng lợi. Thời kỳ đó, Đảng ta đã làm tốt việc này, do đó đã lãnh đạo cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công. Bài học khởi nghĩa của cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ có nhiều, ở đây, chúng tôi xin nêu lên 4 bài học chủ yếu: Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Mười Một, 2010, 09:00:56 am Bài học kinh nghiệm thứ nhất
CUỘC KHỞI NGHĨA NAM KỲ ĐÃ NỔ RA KHI TÌNH THẾ CÁCH MẠNG ĐÃ XUẤT HIỆN, CÓ CÓ KHỦNG HOẢNG CHÍNH TRỊ, KINH TẾ, XÃ HỘI, NHƯNG CHƯA ĐỦ CHÍN MUỒI CHO MỘT CUỘC TỔNG KHỞI NGHĨA. Cuộc khởi nghĩa nổ ra vào lúc tình thế cách mạng đã xuất hiện; Về điều kiện khách quan, thực dân Pháp, kẻ thống trực tiếp nước ta, từ khi nhảy vào vòng chiến, gặp nhiều khó khăn, đặc biệt từ khi bị phát xít Đức đánh bại và phải lập chính quyền tay sai Đức ngay tại chính quốc, thì sức mạnh, uy tín vốn có của bọn Pháp trước nhân dân ta suy sụp một cách thảm hại, chính quốc Pháp không còn gì để can thiệp và giúp đỡ cho cấp dưới đang cầm quyền cai trị ở Đông Dương nữa. Nhân cơ hội Pháp thua Đức - đồng minh của Nhật, phát xít Nhật đang mở rộng cuộc xâm lược ra các nước Đông Nam Á, vội nhảy vào Đông Dương buộc Pháp phải nhả bớt quyền lợi để rồi nắm lấy Đông Dương. Phát xít Nhật chơi trò sức mạnh, cho quân đánh biên giới Lạng Sơn, phía Bắc, đồng thời xúi giục Thái Lan mang quân gây chuyện với Pháp, ở biên giới Tây nam, đòi đất. Chủ trương của Nhật lúc đó chưa phải là lật ngay quyên cai trị của Pháp ở Đông Dương, mà chỉ coi làm áp lực đòi quyền lợi hơn, nhằm mở rộng cuộc chiến tranh đại Á. Mâu thuẫn giữa hai tên đế quốc tranh nhau việc cướp bóc, vơ vét và thống trị thuộc địa, dẫn đến sự khủng hoảng trong bộ máy thống trị của Pháp từ trên xuống dưới. Tuy nhiên, bộ máy thống trị đó chưa hoang mang giao động đến cực điểm, chưa hoàn toàn suy ụp, vì bọn Pháp biết thân, biết phận, chấp nhân chịu lép vế, nhân nhượng đòi hỏi của Nhật, để cố gắng duy trì địa vị thống trị Đông Dương của chúng. Về điều kiện chủ quan, chiến tranh và chính sách khủng bố, đàn áp kinh tế chỉ huy, tổng động viên của đế quốc pháp nhằm vơ vét tài sản của nhân dân ta làm cho đời sống của nhân dân đến chỗ cùng cực, quần chúng vô cùng căm phẫn, những biểu hiện của cuộc khủng hoảng chính trị kinh tế, xã hội đã xuất hiện. Phong trào cách mạng ở Nam Kỳ, tuy bị khủng bố, nhưng từ sau Hội nghị lần thứ Sáu của Trung ương (tháng 11-1939), vẫn có một bước phát triển khá mạnh. Cơ sở quần chúng cách mạng trong Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế lan hầu khắp các tỉnh, đang thống nhất trên toàn Xứ. Đảng cũng phát triển mạnh, từ tháng 6 đến tháng 10-1940 tăng 60%. Nhiều tỉnh đã thành lập đội tự vệ, du kích tổ chức luyện tập, sắm sửa vũ khí. Nhiều cuộc mít tinh, biểu tình tuần hành diễn ra… Trong quân đội của đế quốc Pháp, có chỗ ta đã xây dựng được chi bộ đảng, nhiều trại ở thành phố Sài Gòn và các tỉnh, ta đã có nhân mối, có chỗ nắm được một số cấp chỉ huy cai đội. Quần chúng trong quân đội địch được tuyên truyền về lòng yêu nước và cảnh khổ đi làm bia đỡ đạn cho bọn đế quốc và bảo vệ quyền lợi cho chúng. Khi quân Thái gây chuyện, cuộc chiến tranh Pháp - Thái sắp nổ ra, Pháp điều quân người Bắc, Trung Kỳ vào Nam và điều lính Nam Kỳ ra mặt trận Tây Nam. Lính người Việt trong quân đội Pháp không muốn ra mặt trận, và nhất là các đồng chí đảng viên và quần chúng của Đảng trong quân đội Pháp lại càng thôi thúc việc nổi dậy để chống việc ra trận. “Thà chết cho cách mạng còn hơn làm bia đỡ đạn cho kẻ thù” là ý nghĩ của một số người có cảm tình hoặc ngả theo cách mạng, được sự tuyên truyền giác ngộ của cách mạng, nằm trong quân đội địch. Trong tình hình đó, một số khá lớn các đồng chí Trung ương Đảng và Xứ ủy Nam kỳ đóng tại Sài Gòn bị địch bắt. Xứ ủy đã họp nhiều lần để bàn chuẩn bị và đi đến quyết định hạ lệnh cho tất cả các tỉnh Nam Kỳ nổi dậy khởi nghĩa. Tình hình kể trên là những biểu hiện của một tình thế cách mạng đã xuất hiện ở Nam Kỳ, nhưng chưa đủ cho một thời cơ cách mạng hoàn toàn chín muồi, dẫn đến bùng nổ một cuộc Tổng khởi nghĩa thắng lợi trong cả nước. Về vấn đề này V. Lê nin đã tổng kết như sau: “Quy luật cơ bản của cách mạng, đã được tất cả các cuộc cách mạng và nhất là ba cuộc cách mạng Nga trong trong thế kỷ 20 xác minh là: muốn có cách mạng thì riêng việc quần chúng bị áp bức và bóc lột nhận thức được rằng không thể sống như trươc nữa và đòi hỏi phải có sự thay đổi cũng chưa đủ; muốn có cách mạng, còn phải có tình hình là những kẻ bóc lột cũng không thể sống và thống trị như trươc được nữa. Chỉ khi nào “những người bên dưới” không muốn tiếp tục sống như trước nữa và “những kẻ bên trên” cũng không thể tiếp tục sống như trước nữa, thì cách mạng mới có hể thắng lợi”(1) Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ đã để lại bài học kinh nghiệm vô cùng sinh động, trả giá bằng bao nhiêu xương máu là, khi tình thế cách mạng xuất hiện, dù chưa đủ chín muồi cho một cuộc tổng khởi nghĩa toàn quốc, tùy theo đối sánh lực lượng ta và địch, có thể có khởi nghĩa địa phương, ở những nơi xa trung tâm đầu não và bộ máy đàn áp tập trung của địch với điều kiện có đường lối cách mạng đúng đắn, có phương pháp đấu tranh linh hoạt, biết cách duy trì và phát triển lực lượng, tạo thuận lợi từng bước cho tổng khởi nghĩa. Từ thực tiễn của cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, cùng với thực tiễn Xô Viết Nghệ Tĩnh năm 1930-1931 và cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn tháng 9 năm 1940, đã tạo cơ sở cho Đảng ta khi vận dụng nguyên lý khởi nghĩa vũ trang của chủ nghĩa Mác Lê nin vào điều kiện cụ thể của ước ta; khi những điều kiện khánh quan và chủ quan chưa hoàn toàn chín muồi tạo thời cơ cách mạng thì bất cứ trong hoàn cảnh nào cũng không được tiến hành tổng khởi nghĩa ở trung tâm đô thị giành thắng lợi quyết định, tuy nhiên vẫn có thể từ khởi nghĩa từng phần ở từng địa phương tiến lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền cả nước. Chỉ chưa đầy nửa năm sau cuộc khởi nghĩa Nam kỳ và trong lúc nghĩa quân còn duy trì cuộc chiến đấu tại hai trung tâm Mộc Hóa và Mớp Xanh - Bo bo, hội nghị lần thứ Tám của Trung ương (tháng 5-1941) đã vạch ra những điều kiện chủ quan và khách quan cho một cuộc tổng khởi nghĩa và nói rõ rằng: “tình hình cách mạng Đông Dương bước những bước vĩ đại để dọn đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa mạnh mẽ. Nói thế không phải ta ngồi mà ỷ lại đâu đâu. Trái lại ta phải luôn luôn chuẩn bị lực lượng sẵn sàng, nhằm vào cơ hội thuận tiện hơn cả mà đánh lại quân thù, nghĩa là nay mai đây cuộc chiến tranh Thái Bình Dương và cuộc kháng chiến của nhân dân Tàu xoay ra hoàn toàn có lợi cho cuộc cách mạng Đông Dương, thì lúc đó với lực lượng sẵn có, ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương cũng có thể giành sự thắng lợi mà mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn”(2) Với tinh thần đó, Trung ương Đảng chỉ đạo các địa phương chuẩn bị lực lượng tiến hành đấu tranh, đặc biệt từ sau ngày 9 tháng Ba năm 1945, ngày Nhật làm đảo chính lật đổ Pháp, hàng loạt cuộc khởi nghĩa từng phần nổ ra và dẫn đến cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945. Đến cuộc kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam, ta đã vận dụng và phát triển kinh nghiệm khởi nghĩa từng phần một cách sáng tạo vào cuộc đồng khởi năm 1960 và những năm tiếp theo dẫn tới giải phóng hoàn toàn miền Nam nước ta ngày 30 tháng 4 năm 1975. Tóm lại, vào cuối năm 1940, ở Nam kỳ đã có khủng hoảng chính trị, kinh tế, xã hội, đã có tình thế cách mạng, nhưng thời cơ cho một cuộc tổng khởi nghĩa chưa hoàn toàn chín muồi để cuộc tổng khởi nghĩa có thể nổ ra và giành thắng lợi, cho nên lúc đó Xứ ủy chọn thành phố Sài Gòn làm nơi nổ súng phát lệnh và giành thắng lợi quyết định của một cuộc tổng khởi nghĩa là sai lầm. (1) V. Lê nin: Bệnh ấu trĩ “tả khuynh” trong phong trào cộng sản. NXB Sự thật, Hà Nội, 1970 tr.96. (2) Văn kiện đảng tập III, 1936-1945 NXB Sự Thật, Hà Nội 1963, tr.213. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Mười Một, 2010, 09:05:33 am Bài học kinh nghiệm thứ hai
CÔNG TÁC CHUẨN BỊ LỰC LƯỢNG CHƯA ĐẦY ĐỦ, LẤY BINH LÍNH ĐỊCH LÀM ĐỘI QUÂN XUNG KÍCH LÀ SAI LẦM, CHƯA CÓ MỘT CAO TRÀO CÁCH MẠNG DẪN TỚI MỘT CUỘC TỔNG KHỞI NGHĨA, TRONG THỰC TẾ CUỘC KHỞI NGHĨA MỚI CHỈ NỔ RA Ở NÔNG THÔN Xứ ủy Nam Kỳ lựa chọn thành phố Sài Gòn có vai trò quyết định cho cuộc Tổng khởi nghĩa ở đúng, nhưng việc chuẩn bị lực lượng lại chưa đầy đủ. Về tổ chức lực lượng, lúc đó cách mạng mới chủ yếu dựa vào công nông, mà chưa tập trung được đông đảo các tầng lớp khác như những người lao động tự do, tiểu thương tiểu chủ, nhất là trí thức học sinh, họ chưa thực sự tham gia, chưa có một cao trào cách mạng quần chúng xuống đường bãi công, bãi thị, bãi khóa… tạo ra cuộc khủng hoảng xã hội chín muồi, tức là chưa tập hợp được thật đông đảo lực lượng quần chúng thành thị đứng về phía cách mạng. không có cao trào cách mạng thì không thể dẫn tới tổng khởi nghĩa thắng lợi. Bất cứ một cuộc cách mạng chân chính nào cũng thực sự là ngày Hội của quần chúng. Đại đa số quần chúng nhân dân chưa xuống đường chưa thể thành ngày Hội cách mạng được. Trong công tác chuẩn bị lực lượng cho cuộc khởi nghĩa, Xứ ủy chủ trương đẩy mạnh và chú trọng dùng các Hội phản đế nhằm tập hợp đông đảo quần chúng trên cơ sở đó tổ chức các đội tự vệ, du kích, đồng thời tiến hành công tác vận động binh lính địch kéo họ về phía cách mạng là chủ trương đúng. Nhưng trong chỉ đạo cuổi nổi dậy, Xứ ủy lấy binh lính địch làm đội quân xung kích ở nơi trọng yếu bậc nhất (Sài Gòn) và một số tỉnh lỵ là “một sai lầm có tính chiến lược”(1) Trong bất kỳ một cuộc cách mạng nào công tác vận động binh lính địch đều rất quan trọng. Nhưng dù quan trọng đến đâu cũng không thể coi đây là đội quân nòng cốt, đội quân xung kích của cuộc khởi nghĩa. Quyết định thắng lợi của một cuộc tổng khởi nghĩa bao giờ cũng là đội quân chính trị quần chúng trong đó lực lượng công nông là nòng cốt và lu vũ trang cách mạng là mũi mác của đột quân chính trị quần chúng. Kinh nghiệm của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga, Cách mạng Tháng Tám Việt Nam 1945, Cách mạng Cuba… cho thấy khi đã xuất hiện những điều kiện khách quan và chủ quan cho một thời cơ cách mạng chín muồi, quần chúng đã xuống đường giành chính quyền thì một phần quân đội địch ngả hẳn về phe cách mạng, đứng về phía nhân dân. Chủ trương đánh chiếm Sài Gòn của Ban khởi nghĩa là dựa vào binh lính địch nổi dậy chiếm đồn, phá kho lấy súng phân phát triển cho nghĩa quân đánh chiếm những nơi quan trọng gặp trường hợp chưa hề tính đến, kế hoạch bị lộ, địch cấm tại, khóa kho súng, thế là mọi việc đảo lộn, cuộc nổi dậy không thành ở ngay nơi được chọn làm trọng điểm. Cũng cần nhắc lại, tư tưởng chỉ đạo của Xứ ủy Nam Kỳ là tiến hành khởi nghĩa đồng loạt cùng giờ, cùng ngày ở Sài Gòn và các tỉnh, mà trọng điểm là thành phố Sài Gòn, các tỉnh lân cận có nhiệm vụ đưa lực lượng tới hỗ trợ cho cuộc khởi nghĩa ở Sài Gòn, tạo điều kiện cho cuộc khởi nghĩa thắng lợi nhanh chóng. Đồng thời Xứ ủy cũng phổ biến, các nơi trông chờ sự thắng lợi của cuộc khởi nghĩa ở Sài Gòn, quân khởi nghĩa sẻ tỏa về, cố nhiên mang theo súng ống, xe cơ giới, giúp các địa phương, kể cả những nơi xa xôi như các tỉnh miền Tây. Thực tiễn diễn ra hoàn toàn khác. Vì địch biết trước cho nên chúng đã chặn được cuộc khởi nghĩa ở thành phố Sài Gòn và các tỉnh lỵ, nhưng ở vùng nông thôn nhiều tỉnh, mặc dù kẻ địch được báo động, đã tung lực lượng đi tuần tra, canh gác, ngăn chặn, tức là cuộc khởi nghĩa đã bị mất yếu tố bất ngờ, song khởi nghĩa vẫn nổ ra rất mạnh. Thật vậy, trong hàng chục ngày đầu của cuộc nổi dậy, ở một số vùng nông thôn, chính bản thân kể địch cũng phải thừa nhận chúng chỉ chiếm giữ được một mảnh đất trên đó có quân của chúng đóng, còn nghĩa quân vẫn làm chủ. Rồi dần dần địch mới nằm lại được bọn tề ngụy tổng, xã. Khi cuộc nổi dậy phải chuyển sang chiến đấu du kích để bảo vệ và duy trì lực lượng thì cũng phải dựa vào vùng nông thôn hẻo lánh, cụ thể là vùng Đồng Tháp Mười, mời có thể kéo dài. Quá trình đấu tranh giành độc lập do Đảng ta lãnh đạo từ năm 1930 cho thấy, những cuộc nổi dậy của nhân dân ta trong cao trào 1930-1931, cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ và tất cả các cuộc khởi nghĩa từng phần trong cao trào kháng Nhật cứu nước sau ngày 9-3-1945, đều diễn ra ở nông thôn. Điều đó cho thấy, bọn thống trị nắm được thành thị, nhưng bộ máy cai trị của chúng ở nông thôn lại tương đối yếu, chúng không thể khống chế nông thôn một các chặt chẽ. Cách mạng có thể dựa vào nông thôn bí mật tích trữ lực lượng vận động quần chúng đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang. Khi có tình thế cách mạng, nông thôn là nơi yếu nhất và sơ hở nhất của địch, là nơi bộ máy cai trị tề ngụy của địch bị lung lay và khủng hoảng sớm nhất, do đó, với lực lượng cách mạng đã được chuẩn bị, ta có thể tiến hành khởi nghĩa từng phần, thành lập chính quyền cách mạng địa phương xây dựng căn cứ địa, chủ động đẩy nhanh việc chuẩn bị cho cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền cả nước. Tất nhiên, trong khi xây dựng lực lượng ở nông thôn, phải tích cực duy trì và phát triển phong trào đấu tranh chính trị dưới nhiều hình thức và biện pháp trong công nhân và các tầng lớp nhân dân khác ở thành thị, nhất là tầng lớp trí thức học sinh, để khi thời cơ tổng khởi nghĩa đến, thì có thể kịp thời phát động nổi dậy đánh đòn quyết định ngay tại sào huyệt của địch, ngay tại cơ quan đầu não cao nhất của địch, giành chính quyền từ thành thị đến nông thôn. (1) Trần Văn Giàu; Thành công của chủ nghĩa Mác - Lênin - Tư tưởng Hồ Chí Minh. NXB Thành phố Hồ Chí Minh - 1993, tr.501. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Mười Một, 2010, 09:06:25 am Bài học kinh nghiệm thứ ba
QUYẾT TÂM PHÁT LỆNH KHỞI NGHĨA, NHƯNG THIẾU ĐƯỜNG LỐI ĐẤU TRANH ĐÚNG ĐẮN, KHÔNG BẢO TOÀN ĐƯỢC LỰC LƯỢNG, DUY TRÌ CUỘC ĐẤU TRANH LÂU DÀI ĐÓN THỜI CƠ SẮP TỚI Khi bàn phát động khởi nghĩa, trong Hội nghị Xứ ủy đã có ý kiến, nếu không thành công thì rút về một số nơi, nhưng vì sao rút về đó? Ở đó cơ sở Đảng, cơ sở quần chúng ra sao? Rút về đó sẽ tiên hành tiếp tục đấu tranh như thế nào? Làm thế nào để có thể tồn tại nếu địch khủng bố? Lực lượng của Xứ ủy ở Sài Gòn rút hay các tỉnh rút?… Tất cả những vấn đề đó hầu như không được bàn. Nhân thấy cuộc khởi nghĩa không thành công, Xứ ủy đã có chủ trương rút, nhưng hầu như để các nơi tự động. Còn Xứ ủy tập trung dựa vào một vài nơi như U Minh, chủ yếu sản xuất vũ khí để chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa tiếp theo. Nghĩa quân Gia Định - Đức Hòa và có cả một số của Chợ Lớn rút về Truông Mít rồi định tiến theo dọc dãy Trường Sơn ra Bác, chủ trương này khó thực hiện. Nghĩa quân lại phải trở về địa phương và vùng Đồng Tháp Mười. Nghĩa quân Mỹ Tho, Tân An, Chợ Lớn, Gia Định, từ thực tiễn đấu tranh để duy trì lực lượng dần dần phải rút về Đồng Tháp Mười, có địa thế giao thông đi lại khó khăn, tránh đòn truy kích của quân đội địch. Mặc dù gặp biết bao nhiêu khó khăn, nhưng căn cứ Mớp Xanh - Bo Bo có tổ chức lãnh đạo kéo dài đến cuối năm 1941, còn trung tâm Mộc Hóa, Phú Mỹ đến giữa năm 1942. Ngay trên đất Nam Kỳ, cuối thế kỷ trước, Trương Công Định đã chống lại bọn xâm lược Pháp lâu 5 năm và Thủ Khoa Huân tới 15 năm. Tất nhiên, lúc đó là buổi đầu mới đặt chân lên nước ta, thực dân Pháp chưa ổn định được bộ máy cai trị, chúng còn gặp nhiều khó khăn. Hai tháng trước cuộc nổi dậy ở Nam Kỳ, cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn nổi ra đúng thời cơ thuận lợi, tuy chỉ trong phạm vi địa phương hẹp, nhưng thời có đó quá ngắn, thực dân Pháp quay lại đàn áp và có nguy cơ bị diệt vong. May thay, có sự chỉ đạo kịp thời của Trung ương Đảng, cho rút và thành lập các đôi vũ trang tuyên truyền, tỏa đi cá nơi vận động giữ vững tinh thần quần chúng, củng cố và phát triển cơ sở, kết hợp chặt chẽ đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, xây dựng vùng đó thành căn cứ địa cách mạng, trở thành trung tâm của Khu giải phóng sau này, làm bàn đạp cho cuộc tổng khởi nghĩa Tháng Tám. Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ ở quá xa sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, hầu hết các đồng chí Trung ương, Xứ ủy và các Tỉnh ủy địa phương đều bị bắt, cho nên nghĩa quân phải tự lực đấu tranh để duy trì sự sống còn của mình. Vì chưa có kinh nghiệm, không giữ được cơ sở quần chúng, mà không có cơ sở quần chúng thì không thể nào chiến đấu du kích được, lại thiếu sự hỗ trợ của chung quanh và nhất là chưa tìm được một phương pháp đấu tranh thích hợp, đúng đắn, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, cho nên cuộc chiến đấu của nghĩa quân ở Đồng Tháp Mười chỉ có thể kéo dài hơn một năm rưỡi. Vào những năm 1940-1941 cuộc khủng hoảng chính trị kinh tế xã hội ở nước ta đã xuất hiện, mâu thuẫn Pháp - Nhật tranh chấp quyền lợi trên đất nước ta ngày càng phát triển sâu sắc, nếu nghĩa quân Nam Kỳ tìm được phương thức đấu tranh đúng dắn, kết hợp việc xây dựng lực lượng chính trị với lực lượng vũ trang, xây dựng được chỗ đứng vững vàng thì chắc chắn có thể kéo dài cuộc chiến đấu đến cao trào kháng Nhật cứu nước tháng 3 năm 1945, và chắc chắn còn phát huy tác dụng to lớn của mình với cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Mười Một, 2010, 09:07:08 am Bài học kinh nghiệm thư tư
THIẾU CẢNH GIÁC CÁCH MẠNG ĐỂ KẺ ĐỊCH CHUI VÀO HÀNG NGŨ CỦA TA, KẾ HOẠCH KHỞI NGHĨA BỊ LỘ Lịch sử các cuộc cách mạng lớn như Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, Cách mạng Tháng Tám Việt Nam năm 1945 cho thấy, khi cao trào cách mạng đã dâng tới điểm cao, thời cơ cách mạng đã chín muồi thì dù kẻ địch có biết rõ quần chúng đang xuống đường giành chính quyền và dù chúng có ngoan cố đến mấy cũng khó bề trở tay và đánh bó tay. Còn cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ lại được phát lệnh khi thời cơ chưa chín muồi, cho nên khi yếu tố bất ngờ bị mất, do có nội gián địch ra tay ngăn chặn trước thì nghĩa quân rơi vào lúng túng, bị động và cuối cùng thất bại. Có điều đáng buồn là tên chỉ điểm đỏ (và chắc gì chỉ có một tên), sau khi cuộc khởi nghĩa đã thất bại, nó vẫn tồn tại trong hàng ngũ ta và lại được giao nhiều trọng trách, mãi đến sau cuộc kháng chiến chống Pháp ta mới phát hiện được và nó đã nhân tội. Để kẻ địch chui vào hàng ngũ của ta, không chỉ ở cấp xứ, mà ở cả cấp tỉnh như ở Long Xuyên để cho một tên chỉ điểm leo lên nắm cương vị tỉnh - Bí thư tỉnh ủy… thì đó là một sự mất cảnh giác hết sức nghiêm trọng. Ấy là con chưa kể một số nơi bắt mối gây cơ sở trong hàng ngũ binh lính địch, đến lúc khởi nghĩa, chính những người ấy lại đi báo kế hoạch của ta cho địch biết trước. Cuộc đấu tranh giữa ta và địch là cuộc đấu tranh vô cùng gay gắt, khốc liệt, kẻ địch luôn luôn dùng mọi mưu kế thâm độc tuồn người vào hàng ngũ ta, nắm chủ trương, chính sách, cách hoạt động của ta, tìm cách ly gián, tạo mâu thuẫn trong nội bộ ta, cho nên không chỉ trong cách mạng, trong kháng chiến, mà ngày nay trong xây dựng hòa bình, chúng ta cũng phải luôn luôn đề cao bài học CẢNH GIÁC CÁCH MẠNG. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Mười Một, 2010, 09:09:11 am * * * Đảng Cộng sản Pháp đối với cuộc khởi nghĩa Nam kỳ. Khi cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra, nước ta còn là thuộc địa của đế quốc Pháp. Đảng cộng sản Pháp bị chính quyền phản động ra sắc lệnh giải tán, phải rút vào hoạt động bí mật. Được tin cuộc nổi dậy của nhân dân ta đã bị bọn đé quốc đàn áp khốc liệt, với tinh thần quốc tế vô sản, Đảng Cộng sản Pháp đã gửi một bức thư (đăng trên báo Nhân Đạo tháng 12 năm 1940) tới Đảng Cộng sản Đông Dương bày tỏ sự ủng hộ mạnh mẽ của mình. “Hỡi các dân tộc Đông Dương! Trong giờ phút mà bọn đế quốc dã man chuẩn bị cuộc chiến tranh toàn diện, khốc liệt, giết hại từ đứa trẻ sơ sinh cho đến những người chiến sĩ đang chiến đấu, trong những giờ phút đó, những người cộng sản Pháp xin nói với các bạn rằng: ĐẢNG CỘNG SẢN PHÁP luôn luôn mạnh mẽ đứng về phía các bạn! Đông đảo quần chúng lao động Pháp đứng về phía các bạn! Ngày nay cũng như ngày hôm qua. Chúng tôi cúi đầu trước vong linh những chiến sĩ tự do hy sinh hồi tháng Mười Một trước súng liên thanh của Decoux, Beudouin, Pétain. Chúng tôi kính cẩn cúi đầu chào những người anh hùng đó, và trước hét, chào những anh chị em ruột thịt anh hùng đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương…”(1) Hoàn thành tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 23 tháng 11 năm 1995 TRẦN GIANG (1) Tư liệu Viện Bảo tàng cách mạng Việt Nam, Hà Nội, đăng trên Báo Nhân Dân số ra ngày 23-11-1980. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Mười Một, 2010, 09:14:57 am PHẦN PHỤ LỤC PHỤ LỤC 1 THÔNG CÁO CỦA XỨ ỦY NAM KỲ ĐỐI VỚI THỜI CUỘC HIỆN TẠI Ngày 4 tháng 9 năm 1940 I. - Căn cứ vào tình hình thế giới và tình hình trong nước, chúng ta thấy rằng cuộc chiến tranh phá hoại và ăn cướp do bọn đế quốc gây nên đang lan rộng xô đẩy nhân loại vào vòng khói lửa chết chóc. Còn Liên Xô ngày càng hùng mạnh, chính sách hòa bình của Liên Xô ngày càng ảnh hưởng sâu sắc đối với các dân tộc lạc hậu bị áp bức trên toàn thế giới Cách mạng sôi nổi khắp nơi và đang đợi thời cơ bùng lên đập tan xiềng xích giải phóng cho nhân loại. Nhờ có Liên Xô hết sức giúp đỡ, Nhật bị phong tỏa đang nguy khốn cả về kinh tế, chính trị và quân sự nên cuộc kháng chiến của mặt trận nhân dân Trung Quốc đang chuyển từ thế cầm cự sang thế phản công thắng lợi. Cho nên vấn đề cấp bách trước mắt đối với Nhật Bản là xâm chiếm lấy Đông Dương hòng biến Đông Dương thành thị trường tiêu thụ hàng hóa, thành nơi khai thác nguyên liệu, thành căn cứ quân sự để tiến công Trung Quốc và từ đó thọc tay vào các thuộc địa của Anh, Mỹ. Đế quốc Pháp và chính phủ quân nhân phát xít thuộc địa ở Đông Dương ngày càng ra mặt phản động và đã đầu hàng nhục nhã trước quân đội xâm lược Nhật. Tình hình đã có chuyển biến mới, nhưng phong trào cách mạng thì còn tương đối yếu. Đế quốc Nhật, bị lôi cuốn vào một cuộc chiến tranh nguy hiểm mâu thuẫn quyền lợi giữa bọn chúng và khối Anh - Mỹgay gắt đến tộ độ. Cuọc chiến tranh ở Thai Bình Dương sẽ bùng nổ nay mai, cho nên bọn càm đầu chính phủ Pháp ở Đông Dương đã ra mặt chống đối Nhật, tuy chúng chống đối còn yếu ớt. Nhưng sự chống đối đó chỉ đem lại thuế má nặng nề và chết chóc cho nhân dân vì chúng bắt nhân dân phải hy sinh bảo vệ quyền lợi ích kỷ của tư sản Pháp và của bọn câm đầu chính phủ Đông Dương. Do đó sự chống đối của Pháp không có ích lợi gì cho quần chúng. Vì vậy, cho nên bọn cầm đầu chính phủ đã tìm mọi cách bưng bít những itn tức về những cuộc xung đột đổ máu ở biên giới Trung - Việt. bọn chúng đã tăng thuế đến hai triệu ra tay cướp đoạt của cải của nhân dân để cung cấp cho cuộc chiến tranh phản động của chúng, biến Đông Dương thành chiến trường của phát xít Nhật. Trước nguy cơ đó, Đảng cộng sản chúng ta phải tập trung mọi lực lượng để đấu tranh chống Nhật Bản xâm lược và ráo riết chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang để giành lại chính quyền theo đúng tinh thần nghị quyết của Trung ương. Để thực hiện chiến thuật cách mạng quan trọng đó, Đảng ta cần phải: A. Phát động một phong trào đấu tranh mạnh mẽ của quần chúng với những khẩu hiệu: 1. Đả đảo chính sách đầu hàng của chính phủ phản động Đông Dương! 2. Đả đảo hiệp ước do bọn Pháp ký kết cho phép quân đội Nhật đổ bộ vào Đông Dương! 3. Phản đối quân Nhật đổ bộ vào Đông Dương! Đả đảo bọn xâm lược Nhật Bản! 4. Tẩy chay hàng Nhật! Cắt đứt quan hệ ngoại giao với đế quốc Nhật. 5. Phải ký kết liên minh quân sự với Trung Quốc chống Nhật. Phải mở biên gới Bắc Kỳ. 6. Phải giải tán các nhóm thân Nhật, bắt giam những phần tử thân Nhật. Vũ trang cho nhân dân. B. Phải thi hành ngay nghị quyết của Trung ương về việc chuẩn bị cuộc khởi nghĩa vũ trang. Từ nay các đảng bộ địa phương phải có tinh thần khẩn trương và tinh thần hy sinh, đặt sự nghiệp cách mạng lên trên hết. Đảng bộ phải lãnh đạo mọi hình thức đấu tranh từ các cuộc mti tinh biểu tình, đình công cho đến các cuộc biểu tình vũ trang, tổng đình công và tổng biểu tình của công nhân, nông dân và binh lính tới khởi nghĩa vũ trang giành lấy chính quyền. Mặt khác, Đảng ta phải đấu tranh để rèn luyện ý chí chiến đấu và thống nhất hành động. Đảng còn phải lãnh đạo đấu tranh nhằm củng cố nội bộ, đánh đổ những xu hướng khuynh “tả” và khuynh hữu của một số đồng chí ta và đánh đổ tư tưởng cho rằng: “bị khủng bố dữ dội, khó mà vận động được quần chúng ra đấu tranh, phải chờ thời cơ khởi nghĩa hãy đưa quần chúng ra đấu tranh giành chính quyền”. Các đồng chí đó không hiểu rằng khởi nghĩa vũ trang là hình thức đấu tranh cao nhất của quần chúng và muốn thắng lợi phải có đông đảo quần chúng tham gia phong trào trong những điều kiện chủ quan và khách quan thuận lợi. vì có những tư tưởng sai lầm đó, nên các đồng chí đã không ra sức tuyên truyền quần chúng chưa co tổ chức kêu gọi họ tham gia các cuộc đấu tranh hàng ngày gia nhập thực sự vào Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương, các đồng chí đó tỏ ra tự mãn hẹp hòi. Trong khi lãnh đạo quần chúng đấu tranh thực hiện những khẩu hiệu trước mắt và những khẩu hiệu ghi trong nghị quyết của Trung ương, các đảng bộ địa phương chúng ta phải có sáng kiến đề ra những khẩu hiệu thiết thực trước mắt để động viên quần chúng hăng hái đấu tranh. Phải mở rộng phong trào đấu tranh kêu gọi mọi tầng lớp nhân dân tham gia, tổ chức ngay những ủy ban Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương rộng lớn tiến tới khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Mười Một, 2010, 09:19:49 am II. - THÀNH LẬP MẶT TRẬN DÂN TỘC THỐNG NHẤT PHẢN ĐẾ ĐÔNG DƯƠNG
Mục đích của Đảng ta là làm cách mạng dân chủ tư sản rồi chuyển sang làm cách mạng vô sản, xây dựng chủ nghĩa xã hội và thành lập chế độ cộng sản hoàn toàn. Trong giai đoạn hiện nay quyền lợi dân tộc là vấn đề quan trọng nhất, chúng ta xem cách mạng phản đế là một nhiệm vụ chiến lược cách mạng dân chủ tư sản, do đó các tổ chức công nhân, nông dân, thanh niên và phụ nữ là những tổ chức cơ bản của Đảng để thực hiện cách mạng dân chủ tư sản. Công nhân, thanh niên và phụ nữ phải có hệ thống tổ chức đến xứ, nông dân chỉ tổ chức lên đến tỉnh. Còn các tổ chức phản đế, các hội phản đối chiến tranh và tổ chức cách mạng khác chỉ đi với chúng ta trong cuộc đấu tranh chống đế quốc, giải phóng dân tộc, nên tổ chức của họ chỉ tồn tại ở cấp xã. Thực hiện chế độ tập trung dân chủ, các tổ chức đó sẽ cử đại biểu tỉnh lập ủy ban Mặt trận dan tộc thống nhất phản đế Đông Dương ở xã, có hệ thống thống nhất lên đến Xứ. Có làm như vậy mới thật phù hợp với tinh thần nghị quyết của Trung ương đã được quốc tế cộng sản thông qua. Xứ ủy cũng sẽ đề nghị với Trung ương sửa đỏi lại điều lệ của các hội phản đế cứu quốc. nên từ nay các đảng bộ địa phương phải tập hợp các tổ chức đảng phái phản đế, kêu gọi họ cử đại biểu thành lập ủy ban Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế xã. Các ủy ban Mặt trận xã đã họp thành ủy ban Mặt trận huyện cho đến ủy ban Mặt trận tỉnh và ủy ban Mặt trận Xứ. Một số đại biểu sẽ được chỉ định để hình thành ủy ban Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương. Chương trình hành động tối thiểu và kế hoạch công tác của Mặt trận phản đế sẽ được thông báo sau. Mong các đồng chí chúng ta hết sức cố gắng hoạt động để đạt được mục đích đã định. III. - GIAO THÔNG LIÊN LẠC Tình hình ngày càng nghiêm trọng, giao thông liên lạc trở nên khó khăn, Xứ ủy yêu cầu các Đảng bộ địa phương tổ chức lại ngay các mối giao thông liên lạc và chuẩn bị cho mọi biện pháp cần thiết để khi bất trắc vẫn giữ được liên lạc. IV. - TÀI CHÍNH Trong thời kỳ chuẩn bị khởi nghĩa vấn đề tài chính là một trong những vấn đề quan trọng nhất. Các đồng chí và các đảng bộ địa phương phải tổ chức ngay các ban chuyên môn để tìm mọi cách cung cấp cho Đảng đủ tiền chi cho những công tác trước mắt. V. - THÀNH LẬP VÀ HUẤN LUYỆN CÁC ĐỘI TỰ VỆ Ở KHẮP NƠI Muốn khởi nghĩa thành công giành lại chính quyền ngay từ bây giờ chúng ta phải có một đội quân cách mạng giác ngộ và có tổ chức chặt chẽ. Do đó các đảng bộ địa phương phải tổ chức cho thật nhiều đội tự vệ ở trong các nhóm và trong quần chúng chưa có tổ chức. Chúng ta phải chọn những người hăng hái dũng cảm, có tinh thần hy sinh đưa vào các đội tự vệ. Phải huấn luyện tự vệ cho thích hợp: học cách nhận định tình hình trong nước và thế giới, học chính trị thường thức, chiến thuật du kích và những tri thức thực hành về quân sự. Chúng ta có thể chị định những đồng chí nguyên là cựu binh để phụ trách việc huấn luyện đó, làm như vậy vừa có thể đối phó với tình hình đang chuyển biến hàng ngày. Ở mỗi đản bộ phải cử ra 2 hoặc 3 đồng chí hiểu biết về quân sự để nghiên cứu kế hoạch huấn luyện và phụ trách thành công tự vệ ở địa phương. VI. - MÕI ĐỒNG CHÍ PHẢI ĐẢM NHẬN MỘT CÔNG TÁC CỦA ĐẢNG VỚI MỘT TINH THẦN CÁCM MẠNG MỚI Mỗi đồng chí, mỗi chi bộ, mỗi cấp đảng bộ đều phải ra sức hoạt động để làm tròn nhiệm vụ mà Xứ ủy đã định rõ cho mình trong bản thông có này nhằm tiến tới khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền. Tuy vận, trong trong hàng ngũ chúng ta còn có một số đồng chí kiêm nhiệm nhiều chức vụ khác nhau. Lúc này sự kiêm nhiệm dó rất tai hại. Ví dụ như ở trong một chi bộ, chỉ có một hoặc hai đồng chí làm việc. Còn các đồng chí khác khi có lệnh mới hành động hoặc chỉ làm việc lấy lệ, vì sự kiêm nhiệm đó. Đảng không những khó phát triển mà còn làm việc hạn chế tinh thần hăng hái và óc sáng kiến của đồng chí. Đã tham gia cách mạng để lãnh đạo phong trào thì bổn phận mỗi đồng chí là phải hăng hái liên tục hoạt động, gần gũi quần chúng, tìm thêm đảng viên mới để xây dựng nên tảng mới cho Đảng. Mỗi đồng chí đều phải học tập nghiên cứu tài liệu của Đảng để thi hành cho thật đúng, để giáo dục đồng chí mới và để giúp nâng cao trình độ cho các đồng chí khác. Trong tình hình nghiêm trọng hiện nay sứ mệnh của Đảng là vô cùng quan trọng chúng tôi yêu cầu tất cả các đồng chí tùy theo khả năng của mình, mà đảm nhiệm mỗi đồng chí một công tác của Đảng. Mỗi đồng chí đều phải thu xếp công việc gia đình để có thể toàn tâm toàn ý hoạt động cho cách mạng với một tinh thần mới. Được như vậy, chúng ta mới có thể đối phó với tình hình mới và chiến thắng kẻ thù. Hỡi các đồng chí! Hàng ngày, chúng ta đều chứng kiến một thắng lợi của cách mạng thế giới và trong nước. Dù một phút chúng ta cũng quyết chống xa rời nhiệm vụ. Thắng lợi không tự nó đến với chúng ta. Chúng ta phải kêu gọi mọi dân tộc, mọi tầng lớp, mọi đảng phái cách mạng cùng tiến hành đấu tranh với chúng ta, một cuộc đấu tranh có đông đảo quần chúng tham gia đúng như chủ nghĩa Mác, Lê Nin, Stalin đã chủ trương. Chỉ có những điều kiện đó chúng ta mơi có thể chiến thắng được bọn phát xít xâm lược Nhật Bản và bọn đế quốc quân phiệt thuộc địa. Chủ nghĩa đế quốc đang tự đào mồ chôn, chúng ta còn đợi gì mà không đẩy nó xuống đáy luôn? Sóng cách mạng đang dâng cao trên khắp toàn cầu. Ngọn cờ kháng chiến của nhân dân Trung Hoa đang phấp phới bay sát cửa biên giới Đông Dương. Hồng quân Trung Quốc và Hồng quân Liên Xô đnag bao vây đế quốc và sẵn sàng thiết thực giúp đỡ chúng ta. Hỡi các đồng chí! Thắng lợi nhất định sẽ về với chúng ta. Với một phương pháp công tác mới, vỡi một tinh thần kiên quyết cách mạng, hãy dũng cảm tiến lên. Ngày 4 tháng 9 năm 1940 Tài liệu lưu trữ Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương. Bản sao của Ban nghiên cứu lịch sử Đảng thành phố Hồ Chí Minh. Ký hiệu B 40-v/400. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Mười Một, 2010, 05:44:39 pm PHỤ LỤC 2 NGHỊ QUYẾT CỦA CUỘC TOÀN XỨ ĐẠI BIỂU HỘI NGHỊ NGÀY 21, 22, 23.9.1940 (NAM KỲ) I. TÌNH HÌNH THẾ GỚI: Đặc điểm mới: Chiến tranh giữa các đế quốc với nhau: Ở Âu Châu a) Hiện nay nước Anh đang đánh nhau với Đức, Ý, nhng thực ra thì chính RU-DÔ-VEN là người gây ra cuộc xung đột này, do đó Mỹ đã gián tiếp tham gia chiến tranh (trong thời gian này, RO-DÔ-VEN đã lợi dụng cơ hội để chiếm đóng những thuộc địa của Anh và của Pháp ở Tây bán cầu. Mỹ còn định thọc tay vào các thuộc địa của Anh và của Pháp ở Thái Bình Dương như Úc, Tân Gia Ba, Hồng Kông v.v…). Mỹ phải tuyên bố đứng trung lập là vì chính phủ Mỹ đã nhận thấy phong trào quần chúng đang sôi nổi chống chiến tranh nên RU-DÔ-VEN phải lừa bịp nhân dân Mỹ để giữ vững ghế của mình ở toàn nhà trắng cho đến tháng 10-1940, khi phải tiến hành bầu cử Tổng thống. b) Mục tiêu của Liên Xô hiện nay là thực hiện cách mạng thế giới và đánh đổ tư bản chủ nghĩa đế quốc. Trước mắt, bọn tay chân đệ nhị quốc tế và bọn trốt kít là vật chướng ngại trong phong trào cách mạng thế giới. Nhưng những phần tử đó đang bị dồn đến chỗ phá sản (nguyên nhân sự phá sản đó?) là một yếu tố thắng lợi cho cuộc cách mạng thế giới bùng nổ. Ở Á Châu: c) Thắng lợi của phe thân Đức và thân Ý và nảh hưởng của sự thắng lợi đó: trong nước chúng thi hành một chính sách phá xít, đối ngoại chúng ký hiệp ước với Đức, Ý chống lại Anh, Mỹ (Hiện nay nội các thân Anh và Mỹ đã bị lật đổ và thay thế bằng nội các Kanoc). Phe này muốn chấm dứt chiến tranh ở Trung Quốc để cùng với các cường quốc phe trục đánh Anh, Mỹ. d) Tình hình Trung hoa: Tháng 7-1940, khi nội các Yomai còn tồn tại, cuộc kháng chiến của Trung Quốc đã bị yếu đi vì phái chống cộng hành động ráo riết và đầu hàng Nhật; 1. Phe đầu hàng và Anh thắng lợi đã kích động giai cấp tư sản phản động Trung Quốc. 2. Trùng khánh luôn luôn bị ném bom. 3. Các đường giao thông ở Miến Điện và Vân Nam đều bị cắt đứt. 4. Bọn Anh, Mỹ khiếp nhược muốn thực hiện một “Munich phương Đông”. Nhưng tình hình đã thay đổi, nội các Yomai bị lật đổ, Konoc lên thay, do đó mà tránh được vụ “Munich Phương Đôn”. Hiện nay, đáng chú ý đến những điều kiện sau đây thắng lợi cho cuộc kháng chiến Trung Hoa. Trong nước: 1. Quần chúng đông đảo Trung Hoa hơn lúc nào hết, kiên quyết kháng chiến đến cùng. 2. Các tầng lớp trung gian và tiểu tư sản tán thành tiếp tục kháng chiến, như sĩ quan Quốc dân đảng, phần lớn quân đội quốc gia và quân đội địa phương. Ngoài ra đa số đảng viên quốc dân đảng và địa phương cũng tán thành kháng chiến. 3. Những mâu thuẫn giữa các tư sản và địa chủ lớn và mâu thuẫn trong các tầng lớp tiểu tư sản Trung Hoa là những trở ngại làm cho họ không thể liên kết được với nhau để chống cộng sản. Ngoài nước: Mâu thuẫn giữa Nhật Bản và khối Anh Mỹ chỉ có lợi cho cuộc kháng chiến Trung-Hoa. 1. Không những Anh và Mỹ có ý đồ lập một “Munich Phương Đông” Mỹ còn xuất cảng sắt, Anh còn quyết định mở con đường Miến Điện và cấm bán xăng cho Nhật. 2. Liên Xô đứng trung lập, được rảnh tay giúp đỡ có hiệu quả nhân dân Trung Hoa. 3. Sau 3 năm chiến tranh, Nhật Bản đã kiệt quệ về kinh tế, chính trị và quân sự. Nói tóm lại chiến tranh đế quốc chủ nghĩa đã bước vào giai đoạn gay go và đang lan ra khắp thế giới. e) Lực lượng và phong trào cách mạng thế giới (Ấn Độ, Trung Hoa v.v…), Nhìn chung phong trào cách mạng giải phóng đang ngày càng rộng lớn ở tất cả các nước tư bản, ở nước thuộc địa, nhất là ở Trung hoa và Ấn độ… Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Mười Một, 2010, 05:46:23 pm II. TÌNH HÌNH ĐÔNG DƯƠNG
Tình hình trong nước hiện nay có những đặc điểm mới: A. Vị trí Đông Dương: a) Sau khi đế quốc Pháp thua Đức thì chánh phủ phản động thuộc địa hoàn toàn bị cô lập. b) Những mối quan hệ kinh tế, chánh trị và quân sự giữa Đông Dương với chính quốc đều bị gián đoạn. Thấy Đông Dương bị cô lập, Nhật bản dùng mọi âm mưu để thôn tính. Trước tình trạng đó thái độ chính phủ Pháp như thế nào? 1. Kiên quyết chống lại không? - Không, chính phủ Pháp đã đầu hàng. 2. Có đầu hàng vô điều kiện không? - Không. Lý do là vì nhân dân Đông Dương, nhân dân Pháp và nhân dân Trung Quốc đều phản đối đầu hàng, vì: a) Quyền lợi tư bản Pháp ở Đông Dương. b) Đông Dương có tầm quan trọng sống còn đối với người Pháp. c) Sau cuộc chiến tranh với Trung Hoa, Nhật Bản đã kiệt quệ cả về kinh tế, chính trị và quân sự, còn tinh thần kháng chiến của nhân dân Trung Hoa thì ngày càng kiên quyết. d) Mâu thuẫn giữa Nhật Bản và Anh Mỹ ngày càng gay gắt. e) Theo các điều khoản của Hiệp ước đình chiến Pháp - Đức thì chính phủ Đức cam kết bảo vệ quyền lợi các thuộc địa Pháp. Lý do phụ: Trong một chừng mực nhất định, chính sách của nước Pháp ở Viễn Đông phụ thuộc vào chính sách đối ngoại của Mỹ. 3. Pháp sẽ đầu hàng có điều kiện như thế nào? Pháp sẽ nhượng bộ những gì? Pháp sẽ nhượng bộ Nhật về kinh tế (thương mại), chính trị, văn hóa, quân sự và cả về giao thông, nhưng chỉ nhượng bộ ở mức độ nhất định. Về kinh tế, chính phủ Đông Dương sẽ giành cho Nhật Bản những điều kiện nhập cảng hàng hóa vào Đông Dương và ký kết bán cao su, than, gạo v.v… cho Nhật. Về chính trị, chính phủ Đông Dương sẽ giải tán những hội cứu quốc của Trung Hoa và cấm lạc quyên ủng hộ Trung hoa. Chính để thực hiện ý đồ đó nên phái đoàn Nishihara (Tây Nguyên) từ tháng 6/1940 đến nay vẫn còn nằm lại ở Đông Dương. Về văn hóa, chính phủ sẽ cấm xất bản những báo chí chống Nhật, có phép Nhật Bản giúp vốn cho các báo chí thân Nhật, cho phép họ xuất bản những tài liệu tuyên truyền và tổ chức ở Chợ Lớn công viên “đại thế giới” để làm trụy lạc thanh niên. Về quân sự, chính phủ Đông Dương cho phép Nhật Bản thành lập đường hàng không Tokyo, Băng cốc qua Hà Nội, ký hiệp ước cho phép quân đội Nhật đổ bộ vào Đông Dương để tiến hành… Trung hoa và được quyền quay phim các vị trí quân sự. Đế quốc Pháp có thể nhường cho Nhật Bắc Kỳ dùng làm căn cứ tấn công Trung hoa, còn chính phủ Pháp sẽ rút về Trung kỳ và Nam kỳ đặng tiêu diệt phong trào cách mạng ở hai xứ đó. A. Âm mưu xâm chiếm Đông Dương của Nhật sẽ tiến hành như thế nào? Nhật bản tìm cách lấy lòng dân (xâm lược văn hóa). Sự xâm lược của Nhật Bản sẽ tiến hành cả về ba mặt chính trị, quân sự và kinh tế (mục này sẽ được nói rõ ở phần sau). B. Thái độ giai cấp tư bản bản xứ: Sau khi đế quốc Pháp thất bại, giai cấp tư sản bản xứ nhất là trung và tiểu tư sản, cũng muốn được độc lập, chứng cớ: 1. Việt Nam quốc dân đảng ở Bắc Kỳ. 2. Trịnh Hưng Ngẫu 3. Các nhóm quốc gia như… 4. Việt Nam cách mạng đảng Nguyên nhân chủ yếu; a) Đế quốc thất bại. b) Các nhóm đó cho rằng Nhật thọc tay vào Đông Dương cũng là một nguy cơ của họ. Họ muốn lợi dụng công nông để đánh đổ dế quốc Pháp và giành lại độc lập dân tộc. Những nhóm phản động cũ như Đảng lập hiến, đảng dân chủ, chi nhánh đảng xã hội Pháp (đệ nhị quốc tế) và bọn trốt kít đã bị suy yếu, Cao đài đang bị tan rã nhiều hơn. C. Thái độ các tầng lớp nhân dân Đông Dương. 1. Công nhân: Có ý thức và công tác tinh thần đấu tranh kiên quyết. Nhưng xét riêng về công nhân Sài Gòn, Chợ Lớn thì đấu tranh còn yếu. Nguyên nhân là vì: a) Bị địch khủng bố dữ dội. b) Đảng không có cán bộ chuyên trách, có đủ khả năng lãnh đạo quần chúng công nhân. c) Sinh hạot đời sống khó khăn. 2. Công nhân đồn điền: bị bọn đến quốc và bọn tư bản thuộc địa áp tức bóc lôt dã man, công nhân đồn điền rất kiên quyết chống đế quốc, họ sẵn sàng quyết liệt đấu tranh và rất có ý thức về quyền lợi của mình. Đôi khi ở một số địa phương, đã bùng nổ những cuộc đấu tranh tự phát. 3. Công nhân nông nghiệp: điều kiện sinh hoạt ổn định hơn, ít giác ngộ hơn, họ chưa đấu tranh và nếu có đấu tranh thì cũng còn yếu. Thái độ quảng đại quần chúng Hiện nay quần chúng rất căm thù đế quốc Pháp. a) 30% nhân dân muốn lật đổ đế quốc Pháp và đấu tranh chống phát xít Nhật. b) Một bộ phận quần chúng ghét Pháp, sợ Nhật, nhưng không tin vào lực lượng cách mạng. c) Đại bộ phận quần chúng ghét Pháp nhưng lại có thái độ sơ hở đối với Nhật. d) Thiểu số thân Nhật và thân Pháp. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Mười Một, 2010, 05:47:51 pm D. Thái độ của Đảng cộng sản Đông Dương:
Trước tình hình đặc biệt nghiêm trọng hiện nay, Đảng có những nhận định sau đây: 1. Tình hình khách quan: Về phía chính phủ phản động thuộc địa, tình hình chính trị rối ren. a) Chính phủ bị cô lập cả về chính trị, quân sự và kinh tế. b) Có sự chia rẽ trong những người cầm đầu: Phái Đờ Gôn, phần tử thân Nhật, phái chủ trương chống Nhật và phái tự trị, muốn bảo vệ lấy quyền lợi riêng. Về kinh tế: Chính phủ đang trải qua một cuộc khủng hoảng và mất tín nhiệm trong quần chúng. Còn quần chúng thì hết sức muốn đánh đổ sự thống trị của đế quốc Pháp. Về quân sự: chính phủ bị lung lay và đang lâm vào tình trạng rất hỗn độn. 2. Lực lượng chủ quan: Lực lượng của đôi tiên phong còn tương đối yếu. Tuy Đảng đã xây được nhiều tổ chức trong quần chúng, nhưng các tổ chức đó chưa được củng cố. trong phong trào đấu tranh chưa thật mạnh mẽ. Do đó, mà điều kiện chủ quan chưa thật chín muồi. Nhưng nếu có cơ hội Đảng ta phải chủ trương khởi nghĩa đánh đổ đế quốc Pháp và đấu tranh chống phát xít Nhật. Nếu cơ hội đến mà không tiến hành khởi nghĩa thì sẽ có những tác hại sau đây: 1. Nếu chúng ta không tiến hành đấu tranh mà lùi bước quần chúng sẽ tan rã và mất hết tinh thần. 2. Quảng đại quần chúng sẽ xa rời Đảng. 3. Chúng ta sẽ mất hết ảnh hưởng và tín nhiệm trong quần chúng. 4. Đối với cách mạng… Nhật Bản có thể dùng những âm mưu gian xảo và dã man tạm thời làm tan rã lực lượng cách mạng. 5. Xét về phương diện cách mạng thế giới, Đảng ta là một bộ phận của Mặt trận cách mạng quốc tế. Khi giờ khởi nghĩa đã điểm, chúng ta không đấu tranh thì chúng ta bị xem như kẻ đào ngũ và phản bội với cách mạng thế giới. Trái lại, nếu đến lúc phải hành động mà chúng ta chủ trương khởi nghĩa, thì có những điểm lợi sau đây: 1. Lực lượng đấu tranh để giành độc lập của chúng ta sẽ được biểu thị một cách hùng hồn. 2. Chúng ta sẽ chỉ cho nhân dân thấy những cái ưu việt của chế độ dân chủ cộng hòa. 3. Chúng ta sẽ đánh đổ những lời vu khống của bọn phản động đối với Đảng cộng sản Đông Dương. 4. Chúng ta sẽ giữ vững được Mặt trận dân tộc thống nhất, để đấu tranh chống Nhật. 5. Chúng ta sẽ góp được phần ủng hộ xây dựng mặt trận cách mạng quốc tế, nhất là ủng hộ cách mạng Trung hoa và chúng ta sẽ thực hện được nhiệm vụ giải phóng các dân tộc. 3. Thời cơ khởi nghĩa: Phải tiến hành khởi nghĩa: a) Khi nào Pháp - Nhật đánh nhau ở Đông Dương. b) Khi nào cuộc xung đột Nhật Mỹ bùng nổ ở Thái Bình Dương. c) Khi nào Nhật dùng bất kỳ cách nào để xâm chiếm Đông Dương. d) Khi nào Pháp cho phép Nhật vào Đông Dương và để Nhật dùng con đường Hà Nội - Vân Nam để tiến công Trung hoa. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Mười Một, 2010, 05:48:58 pm III. TÌNH HÌNH NỘI BỘ ĐẢNG (ĐẶC BIỆT)
Nghiên cứu các khu quan trọng có thể nhận xét như sau: a) Tuy Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định là những khu quan trọng nhưng ở các khu đó Đảng ta không có những cơ sở vưng chắc. Hội nghị quyết định Xứ ủy sẽ chỉ định những đồng chí đến các khu để tiến hành ngay việc phát triển Đảng và tổ chức quần chúng. b) Tuyên truyền trong quân đội: Đảng ta phải tìm mọi cách tuyên truyền binh lính Đông Dương (người Việt Nam, Miên và nhất là lính Pháp) làm cho rối loạn hàng ngũ địch. Tuyên truyền bằng truyền đơn, áp phích, biểu ngữ viết bằng tiếng Pháp, tiếng Trung hoa, tiếng Miên. c) Tài liệu về cuộc khởi nghĩa: tài liệu do cac quân ủy phân phát, các đồng chí lãnh đạo trong các quân ủy phải thảo luận kỹ những tài liệu đó và chỉ giao tài liệu cho những đồng chí thật giác ngộ, trung thành và dũng cảm và sẵn sàng quyết liệt đấu tranh. d) Thanh Đảng; trước tình hình nghiêm trọng hiện nay, trong Đảng ta còn những đồng chí do dự, thiếu tính chất của một người cộng sản, nên hội nghị quyết định tiến hành đấu tranh mạnh mẽ để loại trừ những phần tử xấu ra ngoài Đảng. e) Kỷ niệm lần thứ 24 ngày Liên Xô thắng lợi; đến ngày kỷ niệm Cách mạng tháng mười, tất cả mọi cấp đảng bộ phải phát động một phong trào đấu tranh rộng lớn: biểu tình, treo biểu ngữ, cờ, áp phích và rải truyền đơn, phân phát báo chí, phải chuẩn bị ngay từ bay giờ. Nếu có điều kiện, chúng ta có thể lãnh đạo quần chúng đấu tranh ngay không phải đợi đến ngày kỷ niệm Cách mạng tháng Mười. g) Chống manh động, khủng bố cá nhân: khi kẻ thù đã suy yếu, trừ bọn đầu sỏ, hầu hết bọn việt gian đều bị giao động. Song bọn chúng là tay sai của phát xít, nên chúng tiến hành một cuộc đàn áp dữ dội phong trào quần chúng. Do đó mà có những đồng chí nảy ra tư tưởng muốn khủng bố bọn chúng. Đó là một tư tưởng sai lầm do sự khủng bố gây nên. Đảng ta cho rằng mỗi hành động khủng bố cá nhân đều tạo cơ hội cho kẻ thù đnà áp khốc liệt và phá hoại phong trào cách mạng. Để tránh khủng bố cá nhân các cấp đảng bộ phải đấu tranh chống những khuynh hướng sai lầm đo và khôn khéo tìm cách cô lập những người có tư tưởng này. Ví dụ như phải tổ chức những đội tự vệ kềm giữ họ, dùng lý lẽ cách mạng để thuyết phục họ, làm cho họ không nghĩ hành động như vậy nữa. h) Vấn đề tài chính: phải thông tư cho mỗi cấp bộ đảng giữ gìn sổ sách chi tiêu cho minh bạch. Hàng tháng các liên tỉnh ủy phải nạp tiều thu được cho Xứ ủy, phải tổ chức lạc quyên theo sự phân phối như sau: - Liên tỉnh ủy Gia Định 20 đồng - Liên tỉnh ủy Long Xuyên 20 đồng - Liên tỉnh ủy Mỹ Tho 30 đồng - Liên tỉnh ủy Cần Thơ 40 đồng i) Đối với Việt Nam cách mạng đảng: sẽ chỉ định một đồng chí điều tra về vấn đề này và tìm cách liên lạc với nhóm đó. 1. Phải tìm hiểu thái độ của Đảng đối với thời cuộc. 2. Lực lượng? quần chúng đi theo đảng? Việc tổ chức đảng đó trong quần chúng như thế nào? 3. Muốn liên hiệp đảng đó và đảng ta thì phải có những điều kiện gì? k) Để đối phó với tình hình mới: phát xít Pháp đã nhượng bộ Nhật. Chúng đã để cho Nhật sử dụng các sân bay ở Bắc Kỳ. Hiện nay quân đội Pháp và Nhật đang đánh nhau ở Đông dương. Đồng Đăng, giờ hành động đã đến. Hội nghị quyết định: 1. Nối lại ngay các mối liên lạc, từ trên xuống dưới giữa các cấp bộ đảng. 2. Tổ chức và huấn luyện cấp tốc những đội du kích trong toàn xứ. 3. Phát động một phong trào đấu tranh mạnh mẽ. 4. Tiến hành tuyên truyền sâu rộng. 5. Tổ chức ngay các ban tuyên truyền. 6. Thực hiện những nghị quyết của Xứ ủy Nam Kỳ. Mít tinh: - Truyền đơn. - Khẩu hiệu viết trên các ngả đường, trên tường hoặc trên mặt đường nhựa…(1) (1) Tài liệu lưu trữ Ban N.C.L.S.Đ. Trung ương. Bản sao của Ban nghiên cứu lịch sử Đảng thành phố Hồ Chí Minh. Ký hiệu B.40-V/389 Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Mười Một, 2010, 05:50:50 pm PHỤ LỤC 3 THÔNG CÁO CỦA THƯỜNG VỤ XỨ ỦY NAM KỲ Các đồng chí, Cuộc Hội nghị Ban thường vụ của Xứ ủy ngày 3-10-1940 quyết định và yêu cầu các đồng chí đặc biệt chú ý về mấy điều này: I.- VIỆC ĐỐI PHÓ VỚI CUỘC TIẾN ÔNG MỚI CỦA PHÁT XÍT PHÁP Trong lúc đối với ngoài, phát xít Pháp lỳ lợm đầu hàng Nhựt bổn, ở trong vì sợ phong trào cách mạng dân chúng, chung thẳng tay đàn áp. Theo tin tức đích xác chúng đơng chuẩn bị một trận đại khủng bố mới, bắt nhốt hết thảy những người tình nghi. Trước tình thế ấy một số đồng chí nảy ra những tư tưởng sai lầm. có kẻ đòi gấp rút bạo động, có kẻ chủ trương ám sát tụi việt gian, có kẻ bỏ việc làm đi trốn để thoát thân. Không tuyên truyền tổ chức tranh đấu chuẩn bị chuẩn bị lực lượng để đánh vào người thù chính mà chỉ lo khủng bố cá nhân như thế là lặp lại bài học rất đau đớn hồi 1930-1931. Đảng đang lo chỉnh tề hàng ngũ để kéo ra chiến đấu với quân thù mà mình bỏ trốn để giữ lấy xác như thế là đào ngũ, là hèn nhát, không xứng đáng với một người chiến sĩ cách mạng. Những tư tưởng và hành động sai lầm đó, chúng ta cần phải hết sức cải chính và bài trừ. Vậy đối với chánh sách khủng bố của phát xít Pháp, chúng ta đối phó như thế nào? Ban thường vụ quyết định: A. Về mặt tiêu cực: 1. Các đồng chí đã bị ghi tên vào sổ tình nghi, phải luôn luôn tìm cách đề phòng để có thể lẫn lộn hoạt động trong quần chúng(1) 2. Các cơ quan đã bị lộ phải dời đi nơi khác ngay. 3. Cơ quan phải rời đi ngay khi một đồng chí trong cơ quan vừa bị bắt. 4. Không nên cho quá nhiều người biết cơ quan. Chỉ có những đồng chí có quan hệ mât thiết mới được lui tới cơ quan. 5. Một đồng chí đi công tác phải hẹn giờ trở về. Nếu đến giờ đó mà không về thì phải điều tra ngay. 6. Trước khi đến một cơ quan hoặc đến nhà một đồng chí, phải rất thận trọng, vì sau khi bắt đồng chí ấy rồi, địch có thể cài bẫy lại. 7. Đối với đồng chí mới được tha, phải điều tra kỹ và chưa nên tin ngay. 8. Các cuộc họp không nên kéo dài nhiều ngày. Nếu cần, phải họp ở hai, ba nơi khác nhau, phải đặt tự vệ canh gác. 9. Trước khi đi xa có mang theo tài liệu trong người, phải tìm hiểu xem dọc đường địch có hay khám xét hay không, và tránh đi vào ngày kỷ niệm đỏ. 10. Những người liên lạc đã bị lộ phải điều đi công tác nơi khác. B. Về mặt tích cực a) Phải động viên khuyến khích những đồng chí tỏ vẻ lừng chừng do dự, để đồng chí khỏi bỏ việc vì khiếp nhược. b) Phải tuyên truyền mạnh mẽ làm lay chuyển bọn Việt gian buộc chúng phải đứng trung lập. Ở một số nơi chúng ta có gửi tối hậu thư để thuyết phục chúng, đã thu được kết quả tốt. c) Phải tuyên truyền rộng rãi trong quần chúng, tổ chức quần chúng lại, xúc tiến mạnh phong trào quần chúng và phát động nhiều cuộc đấu tranh kinh tế và tổ chức biểu tình. d) Cần thành lập ngay một ủy ban mới phụ trách tạp vụ: phải bỏ thành kiến cho rằng đảng viên mới không làm nổi nhiệm vụ đó mà mọi việc đều tập trung trong tay một người giải quyết khi bị bắt thì không có người làm việc thay. Vì vậy, phải lựa chọn giao trách nhiệm cho những đồng chí trung thành nhất, hăng hái nhất, nhưng vẫn phải kiểm tra giáo dục các đồng chí đó trong công tác, dẫn dắt họ từng bước tiến lên thành lập một ban chấp ủy có uy tín. (1) Đoạn trên chép theo bản chụp ảnh tài liệu gốc. Từ dưới dịch lại theo bản chữ Pháp của mật thám. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Mười Một, 2010, 05:53:26 pm II.- TUYÊN TRUYỀN CHỐNG XÂM LƯỢC NHẬT BẢN VÀ THÁI LAN
Phát xít Nhật đã chiếm đóng Lạng Sơn, cùng Hải Phòng và sân bay Gia Lâm ở Bắc Kỳ. Ở cao Miên bọn thái Lan đã xung đột với quân đội Pháp ở Bát tăng Băng. Trong khi đó thì bọn việt gian nhất là bọn thân Nhật ra sức hoạt động mở đường cho ngoại xâm. Ở Bắc kỳ, bọn cầm đầu Việt Nam quốc dân Đảng đã phản bội, công khai hoạt động tuyên truyền kêu gọi binh lính theo Nhật, tổ chức một nhóm thân Nhật với danh nghĩa là một đảng quốc gia Việt Nam để lừa bịp nhân dân. Ở Nam kỳ cũng mới mọc lên một nhóm thân Nhật gồm những tên trốt kít như: Đào Duy Phiên, và bác sĩ Thinh, Nhựt v.v…. Họ tổ chức nhóm đó lấy tên lừa bịp là “Việt Nam thống nhất cách mạng đảng”. bọn chó săn đó đã ca tụng một cách xảo quyệt lòng nhân đạo giả dối của bọn đế quốc Nhật Bản (chúng tặng 3.000 đồng cho bệnh nhân nhà thương Hà Nội để tỏ lòng ưu ái gian dối đối với nhân dân), điều đó không khỏi gây ảnh hưởng tai hại đến một hàng người đặc biệt trong nhân dân tức là những người lạc hậu. Vì vậy công việc tuyên truyền của chúng ta hiện nay là phải lên tiếng mạnh mẽ phản đối nạn xâm lăng của Nhật Bản và của Thái Lan (nhất là Nhật Bản) để gỡ mặt nạ của các nhóm việt gian nói trên và đập tan ảnh hưởng của chúng trong nhân dân… III. THÁI ĐỘ ĐỐI VỚI PHÁT XÍT NHẬT 1. Phải phân tích cho nhân dân thấy rõ bộ mặt của người Nhật, ban đầu chúng tỏ lòng nhân đạo giả dối với chúng ta, nhưng về sau khi đã chiếm được cả nước ta, chúng sẽ tìm mọi cách cướp đoạn của cải của chúng ta để đánh Trung Hoa và đánh Mỹ. 2. Phải giải thích cho nhân dân hiểu, đừng lầm tưởng rằng lực lượng của Nhật còn nguyên vẹn. Nhật Bản đã mở rộng phạm vi hoạt động, nên lực lượng và tình hình kinh tế của chúng đã giảm sút rất nhiều sau ba năm gây chiến tranh với Trung Hoa. Tình hình ở Nhật Bản rất căng thẳng. Chiếm đóng Đông Dương, ký hiệp ước tay ba, khiêu khích Mỹ chỉ là những hành động dãy dụa muốn thoát khỏi thế bí. Nếu Trung Hoa vẫn luôn luôn kháng chiến và nếu Nhật Bản vẫn đương đầu với Mỹ, Nhật Bản nhất định sẽ bị thất bại hoàn toàn. 3. Đồng thời phải tuyên truyền ủng hộ cuộc đấu tranh quyết liệt của nhân dân Trung hoa, ủng hộ chính sách của mặt trận thống nhất của nhân dân Đông Dương, để khi giành được hành quân, mặt trận được nhân dân tín nhiệm. 4. Phải giải thích rõ ràng cho nhân dân hiểu rằng sau khi đánh thắng thực dân Pháp, chúng ta sẽ thành lập một chính phủ dân chủ cộng hào, chúng ta vẫn giữ vững và mở rộng Mặt trận thống nhất, chúng ta sẽ đặt mối quan hệ chặt chẽ với cách mạng thế giới và chúng ta sẽ đoàn kết với 450 triệu nhân dân Trung Quốc tiến hành một cuộc kháng chiến lâu dài. Thắng lợi sẽ nhất định về chúng ta. IV. THÁI ĐỘ VỚI CÁC NHÓM VIỆT GIAN 1. Vạch mặt bọn cầm đầu, chỉ cho nhân dân thấy rõ ràng những tình cảm gian dối của chúng, vì bọn chúng chỉ cần tiền tài danh vọng chứ không nghĩ đến lợi ích của nhân dân. Giải thích cho nhân dân hiểu rằng chỉ có cách mạng mới giải phóng được cho nhân dân và đưa lại hạnh phúc cho họ, còn bọn phát xít phản dộng chỉ áp bức bóc lột quần chúng mà thôi, đảng quốc gia thì không làm nên trò trống gì. 2. Đối với những kẻ nghe theo chúng thì phải chú ý giải thích lôi kéo họ đi với chúng ta, trung lập bọn cầm đầu việt gian phản bội và làm cho chúng bị tê liệt không hoạt động được. Cần thiết phải tiến hành một cuộc tuyên truyền khẩn trương để tổ chức biểu tình, mít tinh, diễn thuyết gây thành một phong trào đấu tranh rộng lớn và mạnh mẽ chống xâm lược Nhật - Thái. Khẩu hiệu đấu tranh là: - Phản đối bọn xâm lược Nhật Bản, Thái Lan. - Tẩy chay hàng hóa Nhật Bản. - Vạch mặt phát xít Nhật giả nhân đạo - Đả đảo bọn việt gian thân Nhật - Ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân Trung Hoa. - Hô hào quần chúng vùng lên đấu tranh chống chính phủ hữu khuynh phản động. V. LẠC QUYÊN ĐẶC BIỆT Các đồng chí đều thừa hiểu rằng hiện nay hơn lúc nào hết, Đảng đặc biệt cần tiên nên lạc quyên lúc này có một ý nghĩa rất lớn. Do đó các đồng chí phải hết sức cố gắng làm sao cho cuộc lạc quyên thu được kết quả tốt đẹp. Chính các đồng chí phải nêu gương hy sinh đóng góp trước. Hy sinh như vậy chưa đủ, các đồng chí phải gây một phong trào giúp đỡ rộng lớn bằng cách kêu gọi lòng hào hiệp của nhân dân, của các tầng lớp tư sản, giải thích rõ “kẻ có tiền giúp tiền, người có công giúp công”. Phải trình bày cho họ hiểu quan điểm đó đặng thuyết phục họ vui lòng ủng hộ cuộc cách mạng giải phóng và Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế của các dân tộc Đông Dương, cả về vật chất và tinh thần. Một câu tục ngữ của ta nói: “Dù xây chín đợt phù độ, không bằng cứ giúp một người”. Huống hồ chúng ta sống trong một thời kỳ phải cứu vớt toàn thể đồng bào, toàn thể dân tộc chúng ta. Một đồng bạc lúc này bằng nghìn viên đạn bắn vào đầu quân thù, cũng như hàng nghìn viên gạch góp vào viêc xây dựng sự nghiệp của chúng ta. Các đồng chí phải khích lệ những nhà hữu sàn và có lòng hào hiệp giúp đỡ chúng ta. Thường vụ Xứ ủy Nam Kỳ(1) (1) Lưu trữ Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương. Bản sao của Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Thành phố Hồ Chí Minh. Ký hiệu: B40-V/390. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Mười Một, 2010, 05:55:39 pm PHỤ LỤC 4 THÔNG CÁO CỦA ỦY BAN THƯỜNG VỤ XỨ ỦY NAM KỲ Ngày 10 tháng 4 năm 1941 Các đồng chí, Trước tình hình nghiêm trọng hiện nay, Thường vụ Xứ ủy Nam Kỳ khẩn thiết yêu cầu các đồng chí đặc biệt lưu ý đến các vấn đề quan trọng sau đây: I. - CHUẨN BỊ MỘT CUỘC KHỞI NGHĨA LẦN THỨ HAI Tuy nghị quyết của Xứ ủy lâm thời về cuộc khởi nghĩa lần thứ hai đã được tất cả các đồng chí thông qua, nhưng có một số đồng chí chưa ra sức tuyên truyền giải thích cho quần chúng hiểu rõ mục đích của cuộc khởi nghĩa. Nguy hiểm hơn nữa là thấy những cuộc xung đột Pháp - Thái đã được Nhật Bản dàn xếp xong nhiều đồng chí tưởng lầm rằng cuộc khởi nghĩa lần thứ hai đó còn xa xăm và chúng ta có thể chậm chuẩn bị cũng được. Các đồng chí phải thấy rằng hiệp ước Pháp - Thái chỉ là tạm thời và xét tình hình nội bộ hiện nay Trung Quôc đã tiến tới bước ngoặt quyết định của lịch sử. Tình hình đó buộc chúng ta phải khẩn trương chuẩn bị để kịp đối phó với những biến cố có thể bùng nổ nay mai. Nhận xét về tình hình nội bộ Đảng: Chúng ta phải chấp lại các mối liên lạc, tổ chức lại các ban lãnh đạo và ủng cố tổ chức các ban lãnh đạo ở các tỉnh. Ngoài ra còn phải kết nạp thêm đảng viên mới, tập hợp các đồng chí chân thành của phong trào trước và không nản trí trước sự khủng bố của quân địch. Đồng thời phải lưu ý chuẩn bị xong xuôi trước khi phát động phong trào mới, loại trừ khỏi hàng ngũ những phần tử do dự, sợ sệt và mất tinh thần và cũng như những phần tử có tư tưởng cá nhân có thể làm trở ngại cho công việc chuẩn bị. Cuối cùng cần phải giáo dục những đồng chí chưa hiểu thấu chủ nghĩa cộng sản và đường lối của Đảng, làm cho họ biết xây dựng và lãnh đạo tổ chức. II. - VẤN ĐỀ VŨ TRANG VÀ NƠI TÀNG TRỮ VŨ KHÍ Rút kinh nghiệm của cuộc khởi nghĩa lần trước, chúng ta không thể giao phó cho một người hoặc ngay cả cho một nhóm người phụ trách tìm vũ khí và đạn dược cho toàn Xứ Nam Kỳ. Vì khi người đó hoặc nhóm đó bị bắt thì toàn bộ kế hoạch bị tan vỡ. Do đó mỗi tỉnh ủy hoặc ít nhất mỗi liên tỉnh ủy phải tổ chức một ủy ban quân sự đặc biệt chuyên trách sản xuất gấp vũ khí, bom, mìn v.v…. và chọn nơi tàng trữ. III. - ĐẨY MẠNH TUYÊN TRUYỀN CHỐNG NHẬT - PHÁP Các đồng chí cũng đã thấy rằng sau khi ký kết hiệp ước Pháp - Thái và Pháp Nhật, thì ảnh hưởng của Nhật ở nước ta ngày càng bành trướng và bọn thân Nhật ngày càng nhiều. Do đó chúng ta phải đẩy mạnh tuyên truyền chống Nhật, vạch lòng tham lam và tư tưởng gải nhân giả nghĩa của bọn chúng (đối với người Việt Nam), cũng như đấu tranh chống bọn thân Nhật. Hiện thời hai khẩu hiệu đấu tranh “chống Nhật” và chống Pháp” phải kết hợp với nhau, phải chỉ rõ cho đồng bào chúng ta thấy rõ rằng trong các bài diễn văn bọn Pháp dùng các lời lẽ tốt đẹp để nói người Việt Nam chỉ là giả dối. Từ sau cuộc khởi nghĩa lần trước một mặt chúng giết chóc và hà khắc kết án người Việt Nam, mặt khác chúng tổ chức lạc quyên để cướp bóc tiền của quần chúng. Mới đây chúng lại có những cuộc lạc quyên bắt buộc. Chúng làm được những việc đó là do khuyết điểm của chúng ta trong công tác tuyên truyền. Chúng ta phải gấp rút chuẩn bị một cuộc khởi nghĩa lần thứ hai để tiêu diệt bọn phát xít Pháp. 1. Phản đối khúng bố! 2. Phản đối bắt bớ, bắn giết, tù đầy, hà khắc, phản đối tịch thu tài sản… 3. Phản đối chiến tranh đế quốc chủ nghĩa, phản đối chính sách kinh tế chiến tranh, phản đối lạc quyên bắt buộc và trưng thu trưng dụng. 4. Hãy vùng lên đấu tranh chống bọn phát xít Pháp 5. Hãy vùng lên đấu tranh chống bọn phát xít xâm lược Nhật và Thái! 6. Phản đối tuyên truyền thân Nhật, thân Pháp và thân Thái! 7. Đả đảo bọn việt gian tay sai của đế quốc đàn áp cách mạng! 8. Ủng hộ và gia nhập Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương. 9. Gấp rút chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa lần thứ hai thắng lợi đặng giải phóng các dân tộc Đông Dương. 10. Thành lập Liên bang các nước cộng hòa Đông Dương! 11. Đoàn kết với cách mạng Trung Quốc và cách mạng thế giới! 12. Ủng hộ Liên Xô! IV. - CÔNG TÁC CẢI TIẾN TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH Một số đồng chí quá chán nản đã coi thường công tác cải tiến tình hình tài chính của Đảng. Các đồng chí cho ràng quần chúng đã mất hết tinh thần, không tin tưởng ở Đảng nữa hoặc sợ khủng bố v.v… Nhưng ở một vài địa phương mặc dầu bị khủng bố, các đồng chí cũng tổ chức. Trong công việc chi tiêu, Thường vụ nhắc các đồng chí nhớ rằng mỗi xu là một giọt máu của quần chúng. Do đó, chỉ nên chi tiêu khi cầu thiết. Quỹ Đảng chưa đầy đủ và phải dùng để in sách báo, thông cáo, mau sắm vũ khí, nên phải thành công lạc quyên để giúp các chiến sĩ bị thương và gia đình họ. Các đồng chí phải có sáng kiến trong việc tổ chức giúp đỡ các chiến sĩ đó. Không thể ỷ lại vào Đảng. VI. - KỶ NIỆM NGÀY 1 THÁNG 5 Mồng 1 tháng 5 là ngày kỷ niệm cuộc đấu tranh thống nhất và kiên quyết của lao động toàn thế giới đòi cải thiện đời sống, chống phát xít và phản đối chiến tranh đế quốc chủ nghĩa. Trong ngày kỷ niệm đó, mọi cấp bộ Đảng đều phải tổ chức hội họp, mít tinh và các cuộc nói chuyện v.v… để giải thích cho quần chúng hiểu rõ ý nghĩa và lịch sử của ngày đấu tranh 1 tháng 5. Cũng phải lưu ý quần chúng cho đến tầm quan trọng của ngày 1 tháng 5 năm 1930 ở Đông Dương, ngày đấu tranh quyết liệt chống sưu cao thuế nặng ở Thái Bình, Bến Thủy, Cao Lãnh v.v… lưu ý đến tầm quan trọng của ngày 1 tháng 5 năm 1936, 1937, 1938, này đánh dấu những cuộc đấu tranh thắng lợi của cúng ta (mít tinh ở nhà hát Thành Xương, ở Tân Định, biểu tình không lồ ở Hà Nội) và cuối cùng lưu ý đến ngày 1 tháng 5 ở nước xã hội chủ nghĩa, ngày đã đưa lại hạnh phúc cho lao động và mọi tầng lớp quần chúng Liên Xô. Thường vụ Xứ ủy Nam Kỳ(1) Ngày 1 tháng 5 năm 1941 (1) Tài liệu lưu trữ ở Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương. Bản sao, lưu trữ Ban nghiên cứu lịch sử Đảng thành phố Hồ Chí Minh. Ký hiệu: B40-V/414. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười Một, 2010, 06:36:27 am PHỤ LỤC 5 SAIGON LE 2 Décembre 1940 NOTE DE SERVICE No 6845E.M/D.C.C. I. - Une opération de répression sera mensé les 3 et 4-12-1940 dans la région MY THO - CAI LAY - LANG TRUOC - CHO GIUA. II. Les éléments suivants participeront à l’opération aux ordres du chef de bataillon BELLOC, cdt le III/5e R.E.I. - E.M. du III/5e R.E.I. - 1 section miltrailleuse et groupe d’engins du 5e R.E.I. - Le D.M.C. (1 peleton A.M. - peleton moto). - Élémét de la Marine sur camionnettes actuellement en stationnement à MY THO. - 1 poste de 20w sur camionnette. - La canonnière “Commandant BOURDAIS”. Éventuellement les éléments du III/R.T.A. stationnés à MY THO. III. - Les transports de concentration des unités dans la région ci-dessus seront régless par ordres particuliers verbaux ou téléphoniques. Les éléments partant de SAI GON seront rassemblés à la caserne MARTIN DES PALLIÈRES le 2-12 pour 13h45. Départ 14h. IV. Un avion d’accompagnement, à la disposition du chef de Bta, Cdt du III/5e R.E.I. et l’offcier observateur. V. - Lesmodalités de l’opération seront réglées directement entre le chef de Btn, Cdt le III/5e et l’Administrateur chef de la province de MY THO. Général DERRINDINGER Commandant de la Division de la Cochichine Et du Cambodge(1) (1) Hồ sơ IIA.45/326(1) Incidénts de Novembre 1940. Rapport d’ensemble sur le mouvement insurrectionnel déclenché dans la province de My Tho le 22-11-1940 par le parti communite indochinois. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười Một, 2010, 06:39:32 am PHỤ LỤC 6 Troupes de l’Indochine Garnison de Saigon ORDRE D’OPÉRATION NoI 5e Régiment Etranger 3e Bataillon Undétachement compóé des : - 9e Cie- 11e Cie- 1 section de la 10e Cie. - 1 section de Miltrailleuse. Le groupe d’engins du 5e R.E.I. et une compagnie de Tirailleurs. Opérara à l’ouest de MY THO, les 3 et 4 Décembre 1940, sous le commandemant du chef de Bataillon, Commadant 3/5 Étranger. - Les A.M.C. le peloton de motocyclistes, -Une canonnière et l’avion Participeront à l’opération. MISSIONS Arrrêter les éléments communistes installés entre la Route coloniale No 16 de Cailay à Mytho et le mékong. Détruire la fabrique d’armes blanches située sur le canal à hauteur de Binh Thạch. Récupérer les fusils de chasse et les fusils de guerre. RENSEIGNEMENTS RECUEILLIS DANS LA PROVICE LE 1er Décembre Des éléments communistes sont signalés à Duong Diem et plus au sud au conlunet de l’Arroyo à hauteur de Binh Trung Carte au 10/100.000 de la Région de Mytho). La route AP TRUNG VINH KIM a été coupée en plúieurs endroits par les abatis e t des tranchées. Une forge dénomée Fabrique d’armens exiterait sur le canal à hauteur de Binh Thach. De cet endroit, se détachent des groupes qui opéreraint vers marche XOAI HÔT. C’est l’un de cos groupes qui aurait atteint le sergent chef de Légion. A VINH KIM se trouverait le P.C. du chef du mouvement de la Région. Il disposerait d’une ou plusieurs dizaines e fusils de guerre ou de chasse. Ce sont probablment les gens de Vinh Kim et de la région de Song Thuan qui ont commis les dégâts au platelas des ponts sur la route longeant le Mékong. Le terrain, compartimené par les routes, les canaux et l’arroyo se présente sous la forme d’un marécage. Rizières profondes inondées. Riz dépasssant un mètre. Visibilité presque nulle en rasion des boquetaux, palmiers, haies bambous. Les berges du canal sont coupées en de multiples endroits par des ruisseaux qui y déversent le trop plein d’eau des rizières. Sur toutes les routes et diguettes, des destructions on été opérées par les communistes. INTENTIONS DU CHEF DE BATAILLON L’opérattion s’effectuera en dux temps : Iere phase: JOUR J. Partir de la rote coloniale No 16 en diriction du sud. Franctionner à cet effet le détachement en quatre petites colonnes, leur composition étant en fonctions de la mission et du terrrain à parcourir. Ratisser toute la zône d’action du Nord au Sud Pour bousculer tous les éléments douteux sur la route longeant le Mékong où se trouveront les A.M.C. et le peloton Motcyclistes, chargés de les recueillis. En fin de la journée (JOUR J-ư Décembre). Occuper une base de départ sur la ligne DUONG DIEM VINH KIM KIM SON, en vue de l’opération du lendemain. 2 eme phase : JOUR J. 1. Partir des ponts indiqués ci-dessus en direction de l’ouest jusqu’à la route de Cai Lay de Mékong où se trouveront les A.M.C. et le peloton des Motocyclisté chargés d’ârrêter les fuyards. ORGANISATION DES DÉTACHEMENTS JOUR J. COLONNE OUEST. 9e Compagnie. Point de départ ÂP DUONG COLONNE DU CEN TRE. 1 section de la 10e Cie Section Commandemant du 3/5 Etranger. 1 section de miltrailleuse 1 groupe de mortier Point de départ ÂP TRUNG. COLONNE DU CANAL. 11e Compagine Point de départ. Pont de la route coloniale No 16 sur le canal. COLONNE EST. Compagnie de Tirailleurs Point de départ AP HAN HAO et roisemet de route à hauteur de PHƯƠNG THANH. MISSION DES DÉTACHEMENTS. COLONNE OUEST. Reconnaitre DUONG DIEM, descendre l’arroyo THUOC NIEN sur la rive gauche. Fouiller Binh Trun sans s’attarder et s’installer sur la piste de l’arroyo à l’ouest de Vinh Kim, pour arrrêter les élément qui s’enfuieraient de cette localité en direction de l’ouest. Après la prise de Vinh Kim, remonter l’arroyo et s’installer a Duong Diem pour y passer la nuit. COLONNE DU CENTRRE. Se dirriger franchement sur Vinh Kim s’emparer le village. Le fouiller minutieusement et s’y íntaller pour passer la nuit. COLONNE DU CANAL. Fouiller les abordss du canal, détruire la forge. En arrivant à hauteur de Long Hưng détacher 1 section en direction de Vinh Kim pndant que l’autre continuera sur le canal. Les deux setions retrouveront à l’embranchement au ud du Song Thuan et poursuivront ensuite sur le Kinh Dao où elles s’installeront pour passer la nuit. COLONNE EST. Ratisser toute la zône d’aciton comprise dans le quadrilatère. Route coloiale - Canal - Mékong. Route provinciale - marché de Soai Hôt. A.M.C. et Motocyclistes. Patrouiller sur la route longeant le mékong de Kim Son à An Quoi. Raceuillir tous les fuyards vonant de la zône d’opération. CANONIÈRE. Surviller les rives du mékong en particulier le cònluent de l’arroyo de Kim So. Interdir d’accès du fleuve les éléments qui viendraient du Nord. AVIATION. Bombardemen Vinh Kim entre 6 et 7 heurres. - Misson connaissance entre 7 et 10 heurres. - Les unités jalonnet au passage des avions. LIAISÓN- TRANSMSSIONS Le chef de Bataillon marchers avec la colonne du centre Deux fusées indiqueront son arrivée à Vinh Kim – Liaison - Terre - avion parr. T.S.F. en cours d’opération. HEURE H - JOUR J - 5 heure 45. Mise en place terninée pour 5 h30 JOUR J+1 - 6 heures ORDRES DE DÉTAIL Les sections de la légion de Hiêp Hoa et de Đuc Hoa seront enlevées en camions le deux Décembre à 1400 eh se dirigeant sur My Tho. La Compagnie de Tirailleur fera mouvemet de TÂN AN sur MY THO d’après les orres donnés directement par la Division Cochinchine- Cambodge. Less unités de légion stationnées à Saigon et désignéé pourparticiper à l’opération seront enlevées par camions le 2Décembre 1940 à 14h à la caserne du 11e. EMBARQUEMENT à 13h45. TENUE SHORT - BARDA COMPLET. Less commandemants d’unité laissront un gradé et deux ou trois hommes fatigués pour garder leur martriel et leur casernement. MUNITIONS - Dotation individuelle sur l’homme. - Deux caisses de cartouches suplémentaires seront rélevées. - Sur. T.C. Emporter les V.B. Miltrailleuses : 4 caisses par pièce Mortier R : 50 obus Fusées : 10 fusées signées Outils État maor de Bataillon - 10 pelles - 10 pioches. ALLIMENTATION Le repais du 24 Décembre au soir sera pris à MY THO (repas chaud). En outre il sera distribué un casse croute. MATÉRIELS DE CUISINE… APPEL LE DEUX DÉCEMBRE POUR TOUT LE MONDE Réveil le 3/12 ; 4 h 30 Embarquement à 5 h 15 Départ 5 h 25 Chef de Bataillon Commandant 3/5 Etranger infanterie BELLOC(1) (1) H.S. IIA. 45/326(1) Như trên. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười Một, 2010, 06:43:33 am PHỤ LỤC 7 MY THO le, 5 Décembre 1940 ORDRE D’OPÉRATION No3 Les élément ayant opéré dans le région de l’ouest de MY THO participeront le 6-12-1940 à une opération d’ensmble dans le triangle de BEN TRANH- TAN AN- CHƠ TAN YEN. Une compagnie du Bataillon de MY THO et une section d’Artillerie se joindront aux unités placées sous la commandemet du chef de Bataillon, commandant le 3/5 Etranger au cours des journées de 3 et 4-12-1940. COMPOSITION DU NOUVEAU DÉTACHEMENT POUR LA JOURNÉE DU 6 DÉCEMBRE - Seciton de commandement du 3/5 Etranger - 10e Compagie, une section. - 11e Compagnie, deux sections. - 9e Compagnie, trois sections. - 1 section de miltrailleuse et groupe d’engins du 3/5E. - 16e Compagnie du 19e R.M.I.C. - A.M.C. et peleton motocyclistes. - Section d’Artillerie. - Détachement de la Comagnie Autos. MISSONS a) Mission de répression dans le triangle TAN VIEM - NGA HUU - BEN TRANH. Maison commune au carrefour à 3k00 envỉon N.E.EST de TAN HIEP. Passage à niveau à 1.500 mètres au N.E. de HOA TINH. b) Mission de répression dans le triangle HOA TINH - CHU AP - TAN HOA. c) Liaison avec les éléments opérant au Nord dans la région de Cho TAN YEN. INTENSIONS DU CHEF DE BATAILLON Confier à la compagnie de MY THO, la 1 ere mission. Pérer dans le triangle avec le gros des forces en s’installant dès le début de l’action à lafource de HOATINH- Cho CO CHI. Les éléments (16e Compagnie du 194 R.M.I.C.) seront procédés par les A.M.C. et les motos occuperont Cho CO CHI. Nettoyer avec la légion toute le région de TAN HUONG direction del’ouest. Interdire avec l’Ảtillerie l’accès de la plaine des joncs. Cette opération terminée, pousser une pointe avec les élément motoríés jusqu’à PHU MY et assurer la liaíon avec lé unittés opérant dans cette région. RÉPRTION DES MISSIONS COMGAGNIE DE MYTHO Nettoyer la 1ere zone à l’Est de la voie ferrée Base de départ NGA HUU- BEN TANH jusqu’à l’arroyo au Nord des AP PHU THANH. Longer l’arroyo jusqu’au marché de AP PHU THI. Remonter la route provinciale jusqu’à la maison commuale. Emprunter la piste à l’est pour rejoindre TAN HIEP La Compagnie sera probablement transportée eu chemin de fer jusqu’à la section de NGA HUU. A.M.C. et PELOTONS MOTOCYCLI STERS Coiffer dès l’heure H l’embranchement du Nord de HOA TINH progresser jusqu’à Cho CO CHI et s’y installer. Surveiller par les patrouilles motocyclistes les routes et les sentiers sur un rayon de 3 km. 16e COMPAGNIE DU 19e R.M.I.C Sous les protection des éléments motorisés, aider du déblayage de la route. S’installer entre TAN LY TAY et AP TAN PHU. Une section sera chargée du soutien de l’Artillerie. Recueillir sans tirer tous les foyards qui a’enfuieraient devant les éléments de légion. Intergire par tous les moyens l’accès de la plaine des joncs. LÉGION: - 10e Compagnie Une section - Nettoyer le triangle de TAN LY TAY. - 11e Compagnie deux sections - Nettoyer les eux AP TAN THANH - 9e Compagnie trois sections - Nettoyer TAN HUONG - Section de miltrailleuses en Engins - S’installer à AP TAN HOA à AP TAN PHU pour recueillir les fuyards qui se dirigeraient vers le Nord. ARTILLERIE S’installer au Nord de TAN LY TAY. Interdire l’accès de la plaine des joncs à l’ouest de la route de Cho CO CHI - HOA TINH- Heure H 6 heures 30. L’Artillerie arrivera à HOA TINH 6h30. Rassemblement de tous les élément ayant opéré au Nord de HOA TINH à 11h30 sur la route de Cho CO CHI - HOA TINH. La Compagnie de MY THO se rassemblera à la fourche de HOA TINH à la même heure. EXÉCUTION DU MOUVEMENT POUR LA MISE EN PLACE - Réveil 5h - Embarquement en camion à 5h45. - Départ 6h, dans l’orde: - A.M.C. et peletons motocyclisters. - 16e Compagnie du 19e R.M.I.C - Section miltrailleuses et engins du 3/5 Etrager. - 19e Companie - 11e Companie - Section Commandemant du 3/5 Etrager. - 10e Companie Les A.M.C. et la 16e Companie s’arrêteront à la fourche de HOA TINH e s’engageant légèrement sur la route de Cho CO CHI pour laisser passer le reste de la colonne. Les unités de Légion poursuivront et s’arrêteront aux endroits indiqués ci-dessus. Mise en place terminée pour 6h20 au plus tard. LIAISONS et TRANSMISSIONS. - P.C. du chef de Bataillon de 6h30 à 8h. croisement de la piste venant de la maison commune de AP TRINH THI sur la route TAN AN - HOA TINH. À partir de 8h sur la route de HOA TINH Cho COCHI- HOA TINH à heuteur de AP PHAN QUI. Des avions d’accompagnement suiveilleront la zône d’action. On jalonnera au passage. 2e PARTIE Des éléments de SAIGON rentreront dans leur garnion après l’opération. Les bommes partiront done de MY THO avec leurpaquetage complet. Les bardas seront laissés dans les camionnettes… Alimentations… MYTHO le, 5 Décembre 1940 BELLOC(1) (1) Hồ sơ IIA.45/326 (1) Như trên Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười Một, 2010, 06:47:00 am PHU LUC - NOTES Confidentiel Prises acours de la réunion des Administrateurs tenues le 20 Février 1942 à MY THO Etaient pésents : M.M. Esquivillon, Inspecteur des A.P.I. Président Patau, Administrateur de Mytho Landron, de Sadec Pommez, de Cholon Sylvestre, de Tanan Fribourg Eynard, chef d’escadron de Gendarrmerie Bazin, Commissaire de la P.S de l’Est Simoni, Commissaire de la P.J.M. de Mytho De Baix, Commissaire de la P.S. de Mytho Lageat, Commissaire de la P.S. de Sadec Lovichi, commissaire adjoint, chef de la Brigade de la P.J.M. de Vinhlong. I. Mise au point d’un programme d’aciton centre les bandes de Malfaiteurs et de communistes qui se sont réfugiés dans la plaine des joncs. 1ere question posée par le président: Comment les opérations devront-être se faire? M.Bazin reppelle les opérations faites jusqu’ici pour épurer la Plaine des joncs. Un petit nombre de personnes seulement y a participé, comtaste que les gens qui s’y sont réfugiés bénificient de la complaisance de cortains notables. Les opérations devront se bornerà l’Intervaico car à cet endroit que vivent les handes et c’est de là qu’elles partent pour accomplir des méfaits à Cholon et à Mytho. M. De Baix suggère de faire précider les opérations par l’arrestation detoute la famille de Muoi Ky, ce qui le privera de tout ravitaillement. M. Patau pense que les opération en force seront inefficaces dans lea villages et créer de nouveaus postes. M. Landron propose de faire participer les provinces de Longxuyen et de Chaudoc aux opérations. Elles borneraient simplement leur action à la surveillance de leurs régions. Les opérations devront être entreprises par la sûreté qui procédera à l’arrestation sans distiction de toutes les personnes trouvées dans la plaine des joncs. Déclare qu’en ce qui la concerne, son rôle se bornera à établir un barrage à l’intersection du canal Lagrange et du canal 4 bis. N’est pas partisan de l’opération massive. M. Pommez déclare que pour avoir des chances de réussites les opérations devront être faites sur une longue période. N’est pas partisan del’opération en force. M. Sylvestre propose de limiter les opérations à l’intervaico qui devront par ailleurs être faites avec peude monde. Tous Administrateurs et le commandant Fribourg Eynard seront d’accord estimer qu’ue opération massive serait inefficace. C’est également l’avis des inspecteurs de la sûretés. 2e questions posés par le pésident: Comment devront etre réglées les questions de détail des opératión? Après délibération, l’assemblée estime que les opérations devront être de la manière suivante: a) Unité de commandement M. Sylvestre, Ađministrateur de Tanan, Prendra le commandement des opérations et sera secondé par M.M. Bazin, Simoni et De Baix. b) Eléments qui prendront part aux opérations: 50 gardes civiles de Tanan avec le gendarme Peyruchaud 50 gardes civiles de Mytho avec le gendarme Issot 30 gardes civiles de Cholon avec le gendarme Jacquot 30 gardes B.E. Gia dinh avec deux géndarmes. c) Matériel mis à la disposition de cé éléments. Un canot à moteur, nue chaloupe marchand aux bois et les sampans. d) Secteurs des opérations: 1ere opération: Région Nord du canal TracuThuong. 2e opération: Région comprise entre Thanhloi et Binhduc. 3e opération: Région comprise entre le canal Lagrange le Yaico ocidental et l’arroyo commercial. e) Mise en place des élément - Gardes civiles de Cholon à Hiephoa. - 20 gardes civiles Sadec au confluent du canal Lagrange et du canal 4 bis. - Les autres élément à des emplacements qui seront díterminés par M. Sylvestre. M. Sylvestre demandera de plus au Résiant de la province de SoaiRieng de coopérer à ces opérations et de se mettra d’accord avec les Adminidstrateuers de Chaudoc et de Longxuyen. f) Dateet durée des opérations M. Sylvestre les fixera aux environs du 3 Mars. Elles dureront tout le mois de Mars. g) Ravitaillement La province de Tanan fera le nécessaire. II. Création d’une cỉconscription administrative de la plaine des joncs sous la direction d’un fonctionnaire des services civils. M. Le Président déclare que M. legouverneur serait désireux d’avoir sur cette questionss l’avis des chefs de province intérssés. Toute l’assistance se montre très favorable à l’idée de M. le Gouverneur et demande que des avantages substantiels soient accordés au Fonctionnaire qui sera désigné comme chef de la circonscription. M. Landron rappelle que l’affectation d’un administrateur-adjoint à Chomoi a donné d’excellents résultats. M. Pommez déclare qu’il faudra le faire seconder par un inspecteur de la sureté. M. Sylvestre propose Mochoa comme chef leiu de la future circonscription. Le commandant Fribourg Eynard déclare que deux agents européens: gendarmes ou inspeceurs de la sureté seront nécessaires pour seconder l’administrateur adjoint qui sera placé à la tête de la future circonscription. Il faudra en outre mettre à sa disposition un canot à moteur aet une cinquantaine d’hommes. M. Sylvestre dit qu’il lui sera possible de loger tout le monde à Mochoa. Personne ne demandant plus ka oarole, la réunion est alors levée. Réunion le 20-2-1942 de 8h à 11h. Le rapport été emvoyé le mêne jour à 11h30 su Gouverneur. Mytho de 21 Fesvrier 1942 Notes prises par Léberger, Rédacteur des servieces civils, adjoint au chef de la Province de Mytho(1) (1) HS. II. A.45/222 (2c). Organisation des opérations dans la plaine des joncs (My Tho) TT.LT2.TP.HCM. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười Một, 2010, 06:51:58 am Bản dịch MẬT BẢN GHI Cuộc họp của các nhà cai trị ngày 25-2-1942 tại Mỹ Tho Có mặt : Các ông Esquivillon, Thanh tra chính trị và hành chính, Chủ tịch. Patau, Chủ tỉnh Mỹ Tho Landron, Chủ tỉnh Sa Đéc Pommez, Chủ tỉnh Tân An Fribourg-Eynard, chỉ huy sen đầm Bazin, chánh cẩm cảnh sát đặc biệt Miền Đông Simoni, chánh cẩm cảnh sát pháp lý lưu động Mỹ Tho De Baiz, chánh cẩm cảnh sát đặc biệt Mỹ Tho Legeat, chánh cẩm cảnh sát đặc biệt Sa Đéc Loivchi, phó cẩm, chỉ huy đơn vị cảnh sát pháp lý lưu động Vĩnh Long. I. Đặt chương trình hành động chống lại bọn bất lương và cộng sản còn ẩn náu trong Đồng Tháp Mười. Chủ tịch nêu câu hỏi thứ nhất: Các cuộc càn quét sẽ được thực hiện như thế nào? Ông Bazin nhắc lại những cuộc càn đã được thực hiện để làm trong sạch vùng Đồng Tháp Mười, cho đến lúc đó mới chỉ có một số ít người tham gia. Nhận thấy rằng bọn lẩn trốn trong đó được che chở của một số tề. Các cuộc càn cần hạn chế giữa hai sông Vàm Cỏ vì rằng chính ở đây bày bất lương sinh sống và cũng chính từ đây chúng đi gây chuyện ở Chợ Lớn và Mỹ Tho. Ông De Baix gợi ý trước khi đi càn, nên bắt tất cả gia đình Mười Kỳ, như thế làm cho y mất mọi nguồn tiếp tế. Ông Patau cho rằng những cuộc càn bằng sức mạnh sẽ không hiệu quả, cần phải thiết lập những người có trách nhiệm trong các làng xã và thành lập các đồn mới. Ông Landron kiến nghị đưa các tỉnh Long Xuyên và Châu Đốc tham gia càn quét. Các tỉnh ấy chỉ hạn chế hoạt động của họ trong việc canh phòng vùng của họ. Các cuộc càn sẽ do cảnh sát thực hiện, trước đó bắt tất cả, không loại trừ ai, thấy ở trong vùng Đồng Tháp Mười. Về vấn đề này, ông tuyên bố rằng nhiệm vụ của ông hạn chế trong việc dựng một chướng ngại vùng giữa kênh Lagrange và kênh 4 phụ. Không tán thành càn quét bằng lực lượng lớn. Ông Pommez tuyên bố rằng để hy vọng đạt thắng lợi, những cuộc càn quét sẽ phải kéo một thời gian dài. Không tán thành càn quét bằng sức mạnh. Ông Sylvestre đề nghị hạn chế những cuộc càn ở vùng giữa hai sông Vàm Cỏ và chỉ dùng ít người. Tất cả các nhà cai trị và ông chỉ huy Fribourg-Eynard đều tán thành rằng một cuộc càn quét lớn sẽ không có hiệu lực, và các ông thanh tra mật thám cũng tán thành ý kiến này. * * * Chủ tịch nêu câu hỏi thứ hai. Những vấn đề chi tiết của càn quét sẽ được giải quyết như thế nào? Sau thảo luận, Hội nghị cho rằng cuộc càn quét sẽ được giải quyết theo cách như sau: a) Đơn vị chỉ huy Ông Sylvestre, chủ tỉnhTân An, nắm quyền chỉ huy các cuộc càn quét và các ông Bazin, Simoni và De Baix làm phó. b) Đơn vị tham gia càn quét - 50 lính mã tà của Tân An với ông sen đầm Peyruchaud - 50 lính mã tà của Mỹ Tho với ông sen đầm Issot - 30 lính mã tà của của Chợ Lớn với ông sen đầm Jacquot - 30 lính mã tà của B.E. Gia Định với 2 sen đầm. c) Phương tiện vật chất cho các đơn vị Một ca nô máy, một xa lúp đi rừng và nhiều thuyền. d) Khu vực càn: Càn quét thứ nhất: Vùng Bắc kênh Trà Cú Thượng Càn quét thứ hai: Vùng giữa Thạnh Lợi và Bình Đức Càn quét thứ ba: Vùng giữa kênh Lagrange, Vàm Cỏ Tây và Lạch Buôn (Kênh Xáng) e) Bố trí các đơn vị: - Lính mã tà của Chợ Lớn ở Hiệp Hòa. - 20 lính mã tà của Sa Đéc ở chỗ gặp nhau của kênh Lagrange và kênh 4 phụ. - Các đơn vị khác do ông Sylvestre qđi. Ngoài ra ông Sylvestre đề nghị ông công sứ tỉnh Soài Riêng phối hợp với những cuộc càn qét ấy và có sự thỏa thuận của các ông chủ tỉnh Châu Đốc và Long Xuyên. f) Thời gian của các cuộc càn quét. Ông Sylvestreấn định khoảng ngày 3tháng Ba và sẽ kéo dài suốt tháng Ba. g) Tiếp tế tỉnh Tân An cung cấp mọi thứ cần thiết. * * * II. - Thành lập một quận hành chính ở Đồng Tháp Mười dưới sự lãnh đạo của một viên chức dân sự. Ông Chủ tịch tuyên bố rằng Ngài Thống đốc muốn được biết ý kiến của cac ông chủ tỉnh hữu quan về vấn đề này. Tất cả cử tọa tỏ ra tán thưởng ý kiến của Ngài thống đốc và yêu cầu có nhiều điều kiện vật chất hơn và cho viên chức sẽ được chỉ định làm chủ quận. Ông Landron lưu ý tới cảm tình với ông phó cai trị ở Chợ Mới đã cống hiến nhiều kết quả đặc sắc. Ông Pommez tuyên bố rằng cần có một thanh tra làm phó. Ông Sylvestre đề nghị Mộc Hóa sẽ là quận lỵ của quận tương lai. Ông chỉ huy Fribourg-Eynar tuyên bố rằng hai nhân viên người Âu: Sen đầm hoặc thanh tra mật thám là cần thiết dể làm Phó quận và sẽ đứng đầu quận tương lại. Ngoài ra còn phải cấp cho nó một ca nô máy và 50 người. Ông Sylvestre nói Mộc Hóa có thể đủ ở cho tất cả. Không ai lên tiếng nữa, cuộc họp bế mạc. Mỹ Tho, ngày 20 tháng hai năm 1942 Biên bản do Leberger, biên tập viên dân sự, phó chủ tỉnh Mỹ tho ghi. * * * Ghi thêm chữ viết tay vào công văn triệu tập họp ngày 11 tháng 2 năm 1942 “Cuộc họp ngày 20-2-42 từ 8 giờ đến 11 giờ tại Mỹ Tho, Báo cáo đã được gửi ngay cùng ngày tới ông Thống Đốc lúc 11 giờ 30”. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười Một, 2010, 06:56:08 am PHỤ LỤC 9 NGHIÊN CỨU VỀ TIÌNH HÌNH BINH BỊ (của Pháp) Sài Gòn R.T.A Đoàn binh nam Ô ma R.T.A.bis Đoàn binh Pháp - Đường NORODOM Công binh - Đường d’ESPAGNE Hải quan - Thủy thủ đường RIGAULT GENOUILLY Có kho dự trữ xe hơi tại chợ Đũ, Đakao, chợ Thái Bình. Có xe xung trận và súng tự động xa tại thành phố pháo thủ. Có một vệ binh nam tại Chợ Lớn và đồn Cây Mai. Có một đội quân tại Rạch Cát. Kho súng đạn tại đường ROUSSAU Có súng đại bác bắn máy bay tại nhà Bè và mô băn Tham mưu bộ đường CHASSELOUP - LAUBAT Khí giới và súng lớn có nhiều tại thành pháo thủ. Binh lính có đủ khí giới Kết quả binh lính thành Sài Gòn và thành Chợ Lớn thì có lối 20 ngàn người, đa số là nam. Mỹ Tho - Binh bộ (Nam) Vĩnh Long - Binh bộ (Nam) Sóc Trăng - Binh bộ (Cao Miên) Châu Đốc - Binh bộ (Cao Miên) Biên Hòa - Binh bộ (An Nam)- Sở máy bay- Biên hào và Cát Lái - kho súng đạn (thành Tuy Hạ) Thủ Dầu Một - Trại lính Pháp và Nam Bà Rịa - Binh lính Nam Cáp - Binh lính Pháp và Nam binh bộ pháo thủ, chút ít lính thủy, bao nhiêu… Gia Định có lính thủ hộ (lối 120 người) tập luyện giỏi khó vận động. Mỗi tỉnh có lối 120 người lĩnh mã tà, tập luyện khá có thể tuyên truyền đặng tinh thần yếu. Lính lưu hậu đang mộ và tập luyện(1) (1) Đây là bản báo cáo điều tra của Ban binh vận của ta cho Xứ ủy về tình hình lực lượng quân sự chính quy của Pháp ở SG và ác tỉnh. Các tỉnh chỉ lấy dược đơn vị chung, không có sĩ số. Tài liệu của ta bị mật thám Pháp bắt được ở một ngôi chùa thuộc Gò Vấp ngày 23 tháng 4 năm 1940. Chúng lưu ở hồ sơ, ta tìm lại được. Hồ sơ Phong lưu trữ Trung ương Đảng. Bản sao lưu trữ tại ban NCLSĐ Trung ương. Ký hiệu C.IB/6. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười Một, 2010, 06:57:11 am PHỤ LỤC 10 VỀ LỰC LƯỢNG LÍNH MÃ TÀ (Garde civile) Của Pháp ở NAM KỲ Tình hình sĩ số cho đến ngày 10-3-1941 Địa phương Sĩ số lý thuyết Sĩ số hiện có Chênh lệch Nhật xét Gia Định 170 168 2 Châu Đốc 105 104 1 Hà Tiên 80 64 16 Rạch Giá 110 92 18 Trà Vinh 100 100 Sa Đéc 120 118 2 Bến Tre 150 118 32 4 trù bị được gọi Long Xuyên 135 128 7 Tân An 110 106 4 Sóc Trăng 135 116 18 9 trù bị được gọi Thủ Dầu Một 300 282 18 Biên Hòa 200 193 7 31 trù bị được gọi Mỹ Tho 175 175 3 trù bị được gọi Bà Rịa 85 84 1 Chợ Lớn 160 122 38 Vĩnh Long 130 111 19 Gò Công 120 106 14 Cần Thơ 142 132 10 Bạc Liêu 150 126 23 Vũng Tàu 40 35 5 Đội cơ động 75 71 4 Thiếu ngân sách 173 173 để thống đốc sử dụng Tổng cộng 3075 2645 430 Các tỉnh ven biển: Bà Rịa, Gia Định, Gò Công, Mỹ Tho, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Rạch Giá và Hà Tiên, mỗi tỉnh phải cấp một đội (contigent) 39 người(1) (1) Hồ sơ IIA. 45/222 (2d) TT.LT2.TP. HCM. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười Một, 2010, 06:58:44 am PHỤ LỤC 11 CƠ LÍNH THỦ HỘ GIA ĐỊNH (Brigade mobile de Giadinh) Tình hình sĩ số đến ngày 10-3-1941 - Các trại 10 - Gác nhà tù phụ nữ Phú Mỹ 10 - Gác dinh toàn quyền 5 - Gác dinh Thống đốc 8 - Gác nhà tù Long Kiên 30 - Cần đổi pheine hàng ngày cho các bốt nóitrên 53 - Mới nhập học 12 - Biệt phái căng lao động Bà Rá 11 - Biệt phái căng lao động Tà Lài 30 - Biệt phái đi tỉnh Tân An 12 (Ở Tân An cũng cỏ một căng lao động cho người ốm) (T.G). - Biệt phái đi tỉnh Tây Ninh 5 - Đi nhà thương 9 - Ốm ở phòn 17 - Dạy lớp học sinh Cai và mới nhập 3 - Học viên lớp học sinh Cai 4 - Nghỉ phép 6 - Coi vũ khí 1 - Coi kho 1 - Lính hầu (ordonnance) 1 - Thư ký 1 - Tài xế 1 - Gác tuần (garde de semaine) 1 - Đi lính sang Pháp (Aux armées en France) 1 Cộng 233 Sẵn sàng 1 Sĩ sống tổng của Briagde 224(1) (1) Hồ sơ IIA.45/222 (24). TT.LT2.TP.HCM. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười Một, 2010, 08:53:07 am PHỤ LỤC 12 CƠ LÍNH THỦ HỘ CHÍ HÒA (Brigade mobile de Chí Hòa) Tình hình sĩ số đến ngày 10-3-1941 - Gác trại 8 - Gác nhà tù Long Kiên 20 - Đổi gác hàng ngày cho 20 bốt tên 28 - Gác nhà thương Chợ Quán (đổi phiên hàng tuần) 8 - Biệt phái gác căng Bà Rá 29 - Biệt phái đi tỉnh Tây Ninh 5 - Coi vũ khí 1 - Coi kho 1 - Tài xế 2 - Thư ký 2 - Ốm 1 - Nghỉ phép 2 - Tập sự lớp học sinh Cai 4 Cộng 110(1) (1) Hồ sơ: Như trên. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười Một, 2010, 08:54:41 am PHỤ LỤC 13 BÀI 1: VỌNG CỔ 1. Dân chúng nghèo nàn, từ thành thị chí thôn quê khắp cả Nam kỳ, quyết lòng nổi lên đánh tan quân phát xít. 2. Ngày 23 tháng 11 năm 1940, tiếng úng nổ đì đùng dường như kêu gọi quốc dân đồng bào mau thức tỉnh dậy mà đòi lấy tự do 3. Sung sướng làm sao, toại chí biết bao những hy vọng tràn trề, đêm 23 là đêm mà chúng ta sẽ phá tan gông-xiềng nô lệ mở ngục kia đặng thả kẻ bị tù đầy. 4. Cái đêm làm sao mà rộn-rực chốn đô thị phiền hà nhộn-nhàn nơi thôn quê làm giác, tựa như gió xuân đưa luồng không khí bổ vào sự sức khỏe lộ ra ngoài gương mặt tươi tắn kẻ nhân tài. 5. Cũng là cái đêm mà chúng ta mong làm cuộc đại-kỷ-niệm truy điệu bao nhiêu tinh thần chiến-sĩ tự bấy lâu còn ghi tên trên đoạn đầu-đài. 6. Cũng là cái đêm toàn thể các bạn thanh niên cùng chị em phụ nữ hy vọng rằng từ đây sẽ khỏi bị những tiếng mỉa-mai đời chị em là đời cành hoa và bộ máy các bạn kia sẽ khỏi người ta ép buộc làm việc nặng nề trong tuổi thiếu niên. 7 Cũng là cái đêm anh em binh lính toàn khắp Đông-Dương mong rằng từ đâysẽ khỏi bị ai ép buộc ra bãi chiến-trườnglàm bia đỡ đạn cho trái phá súng đồng, cha xa con, vợ lìa chồng bỏ quê hương cùng xứ xở. 8. Nhưng mà đáng tức thay, cũng căm giận thay đảng ta lắm đều khuyết điểm, tuổi thơ ngây nên quá chuyện sai lầm, còn nhiễm bao nhiêu thiên-tánh độc hại cực tả, vì bôn chôn mà phải chịu sự thất bại đớn đau… 9. Thời con sâu làm rầu nồi canh, không mấy tay làm sơ thất, nên vạn sự bất-thành làm bao nhiêu dân-tộc cửa nát nhà tan, bắn giết tù đầy hàng trăm ngày nhân tài cùng chiến-sĩ. 10. Đói rách lơ thơ trong đám rừng xanh cỏ rậm lăn lóc trên chiếu đất màn trời, lúc bây giờ dầu chiến sĩ nào trên nét mặt nhượm vẻ tươi cười cũng đều có ẩn bi quan. 11. Thời cuộc đẩy đưa đêm ấy chúng ta cam đành thất bại, lại được tin chủ-trương tân-tiến ráng hợp cùng nhau khán chiến theo bản-trường-kỳ. 12. Nghị quyết thi hành không mẫy bữa, lại đưa tin đồng sửa thế thủ là hay hãy tạm yên lo sắp đặt hàng ngũ cho đàng-hoàn. 13. Bao nhiêu tinh thần của anh em ta đang phấn khởi, thoạt nghe qua lời tuyên-bố phần đông nhau-nhố trong nhìn nhéo mặt với cắn răng. 14. Nhưng mà đã biết một số anh em kia vì lợi quyền nên làm ra dỡ lở, mặc dầu chúng ta khổ sở nhưng mà dưới sự đàn áp dã man của lũ phát-xít Páp kia kìa ai đi nỡ khoanh tay. 15. Mặc dầu cửa nát nhà tan, mặc dầu chúng ta chịu trăm ngàn cay nghiệt, nhưng vẫn giữ chí hy sinh, tinh thần oanh liệt, dầu vào sanh ra tử đồng chung vui không tiếng phàn nàn. 16. Bao lần thống trị phủ dây, khi thì đói cơm khi thì khát nước, song chúng ta nghĩ suy suy trước muốn trọn với một nhiệm vụ lớn lao thì phải trăm lần ngậm đắng với trêu cay. 17. Kẻ đặt bài ca này chẳng phải phiền-trách hay là lạc-quan nhưng mà ta phải bình-tâm phóng nhãn đởm đương ra tự hỏi và đưa vào nơi khuyết điểm phê bình. 18. Bởi vở học hay là tiền đề của thành trì tiến bộ càng học hay cùng kinh nghiệm là sự thắng lợi của xã hội tương lai. 19. Cũng chẳng phải than-phiền cực nhọc hay buồn riêng trằn-trọc đưa ra những ý kiến trụy-lạc tinh thần. 20. Đây là thực tâm bình luận trên đường chánh-trị đậm sâu trong trí-não khi tắt hơi mà đành khoanh tay nhắm mắt còn thở thì còn nêu cao tấm gương kinh-nghiệm cho đến lúc đoạt thành xứ-sở được tự do. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười Một, 2010, 08:55:59 am PHỤ LỤC 14 BÀI 2: VỌNG CỔ 1. Hoàng-cảnh xô đưa mãi tình tao-nhơn đưa đẩy làm cho bước đường từ đây chúng ta không mong gì được vui thú nơi chốn gia-đình cùng quê hương xứ-sở. 2. Này chúng ta ra đi, ôi đau-đớn lắm, nào là bị hoàn-cảnh khó khăn vào đường đi, gây trở nhưng chẳng hề than thở đều chi. 3. Cái cảnh khổ-tâm này, khi thì đói cơm, khi thì khát nước, đêm đi ngày nghỉ, trốn chui trốn nhỉ, nằm bờ với bụi lòn lỏi, tránh cho khỏi kẻo bị quân thù. 4. Vai mang cơm khô, chơn bước lẹ làng, giãi sương trải gió, ba bốn bạn to nhỏ thầm thì, chỉ nhìn nhau vì đường đi không rõ tới đây đường sá biết đi ngõ nào. 5. Một đêm đi cho tới bốn đêm, đêm nào chí những đêm nấy, tình cảnh nầy ai trông thấy cũng phải xót dạ với đau lòng. 6. Đó là cái đem đang đau đớn khổ sở lộ ra ngoài mà chúng ta gom nhóp lại đặng một bài kinh-nghiệm tự bấy lâu còn sơ xót làm sai. 7. Một đêm vẫn đến ba đêm ôi, ba đêm nầy mới tới chỗ mà cúng ta đã quyết định, dòm đi ngó lại, nhà cửa xơ rơ xanh xứ lạ mới biết rằng bước đường tha hương lữ-thữ. 8. Ôi ta thầm lại quá tức thay, quá đau đớn thay, một tay làm sơ thất vạn sự bất thành, làm biết bao gia-đình cửa nát, bao nhiêu nhơn-tài chiến-sĩ phải chịu đói lạnh với lầm than. 9. Đây là thật tâm đưa ra thấy một lần thất-bại mà hàng trăm ngàn điều đau đớn, nhưng mà vẫn giữ chí hy-sinh mặc dù vào sanh ra tử trong cho đến ngày đoạt mục đích thỏa lòng ước-nguyện tự bấy lâu nay. 10. Nơi chốn rừng oan, trông nhìn tứ phía mờ nghe qua tiếng gầm ù-ì, nọ là tiếng ve kêu déo-dắc dường như khêu gọi mà nhắc lại cảnh tượng cha xa con vợ lìa chồng, cách quê hương xứ-sở thổn-thức tấm lòng đây. 11. Thôi tôi suy nghĩ ra đâu ai kia gan sắt hay dạ đồng, thì cũng chẳng có mấy ai bền tâm vững chí hay là vui vẻ trong lúc canh tàn, 12. Nhưng mà mặc dầu trên đường chính-trị gặp hoàn cảnh khó khăn khố đốn thế nào ta cũng ráng cố tâm mà giữ một tinh thần. 13. Có khổ tâm nhiều phen đau đớn, có cực nhọc đủ đều, sau này chúng ta khỏi nhục quê hương xứ-sở mới được đoàn-hoàn cơm áo tự-do. 14. Ngày thất bại nơi chốn Mớp xanh, chính là bạn ốm đã hay tin nhưng vì anh lãnh nhiệm vụ đưa cô phụ-nữ kiếm chỗ ân-tàn, sự bất đắc thành đem cô trả lại, mặc dầu tin-tức bạn cũng chẳng màng, đồng với cô cô nằm nghỉ giữa chốn rừng xanh. 15. Nếu bạn sớm vô đời binh ta ra khỏi nơi nguy hiểm ấy, có dầu thất bại nặng nề hàng ngũ chia phân, đó là bài học để anh kinh-nghiệm ham bữa giỗ lỗ bữa cày, miếng đỉnh-chung thường nhốt chặc anh-hào. 16. Chính là chúng tôi lấy lẽ công-tâm mong các bạn hiểu dùm lời lối còn thấp-thỏi vì đau đớn vì câm hận mới thổ-lộ ra những lời lẽ bơ-thờ mong các bnạ ý kiến giúp dùm trên đường chánh trị đặng thêm cao. 17. Minh-mông trong chốn rừng haong trăng vọi mờ-mờ, vẳng nghe tiếng trống chuông chùa bon bon của hôm nay là ngày rầm mà sao trăng nọ tợ lu trực nhìn thấy bạn ủ châu mày. 18. Đêm nằm suy nghĩ ra lần tay lại đã một tháns ngoài rồi ấy mà ngày chúng tôi nhứt định đây là đúng thời hạng ra về mà trông ngowì tin tức vẫn bặt tin tấm lòng ngồi trông vắn tẻ buồn tanh. 19. Ôi cái buổi chiềm làm sao, nọ tiếng ve kêu tiếng gà cay nghiệt, trên trời gầm mưa gió, lá cây xồn xào chúng tôi đăm nhìn bóng nhựt mây án tờ mờ dường như khêu nhắc trong hoàn cảnh đoạn-trường giữa chốn rừng già. 20. Vậy thì hôm nay chúng ta tìm nơi ty-ẩn để mà nung-đúc tinh thần đặng chờ ngày hy sinh quyết liệt lật đổ quân thù thì cái ngày ấy đặng đầm ấm chốn gia đình, cha gặp con, chồng biết vợ, thì mới tránh khỏi cái cảnh đoạn-trường buổi hạnh phúc tương lại.(1) (1) Hai bài vọng cổ này địch bắt được trong cuộc càn đêm ngày 9 rạng ngày 10-11-1941 ở Rạch Bà Hạt, Xóm Thạnh Hưng làng Thạnh Lợi, quận Thủ Thừa (Tân An), trong căn cứ Mớp Xanh - Bo Bo. Chúng tôi giữ đúng nguyên văn. Hồ sơ: IIA.45/222 (2c). TT.LT2. TP.HCM. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười Một, 2010, 08:58:02 am PHỤ LỤC 15 BÀI 3: BÀI CA KÊU GỌI BINH LÍNH ĐỊCH PHẢN CHIẾN (Theo điệu Vọng cổ) - Một bước chân đi là một bước ngập ngừng, vì không nỡ chia tay với những người thân yêu quá mến. Ra đi tùng chinh ngày hôm nay trước mắt nào là những làn tên mưa đạn, bom nổ miểng văng vi trùng hơi độc, gẫm lại thân mình thì thập tử nhất sinh. - Anh vẫn biết rằng, chí nam nhi phải coi cái chết nhẹ như lông hồng, đâu là cái chết nặng như núi Thái Sơn, để đặt vào phải nơi phải chỗ dầu co chết trăm mạng cũng cam đành. - Em ơi! chớ còn cái chết của anh chị người ta xỏ mũi dắt đi lùa vào lò sát sinh đẫm máu, xô hàng ức triệu nhân dân ra làm bia đỡ đạn cho bọn đế quốc chủ nghĩa ăn không ngồi rồi hưởng lấy lợi quyền. - Một bên là Đức - Ý - Nhật, một bên là Pháp - Mỹ - Anh, chúng nó đều là đầu trâu mặt ngựa đang cùng nhua gây chiến tranh để xẻ đôi thị trường, thuộc địa mà chúng hậm hực tranh giành. - Bọn đế quốc chủ nghĩa gây ra cuộc chiến tranh thế giới lần này xô lùa hàng triệu sinh linh ra bãi chiến trường, xương như núi, máu tựa sông, gây ra biết bao nhiêu cảnh đau thương tang tóc, con xa nhà, vợ lìa chồng. - Không thể nào anh cam chịu làm con vật hy sinh, nguyện quyết tâm chiến đấu, biên chiến tranh thế giới thành nội chiến cách mạng, quay súng bóp cò bắn vào đầu bè lũ hôi tay. Hành động này của anh không sợ cô độc, vì bên anh có hàng muôn vàn anh em binh lính Miên, Lào, dân tộc tâm nhất hô bá ứng với hơn 20 triệu nhân dân Đông Dương, cùng nhau vùng lên phá ách mở xiềng cho dân tiêu tan hết sạch sành sanh bọn đế quốc tham tàn(1). (1) Bài ca này do đồng chí Trần Bá Thọ, trong Ban khởi nghĩa của Mxy Tho, đã nhớ và ghi lại. Theo đồng chí Thọ, đồng chí Nguyễn Trí Luận phụ trách in truyền đơn, báo của Tỉnh ủy Mỹ Tho, đã phổ biến bài Vọng cổ này trong anh em địa phương. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười Một, 2010, 08:59:02 am LỜI CẢM ƠN Tôi xin chân thành cảm ơn SỞ KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ và MÔI TRƯỜNG, TRUNG TÂM KHOA HỌC XÃ HỘI và NHÂN VĂN Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành công trình khoa học này. Tôi xin chân thành cảm ơn đồng chí Thiếu tướng TÔ KÝ và rất nhiều cán bộ lão thành đã tham gia cuộc KHỞI NGHĨA NAM KỲ mà tôi không thể kể hết tên ở đây đã khuyến khích, động viên và góp cho tôi nhiều ý kiến quý báu trong quá trình tôi viết công trình này. Tôi xin chân thành cảm ơn các kho lữu trữ, nhất là Trung tâm Lưu trữ 2 của Trung ương tại thành phố Hồ Chí Minh đã giúp đỡ và tạo thuận lợi cho tôi khai thác, nghiên cứu tất cả những tư liệu liên quan đến đề tài này. Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn các Ban lãnh đạo TỔNG CỤC CAO SU, CÔNG TY THƯƠNG MẠI XUẤT NHẬP KHẨU THÀNH LỄ, CẢNG SÀI GÒN, CÔNG TY ĐIỆN LỰC thành phố Hồ Chí Minh, CÔNG TY VẬN TẢI PHA SÔNG BIỂN 2 tại thành phố Hồ Chí Minh, CÔNG TY LIKSIN đã góp phần giúp đỡ để cuốn NAM KỲ KHỞI NGHĨA ra mắt phục vụ nhân dân. Tác giả Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười Một, 2010, 09:00:47 am TÀI LIỆU THAM KHẢO I.- CÁC KHO LƯU TRỮ 1. KHO LƯU TRỮ Viện Lịch sử đảng thuộc Viện Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác Lê Nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh - Nghị quyết Hội nghị Xứ ủy Nam Kỳ ngày 21,22, 23tháng 9-1940. - Thông báo của Thường vụ Xứ ủy ngày 3 tháng 10 năm 1940. - Thông báo của Ủy bna Thường vụ Xứ ủy Nam Kỳ ngày 10-4-1941. - K.H. C IB/6 Nghiên cứu tình hình binh bị (Tình hình binh bị của Pháp năm 1940 ở Sài Gòn và một số tỉnh mà ta điều tra được, viết thành báo cáo, địch bắt được) - K.H. C IB/7 Trích một số báo cáo của mật thám các ngày 22, 23, 24 tháng 11 năm 1940. - K.H. C IB/70 Bản ghi tay một số sự kiện trong những năm 1940 và 1941 trích trong báo cáo của địch. 59 trang. - K.H. C IB/12 Bản ghi tay khởi nghĩa Long Xuyên. - K.H. C IB/12 Bản ghi tay khởi nghĩa Bến Tre. - K.H. C IB/12 Bản ghi tay khởi nghĩa Bặc Liêu. - K.H. C IB/12 Bản ghi tay khởi nghĩa Cần Thơ. - K.H. C IB/12 Bản ghi tay khởi nghĩa Châu Đốc. - K.H. C IB/12 Tài liệu khởi nghĩa của Trà Vinh, Vĩnh Long. - K.H. C IB/12 Bản ghi tay một số sự việc trong và sau khởi nghĩa. - K.H. C IB/12 Tình hình căng Tà Lài trước khi khởi nghĩa. 2. Kho lưu trữ Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng TP. Hồ Chí Minh - K.H. B40-S/217 Khởi nghĩa Nam Kỳ ở Gia Định. - K.H. B40-k/310 Tường thậut khởi nghĩa ở Hóc Môn. - K.H. B40-S/337 Lược ghi khởi nghĩa ở Sài Gòn - Chợ Lớn. - K.H. B40-K/388 Khởi nghĩa ở Chợ Lớn (Trung huyện) - K.H. B40-S/1400 Biên bản tọa đàm về khởi nghĩa Nam Kỳ do Ban NCLSĐ Thành phố tổ chức có một số tỉnh dự. - K.H. B40-K/343 Khởi nghĩa ở Vĩnh Long - K.H. B41-S Tiểu sử các đồng chí Phan Đăng Lưu, Nguyễn Văn Cừ, Võ Văn Tần, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Thị Minh Khai và một số đồng chí Xứ ủy Nam Kỳ. 3. Bảo tàng Cách mạng Thành phố Hồ Chí Minh - Một số hiện vật còn lưu lại của các địa phương - Một số sơ đồ, bản đồ, ảnh… 4. Trung tâm Lưu trữ Trung ương II tại Thành phố Hồ Chí Minh (viết tắt: TT.LT2. TP.HCM) - K.H. IIA.45/204 (2) Báo cáo chính trị hàng tháng của Thống đốc Nam Kỳ gửi toàn quyền Đông Dương, năm 1940 (12 tháng) - K.H. IIA.45/205 (1) Báo cáo hàng tuần, từng sự việc của Mật thám cho Tổng đốc Nam Kỳ và Toàn quyền Đông Dươngvề tinh thần dân chúng 1939. - K.H. IIA.45/205 (5) Như trên, năm 1940, 1941 - K.H. IIA.45/212 (1) Kết quả xử án của tòa tiểu hình năm 1941-1944 - K.H. IIA.45/216 (7) Tống ra (dégorgement) khỏi căng lao động Bà Rá (1944) - K.H. IIA.45/222 (2b) Thiệt hại cho tư nhân các tỉnh khi có nổi dậy năm 1940-1941. - K.H. IIA.45/222 (2c) Khiếu nại của dân bị thiệt hại các tỉnh khi có cuộc nổi dậy năm 1941. - K.H. IIA.45/222 Tổ chức các cuộc càn quét vùng Đồng Tháp Mười (Mỹ Tho năm 1941. - K.H. IIA.45/222 (2d) Tình hình tù nhân khám lớn Sài Gòn 1941 - K.H. IIA.45/223 (1) Nhà tù các tỉnh Sóc Trăng, Long Xuyên, Bặc Liêu, Hà Tiên, Biên Hòa 1937-1941 - K.H. IIA.45/243 (2) Cấm ấn phẩm, xuất bản phẩn của cộng sản năm 1940. - K.H. IIA.45/243 (4) Quản lý tài sản các tổ chức cộng sản bị giải tán năm 1940. - K.H. IIA.45/243 (7) Thành lập căng đặc biệt lao động ở Phú Quốc (Hà Tiên) và Châu Đốc, năm 1941. - K.H. IIA.45/243 (8) Thành lập căng đặc biệt lao động núi Bà Rá (Biên Hòa) 1940-1941. - K.H. IIA.45/254 (7) Kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười Nga 7-11-1940. - K.H. IIA.45/284 (25) Bản đồ vùng giáp ranh biên giới Thái. - K.H. IIA.45/293 (2) Báo cáo tuần của mật thám về hoạt động của các tổ chức cộng sản năm 1940. - K.H. IIA.45/303 (4) Báo cáo về các cuộc thanh tra ở một số tỉnh nam Kỳ của Thanh tra viên ESQUIVILLON về tình hình chính trị, hành chính 1942. - K.H. IIA.45/306 (1) Đàn áp các hoạt động phá an ninh công cộng và quốc phòng năm 1940. - K.H. IIA.45/322 (1) Khám lớn Sài Gòn. Tình hình người tù. Người tù các nơi đưa về. Đấu tranh trong tù. - K.H. IIA.45/322 (1bis) Khám lớn tiếp. Nhà giam Phú Mỹ. - K.H. IIA.45/326 (1) Điện tín ề các vụ rắc rối tháng 11-1940. - K.H. IIA.45/326 (1/5) Biến cố tháng 11 năm 1940 ở Đức Hòa. - K.H. IIA.45/326 (5) Tù lao động vượt ngục khỏi các trại đặc biệt lao động các tỉnh 1940-1941. - K.H. IIA.45/192 (8) Căng lao động Bặc Liêu, Rạch Giá 1941-1945. - K.H. IIA.45/192 (10) Căng đặc biệt lao động Tân An, Tây Ninh, 1943. - K.H. IIA.45/192 (1) Tù chết ở căng lao động Bà Rá. - K.H. IIA.45/321 (6) Chuyển tử tù Bà Rá đi Côn Đảo. - K.H. IIA.45/321 (8) Kỷ iệm Cách mạng Pháp 14 tháng 7-1940 ở Gia Định. - K.H. IIA.45/234 (4) Báo cáo chính trị của Thống đốc Nam Kỳ năm 1942, 1943 (Khôngđầy đủ) - K.H G8.g80/62 Tình hình người tù 1940, 1941, 1942. - K.H G8.g80/46 Người tù Khám Lớn, Côn Đảo. - K.H G8.g80/16 Tình hình chính trị phạm 6 tháng 1942-1943. - K.H. IIA.45/212 (4) Tù nhân người bản xứ bị quản thuc 1943. - K.H NV.2051 Thống đốc NK: Rapport sur la situation de la Cochichine de Mai 1940 à Avril 1941. Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười Một, 2010, 09:03:23 am II. - BÁO TẠI THƯ VIỆN QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- DÂN HIỆP Tuần báo Từ tháng 9-1939 đến tháng 6-1942 - TRUNG BẮC CHỦ NHẬT Tuần báo Các năm 1940-1941 - NAM TRIÊU QUỐC NGỮ CÔNG BÁO Các năm 1940-1941 - CHỦ NHẬT Tuần báo chính trị xã hội Từ số 1 19-5-1940 đến số 61 27-7-1941 - DÂN CHÚNG Số 1 (21-10-1939) đến số 18 (25-2-1941) - NAM KỲ ĐỊA PHẬN Tuần báo Đọc các năm 1940-1941 - DÂN BÁO Nhật báo Số 320 (1-7-1940) đến số 469 (31-12-1940 Số 657 (1-9-1941) đến số 1052 (31-12-1942) III. - BÁO XUẤT BẢN Ở MIỀN BẮC VÀ THÀNH PHỐ SAU 1975 - Khởi nghĩa ở Vũng Liêm, Vĩnh Long Đồng chí Võ Văn Kiệt kể báo Nhân Dân ngày 23-11-1980. - Kính cẩn cúi chào các chiến sĩ tự do trong tổng khởi nghĩa Nam Kỳ. Thư của Đảng cộng sản Pháp gửi Đảng cộng sản Đông Dương tháng 12-1940. Báo Nhân Dân ngày 23-11-1980. - Nhìn lại toàn bộ cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ. Bài của Trần Giang. Báo Nhân dân ra ngày 23-11-1980. - Nhớ lại cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ. Đồng chí Ngô Thị Huệ kể Phước Sanh ghi. Báo Sài Gòn Giải Phóng 23-11-1989. - Sài Gòn khởi nghĩa. Báo Sài Gòn Giải Phóng ra ngày 23 tháng 11 năm 1977. - Khởi nghĩa Nam Kỳ Báo Sài Gòn Giải Phóng 20-11-1985. IV. - TẠP CHÍ KHOA HỌC - TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ của Viện Sử học. Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, Thông báo một số tài liệu mới tìm thấy. Bài của Trần Giang trong số 5 (188) tháng 9 và 10 năm 1977. - TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI của Viện Khoa học Xã hội thành phố Hồ Chí Minh: Đọc sách: Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ (1940) do BNCLSĐ T.P. xuất bản. Bài của Trần Giang đăng trong số 8 ra tháng 11-1991. (Tạp chí Lịch sử Đảng có đăng bài này). Tiêu đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940 Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười Một, 2010, 09:04:50 am V. - CÁC SÁCH THAM KHẢO
- Ban NCLSĐ. Trung ương: Văn kiện Đảng 1939-1945. NXB. Sự Thật, Hà Nội 1963. - Ban NCLSĐ. Trung ương: Cách mạng Tháng Tám 1945 NXB. Sự Thật 1970 - Ban NCLSĐ. Trung ương: Những sự kiện lịch sử Đảng tập I (1920-1945) NXB Sự Thật Hà Nội 1976. - Ủy ban K.H. Xã hội Việt Nam: Lịch sử Việt Nam tập 2 NXB. KHXH Hà Nội 1985. - Giáo sư Trần Văn Giàu: Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ 19 đến Cách mạng Tháng Tám. Tập III: Thành công của Chủ nghĩa Mác Lênin- Tư tưởng Hồ Chí Minh. NXB. TP.HCM 1993. - Ban NCLSĐ. Thành phố: Khởi nghĩa Nam Kỳ (1940) NXB. TP.HCM, 1990. - Tổ Sử Phụ nữ Việt Nam: Phụ nữ Nam Bộ thành đồng Xuât bản tháng 4 năm 1989. - Tổ Sử Phụ nữ Việt Nam:: Những ngày tù ngục do Hàn Sông Thanh viết. Xuất bản năm 1995. - Ban C.H.L.Đ. Lao động Thành phố Hồ Chí Minh: Công nhân Sài Gòn - Chợ Lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. NXB La động Hà Nội 1993. - Ban NCLSĐ. Tiền Giang: Lịch sử Đảng Tiền Giang Tập 1 (Sơ thảo) 1927-1954. Xuất bản 1985. - Ban NCLSĐ. Tiền Giang: Tiền Giang trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ do Trần Giang viết. Xuất bản 1985. - Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Vĩnh Long: Khởi nghĩa Nam Kỳ ơ Vĩnh Long. Xuất bản 1995. - Ban NCLSĐ. Kiên Giang: Lịch sử Đảng bộ Kiên Giang 1930-1954 xuất bản 1985. - Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Minh Hải: Lịch sử Đảng bộ Minh Hải 1930-1975 xuất bản 1995. - Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Minh Hải: Hòn Khoai - Điểm sáng đất mũi Cà Mau. Xuất bản 1990. - Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Sóc Trăng: Lịch sử Đảng bộ Sóc Trăng tập 1 (1930-1954). Xuât bản 1994. - Ban CH Đảng bộ Cầu Ngang: Mỹ Long trang sử anh hùng. Xuất bản 1992. - Ban CH Đảng bộ xã Bình Phú: Bình Phú (Càng Long - Trà Vinh) anh hùng. Xuất bản 1990. - Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Sóc Trăng: Từ hạt giống đỏ (Về một số nhân vật lịch sử). Xuất bản 1995. - Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Cần Thơ: Những viên ngọc quý (Về một số nhân vật lịch sử).. Xuất bản: 1995. - Ban Thường vụ Tỉnh ủy Long An: Chợ Lớn - Tân An trong Nam Kỳ khởi nghĩa. XB. 1995. - Đề cương SÀI GÒN - CHỢ LỚN trong khởi nghĩa Nam Kỳ do Nguyễn Như Hạnh viết (76 trang đánh máy) 1986). Lưu hồ sơ của Giáo sư Trần Văn Giàu. VI. - SÁCH THAM KHẢO DO NƯỚC NGOÀI VIẾT - J. DECOUX: À la barre de l’Indochine Plon - Paris 1949 - G.CATROUX : Deux actes du drame indochinoise Plon - Paris 1969 - Ph. DEVILLIERS: Histoire du Việt Nam 1940-1952. Seuil - Paris 1952. - Ph. DEVILLIERS: Paris - Saigon - Hanoi Gallimard - Juliard Paris 1988 - PATRICE MORLAT : La répression coloniale au Việt Nam (1908-1940) L’Harmattan - Paris 1990. - STEINTONNESSON : The Vietnamese Revolution 1945. Rosevelt Hochiminh aen de Gaulle in world at war. PRIO: international Place Research Institue: Oslo. SAGE Publications London - Neubury Park-Neu Delhi 1991. - ARCHIMEDES L.A. PATTI: WHY VIETNAM? Barkley CA Univ. California Press, 1980. (Bản dịch của Nhà xuất bản Đà Nẵng 1995) - DAVID G. MARR: Vietnam 1945. THE QUEST FOR POWER Uninersity of California Press Berkeley Los Angeles London 1995 |