Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Văn học chiến tranh => Tác giả chủ đề:: hoanhe trong 10 Tháng Mười Hai, 2010, 03:52:54 pm



Tiêu đề: Những bức tường lửa
Gửi bởi: hoanhe trong 10 Tháng Mười Hai, 2010, 03:52:54 pm
Nguồn Thuvien-ebook.com
Đã gần tới tiết lập đông rồi mà sao khí trời oi bức lạ thường. Vào cái năm đầu tiên của thiên niên kỉ mới này trời đất dường như cũng đã trái tính trái nết đi nhiều lắm. Người ta nói rằng trong những năm tới trái đất sẽ nóng dần lên và băng ở hai cực của trái đất thì đang tan, tầng ôzôn thủng lỗ chỗ như một cái váy đụp... Cơn bão số 9 vừa tràn qua miền Trung làm chết gần hai chục con người và gây ra không biết bao nhiêu thiệt hại về cơ sở vật chất. Các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long cũng đang ngập trắng trong nước. Ấy vậy mà trong bản tin thời sự buổi tối, người ta lại đưa tin ở đâu đó trên thế giới đang có hạn hán kéo dài, đất đai bị sa mạc hoá, gia súc chết la liệt trong bão cát.

Thiên nhiên đã lên tiếng.

Và chiến tranh thì vẫn hiện diện như thể nó chưa bao giờ chấm dứt.

Hôm nay, người ta loan tin rằng đêm qua, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đã tấn công vào Apganixtang, mở đầu một chiến dịch quân sự mang một cái tên mĩ miều là “Công lý vô tận”. Người Mỹ đã biện minh rằng họ cần phải có một cuộc chiến tranh để tiêu diệt bọn khủng bố, trả thù cho vụ tấn công bằng máy bay vào Trung tâm thương mại quốc tế, quan trọng hơn là “lòng tự tôn của người Mỹ” đã bị tổn thương. Và để làm việc đó họ đã lôi được một nửa thế giới vào cuộc chinh phạt này. Nước nào cũng có những lí do cao cả để đầu quân dưới lá cờ vì một thế giới không có khủng bố. Và nhất thiết là không thể có bọn khủng bố dám tấn công vào những đất nước văn minh bằng những hình thức kém văn minh là đánh bom cảm tử.

Một thời đại văn minh thì giết người cũng phải thật văn ninh.

Giáo sư Trương Đình Lân bỗng bật cười một mình khi trong đầu ông bật ra cái ý nghĩ kì khôi ấy. Phải, văn minh thật, nếu không thì làm sao mà hiểu được cái hành động kì khôi của không lực Hoa Kỳ là vừa ném những loại bom thông minh có thể huỷ diệt mọi sinh vật trên mặt đất lại vừa ném xuống hàng vạn những “suất ăn” để cứu đói cho những kẻ may mắn thoát chết bởi bom đạn. Người Mỹ khoe rằng, chỉ riêng loại vũ khí ẩm thực này họ đã chi tới hơn ba tỷ đô la rồi!

Cái món salat trong thực đơn của một cuộc chiến tranh văn linh kể cũng đắt quá chừng!

Ông Lân lại bật cười vì chộp được một ý tưởng kì khôi mới. Đó sẽ là chủ đề bài tản văn mà đêm nay ông sẽ viết cho một tờ báo mà ông yêu quí. Viết về bom đạn và sức mạnh huỷ diệt của nó thì đã quá nhàm rồi. Hãy viết về những đứa trẻ đạo Hồi vừa sống sót, chui ra từ những ngôi nhà đổ nát ở ngoại ô Kabun bỗng ngơ ngác khi nhặt được những gói đồ ăn có in những lời âu yếm của người Mỹ, nhưng khi mở ra, chúng mới hiểu rằng đấy không phải là những món ăn dành cho chúng. Vì mặc dù đói, chúng cũng không thể ăn được những thức ăn theo thực đơn văn minh của người Mỹ.

Mải theo đuổi những ý nghĩ kì cục trên đây, giáo sư kiêm nhà văn Trương Đình Lân không còn chú ý tới những gì người ta đang thông báo trên màn hình. Cho đến khi ông chợt nghe tiếng vợ ông thốt lên “Ôi trời bác Phong chết rồi kìa”, ông mới giật mình sực tỉnh:

- Mình nói gì? Ai chết thế?

Vợ ông chỉ lên màn hình vô tuyến:

- Bác Phong, tướng Hùng Phong, bạn học cũ của ông ấy. Người ta đang thông báo cáo phó kia kìa.

Ông Lân gần như chồm về phía trước để nhìn và nghe cho rõ bản cáo phó của Đảng ủy quân sự Trung ương và bộ quốc phòng về sự ra đi đột ngột của Thiếu tướng Phạm Xuân Ban, tức Hùng Phong, anh hùng quân đội, nguyên ủy viên trung ương Đảng, nguyên đại biểu quốc hội, nguyên tư lệnh quân đoàn, tư lệnh mặt trận và..., rất nhiều cái nguyên nữa rồi đến cái chức mà ông đương tại nhiệm là Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu X đã từ trần hồi... ngày... giờ... Tại bệnh viện Trung ương Quân đội sau một cơn bệnh hiểm nghèo.

Sau bản cáo phó là danh sách ban lễ tang bao gồm hầu hết những vị tướng lĩnh chủ chốt của quân đội và những vị chức sắc lớn của nhiều cơ quan Đảng, Nhà nước. Và, sau cái danh sách lẫy lừng ấy dĩ nhiên là tiểu sử của vị tướng vừa ra đi. Ông Lân không đủ kiên nhẫn đề nghe cho hết cái tiểu sử của một con người mà chắc chắn là ông còn biết nhiều hơn tất cả các cơ quan tổ chức cộng với sự hiểu biết hời hợt của người soạn thảo văn bản này. - Tôi đi gọi điện thoại... Mình theo dõi xem lễ viếng và lễ tang được tổ chức vào hôm nào nhé?


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 10 Tháng Mười Hai, 2010, 03:58:15 pm
Ông khó nhọc leo từng bậc thang lên tầng hai, dưới nhà cũng có máy điện thoại, nhưng ông muốn được yên tĩnh để trò chuyện với một vài người bạn thân về sự ra đi của Phạm Xuân Ban, tức là tướng Hùng Phong, một con người mà ông rất nể phục nhưng cũng từng có lúc căm ghét. Nhưng, sau tất cả mọi điều, con người ấy vẫn là một hình tượng tiêu biểu cho thế hệ của ông, một thế hệ được chế độ xã hội chủ nghĩa nuôi dưỡng và rèn luyện để chuẩn bị cho những giai đoạn quyết liệt nhất của cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước của dân tộc.

Ba tháng trước, vào một buổi sáng chủ nhật khi ông đang lúi húi chăm mấy cái cây trong vuông sân nhỏ trước nhà thì có tiếng chuông gọi cổng. Ông ra mở cổng và ngạc nhiên khi thấy ông Phong đứng ngay trước mặt mình. Khác với mọi lần hôm nay ông Phong không mặc quân phục với đôi quân hàm cấp tướng có cành tùng và những ngôi sao mạ vàng mà ăn vận như một công chức hạng xoàng với chiếc áo vét cũ màu xanh xám và chiếc quần màu lông chuột. Gương mặt ông không còn toát lên vẻ quyền uy mà chứa đựng một vẻ mệt mỏi u sầu khiến ông Lân cũng phải chột dạ.

- Có chuyện gì xảy ra với bà ấy, phải không ông?

Ong sốt ruột hỏi khi khách chưa kịp vào đến hiên nhà - Bà ấy chẳng sao cả. Thậm chí sáng nay vẫn son phấn loè loẹt để đi dự đồng diễn môn Thái cực quyền trong buổi khai mạc đại hội thể thao của quận.

Ông Lân thở phào nhẹ nhõm:

- Thế mà nhìn bộ dạng ông, tôi cứ tưởng nhà có chuyện gì rồi chứ!

- Thì có họa đến nơi rồi chứ sao? - Ông Phong vừa ngồi phịch xuống chiếc ghế salon vừa buông một câu như vậy.

- Thằng Thắng lại quậy rồi, hả?

- Sáng nay tôi vừa quyết định cho nó vào trại cai nghiện đấy. Giao nó cho trại xong là tôi về thẳng đây.

- Cai nghiện à? Thế ra thằng bé nó...

- Nghiện nặng lắm rồi. Tại mẹ nuông con quá đấy mà. - Ông Phong bắt đầu dốc bầu tâm sự - Số tôi đến khổ vì vợ con thôi, ông ạ... Vì mẹ con nhà nó mà tôi phải xin rời quân khu mà về cái viện dớ dẩn này...

Những tưởng con chị đã chả ra gì thì phải về gần nhà để mà cứu lấy thằng em nó. Ai ngờ... - Ba năm thi đại học mà không đậu... Mà đậu làm sao được khi mỗi môn chỉ được có một hai điểm. Bảo cho con đi học nghề thì bà ấy giãy nảy lên. Rằng thì là ai đời bố làm tướng mà lại chịu để con đi làm thằng cu li cu leo hay sao? Rồi lại mấy lần tôi bảo bà ấy để tôi đưa nó vào quân đội rèn rũa, nhưng bà ấy có nghe tôi đâu? Lại còn cứ khăng khăng định chạy chọt cho con đi xuất khẩu lao động. Ông bảo, lười nhác như nó thì thằng tư bản nào nó chịu mướn mà đi xuất khẩu lao động? Có mà rồi lại trở thành những thằng ất ơ ở xứ người chứ nên cơm cháo gì? Thì bài học của con chị nó còn sờ sờ ra đó.

Cuối cùng thì cũng đến làm vợ thứ ba thứ bốn gì đó cho một thằng Đài Loan... Thế mà lại còn không biết dơ, suốt ngày khoe có con gái lấy chồng tư bản ngoại quốc. Chẳng lẽ có một thằng con trai rồi cũng đi làm tôi mọi cho người ta hay sao? Vì thế tôi nhất định không cho nó đi xuất khẩu lao động. Thế là mẹ con nhà bà ấy làm đủ trò để hành tôi. Rồi mặc cho thằng bé ăn chơi đú đởn với đám bạn bè bất hảo của nó... Năm ngoái ba lần bị công an bắt vì đua xe trái phép... Tịch thu cái này thì mẹ lại mua cho xe khác... Đến khi con nghiện nặng rồi, nhắc bà ấy cũng chỉ ư hữ cho qua chuyện. Lại còn nói, ở phố này con cái người ta cũng nghiện ngập đầy ra kia kìa... Bảo cho nó đi tập trung cai nghiện bà ấy nhất định không chịu.

- Nhưng cuối cùng thì bà ấy cũng chịu rồi chứ gì?

Ông Lân hỏi lại:

- Có chịu đâu... Hôm nay, nhân bà ấy đi đồng diễn thể thao, tôi phải quyết định gọi mấy cậu công an phường vào cưỡng chế để đưa nó đi đấy. Tôi chưa biết khi về thấy con đi rồi, bà ấy sẽ hành tôi như thế nào đây? - Ông ôm lấy đầu rên lên - Phải để cho người ta gô con mình lại lôi lên xe, tôi cũng xót lắm chứ... Nhưng, không cho cháu đi cai nghiện thì nó cũng đến chết mất thôi ông ạ. Trong nhà có thứ gì đáng giá là nó lần lượt… đem đi bán. Của, tôi không tiếc, nhưng cứ phải ngồi trơ mắt ra mà nhìn thằng con trai mình tàn tạ dần, tôi không chịu nổi nữa.


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 10 Tháng Mười Hai, 2010, 04:00:58 pm
Giáo sư Lân cẩn thận chuyên một ấm chè mới. Đây là thứ chè tuyết, cậu học trò của ông mang từ trên Hà Giang về biếu ông. Vào cái thời buổi mà các loại thuốc sâu, thuốc diệt chuột, thuốc tăng trưởng được dùng một cách hào phóng như hiện nay thì ngay cả thứ chè tuyết hái từ những cây chè cổ thụ trên núi cao cũng không hoàn toàn đáng tin cậy nữa. Vì vậy, ông vẫn cứ phải chiêu đi một nước cho an toàn. Mấy tháng trước, một bạn văn của ông, nhà trào phú Phan Hữu Tiệp, chẳng tý nữa thì đi Văn Điển chỉ vì uống phải thứ trà có thuốc sâu là gì? Thoát hiểm, nhà trào phúng bèn cho đăng một bài thơ châm biếm, tự trách mình là thứ phàm phu tục tử nên uống phải thuốc độc mà cũng không biết. Tưởng chỉ là viết mấy câu tự trào cho vui đời thôi ai dè mấy ngày sau nhà thơ nhận được trát gọi ra hầu toà. Công ty chè Nhã Du kiện ông vì tội làm mất uy tín thương hiệu của họ. Tại toà nhà trào phúng đuối lí vì không thể chứng minh được nguyên nhân ngài bị ngộ độc là do chè Nhã Du hay do thứ nước dùng để pha chè bị nhiễm độc, cũng có thể do bộ đồ trà đời Thanh mà nhà thơ dùng bấy lâu nay phát độc thì sao nào? Toà sử phần thắng cho nhà chè Nhã Du. Cũng may mà nhà trào phúng không bị bên nguyên đòi bồi thường, có lẽ là do cái tên tuổi nhà thơ cũng đáng nể trọng hơn tiền bạc, mà chỉ bị buộc phải viết một bài cải chính. Nhà trào phúng là người có ý thức về pháp luật nên lập tức thi hành bản án. Mấy ngày sau, trên tờ báo kể trên lại xuất hiện bài thơ Thua kiện:

Nhã Du nhất ấm trà
Trúng độc lăn quay tại tư gia
Phàm phu tục tủ nên ngộ nạn
Không tại Nhã Du thì tại ta!

Bài thơ cải chính đã nói rõ ràng nguyên nhân ngộ nạn là tại nhà thơ. Nhưng không ngờ bài cải chính lại là đòn bồi thêm vào uy tín thương hiệu của nhà sản xuất.

Chè Nhã Du liên tục bị mất thêm thị phần và nghe đâu gần đây họ đã buộc phải đổi nhãn hiệu mới.

Vừa pha trà, giáo sư Lân vừa kể cho ông bạn của mình nghe câu chuyện trên với mục đích làm cho ông ta khuây khoả đôi chút. Nhưng xem chừng không có mấy hiệu quả. Gương mặt của vị tướng vẫn ủ dột, u ám đến nao lòng. Là người đã biết quá rõ sự cứng rắn lạnh lùng của vị tướng, nên giáo sư cũng bắt đầu cảm thấy lo ngại.

- Nhưng... anh đâu chỉ có hai đứa con ấy... Thằng Bảo, con của bà Thanh cũng khá lắm... Nó đã là tiến sỹ.

Mà tiến sỹ Tây học hẳn hoi kia đấy.

Ông Hùng Phong thở dài:

- Nhưng... liệu mẹ con cô ấy có tha thứ cho tôi không?

- Sao lại không? Nếu không tha thứ cho ông thì mỗi khi về nước, mẹ con bà ấy còn đến thăm bạn bè của ông làm gì? Lần nào tới thăm tôi, bà ấy cũng hỏi thăm ông và còn lo lắng cho ông nữa. Còn nhớ cái năm bà ấy về làm đám tang cho ông cụ thì cũng là năm ông được bầu vào trung ương. Bỗng dưng có một lá đơn kiện Trung ương phủ nhận chuyện đó để thanh minh cho ông... Nhưng tôi đã khuyên bà ấy đừng nên làm cho câu chuyện phình to ra làm gì nữa...

Ông Hùng Phong lại thở dài:

- Điều tệ hại nhất là khi tổ chức kiểm tra việc ấy tôi cũng đã không dám nhận là có chuyện ấy. Thế là thêm một lần nữa tôi từ chối mẹ con cô ấy. Và, còn mang tội che dấu cả tổ chức nữa. Nhưng tệ hại hơn, tôi còn ngờ ông là người đứng sau khuấy vụ này lên nữa kia. Chả là ông vẫn còn ghen với tôi mà!

- Tôi biết - Giáo sư Lân cười nhạt - Vì thế nên mấy lần hội lớp 10B và họp hội đồng ngũ gặp tôi mà ông cũng chẳng thèm nói chuyện. Nhưng, tôi cũng chẳng giận ông làm gì. Chẳng qua, ông cũng chỉ là một thằng đàn ông ích kỉ như nhiều thằng đàn ông khác mà thôi!

Viên tướng mỉm cười chua chát - Nhưng... ông cũng phải thừa nhận rằng ngày xưa tôi cũng thầm yêu cô ấy đấy chứ. Thầm yêu thôi, chứ tôi nào dám tin có một ngày nào đó cô ấy lại... dễ dàng ngả vào lòng tôi đến thế. Vì được cô ấy một cách quá dễ dàng, tôi lại đâm ra ngờ vực... Tôi chưa bao giờ dám tin Thanh lại yêu tôi như tôi vẫn tin chắc vào tình yêu ở một người con gái khác...



Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 10 Tháng Mười Hai, 2010, 04:04:56 pm
Ông Lân ngẩng lên hỏi:

- Ông muốn nói đến Đào ấy à?

Vị tướng gật đầu:

- Đúng vậy... Người tôi cảm thấy mắc nợ nhiều nhất là Đào... mặc dầu Đào không có con với tôi và cuối cùng cũng lấy được Côn, một người đàn ông tử tế. Còn đối với Thanh thì... Giáo sư Lân bắt đầu nóng mắt gắt:

- Thôi đi anh đã làm hỏng cả cuộc đời của người ta mà lại còn nói năng vô trách nhiệm đến thế sao?

Vị tướng nhếch mép cười khiêu khích:

- Sao mà ông ghen hộ cô ấy lâu đến thế? Phải rồi, hình như ông vẫn còn cay cú vì chuyện tôi đã cuỗm mất tấm ảnh cô ấy tặng cho ông ngày bọn mình nhập ngũ, phải không? Ai bảo ông cứ yêu đương nửa vời như vậy hả? Giá như ông dám nói với tôi rằng ông yêu Thanh thì tôi cũng chẳng nõ... Đằng này... Mà cô nàng cũng đến lạ. Kiêu kì bắc bậc thế mà cuối cùng... sao mà dễ bị cái thứ hào quang vay mượn của những người anh hùng chiến trận nó làm cho mờ mắt đến thế? Ông không tin thì cứ hỏi cô ấy xem, ngày ấy tôi đâu có lừa gạt cô ấy. Tôi đã nói rằng tôi đã hứa hôn với Hoan, con gái một vị thủ trưởng lớn trong quân đội rồi, ngay cả chuyện tôi phụ bạc Đào ra mặt, cô ấy cũng biết, vậy mà cô ấy vẫn cứ đòi được tôi yêu “Dù không được làm vợ anh nhưng được anh yêu em cũng mãn nguyện lắm rồi”. Nàng nói với tôi thế đấy. Chắc là ông không tin đâu nhỉ?
Ông Lân phản kháng một cách yếu ớt:

- Nhưng... nếu là người quân tử thì ông phải tìm mọi cách mà từ chối chứ?

Tướng Hùng Phong cười vang:

Nhưng... tôi đâu phải là người quân tử? Tôi cũng... chỉ là một thằng con trai nhà quê tầm thường thôi. Nhưng hồi đó tôi... đã đủ khôn ngoan để vừa làm một người anh hùng, một thần tượng của đám thanh niên ở hậu phương vừa làm một thằng đàn ông, tôi đã không từ chối tình yêu mãnh liệt của Thanh cũng như không thể từ chối những vòng hoa mà người ta cứ khoác lên cổ mình sau mỗi buổi đăng đàn kể chuyện chiến đấu ấy!

Ông Lân không thể ghìm lòng được nữa nên buột ra một câu khiếm nhã:

- Khốn nạn!

Tướng Hùng Phong vẫn bướng bỉnh cãi:

- Ông chửi tôi thì mặc ông, nhưng tôi không cho việc ấy là một điều tệ hại. Cái điều mà ông vừa gọi là “Khốn nạn” phải dùng để chỉ hành vi khác của tôi kia.

Đó là việc tôi kết hôn với bà Hoan. Bây giờ thì tôi đã đủ can đảm để nói thật với ông rằng ngày ấy tôi nhận lời mai mối để lấy bà Hoan là vì... có chút choáng ngợp trước oai phong của ông bố vợ tương lai. Nói cho phải đạo, ông cụ cũng không hứa hẹn gì với tôi, nhưng lúc đó tôi cảm thấy thật hãnh diện nếu trở thành con rể của một vị tướng. Và tôi đã bị ma đưa lối quỉ dẫn đường mà đi cưới cái của nợ ấy về làm vợ. Rõ ràng là một cuộc hôn nhân vụ lợi chứ chẳng đẹp đẽ gì. Vậy mà ngược đời, nó lại được mọi người hoan nghênh, ta ngợi, chúc tụng. Hồi đó các ông còn ở trong chiến trường không biết chứ, đám cưới của tôi và bà Hoan được coi là một đám cưới danh giá nhất Hà Nội đấy.



Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 10 Tháng Mười Hai, 2010, 04:05:56 pm
Nhiều vị lãnh đạo Đảng, chính phủ cũng đến dự kia, các tướng lĩnh trong quân đội thì nhiều vô khối... Báo chí cũng tới chụp hình đưa tin nữa. Hồi đó tôi cũng tự hào lắm, tôi đã tự nói với mình - Đồng chí Hùng Phong ơi, đồng chí khá lắm! Từ nay đồng chí đã trở thành một nhân vật đáng kính trọng rồi. Con đường thăng tiến của đồng chí đã mở ra thênh thang. Nếu bây giờ đồng chí không thích ra trận nữa thì cũng không thành vấn đề gì? Đồng chí sẽ dễ dàng có được một vị trí trong những cơ quan khổng lồ của quân đội ở hậu phương. Vợ đồng chí và thậm chí cả bố vợ đồng chí cũng muốn như thế. Có điều ông nhạc đáng kính không tiện nói thẳng ra mà lại cứ gợi ý loanh quanh khiến đồng chí Hùng Phong bực mình khảng khái nói luôn - Con sẽ ra trận, sẽ tự mình phấn đấu nên người ở tiền tuyến chứ không thể để mình mục ra ở hậu phương sớm thế đâu?

Dĩ nhiên là ông nhạc của tôi đã làm những gì có thể làm để con đường đi lên của tôi đỡ chông gai hơn một chút. Nhưng tôi cũng không lợi dụng cái lợi thế đó một cách quá đáng. Tôi nghĩ, mình sẽ phải làm tướng như ông ấy, nhưng là tướng cầm quân ngoài mặt trận hẳn hoi kia. Vì thế mà tôi đã trở lại đơn vị tiếp tục đi cho hết con đường chiến trận của mình. Và cuối cùng- Vị tướng cười ha hả - Tôi cũng trở thành một vị tướng hẳn hoi. Mà tướng ra tướng, chứ chẳng phải chuyện chơi.

Tôi đã đánh tan được những tiếng ì xèo khi mới cưới vợ rằng thì tôi tiến bộ nhanh thế là nhờ có cái ô của ông nhạc. Mặc dù, lúc đầu, tôi có tính toán thế thật!

Giáo sư Lân bỗng hết giận trước những lời bộc bạch chân thành của vị tướng:

- Quãng đời có ý nghĩa nhất của tôi đã trôi qua từ lâu rồi. Ngoảnh lại, tôi lại thấy mình trắng tay, ông ạ. Mọi thứ đang tuột dần khỏi bàn tay tôi. Gia đình, vợ con, quyền lực và danh vọng... tất cả đang trôi qua kẽ bàn tay tôi như những hạt cát vậy... Rốt cuộc thì tôi sẽ còn lại cái gì? Tôi là cái gì, là ai trong cuộc đời này vậy?

Giáo sư Lân bật cười:

- Thôi đi ông bạn... Tôi thật ngạc nhiên khi được nghe những lời tiêu cực, yếm thế đến như vậy từ miệng một người như ông đấy. Ông từng là nhiều thứ rồi...

Thậm chí, ông đã trở thành anh hùng quân đội rồi kia mà. Ai nói thế nào tôi không biết, chứ trong con mắt tôi anh quả xứng đáng là một người anh hùng trong chiến trận... Nhưng giữa một người hùng trong những trận đánh tới cái mà người ta gọi là một trang anh hùng giữa cuộc đời lại là một khoảng cách rất xa. Nhiều người vẫn còn lẫn lộn giữa một người được trao tặng danh hiệu anh hùng với một trang anh hùng... Anh chưa phải là một trang anh hùng, một đấng nam nhi đáng mặt, nhưng anh đâu phải là con người kém cỏi gì mà vội bi quan thế?

- Cám ơn những lời động viên chân thành của anh... Giá như những lời ấy lọt vào tai tôi mấy năm trước thì có lẽ tôi đã không thể chấp nhận được. Nhưng năm tháng và sự thăng trầm, được mất ở đời đã giúp tôi hiểu ra nhiều điều. Nhiều lúc, tôi cảm thấy mình quả không đáng mặt là một nam nhi nữa, chứ đừng nói gì đến một trang anh hùng như anh nói.
Giáo sư Lân cũng không ngạc nhiên khi nghe những lời gan ruột này của vị tướng. Ngược lại ông cảm thấy mừng vì cuối cùng thì ông cũng tìm lại được người bạn thẳng thắn, trung thực thuở học trò.

- Có lẽ... Tôi cũng nên viết đơn xin về hưu thôi ông ạ - Tướng Hùng Phong thở dài - Thật chẳng có nghĩa lí gì khi mình vẫn cứ khoác bộ quân phục cấp tướng, ngồi ở một cơ quan nghiên cứu đáng kính trọng đến thế mà chẳng có cống hiến gì cho khoa học quân sự. Tôi là một ông tướng của trận mạc, tướng cầm quân chứ đâu phải là một nhà khoa học? Lâu nay, tôi luôn có cảm tưởng là mình đang ngồi nhầm ghế của người khác.

Giáo sư Lân mỉm cười - Thì ngay từ khi ông xin về viện tôi đã nói rồi cơ mà... Tôi cũng biết tạng ông không hợp với cái bàn giấy.

Vị tướng nói như người mộng du:
- Lúc đó... cũng là vì hoàn cảnh thôi... Tôi muốn được về Hà Nội công tác để mong cứu vãn cái gia đình mà tôi cũng đã nhìn thấy rằng nó đang dần dần sụp đổ. Vợ hư, con hỏng cũng có phần lỗi tại tôi... Đáng lẽ ngay từ sau khi rời mặt trận trở về tôi đã phải giành nhiều thời gian hơn cho gia đình mình... Nhưng tôi lại mải mê theo đuổi những chuyện đâu đâu, phó mặc việc nuôi dạy hai đứa con cho một người đàn bà phù phiếm.

Vị tướng chợt dừng lại giữa chừng rồi bỗng cất tiếng cười khô khốc

- Hừ... Tiên trách kỉ hậu trách nhân... Không chừng, tôi còn phù phiếm hơn cả bà ấy nhà tôi cũng nên.

Giáo sư lựa lời an ủi:

- Cũng không hẳn là thế... Thực ra thì nước mình cũng mới chỉ được yên hàn từ năm 1990 đến nay thôi. Ông là tướng cầm quân, có muốn dành nhiều thời gian cho gia đình cũng chả được.


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 10 Tháng Mười Hai, 2010, 04:06:52 pm
Vị tướng cười nhạt:

- Cám ơn ông đã có những ý nghĩ tốt về tôi. Nhưng mỗi người đều phải tự chịu trách nhiệm về số phận mình, về sự an nguy của gia đình mình chứ không nên đổ lỗi cho hoàn cảnh.

Rồi ông đứng dậy, ngước nhìn căn phòng đầy sách của giáo sư rồi hỏi một câu tưởng như chẳng ăn nhập tới những điều đang dày vò ông

- Dạo này ông không viết tiểu thuyết nữa à?

Ông Lân ngạc nhiên hỏi:

- Vậy ra... ông cững có đọc những gì tôi viết ra à?

- Có... Chỉ trừ những công trình nghiên cứu văn hoá, văn học, hay xã hội học thì tôi không đọc nổi... vì nó toàn những điều ở tận đẩu tận đâu ấy... Còn thì những thứ gì thuộc về lĩnh vực sáng tác của ông tôi đều tìm đọc cho bằng hết.

- Sao vậy?

- Để xem ông viết những gì về bọn tôi, về cái thời của chúng ta ấy...

Giáo sư tò mò hỏi:

- Vậy ông thấy tôi viết thế nào?

Vị tướng bỗng mỉm cười, một nụ cười tinh quái quen thuộc từ xa xưa của ông chứ không phải là nụ cười mệt mỏi khi ông ta vừa bước vào căn phòng này

- Trước hết... là trung thực... Kể cả cái cuốn tiểu thuyết Thung lũng máu xuất bản xong thì bị thu hồi của ông cũng vậy... Rất trung thực. Chỉ có những người trong cuộc thì mới viết được như thế thôi.

- Vậy... sao hồi ấy... ông cũng đăng đàn để choảng tôi khiếp thế? Bài viết của ông đã được các cơ quan có thẩm quyền coi như là một ý kiến quan trọng nhất của các nhân chứng để đi đến quyết định ngừng phát hành cuốn sách đó, ông cũng biết như thế chứ?
Vị tướng bỗng bật cười lớn và như vừa được tiếp thêm một luồng sinh khí thần diệu khiến con người ông như biến đổi hẳn, giọng ông vang lên quyền biến, khuynh loát.

- Thì hồi đó... cần phải như vậy... Cả dân tộc đang ngất ngây say vì chiến thắng... Đất nước vừa mới thống nhất, thù trong giặc ngoài vẫn còn đầy ra đấy... Không thể để một cuốn sách như cuốn tiểu thuyết của ông làm người ta nghĩ khác đi về cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc ta và có những ý tưởng nhập nhằng giữa chính và tà, giữa ta và địch, giữa chiến tranh giữ nước và nội chiến huynh đệ tương tàn được...! Vì vậy, tôi cần phải lên tiếng... Người khác nói thì khó có thể thuyết phục được độc giả, nhất là những độc giả chưa từng trải qua chiến tranh... Nhưng một vị anh hùng quân đội, là người trong cuộc mà nói thì nhất định là họ phải tin...

Giáo Sư Lân ngẩn ngơ hỏi:

- Ông nghĩ thế thật à?

- Thật chứ... Nhưng nguyên cớ mà tôi phải viết bài choảng ông lại ở chỗ khác. Tại sao ông lại dại dột chua trên đầu sách mấy dòng, trong đó có nói đến việc chọn tôi là một trong số những nguyên mẫu cho nhân vật của mình? Vì vậy tôi đã buộc phải lên bếng. Và khi tôi đã lên tiếng rằng cuốn sách của ông chỉ toàn là những chuyện suy diễn bịa đặt thì cuốn sách ấy chỉ có đem mà đốt đi thôi.

Giáo sư Lân ngước nhìn vị khách với ánh mắt thảng thốt... Tim ông thắt lại y như cái buổi chiều ảm đạm hôm nào khi nhận được tin cuốn sách đầy tâm huyết của mình vừa có quyết định đình chỉ việc phát hành. Hay y như cái lúc vợ ông vừa khóc vừa đọc cho ông nghe bài báo nảy lửa của anh hùng quân đội Phạm Hùng Phong phê phán cuốn sách của ông là suy diễn, xuyên tạc, bịa đặt nhằm hạ thấp ý nghĩa của những chiến công lừng lẫy mà quân dân ta phải đánh đổi bằng cả núi xương, sông máu vậy. Hay tệ hơn, thê thảm hơn như cái buổi chiều ông được tổng biên tập toà soạn báo gọi tới và giao cho tờ quyết định chuyển công tác khác... Hay... như rất nhiều nỗi cay cực mà ông phải chịu đựng vì sự ra đời không hợp thời của đứa con tinh thần của mình... Cái dư vị cay đắng ấy ông đã nuốt sâu vào trong mấy tầng của kí ức nay bỗng dưng lại trồi lên đắng nghét trên miệng khiến ông không thốt được thành lời...

- Đừng xúc động thế, ông bạn... - Vị tướng ngồi xuống bên cạnh ông và một lần nữa giọng nói của ông lại thay đổi ngữ điệu - Tôi biết ông vẫn còn trách tôi về bài báo đó... Nhưng lúc đó, tôi nhất định phải làm như vậy.

Giáo sư khó nhọc cất lời:

- Nhưng... vì cái gì chứ?

- Vì sự nghiệp chung... Và cũng vì cả cá nhân tôi nữa...

- Phải rồi... lúc đó đang chuẩn bị cho đại hội Đảng... và ông có tên trong dự kiến nhân sự... Nhưng có nhất thiết phải làm như thế không?

- Không nhất thiết... Nếu không có những dòng phi lộ của ông thì... tôi cũng chẳng cần phải lên tiếng làm gì!

Giáo sư Lân bỗng bật cười lớn... ông cười ngả nghiêng đến nỗi nước mắt tứa cả ra. Dạo này ông có cái tật lạ thế hễ cứ cười là nước mắt lại dào ra/ - Thật... khôi hài hết sức... Thì ra chỉ vì mấy dòng phi lộ, mấy dòng nói thêm cho rõ, mấy dòng người viết sách muốn thi ân bạn bè, những người đã cung cấp cho mình tài liệu bằng chính một phần cuộc đời của họ...

Tôi hiểu rồi, vậy mà hồi đó tôi cứ trăn trở mãi một điều: Hay có chỗ nào đó mình chưa thật hiểu rõ tình hình của mặt trận lúc đó mà đã viết sai? Hay lòng mình không được trong sáng? Hay là mình bất tài đến mức viết sáng thành tối, viết trắng mà người đọc có thể hiểu thành đen? Thì ra chỉ tại cái lời nói đầu, tại một cái dải áo chứ không phải tại cái áo!

- Không hẳn như vậy đâu... Có nhiều chuyện mà không thể chỉ nói vài câu là lí giải hết được - Vị tướng đã bình tĩnh trở lại, giọng ông lại trở nên sầu muộn - Tóm lại là... Cái thời ấy nó thế... Cũng như có biết bao nhiêu điều về cái thời này mà chúng ta không thể hiểu được, thậm chí còn không thể chấp nhận được mà vẫn đang tồn tại sờ sờ trước mắt chúng ta đó thôi... Kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa, ông tưởng dễ hiểu lắm đấy à? Chẳng đã có thời chúng ta coi tất cả những người buôn thúng bán mẹt là những phần tử phi xã hội chủ nghĩa, còn những ông chủ xưởng, chủ tiệm buôn thì đều là kẻ thù giai cấp đó sao?


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 10 Tháng Mười Hai, 2010, 04:09:54 pm
Những người ấy nay so với những nhà doanh nghiệp mới thì còn là trẻ con! Một xã hội đang phát triển lành mạnh, yên bình, còn khó hiểu đến thế, nữa là một xã hội đang còn chìm trong khói lửa chiến tranh? Vì vậy, các ông nhà văn viết về chiến tranh có thể lí giải thế này hay thế khác một vài sự kiện trong chiến tranh cũng là điều bình thường thôi. Ấy là bây giờ tôi mới nghĩ được như thế, và có thể đến tận bây giờ cũng có người còn chưa nghĩ được như thế, ông cũng đừng lấy thế làm buồn!

- Tôi đâu có buồn về chuyện mọi người nhận thức khác nhau về những sự kiện này hay sự kiện khác trong chiến tranh. Tôi chỉ buồn vì những người như ông mà lại có thể suy diễn truy chụp cho chúng tôi những điều như vậy... Tôi cũng không giận gì tổ chức...

Vì tổ chức có thể có cái lí của họ trên cơ sở bảo vệ lợi ích chung. Nhưng thú thực, những ngày ấy tôi đau đớn như một người bị bạn bè phản bội vậy.

Vị tướng im lặng một hồi lâu rồi buông một tiếng thở dài.

- Tôi hiểu cảm giác đó chứ... Vì tôi cũng không ít lần bị phản bội, bị bán đứng. Nhưng, dẫu sao thì ông cũng cứ sung sướng hơn tôi. Vì ông có thể hét tướng lên, có thể mắng vào mặt ai đó. Rồi, một lúc nào đó ông còn có thể viết lại cả những chuyện đó, in thành sách để thanh minh cho mình. Còn tôi thì không, tôi phải im lặng.

Giáo sư Lân nhìn vẻ mặt rầu rĩ của của ông bạn và tin rằng ông ta đã nói thật.

- Thôi quên những chuyện đó đi. Hay là tôi với ông đi chơi một vòng với mấy thằng bạn cũ đi? Cũng chẳng còn được bao nhiêu người đâu? Ông tướng ngập ngừng.

- Tôi cũng... muốn như thế lắm. Nhưng bây giờ thì chưa được... Đợi đến khi tôi được nghỉ hưu đã. Tôi cũng đã đề đạt nguyện vọng lên đảng uỷ quân sự trung ương rồi. Có lẽ, cũng chong chóng thôi. Đợi cho tôi hạ cánh an toàn rồi thì lúc đó...

Ông dừng lại đột ngột ở đó rồi lặng lẽ ra về.

Vậy mà rốt cuộc, ông vẫn chưa kịp hạ cánh. Người ta vẫn chưa tìm ra một vị tướng khác khả dĩ có thể ngồi thay cái ghế của ông, hay vì những lí do nào khác, giáo sư Lân cũng không hiểu. Thực ra, ông cũng chẳng để tâm tìm hiểu xem có thực ông bạn mình muốn về hưu sớm thật không?

Chỉ biết rằng từ sau ngày đưa thằng con trai vào trại cai nghiện, ông và bà đã có một cuộc cãi vã quyết liệt. Rồi bà bỏ vào thành phố Hồ Chí Minh sống với con gái và chàng rể Đài Loan. Ông tướng đã sống một mình từ bấy đến nay. Và, ông đã một mình lặng lẽ ra đi... Trước ngày diễn ra lễ tang tướng Hùng Phong có một nhóm cựu chiến binh tới tụ tập tại nhà giáo sư Lân.

Họ đều đã ở vào tuổi trên dựới sáu mươi, trừ một vài người bị thương tật, còn lại họ đều còn khoẻ mạnh, và đặc biệt đều nói rất to... đấy là nhận xét của bà Thảo, vợ giáo sư Lân vì xưa nay bà rất sợ những người nói to.

May mắn cho bà là trong đám khách ồn ào của chồng cũng có một phụ nữ, đó là bà Đào, bạn học cũ của giáo sư và tướng Hùng Phong. Nhưng hôm nay bà đến đây chuẩn bị đi dự đám tang với tư cách là thay mặt cho chồng, liệt sỹ Nguyễn Danh Côn chứ không phải với danh nghĩa là bạn học cũ. Bà nói với bà Thảo về sự phân định rạch ròi này như sau:

- Tôi phải thay mặt cho nhà tôi đến viếng ông ấy cho phải đạo. Chứ riêng tôi thì, tôi đã thề suốt đời không thèm nhìn mặt lão ta rồi.

Bà Thảo vừa lén nhìn ra nhà khách, nơi các bạn đồng ngũ của chồng đang ồn ào tranh nhau nhắc lại những chuyện chiến trận quanh cái bàn trà, vừa nói với bà bạn:

- Nghĩa tử là nghĩa tận, bà ạ. Người chết cũng đáng được tha thứ hết mọi chuyện. Có một người trong đám cựu chiến binh xuất hiện muộn hơn nhưng lại gây được sự chú ý của tất cả mọi người. Đó là một ông già đã ngoài bảy mươi tuổi, tóc bạc như cước, lưng đã hơi còng, đi đứng không còn được nhanh nhẹn. Ông được một cậu con trai đưa tới bằng xe máy. Khi ông vừa bước vào nhà, mọi người đã sửng sốt kêu lên - Trời ơi... anh nuôi Cung...

- Tớ đây... Tớ đây... - Mọi người không ngờ ông già bảy mươi tưổi ấy vẫn có giọng nói sang sảng như tiếng soong chảo va nhau vậy - Không ai báo tin cho tớ cả.

Các cậu tệ thật, nhưng cũng may là cháu nó vừa mua cho cái tivi. Thấy người ta cáo phó cậu Ban là tớ biết hôm nay các cậu nhất định sẽ tụ tập ở đây để mai đi viếng. Chà, sao cái tay này có thể rũ áo ra đi sớm đến vậy? Chưa đầy sáu mươi tưổi đầu... Các cậu cũng tệ thật, nó ốm đau thế nào mà cũng chẳng thông báo cho anh em một lời.

Giáo sư Lân vội thanh minh:

- Nhưng... ông ấy có ốm đau gì đâu? Nghe nói chỉ bị một cơn nhồi máu rồi... Vả lại, bác cũng già rồi nên có nhiều việc bọn em cũng không tiện gọi đến.

- Già thì già chứ... - Ông phẩy tay - Sao các cậu vội xếp tớ vào diện thanh lí sớm thế. Vả lại, Hùng Phong với tớ nhiều duyên nợ lắm. Cậu ấy đi thì tớ nhất định phải đến tiễn.

Ông Cung chọn một chỗ trong số những cái ghế mà anh em đứng lên nhường cho mình để ngồi rồi nói thêm:

- Hồi đang hành quân vào Tây Nguyên tớ bị sốt rét, Hùng Phong đuổi tớ đi viện rồi tuyên bố cắt quân số cho về Bắc luôn. Lúc đầu tớ cũng oán lắm. Nhưng đến hôm tiễn tớ ra binh trạm để về Bắc hắn mới nói rằng:


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 10 Tháng Mười Hai, 2010, 04:12:17 pm
Những người ấy nay so với những nhà doanh nghiệp mới thì còn là trẻ con! Một xã hội đang phát triển lành mạnh, yên bình, còn khó hiểu đến thế, nữa là một xã hội đang còn chìm trong khói lửa chiến tranh? Vì vậy, các ông nhà văn viết về chiến tranh có thể lí giải thế này hay thế khác một vài sự kiện trong chiến tranh cũng là điều bình thường thôi. Ấy là bây giờ tôi mới nghĩ được như thế, và có thể đến tận bây giờ cũng có người còn chưa nghĩ được như thế, ông cũng đừng lấy thế làm buồn!

- Tôi đâu có buồn về chuyện mọi người nhận thức khác nhau về những sự kiện này hay sự kiện khác trong chiến tranh. Tôi chỉ buồn vì những người như ông mà lại có thể suy diễn truy chụp cho chúng tôi những điều như vậy... Tôi cũng không giận gì tổ chức...

Vì tổ chức có thể có cái lí của họ trên cơ sở bảo vệ lợi ích chung. Nhưng thú thực, những ngày ấy tôi đau đớn như một người bị bạn bè phản bội vậy.

Vị tướng im lặng một hồi lâu rồi buông một tiếng thở dài.

- Tôi hiểu cảm giác đó chứ... Vì tôi cũng không ít lần bị phản bội, bị bán đứng. Nhưng, dẫu sao thì ông cũng cứ sung sướng hơn tôi. Vì ông có thể hét tướng lên, có thể mắng vào mặt ai đó. Rồi, một lúc nào đó ông còn có thể viết lại cả những chuyện đó, in thành sách để thanh minh cho mình. Còn tôi thì không, tôi phải im lặng.

Giáo sư Lân nhìn vẻ mặt rầu rĩ của của ông bạn và tin rằng ông ta đã nói thật.

- Thôi quên những chuyện đó đi. Hay là tôi với ông đi chơi một vòng với mấy thằng bạn cũ đi? Cũng chẳng còn được bao nhiêu người đâu? Ông tướng ngập ngừng.

- Tôi cũng... muốn như thế lắm. Nhưng bây giờ thì chưa được... Đợi đến khi tôi được nghỉ hưu đã. Tôi cũng đã đề đạt nguyện vọng lên đảng uỷ quân sự trung ương rồi. Có lẽ, cũng chong chóng thôi. Đợi cho tôi hạ cánh an toàn rồi thì lúc đó...

Ông dừng lại đột ngột ở đó rồi lặng lẽ ra về.

Vậy mà rốt cuộc, ông vẫn chưa kịp hạ cánh. Người ta vẫn chưa tìm ra một vị tướng khác khả dĩ có thể ngồi thay cái ghế của ông, hay vì những lí do nào khác, giáo sư Lân cũng không hiểu. Thực ra, ông cũng chẳng để tâm tìm hiểu xem có thực ông bạn mình muốn về hưu sớm thật không?

Chỉ biết rằng từ sau ngày đưa thằng con trai vào trại cai nghiện, ông và bà đã có một cuộc cãi vã quyết liệt. Rồi bà bỏ vào thành phố Hồ Chí Minh sống với con gái và chàng rể Đài Loan. Ông tướng đã sống một mình từ bấy đến nay. Và, ông đã một mình lặng lẽ ra đi... Trước ngày diễn ra lễ tang tướng Hùng Phong có một nhóm cựu chiến binh tới tụ tập tại nhà giáo sư Lân.

Họ đều đã ở vào tuổi trên dựới sáu mươi, trừ một vài người bị thương tật, còn lại họ đều còn khoẻ mạnh, và đặc biệt đều nói rất to... đấy là nhận xét của bà Thảo, vợ giáo sư Lân vì xưa nay bà rất sợ những người nói to.

May mắn cho bà là trong đám khách ồn ào của chồng cũng có một phụ nữ, đó là bà Đào, bạn học cũ của giáo sư và tướng Hùng Phong. Nhưng hôm nay bà đến đây chuẩn bị đi dự đám tang với tư cách là thay mặt cho chồng, liệt sỹ Nguyễn Danh Côn chứ không phải với danh nghĩa là bạn học cũ. Bà nói với bà Thảo về sự phân định rạch ròi này như sau:

- Tôi phải thay mặt cho nhà tôi đến viếng ông ấy cho phải đạo. Chứ riêng tôi thì, tôi đã thề suốt đời không thèm nhìn mặt lão ta rồi.

Bà Thảo vừa lén nhìn ra nhà khách, nơi các bạn đồng ngũ của chồng đang ồn ào tranh nhau nhắc lại những chuyện chiến trận quanh cái bàn trà, vừa nói với bà bạn:

- Nghĩa tử là nghĩa tận, bà ạ. Người chết cũng đáng được tha thứ hết mọi chuyện. Có một người trong đám cựu chiến binh xuất hiện muộn hơn nhưng lại gây được sự chú ý của tất cả mọi người. Đó là một ông già đã ngoài bảy mươi tuổi, tóc bạc như cước, lưng đã hơi còng, đi đứng không còn được nhanh nhẹn. Ông được một cậu con trai đưa tới bằng xe máy. Khi ông vừa bước vào nhà, mọi người đã sửng sốt kêu lên - Trời ơi... anh nuôi Cung...

- Tớ đây... Tớ đây... - Mọi người không ngờ ông già bảy mươi tưổi ấy vẫn có giọng nói sang sảng như tiếng soong chảo va nhau vậy - Không ai báo tin cho tớ cả.

Các cậu tệ thật, nhưng cũng may là cháu nó vừa mua cho cái tivi. Thấy người ta cáo phó cậu Ban là tớ biết hôm nay các cậu nhất định sẽ tụ tập ở đây để mai đi viếng. Chà, sao cái tay này có thể rũ áo ra đi sớm đến vậy? Chưa đầy sáu mươi tưổi đầu... Các cậu cũng tệ thật, nó ốm đau thế nào mà cũng chẳng thông báo cho anh em một lời.

Giáo sư Lân vội thanh minh:

- Nhưng... ông ấy có ốm đau gì đâu? Nghe nói chỉ bị một cơn nhồi máu rồi... Vả lại, bác cũng già rồi nên có nhiều việc bọn em cũng không tiện gọi đến.

- Già thì già chứ... - Ông phẩy tay - Sao các cậu vội xếp tớ vào diện thanh lí sớm thế. Vả lại, Hùng Phong với tớ nhiều duyên nợ lắm. Cậu ấy đi thì tớ nhất định phải đến tiễn.

Ông Cung chọn một chỗ trong số những cái ghế mà anh em đứng lên nhường cho mình để ngồi rồi nói thêm:

- Hồi đang hành quân vào Tây Nguyên tớ bị sốt rét, Hùng Phong đuổi tớ đi viện rồi tuyên bố cắt quân số cho về Bắc luôn. Lúc đầu tớ cũng oán lắm. Nhưng đến hôm tiễn tớ ra binh trạm để về Bắc hắn mới nói rằng:


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 10 Tháng Mười Hai, 2010, 04:17:58 pm
Cậu Cung này, tôi muốn cậu về nhà mà chăm lo cho mợ ấy với lũ trẻ. Với lại cậu mới có bốn con vịt giời.

Phải kiếm lấy một thằng cu nữa chứ. Đánh Mỹ như thế là đủ rồi! Còn cái vụ cậu với em phối hợp đâm chết hai thằng biệt kích Mỹ em đã báo cáo lên trên rồi. Ghi công cho ông cậu cả đấy. Không hiểu vì sao đến giờ không thấy cấp trên khen thưởng gì cho cậu. Để em kiểm tra lại cho.

Lúc ấy tôi còn bực mình mát mẻ:

- Có khi cấp trên đắp cả vào bản báo cáo thành tích của cậu để tuyên dương anh hùng rồi cũng nên?

- Đâu có, em thì thiếu gì thành tích mà phải ăn chạc của ông cậu. Cứ yên trí mà về đi. Thế nào cũng có Huân chương!

Một ông vội ngắt lời:

- Thế sau đó ông có gì không?

- Có... Mãi một năm sau tớ mới nhận được giấy báo công nhận là Dũng sỹ diệt Mỹ, được tặng Huân chương chiến công giải phóng Hạng ba. Mà khéo quá, lại đúng vào ngày vợ tớ vừa sinh được thằng cu. Nhớ đến thằng Ban, tớ bèn lấy béng tên nó đặt tên cho con trai. Đấy, là cái thằng vừa chở tớ đến đây đấy. Nó bảo, nhờ bố thắp cho chú Ban nén hướng, chứ, con bận lắm không thể ở đến mai được. Chả là bây giờ nó là ông chủ nhà máy gạch. Có sáu cái lò với bảy tám chục người làm. Bận là phải! Vừa lúc ấy thì lại có tiếng chuông gọi cổng. Ông Lân hiểu rằng bà có lí, và ông sẽ không làm được gì để ngăn bà công khai hoá danh tính người cha của con trai bà như những lần trước ông đã làm được.

Vì không muốn cản trở con đường tiến thân của Hùng Phong nên mẹ con bà Thanh vui lòng nghe lời khuyên của giáo sư Lân, kiên nhẫn chờ đợi sẽ có một ngày nào đó...

Có lẽ ngày đó đã đến thật rồi chăng?

- Nhưng... giá như bà báo trước cho tôi để tôi có thời gian chuẩn bị... Đột ngột thế này, mọi chuyện sẽ rắc rối lắm đây.

Bà Thanh mệt mỏi nói:

- Tuỳ ông thu xếp thế nào thì thu xếp. Ngày mai con trai tôi nhất định phải được quì lạy trước linh cữu của cha nó!

Ông Lân biết rằng ông không còn sự lựa chọn nào khác. Những sự việc tích tụ từ mấy chục năm qua cũng đã đến lúc cần phải tháo cởi. Biết đâu chính Hùng Phong cũng muốn như thế?

Nhưng tại sao lại chính là ông phải đứng ra thu xếp tất cả những chuyện này cơ chứ?

Chợt thấy buồn bực trong lòng, ông bước lại giá sách lấy ra một cuốn sách có bìa màu đỏ với dòng chữ “Trên hàng rào lửa” rồi lật qua trang đầu. Bức ảnh tướng Hùng Phong - Phạm Xuân Ban mặc lễ phục với đầy đủ các loại huân huy chương trên ngực, với gương mặt khá phong trần, với nụ cười nửa miệng mê hoặc và quyền biến, ông ta như đang nói với ông rằng:

- Lân ơi, ngoài cậu ra thì chẳng còn ai đứng ra thu xếp gói ghém việc này khôn khéo hơn được đâu. Vì dù sao, ngoài chuyện cậu là bạn của mình ra, cậu còn là nhà tiểu thuyết mà. Trí tưởng tượng của cậu để ở đâu vậy?

“Nhưng, đây là cuộc đời chứ không phải là...”. Ông đã định lên tiếng tranh luận, nhưng rồi ông chợt nhớ ra rằng, đằng nào thì ông cũng sẽ là người thất bại, vì Hùng Phong đã quyết định im lặng, không bao giờ còn lên tiếng về bất kỳ điều gì nữa rồi. Chẳng phải thế giới này dù có hỗn loạn đến mấy thì cũng đã khởi đầu từ im lặng và rồi cũng sẽ kết thúc trong im lặng tuyệt đối đó sao?


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 10 Tháng Mười Hai, 2010, 04:22:31 pm
PHẦN THỨ NHẤT
Trong hào quang thời cuộc

1

Thoa, Mai và Thanh là ba nữ sinh Hà Nội về sơ tán ở Huyện Phúc Lộc ngay từ những ngày đầu Mỹ ném bom ra miền Bắc. Ba đứa ở trọ cùng một nhà, học cùng một lớp. Chủ nhà là cậu Cung, một ông cậu bên ngoại của Thoa. Không hiểu mối quan hệ gia đình từ trước tới nay gần gũi thân thiết đến đâu, nhưng xem chừng Thoa rất quí trọng cậu Cung. ông cậu làm công nhân ở xí nghiệp cơ khí của tỉnh. Từ hồi chiến tranh lan ra miền Bắc thì cái xí nghiệp của cậu cũng chia năm xẻ bảy sơ tán về các làng quê xung quanh, trong đó có một xưởng chuyên làm cày bừa, đóng xe cải tiến thì sơ tán ngay về làng này. Cái xưởng cày bừa của cậu không hiểu quan trọng tới đâu mà cũng có hẳn một đội tự vệ, được trang bị một khẩu súng máy nòng loe đề bắn máy bay. Cậu Cung là đội trưởng đội tự vệ kiêm bí thư chi bộ nên được giữ khẩu súng nòng loe ấy... Từ ngày có khẩu súng máy cậu Cung dường như cũng được dân làng nể trọng hơn. Có thể nói cậu không rời khẩu súng máy lấy một lúc, trừ khi ngủ... Có hôm đi dự đám cưới, Thoa cũng thấy cậu mang khẩu súng theo... Hàng ngày cậu làm việc ở xưởng hoặc trực ở trận địa phòng không từ sáng tới đêm mới về nhà. Còn bà mợ của Thoa thì suốt ngày phải đánh vật với bốn đứa con gái mỗi đứa hơn nhau đúng một tuổi và hai con lợn, một con bò, hai con chó một đàn gà... Đã vậy, mợ lại còn có chân trong Hội phụ nữ Ba đảm đang của thôn. Cái hội ấy cũng rất hay họp hành vào các buổi tối. Có hôm mợ đi họp phải mang theo cả con Cải, con Cờ... Trong khi mợ họp thì chúng đùa nghịch với nhau một lát rồi lăn ra ngủ. Khi họp tan, mợ thường phải cõng một đứa, ôm một đứa về nhà.

Hôm nay cũng vậy, không hiểu mợ họp gì mà họp khuya thế? Cậu cũng khuya lắm mới về. Ba cô học trò Hà Nội đã lên giường nằm rồi mà vẫn thấy cậu mợ thì thào trò chuyện... Rồi Thoa nghe thấy tiếng mợ khóc thút thít và tiếng cậu quát khẽ:

- Phụ nữ ba đảm đang mà sao lạc hậu thế? Làng xóm người ta nghe thấy, người ta cười cho thối mũi.

- Mặc kệ họ cười - Tiếng mợ cự lại - Mình mà đi thì mẹ con tôi chết đói à?

- Đói là đói thế nào... Còn có chính quyền, đoàn thể, có Hợp tác xã nữa chứ...

- Nhưng... nếu mình có mệnh hệ gì...

- Chỉ nói dại... Thằng Mỹ nó làm gì được tôi nào?

Thoa không để ý nhiều đến cuộc trò chuyện lúc đêm hôm khuya khoắt ấy lắm. Nhưng đến hôm sau thì cô cũng đã biết rõ sự tình. Thì ra cậu Cúng đã ghi tên tình nguyện nhập ngũ, mặc dù năm nay cậu đã ba mươi tuổi rồi.

Cũng buổi sáng hôm đó, Lân lớp trưởng của lớp 10B nói với Thanh, một cô “hoa khôi Hà Nội”:

- Bọn mình sắp đi bộ đội cả rồi đấy, Thanh ạ!

Thanh ngỡ ngàng hỏi:

- Đi cả là thế nào?

- Là đi gần hết... Trường rồi sẽ vắng lắm đấy!

Tưởng Lân chỉ nói vậy thôi chứ ai ngờ đó lại là một chuyện nghiêm túc. Thấy Thoa im lặng, Lân gặng hỏi:

- Lân đi... Thanh có... nghĩ ngợi gì không?

Người với ngợm, ai lại hỏi như thế bao giờ? Sao không hỏi xem người ta có nhớ mình không chứ?

- Có gì mà phải nghĩ ngợi... Nhưng bọn con trai mà đi cả thì chúng mình sẽ buồn lắm đấy!

- Đánh Mỹ xong... mình sẽ về tìm Thanh nhé!

Thanh đang định đai lại một câu rằng tìm người ta để làm gì thì bọn con Gấm xồ đến.

- Bắt được anh chị đang nhỏ to rồi nhé!

Lân đỏ bừng mặt, may có Thanh nhanh trí đối đáp hộ:

- Nhỏ to gì cơ chứ... Lân đang nói chuyện rằng rồi bọn con trai lớp mình sẽ đi bộ đội hết đây này!

- Đi hết là thế nào?

- Là... đi đông lắm. Mười sáu đứa có giấy gọi kia đấy!

Gấm bỗng thần người ra:

- Sao đi nhiều thế... - Rồi nó bỗng nổi cáu - Thế mà sao các người không nói gì với chúng tôi cả là ra làm sao?

Rồi nó vùng vằng bỏ vào lớp làm toáng lên. Thế là bọn con trai phải khai hết. Buổi học hôm ấy coi như chả đâu vào đâu.
Sáng hôm sau lớp 10 B chỉ có mười tám học sinh nữ và bốn học sinh nam không có giấy gọi đi khám tuyển đến trường. Đến giờ vào lớp mỗi đứa ngồi một góc, mặt mũi ỉu xìu. Thoa là lớp phó phụ trách học tập, lâu nay có tiếng là “hắc xì dầu” cũng thấy ngồi lỳ một góc. Thầy giáo Trác dạy Văn hôm nay có hai giờ đầu.

Bước vào lớp, thấy không khí như vậy, liền ném viên phấn vào giữ cái bảng đen và tuyên bố “Thôi, nghỉ...

Không văn chương chữ nghĩa gì nữa. Các cô các cậu có thể ra chỗ khám tuyển với bạn bè được rồi”.

Giá như mọi khi được thầy cho nghỉ như vậy thì chúng nó đã hò reo vỡ lớp. Thế mà hôm nay cũng không thấy đứa nào óc ách gì. Tất cả bọn con gái lặng lẽ đứng dậy, rồi lấy mũ rơm ra khỏi lớp.

Thoa đến trước mặt Ban, một trong số bốn chàng lọt lưới đợt này hất hàm hỏi:

- Sao mà cậu lại không có danh sách nhỉ? Cậu khoẻ như vâm thế kia mà?

Ban cười gượng gạo:

- Tớ đâu có biết.... Không có là không có, thế thôi!

Gấm vừa bước tới bĩu môi, mát mẻ:

- Cậu ấm cưng của ông Phó chủ tịch huyện... Ai nỡ cho đi lính?

Đào, cô gái có nước da trắng hồng, khổ người thấp đậm, rất đặc trưng cho người miền bãi, đang được các bạn trong lớp gán ghép với Ban liền thanh minh hộ - Nó có anh đang ở bộ đội rồi, nên được miễn.

Gấm vẫn không chịu buông tha:

- Thế thằng Hướng “hạt tiêu” anh nó cũng đang là lính cao xạ pháo đấy thôi... Lại bé loắt choắt... sao người ta vẫn gọi nó? Còn anh thằng Ban thì chỉ là lính văn phòng ở trên tỉnh đội thôi, chứ có xông pha trận mạc gì đâu?

Ban nổi cáu:

- Tớ làm sao mà biết được những chuyện đó? Cậu ra mà hỏi Huyện đội ấy!

Nói rồi nó đứng vụt dậy, ôm cặp chạy ra ngoài.

Đào hớt hải chạy theo gọi với:

- Anh Ban... đi đâu thế? Sáng nay vẫn còn hai giờ toán kia mà?

Nhưng Ban đã ra nhà xe lấy xe đạp phóng đi mất.

Đào quay lại giận dữ mắng Gấm:

- Mày cạnh khoé kiểu gì thế, hả con kia?

Gấm nhe răng cười:

- Thì tao chỉ nói có bấy nhiêu câu... Ai ngờ anh chàng chạm nọc?

Vừa lúc đó Nùng, bí thư chi đoàn của lớp thập thễnh đi tới.

- Các cô này hay thật đấy... Còn lại thằng nào quí thằng ấy... Nay mai đi lao động, những việc gồng nặng gánh nhẹ, ai cáng đáng cho các cô?

- Dẫu sao thì vẫn cứ còn anh kia mà - Gấm cười - Chẳng lẽ quân đội người ta lấy cả những ông chân to chân bé!

Núng sầm mặt lại bỏ đi ngay. Thoa mắng bạn - Cái con này... Độc mồm vừa vừa chứ... Thế chúng bay có ra chỗ tuyển quân không đây?

Đào không nói gì, lặng lẽ bỏ đi trước. Gấm rỉ tai Thoa:



Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 10 Tháng Mười Hai, 2010, 04:27:55 pm
- Nó đi tìm thằng Ban đấy!

- Mặc kệ nó... Can hệ gì đến mày nhỉ?

Thanh từ nãy đến giờ vẫn cắm cúi chép thơ, ngẩng lên nói:

- Ê chúng mày... Tao thấy hai đứa ấy nó hôn nhau rồi đấy!

- Điêu?

- Thật không Thanh?

Thanh chậm rãi kể - Thì hôm trước máy bay Mỹ ném bom ngoài thị xã, trường báo động. Tao là đứa nhát nhất nên chui vào tít tận ngách trong của hầm trú ẩn... Khi báo yên rồi, cả lớp ra hết tao mới lò mò chui ra... Ai ngờ, tao thấy ở ngách bên vẫn còn có người... Nhìn kỹ thì ra chàng và nàng đang ôm ghì lấy nhau.... Thế này này!

Thanh nói rồi choàng tay ôm lấy Gấm khiến cô này ré lên:

- Khiếp... Kể thì cứ kể... Lại còn phải minh hoạ?

Thoa tò mò hỏi:

- Nhưng ôm nhau khác với... chuyện kia chứ?

- Thì tao cũng nhìn thấy cả... chuyện ấy nữa... bảo đảm là chúng nó hôn nhau thật rồi!

Gấm lè lưỡi:

- Thế thì kinh nhỉ?

- Gì mà kinh? - Thanh cong cớn nói - Tao hứa rằng nếu lần này Lân mà đi... tao sẽ tặng chàng một nụ hôn trước lúc lên đường.

Thoa nói rồi đứng dậy vén cao mái tóc dày và mượt ra sau gáy.

- Thôi tào lao chi khươn như vậy đủ rồi... đứa nào ra chỗ tuyển quân thì đi với tao?

Thế là cả bọn ào ào đứng dậy ra khỏi lớp. Nùng thập thễnh chạy ra hiên gọi với theo:

Này, đi một lúc rồi về học toán đấy nhé! Ban đạp xe thẳng ra xóm Soi, nơi Huyện đội đang sơ tán. Anh định đạp thẳng về nhà cự nự với bố một trận nhưng chợt nhớ ra bố vừa lên chỉnh huấn trên tỉnh sáng sớm nay, một tuần nữa mới về. Đã thế thì được, anh sẽ có cách giải quyết vấn đề.

Đại uý Thân, Huyện đội trưởng làm việc tại ngôi chùa ở đầu xóm. Mỗi khi vào văn phòng, mọi người đều phải đi qua cái cổng tam quan hai bên có hình đắp nổi hai ông tướng mặt đỏ như gà chọi cắp gươm đứng gác. Khi Ban tới, huyện đội trưởng vừa nhấc cái xe đạp Phượng Hoàng ra sân chùa, có lẽ anh chuẩn bị ra nơi khám tuyển hoặc đi kiểm tra các trận địa của dân quân.

Thấy Ban vào, anh ngạc nhiên hỏi:

- Kìa Ban... Có việc gì mà đến sớm thế cháu?

Đã tính toán trước nên Ban làm ra bộ mừng rỡ - May quá... Cháu mà đến muộn tý nữa, chú đi mất thì lỡ hết việc!

Đại uý Thân cười:

- Cháu không có tên trong danh sách gọi nhập ngũ đâu. Yên tâm mà học cho xong cấp ba rồi bố cháu xin cho đi học nước ngoài.

Ban dựng xe đi tới bên huyện đội trưởng nói nhỏ - Chuyện đã khác rồi chú ơi... Sáng nay bố cháu đi vội quá nên không kịp ra gặp chú. Bố cháu bảo cháu trực tiếp trao đổi, nhờ chú giúp đỡ cho.

Huyện đội trưởng nhìn Ban vẻ nghi hoặc:

- Nhưng... có việc gì mà gấp thế?

- Thế này chú ạ... - Ban gãi đầu - Chiều qua bố cháu mới biết rằng lần này có một ông bạn của bố cháu ở trung đoàn tên lửa về... ông ấy nói nhỏ với bố cháu rằng sẽ có mấy xuất được gửi đi học nước ngoài... Bố cháu đã ghi tên cho cháu rồi... Chỉ cần cháu có tên trong danh sách gọi nhập ngũ đợt này là được. Bố cháu bảo cháu ra nói với chú làm thủ tục gọi đi khám tuyển cho cháu.

Anh huyện đội trưởng băn khoăn:

- Sao chú không biết chuyện này nhỉ?

Ban cười:

- Chú biết làm sao được? Bí mật quân sự mà... là chỗ thân tình ông trung đoàn trưởng ấy mới rỉ tai với bố cháu đấy!

Anh huyện đội trưởng vẫn chưa hết nghi ngại:

- Nhưng... đáng ra nếu có vội thì bố mày cũng nên viết cho chú vài chữ!

- Chú này rõ thật - Ban nháy mắt cười - Chuyện này tế nhị lắm... Bố cháu đâu có dại gì để lại bút tích?

Đại uý Thân suy nghĩ giây lát rồi tặc lưỡi:

- Thôi được... Để chú lo cho. Cháu cứ ra nơi khám tuyển đi. Lát nữa chú sẽ qua đó đưa cho cháu giấy gọi và bảo bộ phận quân lực họ đưa tên cháu vào danh sách. Hồ sơ lý lịch làm sau một tý vậy!

- Cám ơn chú nhé... Bố cháu sẽ mừng lắm đấy!

Ban nói vậy rồi chào huyện đội trưởng và phóng xe đi ngay. Cậu phải cố nhịn để không bật cười. Không ngờ cái ông đại uý này cũng dễ bị lừa đến thế?

Ban đạp xe ra đến nơi tuyển quân thấy các bạn cùng lớp đã khám xong gần hết, đang túm năm tụm ba tán chuyện. Đào cũng ở đó, thấy Ban tới cô liền chạy lại - Anh Ban... cũng ra đấy à?

Ban gật đầu, vẻ mặt đã không còn cau có nữa khiến Đào mừng thầm.

- Mình ở nhà học tập cho thật tốt cũng là... góp phần đánh Mỹ rồi, phải không anh Ban?

- Phải rồi... Nhưng đằng ấy đừng có gọi tớ là anh, chúng nó lại cười cho đấy!

- Thì... chả lẽ cứ cậu cậu tớ tớ mãi... chúng mình...

cũng lớn rồi! Ban định nói “Cậu thì vẫn còn con nít lắm” nhưng nghĩ thế nào lại thôi. Vừa lúc đó Lân và Hướng là những người cuối cùng của lớp rời khỏi phòng khám tuyển. Hướng chạy ào về phía nhóm bạn cùng lớp đang đứng chờ, hét tướng lên - Tớ trúng rồi... Này, các cô em lớp 10 B thân yêu...

hãy chào người chiến sỹ giải phóng quân này đi nào!

Gấm chao chát:

- Này... chú nhóc... Chắc lại ăn gian cân rồi phải không? Theo chị biết thì chú em có cân cả dép cũng thưa chắc đã đủ bốn thục kí lô!


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 10 Tháng Mười Hai, 2010, 04:30:56 pm
Kể ra Gấm cũng đã đoán đúng sự tình. Nếu không láu cá một tý thì có lẽ Nguyễn Đình Hướng đã trượt rồi.

Thực ra số người bị trượt thì ít thôi, nhà nước đã ra lệnh tổng động viên nên số quân cần tuyển kì này rất nhiều. Người ta cũng chỉ khám qua loa, chỉ những người có bệnh kinh niên hay có dị tật thì mới cầm chắc là trượt. Hướng cũng có thể bị trượt vì quá nhẹ cân, mặc dù đã bỏ trong túi mấy cục đá to tổ bố, khoác thêm một cái áo dạ to xù của ông nội, nhưng cũng chỉ được vỏn vẻn có ba mươi chín kí. Anh y sỹ ngồi ở bàn cân đo đã lắc đầu nhưng Hướng nhanh trí nói luôn “Mấy hôm nay em bị xuống cân là do bị một trận đi ngoài đấy anh ạ. Anh cứ ghi cho em bốn mươi hai kí đi.

Rồi vài hôm là em bù đủ thôi mà”. Anh y sỹ mỉm cười, hỏi “Cậu thích đi bộ đội lắm à?” “Vâng, bạn em đi đợt này cả, em mà phải ở lại thì buồn lắm”. Vậy là anh y sỹ ghi cho bốn mươi hai kí. Đến phòng kết luận, ông bác sỹ cũng hồ nghi, hỏi đủ chuyện về đường bệnh tật, đường ăn ngủ của Hướng. Cậu ta lại một lần nữa phải khẳng định rằng, mặc dù trông anh ta nhỏ thó như thế nhưng khoẻ ra phết, bé nhưng bé hạt tiêu, ở nhà anh ta vẫn đi cày cho bố đấy.

cuối cùng thì ông bác sỹ ở phòng kết luận cũng ghi vào phiếu khám sức khoẻ của Hướng dòng chữ “Đủ sức khoẻ phục vụ quân đội”.

Khi các bạn đã ra hết, Lân hỏi các bạn:

- Chúng ta trở lại lớp chứ!

Thoa nhanh nhảu nói ngay:

- Trở lại chứ... Còn hai tiết toán nữa kia mà... Học xong, ta họp lớp một tý Lân nhé!

Cả lớp lại ào ào từng đôi một lên xe đạp. Riêng Ban vẫn không nhúc nhích. Thấy vậy Đào giục:

- Về lớp thôi anh Ban!

Ban khoát tay - Cậu về đi... Tớ đợi một thằng bạn trong xóm khám xong rồi về luôn, không về lớp nữa đâu.

- Ban còn giận các bạn à?

- Không giận... thôi, cậu về với chúng nó đi!

- Mình... ở lại đây với Ban được không?

Ban bực mình gắt:

- Về đi... đừng có lằng nhằng!

Đào giận dỗi, nhảy lên xe của Côn phóng vù đi khiến Côn ngớ người ra một lát rồi hớt hải vừa chạy theo vừa gọi “Này, ăn cướp xe của người ta thì cũng phải đèo người ta về với chứ!” Đào dừng xe, không ngoảnh lại quát:

- Nhảy lên đi... Nhanh lên không thì đi bộ đấy!

Bạn bè trong lớp ồ lên cười rồi ríu rít đạp xe theo họ.

Ban chờ thêm một lát nữa thì chú Tân ra, thấy Ban còn đứng đó anh ngạc nhiên hỏi:

- Kìa, sao cháu không vào khám đi? Chú đưa hồ sơ của cháu cho ban tuyển quân rồi đấy!

Ban cám ơn chú Tân rồi chạy ào vào phòng khám tuyển lúc này đã vãn người. 3

Lân là cháu đích tôn của cụ cử Hạt, họ Trương Đình người làng Vân Hương. Sở dĩ người dân làng Vân Hương vẫn gọi cụ là cụ cử không phải vì làng này có ít bậc khoa bảng, mà vì cụ là người cuối cùng của làng đỗ cử nhân trong khoa thi cuối cùng của triều Nguyễn được tổ chức ở Nam Định. Cụ từng là bạn đồng khoa với cụ Tú Xương và đã từng quen biết cụ Tản Đà.

Trong nhà cụ còn giữ được bút tích của cả hai bậc thi sĩ nổi tiếng nảy cùng nhiều bức hoành phi câu đối, thơ đề tặng của nhiều bậc nho sĩ trong vùng. Cái di sản chữ nghĩa rậm rịt ấy đáng lẽ đã tiêu ma cả vào thời cải cách ruộng đất khi nhà cụ cử bị qui là địa chủ. Cũng may, dân làng Vân Hương lại đều là những người trọng chữ nghĩa, nhất là chữ thánh hiền nên ông bà nông dân nào khi được chia của đấu tranh bằng các bức hoành phi câu đối thơ từ mang về đều đem cất kĩ ở những nơi sạch sẽ chứ không có hiện tượng mang hoành phi câu đối ra làm cửa chuồng lợn, làm cầu ao hay chỉ đơn giản là cho vào bếp như ở một vài làng khác. Đến khi nhà cụ cử được xuống thành phần, do từng có công với kháng chiến, từng là cơ sở của tỉnh uỷ Sơn Tây, thì hầu hết các ông bà bần cố nông đều tự giác mang trả lại chủ cũ những thứ chữ nghĩa thiêng liêng ấy cùng với những đồ văn phòng tứ bảo của cụ cử. Vì thế mà đến tận hôm nay ngôi nhà gỗ năm gian của nhà cụ cử vẫn treo đầy những chữ là chữ. Về cái chuyện bị qui oan là địa chủ, cụ cử không coi là điều gì ghê gớm lắm. Cụ vẫn nói với con cháu, làm cải cách ruộng đất là phải rồi, nông thôn muốn tiến lên thì người cày phải có ruộng. Chính sách của Cụ Hồ không sai. Những chuyện oan trái xảy ra là do trong Đảng còn có nhiều kẻ ngu dốt, cơ hội, muốn đục nước béo cò, thậm chí có kẻ còn lợi dụng chính sách để trả thù cá nhân nên mới gây ra những nỗi đau khổ cho không ít người vô tội. Vì thế cụ thường nhắc con cháu không được oán Đảng - chính phủ. Nhưng, có một số người thì cụ không thể nào tha thứ. Ông Phạm Xuân Biên, bố của Ban, cậu bạn cùng lớp với Lân, hiện đang là phó chủ tịch huyện là một trong số những người như vậy. Cụ thân sinh ra ông Biên là người làng Võng Ngoại, một làng vùng bãi ven sông Hồng, cụ đã từng là học trò của cụ cử Vân Hương mặc dù hai cụ chỉ hơn nhau có bảy tám tuổi gì đó. Đến khi có con trai đến tuổi đi học, cụ mang vào gửi trọ nhà bà con tại làng Vân Hương để vừa đi học chữ quốc ngữ ở trường làng vừa theo học chữ nho với cụ cử. Cậu Biên làm học trò cụ cử được ba năm, đã học hết sách Tam tự kinh. Đến khi chuyển trường học quốc ngữ lên thị trấn thì cậu cũng bỏ học luôn. Sau này không hiểu vì nguyên tớ gì mà Biên trốn theo bộ đội khi họ vượt sông Đà về mở chiến dịch Sơn Tây. Kháng chiến thắng lợi, ông Biên trở trưởng đội cải cách liên xã vùng Đông của huyện, trong đó có Vân Hương. Cụ cử trở thành “đối tượng đấu tranh” của chính cậu học trò năm xưa. Chuyện đó thì cũng không có gì là lạ lùng trong thời buổi đảo điên ấy.

Nhưng đến khi cậu học trò ấy tập hợp các bạn đồng môn ở Vân Hương lại để vận động họ tố thầy là có chủ trương truyền bá tư tưởng phong kiến lạc hậu và mê tín dị đoan rồi bóc lột học trò đến tận xương tuỷ. Nhất là khi đích thân ông đội Phạm Xuân Biên, trong vai khổ chủ đứng lên kể tội thầy là đã cưỡng bức cậu trò Biên hàng ngày phải đến sớm quét nhà, cho lợn cho gà nhà thầy ăn, tưới vườn rau cho thầy thậm chí cả gánh nước cho bà vợ bé của thầy tắm nữa thì cụ cử không thể nào chịu nổi... Đến khi ông đội hỏi “Tên địa chủ cường hào ngoan cố kia, mày có còn gì để nói nữa không? “ Thì cụ cử ngửa mặt lên trời cười nấc lên và nói “Đến vậy thì tôi còn biết nói gì hơn là tự thấy mình thật vô phúc khi đã nhận một người như ông đội đây làm học trò!”.


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 10 Tháng Mười Hai, 2010, 04:34:10 pm
Chuyện ấy Lân chỉ được nghe ông nội kể lại sau cái lần Lân đưa Ban về nhà chơi. Khi biết Ban là con ông Biên phó chủ tịch huyện, ông nội lắc đầu thở dài rồi khuyên cháu “Chọn bạn sai là nguy hiểm lắm đấy cháu ạ. Thằng này trông mặt mũi thì cũng sáng sủa đấy nhưng nó lại là con của một thằng phản phúc.

Cháu phải cẩn thận đấy”. Và để dạy cháu một bài học về cái sự nhìn nhận con người, cụ cử đã kể cho Lân nghe câu chuyện buồn ấy. Lân nghe, nhưng chưa bao giờ kể lại chuyện ấy với Ban vì cho rằng Ban không phải chịu trách nhiệm gì vì những hành vi của cha mình. Nhưng từ đó mỗi khi nhìn thấy Ban phát biểu gì trên lớp, hay trong những lần họp chi đoàn, Lân vẫn cứ thấy chờn chợn.

Ngay từ khi còn nhỏ Lân đã được ông nội dạy đọc và tập viết bằng hết những chữ trên những bức hoành phi, câu đối treo trong nhà của các bậc tiền nhân. Đến khi lên học cấp ba, Lân lại được phân vào lớp học môn Trung văn, vì thế anh nhanh chóng trở thành học sinh giỏi môn này, cũng như anh đã là học sinh giỏi của nhiều môn học khác.

Tuy chữ Trung Quốc hiện đại so với chữ Nho của các cụ ngày xưa có rất nhiều điểm khác nhau, nhưng cụ cử cũng rất lấy làm vui mừng khi thằng cháu đích tôn của mình cũng đã học chữ thánh hiền!? Tuy vậy cụ cũng hơi buồn lòng vì thằng cháu cụ nhất định không chịu tập viết chữ bằng bút lông. Chữ thánh hiền mà viết bằng bút sắt, thậm chí bằng cả bút chì thì còn ra làm sao?

Ông nội Lân mất khi Lân vừa học xong lớp tám. Vào đúng cái năm mà máy bay Mỹ ném bom tràn lan ra khắp miền Bắc. Tuy vậy, đám ma cụ cử Hạt vẫn là đám ma to nhất vùng hồi bấy giờ. Ông phó chủ tịch huyện không đến viếng nhưng Ban đích thân thửa một vòng hoa to mang tới và xin phép tang chủ cho mình được thay cha khấu lạy thầy lần cuối. Có lẽ chính hành vi ấy của Ban đã khiến Lân cảm động, và từ đó họ trở thành bạn thân.

Lân là người đầu tiên được Ban thông báo cho biết là cậu ta cũng nhập ngũ đợt này. Vào giờ ra chơi hôm sau, Ban kéo Lân ra góc vườn trường rồi thì thầm kể cho Lân nghe về cú lừa ngoạn mục của mình đối với anh huyện đội trưởng. Nghe xong Lân sửng sốt hỏi lại:

- Thế ra bố mẹ cậu vẫn chưa biết cậu trúng tuyển à?

- Bố tớ đầu tuần sau mới về. Lúc đó, chúng ta đã mặc áo lính rồi. Đố ông ấy cởi ra được?

- Thế... cậu đã nói với cái Đào chưa?

Ban phẩy tay:

- Kệ nó... biết, nó lại làm ầm lên thì rầy rà to. Để nay mai có giấy gọi rồi sẽ cho nó biết!

Lân vỗ vai bạn khen:

- Cậu giỏi lắm!

Trước khi quay vào lớp Ban còn níu Lân lại tiết lộ thêm một bí mật nữa:

- Này, tớ đã ghi trong lí lịch cả bí danh nữa đấy. Từ nay, cậu có thể gọi tớ là Hùng Phong!

Nhưng phải hơn một tháng sau cái tên đồng chí Hùng Phong mới trở nên nổi tiếng. Hôm đó đại đội tân binh được nghỉ tập một buổi chiều. Nghỉ ra thao trường nhưng toàn đại đội lại phải tập trung trong đình làng để nghe đọc báo. Chính trị viên Lương Xuân Báo trình độ văn hoá mới hết lớp năm nhưng diễn thuyết rất hay. Hôm đó, anh giới thiệu với toàn đại đội tấm gương của một thanh niên học sinh đã tình nguyện nhập ngũ đi đánh Mỹ mặc dù thuộc diện miễn hoãn và mặc dù ông bố là một đồng chí phó chủ tịch huyện có thể xin cho cậu ta đi học nước ngoài nhưng cậu ta đã từ chối để vào bộ đội. Nhân đó chính trị viên diễn thuyết về lí tưởng của thanh niên thời nay là phải xả thân vì sự nghiệp đánh giặc Mỹ, giải phóng miền Nam, phải hi sinh mọi quyền lợi cá nhân cho sự nghiệp giải phóng dân tộc vân vân... Sau đó chính trị viên phát động phong trào học tập đồng chí Hùng Phong, người thanh niên tình nguyện đã được báo Quân đội nhân dân giới thiệu trong mục “Thanh niên Ba sẵn sàng”. Toàn đại đội nghe đọc bài báo, hô khẩu hiệu học tập đồng chí Hùng Phong xong thì bỗng cậu y tá đại đội, bí thư chi đoàn đang cầm tờ báo trên tay chợt kêu thất thanh:

- Trời ơi... các đồng chí ơi.... Báo cáo chính trị viên...

đồng chí Hùng Phong là... là...

Thấy cậu bí thư chi đoàn mặt xám ngoét, miệng méo xẹo, lắp ba lắp bắp, chính trị viên Lương Xuân Báo vội xô lại:

- Có chuyện gì? Đồng chí Hùng Phong làm sao?

Cậu bí thư vừa run lập cập vừa chỉ tấm ảnh “đồng chí Hùng Phong” in bên cạnh bài báo:

- Đồng chí Hùng Phong... là... là chiến... chiến sỹ của đơn vị ta!

Thật là một sự kiện động trời khi người ta xác định đồng chí Hùng Phong trong bài báo chính là chiến sỹ Phạm Xuân Ban ở trung đội một của đại đội 9. Sau khi tra hỏi một hồi, Phạm Xuân Ban cũng đành phải thừa nhận đó chính là câu chuyện về mình. Anh đứng trước đại đội ấp úng kể lại rằng, sau khi ông bố phát hiện ra câu chuyện cậu ta mạo danh bố để ép đồng chí huyện đội trưởng cho mình đi bộ đội thì đã là ngày cậu lên đường rồi. Không cản ngăn được nữa nên ông già đành “ngậm bồ hòn làm ngọt”. Đúng ngày đó lại có một phóng viên báo Quân đội nhân dân về huyện viết về tuyển quân. Ông bố mới nảy ra sáng kiến gọi anh phóng viên tới kể cho anh ra nghe câu chuyện này và gợi ý anh ta nên phỏng vấn người thanh niên ấy. Ông muốn tặng cho anh con trai một chút vốn liếng chính trị để vào đời. Anh phóng viên đã tìm gặp Phạm Xuân Ban để phỏng vấn. Ban đành phải thừa nhận câu chuyện, nhưng vì sợ bạn bè cười nên thay vì nói tên thật của mình, cậu ta lại dùng “bí danh” là Phạm Hùng Phong để trả lời phỏng vấn nhà báo. Cậu ta không ngờ mình lại được đăng cả ảnh lên báo.

Ban kể chuyện này một cách hết sức thành thật và mong chính trị viên thôi đừng phát động “Học tập đồng chí Hùng Phong nữa” vì tình thực, Ban không được xuất sắc lắm trong huấn luyện. Môn xạ kích lại hơi yếu, cậu ta đang lo tới đây bắn đạn thật sẽ không đạt yêu cầu thì xấu hổ lắm.

Chính trị viên Lương Xuân Báo lại diễn thuyết, anh nói rằng đồng chí Hùng Phong không những có tinh thần rất cao mà lại còn rất khiêm tốn nữa. Đó là cái đức rất quí của người quân nhân cách mạng. Vì thế, chúng ta lại càng phải lấy đồng chí Hùng Phong làm tấm gương để học tập. Để đồng chí Hùng Phong thực sự trở thành ngọn cờ toàn diện, từ nay, tiểu đội, trung đội và toàn đại đội 9 phải giúp đỡ đồng chí Hùng Phong trong luyện tập, rèn luyện. Thế là phong trào “Học tập đồng chí Hùng Phong” của đại đội 9 vẫn được phát động, tháng sau thì nó đã lan thành phong trào của toàn tiểu đoàn. Các cán bộ tiểu đội, trung đội đã tích cực giúp đỡ đồng chí Hùng Phong, vì thế môn học nào đồng chí Hùng Phong cũng đạt loại giỏi, kể cả môn bắn đạn thật đồng chí Hùng Phong cũng được 30 điểm.

Mặc dù có người nói rằng thật khó tin cậu Ban lại bắn trúng cả ba điểm mười vì cậu không thể nào nheo được mắt khi bắn và trong những lần kiểm tra đường ngắm cơ bản trên thao trường, tiểu đội trưởng Khoái đều lắc đầu. Nghi ngờ thế thôi, chứ ngày đó bố thằng nào dám nghĩ rằng ban chỉ huy đại đội đã đi ngầm với cánh báo bia để không làm ảnh hưởng đến uy tín của “ngọn cờ”.

Có một điều lạ là từ đó ban chỉ huy đại đội chín, ngay cả khi điểm danh, cũng không ai nhắc tới Phạm Xuân Ban nữa mà nhất loạt đều gọi là đồng chí Hùng Phong, hoặc trang trọng hơn là Phạm Hùng Phong.

Nghe nói chính trị viên Lương Xuân Báo đã kể rằng, từ ngày ông đi bộ đội tới nay chưa hề được biết mặt một điển hình nào đã từng được đăng trên báo, vậy mà nay lại được sống với “một điển hình” bằng xương bằng thịt hẳn hoi. Vì thế, với ông cái tên Phạm Hùng Phong là thiêng liêng và nghe rất khí phách. Từ đó cả đại đội đều quên béng cái tên Phạm Xuân Ban mà chỉ biết tới đồng chí Hùng Phong. Ngay cả đám bạn học cũ, đôi lúc có lỡ miệng gọi cái tục danh kia ra, cũng cảm thấy hình như không phải cho lắm.

Ngay cuối năm sáu bảy trước khi vào chiến trường, đồng chí Hùng Phong đã được kết nạp vào Đảng. Một vinh dự lớn đến mức, khi nhận được tin, ông Phạm Xuân Biên phó chủ tịch huyện đã khóc rưng rức. Chút vốn liếng mà ông dành cho con trai đã phát huy tác dụng. Con đường tiến thân của con ông thế là đã có được bước khởi đầu thuận lợi. Ngược lại vợ ông thì lại bĩu môi chì chiết “Được tiếng khen ho hen chả còn! Nó mà có mệnh hệ nào thì ông chết với tôi!”. Đúng là đàn bà!


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 10 Tháng Mười Hai, 2010, 04:38:14 pm

4

Mặc dù đã biết ngày ra đi nhưng số học sinh trúng tuyển vào bộ đội vẫn cứ đến lớp. Các lớp vẫn giữ vững sĩ số. Nhưng hầu như chuyện học hành đã trở nên chểnh mảng, lễnh loãng lắm. Các cô các cậu học trò, kể cả người đi lẫn người còn ở lại đến lớp là để gặp nhau, viết lưu bút, rồi kéo nhau đi chụp ảnh kỉ niệm chứ chẳng còn bụng dạ nào tưởng gì đến chuyện học hành.

Các thầy vẫn lên lớp đúng giờ nhưng vào lớp rồi thì chẳng thầy cô nào còn tâm trí mà dạy dỗ. Thậm chí thầy Tâm, ông thầy dạy toán nổi tiếng là nghiêm khắc, sau khi vẽ được cái đường tròn lên bảng, cũng vứt luôn cục phấn xuống bàn rồi nói “Tôi cũng chẳng còn tâm trí đâu mà ngồi đây dạy học nữa. Ngày mai tôi sẽ lên huyện đội ghi tên tình nguyện vào bộ đội. Nếu bộ đội họ chê thì tôi sẽ đi thanh niên xung phong”. Tưởng thầy nói chơi, ai ngờ đợt tuyển quân sau thầy đi. Thật tội nghiệp thầy giáo, vừa vào tới chiến trường Quảng Trị chưa đánh đấm được trận nào bị đã bị pháo hạm nó tiện luôn một chân. Sau này, Lân có được nghe các bạn kể rằng thầy đã trở lại trường dạy học, nhưng không còn sắc sảo, mẫn tiệp được như xưa, lại còn mắc thêm cái bệnh nghiện rượu nữa. Mỗi lần uống rượu say thầy lại réo tên tổng thống Mỹ mà chửi “Mẹ cha thằng Giôn Xơn, mày là đồ hèn... sao không đám dương mặt đánh nhau với tao mà lại chơi cái trò tiểu nhân dùng ám khí để hại nhau thế hả?”. Thầy cũng không thèm nhận sổ thương binh, sau này cái Luận, học sinh lớp 10 A quyết tâm lấy thầy làm chồng mới lặng lẽ ra phòng thương binh xã hội nhận thẻ thương binh và hàng tháng vẫn dấu thầy nhận tiền trợ cấp của nhà nước. Mãi sau này thầy mới biết chuyện đó, giận lắm, nhưng thầy cũng chẳng nỡ mắng Luận mà chỉ thở dài bảo “Em làm thế thì anh xấu hổ với đời lắm. Mình vừa mới vào chiến trường đã nhìn thấy mặt thằng Mỹ nào đâu mà đã trở thành gánh nặng của xã hội rồi”.

Vào những ngày đó các thầy cô khác dường như cũng chẳng thiết tha gì đến việc dạy dỗ mà họ cũng tìm được cách nhanh chóng hoà nhập vào không khí của “cuộc chia ly vĩ đại “ (là chữ của một cậu nào đó ghi trên bảng đen - Các bạn, chúng ta sắp có một cuộc chia ly vĩ đại.Làm ơn đừng nói với tôi về kì thi học kì một!).

Người duy nhất cố duy trì không khí học tập là bí thư Bùi Hữu Nùng. Anh chàng chân khô chân héo ấy không hề nao núng trước không khí chia ly mà hàng ngày vẫn cố gắng duy trì nề nếp của lớp. Trước hết, anh ta yêu cầu họp lớp để bầu lớp trưởng mới thay cho Lân và một lớp phó phụ trách lao động thay cho cậu Côn. Rồi anh ta triệu tập họp chi đoàn để nhắc nhở các đoàn viên sắp nhập ngũ nếu còn tới lớp thì không được làm ảnh hưởng đến không khí học tập của lớp. Côn là đứa ngứa miệng, nói oang oang trong cuộc họp “Này ông bí thư, nay mai còn lại đám con gái tha hồ ông dạy dỗ. Còn mấy ngày nữa, ông để cho chúng tôi thở với chứ!”. Nùng không nao núng, nghiêm mặt nhắc “Đồng chí Côn nên xác định lập trường cho rõ. Cả nước đánh Mỹ thứ không phải chỉ có một mình đồng chí đâu nhé.

Nếu đồng chí có thái độ không đúng, đoàn trường sẽ có ý kiến với hội đồng tuyển quân để họ cho đồng chí ở lại. Chưa ra trận mà đã có tư tưởng công thần như thế thì chỉ làm hại sự nghiệp chung thôi, đồng chí hiểu chưa?”. Nghe những lời búa bổ như vậy, mọi người đều tái mặt, im lặng. Côn cũng không dám cãi lại câu nào.

Nhưng không phải vì thế mà không khí học tập trở lại bình thường được. Đến buổi sáng thứ tư kể từ hôm cánh con trai ào ào kéo nhau đi khám tuyển thì lớp 10B tuyên bố - “Nghỉ không học hành gì nữa cho đến ngày tiễn đám con trai lên đường!” Học sinh hai lớp 10 A và 10 C cũng theo gương đó. Thầy Hác hiệu trưởng nghe thầy phụ trách giáo vụ báo cáo tình hình học hành của ba lớp cuối cấp cũng chỉ im lặng rồi bảo “Để cho bọn chúng nó thoải mái vài ngày đi”.

Thực ra nguyên nhân trực tiếp dẫn đến chuyện này cũng tại lũ máy bay Mỹ. Lớp vừa tụ tập đông đủ, thầy Trác vừa vác cặp vào lớp thì chúng nó ầm ầm bay qua. Kẻng báo động vang lên. Tiếng bác bảo vệ hò hét học sinh đội mũ rơm ra hầm trú ẩn. Trong lớp một vài người đã định chạy ra hầm, nhưng rồi bỗng cậu Côn hét lên:

- Đám học trò các cậu ra hầm đi kẻo không trúng bom thì cũng bị ghi tên vào sổ của ông bảo vệ đấy. Còn bọn lính tráng chúng tớ thì ngồi tại đây thôi!

Bí thư Nùng đã thập thễnh ra đến cửa nghe thấy Côn nói thế liền quay lại trừng mắt:

- Không được... ngày nào các cậu còn ở trong cái lớp này thì phải tuân thủ kỉ luật của lớp chứ! Tất cả đứng dậy, ra hầm mau!

Đáp lại lời hiệu triệu của bí thư Nùng là những tiếng vỗ bàn, tiếng hò hét rầm rầm. Ông bảo vệ hớt hải chạy tới chõ cái loa pin vào lớp hét oang oang:

- Lớp 10B... ra hầm trú ẩn ngay!

Ban liền đứng lên nói với mọi người:

- Không thể ngồi yên trong này được đâu, ta ra thôi các cậu!

Côn liền sấn lại lớn tiếng quát:

- Ê thằng con quan huyện... mày sợ thì ra hầm đi, kẻo lại vãi đái ra quần bây giờ!

Ban giận tím mặt, phóc một cái nhảy qua bàn, vung nắm đấm thoi thẳng vào mặt Côn. Cậu chàng bị bất ngờ trước hành động khác thường của Ban, không kịp đỡ nên trúng ngay một chưởng giữa mặt, máu mũi trào ngay ra. Cả lớp xô lại, ồn ào như cái chợ vỡ. Kẻ can ngăn, người hò hét xúi giục, ông bảo vệ chạy vào chết lặng trước cảnh xô xát đang diễn ra trước mặt không biết phải làm gì. Lân nhanh tay giật phắt cái loa pin trên tay ông ta rồi nhảy lên bàn thầy giáo, hét vào loa:

- Tất cả dừng lại! Yên lặng, nghe tôi nói đây!

Mọi người dừng sững cả lại như một đoạn phim hoạt náo bỗng bị dừng hình. Lân dõng dạc nói:

- Các bạn... Thằng Mỹ thì đang gầm rú ở trên kia.

Còn các bạn thì đang làm trò gì thế này? Các bạn nữ, hãy bình tĩnh lại đi. Những bạn nào sắp trở thành bộ đội hãy đứng qua bên phải tôi... được rồi, đúng là như vậy...

Côn chỉ Ban, giọng lạc đi:

- Kìa... nó... nó không được đứng vào đây với chúng tôi!

- Sao lại không? Thế bạn tưởng rằng chỉ có mình bạn có quyền đi đánh giặc thôi à? Vì sắp ra trận đánh Mỹ mà các bạn tự cho mình cái quyền muốn làm gì thì làm à? Bí thư Nùng nói đúng, chưa ra trận mà đã công thần rồi. Côn, cậu phải xin lỗi cậu Ban đi, vì cậu đã sai rồi. Cậu Ban là con ông phó chủ tịch huyện, nhưng cậu ấy không định nấp sau cái lưng cha mình để trốn tránh nghĩa vụ của một người thanh niên đâu. Các bạn không biết rằng Ban đã phải dùng mưu mẹo mới được tham gia dự tuyển để nhập ngũ đợt này. Bây giờ thì cậu ấy cũng đang chờ ngày ra đi như cậu thôi, Côn ạ!

Mọi người bông ồ lên sửng sốt. Côn ngượng ngùng bước tới chìa tay ra cho Ban:

- Xin lỗi cậu... mình...

Bỗng từ phía sau nghe huỵch một cái rồi có ai đó hét lên:

- Trời ơi... cái Đào nó ngất xỉu rồi này!

Mọi người xô lại, Thanh và Thoa đang cố đỡ Đào dậy, vừa lay gọi vừa mếu máo:

- Nó... nó chết rồi hay sao ấy?

Bí thư Nùng khoát tay hét lên:

- Tránh ra... xúm cả lại thì nó thở thế nào được. Cô Gấm cứu thương đâu rồi?



Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 10 Tháng Mười Hai, 2010, 04:43:37 pm
Mọi người nhìn quanh rồi ai đó nói:

- Hình như nó chạy ra hầm rồi!

Lân cố gắng lách vào, cầm tay xem mạch của Đào rồi ngẩng lên nói với mọi người:

- Nó không sao đâu... Nhưng các cậu phải giãn ra cho nó có không khí mà thở chứ.

Nùng bảo:

- Tốt nhất là khiêng nó ra hè.

Mọi người giãn ra để Lân và mấy bạn nam khiêng Đào ra thềm hè. Vừa lúc đó kẻng báo yên vang lên.

Gấm tất tả khoác cái túi cứu thương vào. Ai đó nói đùa - Trong này mới có người trúng mũi tên của thần ái tình bác sỹ Gấm ơi!

Gấm luống cuống mở cái túi cứu thương, nhưng trong túi chỉ toàn bông băng và mấy lọ thuốc đỏ. Cô ta mếu máo:

- Không có thuốc gì đâu, anh Lân ạ. Phải đưa nó ra trạm xá thôi!

Lân bực mình gắt:

- Vớ vẩn... Nó tỉnh lại bây giờ đấy. Lấy cho tôi cái khăn mặt ướt!

Côn hớt hải chạy đi một lát rồi lấy được cái khăn mặt nhúng nước ướt sũng. Đã vội, lại còn nói thêm - Khăn của thầy Trác mới được phân phối đấy, sạch lắm!

Lân vừa áp cái khăn ướt vào mặt Đào thì cô ta mở bừng mắt ra, nháo nhác nhìn quanh. Chợt thấy đầu mình đang nằm trong tay Lân, cô giãy nảy ngồi phắt dậy:

- Cậu làm cái gì thế hả? Ban đâu?

Mọi người nhìn quanh nhưng không thấy Ban đâu, liền ồ lên cười. Đào đứng phắt dậy, rẽ qua đám đông, nhớn nhác tìm Ban. Thấy vậy Thoa thương hại bảo - Nó vừa chạy ra ngoài kia, có lẽ nó bỏ về rồi!

Nghe vậy Đào lại chới với rồi ngồi thụp xuống, ôm mặt khóc hu hu. Côn cáu tiết chửi vung lên:

- Mẹ cha cái thằng kênh kiệu... đi bộ đội chứ đi đâu mà phải giấu như mèo giấu cứt ấy. Ra cái điều...!

Vừa lúc đó Ban gò lưng đạp xe thẳng vào sân trường, lai theo sau lưng bà y sĩ của trạm xá xã. Thấy vậy mọi người lại ồ lên cười. Bà y sĩ nhớn nhác nhìn đám học trò:

- Sao bảo có cô cậu nào bị thương? Các cậu định đùa với tôi đấy à?

Bộ dạng của bà ta nghiêm trọng tới mức mọi người đang cười bỗng ngừng bặt. Lân đành bước tới xoa dịu cơn thịnh nộ của bà y sĩ:

- Có một cô nữ sinh bị ngất khi nghe kẻng báo động… nhưng bây giờ thì ổn rồi cô ạ!

Bà y sĩ vẫn không lơi lỏng tinh thần trách nhiệm liền tiến lại, hạ cái túi cứu thương trên vai xuống - Cô nào... để tôi kiểm tra lại xem sao?

Thoa chỉ vào Đào, lúc đó vẫn đang gục mặt khóc ở thềm hè. Bà y sỹ tiến lại, gần như túm lấy tóc của Đào mà kéo ngược lên cho đến khi nhìn thấy gương mặt ràn rụa nước mắt của Đào. Bà thận trọng nắn bóp, nghe mạch rồi vỗ nhẹ vào lưng Đào, an ủi:

- Không việc gì phải sợ, em ạ. Thằng Mỹ nó không dám ném bom vào đây đâu!

Bà nói như thể bà đang chỉ huy cả một dàn tên lửa Sam sẵn sàng bắn tan xác bất kì cái máy bay nào dám bén mảng đến đây vậy. Rồi bà kết luận:

- Các cô các cậu phải động viên nhau giữ vững tinh thần chứ, mới có như thế mà đã...

Côn bực mình sấn lại, định cãi, hoặc chí ít là cải chính một câu nhưng Lân vội ngăn cậu ta lại:

- Cám ơn cô... sự việc không nghiêm trọng lắm đâu ạ. Cậu nào lấy xe đưa cô ấy về trạm xá đi, ở đó còn bao nhiêu người đợi cô ấy đấy! Khi bà y sỹ đi rồi Côn lại nổi cáu với Lân:

- Đấy rồi các cậu xem, nay mai người ta sẽ đồn ầm lên rằng học sinh của cái trường này mới chỉ nghe máy bay Mỹ gầm rú trên đầu đã sợ mất mật rồi. Sao ông không để tôi giải thích rõ đầu đuôi câu chuyện cho cái bà y sỹ ấy hiểu hả?

Lân tủm tỉm cười:

- Thế... cậu định giải thích thế nào, hả?

Côn đớ ra không biết trả lời sao, mọi người lại ồ lên cười. Bí thư Nùng xưa nay vốn rất kị chuyện con trai con gái cũng phải cười bảo:

- Thôi, giải tán đi. Bây giờ là việc của thằng Ban, hãy để nó giải thích rõ cái chuyện đi bộ đội với con Đào.

Ban giãy nảy lên:

- Tại sao lại là tớ... tớ. Việc gì phải...

Lân vỗ vai Ban cười:

- Chả cậu thì ai... cậu làm cho người ra đứng tim...

bây giờ cậu phải giúp cho tim của người ta phục hồi lại đi chứ!

Rồi anh khoát tay:

- Thôi giải tán. Hôm nay không học hành gì nữa!

Bí thư Nùng cũng nói:

- Phải đấy, chủ nhật bọn bay đi rồi. Từ nay tới hôm đó chẳng học hành gì được đâu. Nghỉ luôn, đi chơi với nhau cho đã đi rồi mỗi đứa mỗi phương trời!

Mọi người hò reo ầm ầm hưởng ứng, khiến học trò mấy lớp đàn em tưởng có chuyện gì nhao cả ra hiên nhìn sang. Một ông giáo đang dạy đám học sinh lớp tám ở dãy nhà bên bực mình bước ra hiên chỉ tay sang quát:

Này... cái đám giặc non kia. Không học thì biến đi cho con người ta còn học nhé! 5

Lân vừa dắt cái xe đạp lùn kiểu thiếu niên Liên Xô ra đến cổng trường thì thấy Thanh đang chờ ở đó.

- Chưa về hả Thanh? Lân hỏi.

Thanh cười bẽn lẽn rồi bảo:

- Bọn mình... nghĩa là mấy đứa học sinh Hà Nội bọn mình ấy... định mời... anh Lân và mấy người bạn đi bộ đội đợt này tới ăn một bữa cơm cho vui...

Lân ngạc nhiên hỏi:

- Các cậu... định mở tiệc tiễn bọn mình à?

- Không... - Thanh vội cải chính - không phải là tiệc tùng gì đâu... mà chỉ là ăn bữa cơm chia tay cho vui thôi mà... bọn mình sẽ làm món bún ốc kiểu Hà Nội để đãi các anh... Lân ngạc nhiên vì thấy hôm nay Thanh gọi mình bằng anh một cách ngọt ngào đến thế, không cậu cậu tớ tớ như mọi khi nữa.

- Nhưng... các bạn định... mời cả bọn sao...?

Thanh lại khẽ lắc đầu:

- Không... chỉ mời mấy người bạn thân thôi, có anh Lân, anh Bào, anh Côn với cả cậu Hướng hạt tiêu nữa...

Với lại hôm nay có cả gia đình cậu Cung, cậu ấy cũng đi bộ đội với các anh đợt này đấy!

Lân ngạc nhiên hỏi:

- Ông Cung súng máy, chủ nhà của các bạn ấy à?

Ông ấy... già thế rồi mà còn đi lính à?

- Vâng, nghe thấy bảo cậu ấy tình nguyện đi đợt này vì nhà chưa có ai cống hiến... Nếu không đi bộ đội đợt này, nay mai thống nhất rồi thì khó ăn nói với cơ quan với làng xóm lắm!

Lân cười:

- Cũng chả sao... ông ấy còn vác được súng máy chạy ầm ầm trên đê kia mà... Thôi được rồi, mình sẽ đến. Nhưng vào lúc nào đây?

Thanh vội nói ngay:

- Chiều nay, khoảng bốn giờ chiều anh Lân và các bạn đến thì vừa. Chúng mình... còn có thời gian tâm sự.

Trong giọng nói ngọt ngào của Thanh ẩn chứa một điều gì đó rất lạ khiến Lân cảm thấy trái tim mình như nghẹn lại. Anh không dám nghĩ rằng Thanh, một cô nữ sinh Hà Nội xinh đẹp, có bố là một nhà ngoại giao lại có cảm tình đặc biệt gì


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 10 Tháng Mười Hai, 2010, 05:40:18 pm
Trong lớp, đôi khi bạn bè vẫn đùa vui gán ghép anh với Thanh, nhưng chưa bao giờ anh cho đó là một chuyện nghiêm tức. Giữa hai người có một sở thích chung đó là văn thơ, cả hai đểu là học sinh giỏi văn của nhà trường. Thanh có nguồn mượn được nhiều sách hay, Lân vẫn thường tới chỗ Thanh ở trọ để mượn sách. Hai người cũng có nhiều dịp ngồi riêng với nhau nhưng thường chỉ là để đàm đạo chuyện văn chương mà thôi. Mỗi khi nghe các bạn đùa vui gán ghép anh với Thanh, anh thường thản nhiên bảo Thanh:

- Cậu thấy bọn nó có vô lí không? Mình với cậu thì có gì đâu cơ chứ?

Nhiều lần Thanh lặng im, nhưng cũng có lần Thanh làm ra vẻ đanh đá cự lại:

- Có gì thì có gì, sợ gì cơ chứ?

Lân rất thích được nghe lại cái giọng rắn giỏi, hơi pha chút chua ngoa đó của Thanh.

- Anh Lân nhận lời chứ?

Lân giật mình như sực tỉnh lại. Anh vội vã gật đầu:

- Được rồi... chiều nay nhất định bọn mình sẽ đến! 6

Đó là lần đầu tiên Lân được ăn món bún ốc theo kiểu Hà Nội. Cho mãi tới tận ngày hôm nay đó vẫn là món ăn mà giáo sư Lân ưa thích nhất. Khi về làm vợ ông được tròn năm bà Thảo mới biết được sở thích này của chồng. Nhưng bản thân bà thì lại không biết nấu món bún ốc. Chiều chồng, bà phải đến một nhà bà bạn giỏi nấu ăn để học nấu món này theo đúng kiểu Hà Nội. Bà đã thành công, thậm chí có lần bà đã thay mặt cho ban nữ công của cơ quan bộ đi dự thi nấu ăn bằng món này và đã giật được giải nhất của hội thi. Nhưng có điều lạ là ông Lân vẫn thấy món bún ốc vợ mình nấu hình như vẫn còn thiêu thiếu một chút gì đó, không ngon như lần đầu ông được ăn ở nhà cậu Cung.

Có điều ông không bao giờ nói ra điều ấy với vợ. Sau này, ông đành bằng lòng với cách lí giải rằng có lẽ cái phần mà ông thấy đặc biệt hơn trong món bún ốc mà Thanh nấu ở nhà cậu Cung là phần tâm lí, cũng có thể là do ấn tượng đặc biệt khi lần đầu tiên ông được tiếp xúc với món ăn này.

Một năm sau vào tháng ba năm sáu tám, ở trong cái căn hầm bếp chật chội và nóng như thiêu của cậu Cung trên chốt Động Mã - Bắc đường số chín, sau khi nhá hết mấy miếng cháy nồi do cậu Cung ưu ái dành cho, Lân bỗng nghệt mặt ra nghĩ ngợi một lát rồi kêu lên:

- Trời ơi... hôm nay là ngày 18 tháng ba, đúng là “ngày ấy”!

Cậu Cung ngạc nhiên hỏi lại:

- Ngày gì?

- Ngày mà... bọn tôi... được đãi món bún ốc ở nhà cậu ấy!

Cậu Cung phá lên cười:

- Cái thằng... nhớ gì không nhớ... lại nhớ món bún ốc. Nhưng mà, nói gì thì nói, mấy đứa con gái Hà Nội nó nấu món ấy ngon thật đấy. Ốc thì quê mình thiếu gì, bà xã nhà tớ vén váy xuống đầm một tiếng là mang về hàng xảo, ấy vậy mà chưa bao giờ bà ấy biết nấu món ốc cho ra hồn. Cậu không biết chứ, mấy đứa con gái Hà Nội ấy nó còn biết nấu món ốc với chuối xanh, đậu phụ tuyệt ngon. Bà xã tớ học mãi mà chả được. Sau này mấy đứa con gái tớ lớn lên, nhất định phải cho một đứa đi học trung cấp nấu ăn!

Nói về nghệ thuật nấu ăn thì cậu Cung thật... kinh khủng. Có lẽ vì cậu là người nhiều tuổi nhất nên đại đội mới phân cho cậu cái vai anh nuôi trưởng. Chứ, cậu quả thật không có một tẹo năng khiếu nào về mặt ẩm thực. Nhưng bù lại, cậu rất nhanh nhẹn và lắm sáng kiến. Ngoài ra, cậu cũng có được một món tủ mà lính đại đội bảy rất thích, đó là món cơm nắm! Cậu nắm cơm rất dẻo và mịn, thái lát cơm ra, cứ như lát bánh ấy.

Mà lạ, cơm của cậu nắm đưa lên chốt để hai ba ngày vẫn không bị thiu, chỉ cần gọt cái vỏ ngoài ra là bên trong vẫn còn thơm ngon. Cái hôm nhóm trinh sát sư đoàn của thằng Côn bắt được một thằng Mỹ khênh về qua chốt, cậu Cung cũng thưởng cho mấy nắm cơm nắm ăn với muối lạc. Thằng Mỹ cũng được đãi, hắn ăn ngốn ngấu, rồi chìa tay ra xin thêm. Miệng ồm oàm:

“Xen đuých... Xen đuých... đì-lít-xựt”. Cậu Cung điên tiết chửi toáng lên. “Đuých đoác cái mả mẹ mày ấy...! Mày ăn hết hai nắm của tao rồi đấy!”.

Thằng Mỹ hốt hoảng la lên ú ớ vài tiếng rồi vươn cái cổ đỏ au ra mà ngắc, ngắc. Thì ra, nó bị nghẹn.

Thằng Côn vội chồm tới đấm thùm thụp vào cái lưng to bè của nó cho đến khi nó oẹ ra cả một đống cơm nắm cùng mới nước mũi nước dãi nhoe nhoét. Côn cũng sợ tứa cả mồ hôi, ngồi bệt xuống thở rồi quay lại trách:

- Cậu làm tôi hết hồn... Nó mà có làm sao thì bọn tôi bị trung đoàn trưởng nghiền ra bã!

Nhưng đó là chuyện về sau. Còn vào cái buổi chiều ngày 18-3 hôm ấy thì chính Côn cũng mắc họa ẩm thực, không phải vì nghẹn bún ốc mà vì bị sặc ớt bột. Đây cũng là một thứ sản phẩm của văn minh đô thị do bọn con Thanh mang về chứ người nhà quê thì có mấy ai dùng ớt bột. Côn thường ăn rất nhiều ớt, nhưng hôm đó cu cậu bị sặc ớt bột không phải do không có ý tứ trong việc ăn uống mà vì một nguyên nhân hoàn toàn chẳng liên quan gì đến các loại thực phẩm. Lúc đó cái Thoa vừa chiêu cho Côn một bát bún khá đầy, cậu ta cười tít mắt rồi cầm muổng xúc một thìa ớt bột lên, chưa kịp rắc ớt bột lên bát bún thì Phạm Xuân Ban vừa bấm chuông xe đạp bính boong ầm ĩ lao thẳng vào sân nhà cậu Cung. Chiết xe vừa phanh kít lại thì lại nghe huỵch, một cái bị thịt nặng hơn năm mươi kí lô có tên là Lê thị Đào từ phía sau xe của Ban nhảy xuống. Chỉ kịp nghe thấy Côn kêu ở lên một tiếng rồi buông vội bát bún, ôm mặt ho sặc sụa... Không hiểu bằng cách nào mà cậu ta đưa luôn cả thìa ớt bột vào mũi... Cả hội nhao nhác lên, Thoa vội ra bể nước múc một chậu thau nước mưa vào rồi dúi đầu Côn xuống đó. Mười lăm phút sau Côn mới thoát nạn nhưng mắt mũi thì vẫn cay xè, bỏng rát khiến cậu ta đành lắc đầu đứng dậy chứ không ăn được nữa. Trong khi ấy Đào vẫn bô la bô lô:


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 10 Tháng Mười Hai, 2010, 05:45:02 pm
- Bọn bay tệ thật đấy. Mở tiệc mà sao không ới bọn này một tiếng, hả? Tớ với anh Ban vừa đi thị xã may áo về chỉ tình cờ ghé qua đây, không ngờ lại có lộc ăn!

Nói rồi cô ta ào vào mâm, múc cho Ban một bát, mình một bát rồi vừa ăn rào rào vừa trò chuyện ầm ĩ.

- Bọn mày biết không? Thì ra sáng nay bọn giặc lái Mỹ nó đánh bom trong suối Hai đấy. Mình bắn rụng hai chiếc. Nghe nói trong Ba Trại người ta kéo cả làng đi bắt phi công, vui lắm. Mà hình như bom nó ném trúng một khu chợ ở đâu đó bên Việt Trì, chết ối người ra đấy!

Thanh hỏi:

- Mấy hôm nay máy bay nó quần dữ thế, nghe nói ngoài thị xã người ta đi sơ tán hết, chúng bay lại còn mò ra đó may áo may sống làm gì?

- Ôi dào... nghe hơi nồi chõ hết. Dân thị xã họ có đi sơ tán đâu.... Chợ Nghệ vẫn đông như kiến ấy. Bọn tao chọn mãi mới được một cửa hàng họ nhận may lấy nhanh đấy. Chiến tranh mà người ta vẫn may mặc ầm ầm ra ấy chứ. Toàn pôpơlin trắng, phin nõn hồng với lại tuýt xi pha lon nhé!

Cậu Cung vừa nhâm nhi chén rượu vừa đủng đỉnh góp chuyện:

- Thế mới ra cái tư thế người Việt Nam mình chứ.

Đánh Mỹ thì vưỡn cứ phải ung dung...

Lân tư lự nói:

- Dân mình không sợ chết... nhưng lại sợ đói đấy, cậu ạ!

- Đói khổ một tý thì đã sao - cậu Cung khảng khái tiếp - nay mai thống nhất rồi, nước mình chẳng lại có cả tàu vũ trụ như Liên Xô ấy à? Lúc ấy mà còn sống á? Tớ nhất định đăng kí với nhà nước một xuất lên khai hoang trên mặt trăng.

Mợ Cung vừa từ trong bếp ra nghe thấy cậu Cung nói vậy liền cười khúc khích:

- Bố nó lên mặt giăng mà ở với chú cuội thì hợp cảnh đấy!

Con bé Cún vội buông đũa chạy lại ôm lấy cổ bố - Bố...! Con có được lên chơi trên ông giăng không hả bố?

Cậu Cung xoa đầu con:

- Sao lại không? Con chó Lai Ka của Liên Xô nó còn lên được nữa là con gái yêu của bố, nhể!

Con Cún vỗ tay cười khanh khách chạy vội vào bếp khoe với các chị: - Chi Cải ơi... bố cho em lên chơi trên ông giăng đấy!...

Bữa ăn trở nên sôi nổi hơn khi mọi người xoay sang nói chuyện Liên Xô đang đua tài với người Mỹ chinh phục mặt trăng. Côn vừa dứt cơn ho vì sặc ớt nghe thấy mọi người tranh nhau nói về khoa học vũ trụ liền điên tiết bảo:

- Các ông dở hơi bỏ mẹ. Sắp đi đánh nhau rồi, biết còn mang được cái gáo dừa về hay không mà lại cứ nói những chuyện hão huyền!

Ban gân cổ cãi:

- Sao lại hão huyền. Đó là lạc quan cách mạng, cậu hiểu không? Ai lại như cậu, chưa ra trận mà đã bi quan rồi thì còn đánh đấm cái nỗi gì?

Côn nhếch mép cười:

- Xin lỗi chính uỷ nhé... Tớ không thích nghe lên lớp vội đâu. Mẹ, cái thứ ớt bột này ghê thật đấy. Không khéo mình phải nhờ Thoa mua cho một ít ớt bột mang theo để làm bom ớt cũng nên. Thủ thứ này trong tay, khi nào giáp lá cà với thằng Mỹ, cứ tung cho nó một nắm vào mắt là nó mù ngay. Tha hồ mà bắt sống!

Thoa khúc khích cười hỏi:

- Thế có ăn được nữa không? Còn phần cậu một ít bún đây này!

Côn xán lại ngồi cạnh Đào:

- Ăn chứ... Quanh năm ăn cơm độn sắn, nay được đãi một bữa bún ngon thế này mà không biết tận hưởng thì phí quá! - Rồi cậu ta liếc nhìn sang Đào- nhưng nếu Đào còn ăn được thì mình xin nhường luôn đấy!

Đào bĩu môi:

- Cám ơn ông nhé... Nhưng mình béo quá rồi, phải giữ eo một tý kẻo anh Ban anh ấy chê chứ!

Ban bỗng đỏ bừng mặt gắt:

- Cái cô này ăn nói hay nhỉ!

Thanh và Thoa nháy nhau cười. Họ đều biết rằng Đào không hề che giấu tình cảm mà cô ta dành cho Ban. Cô rất thích nghe bạn bè gán ghép mình với Ban và coi những lời gán ghép đó là một chuyện gì đương nhiên rồi. Nhưng họ cũng biết một điều khác nữa, đó là việc Côn cũng có cảm tình đặc biệt với Đào. Hai đứa là người cùng làng, học với nhau từ lớp vỡ lòng cho đến bây giờ. Hai năm đầu lên Huyện học cấp ba, ngày nào Côn cũng lai Đào đến lớp, lúc nào cũng cúc cung tận tuỵ như một tay vệ sỹ riêng của Đào vậy. Mà cái con bé đáo để ấy thì lại chúa hay sai vặt, hay sách nhiễu Côn.

Hễ có đứa nào định bắt nạt Đào là Đào lại mách với Côn ngay. Không biết bao lần Côn đã phải đánh nhau với đám trẻ con trong làng ngoài xóm vì Đào rồi. Nổi tiếng là đứa ngang tàng ngỗ ngược nhất trong lớp, nhưng Côn lại luôn phải chịu lép trước Đào. Ngay cái chuyện Đào ra mặt thích Ban, Côn thấy chướng mắt nhưng cũng cứ phải im lặng mà chịu đựng. Đâu như cũng có lần Côn lên tiếng rèm pha rằng cái thằng con quan huyện ấy chỉ là đồ công tử bột, Đào lập tức nghiêm mặt bảo “Nếu tớ mà còn nghe cậu nói xấu Ban một lần nữa thì tớ sẽ không khiến cậu lai đi học nữa đâu!”. Hôm vừa rồi, thấy Đào xỉu ở trước lớp khi đột ngột nghe tin Ban đi bộ đội thì Côn biết rằng quả thực trong trái tim Đào, Ban là người có vị trí hết sức quan trọng. Côn buồn, nhưng cũng cố gắng không thể hiện ra mặt.

Tối hôm trước, Côn tới nhà Đào thì thấy cô đang khóc tức tưởi. Hỏi ra mới biết rằng nhà Đào có một mảnh vải áo màu xanh sỹ lâm, là vải được phân phối vì bố mẹ Đào đã vượt mức kế hoạch bán lợn nghĩa vụ cho nhà nước. Vượt chỉ tiêu những bốn mươi lăm cân lợn hơi nên được phân phối một mảnh vải áo, hai lạng len, nửa bánh xà phòng. Có lẽ vì mảnh vải màu xanh không hợp lắm với con gái nên tuần trước bố Đào quyết định đem cho chú Thảo, đang học đại học Lâm nghiệp dưới Quảng Ninh. Hôm nay tự dưng Đào hỏi đến mới biết mảnh vải áo ấy không còn nữa. Biết đầu đuôi câu chuyện rồi, Côn lẳng lặng về nhà lấy mảnh vải Pôpơlin màu xanh trứng sáo bà chị dâu cho từ hồi đầu năm nhưng Côn vẫn để dành mang sang đưa cho Đào rồi nói:

- Màu này có khi cậu mặc thì hợp hơn là màu xanh sỹ lâm đấy!

Đào vồ vội lấy mảnh vải mở tung ra xem rồi cười khanh khách:

- Đẹp quá...! Anh Ban da trắng, mặc màu này có khi còn hợp hơn cả màu xanh sỹ lâm ấy chứ! Cám ơn cậu nhé, khi nào có miếng khác, mình sẽ đền cho cậu!

Côn chết lặng cả người khi nghe Đào nói một cách hồn nhiên như vậy. Thì ra Đào làm tình làm tội bố mẹ là vì muốn có một miếng vải may áo cho cái thằng trời đánh ấy. Chả lẽ lại đòi lại, Côn đành thở dài rồi lặng lẽ ra về. Có lẽ hôm nay Đào đưa Côn đi may cái áo ấy về cũng nên?

Câu chuyện về cái áo màu trứng sáo ấy Côn đã định giữ mãi trong lòng không nói với ai. Nhưng đến hôm giao quân, khi nhìn thấy Ban diện cái áo ấy đến nơi tập trung và đôi mắt rực lửa của Đào cứ dán vào người Ban thì Côn không chịu được nữa. Anh hầm hầm tiến lại trước mặt Ban hất hàm hỏi:

- Này... Mày diện cái áo ấy để đi đầu quân mà không biết ngượng à?

Ban ngạc nhiên hỏi lại:

- Việc gì mà tao phải ngượng? Trông nó sang quá!

- Sang cái con khỉ! Mày biết bòn của của bọn con gái từ bao giờ thế hả?

Ban giận tím mặt bước xấn lại định vung nắm đấm đấm lên nhưng Côn nhanh tay hơn đã vươn người tới khoá chặt tay cậu ta và rít lên:

- Mày định dở trò du côn ra với tao hả? Có thách tao lột áo của mày ra ngay bây giờ không?

Đào lập tức xô lại ôm lấy người Côn hét lên:

- Cậu làm trò gì thế, hả Côn? Buông ngay anh ấy ra không thì mình không thèm nhìn mặt cậu nữa đâu?

Côn sững lại vài giây rồi nới lỏng tay thả Ban ra.

Lúc ấy đám bạn bè cùng lớp mới kịp chạy tới hỏi dồn - Có chuyện gì thế hả các cậu?

Côn vừa lặng lẽ bỏ đi vừa xua tay nói với mọi người - Không có chuyện gì... không có chuyện gì đâu!



Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 10 Tháng Mười Hai, 2010, 05:53:30 pm
Tiếng còi tập trung cũng vừa vang lên. Mọi người không ai hỏi thêm câu nào nữa nhưng một vài người còn kịp nhìn thấy Ban giận giữ lột cái áo trứng sáo ra vo tròn quẳng lại cho Đào rồi cứ ở trần trùng trục như vậy mà chạy ra nơi tập trung.

Không ngờ, cái áo màu trứng sáo ấy Đào đã giữ được cho đến tận ngày nhận được giấy báo tử của đơn vị gửi về. Khi nhận được thư của Ban báo tin sư đoàn trưởng Côn hi sinh và nhờ Lân tìm đến nhà để an ủi mẹ con Đào thì mới được nghe Đào kể sự tích tấm áo ấy và câu chuyện về mối tình đầy sóng gió của họ.

Nhưng vào cái buổi sáng hôm ấy ở nơi tập trung tân binh, khi thấy mấy đứa cùng lớp xì xào về chuyện Côn và Ban vừa xô sát nhau không hiểu vì chuyện gì, hình như thằng Côn đã chỉ trích cậu Ban rằng sắp ra trận đến nơi rồi mà còn ăn diện, rõ ra cái tư cách tiểu tư sản, công tử phố huyện, Ban giận quá nhưng hình như cũng thấy ăn mặc như thế thật không hợp cảnh nên đã lột cái áo màu trứng sáo ấy ra vứt lại rồi. Nghe các bạn nói vậy Lân chỉ cười, bình luận thêm:

- Thằng Côn như thế là hơi lỗ mãng rồi!... Góp ý với bạn thì cũng phải tế nhị chứ! Ai lại đi bóc mẽ nhau ngay trước đông đảo công chúng thế này bao giờ?
7

Sau bữa bún ốc chiều hôm ấy, trước khi chia tay, Thanh ngượng ngập trao cho Lân một cuốn sổ khá dày và đóng bìa cứng rất đẹp.

- Mình tự đóng lấy đấy... Lân cầm đi mà ghi nhật kí mặt trận. Khi nào gặp lại, cho bọn mình đọc với cho vui.

Lân nhận quà, hứa sẽ cố gắng ghi chép. Khi tiễn Lân ra cổng, Thanh nói thêm:

- Lân đừng bỏ làm thơ nhé. Thơ của Lân cũng hay lắm đấy!

Lân cười:

- Đi đánh giặc... còn thơ với thẩn làm gì?

- Lân cứ nói vậy... đường ra trận là nên thơ lắm đấy. Lân xem, Phạm Tiến Duật đấy, nhà thơ ấy chỉ làm thơ về Trường Sơn thôi, mà rõ là hay!

Lân cười phá lên:

- Nhưng... ông ta là một nhà thơ có tài... Còn mình thì chỉ là một cậu học trò đang tập tọng làm thơ thôi.

Thanh đứng lại nhìn sâu vào mắt Lân một cách bạo dạn rồi nói khẽ:

- Nhưng... mình tin rằng rồi Lân cũng sẽ thành tài...

Chính vì lời nói ấy, ánh mắt tin cậy ấy mà sau này Lân không thể bỏ được nghiệp văn chương. Năm tháng và sự từng trải đã dần dần giúp anh hiểu được rằng có được một sự tin cậy, dù chỉ là niềm tin thơ ngây của một người bạn là một điều hết sức quan trọng. Chính ánh mắt tin cậy của Thanh đã khiến Lân không còn do dự nữa. Anh biết mình có một chút khả năng về văn chương và mình sẽ phải dùng khả năng đó để ít nhất là ghi chép lại về cuộc ra trận hùng vĩ này của thế hệ mình, của bạn bè mình và của chính mình. Chỉ nửa năm sau, cuốn sổ của Thanh tặng đã được viết kín đặc những chữ là chữ. Sau này Thanh còn tìm cách gửi cho Lân thêm mấy cuốn sổ nữa và rồi chẳng bao lâu nó cũng được viết hết. Sau này, những cuốn tiểu thuyết của Lân cũng được viết ra từ những trang ghi chép ấy.

Tuy vậy, không phải ngay từ ngày đầu mặc áo lính Lân đã mang cuốn sổ đó ra ghi chép. Phải một tháng sau, ở nơi đóng quân, sau cái hôm chính trị viên Lương Xuân Báo phát hiện ra đồng chí Hùng Phong chính là chiến sỹ Phạm Xuân Ban của đại đội mình, anh mới chợt nghĩ ra rằng có lẽ mình cần phải ghi chép lại những câu chuyện liên quan đến bạn bè đồng đội của mình. Để làm gì thì chưa biết, nhưng hãy cứ ghi lại cái đã. Và câu chuyện đầu tiên mà anh ghi lại chính là câu chuyện về “đồng chí Hùng Phong”. Hồi ấy cuộc phát hiện ra đồng chí Hùng Phong đã khiến anh xúc động thật sự. Anh nhận thấy rằng trong câu chuyện này Ban quả là người có tinh thần cách mạng cao, lại vô tư trong sáng. Cậu ấy cũng không hề có ý định đầu cơ cái vụ trốn bố đi bộ đội. Việc cậu ta được lăng xê cũng chỉ là một sự tình cờ mà thôi. Vì thế, tại sao lại không thấy tự hào khi mình có một người bạn như vậy nhỉ? Vì thế, sau khi viết xong những trang ghi chép rất xúc động về đồng chí Hùng Phong, anh đã thành thật mang tới đọc cho một vài người bạn cùng lớp còn được may mắn biên chế vào một đại đội nghe. Nghe anh đọc xong cậu Hướng nhí khen “Anh viết hay thật đấy. Giá đem bài này in lên báo thì còn hay hơn cái bài của phóng viên nhiều”. Đến lượt Côn, nghe xong hắn nhăn mặt bảo “Thối hết sức” rồi bỏ đi luôn khiến Lân tưng hửng. Còn Ban nghe đọc xong, chỉ cười tảng lờ và khen “Quyển sổ đẹp quá nhỉ?”, rồi cầm lấy cuốn sổ lên xăm xoi. Bất ngờ cậu ta phát hiện ra một điều thú vị.

- Lân... cậu xem này... mặt trong của trang bìa, hình như có một tấm ảnh!

Lân vội lật bìa sau của cuốn sổ ra xem, thấy sau lần giấy bóng lót có một cái gì đó cồm cộm, đưa lên soi trước ánh sáng thì quả nhìn thấy một tấm ảnh. Ảnh ai thế nhỉ, sốt ruột, Lân vội lấy con đao nhíp trong túi ra tách một đầu tờ giấy lót và nhẹ nhàng lôi ra một tấm ảnh cỡ 9 x 6. Đó là một tấm ảnh của Trần Huyền Thanh, cô nữ sinh Hà Nội xinh đẹp, kiêu kì, học cùng lớp với Lân và Ban. Lật phía sau tấm ảnh thấy có dòng đề tặng được viết nắn nót “ Tặng bạn, đừng bao giờ quên những ngày tươi đẹp bên nhau, bạn nhé”.

Bên dưới là chữ kí và dòng địa chỉ nhà Thanh ở phố Lý Thường Kiệt Hà Nội.

Ban bần thần nhìn tấm ảnh một lúc lâu mới thốt lên được một câu “Con bé này... xinh chết người đi được!”.

Tấm ảnh ấy Lân giữ mãi cho tới năm 1971, rồi anh bị thương trong một trận đánh dữ dội trên điểm cao 456 với bọn lính sư đoàn dù của quân đội Sài Gòn. Khi anh tỉnh lại trong bệnh viện dã chiến thì tấm ảnh không cờn nữa, mặc dù tư trang của anh không mất thứ gì kể cả cuốn sổ ghi chép. Anh cho rằng có lẽ cậu thương binh nào đó đã thấy tấm ảnh một cô gái đẹp thì lấy ra chơi, rồi truyền tay nhau nên bị thất lạc. Anh càng không ngờ, chính tấm ảnh mà Thanh tặng cho Lân lại là nguyên cớ đầu tiên dẫn đến những bi kịch của cuộc đời Thanh. Anh đã sửng sốt biết bao khi sau ngày giải phớng miền Nam trở về, anh tìm đến cái địa chỉ mà ngày nào Thanh ghi sau tấm ảnh tặng mình thì đã gặp lại một cô Thanh hoàn toàn khác với một đứa con trai chừng bốn tuổi. Người thiếu phụ ấy tuy vẫn rất đẹp nhưng không còn giữ được những nét hồn nhiên tươi vui của cô nữ sinh Hà Nội năm nào. Chị dắt đứa con trai đến trước mặt anh và rưng rưng nói với con “Bảo, con khoanh tay chào bác Lân đi con”. Chẳng khó khăn gì anh cũng nhìn ra cái bóng của Ban trong thằng bé. Nhưng lạ thay, thằng bé này dường như cùng tuổi với đứa con gái đầu lòng của Ban. Chẳng lẽ...? Vào nhà ngồi được một lát, Lân chợt nhìn thấy trên giá sách có một khung ảnh nhỏ lồng tấm hình của Thanh, đó chẳng phải chính là tấm hình cô đã tặng anh trước ngày lên đường sao? Thấy Lân chăm chú nhìn tấm hình đó, Thanh cười buồn rồi kể - “Ban mang tấm hình đó về cho mình đấy. Buồn cười nhỉ, ngày ấy, mình để nó trong cuốn sổ tặng Lân mà run rủi thế nào anh Ban lại là người phát hiện ra. Anh ấy nói rằng Lân đã cho rằng hình như mình không có duyên với người trong ảnh nên đã tặng lại cho Ban, phải không?” Lân đớ họng, không biết trả lời Thanh ra sao? Thanh kể tiếp “Anh Ban nói rằng anh ấy giữ tấm ảnh của mình suốt mấy năm đi đánh giặc, cứ mỗi khi sắp bước vào một trận đánh lại mang ra ngắm. Rồi, đến khi anh ấy bị thương, Lân không biết chứ, máu anh ấy còn thấm cả vào tấm hình của mình đấy!”. Mẹ kiếp, thằng Ban xạo đến thế là cùng! Đó chính là máu của mình chứ? Cái thằng điêu toa đến vậy là cùng! Anh rủa thầm trong bụng. Nhưng Lân biết mình cũng chẳng nên cải chính làm gì? Bây giờ thì anh hiểu những lời đồn rằng Thanh đã có một đứa con với Ban chẳng có gì phải nghi ngờ nữa. Mẹ kiếp, một người anh hùng đã mang cả tấm hình của người con gái mơ mộng như Thanh vào trận rồi nhuộm cả máu vào đó nữa, thì muốn làm gì mà chả được. Mệt mỏi và buồn phiển, Lân không muốn nghe thêm chuyện gì nữa. Sau một vài câu chuyện vu vơ, đứt nối, anh đành chào hai mẹ con Thanh rồi khoác ba lô về quê mà không đám cất lời hỏi Thanh một câu về thằng bé. Những tưởng, điểu bí ẩn ấy sẽ còn lâu mới có người nhắc tới, nhưng ai ngờ vừa về tới quê hưdng, còn chưa kịp đi thăm ai thì Đào đã xồng xộc đạp xe tới và hỏi luôn:

- Này, anh Lân có gặp lão Ban không? Nghe nói bây giờ hắn ta làm to lắm phải không? Thể nào em cũng phảỉ cho thằng Sở Khanh ấy một trận nhớ đời. Nó đoạn tình với em thì còn có thể tha thứ được, vì dẫu sao em cũng chỉ là con bé nhà quê dại dột, khờ khạo, chứ cái việc nó bạc tình với con Thanh thì em không thể tha thứ được. Con bé vừa đẹp, vừa thông minh lại là con cái nhà tử tế ở thủ đô. Vậy mà nó dám làm cho con người ta có chửa rồi bỏ đi lấy người khác thì có khốn nạn hay không? Lúc nào anh đến nhìn thằng bé mà xem, giống cái thằng chó ấy như lột. Mà lạ, bị nó lừa tình như vậy mà cái con Thanh cũng cắn răng mà nhịn thì em cũng chẳng hiểu ra làm sao? Anh chưa kịp phản ứng thì Đào bồi tiếp một câu nghe ghê cả người:

- Đúng là mả nhà nó táng hàm rồng. Chứ... ngày ấy em mà có chửa thì nó có chạy đằng trời em cũng lôi cổ trở lại chứ em chẳng nhẫn nhịn được như con Thanh đâu?

Dường như biết mình đã lỡ lời, Đào đỏ bừng mặt cúi đầu cười:

- Anh Lân thông cảm... tính em vẫn lốp bốp thế đấy. Nhưng quả thực, ngày ấy... em dại ơi là dại...!
8

Tuy đã là nữ sinh cấp 3 nhưng Đào vẫn nguyên vẹn là một cô gái quê sôi nổi, chất phác và bộc trực. Cô học toán rất giỏi, nhưng các môn còn lại thì đều thuộc diện kém. Và dĩ nhiên, môn văn luôn là nỗi kinh hoàng đối với cô. Bữa nào trả bài tập làm văn mà cô được điểm năm thì có thể coi như một sự kiện của lớp. Có lẽ vì sùng kính môn văn như vậy nên Đào coi Lân và Thanh như hai vị thánh sống của lớp vậy. Với Lân thì cô luôn giữ thái độ “kính nhi viễn chi”, không dám tự cho phép mình tới gần, còn với Thanh, cô coi như một người ở thế giới khác, hoặc thuộc một chủng tộc có đẳng cấp hơn hẳn với mình. Cô không có thói quen giữ điều gì trong bụng, kể cả những điều sâu kín nhất. Ngay từ năm mới vào lớp chín, cô đã nói thẳng với đám bạn gái trong lớp:

- Các cậu nhăm nhe anh nào trong cái lớp này tớ cũng mặc, trừ Phạm Xuân Ban ra. Tớ xí cậu ấy rồi đấy!

Bọn con gái Hà Nội không hiểu được từ Xí, tiếng của người nhà quê là thế nào? Thanh thì bảo hình như đó là sự lựa chọn, Thoa lại cho rằng Xí với Si là một.

Mai không tin chỉ có vậy bèn hỏi thẳng Đào, xí nghĩa là thế nào? Cô ta giải thích một cách rất hình tượng “Bọn tớ ở nhà đi chăn trâu ngoài đê, hễ thấy bãi phân trâu, phân bò nào liền cắm lên đấy một cái que và nói- Tao xí bãi này rồi nhé! Thế là không đứa nào còn dám tơ hào đến nữa!”. Bọn con gáị trong lớp phá lên cười. Từ đó, bọn chúng gọi Ban bằng mật danh mới đó là Ban “xí que”... Đám con trai trong lớp không tài nào hiểu được cái bí danh lạ lùng ấy, nhưng cứ gọi mãi thành quen.

Ban cũng đành phải chấp nhận, cũng như cậu ta dần dần phải chấp nhận một thực tế là Đào đã yêu mình ra mặt. Lúc đầu cậu ta cũng tỏ ra khó chịu, vì thực tình Ban thích mấy cô gái Hà Nội hơn. Nhưng hình như vì Đào đã tuyên bố là Xí cậu ta rồi nên đám con gái trong lớp nhất là cánh Hà Nội, rất ngại tiếp xúc riêng với Ban. Bọn con trai thì đứa nào cũng ủng hộ cuộc tiến công không khoan nhượng của Đào và thấy cái trò săn đuổi ái tình một cách táo bạo, công khai, vừa đùa vừa thật ấy cũng có cái gì đó hay hay nên ai cũng ra sức vun vào - Dĩ nhiên, phải trừ ra một người đó là Nguyễn Danh Côn. Biết Côn cũng thích Đào nhưng con bé ấy lại không thèm để ý gì đến nên Ban cũng lấy làm thú vị. Vì thế mà dần dần Ban cũng thấy rằng chấp nhận tình cảm của Đào cũng có cái gì đó hay hay. Ít nhất anh ta cũng có được niềm tự hào là người thắng cuộc trước một thằng con trai mạnh mẽ, rắn giỏi như Côn!

Có lẽ chính vì cái vụ xô sát ở bãi giao quân hôm ấy mà Côn hiểu ra rằng mình không còn cơ hội nào nữa.

Đào đã yêu Ban quá rồi. Vốn là người độ lượng, chân thành nên cũng không vì thế mà Côn giận Đào và Ban.

Cũng may là trước lúc lên xe, Đào cũng còn kịp nhớ đến anh mà len đến bên cạnh rồi nói như thổi lửa vào tai anh “Đào xin lỗi anh Côn vì chuyện cái áo nhé...!

Sau này, khi nào có điều kiện, nhất định Đào sẽ may đền cho anh Côn một cái thật đẹp” Côn đành nhệch miệng cười “Liệu còn sống được mà về mặc áo của Đào không đây?” Đào đấm vào lưng anh một cái mà mắng rằng “Phỉ phui cái mồm ăn mắm ăn muối nhà anh, chưa ra trận mà đã nói gở rồi”. Nhưng cô vẫn cẩn thận dặn thêm “Anh Côn là người nhanh nhẹn, mạnh mẽ, khi nào vào trận anh nhớ che chở cho Ban với nhé!” Côn đành phải gật đầu rồi leo vội lên xe. Tình cờ, anh lại đứng ngay bên cạnh Ban. Từ trên thùng xe, nhìn Đào nước mắt giàn rụa, rối rít vừa vẫy tay vừa gọi tên Ban, anh bèn vỗ vai Ban mà nói” Cái Đào nó yêu cậu quá đấy. Tớ đành phải nhường bước thôi. Nhưng nếu có lúc nào đó cậu có điều gì không phải với Đào thì tớ sẽ đấm vỡ mặt cậu ra đấy!”.

Không ngờ, đến cuối năm 1971, trên đường hành quân vào chiến trường Tây Nguyên, Côn đã buộc phải thực hiện lời cảnh cáo ấy thật. Hồi ấy, sau chiến dịch Đường Chín - Nam Lào, Hùng Phong được cử ra Bắc báo cáo thành tích, dự đại hội tuyên dương Anh hùng, rồi được gửi đi đào tạo cấp tốc sáu tháng tại học viện quân sự cấp cao. Khi trở về sư đoàn Hùng Phong đã được thăng quân hàm đại uý và được bổ nhiệm chức trung đoàn phó. Sự thành đạt đến chóng mặt của Hùng Phong khiến bạn bè cùng lứa vô cùng ngạc nhiên nhưng cũng chẳng ai ghen tỵ. Công bằng mà nói thì hắn cũng là người có chiến công, nhưng thiếu gì người có chiến công mà không có được cơ hội để thành đạt?

Kể từ khi chính trị viên Lương Xuân Báo phát hiện ra “đồng chí Hùng Phong” cho đến thời điểm này, lúc nào Hùng Phong cũng trở thành trung tâm chú ý của cấp trên và của các cơ quan tuyên truyền từ đại đội cho tới toàn quân, toàn quốc. Được kết nạp Đảng ngay trước khi đi B, trở thành một Đảng viên trẻ nhất tiểu đoàn, thành “tấm gương rèn luyện phấn đấu” của đơn vị, rồi được đề bạt làm tiểu đội trưởng. Đến hết chiến dịch mùa xuân năm sáu tám anh đã trở thành một đại đội trưởng trẻ nhất trung đoàn. Không những vậy, với tài “xây dựng điển hình” chính trị viên Lương Xuân Báo, lúc này là chủ nhiệm chính trị trung đoàn, đã biến đại đội 9 trở thành đại đội Hùng Phong! Một tập thể nức tiếng trong toàn sư đoàn. Đến chiến dịch Đường Chín- Nam Lào năm 1971 thì chỉ qua hai trận đánh, đại đội 9 đã trở thành đại đội Anh Hùng và dĩ nhiên đồng chí Hùng Phong, con chim đầu đàn trong phong trào thi đua “Giết giặc lập công” cũng trở thành Anh hùng quân đội.



Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 10 Tháng Mười Hai, 2010, 05:56:14 pm
Tất cả những chuyện thăng quan, hến chức vù vù của Hùng Phong có lẽ cũng không khiến trung đội trưởng trinh sát Nguyễn Danh Côn bận tâm. Nhưng, có một chuyện mà anh nhất định phải thanh toán sòng phẳng với vị phó chỉ huy mới của trung đoàn. Việc đó nằm trong lá thư đẫm nước mắt của Đào gửi vào cho anh trước khi sư đoàn lên đường hành quân vào chiến trường Tây Nguyên, thực hiện khẩu hiệu Đi lâu - Đi sâu - Đi xa - Đánh to thắng lớn - Đánh đến thắng lợi hoàn toàn”. Trong thư, Đào tức tưởi kể lại rằng hoá ra Ban lại là một thằng Sở Khanh. Mặc dù đã thề non hẹn biển với Đào, mặc dù Đào đã trao cho anh ta cả “sự trong trắng của người con gái” trong cái lần Đào bò vào tận đơn vị thăm “mọi người” trước khi đi B, nhưng vừa rồi khi ra Bắc đi báo cáo thành tích, được phong là Anh hùng rồi thì “cái thằng mất dậy ấy” đã trở mặt. Hắn đã phụ bạc một cô gái nhà quê thật thà chất phác như Đào để cưới con một ông tướng gì to lắm. Vợ nó, cũng chẳng phải đẹp đẽ mĩ miều gì, hôm chúng nó đưa nhau về quê ra mắt họ hàng nhà ông phó chủ tịch tỉnh (Đến năm đó, ông Biên cũng đã thăng tiến được mấy bậc rồi), Đào cũng đã lén đến để xem mặt mũi nó ra làm sao?

“... Người gì mà gầy khẳng gầy khiu, mặt thì gãy, mũi to vồ? Thì ra, cũng thường thôi. Vậy mà sao anh Ban lại có thể lấy nó được nhỉ? Hay là vì bố nó là ông tướng to, có thể che chở cho anh Ban trên con đường thăng quan tiến chức. Mà anh ấy đã là anh hùng rồi, cả nước biết tiếng rồi, cần gì phải dựa vào ai? Hay là con mụ ấy nó có bùa ngải gì? Hả anh Côn? Em đã định cho nó một trận giữa bàn dân thiên hạ, nhưng nghĩ lại, làm thế chỉ khổ cho anh Ban thôi, nên em cố nhịn. Nhưng khi chúng nó kéo nhau đi rồi thì em thấy buồn quá. Buồn muốn chết đi được! Giá như cái hồi vào Lương Sơn thăm các anh mà em có con với anh ấy thì có lẽ anh ấy đã chẳng bỏ em được? Có lẽ, số em chẳng ra gì nên mới không thể lâý được người anh hùng lừng lẫy đến thế.

Em đau lắm, anh Côn ạ. Nhưng em không tự tử đâu. Phụ nữ thời Ba đảm đang này mà chết vì tình thì chỉ tổ người ta cười cho thôi. Mà biết đâu, làm thế lại liên lụy tới anh Ban thì khổ cho anh ấy?...”.

Đọc đến những dòng này trung đội trưởng Nguyễn Danh Côn nổi điên, anh vác súng chạy vào rừng nhằm vào một cây khộp mà xả hết cả một băng đạn. Nghe tiếng súng nổ, anh em trong đơn vị tưởng địch tập kích liền lập tức triển khai đội hình chiến đấu. Khi mọi người xông tới thì chỉ thấy trung đội trưởng Côn ngồi bệt bên gốc cây lỗ chỗ vết đạn, mặt đằng đằng sát khí. Không ai dám hỏi anh đã có chuyện gì xảy ra? Nửa tháng sau, trên đường hành quân vào Nam thì được nghe chủ nhiệm chính trị trung đoàn Lương Xuân Báo thông báo một tin vui lớn - Đồng chí Hùng Phong, Anh Hùng quân đội sẽ trở về trung đoàn và được bổ nhiệm làm trung đoàn phó. Hiện đồng chí Hùng Phong đang trên đường đuổi theo đơn vị, chỉ ngày một ngày hai là sẽ theo kịp đội hình của trung đoàn. Nghe xong tin ấy, trung đội trưởng Côn nghiến răng ken két và văng tục “Đồ chó chết!”.

Ba ngày sau, khi trung đoàn dừng chân nghỉ hai ngày ở một binh trạm thì Hùng Phong đuổi kịp trung đoàn. Chiều hôm đó, Côn nhận được thông báo sáng hôm sau, tất cả cán bộ từ đại đội và các trung đội trực thuộc trung đoàn phải có mặt ở khu trú quân của Ban chỉ huy trung đoàn để dự buổi ra mắt của trung đoàn phó mới. Nghe thông bao xong, anh nở một nụ cười lạnh như băng rồi bảo với trung đội phó Vinh “Có lẽ tôi sẽ phải trình diện ông trung đoàn phó này ngay chiều nay thôi!”. Nói xong, anh vắt áo lên vai rồi đi ngay!

Hùng Phong cũng vừa tắm ở dưới suối lên, trên người mặc bộ quân phục may đo mới cứng, là nếp thẳng tưng. Dưới suối cậu công vụ đang giặt quần áo cho thủ trưởng. Nhìn thấy Côn từ trên đồi đi xuống, trung đoàn phó Hùng Phong hơi biến sắc mặt, nhưng vốn là người biết cách làm chủ tình thế, anh ta liền ra vẻ mừng rỡ reo lên:

- A... xin chào người bạn học! Không ngờ, người đầu tiên trong “nhóm 10B” mình gặp lại khi về trung đoàn lại là cậu!


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 10 Tháng Mười Hai, 2010, 05:59:37 pm
Côn đứng chống nẹ nhìn anh ta khẽ cười:

- Điềm gở rồi, phải không ông Ban?

Ban cũng hiểu ngay rằng Côn đang muốn gây sự với mình và cũng biết vì chuyện gì nên nói ngay:

- Chúng mình nên tìm chỗ nào yên tĩnh mà nói chuyện. - Rồi bả lả nói thêm - Đào, gửi lời thăm cậu đấy!

Cái câu nói thêm ấy thật là tai hại. Vừa nghe thấy cái tên Đào, Côn liền gầm lên một tiếng “Thằng khốn nạn?”. Rồi, nhanh như chớp phóng tới tung một nắm đấm như trời giáng vào giữa mặt Ban. Đồng chí Hùng Phong chỉ kịp kêu ối một tiếng rồi loạng chạng ngã vật ngay xuống. Côn lao tới bồi tiếp một loạt “liên hoàn cước” khiến Hùng Phong ngã chúi đầu xuống suối.

Chưa hả cơn giận, Côn nhảy theo, túm lấy đầu kẻ tình thù định dúi xuống nước. Nhưng đúng vào giây khắc đó, anh nghe tiếng lên qui lát AK đánh roác một cái và tiếp theo là tiếng thét đanh gọn:

- Dừng ngay lại!? Nhúc nhích là tôi bắn bỏ đấy!

Côn quay lại và nhìn thấy cậu công vụ đang chĩa thẳng nòng súng vào mình, mặt bừng bừng nộ khí. Anh vội buông Hùng Phong ra rồi định lội lên bờ.

Cậu công vụ rê nòng súng theo anh, quát:

- Giơ tay lên!

Anh đang còn do dự thì cậu ta sán tới lên giọng đanh thép:

- Giơ tay lên! Anh bị bắt vì đã hành hung chỉ huy!

Sự thể chưa biết sẽ đi đến đâu nếu lúc đó Hùng Phong không gắng gượng đứng dậy dưới lòng suối và quát khẽ:

- Tơn! Bỏ súng xuống ngay!

Tơn ngạc nhiên hết nhìn vị chỉ huy của mình lại nhìn sang Côn với ánh mắt căm thù sôi sục:

- Bỏ súng xuống!

Hùng Phong vừa quát vừa gắng gượng bò lên bờ.

Cậu công vụ vội vàng khoác súng ra sau lưng rồi chạy lại giúp thủ trưởng. Hùng Phong leo lên bờ, người ướt rượt, máu mũi trào ra lênh loáng trên mặt.

- Thủ trưởng có sao không ạ?

Hùng Phong xua tay:

- Không sao... Cậu chạy về lán lấy cho mình bộ quân phục khác. Mang theo cả lọ thuốc xoa bóp ở trong cái hộp thiếc bên túi cóc phải ấy ra đây nữa.

Cậu công vụ vừa định đi thì Hùng Phong gọi giật lại:

- Này Tôn! Cậu tuyệt đối không được nói với ai chuyện này. Tuyệt đối không được hở với ai, hiểu không?

Cậu công vụ tỏ vẻ hơi ngạc nhiên, nhưng vẫn đáp:

- Rõ... Tôi sẽ không nói gì hết!

Hùng Phong phẩy tay:

- Được rồi... Cậu đi đi...

Khi cậu công vụ đã leo lên dốc, Côn mới uể oải leo lên bờ suối rồi bò tới, ngồi vật xuống bên cạnh Hùng Phong. Ông trung đoàn phó mới bỗng gục mặt xuống khóc hu hu khiến Côn cũng trở nên lúng túng. Anh nhìn xuống cái vẻ mặt thảm hại của Ban quát khẽ:

- Ông... ông... không ra... thể thống gì hết!... ít ra... ông cũng phải choảng lại tôi chứ...!

Hùng Phong nói trong tiếng nấc:

- Sao mà cậu... cậu... đánh người ta đau thế! Không khéo... vỡ cả xương hàm đây này...

Xương hàm của Hùng Phong không bị vỡ, nhưng cái mặt của anh ta thì sưng lệch một bên. Côn chợt nhớ ra mình còn giữ được một cái túi mật gấu, vội chạy một hơi về nhà đem ra. Sáng hôm sau, mặt của Hùng Phong đã hết sưng, nhưng cái vết tím bầm bên mắt phải thì phải mấy ngày sau mới tan hết. Chủ nhiệm chính trị Lương Xuân Báo không hề tin rằng Hùng Phong bị sưng vù cả mặt mũi lên như vây là do bị ngã khi đi tắm dưới suối. Ông ta âm thầm tiến hành


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 10 Tháng Mười Hai, 2010, 06:03:19 pm
cuộc điều tra nhưng đã không thể tìm ra sự thật. Nhưng ông ta biết một điều, đồng chí Hùng Phong, con gà nòi mà ông ta đã dày công nuôi vỗ hình như đã bị tấn công vì một lý do cá nhân nào đó. Công tác bảo vệ như vậy là có vấn đề. Người đầu tiên phải gánh hậu quả là cậu Tơn công vụ. Cậu lập tức bị điều xuống đơn vị chiến đấu và đã hi sinh ngay trong trận đầu sư đoàn giáp trận ở chiến trường Tây Nguyên. Vào thời điểm cậu Tơn hi sinh, Lương xuân Báo đã trở thành chính uỷ trung đoàn. Khi nghe được tin cậu công vụ tận tuỵ của mình đã hi sinh, Chính uỷ mới nói với trung đoàn phó Hùng Phong:

- Hôm đó cậu đánh nhau với ai chỉ có cậu Tơn biết, bây giờ thì cậu ấy sẽ mãi mãi giữ được bí mật về hành vi thiếu cẩn trọng của cậu rồi. Từ nay, không nên để tái diễn nữa.

Vụ xì căng đan ấy mãi sau này khi vào đến chiến trường Tây Nguyên, Côn mới kể cho Lân nghe. Nghe Côn kể xong câu chuyện, Lân gật đầu khen:

- Chỉ có cậu mới dám làm như thế. Nhưng có lẽ từ nay cậu sẽ khó sống với thằng Ban đấy!

Nhưng điều dự đoán ấy của Lân đã không thành sự thật. Ban không bao giờ nhắc lại chuyện này, và không bao giờ có ý định dùng cái thế cấp trên của mình để trả thù Côn, mặc dù số phận cứ bắt hai người cặp kè bên nhau với mối quan hệ nhập nhằng, vừa là bạn bè vừa là cấp trên cấp dưới. Khi Côn được đề bạt lên làm đại đội trưởng rồi chủ nhiệm trinh sát sư đoàn thì Hùng Phong cũng lần lượt được đề bạt làm tham mưu phó, tham mưu trưởng rồi sư đoàn phó sư đoàn trưởng. Nếu muốn trả thù vì trận đòn tình ngày ấy thì thiếu gì cơ hội, nhưng Hùng Phong đã cố gắng để “công tư phân minh” trong mối quan hệ với Côn. Và có lẽ cũng vì vậy mà họ vẫn còn giữ được tình bạn với nhau cho đến tận khi Côn hi sinh ở xứ người. 9

Trong đám con gái lớp 10B, còn phải nhắc tới hai nhân vật khá đặc biệt nữa. Người thứ nhất là Lý Hảo Hảo, một cô gái bố Hoa mẹ Việt ở phố Hàng Buồm. Bố Hảo từng là chiến sỹ của sư đoàn Quân tiên phong, từng tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, được thưởng huân chương chiến công hạng ba. Hoà bình ông ra quân với quân hàm chuẩn uý và được chuyển ngành về công tác tại công ty ăn uống Tràng Tiền, và trở thành một đầu bếp nổi tiếng ở Hà Nội. Ngoài cái tài nấu ăn được kế thừa từ người cha và năng khiếu đặc biệt về tiếng Trung, một trong hai môn ngoại ngữ được đưa vào dạy trong các trường phổ thông hồi đó, thì Lý Hảo Hảo chàng có gì nổi bật so với đám con gái trong lớp. Nhưng trong cuốn sách này, chúng ta vẫn cần phải nhắc tới cô vì không hiểu do duyên cớ gì mà số phận lại gắn bó cuộc đời cô với một trong những nhân vật hết sức quan trọng mà từ đầu tới giờ chúng ta vẫn thường xuyên phải nhắc tới với một thái độ kính trọng đặc biệt. Đó là chính trị viên Lương Xuân Báo sau này sẽ trở thành chính uỷ trung đoàn, người đỡ đầu một cách chân thành tận tuỵ của Hùng Phong. Câu chuyện tình của chính uỷ Lương Xuân Báo thật ra cũng bắt đầu từ “mối lương duyên” giữa anh và Hùng Phong. Nhưng chuyện này, mãi về sau mới được Hùng Phong tiết lộ.

Người thứ hai trong đám nữ sinh của lớp 10B cần được nhắc tới là Trần Hoà Bình, bạn bè trong lớp thường gọi là Bình lai vì cô cũng là một cô gái lai như Lý Hảo Hảo nhưng không được may mắn bằng vì cha cô là một người gốc Phi. Ông Lơgốt Trần Chiến Thắng là một hàng binh người An-giê-ri, ông ra hàng quân đội của Cụ Hồ Chí Minh từ năm 1947, rồi trở thành một chiến sỹ làm công tác địch vận của quân đội ta cho đến tận ngày hoà bình lập lại. Sau chiến tranh ông cũng được tặng thưởng huân chương, được phong quân hàm thiếu uý, ông được nhập quốc tịch Việt Nam và tình nguyện ở lại Việt Nam sinh sống vì đã lấy một người con gái Việt Nam làm vợ. Khi về tiếp quản thủ đô ông được điều về công tác tại văn phòng chính phủ, chuyên làm phiên dịch và đã có lần được dịch cho Cụ Hồ trong những buổi tiếp khách nước ngoài.

Nhưng rồi, không hiểu vì sao ông lại xin chuyển về nông trường Âu Phi ở Ba Vì - Sơn Tây, một nông trường được thành lập riêng cho những từ hàng binh trong quân đội Pháp, đa số là người gốc Phi, đã không chịu trở về Tổ Quốc theo hiệp định trao trả tù binh giữa chính phủ Việt Nam và chính phủ Pháp. Họ tình nguyện ở lại lập nghiệp tại Việt Nam, nhiều người đã xin nhập Quốc tịch để trở thành công dân Việt Nam.

ông Lơgốt Trần Chiến Thắng lúc đó đã có hai đứa con sinh đôi, đứa con trai ông đặt tên là Trần Tự Do, đứa con gái là Trần Hoà Bình. Cùng với người vợ Việt Nam và hai đứa con sinh đôi, ông đã quyết định về lập nghiệp tại nông trường Âu Phi, hi vọng cùng với những người cùng cảnh ngộ với mình xây dựng nên một mô hình kinh tế - xã hội “Xã hội chủ nghĩa đa chủng tộc”, một thiên đường cho những người không có Tổ Quốc ngay trên Tổ Quốc mới của họ.

Cho tới trước khi đế quốc Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại ra miền Bắc, có vẻ như ông Lơgốt Trần Chiến Thắng và những người cùng chung lí tưởng với mình đã xây dựng được một thiên đường nhỏ, một cộng đồng dân cư đa chủng tộc ấm cúng và hạnh phúc. Nhiều người trong số họ đã có những gia đình riêng.

Trong những năm mới thành lập nông trường, cư dân trong vùng còn ngại tiếp cận với anh em người Phi, vì thế việc họ lấy được vợ người Việt Nam có vẻ như rất khó khăn. Nhưng từ khi gia đình ông Lơgốt Trần Chiến Thắng về đây thì dần dần hai cộng đồng đã tìm được cách để xích lại gần nhau. Vài ba năm sau, vượt qua mọi lời dị nghị, đã có những người phụ nữ đầu tiên trong vùng trở thành vợ những ông “Tây đen” khoẻ mạnh và rất đa tình. Cũng phải nói thực, mở đầu cho những cuộc hôn nhân đặc biệt ấy đa số là những bà, những cô đã quá lứa nhỡ thì hoặc những người phụ nữ goá chồng, không còn có khả năng xây đắp lại hạnh phúc với “người mình” nên đành liều mạng vào cuộc “phiêu lưu ái tình xuyên châu lục” xem nó ra làm sao?

Nhưng chỉ vài ba năm sau, đã xuất hiện những cô gái trẻ và không thể nói rằng không xinh đẹp đã về làm dâu “Nông trường Âu Phi”. Những câu chuyện tình mang màu sắc quốc tế ấy nhiều khi cũng rất lì kỳ và cảm động mà sau này cánh lính đại đội 9 thường há hốc mồm ra nghe Trần Tự Do kể thâu đêm suốt sáng trong những đêm nằm trên chốt Động Mã.


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 10 Tháng Mười Hai, 2010, 06:06:07 pm
cuộc điều tra nhưng đã không thể tìm ra sự thật. Nhưng ông ta biết một điều, đồng chí Hùng Phong, con gà nòi mà ông ta đã dày công nuôi vỗ hình như đã bị tấn công vì một lý do cá nhân nào đó. Công tác bảo vệ như vậy là có vấn đề. Người đầu tiên phải gánh hậu quả là cậu Tơn công vụ. Cậu lập tức bị điều xuống đơn vị chiến đấu và đã hi sinh ngay trong trận đầu sư đoàn giáp trận ở chiến trường Tây Nguyên. Vào thời điểm cậu Tơn hi sinh, Lương xuân Báo đã trở thành chính uỷ trung đoàn. Khi nghe được tin cậu công vụ tận tuỵ của mình đã hi sinh, Chính uỷ mới nói với trung đoàn phó Hùng Phong:

- Hôm đó cậu đánh nhau với ai chỉ có cậu Tơn biết, bây giờ thì cậu ấy sẽ mãi mãi giữ được bí mật về hành vi thiếu cẩn trọng của cậu rồi. Từ nay, không nên để tái diễn nữa.

Vụ xì căng đan ấy mãi sau này khi vào đến chiến trường Tây Nguyên, Côn mới kể cho Lân nghe. Nghe Côn kể xong câu chuyện, Lân gật đầu khen:

- Chỉ có cậu mới dám làm như thế. Nhưng có lẽ từ nay cậu sẽ khó sống với thằng Ban đấy!

Nhưng điều dự đoán ấy của Lân đã không thành sự thật. Ban không bao giờ nhắc lại chuyện này, và không bao giờ có ý định dùng cái thế cấp trên của mình để trả thù Côn, mặc dù số phận cứ bắt hai người cặp kè bên nhau với mối quan hệ nhập nhằng, vừa là bạn bè vừa là cấp trên cấp dưới. Khi Côn được đề bạt lên làm đại đội trưởng rồi chủ nhiệm trinh sát sư đoàn thì Hùng Phong cũng lần lượt được đề bạt làm tham mưu phó, tham mưu trưởng rồi sư đoàn phó sư đoàn trưởng. Nếu muốn trả thù vì trận đòn tình ngày ấy thì thiếu gì cơ hội, nhưng Hùng Phong đã cố gắng để “công tư phân minh” trong mối quan hệ với Côn. Và có lẽ cũng vì vậy mà họ vẫn còn giữ được tình bạn với nhau cho đến tận khi Côn hi sinh ở xứ người. 9

Trong đám con gái lớp 10B, còn phải nhắc tới hai nhân vật khá đặc biệt nữa. Người thứ nhất là Lý Hảo Hảo, một cô gái bố Hoa mẹ Việt ở phố Hàng Buồm. Bố Hảo từng là chiến sỹ của sư đoàn Quân tiên phong, từng tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, được thưởng huân chương chiến công hạng ba. Hoà bình ông ra quân với quân hàm chuẩn uý và được chuyển ngành về công tác tại công ty ăn uống Tràng Tiền, và trở thành một đầu bếp nổi tiếng ở Hà Nội. Ngoài cái tài nấu ăn được kế thừa từ người cha và năng khiếu đặc biệt về tiếng Trung, một trong hai môn ngoại ngữ được đưa vào dạy trong các trường phổ thông hồi đó, thì Lý Hảo Hảo chàng có gì nổi bật so với đám con gái trong lớp. Nhưng trong cuốn sách này, chúng ta vẫn cần phải nhắc tới cô vì không hiểu do duyên cớ gì mà số phận lại gắn bó cuộc đời cô với một trong những nhân vật hết sức quan trọng mà từ đầu tới giờ chúng ta vẫn thường xuyên phải nhắc tới với một thái độ kính trọng đặc biệt. Đó là chính trị viên Lương Xuân Báo sau này sẽ trở thành chính uỷ trung đoàn, người đỡ đầu một cách chân thành tận tuỵ của Hùng Phong. Câu chuyện tình của chính uỷ Lương Xuân Báo thật ra cũng bắt đầu từ “mối lương duyên” giữa anh và Hùng Phong. Nhưng chuyện này, mãi về sau mới được Hùng Phong tiết lộ.

Người thứ hai trong đám nữ sinh của lớp 10B cần được nhắc tới là Trần Hoà Bình, bạn bè trong lớp thường gọi là Bình lai vì cô cũng là một cô gái lai như Lý Hảo Hảo nhưng không được may mắn bằng vì cha cô là một người gốc Phi. Ông Lơgốt Trần Chiến Thắng là một hàng binh người An-giê-ri, ông ra hàng quân đội của Cụ Hồ Chí Minh từ năm 1947, rồi trở thành một chiến sỹ làm công tác địch vận của quân đội ta cho đến tận ngày hoà bình lập lại. Sau chiến tranh ông cũng được tặng thưởng huân chương, được phong quân hàm thiếu uý, ông được nhập quốc tịch Việt Nam và tình nguyện ở lại Việt Nam sinh sống vì đã lấy một người con gái Việt Nam làm vợ. Khi về tiếp quản thủ đô ông được điều về công tác tại văn phòng chính phủ, chuyên làm phiên dịch và đã có lần được dịch cho Cụ Hồ trong những buổi tiếp khách nước ngoài.

Nhưng rồi, không hiểu vì sao ông lại xin chuyển về nông trường Âu Phi ở Ba Vì - Sơn Tây, một nông trường được thành lập riêng cho những từ hàng binh trong quân đội Pháp, đa số là người gốc Phi, đã không chịu trở về Tổ Quốc theo hiệp định trao trả tù binh giữa chính phủ Việt Nam và chính phủ Pháp. Họ tình nguyện ở lại lập nghiệp tại Việt Nam, nhiều người đã xin nhập Quốc tịch để trở thành công dân Việt Nam.

ông Lơgốt Trần Chiến Thắng lúc đó đã có hai đứa con sinh đôi, đứa con trai ông đặt tên là Trần Tự Do, đứa con gái là Trần Hoà Bình. Cùng với người vợ Việt Nam và hai đứa con sinh đôi, ông đã quyết định về lập nghiệp tại nông trường Âu Phi, hi vọng cùng với những người cùng cảnh ngộ với mình xây dựng nên một mô hình kinh tế - xã hội “Xã hội chủ nghĩa đa chủng tộc”, một thiên đường cho những người không có Tổ Quốc ngay trên Tổ Quốc mới của họ.

Cho tới trước khi đế quốc Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại ra miền Bắc, có vẻ như ông Lơgốt Trần Chiến Thắng và những người cùng chung lí tưởng với mình đã xây dựng được một thiên đường nhỏ, một cộng đồng dân cư đa chủng tộc ấm cúng và hạnh phúc. Nhiều người trong số họ đã có những gia đình riêng.

Trong những năm mới thành lập nông trường, cư dân trong vùng còn ngại tiếp cận với anh em người Phi, vì thế việc họ lấy được vợ người Việt Nam có vẻ như rất khó khăn. Nhưng từ khi gia đình ông Lơgốt Trần Chiến Thắng về đây thì dần dần hai cộng đồng đã tìm được cách để xích lại gần nhau. Vài ba năm sau, vượt qua mọi lời dị nghị, đã có những người phụ nữ đầu tiên trong vùng trở thành vợ những ông “Tây đen” khoẻ mạnh và rất đa tình. Cũng phải nói thực, mở đầu cho những cuộc hôn nhân đặc biệt ấy đa số là những bà, những cô đã quá lứa nhỡ thì hoặc những người phụ nữ goá chồng, không còn có khả năng xây đắp lại hạnh phúc với “người mình” nên đành liều mạng vào cuộc “phiêu lưu ái tình xuyên châu lục” xem nó ra làm sao?

Nhưng chỉ vài ba năm sau, đã xuất hiện những cô gái trẻ và không thể nói rằng không xinh đẹp đã về làm dâu “Nông trường Âu Phi”. Những câu chuyện tình mang màu sắc quốc tế ấy nhiều khi cũng rất lì kỳ và cảm động mà sau này cánh lính đại đội 9 thường há hốc mồm ra nghe Trần Tự Do kể thâu đêm suốt sáng trong những đêm nằm trên chốt Động Mã.


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 10 Tháng Mười Hai, 2010, 06:10:41 pm

Chuyện Trần Tự Do đi bộ đội Lân, Côn và các bạn trong lớp 10B được biết khá muộn. Cho mãi tới tận trước hôm lên đường, Bình “lai” mới rụt rè nói với các bạn cùng lớp:

- Ngày mai... em không thể đi tiễn các anh được...

mong các anh thông cảm, chúc các anh ra đi vui vẻ, khoẻ mạnh, chiến thắng trở về!

Lân ngạc nhiên nhìn cô gái lai vâm vạp hỏi:

- Sao thế Bình? Chẳng lẽ, bạn sợ nhìn thấy bọn này khóc hay sao mà không dám đi tiễn?

Bình lắc đầu cười:

- Không đâu... các bạn sẽ không khóc, có khóc thì chỉ là bọn con gái chúng tôi thôi... nhưng, ngày mai, mình còn phải đi tiễn anh Do... anh ấy cũng nhập ngũ đợt này với các bạn đấy!

Thì ra vậy. Cánh con trai trong lớp 10 B cũng đã biết Trần Hoà Bình có một người anh trai sinh đôi tên là Trần Tự Do. Họ cũng đã được gặp cậu ta một lần, ấy là vào một ngày trời mưa như trút, cả lớp đang xao xác tìm đồ để hứng nước mưa dột thì trước cửa lớp, xuất hiện một ông Tây đen rầm cao chừng một mét tám mươi, mặc áo tơi lá... Thanh Hà Nội là người đứng gần cửa nhất, chỉ kịp kêu ớ một tiếng rồi ngã ngồi bệt ngay xuống vũng nước mưa ở trước bàn thầy giáo. Ông Tây đen ấy vội bước tới định đữ Thanh dậy nhưng cô sợ quá kêu rú lên. Dường như đã hiểu ra nguyên nhân nỗi sợ hãi của cô bé, người thanh niên da đen vội lên tiếng:

- Xin lỗi các bạn... tôi xin gặp anh Lân lớp trưởng!

Lân vội bước tới trước mặt anh ta:

- Tôi đây... tôi là Lân, lớp trưởng... ông...

- Xin lỗi anh... em là anh trai của Trần Hoà Bình. Em Bình bảo em tới gặp anh để xin nghỉ học một hai bữa. Chả là em nó không may bị ngã trẹo chân... nhưng chỉ bong gân thôi chứ không ảnh hưởng gì đến xương cốt, các anh chị không phải lo lắng gì đâu ạ.

Lần đầu tiên được nghe một ông Tây nói tiếng Việt chuẩn đến như vậy mọi người đều ngạc nhiên, cả lớp lặng phắc đứng nhìn người anh trai sinh đôi với Bình.

Trước đây khi lần đầu tiên Bình đến lớp, mọi người đã ngạc nhiên lắm rồi, nhưng hình như cô có được nhiều nét giống mẹ hơn nên dù sao cũng còn có những nét nội hoá, dễ nhìn. Đằng này cậu ta, hình như chẳng có một nét Việt Nam nào ngoài giọng nói, mà lại là giọng Sơn Tây hẳn hoi mới chết chứ. Vì thế, giữa giọng nói, cách xưng hô lễ phép, với cái khổ người cao lớn đềnh đoàng, nước da đen bóng, mái tóc xoăn tít như tóc ông tượng bụt ốc trên chùa Tây Phương,... có một sự kênh nhau kinh khủng và rất buồn cười. Lần đầu tiên Lân gặp Do trong một hoàn cảnh kì cục như vậy đấy. Ai ngờ đến khi vào bộ đội, mặc dù Trần Tự Do đầu quân tại huyện khác, nhưng đến khi hợp quân thì hoá ra tất cả đều được điều về chung một tiểu đoàn, rồi run rủi thế nào lại được biên chế vào cùng một trung đội với Lân, Ban và Hướng “hạt tiêu”. Điều đáng ngạc nhiên là ngay lần gặp nhau đầu tiên ở nơi hội quân, Do đã nhận ra Lân. Cậu ta xô ngay lại, gần như ôm bổng anh lên mà reo “ôi, anh Lân! không ngờ em lại được ở cùng trung đội với anh. Em phải viết thư về báo ngay với Hoà Bình để nó mừng mới được!”.

Càng về sau, Lân càng hiểu rằng được ở chung một trung đội với Do thì có lợi như thế nào? Mọi việc nặng nhọc cậu ta cáng cho hết. Lần đầu tiên phải đi lấy củi, vai Lân bị trày trớ, đỏ bầm, sưng tấy lên. Nếu không có Do có lẽ anh đã phải bỏ dở vác củi mà về tay không chịu phạt. Những lần rèn luyện hành quân xa, mang vác nặng, bao giờ Do cũng tìm cách giúp đỡ Lân và Hướng “hạt tiêu” để hai người không bị rớt lại phía sau đội hình. Riêng với Ban thì không hiểu vì sao, cậu ta lại rất khó gần. Có lần Lân hỏi Do:

- Thằng Ban nó cũng được đấy chứ, hình như cậu không ưa nó lắm? Do chỉ lắc đầu cười, không trả lời.

Trước khi đi B, đơn vị xóc lại biên chế. Có lẽ vì có sức khoẻ hơn người nên Do được đưa về đại đội hoả lực của tiểu đoàn, trở thành xạ thủ đại liên, loại súng máy mà Do thích nhất. Ngay từ khi nhìn thấy khẩu súng máy, Do đã ôm lấy nó và bảo “Với khẩu súng máy này thì thằng Mỹ sẽ biết tay tôi”. Từ đó, sinh mạng của Do gắn liền với khẩu Côlinốp, anh em trong tiểu đoàn thường gọi cậu ta bằng tên mới - Do Côlinốp, nghe hơi Tây và có vẻ rất hợp với cậu ta.

Với khẩu Côlinốp, Trần Tự Do đã bước vào cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc của mình với tư cách của một người anh hùng rất yêu tự do và hoà bình như những cái tên mà người cha mang dòng máu châu Phi da đen đã đặt cho hai người con sinh đôi mà ông đã may mắn có được trên Tổ Quốc thứ hai của mình. 10

Trong nhóm con trai lớp 10B được biên chế về cùng một đại đội hồi mới nhập ngũ còn có Hướng hạt tiêu.

Hướng không chỉ nhỏ người, mà ăn nói cũng nhỏ nhẻ như con gái. Nhưng cũng có lúc cục ra phết. Tuy vậy, dẫu có cáu thì Hướng cũng chỉ văng ra những câu cụt lủn như “Mẹ...!”, “Bẩn!” hoặc cùng lắm là “Như cứt!”.

Dĩ nhiên Hướng được nhập ngũ là do gian lận cả chiều cao lẫn cân nặng. Hồi đó, chuyện ấy được coi là một hành vi yêu nước chứ không ai nỡ chê trách gì.

Hướng tuy nhỏ con nhưng lại rất dai sức, nên việc theo anh em trên thao trường không phải là vấn đề gì lớn.

Nhưng thảm nhất với cậu ta là khi nhận quân trang.


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 10 Tháng Mười Hai, 2010, 06:14:34 pm
Mặc dù đã được ưu tiên chọn số nhỏ nhất rồi nhưng khi nhìn Hướng khoác bộ quân phục lên người Lân và Côn vẫn không nhịn được cười. Cứ như thằng hình nhân khoác áo tơi ngoài ruộng dưa vậy. Cái áo, dù có dài rộng thì cũng còn có thể tạm cho qua, nhưng còn cái quần vừa rộng vừa dài thì thật không biết phải xử lí ra sao? Hướng đã phải cuốn lên đến bốn gấu mà vẫn cứ dài. Cũng còn may là hồi đó, quân phục may bằng thứ vải sợi thô do nước bạn Triều Tiên viện trợ, có độ co ngót đến khủng khiếp. Những người cao lớn như Côn thì giặt quân phục một lần là không còn nhét được người vào nữa, nhưng những người bé nhỏ như Hướng thì lại có lợi. Sau một vài lần giặt, bộ đồ lính của cậu ta đã dễ coi hơn hẳn. Mũ mềm cũng là mũ của Triều Tiên viện trợ, may theo kiểu của quân đội bạn, trông rất nghịch mắt. Đặc biệt nhất có lẽ là cái mũ sắt. Nó trông giông giống loại mũ sắt của bọn lính SS Đức quốc xã mà hồi ấy thường xuyên được nhìn thấy trong những bộ phim của Liên Xô, hoàn toàn không có họ hàng gì với loại mũ sắt thông dụng quân đội ta trang bị cho lính pháo phòng không. Cũng không ai biết vì sao hồi đó các bạn Triều Tiên lại viện trợ cho ta loại mũ trông kì cục đến thế. Sau này mới biết, hồi đó chỉ có sư đoàn 320 thép là được cấp trên ưu tiên trang bị cho thứ mũ sắt ấy. Cả trung đoàn tập hợp để làm lễ ra quân, mũ sắt trùng trùng, lưỡi lê sáng loà, trông dữ đội lắm.

Đến khi sư đoàn đi B, cấp trên quyết định cho thay đổi trang bị, quân phục Ga-bac-đin, tăng võng, dép đúc Trung Quốc, ga men Liên Xô, nhưng cái mũ sắt thì không được thay đổi, vẫn mũ sắt miệng loe của Triều Tiên. Cái mũ ấy là đề tài của một rừng câu chuyện tiếu lâm. Nó nặng và bất tiện kinh khủng, nhưng khi hành quân đường dài, nó lại có tác dụng làm ghế ngồi mỗi khi giải lao. Anh nuôi thì sử dụng nó làm cối giã cua hoặc giã muối. Khi nào có điều kiện nghỉ ngơi thì lính dùng nó làm gầu đi tát vét ở sông suối kiếm cá cải thiện. Đến khi vào trận ở chiến trường đường 9 thì lính “Sư đoàn thép” đã lặng lẽ thanh lí bằng hết cái thứ mũ sắt kì cục và bất tiện ấy. Không phải vì nó xấu, mà vì nó không phù hợp một tẹo nào cho việc cơ động chiến đấu. Nhất là khi vận động tiếp cận địch trong những khu rừng lúp xúp thì cái tiếng leng keng nó phát ra khi va quệt vào cây lá chỉ tổ làm mục tiêu cho bọn xạ thủ phóng lựu của địch.

Khi mới vào chiến trường, lính đường 9 phát khiếp mỗi khi gặp anh “sư đoàn mão đồng” hành quân trên đường. Cứ gọi là rầm rầm như một đàn voi rừng, khí thế ngất trời. Vì thế, khi vào chiến dịch, thấy lính “sư đoàn mão đồng” lần lượt vứt bỏ mũ ở khắp các ngõ ngách của mặt trận thì cánh lính đường 9 thích thú lắm, liền đặt một bài vè như sau:

Sông Dinh (mật danh của sư đoàn Hồng Bàng hồi đó) khí thế ngút trời.
Năm ngàn mũ sắt sáng ngời đồng quê
Vô đây chẳng hiểu mô tê
Mão đồng lại bị tung hê khắp đồi
Bọ, mẹ đi nhặt về chơi
Cái để làm nồi, cái để đâm cua...

Lúc đầu, chỉ có lính dám bỏ mũ sắt vì thấy quá bất tiện khi đánh đấm, nhưng chỉ vài tháng sau, cả sư đoàn từ lính đến quan cấm còn thấy ai đội mũ sắt nữa.

Nói như kiểu nói ngày nay, vụ tổn thất hàng vạn chiếc mũ sắt đã được “lặng lẽ cho chìm xuồng”.

Cả sư đoàn bỏ mũ sắt dùng mũ mềm để đánh giặc thì được lờ đi nhưng riêng Hướng thì đã khốn khổ vì đã để lạc mất chiếc mũ sắt đó khi được thưởng phép, thậm chí suýt nữa còn bị bỏ lại không được đi B nữa kia. Hồi đó, mà bị bỏ lại hậu phương là có vấn đề, là coi như đời tàn, đời bỏ đi rồi!

Câu chuyện ấy đã dược Hướng kể lại như sau:

Nhập ngũ được ba tháng, sau khi kết thúc đợt diễn tập có bắn đạn thật ở Bưng, Hướng là một trong những xạ thủ B41 bắn giỏi nhất trung đoàn nên đã được thưởng năm ngày phép. Được thưởng phép ngay trong khi sư đoàn vào giai đoạn hai của cuộc diễn tập nên anh em đi phép phải mang theo toàn bộ quân tư trang và cả vũ khí mà về chứ không có chỗ mà gửi lại. Hướng cũng theo trên lưng cả ba lô, cuốc xẻng, bao đồ bao xe, mặt nạ phòng độc, một khẩu B41, một kẹp đạn bốn quả, hai quả đạn thật hai quả đạn học cụ, mười ngày gạo và thực phẩm sẵn sàng chiến đấu, và dĩ nhiên cả cái mũ sắt Triều Tiên úp trên ba lô. Chắc chắn rằng nếu được nhìn thấy Hướng “hạt tiêu” cõng từng ấy thứ trên lưng cộng cái mũ sắt nữa thì không nhịn được cười. Đã vậy, khi về tới bến xe huyện, không hiểu vì sao cậu ta lại nổi hứng lên mà nảy ra cái ý tưởng vô cùng độc đáo là ghé thăm các bạn trong trường trước rồi mới về nhà.

Phăm phăm bước gần tới cổng trường, cậu chàng mới chột dạ vì chợt nhớ ra một vấn đề không mấy hay ho, ấy là vấn đề cái đầu! Là vì hôm trước, cậu Mai thợ cắt tóc trứ danh của đại đội 9 vừa đưa được một đường tông đơ trên cái đầu của xạ thủ Hoa Hồng Nguyễn Đình Hướng, thì có một cô gái Mường đến tìm anh ta để nhờ chép bài hát. Gái đã gọi thì có dở việc cho ông giời Mai cũng bỏ lại. Anh ta đưa tông đơ cho cậu Ngoan, đệ tử mới bái sư học nghề được một tuần và bảo “Cậu làm nốt đi... Tớ phải đi công tác dân vận”.


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 10 Tháng Mười Hai, 2010, 06:18:08 pm
Được dịp để thực hành, Ngoan hể hả vào cuộc một cách rất nhiệt tình. Kết quả là, cái đầu của Hướng hoàn toàn không giống bất kì một cái đầu nào trong đại đội. Nó nham nhở một cách kinh khủng, đã đành. Nhưng nó còn bị tàn phá dã man bởi bảy tám vết “lỡ tay”, máu me be bét. Và, quan trọng là tóc thì còn rất ít ở trên đỉnh đầu. Sau khi cố vùng vẫy để thoát khỏi bàn tay anh thợ học việc, Hướng vội vã chạy đi mượn được một cái gương, chỉ đến lúc đó anh mới thấy hết qui mô thiệt hại của mình. “Như cứt!”. Anh gầm lên chạy tới tìm cậu thợ vụng kia dịnh tho hắn một bài học, nhưng hắn đã kịp dọn đồ nghề và biến đi đâu đó rồi. Tai hại là hai hôm sau thì anh được tiểu đoàn gọi lên cho đi phép!

Chợt nhớ ra vấn đề cái đầu, Hướng nản chí, đã định quay gót. Nhưng rồi anh tặc lưỡi, đặt ba lô xuống, tháo cái mũ sắt Triều Tiên ra úp lên đầu “Thế này cũng ổn chán!” Anh nghĩ vậy rồi lại khoác ba lô, vác B41 lên hăm hở bước vào trường.

Hôm đó lại đúng vào ngày lớp đang họp bàn liên hoan cuối khoá, chuẩn bị thi tốt nghiệp, nên hầu như không một ai vắng mặt, dĩ nhiên phải trừ những thằng đã đi bộ đội.

Có lẽ phải là thiên tài mới có thể tái hiện được một cách chân thực nhất sự ngạc nhiên sửng sốt xen lẫn với nhiều thứ tình cảm khác nữa của đám học trò, phần còn của lớp 10B khi bỗng dưng, họ thấy một sinh vật không hẳn giống lừa, không hẳn giống lạc đà, lừng lững đi vào trước cửa phòng học của họ. Cái sinh vật lạ ấy chợt ngóc đầu lên, phơi ra một gương mặt đen nhẻm với một nụ cười sáng loá:

- Chào các bạn!

Đám con gái co rúm cả lại.

- Ôi giời! Ai thế nhỉ? - Thanh kêu lên thảng thốt.

- Mình đây... Hướng đây! Hướng “hạt tiêu” đây mà!

Lặng đi vài giây rồi mọi người mới ồ lên. Bí thư chi đoàn Bùi Hữu Nùng là người bạo gan nhất, thập thễnh bước lên trước vài bước.

- Ôi Nguyễn Đình Hướng! Chào... người lính. Sao mà trông... oách thế?

Mọi người cũng theo Nừng xán lại. Rồi những cái bắt tay, nhưng lời thăm hỏi rối rít. Đào là người táo tợn nhất trong đám con gái, liền đỡ lấy khẩu súng chống tăng mà Hướng vừa dựng cạnh chiếc bàn học trên cùng của lớp.

- Thứ gì thế này hả Hướng? Có phải... súng phóng bom nguyên tử không?

Thoa hốt hoảng ngăn lại:

- Đào, đừng có mó máy vào đó! Nó mà nổ thì chết tất cả bây giờ!

Mấy cậu bạn trai giúp Hướng gỡ ba lô ra khỏi vai.

Nhưng khi nhìn thấy mấy quả đạn hình hoa chuối màu xanh thì các cậu hốt hoảng không dám cử động nữa.

Thấy vậy Hướng liền đỡ lấy ba lô đặt nó xuống bàn thầy giáo rồi giảng giải:

- Đây là những quả đạn dùng để bắn xe tăng. Nó được cấu tạo theo nguyên lí phản lực đấy. Nhưng rất an toàn. Các cậu đừng lo!

Tuy đã đặt được ba lô xuống nhưng những thứ lỉnh kỉnh trên người Hướng vẫn còn rất nhiều, tất cả đều trông rất lạ lẫm kì bí trong con mắt của đám học trò. Vì thế mọi người đều đổ dồn ánh mắt tò mò quan sát từng chi tìết nhỏ trên người Hướng.

Lại vẫn là Thanh chợt kêu lên:

- Trời ơi... cái mũ lạ quá kìa!

Một cậu nào đó bình luận:

- Hình như đó là mũ trang bị cho bộ đội mang tên lửa chống tăng đấy!

Hướng bỗng cảm thấy lúng túng khi tất cả mọi con mắt đều đổ dồn về phía chiếc mũ.

- Có gì lạ đâu... Đó là loại mũ sắt của bộ đội Bắc Triều Tiên gửi sang chi vỉện cho chúng ta đánh Mỹ đấy mà!

Vừa nói Hướng vừa thản nhiên lột chiếc mũ sắt xuống đưa cho mọi người xem. Nhưng bỗng lại có tiếng một bạn gái kêu thất thanh:

- Ôi trời ơi... cái đầu!

Hướng bỗng giật mình, vội đưa tay lên xoa đầu và chết lặng đi vì chợt nhớ ra mình đã làm lộ hết “vấn đề cái đầu” rồi! Mọi con mắt đều đổ dồn lên cái đầu nham nhở của Hướng rồi không ai bảo ai cùng phá lên cười. Nhưng thế cũng xong, cười chán rồi mọi người mới nhớ ra rằng cần phải thăm hỏi tình hình từng người trong số các bạn lớp 10B đang làm lính. Đào là người hỏi nhiều nhất, dĩ nhiên chủ yếu là hỏi về Ban - Cậu Ban bây giờ oai lắm. Là đồng chí Hùng Phong rồí. Được đăng cả ảnh trên báo cho thanh niên cả nước học tập đấy.

Đào vừa cười vừa mếu máo:

- Đấy mình đã bảo mà... Ban nhất định sẽ là người số một!

Bí thư Bùi Hữu Nùng bỗng nêu ra sáng kiến:

- Các bạn này, nhân tiện đồng chí Nguyễn Đình Hướng về thăm lớp. Coi như đại diện cho tất cả các bạn lớp mình đi bộ đội không về được, tôi đề nghị, hôm nay ta liên hoan lớp luôn!

Mọi người vỗ tay hoan hô. Sáng kiến được tiếp tục cụ thể hoá bằng việc ai có bao nhiêu tiền trong túi thì hãy bỏ ra, lớp sẽ cân đối sau. Ồn ào như chợ vỡ một lúc rồi tất cả rùng rùng kéo nhau ra cửa hàng mậu dịch huyện, nghe nói ở đó dạo này có cả bún chả!


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 10 Tháng Mười Hai, 2010, 06:21:16 pm
Hướng như bị cuốn đi bởi những con sóng tình cảm bạn bè. Hai người khênh giúp anh cái ba lô, mấy đứa con trai thi nhau vác khẩu súng. Riêng cái mũ sắt Triều Tiên thì không ai nhớ ra. Hôm sau, ông bảo vệ vào phòng học lớp 10B phát hiện thấy một chiếc mũ sắt lạ có vẻ như mũ sắt của biệt kích hay là mũ phi công thì phải. Với tinh thần cảnh giác ở mức cao nhất, ông không mang nộp nó cho ban giám hiệu nhà trường mà lại mang ra nộp cho công an huyện. Công an huyện cũng không biết nó là thứ mũ gì nên đã nộp ngay lên cho công an tỉnh. Trên tỉnh, dĩ nhiên người ta có thể biết xuất xứ của thứ quân trang lạ này, nhưng không ai rỗi hơi mà ngược trở lại cơ sở để đi tìm chủ nhân của nó làm gì?

Hướng chỉ phát hiện ra mất cái mũ vào ngày hôm sau. Anh có trở lại lớp nhưng hôm đó lớp đã nghỉ học rồi. Anh cũng ngờ có khi mình bỏ quên ở cửa hàng mậu dịch. Rồi, anh tặc lưỡi “Cái đồ khỉ gió ấy, mất thì mất, tiếc làm gì?”. 11

Sau năm ngày phép Nguyễn Đình Hướng cùng với đầy đủ trang bị (trừ chiếc mũ sắt) trở về đơn vị. Lúc này sư đoàn đã cơ động về đến vị trí cơ bản ở Lưong Sơn - Hoà Bình. Việc trả phép của Hướng có lẽ sẽ trở nên nhẹ nhàng hơn nếu không phải kèm thêm một người - đó là Đào! Cô sống chết đòi Hưóng cho đi theo để thăm Phạm Xuân Ban, mặc dù Hướng đã giải thích đủ mọi điều từ việc bí mật quân sự cho đến những bất tiện của đơn vị ở nơi đóng quân dã ngoại... Anh cũng nói xa nói gần đến cả việc “đồng chí Hùng Phong đang có uy tín rất cao trong đơn vị, đang là đối tượng Đảng, Đào xuất hiện lúc này có thể không tiện cho sự phấn đấu của anh ấy”... Nhưng Đào bất chấp tất cả. Cô thề, sẽ phải gặp bằng được anh Ban rồi muốn ra sao thì ra.

Không còn cách nào khác, Hướng đành phải để Đào cùng đi với mình lên Lương Sơn!

Tuy ở vào tình thế bị động, nhưng Hướng cũng đã có những tính toán riêng để làm sao không làm ảnh hưởng đến đồng chí Hùng Phong. Trên đường, anh đã hình thành một phương án rất chu toàn. Đó là khi tới làng Múc, nơi cách vị trí đóng quân của đơn vị chừng hơn một cây số, anh sẽ đưa Đào vào gửi tạm nhà cụ Đơn, một cơ sở dân vận mà anh và Lân thường qua lại. Cụ Đơn có con trai đang chiến đấu ở chiến trường B nên rất yêu quí, tin tưởng bộ đội. Tuy vậy, kỉ niệm đầu tiên của anh em trong tiểu đội của Hướng với gia đình cụ Đơn lại là một câu chuyện khôi hài. Chẳng là hôm ấy sau khi tiểu đội trưởng Nguyễn Xuân Khoái la người đi nhận nhà cho tiểu đội ở trọ. Nhưng đến khi được lệnh đưa bộ đội vào nhà thì Khoái lại được trung đội gọi lên đi dẫn anh nuôi tới nguồn nước, việc đưa tiểu đội vào nhà dân giao lại cho Ban, nhưng Khoái nói không rõ tên chủ nhà nên anh em tìm khắp xóm vẫn không ra nhà cụ Đôn là nhà nào. Lúc ấy đã nhập nhoạng tối, sau một ngày hành quân, anh nào anh nấy đều mệt rã rời, Ban cũng thở không ra hơi nữa nên ra một cái lệnh - Toàn tiểu đội nghỉ tại chỗ. Cậu nào còn sức thì đi tìm nhà cho cả tiểu đội, tội gì mà cứ rồng rắn dắt nhau đi quanh xóm thế này cho khổ! Một sáng kiến hay, anh em lập tức hưởng ứng, người nào cũng lo tìm chỗ đặt ngay ba lô xuống nghỉ. Không thấy ai xung phong đi tìm nhà, Ban nổi cáu “Chả lẽ tôi lại phải gương mẫu à?” Lúc ấy, mới thấy có người lên tiếng “Để tôi đi cho!”. Mọi người ngoảnh lại nhìn, thì ra đó là cậu Do “Tây lai”. Giá như lúc khác thể nào anh em trong tiểu đội cũng trêu chọc vài câu, nhưng vào lúc này thì chả ai còn hơi sức đâu mà đùa nữa. Ban cũng vội tặc lưỡi “Thì cậu đi đi nhanh nhanh chân lên một chút!” Nửa giờ sau vẫn không thấy Do về, trời thì sắp tối rồi, mọi người bắt đầu sốt ruột. Vừa lúc đó thì tiểu đội trưởng Khoái chạy đến, mặt hầm hầm, quát um lên - Ban... cậu làm ăn kiểu gì thế hả? Tiểu đội thiếu gì người lanh lợi mà lại cử cái thằng Tây không ra Tây, ta chẳng ra ta ấy đi làm công tác dân vận hả?

Ban hốt hoảng hỏi:

- Có chuyện gì thế, anh Khoái?

Tiểu đội trưdng Khoái đang giận là thế mà cũng phì cười:

- Chuyện gì à? Cái thằng đười ươi ấy vừa nhô lên khỏi cầu thang là ông già đã chĩa khẩu súng săn vào mặt nó quát - Giơ tay lên, thằng biệt kích! Rồi hô cụ bà lấy thừng ra trói gô hắn vào chân cầu thang chứ còn gì nữa! May mà tớ đến kịp, nếu không thì hai cụ đã giảỉ hắn lên giao cho xã đội rồi.

Trong những ngày sau đó, ông bà già bỗng trở nên ưu ái đặc biệt với Do “tây”. Có lẽ là để đền bù danh dự cho cậu ta. Anh em trong tiểu đội vì thế, cũng được hưởng lây cái thơm thảo của hai cụ. Nhưng ai cũng thấy cụ Đơn đặc biệt thích anh Lân vì cụ cũng biết đôi ba chữ Hán, lại biết nhiều chuyện cổ kim, kể cả những chuyện về tổ tiên xa xôi của người Mường nữa. Vì thế, sau này khi tiểu đội cùng đơn vị vào rừng lập doanh trại để ở, vào những ngày được nghỉ tập, anh Lân vẫn thường ra nhà cụ chơi để cùng cụ đàm đạo về chữ nghĩa của các bậc thánh hiền. Đôi khi Lân cho cả đám Hướng, Côn, Ban... “ăn theo”. Gì chứ khoai sắn thì lúc nào ra cũng có, năm thuở mười thì còn được hai cụ đãi một bữa tươi nữa. Do thì không thích những cuộc “dân vận” kiểu ấy, anh ngại ra ngoài doanh trại, nhưng lần nào anh em trong tiểu đội ra chơi, hai cụ cũng hỏi thăm “cái anh Việt Nam mới” ấy ra làm sao rồi, và khi về thường không quên gửi quà cho Do.

Hướng đưa Đào tới nhà cụ Đơn với đôi chút e ngại. Để tăng thêm “sức nặng” anh giới thiệu bừa:

- Thưa hai cụ, đây là vợ của... đồng chí tiểu đội phó Hùng Phong đấy ạ!

Tuy tiểu đội chỉ đóng quân trong nhà cụ có một tuần, nhưng trong quãng thời gian ngắn ngủi đó, đồng chí Hùng Phong cũng đã thể hiện được vai trò, nên không chỉ có hai cụ mà cả nhân dân, nhất là đám thanh niên trong xóm Múc biết tiếng. Vì thế, nếu Đào là... vợ của đồng chí Hùng Phong thì sẽ ổn hơn. Hướng nghĩ một cách đơn giản như vậy khi giới thiệu Đào với gia chủ.

Cũng may hai cụ có vẻ mến Đào ngay từ đầu. Có lẽ bởi tính Đào đơn giản, xởi lởi nên cũng dễ gần. Cụ bà còn khẳng định Đào có nhiều nét giống cô con gái thứ hai của cụ vừa lấy chồng ở Mường Vang năm ngoái nữa kia. Kể ra, cái dáng thấp đậm, tròn lẳn và nước da trắng hồng của Đào cũng giống con gái Mường thật.

Sau khi đã gìới thiệu Đào với hai cụ và nói vài lời gửi gắm, Hướng dặn Đào trước khi vào đơn vị:

- Nếu có anh bộ đội nào láng cháng qua đây thì Đào đừng có tán nhăng tán cuội đấy nhé. Nếu biết mình dẫn “người nhà” của quân nhân lên đây thì thủ trưởng phê bình mình chết đấy, mà anh Ban cũng chẳng được yên thân đâu.

Đào hứa:

- Hướng cứ yên tâm đi, nếu có anh bộ đội nào ghé qua thì mình khai mình là con gái hai cụ đây là được chứ gì? Nhưng, Hướng phải bảo Ban thu xếp ra ngay đấy!


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 10 Tháng Mười Hai, 2010, 06:25:52 pm
- Nhất định nó sẽ bồng ra ngay thôi mà!

Nhưng Hướng cũng lầm to khi nghĩ rằng Ban sẽ vui mừng lắm khi anh ghé vào tai báo tin Đào đã lặn lội lên tận đây thăm cậu ta. Ngược lại, Ban biến sắc mặt gắt:

- Thế có chết người ta không? Ai bảo cậu dắt díu nó lên đây hả?

- Thì nó nói nó nhớ cậu quá... Cứ nhất định đòi đi theo thì tớ biết làm sao? - Hướng lúng tứng thanh minh.

- Cậu lôi thôi bỏ mẹ! Ban nói vậy rồi vùng vằng bỏ đi. Bị đẩy vào tình huống trớ trêu. Hướng đành tìm Lân để kể hết sự tình.

Nghe xong, Lân bảo:

- Được rồi, để tớ khuyên nó một câu. Nhưng cái chính là phải nghĩ mẹo để chiều nay trung đội trưởng Thao cho thằng Ban nghỉ tập. Nhưng này, chớ có vội nói với thằng Côn chuyện này nhé!

Lân cũng chẳng phải khuyên bảo gì mà chỉ gặp Ban nói thẳng:

- Này, cáỉ Đào nó lên đấy. Nếu cậu mà không nhanh nhanh ra xóm Múc gặp nó là nó bồng vào tận đây tìm cậu đấy!

Quả nhiên, nghe Lân đe thế Ban quýnh lên - Ừ nhỉ... Con bé ấy nó dám làm thế thật đấy. Ông bảo tôi phải tính sao bây giờ?

Lân suy nghĩ một lát rồi nói:

- Được rồi, để tớ thu xếp với ông Thoan. Cũng may là tiểu đội trưởng Khoái đi lấy quân trang mai mới về nên sẽ dễ dàng hơn, chứ cái lão mặt sắt ấy mà ở nhà thì đừng có hòng nhúc nhích. Còn cậu thì cứ chuẩn bị đi. Trung đội trưởng cho phép là đi ngay, hiểu không?

Lân lên gặp trung đội trưởng Thoan và nói dối là ông cụ Đơn ngoài xóm Múc bị ốm vừa nhắn vào, anh xin phép cùng với Ban ra thăm ông cụ cho đẹp tình quân dân. Trung đội trưởng Thoan chẳng những đồng ý cho hai người đi mà còn móc trong túi cóc ba lô ra mấy lạng đường dúi cho Lân.

- Mình gửi biếu ông cụ... cậu cho mình gửi lời thăm nhé. Hồi mới lên đây, khi chưa làm được lán trại trong này, bọn tiền trạm chúng mình cũng từng ở nhờ nhà ông cụ đấy. - Rồi anh cẩn thận dặn thêm - nếu bệnh tình của ông cụ mà nặng thì vào ngay để mình báo cáo với tiểu đoàn cho quân y sỹ ra khám bệnh cho ông cụ nhé?

Thế là xong. Lân đưa Ban ra xóm Múc, ngồi trò chuyện tào lao với Đào một lát rồi bảo Ban:

- Cậu cứ ở đây chơi với Đào đến đêm về cũng được. Mình sẽ về trước liệu đường ăn nói với trung đội. Lão cai Khoái ngày mai mới về kia... Không có chuyện gì đâu! Đừng bỏ về sớm quá mà Đào tủi thân!

Lân phải dặn thêm như thế vì cứ nghĩ rằng Ban chỉ miễn cưỡng ngồi chơi một lát cho phải phép rồi cũng bỏ về đơn vị ngay thôi. Ai dè, anh cũng tính lầm nốt. Không những “đồng chí Hùng Phong” không bỏ về ngay mà còn ở thông đêm ngoài xóm Múc với người yêu. Chín giờ tối, đến giờ điểm danh mà vẫn không thấy Ban vể Lân đành phải lên gặp trung đội trưởng nói dối thêm một lần nữa, rằng bệnh tình của cụ Đơn tuy không nặng nhưng có lẽ Cụ bà hơi lo lắng nên có thể đã giữ Hùng Phong ở lại, phòng ban đêm có gì bất trắc nếu trung đội trưởng thấy cần thiết thì anh em trong tiểu đội sẽ cho người đi gọi về ngay. Trung đội trưởng Thoan suy nghĩ một lát rồi bảo:

- Thôi không phải đi tìm đâu. Nếu Hùng Phong thấy cần phải ở lại thì hẳn là tình thế đòi hỏi như vậy rồì. Dẫu sao thì đồng chí ấy cũng là tiểu đội phó, là cán bộ rồi, đồng chí ấy sẽ biết phải làm gì. Sớm mai, nếu Hùng Phong vẫn chưa vể thì tôi sẽ báo cáo với đại đội để đại đội cử người ra xem sao! Từ giờ tới sáng mai, đồng chí sẽ thay Hùng Phong quản lí tiểu đội!

Thế là thoát. Sáng sớm hôm sau, đơn vị vừa báo thức thì đã thấy Hùng Phong vận quần đùi áo may ô chạy ra trước lán hô hoán ầm ầm gọi anh em trong tiểu đội ra tập thể dục. Lân cũng vội chạy tới bên cậu ta hỏi khẽ:

- Về lúc nào thế, hả?

Ban cười, ngượng ngùng đáp:

- Ơ... đêm qua... mình về... hơi muộn một tý!

Cái thằng, nói dối như cuội. Ba giờ sáng dậy thay gác mình mò vào giường nó thấy vẫn trống trơn kia mà. Đêm qua, chắc chàng nàng được một đêm mê tơi chứ còn gì?
12

Thực ra thì vào lúc mười giờ đêm, sau mấy tiếng đưa Đào đi dạo ngoài đồi chè về đến nhà, Ban cững đã định chào ông bà chủ nhà để về đơn vị. Nhưng đúng lúc đó thì bà cụ Đào nói với Đào:

- Mế đã chuẩn bị chỗ ngủ cho hai đứa rồi đấy. Chúng bay cứ tự nhiên như ở nhà. Bố mế cũng có con trai, con gái lớn nên biết lắm mà. Thằng Ban sớm muộn rồi cũng đi chiến đấu ở trong Nam như anh Cuông nhà này. Nếu chúng bay mà có đứa con để lại cho bố mế chúng bay thì là cái phúc to lắm đấy!

Ban sững sờ ngạc nhiên trước những lời chân thành giản dị của bà mế Mường. Anh không ngờ ông bà già này lại suy nghĩ một cách đơn giản hồn nhiên về vấn đề quan hệ nam nữ như vậy. Có thể, cũng tại thằng Hướng đã giới thiệu với hai ông bà rằng Đào là vợ của Ban. Không biết Hướng có nói như thế không, nhưng hai cụ thì tin thế. Một người con gái lặn lội hàng trăm cây số lên tận xứ rừng này không thể là chỉ để thăm một người “bạn trai” vu vơ nào đó.

Đào run rẩy khi dẫn anh vào căn buồng thưng bằng vách nứa. Giọng cộ nghẹn lại:

- Anh Ban ơi... có cả... cái giường nữa...

Sở dĩ cô buột miệng nói ra những lời rất vớ vẩn đó là vì lúc nãy, khi ôm nhau trên bãi cỏ ngoài đồi, cô đã gần như lả đi trong vòng tay anh khi ngrhe tiếng anh thì thào bên tai mình:




Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 10 Tháng Mười Hai, 2010, 06:30:09 pm
- Đào ơi... cỏ mềm quá... cứ y như một cái giường ấy nhỉ...

Cô dã để anh đặt mình nằm trên chiếc giường thiên nhiên ấy mà mặc cho đôi bàn tay anh mơn trớn trên cơ thể mình. Đôi bầu vú của cô căng mọng, cương cứng và nóng hầm hập. Cơ thế cô như tan ra trước những khám phá dồn dập của đôi môi, của bàn tay anh kì diệu, tham lam. Cô như cảm thấy thân thế mình như sắp tan chảy để hoà làm một cùng cơ thể anh cũng đang tan chảy. Có lẽ chỉ một li nữa thôi thì họ đã đi tới cái đích tột cùng của sự dâng hiến. Đó là thời khắc cô cảm thấy dường như tất cả tinh lực từ cơ thể anh đã dồn tụ xuống phần cơ thể nhạy cảm nhất. Cái phần cơ thể ấy cương cứng, nóng rực đang hối hả lần tìm nơi yếu huyệt của cơ thể cô, cái nơi mà các cô đã được dạy rằng phải gọi chệch đi bằng một cái tên khác cho tế nhị hơn.

Cô cảm thấy cánh cửa vào cơ thể mình đã mở toang, đã sẵn sàng, mềm nhũn, khuất phục và nức nở nghẹn ngào chờ đợi. Dường như anh cũng đã cảm nhận được sự đón đợi đó nên đã vội vàng, hấp hởi tiến tới nơi huyền bí của người con gái. Chưa một lần tới đây, chưa được ai chỉ bày dạy dỗ, anh hành động theo sự mách bảo minh triết của cơ thể. Và, anh đã cảm thấy cái đích mình phải tới. Nhưng vào đúng cái thời khắc mà chỉ cần một vài động tác nữa thôi là anh sẽ biết tới sự tận cùng của con đường mình phải đi thì cơ thể anh bỗng như nổ tung, sinh lực trong anh bùng toá ra ở điểm tận cùng và trút lên mục tiêu một thứ chất nhầy mà anh đã từng thấy trong những lần mộng tinh. Đó là những lần anh mơ mình nhìn thấy và chạm tới phần dưới cơ thể của một trong những cô nữ sinh Hà Nội trong lớp 10B của mình.

Người con gái đang nức nở bên dưới cơ thể anh thì phải mất vài giây sau mới cảm nhận được sự đứt gánh giữa đường. Cô không biết vì sao lại như vậy nhưng bản năng của người con gái trong cô mách cho cô biết rằng hình như người khách mà thân thể tràn đầy sinh lực của cô chờ đợi đã dừng chân ngay bên ngưỡng cửa.

Mặc dù vẫn cực kì hưng phấn nhưng cơ thể cô dường như vẫn chưa thoả mãn, cô biết mình chưa trở thành đàn bà!

Nhưng với một người con gái sớm biết yêu, biết chấp nhận mọi điều vì người mình yêu, biết tìm mọi cách để được tận hưởng tình yêu nhưng lại luôn có mặc cảm mình chưa tới được với tình yêu thì như vậy đã là quá nhiều. Nếu như tất cả chỉ có vậy chỉ dừng lại đó thì cô cũng đã vô cùng hạnh phúc rồi.

Cô không bao giờ dám mơ tới điều mình sẽ có cả một đêm để trở thành đàn bà, có cả một căn buồng và một chiếc giường thiêng liêng dành cho chuyện vợ chồng.

Cô đã khóc nức lên khi cuối cùng thì Ban cũng đã lấy lại được sức lực và sự bình tĩnh, đã biết dùng chút kinh nghiệm ít ỏi đầu tiên để đưa được cái phần nhạy cảm nhất của anh vào cánh cửa mà cơ thể cô đã mở sẵn để biến cô thành một người đàn bà trọn vẹn. Trong hạnh phúc tột cùng, trong sự trào dâng bất tận của những cơn sướng khoái, từ trái tim cô buột lên những lời biết ơn giản dị và sâu sắc nhất.

- Anh ơi...! Ban ơi... Hùng Phong của em ơi... anh làm cho em... em... có thể... chết ngay bây giờ vì... sung sướng quá!...
13

Bí mật về những phút giây hạnh phúc tột cùng, về cái đêm Ban biến cô thành một người đàn bà, chín năm sau đã được Đào vừa khóc vừa nức nở kể lại cho Côn nghe vào đêm đầu tiên hai người trở thành vợ chồng.

Thực ra, Côn không hề muốn nghe lại câu chuyện ấy.

Đào không hề biết rằng cái được cho là sự chân thành, trung thực của cô đã gây nên một vết thương lớn trong trái tim anh. Vết thương ấy cứ toang hoác ra cùng thời gian không thể nào lành lại được. Mỗi lần ân ái với nhau, mặc dù Đào luôn biết chiều chuộng, luôn biết vuốt ve, tạo nên sự hưng phấn cao độ cho chồng nhưng thường thì vào những lúc hứng khoái nhất, thì từ đâu đó trong bóng đêm của ẩn ức một mũi tên sắc nhọn vụt lao ra, bắn trúng ngay vào điểm thiêng liêng, nhạy cảm nhất của một người đàn ông. Vì vậy, vào những giây khắc đó anh thường hộc lên những tiếng kêu đau đớn, nhiều khi là những tiếng rú man dại, bi thương mà Đào thì lại lầm tưởng đó là những âm thanh biểu hiện sự khoái lạc mà mình vừa mang đến cho chồng. Cô rất lấy làm mãn nguyện và dần dần đâm ra nghiện những âm thanh cuổng yêu đau đớn đó. Vì thế, trong những cuộc làm tình lặng lẽ hiếm hoi, thường là do Côn đang bị phân tâm vì một điều gì đó nên không nhận ra sự xuất hiện của những mũi tên đen ẩn ức, Đào lại không thấy mình được thoả mãn. Nhưng, vì thời gian họ được gần nhau thường không nhiều nên sự sai biệt trong những lần chăn gối, cũng không thành vấn đề gì lớn có thể ảnh hưởng đến hạnh phúc của họ.

Cưới nhau được chừng hơn một năm thì họ có đứa con trai đầu tiên và Côn cũng đã trở thành một sư đoàn trưởng. Sư đoàn của anh được lệnh sang chiến đấu tiêu diệt bọn Pôn Pốt ở Cămpuchia trong đội hình của một mặt trận do Hùng Phong làm phó tư lệnh.

Một lần Côn có dịp được ra Hà Nội công tác. Hoàn thành việc quân, anh vẫn còn mấy ngày rảnh nên được ghé thăm nhà ít bữa. Đêm đầu bên sau mấy năm dài xa nhau anh và Đào đã


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 10 Tháng Mười Hai, 2010, 06:34:54 pm
thức bên nhau tới sáng. Trong lần ân ái cuối cùng trong đêm ấy, Đào bị một cơn hứng khoái tột cùng làm cho lú lẫn đến nỗi, cô đã để cho kí ức về cái đêm đầu tiên trở thành đàn bà trỗi dậy, lấn át tất cả. Vừa cong người lên đón nhận những đợt sóng tình, miệng cô vừa ú ớ rên lên:

- Ôi... ôi... anh Ban ơi... nữa đi... anh... anh làm cho em,... sướng quá... em... có thể chết đi ngay được!

Như một kị sỹ đang phi nước đại bỗng bị trúng một mũi tên, Côn liền ngã huỵch xuống giường. Toàn thân anh trở nên nguội lạnh.

Ngay hôm đó anh bỏ về Hà Nội và tìm đến giáo sư Lân, người bạn chiến đấu của mình để trút nỗi cay đắng trong lòng. Câu chuyện mà Côn kể cho Lân nghe vẫn được giữ bí mật tới ngày hôm nay. Ngay cả Đào cũng không hiểu vì sao hôm đó chồng chị lại đột ngột ra đi trong khi hôm trước anh còn nói anh được nghỉ ở nhà cả một tuần. Nhưng thôi, đó là chuyện nóng lạnh của nhà binh, chị tin rằng anh chỉ có thể rời mẹ con chị mà ra đi vội vã khi có một mệnh lệnh chiến đấu quan trọng nào đó. Người đàn bà hồn nhiên và đơn giản ấy thật may mắn vì không nhớ được những gì mình đã kêu rên khi nằm trong vòng tay ân áỉ của chồng.

Năm tháng sau Thượng tá Nguyễn Danh Côn đã hi sinh anh dũng trên chiến trường nước bạn.

Hùng Phong viết thư cho giáo sư Trương Đình Lân thông báo vể sự hi sinh của anh với những dòng thống thiết như sau:

Anh Lân ơi...! Thế là Nguyễn Danh Côn người bạn, người đồng chí thân thiêt nhất của chúng ta đã ra đi.

Tôi không bao giờ có thể ngờ đươc rằng một người lính trinh sát kì cựu, dày dạn, đươc m ệnh danh là “vua mìn bẫy”, cuối cùng lại gục ngã vì một trái mìn rất vớ vẩn, ở một nơi không ngờ nhất. Hôm ấy Côn vừa đích thân chỉ huy một trung đoàn tiến công tiêu diệt một cứ điểm cố thủ của bọn tàn quán Pôn Pốt trên một điểm cao thuộc dãy Tà Xanh. Có thể nói đây là cứ điểm quan trọng cuối cùng của địch trong khu vực thung lũng Tà Xanh khắc nghiệt này. Dưới sự chỉ huy một cách khôn ngoan và gan góc của Côn, trận đánh đã thành công ngoài sức tưởng tượng của bộ chỉ huy mặt trận. Bọn chúng tôi chưa kịp ăn mừng thì nghe tin dữ, trên đường rút quân về hậu cứ, chiếc xe Zép chở sư đoàn trưởng Nguyễn Danh Côn đã bị trúng mìn ở cua Đá Trắng. Không thể ngờ được rằng sau mấy tháng thông đường, hàng ngàn chuyến xe của ta đã qua lại con đường này mà lại còn sót một tráí mìn chưa nổ. Khả năng địch lén ra đặt mìn bị loại trừ vì nơi ấy khá xa mặt trận. Vậy tại sao chiếc bánh xe oan nghiệt của Côn lại lăn đúng vào chỗ trái mìn còn sót lại đang rình rập. Chỉ có thể giải thích rằng đó là sự tình cờ nghiệt ngã của số phận mà thôi. Hay là đó chính là “sự trả thù” của hàng vạn trái mìn đã từng bị người lính trinh sát tài ba Nguyễn Danh Côn vô hiệu hoá trên chặng đường dằng dặc gần hai mươi năm ra trận? Mình cũng không biết nữa. Nhưng sự ra đi đột ngột của Nguyễn Danh Côn khiến mình vô cùng đau đớn. Vì Côn là người bạn cuối cùng của nhóm 10B còn sát cánh chiến đấu bên cạnh mình cho đên tận ngày hôm nay. Bấy lâu nay, mình luôn bị ám ảnh bởi một ý nghĩ rằng mình đã từng có lỗi với Côn và Đào. Mình cũng định có một lúc nào dó mình sẽ nói chuyện một cách thành thật với Côn rằng thực ra mình cũng không bao giờ có ý định giành giật tình yêu của Đào. Ngày ấy khi chúng mình còn là học trò, mình không yêu Đào. Thích một chút thì có nhưng yêu thì không! Nhưng khổ một nỗi là cô ấy lại yêu mình. Côn mới là người yêu Đào thực sự, nhưng hình như cậu ấy đã đầu hàng quá sớm. Giá như trong tình trường mà cậu ấy kiên cường, dũng cảm và mưu trí được như trên chiến trường thì có lẽ... Mà thôi, dẫu sao thì cuối cùng hai bạn ấy cũng đã đến được với nha. Đã thành vợ chồng của nhau. Bây giờ gánh nặng này mình đành phải nhờ “lớp trưởng” thôi. Tới đây mình sẽ trực tiếp ra làm công tác báo tử cho gia đình Côn.

Nhưng mình không thể biết chuyện gì sẽ xảy ra khi mình đột ngột xuất hiện trước Đào để báo một tin khủng khiếp đên như vậy cho bạn ấy. Mình đành cậy nhờ anh về gặp Đào “làm công tác tư tưởng” trước vậy!

Mong anh hãy vì tình bạn giữa chúng ta, nhất là vì mối giao tình đặc biệt giữa anh và Côn - hai người lính trinh sát với nhau - mà gánh đỡ Ban một chút cái gánh nặng này...!
14

Lá thư của Hùng Phong đã khiến giáo sư Lân mất ngủ trọn đêm. Đến đêm thứ hai ông thử dùng đến sự trợ giúp của thuốc ngủ Xê-đu-xen nhưng cũng vô dụng. Ông không ngủ được không chỉ vì sự tiếc thương người bạn chiến đấu tốt nhất của mình vừa hi sinh và cáỉ gánh nặng mà Hùng Phong trút lên vai ông khi nhờ cậy ông làm con quạ báo tin dữ cho mẹ con Đào. Bên cạnh nỗi đau, sự cảm thương, lá thư của Hùng Phong còn khơi dậy trong ông một nỗi tức giận khôn nguôi bởi những dòng lí giải rất khó ngửi của hắn về tình yêu. Ngụy biện đến thế là cùng. Cho rằng với trường hợp của Đào hắn ta có lí đi, vì Đào thực sự yêu hắn và cứ tìm mọi cách lăn vào vòng tay hắn một cách mê muội nên mới bị hắn lợi dụng đi. Nhưng còn trường hợp tội lỗi mà hắn gây ra với Thanh thì sao? Đào là một cô gái nhà quê đơn giản, chất phác nhưng còn Thanh, cô ấy thông minh thế, lịch lãm thế, đoan trang thế, làm sao có thể bị hắn lợi dụng được? Bao năm nay, ông vẫn không sao giải được sự bí ẩn này? Ngay trong lần gặp nhau cuối cùng trước khi Côn vào lại chiến trường, sau khi nghe Côn than thở về chuyện vợ mình vẫn không quên được Ban ngay cả khi ân ái với nhau, ông cũng đã lại đưa “trường hợp của Thanh” ra để hỏi Côn xem liệu anh ta có tìm được cách lí giải nào khả dĩ hợp lí để giải thích về sự mù quáng của cô ấy hay không? Nghe xong, Côn cũng lắc đầu một cách cay đắng mà thốt lên “Không thể nào hiểu nổi đàn bà đâu anh?”.

Một lát sau, dường như thương hại sự thất vọng của Lân, Côn cười xoà, vỗ vai Lân, giải thích thêm:

- Thôi đi anh... Nghĩ mãi về chuyện đó làm gì? Có lẽ.. ngày ấy... phụ nữ họ cũng mê muội như tất cả chúng ta thôi... Chúng ta sống với Hùng Phong, hiểu rất rõ con người thật của anh ta. Chúng ta biết rất kĩ cả những điểm tốt và cũng biết tường tận những điều xấu xa của anh ta, chúng ta biết anh ta có những hành động anh hùng nhưng chúng ta cũng biết anh cũng là một kẻ cơ hội, biết chiều đời, lựa gió mà tiến thân. Vậy mà chính chúng ta cũng bị những hào quang mà thời cuộc dồn tụ chiếu dọi vào anh ta làm cho loá mắt. Chúng ta cũng có lúc tự hào vì được là bạn, là đồng chí của Hùng Phong đấy chứ. Vậy thì trách làm gì đám đàn bà con gái? Thời ấy, cả dân tộc yêu màu áo lính và tôn thờ những người anh hùng. Vì vậy, nếu Thanh có bị cái thứ hào quang thời cuộc ấy cuốn hút rồi lao vào đó mà tự thiêu đốt cuộc đời mình thì cũng chẳng phải là điều gì quá khó hiểu.


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 10 Tháng Mười Hai, 2010, 06:38:16 pm
Nghe xong giáo sư Trựơng Đình Lân gật gù khen:

- Phải... có lẽ... đó là lời giải thích hợp lí nhất. Hào quang thời cuộc! Một khái niệm rất hay. Cậu, hoá ra không những chỉ là một người lính trinh sát giỏi mà còn có phẩm chất của một triết gia đấy!

Côn cười vang:

- Chẳng phải anh đã được gọi là “triết gia” là “giáo sư” ngay từ những ngày vừa bước vào học nghề trinh sát đó sao?

Gỉáo sư Lân cũng bật cười.

- Phải... chính vì thế nên tớ sớm bị loại khỏi làng lính trinh sát!

Giáo sư Trương Đình Lân còn nhớ như in cái ngày mà anh và Côn được chính trị viên Lương Xuân Báo gọi lên giao nhiệm vụ một cách trang trọng:

- Qua ba tháng huấn luyện, đại đội nhận thấy hai đồng chí vừa có trình độ văn hoá lại vừa có những phẩm chất đặc biệt. Vì thế, ban chỉ huy đại đội đã phát hiện và báo cáo lên cấp trên. Nay cấp trên đã có quyết định triệu tâp hai đồng chí đi học một lớp quân sự đặc biệt do sư đoàn tổ chức.

Lân ngạc nhiên nhìn Côn rồi mạnh dạn hỏi lại:

- Báo cáo chính trị viên... chúng tôi thì... cũng bình thường thôi. Người xuất sắc nhất trong đại đội phải là đồng chí Phạm Xuân Ban, sao đại đội không cử đồng chí ấy đi hoc lớp quân sự đặc biệt này ạ?

Chính trị viên Lương Xuân Báo nghiêm mặt:

- Đó là việc của tổ chức, các đồng chí không nên hỏi tới. Nhưng thôi được, để các đồng chí khỏi cảm thấy đại đội thiếu công bằng thì tôi cũng xin tiết lộ, đồng chí Hùng Phong đang là điển hình thi đua, là đối tượng Đảng, là nguồn phát triển cán bộ của đại đội, vì thế cấp uỷ và ban chỉ huy đại đội quyết định để lại làm hạt nhân nòng cốt cho phong trào thi đua của đơn vị và để có một môi trường tốt cho đồng chí ấy phấn đấu. Các đồng chí đã rõ chưa?

Lân báo cáo đã rõ nhưng Côn lại ngứa miệng hỏi thêm:

- Thưa chính trị viên... học xong, chúng tôi có được trở lại đại đội 9 nữa không ạ?

- Đó là việc của tổ chức. Đồng chí không cần hỏi. Là người lính các đồng chí chỉ cần tưân theo sự sắp xếp của tổ chức là được rồi. Tới đây, đơn vị ta cững sẽ có nhiều biến động, sẽ có sự sắp xếp lại, biên chế lại... sẽ xáo trộn đội hình chứ không thể cứ cùng làng, cùng lớp, cùng xã, cùng huyện thì bìu díu với nhau mãi được.

Tối hôm đó nhóm “lớp 10B” trong đại đội tụ tập nhau để chia tay Côn và Lân. Chiều hôm đó Do “Tây lai” cũng nhận được lệnh điều động về đại đội hoả lực của tiểu đoàn nên được nhập bọn luôn. Hướng ra xóm Múc nhờ cụ Đơn mua giùm hai con vịt mang về nhờ cậu Cung anh nuôi làm thịt. Việc ca cóng, cải thiện riêng từ trước tới nay đều bị cấm trong đại đội nhưng nhờ có cậu Cung thu xếp hộ nên cũng trót lọt. Tuy vậy, bữa tiệc cũng không được phép tổ chức vào đúng bữa ăn theo điều lệnh mà phải đợi đến đêm, sau giờ đọc báo, nhóm 10B mới nháy nhau xuống bếp. Bốn bát tiết canh, một đĩa quân dụng thịt đầy tú ụ, một nồi cháo “cổ cánh chân cẳng”, một chai rượu Mường đã sẵn sàng trong căn lán của anh nuôi Cung. Đồng chí Tạo, anh nuôi trưởng, sau khi quyết định mắt nhắm mắt mở bật đèn xanh cho cuộc liên hoan đã ý tứ “đi thăm đồng hương” ở đại đội 7.

Như một hội kín, cánh 10B lục tục kéo đến. Khi đã hòm hòm, cậu Cung ra lệnh:

- Thôi ngồi vào mâm rồi “làm” nhanh lên. Trực ban nó mò xuống lại rách việc bây giờ.

Mọi người lao xao chen vai thích cánh ngồi lên chiếc sạp nứa. Chợt Hướng nhìn quanh, đưa tay lên đếm cẩn thận rồi kêu lên - Thằng Ban còn chưa tới!

Như con ma xó, vừa lúc đó Ban từ trong bóng tối nhảy ào vào lán.

- Tớ đây rồi... nhưng tớ xin phép... làm một miếng rồi phải về ngay. Tiểu đội đi vãn cả thế này... nhỡ đại đội xuống kiểm tra thì chết!

Nói rồi, vẫn đứng dưới đất, hắn nhoi người vớ lấy chai rượu, rót một loạt ra những chiếc bát sắt - đã bày sẵn rồi tự cầm lấy một bát.

- Nào, xin nâng bát chúc mừng Lân và Côn ngày mai đi học... à mà cả Do ngày mai cũng lên làm lính hoả lực tiểu đoàn rồi. Nào, mời mọi người...

Côn nóng mắt gắt:

- Mày làm cái trò gì thế hở Ban. Cứ như là bố người ta không bằng. Chẳng gì thì ở đây cũng có cậu Cung là người nhiều tuổi nhất, phải để cậu ấy lên tiếng trước mới phải chứ!

Cậu Cung vội xua tay dàn hoà:

- Thôi đi Côn, đứa nào mở đầu mà chả được. Hình như thằng Ban không muốn tụ vạ ca cóng thế này đâu, nó đang phấn đấu, phải giữ gìn cũng đúng thôi. Vậy mà nó vẫn xuống đây với anh em chúng mình là tốt lắm rồi!? Tha cho nó đi!

Côn vẫn không chịu:

- Ông cậu cứ nói ngược, cậu là đảng viên hẳn hoi mà cậu còn sẵn sàng hoà mình với quần chúng, nó mới chỉ là cảm tình đối tượng gì đó của đảng, đã đâu vào đâu mà vội quan cách thế?

Lân đành phải lên tiếng:

- Nó mới là cảm tình, đang được đảng để ý nên càng phải giữ gìn? Chứ, đã là đảng viên như cậu Cung đây rồi thì có thể xả hơi, chơi bỗ bã với anh em mình được. Thôi nào, nâng bát lên, uống đi kẻo nguội cả rượu bây giờ!

Mọi người ồn ào hưởng ứng, thế là qua chuyện.

Nhưng Ban cũng không dám nán lại lâu. Uống xong bát rượu, gặm qua quít vài miếng thịt vịt là cậu ta chuồn. Nồi cháo ngon thế cũng chẳng kịp húp. Hướng nhìn theo cái dáng vội vã rời ra khỏi lán của Ban và buông một câu bình luận:

- Kể ra làm một người đầu tàu gương mẫu cũng mệt thật đấy nhỉ!

Do Tây lai vừa gặm cái cẳng vịt vừa đế vào một câu rất hóm:

- Không sao, nay mai thành đảng viên, thành cán bộ rồi thì cậu ấy sẽ ăn bù thôi mà!


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 18 Tháng Mười Hai, 2010, 05:09:46 pm
15

Tới nơi tập trung lớp “quân sự đặc biệt” của sư đoàn Lân và Côn mới biết thì ra họ được cử đi học một lớp đào tạo trinh sát do đích thân các sỹ quan ở cục quân báo - bộ tổng tham mưu về dạy dỗ. Chỉ mới được nghe thông báo như vậy, Côn đã sướng rơn. Anh ta nhảy cẫng lên rồi ôm chầm lấy Lân mà hét lên - Tuyệt vời rồi! Hồi còn ở nhà tớ khoái nhất là xem phim tình báo Liên Xô và vẫn thường hình dung sau này vào bộ đội mình cũng sẽ trở thành những anh chiến sỹ trinh sát tình báo quả cảm như những anh chiến sỹ tình báo Hồng quân trong phim Tinh Cầu ấy.

Lân thì không khoái mấy trò phiêu lưu mạo hiếm nên cũng chẳng thấy nhiệt tình cho lắm. Thôi thì đằng nào cũng ra trận, cũng đi đánh giặc, cấp trên phân công làm gì thì chấp hành, dù là trinh sát tình báo hay xạ thủ đại liên như cậu Do, xạ thủ B41 như cậu Hướng cũng đều được cả. Lân nghĩ vậy và cứ tưởng học làm anh lính trnh sát thì cũng chẳng có gì ghê gớm lắm, có khi chưa chắc đã vất vả bằng anh lính bộ binh cũng nên?

Nhưng chỉ vài ngày sau anh đã thấy rõ rằng mình đã lầm to!

Đai đội học viên trinh sát đóng quân trong một làng nhỏ gọi là làng Gồ, nằm ven quốc lộ sáu, gần thị trấn Xuân Mai. Đó là một làng đồi rất nghèo. Cả làng chỉ có được cái nhà kho hợp tác xã là được lợp bằng ngói, còn tất cả các mái nhà trong làng đều lợp gianh hoặc lợp rạ, tường chình bằng đất nện, nhà nào khá hơn một chút thì mới được xây bằng đá ong. Bộ đội chia nhau đóng quân trong nhà dân, cái nhà kho hợp tác xã được bố trí làm nhà ăn tập trung. Hôm bộ đội mới đến tường nhà kho vẫn còn giữ được màu vôi trắng và có khá nhiều khẩu hiệu thi đua sản xuất, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Nhưng chỉ một ngày sau, với ý thức phòng gian bảo mật rất cao, ông chủ tịch xã đã ra lệnh cho dân quân lấy phẩm xanh quét lên bề mặt tường nhà những hình khối nham nhở để nguỵ trang. Cả cái mái ngói đỏ bề thế, niềm tự hào của làng Gồ cũng được phủ một lớp ngụy trang bằng nhựa đường đen xì, trông phát khiếp lên được. Không biết chính quyền địa phương quán triệt với bà con ra sao, nhưng kể từ hôm đó cả làng Gồ từ người lớn đến trẻ nhỏ mặt mũi người nào người nấy đều nghiêm trọng, cứ như làng họ đang ôm trong lòng một bí mật mang tầm cỡ quốc gia. Dân quân tổ chức hai trạm gác ở hai đầu làng, người lạ không thể nào “đột nhập” được vào làng. Các bà các cô buổi sáng đi chợ Gối. có gặp người quen ở các làng khác cũng không bao giờ nói chuyện có “bộ đội đặc biệt” đang ở trọ tại làng mình.

Trẻ con cũng thực hiện triệt để khẩu hiệu “Ba không”, đến tên các chú bộ đội ở trọ trong nhà chúng chúng cũng không bao giờ tự động tiết lộ cho những đứa trẻ nhà khác. Dân quân xã cứ vài ba hôm lại túm được một nghi phạm là “những tên gián điệp biệt kích” của Mỹ, nhưng thường thì họ chỉ là những ông thợ đóng cối, những ông bán cá bột, hoặc những anh chàng đưa lợn cà đi thụ tinh cho những ả lợn nái trong làng... Nếu ai không may bị dân quân giữ lại mà không có giấy tờ tuỳ thân, hoặc không “chứng minh được thân phận của mình” thì đều bị đưa về nhà ủ mầm ở đội giống của hợp tác xã nhốt một đêm rồi hôm sau giải lên giao cho công an huyện.

Chương trình huấn luyện của bộ đội càng ngày càng khiến dân làng Gồ tò mò. Bộ đội gì mà chẳng thấy học bắn súng, ném lựa đạn, đi đều bước mà lại thấy mỗi anh đều có một cặp bản đồ, một cái địa bàn rồi chia thành ừng tốp đi tít vào trong núi đến đêm mới lại mò về. Rồi lại thấy tập võ. Mà võ ra võ, cứ dăm bảy chú một tốp kéo nhau ra góc vườn, góc đồi vật nhau huỳnh huỵch cả ngày lẫn đêm. Rồi lại học cả tiếng Mỹ nữa. Học tiếng Mỹ để làm gì, nếu không phải để sang tận nước Mỹ làm tình báo? Thế là dân làng Gồ rỉ tai nhau mà rằng “Làng minh vinh dự thật đấy... được trung ương tin tưởng đưa cả một lớp tình báo về đây học tập để chuẩn bị sang đánh Mỹ ở tận bên nước Mỹ!”.

Thực ra, trong chương trình huấn luyện của lớp trinh sát chỉ có khoảng vài trăm từ tiếng Anh thông dụng, được học theo lối truyền miệng, làm chút vốn liếng để sau này vào chiến trường mà “ứng xử' với tù binh Mỹ khi gặp tình huống cần thiết. Vậy mà trong đại đội học viên hồi ấy, cũng chỉ có chừng mươi anh, trong đó có Lân và Côn là có thể “nuốt” được mấy trăm từ tiếng Anh đó mà thôi. Còn lại, đa số anh em học viên đều méo xẹo cả mồm miệng mỗi khi bị gọi lên kiểm tra. Có cậu Dương ở Thái Bình, học mãi mà không thuộc được câu nào, đến hôm đại đội kiêm tra cậu ta sọ quá cứ đập đầu vào cái bảng gỗ khóc tu lên rồi mếu máo báo cáo với đại đội trưởng:

- Em chịu thôi... có đến chết em cũng không thể uốn lưỡi nói được thứ tiếng của cái bọn mọi rợ này... thủ trưởng cho em về đơn vị làm lính bộ binh thôi. Đến khi vào trận em vừa quạt súng máy vừa chửi cha chúng nó lên bằng tiếng của người mình, không sướng hơn à?


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 18 Tháng Mười Hai, 2010, 05:11:44 pm
Nhưng rốt cuộc cũng không ai bị trả về đơn vị chỉ vì không học được tiếng Mỹ.

Với Lân, môn tiếng Anh truyền khẩu và môn xử dụng bản đồ địa bàn anh học khá tốt. Nhưng chặng đường khổ ải đối với anh chính là ba môn - võ thuật, độn thổ giấu mình bắt tù binh và một môn học rất kì quặc mà không biết sau này vào chiến trường có học viên nào ứng dụng lấy một lần hay không, ấy là môn lợi dụng địa hình nhảy lên ô tô hoặc các phương tiện cơ giới của địch!

Giáo viên võ thuật là trung uý Lê Xuân Ôn, một hung thần thực sự đối với các “võ sinh”. Anh ta chừng gần ba chục tuổi, người cao gầy và rắn như thép, da đen, mắt thô lố và tinh nhanh như mắt cáo. Chương trình võ thuật được trung uý Ôn lên lớp cho từng tiểu đội. Giáo án của anh ta cũng rất độc đáo.

Bài nhập môn được anh ta bắt đầu thế này - Hùm... tóm lại... võ thuật là gì? Trước hết là để bảo vệ được mình. Sau đó là tấn công, dùng quyền cước và vũ khí nhẹ khống chế kẻ địch để tiêu diệt hoặc bắt chúng hàng phục. Do vậy, trước hết tôi phải dạy các anh cách tránh đòn, cách tự bảo vệ mình. Sau đó mới nói đến những chuyện khác.

Mở đầu bằng vài câu dông dài như vậy rồi anh ta bắt đầu thị phạm. Anh ta lấy một sợi dây võng dù rồi bảo anh tiểu đội trưởng Nguyễn Văn Đà:

- Bây giờ cậu hãy trói hai tay tôi lại!

Tiểu đội trưởng Đà tiến lại lấy sợi dây võng trói quặt hai tay trung uý Ôn về phía sau. Anh ta yêu cầu kiểm tra lại cho chắc chắn rồi tiến ra trước hàng quân, nhìn đám học trò của mình như nhìn một lũ cừu non sắp bị đưa đi làm thịt, cười khẩy rồi ra lệnh:

- Hãy nghe đây. Bây giờ lần lượt từng anh một lao lên tấn công tôi. Các anh phải đánh như đánh một tên giặc thực sự chứ không được lơ mơ! Tôi sẽ tránh đòn của các anh, nhưng tôi chưa đánh trả. Nếu anh nào đánh trúng tôi một đòn, coi như đã hoàn thành nhiệm vụ. Nào, bắt đầu từ đồng chí tiểu đội trưởng!

Tiểu đội tưởng Đà hùng hổ xông lên, nhảy bổ vào tấn công, nhưng nhanh như cắt, trung uý Ôn đã né người qua một bên, mất đà, anh tiểu đội trưởng ngã bổ chửng. Lần lượt cả mười hai học viên trong tiểu đội xông lên tấn công, nhưng không một ai đánh trúng anh ta. Mọi người đều trầm trồ thán phục, riêng Côn không chịu, anh ta lầm bầm trong miệng:

- Mẹo vặt thôi mà... lần thứ hai nhất định tớ sẽ đánh trúng!

Trung uý nhìn đám học viên, cười khẩy:

- Vậy là lần thứ nhất không một ai đánh trúng tôi. Bây giờ đến lần thứ hai. Nhưng lần này các vị không thể vô sự được. Nếu các vị không đánh trúng tôi thì tôi có quyền đánh trả các vị một đòn, vị nào đỡ được thì thoát không đỡ được thì phải ráng mà chịu đau! Hai tay tôi bị trói, vì vậy tôi nói trước, tôi sẽ dùng cước để phản đòn. Liệu mà đỡ nhé!

Lại vẫn tiểu đội trưởng Đà đi tiên phong. Chỉ kịp nghe tiếng “Hự... hụych!” đã thấy tiểu đội trưởng Đà ngã văng ra cách đó vài mét.

- Nào, xông lên đi chứ!

Lần lượt người thứ hai, thứ ba cho đến thứ chín... ăn đòn chân của trung uý ngã văng ra. Có cậu kêu cha kêu mẹ lên vì đau. Người thứ mười... đến lượt Lân.

Đầu gối anh run lập cập, không thể nào mà bước lên nổi.

- Nào, đến lượt “giáo sư “ rồi đấy!

Mãi về sau này Lân vẫn không hiểu vì sao người đầu tiên trong đời gọi anh là “giáo sư” lại là ông thầy dạy võ thuật chứ không phải là các học trò của anh sau này. Anh cũng chẳng biết vì cơn cớ gì mà trung uý Ôn lại gọi anh là “giáo sư”? Từ hôm về học lớp trinh sát anh cũng không có thời gian đọc sách cũng chẳng có dịp tranh luận với ai về văn học, triết học hay sử học... cũng chẳng hề mở miệng dạy dỗ ai điều gì. Vậy thì vì sao hắn ta lại gọi anh là giáo sư nhỉ?

- Tiến lên đi chứ... giáo sư! Mẹ khỉ, sợ són đái ra quần rồi à?

Bị kích động Lân bỗng nóng bừng cả mặt. Anh hét lên một tiếng rồi nhảy vọt tới. Hự... huỵch! Mạng sườn anh đau nhói... mắt mũi tối sầm. Hình như anh bị đá văng lên rồi ngã cày mặt xuống đất. Tuy vậy anh vẫn còn nghe thấy tiếng Côn gầm lên:

- Đồ khốn! Sao ông ra đòn nặng thế?

Liền sau đó là tiếng đấm đá huỳnh huỵch. Tiếng hò hét. Tiếng thở hổn hển. Rồi cuối cùng cũng... hự hụych! Côn trúng một chuỗi liên hoàn cước ngã sóng xoài ngay bên cạnh Lân. Hình như cũng khá đau, nhưng Côn vẫn đủ sức để bật dậy, đưa hai tay lên trời hét toáng lên:

- Tôi đấm trúng nó một quả rồi!

Tưởng rằng trung uý Ôn sẽ giận tím mặt, nhưng không ngờ, anh ta lại cười lớn khen:

- Khá lắm! Cuối cùng cũng tìm được một thằng có đôi chút máu mê! Được, tao sẽ dạy chú mày “nên người”!

Sau bài “nhập môn” độc đáo, trung uý Lê Xuân Ôn bắt đầu dạy học viên cách tránh đòn, cách che đỡ những yếu huyệt trên cơ thể con người, cách ngã sao cho không bị chấn thương xương khớp... sau đó là cách đứng tấn, cách tạo thế trụ rồi mới lần lượt dạy cách ra các đòn đòn thế. Anh ta đặc biệt chú ý đến Côn và đã rèn cậu ta đến nơi đến chốn. Riêng đối với “giáo sư Lân” thì mỗi lần kiểm tra, Trung uý Lê Xuân ôn đều lắc đầu:

- Ông này... rồi chẳng nên cơm cháo gì đâu? Ông xỏ nhầm giày của lính trinh sát rồi!

Lân cũng biết mình không có năng khiếu võ thuật. Càng học kém thì khi thao luyện anh lại càng hay trúng đòn của các bạn. Ngày nào đi tập về người anh cũng đau ê ẩm. Tuy vậy, anh cũng cảm thấy từ ngày được học võ thuật anh trở nên nhanh nhẹn hơn, khỏe mạnh hơn rất nhiều.

Đến cuối khoá học, Trung uý Ôn cũng tiến hành một cuộc sát hạch bộ môn võ thuật. Cái cách ra bài thi sát hạch của anh cũng độc nhất vô nhị.

Một buổi chiều anh đưa cả đại đội ra một tràn xướng mạ ở ven đồi. Sau khi nói vài câu mục đích yêu cầu của cuộc sát hạch anh chỉ xuống tràn ruộng mà dân trong làng vừa chạy ống, chuẩn bị gieo mạ và nói rằng Các anh có nhìn thấy cái bờ ngăn giữa hai xướng mạ kia không?

Mọi người đều đáp có, vì ai mà chẳng nhìn thấy cái bờ nhỏ như cây cau chạy giữa hai tràn xướng mạ. Cả hai thửa ruộng này đều vừa được bừa kĩ, chạy óng, mặt bùn sánh như mật ong.

- Đó là đề bài thi sát hạch môn võ thuật của chúng ta. Thời gian có hạn nên chúng ta không làm bài thi từng cá nhân mà sẽ thi tập thể theo từng tiểu đội một.

Tóm lại là thế này, tôi sẽ trấn ở giữa cái bờ nhỏ đó.

Từng tiểu đội sẽ lần lượt theo cái bờ đó, tìm cách mà vượt qua tôi rồi, tiến sang bên kia. Các anh làm thế nào mà có được một nửa số người của tiểu đội vượt được qua bờ bên kia mà không bị lấm bùn thì coi như đạt yêu cầu hai phần ba là khá, nếu chỉ có không quá ba người bị ném xuống ruộng thì đạt loại giỏi.

Cả đại đội ồ lên sau khi nghe xong “đề thi”. Xem chừng mọi người có vẻ phấn chấn vì đề thi như thế thì cũng chẳng phải là khó lắm. Mỗi tiểu đội chín, mười con người, làm sao mà không ném được cái ông trung uý kia xuống ruộng mạ?

Cuộc tỷ thí bắt đầu. Tiểu đội một xung phong đi đầu không cần bốc thăm. Chín anh chàng hùng hổ xếp thành hàng dọc sau tiểu đội trưởng. Khí thế ngất trời. Một tiếng hô vang “Tiểu đội một tiến lên!”. Cả đại đội cũng hò reo trợ chiến vang động cả một vùng đồi. Nhưng hỡi ơi, chỉ nhoằng một cái cả chín chiến sỹ tiểu đội một lần lượt bị ném oẳm xuống hai xướng mạ hai bên, anh nào anh nấy ngay lập tức bị trát đầy bùn từ đầu tới chân bò ngoi ngóp dưới xướng mạ như cua ngoi tháng sáu.

- “Tiểu đội hai vào đi!”.

Trung uý Lê Xuân Ôn vừa nhảy như con loi choi ở trên cái bờ nhỏ như cây cau vừa hét lên. Đáng thương thay, từ tiểu đội một tới tiểu đội bốn, không một người nào không bị viên trưng uý Ôn thần ném xuống ruộng. Anh nào kha khá thì còn kịp quều quào ra một vài đòn, anh nào kém thì vừa xáp vô đã bị anh ta hất văng xuống ruộng ngay lập tức. Chưa một ai vượt qua được anh ta để sang bờ bên kia. Chẳng lẽ, cả đại đội đều chịu bó tay trước một thử thách đơn giản vậy sao?

Đến tiểu đội 5, là tiểu đội do Nguyễn Danh Côn vừa được phân công làm tiểu đội trưởng. Từ nãy đến giờ, Lân để ý thấy Côn cứ nghiến răng kèn kẹt, mắt đỏ rực lên như mắt cá chày. Mỗi khi có một ai đó bị hất xuống ruộng một cách ngoạn mục, anh em trên bờ ồ lên cười, nhưng Côn thì chỉ nhổ một bãi nước bọt qua kẽ răng và chửi thề:

- Mẹ kiếp!

Rồi cũng đến lúc trung uý Ôn hô lớn:

- Nào, đến lượt tiểu đội năm vào tắm bùn đi!

Côn quay lại trừng mắt nói với anh em đang đứng xếp hàng sau mình:

- Để mình tôi vào. Khi nào tôi lôi ông ta xuống ruộng thì cả tiểu đội sẽ ào sang. Rõ chưa!

Nói rồi Côn hét lên một tiếng “Tôi tới đây!”, rồi lao vút vào vào như một mũi tên. Trung uý Lê Xuân Ôn lập tức xuống thế tấn, sẵn sàng đánh chặn. Nhưng khi còn cách Ôn vài mét, bỗng Côn cong người lại, nhún mình nhảy vọt qua đầu anh trung uý đang xuống tấn chờ đợi. Bị bất ngờ, anh tưởng rằng Côn đã nhảy qua mình rồi thì sẽ lao thẳng lên bờ bên kia để về đích toàn thắng nên đã sơ xểnh, không phòng bị. Chỉ trong tích tắc, Côn quay ngoắt lại vươn tay tóm lấy một cẳng chân của trung uý vừa quay hết một vòng trên bờ ruộng để trở lại thế đối mặt với anh. Nhưng Lê Xuân Ôn là một võ sĩ có hạng, đâu có dễ dàng khống chế được anh ta. Côn còn đang dùng sức cố ghì lấy cẳng chân của Ôn mà kéo hi vọng anh ta sẽ mất trụ mà ngã.

Nhưng ý đồ của Côn chưa thành công thì anh đã liên tiếp bị dáng mấy cú chém nảy lửa bằng cùi tay khiến anh tá hoả tam tinh. Nhưng anh vẫn gắng chịu đòn, ghì chặt lấy một chân của trung uý Ôn, dùng toàn bộ sức nặng cơ thể mà đẩy anh ta về phía xướng mạ bên trái.

Người Ôn dẻo như kẹo kéo, nên mặc dù có đến già nửa thân bị đẩy ra phía ruộng mạ, nhưng anh ta vẫn trụ vững và vẫn tiếp tục dùng cổ tay ra đòn liên tiếp.

Nhưng thật may mắn, hình như điểm bám bàn chân còn lại của anh ta là một khoảnh đất yếu, nên khi anh ta lên gồng để cho bàn chân bám chắc hơn vào đất thì cái vạt đất dưới chân anh ta bỗng dưng vỡ toác ra. Mất thăng bằng, trung uý Ôn chới với rồi kéo theo cả Côn rơi oàm xuống ruộng bùn.

Anh em tiểu đội 5 hò reo rầm trời rồi ào ào chạy qua cái bờ “cây cau” sang bên kia sườn đồi. Trong khi đó, Côn và trung uý Lê Xuân Ôn tiếp tục dùng quyền cước quần nhau dưới ruộng cho đến khi cả hai đều nhuộm kín một lượt bùn từ đầu đến chân. Trong khi hai vị quần thảo nhau, các tiểu đội còn lại cũng hò reo chạy qua bờ bên kia, coi như họ cũng hoàn thành nhiệm vụ. Cuộc sát hạch bộ môn võ thuật đã kết thúc. Trung uý Ôn đánh giá thành tích toàn đại đội đạt loại khá.

Riêng tiểu đội trưởng Nguyễn Danh Côn được xếp loại xuất sắc! Lại còn được trung uý Ôn khen là “ứng phó rất thông minh!”. Còn Lân, do được “ăn theo” không bị nhuốm bùn, đáng lẽ phải được xếp loại khá như tất cả những anh không bị rơi xuống ruộng, nhưng không hiểu sao tung uý Lê Xuân Ôn lại gọi riêng anh và hai cậu nữa ra trước hàng quân mà nói:




Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 18 Tháng Mười Hai, 2010, 05:18:21 pm
- Riêng ba cậu này... tôi chỉ chiếu cố xếp loại đạt yêu cầu. Vì sao nào? Vì tôi thấy hiện lên trong mắt mấy câu sự hoảng loạn. Là người lính trinh sát, đứng trước bất cứ tình huống nào, kể cả trước những tình huống lạ lùng khó tin nhất cũng không được phép để mất bình tĩnh. Khóa học vẫn còn một ít thời gian nữa, tôi sẽ dành nhiều giờ hơn để chăm sóc riêng cho ba cậu!

Nghe anh ta nói vậy, Lân bỗng cảm thấy mồ hôi tứa ra, chảy thành dòng dọc theo sống lưng!

Môn học thứ hai mà anh thi không đạt yêu cầu là môn độn thổ giấu mình bắt tù binh. Cái môn kì cục, có lẽ do các vị du kích đánh Tây sáng tạo ra và không biết vì lí do gì nó vẫn được bộ đội chủ lực thời đánh Mỹ coi là môn chiến thuật đắc dụng?

Tóm tắt các hành động của bộ môn chiến thuật trinh sát đó đại loại:

Đơn vị báo động lúc nửa đêm, sau đó chia thành nhiều tốp tiếp cận một trục đường nào đó được giả định ngày mai sẽ có địch hành quân qua. Tới địa điểm phục kích, mỗi tổ ba người phải chọn một khoảnh đất ven đường, tốt nhất là khoảnh đất có thảm cỏ, sau đó, nằm xuống, trải ni lông ra rồi vừa quan sát dọc đường vừa bắt đầu đào hầm độn thổ. Trước hết phải đánh những vầng cỏ cho khéo để sau này nguỵ trang nóc hầm, sau đó bắt đầu dùng xẻng và dao găm khoét từng tý một, dùng bát sắt múc đất bỏ vào ni lông, không được rơi vãi một hạt, sau đó sẽ mang đất ra một nơi nào đó an toàn để giấu kĩ. Khi căn hầm đã đủ độ sâu để một người ngồi kín thì người phục kích sẽ được đồng đội trợ giúp để tự “chôn” mình trong căn hầm chật hẹp ấy và nguỵ trang lại. Nghệ thuật nguỵ trang là mấu chốt của mọi sự thành bại. Vì đến khi trời sáng, đầu tiên là “quân xanh” sẽ đi tuần. Nếu phát hiện được những dấu vết khả nghi thì “quân xanh” sẽ dùng dùi sắt xăm tìm. Nếu ai bị xăm đúng hầm thì người đó, tổ đó coi như không hoàn thành nhiệm vụ. Còn nếu hầm nào giữ được bí mật thì sẽ được “chơi tiếp vòng hai!”. Sẽ có một tốp “quân xanh” khác giả vờ đi tuần qua và những người phục kích phải tính toán sao cho đội hầm bật dậy đúng lúc để tấn công bất ngờ và bắt được một “cái lưỡi” mang về cho sở chỉ huy! Vì sự vụng về của Lân mà tổ của anh sát hạch tới ba lần không đạt yêu cầu. Đợt đầu hầm bị xăm trúng, đợt hai Lân là người phục kích, hầm không bị xăm nhưng khi quân tuần tiễu hành quân tới thì Lân mệt quá, đã ngủ thiếp đi, không kịp bật dậy để tấn công!

Thế cũng là công toi. Lần thứ ba Lân chuyển đất ra bờ suối để lại dấu chân nên không những “địch” xăm được cả hầm mà còn lần ra chỗ phục kích phía sau của những người trợ chiến!

Sau mỗi lần thất bại trong học tập, Lân đều tìm đến Côn than thở, câu cửa miệng mà anh thường kêu ca với Côn là đúng như trung uý Ôn nói, mình đã “xỏ nhầm giầy”, đáng ra mình không nên học làm lính trinh sát. Mỗi lần như vậy Côn đều tặc lưỡi bảo:

- Thì nói cho cùng, chẳng ai nghĩ mình lại được sinh ra đề đi làm bất cứ thứ lính gì cả. Trai thời loạn thì phải vậy thôi!
16

Chưa đầy nửa năm mặc áo lính mà Lân đã học được không biết bao nhiêu điều kì lạ. Đặc biệt, anh nhận thấy mình đã có khả năng chịu đựng gian khổ và thích nghi nhanh với mọi sự thay đổi của môi trường lính tráng. Mặc dù không thích học nghề trinh sát, nhưng anh cũng phải thừa nhận rằng chính trong vòng mấy tháng học tập và rèn luyện với cường độ cao và với những môn học, bài học rất kì lạ - ở trung tâm huấn luyện trinh sát sư đoàn, đã khiến anh trưởng thành rất nhanh.

Những giáo viên ở đây đều là những chiến binh thực thụ, họ giỏi mọi kĩ năng, họ dạy các anh cách để tồn tại trong những môi trường chiến đấu khắc nghiệt.

Họ dạy các anh cách để vượt qua những bãi mìn, những lớp rào kẽm gai đủ kiểu đủ loại, họ dạy các anh cả cách chống chó nghiệp vụ của địch, cách nhịn ho, cách chống chọi với kiến với muỗi vắt... mỗi khi ra một tình huống, họ đều nói “Nếu anh xử lí thành công tình huống này thì coi như anh còn sống, nếu không thành công thì anh sẽ phải hi sinh”. Chưa ở đâu những người rèn luyện lính chiến lại nói nhiều đến cái chết như ở đây. Họ nói đến “nó” một cách lạnh lùng, như là nó luôn tồn tại bên cạnh bạn, chứ không phải chỉ như một tình huống giả định.

Nhưng Lân không thể ngờ rằng chính trong những ngày này anh đã thực sự nhìn thấy cái chết. Một cái chết có thực và kinh khủng làm sao! Sau này, trên chặng đường chinh chiến liên miên, anh đã chứng kiến không biết bao nhiêu cái chết, kể cả sự hi sinh của đồng đội mình lẫn cái chết của kẻ thù trước mũi súng của anh. Nhưng có lẽ không bao giờ anh quên được cái chết bất ngờ, tức tưởi và vô duyên đến thế của một người đồng chí trong đại đội học viên trinh sát ngày ấy.

Hôm đó đơn vị thực hành bài tập “Lợi dụng địa hình để tiếp cạn và sử dụng các phương tiện giao thông cơ giới của địch trên chiến trường!”. Thao trường là một đoạn đường quốc lộ sáu, nơi có một con dốc chạy ngoằn ngoèo với những vạt ta tuy cắt vát lên sườn đồi như những miếng khoai sát. Ở trên đỉnh những vạt ta tuy ấy là những bụi sim mua lúp xúp. Bài tập được đặt ra như thế này. Sẽ có một chiếc xe chở hàng quân sự đi từ dưới dốc lên. Các chiến sỹ trinh sát tiếp cận con đường và tới giấu mình trong những bụi cây nhỏ trên đỉnh những vạt taluy ven đường. Đợi cho đến khi chiếc xe lên dốc giảm tốc độ, tới đúng tầm thì chiến sỹ trinh sát sẽ từ trên taluy đường nhảy xuống thùng hoặc nóc xe, sao cho tên lính lái xe không hay biết gì! Rồi sau đó dấu mình trên nóc xe hoặc thùng xe, chiếc xe quân sự sẽ tự đưa anh vào căn cứ địch! (Như vẫn thường gặp trong phim chiến đấu Liên Xô).

Bài tập có vẻ hấp dẫn, kích thích máu phiêu lưu của anh em chiến sỹ. Họ tin rằng sau này vào chiến trường, chắc chắn sẽ có hàng trăm lần họ phải thực hiện những “thủ thuật nghiệp vụ” này nên rất say sưa luyện tập.

Nói chung việc nhảy từ trên ta luy một đoạn đường dốc xuống thùng xe, trong khi chiếc xe cố tình đi chậm đến mức hợp lí nhất, không phải là một việc khó. Chỉ có điều làm sao để có thể “nhảy vào xe địch nhẹ nhàng không một tiếng động” để tên lái xe không hay biết gì thì quả là khó lắm thay. Bài tập này cũng có hai cấp độ, một cấp độ học nhảy vào ban ngày, sau đó sẽ học cấp độ cao hơn, nhảy vào ban đêm.

Ba buổi đầu tiên không có chuyện gì xảy ra, toàn đại đội đều nhảy tốt, giáo viên hướng dẫn rất hài lòng.

Đến buổi sáng ngày thứ tư, là buổi kiểm tra thục luyện, nghĩa là mỗi học viên phải thực hiện đầy đủ các công đoạn từ xa bí mật tiếp cận đến, chọn điểm nhảy, nguỵ trang chờ xe “địch” tới và nhảy!

Quá nửa đại đội đã thực hiện xong bài thục luyện.

Mặt trời đã lên cao, nắng bắt đầu gắt. Giáo viên giục anh em còn lại tăng tốc độ để sớm hết lượt. Đến lượt tiểu đội trưởng Nguyễn Văn Đà ra thực hiện bài tập.

Đà xốc lại súng ống, trang bị, kiểm tra lại vòng lá ngụy trang rồi nằm xuống một khe cạn ven đồi chờ lệnh. Giáo viên hô “Bắt đầu!” thì Đà cũng bắt đầu lợi dụng địa hình địa vật cơ động về phía đầu dốc, người trợ giảng hướng về phía dưới con đường phất lá cờ đỏ. Chiếc xe Gái 69, giả làm xe địch, trên thùng xe chất đầy những thùng hàng, cũng bắt đầu rì rì tiến vào con dốc. Đà đã đến mục tiêu, đã chiếm lĩnh chỗ tốt nhất để thực hiện cú nhảy. Tóm lại là vẫn như những lần trước, không có gì đặc biệt xảy ra. Chiếc xe rù rì chạy đến đúng tầm nhảy. Mọi người thấy Đà nhóm lên, vươn người tới và... Đáng lẽ phải nhảy vào thùng xe như mọi khi thì không hiểu sao Đà bị trượt chân, và trong cái thế chúi người về phía trước, anh lao đầu thẳng xuống vệ đường, nơi có một đống đá hộc của công nhân duy tu làm đường đó còn bỏ đó. Anh em ở xa không nghe thấy tiếng va đập, chỉ thấy Đà lao cắm đầu xuống vệ đường, chiếc xe thì hồn nhiên đi qua sau khi không đón được... khách! Tất cả im lặng.

Chưa ai nghĩ rằng lại có thể có tình huống tệ hại diễn ra. Đà bị trượt chân ngã... ai cũng nhìn thấy, nhưng quá lắm thì cũng chỉ bươu đầu sứt trán hay què chân gãy tay thôi chứ...?

Không thấy Đà dậy, mọi người vội xô nhau chạy tới. Đà nằm đó, vắt ngang đống đá hộc, đầu vỡ toác, máu đang chảy ra như xối. Lân là người đầu tiên chạy tới bế thốc Đà lên.

- Trời ơi...! Hình như anh ấy... vỡ đầu rồi!

Cứu thương của đại đội được gọi tới, nhưng cậu y sỹ trẻ chưa từng gặp một ca như thế này bao giờ luống cuống không biết xử lí ra sao. Cuối cùng ai đó nghĩ ra sáng kiến, gọi chiếc xe “quân xanh” lại để đưa Đà đi bệnh viện cấp cứu.

Nhưng tất cả đã muộn. Đà đã tắt thở ngay trên bãi tập trong vòng tay của Lân. Máu của anh chảy ướt đẫm cả vạt áo Lân.

- Hình như... anh ấy chết rồi!

Cậu y sỹ run rẩy kết luận. Người sỹ quan phụ trách giảng dạy bộ môn chiến thuật “nhảy ô tô” dậm chân gào tướng lên:

- Trời ơi... Biết làm thế nào bây giờ?

Đại đội trưởng phụ trách đại đội học viên cũng vừa tới kịp. Anh rẽ đám đông vào kiểm tra lại tình hình rồi bình tĩnh ra lệnh:

- Đưa cậu ấy về sân kho hợp tác xã. Đại đội nghỉ tập. Tất cả chỉnh đốn hàng ngũ trở về nơi đóng quân.

Không ai được nói bất kì điều gì về tai nạn hôm nay của đồng chí Đà. Rõ chưa?

Xác Đà được bọc tạm vào tấm vải bạt vẫn dùng để phủ đống hàng giả định trên chiếc xe huấn luyện. Khi thi thể anh đã được đưa lên xe, mọi người mới quay lại và thấy Lân đang ngồi gục bên đống đá hộc khóc tru lên. Cho đến lúc ấy, cả đại đội chỉ mới có mình anh không kìm nén được tình cảm. Cũng có nhiều người rơi nước mắt, nhưng không có ai khóc rống lên từng hồi như Lân. Côn vội bước tới cố đỡ Lân đứng dậy:

- Đừng khóc nữa Lân... đằng nào thì anh ấy cũng...

Lân đưa tay áo lên gạt nước mắt. Nhưng rủi thay, tay áo anh lại ướt dẫm những máu của người xấu số, nên anh vừa quệt ngang mặt một cái thì máu của Đà đã tràn đầy mặt anh khiến người cứng bóng vía như Côn cũng phải thảng thốt kêu lên:

- Trời ơi! Máu...

Lân hộc lên một tiếng rồi ngất xỉu ngay dưới cánh tay Côn.
17

Lân ốm liệt glường kể từ hôm đó. Đơn vị đã phải đưa anh tới tiểu đoàn quân y của sư đoàn để điều trị.

Bác sỹ Hành, tiểu đoàn trưởng phụ trách bệnh viện quân y, sau khi khám bệnh cho anh đã kết luận - Cậu ta bị chấn động thần kinh khá nặng. Phảỉ tĩnh dưỡng một thời gian mới khỏi được.

Vài ngày sau Côn tới thăm, Lân hỏi ngay:

- Đơn vị làm táng lễ cho anh ấy thế nào?

- Rất trang nghiêm, cảm động. Vợ con và người nhà anh ấy cũng được đơn vị đón lên. Cả làng Gồ khóc. Sau lễ truy điệu, anh ấy được đơn vị đưa về quê an táng tại nghĩa trang liệt sỹ.

Lân thở dài:

- Chưa đánh đấm gì cả mà đã có thằng trở thành liệt sỹ rồi. Chán thật!

Côn ngập ngừng:

- Nhưng có lẽ... cũng sắp rồi. Đại đội huấn luyện trinh sát được lệnh rút ngắn chương trình. Mấy hôm nay tập luyện ráo riết lắm. Nghe nói, khoá học sẽ kết thúc vào cuối tháng này, anh em học viên sẽ được chia về các trung đoàn để chuẩn bị đi chiến đấu. Lân lo lắng hỏi:

- Chúng mình liệu có được về cùng một trung đoàn không?

Côn lăc đầu:

- Không thể biết được. Đó là việc của tổ chức mà. Nhưng mình nghe nói... những người khá nhất khoá sẽ được bổ sung về đại đội trinh sát của sư đoàn.

- Vậy thì... chắc chắn tớ không thể đi cùng với cậu được rồi. - Lân khẳng định - cậu về trinh sát sư đoàn là cái chắc. Còn tớ, may mắn nhất là được về đơn vị cũ làm lính bộ binh. Đang nằm trên giường, anh bỗng bật ngồi dậy - Tớ phải tìm cách xin ra viện sớm thôi. Cứ nằm ở đây, nếu đơn vị bất ngờ được lệnh đi B không chừng tớ bị bỏ lại mất!

Nhưng cũng phải một tuần sau Lân mới được ra viện. May mắn là anh về vừa kịp để chia tay trung uý Lê Xuân Ôn, ngày mai số giáo viên từ cục quân báo về tăng cường đã đã được lệnh rút quân. Nghe tin Lân vừa ra viện, trung uý Ôn tới tận nơi tiểu đội anh đóng quân để thăm anh.

- Thế nào giáo sư? Đã hoàn hồn chưa?

Vừa xiết chặt tay anh, trung uý vừa nháy mắt cười hỏi một câu khó nghe như vậy. Rồi trung uý còn bình luận thêm:

- Khoá này thế là còn khá đấy. Chỉ có một tai nạn trong huấn luyện thế là tốt quá rồi. Các cậu không biết chứ, khoá trước bọn mình huấn luyện còn mất đứt hai cậu kia. Một cậu bị banh xác khi gói bộc phá, một cậu ngã gãy cổ khi tập leo nhà cao tầng.

Lân thảng thốt hỏi:

- Huấn luyện kiểu gì mà lại để con người ta chết oan uổng thế?

Trung uý Lê Xuân Ôn triết lý:

- Luyện quân ra trận là chuẩn bị đại tiệc cho tử thần nên cũng có lúc các vị ấy đòi phải được nếm náp đôi tý ấy mà!

Cái thứ lí luận kì cục của trung uý Lê Xuân Ôn khiến Lân bật cười nhưng anh không còn muốn nhắc đến vấn đề này nữa nên cũng không tranh luận. Trung uý cười vỗ vai anh:

- Vào chiến trường rồi sẽ quen hết thôi mà!

Ngứa miệng Lân lại hỏi:

- Thủ trưởng cho rằng có thể quen, có thể trở nên chai sạn đi trước cái chềt của đồng chí đồng đội mình hay sao? Trung uý Ôn suy nghĩ một lát rồi trả lời:

- Chai sạn thì có lẽ không, nhưng quen thì có thể. Mà phải quen thôi, chứ biết làm sao? Vào chiến trường rồi ông sẽ thấy, ngày nào chẳng có máu chảy. Thú thật với các vị, hồi mới vào chiến trường, lần đầu tiên nhìn thấy đồng đội hi sinh vì bị trúng pháo kích của địch, tôi cũng ngơ ngác mất mấy ngày. Nhưng rồi, ngày nào cũng có người hi sinh hoặc bị thương, thẳng lẽ cứ ngơ ngác mãi sao được?

Lân cảm thấy gần gũi hơn với anh trung uý cứng như thép này.

- Vậy... anh ở chiến trường có lâu không?

- Bọn mình vào ra thường xuyên ấy mà... Mỗi lần vào vài tháng rồi lại ra Bắc. Xong đợt tập huấn này của các bạn có khi bọn mình lại vào trong đó. Nghe nói sẽ có bọn lính Đại Hàn sang tham chiến. Bọn này ác ôn lắm, nhiều hầng rất giỏi võ thuật. Bọn mình phải vào thử nắn gân bọn đó xem sao? Nghề rinh sát là nghề tìm hiểu kẻ thù mà!




Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 18 Tháng Mười Hai, 2010, 05:21:04 pm
Lân tò mò hỏi:

- Vậy theo anh... thằng Mỹ là một thằng giặc như thế nào?

Trung uý vỗ vai Lân, rồi cười:

- Ông là lính mà hỏi những câu hóc búa gớm! Năm sáu lăm, khi Mỹ vừa đưa quân vào Việt Nam, bọn tôi cũng được phóng một đội trinh sát đặc nhiệm vào chiến trường Đà Nẵng để đi tìm câu trả lời ấy cho các thủ trưởng bộ. Vào chiến trường bọn tôi lại đưa câu hỏi ấy ra hỏi khắp lượt những cán bộ chiến sỹ đã từng chạm súng với lính Mỹ đồng thời cũng tự đi tìm câu trả lời bằng các biện pháp nghiệp vụ của mình. Nhưng rốt cuộc...

đến hôm nay mình vẫn đành phải trả lời anh bạn rằng, thực ra không thể trả lời một cách đơn giản thằng giặc Mỹ là như thế nào? Nếu chỉ phải trả lời câu hỏi quân đội Mỹ là một đội quân như thế nào thì có lẽ còn dễ có câu trả lời. Đế quốc Mỹ là như thế nào thì khó hơn? Nước Mỹ như thế nào thì lại càng khó... Tóm lại, là người lính trước khi ra trận cũng không nên biết nhiều quá.

Hình như cảm thấy mình đã nói hơi nhiều trung uý đứng dậy bắt tay Lân rồi nói:

- Coi như chúng mình tạm biệt nhau luôn. Nếu khi nào các bạn có dịp về Hà Nội nhớ ghé về nhà mình chơi. Nhà mình ở ngay cuối ngõ Cổng Đục ấy, dễ tìm lắm!

Anh ta cứ làm như cả thế giới này đều biết cái ngõ Cổng Đục nhà anh ta vậy. Tuy thế, cuộc trò chuyện ngắn ngủi với trung uý Lê Xuân Ôn khiến Lân cảm thấy lờng mình nhẹ nhõm hơn nhiều. Cái ông trung uý này thật lạ, khi trò chuyện với học viên, anh như biến thành một con ngườl khác, cái ông võ sư rất “võ biền” hôm nào như biến đâu mất, thay vào đó là một người đàn ông từng trải, lịch lãm và rất dễ gần. Chia tay anh ta, Lân không bao giờ dám nghĩ rằng mình sẽ còn được gặp lại anh ta trong đời, vậy mà không thể ngờ vài năm sau anh ta cũng có mặt tại chiến trường, với một vai trò hoàn toàn khác.

Một tuần sau lớp trinh sát cũng bế mạc. Côn được điều về làm tiểu đội trưởng một tiểu đội trinh sát của trung đoàn 4. Còn Lân mặc dù tự biết là mình kém cỏi, đã có đề đạt nguyện vọng xin được về làm lính bộ binh nhưng vẫn được điều về tiểu đội trinh sát của tiểu đoàn 7 của trung đoàn 4. Cùng về tiểu đoàn với anh còn có cậu Ngạn, một học viên quê ở Nga Sơn, Thanh Hoá có thành tích học tập vào loại khá của lớp đào tạo, vì thế cậu ta được đề bạt làm tiểu đội trưởng. Lân vui vẻ nhận chức tiểu đội phó. Anh cảm thấy mình vẫn còn may vì lại được trở về tiểu đoàn cũ, nơi “nhóm 10 B” và bạn bè cùng quê còn ở đó khá đông.

Hôm Ngạn và Lân về tiểu đoàn trình diện, tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh nhìn họ từ đầu đến chân một hồi lâu rồi hất hàm hỏi:

- Trinh sát đào tạo tại lò hẳn hoi, chắc phải khá lắm hả?

Tiểu đội trưởng Ngạn khiêm tốn trả lời:

- Báo cáo tiểu đoàn trưởng... chúng em cũng chỉ mới “lí thuyết suông” thôi... Còn phải đợi được rèn luyện trong thực tế chiến đấu nữa thì mới trưởng thành được ạ!

Tiểu đoàn trưởng gật đầu tán thưởng:

- Cậu nóỉ đúng lắm. Tất cả phải chờ thực tiễn kiểm nghiệm. Nhưng yên tâm đi, các cậu cũng không còn phai chờ lâu nữa đâu!

Tuy vậy, vẫn chưa có dấu hiệu gì chứng tỏ sư đoàn sắp được lệnh hành quân ra trận. Sau hai kì diễn tập, các đơn vị lại nhận được lệnh tiếp tục chương trình huấn luyện nâng cao trình độ kĩ chiến thuật, đặc biệt chú trọng tới việc rèn luyện hành quân mang vác nặng để nâng cao thể lực và sức dẻo dai của bộ đội. Nghe nói, dưới đại đội 9, tiểu đội trưởng Hùng Phong vẫn là lá cờ đầu và lại vừa lập được một kỉ lục mới - mang ba lô gạch nặng tới 50 ki-lô-gam đi suốt một đêm!

Lân nhớ đại đội quá nên vừa ổn định xong nơi ăn ở, nhằm vào ngày tiểu đoàn cho lính nghỉ xa hơi, anh liền xin phép tiểu đội trưởng Ngạn về đại đội 9 chơi một buổi. Không hẹn trước, nhưng anh vừa chuẩn bị đi thì Do “Tây lai” (lúc này đã được gọi là Do Cô-li-nốp) đại đội hoả lực sang rủ:

- Mình về đơn vị cũ chơi đi, anh Lân!

Trên đường Do khoe rằng vừa rồi anh bắn đại liên bài đêm đạt loại giỏi, tiểu đoàn hứa sẽ thưởng phép nhưng đến đến nay vẫn chưa thấy động tĩnh gì, rồi như chợt nhớ ra điều gì Do dừng lại móc túi lấy ra một lá thư.

- Mình vừa nhận được thư của em Bình, nó có gởi lời thăm anh Lân đấy. Anh có đọc không?

Lân vội xua tay:

- Thôi khỏi cô ấy nói những chuyện gì, cậu vừa đi vừa kể cho mình nghe là được.

Hoá ra Bình cũng kể khá nhiều chuyện liên quan đến các bạn cùng lớp. Hầu hết các bạn đều ghi tên xin vào học đại học hoặc các trường trung cấp chuyên nghiệp. Bình muốn trở thành một kĩ sư chăn nuôi nên đã xin vào học trường đại học Nông nghiệp, Thoa, Gấm, Lài.. dĩ nhiên xin vào trường đại học Sư phạm để trở thành các cô giáo dạy văn cấp ba. Đào cũng muốn trở thành cô giáo nhưng cô chỉ thích dạy bọn con nít nên xin vào trường trung cấp sư phạm của tỉnh. Có điếu lạ là Thanh đột nhiện lại xin vào học đại học Ngoại thương chứ không đi Sư phạm văn như cô từng nói với Lân về mơ ước của mình. Cũng may là bí thư Nùng và Lý Hảo Hảo cũng xin vào trường này nên dù sao Thanh cũng có bạn. Tóm lại là toàn những chuyện vui. Chỉ có một chuyện đáng chú ý là Bình kể vể hoàn cảnh khó khăn của gia đình cậu Cung, cậu ấy đi bộ đội, mấy đứa học sinh Hà Nội sơ tán học xong cũng lần lượt đi hết, nhà hiện nay chỉ còn mợ Cung và bốn đứa con nít. Mợ Đền dạo này lại ốm yếu luôn nên kinh tế gia đình túng bấn lắm. Con bé lớn có khi phải nghỉ học để ở nhà giúp mẹ làm ruộng và chăm sóc các em. Bình nhắc các anh xem có thể xin cho cậu Cung về phép vài ngày được không?




Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 18 Tháng Mười Hai, 2010, 05:22:54 pm
- Chuyện này thì còn khó hơn đường lên giời!

Do kết luận như vậy sau khi nói lại những điều Bình kể về hoàn cảnh của gia đình cậu Cung. Lân suy nghĩ một lát rồi mỉm cười:

- Vậy thì phải tính cách để đưa cậu Cung lên giời một chuyến!

Do tròn mắt nhìn anh:

- Lân có cách gì à?

- Bí mật!- Lân nháy mắt cười rồi giục Do - nhanh chân lên, chúng ta vào chỗ đồng chí Hùng Phong trước.

May mà Ban có nhà, mà lại đang nằm trên võng đọc sách. Một quyển sách khá dày. Thấy Lân và Do bước vào lán, anh ta dúi vội cuốn sách xuống dưới võng rồi chạy ra reo lên:

- A... Lân về rồi đấy hả?

Lân chưa kịp trả lời thì Do đã lên tiếng:

- Anh Lân không được về đại đội nữa đâu. Anh ấy về tiểu đội trinh sát của tiểu đoàn mình làm tiểu đội phó đấy!

Ban nắm lấy tay Lân vừa lắc vừa liến thoắng:

- Chúc mừng... chúc mừng... Tiểu đội trưởng trinh sát là có vai vế lắm, ngang cơ trung đội trưởng bộ binh đấy nhé!

- Nhưng mình chỉ là tiểu đội phó thôi- Lân trả lời không hào hứng lắm.

- Tiểu đội phó thì coi như ngang trung đội phó bộ binh. Như thế là tiến bộ quá rồi còn gì nữa!

Nhân lúc Ban đang loay hoay kiếm bi đông nước để mời khách Lân tiến lại, lật tấm đắp trên võng và cầm lấy cuốn sách lên - Ái chà... cậu đang nghiên cứu... Lê Nin toàn tập kia à?

Ban đỏ mặt, cười:

- Thì... ngày nghỉ, chả có cái gì đọc. Chính trị viên Báo đưa cho mượn cuốn này nên...

Lân bật cười lớn:

- Ông Báo trình độ văn hoá lớp 5 bổ túc mà cũng đọc được sách này cơ à?

Ban thận trọng cất cuốn sách lên giá ba lô.

- Trong ba lô của thủ trưởng có đến năm sáu cuốn dày cộp... Toàn là Mác với Lê Nin cả. Ông ấy lần lượt bắt mình đọc rồi viết thu hoạch. Thực tình thì, mình cũng chẳng hiểu được bao nhiêu nhưng lãnh đạo bảo đọc thì phải cố mà đọc thôi.

Lân vỗ vai Ban biểu lộ sự thông cảm với gánh nặng nhọc nhằn ấy:

- Thế cũng tốt chứ sao? Chính trị viên không lúc nào quên việc bồi dưỡng lí tưởng cho đồng chí Hùng Phong mà. Nghe nói, sắp dược kết nạp rồi, hả?

Ban khẽ gật đầu:

- Hình như cũng sắp... mọi thủ tục xong cả rồi... chỉ đợi khi nào có quyết định của đảng uỷ cấp trên là kết nạp thôi!

Do vỗ tay reo lên:

- Hay quá...! Đó mới là chuyện đáng mừng nhất đấy!

Lân chợt nhớ ra việc của cậu Cung liền vỗ vai Ban:

- Tốt rồi, việc này chính là việc một người sắp thành đảng viên trẻ phải làm.

Anh đưa lá thư của Bình gửi cho Do rồi chỉ vào những dòng viết về hoàn cảnh gia đình của cậu Cung - Đấy hoàn cảnh của một đồng chí đảng viên trong chi bộ khó khăn đến thế đấy. Theo mình, cậu nên “phát hiện” vấn đề này với chính trị viên Lương Xuân Báo, chắc chắn ông ấy sẽ cảm động lắm. Biết đâu ông ấy chẳng cho cậu Cung đi tranh thủ ít ngày về giải quyết khó khăn ở hậu phương?

Ban nhăn nhó:

- Trong lúc này mà tớ đề đạt một chuyện như thế...

sợ rằng...

- Sợ gì nào? Cậu có xin ân huệ gì cho mình đâu. Cậu Cung cũng không phải là một trong hai đảng viên giới thiệu cậu vào đảng, phải không nào? Vì thế, cũng chẳng sợ ai phê bình cậu có chút tư tình gì. Ngược lại, cậu sẽ còn được chính trị viên khen là nhạy bén trong công tác tư tưởng nữa cơ.

Ban suy nghĩ một lát rồi gật đầu:

- Thôi được rồi, để mình thử xem. Nhưng phải đợi lúc nào ông Báo ông ấy vui vẻ một chút đã. Mấy hôm nay phong trào rèn luyện của đại đội hơi kém, đã ba đêm nay số cân mang vác của anh em trong đại đội vẫn dậm chân tại chỗ, ông ấy đang bực mình.

Nhân nói đến chuyện rèn luyện mang vác Lân chợt nhớ ra:

- Nghe nói cậu đã nâng số cân lên tới con số nửa tạ rồi, phải không?

Ban gật đầu rồi bỗng dưng trật vai áo ra cho Lân và Do xem.

- Nhưng... có lẽ... cả... mình cũng không thể nào cố hơn được nữa!

Lân nhìn vào đôi vai trày trướt, sưng tấy đỏ mưng mửng của Ban, sửng sốt kêu lên:

- Trời ơi... Vai cậu thế này mà còn...

Do cũng phải lắc đầu:

- Mình vác nòng đại liên mà vai cũng không đến nỗi tệ thế.

Ban gượng cười:

- Mình giữ kỉ lục năm mươi cân đã năm đêm rồi.

Cũng may hôm nay được nghỉ xả hơi, nếu không có lẽ ngay cả mình cũng phải hạ trọng lượng thôi.

Do lè lưỡi khen:

- Cậu giỏi thật đấy!... Xứng đáng là con chim đầu đàn trong phong trào “đôi vai ngàn cân đôi chân vạn dặm” của toàn tiểu đoàn. Đảng mà không kết nạp cậu thì còn ra cái thể thống gì nữa!

Lân cũng nghĩ như thế. Thằng này quả là người có ý chí thép, định làm điều gì là nó làm bằng được. Việc của cậu Cung lọt được vào “chương trình” của nó thì nhất định sẽ xong béng!


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 18 Tháng Mười Hai, 2010, 05:24:53 pm
Quả nhiên là xong thật. Ba hôm sau Ban hãnh diện lên tận tiểu đội trinh sát thông báo cho Lân “Ngon rồi, chiều nay cậu Cung được chính trị viên Báo gọi lên mắng cho một trận. Rằng gia đình đồng chí đang khó khăn như thế mà sao đồng chí không báo cáo với tổ chức. Nếu tổ chức không nhạy bén phát hiện được vấn đề thì có phải là tổ chức đã trở thành một tổ chức thiếu tình người rồi không? Đồng chí phải biết ơn đảng ta đã giáo dục rèn luyện được những đảng viên trẻ biết thương yêu đồng chí đồng đội đến thế? Ngày mai, dự lễ kết nạp cho đồng chí ấy xong, ban chỉ huy đại đội sẽ cho đồng chí tranh thủ về thăm gia đìh năm ngày”.

Lân hét lên một hếng rồi ào tới ôm choàng lấy Ban.

Phải nói là nó thuyết khách cũng giỏi thật. Mà những lời vừa rồi lại càng giỏi, chỉ vài câu mà nó đã thông báo được cả hai chuyện vui. Ngày mai đồng chí Hùng Phong trở thành đảng viên, và ngày mai cậu Cung sẽ nhận được giấy phép! Tuyệt thật. Đời cũng chưa đến nỗi nào!

Còn một việc nữa phải làm là thông báo cho anh em đồng hương và nhóm 10 B biết tin và bí mật quyên góp đôi chút để cậu Cung có chút lộ phí và còn có đôi ba đồng giúp đỡ vợ con. Do nhận làm việc này và làm rất tốt. Cậu Cung lên đường về phép với hơn sáu chục đồng và một ba lô chật căng những vật phẩm linh tinh như đường, sữa, thịt hộp, cá hộp, ca-la-thầu, mắm kem, xà phòng, lương khô...v.v... Dĩ nhiên là cả thư nữa.

Duy chỉ có Ban là không chịu viết dòng nào cho ông phó chủ tịch huyện mà chỉ nhờ cậu Cung thông báo với ông ấy rằng Ban đã trở thành đảng viên - để ông ấy đi khoe với cả huyện cho sướng, Côn nói thêm như vậy - “Thế mày không viết gì cho cái Đào à?”. Cậu Cung gặng hỏi thêm. Ban tặc lưỡi “Chả phải thư từ gì đâu, cậu cứ bảo với nó là bọn này sắp đi B rồi, đi lâu đấy.

Nếu không chờ được thì cứ đi mà lấy chồng!”. Cậu Cung gắt “Cái thằng này, sao bạc mồm thế không biết?”.
18

Cậu cung trả phép được vài ngày thì đơn vị rục rịch làm công tác chuẩn bị để đi B. Trước hết là việc thay đổi trang bị một cách triệt để. Quân phục mới, ba lô mới, tăng võng dày dép đều mới toanh và toàn là đồ Trung Quốc. Chính vào thời điểm này, câu chuyên về thất lạc cái mũ sắt Triều Tiên của Hướng đã bị phanh phui. Thực ra thì trong tiểu đội, ai cũng biết chuyện Hướng đánh mất mũ sắt rồi. Nhưng từ bấy đến nay không thấy cấp trên hỏi gì đến nên mọi người cũng lờ đi. Đến 1úc này thì không thể lờ được nữa vì theo yêu cầu của cấp trên, mỗi người đều phải có một bản kê khai trang bị kể từ lọ thuốc chống vắt trở đi. Tiểu đội trưởng Nguyễn Xuân Khoái vì bị bệnh viêm đại tràng mãn tính nên đã bị loại khỏi quân số đi B đợt này, hiện đang chờ thủ tực chuyển về làm cán bộ khung cho một đơn vị chuyên luyện quân, Phạm Xuân Ban lập tức được đề bạt lên thay vai tiểu đội trưởng và buộc phải đối mặt với “cuộc khủng khoảng mũ sắt”. Tuy vậy khi cầm tờ khai của Nguyễn Đình Hướng trên tay Ban vẫn phải mang tới hỏi tiểu đội trưởng cũ.

- Anh Khoái này... việc... cái mũ sắt của thằng Hướng... không thể bịt được nữa rồi.

Nguyên tiểu đội trưởng làm ra vẻ ngạc nhiên hỏi - Cái mũ sắt nào nhỉ?

- Thì... cái mũ mà nó bỏ quên ở đâu đó trong lần được thưởng phép ấy!

Khoái vẫn tỉnh bơ:

- Nhưng hôm kia nhận bàn giao tiểu đội, chúng mình đã chẳng cùng kí xác nhận rằng mọi trang bị, vũ khí của tiểu đội đều đầy đủ là gì?

Ban nghệt mặt ra nhìn anh tiểu đội trưởng lọc lõi, rồi cậu ta cũng nhanh chóng hiểu ra rằng quả bóng giờ đang ở dưới chân mình rồi. Đó là bài học ngoài giáo trình đầu tiên về mưu lược của kẻ làm quan mà đồng chí Hùng Phong học được không phải từ chính trị viên Lương Xuân Báo.

Anh đành vác tờ kiểm kê tới gặp Hướng chỉ vào mục ghi cái mũ sắt, nhăn nhó như bị đau răng - Ông làm khó cho tôi rồi... biết làm thế nào đây?

Hướng tặc lưỡi:

- Thì ông cứ báo cáo lên trên là tôi đánh mất, có sao đâu!

Dĩ nhiên là Ban buộc phải báo cáo lên trung đội rằng tiểu đội mình thiếu một cái mũ sắt. Trung đội trưởng Thoan cũng có nghe phong thanh về chuyện này rồi nhưng vẫn làm ra vẻ ngạc nhiên:

- Sao lại mất được nhỉ? Bảo cậu ta làm bản kiểm điểm để gửi lên đại đội.

Ban truyền đạt lại mệnh lệnh của trung đội, Hướng nổi cáu:

- Việc đếch gì tớ phải làm kiểm điểm kia chứ? Không có mũ thì tớ đội giời ra trận cũng được!

Ban nói lại với trung đội trưởng nguyên văn những lời của Hướng. Trung đội trưởng Thoan ctĩng không ép Hướng làm kiểm điểm nhưng cũng báo cáo lại với ban chỉ huy đại đội những lời của Hướng. Đại đội trưởng Nguyễn Hồng Thanh nghe xong mỉm cười, bảo:

- Thằng này cũng có khẩu khí gớm!

Chính trị viên Lương Xuân Báo trừng mắt:

- Khẩu khí cái gì? Nói năng vô chính trị. Bảo cậu ấy lên đây gặp tôi!

Đại đội trưởng Thanh vẫn cười xoa dịu:

- Thôi, cái mũ sắt thôi mà... Trên kho quân nhu tiểu đoàn còn vất lỏng chỏng mấy cái, để tôi bảo cậu quản lí lên xin cho nó một cái là được chứ gì?

Chính trị viên xua tay kiên quyết:

- Không thể hữu khuynh thế được. Anh Thoan về gọi quân nhân Nguyễn Đình Hướng lên gặp tôi!

Trung đội trưởng Thoan đành quay trở về nói với tiểu đội trưởng Ban:

- Hùng Phong, chính trị viên cho gọi cậu Hướng lên để giáo dục về chuyện cái mũ sắt đấy. Cậu liệu mà làm công tác tư tưởng trước cho cậu ta đi!

Ban không làm công tác tư tưởng, mà chỉ gọi Hướng lại và bảo:

- Ông mang đầu lên gặp chính trị viên đi, không khéo ông ấy úp cho cậu vài cái mũ cũng nên!

Ban nói không sai, một loạt “cái mũ” được úp tới tấp xuống đầu Nguyễn Đình Hướng:

- Đồng chí là một quân nhân vô chính trị bậc nhất...


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 18 Tháng Mười Hai, 2010, 05:26:40 pm
Đồng chí có biết để có chiếc mũ này gửi sang cho đồng chí đi đánh Mỹ, nhân dân Triều Tiên đã phải tốn bao nhiêu mồ hôi, công sức không? Đồng chí đã phụ lòng giai cấp vô sản toàn thế giới rồi đó. Đồng chí có biết loại mũ này được đặc biệt trang bị riêng cho “sư đoàn thép” chúng ta hay không? Nếu như chỉếc mũ này lọt vào tay bọn gián điệp, biệt kích, chúng giả dạng quân nhân lọt vào đội ngũ sư đoàn thép của chúng ta thì sao? Xét ở khía cạnh đó thì tinh thần cảnh giác cách mạng của đồng chí là con số không! Theo điều lệnh quân đội, để mất vũ khí trang bị, nhất là để mất những trang bị đặc chủng, là một tội không thể dung tha. Vậy mà đồng chí còn không tự nguyện kiểm điểm, lại ăn nói vô chính trị, mất lập trường. Một quân nhân như vậy liệu có xứng đáng có mặt trong đội ngũ những người đi chiến đấu ở tuyến đầu không hả?

Không ai dám trả lời, kể cả đại đội trưởng Nguyễn Hồng Thanh. Không khí trong nhà chỉ huy nặng như sắp có núi đổ.

- Không xứng đáng! - Cuối cùng chính trị viên Lương Xuân Báo kết luận - tôi cho rằng đồng chí không xứng đáng được có mặt trong đội ngũ của những người chuẩn bị ra trận giết giặc cứu nước.

Mồ hôi toát ra như tắm trên người Hướng mặc dù lúc này đã là cuối tháng mười, trời đã se se lạnh. Anh không ngờ mình lại mắc phải một khuyết điểm nghiêm trọng đến thế? Không chừng, anh bị loại khỏi đội ngũ, không được đi B nữa cũng nên. Hai tuần nay, đã nhiều người bị loại rồi, kẻ thì vì bệnh tật, người thì vì lí lịch chưa rõ ràng, cũng đã có người do lập trường quan điểm không kiên định như trường hợp của cậu Định bên tiểu đội 7 chẳng hạn. Ai đời, khi học chính trị, chính trị viên đang giảng bài xác định đế quốc Mỹ là kẻ thù truyền kiếp của nhân dân Việt Nam ta mà cậu ta dám đứng lên có ý kiến rằng cậu ta không tán thành với quan điểm của chính trị viên. Rồi còn giảng giải rằng, đế quốc Mỹ hiện nay đang là kẻ thù của dân tộc Việt Nam ta thì đúng, nhưng gọi là kẻ thù truyền kiếp thì hoàn toàn sai. Vì kiếp trước người Mỹ không xâm lược nước ta, chỉ tới thế kỉ hai mươi này người Mỹ mới nhòm ngó tới nước ta rồi sau đó thay chân người Pháp vào Nam Việt Nam nhằm đô hộ nhân dân ta, chia cắt đất nước ta mà thôi. Còn kiếp sau, tôi lại càng không muốn người Mỹ vẫn còn là kẻ thù của nhân dân Việt Nam, mà phải làm sao để kiếp sau họ trở thành bạn bè của thúng ta thì mới tốt chứ! Vì thế, không thể xác định người Mỹ là kẻ thù truyền kiếp của nhân dân Việt Nam ta được! Ai lại dám lí luận ngang ngược đến thế cơ chứ, mà lại bắt bẻ chính trị viên ngay trên diễn đàn...

Vì thế, cậu ta bị xếp vào loại quan điểm lập trường lệch lạc là phải. Không được đi đánh “kẻ thù truyền kiếp” cũng là phải thôi. Còn nình, chẳng lẽ lại đi đời chỉ vì một cái mũ sắt?

Anh nhận thấy mình đã có dấu hiệu hoảng loạn, mồ hôi thì ra nhiều mà người thì lại đang lạnh toát, hình như anh đang rơi vào tình thế tuyệt vọng. Nhưng giống như trong các bộ phim đấu tranh cách mạng của Trung Quốc, vào đúng những lúc nhân vật chính đang ở vào tình thế ngàn cân treo sợi tóc thì Hồng Quân công nông xuất hiện! Hồng quân ở đây chính là cậu Cung!

Anh nuôi Cung tay cầm một chiếc mũ sắt Triều Tiên hớt hải chạy vào lán ban chỉ huy đại đội, vừa chạy vừa la toáng lên:

- Thấy rồi! Thấy cái mũ sắt của đồng chí Hướng rồi!

Đại đội trưởng Thanh đứng phắt dậy, thở phào:

- Thấy rồi hả? Mang vào đây, mang vào đây ngay!

Chính trị viên Lương Xuân Báo nhìn trừng trừng vào cái mũ sắt khả nghi trên tay anh nuôi Cung, lại ngước nhìn lên cái mũ sắt đang chĩnh chện trên đầu anh ta, hỏi:

- Tìm thấy nó ở đâu, hả?

Anh nuôi Cung vừa thở vừa nói:

- Dạ... báo cáo chính trị viên... thực ra thì bọn tôi thấy cái mũ sắt này ở.... ở... trong... hố chứa than cám của nhà bếp. Từ chiều hôm qua kia. Có lẽ.sáng hôm qua đồng chí Hướng xuống giúp anh nuôi nắm than đã bỏ quên... Nhưng rồi, tôi cũng quên mất, không đưa trả cho đồng chí ấy. Vừa nãy thấy tiểu đội trưởng Hùng Phong kêu loạn lên là khi kiểm kê thấy mất cái mũ sắt của đồng chí Hướng, đại đội đang gọi cậu ấy lên xác định quan điểm lập trường, nên tôi mới chợt nhớ ra.

Nói rồi cậu Cung bước tới, thản nhiên úp cái mũ sắt lên đầu Hướng:

- Đấy... trả lại cho cậu... từ nay thì người đâu của đó nhé. Cái mũ... nặng như cái cùm thế này mà cậu cũng bỏ quên được thì lạ thật!

Chính trị viên vẫn chưa hết nghi ngờ, tiến lại, hết nhìn cái mũ lại nhìn Cung, nhưng bộ dạng của anh ta không nói lên đìều gì hết, anh đành phải quay lại hỏi Hướng:

- Có phải đây là mũ của đồng chí không?

Hướng ấp úng:

- Có lẽ... phải ạ!

Sao lại có lẽ? Phải là phải, không phải là không phải!

- Dạ... vậy thì chắc là phải đấy ạ!

Chính trị viên vẫn chắp tay sau lưng đi đi lại lại - Phải thì tốt... nghĩa là chưa bị mất. Nhưng dẫu sao thì đồng chí cũng rất thiếu tinh thần trách nhiệm.

Đại đội trưởng nháy mắt ra hiệu cho Hướng hãy nhận lỗi đi cho xong chuyện. Hiểu ý đại đội trưởng, Hướng ngẩng lên nói liền một mạch:

- Báo cáo chính trị viên... Tôi xin chân thành kiểm đỉểm là đã thiếu tinh thần trách nhiệm trong việc gìn giữ và bảo quản quân trang quân dụng ạ.

Chính trị viên ngẫm nghĩ một lát rồi gật đầu: - Được rồi! Đồng chí hãy về tiểu đội đi. Tôi sẽ có ý kiến kết luận về hành vi của đồng thí trong buổi chào cờ sáng mai!

Hướng chào hai vị chỉ huy rồi theo cậu Cung ra khỏi lán đại đội. Vừa khuất khỏi tầm nhìn của các vị chỉ huy, Hướng quay lại cười phá lên rồi hỏi cậu Cung: - Cậu lấy mũ của ai mang lên để giải nguy cho tôi đấy?

Cậu Cung đáp tỉnh bơ: - Mũ của cậu chứ còn của ai?

- Của tôi á? - Hướng ngạc nhiên hỏi lại - tôi đã vứt cha nó ở đâu đó quanh cái chợ huyện nhà mình rồi còn đâu?

- Tiên sư ông - cậu Cung chửi - tôi phải mất một lạng thuốc lào hảo hạng để đổi cho thằng Nhượng bên bếp tiểu đoàn đấy. Từ giờ thì nó thực sự là của ông, liệu mà giữ lấy kẻo mất gáo với ông Báo đấy chứ chả chơi đâu! Lúc nãy nghe thấy thằng Ban nó rên rẩm, tôi mới biết chuyện nên vội chạy sang đấy kiếm cho ông cái mũ này về đấy. May mà vẫn còn kịp, chứ nếu để cho ông Báo vung gươm lên rồi thì cũng hơi gay đấy!


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 18 Tháng Mười Hai, 2010, 05:31:05 pm
Hướng cười nhăn nhở:

- Nhưng cả tiểu đội chúng nó đều biết chuyện tôi mất mũ từ đời tám hoánh nào rồi mà!

- Tao đã bảo chứng nó câm miệng lại rồi. Đứa nào bép xép tao sẽ cho một cái đít xoong quân dụng vào mặt!

Cậu Cung khảng khái nói vậy rồi bỏ đi xuống bếp.

Hướng lững thững đi về lán. Vừa về tới nơi đã thấy cả tiểu đội đứng chờ. Nhìn thấy anh ôm chiếc mũ trước bụng đi vào chúng nó liền phá lên cười. Cậu Tùng xạ thủ RPD tếu táo nhảy cẫng lên reo:

- Chúc mừng Hướng “hạt tiêu” có mũ... mơ... í...!

Ban vội nhảy phóc tới vả cho cậu ta một cái.

- Bép xép này! Mới với cũ cái gì hả! Toàn tiểu đội, vào lán!

Chuyện cái mũ sắt tưởng chỉ có vậy thôi. Ai ngờ vẫn còn có thêm một đoạn cuối cũng không kém thú vị.

Chẳng là khi Cung và Hướng đã dắt nhau ôm mũ về rồi, chính trị viên Lương Xuân Báo vẫn chưa hết nghi ngờ. Anh chắp tay sau đít đi đi lại lại trong lán suy nghĩ rất căng thẳng. Rồi bỗng anh quay phắt lại hỏi đại đội trưởng lúc đó đã nằm lim dim trên võng:

- Này anh Thanh, có lẽ bọn lính tráng này nó lỡm mình rồi. Tại sao bỗng dưng lại tòi ra một cái mũ nhỉ?

Đại đội trưởng tắc lưỡi:

- Thấy rồi thì thôi, anh còn bận tâm làm gì?

Chính trị viên Báo bỗng nghiêm mặt:

- Không được! Nếu để cho cấp dưới họ lừa dối mình thì rất nguy hiểm. Nay việc nhỏ, mai sẽ là việc lớn. Rồi đến khi vào chiến đấu thì một sự dối trá nho nhỏ cũng sẽ gây nhưng hậu quả khôn lường. Không được, phải hành động thôi!

Đại đội trưởng nhóm hẳn người trên võng hỏi lại - Vậy anh định làm gì?

Chính trị viên Lương Xuân Báo vung tay quyết liệt:

- Báo động toàn đại đội. Tập trung kiểm kê lại trang bị!

Báo động thật. Toàn đại đội đang nghỉ trưa đột ngột bị dựng dậy bởi tiếng còi báo động. Tiếng đồng chí trực ban đại đội vang lên:

- Toàn đại đội tập hôm Mang theo toàn bộ trang bị, vũ khí, chuẩn bị hành quân di chuyển!

Nửa giờ sau toàn bộ đại đội từ anh nuôi đến ban chỉ huy đều tập trung đầy đủ với tất cả trang bị vũ khí ở địa điểm tập kết. Các trung đội, tiểu đội điểm quân, điểm trang bị báo cáo. Không thiếu ai. Không thiếu cái gì. Đại đội 9 có 115 người, đầy đủ 115 cái mũ sắt!

Không những vậy, anh nuôi trưởng Ngô Xuân Cung còn hớt hải chạy lên đứng nghiêm trước mặt đại đội trưởng và chính trị viên:

- Báo cáo... theo biên chế, tiểu đội anh nuôi còn thừa ra hai cái xẻng ạ!

Các chiến sỹ tiểu đội Hùng Phong che miệng rúc rích cười. 19

Đại đội 9 báo động kiểm kê trang bị vào buổi trưa thì ba giờ chiều lại có báo động. Nhưng lần này to chuyện hơn nhiều. Báo động di chuyển toàn tiểu đoàn đến vị trí tập kết A để nhận nhiệm vụ đặc biệt. Đại đội trưởng Nguyễn Hồng Thanh giao nhiệm vụ coi doanh trại cho cựu tiểu đội trưởng Nguyễn Xuân Khoái và ba chiến sỹ đang ốm tại trại. Anh cựu tiểu đội trưởng nhăn nhó gãi đầu thưa:

- Báo cáo đại đội trưởng tôi xin đề nghị...

Đại đội trưởng lập tức ngắt lời:

- Không đề nghị gì hết. Đồng chí chưa có lệnh điều động. Vì vậy đồng chí vẫn là cán bộ của đại đội này.

Nếu đơn vị ôi làm nhiệm vụ về mà doanh trại có vấn đề gì thì đồng chí hoàn toàn chịu trách nhiệm.

Khoái còn đang lúng búng trong miệng điều gì đó thì đại đội trưởng đã cao giọng quát:

- Đồng chí nghe rõ mệnh lệnh chưa?

Cựu tiểu đội trưởng Khoái đành cứng người lại đáp:

- Mệnh lệnh rõ!

Cán bộ chiến sỹ đại đội 9 rất ít khi,thấy đại đội trưởng của mình nổi cáu. Là trai Hà Nội hẳn hòi nhưng anh sống rất giản dị, hiền lành điềm đạm, ít nói, khác hẳn với chính trị viên. Thấy đại đội trường hiền, đôi khi anh em chiến sỹ còn gọi đùa anh là “chị Thanh “ nữa kia. Chính trị viên Lương Xuân Báo coi đức tính hiền lành, nhu thuận ấy của đại đội trưởng như là biểu hiện của sự mềm yếu, hữu khuynh. Không ít lần anh đã than thở “Nếu đại đội này mà có được ông đại đội trưởng cứng cỏi thì chắc chắn đại đội còn tiến xa hơn nữa”.

Thực ra đại đội trưởng Thanh là một sỹ quan có tài huấn luyện bộ đội và đặc biệt anh bắn rất giỏi. Sau này mọi người mới vỡ nhẽ ra rằng anh từng là giáo viên xạ kích của trường sỹ quan lục quân, từng là tuyển thủ bắn súng quốc gia đã có lần đạt huy chương vàng trong một hội thi bắn súng toàn quốc. Anh cũng là người rất nghiêm khắc, nhất là trong huấn luyện và rèn luyện bộ đội. Có điều anh không thích biểu hiện sự nghiêm khắc đó ra bên ngoài nên ở đại đội này, các chiến sỹ thường không sợ đại đội trưởng bằng chính trị viên. Đã có lần ở tiểu đội 9 nảy ra một cuộc tranh luận rằng ở trong quân đội thì đại đội trưởng hay chính trị viên mới là người 'to” nhất. Nghĩa là có quyền cao nhất?

Cuộc tranh luận đang sôi nổi thì tiểu đội trưởng Khoái rung chuông “Các cậu vào bộ đội nửa năm trời rồi mà còn chưa nắm được nguyên tắc đảng lãnh đạo quân đội một cách toàn diện tuyệt đối là gì à? Chính trị viên là bí thư chi bộ, là người lãnh đạo đảng, vì vậy phải là người có quyền lực cao nhất chứ còn gì nữa? Ông Báo mới là xếp to nhất ở đại đội này, hiểu chưa?”.

Thảo nào từ trước tới nay hễ chính trị viên Báo ra mệnh lệnh gì thì tiểu đội trưởng Khoái răm rắp tuân theo chưa bao giờ dám có ý kiến này nọ.

Đại đội hành quân tới điểm tập kết A thì thấy các đơn vị trong tiểu đoàn cũng lục tục kéo đến. Toàn tiểu đoàn tập hợp trên một bãi trống rộng dưới chân một quả đồi. Khác hẳn với mọi lần tập hợp sinh hoạt tiểu đoàn, lần này mọi người đều như thấy toát lên một cái gì đó uy nghiêm, khác thường. Có lẽ bởi vì hôm nay tiểu đoàn tập hợp với toàn bộ trang bị mới, cán bộ chiến sỹ đều mặc quân phục Tô Châu mới, mũ sắt Triều Tiên lấp loá ánh mặt trời nên đội hình tiểu đoàn trông oai nghiêm dữ đội, khí thế hẳn lên. Cũng có thể vì trước hàng quân, còn có một đội tiêu binh, gồm toàn bộ tiểu đội trinh sát của tiểu đoàn khoác AK báng gấp ngang ngực đứng oai nghiêm quay mặt xuống hàng quân. Cũng có thể vì thấy xuất hiện cả tổ quân kì cùng với vẻ mặt oai nghiêm của tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh và chính trị viên tiểu đoàn Lê Văn Sớm, sau họ vài bước chân lại còn có tổ kèn đồng gồm ba chiến sỹ đẹp như tượng, kèn đồng sáng loáng cắp bên nách, súng bắn pháo hiệu đeo trễ bên hông...! Cũng có thể vì sự xuất hiện của một vài sỹ quan lạ mặt, họ đi đi lại lại với vẻ mặt rất căng thẳng, thi thoảng lại bước tới bên tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh, ghé đầu rỉ tai nói vài ba câu gì đó. Tóm lại, một không khí rất khác thường báo hiệu một sự kiện gì đó cũng rất đặc biệt sắp diễn ra mà những người lính chưa có quyền được biết tới...

Nhưng rồi sự bí hiểm đến nghẹt thở của cuộc hội quân cũng dần dần được hé lộ. Đầu tiên là việc chính trị viên Lương Xuân Báo được gọi lên phía trước hội ý với chính trị viên tiểu đoàn. Một lát sau, anh trở về hàng quân, mặt trắng bệch vì xúc động, vừa thở hào hển anh vừa ghé vào tai đại đội trưởng nói gì đó rồi lại thấy anh hấp hởi chạy tới trước đội hình của tiểu đội 9.

- Hùng Phong nghe đây - anh nghẹn ngào nói gần như khóc - sư đoàn trưởng và chính uỷ sắp tới thăm tiểu đoàn mình. Hai thủ trưởng sẽ huấn thị và hạ đạt mệnh lệnh cho tiểu đoàn chuẩn bị hành quân đi giải phóng miền Nam. Thủ trưởng và đảng uỷ tiểu đoàn đã quyết định chọn đồng chí thay mặt cho các chiến sỹ toàn tiểu đoàn lên đọc quyết tâm thư. Đồng chí chuẩn bị tinh thần đi!

Hùng Phong lúng túng đáp:

- Báo cáo chính trị viên... nhưng, tôi sẽ đọc quyết tâm thư của tiểu đội, đại đội hay... của tiểu đoàn ạ?

- Dĩ nhiên là thay mặt cho toàn tiểu đoàn rồi - anh lập cập mở thiếc xà cột da Liên Xô lấy ra một tài liệu đã đánh máy cẩn thận - đây, trợ lý chính trị đã chuẩn bị bức quyết tâm thư này rồi. Cậu tranh thủ đọc qua đi một lượt. Chú ý là khi lên diễn đàn phải thật bình tĩnh, đĩnh đạc.

Hùng Phong hiểu ngay tính chất quan trọng của nhiệm vụ này. Anh cũng cảm thấy hơi run nhưng trước chính trị viên, anh vẫn phải nói cứng:

- Chính trị viên yên tâm, tôi sẽ hoàn thành nhiệm vụ!


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 18 Tháng Mười Hai, 2010, 05:32:46 pm
Trong khi ấy thì qua những lời của chính trị viên nói với Hùng Phong, cả đại đội 9 đã biết tin sư đoàn trưởng và chính uỷ sư đoàn sắp tới thăm đơn vị. Hàng quân bỗng xao động hẳn lên. Cha mẹ ơi, một lúc bỗng dưng xuất hiện những hai ông cốp cấp sư đoàn thì kinh khủng thật. Cứ gọi là khét giời! Từ ngày vào bộ đội đến nay, cấp cán bộ to nhất mà các chiến sỹ đại đội 9 nhìn thấy mới là ông thiếu tá trung đoàn phó. Đó là dịp ông ta xuống trực tiếp chỉ huy tiểu đoàn diễn tập đánh địch trong công sự vững chắc ở Mường Vang trong hai ngày hai đêm. Cái ông thiếu tá ấy người thì bé loắt choắt nhưng tiếng thì ềnh oang như lệnh vỡ. Tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh thì ngược lại, trông to lớn uy nghi là thế mà trước ông trung đoàn phó chỉ dám nói năng lí nhí, hễ ông này quát một câu là chạy rúm tứ tức khắp thao trường. Nghe nói, cái ông thiếu tá mặt choắt ấy là anh hùng quân đội từ thời đánh Tây kia. Ông ta đã từng chỉ huy đại đội tả xung hữu đột đánh giáp lá cà với bọn lính Lê dương trong thị trấn Phát Diệm mấy ngày trời. Hình như ông ta còn vật nhau với cả một thằng Tây đen, bị nó đè xuống dưới tưởng sắp chết nhưng ông ta đã khéo léo lùa được tay vào bìu dái thằng Tây mà hạ thủ khiến nó kêu ré lên bật ngửa rồi bị ông này cướp lấy khẩu xít-ten bắn chết quay đơ tại chỗ.

Một ông thiếu tá trung đoàn phó mà còn ghê gớm đến thế nữa là những hai ông thủ trưởng đứng đầu một sư đoàn hàng vạn quân cùng xuất hiện một lúc. Cứ thế mà suy thì thấy rằng tiểu đoàn này cũng vinh dự thật.

Đồng chí Hùng Phong lại càng vinh dự hơn khi được thay mặt cho cả tiểu đoàn đọc quyết tâm thư trước hai vị thủ trưởng cao cấp. Vì thế mà trong khi chờ đợi hàng trăm con mắt đều đổ dồn về phía Hùng phong, lúc này đang cầm trên tay tờ quyết tâm thư đọc ngốn ngấu từng chữ.

... Chúng tôi, cán bộ chiến sỹ tiểu đoàn 7 trung đoàn 4, sư đoàn Hồng Bàng xin thề dưới lá cờ vinh quang của Tổ quốc, dưới Quân kỳ Quyết thắng...

Hùng Phong vừa đọc lướt tới những dòng này thì một tiếng hô dõng dạc vang lên như sấm:

- Toàn tiểu đoàn chú ý... nghiêm! Tiêu binh bồng súng... chào!

Ba chiến sỹ thổi kèn nhất loạt vung những chiếc kèn đồng sáng loáng lên:

- Te... te... te... te tò te... tí... te te te tò te tí...!

Hai chiếc xe com măng ca xuất hiện ở đầu bãi trống. Hai vị thủ trưởng sư đoàn từ trên xe bước xuống, các sỹ quan tuỳ từng và lính bảo vệ nhất loạt nhảy xuống theo. Tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh người cứng đơ, xoay người đánh phắt một cái rồi bắt đầu đi chân ngỗng từng bước theo nhịp kèn đồng tiến về phía các vị thủ trưởng. Khi chỉ còn cách chừng mươi thước ông dừng phắt lại, tay phải vung lên đặt ngang vành mũ sắt.

Tiếng kèn đồng cũng lập tức dừng bặt. Tiếng tiểu đoàn trưởng dõng dạc vang lên:

- Tôi, đại uý Hoàng Mạnh tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 7 trung đoàn 4.... báo cáo đồng chí đại tá sư đoàn trưởng và đồng chí đại tá chính uỷ sư đoàn... toàn tiểu đoàn đã tập hợp đầy đủ, đội ngũ chỉnh tề. Xin đợi lệnh của hai đồng chí!

Sư đoàn trưởng và chính uỷ chào đáp lễ, rồi nói một câu gì đó không rõ. Chỉ thấy tiểu đoàn trưởng đáp “Rõ!” Rồi quay phắt trở lại. Rồi lại đi chân ngỗng thẳng đơ dẫn đường cho các vị thủ trưởng cấp cao tiến vào phía trước đội hình của tiểu đoàn. Khi chủ và khách vào tới vị trí dự định, tiểu đoàn trưởng vừa dừng bước thì lại nghe tiếng kèn đồng vang lên. Vừa dứt ba nhịp thì kèn dừng và lập tức tiếng chính trị viên Lê Văn Sớm ềnh oang vang lên:

- Nhiệt liệt chào mừng đồng chí sư đoàn trưởng, đồng chí chính uỷ sư đoàn tới thăm và kiểm tra tiểu đoàn 7!

Cả tiểu đoàn đồng thanh thét lên:

- Nhiệt liệt! Nhiệt liệt! Nhiệt liệt!

Hai vị chỉ huy cao nhất của sư đoàn bước lên phía trước giơ tay lên vẫy chào bộ đội. Trông hai vị có cái gì giống như hai vế của một câu đối. Vị thứ nhất là sư đoàn trưởng Phạm Sùng người thấp đậm, đầu hói, da nâu, hai chân hình như hơi vòng kiềng. Sau này khi vào chiến trường đường chín, cả ta và địch đều gọi ông ta với biệt danh “con hùm xám”... thì có lẽ cũng có cái li từ vẻ ngoài râu hùm hàm én của ông. Vị thứ hai, chính uỷ Bùi Hữu Tâm, có dáng ngươi dong dỏng cao, nước da trắng, đeo kính trắng trông như một vị giáo sư đại học vậy. Nghe nói ông này xuất thân tri thức tiểu tư sản thành thị có học hành tử tế, tiếng Tây nói như gió...

Mấy năm sau, khi hiệp định Pari về chấm dứt cuộc chiến tranh Việt Nam được kí kết, ông được điều về Bộ làm nhà ngoại giao quân sự, hình như ông làm trưởng hay phó đoàn đại diện của quân độn nhân dân Việt Nam tại Sài Gòn, nghĩa là một nhân vật rất có tiếng tăm. Sau này khi cuốn tiểu thuyết Thung lũng máu của Trương Đình Lân bị dư luận “cho lên thớt” để mổ xẻ thì chính ông lại viết một bài rất hay bênh vực cho những quan điểm sáng tác của tác giả. Rất tiếc vào thời điểm đó thì ông già Bùi Hữu Tâm chẳng còn chức quyền gì nữa nên tiếng nói của ông cũng chỉ là ý kiến của một độc giả được công bố “cho rộnlg đường dư luận” mà thôi. Sau khi đọc bài viết của ông, Trương Đình Lân đã bỏ ra hàng tháng trời cất công đi tìm ông. Cuối cùng, anh cũng tìm thấy nhà ông ở một xóm lao động thuộc ngoại thành Hà Nội. Ông đã nhường lại ngôi nhà trên phố của cha mẹ cho hai anh con trai rồi mua mấy sào vườn ở xóm ngoại ô này để vui thú điền viên, ngày ngày chăm cây, đọc sách, câu cá. Lân mang cuốn sách đã bị ngừng phát hành đến tặng ông, ông vui vẻ nhận cuốn sách và nói:

- Cám ơn nhà văn nhé!... Mình đã được đọc rồi nhưng vẫn chưa kiếm được cuốn sách của cậu. Hội cựu chiến binh quận mang sách đến cho mình đọc và yêu cầu mình viết bài lên tiếng, nghĩa là họ yêu cầu mình phê phán cuốn sách của cậu. Nhưng đọc xong, mình lại thấy ngược lại, cuốn sách viết rất trung thực, cảm động.

Vì thế cho nên, mình đã viết một bài không phải gửi cho hội cựa chiến binh mà gửi thẳng cho báo Văn Nghệ. Khi đọc được bài báo ấy, họ giận lắm và đến đòi lại cuốn sách.

Ông dừng lại, nhìn anh chăm chú một lúc lâu rồi hỏi:

- Khó khăn lắm phải không anh bạn? Nhưng, đừng có vì vậy mà nản chí. Nếu anh đã tin rằng mình đúng thì chẳng có gì phải sợ cả. Cứ thẳng đường mà tiến lên.

Anh xúc động nắm lấy bàn tay ông già:

- Cảm ơn chính uỷ!

Anh đã nói lên tiếg nói từ đáy lòng. Với anh, cho đến tận ngày hôm nay ông vẫn là chính uỷ.

Đó là chuyện sau này, chứ trong buổi gặp gở đầu tiên, chính uỷ Bùi Hữu Tâm không gây được ấn tượng gì đặc biệt đối với Lân và các chiến sỹ tiểu đoàn bảy.

Bài nói của ông khô khan và khá cứng nhắc. Chỉ có đoạn ông kể về chuyện ông về Nam Sách thăm cậu bé thần đồng thơ Trần Đăng Khoa và phân tích một vài bài thơ của cậu ta là sinh động hơn cả. Ông lấy chuyện cậu bé làm thơ về “hạt gạo làng ta”. Về thăm mộ cô Mạc Thị Bưởi và chửi tổng thống Mỹ là “ngu xuẩn nhất nhì” để nói về lòng yêu nước, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược của người dân Việt Nam ta. Qua đó mà động viên các chiến sỹ hãy tin tưởng vào hậu phương, tin tưởng vào sức mạnh của cuộc chiến tranh nhân dân...

Vào cái buổi chiều đáng nhớ ấy, người gây được ấn tượng sâu sắc cho các chiến sỹ lại chính là vị sư đoàn trưởng huyền thoại. Ông chỉ nói chuyện đánh giặc. Ông đặt ra câu hỏi “Liệu chúng ta có dám đánh và biết cách đánh thắng đế quốc Mỹ hay không?”. Ông kể về những trận đánh lừng lẫy của sư đoàn trong kháng chiến chống Pháp nhưng lại đi đến kết luận rằng, tất cả những vinh quang đó, những kinh nghiệm đó là chưa đủ để chúng ta giành chiến thắng trong cuộc đối đầu với một kẻ thù hùng mạnh và xảo quyệt như đế quốc Mỹ. Rồi ông nêu ra những ví dụ sinh động và tức cười mà ông nghe được từ những người đã từng vào chiến trường và lần đầu đối mặt với quân đội nhà nghề Mỹ.

Sau đó ông quay sang phê phán cái lối luyện tập, rèn luyện kĩ chiến thuật rất xa với thực tế chiến đấu của bộ đội ta. Nhưng rồi, ông thở dài kết luận:

- Rất tiếc là chúng ta không còn đủ thời gian để sửa chữa những sai lầm trong công tác huấn luyện bộ đội thời gian qua. Nếu còn thời gian nhất định chúng ta sẽ đề ra những phương pháp huấn luyện khác, sát với thực tế chiến đấu hơn. Nhưng thôi, rồi đây chiến trường sẽ dạy chúng ta tất cả. Chúng ta sẽ dần dần trưởng thành, sẽ dần dần khôn ra trong thực tế thiến đấu.

Những lời tâm sự chân thành, cởi mở của sư đoàn trưởng khiến các chiến sỹ vô cùng cảm động. Họ thấy rõ rằng khoảng cách giữa họ và những người chỉ huy tối cao của đoàn quân đã được rút ngắn lại. Họ có được trong lòng cảm giác tin tưởng hơn, không phải ở những điều gì xa xôi, mà ở chỗ, họ biết số phận mình đã được trao vào tay những người có thể tin cậy được.

Hình như chính vì vậy mà bài quyết tâm thư đầy những từ ngữ sáo rỗng, đao to búa lớn mà những anh trợ lí chính trị kì công chuẩn bị trước cho Hùng Phong đọc đã trở nên lạc lõng. Tuy vậy, Hùng Phong cũng đã thực hiện trôi chảy sứ mạng của mình khi lần đầu tiên anh xuất hiện trên một diễn đàn lớn


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 18 Tháng Mười Hai, 2010, 05:33:47 pm
20

Cái tin tiểu đội trưởng Nguyễn Xuân Khoái bị bệnh viêm đại tràng mãn tính và bị loại khỏi danh sách đi B dường như chẳng phải là một điều gì đặc biệt khiến các chiến sỹ trong tiểu đội bất ngờ vì trong tiểu đoàn 7 cũng có vài trường hợp bị loại như vậy. Có điều, lính đại đội chín, nhất là lính tiểu đội Hùng Phong thấy hơi lạ một chút là hình như anh Khoái đã biết trước là mình nhất định bị loại và cũng chẳng lấy làm buồn phiền về chuyện này. Ngược lại, người ta vẫn còn thấy anh vui vẻ lạc quan, vẫn diện quân phục đã mài bạc, xăng li láng coóng và vẫn ngồi trên võng thổi kèn ác- mô-ni-ca bài Ca chiu sa nhạc của Liên Xô. Anh bảo, anh đang chờ lệnh điều động về một đơn vị chuyên huấn luyện quân đi B và lần này chắc chắn sẽ được thăng quân hàm thượng sĩ và đề bạt trung đội trưởng.

Như vậy cũng công bằng, vì anh Khoái là một tiểu đội trưởng huấn luyện giỏi nhất của tiểu đoàn. Tiểu đội của anh luôn dẫn đầu trong huấn luyện và rèn luyện cũng như trong tác phong kỉ luật. Anh lại là người trực tiếp bồi dưỡng rèn luyện được một điển hình như “đồng chí Hùng Phong”, nên nếu anh có được lên chức thì cũng là điều thường tình. Chỉ tiếc là một người tài ba, lanh lợi như anh mà không được đưa tiểu đội ra trận thì kể cũng phí thật.

Nhưng ít ai ngờ rằng tiểu đội trưởng Khoái không chỉ có tài rèn luyện chiến sỹ mới, tài diễn tấu hài, thổi kèn ác-mô-ni-ca, tài tán gái mà anh còn bỗng dưng có cơ hội bộc lộ một tài năng khác. Trong khi đợi lệnh điều động của cấp trên, tiểu đội trưởng Khoái vẫn hoạt động một cách tích cực, nhưng không phải là lĩnh vực quân sự hay lĩnh vực nghệ thuật, mà lại là lĩnh vực thương mại. Mấy ngày nay, các chiến sỹ trong đại đội rỉ tai nhau rằng, khi đi B họ sẽ không được mang theo bất kì thứ gì ngoài quân trang quân dụng. Trước khi đi sẽ có một đợt tổng kiểm kê, và khi ấy những gì không thuộc về quân trang quân dụng sẽ bị tịch thu bằng hết.

Đồng thời, họ cũng rỉ tai nhau rằng tiểu đội trưởng Nguyễn Xuân Khoái sẽ mua lại, hoặc trao đổi bằng thuốc lào thuốc lá tất cả mọi thứ ngoài qui định, dĩ nhiên là phải bán hoặc đổi với giá rẻ. Rẻ thì cũng còn được vài hào tiêu pha, hút sách cho đã trước lúc ra trận, chả hơn rồi sẽ bị tịch thu hết à? Thế là cứ sau giờ từ bãi tập trở về, nhất là vào mỗi buổi tối, lán của tiểu đội Hùng Phong lại nhộn nhịp khách tới thăm để chia tay trước với anh Khoái! Ở góc lán của tiểu đội, có một gian xép được thiết kế dành riêng cho tiểu đội trưởng Khoái từ ngày tiểu đội về đóng quân ở đây vẫn chưa được bàn giao cho tiểu đội trưởng mới. Phải nói, tiểu đội trưởng Khoái rất có nghệ thuật trong việc tạo ra cái “không gian riêng dành cho người chỉ huy” này. Lúc đầu thấy nó có vẻ hơi khác người, trái với thông lệ, nên chính trị viên Lương Xuân Báo đã ra lệnh phải dẹp đi, yêu cầu tất cả các lán tiểu đội đều phải thông thống như nhau, tiểu đội trưởng cũng chỉ được nằm ở một góc sạp chứ không được nằm tách biệt với anh em.

Nhưng anh Khoái trả lời rằng đó không phải là “phòng riêng” của tiểu đội trưởng mà chính là “góc tu dưỡng” của tiểu đội. Trên vách nứa của cái “góc tu dưỡng” ấy có treo tờ báo tường của tiểu đội, có dán ảnh đồng chí Hùng Phong in trên báo, có dán nhiều ảnh đồng bào chiến sỹ ta bắn máy bay, bắt phi công Mỹ, cày cấy trên những thửa ruộng năm tấn hay làm việc trong những nhà máy “sóng Duyên Hải”... Và còn vắt ngang một cái khẩu hiệu “Tiểu đội 3 quyết tâm học tập đồng chí Hùng Phong, luôn dẫn đầu phong trào thi đua toàn đại đội” Tóm lại là một “góc tu dưỡng” rất có sáng tạo và rất bắt mắt. Sau bữa cơm chiều, anh em trong tiểu đội cũng thường tự tập ở góc này để trò chuyện, hoặc để sinh hoạt tổ ba người. Thấy cũng hay hay và vô hại cho điều lệnh kỉ luật, nên chính trị viên Lương Xuân Báo không nhắc tới chuyện dẹp đi nữa. Khi đã được phép tồn tại rồi, tiểu đội trưởng Khoái mới cho lính vào rừng chặt bương làm một cái sạp rộng chừng một mét hai, nói là để lấy chỗ cho anh em ngồi tu dưỡng. Rồi, đến tối tiểu đội trưởng Khoái mang chăn màn của mình ra cái “sạp tu dưỡng” đó ngủ. Thế là thành một cái gì tương tự như “không gian dành riêng cho người chỉ huy”. Một khái niệm vừa rất bí hiểm mà Khoái rất thích dùng và luôn tìm cách áp dụng mọi khi thay đổi nơi đóng quân.

Trong cái “không gian riêng” rất tiểu đội trưởng Khoái thực hiện những cuộc trao đổi mua bán vừa bí mật vừa công khai. Anh ta mua lại với giá rẻ, hoặc trao đổi bằng thuốc lào, thuốc lá (thứ hàng hiếm mà tiểu đội trưởng Khoái lúc nào cũng có sẵn trong ba lô), tất cả những gì không thuộc quân trang, hoặc cũng thuộc hàng quân trang đi B hẳn hoi nhưng các “bạn hàng”của Khoái vì lí do bí hiểm nào đó có dư ra một cơ số.

Những cuộc mua bán ấy ngày càng nhộn nhịp và ngang nhiên đến mức tân tiểu đội trưởng Hùng Phong tuy đã cố tình mắt nhắm mắt mở cũng thấy quá chướng mắt, anh hiểu rằng Khoái đã bước qua cái gianh giới mà anh có thể chấp nhận và che chở được.

Nếu để sự việc vỡ lở ra thì anh chính là người sẽ phải nhận lãnh hậu quả. Vì vậy, sau một đêm suy nghĩ căng thẳng, anh đã quyết định sáng ngày mai anh sẽ lên gặp chính trị viên Lương Xuân Báo để báo cáo về hiện tượng không lành mạnh này và yêu cầu cấp trên điều trung sỹ Khoái rời khỏi đơn vị càng sớm càng tốt.

Nếu nói rằng cuộc đời quan chức của Hùng Phong luôn gặp may thì có lẽ đây cũng là lần gặp may đầu tiên khi anh vừa bước lên nấc thang thấp nhất của nghề làm lãnh đạo, chỉ huy trong quân đội. Bởi vì, nếu anh chỉ “phát hiện” chậm nửa tiếng đồng hồ thôi thì ít nhiều anh cũng bị qui kết là đã làm ngơ hoặc đồng loã với một “kẻ đầu cơ”. Tệ hơn nữa, một kẻ tội phạm tinh vi của quân đội ta. Sự thể là khi Hùng Phong vừa báo cáo xong với chính trị viên và đại đội trưởng về “những hiện tượng không bình thường xung quanh đồng chí trung sĩ Nguyễn Xuân Khoái”, hai vị thủ trưởng còn đang sửng sốt bất ngờ và chưa biết phải xử trí ra làm sao “hiện tượng” này thì tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh dẫn đầu một đoàn cán bộ cấp trên rầm rập tiến vào lán ban chỉ huy đại đội 9. Hùng Phong vội dạt sang một bên và lạnh toát cả người khi nghe một vị sĩ quan mặt lạnh như tiền, tự xưng là viện trưởng viện kiểm sát sư đoàn đọc lệnh bắt khẩn cấp quân nhân Nguyễn Xuân Khoái vì can tội hối lộ bác sỹ giám định, làm giả hồ sơ bệnh tật để trốn tránh nhiệm vụ đi chiến đấu giải phóng miền Nam!

Vào thời buổi “cơ chế thị trường” như hôm nay, việc một ai đó hối lộ những ông bác sỹ ở các hội đồng giám định y khoa để có được một kết luận về sức khoẻ có lợi cho những ý định riêng của nình, chỉ là “chuyện thường ngày”, bé như con muỗi”. Nhưng vào những năm cả nước đang “tất cả cho tiền tưyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, vào những năm mà cả một dân tộc, cả một thế hệ sống vô tư, trong sáng như pha lê không mấy người biết đến tư lợi... thì những vụ việc như thế này quả là một vụ động trời, một cú xốc lớn đối với cả sư đoàn. Té ra, đã có hẳn một đường dây chuyên nhận hối lộ, đút lót để đưa ra những hồ sơ giám định sức khoẻ với đầy đủ những bệnh án, những kết quả xét nghiệm, kết quả chiếu chụp... để đi đến kết luận rằng quân nhân A hay quân nhân B có những căn bệnh kinh niên hoặc mãn tính, không đủ sức khoẻ để vượt Trường Sơn đi đánh Mỹ ở chiến trường miền Nam! Nguyễn Xuân Khoái chỉ là một trong số những quân nhân tìm cách trốn tránh nghĩa vụ chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc thông qua việc móc nối với đường dây ấy.

Lệnh bắt giam được tiến hành ngay lập tức. Và dĩ nhiên “cháy nhà ra mặt chuột”, khi khám xét, kiểm kê tư trang của Nguyễn Xuân Khoái, “nhà chức trách quân sự” bỗng phát hiện ra một kho thu gom khá lớn với rất nhiều thứ quí hiếm như đồng hồ Pôn giốt, áo sơ mi, dép nhựa trắng Tiền Phong, bút máy Hồng Hà, Trường Sơn, kính dâm gọng vàng, khăn mùi xoa, thực phẩm đóng hộp các loại... Ngoài ra còn có khá nhiều các loại quân trang chỉ trang bị cho quân nhân đi B nhưng Khoái cũng gom được khá nhiều. Chính trị viên Lương Xuân Báo thực sự hốt hoảng trước cuộc phát hiện này nhưng anh vẫn kịp hoàn hồn để báo cáo với các cơ quan cấp trên:

- Đồng chí tiểu đội trưởng Hùng Phong cũng đã phát hiện ra hiện tượng đầu cơ này và đã báo cáo lên đại đội nhưng chúng tôi quyết định hãy theo dõi thêm ít ngày cho chắc chắn rồi mới phá án!

Vị viện trưởng viện kiểm sát quân sự sư đoàn nhìn chính trị viên Lương Xuân Báo trừng trừng qua cặp kính trắng lấp loá:

- Chúng tôi sẽ cho gọi đồng chí lên làm việc sau!

Vụ Nguyễn Xuân Khoái đã khiến cho uy tín của đại đội 9 xuống một cách thê thảm. Trong tất cả các cuộc hộỉ nghị từ tiểu đoàn lên đến sư đoàn câu chuyện về bọn Khoái đều được nêu ra để nhắc nhở, lấy đó làm gương, làm bài học đau đớn về công tác quản lí bộ đội và công tác giáo dục chính trị tư tưởng. Chính trị viên Lương Xuân Báo gầy xọp đi rồi phát ốm vì ngày nào cũng nơm nớp chờ lệnh gọi của cấp trên. Tuy vậy, chỉ có đại đội trưởng Nguyễn Hồng Thanh là bị trung đoàn gọi lên khiển trách về công tác quản lí bộ đội mà thôi


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 18 Tháng Mười Hai, 2010, 05:35:22 pm
21

Câu chuyện về anh tiểu đội trưởng Nguyễn Xuân Khoái đáng ra chỉ có vậy, vì anh ta không theo chân những người anh hùng của chúng ta ra trận. Nhưng thật không may (hay là may mắn thì cũng chưa biết chừng) về sau một vài nhân vật quan trọng trong cuốn sách này còn được gặp lại anh ta, mà đều ở trong những hoàn cảnh rất điển hình. Vậy nên, để cho khỏi lôi thôi mất thì giờ, xin kể nốt mấy việc ấy cho xong.

Chuyện thứ nhất - do tướng Hùng Phong kể với giáo sư kiêm nhà văn Trương Đình Lân:

... Sau chiến dịch đường 9 - Nam Lào, tôi được tổng cục chính trị gọi ra Bắc để nhận danh hiệu Anh hùng.

sau đó tiến hành một đợt “lưu diễn” rộng khắp các địa phương miền Bắc để kể chuyện chiến đấu. Dĩ nhiên đối tượng ưu tiên là học sinh, sinh víên. Lần ấy tôi ra vùng Đông Bắc Tổ Quốc để giao lưu với sinh viên các trường Mỏ - Địa chất và trường đại học Lam nghiệp. Khỏi phải kể về sự tận tình nhiệt huyết của sinh viên các trường đại học khi được đón tiếp những người anh hùng vừa từ tiền tuyến trở về. Tuy vậy, chúng tôi vẫn bị bất ngờ trước qui mô và hình thức vô cùng sinh động, phong phú mà sinh viên các rường và thanh niên học sinh vùng Đông Bắc dành để đón tiếp chúng tôi. Nhưng với riêng tôi, sự bất ngờ dường như tăng lên gấp nhiều lần khi được gặp tại đây một người đồng đội, đó chính là tiểu đội trưởng cũ của tôi, anh Nguyễn Xuân Khoái.

Chính anh là người "chủ trì" cuộc đón tiếp này. Bởi vì lúc đó anh Khoái đang là bí thư đoàn trường đại học Mỏ, uỷ viên ban chấp hành đoàn thanh niên tỉnh Quảng Ninh. Chính anh là người chủ trì buổi đón tiếp đoàn chúng tôi tại trụ sở tỉnh đoàn, chính anh cũng là người dẫn chương trình giao lưu, chính anh là người đã giới thiệu tôi lên diễn đàn nói chuyện với thanh niên các trường đại học và thợ mỏ vùng Đông Bắc... Chính anh mang cuốn sổ vàng truyền thống của thanh niên vùng mỏ đến trước mặt tôi yêu cầu tôi viết cho vài dòng cảm tưởng. Chính anh đã tận tay trao tặng tôi bức tượng Bác Hồ do các nghệ nhân vùng mỏ tạc bằng than đá. Rồi, cũng chính anh tiễn tôi ra tận xe, bắt tay thân mật và hẹn có ngày "Anh hùng quân đội Phạm Hùng Phong" trở lại thăm vùng mỏ...

Vậy mà lạ lùng thay, không một lần nào trong bấy nhiêu lần giao tiếp, trên gương mặt anh xuất hiện một dấu hiệu dù rất nhỏ, chứng tỏ rằng anh đã nhận ra tôi? Vậy là cớ làm sao? Hay là tôi nhận lầm người. Chẳng lẽ người ấy không phải là tiểu đội trưởng Nguyễn Xuân Khoái mà tôi từng biết rất kĩ càng?

Những câu hỏi ấy cho đến tận khi trở thành một ông tướng, Hùng Phong vẫn không sao giải đáp được.

Khi nghe ông ta kể lại chuyện này, giáo sư Trương Đình Lân trầm ngâm suy nghĩ một lát rồi kết luận:

- Hoặc giả là anh nhìn lầm, hoặc giả anh ta là một nghệ sỹ bậc thầy, một nhà chính trị bậc thầy, hay một tên bịp bợm vào loại bậc thầy!

Và để an ủi ông bạn đồng ngũ năm xưa, giáo sư Lân bèn kể tiếp câu chuyện sau đây:

... Vào năm... Tôi có dịp về tỉnh X... Để dạy một lớp đại học tại chức theo lời mời của một cậu học trò. Hồi đó phong trào cán bộ các địa phương đua nhau theo học các lớp đại học tại chức đang rất rầm rộ. Cánh giảng viên đại học chúng tôi vì thế cũng kiếm ăn được.

Tuy vậy, với những giảng viên chuyên giảng dạy các môn khoa học xã hội như bọn tôi thì những cơ hội được mời "thỉnh giảng" cũng không phải là nhiều lắm. Đi giảng "tại chức" ở địa phương có đến mấy cái thú: được đi du lịch không phải trả tiền, được ăn uống tử tế, được trả thù lao rất cao lại được những người có chức có quyền gọi mình là thầy khiến cho lòng tự ái của người trí thức cũng được vuốt ve tý chút. Vì thế được mời là khó có thể từ chối. Cậu học trò mời tôi về "thỉnh giảng" ở tỉnh X... lại vừa được đề bạt làm phó giám đốc sở giáo dục của tỉnh, nên tôi lại càng cảm thấy mát mặt.

Vừa tới nơi, chưa kịp nghỉ ngơi thì cậu học trò đã đánh xe tới nhà khách đon đả mời thầy đi dự một bữa com thân mật. Dĩ nhiên là tôi thể từ chối rồi. Vừa

ngồi lên xe, cậu học trò ấy vội xoa tay cười bả lả, đả thông ngay - "Xin lỗi thầy, hôm nay chưa phải là em mời thầy mà là xếp của em, đồng chí phó chủ tịch tỉnh phụ trách văn xẫ đích thân mời cơm thầy đấy ạ!". Tôi giật mình đánh thót một cái, tại sao tôi lại được biệt đãi như thế này nhỉ? Đang định liều hỏi một câu thì cậu học trò giải thích ngay "Chẳng giấu gì thầy, thủ trưởng của em đang làm luận án phó tiến sỹ về đề tài Văn hoá làng xã và sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn... Biết em là người đã từng được thầy hướng dẫn viết luận án thành công nên thủ trưởng của em có ý định mời thầy làm thầy hướng dẫn của mình đấy ạ". Một đồng chí phó chủ tịch tỉnh mà lại chú tâm nghiên cứu về đề tài văn hoá làng xã trong thời đại công nghiệp hoá hiện đại hoá thì thật là phúc cho con dân trong tỉnh. Tôi đã thành thật nghĩ vậy nên vui vẻ nói với cậu học trò "Được thôi, nếu như thủ trưởng của cậu thực sự có khả năng và có quyết tâm nghiên cứu đề tài này thì mình cũng sẵn sàng hỗ trợ".

Xe đưa chúng tôi đến một nhà hàng kín đáo nhưng có lẽ thuộc vào loại sang nhất của cái tỉnh lị này. Vừa xuống xe, đã thấy một anh chàng ăn vận bảnh bao, vẻ mặt tươi cười đón trước cửa cúi chào lễ phép nói - Thủ trưởng của em đang chờ giáo sư và phó giám đốc ở trên lầu ạ!

Căn phòng dành riêng của nhà hàng có hai cửa sổ nhìn thẳng ra con sông lớn, gió thổi lồng lộng. Trong phòng chỉ có một bộ bàn ăn sang trọng. Một người đàn ông có dáng thấp đạm, đang ngồi nhìn ra mặt sông thư thái hóng gió. Cậu học trò của tôi nhanh chân bước tới khẽ cúi mình thưa:

- Dạ thưa đồng chí phó chủ tịch, giáo sư Lân đã tới ạ!

Ông phó chủ tịch quay lại nói "Tới rồi à?" rồi xô ghế đứng dậy tiến tới trước mặt tôi. Tiếng cậu học trò lại vang lên:

- Dạ... xin giới thiệu với giáo sư, đây là đồng chí Nguyễn Xuân Khoái, tỉnh uỷ viên, phó chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh ạ!

Bàn tay của ông phó chủ tịch đã vươn ra nhưng tôi thì vẫn đứng ngây ra như người vừa bị ngộ gió. Bàn tay tôi đã nằm gọn trong lòng bàn tay râm rấp mồ hôi của ông ta nhưng miệng tôi thì vẫn cứng đơ:

- Vâng... vâng... ông là...

Có lẽ vì ông ta đứng ngược với ánh sáng từ cửa sổ chiếu vào nên tôi không thấy đươc một nét rung động khác thường nào trên gương mặt ông ta. Tiếng ông ta vẫn vang lên rành rọt như đọc khẩu lệnh:

- Tôi là Nguyễn Xuân Khoái, phó chủ tịch tỉnh. Xin kính chào giáo sư đến với địa phương chúng tôi!

Bữa tiệc đã diễn ra như thường lệ, ngoại trừ sự ngỡ ngàng lúng túng xen lẫn hồ nghi cứ dâng lên từng đợt trong lòng tôi. Không có một dấu hiệu nào chứng tỏ, rằng "ông ấy" đã nhận ra tôi. Vì thế tôi cũng không thể "thấy người sang bắt quàng làm họ" được. Trong suốt bữa tiệc, ông ta nói rất nhiều, nói khá hay về những tiềm năng, triển vọng và những dự định lớn lao của đảng bộ và chính quyền tỉnh trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá để nhanh chóng đưa tỉnh nhà trở thành một trong những tỉnh đầu tiên trong cả nước vượt qua mức GDP bình quân đầu người đạt một ngàn đô la năm, toàn tỉnh sẽ không còn một hộ nào thuộc diện đói nghèo trong mười năm tới. Vân vân và... vân vân... và lạ thay, trong suốt bữa ăn ông ta không nhắc một câu nào về cái luận văn phó tiến sỹ... hay những dự định nghiên cứu khoa học của mình. Cậu học trò của tôi có vẻ sốt sắng đôi khi cứ cố tình lái câu chuyện về hướng này, nhưng ông ta làm như không để ý hoặc tìm cách lảng ra một cách khéo léo. Cuối tiệc, hình như sốt ruột vì mục đích chưa đạt được, cậu học trò ngây thơ của tôi liền dại dột đi thẳng vào vấn đề:

- Dạ... thưa giáo sư... qua câu chuyện vừa rồi hẳn giáo sư đã thấy thủ trưởng của bọn em say sưa như thế nào với đề tài công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn. Vì thế cho nên thủ trưởng của em có ý định...

Ông phó chủ tịch tỉnh liền xua tay kiên quyết ngắt lời:

- Những chuyện đó để sau đi. Thời gian còn dài mà. Giáo sư mới tới, không nên để giáo sư mệt thêm về những mư ước hão huyền của anh em mình nữa!

Nói rồi, ông ta đứng dậy, tỏ ý muốn chấm dứt cuộc tiếp khách. Tôi cũng vội vã đứng lên, hoang mang bắt tay tạm biệt ông ta mà vẫn không dám khẳng định rằng ông ta có phải chính là ông "cựu tiểu đội trưởng" của mình hay không?

Những ngày sau đó tôi cũng có ý chờ đợi, nhưng không thấy cậu học trò của tôi nhắc gì tới chuyện luận án phó tiến sỹ của đồng chí phó chủ tịch tỉnh nữa. Đến ngày kết thúc đợt thỉnh giảng ở tỉnh X, cậu học sinh cũ tới tiễn tôi và trước khi lên xe, có giúi cho tôi một cái phong bì và nói nhỏ “- Đồng chí phó chủ tịch gửi lời chào thầy! “Tôi hốt hoảng mở vội cái phong bì trước mặt cậu học trò, sợ có gì ở trong đó thì thật phiền.

Nhưng không, trong phong bì chỉ có một tấm thiệp nhỏ, trên đó ghi một dòng chữ:

- Kính chào giáo sư. Hẹn gặp lại!

Một lời chào rất trung tính. Y như cái dòng chữ “See you again!' mà vị khách nào cũng nhìn thấy trước khi rời khỏi địa bàn thị X vậy!

Nghe xong câu chuyện của giáo sư Lân, trung tướng Hùng Phong cười ha hả:

- Đúng là ông ta rồi! Giỏi... phải nói là lão ta giỏi thật đấy! Vẫn là cái cách tảng lờ tỉnh bơ như chuyện cái mũ sắt của thằng Hướng ngày nào. Làm cách nào mà lão ta qua được cái vụ hối lộ bác sỹ giám định y khoa nhỉ? Xưa nay, người ta chỉ nói tới chuyện bọn tội phạm rửa tiền chứ đã ai nói đến chuyện “rửa lí lịch” đâu?

Chẳng lẽ cái lão này có phép thần thông? Nhưng phải nói, chưa ai huấn luyện lính mới tài ba như lão ấy? Sau này mình cũng làm chỉ huy, từ cấp tiểu đội cho lên tới tận cấp quân đoàn, quân khu, nhưng chưa bao giờ mình thấy sợ một ông chỉ huy nào như lão Khoái. Cậu còn nhớ cái đận chúng mình mới nhập ngũ huấn luyện ở Hoài Đức chứ?

- Nhớ, chứ sao lại không?

... Trong số mười ông tiểu đội trưởng ở đại đội 9 thì trung sĩ Nguyễn Xuân Khoái là người có tư thế nhất.

Anh ta có giọng hô khẩu lệnh vang to, đĩnh đạc, dứt khoát, thậm chí nghe còn oai hơn cả giọng đại đội trưởng Nguyễn Hồng Thanh. Anh ta thực hình các động tác điều lệnh rất đẹp và chuẩn nên thường được làm mẫu cho cả đại đội. Lúc nào anh ta cũng ăn mặc gọn gàng bảnh bao, quân phục được mài bạc trắng ra rồi được làm li phẳng lừ bằng cách gập vào giữa hai mảnh gỗ, để trên đầu giường. Anh ta rất ghét thói luộm thuộm nên mỗi ngày thường báo động kiểm tra nội vụ của tiểu đội vài ba lần. Lính tráng trong tiểu đội anh nào vi phạm điều lệnh thường bị phạt rất nghiêm bằng những hình thức rất “sáng tạo” như đeo nguyên cả ba lô thạy ba mươi vòng trong ngõ xóm vừa chạy vừa hô “Một... hai... ba....tôi là quân nhân hạng bét!”.



Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 18 Tháng Mười Hai, 2010, 05:36:21 pm
Cậu Cung cũng đã có lần bị phạt như vậy. Nhưng đáng lẽ phải hô “Một... hai... ba. Tôi là quân nhân hạng bét!” thì cậu lại hô “ Một... hai... ba... tôi là quân nhân hạng... nhất!”. Đang nằm trong nhà nghỉ trưa, nghe thấy người đang thực hiện án phạt mà dám hô bậy như vậy, tiểu đội trưởng Khoái chồm dậy chạy ra đường chặn cậu Cung lại quát - “Quân nhân Ngô Xuân Cung...

Đứng lại!”. Cậu Cung đứng lại nhưng không chào, cũng không báo cáo gì sất, mà lại hỏi “Anh ra đây làm gì?”. Khoái tức lộn ruột, vằn mắt lên hô - “Đứng - Nghiêm! Chào chỉ huy theo điều lệnh!”. Cậu Cung không đứng nghiêm, cũng không chào, mà còn cười ngặt ngẽo rồi chỉ vào anh ta mà nói “Yêu cầu tiểu đội trưởng vào nhà mặc quân phục đã rồi ra đây tôi mới chào được chứ!”. Đến lúc ấy tiểu đội trưởng Khoái mới chợt nhớ ra rằng mình đang mặc quần đùi áo lót. Anh ta đành phải quay vào nhà mặc quân phục, nhưng khi trở ra thì cậu Cung đã chạy ra đến đầu xóm, vừa chạy vừa hô lớn “Một... hai... ba. Tiểu đội 9 có một tiểu đội trưởng hạng nhất và một quân nhân hạng bét!”.

Sau vụ đó tiểu đội trưởng Khoái trù cậu Cung ra mặt, buổi tập nào cũng mang cậu ra hành. Nhưng cũng may, chỉ được một tuần thì cậu Cung được điều lên làm anh nuôi. Ngay lần họp chi bộ đầu tiên khi rời khỏi tiểu đội nghe nói cậu Cung đã phê bình tiểu đội trưởng Khọái một trận vì “tác phong quân phiệt!”.

Có lẽ vì thế mà cậu Cung không thể quên được một người như tiểu đội trưởng Khoái.

Và sau đây là câu chuyện mà cậu Cung kể cho cánh cựu chiến binh đại đội 9 nghe sau lễ tang tướng Hùng Phong... Nghe các anh nhắc tới tiểu đội trưởng Khoái tôi mới nhớ ra. Đáng lý ra cũng nên báo tin cho anh ấy về dự lễ tang Hùng Phong. Vì dẫu sao, anh âý cũng có công rèn luyện Hùng Phong đấy chứ. Anh hỏi tôi gặp tiểu đội trưởng Khoái bao giờ à? Thì cũng mới đây thôi. Chẳng là con bé cháu nhà tôi học xong đại học tài chính - kế toán đã hơn một năm rồi mà chẳng xin được việc làm. Bỗng một hôm cháa mang về một tờ báo và chỉ vào một cột quảng cáo rồi khoe "Bố ơi, mai con đi thi tuyển, có công ty giấy ở bên Bắc Ninh đăng báo tuyển người đấy bố ạ". Tôi cũng đáp ừ hữ, chẳng để tâm tới chuyện đó vì kì thực, tôi chẳng mấy hi vọng vào cái sự đi tìm việc qua một tờ báo? Bấy lâu nay bố con tôi cũng từng đi mòn đường nát cỏ nhà người ta còn chẳng ăn ai nữa là... Nhưng thôi được, cứ mặc kệ cho nó nuôi lấy một tý hi vọng, có chết ai?

Thế là hôm sau cháu hăm hở đạp xe đi. Đến chiều tối thấy nó đạp xe về, vừa tới cổng đã reo ầm lên "Bố ơi, có khi con trúng tuyển vào làm kế toán ở công ty đó rồi bố ạ!". Tôi cuời hỏi "Trúng là trúng, trật là trật, sao lại còn có khi?" "Vì ông ấy, cái ông giám đốc ấy sau khi xem kĩ lí lịch của con, lại hỏi thăm rất nhiều về bố. Có khi ông ấy quen bố hay sao ấy bố ạ? Sau khi phỏng vấn con xong, ông ấy còn bảo - Thôi được rồi, cô về đi, ngày mai đưa bố cô lên đây nói chuyện với tôi".

Tôi thấy lạ quá. Hỏi tên cái ông giám đốc ấy thì con bé nói rằng làm sao mà nó biết đuợc, khi phỏng vấn, người ta có xưng tên cho mìn biết đâu? Tối hôm đó tôi trằn trọc suốt đêm không ngủ được? Tôi làm gì có người bạn nào làm giám đốc nhỉ? Hay là vì đây là một công ty tư nhân cho nên trước khi nhận con vào làm họ bắt bố mẹ tới để mà kí cam đoan, cam kết gì chăng? Thôi kệ, sáng mai sang đó rồi khắc biết!

Sáng hôm sau hai bố con đạp xe đi từ tinh mơ. Gần mười giờ sáng thì sang tớí trụ sở công ty ở gần thị xã Bắc Ninh. Nhìn qua cơ ngơi thì cũng thấy đây là một công ty khá to, có đến mấy dãv nhà xưởng. Có trụ sở ba tầng. Có ô tô con ô tô to ra ra vào vào. Trên cổng lớn của trụ sở công ty có biển đề "Công ty TNHH Giấy Xuân Khoái" - Thì ra công ty này chuyên sản xuất kinh doanh các loại giấy, nhưng thiên về giấy vệ smh và các loại khăn thơm, giấy thơm phục vụ cho các nhà hàng, khách sạn. Thú thực, cái tên công ty chưa gây được cho tôi ấn tượng gì đặc biệt. Nhưng đến khi bước tới cửa phòng giám đốc, nhìn thấy cái biển đỏ đề trên cửa "Nguyễn Xuân Khóai - Giám đố" thì tôi đã hơi chột dạ. Vì tự dung trong trí óc tôi bỗng vụt hiện hình ảnh một tấm biển nhỏ màu xanh, với hàng chữ đỏ luôn được đặt trên đầu giường trong "không gian dành cho người chỉ huy" - Nguyễn Xuân Khóai - A Trưởng".

Tôi còn đang ngơ ngác đứng ngắm tấm biển ghi danh ở trước phòng giám đốc thì bên tai tôi bỗng vang lên một giọng nói oai vệ quen thuộc:

- Binh nhất Ngô Xuân Cung!

Tôi giật mình quay lại và chẳng khó khăn gì tôi nhận ra ngay người đứng trước mặt mình là tiểu đội trưởng Nguyễn Xuân Khoái. Tự nhiên đầu gối tôi cứng lại, trong tư thế nghiêm, tôi đưa tay lên vành mũ lá và cất tiếng dõng dạc:

- Báo cáo tiểu đội trưởng... tôi binh nhất Ngô Xuân Cung, quân nhân hạng bét, xin trình diện tiểu đội trưởng!

Ông ta vỗ vai tôi cười ha ha "Ông còn nhớ những chuyện ấy kia à? Chứng tỏ ông... cũng thù dai đấy chứ.

Chúng tôi vui vẻ nhắc lại những kỷ niệm xưa nhưng tuyệt nhiên không thấy ông ta nói gì thêm về vụ viêm đại tràng mãn tính cả...

- Thế... ông ta có nói rằng ông ta đã từng... làm cán bộ to ở tỉnh nào không?

- Không thấy nói đến. - ông Cung lắc đầu, nhưng rồi lại nói thêm - mà hình như có... ông ta có nói rằng việc gì cũmg từng trải qua rồi. Làm lãnh đạo cũng làm rồi, thậm chí súyt trở thành đại biểu quốc hội nữa kia. Nhưng suy cho cùng thời này làm nhà doanh nghiệp là thoải mái nhất vì thế nên khi được về hưu ông ta liền nghĩ đến việc đứng ra thành lập một công ty để tham gia làm giàu cho đất nước. Ông ta nói, thử làm người hùng của thời kinh tế thị trường xem nó ra làm sao? Xem ra, ông ta làm được đấy. Ông ta khoe rằng công ty của ông ta mới đi vào sản xuất chưa đầy năm mà đã thu lãi hàng chục tỷ rồi. Vừa qua, nhân ngày 27-7, Công ty của ông ta cũng đã xây tặng cho một bà Mẹ Việt Nam anh hùng ở địa phương một ngôi nhà tình nghĩa trị giá 30 triệu đồng. Cha mẹ ơi, ông ấy nói đến tiền trăm bạc tỷ mà cứ như không ấy!

Im lặng một lát dường như vừa đủ để cho anh em kịp thấy tự hào vì có người đồng đội đang nổi lên như một nhân vật anh hùng thời kinh tê thị trường, ông Cung mới quay sang ghé vào tận tai giáo sư Lân thì thào:

- Ông Khóai cũng có hỏi thăm anh đấy. Ông ấy bảo, công ty làm ăn khá lắm hiện đang nổi hẳn lên như một điển hình về các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở địa phương thời kì đổi mới. Nhiều nhà văn, nhà báo nhà thơ đã về đấy viết văn, làm thơ ca ngợi. Đợi khi nào thuận tiện thì sẽ mời giáo sư- Nhà văn Trương Đình Lân về thăm và viết cho ông ta một cuốn sách. Ông ta còn nói thêm, sẽ trả thù lao cho anh theo giá thỏa thuận hẳn hoi kia!

Giáo sư Lân bật cười lớn. Ông nghĩ thầm, không chừng đến lúc nào đó cũng phải viết một cái gì đó về ông khăn thơm giấy thơm này cũng nên!


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 18 Tháng Mười Hai, 2010, 05:38:40 pm
22

Công bằng mà nói sự nghiệp của nhà văn kiêm giáo sư văn hoá học Trương Đình Lân cũng được bắt đầu từ việc viết về những nhân vật điển hình kiểu như cái ông “khăn thơm giấy thơm” này thôi. Có điều đó là những vị “khăn thơm giấy thơm” của chiến trận.

Nhưng khổ một nỗi, những nhân vật điển hình trong chiến đấu thường không thọ được lâu như điển hình trong lao động sản xuất. Không thiếu gì những người hùng trong những phong trào lao động sản xuất đến tận ngày hôm nay vẫn được gọi là anh hùng, họ sống sờ sờ mà sống vui, sống khoẻ, sống có ích vì họ đều đã trưởng thành, trở thành những vị lãnh đạo đáng kính của các cơ quan, đoàn thể từ trung ương tới địa phương cả rồi, mặc dù những việc mà họ làm được, những phong trào mà họ dẫn đầu cũng không tồn tại được bao lâu. Ngoài mặt trận thì lại khác, những người anh hùng của chiến trận thường để lại dấu ấn chỉ trong một khoảng khắc, một trận đánh. Dù rằng đó là những hành động oanh liệt, chói sáng thì cũng rất khó lập lại.

Những người còn “phát huy” được, còn nuôi được tư chất anh hùng của mình thường không nhiều, mà phải có được sự “đầu tư” rất thích đáng của tổ chức. Vì vậy, trơng số hàng trăm những “điển hình”, những tấm gương chiến đấu mà Trương Đình Lân đã viết được thành văn để đăng báo, in sách thì số “có tuổi thọ” còn lại chỉ đếm trên đầu ngón tay. Đa số họ chỉ là những anh hùng trong một khoảng khắc, một trận đánh. Rồi sau đó thì hoặc họ hi sinh, bị thương rời khỏi chiến trường, hoặc còn tiếp tục chiến đấu nhưng chỉ là “chiến đấu kiên cường và bền bỉ” thôi chứ không có cơ hội mà chói sáng trở lại, hoặc sau đó có khi họ còn có những hành động kiệt hiệt hơn nhưng lại chẳng mấy ai biết đến nữa. Thời bấy giờ, các phương tiện thông tin đại chúng tuy đã đóng một vai trò rất quan trọng trong việc tuyên truyền những tấm gương anh hùng trong chiến đấu, nhưng vì họ không thể có mặt ở khắp nơi, nhất là không thể có mặt đúng lúc xảy ra những hành động anh hùng, nên việc “phát hiện” và lăng xê những điển hình đành phải dành cho con đường của tổ chức.

Hồi đó, Trương Đình Lân chưa đủ trưởng thành để phát hiện ra qui luật này nên những “điển hình”của anh thường chỉ là “khăn thơm giấv thơm” trong một thời gian ngắn ngủi. Nếu như anh dựa chắc vào tổ chức để biết rõ tổ chức có định hướng xây dựng và bồi dưỡng những điển hình nào thì có lẽ anh sẽ có được những điến hình có tuổi thọ cao cỡ như Phạm Hùng Phong. Khổ một nỗi, ngay cả một điển hình có tính “chiến lược” như Hùng Phong mà anh cũng không viết được cái gì ra hồn. Hay là điều đó lại nằm trong qui luật muôn đời “bụt chùa nhà không thiêng?”.

Đó là lỗi của anh chứ không phải lỗi của tổ chức.

Vì dù sao, tổ chức cũng đã dành cơ hội cho anh! Không phải một lần mà ít ra cũng hai ba lần.

Lần thứ nhất, khi phát hiện anh đã có bài trong sổ tay viết về đồng chí Hùng Phong “còn hay hơn cả bài trên báo”, chính trị viên Lương Xuân Báo đã gọi anh lên động viên anh gửi bài đó cho báo nhưng anh đã từ chối.

Lần thứ hai là sau khi sư đoàn trưởng xuống thăm tiểu đoàn 7, trước khi đi B, mặc dù lúc này anh đã không còn là chiến sỹ của đại đội 9 nữa nhưng chính trị viên Lương Xuân Báo vẫn mời anh về yêu cầu viết một bài về “Tiểu đội Hùng Phong trong khí thế sẵn sàng ra trận đi giết giặc lập công”. Hồi đó, chính trị viên Báo tin rằng chỉ cần một bài vài trăm chữ được đăng lên báo là người ta sẽ sớm quên đi “sự kiện Nguyễn Xuân Khoái” đang làm ông ta cảm thấy lép vế trong phong trào thi đua của cả tiểu đoàn. Rất tiếc hồi ấy rất hiếm khi có được một nhà báo về đơn vị thâm nhập thực tế. Hoặc có về thì họ cũng chả xuống đến cấp đại đội để “tìm điển hình”. Về khía cạnh này thì phải công nhận là chính trị viên Lương Xuân Báo là người đi trước thời đại khi hiểu được sức mạnh của báo chí. Sở dĩ chính rị viên phải đến tận “lều tranh” của tiểu đội trinh sát tiểu đoàn để mời Trương Đình Lân viết bài là vì ông ta vừa đọc được một bài viết của Lân trên báo quân đội. Đó là bài anh viết khi còn ở lớp trinh sát có tựa đề “Tình dân làng Gồ”. Bài báo của anh đơn giản chỉ là một bài kể chuyện tình quân dân, chả dính dáng gì đến điển hình, đến các phong trào thi đua. Thực ra lúc đầu chính trị viên không nhận ra đó là bài của Lân. Trong buổi đọc báo buổi tối ở đại đội, anh thấy bài này hay và rất hợp với chủ đề sinh hoạt tư tưởng trong tuần của đại đội nên cho đọc và tổ chức thảo luận dân chủ trước đại đội. Người phát hiện ra tác giả bài báo lại là “cậu Cung”. Khi nghe chính trị viên nhắc đi nhắc lại về “sự sắc bén về tư tưởng” của ông nhà báo được thể hiện trong bài viết, cậu Cung mới ngứa tai đứng dậy nói “Chính trị viên cứ nói quá lên làm gì. Chả phải nhà này nhà nọ gì đâu. Đó là do cậu Lân, người cũ của đại đội ta viết đấy. Tôi biết nó từ lâu, thằng này cũng chả có tư tưởng cao siêu gì, nhưng nó viết có tình cảm lắm”. Nghe xong, chính trị viên Lương Xuân Báo sửng sốt hỏi lại “Đồng chí Cung không nói đùa đấy chứ?” Cậu Cung cười “Đùa gì mà đùa, những bài kiểu này thằng Lân nó chỉ ngoáy vài tiếng là xong. Không tin, chính trị viên cứ gặp cậu ấy mà hỏi cho rõ”. Thế là sau một đêm suy nghĩ, chính trị viên đích thân lên gặp Lân.

Đến nay, anh cũng không hiểu vì sao lúc đó mình lại từ chối lời đề nghị viết một bài báo về chính cái tiểu đội thân yêu của mình. Sau này anh mới hiểu, giá như hồi đó, ông Báo đừng có hễ mở miệng là “tiểu đội Hùng Phong” thì có lẽ anh đã nhận lời.

cũng phải mãi về sau, khi đã là giáo sư văn hoá học rồi, anh mới hiểu vì sao hồi đó ông Lương Xuân Báo cứ thích gọi “tiểu đội Hùng Phong” “trung đội Hùng Phong” rồi sau này là “Đại đội Hùng Phong”...

Thì ra từ hồi đó ông Báo đã hiểu rất rõ nghệ thuật xây dựng thương hiệu! Khi người ta đã có ấn tượng về một thương hiệu rồi thì nhà sản xuất phải bám lấy, phải bằng mọi cách giữ vững ấn tượng về thương hiệu đó, thậm chí phải áp đặt khách hàng để họ công nhận một cách từ từ nhưng chắc chắn thương hiệu ấy. Đó là qui luật của sự tiếp nhận cưỡng bức. Không hiểu sao từ thời “phi thị trường ấy” mà ông Báo đã hiểu được những qui luật cao siêu đó và đã áp dụng nó một cách nhuần nhuyễn tài tình trong công tác chính trị. Trong cuộc đời làm cán bộ thính trị của mình, ông đã xây dựng thành công rất nhiều điển hình bằng phương pháp nói trên mà điển hình nào cũng có sức sống, có khả năng tác động tới phong trào của đơn vị và có sức khích lệ động viên mọi người rất cao. Khi còn là chính trị viên đại đội, tiểu đoàn thì ông có chiến sỹ Hùng Phong, tiểu đội Hùng Phong, trung đội rồi đại đội Hùng Phong. Khi lên tới chính uỷ trung đoàn thì ông có “Pháp xung phong!” - (Pháp là tên của một dũng sỹ diệt Mỹ nổi tiếng của sư đoàn) - sau được nhân lên thành tiểu đội Pháp - Xung phong! Trung đội Pháp Xung phong!

Đại đội Pháp - Xung phong!”. Rồi “Tiểu đoàn 8- Tiểu đoàn chốt thép” “Tiểu đoàn 7 - Vua Công kiên” “Tiểu đoàn 9 - Chim ưng vận động chiến”, v.v... Mỗi một danh hiệu như vậy đều được xây dựng rất công phu và dần dần trở thành sở trường tác chiến của mỗi tiểu đoàn, trở thành niềm kiêu hãnh của mỗi người lính - nói như ngôn ngữ thời kinh tế thị trường hôm nay nghĩa là một thương hiệu đã được xã hội hoá cao, được đóng dấu chất lượng cao, được khách hàng thừa nhận!

Một đời làm cán bộ chính trị của Lương Xuân Báo mà làm được từng ấy việc kể cũng là thành công. Thậm chí những danh hiệu mà ông sáng tạo ra và bồi đắp xây dựng nên còn sống tới tận ngày hôm nay và vẫn được thế hệ trẻ hôm nay của sư đoàn công nhận thì cũng là ghê ghớm thật!

Nếu lấy “hiệu quả” ra mà suy thì những “sáng tác”, những công trình của chính trị viên- chính uỷ. Lương Xuân Báo còn có giá trị hơn hàng trăm bài báo kiểu “khăn thơm giấy thơm” mà Trương Đình Lân đã viết trong giai đoạn “khởi nghiệp văn chương” của mình, đơn giản chỉ vì nó nhanh chóng bị rơi vào cái biển quên lãng mênh mông của công chúng.

Nhưng ngược lại, nó lại có một đời sống khác - nó giúp ông nuôi dưỡng kí ức của riêng mình. Mỗi lần đọc lại những bài viết thô sơ, ngắn ngủi được ông chép lại cẩn thận trong những cuốn sổ tay về những người anh hùng trong một khoảng khắc, trong một trận đánh, một chiến dịch, thì tâm trí ông lại như bừng sáng lên, từng trường đoạn hình ảnh được phục hiện như trong một bộ phim nhiều tập. Những người anh hùng vô danh đã sống lại. Họ vô cùng đông đảo. Hầu hết họ im lặng.

Nhưng nếu mỗi người dù chỉ một lời thôi, họ cũng sẽ nói sự thật và họ chỉ nói sự thật mà thôi. Họ sẽ nói rằng Có rất nhiều những anh hùng trong khoảng khắc, nhưng không thể có những người anh hùng suốt đời.

Bởi vì làm một người anh hùng suốt đời thì mệt mỏi lắm, bất hạnh lắm và nói chung là không thể có những con người như vậy!


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 18 Tháng Mười Hai, 2010, 05:40:06 pm
23

Sinh thời tướng Hùng Phong không chỉ đơn thuần là một “tướng trận mạc” như ông luôn tự nhận. Ông cũng từng có trước tác. Nhưng đó không phải là loại sáng sáng tác văn chương hay những bài báo tuyên truyền cho những điển hình kiểu “khăn thơm giấy thơm” mà đó là những luận văn quân sự hẳn hoi.

Những tác phẩm này, thật ngược đời, lại không phải được ông viết trong thời gian về công tác ở Viện nghiên cứu X..., mà lại được ông thai nghén và vìết ra khi còn là người chỉ huy cấp quân đoàn. Thậm chí, có tác phẩm được ông hoàn thành trong khoảng thời gian làm tư lệnh một mặt trận đánh Pôn Pốt ở Cămpuchia kia. Có lẽ đó cũng là một yếu tố khiến bộ dễ dàng chấp nhận để ông về Viện nghiên cứu X... làm phó viện trưởng. Nhưng khi về đến cái nơi đáng kính này rồi thì khả năng tư duy lý luận quân sự của ông lại tịt ngóm.

Ông không viết được thêm một dòng nào ngoài những bài báo nhạt nhẽo về “xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân” các kiểu, dành để đăng trên tờ tạp chí chuyên ngành. Trong những năm tháng ngắn ngủi công tác ở Viện nghiên cứu X, ông dành thời gian để nhuận sắc những công trình cũ của mình rồi cho in thành một tập.

Giáo sư nhà văn Trương Đình Lân còn nhớ rất rõ cái đêm gỉao thừa lạ lùng và thiêng liêng ấy khi tướng Hùng Phong mò tới tận nhà ông với quân phục đại lễ cấp tướng có đính đầy đủ các loại huân huy chương nặng trĩu, xủng xoảng trên ngực, với một bó hoa và một chai sâm banh... nghe tiếng chuông gọi cổng, ông cứ ngỡ ông bạn hàng xóm sang xông đất theo lời mời của vợ ông. Nhìn thấy “ông tướng” đứng sững trước cổng, ông vô cùng sửng sốt kêu lên:

- Hùng Phong đấy hả? Sao ông lại đến đây vào giờ này? Tôi vừa mới nhìn thấy ông trên tivi kia mà?

Hùng Phong cười, nói oang oang:

- Trông tớ có vẻ “phường tuồng” quá hả? Nể quá, đích thân ông giám đốc đài truyền hình đến tận nhà mời mình tham gia chương trình gặp gỡ truyền hình đêm giao thừa thiên niên kỉ. Chối không được nên đành phải nhận vai diễn thôi. Sao, mình nói dở lắm hả?

- Cũng không đến nỗi dở lắm...

Giáo sư Lân mời bạn vào nhà, định gọi vợ ra chào nhưng tướng Hùng Phong vội xua tay:

- Thôi để bà ấy ngủ. Gần hai giờ sáng rồi còn gì! Bọn mình mở thai rượu này đón mừng thế kỉ hai mốt với nhau chả thú hơn à?

Họ cùng nhau nâng ly mừng thế kỉ mới. Ông Lân chợt nhớ lại chương trình khách mời của VTV vừa phát xong trước lúc giao thừa. Đó là một chương trình truyền hình trực tiếp rất qui mô kéo dài hai tiếng đồng hồ, qui tụ đượckhá nhiều nhân vật nổi tiếng trong thế kỉ hai mươi. Cánh lính tráng có năm người được mời tham gia vào tốp những người nổi tiếng trong cái thế kỉ đầy bão giông vừa mới trôi qua, một trong bảy vị nổi tiếng ấy là ông bạn vàng của ông đây.

- Nào xin nâng cốc mừng con người nổi tiếng của thế kỉ hai mươi!

Hùng Phong nhìn ông thở dài:

- Thực ra thì còn rất nhiều người xứng đáng hơn mình. Nhưng, hoặc là họ đã chết cả rồi, hoặc là họ không có những yếu tố thuận lợi cho nhà đài bằng mình. Mời một ông tướng như thế này lên tivi thì vẫn oai hơn mời những ông anh hùng một thời nhưng đang là một ông thương binh cụt chân cụt tay, hay một anh nông dân nhếch nhác ở đâu đó chứ?

Giáo sư Trương Đình Lân ngạc nhiên trước những lời có vẻ hơi khinh bạc của vị tướng. Chợt nhớ ra một điều ông vội hỏi:

- Này, trong lúc truyền hình trực tiếp, tôi nghe thấy có một khán giả nào đó điện thoại về hỏi một câu rằng:

Thưa thiếu tướng, trong quá trình rèn luyện và chiến đấu của mình, ông có chịu ảnh hưởng của một con người, một tấm gương cụ thể nào đó không? Nếu tôi nghe không nhầm thì ông nói rằng có một người như thế, ông ấy là chính uỷ của tôi. Có phải là ông định nói tới...

Tướng Hùng Phong cười ha hả.

- Ông biết là ai quá đi rồi còn gì!

Giáo sư Lân gật đầu.

- Tôi biết. Đó là chính trị viên, chính uỷ Lương Xuân Báo. Nếu như ông ấy mà biết được rằng Hùng Phong vẫn không quên ông ấy thì hẳn ông ấy cũng mát lòng mát dạ. Tướng Hùng Phong bỗng thở dài:

- Ông ấy chết rồi... Tôi có nghe tin ông ấy ốm nặng, nhưng khi tìm tới nơi thì đã mồ yên mả đẹp rồi. Trong những năm cuối đời ông ấy sống trong cô đơn buồn bã.

- Thế... mẹ con bà Lý Hảo Hảo không... về thăm ông ấy lần nào à?

- Không - Hùng Phong lắc đầu - năm 1979, do có vụ người Hoa nên bà ấy đưa con đi, từ đó chẳng thấy có tin tức vân mòng gì nữa. Những năm hai nước chưa bình thường hoá quan hệ thì đã đành, đến tận bây giờ hai nước đã có “phương châm mười tám chữ” rồi mà cũng chẳng thấy bà ấy tìm về. Ông Báo chờ mòn cả con mắt mà cuối cùng cũng phải ra đi trong cô đơn, buồn tủi. Xét về khía cạnh nào thì mình cũng là người có lỗi với ông ấy. Giá như năm bảy mốt mình đừng giới thiệu Lý Hảo Hảo cho ông ấy thì có lẽ cuộc đời ông ấy đã khác.

Giáo sư Trương đình Lân tò mò hỏi:

- Thực ra thì câu chuyện đó bắt đầu như thế nào nhỉ?

Tướng Hùng Phong tợp một hớp rượu rồi kể.

- Chuyện cũng chẳng có gì li kì. Hồi đó ông Báo là người được sư đoàn phân công đi kèm để tiếp tục bồi dưỡng mấy anh em chúng mình khả năng thuyết trình, báo cáo thành tích và kể chuyện chiến đấu của bộ đội đường 9 - Nam Lào. Thanh thường cùng đi với Lý Hảo Hảo đến Trạm 66 thăm mình vì hồi đó hai người cùng học năm cuối tại trường đại học Ngoại thương. Hảo thì có tài buôn bán đã đành, nhưng còn Thanh thì vì ông bố đang làm tham tán thương mại ở bộ ngoại giao nên cũng bắt con gái bỏ trường sư phạm sang học nghề buôn bán quốc tế. Vì thế nên hai bạn ấy cặp kè với nhau ctĩng là điều dể hiểu. Khổ nỗi, mình thì mê cô Thanh mà ông Báo thì cũng biết mình đã hứa hôn với cơn gái một vị thủ trưởng lớn rồi nên kèm dữ quá. Vì thế nên mình và Thanh mới lập mưu giới thiệu Lý Hảo Hảo cho ông ấv để ông ấy có người trò chuyện mà lơi lỏng cho đôi chút.

Ai ngờ ngay cả một người sắt đá như ông Báo mà đến khi bập vào chuyện ái tình thì cũng không còn biết trời đất gì nữa. Vì thế, đến khi mình cưới Hoan thì ông Báo cũng vội vã cưới Lý Hảo Hảo trước khi trở vào sư đoàn để đi B dài! Tuy là yêu đương vội vàng, sống sít như vậy nhưng hình như họ cũng rất hạnh phúc. Năm bảy mươi lăm, giải phóng miền Nam xong ông Báo được về phép thì đã thấy có một ông Báo con ở nhà rồi. Năm sau họ có thêm đứa con gái thứ hai. Chính uỷ trung đoàn Lương Xuân Báo thì đã trở thành chủ nhiệm chính trị rồi sau đó thành chính uỷ sư đoàn. Mấy năm sau ông ấy chuyển sang sư đoàn khác nhưng cũng có mặt trong đội hình chiến đấu của mặt trận Tây Nam bảo vệ biên giới với mình. Đến thời điểm ấy thì ở miền Bắc xảy ra vụ người Hoa bị kích động rời bỏ Tổ Quốc. Bà Hảo cắp hai con ra đi, sau đó xảy ra chuyện gì với chính ủy Báo thì ông cũng đã biết rồi... Và cuộc tình của họ thế là chấm dứt.

Giáo sư Trương Đình Lân nâng li rượu lên trầm ngâm nói:

- Đó cũng là một câu chuyện tình buồn của thế kỉ hai mươi, phải không cậu?

- Một câu chuyện tình buồn... đúng vậy. - Tướng Hùng Phong gật đầu rồi quay sang giáo sư Lân, giọng da diết:

- Nhưng các ông may mắn hơn tôi là không phải chứng kiến nỗi buồn của chính uỷ Lương Xuân Báo khi phải rời quân ngũ. Đó mới là một nỗi buồn lớn, một đòn quá phũ phàng với ông ấy. Quân đội thì cho về hưu non, vợ thì bỏ về phương Bắc. Vậy mà ông ấy vẫn sống thêm được gần hai chục năm trời nữa thì kể cũng là kì tài.

- Ông ấy sống được là bởi vẫn còn hi vọng.

- Đúng... ông ấy vẫn hi vọng là một ngày nào đó vợ con sẽ trở về... nhưng cuối cùng thì ông ấy cũng không chờ được nữa. Trong khi đó...

Hùng Phong bỗng dừng lại nửa chừng rồi đột ngột lái sang chuyện khác.

- Mà thôi... trong thời khắc chuyển giao sang thiên niên kỉ mới chúng mình không nên nói mãi những chuyện buồn của thế kỉ cũ nữa. Mình... có cái này làm quà năm mới cho ông bạn đây. Nhưng... đừng có cười nhau đấy!

Hùng Phong rụt rè rút từ trong cặp ra một cuộn sách bìa cứng, gáy tròn, lại có thêm cả cái bìa lót màu đỏ loè loè rồi ngượng ngịu nói:

- Mình vừa in xong cuốn sách... Tên sách là Trên hàng rào lửa, nghe có vẻ hơi văn chương, nhưng không phải là loại sách tiểu thuyết như của ông đâu mà chỉ toàn những thứ lí luận quân sự khô khan cả... Lân đọc cho vui. Biết đâu, những tư liệu mình góp nhặt trong này lại chẳng giúp được nhà văn đôi ba tý trong công việc sáng tác.

Một sự khiêm nhường ít thấy ở một người như Hùng Phong. Ông vui vẻ nhận món quà nhưng rồi quên bẵng đi đến nửa tháng sau mới mang ra đọc thử xem cái ông tướng này bày đặt ra chuyện viết lách để làm gì? Gần đây đã có quá nhiều những cuốn hồi kí, tự truyện nhạt nhẽo vô bổ được xuất bản rồi.

Nhưng thật không ngờ, càng đọc, ông Lân lại càng thấy hứng thú. Càng đọc ông lại càng thấy quí ông bạn đồng môn, đồng ngũ của mình. Đây quả là những công trình khảo cứu với những mảng tư liệu rất phong phú đa dạng, với những tổng kết đánh giá khá xác đáng những sự kiện quân sự lớn trong cuộc kháng chiến mà dân tộc ta vừa trải qua. Và, khỉ thật, càng đọc ông lại càng thấy Hùng Phong quả là người có khí chất của một vị tướng, một nhà cầm quân tài ba.

Thế này thì Lương Xuân Báo quả là một con người kiệt xuất! Một người có con mắt xanh, đoán được anh hùng giữa chốn trần ai!

Giáo sư Trương Đình Lân đã đi đến kết luận như vậy sau khi đọc hết cuốn sách của tướng Hùng Phong.

Mà điều đáng ngạc nhiên hơn cả lại ở ngoài bìa sách.

Trên dòng đề tên tác giả, lại không phải là cái tên Hùng Phong nghe vang như tiếng kèn lệnh một thời mà là cái tên rất gần gũi, dễ thương Thiếu tướng - Phạm Xuân Ban.

Vào cái ngày nhận được tin người bạn đồng môn, đồng ngũ của mình vừa ra đi, sau khi gọi hàng chục cuộc điện thoại đi khắp nơi báo tin cho bạn bè, nhà văn kiêm giáo sư Trương Đình Lân đã rón rén đi đến giá sách. Tay ông run lên khi chạm vào cuốn sách có bìa lót màu đỏ sậm như màu máu vừa đông cứng lại trên những vạt đất chiến hào sau mỗi trận ác chiến. Trong lòng ông bỗng trào lên một nỗi xót thương vô hạn, nước mắt ông tự nhiên ứa ra chảy từng giọt, từng giọt lên cuốn sách trận mạc của vị tướng


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 18 Tháng Mười Hai, 2010, 05:42:48 pm
PHẦN THỨ HAI
Trên hàng rào lửa

Mấy lời dẫn cho phần này nhân đọc sách của vị tướng:

Trong tập trước tác của mình tướng Phạm Xuân Ban có một bài khá công phu mang tựa đề “Những trận đánh lớn trên đường số 9”, viết về việc quân đội và nhân dân ta đã đập tan tuyến phòng thủ đường số 9, tuyến phòng thủ được mệnh danh là Hàng rào điện tứ Mắc-na-ma-ra. Trong đó, những dòng mà ông ta viết về tác giả của cái “hàng rào điện tử” này và viên tướng bốn sao Oét-mô-len, tư lệnh quân đội viễn chinh Mỹ ở Việt Nam có thể liệt vào hàng những trang châm biếm quân sự vào loại cay độc và hóm hỉnh bậc nhất.

Chẳng hạn, không biết lấy tư liệu từ nguồn nào Hùng Phong biết được rằng bộ trưởng quốc phòng Mỹ thời kì này, ngài Mắc Na-ma-ra xuất thân từ một nhà kinh doanh, vì thế ngài rất thích và rất giỏi sử dụng khoa thống kê. Cũng vì giỏi sử dụng khoa thống kê mà chỉ qua một ngày khi tổng thống Giôn Xơn tuyên thệ nhậm chức sau khi ông chủ yểu mệnh của Nhà Trắng, ngài Ken-nơ-đi, bị ám sát vào ngày 22-11-1963, bộ trưởng quốc phòng Mắc Na-ma-ra và bộ trưởng ngoại giao Đin Ra-cơ, đã thuyết phục được tổng thống Giôn xơn, rằng ông chủ cũ của mình đã “tính toán sai lầm” khi trước khi chết đã để lại chỉ thị bắt đầu cho rút các cố vấn quân sự Mỹ khỏi Nam Việt Nam từ ngày 3-12 năm đó, và chỉ thị cho Mắc Na-ma-ra lập kế hoạch rút cả đoàn phi công trực thăng, những người lính chiến đấu duy nhất của quân đội Mỹ ở Nam Việt Nam cho tới lúc bấy giờ.

Hình như Ken-nơ-đi đã cảm nhận được sự thất bại không tránh khỏi nếu nước Mỹ tiếp tục dấn sâu vào cuộc chiến ở Nam Việt Nam và đã bắt đầu tính đến phương án đưa nước Mỹ thoát khỏi sự dính líu định mệnh này. Nhưng khi ông chủ cũ của Nhà Trắng vừa nằm xuống thì bộ trưởng Mắc đã quay ngoắt một trăm tám mươi độ, trình với chủ mới rằng “chỉ thị của Ken-nơ-đi không phù hợp với mục tiêu rộng lớn của việc ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản” và thúc giục Giôn- xơn tiếp tục leo thang chiến tranh. Động tác này quả là ngoạn mục, không những chỉ thuyết phục được ông chủ mới của Nhà Trắng tiếp tục cuộc phiêu lưu mà còn vít chặt các ốc vít chiếc ghế bộ trưởng quốc phòng của ngài Mắc khiến ngài “kẹt cứng” tại đó đến tận tháng 2-1968, sau khi cả nước Mỹ bị một cú xốc kinh hồn bởi cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân của cộng sản!

Nghe theo lời khuyên của bộ trưởng quốc phòng, bộ trưởng ngoại giao và những cố vấn thân cận, chỉ sau 48 giờ sau khi nhậm chức, tổng thống Giôn-xơn đã tuyên bố cam kết tiếp tục bảo trợ cho cái gọi là Hội đồng quân nhân cách mạng, những người vừa lật đổ tổng thống Ngô Đình Diệm, đình hoãn việc rút cố vấn quân sự Mỹ. Và chỉ trong vòng ba tháng, bộ sậu diều hâu của Giôn-xơn đã vạch xong kế hoạch can thiệp trực tiếp vào Nam Việt Nam. Chín tháng sau Giôn-xơn đã gửi 23 ngàn quân chiến đấu sang Việt Nam để”vạch một giới tuyến chống chủ nghĩa cộng sản” cách xa bờ biển nước Mỹ 9000 dặm. Và thế là bi kịch của nước Mỹ bắt đầu! Ngày 8 965 đơn vị lính thuỷ đánh bộ Mỹ đầu tiên gồm 13500quân đã tới Việt Nam... Đến giữa năm 1965, số quân Mỹ ở Nam Việt Nam đã lên tới 8500 người! Tài năng thống kê của ngài bộ trưởng Mắc Na-ma-ra đã phát huy tác dụng!

Đến đây xin trích nguyên văn một đoạn trong thiên luận văn quân sự của tướng Phạm Xuân Ban: Tuy nhiên, cũng giống như trong những vớởtuồng cổ của Việt NNam ào lúc này sân khấu chính trị ở Nam Việt Nam cần phải có thêm một kép chính.,loại kép võ bôi mặt đen. Vai diễn này đã thập thò bên cánh gà từ thời cố tổng thống Ken-nơ-đi đến thời điểm này đã nhảy hẳn ra sân khấu và xưng danh.Đó là viên tướng bốn sao Uy-liêm Chai-đơ Oét-mô-len được mô tả là một “công cụ thẳng thừng” một người sinh ra để làm tướng, từng tốt nghiệp trường West Point vào năm 19936 là một sĩ quan pháo binh, từng chiến đấu ở Bắc Phi, ở Sicily, ở Noóc-măng-đi. Từng làm tham mưu trưởng một sư đoàn bộ binh ở Đức năm 1945, sau đó làm thiếu tướng chỉ huy trung đoàn không vận 187ở Triều Tiên... Đầu năm 1966, Oét-mo-len được cử sang giữ chức tổng tư lệnh quân đội viễn chinh Mỹ tại Nam Việt Nam.

Vừa rồi ngài Oét-mo-len đã cho trình làng một cuốn sách thú vị có tựa đề “Bản tưởng trình của một người lính” (A Soldier report). Trong cuốn sách này ngài Oét tự nhận rằng mình đã đi tới “gần sự thật” nhất. Nhưng xem ra cách hiểu về sự thật ngay trong nội bộ nước Mỹ, nội bộ quân đội Mỹ, giữa các tướng tá Mỹ, đã rất khác nhau rồi. Vì vậy, có lẽ còn lâu lắm người Mỹ mới chấp nhận được một sự thật hiển nhiên là họ đã bại trận không phải vì quân đội của họ tồi, mà vì những người chỉ huy của họ không bao giờ hiểu được sức mạnh thật sự của đối phương là ở đâu?

Sau đó tướng Hùng Phong dành khá nhiều trang để phân tích một cách hài ước sự chuyển hướng chiến lược của quân đội Mỹ từ “chiến tranh đặc biệt” sang “chiến tranh cục bộ” với xương sống của chiến lược này là quá trình thực hiện chiến thuật “Tìm và diệt” (Search and Destroy) của đại tướng Oét-mo-len. Tác giả viết rằng... “vì biết bộ trưởng quốc phòng Mắc Na-ma-ra rất thích phép thống kê nên ngài đại tướng Oét cũng biết dùng phép thống kê một cách tài tình để mô tả những thắng lợi về mặt quân sự của quân đội Mỹ từ khi đặt chân tới Nam Việt Nam, hay nói cho chính xác là từ khi ngài Oét chính thức cầm cây gậy chỉ huy quân viễn chinh Mỹ ở Nam Việt Nam” (Thiếu tướng Phạm Xuân Ban - sách đã dẫn).

Trận ra quân rầm rộ nhất theo đúng công thức chiến thuật của Oét-mo-len: sức cơ động + hoả lực tối đa = tiêu hao sinh lực đối phương là trận sư đoàn không vận số 1 vừa chân ướt chân ráo tới Việt Nam đã được tung vào thử sức với chủ lực cộng quân ở thung lũng Ia Đrăng với “con số rất lạc quan” về số lượng đối phương bị tiêu diệt là 1791 người (chính xác đến tận con số lẻ). Tuy vậy tướng Oét cũng phải điền vào cột thống kê bên kia một con số không vui một cách tròn trịa: 300 lính Mỹ đã bỏ mạng trong cuộc “tìm và diệt” ở cái thung lũng tử thần này. Con số này không biết chính xác đến đâu nhưng dường như nó cũng không an ủi được người Mỹ khi so sánh với con số thiệt hại khổng lồ của đối phương nên nhiều tờ báo lớn ở Mỹ vẫn cứ gọi thẳng thừng là “cuộc thảm bại đầu tiên của Sư đoàn không vận số 1”. Có lẽ từ đây, cái mà các sỹ quan Mỹ tại Việt Nam gọi một cách chua cay là “phép đếm xác” bắt đầu trở nên thịnh hành.

Ngay sau khi đưa ra những con số “lạc quan”, đại tướng Oét-mô-len lại sử dụng “phép thống kê” để nêu ra cho bộ trưởng Mắc Na - ma - ra một con số choáng người - không biết căn cứ vào đâu mà ông Oét cho rằng đến tháng 5-1966 quân Bắc Việt Nam đã thâm nhập vào Nam Việt Nam tới 10.000 người và để có thể chế ngự được đội quân trên ông đã đề nghị với tổng thống và bộ trưởng quốc phòng phải cho ông một con số đối trọng là đến cuối năm 1966 ông phải có được trong tay 429.000 quân Mỹ để “bảo đảm chiến thắng”?

Không biết có phải vì bị những phép thống kê thần bí của Oét-mo-len mê hoặc hay không nhưng đến tháng 8-1966, ngoài việc tăng quân thường xuyên, tổng thống Giôn-xơn đã quyết định đưa thêm sư đoàn bộ binh số 4 và lữ đoàn bộ binh nhẹ 196 sang Việt Nam tham chiến! Đáp lại những “ưu ái” của tổng thống và ngài bộ trưởng, tháng 9 năm 1966, đại tướng Oét-mo-len mở một chiến dịch đại qui mô với 30.000 quân được triển khai, tiến công ra vùng Tây Ninh và chiến khu Dương Minh Châu (Chiến khu C) mang tên chiến dịch Et-tơn-bô-rơ kéo dài 72 ngày với kết quả được báo cáo là đã tiêu diệt 1106 cộng quân! Số lính Mỹ bị giết thì không thấy liệt kê chính xác, chỉ biết rằng đến đầu năm 1967, đại tướng Oét- mo-len lại đề nghị với bộ trưởng quốc phòng Mắc Na-ma-ra một con số mới đó là cần phải nhanh chóng đưa số quân Mỹ tham chiến tại Việt Nam lên tới 543.000 người!

Được sự khích lệ của “những con số”, bộ trưởng Mắc Na-ma-ra tiếp tực đẩy mạnh chính sách leo thang chiến tranh. Bước sang năm 1967, đại tướng Oét-mo-len cho mở hàng loạt cuộc hành quân “tìm và diệt” với những cái tên rất gợi cảm như “Cây tuyết tùng rụng lá” tiếp tục càn quét khu Tây Bắc Sài Gòn với sự tham gia của các đơn vị nổi tiếng trong quân lực Hoa Kì như: sư đoàn bộ binh số 1 “Anh cả đỏ”, sư đoàn bộ binh số 25 “Tia chớp nhiệt đới”, Lữ đoàn không vận số 173, trung đoàn kị binh bọc thép số 11... ngay sau đó là chiến dịch mang tên “Nối liền thành phố” huy động tới 249 trực thăng chiến đấu, đây là một cuộc phiêu lưu nhằm “tiêu diệt trung ương cục miền Nam “của cộng sản mà bản quyết toán của nó được các trợ lí của Oét-Mo-len tô vẽ tới mức chính bộ trưởng Mắc Na-ma-ra cũng phải thốt lên rằng: “Nếu nh ững con số này chỉ phản ánh đúng thực tế 50 % thôi thì chúng ta cũng có cơ sở để mà lạc quan”. Đến tháng 7 Oét-mo-len lại xua quân lên Bắc Tây Nguyên mở một chiến dịch lớn ở vùng Đắc Tô - Sa Thày với tên gọi cũng không kém khoa trương là “Trận chiến vì cao nguyên”, được mô tả là một trong những cuộc ra quân lớn nhất của quân đội Mỹ trong cuộc chiến tranh ở Nam Việt Nam. Vào thời điểm này thì ngay ở nước Mỹ người ta cũng không còn quan tâm tới các con số được văn phòng tướng Oét-mo-len đưa ra nữa, tuy vậy con số 40 trực thăng bị bắn rụng trong chiến dịch này tuy không được công khai tuyên bố mà chỉ do một nhà báo Mỹ “tăm” được và tung ra thì lại gây nên một cú sốc lớn cho công chúng Mỹ, bởi vì ai cũng biết vào thời điểm này trên thị trường vũ khí Mỹ, một chiếc trực thăng chiến đấu có giá 250.000 đô la.

Tháng mười một năm 1967 đại tướng Oét-mo-len về Oa-sinh-tơn gặp tổng thống và bộ trưởng quốc phòng mang theo một bản quyết toán khá bi quan với một con số mà ông Mắc Na-ma-ra, người vẫn tin rằng “mọi con số đều biêt nói” cũng phải rùng mình, đó là chỉ riêng trong năm đã có tới 9377 lính Mỹ bị chết trận tại Việt Nam. Tay phải chìa ra con số thương vong thì tay trái tướng Oét lại chìa ra một con số khác đó là xin thêm 75.000 q uân Mỹ cho cái bụng không đáy là chiến trường Việt Nam (Thiếu tướng Phạm Xuân Ban - Sách đã dẫn).

Có vẻ như những cuộc hành quân “tìm diệt” của tướng Oét-mo-len đã tạo cho Nhà Trắng một niềm hi vọng. Và trò chơi của những con số vẫn cứ tiếp tục.

Nhưng có lẽ những con số được cập nhật thường xuyên về một con đường mòn mang tên Đường mòn Hồ Chí Minh khiến bộ trưởng Mắc Na-ma-ra ăn không ngon ngủ không yên. Mặc dù các chuyên gia tài ba của Lầu Năm Góc với sự trợ giúp của máy tính điện tử có thể biết rành rẽ mọi ngõ ngách của 3.500 dặm thuộc hệ thống “đường mòn” nhưng vẫn không sao chặn đứng được sự xâm nhập của quân đội Bắc Việt vào Nam Việt Nam, và nhất là không thể ngăn chặn được sự cung cấp hậu cần một cách bền bỉ của miền Bắc cho các đơn vị đang chiến đấu với quân đội Hoa Kì tại Nam Việt Nam. Tất cả các loại hoả lực từ bom phát quang Daisy Cutters có trọng lượng tới 15.000 bảng Anh (7 tấn) có thể phát quang cả một ngọn đồi rộng 300 bộ, tương đương với một sân bóng đá, đến những loại bom napan, bom thông minh, mìn nhảy Betty, bom răng rồng, cây nhiệt đới... Tất cả các loại máy bay ném bom chiến lược, chiến thuật hiện đại nhất cho đến trực thăng chiến đấu, máy bay vận tải AC130 đều đã được xử dụng để bịt “cái miệng phễu” nhưng thẩy đều vô hiệu! Các chuyên gia quân sự Mỹ lại trình lên bộ trưởng Mắc Na-ma-ra những con số tính toán rất nản lòng: Tổn phí cho việc ném bom trên “đường mòn” gấp 10 1ần so với sự thiệt hại của đối phương. Ước tính B52 thả 300 quả bom mới giết được một Việt cộng.

... Tới đây tướng Phạm Xuân Ban dẫn lời nhận định của một chuyên gia kế hoạch của Lầu Năm Góc tên là E. I-a-mô-lin-xki về “con đường mòn ma quái này” như sau:

“... Sau nhiều tháng tham gia nghiên cứu làm việc với một nhóm chuyên gia, một ban tham mưu có vai vế chúng tôi thấy Bắc Việt Nam như một cái phễu khổng lồ tuồn các đồ tiếp tế qua các ngả đường mòn Hồ Chí Minh. Nhóm chúng tôi có tìm hiểu hiệu quả việc đánh bom những con đường này. Điều mà chúng tôi kết luận sau khi đã thử hết mọi cách mà chúng tôi có thể nghĩ ra được - là không có cách nào!”.

Nhưng chẳng lẽ lại chịu bó tay? Tại Oa-sinh-tơn có hàng chục bản kế hoạch được đưa ra để bịt chặt đường mòn Hồ Chí Minh, thậm chí có những kế hoạch rất hài hước như thay vì rải bom dự định sẽ “rải bia hộp” dọc đường mòn để đầu độc đối phương hòng làm cho họ “ngất ngư” mà chậm bước chân hành quân vể Nam?

Đại tướng Oét-mo-len cũng có một kế hoạch đại qui mô là dùng một lực lượng khổng lồ cỡ một quân đoàn đánh thẳng sang Lào, phá tan các cơ sở hậu cần phục vụ con đường mòn ma quái này. Kế hoạch phiêu lưu này của tướng Oét đã bị tổng thống Giôn-xơn bác bỏ thẳng thừng vì ông ta không muốn mở rộng qui mô chiến đấu của quân đội Mỹ trên toàn cõi Đông Dương.

(Vậy mà đến năm 1971- Khi vừa thực thi chiến lược Việt Nam hoá, không hiểu ma xui quỉ khiến thế nào mà quân đội ngụy Sài Gòn lại dám thực hiện cuộc phiêu lưu ấy để chuốc lấy thảm bại?).

Cuối cùng cũng đã có một phương án được chọn. Đó là phương án do đích thân ngài bộ trưởng Mắc Na-ma-ra đề xuất. Lập một phòng tuyến kiểm soát từ xa, dùng những phương tiện kĩ thuật hiện đại nhất cộng với hoả lực tối đa để ngăn chặn sự xâm nhập của Bắc Việt - đó chính là phòng tuyến Mắc Na-ma-ra có chiều dài 100 cây số chạy song song với sông Bến Hải từ bờ biển Đông tới Sê-pôn trên đất Lào. Có chiều rộng 20 kilômét từ Nam vĩ tuyến 17 tới đường chín. Trên phòng tưyến này sẽ xây dựng một hệ thống đồn bốt dày đặc, cứ 2 kilômét có một tháp canh, 4 kilômét có một căn cứ đồn trú cỡ một đại đội hoặc một tiểu đoàn.

Bố trí một hệ thống lô cốt, hầm hào kiên cố, hàng chục lớp rào kẽm gai dày đặc xen kẽ với đủ các loại mìn bẫy và hệ thống đèn pha, đèn chiếu sáng. Đặc biệt, phòng tưyến sẽ có một hệ thống chỉ huy thống nhất, sẽ được trang bị những phương tiện thông tin hiện đại, được trang bị hệ thống quan sát và trinh sát điện tử thế hệ mới nhất của quan đội Hoa Kì như cây nhiệt đới, máy hít hơi người, máy dò tìm tần số vô tuyến điện, hệ thống ra đa mắt thần, máy quan sát ban đêm bằng tia hồng ngoại... phòng tuyến sẽ có hệ thống các trận địa pháo, hệ thống chỉ huy hoả lực hỗn hợp và một lực lượng cơ động mạnh, trang bị đến tận răng để tiến hành những cuộc hành quân chớp nhoáng, phản ứng nhanh, nhằm bịt những “lỗ hổng” trên phòng tuyến khi cần thiết...

Cũng không mấy ai hiểu vì sao mà tuyến phòng thủ này lại có cái tên mỹ miều là Hàng rào điện tử Mắc Na-ma-ra? Dự tính chi phí cho cái “hàng rào” này cũng cực đắt - khoảng một tỷ đô la, nhưng Nhà Trắng đã sẵn sàng mở hầu bao vì tin rằng “nhà kinh doanh tài chính” Mắc Na-ma-ra nhất định đã tính toán chi li và sẽ không chịu lỗ vốn!


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 18 Tháng Mười Hai, 2010, 05:45:42 pm
Cùng với tiền của và công nghệ chiến tranh điện tử, tướng Oét-mo-len đã điều tới chiến trường này những đơn vị sừng sỏ nhất của quân đội Mỹ như sư đoàn thuỷ quân lục chiến số 1và sư đoàn thuỷ quân lục chiến số 3, nhiều đơn vị pháo binh và xe tăng cùng với sư đoàn 1 ngụy quân Sài Gòn và 3 chiến đoàn biệt động quân với tổng quân số lên tới gần 40 ngàn quân với ý đồ làm thành một “bức tường thép” một “hàng rào điện tử” hòng ngăn chặn sự xâm nhập của chủ lực Bắc Việt vào miền Nam và bịt chặt con đường chi viện hậu cần cho chiến trường miền Nam từ miền Bắc.

Mưu toan dựa vào trục đường số 9 để thiết lập một “hàng rào” ngăn chặn hòng vô hiệu hoá hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh là một ý đồ chiến lược ngây thơ của Nhà Trắng và Lầu Năm Góc. Bởỉ vì bất kì một hệ thống “hàng rào” nào, dù là “điện tử” đi chăng nữa cũng là một hệ thống phòng thủ cứng nhắc, làm sao có thể đối phó được với sự thiên biến vạn hóa của hệ thống những con đường ra trận mang tên Hồ Chí Minh của dân tộc ta? (Thiếu tướng Phạm Xuân Ban - Sách đã dẫn).

Dĩ nhiên đây là những lời bình giá của ông tướng Hùng Phong Phạm Xuân Ban, người đại diện cho phe chiến thắng và đã có độ lùi vài chục năm để mà suy nghĩ ngẫm về kẻ thù của mình chứ không phải những ý nghĩ của tiểu đội trưởng Hùng Phong trong những ngày vừa chân ướt chân ráo vào chiến trường, chuẩn bị bước vào những trận thử lửa đầu tiên. Cũng lạ là chen vào giữa những trang luận văn quân sự hào sảng của tướng quân Phạm Xuân Ban, nhà văn Trương Đình Lân vẫn tìm được những dòng “trữ tình ngoại đề” khá chân thành như sau:

... Hồi đó khi chúng tôi có mặt tại chiến trường Đường 9 - Bắc Quảng Trị thì cái gọi là “Hàng ào điện tử Mắc Na-ma-ra" còn chưa xây dựng xong nhưng đã bị đánh tơi bời, te tua phải liên tục vá víu từng đoạn một. Sau hơn một năm đối mặt với quân đội Mỹ trên chiến trường miền Nam, chúng ta cũng không còn phải băn khoăn về cái điều rằng thằng Mỹ là một thằng giặc như thế nào? Liệu có thể đánh, có cách để đánh thắng chúng không? Những câu hỏi đó trên bình diện toàn cục thì đã có câu trả lời. Trên tất cả các chiến trường, các mặt trận chúng ta đã đánh Mỹ và thắng Mỹ, nhưng với cán bộ, chiến sỹ sư đoàn Hồng Bàng chúng tôi ngày ấy thì những câu hỏi về kẻ địch mà mình sắp sửa phải đốíimặt vẫn còn đó. Vớí chúng tôi, quân đội Mỹ vẫn còn là một đội quân xa lạ, cần phải được tìm hiểu một cách cụ thể chi li. Nhưng có lẽ cách “tìm hiểu “hay nhất, nhanh nhất” vẫn là nhanh chóng được trực tiếp đối mặt với chúng. Chẳng có trường học nào giúp người lính nhận diện kẻ thù nhanh hơn nơi chiến hào máu lửa”. - (Thiếu tướng Phạm Xuân Ban, sách đã dẫn).
1

Lân cũng không ngờ rằng ngay khi đơn vị mới hành quân vào tới chiến trường thì nhiệm vụ của những người lính trinh sát đã bắt đầu. Sau hơn một tháng trời đẵng đẵng hành quân, lính tráng anh nào anh nấy đều gầy rộc, hốc hác trông đến là thê thảm.

Những tưởng sẽ được nghỉ xả hơi ít bữa thì ngay sáng hôm sau đã có lệnh tập trung tất cả trinh sát các tiểu đoàn về trung đoàn để cùng với cán bộ chỉ huy từ tiểu đoàn trở lên đi địa hình. Dầu sao thì bản mệnh lệnh cũng có một khoản khá dễ chịu là “khi đi các trinh sát viên mang vác gọn nhẹ và... không mang theo mũ sắt”!

Tiểu đội trưởng Ngạn bị ngã trẹo cẳng, bong gân bàn chân phải trong chặng hành quân cuối cùng nên vào buổi chiều trước ngày đi trinh sát, Lân được tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh gọi lên giao nhiệm vụ:

- Cậu sẽ thay cậu Ngạn chỉ huy anh em đi trinh sát cùng với đoàn cán bộ chỉ huy của tiểu đoàn. Địa hình ở khu vực tác chiến của trung đoàn rất phức tạp nên các cậu phải lưu ý và ghi nhớ từng khu vực, từng cao điểm, từng con đường. Nay mai dẫn bộ đội vào chiếm lĩnh trận địa mà đi lạc thì các cậu sẽ ăn đòn đấy!

Nói rồi tiểu đoàn trưởng trịnh trọng giao cho Lân một tập bản đồ:

- Cậu cầm lấy tập bản đồ này và nghiên cứu trước đi. Trên bản đồ có đánh dấu các khu vực mà chúng ta sẽ phải “đạp” trong những ngày tới. Bí mật quân sự đấy, ngoài cậu ra không ai được ngó vào, kể cả cậu Ngạn!

Nhìn ánh mắt sắc lạnh của tiểu đoàn trưởng, Lân hiểu rằng đây là một sự uỷ thác quan trọng mà anh không thể lơ là. Anh thận trọng ôm tập bản đồ vào ngực như ôm một khối thuốc nổ, rồi vội trở về hầm của mình. Vào đúng lúc đó, sương mù lại ùn ùn kéo tới dày đặc khiến phải mất một lúc lâu Lân mới nhận ra lối mòn trở về căn hầm của tiểu đội trinh sát.

Đó là một căn hầm kèo đủ tiêu chuẩn tránh bom đạn, phía trước có công sự chiến đấu cho một tổ ba người. Trong gần chục ngày của chặng hành quân cuối cùng kể từ khi đơn vị rời tuyến đường giao liên Trường Sơn để vào tuyến đường riêng của mặt trận, hễ dừng chân là bộ đội đều được lệnh phải đào đủ hầm trú ẩn và công sự chiến đấu, mà lệnh trên nêu rõ rằng tất cả các đơn vị phải xây dựng hệ thống hầm trú ẩn, hầm chiến đấu y như là xây dựng một trận địa chốt chứ không phải chỉ là nơi dừng chân. Có hôm tới mười hai giờ đêm bộ đội mới đào xong hầm, ngủ được vài tiếng lại bị dựng dậy tiếp tục hành quân, nhìn căn hầm tốn bao công sức đào đất chặt cây để dựng nên mà tiếc hùi hụi. Cũng không ít lời càu nhàu ca thán của lính “Các cụ nhà mình lẩn thẩn hay sao mà hôm nào cũng bắt lính è lưng ra đào hầm để rồi chỉ trú chân có một đêm thôi là thế nào nhỉ?”. Có anh tỏ ra hiểu biết hơn thì nói “Các cụ rèn quân đấy. Sắp đến chiến trường rồi mà. Phải tập đào tập dũi dần đi cho quen!”.

Suốt bảy đêm liền xây dựng hầm hào công sự rồi lại hành quân như vậy, ngay cả tiểu đoàn trưởng cũng không biết đơn vị thực sự sẽ dừng lại ở đâu. Đến cuối ngày thứ tám, đơn vị dừng lại trong mưa phùn, trên lưng chừng một cao điểm mù sương và được lệnh dừng lại đào hầm trú quân. Tất cả lại diễn ra đúng như bảy ngày trước đó, năm giờ sáng hôm sau bộ đội đã trở dậy, gói ghém quân trang đồ đạc nai nịt súng đạn, nhận mỗi người hai nắm cơm và một bi đông nước rồi ngồi ngủ gật ở cửa hầm chờ lệnh hành quân. Nhưng chờ mãi vẫn không thấy có lệnh trạng gì. Đến tận tám giờ sáng mới thấy liên lạc gọi các trung đội trưởng lên gặp ban chỉ huy đại đội hội ý. Rồi nửa tiếng sau, cả tiểu đoàn mới biết rằng họ đã tới chiến trường, chấm dứt chuỗi ngày hành quân dằng dặc và chuẩn bị bước vào chiến đấu.

Cái cao điểm mù sương này được xây dựng thành “kiềng”, nghĩa là một khu hậu cứ của đơn vị. Đến trưa hôm đó, khi sương tan thì mọi người mới thực sự tin là họ đã tới chiến trường bởi từ trên sườn núi chót vót mà họ đang giấu quân nhìn về phía Nam đã thấy con đường số 9 chạỵ ngoằn ngèo uốn lượn qua thung lũng như như một con rắn khổng lồ. Tiếng pháo địch nổ ì oành lúc xa, lúc gần. Tiếng trực thăng phành phạch ngay trên đầu, máy bay trinh sát OV10 vo ve suốt ngày, từ khi sương tan đến lúc mặt trời lặn. Thi thoảng từ tít trên trời cao “cái bừa biết bay ấy” lại phóng vu vơ xuống núi rừng một quả đạn khói chỉ vài phút sau, pháo địch lập tức bắn vào nơi vừa được chỉ điểm. Toàn tiểu đoàn được lệnh phải nguỵ trang thật kín và không được phép đi lại lộn xộn kèm theo lời cảnh báo rõ ràng nhất của tiểu đoàn trưởng “Nếu để lộ nơi trú quân thì sẽ ăn bom ăn pháo của địch ngay lập tức!”.

Khi Lân về tới hầm thì tiểu đội trưởng Ngạn đang nằm trên chiếc võng mắc ngay trước cửa hầm, cái chân bị bong gân vẫn còn sưng vù, gác lên võng.

- Ra đây nằm cho thoáng. Trong hầm ngộp thở quá!

Lân nhìn chiếc võng rồi nhìn lên trời:

- Liệu... bọn nó có nhìn thấy gì không?

- Thấy thế nào được? Rừng chỗ này còn dày lắm - Ngạn nói rồi chỉ lên những tán lá ken dày trên đầu.

- Thấy bảo, bọn Mỹ có loại kính gì đó có thể nhìn thấu qua cả rừng rậm đấy!

- Nói phét! Làm đếch gì có thứ kính ấy? Nếu có, chúng nó chẳng phải rải chất độc làm trụi lá rừng làm gì.

Lân ôm tập bản đồ định chui vào hầm thì Ngạn gọi giật trở lại:

- Này, được cấp bản đồ rồi đấy à? Đưa tớ xem xem bọn mình giờ đang ở chỗ nào?

Lân nhìn tiểu đội trưởng ngập ngừng - Nhưng mà tiểu đoàn trưởng dặn không được cho ai xem. Trong này đã có ghi chú mục tiêu rồi!

- Vớ vẩn? - Ngạn chồm dậy - bí mật với ai chứ bí mật với lính trinh sát thế nào được. Đưa tớ xem nào.

Lân đành phải miễn cưỡng đưa tập bản đồ bọc ni lon cho tiểu đội trưởng. Ngạn rải ngay tấm bản đồ lên võng, rồi vẫy tay bảo:

- Lại đây... đưa cho mình mượn cái địa bàn!

Lân móc chiếc địa bàn trong bao đồ đeo quanh người đưa cho Ngạn. Anh ta dóng địa bàn, xoay ngược xoay xuôi tấm bản đồ một lát rồi chau mày hỏi Lân:

- Cậu có xác định được chỗ mình đang đứng chân không?

Lân khom người xuống sát tấm bàn đồ nhìn một lúc lâu rồi lắc đầu:

- Chịu chưa xác định được. Hình như... bọn mình đang ở phía Bắc dãy núi này thì phải.

Lân chỉ đại một dãy cao điểm. Ngạn lại xoay ngang xoay dọc bản đồ một lát rồi hỏi:

- Chắng lẽ... lại gần địch thế rồi kia à?

- Gần rồi đấy... đêm qua, khi dậy đổi gác, tôi nghe thấy cả tiếng súng máy - Lân trả lời rồi hỏi sang chuyện khác cái chân của anh sao rồi?

- Vẫn còn đau. Mẹ khỉ, sao nó lại đau vào đúng lúc này kia chứ. - Anh nhăn nhó nhìn xuống bàn chân sưng vù của mình - lúc nãy ông Điệp y sĩ có tới xem, báo rằng khớp khiếc không việc gì, chỉ bong gân thôi. Rồi ông ấy bóp thuốc cho một lát. Chẳng biết có ăn thua gì không?

- Anh cứ yên tâm mà nghỉ vài ngày. Rồi nó sẽ khỏi thôi mà. Hồi bé, tôi cững bị bong gân vài ba lần rồi. Nhưng ông nội tôi có mấy bài thuốc chữa bong gân, sai khớp gãy xương hay lắm. Tiếc là hồi ở nhà tôi lại chẳng chịu học lấy vài bài.

Tiểu đội trưởng Ngạn vẫn băn khoăn:

- Nhưng mình là tiểu đội trưởng trinh sát mà lại không đi địa hình được thì nay mai biết đường nào mà phục vụ cho chỉ huy?

- Tôi đi thay anh cũng được mà... - Lân chợt nhớ ra một điều - mà này, tiểu đoàn trưởng nói để lại một tổ trực ở nhà. Theo anh, nên để lại những ai?

- Thằng Vững, đồng hương của cậu mới được bổ sung cho tiểu đội, còn lớ ngớ lắm, nên để nó ở nhà. Thằng Toán vừa cắt sốt, còn mệt cũng nên để lại. Ngoài ra, cũng cần phải để ở nhà một tổ trưởng cứng cáp một tý phòng khi có chuyện.

- Thằng Vượng nhé? - Lân hỏi

- Không, thằng này người Mường, đi rừng giỏi, nhớ đường ban đêm tài lắm. Nên cho nó đi. Để lại thằng Cừ cũng được.

- Vậy để tôi đi kêu chúng nó tới cả đây nghe anh quán triệt rồi làm công tác chuẩn bị ngay. Chiều tối nay lên đường rồi.

Nửa tiếng sau cả mười hai người của tiểu đội trinh sát đã tập hợp đủ trước cửa hầm của tiểu đội trưởng.

Ngạn ngồi trên võng nói với mọi người:

- Chiều nay tiểu đội chúng ta sẽ lên đường đi làm nhiệm vụ chuẩn bị chiến trường. Tôi bị đau chân không đi được, anh Lân sẽ chỉ huy anh em. Ngoài tôi ra, tiểu đoàn yêu cầu để lại ba đồng chí trực sẵn sàng chiến đấu tại hậu cứ. Chúng tôi đã quyết định để các đồng chí Cừ, Toán, Vững ở lại. Các đồng chí có ý kiến gì không?

Toàn tiểu đội im lặng một 1úc rồi Cừ giơ tay xin nói:

- Tôi có ý kiến... tôi xin được đi trinh sát cùng tiểu đội đợt này.

- Không được - Ngạn cương quyết gạt đi - đồng chí phải ở lại làm nòng cốt cho tổ hậu cứ.

- Nhưng sao lại là tôi? - Cừ nổi nóng - chẳng lẽ tôi kém cỏi lắm hay sao mà phải nằm lại hậu cứ?

- Cả tiểu đoàn còn nằm tại đây cơ mà. Nếu ai cũng đòi đi thì lấy ai làm nhiệm vụ ở đây khi cần thiết!

Mọi người im lặng nhìn nhau. Bỗng một người đứng dậy lên tiếng:

- Nếu... anh Cừ muốn đi thì... tôi xin tình nguyện ở lại hậu cứ cho. Mấy hôm nay... cái bụng của tôi cũng không được ổn lắm.

Ngạn và Lân cùng quay lại nhìn Thì ra đó là Khải, một trong ba tổ trưởng của tiểu đội. Ngạn nhìn thẳng vào mắt Khải giây lâu rồi nói:

- Được rồi. Đồng chí Khải sẽ ở lại, nhưng đồng chí Cừ vẫn phải ở nhà để phụ trách tổ này. Tôi còn đau chân, khi cần thiết không thể chỉ huy được. Còn cậu Khải thì đau bụng, phải không?

Vững rụt rè đưa tay lên - Vậy, các anh cho em đi với anh Lân, được không?

Lân chưa kịp trả lời thì Ngạn đã gật đầu:

- Được cho cậu Vững đi cũng được, lính mới cũng cần học hỏi. Thế nhé, chấm dứt cuộc họp ở đây. Anh em về chuẩn bị quân tư trang thật gọn nhẹ. Ba giờ chiều tập hợp tại đây tôi kiểm tra trước lúc lên đường.


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 18 Tháng Mười Hai, 2010, 05:47:28 pm
Cùng với tiền của và công nghệ chiến tranh điện tử, tướng Oét-mo-len đã điều tới chiến trường này những đơn vị sừng sỏ nhất của quân đội Mỹ như sư đoàn thuỷ quân lục chiến số 1và sư đoàn thuỷ quân lục chiến số 3, nhiều đơn vị pháo binh và xe tăng cùng với sư đoàn 1 ngụy quân Sài Gòn và 3 chiến đoàn biệt động quân với tổng quân số lên tới gần 40 ngàn quân với ý đồ làm thành một “bức tường thép” một “hàng rào điện tử” hòng ngăn chặn sự xâm nhập của chủ lực Bắc Việt vào miền Nam và bịt chặt con đường chi viện hậu cần cho chiến trường miền Nam từ miền Bắc.

Mưu toan dựa vào trục đường số 9 để thiết lập một “hàng rào” ngăn chặn hòng vô hiệu hoá hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh là một ý đồ chiến lược ngây thơ của Nhà Trắng và Lầu Năm Góc. Bởỉ vì bất kì một hệ thống “hàng rào” nào, dù là “điện tử” đi chăng nữa cũng là một hệ thống phòng thủ cứng nhắc, làm sao có thể đối phó được với sự thiên biến vạn hóa của hệ thống những con đường ra trận mang tên Hồ Chí Minh của dân tộc ta? (Thiếu tướng Phạm Xuân Ban - Sách đã dẫn).

Dĩ nhiên đây là những lời bình giá của ông tướng Hùng Phong Phạm Xuân Ban, người đại diện cho phe chiến thắng và đã có độ lùi vài chục năm để mà suy nghĩ ngẫm về kẻ thù của mình chứ không phải những ý nghĩ của tiểu đội trưởng Hùng Phong trong những ngày vừa chân ướt chân ráo vào chiến trường, chuẩn bị bước vào những trận thử lửa đầu tiên. Cũng lạ là chen vào giữa những trang luận văn quân sự hào sảng của tướng quân Phạm Xuân Ban, nhà văn Trương Đình Lân vẫn tìm được những dòng “trữ tình ngoại đề” khá chân thành như sau:

... Hồi đó khi chúng tôi có mặt tại chiến trường Đường 9 - Bắc Quảng Trị thì cái gọi là “Hàng ào điện tử Mắc Na-ma-ra" còn chưa xây dựng xong nhưng đã bị đánh tơi bời, te tua phải liên tục vá víu từng đoạn một. Sau hơn một năm đối mặt với quân đội Mỹ trên chiến trường miền Nam, chúng ta cũng không còn phải băn khoăn về cái điều rằng thằng Mỹ là một thằng giặc như thế nào? Liệu có thể đánh, có cách để đánh thắng chúng không? Những câu hỏi đó trên bình diện toàn cục thì đã có câu trả lời. Trên tất cả các chiến trường, các mặt trận chúng ta đã đánh Mỹ và thắng Mỹ, nhưng với cán bộ, chiến sỹ sư đoàn Hồng Bàng chúng tôi ngày ấy thì những câu hỏi về kẻ địch mà mình sắp sửa phải đốíimặt vẫn còn đó. Vớí chúng tôi, quân đội Mỹ vẫn còn là một đội quân xa lạ, cần phải được tìm hiểu một cách cụ thể chi li. Nhưng có lẽ cách “tìm hiểu “hay nhất, nhanh nhất” vẫn là nhanh chóng được trực tiếp đối mặt với chúng. Chẳng có trường học nào giúp người lính nhận diện kẻ thù nhanh hơn nơi chiến hào máu lửa”. - (Thiếu tướng Phạm Xuân Ban, sách đã dẫn).
1

Lân cũng không ngờ rằng ngay khi đơn vị mới hành quân vào tới chiến trường thì nhiệm vụ của những người lính trinh sát đã bắt đầu. Sau hơn một tháng trời đẵng đẵng hành quân, lính tráng anh nào anh nấy đều gầy rộc, hốc hác trông đến là thê thảm.

Những tưởng sẽ được nghỉ xả hơi ít bữa thì ngay sáng hôm sau đã có lệnh tập trung tất cả trinh sát các tiểu đoàn về trung đoàn để cùng với cán bộ chỉ huy từ tiểu đoàn trở lên đi địa hình. Dầu sao thì bản mệnh lệnh cũng có một khoản khá dễ chịu là “khi đi các trinh sát viên mang vác gọn nhẹ và... không mang theo mũ sắt”!

Tiểu đội trưởng Ngạn bị ngã trẹo cẳng, bong gân bàn chân phải trong chặng hành quân cuối cùng nên vào buổi chiều trước ngày đi trinh sát, Lân được tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh gọi lên giao nhiệm vụ:

- Cậu sẽ thay cậu Ngạn chỉ huy anh em đi trinh sát cùng với đoàn cán bộ chỉ huy của tiểu đoàn. Địa hình ở khu vực tác chiến của trung đoàn rất phức tạp nên các cậu phải lưu ý và ghi nhớ từng khu vực, từng cao điểm, từng con đường. Nay mai dẫn bộ đội vào chiếm lĩnh trận địa mà đi lạc thì các cậu sẽ ăn đòn đấy!

Nói rồi tiểu đoàn trưởng trịnh trọng giao cho Lân một tập bản đồ:

- Cậu cầm lấy tập bản đồ này và nghiên cứu trước đi. Trên bản đồ có đánh dấu các khu vực mà chúng ta sẽ phải “đạp” trong những ngày tới. Bí mật quân sự đấy, ngoài cậu ra không ai được ngó vào, kể cả cậu Ngạn!

Nhìn ánh mắt sắc lạnh của tiểu đoàn trưởng, Lân hiểu rằng đây là một sự uỷ thác quan trọng mà anh không thể lơ là. Anh thận trọng ôm tập bản đồ vào ngực như ôm một khối thuốc nổ, rồi vội trở về hầm của mình. Vào đúng lúc đó, sương mù lại ùn ùn kéo tới dày đặc khiến phải mất một lúc lâu Lân mới nhận ra lối mòn trở về căn hầm của tiểu đội trinh sát.

Đó là một căn hầm kèo đủ tiêu chuẩn tránh bom đạn, phía trước có công sự chiến đấu cho một tổ ba người. Trong gần chục ngày của chặng hành quân cuối cùng kể từ khi đơn vị rời tuyến đường giao liên Trường Sơn để vào tuyến đường riêng của mặt trận, hễ dừng chân là bộ đội đều được lệnh phải đào đủ hầm trú ẩn và công sự chiến đấu, mà lệnh trên nêu rõ rằng tất cả các đơn vị phải xây dựng hệ thống hầm trú ẩn, hầm chiến đấu y như là xây dựng một trận địa chốt chứ không phải chỉ là nơi dừng chân. Có hôm tới mười hai giờ đêm bộ đội mới đào xong hầm, ngủ được vài tiếng lại bị dựng dậy tiếp tục hành quân, nhìn căn hầm tốn bao công sức đào đất chặt cây để dựng nên mà tiếc hùi hụi. Cũng không ít lời càu nhàu ca thán của lính “Các cụ nhà mình lẩn thẩn hay sao mà hôm nào cũng bắt lính è lưng ra đào hầm để rồi chỉ trú chân có một đêm thôi là thế nào nhỉ?”. Có anh tỏ ra hiểu biết hơn thì nói “Các cụ rèn quân đấy. Sắp đến chiến trường rồi mà. Phải tập đào tập dũi dần đi cho quen!”.

Suốt bảy đêm liền xây dựng hầm hào công sự rồi lại hành quân như vậy, ngay cả tiểu đoàn trưởng cũng không biết đơn vị thực sự sẽ dừng lại ở đâu. Đến cuối ngày thứ tám, đơn vị dừng lại trong mưa phùn, trên lưng chừng một cao điểm mù sương và được lệnh dừng lại đào hầm trú quân. Tất cả lại diễn ra đúng như bảy ngày trước đó, năm giờ sáng hôm sau bộ đội đã trở dậy, gói ghém quân trang đồ đạc nai nịt súng đạn, nhận mỗi người hai nắm cơm và một bi đông nước rồi ngồi ngủ gật ở cửa hầm chờ lệnh hành quân. Nhưng chờ mãi vẫn không thấy có lệnh trạng gì. Đến tận tám giờ sáng mới thấy liên lạc gọi các trung đội trưởng lên gặp ban chỉ huy đại đội hội ý. Rồi nửa tiếng sau, cả tiểu đoàn mới biết rằng họ đã tới chiến trường, chấm dứt chuỗi ngày hành quân dằng dặc và chuẩn bị bước vào chiến đấu.

Cái cao điểm mù sương này được xây dựng thành “kiềng”, nghĩa là một khu hậu cứ của đơn vị. Đến trưa hôm đó, khi sương tan thì mọi người mới thực sự tin là họ đã tới chiến trường bởi từ trên sườn núi chót vót mà họ đang giấu quân nhìn về phía Nam đã thấy con đường số 9 chạỵ ngoằn ngèo uốn lượn qua thung lũng như như một con rắn khổng lồ. Tiếng pháo địch nổ ì oành lúc xa, lúc gần. Tiếng trực thăng phành phạch ngay trên đầu, máy bay trinh sát OV10 vo ve suốt ngày, từ khi sương tan đến lúc mặt trời lặn. Thi thoảng từ tít trên trời cao “cái bừa biết bay ấy” lại phóng vu vơ xuống núi rừng một quả đạn khói chỉ vài phút sau, pháo địch lập tức bắn vào nơi vừa được chỉ điểm. Toàn tiểu đoàn được lệnh phải nguỵ trang thật kín và không được phép đi lại lộn xộn kèm theo lời cảnh báo rõ ràng nhất của tiểu đoàn trưởng “Nếu để lộ nơi trú quân thì sẽ ăn bom ăn pháo của địch ngay lập tức!”.

Khi Lân về tới hầm thì tiểu đội trưởng Ngạn đang nằm trên chiếc võng mắc ngay trước cửa hầm, cái chân bị bong gân vẫn còn sưng vù, gác lên võng.

- Ra đây nằm cho thoáng. Trong hầm ngộp thở quá!

Lân nhìn chiếc võng rồi nhìn lên trời:

- Liệu... bọn nó có nhìn thấy gì không?

- Thấy thế nào được? Rừng chỗ này còn dày lắm - Ngạn nói rồi chỉ lên những tán lá ken dày trên đầu.

- Thấy bảo, bọn Mỹ có loại kính gì đó có thể nhìn thấu qua cả rừng rậm đấy!

- Nói phét! Làm đếch gì có thứ kính ấy? Nếu có, chúng nó chẳng phải rải chất độc làm trụi lá rừng làm gì.

Lân ôm tập bản đồ định chui vào hầm thì Ngạn gọi giật trở lại:

- Này, được cấp bản đồ rồi đấy à? Đưa tớ xem xem bọn mình giờ đang ở chỗ nào?

Lân nhìn tiểu đội trưởng ngập ngừng - Nhưng mà tiểu đoàn trưởng dặn không được cho ai xem. Trong này đã có ghi chú mục tiêu rồi!

- Vớ vẩn? - Ngạn chồm dậy - bí mật với ai chứ bí mật với lính trinh sát thế nào được. Đưa tớ xem nào.

Lân đành phải miễn cưỡng đưa tập bản đồ bọc ni lon cho tiểu đội trưởng. Ngạn rải ngay tấm bản đồ lên võng, rồi vẫy tay bảo:

- Lại đây... đưa cho mình mượn cái địa bàn!

Lân móc chiếc địa bàn trong bao đồ đeo quanh người đưa cho Ngạn. Anh ta dóng địa bàn, xoay ngược xoay xuôi tấm bản đồ một lát rồi chau mày hỏi Lân:

- Cậu có xác định được chỗ mình đang đứng chân không?

Lân khom người xuống sát tấm bàn đồ nhìn một lúc lâu rồi lắc đầu:

- Chịu chưa xác định được. Hình như... bọn mình đang ở phía Bắc dãy núi này thì phải.

Lân chỉ đại một dãy cao điểm. Ngạn lại xoay ngang xoay dọc bản đồ một lát rồi hỏi:

- Chắng lẽ... lại gần địch thế rồi kia à?

- Gần rồi đấy... đêm qua, khi dậy đổi gác, tôi nghe thấy cả tiếng súng máy - Lân trả lời rồi hỏi sang chuyện khác cái chân của anh sao rồi?

- Vẫn còn đau. Mẹ khỉ, sao nó lại đau vào đúng lúc này kia chứ. - Anh nhăn nhó nhìn xuống bàn chân sưng vù của mình - lúc nãy ông Điệp y sĩ có tới xem, báo rằng khớp khiếc không việc gì, chỉ bong gân thôi. Rồi ông ấy bóp thuốc cho một lát. Chẳng biết có ăn thua gì không?

- Anh cứ yên tâm mà nghỉ vài ngày. Rồi nó sẽ khỏi thôi mà. Hồi bé, tôi cững bị bong gân vài ba lần rồi. Nhưng ông nội tôi có mấy bài thuốc chữa bong gân, sai khớp gãy xương hay lắm. Tiếc là hồi ở nhà tôi lại chẳng chịu học lấy vài bài.

Tiểu đội trưởng Ngạn vẫn băn khoăn:

- Nhưng mình là tiểu đội trưởng trinh sát mà lại không đi địa hình được thì nay mai biết đường nào mà phục vụ cho chỉ huy?

- Tôi đi thay anh cũng được mà... - Lân chợt nhớ ra một điều - mà này, tiểu đoàn trưởng nói để lại một tổ trực ở nhà. Theo anh, nên để lại những ai?

- Thằng Vững, đồng hương của cậu mới được bổ sung cho tiểu đội, còn lớ ngớ lắm, nên để nó ở nhà. Thằng Toán vừa cắt sốt, còn mệt cũng nên để lại. Ngoài ra, cũng cần phải để ở nhà một tổ trưởng cứng cáp một tý phòng khi có chuyện.

- Thằng Vượng nhé? - Lân hỏi

- Không, thằng này người Mường, đi rừng giỏi, nhớ đường ban đêm tài lắm. Nên cho nó đi. Để lại thằng Cừ cũng được.

- Vậy để tôi đi kêu chúng nó tới cả đây nghe anh quán triệt rồi làm công tác chuẩn bị ngay. Chiều tối nay lên đường rồi.

Nửa tiếng sau cả mười hai người của tiểu đội trinh sát đã tập hợp đủ trước cửa hầm của tiểu đội trưởng.

Ngạn ngồi trên võng nói với mọi người:

- Chiều nay tiểu đội chúng ta sẽ lên đường đi làm nhiệm vụ chuẩn bị chiến trường. Tôi bị đau chân không đi được, anh Lân sẽ chỉ huy anh em. Ngoài tôi ra, tiểu đoàn yêu cầu để lại ba đồng chí trực sẵn sàng chiến đấu tại hậu cứ. Chúng tôi đã quyết định để các đồng chí Cừ, Toán, Vững ở lại. Các đồng chí có ý kiến gì không?

Toàn tiểu đội im lặng một 1úc rồi Cừ giơ tay xin nói:

- Tôi có ý kiến... tôi xin được đi trinh sát cùng tiểu đội đợt này.

- Không được - Ngạn cương quyết gạt đi - đồng chí phải ở lại làm nòng cốt cho tổ hậu cứ.

- Nhưng sao lại là tôi? - Cừ nổi nóng - chẳng lẽ tôi kém cỏi lắm hay sao mà phải nằm lại hậu cứ?

- Cả tiểu đoàn còn nằm tại đây cơ mà. Nếu ai cũng đòi đi thì lấy ai làm nhiệm vụ ở đây khi cần thiết!

Mọi người im lặng nhìn nhau. Bỗng một người đứng dậy lên tiếng:

- Nếu... anh Cừ muốn đi thì... tôi xin tình nguyện ở lại hậu cứ cho. Mấy hôm nay... cái bụng của tôi cũng không được ổn lắm.

Ngạn và Lân cùng quay lại nhìn Thì ra đó là Khải, một trong ba tổ trưởng của tiểu đội. Ngạn nhìn thẳng vào mắt Khải giây lâu rồi nói:

- Được rồi. Đồng chí Khải sẽ ở lại, nhưng đồng chí Cừ vẫn phải ở nhà để phụ trách tổ này. Tôi còn đau chân, khi cần thiết không thể chỉ huy được. Còn cậu Khải thì đau bụng, phải không?

Vững rụt rè đưa tay lên - Vậy, các anh cho em đi với anh Lân, được không?

Lân chưa kịp trả lời thì Ngạn đã gật đầu:

- Được cho cậu Vững đi cũng được, lính mới cũng cần học hỏi. Thế nhé, chấm dứt cuộc họp ở đây. Anh em về chuẩn bị quân tư trang thật gọn nhẹ. Ba giờ chiều tập hợp tại đây tôi kiểm tra trước lúc lên đường.


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 18 Tháng Mười Hai, 2010, 05:50:26 pm
Mọi người lục tục đứng dậỵ đi về hầm của mình để chuẩn bị cho chuyến đi. Ngạn nằm kềnh ra võng kêu “Cái ông y sỹ này nắn bóp sao mà bây giờ có vẻ như lại đau hơn Lân ạ”. Lân cười bảo “Thường là thế đấy, bóp thuốc xong thì bao giờ cũng đau dội lên một đợt rồi mới dịu dần đi”. Lân vừa định chui vào hầm sắp đồ thì Ngạn lại gọi giật “Này, thằng Khải có vấn đề tư tưởng đấy, ông ạ!”. “Tư tưởng gì?” Lân ngạc nhiên hỏi. “Ông không thấy à? Nó ngại đi trinh sát nên xung phong ở lại. Thôi cũng được, xuất quân lần đầu mà đưa những thằng chưa vững vàng, còn sợ địch đi thì phiền lắm”. “Sao anh lại nghĩ rằng nó sợ?”. Ngạn khẽ cười “Ngửi thì biết thôi. Thằng này sẽ không trụ được với cánh mình lâu đâu”.

Ngạn nói vậy rồi nằm xuống võng nhắm mắt lim dim ngủ. Lân cũng không tiện nói thêm gì nữa tuy anh vẫn chưa tán thành cách chụp mũ vội vã của Ngạn. Anh chui vào hầm, lấy ba lô ra chọn mấy thứ cần mang theo xếp lại thành một đống. Xếp đi xếp lại vẫn thấy chưa thật gọn nhẹ. Anh cũng không biết có nên mang ba lô theo hay không. Mà nếu không mang theo ba lô thì xếp đồ vào đâu? Lại còn gạo mắm, lương khô, thuốc men bông băng, đèn pin và nhiều thứ linh tinh khác nữa. Bỗng tiếng Ngạn từ ngoài hầm vọng vào:

- Mở ba lô của tớ ra, ngay bên trên có một cái tui may bằng vải tăng không thấm nước, có cả quai đeo đấy. Cậu lấy cái túi ấy mà bỏ đồ mang theo, những thứ còn lại thì cứ bỏ gọn trong ba lô. Nhớ mang thuốc chống vắt đấy!

Quả nhiên Lân tìm thấy cái túi kể trên trong balô của Ngạn. Đó là một cái bòng nhỏ, may rất kĩ bằng vải tăng. Đây đúng là loại túi cần cho lính trinh sát trong những chuyến trinh sát ngắn ngày. Nó vừa đủ chỗ để chứa bộ tăng võng, nilon, một bộ quân phục, quần đùi áo lót và vài thứ đồ dùng cần thiết khác cho người lính. Cái lão này ma mãnh thật, làm sao lão ta nghĩ ra chuyện may cái túi nhỏ này để mang theo ra trận nhỉ? Mà hắn ta cũng lần đầu ra trận như bọn mình thôi chứ có khác gì? Hình như đoán được những băn khoăn của Lân, Ngạn nói vọng xuống:

- Cái túi đó là do trung uý Lê Xuân Ôn tặng mình đấy! Ông ấy bảo, cứ mang theo cái túi này, vào chiến trường sẽ có ích đấy.

Lại là ông Ôn? Cái ông vào ra chiến trường như đi chợ ấy cũng lắm kinh nghiệm thật. Lân vừa xếp đồ vào cái bòng nhỏ của Ngạn vừa nghĩ vậy. Chợt anh nhìn thấy cuốn sổ ghi chép mà Thanh tặng mình trước ngày nhập ngũ. Dĩ nhiên là anh sẽ phải để cuốn sổ này lại hậu cứ rồi. Nhưng tại sao lại không ghi vài dòng nhỉ?

Đã gần mưòi ngày nay, kể từ hôm rời đường giao liên Trường Sơn rẽ vào tuyến giao liên của mặt trận đến giờ anh không ghi chép được dòng nào rồi.

Lân nhích ra phía cửa hầm, nơi vừa có một luồng nắng rọi xuống như từ một chùm đèn pha. Anh mở cuốn sổ ra, vuốt nhẹ trên những trang giấy mát rượi.

Trong lòng anh muôn vàn ý nghĩ đang tuôn chảy, xô dạt, cây bút trên tay anh lướt nhanh trên những trang giấy trắng.

Thế là chúng mình đã tới chiến trường sau hơn bốn mươi ngày đêm hành quân gian khổ! Những trang “nhật kí hành quân” của mình đã dừng lại khi sư đoàn băng qua vùng đất giới tuyến để vào chiến trường Quảng Trị khói lửa mịt mù. Hàng ngày nghe tin chiến sự qua đài tiếng nói Việt Nam, mình biết rằng Mỹ đang tăng quân ra đường 9 để lập một tuyến phòng thủ ngăn chặn sự chi viện của hậu phương lớn cho tiền tuyến lớn thân yêu. Mỹ tăng bao nhiêu quân, đổ bao nhiêu bom đạn chưa biết, nhưng cứ xem việc một “sư đoàn thép” như sư đoàn của mình vẫn nhẹ nhàng vượt qua giới tuyên để tới chiến trường, chuẩn bị bước vào cuộc chiến, thì cũng thấy rõ thằng Mỹ đã thất bại trong ý đồ “ngăn chặn” ngây thơ này rồi. Nếu không kể một vài trận bom tình cờ găp trên đường thì có thể coi cuộc hành quân của sư đoàn mình đã thành công mỹ mãn.

Cái đêm vượt qua thượng nguồn sông Bến Hải mới thật cảm động. Đội hình của tiểu đoàn đang lặng lẽ hành quân trong đêm trên một con đường mòn thì bỗng nghe từ đầu đội hình truyền xuống một mệnh lệnh “Chú ý, chúng ta sắp qua sông Bến Hải”. Nghĩ là sẽ phải có một cuộc vượt sông bằng thuyền, hoặc chí ít cũng bằng một cây cầu phao dã chiến. Ai ngờ chỉ là một đoạn suối cạn, nước chưa quá đầu gối mà khi vượt qua rồi nhiều người mới biết đó là thượng nguồn của dòng sông Bến Hải. Vậy mà cái dòng suốí nhỏ ấy lại là nơi chia cắt Bắc - Nam thì còn gì vô lý hơn? Tiếc rằng mình không biết làm thơ, nếu có đôi chút năng khiếu thi ca hẳn rằng mình có thể viết được một bài về cái đêm qua sông Bến Hải này rồi. Hình như lúc đó vào quãng hơn mười giờ đêm, vừa lội qua sông thì nghe từ chiếc đài Ô-ri-on-ton của chính trị viên Lê Văn Sớm vang lên giọng hát của nghệ sỹ Tân Nhân. bài “Xa khơi” của Nguyễn Tài Tuệ. Giọng hát sâu lắng của người nghệ sỹ khiến lòng mình rưng rưng. Bài hát nóí về sự đợi chờ, về nỗi đau chia ly... nhưng quan trọng nhất, đó là bài hát tủ của Thanh. Cô ấy vẫn thường hát bài này mỗi khi lớp có liên hoan văn nghệ. Đã ba tháng nay không nhận được thư của Thanh rồi. Hôm dừng chân một ngày ở Quảng Bình mình có viết về cho Thanh, không hiểu đến hôm nay Thanh đã nhận được thư chưa? Mình vẫn không “nói” gì cả, chỉ kể chuyện mình và các bạn cùng lớp đang trên đường hành quân ra trận, mà cũng chỉ kể những chuyện vui trên đường, thậm chí kể cả vài chuyện “tiếu lâm quê bọ” nữa. Chắc rằng khi đọc thư. Thanh sẽ buồn cười lắm.

Xin lỗi vì mình không ghi chép đều đặn được như Thanh yêu cầu. Trong những ngày sắp tới lại càng không thể làm được việc này. Ngày mai, bọn mình sẽ bắt đầu cuộc trinh sát đầu tiên. Đế quốc Mỹ là một khái niệm rõ ràng về kẻ thù, nhưng cũng là một khái niệm rộng lớn. Cái mà bọn mình cần phải biết là những thằng Mỹ cụ thể, là một địch thủ cụ thể trên chiến trường. Tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh thì nóí rằng Thằng Mỹ thì cũng như thằng Tây thôi, sợ cóc gì!”. Các cụ đã đánh Tây rồi nên các cụ có vẻ tự tin lắm.

Nhưng giữa thằng Tây (dĩ nhiên là chỉ bọn lính Pháp rồi) với thằng Mỹ hình như cũng khác nhau nhiều lắm - dĩ nhiên là không kể tới sự khác nhau tiền của và vũ khí hiện đại. Trong tất cả các cuộc chỉnh huấn từ trước tới nay, chưa thấy vị chính ủy nào chỉ ra cái khác nhau cơ bản giữa thằng Tây và thằng Mỹ ngoài những khái niệm chung chung rằng một thằng là “thực dân cũ” một thằng là “thực dân mới”? Vậy thì bọn mình sẽ phải tự tìm hiểu lấy thôi. Chắc chắn cuộc hành trình ấy sẽ chẳng dễ dàng gì!

Chiều hôm nay, tiểu đội trinh sát sẽ lên đường.

Mình chưa muốn đưa cậu Vững đi vì nó còn chưa được học nghiệp vụ trinh sát ngày nào. Nhập ngũ tháng tám, đươc bổ sung ngay cho tiểu đội trinh sát trước khi hành quân ra trận. Nó có vẻ rất mừng vì được ở chung một tiểu đội với mình. “Sau đợt các anh nhập ngũ, thanh niên làng mình cũng đi vãn. Đa số được vào lính pháo phòng không. Thằng Sử con ông Sách nghe nói được đi lái xe tăng. Chỉ có em và thằng Bằng con ông Bát là được bổ sung về đơn vị này. Nó được học hành nhiều hơn em nên về trung đội thông tin rồi. Ông tiểu đoàn phó thấy em nhanh nhẹn, khoẻ mạnh nên nói rằng sẽ bổ sung cho tiểu đội trinh sát. Em mừng lắm!”.

Mừng gì mà mừng hả chú mày? Nay mai sẽ biết tay nhau ngay thôi mà. Được cái, trong suốt chặng đường hành quân, nó luôn tỏ ra là đứa xông xáo, khoẻ mạnh. Mấy ngày gần đây hễ hành quân tới trạm là nó tới giúp mình và Ngạn đào hầm. Nó còn nói, anh không biết chứ chị Vịn nhà em là mê anh lắm đấy. Có điều chị ấy luôn cho rằng mình là người ít học nên không dám gần anh thôi.

Nghe nó nóí vậy mình chỉ cười và chợt nhớ ra cái cô bé ở đầu xóm ngày nào cũng đón đường khi mình đi học về. Cô bé khá xinh gái và ngoan. Đã có lần mẹ bảo “Này, cái con Vịn nhà cô Vang trông hay đáo để. Tướng ấy là mắn phải biết. Là nói thế thôi, chứ mẹ cũng thừa biết rằng con trai mẹ không để mắt tới đám con gái làng Vân Hương. Là tiện đây thì viết ra vậy chứ sau này, nếu có đọc được những dòng này Thanh cũng đừng ghen nhé


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 18 Tháng Mười Hai, 2010, 05:53:07 pm
2

Mới ba giờ chiều mà trên cao điểm sương mù đã dày đặc. Quá mù ra mưa. Các cụ dạy cấm có sai. Nhưng cái thứ mưa mù này thật khó chịu. Mưa cũng chưa phải là mưa. Rí rách nhớp nháp, quần áo lúc nào cũng ẩm xì xì. Không khí như đặc sánh lại, cái lạnh ngấm dần vào da thịt. Nhìn xuống, các khe núi cũng mù mịt như những dòng sông ma. Ngẩng lên, bầu trời như sắp trĩu xuống. Mấy chiếc máy bay trinh sát trinh như đã bất lực trước thứ sương mù kì dị của xứ sở nhiệt đới này nên đã chuồn về căn cứ từ lúc nào chẳng rõ.

Đám trực thăng cũng không dám bay. Sương mù dày thế này húc vào núi như bỡn. Bù lại, bọn pháo binh bắt đầu phải làm việc nhiều hơn. Tiếng pháo nổ ì oàng không dứt. Chẳng hiểu chúng bắn đi những đâu? Hình như chúng sẽ bắn cầm canh như vậy suốt đêm vào những tọa độ đã chọn sẵn trên bản đồ. Lính đường 9 gọi thứ pháo này là “pháo ma”, giống như người ta vẫn nói chó cắn ma ấy mà. Sống lâu ở chiến trường rồi thì thấy thứ pháo này cũng không đến nỗi khó chịu lắm.

Thậm chí, nếu đêm nào không nghe thấy tiếng pháo bắn cầm canh ì ùng nữa lại thấy lạ, thấy cần phải coi chừng.

Tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh dẫn theo anh trợ lí tác chiến của tiểu đoàn cùng bốn đại đội trưởng và tiểu đội trưởng sát của Lân tới nơi tập trung hơi muộn. Hình như các tiểu đoàn bạn đã tới trước cả, kẻ đứng người ngồi lố nhố trong sương. Trung đoàn trưởng Trần Đông Hải dường như đã bắt đầu sốt ruột nên khi thấy tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh tới ông ta liền nhắc ngay:

- Chậm ba phút đấy, ông Mạnh nhé!

Tiểu đoàn trưởng Mạnh cười trừ:

- Báo cáo thủ trưởng... đường trơn quá!

- Thôi được rồi trung đoàn trưởng vỗ tay. - Mời các đồng chí tiểu đoàn trưởng, đồng chí đại đội trưởng thông tin và đồng chí trung đội trưởng trinh sát trung đoàn lại đây hội ý!

Các vị chỉ huy lục tục tiến lại phía gốc cây lớn nơi trung đoàn trưởng đang đứng. Một trợ lý tác chiến của trung đoàn đã kịp thời treo lên cái thân cây lớn, ướt rượt ấy một tấm bản đồ bọc nilon.

Trong khi các vị chỉ huy hội báo, Lân ra lệnh cho các chiến sỹ của mình tìm chỗ ngồi nghỉ rồi anh đi tìm Côn. Chưa nhìn thấy cậu ấy nhưng anh tin rằng Côn đang ngồi đâu đó. Nghe nói cậu ấy đã được kết nạp đảng trên đường hành quân lại vừa được đề bạt trung đội phó. Nhanh thật, Hùng Phong cũng còn chưa theo kịp. Phải chúc mừng cậu ta mới được.

Đám lính trinh sát trung đoàn dạt vào một góc, ngồi xếp thành hàng hẳn hoi. Khác hẳn với trinh sát các tiểu đoàn, lính trinh sát trung đoàn trông có vẻ chuyên nghiệp hơn. Trang bị của họ trông rất gọn mắt, lại có thêm mỗi người một cái mũ lưỡi trai “rằn ri” trên đầu có dây buộc vòng xuống cổ hẳn hoi. Côn đang phát cơm nắm cho các chiến sỹ của mình. Phải rồi, sao tiểu đoàn mình không cho nắm cơm mang đi ăn đêm nhỉ.

Nhai lương khô thì nóng ruột lắm! Nhìn thấy Lân đi tới Côn ngẩng lên giơ tay vẫy nói “Chào nhé” rồi lại tiếp tục chia cơm. Lân phải đứng chờ một lát Côn mới xong việc bước tới. Lân chìa tay cho bạn:

- Chúc mừng nhé!

- Mừng cái gì?

- Vào đảng... rồi được đề bạt trung đội phó. Nhất cậu đấy. Hùng Phong cũng không bằng đâu!

Côn khẽ nhíu mày:

- Sao các cậu thằng nào cũng cứ mang Hùng Phong ra so sánh với mình nhỉ? Mình là mình, cậu ấy là cậu ấy chứ?

Lân đành cười trừ:

- Xin lỗi ông Báo đã làm cho chúng mình quen với việc “lấy đồng chí Hùng Phong làm chuẩn” rồi.

Côn cũng bật cười theo:

- Cậu đã lên trinh sát tiểu đoàn rồi mà vẫn không thoát ra khỏi từ trường của ông Lương Xuân Báo sao?

Lân không trả lời câu hỏi của Côn mà quan tâm đến những việc trước mắt hơn:

- Côn này... trung đoàn mình oánh chỗ nào thế?

- Đi rồi khắc biết. Sẽ ra trò đấy!

- Cậu... đã nhìn thấv thằng Mỹ nào chưa? Lân hỏi tiếp vì biết trinh sát trung đoàn là đơn vị duy nhất được hành quân bằng xe cơ giới thẳng một mạch vào chiến trường và từ đó tới nay thì đã kịp lội ngang lội dọc khắp khu vực Nam - Bắc đường 9 này rồi.

- Cũng có thể gọi là đã nhìn thấy chúng nó rồi. Thậm chí, còn được xem chúng nó tắm nữa kia!

- Tắm à? - Lân trố mắt hỏi - các cậu chui vào tận nhà tắm của bọn nó rồi sao?

- Không... bọn mình bò vào sát một trận địa pháo của nó để quan sát. Thấy bọn pháo thủ Mỹ cởi trần trùng trục, người ngợm đỏ au như con tôm luộc. Cứ sau khi lao vài quả đạn chúng nó lại nằm thở hồng hộc. Rồi đến chiều thì trực thăng chở nước tới, dừng sững ngay trên trận địa và xối nước xuống cho cho bọn pháo thủ bên dưới tắm.

- Hay nhỉ? Sao chúng nó không xuống suối mà đằm có mát hơn không?

- Chúng nó sợ nước suối ở đây bị ô nhiễm nên không dám dùng. Vả lại, mò xuống suối lỡ gặp Sác-li thì toi đời!

- Sác-li là ai?

- Là biệt danh chúng nó gọi Việt cộng ấy mà.

- Thì ra chúng gọi bọn mình là Sác-li cơ đấy. Tên cũng hay đấy thứ!

Nói chuyện tới đây thì có hiệu lệnh tập trung, Lân vội vàng tạm biệt Côn để về với tiểu đội. Côn xiết chặt tay Lân rồi nói nhỏ:

- Yên trí đi. Có lẽ tôi sẽ được phân công đi với mũi của tiểu đoàn ông đấy.

Lời thông báo ngắn gọn ấy của Côn khiến Lân vui hẳn lên. Nói cho đúng hơn là anh cảm thấy nhẹ cả người và yên tâm hơn nhiều. Tuy không dám thú nhận với ai nhưng anh luôn cảm thấy chưa tự tin lắm nếu phải hoạt động độc lập. Việc phải thay tiểu đội trưởng Ngạn chỉ huy ngay trong chuyến trinh sát đầu tiên đã khiến Lân cảm thấy chống chếnh, lạnh lưng lắm rồi.

Mới chân ướt chân ráo vào chiến trường nhưng anh đã kịp nhận thấy rằng những kiến thức anh học được trên thao trường dường như luôn luôn thiếu, thậm chí nhiều khi còn vênh váo khá nhiều trước thực tế khắc nghiệt của mặt trận. Có được một người thông minh, tháo vát lại từng trải hơn bên cạnh thì còn gì bằng?

Tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh tập hợp tất cả thành phần tham gia cuộc trinh sát của tiểu đoàn lại để phổ biến nhiệm vụ. Đại khái ông nói rằng trong một hai ngày tới chúng ta sẽ phải nắm cho được địa hình ở khu vực Bắc Đường 9, đoạn từ Đông Hà tới phía Tây Cam Lộ. Đêm mai sẽ vượt đường 9 sang phía Nam nghiên cứu tiếp địa hình. Sau đó, dưới sự chỉ huy trực tiếp của trung đoàn trưởng, chúng ta sẽ tập trung trinh sát mục tiêu A... đó chính là mục tiêu lớn nhất mà trung đoàn có nhiệm vụ đánh chiếm trong thời gian không xa. Còn mục tiêu A là mục tiêu nào thì tới lúc đó các đồng chí khắc biết.

Tiểu đoàn trưởng vừa nói tới đây thì Côn dẫn tối ba trinh sát viên. Anh đứng nghiêm dập gót trước tiểu đoàn trưởng Mạnh, báo cáo dõng dạc:

- Báo cáo đồng chí tiểu đoàn trưởng. Tôi, Nguyễn Danh Côn, trung đội phó. Được lệnh của trung đoàn trưởng, đưa một tổ trinh sát của trung đoàn tới dẫn đường cho đoàn nghiên cứu chiến trường của tiểu đoàn đồng chí!

Tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh vội bước tới bắt tay Côn:

- Cám ơn các đồng chí trinh sát trung đoàn. Có các đồng chí đi cùng thì hay quá.

Lân cũng cảm thấy hãnh diện trước sự săn đón của tiểu đoàn trưởng đối với anh bạn của mình. Có thế chứ, lớp lính trẻ chúng mình cũng bắt đầu “là một cái gì” rồi đó, phải không Côn?


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 18 Tháng Mười Hai, 2010, 05:57:21 pm
3

Tuy đã ngoài bốn mươi tuổi nhưng tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh đã chứng tỏ rằng mình vẫn sung sức. Ông vượt qua chặng hành quân đường dài một cách khá dễ dàng và hình như càng đi ông càng dẻo dai hơn. Vừa tới mặt trận lại bước ngay vào đợt trinh sát địa hình đầy gian khổ hiểm nguy nhưng ông vẫn luôn tỉnh táo, nhanh nhẹn khiến các trinh sát viên của Lân cũng phải kính nể. Họ thường nói với nhau - tụi trai trẻ chúng mình mà không theo kịp ông Mạnh thì thật xấu hổ.

Từ ngày về nhận nhiệm vụ ở tiểu đội trinh sát, Lân đã có dịp gần gũi ông nhiều hơn. Khoảng cách giữa một ông tiểu đoàn trưởng nghiêm khắc, oai phong mà anh chỉ được gặp loáng thoáng trên thao trường ngày nào đã được rút ngắn lại. Được gần ông nhiều hơn, Lân mới thấy thì ra cái ông tiểu đoàn trưởng này cũng không phải là khô khan, nghiêm khắc và khó gần như mình tưởng.

Ông thuộc lớp cán bộ đã từng tham gia kháng chiến chống Pháp, đã tham dự khá nhiều trận đánh và đã từng có mặt ở chiến hào Điện Biên Phủ. Trên người ông đầy những vết sẹo chiến tích, trong đó có cả những vết thương do dao đâm trong một trận đánh giáp lá cà với bọn lính dù thuộc địa trong trận Nà Sản. Lân biết được điều ấy là bởi hồi vừa ở lớp đào tạo trinh sát về, một lần anh và Do Cô-li-nốp rủ nhau ra suối tắm thì đã thấy tiểu đoàn trưởng đang lặn ngụp dưới suối rồi.

Nhìn thấy thủ trưởng trong tình trạng “thoát y” hai người hốt hoảng định quay lại thì từ dưới suối, tiểu đoàn trưởng gọi váng lên:

- Ê, các cậu sao thế? Cứ xuống mà tắm đi chứ!

Anh và Do nhìn nhau rồi quyết định cứ thử xuống tắm chưng với thủ trưởng một lần xem sao? Hai người vừa nhào xuống suối thì tiểu đoàn trưởng đã bơi lại, trên tay ông cầm sẵn một hòn đá cuội to như nắm tay

- Cậu nào kì giúp tớ cái lưng với!

Lân đang còn ngần ngại thì Do đã lội tới bên thủ trưởng:

- Để em giúp thủ trưởng!

Vừa dùng hòn đá chà dọc sống lưng sếp Do vừa ngac nhiên hỏi:

- Sao thủ trưởng lắm sẹo thế?

Tiểu đoàn trưởng cười ha hả:

- A... đấy là do bọn đế quốc thực dân nó cắn đấy!

Rồi ông chỉ vàọ từng cái sẹo trên người và kể ra vanh vách xuất xứ của từng vết thương. Đến cái sẹo bên vai trái thì ông nhìn Do rồi bảo:

- Cái này là vết dao găm của một ông Tây đen tặng tớ trong trận Nà Sản đấy. Không chừng, là ông cụ nhà cậu cũng nên!

Do bỗng xịu mặt xuống nói:

- Bố em theo Việt Minh từ trước khi thủ trưởng nhập ngũ kia!

Tiểu đoàn trưởng nhìn Do đăm đăm rồi cười:

- Xin lỗi cậu nhé... tớ chỉ nói vui thôi mà!

Do cũng cười bảo:

- Nếu là bố em thì thủ trưởng đi đứt rồi. Ông ấy từng là nhà vô địch quyền Anh đấy!

Lạ thay từ đó ông có vẻ rất mến Do. Thậm chí có gì ăn ngon còn bảo công vụ xuống trung đội đại liên gọi Do lên ăn nữa kia. Qua Do mà Lân biết được nhiều chuyện về tiểu đoàn trưởng, cả về tính cách lẫn đời tư.

Anh cũng biết rằng ông có vợ là một bà kĩ sư chuyên nghiên cứu về các loài côn trùng. Thảo nào, dọc đường hành quân đã mấy lần Lân bắt gặp tiểu đoàn trưởng - dừng lại ngẩn ngơ ngắm những đàn bướm vàng bay đầy dưới những con suối cạn. Ông cũng đã có hai con, con trai ông trúng tuyển phi công hiện đang đi học tại Liên Xô. Cô con gái thì đang học năm cuối cùng của cấp ba, nghĩa là chỉ kém Lân một vài tuổi là cùng.

Theo như Do kể thì tiểu đoàn trưởng không được học hành nhiều lắm, nhưng ông lại là người uyên bác do rất ham đọc sách. Điều này thì Lân tin vì anh đã được chứng kiến tài kể chuyện của ông. Suốt dọc đường hành quân, lính tráng đã mê mệt, quên cả đường dài khi được nghe ông kể chuyện Thuỷ Hử, Tam Quốc, mỗi chặng ông kể một hai hồi. Hầu như ông thuộc nằm lòng hai bộ tiểu thuyết Tàu này và có lối kể chuyện rất độc đáo xúc tích. Khi được lính khen, ông nói đùa rằng, ông lấy được vợ cũng là nhờ có tài kể chuyện Thuỷ Hử, Tam Quốc mà thôi.

Sống gần ban chỉ huy tiểu đoàn một thời gian Lân mới hiểu rằng cùng là cán bộ tiểu đoàn nhưng không phải ông nào cũng có cái uy giống như tiểu đoàn trưởng. Chính trị viên Lê Văn Sớm là một loại người hoàn toàn khác. Vì đã quá quen với mẫu cán bộ chính trị như Lương Xuân Báo nên Lân vô cùng ngạc nhiên trước tính cách xuề xoà, thậm chí cẩu thả, à uôm của ông Sớm. Nếu như Lương Xuân Báo cố gắng bao nhiêu để xoá đi cái ấn tượng là một anh cán bộ xuất thân từ một nông dân thì ngược lại chính trị viên Lê Văn Sớm lại không hề muốn làm điều đó. Ngược lại ông rất tự hào về gốc gác bần cố nông của mình. Thứ mà ông sợ nhất là các loại công văn, giấy tờ, văn kiện dày đặc những chữ là chữ. Cái mà ông sợ thứ nhì là sợ phải diễn thuyết trước đám đông. Nói một hồi là ông không còn biết mình nói gì nữa và bắt đầu nói nhịu. Điều này thì quả là ông thua xa chính trị viên Lương Xuân Báo.

Và ông thường công khai thừa nhận yếu điểm đó của mình. Có lần ông đã nói với tiểu đoàn trưởng “Cái thằng Báo nó nói hay như sáo ấy. Đến cầy cáo trong lỗ cũng phải bò ra mà nghe! Cứ y như giọng chính uỷ sư đoàn ấy. Đáng lý cấp trên nên nhấc nó lên làm chính trị viên tiểu đoàn thay tôi mới phải. Nói thật, tôi chỉ thích làm cán bộ quân sự như ông thôi. Tổ chức vô lí bỏ mẹ, đâu phải không có chó mà cứ bắt mèo ăn cứt?”.

Vì thế những cuộc học tập quan trọng ông thường tìm cách vời cho được phái viên cấp trên xuống giảng bài hoặc nhờ chính trị viên đại đội 9 Lương Xuân Báo lên lớp hộ. Vạn bất đắc dĩ mà đích thân ông phải lên lớp thì ông cũng có một phương pháp lên lớp chính trị vô cùng độc đáo. Nghĩa là, ông không hề lên lớp gì sất mà mang luôn nguyên bản văn kiện, tài liệu cấp trên gửi xuống, rồi giao cho một cậu nào đó có giọng tốt đứng lên đọc nguyên văn từ đầu đến cuối, trong khi đó ông tìm một góc nào đó ngồi chống cằm ngủ gật, có khi lại còn ngáy rất to nữa. Khi tài liệu được đọc xong, ông mới đứng dậy xoa tay và nói “Tốt rồi! Đã là chủ trương đường lối của đảng thì phải lĩnh hội nguyên văn. Không có tam sao thất bản được. Bây giờ chúng ta thảo luận nhé?”. Và ông dành phần lớn thời gian của đợt sinh hoạt cho cán bộ chiến sỹ “tự do tư tưởng”, nghĩa là ai muốn nói gì thì nói. Sau đó ông bắt mọi người viết thu hoạch. Nhưng khi anh chính trị viên phó gom lại chừng vài chục bài viết tốt nhất của anh em giao cho ông để ông đọc và đánh giá thì ông bảo “Khỏi cần phải đọc. Cái chính là họ đã viết ra. Viết thì khắc nhớ. Thế là được”. Thấy anh Phương, chính trị viên phó nhìn đống bài “mẫu” có vẻ tiếc, ông cười phảy tay bảo “Thì đem xuống các đại đội, dán vào báo tường của các đơn vị cho anh em họ đọc. Của nhà làm ra, có khi anh em còn thích hơn là đọc văn kiện của cấp trên ấy chứ”.

Anh chính trị viên phó vẫn chưa chịu buông tha - “Thế còn... chấm điểm thi đua? Nếu bí thư không đánh giá chất lượng bài thu hoạch của các đơn vị thì lấy gì làm căn cứ mà chấm điểm ạ?”. Ông Sớm tắc lưỡi “ôi dào... đếm! Đơn vị nào có nhiều bài được các cậu chọn lên đây nhất thì đạt loại một. Rồi cứ theo thứ tự mà xếp”. “Thế ngộ nhỡ trong số các bài đó có bài nào sai sót về quan điểm lập trường thì sao ạ?”. “Thì các cậu phải chịu trách nhiệm. Bí thư các chi bộ, chi đoàn... bao nhiêu là người đọc rồi, sai thế nào được mà sai”. Nói rồi ông bỏ đi. Nhưng dường như để anh chính trị viên phó yên tâm, ông bỗng quay lại nói thêm “Này, đừng lo quá thế chú em. Cậu tưởng nói sai quan điểm lập trường lúc này là dễ lắm à? Không dễ đâu nhé. Phải có tài và có gan nữa mới dám nói ngược lại với chủ trương đường lối của đảng ta hiện nay, cậu hiểu không? Đơn vị chúng ta còn lâu mới có được những người có tài và có lá gan to đến thế!”.


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 18 Tháng Mười Hai, 2010, 06:28:52 pm
Chính trị viên tiểu đoàn Lê Văn Sớm thường có cách giải quyết những vấn đề rắc rối một cách rất đơn giản như vậy. Có người đã phê bình ông là gia đình chủ nghĩa! Ông điên tiết tranh luận lại “Gia đình chủ nghĩa thì sao? Không tốt à? Tôi tưởng chỉ có thằng địch nó mới chửi những người cộng sản chúng ta là không có gia đình! Nay tôi tôn thờ chủ nghĩa gia đình nghĩa là tôi vả vào mõm thằng địch rồi, như thế thì càng tốt chứ sao?”. Ông đã lí luận như vậy thì bố ai còn dám tranh luận với ông nữa!

Nhân vật thứ ba trong ban chỉ huy tiểu đoàn là tiểu đoàn phó Phạm Quang Vinh. Anh thuộc vào lớp “sĩ quan xã hội chủ nghĩa”, được đào tạo bài bản tại trường sĩ quan lục quân vào những năm đất nước bắt đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Có lẽ vì ít hơn tiểu đoàn trưởng hàng chục tuổi, lại không có dính dáng gì đến chuyện đánh Tây, nên trước ông tiểu đoàn trưởng dày dặn bặt thiệp anh cứ như một cái cây bị cớm nắng. Chưa ai thấy anh cãi lại tiểu đoàn trưởng bao giờ, mọi việc do tiểu đoàn trưởng quyết định cắt đặt, anh đều răm rắp tuân theo như một anh trợ lí trung thành và nhỏ bé. Có lẽ chính vì vậy mà tiểu đoàn trưởng cũng xem thường anh. Nhưng tình hình ấy dường như đã được cải thiện đôi chút trước khi đơn vị đi B. Chuyện này xuất phát từ một cuộc thi bắn súng nổi tiếng khắp sư đoàn. Chẳng là hồi đó sư đoàn vừa kết thúc đợt diễn tập cuối cùng có bắn đạn thật, bài bắn chiến thuật tổng hợp. Không rõ vì có sự không thống nhất nào đó trong cách đánh giá kết quả các bài bắn mà lần đầu tiên tiểu đoàn trưởng và tiểu đoàn phó to tiếng với nhau. Hai vị chỉ huy tiểu đoàn cãi nhau căng tới mức họ đi đến quyết định kéo nhau ra bãi bắn để thi tài cao thấp. Chính trị viên Lê Văn Sớm lúc đầu còn can ngăn, sau đó cũng tặc lưỡi bảo “Thôi được, trước khi ra trận hai ông cũng nên thanh toán với nhau cho xong đi.

Tôi sẽ làm trọng tài cho”.

Đầu tiên hai vị thi bắn súng ngắn. Mỗi người bắn ba viên. Bắn xong cậu trợ lí quân khí chạy lên lôi hai cái bia xuống đem tới cho chính trị viên Lê Văn Sớm xem. Chính trị viên tròn mắt nhìn cả hai tấm bia và tuyên bố “Hai ông ngang tài nhau. Bia súng ngắn không có vòng điểm nhưng cả hai tấm bia đều bị khoét ba lỗ giữa hồng tâm. Tiểu đoàn phó cười hỏi “Thế bố già có dám thi bắn súng trường CKC với đàn em không đây?” Tiểu đoàn trưởng gật đầu “Chơi thì chơi”. Cuộc tỷ thí thứ hai được tiến hành ngay lập tức. Mỗi vị bắn ba viên. Kết quả, tiểu đoàn trưởng được 28 điểm, thua tiểu đoàn phó đúng một điểm. Trọng tài Lê Văn Sớm hỏi tiểu đoàn trưởng “Thế nào, tâm phục khẩu phục chưa?” Tiểu đoàn trưởng lắc đầu “Mình chưa thật quen với loại súng này. Nếu là súng trường Mút-cơ-tông của thằng Tây thì ba viên vòng mười là cái chắc!”.

Tiểu đoàn phó Vinh cảm thấy dường như mình chơi trèo hơi quá đà nên cũng tìm cách xoa dịu sự tự ái của ông tiểu đoàn trưởng - Phải đấy... loại súng CKC của Nga chất lượng cũng thất thường lắm!

Mọi người rời bãi bắn, những tưởng câu chuyện thi bắn như thế là kết thúc được rồi. Ai ngờ về tới nơi trú quân, khi đi qua đại đội hoả lực, thấy Do Cô-li- nốp và anh em trong khẩu đội đại liên của cậu ta đang lau súng, tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh bỗng dừng sững lại, đôi mắt ông tự nhiên sáng quắc lên:

- Vinh, cậu có dám thi bắn đại liên Cô-li-nốp với mình không? Cũng là đồ Liên Xô đấy!

Tiểu đoàn phó Phạm Quang Vinh ngớ người ra:

- Thủ trưởng định... chơi thứ kia à?

- Sao không? Cậu... dám chứ?

- Cũng được. Nhưng... trung đoàn mà biết thì chết đấy!

Chính trị viên Lê Văn Sớm cũng can:

- Thôi đi hai ông... Tôi kính phục cả hai ông rồi. Đừng làm cho mọi chuyện rắc rối thêm.

- Gì mà rắc rối - tiểu đoàn trưởng nháy mắt với tiểu đoàn phó - ban chỉ huy tiểu đoàn quyết định bắn thử khẩu Cô-li-nốp kia xem có cần phải đem đi xưởng hiệu chỉnh lại trước khi đi chiến đấu không thôi mà.

Thế là Do được lệnh lôi khẩu Cô-li-nốp và một băng đạn ra bãi bắn mà không hiểu nguyên nhân vì sao. Sau khi súng đã giá xong, tiểu đoàn trưởng mới thông báo luật chơi:

- Lắp cả băng đạn, nhưng mỗi người chỉ được bắn đúng ba điểm xạ, mỗi điểm xạ ba viên, ai nhiều hơn hoặc “tắc cú” là thua. Dĩ nhiên trước hết phải tính đến điểm báo bia đã.

Tiểu đoàn phó nói - được!

Tiểu đoàn trưởng hỏi - có cần bắt thăm không?

Tiểu đoàn phó cười khẩy - khỏi cần, kính lão đắc thọ. Mời thủ trưởng chọn bắn trước hay bắn sau tuỳ ý!

Tiểu đoàn trưởng - vậy thì xem tớ khai hoả đây. Bia lỗ châu mai số một nhé!

Pằng... pằng... phằng! Pằng... pằng bằng! Pằng pằng pằng!

Đúng ba điểm xạ. Chín viên. Chính trị viên kêu lên.

Đến lượt tiểu đoàn phó bước tới bên khẩu Cô-li-nốp.

Pằng... pằng... pằng! Pằng... pằng... pằng! Pằng... pằng... pằng... pằng!

Chính trị viên vỗ tay reo:

- Ba điểm xạ... nhưng hình như thừa một viên!

Báo bia. Cả hai xạ thủ đều đạt điểm tối đa. Tiểu đoàn trưởng cười ha hả:

- Thấy chưa? Với các loại súng máy thì cậu không thể sánh với tớ được. Trong suốt những năm đánh Tây tớ ôm khẩu bạc má đấy?

Do Cô-li-nốp cũng lè lưỡi thán phục:

- Không ngờ hai thủ trưởng đều là những xạ thủ súng máy cừ khôi! Tiểu đoàn phó Vinh cười chỉ tiểu đoàn trưởng:

- Về thiến thuật hoả lực, cậu còn phải học ông ấy nhiều!

Do đã kể lại cho Lân nghe câu chuyện thi bắn ấy của hai ông sếp và nháy mắt kết luận:

- Tớ biết thừa là ông Vinh nhường ông Mạnh một phân thôi... cái viên thứ tư của điểm xạ cuối cùng rõ ràng là ông ấy cố ý. Câu chuyện hai thủ trưởng tiểu đoàn bảy thi bắn súng rồi cũng đến tai trung đoàn trưởng Trần Đông Hải, ông Hải liền gọi điện thoại xuống nói:

- Này hai vị, lần sau mà có thi thố thì báo cho tôi một tiếng, tôi sẽ trực tiếp làm giám khảo cho!

Ông Mạnh đã tưởng thoát liền cười xí xoá:

- Mấy anh em chúng tôi... vui một tý thôi ạ!

- Vui à? Tưởng chỉ có cậu Vinh còn trẻ người non dạ thì mới ham vui, hoá ra anh cũng còn ham hố nhiều thứ nhỉ? Được rồi, hai giờ chiều nay mời cả hai anh cùng với chính trị viên lên trung đoàn gặp tôi. Ta sẽ tổ chức một cuộc thật xôm trò!

Ba vị thủ trưởng tiểu đoàn đinh ninh rằng phen này nhất định sẽ ăn một cú kỉ luật ra trò. Ai ngờ chẳng có gì cả. Chiều hôm đó trung đoàn triệu tập hội nghị quân chính, phổ biến kế hoạch hành quân đường dài ra mặt trận


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 18 Tháng Mười Hai, 2010, 06:30:19 pm
4

Với sự giúp đỡ của Côn và tổ trinh sát trung đoàn trong hai ngày, bộ phận nghiên cứu chiến trường của tiểu đoàn 7 đã đạp xong địa hình khu Bắc đường số 9 mà không gặp rắc rối gì ngoại trừ một tình huống tức cười vào buổi chiều khi họ đang đợi trời tối để bò ra đường 9 để kiểm tra một cây cầu gọi là cầu Thiện Xuân.

Cái tên ấy không thấy ghi trên bản đồ, nhưng theo Côn thì nhân dân và binh lính trong vùng này vẫn gọi như thế. Tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh khẳng định rằng địa hình xung quanh khu vực cây cầu này có thể cho phép xây dựng một chốt chặn hoặc tổ chức một trận vận động tấn công địch đang hành quân bằng cơ giới trên đường số 9. Vì vậy ông đề nghị phải tiếp cận tận mặt đường và hai bên đầu cầu để nghiên cứu.

Sau khi đã tìm được chỗ dấu quân tương đối an toàn, Côn yêu cầu mọi người từ giờ đến khi mặt trời lặn tuyệt đối không được đi lại lung tung vì ở đây rất gần địch và vẫn có rất nhiều mìn. Tốt nhất là tìm một chỗ mà ngả lưng, ai ngủ được thì ngủ. Dĩ nhiên là chỉ có cánh trinh sát trung đoàn là ôm súng nằm ngủ ngon lành ngay lập tức. Còn anh em tiểu đoàn 7, từ lính đến quan đều bồn chồn thao thức không sao mà ngủ được.

Họ đang ở rất gần địch. Nằm đây có thể nghe thấy cả tiếng các loại xe cơ giới của địch đang chạy ầm ầm trên đường số 9. Có lúc nghe tiếng trực thăng bay phành phạch ngay trên đầu, ngẩng lên thấy nó cẩu lủng lẳng một khẩu pháo to đùng bay về phía Tây. Tiểu đoàn trưởng Mạnh nhìn theo chiếc trực thăng nói với các đại đội trưởng “Chúng nó đang tăng quân lên khu vực Khe Sanh đấy” Đại đội trưởng Thanh nheo mắt nhìn theo chiếc trực thăng rồi lẩm bẩm “Cơ động như thế mới sướng. Hàng chục tấn sắt thép mà nó nhấc đi bung biêng cứ như một thứ đồ chơi ấy”. Rồi mấy vị thủ trưởng rì rầm bàn tán về những gì mà họ biết được về thằng Mỹ trong mấy ngày vừa qua. Họ cũng đã biết được đôi chút về đối thủ trực tiếp của mình trong những ngày sắp tới. Nhưng như thế vẫn còn là quá ít cho một cuộc đọ sức sống mái. Đại đội trưởng Thanh bỗng nảy ra một ý nghĩ táo bạo “Hay là ta tìm cách tóm lấy một thằng Mỹ về mà khai thác?” “Bậy - tiểu đoàn trưởng Mạnh gạt đi - việc đó phải được lệnh của cấp trên. Với lại, cả tiểu đoàn không thằng nào biết tiếng Mỹ thì bắt nó về làm gì? Nuôi báo cô à?”.

Nằm gần đó, Lân khẽ mỉm cười. Các vị chỉ huy nhà mình cũng lãng mạn thật: Làm sao mà có thể vồ được một thằng Mỹ ở cái xó xỉnh này? Ngay đến bọn thằng Côn, trinh sát trung đoàn cũng còn chưa dám làm việc đó kia kìa. Trong lúc đó, cậu Vững nằm bên cạnh anh thì cứ ngọ nguậy liên hồi “Mày làm sao thế?

Bị kiến cắn à?” Lân quay sang hỏi. Vững nhăn nhó “Em... tự nhiên lại... buồn...” Lân xuýt phì cười “Buồn ị hả? Thì đi đi... bò theo cái khe này xuống dưới kia kìa. Cẩn thận kẻo đạp phải mìn đấy!”. Vững lom khom di chuyển dọc theo hẻm đồi bị nước xối thành một cái rãnh dài. Lá khô lâu ngày dồn lại, phủ dày dưới khe khiến mỗi bước chân của Vững lại phát ra những tiếng lá vỡ rào rạo. Đang thận trọng di chuyển bỗng Vững dừng sững lại, mặt tái dại quay về phía Lân, miệng mấy máy không thành tiếng. “Nó làm sao thế nhỉ?” Lân tự hỏi khi nhìn thấy bộ dạng hoảng hốt của Vững. Anh vội ôm súng bật dậy, vừa thận trọng quan sát vừa lần từng bước về phía Vững. Khi chỉ còn cách cậu ta vài mét thì Lân nghe thấy cậu ta kêu khẽ “Dừng lại anh Lân! Em... đạp phải mìn rồi!”.

Nghe tiếng “mìn”, tự dưng: Lân thấy lạnh sống lưng. Anh cũng vội đứng bất động tại chỗ, nói trong hơi thở “Cậu... cứ đứng yên đấy. Đứng yên. Nhấc chân lên là mìn nó nổ ngay đấy!” Vững đứng lom khom, chân co chân duỗi, gương mặt cậu ta chan chứa mồ hôi, cái miệng méo xệch, mếu máo “Anh Lân... cứu em với?”. Lân lập tức nghĩ đến Côn, chỉ có nó thì may ra mới cứu vãn được tình hình. Anh trấn tĩnh lại, nói rành rọt từng lời “Cậu cố gắng đứng bất động ở đó. Mình đi gọi người tới gỡ mìn! Đừng có run. Run quá là mìn nó cũng nổ đấy!”. Nói rồi, anh thận trọng lùi từng bước.

Trở về tới chỗ các thủ trưởng tiểu đoàn đang ngồi rì rầm trò chuyện. Lân cố trấn tĩnh đến bên tiểu đoàn trưởng nói nhỏ “Báo cáo tiểu đoàn trưởng. Cậu Vững đạp phải một quả mìn. May mà cậu ấy phát hiện ra, chưa nhấc chân lên nên mìn chưa nổ”. Tiểu đoàn trưởng bật ngay dậy “Trời ơi! Nó mà nổ bây giờ là địch bắn pháo tới đây ngay lập tức đấy!”.

Mọi người cũng lập tức chồm dậy, xốc lại đồ đạc vũ khí, sẵn sàng cơ động. Tiểu đoàn trưởng xua tay, nhắc mọi người bình tĩnh rồi nói “Tất cả chờ lệnh tôi, không được chạy lung tung! Đã phát hiện một quả mìn tức là khu này nhất định còn nhiều quả khác. Đồng chí Lân đi tìm anh em trinh sát trung đoàn lại đây ngay!”.

Lân lập tức chạy đi. Một lát sau anh tìm được Côn và ba cậu trinh sát trung đoàn đang nằm ngủ dọc một khe nước xối, y như cái khe mà cậu Vững dẫm phải mìn. Nghe Lân nói có người đạp phải mìn, Côn nghệt mặt ra một giây rồi nói “Lạ nhỉ? Mình đã kiểm tra kĩ khu vực đó rồi kia mà?”.

Tuy vậy cậu ta vẫn lập tức tới nơi Vững đang đứng cứng ngắc để giữ cho quả mìn khỏi bật nổ. Trông mặt mũi cậu ta lúc này thật thảm hại, cắt không còn một giọt máu. Hai hàm răng va vào nhau lập cập khiến Côn cũng xuýt bật cười.

- Cậu... thấy... nó thế nào? Côn đứng cách chừng mươi thước hỏi.

- Nó... tròn tròn... dẫm lên... cứ phập phồng thế nào ấy...? Vững cố nói thành tiếng.

- Dưới đất hay trong đám lá khô?

- Có lẽ... có lẽ... không phải dưới đất...

- Được rồi. Cậu cứ đứng nguyên đấy. Tớ đến đây!

Côn tháo khẩu AK báng gấp đưa cho Lân rồi thận trọng tiến về phía Vững. Khi lần tới sát cậu ta đột nhiên Côn chun mũi, nhăn mặt:

- Mùi gì mà thối thế? Cậu này... bĩnh ra quần rồi hả.

Vững mếu máo:

Em... em... đang đi.... thì... - Thôi được rồi. Đứng yên nhé! Lúc nào tôi bảo nhấc chân lên thì cậu hãy nhấc rõ chưa?

Một tay Côn bịt mũi, một tay lần xuống lùa trong lớp lá khô quanh chân Vững. Một lát sau, bỗng nghe cậu ta quát khẽ:

- Khỉ ạ. Nhấc chân lên được rồi!

Vững gần như ngã quay ngay ra. Còn Côn thì đứng dậy bật cười, đưa “quả mìn” lên dí vào mặt cậu ta:

- Thứ này mà là mìn à? Nhìn đi, một cái lon Cô ca Cô la thôi, ông nỡm ạ!.

Lân thở phào, rồi cũng ôm bụng cười ngặt ngẽo.

Các vị sĩ quan chỉ huy cũng ùa tới. Côn đưa chiếc vỏ lon cho tiểu đoàn trưởng Mạnh:

- Đây lính của thủ trưởng tưởng cái của khỉ này là một loại mìn mới của Mỹ đấy!

Mọi người chuyền tay nhau cái vỏ lon Cô ca Cô la, thứ sản phẩm đặc trưng nhất trong thế kỉ hai mươi của nước Mỹ. Nhiều tiếng trầm trồ ngạc nhiên. Có lẽ, ngoài Côn và mấy anh lính trinh sát trung đoàn ra, những người ở đây đều chưa một ai nhìn thấy cái sản phẩm độc đáo này, kể cả tiểu đoàn trưởng Mạnh. Ai đó cầm chiếc vỏ lon lên khẽ bóp cho nó kêu rổn rảng lên rồi nói “Đạp phải thứ này dưới đám lá khô kia thì cũng dễ lầm tưởng đạp phải mìn lắm chứ?” Lúc ấy, Lân mới chợt nhớ tới cậu đồng hương tội nghiệp lúc này vẫn nằm co quắp trên mặt đất khóc rấm rức.

Trong khi Lân đưa Vững xuống khe suối để làm vệ sinh thì tiểu đoàn trưởng và các vị chỉ huy của tiểu đoàn trở về chỗ dấu quân cũ. Từ lúc đó, tự dưng không thấy ai có hứng thú trò chuyện gì nữa. Tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh thì vẫn cầm chiếc vỏ lon trong tay trầm ngâm suy nghĩ. Rất lâu sau, ông ta mới quay sang nói với đại đội trưởng Nguyễn Hồng Thanh:

- Cậu ạ quả là chúng ta biết về kẻ thù còn ít ỏi quá. Muốn đánh thắng chúng phải hiểu được vì sao đất nước của chúng lại có được những sản phẩm như thế này? Và, vì sao những thằng lính Mỹ lại phải mang theo những thứ sản phẩm như thế này ra trận?


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 18 Tháng Mười Hai, 2010, 06:31:17 pm
 5

Sau hai đêm mò mẫm vòng ngoài mục tiêu “A” để quan sát thì đoàn trinh sát của tiểu đoàn 7 gặp được trung đoàn trưởng Trần Đông Hải. Thực ra ông đã cho họ ở đây để trực tiếp giao nhiệm vụ cho tiểu đoàn theo phương án tiến công tiêu diệt mục tiêu này khi có thời cơ. Mục tiêu “A” chính là chi khu quân sự quận lị Cam Lộ ở ngã ba đường số 9 và đường 76. Trước đây, căn cứ này chỉ là một cứ điểm nhỏ, thường xuyên có từ một đến hai đại đội bảo an hoặc một tiểu đoàn quân chính qui của sư đoàn Bến Hải quân đội Sài Gòn chốt giữ có nhiệm vụ bảo đảm an ninh cho khu vực, ngăn chặn sự xâm nhập của cộng sản miền Bắc từ bên kia sông Bến Hải vào và bảo đảm an toàn cho đường số 9 đoạn từ Cam Lộ đi Khe Sanh và từ Cam Lộ về Đông Hà. Ở đây cũng có một trận địa pháo, một căn cứ thiết giáp và một trung tâm thông tin. Nhưng từ tháng ba năm nay, khi bộ tư lệnh quân đội Mỹ ở Việt Nam đột ngột tăng cường lực lượng ra đường 9, lập một căn cứ chỉ huy tại Đông Hà thì Cam lộ trở thành một vị trí quan trọng vừa có tác dụng phòng thủ, hỗ trợ cho khu vực trung tâm, vừa là căn cứ trung chuyển để chi viện cho cụm cứ điểm Khe Sanh - Tà Cơn hiện đang có nguy cơ bị bao vây. Vì vậy địch đã tăng cường xây dựng Cam Lộ thành một cụm cứ điểm vững chắc, xây thêm nhiều lô cốt, hầm ngầm, mở rộng khu phòng thủ ngoại vi và xây dựng thêm một trận địa pháo ngay tại trung tâm căn cứ.

Tất cả những điều đó qua hai đêm quan sát từ bên ngoài, tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh nắm được cả. Chỉ còn một điều duy nhất mà ông nhất định phải hỏi trung đoàn trưởng:

- Trong căn cứ này hiện nay có Mỹ không?

- Hiện nay thì không có đơn vị quân Mỹ nào đồn trú tại đây. Nhưng cấp trên dự đoán rằng khi ta bắt đầu tăng cường vây ép Khe Sanh - Tà Cơn thì có thể địch sẽ điều lên đây từ một đến hai đại đội Mỹ.

- Là bọn nào ạ?

- Có lẽ là lính thuỷ đánh bộ thuộc sư đoàn 1 hoặc sư đoàn 3. Cả hai sư đoàn này đều có mặt tại vùng một chiến thuật này rồi!

- Hay lắm. Phải có Mỹ thì mới ra tấm ra món! - Nhưng nếu Mỹ đưa quân ra chốt giữ căn cứ này thì các anh sẽ phải đối mặt với hoả lực tối đa của chúng đấy!

- Không sao! Nếu bám được thắt lưng chúng mà đánh thì chẳng sợ gì hoả lực mạnh.

- Trên lí thuyết thì như vậy. Nhưng bám được thắt lưng bọn lính thuỷ đánh bộ không phải là dễ đâu!

Trung đoàn trưởng nhắc vậy rồi giao nhiệm vụ cho tiểu đoàn bảy tiếp tục chuẩn bị chiến trường thật kĩ càng để nếu cấp trên quyết định chọn Cam Lộ làm mục tiêu tiến công trong thời gian tới thì tiểu đoàn sẽ đảm nhiệm tiến công trên hướng chủ yếu. Trước khi đi ông cho gọi Nguyễn Danh Côn đến và nói với tiểu đoàn trưởng Mạnh:

- Tôi tiếp tục cho anh mượn cậu trung đội phó tài ba này. Nếu anh muốn bò vào trong đó thì chỉ có cậu này giúp được anh thôi - rồi ông ghé vào tai tiểu đoàn trưởng nói nhỏ - tôi và sư đoàn trưởng Phạm Sùng cũng đã bò vào trong đó rồi. Hay lắm... thằng Mỹ nó xây dựng căn cứ không giống bọn Pháp nhiều lắm đâu. Anh nên quan sát cho cẩn thận. Ngay sau khi trung đoàn trưởng đi, tiểu đoàn trưởng đã tranh thủ hội ý toàn đoàn rồi quyết đỉnh - Đợt trinh sát địa hình đến đây có thể coi như đã kết thúc. Sau đây tất cả các đại đội trưởng cùng anh em trinh sát viên sẽ trở về đơn vị. Riêng đồng chí Lân và đồng trí trợ lí tác chiến sẽ ở lại với tôi để cùng trinh sát trung đoàn tiếp tục nghiên cứu mục tiêu. Tôi uỷ nhiệm cho đồng chí Nguyễn Hồng Thanh chỉ huy cuộc trở về hậu cứ. Trên đường về các đồng chí phải tuyệt đối tuân thủ kỉ luật chiến trường, không được để xẩy ra bất kì sơ xuất nào khiến địch phát hiện được chúng ta. Rõ chưa?

Chiều hôm đó bộ phận trở về lên đường. Lân cứ ngỡ rằng ngay sau đó tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh cho họp để bàn cách đột nhập căn cứ địch. Nhưng không, khi bộ phận về hậu cứ vừa lên đường ông lại gọi Lân và Côn đến và bảo:

- Này hai cậu... làm cách nào để có miếng cơm mà ăn chứ. Gần một tuần nay ăn lương khô, tớ không chịu nổi nữa rồi.

Lân nhìn Côn lo lắng hỏi:

- Gần địch thế này làm sao mà nấu cơm được. Vả lại nồi xoong chả có, gạo cũng không?

Côn cười:

- Yên trí đi. Đông người như mấy hôm vừa rồi thì chịu, chứ chỉ có mấy anh em thì... sẽ có cách giải quyết thôi!

Tiểu đoàn trưởng vui vẻ gật đầu:

- Tốt lắm... thế mới là lính trinh sát chứ. Lân, cậu phải chú ý mà học tập đội bạn nhé!

Thì ra, trong những cái bòng con của cánh lính trinh sát, ngoài lương khô ra đều có thêm một bọc gạo chừng một, hai kí lô được bọc kĩ bằng túi nilon. Côn bảo “Đợt đầu đi trinh sát, bọn tôi cũng ăn toàn lương khô sau đó về thằng nào thằng đó đi kiết hết lượt. Hại sức khoẻ lắm. Vì thế nên những chuyến sau, ngoài lương khô mỗi đứa đều thủ thêm một bọc gạo. Cứ hai đứa thì mang theo một cái ăng-gô. Hễ có cơ hội là phải nấu cơm mà ăn thì mới giữ được sức”.

Lân nhìn người bạn cùng lớp với con mắt ngạc nhiên, cảm phục, Côn đã trưởng thành, đã thay đổi quá nhiều. Khi còn đi học, hễ gặp chuyện gì trắc trở Côn thường phải tìm gặp bằng được Lân để xin ý kiến, nếu không thì cậu ta sẽ do dự, đắn đo mãi không dám quyết. Còn bây giờ, trước mặt Lân là một người lính tự tin, dũng cảm và thông minh lạ thường. Mấy ngày nay được gần Côn, Lân cứ có cảm giác cậu ấy đã vào bộ đội trước Lân hàng dăm bảy năm trời, đã từng dọc ngang khắp các chiến trường rồi chứ không phải chỉ đi trước anh có vài ba bước chân trên con đường đánh giặc vậy.

Và tự nhiên, anh lại nảy ra sự so sánh giữa Nguyễn Danh Côn và Hùng Phong Phạm Xuân Ban. Hai con người ấy thật khác nhau nhưng cũng đều là những người xuất sắc. Tuy vậy, nếu chọn lấy một người xuất sắc hơn, đáng tin cậy hơn thì chắc chắn anh sẽ chọn Nguyễn Danh Côn rồi.

Hai chiến sỹ của Côn được lệnh đi thu xếp việc cơm nước. Tuy Côn nói Lân không cần phải bận tâm nhưng anh quyết định sẽ đi theo họ để “học tập đội bạn”. Một chiến sỹ tên là Thông cười, bảo anh “Nếu anh muốn xem chúng em “biểu diễn”, thì xin mời”. Địa hình ở khu vực này tương đối bằng phẳng, không có những khe núi hiểm trở che khuất mà chỉ có những khu rừng le, rừng cây bụi tái sinh. Địch thì lại ở khá gần, làm sao có thể nấu nướng an toàn được nhỉ?

Lân theo hai chiến sỹ đi sâu vào rừng cách xa khu họ đang ấn náu chừng một cây số, họ chọn một khe nứt ven một con suối cạn, có lẽ do bị nước xối vào mùa lũ tạo nên, bên trên là những bụi le dày đặc rồi nói với Lân - Chỗ này được đấy anh ạ?

Thông mở bòng ra lấy bọc gạo và chiếc ăng gô của mình ra, cậu chiến sỹ kia cũng làm theo. Sau khi bỏ vào mỗi cái ăng gô chừng dăm lạng gạo, Thông nói với người đồng đội của mình “Lợi, cậu xuống khe vo gạo đi. Mang theo vịt nước đi mà lấy nước về luôn một thể.

Mình chuẩn bị bếp”. Lân thấy lạ hỏi “Vịt nước là cái gì hả cậu?”. Thông mở cái bao đồ dắt ở thắt lưng lấy ra một túi dù trông rất là mắt. “Đây là là một loại túi đựng nước dã chiến của bọn lính Mỹ đấy. Mỗi túi như thế này đựng được chừng năm lít nước. Bọn em gọi là con vịt, hoặc con rùa nước” Lân cầm con vịt nước lên xăm xoi rồi gật gù “Bọn Mỹ này trang bị cho lính đến tận răng thật!”.

Lợi xách hai cái ăng gô và con vịt nước lần xuống khe suối. Thông chợt nhớ ra dặn với theo “Kiếm lấy nắm lá chua về nấu canh ruốc nhé!”. Rồi cậu ta quay lại bắt đầu chuẩn bị bếp. Vừa làm, cậu ta vừa giảng giải cho Lân “Muốn bếp không khói thì phải đặc biệt chú ý hai yếu tố, thứ nhất là hướng gió, thứ hai là củi phải là thứ cháy nỏ. Một điều nữa, là nơi mình định đặt bếp phải khô. “Thông chặt hai khúc cây có chạc cắm xuống đất rồi lấy dao gặt nện chặt khoảng đất bên dưới. “Đấy, bếp nấu ăng gô thì chỉ cần thế này thôi”. Lân nhìn quanh hỏi “Bây giờ đi kiếm củi chứ”. Thông cười, chỉ một thân cây màu trắng đứng bên cạnh “Củi đấy. Cây ấy bọn em gọi là cây dầu. Vì nó có dầu, cháy rất nỏ. Nấu nướng ở gần địch không thể dùng thứ củi thông thường được”. Vừa nói Thông vừa dùng dao găm tách từng miếng trên cái thân cây lạ lẫm kia. Quả là một thứ cây lạ, gỗ của nó rất giòn, thớ dọc, có mùi thơm và rất dễ bóc tách. Chỉ một lát, Thông đã bóc được một mớ củi trông rất ngon lành. Cậu ta bắt đầu chụm củi ở giữa hai cái chạc cây. Cũng vừa lúc thông(Lợi) từ suối lên. Họ treo hai cái ăng gô lên chạc cây và bắt đầu nổi lửa. Quả nhiên, lửa bén rất nhanh, cháy lem lém và không có mấy khói bốc lên. Tuy vậy Thông vẫn cẩn thận bẻ một cành cây nhẹ nhàng xua đi những làn khói mỏng.

Trong khi Thông trông chừng bếp thì Lợi móc trong túi quần ra một nắm lá màu tím nhạt, có rất nhiều lông tơ “Lá chua đấy anh Lân ạ - cậu ta giải thích - Thứ lá này mọc nhiều ven suối. Bọn em thường hái về nấu canh.

Trên rừng có rất nhiều loại lá chua có thể ăn được nhưng loại này ngon và dễ nấu hơn cả. Chỉ cần thả vào nước sôi bỏ thêm tý ruốc, hoặc tý mắm kem là thành một món canh ngon rồi”. Lân chọn lấy một vài lá đưa lên miệng nhấm thử rồi bỏ vào túi “Mình phải mang thứ lá này về cho lính của mình nhận dạng mới được.

Sống ở rừng mà không biết ăn lá thì có phen chết khô”.

Chừng nửa giờ sau hai ăng gô cơm đã chín tới. Mùi cơm chín mới hấp dẫn làm sao? Lân không nén được mở nắp ăng gô nhúm vài hạt cho lên miệng nếm thử. Thông cười hỏi “Ngon không anh Lân?”. Lân gật đầu khen “Ngon tuyệt!”. Thông gỡ cả hai chiếc ăng gô xuống rồi lôi trong túi đồ nghề của mình ra một miếng nilon trải ra đất và bảo Lợi “Dỡ ra đi để lấy nồi nấu canh. Hai ăng gô cơm được dỡ ra, ủ trong miếng nilon. Lợi lấy nước từ con vịt ra rửa qua hai cái nồi rồi lại cho nước vào bắc lên bếp. Chừng mươi phút sau hai nồi canh cũng xong xuôi. Thông và Lợi thu dọn bếp núc, xoá hết các dấu vết của một cuộc “ca cóng” rồi nói với Lân “Xong rồi, anh em mình về ăn cơm thôi!”. Tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh rất hài lòng về bữa tối mà các chiến sỹ trinh sát chuẩn bị cho ông. Ông không tỏ ra ngạc nhiên khi họ lại có thể nấu được cả cơm, canh ở một nơi gần địch như thế này. Nhưng ông vẫn nhắc Lân:

- Cậu phải ráng mà học hỏi anh em trinh sát trung đoàn. Họ thích nghi với điều kiện chiến trường rất nhanh đấy.

Vừa ăn, ông vừa nghe Côn kể chuyện về chuyến đưa sư đoàn trưởng và trung đoàn trưởng vào trinh sát căn cứ địch.

- Thực ra thì trong chuyến trinh sát ấy, bọn em cũng chỉ đóng vai phụ thôi. Trinh sát của sư đoàn làm nhiệm vụ dẫn đường. Họ mới thực sự là những người tài giỏi.

- Nhưng, ông già Sùng vào tới tận đâu?

- Tận hàng rào cuối cùng ạ. Cụ còn đòi vào sờ lô cốt đầu cầu, nhưng chủ nhiệm trinh sát sư đoàn không đồng ý, ông ấy cho rằng như thế là không cần thiết!

Tiểu đoàn trưởng gật đầu:

- Đúng là không cần thiết. Chỉ huy cấp chiến dịch cần gì phải mạo hiểm như vậy!

Rồi ông nói thêm:

- Nhưng chúng ta thì cần phải sờ tận nơi đấy. Vào được càng sâu càng tốt!

Côn đã hiểu ý định của ông tiểu đoàn trưởng. Anh biết đây là một việc không đơn giản vì chính anh cũng chỉ bò vào tới tuyến giao thông hào ụ súng nhằng nhịt ở tuyến phòng thủ vòng ngoài của khu căn cứ, không rõ những cái ụ súng bằng bao cát chất nghễu nghện như núi ấy có được gọi là “lô cốt đầu cầu” hay không?

Thực ra, thật khó mà nói với các vị chỉ huy rằng khái niệm “lô cốt đầu cầu” như cách hiểu cổ điển của.các vị là không hoàn toàn đúng khi nói về một kiểu căn cứ phòng thủ hỗn hợp như thế này. Nó không giống như một cái đồn Tây riêng lẻ với sự bố trí mạch lạc giữa các tuyến. Căn cứ này được bố trí thành ba cụm lớn có thể hỗ trợ cho nhau trong phòng thủ trong đó khu hành chính quân sự (chi khu) chưa chắc đã phải là khu cứ điểm quan trọng nhất và xét về bố trí lực lượng phòng thủ thì nó lại có vẻ sơ sài hơn hai cụm còn lại. Tuy vậy, theo quan điểm của các vị chỉ huy thì khu vực này vẫn được coi là trọng điểm, đánh gì thì đánh nhất định phải chiếm được khu trung tâm đầu não của chi khu thì mới được coi là hoàn thành nhiệm vụ. Trong khi đó, hai cụm còn lại thường là nơi đóng quân của các tiểu đoàn cơ động của quân nguỵ hoặc quân Mỹ, có trận địa pháo, trung tâm thông tin riêng, nếu chi khu có bị tràn ngập đi chăng nữa thì hai cụm này vẫn đủ sức phòng ngự và sẵn sàng phản công chiếm lại khu vực đã mất.

Trong khi theo các thủ trưởng trung đoàn và sư đoàn đi trinh sát Côn đã nghe thấy các vị chỉ huy tranh cãi về vấn đề này và có vẻ vẫn chưa đi đến thống nhất.

Chính vì vậy khi sư đoàn trưởng yêu cầu đưa ông và trung đoàn trưởng trung đoàn 4 vào tận bên trong căn cứ địch để quan sát, đại đội trưởng trinh sát sư đoàn Lê Minh Đăng đâm ra lúng túng, đành phải xin ý kiến chủ nhiệm trinh sát “Vậy... chúng tôi phải đưa các thủ trưởng vào khu nào đây?” Chủ nhiệm trinh sát không ngần ngại trả lời luôn “Khu A - Cụm chi khu quân sự”. Đại đội trưởng Đăng hiểu ngay rằng đưa các thủ trưởng vào khu A thì vừa “thính thức” hơn lại vừa an toàn hơn vì khu đó dễ đột hơn, địch bố trí hàng rào mìn bẫy tương đối ổn định chứ không thay đổi hàng ngày như hai cụm còn lại. Côn còn nghe lỏm được ông chủ nhiệm trinh sát sư đoàn đã nói với đại đội trưởng Lê Minh Đăng rằng “Điều quan trọng nhất là phải bảo đảm an toàn cho các thủ trưởng. Các vị ấy bò vào rồi bò ra, cũng chẳng quan sát được gì nhiều đâu. Chủ yếu để giải quyết vấn đề tư tưởng thôi mà. Không vào được tận nơi tận chốn thì khó mà ăn nói với trên cũng khó mà động viên được bên dưới. Cũng khó có được sự tự tin mà quyết đoán khi lâm trận. Cuối cùng thì tai mắt của các vị chỉ huy vẫn là anh em trinh sát chúng mình thôi”.

Côn không nói những điều đó với tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh, vì anh biết tiểu đoàn trưởng sẽ là người chỉ huy trực tiếp cuộc chiến đấu, vị trí chỉ huy của ông là ngay bên hàng rào căn cứ địch. Vì thế ông Phải “sờ đến tận nơi” là một động tác cần thiết của người chỉ huy chiến thuật chứ không chỉ để giải quyết vấn đề tư tưởng hay để “ăn nói” với trên với dưới. Vì thế anh không ngạc nhiên khi Côn hỏi tiểu đoàn trưởng rằng “Thủ trưởng định vào quan sát khu nào” thì ông lập tức nói ngay “Tốt nhất là cả ba khu. Nhưng trọng tâm là khu A và Khu B”.

- Như vậy thì... nhanh nhất cũng phải mất ba đêm ạ!

- Ba đêm thì ba đêm - tiểu đoàn trưởng phảy tay nói - tớ muốn xem kĩ xem bọn Mỹ nó xây đồn xây bốt thế nào mà. Cứ coi như đây là một dịp để học hỏi, phải không cậu Lân? Ăn hết cơm đi chứ. Tớ no rồi. Món canh chua của các cậu tuyệt thật. Đêm nay ta hãy đi dạo một vòng xem sao đã! Đột vào chỗ nào, ta tính sau.


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 18 Tháng Mười Hai, 2010, 06:33:37 pm
6

Lân không ngờ trận đánh đầu tiên trong cuộc đời mình lại xảy ra bất ngờ như vậy. Đó là vào đêm thứ ba, khi họ vừa bò từ trong hàng rào khu C trở ra. Hai đêm trước trinh sát khu A và khu B không gặp trở ngại gì.

Tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh có vẻ phấn khởi lắm.

Thực ra không phải là ông không lo ngại khi phải vượt qua hàng chục lớp rào với nhan nhản các lọai mìn bẫy. Tuy ông đã từng ra trận, nhưng chuyện đó xày ra đã lâu lắm rồi. Vào mặt trận lần này ông cũng phải tìm lại “cảm giác trận mạc” như một anh lính mới. Hơn nữa, mỗi ngày qua đi, ông lại càng thấy rõ rằng thằng giặc mới này khác xa với thằng giặc mà thế hệ các ông đã đánh bại. Vì thế lần đầu tiên bò vào một căn cứ địch ông cũng run lắm. Cũng may là nhóm trinh sát của Côn rất thạo nghề nên việc gỡ mìn, vượt qua các lớp rào đều được tiến hành bài bản, thuận lợi. Qua hai đêm, ông có nhận xét rằng hình như thằng địch ngày nay ỷ lại nhiều vào mìn bẫy, vào hàng rào, vào hệ thống chiếu sáng hiện đại, vào hoả lực nên chúng có vẻ lơ là việc tuần phòng. Những trạm gác ngoại vi tuy cũng có bố trí nhân lực, nhưng ban đêm bọn lính không mấy khi thò cổ ra ngoài. Hễ phát hiện ra điều gì khả nghi là chúng vãi đạn súng máy, ném lựu đạn tùm lum, không cần biết ngoài hàng rào kia là địch quân hay chỉ là mấy cái ống bơ bị khua động bởi những con chuột hay những con thú hoang. Thằng Tây ngày xưa có vẻ chăm chỉ hơn trong việc tuần tiễu, ban đêm hễ có động là chúng đưa quân ra kiểm tra ngay chứ không chỉ bắn hú hoạ, cầm canh. Hệ thống hàng rào, vật cản, giao thông hào ụ súng ngoại vi của bọn địch ngày nay bố trí cũng chẳng theo một trật tự nào cả và lại thường được thay đổi liên tục. Đây chính là điều mà tiểu đoàn tưởng Mạnh ngại hơn cả. Bởi vì nếu đêm nay vào trinh sát mục tiêu mà mươi ngày sau mới nổ súng thì có thể hệ thống vật cản, hệ thống hầm hào, ụ súng của địch đã thay đổi hoàn toàn khác rồi. Nhất là cái loại ụ súng dã chiến đắp bằng bao cát và các loại hoả lực cơ động trên xe cơ giới bọc thép. Với lối đắp công sự, ụ súng như thế này thì mỗi ngày địch đều có thể bố trí lại hệ thống hoả lực một lần mà không tốn bao công sức.

Những ụ súng không sử dụng nữa chúng cũng không thèm dỡ đi, nên đến khi lâm trận nếu chỉ tin vào sơ đồ mục tiêu đã trinh sát từ trước thì bộ đội sẽ không biết đường nào mà lần. Đây là điều đầu tiên mà ông sẽ phải lưu ý các cấp chỉ huy đại đội, trung đội sau khi đi trinh sát trở về. ông sẽ phải nói với họ rằng lối tư duy chiến thuật máy móc sẽ phải trả giá đắt khi chúng ta đối mặt với kẻ thù mới này. Tới đây thì ông lại lấy làm tiếc là đã không để cho các đại đội trưởng của mình bò vào hàng rào một lần. Ông tự nhủ rằng, từ bây giờ cho tới ngày nổ súng, nếu có thời gian và điều kiện thì phải lôi các vị ấy đi một lần cho biết. Có lẽ đó chính là điều thu hoạch quan trọng nhất của ông qua mấy đêm lần mò trong hàng rào căn cứ địch. Hình như chính vì nghĩ như vậy, nên tới đêm thứ ba, ông đã quyết định để cho Định, anh trợ lí tác chiến thay ông bò vào quan sát khu C cùng với Côn và Lân, còn ông thì nằm lại cùng hai chiến sỹ trinh sát làm nhiệm vụ cảnh giới ở chân hàng rào ngoài cùng.

Gần chục ngày cùng nhau đi trinh sát nhưng Lân vẫn không nắm bắt được thực ra Định là người như thế nào. Nhìn bề ngoài, anh ta cao ráo, ưa nhìn, nói năng nhỏ nhẹ, thực hiện chính xác mọi yêu cầu của tiểu đoàn trưởng. Chưa bao giờ thấy anh đề xuất điều gì hay có ý kiến riêng về điều này điều khác. Tuy vậy trong những ngày vừa qua, Lân đã thấy anh ta có những phản ứng hơi khác thường. Lần đầu tiên là vào cái đêm đoàn vượt qua đường 9. Khi vừa nghe thấy người đi phía trước phát tín hiệu có địch, chưa ai kịp phản ứng ra sao thì anh ta đã nằm bẹp xuống lăn một vòng sang trái, chúi đầu vào một gốc cây to, sẵn sàng tránh đạn. Động tác của anh ta nhanh nhẹn khác thường khiến Lân sửng sốt. Ý thức chiến thuật cao như thế thì cũng tốt thôi, nhưng việc gì mà phải hoảng hốt đến vậy? Những ngày sau đó Lân để ý thấy anh ta không bao giờ đi trước hoặc đi sau trong bất kì đoạn đường nào và ở những đơạn đường được thông báo có thể có mìn thì bước chân anh ta không bao giờ chệch khỏi bước chân của người đi trước. Cẩn thận là tốt thôi, nhưng Lân có cảm giác rằng anh trợ lí này có vẻ rất sợ chết! Cái hôm cậu Vững đạp phải cái lon Coca Côla cũng vậy. Khi vừa nghe Vững kêu lên là đạp phải mìn, anh ta liền nằm bẹp ngay xuống và trong lúc mọi người hướng cả về phía Vững thì anh ta lặng lẽ lỉnh ra xa, tìm một rãnh nước xối để nằm cho chắc ăn, trong khi đáng lí anh ta phải chú ý đến việc bảo vệ thủ trưởng của mình hơn.

Chính Côn là người phát hiện là hành động ấy và sau đó đã ngứa miệng nói ngay “Cái lão Định này lủi nhanh như chuột. Ngữ ấy thì đánh đấm gì?”. Cũng may là lời nhận xét độc địa ấy chỉ có Lân và đại đội trưởng Thanh nghe tiếng.

Vì thế cho nên đêm ấy, khi tiểu đoàn trưởng nói rằng để cho Định bò vào quan sát khu C cùng anh em trinh sát, Lân và Côn đã e ngại bấm tay nhau. Nhưng thủ trưởng đã quyết định như thế rồi, biết làm sao? Đã là mệnh lệnh thì phải chấp hành thôi. Định cũng không dám chối nhưng rõ ràng là anh ta đang rưn. Trước khi bò đi, Côn đã thoả thuận rằng: “Tuy anh là cấp trên, nhưng từ lúc này trở đi, anh phải nhất nhất nghe theo lời chỉ dẫn của tôi. Tôi bò đầu tiên, anh phải bám sát tôi và chú ý tuyệt đối không được bò chệch ra ngoài một phân. Cậu Lân bò cuối cùng. Nếu gặp tình huống gì bất trắc anh cứ bình tĩnh để tôi xử lí”. Định đồng ý và còn thều thào dặn thêm “Cậu dò mìn cho cẩn thận nhé.

Thằng Mỹ nó có nhiều loại mìn lạ lắm đấy”.

Khu vực này là trận địa pháo, lại nằm sâu hơn hai cụm kia, gần kề bên đường 9 nên địch bố phòng cũng không cẩn thận cho lắm. Mìn cũng ít hơn, dây kẽm gai thì bố trí lộn xộn, bên ngoài chủ yếu là hàng rào bùng nhùng, hai lớp cự mã rồi tới một lớp rào cũi lợn, rồi lại đến cự mã và lại những cuộn dây thép gai thả bùng nhùng. Hệ thống chiếu sáng cũng sơ sài, những lớp rào bên ngoài không lắp bóng đèn, hai ngọn đèn pha chúng để trên một chiếc xe lớn ở gần hầm pháo, thi thoảng mới quét qua quét lại vài đường lấy lệ. Có ba cái chuồng cu dựng trên những chiếc lô cốt đắp bằng bao cát nhưng đều ở phía bên trong hàng rào, bên trên có giá súng máy. Bọn lính gác ở đây cũng có vẻ chểnh mảng hơn, có lúc chúng bỏ chuồng cu xuống đi đâu đó một lúc khá lâu mới trở lại. Tóm lại là so với hai cụm mục tiêu trước thì cụm này đột vào ngon hơn nhiều và lẽ ra không thể có chuyện gì xảy ra.

Nhưng đã có chuyện thật đáng tiếc xảy ra.

Ba người bò gần tới lớp rào cuối cùng thì bất ngờ trận địa pháo của địch đột ngột phát hoả. Địch nó bắn pháo cầm canh là chuyện bình thường nhưng vì họ ở quá gần, tiếng nổ đầu nòng của những khẩu đại bác 155 1y nghe như muốn xé toang màng nhĩ nên cũng khiếp thật Nhưng điều mà Côn và Lân không ngờ là Định lại hốt hoảng tới mức nhảy dựng lên rồi phóc một cái anh ta chồm cả lên người Lân rồi lổm ngổm bò lộn trở ra. Điều gì phải đến đã đến. Chỉ bò được chừng chục thước là anh ta đâm xầm vào hàng rào. Oàng...

oàng... oàng...! Ba trái mìn nớ liên tực. Cùng lúc đó là những trái mìn pháo sáng vụt lên loá cả mắt. Chỉ trong chốc lát, ba khẩu đại liên từ trên ba cái chuồng cu cùng quay ra phía mìn nổ mà bắn như vãi đạn. Lân đang cứng cả người vì sợ và vì chưa biết phải hành động ra sao thì Côn đã trườn tới, gần như xốc anh lên rồi quát “Tranh thủ lúc đang còn màn khói... lao ra thôi! “ Lân đã dợm đứng dậy nhưng Côn lập tức kéo anh ngã xập xuống. “Không được chạy... bình tĩnh, theo lối đã đánh dấu mà chuồn ra thôi! “ Như hai còn thằn lằn họ thoăn thoắt trườn đi trong làn khói dày đặc còn trùm lên hàng rào. Hai chiếc đèn pha từ trong căn cứ địch đã rạch hai luồng ánh sáng sắc lạnh ngay trên lưng họ. Bò được một quãng thì Lân vấp phải cái xác của Định nằm vắt trên hàng rào “ông Định đây rồi? Làm thế nào Côn?”. Côn dùng nòng súng đập vào hông Lân quát lên trong tiếng súng máy nổ rền “Đừng có đụng vào! Kéo xác anh ta xuống là mìn nổ đấy? Thoát ra nhanh lên”!

Xíu... xíu... xíu... cạnh... oành... cạch oành...

Tiếng súng nổ ran trời. Đạn súng máy bay ràn rạt trên lưng họ. Trong căn cứ bọn địch bắt đầu la hét ỏm tỏi. Rõ ràng là có cả tiếng bọn lính Mỹ. Vừa bò thoăn thoắt Lân vừa nghe thấy Côn làu bàu ở phía sau “Bỏ mẹ! Bọn Mỹ nó kéo ra đây bao giờ thế nhỉ?”.

Chặng đường ra tới hàng rào ngoài cùng chỉ có vài trăm mét mà cảm giác thăm thẳm như đường xuống điạ ngục. Nhưng cuối cùng thì họ cũng bò ra tới nơi.

Lân xuýt bật khóc khi nghe tiếng tiểu đoàn trưởng lo lắng kêu lên “Bọn baỵ ra rồi đấy hả? Có thằng nào làm sao không?” Rồi, anh gần như ngã dúi vào người ông, có cảm giác như không còn chút sức lực nào nữa. Miệng anh đắng nghét, hai quai hàm như cứng lại, vất vả lắm anh mới thốt ra được vài tiếng “Anh Định... hi sinh rồi!”.

Tiểu đoàn trưởng lặng đi trong giây lát rồỉ rối rít hỏi:

- Thế... cậu ấy đâu?

- Nằm trên hàng rào ấy - Côn vừa thở vừa trả lờì - không có cách nào lấy được anh ấy ra mà không mất thêm người nữa đâu!

Tiểu đoàn trưởng nghiến răng trèo trẹo, hực lên một tiếng đau đớn rồi kiên quyết ra lệnh:

- Vậy thì rút nhanh thôi!

Côn phất tay ra hiệu cho các chiến sỹ trinh sát:

- Thông và Lợi đi trước mở đường. Tôi và cậu Lanh chặn hậu. Lân bảo vệ thủ trưởng.

Nhưng họ vừa chạy được chừng hai trăm mét thì đã thấy từ hai cụm A và B tiếng địch lao xao hò hét “Bắt sống Việt Cộng!” Từ phía Cụm A, nghe tiếng xích động cơ xe bọc thép M113 nổ giòn.

- Đi hướng nào anh Côn!

- Chạy về phía bên trái.

- Nhưng hình như... xe bọc thép chúng nó chặn hướng ấy đấy!

- Chúng nó không dám đưa xe vào rừng trong đêm thế này đâu. Có lẽ nó cơ động ra vành đai để đề phòng ta tấn công thôi!

Quả đúng như dự đoán của Côn, xe bọc thép địch dừng lại ở góc con đường tưần tiễu ngoài căn cứ vừa chiếu đèn pha vừa bắn xối xả chặn đường. Một tốp bộ binh nguỵ chừng một tiểu đội, thập thò phía trước hai thiếc xe bọc thép.

- Đột thẳng vào chỗ bọn lính ngụy, mở đường mà ra! Côn ra lệnh.

Thông và Lợi lao lên tung hai trái lựu đạn rồi hét lên “Vọt qua đi!”. Lân cắp AK vừa bắn vừa đưa tiểu đoàn trưởng Mạnh vọt theo. Ông già cũng tung về phía địch một trái lựa đạn nữa rồi mới chịu vọt đi. Phía sau Côn và Lành nằm lại bắn từng loạt ngắn cầm chân tốp địch. Tiếng súng AK của họ chìm nghỉm trong AR15, tiếng súng phóng lựu và súng máy của địch đang bắn như vãi đạn về phía họ. Nhưng có lẽ vì chúng ở trên dông cao nên đạn bắn vọt cả lên trời, vạch những đường ngang dọc đỏ lừ cả mảng trời. Nguy hiểm nhất có lẽ là những trái đạn cối và đạn phóng lựu, luôn nổ ùng oánh hết bên phải, lại bên trái họ. Đúng như Côn dự đoán, hai chiếc xe bọc thép không dám cơ động ra đồi vào ban đêm. Bọn lính nguỵ phía cụm A cũng không đi ra hơn con đường tuần tiễu ngoài vành đai căn cứ. Phía Cụm B cũng có một tốp khá đông quân địch nống ra truy kích, nhưng rõ ràng chúng cũng không định đuổi theo họ. Có điều, nếu họ chọn về phía đó để đột phá thì sẽ nguy hiểm hơn nhiều, họ sẽ mắc cứng ở trước cái khe cạn không vượt qua được vì từ trong căn cứ, địch đã dùng hoả lực dựng một hàng rào lửa ở phía bên kia khe. Nếu có thoát qua đó, họ sẽ phải vượt qua một bãi tráng(?) rộng và sẽ trở thành những mục tiêu di động cho bọn xạ thủ súng cối và súng phóng lựu.

Cuộc phá vây chỉ diễn ra chừng vài phút. Họ đã thoát ra ngoài tầm kiểm soát của hoả lực bộ binh và xe tăng địch. Tới một khe suối cạn Côn hạ lệnh - Tạm dừng tại đây đã!

Tiểu đoàn trưởng ngạc nhiên hỏi:

- Sao không tiếp tục vận động xa xa địch hơn nữa hãy nghỉ?

- Sẽ nguy hiểm đấy thủ trưởng. - Côn giải thích - Bây giờ chúng ta mới bắt đầu rơi vào vùng hoả lực của Pháo binh địch. Theo thông lệ, chúng sẽ bắn đuổi theo chứng ta từ đây cho tới tận chân dãy cao điểm 288. Vì vậy chúng ta cứ nằm đây cho khoẻ, chờ chúng bắn chán rồi thì ta mới đi. Có cho kẹo bộ binh địch cũng không dám nống ra đây ban đêm thế này đâu thủ trưởng ạ!

Tiểu đoàn trưởng Mạnh nói - cậu có lý đấy. Vậy thì ta nằm đây chờ đã. Nhưng vẫn phải chia nhau cảnh giới các hướng nhé!

Hoàn toàn đúng như Côn dự đoán. Tiếng các loại súng bộ binh của địch vừa ngớt thì pháo binh bắt đầu lên tiếng, căn cứ Cam Lộ thì chỉ có các loại súng cối và pháo trên xe tăng, xe bọc thép bắn ra, nhưng các trận địa pháo lớn của địch ở xung quanh như Đông Hà, cao điểm 241 thì bắt đầu bắn liên hồi kì trận. Đúng là chúng bắn đuổi theo họ thật. Những loạt pháo đầu tiên nổ chát chúa ngay trên triền đồi. Nếu không tạm trú trong lòng con suối cạn này thì họ đã gặp nguy với loạt pháo kích này rồi. “Côn quả là một người lính trinh sát tài ba”. Lân vừa chúi đầu xuống một gốc cây bên khe suối để tránh những mảnh đạn lạc vừa nghĩ như vậy.

Anh bỗng nhớ lại trận đánh chớp nhoáng vừa rồi và vội tháo băng đạn vừa bắn hết ra cắm một băng mới vào súng. Mình đã bắn ba mươi viên đạn đầu tiên trong cuộc chỉến tranh này. Ba mươi viên, liệu có trúng thằng địch nào không? Cũng khó trúng lắm vì hình như lúc đó anh chỉ cắp ngang súng quạt bừa về phía địch, chủ yếu là để tự trấn an mình là chính. Còn bọn địch, đến lúc này thì ngoài tiếng pháo nổ mỗi lúc một dồn dập, bọn địch trong căn cứ vẫn còn đang bắn.

Tiếng đạn tiểu liên, súng máy vẫn lúc thưa lúc lại rộ lên. Không hiểu chúng bắn gì mà khiếp thế. Mới động có một tẹo như thế mà chúng đã trút hàng tấn đạn ra rồi? Thằng giặc này quả là giàu thật đấy. Nhưng... dù sao chúng cũng đã giết được một Việt cộng, một lính chủ lực Bắc Việt hẳn hoi. Lân khẽ thở dài và chợt rùng mình khi nghĩ đến hình ảnh xác của Định tung lên trong ánh chớp của những trái mìn liên hoàn. Một lúc nào đó anh cũng có thể banh xác như thế nếu sơ xuất đạp phải một trái mìn. Nhưng, điều đáng buồn là Định chết không phải do sơ xuất mà do quá hoảng sợ khi đột nhiên nghe hàng loạt tiếng pháo nổ bên tai. Lúc đó chính anh cũng giật nảy người lên và anh cũng không biết mình lấy đâu ra can đảm để không chồm dậy bỏ chạy như Định?

Rồi một ngày nào đó, ở quê hương xa xôi, gia đình vợ con anh ta sẽ nhận được một tờ giấy báo tử. Dĩ nhiên, như mọi tờ giấy báo tử khác, trên đó sẽ phải có dòng chữ “Đã hi sinh anh dũng trong chiến đấu!”. Chứ còn biết làm sao? Ai còn nỡ lòng phán xử người đã chết để xem anh ta đã chết trong tư thế như thế nào?



Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 18 Tháng Mười Hai, 2010, 06:35:47 pm
Có tiếng động xột soạt dưới lòng suối, theo bản năng Lân vội chong súng về phía ấy nhưng bỗng nghe tiếng Côn thì thào:

- Lân, mình đây... cậu vẫn ổn chứ?

- Mình không sao? Thủ trưởng có sao không?

Côn đã lồm cồm bò tới bên cạnh.

- Cũng may mà ông ấy không việc gì cả. Nhưng chắc ông ấy buồn về chuyện anh Định lắm!

- Biết làm sao được. - Chả làm sao được, phải quen dần đi thôi!

- Quen với cái gì?

- Cái chết!

Côn đáp gọn lỏn khiến Lân khẽ rùng mình.

- Cậu không biết chứ... trung đội tớ đã mất hai cậu rồi đấy. - Côn nói trong bóng tối - một thằng đạp phải mìn, một thằng trúng pháo. Y như thế này này. Hôm đó nếu bọn mình nắm được qui luật bắn đuổi của bọn pháo binh địch thì đã không sao rồi.

- Vì thế, hôm nay ông mới cứu được bọn tôi. Nếu cứ cắm đầu cắm cổ mà chạy thì có khi đã toi hết vì pháo của bọn nó rồi.

- Bài học xương máu đấy. Học đi, ông lớp trưởng! - Côn khẽ cười.

- Nếu không có chiến tranh thì bây giờ chúng mình đang ngồi trên giảng đường đại học rồi nhỉ?

- Quên các trường đại học đi - Côn khẽ thở dài - Đừng có mơ chúng mình cờn có thể sống được cho đến ngày chiến thắng nhé!

- Sao lại không mơ? Nểu không mơ mộng một chút thì làm sao mà vượt qua được những khoảng khắc như thế này?

- Cũng phải... - Côn vỗ nhẹ vào vai Lân - Thôi, ông cứ mơ đi. Tôi phải đi nghe ngóng xem liệu bọn này nó bắn chác theo kiểu nào để còn lựa đường mà chuồn. Đêm nay mà không thoát ra khỏi khu vừc này được thì sáng mai sẽ rắc rối đấy. 7

Năm ngày sau.

Buổi trưa. Lân đang nằm bò trong hầm kèo vẽ lại sơ đồ ba cụm căn cứ địch thì Ngạn hớt hải chui xuống hầm:

- Lân... cậu phải xem ngay cái này!

Ngạn nói bằng một giọng khá nghiêm trọng rồi đưa cho Lân mấy tờ giấy khổ nhỏ.

- Cái gì thế này?

- Truyền đơn địch nó vừa rải từ trên máy bay xuống đấy. Cậu xem đi khắc biết!

Lân vội né người ra phía cửa hầm, cầm tờ truyền đơn lên xem và bỗng giật mình đánh thót một cái. Trên tờ truyền đơn là tấm ảnh chụp một xác người nằm vắt trên một mảng hàng rào kẽm gai kiểu cũi lợn. Phần dưới cơ thể con người ấy nát bấy, tơ tướp, phần trên gần như còn nguyên vẹn, gương mặt xạm đen, có lẽ vì ám khói nhưng vẫn có thể nhận ra ngay đó là Định.

- Trời ơi! Sao chúng nó lại...

- Cậu hãy đọc những dòng chữ kia đi đã. - Ngạn nhắc.

Lân vội nhìn xuống mé dưới của tờ truyền đơn và đọc hàng chữ lớn:

Sinh Bắc tử Nam

Bên dưới là một hàng chữ nhỏ hơn:

Rõ ràng, đây một chiến binh Bắc Cộng! Các bạn hãy chọn đi - phơi xác ở phương Nam hay hãy cùng nhau tìm đường mà trở về quê hương phương Bắc?

Lân cảm thấy cuống họng mình như tắc nghẹn, miệng anh lại đắng ngen nghét. Ngườỉ ta bảo rằng đó là dấu hiệu của bệnh xung mật. Mỗi khi sợ hãi hoặc xúc động cao độ thường thấy dấu hiệu như vậy. Tay anh tự nhiên vò nát tờ truyền đơn rồi không ngăn được lòng mình, anh gục mặt xuống nền hầm khóc nức lên - Kìa, cậu làm sao thế? - Ngạn cuống lên - lúc này...

không phải lúc khóc. Phải tính xem... nên báo cáo với tiểu đoàn thế nào?



Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 18 Tháng Mười Hai, 2010, 06:37:16 pm
Lân vẫn không sao nén được, đôi vai anh vẫn rung lên từng đợt. Có một cái gì đó vừa cứa vào lòng anh nhói buốt. Anh bỗng cảm thấy hình như mình cũng có lỗi trong chuyện này. Tại sao, hôm đó anh lại không cưưng quyết ép Côn phải tìm cách đưa xác Định ra?

Làm như vậy rất có thể cả anh và Côn khó mà ra thoát, thậm chí thủ trưởng tiểu đoàn có thể cũng sẽ gặp nguy hiểm. Nhưng, anh và bao đồng đội sẽ không phải chứng kiến cảnh nhục nhã này. Từ hôm đi trinh sát về tới nay, tiểu đoàn trưởng Mạnh cũng luôn sống trong tâm trạng day dứt khôn nguôi. Ông trở nên ít lời hẳn đi và hình như ông cố tránh không nói chuyện với anh.

Hôm qua, khi gọi anh lên giao nhiệm vụ vẽ lại sơ đồ căn cứ địch, ông cũng chỉ nói gọn lỏn vài câu rồi đuổi anh về ngay, không lôi lả níu kéo anh phải cùng ông bàn chuyện địch ta như trước đây nữa. Bây giờ bị dáng thêm một đòn “tâm lí chiến” như thế này liệu ông có chịu đựng nổi không?

- Thôi được rồi, nếu cậu thấy khó thì để tớ lên gặp tiểu đoàn trưởng một mình vậy. Không thể không báo cáo chuyện này với chỉ huy được.

Ngạn nói vậy rồi định chui ra khỏi hầm đi luôn, nhưng Lân vội kéo anh lại:

- Đừng... có lẽ anh nên... nói chuyện này với chính trị viên trước thì hơn.

Ngạn gật đầu nói “Cũng phải” rồi chui ra khỏi hầm. Nhưng ngay lập tức anh lại chui xuống, nói rành rọt từng lời - Lân này, nếu hôm ấy là tớ đi với cậu Côn thì tớ cũng sẽ phải để anh ấy lại thôi. Trong hoàn cảnh lúc ấy việc sống còn của những người khác để hoàn thành nhiệm vụ còn quan trọng hơn việc trọn ình trọn nghĩa với người đã chết nhiều lắm.

Nói xong Ngạn đem tờ truyền đơn chạy lên hầm chính trị viên Lê Văn Sớm. Ông Sớm đờ đẫn nhìn tờ truyền đơn một lúc lâu rồi hỏi một câu thật vô nghĩa - Bọn nó thả cái này xuống bằng máy bay cơ à?

- Vâng... bằng máy bay C130 ạ - Ngạn trả lời - phải đến hàng vạn tờ, trắng cả một sườn núi.

Bỗng ông cầm cái điếu cày đập đánh chát vào cái mũ sắt.

- Mẹ cha chúng nó... chơi trò bóp dái nhau không bằng!

Đó là câu chửi độc nhất mà ông biết. Ông đang cáu tiết thật sự.

- Dạ thưa chính trị viên... có... mang cho tiểu đoàn trưởng xem không ạ?

- Chớ... chớ! - ông vội xua tay- để tôi nói chuyện với ông ấy thì hơn. Bây giờ, cậu cho anh em trinh sát toả đi khắp khu vực đóng quân của tiểu đoàn xem có tờ nào thì nhặt bằng hết rồi đem đốt đi.

Ngạn nghĩ bụng “nhặt hết thế quái nào được”, nhưng anh cũng biết lúc này không phải là lúc có thể tranh luận với cấp trên nên chỉ đáp “Vâng” rồi xin phép đi thi hành mệnh lệnh ngay.

Chính trị viên Lê Văn Sớm ngồi lì trong hầm nửa giờ đồng hồ rồi ngoi lên gọi cậu liên lạc:

- Này Lưu... đi xuống các đại đội mời các đồng chí chính trị viên lên họp ngay.

Ra lệnh xong, ông mới rón rén bước sang căn nhà hầm nửa nổi nửa chìm của tiểu đoàn trưởng. Vừa bước vào, ông đã thấy tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh ngồi bó gối trong căn hầm chỉ huy, quay mặt vào vách đất, đăm chiêu suy nghĩ. Trước mặt ông, găm trên vách hầm là cái tờ truyền đơn tai ác kia.

- Anh Mạnh!

Chính trị viên lo lắng lên tiếng. Vẫn không quay lại, tiểu đoàn trưởng hỏi:

- Cậu đấy à? Vào đây... cậu cần phải xem cái này...

- Tôi... đã xem rồi! - Chính trị viên nói thêm - cậu Ngạn vừa báo cáo với tôi rằng chúng nó rải xuống nhiều lắm. Tôi đã lệnh cho anh em trinh sát đi gom hết rồi đốt đi rồi.

- Gom hết thế nào được? - Tiểu đoàn trưởng thở dài điều quan trọng bây giờ là tôi sẽ phải nói thế nào với anh em chiến sỹ của mình đây?

- Tôi đã cho mời các đồng chí đảng uỷ viên tới họp... chúng ta phải bàn cách để làm công tác tư tưởng với bộ đội. Tiểu đoàn trưởng đột ngột đứng dậy.

- Các anh cứ họp đi. Tôi phải lên gặp ban chỉ huy trung đoàn đây!

Chính trị viên lo lắng hỏi:

- Trung đoàn triệu tập có việc gì thế anh?

- Không có lệnh triệu tập. Mà là tôi đã quyết định lên xin trung đoàn cho từ chức!

- Ôi trời - chính trị viên thảng thốt kêu lên - sao anh lại làm thế?

Tôi còn biết làm thế nào nữa? - Tiểu đoàn trưởng nói gằn từng tiếng - con cái người ta giao cho tôi để tôi đưa họ ta trận. Rốt cuộc là thế nào? Chưa đánh đấm gì mà đã phơi xác con người ta ra đó cho thằng địch nó bêu riếu. Liệu tôi còn xứng đáng là người chỉ huy nữa không?

- Nói rồi ông kiên quyết khoác súng và bao đồ lên người rồi nói thêm:

- Tôi đề nghị anh cứ đưa chuyện này ra đảng uỷ mà kiểm điểm cho đến nơi đến chốn. Tôi sẵn sàng chịu bất kì hình thức kỉ luật nào của đảng.

Biết là không thể ngăn được tiểu đoàn trưởng, chính trị viên cuống quýt chạy sang hầm tiểu đội trinh sát đúng lúc Ngạn đang tập hợp anh em để giao nhiệm vụ đi gom truyền đơn.

- Ngạn, cậu cho hai trinh sát sang ngay đi với tiểu đoàn trưởng lên trung đoàn có việc gấp!

Ngạn lập tức chỉ định hai chiến sỹ chạy sang ngay nhưng tiểu đoàn trưởng đã nhanh chân rời khỏi hầm chỉ huy rồi. Họ còn đang lúng túng chưa biết làm sao thì chính trị viên chạy về tới nơi, thấy vậy ông liền dậm chân gắt um lên:

- Chạy theo ông ấy mau. Các cậu này thật chẳng ra làm sao cả!

Hai chiến sỹ trinh sát vội vã chạy theo tiểu đoàn trưởng. Chính trị viên Lê Văn Sớm mệt mỏi bước vào căn nhà hầm chỉ huy, đầu óc ông nóng bừng bừng.

Đúng là ác mộng. ông chưa bao giờ gặp tình huống khó xử như thế này. Chợt ông nhớ ra rằng cần phải gọi ngay cho chính uỷ trung đoàn trình bày trước với ông ấy về tình huống này để ông ấy bàn trước với trung đoàn trưởng tìm cách xử lí. Làm sao để động viên được ông Mạnh tiếp tục nhiệm vụ, chứ vào lúc nước sôi lửa bỏng thế này mà thay quân đổi tướng thì sẽ rối như canh hẹ. Phải lắp bắp mất một hồi lâu ông mới trình bày được qua điện thoại câu chuyện của tiểu đoàn trưởng Mạnh. Nghe xong, chính uỷ trung đoàn lặng đi một lát rồi nói “Anh Sớm này, chuyện của anh Mạnh để chúng tôi lo. Còn anh, trước mắt phải lo ổn định tư tưởng cho bộ đội đi. Đừng để chuyện này ảnh hưởng đến ý chí chiến đấu của anh em chiến sỹ”.


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 18 Tháng Mười Hai, 2010, 06:38:31 pm
Chính trị viên Sớm vừa kết thúc cuộc nói chuyện với chính uỷ trung đoàn thì các chính trị viên đại đội lục tục kéo tới. Gần đủ mặt các đảng uỷ viên, nhưng ông Sớm bỗng nghĩ rằng không nên đưa chuyện này vào khuôn khổ sinh hoạt đảng mà chỉ nên coi đây là một cuộc hội ý để giải quyết một tình huống trong công tác chính trị mà thôi. Vì vậy, ông cố tạo ra một không khí bình thường bằng cách mở đầu đơn giản như mọi ngày:

- Thế nào? Các đại đội có vấn đề gì về tư tưởng thì báo cáo đi. Mấy hôm nay anh em đi làm công tác vận tải có thắc mắc gì không?

Như thường lệ chính trị viên đại đội 9 Lương Xuân Báo lên tiếng trước:

- Không có vấn đề gì đâu ạ. Cán bộ chiến sỹ đại đội tôi vẫn đảm bảo quân số lên tuyến vận tải. Năng suất cũng được nâng lên rõ rệt. Đặc biệt là tiểu đội Hùng Phong, các đồng chí ấy đã có sáng kiến mỗi người đi tải gạo đều mang theo một cái chạc cây, đến lúc nào muốn giải lao thì dùng cái chạc cây ấy chống vào bao tải gạo, thế là có thể nghỉ sức tại chỗ mà không cần phải hạ xuống bốc lên rất mất sức. Vì thế năng suất của tiểu đội này đã nâng lên rất cao. Các tiểu đội khác cũng đang học tập sáng kiến này của tiểu đội Hùng Phong.

- Tốt- chính trị viên tiểu đoàn khen - Thế anh em có bộc lộ tâm tư nguyện vọng gì không?

- Kể ra thì cũng có chút cấn cá. - Lương Xuân Báo cân nhắc từng lời - Có vài anh em thắc mắc rằng tại sao một đơn vị thép như đơn vị mình mà vào chiến trường mãi chả thấy được đánh đấm gì mà lại chỉ toàn đi làm công tác vận tải!

- Nói với anh em, mình tải thì mình ăn chứ ai? - Chính trị vìên Sớm giải thích - quân đội ta còn nghèo, lấy đâu ra máy bay tàu bò mà chẳng phải è lưng ra tải gạo, tải đạn. Phải lót ổ cho thật kĩ rồi mới đánh chác được.

Các chính trị viên lần lượt báo cáo tình hình. Không có vấn đề gì lớn ngoài chuyện anh em chỉ mong sớm được ra trận chứ không muốn biến mình thành anh lính vận tải. Không có ai đào ngũ, bỏ ngũ, không có trường hợp nào thoái thác niệm vụ. Công tác tư tưởng như thế thì khoẻ quá rồi còn gì? Và đặc biệt, không thấy đơn vị nào nhắc tới chuyện nhặt được truyền đơn.

Chính trị viên Lê Văn Sớm thấy rằng đằng nào thì cũng phải nói với các đồng chí bí thư các chi bộ chuyện này.

Nhưng trước tiên, ông hỏi xa xôi:

- Thế các đồng chí có thấy anh em họ... bàn tán gì về trường hợp hi sinh của đồng chí Định không?

Vẫn là Lương Xuân Báo lên tiếng trước:

- Rất ít anh ern chiến sỹ biết anh Định từ trước trừ một vài đồng chí cán bộ từ trung đội trở lên. Chúng tôi cũng thấy chưa nên thông báo rộng rãi về sự hi sinh của đồng chí ấy.

- Như vậy cũng phải... nhưng... - “Bây giờ mới đến đoạn khó nhá nhất đây” Chính trị viên Lê Văn Sớm nghĩ vậy rồi rụt rè móc túi lấy ra tờ truyền đơn.

- Tôi đề nghị các đồng chí hãy xem cái này trước đã...

Bốn ông chính trị viên đại đội xúm cả lại xem tờ truyền đơn.

- Ôi... thằng Định đây mà!

Chính trị viên đại đội 8 Lê Hồng Sơn thốt lên.

- Liệu có đúng là nó không nhỉ?

Chính trị viên đại đội 7 Nguyễn Văn Tân nghi ngại hỏi.

Chính trị viên đại đội hoả lực Lê Thành thì nhận ngay ra người trơng ảnh:

- Đúng là nó thật rồi! Anh khẽ thốt lên rồi run run đưa tờ truyền đơn cho Lương Xuân Báo. Anh ta nhìn ngược nhìn xuôi một lát rồi thủng thẳng nói:

- Cũng... phải tinh thì mới nhận ra được. Những loại truyền đơn tâm lý chiến kiểu này chúng tôi gặp đầy trên đường. Hồi mới vào anh em còn tò mò đọc.

Rồi thì dần dần cũng chẳng ai để ý nữa. Trò tâm lí chiến rẻ tiền ấy mà!

Chính trị viên Lê Văn Sớm gật gù:

- Đúng là... trò tâm lí chiến... nhưng vì lần này... cái đó có liên quan đến đơn vị chúng ta nên tôi muốn xin ý kiến các đồng chí xem có cần phải thông báo cho anh em, để họ biết rằng thằng địch thâm độc này đã lợi dụng sự hi sinh cao cả của đồng chí ta để làm trò tâm lí chiến bỉ ổi, rẻ tiền, qua đó mà phát động lòng căm thù trong anh em chiến sỹ đơn vị chúng ta hay không?

Bốn ông chính trị viên nhìn nhau, họ không biết thực ra thì chính trị viên tiểu đoàn muốn dẫn dắt câu chuyện đến đâu? Cuối cùng, như thường lệ họ lại nhìn sang Lương Xuân Báo cầu cứu.

- Theo tôi thì không nên nói gì cụ thể thì hay hơn. - Lương Xuân Báo thủng thẳng nói - bởi vì đã nói cụ thể thì chúng ta sẽ phải trả lời anh em những câu hỏi lôi thôi lắm. Mà càng nói nhiều về chuyện này thì lại càng dở. Vả lại, giả sử một chiến sỹ nào đó tình cờ nhặt được tờ truyền đơn này thì khả năng đồng chí ấy nhận ra người quen không nhiều lắm đâu. Mà đã không nhận ra thì tờ truyền đơn này cũng giống như mọi tờ truyền đơn mà họ đã thấy từ hôm vào chiến trường đến nay thôi. Vì vậy, theo tôi, chúng ta chỉ cần giáo dục nhắc nhở anh em cảnh giác với những luận điệu tuyên truyền tâm lí chiến của địch, hãy tự giác không xem truyền đơn của địch, không lén nghe đài địch là được.

Các chính trị viên cũng gật gù hùa theo:

- Phải đấy... không nên nói gì cụ thể là hơn.

- Thế thì không nói nữa - Chính trị viên Lê Văn Sớm kết luận - nhưng các đồng chí phải tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nhắc nhở anh em cảnh giác với mọi thủ đoạn tuyên truyền của địch. Còn, về trường hợp hi sinh của đồng chí Định, nếu ai có băn khoăn thắc mắc gì, các đồng chí cứ mời lên gặp tôi. Nhất định tôi sẽ giải thích cặn kẽ.

Cuộc hội báo công tác chính trị đã kết thúc gọn nhẹ như vậy. Chính trị viên Lê Văn Sớm thở phào như vừa trút được gánh nặng. Như vậy dù sao cũng đã họp rồi đã thông báo rồi, đã có phương hướng lãnh đạo tư tưởng về vụ này rồi. Cấp trên có hỏi đến thì cũng dễ ăn nói hơn. Ông thầm khen “Cái thằng Báo này ma mãnh thật. Nó quả là mẫn cảm và cũng rất thông minh. Đúng rồi, có hay hớm gì cái chuyện này mà đem ra nói đi nói lại. Phải biết vượt qua, phải làm thế nào để quên đi thật nanh, để còn dành tâm sức cho bao nhiêu việc lớn, cho bao nhiêu nỗi đau thương còn lớn hơn nhiều đang chờ chúng ta ở phía trước nữa chứ. Nhất định đêm nay, ta phải nói với ông Mạnh những điều này mới được”. 8

Những tiên đoán của chính trị viên Lê Văn Sớm không ngờ lại thành hiện thực ngay. Một sự kiện quan trong hơn nhiều đã xảy ra khiến câu chuyện về cái chết của trợ lí Định và tờ truyền đơn trở nên mờ nhạt dần đi rơi vào lãng quên lúc nào chẳng rõ.

Địch đột ngột ném bom dữ dội gần khu vực kho trung chuyến của của sư đoàn rồi đổ một đại đội biệt kích Mỹ xuống một cao điểm ở phía Bắc bãi Cù Đinh, cắt ngang con đường vận tải lương thực đạn dược từ kho trung chuyển của sư đoàn vào khu chiến của trung đoàn.

Hai trung đội của đại đội 9 do đại đội phó Đồng Tiến Phi chỉ huy đi làm nhiệm vụ vận tải vừa vặn rơi đúng vào khu vực địch đổ quân.

Trận đánh Mỹ đầu tiên của đại đội 9 đã diễn ra hoàn toàn bất ngờ.

Như mọi ngày, đại đội ra đến kho, nhận hàng xong thì trời đã xế trưa. Hai trung đội trưởng đề nghị cho bộ đội nghỉ ăn cơm trưa xong rồi mới hành quân về, nhưng đại đội phó Đồng Tiến Phi kiên quyết ra lệnh cho đơn vị hành quân ngay. Anh không có linh tính gì đặc biệt, nhưng nguyên tắc ở chiến trường là không nên tụ tập ở những nơi đông người, mà khu kho trung chuyển này cả tuần nay cứ như một cái chợ vậy. Đã thế, có hôm anh còn gặp một đơn vị dám cho quân dừng chân nấu ăn ngay bên con suối gần khu kho. Khói mù mịt mà lạ sao không thấy một ai nhắc nhở gì họ cả. Mất cảnh giác như thế thì nhất định sẽ phải trả giá thôi. Nhưng trưa nay, anh không cho bộ đội dừng ăn cơm trưa ở khu vực này cũng vì trong lòng anh đang có một chuyện buồn.

Chừng hơn một giờ trước đây, trên đường hành quân, khi ra tới gần khu kho thì anh nhặt được một tờ truyền đơn. Cũng là tình cờ thôi, tờ truyền đơn ấy từ trên cây rơi lừ đừ xuống ngay trước mắt anh, cứ như có ai xui khiến, anh đưa tay ra bắt lấy. Và, anh chợt sởn gai ốc khi nhận ra thi thể người bạn thân của mình hiện ra trên tờ truyền đơn. Đúng là mày rồi, Định ơi! Vừa mới chiều hôm qua anh mới biết tin Định đã hi sình trong khi đi trinh sát cùng tiểu đoàn trưởng. Anh đang định bụng chiều nay nếu về sớm, nhất định anh sẽ lên tiểu đoàn hỏi cho rõ. Anh và Định cùng học với nhau tại trường sĩ quan lục quân, ra trường cùng được điều về trung đoàn này. Định làm trợ lí dưới tiểu đoàn 7, anh làm trợ lí trên ban tác chiến của trung đoàn cho tới trước khi đi B mới được điều về làm đại đội phó đại đội 9. Hôm anh về nhận nhiệm vụ tại tiểu đoàn, Định mừng lắm. “Cậu về dưới này thì hay quá rồi. Chúng mình lại được gần nhau”. Vậy mà vừa vào tới chiến trường thì Định đã ra đi rồi. Từ lúc nhặt được tờ truyền đơn, lòng anh như có lửa đốt. Vì thế, khi anh em đóng hàng xong, trung đội trưởng Thoan và trung đội trưởng Tại tới đề nghị anh cho bộ nghỉ ăn cơm rồi mới lên đường thì anh đã nổi cáu, gắt um lên “ăn với uống gì lúc này. Lên vai, hành quân đã. Một tiếng nữa mới được nghỉ ăn cơm!”.

Hôm nay đại đội anh được chở toàn hàng thực phẩm khô. Đó là những thùng mắm kem, bột trứng, những kiện ca-la-thầu của Trung Quốc và cả những tải rau muống khô nữa. Không hiểu ai đã nghĩ ra cái sáng kiến lạ lùng là đem xấy khô rau muống để gửi ra chiến rường. Hôm trước, dọc đường anh em trong tiểu đội Hùng Phong đã móc trộm một ít mang về cho nhà bếp nấu thử. Anh nuôi trưởng Ngô Xuân Cung nếm thử một miếng rồi lắc đầu “Dai như dẻ rách! Hơi chát nữa. Của này có nấu cho lợn thì nó cũng chẳng thèm ăn”. “Nhưng tấm lòng của hậu phương thì cũng đáng ghi nhận”. Ông anh nuôi trưởng thêm một câu an ủi vào lời thẩm định rồi bảo đám lính trẻ “Nếu đã mất công ăn trộm thì từ mai kiếm cái gì khá hơn mà mang về nhé!”.



Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 18 Tháng Mười Hai, 2010, 06:39:14 pm
Nhưng hôm nay thì đại đội vẫn chở tới hơn hai chục bao tải. Được cái, những ai nhận gùi món hàng này thì cũng nhẹ nhõm hơn, hàng cồng kềnh nên không thể chồng hai tải mà gùi được. Ngay cả Hùng Phong hôm nay cũng chỉ gùi một tải rau muống. Đại đội phó Phi cũng chọn một tải rau muống để gùi tho êm lưng. Chứ mấy hôm trước gùi hòm đạn cối, lưng anh cũng trầy trớt cả ra rồi. Vừa đi vừa nghĩ về tấm hình thê thảm của Định trong túi áo và món rau muống khô trên vai nên đại đội phó Đồng Tiến Phi quên cả đói, cứ phăm phăm mà bước. Đại đội đi liền một mạch cho đến khi nhìn thấy thung lũng Cù Đinh hiện ra trước mặt thì đại đội phó mới ra lệnh:

- Dừng lại! Nghỉ ăn cơm trưa. Các tiểu đội quản lí bộ đội cho tốt, không được đi lại lung tung! Súng đạn vũ khí luôn phải bên người!

Đó là một mệnh lệnh quen thuộc chứ không phải vì Phi có linh tính gì. Nhưng khi đã nhai hết nửa nắm cơm thì Phi chợt chú ý tới chiếc OV10 đang bay lượn ngay trên đầu. Từ hôm vào chiến trường, dường như các chiến sỹ đã quen với sự hiện diện thường xuyên của nó trên bầu trời rồi nhưng hôm nay hành lang của nó có vẻ hơi lạ. Trước hết là bởi hình như nó bay thấp hơn, vòng lượn ngày càng hẹp hơn, tiếng động cơ của nó dường như cũng khó chịu hơn. Nghĩ vậy, Phi dừng nhai, bước ra một khoảng trống khum tay che nắng nhìn lên bầu trời. Vừa lúc đó thì thằng OV10 chao xuống phóng liền mấy quả đạn khói.

- Nó sắp làm gỏi khu kho rồi! - Phi nói to thành tiếng.

Tiểu đội trưởng Hùng Phong lúc đó cũng cầm nắm cơm ăn dở chạy ra đứng bên cạnh nói thêm: - May mà đại đội mình đã rời khỏi đó rồi. Đại đội phó sáng suốt thật!

Đại đội phó khẽ cười:

- May thôi... cứ như thằng Định nó đẩy mình đi vậy?

- Ai cơ ạ?

- Không có ai. Cậu lui vào đi, bảo anh em tìm góc cây to mà nấp. Nó sắp ném bom bây giờ đấy. Biết đâu, nó vãi cả ra khu này?

Gần như ngay lập tức, một tốp phản lực từ nãy đến giờ vẫn lảng vảng đâu đó lao về phía những cột khói thằng OV10 vừa dựng lên. Và tiếng bom vang lên đậy đất. Ngay sau đó là những tiếng đề pa của hàng chục khẩu pháo trên cao điểm 241. - Các đồng chí trung đội trưởng chú ý - Phi hét lên - địch oanh tạc vào khu vực kho tàng và tuyến đường vân chuyển của ta. Lệnh cho bộ đội nai nịt gọn gàng, sẵn sàng cơ động ngay!

Hạ lệnh xong Phi chạy lại vị trí của mình, thắt vội bao đồ, vừa định xốc gùi hàng lên thì chiếc OVI0 gần như xà xuống ngay triền đồi trước mặt và phóng liền mấy quả đạn khói.

- Nằm xuống!

Anh hét lên. Bộ đội còn đang xao xác thì hàng chục trái đạn pháo đã nổ ngay trên triền đồi trước mặt. Một tốp máy bay ném bom từ phía Tây lao tới bổ nhào, ngay trên đầu họ, những trái bom đen xì lao xuống vun vút. Mặt đất rung chuyển. Đất đá bay rào rào. Không gian tối xầm lại, khét lẹt mùi thuốc bom.

- Không được chạy lung tung!

Anh vừa lom khom chạy dọc theo đội hình của đại đội vừa hét lên trong tiếng bom đạn rền vang. Anh không tin rằng chúng có thể bắn pháo, ném bom trúng vào ngay con đường mòn này. Nếu bộ đội nằm yên tại chỗ, lợi dụng địa hình địa vật mà trú nấp thì sẽ hạn chế được thương vong. Trong những tình huống như thế này, nguy hiểm nhất là sự hoảng loạn, mạnh ai nấy chạy.

Thêm một tốp máy bay nữa lao tới trút bom. Pháo địch bắn mỗi lúc một dày hơn. Đạn pháo rơi ngay trước đội hình của đại đội. Nhìn sang triền đồi trước mặt đã thấy quang toác. Giữa những tiếng nổ của bom đạn, Phi nghe mơ hồ có tiếng động cơ trực thăng “Chẳng lẽ, chúng nó lại dám đổ quân xuống đây sao?” - phi nghĩ vậy rồi chợt nhớ ra rằng trung đoàn trưởng đã có lần nói địch đã từng nhiều lần đổ quân ra vùng Cù Đinh - Ba De, chiếm nơi này làm bàn đạp để càn quét ra vùng giới tuyến hòng ngăn chặn sự xâm nhập của bộ đội ta. Biết đâu, đây chẳng phải là một hành động mở đầu cho một chiến dịch như vậy?

Nghĩ vậy, anh lập tức quay sang nói với Hừng Phong - Gọi ngay cho tôi anh Thoan và anh Tại lại đây!

Hùng Phong chạy đi, một lát sau hai trung đội trưởng đã có mặt bên cạnh Phi. Anh chỉ ra triền đồi trước mặt nói:

- Rất có thể địch sắp đổ quân xuống khu vực này. Chúng ta phải triển khai ngay đội hình chiến đấu thôi. Các anh cho bộ đội bỏ hàng hoá tại chỗ, chuẩn bị vũ khí sẵn sàng đánh địch đổ bộ trước mắt, trung đội anh Tại chia lực lượng ra chốt ở phía trước con đường mòn này, lối dốc xuống thung lũng ấy. Trung đội anh Thoan cơ động ngay sang chiếm lĩnh dông đồi bên phải kia.

Nếu địch đổ xuống gần chỗ bộ phận nào thì bộ phận đó lao vào đánh. Những bộ phận khác sẽ liệu tình hình mà chi viện. Các đồng chí rõ chưa?

Hai trung đội trưởng nói “rõ”.

- Vậy thì hành động ngay. Hiệp đồng bằng tiếng súng thôi, không có liên lạc gì nữa đâu!

Thoan quay sang Hùng Phong lúc đó cũng đứng gần đó hỏi:

- Vũ khí của tiểu đội cậu thế nào?

- Chỉ có bảy khẩu tiểu liên, còn lại xạ thủ B40, B41, trung liên thì chỉ mang theo lựu đạn.

- Được rồi. Có thế nào đánh thế vậy. Tiểu đội của cậu vận động ngay đi. Cố chiếm lấy cái mỏm cao kia kìa. Nếu địch đổ quân vào vạt đồi chúng vừa phát quang thì cậu đánh xuống ngay!

Đại đội phó quay sang Hùng Phong:

- Tôi sẽ đi với tiểu đội cậu. Cũng may là hôm nay tôi lại mang theo tiểu liên.

Trung đội trưởng Thoan băn khoăn:

- Đại đội phó nên... ở đâu đó để chỉ huy chung.

Đại đội phó nhăn mặt:

- Chỉ huy cái con khỉ. Nhanh lên, địch nó tới bây giờ đấy!

Tiếng trực thăng ngày một gần rồi ầm vang cả thung lũng. Không ngờ chúng đến nhanh thế. Đại đội phó Đồng Tiến Phi khoát tay hét toáng lên:

- Hùng Phong... kêu anh em vận động nhanh lên chứ. Ngớt pháo là chúng nó xuống đấy!

Hùng Phong dẫn bộ đội theo sát đại đội phó xé rừng mà chạy. Pháo địch bắt đầu chuyển làn bắn sâu vào rừng, dọc theo tuyến đường vận tải. Một loạt đạn pháo nổ banh banh ngay nơi họ vừa ngồi ăn cơm.

Hùng Phong còn kịp nhìn thấy một tải rau muống tưng lên trời, những cọng rau đen ngòm bay lả tả trong làn khói. Bám ngay sau Hùng Phong là xạ thủ B41 Nguyễn Đình Hướng, cậu ta không có súng, một tay lăm lăm lựu đạn, tay kia cầm theo cây gậy có chạc ba dùng để ngả lưng nghỉ dọc đường. Đại đội phó đang chạy ngoái lại thấy vậy liền quát “Vứt cha cái của nợ ấy đi. Vướng lắm!”. Hướng đành vứt bỏ cây gậy, vừa thở hổn hển vừa gọi “Ban, cậu cho tớ thêm một quả lựu đạn nữa đi!”. Hùng Phong nhăn mặt hét “Vớ vẩn, tới đó hãy hay!”.

Nhưng họ không kịp tới được mỏm đồi cao. Một chiếc trực thăng UH1A kêu rít lên rồi xà xuống ngay trước mặt họ. Phía sau những chiếc UH khác cũng vừa xà xuống khoảng trống dưới chân đồi vừa bắn như vãi đạn dọc bìa rừng. Pháo mặt đất của địch chuyền làn bắn sâu vào rừng và các cao điểm xung quanh - Nó sắp nhảy xuống khoảng trống kia đấy!

Đại đội phó Phi khoát tay chỉ một khoảng đất trống chỉ chừng vài trăm thước vuông ở ngay sườn đồi.

Dường như cùng một lúc cả chục chiếc trực thăng cùng xà xuống triền đồi. Ba chiếc đang đổ quân ở mỏm đồi cao mà chúng vừa đánh bom phát quang. Những chiếc còn lại đều đã xà xuống sát mặt đất. Cảnh tượng trông thật lạ mắt. Khi những chiếc trực thăng gần như dừng lại ngay trên không, cách mặt đất thừng chục thước, bọn lính Mỹ từ trên bụng những chiếc trực thăng lốc thốc nhảy xuống. Có thằng nhảy khá gọn, có thằng thì ngã quay đơ trên mặt đất. Ở sát bìa rừng, ngay trước mặt họ có một chiếc trực thăng dừng trên không. Gió từ cánh quạt của nó thốc xuống khiến cành cây ngả nghiêng gãy răng rắc, cát bụi thốc lên mù mịt. Hùng Phong đếm được mười lăm thằng Mỹ vừa nhảy xuống Đại đội phó Phi vẫy tay ra hiệu cho họ cố tiếp cận vào gần nữa. Chiếc trực thăng nhả quân xong lại bay vút lên không quên vãi vài loạt đạn vào bìa rừng. Bọn lính Mỹ vừa đổ bộ hò hét hí hố, họ đã có thể nhìn thấy cả những bộ mặt đỏ au của những thằng Mỹ. Có thằng hình như khi nhảy xuống đã bị trẹo cẳng nên vừa nhảy lò cò vừa kêu rống lên.

Đúng lúc ấy, đại đội phó Đồng Tiến Phi bật dậy hét lớn:

- Đánh! Bọn tôi trả thù cho cậu đây, Định ơi!

Anh nhằm vào thằng Mỹ đeo máy bô đàm xiết một loạt AK. thằng Mỹ bật ngửa, giãy thêm vài cái rồi nằm xuôi xị. Gần như cùng một lúc bảy khẩu tiểu liên của tiểu đội Hùng Phong cùng nổ rền. Nguyễn Đình Hướng vừa hét “Xung Phong!” vừa lao thẳng ra vung tay ném liền hai trái lựu đạn vào tốp lính Mỹ gần nhất. “Oành!

ành!”. Trong ánh chớp lựu đạn, xác một thằng Mỹ tung lên. Có điều lạ là chiếc mũ sắt trên đầu nó lại văng lên cao rồi vẽ một đường vòng cung trước khi nện đánh chảng một cái vào một phiến đá lớn. Hùng Phong hét lên “Lùi lại đi Hướng? “ rồi cắp AK dũng mãnh lao lên.

Anh nhằm vào tốp lính Mỹ đang vừa kêu la vừa chạy ngược lên dông đồi mà nhả đạn. Một thằng ngã vật rồi lăn lông lốc xuống sườn đồi. Một thằng hình như bị thương, vừa cố gỡ các thứ lỉnh kỉnh trên người ra vừa la hét. Anh nhằm vào thằng Mỹ đang luống cuống trong đám đồ đạc lỉnh kỉnh mà xiết cò. Nó bật ngược lên, như cố với một cái gì đó trên cao trước khi ngã vật xuống.

Trước mắt Hùng Phong, có lẽ đã có tới năm sáu thằng chết ngay tại chỗ. Những thằng chưa bị quật ngã bất ngờ bởi lựa đạn và đạn tiểu liên, vừa la hét ỏm tỏi vừa cố chạy lên khu đồi được phát quang, nơi có tới ba chiếc trực thăng vừa đổ quân. Có lẽ chứng cũng được dạy rằng khi lâm trận thì phải cố mà chiếm lấy địa hình có lợi Nhưng lạ thay, chưa thấy một phát đạn nào bắn trả ngoại trừ một khẩu súng máy vừa được triển khai trên khu phát quang. Mé bên phải khu phát quang ấy cũng đang rền lên tiếng tiểu liên AK. Có lẽ trung đội trưởng Thoan dường như đã tiếp cận được với tốp địch đổ quân ở hướng đó. Tiếng súng cũng rộ lên cả ở phía đường mòn. Hình như trung đội của Tại cũng đã chạm địch.

- Không đánh nữa... rút vào rừng ngay.

Đại đội phó Phi ra lệnh. Anh biết rằng thằng địch đã kịp định thần và sắp phản công quyết liệt. Hùng Phong do dự giây lát rồi cũng khoát tay ra lệnh cho anh em “Rút thô!”.

Họ vừa lui được vào khu rừng rậm thì súng cối, súng phóng lựu của địch bắt đầu bắn theo ầm ầm - Nằm xuống!


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 18 Tháng Mười Hai, 2010, 06:41:44 pm
Đại đội phó ra lệnh. Hùng Phong tranh thủ lúc nằm tránh đạn để kiểm quân. Không thấy Nguyễn Đình Hướng đâu. Anh quay sang phía đại đội phó hét lên:

- Thăng Hướng bị rồi. Tôi phải quay lại tìm nó!

Nói rồi anh bật dậy chạy quay trở lại.

- Cẩn thận đấy!

Đại đối phó dặn với theo.

Nhưng gần như ngay lúc đó Hướng hồng hộc chạy tới mặt mày xạm đen. Trên tay Hướng cầm một khẩu tiểu liên AR15.

- Cậu làm cái trò gì thế! Hùng Phong nhăn mặt quát.

Hướng đưa khẩu súng Mỹ lên cười nhăn nhở:

- Tớ kiếm được khẩu súng nhưng... nó làm sao ấy?

Tiếng súng tiểu liên vẫn rền ở hướng bên phải, đại đội phó Phi lo lắng nói:

- Chắc bọn thằng Thoan ham đánh quá nên không kịpp rút lui vào rừng rồi!

- Hay để chúng tôi tới chi viện cho họ? Hùng Phong sốt sắng đề nghị.

- Để xem tình hình thế nào đã?

Phía đường mòn đã không còn nghe thấy tiếng súng của ta nữa, không hiểu tình hình ra sao? Nhưng đại đội phó Đồng Tiến Phi cho rằng phía ấy rừng rậm dốc cao, rất có thể địch không dám vào sâu.

Một lát sau không nghe thấy tiếng súng tiểu liên AK nổ nữa mà chỉ thấy ran lên toàn tiếng súng máy M60, tiếng tiểu liên AR15 và tiếng súng phóng lựu của địch.

- Sao thế nhỉ?

Hùng Phong lo lắng hỏi.

- Không sao đâu? Hình như họ đã rút ra được rồi.

Có lẽ ở hướng ấy địch cũng không dám truy kích vào sâu trong rừng. Nếu mình đoán không lầm thì địch đổ xuống khoảng chừng một đại đội. Nếu không có quân tăng viện thì chúng sẽ không tiến quân đâu.

Họ tiếp tục thận trọng vận động về phía con dốc cao trên đường mòn hi vọng cánh của Tại đã kịp lui về khu vực đó. Nhưng pháo địch lại bắt đầu bắn dữ dội đồng thời lại nghe rền lên tiếng động cơ của máy bay phản lực. Kiểu này, chúng sẽ cho oanh kích dữ dội để ngăn quân ta tiếp cận đám quân vừa đổ bộ xuống đang tìm cách co cụm lại. Đại đội phó phán đoán vậy rồi ra lệnh cho bộ đội tìm chỗ nằm tránh bom pháo không tiếp tục cơ động nữa.

- Thế... còn cánh anh Thoan?

Hùng Phong lo lắng hỏi.

- Chúng bắn pháo xung quanh nơi đổ quân như vậy chứng tỏ chúng sẽ không xục xạo vào sâu trong rừng đâu. Bây giờ các cậu cứ chốt ở đây chờ cánh anh Thoan, mình phải qua chỗ cậu Tại xem thế nào?

Hùng Phong vẫy tay gọi một chiến sỹ:

- Hải, cậu đi với đại đội phó đi!

Đại đội phó vừa bật đậy định đi thì Hướng ôm khẩu ARI5 chạy tới:

- Thủ trưởng... loại súng này xử dụng thế nào ạ?

Đại đội phó đón lấy khẩu súng nhìn qua rồi cười:

- Đồ vô dụng rồi, chú mày ơi. Không thấy cái báng của nó bị tiện gãy rồi à? Cò súng cũng bị gãy rồi đây này.

- Em cứ tưởng... là loại báng gấp!

- Vứt đi hoặc mang về làm kỉ niệm cũng được.

- Thôi tớ đi đây. Cứ chốt ở đây đã nhé. Nếu cánh anh Thoan về thì kéo cả lên đỉnh dốc phía đường mòn ấy. Cẩn thận bom pháo đấy!

- Thế còn hàng hoá? - Hùng Phong lo lắng hỏi.

- Cứ bỏ đấy đã. Bọn Mỹ có tới được đó chúng cũng chẳng lấy rau muống khô làm gì đâu?

Đại đội phó vừa đi được một lát thì tụi máy bay ném bom bắt đầu gầm rít trên bầu trời. Bay được một hai vòng quanh thung lũng chúng bắt đầu bổ nhào cắt bom. Hùng Phong nhìn thấy những chùm bom đen xì vun vút lao xuống.

- Bom đấy!

Gần như cùng một lúc với tiếng thét của Hùng Phong là những tiếng bom nổ dậy đất. Rồi những quầng lửa bốc lên dữ đội ngay phía vạt rừng trước mặt. Tiếng lửa reo ù ù trên tán cây.

- Chạy đi... bom Napan đấy!

Họ bật đậy chạy ngược lên đỉnh đồi. Lửa vẫn cháy rần rật phía sau lưng. Cả một biển lửa. Có lẽ cảnh địa ngục cũng chỉ giống như thế này thôi. Khói và mùi crếp xộc vào mồm vào miệng khiến mọi người đều ho sặc sụa.

- Mẹ nó... Chúng định đốt cháy cả khu rừng này chắc!

Hướng vừa ho khậm khoặc vừa làu bàu chửi rủa.

Lại một tốp máy bay nữa bổ nhào trên đầu. Nhưng lần này là bom phát quang. Sau những tiếng nổ dữ dội, cánh rừng mà họ vừa chạy qua bị băm nát nhừ. Lá cây bay đen trời.

Chạy tới một khe suối cạn có những tảng đá lớn và những hốc đá tự nhiên khá to, Hùng Phong ra lệnh:

- Không chạy nữa. Dừng lại ở đây còn có chỗ mà trú bom! Nhanh lên, mỗi thằng tìm lấy một cái hốc mà chui vào đi. Không chừng chúng nó sắp choảng lên đây rồi đấy!

Hùng Phong chỉ cho Hướng một hốc đá:

- Hướng... cậu chui vào đó đi.

Nhưng Hướng vừa chui vào đã bật ngược trở ra:

- Ôi trời... có cơn trăn to quá!

Hùng Phong chạy tới và cũng nhìn thấy con trăn nằm cuộn tròn trong hốc đá ngáy phì phì.

- Mẹ kiếp! Bom đạn tùm lum thế này mà nó vẫn ngủ được thì ghê thật! Thôi, cậu chui vào cái hốc này với tớ. Hơi hẹp, nhưng bom nó xóc một hồi là vừa tất!

Hướng và Hùng Phong cùng chui vào một hốc đá.

Hốc chật, mùi mồ hôi của Hướng lại rất khó ngửi. Hùng Phong đành chui ra.

- Thôi, cậu nằm đó đi. Tớ tìm chỗ khác vậy!

Lại một loạt bom nổ nhưng lần này xa hơn, chếch về phía sườn trái của dãy cao điểm. Và cũng là bom Napan. “Nếu quân ông Tại mà chưa rút kịp thì sẽ ăn đủ”. Hùng Phong lo ngại nghĩ vậy. Có vẻ như địch chưa phát hiện được chính xác tuyến kho và con đường vận chuyển mới mở. Chúng vẫn đang ném bom lung tung xung quanh khu vực đổ quân, có lẽ chỉ nhằm bảo vệ đám lính Mỹ là chính.

Anh em trong tiểu đội đã rời những hốc đá ẩm ướt đến ngồi bên tiểu đội trưởng. Hùng Phong vui vẻ nói với mọi người:

- Thế là tiểu đội ta đã ra quân đánh thắng trận đầu rồi, anh em phấn khởi chứ?

Tâm, xạ thủ trung liên RPD, cũng không có súng như Hướng gãi đầu nhăn nhó:

- Từ mai, nếu có đi tải gạo tớ cũng phải mượn một khẩu tiểu liên mang theo thôi. Chứ như hôm nay thì thiệt thòi quá. Không hiểu số tớ thế nào mà hai quả lựu đạn lép cả hai?

Hướng ngạc nhiên hỏi:

- Thật à? Sao hai quả của tớ nổ ác thế? Hay cậu... quên không giật nụ xoè trước khi ném đấy hả?

- Bậy - Tâm cãi - sao tớ lại có thể lú lẫn thế được?

Một cậu khác lên tiếng:

- Cái thứ lựu đạn chày nội hoá này đôi khi ẩm ương thế đấy! Hồi kiểm tra ở bưng chả khối thằng vớ phải những quả câm là gì?

Hùng Phong xua tay:

- Thôi... được rồi. Hôm nay tiểu đội ta đánh tốt cả.Điều quan trọng là không có thằng nào bị thương. Chứ ngay trận đầu đã có thằng kềnh rồi thì xui lắm!

Nhưng mọi người chưa kịp mừng thì từ dưới chân dốc có một người hớt hải băng rừng chạy lên, vừa chạy vừa ngơ ngác kiếm tìm.

Hướng phát hiện ra liền vỗ vào vai Hùng Phong:

- Ai như thằng Vân, tiểu đội 8 kìa!

Hùng Phong vội đứng dậy gọi:

- Vân ơi... bọn tớ ở đây này!

Nghe tiếng gọi Vân vội chạy thốc lên tới khe suối cạn, vừa thở vừa mếu máo:

- Anh em ơi... trung đội trưởng... với thằng Đại “đồng nát” hy sinh rồi!

Hùng Phong thảng thốt kêu lên:

- Anh Thoan à? Sao lại thê?

Vân vừa thở vừa kể:

- Thằng Đại bị trúng pháo trên đường rút lui... anh Thoan dìu nó... nên chậm chân... bị... trúng bom Napan - Trời ơi...! Na pan à? Mọi người cùng thốt lên.

- Ngoài hai người hi sinh ra... bên ấy còn có có ba người nữa bị thương, một người bị bỏng nặng... tình hình gay lắm. Anh em bảo mình đi tìm đại đội phó báo cáo xin người đến chi viện để đưa anh em về.


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 18 Tháng Mười Hai, 2010, 06:46:26 pm
Hùng Phong suy nghĩ giây lát rồi quyết định:

- Thế này nhé. Bây giờ tất cả tiểu đội ta sẽ quay lại đó cùng anh em trong trung đội đưa thương binh liệt sỹ về. Riêng cậu Hướng thì đi tìm đại đội phó báo cáo tình hình này ngay.

Hướng gật đầu rồi hỏi thêm:

- Vậy... sẽ liên lạc với nhau ở đâu?

- Tại chỗ này - Hùng Phong quyết đoán nói - có vẻ như thằng địch sẽ không đánh lên đến đây đâu. Cậu đi ngay đi.

Hướng vội vã chạy đi. Hùng Phong khoát tay ra lệnh cho những người còn lại:

- Tiểu đội, theo tôi.

Pháo địch vẫn bắn dữ dội xung quanh khu đổ quân.

Vừa chạy Hùng Phong vừa dỏng tai nghe tiếng đạn pháo rít, đoán xem đạn nổ xa hay nổ gần để ra lệnh cho anh em nằm tránh đạn. Từ lúc nghe tin anh Thoan và Đại “đồng nát” hi sinh, Hùng Phong mới cảm thấy sợ thực sự. Trận đánh đầu tiên đã diễn ra nhanh quá, và dường như lại quá thuận lợi đối với tiểu đội của anh nên anh chưa thấy hết tính chất nghiêm khắc, quyết liệt của một cuộc đối đầu thực sự trên chiến trường. Bây giờ thì máu của đồng đội anh đã đổ rồi. Chiến tranh đã thò ra những nanh vuốt đích thực của nó. Anh đã nhìn thấy những thằng Mỹ ngã gục trước nòng súng của mình và đồng đội, nhưng giờ đây anh cũng sẽ phải nhìn thấy máu của đồng đội mình. Niềm vui lần đầu tiên giết được kẻ thù liệu có cân bằng được với nỗi đau của những hi sinh mất mát mà đồng đội anh phải gánh chịu hay không? Cũng có thể rồi đây anh sẽ phải quen dần với phép so sánh rằng, trong trận này chúng ta đã chiến thắng vì số địch bị ta giết nhiều hơn hẳn số chiến sỹ ta hi sinh? Thậm chí trận này chúng ta hi sinh nhiều hơn cả số địch bị giết nhưng vẫn là một chiến thắng vì chúng ta đã đạt được ý đồ chiến thuận chiến dịch của mình.

Nhưng lúc này đây, anh chưa đủ trưởng thành để có thể chấp nhận phép so sánh ấy. Anh chỉ mới kịp hiểu rằng, mất một người đồng đội tốt bụng như Đại, một người anh hiền lành, đức độ như anh Thoan là một mất mát không thể nào bù đắp được, kể cả niềm vui thắng trận cũng chẳng thể nào bù đắp được!
9
Tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh đã lên đến vị trí đóng quân của ban thỉ huy trung đoàn. Nhưng ông đã không kịp nói gì, kể cả một lời thăm hỏi đối với thủ trưởng trung đoàn. Ông vừa thò mặt vào căn nhà hầm của ban chỉ huy trung đoàn thì đã thấy trong hầm có cả chính ủy Lê Nông và một vài sỹ quan tham mưa. Gương mặt người nào người nấy đều rất căng thẳng. Trung đoàn trưởng Trần Đông Hải thì đang gào vào máy điện thoại: A lô... cậu phải nói to lên. Khó nghe lắm. Chính xác là tới lúc này có bao nhiêu chiếc trực thăng đã đổ quân? Mười hai chiếc hả? Nếu vậy thì khoảng hơn một đại đội thôi. Đúng là Mỹ cả chứ? Tôi biết rồi. Nhưng tôi đang ngồi đây thì biết làm sao được? Chắc chắn là một bộ phận nào đó trong số các đơn vị đang tham gia chiến dịch “lót ổ” đụng địch trên tuyến vận tải thôi. Các cậu phải nắm cho chắc tình hình rồi báo cáo ngay về đây nghe chưa? Trung đoàn ttưòng vừa ngẩng lên thì nhìn thấy tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn bảy Hoàng Mạnh. Ông ngạc nhiên kêu lên: - Trời ơi ông Mạnh! Sao ông lại mò lên đây vào lúc này hả? Tiểu đoàn trưởng Mạnh ngơ ngác hỏi: - Tôi lên... định nói chuyện với anh thôi. Nhưng... có chuyện gì thế ạ? - Chuyện gì hả? - Trung đoàn trưởng nhăn nhó như đang bị sâu răng - tôi cũng đang muốn biết có chuyện gì đang xảy ra đây. Tại sao bỗng dưng địch lại đột ngột đổ quân ra khu vực Cù Đinh - Ba De? Sư đoàn cũng chưa hiểu địch định đổ quân ra đó để làm gì? Chỉ là một cuộc đột kích vào sau lưng đội hình ta để thăm dò lực lượng ta hay chúng định đổ quân ra xây dựng một vị trí dã chiến để án ngữ khu vực này? Tiểu đoàn trưởng Mạnh như người vừa tỉnh ngủ - Địch đổ quân à? Đổ lúc nào mà nhanh thế?
- Chúng vừa đổ quân xuống cách đây một giờ và đã đụng một lực lượng nào đó của bộ đội ta trên tuyến vận tải. Không chừng... là quân của ông đấy!
- Ôi trời vậy... mà sao... tôi lại còn ở đây nhỉ? - Tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh tự hỏi vậy rồi lập tức quay lưng định lên khỏi nhà hầm. Trung đoàn trưởng Trần Đông Hải ngạc nhiên hỏi với theo:
Vậy... anh lên đây có việc gì?
Tiểu đoàn trưởng Mạnh vội quay lại xua tay: - Không có việc gì... tôi phải về tiểu đoàn ngay đây! - Khoan đã - trung đoàn trưởng nổi cáu - anh phải nghe xem trung đoàn ra lệnh cho các anh như thế nào đã chứ?
Tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh vội quay lại. - Xin lỗi trung đoàn trưởng... tôi sốt ruột quá nên... - Anh nghe cho kĩ đây - trung đoàn trưởng dõng dạc lên tiếng - hiện nay, tiểu đoàn các anh ở gần khu vực địch đổ quân hơn cả. Vì ngay khi trở về, anh phải cho trinh sát đi bám địch ngay. Nếu đêm nay chúng dám chốt lại ở đó thì tôi sẽ xin sư đoàn cho đánh ngay. Khi đó, tiểu đoàn anh phải đảm nhiệm hướng tiến công chủ yếu đấy!
Tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh hơi hoang mang: - Nhưng bộ đội của tiểu đoàn tôi hiện có hai đại đội thiếu đang đi làm nhiệm vụ vận tải. Không hiểu họ có bị kẹt ở đâu khi địch đổ quân không?
Vì vậy anh phải cho người đi bắt liên lạc với họ ngay. Trinh sát trung đoàn vừa báo cáo là có một đơn vị nào đó của ta đã nổ súng đánh địch trên tuyến. Đây, ở khu vực này - trung đoàn trưởng chỉ lên bản đồ - rất có thể là bộ đội của anh đã gặp địch trên đường vận tải đấy. Anh làm thế nào thì làm phải tập hợp được bộ đội sẵn sàng vào trận đêm nay nếu địch đóng chốt tại khu vực này! Tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh đứng nghiêm:
- Báo cáo rõ... tôi xin phép được về đơn vị ngay để thực hiện mệnh lệnh! Tiểu đoàn trưởng Mạnh hớt hải chạy đi ngay, trung đoàn trưởng Trần Đông Hải quay lại hỏi chính ủy và mọi người:
Không hiểu cái lão này lên đây làm gì nhỉ? Mình có cho gọi ông ấy đâu? Chính ủy Lê Nông bước tới ghé vào tai trung đoàn trưởng nói nhỏ: - Ông thông gia của anh đang có vấn đề về tư tưởng đấy. Vừa nãy anh Sớm chính trị viên tiểu đoàn 7 gọi điện thoại lên nói với tôi rằng... ông Mạnh vẫn đang bị sốc vì cái cú bọn địch đem in ảnh thằng Định lên truyền đơn Ông ta cho rằng mình có lỗi trong chuyện này nên... đùng đùng chạy lên định gặp anh và tôi để xin từ chức đấy! Trung đoàn trưởng đưa bàn tay lên cào cào cái đầu hói, cười khẩy:
- Từ chức à? Cái lão này điên thật. Đâu có dễ cho ông ta từ chức đến thế? Nhưng nếu đêm nay mà ông ta không tập hợp được quân vể để đánh trận này thì ông ta bị cách chức là cái chắc! Chính ủy hỏi: - Anh tin rằng sư đoàn sẽ cho trung đoàn ta đánh trận này à? - Nếu chúng nó chốt lại ở đó thì phải đánh chứ còn gì nữa? Đó là cửa ngõ khu bàn đạp của ta mà. Nếu bọn Mỹ lập ở đó một cái chốt chiến dịch, rồi xây dựng ở đó một trận địa pháo thì chúng ta sẽ khó thở đấy! Vừa lúc dó có tiếng chuông điện thoại reo, một anh trợ lí tác chiến nhấc máy nghe rồi vội vã gọi: - Báo cáo thủ trưởng, sư đoàn gọi ạ! Trung đoàn trưởng Trần Đông Hải vội chạy tới cầm máy. Tiếng sư đoàn trưởng Phạm Sùng vang lên bên kìa đầu dây: - Anh Hải đấy hả? Tôi Sùng đây Các anh đã biết đơn vị nào đánh bọn biệt kích Mỹ đổ bộ ở phía Tây Bắc bãi Cù Đinh chưa? Chưa à... Nhưng chắc chắn là quân của anh rồi vì hôm nay chỉ có trung đoàn anh làm nhiệm vụ vận tải trên tuyến đó thôi... anh em đánh khá lắm - Trung đoàn trưởng vẫy tay ra hiệu cho chính ủy Lê Nông lại gần cùng nghe - trinh sát kĩ thuật vừa nghe được tin bọn Mỹ báo cáo về sở chỉ huy của chúng là có 14 thằng chết, bảy thằng bị thương. Tao ngộ chiến mà anh mà anh em mình đánh như thế là giỏi đấy. Bây giờ bọn địch ở đó đang co cụm lại gọi bom pháo đánh phá xung quanh chứ không dám sục vào rừng nữa. Trung đoàn trưởng Hải hăng hái đề nghị: - Vậy đêm nay thủ trưởng cho chúng tôi thịt bọn này đi! Tiếng sư đoàn trưởng cười vang trong máy: Ham rồi hả? Nhưng bọn này sẽ không dám trụ lại đó đâu. Trinh sát cho biết là chúng đang gọi máy bay đến bốc quân về Đông Hà. - Hoài của - trung đoàn trưởng than - chúng tôi đã chuẩn bị tinh thần để đêm nay sẽ đánh một trận ra trò đấy ạ! - Thôi đi... còn nhiều dịp mà - anh cho gom anh em về đi rồi tiến hành bình công để khích lệ khí thế của toàn trung đoàn. Từ ngày mai anh không phải bố trí lực lượng đi vận tải nữa mà hãy cho bộ đội tranh thủ vừa nghỉ ngơi, vừa học tập rèn tuyện. Bố trí cho bộ đội hoàn thiện kĩ năng đánh địch trong công sự vững chắc, chuẩn bị cho nhiệm vụ sắp tởi của trung đoàn ở mục tiêu A. - Nhưng... ở chỗ chúng tôi không có nơi nào xây dựng thao trường đâu ạ. Máy bay trinh sát nó quần suốt ngày, bày biện ra dễ lộ lắm. - Ai bảo các anh bày biện làm gì? - Sư đoàn trưởng gắt - không dựng thao trường lớn nhưng vẫn có thể bố trí cho anh em tập gói buộc và đánh bộc phá, khắc phục vật cản hay hoàn thiện kĩ năng chiến đấu cá nhân chứ! - Vâng... vậy thì được ạ. Thưa thủ trưởng, liệu... chúng tôi có còn phải chờ đợi lâu nữa không ạ? - Lâu hay chóng còn tuỳ vào tình hình chung. Trên Khe Sanh bộ đội ta đang ép mạnh. Bọn Mỹ đã đưa cả hai sư đoàn lính thuỷ đánh bộ ra Quảng Trị rồi. Đoàn Hồng Bàng chúng ta cũng sẽ vào cuộc ngay thôi. Các trung đoàn nay mai sẽ bước vào chiến đấu, riêng các anh thì phải chờ thời cơ để tập trung cho nhiệm vụ chính. Trận hôm nay chỉ là ngoại lệ thôi chứ thực tình chúng tôi chưa muốn sử dụng lực lượng của các anh đâu. Thế đã nhé. Có tin tứ gì mới tôi sẽ thông báo cho anh ngay. Sư đoàn trưởng đã cúp máy. Trung đoàn trưởng Hải quay sang nói với chính uỷ: - Anh nghe rõ rồi chứ? Cụ ấy khen anh em mình đánh giỏi. Diệt được 14 thằng Mỹ - trung đoàn trưởng xoa tay cười thỏa mãn - Thế là có vốn đi đi chợ rồi! Chính ủy Lê Nông băn khoăn:
Không biết quân của tiểu đoàn 7 hay tiểu đoàn 8 đụng địch nhỉ? Đến tận lúc này mà vẫn không liên lạc được với anh em, tôi sốt ruột quá. - Chắc là quân ông Mạnh thôi. Sư đoàn trưởng nói địch sẽ bốc quân về chứ không chốt lại đó. Tiếc thật !
 - Vậy... có điện báo cho tiểu đoàn 7 dừng việc chuẩn bị cho trận tập kích đêm nay không? - Khoan đã. Đợi khi địch chính thức bốc quân đi thì ta báo xuống cũng chưa muộn. Vả lại, cứ để cho lão Mạnh lão ấy ngọ ngoạy một một tý cho bớt nghĩ ngợi về chuyện cái cậu trợ lí hi sinh trên hàng rào căn cứ địch đi. Rồi trung đoàn trưởng Hải đứng dậy. - Thôi, ông ngồi đây, tôi sang bên trinh sát xem có tin tức gì chưa. Đánh nhau mà cứ như thằng mù khua gậy đánh chó thế này thì khó chịu quá! Chính ủy Lê Nông suýt phì cười vì câu ví von của trung đoàn trưởng. Nhưng quả là cái câu ấy mô tả rất chính xác tình trạng lúc này của những người chỉ huy như các ông. Lính thì đánh, mà người chỉ huy thì chịu không có cách bị thương từng ấy... còn đằng mình thì mù tịt. Không biết bộ phận nào đánh, đánh thế nào, thương vong ra sao? Không biết đến bao giờ quân đội ta mới có được hệ thống thông tin vô tuyến hoàn chỉnh như thằng Mỹ nhỉ? Có lẽ cũng còn Chính ủy Lê Nông vội chạy lại cầm máy. Từ đầu dây bên kia tiếng chính ttị viên Lê Văn Sớm vang lên - Báo cáo chính uỷ... Tinh thần anh Mạnh có vẻ ổn rồi ạ. Anh ấy đang họp với các đại đội trưởng để nắm tình hình chuẩn bị cho trận đánh đêm nay. Chính ủy động viên thế nào mà tài thế Chính ủy Lê Nông bật cười:
- Thì tôi đã kịp nói gì với anh ấy đâu? Vừa nghe tin địch đổ bộ là anh ấy đùng đùng chạy đi ngay. Trung đoàn trưởng phải gọi giật lại giao nhiệm vụ đấy.
Vâng... tôi cũng mừng quá. Nhưng chúng tôi cũng chưa có tin gì về cuộc chạm súng vừa rồi. Bộ phận nào đánh đấy ạ? Chính ủy thở dài:
- Đến lúc này trung đoàn cũng chưa biết bộ phận nào chạm địch. Nhưng có nhiều khả năng là quân của các anh đấy. Chỉ nghe được thằng địch kêu với nhau là chúng nó chết 14 thằng, bị thương bảy thằng.Thế cơ ạ? - Chính trị viên Sớm kêu lên trong máy - Vậy là thắng to rồi phải không chính uỷ? - To hay bé cỏn phải xem lực lượng ta thương vong nhiều hay ít đã. Thế các anh đã cho trinh sát đi bắt liên lạc với các đơn vị đi vận tải chưa? - Rồi... nhưng cũng chưa thấy có tin tức gì báo về. Chúng tôi cũng đang lo không biết liệu có bắt liên lạc với họ sớm để chuẩn bị cho trận tập kích đêm nay hay không đây? Lực lượng ở nhà còn mỏng lắm! - Rồi... nhưng cũng chưa thấy có tin tức gì báo về. Chúng tôi cũng đang lo không biết liệu có bắt liên lạc với họ sớm để chuẩn bị cho trận tập kích đêm nay hay không đây? Lực lượng ở nhà còn mỏng lắm!
Chính ủy do dự một lát rồi nói - Có lẽ... sẽ không có trận tập kích nào đâu! - Sao vậy? - Chính trị viên Lê Văn Sớm hỏi dồn - hay Tung đoàn không tin tưởng ở đơn vị chúng tôi?
Không phải... - chính ủy trung đoàn do dự một vài giây rồi nói - theo tin kĩ thuật thì có vẻ như thằng địch không định trụ lại ở đó đâu? Anh đừng nói gì với anh Mạnh vội, khi nào có tin chính thức trung đoàn sẽ thông báo ngay.
Chính ủy Lê Nông cúp máy rồi quay sang nói với đồng chí trực ban tác chiến: - Cứ mười lăm phút đồng chí lại gọi lên tác chiến sư đoàn xem có tình hình gì mới không nhé?


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 18 Tháng Mười Hai, 2010, 06:49:02 pm
Hùng Phong suy nghĩ giây lát rồi quyết định:

- Thế này nhé. Bây giờ tất cả tiểu đội ta sẽ quay lại đó cùng anh em trong trung đội đưa thương binh liệt sỹ về. Riêng cậu Hướng thì đi tìm đại đội phó báo cáo tình hình này ngay.

Hướng gật đầu rồi hỏi thêm:

- Vậy... sẽ liên lạc với nhau ở đâu?

- Tại chỗ này - Hùng Phong quyết đoán nói - có vẻ như thằng địch sẽ không đánh lên đến đây đâu. Cậu đi ngay đi.

Hướng vội vã chạy đi. Hùng Phong khoát tay ra lệnh cho những người còn lại:

- Tiểu đội, theo tôi.

Pháo địch vẫn bắn dữ dội xung quanh khu đổ quân.

Vừa chạy Hùng Phong vừa dỏng tai nghe tiếng đạn pháo rít, đoán xem đạn nổ xa hay nổ gần để ra lệnh cho anh em nằm tránh đạn. Từ lúc nghe tin anh Thoan và Đại “đồng nát” hi sinh, Hùng Phong mới cảm thấy sợ thực sự. Trận đánh đầu tiên đã diễn ra nhanh quá, và dường như lại quá thuận lợi đối với tiểu đội của anh nên anh chưa thấy hết tính chất nghiêm khắc, quyết liệt của một cuộc đối đầu thực sự trên chiến trường. Bây giờ thì máu của đồng đội anh đã đổ rồi. Chiến tranh đã thò ra những nanh vuốt đích thực của nó. Anh đã nhìn thấy những thằng Mỹ ngã gục trước nòng súng của mình và đồng đội, nhưng giờ đây anh cũng sẽ phải nhìn thấy máu của đồng đội mình. Niềm vui lần đầu tiên giết được kẻ thù liệu có cân bằng được với nỗi đau của những hi sinh mất mát mà đồng đội anh phải gánh chịu hay không? Cũng có thể rồi đây anh sẽ phải quen dần với phép so sánh rằng, trong trận này chúng ta đã chiến thắng vì số địch bị ta giết nhiều hơn hẳn số chiến sỹ ta hi sinh? Thậm chí trận này chúng ta hi sinh nhiều hơn cả số địch bị giết nhưng vẫn là một chiến thắng vì chúng ta đã đạt được ý đồ chiến thuận chiến dịch của mình.

Nhưng lúc này đây, anh chưa đủ trưởng thành để có thể chấp nhận phép so sánh ấy. Anh chỉ mới kịp hiểu rằng, mất một người đồng đội tốt bụng như Đại, một người anh hiền lành, đức độ như anh Thoan là một mất mát không thể nào bù đắp được, kể cả niềm vui thắng trận cũng chẳng thể nào bù đắp được!
9
Tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh đã lên đến vị trí đóng quân của ban thỉ huy trung đoàn. Nhưng ông đã không kịp nói gì, kể cả một lời thăm hỏi đối với thủ trưởng trung đoàn. Ông vừa thò mặt vào căn nhà hầm của ban chỉ huy trung đoàn thì đã thấy trong hầm có cả chính ủy Lê Nông và một vài sỹ quan tham mưa. Gương mặt người nào người nấy đều rất căng thẳng. Trung đoàn trưởng Trần Đông Hải thì đang gào vào máy điện thoại: A lô... cậu phải nói to lên. Khó nghe lắm. Chính xác là tới lúc này có bao nhiêu chiếc trực thăng đã đổ quân? Mười hai chiếc hả? Nếu vậy thì khoảng hơn một đại đội thôi. Đúng là Mỹ cả chứ? Tôi biết rồi. Nhưng tôi đang ngồi đây thì biết làm sao được? Chắc chắn là một bộ phận nào đó trong số các đơn vị đang tham gia chiến dịch “lót ổ” đụng địch trên tuyến vận tải thôi. Các cậu phải nắm cho chắc tình hình rồi báo cáo ngay về đây nghe chưa? Trung đoàn ttưòng vừa ngẩng lên thì nhìn thấy tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn bảy Hoàng Mạnh. Ông ngạc nhiên kêu lên: - Trời ơi ông Mạnh! Sao ông lại mò lên đây vào lúc này hả? Tiểu đoàn trưởng Mạnh ngơ ngác hỏi: - Tôi lên... định nói chuyện với anh thôi. Nhưng... có chuyện gì thế ạ? - Chuyện gì hả? - Trung đoàn trưởng nhăn nhó như đang bị sâu răng - tôi cũng đang muốn biết có chuyện gì đang xảy ra đây. Tại sao bỗng dưng địch lại đột ngột đổ quân ra khu vực Cù Đinh - Ba De? Sư đoàn cũng chưa hiểu địch định đổ quân ra đó để làm gì? Chỉ là một cuộc đột kích vào sau lưng đội hình ta để thăm dò lực lượng ta hay chúng định đổ quân ra xây dựng một vị trí dã chiến để án ngữ khu vực này? Tiểu đoàn trưởng Mạnh như người vừa tỉnh ngủ - Địch đổ quân à? Đổ lúc nào mà nhanh thế?
- Chúng vừa đổ quân xuống cách đây một giờ và đã đụng một lực lượng nào đó của bộ đội ta trên tuyến vận tải. Không chừng... là quân của ông đấy!
- Ôi trời vậy... mà sao... tôi lại còn ở đây nhỉ? - Tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh tự hỏi vậy rồi lập tức quay lưng định lên khỏi nhà hầm. Trung đoàn trưởng Trần Đông Hải ngạc nhiên hỏi với theo:
Vậy... anh lên đây có việc gì?
Tiểu đoàn trưởng Mạnh vội quay lại xua tay: - Không có việc gì... tôi phải về tiểu đoàn ngay đây! - Khoan đã - trung đoàn trưởng nổi cáu - anh phải nghe xem trung đoàn ra lệnh cho các anh như thế nào đã chứ?
Tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh vội quay lại. - Xin lỗi trung đoàn trưởng... tôi sốt ruột quá nên... - Anh nghe cho kĩ đây - trung đoàn trưởng dõng dạc lên tiếng - hiện nay, tiểu đoàn các anh ở gần khu vực địch đổ quân hơn cả. Vì ngay khi trở về, anh phải cho trinh sát đi bám địch ngay. Nếu đêm nay chúng dám chốt lại ở đó thì tôi sẽ xin sư đoàn cho đánh ngay. Khi đó, tiểu đoàn anh phải đảm nhiệm hướng tiến công chủ yếu đấy!
Tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh hơi hoang mang: - Nhưng bộ đội của tiểu đoàn tôi hiện có hai đại đội thiếu đang đi làm nhiệm vụ vận tải. Không hiểu họ có bị kẹt ở đâu khi địch đổ quân không?
Vì vậy anh phải cho người đi bắt liên lạc với họ ngay. Trinh sát trung đoàn vừa báo cáo là có một đơn vị nào đó của ta đã nổ súng đánh địch trên tuyến. Đây, ở khu vực này - trung đoàn trưởng chỉ lên bản đồ - rất có thể là bộ đội của anh đã gặp địch trên đường vận tải đấy. Anh làm thế nào thì làm phải tập hợp được bộ đội sẵn sàng vào trận đêm nay nếu địch đóng chốt tại khu vực này! Tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh đứng nghiêm:
- Báo cáo rõ... tôi xin phép được về đơn vị ngay để thực hiện mệnh lệnh! Tiểu đoàn trưởng Mạnh hớt hải chạy đi ngay, trung đoàn trưởng Trần Đông Hải quay lại hỏi chính ủy và mọi người:
Không hiểu cái lão này lên đây làm gì nhỉ? Mình có cho gọi ông ấy đâu? Chính ủy Lê Nông bước tới ghé vào tai trung đoàn trưởng nói nhỏ: - Ông thông gia của anh đang có vấn đề về tư tưởng đấy. Vừa nãy anh Sớm chính trị viên tiểu đoàn 7 gọi điện thoại lên nói với tôi rằng... ông Mạnh vẫn đang bị sốc vì cái cú bọn địch đem in ảnh thằng Định lên truyền đơn Ông ta cho rằng mình có lỗi trong chuyện này nên... đùng đùng chạy lên định gặp anh và tôi để xin từ chức đấy! Trung đoàn trưởng đưa bàn tay lên cào cào cái đầu hói, cười khẩy:
- Từ chức à? Cái lão này điên thật. Đâu có dễ cho ông ta từ chức đến thế? Nhưng nếu đêm nay mà ông ta không tập hợp được quân vể để đánh trận này thì ông ta bị cách chức là cái chắc! Chính ủy hỏi: - Anh tin rằng sư đoàn sẽ cho trung đoàn ta đánh trận này à? - Nếu chúng nó chốt lại ở đó thì phải đánh chứ còn gì nữa? Đó là cửa ngõ khu bàn đạp của ta mà. Nếu bọn Mỹ lập ở đó một cái chốt chiến dịch, rồi xây dựng ở đó một trận địa pháo thì chúng ta sẽ khó thở đấy! Vừa lúc dó có tiếng chuông điện thoại reo, một anh trợ lí tác chiến nhấc máy nghe rồi vội vã gọi: - Báo cáo thủ trưởng, sư đoàn gọi ạ! Trung đoàn trưởng Trần Đông Hải vội chạy tới cầm máy. Tiếng sư đoàn trưởng Phạm Sùng vang lên bên kìa đầu dây: - Anh Hải đấy hả? Tôi Sùng đây Các anh đã biết đơn vị nào đánh bọn biệt kích Mỹ đổ bộ ở phía Tây Bắc bãi Cù Đinh chưa? Chưa à... Nhưng chắc chắn là quân của anh rồi vì hôm nay chỉ có trung đoàn anh làm nhiệm vụ vận tải trên tuyến đó thôi... anh em đánh khá lắm - Trung đoàn trưởng vẫy tay ra hiệu cho chính ủy Lê Nông lại gần cùng nghe - trinh sát kĩ thuật vừa nghe được tin bọn Mỹ báo cáo về sở chỉ huy của chúng là có 14 thằng chết, bảy thằng bị thương. Tao ngộ chiến mà anh mà anh em mình đánh như thế là giỏi đấy. Bây giờ bọn địch ở đó đang co cụm lại gọi bom pháo đánh phá xung quanh chứ không dám sục vào rừng nữa. Trung đoàn trưởng Hải hăng hái đề nghị: - Vậy đêm nay thủ trưởng cho chúng tôi thịt bọn này đi! Tiếng sư đoàn trưởng cười vang trong máy: Ham rồi hả? Nhưng bọn này sẽ không dám trụ lại đó đâu. Trinh sát cho biết là chúng đang gọi máy bay đến bốc quân về Đông Hà. - Hoài của - trung đoàn trưởng than - chúng tôi đã chuẩn bị tinh thần để đêm nay sẽ đánh một trận ra trò đấy ạ! - Thôi đi... còn nhiều dịp mà - anh cho gom anh em về đi rồi tiến hành bình công để khích lệ khí thế của toàn trung đoàn. Từ ngày mai anh không phải bố trí lực lượng đi vận tải nữa mà hãy cho bộ đội tranh thủ vừa nghỉ ngơi, vừa học tập rèn tuyện. Bố trí cho bộ đội hoàn thiện kĩ năng đánh địch trong công sự vững chắc, chuẩn bị cho nhiệm vụ sắp tởi của trung đoàn ở mục tiêu A. - Nhưng... ở chỗ chúng tôi không có nơi nào xây dựng thao trường đâu ạ. Máy bay trinh sát nó quần suốt ngày, bày biện ra dễ lộ lắm. - Ai bảo các anh bày biện làm gì? - Sư đoàn trưởng gắt - không dựng thao trường lớn nhưng vẫn có thể bố trí cho anh em tập gói buộc và đánh bộc phá, khắc phục vật cản hay hoàn thiện kĩ năng chiến đấu cá nhân chứ! - Vâng... vậy thì được ạ. Thưa thủ trưởng, liệu... chúng tôi có còn phải chờ đợi lâu nữa không ạ? - Lâu hay chóng còn tuỳ vào tình hình chung. Trên Khe Sanh bộ đội ta đang ép mạnh. Bọn Mỹ đã đưa cả hai sư đoàn lính thuỷ đánh bộ ra Quảng Trị rồi. Đoàn Hồng Bàng chúng ta cũng sẽ vào cuộc ngay thôi. Các trung đoàn nay mai sẽ bước vào chiến đấu, riêng các anh thì phải chờ thời cơ để tập trung cho nhiệm vụ chính. Trận hôm nay chỉ là ngoại lệ thôi chứ thực tình chúng tôi chưa muốn sử dụng lực lượng của các anh đâu. Thế đã nhé. Có tin tứ gì mới tôi sẽ thông báo cho anh ngay. Sư đoàn trưởng đã cúp máy. Trung đoàn trưởng Hải quay sang nói với chính uỷ: - Anh nghe rõ rồi chứ? Cụ ấy khen anh em mình đánh giỏi. Diệt được 14 thằng Mỹ - trung đoàn trưởng xoa tay cười thỏa mãn - Thế là có vốn đi đi chợ rồi! Chính ủy Lê Nông băn khoăn:
Không biết quân của tiểu đoàn 7 hay tiểu đoàn 8 đụng địch nhỉ? Đến tận lúc này mà vẫn không liên lạc được với anh em, tôi sốt ruột quá. - Chắc là quân ông Mạnh thôi. Sư đoàn trưởng nói địch sẽ bốc quân về chứ không chốt lại đó. Tiếc thật !
 - Vậy... có điện báo cho tiểu đoàn 7 dừng việc chuẩn bị cho trận tập kích đêm nay không? - Khoan đã. Đợi khi địch chính thức bốc quân đi thì ta báo xuống cũng chưa muộn. Vả lại, cứ để cho lão Mạnh lão ấy ngọ ngoạy một một tý cho bớt nghĩ ngợi về chuyện cái cậu trợ lí hi sinh trên hàng rào căn cứ địch đi. Rồi trung đoàn trưởng Hải đứng dậy. - Thôi, ông ngồi đây, tôi sang bên trinh sát xem có tin tức gì chưa. Đánh nhau mà cứ như thằng mù khua gậy đánh chó thế này thì khó chịu quá! Chính ủy Lê Nông suýt phì cười vì câu ví von của trung đoàn trưởng. Nhưng quả là cái câu ấy mô tả rất chính xác tình trạng lúc này của những người chỉ huy như các ông. Lính thì đánh, mà người chỉ huy thì chịu không có cách bị thương từng ấy... còn đằng mình thì mù tịt. Không biết bộ phận nào đánh, đánh thế nào, thương vong ra sao? Không biết đến bao giờ quân đội ta mới có được hệ thống thông tin vô tuyến hoàn chỉnh như thằng Mỹ nhỉ? Có lẽ cũng còn Chính ủy Lê Nông vội chạy lại cầm máy. Từ đầu dây bên kia tiếng chính ttị viên Lê Văn Sớm vang lên - Báo cáo chính uỷ... Tinh thần anh Mạnh có vẻ ổn rồi ạ. Anh ấy đang họp với các đại đội trưởng để nắm tình hình chuẩn bị cho trận đánh đêm nay. Chính ủy động viên thế nào mà tài thế Chính ủy Lê Nông bật cười:
- Thì tôi đã kịp nói gì với anh ấy đâu? Vừa nghe tin địch đổ bộ là anh ấy đùng đùng chạy đi ngay. Trung đoàn trưởng phải gọi giật lại giao nhiệm vụ đấy.
Vâng... tôi cũng mừng quá. Nhưng chúng tôi cũng chưa có tin gì về cuộc chạm súng vừa rồi. Bộ phận nào đánh đấy ạ? Chính ủy thở dài:
- Đến lúc này trung đoàn cũng chưa biết bộ phận nào chạm địch. Nhưng có nhiều khả năng là quân của các anh đấy. Chỉ nghe được thằng địch kêu với nhau là chúng nó chết 14 thằng, bị thương bảy thằng.Thế cơ ạ? - Chính trị viên Sớm kêu lên trong máy - Vậy là thắng to rồi phải không chính uỷ? - To hay bé cỏn phải xem lực lượng ta thương vong nhiều hay ít đã. Thế các anh đã cho trinh sát đi bắt liên lạc với các đơn vị đi vận tải chưa? - Rồi... nhưng cũng chưa thấy có tin tức gì báo về. Chúng tôi cũng đang lo không biết liệu có bắt liên lạc với họ sớm để chuẩn bị cho trận tập kích đêm nay hay không đây? Lực lượng ở nhà còn mỏng lắm! - Rồi... nhưng cũng chưa thấy có tin tức gì báo về. Chúng tôi cũng đang lo không biết liệu có bắt liên lạc với họ sớm để chuẩn bị cho trận tập kích đêm nay hay không đây? Lực lượng ở nhà còn mỏng lắm!
Chính ủy do dự một lát rồi nói - Có lẽ... sẽ không có trận tập kích nào đâu! - Sao vậy? - Chính trị viên Lê Văn Sớm hỏi dồn - hay Tung đoàn không tin tưởng ở đơn vị chúng tôi?
Không phải... - chính ủy trung đoàn do dự một vài giây rồi nói - theo tin kĩ thuật thì có vẻ như thằng địch không định trụ lại ở đó đâu? Anh đừng nói gì với anh Mạnh vội, khi nào có tin chính thức trung đoàn sẽ thông báo ngay.
Chính ủy Lê Nông cúp máy rồi quay sang nói với đồng chí trực ban tác chiến: - Cứ mười lăm phút đồng chí lại gọi lên tác chiến sư đoàn xem có tình hình gì mới không nhé?


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 18 Tháng Mười Hai, 2010, 06:52:50 pm

10
Hùng Phong rùng mình, co rúm người lại khi nhìn thấy hai cái cục đen xì, nham nhở nằm trên mặt đất. Tất, tiểu đội trưởng tiểu đội 8 vừa khóc vừa chỉ vào hai cái cục thịt cháy đen ấy: Đây... là anh Thoan! Còn đây... là cậu Đại... Chỉ nói được từng ấy câu rồi Tất quị xuống, lăn lộn trên mặt đất, hai tay anh cào cấu liên hồi trên cơ thể mình, từ trong lồng ngực anh hộc lên những tiếng khóc hay tiếng nấc hù hụ. Trên quần áo Tất ướt sũng một thứ nước sền sệt có lẽ rỉ ra từ hai thi thể nứt nẻ, cháy đen của hai liệt sỹ đang nằm kia. Hùng Phong bủn rủn cả chân tay, miệng cứng lại. Phía sau anh Hướng ngồi thụp xuống nôn thốc nôn nôn tháo còn Lân thì vừa khót ồ ồ vừa đâm chan chát vào một thân cây. Bên cạnh họ là ba chiến sỹ khác người bị bỏng, người bị thương mới chỉ được băng bó sơ sài. Cậu Hồng bị gãy đùi phải được anh em tạm thời cố định lại rồi bó cứng vào hai cái cành cây để có thể khiêng đi nhưng hình như băng bó không tốt nên xương vẫn lòi ra, cậu ta đau quá không kìm được thỉnh thoảng lại hộc lên “Đau quá! Mẹ ơi, là mẹ ơi... !”.
Mọi người nhìn nhau, rồi nhìn Hùng Phong. Lúc này chỉ có anh và Tất là người chỉ huy nhưng xem chừng Tất xuống tinh thần quá, chỉ biết khóc ròng và vật vã lăn lộn trên mặt đất chứ chẳng còn biết phải làm gì? Đông, chiến sỹ tiểu đội 8 giải thích:
- Một mình anh Tất phải vào bãi bom bê hai anh ra nên có lẽ... anh ấy xúc động quá đấy. Hùng Phong biết lúc này anh em chỉ còn biết trông vào mình nên anh cố trấn tĩnh lại, nói với mọi người:: - Anh em... ở đây vẫn còn nguy hiểm lắm. Trước hết, chúng ta phải ra khỏi khu vực này về vị trí tập trung đại đội - Anh nhìn quanh rồi cắt đặt công việc - chúng ta có 3 thương binh, hai liệt sỹ. Hai cậu bị bỏng nên cố gắng đi. Còn Hồng thì cần hai người khênh một người đỡ để tránh cho cậu ấy bị chấn động dẫn đến choáng thì nguy hiểm. Lân, Đông và Hợi lo cho việc này. Còn anh Thoan và Đại... chúng ta sẽ làm tạm cái cáng để khênh hai anh ấy về. Pháo địch vẫn bắn lúc thưa lúc mau, lúc xa lúc gần nhưng dường như không ai chú ý tới nữa, Mọi người khẩn trương bắt tay vào việc. Chỉ một lát một cái cái cáng bện bằng dây rừng đã được làm xong. Hùng Phong đặt cái cáng xuống bên cạnh thi thể hai liệt sỹ rồi nhìn mọi người hỏi: - Tôi sẽ khiêng một đầu, còn ai giúp tôi nữa đây? Hướng bước lên một bước: - Để tôi! - Cậu có được không? - Sao không được? - Hướng nói, rồi để chứng minh rằng mình không sợ gì nữa, anh ngồi thụp xuống bên thi thể hai người và nói với họ - Để tôi giúp hai anh lên cáng nhé! Hướng rthẹ nhàng lùa tay xuống thi thể co quắp của trung đội trưởng rồi nhấc bổng lên đặt vào cáng. Sau đó đến lượt Đại “đồng nát”. - Sao mà họ... nhẹ thế nhỉ? Mọi khi... thằng Đại phải tới hơn sáu chục cân. Hướng hỏi, sau khi đã đặt cả hai lên cáng. - Còn được thế này là may đấy - Hùng Phong nói vậy rồi quay lại hỏi Tất lúc này vẫn đang nằm úp mặt xuống đất, tuy không khóc nữa, nhưng đôi vai vẫn giật lên từng hồi: - Ta về thôi chứ Tất? Tất ngẩng lên, ngơ ngác nhìn mọi người rồi gật đầu nói: - Về thôi... sắp tối rồi! Hùng Phong bảo Lân và Đông: - Các cậu đưa thương binh đi trước đi. Nhớ đường chứ? Nếu có pháo bắn gần thì cố hạ cáng nhẹ nhàng một tý kẻo cậu ấy đau lắm đấy! Lân và Đông nâng cáng lên. Hồng kêu thét lên một tiếng “Đau quá!” rồi lịm đi. Đi thôi, anh Tất! Hùng Phong nhắc. Tất ngơ ngác nhìn mọi người rồi khoác khẩu tiểu liên lên vai. - Đi hả? Thế không lấy gạo sao? Hướng nhìn Hùng Phong lo lắng hỏi: - Hình như... anh ấy... bị làm sao ấy? Hùng Phong không trả lời mà quay sang nhắc mấy thương binh nhẹ: - Anh em cố gắng nhé. Về đến vị trí tập kết của đại đội rồi ta tính sau. Mấy anh em thương binh gắng gượng đứng dậy lần cây đi theo chiếc cáng của Hồng. Tất cũng thất thểu đi theo được vài bước rồi quay lại chỉ hai cái xác đen cháy hỏi: - Họ không đi à? - Có... đi cả bây giờ đây. Nào Hướng, nhẹ nhàng nhé! Hùng Phong và Hướng nâng cáng lên. Tất nhìn ngơ ngác rồi gật gù: - Thế này thì được! Nói rồi Tất quay lại thoăn thoắt đi theo anh em. Hùng Phong nói với Hướng: - Cậu đi trước tớ đi phía sau canh chừng cho Hướng đặt hai cái cây làm cáng lên hai vai rồi lại hỏi: - Sao mà họ nhẹ thế nhỉ? Hỏi vớ vẩn... đi đi nào! Hướng đi trước, Hùng Phong đi sau, lần theo anh em ngược lên đồi. Hai thi thể đồng đội nhún nhảy bập bềnh trên những sợi dây rừng. Vì phải leo ngược dốc nên hai cái thi thể cháy đen cứ trôi tuột xuống trước mặt Hùng Phong. Mùi xương thịt cháy, mùi cờ rếp cháy, mùi thuốc bom... xộc vào tận lục phủ ngũ tạng khiến Hùng Phong luôn có cảm giác như ruột gan anh sắp sửa lộn ngược lên. Giá nôn được một cái như Hướng, có lẽ sẽ đỡ hơn. Nhưng anh lại không sao nôn ra được. - Giá mà hôm nay có khẩu B41, thế nào cũng thịt được một cái trực thăng! Ngon ăn quá mà bó tay, cú không chịu được! Hưởng vừa đi vừa nóỉ, không biết hắn nói với người sống hay nói với người chết. Bỗng trong không gian rít lên một tràng tiếng gào rú của đạn pháo. - Nằm xuống! Tiếng thét của Hùng Phong bị những tiếng nổ đanh rền của đạn pháo nuốt chửng. Anh cũng không biết mình và Hưóng làm thế nào mà cùng kịp ném cái cáng xuống rồi quăng mình xuống đất. Đạn pháo nổ gần, đát đá bay vù vù, cành cây gãy rầm rầm, mảnh pháo ném vào những tảng đá mồ côi trên triền dốc toé hoa cả hoa cải. Có ai việc gì không? Hùng Phong hét lên sau loạt pháo đầu tiên. Không có tiếng trả lời. Hùng phong lo lắng bật dậy hét lên với Hướng: - Cứ nằm đó... mình lên trên kia xem thế nào? Không có ai bị thương nhưng Hồng lại ngất đi vì đau khi anh em quăng cáng xuống để nằm tránh pháo. Hùng Phong còn kịp nhìn thấy tiểu đội trưởng Tất vừa chạy ngược lên đồi vừa hét lên: - Cháy! Cháy to quá... chạy đi... lửa đấy... lửa đấy... Loạt pháo thứ hai rít lên dữ đội rồi nổ trùm lên phía đỉnh đồi. Trời ơi, thằng Tất bị rồi! Hùng Phong nghĩ vậy rồi bật dậy lao lên đồi. Anh còn đang ngơ ngác thì nghe thấy tiếng Tất thét lên: - Hùng Phong... nằm xuống! Nó ném bom Napan đấy! Anh vội nhảy mấy bước tới bên một hốc cây cổ thụ. Tất đã kịp lao vào nằm thu lu trong đó, nửa người nhô ra vẫy rối rít: - Lại đây... lại đây... chỗ này lửa nó không bén tới được đâu. Pháo địch đã chuyển làn sau khi bắn vài loạt vu vơ lên đỉnh đồi. Hùng Phong vẫy tay gọi Tất: - Ra đi thôi... không có bom Napan đâu?! Tất rụt rè chui ra, nhìn quanh hỏi - Không có bom lửa thật à? - Thật đấy. Hết bom lửa rồi. Cậu ngồi đây mình xuống đón anh em nhé! Tất ngoan ngoãn gật đầu. Hùng Phong để Tất ngồi đó rồi lộn trở xuống. Anh em cũng đã rời vị trí trú nấp chuẩn bị đi tiếp. Hùng Phong dặn mọi người cố gắng đưa thương binhh về nơi tập kết của đại đội rồi đi xuống chỗ chiếc cáng hai liệt sỹ. Tới nơi, không thấy Hướng đâu mà chỉ thấy chiếc cáng bằng dây rừng nằm chỏng chơ.Hùng Phong đang ngơ ngác nhìn quanh thì từ dưới khe, tiếng Hướng gọi váng lên: - Ban ơi... xuống đây giúp tớ với! Nhìn xuống khe thấy Hướng đang loay hoay với hai cái cục đen xì. Thì ra khi đột ngột phải nằm xuống tránh pháo, họ đã hất văng hai cái thi thể cháy đen xuống cái khe cạn này. - Cứ ở đó tớ xuống ngay đây! Cái khe cạn hẹp, nhưng lại dốc, Hùng Phong phải lựa đà để khỏi lao cắm đầu xuống. Không hiểu hai cái ông này làm sao lại nhảy xuống tận đây cơ chứ? Hướng ngồi tựa lưng vào một trảng đá xanh rì những rêu, bên cạnh là hai cái xác cháy nham nhở của đồng đội. Hùng Phong hất hàm về phía hai ông liệt sỹ: - Có làm sao không? - Thằng Đại thì cũng chỉ trầy tróc chút ít... nhưng - miệng Hướng bỗng méo xệch - anh Thoan thì... rơi đâu mất một cánh tay rồi. - Để mình tìm xem nào?


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 18 Tháng Mười Hai, 2010, 06:54:43 pm
Hùng Phong vội tìm dưới lòng khe và cả trên vách đá nhưng tuyệt nhiên không thấy cái tay của anh Thoan. Nhất định nó chỉ rơi loanh quanh đâu đây thôi. Nhưng tìm một lúc vẫn không thấy gì, Hùng Phong đành quay lại, nói với Hướng: - Thôi, đưa hai người lên trên kia đã, rồi tính sau? Hướng vẫn ngồi bó gối, mặt mũi tối xầm. Hùng Phong bước tới đặt một tay lên vai bạn giục: - Đi thôi Hướng... anh em đang đợi mình đấy. Hướng bỗng đột ngột kéo Hùng Phong xuống, ôm chặt lấy anh nức lên: - Ban ơi... mình sợ lắm... ! Mình... sợ người chết lắm! - Vớ vẩn! - Hùng Phong mắng át đi - thằng Mỹ còn chả sợ... sợ gì người chết? Với lại... anh Thoan với thằng Đại lúc sống... cũng hiền khô ấy mà. - Nhưng... bọn mình... đánh mất một tay của anh ấy... - Mất thì thôi! – Hùng Phong bực mình gắt - cái mạng mình các anh ấy còn chả tiếc, nữa là cánh tay. Đứng dậy đi, tớ còn phải lo cho cả trung đội kia kìa. Hướng gạt nước mắt đứng dậy. Hùng Phong nhìn lên vách khe tính đường lên rồi bảo: Cậu lên trước đi, rồi đứng ở cái mỏm đá thò ra kia kìa. Mình sẽ lần lượt chuyển từng ông lên cho cậu đón. Loay loay mất một lúc lâu, hai người mới hoànCậu lên trước đi, rồi đứng ở cái mỏm đá thò ra kia kìa. Mình sẽ lần lượt chuyển từng ông lên cho cậu đón. Loay loay mất một lúc lâu, hai người mới hoàn thành công việc. Khi thi thể hai liệt sỹ đã được đặt nằm lại trên chiếc cáng bằng dây rừng, hai người đã chuẩn bị để tiếp tục khiêng đi thì đột nhiên Hướng bảo: - Để tớ tìm thêm một tý xem sao? Bọn mình mới chỉ tìm dưới dưới khe mà chưa tìm ở trên này. Chỗ bọn mình nằm xuống tránh pháo là chỗ nào nhỉ? - Kia kìa. Nhưng nhanh lên đấy! Pháo nó mà lại bắn vào đây thì không khéo phải bỏ các ông ấy mà chạy chứ không đùa được đâu! Hùng Phong lầu bầu nhắc. Thực tình thì anh không cho rằng việc phải tìm cho ra cái đoạn cánh tay cháy dở ấy lại quan trọng đến thế. Liếc nhìn sang thi thể của trung đội trưởng, anh đã hiểu vì sao cái cánh tay ấy lại rơi ra. Phần da thịt, gân cơ gần như đã cháy hết rồi. Cái xương cẳng tay của anh chỉ còn dính hờ vào khớp vai, va đập một cái là rơi ra ngay. Không chừng nó đã rơi dọc đường rồi chứ không phải chỉ tới lúc họ nằm tránh pháo mới rơi ra. Thằng Đại có vẻ còn nhiều da thịt hơn, nhưng vì thế mà trông nó lại càng đáng sợ. Bộ răng của nó trắng nhởn, chìa ra, hai cái hốc mắt bây giờ chỉ còn là haicái hốc thô lố, Vì thế nó rất giỏi việc chế tác, biến những đoạn ống pháo sáng, những cái cát tút đạn thành những thứ đồ dùng xinh xẻo như cây đèn cầy, những cái lược chạm khắc tinh vi, những cái ca nhôm... Nó đã kì khu tìm ống pháo sáng để đút vào túi cóc ba lô. Cậu Cung mê cái điếu cày ấy lắm và gọi thằng Đại là nghệ nhân hẳn hoi. Nhưng anh em trong trung đội thì cứ gọi nó là Đại “đồng nát” vì trong ba lô của nó lúc nào cũng lỉnh kỉnh trăm thứ những ngày còn huấn luyện ở ngoài Bắc cũng vậy, không khi nào báo động kiểm kê quân trang mà thằng Đạikhông bị phê bình vì chứa chấp những thứ vớ vẩn không có trong danh mục quân trang quân dụng. “Bây giờ thì mày chết, rồi, chắc chắn bọn tao phải chôn mày ở chiến trường. Ở đây mày sẽ tha hồ mà đi thu gom đồ đồng nát. Nếu có giỏi, mày nhớ làm cho anh Thoan một cái cánh tay giả nhé!”. Đúng lúc Hùng Phong bật cười vì ý nghĩ kì cục ấy thì nghe tiếng Hướng reo lên: - Tìm thấy rồi! Ơ-rê-ca... ! Tìm thấy rồi! Lại còn Ơ-rê-ca nữa? Ac-si-mét hay Niu-tơn thì có có giỏi, mày nhớ làm cho anh Thoan một cái cánh tay giả nhé!”. Đúng lúc Hùng Phong bật cười vì ý nghĩ kì cục ấy thì nghe tiếng Hướng reo lên: - Tìm thấy rồi! Ơ-rê-ca... ! Tìm thấy rồi! Lại còn Ơ-rê-ca nữa? Ac-si-mét hay Niu-tơn thì có của trung đội trưởng chạy lại Hùng Phong cũng cảm thấy vui lây. - Ở đâu ra thế? - Nó mắc ngay trong cái bụi cây cộng sản mọc ở bờ khe ấy? - Cây gì? - Hùng Phong ngạc nhiên hỏi. - Cây cộng sản... cái cây trông giống cây chó đẻ ở ngoài mình ấy. Tớ nghe thấy cánh lính cựu của đường 9 gọi thế. Họ bảo, chính thằng địch nó gọi loại cây này là thế vì ở những vùng bị bom đạn Mỹ phát quang, loại cây ấy mọc lên nhanh lắm, mà lại sống dai, như cộng sản ấy mà! - Mẹ khỉ. Thế là chúng nó bỉ báng bọn mình đấy. - Hùng Phong càu nhàu - thôi, trả lại cái cánh tay ấy cho ông Thoan đi. Mình vừa mới nghĩ rằng thế nào thằng Đại khéo tay chẳng làm tặng trung đội trưởng một cái tay giả. Bây giờ thì tốt rồi, không phải làm giả nữa. Đi thôi! Thằng Tất còn đang phát điên lên ở trên kia kìa. 11 Sáu giờ tối đại đội trưởng Nguyễn Hồng Thanh và chính trị viên Lương Xuân Báo, được tổ trinh sát của Lân giúp đỡ đã bắt được liên lạc với đại đội phó Đồng Tiến Phi chỉ huy hai trung đội của đại đội đi làm nhiệm vụ vận tải. Đến tận lúc ấy họ mới biết rằng đại đội của mình vừa trải qua một trận đánh ác liệt và có thể nói là đã giành thắng lợi ngoài dự kiến. Trước lúc hai người lên đường, cấp trên đã thông báo chính thức có 14 tên Mỹ bị giết, nhiều tên khác bị thương trong trận tao ngộ chiến với bộ đội ta trên tuyến đường vận tải. Lúc bốn giờ chiều địch buộc phải đưa trực thăng tới bốc quân đi, không dám mạo hiểm trụ lại ở khu vực này. Về mặt lý thuyết mà nói, trận đột kích của địch ra phía sau đội hình của sư đoàn đã thất bại. Tuy chỉ là đòn thăm dò thôi, nhưng rõ ràng từ nay, nếu muốn đổ quân ra khu vực này, bọn Mỹ sẽ Vừa gặp mặt chính trị viên đã ôm choàng lấy đại đội phó Đồng Tiến Phi mà khóc nấc lên vì mừng. - Nghe tin có đánh nhau to với bọn Mỹ. Bọn mình ở nhà sốt ruột quá. Không ngờ lại là đại đội ta lập công. Trận đầu mà đã thắng to như thế là tốt lắm, tốt lắm! Đại đội phó ngập ngừng nói: - Nhưng... báo cáo hai thủ trưởng... đại đội ta cũng sứt mẻ nhiều ạ! Đại đội trưởng sốt ruột hỏi: - Sứt mẻ nhiều là thế nào? - Ba đồng chí hi sinh, trong đó có trung đội trưởng Thoan ạ. Ngoài ra... còn năm đồng chí bị thương nữa. - Cậu Thoan bị rồi à? - Đại đội trưởng sững sờ ngồi bệt xuống ngay trên nền rừng ẩm ướt. Chính trị viên Lương Xuân Báo bình tĩnh nói với đại đội phó - Đồng chí báo cáo nhanh diễn biến trận đánh xem nào? Đại đội phó Đồng Tiến Phi vội báo cáo tóm tắt trận đánh một cách rành mạch. Nghe xong đại đội trưởng Nguyễn Hồng Thanh khen: - Tốt lắm. Tôi không ngờ trận đầu đụng độ với lính Mỹ mà anh em ta đánh được như thế. Nhưng giá như đừng cho cậu Thoan phát triển đội hình về hướng đó thì có lẽ... Đại đội phó thừa nhận: - Vâng... vì chúng tôi dự kiến rằng sau khi đổ quân địch sẽ tiến hành thọc sâu xục xạo dọc theo con đường vận tải của ta, nên mới triển khai một mũi sang hướng đó để sẵn sàng đánh chặn. Nhưng không ngờĐại đội phó thừa nhận: - Vâng... vì chúng tôi dự kiến rằng sau khi đổ quân địch sẽ tiến hành thọc sâu xục xạo dọc theo con đường vận tải của ta, nên mới triển khai một mũi sang hướng đó để sẵn sàng đánh chặn. Nhưng không ngờ địch đổ quân xuống là co cụm ngay, anh em ta ham đánh lao vào nên rút ra hơi chậm, chủ yếu là bị thương vong do phi pháo. - Không sao! Không sao - chính trị viên Lương Xuân Báo hào hứng nhận xét - nếu như anh em ta không đánh ép vào một cách quyết liệt thì chắc gì thằng địch đã co cụm vào một chỗ rồi vội vã gọi trực thăng tới bốc chúng đi. Thắng lợi, về cơ bản là thắng lơi. Tinh thần quyết thắng của anh em phải được đề cao. Rồi đột nhiên như nhớ ra điều gì, anh kêu lên: - Chết thật... thế mấy đồng chí hi sinh hiện nay để đâu? - Chúng tôi mang về đây rồi. - Đại đội phó trả lời giọng dầu dầu - mời hai thủ trưởng tới gặp anh em. Ngoài trung đội trưởng Thoan và Đại, hướng trung đội hai do trung đội trưởng Tại chỉ huy còn mất cậu Rạng, người Mường ở Ba Trại. Rạng cũng hi sinh vì trúng đạn pháo khi rút quân. Cả ba người đã được đưa về nơi tập kết. Họ được đặt nằm một hàng trên một chiếc võng trải rộng. Anh em đang đứng ngồi xúm xít quanh họ. Thấy đại đội trưởng và chính trị viên tới họ lặng lẽ đứng dậy, nghiêm trang chờ đợi. Chính trị viên và đại đội trưởng rẽ qua các chiến sỹ bước tới họ lặng lẽ đứng dậy, nghiêm trang chờ đợi. Chính trị viên và đại đội trưởng rẽ qua các chiến sỹ bước tới quì xuống bên ba liệt sỹ. Đại đội trưởng Thanh rưng rưng sờ nắn phần thịt xương còn lại trên thi thể Thoan và Đại rồi lặng lẽ vuốt lại những sợi tóc bết máu trên trán Rạng, chỉnh lại tư thế nằm cho ba liệt sỹ. Rừng chiều lặng phắc. Lạ thay, đến cả tiếng pháo, tiếng máy bay trực thăng, máy bay trinh sát của địch cũng tắt lặng từ bao giờ. Những tia nắng cuối ngày cũng vừa tắt khi mặt trời tụt xuống phía bên kia dãy núi phía Tây. Gương mặt của cả người sống lẫn người chết cùng tối xầm lại. Đại đội từ từ đứng dậy, nghiêm trang hô khẩu lệnh: - Đại đội 9 nghe lệnh tôi! Trừ các đồng chí bị thương. Đại đội, hai hàng ngang tập hợp. Tiếng lá khô rào rạo, tiếng bước chân rậm rịch. Chỉ một loáng đội ngũ đã chỉnh tề. - Chỉnh đốn trang phục!- Tiếng đại đội trưởng lại vang lên - những người lính răm rắp tuân theo mệnh lệnh. Họ xốc lại quần áo, vuốt lại mái tóc, chỉnh lại bao đồ bao xe trên người. Chỉnh đốn trang phục xong! Nghiêm... đề tưởng nhớ những đồng chí đã anh dũng hi sinh trong trận đánh đầu tiên của đại đội 9... phút mặc niệm bắt đầu! Mọi người nhất loạt cúi đầu. Một trận gió đột ngột ào qua cánh rừng. Tiếng lá xô rào xô rào dạt trên tán cây. Có tiếng ai đó sụt xịt khóc. Tiếng sụt xịt lan dần theo hàng quân và có vẻ như thật khó mà kìm nén. Bỗng chính trị viên Lương Xuân Báo ồm ồm cất lên tiếng hát: Ngày mai anh em ta lên đường... Các chiến sỹ ngỡ ngàng giây lát rồi họ cùng cất tiếng hoà theo. Ra chiến trường giải phóng quê hương Vì độc lập vì tự do chẳng tiếc máu xương Núi sông ơi... đất Việt thương yêu ơi Đoàn quân đi lưỡi lê sáng ngời Đã ra quân là chiến thắng Đạp lên xác thù, chỉ biết có tiến công Trung đoàn ta lên đường Ra chiến trường... Bài ca truyền thống của trung đoàn âm vang khiến cả cánh rừng như bừng sáng lên trong hoàng hôn. Đến lúc đó hình như các chiến sỹ đại đội 9 mới thực tin rằng kẻ thù của họ đã cao chạy xa bay rồi. Cánh rừng này là của họ, núi rừng này vẫn là của họ. Họ có thể nói to, hét to lên như mọi ngày. Chính trị viên đại đội đã biết cách dứt họ ra khỏi không gian âm u, bí hiểm và tang tóc của một cánh rừng nhiệt đới vừa trải qua một cơn binh lửa. - Các đồng chí! - Chính trị viên Lương Xuân Báo bước ra trước hàng quân sau khi bài ca vừa dứt - Chúng ta đang trong giây phút tiễn biệt những người đồng chí của chúng ta vừa hi sinh anh dũng trong trận đánh chiều nay. Ba đồng chí ra đi là những mất mát không thể nào bù đắp được. Nhưng điều quan trọng nhất là các đồng chí ấy đã cùng đại đội đánh thắng trận đầu. Mà lại là trận đầu đánh thắng bọn bọn lính viễn chinh Mỹ. Điều này vô cùng quan trọng. Chỉ mới hôm qua hôm kia thôi, chúng ta vẫn còn băn khoăn tự hỏi - thằng Mỹ là như thế nào? Liệu chúng ta có đánh thắng chúng trên chiến trường được không? Thì đây, hôm nay hoạch tấn công đột kích về phía sau đội hình của sư đoàn ta, phải vội vã bốc quân tháo chạy chứ không dám cắm chốt ở khu vực quan trọng này. Như vậy rõ ràng là sự hi sinh của ba đồng chí của chúng ta đây đã khôngchúng ta đã có câu trả lời. Trung đoàn thông báo địch báo cáo sở chỉ huy của chúng ở Đông Hà là chúng bị chết 14 tên, bảy tên khác bị thương. Điều quan trọng hơn là chúng đã phải huỷ bỏ kế hoạch tấn công đột kích về phía sau đội hình của sư đoàn ta, phải vội vã bốc quân tháo chạy chứ không dám cắm chốt ở khu vực quan trọng này. Như vậy rõ ràng là sự hi sinh của ba đồng chí của chúng ta đây đã không vô ích. Ngay tại đây, tôi trang trọng phát động cuộc thi đua giết giặc lập công, học tập gương chiến đấu hi sinh của ba đồng chí Nguyễn Hữu Thoan, Trần Đình Đại và Đinh Văn Rạng. Toàn đại đội ta quyết tâm chiến đấu lập công để trả thù cho các đồng chí đã hi sinh, các đồng chí có quyết tâm không? Toàn đại đội đồng thanh hô lớn: - Quyết tâm! Quyết Tâm! Quyết tâm! Lễ truy điệu ba đồng chí hi sinh của đại đội chín đã diễn ra ngắn gọn và đơn giản như vậy. Sau đó thi thể của ba người lính được giao cho bộ phận làm công tác chính sách của trung đoàn để họ khâm liệm rồi đưa đi chôn cất tại một nghĩa trang tập trung của trung đoàn. Những người bị thươngcũng được đưa đi trạm quân y tiền phương ngay trong đêm. Riêng tiểu đội trưởng Tất thì vẫn đang trong tình trạng tâm thần bấn loạn, khi khóc khi cười. Chính trị viên Lương Xuân Báo ngồi nửa giờ nghe cậu ta khóc lóc kể lể rồi bất ngờ tát cho mấy cái và bảo: - Nếu cậu mà còn như thế này nữa thì tôi sẽ cho anh em trói cậu lại giải về hậu phương đấy! Cũng lạ, từ đấy Tất nín bặt, cạy miệng cũng không nói câu nào nữa Nửa đêm hôm đó đại đội 9 trở về nơi đóng quân. Suốt chặng đường hành quân về kiềng tiểu đoàn Lân không rời Hùng Phong và Nguyễn Đình Hướng nửa bước. Anh rất tự hào vì có hai người bạn thân đã đánh thắng trận đầu. Mừng nhất là nghe thấy anh em trong đại đội khen Hùng Phong không chỉ chiến đấu dũng cảm mà còn là một người chỉ huy rất linh hoạt, mưu trí. Có lẽ đây là lần đầu tiên anh thấy mình cảm phục Hùng Phong thật Anh tự nhủ lúc nào rảnh nhất định phải ghi lại trận đánh này vào sổ tay. Rất tiếc là vì đang ở chiến trường, không liên lạc được với các toà soạn báo, nếu không anh sẽ viết ngay một bài về gương chiến đấu của Hùng Phong mà không cần đến sự yêu cầu của chính trị viên Lương Xuân Báo


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 18 Tháng Mười Hai, 2010, 06:59:06 pm
12
Trận đánh địch đổ bộ đường không của đại đội 9 lập tức trở thành một sự kiện được các vị chính uỷ, chính trị viên trong toàn sư đoàn phổ biến tới bộ đội nhưmột chiến công đầu lẫm liệt của sư đoàn Hồng Bàng. Một lần nữa, danh hiệu “tiểu đội Hùng Phong đi đầu diệt Mỹ” lại vang lên trong toàn sư đoàn. Đại đội 9 được tặng Huân chương chiến công giải phóng Hạng nhì, đại đội phó Đồng Tiến Phi, tiểu đội trưởng Phạm Hùng Phong cùng ba liệt sỹ đều được công nhận là Dũng sỹ diệt Mỹ và được tặng thưởng Huân chương chiến công giải phóng hạng ba. Nguyễn Đình Hướng và vài ba người nữa cũng được công nhận là dũng sỹ diệt Mỹ nhưng chỉ được tặng bằng khen. Như thế cũng là tốt quá rồi vì ngoài những danh hiệu và sự khen thưởng kể trên, từ nay Phạm Hùng Phong trở thành trung đội trưởng trung đội 3, còn Nguyễn Đình Hướng thì thay Hùng Phong làm tiểu đội trưởng tiểu đội 9. Lê Văn Tất tiểu đội trưởng tiểu đội 8 cũng được tặng bằng khen và danh hiệu dũng sỹ nhưng đã bị kiểm điểm vì đã “hoang mang dao động trước những hi sinh lớn lao của đồng đội”. Trong hội nghị bình công của trung đội, Tất nhận khuyết điểm và xinnhận kỉ luật thôi giữ chức tiểu đội trưởng nhưng anh em không nghe. Chính trị viên Lương Xuân Báo dự họp cùng trung đội liền nói “Đồng chí Tất thấy được khuyết điểm như thế là tốt. Nhưng không nên vì thế mà từ chối nhiệm vụ. Sẽ còn nhiều cơ hội để đồng chí chứng tỏ vai trò của mình”. Tất nghe ra, thôi không xin từ chức nữa. Mọi việc khen thưởng, đề bạt đáng lẽ thì suôn sẻ, nhưng bỗng nhiên Nguyên Đình Hướng lại đùng đùng lên gặp đại đội trưởng và chính trị viên kiến nghị: - Báo cáo đại đội... có lẽ cứ để tôi làm xạ thủ B41 thì tốt hơn. Tôi là một xạ thủ giỏi mà vào chiến trường chưa bắn được quả đạn nào thì phí quá? Đại đội trưởng Nguyễn Hồng Thanh gật đầu: - Cậu nói cũng phải. Nếu cậu là tiểu đội trưởng thì phải bàn giao khẩu B41 cho người khác thật. Hay là, ta tìm người khác làm tiểu đội trưởng tiểu đội chín, anh Báo nhỉ? Chính trị viên Lương Xuân Báo lắc đầu kiên quyết: - Không được. Đây là công tác cán bộ. Cấp ủy đã quyết rồi, không thể thay đổi được. Đồng chí Hướng phải có trách nhiệm bồi dưỡng cho cậu Kiên trở thành xạ thủ giỏi. Hướng gãi đầu nhăn nhó, cố mặc cả thêm: - Nhưng. . nếu trong trận đánh sắp tới cậu Kiên vẫn chưa vững thì tôi xin được bắn B41. Chính trị viên gật đầu: - Được rồi. Để xem tình huống cụ thể lúc đó thế nào đã. Trước mắt đồng chí vẫn phải bàn giao khẩu B41cho cậu Kiên. Nguyễn Đình Hướng đành miễn cưỡng chia tay với khẩu B41 mà cậu ta đã gắn bó từ ngày nhập ngũ. Tuy chỉ là cuộc chia tay tượng trưng thôi, nhưng Hướng cũng có vẻ buồn. Cậu ta đem tâm sự ấy lên tiểu đội trinh sát  tiểu đoàn kể với Trương Đình Lân. Nghe xong Lân cười, bảo: - Sao cậu lẩn thẩn thế không biết? Người thì bé, khẩu súng thì to mà cứ lưu luyến mãi. Người ta mong dài cổ chả được đề bạt, riêng cậu thì lại chỉ vì cái ống lươn ấy mà định không nhận thăng chức thì gẩm quá đấy! - Làm cái thằng tiểu đội trưởng, đầu binh cuối cán chứ chức tước gì? - Hướng gãi đầu cằn nhằn. - Có làm tiểu đội trưởng thì rồi mới lên trung đội, đại đội được chứ? Cậu không trông gương thằng Ban đấy à? Cứ đà này chẳng mấy chốc mà nó lên chỉ huy cái đại đội này đâu? - Hùng Phong lại là chuyện khác. Nó có tướng làm quan. Nhưng này, chẳng lẽ tớ lại mong cho thằng Ban nó chết như anh Thoan để lên thay nó làm trung đội Hướng bỗng hỏi một câu rất dớ dẩn mà Lân không thể nào trả lời được. Ngắc ngứ một lúc anh mới bực mình gắt: - Cậu nói năng dớ dẩn bỏ mẹ! Cứ gì phải thằng Ban nó phải chết thì cậu mới lên trung đội trưởng được. Cậu không thể làm trung đội trưởng của một trung đội khác được sao? - Như thế thì... vẫn phải có một trung đội trưởng khác chết chứ? - Hướng vẫn cảng cổ cãi. Lân phì cười lắc đầu. Cái lý cùn của Hướng mà xem ra cũng sâu xa ra phết. Đằng nào thì cũng phải có một ai đó chết hoặc bị thương ở đâu đó trong hệ thống chỉ huy thì mới có chỗ cho cậu ta thăng quan tiến chức thật chứ đâu có phải chuyện chơi? - Thôi được rồi, cứ tạm làm tiểu đội trưởng đi đã. Vác AK chẳng sướng hơn vác B41 à? Hướng thở dài tiết rẻ: - Cũng đành vậy. Tổ chức phân công mà, biết làm sao được? Nhưng nhất định tớ phải được choảng vài phát B41 vào bọn Mỹ thì mới đã. Hôm vừa rồi mà tớ mang theo B41 thì không chừng tớ sẽ trở thành dũng sỹ diệt máy bay trực thăng Mỹ rồi ấy chứ! Duyên nợ với khẩu B41 chính là tai hoạ của Nguyễn Đình Hướng mà mãi sau này cậu ta hiểu ra điều đó. Hai thằng còn đang nhỏ to trò chuyện thì tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh bỗng lù lù xuất hiện trước hầm của tiểu đội trinh sát. Nhìn thấy Hướng, tiểu đoàn trưởng hỏi: - Có phải cậu là cậu Hướng ở dưới đại đội 9 không? Hướng gật đầu: - Dạ... vâng ạ. Nhưng ở đại đội em có hai Hướng kia. Hướng cao và hướng lùn, em là Hướng lùn ạ. Tiểu đoàn trưởng thân mật vỗ vai Hướng: - Lùn mà dám dùng lựu đạn chọi nhau với bọn lính thuỷ đánh bộ Mỹ thì cũng... cao lắm rồi! - Báo cáo tiểu đoàn trưởng... là vì lúc đó em không mang theo khẩu B41, nếu không thì... “Lại khẩu B41, cái thằng đồ này rõ thật!” Lân rủa thầm rồi vội cắt ngang lời Hướng: - Thủ trưởng tìm bọn tôi có việc gì không ạ? - Cậu Ngạn đâu? - Tiểu đoàn trưởng hỏi - Dạ... anh ấy lên đài quan sát rồi ạ. - Mình có chuyện này định bàn với các cậu... - tiểu đoàn trưởng suy nghĩ một lát rồi nói tiếp - các cậu có nghe tin bọn Mỹ vừa đưa ra Cam Lộ thêm một tiểu đoàn lính thuỷ đánh bộ không? Lân lắc đầu: - Dạ... bọn em chưa biết tin ấy. Nhưng có biết rằng sáng nay trung đoàn 6 vừa đánh một trận lớn trên đường chín, đoạn gần cầu Thiện Xuân, cây cầu mà thầy trò mình đã nghiên cứu ấy ạ. Nghe nói họ bắn cháy hơn chục xe tăng, xe bọc thép, diệt được vài chục tên Mỹ. Đúng đấy - tiểu đoàn trưởng gật đầu - trung đoàn cũng vừa thông tin cho mình biết xong. Đơn vị bạn đánh cũng cừ đấy chứ hả? - Vâng ạ. - Nhưng... nghe nói họ cũng bị thương vong nhiều đấy. Mà hầu hết, vẫn là do phi pháo! Cậu nghĩ thế nào? Hướng ngạc nhiên hết nhìn Lân lại nhìn tiểu đoàn trưởng. Anh không ngờ thủ trưởng tiểu đoàn lại bàn bạc về chuyện tác chiến với Lân một cách bình đắng đến thế. Lại còn được thủ trưởng hỏi ý kiến nữa, lớp trưởng của mình Cậu nghĩ thế nào? Hướng ngạc nhiên hết nhìn Lân lại nhìn tiểu đoàn trưởng. Anh không ngờ thủ trưởng tiểu đoàn lại bàn bạc về chuyện tác chiến với Lân một cách bình đắng đến thế. Lại còn được thủ trưởng hỏi ý kiến nữa, lớp trưởng của mình  của mình kể ra cũng oai ra phết. - Tôi nghĩ rằng địch sợ bị ta cắt đường số 9, không chi viện được cho bọn đang bị vây ở Khe Sanh nên đã dùng phi pháo tới giới hạn tối đa. - Biết là thế rồi. Nhưng... làm thế nào để hạn chế được tác dụng của hỏa lực địch? Tiểu đoàn trưởng hỏi lại và nhìn cả sang Hướng. Không lẽ ông ấy tranh thủ cả ý kiến của mình? Hướng nghĩ vậy rồi ngập ngừng trả lời: - Theo em thì... cứ vào thật gần địch hãy nổ súng. Đánh nhanh, đánh thật mãnh liệt rồi... cũng phải rút cho thật nhanh ạ. - Bám thắt lưng địch mà đánh chứ gì? Điều này thì người ta cũng đã nói rồi. Nhưng làm thế nào để bám được thắt lưng thằng Mỹ mới là khó. Bọn nó đâu dễ để cho anh bám thắt lưng, phải không nào? Đúng vậy, Hướng nghĩ thầm. Như trận vừa rồi đấy thôi. Vừa chạm súng với quân ta là chúng vón cục ngay lại rồi gọi phi pháo tới chi viện liền. Trút bom trút đạn không cần tính toán. Đánh nhau với bọn nhà giàu này, cũng khó thật chứ không phải đùa đâu. Tiểu đoàn trưởng không đợi câu trả lời, cũng không hỏi gì nữa, trước khi đi ông quay lại nói với Lân: - Có khi tôi với các cậu phải đi trinh sát lại mục tiêu A một lần nữa trước khi cấp trên có quyết định chính thức. Một tiểu đoàn Mỹ nữa, chứ đâu phải ít. Thế nào chúng nó chẳng bố trí lại hệ thống phòng thủ của căn cứ. - Vâng... chắc chắn là thế - Lân đáp. - Các cậu chuẩn bị đi... đợi mình xin phép trung đoàn rồi ta đi luôn. Lân do dự giây lát rồi hỏi: - Cả tôi và anh Ngạn cùng đi chứ ạ? Cậu đi thôi mang theo hai trinh sát nữa. Cậu Ngạn chưa biết đường, để cậu ấy ở nhà phòng có nhiệm vụ đột xuất. - Ông bỗng bật cười, rồi nói thêm - nhưng đừng có mang theo cái cậu... ỉa ra quần đấy nhé. Cậu ta còn non nớt lắm! Khi tiểu đoàn trưởng đi khuất, Hướng nhìn Lân tò mò hỏi: - Này, ai ỉa ra quần hả ông Lân? Lân chỉ vào ngực mình: - Tớ, chứ còn ai nữa. Hướng đấm cho Lân một cái. - Nói láo, ông mà sợ ỉa ra quần thì tiểu đoàn trưởng đã đuổi cổ khỏi tiểu đội trinh sát rồi. Lân thành thật nói với bạn - Mình chưa đến nỗi ấy... nhưng có lúc cũng sợ muốn vãi cả linh hồn ra đấy, ông ạ. Súng máy nó bắn ràn rạt trên đầu, thiếu xém cả tóc, tưởng đùa đấy hẳn. - Có lúc. . mình cũng sợ lắm - Hướng thú nhận - nhưng không phải là lúc lao vào bọn Mỹ ném lựu đạn mà là cái lúc phải ôm ông Thoan và thằng Đại từ dưới khe lên. Nhớ đời đấy! Ông đã nhìn thấy ai bị chết cháy bao giờ chưa? Khủng khiếp lắm. Mấy hôm nay, đêm nào mình cũng choàng tỉnh vì mơ thấy ông ấy. Nói tới đó Hướng quay nhìn xuống dưới dốc và không hiểu vì sao bỗng kêu thét lên một tiếng rồi nhảy ào tới ôm choàng lấy Lân, vừa run bần bật vừa kêu lên – Anh anh ấy kìa... Lân nhìn ra hướng con dốc nhỏ từ suối lên cửa hầm của mình và bỗng hiểu ngay hành vi khác thường của Hướng. - Buông tao ra nào, thằng Do Côlinốp đấy! Lân vừa nói vừa cố gỡ Hướng ra. Đúng là Do đang lên thật. Hướng buông Lân ra, ngồi bệt xuống thở, mồ hôi túa ra đầy mặt. Làm mình... hết cả hồn? Vừa lúc đó thì Do lên tới nơi. Lân và Hướng nhìn Do trân trân


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 25 Tháng Mười Hai, 2010, 04:30:56 pm
Rồi nhìn sang nhau và cùng phá lên cười. Do ngơ ngác nhìn hai người ngạc nhiên, hỏi: Hai người cười gì mà khiếp thế. Mặt tớ có vết bẩn à? Lân vội xua tay: - Không, cậu... đẹp trai lắm. Chúng mình đangcười... chuyện khác kia. 13 Kế hoạch trinh sát lại mục tiêu A của tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh không được trung đoàn chuẩn y. Trung đoàn trưởng Trần Đông Hải giải thích rằng trung đoàn sẽ trực tiếp làm nhiệm vụ đó, hai tiểu đoàn dự kiến tham gia trận đánh này không cần phải tổ chức trinh sát riêng rẽ nữa, tránh để lại nhiều dấu vết khiến địch thêm chú ý đề phòng. Nghe trung đoàn trưởng trả lời vậy, tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh thở dài nói với thính trị viên Lê Văn Sớm: - Có lẽ các ông ấy chưa thể quên chuyện bọn tôi bỏ lại thằng Định trên hàng rào. Chính trị viên vội gạt đi: - Không ai còn nhắc đến chuyện đó đâu, nhất là sau trận đánh vừa rồi của C9. - Mình cứ tưởng đêm đó sẽ được đánh một trận tập kích nên vội vã trở về ngay không nói với trung đoàn chuyện từ thức. Nay có lẽ cũng tới lúc nên sòng phẳng về chuyên này. - Cái ông này rõ thật - chính trị viên nhăn mặt - có ai qui kết cho ông cái tội bỏ đồng đội đâu? Ai chẳng hiểu tình thế lúc đó. Nếu ông và mấy cậu trinh sát cũng đâm đầu vào hàng rào mà chết vì mìn, vì pháo thì thằng Định nó cũng có vui vẻ gì đâu? - Nhưng tôi vẫn thấy cắn rứt trong lòng, ông Sớm ạ. Chính trị viên Lê Văn Sớm biết rằng có nói thêm thì tiểu đoàn trưởng cũng chẳng nguôi ngoai được, nên đành bảo: - Nếu anh muốn tự kiểm điểm về chuyện đó thì cũng phải đợi xong chiến dịch đã. Ngày đánh lớn có lẽ cũng sắp đến rồi, chúng ta phải thật tập trung cho nhiệm vụ chủ yếu. Với tư cách là bí thư đảng uỷ, tôi chỉ biết khuyên anh như vậy thôi. Nghe chính trị viên nói vậy, tiểu đoàn trưởng miễn cưỡng gật đầu: - Anh nói cũng phải... có lẽ mọi chuyện phải đợi kết thúc chiến dịch đã. Mà hình như ban chính trị trung đoàn vừa gửi chỉ thị xuống về chuyện Tết nhất gì đó phải không? - Phải. Chậm nhất là ngày 25 tháng chạp, phải tổ chức cho bộ đội ăn Tết xong. - Ăn Tết à? - Tiểu đoàn trưởng hỏi bâng quơ một câu rồi tiếp tục nói với chính trị viên những điều mà ông đang suy nghĩ - có lẽ sẽ có đánh lớn trong dịp Tết hoặc ngay sau Tết? Hôm qua sư đoàn đã thông báo rằng trong những ngày vừa qua địch đã hối hả tăng cường lực lượng ra vùng một chiến thuật, đặc biệt là chiến trường Đường 9 - Bắc Quảng Trị, nâng tổng số quân lên tới gần 70 ngàn gồm 25 tiểu đoàn Mỹ, 18 tiểu đoàn quân ngụy. Cấp trên nói rằng nhiệm vụ của chúng ta là phải tiếp tục kéo địch ra, giam chân địch lại” tạo điều kiện thuận lợi cho các chiến trường bạn lập công. Ở phía tây mặt trận, quân ta cũng đang vây chặt quân địch tại làng Vây- Khe Sanh. Mấy hôm nay phi pháo địch đột ngột tăng cường hoạt động. Có vẻ như chúng đã đánh hơi thấy điều gì đó? Chính trị viên có vẻ như không để ý tới những điều tiểu đoàn trưởng vừa nói. Ông đang lo không biết sẽ lấy gì cho bộ đội ăn Tết đây? Nay đã là hai mươi tháng chạp rồi mà vẫn chưa thấy trung đoàn thông báo tiêu chuẩn Tết? - Hay là ở chiến trường thì lính không có Tết? - Chính trị viên bỗng nói to lên những ý nghĩ của mình - Có Tết chứ - tiểu đoàn trưởng bỗng đứng dậy nói - nếu không có bánh chưng thì bảo các đơn vị giã bột làm bánh cuốn cho bộ đội ăn. Thịt lợn tươi không có thì cho xuất thịt hộp dự trữ chiến đấu. - Không có bánh chưng... thì làm sao gọi là Tết được? Vừa lúc đó, anh trợ lí quân nhu hớt hải đi tới, nghe chính trị viên nói vậy liền lên tiếng ngay: - Báo cáo hai thủ trưởng. Nhất định là phải có bánh chưng chứ ạ. Ban hậu cần trung đoàn vừa thông báo tiêu chuẩn Tết của bộ đội đây ạ. Vừa nói anh vừa móc túi lấy ra tờ giấy mà anh vừa ghi được qua điện thoại. - Đây ạ... hàng tết đã về kho trung đoàn rồi, ngày mai xin thủ trưởng cho mỗi đại đội vài người đi nhận ạ. Chính trị viên Sớm giật vội tờ giấy trên tay anh trợ lí quân nhu, đọc to lên từng mục cho tiểu đoàn trưởng cùng nghe:
1 - Gạo nếp - mỗi người ba lạng. 2 - Đường kính, cán bộ từ trung đội trở lên 1kilo, chiến sỹ năm lạng. 3 - Thịt lợn ướp muối - mỗi người ba lạng. 4 - Cá khô mỗi người năm lạng. 5 - Rau khô mỗi người nửa cân. 6 - Kẹo, chiến sỹ mỗi người năm cái - cán bộ từ trung đội trở lên mỗi người mười cái. 7 - Thuốc lá, cán bộ đại đội trở lên mỗi người một bao, trung đội hai người một bao, chiến sỹ mỗi người ba điếu. 8 - Chè khô - năm người một gói. 9 - Giấy viết thư mỗi người mỗi người năm tờ. 10 - Mỗi người, không kê cấp chức đều được thêm hai cái kẹo và hai điều thuốc lá đặc biệt của đại tướng gửi tặng. - Hết rồi. Cũng khá đấy chứ. Cộng tất cả là mười mục! Có gạo nếp, thịt lợn, kẹo, thuốc lá... đặc biệt hơn cả là lại có quà của đại tướng nữa. Phải thông báo ngay cho bộ đội biết để anh em phấn khởi


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 25 Tháng Mười Hai, 2010, 04:32:34 pm
Chính trị viên tiểu đoàn hể hả kết luận. Tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh cũng mỉm cười bảo chính trị viên: - Tôi đổi cho cái món giấy viết thư để lấy thuốc lá của ông nhé! Ông chăm viết thư về cho bà ấy lắm cơ mà. - Nhất trí thôi... nhưng chỉ nửa bao thôi nhé - chính trị viên mặc cả - tôi cũng phải đề vài điếu để tiếp khách chứ. Ngày Tết, anh em họ đến chúc Tết, chả lẽ tới không có gì mời họ à? Vừa lúc đó có tiếng máy bay ì ầm trên đầu rồi ngay lập tức tiếng bom nổ rền ở dãy núi phía sau lưng họ. - Thằng B57 nó ném bom toạ độ đấy! - Tiểu đoàn trưởng nheo mắt nhìn lên trời nhận xét - hình như chúng nó vẫn ném bom gần khu vực đổ bộ hôm trước Chính trị viên lo lắng thốt lên: - Không khéo nó nện vào kho hàng Tết của anh em mình thì toi đời! Tiểu đoàn trưởng bật cười. - Thằng Mỹ nó thèm đếm xỉa gì đến cái kho thịt muối với rau muống khô của các ông? Thôi, anh đi mà bàn với mấy cậu quân nhu về chuyện Tết nhất. Tôi với cậu Vinh phải xuống các đại đội xem anh em họ gói buộc bộc phá ra sao đây? Thứ “bánh chưng” này mà gói không tốt thì mới đáng lo, ông chính ủy của tôi ạ!
14
Chiều ngày hăm nhăm tháng chạp, Lân được Hùng Phong mời về trung đội ăn Tết. Tiểu đội trinh sát ăn Tết từ hôm hăm ba, đúng vào ngày ông táo lên chầu giời. Sở dĩ trinh sát tiểu đoàn phải ăn Tết sớm như vậy vì ngày hăm bốn, một nửa quân số của tiểu đội do tiểu đội trưởng Ngạn chỉ huy đã phải lên đường đi làm nhiệm vụ chuẩn bị khu tập kết thứ nhất cho tiểu đoàn trước khi vào chiếm lĩnh trận địa để tiến công mục tiêu NgàyN... chưa được xác định, nhưng trận đánh lớn mà toàn tiểu đoàn hồi hộp chờ đợi hình như đang đến rất gần rồi. Năm nay đại đội 9 ăn Tết vui nhất tiểu đoàn. Ngoài tiêu chuẩn trên cấp, trung đoàn còn tặng riêng cho đại đội một món quà Tết kha khá để mừng công luôn. Đích thân trung đoàn trưởng cũng xuống chúc Tết. Không hiểu ông kiếm ở đâu được mấy lít rượu trắng mang xuống tặng đại đội. Anh nuôi trưởng Cung có sáng kiến pha thêm một ít nước sôi vào để có thể chia đủ cho các chiến sỹ mỗi người một chén. Dĩ nhiên chỉ có các trung đội trưởng được cụng li trực tiếp với trung đoàn trưởng rồi nhận phần rượu  còn lại cho trung đội rồi đổ vào bi đông mang về. Rượu đã không được thật chất cho lắm, lại pha thêm nước sôi, nhưng chính trị viên Lương Xuân Báo vẫn cẩn thận dặn các trung đội trưởng “Không được để bộ đội nhậu nhẹt say sưa đâu đấy nhé!”. Cứ làm như mỗi trung đội có cả một chum rượu không bằng? Khi Lân xuống tới nơi thì trung đội đã tề tựu đông đủ trước căn hầm của trung đội trưởng. Hùng Phong lên đại đội nghe trung đoàn trưởng chúc Tết. Như thường lệ, anh nuôi Cung vẫn được coi là người nhà của trung đội ba cũng đã có mặt và đang giúp trung đội bày cỗ. Thấy Lân xuống một mình, anh liền hỏi “Sao không gọi cả thằng Do đi đi cùng?”. “Hôm nay đại đội nó cũng ăn Tết. Chúng nó còn bắt được cả một con rùa đá to tướng ở dưới suối, đang làm thịt”. Cậu Cung bỗng thần mặt ra lẩm bẩm “Bỏ mẹ, sắp ra trận mà chúng nó lại đi làm thịt rùa. Xui lắm đấy. Hỏa lực phen này đến thử kêu đốt tịt mất thôi”. Lân cười “Ông này mê tín bỏ mẹ? “. “Sao không mê tín. Cậu không nghe các cụ vẫn thường nói: Gặp rắn thì đi, gặp qui thì về đó sao? Đi đâu mà gặp rùa là chỉ có nước hỏngChẳng là khẩu đại liên Co-li-nốp của thằng Do phen này lại tậm tịt sao? Lân tự hỏi như vậy và bỗng cảm thấy chờn chợn khi nhớ lại những lời mà bọn lính hỏa lực cãi nhau sáng nay. Có mấy đứa bảo, đại liên của mình bắn không  lại đại liên M60 của thằng Mỹ. Súng máy của bọn nó nhẹ hơn, bắn nhanh hơn. Còn cái thứ Co-li-nốp cổ lỗ này bắn nhiều là đỏ nòng lên, đạn rơi lộp bộp ngay trước mặt ấy. Thằng Do ức quá cãi lại, thế là vặc nhau. Chưa ra trận mà đã có người không tin vào khẩu súng của mình thì gay thật đấy. Đã vậy, chúng nó lại còn làm thịt rùa! Ba mâm cỗ đã được bày xong, trông cũng khá tươm tất. Mỗi mâm gồm ba đĩa quân dụng đầy tú ụ các món ăn, có đủ bánh chưng, thịt lợn nướng và thịt lợn nấu giả cầy, cá khô rán ròn, thịt gà hộp nấu với nấm rừng, rau muống khô xào tỏi. Anh nuôi Cung còn làm thêm cho món bánh hòn nhân đường trộn với đậu đỏ và món nộm hoa chuối với muối vừng, lá tai chua, ớt bột, trông rất hấp dẫn. Khi trộn món nộm này, anh nuôi Cung nói với anh em trong trung đội ba - “Ông Thoan mới chỉ được ăn món này một lần, nhưng mê lắm. Thằng Đại thì thích món rau muống khô xào tỏi. Tỏi này là nó mang từ Bắc vào đây đấy. Vẫn còn một bọc nữa dưới chỗ tớ ấy. Không hiểu trời đất run rủi thế nào mà trước hôm đi vận tải, nó lại mang cái bọc tỏi ấy xuống gửi tớ. Nó bảo, nhờ anh giữ hộ, để trong ba lô ngủ chung hầm với thằng Lương nó kêu nặng mùi quá”. Đúng lúc cậu Lương đi lấy nước từ dưới suối lên, nghe thấy vậy liền oà khóc. Anh nuôi Cung bảo “Hôm nay coi như ngày mồng một Tết, mày khóc là rông cả năm đấy”.


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: hoanhe trong 25 Tháng Mười Hai, 2010, 04:33:47 pm
Lương nín khóc, nhưng lại nói “Không phải em chê anh ấy nặng mùi, mà chỉ bảo anh ấy buổi tối thì đừng ăn tỏi sống thôi”. Tất, tiểu đội trưởng tiểu đội 8 từ dưới hầm của tiểu đội đi lên, trên tay cầm mấy tờ giấy, đưa cho cậu Cung: - Anh xem... em gửi cho các anh ấy cái này được không? Anh nuôi Cung cầm ba tờ giấy lên xem. Thì ra là ba cái huân chương được vẽ rất đẹp, bên dưới có ghi tên từng người hẳn hoi. Anh gật gù khen: - Được lắm! Để cho ba vị ấy diện trong mấy ngày Tết cũng tốt thôi. Nói xong anh găm ba cái huân chương lên ba mâm cỗ cúng. Vừa lúc đó thì Hùng Phong bê bi đông rượu về trịnh trọng tưyên bố: - Trung đoàn trưởng khao đại đội chúng ta đấy. Đủ mỗi thằng một chén! Anh nuôi Cung đỡ lấy bi đông rượu, rót ra ba cái bát, đặt xuống bên cạnh ba mâm cỗ đã xếp ngay ngắn trên chiếc bàn ghép bằng cành cây rồi bảo Hùng Phong: - Cúng được rồi đấy! Anh em trơng trung đội lặng lẽ nhường lối cho Hùng Phong  Anh ngơ ngác nhìn mọi người rồi hỏi - Phải cúng à? Hướng gật đầu - Phải gọi anh Thoan với thằng Đại, thằng Rạng về ăn Tết chứ! Hùng Phong quay sang anh nuôi Cung: - Cậu nhiều tuổi hơn cả, cậu cúng đi. Anh nuôi Cung vội xua tay: - Không được, ở đây cậu là chủ nhà cơ mà. Cậu phải thành tâm mà gọi thì chúng nó mới về. Hùng Phong tiến một bước về phía ba mâm cỗ nhưng lại quay lại hỏi: - Không có nhang thì làm thế nào, cậu Cung? Anh nuôi Cung gãi đầu suy nghĩ rồi tặc lưỡi quay lại bảo Hướng: - Thằng Hướng, mày đốt ba điếu thuốc lên. Mùi thuốc lá Điện Biên bao bạc, thơm nức giời, có kém gì hương? - Thuốc của đại tướng à? Hướng hỏi. - Ừ lấy thuốc của đại tướng tặng mà đốt cho oai. Mọi người vui vẻ đồng tình, Hướng chui vào hầm trung đội trưởng lấy bao thuốc lá ra, bóc lấy ba điếu, châm lửa đốt rồi run rẩy cắm vào ba lát bánh chưng. Xong cậu ta trịnh trọng vái một vái, nói lúng búng trong miệng: - Các anh ngửi thấy mùi thuốc lá thì về mau nhé. Anh em trong trung đội đang đợi đấy Vái xong quay ra nhường lối cho Hùng Phong. - Đấy trung đội trưởng vào mà cúng đi. Hùng Phong trịnh trọng bước lên một bước khẽ hô: - Toàn trung đội chú ý... nghiêm! Hơi bất ngờ, nhưng mọi người tự nhiên xích lại gần nhau, đứng trang nghiêm. Tiếng Hùng Phong nghẹn ngào vang lên: - Hôm nay... là ngày 25 tháng Chạp, trung đội ba, đại đội 9, tiểu đoàn 7, trung đoàn 4 sư đoàn Hồng Bàng, tổ chức ăn Tết Mậu Thân trước để ngày mai ra trận. Chúng tôi thành tâm kính mời trung đội trưởng Nguyễn Hữu Thoan, chiến sỹ Trần Đình Đại, chiến sỹ Đinh Văn Rạng và hương hồncác liệt sỹ đã hi sinh ở khu vực này cùng về đây ăn Tết với anh em chúng tôi. Các anh sống khôn thác thiêng, hãy phù hộ cho chúng tôi ngày mai ra trận đã đánh là thắng. Khấn xong, trung đội trưởng Hùng Phong vái ba vái rồi lùi lại, hỏi: - Khấn như thế có được không, cậu Cung? - Được rồi. - Anh nuôi Cung gật đầu đáp Hướng băn khoăn hỏi: - Nhưng... anh mời rộng thế thì liệu có đủ cho người ta... ? Cậu Cung cười: - Cái thằng ngớ ngẩn này... người chết, họ chỉ ăn hương ăn hoa thôi chứ. Nhiều no ít đủ, lo gì? Cậu Lương đứng bên cạnh bỗng kêu lên: - Thôi chết rồi, thằng Rạng nó không hút thuốc. Thậm chí nó rất sợ khói thuốc nữa. Cúng bằng thuốc lá, liệu nó có về không nhỉ? - Về tất - Cậu cung khoát tay bảo - bây giờ ở dưới đó ông Thoan là xếp của chúng nó, ông ấy bảo đi là phải đi hết. Quân lệnh như sơn, các cậu tưởng đùa đấy hả? Mọi người cùng cho là phải. Bỗng Tất kéo áo cậu Cung nhắc nhỏ: - Còn mấy cái huân chương? - Ừ nhỉ. Cậu Cung bước tới vái một cái rồi khấn: Kính thưa hươg hồn ba liệt sỹ. Chúng tôi xin vinh dự báo tin rằng cả ba anh được bình công loại một, được đề nghị công nhận là “Dũng sỹ diệt Mỹ” và được tặng huân chương chiến công giải phóng hạng ba. Hôm nay, chứng tôi gửi trướcchứng tôi gửi trước cái huân chương cho các anh để các anh về báo cáo với ông bà tổ tiên. Mong các anh vui lòng nhận cho. Khấn xong bèn bật lửa hoá luôn ba cái huân chương. Chính trị viên Lương Xuân Báo đến. Mọi người đứng dậy chào. Anh tiến lại phía mấy mâm cỗ, thấy có khói nghi ngút bốc lên, chợt hiểu ra, liền quay sang hỏi Hùng Phong - Các cậu... cúng đấy à? Hùng Phong gật đầu. Chính trị viên không nói gì thêm mà lặng lẽ hướng về mấy mâm cỗ vái một vái. Xong rồi, ông quay ra phía sau, vẫy tay gọi: - Khang, lại đây. Một anh chàng da trắng bệch, mắt thô lố, đeo đầy đủ ba lô, súng đạn tiến lại. Đây là đồng chí Nguyễn Văn Khang, từ trung đoàn bạn được điều sang tăng cường cho trung đoàn ta, tiểu đoàn đưa xuống làm trung đội phó của trung đội các anh đấy. Còn đây là đồng chí Hùng Phong trung đội trưởng và anh em trong trung đội. Khang bắt tay Hùng Phong khen: - Nghe tên anh đã lâu, nay mới gặp. Mong được anh giúp đỡ. - Không dám. Cậu bỏ ba lô xuống đi rồi làm quen với anh em trong trung đội. Vừa may hôm nay chúng tôi ăn Tết. Chính trị viên giớithiệu thêm: - Đồng chí Khang là dũng sỹ diệt xe cơ giới đấy. Trong trận đánh trên cầu Thiện Xuân vừa rồi, cậu ấy dã bắn cháy ba xe tăng M113. Mọi người ồ lên tán thưởng. Hướng vội hỏi ngay: - Bằng B41 chứ, trung đội phó? - Không... tôi dùng B40 thôi. - Giỏi nhỉ! - Cũng... là gặp may thôi mà. - Tốt rồi - Hùng Phong cười, nói với chính trị viên - cám ơn thủ trưởngquan tâm. Lâu lắm chúng tôi mới lại có trung đội phó đấy. - Tiểu đoàn quyết định điều đồng chí Khang về đây là để tăng cường chất lượng chiến đấu cho trung đội các cậu đấy. Lần này trung đội Hùng Phong phải đánh cho ra trò nhé! quan tâm. Lâu lắm chúng tôi mới lại có trung đội phó đấy. - Tiểu đoàn quyết định điều đồng chí Khang về đây là để tăng cường chất lượng chiến đấu cho trung đội các cậu đấy. Lần này trung đội Hùng Phong phải đánh cho ra trò nhé! Nói xong chính trị viên về ban chỉ huy đại đội,



Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 19 Tháng Ba, 2012, 01:10:32 pm
Vài lời phi lộ

Một cuốn tiểu thuyết hay, khá trung thực về các trận đánh, mô tả chi tiết và cụ thể; rất cần cho việc xác định, hỗ trợ thông tin cho các gia đình LS thuộc sư đoàn 320A thời điểm năm 1968 của nhà văn Khuất Quang Thụy.

Rất tiếc là bác hoanhe bỏ dở lâu quá, không thấy làm tiếp. Em ngồi đọc cả đêm hôm qua thấy thú quá nên định gõ thì được bác tuaans chi viện (may mà giang hồ đồn đúng - mà bác tuấn-sờ nhà ta cũng lười,  ;D).

Thế nên xin phép các bác trên, em quyết định (chỉ việc cắt - dán) đưa lên cho mọi người cùng đọc nốt.


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 19 Tháng Ba, 2012, 01:12:09 pm

Nói xong chính trị viên về ban chỉ huy đại đội, không ở lại ăn Tết với trung đội ba. Khi chính trị viên đi rồi, Hùng phong mới chỉ mấy mâm cỗ, bảo Khang:
- Cậu vào chào trung đội trưởng một tiếng đi!
Khang ngạc nhiên hỏi:
- Trung đội trưởng nào nữa?
- Quên mất, chưa giải thích cho cậu rõ. Chúng mình đang cúng đồng chí trung đội trưởng và hai chiến sĩ vừa hi sinh trong trận đánh địch đổ bộ đường không vừa rồi. Mình cũng chỉ vừa mới được đề bạt lên thay ông ấy thôi.
Anh trung đội phó mới hiểu ra, vội tiến lại trước mấy mâm cỗ. Nhìn thấy ba điếu thuốc lá đang cháy dở, anh hiểu ra liền móc túi lấy ra một điếu thuốc lạ mắt, dài dài, màu cà phê, vuốt thẳng rồi hỏi:
- Ai có lửa cho mình châm nhờ điếu thuốc?
Anh nuôi Cung móc bật lửa ra đưa cho Khang. Khang châm điếu thuốc rồi giải thích:
- Đây là một loại thuốc lá của bọn Mỹ, hiệu More... bọn mình lấy được hôm đánh đoàn xe của bọn nó ở cầu Thiện Xuân.

Nói rồi anh tiến lại, cắm điếu thuốc lên bàn thờ dã chiến của những người lính rồi vái ba vái rất thành kính.
Hướng chỉ lên bàn thờ cười bảo:
- Kìa, các cậu trông. Cháy ngun ngún thế kia đích thị là cậu Đại đang rít lấy rít để rồi. Của lạ mà!
Rồi cậu ta tiến lại, chìa tay cho Khang:
- Được lắm... trưng đội phó cũng là tay cừ đấy. Bắn cháy ba xe tăng Mỹ thì oách quá rồi. Tôi cũng là xạ thủ B41, nhưng chưa được bắn phát nào vào thằng Mỹ. Xin được bái trung đội phó làm sư phụ nhé!
Trung đội phó Khang cúi đầu kiểu cách:
- Không dám! Không dám!
Đúng lúc đó Hùng Phong khoát tay ra lệnh:
- Hạ mâm thôi. Ta vào tiệc kẻo trời tối đến nơi rồi.
Hướng nhanh tay chạy đến rút điếu more đang cháy dở trên bàn thờ.
- Xin trung đội trưởng một hơi xem cái thứ thuốc lá Mỹ này nó ra làm sao?
Mấy cậu khác cũng chạy lại vây lấy Hướng. Họ chuyền tay nhau điếu thuốc, rít lấy rít để rồi ôm ngực ho khù khụ. Thuốc lá Mỹ mà!

Mọi người vui vẻ vào mâm. Thấy anh em vẫn xúm xít một chỗ, Hùng Phong vỗ tay yêu cầu - Anh em... tôi đề nghị thế này. Vui vẻ thì vui vẻ... Nhưng vẫn cứ nên giãn ra một tí. Túm tụm cả lại thế này, nhỡ nó thảy trúng một quả bom toạ độ thì đi cả trung đội à?
Anh em ồn ào bảo trung đội trưởng nói gở, nhưng vẫn kéo hai mâm xa ra, gần hầm của các tiểu đội. Cậu Cung và Lân được mời ngồi với mâm của trung đội và tiểu đội của Hướng. Tất cả tới hơn mười người. Hùng Phong cầm bi đông rượu tới từng mâm, mỗi mâm rót ra hai cái bát sắt.
- Uống chung cho đoàn kết!
Khi trở về mâm của mình, Hùng Phong lắc lắc cái bi đông.
- Bỏ mẹ... hoá ra mâm của bọn mình còn ít quá.
Anh đổ rượu ra bát rồi bảo mọi người - Kính lão đắc thọ, xin mời cậu Cung uống trước đi.
Cung vui vẻ nhận bát rượu, nâng lên nhấp một ngụm, khà một tiếng rồi bảo:
- Cũng không đến nỗi nào.
Uống xong anh đưa bát rượu cho Lân.
- Cậu là khách, cũng thuộc diện ưu tiên.
Lân nâng bát rượu lên nhấp một ngụm. Thấy chua chua, cay cay. Uống xong, anh chuyển bát rượu cho Khang.
- Xin mời trung đội phó mới.
Khang lắc đầu từ chối:
- Mình không biết uống rượu.
Lân nài:
- Thì cứ uống một ngụm xem sao? Vào tới tận đây rồi mà còn được hưởng chất men đời thế này, cũng đáng lắm chứ!


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 19 Tháng Ba, 2012, 01:12:43 pm
Nể Lân, Khang nhấp môi một tí rồi lắc đầu, nhăn mặt. Hùng Phong đỡ lấy bát rượu, hỏi:
- Ông quê ở đâu nhỉ?
- Bắc Ninh... làng Phù Khê ấy, các cậu có nghe tiếng bao giờ không?
Mọi người nhìn nhau, lắc đầu. Khang có vẻ không hài lòng khi ở đây không một ai biết đến cái làng nổi tiếng của mình ở xứ Bắc Ninh.
- Làng tôi nổi tiếng khắp vùng vì có nghề chạm rồng “Nghĩa Hiệp bánh đúc cháo kê - Tân Bài nung ngói Phù Kê chạm rồng” í mà. Ngày xưa thợ chạm làng tôi từng được xung vào những hiệp thợ trong cung đình để xây lầu các đền đài cho vua chúa kia đấy.
Hướng buông ra một câu nhận xét rất hóm:
- Vậy thì bây giờ làng ông đói to rồi!
- Cũng ít việc, nhưng chưa đến nỗi đói - Khang giải thích - làng mình hiện vẫn còn nhiều nghệ nhân tài ba lắm. Thỉnh thoảng vẫn đi trùng tu các đình chùa miếu mạo trong vùng và làm những đồ thờ cúng. Cũng có dạo, công an họ đến thu, đốt hết. Bảo rằng không nên khuyến khích mê tín dị đoan. Nhưng bây giờ thì cũng đỡ rồi. - Khang vẫn băn khoăn - các cậu không biết đến làng mình thì lạ nhỉ? Là quê hương của đồng chí Nguyễn văn Cừ đấy?
Cậu Hồng ngơ ngác hỏi:
- Nguyễn văn Cừ là ai nhỉ?
- Là tổng bí thư đảng thời tiền khởi nghĩa, thế mà cũng hỏi - Hùng Phong giải thích.
- Thì em chưa phải là đảng viên mà. - Hồng thanh minh.
Hướng tò mò hỏi thêm:
- Thế. . anh Khang sinh năm bao nhiêu?
- Mình sinh năm bốn mươi bảy. Tuổi Đinh Hợi mà.
- Vậy là nhiều tuổi hơn bọn tôi rồi - Hùng Phong nói - trừ cậu Cung ra, thì là người nhiều tuổi nhất trung đội ở đây đấy.

Khang nhìn anh nuôi Cung một lát rồi ngập ngừng hỏi:
- Xem ra anh Cung dễ đến ngoài ba mươi tuổi, phải không ạ?
Cung gật đầu.
- Cũng cỡ ấy rồi.
- Thế mà... tại sao anh em mình ở đây lại cứ cậu cậu tớ tớ, cá mè một lứa thế nhỉ? Khó nghe quá.
Lân mỉm cười giải thích:
- A... Chuyện này có căn nguyên cả đấy. Chả là... mà thôi, nói ra dài dòng lắm. Tóm lại là ông Cung đây có tới mấy cô cháu gái xinh đẹp gọi ông ấy bằng cậu. Bọn tôi ai cũng muốn làm cháu rể của ông ấy. Nên ở cai đại đội này, anh em đều gọi ông ấy là cậu Cung tuốt.
- Vậy thì... tôi cũng nên gọi anh Cung đây bằng cậu luôn thể nhỉ?
- Nên lắm, nên lắm!
Mọi người cùng cười vui vẻ. Cậu Cung cũng cười bảo:
- Tớ còn có bốn cô con gái. Không chừng sau này ở đây có thằng phải gọi tớ là bố vợ ấy chứ. Mà thôi, ăn đi chứ. Nếm thử nắm bánh hòn đi. Cũng may có cái mũ sắt Triều Tiên nên mới có cối mà giã bột đấy. Gạo không được ngon lắm nên hơi cứng hả?

Đúng là cứng thật. Nhưng mọi người vẫn thi nhau khen ngon để cậu Cung khỏi buồn. Chỉ có Hướng là cầm nắm bánh hòn lên, vân vê trên tay rồi bảo:
- Cái cục này mà ném vào đầu thằng Mỹ thì... cũng chả kém gì lựu đạn!
Mọi người cùng ồ lên cười. Cậu Cung củng nhẹ vào đầu Hướng một cái.
- Thằng này chỉ được cái độc mồm. Bánh của tao, còn lâu mới cho chúng mày đem đi ném vào đầu thằng Mỹ nhé! Không ăn hết để đấy, mai hành quân, lại không nhá ráo cả à?


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 19 Tháng Ba, 2012, 01:13:38 pm

Đúng đêm ba mươi Tết, tiểu đoàn rời vị trí tập kết một vào chiếm lĩnh trận địa. Giờ G được cấp trên chọn đúng vào giờ giao thừa. Theo phương án tác chiến, tiểu đoàn 7 sẽ là đơn vị đột kích chủ yếu. Tiểu đoàn 8 có một đại đội đánh trên hướng phụ, hai đại đội còn lại làm đội dự bị. Ngoài ra còn có một đại đội của bộ đội địa phương Quảng Trị tham gia làm nhiệm vụ phá ấp chiến lược Cam Lộ, đưa dân ra vùng giải phóng. Ngoài sự chi viện của pháo tầm xa, sư đoàn cũng tăng cường cho tiểu đoàn một đại đội DKZ, một đại đội cối 120 ly và một đại đội 12 ly 7 phòng không bố trí ở vòng ngoài.
Tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh chưa bao giờ nhìn thấy trong tay mình có một lực lượng hỏa lực hùng mạnh như vậy nên tin tưởng lắm. Ông nói với chính trị viên Lê Văn Sớm:
- Đêm nay, tiểu đoàn ta sẽ làm nên lịch sử!

Khi bố trí đội hình, trung đoàn trưởng Trần Đông Hải có ý ngại là hình như vị trí chỉ huy ban đầu của tiểu đoàn quá gần hàng rào, nhưng tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh nói rằng “Phải bố trí gần như vậy thì mới quan sát được cửa mở. Và đến khi đội hình của tiểu đoàn đánh vào tung thâm thì chỉ huy mới theo kịp”.
Trung đoàn trưởng cho là phải nên không đề nghị điều chỉnh nữa. Ông cũng định noi gương tiểu đoàn trưởng Mạnh, đưa sở chỉ huy tiền phương của trung đoàn vào gần hơn nữa, nhưng sư đoàn trưởng Phạm Sùng không cho phép. Ông nói qua điện thoại rằng “Khi đã nổ súng rồi thì nhiệm vụ của người chỉ huy là phải ở vị trí thuận lợi nhất để bao quát được toàn bộ trận đánh, chứ không phải là mò vào hàng rào để khói bom khói đạn nó che mờ mắt đi thì còn biết cái gì mà chỉ huy nữa”.

Về cách đánh, những người chỉ huy tiểu đoàn, trung đoàn cũng chưa biết đến cách đánh nào khác hơn là cách đánh đồn Tây mà họ đã từng trải qua và đã được đúc kết lại trong những giáo trình về tiến công địch phòng thủ trong công sự vững chắc để giảng dạy tại các trường sĩ quan và rèn luyện bộ đội trên thao trường trong những năm vừa qua. Nghĩa là dùng hỏa lực yểm hộ, khống chế để cho đội bộc phá lao lên đánh bộc phá quét hàng rào, mở cửa rồi sau đó lực lượng đột kích sẽ lao lên, đánh chiếm các lô cốt đầu cầu. Sau đó đơn vị thọc sâu sẽ lao lên vượt qua cửa mở, vượt qua khu vực đầu cầu để đánh thẳng vào tung thâm, lần lượt đánh chiếm các mục tiêu trong căn cứ địch.
Bài học về đánh địch trong công sự vững chắc thì cán bộ chiến sĩ tiểu đoàn bảy đã thuộc nằm lòng. Lần diễn tập nào cũng được sư đoàn khen, rồi cả bộ xuống kiểm tra cũng khen. Nhất là trong lần diễn tập ở bưng, lần ấy, tiểu đoàn được “đánh như thật” dùng khá nhiều bộc phá và đạn giả, có cả pháo sáng, chó nghiệp vụ và xe tăng quân xanh chạy rầm rầm trong căn cứ địch.

Trận ấy, tiểu đoàn bảy đã đánh một trận mẫu mực cho phái đoàn kiểm tra của bộ do đích thân tổng tham mưu trưởng dẫn đầu xuống quan sát. Xem xong, tổng tham mưu trưởng đã khen “Đánh rất tốt! Cứ như thế này vào trận là chắc ăn rồi!” Nhìn bề ngoài, căn cứ Cam Lộ lúc đó thậm chí còn không có được sự uy nghi bề thế như cái thao trường mà tiểu đoàn công binh sư đoàn dày công xây dựng hàng mấy tháng trời để cho bộ đội luyện tập. Vì thế, cũng không lạ gì khi tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh khắng định như đinh đóng cột rằng đêm nay tiểu đoàn của ông sẽ thắng lớn, “sẽ làm nên lịch sử”, mặc dù ông cũng đã lường trước rằng hỏa lực của địch sẽ rất khủng khiếp, bộ đội có thể phải hi sinh khá nhiều, nhưng chiến thắng thì là điều chắc chắn.
Niềm tin ấy của người chỉ huy đã được truyền tới từng chiến sỹ. Toàn tiểu đoàn hừng hực khí thế chiến đấu. Đại đội 9 có một trăm phần trăm chiến sĩ đăng kí trở thành dũng sĩ diệt Mỹ. Chính trị viên Lương Xuân Báo nói trước hàng quân trước lúc xuất phát vào vị trí chiếm lĩnh:
- Hỡi các chiến sĩ đại đội 9, giờ lập công đã đến. Mỗi cán bộ chiến sĩ đại đội chúng ta hãy quên mình chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ Quốc. Hỡi các đồng chí đảng viên, đây là lúc các đồng chí chứng tỏ vai trò tiên phong, vai trò lãnh đạo của mình. Nơi nào khó khăn nhất, nguy hiểm nhất là các đồng chí phải có mặt để lãnh đạo quần chúng chiến đấu, xứng đáng với tư cách của người chiến sĩ cộng sản. Hỡi các đồng chí đoàn viên thanh niên, đây là thời cơ để các bạn chứng tỏ lòng trung thành của mình với đảng, với Tổ Quốc, với nhân dân. Trong số các bạn, có nhiều đồng chí đã là cảm tình đảng, là đối tượng của đảng. Nếu các đồng chí vượt qua được sự thử thách, lập công trong trận đánh này thì đảng sẽ mở rộng cánh cửa đón các đồng chí vào hàng ngũ vẻ vang của mình! Với tư cách là bí thư chi bộ đảng, tôi chúc các đồng chí chiến đấu thắng lợi, lập được công lớn trong trận đánh lịch sử này!

Đứng trong hàng quân, Kiên, xạ thủ B41, nói với tiểu đội trưởng Hướng:
- Chưa bao giờ ông Báo nói ngắn như vậy!
- Sắp đánh nhau đến nơi rồi. Nói thế là đủ! - Hướng nói rồi hỏi lại Kiên - kiểm tra đạn kỹ chưa?
- Tốt rồi. Tám quả đều là đạn mới cả đấy. Hướng vỗ vào ba lô đạn, trả lời. Vào đúng lúc đó, trung đội trưởng Hùng Phong bước tới và ra một mệnh lệnh đột ngột:
- Đồng chí Kiên, hãy giao B41 cho đồng chí Hướng. Trận này, trung đội quyết định giao cho đồng chí Hướng xử dựng hỏa lực B41. Đồng chí sẽ luôn phải bám sát trung đội trưởng để nghe chỉ thị xử dụng hỏa lực. Đồng chí Khang, trung đội phó sẽ trực tiếp chỉ huy tiểu đội của đồng chí.
Kiên ngơ ngác hỏi:
- Vậy tôi sẽ làm gì?
- Đồng chí mang tiểu liên AK của đồng chí Hướng, luôn đi sát bên cạnh đồng chí Hướng để làm xạ thủ thay thế khi cần thiết.
- Nhưng...
- Đây là mệnh lệnh. Không tranh cãi nữa. Hai đồng chí đổi trang bị vũ khí cho nhau đi.
Hướng định hỏi xem Hùng Phong đã xin ý kiến của đại đội chưa mà dám tự tiện thay đổi đội hình như vậy, nhưng anh biết lúc này không phải là lúc tranh luận. Chưa bao giờ anh thấy Hùng Phong ra mệnh lệnh một cách nghiêm khắc, quyết đoán như thế. Vả lại, đây cũng chính là điều mà anh đã mong đợi. Không biết có phải Hùng Phong hiểu được tâm nguyện của anh nên đã quyết định như vậy hay không? Nghĩ vậy nên anh quay lại, nói với Kiên:
- Trung đội trưởng đã quyết định như thế thì chúng mình phải chấp hành thôi.

Thực ra, Hùng Phong chưa hề xin ý kiến đại đội về việc bố trí lại người xử dụng hỏa lực B41 trong trận đánh này. Anh đợi tới lúc này mới quyết định là để khỏi có những tranh cãi vô ích. Trong những ngày qua, anh đã tranh thủ kiểm tra khả năng của xạ thủ Nguyễn Trung Kiên và đi đến kết luận, còn lâu, Kiên mới đạt được trình độ xạ kích như Hướng. Hơn nữa, Hướng lại là người rất nhanh nhẹn, dũng cảm, một yếu tố vô cùng quan trọng đối với một xạ thủ trong một trận đánh quyết liệt như trận này. Vả lại, nếu anh kiên quyết đòi thay đổi sớm thì có thể chính trị viên Báo cũng sẽ đồng ý, nhưng nếu thế thì ông ấy lại bố trí người khác lên thay chức tiểu đội trưởng. Như vậy chẳng thiệt thòi cho Hướng lắm sao?


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 19 Tháng Ba, 2012, 01:14:48 pm
Ra mệnh lệnh thay đổi người xử dụng hỏa lực xong, Hùng Phong cảm thấy yên tâm hơn, phấn chấn hơn. Đêm nay, trung đội anh làm nhiệm vụ xung kích đánh chiếm đầu cầu. Nhất định Hướng sẽ có dịp thổi bay vài ba cái lô cốt. Cậu ấy nhất định sẽ làm nên chuyện. Anh cũng cảm thấy may mắn vì trung đội do anh chỉ huy đã trải qua một trận đánh. Chưa thể gọi trận tao ngộ chiến ấy là một trận đánh lớn, nhưng dẫu sao cũng là một trận đọ súng trực tiếp với bọn lính thuỷ đánh bộ Mỹ. Vì thế, các chiến sĩ trong trung đội đều tự tin hơn không còn ngơ ngác như hồi mới vào mặt trận. Hơn nữa, đêm nay đại đội trưởng Nguyễn Hồng Thanh sẽ trực tiếp đi với mũi của trung đội anh, có đại đội trưởng ở bên cạnh, anh không còn cảm thấy lo lắng nhiều nữa. Anh rất tin vào bản lĩnh của người đại đội trưởng nói ít, làm nhiều này.

Trời vừa sập tối thì tiểu đoàn được lệnh hành quân. Những người lính lặng lẽ băng qua những cánh rừng dày đặc sương giăng. Lạnh se sắt. Tiếng chim khảm khắc vẫn đều đặn đếm thời gian. Đêm trừ tịch thiêng liêng. Không gian dường như cũng yên ắng hơn mọi ngày. Vào giờ này, mọi gia đình Việt Nam đều tụ họp bên mâm cỗ cúng gia tiên chờ đón giờ khắc thiêng liêng, khi một năm cũ đã qua đi, một năm mới đang tới gần. Những thành bại, được mất, vui buồn trong một năm qua cũng đang được mọi người nhớ tới như những tất yếu của số phận, họ đều tự an ủi mình như vậy để không mất đi niềm tin ở ngày mai dù những ngày vừa qua chỉ toàn những mất mát khổ đau. Ngày mai bao giờ cũng được người Việt Nam tin rằng sẽ tốt đẹp hơn ngày hôm qua, năm mới nhất định sẽ phải thành công hơn năm cũ. Những người lính đang hành quân vào trận đêm nay cũng đang nghĩ như vậy. Mặc dù luôn sẵn sàng chấp nhận hi sinh, nhưng vào giờ khắc này, không một ai lại tin rằng, ngày mai, khi mặt trời lên, mình sẽ không còn có mặt trên cõi đời này.

Mười một giờ đêm Lân đã hoàn thành nhiệm vụ dẫn đường cho đại đội 7 làm nhiệm vụ mở cửa tới vị trí tiếp cận căn cứ địch. Anh đưa đại đội trưởng San bò tới chân hàng rào, chỉ mục tiêu cho anh rồi hỏi:
- Anh nắm được hướng tiến công rồi chứ?
- Rồi... nhưng đây đúng là cụm A mà lần trước bọn mình đã vào đấy chứ?
- Đúng rồi. Bên kia đường là khu ấp chiến lược. Tới giờ G, khi ta nổ súng tiến công vào chi khu thì bộ đội địa phương sẽ đánh bọn dân vận ở bên đó để phá ấp chiến lược, đưa nhân dân ra vùng giải phóng.
- Nhưng sao hôm nay trông nó... khác thế nhỉ? Đại đội trưởng San băn khoăn hỏi.
- Địch mới tăng cường về đây một tiểu đoàn Mỹ. Chúng có mở rộng thêm căn cứ một chút. Nhưng trinh sát trung đoàn cho biết rằng hệ thống hàng rào phòng thủ ở khu A không có gì thay đổi.
Đại đội trưởng San chỉ sang phía trái, cách đó chừng ba trăm mét.
- Thế. . cái gì kia vậy?
Lân nhìn theo hướng tay anh chỉ và nhìn thấy một đống ngổn ngang, có vè như một cụm phòng thủ mới đang được xây dựng, hình như còn chưa hoàn thành.

Trong ánh đèn pha, có thể nhìn thấy những ụ súng bằng bao cát còn đang đắp dở dang, những đoạn giao thông hào nham nhở, những mảng hàng rào dây kẽm gai ngổn ngang, những chiếc xe ủi đất còn đứng trên sườn đồi và những chiếc xe bọc thép chưa triển khai thành đội hình đậu lố nhố phía xa, mỗi khi ánh đèn pha quét qua, ánh thép lại loé lên những tia phản quang. Rõ ràng địch đã bố trí thêm một điểm phòng ngự tiền tiêu nhô hẳn ra phía đó, hình như là một điểm phòng ngự cơ động, sẵn sàng chi viện cho cả ba cụm khi bị tấn công?
- Hình như... chúng chưa xây dựng xong trận địa phòng ngự. Chắc không có gì đáng ngại đâu, hỏa lực của ta có thể khống chế được Lân nói vậy nhưng cũng không tự tin lắm. Anh cũng cảm thấy rằng, nếu hỏa lực của ta không khống chế được bọn địch bên đó ngay từ đầu thì mũi tiến công cụm A sẽ bị hỏa lực địch quét ngang sườn, thậm chí có thể bị xe tăng địch tràn qua đánh vào phía sau đội hình thì sẽ rất nguy hiểm.
- Được rồi. Không còn thời gian nữa đâu. Cậu về báo cáo ngay với tiểu đoàn chi tiết mới này và đề nghị tiểu đoàn khi nổ súng sẽ cho DKZ và cối 120 li dập mạnh vào khu đó, đừng để chúng nó xẻ ngang sườn chúng tôi. Đồng thời báo với đại đội 9 để họ canh chừng mấy cái xe tăng đó.
Lân đáp “Rõ” rồi vội cùng hai chiến sĩ trinh sát bò về phía sau. Vị trí chỉ huy tiểu đoàn cũng chỉ cách đó chừng năm trăm mét, ngay trên dông đồi đối diện.

Cách đó không xa là trận địa hỏa lực của tiểu đoàn và đại đội DKZ tăng cường. Trận địa cối 120 ly nằm ở sườn đồi phía Bắc. Trên đường bò về vị trí chỉ huy của tiểu đoàn Lân và các chiến sĩ trinh sát gặp anh em thông tin đang rải dây điện thoại lên tiền duyên. Thấy họ đi lại lộn xộn anh vội chạy tới bảo:
- Này các ông thông tin, bò thấp xuống chứ sao lại chạy lông nhông thế kia. Từ đây trở đi địch trong căn cứ có thể phát hiện ra bóng người di chuyển đấy.
Mấy cậu lính thông tin không cãi, nhưng cũng chẳng nghe lời anh, họ vừa cười rinh rích vừa kéo những cuốn dây điện thoại chạy lông nhông trên triền đồi trống trơn. Lân vội nhắc hai chiến sĩ của mình - Chuồn nhanh thôi. Mắc hoạ với bọn này có phen đấy!
Chẳng phải đợi lâu, Lân và hai chiến sĩ trinh sát vừa chạy về tới vị trí chỉ huy thì từ trong căn cứ, tiếng súng máy của địch đã nổ rền. Một quả đạn cối 81 ly nổ bung ngay trước căn hầm của chỉ huy tiểu đoàn vừa đào xong.
- Có chuyện gì thế?
Tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh vừa rũ đất bụi trên người vừa hỏi. Lân vội vàng chạy tới nói:
- Thủ trưởng xuống hầm đi. Có lẽ mấy cậu thông tin để lộ mục tiêu thôi.
- Mấy thằng ranh này... đã dặn là đi đứng phải cẩn thận. Đại đội 7 thế nào rồi?
- Báo cáo tiểu đoàn trưởng. Họ đã vào vị trí an toàn. Nhưng... phía địch có sự điều chỉnh đội hình phòng ngự. Chúng mới xây dựng thêm một khu phòng ngự nhô ra ở phía mỏm đồi bên trái cụm A. Có lẽ chúng còn đang làm dở, tôi đã nhìn thấy cả những cái máy ủi, máy đào chiến hào gì đó.

Tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh lẩm bẩm:
- Nếu không làm thịt nhanh thì cái con nhím này sẽ còn xoè thêm nhiều cái lông nhọn ra nữa. Không sao, chúng ta sẽ vặt ngay những cái lông nhọn đó.
- Nhưng chúng tôi còn thấy hình như bên ấy có cả mấy cái xe tăng, hay xe bọc thép gì đó? Đại đội trưởng San đề nghị tiểu đoàn, đến giờ nổ súng xin cho hỏa lực dập tối đa vào cái mỏm đồi đó và thông tin ngay cho C9 biết để họ canh chừng.
- Được rồi. Sẽ có hỏa lực - tiểu đoàn trưởng nói nhỏ rồi dọi chiếc đèn pin bé tí vẫn dùng để soi bản đồ lên chiếc đồng hồ trên cổ tay - sắp tới giao thừa rồi.
Rồi ông gọi với sang hầm bên cạnh:
- Ông Sớm ơi... thử mở đài xem có bắt được Hà Nội không để nghe Bác Hồ chúc Tết!
Có tiếng chuông điện thoại. Anh trung đội trưởng thông tin từ dưới hầm nhô lên:
- Báo cáo tiểu đoàn trưởng, đường dây liên lạc với trung đoàn và trận địa pháo đã thông. Trung đoàn trưởng đang chờ nói chuyện với thủ trưởng ạ.
Tiểu đoàn trưởng vừa chui vào hầm để nói chuyện điện thoại thì chính trị viên Lê Văn Sởm từ dưới căn hầm gần đó nhô lên, tay cầm cái đài Xiong - mao, gọi rối rít:
- Ông Mạnh ơi, bắt được đài Hài Nội rồi. Đang ca nhạc đón giao thừa. Lát nữa sẽ có thơ chúc Tết của Bác Hồ đấy!

Lại một loạt đạn cối của địch nổ gần. Chính trị viên ngồi thụp xuống che lấy cái đài. Lân vội kéo ông ta nằm xuống.
- Thủ trưởng cẩn thận đấy! Ngay lúc đó có tiếng chân chạy huỳnh huỵch, tiếng kêu la rồi một chiến sĩ thông tin chạy bổ tới, kêu thất thanh:
- Thủ trưởng ơi... chúng em... bị hết rồi!
Anh trung đội trưởng thông tin chạy đến đỡ lấy cậu ta hỏi dồn:
- Tuyến nào đấy?
- Lên đại đội 7... bốn đứa chúng em gần rải dây tới nơi thì trúng pháo. Thằng Hào chết rồi. Thằng Điện bị thương chúng em vừa khênh về kia.
Chính trị viên Sớm quát:
- Đưa về trạm phẫu ngay. Trung đội trưởng, cho người thay thế tiếp tục kéo đường dây lên đại đội 7. Mau lên!
Chiếc đài Xiong - Mao của chính trị viên tiểu đoàn vẫn réo rắt phát ra giọng hát hát của Bích Liên:
Đường giao liên chúng ta đi dài theo theo đất nước...
Tiểu đoàn trưởng Mạnh từ dưới hầm chui lên hỏi:
- Ai bị thương đấy?
- Mấy đứa thông tin - chính trị viên Sớm trả lời - đường dây lên đại đội 7 vẫn chưa thông đâu!
- Hướng đại đội 9 cũng vừa mất liên lạc rồi. Hình như đường dây bị pháo bắn trúng. Thông tin liên lạc thế này thì chết. Cậu Lân, đi gọi cho tôi tiểu đội trưởng truyền đạt lại đây. Mà sao cậu Vinh vẫn chưa về nhỉ. Sắp đến giờ nổ súng rồi con gì.
- Chắc cậu ấy cũng sắp về thôi. Đại đội 8 phải đi xa hơn cả mà. Trung đoàn có chỉ thị gì mới không?
- Trung đoàn thông báo tham mưu trưởng trung đoàn đang trên đường xuống đây đốc chiến. Nếu gặp khó khăn thì trung đoàn trưởng cũng sẽ xuống. Thôi, anh tắt cái đài đi.
Chính trị viên ngạc nhiên hỏi lại:
- Thì chính anh bảo mở đài để nghe Bác chúc Tết mà? - Để đến mai nghe lại cũng được. Lúc này cần phải tập trung tinh thần ở mức cao nhất.

Khuyên, tiểu đội trưởng tiểu đội thông tin chạy chân đã tới. Tiểu đoàn trưởng ra lệnh:
- Truyền đạt ngay mệnh lệnh của tôi cho các đại đôi. Đến giờ nổ súng, tiểu đoàn sẽ bắn pháo hiệu làm hiệu lệnh. Các đơn vị sẽ theo hiệu lệnh đó mà đồng loạt nổ súng. Gọi hai thiến sĩ pháo lệnh mang súng bắn pháo hiệu lại đây ngay. Rõ chưa?


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 19 Tháng Ba, 2012, 01:16:25 pm
Tiểu đội trưởng Khuyên đáp “Rõ” rồi lao ngay vào bóng đêm. Pháo địch bắn ngày một dày hơn nhưng tầm bắn cũng đã xa hơn. Các loại súng cối cũng bắn thưa dần. Tiểu đoàn trưởng nghe pháo nổ một lúc rồi nới chính trị viên:
- Có vẻ như chúng tưởng đã xua được Việt cộng ra xa căn cứ rồi. Tốt lắm, yếu tố bất ngờ vẫn chưa bị mất. Tình hình này có lẽ ta phải thay đổi phương pháp chỉ huy một chút. Lát nữa cậu Vinh về tôi sẽ giao cho cậu ấy trực tiếp xuống đại đội 7 đốc chiến để làm sao cho thằng xê bảy mở cửa cho thật nhanh ở hướng chính diện để đại đội 9 đánh vào dứt điểm mục tiêu A càng nhanh càng tốt. Cần phải chiếm trung tâm chỉ huy của địch thật nhanh mới được.

Lại có tiếng chuông điện thoại reo. Tiểu đoàn trưởng chui xuống hầm nghe máy. Đầu giây bên kia là tiểu đoàn phó Phạm Quang Vinh ở trong máy, tiếng anh méo xẹo, rất khó nghe.
- Báo cáo tiểu đoàn trưởng. Đại đội 8 đã vào được vị trí. Nhưng địch đã tăng cường phòng ngự ở cụm C.
Ngoài hai trận địa pháo còn có thêm một trận địa phòng ngự tạm thời của bộ binh và có cả xe thiết giáp nữa ạ.
- Mặc chứng nó. Tăng cường gì thì cũng đánh. Nói với anh em tiểu đoàn sẽ chi viện thêm bằng hỏa lực pháo binh. Đại đội 8 cố mà phá tan mấy cái trận địa pháo ấy đi. Chúng nó bắn láo lắm. Còn cậu, về ngay hướng chính diện, trực tiếp ở đó chỉ huy hai đại đội tiến công trên hướng nhé. Chú ý là có mấy cái xe tăng địch bố trí ở mỏm đồi bên trái ấy. Hình như chúng nó mới dũi thêm ra đấy xây dựng một cụm hỏa lực đề kháng gì đó. Cậu về đó ngay đi nhé. Đề phòng mất liên lạc, đến giờ nổ súng tôi sẽ cho bắn pháo hiệu làm lệnh.
Tiểu đoàn phó Vinh thảng thốt kêu lên trong máy:
- Không nên bắn pháo hiệu, thủ trưởng ạ.
- Sao lại không? Tôi sẽ bắn. Nếu cần tôi sẽ dùng cả kèn đồng để... Alô, nghe rõ không? Lại mất liên lạc rồi.
Trung đội trưởng thông tin đâu?

Nhưng trung đội trưởng thông tin cũng phải trực tiếp lên đường dây rồi. Tiểu đội phó tiểu đội trinh sát Trương Đình Lân hiểu rằng đây là lúc người chỉ huy cần đến mình nên lên tiếng thay cho anh ta:
- Báo cáo tiểu đoàn trưởng... trung đội trưởng thông tin đã phải trực tiếp cùng anh em đi khắc phục đường dây rồi ạ. Nếu thủ hưởng cần gì cứ ra lệnh. Tiểu đội trinh sát còn ba người ở đây ạ.
- Tốt... các cậu cứ ở đó. Sẵn sàng cùng với tớ lên hàng rào khi anh em họ phát triển vào bên trong căn cứ địch.
- Báo cáo rõ! Lân đáp.
- Đồng chí cho người qua tổ đài ra lệnh cho họ mở máy bắt liên lạc với trung đoàn ngay khi có lệnh tiến công.
Lân vừa bảo Vững sang hầm của tổ đài vô tuyến truyền lệnh thì có một nhóm người lúp xúp chạy tới.
Lâm cảnh giác chong súng về hướng đó rồi quát lên:
- Ai? Sông Dinh 04.
- Sông Dinh 05.
- Khẩu lệnh đúng. Các đồng chí tìm bộ phận nào?
- Chỉ huy tiểu đoàn 7 ở đây phải không?

Tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh đã nhận ra tiếng người liền hỏi:
- Anh Cường phải không? Chúng tôi ở đây!
- Các anh đến châm thế?
- Lạc. Các ông trinh sát một mùa này suýt nữa thì đưa chúng tối vòng sang bên kia đường 9. Ngồi trong bóng đêm Lân chợt mỉm cười. Thì ra quân của ông Côn cũng có lúc bị lạc đường nữa là.
Tham mưu trưởng trung đoàn Nguyễn Mạnh Cường dẫn theo một tổ đài và một tổ trinh sát tới theo dõi trận đánh. Vừa tới bên cửa hầm chỉ huy, anh hỏi ngay:
- Tình hình thế nào rồi, anh Mạnh?
- Các mũi tiếp cận tốt. Riêng liên lạc thì rất kém.
Đường dây tới các đại đội bị pháo bắn đứt liên tục. Tôi đang lo đến lúc nổ súng sẽ không chỉ huy được đây này? - Chỉ huy của tiểu đoàn ngồi cả ở đây à?
Cậu Vinh đang ở trên cửa mở. Cậu ấy sẽ ở đó chỉ huy hướng chủ yếu.
- Tôi có mang theo một tổ đài. Anh có thể đưa lên cho anh Vinh để bảo đảm liên lạc.
- Thế thì tốt quá! Đồng chí Lân đâu?
- Có tôi!
- Cho một trinh sát đưa tổ đài của trung đoàn lên cửa mở giao cho tiểu đoàn phó ngay nhé. Khẩn trương - Tôi đi có được không ạ?
- Không. Cậu phải nằm lại đây để sẵn sàng đưa chúng tôi lên trên đó.
- Rõ... đồng chí Tiến, đưa tổ đài của trung đoàn lên cửa mở giao cho tiểu đoàn phó.
- Rõ. - Tiến đáp rồi chạy tới nói lớn - các đồng chí thông tin theo tôi.

Tiến và tổ đài lập tức mất hút trong bóng đêm.
Tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh nói với tham mưu trưởng:
- Đây là hầm chỉ huy của tôi. Mời anh xuống dưới đó báo cáo về trung đoàn kẻo trung đoàn trưởng đang lo cho anh đấy.
Tham mưu trưởng trung đoàn vội chui ngay xuống hầm gọi điện thoại về trung đoàn báo cáo tình hình. Tiểu đoàn trưởng Mạnh mệt mỏi ngồi xuống bên cửa hầm, bảo chính trị viên:
- Hay ông lại mở đài đi! Chính trị viên khẽ cười “Thì lại mở vậy “. Lân nghe tiếng công tắc đài khẽ kêu tách một cái rồi có tiếng sóng rột rẹt. Bỗng tiếng chuông đồng hồ nhà bưu điện Bờ Hồ vang lên lảnh lót. Tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh vụt đứng dậy:
- Giao thừa rồi! Đến giờ rồi. Chiến sĩ pháo lệnh đâu?
Từ trong bóng đêm mờ ảo, hai chiến sĩ pháo lệnh đột ngột bước ra:
- Báo cáo tiểu đoàn trưởng... chúng tôi có mặt!
- Chuẩn bị bắn pháo hiệu phát lệnh tấn công!
Chính trị viên Lê Văn Sớm cuống quýt:
- Để nghe Bác chúc Tết đã!
Tham mưu trưởng từ dưới hầm cũng hét toáng lên - Trung đoàn trưởng đã ra lệnh nổ súng!
- Tiếng pháo đã nổ ran trong sóng ra-đi-ô. Cậu Vững vẫn ngồi bên cạnh Lân chợt vỗ tay reo lên:
- Pháo giao thừa đấy, anh Lân ơi!
Nhưng Lân chưa kịp nghe tiếng pháo giao thừa từ quê hương vọng đến thì đã nghe tiếng tiểu đoàn trưởng Trần Mạnh hô lớn:
- Giờ hiệp đồng đã đến... pháo lệnh, bắn!
Bụp… Bụp… bụp!


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 19 Tháng Ba, 2012, 01:17:21 pm
Ba phát pháo hiệu đỏ rực rạch bóng đêm bay vút lên không trung. Không gian như trùng xuống trong giây lát rồi từ phía hàng rào căn cứ địch những ánh chớp liên tiếp loé lên kèm theo những tiếng nổ dữ dội của bộc phá.
Ngay lập tức, các trận địa pháo của ta đồng loạt nổ rền. Chỉ trong phút chốc, căn cứ địch như trùm lên trong khói và lửa. Trận tiến công dữ dội vào căn cứ quân sự Cam Lộ trong chiến dịch Tết Mậu Thân đã bắt đầu. Những người lính đang lao vào trận quyết chiến này chưa hề biết rằng, cùng với họ cả Miền Nam đang đồng loạt nổi dậy và tiến công kẻ thù trên khắp các chiến trường. Vào thời khắc họ lao lên đánh bộc phá mở cửa cho xung kích tiến vào căn cứ Cam Lộ thì ở tận Sài Gòn, đại sứ quán Mỹ và hàng loạt những mục tiêu quan trọng khác cũng đang bị tiến công. Họ không hề biết rằng họ đang tham gia vào một chiến dịch lịch sử, một cuộc tổng tiến công và nổi dậy tài tình, chưa từng xảy ra ở bất cứ nơi nào trên thế giới này và có tầm quan trọng đặc biệt trong lịch sử chiến đấu chống xâm lược của dân tộc mình. Để từ đây, tạo ra một bước ngoặt quan trọng cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta.
Trong tiếng pháo, tiếng bộc phá, tiếng súng nổ rền trời, Trương Đình Lân vẫn còn nghe được tiếng Bác Hồ vang lên trong chiếc ra-đi-ô trên tay chính trị viên tiểu đoàn.
Năm qua thắng lợi vẻ vang
Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to
Vì độc lập vì tự do
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào
Tiến lên! Chiến sĩ đồng bào
Bắc Nam xum họp, xuân nào vui hơn.
Thực ra, cho đến tận ngày hôm nay anh cũng không rõ khi ấy mình đã kịp nghe hết bài thơ chúc tết thiêng liêng ấy của Bác Hồ hay chưa? Vì dường như đúng vào thời khắc đó những quầng lửa sáng loà chụp ngay xuống đầu anh cùng với những tiếng nổ dữ dội.
Anh còn kịp nghe thấy tiếng tiếng cậu. Vững kêu lên “- Chết rồi, pháo kích đấy!”. Ngay sau đó anh thấy mình như đang từ từ rơi xuống một vực thẳm không cùng và tuyệt đối im lặng.
17

Khi nhìn thấy những phát pháo hiệu đỏ bắn lên đại đội trưởng Nguyễn Hồng Thanh đập nhẹ vào vai Hùng Phong nói:
- Nhắc anh em đừng nằm ép ngực xuống đất!
Ngay lập tức những chớp lửa loá trước mặt. Mặt đất rung chuyển bởi những khối bộc phá nổ liên tiếp.
Đất đá cùng những mảnh vụn dây kẽm gai rơi rào rào trên lưng họ. Tiểu đoàn phó Phạm Quang Vinh vừa lúp xúp chạy đến vừa gọi váng lên:
- Thanh đâu! Thanh đâu?
- Tớ ở đây!
Đại đội trưởng Thanh vừa rũ bụi đất trên đầu vừa lên tiếng:
- Tớ ở đây. Vinh hả? Cẩn thận đấy!
Tiểu đoàn phó Vinh ném người xuống bên cạnh đại đội trưởng Thanh nói trong hơi thở gấp.
- Coi chừng bên kia chúng nó có xe tăng đấy.
- Thấy rồi... nhưng chúng nó chưa dám bò ra khỏi mỏm đồi đó đâu.
- Có liên lạc được với tiểu đoàn không?
- Vừa mất liên lạc, thông tin chưa khắc phục được.

Khắp nơi đã rền vang tiếng súng, tiếng đạn pháo.
tiếng bộc phá mở rào. Hình như pháo binh của mặt trận cũng tham gia bắn chuẩn bị, chủ yếu kiềm chế các trận địa pháo địch ở khu B. Mấy khẩu cối 120 ly và DKZ của sư đoàn đang bắn tập trung vào cụm A, yểm trợ cho đại đội 7 mở cửa. Mọi việc diễn ra khá suôn rẻ trong những phút đầu của trận đánh vì có lẽ địch còn chưa kịp định thần. Chúng chưa xác định được hướng công kích chủ yếu của ta, vì trên hướng đại đội 8 có vẻ như anh em đã mở xong cửa mở. Đã nghe tiếng súng tiểu liên và tiếng lựu đạn nổ rền. Nếu pháo binh ta chưa kịp chuyển làn thì bộ đội chưa thể phát triển được vào sâu trong căn cứ địch. Không cẩn thận là nện vào lưng nhau, quân ta chiến thắng quân mình như bỡn.
Lại một loạt bộc phá nữa nổ rền ở trước mắt. Đại đội trưởng Thanh vỗ vào cái mông của Hùng Phong ở ngay phía trước ra lệnh.
- Phát triển vào bên trong hàng rào! Dùng hỏa lực chi viện cho đại đội 7 để họ mở cửa.
Hùng Phong bật dậy hét lên:
- Trung đội ba, theo tôi!
Các chiến sĩ bật dậy lao lên trong ánh chớp đạn.
Tiểu đoàn phó Vinh cũng quay lại nói với tiểu đội trưởng Ngạn, người từ chập tối đến giờ vẫn luôn bám sát anh:
- Cậu bò xuống xem có liên lạc với tiểu đoàn chưa và lệnh cho đại đội hỏa lực đưa DKZ và đại liên lên trên này ngay.
Ngạn vừa chạy đi thì từ trên hàng rào một tốp người lô nhô chạy xuống.
- Báo cáo, đại đội bảy xin đưa thương binh liệt sĩ ra!
Đó là tiếng chính trị viên phó đại đội 7. Tiểu đoàn phó Vinh bật dậy lao về phía đó.
- Thương vong bao nhiêu rồi?
- Mười hai!
- Đưa ngay ra! Khẩn trương lên kẻo ùn tắc cửa mở bây giờ!
- Mẹ nó, cửa mở sáng như ban ngày thế này thì nó bắn gục hết!
Trung đội của Hùng Phong quả nhiên đã bị ùn lại bên cửa mở. Đại liên địch bắn như vãi đạn. Đạn phóng lựu M79 nổ đoang đoác dọc hai bên cửa mở. Bộ đội đa số bị thương vì cái của khỉ này. Phía trước đại đội 7 đang tổ chức đưa thêm đội hai lên để mở nốt những lớp rào cuối cùng. Tốc độ mở cửa thế này là chậm rồi.
Đại đội trưởng Thanh bò tới bên trung đội trưởng Hùng Phong hỏi:
- Cậu có thấy hai ụ đại liên kia không?
- Tôi thấy rồi?
- Cho B41 lên thổi nó đi, nếu không anh em C7 sẽ khốn đốn với nó đấy!
Hùng Phong đáp “Rõ”. Rồi bò tới phía Hướng và Kiên. Một quả M79 nổ đoác trước mặt. May mà anh cảnh giác bò thấp nên chỉ thấy loá mắt, đất đá và mảnh đạn bay veo véo trên đầu. Ai đó ở phía sau kêu “Ôi tôi bị thương rồi”. Hùng Phong không ngoái lại mà tiếp tục trườn tới.
- Hướng, thấy hai ụ súng máy kia không?
- Thấy rồi. Chơi thằng nào trước đây?
- Thằng bên trái trước đi!
- Xong rồi! Kiên, ôm lấy ba lô đạn nhé. Tớ lên đây!

Trong ánh pháo sáng và ánh chớp ma quái của đạn vạch đường Hùng Phong nhìn thấy Hướng trườn thoăn thoắt như con thạch sùng dọc theo cửa mở. Các bộc phá viên của đại đội 7 lăn qua một bên nhường đường cho anh. Chỉ một loáng, Hướng đã tới tầm bắn.
Anh quan sát một lát, ước lượng cự li, lấy đường ngắm rồi lựa lúc hỏa lực địch hơi ngớt liền bật dậy trong tư thế quì hướng nòng súng về phía mục tiêu và xiết cò - Ùynh... oàng!
Ánh lửa hậu phụt một luồng đỏ rực về mé phải khiến một mảng hàng rào đỏ rực lên trong thoáng chốc gây nổ hàng loạt trái mìn. Đất đá, dây kẽm gai tung lên mù mịt cả khu vực cửa mở.
Hùng Phong tranh thủ khoảng khắc ấy lao vụt lên.
- Khá lắm! Hạ nốt thằng bên phải đi.
Hướng không nghe thấy gì cả, mà chỉ thấy người chỉ huy bộc phá của đại đội 7 khoát tay ra lệnh cho anh em bộc phá viên lao lên rồi nằm bẹp xuống phía trước mình chờ đợi. Anh hiểu rằng mình phải nhanh tay hơn.
Hướng nằm nghiêng với quả đạn Kiên vừa đưa cho rồi nhanh chóng lắp vào nòng súng.
Khẩu đại liên bên phải cửa mở vẫn đang nhả đạn veo véo trên đầu.
Anh em đại đội bảy đang dùng tiểu liên bắn kiềm chế để cho Hướng hành động. Anh quan sát một vài giây rồi ôm súng lăn hai vòng về mé trái.
- Tất cả nằm thấp xuống. Tôi bắn đây!
- Uỳnh... Oàng!
Cụm lửa màu da cam chụp ngay xuống ụ đại liên.
- Trúng rồi!
- Đại đội bảy, bộc phá, tiến lên!
Những chớp lửa bộc phá nổ liên tiếp. Phía sau, tiếng tiểu đoàn phó Vinh vang lên:
- Đại đội 9... chuẩn bị xung phong!
- Rõ... anh em đại đội 9. Tiến lên!
Đại đội trưởng Thanh bật đậy lao theo trung đội Hùng Phong. Chính trị viên Lương Xuân Báo và đại đội phó Đồng Tiến Phi chỉ huy đội hình đội phía sau của đại đội cũng ào ạt lao qua cửa mở.
Tiểu đoàn phó Vinh quay lại hỏi:
- Đại đội hỏa lực lên chưa?
- Chúng tôi đã có mặt! Tiếng đại đội trưởng đại đội hỏa lực vang lên.
- Đưa một khẩu đại liên, một khẩu DKZ lên chi viện cho C9.
- Còn khẩu DKZ nào ở phía dưới không?
- Báo cáo, hai khẩu!
- Bố trí sẵn sàng ở đây để phòng xe tăng địch từ mỏm đồi bên kia lao sang bịt cửa mở!
- Rõ!

Ngạn, tiểu đội trưởng trinh sát đã tìm được tổ thông tin vô tuyến của trung đoàn tăng cường đưa vội đã lên cửa mở giao cho tiểu đoàn phó Vinh. Anh mừng rỡ, kéo họ nằm xuống bên cạnh mình rồi ra lệnh:
- Bắt liên lạc ngay với tiểu đoàn cho tôi!
Điện đài viên lập tức mở máy, réo rắt gọi trong tiếng đạn nổ rền trời.
- A lô! A lô... Sông Dinh 04 gọi Sông Dinh 05 nghe rõ trả lời!
Lập tức có tiếng đáp lại:
- A lô... Sông Dinh 05 nghe rõ! Sông Dinh 05 nghe rõ! 05 yêu cầu chỉ huy 04 báo cáo tình hình ngay! Yêu cầu chỉ huy 04 báo cáo tình hình ngay!
Vinh vội giật lấy tổ hợp, rồi nói như hét vào máy:
- Sông Dinh 04 báo cáo. Cửa mở hướng chủ yếu đã thông. Xung kích đang đánh vào tưng thâm. Yêu cầu 05 cho pháo bắn vào dẻo đồi hình thằn lằn, bên trái đội hình và bắn kiềm chế pháo binh địch! Thương binh khá nhiều, yêu cầu 05 bố trí tải thương ra đón anh em đưa về phẫu. Nghe rõ trả lời!
- Sông Dinh 05 nghe rõ! Yêu cầu 04 khẩn trương cho bộ đội đánh chiếm mục tiêu, không để kéo dài đến khi trời sáng. Hướng cụm B có tình hình gì chưa, báo cáo?
- Sông Dinh 04 báo cáo. Bộ đội đã mở được hàng rào cụm B. Chưa rõ tình hình phát triển. Xin báo cáo sau.
- Sóng Đinh 05 yêu cầu mười lăm phút báo cáo một lần. Sẽ cho pháo bắn theo yêu cầu. Chú ý sẵn sàng đánh địch phản kích.
- A lô Sông Dinh 04 yêu cầu được nói chuyện trực tiếp với chủ nhà. - Vinh hỏi vội vì ngay từ đầu anh đã nhận ra giọng nói trên máy không phải của tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh.
- A lô... Sông Dinh 04 nghe đây. Chủ nhà ốm nặng, không tiếp khách được. Tôi là ông chú đến thăm. Từ đây sẽ thay thủ nhà tiếp khách. Nghe rõ trả lời!
- A lô... 04 nghe rõ! Hết báo cáo!


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 19 Tháng Ba, 2012, 01:17:44 pm
Tiểu đoàn phó Vinh buông máy, chân tay tự nhiên rã rời. “Anh Mạnh! Anh Sớm. Các anh làm sao rồi?”. Anh khẽ kêu lên vì đã hiểu rằng hình như cả tiểu đoàn trưởng lẫn thính trị viên đều đã bị thương nặng hoặc hi sinh rồi. Cái ông chú ông bác vừa liên lạc với anh chính là tham mưu trưởng Nguyễn Mạnh Cường. Như vậy, Ban chỉ huy tiểu đoàn hiện nay chỉ còn một mình anh chỉ huy chiến đấu, chính trị viên phó Đồ Hồng Phương đã được giao nhiệm vụ làm công tác thương binh tử sĩ ở tuyến sau rồi. Anh cũng hiểu, bây giờ chưa phải lúc báo tin đau buồn này cho những người chỉ huy, kể cả những đồng chí trong đảng uỷ. Hãy cứ làm như các anh ấy vẫn đang chỉ huy chiến đấu để khỏi ảnh hưởng đến tinh thần bộ đội.
Tiểu đoàn phó Vinh nghĩ nhanh như vậy rồi quay sang tiểu đội trưởng trinh sát.
- Đồng chí Ngạn... đồng chí hãy trực tiếp sang bắt liên lạc với đại đội 8, nắm tình hình chiến đấu ở bên đó rồi về đây báo cáo tôi ngay. Nói với đồng chí Bỉnh, không cần liên lạc trực tiếp với chỉ huy tiểu đoàn nữa. Có tình huống gì đặc biệt cho liên lạc chạy chân tìm tôi ở cửa mở hướng chính diện.
Tiểu đội trưởng Ngạn vội chạy đi ngay. Tiểu đoàn phó Vinh quay lại ra lệnh cho tổ thông tin:
- Các đồng chí hãy bám sát tôi!
Rồi anh nhằm hướng cửa mở mà tiến lên. Trên đó bộ đội ta đã làm chủ hoàn toàn khu ngoại vi căn cứ địch.
18
Hướng bắn đến quả B41 thứ năm thì tai anh ù đặc, không còn nghe thấy tiếng gì nữa mặc dù xung quanh anh tiếng súng, tiếng đạn, tiếng người la hét, kêu gào vẫn rền vang, hỗn loạn như trong một cái lò bát quái.
Từ khi không còn nghe được những tiếng động bên ngoài, trận đánh ác liệt diễn ra trước mắt anh trở nên kì lạ, huyền hoặc như đang xem một đoạn phim câm. Lửa cháy, đạn nổ, đạn vạch đường rừng rực, chói loà, nhằng nhịt trước mắt. Những người chạy, người ngã vật xuống, máu xối, ruột lòi, những mảnh thi thể cả ta cả địch văng lên trong ánh lửa cũng trở nên lạ lẫm, trung tính và vô cảm. Anh bỗng hiểu ra rằng, âm thanh mới là cái làm nên sự dữ dội của chiến tranh. Anh đã không còn cảm nhận được sự dữ dội đó nữa. Những cái anh nhìn thấy giống như trong một trò chơi con trẻ. Chỉ đến khi, những người đồng đội của anh đột nhiên trúng đạn, ngã vật xuống trước mặt, anh mới như sực tỉnh vả hiểu ra rằng, mình đang ở giữa cái khoảng mong manh của sự sống và cái chết.
Thực ra, sau khi bắn xong quả đạn thứ tư vào một chiếc xe bọc thép M113 đang ầm ầm lao tới trước mặt, biến nó thành một đống lửa đỏ rực, anh đã quyết định quay lại trao súng cho Kiên. Từ đầu trận đến giờ cậu ấy vẫn bám sát anh không rời nửa bước và cứ mỗi khi anh bắn xong một quả đạn, chỉ cần quơ tay ra phía sau là đã bắt được quả đạn Kiên đưa cho để anh lắp tiếp vào khẩu súng giờ đây cũng đã nóng rực. Nhưng lần này bắn xong quay lại thì anh không còn bắt gặp quả đạn Kiên chìa ra cho anh nữa. Anh hốt hoảng chạy lộn lại vài bước thì thấy Hùng Phong dường như đang cố xốc Kiên dậy. Anh không nghe thấy Hùng Phong nói gì mà chỉ thấy một tay cậu ta đang cố xốc Kiên lên, tay kia chỉ về phía trước rồi rất nhanh, cầm cái ba lô đạn chỉ còn bốn quả quăng về phía Hướng. Hướng chộp lấy ba lô đạn, lăn người qua một bên vì cảm thấy hình như mặt đất lại rung lên. Anh vội vàng lắp quả đạn thứ năm vào súng. Ngẩng lên, đã thấy một khối sắt thép lù lù như vừa chui ra từ đống nhà cửa đổ nát, từ phía sau đống lửa của chiếc xe bọc thép vừa bị anh bắn cháy. Đó là một thằng M41 chứ không còn là xe bọc thép mữa!
Anh vui mừng nghĩ vậy rồi, không biết lấy đâu ra sức lực anh bật dậy, gần như đứng thẳng, nhằm vào cái khối sắt di động ấy mà xiết cò. Một quầng lửa bùng lên và ngay sau đó là sức dội trở lại của không khí bị xé toang đẩy anh ngã vật người về phía sau. Rồi anh hoàn toàn không nghe thấy gì nữa. Cứ tưởng mình đã chết, trong lòng anh bỗng xuất hiện một cảm giác nhẹ nhõm, thanh thản. Anh nhắm mắt buông xuôi, phó mặc cho cơ thể mình được giãn ra, trôi vào trạng thái nghỉ ngơi.
Nhưng, đúng lúc ấy, anh cảm thấy có bàn tay ai đó đang xốc mình dậy, y như động tác mà anh vừa nhìn thấy Hùng Phong làm với cậu Kiên vậy. Anh liền mở choàng mắt và nhận ra gương mặt xạm đen khói đạn của Hùng Phong trong nhập nhoà chớp lửa. Hình như cậu ta đang cố hét lên câu gì đó nhưng Hướng hoàn toàn chẳng nghe thấy gì. Đáp lại, anh toét miệng cười rồi cố vùng ra khỏi đôi bàn tay của Hùng Phong. Cậu ta bèn quì xuống, ghé sát vào tai anh mà hét lên.
Nhưng anh chỉ cảm thấy hơi thở sặc mùi thuốc súng của cậu ta phả vào mặt mình mà thôi.
- Tớ cóc nghe thấy tiếng gì nữa rồi!
Anh gào lên muốn rách cả cổ họng nhưng ngay cả tiếng mình anh cũng không nghe thấy nữa. Dường như Hùng Phong đã hiểu. Anh vỗ vào vai Hướng một cái thật mạnh rồi ra hiệu đưa cho anh ta khẩu súng và chỉ tay ra phía cửa mở, hình như muốn nói rằng anh hãy trao súng cho cậu ta rồi rút ra trước đi. Hướng điên tiết chửi một câu thật tục rồi vùng vằng chồm dậy, lao về phía trước. Hùng Phong và mấy người đồng đội vội vã lao theo.
Đại đội 9 đã vào được trung tâm căn cứ địch, đại đội trưởng Thanh chia đơn vị thành nhiều mũi tản ra đánh chiếm từng căn nhà, từng lô cốt, ụ súng. Thực ra, khi đã vào đến đây rồi, đại đội trưởng Thanh cũng không biết phải triển khai tiến công như thế nào nữa.
Anh cũng không nhận ra đâu là khu thông tin, đâu là khu chỉ huy. Những căn nhà vòm đắp bao cát xung quanh giống nhau như đúc. Công sự, ụ súng cũng rất nhiều nhưng có chỗ có địch trụ lại chống cự, có chỗ thì hoàn toàn không còn một mống địch nào? Chẳng hiểu chúng chạy đi đâu mà hình như sức kháng cự có vẻ đang giảm đần. Hai mũi phản kích của địch, một đánh vào hướng chính diện, một đánh vào phía sau đội hình định bịt cửa mở đều đã bị ta bẻ gãy. Bọn xe tăng thiết giáp địch rút sâu vào phía đường chín, dùng súng máy và pháo bắn dữ dội nhưng không tiến ra nữa. Tiếng súng ta, súng địch vẫn rền vang bốn phía nên cũng không thể đoán định được nơi nào ta đã hoàn toàn làm chủ trong cái căn cứ rộng mênh mông này?
Anh bắt đầu cảm thấy bối rối khi biết rằng đại đội của mình đã thương vong tới quá nửa quân số trong khi đó không biết cấp trên có tung đội dự bị vào để tiếp tục cùng các anh đánh chiếm hoàn toàn căn cứ địch hay không? Đến lúc này thì anh hiểu rằng, ném một tiểu đoàn vào cái căn cứ hỗn hợp này quả là như muối bỏ bể. Đại đội phó Đồng Tiến Phi vừa bị thương, chính trị viên Lương Xuân Báo thì chưa thấy đâu. Anh không biết phải bàn bạc với ai nên vội chạy đi tìm Hùng Phong. Anh trung đội trưởng này vẫn đang hùng hục thúc bộ đội tiến sâu vào trong căn cứ địch mà có thể không đề phòng bị địch bao vây cô lập, trong khi các trung đội khác đang gom quân lại để đánh chắc, tiến chắc.
Nhưng đại đội trưởng Thanh chưa bắt kịp trung đội Hùng Phong thì pháo từ Đông Hà, từ căn cứ 241 và không biết từ đâu nữa bắt đầu chuyển làn, bắn dữ đội vào căn cứ. Lạ nhỉ? Sao chúng nó lại cho pháo bắn thẳng vào đây là làm sao? Định giết luôn cả quân của chúng hay sao? Hay trong căn cứ còn có hầm ngầm, địch rút cả xuống đó rồi gọi pháo bắn trùm lên căn cứ?


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 19 Tháng Ba, 2012, 01:18:31 pm
Anh chưa kịp hiểu ra chuyện gì thì đạn pháo đã nổ rầm rầm xung quanh.
- Tất cả dừng lại tìm cách tránh pháo. Không phát triển nữa! Anh hét lên hi vọng anh em nghe được tiếng mình.
Vừa lúc đó có người lao xầm tới trước mặt anh.
- Thanh đấy hả?
- Ôi trời anh Báo? Ông đi đâu thế hả?
- Tôi theo trung đội một. Anh em bị thương vong nhiều quá. Tôi cho lui ra đây rồi! - Tốt. Anh có thấy trung đội Hùng Phong ở phía trước không?
- Có... chúng nó đang đánh vào trạm công binh. Bọn tôi đã vào tận cái bãi đậu máy cày máy ủi của tụi nó. Toàn những loại máy ủi, máy cày to đùng, hình như có cả máy đào hào hay sao ấy. Tôi ra lệnh cho anh em hoá vàng bằng hết rồi cho tạm lui ra để củng cố lại đội hình. Cứ đánh ào ào thế này thì không biết thế nào mà lần?
- Anh làm đúng đấy, tôi cũng đang định ra lệnh như vậy.
Pháo địch bắn ngày càng dữ dội hơn. Đạn pháo hất tung cả những căn nhà mái vòm mà đại đội chưa kịp đánh tới.
- Chúng nó đánh kiểu gì thế nhỉ? Sao lại bắn thẳng vào đây là làm sao?
Có thể địch nhận định rằng căn cứ của chúng đã bi tràn ngập nên cho pháo binh đánh huỷ diệt lực lượng ta!
- Nguy rồi! Có thể chúng đã rút hết xuống hầm ngầm rồi chơi trò đánh xoá đấy!
Vừa lúc đó tiểu đội trưởng trinh sát Nguyễn Ngọc Ngạn vừa hồng hộc chạy tới vừa hét lên:
- Đại đội trưởng Thanh... tôi tìm đại đội trưởng Thanh?
- Thanh đây. Đằng này kia... cẩn thận, pháo đấy!
Sau một loạt pháo nổ thì thấy Ngạn như từ dưới đất chui lên, giọng khản đặc:
- Tiểu đoàn ra lệnh lui quân. Chú ý không bỏ sót thương binh sử sĩ!
Ngạn định chạy đi ngay, chính trị viên Báo vội gọi giật trở lại.
- Ngạn... nhờ cậu đưa giùm số thương binh nhẹ này ra trước với!
Ngạn nhận lời. Số anh em bị thương nhẹ mới được băng bó qua loa vội bám ngay theo anh. Đại đội trưởng Thanh nói với chính trị viên:
- Anh chốt ở đây nhé! Tôi phải vào lôi chúng nó ra ngay.
Nói rồi anh lao đi trong làn khói đạn pháo. Đúng là địch đã nhường cái sân này cho bọn pháo binh làm mưa làm gió rồi. Không thấy bọn bộ binh bắn ra nữa.
Chạy được một quãng thì anh gặp trung đội Hùng Phong đang lộn trở ra. Vừa nhìn thấy anh, Hùng Phong đã hét lên:
- Đại đội trưởng! Bọn nó chơi kiểu gì vậy?
- Kiểu Mỹ đấy. Cho anh em lui ra đi, chú ý vừa vận động vừa tránh pháo. Thương binh đã đưa ra hết chưa?
- Chúng tôi đang đưa anh em ra! Đại đội trưởng... cẩn thận đấy!
Một loạt tiếng rú kinh hồn rồi mặt đất như lộn ngược lên. Tối xầm lại. Một loạt tiếng rú tiếp ngay sau đó rồi từ trên khoảng không vần vụ khói đạn những tiếng nổ xé ngang trời như sét đánh.
- Pháo chụp đấy!
Sau loạt pháo chụp tai hại ấy, thêm một loạt chiến sĩ bị thương. Những tiếng kêu xé ruột. Tiếng thở gấp. Tiếng khóc của những người vừa bị thương. Vài chiến sĩ gục ngã ngay trên con đường ra cửa mở.
- Khẩn trương! Đưa anh em ra mau không chết hết bây giờ!
Đại đội trưởng Thanh gào lên trong tiếng đạn pháo. Hùng Phong vừa cõng Trung tiểu đội trưởng, Hải vừa dìu trung đội phó Khang vừa bị thương. Hướng đeo khẩu B41 trước ngực, cõng cậu Hồng trên lưng chạy thoăn thoắt ra cửa mở mà không biết cậu ta vừa tắt thở.
Một loạt pháo chụp nổ ngay trên đầu, nhưng có lẽ Hướng không nghe thấy nên vẫn hùng hục chạy. Một lát bỗng thấy lưng mình lạnh toát. Hướng kêu toáng lên “Mày đái lên lưng tao hay sao thế hả Hồng? Khi ra tới cửa mở, gặp tải thương lên, Hướng mới ngả Hồng xuống trao cho họ thì bỗng giật mình khi thấy thi thể Hồng đã nát bấy vì trúng thêm nhiều mảnh pháo chụp.
Khi đại đội đã lui ra hết, số tử sĩ ùn lại chỗ chính trị viên Lương Xuân Báo lên tới gần chục người. Đại đội trưởng Thanh chạy lại giục:
- Anh và tôi mỗi người cõng lấy một cậu đưa ra đi kẻo không kịp đâu!
- Không. tôi ở lại đây với anh em. - Chính trị viên Báo hét lên trong tiếng gào rít của bom đạn - anh ra trước đi rồi tổ chức người vào đón chúng tôi. Biết là không thể tranh cãi với chính trị viên về chuyện này, anh anh xốc một cậu lên vai rồi dặn:
- Anh cố đợi nhé. Tôi sẽ cho anh em vào ngay. Anh tìm chỗ mà tránh pháo đi. Chúng nó vẫn tiếp tục pháo kích vào đây đấy!
Căn cứ địch đã biến thành một biển lửa rừng rực.
Pháo địch nện thêm một hồi nữa rồi chuyển làn bắn chặn ra ngoài căn cứ. Đại đội trưởng Thanh vừa ra tới cửa mở thì gặp Ngạn đưa một nhóm tải thương lên.
- Tiểu đoàn phó ra lệnh cho chúng tôi lên đón thương binh tử sĩ.
Đại đội trưởng mừng quá, chỉ vào phía trong căn cứ:
- Ông Báo đang còn ở trong đó với bảy liệt sĩ. Các cậu vào đi! Cẩn thận, lửa cháy thế này là mìn nổ nhiều đấy.
Hướng đại đội 7 đã ra hết. Hướng đại đội 8 cũng đã kịp lui quân sau khi đã phá tan hai trận địa pháo của địch. Số thương vong của đại đội cũng ngót nghét năm chục người. Thêm gần chục người nữa bị trúng đạn pháo khi lui quân.
Tiểu đoàn phó Phạm Quang Vinh báo cáo về sở chỉ huy:
- Sông Dinh 04 báo cáo! Anh em đã ra khỏi cổng chợ nhưng pháo địch bắn rất rát nên chưa thể về vị trí tập kết. Số ốm đau chưa kịp tổng hợp! Xin chỉ thị.
Tiếng tham mưu trưởng Nguyễn Mạnh Cường vang lên trong máy:
- Sông Dinh 04 chú ý. Cho phép xử dụng tuyến đường qua nhà bác hai để về nhà nhưng phải vượt qua cổng nhà X3 trước khi trời sáng. Chú ý đề phòng chó dữ. Cố gắng đưa người ốm đau về trước. Sẽ cho các cháu đón dọc đường. Nghe rõ không trả lời!
- Sông Dinh 04 nghe rõ! Xin hỏi thăm sức khoẻ ông hai, ông ba chủ nhà?
Im lặng một lát rồi trong máy lại vang lên tiếng của tham mưu trưởng:
- Sông Dinh 04 nghe đây... khi nào về tới nhà các anh sẽ thăm sức khoẻ hai ông. Đừng để các cháu lo lắng. Nghe rõ trả lời!
- Sông Dinh 04 nghe rõ! Xin tắt máy. Ngừng liên lạc!
Tiểu đoàn phó Phạm Quang Vinh buông máy quay sang nói với đại đội trưởng Thanh: - Có lẽ có chuyện không hay xảy ra với tiểu đoàn trưởng và chính trị viên rồi!
19
Trương Đình Lân tỉnh dậy khi đang được khiêng ra trạm phẫu thuật tiền phương. Anh thấy mình như đang trôi bồng bềnh trên sông. Toàn thân ê ẩm, đau nhói mắt díp lại, không sao mở ra được nhưng ý thức của anh đã dần dần khôi phục.

Anh mơ hồ nhớ lại, tiếng chuông đồng hồ báo giao thừa, tiếng pháo nổ giờn trong ra-đi-ô, tiếng hô khẩu lệnh của tiểu đoàn trưởng. Rồi pháo hiệu đỏ. Tiếng Bác Hồ đọc thơ chúc Tết trên đài và sau đó là những tiếng nổ dữ dội, những quầng lửa chói loà...
- Thủ trưởng nằm xuống... ! Pháo kích đấy!
Có tiếng người đáp lại:
- Yên trí... pháo bắn xa lắm! Chúng ta sắp ra tới trạm phẫu tiền phương rồi!
- Trạm phẫu... Tôi bị thương à?
- Câu bị thương... nhưng tỉnh lại được như thế là tốt rồi. Cố tỉnh táo, đừng có thiếp đi đấy nhé!
Anh cảm thấy hơi thở gấp gáp của hai người đồng đội. Họ đang khiêng anh trên một chiếc võng.
- Tiểu đoàn trưởng có sao không?
- Ông ấy chết rồi! Người đi phía sau đáp gọn lỏn.
- Còn chính trị viên?
- Ông ấy cũng đang được cáng ra trạm phẫu như cậu ấy!
- Trời ơi!
- Sao lại trời ơi... cậu còn may đấy. Y tá bảo cậu không bị mảnh nào vào chỗ nguy hiểm. Chỉ mất nhiều máu thôi.

Lân không dám hỏi thêm gì nữa. Nước mắt tự nhiên trào ra chảy chan chứa trên mặt anh. Gương mặt đầy ưu tư của tiểu đoàn trưởng lại hiện ra trong tâm chí anh. Lẽ nào ông ấy đã chết khi chưa kịp hiểu chuyện gì đã xảy ra? Ông ấy từng nung nấu ý định chỉ huy những trận đánh long trời lở đất, lừng lẫy hơn cả những trận đánh mà ông đã từng tham gia hồi đánh Pháp. Ông ấy còn nỗi ân hận, day dứt vì cái chết của một người đồng đội. Ông ấy còn đau đáu trong lòng bao nhiêu câu hỏi về kẻ thù, về những phương thức chiến tranh quái gở và tàn bạo của chúng? Vậy mà ông ấy... tiếng súng vẫn nổ ran ở phía sau lưng anh. Phải chăng, đó là âm thanh của trận đánh mà ông ấy đã ra lệnh mở đầu?
- Trận đánh chưa kết thúc sao?
- Chưa, người đồng đội ạ. Cứ yên trí đi, nhất định chúng ta sẽ thắng!
Và anh đã thiếp đi trong niềm tin ấy cho đến khi anh cảm thấy dòng sông như ngừng trôi. Chiếc cáng đã dừng lại và lao xao nhiều tiếng người.
- Thương binh phải không?
- Vâng... những ca đầu tiên đấy.
- Không phải đầu tiên. Đã có mấy ông thông tin vào đây rồi. Nhiều không?
- Ba ca. Nhưng trận đánh mới chỉ bắt đầu thôi. Lát nữa thì các ông sẽ khối việc.
- Chỉ nói gở. Đưa vào hầm phẫu, nhanh lên!
- Cẩn thận. Chính trị viên tiểu đoàn 7 đấy. Ông ấy có vẻ bị nặng hơn cả.
- Vậy đưa sang hầm số 1. Bác sĩ Thành sẽ mổ.
- Còn ca này?
- Cậu ấy vẫn tỉnh. Y tá tiểu đoàn bảo anh này không nặng lắm đâu.
- Đưa sang hầm số hai.
Chiếc cáng lại được nâng lên. Một lát sau, Lân cảm nhận được ánh sáng đèn.
- Đây là đâu thế? Anh hỏi - Hầm phẫu thuật. Đồng chí vẫn tỉnh chứ?
- Hình như thế!
- Tốt lắm. Để tôi kiểm tra nào.
Một luồng. ánh sáng mạnh dọi vào mắt anh.
- Tốt. Có vẻ tỉnh táo lắm. Để xem nào. Băng bó gì mà khiếp thế này. Ráng chịu đau một chút đồng chí nhé. Đùi phải. Ngực bên phải. Vai phải. Ông này chơi toàn bên phải. Nhưng không sao, hình như xương đùi không bị gãy. Mảnh pháo còn bên trong. Vết thương ngực ra máu nhiều, không thấu phổi. Nhưng vẫn phải mổ để lấy cái của nợ ấy ta. Xương vai cũng không bị gãy. Tốt lắm. Chuẩn bị mổ thôi. Ông bạn đừng lo nhé.
Sẽ nhanh thôi mà. Tên ông bạn là gì nhỉ?
- Trương Đình Lân!
- Cũng lính thông tin à?
- Không... trinh sát tiểu đoàn bảy.
- A... lính trinh sát cơ đấy. Gan cóc tía đây. Tiểu đoàn các ông đánh trận này ác liệt đấy. Thế quái nào mà chưa chi đã bị chúng nó vồ mất tướng thế hả? Nhưng không sao đâu, trận đánh vẫn đang tiếp tục. Cờ bạc còn ăn nhau về sáng nữa kia. Tiêm một mũi chống nhiễm trùng đã nhé. Yên tâm đi, ông là ca mở hàng của tôi đấy. Được rồi, ta bắt đầu nhé. Đồng chí Hoà, gây mê.


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 19 Tháng Ba, 2012, 01:18:56 pm
Một lát sau, anh như bị đẩy trở lại cái dòng sông đang lờ đờ trôi mà anh đã gặp sau khi nghe tiếng chuông đồng hồ báo giao thừa, tiếng pháo nổ ran trước sân nhà anh, những đứa em tranh nhau nhặt pháo lép... Trong nhà, ông nội anh áo the, khăn gõ tề chỉnh đứng trước bàn thờ gia tiên, nhưng ông không khấn khứa rì rầm như mọi khi mà bỗng quay ra cửa, sang sảng đọc một bài thơ... anh chỉ kịp nghe được một hai câu... Quốc phá sơn hà tại - Thành xuân thảo mộc thâm... rồi thiếp đi, như bị nhấn chìm xuống dòng sông hư ảo kia vậy.
Nhưng thật kì lạ, khi tỉnh lại điều đầu tiên mà anh nhớ ra lại chính là hai câu thơ trong bài “Xuân Vọng” của Đỗ Phủ mà anh nghe ông nội mình đọc trong mơ: Quốc phá sơn hà tại - Thành xuân thảo mộc thâm. Cứ như hai câu thơ ấy là cái phao cho anh bấu vịn, là cọc tiêu cho anh nhớ đường về vậy. Đó là bài thơ cuối cùng mà ông nội đọc cho anh nghe trước khi qua đời, nhằm vào đúng những ngày máy bay Mỹ leo thang bắn phá dữ dội miền Bắc nước ta, ném bom cả vào thủ đô Hà Nội và nhiều thành phố khác. Ông giảng rằng bài thơ của Đỗ Phủ nói rằng, tuy đất nước bị tàn phá, chỉ còn trơ lại núi sông, chốn đô thành mùa xuân chìm trong cỏ dại nhưng không phải vì thế mà con người ta cam chịu cảnh nước mất nhà tan. Núi sông còn thì rồi sẽ còn tất cả, đô thành dù cỏ mọc rêu xanh nhưng vẫn duy tồn linh khí của đất nước, của dân tộc. Các cháu sẽ phải lớn lên trong loạn lạc, có thể phải sống trong cảnh nước mất nhà tan, nhưng đừng bao giờ để mất đi cái chính khí của mình.
Anh mở mắt và nhận ra trời đã sáng. Toàn thân anh ê ẩm rã rời và những cơn đau cứ nhói lên ở nhiều nơi không xác định. Anh thử chớp mắt, rồi cố gắng cử động hai chân, hai tay. Rất đau đớn, nhưng anh hiểu rằng cơ thể mình vẫn có phản ứng tích cực. Cố quay đầu nhìn sang hai bên, anh thấy mình đang nằm trên một cái sạp rộng trong căn nhà hầm nửa nổi nửa chìm.
Xưng quanh anh la liệt thương binh. Nhiều người đang rên la vì đau đớn. Anh cố đưa mắt tìm chính trị viên Lê Văn Sớm nhưng không thấy.
Bỗng người nằm bên cạnh anh cũng mở mắt trân trân nhìn lên mái tăng của căn hầm dã chiến.
- Tôi... đang ở đâu thế này?
Cậu ta hỏi và cố gắng ngóc đầu dậy nhưng bỗng nhăn mặt vì đau. Rồi đột ngột cậu ta hét lên:
- Tay... tay của tôi đâu rồi? Tay của tôi đâu rồi... trả tay cho tôi đi chứ... hu hu... mẹ ơi... thế là con què rồi!
Thì ra cậu ta đã bị cưa cụt mất một cánh tay. Lân ái ngại nhìn cậu ta và chợt nhận ra đó chính là Lương, cậu chiến sĩ của trung đội Hùng Phong mà anh đã từng ngồi ăn tết với cậu ta hôm hăm nhăm tháng chạp.
- Lương... Lương... ! Anh cố nhỏm dậy gọi.
Nhưng Lương vẫn đang giãy giụa, gào khóc. Nếu như một chân không bị bó cứng thì có lẽ cậu ta đã lồng ra khỏi lán rồi!
Một anh y tá nghe tiếng gào khóc chạy vào chỉ mặt Lương quát:
- Thằng kia... gào cái gì thế hả?
Lương rít lên:
- Sao các ông lại chặt tay của tôi... hu hu... thế này thì tôi thành thằng què à?
- Thằng Mỹ nó chặt của cậu chứ ai chặt. Đừng vừng vẫy nữa kẻo cái chân kia mà bung ra thì phải chặt nốt đấy, ông kễnh ạ!
Cậu thương binh nằm bên cạnh liền cười khẩy, lật tung cái chăn đắp nửa người dưới lên.
- Mới mất một tay mà đã nhắng lên! Trông người ta đây này. Hai giò đi cả rồi. Mả mẹ chúng nó chứ. Nguyên một quả mìn đấy!
Lương bỗng nín bặt nhìn như dán vào hai cái cẳng chân vừa bị cưa cụt, băng trắng toát của người đồng đội.
- Cậu ở đại đội nào?
- C8... quân ông Bỉnh đấy. Cậu là lính C9 phải không?
Lương gật đầu. Người thương binh cụt chân hỏi tiếp:
- Bị thương lúc nào?
- Trên đường rút ra thì trúng pháo.
- Thế thì còn đỡ hận. Đằng này, tớ mới bò vào đến hàng rào. Đã kịp bắn phát nào đâu. Thế mới cú chứ?
Thấy Lương đã bình tĩnh trở lại, Lân mới chòi sang gọi:
- Lương... cậu không nhận ra tớ à?
Lương quay sang nhìn rồi reo lên:
- Ôi anh Lân. Anh mà cũng bị thương à?
- Thần thánh gì mà tránh được bom đạn? Tình hình đánh đấm thế nào hả cậu?
- Ôi đánh ra trò... - Lương hào hứng kể - bọn em vào được tận trung tâm căn cứ rồi. Đi tìm mãi mà chẳng biết sở chỉ huy của nó ở chỗ khỉ gió nào. Anh Hùng Phong bảo cứ tìm chỗ nào có máy thông tin là đúng. Nhưng nhà nào, hầm nào cũng thấy có máy vô tuyến điện và điện thoại. Chẳng biết đâu mà lần. Rồi chúng nó gọi pháo bắn trùm lên căn cứ. Thế là tiểu đoàn ra lệnh rút ra.
- Hùng Phong không sao chứ?
- Anh ấy không sao? Nhưng đại đội em hi sinh gần hai chục người. Bị thương thì nhiều lắm.
Lân chồm hẳn lên hỏi tiếp:
- Thế thằng Hướng thế nào?
- Anh ấy không sao... nhưng không khéo bị điếc mất rồi. Bắn tới sáu quả B41 kia mà? Máu chảy đầy hai tai.
Lân thở phào nhẹ nhõm khi biết tin những người bạn thân của anh còn vô sự. Hướng có bị điếc thì cũng không sao! Ai bảo cậu ấy ham chơi với cái thứ vũ khí ghê gớm ấy?
- Thế... anh bị thương có nặng không? Lương hỏi.
- Bình thường. Toàn mảnh pháo. Phẫu thuật lấy nó ra là sẽ khỏi thôi mà.
Lương lại nhìn xuống cái tay cụt, thở dài:
- Em... thế này là toi đời rồi. Chắc chắn sẽ bị trả về hậu phương thôi.
Vừa lúc đó, các y tá khênh xuống hầm một thương binh vừa phẫu thuật xong, máu còn chảy ròng ròng trên cáng.
- Nhờ anh em xích lại một tí. Chịu khó nằm chật vậy. Các hầm khác cũng đầy ắp thương binh rồi.
Anh bác sĩ nói như xin lỗi mọi người rồi bảo y tá lại đỡ mấy thương binh ở góc hầm dồn lại lấy chỗ cho người mới tới. Khi chiếc cáng đi qua trước mặt, Lân cố gắng ngóc đầu lên nhìn và anh bỗng kêu lên khi nhận ra người nằm trên cáng.
- Ôi anh Ngạn!
Đúng là tiểu đội trưởng trinh sát Nguyễn Ngọc Ngạn. Sau này Lân mới biết trong suốt trận đánh, anh vừa chạy ngang chạy dọc khắp chiến trường như con thoi vừa dẫn đường vừa làm người liên lạc cho chỉ huy mà không bị thương. Nhưng khi đơn vị đã rút lui an toàn, trên đường trở về vị trí tập kết thì bị trúng một loạt pháo kích y như trường hợp của Lương. Và anh cũng bị đạn pháo chụp tiện phăng mất bàn chân phải.
Ngoài ra còn bị thêm nhiều vết thương trên người. Anh bác sĩ đưa Ngạn ra hầm hậu phẫu đã nói với Lân - Chỉ riêng ông ấy, chúng tôi đã phải mổ mất hai tiếng đồng hồ. Sống được đã là may lắm rồi!
Nhìn Ngạn nằm bất động trên sạp như một cái xác không hồn, Lân bỗng thở dài lo lắng. Cả anh và Ngạn đều nằm ở đây, tiểu đội trinh sát hiện như rắn không đầu. Anh bỗng mong muốn mình mau bình phục để trở về đơn vị. Anh biết, keo này, thằng Mỹ vẫn chưa thể loại được anh ra khỏi đội ngũ.
Đến chiều hôm ấy Ngạn mới tỉnh. Nhận ra Lân, anh mừng lắm. Khi biết Lân chỉ bị thương nhẹ, chắc sớm được về đơn vị. Anh vui mừng bảo “Như thế là dù sao “Ban chỉ huy tiểu đội trinh sát” cũng không bị xoá sổ. Mình thì chắc chắn phải về hậu phương rồi. Còn bấy nhiêu anh em, giao cả cho cậu trông nom đấy”.
Ngay tối hôm ấy số thương binh nặng được chuyển về bệnh viện tuyến sau. Trước khi đi, Ngạn nắm chặt tay Lân, giọng anh nghẹn lại:
- Nếu sau này còn sống mà về ngoài đó thì nhớ vào Nga Sơn Thanh Hoá tìm mình nhé. Nhà mình ngay gần động Từ Thức, mình sẽ đưa cậu đi chơi. A, mà chân cẳng thế này thì cũng chẳng thể leo lên động với cậu được. Nhưng cứ vào nhé.


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 19 Tháng Ba, 2012, 01:19:19 pm
Lân đã hứa. Nhưng hơn hai chục năm sau, giáo sư Trương Đình Lân mới có dịp cùng một đoàn cán bộ khảo cứu đi điền dã vào vùng Nga Sơn, Thanh Hoá.
Ông đã đi tìm lại dấu vết xưa của cửa Thần Phù qua câu ca xưa
Lênh đênh qua cửa Thần Phù
Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm.
Cửa biển Thần Phù ngày nay là một vùng dân cư sầm uất. Bãi biển đã biến thành nương dâu. Cái cửa biển hung hiểm ngày xưa nay chỉ còn trong câu ca dao. Rồi ông vào thăm động Từ Thức và bỗng nhớ tới lời hẹn ước với Ngạn. Nhưng ông không làm sao mà nhớ được tên xóm, tên làng quê của tiểu đội trưởng Ngạn. Anh giận mình đã ghi chép không thiếu một thứ gì trong những cuốn sổ tay của mình, nhưng lại quên ghi lại địa chỉ của Nguyễn Ngọc Ngạn. Đã sắp hết thời gian công tác tại Nga Sơn, anh tưởng rằng đã hoàn toàn không còn hi vọng gì tìm ra người đồng đội năm xưa nữa. Ai ngờ, hôm sau khi ông hỏi thăm vu vơ cậu chánh văn phòng huyện ủy thì cậu ta ngạc nhiên hỏi lại:
- Người cựu chiến binh mà giáo sư muốn hỏi có phải là thương binh, cụt một bàn chân phải không ạ?
- Đúng đấy! - Ông mừng rỡ reo lên - ông ấy là lính trinh sát, có lẽ ra quân vào khoảng giữa năm hay cuối năm sáu tám gì đó thì phải. Vì ông ấy bị thương vào trận đánh đêm giao thừa Tết Mậu Thân mà.
Anh chánh văn phòng gật đầu:
- Thế thì đúng là... bố cháu rồi!
- Ôi... thế thì may quá. Tôi đang lo là không tìm được ông ấy. Ngày đó, chúng tôi có hẹn sau này sẽ đi tìm nhau. Nhưng tôi lại vô ý không ghi lại địa chỉ cụ thể. Vậy, cậu đưa mình về gặp bố cậu đi.
Anh chánh văn phòng buồn rầu nói:
- Nhưng... bố cháu đã mất từ lâu rồi ạ!
- Mất... rồi à? Từ bao giờ vậy cháu?
- Ngay từ năm sáu chín. Khi mẹ cháu vừa sinh cháu. - Anh con trai của Ngạn kể - bố cháu về ngay từ tháng tư năm sáu tám. Lấy mẹ cháu xong bố cháu lại tham gia công tác, làm xã đội trưởng dân quân. Hồi đó thanh niên trai tráng ở quê cháu đã ra trận hết, nên có được một người chỉ huy dân quân đã từng trải qua chiến tranh như bố cháu là quí lắm. Năm sau, khi đế quốc Mỹ ném bom trở lại miền Bắc thì quê cháu bị chúng đánh một trận khá nặng. Bố cháu hi sinh khi đang chỉ huy dân quân bắn máy bay địch!
Trong mọi điều bất ngờ của cuộc sống mà giáo sư Trương Đình Lân vẫn thường gặp thì đó chính là điều mà ông ít ngờ tới nhất. Một người đồng đội đã bị loại khỏi cuộc chiến đấu vì bị thương tật ở chiến trường ai ngờ lại trở thành người chỉ huy một cuộc chiến đấu khác ở hậu phương và rồi đã anh dũng hi sinh trong tư thế đối mặt với kẻ thù?
Ông đã dành một ngày để về thăm nhà Ngạn, nói chuyện với người vợ thuỷ chung của anh rồi cùng con trai anh tới nghĩa trang liệt sĩ để thực hiện cuộc hội ngộ đã hẹn hò từ hơn hai mươi năm trước. Đêm đó, ngay tại nhà khách của huyện ủy huyện Nga Sơn ông đã khởi thảo cuốn tiểu thuyết Phía sau hay phía trước. Cuốn sách đã mang lại cho ông Giải thưởng văn học Quốc gia, nhưng quan trọng hơn, chính nhờ cuốn sách được viết ra từ cuộc hội ngộ kì lạ này mà ông đã có thêm một người con - Nguyễn Ngọc Bình, con trai của Nguyễn Ngọc Ngạn, đã trở thành con rể quí của ông.
20
Sau này trong cuốn sách của mình, khi viết về trận đánh căn cứ Cam Lộ vào dịp Tết Mậu Thân, tướng Phạm Xuân Ban đã có cái nhìn khắt khe hơn hẳn so với những nhận định, đánh giá của nhiều nhà lí luận, nhà tổng kết quân sự khác khi họ cũng viết về trận đánh này. Họ cho rằng, ở vào thời điểm ấy việc tiêu diệt và làm chủ một căn cứ quân sự dã chiến kiêm chi khu quân sự có một tiểu đoàn Mỹ cùng chốt giữ với hơn một tiểu đoàn quân ngụy là chưa thể làm được, vì vậy việc ta chỉ dùng một tiểu đoàn làm lực lượng đột kích chính mà đã cơ bản đánh chiếm được căn cứ này, tiêu diệt hàng trăm tên Mỹ, hàng trăm tên ngụy, bắn cháy hàng chục xe tăng, tạo điều kiện để giải phóng hơn sáu ngàn dân khỏi ấp chiến lược là một thắng lợi đáng kể.
Xét về mặt mục tiêu chiến dịch thì trận tiến công này đã làm rung chuyển tuyến phòng thủ đường số 9 và ngăn chặn được ý đồ rút lính thuỷ đánh bộ Mỹ về chi viện cho thành Huế lúc đó đang bị quân ta tiến công và nổi dậy, làm chủ nhiều mục tiêu quan trọng ngay trong nội thành.
Tướng Phạm Xuân Ban thì lại cho rằng trận đánh này đã không được chuẩn bị một cách nghiêm túc và có sai lầm về sử dụng lực lượng và tổ chức chỉ huy.
Nếu tổ chức hiệp đồng tốt hơn, được chi viện hỏa lực hợp lý hơn, đồng thời có một lực lượng dự bị thích hợp được tung vào trận đúng thời điểm thì việc làm chủ hoàn toàn căn cứ địch là điều có thể làm được. Ông cũng mạnh dạn chỉ ra rằng, qua trận đánh này có thể thấy chiến thuật đánh địch trong công sự vững chắc theo lối đánh đồn Tây ngày xưa đã tỏ ra không hoàn toàn thích hợp với đối tượng tác chiến mới. Lối bố trí hỏa lực nhiều tầng và rất cơ động của quân đội Mỹ hoàn toàn khác với lối bố trí hỏa lực chủ yếu dựa vào các lô cốt, boong ke, ụ súng cố định của quân đội Pháp trước đây. Tuy vậy, tướng Phạm Xuân Ban cũng không đi xa tới mức phủ nhận những thắng lợi của trận đánh và sự đóng góp của nó với tư cách là một trận đánh phối hợp trong một chiến dịch có qui mô lớn như chiến dịch Mậu Thân trên chiến trường Đường 9 - Bắc Quảng Trị.
Nhưng đó là những ý tưởng mà sau này khi đã trải qua bao suy nghiệm và sự từng trải trận mạc, tướng Hùng Phong mới rút tỉa ra được để viết thành chữ nghĩa trong một bản luận văn quân sự. Chứ còn vào ngày đầu xuân năm ấy, sau khi đưa được đội hình mệt mỏi, xơ xác của trung đội về tới kiềng cơ bản, trung đội trưởng Hùng Phong chưa thể nghĩ được điều gì sâu xa mà chỉ thấy trong lòng mình xuất hiện một khoảng trống toang hoác, hỗn tạp, vừa hoang mang lo lắng, buồn phiền vừa le lói một niềm tự hào khi thấy chính mình, với tư cách là một người lính, đã vượt qua được một nấc thang thử thách khốc liệt của chiến trận.
Ngược lại, anh chẳng thấy có chút tự hào nào với tư cách là một người chỉ huy. Khi vào trận, anh mới thấy rõ rằng vai trò của mỗi người lính quan trọng tới mức nào. Mỗi người đều biết họ phải làm gì và họ hành động theo sự mách bảo của bản năng. Giữa nơi khói lửa mịt mù, súng đạn rền trời ấy, những tiếng hò hét, những động tác chỉ trỏ của anh có lẽ chẳng tác động đến họ bao nhiêu. Thảo nào, ông Báo nói rằng khi đã vào trận vai trò chủ yếu của người chỉ huy phân đội là làm gương. Nếu bản thân anh không phải là một người lính dũng cảm thì vai trò chỉ huy của anh chẳng có mấy ý nghĩa.
Ngược lại, anh lại thấy dường như mình có trách nhiệm rất nặng nề trước những sự hi sinh của đồng đội. Nhìn đội ngũ của mình vơi đi đến một nửa, lòng anh vô cùng xót xa. Sáng sớm ngày mồng một Tết, đón đơn vị ở dọc đường để đưa cơm, cậu Cung đã khóc ròng khi thấy gần một nửa số nắm cơm của đại đội không có người nhận. Anh cũng không sao nuốt được một miếng cơm dù bụng đói cồn cào. Chính trị viên Lương Xuân Báo nói rằng chúng ta đã thắng lớn, địch kêu trời như bộng rằng đã mất hơn hai trăm tên cả Mỹ lẫn ngụy nhưng hình như không ai cảm thấy mừng khi nhìn sang phải, sang trái đều thấy thiếu đi một vài đồng đội thân yêu. Nếu chiến thắng chỉ là phép so sánh giản đơn giữa số sinh mạng mà hai bên phải trả thì thật nhảm nhí tầm thường. Hùng Phong có cảm giác rằng, hình như chiến thắng phải là cái gì đó khác hơn kia?
Nhưng anh cũng đã hiểu rằng muốn có chiến thắng mà không phải trả giá máu xương thì lại càng phi lí hơn.
Mặc dù cấp trên khẳng định rằng đơn vị đã hoàn thành nhiệm vụ và trận đánh đã thắng lợi nhưng vẫn không xua tan được không khí tang tóc trong đơn vị.
Hình như hiểu rõ tình hình của tiểu đoàn 7 nên chính ủy Lê Nông phải kéo theo cả mấy trợ lí của trung đoàn xuống nằm lì tại tiểu đoàn để làm công tác tư tưởng và ổn định bộ máy tổ chức chỉ huy của đơn vị. Đảng ủy tiểu đoàn họp mở rộng trọn một ngày để rút kinh nghiệm về trận đánh. Rồi sau đó các đại đội cũng họp hội nghị bình công. Xét khen thưởng. Tổ chức kết nạp những đồng chí xứng đáng vào đảng, đề bạt cán bộ thay thế những đồng chí bị thương nặng hoặc hi sinh.
Cấp tiểu đoàn thì tiểu đoàn phó Phạm Quang Vinh được đề bạt lên thay tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh, chính trị viên đại đội 9 Lương Xuân Báo được đề bạt chính trị viên tiểu đoàn thay cho chính trị viên Lê Văn Sớm. Đại đội trưởng đại đội 9 Nguyễn Hồng Thanh lên làm tiểu đoàn phó còn đại đội phó Đồng Tiến Phi lên thay vai đại đội trưởng đại đội 9. Người được điều về đại đội 9 làm chính trị viên là một cán bộ rất trẻ vốn là trợ lí của ban chính trị trung đoàn. Chính trị viên Lương Xuân Báo đưa anh về đại đội 9, tập hợp cán bộ từ tiểu đội trở lên rồi giới thiệu như sau:
- Đây là trung uý Đào Trọng Phú, nguyên trợ lí tuyên huấn của ban chính trị trung đoàn. Đồng chí Phú rất có năng lực về công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho bộ đội. Nói được, viết được và...
Trung đội trưởng Tại liền đế vào một câu ngang phè:
- Nhưng có đánh được không ạ?
Chính trị viên tiểu đoàn Lương Xuân Báo nghiêm mặt.
- Khi tôi lên làm chính trị viên đại đội này cũng có biết đánh đấm gì đâu? Đồng chí Phú là cán bộ đảng, đồng chí hiểu chưa?
Không ai hỏi thêm gì nữa.
Riêng chức đại đội phó của đại đội 9 thì chưa thấy cấp trên đả động gì đến. Trong cuộc họp với ban chỉ huy mới của tiểu đoàn, đại đội trưởng Đồng Tiến Phi đề nghị cấp trên đề bạt Hùng Phong lên chức đại đội phó. Chính trị viên Lương Xuân Báo hỏi “Tại sao đồng chí lại cho rằng Hùng Phong đảm đương được cương vị này?”. Đại đội trưởng Phi trả lời “Tôi đã cùng chiến đấu với đồng chí Hùng Phong hai trận, cả hai trận đồng chí ấy đều lập công và tỏ ra có tư chất của một người chỉ huy”. Chính trị viên Báo gật gù “Tôi cũng nghĩ như thế, nhưng sợ rằng hơi non. Thôi được, để tôi tham khảo thêm ý kiến của ban cán bộ trung đoàn đã.
Mấy hôm nay, tôi thấy Hùng Phong có vẻ không được vui lắm”. Đại đội trưởng Đồng Tiến Phi thở dài nói “Tôi cũng vậy. Đại đội mất hơn hai chục người, vui sao được?”.
Chính trị viên Lương Xuân Báo nhíu mày, tỏ vẻ không hài lòng:
- Tôi e rằng chúng ta không có nhiều thời gian để mà nói đến chuyện vui hay buồn đâu? Các cậu không nghe tin khắp miền Nam quân và dân ta đang tiến công và nổi dậy à. Nhiều đơn vị quân giải phóng còn đang đánh nhau trên đường phố Sài Gòn và trong thành nội Huế kia kìa. Chúng ta mới đánh được một trận, tuy có thương vong chút ít thì cũng đã ăn thua gì?
Các cậu phải rũ ngay bộ mặt nhàu nhĩ ấy đi cho tôi nhờ.
Đại đội trưởng Đồng Tiến Phi đã nói thật về tâm trạng của cán bộ chiến sĩ đại đội 9. Khó mà chấp nhận ngay được sự vắng mặt nhiều đến thế của đồng đội sau một trận đánh. Ngoài số người hi sinh đại đội còn vắng khá nhiều anh em bị thương nặng phải đi viện. Một số khác cũng bị thương nhưng nhẹ hơn đã không chịu đi nằm quân y viện. Nguyễn Đình Hướng cũng không chịu đi viện mặc dù máu vẫn chảy ra từ trong tai và hoàn toàn không nghe được gì. Anh quân y sĩ tiểu đoàn xuống khám cho thuốc uống và bảo rằng, nếu may ra thì cậu ta chỉ bị hỏng màng nhĩ tai phải, tai trái không bị chảy máu nhiều, nhưng cũng phải một vài ngày nữa thì mới biết được. Đã không nghe được nhưng Hưởng lại hay nói, hay hỏi. Hỏi nhiều nhất là về anh em bạn bè đồng hương, đồng học ai hi sinh, ai bị thương. Có lúc Hùng Phong bực mình gắt toáng lên:
- Tao không phải là trưởng ban quân lực!
Dĩ nhiên Hướng không nghe thấy gì nên lại bảo - Tớ hỏi đến ai, nếu còn thì cậu gật, chết thì cậu lắc.
Bị thương thì cậu giơ tay phải lên, mất tích thì giơ tay trái lên. Được chứ? Hùng Phong không biết làm thế nào đành phải chấp nhận làm quen với hệ thống tín hiệu ấy của Hướng để cung cấp thông tin cho cậu ta. Nhưng cái hệ thống kí hiệu đơn giản ấy mà nhiều khi anh cũng bị lẫn lộn, người chết thì thành người sống, người bị thương thì thành người mất tích... khiến Hướng ngớ ra rồi đỏ bừng mặt quát:
- Ông toàn nói láo. Tôi vừa gặp thằng Vững lên kho tiểu đoàn lấy mắm kem. Nó bảo thằng Lân chỉ bị thương nhẹ. Mất tích đâu mà mất tích! Ông mong thằng Lân nó biến mất để sau này dễ bề chinh phục con Thanh chứ gì? Còn lâu nhé!
Nói rồi hắn đùng đùng bỏ đi. Hùng Phong đành lắc đầu, nói với mấy anh em trong trung đội “Thằng này mà hỏng hai cái tai thì sớm muộn cũng phát điên lên thôi!”. Trung đội phó Khang, cũng bị thương nhẹ ở bàn tay phải nhưng không đi viện, liền bảo “Có khi phải đề nghị đại đội ép cậu ấy đi viện đi, điếc lòi ra như thế thì còn đánh đấm gì được nữa?”. Hùng Phong cho là phải, nhưng lại nói rằng bây giờ chưa phải lúc.


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 19 Tháng Ba, 2012, 01:20:03 pm
Chiều hôm đó Nguyễn Danh Côn và Do Cô-li-nốp xuống đại đội 9 chơi. Vừa gặp Hùng Phong, Côn đã hỏi ngay:
- Thằng Hướng thế nào? - Nó bị điếc rồi. Không khéo hỏng cả hai cái tai. Nhưng thằng này ngoan cố lắm, nhất định không chịu đi viện.
Rồi Hùng Phong kể cho Côn và Do nghe về những hành động dũng cảm của Hướng trong trận đánh vừa qua. Nghe xong, Do cười, bảo:
- Đúng như anh Lân nói, thằng này rồi đến chết vì khẩu B41 thôi.
Hùng Phong gật đầu: - Thế thật đấy. Cũng y như cậu với khẩu Cô-li-nốp thôi. Nghe bọn đại đội 8 nói, cậu đánh cũng hăng lắm. Được đề nghị thưởng huân chương phải không?
- Thì... vẫn chưa bằng các cậu. - Do khiêm tốn nói - tiếc rằng trận này tớ không được đi phối thuộc với đại đội cậu. Nếu được theo các cậu, có khi tớ còn khá hơn.
- Hoặc là đã về chầu ông vải hết lượt như khẩu đội thằng Dân rồi cũng nên. - Hùng Phong sỗ sàng nhận xét - mấy thằng ấy lớ ngớ không thể chịu được. Lên đến tận cửa mở rồi mà vẫn cứ giá súng nghênh ngang rồi hô hoán bài bản như đang diễn tập ấy. Nó choang cho một quả cối 61, thế là tiêu đời hết!
- Trận đầu mà - Do thanh minh - lúc đầu bọn mình cũng loay hoay mãi để tìm chỗ giá súng. Ông Bình ông ấy điên tiết chửi váng lên - tiên sư mấy thằng đại liên nhé! Không bắn được thì xéo đi kẻo lính của tao vướng cẳng! Mình tức lộn ruột, mới giật lấy khẩu súng, đá văng bộ chân cẳng lằng nhằng sang một bên rồi hét thằng xạ thủ phụ “ôm lấy thùng đạn, theo tôi!”. Thế là mình cứ cắp ngang thân súng mà quạt. Khi đánh vào bên trong vừa hết đạn thì vớ được một khẩu đại liên Mỹ, loại nòng loe có hai cái cẳng ấy, thế là mình chơi luôn. Phải nói, súng của bọn nó hay thật. Gọn nhẹ, cứ như một thứ đồ chơi ấy!
Vừa lúc đó thì Hướng xồng xộc chạy tới. Nhìn thấy Côn và Do, Hướng reo toáng lên:
- Ôi... chào hai ông. Còn sống kia à?
Côn chỉ vào tai Hướng hỏi:
- Tai cậu thế nào? Hướng cười lắc đầu:
- Từ nay, ai nói gì tớ cũng bỏ ngoài tai hết. - Rồi chỉ Hùng Phong - nhất là thằng này. Cậy quyền cậy chức, hay quát nạt anh em lắm. Sắp lên đại đội phó rồi đấy!
Côn chìa tay cho Hùng Phong.
- Xin chúc mừng!
- Mừng gì? Thằng này đã điếc lòi ra lại còn hay hóng hớt. - Chợt Hùng Phong nhớ ra, quay sang Côn hỏi - có cậu nào biết tình hình thằng Lân ra sao không?
- Hắn bị nhẹ thôi, toàn vết thương phần mềm cả. Chỉ nay mai là ra viện thôi!
Côn trả lời rồi hỏi lại Hùng Phong:
- Làm sao mà pháo của bọn nó nện trúng hầm chỉ huy tiểu đoàn ngay từ đầu trận được nhỉ? Các vị chỉ huy trên trung đoàn và sư đoàn rất buồn về chuyện này. Khi nghe tin ông Mạnh hi sinh, trung đoàn trưởng Trần Đông Hải cũng xỉu luôn. May sao lúc đó còn có tham mưu trưởng trung đoàn ở đó, nếu không thì loạn cờ hết!
Hùng Phong thở dài kể:
- Nghe nói các cụ nhà mình dùng pháo hiệu để làm hiệu lệnh hiệp đồng. Vì thế, thằng địch phát hiện ra mục tiêu và tương vào đó luôn chứ sao? Ông Lân nhà mình cũng đang tháp tùng thủ trưởng ở đó, nên cũng được hưởng xái luôn!
Côn lắc đầu:
- Không ổn... chơi nhau với thằng Mỹ đâu có phải chuyện đùa!
- Đúng vậy. Hùng Phong chợt hiểu vì sao chính ủy trung đoàn lại nói chúng ta đã phải trả giá đắt để hiểu rằng, đối đầu với quân đội Mỹ trên chiến trường nếu chỉ có lòng dũng cảm thôi là chưa đủ!
21.
Đúng như lời chính trị viên Lương Xuân Báo đã nói, họ không có thời gian để mà nhìn ngắm, nhấm nháp dư vị của chiến công hay những nỗi đau mất mát. Tiểu đoàn vừa ổn định lại bộ máy tổ chức chỉ huy được vài ngày thì lại có lệnh khẩn trương chuẩn bị lên đường chiến đấu. Chiến trường phía trong đang rất sôi động.
Bộ chỉ huy quân đội Mỹ ở Việt Nam đang tính đến chuyện rút một vài đơn vị Mỹ từ chiến trường Quảng Trị về Huế và Đà Nẵng để đối phó với cuộc tiến công và nổi dậy của quân dân ta. Bộ tư lệnh mặt trận đường 9 - Bắc Quảng Trị được lệnh tổ chức những trận đánh lớn, vừa tiêu diệt sinh lực địch vừa cầm chân những đơn vị lính thuỷ đánh bộ Mỹ, không cho chúng rút về tăng cường cho các chiến trường phía trong. Đồng thời, phải tìm cách kéo thêm những lực lượng cơ động mạnh của quân Mỹ và quân ngụy ra chiến trường này để giam chân chúng lại mà tiêu hao, tiêu diệt. Đây là một ý tưởng chiến lược sâu sắc, chiến trường Đường 9 - Bắc Quảng Trị sẽ là nơi diễn ra cuộc đối đầu quan trọng nhất giữa chủ lực ta và quân đội viễn chinh Mỹ. Kéo được địch ra chiến trường mà ta có nhiều lợi thế, đã chuẩn bị sẵn, có nhiều điều kiện thuận lợi cho ta về hậu cần, về cơ động và bố trí lực lượng đã là một thắng lợi rồi.
sau trận ta thắng lớn ở Làng Vây, hình như bộ chỉ huy quân đội Mỹ ở Việt Nam cũng đã ngửi thấy sức mạnh của chủ lực Bắc Việt, khi lần đầu tiên quân Mỹ trên chiến trường đối mặt với xe tăng Việt Cộng. Cũng có thể, tướng Oét-mo-len cho rằng đây chính là cơ hội để thực hiện chiến lược “tìm diệt” mà ông ta đã khổ công theo đuổi bấy lâu nay. Vì thế, rất có thể hắn cũng sẵn sàng chấp nhận cuộc đối đầu này. Để làm mồi nhử Oét-mo-len, sau trận Làng Vây, quân ta đã tìm cách vây chặt lực lượng còn lại của địch ở Tà Cơn - Khe Sanh. Trong thế trận ấy, sư đoàn Hồng Bàng lại được lệnh tăng cường đánh địch ở hướng đông, liên tục tiến công địch trên đường 9, để căng kéo binh hỏa lực địch, tạo điều kiện cho bộ đội ta vây ép địch ở thung lũng Tà Cơn - Khe Sanh. Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị có nhiệm vụ thu hút, kéo thêm những lực lượng tinh nhuệ của địch ra, cầm chân địch lại để tiêu diệt, tạo điều kiện các chiến trường phía trong tiến công, nổi dậy. Trong khi ấy sư đoàn Hồng Bàng thì lại có nhiệm vụ thu hút binh hỏa lực địch trên chiến trường về phía mình để cho hướng chính họ làm ăn, đồng thời buộc địch phải tăng quân ra Quảng Trị.
Khi xuống giao nhiệm vụ cho trung đoàn 4, sư đoàn trưởng Phạm Sùng đã nói vui với trung đoàn trưởng Trần Đông Hải và chính ủy Lê Nông:
- Nếu ví chiến trường Bắc Quảng Trị như một khối Nam châm lớn để thu hút địch thì tới đây sư đoàn chúng ta chính là cái lõi của khối nam châm ấy và trung đoàn của cậu sẽ phải là lõi của cái lõi nam châm ấy đấy!
Trung đoàn trưởng Trần Đông Hải xoa tay cười:
- Nghĩa là, nếu bọn lính thuỷ đánh bộ Mỹ nó càng bu tới nhiều quây đánh chúng tôi, B52 chúng nó trút càng nhiều bom lên đầu chúng tôi thì chứng tỏ rằng chúng tôi đã làm tốt nhiệm vụ, phải không ạ?
- Rất đúng! - Sư đoàn trưởng Phạm Sùng nói - nhưng này, để cho bọn thuỷ quân lục chiến nó mê mẩn mà chạy theo các cậu không phải là chuyện dễ đâu nhé!
Trung đoàn trưởng Trần Đông Hải hăng hái nói:
- Chúng tôi sẽ làm được. Nhất định chúng tôi sẽ thọc cho bộ chỉ huy thiến trường của quân đội Mỹ phải tức điên lên!
Thấy cấp dưới hăng hái như vậy, sư đoàn trưởng rất hài lòng, nhưng ông là một nhà quân sự có đầu óc thực tế nên ông không lạc quan đến vậy.
- Tốt lắm - sư đoàn trưởng Phạm Sùng gật đầu khen - về mặt tinh thần như thế là được. Nhưng muốn hoàn thành nhiệm vụ căng kéo địch về phía Đông để trên hướng Tây bộ đội ta rảnh rang vây hãm Khe Sanh - Tà Cơn thì cả sư đoàn chúng ta đều phải nỗ lực. Thậm chí, phải có sự phối hợp của toàn bộ lực lượng quân dân ta trên chiến trường thì mới hoàn thành được nhiệm vụ này.
Sư đoàn trưởng mở bản đồ ra, chỉ vào một dãy cao điểm rồi nói:
- Đây... các cậu sẽ lấy dãy cao điểm này làm điểm tựa để thực hiện nhiệm vụ trong giai đoạn tiếp theo của chiến dịch.
Trung đoàn trưởng Trần Đông Hải nhìn lên bản đồ và nhận ngay ra đó là một khu vực hiểm yếu án ngữ Bắc đường 9 có tên gọi là Động Mã gồm một dãy các cao điểm 288, 322, 166, 554... Nếu đứng chân ở khu vực này, trung đoàn anh có thể tiến ra đánh địch trên đường 9 hay đường 76 bất kì lúc nào. Đồng thời cũng có thể sẵn sàng đánh địch đổ bộ đường không ra khu vực phía sau đội hình sư đoàn, giống như hôm trước Tết chúng đã đổ quân ra thăm dò ở khu vực Cù Đinh - Ba Re.
Sư đoàn trưởng Phạm Sùng chỉ lên bản đồ, giải thích thêm:
- Để thực hiện mệnh lệnh của bộ tư lệnh mặt trận, sư đoàn đã quyết định đưa toàn bộ đội hình vào chiến đấu trên một vùng địa bàn không rộng lắm từ Tân Lâm - Ca Lu đến vùng giáp ranh đồng bằng Gio - Cam. Bộ tư lệnh mặt trận đường 9 - Bắc Quảng Trị gọi khu chiến này của chúng ta là “khu giữa”. Khu Đông gồm một phần địa bàn huyện Gio Linh, khu vực thị trấn Đông Hà cho tới các xã phía đông đường số 1 kéo dài tới cảng Cửa Việt sẽ do những lực lượng trực thuộc bộ tư lệnh mặt trận và các đơn vị bộ đội địa phương cùng một vài phân đội đặc công đảm nhiệm. Hai khu vực tác chiến này phải hỗ trợ cho nhau để căng kéo lực lượng địch ra càng nhiều càng tốt, tạo điều kiện tổ chức những trận vận động chiến tiêu hao và tiêu diệt sinh lực dịch, cắt đứt giao thông trên đường số 9 và trên sông đoạn từ Cửa Việt tới thị trấn Đông Hà, tạo thế trận phối hợp với hướng Tây vây ép tiêu diệt một phần lớn sinh lực địch ở Khe Sanh - Tà Cơn. Tuy xác định khu Tây là hướng tác chiến chủ yếu của mặt trận, nhưng chúng ta vẫn phải sẵn sàng chuẩn bị cho khả năng địch đột ngột đưa một lực lượng quân lớn ra Đông Hà hoặc đổ quân ra vùng giáp giới tuyến, uy hiếp trực tiếp hậu phương của ta. Khi ấy, khu giữa rất có thể trở thành hướng tác chiến chủ yếu. Vì vậy, giữ vững khu bàn đạp này là nhiệm vụ hết sức quan trọng để sư đoàn có thể chủ động triển khai đội hình tiến công trong cả hai khả năng. Các anh hiểu cả chứ?

Trung đoàn trưởng Trần Đông Hải vẫn dán mắt vào dãy cao điểm trên bản đồ, trả lời bằng một câu hỏi:
- Báo cáo tư lệnh, tôi hiểu thế này liệu có đúng không? Trung đoàn bốn được lệnh xây dựng một chốt chiến dịch ở khu vực Động Mã để vừa ngăn chặn quân địch xâm nhập sâu ra vùng giáp giới tuyến, vừa làm điểm tựa để sẵn sàng đánh địch cơ động trên đường số 9 và đường 76 đoạn từ Cam Lộ đến Tân Lâm - Cà Lu, thậm chí có thể phát triển xuống tới gần thị xã Đông Hà. Xây dựng chốt chiến dịch là một hình thức chiến thuật vừa phòng ngự vừa tấn công, vừa bảo vệ vững chắc hành lang của ta, vừa sẵn sàng kéo địch ra mà đánh. Đúng như vậy chứ ạ?
- Tốt lắm! Các anh đã hiểu rất rõ nhiệm vụ rồi đấy.
Sư đoàn trưởng Phạm Sùng gật đầu - như vậy thì tôi yên tâm rồi. Các anh có thể tuỳ tình hình mà triển khai đội hình, nhưng càng sớm càng tốt. Tiện thể, tôi nói thêm, sư đoàn cũng sẽ bố trí một sở chỉ huy nhẹ và một đài quan sát trên Động Mã. Có gì, các anh giúp đỡ nhé!
Trung đoàn trưởng Hải mỉm cười, nghĩ thầm, sao hôm nay cụ lại khách khí thế nhỉ? Hình như từ sau trận Cam Lộ, sư đoàn trưởng có vẻ nương nhẹ hơn với cấp dưới. Trước đây, hơi một tí là cụ quát tướng lên, một lệnh, hai lệnh lên chứ đâu có nhỏ nhẹ, lịch sự như thế?
Nhưng ông chưa kịp ngấm những lời ngọt ngào ấy thì sư đoàn trưởng đã cao giọng:
- Này... các anh phải đặc biệt chú ý nhắc nhở bộ đội về việc giữ gìn kỷ luật chiến trường đấy. Quân của các anh đi đến đâu là cứ ầm ầm như một bầy voi rừng ấy.

Còn nữa, các anh phải trực tiếp kiểm tra việc xây dựng hệ thống hầm hào, công sự chiến đấu. Hầm tránh bom phải thật vững chắc, khi phát hiện ra các anh xây dựng trận địa ở dãy cao điểm này bọn Mỹ sẽ không tiếc gì bom đạn đâu. Nếu chưa đánh chác gì mà đã để bộ đội thương vong là các anh chết với tôi đấy!
Lời cảnh cáo ấy không phải là thừa nếu nhìn vào quân số thương vong của sư đoàn trong thời gian qua, trong đó số thương vong do phi pháo chiếm hơn sáu chục phần trăm. Ngày càng nhiều những vụ bộ đội ta để lộ nơi đóng quân, bị máy bay trinh sát địch phát hiện được rồi sau đó là những trận oanh kích dữ dội bằng pháo binh tầm xa và máy bay ném bom toạ độ.
Đến nỗi các đơn vị bạn trên chiến trường đường 9 thường truyền miệng câu “Thám báo không kinh bằng Sông Dinh lộn xộn”. Các đơn vị mang mật danh Sông Dinh đi đến đâu là các đơn vị bạn phát khiếp, sợ vạ lây vì lính Sông Dinh rất chủ quan, khinh địch, ý thức kỷ luật chiến trường còn rất kém. Nghe nói, hôm qua, trên đường xuống trung đoàn 4, sư đoàn trưởng Phạm Sùng đã kỷ luật cách chức tại chỗ một đại đội trưởng của trung đoàn 5 vì để bộ đội kéo nhau xuống suối tắm, phơi quần áo la liệt dọc bờ suối.

Sư đoàn trưởng đi rồi, trung đoàn trưởng Trần Đông Hải mới quay lại nói với trung đoàn phó kiêm tham mưu trưởng Nguyễn Mạnh Cường và chính ủy Lê Nông:
- Chúng ta sẽ triển khai hai tiểu đoàn chốt trên những cao điểm quan trọng của khu vực Động Mã. Còn một tiểu đoàn, bố trí lùi về phía sau một chút làm đơn vị cơ động. Đơn vị này phải đủ mạnh để lúc nào cũng có thể cơ động đánh địch ở cả phía trước lẫn phía sau. Theo các anh, ta chọn tiểu đoàn nào đây?
Chính ủy suy nghĩ một lát rồi nói:
- Tính đi tính lại thì vẫn nên để tiểu đoàn 4 làm nhiệm vụ này thì hơn!
Trung đoàn trưởng quay sang hỏi tham mưu trưởng:
- Anh Cường thấy thế nào? Sau trận vừa rồi, tiểu đoàn bốn có nao núng lắm không?
- Theo tôi thì không? - Tham mưu trưởng trả lời - đồng chí Vinh tuy còn trẻ nhưng tư duy chiến thuật khá sắc bén. Thêm cậu Thanh luôn chín chắn ở bên cạnh thì càng yên tâm. Lương Xuân Báo thì khỏi phải nói, anh ta luôn vững như đá ấy. Nhưng để bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ, chúng ta nên tăng cường thêm số quân mới được bổ sung cho tiểu đoàn bốn. Đội ngũ cán bộ cũng nên xốc lại một lần nữa.
Trung đoàn trưởng im lặng một lát rồi nói:
- Nếu vậy thì cứ như thế đi. - Rồi ông khẽ thở dài - anh Cường nên xuống đó ít ngày giúp tiểu đoàn triển khai nhiệm vụ mới này đi. Tôi chưa quen được với sự vắng mặt của anh Mạnh.


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 19 Tháng Ba, 2012, 01:20:42 pm
Tham mưu trưởng Cường vui vẻ chấp nhận gợi ý này, anh hiểu rất rõ tình bạn sâu sắc giữa trung đoàn trưởng Hải và tiểu đoàn trưởng Mạnh. Họ là bạn của nhau từ thời chống Pháp, trước khi vào chiến trường, hai ông đã kịp trở thành thông gia của nhau. Con trai ông Mạnh, một thiếu uý trẻ vừa tốt nghiệp trường sĩ quân lục quân đã đẹp duyên cùng ái nữ của trung đoàn trưởng cũng vừa tốt nghiệp trường trung cấp sư phạm Hà Nội. Ngày cưới con lại chính là ngày hai ông bố vừa kết thúc cuộc tập trận lớn ở Bưng. Trên chiếc xe com-măng-ca về Hà Nội để dự đám cưới con, hai ông già đã không ngừng cãi nhau về trận công kiên lớn vừa diễn ra. Tham mưu trưởng Cường còn nhớ lúc ấy, trung đoàn trưởng thường đuối lí mỗi khi gặp phải những vấn đề chiến thuật cụ thể. Ông Mạnh được thể nói át đi “Đấy, tôi đã bảo mà... cái thằng Tàu thì đời nào nó chịu dạy anh đến nơi đến chốn!”, ám chỉ việc trung đoàn trưởng đã từng có thời tham gia giải phóng quân Trung Quốc và được quân đội Trung Quốc đào tạo thành một người chỉ huy cấp phân đội.

Vào cái đêm diễn ra trận đánh quyết liệt ấy, khi Tham mưu trưởng Cường gọi điện thoại về sở chỉ huy Trung đoàn báo tin tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh đã hi sinh thì từ đầu dây bên kia, anh còn nghe trung đoàn trưởng quát um lên “Đừng có nói bậy! Cái lão trời đánh ấy chết thế nào được! Cậu kiểm tra lại đi? Không chừng lão ta lỡm mình đấy!”. Đến khi, anh nói lại rằng mình đang ở tại hầm của chỉ huy tiểu đoàn, tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh đã hi sinh, chính trị viên tiểu đoàn bị thương nặng vì một loạt pháo bắn trúng ngay vào khu chỉ huy thì ông lặng đi một lúc lâu rồi mới mệt mỏi ra lệnh “Cậu hãy thay tôi trực tiếp chỉ huy trận đánh, tôi không còn nghĩ ra được điều gì nữa!”.
Từ hôm đó đến nay, nếu có việc gì phải trực tiếp xuống tiểu đoàn bốn thì ông cũng thường tìm cách để nhanh chóng rời đi ngay. Tuy vậy, tham mưu trưởng Cường biết rằng, xây dựng tiểu đoàn bốn trở thành một tiểu đoàn đánh giỏi vẫn là tâm huyết lớn nhất của trung đoàn trưởng. Vì thế, anh hiểu rằng trách nhiệm mà ông vừa giao cho mình là rất nặng nề.
Chính trị viên Lương Xuân Báo còn đang loay hoay thu xếp lại đống giấy tờ để nhét vào cái túi mìn Clay-mo thì Hùng Phong tới.
- Báo cáo chính trị viên tiểu đoàn, tôi có mặt.
- Hùng Phong hả? Ngồi xuống đây đi. Mình đang dở tay một chút.
Hùng Phong nhìn cái xắc-cốt da Liên Xô rỗng không vứt lăn lóc bên cạnh rồi lại nhìn cái túi mìn Clay-mo căng phồng những giấy tờ - Thủ trưởng định bỏ cái xắc cốt này à?
- Cậu thích thì tớ cho đấy, dùng cái túi vải này tiện hơn.
Hùng Phong lắc đầu cười:
- Tôi dùng cái của nợ này làm gì?
- Đúng là của nợ. Đựng thì được ít mà khi hành quân cái dây da này nó cứa vào cổ thì khốn khổ. Thôi, để tớ cho cậu Vương quân nhu, chắc nó thích lắm. - Rồi anh đeo cái túi mìn lên vai, vỗ bồm bộp - thằng Lân nó cho tớ cái túi này đấy. Trông được chứ hả?
- Lân đã về rồi ạ? - Hùng Phong ngạc nhiên hỏi.
- Vừa về lúc trưa, vết thương vừa liền là nó xin về ngay. May quá, tiểu đội trinh sát đang thiếu người chỉ huy mà đơn vị thì sắp đi làm nhiệm vụ rồi.

Chính trị viên Báo kéo Hùng Phong ngồi xuống trước cửa hầm rồi hỏi:
- Tinh thần của anh em trong đại đội đã ổn định chưa?
- Dạ ổn rồi ạ. Vừa rồi, cấp trên bổ sung cho ba chục tân binh, không khí đơn vị cũng đỡ xào xạc hơn.
- Phải chú ý đến số anh em mới này - chính trị viên nói - đại đội mình dù sao cũng đang là đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua giết giặc lập công, công tác tư tưởng phải làm cho tốt, đừng để anh em mới họ nhụt chí. Muốn vậy, anh em cũ phải thật lạc quan, gương mẫu.
- Vâng ạ!
- Cậu Tất hồi này thế nào? - Cũng ổn rồi ạ. Chính trị viên thông cảm, cậu ấy tận mắt chứng kiến cảnh anh em mình bị chết cháy vì bom napan... nên có hơi bị sốc. Nhưng trận vừa rồi cậu ấy đánh đấm cũng được.
- Cậu Hướng thì sao, cái tai có hi vọng gì không?
- Vẫn chưa nghe được, tôi khuyên mãi nhưng cậu ấy không chịu đi viện. Hay chính trị viên cho cậu ấy về tuyến sau đi.
Chính trị viên Báo chép miệng:
- Kể cũng tiếc thật. Cậu này đánh hăng, gan lì, tính tình lại thẳng thắn, cương trực. Có thể xếp vào nguồn cán bộ được. Thôi, hãy cứ để cậu ấy ở lại đơn vị xem thế nào đã. Nhưng lần này, cho cậu ấy ở lại trông hậu cứ. Mà này, chi bộ ở dưới đó có dự tính kết nạp đảng cho cậu ấy đợt này không đấy?
- Hình như có đấy ạ. Nhưng anh nuôi Cung, người được phân công giúp đỡ cậu ấy thì báo cáo với chi bộ rằng chưa nói cho cậu ta nghe được một câu nào về chính cương điều lệ của đảng cả. Đưa quyển điều lệ đảng cho cậu ấy đọc nhưng đến hôm sau hỏi thì cậu ấy nói là bỏ rơi đâu mất rồi ấy!
Chính trị viên Báo nhăn mặt:
- Cái thằng... vẫn chứng nào tật ấy!
Hùng Phong tỏ ý sốt ruột, anh không biết có chuyện gì mà chính trị viên tiểu đoàn triệu mình lên, chẳng lẽ chỉ để nói dăm ba câu chuyện phiếm về sự phấn đấu vào đảng của cậu Hướng? Dường như đoán được tâm trạng của Hùng Phong, chính trị viên Lương Xuân Báo liền vỗ vai anh:
- Mình đi ngay vào chuyện chính đây. Sau một thời gian cân nhắc, đảng ủy tiểu đoàn đã nhất trí đề nghị lên cấp trên bổ nhiệm cậu làm đại đội phó đại đội 9, cậu thấy thế nào?
Hùng Phong bỗng trở nên bối rối:
- Tôi... tôi... có lẽ... còn non nớt lắm thủ trưởng ạ!
- Non với già gì? Mình cho rằng cậu đảm đương được cương vị này. Mình không nhìn lầm người đâu.
Hùng Phong ngước nhìn chính trị viên với ánh mắt biết ơn. Từ ngày vào đơn vị tới giờ, anh luôn được chính trị viên Báo chăm nom, rèn cặp. Ông chú ý tới anh từng ngày, không hề che dấu những thiện cảm đặc biệt với anh nhưng luôn đòi hỏi ở anh sự phấn đấu không ngừng. Ông không cho phép anh thỏa mãn dừng lại mà luôn đòi hỏi anh phải là người đi đầu trong mọi phong trào. Có lúc chính anh cũng cảm thấy mệt mỏi vì luôn cảm thấy có ánh mắt ông nhìn săm soi phía sau gáy mình và tiếng ông luôn thì thầm bên tai “Nào, đồng chí Hùng Phong, tiến lên đi chứ. Đồng chí là người có tư chất đặc biệt. Đồng chí luôn phải là người đi đầu, không được phép mệt mỏi, dừng lại”.
Dần dần chính anh cũng quen dần với vị trí đi đầu của mình, anh luôn phải gồng mình lên để không tụt lại phía sau bất kì ai. Cho đến lúc này anh vẫn làm được điều đó và cũng cảm thấy hình như mình đúng là một người “có tư chất đặc biệt” và có một thiên chức nào đó rất thiêng liêng mà anh chưa hiểu rõ, nhưng luôn cảm nhận được.
- Mình muốn các cậu phải xây đựng đại đội 9 thành một đại đội Anh hùng - chính trị viên nói thì thầm nhưng ánh mắt anh thì sáng quắc lên - và cậu phải là cái đầu tàu của một đơn vị như thế. Đã có tiểu đội Hùng Phong luôn xuất sắc trong huấn luyện, có trung đội Hùng Phong lẫy lừng trong chiến đấu thì cũng phải có một đại đội Hùng Phong trở thành một đơn vị Anh hùng!
Hùng Phong nhìn chính trị viên cười, cải chính:
- Nhưng... anh Đồng Tiến Phi mới là đầu tàu của đại đội chứ ạ. Anh ấy đang là đại đội trưởng!
- Đồng Tiến Phi là đại đội trưởng... nhưng cậu ấy không phải là đại diện cho những thế hệ thanh niên học sinh xã hội chủ nghĩa như cậu. Đồng Tiến Phi, Nguyễn Hồng Thanh và cả anh Cường tham mưu trưởng trung đoàn bây giờ đều xuất thân từ những trường thiếu sinh quân từ thời đánh Pháp. Cũng là được học hành tử tế, nhưng không giống như các cậu. Thế hệ các cậu mới thực sự là những hạt giống xã hội chủ nghĩa thuần chủng... các cậu sẽ khiến cho bọn Mỹ phải kinh hoàng mỗi khi nhớ đến cuộc chiến tranh Việt Nam!
Hùng Phong cam thấy hơi hoảng hốt trước những lời như mê sảng của chính trị viên tiểu đoàn. Ông ta thường có những lúc xuất thần như vậy, nói những điều to tát một cách say mê, chân thành đến lạ lùng.
- Cậu biết không? Mình chỉ mới được học đến hết lớp ba, vào bộ đội, được học bổ túc hết lớp năm rồi không hiểu vì lí do gì mà được cử đi học sĩ quan chính trị để trở thành một chính trị viên. Người ta bảo, mình có lí lịch cực tốt vì cả ông mình lẫn bố mình đều là liệt sĩ chống Pháp. Hồi học ở trường sĩ quan chính trị, mình đến khổ sở vì cảm thấy mình dốt nát, thiếu kiến thức một cách khủng khiếp. Có lần, lớp học viên sĩ quan chúng mình tới dự một buổi diễn đàn giao lưu với học sinh của trường cấp 3 của một thị xã. Chủ đề là mơ ước của tuổi trẻ về một xã hội xã hội chủ nghĩa trong tương lai. Nghe họ nói mà mình phát ghen lên về những hiểu biết sâu rộng của họ trong những lĩnh vực văn hoá, xã hội, và khoa học... mình nhủ thầm, quân đội ta mai sau phải có những cán bộ chính trị có kiến thức quảng bác sâu rộng như vậy, chứ không phải như bọn mình. Vì thế, khi nhận các cậu về đơn vị mình rất mừng. Mình nghĩ rằng, đây rồi, cuối cùng thì quân đội ta cũng có những người lính ra trò, và họ sẽ phải trở thành những cán bộ giỏi trong tương lai không xa. Vào chiến trường, thử thách một vài trận là thấy rõ cả.
Mình... mình rất mừng vì số học sinh cấp ba các cậu đều vững vàng. Tiếc rằng, đã rơi rụng mất một vài người rồi...
Hùng Phong ngạc nhiên nhìn chính trị viên. Lần đầu tiên anh được nghe những điều tâm sự có vẻ hơi lạ lùng ấy của chính trị viên. Trong những tháng luyện tập trên thao trường, cánh “học trò” thường bị ông ta rầy la nhiều nhất, thậm chí có lần ông ta còn mắng nhiếc các anh là “công tử bột” là “học trò dài lưng tốn vải” thậm chí nặng hơn “rơi rớt tư tưởng tiểu tư sản”...
Trong luyện tập, rèn luyện, ông ta thường tỏ ra rất khắt khe với “đám học trò”... đã có lần Nguyễn Danh Côn đã bảo rằng “Ông này có vẻ như rất thành kiến với những người có học”. Thì ra, không phải là như vậy. Ông ta yêu quí họ theo cách riêng của mình.
- Hùng Phong... cậu đừng ngạc nhiên khi thấy mình mới nhập ngũ chưa đầy một năm trời mà đã trở thành cán bộ đại đội. Đó là một tốc độ chóng mặt thật, nhưng có lẽ đó là tốc độ của cuộc chiến đấu này. Nếu chúng ta không thích nghi được với tốc độ đó thì chúng ta không thể chiến thắng được kẻ thù đâu.
Chính trị viên càng nói càng say sưa và, như mọi lần Hùng Phong thấy mình bị thuyết phục một cách dễ dàng.
- Vâng... tôi sẽ cố gắng để xứng đáng với sự tin cậy của chính trị viên!
- Không phải để xứng đáng với tôi - chính trị viên Báo vội ngắt lời - mà để xứng đáng với nhân dân, với đảng với những đồng đội đã hi sinh và với thế hệ của của các cậu ấy!
Hùng Phong bỗng phì cười:
- Thủ trưởng hơn tôi bao nhiêu tuổi mà cứ làm như đã thuộc về một thế hệ khác vậy?
Chính trị viên Lương Xuân Báo cười rất hồn nhiên:
- Thì đúng thế! Năm nay cậu mười chín tuổi chứ gì? Mình hai mươi tám tuổi, hơn cậu chín tuổi. Nhưng cậu có biết cuộc kháng chiến chống Pháp của các cụ nhà ta kéo dài bao nhiêu năm không. Chín năm kháng chiến trường kì. Khoảng thời gian ấy đủ để làm cả một cuộc thay trời chuyển đất đấy cậu ạ.
Thấy chính trị viên có vẻ đang vui Hùng Phong bỗng buột miệng hỏi một câu mà lập tức anh thấy mình đã mắc lỗi việt vị:
- Vậy... sao đến giờ thủ trưởng vẫn chưa chịu lập gia đình ạ?
- Hỏi vớ vẩn! - Chính trị viên Báo lập tức xa xầm mặt - thôi, về đơn vị đi. Ngày mai tiểu đoàn sẽ xuống trao quyết định đề bạt cho cậu và giao nhiệm vụ cụ thể cho ban chỉ huy đại đội.
Hùng Phong đã định quay đi thì chính trị viên gọi giật trở lại:
- Mà này, cậu nói với thằng Hướng rằng nếu không nghiêm túc phấn đấu vào đảng thì sẽ bị loại khỏi đơn vị đấy! Dọa cho nó sợ. Nhưng các cậu phải thật nhiệt tình giúp đỡ nó, nghe chưa? Nếu chẳng may tai nó không khỏi, phải về hậu phương thì cũng phải trở về với tư cách của một người đảng viên. Nó xứng đáng được như thế đấy!
Hùng Phong gật đầu:
- Vâng, tôi nhớ rồi. Nhưng vì nó điếc, nên tôi với nó khó nói chuyện với nhau lắm thủ trưởng ạ.
Chính trị viên phẩy tay:
- Thì viết ra giấy. Nói hết với nó một lần đi.
Hùng Phong vẫn băn khoăn:
- Nhưng, tôi chưa phải là đảng viên chính thức, không được phân công giúp đỡ quần chúng phấn đấu vào đảng. Nếu tôi nói với cậu ấy về những điều này, liệu có vi phạm nguyên tắc không ạ? - Nguyên tắc cái con khỉ! - Chính trị viên bỗng nổi cáu. Cậu làm sao thế, đâu phải lúc nào cũng chỉ nói đến nguyên tắc? Hùng Phong tròn mắt vì ngạc nhiên, lần đầu tiên ta thấy chính trị viên Báo nổi cáu khi người ta nhắc ông ấy về tính nguyên tắc. Trời đất đã đổi thay rồi sao?

Hùng Phong đã đi rồi nhưng chính trị viên Lương Xuân Báo vẫn ngồi im lặng bên cửa hầm, trầm ngâm suy nghĩ. Gương mặt anh bỗng trở nên ủ dột khác thường. Không phải anh nghĩ về chuyện Hùng Phong nhắc mình giữ nguyên tắc trong công tác đảng. Chuyện ấy rồi cậu ta cũng sẽ hiểu ra thôi. Anh cảm thấy Hướng khó mà có thể trụ mãi ở đơn vị được. Cái tai cậu ấy ít hi vọng hồi phục lắm. Nếu phải về hậu phương thì chi bộ đại đội 9 nên kết nạp cậu ấy vào đảng trước đã. Nếu như còn trực tiếp làm bí thư dưới đại đội thì anh sẽ có cách giải quyết chuyện này nhanh thôi. Nhưng không chỉ riêng trường hợp của Hướng mà đã đến lúc chi bộ đại đội 9 phải nhanh chóng tăng cường đội ngũ. Cậu Phú hình như cũng đang bị những thứ nguyên tắc ràng buộc, khó mà có thể giải quyết việc phát triển đảng ở dưới đó một cách nhanh chóng được. Trận vừa rồi, chi bộ đã mất gần chục đảng viên rồi, nếu không khẩn trương kết nạp đảng viên mới thì sẽ tới lúc chi bộ không còn đủ người mà lãnh đạo đơn vị nữa. Có lẽ, đảng ủy tiểu đoàn phải có một nghị quyết về vấn đề này.


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 19 Tháng Ba, 2012, 01:23:54 pm
Nhưng điều khiến chính trị viên Báo bỗng trở nên buồn phiền, tư lự không phải là chuyện đó. Vừa rồi, Hùng Phong đã tình cờ đụng đến một nỗi day dứt khôn nguôi trong lòng anh từ mấy tháng nay.


Anh sinh ra trong một gia đình công nhân nghèo ở một xóm thợ tại Việt Trì. Ông nội anh vì không có ruộng nương nên đã bỏ làng quê tận dưới Hà Nam lên làm phu lục lộ cho một viên cai thầu người Pháp ở Việt Trì từ năm bốn mươi. Rồi ông tham gia hội kín, trở thành cán bộ cốt cán của Việt Minh tham gia cuộc khởi nghĩa cướp chính quyền ở Việt Trì, Phú Thọ năm bốn mươi lăm. Cuối năm bốn mươi sáu ông hi sinh trong một trận chiến đấu tại thủ đô Hà Nội khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Bố anh, ông Lương Xuân Hổ, lúc đó đang cùng gia đình tản cư ở vùng tự do Phú Thọ đã tình nguyện tham gia vệ quốc quân, tiếp bước con đường của người cha, để lại vợ và hai con thơ dại. Lúc đó Báo vừa lên bảy tuổi nhưng đã biết hứa với cha là sẽ chăm sóc mẹ và em gái để cha yên lòng lên đường giết giặc Tây, trả thù cho ông nội. Bốn năm sau ông cũng hi sinh trong một trận đánh lớn trong chiến dịch thu đông năm 1950-1951 khi đã là cán bộ chỉ huy cấp đại đội. Mẹ quá đau buồn trước sự ra đi của cha nên đã dở điên dở dại suốt nửa năm trời. Mới hơn chục tuổi đầu, Báo đã phải lao động cật lực để nuôi mẹ và em gái. Hết làm thuê, làm mướn khắp các làng quê ở vùng Việt Trì, Phú Thọ lại đi bán hàng rong, bán thuốc dạo cho mấy ông thầy tàu dọc theo tuyến đường sắt từ Lao Cai về Hà Nội. Hình như anh đã học được nhiều điều trong những năm tháng xuôi ngược trên những chuyến tàu, chuyến xe, sống lay lắt, vạ vật giữa đám giang hồ tứ chiếng, du thủ du thực. Có lẽ anh không bao giờ trở thành một con người như hôm nay nếu như hoà bình không sớm được lập lại trên miền Bắc. Ngay sau ngày quân Pháp rút khỏi Hà Nội, anh trở về xóm thợ Việt Trì, mua lại một căn nhà lá rồi đón mẹ và em gái từ nơi tản cư về. Anh lập bàn thờ ông bà nội, lập bàn thờ cha và tự hứa với ông cha mình rằng từ nay thằng Báo đã có ngôi nhà của riêng mình để thờ cúng ông bà tổ tiên, từ đây sẽ làm ăn tu tỉnh để trở thành một con người có ích cho xã hội, xứng đáng với cha ông. Báo định tiếp tục lên đường đi làm thuê, gánh mướn nhưng mẹ Báo lại muốn con được đến trường học để kiếm đôi ba chữ.

Bà dọn một gian hàng xén ở chợ Gia Cẩm làm kế sinh nhai, quyết nuôi con ăn học. Mười bốn tuổi Báo mới được đến trường. Vì to lớn lộc ngộc nhất lớp nên anh thường bị đám bạn học chế diễu. Vì thế, anh chỉ học được đến hết lớp ba thì bỏ học xin vào làm ở xí nghiệp duy tu đường bộ, cái nghề mà ông nội anh đã chọn khi rời khỏi ruộng đồng, quê hương bản quán ở dưới xuôi để lên vùng núi rừng trung du này lập nghiệp. Khác chăng là bây giờ anh đã trở thành công nhân của nhà nước, được xã hội tôn trọng. Vừa đi làm công nhân anh vừa theo học bổ túc văn hoá, tham gia các hoạt động của đoàn thanh niên. Vì là con cháu liệt sĩ cách mạng, nên chẳng bao lâu anh đã được xét kết nạp vào đảng, và trở thành đội phó của một đội sản xuất. Chính vào thời gian này, anh đã định lấy vợ. Có một cô công nhân đã đem lòng yêu thương anh. Nhưng sắp đến ngày cưới thì một tai nạn khủng khiếp đã xảy ra, một đoạn ta luy đường đột ngột đổ xuống trong khi đội của anh đang làm việc trên công trường. Cô gái mà anh yêu đã chết vì bị một tảng đá lớn đè lên người. Năm đó anh vừa tròn hai mươi tuổi. Cái tuổi đang dạt dào sức sống và cháy bỏng khát khao vươn tới những chân trời mới lạ. Đang buồn bã vì mất người yêu thì có một đợt khám tuyển nghĩa vụ quân sự. Hình như đó là đợt tuyển quân đầu tiên theo luật nghĩa vụ quân sự của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa mới ban hành. Thế là anh đi khám tuyển và đã trúng tuyển ngay từ vòng đầu tiên. Hồi đó, được trúng tuyển vào bộ đội là một vinh dự to lớn cho cả làng cả nước, cả dòng họ, cả cơ quan đoàn thể. Mẹ anh vì thế cũng rất vui lòng cho con tòng quân. Cuộc đời binh nghiệp của anh thế là bắt đầu. Là một đảng viên trẻ lại là con nhà liệt sĩ cách mạng, nên vào bộ đội anh có một ưu thế chính trị vượt trội so với đồng đội cùng trang lứa. Tuy là chiến sĩ mới, nhưng anh đã được sinh hoạt chi bộ, là một thành phần lãnh đạo của đơn vị trong khi tiểu đội trưởng, trung đội trưởng vẫn chưa phải là đảng viên. Điều đó, nhiều khi cũng khiến anh lao đao. Vì là đảng viên, anh luôn phải gương mẫu, phải đi đầu trong mọi phong trào. Hồi đó, quân đội có phong trào thi đua Cờ ba nhất đã trở thành một phong trào có sức sống mãnh liệt trong toàn quân. Dĩ nhiên Lương Xuân Báo luôn luôn phải trở thành Chiến sĩ Ba nhất của đơn vị rồi.

Qua năm đầu tiên tại ngũ, anh được đi học một lớp đào tao hạ sĩ quan để trở thành tiểu đội trưởng. Làm tiểu đội trưởng được tròn một năm anh lại được gọi đi học tại trường sĩ quan lục quân. Học xong ba năm tại trường lục quân, anh được cử đi học tiếp một lớp nữa để trở thành cán bộ chính trị. Tới cuối năm sáu mươi sáu anh ra trường và trở thành một chính trị viên đại đội. Trong bấy nhiêu năm học tập và rèn luyện trong quân đội, anh hầu như chẳng có thời gian để nghĩ đến chuyện riêng tư. Mỗi lần về phép, mẹ anh lại giục anh phải cưới vợ đế bà sớm có cháu bế. Em gái anh cũng đã khôn lớn và thật may mắn anh đã khuyên được cô sớm lập gia đình chứ không cần phải tuân theo tôn ti trật tự anh trước, em sau. Chồng nó cũng là công nhân nhà máy Hoá chất Việt Trì với em gái anh, quê quán lại ở xa nên sau khi cưới nhau hai vợ chồng vui vẻ về sống chung với mẹ khiến anh cũng an tâm được phần nào.

Anh cũng định sau khi hoàn thành việc học hành, có nhiều thời gian rảnh rỗi thì sẻ tính đến chuyện vợ con. Nhưng khi về đơn vỉ, bắt đầu nhận quân mới để huấn luyện thì anh hiểu rằng còn lâu anh mới có được khoảng thời gian cần thiết để dành cho chuyện riêng tư. Lần cuối cùng về phép còn được gặp mẹ lại là khi anh đã biết rằng không còn bao lâu nữa, đơn vị sẽ lên đường vào miền Nam chiến đấu nên dù rất thương mẹ, anh cũng quyết từ chối mọi sự mai mối của mọi người, nhất là của cô em gái. Mẹ anh, dường như hiểu rằng anh đang ở vào thời điểm không thuận lợi để lập gia đình nên cũng chỉ buồn rầu nói với anh “Mẹ biết con là cán bộ chỉ huy của quân đội, làm gì cũng phải suy nghĩ tính toán cho riêng chung vẹn cả đôi đường nên mẹ cũng không ép con nữa. Trong lúc đất nước đang còn chiến tranh loạn lạc thế này mẹ chỉ mong sao cha con và ông nội con có khôn thiêng thì hãy phù hộ độ trì cho con chân cứng đá mềm, tránh được hòn tên mũi đạn nơi trận tiền. Còn núi xanh thì còn củi đốt con ạ”.

Là một người sớm từng trải, chính trị viên Lương Xuân Báo có một thế mạnh là khá tinh tường trong việc nhìn nhận con người. Những trường hợp qua được mắt anh như Nguyễn Xuân Khoái thật hiếm hơi. Nhưng ngay cả trong thời gian anh ta còn là một cán bộ tiểu đội rất giỏi giang trong huấn luyện chiến sĩ mới, chưa bộc lộ những thủ đoạn tinh vi của mình để lừa gạt cả một tổ chức thì cũng chưa bao giờ chính trị viên Lương Xuân Báo ưa thích anh ta. Anh đã có linh cảm rằng con người này có cái gì đó không ổn, anh ta thích những trò chơi trội tự cao tự đại và quá thích thú ngắm vuốt bản thân mình. Đó là dấu hiệu rõ rệt nhất của thói vị kỷ. Nhưng thật khó mà bắt lỗi được anh ta khi trong công tác huấn luyện, duy trì điều lệnh kỷ luật quân đội, tiểu đội anh ta phụ trách bao giờ cũng đứng hàng thứ nhất. Trong cái tiểu đội do anh ta phụ trách lại có những cá nhân xuất sắc như Phạm Hùng Phong, Nguyễn Danh Côn, Trương Đình Lân... nhưng anh vẫn linh cảm rằng, đến một lúc nào đó con người này sẽ để lộ bộ mặt thứ hai của anh ta.
Chính vì vậy, anh không mấy ngạc nhiên khi vụ Nguyễn Xuân Khoái hối lộ các bác sĩ giám định y khoa để được xác định là có bệnh mãn tính không thể vào chiến trường được. Tuy có ảnh hưởng ít nhiều tới thành tích và danh dự của đơn vị, nhưng chính trị viên Lương Xuân Báo lại lấy làm mừng khi trong đội ngũ những người ra trận bớt đi một kẻ cơ hội, hèn nhát.

Là một người thuở nhỏ ít được học hành, chính trị viên Báo rất tự hào khi đơn vị đầu tiên mà anh được làm người lãnh đạo chỉ huy lại có rất nhiều những học sinh cuối cấp 3. Anh rất tôn trọng những kiến thức văn hoá mà họ đã có được trong những năm ngồi trên ghế nhà trường xã hội chủ nghĩa. Anh hiểu rằng chính họ mới là tương lai của quân đội ta. Nhưng, anh cũng hiểu rằng, vì họ đã được thời cuộc ưu ái, bao nhiêu năm nay chỉ biết đến học hành, chỉ biết đến những niềm vui tuổi học trò nên giờ đây họ cần phải được rèn luyện đến nơi đến chốn. Thật là tiếc khi phải đưa tất cả họ ra trận chứ không phải đưa họ vào các trường đại học để họ trở thành những nhân tài cho đất nước. Vì thế, cần phải bảo vệ họ bằng cách trang bị cho họ thật nhiều kỹ năng chiến đấu để khi ra trận họ có thể tự bảo vệ mình.
Chính vì thế nên chính trị viên Lương Xuân Báo luôn tỏ ra nghiêm khắc đối với “cánh học trò” ở đại đội 9. May mắn làm sao cho đến thời điểm này, họ đều tỏ ra vững trãi và đã trở thành những người lính thực thụ. Chính trị viên Báo luôn tự hào về những người như Phạm Hùng Phong. Anh coi sự trưởng thành vững chắc của Hùng Phong như một thành tựu của chính mình vậy.
“Sản phẩm của người cán bộ làm công tác chính trị là xây dựng được những con người tiên tiến”. Chính trị viên Lương Xuân Báo luôn tâm niệm lời dạy của một ông thầy đáng kính khi mình còn theo học tại trường sĩ quan chính trị. Chính vì vậy, ngay từ khi phát hiện ra Hùng Phong, anh đã tự nhủ “Mình phải giúp cậu thanh niên này làm nên sự nghiệp. Cậu ta có đầy đủ tư chất của một người thanh niên trong thời đại mới”. Từ đó, anh chăm chút xây dựng Hùng Phong thành một điển hình tiên tiến mẫu mực trong học tập, rèn luyện, thành tựu ấy cũng đã được thể hiện một cách hùng hồn trong chiến đấu. Hùng Phong còn tiến xa. Anh tin một cách chắc chắn như vậy.

Hôm nay, gọi Hùng Phong lên thông báo trước về việc đề bạt, chính trị viên Lương Xuân Báo tự thấy như mình có quyền thưởng thức hước một chút hương thơm từ những bông hoa đầu tiên vừa nở bói từ một cây hoa quí mà bấy lâu nay mình đã dày công bón tưới, vun trồng vậy. Ai ngờ, chính cậu ta lại gợi lên trong lòng anh bao nỗi niềm tâm sự mà bấy lâu nay anh đang cố quên đi để dành tâm lực cho những trận chiến đấu ác liệt đang chờ anh và đồng đội ở phía trước.

Hùng Phong không ngờ người được đề bạt thay anh làm trung đội trưởng trung đội 3 lại không phải là trung đội phó Khang, mà lại là Do Cô-li-nốp từ đại đội hỏa lực chuyển sang. Mặc dù quen thân với Do từ trước nhưng Hùng Phong vẫn luôn cảm thấy không thích cậu ta. Anh cũng dễ dàng nhận ra rằng bấy lâu nay Do cũng không ưa mình cho lắm. Mọi chuyện bắt đầu từ khi họ còn ở chung một tiểu đội huấn luyện tân binh, nghĩa là từ khi đại đội 9 còn chưa phát hiện ra “đồng chí Hùng Phong” mà vẫn gọi anh với cái tên cúng cơm là Phạm Xuân Ban kia. Hình như hôm đó, sau một bài lên lớp của chính trị viên Lương Xuân Báo, tiểu đội tổ chức thảo luận. Tiểu đội trưởng Khoái hướng dẫn tiểu đội thảo luận đã nêu ra câu hỏi “Thế nào là một người thanh niên yêu nước?”. Mọi người thảo luận rất sôi nổi, riêng Do vẫn chưa phát biểu gì khiến tiểu đội trưởng Khoái phải nhắc “Đồng chí Do phát biểu đi chứ? Sinh hoạt chính trị nghĩa là tự do tư tưởng kia mà?”.
Do còn đang do dự thì Hùng Phong đã lên tiếng “Có lẽ đổng chí Do còn tự ti vì màu da của mình chăng? Hay đồng chí cho rằng mình không có Tổ Quốc?”. Do giận dữ đứng phắt dậy “Đồng chí Ban ăn nói cho cẩn thận! Ở đây không có chỗ cho tư tưởng phân biệt chủng tộc đâu nhé? Còn Tổ Quốc ư, đồng chí đừng nghĩ rằng yêu Tổ Quốc là cứ phải gào lên, phải nói những lời đao to búa lớn, chót lưỡi đầu môi. Tôi là một đứa con lai, nhưng tôi cũng có cha mẹ. Tổ Quốc của cha mẹ tôi chính là Tổ Quốc của tôi. Cha tôi đã nói đến tình yêu với Tổ Quốc Việt Nam từ khi đồng chí còn chưa sinh ra kia. Tôi đã tình nguyện cầm súng chiến đấu là để bảo vệ tình yêu ấy. Tôi là một chiến sĩ tình nguyện thực sự vì tổ chức đã dự định cử tôi đi học để sau này làm những nhiệm vụ khác kia. Nhưng tôi đã viết đơn tình nguyện bằng máu của mình, dòng máu của một con người sinh ra đã có tự do, đã có Tổ Quốc, chứ không phải dòng máu của một kẻ nô lệ. Tôi chưa phát biểu ý kiến, bởi vì tôi không biết nên nói điều gì trong lúc này.

Nhưng bây giờ thì tôi đã nói rồi, tình yêu Tổ Quốc của tôi là như vậy đấy. Nếu có người nào nghi ngờ tình yêu ấy thì người ấy sẽ không phải là đồng chí của tôi”.
Mọi người đã vỗ tay hoan nghênh những lời phát biểu chân thành, gan ruột của Do. Hùng Phong cũng vỗ tay, sau đó còn đích thân xin lỗi Do nữa. Nhưng hình như từ đó trở đi hai giữa hai người vẫn tồn tại một khoảng cách mơ hồ nào đó rất khó nói ra.
Nay nghe tin Do được bổ nhiệm về thay mình làm trung đội trưởng Hùng Phong không tiện phản đối, nhưng anh cũng không cảm thấy hài lòng cho lắm.
Anh bèn tìm đại đội trưởng Đồng Tiến Phi hỏi: - Sao không đưa cậu Khang lên mà lại phải mượn người từ đại đội hỏa lực về làm trung đội trưởng hả anh Phi? Đại đội trưởng lắc đầu: - Mình cũng không rõ lắm. Đây là sự sắp xếp của đảng ủy tiểu đoàn. Cậu thân với ông Báo, sao không hỏi thử xem sao? Hùng Phong vội xua tay: - Thôi không nên hỏi thì hơn. Chắc cấp trên có lí do của mình. Kể ra thì cậu Do làm trung đội trưởng cũng được thôi. Cậu ấy cũng xuất thân từ đơn vị này mà.

Nói vậy nhưng Hùng Phong vẫn không cảm thấy thoải mái lắm. Vì điều gì thì anh cũng không rõ. Trung đội phó Khang tuy mới về đơn vị chưa lâu, nhưng trong trận Cam Lộ cũng tỏ ra vững vàng đấy chứ? Hùng Phong gặp Khang, chưa kịp nói gì thì Khang đã chặn trước: - Tôi hiểu anh định nói gì rồi. Không sao đâu. - Nhưng rồi anh bỗng nói thêm - có lẽ ông Báo vẫn còn giận tôi vì trong trận Cam Lộ đã có lúc tôi do dự khi ông ấy ra lệnh vào đưa mấy cậu hi sinh ra.
- Nhưng cuối cùng cậu vẫn lấy được anh em ra kia mà.
- Đã đành là thế... nhưng nếu ông Báo không kiên quyết có lẽ tôi đã không lấy được hai cậu ấy ra. Vì chỉ một lát sau thì địch bắn trùm lên, căn nhà vòm ấy đã bị sập hoàn toàn. Chậm một tí là không thể nào bới được họ nữa.
Hùng Phong không thỏa mãn với lời giải thích ấy, anh vẫn cảm thấy hình như cấp trên không công bằng lắm với khang.
Sáng sớm hôm đó, Do về đại đội nhận nhiệm vụ, chính trị viên Đào Trọng Phú vừa thức dậy chui từ dưới hầm lên bỗng giật bắn người khi đụng ngay phải một người cao lớn, đen trũi, tóc xoăn mắt thô lố.
- Báo cáo, tôi là Trần Tự Do, được tiểu đoàn phân công về đại đội 9 nhận công tác.
Do đứng nghiêm chào, báo cáo dõng dạc, chính trị viên Phú còn đang lúng túng thì đại đội trưởng Phi từ dưới hầm chui lên vui vẻ bước tới bắt tay cậu thanh niên đa đen.
- Xin chúc mừng cậu trở lại đại đội 9 với một cương vị mới! - Rồi anh quay xuống hầm gọi váng lên - Hùng Phong ơi, Do Cô-li-nốp về rồi đây này.


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 19 Tháng Ba, 2012, 01:24:45 pm
Hùng Phong vội lên bắt tay chúc mừng. Chính trị viên Phú lúc ấy mới vỗ vai Do, nói đùa: - Cậu này mà gặp du kích, không khéo họ tưởng lầm là một thằng Mỹ đen mất.
Hùng Phong cũng cười bảo: - Hôm đánh Cam Lộ, khi vào đến trung tâm căn cứ địch, thấy một thằng Mỹ da đen trần trùng trục vác súng máy chạy, lính ta bắn theo. Anh Tại bên trung đội một còn thét lên “Cẩn thận kẻo bắn nhầm, hình như thằng Do Cô-li-nốp đấy!”.
Mọi người cười vui vẻ. Do cũng đã quen với những giai thoại kiểu này nên cũng chẳng tự ái. Chính trị viên Phú nói với Do vài lời về tình hình đơn vị rồi quay sang bảo Hùng Phong: - Cậu đưa Do xuống trung đội nhé! Hùng Phong vội tìm cớ chối: - Xin lỗi, tôi đang bận tí việc. Hay là anh Phi đưa cậu ấy xuống giới thiệu với anh em cho thêm phần long trọng.
Đại đội trưởng Phi hiểu tâm trạng của Hùng Phong nên nhận lời, tránh cho cậu ta chỗ khó xử.
Vì đã được chuẩn bị về tư tưởng nên trung đội phó Nguyễn Xuân Khang tỏ ra niềm nở hơi thái quá khi đón Do. Anh ta tập hợp trung đội lại định giới thiệu Do một cánh trang trọng nhưng Hướng đã xua tay, nói bô bô: - Không cần khách khí... Thằng “Tây đen” này với chúng tôi là bạn bè từ ngày đầu tiên mặc áo lính kia.
Biết nhau kỹ lắm rồi! Chợt Hướng sững lại khi nhìn thấy đến non nửa số anh em trong trung đội đang tập hợp trước mặt mình là lính mới.
- A... những cậu này thì chưa biết... chưa biết...
Nói rồi, Hướng đùng đùng bỏ đi. Khang nhìn theo, nói với Do: - Từ hôm đơn vị nhận lính mới bổ sung về cậu ấy thường có những hành động thất thường như vậy.
- Tôi hiểu, anh ấy nhớ đồng đội đấy mà.
Do nói vậy rồi bảo Khang cho bộ đội giải tán. Cuộc ra mắt thế là xong. Do đi tìm Hướng. Không thấy cậu ta trong mấy căn hầm của tiểu đội, Do bèn đi xuống dưới khe suối, nơi bố trí nhà bếp của đại đội. Quả nhiên, Hướng đang ngồi với anh nuôi Cung. Vừa nhặt sạn trong nồi gạo, anh Cung vừa nói chuyện với Hướng, mà thực ra là chỉ nói với mình, vì Hướng đâu có nghe được gì.
- Cậu xem đấy. Gạo toàn sạn với mọt. Nhặt cả buổi chả hết. Thứ gạo này mà đem đãi thì nó nổi bềnh lên hết. Mọt ăn ruỗng cả rồi, chỉ còn cái vỏ thôi. Nhưng lính vẫn phải ăn chứ biết làm sao? Có gạo mà ăn vẫn còn tốt chán. Những hạt gạo này cũng phải đổi bằng máu cả đấy. Nghe nói, ngoài ấy dạo này đói lắm cậu ạ.
Không hiểu mẹ con nhà nó xoay xở ra sao? Hướng không không nhìn vào khẩu hình, nhưng dường như anh cảm nhận được những ý tưởng của cậu Cung.
- Liệu tôi còn được ăn cơm của cậu bao lâu nữa? Cậu Cung ngước lên nhìn vào gương mặt đã choắt lại của Hướng.
- Cái cậu này, chỉ nói dại! Hướng cười: - Không phải tôi nói đến cái chết. Tôi sợ người ta sẽ đuổi tôi về hậu phương. Ngoài mặt trận không ai cần đến một thằng điếc! Vừa lúc đó thì Do tới. Nhìn thấy anh lênh khênh đi xuống, cậu Cung giơ tay lên chào rồi hỏi: - Nghe nói cậu được về đại đội, phải không? Do cười phô hàm răng trắng nhởn: - Vâng. Thế là lại được ăn cơm của cậu rồi! - Thằng Hướng cũng vừa mới kêu là không biết còn được ăn cơm của tôi bao lâu nữa. Nó bảo rằng có thể nó bị đưa trả về hậu phương.
Do tặc lưỡi: - Về càng tốt chứ sao? Ra ngoài ấy không chừng nó chữa khỏi bệnh. Rồi còn vào được đại học nữa ấy chứ? Cậu Cung tủm tỉm cười: - Rồi kiếm lấy một cô vợ, thế là yên thân! Bỗng Hướng nhăn mặt: - Vợ với con làm gì cho vướng cẳng! Cậu Cung bỗng ngẩng phắt lên, ngạc nhiên nhìn Hướng.
- Ô mày... nghe được rồi sao Hưởng? Hướng cũng nghệt mặt ra, rồi bỗng tái mặt lại, lắp bắp: - Tôi... tôi... hình như tôi nghe được rồi hay sao ấy? - Do, mày nói câu gì đi xem nào? Do chụm hai bàn tay lại làm loa hét rõ to: - Nếu điếc thì về mà lấy vợ! Hướng ôm lấy tai kêu lên - Mày hét to thế thì tao lại không nghe được gì, chỉ thấy lùng bùng lùng bùng trong tai như trống đánh ấy.
Nói nhỏ thôi xem nào? Cậu Cung tiến lại, nhìn Hướng rồi hỏi nhỏ: - Thằng Lân nó ra viện rồi, mày gặp chưa? Hướng lắc đầu: - Chưa... chưa gặp nó. Cậu hỏi... thằng Lân hả? Cậu Cung mừng quá ôm chầm lấy Hướng: - Ôi, mày nghe được thật rồi. Nhưng có lẽ, phải lên quân y tiểu đoàn kiểm tra lại xem. Đi, đi ngay bây giờ. Tao đưa mày đi.
Ba anh em rồng rắn kéo nhau vượt qua một quả đồi sang tiểu đoàn bộ gặp quân y sĩ. Anh y sĩ soi, nghe, gõ, thử một hồi rồi kết luận: - Chỉ có tai bên trái là có vẻ đang hồi phục thính lực. Tai phải, có lẽ hoàn toàn hỏng rồi.
Cậu Cung phấn khởi nói: - Một tai là được rồi. Mà cái thằng quỉ này có nghe ai bằng cả hai tai bao giờ đâu? Tin Hướng đã nghe được khiến cả đại đội vui. Mọi người ùa tới hầm của tiểu đội Hướng, ai cũng muốn thử xem cái tai của Hướng còn được bao nhiêu phần trăm. Cười nói ồn ào như chợ vỡ khiến cậu Cung phải kêu lên: - Các cậu có bớt mồm bớt miệng đi không. Ồn ào thế này thì không khéo còn tí màng nhĩ dính trong tai nó cũng phải bung nốt thôi.
Hướng vui như vừa sống lại. Bây giờ bình tĩnh lại rồi anh mới nhớ hình như sáng sớm nay thức dậy, anh có cảm nhận được những âm thanh quanh mình.
Nhưng anh không còn dám tin những âm thanh đó là do mình đã nghe được mà cứ nghĩ, nó chỉ vang lên trong ý tưởng trong tâm trí của anh mà thôi. Bao ngày nay anh chìm đắm trong thế giới im lặng nên vô cùng khao khát những âm thanh quen thuộc của cuộc sống.
Có đêm anh nằm mơ mình nghe thấy tiếng chim kêu lảnh lót, tiếng lá rừng xào xạc, tiếng suối reo róc rách.
Bừng tỉnh dậy, lại thấy mình chìm trong thế giới lặng câm. Có lúc điên tiết, anh vớ lấy cái gamen, cái hòm đạn, nện đến mỏi cả tay nhưng vẫn không nghe thấy tiếng gì. Vì vậy, sáng nay thức dậy, nghe thấy tiếng đồng đội gọi nhau, tiếng pháo nổ ì ùng xa xăm, anh cũng không dám tin là mình đã nghe được. Rồi mấy cậu xuống hầm lôi anh dậy, anh lại nghe họ nói rằng trung đội trưởng mới là thằng Do “Tây lai” vừa về, muốn gặp mặt tất cả anh em. Hướng nghe được cả, nhưng vẫn mê mụ theo anh em tới hầm chỉ huy trung đội tập trung. Anh nhìn thấy Do trước tiên, rồi nghe trung đội phó Khang nói gì đó. Anh tiến lại và nói rằng anh em trong trung đội chả còn ai lạ gì Do Cô-li-nốp nữa. Nhưng chợt, anh nhìn thấy toàn những gương mặt lính mới. Mắt anh như tối xầm lại, trong đầu anh u u âm âm... Anh vội vã bỏ chạy xuống bếp vì chưa thể quen được với sự vắng mặt của nhiều anh em trong trung đội. Và rồi, những câu chuyện với cậu Cung. Anh hiểu cả, nhưng vẫn không nghĩ rằng đó là do mình đã nghe được. Cho đến khi cậu Cung phát hiện ra điều kì diệu ấy.
Bây giờ thì anh đã nghe được rồi, dù chỉ với một tai, không tinh tường lắm, nhưng rõ ràng những âm thanh của cuộc sống đã tác động được tới bộ não của anh, làm sống lại những cảm xúc đặc biệt mà tạo hoá dành cho con người. Anh đã thật sự trở lại với đội ngũ chứ không chìm đắm trong thế giới âm u của sự im lặng ghê sợ kia nữa. Khi người ta không nghe được thì đồng đội ngồi ngay trước mặt mà sao thấy xa vời, thế giới sống động ngay trước mặt mà như một thế giới đã chết, một thế giới lặng câm, tật nguyền.
Do kiên trì đứng đợi cho đến khi mọi người đã giãn cả ra mới tiến lại chìa tay cho Hướng: - Chúc mừng cậu đã khỏi bệnh! Hướng cũng toét miệng cười: - Chúc mừng trung đội trưởng mới! Rồi Hướng ào đến, lọt thỏm giữa vòng tay kềnh càng của người bạn da đen.


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 19 Tháng Ba, 2012, 01:26:37 pm
Vừa về đến đơn vị, Trương Đình Lân đã nhận được một tin choáng người - thằng Vững, người cùng làng với anh đã đào ngũ. Tiểu đoàn trưởng Vinh định ra lệnh cho người đi truy nã, bắt bằng được thằng trời đánh ấy về trị tội, nhưng chính trị viên Lương Xuân Báo vội xua tay: - Thôi, ở đây chúng ta không cần tới hạng người hèn nhát như vậy. Nếu bò được về hậu phương, hắn ta sẽ phải chịu tội trước bà con làng xóm. Chúng ta không phải hoài hơi làm việc đó! Thực ra, từ hôm Vững ra trạm quân y sư đoàn thăm mình, Lân đã có linh cảm rằng thằng này có vẻ xuống tinh thần quá rồi. Nhìn thấy người chết, người bị thương nó cứ run lên cầm cập, rồi còn khóc bảo: - Anh Lân ơi, nhà em chỉ có mỗi mình em là con trai... nếu chẳng may em có mệnh hệ gì thì thầy u em chết mất! Chiều hôm đó hắn vẫn vui vẻ về đơn vị. Còn dặn Lân, nếu có được chuyển về tuyến sau điều trị thì đừng từ chối, biết đâu người ta lại cho anh ra Bắc cũng nên.
Mấy hôm sau khi thay đồ, kiểm lại tư trang, Lân mới nhận ra là mất cái phong bì cũ bên trong đựng hơn tám chục đồng và một cái đồng hồ Pon giốt mặt trắng, đó là số tiền chưa tiêu đến mà khi vào chiến trường Lân cũng không kịp gửi về cho gia đình, cái đồng hồ thì từ ngày vào chiến trường thường phải gói bỏ lại hậu cứ chứ không dám đeo đi trinh sát. Khi anh bị thương được hai ngày thì đơn vị mới mang đồ của anh từ hậu cứ ra trạm xá sư đoàn, đồ đạc để lại không thấy thiếu thứ gì.
Vậy mà nay lại mất là cớ làm sao? Ngay lúc đó anh cũng chỉ nghĩ rằng có lẽ, trong những ngày vừa qua khi các y tá lấy đồ thay cho anh, sơ ý để rơi mất đâu đó.
Nhưng bây giờ thì anh tin chắc rằng Vững đã ăn cắp số tiền ấy để làm lộ phí đi đường. Sáng hôm ấy, chính nó đã mở ba lô để lấy cho anh một bộ đồ sạch, bảo anh thay đồ ra để nó đi giặt cho. Thì ra nó đã có ý định đào ngũ từ hôm ấy rồi.
- Thôi được, cũng chả sao. Cái thằng nhát như cáy ấy có ở chiến trường cũng chẳng làm nên trò trống gì. Có khi còn khiến người khác chết oan vì nó cũng nên.
Có điều lạ là không hiểu vì sao người ta lại xếp nó vào làm lính trinh sát? Từ hôm nó ỉa ra quần vì tưởng lầm là đạp phải mìn đã mấy lần Ngạn định xin tiểu đoàn điều nó đi làm việc khác. Nhưng khi biết chuyện, nó lại đến gặp Lân khóc, xin được ở cùng với anh. Chả gì ở với người cùng làng vẫn dễ hơn ở với thiên hạ. Nó bảo thế nên Lân lại khuyên Ngạn thôi cứ để cho nó ở lại tiểu đội nay mai nó sẽ dày dặn dần lên. Tuy cùng làng, nhưng Lân cũng biết ít về gia đình Vững. Nhưng cũng nghe nói nhà nó nghèo lắm, bà mẹ sinh đẻ tới bảy tám lần, nhưng chỉ được có mình nó là con trai. Khi vào tới chiến trường rồi, nó mới bảo rằng sao mà nó ngu thế không biết, đáng lẽ nó cũng chưa phải đi bộ đội đợt này, nhưng không hiểu vì sao nó lại xung phong tình nguyện kia chứ? Tiểu đội họp hành, kiểm điểm một hồi. Chính trị viên Lương Xuân Báo xuống dự phân tích sâu sắc về công tác giáo dục, quản lí chiến sĩ, về việc thường xuyên rèn luyện lí tưởng cách mạng và ý chí chiến đấu.
Rồi kết luận, vì tiểu đội trưởng Nguyễn Ngọc Ngạn đã rời đơn vị, nên trách nhiệm này tiểu đội phó Trương Đình Lân phải gánh. Tuy vậy, đồng chí Lân chỉ phải chịu trách nhiệm gián tiếp, không bị kỷ luật, nhưng việc kết nạp đồng chí Lân vào đảng sẽ phải hoãn lại thêm một thời gian nữa để đồng chí phấn đấu thêm.
Thế cũng xong một việc - thôi quên nó đi! Lân đã tự nhủ như vậy.
... Và anh đã quên bẵng hẳn đi hơn chục năm trời. Sau ngày miền Nam được giải phóng, anh rời quân ngũ về trường đại học, học liền một mạch bảy năm trời, lấy đươc học vị phó tiến sĩ. Anh không ngờ rằng việc anh trở thành phó tiến sĩ lại là một sự kiện quan trọng đến thế đối với họ Lương ở làng Vân Hương. Cha anh yêu cầu bằng mọi giá phải mang cái bằng phó tiến sĩ về để làm lễ trình báo với tổ tiên, với cụ cử Hạt, ông nội anh.
Vậy là anh phải mang cái bằng phó tiến sĩ về làng.
Không ngờ họ Lương đã chuẩn bị một bữa tiệc lớn với gần trăm mâm cỗ để mừng ông phó tiến sĩ đầu tiên của dòng họ, của làng Vân Hương. Cả làng cứ sôi lên sùng sục. Chỉ thiếu có việc mang võng đi đón ông nghè về nữa thôi. Anh lâm vào thế vô cùng khó xử vì chẳng gì anh cũng đã là phó tiến sĩ văn hoá học, trong luận văn của anh có nói nhiều đến tình trạng các hủ tục đang trỗi dậy trong các làng xã ở đồng bằng Bắc Bộ, cần phải có nhiều biện pháp đồng bộ để dần dần loại bỏ khỏi đời sống cộng đồng, xây dựng những tập quán văn hoá mới. Vậy mà, trong lúc đất nước còn đang chìm ngập trong khủng khoảng kinh tế, dân làng còn đang đói kém, thì họ nhà anh lại bày vẽ ra thế này? Nhưng cha anh cùng những ông chú, ông bác đầy quyền uy của dòng họ không để cho anh có bất kì cơ hội nào phản ứng lại việc khao cử tế lễ của dòng họ.
Đã vậy cha anh còn tuyên bố một cách hãnh diện:
- Lân này, đồng chí Vũng, chủ tịch huyện đã hứa rằng trưa nay sẽ về uống rượu để mừng con đấy. Có khi đồng chí ấy còn kéo cả đồng chí bí thư huyện ủy về cùng nữa. Con hãy chuẩn bị tinh thần mà tiếp các đồng chí lãnh đạo huyện nhà đấy nhé!
Nghe đến cái tên Vững, Lân bỗng chột dạ hỏi:
- Thầy nói, ông Vững chủ tịch huyện... là ông Vững nào kia ạ?
- Cái thằng này rõ thật - cha anh mắng - mày học hành nhiều quá đâm mụ mị ra đấy con ạ. Anh Vững là cơn ông Bồng, bà Vang ấy chứ còn ai nữa. Anh đi bộ đội tháng ba thì anh Vững đi tháng tám cùng với thằng Bằng. Nghe nói, hai người ấy rồi cũng được bổ sung cả vào đơn vị anh còn gì?
Lân bỗng kêu “à” một tiếng rồi phá lên cười. Suýt nữa thì anh đã buột ra thêm một câu “Tưởng ai, thì ra thằng Vững bĩnh ra quần!”... Vật đổi sao dời mới ghê gớm làm sao để đến cái nỗi một thằng đào ngũ lại trở thành đồng chí chủ tịch huyện, thành “cha mẹ dân” ở cái huyện này. Xem thế thì cũng đủ thấy con dân ở cái huyện này khốn nạn rồi.
Cha anh chép miệng than:
- Chỉ thương thằng Bằng... đến nay vẫn chưa được công nhận là liệt sĩ kia kìa. Ông lão Bát đã già yếu lắm rồi mà vẫn lõ cõ đội đơn đi kêu khắp các cửa mà vẫn chưa thấy người ta trả lời. Lạ thật, con người ta rành rành là đã hi sinh ngoài mặt trận, anh em đồng đội biết cả thế mà chẳng hiểu ra làm sao?
Lân ngạc nhiên hỏi lại cha:
- Cha nói thật đấy chứ? Thằng Bằng vẫn chưa được công nhận là liệt sĩ hay sao?
- Thì đấy, không thấy cả báo tử nữa kia. Gia đình nhà ông Bát chẳng được một thứ chế độ chính sách gì, có tội người ta không?
Lân phẫn nộ kêu lên:
- Lạ nhỉ, ngày ấy cả đơn vị đều biết thằng Bằng bị trọng thương trong trận Cửa Việt. Nghe nói được chuyển ra Bắc nhưng dọc đường thì cậu ấy hi sinh mà?
Thế... cái thằng Vững không giúp được gì cho nhà người ta sao? Nó là đồng đội của thằng Bằng, lại là chủ tịch huyện mà bó tay sao?
- Ông chủ tịch cũng có giúp đỡ... thi thoảng cũng có tới thăm hỏi, cho quà nhà ấy... Nhưng còn cái việc công nhận liệt sĩ thì, chính ông ấy cũng bảo rằng không biết thằng Bằng có thực sự là đã hi sinh ngoài mặt trận hay không?
Lân gật đầu cười nhạt:
- Phải rồi, nó làm sao mà biết được. Lúc đó thì nó đã chuồn lâu rồi còn gì! Rồi anh bỗng đột ngột đứng dậy.
- Không được... ! Con phải sang thăm gia đình cậu ấy đã!
Nói rồi anh đùng đùng bỏ đi. Cha anh vội chạy theo gọi váng lên:
Này, Lân... Nhớ về ngay nhé. Các đồng chí lãnh đạo sắp đến rồi đấy!
Nhưng các đồng chí lãnh đạo đã không đến. Một anh chánh văn phòng nào đó đã thay mặt ông chủ tịch huyện mang tới một bó hoa và một tấm thiệp chúc mừng cùng với lời giải thích rằng đồng chí chủ tịch và đồng chí bí thư có điện triệu tập về tỉnh dự một cuộc họp đột xuất vào đầu giờ buổi chiều nên cáo lỗi không thể ghé vào tham dự cuộc vui với tân phó tiến sĩ và gia quyến được.



Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 19 Tháng Ba, 2012, 01:27:09 pm
Như thế mà lại hay, nếu hôm đó mà gặp Vững có lẽ Lân đã không nén nổi bình tĩnh và không biết rồi anh sẽ gây ra những hậu quả gì. Nhìn tình cảnh gia đình ông Bát, lòng anh vô cùng xót xa. Không hiểu vì sao lại tồn tại một sự bất công lâu đến như thế đối với một người đã hy sinh vì Tổ Quốc. Nhìn đống đơn từ nhàu nhĩ với đủ các loại con dấu, những lời kính chuyển hết cơ quan này tới cơ quan khác anh bỗng thấy vô cùng chán nản. Cái bộ máy hành chính này đã trở nên lạnh lùng, vô cảm từ bao giờ vậy. Con người ta hy sinh đã gần hai mươi năm trời rồi chứ có ít ỏi gì? Nhưng nếu như người đứng đầu cơ quan hành pháp ở cái huyện này là một người như thằng Vững thì còn trông mong gì được nữa? Hôm sau Lân đã định lên Huyện tìm Vững để mắng cho hắn một trận. Nhưng nghĩ đi nghĩ lại anh thấy rằng cũng chẳng đáng phải làm vậy. Anh phải tìm con đường khác thôi.
May mắn sao, mấy hôm sau anh nghe được tin Hùng Phong đang ra dự một hội nghị quân chính toàn quân ở Hà Nội. Bấy giờ anh ta đã là đại tá phó tư lệnh một mặt trận đang giúp bạn chiến đấu chống bọn Pôn pốt bên chiến trường Campuchia. Lân đã tìm đến nhà riêng của Hùng Phong vào một buổi tối, kể hết sự tình và đưa cho Hùng Phong mớ đơn từ của gia đình ông Bát để xem anh ta có cách gì giải quyết chuyện này không. Hùng Phong xem qua một lượt rồi nói ngay:
- Chuyện này đâu có khó khăn gì. Để tôi lo cho!
Lân ra về mà không thật tin tưởng gì lắm vì anh biết rằng Hùng Phong chỉ được ở Hà Nội thêm một tuần nữa rồi lại sang chiến trường ngay. Không ngờ chỉ năm ngày sau Hùng Phong đã đến tận trường đại học văn hóa, nơi Lân vừa được công nhận là giảng viên chính hồ hởi thông báo:
- Xong rồi... tớ đã lần được hồ sơ gốc. Hồi đó thằng Bằng bị thương nặng được chuyển ra điều trị tại một bệnh viện của mặt trận ở Quảng Bình rồi hy sinh tại đó.
Qua quá trình chuyển thương, giấy tờ thất lạc đâu đó, khi ra tới bệnh viện này thì cậu ấy cũng không nói được nữa, nên trong hồ sơ họ chỉ ghi vẻn vẹn có mấy chữ “Bằng, từ B5 chuyển ra”. May sao họ còn ghi được mã hiệu HB - 6704. HB là mã hiệu của sư đoàn mình hồi đó. Từ đây tra hồ sơ gốc thì ra đó đúng là cậu Trần Hữu Bằng nhà ông rồi.
Lân mừng quá kêu lên:
- Nếu vậy, không chừng còn tìm ra cả mộ cậu ấy nữa?
- Có đây - Hùng Phong lấy ra một tờ giấy trao cho Lân - đây là sơ đồ khu nghĩa trang ở Quảng Bình, gần nơi ngày xưa bệnh viện mặt trận đóng quân. Không hiểu trong đó người ta đã qui tập về nghĩa trang nào chưa. Cứ theo sơ đồ này thì thằng Bằng nằm ở dãy số 12. Nhưng các ông phải đưa nhau vào đó mà tìm, còn tôi không thể làm gì hơn được nữa vì sáng mai tôi lại phải đi rồi. Còn chuyện báo tử và công nhận liệt sĩ thì chắc là nhanh thôi.
Lân ôm choàng lấy Hùng Phong:
- Ban... cám ơn cậu! Như thế này đã là nhiều lắm rồi. Không ngờ, sắp làm tướng rồi mà cậu vẫn không quên bạn bè.
Hùng Phong cười:
- Có các ông quên bọn này thì có... a, thằng Côn dạo này khá lắm. Vừa được bổ nhiệm sư đoàn trưởng đấy. Nó rất nhớ các cậu. Thôi mình đi đây. Nếu có tìm được mộ thằng Bằng thì thắp hộ cho bọn mình nén hương nhé.
Nói rồi Hùng Phong nhảy lên xe phóng đi ngay.
Một tháng sau, gia đình ông Bát được công nhận là gia đình liệt sĩ. Ngày xã tổ chức làm lễ truy điệu liệt sĩ Trần Hữu Bằng. Vững cũng về. Gặp Lân, Vững ngượng ngùng bắt tay rồi nói:
- Mời anh ghé về huyện chơi một hôm. Có thời gian, tôi sẽ nói chuyện kỹ với anh... về chuyện ngày ấy. Sư thật, tôi cũng không đến nỗi quá tệ như anh vẫn nghĩ đâu.
Lân nhếch mép cười, nói cám ơn rồi bỏ đi. Anh không muốn biết thêm bất cứ điều gì về cái thằng đào nhiệm này nữa.


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 19 Tháng Ba, 2012, 01:27:32 pm
Lân phải tạm dừng việc kết nạp đảng vì việc Vững đào ngũ, nhưng vẫn được đề bạt làm tiều đội trưởng. Kể ra thì cũng chẳng còn ai giữ cương vị ấy thích hợp hơn anh. Tiểu đoàn trưởng Phạm Quang Vinh động viên “Thôi, cậu cố gắng lên. Việc vào đảng thì trước sau cũng được thôi. Chẳng qua là chuyện của thằng Vững cũng cần phải có một ai đó phải chịu trách nhiệm mà thôi”. Lân cười “Thủ trưởng yên tâm đi. Tôi có thắc mắc gì đâu. Còn được trở về đơn vị để tiếp tục chiến đấu là tôi mừng rồi”. “Tốt lắm - tiểu đoàn trưởng xiết chặt tay Lân - mình tin ở cậu đấy. Chúng ta lại sắp có nhiệm vụ mới rồi”. Lân tò mỏ hỏi “Lần này chúng ta đi đâu ạ?”. Tiểu đoàn trưởng Vinh chỉ về phía điểm cao 241, nơi cứ đều đặn ba phút lại rền vang một loạt tiếng nổ đầu nòng của hơn hai chục khẩu pháo lớn “Có thể chúng ta sẽ” hỏi thăm “bọn pháo binh này xem sao? Dạo này chúng nó làm tàng quá, bắn suốt ngày suốt đêm ra vùng địa bàn của ta, ngứa mắt không chịu được!”.
Tiểu đoàn trưởng Vinh nói vậy là có nguyên do. Khi trung đoàn triển khai xong đội hình ở khu vực Động Mã thì địch ồ ạt tăng quân ra đường chín. Ba tiểu đoàn lính thuỷ đánh bộ rải quân từ Cam Lộ lên Tân Lâm, sẵn sàng chi viện cho lực lượng bị vây ở Khe Sanh Tà Cơn. Căn cứ pháo binh 241 cũng được tăng cường thêm lực lượng, địch đã kéo về đây thêm ba khẩu 175 “Vua chiến trường” tạo thành một cụm pháo chiến dịch rất lợi hại. Sư đoàn trưởng Phạm Sùng đã xuống tận nơi giao nhiệm vụ cho trung đoàn chuẩn bị tác chiến, có thể vừa đánh vào lực lượng lính thuỷ đánh bộ Mỹ mới tới, vừa tìm chỗ sơ hở để tấn công căn cứ pháo binh 241.
Sau khi nghe sư trưởng truyền đạt xong mệnh lệnh, trung đoàn trưởng Trần Đông Hải phấn khởi nói:
- Hay lắm... mấy hôm nay trung đoàn tôi đã trực tiếp trở thành mục tiêu của những trận địa pháo trên 241 rồi. Đã đến lúc phải nhổ nó đi rồi, thủ trưởng ạ”.
Sư đoàn trưởng lắc đầu cười:
- Ông tưởng dễ mà nhổ được một căn cứ pháo binh chiến dịch của chúng à? Tôi chỉ yêu cầu các anh đánh một trận tập kích, tiêu diệt và phá huỷ được càng nhiều sinh lực và hỏa lực của địch ở đó thì càng tốt. Trận đánh phải diễn ra thật quyết liệt, nhưng phải thật nhanh. Như sấm ran chớp giật vậy. Sau đó thì lập tức lui quân để tránh thương vong. Chứ chúng ta không thể đánh chiếm, làm chủ hoàn toàn một căn cứ như vậy được đâu. Điều mà tôi muốn biết là sau đó, ba tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ sẽ hành động như thế nào để lừa miếng, đánh cho chúng một đòn thật đau ngay tại khu vực này để chúng không còn sức mà đi giải toả cho Khe Sanh nữa. Bộ tư lệnh Mặt Trận B5 đã chuẩn y kế hoạch tác chiến này rồi.
Trung đoàn trưởng Trần Đông Hải có vẻ hơi cụt hứng:
- Vậy là đòn thứ hai mới là đòn quan trọng? Nhưng liệu sư đoàn có cho chúng tôi tham gia cú này không hay lại chỉ giữ vai trò châm ngòi?
Sư đoàn trưởng suy nghĩ giây lát rồi trả lời:
- Bây giờ thì chưa thể nói trước được. Nhưng anh chỉ được tung vào trận đầu một tiểu đoan thôi. Tôi cho rằng các anh vẫn nên dùng tiểu đoàn 7 cho trận đánh này. Hai tiểu đoàn còn lại phải luôn ở tình trạng sung sức để dùng cho bước thứ hai, thứ ba. Chiến dịch này chúng ta phải chơi dài hơi đấy. Bộ tư lệnh mặt trận cho biết rằng, trên hướng chính ta cũng chọn phương án vây lấn, đánh chắc tiến chắc. Vì vậy ở hướng Đông chúng ta cũng không một phút nào để địch được rảnh rang. Mấy hôm nay, phía Cửa Việt đặc công và bộ đội địa phương Quảng Trị đang nổ súng đánh địch ở khu vực cảng và trên sông Cửa Việt. Chúng ta phải khẩn trương lên để phối hợp với họ. Các anh chỉ có chưa đầy một tuần để làm công tác chuẩn bị cho trận này thôi.
Ngày hôm sau trung đoàn phó kiêm tham mưu trưởng Nguyễn Mạnh Cường được lệnh cùng ban chỉ huy tiểu đoàn 7 đi trinh sát mục tiêu. Tiểu đoàn trưởng Phạm Quang Vinh gọi Trương Đình Lân lên, mở bản đồ ra chỉ lên một điểm được đánh dấu bằng một nét chì xanh, rồi hỏi: - Không có trinh sát của cấp trên dẫn đường, liệu các cậu có bảo đảm đưa chúng tôi đến được điểm này trong đêm nay không? Lân xem xét kỹ những dải địa hình dẫn đến điểm đánh dấu rồi hỏi:
- Tôi muốn biết thành phần của đoàn trinh sát?
- Tham mưu trưởng sẽ đi cùng chúng ta. Ban chỉ huy tiểu đoàn có tôi và anh Thanh. Ngoài ra còn có bốn đại đội trưởng và tổ trinh sát các cậu.
Lân suy nghĩ một lát rồi nói:
- Nếu cứ chiếu thẳng trên bản đồ cắt rừng, vượt qua hàng loạt điểm cao mà đi thì e rằng đêm nay không thể tới được. Vì trời tối, cắt rừng ban đêm rất chậm. Nhưng nếu từ đây, chúng ta thọc thẳng xuống theo bình độ này, tới sát đường chín rồi đi ngược lên thì chỉ khoảng hai giờ đêm là ta tới nơi.
Tiểu đoàn trưởng gật gù:
- Hay đấy... nhưng có vẻ hơi mạo hiểm. Vì rất có thể là sẽ có địch mai phục ven đường chín.
Lân lắc đầu:
- Không có đâu. Mà nếu có thì chúng ta cũng sẽ phát hiện được thôi. Bọn ngụy thì bố bảo cũng chẳng dám mò ra khỏi các cứ điểm vào ban đêm. Còn bọn biệt kích Mỹ mà đi tới đâu thì ầm ĩ tới đó, lo gì!
- Được... tôi đồng ý. Ta sẽ đi theo con đường này. - Tiểu đoàn trưởng hài lòng với cách lập luận của Lân.
- Chúng ta sẽ tự mình trinh sát mục tiêu chứ ạ? Lân băn khoăn hỏi. Về việc này, quả thực, anh chưa tự tin lắm.
- Trinh sát trung đoàn sẽ giúp đỡ chúng ta. Họ sẽ đợi ta ở điểm hẹn.
- Có thể, ngày mai quan sát mục tiêu từ bên ngoài, đêm mai là đột vào luôn! Chắc chắn Nguyễn Danh Côn sẽ đợi mình ở đó.
Lân nghĩ vậy và cảm thấy yên tâm hơn. Có cậu ấy bên cạnh thì chẳng còn phải lo lắng gì nữa.
Đúng như dự đoán của Lân, bộ phận trinh sát của tiểu đoàn không gặp một trở ngại gì trên quãng đường hành quân mặc dù họ phải xuống tới sát đường số 9, thậm chí còn băng qua ngay trước một căn cứ dã chiến của địch đóng trên một cao điểm ngay sát đường.
Không một thằng biệt kích nào dám mò đi ăn đêm.
Nhưng pháo bắn vu vơ theo toạ độ thì nhiều. Có lần pháo nổ sát đội hình, may mà không có ai việc gì.
Trước hai giờ đêm, đoàn trinh sát đã đến chỗ hẹn. Tổ trinh sát của trung đoàn đo Nguyễn Danh Côn chỉ huy quả nhiên đã chờ sẵn ở đó. Trời tối đen như mực, Lân còn đang băn khoăn chưa biết mình đã đến đúng điểm qui ước trên bản đồ chưa thì có tiếng quát:
- Ai... mật khẩu?
Theo bản năng Lân ngồi thụp xuống bên một gốc cây to rồi lên tiếng:
- Mậu Thân 03.
- Đại thắng 02.
Mật khẩu đúng. Lân đứng vụt dậy kêu lên:
- Côn đấy phải không?
- Mình đây - Côn trả lời rồi bước ra, đứng sững ngay trước mặt Lân.
- Ôi trời... ông ở đâu ra thế?
Côn khẽ cười:
- Mình thấy các cậu từ khi các cậu lên dốc kia. Chỉ huy đâu?
- Đợi dưới khe... chúng ta xuống đó đi.
Hai người vừa đi xuống vừa rì rầm trò chuyện. Họ nhắc tới những người bạn đã hy sinh và bị thương trong những trận đánh vừa qua. Khi nghe tin Hướng đã khỏi một bên tai, Côn mừng lắm. Anh bảo “Trong số bạn bè cùng lớp, thằng ấy là người trung thực thẳng thắn nhất. Nó mà đằm tính thêm một chút thì sẽ tiến bộ nhanh lắm đấy”. Lân chép miệng “Nhưng với một điều kiện nữa là đừng có ngỏm sớm quá”. Côn nói “Phải”. Rồi anh quay sang kể cho Lân nghe về những chuyện phiền toái của mình. Thì ra Côn cũng gặp rắc rối về cái chết của trợ lý Định trên hàng rào Cam Lộ, anh cũng bị kiểm điểm vì đã thiếu thận trọng, không chuẩn bị tốt cho những đối tượng mà mình phải bảo vệ khi đưa họ vào trinh sát mục tiêu địch.
- Đêm mai bò vào căn cứ pháo binh địch liệu có ông nào nghe pháo nổ đầu nòng mà giật mình nữa không đây?
Côn hỏi mà không đợi câu trả lời của Lân. Nhưng Lân hiểu ý Côn muốn ám chỉ việc chọn người đi trinh sát.
- Yên tâm đi... - Lân trấn an bạn - các vị được chọn đi lần này đều vững vàng từng trải cả. Không đến nỗi nhảy dựng lên khi nghe pháo nổ đầu nòng đâu mà lo.


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 19 Tháng Ba, 2012, 01:27:50 pm
Khi họ xuống gần tới khe cạn thì đã nghe tiếng nói chuyện rì rầm. Có cả mùi thuốc lá thoảng trong gió.
Côn vỗ vai Lân nhắc “Cậu phải quán triệt các thủ trưởng thế nào chứ. Chủ quan khinh địch quá đi mất. Lỡ gặp bọ Lơp (Lurp) thì rắc rối to!”. Lân khẽ cười hỏi “Lơp là gì hả Côn”. Là đám biệt kích bôi mặt đi tuần tiễu ban đêm ấy. Bọn này cũng chịu mò mẫm lắm. Hôm trước bọn mình cũng đụng chúng nó ở bên kia đường chín đấy. Hai bên bắn nhau chí chạt một trận rồi cùng bỏ chạy”. “Cùng bỏ chạy à?”. “Ừ, bọn này đánh đấm cũng lì lắm, và nhanh như chó sói ấy chứ không ù lì như đám lính thuỷ đánh bộ đâu. Lỡ có gặp bọn ấy thì các cậu phải cẩn thận”.
Có lẽ vì đã đi vòng qua ngay trước mũi địch dưới đường 9 mà không thấy gì nên lúc này khi đã lùi ra xa địch, lại ở trong rừng sâu nên nhóm cán bộ trinh sát cảm thấy có thể “thư giãn” đôi chút. Người đang phì phèo điếu thuốc là tham mưu trưởng Cường, Lân đã không định nói gì nhưng Côn thì nhắc ngay:
- Thủ trưởng hút thuốc lá thế này thì từ trên đỉnh đồi đã phát hiện được rồi đấy ạ!
Tham mưu trưỏng hiểu ý vội dụi điếu thuốc.
- Thèm thuốc quá, mà buồn ngủ rũ ra nữa. Các cậu thông cảm.
- Tôi thì không sao... - Côn nói - nhưng lỡ có biệt kích lảng vảng quanh đây thì chúng nó chẳng thông cảm đâu ạ.
- Thôi thôi tớ nhận khuyết điểm rồi. Côn, lại đây. Tình hình “trong ấy” thế nào? Trong ấy có nghĩa là trong căn cứ địch. Tham mưu trưởng biết rằng những người lính trinh sát tài ba của mình vừa “đi dạo” ở đó về.
- Cũng không có gì phức tạp lắm. Thậm chí, tôi có cảm giác rằng bọn chúng bố trí hệ thống mìn bẫy, chướng ngại vật hơi sơ sài. Nhưng địch thì khá đông, ngoài bọn pháo binh, còn có một đại đội nữa chốt ở vòng ngoài làm nhiệm vụ bảo vệ.
- Mỹ hay ngụy?
- Mỹ... Hình như không phải lính thuỷ đánh bộ. Bọn này cũng vừa tăng cường tới đây. Ngoài ra còn có một đại đội ngụy có cả xe tăng, đóng chốt ở giông đồi chữ Y ngay lối rẽ từ đường chín lên cao điểm 241.
- Đường lên đó có khó lắm không?
- Không khó lắm. Sườn phía Đông còn một vài vạt rừng chưa bị phá. Hình như hướng này địch bố phòng lơ là hơn cả vì chúng cho rằng nếu ta có tập kích vào 241 thì sẽ chủ yếu đánh từ hướng Tây hoặc hướng Bắc thôi.
- Tốt lắm. - Tham mưu trưởng quay sang tiểu đoàn trưởng Vinh nói - quân của ông có giỏi mật tập không đấy? Nghĩa là đánh gần như kiểu đặc công ấy?
Tiểu đoàn trưởng Vinh khẽ cười:
- Anh hỏi thế thì tôi cũng chịu. Tiểu đoàn đã đánh theo kiểu này bao giờ đâu mà biết giỏi hay không?
- Nhưng dẫu sao cũng phải vào ngó qua một cái xem sao rồi mới quyết định được? Tham mưu trưởng kết luận thế rồi quay sang Côn:
- Côn, cậu bố trí cho anh em ngủ lại tại khu vực này đêm nay. Ngày mai tìm chỗ quan sát từ xa. Đêm mai ta sẽ đột.
Một loạt pháo từ căn cứ địch bắn ra. Tiếng nổ đầu nòng nghe rất đanh.
- Chúng nó bắn ra Vĩnh Linh đấy... Đó là những khẩu 175 “Vua chiến trường” chúng vừa kéo lên 241.
Nghe Côn nói vậy tiểu đoàn trưởng Vinh suýt xoa:
- Làm thịt được mấy con gà cồ ấy mới sướng.
- Thôi hãy đi chuẩn bị chỗ ngủ đã. - Tham mưu trưởng Cường vươn vai ngáp - làm một giấc rồi mai tính sau.
Chỉ một lát sau mọi người đã tìm được chỗ treo võng dưới khe núi. Tham mưu trưởng Cường, tiểu đoàn trưởng Vinh và mấy ông cán bộ đại đội đặt lưng xuống võng là ngủ ngay. Côn và Lân cắt đặt anh em trinh sát canh gác rồi tìm chỗ treo võng cạnh nhau nằm rì rầm trò chuyện. Lân cảm thấy vui vì Côn vẫn thân thiện và dễ mến như ngày còn đi học. Chiến tranh làm thay đổi con người rất nhanh, cả anh cũng đã thay đổi nhiều, riêng Côn thì dường như vẫn vậy, hay đó là do cảm giác bên ngoài của anh thì cũng chẳng rõ.
- Cậu có thấy con Đào nó quá đáng khi dám ngủ với thằng Ban hôm vào thăm nó ở Xóm Múc không?
Côn như chồm hẳn sang võng của Lân hỏi.
- Ai nói với cậu thế? - Lân hỏi lại - tớ chỉ biết rằng đêm đó thằng Ban ở ngoài Xóm Múc tới sáng sớm mới mò về. Nhưng... chắc gì chúng nó đã dám ngủ với nhau ở nhà người ta.
- Thì con Mai gửi thư vào cho mình kể rằng chính miệng con Đào kể bô bô với đám con gái trong lớp rằng kể từ hôm ấy... nó đã là vợ của anh Ban rồi kia mà!
- Ồi... kể gì con Đào. Cậu còn lạ gì nó nữa... xưa nay lúc nào nó chả nói nó chiếm được thằng Ban rồi. Nhưng chắc gì sau này thằng Ban đã chung thuỷ với nó. Cậu có thấy từ hồi vào chiến trường tới giờ đã bao giờ thằng Ban nhắc tới con Đào chưa?
- Cũng... có... ít ra là hai lần nó nói với tớ là nó nhận được thư của Đào.
- Nhưng... chắc gì... thằng Ban đã viết thư ra cho Đào?
- Ôi trời... bom đạn tùm lum, đánh đấm liên miên... hơi sức đâu mà còn nghĩ tới các em nữa?
- Thế còn cậu... dễ cậu cũng không nghĩ gì đến cái Thanh chắc?
- Có... nhưng chỉ là những ngày nằm ở trạm quân y thôi. Nhưng... tớ với cô ấy đã có chuyện gì đâu?
- Thôi đi - Côn lại chồm hẳn sang võng của Lân - Không có chuyện gì mà lại tặng nhau cả ảnh nữa. Thanh nó mê anh thật đấy, có điều nó kín đáo hơn chứ không tuệch toạc như cái Đào... con gái Hà Nội mà. Thế anh có nhận được thư của Thanh không?
- Từ hồi vào chiến trường thì không thấy có lá thư nào nữa.
- Chắc là nó đang lang thang đâu đó trên đường giao liên thôi.
Lân cũng hy vọng là Thanh không quên mình. Nhưng thư thì có lẽ không có đâu. Lần cuối cùng nhận được thư Thanh là trước khi đi B một tuần. Anh đã viết thư trả lời và nói với Thanh rằng đây là lá thư cuối cùng anh viết cho Thanh trước khi ra trận. Thanh cũng đừng viết cho anh cho đến khi có hòm thư mới. Trước Tết, đơn vị đã thông báo hòm thư ở mặt trận và cho phép viết thư về thăm gia đình nhưng lại qui định mỗi người chỉ được viết một lá và phải để thư ngỏ. Anh giành lá thư đó viết về cho gia đình. Trong thư anh có dặn em gái anh viết thư cho chị Thanh và cho chị ấy hòm thư mới của anh nhưng chắc gì tới hôm nay Thanh đã có hòm thư mới của anh mà viết thư? Anh cũng không biết thực ra mình có mong nhận được lá thư ấy hay không vì trong lá thư gửi Thanh trước lúc lên đường anh đã nói xa xôi về tình cảm của hai người. Nhưng rồi lại nói rằng vì hoàn cảnh chiến tranh, mỗi người mỗi ngả và thật khó mà lường trước được chuyện gì sẽ xảy ra trong ngày mai nên cũng không muốn ai bị ràng buộc bởi một lời hứa, hay một tình cảm quá gần gũi thân thương kẻo rồi mang tới cho nhau không chắc đã là hạnh phúc mà có khi lại là nỗi đau chia lìa. Sau khi gửi lá thư ấy đi rồi, Lân lại thấy ân hận, vì anh bỗng nhận ra tính cách nước đôi trong tâm hồn mình. Nếu những gì mà Đào đã giành cho Hùng Phong được gọi là tình yêu thì những gì mà anh giành cho Thanh chỉ lập loè như ánh sáng của một con đom đóm trong đêm đen. Anh không có gan để nói đến một tình yêu nhưng dường như anh lại chờ đợi ở Thanh chính những điều đó. Nghĩ lại, thật đáng xấu hổ.
- Thế cậu có nhận được thư của đứa nào trong lớp không, nghe bọn thằng Hướng nói, con Ngân nó cũng mê cậu như con Đào mê thằng Ban ấy mà? Không thấy Côn trả lời. Có lẽ nó đã ngủ rồi. Trinh sát trung đoàn như nó thì đêm nào cũng phải mò mẫm như cò, như vạc, lúc nào chả thèm ngủ. Thôi, kệ cho nó ngủ. Mà mình cũng phải ngủ một giấc để ngày mai tỉnh táo. Mò vào căn cứ địch chứ đâu có phải là chuyện chơi? Nhưng anh trằn trọc mãi mà giấc ngủ vẫn không đến. Lạ thế, lúc đi trên đường thì cứ chực díp mắt lại mà bây giờ thì lại cứ mở thao láo là cớ làm sao? Xung quanh anh, mọi người đều đã ngủ say. Tiếng ngáy của tham mưu trưởng Cường rất to, rất vang, lại còn lúc bổng lúc trầm nữa. Ngáy thế này không khéo bọn pháo thủ thức bắn cầm canh trên 241 cũng nghe thấy chứ chả chơi. Đêm ở mặt trận cũng thật lạ lùng.
Có cảm giác như đến cả đất trời sông núi cũng chỉ mơ màng nửa thức nửa ngủ. Dưới mặt đất thi thoảng lại dội lên từng loạt pháo bắn cầm canh từ một căn cứ pháo binh nào đó. Vậy mà dãy cao điểm này như vẫn chìm đắm mê mệt trong sương mù. Sương dày đến nỗi có cảm giác giống như núi rừng được phủ một lớp bông dày như một tấm đệm, nếu như có một loạt pháo nào đó bắn vu vơ vào đây thì có lẽ những viên đạn pháo cũng sẽ bật ngược trở lại khi chạm vào tấm đệm dày ấy. Vì thế ở mặt trận, mỗi khi màn đêm buông xuống người ta dễ rơi vào trạng thái bị mê hoặc, tưởng như mình đang được bảo vệ, đang được an toàn hơn.


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 19 Tháng Ba, 2012, 01:28:21 pm
Trên trời, những chiếc AC130 vẫn ì ầm vừa bay vừa thả pháo sáng, suốt một dải chiến trường từ Đông Hà đến Khe Sanh lúc nào cũng nhấp nhoá ánh hỏa châu. Thi thoảng, dường như để người ta không quên sự hiện diện của mình trên bầu trời thẫm đen, chúng lại ùng ục vãi xuống một tràng đại liên. Người ta nói, những chiếc AC130 ấy là những trạm cảnh giới di động trên không.
Nhưng nói cho đúng hơn, đó là một đài quan sát và chỉ huy hỏa lực từ trên không của quân đội Mỹ. Các trận địa pháo từ những căn cứ dưới mặt đất đều phải tuân theo sự chỉ huy từ cái trạm chỉ huy trên không ấy. Biết đâu, đến một lúc nào đó, ngành công nghiệp điện tử của quân đội Mỹ lại chẳng chế tạo ra những chiếc máy có thể thu được cả tiếng kéo bễ của ông Cường nhà mình để truyền lên cái đài chỉ huy trên không kia? Ý nghĩ ấy khiến Lân khẽ bật cười. Nhưng dường như chính vì tiếng ngáy ngon lành ấy lại tạo nên cảm giác bình yên, khiến Lân dễ dàng buông chùng mọi cơ bắp, mọi dây thần kinh để cơ thể anh nhẹ nhàng trôi vào trạng thái nghỉ ngơi, chìm dần vào giấc ngủ.

- Lần này thì cơm của tôi không thể ế được rồi, đêm nay đại đội phó hãy cho anh em ăn trước khi vào trận nhé.
Anh nuôi trưởng Ngô Xuân Cung nói với Hùng Phong như vậy trước khi đi phát cơm nắm cho các trung đội.
- Cậu cứ yên tâm đi... đêm nay lính của cậu sẽ được ăn no trước khi nổ súng.
Hùng Phong nói vậy rồi bỗng cười hềnh hệch nói thêm:
- Nhét quả cơm nắm này của cậu vào bụng rồi mà có chết thì cũng được làm con ma no đến vài ngày. Nếu như Diêm Vương không phát lương thực cho ngay cũng cóc cần!
Cậu Cung nhăn mặt gắt:
- Cái thằng... sắp ra trận ăn nói gở như cái con khẹc tao ấy! Đốt vía... đốt vía!
Hùng Phong vẫn cười cợt:
- Cậu là chi ủy viên rồi mà còn mê tín nhé.
- Chi ủy gì cái thằng nhọ đít như tao? Chẳng qua là chi bộ còn đúng có bốn đảng viên chính thức, thằng Khang thì mới về còn chưa biết nếp tẻ ra sao nên anh em họ mới bầu tao thôi. Nhưng lần này mà mày đánh đấm không ra hồn thì tao sẽ cho mày biết tay. Đại đội phó rồi mà cứ như trẻ con ấy! Trông thằng Do đấy, từ hôm được đề bạt trung đội trưởng đến nay, nó chững chạc hẳn.
Hùng Phong nhăn mặt:
- Cậu thì... lúc nào cũng thằng Do! Nó hối lộ cậu cái gì mà lúc nào cậu cũng khen nó thế, hả?
Cậu Cung chép miệng:
- Tao công bằng mà nói vậy thôi... thì đấy, hôm mày sửng cồ với mấy thằng lính tân binh đào ngũ, nếu không có thằng Do can, không chừng mày phạm tội rồi cũng nên!
Nhắc đến chuyện đó Hùng Phong lại thấy nóng mặt. Đúng là hôm đó anh đã nổi điên lên thật, nhưng chuyện gì cũng có nguyên cớ của nó chứ?
. . Chuyện là thế này, khi đại đội được bổ sung thêm ba chục tân binh, đại đội trưởng Đồng Tiến Phi liền bàn với anh “Hùng Phong này, tớ xem chừng đám lính mới này còn lớ quớ lắm. Cứ như thế này mà ghép vào các trung đội rồi đưa đi trận thì không khéo nướng hết. Trong lúc còn được nghỉ ngơi thế này, mình giao cho cậu tranh thủ rèn cặp thêm cho tụi nó trước khi biên chế về các trung đội, có được không?”. Hùng Phong suy nghĩ một lát rồi hỏi lại “Nhưng... huấn luyện gì mới được chứ? Xạ kích, điều lệnh, hay kỹ thuật chiến đấu cá nhân?”. Đại đội trưởng xua tay “Không... những thứ đó chúng nó được huấn luyện cả rồi. Mình muốn bổ túc cho anh em những gì thiết thực hơn để bọn họ nhanh chóng thích nghi với chiến trường kia. Chẳng hạn như phương pháp ngụy trang, cách lợi dụng địa hình địa vật trong chiến đấu, hay kỹ năng nghe phán đoán và tránh đạn pháo, cách phân biệt các loại hỏa lực của địch, kỹ năng phát hiện và khắc phục các loại mìn bẫy, rồi một vài kinh nghiệm khi cận chiến với lính thuỷ đánh bộ Mỹ chẳng hạn... ?”. Hùng Phong chợt phì cười “Anh cứ làm như chúng ta đã đánh nhau với thằng Mỹ có dư trăm trận rồi vậy? Mình đã có được bao nhiêu kinh nghiệm mà đi dạy dỗ người ta?”. Đại đội trưởng gật đầu “Đúng là chúng ta còn chưa có được bao nhiêu kinh nghiệm thật. Nhưng dù sao, chúng ta cũng đã dày dặn hơn anh em. Nếu chúng ta truyền đạt lại cho họ tất cả những hiểu biết ấy để khi lâm trận anh em không bỡ ngỡ thì hẳn sẽ tránh được nhiều thương vong vô ích. Cậu cũng biết rằng, không ít anh em chúng ta đã hy sinh chỉ vì không biết cách nghe tiếng đạn pháo rít xa hay gần để mà tránh đó sao?”. Hùng Phong cho là đại đội trưởng nói có lý. Có nhiều điều biết được trước thì sẽ đỡ tốn xương máu hơn nhiều.
Nghĩ vậy, anh liền gật đầu nói “Tôi đồng ý... nhưng, sẽ không có bài bản gì đâu nhé. Nghĩ ra cái gì thì tôi sẽ cho anh em luyện tập cái đó, được không?”. Đại đội trưởng Phi cười gật đầu “Tuỳ cậu... Tôi tạm giao đám lính mới cho cậu đấy. Nếu thấy cần hỗ trợ thêm thì cậu trao đổi với mình hoặc với các trung đội trưởng”.
Thế là trong khi chờ đợi nhận nhiệm vụ mới, hàng ngày Hùng Phong tập hợp ba chục chú lính mới đưa vào rừng luyện tập. Có hôm anh cho mời thêm các trung đội trưởng, tiểu đội trưởng đi theo để làm các động tác mẫu, hoặc đơn giản chỉ để kể chuyện về những trận đánh vừa qua của đại đội cho họ nghe, nhưng cũng có ngày chỉ một mình anh ra thao trường với họ. Có hôm anh giành cả buổi để nghe các chiến sĩ tâm sự, đặt câu hỏi rồi anh trả lời họ. Cũng giống như các anh hồi mới chân ướt chân ráo vào chiến trường, những câu hỏi của họ đều rất thiết thực và thẳng thắn.
Anh cũng cố gắng trả lời họ một cách trung thực nhất.
Thí dụ, có chiến sĩ hỏi anh “Lần đầu giáp mặt với bọn lính Mỹ thủ trưởng có sợ không?”. Anh không ngần ngại trả lời “Sợ chứ... mình chỉ sợ mình chưa kịp bắn nó thì nó đã thịt mình rồi. Nhưng đến khi đã nổ súng rồi thì không còn sợ nữa. Lúc đó là chuyện sống chết rồi.
Mình không hạ được nó cho nhanh thì nhất định nó sẽ giết mình”. Có cậu lại hỏi “Thằng Mỹ nó to gấp đôi mình thế, thì làm sao mình bám thắt lưng nó mà đánh được? Nếu phải vật nhau với nó thì mình thua là cái chắc?”. Anh cười bảo “Cậu hiểu câu bám thắt lưng địch mà đánh” như vậy là hơi máy móc rồi. Nói như thế chỉ để nêu bật phương châm đánh gần của chúng ta mà thôi. Bởi vì hỏa lực của địch rất mạnh, nhất là phi pháo, vì vậy phải nổ súng ở cự ly thật gần, nhanh chóng xung phong để trộn trấu, xen cài vào giữa đội hình địch thì mới không bị phi pháo của nó tiêu diệt. Còn, nếu đã tới cái lúc buộc phải đánh giáp lá cà với lính Mỹ thì chúng ta phải dùng sự nhanh nhẹn, mưu trí của người Việt mà quật ngã nó, chứ không nên lao vào dùng sức để vật nhau với nó”. Cậu chiến sĩ kia vẫn chưa chịu “Nhưng, nếu nó cứ xông vào, túm lấy mình thì làm sao”. Một cậu khác nhanh miệng hiến kế “Thì phải tìm cách mà bóp dái nó... dái thằng Mỹ to như dái trâu, dễ bóp lắm, phải không thủ trưởng?”. Mọi người ồ lên cười, Hùng Phong cũng cười rồi mghiêm mặt nói “Đồng chí nói đúng... lúc đó phải nhanh chóng tìm chỗ hiểm của nó mà hạ thủ. Nếu không... chì còn cách giật nụ xòe lựu đạn... cưa đôi với nó mà thôi”. Một chiến sĩ khác rụt rè hỏi “Thế... đã có trường hợp nào anh em mình phải xử lý như vậy chưa, thủ trưởng?”. Hùng Phong gật đầu “đã có rồi... đó là trường hợp của dũng sĩ Đồ Văn Nhượng, chiến sĩ của đại đội tám. Khi đánh vào trung tâm căn cứ Cam Lộ. Đồng chí Nhượng đã bị hai thằng Mỹ xông vào định bắt sống, nhưng đồng chí ấy đã kịp giật nụ xoè quả lựu đạn đeo bên mình, cùng chết với hai tên Mỹ. Gương dũng cảm hy sinh của đồng chí Nhượng đã được cả trung đoàn học tập đấy”. Mọi người cùng im lặng một lúc rồi ai đó bỗng bật lên “Đánh như thế thì chẳng kém gì chiến sĩ cảm tử ôm bom ba càng lao vào xe tăng địch”. Rồi mọi người cùng xôn xao bàn tán, người bảo đánh như vậy thật là anh hùng, người bảo, nếu đánh để mà chết thì mới đánh thế. Phải đánh làm sao mà địch chết, ta vẫn sống mới tài. Hùng Phong đợi cho mọi người yên lặng rồi nói “Đó chỉ là hành động quyết liệt cuối cùng khi không còn có sự lựa chọn nào khác mà thôi, các đồng chí ạ. Đồng chí nào đó vừa nói tất đúng, chúng ta phải chọn cách đánh làm sao vừa tiêu diệt được địch, vừa bảo toàn được lực lượng của mình thì mới tốt.
Nhưng, trong cuộc chiến tranh khốc liệt này, không có chiến thắng nào mà không phải đổi bằng máu xương cả. Thậm chí, không phải trận nào chúng ta cũng chiến thắng, nếu vậy thì chiến tranh đã kết thúc từ lâu rồi. Người lính ra trận là phải quyết tâm giành chiến thắng, nhưng cũng phải sẵn sàng đón nhận thất bại, đón nhận những hy sinh, mất mát nữa.
Rồi, rất chân thành, cởi mở, anh kể cho họ nghe về những trận đánh mà anh đã trải qua, nhưng tình huống mà anh và đồng đội đã gặp.
Anh không giấu họ cả những cái chết bi thương của anh em đồng đội. Kể cả những trường hợp thảm khốc vì bị bom Napan thiêu cháy như trung đội trưởng Thoan và tiểu đội trưởng Đại. Anh nghĩ rằng, họ là những người sắp phải chia sẻ mọi hiểm nguy sống chết với mình nên không cần phải giấu họ điều gì. Họ phải biết thực sự chiến tranh là cái gì và chiến đấu với một kẻ thù như đế quốc Mỹ đâu có phải chỉ là những cuộc tập trận vui vẻ? Rồi anh dạy họ cả cách phải xử lý như thế nào khi đồng đội, khi chính bản thân mình bị thương trong trận đánh và nhiều tình huống khó khăn khác mà họ sẽ gặp khi vào trận...
Những buổi vừa luyện tập vừa trò chuyện, trao đổi, tranh luận như vậy đã tỏ ra rất có ích. Chỉ mới hơn một tuần luyện tập theo chương trình này mà số chiến sĩ mới đã tiến bộ rất nhanh. Đại đội trưởng Phi và chính trị viên Phú đều tỏ ra rất hài lòng. Chính trị viên tiểu đoàn Lương Xuân Báo nghe tin C9 huấn luyện tân binh theo “phương pháp mới” cũng vội xuống kiểm tra và lấy làm hứng thú lắm, bèn “khái quát” ngay rằng “phương pháp Hùng Phong” sẽ trở thành kinh nghiệm rất bổ ích để các đơn vị trong toàn tiểu đoàn học tập khi tiếp nhận những lớp chiến sĩ mới về bổ sung cho đơn vị sau này.
Nhưng có ai mà học được chữ ngờ. Mọi việc đang tưởng như rất xuôn sẻ thì sự biến lại xảy ra. Vì đơn vị chuẩn bị đi làm nhiệm vụ chiến đấu nên “lớp bổ túc tân binh” của Hùng Phong phải dừng lại, anh em được lệnh chuẩn bị bổ sung về đội hình các trung đội, tiểu đội để chuẩn bị bước vào chiến đấu. Dự kiến sáng hôm sau chia quân thì đêm hôm đó ba chiến sĩ mới tên là Bình, Cải và Răm đã bỏ trốn. Sáng sớm hôm sau anh em mới phát hiện ra sự vắng mặt của họ và vội báo ngay cho đại đội. Hùng Phong giận điên lên, ra lệnh cho một tiểu đội lên đường truy nã ba quân nhân đảo ngũ ngay lập tức. Bốn giờ chiều hôm đó đội truy nã trở về cùng ba quân nhân đào ngũ. Thì ra, họ cũng chưa đi được bao xa, thậm chí còn chưa ra khỏi tuyến đường giao liên của mặt trận. Ba kẻ đào tẩu bị trói liền một xâu bằng dây võng. Người nào người nấy mặt xanh như tàu lá. Nghe tin đã bắt được những kẻ đào ngũ, đại đội phó Hùng Phong hằm hằm xách súng chạy đi ngay. Chính trị viên Đào Trọng Phú hốt hoảng đi tìm đại đội trưởng nhưng không thấy, gặp Do Cô-li-nốp đang đi vác củi về cho anh nuôi, Phú hốt hoảng kêu lên “Do, cậu đi với tôi ngay. Anh em đã bắt được mấy cậu đào ngũ. Hùng Phong nổi điên xách súng chạy đi nói sẽ bắn bỏ những thằng hèn nhát. Phải ngăn anh ấy lại không thì họa đến nơi rồi”. Do ném vội vác củi xuống rồi chạy theo chính trị viên ngay.
Đội truy nã vừa dẫn ba tên tội đồ về đến lối rẽ vào kiềng của đại đội thì gặp đại đội phó chạy rạ. Mặt đỏ phùng phừng, răng nghiến ken két, mặt đằng đằng sát khí, Hùng Phong lao tới chĩa súng vào ba kẻ tội đồ, kéo khóa nòng đánh roác, rít lên những tiếng rợn người - Mấy thằng khốn nạn. Hôm nay, tao sẽ thay mặt những chiến sĩ đại đội 9 đã hy sinh hỏi tội lũ hèn nhát chúng mày! Ba kẻ đào tẩu run lên như rẽ, xụp xuống vừa kêu khóc vừa lạy như tế sao. Hùng Phong càng giận dữ gầm lên một tiếng rồi choãi chân ra sau rê nòng súng vào đầu những kẻ đào tẩu và có lẽ chỉ một giây nữa là anh xiết cò nếu như đúng lúc đó Do Cô-li-nốp không kịp lao tới đứng chắn ngay trước họng súng: - Hùng Phong... dừng lại đi! Hùng Phong sững lại vài giây rồi gầm lên: - Tránh ra! Cậu... muốn chết cùng bọn khốn ấy à? Do vẫn đứng vững như đá, ba kẻ tội đồ lết tới ôm lấy chân anh vừa khóc vừa kêu la: - Cứu chúng em với... anh ơi... cứu chúng em với...
Hùng Phong lồng lộn rít lên: Do... tránh ra! Tôi phải quét sạch bọn rác rưởi này đi cho khuất mắt! Do vừa dang tay che cho những kẻ khốn khổ ở phía sau vừa ôn tồn khuyên giải: - Đại đội phó... hãy bình tĩnh lại đi. Họ sẽ phải chịu kỷ luật quân đội. Nhưng anh không có quyền giết họ! Vừa lúc đó chính trị viên Phú cũng kịp chạy tới, anh hốt hoảng nhìn hai người rồi nhìn mấy cậu chiến sĩ đào ngũ đang rúm lại phía sau lưng Do.
- Đồng chí Hùng Phong! Không được hành động tuỳ tiện! Với danh nghĩa là bí thư chi bộ, tôi ra lệnh cho đồng chí bỏ súng xuống! Hùng Phong chợt sững lại, tay súng hơi chùng xuống. Anh ngoái lại nhìn chính thị viên bằng đôi mắt đỏ vằn lên vì giận dữ rồi đột nhiên gầm lên một tiếng trước khi ném khẩu súng xuống đất. Do vội nhảy tới nhặt lấy khẩu tiểu liên. Trong khoảnh khắc ấy, gương mặt của ba kẻ đào ngũ bỗng phơi ra lồ lộ trước mặt Hùng Phong. Nhanh như một con cắt, anh nhảy bổ tới và vừa rít lên những tiếng vô nghĩa vừa vung tay nện tới tấp vào mặt ba kẻ đào tẩu những cú đấm như trời giáng. Chính trị viên Phú ngớ người ra không kịp phản ứng gì. Do quẳng vội cho anh khẩu súng rồi lao tới vừa cố lôi đại đội phó của mình ra khỏi mớ dây bùng nhùng trói ba quân nhân đào ngũ. Cũng may mà anh có sức nên chỉ một lát đã ôm chặt được Hùng Phong trong vòng tay cứng như thép của mình. Vừa chống trọi với cơn vùng vẫy của Hùng Phong, Do vừa hét lên với chính trị viên:
- Anh Phú... cho giải ba thằng này lên giao cho tiểu đoàn ngay đi!
Hiểu ý Do, chính trị viên Phú vội ra lệnh cho các chiến sĩ từ nãy đến giờ vẫn sợ xanh mắt đứng nép vào một bên nhìn cơn thịnh nộ của đại đội phó Hùng Phong, dẫn giải ba quân nhân đảo ngũ đi ngay. Ba kẻ tội đồ lúc này dường như không còn sức lực, đứa nào đứa nấy cứ mềm oặt, rũ ra như những tàu lá héo, dưới đũng quần của chúng đều ướt sũng những nước. Các chiến sĩ áp giải gần như phải vừa lôi vừa dìu chúng đi.


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 19 Tháng Ba, 2012, 01:29:20 pm
Bị Do ôm cứng, rồi nâng bổng hẳn lên, Hùng Phong vừa dãy giụa, liên tục khua khoắng hai chân vừa không ngớt miệng nguyền rủa những kẻ hèn nhát. Cho đến khi mấy tên tội đồ đã được giải đi khuất, Do mới nhẹ nhàng thả Hùng Phong xuống đất. Anh chàng đại đội phó lúc này dường như cũng đã mệt lử sau một cơn xúc động mạnh liền ngồi bệt ngay xuống một gốc cây, thừ người ra suy nghĩ. Do rón rén ngồi xuống bên cạnh im lặng chờ đợi. Một lát sau Hùng Phong bỗng thở dài hỏi:
- Sao lại có những kẻ tham sống sợ chết đến thế không biết?
- Ai mà chẳng ham sống? - Do trả lời bằng một câu hỏi khác.
- Nhưng... chúng ta đã tình nguyện chiến đấu và sẵn sàng hy sinh vì Tổ Quốc?
- Đó là anh với tôi thôi- Do vẫn thủng thẳng - chắc gì tất cả mọi người tới mặt trận đều có tinh thần tình nguyện, tinh thần sẵn sàng hy sinh như vậy?
- Đã vậy... thì họ còn vào chiến trường làm gì? Chẳng thà... họ trốn tránh ngay từ ngoài kia?
- Ngoài ấy... khó đối mặt hơn với nhân dân, với bạn bè, với cả người thân khi anh là một thằng đào nhiệm? Chả ai muốn phải đeo trước ngực tấm biển có dòng chữ “Ai cũng hèn nhát như tôi thì mất nước” rồi bị dong đi khắp xóm khắp làng cả.
- Thế vào đây rồi thì làm cái việc đốn mạt đó dễ dàng hơn à?
Do im lặng chưa trả lời ngay. Một lát sau anh mới khẽ cười bảo:
- Mấy thằng ấy đào ngũ cũng có một phần là lỗi tại anh đấy?
Hùng Phong ngạc nhiên hỏi:
- Sao lại là lỗi tại tôi? - Tại anh thật thà, cởi mở với họ quá... anh kể với họ tất cả mọi chuyện... cả những chuyện hy sinh chết chóc như là điều đương nhiên phải chấp nhận khi ra trận vậy. Anh đã khiến cho họ sợ.
- Chẳng lẽ... tôi nói dối họ thì tốt hơn à? - Không ai khuyên anh nói dối... nhưng đừng nói ra hết sự thật thì tốt hơn cho những người lính vừa mới vào mặt trận. Rồi họ sẽ tự mình từ từ khám phá ra sự thật của chiến tranh thì tốt hơn. Lúc đó, họ đã là những người lính từng trải rồi. Họ sẽ chịu đựng được. Cũng ví như với một đứa trẻ, nếu trong đêm sắp phải qua một bãi tha ma mà anh lại kể chuyện từng gặp ma cho nó ngay thì nó sẽ hoảng sợ, thậm chí sẽ quay đầu bỏ chạy.
Chi bằng cứ để cho nó đi qua cái bãi tha ma ấy một hai lần đi, rồi anh có kể chuyện kỳ quái gì thì nó cũng không biết sợ nữa.
Hùng Phong bỗng bật cười, những tiếng cười khô khốc.
- Thì ra vậy? Vậy là cái mà ông Báo gọi là “phương pháp Hùng Phong” đã phá sản rồi, phải không? Do cũng bật cười theo: - Đúng vậy... về công tác chính trị tư tưởng thì phương pháp Lương Xuân Báo mới là siêu hạng. Thôi, ta về đi. Hôm nay anh làm cho ông Phú bị một phen hú hồn đấy! - Thế còn... mấy cái thằng ranh ấy thì tính sao? Hùng Phong vừa đứng dậy vừa băn khoăn hỏi.
- Cứ giao bọn nó cho cấp trên giải quyết... thế là xong. Có thể cấp trên sẽ đưa chúng nó ra toà án binh, cũng có thể không? Biết đâu, nay mai cậu lại thấy có tên mấy thằng ấy trong danh sách các anh hùng hay các liệt sĩ cũng nên. Chiến tranh mà, chuyện gì chẳng có thể xảy ra? Hùng Phong thầm cảm ơn Do Cô-li-nốp đã cứu anh thoát khỏi một sai lầm nghiêm trọng. Nếu cậu ta đến chậm, rất có thể anh đã xiết cò và sau đó chưa biết điều gì sẽ xẩy ra...
Tuy vậy, là người giàu lòng tự ái, Hùng Phong cũng không thích ai nhắc lại chuyện đó, kể cả cậu Cung.

... Trần Tự Do không phải là nhà tiên tri, nhưng anh ta đã nói đúng một điều hết sức quan trọng: Trong chiến tranh chuyện gì cũng có thể xảy ra, kể cả việc một trong ba kẻ đào tẩu hôm ấy suýt bị Hùng Phong xử tử hình sau này đã trở thành một người anh hùng. Người đó là Đỗ Thanh Bình, năm 1975 được tuyên dương là Anh hùng lực lượng vũ trang vì đã lập được những chiến công xuất sắc trong chiến dịch Hồ Chí Minh khi đang ở cương vị tiểu đoàn trưởng. Cuộc đời cũng thật lắm chuyện kỳ lạ, Hùng Phong thật không thể ngờ rằng trong lần về dự liên hoan Đại hội anh hùng chiến sĩ thi đua lần đầu tiên sau cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, anh và Đỗ Thanh Bình lại được xếp ở chung một phòng tại nhà khách Bộ Quốc Phòng. Khi anh vừa vào tới cửa phòng Đỗ Thanh Bình đã vội bước ra, ôm chầm lấy anh:
- Chào đại đội phó... được ở cùng phòng với đại đội phó, em mừng lắm!
Hùng Phong cũng đã biết trước việc mình được phân công ở cùng phòng với Đỗ Thanh Bình, anh cảm thấy hơi khó xử, nhưng không tiện đề đạt với ban tổ chức để xin đổi phòng. Vả lại, anh cũng hơi tò mò, muốn thử xem Đỗ Thanh Bình sẽ ứng xử ra sao khi giáp mặt với anh. Có lẽ cũng không đến nỗi anh ta còn ôm mối hận với anh, nếu thế thì anh ta cũng không xứng là một người anh hùng, nhưng quả thực Hùng Phong cũng không dám nghĩ tới sự đón tiếp cởi mở nồng ấm thế này.
- Mình... cũng mừng vì... cuối cùng thì cũng gặp lại cậu.
Sau màn chào hỏi ồn ào, cảm động. Hùng Phong không ngờ Đỗ Thanh Bình không một chút ngần ngại, mặc cảm khi nhắc lại chuyện cũ.
- Ngày ấy... nếu không có thái độ quyết liệt của đại đội phó thì có lẽ... em vẫn chưa tỉnh ra ngay được như vậy. Sau này, cứ mỗi lần nghĩ tới chuyện rất có thể mình đã chết một cách nhơ nhuốc em lại rùng cả mình. Sau đó, trước hội đồng kỷ luật của sư đoàn, cả ba anh em chúng em đều chân thành nhận ra lỗi lầm và xin cấp trên cho chúng em có được một cơ hội để hối cải, lập công chuộc tội. Thực tình, ngày ấy em rất tuyệt vọng, không mấy hy vọng sẽ còn được ở lại quân ngũ.
Ai ngờ cấp trên lại rủ lòng thương, đồng ý cho chúng em chịu án kỷ luật, đi gùi hàng liền sáu tháng rồi cho phục hồi quân tịch, trở lại đội ngũ tiếp tục chiến đấu.
Chỉ tiếc rằng chúng em không được trở lại lại đơn vị cũ mà lại được bổ sung cho sư đoàn bạn nên tới tận hôm nay mới gặp lại đại đội phó để nói lời cảm ơn. Có hơi muộn màng, mong đại đội phó thông cảm.
Hùng Phong vội xua tay:
- Không... người mà cậu cần phải cám ơn trước tiên phải là trung đội trưởng Trần Tự Do, cái cậu người lai da đen đã đứng chắn họng súng của mình hôm đó kia. Nếu cậu ấy không đến kịp thì có lẽ mình đã không kiềm chế nổi cơn giận mà nổ súng rồi cũng nên. Nếu điều đó xảy ra thì có lẽ... mình cũng sẽ không còn được như hôm nay, và sẽ ân hận suốt cả cuộc đời.
Đỗ Thanh Bình sốt sắng hỏi:
- Vậy... anh Do bây giờ ra sao rồi. Ở đâu, liệu em có thể tìm gặp anh ấy được không?
Hùng Phong buồn bã lắc đầu:
- Không... chúng ta sẽ không bao giờ còn được gặp anh ấy nữa. Anh ấy đã hy sinh rồi!
Đỗ Thanh Bình ngơ ngẩn hỏi:
- Hy sinh rồi à?
- Sau khi xảy ra chuyện của các cậu được vài ngày thì đơn vị nhận nhiệm vụ tiến công căn cứ pháo binh 241 của địch trên đường số 9. Anh ấy đã hy sinh rất anh dũng trong trận đánh quyết liệt ấy!
- Trời ơi! - Đỗ Thanh Bình ôm mặt kêu lên – sao những người tốt như vậy mà lại không gặp được may mắn như chúng ta nhỉ?
- Đúng vậy. Chúng quả là những kẻ may mắn - Hùng Phong mỉm cười chua chát - chúng ta trở thành những người anh hùng, được xã hội tôn vinh, còn nhũng người như anh ấy thì không! Đơn vị đã đề nghị truy tặng danh hiệu Anh hùng cho anh ấy nhưng không hiểu vì sao vẫn chưa được. Trong khi đó, tôi với cậu một người thì được anh ấy cứu mạng sống, một người được anh ấy bảo vệ sinh mạng chính trị, thì đều đã được tuyên dương là những người Anh hùng, thật... bất công quá!
Đỗ Thanh Bình nắm lấy tay Hùng Phong, an ủi:
- Chắc chắn những người như họ sẽ không bị lãng quên đâu anh.
- Hy vọng là như vậy - Hùng Phong đứng dậy bước ra cửa phòng nhìn ra đường phố Hà Nội nhộn nhịp đông vui. Gia đình anh, cái gọi là tổ ấm của anh chỉ cách nơi này vài con phố. Thực ra, trong những ngày hội nghị, anh có thể về nghỉ tại nhà nhưng hôm qua anh đã quyết định đăng ký chỗ nghỉ tại nhà khách cũng chỉ vì một cuộc cãi vã nho nhỏ xảy ra với vợ.
Hoan muốn anh nói chuyện với bố vợ, nhờ ông giúp thu xếp cho một vị trí công tác tại cơ quan bộ để được gần gia đình, vợ con nhưng anh không thể đồng ý với cô ấy vì đơn vị lúc này đang cần anh. Chiến tranh tuy đã kết thúc, nhưng bọn Fulrô và bọn tàn quân của ngụy quân ngụy quyền Sài Gòn được những thế lực từ bên ngoài tiếp sức vẫn đang hoành hành ở các tỉnh Tây Nguyên. Sư đoàn của anh đang làm nhiệm vụ truy quét tiễu trừ bọn phản động này. Anh không thể dời sư đoàn vào thời điểm này được. Câu chuyện chỉ có vậy mà hóa ra căng thẳng, lời qua tiếng lại đã khiến Hoan mất cả tỉnh táo, dùng những lời không hay thóa mạ anh, xúc phạm tới những tình cảm thiêng liêng của anh với những người đồng đội. Vì vậy, anh đã quyết định vào nhà khách nghỉ trong mấy ngày hội nghị để cho tâm hồn được thanh thản đi ít nhiều. Vì thế mà anh đã đươc gặp Bình.
- Thế còn... hai cậu kia sau này ra sao? – Hùng Phong hỏi khi chợt nhớ lại câu chuyện năm xưa.
- Anh vẫn không quên bọn nó hả? - Đỗ Thanh Bình mỉm cười bước tới bên Hùng Phong rồi chậm rãi kể:
- Cậu Cải thì hy sinh tại Tây Thừa Thiên cuối năm 1972. Còn Huy Răm thì bị thương năm sáu mươi chín, sau đó ra Bắc, đi học đại học. Nghe nói bây giờ cậu ấu là giảng viên của trường đại học Bách Khoa rồi.
- Nghĩa là... họ đều nên người cả, phải không?
- Đúng vậy... dù sống hay chết họ cũng đều nên người cả. Thật cảm ơn các anh quá. Khi nào có điều kiện, em sẽ về tìm về thăm bố mẹ anh Do một lần, có được không ạ?
- Được chứ... khi nào có thời gian rỗi, tôi sẽ đưa cậu đi. Quê cậu ấy... cũng gần đây thôi.
Nói thế, nhưng lần đó Hùng Phong vẫn chưa có dịp đưa Bình tới thăm gia đình Do. Cho mãi tới tận năm 1986, hai người mới lại có dịp gặp nhau trong một hội nghị quân chính tại thủ đô. Lúc đó đã nghe phong thanh rằng vào dịp quốc khánh năm nay, trong danh sách những liệt sĩ được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang đợt này có liệt sĩ Trần Tự Do. Hai người quyết định dành ra một buổi để lên Ba Vì thăm gia đình ông Lơgốt Trần Chiến Thắng. Nhưng khi tới nơi mới biết nông trường Âu - Phi đã giải thể từ lâu và ông Lơgốt Trần Chiến Thắng đã đưa vợ về quê hương mình ở châu Phi từ mấy năm trước rồi. Hỏi thăm nhân dân trong vùng thì chỉ có vài người biết láng máng về những gia đình Việt Phi từng sinh sống ở đây nhiều năm về trước nhưng không ai biết Trần Tư Do là ai. Trở về Hà Nội, thông qua Trương Đình Lân đang tu nghiệp tại trường đại học Văn hoá, Hùng Phong mới biết Trần Hòa Bình hiện đang làm đại diện thương mại tại An-giê-ri.
Nếu người ta truy lặng danh hiệu Anh hùng cho liệt sĩ Trần Tự Do, thì phải gửi các loại giấy tờ thông báo vinh dự quốc gia này sang An-giê-ri cho người em gái của anh, là người duy nhất trong gia đình hiện vẫn còn giữ quốc tịch Việt Nam, nhưng chưa biết được bao lâu, vì nghe Lân kể, hình như Trần Hòa Bình muốn ở lại quê hương sinh sống lâu dài cùng cha mẹ và các em của cô.
Ôi, Trần Tự Do... riêng anh thì mãi mãi sẽ là Anh hùng liệt sĩ của dân tộc Việt Nam. Anh sẽ không bao giờ thay đổi Tổ quốc của mình nữa.


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 19 Tháng Ba, 2012, 01:29:53 pm
Trận tập kích căn cứ pháo binh 241 hoá ra lại không phải là một trận đánh dễ dàng. Nguyên do là vì phương án mật tập đã phá sản ngay từ đầu khi mũi vu hồi của đại đội 8 bị lộ ngay khi vừa chớm vào tới ven đường 9. Nguyên nhân của chuyện bị lộ cũng thật tình cờ. Có một chiếc xe xích kéo pháo bị hỏng, địch phải bỏ lại trên sườn đồi, có lẽ chúng tạm thời phải giấu chiếc xe ở đó đợi sáng mai đưa thợ tới sửa. Trên xe hình như chỉ có hai ba tên địch nằm lại trông xe mà thôi. Khi đại đội tám tiếp cận mục tiêu, tới đây thì các chiến sĩ phát hiện ra một chiếc xe bọc thép giấu trong bụi cây. Đại đội trưởng đại đội 8 nghi rằng địch đã mai phục sẵn một lực lượng ở bên ngoài để đón lõng quân ta. Anh chưa kịp báo cáo về tiểu đoàn xin chỉ thị xử lý tình huống bất ngờ này thì bất ngờ đèn trên xe bật sáng. Có lẽ tên địch trông xe chỉ định bật đèn để đi ngoài hay làm gì đó thôi nhưng vì chưa có kinh nghiệm nên các chiến sĩ ta lại tưởng đã bị lộ, chiếc xe địch chuẩn bị phát hoả.
Thế là một quả B40 được phóng đi. Chiếc xe nổ tung dựng lên một cột lửa dữ đội. Trên hướng chính diện và hướng mật tập đại đội 7 và đại đội 9 chưa triển khai xong đội hình, nhưng nghe súng nổ, biết là đã bị lộ nên họ lập tức chuyển phương án hai, phát động tấn công cường tập, không chờ đợi nữa.
Đại đội 9 do đại đội trưởng Đồng Tiến Phi chỉ huy có một chút thuận lợi hơn vì mũi mật tập được xuất phát sớm nên khi hướng đại đội 8 bị lộ thì các anh đã áp sát hàng rào căn cứ địch rồi. Khi nghe tiếng súng nổ ở hướng đại đội 8, rồi sau đó cả căn cứ địch như bừng tỉnh, súng nổ rền trời, đại đội trương Đồng Tiến Phi liền bật dậy ra lệnh:
- Đem tất cả bộc phá lên... phá rào mà đánh vào!
Vì chuẩn bị phương án mật tập nên đại đội 9 không mang theo nhiều bộc phá ống để phá rào. Đa số lực lượng bộc phá của đại đội là để chuẩn bị đánh công sự, ụ pháo, đài chỉ huy, cấu tạo của loại bộc phá này gây ra sức công phá lớn nhưng sẽ rất nguy hiểm cho người điểm hỏa nếu cho nổ trên mặt đất để phá rào. Vì vậy khi nhận được lệnh của đại đội trưởng, trung đội trưởng Trần Tự Do hiểu rằng mình phải là người đánh quả bộc phá này chứ không thể là ai khác. Anh liền bật dậy, chộp lấy khối bộc phá của một chiến sĩ rồi hét lên:
- Đưa bộc phá đây... tất cả lùi ra, nằm xuống!
Rồi anh ôm khối bộc phá lao lên hàng rào. Khối bộc phá mười cân của Trần Tự Do nổ như một trái bom, hất tung hai lớp rào ngoài cùng, nhưng cũng hất luôn cả anh bay vào bên trong hàng rào, tới tận khu giao thông hào phòng thủ ngoài cùng của căn cứ. Nếu là người khác thì sức ép của bộc phá và cú “bay” ấy đủ mất mạng hoặc thí ít cũng phải ngất lịm đi hàng giờ. Nhưng Trần Tự Do thì lại khác, cú chạm đất nảy lửa chỉ khiến anh đau ê ẩm và hơi choáng một chút. Anh còn kịp nhận ra cái vệt đen ngòm của dãy giao thông hào ngay trước mặt mình nên vội bật thêm một vòng rồi lăn ngay xuống đó. Bọn địch trong căn cứ cũng đang rầm rập chạy dọc giao thông hào để triển khai chiến đấu. Không có súng, Do sờ quanh sườn lôi ra được hai trái lựu đạn. Anh chờ cho tiếng bàn chân địch lao tới thật gần, nghe rõ cả tiếng thở ồ ồ của chúng rồi mới rút chốt lựu đạn và ném tới. Trái lựu đạn nổ bung ngay đoạn giao thông hào trước mặt. Khói chưa kịp tan thì Do đã lao tới. Trong lòng hào, hai thằng Mỹ bị thương đang kêu oái oái. Bọn còn lại vừa chạy lộn trở lại vừa bắn ràn rạt trên bờ giao thông hào. Không kịp suy tính gì nhiều anh dùng quả lựu đạn chày còn lại nhằm đầu một thằng Mỹ nện thật mạnh khiến nó chỉ kịp giãy lên một cái rồi nằm xuôi xị. Chợt nhìn thấy khẩu trung liên nằm bên cạnh thằng Mỹ thứ hai, anh nhoài ngay tới giật lấy khẩu súng, rồi bật dậy kê súng lên miệng hào, mắm môi xiết cò, lia từng loạt đạn về phía bọn địch trong căn cứ đang ào tới.
Vào giây phút đó, Hùng Phong đã dẫn anh em trong tiểu đội của Nguyễn Đình Hướng lao lên chiếm được một đoạn hào bắn yểm hộ cho lực lượng phía sau tràn vào căn cứ. Khẩu trung liên của Do thật lợi hại, nhờ có nó bắn kiềm chế mà hỏa lực địch trong căn cứ đã không ngăn chặn được mũi tiến công phía bên trái của đại đội do đại đội trưởng Đồng Tiến Phi chỉ huy đánh thẳng vào phía trận địa pháo. Mục tiêu của đại đội là phải phá huỷ bằng được những khẩu pháo lớn của địch, vì thế nên đại đội trưởng Phi quyết định bỏ qua vòng ngoài, để mũi của Hùng Phong kiềm chế địch, còn bản thân thì dẫn mũi xung kích lao thẳng vào bên trong.
Trần Tự Do vừa bắn vừa hò hét một cách khoái trá. Đây là lần đầu tiên anh được xài súng máy của Mỹ, anh không ngờ nó lại dễ xử dụng và nhẹ đến thế? Nhưng chính vào lúc anh đang say sưa với khẩu súng mới của mình thì tai họa ập đến. Thằng Mỹ bị thương nằm trong giao thông hào mà anh bỏ qua đã lặng lẽ gượng dậy. Trong khi không ai để ý tới, nó đã kịp rút chốt một quả lựu đạn US rồi tung thẳng về phía sau lưng Do. Đang mải bắn, Do không kịp phản ứng gì cho đến khi một quầng lửa nháng lên ngay phía sau lưng anh. Nguyễn Đình Hướng phát hiện ra hành động ám muội của tên Mỹ thì đã quá muộn. Lựu đạn đã nổ. Do gục xuống ngay trên bờ giao thông hào, đè lên khẩu súng máy. Ngay lập tức Hướng hét lên một tiếng rồi nhảy tới nhằm thằng Mỹ nằm dưới lòng hào xả gần hết cả băng đạn. Trong ánh pháo sáng, ánh đạn lửa, thằng lính Mỹ cứ giật nảy lên như bị cù. Có lẽ Hướng còn bắn nữa, nếu Hùng Phong không lao tới hét lên:
- Nó chết rồi! Xem thằng Do thế nào đã chứ?
Nói rồi, anh lao tới, lật Do qua một bên. Máu anh chảy ròng ròng trên khẩu súng máy.
- Anh ấy chết rồi!
Hùng Phong hét lên trong tiếng đạn nổ rền trời.
Địch lại đang ào ra định chiếm lại cửa mở. Nếu chúng chiếm mất cửa mở thì mũi xung kích của anh Phi coi như tiêu hết, không thể nào ra được nữa. Phong nghĩ vậy rồi đặt Do xuống lòng hào và hét lên:
- Hướng... lệnh cho anh Khang chỉ huy trung đội cố giữ lấy cửa mở. Mình dẫn thêm anh em vào trong kia giúp anh Phi một tay.
Hướng đang gục bên thi thể Do, ngẩng lên hét:
- Nhưng anh Do chết rồi!
- Chết thì thôi - Hùng Phong điên tiết hét lên - cậu gọi B41 lên đập chết cái xe bọc thép kia đi. Nó sắp lao ra bịt cửa mở đấy!
Nói rồi, anh vẫy tay ra hiệu cho trung đội trưởng trung đội hai còn mắc ở phía sau:
- Tại, đưa hai tiểu đội lên đây theo tôi!
Hùng Phong dẫn lực lượng dự bị của đại đội lao thẳng vào tung thâm căn cứ để trợ chiến cho mũi xung kích dang đánh phá ầm ĩ ở bên trong. Các mũi tiến công khác của tiểu đoàn cũng đang đánh vào từ ba phía khiến áp lực của địch lên khu vực cửa mở của đại đội 9 cũng giảm dần. Chiếc xe bọc thép đang chuẩn bị lao ra bịt cửa mở thì bỗng quay đầu lại chạy thẳng ra phía Tây căn cứ, có lẽ đại đội 7 đang đánh dữ ở hướng đó.
Trung đội phó Khang và tiểu đội trưởng Hướng chưa kịp mừng thì đã nghe tiếng động cơ trực thăng rít ngay trên đầu, những luồng đèn pha sáng quắc xẻ thẳng xuống khu vực cửa mở của đại đội rồi đạn đại liên, rốc két và cả lựu đạn từ trên những chiếc trực thăng vừa xà tới phóng xuống tới tấp. Khu vực cửa mở lại tối tăm mù mịt. Cũng may, có đoạn giao thông hào này để tránh đạn, nếu không... ? Bỗng trong ánh đèn pha của trực thăng, Hướng nhìn thấy khẩu súng máy đẫm máu của trung đội trưởng Do. Nhanh như cắt, anh nhảy vài bước tới bên khẩu súng kéo nó xuống lòng hào.
- Cậu định làm gì thế?
Trung đội phó Khang hỏi với sang. Hướng chỉ lên trời:
- Chơi bọn trực thăng chứ còn gì nữa?
Loay loay một lát, anh cũng tìm được chỗ thích hợp để dựng súng lên. Đó là một cái cột đèn vừa bị pháo bắn gãy, nằm vắt ngang đoạn giao thông hào. Vừa lúc đó chiếc trực thăng quay vòng trở lại. Có lẽ vì không thấy có phát đạn nào bắn lên nên thằng quỉ này chủ quan. Nó xà xuống rất thấp, dọi đèn pha, bắn súng máy xồng xộc, đạn cày chiu chíu dọc theo giao thông hào. Hướng chong súng nhìn lên, thấy rõ cả những tên lính Mỹ đang vung tay tung lựu đạn xuống.
- Mẹ cha mày! Để ông dạy cho mày một bài học.
Mặc đạn bắn như vãi xung quanh, Hướng bình tĩnh nhằm thẳng vào đầu chiếc trực thăng UH1A rồi mắm môi mắm lợi mà xiết cò. Anh nhìn rõ cả những tia lửa toé lên khi đạn găm vào bụng cái con quái vật trên không ấy. Nó có vẻ hơi rùng mình, như ngạc nhiên khi thấy có kẻ dưới kia dám chọc ghẹo nó. Nó gầm rú, chao đảo cố nhấc mình lên được một đoạn rồi như một thằng say rượu, nó đột nhiên bật nghiêng, rít lên những tiếng thật kinh khủng rồi từ từ lao cắm xuống ngọn đồi bên kia đường 9. Từ chỗ nó lao đầu xuống, một cột lửa dữ dội bùng lên. Hầu như tất cả mọi người đều sửng sốt ngạc nhiên trước sự may mắn bất ngờ ấy. Không ai dám nghĩ rằng, một chiếc trực thăng vũ trang hiện đại đến thế lại có thể bị quật đổ một cách dễ dàng đến vậy? Vì thế phải một lát sau, mới nghe thấy tiếng anh em hò reo lẫn trong tiếng đạn nổ. Hướng đứng sững trong đoạn giao thông hào, sửng sốt nhìn chiếc trực thăng từ từ lao đầu xuống đất. Cho đến khi nghe thấy trung đội phó Khang và anh em trong trung đội reo lên “Rơi rồi! Nó rơi thật rồi!”, anh mới như bừng tỉnh. Bỏ mặc khẩu súng máy vẫn kê trên chiếc cột đèn, anh lao tới đổ gục xuống bên thi thể của Do, khóc nức lên:
- Anh Do ơi... tôi... tôi... đã dùng khẩu súng chiến lợi phẩm của anh để bắn cháy một chiếc trực thăng rồi... chắc là anh đã phù hộ cho tôi, phải không?
Nhưng Hướng không có thời gian nhiều để mà than khóc. Ngay sau khi chiếc trực thăng bị bắn rơi, pháo địch từ thị trấn Đông Hà, căn cứ Cam Lộ bắt đầu bắn như mưa theo kiểu bóc vỏ bưởi, bắt đầu từ dưới chân cao điểm, hàng rào hỏa lực của địch dâng dần lên tới khu vực cửa mở. Hình như tiểu đoàn đã nhận thấy diễn biến trận đánh đang xoay theo chiều hướng giống như trong trận Cam Lộ, đề phòng bộ đội ham đánh sẽ bị địch dùng phi pháo đánh theo kiểu “xoa mạt chược”, nghĩa là cho lực lượng trong căn cứ rút xuống hầm ngầm rồi dùng phi pháo đánh trùm lên, bộ đội ta sẽ bị sát thương nhiều nên đã ra lệnh vừa đánh vừa lui quân. Chính trị viên Phú ở phía ngoài nhận được lệnh của tiểu đoàn liền cho liên lạc lên yêu cầu Khang truyền lệnh lui quân cho đại đội trưởng ngay. Nhìn đi nhìn lại chẳng thấy ai có thể đủ khả năng đột vào bên trong khi hỏa lực địch đang bắn dữ thế này, anh đành chạy tới hét vào tai Hướng:
- Để ông Do đấy tôi cho người mang ra... cậu vào khu trận địa pháo truyền lệnh cho đại đội trưởng, tiểu đoàn yêu cầu rút quân ngay, không ham đánh nữa.
Hướng nghe câu được câu chăng nhưng cũng hiểu tinh thần của mệnh lệnh, nhưng vẫn hỏi lại:
- Sao lại rút... mình đánh đang ngon thế này kia mà!
- Rút là rút... đây là lệnh của tiểu đoàn đấy! Cậu
vào đi, mà phải nhanh lên đấy! Tôi sẽ chỉ huy anh em giữ cửa!
Hướng tuân lệnh của trung đội phó lao đi ngay.


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 19 Tháng Ba, 2012, 01:30:36 pm
Nhưng đường vào khu trận địa pháo 175 ly “Vua chiến trường”, mục tiêu chính mà đại đội 8 phải đảm nhiệm lúc này đã bị hỏa lực địch phong toả từ nhiều hướng.
Những ụ đại liên địch ở khu vực trung tâm hầu như vẫn còn nguyên vẹn, chúng bắn xéo cánh xẻ, tạo thành một lưới hỏa lực dày đặc để ngăn chặn quân ta đánh sâu vào căn cứ, nhất là khu đài chỉ huy pháo binh.
Thực ra, trong trận đánh này, tiểu đoàn chỉ đề ra mục tiêu tiêu diệt các cụm pháo của địch, chứ không có ý định đánh chiến toàn bộ căn cứ, tuy vậy, hình như mũi đại đội 7 vừa đánh trúng khu kho đạn, nên vào lúc này tiếng nổ của đạn pháo trong kho, chen lẫn tiếng nổ do pháo địch bắn tới khiến cả khu cao điểm mù mịt khói lửa và rung lên bần bật như trong một cơn động đất lớn. Trong bối cảnh đó, rất khó phát hiện luồng bắn của các hỏa điểm địch để mà tránh đạn. Nhưng Hướng biết rằng, vào lúc này, chính những thằng xạ thủ đại liên địch cũng không nhìn thấy gì mà chỉ bắn bừa phứa ra hướng nào mà chúng nghi có Việt Cộng đang tiến vào mà thôi. Anh thận trọng lợi dụng địa hình địa vật, nhảy cóc từng chặng và cuối cùng cũng đến được khu trận địa pháo 175 ly. Vào thời điểm đó, lực lượng xung kích của đại đội đã đánh bật hết bọn địch ở khu vực trận địa pháo. Đại đội trưởng Phi ra lệnh cho một bộ phận chiếm lĩnh những vị trí thuận lợi để kiềm chế, chống địch phản kích, số còn lại do đại đội phó Hùng Phong chỉ huy đang tìm cách phá huỷ ba khẩu pháo lớn. Hoá ra cái việc “phá phách”này cũng chẳng dễ dàng một tí nào. Đại đội chỉ còn hai quả bộc phá mười cân thì một quả đã tương vào cái ụ đại liên án ngữ trận địa rồi. Còn một quả nữa, Hùng Phong cho đặt vào giữ bệ xoay của một khẩu “Vua chiến trường” rồi cho giật nổ. Cái bệ tự hành của “ông vua” đỏ lừ lên rồi toác ra, nhưng cái nòng pháo chỉ hơi nghẹo xuống, chẳng hiểu có vỡ hay không? Nhưng như thế cũng coi như là xong một thằng rồi. Đến thằng thứ hai, anh em chạy qua, nhìn cái nòng pháo to đùng lững lững trước mắt mà chưa biết làm thế nào. Mấy cậu hô nhau lùi ra rồi kết chùm ba bốn trái lựu đạn lẳng vào, nhưng chẳng ăn thua mẹ gì. Cái khối sắt thép ấy vẫn trơ ra. Một cậu đề nghị leo lên nòng pháo mà thả lựu đạn vào, nhưng như vậy thì sẽ làm mồi cho đạn bắn thẳng của địch từ bốn phía đang bắn vào khu trận đại pháo như mưa. Vừa lúc đó thì Hướng đến, thấy tình hình như vậy Hướng liền kêu lên”Sao các ông ngốc thế? Lấy B41 mà dọi. Xe tăng M41 còn chảy ra nước nữa là ba cái thứ này? Hùng Phong như sực tỉnh, liền cho điều ngay hai khẩu B41 tới. Thông “lùn” vác súng chạy tới trước, được lệnh thịt khẩu ngoài cùng. Còn khẩu B41 thứ hai, xạ thủ chính vừa bị thương, xạ thủ phụ là cậu Minh lóng ngóng mãi vẫn chưa bắn được. Hướng liền điên tiết chạy tới giằng lấy súng “Đưa tớ bắn cho!”. Hùng Phong chưa kịp ngăn thì Hướng đã chong cái “hoa chuối” về hướng khẩu “Vua chiến trường” rồi hét mọi người “Lui ra... Tớ bắn đấy!”. Một quầng lửa đỏ rực bùng lên cùng một tiếng nổ dữ đội. Trong ánh chớp lửa, nhìn thấy rõ cái nòng pháo cao lênh khênh xỉu xuống như một thứ đồ chơi bằng đất sét. Hầu như ngay lúc đó, Thông “lùn” cũng nổ súng. Viên đạn của cậu ta trúng giữa bệ tự hành, khẩu “Vua chiến trường” thứ ba cũng gục ngay lập tức. Nhiều tiếng reo “Trúng rồi” vang lên trong tiếng đạn nổ hỗn loạn. Đại đội trưởng Đồng Tiến Phi vừa kịp hét lên “Tản ra... Nằm xuống!” thì hầu như mọi thứ hỏa lực địch cùng lúc trút lên khu vực trận địa pháo 175 ly. Đã có tiếng thét lên kêu “Tôi bị thương rồi”.
Đã có chiến sĩ trúng đạn đại liên 14, 5 ly ngã vật xuống không kịp kêu một tiếng. Hướng quẳng khẩu B41 cho Minh rồi sực nhớ ra nhiệm vụ của mình, anh vừa lao như tên về phía đại đội trưởng Phi vừa hét lên”Tiểu đoàn ra lệnh cho đại đội rút ra ngay... Không được ham đánh nữa!”.
Đại đội trưởng Đồng Tiến Phi cũng hiểu rõ tình hình đã đến lúc không thể nán lại nữa, nên vội chạy tới hét vào tai Hùng Phong “Cậu cho anh em ra trước đi.
Tôi ở lại chặn địch. Chúng nó sắp tràn sang đây bây giờ đấy”. Hùng Phong ngạc nhiên hỏi “Anh phải ra trước để chỉ huy bộ đội chứ?”. Đại đội trưởng giận dữ khoát tay “Đây là mệnh lệnh. Cậu chưa nghe rõ à? Khẩn trương đưa anh em ra đi. Tôi chỉ cần giữ lại một tổ thôi.
Nhanh lên kẻo không kịp bây giờ”.
Hùng Phong hiểu rằng lúc này không phải là lúc tranh cãi với đại đội trưởng, anh liền ra lệnh cho anh em chuyển thương binh ra trước rồi lần lượt lui ra phía cửa mở. Một tốp trực thăng UH -1A ba chiếc xầm xập lao tới, dọi đèn pha rồi bắn như vãi đạn vào khu vực trận địa pháo 175 ly. Dưới đất đại đội trưởng ra lệnh cho anh em còn trụ lại chong súng bắn lên. Có lẽ, anh muốn thu hút đám trực thăng vũ trang về phía mình để cho đại đội lui quân. Từ phía trung tâm căn cứ, đã nghe thấy tiếng xích xe tăng nghiến ken két.
Hùng Phong đã đưa anh em thương binh ra tới cửa mở, gặp trung đội phó Khang ra lệnh “Cậu để lại một tổ chốt ở đây còn thì cho anh em chuyển thương ra hết đi”. Trung đội phó Khang lo lắng hỏi “Hình như chúng nó cho xe tăng ra phản kích đấy. Sao đại đội trưởng vẫn chưa ra?”. Hùng Phong bực mình gắt “Thi hành mệnh lệnh đi. Tôi trở vào xem sao?”.
Nhưng Hùng Phong đã không vào kịp. Ba chiếc xe tăng M41 đã quây chặt khu vực trận địa pháo vừa bị tiến công. Sau lưng chúng là lúc nhúc lính Mỹ. Trên trời, ba chiếc trực thăng thu hẹp vòng lượn, dọi đèn pha sáng quắc, đến nỗi có thể nhìn thấy từng hòn sỏi trên triền đồi, nhìn thấy cả những xác người đang bốc khói. Nấp sau một ụ pháo cũ, Hùng Phong cũng nhận ra một trong những cái xác ấy là đại đội trưởng Đồng Tiến Phi. Anh biết rằng không còn cách nào vào đó để lấy xác đại đội trưởng ra được nữa, đành nghiến răng nuốt nước mắt bò trở lui ra cửa mở. Khang vẫn chờ anh tại đó. Thấy anh lui về một mình Khang định hỏi nhưng Hùng Phong đã vội khoát tay ra lệnh “Rút thôi, nhanh lên! Nếu chần chừ thêm chút nữa thì cả chúng ta cũng không ra kịp đâu”.

Trận tập kích căn cứ pháo binh 241 được cấp trên đánh giá là thắng lợi giòn giã, tiểu đoàn gã tiêu diệt và phá huỷ hơn chục khẩu pháo các loại, trong đó có ba khẩu “Vua chiến trường”, niềm kiêu hãnh của pháo binh Hoa Kỳ, tiêu diệt hàng trăm tên địch, bắn cháy năm xe tăng, xe bọc thép, bắn rơi một trực thăng...
Nhưng điều khiến chính trị viên Lương Xuân Báo và tiểu đoàn trưởng Phạm Quang Vinh đau đầu nhất là trận này mất hơi nhiều cán bộ. Ngoài đại đội trưởng đại đội 9 Đồng Tiến Phi, còn có đại đội phó đại đội 8 Lê Xuân Đạm hy sinh, chính trị viên đại đội đại đội 7 Nguyễn văn Tâm bị thương nặng, khó mà trở lại đội hình chiến đấu. Cán bộ trung đội hy sinh bốn, bị thương ba. Cấp tiểu đội thì chưa tính đến. Cứ tốc độ này thì đánh một vài trận nữa là hết cán bộ?

Đã vậy chính trị viên Lương Xuân Báo còn lo lắng rằng cái chết của đại đồi trưởng Đồng Tiến Phi có thể khiến cho Ban chỉ huy đại đội 9, đại đội chủ công của tiểu đoàn lung lay, mất đoàn kết, mất tinh thần. Tiểu đoàn chưa chỉ đạo việc kiểm điểm rút kinh nghiệm trận đánh, nhưng dưới đại đội 9 đã có tiếng xì xào rằng có thể đại đội phó Hùng Phong sẽ bị kỷ luật vì đã không đem được thi thể của đai đội trưởng ra khỏi căn cứ địch.
Từ hôm đánh 241 về đến nay đã là ba ngày nhưng chính trị viên Báo vẫn không lúc nào gặp riêng được Hùng Phong để nghe cậu ta trình bày. Hình như Hùng Phong cũng có ý tránh mặt anh. Báo cáo tình hình sau trận đánh, Hùng Phong cũng dồn cho chính trị viên Đào Trọng Phú. Có hỏi, thì Phú cũng chỉ nói đại đội phó Hùng Phong bị mệt, không trực tiếp lên báo cáo tình hình được. Khi tiểu đoàn trưởng hỏi vì sao đại đội không lấy được xác đại đội trưởng và ba đồng chí cùng chốt lại thì chính trị viên Phú chỉ nói “Chi ủy và Ban chỉ huy đại đội sẽ họp kiểm điểm và sẽ có báo cáo chi tiết với Đảng ủy tiểu đoàn sau... “. Đến ngày thứ ba vẫn chưa thấy có báo cáo, chính trị viên Lương Xuân Báo gọi điện thoại xuống đại đội hỏi “Bao giờ chi ủy các anh họp để kiểm điểm trận đánh?” Chính trị viên Phú nói “Báo cáo chính trị viên, chiều nay chúng tôi sẽ họp... để thảo luận báo cáo của đại đội phó Hùng Phong. Nhưng chi ủy hiện chỉ còn hai người, tôi và đồng chí Cung, chúng tôi định họp mở rộng, mời thêm đồng chí Tại và đồng chí Khang, có được không ạ?”. Chính trị viên Báo nói “Được. Tôi sẽ trực tiếp xuống dự với các đồng chí”.

Bỏ điện thoại xuống, tự dưng chính trị viên Lương Xuân Báo lại cảm thấy có điều gì đó chưa yên tâm. Anh bèn xách túi chui ra khỏi hầm. Thấy tiểu đoàn trưởng Phạm Quang Vinh đang ngồi loay hoay với cái địa bàn, liền hỏi:
- Anh chơi cái trò gì mà lôi cả bản đồ địa bàn ra vậy?
Tiểu đoàn trưởng cười:
- Tôi đang ngờ rằng cái địa bàn này có vấn đề. Đây anh xem, phía sau lưng chúng ta là hướng Bắc, đúng không? Đặt thế này thì kim dạ quang chỉ đúng hướng Bắc, nhưng xoay lại thế này thì thì kim dạ quang lại chỉ về hướng Tây. Thế là làm sao nhỉ?
Chính trị viên Báo nhấc cái địa bàn lên xoay thử thấy đúng như Vinh nói, anh bèn nhấc lên lật ngửa ra xem, rồi cười bảo:
- Đi đời rồi thật. Ông không nhìn thấy vết thủng này à? Có lẽ có một mảnh đạn nho nhỏ găm vào trong đó rồi.
Tiểu đoàn trưởng vội cầm chiếc địa bàn lên xem lại, rồi gật đầu:
- Thảo nào... Tôi chưa lật lên xem nên không biết nó cũng bị thương lúc nào chẳng rõ. Để tôi tháo ra xem có cái quỉ gì trong đó nào?
Chính trị viên Báo vỗ vai anh bảo:
- Ông cứ từ từ khám bệnh cho nó đi. Rồi trực ở nhà nhé. Tôi xuống C9 xem thế nào. Chiều nay anh em dưới ấy họp rút kinh nghiệm trận đánh, tôi ở lại dự luôn.
Tiểu đoàn trưởng ngạc nhiên hỏi:
- Vậy là anh không về ăn cơm à? Thằng Huy nó vừa xuống suối kiếm được mấy con cá ngon lắm. Trưa nay bọn tôi định làm bát canh chua đấy.
Chính trị viên Báo cười lớn:
- Vậy là tôi không có lộc ăn rồi. Nhưng này, ông xui công vụ dùng thuốc nổ đi đánh cá, trung đoàn trưởng mà biết được thì ăn đòn đấy. Hôm trước ông ấy vừa kỷ luật cả ban chỉ huy đại đội thông tin kia kìa.
Tiểu đoàn trưởng xua tay:
- Tôi đâu có ngu đến nỗi xui lính dùng thuốc nổ đi đánh cá. Chúng nó đánh bằng vỏ cây gì ấy. Đập vỏ cây ra, thả xuống nước, cá dưới suối đớp phải lập tức say đờ ra, nổi bềnh lên, phơi bụng trắng xoá.
- Không khéo ăn cái thứ cá ngộ độc ấy các ông cũng ngỏm củ tỏi luôn đấy. - Chính trị viên nghiêm mặt cảnh báo.
- Chúng nó ăn đầy ra, có thằng nào việc gì đâu - Tiểu đoàn trưởng khoát tay - Thôi, ông sợ thì cứ đi đi, chúng tôi sẽ gánh cả cho. A mà này, anh xuống đó nhớ nhắc Hùng Phong họp xong phải gửi ngay bản kiểm điểm rút kinh nghiệm trận đánh lên đây nhé. Lần này trung đoàn yêu cầu bên cạnh bản báo cáo của tiểu đoàn còn phải gửi kèm theo cả báo cáo của các đại đội đấy.
- Được rồi, tôi sẽ nhắc các cậu ấy. Còn món canh cá, các cậu cứ xơi hết đi, không phải phần tớ đâu.


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 19 Tháng Ba, 2012, 01:31:05 pm
Chuyện đánh cá bằng vỏ cây, chính trị viên Báo đã nghe lính tráng kháo nhau nhưng chưa được nhìn thấy tận mắt bao giờ. Chắc là phải an toàn thì bộ đội họ mới dám ăn chứ. Thi thoảng đi qua suối, anh cũng thấy những đống vỏ cây bị đập dập vút ngổn ngang trên bờ, cứ tưởng lính lấy nhựa cây để giặt quần áo thay xà phòng. Hoá ra là đánh cá? Mà lạ, bom đạn mù mịt thế mà sao những con suối ở vùng này lại lắm cua, lắm cá thế nhỉ?
Vừa đi vừa mải nghĩ về chuyện cua cá, chính trị viên Lương Xuân Báo tới ngã ba suối cạn, nơi rẽ vào kiềng đại đội 9 lúc nào chẳng rõ. Đang đi, anh bỗng giật nảy mình khi có một người gần như nhảy xổ ra chắn đường.
- Chính trị viên!
- Ôi, Cung đấy hả! - Chính trị viên Báo lắc đầu - Cậu làm tớ giật bắn lên đây này.
Anh nuôi Cung nhếch miệng cười, ra hiệu cho chính trị viên hãy nhìn xuống khe suối. Theo hướng tay Cung chỉ, chính trị viên Lương Xuân Báo nhận ra một người đang ngồi trên phiến đá lớn vẻ trầm ngâm suy nghĩ. Thi thoảng, anh ta lại nhặt những viên sỏi nhỏ ném xuống cái vũng nước lớn còn đọng giữa lòng suối.
- Cậu ấy ngồi dưới đó từ sáng đến giờ - Anh nuôi Cung thì thầm - Có vẻ như buồn bã chán nản lắm. Hình như cậu ấy đang nghĩ về trận đánh vừa qua và chuyện đại đội trưởng Phi.
Chính trị viên Báo kéo Cung vào một gốc cây lớn, bảo anh tìm chỗ ngồi xuống rồi hỏi:
- Thế... anh em trong đại đội đánh giá về trận đánh vừa rồi ra sao?
- Về cơ bản là tốt thôi. Đại đội tiêu diệt được ba khẩu pháo lớn, bắn rơi một máy bay, diệt vài chục tên Mỹ... Như thế là thắng lợi lớn rồi. So với trận trước thì trận này thương vong cũng không nhiều. Chỉ có điều đáng tiếc là lại rụng mất đại đội trưởng Phi và trung đội trưởng Do nên anh em hơi ngậm ngùi. Nhất là Hùng Phong, cậu ấy đang dằn vặt mình vì chuyện không đưa được đại đội trưởng ra. Nhưng, theo anh em kể lại, tình huống lúc đó thật khó mà làm khác được.
Chính trị viên Báo tư lự:
- Mình hiểu rồi. Nếu chỉ có vậy thôi thì cũng không đáng ngại. Để mình thử nói chuyện với cậu ấy xem sao?
Chính trị viên Báo lặng lẽ bước tới bên cạnh Hùng Phong. Nhìn gương mặt phờ phạc, hốc hác của cậu ta, anh đoán rằng Hùng Phong đang trải qua những ngày rất khó khăn. Quả là cậu ta đang phải gánh trên vai những trách nhiệm quá nặng nề. Suy cho cùng thì cậu ta cũng chỉ là một anh lính trẻ, cuối tháng này hình như mới tròn một tuổi quân. Chiến tranh có thể khiến con người cứng cáp lên rất nhanh, nhưng sự kiên cường không thể làm nên sự từng trải để có thể ngay lập tức ứng phó với những cú sốc về tinh thần lớn đến như vậy. Trước khi vào trận đánh này lại xảy ra chuyện ba cậu tân binh đảo ngũ, cú sốc đó đã khiến cậu ta không chịu đựng nổi và suýt nữa đã gây ra tai hoạ. Khi biết chuyện, tiểu đoàn trưởng Phạm Quang Vinh, rất giận dữ, gay gắt nói rằng không thể để cán bộ trong tiểu đoàn có những hành vi quân phiệt như vậy được, ai cho cậu ta cái quyền xử án? Anh đã định bắt Hùng Phong phải kiểm điểm, nhưng đại đội trưởng Phi đã ngăn lại và nói rằng, cậu ấy còn quá trẻ, trước một sự việc như vậy có thể chưa biết tự kiềm chế, chúng ta nên thông cảm, chỉ nhắc nhở chấn chỉnh thôi chứ đừng nên tạo thêm áp lực cho cậu ấy. Anh cũng đã đồng ý với quan điểm ấy, tiểu đoàn trưởng Vinh đành nghe theo nhưng có nhắc anh rằng hình như anh hơi nuông chiều cậu cán bộ trẻ này quá. Trong thâm tâm, chính trị viên Lương Xuân Báo cũng cảm thấy vậy, có điều anh lại tin rằng không phải dễ tìm được một cán bộ trẻ mà năng nổ, nhiệt huyết, thông minh đến như vậy. Có nuông chiều nâng giấc họ đôi chút thì đã sao? Công tác cán bộ chính là cái đạo dùng người. Người có tài thường ít hay nhiều đều có tật nếu chỉ chăm chắm nhìn vào cái tật của anh ta thì khó mà dùng được người tài.
- Thế nào, ra đây ngồi câu cá đấy hả, anh bạn trẻ?
Hùng Phong hơi giật mình quay lại, chính trị viên Báo đã kịp nhìn thấy đôi mắt anh đỏ mọng.
- Chính trị viên... em... buồn quá nên ra đây ngồi một lát!
Chính trị viên Báo trèo lên phiến đá, lặng lẽ ngồi xuống bên cạnh Hùng Phong.
- Cậu đang nghĩ về cái chết của đại đội trưởng Phi và cảm thấy hình như mình có lỗi, đúng không? Cậu còn cho rằng đáng lẽ người hy sinh tại trận hôm đó phải là cậu chứ sao lạ là anh Phi đúng không?
Hùng Phong ngập ngừng:
- Cũng... có chuyện đó... Nhưng, tôi không cho rằng mình có lỗi vì đại đội trưởng đã hy sinh. Anh ấy cũng không phải đã hy sinh thay tôi. Anh ấy đã làm những điều mà anh ấy cho rằng mình phải làm. Điều tôi ân hận là mình đã không có cách nào để mang được anh ấy và ba đồng chí hy sinh ra khỏi trận địa.
- Có thật cậu cho rằng vào lúc đó không có cách nào có thể đưa anh em ra được không? - Chính trị viên Báo hỏi một cách nghiêm túc.
Hùng Phong quả quyết gật đầu:
- Mấy hôm nay tôi đã suy nghĩ, xem xét lại từng ly từng tí tình huống xảy ra vào lúc đó và quả thật, tôi không tìm ra cách nào có thể đưa được các anh ấy ra trừ phi ta phải tung thêm nhiều lực lượng vào đánh một trận sống mái nữa với địch để chiếm lại khu vực trận địa pháo thì mới có thể đưa họ ra được.
- Nhưng điều đó lại vượt ra ngoài quyền hạn của cậu thậm chí vượt ra ngoài khả năng và quyền hạn của tiểu đoàn nữa kia. Lực lượng tiến công hôm đó chỉ có mình tiểu đoàn ta, không có lực lượng dự bị. Cấp trên cũng chỉ cho phép ta đánh một trận tập kích, tiêu diệt một phần sinh lực, hỏa lực của địch rồi rút ra ngay chứ không yêu cầu chúng ta chiếm giữ, làm chủ mục tiêu.
Việc có thể có những đồng chí hy sinh không thể đưa được thi thể ra cũng thường xảy ra trong những trận đánh kiểu này. Hôm đó, nếu các cậu không thực hiện nghiêm tức mệnh lệnh của tiểu đoàn, còn lúng túng nấn ná không rút quân thật nhanh thì không chừng số thương vong của đại đội sẽ còn lớn hơn nhiều.
- Đành là như vậy... Nhưng... Tôi vẫn cảm thấy nếu như hôm đó mình kiên quyết ngăn cản thì anh Phi sẽ không vào sâu đến thế!
- Nhưng lúc đó anh ấy là người chỉ huy. Chưa tìm thấy mục tiêu chính thì anh ấy chưa thể yên tâm được. Nếu cậu là đại đội trưởng, lúc đó cậu cũng sẽ hành động như vậy.
Hùng Phong thở dài - Tất cả những lý lẽ ấy, tôi cũng đã nghĩ đến cả rồi, thủ trưởng ạ. Nhưng, có những điều mà... thật tình tôi cảm thấy mình chưa ra sao cả. Sống với nhau bao nhiêu ngày tháng, từng sống chết với nhau mấy lần rồi vậy mà tôi vẫn... chưa biết gì về anh ấy cả. Chiều hôm qua, để chuẩn bị viết báo cáo trận đánh, tôi mới mở ba lô của anh Phi ra xem có tài liệu gì có thể tham khảo được không. Vì thực tình tôi chưa từng được dạy phải viết một bản báo cáo về một trận đánh ra sao. Ai dè, tôi lại tìm được tập thư cuốn nhật ký của anh ấy và cả... bức ảnh này.
Hùng Phong rút một tấm ảnh cỡ 9 x 12 từ trong túi ngực ra, đưa cho chính trị viên Báo.
- Đây thủ trưởng xem... ảnh cưới của vợ chồng anh Phi đấy.
Trong ảnh Đồng Tiến Phi mặc thường phục, sơ mi trắng có thắt cà vạt, vợ anh cô giáo Mai Hương tươi cười ôm hoa đứng nép vào vai chồng.
- Họ... thật đẹp đôi quá - Chính trị viên Lương Xuân Báo buột miệng khen.
- Vừa cưới xong thì anh ấy phải lên đường ra trận.
Họ chỉ được sống bên nhau vẻn vẹn có năm ngày trời thôi thủ trưởng ạ.
- Năm ngày à? - Chính trị viên Báo ngẩn ngơ hỏi.
- Vâng... có năm ngày kể cả hai ngày trước khi cưới. Tính chi ly ra là chỉ có ba ngày họ thực sự được làm vợ chồng mà thôi. Lúc nào, thủ trưởng tranh thủ đọc nhật ký của anh Phi mà xem, thật không ngờ con người trông bề ngoài khô khan vậy mà lại giàu tình cảm đến thế. Anh ấy yêu chị Hương biết bao? Anh ấy viết rằng hôm chia tay, chính anh ấy cũng khóc, dĩ nhiên là đến khi lên xe rồi mới khóc. Tôi không hình dung nổi, một người như anh Phi lúc khóc thì sẽ ra sao nhỉ?
- Ai mà... chẳng có lúc mềm yếu?
- Thủ trưởng có biết không? Lá thư cuối cùng anh Phi nhận được cách đây hai tuần, đó là chuyến thư đầu tiên đơn vị mình nhận được từ miền Bắc chuyển vào theo hòm thư Mặt trận. Tôi còn nhớ, hôm ấy anh Phi vui lắm, còn mang cả gói đường còn giữ được trong ba lô ra giao cho anh Cung nấu một nồi chè đãi anh em chúng tôi. Hỏi thư chị ấy viết gì mà anh vui thế? Anh ấy chỉ tủm tỉm cười, lắc đầu không nói gì cả. Mãi tới hôm nay, tôi xem trộm bức thư ấy mới biết... thì ra, trong lá thư ấy chị Mai Hương báo tin vui rằng chị ấy đã có mang! Thủ trưởng ơi... Như vậy là... đứa con của anh ấy chưa kịp ra đời đã phải mồ côi rồi!
Nói tới đây, Hùng Phong lại gục đầu xuống gối nức nở khóc. Chính trị viên Lương Xuân Báo đặt tay lên vai anh, vỗ nhè nhẹ. Anh cũng cảm thấy dường như mình đã có lỗi gì đó với người đã khuất? Nhưng lỗi gì nhỉ? Anh cũng không giải thích được. A, phải rồi, ngày Phi được về phép cưới vợ anh đã không kịp nói một lời chúc mừng. Hôm đó hình như có chuyện mấy quân nhân đã tiết lộ nơi đóng quân mới và chuyện sắp lên đường đi chiến đấu của đơn vị nên gia đình họ đã lặn lội tìm lên tận nơi thăm. Lúc đầu tiểu đoàn kiên quyết không cho quân nhân ra gặp gia đình và giao cho anh phải ra gặp họ để “làm công tác tư tưởng”. Nhưng anh đã bất lực trước những lời năn nỉ, trước những dòng nước mắt của các bà, các cô nên đành phải quay về báo cáo lại với Ban chỉ huy tiểu đoàn xin hướng giải quyết khác. Trên đường quay về, đang bực dọc trong lòng thì gặp Phi hớn hở khoác ba lô ra, nói rằng sáng nay tiểu đoàn đã gửi giấy phép xuống, đồng ý cho anh về cưới vợ. Nghe Phi nói vậy, anh chỉ hờ hững nói “Thế hả? Vậy thì cậu phải nhanh chân lên. Mười giờ sáng có một chuyến xe từ thị trấn về Hà Nội đấy”.
Phi cũng chỉ gật đầu nói “Tôi đi nhé”, rồi vội nhảy chân sáo, vừa đi vừa chạy về hướng thị trấn. Lúc đó, giá như anh nói vài lời chúc mừng cậu ấy? Rồi, đúng hôm Phi trả phép thì anh lại được triệu tập lên trung đoàn dự hội nghị chuyên đề về công tác tư tưởng chính trị trong hành quân đường dài. Khi anh trở về thì đại đội phó Đồng Tiến Phi lại được lệnh đi trước cùng đoàn tiền trạm của Trung đoàn. Mãi tới khi vào chiến trường anh em mới gặp lại nhau thì cái chuyện cưới vợ của Phi đã không còn là chuyện thời sự nữa rồi, nói vài lời khách sáo cũng chả tiện. Trong ban chỉ huy đại đội, anh vẫn cho rằng Phi là người khô khan, cứng nhắc, còn mang nặng lối sống khắc kỷ, niêm luật mà anh đã ngấm vào máu trong những năm làm giáo viên của Trường Sĩ quan lục quân. Ngay cả đại đội trưởng Nguyễn Hồng Thanh nhiều khi cũng còn bị anh nhắc nhở bắt bẻ về quân phong quân kỷ nữa kia. Vì thế, anh cũng ít quan tâm tới tâm tư tình cảm của đại đội phó Đồng Tiến Phi. Bây giờ nghe Hùng Phong nhắc lại, cũng thấy có phần ân hận. Chính trị viên Báo nhìn tấm ảnh Hùng Phong vừa trao cho, khẽ thở dài:
- Vợ cậu ấy... còn trẻ quá.
Hùng Phong ngước nhìn chính trị viên tiểu đoàn ngạc nhiên hỏi lại:
- Thủ trưởng... Chỉ nói được vậy thôi sao?
Chính trị viên Báo không trả lời câu hỏi của anh mà đứng dậy vươn vai cười bảo:
- Cũng may là bọn mình đều chưa có vợ!
- Bọn em còn trẻ... nói làm gì? Thủ trưởng chưa có vợ thì cũng hơi lạ đấy? - Hùng Phong bỗng chuyển hướng câu chuyện, có vẻ như anh đã bớt buồn bã hơn.
- Lấy vợ... thì có khó gì? Nhưng lấy người ta rồi bỏ lại người ta một mình, rồi biến người ta trở thành goá phụ như thế thì có hay ho gì?
- Nhưng... ít ra... Anh ấy cũng đã biết thế nào là hạnh phúc? Hùng Phong cãi lại.
Chính trị viên Báo bắt chước Hùng Phong ném thêm một hòn đá nhỏ xuống suối.
- Tốt rồi... Lại sắp có con nối dõi nữa... Như thế cũng còn hơn khối thằng ra đi mà trắng tay.
Hùng Phong ngớ ra:
- Thế mà thủ trưởng vừa bảo rằng...
- Là nói cái gì cũng phải nói tới cả mặt tốt mặt xấu của cái đó. Cậu thương thằng Phi bỏ lại vợ trẻ, con côi, nhưng cũng phải thấy rằng thằng ấy nó cũng đã hơn anh em ta vì ít nhiều cũng đã được nếm mùi hạnh phúc, phải không nào?
- Đúng vậy... Nhưng mà...
- Còn chuyện cậu cảm thấy có lỗi về sự hy sinh của đại đội trưởng, là tốt thôi, nhưng cũng phải biết rằng cậu cũng chẳng phải ba đầu sáu tay gì? Cậu tưởng tớ tin rằng nếu bây giờ quay lại cái thời điểm đang diễn ra trận đánh thì cậu có thể thay đổi được tình hình chắc?
- Nhưng... tôi đã không mang được các anh ấy về...
- Đúng thế... Cho dù tình hình lúc đó có thế nào chăng nữa thì bỏ xác đồng đội lại trận địa cũng là điều khó chấp nhận. Nhưng nếu cấp trên có treo lên cổ cậu một án kỷ luật thì trong lòng cậu cũng chẳng thấy thanh thản hơn được đâu.
Hùng Phong hoang mang ngước nhìn chính trị viên:
- Vậy... tôi phải làm sao?
- Cậu phải tìm mọi cách vượt qua chuyện này. Chúng ta còn phải đánh giặc. Rồi ngày mai, ngày kia chúng ta lại bước vào một trận đánh mới và có thể lại phạm phải những sai lầm khuyết điểm khác. Nếu cứ chất tất cả trong lòng thì còn tâm sức đâu mà đánh giặc?
Hùng Phong suy nghĩ một lát rồi gật đầu:
- Anh... nói cũng phải.
Chính trị viên Báo gật đầu:
- Vậy thì ta về thôi... Chiều nay tôi sẽ dự họp với các cậu. Có gì thì nói cho hết ra một lần. Rồi phải cố mà quên đi để còn bước vào nhiệm vụ mới.


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 19 Tháng Ba, 2012, 01:31:29 pm
Nhưng rốt cuộc, Hùng Phong cũng không có cơ hội mà nói cho hết những điều mà anh còn khắc khoải, chứa chất trong lòng về những sự kiện diễn ra trong trận đánh ấy. Không phải vì anh chưa đủ sự thành khẩn. Vào thời ấy, người ta đâu có ngại nói quá đi về những sai lầm khuyết điểm của mình, thậm chí người ta còn phải bịa ra khuyết điểm để mà nói trong những buổi sinh hoạt phê và tự phê để biểu lộ sự trung thành của mình với Đảng nữa kia. Anh không nói hết được những suy nghĩ, những tâm tư của mình là vì có sự can thiệp của kẻ thù. Cuộc họp của chi ủy vừa diễn ra được nửa giờ, Hùng Phong chưa kịp báo cáo xong diễn biến của trận đánh thì một trận oanh tạc bằng B52 dữ đội chưa từng thấy trùm lên toàn bộ khu vực Động Mã.
Hầu như tất cả những nơi trú quân của trung đoàn đều trúng bom, nhưng tiểu đoàn bảy là đơn vị nằm đúng vào trung tâm của cuộc oanh kích nên đã phải chịu nhiều thương vong nhất.
Loạt bom đầu tiên dội xuống quá bất ngờ. Lúc ấy dường như không gian đang rất yên tĩnh. Không nghe thấy tiếng vo ve dai dẳng khó chịu của những chiếc máy bay do thám OV10, pháo địch từ những căn cứ ven đường 9, từ thị trấn Đông Hà hay trên điểm cao 241 đột nhiên cũng không thấy đì đùng bắn ra nữa.
Tuy vậy, cũng không mấy ai để ý đến sự im lặng khác thường này.
Sau này mới nghe kể lại rằng vào lúc hàng chục tấn bom sắp sửa rơi xuống khu vực kiềng của đại đội 9 thì anh chàng “chỉ nghe bằng một tai” Nguyễn Đình Hướng lúc đó đang giúp anh nuôi chuẩn bị bữa chiều thay cho anh nuôi trưởng Ngô Xuân Cung đi họp chi uỷ, bỗng nhiên có một linh cảm thật khác thường. Cậu Nỏ, một chiến sĩ nuôi quân của đại đội đang đãi gạo dưới suối thì đột nhiên thấy Hướng xồng xộc chạy xuống hét toáng lên:
- Nỏ bê gạo lên mau!
Nỏ chỉ đám mọt nổi lềnh bềnh trên mặt suối bảo:
- Vẫn còn nhiều mọt lắm, để em chao thêm vài nước nữa.
Hướng nhăn mặt giục:
- Thôi... Mọt cũng ăn được. Càng có chất. Nhanh lên kẻo ăn bom ăn pháo bây giờ!
Nỏ lấy làm lạ, vì từ ngày về đóng quân ở khu vực này, pháo địch chưa một lần bắn đến, bom thì lại càng không. Nhưng nhìn bộ dạng nghiêm trọng của Hướng, Nỏ không dám chần chừ, vội bê giá gạo lên bếp ngay. Cậu Tín đang nhặt rau môn thục gần đó, cũng bị Hướng quát cho một trận, phải ôm bó rau lên cửa bếp ngồi nhặt.
Hướng thì bồn chồn hết chạy ra lại chạy vào, có lúc còn ngửa mặt nhìn lên trời, rồi nghển cái tai lành lên nghe ngóng. Đúng lúc đó thì quản lý Hoàng vừa dẫn một số anh em đi nhận gạo và thực phẩm sẵn sàng chiến đấu từ kho trung đoàn về đến cơn suối dưới chân đồi, từ bờ suối lên bếp cũmg chỉ khoảng hơn một trăm mét dốc. Đã thành lệ rồi, đi đâu về thì anh em đại đội 9 cũng phải dừng một lúc dưới suối rửa mặt mũi chân tay cho mát mẻ rồi mới leo lên hầm của các trung đội ở tận trên lưng chừng ngọn đồi. Vì thế, đám lính đi lấy gạo về tụ tập ồn ào dưới suối cũng là chuyện thường tình. Lúc đó Hướng vẫn đang bồn chồn chạy ra chạy vào trên khu nhà bếp, thấy cảnh “mất trật tự” dưới suối, anh liền đứng trên nóc hầm của anh nuôi trưởng Cung kêu toáng lên:
- Bọn nào lộn xộn dưới đó thế? Giải tán, về hầm ngay đi!
Nhưng đã quá muộn. Đúng lúc ấy thì những chiếc máy bay B52 bay qua và hàng trăm trái bom xé gió vun vút lao xuống. Nguyễn Đình Hướng chỉ kịp nhảy từ trên nóc hầm xuống, đẩy cậu Tín đang ngồi nhặt rau ngã vật xuống ngay trước cửa hầm cùng lúc với những tiếng nổ dậy đất, không gian chao đảo, tối xầm lại, sức ép của không khí đẩy bật họ lên. Không hiểu bằng cách nào mà họ đã kịp lao tới cửa chiếc hầm chữ A của anh nuôi trưởng Cung nằm kề bên căn nhà bếp nửa nổi nửa chìm. Khi hai người vừa chui được vào hầm thì bỗng nghe đánh rầm một cái, cửa hầm vụt tối om. Một phiến đá lớn đã bị bom đào lên, rồi ném vào bịt kín cửa căn hầm. Hướng vừa ho sặc sụa bởi thuốc bom xộc vào mồm vào miệng, vừa quờ quạng lần tìm trong bóng tối:
- Thằng Nỏ đâu rồi?
- Nó chưa kịp vào hầm!
Tín vừa thở hổn hển vừa trả lời. Ngay sau đó căn hầm rung lên như đưa võng, những cây gỗ ken hầm kêu ken két, đất đá rơi xuống rào rào. Hướng còn kịp nghe tiếng Tín hốt hoảng kêu lên:
- Không khéo sập hầm mất!
Rồi lại một chuỗi bom nổ, có cảm tưởng như cả trái núi đã vỡ vụn ra. Sau đó là một khoảng không tối đen vô định, tuyệt đối im lặng.
Chi ủy đang họp trong căn nhà nửa nổi nửa chìm có hai chiếc hầm kèo ở hai đầu nên ngay sau loạt bom đầu tiên vừa nổ, mọi người đã kịp lao vào hầm. Đến loạt thứ hai thì một quả bom phát quang nổ ngay trước hầm chỉ huy. Nóc chiếc hầm kèo bên trái bị bốc tung lên, cây gỗ làm đòn nóc hầm tụt một đầu xuống, nện đúng vào giữa đỉnh đầu chính trị viên Đào Trọng Phú.
Lúc ấy trong hầm có cả anh nuôi trưởng Ngô Xuân Cung và trung đội trưởng Nguyễn Văn Tại. Hầm sập, đất đá rơi ầm ầm vào mọi người, khói bom xộc vào đặc quánh, khét lẹt, tối om, nên không ai biết chính trị viên Phú đã chết ngay khi bị cái cây làm đòn nóc hầm nện trúng đầu.
Chính trị viên tiểu đoàn Lương Xuân Báo và đại đội phó Hùng Phong từ dưới hầm chui lên, mặt tái dại khi nhìn khu vực đóng quân của đại đội 9 bị cày xới nát bấy lên, cả một vạt rừng từ lưng chừng cao điểm xuống đến bờ suối bỗng dưng quang loác. Sau một vài giây đứng sững sờ, chết lặng nhìn cảnh tàn phá, Hùng Phong như sực tỉnh. Anh đứng trên phiến đá lớn vừa bị bom lôi từ ruột núi ném lên, bụm tay làm loa hét lên:
- Các trung đội khẩn trương đi cứu hầm sập! Tập trung thương binh lại để cứa chữa.
Nhìn thấy trung đội trưởng Khang đứng thất thần nhìn bãi bom trước mặt, Hùng Phong giận dữ quát tướng lên:
- Anh còn đứng đấy làm gì? Về ngay xem anh em sống chết thế nào chứ?
Chính trị viên Lương Xuân Báo tự nhiên mất giọng, nói lào khào:
- Tai hại quá... tai hại quá...
Hùng Phong liếc nhìn sang chiếc hầm bên cạnh cũng vừa lúc anh nuôi trưởng Cung và trung đội trưởng Tại lóp ngóp chui lên khỏi căn hầm sập - Trời ơi... Hầm bên ấy bị sập à? - Hùng Phong hốt hoảng xô tới vừa thở vừa hỏi dồn dập - Còn anh Phú đâu?
Đến lúc đó Tại và Cung mới ngơ ngác nhìn căn hầm sập ngổn ngang đất đá:
- Ừ nhỉ... Sao không thấy anh ấy ngoi lên nhỉ?
Tại đáp ngẩn ngơ rồi bỗng giật mình, nhảy vội tới vừa kêu vừa bới đất như điên:
- Anh Phú... Anh Phú... Anh còn trong đó không?
Mọi người cùng xô tới gấp gáp đào bới. Một lát sau thì tìm thấy thi thể chính trị viên Phú. Đầu anh vỡ toác, bê bết máu.
- Anh ấy chết rồi! - Anh nuôi Cung cúi xuống xem xét vết thương của chính trị viên rồi kết luận - Có lẽ bị cái cây đòn nóc kia nện trúng đầu.
Hùng Phong cảm thấy toàn thân mình nhũn ra, không còn hơi sức nữa. Anh quị xuống ôm lấy mặt, nấc lên từng chập. Chính trị viên Lương Xuân Báo liền bước tới, đá vào lưng Hùng Phọng một cái rồi quát:
- Đứng dậy ngay! Anh em người ta đang cứu nhau ở dưới kia mà các anh còn líu ríu ở cả đây sao? Theo tôi!
Nói rồi, anh rũ bụi đất bám trên áo chạy đi ngay.
Hùng Phong vội gạt nước mắt đứng dậy chạy theo, chỉ kịp quay lại dặn với:
- Cậu Cung, bảo anh em kiếm cái võng đắp tạm cho anh ấy đã.
Toàn đại đội có bốn căn hầm bị sập. Trong số những người bị sập hầm, ngoài chính trị viên Phú còn có thêm hai chiến sĩ nữa hy sinh. Hướng và cậu Tín anh nuôi cũng được cứu thoát nhưng cá hai đều bị sức ép khá nặng. Riêng cậu Nỏ may mắn sao lại không việc gì dù không kịp chui vào hầm. Cậu ta kể rằng khi bom nổ, cậu ta sợ quá chỉ kịp chúi đầu vào trong cái bếp Hoàng Cầm chưa nổi lửa bên cạnh, toàn thân thì phơi ra bên ngoài mà không trúng mảnh bom nào, trừ việc bị đất đá nện cho một trận mềm xương. Mười hai cậu đi lấy gạo về đang rửa mặt mũi chân tay dưới suối chỉ có hai cậu sống sót, ba cậu bị thương nhưng cũng chết ngay sau đó vì mất máu quá nhiều. Có tới bốn quả bom rơi trúng đoạn suối đó. Thi thể anh em văng khắp nơi. Cái đầu của cậu Toản, tiểu đội Bốn không hiểu sao lại bị ném lên tận lưng đồi, mắc vào một cái chạc cây ngay sau căn hầm của chính tiểu đội ấy. Năm ngày sau cậu Bỉnh bị sốt rét không đi vận chuyển được, đang ngồi dưới gốc cây vừa lau súng vừa hát nghêu ngao thì cái đầu của Toản rơi bịch ngay trước mặt. Hốt quá, Bỉnh vừa kêu gào vừa chạy thục mạng xuống tận khu bếp mới rồi chui tọt vào hầm của anh nuôi trưởng Cung, nép vào một góc, ngồi run như rẽ.
Anh Cung vội chạy vào hỏi căn cơ rồi lặng lẽ đi lên nhặt cái đầu của Toản bọc vào áo, đem ra sang mé đồi bên cạnh đào một cái hố rồi chôn xuống đó.


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 19 Tháng Ba, 2012, 01:31:54 pm
Chôn xong, anh vái cái mô đất ấy một vái rồi khấn rằng:
- Toản à... Mấy bữa trước đơn vị bị trúng bom B52, anh em tìm mãi mà không thấy chút gì của thi thể chú. Nay bỗng dưng chú lại hiện về. Dù chỉ có cái đầu, nhưng chẳng phải cái đầu là bộ phận quan trọng nhất của cơ thể chúng ta đó sao? Vậy chú hãy coi như đây chính là phần mộ của mình nhé. Sau trận bom vừa rồi, anh em mình đang hoang mang, nên tôi cũng mạo muội được giấu giếm mà chôn cất cho chú, không muốn làm anh em đau lòng thêm nữa. Có gì không phải thì chú cũng bỏ qua cho. Mong chú có khôn thiêng thì hãy phù hộ độ trì cho anh em trong đại đội ta chân cứng đá mềm, đánh đâu thắng đó”.
Anh Cung khấn xong thì ra về. Liên tục trong bảy ngày liền, mỗi ngày một lần vào lúc chập tối, anh Cung đều lén mang lên ngôi mộ nhỏ của Toản một bát cơm để cúng cho cậu ấy. Cúng xong thì ăn luôn.
Còn cậu Bỉnh, từ sau hôm ấy bỗng thành người ngẩn ngơ, cứ nhìn thấy cái gì tròn tròn, là kêu thét lên “Trời ơi, đầu của đứa nào rơi rồi kìa “. Nửa tháng sau, xem chừng bệnh ngày một nặng thêm, quân y sĩ tiểu đoàn xuống khám rồi quyết định cho đi bệnh viện. Sau đó không thấy Bỉnh trở về đơn vị nữa. Trận bom B52 là một đòn khá nặng đánh vào tiểu đoàn 7, nhất là đại đội 9. Cán bộ vốn đã thiếu, giờ lại càng thiếu. Tinh thần anh em cũng có phần nao núng... Một lần nữa, đích thân trung đoàn trưởng Trần Đông Hải lại phải xuống để cùng tiểu đoàn sắp xếp lại đội ngũ cán bộ chỉ huy của từng đơn vị. Hai hôm sau Hùng Phong được đề bạt làm đại đội trưởng mặc dù anh ra sức từ chối. Trung đội trưởng Khang được đề bạt lên làm Chính trị viên đại đội, trung đội trưởng Tại trở thành đại đội phó, Hướng “điếc” trở thành trung đội trưởng, mặc dù sau trận bom B52, hình như cái tai còn lại của cậu ta cũng đang bắt đầu xuống cấp. Hùng Phong đề nghị với ban chỉ huy tiểu đoàn cho Hướng chuyển vể bệnh viện tuyến sau điều trị nhưng Chính trị viên Lương Xuân Báo không nghe, anh nói “Hiện nay tiểu đoàn đang thiếu cán bộ trầm giọng. Những người lỳ đòn như Nguyễn Đình Hướng không kiếm đâu ra. Cứ để cậu ấy đánh thêm ít trận nữa. Đã có cơ sở để bồi dưỡng cậu ấy thành Anh hùng rồi. Cho về tuyến sau lúc này hơi phí”. Hùng Phong cho là phải. Nếu so với thành tích của những anh hùng đang được tuyên truyền ầm ĩ trên đài thì Hướng còn khá hơn nhiều. Chính trị viên tiểu đoàn Lương Xuân Báo cũng cho gọi anh nuôi trưởng Ngô Xuân Cung lên động viên, định giao cho anh chức trung đội trưởng trung đội 2 thay cho trung đội trưởng Tại nhưng anh đã kiên quyết từ chối. Biết tin ấy, Hùng Phong giận lắm, xuống tận bếp hỏi “Cậu làm sao thế? Làm chỉ huy không muốn, cứ muốn làm thằng nhọ đít hả?”. Anh Cung cười xoà, bảo “Tao có biết đánh đấm gì đâu mà giao cho tao làm chỉ huy. Hồi ở nhà, chỉ huy mấy đứa dân quân mà còn chả xong nữa là! Nhận vào, khi ra trận không khéo lại làm cho anh em chết oan. Thôi tao cứ lo chuyện cơm nước cho tụi bay là được rồi!”.
Kiềng của Ban chỉ huy tiểu đoàn không bị trúng bom, nhưng tiểu đội trinh sát của Trương Đình Lân cũng hy sinh mất một chiến sĩ và bị thương một chiến sĩ khác. Lân cũng chỉ thoát chết trong gang tấc. Lúc đó, anh đang cùng hai chiến sĩ đi làm nhiệm vụ trở về, đến gần kiềng của đại đội 9 thì bom nổ trùm ngay trước mặt. Anh may mắn lao kịp vào một cái hốc dưới gốc một cây cổ thụ. Hai cậu chiến sĩ đi với anh thiếu kinh nghiệm lao thẳng xuống suối nên đều trúng mảnh bom, một cậu hy sinh ngay tại chỗ, một cậu bị mảnh bom tiện đứt một cánh tay. Vì thế, mặc dù biết đại đội 9 bị trúng bom rất nặng nhưng anh phải lo giải quyết hậu quả của tiểu đội mình nên cũng không thể ghé vào được. Hai hôm sau anh mới tới gặp được Hùng Phong để chia buồn. Vừa nhìn thấy anh Hùng Phong vội chạy tới ôm chầm lấy, rơm rớm nước mắt. “Cậu không sao là mừng rồi. Nghe nói thằng Hướng bị sập hầm, có làm sao không?”. Lân hỏi, mặc dù đã biết tin Hướng vẫn còn sống.
Hùng Phong nhếch mép cười:
- Bọn mình không những không sao mà lại còn được lên chức nữa kia. Mình lên đại đội trưởng, thằng Hướng lên trung đội trưởng. Cậu Cung thích làm anh nuôi hơn, nếu không thì cũng được giao chức trung đội trưởng rồi. Cậu thấy không, bọn mình cứ tiến bộ vù vù thế này thì chả mấy chốc mà lên tới cán bộ trung đoàn! Dĩ nhiên là với một điều kiện là trận nào cũng thoát chết!t Những lời của Hùng Phong có pha chút cay đắng khiến Lân hiểu rằng cậu ta cũng chẳng vui sướng gì khi được đề bạt. Hình như cậu ta đang cảm thấy có lỗi khi liên tiếp phải thay thế vào vị trí của những bậc đàn anh tài ba hơn nhưng đã sớm phải hy sinh. Nhưng qui luật khắc nghiệt của chiến tranh là vậy, biết làm sao?
Mấy ngày sau cấp trên gửi thông báo xuống cho các đơn vị, nói rằng: trận bom B52 vừa rồi là một trận oanh tạc có chủ đích nhằm vào đội hình của sư đoàn. Bộ tư lệnh Quân đội Mỹ ở đường 9 đã phát hiện ra đội hình của sư đoàn Hồng Bàng đang ngày càng áp sát các mục tiêu quan trọng trên tuyến phòng thủ đường 9 nên quyết định tiến hành một chiến dịch oanh kích tối đa nhằm đẩy bật sư đoàn ra sát giới tuyến để bảo đảm an toàn cho tuyến đường số 9, tuyến giao thông huyết mạch đang phải vận hành hết công suất để chi viện cho chiến trường Khe Sanh.
Thông báo của cấp trên còn có một câu an ủi rằng: thằng địch càng trút nhiều bom đạn lên đầu đơn vị ta thì trên hướng chính của chiến trường, các đơn vị bạn càng có nhiều thuận lợi hơn để giành chiến thắng; và càng chứng tỏ rằng nhiệm vụ chia lửa, căng kéo địch mà Bộ tư lệnh chiến dịch giao cho sư đoàn ta đã thành công.
Nghe chính trị viên Khang đọc xong bản thông báo ấy, Hùng Phong lắc đầu chua chát “Ba lần “thành công” thế này thì đại đội ta mất sức chiến đấu rồi còn gì? Thằng cha trợ lý nào soạn cái bản thông báo này kể cũng giỏi thật đấy!”.

Vào cái đêm tiểu đội trinh sát của trung đoàn do trung đội trưởng Nguyễn Danh Côn khênh thằng tù binh Mỹ ghé vào kiềng đại đội 9 thì anh nuôi Ngô Xuân Cung vừa cắt cơn sốt. Anh bị bệnh sốt rét hành hạ đã gần một tháng nay rồi. Nhưng cậu y sĩ tiểu đoàn khẳng định rằng anh không thuộc nhóm bị sết rét ác tính. Mỗi ngày, anh thường bị lên cơn sốt hai lần, một lần vào giữ trưa, một lần vào nửa đêm về sáng. Vì thế, cũng ít người biết anh bị bệnh, ngay cả đại đội trưởng Hùng Phong cũng vậy. Có lần, Hùng Phong nghi ngại nhìn anh, hỏi “Cậu làm sao mà dạo này da dẻ cứ bệch bạc ra thế? Mất ngủ à?”. “Ừ, mất ngủ... ăn uống cũng kém nữa”. Anh trả lời qua quít. Hùng Phong cho cậu công vụ mang xuống bếp cho anh một gói Pôli tổng hợp của Trung Quốc, loại viên bọc đường màu vàng trông như viên kẹo, bảo mỗi ngày cậu hãy uống dăm bảy viên cho lại sức. Nhưng cậu Nỏ và mấy cậu anh nuôi bảo: “Biết có sống đến mai không mà để củ khoai đến mốt?”, nên liền bóc ra, chia nhau mỗi người vài chục viên, nhá kí cốp một lúc hết sạch. Hôm sau đứa nào đứa nấy nước giải cứ vàng khè, mà đái vào chỗ nào là kiến bu đen bu đỏ chỗ đó.
Cứ sau mỗi trận sốt về đêm là anh Cung không tài nào ngủ lại được nữa. Vừa dứt cơn sốt, đạp bỏ chăn ra, là anh ngồi dậy, xuống bếp hí hoáy đun một ít nước sôi để lau người. Cái mùi mồ hôi thằng sốt rét nếu để lưu cữu trên người sẽ rất khó ngửi. Lau người xong, anh đốt ngọn đèn cầy lên lọ mọ dọn dẹp chẻ nắm củi nòm, hay đổ gạo ra nhặt sạn. Sau đó anh bắc bếp lên che cửa bếp, nổi lửa nấu cơm. Có khi anh nấu xong hai nồi cơm, nắm thành từng nắm rồi thì trời mới lờ mờ sáng. Cậu Nỏ bao giờ cũng dậy vào giấc ấy, thấy anh làm xong hết mọi việc rồi cậu ta lầu bàu nói: “Sao bố già không gọi bọn này dậy mà cứ sờ sệt làm một mình vậy?”. Hỏi xong, cậu ta ngáp một chặp, rồi ngồi bó gối bên cửa bếp ngủ gà ngủ gật cho tới lúc các tiểu đội cử người xuống lấy cơm. Mấy cậu lính gác đêm cũng quen dần với chuyện mò mẫm ban đêm của anh nuôi trưởng Cung. Có đứa thấy anh dậy thì mò xuống tán gẫu cho đến lúc anh xua tay mắng: “Bọn mày gác xách kiểu gì thế? Biệt kích Mỹ nó mò vào thì khốn đấy. Về vị trí quan sát đi”. Nhắc thế là không thừa, vì cũng đã có đơn vị đang đêm bị bọn biệt kích bôi mặt mò vào hỏi thăm rồi. Cái bọn này nó cũng gan góc chả kém gì lính đặc công của ta là mấy.
Kiềng của đại đội 9 vẫn ở chỗ cũ, nhưng hồi này bị bom pháo địch đánh phá liên tục nên cây xanh chả còn bao nhiêu, chỗ nào cũng chỉ thấy đất đá lộn lên cùng với lô nhô nham nhở những cây khô, cây cháy dở. Kể ra, ven khu vực Động Mã vẫn còn vài vạt rừng xanh.
Nhưng cấp trên nói, tốt nhất là cứ làm hầm trú quân ở những nơi từng bị bom B52 xới lộn lên thì sẽ bất ngờ, an toàn hơn. Ngụy trang hầm hào cũng bằng cây khô là tốt nhất. Quả nhiên, bom pháo địch cứ nhè những nơi còn rừng xanh mà nện. Toàn bộ đội hình của đại đội 9 giờ nằm trên bãi bom, chỉ riêng có khu bếp của anh nuôi Cung là được phép đặt trong một vạt rừng le và một ít cây xanh còn sót lại mé gần bờ suối. Chỗ ấy, lại nằm ở phía Bắc sườn đồi trước mặt, cách khu bếp cũ trước khi bị bom B52 chừng vài trăm mét ngược lên thượng nguồn của con suối. Thành thử, theo cách bố trí mới thì bếp anh nuôi lại ở về chếch về phía trước đội hình của đại đội. Thực ra, cũng chả biết lấy căn cứ gì để tính phía nào là phía trước, phía nào là phía sau. Nếu lấy hướng về phía đường 9 làm chuẩn thì bếp nuôi quân ở phía trước, nhưng theo hướng giả định, nếu địch có tiến công vào kiềng của đại đội thì chỉ có thể vào được từ hướng Tây, hoặc Tây Nam thì bếp lại ở phía sau đội hình chiến đấu. Vì ở phía trước, hướng chính Nam của khu kiềng đại đội 9 là một dãy cao điểm, trên bản đồ ghi là cao điểm 185, có độ dốc rất lớn, ngay đưới chân dãy cao điểm này về hướng Đông và Đông Nam được bao bọc bởi một con suối lớn, vào mùa mưa thì nước chảy cuồn cuộn, vào mùa khô thì lòng suối trơ ra, rộng đến hàng trăm mét, lổn nhổn đá hộc. Trên dãy cao điểm trước mặt chỉ cần bố trí vài ụ súng máy, một khẩu đội cối 60 ly thì dù mùa mưa hay mùa khô thằng địch cũng khó mà vượt qua được con suối ấy. Hơn nữa, qua được con suối này, đi bộ chừng nửa giờ nữa là đến bờ sông Cam Lộ rồi. Sông ở quãng này không rộng, nhưng lại sâu, lòng sông đầy cát, bờ sông phía Bắc lại có vách dựng đứng, nhiều khe phân thuỷ, rất khó khăn cho việc cơ động. Khi lập chốt chiến dịch ở Động Mã, cấp trên cũng nhận định rằng, nếu có tấn công vào khu vực chốt liên hoàn của ta, thằng địch không dại gì mà triển khai binh lực ở hướng này. Đó là nói binh lực lớn, chứ với các phân đôi biệt kích thì không thể nói như thế được. Vì vậy, trên dãy cao điểm 185, tiểu đoàn thường xuyên bố trí hai điểm chốt cơ động và một trạm quan sát của trinh sát tiểu đoàn làm nhiệm vụ cảnh giới cả ngày lẫn đêm. Vậy mà không hiểu sao đêm hôm ấy, cả hai tổ chốt và trạm trinh sát của tiểu đoàn đều không phát hiện được việc tổ trinh sát của Nguyễn Danh Côn có tới sáu người, khênh theo một thằng Mỹ vượt qua cao điểm 185 để vào khu vực kiềng của đại đội 9?
Đêm ấy cơn sốt đến với anh Cung muộn hơn mọi ngày, hình như khoảng ba giờ sáng thì phải. Như mọi khi cắt sốt là anh trở dậy, mò xuống bếp ngay. Đêm qua cậu Nỏ đã chuẩn bị củi đuốc sẵn sàng cả rồi nên anh chỉ việc nổi lửa, vo gạo nấu cơm luôn. Hai nồi quân dụng cơm đã chín mà trời vẫn chưa sáng. Nhìn xuống khe suối, chỉ thấy một màn sương mù dày đặc. Sương dày thế này, cũng đỡ lo việc che chắn ánh sáng.
Vì dẫu máy bay trinh sát của thằng Mỹ có bay ngay trên đầu cũng chẳng thấy cái con mẹ gì được. Hình như vì thế mà cũng không thấy chúng vo ve trên bầu trời. Các trận địa pháo của địch vào giờ này cũng chỉ thi thoảng mới uể oải bắn vài loạt cầm canh. Không gian yên tĩnh lạ lùng, đến mức, ngồi dưới bếp mà có thể nghe thấy tiếng thằng Nỏ ngáy pho pho từ trong hầm vọng ra. Thằng này ngáy gỗ thật đáng sợ. Hồi nó mới được phân công xuống làm anh nuôi, phải mất hàng tháng trời anh Cung mới “chung sống hòa bình” được với tiếng ngáy của nó. Cậu Tín, và cậu Hoà, cậu Vui, cậu An đều không thể chịu được tiếng ngáy ấy. Vì thế tổ nuôi quân có sáu người, đáng lẽ chỉ cần hai hầm kèo nhưng rồi phải đào tới ba chiếc. Anh đành phải ngủ chung với thằng Nỏ. Chả lẽ, để nó ngủ một mình? Có hôm Hùng Phong đi kiểm tra gác ban đêm, nghe thấy tiếng ngáy của thằng Nỏ, liền hốt hoảng gọi cậu lính đang đứng gác gần đó lại bảo “Cậu xem, hình như có con trăn gió ở quanh đâu đây hay sao ấy?”. Khi biết đó là tiếng ngáy của thằng Nỏ anh nuôi, đại đội trưởng ngạc nhiên thốt lên “Nó ngáy kiểu gì mà khiếp thế? Cậu có thấy mặt đất dưới chân cũng rung lên không?”. Hôm sau, anh gọi anh nuôi trưởng Cung lên bảo “Cậu nhiều tuổi rồi, không thể ngủ cùng hầm với cái thằng ngáy như trăn gió rít thế được. Hay để tôi kéo thằng Nỏ về trung đội làm tiểu đội trưởng, đổi cho cậu đứa khác?”. Anh Cung cười, bảo “Chả kiếm đâu ra được một thằng chăm chỉ, tháo vát như nó đâu. Thôi, cứ để nó giúp tôi thời gian nữa để tôi vực đứa khác đã. Tôi cũng quen với tiếng ngáy gỗ của nó rồi”. Anh Cung thầm nghĩ rằng có lẽ sớm muộn gì thì cũng phải nhả thằng Nỏ ra thôi, nghẹt nỗi bốn đứa còn lại đều mới được bổ sung thay thế cho mấy cậu anh nuôi cũ được đề bạt lên làm tiểu đội trưởng hết. Chúng nó đều đã trưởng thành, có hai cậu giờ đã là trung đội phó rồi. Anh em trong đại đội thường bảo, đứa nào qua cửa bếp của anh Cung rồi cũng trở thành cán bộ hết.


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 19 Tháng Ba, 2012, 01:32:20 pm
Sau trận 241, Hùng Phong gọi anh lên bảo “Đại đội vừa được bố sung hơn chục tân binh, cậu lên chọn lấy mấy đứa đi. Mấy đứa anh nuôi cũ tôi phải đưa lên làm cán bộ tiểu đội hết”. Anh chọn được bốn đứa Tín, Hoà, An, Vui rồi báo cáo lại với Hùng Phong “Anh phải để lại cho tôi thằng Nỏ, mấy đứa mới này xem chừng còn lâu mới quen được với chuyện bếp núc. “Quả vậy, chọn được một anh nuôi giỏi đâu phải chuyện dễ dàng. Ngay một việc tưởng như đơn giản như nắm cơm thôi, mà đến nay ngoài Nỏ ra cũng chưa đứa nào có thể thay thế anh được. Từ gần một tháng nay, khi địch thường xuyên tấn công vào khu vực đứng chân của tiểu đoàn thì mỗi ngày anh nuôi chỉ được phép nổi lửa nấu cơm vào ban đêm. Sáng sớm nấu một lần rồi nắm cho mỗi người hai nắm, một nhỏ để ăn sáng, một to hơn để ăn bữa trưa, bữa tối thì phải tới hơn sáu giờ chiều khi sương mù bao phủ dày đặc núi rừng thì anh nuôi mới lại được nổi lửa nấu ăn. Vị chi mỗi sáng anh nuôi phải nắm tới trăm rưởi nắm cơm cho hơn bảy chục người ăn. Công việc ấy bao giờ cũng do anh và cậu Nỏ đảm nhiệm. Phải làm nhiều nên bây giờ trình độ nắm cơm của Nỏ cũng điệu nghệ lắm rồi. Riêng đại đội trưởng Hùng Phong thì bao giờ cũng yêu cầu đích thân anh Cung phải nắm cơm cho mình, hễ để lẫn một nắm do cậu Nỏ làm là anh ta biết liền. Có hôm giữa trưa, Hùng Phong xộc xuống bếp, một tay cầm nắm cơm vừa thái ra làm hai, tay kia cầm con dao găm nhăn nhó bảo “Hôm nay cậu lại để lẫn cơm của tôi rồi. Nắm này chắc chắn là do thằng Nỏ nắm. Đây cậu xem, thái ra một cái là biết liền”. Anh Cung cầm nửa nắm cơm lên, nhìn vào lát dao vừa cắt, gật đầu “Đúng là nó vắt chưa được kỹ thật. Nhưng thế này ăn cũng được chứ”. Hùng Phong giận dỗi bỏ nắm cơm lại rồi quay lưng đi ngay khiến anh nuôi trưởng Cung phải bật cười “Cái thằng, có thế mà cũng giận thì lạ thật”. Anh định mặc kệ, không ăn thì thôi, nhưng rồi lại chợt nghĩ ta “Suy cho cùng thì nó cũng chưa đầy hai mươi tuổi. Ít nhiều vẫn còn trẻ con ấy mà”. Nghĩ vậy, anh bèn xuống bếp, chẻ một nắm củi thật khô rồi bỏ một nắm gạo vào cái ăng gô nấu một ít cơm. Định bụng, nấu xong sẽ mang cơm nóng lên cho cậu ấy ăn, nhưng lại chợt nghĩ “Không khéo cậu ta lại nổi điên, phê bình mình vi phạm kỷ luật khói lửa thì lôi thôi to” nên lại mang ra nắm thành một nắm cơm thật nhuyễn, rồi mang lên hầm chỉ huy. Nhưng Hùng Phong cũng nhận ngay ra là cơm còn nóng. liền nháy mắt cười bảo “lần sau cậu không cần phải làm thế nữa. Cậu qua mắt được thằng OV10 đang vo ve ở trên kia nhưng không qua mắt được tôi đâu”.
Anh Cung vừa vắt xong nắm cơm cuối cùng thì trên hầm tiếng ngáy của Nỏ cũng vừa ngừng, ngay sau đó anh nghe thấy cậu ta đái tồ tồ vào cái gốc cây trước cửa hầm. Mùi nước đái của thằng con trai mới lớn khai nồng xộc ngay vào mũi anh. Cái thằng, vẫn chứng nào tật ấy, đi đái mà nó cũng lười, chẳng thèm bước ra xa vài bước chân! Đái xong, Nỏ xộc ngay xuống bếp. Thấy mấy chậu cơm nắm đã đầy ắp, nó vừa ngáp vừa nhăn nhó trách “Sao anh không gọi tôi dậy giúp cho một tay?”. Anh Cung vừa đứng dậy vừa đấm lưng thùm thụp “Còn khối việc. Mày đi cọ hai cái nồi lớn đi, rồi bắc nước lên mà đun. Sương mù như thế này là hôm nay trời nắng lắm đấy! Phải có đủ nước sôi cho bộ đội dồn vào bi đông. Mùa hè đến nơi rồi, uống nước lã nhiều nguy hiểm lắm”. Nỏ vừa cạo cháy sồn sột vừa nói nhấm nhẳng “Vẽ... Thiếu gì Phăng-tô-xít (thuốc lọc nước) cứ cho một viên vào bi đông, múc nước suối đổ đầy vào xóc lên một lúc là có con vi trùng nào cũng ngoẻo hết!”. Anh Cung gắt “Thuốc lọc nước chỉ dùng khi bất đắc dĩ thôi, mày hiểu chưa? Hay hớm gì cái thứ hóa chất chết tiệt ấy? Đi làm đi. Mà còn phải nấu một nồi cháo cho mấy thằng sốt rét nữa đấy. Hôm nay để cháo trắng để chúng nó ăn với đường chứ không cho thịt hộp nữa, kẻo chúng nó ăn vào lại nôn ra bằng hết. Rõ chưa?”. Nỏ vừa lầu bầu đáp rõ vừa xách chiếc nồi quân dụng lần theo con dốc đã đánh thành từng bậc xuống suối.
Anh Cung quay vào, vừa định chất củi vào bếp để chụm lửa thì bỗng nghe từ dưới dốc tiếng Nỏ kêu lên thất thanh “Ối... “ sau đó là tiếng cậu ta ngã uỵch trên mặt đất và tiếng chiếc nồi quân dụng va vào cây loảng xoảng. Anh vội nhảy vài bước ra cửa bếp hỏi vọng xuống “Chuyện gì thế? Mày lại ngã hả Nỏ?”. Không thấy Nỏ đáp lại, mà lại nghe thấy những tiếng lao xao, rồi cậu lính gác bên kia đồi kéo quy lát tiểu liên đánh rốp một cái kèm theo tiếng quát đanh gọn “Ai. Đứng lại! Mật khẩu?” Có tiếng đáp mật khẩu. Rồi sau đó là tiếng một người vang lên “Chúng tôi là trinh sát của trung đoàn đi ngang qua đây mà”. Anh Cung nhận ngay ra đó là tiếng của cậu Côn vội chạy xuống dốc hỏi “Cậu Côn đấy hả?”. Tiếng Côn vang lên từ sau màn sương mù “Vâng, bọn em đây. Hình như anh Cung phải không?”. Anh Cung vội nhảy xuống vài bậc nữa thì nhìn thấy bóng Côn từ dưới dốc đi lên, ngang qua chỗ Nỏ vừa ngã, anh ta khẽ cười, nói “Xin lỗi nhé. Hình như bọn tôi làm cậu giật mình hả?”. Tiếng Nỏ làu bàu “Các ông mò mẫm đi đâu mà sớm thế? Ôi trời, cái gì thế này? Có người bị thương à?”. Côn lại cười vang “Không phải là thương binh đâu. Mà là khách quí của tụi này đấy! Làm phiền tí nhé. Các cậu đi cẩn thận, chỗ này dốc hơi cao đấy.
Từ trên lưng chừng dốc, anh Cung đã nhìn thấy một cái cáng đang lừ lừ tiến lên. Những tiếng thở gấp gáp, rồi tiếng một cậu nào đó làu bàu “Mẹ cha nó... Cứ như là bố mình không bằng? Không biết nó ăn gì mà to béo thế?”. Rồi tiếng Côn động viên “Cố lên chút nữa các cậu. Lên tới bếp của anh Cung là nhất định có cái chén rồi”.
Bốn cậu trinh sát ì ạch khiêng cái cáng lên tới trước cửa bếp của anh Cung. Côn ra lệnh:
- Đặt nó xuống đấy. Kiểm tra lại các dây trói xem còn chặt không?
Anh nuôi trưởng Cung sững sờ nhìn cái đống lù lù trên, hỏi:
- Con gì... mà nặng thế? Những bốn người khênh?
Côn khẽ bật cười, bảo:
- Thằng Mỹ đấy!

Quần nhau với quân đội Mỹ đã mấy tháng trời trên chiến trường đường 9 nhưng sư đoàn Hồng Bàng chưa bắt được thằng Mỹ nào làm tù binh? Nói cho đúng ra, cũng có vài ba đơn vị từng bắt được tù binh Mỹ trong những trận giáp chiến, nhưng rồi không hiểu sao, chẳng có đơn vị nào đưa được tù binh ra khỏi khu chiến một cách an toàn. Sau khi rút kinh nghiệm, thủ trưởng các đơn vị chỉ ra ba nguyên nhân: thứ nhất, bọn lính Mỹ, nhất là đám lính thuỷ đánh bộ không hiểu được rèn luyện, giáo dục thế nào mà khi bị bắt thường rất ngang bướng. Chúng không chịu nghe theo mệnh lệnh của chiến sĩ ta nên trong những lúc trận đánh đang diễn ra, bộ đội ta cũng không muốn lôi thôi với chúng làm gì, thà không có được thành tích bắt tù binh còn hơi là nhùng nhằng nơi trận tiền rồi chết oan vì chúng. Thứ hai là do ngôn ngữ bất đồng nên có khi bọn tù binh Mỹ cũng chẳng hiểu bộ đội ta nói gì, ra lệnh gì mà tuân theo. Hơn nữa, vào những lúc đó, để tỏ rõ oai phong và lập trường của mình, các chiến sĩ ta thường quát rất to và chưng ra những gương mặt không thân thiện lắm nên chúng hoảng, có khi vì thế mà quay đầu chạy thục mạng để rồi bị ăn đạn. Thứ ba, trong những hướng dẫn của cấp trên về việc tiếp xúc dẫn giải tù binh Mỹ có một chi tiết rất sai lầm. Đó là khi bắt được tù binh Mỹ ngoài việc tước vũ khí trang bị, điện đài, phải lập tức bắt chúng tháo giày ra để chúng không chạy trốn được. Vì thế, bọn tù binh Mỹ khi được lệnh cởi giày ra thì lại hiểu rằng mình sắp bị làm thịt (trong một tài liệu nào đó lính Mỹ cũng được hướng dẫn rằng, trước khi Việt Cộng hành hình tù binh thường bắt tù binh cởi hết quần áo, giày mũ ra để thu hồi về sử dụng), nên chúng thường thường phản ứng rất kỳ lạ - có đứa lập tức suy sụp khụy ngay xuống, mềm nhũn ra, đái ỉa cả ra quần và không chịu đứng dậy nữa. Có đứa thì hoảng loạn, la hét ầm ĩ rồi bỗng dưng đâm đầu chạy và rồi cũng nhận được một kết cục bi thảm. Cũng có những thằng cứng bóng vía hơn nhưng sau khi tháo giày ra rồi thì không thể đi được vì đau chân. Từ bé đến giờ chúng có bao giờ đi chân đất đâu? Thế là cả người dẫn giải lẫn tù binh cứ nhùng nhằng với nhau giữa nơi bom đạn mịt mù. Rồi có khi cùng làm mồi cho đạn pháo hoặc đạn súng máy từ trên những chiếc trực thăng chiến đấu bắn xuống. Vì thế nên trong những trận cận chiến, bộ đội ta nảy ra tâm lý ngại bắt tù binh. Giây với bọn này mệt lắm, lớ ngớ có khi lại chết oan. Cứ cho mỗi thằng một viên đạn cho nhẹ mình! Xong mỗi trận đánh sư đoàn trưởng Phạm Sùng lại lập tức gọi điện thoại xuống các trung đoàn hỏi, có bắt được tù binh Mỹ không? Cho tới tận bây giờ, câu trả lời vẫn là không? Sư đoàn trưởng có vẻ không vui.
Cách đây chừng hơn một tháng, trung đội phó trinh sát Nguyễn Danh Côn được nhận nhiệm vụ dẫn đường cho sư đoàn trưởng Phạm Sùng đi quan sát mục tiêu cùng với trung đoàn trưởng Trần Đông Hải. Trong lúc ngồi trên đồi cao quan sát một căn cứ dã chiến của lính thuỷ đánh bộ Mỹ dưới thung lũng, bất ngờ sư trưởng quay sang hỏi:
- Này cậu... trinh sát các cậu đã bao giờ nhìn thấy một thằng Mỹ ngay trước mắt chưa? Là tôi nói một thằng Mỹ còn sống ấy?
Côn gật đầu trả lời:
- Nhiều rồi chứ ạ. Có lần bọn này mò vào trại Mỹ ban đêm, nhưng rồi bị kẹt trong đó không ra kịp trước khi trời sáng. Thế là cả ngày nằm trong đống rác thối um, tha hồ nhìn bọn lính Mỹ đi đi lại lại trước mặt. Buổi chiều, còn được xem chúng nó tắm bằng vòi rồng từ trực thăng phun xuống kia.
Sư đoàn trưởng nghe rất thích thú rồi bỗng thở dài:
- Còn mình thì... Mới chỉ nhìn thấy xác lính Mỹ mà thôi. Nhìn thấy hàng trăm thằng, nhưng toàn là những thằng Mỹ chết. Đánh nhau với chúng nó gần nửa năm rồi mà chưa nhìn thấy thằng Mỹ còn sống nào thì cũng buồn thật. Mình đã lệnh cho trinh sát sư đoàn phải tìm cách bắt cho được một thằng Mỹ, nhưng đến nay vẫn chưa thấy các cậu ấy lôi được một thằng Mỹ nào về.
Không hiểu sao lúc ấy Côn bỗng buột miệng hứa:
- Thủ trưởng yên tâm đi... Nhất định bọn tôi sẽ lôi cổ được một thằng Mỹ về cho thủ trưởng!
Sư đoàn trưởng vỗ vai Côn khích lệ:
- Tốt! Nếu các cậu bắt được một tù binh Mỹ về, tớ sẽ đề nghị thưởng Huân chương ngay!
Vì một lời hứa với sư đoàn trưởng, chứ không phải vì cái huân chương mà Côn và các chiến sĩ trinh sát trong trung đội mình đã lặn lội dọc đường số 9 suốt bảy ngày bảy đêm vừa qua. Và, cuối cùng thì họ cũng có được một thằng Mỹ.


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 19 Tháng Ba, 2012, 01:32:56 pm
Việc Côn được lệnh dẫn năm chiến sĩ trinh sát trung đoàn đi làm nhiệm vụ và bắt tù binh cũng diễn rất bất ngờ. Sau chuyến trinh sát ấy chừng một tuần trung đoàn trưởng Trần Đông Hải bỗng cho gọi Nguyễn Danh Côn lên Sở chỉ huy và hỏi:
- Thế nào, cậu đã sẵn sàng chưa?
Côn đứng nghiêm, trả lời:
- Chúng tôi lúc nào cũng sẵn sàng. Thủ trưởng cần giao việc gì ạ?
Trung đoàn trưởng lắc đầu:
- Không phải tớ... mà là sư trưởng. Cậu quên những lời đã hứa với ông ấy rồi à?
Côn sực nhớ ra liền gãi đầu cười:
- Em chưa quên... Nhưng chưa có cơ hội.
- Cơ hội thì có rồi đấy - Trung đoàn trưởng vẫy tay ra hiệu cho Côn bước tới trước tấm bản đồ treo trong phòng chỉ huy của mình rồi hỏi - Các cậu có muốn đi một vòng về phía Đông không?
- Phía Đông? Nhưng... tới tận đâu ạ?
Trung đoàn trưởng khoanh một vòng rộng trên bản đồ:
- Trước mắt thì các cậu hãy khảo sát cho tôi từ vùng ven thị xã Đông Hà ngước về trên này đã. Phải nắm cho kỹ địa hình, đường cơ động và những mục tiêu lớn, cố định trong phạm vi này. Dĩ nhiên mới chỉ là điều nghiên địa bàn thôi chứ chưa đi sâu vào mục tiêu nào vội.
Côn nhìn trung đoàn trưởng rồi buột miệng nói:
- Trung đoàn chúng ta sắp được lật cánh phải không ạ?
Trung đoàn trưởng nghiêm mặt:
- Không được đoán bừa! Trước mắt, nhiệm vụ của các cậu chỉ có vậy. Ngoài ra, nếu có điều kiện thì... kiếm cho ông Sùng một thằng Mỹ! Nhưng tớ nói trước, nếu có hành động thì các cậu cũng chỉ được hành động trong phạm vi từ Cam Lộ trở về phía Tây thôi, không được quậy ở khu vực Đông Hà. Và nhất là không được để lại dấu vết gì khiến địch suy đoán ra được sự có mặt của sư đoàn ở hướng đó!
Côn đáp “Rõ”rồi hỏi thêm:
- Chúng tôi được sử dụng bao nhiêu trinh sát. Và, đồng chí trung đội trưởng có được phép trực tiếp chỉ huy không ạ?
- Không... Cậu Đoàn phải ở nhà. Cậu sẽ là người trực tiếp chỉ huy cuộc trinh sát này. Lực lượng tối đa có thể đưa đi là hai tổ. Địa bàn rộng như vậy, phải chia làm hai mũi mà đi. Thời gian nhiều nhất là tám ngày phải trở về với đầy đủ những thông tin cần thiết.
Côn do dự một lát rồi hỏi tiếp:
- Chúng tôi có được phép tranh thủ sự giúp đỡ của trinh sát sư đoàn không ạ?
Trung đoàn trưởng không trả lời câu hỏi của Côn mà nói:
- Chủ nhiệm trinh sát sư đoàn lát nữa sẽ xuống đây trao đổi nhiệm vụ với các cậu.
Trưa hôm đó, đồng chí Chủ nhiệm trinh sát sư đoàn ghé qua. Cuộc trao đổi về nhiệm vụ mới diễn ra chừng hơn một giờ đồng hồ. Côn rất lấy làm hãnh diện khi cuộc làm việc chỉ hạn chế trong nội bộ Ban chỉ huy trung đoàn, anh là cán bộ cấp dưới duy nhất được dự. Không được ghi chép, cố nhiên rồi. Nhưng với một trí nhớ tuyệt vời lại được rèn luyện, nên chỉ nghe qua một lần là Côn nhớ rõ tất cả những địa danh, những con số, những tọa độ, những tên người và mật khẩu liên lạc. Khi nghe Côn nhắc lại không sót một điều gì, đồng chí Chủ nhiệm trinh sát rất hài lòng, gật gù khen:
- Nghe cánh lính trinh sát sư đoàn khen rằng cậu có trí nhớ tuyệt vời, nay tôi mới tin đấy. Cậu học kỹ năng đọc và nhớ các dữ kiện ở đâu vậy?
Khi Côn nói anh đã được học những ông thày giỏi trong một khoá huấn luyện trinh sát do Cục tình báo - Bộ Tổng Tham mưu tổ chức thì ông Chủ nhiệm trinh sát liền hỏi ngay:
- Vậy cậu cũng là học trò của Lê Xuân Ôn chứ?
- Vâng... Anh ấy dậy chúng em võ thuật và chiến thuật trinh sát vũ trang trong lòng địch?
Ông Chủ nhiệm trinh sát gật gù:
- Tay ấy khá lắm. Hôm qua hắn vừa ghé chỗ bọn mình.
- Anh ấy đã vào trong này rồi sao?
- Vào rồi... Hắn đã được thăng hàm Đại uý, rồi được cử vào làm Chủ nhiệm trinh sát mặt trận cơ đấy.
- Thế thì mừng cho anh ấy !
Ông Chủ nhiệm trinh sát lắc đầu cười:
- Mừng gì... Hắn kêu trời lên thì có. Hắn nói hắn đâu có quen trinh sát trên bản đồ. Giao cho hắn một tiểu đoàn đặc nhiệm có phải hay hơn không? Vì thế, tuy làm Chủ nhiệm trinh sát mặt trận hẳn hoi nhưng hễ xểnh ra một tí là hắn lặn một hơi. Hôm vừa rồi hắn ghé qua chỗ mình là vừa chui từ trong sân bay Đông Hà ra. Hắn nói, sân bay này đang được mở rộng, hình như chuẩn bị căn cứ cho bọn Sư đoàn kỵ binh bay số 1 ra trợ chiến cho Khe Sanh, có lẽ phải kiến nghị với cấp trên khi nào thằng kỵ binh bay này mò ra thì phải đánh một trận phủ đầu thật giòn cho bọn này khỏi vây vo!
Thế là Trung uý Lê Xuân Ôn cũng đã vào đây. Ước gì gặp được anh ấy để hỏi thêm vài điều. Một người lính trinh sát bậc thầy như anh ấy hẳn phải biết nhiều lắm, nhất là về kẻ thù. Rất tiếc, hồi còn được học với anh ấy mình đã bỏ phí bao thời gian?
Ngay xẩm tối hôm đó, nhóm trinh sát do Côn chỉ huy lặng lẽ lên đường. Họ cắt rừng nhằm hướng Đông mà đi. Sau này Côn mới biết những điều mình dự đoán là chính xác. Sư đoàn đã nhận được lệnh của Bộ tư lệnh mặt trận sẵn sàng lật cánh về hướng Đông để tìm cách giữ chân sư đoàn Thuỷ quân lục chiến số 3 vừa được điều ra Quảng Trị, không để cho chúng rảnh chân lên chi viện cho chiến trường Khe Sanh. Trong đợt lật cánh này trung đoàn 1 sẽ đi tiên phong. Trung đoàn 4 của các anh sẽ là lực lượng cơ động. Sẵn sàng ứng chiến trên cả hai hướng. Vì thế mới có cuộc đạp địa hình khá vội vã như thế này của những người lính trinh sát trung đoàn. Thông thường, những chuyến đi địa hình như thế này thường có cả Tham mưu trưởng hay Trưởng Ban tác chiến trung đoàn đi cùng, không hiểu sao lần này các cụ lại cho trinh sát độc lập tác chiến?
Bây giờ thì Côn đã khá tinh quái trong việc đoán định những ý đồ của chỉ huy thông qua những động thái sử dụng trinh sát. Sau những chuyến đi thầm lặng của các anh thường là những trận đánh quyết liệt của trung đoàn. Tuy vậy, cũng có khi các anh mất bao nhiêu công sức, thậm chí cả xương máu để nghiên cứu xong một mục tiêu nhưng cuối cùng thì trận đánh lại không diễn ra. Không ai giải thích cho các anh lý do vì sao, những người lính trinh sát cũng đã tập được thói quen im lặng, không thắc mắc về điều gì, cũng không hỏi tại sao mình phải làm việc này việc kia. Những điều mà Côn hỏi trung đoàn trưởng về nhiệm vụ sắp tới của trung đoàn là cấm kỵ. Nhưng cũng có lúc anh không nén nổi sự tò mò.
Côn dẫn tổ trinh sát lặn lội suốt ba ngày đêm, bừa ngang bừa dọc khu vực tác chiến của trung đoàn trong tương lai. Đó là giải đất chưa hẳn thuộc Mặt trận phía Đông, nhưng cũng không thuộc về Mặt trận phía Tây.
Ở Bộ tư lệnh Mặt trận người ta vẫn gọi khu vực này với cái tên trung tính là “Khu giữa”. Nếu trung đoàn được giao nhiệm vụ cơ động ứng chiến trên cả hai hướng thì nhất định phải nắm thật vững địa hình và các loại mục tiêu ở khu vực bản lề này. Đó là yêu cầu đặt ra cho cuộc trinh sát lần này. Đối với lính trinh sát thì đi kiểu này được gọi là “đạp địa hình”. Đạp địa hình thì ít nguy hiểm hơn khi đi trinh sát mục tiêu nhưng lại vất vả hơn vì phải đi nhiều, phải ăn bờ ngủ bụi và phải tập trung trí nhớ để nhanh chóng thuộc nằm lòng các mảng địa hình, các tuyến đường mới cũ, các khu vực có mục tiêu cố định của địch và cả những vùng lực lượng cơ động của địch thường qua lại. Trong thời điểm này, khu giữa không có những đơn vị chủ lực lớn của ta, nhưng các tiểu đoàn cơ động, các đơn vị đặc công của Mặt trận, các đơn vị Bộ đội địa phương và những đội du kích của tỉnh Quảng Trị, thậm chí có cả những đội du kích của huyện Vĩnh Linh cũng sang đây hoạt động.
Nhiều lực lượng độc lập như vậy hoạt động trên một địa bàn cũng là điều mà cánh trinh sát rất ngại. “Lắm sư phiền sãi, lắm vãi rộn chùa”. Mấy thứ quân cùng ra ra vào vào trên một dải đất hẹp, mật khẩu liên lạc chung thì không có, rất dễ va chạm với nhau khi cùng mò vào vùng giáp ranh hoặc vùng địch chiếm. Đã không ít lần các anh bị bội đội địa phương và du kích Quảng Tri làm cho hết hồn, lỡ mà chạm súng với nhau không thương vong thì cũng bể mánh, cháy vở, bị lộ bem như bỡn. Hồi mới vào, lính trinh sát chủ lực còn thích diện “quân phục đặc chủng”, nghĩa là những bộ rằn ri ngụy trang. Cơ động trong những khu vực rừng thưa, rừng cây bụi cứ nhấp nhoà nhấp nhoà, trông chẳng khác mấy lũ biệt kích? Lính địa phương và du kích Cam Lộ cho ăn đạn như bỡn. Về sau rút kinh nghiệm, hễ mò vào vùng giáp ranh thì không dại gì mà mặc thứ đó, hoặc là mặc quân phục bình thường hoặc chỉ đánh độc chiếc quần xà lỏn, chiếc áo may ô cổ vuông xẫm màu là xong... Nếu trong những lúc nhập nhoạng có nhìn thấy nhau thì chị em du kích cũng thận trọng hơn trước khi bóp cò súng hoặc quăng lựu đạn.
Qua ngày thứ tư, theo hợp đồng họ bắt được liên lạc với bộ phận tiền phương của bộ đội địa phương tỉnh. Trước khi đi, Chủ nhiệm trinh sát sư đoàn đã giao cho Côn địa điểm và mật khẩu liên lạc với bộ đội địa phương tỉnh để nhờ họ đưa đường khi vào vùng ven.
Điểm hẹn là một điểm cao phía sau một ngôi làng đã bị dời đi khi quân đội Mỹ lập vành đai trắng kéo dài từ vĩ tuyến 17 vào tới đường số 9. Ngôi làng chỉ còn tên trên bản đồ chứ trên thực địa thì nơi này đã trở thành một dải đất hoang tàn với đầy cây xấu hổ và những hố bom đạn. Theo chỉ dẫn của trinh sát sư đoàn, Côn và đồng đội lần tìm tới được ngọn đồi sau làng, nơi có xác chiếc xe bọc thép M113 vùi trong những bụi gai xấu hổ. Ở đó đã có người đợi sẵn để đón các anh tới gặp người chỉ huy của lực lượng vũ trang địa phương - Một ông Tham mưu phó tỉnh đội tên là Đờn, cao kều, đen bóng, trông dáng người thì trẻ nhưng gương mặt thì nhăn nhúm như một ông già. Anh ta tự giới thiệu mình là người ngoài Vĩnh Linh, đã được học sĩ quan ở trường Quân chính Quân khu 4 đàng hoàng. Có lẽ vì vậy nên vừa gặp Côn và tổ trinh sát anh ta đã nhăn nhó phê liền một chập:
- Sao các ông vào chậm rứa? Đón các ông từ ngày hôm qua tới chừ đó. Bộ đội chủ lực sao chẳng “chính qui chính củ” chút mô hè?
Rồi không khách khí gì hết, anh ta hất hàm bảo Côn:
- Vô vùng ven nỏ đùa đâu nghen!... Các ông có giấy tờ gì gì đều phải gửi lại hết. Có chết cũng vô danh hỉ?
Côn nhăn mặt nói:
- Điều đó ông khỏi lo... Bọn tôi là linh trinh sát mà... Cũng không phải lần đầu mò vô vùng địch đâu.
- Thế thì tốt!
Chợt ông ta nhìn thấy trên cánh tay của cậu Lợi có xăm hình tháp rùa và ba chữ “Nhớ quê hương”, liền nhăn mặt:
- Rứa có khác chi “lậy ông con ở bụi ni” đâu hén? Lỡ cậu rơi vào tay thằng Mỹ, khỏi hỏi chúng cũng biết cậu là người Hà Nội rồi còn chi?
Lợi cười hồn nhiên:
- Vâng... Nhưng làm sao tụi nó bắt được tôi cơ chứ?
- Phách lối ghớm hén? Coi bộ kiêu binh không... Tui nghe nói lính sư đoàn Hồng Bàng các ông đi tới đâu là thằng địch bu tới đánh cho chí chạp. Xem ra thì các ông cũng khinh thằng địch như con muỗi?
Lợi cười hơ hớ:
- Thì tụi tôi cũng có xem bọn nó ra sao đâu nào?
Anh Tham mưu phó tròn mắt, nhìn Côn hỏi:
- Các ông lấy cả mấy cái thùng rỗng này vô làm lính trinh sát sao?
Thấy anh chàng Tham mưu phó đã có vẻ giận, Côn liền dàn hoà:
- Cậu ấy chỉ nói chơi thôi mà!
- Hứ... Nói chơi thôi hén? - Anh Tham mưu phó tỉnh đội nhếch mép cười khẩy - Chưa thấy quan tài chưa nhỏ lệ? Mấy ông thử sống ở vùng đất lửa này một thời gian rồi khắc biết mình là cái thứ gì?
Ông Tham mưu phó Đờn nói dằn dỗi vài câu nữa rồi vẫy tay gọi một chiến sĩ gần đó:
- Mi chạy đi kêu cô Sáu “phóng lựu” qua đây có chút công chuyện nghen!
Rồi anh ta quay lại nhăn nhó cười:
- Tui giao các ông cho một “nữ tướng” hẳn hoi đó. Cổ sẽ giáo dục mấy anh tới nơi tới chốn để vơi bớt cái máu kiêu binh, khinh xuất của lính “triều đình” đi.
Một lát sau có tiếng chân bước huỳnh huỵch trên mặt đất rồi một giọng nữ trầm vang lên bên tai Côn - Eng Đờn... Khách tới rồi hí?


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 19 Tháng Ba, 2012, 01:33:12 pm
Côn giật mình ngoảnh lại thì đã thấy một người cao lớn lừng lững, đội mũ tai bèo, choàng một chéo dù hoa, xung quanh người dắt đầy lựu đạn US và những viên đạn phóng lựu sáng loáng. Khẩu súng phóng lựu người ấy cầm trên tay trông cứ như một cái que. Thật khó mà dám nghĩ rằng người ấy lại là một phụ nữ. Sau lưng chị lấp ló một cô nữ du kích khoác tiểu liên, người có vẻ nhỏ nhắn hơn.
- Lính Bắc đẹp trai dữ hén?
Đôi mắt rực lửa của người nữ du kích lần lượt dọi tới từng chiến sĩ trong đội của Côn khiến mấy cậu lính trẻ đỏ mặt lên. Tham mưu phó Đờn chỉ Côn giới thiệu:
- Người ni là đồng chí Côn, đội trưởng của đội trinh sát ni đó...
- Thấy rồi... Coi được đó heng...
Rồi Đờn chỉ người đàn bà cao lớn:
- Đây là chị Sáu “phóng lựu”... Đội trưởng du kích vùng ven của tụi tui đó... Chị ấy sẽ dẫn đường cho mấy anh... Khắp vùng Đông Hà, Gio-Cam này chị ấy thuộc nằm lòng... Cần chi mấy anh cứ hỏi.
Nói rồi anh ta ngáp một cái rõ to:
- Mấy người làm việc với nhau héng... Tui vô hầm làm một giấc đây. Mấy đêm rồi hết đi vô lại đi ra, oải quá rồi!
Số phận của đội trinh sát do Côn chỉ huy được bàn giao đơn giản như vậy đó. Côn nhìn theo ông Tham mưu phó định hỏi với thêm một vài điều, nhưng anh ta đã chui tụt xuống căn hầm nằm dưới một bụi cây rậm, cứ y như con dũi vừa biến vào lòng đất vậy.
Chị đội trưởng du kích cao lớn ngồi bệt ngay xuống đất, dựng cây súng phóng lựu vào một góc le rồi gỡ chiếc mũ tai bèo ra lau mồ hôi.
- Sắp mùa hè rồi sao mà nóng thấy mồ! Ngồi xuống đi mấy eng... Còn sớm dữ mà, chưa đi được đâu... Ủa, mà anh kêu chi héng?
- Tôi tên là Côn, còn đây là anh em trong đội của tôi.
Côn lần lượt giới thiệu từng người với hai vị nữ du kích. Nghe song người phụ nữ cao lớn gật đầu khen:
- Mấy anh đều có tên hay quá hén?
Rồi, tự giới thiệu:
- Còn tui kêu Sáu Phong, nhưng người xứ này quen kêu tui là Sáu “phóng lựu” rồi... Vì tui quen sài cái ống lửa này rồi mà... Còn o ni tên Lài, người ngoài Vĩnh Giang vô đây mần ăn với tụi này hai năm rồi. Học sinh lớp tám rồi đó... Ở trong ni thì tôi đều phải kêu hắn là “giáo sư”... Nhờ có hắn mà tôi mới biết đọc biết viết đó. Hắn đi chung với tui để khỏi bị mấy anh bộ đội xứ Bắc giỏi giang ăn hiếp!
Côn cười lớn:
- Vậy ra cô Lài là vệ sĩ của chị Sáu, phải không?
- Vệ sĩ vệ tướng chi mô? Hắn là bà nội tui thì có, chìu hắn sắp không nổi nữa rồi... Hắn mót lấy chồng lắm rồi đó, mấy anh tính sao giúp được thì hay quá hè!
Cánh trinh sát cười vang sau câu đùa vui vẻ của chị Sáu Lài tỏ vẻ mắc cỡ, ra sức vung tay đấm thùm thụp vào tấm lưng to bè của chị Sáu. Những cú đấm của cô không phải là nhẹ nhàng gì nhưng cũng chỉ đủ làm tung lớp bụi trên tấm áo quân phục đàn ông đã bạc màu của người chỉ huy đu kích. Cô du kích trẻ tuy không thuộc diện xinh gái nhưng có vóc người nhỏ nhắn, gương mặt trông khá mặn mòi, có duyên, nhất là mỗi khi cô cười.
- Có cái bà cô ni mót lấy chồng thì có!- Lài buông tay thôi không đấm nữa mà quay sang tấn công người chỉ huy của mình bằng cách khác - Mấy anh xem có ông bộ đội chủ lực nào cao lớn, mạnh khoẻ nhờ ơn làm mai giùm. Bả mà chưa có chồng thì tụi em khó sống lắm đó!
Thông, cậu tiểu đội trưởng trinh sát dạn gái nhất chỉ Côn hỏi:
- Cao lớn cỡ ông này có được không o?
Lài che miệng cười ngặt nghẽo:
- Coi được đó... Nhưng eng đẹp trai quá vậy coi có thiệt không hè?
Chị Sáu củng nhẹ vào đầu Lài mắng:
- Cái con mỏ nẹt này nói tầm bậy không hí? Chú ấy ít ra cũng thua tau năm tuổi, phải kêu tau bằng chị hai rồi đó!
Thông nháy mắt cười:
- Tình yêu có tính chi tuổi tác... Phải không các bạn?
Mọi người cùng vỗ tay hoan hô. Chẳng dè làm ồn quá ông Tham mưu Phó không ngủ được, bèn từ dưới hầm nhô lên quát:
- Ê Mấy người tính khai hội đó hỉ? Sao không bắc loa mà gọi tụi biệt kích vô chơi cùng cho vui?
Chị Sáu “phóng lựu “quay lại đe luôn:
- Nè, ông tham mưu, không ngủ được thì lên đây nhởi với tụi này cho vui... Chớ có hăm he vậy. Ban ngày, có cho thêm mấy cái bội tinh thì tụi biệt kích cũng không dám mò vô đây. Mà lỡ chúng có dại dột mò vô thì bà nội nó thẩy cho mấy trái chóc đùng là biến liền. Lo chi héng!
Anh Tham mưu phó cụt hứng, lủng bủng thêm vài câu nữa rồi lại thụt vô hầm ngủ tiếp. Chị đội trưởng du kích cũng đứng dậy vươn vai, vặn mình kêu răng rắc rồi quay lại hỏi cô du kích:
- Mớ chuối mày dấm hồi nào chín chưa hả Lài?
Lài gật đầu:
- Coi bộ cũng gần chín rồi đó!
- Mang ra đây khao quân luôn... Để giành hoài lỡ tụi con Huê phát hiện được chén sạch bách thì uổng.
Lài cười hi hí rồi đứng dậy chạy đi, có lẽ là đi lấy chuối đãi khách. Côn liếc nhìn người đàn bà cao lớn đang đứng vặn mình trước mặt và bỗng nhận ra chị ta chỉ diện độc một chiếc xà lỏn. Mà cũng không hẳn là xà lỏn, đó chỉ là chiếc quần bộ đội cắt cụt tới lưng đùi. Bộ đùi dài và to như hai cái cột nhà của chị cũng đen bóng, sần sùi vết gai cào. Cái áo bộ đội chị mặc hình như hơi chật, đường chỉ phía bả vai cứ như sắp sửa bung ra. Phía trước, bộ ngực đồ sộ của chị dường như cũng quá cỡ, lại được buông thả hoàn toàn nên mỗi khi chị vận động, mấy hàng cúc cứ dặt dẹo, như sắp bật tưng ra, đôi bầu vú cứ như muốn tràn cả ra ngoài. “Mỗi khi khi lâm trận, phải vận động thì hai cái quả chuỳ ấy hẳn sẽ gây không ít phiền phức”. Côn chợt nghĩ vậy và bỗng bật cười khiến chị Sáu vội quay lại hỏi:
- Ủa... Anh ni cười cái chi mà kỳ vậy? Cười mà bật ra cái chóc, cứ như mổ cò súng vậy cà?
Thông liền đế luôn:
- Anh ấy cười mái tóc của chị đấy?
- Tóc tui nó làm sao? Mà tui đâu còn tóc? Vướng víu quá tui bảo con Lài nó xén phứt đi ấy mà. Tui bảo, để tóc kiểu đờn ông, cho mát. Con nhỏ cũng kỳ, cắt rồi, nó lại ôm mớ tóc của tui mà khóc như ri vậy. Trước kia tóc tui vừa dài lại vừa đen nhưng nhức... đi đánh nhau mấy hồi, nó liền chuyển dần qua màu hung đỏ, rồi xơ xác ra nên tui tính cắt luôn cho nhẹ mình. Cứ tưởng, cắt tóc rồi thì mình thành ra đờn ông luôn... Ai dè...
Chị bỗng im lặng không nói nữa nhưng Côn đã hiểu những điều mà chị Sáu “phóng lựu” không muốn nói ra.


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 19 Tháng Ba, 2012, 01:33:33 pm
Đến nửa đêm ngày thứ năm đội trinh sát của Côn đã hoàn thành nhiệm vụ đi thông tất cả những tuyến chính trên khu vực địa bàn được cấp trên chỉ định phải nghiên cứu. Danh mục những mục tiêu tĩnh trên địa bàn đã được lên xong, qui luật hoạt động của các lực lượng quân ngụy Sài Gòn ở khu vực này anh cũng đã nắm vũng. Số lính Mỹ đóng quân trong những căn cứ quân sự kiên cố không nhiều, chủ yếu là lính pháo binh, công binh, kỹ thuật, các đơn vị thuộc những sư đoàn chủ lực Mỹ luôn cơ động, thay quân liên tục nên rất khó nắm bắt. “Muốn có những trận đánh tiêu diệt lớn nhằm vào quân Mỹ thì phải nhằm vào những đội quân cơ động” Côn đã đi đến kết luận như vậy khi lên xong bản đồ địch tình. Đây sẽ là những điều quan trọng nhất mà anh sẽ phải báo cáo trước Ban chỉ huy trung đoàn khi trở về.
Chỉ còn một nhiệm vụ quan trọng nữa mà anh phải cố gắng thực hiện, đó là “kiếm cho ông Sùng một thằng Mỹ” như lời dặn của trung đoàn trưởng. Đêm đó khi trở về tới căn cứ bí mật của đội du kích, anh đã nói điều đó với chị Sáu “phóng lựu”. Nghe xong, chị đội tưởng du kích thủng thẳng nói:
- Tìm chỗ ngủ một giấc cho lại sức đã, mai rồi tính!
Địa điểm bí mật này nằm trong một khu làng nhỏ đã bỏ hoang từ lâu cách tuyến đồn bót ngoại vi khu căn cứ hỗn hợp Đông Hà chừng hai cây số đường chim bay. Khu vực này được ghi trên bản đồ của bọn chỉ huy pháo binh Mỹ là “vùng hỏa lực tự do”, nghĩa là các trận địa pháo địch có thể tự do oanh kích bất cứ lúc nào chúng muốn mà chẳng cần xin phép cấp trên, chẳng cần có kế hoạch định trước, cũng chẳng cần phải có một lý do xác đáng nào cả. Thực ra, khu vực này từ lâu đã trở thành một vành đai trắng, không còn dân cư sinh sống, những làng xóm sầm uất năm xưa nay đều trở thành những bãi hoang ngập trong cỏ dại. Có lẽ vì ở đây cũng khá gần các căn cứ địch nên chúng chưa dùng đến chất độc hóa học để diệt cỏ dại mà thôi.
Nhưng hễ nơi nào có chút màu xanh “dưới mức an toàn” thì lập tức sẽ có những trận bom Napan dội xuống để phát quang. Nhưng những loài cỏ dại trên vùng đất này lại có sức sống rất mãnh liệt, cả một vùng trống hoang trống huỷ như vậy nhưng chỉ sau một trận mưa đầu mùa là các loại cỏ dại, cây bụi lại mọc lên nhanh đến không ngờ. Và, cuộc đối đấu giữa bom lửa, huỷ diệt chết chóc và màu xanh của sự sống lại bắt đầu.
Năm nay hình như mùa mưa đến sớm hơn, mới cuối tháng tư mà đã có những trận mưa đầu mùa vừa trút xuống vùng đất này. Vì thế, khi đội trinh sát của Côn tới đây “đạp địa hình” thì vùng vành đai trắng lại đang mơn mởn những mầm xanh. Có nơi, cỏ dại và cây mắc cỡ đã mọc trùm kín đầu người. Nhưng, cũng vì thế mà thằng địch cũng trở nên cảnh giác hơn. Máy bay trinh sát OV10 và trực thăng vũ trang bay lượn suốt ngày trên đầu, thi thoảng lại xịt một vài quả đạn khói chỉ điểm mục tiêu cho các trận địa pháo binh và máy bay ném bom lao tới bắn phá. Thi thoảng các toán biệt động hoặc các đơn vị thuộc sư đoàn Bến Hải của quân đội Sài Gòn lại đổ quân càn ra vùng vành đai này nhưng chúng cũng không chốt quân lại vào ban đêm trừ khi đang trong những cuộc càn lớn. Lính Mỹ thì chỉ xuất hiện khi có các chiến dịch lớn nhằm đẩy xa các đơn vị chủ lực Bắc Việt về phía giới tuyến. Theo chị Sáu thì khu vực này ban đêm rất an toàn, trừ việc pháo địch thường xuyên bắn cầm canh, ngăn chặn những cuộc hành quân xâm nhập của quân ta từ phía Bắc vào.
Dường như để minh họa cho lời của chị Sáu, tiếng đềpa của một trận địa pháo địch phía Đông Hà lại vang lên. Ngay sau đó là những tiếng hú gió cô hồn của những trái đạn pháo 155 ly. Loạt đạn vượt qua đầu họ nổ ở đâu đó dọc những con đường mòn đi ra phía bờ sông Bến Hải lập tức những trận địa khác từ phía Miếu Bái Sơn, Quán Ngang, căn cứ Cam Lộ cũng phụ hoạ theo. Sau mỗi loạt chúng lại rút ngắn tầm bắn, tới loạt thứ năm hay thứ sáu gì đó thì những trái pháo nổ banh ngay trước mặt đội hình của đội trinh sát.
- Chúng bắt đầu bắn vô nơi mình sắp tới trú qua đêm đó! Đêm nay coi chừng khó ngủ với tụi này đó mấy eng!
Sáu bình thản nhận xét như vậy, rồi đứng dậy phủi bụi trên áo tiếp tục dẫn tiếp trinh sát hành quân. Côn và các chiến sĩ của anh cũng đã quen với những trận pháo kích như thế này rồi. Những cuộc pháo kích vu vơ vào ban đêm của địch không phải là không nguy hiểm nếu không biết làm quen với chúng. Đa số đạn pháo địch bắn ra ban đêm là thứ đạn nổ trên không, chụp miếng xuống mặt đất như mưa rào, lính ta thường gọi là pháo “chơm”, du kích Quảng Trị thì gọi là thứ đạn “đum đum”. Khi đội hình hành quân mà không may sa vào tọa độ của thứ đạn pháo này thì mức độ thương vong thường rất cao, vì rất khó tránh.
Vì thế cho nên muốn nghỉ ngơi qua đêm một cách an toàn dứt khoát phải tìm nơi có hầm tránh pháo.
Khu căn cứ bí mật này của đội du kích có hai căn hầm tránh pháo nằm dưới những khóm tre ở bìa làng. Đó là những khóm tre sống sót một cách thần kỳ qua nhiều phen cày ủi, qua nhiều trận bom pháo. Ngôi làng không còn dấu tích gì đáng kể ngoài những khóm tre này và một cái giếng thơi có kè những hòn đá to tròn kiểu “đầu ông sư” to như những cái mũ sắt. Trước khi đưa tổ trinh sát vào hầm trú ẩn, chị Sáu và Lài đã dẫn họ tới cái giếng này kiếm nước uống. Thật lạ kỳ khi giữa một vùng khô rang như thế này mà lại có một cái giếng nước trong và mát đến vậy. Côn chợt thấy lòng mình nao nao khi bắt gặp một vầng trăng tròn vành vạnh, lung linh nơi đáy nước. Cánh lính trinh sát thi nhau thả cái thùng thiếc xuống giếng múc nước lên, vừa uống vừa rửa mặt mũi, chân tay. Có cậu còn cao hứng kêu lên “Nước mát thế này mà được tắm một cái thì sướng như tiên”. Nghe cậu trinh sát nói vậy, Lài khúc khích cười, bảo “Nếu vậy thì tụi em thành tiên từ lâu rồi. Đêm mô đi đột ấp về tụi em chẳng ghé vô đây để tắm”. “Vậy sao bây giờ o không tắm đi cho mát?”.
“Tắm hén... Vậy cho mấy eng nhắm mắt lại nghen!”.
Nói rồi, Lài vừa cười rinh rích vừa múc một thùng nước dội lên người chị Sáu “phóng lựu”. “Con trời đánh ni!... Tính báo hại tau đó hả?” Chị Sáu vừa vuốt nước chảy ròng ròng trên người vừa la. Cánh lính trinh sát ré lên cười. Côn quát khẽ “Thôi nào, các cậu vô ý vô tứ quá đi thôi. Uống căng bụng rồi thì lui ra cho chị em người ta còn “sửa sang nội vụ” chứ”.
Cánh lính trinh sát hiểu ý Côn vội lùi ra ngoài chừng hai chục mét ngồi đợi. Chừng mươi phút sau thì thấy hai chị em Sáu nhóp nhép đi tới. Hơi nước từ trên thân thể, áo quần họ toả ra mát rượi.
- Khoẻ re rồi! Ta đi thôi mấy eng?
Côn và các chiến sĩ trinh sát đứng dậy lặng lẽ bước theo hai người nữ du kích. Họ đi xuyên qua những khu vườn hoang mọc đầy gai xấu hổ, cây chó đẻ và cỏ vòi voi. Một vài mảng tường đổ còn sót lại đen xì, nham nhở. Một chú gà hoang bỗng te te cất tiếng gáy.
Thoang thoảng đâu đây mùi hương nhài, có lẽ còn sót lại đâu đó một bụi hoa nhài trước thềm nhà ai chưa bị đám cỏ dại, đám gai xấu hổ nuốt đi mất. Chút hương nhài mong manh ấy không hiểu có sức mạnh kỳ bí nào mà len lỏi qua được mùi khét lẹt của thuốc bom, thuốc đạn để đến được với khứu giác của những người lính?
Thông là người đầu tiên không nhịn được trước cuộc “thăm viếng” thanh nhã ấy của một chút hương quen. Cậu ta nghiêng đầu hít hà rồi thốt lên:
- Trời ơi... Có hoa nhài ở đâu đó các cậu ạ?
Lợi cũng vừa nhận ra cái mùi hương quyến rũ ấy liền hăng hái nói:
- Để mình đi tìm xem!
Cậu ta vừa nói vừa định rẽ ngang nhưng chị Sáu “phóng lựu” đã vội vã ngăn lại:
- Đừng... Mấy anh chớ đi lại lung tung. Có mìn đó. Với lại đạp cỏ thành vệt, sáng mai thằng OV10 nó sẽ xoi thấy liền à!
Lợi sững lại cụt hứng, Côn cười bảo:
- Thôi đi ông... Tập trung mà nghe tiếng pháo kẻo nó “chơm” lên đầu bây giờ! Hơi sức đâu mà hoa với hoét? Trăng đẹp thế này, ngắm trăng mà làm thơ cũng đủ rồi!
Nhưng trong ánh trăng, ngôi làng hoang trông càng buồn bã thê lương. Tự nhiên mọi người cùng im lặng bước đi, không ai còn muốn nói thêm câu nào nữa.
Đi thêm chừng ba mươi phút nữa, tấm lưng to bè, ướt rượt của Sáu “Phóng lựu” chợt dừng sững ngay trước mặt Côn. Mải suy nghĩ chút xíu nữa thì anh đâm xầm vào thân hình to lớn kềnh càng của người nữ chỉ huy du kích.
- Tới rồi đó - Lài chỉ mấy bụi tre gai loi thoi trước mặt nói - Như ri eng Côn héng... ! Có hai căn hầm, mỗi căn trú được bốn người. Hơi chật, nhưng cũng có chỗ ngả lưng được. Eng tính răng thì tính... ?
- Hầm bí mật hả? Côn e ngại hỏi.
- Đâu có. Nửa bí mật thôi... Ban ngày, nếu địch bất ngờ đổ quân vô đây thì mình phải vừa đánh vừa lui thôi.
- Chị cho tôi xem qua một tí được không?
- Được chớ... Tui đưa anh vô xem trước héng!
Côn dặn các chiến sĩ chờ mình rồi theo chị Sáu chui vô phía những bụi tre. Hai căn hầm nằm cách nhau chừng hai chục bước, được nguỵ trang bằng những bụi gai xấu hổ nhằng nhịt. Chị Sáu chui vô trước lịch xịch dưới hầm một lát rồi Côn thấy có ánh lửa nhắng lên. Chị Sáu dùng chiếc quẹt ga ripô bật lửa châm vào một khúc nến đặt ở góc hầm - Eng vô coi được rồi đó!
Căn hầm khá rộng. Nắp hầm kên bằng những cây cột nhà, có lẽ lấy từ những ngôi nhà bị cháy. Nền hầm, kê những tấm ván nhỏ lột ra từ những chiếc hòm đạn Mỹ. Đúng như chị Sáu nói, đủ chỗ cho bốn người ngả lưng.
- Căn bên tê cũng như vầy nhưng nhỏ hơn chút xíu... Eng Côn xếp người vô được rồi héng!
Côn bỗng thấy khó xử. Biết xếp sao đây? Chẳng lẽ nam nữ nằm chung một hầm?
- Thế này vậy... Chị Sáu và Lài nằm đây đi. Để anh em tôi qua bên kia.
- Đâu có được - Chị Sáu kêu lên - Các anh những sáu người, nhét vô một hầm coi sao được?
- Xem chừng... đêm nay chúng nó không pháo kích vô đây đâu. Mấy thằng tôi dọn chỗ nằm trên miệng hầm cũng được.
- Không được mô, eng Côn! Như vậy không an toàn đâu héng! Thế này đi, tui với con Lài nằm đây cùng hai anh nữa... Đừng ngại, tụi du kích chúng tôi nam nữ vẫn ngủ chung hầm hoài, có sao đâu?
Côn đành phải đồng ý với người nữ chỉ huy du kích. Anh cho Lợi cùng ba chiến sĩ sang hầm khác, còn mình và Thông thì tình nguyện chung hầm với chị em.
Nghe trung đội phó phân công xong, Lợi cười rinh rích - Trung đội trưởng thiên vị nhé! Sao không cho em Lài qua ngủ với tụi này. Nhất bên trọng, nhất bên khinh quá!
Côn nghiêm giọng:
- Không đùa nữa. Phải để chị em họ ngủ chung với nhau chứ. Các cậu rõ thật... !


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 19 Tháng Ba, 2012, 01:34:00 pm
Côn cứ nghĩ rằng đêm nay anh sẽ khó mà ngủ được khi căn hầm đã nóng hầm hập nhưng cái cơ thể sống của một người khác giới nằm kề bên anh thì dường như lại đang bốc hơi ngùn ngụt. Trong bóng tối, anh nghe thấy tiếng chị em Sáu vừa cười rinh rích vừa sột soạt cởi bộ đồ ướt. Anh mỉm cười nghĩ thầm “Chả lẽ, họ dám ở trần mà ngủ thế này sao?”. Tuy nghĩ vậy, nhưng trong lòng anh tuyệt nhiên không gợn lên một chút ý nghĩ vẩn đục nào. Anh cố gắng nằm thật sát vào vách trong của căn hầm, im lặng lắng nghe tiếng pháo địch bắn lúc gần lúc xa. Đếm được gần một trăm quả nổ thì anh ngủ thiếp đi lúc nào chẳng rõ.
... Anh thấy mình đang bơi trong đầm nước trong xanh. Đúng là cái đầm sen ở đầu làng rồi. Phía sau anh Đào đang bơi theo, vừa cười vừa vẫy gọi. Anh giả bộ như không nghe thấy, mải miết bơi ra giữa hồ. Bỗng, anh ngoái lại nhìn và không thấy Đào đâu, chỉ thấy một mớ tóc đen đang dập dềnh trong nước. Anh thét lên “Đào ơi!”. Rồi vun vút bơi ngược trở lại. Anh túm được mái tóc dài, đen mượt của Đào, rồi cả thân thể mát rượi của Đào nằm gọn trong tay anh, trong trắng, ngọc ngà. Đôi mắt Đào thiêm thiếp như đang trong giấc ngủ, đôi môi đỏ mọng hé mở. Anh ôm Đào, thong thả bơi vào bờ. Rồi cũng thong thả, tự tin, anh bế Đào lên đặt Đào nằm trên một vầng cỏ xanh. Rồi, đôi bàn tay anh nhẹ nhàng vuốt ve thân thể ngọc ngà của người con gái mình yêu. Anh cứ vuốt ve, vuốt ve mãi cho đến khi thân thể người con gái ấm dần lên dưới bàn tay anh. Rồi đôi mắt Đào hé mở, đôi môi mọng đỏ của em khẽ mỉm cười. Không kìm được lòng mình, anh gục xuống, đôi môi tham lam của anh ngốn ngấu đôi môi của nàng. Đôi bàn tay mũm mĩm trắng như ngà của em vươn ra ghì chặt lấy anh, cơ thể anh bỗng nóng lên như lửa, rồi anh từ từ đổ xuống, thân thể của hai người phút chốc đã cuốn chặt lấy nhau. Đến lúc ấy anh mới nhận ra trên người họ đều không còn một mảnh vải che thân, y như Ađam và Eva họ tan hoà vào nhau trong một niềm khoái cảm vô bờ... Hơi thở của nàng nóng hổi, tiếng nàng nghẹn ngào vang bên tai anh - Eng Côn à... Eng Côn... đừng hắt hủi em nghe... ?
Anh giật mình choàng tỉnh và không hiểu vì sao mình lại đang nằm trên cơ thể vâm vạp, nóng hôi hổi của một người dàn bà. Vòng tay chị cứng như một con trăn gió, ôm chặt lấy anh mà ghì xuống. Cơ thể anh đường như cũng đã bị hun nóng lên từ bao giờ chẳng rõ khắp nơi ê ẩm, sưng tấy... Từng thớ thịt trên người anh dường như cũng đang run lên.
Tiếng chị vẫn hào hển bên tai anh:
- Eng Côn à... Eng Côn... Cho em sang một đứa con đi... Vô đi... Vô đi anh... Em... chết đừ rồi nè!
Ý thức của anh trỗi dậy dường như cùng lúc với những ham muốn lạ lùng mà anh chưa từng gặp bao giờ. Anh chưa kịp biết nó là cái gì nhưng dường như nó mạnh hơn cái phần ý thức mong manh vừa trỗi dậy trong anh. Đó là sức mạnh sinh tồn của người đàn ông, của giống đực. Anh không đủ sức ngăn cản nó, nhưng lại càng không đủ khả năng để điều khiển nó. Anh vừa giãy dụa, cố thoát khỏi vòng tay đang ghì chặt của người đàn bà lại vừa bị cuốn theo một lực hút vô hình nào đó từ phần dưới của cơ thể. Tấm thân mền mại với mọi ngõ ngách, mọi lỗ chân lông trên cơ thể người đàn bà dường như đã mở toang, căng ra, run rẩy đón đợi.
Bỗng anh khẽ hực lên một tiếng “Đào ơi” rồi toàn thân anh rung lên, có cái gì đó vừa vỡ toác, nổ bung ra từ phần dưới cơ thể anh. Người đàn bà, cũng hực lên một tiếng, ôm chặt lấy anh mà ghì, lắc. Giọng chị nghẹn ngào, rên rỉ như thoát ra từ đâu đó sâu thăm thẳm:
- Eng ơi... Eng... chưa tới mừ... eng... sao anh chưa vô với em...
Toàn thân anh như mềm nhũn, rã rời, mồ hôi vã như tắm. Anh buông xuôi, bỏ mặc cho cơ thể mình trôi đi trong những cái vuốt ve, những lời thì thầm âu yếm.
- Mình... làm sao thế này? Mình... làm sao thế này?
Trong anh những câu hỏi sắc nhọn đang gào thét. Không có câu trả lời, anh bỗng thấy mình trở nên mềm yếu lạ lùng.
Úp mặt xuống nền hầm, anh nấc lên từng chập. Bàn tay người đàn bà nhẹ nhàng ve vuốt dọc thân thể anh cùng với những lời âu yếm, ngọt ngào mà anh chưa từng được nghe và cũng không sao hiểu được những ý nghĩa của nó. Rồi với cảm giác buông xuôi, mệt mỏi, anh bồng bềnh trôi trở lại vào giấc ngủ lúc nào chẳng rõ.
Có lẽ từ ngày vào chiến trường tới giờ anh chưa bao giờ có được một giấc ngủ ngon lành đến thế. Khi anh tỉnh dậy thì ánh nắng gay gắt của một ngày hè đã chiếu thành từng luồng xuống nền hầm trải đầy lá khô.
Anh giật mình choàng dậy, hốt hoảng đẩy cái đùi to và nặng chình chịch của người nằm bên cạnh đang đè lên mình. Nhưng người ấy lại là Thông, cậu ta vẫn đang ngủ mê mệt!l lại còn chóp chép cái miệng, ú ớ vài câu nói mớ... Lạ nhỉ, ban tối Thông là người nằm ngoài cùng, rồi đến Lài, đến chị Sáu “phóng lựu” rồi mới đến anh. Vậy mà bây giờ, hai người nữ du kích lại nằm ngoài cùng và vẫn đang ôm nhau ngủ ngon lành như hai chị em ruột thịt?
Vậy chuyện gì đã xảy ra trong đêm? Hay đó chỉ là những giấc mơ? Anh cũng không dám chắc. Vơ vội chiếc áo choàng lên người, anh rón rén bò qua ba người đang ngủ để chui ra phía cửa hầm. Khi bò qua người đàn bà người anh như cứng lại khi nhìn thấy gương mặt bình thản của chị sáu. Đôi cánh tay vạm vỡ của chị để trần, một tay dành cho Lài làm gối, tay kia đặt hờ trên bộ ngực căng phồng, ngồn ngộn của mình. Chẳng lẽ đêm qua, đôi cánh tay ấy đã từng ôm ấp, ghì xiết vuốt ve anh? Chẳng lẽ, anh đã từng úp mặt vào vồng ngực căng tràn nhựa sống kia? Ý nghĩ thoáng qua ấy cũng đủ để mặt anh nóng bừng lên. Anh vội quay đi, len lén chui lên khỏi căn hầm như một tên kẻ trộm.
Một làn gió biển ùa tới lùa bung mái tóc anh. Cơn gió mát buổi bình minh khiến anh như bừng tỉnh khỏi cơn mông mị. Giờ thì anh biết rõ mình đang đối mặt với điều gì nhưng có điều lạ là anh không hề thấy ân hận vì đã được số phận đưa đẩy tới căn hầm này, tới với giấc mộng đêm hè này. Có chăng chỉ là nỗi băn khoăn, dằn vặt khi nghĩ về Đào. Phải, dường như anh đã bội ước với Đào. Nhưng anh cũng biết rằng Đào chưa bao giờ yêu mình, họ cũng chưa từng có lời hẹn ước. Vậy nếu nói rằng có sự bội ước thì chỉ là chuyện anh đã bội ước với chính mình mà thôi. Bội ước với chính mình, cũng là điều đáng xấu hổ lắm chứ? Nhất là với anh, một người luôn tự cho rằng mình là người có ý chí, luôn kiểm soát được bản thân. Từ nhỏ đến lớn, anh vốn đã không chấp nhận bất kỳ sự thỏa hiệp nào. Vậy mà đêm qua...
- Ủa... Răng eng Côn dậy sớm chi vậy ha? Ban ngày mình có đi đâu được, sao không ngủ nướng cho khoẻ?
Côn giật mình quay lại thì chị Sáu “lựu đạn” đã đứng ngay sau lưng mình, nai nịt gọn gàng như sắp đi đâu đó. Anh bỗng đỏ bừng mặt lúng túng hỏi:
- Chị Sáu... định đi luôn sao?
Chị Sáu cười giọng vẫn tỉnh dụi:
- Đi kiếm cái chi cho mấy anh ăn lót dạ chớ bộ. Mấy bữa ni xài lương khô của mấy anh hoài, đâu có được?
Côn lén nhìn gương mặt dạn dày sương gió của người nữ chỉ huy du kích cố đoán những ý nghĩ thầm kín trong lòng chị nhưng anh chẳng tìm được gì cả ngoài sự bình thản, tự nhiên đến lạ lùng.
- Mấy eng chớ thấy yên lặng rứa mà chủ quan đó nghe... Sắp bom pháo tùm lum rồi đó. Eng Côn chớ để cho anh em mình ra khỏi hầm đi lung tung đó nghen!
Rồi chị cúi xuống cửa hầm giục:
- Sao mà chậm như rùa vậy! Đi loanh quanh chút thôi mà! Ngoài mấy eng nhà mình thì còn có ma nào tới cái xó xỉnh này mà lo chải chuốt kỹ quá vầy Lài?
Tiếng Lài dúng dắng dưới hầm:
- Em có chải chuốt chi mô, chị Sáu? Lên liền à... !
Côn vẫn thưa hết dằn vặt trong lòng nên mạnh dạn ngước nhìn chị Sáu ngắc ngứ lên tiếng:
- Chị Sáu này... chuyện... chuyện đêm qua...
- Đêm qua có chuyện chi vậy cà? - Chị Sáu lấn lướt hỏi - Tui ngủ say như chết. Rủi có tụi biệt kích mò vô cũng chẳng xoay sở kịp. Mọi bữa đâu có vầy, vào vành đai lúc mô tụi này cũng chỉ nhắm một mắt thôi đó. Có lẽ đêm qua ỉ có mấy eng nên tui với con Lài ngủ quyết chí ngủ vùi một bữa cho đã đó!
Côn càng trở nên lúng túng hơn.
- Nhưng mà... tôi... tôi muốn nói... đêm qua...
Chị Sáu bỗng phá lên cười:
- Mấy eng cũng quên không cắt gác, phải hông cha nội? Tui cũng biết rứa, đã tính nhắc, nhưng rồi lại nghĩ, có nuốt mật gấu tụi biệt kích cũng không dám mò ra vùng này vào ban đêm, nên mới để yên cho các anh ngủ một bữa cho đã đó.
Côn ứ họng, không còn biết nói sao nữa. Vừa lúc đo Lài từ dưới hầm chui lên, tươi tỉnh trẻ trung hẳn sau một đêm được ngủ đẫy giấc... Cô nhìn ngươi chỉ huy của mình, ngạc nhiên hỏi:
- Ủa... chị Sáu sáng nay trông đẹp gái dữ hôn?
- Mi cũng vậy đó... Tụi mình được ngủ một đêm yên lành cũng kể như được uống thuốc trường sinh rồi. Thôi ta đi kiếm cái chi về để còn liên hoan chớ. Đêm nay là chia tay mấy ông chủ lực đẹp trai này rồi đó!
Rồi hai người nữ du kích vừa cười nói líu ríu vừa kéo nhau đi. Côn ngơ ngẩn đứng nhìn theo họ, hoang mang tự hỏi “Vậy, thực ra thì... đêm qua có chuyện gì xảy ra không nhỉ? Hay là mình chỉ nằm mơ vậy thôi? Nhưng mơ mộng mà như thế cũng là hư thân mất nết quá rồi!”.


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 19 Tháng Ba, 2012, 01:35:23 pm
Hai người nữ du kích đã đi khuất. Côn ngồi bên cửa hầm vừa ngẩn ngơ suy nghĩ vừa ngắm khung cảnh ngôi làng bị bỏ hoang. Trước ánh sáng ban ngày, quang cảnh trông lại càng tan hoang hơn. Trong mấy ngày đêm vừa qua, anh đã từng đi qua hàng chục ngôi làng như vậy. Những ngôi làng không còn là làng, không một mái nhà tranh còn sót, không có tiếng trẻ con, không tiếng gà gáy và không một làn khói bếp. Những ngôi làng chỉ có cỏ dại và hố bom. Chiến tranh thật ghê tởm. Con người đang bị đẩy tới bên bờ vực của sự tồn vong. Họ đã buộc phải cầm lấy vũ khí. Điều đó cắt nghĩa vì sao trên mảnh đất này có những người du kích gan dạ như chị Sáu, như Lài, như bác Năm Chới và nhiều người khác. Họ cầm súng một cách tự nhiên như cầm cày cầm quốc vậy, hình như chẳng có mấy người trong số họ được trải qua những khoá huấn huyện quân sự, vậy mà bọn lính nhà nghề của quân đội Hoa Kỳ và lũ tay sai bản địa của chúng đều phải kiềng nể.
Đi với họ vào chiến khu anh cảm thấy rất vững tâm, thậm chí còn vững tâm hơn cả những lần anh được cánh trinh sát thiện thiến của sư đoàn dẫn đường nữa kia. Vậy mà trong con mắt họ, các anh, những người lính chủ lực lại rất mực được nể trọng, yêu thương, cứ làm như chỉ có các anh mới là những người lính giải phóng thứ thiệt, mới là những cứu tinh vậy!
Mặt trời đã lên cao, những làn sương mỏng đang tan dần. Côn đứng dậy vươn vai hít thở bầu không khí trong lành của buổi sớm mai và bỗng dưng giật mình trước sự yên lặng kỳ lạ bao trùm xung quanh mình. Phải rồi, từ lúc anh thức dậy tới giờ không nghe thấy một tiếng đại bác, không nghe thấy tiếng máy bay? Sao lại như vậy? Chẳng lẽ cả cái bộ máy chiến tranh khổng lồ của quân đội Hoa Kỳ ở mặt trận này cũng ngủ quên hay sao?
Nhưng đó chỉ là sự yên lặng giả tạo. Đó là những khoảng lặng chết người, là phút nín hơi chau mày của thần chiến tranh. Cái khoảng khách đó lập tức bị phá tan bởi hàng trăm trái đạn pháo đồng loạt nổ đanh giòn, khói đen lập tức trùm lên ngôi làng vốn chẳng còn có cái gì để tàn phá thêm nữa ngoài những bãi cỏ dại, nhưng bụi gai mắc cỡ và vài ba thân cau chi chít vết đạn nhưng không hiểu vì sao vẫn đứng vững một cách thần kỳ. Phải rồi, chính những thân cau ấy giúp người ta nhận ra nơi này vốn là một ngôi làng. Nhưng hình như nó cũng đang trở thành một thứ vật chuẩn để bọn trinh sát pháo binh Mỹ nhằm vào mà vạch tọa độ gọi pháo bắn. Không còn nghi ngờ gì nữa, bọn địch đang tập trung hỏa lực vào ngôi làng này, phải chăng chúng đã đánh hơi được điều gì?
Thông từ dưới hầm chồm lên hỏi:
- Sao pháo nó bắn dữ vậy anh Côn?
- Không biết... Chẳng lẽ chúng nó đang dọn bãi chuẩn bị đổ quân?
Cậu ta bỗng ngơ ngác nhìn quanh rồi hỏi:
- Hai bà du kích “nhà mình” biến đâu rồi?
- Họ đi quanh đâu đó kiếm đồ ăn. Chắc cũng sắp về đó. Cậu cứ ngồi yên dưới đó để mình chạy qua bên hầm kia xem sao?
Lợi và nhóm chiến sĩ ngủ ở căn hầm bên cũng đã bị những loạt đạn pháo đánh thức. Họ lập tức chồm dậy, vơ lấy vũ khí sẵn sàng đợi lệnh. Côn chạy tới cửa hầm, nhắc mọi người:
- Tất cả chú ý... Chưa có lệnh chưa ai được phép rời hầm trú ẩn!
Lợi chui lên khỏi hầm dụi mắt nhìn những đám khói đang đùn lên ở cuối ngôi làng hỏi:
- Chúng nó dám mò ra đây chắc?
- Đợi bà Sáu “phóng lựu” về mới biết - Côn vừa trả lời vừa sốt ruột ngóng về phía con đường mòn ở đầu làng - Các bà ấy rành qui luật hoạt động của bọn địch ở vùng này hơn. Có thể, chúng cũng chỉ bắn vu vơ một chặp rồi thôi.
- Nếu chúng đổ quân xuống đây thì sao anh Côn?
- Thì phải đánh thôi - Côn trả lời rồi chợt kêu lên khi nhìn thấy hai nữ du kích đang chạy về - Hai người cẩn thận đấy!
Anh vừa dứt lời thì một loạt đạn pháo xé gió bay tới. Chưa nghe thấy tiếng đèpa đầu nòng, chỉ kịp nghe tiếng xoè... xoẹt... rồi những trái đạn pháo nổ oành ngay trước mặt khi Côn vừa kịp lăn xuống đoạn hào ngắn trước cửa hầm. Tai anh ù lên như có ngàn con ong vừa chui vào, mùi thuốc đạn xộc vào tận miệng khét lẹt. Đám lá tre rơi rào rào trên lưng anh.
Anh vừa ngóc đầu dậy thì thân hình to lớn, kềnh càng của Sáu “phóng lựu” đã chồm lên anh khiến anh lại ngã dúi xuống. Tiếng Sáu cười ré lên:
- Xích vô trong đi chớ, cha nội... !
Vừa nói Sáu vừa thúc mạnh bộ mông to bè của mình vào Côn khiến anh bật vào trong hầm. Các chiến sĩ trinh sát cùng ồ lên cười. Côn cố nhịn đau vì đầu anh vừa dộng vào cây gỗ ở vách hầm cái bốp sau cú hích mông của Sáu “phóng lựu”.
- Lài đâu rồi!
- Nó chạy qua bên nớ rồi!
- Sao... chị không qua bên đó cho rộng?
- Nhưng… eng chỉ huy ở bên ni thì trao đổi công tác bằng cách chi hè?
- Sao nó bắn dữ thế? Hay bọn nó nhìn thấy mấy cô rồi?
- Tụi Mỹ gà mờ chớ đâu có tinh tường đến vậy! Chắc là tụi nó sắp đổ quân xuống đây đó?
- Mình tính sao?
- Tính chi mà tính... Chỉ có hai đường... Chờ tụi Mỹ xuống rồi đánh... hoặc tìm đường chuồn khỏi đây thôi!
- Ban ngày, trống trải thế này chạy sao nổi?
- Thì chạy cù quanh... Chúng nó đâu có nhiều quân mà bao khắp vùng này. Đây không phải là một cuộc càn lớn mà chỉ là một cuộc đột kích thường lệ thôi mà!
- Sao biết!
- Sao không biết chớ... Nếu càn lớn thì chúng phải tập trung quân ở Đông Hà - Cam Lộ chớ. Mần ăn rầm rộ cớ đó sao qua khỏi mắt các cơ sở của ta ém ở trỏng? Có lẽ là tụi Mỹ điên muốn ra oai thôi.
- Ra vậy - Côn suy nghĩ giây lát rồi vỗ mạnh vào vai Sáu - Ta tìm cách chuồn khỏi khu vực này thôi. Bất đắc dĩ tụi này mới phải chạm trán với địch.
- Rứa thì phải mau lên thôi... Sau pháo là đến bom phát quang, bom napan đó!
Rồi chị nhanh nhẹn chui ra cửa hầm.
- Mấy eng chuẩn bị đi nghen... Để tôi qua kêu con Lài và anh Thông qua đây rồi ta đi luôn!
Khi chị Sáu “phóng lựu” vừa lên khỏi hầm, Lợi liền hỏi trung đội phó:
- Nếu địch đổ bộ thì ta đánh một trận cho đã có được không anh? Tính bài chuồn thế này e xấu mặt bộ đội chủ lực quá?
Côn nghiêm giọng:
- Nhiệm vụ của chúng ta không phải là đánh nhau với địch. Các đồng chí hãy nai nịt thật gọn gàng, chuẩn bị hành quân.
Một chiến sĩ nhăn nhó:
- Chưa kịp bỏ gì vào bụng, đói quá rồi, trung đội phó ơi!
- Còn lương khô thì mang ra mà nhá thôi - Côn nhắc - Khi có động chú ý quan sát và giữ vững cự ly. Nếu có đồng chí nào bị lạc thì chín giờ tối nay liên lạc với tổ tại điểm Z5.
Nói xong anh chui lên khỏi hầm. Pháo địch đang chuyển làn bắn ngăn chặn ra phía Bắc. Đã nghe tiếng máy bay địch rền rĩ trên bầu trời.
- Mọi người khẩn trương lên!
Côn khoát tay ra lệnh khi nhìn thấy chị Sáu đang dẫn Lài và Thông chạy sang. Một tốp máy bay ném bom F4 đang từ ngoài biển lao vào. Chị Sáu vẫy tay gọi:
- Mấy eng theo tui, đi lối này!
Tốp máy bay ném bom bắt đầu lượn vòng quanh ngôi làng. Có lẽ chúng ném bom vào khu vực này thật rồi.
Côn vọt lên, bám sát chị Sáu, vừa thở hào hển vừa hét lên - Nó sắp bổ nhào đấy!
- Kệ hắn... Mình ráng chạy sang khu đồi bên kia, ở đó có một đơn vị bộ đội của tỉnh vừa tới đêm qua. Hình như cấp trên tính úp tụi Mỹ đi càn bậy này một trận ra trò đó!
- Chị gặp họ rồi à?
- Vừa gặp đó... Họ cho mấy nắm cơm mà tui chưa kịp chia cho mấy eng... Nằm xuống! Nó bổ nhào rồi đó! Đù cha... nó tính chuyện chi mà làm dữ vậy cà?
Tồp F4 rú vừa bổ nhào xuống ngôi làng vừa rú lên như điên dại. Những trái bom đen ngòm vun vút lao xuống. Côn ngẩng nhìn lên và tưởng như nó đang rơi thẳng xuống đầu mình.
- Nằm xuống!
Anh hét lên dường như cùng lúc với tiếng bom nổ. Loạt bom đầu tiên chúng dội xuống khu phía Nam ngôi làng. Mặt đất rung lên bần bật.
- Kiếm cành cây ngụy trang đi mấy eng! - Tiếng chị Sáu gào lên - Chú ý thằng OV10 đang soi trên đầu mình đó!
Theo hướng tay chị Sáu chỉ, Côn nhìn thấy chiếc trinh sát gọng bừa như chui từ đám khói bom ra. Nó đang xà xuống rất thấp. Thằng trời đánh này mà phát hiện ra mục tiêu thì nó sẽ bám dai như đỉa. Theo hướng đi của chị Sáu mỗi người kiếm một cành cây che lên trên đầu rồi lựa chiều hễ chiếc OV10 liệng vòng quay đuôi trở lại là họ vọt dậy vận động, khi nó quay đầu trở lại thì ngồi xuống, che cây lên đầu. Tốp F4 thứ hai lao tới với một chùm bom Napan. Lần này nó chơi trúng vào lũy tre còn sót lại, lửa cháy rần rật, mùi thuốc bom trộn với mùi crếp cháy xộc vào tới tận lục phủ ngũ tạng mọi người. Côn ôm ngực ho sặc sụa, chị Sáu nhao tới lo lắng hỏi:
- Có sao không eng?
Anh cảm nhận được một chút âu yếm trong giọng nói của người nữ chỉ huy du kích nên vội lắc đầu.
- Tôi không sao? Tại cái mùi thuốc bom đấy mà. Chị xem kìa... Nó ném bom trúng nơi tụi mình ngủ đêm qua.
Hai tiếng tụi mình anh nói nhỏ lại, nhưng dường như chị Sáu cũng cảm nhận được chút hàm ý trong đó nên ngước nhìn anh với những ánh mắt thật lạ lùng. Nhưng điều đó diễn ra rất nhanh, rồi tiếng cười của chị lại cất lên:
- Nếu mình còn lớ xớ ở đó không chừng thành chả nướng hết rồi héng?
Họ tiếp tục vừa né tránh con mắt của chiếc máy bay trinh sát vừa vận động. Chừng nửa giờ thì tới dải đồi thấp cách phía Tây ngôi làng chừng hơn một ki-lô-mét. Dải đồi cũng đã bị bom đạn cày xới tơi bời nhưng thật lạ lùng những bụi sim mua, bụi chít và những bụi ô rô, xấu hổ, cóc kèn mọc nhằng nhịt đan xen dày đặc lùng nhùng như một tấm lưới xanh. Tuy rất ít nơi còn có được những bụi cây cao quá đầu người nhưng hoá ra cái cánh rừng kỳ lạ này cũng rất rộng, đủ sức giấu cả một đạo quân. Tổ trinh sát vừa vận động tới chân dải đồi thì đã bị một tốp cảnh giới của bộ đội địa phương chặn lại. Anh chiến sĩ cảnh giới chong súng về phía họ quát:
- Đơn vị mô, mật khẩu?
Chị Sáu “phóng lựu” nói mật khẩu, anh lính cảnh giới càu nhàu:
- Không thấy thằng gọng bừa đang soi sao mà đi lại lộn xộn vậy?
Chị Sáu nói huyên thuyên một hồi với người lính cảnh giới thì được anh cho đi qua. Theo hướng dẫn của anh ta tốp trinh sát của Côn được đưa tới sườn phía Bắc dải đồi, nơi đặt vị trí chỉ huy của tiểu đoàn. Với con mắt tinh tường của người lính trinh sát Côn đã nhận ra dải đồi này mới được xây dựng thành một trận địa phòng ngự. Có vẻ như cấp trên đã phái họ tới đây để đón lõng một tình huống nào đó sẽ diễn ra trong ngày nay hoặc ngày mai. Những căn hầm chiến đấu được giấu kín dưới những lùm cây và hình như còn có nhiều người đang tiếp tục đào công sự, tiếng cuốc xẻng vẫn âm vang trong lòng đất, thi thoảng nghe thấy những tiếng nói thì thầm, những hơi thở gấp gáp. Anh bỗng cảm thấy thư thái, ấm lòng lạ lùng khi biết chắc rằng xung quanh mình có rất nhiều đồng đội đang âm thầm chuẩn bị cho một trận đánh lớn. Ước gì anh và các chiến sĩ của anh được phép dừng lại nơi này để chiến đấu với họ. Từ lâu anh đã nghe nói về những chiến công vang đội của bộ đội địa phương Quảng Trị, họ có những cách đánh hoàn toàn khác với bộ đội chủ lực các anh nhưng lại rất hiệu quả. Đó là những cách đánh góp phần làm nên những câu chuyện thần kỳ về nghệ thuật dùng binh của người Việt Nam trong cuộc đối đầu với đội quân nhà nghề của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 19 Tháng Ba, 2012, 01:35:44 pm
Bom đạn vẫn đang nổ rền ở phía trước mặt vậy mà nơi này dường như tĩnh lặng lạ thường. Chị Sáu “phóng lựu” dẫn các anh đi theo một khe nước xối tới chân đồi phía Bắc thì gặp những người chỉ huy bộ đội địa phương. Hoá ra, anh tiểu đoàn trưởng tên là Chức, lại là người xứ Bắc, nghe giọng Sơn Tây đặc sệt của anh, Côn bỗng vui mừng lạ lùng. Tới tận xứ xở của thần chết này mà còn được gặp đồng hương thì sao không mừng cơ chứ?
- Mấy cậu không sao chứ? Lúc sáng sớm thấy bà Sáu qua đây kêu có mấy ông trinh sát của bộ đội chủ lực đang nằm trong làng... Tôi lo quá.
- Anh quê Sơn Tây hả? - Côn sốt ruột hỏi luôn.
- Vâng... Tôi quê vùng bãi Vân Phúc ấy... Còn anh, hình như cũng là người Sơn Tây?
- Em người làng Vân Hương, gần chợ Gạch ấy!
- Ôi trời. Tiểu đoàn mình cũng có một cậu người Vân Hương, tên là Oánh, cậu biết anh ấy chứ?
- Hình như biết... Anh ấy hơi lác thì phải?
- Thế thì đúng rồi. - Anh tiểu đoàn trưởng reo lên - Bọn mình vẫn gọi cậu ấy là Oánh “lác” mà. Nhưng... rất tiếc cậu ấy vừa hy sinh tháng trước rồi.
Côn chưa kịp hỏi han gì thêm về người đồng hương của mình thì một chiến sĩ lom khom chạy tới.
- Báo cáo tiểu đoàn trưởng. Có điện khẩn của Phân khu.
Tiểu đoàn trưởng Chức cầm cuốn sổ ghi điện lên liếc qua rồi nghiêm mặt lại:
- Điện trả lời, tiểu đoàn 67 đã nhận lệnh. Sẽ triển khai hành động ngay!
Rồi anh quay sang nói với Côn và chị Sáu:
- Xin lỗi hai vị nhé. Tiểu đoàn tôi đã nhận được lệnh chiến đấu. Địch sắp đổ quân xuống khu vực này!
Mấy ông trên Bộ tham mưu mặt trận tài thiệt đó. Dự đoán trúng phóc!
- Mỹ hay Ngụy, anh Chức?
- Mỹ, hình như là một đơn vị đột kích nhẹ của Sư đoàn không vận số một. Bọn này vừa mới ra Đông Hà được vài hôm, muốn làm le với bọn thuỷ quân lục chiến đây mà! Bọn tôi được lệnh phân tán ra đánh bọn này, không cho chúng trụ lại.
Rồi anh ta xoa tay vẻ đắc ý:
- Được rồi... Thử chơi với bọn này một keo xem sao. Các bạn có muốn hùn vồn với tụi này không?
- Muốn lắm - Côn cười - Nhưng bọn tôi là lính trinh sát không được ham đánh. Sợ rằng...
Chị Sáu “phóng lựu” bỗng lên tiếng:
- Nếu mấy eng muốn kiếm một thằng Mỹ thì... đây là cơ hội tốt đấy. Lính tiểu đoàn ông Chức mà quây thì ngon lắm đó!
Côn suy nghĩ một lát rồi gật đầu:
- Được rồi... Chơi thì chơi. Nhưng để tụi tôi bàn với nhau chút đã.
Tiểu đoàn trưởng Chức gật đầu:
- Mấy anh cứ chuẩn bị đi. Tôi đi triển khai công việc một lát rồi trở lại.
Côn vẫy tay kêu các chiến sĩ trinh sát lại bên mình rồi nói:
- Để bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ tôi quyết định từ phút này tách tổ thành hai tốp. Tốp thứ nhất do tiểu đội trưởng Thông chỉ huy gồm các đồng chí Hải và Đoàn... mang theo toàn bộ văn kiện, tài liệu đã thu thập được trong những ngày vừa qua trở về điểm tập kết Z5 ngay lập tức. Các đồng chí có nhiệm vụ phải bảo vệ tài liệu về tới Sở chỉ huy an toàn. Tới Mười hai giờ đêm nay nếu tốp chúng tôi chưa về tới Z5 thì các đồng chí cũng không cần phải đợi mà lập tức lên đường về Sở chỉ huy ngay để báo cáo tình hình trinh sát của nhóm.
Các đồng chí Lợi, Toàn cùng với tôi sẽ ở lại dựa vào sự giúp đỡ của bộ đội địa phương và các đồng chí du kích làm nhiệm vụ bắt tù binh khi có thời cơ. Các đồng chí rõ cả chưa?
Thông nhăn nhó gãi đầu:
- Sao... trung đội phó không mang tài liệu về trước để báo cáo trung đoàn? Tôi ở lại cùng anh em làm nhiệm vụ này có hơn không?
- Không được... Tôi phải đích thân làm việc này - Côn trả lời dứt khoát - Các đồng chí thi hình mệnh lệnh đi. Cắt đường mà về Z5, nếu gặp địch thì tuyệt đối không được nổ súng khi không tối cần thiết!
Thông biết rằng lúc này không phải là lúc có thể tranh cãi với người chỉ huy nên vội đứng nghiêm nói:
- Chúng tôi xin chấp hành mệnh lệnh!
- Tốt lắm! - Côn lấy từ trong ngực áo ra tập bản đồ - Tôi đã lên hết tình hình địch và đường xá trên bản đồ này rồi. Từ phút này, cậu phải lấy tính mạng ra mà bảo đảm rằng nó sẽ được trao tới tận tay trung đoàn trưởng nếu như tôi không trở về.
- Rõ! Nhưng anh nhất định phải trở về cùng tên tù binh đấy! Anh đã hứa với sư trưởng rồi mà!
Côn cảm động ôm lấy vai Thông lắc nhẹ rồi trao cho cậu ta tấm bản đồ bọc nilon. Thông thận trọng nhét tấm bản đồ vào ngực áo rồi chia tay mọi người để lên đường ngay. Côn nhận thấy khi đến trước o Lài, Thông có vẻ xúc động một cách khác thường. O du kích dường như cũng cố ghìm nén tình cảm của mình, họ cầm tay, im lặng nhìn nhau trong giây lát. Ánh mắt của cô du kích dường như có cái gì đó vừa bối rối, vừa hoang mang bấn loạn. Côn bỗng giật mình khi hiểu ra những điều mà cô du kích không thể nói ra”. “Thằng Trời giết!... Chẳng lẽ đêm qua cả nó cũng... nằm mơ?”.
Dường như chị Sáu cũng hiểu được những ánh mắt ấy nên liền bước tới vừa cười vừa véo vào má Thông - Nè... chớ có quên con nhỏ mà tội nghiệp nghen chú em?
Thông đỏ bừng mặt đáp khẽ “Em nhớ mà, chị Sáu” rồi vội vùng ra vẫy tay ra lệnh cho hai chiến sĩ:
- Đi thôi các cậu!
Côn nhìn theo các chiến sĩ của mình lom khom chạy ra khỏi khu đồi rồi quay lại nói với chị Sáu:
- Bây giờ tới phiên bọn tôi đòi nợ chị Sáu đó. Chị đã hứa giúp tôi bắt một tên Mỹ mang về làm thuốc đó nghe!
- Làm thuốc... Nói nghe thấy ghê! - Chị Sáu nguýt dài - Sao không nói để mấy eng mang về làm quà cưới luôn héng? Nhỏ Lài của tụi tôi dường như mê cái anh chàng đẹp trai ấy rồi đó!
- Chị Sáu cà trớn quá rồi héng! - Lài đấm vào lưng chị Sáu thùm thụp - Sao không nói chuyện của chị với... eng chỉ huy ni coi sao nào? Chớ có giấu nhẹm nghen. Em thấy hết rồi đó!
Côn bỗng cảm thấy trong lồng ngực mình như có cái gì đó dội lên. Phải chăng đêm qua đã có chuyện chi xảy ra thật rồi. Cái o Lài này đã nhìn thấy điều chi nhỉ? Sao mà o ấy lại có thể nhìn thấy cả những điều mà chính mình cũng chưa hiểu được liệu có thực là đã xảy ra hay không? Nếu có, thì quả thực đó cũng là những điều kỳ diệu và huyền bí của cuộc chiến đấu này.

Nguyễn Danh Côn luôn tự cho mình là một người dày dặn từng trải nhưng khi tiếp xúc với những cán bộ chỉ huy của tiểu đoàn 67, bộ đội địa phương Quảng Trị thì anh bỗng hiểu ra rằng họ mới thực sự là những chiến binh tài ba. Trong số họ, người ít cũng có thâm niên hai ba năm quần nhau với bọn lính Mỹ trên chiến trường địa đầu giới tuyến này. Họ hiểu thằng Mỹ hơn hẳn bộ đội chủ lực các anh và vì thế, cách đánh của họ cũng rất khác với lối ra quân ồn ào của cánh chủ lực.
Chiến thuật của tiểu đoàn 67 bộ đội địa phương Quảng Trị trong trận đánh quân địch đổ bộ lần này thật đơn giản. Họ bỏ trống ngôi làng có tên trên bản đồ mà đưa quân rải ra bố trí trên những dải đồi thấp xung quanh, kín đáo đào công sự chiến đấu dưới những bụi gai rậm rịt im lặng chờ đợi. Như thường lệ, những cuộc hành quân của quân đội Mỹ thường bất đầu bằng những trận oanh kích ầm ĩ bằng pháo binh và không quân.
Chúng đánh nát bấy ngôi làng để dọn bãi. Rồi đám trực thằng ồn ào chở quân tới. Khi bọn Mỹ vừa đặt chân xuống ngôi làng bỏ hoang thì bị pháo bờ Bắc của ta dập cho một trận tơi bời. Tuy vậy, chúng vẫn cố sống cố chết để xông vào ngôi làng, coi đó là một mục tiêu quan trọng trong lịch trình của cuộc hành quân. Mất hàng chục sinh mạng mà không thấy có gì để bắn giết, đốt phá, bọn kỵ binh bay Mỹ điên tiết mở rộng địa bàn ra những dải đồi thấp phía Tây và phía Bắc mà trên bản đồ, các chiến sĩ của Côn ghi là dãy Đồi quả dưa.
Tiểu đoàn trưởng Chức nói với Côn “Chúng sắp đổ quân xuống đây đấy... Nếu các cậu không có nhiệm vụ chiến đấu thì nên ra khỏi khu vực này đi. Mấy ông là lính triều đình”... lỡ mà kềnh ở đây thì phiền cho bọn tôi lắm”. Côn nhăn mặt vì tự ái nhưng vẫn phải ôn tồn nói “Chúng tôi là lính trinh sát, muốn có dịp quan sát để tìm hiểu chiến thuật hành quân của chúng. Sư đoàn tôi chưa đụng bọn Kỵ binh bay Mỹ lần nào”. Tiểu đoàn trưởng Chức gật đầu nói “Vậy thì được. Đồng hương cứ tự nhiên. Bom pháo đánh kiểu này là tụi Mỹ sắp xuống rồi đó” - Rồi anh ta quay dặn sang chị Sáu “phóng lựu” - Nhờ chị trông nom giùm mấy ông bạn này nhé. Vào trận rồi là tôi không để mắt tới họ được đâu”. Chị Sáu nhìn bọn Côn nháy mắt cười “Vậy tui thành “cô trông trẻ” rồi đó nghe. “.
Côn và các chiến sĩ trinh sát cùng cười, quên cả tự ái.


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 19 Tháng Ba, 2012, 01:36:08 pm
Pháo địch bắt đầu bắn trùm lên dải đồi. Lần này có thêm cả pháo hạm từ ngoài biển bắn vào. Toàn loại pháo lớn, nổ to như bom. Dải đồi thấp rung lên bần bật... Sau khi dùng phi pháo đánh phá chừng nửa giờ đồng hồ thì từ phía Đông hàng đàn trực thăng ầm ầm bay tới tới. Trinh sát của tiểu đoàn từ trên đài quan sát chạy về báo cáo rằng hình như địch sẽ đổ quân thẳng xuống khu đồi này. Tiểu đoàn trưởng Chút cười bảo:
“Chúng nó định chơi” “đuya rếch” đây mà. Dùng mũi đột kích mạnh đánh thẳng vào trung tâm mục tiêu chứ không thèm bao vây tạo thế tạo thiếc gì sất! Được... Nếu vậy thì càng dễ chơi... “. Nói rồi, anh đứng dậy xiết chặt bao đạn ngang lưng, quay lại dặn nói với Côn “Các vị tự lo lấy nhé... Tôi phải đi tiếp khách đây”.
Trận đánh diễn ra ngay vài phút sau đó. Hàng đàn trực thăng ầm ầm lao tới vừa bắn như vãi đạn xuống triền đồi vừa đổ quân. Vừa từ trên máy bay trực thăng nhảy xuống, bọn Mỹ đã được đón tiếp ngay bằng đạn cối 60 ly, đạn phóng lựu và những trái mìn định hướng. Nhiều thằng chết ngay tại chỗ mà chưa kịp không hiểu chuyện gì đã xảy ra, những thằng còn sống lập tức tản ra rúc vào bụi cây tránh đạn, nhưng chúng cũng lập tức gặp rắc rối bởi những thứ dây leo và gai bụi. Trang bị kềnh càng, bọn lính Mỹ không thể di chuyển một cách dễ dàng giữa đám gai mắc cỡ, gai ô rô, cóc kèn bùng nhùng, phiền toái này được. Vướng trước vướng sau, đám dây leo, gai nhỏ và nhọn cứ như muốn níu chân chúng lại để rồi trở thành mục tiêu cho những tay súng AK thiện xạ nấp kín đâu đó xỉa từng loạt chắc đanh và vô cùng hiệu quả. Trời lại nắng nóng, nhiều tên dại dột cởi trần trùng trục trước khi nhảy xuống mặt đất nên chỉ một lát trên người chứng đã bị găm hàng ngàn chiếc gai nhọn nhỏ ly ty, không đủ gây thương tích, không thết người, nhưng vô cùng khó chịu. Bị đánh cả phía trước, phía sau, vừa bị mìn định hướng quét gục từng tốp lại vừa bị pháo cỡ nhỏ bắn thúc hông và tiểu liên AK47 bắn vỗ mặt từng chặp mà vẫn chưa nhìn thấy đối phương, bọn lính “Kỵ binh bay” Mỹ giống như một đám võ sĩ mù vừa nhảy loi choi, quờ quạng, vừa đấm đá lung tung trên một thứ võ đài đầy gai nhọn và dây leo. Trên trời, bầy trực thăng trợ chiến ầm ầm bay lượn, gầm rít nhưng không biết bắn vào đâu vì ta và địch đã ở thế trộn trấu rồi. Máy bay ném bom và pháo tầm xa cũng trở nên bất lực khi không còn nhận ra đâu là đối phương đâu là quân của chúng trong cái mớ bùng nhùng ấy nữa.
Côn và các chiến sĩ trinh sát của anh tham gia trận đánh kỳ lạ này một cách hết sức thoải mái, giống như những cầu thủ tiền vệ tự do trong một trận bóng đá vậy. Anh và nhóm của mình, kể cả hai nữ du kích, có thể tiến thoái tuỳ nghi, muốn xuất hiện ở chỗ nào trên sân tùy thích. Chính vì vậy mà anh có dịp được quan sát trận đánh ở rất nhiều góc độ khác nhau. Và anh cũng đã hiểu vì sao hơn gần trăm tên Mỹ bị quây trong một vạt rừng không lấy gì làm rộng lắm, cũng không phải chốn thâm sơn cùng cốc, nước độc rừng thiêng nhưng đã phải loay hoay suốt mấy tiếng đồng hồ mà không thoát ra được. Cái bẫy chẳng có gì là phức tạp nhưng chính sự hoảng loạn ngay từ phút đầu đã khiến chúng tự xua nhau vào tử địa. Nếu như những tên chỉ huy tỉnh táo hơn, đừng cho quân nhảy thẳng vào cái tấm lưới xanh rậm rịt ở bên dưới mà cứ bình tĩnh đổ quân vào những khu đất trống, tạo thế bao vây khu đồi rồi dùng hỏa lực mở đường mà tiến lên đỉnh đồi thì có khi chúng đã đạt được mục đích. Nhưng từ trên trực thăng nhìn xuống chúng chỉ nhìn thấy đây là một dải đồi thấp và một vạt rừng cây bụi trông rất hiền lành nên đã dại dột quyết định cho quân nhảy thẳng xuống đó. Có lẽ những tên sĩ quan chỉ huy Mỹ ngay từ phút đầu của cuộc đổ bộ đã hí hửng tưởng rằng khi đã chiếm được đỉnh đồi thì chúng sẽ ở thế thượng phong, có thể đè nghiến quân địch xuống mà tiêu diệt.
Ai ngờ, chỉ trong phút chốc thế trận đã hoàn toàn đảo ngược. Những chiến sĩ của tiểu đoàn 67 nấp kín trong những căn hầm đào sâu dưới những bụi cây rậm dùng mìn, lựu đạn, súng phóng lựa và súng cối 60 ly tấn công tới tấp vào những tốp lính Mỹ vừa ngơ ngác nhảy từ trên trực thăng xuống. Nhiều tên còn đang lùng nhùng trong những bụi gai, chưa kịp hiểu điều gì xảy ra thì đã gục ngã trước những trái lựu đạn hay những trái mìn định hướng, những loạt súng AK bắn gần cực kỳ chính xác. Bom phát quang và pháo chùm có thể phá huỷ cả một cánh rừng chỉ trong nháy mắt nhưng lại không dọn sạch được những đám cây bụi đầy gai nhọn này, dẫu chúng có bị sức ép của bom pháo thổi rạp xuống mặt đất hoặc bị vùi lấp trong cát bụi thì vẫn cứ trở thành những vật cản, thành một đám bùng nhùng níu chân níu cẳng đám lính Mỹ vừa ngơ ngác, hốt hoảng từ trong bụng những chiếc trực thăng nhảy xuống. Đồng thời, những đám cây bụi bùng nhùng ấy vẫn trở thành bức màn che mắt, khiến đám lính Mỹ không biết đối phương hiện đang chui lủi ở những ngóc ngách nào? Vì vậy, nếu tên nào không bị giết ngay khi vừa đặt chân xuống mặt đất thì cũng chỉ còn cách vừa vũng vẫy tìm cách thoát ra khỏi những đám gai bụi, vừa chong súng lên bắn bừa ra xung quanh để tự trấn an mình. Vì không nhìn thấy mục tiêu nên hễ cứ thấy đám cây nào lay động là chúng xả đạn vào và dĩ nhiên, chúng đã bắn cả vào đồng đội mình mà không biết. Trong khi ấy, những chiến sĩ của tiểu đoàn 67 bình tĩnh nằm dưới những căn hầm được ngụy trang kín dưới những lùm cây rậm và chờ đợi, hễ địch vào thật gần họ mới bình tĩnh nổ súng hoặc tung lựu đạn hay cho nổ mìn định hướng tuỳ theo địch nhiều hay ít.
Trận đánh diễn ra đại loại là như thế. Nhóm trinh sát của Côn cũng không thể quan sát hết được toàn bộ trận đánh. Anh và các chiến sĩ của mình tham gia vào trò úm tim với bọn lính Kỵ binh bay Mỹ hàng giờ đồng hồ, anh cũng đã bắn gần hết hai băng đạn, tung ba trái lựu đạn vào những tốp lính Mỹ đang cuồng cuồng tìm cách thoát ra khỏi khu rừng đầy gai nhọn, anh biết mình đã tiêu diệt được không dưới mười tên địch nhưng chưa lúc nào anh kịp nhìn rõ mặt những thằng địch bị anh bắn hạ. Sau mỗi lần nổ súng cận chiến, chị Sáu “phóng lựu” lại túm lấy áo anh hô “Cơ động mau!”. Thế là họ lại lẩn sang một góc khác, tìm được một căn hầm đào sẵn nhảy xuống đó mai phục chờ tốp địch khác dẫn xác tới. Cứ như vậy... Đánh, rồi cơ động, rồi lại đánh. Hình như tất cả những tay súng của tiểu đoàn 67 có mặt trong khu chiến đều đang vận dụng cùng một chiến thuật. Họ đánh xà quần với địch trong khu rừng cây bụi cho tới khi còn có thể đánh được. Súng cứ nổ lan từ góc này sang góc khác của dải đồi chen lẫn tiếng bọn lính Mỹ la hét, rầm rĩ. Từ hồi vào chiến trường tới giờ, đây là lần đầu tiên cánh lính trinh sát của Côn được tham gia một trận đánh thực sự nên họ cũng rất ham. Riêng anh thì bỗng nhận ra một điều thú vị rằng, bọn lính Mỹ khi lâm trận thường la hét rất nhiều. Anh còn nghe thấy cả những thằng bị thương khóc rống lên nữa. Chúng khóc rất to, cứ như một đứa trẻ đang bi đòn khiến o Lài cũng phải che miệng cười. Chị Sáu thấy vậy liền chong khẩu phóng lựu của mình lên rồi bảo “Để tau tống cho nó một trái cho nó theo ông bà ông vải luôn”. Nói rồi, thị áp má vào bá súng, đôi mắt nheo lại lim lim rồi ngón tay trỏ nhẹ nhàng kéo cò. “Cóc... xéo... đùng!”. Tiếng viên đạn của chị nổ hòa lẫn vào không gian đang ầm ào đủ các loại tiếng nổ nhưng Côn vẫn nhận ra được. Cái bụi cây phía có những thằng Mỹ đang kêu gào chỉ khẽ rùng mình một cái. Tiếng kêu thảm thiết của bọn lính Mỹ bị thương lập tức câm bặt. Nhưng ngay sau đó, hàng chục khẩu tiểu liên và súng máy, súng phóng lựu của địch cùng quay về phía họ bắn ràn rạt.
- Di chuyển thôi!
Chị Sáu phất tay ra lệnh. Côn vừa lom khom chạy theo chị ta vừa nghĩ thầm “Bà này đánh Mỹ sành điệu thật. Thảo nào, mấy ông chỉ huy bộ đội chủ lực tỉnh cũng phải nể”.
Trên trời hàng chục chiếc trực thăng vẫn ầm ĩ quần thảo. Thi thoảng chúng cũng bắn bừa xuống vài loạt súng máy hay phóng vài trái rốc két. Ở tầng trên, hai tốp máy bay ném bom F4 gầm rú bay lượn nhưng không dám ném bom hay bắn tên lửa xuống dải đồi vì sợ nện vào lưng đám lính vừa đổ bộ.
Tới xế chiều thì cánh quân đổ xuống khu làng bỏ hoang đã mở được đường ra chi viện cho cánh quân đổ bộ xuống dải đồi cây rậm. Chúng hợp quân ở mé Đông khu đồi và hình như đang tìm cách chiếm bằng được khu đồi thấp. Bộ đội của tiểu đoàn 67 đã được lệnh dạt xuống sườn phía Tây và phía Bắc rồi rút dần từng bộ phận ra khỏi khu chiến. Chắc chắn, chỉ vài phút nữa sẽ có một đợt oanh kích dữ dội lên khu đồi để yểm hộ cho cuộc xung phong cuối cùng của địch lên khu vực mục tiêu mà có vẻ như chúng kiên quyết chiếm bằng được trước khi trời tối. Tiểu đoàn trưởng Chức cho người bắt liên lạc với nhóm trinh sát, yêu cầu họ rút ngay về điểm dự phòng. Tiểu đoàn trưởng còn nhắn lại rằng “Các đồng chí cứ yên tâm lui về tuyến sau. Nếu bọn Mỹ dám trụ lại khu vực này thì pháo bờ Bắc sẽ cho chúng nó một trận nhớ đời”.
Mải đánh địch, đến lúc này Côn mới nhớ ra là mình đã quên béng mất việc phải bắt tù binh. Thấy mặt anh tự nhiên nghệt ra, chị Sáu “phóng lựu” liền cười, túm lấy áo anh:
- Theo tui... Các anh còn có cơ hội mà!
Côn ra hiệu cho Lợi và Toàn di chuyển theo chị Sáu. Họ luồn qua những đám cây bụi bị bom đạn chà đi xát lại đến tơ tướp, nát bấy. Thi thoảng họ lại gặp một vài cái xác lính Mỹ. Có đứa rõ ràng chết rồi mà còn bị bom pháo của chúng xé banh ra thành từng mảnh, khúc nằm dưới hố bom, khúc vắt trên những bụi ô rô.
Toàn đang lom khom chạy trên miệng một hố bom bỗng ngã vật xuống kêu ối lên một tiếng rồi mất đà lao thẳng xuống cái hố bom còn nóng hổi, sâu hoắm. Theo bản năng, Côn lăn một vòng tới bụi cây gần nhất trên miệng hố bom chong súng lên sẵn sàng nhả đạn. Dưới hố bom, Toàn đang lồm cồm bò dậy. Côn hét lên:
- Toàn, vọt lên mau. Trực thăng nó nhìn thấy cậu bây giờ!
Toàn vừa cố bò lên khỏi hố bom vừa kêu lên:
- Mẹ... Vấp phải xác một thằng Mỹ... Nó kia kìa, anh Côn. Hình như một thằng sĩ quan... Nó có một cặp bản đồ đấy.
Theo tay Toàn chỉ, Côn nhìn thấy cái xác Mỹ phủ đầy đất đỏ nằm tùm hụp một đống trên miệng hố bom. Anh thận trọng bò tới, dùng nòng súng khẽ bẩy cho cái xác Mỹ bật ngửa lên. Đúng là một thằng sĩ quan, tên này hình như lãnh đủ một trái phóng lựu vào ngực, cái áo giáp gilê của nó bị xé banh, bê bết máu quện với đất đỏ. Mái tóc vàng hoe của nó cũng bê bét những máu. Trên tay phải nó quả nhiên vẫn ôm cứng một tập bản đồ nilon được gập nhỏ lại. Côn vừa nhìn lên trời canh chừng vừa thận trọng bò tới. Tiếng chị Sáu “phóng lựu” hét lên từ sau một bụi cóc kèn:
- Nhanh lên! Trực thăng nó quay lại đấy!
Nhưng Côn đã tới được bên xác thằng Mỹ. Mùi máu xộc vào mũi vào miệng anh tanh lợm khiến anh xuýt nữa thì nôn ộc ra. Đôi mắt thằng Mỹ xanh lét, mở trừng trừng, cái miệng nó méo xẹo. Lấy hết can đảm, anh cố vươn tới giằng tập bản đồ ra khỏi bàn tay đã cứng lại của thằng Mỹ. Nó vẫn không chịu buông. Trên trời ba chiếc trực thăng đen trùi trũi đang lao tới. Côn thoáng nhìn thấy ba vệt khói vọt lên phía trước đám trực thăng rồi ba trái rốc két lao tới nổ ầm ngay mé chân đồi phía Tây, cách chỗ họ chừng vài trăm bước. Ngay sau đó, những tràng đại liên xối xuống rèn rẹt, chíu chíu. Bầy trực thăng đã khép vòng lượn. Hình như chứng phát hiện thấy điều gì đó.
- Rời chỗ ni mau, eng Côn!
Tiếng chị Sáu lại hét lên trong tiếng lực thăng gầm rú. Côn trườn tới, một tay nắm chắc lấy tập bản đồ, một chân anh co lên đạp thẳng vào bụng thằng Mỹ.
Hình như anh nghe thấy một tiếng “Hự... oạc... “. Rồi cái xác Mỹ lộn liền mấy vòng xuống giữa hố bom. Tấm bản đồ đã ở trong tay anh. Côn bật dậy, nhảy vọt vài bước tới mé bên kia hố bom rồi nằm vật xuống ngay bên cạnh chị Sáu.
- Đồ quỉ! Thấp cái chôốc xuống... Nó quay lại tề!
Chui... chíu... chíu... chíu... oàng... ành...
Một loạt đại liên và phóng lựu găm phầm phập xung quanh hố bom.
Khi tiếng súng vừa dứt, ngẩng đầu lên Côn liền bập phải bộ ngực đồ sộ của chị Sáu. Anh cố ngoi ra khỏi cái ổ nóng rực ấy, nhìn xuống hố bom và bỗng rùng mình. Xác thằng Mỹ đã bị băm nát bấy! Thằng xạ thủ trên trực thăng kể cũng nhanh mắt, nhưng chưa đủ tinh tường để phân biệt một cái xác đồng đội và một tên Việt Cộng. Dù sao cũng phải khen, bọn này bắn cũng giỏi thật!
- Lẹ chân lên! Nó trở lưng một cái là bắn liền đó!
Chị Sáu gần như túm lấy Côn mà lôi đi. Luồn lách chạy được một quãng họ phải dừng lại tìm chỗ ẩn nấp vì trước mặt là một bãi trảng khá rộng. Thò mặt ra đó thì sẽ trở thành những tấm bia thịt cho bọn xạ thủ súng máy trên trực thăng liền.


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 19 Tháng Ba, 2012, 01:36:31 pm
Đây đã là khu vực nằm ngoài trận địa mai phục của tiểu đoàn 67, vì thế không thể tìm thấy một chiếc công sự chiến đấu nào để trú thân. Côn và chị Sáu đành cho anh em nằm dọc theo một rãnh nước xối trên sườn đồi để ẩn nấp tránh đạn. Tới đây, những vạt rừng cây bụi cũng đã thưa thoáng dần không còn được rậm rịt như trên đỉnh đồi, vì vậy cũng rất khó che mắt địch. Sơ xẩy một tí, lũ trực thăng vũ trang mà phát hiện được mục tiêu thì khó mà thoát thân.
Bỗng chị Sáu khẽ đạp nhẹ vào ngang sườn Côn, ra hiệu cho anh quan sát bụi cây rậm phía bên phải. Côn cũng đã thấy cái gì đó động đậy, anh trườn nhích lên, nằm sát chị Sáu thầm thì:
- Hình như có địch!
Chị Sáu ra hiệu cho anh im lặng. Ngay lúc ấy, họ nhìn thấy một cái mũ sắt của lính kỵ binh bay Mỹ nhô lên khỏi bụi cây... Côn đưa khẩu tiểu liên lên nhằm vào mục tiêu sẵn sàng nhả đạn.
Tiếng chị Sáu thì thầm bên tai:
- Coi chừng! Có thể còn những tên khác quanh quẩn đâu đó!
Thằng Mỹ đã nhô hẳn người lên, nhìn ra bãi trống trước mặt, dường như nó đang muốn cơ động ra hướng đó để tìm đồng bọn. Ngơ ngác nhìn quanh quất một vài giây, rồi hắn cúi xuống, loay hoay lôi lôi kéo kéo cái gì đó. Một lát sau thì hắn ra khỏi bụi cây. Bây giờ thì Côn đã nhìn rõ vật nó đang cố lôi đi là cái gì. Đó là một đồng đội của hắn. Có lẽ tên này đã bị thương khá nặng.
Lôi mãi chẳng được, thằng Mỹ liền quì xuống xoay người lại, cố đưa chiến hữu của hắn lên lưng để cõng.
Có lẽ hắn định đưa người bị thương ra bãi trống dưới chân đồi rồi gọi trực thăng tới bốc. Cố gắng của hắn cũng thật đáng khen. Cuối cùng thì hắn cũng đưa được thằng bị thương lên lưng, treo khẩu tiểu liên AR15 lên cổ dáo dác nhìn trước nhìn sau một lát rồi thận trọng bước đi. Chị Sáu quay sang nháy mắt thì thào nói với Côn - Thằng Mỹ ni là của eng đó!
Côn hiểu ý chị Sáu, liền quay lại ra hiệu cho Lợi và Toàn bí mật tiếp cận từ hai phía. Chị Sáu và Lài cũng chong súng lên sẵn sàng chi viện cho anh. Côn nhẹ nhàng rời chỗ ẩn nấp thận trọng luồn qua mấy bụi ô rô, tiến ra đón đường thằng Mỹ. Một lát sau, anh nghe thấy tiếng thằng Mỹ thở hồng hộc, nặng nhọc lê từng bước. Hình như thằng bạn chiến đấu của nó cũng khá nặng, áp mặt xuống đất, Côn nhìn thấy đôi chân của thằng Mỹ loạng choạng. Vừa bước đi, hắn vừa lầm bầm chửi rủa cái gì đó. Có lẽ, đã ra tới đây thằng Mỹ này cũng yên trí rằng không còn Việt Cộng nữa nên cũng chẳng cần phải giữ gìn. Phía sau lưng nó, trên cái dải đồi đầy gai nhọn chết tiệt kia, tiếng súng vẫn nổ ran. Có vẻ như Việt Cộng đang bị dồn sang mé sườn đồi phía Bắc. Điều đó nó cóc cần quan tâm nữa. Lúc này, nó chỉ mong nhanh chóng đưa bạn nó ra tới cái bãi trống dưới chân đồi kia. Ở đó, dẫu bọn trên trực thăng có mù cũng nhìn thấy và sẽ đáp xuống bốc chúng nó lên. Với nó, trận đánh như vậy là quá đủ rồi. Đùi bên phải của nó cũng đã trúng một mảnh đạn. Chỉ có Chúa mới biết đó là mảnh đạn cối của Việt Cộng hay mảnh rốc két do lũ trực thăng bắn xuống. Chưa nhìn thấy tên Vixi chết tiệt nào nhưng hắn đã bắn hết cả cơ số đạn mang theo vào những bụi cây rậm rịt trước mặt. Thấy hắn bị thương, nhưng không đến nỗi nặng lắm, sau khi được y tá băng bó cầm máu, đại uý trung đội trưởng ra lệnh cho hắn bò ra bãi trống ở phía Tây Nam dãy cao điểm mà đợi trực thăng bốc về Quân y viện. Hắn mừng thầm và đã thoáng nghĩ rằng, không chừng nếu may mắn hắn còn được trở về quê hương rời xa cái xứ xở hãi hùng này. Dẫu sao, hắn cũng đã đổ máu vì nước Mỹ rồi. Hắn lập tức tuân lệnh Đại uý, rồi cùng với mấy thằng bị thương khác ráng bò ra bãi trống chờ được bốc đi. Nhưng bò được nửa quãng đường thì bị trúng một loạt đạn pháo, không rõ là pháo của nước Mỹ hay của Việt Cộng bắn tới. Mấy thằng ngỏm củ tỏi luôn, chỉ còn lại hắn và Jônh đầu trọc, một thằng bạn đồng hương người bang Ken-nếch-ti-cớt thoát chết. Nhưng Jonh lại bị thêm hai vết thương nữa. Rắc rối là ở chỗ nó chưa chết. Nó kêu gào van xin hắn đừng bỏ nó lại. Vết thương trên đùi hắn vẫn rỉ máu, mỗi bước đi lại đau thấu xương. Nhưng lương tâm không cho phép hắn bỏ rơi đồng đội. Vì thế nên hắn cố kéo thằng bạn đồng ngũ theo. Chỉ còn vài trăm mét nữa là tới bãi đáp trực thăng, nhưng đúng lúc này thì thằng bạn chết tiệt của hắn ngất xỉu, không còn đủ sức lết đi nữa. Và hắn đã phải xốc nó lên lưng. Cái thằng mất dạy này sao mà nặng thế? Hốc cho lắm vào! Nó lại là con trai độc nhất của một lão tỷ phú ngành ngân hàng kia đấy. Nó từng nói rằng cha nó sẵn sàng bỏ ra hàng triệu đô để chạy cho nó khỏi phải đi quân dịch. Nhưng cái thằng gàn này lại muốn trở thành Anh hùng của nước Mỹ nên đã tình nguyện xung phong vào lính, rồi lại tình nguyện xung phong sang Việt Nam chiến đấu kia. Bây giờ đã thấy đáng đời chưa con? Nếu may mắn mà hai thằng còn trở về được bang Ken-nếch-ti-cớt thì nhất định tao sẽ tìm thằng cha mày đòi lãnh đủ số tiền tương đương với cái mạng gàn dở của mày đó...
Đang vừa ì ạch lê từng bước, vừa nghĩ tới cái giây phút được đếm từng xấp đôla tiền thưởng từ tay ông chủ ngân hàng trả ơn cứu mạng con trai ông ta thì bỗng hắn sững lại bởi một nòng súng đen ngòm chĩa ngay vào mặt và một tiếng hô đanh gọn:
- Shut up! Hangs up! (Câm miệng! Giơ tay lên)
Hắn chưa kịp hiểu điều gì xảy ra. Toàn thân hắn bỗng tê điếng. Hai cánh tay đang vòng về phía sau lưng để đỡ thằng bạn đồng ngũ bỗng đuỗi ra khiến cái thân thể nặng nề của hắn rơi bịch xuống đất như một tải khoai tây. Thằng bạn hắn vẫn còn sức để kêu lên “Ố... ố!”. Nhưng lập tức, một bóng người từ phía sau đã lao tới đè đầu hắn xuống đất khiến nó không còn kêu được thêm một tiếng nào nữa. Hắn ú ớ định nói điều gì đó những ngay lập tức, một cái mũ vải vo tròn được tống ngay vào miệng hắn. Đôi tay hắn cũng bị bẻ quặt về phía sau và bị trói nghiến ngay lại bằng một sợi dây dù. Bây giờ thì hắn hiểu rằng hắn đã bị bắt làm tù binh.
Trong khi Côn và Lợi trói tên tù binh thì Toàn vẫn ngồi đè lên tên thứ hai. Chị Sáu “phóng lựu” vừa lên kịp thấy vậy liền cười vỗ vào vai cậu ta:
- Nè... Xuống đi ông tướng! Cưỡi lên nó thế thì nó chết toi chớ bộ. Có vẻ như thằng ni bị thương nặng lắm đó!
Toàn vội đứng dậy, quả nhiên tên Mỹ này không còn sức mà phản kháng nữa. Máu vẫn chảy đầm đìa trên người nó. Chị Sáu động lòng, vội lật nó lên xem.
- Tội nghiệp... thằng ni bị thương khắp người rồi.
- Lài, đưa chị túi bông băng coi.
Lài vội mở chiếc bòng trên vai lấy ra một lô bông gạc. Chị Sáu lập tức dùng dao găm rạch áo thằng Mỹ ra rồi lần lượt băng các vết thương trên người hắn lại.
Thân hình to lớn của thằng Mỹ ngốn hết cả mấy cơ số bông băng mà hai người nữ du kích mang theo. Trong khi chị Sáu làm công việc ấy, thằng Mỹ vẫn ngất xỉu. Côn sốt ruột nhắc:
- Nhanh lên chị Sáu... Ta đưa thằng này đi thôi. Còn thằng bị thương nặng, cứ bỏ đó.
Chị Sáu chép miệng:
- Tội nghiệp... Để nó nằm đây thì nó chết mất. Hình như thằng bạn nó đang cố tìm cách cõng nó ra bãi trảng kia để cho tụi trực thăng tới cấp cứu.
- Mặc mẹ chúng nó, đi thôi... Luẩn quẩn ở đây trực thăng nó thấy là ăn đủ đấy chị Sáu.
Toàn chĩa nòng tiểu liên vào thằng Mỹ đang nằm lịm dưới đất.
- Hay để tôi cho nó một phát ân huệ! Máu ra nhiều thế này, nó cũng khó sống lắm!
- Không được - Chị Sáu nhăn mặt quát - Chú tính vi phạm chính sách sao?
Rồi chị ngồi thụp xuống xây lưng về phía thằng Mỹ bị thương nặng nói với Côn:
- Giùm một tay đặt nó lên lưng tui đi!
Không hiểu rõ ý chị nhưng Côn đành phải cúi xuống cùng với Lài xốc thằng Mỹ đặt lên tấm lưng to bè của chị Sáu.
- Chu cha... Sao mà nó nặng cách chi vậy chớ?
Chị loạng chọang đứng dậy rồi nói với mọi người - Coi chừng giúp... tui đưa nó ra ngoài bãi tráng kia cho tụi trực thăng nó thấy!
- Trời đất ơi... Khi Côn hiểu ra thì chị Sáu đã cõng thằng Mỹ lúp xúp chạy đi. Anh lo lắng nhìn lên bầu trời. Tụi trực thăng vẫn đang ầm ầm quần đảo. Cũng may là dường như chúng đang tập trung về phía Bắc dải đồi nhiều hơn nên không trông thấy gì. Mọi người sững sờ, nín thở nhìn chị Sáu chạy phăm phăm ra phía bãi tráng phía chân đồi. Cả thằng Mỹ bị bắt làm tù binh cũng tròn xoe mắt ra mà nhìn. Hắn không hiểu người nữ Việt Cộng to lớn kia định làm gì bạn hắn?
Chạy ra tới giữ bãi trống, chị Sáu đặt tên Mỹ nằm tơ hơ trên một gò đất. Cẩn thận hơn chị giật một mảnh băng, buộc vào một cành cây nhỏ cắm bên cạnh thằng Mỹ rồi mới chạy lộn trở lại. Khi chị chạy vào gần tới chỗ có những bụi cây đầu tiên thì ba chiếc trực thăng ầm ầm lượn vòng quay lại. Hình như chúng đã thấy cái gì đó. Chúng lập tức xà xuống thấp, khép vòng rồi bắn như xối đạn về phía những bụi cây chị Sáu vừa lao tới.
Toàn và Lợi nằm ngửa trên mặt đất chong súng lên rê theo những chiếc trực thăng, sẵn sàng nhả đạn. Côn vội đẩy thằng Mỹ nằm xuống bên cạnh rồi hét lên:
- Không được bắn!
Khi ba chiếc trực thăng bắn xong bắt đầu ngóc lên thì Lài lập tức bậy dậy vừa chạy về phía chị Sáu vừa hét lên:
- Chị Sáu... !
Nhưng chị Sáu cũng đã bật dậy nương theo mấy bụi cây chạy lộn trở lại. Nhìn thấy Lài đang chạy tới, chị hét lên:
- Tau về đây... Chớ có chạy lung tưng. Nó quay lại bây giờ đó.
Đến vòng lượn tiếp theo, ba chiếc trực thăng xà xuống thấp tới nỗi gió thốc lên bụi mù mịt, mấy bụi cây gai như bị lật ngược lên. Có cảm giác lần này thì chúng đã nhìn thấy từng người một. Nhưng chúng lại vãi đạn lên phía đỉnh đồi. Hình như những thằng xạ thủ Mỹ tin chắc rằng, tên Việt Cộng mà chúng vừa nhìn thấy chỉ có mỗi một con đường là chạy ngược lên để tìm chỗ trú nấp ở những nơi có những vạt rừng rậm hơn trên đỉnh đồi chứ không ngờ rằng thực ra mục tiêu mà chúng vừa phát hiện không hề di chuyển Một lát sau Lài đã dìu chị Sáu chạy tới chỗ bọn Côn đang nằm. Anh bỗng giật mình khi nhìn thấy máu chảy đẫm trên áo chị nên hốt hoảng lao tới.
- Chị bị thương rồi, phải không?
Chị Sáu lắc đầu cười:
- Coi bộ eng tề!... Răng mà cuống lên rứa? Máu thằng Mỹ đó chớ đâu phải máu tui! Để tui thở miếng đã nghen... mình hãy nằm yên đây để tụi trực thăng quần một lúc cho đã rồi đi.
Lài chỉ xuống phía bãi trống:
- Liệu tụi nó có thấy thằng nớ không ha?
- Bộ đui sao không thấy? - Chị Sáu cười - Nhưng tụi nó còn hăm he chán rồi mới đỗ xuống lấy người. Tụi nó cũng sợ mình giăng bẫy chớ bộ!
Rồi chị quay nhìn sang thằng tù binh Mỹ đang nằm sấp mặt trên mặt đất.
- Thằng ni coi bộ cũng được chớ... Không bỏ đồng đội lại để chạy lấy mạng là khá rồi héng? Ủa, mà hình như cẳng nó cũng bị thương nè. Để tui coi lại xem... Nó mà hỏng bộ giò là mấy eng mệt lắm đó!


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 19 Tháng Ba, 2012, 01:37:05 pm
Quả là mệt muốn chết thật. Ròng rã ba ngày hai đêm, Côn và tổ trinh sát của anh mới đưa được thằng tù binh quí hoá này về tới kiềng của đại đội 9 ở khu vực Động Mã. Anh nuôi trưởng Cung tò mò cúi xuống nhìn thằng Mỹ rồi hỏi Côn:
- Làm sao mà các các cậu tóm được nó thế?
- Chuyện dài lắm, từ từ kể cho anh nghe sau. Bây giờ có cái gì ăn tạm anh cho tụi này vài miếng, đói quá rồi.
Anh Cung vội chạy vô bếp mang ra mấy nắm cơm vừa vắt xong. Cánh lính trinh sát vồ lấy ăn ngấu nghiến. Côn lấy một nắm, dùng dao găm thái ra thành từng lát rồi đưa tới trước mặt thằng Mỹ ra hiệu rằng hãy ăn đi, thằng Mỹ gục gặc cái đầu ú ớ điều gì đó.
Côn bật cười, chợt nhớ ra:
- A... hiểu rồi, hiểu rồi... Còn cái quần đùi của thằng Lợi vẫn còn trong miệng nó!
Chợt nhớ đêm hôm trước, khi tới Z5, trước khi chia tay cánh lính trinh sát, chị Sáu “phóng lựu” dọi cái đèn pin ngoéo vào miệng thằng Mỹ cười bảo:
- Cho tui lấy lại cái nón tai bèo chớ!
Cánh lính trinh sát cười vang. Côn vội lôi chiếc mũ vải ra khỏi miệng thằng Mỹ đưa trả chị Sáu, chị chun mũi ngửi rồi nhăn mặt:
- Miệng nó ăn chi mà hôi thấy bà... Lài, mi mang xuống suối gột cho hết cái mùi Mỹ đi cho tau!
Thằng Mỹ được giải phóng cái miệng lại bắt đầu kêu lên ồ ồ:
- Coi bộ nó khát nước đó?
Chị Sáu nói vậy rồi mở nút chiếc bi đông Thuỷ quân lục chiến đeo bên hông dí vào miệng thằng Mỹ. Nó uống òng ọc, nhưng uống xong lại bắt đầu kêu rống lên.
- Hay là nó đau. Vết thương trên đùi nó không nhẹ đâu?
Côn bực mình gắt:
- Đứa nào tìm xem có cái gì bịt miệng nó lại. Lát nữa hành quân mà nó cứ hộc lên thế này thì không ổn đâu!
Mọi người lục xục một lát rồi Lợi lên tiếng:
- Tôi có cái quần đùi đây. Nhưng liệu nó có nhá nát mất không nhỉ?
Tiếng Lài khúc khích cười. Chị Sáu cũng cười bảo:
- Hay lại cho cái mũ của tui vô miệng nó đi... Tui đội trời cũng được mà!
Nhưng Lợi đã bước tới vừa nhét cái quần lót vô miệng tên tù binh vừa nói:
- Để nó dùng cái này sẽ thấy dễ chịu hơn. Mũ của chị Sáu còn có giá lắm! Nhưng đúng là phải giặt đi thật. Để tôi đưa o Lài xuống suối!
Trong khi Lợi đưa Lài xuống suối giặt cái mũ cho chị Sáu, Côn ngồi lặng hết nhìn tên tù binh lại nhìn người đàn bà chỉ huy du kích đã cùng với mình dọc ngang trên suốt một dải chiến trường mấy ngày vừa qua rồi lại cùng nhau đánh một trận ra trò, bắt được cả tù binh Mỹ. Lúc này, trong đêm, hình dáng chị thật dịu dàng. Côn chợt thấy hổ thẹn vì không biết nên nói gì với chị trước lúc chia tay.
- Eng Côn à... Chuyến đi khu Đông lần ni coi bộ không lỗ vốn chớ?
Tiếng chị Sáu chợt vang lên.
- Đâu có. Làm quen được với mấy o là lời lắm rồi.
- Eng Côn nói thiệt chớ?
- Thiệt chớ... Chị Sáu chắc là không... thất vọng về tụi này chứ?
Chị Sáu bỗng bật cười. Tiếng cười của chị thật trong trẻo, hồn nhiên.
- Lần gặp sau chắc là sẽ khá hơn thôi... Rứa mà phụ nữ Vĩnh Linh - Quảng trị cứ ồn lên rằng “ba năm du kích nằm kề... không bằng chủ lực nó về một đêm”... Chủ lực chi mà...
Chị buông lửng câu nói ý nhị ở đó nhưng Côn đã hiểu cả và bỗng cảm thấy xấu hổ. Cũng may mà có bóng đêm, nếu không thì chị Sáu đã nhìn thấy mặt anh đỏ bừng lên rồi!...
... Khi cái quần đùi của Lợi vừa lôi ra, anh Cung liền đưa những lát cơm nắm tới tận miệng cho thằng Mỹ, nó vừa ăn ngấu nghiến vừa nói lùng bùng một hồi. Côn cười bảo, nó khen cơm nắm của anh ngon như bánh xan-đuých ấy... Chả biết có đúng thằng Mỹ nói thế không, nhưng nó ngốn một lúc hết hai nắm liền. Anh Cung thích thú ngắm thằng Mỹ ăn cơm nắm một lát rồi hỏi:
- Mày có biết tên nó là gì không Côn?
- Tôi hỏi tên, nó khai là “Giôn” giếc gì đó. Nhưng chưa chắc đã đúng... Vả lại, mình chỉ biết vài câu tiếng Anh, cũng không hỏi được gì nhiều.
- Gọi nó là thằng râu đỏ đi. Cậu không thấy râu nó đỏ quạch như râu ngô thế kia à? - Anh Cung đề nghị.
Mọi người ồ lên cười, tỏ vẻ tán thành.
Nghỉ ngơi ăn uống một lúc thì trời cũng rạng sáng. Côn để thằng Mỹ dưới bếp rồi lên hầm chỉ huy tìm đại đội trưởng Hùng Phong. Anh muốn nhờ điện thoại của đại đội để báo cáo về trung đoàn. Hùng Phong cũng vừa dậy, đang xúc miệng òng ọc trước cửa hầm thì Côn đi lên.
- Hùng Phong, dậy sớm thế?
Hùng Phong dụi mắt nhìn người vừa hiện ra sau màn sương đục.
- Ai đấy? Ôi trời, thằng Côn đấy hả? Lũ trinh sát chúng mày đi ăn sương ở đâu vệ thế?
- Bí mật! - Côn vừa bước tới vừa nói oang oang - Vào xin các cậu bát cơm đây!
Họ xiết chặt tay nhau. Đã lâu không gặp, Côn thấy rõ Hùng Phong dường như cũng dày dặn, phong sương hơn nhiều. Công bằng mà nói, anh đã phần nào tin tưởng ở thằng “công tử phố huyện” này hơn. Thì ra, hắn đánh đấm cũng chẳng đến nỗi nào.
- Bọn tớ tóm được một thằng Mỹ... Đang để nó dưới bếp ông Cung ấy!
- Thế à? Hùng Phong ngạc nhiên kêu lên - Thế thì các cậu giỏi thật đấy. Đi, để tớ xuống ngó nó một tí xem sao nào?
- Khoan đã... Điện thoại của cậu có liên lạc được với trung đoàn không?
- Có lẽ được... Đêm qua không thấy pháo bắn nhiều, chắc là đường dây vẫn thông. Nhưng vẫn phải gọi qua tổng đài của tiểu đoàn...
Phải mất chừng vài phút Côn mới liên lạc được với trực ban tác chiến trung đoàn. Anh báo cáo vắn tắt hình hình rồi đề nghị được nhận chỉ thị của trung đoàn trưởng tại đại đội 9. Anh đoán rằng có lẽ trung đoàn trưởng cũng không có ý định khai thác tù binh vì thực ra ở trung đoàn không có phiên dịch tiếng Anh, rất có thể các anh sẽ phải tiếp tục giải hắn lên giao cho Bộ tư lệnh sư đoàn. Nếu vậy thì xuất phát từ đây sẽ thuận đường hơn.
Côn báo cáo tình hình xong vừa định lên khỏi hầm thì Hùng Phong chui xuống - Để tớ gọi lên tiểu đoàn bảo thằng Lân xuống đây. Nghe nói nó biết đôi ba tiếng Mỹ, biết đâu bọn mình chăng hỏi được điều gì thú vị.
Côn lắc đầu cười:
- Nó thì khá hơn tớ được bao nhiêu? Cung chỉ u ơ vài câu học được ở lớp trinh sát thôi mà. Mấy hôm nay tớ quát liên tục mấy câu ấy vào tai thằng Mỹ mà nó chẳng hiểu gì cả!
Nhưng Hùng Phong vẫn gọi cho cậu trực máy ở tiểu đoàn bộ nhắn tiểu đội trưởng trinh sát Trương Đình Lân xuống ngay đại đội 9 có việc gấp. Dù sao thì cũng cứ nên gọi Lân xuống đây chơi cho vui. Mấy khi có dịp gặp nhau đủ mặt thế này? Lại có cả một thằng Mỹ nữa?
Khi Hùng Phong và Côn xuống tới bếp thì đã thấy lính tráng trong đại đội bu đen bu đỏ quanh thằng Mỹ, cười nói ồn ào. Thấy vậy, Hùng Phong liền quát:
- Sao lại túm đen túm đỏ ở đây đông thế? Pháo nó nện cho một chập vào đây thì khênh nhau không kịp bây giờ!
Các chiến sĩ chỉ dạt ra cho đại đội trưởng bước tới chứ không chịu giải tán. Hùng Phong cũng không nỡ làm gắt, nhân tiện cứ để cho anh em họ nhìn cho rõ mặt thằng Mỹ một lần xem sao? Mấy lần lâm trận rồi, nhưng ngay cả anh cũng chỉ nhìn rõ mặt thằng Mỹ khi nó bị bắn hạ trên trận địa, chứ những thằng Mỹ sống thì đâu có được nhìn cho kỹ.
Lúc này, thằng Mỹ đang ngồi bệt dưới đất, tựa lưng vào một gốc cây to, mặt cúi gầm. Thi thoảng nó lại rên lên vài tiếng, có lẽ vết thương trên đùi đang sưng tấy. Vì cái vết thương ấy, mà đêm qua bọn Côn đã phải kiệu nó lên võng mà khênh suốt cả đêm, vai đứa nào cũng trầy toét cả ra. Lúc nãy, khi Côn vừa kể vừa trật vai cho Hùng Phong xem, cậu ta liền cười phá lên bảo “Đáng đời chúng mày! Cứ như bọn tao thì chỉ cần “Pằng” một phát, cho nó đi chầu Diêm Vương là gọn chuyện”.
Ngồi cạnh thằng Mỹ lúc này là cậu Cung và Hướng “điếc”. Hai người hình như đang cố tìm cách “nói chuyện” với thằng Mỹ. Cậu Cung chỉ vào vết thương trên đùi nó hỏi “Có đau lắm không?”, thằng Mỹ vội hốt hoảng co chân lên và rúm người lại khiến cánh lính vây quanh ồ lên cười. Hướng chỉ con dao vừa thái cơm nắm trên tay anh Cung:
- Nó tưởng cậu định dùng con dao này để tháo khớp nó đấy!
Rồi Hướng xán lại, vỗ vào vai thằng Mỹ rồi lại chỉ lên trời, quát tướng lên:
- Mày là lính Kỵ binh bay, mày ở trên kia nhảy xuống, phải không?
- Nô... nô... nô... !
Thằng Mỹ xua tay ha lịa rồi co tay lên làm như một khẩu súng.
- Pằm... pằm... pằm... Nô... nô... boom bum!
Hướng ngơ ngác ngước nhìn Lợi trinh sát vẫn đang ngồi cạnh đó trông chừng hỏi:
- Nó nói gì thế nhỉ?
Lợi cười, giải thích:
- Nó tưởng cậu hỏi nó có phải là phi công? Nó bảo không phải, nó là lính bộ binh, chỉ biết bắn súng nhỏ “pằm pằm” thôi chứ không biết ném bom!
Hướng nhăn mặt:
- Đồ ngu! Tao hỏi nó có phải lính của Sư đoàn kỵ binh bay không kia mà?
Hùng Phong liền cười bảo:
- Nhưng nó có biết tiếng Việt đâu? Tiếng Sơn Tây nhà cậu thì lại càng không?
Hướng ngẩng lên, nhìn thấy Côn liền reo lên:
- A Côn... Mày biết tiếng Mỹ, hỏi nó vài ba câu đi?
Côn lắc đầu:
- Tao chỉ biết vài câu... Từ khi bắt được nó đến giờ đã nói hết rồi!
Hướng nằn nì:
- Thì mày nói lại xem thử nào! Để tao kiểm tra xem có đúng là nó hiểu được tiếng người không?
Nhìn vẻ mặt cầu cạnh của Hướng, Côn cười bảo:
- Được rồi... Nhưng anh em mình hãy lùi ra đi, đừng làm nó sợ!
Mọi người vội giãn ra, tạo một khoảng trống xung quanh thằng Mỹ. Côn và Hùng Phong cùng bước tới, mọi người bỗng im bặt chờ đợi. Thấy Côn bước tới, thằng Mỹ ngước đôi mắt xanh lè lên nhìn anh, chờ đợi.
Côn hắng giọng rồi vẫy tay, lên tiếng:
- Ê... thằng kia... Hands up!
Thằng Mỹ lập tức run rẩy giơ tay lên. Mọi người vỗ tay hoan hô.
- Stand up!
Thằng Mỹ vội run rẩy đứng lên. Mọi người lại vỗ tay hoan hô.
Côn lùi lại vài bước rồi vẫy tay về phía thằng Mỹ:
- Ê... thằng kia... Go here!
Thằng Mỹ nhìn liếc xuống cái đùi bị thương, nhăn nhó tỏ vẻ đau đớn, nhưng vẫn cố gắng bước đi vài bước. Mọi người ồ lên thích thú.
- Ô kê... Stop! Stop... and go back... Go back!
Thằng Mỹ lập tức dừng lại rồi quay trở về chỗ cũ.
- Khá lắm! Khá lắm... - Hướng vỗ tay khen - Mày giỏi đấy, Côn ạ. Nói thế mà thằng Mỹ nó cũng hiểu thì tài thật. Lúc nào rỗi, dạy tao mấy câu nhé! Trận tới, bọn tao cũng bắt lấy vài thằng chơi.
Côn cười, chỉ vào tai Hướng:
- Tai cậu xuống cấp thế thì nghe tiếng Mỹ thế nào được.
Hùng Phong hiểu rằng đã đến lúc phải giải tán liền huơ tay, ra lệnh:
- Thôi xem thế đủ rồi. Các tiểu đội vào lấy cơm rồi cho anh em về hầm ngay!
Các chiến sĩ lập tức giải tán toả về các hầm. Với họ, thằng Mỹ cũng chỉ có vậy thôi. Đại đội trưởng Hùng Phong quay lại nói với Côn:
- Nếu các cậu còn dừng ở đây lâu thì cho thằng Mỹ vào hầm anh nuôi trú tạm. Mấy hôm nay máy bay trinh sát nó dòm khu vực này dữ lắm, thể nào hôm nay chúng nó cũng kích vào khu vực này đấy!


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 19 Tháng Ba, 2012, 01:38:53 pm
Như để chứng minh cho lời cảnh báo của đại đội trưởng, những tiếng nổ đầu nòng của mấy trận địa pháo địch cùng một lúc vang lên và ngay sau đó là những tiếng rú rít rợn người bay qua dãy cao điểm.
Loạt pháo kích đầu tiên trong ngày còn rơi khá xa nhưng cũng đủ để báo hiệu một ngày không bình yên.
Anh nuôi trưởng Cung lo ngại nhìn thằng Mỹ đang lom khom chui vào căn nhà hầm của tiểu đội anh nuôi, hỏi Côn:
- Này cậu... liệu trong người nó... có cái gì không đấy? Tớ nghe nói, bọn Mỹ ra trận thằng nào cũng mang theo những cái máy thu phát bé tẹo, đi đến đâu biết đến đấy!
Côn hiểu ý của anh nuôi trưởng vội xua tay:
- Ông cậu yên trí đi... bọn em khám kỹ lắm rồi. Nó chẳng có cái cóc khô gì trong người đâu.
- Thế thì tốt. Nhưng theo mình các cậu cũng nên tống nó đi đâu đó thật nhanh cho nhẹ mình.
Côn cũng cho rằng đó là một ý kiến khôn ngoan, nhưng cũng phải tới tận chiều hôm đó sư đoàn mới cho người xuống đón tên từ binh về. Anh trợ lý địch vận, người có trách nhiệm nhận bàn giao tên tù binh, sau khi líu lô nói chuyện với thằng Mỹ một hồi liền quay lại nói với Côn:
- Khá lắm. Thằng này cũng biết khá nhiều đấy. Lại có vẻ biết điều. Cụ Sùng gửi lời khen ngợi các cậu đấy!
- Chỉ được một lời khen suông vậy thôi à? - Côn cười hỏi lại.
- Thì các ông còn đòi gì nữa? Huân chương chắc? - Chợt anh ta nhớ ra điều gì vội móc túi lấy ra một bao thuốc lá Điện Biên nhàu nhĩ - Mà có quà cho các cậu đây. Cụ Sùng gửi cho đấy. Nhất các cậu rồi nhé!
- Coi như xong - Côn vừa đón nhận bao thuốc lá của sư trưởng vừa nói với anh trợ lý - Tôi giao cái thằng quỉ râu đỏ này cho các anh đó. Từ lúc này trở đi, các anh phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về nó.
Anh trợ lý địch vận nhận người, xem xét cẩn thận, nói với thằng Mỹ một thôi một hồi bằng tiếng Anh rồi lệnh cho mấy cậu cảnh vệ sư đoàn dẫn nó đi. Mãi sau này Côn mới biết rằng số phận thằng Mỹ này cũng chẳng may mắn gì. Sau mấy ngày giữ lại ở Sở chỉ huy sư đoàn để hỏi cung, cấp trên lại yêu cầu giải nó ra Vĩnh Linh, giao cho Phòng địch vận của Bộ tư lệnh Mặt trận B5 để tiếp tục khai thác. Nhưng vừa vượt qua sông Bến Hải thì tốp dẫn giải tù binh bị trúng một loạt bom toạ độ. Thằng Mỹ chết ngay tại chỗ. Thật đáng thương cho nó. Nhưng dù sao, nó cũng có được cái may mắn là đã vượt qua “hàng rào điện tử Mắc-na-ma-ra” để được đặt chân lên mảnh đất thánh Xã hội chủ nghĩa của Việt Cộng, đó là điều mà trước khi sang Việt Nam, nó không bao giờ dám mơ tới.

---------------------------------

PHẦN THỨ BA
Trong khu tứ giác

Vài lời dẫn nhân đọc lại một đoạn văn không được in trong cuốn sách của vị tướng:
Khi đọc cuốn sách của tướng Hùng Phong, Giáo sư Trương Đình Lân vô cùng ngạc nhiên khi thấy trong bài “Nhảy dù vào khu tứ giác” có đính kèm hai trang viết tay với một câu ghi chú viết bằng bút bi màu đỏ “Đoạn này khi biên tập, Nhà xuất bản yêu cầu bỏ đi vì nó lẫn sang văn miêu tả, thứ văn chỉ dùng được trong tiểu thuyết của ông chứ không đươc nhảy vào loại sách lý luận quân sự khô khan của tôi”.
Cái đoạn bỏ đi ấy như thế này:
... Đến giữa tháng tư năm 1968, mặc dù sư đoàn Hồng Bàng đã đánh hàng trăm trận, trong đó có nhiều trận đánh lớn, có hiệu suất chiến đấu cao, tiêu diệt được nhiều sinh lực địch, trong đó phần lớn là quân Mỹ, nhưng theo đánh giá của Bộ tư lệnh Mặt trận B5 thì sư đoàn vẫn chưa hoàn thành được nhiệm vụ của Đảng ủy - Bộ tư lệnh Mặt trận giao cho là lôi kéo thu hút và giam chân một bộ phận quan trọng những đơn vị chủ lực của quân đội Mỹ trong vùng một chiến thuật (chủ yếu là sư đoàn lính thủy đánh bộ số 3 và các lữ đoàn của sư đoàn không vận số 1), tạo điều kiện để trên hướng chính là Mặt trận Thừa Thiên -_Huế và vào thời điểm hiện tại là chiến trường Khe Sanh hoàn thành nhiệm vụ bao vây tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, bảo vệ vững chắc tuyến hành lang vận tải từ hậu phương Miền Bắc vào các chiến trường Miền Nam, tạo sức ép lớn thu hút chủ lực địch từ các chiến trường miền trong ra đối phó để các đơn vị chủ lực và quân dân ta trên toàn chiến trường có điều kiện củng cố lại thế trận sau cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân.
Đánh thắng nhiều trận lớn, tiêu diệt được nhiều sinh lực địch nhưng chưa thực hiện được ý đồ chiến dịch là điều khiến Đảng uỷ- Bộ tư lệnh Sư đoàn Hồng Bàng vô cùng trăn trở. Sư đoàn trưởng Phạm Sùng, một người chỉ huy tài ba khiến kẻ địch phải gọi là “con hùm xám”, rất cay cú. Ông không hiểu vì sao mặc dù sư đoàn của ông đã làm mưa làm gió trên đường số 9, cắt đứt giao thông nhiều ngày, đánh phá liên tục vào những điểm chốt giữ con đường huyết mạch này mà thằng địch vẫn không chịu tung những con át chủ bài ra để chơi tay bo “với sư đoàn của ông. Mỗi lần bị đánh đau, bị điểm huyệt, chúng cũng chỉ tung ra một hai tiểu đoàn Mỹ, cùng với quân ngụy thuộc sư đoàn Bến Hải đi giải toả, cứu nguy vá víu qua loa rồi lại rút những lực lượng chủ yếu về chốt trong những cứ điểm quan trọng. Thằng Mỹ quả là không giống thằng Pháp chút nào. Năm xưa, hễ thằng Pháp mà bị cắt đường là phải tung quân đi giải toả liền. Vì thế chiến thuật “cắt đường diệt viện” mới phát huy được hiệu quả. Đằng này, đường chín có bị băm nát, bọn tướng Mỹ cũng chưa cảm thấy lúng túng. Đã có hàng trăm chiếc trực thăng hàng ngày chi viện cho Tà Cơn - Khe Sanh. Chọc mãi, mà Bộ chỉ huy quân Mỹ ở Đường 9 - Bắc Quảng Trị vẫn chưa chịu tung lực lượng lớn ra đối phó với sư đoàn mình. Sư đoàn trưởng Phạm Sùng cũng bắt đầu sốt ruột. Nhất là khi, trong cuộc họp tổng kết giai đoạn một của chiến dịch, đồng chí Tư lệnh Mặt trận B5 đã “khích tướng” bằng một câu châm chọc:
- Thế nào ông Sùng, dường như quân Hồng Bàng của ông vẫn chưa phải là đối thủ của sư đoàn lính thuỷ đánh bộ số 3 và Sư đoàn không vận số 1 Mỹ hay sao mà chúng “đón tiếp” ông có vẻ nhạt nhẽo thế? Mời mãi mà chúng cũng chưa chịu đưa đội hình mạnh ra chơi với ông thì cũng buồn thật đấy!


Thế là con hổ xám Phạm Sùng “nổi máu điên”. Cũng ngay tại diễn đàn của Hội nghị Tổng kết này ông đã khảng khái tuyên bố:
- Lần này, nhất định chúng tôi sẽ phải chọc cho thằng Mỹ điên lên mà tung lực lượng lớn ra đói phó. Rồi các đồng chí xem, chúng tôi sẽ tiêu diệt gọn ít nhất một tiểu đoàn Thủy quân lục chiến!
Vào thời điểm ấy không mấy ai dám tin những lời tuyên bố đó là có cơ sở hiện thực. Không hiểu đồng chí Tư lệnh Mặt trận có tin không nhưng ông vẫn cứ vỗ tay khen rằng “Khá lắm! Tôi nghĩ rằng Sư đoàn Hồng Bàng sẽ làm được điều kỳ diệu đó”.

Từ Hội nghị Tổng kết chiến dịch về, Sư đoàn trưởng Phạm Sùng cho Tham mưu trưởng và Trưởng ban tác chiến sư đoàn lên Hầm chỉ huy của mình và ra lệnh:
- Các anh chuẩn bị cho tôi phương án đưa quân “nhảy dù vào khu tứ giác!”. Đây này, phải cắm một nhát thật sâu vào khu yết hầu Đông Hà - Cửa Việt thử xem mấy thằng tướng Mỹ có sôi máu lên không nào? Đội hình tác chiến sư đoàn thiếu, để một trung đoàn dự bị ở vành ngoài còn thì tung vào hết. Hình thức tác chiến chốt kết hợp vận động tiến công. Cắt đường 9 - Đường Số 1, đường sông từ cảng Cửa Việt lên Đông Hà. Ép cho bọn Mỹ không thở được phải nổi điên lên. Lôi cho được ít nhất hai trung đoàn Thuỷ quân lục chiến ra so găng với ta. Tinh thần là thế. Các anh làm nhanh để tôi báo cáo Thường vụ Đảng ủy sư đoàn vào cuộc họp cuối tuần này!

Các sĩ quan Tham mưu ngơ ngác nhìn nhau. Có nằm mơ, họ cũng chưa dám nghĩ đến việc đưa cả một sư đoàn chủ lực vào tác chiến trên một địa bàn hiểm yếu là vùng vành đai trắng, vùng tự do bắn phá, vừa hẹp vừa trống trải chỉ có đồng hoang và bãi cát với bốn cụm cứ điểm lớn của địch vây quanh. Đưa quân vào đây là phơi mình ra đối chọi với hỏa lực phi pháo tối đa. Chẳng khác gì nhảy vào giữa một cái “cối xay thịt”.

Dường như hiểu được tâm trạng của các sĩ quan tham mưu, Sư đoàn trưởng Phạm Sùng khoát tay nói:
- Ngày xưa, sư đoàn ta từng nhảy dù vào giữa thị xã Phát Diệm, ba bề bốn bên toàn là bọn lính lê dương Pháp, bọn ngụy quyền, tôn giáo phản động mà có làm sao đâu? Không nhảy vào tận hang hổ sao bắt được cả hổ mẹ lẫn hổ con?

Và thế là phương án đưa sư đoàn Hồng Bàng lật cánh về hướng đông, nhảy dù vào “khu tứ giác” đã được hình thành...


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 19 Tháng Ba, 2012, 01:39:18 pm
Không biết có phải vì có công trong vụ bắt được “thằng râu đỏ” hay không mà trước khi lật cánh vào khu tứ giác Nguyễn Danh Côn đã được đề bạt làm trung đội trưởng thay cho trung đội trưởng Đoàn về làm đại đội phó đại đội trinh sát của sư đoàn. Anh nhận quyết định đề bạt buổi sáng thì buổi chiều được trung đoàn trưởng mời lên hầm chỉ huy trung đoàn “nói chuyện”. Chỉ cần liếc nhìn tấm bản đồ trải trên bàn làm việc của trung đoàn trưởng, Côn đã đoán ngay ra nhiệm vụ mà trung đoàn trưởng sắp giao cho mình là gì rồi. Trung đoàn trưởng Trần Đông Hải đang cúi xem bản đồ, thấy anh bước vào hầm, ông không ngẩng lên mà hỏi luôn:
- Lần đi trinh sát vừa rồi các cậu phối hợp với bộ đội và du kích địa phương tốt chứ?
Côn thoáng giật mình khi nghĩ đến cái lưng to bè của chị Sáu “phóng lựu”.
- Dạ... tốt ạ...
- Thế thì được... Lần này xuống “làm ăn” ở dưới ấy chúng ta còn phải trông chờ ở họ nhiều đấy!
Rồi ông rời bản đồ, bước tới bên Côn, ôn tồn nói:
- Cậu chuẩn bị một tiểu đội vững vàng, thông thạo công việc, có khả năng chiến đấu giỏ, / mang theo một tổ đài nữa, để đưa đoàn cán bộ của trung đoàn đi trinh sát địa hình và nắm địch luôn. Sau khi bàn giao địa hình và mục tiêu cho các tiểu đoàn, đội trinh sát do cậu chỉ huy sẽ trụ lại bám địch. Lần này phải nắm được hành động của địch từng ngày báo cáo về Sở chỉ huy để trung đoàn chỉ huy chiến đấu.
- Như vậy là chúng tôi sẽ bám trụ tại khu tứ giác, phải không ạ?
- Đúng... Và phải thường xuyên quan sát mọi động tĩnh của địch trong thị xã Đông Hà. Vì thế, theo mình, đội trinh sát vũ trang của cậu phải cắm vào tận đây.
Côn nhìn vào vị trí mà trung đoàn trưởng chỉ trên bản đồ khẽ thốt lên:
- Khu vực xã Cam Vũ, sát ngay bên bờ sông...
- Đúng... từ đây, khi cần các cậu có thể luồn vào tận thị xã Đông Hà mà nắm địch. Muốn vậy, phải dựa chắc vào lực lượng vũ trang địa phương.
- Tôi rõ rồi ạ.
Trung đoàn trưởng dường như chưa cảm thấy thật yên tâm nên dặn dò thêm:
- Địa hình ở khu vực này rất khó nhận dạng, nếu không nhắc nhở anh em nhớ vật chuẩn thì khi đưa bộ đội vào sẽ rất dễ bị lạc đường. Lạc đường trong rừng thì chỉ nhọc xác thôi, chứ lạc trên bãi cát, trên đồng hoang là bị phi pháo địch tiêu diệt như chơi.
Côn rất hiểu điều đó nên anh đã đề nghị trung đoàn trưởng cho phép mỗi tiểu đoàn mang theo một tổ trinh sát đi để nhận đường, đề phòng khi vào trận người này bị thương vong thì còn có người khác nắm vững đường xá.
Được Trung đoàn trưởng chấp thuận - Anh Mạnh Cường trung đoàn phó và Anh Quách Duy Tân, Tham mưu trưởng mới của trung đoàn sẽ trực tiếp chỉ huy cuộc trinh sát lần này. Xong nhiệm vụ, anh Tân sẽ ở lại với trinh sát các cậu cho đến khi các tiểu đoàn hoàn thành việc bí mật đưa quân vào các trận địa đã được lựa chọn trong khu tứ giác.
Thấy trên gương mặt của cậu trung đội trưởng trinh sát thoáng vẻ lo ngại, trung đoàn trưởng cười, vỗ vai Côn trấn an ngay:
- Yên âm đi... Tham mưu trưởng Tân là một người từng trải, thiện chiến đấy. Ông ấy trông thế nhưng cũng chỉ nhiều hơn anh Cường hai tuổi, lại khoẻ mạnh dẻo dai lắm. Các cậu chưa chắc đã theo kịp ông ấy đâu.
Côn mới chỉ được tiếp xúc thoáng qua một lần với Tham mưu trưởng mới vào chiều hôm qua, khi ông ta lần đầu xuống thăm trung đội trinh sát. Cảm giác đầu tiên của anh là ông này ít nói, nhưng có vẻ giàu tình cảm. Với dáng người thấp đậm, giọng nói trầm ấm, ông tạo nên ấn tượng về một con người vững vàng điềm tĩnh. Ông cũng thuộc lớp cán bộ đã từng tham gia đánh Pháp, mới được điều từ Ban tác chiến sư đoàn xuống, nhưng đó mới chính là điều cánh lính trinh sát các anh e ngại. Những ông chỉ huy xuất thân từ văn phòng của các cơ quan cấp trên thường thiếu thực tế, rất nguyên tắc cứng nhắc và lại hay căn vặn.
- Chúng tôi... có e ngại gì đâu ạ. Có tham mưa trưởng ở lại cùng bám địch, chúng tôi càng yên tâm chứ ạ!
Côn nói vậy rồi đứng dậy định xin phép về trung đội làm công tác chuẩn bị nhưng trung đoàn trưởng yêu cầu anh nán lại để nói cho anh nghe những nét chủ yếu trong nhiệm vụ của trung đoàn trong chiến dịch này. Đó là một ưu ái, tin cậy đặc biệt, vì dẫu sao, anh cũng chỉ là một cán bộ chỉ huy phân đội, theo lẽ thường không được phép biết đến những ý đồ của một chiến dịch quan trọng như vậy. Nhưng, anh cũng hiểu rằng trung đoàn trưởng biết cần phải nói với anh, người chỉ huy trinh sát của trung đoàn điều gì để thấy hết tầm quan trọng của nhiệm vụ sắp tới mình phải gánh vác. Vì vậy, anh bình tĩnh ngồi xuống ghế và chăm chú lắng nghe.
- Nhiệm vụ của trung đoàn 4 lần này là khẩn trương đưa cả trung đoàn lật cánh về khu Đông, dùng một tiểu đoàn tiếp tục cắt đường 9 ép sát thị xã Đông Hà, đồng thời bí mật đưa hai tiểu đoàn luồn sâu vào “khu tứ giác” xây dựng hệ thống chốt chặn để cắt đứt đường số 1 đoạn từ Nam căn cứ Quán Ngang tới Ngã Tư Sòng, cắt đứt đường 71 từ Cửa Việt lên Đông Hà... Tạo thế uy hiếp trực tiếp thị xã Đông Hà từ hai hướng, buộc địch phải đưa Thuỷ quân lục chiến Mỹ và những lực lượng tinh nhuệ nhất của quân ngụy Sài Còn trên chiến trường ra giải toả. Mấu chốt sự thành bại của kế hoạch này là phải làm sao bí mật đưa được hai tiểu đoàn bộ binh luồn sâu vào chiếm lĩnh trận địa an toàn. Nếu ý đồ của ta sớm bị phát hiện thì địch sẽ dùng phi pháo ngăn chặn hoặc tung quân nống ra chốt chặn từ xa, buộc ta phải chiến đấu từ vòng ngoài thì sẽ rất bất lợi.
Vừa nghe trung đoàn trưởng nói, trung đội trưởng trinh sát Nguyễn Danh Côn vừa nghĩ rằng, trong giai đoạn chuẩn bị và cài thế chiến dịch, trách nhiệm đặt trên vai những người lính trinh sát là rất nặng nề. Tự nhiên, anh lại mong lần “lật cánh” này sẽ gặp lại được chị Sáu. Có chị ấy giúp đỡ, chắc chắn nhiệm vụ của anh sẽ nhẹ nhàng hơn rất nhiều. Nhưng, những hình ảnh của cái đêm nằm chung trong một căn hầm hôm nào lại đột ngột hiện lên trong tâm trí khiến mặt anh bỗng nóng bừng lên.
- Cậu làm sao thế?
- Không ạ... tôi vẫn đang nghe thủ trưởng dặn dò đấy ạ!
- Trông nét mặt cậu lạ quá... Hay bị sốt rét đấy? Lúc này mà cậu ốm thì rắc rối to đấy.
- Tôi... chưa bị sốt rét bao giờ thủ trưởng ạ... Chẳng qua là tôi... thấy hơi căng thẳng khi lần đầu được nghe trung đoàn trưởng nói về nhiệm vụ của trung đoàn thôi ạ!
Trung đoàn trưởng Trần Đông Hải bật cười:
- Thật hả? Vậy thì từ nay, cậu sẽ phải thường xuyên nghe mình nói đấy. Trung đội trưởng trung đội trinh sát của trung đoàn thì phải biết rõ những ý đồ của người chỉ huy chứ.


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 21 Tháng Ba, 2012, 10:58:28 am
Thực ra trung đội trinh sát của trung đoàn chỉ là đơn vị cấp phân đội thứ hai mà Tham mưu trưởng Quách Duy Tân tới thăm từ hôm được điều về trung đoàn này. Đơn vị đầu tiên mà anh tới thăm là đại đội 9 của cái anh chàng đại đội trưởng mặt búng ra sữa có cái tên rất kêu là Hùng Phong. Sở dĩ anh xuống đại đội 9 đầu tiên cũng là vì anh đã bị chính trị viên tiểu đoàn Lương Xuân Báo thuyết phục. Anh với Báo có chút giao tình với nhau nhân chuyến dự tập huấn cán bộ toàn sư đoàn trước khi đi B. Hồi ấy, anh rất có ấn tượng với bài phát biểu “tự do tư tưởng” của anh chính trị viên đại đội này. Anh ta nói rất sinh động, thuyết phục mặc dù không vận dụng mấy lý luận. Những câu chuyện mà anh ta kể về cuộc đời của mình để minh chứng cho sự hơn hẳn của xã hội Xã hội chủ nghĩa với kiếp sống nô lệ của dân ta dưới ách thực dân phong kiến đều rất chân thực chứ không có vẻ cố tố lên như đa số những vị khác đã phát biểu trước đó. Anh ta lại có cha là liệt sí, cái tên Lương Xuân Hổ nghe rất quen. Cuối cùng thì ông đã nhớ ra đó chính là người trung đội trưởng đầu tiên của mình. Đó là vào đầu cuối năm 1950, khi ông vừa mới tròn mười tám tuổi, từ vùng tạm chiếm trốn gia đình ra vùng tự do để xin vào bộ đội. Sau một tháng huấn luyện anh được phân công về một đơn vị chủ lực làm liên lạc viên trung đội. Trung đội trưởng là Lương Xuân Hổ. Nhưng ngay trong trận đánh đầu tiên mà anh có vinh dự được tham gia thì trung đội hưởng Hổ đã anh dũng hy sinh khi đang chỉ huy trung đội làm nhiệm vụ mở cửa trong một trận công đồn. Thời gian anh được sống với trung đội trưởng Hổ chỉ được có hơn một tuần, gương mặt của anh thì ông đã quên, nhưng cái tên của anh ấy thì ông vẫn còn nhớ tới tận ngày hôm nay. Vì vậy, khi nghe chính trị viên Báo nói rằng cha anh là liệt sĩ chống Pháp tên là Lương Xuân Hổ thì Tân nhớ ra ngay. Ngay buổi tối hôm đó anh đã tìm gặp Lương Xuân Báo đề trò chuyện. Báo cũng rất cảm động vì đây là lần đầu tiên anh gặp một người từng là đồng đội của cha mình. Hai người thân nhau từ đó. Tuy làm việc trên cơ quan Tham mưu sư đoàn, nhưng hễ có dịp về tiểu đoàn 7 công tác là anh luôn tìm đến Lương Xuân Báo.

Sau nhiều lần đề đạt nguyện vọng, cuối cùng thì Tân cũng đã được sư đoàn trưởng cho “hạ phóng” xuống đơn vị chiến đấu. Tuy chỉ từ cơ quan sư đoàn xuống làm Tham mưu trưởng trung đoàn chứ chưa được trực tiếp cầm quân xung trận, nhưng Tân đã thấy hạnh phúc lắm rồi. Trung đoàn là đơn vị chiến thuật, vẫn còn có nhiều cơ hội được cọ sát trực tiếp với thực tế chiến đấu hơn là cứ ngồi mục ra ở Phòng tham mưu sư đoàn chủ yếu là đánh giặc trên bản đồ. Vì vậy, việc đầu tiên khi xuống nhận nhiệm vụ mới ở trung đoàn 4, anh đòi được trang bị ngay một khẩu tiểu liên báng gập và nộp lại cho quân khí trung đoàn khẩu súng ngắn K59 xinh xẻo như một thứ đồ chơi của mình. Cậu trợ lý quân khí chọn cho anh một khẩu AK tốt nhất có trong kho nhưng lắc đầu không chịu nhận lại khẩu K59 “Thủ trưởng cứ giữ khẩu súng ngắn ấy... Coi như một thứ vũ khí dự phòng. Các thủ trưởng trung đoàn đều chơi cả hai loại “nhạc cụ” này!”. Thế là Tân có hai khẩu súng, ba quả lựu đạn US chiến lợi phẩm, một túi mìn Clâymo đựng sổ sách, bản đồ. Như vậy là đã gần giống với một anh chàng chỉ huy chiến đấu cấp phân đội thứ thiệt rồi!

Đại đội trưởng Hùng Phong hơi bị bất ngờ khi chính trị viên tiểu đoàn Lương Xuân Báo, không báo trước mà đưa Tham mưu trưởng mới xộc thẳng xuống đơn vị. Cũng may, hôm nay đại đội đang học chính trị, quán triệt Nghị quyết mới của Đảng ủy Sư đoàn chuẩn bị bước vào giai đoạn hai của chiến dịch nên bộ đội có mặt ở nhà đông đủ và cũng không ai ăn mặc quá xộc xệch như những ngày thường. Đại đội trưởng Hùng Phong định ra lệnh tập hợp đại đội để nghe thủ trưởng huấn thị nhưng Tham mưu trưởng Quách Duy Tân vội xua tay gạt đi:
- Thôi, cứ để anh em học tập tự nhiên. Mình chỉ ghé thăm đại đội các cậu một lát rồi đi thôi mà, không có điều gì phải lên lớp, huấn thị đâu. Có lẽ, mình chỉ nên gặp gỡ các đồng chí chỉ huy đại đội, trung đội để tì�m hiểu tình hình thôi.

Chính trị viên Báo gật đầu, ra hiệu cho Hùng Phong cho mời cán bộ các trung đội lên “xê bộ” để gặp Tham mưu trưởng. Hùng Phong vội cho liên lạc đi truyền lệnh ngay. Khi thấy đã gần đủ mặt cán bộ của đại đội, chính trị viên Lương Xuân Báo trịnh trọng giới thiệu:
- Đây là Đại uý Quách Duy Tân, người mới được bổ nhiệm chức Tham mưu trưởng trung đoàn. Hôm nay, đồng chí Tham mưa trưởng mới tới thăm và kiểm tra đơn vị chúng ta.
Mọi người lẹt đẹt vỗ tay. Chính trị viên đại đội Nguyễn Xuân Khang giới thiệu Ban chỉ huy đại đội với Tham mưu trưởng:
- Đại đội trưởng Phạm Hùng Phong thì thủ trưởng biết rồi. Tôi là Nguyễn Xuân Khang, chính trị viên Bí thư chi bộ. Đây là đồng chí Nguyễn Đình Tại, đại đội phó. Còn đây là các đồng chí trung đội trưởng. Tất cả đều mới được đề bạt đấy ạ!
- Cán bộ đại đội ta trẻ nhỉ? Đều đã qua thử lửa cả rồi, phải không?
Chính trị viên Khang đáp:
- Báo cáo Tham mưu trưởng... Đồng chí nào cũng đánh ít nhất dăm ba trận rồi ạ. Hầu hết đều đã được tặng Huân chương hoặc Bằng khen vì có thành tích trong chiến đấu.
- Tốt lắm! - Tham mưa trưởng gật đầu khen. Rồi để cho không khí trở nên thân mật hơn, Tham mưu trưởng Tân quay lại hỏi:
- Đại đội các cậu có nhiều anh em ở Phúc Lộc lắm phải không?
- Dạ... Trước đây thì nhiều... Nhưng rồi một số hy sinh bị thương, một số thuyên chuyển loanh quanh trong trung đoàn... Hiện tại chỉ còn dăm anh em thôi ạ!
Đại đội trưởng Hùng Phong trả lời rồi chỉ Nguyễn Đình Hướng vừa đi tới:
- Cậu Hướng, trung đội trưởng trung đội 3, cũng là người Phúc Lộc đấy ạ!
Hướng nghênh nghênh bước tới, nhìn thấy một người lạ, anh liền oang oang lên tiếng:
- Ông này là Tham mưu trưởng mới đấy à?
Tham mưu trưởng gật đầu cười rồi chìa tay về phía Hướng.
- Chào đồng hương! Mình quê gốc ở bên Thạch Thất gần kề ngay quê các bạn đây!
Hướng đưa tay ra bắt, nhưng chỉ lắc đầu cười.
Hùng Phong vội giải thích:
- Cậu ấy bị điếc đấy thủ trưởng ạ. Hỏng mất một tai, một tai còn lại khi nghe được, khi không!
- Điếc à? Có phải cậu này đã bắn 6 quả B41 trong một trận đánh không đấy?
- Phải đấy ạ... Cậu ta... điếc không sợ súng mà thủ trưởng!
Mọi người ồ lên cười, Hướng nhìn chòng chọc vào Hùng Phong nhăn nhó:
- Các ông lại nói xấu tớ rồi hả? - Rồi cậu ta thò ngón tay trỏ vào lỗ tai mà ngoáy tít lên - Mẹ khỉ, hôm nay cái tai này lại trở chứng rồi. Nghe cứ u u âm âm... chẳng rõ gì cả! Thủ trưởng bỏ quá cho, có huấn thị gì thì xin thủ trưởng cứ nói to to lên một tí.
Tham mưu trưởng choàng tay ra ôm lấy vai Hướng ghé vào tai cậu ta mà nói:
- Có những điều không cần phải nghe đâu, anh bạn ạ.
Hướng nghe được, gật cái đầu vẻ thích thú:
- Thủ trưởng thật chí lý. Không nghe được tất cả, cũng có cái hay đấy ạ. Thí dụ như trong hội nghị, hay trong những buổi giao ban, đại đội trưởng của chúng tôi thường nói rất nhiều, có còn khi nói rất cay độc. Có người nghe mà giận tái cả mặt, còn tôi thì vẫn bình thản như không. Vì tôi có nghe được gì đâu. Như thế chẳng có lợi cho sức khoẻ hay sao? Còn khi giao nhiệm vụ gì cho tôi, muốn hay không chỉ huy đại đội vẫn cứ phải thân ái ghé vào tận tai mà nói. Như thế chẳng oai hơn à?
Mọi người lại ồ lên cười. Tham mưu trưởng quay sang Hùng Phong, hỏi:
- Nghe nói anh bạn này nhất định không chịu về phía sau làm quân thu dung phải không?
Hùng Phong gật đầu, giải thích:
- Nó không chịu và cả thủ trưởng Báo cũng muốn giữ nó lại để bồi dưỡng thành anh hùng đấy, thủ trưởng ạ.
- Việc gì phải bồi dưỡng nữa... Hành động của cậu ấy đúng là hành động anh hùng rồi còn gì?
Hùng Phong đưa một ngón tay lên:
- Nhưng theo chính trị viên tiếu đoàn của bọn em thì hình như... vẫn còn thiếu một khúc nữa thì mới đủ tiêu chuẩn là anh hùng đấy ạ!
- Bậy nào... Chuyện ấy mà cũng đem ra đùa được? - Chính trị viên Báo xua tay - Thôi, vào hầm chỉ huy nói chuyện. Mấy hôm nay thi thoảng chúng nó vẫn pháo kích vào khu vực này đấy!
Khi rời khỏi đại đội 9, trên đường về Ban chỉ huy tiểu đoàn, Chính trị viên Báo hỏi Tham mưu trưởng Tân:
- Anh thấy Hùng Phong thế nào?
- Cậu ta còn trẻ mà... đã rất tự tin, chững chạc... Nhưng...
- Nhưng sao? - Chính trị viên Báo hồi hộp hỏi.
- Mình thấy hình như nó có vẻ già trước tuổi... mình không thích điều đó!
Chính trị viên Báo thở dài:
- Trách nhiệm nặng nề như thế thì hồn nhiên trẻ trung làm sao được? Bằng tuổi nó, tôi làm lính còn chưa xong kia!
- Đúng thế... ! Vào bộ đội ba năm tôi mới lên được chức tiểu đội trưởng mà đã thấy oách lắm rồi. - Tham mưu trưởng Tân tâm sự - Nhưng, hồi đánh Pháp dẫu sao vẫn còn thong dong hơn bây giờ. Thằng Mỹ nhiều bom đạn, lắm mưu mô, lại có trang bị kỹ thuật hiện đại, sức cơ động cao. Quần nhau với nó không phải là chuyện đùa. Trận nào cũng có thương vong, mà ác một nỗi trận nào cũng mất cán bộ. Đám cán bộ chỉ huy trẻ, hăng thì hăng thật, nhưng là người chỉ huy mà chỉ biết làm gương, vào trận thì cứ nhất định xông lên hàng đầu để mà hứng đạn thì cũng không phải là một cách nghĩ hay đâu. Người chỉ huy cũng phải biết bảo vệ mình, vì bảo toàn năng lực chỉ huy chính là bảo toàn điều trọng yếu trong sức chiến đấu của đơn vị. Anh luôn phải chú ý nhắc nhở anh em cán bộ trẻ điều đó.

Chính trị viên Báo ngạc nhiên ngước nhìn tham mưu trưởng, anh không ngờ người nhắc nhở anh một điều hệ trọng đến thế trong công tác cán bộ, lại là một ông tham mưu chứ không phải một vị chính ủy nào đó. Đây cũng chính là điều anh trăn trở, đã mấy lần định phát biểu trong hội nghị Tổng kết công tác chính trị trong chiến đấu, nhưng lại chưa dám nói ra. Chẳng lẽ lại nói với các cán bộ chỉ huy phân đội rằng, các anh là chỉ huy mà chỉ biết hễ nổ súng là xông lên trước để bộ đội noi theo thì không phải là một cán bộ chỉ huy mẫu mực? Xưa nay, các chính trị viên mới chỉ biết động viên các Đảng viên và những người chỉ huy khi xung trận thì luôn phải là người đi đầu, phải lấy chính mình làm gương, chính anh cũng luôn luôn làm như vậy. Trận nào mà anh không có mặt ở nơi ác liệt nhất thì luôn cảm thấy áy náy không yên. Nhưng nếu những người chỉ huy đều bất cẩn xông lên hàng đầu, sẵn sàng hy sinh thân mình thì rất có thể, sẽ có lúc đơn vị như rắn không đầu, mất người chỉ huy thì cũng đồng nghĩa với việc giảm sút sức chiến đấu, dẫn đến không hoàn thành nhiệm vụ.
Chính trị viên Lương Xuân Báo thầm cảm ơn Tham mưu trưởng mới của trung đoàn. Anh bỗng có linh cảm rằng, con người này sẽ có lúc cùng các anh lập nên những chiến công hiển hách.


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 21 Tháng Ba, 2012, 10:59:46 am
Sau bốn đêm lặn lội trong khu tứ giác, đoàn cán bộ của trung đoàn đã hoàn thành việc trinh sát thực địa, nắm tình hình địch, tình hình đường xá, tìm vị trí tập kết các đơn vị và xây dựng các chốt chiến đấu. Khu quyết chiến được lựa chọn sẽ là đoạn đường số 1 từ phía Nam căn cứ Quán Ngang tới Ngã Tư Sòng, điểm gặp nhau giữa đường số 1 từ giới tuyến chạy vào và đường 71 từ Cửa Việt chạy lên thị xã Đông Hà. Cái ngã tư này sẽ trở thành một quyết chiến điểm vì nó vừa là điểm giao cắt giữa hai tuyến giao thông huyết mạch, vừa nằm ngay bên bờ sông, cách thị xã Đông Hà chỉ có 2 ki-lô-mét. Nếu xây dựng ở đây một điểm chốt thì cả khu vực Đông Hà, Cửa Việt và các căn cứ địch ở phía Bắc đều bị uy hiếp. Vì vậy, từ giờ phút địch phát hiện ra có chủ lực ta xuất hiện ở ngã tư này, thì nơi đây sẽ lập tức biến thành một chảo lửa.

Đêm cuối cùng, trung đoàn phó Nguyễn Mạnh Cường quyết định sẽ cùng với Tham mưu trưởng Quách Duy Tân và nhóm cán bộ của tiểu đoàn 7, đơn vị đảm nhiệm nhiệm vụ chốt giữ và đánh địch ở khu vực Ngã Tư Sòng cùng với trinh sát vào tận khu vực ngã tư để quan sát cho cụ thể. Hai vị chỉ huy đều lo ngại về cái bốt bảo an bố trí ở khu Vực phía Bắc cầu sắt. Nếu muốn tiếp cận khu vực này và có đủ thời gian xây dựng trận địa tương đối vững chắc trước khi địch tung quân đánh ra chốt thì phải nhổ cái bốt này trước đã. Vì vậy phải tìm cách vào tận nơi để xem mấy cái lô cốt này hình thù ra sao? Nhưng cuộc trinh sát đã không thành và suýt chỉ chút xíu nữa thì đoàn cán bộ trinh sát rơi vào ổ mai phục của địch, may mà trung đội trưởng trinh sát Nguyễn Danh Côn cùng với một tổ đu kích của phân khu do o Lài chỉ huy đi trước dò đường đã phát hiện ra ổ phục kích. Đang dò dẫm từng bước hướng về phía đầu làng Sòng, chợt Lài dừng lại, ngồi thấp xuống chong súng về phía trước. Côn vội bò tới bên Lài khẽ hỏi:
- Có chuyện gì thế?
Lài suỵt một tiếng rồi chỉ về phía trước:
- Tụi biệt kích của thằng trung uý Đoảng đó!
- Biệt kích à? Bọn Trâu Điên phải không?
- Tụi nó đó!
Côn cố căng mắt ra nhìn nhưng vẫn không phát hiện ra điều gì. Lài trườn tới ghé vào tai anh nói nhỏ:
- Eng Côn nỏ hửi thấy mùi chi lạ răng?
- Mùi chi?
- Mùi biệt kích... Đó là mùi thuốc lá trộn với mùi thuốc xịt muỗi của Mỹ, chỉ tụi biệt kích chuyên đi phục đêm mới có.

Thì ra thế. Cô du kích này quả là có một khứu giác tinh tường, riêng anh thì không thấy mùi gì khác lạ ngoài mùi cỏ cây và thoảng chút mùi tanh của bùn đất từ dưới sông phả lên. Anh ra lệnh cho mọi người nằm yên tại chỗ, rồi một mình thận trọng bò về phía trước. Bò được ba trăm mét, áp tai xuống đất mà nghe, anh đã nhận ra những tiếng động lạ, đó là tiếng xẻng khoét công sự trên cát rào rạo, tiếng lách cách của súng đạn... Khi một loạt pháo sáng từ chiếc tàu tuần sông bắn lên thì anh đã nhìn thấy ánh phản quang lấp lánh của những chiếc mũ sắt, những khẩu súng máy giấu trong bụi dương và những bụi dứa dại phía con đường sắt. “Đúng là tụi biệt kích rồi! Nếu không vì đang dẫn theo cả một đoàn cán bộ đi trinh sát thì chúng mày sẽ biết tay tao”. Anh nghĩ vậy rồi thận trọng bò lui trở lại.

Đoàn trinh sát của trung đoàn và tiểu đoàn 7 buộc phải quay lại, không thể vượt qua con đường sắt để sang phía Đông đường. Khi đã ra tới cự ly an toàn, Trung đoàn phó Cường và Tham mưa trưởng Tân hội ý nhanh và quyết định quay về, không mạo hiểm đi tiếp nữa. Họ hiểu rằng, nếu để lộ dấu vết có chủ lực ta mò vào khu vực này thì địch sẽ lập tức bịt chặt các ngả, khó mà đưa được bộ đội vào khu vực này để lập chốt.
Về tới nơi tạm trú bí mật do Ban chỉ huy phân khu bố trí, Trung đoàn phó Cường và Tham mưu trưởng Tân đều không chợp mắt được. Họ ngồi im lặng tựa lưng vào vách hầm trong ánh sáng le lói của chiếc đèn cầy làm bằng lọ thuốc chống muỗi cùng đăm chiêu suy nghĩ. Một hồi lâu bất chợt Tham mưa trưởng Tân lên tiếng hỏi:
- Này ông Cường... Lúc vào tới ven làng... ông có nghe tiếng gì không?
- Nghe thấy nhiều thứ, nhưng ông muốn nói đến tiếng gì?
- Tiếng trẻ con khóc, ông ạ... Thú thục, khi nghe tiếng trẻ khóc văng vẳng bên tai, tự nhiên tôi thấy gai người lạnh cả sống lưng. Có lẽ đã đến gần năm trời rồi chúng mình không còn được nghe tiếng trẻ con khóc nữa. Bỗng dưng, thấy nhớ nhà, nhớ miền Bắc quá đi mất!
Trung đoàn phó Cường bật cười khùng khục:
- Cái ông này lẩn thẩn rồi... đang căng thẳng bỏ mẹ ra, lại còn... làm thơ!
- Căng thẳng à? Anh đang nghĩ đến cái bết bảo an ở đầu cầu sắt à?
- Thì nó chứ còn gì? Đặt hai khẩu đại liên trên cái lô cốt ấy nó có thể quét dọc theo đường một, quét vào tận giữa làng Sòng đấy.
- Còn tụi biệt kích... ? Nghe thằng Côn nói, ở khu vực này có một đại đội biệt kích do thằng trung uý Đoảng chỉ huy ác ôn khét tiếng. Đêm đêm chúng thường bò ra mai phục dọc các con đường mòn vào khu vực này. Bộ đội ta hành quân vào tiếp cận, đụng tụi này là mệt lắm đấy. Có khi thương vong nặng trước khi vào được vị trí chiến đấu chứ không đùa đâu.
- Đúng thế. Vì thế cho nên... phải tính đến cả bọn này nữa.
Tham mưu trưởng bỗng chồm dậy, ghé vào tận mặt trung đoàn phó nói đanh gọn:
- Trước khi bộ đội hành quân vào tiếp cận, phải tìm cách đánh cho bọn này một trận thật đau để chúng co vòí lại đã!
- Nhưng nếu đánh thì sẽ bộc lộ lực lượng mất!
- Đánh... Nhưng không đánh theo kiểu chủ lực, mà chơi theo kiểu du kích ấy.
Trung đoàn phó Cường im lặng một lúc rồi gật đầu:
- Hay đấy! Nếu đại đội biệt kích này bị đánh đau không chừng... mấy thằng bảo an cũng bỏ chốt mà chạy cũng nên. Nhưng, làm thế nào mà vồ được cái đám biệt kích này. Có vẻ, chúng nó cũng ranh ma lắm đấy!
Đôi mắt tham mưu trưởng Tân chợt sáng quắc lên trong ánh đèn:
- Tôi cho là ta sẽ đánh được. Giao cho trung đội trinh sát cùng với du kích địa phương bám địch, tìm hiểu qui luật hoạt động của chúng. Vào đêm trước ngày N+1 sẽ làm thịt bọn này để quang đường cho bộ đội ta vào Ngã Tư Sòng.
Trung đoàn phó Nguyễn Mạnh Cường cũng phấn chấn hẳn lên:
- Được... Đêm nay tôi trở ra sẽ báo cáo xin chỉ thị của cụ Hải về phương án này. Anh ở lại đây cứ giao nhiệm vụ cho bọn thằng Côn bám địch. Nếu chỉ huy trung đoàn đồng ý thì ta cứ theo phương án vừa bàn mà tiến hành.

Nói rồi, anh cảm thấy nhẹ nhõm hẳn, liền thở một hơi thật sâu rồi ngả lưng xuống tấm Ponso trải trên nền hầm.
- Nằm xuống ngủ một lát đi anh Tân, trời sắp sáng rồi đấy!
Tham mưu trưởng Tân cũng vươn vai, vặn người cho xương cốt kêu răng rắc rồi bảo:
- Ông cứ ngủ đi... Tôi lên trên kia hít thở một chút cho khoan khoái. Dưới này ngột quá đi mất!
- Cẩn thận... pháo kích đấy...
Trung đoàn phó nói lầm bầm vài câu như vậy rồi lập tức ngáy pho pho. Tham mưu trưởng Tân lắc đầu cười quay lại tắt ngọn đèn dầu vắt rồi nhẹ nhàng leo lên mặt đất. Gió từ phía bờ sông ùa vào mát rượi khiến anh như tỉnh táo hẳn lên. Anh nghiêng tai, cố lọc trong tiếng gió reo ù ù trên những bụi cây để tìm lại tiếng trẻ khóc mà anh đã nghe được hồi đêm nhưng không còn nghe thấy gì nữa. “Vào giờ này thì ngay cả những đứa trẻ sống trên miệng núi lửa cũng đã ngủ say rồi”. Anh nghĩ vậy và chợt thấy lòng mình thanh thản lạ lùng.

Cách nơi Tham mưu trưởng Tân vừa đứng chừng vài chục mét thực ra vẫn còn có hai người khác cũng chưa ngủ được. Họ đang ngồi bên cửa hầm rì rầm trò chuyện với nhau. Đó là trung đội trưởng trinh sát Nguyễn Danh Côn và cô Lài, tổ trưởng tổ giao liên của phân khu Đông. Chiều tối qua, khi Côn đi cùng với một trinh sát viên của Tỉnh đội Quảng Trị đi bắt liên lạc với giao liên phân khu để nhờ họ đưa đường vào Ngã Tư Sòng, anh không hề ngờ rằng lại có thể được gặp Lài, cô du kích đi cùng chị Sáu “phóng lựu” lần trước dẫn đường cho các anh đi địa hình chuẩn bị cho trung đoàn lật cánh. Anh trinh sát viên của tỉnh đội chưa kịp giới thiệu, Lài đã reo lên:
- Eng Côn! Tưởng ai chớ, lại là bọn eng hén?
- Lại là chúng tôi đây. Chào o Lài, thật may mắn khi lại được các o dẫn đường. Chị Sáu “phóng lựu” vẫn là xếp của cô chớ?
Cô du kích đang hớn hở thế bỗng dưng xịu ngay mặt xuống, cúi đầu rớm rớm khóc. Giọng cô nghẹn lại - Chị Sáu hy sinh rồi, eng Côn à...
- Sao lại hy sinh? - Côn sững sờ hỏi dồn - Mà chị ấy hy sinh hồi nào?
- Sau khi các anh đi được vài bữa... Tụi em vô vùng ven Đông Hà làm tuyên truyền võ trang để củng cố lại cơ sở vùng ven của mình bị tụi nó phá banh từ sau Tết Mậu Thân. Khi trở ra thì... sơ ý rơi vô ổ phục kích của đại đội biệt kích do thằng trung uý Lê Đoảng chỉ huy.
Tụi nó phục sát bến sông, là nơi tụi em ít ngờ nhất. Chị Sáu bị thương không đi được nữa, chị ra lệnh cho tụi em phải rút lui ngay rồi một mình trụ lại chặn địch. Chị đã chiến đấu tới viên đạn cuối cùng rồi hy sinh. Tụi biệt kích mang xác chị qua sông rồi hôm sau mang phơi ngoài chợ Đông Hà đó anh!

Nghe xong câu chuyện đôi mắt Côn tối xầm lại. Anh phải nghiến chặt hàm răng để khỏi bật thành tiếng khóc. Trời ơi, lẽ nào... người phụ nữ dũng cảm, nhân hậu ấy đã ra đi? Vậy mà anh cứ đinh ninh rằng lần này trở về khu Đông, nếu có gặp lại chị Sáu anh sẽ cố vượt qua sự ngượng ngùng để hỏi lại chị ấy xem cái đêm hôm ấy... thực ra, có phải lỗi tại anh hay không? Anh vẫn còn hồ nghi về những điều đã xảy ra trong cái đêm oi bức ấy? Nhưng từ đó đến nay, mỗi khi nghĩ tới người đàn bà ấy, lòng anh lại day dứt khôn nguôi...
Vậy mà, chị đã vội ra đi. Giờ đây, anh sẽ chẳng bao giờ còn có dịp làm sáng tỏ câu chuyện ấy, chẳng có dịp làm sáng tỏ tình cảm của mình với chị ấy nữa? Nó là thứ tình cảm gì, anh cũng không biết. Nó tuyệt nhiên không giống với thứ tình cảm ngọt ngào mà anh vẫn dành cho Đào... Nhưng nó cũng không đơn giản chỉ là tình cảm chị em, tình cảm đồng chí đồng đội.
Vì đoàn trinh sát phải lên đường ngay để kịp quay trở ra trước khi trời sáng nên Côn cũng không có thời gian mà nói chuyện riêng với Lài. Mãi cho tới tận lúc này...
- Đừng buồn eng Côn à... Chị Sáu thấy eng buồn vậy chắc chị cũng không vui đâu!
- Chị ấy có thường nhắc tới tôi không?
- Nhắc hoài! Chị còn nói sau này, cô nào được làm vợ eng Côn thì thật là may mắn đó!
- Chỉ nói vậy thôi sao?
- Chị còn nói... Mà thôi, chuyện bậy bạ không à!
- Thì Lài cứ nói hết cho tôi nghe xem nào?
- Chị ấy nói... nếu sau này mà có con, chị muốn con chị đẹp trai như eng Côn đó!
Côn bỗng thấy tim mình như nhói lên một cái. Anh biết, khi nói với Lài điều ấy, chị đã nghĩ tới cái đêm họ ngủ chung với nhau dưới hầm.
- Khi đêm, có vẻ như eng Côn muốn choảng cho tụi biệt kích của thằng Đoảng một trận phải hông?
- Đúng đó! Nhưng sao Lài biết rằng đó là bọn biệt kích của thằng trung uý Lê Đoảng chỉ huy?
- Thì ở vùng ni, chỉ có tụi này mới dám mò ra vùng ven ăn đêm thôi. Bọn lính sư đoàn Bến Hải có cho kẹo cũng không dám mò ra. Bọn biệt kích Mỹ thì lại càng không.
- Tụi nó hung hăng vậy sao?
- Thế đó... Du kích tụi em cũng đụng nhau với bọn nó vài lần rồi. Nhưng tụi này ma lanh lắm. Khó mà quây được tụi nó!
- Ấy là vì tụi nó chưa đựng với lính chủ lực bọn anh đó thôi!
- Vậy héng? Khi mô mấy eng tính sổ tụi nó, nhớ kêu bọn em chung chỉ với heng?
- Được rồi... Bọn tôi sẽ không quên phần Lài đâu. Nhưng Lài là giao liên phân khu, chắc chi cấp trên đã cho đánh trận.
Côn chợt nghe tiếng cô du kích khẽ thở dài.
- Vầy mới rầu đó... Lỡ đi đường gặp tụi nó thì được đánh. Nhưng cấp trên luôn nhắc tụi em không được ham quá. Giao liên, chủ yếu làm nhiệm vụ dẫn đường thôi. Sắp ni bộ đội chủ lực vô nhiều, giao liên tụi em cũng thiếu người lắm!
Chợt nhớ Lài quê ngoài Vĩnh Linh, Côn vội hỏi:
- Vậy lâu nay Lài có ghé về thăm nhà được không?
- Đâu còn nhà nữa mà về, eng Côn? Ba em cũng là bộ đội tỉnh, hy sinh hồi Tết khi đánh vô đồn An Thái. Mệ với hai em nhỏ thì chết bởi bom B52. Nhà em giờ nằm dưới mấy tầng hố bom đó. Em chỉ còn một chị gái làm y tá ở huyện, sau khi ba em hy sinh, mấy chú cho chị ra Bắc học bác sĩ rồi. Mong sao chị ấy học thành tài để sau này về phục vụ bà con quê nhà.
- Vậy. . Lài có dự tính sau này hết giặc thì làm nghề chi không?
- Em muốn trở thành cô giáo. Nhưng chắc nỏ thành rồi eng Côn. Khi hết chiến tranh có lẽ em cũng thành bà già rồi, còn sức đâu mà đi học làm cô giáo.
- Đâu có lâu đến thế!
Cô du kích lại buông một tiếng thở dài:
- Đôi lúc, em cứ nghĩ rằng, không chừng mình phải đánh giặc suốt đời thôi. Eng Côn đừng phê bình tụi em bi quan héng... Nhưng thắng được tụi Mỹ, chắc cũng không dễ dàng đâu anh. Ngay Bác Hồ cũng nói, dù phải đánh mười năm hai mươi năm hoặc lâu hơn nữa đó thôi - Rồi cô bỗng bật ra tiếng cười khô - Đánh tới hai mươi năm thì tụi em chẳng thành những bà già du kích rồi còn chi hè? Ấy là chưa tính tới chuyện hy sinh dọc đường như chị Sáu. Nhưng, nếu đánh nhau với tụi nó được lâu đến thế thì có chết cũng xứng hén?
Côn đành im lặng trước sự bộc bạch chân thành của cô du kích. Anh biết, lúc này mà dùng “giọng chính uỷ” để động viên, lên lớp những người như Lài thì thật là vô duyên. Anh đành lái câu chuyện sang hướng khác:
- Tính đánh giặc lâu dài vậy thì phải lấy chồng đi thôi Lài à. Lấy chồng, rồi sinh con, nuôi nó lớn lên để có người mà đánh tiếp chớ!
Cô du kích bỗng bật cười khanh khách:
- Tụi em xấu òm vậy, có ma nó thèm lấy! Với lại, đang giặc giã như vầy, chồng con chi cho mệt!
Côn chợt nhớ ra:
- Mà này... O Lài qua chỗ cậu Lợi một chút đi. Nó thường nhắc tới o hoài đó!
Lài cười lỏn lẻn:
- Eng Lợi... đẹp trai hết hồn... lại là con trai Hà Nội, nỏ thèm để ý tới em mô!
- Khiêm tốn quá vậy... ? Này, o cứ tiến tới đi, tôi ủng hộ đó. Nếu cần bọn tôi sẽ cho nó qua ở rể với du kích Quảng Trị luôn!
- Nói vầy cho vui thôi, eng Côn... Đang giặc giã tùm lum vầy mà?
- Nhưng... cuộc sống vẫn phải tiếp tục chứ. Mình nghe nói, ngoài Vĩnh Linh bom đạn tùm lum vậy mà người ta vẫn cưới đấy. Phòng tân hôn đặt ngay dưới địa đạo. Có cả nhà hộ sinh dưới địa đạo nữa, phải không Lài!
- Có đó... Nói chi ngoài Vĩnh Linh, trong ni chị em du kích người ta vẫn cưới tề... Cô dâu chú rể cùng là du kích, làm lễ tuyên bố xong, mỗi người ôm một khẩu súng đi chống càn. Có khi hết chiến dịch mới được gặp lại nhau. Cũng có khi, họ chẳng bao giờ còn gặp lại nhau nữa. Nói đâu xa, trước khi gặp mấy eng, chị Sáu “phóng lựu” cũng vừa làm chủ hôn cho một đám cưới đó.

Côn chợt mỉm cười trong bóng đêm khi hình dung ra dáng người to lớn, kềnh càng và cái giọng nói ềnh oang của chị Sáu khi chị đứng làm chủ hôn cho đám cưới. Có lẽ đó là việc vui vẻ nhất mà chị đã làm được khi sau bao ngày ngang dọc khắp chiến trường. Không biết, vào lúc ấy chị có từng mơ đến một ngày nào đó chị sẽ gặp được người đàn ông của mình rồi cũng một lần được làm “cô dâu bé nhỏ” hay không? Chắc hẳn là có chứ, vì chắc chắn chị là người biết ước mơ, nếu không biết ước mơ thì làm sao có thể sống và chiến đấu được ở cái nơi ngút trời lửa khói này?
Cô du kích nhỏ ngồi bên Côn đột nhiên im lặng khi từ những xóm nhỏ ven sông bỗng rộ lên những tiếng gà báo sáng. Từ phía biển bầu trời đang dần chuyển sang màu tím đỏ. Một ngày mới trong cái chuỗi ngày chinh chiến dài dằng dặc đã bắt đầu.


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 21 Tháng Ba, 2012, 11:00:36 am
Đã quá nửa đêm. Bộ đội lặng lẽ hành quân trong màn sương trắng đục. Tiếng bước chân rậm rịch, những hơi thở gấp gáp. Trên trời, chiếc máy bay C130 vẫn kiên nhẫn bay đi bay lại, thi thoảng lại nhả ra một chùm pháo sáng, hoặc bắn vài loạt đạn vu vơ xuống mặt đất, đường đạn đỏ lừ như một tia máu vọt ra từ cái bụng đen xì của con quái vật. Tiếng đại bác lúc nhặt lúc khoan. Có khi đạn pháo nổ rất xa, nghe ì ầm như tiếng sấm nhưng rồi thoát một cái, tiếng gầm rít vang lên như muốn rạch nát bầu trời rồi hàng chục quả đạn nổ chát chúa ngay trước mặt hoặc sau lưng đoàn quân. Những mệnh lệnh ngắn gọn vang lên, những bước chân đột nhiên trở nên gấp gáp. Cái không khí vui vẻ sục sôi khi biết mình đang được hành quân xuống đồng bằng hồi chập tối đã lắng hẳn khi từ đầu hàng quân khẽ vang lên khẩu lệnh “Đã tới khu vực nguy hiểm, tuyệt đối im lặng. Dãn đội hình, mỗi người cách nhau ba mét”.

Tiểu đoàn trưởng Phạm Quang Vinh vừa gắng gượng bước đi vừa nghiến răng chịu đau. Hai cái mắt cá chân lại hành hạ anh. Đó là hai cái cục chai hình thành từ ngày hành quân vào Nam, bấy nay ở trên núi nó đã chịu yên không hành anh nữa, vậy mà sao bây giờ hành quân xuống đồng bằng thì bỗng dưng nó lại trở trứng, sưng tấy lên? Có lẽ, mấy tháng chiến đấu ở vùng rừng núi, đi lại tuy cũng nhiều nhưng chưa có bao giờ phải hành quân liên tục những chặng dài như mấy đêm vừa qua. Nói chung, lính tráng đều tưởng bở khi nghĩ rằng về đồng bằng sẽ thanh nhàn hơn khi không còn phải leo đèo lội suối nữa. Hành quân đường dài trên đường bằng hóa ra hai bàn chân lại phải làm việc với cường độ cao hơn gấp nhiều lần. Đã vậy, lại còn phải chịu đựng thêm cơn khát cháy cổ. Đang chiến đấu ở vùng rừng núi lắm sông, nhiều suối, bộ đội chưa bao giờ có khái niệm về sự thiếu nước, chưa ai có kinh nghiệm điều tiết việc dùng nước uống. Vì vậy, trong đêm đầu tiên, chỉ hai giờ hành quân là tất cả các bi đông trong tiểu đoàn đều khô rom rom! Ai cũng nghĩ rằng, khát thì cứ uống, lát nữa gặp sông gặp suối thì lại vục đầy bi đông, lo gì? Không ngờ, đi một tiếng, hai tiếng sau vẫn không thấy có sông suối, thậm chí một vũng nước cũng không? Mồ hôi thì vã ra ngày càng nhiều nên anh nào anh ấy bắt đầu cảm thấy khát cháy cổ. Cuối cùng, cũng gặp được một cái khe róc rách nước chảy. Mọi người hí hửng chuẩn bị bi đông.

Nhưng bỗng từ đầu hàng quân lại vang lên khẩu lệnh “Chạy! Điểm pháo kích thường xuyên... Nhanh chóng vượt qua, không ai được dừng lại!”. Thế là chạy! Cũng có anh ma lanh, còn kịp dờ dẫm trong đêm thả cái khăn mặt “dạ dày trâu” nhúng xuống khe nước một cái trước khi chạy qua, chẳng biết nước trong hay đục, sạch hay bẩn, nhưng vắt ra cũng được một chút nước cầm hơi! Nói thung, từ chỉ huy đến binh lính, sau một đêm hành quân như vậy đều lử ra vì kiệt sức. Nhưng, tới vị trí tạm dừng, mặc dù trời đã sắp sáng nhưng đặt ba lô xuống, mỗi người đều phải vắt nốt chút sức lực cuối cùng ra mà khoét cho được một cái công sự nho nhỏ, đủ để nhét mình xuống đó, phòng khi bị pháo binh địch tập kích bất ngờ vào đội hình. Khi mặt trời lên ánh nắng đầu hè chói gắt bắt đầu thiêu đốt mặt đất thì trong những lùm cây, những bờ bụi trong khu vực tạm dừng chân, bộ đội lăn ra ngủ mê mệt, chỉ còn những anh chàng phải đảm nhiệm phiên gác của mình là ngồi gà gật đuổi ruồi ở những vị trí cảnh giới. Hai hôm nay, để bảo đảo bí mật cho cuộc hành quân luồn sâu của tiểu đoàn, bộ đội được lệnh ăn toàn lương khô, không được phép đun nấu khói lửa nên các vị anh nuôi của các đại đội cũng được thư nhàn. Khi bộ đội nằm án binh bất động ở những nơi dấu quân, thì mấy ông anh nuôi chỉ có một nhiệm vụ là đi tìm nguồn nước để đổ đầy tất cả các bi đông và những thứ đồ trữ nước cho bộ đội. Nhưng ngay cả công việc đơn giản đó ở vùng vành đai trắng này cũng cực kì nguy hiểm. Ngày thứ nhất không có chuyện gì xảy ra, nhưng ngày thứ hai, hai cậu anh nuôi của đại đội 7 đi lấy nước đã bị trực thăng tuần tiễu của địch phát hiện, quây đuổi rồi bắn chết.

Sau đó pháo địch từ bốn hướng bắt đầu bắn trần mắt sàng suốt cả ngày trong khu vực khả nghi. Cũng may chúng không bắn trúng đội hình dấu quân của đơn vị nào nên không có thương vong gì thêm. Đêm đó, trước khi rời vị trí tiếp tục hành quân, tiểu đoàn trưởng Vinh đã ra lệnh “Đêm nay tiểu đoàn ta đã vào sâu trong khu tứ giác, bốn phía đều là địch. Vì vậy, các đại đội nhắc nhở bộ đội tuyệt đối chấp hành kỷ luật chiến trường. Không một ai được tự ý rời đội hình, kể cả ban đêm lẫn ban ngày”. Chính trị viên Lương Xuân Báo đề nghị cho anh em xử dụng cơm rang và thịt hộp, vì hai ngày ăn lương khô rồi, bộ đội có vẻ đã đuối sức nhưng tiểu đoàn trưởng Vinh vẫn lắc đầu” - Hãy sử dụng lương khô đã. Cơm rang và thịt hộp phải để dành khi bước vào chiến đấu”.

Ăn lương khô mà thiếu nước thì... đúng là một cực hình!
Riêng với tiểu đội trưởng tiểu đội trinh sát Trương Đình Lân thì lương khô đã trở thành một nỗi ám ảnh. Vì phải ăn lương khô dài ngày nên anh đã bị bệnh kiết lỵ từ hôm đi trinh sát với trung đoàn về, người rạc đi như một con cá mắm, hai hốc mắt trũng sâu, thâm quầng, ai nhìn cũng phát sợ. Cậu Cung, anh nuôi trưởng của đại đội 9, thấy vậy lắc đầu bảo “Cậu gục đến nơi rồi đấy, Lân ạ. Hay là báo cáo với tiểu đoàn cho nằm lại hậu cứ mà điều trị đi”. Lân cười, lắc đầu “Nằm bây giờ không được đâu, ông Cung ơi. Tiểu đoàn sắp hành quân vào tứ giác rồi, tôi là tiểu đội trưởng trinh sát nằm lại thì ai dẫn đường cho bộ đội?”. Không hiểu Cậu Cung xoay sở thế nào mà trước khi vào chiến dịch đã kịp kiếm được một lon đậu đỏ, đậu đen lẫn lộn mang về rang lên, dùng mũ sắt làm cối giã nhỏ ra rồi gói thành một gói mang lên tiểu đoàn đưa cho Lân dặn “Cậu bị kiết lỵ, không ăn lương khô với gạo rang liên miên thế được. Có thứ này, cậu cho vào bi đông, đổ nước sôi vào rồi uống hàng ngày. Vừa chữa bệnh, vừa cầm hơi mà sống được”. Cái món bột dinh dưỡng kiêm thuốc chữa bệnh ấy của cậu Cung quả là rất hữu ích, nhưng lại phải có nước sôi. Mà trong mấy ngày hành quân thì khói lửa đã bị cấm tuyệt đối. Trương Đình Lân đành phải “ăn khan”, khi đói quá thì lấy ra một ít bột đậu thả vào miệng rồi chiêu qua một ngụm nước lã.

Đêm hành quân cuối cùng đang trôi qua một cách suôn sẻ mặc dù cũng có gần chục lần pháo địch bắn vào phía trước hoặc phía sau đội hình hành quân của tiểu đoàn 7. Nếu không có gì đột biến xảy ra thì ba giờ sáng tiểu đoàn sẽ vào tới nơi tập kết. Từ đó, trinh sát trung đoàn sẽ đưa các đại đội vào chiếm lĩnh trận địa, xây dựng tuyến chốt liên hoàn trên đường số Một, từ phía Nam căn cứ Quán Ngang tới Ngã Tư Sòng. Chắc chắn, sáng ngày mai thì địch đã biết tới sự có mặt của một đơn vị chủ lực Việt Cộng ở điểm yết hầu này và những trận đánh quyết liệt sẽ xảy ra. Khói lửa sẽ ngút trời, nhưng lúc đó cũng không cần phải giữ bí mật tuyệt đối nữa.
Trong khi bộ đội đánh nhau với địch trên các điểm chốt, anh nuôi vẫn có thể nổi lửa, nấu cơm. “Có được một miếng cơm mà ăn đã, rồi muốn ra sao thì ra. Mình đuối sức lắm rồi!”. Tiểu đội trưởng Trương Đình Lân đang vừa dò dẫm bước đi vừa nghĩ vậy thì bỗng có lệnh truyền từ phía sau lên “Dừng tại chỗ!... Mời đồng chí tiểu đội trưởng trinh sát quay lại gặp tiểu đoàn trưởng ngay!”.

Lân cho đội tiền tiêu dừng lại, triển khai đội hình chiến đấu rồi quay trở lại. Tiểu đoàn trưởng Vinh ngồi đợi anh bên một gò đất có những bụi dứa dại mọc dày chi chít.
- Lân đấy hả? Cậu lại đây nhanh lên.
- Có chuyện gì thế ạ?
Lân vừa hỏi, vừa ngồi xuống bên tiểu đoàn trưởng. Tiểu đoàn trưởng lôi tập bản đồ nhét trong túi mìn Claymo ra, sột soạt trải xuống dưới gốc những cây dứa dại rồi lấy chiếc đèn pin đã che bớt ánh sáng bằng một mảnh vải dọi lên bản đồ.
- Cậu kiểm tra lại xem... Hình như chúng ta bị lạc đường rồi!
Lân nhìn vào bản đồ rồi đứng dậy, trèo lên gò đất cao nhìn ra bốn hướng lẩm bẩm - Phía này là Đông Hà thì đúng rồi... Phía Bắc là căn cứ Quán Ngang cũng đúng rồi... Phía Tây là đồn An Thái và căn cứ Miếu Bái Sơn... Thưa thủ trưởng, có vẻ như chúng ta vẫn đi đúng đường đấy chứ ạ?
- Tôi ngờ lắm - Tiểu đoàn trưởng Vinh cũng trèo lên gò đất đứng bên cạnh Lân - Cậu không thấy phía Tây Nam còn có một khu vực có đèn sáng đấy à? Nó gần hơn là Đông Hà. Chắc chắn là một căn cứ địch. Đó là thằng nào vậy?
Lân cố nhớ lại các điểm chuẩn, quả thực, anh chưa nhớ ra cái đồn phải gió này.
- Hình như là... ở bên kia sông... Hay là...
Vừa lúc đó từ cái điểm mù mờ ấy loé lên những ánh chớp rồi tiếng nổ đầu nòng của pháo 155 ly vang lên rành rọt.
- Thiên Trường Hạ - Tôi nhớ ra rồi!... Đó là một căn cứ pháo binh bên kia sông... địch mới thành lập.
- Hôm trước đi trinh sát... chúng ta chưa nhìn thấy nó. Còn một thằng nữa... chếch một chút về phía Tây kìa kìa... Có ánh đèn pha quét lên trời đấy, cậu thấy không?
Lân nhìn theo cánh tay chỉ của tiểu đoàn trưởng và cũng nhận ra ánh đèn pha quét qua quét lại thành từng luồng. Không phải là đèn pha ô tô. Phía đó, còn “thằng nào” nữa nhỉ?
Hay là... căn cứ biệt kích ở Cam Vũ? Tiểu đoàn trưởng chợt hỏi.
- Sao có thể... gần thế được nhỉ? - Lân băn khoăn tự hỏi - Nếu vậy chẳng lẽ, chúng ta gần ra tới bờ sông rồi sao?
Lân lo lắng nhìn về hướng Nam, anh cũng cảm thấy hình như các mục tiêu quan sát được phía Đông Hà có vẻ như gần hơn nhiều so với lần trước anh đi trinh sát.
Trong làn gió từ phía Nam thổi tới, anh cũng nhận thấy dường như có chút hơi nước từ dòng sông phả lên.
- Có lẽ lạc đường rồi thủ trưởng ạ. Tiểu đoàn ta đi chếch hơi nhiều về phía Nam.
Tiểu đoàn trưởng Vinh lo lắng:
- Thảo nào, bây giờ đã hơn ba giờ sáng rồi mà không bắt được liên lạc với trinh sát trung đoàn.
Chính trị viên Lương Xuân Báo lúc này cũng sốt ruột bước tới hỏi:
- Thế nào ông Vinh, lạc rồi hả?
- Lạc đường rồi... Cho bộ đội quay lại thôi. Có lẽ bị lạc từ cái lúc bị pháo kích lần cuối cùng ấy. Địa hình ở khu này giống nhau lắm, toàn là đồng hoang... Lân, cậu cho trinh sát đi trước tìm đường đi. Khi nào bắt được liên lạc với trinh sát trung đoàn thì dừng lại báo cáo.

Lân vội vã dẫn tổ trinh sát quay lại hậu quân để dò đường đưa bộ đội quay trở về đường cũ. Trước khi dẫn các trinh sát viên đi, anh còn nghe tiếng tiểu đoàn trưởng Vinh lầu bàu:
- Trinh sát mà lớ ngớ thế này thì chết!
Đúng là mình lớ ngớ thật. Làm sao mà lại có thể đi lạc kia chứ. Rừng núi âm u gì cho cam? Nhưng giữa đồng không mông quạnh như thế này mới khó nhận đường, các xếp ạ... Thì chính xếp cũng đã đi địa hình một lần rồi đó thôi? Lân vừa đi vừa tự biện minh như vậy. Tuy các cán bộ chỉ huy tiểu đoàn, đại đội đều có đi trinh sát một lần cả rồi, nhưng trách nhiệm dẫn đường cho bộ đội vẫn thuộc về những người lính trinh sát. Đưa bộ đội đi lạc đường, không tới được vị trí tập kết theo mệnh lệnh của cấp trên là trách nhiệm của các anh. Lân đã hiểu rõ điều đó và cầu mong cho mọi việc trót lọt nếu không... anh khó mà tránh được một cú kỷ luật.
Loay hoay mất hàng giờ đồng hồ, Lân mới lần ra được dấu vết con đường mà anh đã đánh dấu trong lần đi trinh sát vừa rồi. Không ngờ, anh lại đưa bộ đội đi lạc xa đến thế. Khi anh quay trở lại báo cáo, tiểu đoàn trưởng Phạm Quang Vinh dọi đèn soi đồng hồ rồi gắt um lên:
- Cứt đái thật. Hết mẹ nó đêm rồi? Đã bắt được liên lạc với trinh sát trung đoàn chưa?
- Chưa ạ... Có lẽ họ đón ta ở phía trước đây thôi!
- Thôi được... Cho bộ đội tăng tốc lên. Khi nào bắt được liên lạc, báo cáo với tôi ngay!
Lại thêm một giờ hành quân nữa, Lân mới bắt được liên lạc với trinh sát trung đoàn. Lúc đó hơn bốn giờ sáng, ánh bình minh đã le lói phía biển Đông. Sau khi nghe trinh sát trung đoàn báo cáo, tiểu đoàn trưởng Vinh quay lại hỏi Lân:
- Cậu đã xác định được trên bản đồ chỗ chúng ta đang dừng chân chưa?
- Dạ... chúng tôi đã xác định được rồi. Trước mặt là một ngôi làng bị càn trắng từ lâu. Từ đây tới vị trí tập kết được trung đoàn chỉ định còn cách chừng bảy tám cây số nữa, hầu hết là đồng hoang và bãi cát - Vậy là không kịp tới đó trước lúc trời sáng rồi. - Tiểu đoàn trưởng Vinh quay sang chính trị viên Báo hỏi - Theo anh thì nên thế nào?
Chính trị viên Báo ngước nhìn lên bầu trời.
- Nếu có sương mù thì...
- Vào mùa này ở vùng này không có sương mù đâu thủ trưởng ạ - Đồng chí trinh sát trung đoàn vội nói ngay - Chỉ ba mươi phút nữa là trời sáng bừng ngay lên, tầm nhìn rất xa. Nếu vượt đồng trống sẽ bị địch phát hiện ngay.
- Cho bộ đội tạm dừng tại đây thôi, anh Báo ạ. Ít ra, còn có thời gian giấu quân, tranh thủ cho anh em đào công sự tránh bom pháo. Nếu phơi mình ra giữa cánh đồng thì nguy hiểm lắm.
- Đành phải như vậy thôi, nhưng anh phải tìm cách báo cáo với trung đoàn ngay.
- Yên tâm đi... Trung đoàn phó đang còn ở trong này. Các đồng chí trinh sát trung đoàn sẽ trở về báo cáo tình hình. Nếu giữ bí mật được qua ngày hôm nay thì đêm mai chúng ta sẽ vào chiếm lĩnh trận địa.
- Vậy là quyết định. Các đại đội được lệnh khẩn trương cho anh em tìm vị trí thuận lợi đào công sự sẵn sàng chiến đấu. Tiểu đoàn trưởng cũng ra lệnh các đơn vị phải tuyệt đối giữ bí mật, không ai được phép tự động rời khỏi nơi trú nấp. Trong trường hợp bị pháo kích, thì nơi nào trúng đạn, nơi ấy chủ động giải quyết hậu quả, không được gây xao động khiến địch phát hiện ra đội hình của tiểu đoàn.
- Còn nước uống... - Chính trị viên Báo nhắc tiểu đoàn trưởng - Phải chủ động tìm nguồn nước uống cho anh em rồi tổ chức đi lấy nước cho có trật tự.
Tiểu đoàn trưởng quay sang gọi tiểu đội trưởng trinh sát:
- Cậu Lân... Lấy thêm hai trinh sát cùng cậu đi tìm nguồn nước rồi về báo cáo tôi.
Thế là tiểu đoàn 7 phải dừng lại giữa đường. Các đại đội vội toả đi tìm nơi giấu quân rồi hối hả đào công sự sẵn sàng chiến đấu mặc dù ai nấy đều mệt lử sau một đêm dài hành quân. Không ít người đã réo tên mấy thằng lính trinh sát tiểu đoàn lên mà chửi. Nhưng không mấy ai biết rằng đêm hôm đó họ đã gặp may.
Nếu cứ tiếp tục hành quân theo hướng cũ thì chỉ một tiếng đồng hồ sau đội hình của tiểu đoàn sẽ rơi vào trận địa phục kích của tiểu đoàn biệt kích Trâu Điên. Bị phục kích bất ngờ đã nguy, nhưng nguy hiểm hơn là tiểu đoàn sẽ lập tức rơi vào lưới hỏa lực pháo binh dày đặc của địch đã chuẩn bị sẵn. Đồng thời, ý đồ bí mật luồn sâu vào khu tứ giác của trung đoàn sẽ bị bại lộ. Lúc đó, không ai biết được điều gì sẽ xảy ra?


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 21 Tháng Ba, 2012, 11:01:31 am
Nhưng điều mà Trương Đình Lân không ngờ nhất cũng đã xảy ra vào rạng sáng hôm đó. Đại đội biệt kích đi mai phục trên con đường mà tiểu đoàn bảy chút nữa đã đi lạc vào trên đường trở về căn cứ sau một đêm thức trắng đã rơi vào ổ phục kích của Việt Cộng ở nơi mà chúng ít ngờ nhất - Ngay trên đường 71, chỉ cách hang ổ của chúng chừng vài cây số.

Trước đó hai ngày Trung đội trưởng Nguyễn anh Côn được trung đoàn phó trực tiếp giao cho nhiệm vụ nghiên cứu phương án và tổ chức phục kích đón lõng tiêu diệt đại đội biệt kích thuộc tiểu đoàn Trâu Điên do tên trung úy Lê Đoảng chỉ huy. Theo tin tức của du kích xã Cam Vũ thì liên tục mấy đêm nay, thằng trung úy ác ôn này đều đưa quân đi xục xạo, mai phục ở khu vực từ phía Tây đường quốc lộ số 1 và phía bắc đường 71 tới khu vực Ngã Tư Sòng. Ngày N sắp đến, nếu cứ để cái đám biệt kích này lộng hành, ngang nhiên đi lại, xục xạo thì rất có thể khi bộ đội ta vào chiếm lĩnh trận địa sẽ sớm bị chúng phát hiện. Khi công sự trận địa chưa kịp xây dựng, thế trận chưa triển khai xong mà bị lộ thì rất nguy hiểm. Vì vậy trung đoàn phó Nguyễn Mạnh Cường đã đồng ý với đề xuất của tham mưu trưởng Quách Duy Tân, cho phép đội trinh sát vũ trang của trung đoàn phối hợp với du kích địa phương tổ chức mai phục đánh bọn biệt kích một đòn thật đau để chúng không còn dám lảng vảng ra vùng hành lang vào ban đêm nữa.

Trung đội trưởng Côn nhận nhiệm vụ này một cách hào hứng vì có thể nói, đây là lần đầu tiên trung đội trinh sát của anh được chính thức giao một nhiệm vụ chiến đấu. Hơn nữa, đây cũng là dịp để anh và đồng đội trả thù cho chị Sáu, một người có nhiều ân nghĩa với anh và với lính trinh sát trung đoàn. Trên đường đưa Côn đi gặp chị Tư An, đội trưởng đội du kích xã Cam Vũ, Lài đã được Côn hé cho biết vụ này. Cô mừng húm, liền kéo áo Côn năn nỉ:
- Eng Côn nè, cho tụi em hùn vụ này với nghen!
- Đâu có được... mấy cô là giao liên phân khu... tôi đâu có dám tuỳ tiện sử dụng!
- Cứ coi như bọn em đang thời gian phối thuộc với mấy eng... được hôn?
- Cũng có lý... nhưng phải đợi xem chị Tư An nói sao đã?
- Chị Tư... thương tụi em hết biết mà. Chị cũng là bồ bịch lâu năm của chị Sáu. Hôm chị Sáu hy sinh chị Tư cũng khóc hoài, thề sẽ có ngày đánh cho bọn Trâu Điên te tua mới hả. Nghe tin này, hẳn chị Tư sẽ mừng lắm đó nghen!
Quả thật, chị Tư An mừng ứa nước mắt.
- Rồi... Coi như số phận của tụi thằng Đoảng đã được định đoạt. Mấy bữa nay tụi nó đi đứng ra sao bọn tui đều canh chừng hết.

Thời điểm của trận đánh đã được lựa chọn, đó là vào sáng sớm khi bọn này trên đường đi phục kích ban đêm trở về, đó là lúc chúng vừa mệt mỏi, vừa lơ là mất cảnh giác nhất. Địa điểm phục kích cũng được lựa chọn kỹ lưỡng, nơi ấy phải là nơi có địa hình thuận lợi để ém quân lại phải là nơi bọn địch ít đề phòng nhất. Sau một đêm trinh sát. Côn quyết định chọn chính nơi mà đoàn xe của căn cứ tới đón đám biệt kích sau mỗi đêm đi phục kích trở về, khi chúng vừa lên xe, đoàn xe vừa xuất phát, bọn biệt kích bắt đầu thư giãn, nghĩ tới một ngày nghỉ ngơi, nhậu nhẹt quậy phá trong những quán ba, nhà hàng trong thị xã Đông Hà thì sẽ là lúc bão lửa bất thần nổi lên khiến chúng không kịp trở tay. Nơi mà Côn và Tư An chọn để phục kích cũng là nơi có địa hình thuận lợi, với những dải rừng cây thấp chạy ven đường mé bờ sông. Có lẽ, đó chính là dải cây xanh duy nhất còn sót lại ở vùng này. Bọn địch không bao giờ ngờ được rằng Việt Cộng lại dám đưa quân vào tận sát bờ sông, ngay cửa ngõ của thị xã Đông Hà để phục kích. Đường rút lui cũng đã được tính toán sẵn, đánh xong bộ đội và du kích bám bờ sông, chạy ngược về phía đồn Cam Vũ, rồi rút vào những căn cứ bí mật ngay bên bờ sông, chứ không rút ra vùng vành đai để tránh sự truy kích của pháo binh địch.

Tám giờ tối. Có tin đại đội biệt kích của thằng Đoảng đã rời căn cứ đi phục kích ở mé Tây Bắc làng Sòng. Nửa đêm hôm đó hơn chục tay súng của đội trinh sát và một tiểu đội du kích do Nguyễn Danh Côn và Tư An chỉ huy bí mật luồn sâu vào vị trí chiếm lĩnh vị trí phục kích. Lài được Côn và chị Tư An nhất trí cho “ăn theo” với tư cách là người dẫn đường cho bộ đội chủ lực. Suốt buổi chiều hôm đó, cô ngồi một mình lau chùi khẩu phóng lựu của chị Sáu để lại “Chị Sáu à - Lài vừa vuốt ve khẩu súng vừa nói với người đã khuất - Giờ em cũng chơi phóng lựu thần tình lắm rồi nghen.

Mấy chị mấy anh trên phân khu cũng đã kêu em bằng Lài “phóng lựu” rồi đó. Như vậy là em kế nghiệp được chị rồi đó. Đêm nay, em sẽ cho bọn Trâu Điên biết thế nào là phóng lựu của học trò chị Sáu. Nhứt định, em sẽ quật được vài đứa, trả thù cho chị. Đêm nay, chị nhớ đi cùng, chỉ bảo cho em với nghen!”.
Năm giờ sáng, đại đội biệt kích của trung uý Lê Đoảng có chừng hơn bảy chục tên, thất tha thất thểu từ nơi phục kích hành quân ra đường 71 để lên xe về căn cứ. Trước đó, ba chiếc GMC và một chiếc Jeep lùn đã chờ sẵn ở bên đường. Sau một đêm thức trắng và bị muỗi đốt cho nhừ tử, đám lính biệt kích thằng nào cũng phờ phạc, mệt mỏi ra mặt. Tên trung uý đại đội trưởng cũng không khá hơn, hắn vừa vẫy tay ra hiệu cho chiếc Jeep lùn lăn bánh tới vừa hét tướng lên:
- Ê tụi bay... Nhanh lên rồi về ngủ một giấc cho đã. Chiều, qua sẽ phát tiền thưởng!
Nghe tiếng tiền, bọn lính tỉnh ngủ hẳn. Chúng vừa rầm rầm nhảy lên thùng xe la hét:
- Có tiền thưởng rồi tụi bay ơi!
- Trung úy của tụi mình ngon há? Mấy đêm nay đều về tay trắng mà ổng vẫn không cúp thưởng!
- Vậy ổng mới xứng là người hùng Bắc trấn chớ!
- Chiều nay kéo nhau ra bar Thanh Nga quậy cho đã.
- Mấy con nhỏ ở đó ngon há?
Một thằng nào đó ông ổng hát:
... Rớt tú tài anh đi trung sĩ... Em ở nhà làm đĩ nuôi con... Bao giờ anh được lên lon... Em có thôi làm đĩ anh cũng chẳng buồn ngó ngơ...
Trung uý Đoảng đứng chống nẹ trên xe Jeep chĩa súng ngắn lên trời nổ cái đòm rồi quát lớn:
- Về cứ thôi!
Đoàn xe bắt đầu lăn bánh. Chiếc nọ nối sát chiếc kia, không một chút đề phòng. Tại nơi phục kích, Côn quay sang ra lệnh cho Lợi, người xử dụng khẩu B40 nằm bên cạnh:
- Chuẩn bị, nhằm chiếc đi đầu... Khi nó vào tới khúc quanh, bắt đầu leo dốc là bắn luôn! Nhất định không được bắn trượt.

Lợi nhỏm dậy, lấy sẵn đường ngắm. Các chiến sĩ được lệnh sẵn sàng. Lài đưa khẩu phóng lựu lên vai, nheo mắt chỉnh đường ngắm. Khi chiếc GMC đầu tiên vừa nhô đầu ra khỏi khúc quanh, rù rù leo dốc thì Côn phảy tay ra lệnh:
- Bắn!
Ung... oàng!
Viên đạn lao vút đi, một quầng lửa màu da cam chụp lấy chiếc xe đi đầu chở đầy lính. Nó lập tức bị hất tung lên cháy rừng rực. Bọn lính trên chiếc xe này không tên nào kịp thoát thân. Chiếc xe thứ hai không thắng kịp cũng lao thẳng vào xe đi đầu. Những tên lính ngồi trên xe bị ném văng xuống vệ đường, có đứa cháy đùng đùng như một bó đuốc. Chiếc xe Jeep của trung uý Đoảng đi ngay sát phía sau chiếc xe thứ hai cũng bị sức ép hất tung ra vệ đường. Lập tức tiếng súng nổ ran lên. Bọn biệt kích la hét kêu khóc rùm trời, những đứa sống sót tranh nhau nhảy ra khỏi xe, chưa đứa nào kịp phản ứng bắn trả.
- Xung phong!
Côn bật dậy hét lớn. Từ vị trí phục kích các chiến sĩ bộ đội và du kích bật dậy xông ra, dùng tiểu liên và phóng lựu bắn tới tấp vào đám lính biệt kích đang nháo nhác tháo chạy. Có đứa nhanh chân đạp co cẳng chạy thẳng ra phía bờ sông rồi nhảy ùm xuống sông bơi chối chết sang bờ bên kia.
Lài theo sát Côn lao tới bên chiếc xe Jeep vừa bị văng ra lật nghiêng bên vệ đường. Tên lái xe và một tên vệ sĩ chết bị chiếc xe đè bẹp dúm. Tên trung uý ác ôn bị thương, máu me be bét nhưng đã kịp nhảy ra khỏi xe, hắn đang cố sức bò lết xuống bờ sông. Lài đã nhìn thấy thằng ác ôn liền hét:
- Nó tề…! Để nó đó cho em!
Nhưng khẩu tiểu liên trên tay Côn đã rung lên. Cả ba viên đạn đểu găm trúng đích. Thằng trung uý đang bò lên bỗng dướn cong người lên, kêu rống lên một tiếng rồi nằm xuôi xị. Lài biết mình chậm hơn, nhưng vẫn nhằm vào thằng trung uý rồi lấy cò “Chóc... đùng... !”. Cái xác của thằng ác ôn tung lên trong cát bụi mù mịt.
- Thôi, bỏ nó đó! Đánh bọn trên đường kìa. Không để cho chúng nó kịp co cụm!!
Các thiến sĩ trinh sát và đội viên du kích của chị Tư An đã áp sát mặt đường. Họ chia thành ba mũi cắt rời đội hình địch, đánh tỉa từng tốp, đẩy một bộ phận sang phía Bắc đường, một bộ phận dạt xuống phía bờ sông. Hai trong số ba chiếc xe GMC bốc cháy rồi phát nổ dữ dội. Trên mặt đường và hai bên vệ đường, la liệt xác địch. Nhiều tên bị thương đang gào khóc rầm rĩ. Đội trưởng Tư An vừa bắn theo bọn địch vừa chạy tới hét lên:
- Trực thăng nó đang lên đó, eng Côn!
Côn dừng lại, ngóng về phía Đông Hà và đã nghe tiếng động cơ trực thăng địch cùng cục vang lên trộn lẫn trong tiếng súng đạn. Một vài trận địa pháo địch cũng bắt đầu bắn dọc theo phía bắc đường 71.
- Không ham truy kích nữa! Rút lui thôi!
Anh khoát tay ra lệnh. Tư An gật đầu đồng ý rồi hét lên:
- Mấy eng lui trước đi... để mấy đứa tui chặn hậu!
- Không được... Mấy o lui trước đi!
Chị Tư An nhăn mặt gắt:
- Eng đừng giành nữa. Tụi tui rành đường hơn, rút sau nhưng sẽ lẹ chân hơn mấy eng đó!
Côn đành gật đầu rồi ra lệnh có các tổ trinh sát theo phương án lần lượt rút khỏi trận địa. Khi các tổ đã rút hết, Côn mới vẫy tay gọi Lài:
- O đi theo tôi! Lẹ lên!
Lài chóc thêm một trái phóng lựu nữa vào tốp địch đang chạy xuống sông rồi vọt theo trung đội trưởng Côn. Vừa chạy cô vừa cười khúc khích:
- Đánh đã quá hà, eng Côn! Thằng ác ôn đó banh xác rồi!
- Con thịt đó coi như cô hạ được, nghe không?
- Đâu có. Eng Côn đã đục mấy lỗ trên người nó rồi... Em chỉ băm nhỏ nó ra cho hả cơn điên thôi!
- Nhưng tôi sẽ báo công cho cô đó!
- Em hổng dám nhận đâu!

Nửa giờ sau, tất cả các chiến sĩ trinh sát và đội viên đội du kích của chị Tư An đã rút lui về vị trí an toàn. Trận đánh chỉ diễn ra chớp nhoáng chừng hơn chục phút đồng hồ nhưng đã tiêu diệt hơn năm chục tên biệt kích Trâu Điên, trong đó có tên trung uý đại đội trưởng ác ôn. Một đòn tấn công táo bạo và hết sức bất ngờ, lại diễn ra ngay trong vùng kiểm soát của địch nhưng chúng vẫn không kịp trở tay. Khi phi đội trực thăng chiến đấu lao tới hiện trường thì Việt Cộng đã biến đâu mất tăm. Trên chiến trường chỉ còn lại những chiếc xe đang cháy nghi ngút và xác bọn biệt kích nằm la liệt khắp nơi. Nhiều tên bị thương khá nặng nhưng vẫn cố nhao xuống sông để rồi chết chìm dưới đó, mấy ngày hôm sau xác còn trôi dạt xuống tận cảng Cửa Việt.
Điên cuồng vì bị một đòn đau, suốt ngày hôm đó các trận địa pháo của địch ở Đông Hà, Cửa Việt, Quán Ngang, Thiên Trường Hạ, Bái Sơn, An Thái đều quay nòng bắn vào khu tứ giác.


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 21 Tháng Ba, 2012, 11:02:46 am
Đó chính là cái ngày mà tiểu đoàn 7 của tiểu đoàn trưởng Phạm Quang Vinh như nằm trên chảo lửa. Pháo địch bắn vòng quanh khu trú quân của tiểu đoàn, có lúc đạn đã rơi vào trúng đội hình. Tiểu đoàn trưởng Phạm Quang Vinh và chính trị viên Lương Xuân Báo toát mồ hôi vì ngỡ rằng đội hình của tiểu đoàn mình đã bị lộ. Nhưng khi thấy chúng chỉ bắn chờn vờn vòng quanh, vừa chạm tới đội hình dấu quân của tiểu đoàn lại lảng ra xa, tiểu đoàn trưởng Vinh mới tin rằng có lẽ thằng địch chỉ bắn ngăn chặn vu vơ vậy thôi.
- Sáng sớm nay nghe súng nổ dữ đội một hồi ở phía trong ấy... Hay là đơn vị nào chạm địch?
Chính trị viên Báo lo lắng hỏi.
- Có lẽ vậy. . Nhưng chắc chắn không phải là lính sư đoàn ta. Vì theo tôi biết, chưa có đơn vị nào trong sư đoàn vào sâu hơn chúng ta đâu.
Tiểu đoàn trưởng Vinh trả lời vậy rồi thở dài:
- Kiểu này... đêm nay mình vào chiếm lĩnh cũng mệt lắm đây. Sao thằng mất dạy này lắm pháo thế nhỉ. Chưa bao giờ tôi được chứng kiến những trận pháo kích dai dẳng và dữ đội đến như vậy. Chúng nó định trút cho hết mấy kho đạn pháo chắc?
Chính trị viên Báo nhún vai cười khẩy:
- Thì... Thằng Mỹ thiếu cha gì tiền! Càng bắn nhiều, mấy cha tư bản chuyên sản xuất vũ khí bán cho chính phủ Mỹ lại càng giàu chứ sao!
Tiểu đoàn trưởng Vinh nhắm mắt lại cố quên đi những tràng đạn pháo nổ ì oàng lúc xa lúc gần, thi thoảng anh lại mở choàng mắt, ngơ ngác nhìn quanh rồi lẩm bẩm:
- Mẹ kiếp, đánh nhau với bọn nhà giàu đến là mệt!

Khi pháo địch bắt đầu bắn vòng quanh cánh đồng hoang trước mặt thì anh nuôi trưởng Ngô Xuân Cung cùng hai cậu anh nuôi Nỏ và An vẫn còn đang loay hoay bên cái giếng nước duy nhất còn có nước ở khu vực tiểu đoàn trú quân. Từ lúc dừng chân đến giờ, anh Cung cũng đã mò mẫm xung quanh nơi đại đội dấu quân để tìm nguồn nước nhưng tuyệt nhiên không thấy nơi nào có một vũng nước. Thực ra, nó chỉ còn là một bãi hoang ngập đầy cỏ dại, không còn sót lấy một mảng tường, một cái nền nhà còn nguyên vẹn. Nhưng cũng thật lạ lùng, ở giữa làng vẫn ngạo nghễ vươn lên ba cây cau, thân mình đầy vết đạn nhưng vẫn chưa chịu gục ngã. Đó là dấu hiệu rõ rệt nhất để nhận ra nơi đây từng là một khu dân cư sầm uất. Có lẽ ngôi làng đã bị ủi trắng, bị bỏ hoang cách đây vài năm. Từ đó tới nay, nó liên tục bị chà đi xát lại, liên tục hứng chịu không biết bao nhiêu trận bom, pháo. Anh nuôi trưởng Cung không thể hình dung nổi ngày trước dân cư trong cái làng này lấy nước ở đâu mà sinh sống khi trong làng không tìm thấy một cái giếng nào. Đầu làng, cuối làng cũng không hề có một tụ thuỷ, một con ngòi nào chảy qua. Tất cả đều khô rang, cứ y như đang trên sa mạc vậy.

Tới gần năm giờ sáng, tiểu đội trưởng trinh sát Trương Đình Lân mới xuống đại đội 9 gọi cho người đi lấy nước. Cuối cùng thì trinh sát tiểu đoàn cũng đã phát hiện được một cái giếng còn sót lại ở một nơi cách bìa làng khá xa. ở đó có một cái gò nhỏ, trên gò còn sót lại một mảng tường, dấu vết của một ngôi miếu nhỏ mà trên bản đồ có ghi biểu tượng nơi thờ cúng và một chữ viết tắt M. Ông. Có lẽ là Miếu ông thì phải. Phía cuối cái gò, duỗi ra phía cánh đồng hoang, có một cái giếng nhỏ chìm lấp trong những bụi dứa dại. Khi Lân phát hiện ra thì cái giếng còn khá nhiều nước và nước vẫn rất trong. Tiểu đoàn trưởng Vinh ra lệnh cho trinh sát tiểu đoàn bảo vệ cái giếng đó và lần lượt tổ chức cho các đơn vị cử người đến lấy nước về cho bộ đội. Nghiêm cấm mọi sự đi lại lộn xộn tự do tại khu vực có cái giếng nước này. Đại đội 9 của Hùng Phong đóng quân gần cái giếng hơn cả nhưng cũng không phát hiện ra vì cậu Cung và đám anh nuôi chỉ chăm chăm đi tìm giếng nước ở trong làng, chứ mấy ai lại nghĩ rằng giếng nước lại ở ngoài cánh đồng? Vì vậy khi Lân tới, báo rằng đã tìm thấy nước, anh Cung mừng lắm, vội cùng với hai cậu nuôi quân gánh theo đống bi đông thu gom của toàn đại đội lại rồi đi theo Lân.
- Thì ra nó ở mãi ngoài đồng, thảo nào!
- Tất cả những cái giếng nước trong làng đều bị địch dùng máy ủi lấp đi hết rồi. Chỉ còn sót lại cái này thôi đấy!
- Mẹ cha thằng Mỹ! Triệt cả đường sống của người ta.

Anh Cung vừa lầu bầu chửi vừa bước tới bên giếng nước.
- Nỏ, mang bi đông lại đây? Buộc túm lại năm sáu cái một rồi mở nắp ra. Khá sâu đấy, cũng may mà tớ sáng ý mang theo một sợi dây võng. Phải dùng sợi dây này buộc vào túm bi đông thì mới thòng được tới chỗ có nước. Hiểu chưa?
Tiểu đội trưởng Lân ngước nhìn lên trời rồi nhắc:
- Cậu phải nhanh nhanh tay lên một tí. Sắp sáng bạch rồi. Tiểu đoàn trưởng đã ra lệnh khi trời sáng là cấm không ai được nhấp nhô đi lại trong ngôi làng này đâu đấy.
Anh nuôi trưởng Cung vừa cúi gập người thả những chiếc bi đông buộc túm trên đầu một sợi dây võng xuống giếng vừa làu bầu:
- Thì đại đội tớ đã lấy được tí nước nào đâu? Sao các cậu không cho chúng tớ đi lấy sớm một chút?
- Vì đại đội của ông cậu ở gần nhất nên phải lấy nước sau cùng. Tiểu đoàn đã ra lệnh không được tập trung đông người quanh cái giếng này. Mục tiêu này có ghi trên bản đồ tác xạ của pháo binh địch đấy. Cậu không thấy xung quanh toàn hố đạn pháo à?
- Mặc mẹ chúng nó! Chẳng lẽ để bộ đội của tao chết khô à? Đứa nào đứa nấy đang khát cháy cả cổ kia kìa. Không có nước mang về chúng nó lại không réo ông bà ông vải tao lên mà chửi ấy à? Mà sao cái giếng này cạn thế hả mày. Khua mãi chẳng thấy nước vào bình?

Lân bỗng bật cười:
- Giếng ít nước lắm. Có lẽ gần cạn đến đáy rồi cũng nên. Trâu chậm uống nước đục là phải thôi!
- Mẹ mày - Anh nuôi trưởng Cung bỗng nổi cáu - Đồng hương đồng khói hẳn hoi mà mày đối xử với bọn tao thế đấy hả? Để tao về mách với Hùng Phong, với bọn thằng Hướng, để chúng nó cho mày một trận.
- Thôi thôi xin lỗi ông cậu. Nhưng tiểu đoàn ra lệnh thế tôi biết làm thế nào?
- Lệnh cái con khỉ? Chẳng lẽ mày không tinh khôn lên một tí mà nháy bọn tao ra lấy trước đi à? Nỏ, đầy rồi đây. Tháo ra rồi buộc năm cái khác vào. Được chừng chục bi đông thì thằng An đưa về trước, nhớ đưa cho ban chỉ huy đại đội ba bình đầy nhất ấy.
Chợt nhớ ra, anh vội giằng lấy một chiếc bi đông đầy óc ách.
- Đưa đây để tao làm một bụng đã rồi mới có sức mà kéo nước cho chúng nó.
Ba thầy trò nốc một hơi hết sạch bi đông nước, anh Cung có vẻ đỡ bực mình hơn, gật gù nhận xét:
- Có mùi bùn... hơi tanh tanh. Nhưng không sao, nước vẫn ngọt lắm. Thôi buộc tiếp vào đi để vục cho nhanh.
Năm cái bi đông đày nước được tháo ra, Nỏ túm năm cái bi đông khác lại rồi buộc vào đầu sợi dây - Được rồi đó... Hay là kiếm hòn đá buộc vào cho nặng để nó dầm xuống nhanh hơn.
- Chưa cần. Anh nuôi trưởng Cung lầu bầu - Nước vẫn còn, nhưng chưa chắc đã đóng đủ tất cả bấy nhiêu cái bi đông đâu. Thằng An mang nước về hãy để tập trung lại giao cho đại đội phó Tại để phân phối, rõ chưa?
- Rõ rồi. - An đáp rồi lầu bàu nói thêm - Nước mà cũng phải phân phối sao?
- Sẽ có lúc nước quí như máu đấy, thằng nhóc ạ!
Anh Cung nói vậy rồi quay lại tiếp tục cùng Nỏ múc nước bằng bi đông. Lân vẫn phải đứng đó canh chừng. Đợi các đơn vị múc nước xong để xoá hết các dấu vết. Tiểu đoàn trưởng Vinh đã nhắc đi nhắc lại rằng, nhất định không được để lại bất kỳ dấu vết nào khiến máy bay trinh sát của địch nghi ngờ trong khu vực này đang có chủ lực ta. Nếu phát hiện được điều gì khả nghi thì chúng sẽ không tiếc bom đạn đâu.
Đó cũng chính là thời khắc diễn ra trận đánh trên đường 71 do Côn chỉ huy. Từ bốn hướng pháo địch đang lồng lộn lên, bắn vung mạng vào khu tứ giác. Có lẽ chúng cho rằng sau khi hoàn thành trận phục kích trên đường 71, quân ta sẽ tìm cách lộn trở ra những căn cứ ở phía Bắc nên tất cả các trận địa pháo từ ba bề bốn bên đều ra sức bắn chặn. Chúng bắn dọc theo những con đường mòn, bắn vào những ngôi làng đã bị dồn ủi trắng phớ từ lâu, bắn tràn cả ra những cánh đồng đầy cỏ dại, không một bóng người qua lại. Chúng cũng đã bắt đầu bắn xung quanh ngôi làng bỏ hoang mà tiểu đoàn đang trú quân. Một vài loạt đạn đã rơi vào giữa làng. Tiểu đoàn trưởng Vinh cho liên lạc chạy tới các đại đội truyền lệnh “Pháo bắn vào đơn vị nào, đơn vị ấy phải nằm im mà chịu trận, nếu có thương vong thì tự động giải quyết hậu quả ngay tại chỗ. Không được để anh em chạy lung tung”.

Ngoài giếng nước Lân vừa dỏng tai nghe pháo vừa sốt ruột giục anh Cung nhanh tay hơn. Cậu An cũng vừa chạy được một chuyến nước nữa về cho đại đội đã lộn trở ra, trên người lủng củng những chiếc bi đông ướt rượt.
- Đại đội cho anh em uống sạch ngay mẻ đầu để mang bi đông ra. Đại đội trưởng yêu cầu đóng cho hết, đề phòng hôm nay nắng to.
- Uống gì mà uống khiếp thế? - Anh nuôi trưởng Cung làu bầu - Chuyến này về bảo ông Tại hãy dấu biệt đi rồi phân phối sau. Giếng cạn lắm rồi, chưa chắc đã đóng đủ bấy nhiêu bi đông đâu.
Loay hoay một hồi lâu tổ nuôi quân của Cung cũng đã múc được chừng hơn bốn chục bi đông nước. Vẫn còn hơn hai chục cái nữa chưa có nước mà xem chừng trời thì sắp sang, nước cũng đã cạn lắm rồi. Đã vậy, lại thêm cái thằng Lân cứ nhấp nha nhấp nhổm, giục như giục tà ấy nữa!
Bỗng lại nghe tiếng xé gió u ú trên đầu rồi những ánh chớp loá lên. Một loạt đạn pháo nổ ngay phía cánh đồng hoang trước mặt. Đất đá và miểng đạn bay vèo vèo trong không gian. Những loạt tiếp theo đạn pháo rơi nhích dần vào bìa làng rồi chúng bắt đầu bắn dọc theo con đường mòn ra giếng nước. Lân lại rốt rít giục - Về thôi anh Cung, chúng nó bắn tới khu vực này rồi đấy! Trời cũng sáng rồi, máy bay trực thăng nó mà lên thì nguy to!
- Mặc chúng nó. Nỏ, buộc vào, sống chết cũng phải lấy đủ nước cho bộ đội. Lần này thì buộc thêm hòn đá vào được rồi. Có vẻ như nước cạn đến tận đáy rồi đấy Nỏ nghe lời, buộc thêm một hòn đá vào túm bi đông. Anh Cung vội thả ngay xuống giếng rồi khoắng liên hồi. Tiếng những chiếc bi đông va vào nhau loong coong trong lòng giếng. Cuối cùng thì cũng nghe thấy tiếng nước chảy vào bi đông òng ọc. Một lát, nghe chừng đã đầm đầm tay, anh Cung vội kéo cái dây dù lên.
Tiếng nước chảy long tong xuống lòng giếng. Vậy là dẫu sao thì vẫn còn nước, đục một tí cũng được, miễn sao tạm đủ nước cho bộ đội trụ được qua ngày hôm nay đã. Vừa nghĩ vậy, anh Cung vừa kéo mạnh sợi dây cho chùm bi đông nước vọt hẳn lên khỏi miệng giếng. Bỗng nghe vang lên một tiếng “Cộc” khô khan.
Anh Cung quay lại bảo Nỏ:
- Hình như có cái bi đông nào rơi ra ấy. Mày buộc bạy ra làm sao thế?
Nỏ vội cúi xuống bên bờ giếng sờ soạng tìm. Bỗng cậu ta kêu thất thanh “Ôi giời ơi!” Rồi ngã ạch một cái, bổ chửng ngay phía sau lưng anh Cung.
- Cái thằng hậu đậu này. Làm sao thế?
Nỏ líu lưỡi, nói không ra lời, cũng chưa ngồi dậy được, hai chân hươ lên đạp lia lịa trên mặt đất. Trong tay cậu ta vẫn ôm khư khư một vật gì đó, tròn tròn, đen đen, nhưng không phải là cái bi đông.
- Mày... ôm cái gì đó? Anh Cung vừa hỏi vừa cúi xuống nhìn.
- Ôi giời ơi!- Nỏ như bừng tỉnh vội ném cái vật đang ôm trên tay xuống đất đánh cộc một cái - Cái... cái... đầu người!

Anh Cung và Lân cùng xô lại, nhìn kỹ cái vật vừa bị Nỏ ném ra. Đúng là... một cái đầu lâu với hai hốc mắt thô lố trông rất khủng khiếp! Đúng lúc đó cậu An cũng xô lại. Nó đã nhận ra cái vật khủng khiếp ấy liền kêu rú lên rồi ngã bệt ngay xuống, chân tay bủn rủn. Rồi nó bỗng co gập người lại, úp mặt xuống đất và bắt đầu nôn thốc nôn tháo. Nỏ cũng đã kịp nhớ ra là vừa uống một bụng đầy những nước từ cái giếng ngâm xác người ấy. Và cũng bắt đầu nôn ồng ộc. Nôn ra cả mật xanh mặt vàng!
Lân và cậu Cung đứng chết trân. Hết nhìn hai thằng đang nôn oẹ, lại nhìn cái đầu lâu lăn lóc trên mặt đất. Lại liếc nhìn về cái túm bi đông buộc theo hòn đá vừa kéo từ dưới giếng lên và không khỏi giật mình. ở giữa đám quai đeo bi đông lằng nhằng còn mắc lắc lẻo một gióng xương ống chân trắng phớ. Có lẽ không phải chỉ có một cái xác người được ngâm lâu ngày dưới cái giếng này? Anh nuôi trưởng Cung bỗng rùng mình, thấy ớn lạnh từ ngón chân trở lên. Nhưng được cái, anh chưa có cảm giác buồn nôn và không gục xuống vì sự phát hiện kinh hoàng này.
L
ặng lẽ và nhẹ nhàng, anh bước tới nhặt cái đầu lâu rồi gỡ cái xương cẳng chân ra khỏi đám bi đông. Rồi, không nói một lời, anh bước tới, thả hai thứ ấy xuống giếng. Từ dưới lòng giếng vang lên một tiếng “bóc” khô khan, chứng tỏ dưới ấy chẳng còn nước nữa mà hình như lổn nhổn đầy xương người. Một làn âm khí từ lòng giếng sâu đang lừ đừ đùn lên, mờ mờ ảo ảo - Làm thế nào, hả cậu Cung?
Sau một hồi im lặng, Lân nặng nề hỏi.
- Làm thế nào được? ở dưới đó... có xương người, vậy thôi...
- Có phải báo cáo tiểu đoàn không nhỉ?
- Báo cáo... thì tiểu đoàn làm được gì? Nước... thì có lẽ cả tiểu đoàn đều uống rồi. Có biết cũng chẳng nôn ra hết được!
- Vậy. . thì không nói gì nhé...
Cậu Cung bỗng đứng dậy khoát tay:
- Về thôi, trời sáng rồi đó... ! Hai thằng kia, nôn hết rồi thì đứng đậy... Mà truyền đời cho chúng bay, cấm không được đứa nào hé miệng về chuyện này, nghe chưa?
Hai cậu anh nuôi gật đầu rồi mệt mỏi đứng dậy, lơ láo nhìn về phía cái giếng. Nỏ ngập ngừng chỉ hơn chục cái bi đông đã chứa đầy nước:
- Anh Cung... mang về... hay đổ đi ạ?
Anh Cung bực mình gắt:
- Hỏi hay nhỉ? Mang về, đổ đi là thế nào? Chúng bay không uống thì tao uống. Nắng thế này đến chiều, lại không nốc cả cặn?
Rồi anh bước tới bên giếng nước, cúi xuống, nói oang oang:
- Ông bà nào ở dưới ấy có khôn thiêng thì phù hộ độ trì cho anh em chúng tôi khỏe chân mạnh tay để đánh bỏ mẹ những thằng đã ném các ông các bà xuống dưới ấy nhé!
Nói xong bấy nhiêu lời, anh quay lại khoát tay ra lệnh cho hai cậu chiến sỹ:
- Đủ rồi... Về thôi! Cậu Lân ở lại dọn dẹp dùm nhé!
Lân nhìn theo cái dáng đi khật khưỡng của anh nuôi trưởng Cung rồi mỉm cười một mình:
- Cái ông này... trông thế mà vững gớm. Thôi được, không nói thì không nói. Cũng chẳng chết ai đâu mà lo!


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 21 Tháng Ba, 2012, 11:03:33 am
Anh Cung và hai chiến sĩ nuôi quân vừa về tới nơi đóng quân của đại đội thì đã nghe tiếng đại đội trưởng Hùng Phong đang to tiếng với ai đó.
- Tôi nhắc lại một lần nữa... Anh đi phối thuộc với đại đội tôi thì phải nghe lệnh tôi. Lập tức trở về vị trí ngay. Nếu các anh còn vô kỷ luật, tôi trả về cho tiểu đoàn đấy!
Tiếng người thứ hai vang lên, giọng trì chiết:
- Nếu các anh đã coi chúng tôi là một bộ phận của đại đội thì tại sao lại phân biệt đối xử. Các trung đội khác có nước rồi mà sao anh em mười-hai-li-nhếch chúng tôi vẫn chưa có?
- Được rồi... Anh lấy tạm mấy bình của chỉ huy mang về cho anh em uống. Khi nào nước về, tôi sẽ bảo anh nuôi mang xuống tận nơi cho anh.
“Thôi chết rồi, còn quân của thằng Hinh chưa có nước!”. Anh Cung nghĩ vậy và bỗng lấy làm mừng vì mình đã tỉnh táo không cho bọn thằng Nỏ đổ hơn chục bình nước này đi.
- Nước về đây rồi! Đây rồi! Ông Hinh cho quân sang lấy nước đi này.

Anh vừa vỗ vào vai hai cậu anh nuôi, ra hiệu hãy ngậm miệng lại vừa lên tiếng gỡ bí cho đại đội trưởng. Rồi, đích thân anh tiến lại đưa một bi đông đầy nước cho Hinh.
- Cậu đấy hả? - Anh Cung cười xởi lởi - Gì mà nóng tính thế, anh em chỉ chậm chân một chút thôi mà. Nước đây, làm một ngụm cho hạ hỏa đã!
Hinh đón chiếc bi đông đầy óc ách nước anh Cung đưa cho, hạ giọng:
- Chẳng qua là... lính bên tôi nó khát quá. Ông cũng biết rồi đấy, khênh vác 12 ly 7 hành quân suốt đêm, tốn sức lắm!
- Tớ biết chứ! Ngày trước tớ với cậu chẳng từng bao lần trày vai vì mười-hai-li nhếch là gì?
Hinh đưa bình tông lên miệng, nốc một hơi rồi khà một tiếng khen “Chà, nước ngọt quá!”. Nỏ đứng phía sau khúc khích cười. Anh Cung quay lại quát:
- Về chỗ đi! Còn đứng đó mà nhăn nhở gì nữa hả?
Đợi cho Hinh uống thỏa thuê rồi anh Cung liền giao cho anh ta tất cả mười hai bi đông nước còn lại, xởi lởi nói:
- Uu tiên các ông đấy. Đem về sang bi đông rồi mang lại trả cho tôi. Lúc nãy tôi chưa kịp sang bên ông thu bi đông nên phải dùng bi đông của trung đội thằng Hướng lấy nước về cho các ông đấy!
Hinh vừa khoác đống bi đông lên vai vừa nói:
- Cảm ơn anh Cung nhé... Chẳng gì cũng là đồng hương, đồng xí nghiệp... phải chiếu cố đến nhau một tí chứ!
Hinh đi rồi, đại đội trưởng Hùng Phong mới bước tới.
- Cám ơn cậu, nếu cậu không về kịp thì tôi cũng khó ăn khó nói với anh em bên ấy. Thú thật, tôi cũng quên khuấy đi, không nhắc cậu là chúng ta còn có thêm hai khẩu đội 12 ly 7 phối thuộc nữa. Dù sao, họ cũng là khách của đại đội!
- Không sao đâu... Thằng Hinh tôi còn lạ gì, tính nó phổi bò thôi mà.

Anh Cung nói vậy vì không ai biết kỹ về Phạm văn Hinh hơn anh. Hinh là người Tản Lĩnh, Ba Vì, cùng là công nhân ở Xí nghiệp cơ khí với anh. Hắn là thợ điện, anh ở phân xưởng sản xuất nông cụ, bình thường cũng ít quan hệ với nhau. Nhưng từ khi Xí nghiệp thành lập đại đội dân quân, được thị ủy xây dựng thành đại đội phòng không 12 ly 7 gồm năm khẩu đội, thì anh và Hinh mỗi người phụ trách một khẩu đội. Hinh trẻ tuổi hơn, có văn hoá cao hơn nên học bắn súng và chỉ huy chiến đấu cũng nhanh hơn, giỏi hơn tất cả các khẩu đội trưởng. Vì thế, hắn trở thành nhân vật rất nổi tiếng trong xí nghiệp và trong đại đội tự vệ. Chẳng bao lâu đã được cấp trên đề bạt chức đại đội phó chuyên lo về huấn luyện. Khi xí nghiệp sơ tán thì các khẩu đội cũng sơ tán theo các phân xưởng về các làng xóm trong vùng. Hinh thường phải luân phiên đi tới các khẩu đội để huấn luyện xạ kích. Trong một đợt huấn luyện cho khẩu đội của Cung, đại đội phó Hinh đã khiến cho một cô tự vệ trẻ trong khẩu đội anh tên là Thơm, con gái của ông phó Giám đốc Xí nghiệp, chết mê chết mệt. Hậu quả là hai tháng sau, cô bé tìm tới nhà Cung vừa khóc vừa báo cáo với anh rằng cô đã trót có mang với đại đội phó Hinh, nhờ anh đứng ra thu xếp giùm!Anh điên tiết lên, đi tìm Hinh, kéo hắn ra bờ đê cho hắn một cái bạt tai rồi xạc cho một trận nên thân. Cũng may là tuy Hinh đã hai mươi lăm tuổi nhưng vẫn chưa có vợ, nên việc thu xếp cũng chóng vánh. Ngay trong tháng ấy anh ta làm đám cưới với Thơm. Sáu tháng sau, khi cả Hinh và anh Cung đã vào bộ đội, đang huấn luyện ở Hoà Bình thì Hinh nhận được tin ở nhà vợ hắn ta đã sinh được một thằng con trai. Mừng quá, anh ta vào bản kiếm được một cút rượu, rồi tới đại đội 9 kéo anh Cung ra đồi uống rượu ăn mừng! “Em đã viết thư về bảo nhà em phải đặt tên nó là thằng Pháo. Ông anh thấy có lý không? Em với Thơm bén duyên nhau cũng là nhờ những khẩu pháo 12 ly 7. Vào bộ đội, em vẫn gắn bó với gắn bó với 12 ly 7. Chẳng phải là sự sắp đặt của số phận là gì? Vì vậy, thằng con em sẽ tên là Phạm Hữu Pháo!”. Lúc đó, anh Cung đã bật cười, vỗ vai Hinh bảo “Con trai tên là Pháo thì cũng hay. Nhưng 12 ly 7 đâu phải là một loại pháo? Chỉ có cánh dân quân tự vệ chúng mình mới gọi nó là pháo cho oai thôi. Chứ, với bội đội chủ lực, nó chỉ là một loại súng máy thôi!”. Hinh vẫn không chịu, cãi lại “Không là pháo sao lại gọi là khẩu đội, chứ không gọi là tiểu đội như bộ binh. A... mà nhân tiện thông báo cho anh một tin mừng, thằng em này vừa có quyết định đề bạt làm khẩu đội trưởng đấy”. Anh vui vẻ gật đầu “Cậu xứng đáng lắm. Chả gì cậu cũng từng là đại đội phó tự vệ. Bắn đạn thật và diễn tập chiến thuật lần nào cũng đạt loại giỏi cơ mà! Thế là song hỷ rồi nhé. Phải báo tin về cho mẹ con cu Pháo mừng. Anh em trong đại đội tự vệ của bọn mình cũng sẽ tự hào lắm đấy”. Anh nói những điều ấy với đôi chút ghen tỵ, vì anh cũng từng đề nghị được cho mình về làm xạ thủ 12 ly 7 của tiểu đoàn nhưng đã không được chấp nhận. Cấp trên giải thích, vì anh nhiều tuổi rồi, sức khoẻ không được như cánh thanh niên, khênh vác hành quân xa không bảo đảm, vì vậy anh đành phải chấp nhận ở lại C9 làm anh nuôi cho tới tận hôm nay. Còn Hinh thì vẫn gắn bó với khẩu 12 ly 7, đánh nhiều trận ra trò, được thưởng hai Huân chương và đã được đề bạt lên trung đội phó. Lần này, Phạm Văn Hinh lại được đích thân chỉ huy hai khẩu đội đi phối thuộc với C9 của anh. Hôm trước, khi dẫn hai khẩu đội về đội hình đại đội để chuẩn bị vào khu tứ giác, sau khi gặp Ban chỉ huy đại đội, Hinh đã lao ngay xuống bếp ôm chầm lấy anh, rồi hoa chân múa tay:
- Lần này, được ăn cơm của ông mối, chắc thằng em này sẽ đánh đấm ra trò đây! Sau trận này, nhất định phải viết thư khoe với mẹ con cu Pháo mới được!

Trận phục kích trên đường 71 diệt gần hết một đại đội biệt kích Trâu Điên đã làm chấn động cả vùng Đồng Hà - Cửa Việt. Cái chết của tên trung uý Lê Đoảng, ác ôn khét tiếng trong vùng khiến bà con ta như mở cờ trong bụng và khiến bọn bảo an, dân vệ, mật thám trong khu vực Đông Hà co rúm cả lại. Đêm hôm trước tiểu đoàn 8 cũng đã vào tới phía Nam căn cứ Quán Ngang, xây dựng trận địa chốt ở Phú Hậu, An Bình, chín giờ sáng ngày hôm nay địch đã phát hiện được sự xuất hiện của quân ta tại đây và đã vội vã cho một đại đội chủ lực ngụy của trung đoàn 2, sư đoàn Bến Hải ra thăm dò nhưng đã bị đánh tơi bời ngay trên đường quốc lộ số 1. Khu tứ giác bắt đầu nóng lên từng giờ. Ngay chiều hôm đó, trung đội bảo an vẫn chốt ở đầu cầu sắt phía Nam làng Sòng hốt hoảng bỏ chốt tháo chạy về Đông Hà. Trung đoàn 2, Sư đoàn Bến Hải đóng ở phía khu vực từ phía Nam cầu Sòng tới ngã ba Đông Hà ra lệnh cấm trại, từ lính đến sĩ quan suốt ngày nằm im re trong căn cứ không còn dám đi lại ngông nghênh như mấy ngày trước nữa. Bộ tư lệnh Thủy quân lục chiến Mỹ ở Bắc Quảng Trị đã nhận được lệnh báo động chiến đấu. Tin từ cơ sở của ta trong thị xã Đông Hà báo ra cho biết, trong thị xã hiện đã đông nghẹt lính Mỹ.

Chiều hôm đó, sau khi nghe trinh sát và cơ sở du kích địa phương báo cáo tình hình, trung đoàn phó Nguyễn Mạnh Cường phấn khởi nói với tham mưu trưởng Quách Duy Tân:
- Tốt rồi... ! Địch chốt trên cầu đã bỏ chạy. Thú thực tôi rất ngại mấy khẩu đại liên của chúng đặt trên cái lô cốt ấy. Chúng có thể kiểm soát toàn bộ khu vực Ngã Tư Sòng, gây khó khăn cho tiểu đoàn 7 khi vào xây dựng trận địa. Bọn lính ngụy ở Sư đoàn Bến Hai chắc rằng hôm nay cũng chưa đám đưa quân sang bên này sông đâu. Đêm nay tiểu đoàn 7 có thể ung dung mà vào xây dựng trận địa chốt Ngã Tư Sòng rồi. Như vậy là tuyến chốt liên hoàn sẽ hình thành. Trên tuyến đường sông, trung đoàn bạn cũng đang triển khai xong chốt chặn ở Đại Độ, Đình Tổ, xóm Soi. Có lẽ chỉ trong ngày hôm nay hoặc ngày mai họ cũng sẽ bắt đầu nổ súng đánh những đoàn tàu chở hàng trên sông Hiếu. Đêm qua, đặc công của ta cũng đã tập kích vào cảng Cửa Việt rồi. Khu yết hầu Đông Hà - Cửa Việt đã bị bóp ngẹt. Bộ tư lệnh quân đội Mỹ ở Đường 9 - Bắc Quảng trị nhất định phải tung những đơn vị lớn vào cuộc.
Tham mưa trưởng Tân gật đầu hỏi thêm:
- Vậy... Đêm nay anh có thể trở về Sở chỉ huy tiền phương được rồi chứ?
- Được. . Trung đoàn phó gật đầu - Tôi yên tâm với tình hình ở đây rồi. Đêm nay tôi sẽ trở ra ngoài đó. Còn anh, ngày mai sau khi kiểm tra tiểu đoàn 7 và tiểu đoàn 8 triển khai tuyến chốt, anh cũng nên về Sở chỉ huy thôi!
- Vâng... tôi sẽ về... - Tham mưu trưởng gật đầu - Nhưng tôi phải nắm chắc tình hình triển khai thế trận đã. Vả lại tôi cũng muốn ở lại thêm một hai ngày để nghe ngóng xem thằng địch sẽ phản ứng ra sao sau khi thấy chủ lực ta xuất hiện ngay trong khu yết hầu của chúng sau đó tôi mới có thể trở về báo cáo tình hình với trung đoàn trưởng. Ông Hải nhà mình là cẩn thận lắm. Nắm tình hình không cụ thể, ông ấy sẽ quay cho ra tóp!
- Nếu vậy... anh cũng nên giữ cậu Côn lại.
- Hơn thế, tôi muốn cắm hẳn một tổ trinh sát vũ trang tại đây để nắm địch. Từ ngày mai, tình hình địch có thể biến động từng ngày. Phải cắm trinh sát ở đây để quan sát mọi động tĩnh của chúng từ trong Đông Hà. Có như vậy thì ta mới kịp thời đối phó với mọi tình huống.
- Được. . Anh cứ chọn một tổ để cắm lại. Nhưng cậu Côn thì phải trở ra Sở chỉ huy trung đoàn cùng với anh, đề phòng trung đoàn trưởng có thể cần dùng đến cậu ấy.

Trung đội trưởng trinh sát Nguyễn Danh Côn lập tức được mời tới để làm việc với Tham mưu trưởng trung đoàn. Tuy chỉ mới được tiếp xúc và làm vệc với ông vài lần, nhưng Côn cảm thấy rất yên tâm tin tưởng người thủ trưởng mới này. Ông vừa có khả năng phân tích tình hình một cách sáng sủa, nhạy bén lại vừa có thái độ rất điềm tĩnh, ung dung, tự tại và biết lắng nghe khiến cấp dưới luôn yên lòng mỗi khi trao đổi công việc với ông. Ông cũng rất quyết đoán mỗi khi phải đưa ra những quyết định quan trọng.
- Cậu xem, có thể đưa hẳn một tổ trinh sát sang bên kia sông được không?
Tham mưu trưởng hỏi, sau khi nghe Côn báo cáo tình hình của đội và tình hình du kích địa phương sau trận đánh vừa rồi.
- Tôi cho rằng hoàn toàn có thể được nếu chúng ta biết dựa chắc vào lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương. Nếu tham mưu trưởng đồng ý, tôi xin xung phong dẫn một tổ qua sông, thậm chí vào hẳn thị xã Đông Hà bám nắm địch.
- Cậu thì không thể được. Phải chọn một đồng chí tiểu đội trưởng vững vàng làm nhiệm vụ này.
Côn trả lời ngay không do dự:
- Đồng chí Lợi có thể đảm nhiệm được nhiệm vụ này. Thêm đồng chí Sơn là người Quảng Bình, nói giọng trong này rất tốt, thậm chí có thể theo du kích đi hợp pháp vào Đông Hà được.
- Thế thì tốt - Tham mưu trưởng hài lòng kết luận - Một tổ qua bên đó, một tổ vẫn chốt ở bên này để giữ liên lạc với phía sau và phối hợp với địa phương. Số còn lại, gồm cả cậu, đêm nay theo tôi đi kiểm tra tuyến.
Nhận lệnh xong Côn vội trở về vị trí giấu quân đi tìm Lợi để giao nhiệm vụ. Đội trinh sát giấu quân tại căn cứ bí mật của du kích xã Cam Vũ. Lần đầu tới đây, Côn rất ngại vì thấy ở đây chẳng giống một căn cứ bí mật chút nào cả. Nó vốn là một xưởng làm nước mắm đã bỏ không, nằm ngay bên bờ sông, cách đó chừng một cây số lại một bến đò và dân chúng vẫn còn dùng để qua lại. Đôi khi bọn biệt kích ngụy cũng ghé ca nô vào bến đò này để qua phía Bắc sông tuần tra. Nhưng cũng lạ là hễ lên đến bờ là chúng nhao ngay vào khám xét xục sạo ở cái xóm nhỏ bên bờ sông mà chẳng bao giờ dạt xuống cái doi cát gần mép nước để kiểm tra khu xưởng nước chấm bỏ hoang này. Có lẽ, chúng không bao giờ ngờ rằng Việt Cộng lại dám cả gan ém quân tại đây. Thực ra, cái doi cát này lại là một điểm giấu quân rất thuận lợi vì từ bên kia đường 71, chỉ cần lội dọc theo con khe cạn, chui qua một cái cống thoát nước rồi lẩn vào đám sú vẹt mọc dày đặc ven bờ sông, lội thêm một chặng nữa là tới cái xưởng nước mắm ấy. Vào những ngày nước ròng như mấy hôm nay thì bãi sú vẹt này hoàn toàn khô cạn, ban ngày hay ban đêm đều có thể trườn bò thoải mái dưới đám sú vẹt để vào tận xưởng nước mắm chứ không cần phải lội bì bõm.


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 21 Tháng Ba, 2012, 11:05:08 am
Sau trận phục kích sáng qua, đội trinh sát được chị Tư An đưa về đây, chia làm ba tổ giấu quân ở ba nơi. Tổ thứ nhất do Côn chỉ huy nằm trong một chiếc thuyền gỗ cũ nát như tình cờ bị chủ vứt bỏ tự bao giờ, bị lật úp giữa bãi xú vẹt cho hà bấu thành một lớp dày xù xì như gai mít. Con thuyền nát ấy nằm ngay gần lối ra cái khe có chiếc cống thoát nước chảy qua đường để rút lui sang bên kia, đi trên đường 71 vẫn có thể nhìn thấy nhưng chẳng mấy ai thèm để ý. Tổ thứ hai ở trong cùng, do Lợi chỉ huy nằm trong đám chum vại cái vỡ cái lành ở bên ngoài căn nhà hoang của khu lò mắm. Tổ cuối cùng do cậu Thìn chỉ huy nằm bên kia đường, trên sườn đồi có một căn hầm bí mật đào luồn xuống bên dưới chiếc xe tăng M113 bị bắn cháy từ đời nảo đời nào mà bọn địch chẳng thèm lôi về, dân đồng nát cũng chưa thèm hỏi tới. Cỏ gianh và gai xấu hổ đã mọc trùm lớp lên đống sắt thép vô tri ấy. Căn hầm này một thời gian dài từng là trạm liên lạc bí mật của du kích thị xã Đông Hà. Tổ của Thìn trú ở đây vừa làm nhiệm vụ giữ liên lạc với phía sau vừa làm nhiệm vụ án ngữ bảo vệ con đường rút lui cho toàn đội khi có động tĩnh gì. Từ sáng hôm qua tới giờ, kể cả bọn bảo an, dân vệ lẫn các sắc lính địch đều không dám đi lại nghênh ngang trên đường 71 hay dùng thuyền máy vượt sông sang bên này tuần tiễu nữa nên việc đi lại giữa các vị trí giấu quân của đội cũng không khó khăn lắm. Tuy vậy, Côn vẫn rất thận trọng, khi rời vị trí ém quân là anh diện bộ đồ dân thường, trông giống như một người vừa đi mò cua mò cá dưới bãi sông lên, để đề phòng máy bay trinh sát của địch quan sát từ trên cao hay bọn mật vụ lẫn trong dân chúng đi lại trên đường tình cờ nhìn thấy.

Côn lặng lẽ bò vào “khu chum vại”. Cứ nghĩ giờ này có lẽ cả ba cậu vẫn còn ngủ nên anh không muốn làm kinh động tới anh em. Nhưng khi anh vào tới gần tới nơi thì bỗng nghe thấy những tiếng động lạ. Đó là những tiếng thở gấp quyện với những tiếng người rì rầm, thì thào như gió thoảng. Nhìn qua kẽ lá, anh chợt nhận ra một mái tóc dài và một tấm lưng con gái. Phía bên kia là mái đầu húi cua lởm chởm của một người con trai. Hai khuôn mặt như gắn vào nhau.

Thì ra thằng Lợi và con Lài có chuyện thật rồi! Côn chợt nghĩ vậy rồi cố nằm ép xuống, thu nhỏ người lại dưới những tán lá. Hai kẻ yêu nhau vẫn say sưa đắm đuối với những nụ hôn dài tưởng như không bao giờ dứt. Người con trai mỗi lúc một thêm hối hả, tham lan, bàn tay anh ta lùa vào sau lưng áo cô gái khua loạn xạ. Người con gái dường như đang dần hụt hơi, như lả đi trong vòng tay của người con trai. Tấm lưng của cô từ từ ngả xuống trong tư thế hoàn toàn khuất phục. Côn bỗng thấy toàn thân mình tự nhiên nóng rực lên, cái cảm giác y hệt như đêm nào nằm dưới hầm với chị Sáu lại trỗi dậy. Anh vội nằm ẹp xuống, ép bụng xuống đất và cố không nhìn về phía đôi trai gái.

Đúng lúc đó, dường như cô gái chợt bừng tỉnh, cô gồng mình lên, cố đẩy người con trai ra, tiếng cô run rẩy, đứt quãng trong những tiếng thở dốc:
- Đừng... làm vậy... eng Lợi... Em... em sợ... sợ lắm...
- Sợ gì... Hai thằng... nó ngủ say như chết mà!
- Nhưng... lỡ... Mình có con thì mần răng?
- Có con à? - Anh con trai bỗng sửng sốt thốt lên.
- Răng không? Mình... đều còn trẻ mừ!
- Không được! Thế thì... không được! - Giọng người con trai bỗng trở nên cương quyết...
Côn nghé mắt nhìn và đã thấy Lợi ngồi hẳn dậy, đưa tay sau lưng đỡ người con gái lên.
- Chúng mình... Không nên... Đợi khi nào hết giặc đã. Cưới nhau rồi thì... em tha hồ mà sinh con.
Cô gái mệt mỏi ngả mái đầu vào vai anh:
- Em... chỉ e... không đợi được tới ngày ấy thôi. Anh không thấy chị Sáu đó sao?
- Không được nói bậy - Người con trai dí một ngón tay vào giữa trán cô gái đe - Anh không cho em nói tới những chuyện chết chóc ấy nữa đâu.
Cô gái khẽ bật cười:
- Vậy chứ mình nói chuyện khác đi... Eng Lợi... Eng kể cho em nghe chuyện quê anh đi.

Lợi rù rì kể chuyện. Côn không nghe rõ tiếng gì nhưng anh biết nhất định Lợi đang kể về thời đi học của mình. Về thủ đô Hà Nội với ba mươi sáu phố phường nhộn nhịp. Về cái làng nhỏ ven sông Đáy thơ mộng của quê ngoại anh mà anh rất đỗi yêu thương. Có thể Lợi còn kể cho cô du kích này nghe về cả những rừng mơ trong động Hương Tích mà nhiều lần Lợi cam đoan rằng ngay cả bài thơ “Thấp thoáng rừng mơ cô hái mơ” cũng chưa nói hết được vẻ đẹp của nó. Ngoài những thứ đó ra, cậu ta còn kể cho cô du kích Quảng Trị này nghe những gì nữa, có trời biết. Chỉ tiếc rằng, Côn lại bị một đàn kiến tấn công. Anh không thể trụ lâu hơn được nữa nên đành phải đánh động cho đôi uyên ương biết rằng không phải lúc này trên trời dưới đất chỉ có mỗi mình họ.

Nghe tiếng ám hiệu, Lợi bỗng giật mình choàng tỉnh. Anh nhỏm dậy, ngơ ngác nhìn quanh rồi gõ vào báng súng năm tiếng theo qui ước.
- Tôi đây - Côn nhỏm dậy vừa lom khom bò tới vừa làm ra vẻ ngạc nhiên khi nhận ra Lài - Ủa, sao cô Lài xuống tận đây? Tôi tưởng ở ngoài kia cơ mà!
Nhưng cô du kích không hề tỏ ra lúng túng trước vẻ mặt đầy “thiện chí” của anh trung đội trưởng.
- Em tới đây tìm eng Lợi đó, eng Côn có phê bình em hông?
- Phê bình quá đi chớ! Cô không được phép liên lạc vượt qua đầu tôi như vậy đâu nghen!
- Rồi... Em lỡ vi phạm đó - Lài vẫn cười hồn nhiên - Eng Côn chớ phê bình eng Lợi mà tội nghiệp nghen! Chỗ ni cũng đâu có bí mật với tụi em? Mấy eng trốn lỗ mô em cũng tìm thấy liền à.
- Ông Lợi nhớ nhé. Từ nay, cậu có trốn lên giời! Thôi được rồi, gọi mấy thằng kia dậy để nghe nhiệm vụ đây.
Lài ý tứ xin phép rút lui. Khi cô gái đã khuất sau đám sú vẹt xanh rì. Côn mới làm bộ mặt nghiêm trọng, nói:
- Này Lợi... Cậu nên nhớ rằng ở chiến trường không có nhà giữ trẻ đâu đấy!
Lợi bỗng đỏ bừng mặt, ấp úng:
- Anh... thấy... những gì rồi?
Côn cố nén để khỏi bật cười phá lên:
- Cái gì cần phải thấy thì sẽ thấy! Chúng mình là lính trinh sát mà, phải không cậu trai lơ Hà Nội?

Có lẽ đã quá nửa đêm. Đại đội 9 đã vào tới ven làng Sòng. Trong ánh pháo sáng chập chờn, Hùng Phong đã nhìn thấy con đường sắt chạy dọc theo bìa làng hằn lên thành hai vệt song song trên nền cát trắng. Anh ra lệnh cho bộ đội dàn đội hình, nằm im chờ lệnh rồi bò tới bên chính trị viên Nguyễn Xuân Khang, hỏi nhỏ:
- Anh Tại đã lên chưa?
- Anh ấy còn xuống trung đội ba. Có một cậu tân binh bị thương khá nặng trong đợt pháo kích vừa rồi. Tôi nghĩ còn kịp thời gian đưa cậu ấy ra phẫu tiểu đoàn nên bảo anh ấy xuống cho người đưa cậu ta ra rồi.
Hùng Phong lầu bầu, vẻ bực dọc:
- Vào tới tận đây rồi mà còn mất người, vô lý thật! Đêm nay chúng nó bắn pháo rát quá. Nghe nói đại đội 8 bị một loạt trúng giữa đội hình hành quân, hy sinh mất mấy cậu kia kìa.
Một lát sau, tiểu đoàn trưởng Phạm Quang Vinh cùng tiểu đội trưởng trinh sát Trương Đình Lân vừa dẫn một tổ vượt qua đường sắt vào thăm dò tình hình trong làng trở ra. Gặp tiểu đoàn trưởng, đại đội trưởng Hùng Phong mừng lắm, liền hỏi ngay:
- Tình hình trong làng thế nào thủ trưởng?
- Không có địch. Bọn bảo an chốt trên đầu cầu sắt cũng rút chạy từ hồi chiều. Nói chung là thuận lợi, các cậu chuẩn bị cho bộ đội vào đi.
- Thế còn dân?
- Sau trận phục kích lúc sáng sớ�m trên đường 71 và trận đánh quân giải tỏa của tiểu đoàn 8 lúc mười giờ sáng nay thì đa số nhân dân trong vùng đã bồng bế nhau chạy vào Đông Hà cả rồi. Đó cũng là chủ trương của ta, du kích vũ trang và các cơ sở bí mật trong vùng đã vận động nhân dân đi lánh nạn để tránh tổn thất.

Trong làng chỉ còn một số ít người bạo gan dám ở lại trông nhà cửa vườn tược và vài người lánh nạn từ nơi khác đến bị mắc kẹt lại đây mà thôi.
- Thế thì tốt quá - Hùng Phong thở phào - điều tôi sợ nhất là khi phát hiện ra quân ta, thằng địch sẽ dùng bom pháo đánh nát bét cái làng này. Nếu còn nhiều dân trong làng thì không thể tránh khỏi chết chóc đau thương.
Tiểu đoàn trưởng kéo Hùng Phong ngồi xuống bên cạnh nhắc:
- Bây giờ trinh sát sẽ đưa các cậu vào chiếm lĩnh các vị trí xây dựng trận địa. Nên nhớ, phải tranh thủ từng phút, tận dụng mọi thứ có thể lấy được trong làng để làm công sự chiến đấu. Đặc biệt là phải bố trí hợp lý những khẩu đội hỏa lực mà tiểu đoàn tăng cường cho đại đội để có thể phát huy hết uy lực của nó. Tóm lại, khi vào trận đại đội chủ yếu trông chờ vào hỏa lực tại chỗ mà đánh địch. Các trận địa pháo cối của tiểu đoàn, trung đoàn chỉ chi viện khi nào cần thiết nhất mà thôi.
- Tôi có thể bố trí khẩu đội 12 ly 7 ở điểm chốt gần đầu cầu được chứ ạ?
- Bố trí ở đó là đúng... Nhưng phải chọn vị trí thích hợp để khi cần có thể cơ động được hỏa lực về khống chế khu vực ngã tư. Nơi ấy sẽ là quyết chiến điểm đấy.
- Tôi hiểu rồi ạ.
- Theo mệnh lệnh của trung đoàn, chúng ta sẽ phải trụ lại ở cái chốt này ít nhất là năm ngày đấy! Cậu có dám bảo đảm hoàn thành được mệnh lệnh đó không?
Hùng Phong đáp rành rọt:
- Tôi xin hứa!
- Tốt... - Giọng tiểu đoàn trưởng trở nên nghiêm, lạnh hơn - Cậu cũng phải nhớ rằng... Ban ngày, tiểu đoàn không thể phái lực lượng tới chi viện cho các cậu được. Địch ở các căn cứ xung quanh và trên máy bay trinh sát có thể nhìn thấy mọi thứ. Phi pháo địch sẽ dựng ngay sau lưng các cậu những hàng rào lửa, không thể vượt qua những bãi cát dài, những cánh đồng trắng như thế kia được. Thương binh, liệt sĩ cũng không thể mang ra ban ngày được, cậu hiểu chứ?
- Tôi hiểu!
- Về bố trí đội hình thì vẫn như phương án chúng ta đã thống nhất. Trận địa chốt quan trọng nhất là ở khu vực ngã tư cầu sắt. Trận địa thứ hai lui về phía Bắc vài trăm mét. Tôi đang băn khoăn không biết có nên bố trí thêm một điểm chốt nữa ở phía Đông đường 1 để khống chế địch từ hướng đường 71 lên và hỗ trợ cho hai chốt còn lại hay không? Vì nếu đưa một bộ phận sang chốt phía Đông thì bộ phận này sẽ phải chiến đấu độc lập, sẽ gặp khó khăn khi lực lượng địch đông, bao vây chia cắt họ với đội hình của đại đội.
- Tôi muốn sang đó xem đã rồi mới quyết định.
- Đúng... Cậu phải sang đó quan sát trực tiếp xem khi cần có thể đưa lực lượng vượt qua đường 1, đánh vu hồi chi viện cho họ không? Tôi để cho cậu điều chỉnh phương án này nếu thấy cần thiết. Phải hết sức chủ động, linh hoạt khi chỉ huy chiến đấu, cậu hiểu chứ?
- Báo cáo tiểu đoàn trưởng, tôi hiểu rồi ạ.
- Hiểu thì tốt - Tiểu đoàn trưởng bỗng bấu chặt vai Hùng Phong - Sẽ rất quyết liệt đấy, Hùng Phong ạ. Vì chúng không thể để chúng ta ngồi chồm nhỗm trước cửa nhà chúng nó, cắt hết mọi con đường huyết mạch của chúng nó được. Chính trị viên tiểu đoàn Lương Xuân Báo sẽ tới đây, cùng chỉ huy chiến đấu với các cậu.
- Theo tôi thì các thủ trưởng tiểu đoàn không nên...
- Sao lại không nên? Ban chỉ huy tiểu đoàn ngồi ở phía sau thì làm được gì nào? Tiểu đoàn phó Nguyễn Hồng Thanh cũng sẽ xuống chiến đấu với đại đội 8. Ở vị trí chỉ huy tiểu đoàn chỉ còn có tôi và chính trị viên phó Phương ở lại giữ liên lạc với trên và nắm đại đội 7 thiếu làm dự bị cho cả hai hướng mà thôi, Cậu hiểu rõ tình hình rồi chứ?
Hùng Phong hào hứng đáp:
- Rõ. Tôi hy vọng ngày mai... sẽ được đánh một trận thật ra trò.
- Vậy thì các cậu bắt đầu đi. Đồng chí Lân đâu?
- Có tôi - Lân đáp khẽ rồi lom khom chạy tới.
- Cậu chọn thêm một trinh sát nữa ở lại trực tiếp làm nhiệm vụ đưa đại đội 9 vào chiếm lĩnh trận địa. Xong việc thì trở về vị trí chỉ huy tiểu đoàn ngay chờ lệnh!
Giao nhiệm vụ cho đại đội trưởng Hùng Phong xong, tiểu đoàn trưởng cùng những chiến sĩ trinh sát liên lạc đi cùng lẩn nhanh vào bóng đêm.

Sau khi tiểu đoàn trưởng đã đi, Hùng Phong liền gọi chính trị viên Nguyễn Xuân Khang lại rồi dặn:
- Anh nằm đây chờ anh Tại lên, tôi đưa trung đội một vào trước. Khi nào tôi trở ra, ta sẽ tranh thủ hội ý chỉ huy rồi đưa hai trung đội còn lại vào vị trí chiến đấu. Nhắc anh em, trong khi nằm chờ lệnh phải tuyệt đối tuân thủ kỷ luật, không đi lại lộn xộn, không nói to, và đặc biệt không ai được hút thuốc. Địch ở rất gần đây thôi, lơ mơ là pháo nó chụp ngay xuống đầu đấy.


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 21 Tháng Ba, 2012, 11:05:29 am
Bộ đội bắt đầu vượt qua đường sắt để vào làng.
Đây là một ngôi làng khá sầm uất, có vị trí hết sức quan trọng vì nằm ngay trong khu vực ngã tư đường 1 và đường 71 lại nằm án ngữ ngay trước cây cầu đường bộ và đường xe lửa xuyên Việt. Bên kia cầu đã là vùng ngoại vi thị xã Đông Hà rồi. Cư dân ở đây khá phức tạp, dân địa phương chỉ chiếm phân nửa, phần còn lại đa số là dân từ vùng giới tuyến chạy vào hoặc vợ con binh lính ngụy quyền cấp thấp chọn nơi đây tá túc tạm thời trong khi chờ đợi tìm được một nơi làm ăn cư trú ổn định, bình an hơn trong thị xã Đông Hà. Vào buổi sáng sớm, trước cái ngày bộ đội chủ lực Bắc Việt xuất hiện ở khu vực Ngã tư làng Sòng, cả làng đã bị dựng dậy bởi tiếng súng, tiếng đạn pháo nổ ran trên đường 71. Rồi, chỉ một giờ sau, có tin đại đội biệt kích của trung uý Đoảng bị tấn công, chết cả đống ngoài kia. Cả làng sôi lên sùng sục, có người còn quả quyết rằng đã nhìn thấy cả xe tăng Bắc Việt đang băng qua đồng cát, sắp vượt sông sang đánh vào thị xã Đông Hà. Những gia đình ngụy quyền và vợ con binh lính bắt đầu hoang mang, rối rít hối nhau gói ghém đồ đạc chuẩn bị chạy loạn. Tới cữ chín mười giờ thì ngoài đường quốc lộ số 1 rầm rầm xuất hiện những đoàn quân xa có xe tăng Mỹ đi kèm ầm ầm vượt qua cầu sắt, vượt qua làng Sòng tiến ra phía Bắc. Rồi tiếng súng nổ ran lên. Các trận địa pháo từ ba bề bốn bên bắn về ầm ầm như núi đổ. Máy bay các loại gầm rú trên đầu, rồi thi nhau nhào xuống trút bom đạn ở ngoài An Bình, Phú Hậu, Kim Đâu. Lại nghe nói tàu hàng của Mỹ chạy trên sông Hiếu cũng bị bắn, cháy nghi ngút suốt ngày. Vậy là ba bề bốn bên đều có Việt Cộng rồi. Dân làng Sòng hiểu rằng không thể nào nấn ná thêm được nữa. Trâu bò húc nhau thì ruồi muỗi sẽ chết như ngả rạ. Vậy thì phải chạy thôi. Thế là vợ chồng con cái, người bế, kẻ bồng, có xe thì chất đồ lên xe, không có xe thì gồng gồng gánh gánh, cả làng ùn ùn kéo nhau qua cầu chạy về phía Đông Hà. Còn biết chạy đi đâu khi bốn bề đều là vành đai trắng? Thôi cứ nhằm nơi nào có nhiều Mỹ mà nhào vô, trạng chết chúa cũng băng hà, nếu Việt Cộng mà tràn ngập Đông Hà thì chắc chắn họ phải nhằm vô người Mỹ, nhằm vô bọn lính tráng ác ôn mà bắn trước. Mình là dân đen, lúc này cần phải tránh xa nơi hòn tên mũi đạn vô tình cái đã.
Thế là loáng một cái, cả làng đã trống trơn, quang loác. Đến chiều thì bọn lính trên bót bảo an ở đầu cầu sắt cũng gom hết súng đạn đồ đoàn rồi dông qua sông. “Mấy ông chủ lực trung đoàn 2 sư đoàn Bến Hải súng đạn rần rần và cả một tiểu đoàn biệt kích ngông nghênh hùng hổ như thế mà còn bị đánh cho thất điên bát đảo, cái thứ lính bảo an giữ vườn như tụi mình thì nước mẹ gì”. Mấy thằng lính về làng hốt vợ con, gà vịt mang theo đã nói như vậy. Đó là những lời mà ông Tư Phên, một cơ sở của du kích địa phương đã thuật lại cho Lân và tiểu đoàn trưởng Vinh nghe khi họ vào làng trinh sát. Tuy đã biết rằng trong làng gần như không có người nhưng Hùng Phong vẫn ra lệnh cho bộ đội tuyệt đối giữ im lặng khi băng qua những ngõ xóm, những khu vườn. Cho tới lúc này, vẫn chưa có một trái đạn pháo nào rơi vào làng, nhưng chỉ cần thằng địch đánh hơi thấy sự xuất hiện của bộ đội ta thì lập tức nơi này sẽ bị san thành bình địa.
Trung đội một được chỉ định xây dựng trận địa chốt ngay ở đầu xóm, phía Nam ngã tư, cách đầu cầu Sòng chừng ba trăm mét. Mặc dù đang là ban đêm, nhưng ở khu vực này đường như luôn dược chiếu sáng bởi pháo sáng của địch bắn lên từ những chiếc tàu tuần trên sông, từ trên những chiếc máy bay C130 bắn xuống, hay từ điểm chốt của một tiểu đoàn thuộc trung đoàn 2 sư đoàn Bến Hải ngụy ở phía bờ Nam, cách cầu Sòng chừng một cây số. Hùng Phong chỉ con đường số 1 đen xì chạy trước mặt, nói với trung đội trưởng Hoàng:
- Nếu địch cho xe tăng xe bọc thép từ bờ Nam sang thì đến điểm này là các cậu phải dùng hỏa lực mà đánh rồi. Khẩu đội 12 ly 7 phải bố trí ở góc kia để quét bọn bộ binh đi phía sau, yểm hộ cho các tay súng chống tăng diệt mục tiêu. Nhưng phải chọn thời cơ thật tốt mới cho phát dương hỏa lực. Ngoài vị trí này phải cho anh em chuẩn bị thêm những trận địa phụ, có công sự đàng hoàng, có đường cơ động vào làng khi cần thiết. Rõ chưa?
Trung đội trưởng Hoàng nhìn quanh khu vực được chỉ định xây dựng trận địa rồi hỏi đại đội trưởng:
- Chúng tôi có được phép lợi dụng những dãy nhà dân kia để làm điểm tựa không? Ý tôi muốn nói, nếu bộ binh địch tràn được qua đây?
- Sao không? Mỗi ngôi nhà, mỗi mảnh vườn ở đây đều có thể trở thành trận địa, thành chiến hào, thành những điểm quyết chiến cả. Từ giờ đến sáng, ngoài hầm hào chiến đấu ở tuyến ngoài cùng, các cậu còn phải đào thêm càng nhiều hầm hào ở ven làng, ở trong các ngõ xóm càng tốt.
Trung đội trưởng Hoàng ngập ngừng hỏi thêm:
- Chúng tôi có được phép chặt cây, lấy gỗ hay xử dụng một số vật liệu trong nhà dân để làm công sự chiến đấu không ạ?
- Được. Thứ gì dùng được thì cứ lấy mà dùng. Chỉ đến trưa mai là cái xóm này nát như cám thôi. Mà này, trong khi bộ đội làm công sự, các cậu nhớ phân công người nấu cơm. Khi bước vào chiến đấu anh nuôi của đại đội không thể lo mang cơm nước đến từng điểm chốt được đâu. Cho nấu thật nhiều rồi nắm lại, ăn cả ngày.
Giao nhiệm vụ trên thực địa cho trung đội một xong. Hùng Phong quay sang hỏi tiểu đội trưởng trinh sát:
- Này Lân... Tiểu đoàn trưởng vừa nói đến việc xây dựng một điểm chốt ở phía Đông đường, cụ thể là khu nào nhỉ?
- Phía Đông ngã tư... Để tôi đưa anh đến đó. Bên ấy cũng có một xóm nhỏ chừng hơn chục nóc nhà, một hai cái ga ra hay xưởng xiếc gì đó... Đặc biệt bên ấy một cái gò cát và vài cái nhà bê tông khá kiên cố. Xây dựng trận địa phòng ngự ở đó cũng hay ra phết. - Hay là? Để tới đó xem đã. Nếu được, tôi sẽ đưa một nửa trung đội hai và một khẩu đại liên sang đó.
- Đại liên à? Loại có bánh xe hay loại “cào cào”?
- Loại thằng Do chơi ấy. Cô-li-nốp cô li niếc gì đó!
- Loại đó dở ẹc... Kềnh càng khó cơ động lắm!
- Nhưng nó xay rất ác. Uy lực ghê lắm. Đánh phòng ngự thì lo gì phải cơ động nhiều?
Từ trận địa trung đội một, đi chừng mươi lăm phút thì tới ngã tư. Con đường vắng ngắt, không gian lặng trang, rờn rợn. Lân ra hiệu cho đại đội trưởng Hùng Phong và cậu liên lạc của anh dừng lại, ngồi thụp xuống cái rãnh thoát nước bên đường rồi nói nhỏ:
- Tôi vượt qua đường trước... Anh canh chừng nhé. Lần lượt vượt từng người thôi.
Nói rồi Lân lao vút qua đường. Tiếp theo là Hùng Phong và cậu liên lạc. Phải cẩn thận thế để đề phòng có những tốp thám báo địch từ bên kia sông bí mật luồn sang ém ở đâu đó để quan sát động tĩnh của ta. Sang bên Đông đường, họ men theo hàng cây thấp ngoắt sang phía đường 71. Trước mắt họ là cái xóm nhỏ mà Lân vừa nói đến. Đây là một cụm dân cư mới, chưa có mấy cây xanh, vườn tược, mà chỉ là một dãy nhà bám theo đường, tựa lưng vào cái gò cát. Mỗi nhà lại có một khoảnh sân ở phía trước, nhà này cách nhà kia bằng những hàng rào kẽm gai hoa bằng gỗ ván, có lẽ đều là thứ đồ bọn quân tiếp vụ từ trong những căn cứ quanh đây ăn cắp mang ra bán. Từ mép đường 71 trở vào, gò cát cao dần lên, có vẻ như trước đây nơi này là một cái gò hoang, có lẽ cũng chỉ được những chủ nhân mới tới san ủi đi để làm nhà và làm vườn trong thời gian gần đây mà thôi. Đất ở đây có vẻ màu mỡ hơn bên mé làng Sòng, là thứ đất pha cát có dấu vết của phù sa. Hơn chục hộ dân ở cái xóm nhỏ này có lẽ cũng chỉ vừa mới phải rời đi chiều hôm nay để tránh bom rơi đạn lạc. Cửa nhà nào cũng đóng im ỉm nhưng đâu đó vẫn còn mùi khói bếp, mùi thức ăn. Một con mèo bỗng từ trong một bụi cây lao ra kêu meo meo, rồi cuốn lấy chân Hùng Phong. Có lẽ là mèo của nhà ai bỏ quên, nó có vẻ mừng vì ngửi thấy hơi người.
Hùng Phong quan sát kỹ cái ngã tư nơi gặp nhau của hai con đường và chợt hiểu ra vì sao mà tiểu đoàn trưởng còn băn khoăn khi có ý định triển khai một điểm chốt ở đây. Đúng là nếu xây dựng ở đây một điểm chốt thì vừa có thể khống chế từ xa hướng địch cơ động từ phía Đông theo đường 71, phía Cửa Việt lên, vừa có thể đánh tạt sườn, chi viện cho điểm chốt chính bên làng Sòng. Nhưng cũng có thể sẽ rất nguy hiểm vì, nếu chốt này bị địch bao vây, cô lập thì lực lượng ta từ phía Tây đường khó có thể vượt sang chi viện được.
Sau khi quan sát kỹ địa hình, Hùng Phong quay lại hỏi Lân:
- Này Lân... Giả sử như địch có một lực lượng mạnh khống chế được khu vực ngã tư này thì có con đường nào khả dĩ có thể cơ động từ phía Tây đường sang để thực hiện vu hồi chi viện cho cái chốt này không?
Lân suy nghĩ một lát rồi nói:
- Lần trước, khi bọn thằng Côn đưa mình và tiểu đoàn trưởng vào trinh sát khu vực này thì cái chốt bảo an ở đầu cầu vẫn còn. Từ đó chúng có thể dùng hỏa lực súng máy và súng cối khống chế tới tận đây. Vì thế, để vượt qua đường 1, bọn mình phải đi vòng lên phía Bắc chừng nửa cây số, ở đó có một con lạch nhỏ chảy từ Tây sang Đông, có một cái cống lớn để con lạch đó chảy qua, bọn mình đã men theo con lạch đó, luồn qua dưới gầm cầu để sang phía Đông quan sát đoạn đường 71 này.
- Vậy à? Nếu là ban ngày, có thể ngụy trang kỹ mà theo con lạch đó cơ động từ phía Tây đường sang đây được không? - Hùng Phong sốt ruột hỏi.
- Nếu không có trực thăng quần đảo chà xát trên đầu thì cũng qua được. Ven con lạch vẫn có những bụi cây thấp. Nhưng khi qua đường rồi, men theo con lạch một đoạn nữa thì phải ngoi lên, vượt qua một bãi cát hoang khá trống trải thì tới được phía sau cái gò cát này.
- Được rồi, hãy biết thế. Mình quay về cho bộ đội vào chiếm lĩnh xong đã, nếu trời chưa sáng thì ta thử đi một vòng theo con đường đó xem sao?
- Nhưng... tôi phải trở về tiểu đoàn. - Lân bật kêu lên - Anh cũng nghe tiểu đoàn trưởng ra lệnh rồi đấy.
- Trước sáng cậu trở về bên ông Vinh là được chứ gì?
Lân biết rằng anh không thể từ chối yêu cầu của Hung Phong. Thôi đành vậy, tất cả đều phải ưu tiên phục vụ phía trước, phục vụ các đơn vị chiến đấu đã. Anh tin rằng dù mình có về sở chỉ huy muộn một chút mà đại đội 9 hoàn thành việc triển khai trận địa thì tiểu đoàn trưởng cũng thông cảm.


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 21 Tháng Ba, 2012, 11:06:13 am
Trên đường trở về vị trí tập kết, trong đầu Hùng Phong đã hình thành quyết tâm đưa một bộ phận sang phía Đông đường 1 để lập một điểm chốt thứ ba. Một điểm chốt độc lập, nhưng chắc chắn sẽ tạo cho toàn tuyến chốt một thế trận vững chắc hơn là chỉ hình thành một tuyến hàng ngang theo kiểu phòng ngự be bờ. Anh cũng đã hiểu vì sao tiểu đoàn trưởng dành cho anh quyền quyết định có triển khai điểm chốt này hay không? Với con mắt của người chỉ huy anh đã nhận ra ngay đó là một hiểm địa. Đặt một cái chốt ở đó thì rất lợi hại, nhưng cũng buộc những người lính phòng ngự ở đó vào cái thế của những con tốt đã qua phà. Tiểu đoàn trưởng đã dành cho Hùng Phong quyền quyết định cũng có nghĩa là ông ấy tin ở khả năng quyết đoán của anh. Ông ấy biết, nếu có lợi cho thế trận, cho toàn cục thì nhất định Hùng Phong sẽ chấp nhận mạo hiểm. Ông ấy đã đoán đúng. Hùng Phong đã quyết định chơi nước cờ mạo hiểm này.

Nhưng, sử dụng trung đội nào vào nhiệm vụ khó khăn này là điều mà Hùng Phong còn băn khoăn. Chiến sĩ của đại đội 9 về cơ bản đều vững vàng, có bản lĩnh. Nhưng trong nhiệm vụ này, còn đòi hỏi phải có một người chỉ huy tài ba và phải rất trì, rất dũng cảm nữa. Suy đi nghĩ lại, anh không thấy ai thích hợp hơn Nguyễn Đình Hướng. Hai cái tai của Hướng mấy hôm nay đã khá hơn rồi, nhưng nếu lại phải ra ngồi ở giữa cái chảo lửa ấy thì có khi đến tịt hẳn mất. Tuy vậy, nếu chiến đấu ở bên này thì cũng có khác gì? Chỉ nay mai thôi cả khu vực ngã tư này sẽ trở thành cái túi đựng bom pháo. Đến cái đầu cũng chưa chắc giữ được, nói gì đến cái tai. Giá như nó nghe anh em mà về phía sau điều trị thì đã đi một nhẽ. Đằng này, cứ nhất định đòi ra trận. Vậy thì, xin lỗi cái tai của cậu nhé, đã ra tới đây thì nhiệm vụ là trên hết. Cho cậu điếc hẳn đi để rồi người ta tống cậu về hậu phương cho rảnh chuyện. Vậy là xong, vẫn cứ phải dùng trung đội thằng Hướng. Trung đội ấy cũng vừa được bổ xung một cậu trung đội phó bảnh trai tên là Trần Xuân Đồng, người làng Cót ngoại thành Hà Nội. Tay này vừa được điều từ tiểu đoàn 8 sang, thành tích chiến đấu của cậu ta nghe nói cũng khá, hai lần dũng sĩ rồi, nhưng không hiểu sao Hùng Phong vẫn không mấy tin vào những bảng thành tích trên giấy, trong lý lịch? Cứ phải mắt thấy tai nghe, sát cánh cùng nhau vài ba trận thì mới có thể hoàn toàn tin cậy được! Ông Báo thì nói, cậu này tai thính như tai thỏ, đi cặp với cậu Hướng là tốt. Đó là ông ấy nói vui, nhưng không hiểu vì sao từ hôm ấy đến nay anh em trong đại đội lại gọi luôn là “Đồng tai thỏ”, khiến đôi lúc cậu ta cũng đỏ mặt lên vì tự ái. Cậu ta cho rằng hình như lính C9 muốn ám chỉ cậu ta nhát như thỏ. Hướng phải giải thích mãi, cậu ta mới chịu nghe ra và đành chấp nhận cái biệt danh ấy. Trước hôm hành quân vào tứ giác, Hùng Phong cũng đã có cuộc trò chuyện riêng với Đồng, cậu ta đã thừa nhận “Anh Hướng tuy hơi nặng tai nhưng sống tình cảm lắm. Tôi tin rằng anh ấy sẽ là một người chỉ huy giỏi”. Thế là được rồi, về trung đội hai, Hùng Phong thấy không có gì còn phải băn khoăn nữa. Sẽ cưa đôi trung đội này ra, một nửa làm dự bị, một nửa đưa qua phía Đông đường lập chốt. Tăng cường cho nó thêm một khẩu đại liên như tiểu đoàn trưởng gợi ý, thế là ổn. Nếu thuyết phục được Hướng ngồi lại ở bên này để cậu Đồng qua bên đó thì tốt nhất... Nhưng có đến chín chục phần trăm cái thằng điếc này sẽ tranh phần qua bên đó với anh em... Thôi nếu vậy thì cũng đành phải chấp nhận vậy...
Đại đội trưởng Hùng Phong nghĩ được chừng ấy điều thì cũng vừa về đến vị trí tập kết ban đầu. Anh cho mời chỉ huy đại đội và các đồng chí trong cấp ủy tới tranh thủ hội ý nhanh, anh nhắc lại nhiệm vụ của đại đội rồi trình bày qua phương án xây dựng trận địa chốt. Sau đó, anh giao nhiệm vụ luôn:
- Bây giờ tôi sẽ trực tiếp đi giao nhiệm vụ cho trung đội hai và đưa bộ phận chốt bên Đông đường vào chiếm lĩnh xây dựng trận địa. Anh Tại đưa trung đội 3 vào chiếm lĩnh ở trận địa ở điểm trung tâm. Anh Khang và đồng chí Cung, anh nuôi trưởng, chi ủy viên ở vị trí chỉ huy đốc thúc anh em hỏa lực, thông tin, anh nuôi, y tá xây dựng hầm trú ẩn, hầm chiến đấu. Nhất định phải có một căn hầm rộng, kiên cố dành cho việc cấp cứu thương binh. Còn công tác hậu cần, trong điều kiện hiện nay ta phải triển khai xuống các trung đội, còn các đồng chí nuôi quân của đại đội vừa phải bảo đảm cơm nước cho chỉ huy, thông tin, lực lượng hỏa lực tăng cường, vừa phải lo giúp đỡ các đồng chí y tá chuyển thương từ các chốt về và chăm sóc thương binh. Công việc này cũng rất nặng nề đấy vì ban ngày chúng ta không thể chuyển thương binh về phía sau được. Các đồng chí rõ cả chưa?
Chính trị viên Khang lo lắng hỏi:
- Anh định... trực tiếp ngồi ở bên đó để chỉ huy sao?
Hùng Phong khẽ cười:
- Không... Thế sao được. Tôi phải ở vị trí chỉ huy của mình chứ, triển khai trận địa xong tôi sẽ về. Bên ấy sẽ giao một cán bộ trung đội chỉ huy.
Đại đội phó Tại vội lên tiếng:
- Hay để tôi qua bên đó với anh em.
- Cũng không được - Hùng Phong vội gạt đi... - Ban chỉ huy đại đội đều phải nằm bên này để tập chung chỉ huy. Khi địch lên, anh Tại sẽ phải có mặt ở trận địa trung đội 1. Đó sẽ là nơi diễn ra những trận đánh ác liệt đầu tiên. Tôi sẽ cơ động giữa các trận địa, còn anh Khang sẽ nằm ở vị trí chỉ huy để giải quyết công tác thương binh liệt sĩ và giữ liên lạc với cấp trên. Thôi, không bàn bạc dài dòng nữa. Anh Tại khẩn trương đưa trung đội ba vào vị trí đi. Đôn đốc anh em, dù còn một phút địch chưa tới là còn phải cố gắng làm công sự chiến đấu và hầm phòng tránh bom pháo cho thật kiên cố. Càng kiên cố, càng có nhiều công sự hầm chiến đấu thì càng có nhiều khả năng hoàn thành nhiệm vụ. Các đồng chí đừng quên rằng, chúng ta phải xây dựng ở đây một chốt thép đấy. Nói vậy là nhiều rồi, các đồng chí khẩn trương triển khai nhiệm vụ đi. Chúng ta không còn nhiều thời gian đâu.

Ngoài rìa làng các chiến sĩ trung đội hai vẫn nằm im lặng chờ đợi. Họ không hiểu vì sao mà đơn vị tạm dừng lâu thế? Đến khi thấy các trung đội bạn đã lần lượt đi hết anh em bắt đầu tỏ ra sốt ruột. Trung đội phó Đồng nhấp nhổm không yên, thi thoảng lại bò lên phía đường sắt ngóng đợi. Mệnh lệnh truyền xuống đã nói rõ khi gọi đến trung đội nào thì trung đội đó mới được di chuyển nên chỉ có cách nằm chờ mà thôi. Có người đoán già đoán non, hay là lại lạc đường như đêm hôm qua rồi? Trong khi ấy thì trung đội trưởng Nguyễn Đình Hướng mặc kệ sự đời, bình chân như vại, vừa được lệnh tạm dừng, các trung đội nằm yên tại chỗ chờ lệnh là quẳng chiếc ba lô nặng trịch những đạn và gạo sang bên cạnh, nằm lăn ra đất, duỗi thẳng cả chân tay ra thành hình chữ đại rồi rên lên một cách khoan khoái “Từ chập tối đến giờ chỉ toàn nghe thấy truyền lệnh chạy nhanh, vượt qua tọa độ pháo, bây giờ mới được nghe thấy một cái lệnh hay đến thế! Nằm xuống cho giãn lưng đi tụi bay!”. Anh cứ nằm thẳng đơ trên mặt đất như vậy, ngửa mặt nhìn trăng sao một lát rồi cất tiếng ngáy pho pho khiến trung đội phó Trần Xuân Đồng cũng phải bật cười, nói với các chiến sĩ bên cạnh:
- Cái ông này vô tư thật đấy, nước sôi lửa bỏng thế này mà ông ấy cũng ngủ được thì tài thật!
Khi đại đội trưởng Hùng Phong và tiểu đội trưởng trinh sát Trương Đình Lân tới Hướng vẫn đang ngáy một cách ngon lành. Đại đội trưởng ra hiệu cho trung đội phó Đồng yên lặng rồi bước tới, ngồi xuống bên cạnh trung đội trưởng Hướng, cong ngón tay trỏ búng nhẹ một cái vào mũi anh ta. Hướng choàng tỉnh, co người lăn một vòng ú ớ kêu lên “Có địch! Có địch!” rồi quýnh quáng hươ hươ tay tìm súng. Đồng vội nhao tới ôm lấy Hướng rồi ghé vào tai kêu lên:
- Đại đội trưởng đến đấy!
- Đại trưởng hả? Sao mà... chơi nhau ác thế? Tôi mà vớ được khẩu súng thì có phải...
Hùng Phong nén cười bước tới ngồi bệt xuống bên cạnh Hướng, cố ghé vào gần nói để Hướng nghe được:
- Xin lỗi nhé! Cậu ngủ gì mà khiếp thế. Bây giờ thì tỉnh rồi chứ?
- Tỉnh ngay ấy mà. Tôi không muốn để lãng phí thời gian... Chờ gì mà lâu thế? Lại lạc hả?
- Không lạc. Tới nơi rồi. Bây giờ đến lượt trung đội cậu đi triển khai trận địa đấy.
Rồi bằng thứ ngôn ngữ khúc triết, dễ hiểu nhất, với một ngữ điệu “êm tai” nhất, Hùng Phong cố gắng truyền đạt ý đồ tác chiến của mình cho cậu trung đội trưởng nặng tai nghe. Không ngờ, Hướng cũng hiểu ra rất nhanh rồi hỏi luôn:
- Cậu... không phải nói nhiều, tớ hiểu rồi. Nghĩa là bọn tớ phải sang bên phía Đông đường 1, lập một cái chốt thứ gì? Khó khăn, ác liệt thì nói làm cóc gì? Ở đâu ma chả thế! Được, để tớ sang đó... Số anh em còn lại, giao cho cậu Đồng, cậu xử dụng khi nào thì xử dụng.
Hùng Phong do dự:
- Không nhất thiết anh phải sang đó... Lực lượng cơ động cũng cần phải có một người vững vàng nắm giữ - Lực lượng cơ động do đại đội trưởng trực tiếp chỉ huy rồi. Khi cần chi viện cho mũi nào, anh cứ hô một tiếng, cậu Đồng sẽ dẫn quân đi liền.

Trung đội phó Đồng dại dột buột miệng:
- Nhưng... cái tai anh như thế... Ra chốt chịu bom pháo thế nào được?
Hướng bỗng nổi cáu:
- Đồng... Mày định cách chức tao đấy hả? Tao là người chỉ huy trung đội kia mà. Tao điếc nhưng không mù nhé. Thằng địch mặt ngang mũi dọc thế nào tao vẫn nhìn rõ. Mày cứ ở yên bên này, tao chết thì sang mà thay.
Hùng Phong vội dàn hoà:
- Cái thằng... Chưa chi đã nói toàn điều gở. Thôi được rồi, không tranh cãi nữa. Đồng chí Hướng sẽ qua bên đó. Cậu Đồng đi chuẩn bị đi, chọn lấy mười anh em, cộng với khẩu đội đại liên của cậu Toàn nữa là mười bốn. Mang theo một B40, một B41, hai trung liên. Mỗi người hai cơ số đạn và một cân lương khô. Khẩn trương lên, trời sắp sáng rồi đó.
Hai mươi phút sau, bộ phận sang phía Đông đường đã sẵn sàng. Trước khi đi, Hướng bỗng quay lại ôm lấy Trần Xuân Đồng, nói oang oang:
- Giao số anh em còn lại cho cậu đấy nhé. Đánh cho oách vào. Bọn tớ cũng sẽ không làm hổ danh trung đội 2 đâu. Còn, nếu tớ có chết thì cậu phải nhớ lời hứa hôm trước đấy nhé!
Đồng ngơ ngác hỏi lại:
- Tôi... đã hứa gì với anh nhỉ?
- Cái thằng này... Sao mau quên thế? Tớ chẳng nói với cậu rằng, vì nhà cậu có nghề làm vàng mã, nên nếu tớ có chết mà cậu còn sống đến ngày thống nhất thì khi nào về quê nhớ bảo các cụ thửa cho tớ hai thứ đồ mã. Đó là một khẩu B41, thứ vũ khí mà tớ thích nhất và một cái máy điếc. Cậu chẳng đã hứa rồi là gì?
Giọng Đồng như lạc đi:
- Nhớ... nhớ rồi... Nhưng đó chỉ là chuyện đùa thôi mà!
- Đùa là đùa thế nào?... Nhớ đấy! Sống hay chết thì qua trận này có lẽ đôi tai tớ cũng đến hỏng hẳn thôi. Mẹ nó, thằng Mỹ sao mà lắm pháo thế? Nhất là cái món pháo dàn... Tai tớ chỉ còn dính mỗi tí màng nhĩ mà chúng nó cứ gõ rền như thế thì đến đi đứt lúc nào không biết đâu. Vậy nên, phải có cái máy điếc. Cậu nhớ nhé!
Hùng Phong vội túm lấy áo Hướng kéo đi:
- Thôi đi ông... dông dài mãi. Sáng mẹ nó đến nơi rồi kia kìa. Lâm đi trước dẫn đường đi.
Đại đội trưởng Hùng Phong đã quyết định cùng với trung đội hai theo con đường vu hồi để sang phía Đông đường. Anh muốn tự mình để khi cần có thể dùng con đường này chi viện cho anh em ở bên đó. Khi tới nơi, nhìn đồng hồ thấy mất hơn bốn mươi phút. Đó là trong điều kiện không có sự ngăn chặn của phi pháo địch. Không thuận lợi lắm, nhưng dẫu sao vẫn có một con đường thứ hai để bảo đảm liên lạc giữa hai cụm chốt của đại đội. Nguyễn Đình Hướng hiểu được nỗi lo của đại đội trưởng nên đã nhẹ nhàng bước tới bên anh ôn tồn nói:
- Yên trí đi Ban... Bọn tớ sẽ trụ được mà!
Hùng Phong cảm động nắm chặt lấy bàn tay người bạn cùng lớp. Đã lâu lắm anh mới lại được nghe Hướng gọi mình bằng cái tên “học trò” ấy. Thực tình, nghe người ta gọi mãi cái tên Hùng Phong khiến anh cũng dần quên đi rằng mình đã từng có một cái tên khác, giản dị gần gũi hơn nhiều... Mỗi khi chợt nghe bạn bè cũ gọi đến cái tên ấy, anh lại giật mình, có cảm giác như nhớ lại một cuộc đời khác mà mình đã từng sống vậy.


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 21 Tháng Ba, 2012, 11:06:56 am
Tới tận rạng sáng hôm đó, hệ thống công sự trận địa phía Đông đường mới tàm tạm. Hùng Phong không ngần ngại cho phép bộ đội dỡ mấy ngôi nhà cũ ở phía trong, lấy hết kèo cột, cánh cửa, giường phản, cột bê tông trong cái xóm nhỏ ấy cho bộ đội làm hầm tránh bom pháo. Ngày mai khi trận đánh nổ ra thì nơi này sẽ không còn một viên gạch nguyên lành, cần gì phải giữ gìn? Anh cũng đồng ý với Hướng cho đào một căn hầm xuyên dưới ngôi nhà bê tông duy nhất ở lưng chừng cái dông đồi thấp ấy làm hầm cố thủ chiến đấu. Từ đây, sẽ toả ra hai nhánh hào giao thông chiến đấu, kéo xuống tận ven đường 71. Công việc ấy không thể làm xong trong đêm nay, vì thế trong ngày đầu, nếu địch lên giải toả thì Hùng Phong sẽ phải tìm cách thu hút địch về phía mình và chi viện tối đa cho điểm chốt này để anh em có thời gian xây dựng và củng cố trận địa trước khi bước vào những trận đánh quyết liệt nhất.

Mặt trời đang lên từ phía biển. Những trái pháo sáng cuối cùng máy bay địch vừa thả xuống trơ trẽn treo lơ lửng giữa ánh ngày đang lên. Thấy Hùng Phong cứ nấn ná mãi, Trương Đình Lân đành phải chạy lại, kéo áo anh giục:
- Nếu đại đội trưởng định về bên kia thì phải đi ngay, trời sáng rồi đó!
Hùng Phong ngước nhìn lên bầu trời rồi vội bước tới thìa tay ra cho Hướng:
- Mình phải về bên đó đây... Cậu ở lại cố gắng nhé!
Hướng xiết chặt tay đại đội trưởng rồi gật đầu nói một câu thật đơn giản:
- Đại đội trưởng yên tâm đi!

Nhìn gương mặt phờ phạc, hơi ngơ ngác của Hướng, trong lòng Hùng Phong bỗng dưng lên một tình cảm kỳ lạ. Thực tình, anh rất muốn ôm lấy anh bạn nhỏ thó rắn rỏi của mình và nói vài lời thật tình cảm nhưng đã không làm được. Vả lại, anh biết Hướng cũng không muốn như vậy. Không hiểu sao từ trước tới nay Hướng luôn có cảm giác khó chịu mỗi khi anh có ý định gần gũi, thân mật với cậu ấy. Ngày còn đi học, Hướng giữ khoảng cách với anh vì cho rằng anh là con nhà cán bộ, ở thị trấn, lúc nào cũng dư ăn dư mặc, còn cậu ta thì sống ở làng quê, con nhà nghèo, lúc nào cũng đói rách, thiếu thốn, chẳng bao giờ có được một bộ quần áo tử tế mà mặc. Anh thì cao lớn, trổ mã, đẹp trai, còn Hướng thì cứ sắt lại, mặt mũi lúc nào cũng tối xầm xầm. Trong lớp, người mà Hướng thân nhất là Nguyễn Danh Côn, người mà Hướng nể nhất là Trương Đình Lân, còn người mà Hướng luôn khó chịu có lẽ là anh. Sau cái lần đưa Đào lên Hoà Bình để gặp anh ở Xóm Múc, Hướng mới vỡ lẽ ra rằng mình đã gián tiếp làm Côn đau lòng. Là người trực tính, tâm hồn đơn giản, Hướng không hiểu hết được những ngóc ngách tình cảm của mọi người. Nhưng từ đó, Hướng càng tỏ ra thành kiến với anh. Khi vào chiến trường, thấy anh tiến bộ nhanh, Hướng không tỏ ra ghen ghét, nhưng cũng ngấm ngầm thách thức, quyết không tỏ ra thua kém anh trong bất kỳ việc gì. Phải công bằng mà nói, cậu ta đã làm được điều đó. Đã có lần cậu ta nói với ông Cung “Thằng Ban thì hơn quái gì tôi. Nó chỉ hơn tôi cái tốt mã, dẻo mỏ. Lại được ông Báo cưng nên mới tiến bộ nhanh như thế thôi. Nếu cái tai tôi mà không có vấn đề, tôi nhất định sẽ qua mặt nó có ngày”. Nghe được câu ấy, anh không những không giận, mà từ đó càng tỏ ra kiềng nể Hướng hơn. “Thực ra, nếu chỉ kể thành tích chiến đấu và những hành động quả cảm, thì cậu ấy đã ăn đứt mình rồi”. Anh đã nghĩ vậy và cũng thầm mong Hướng có cơ hội để tiếp tục cuộc đua tranh ngầm với mình. Có lần, được chính trị viên Lương Xuân Báo hỏi rằng “Nếu cần chọn một người trong đại đội 9 để bồi dưỡng thành Anh hùng thì theo cậu nên chọn ai?”. Anh đã không ngần ngại mà nói rằng “Tư chất anh hùng ở cái đại đội này, trừ những người đã hy sinh thì tôi không dám bàn, chứ riêng những thằng còn sống thì không ai bằng được thằng Hướng”. Nghe anh nói vậy, chính trị viên Báo đã gật đầu “Đúng là không ai có thành tích thuyết phục hơn cậu Hướng, chỉ tội cái cậu này tính khí thất thường, ăn nói nhiều khi thiếu chín chắn lắm. Phải chờ một thời gian cho cậu ta ta trưởng thành thêm đã”. Nghe chính trị viên nói vậy, anh nghĩ bụng “Chọn anh hùng chứ đâu phải chọn nhà ngoại gắng mà cầu toàn thế?”. Nghĩ vậy nhưng anh không dám nói ra. Có lẽ, cũng vì lý do cần có thời gian để “bồi dưỡng” thêm, nên chính trị viên Lương Xuân Báo đã tìm cách giữ Hướng lại rồi đề bạt làm trung đội trưởng chứ không vội cho cậu ta về tuyến sau “trung tu” cái tai theo đề nghị của ban chỉ huy đại đội. Dù trong thâm tâm anh chỉ muốn Hướng về tuyến sau mà điều trị, nhưng cũng không tiện nói ra vì sợ cậu ta không hiểu lại cho rằng anh tìm cách ngăn trở con đường thăng tiến của bạn.

Dù sao thì cho đến phút này, cậu ấy vẫn ở đây và đang giúp anh thực hiện một nhiệm vụ khó khăn, nguy hiểm nhất. Không phải đại đội không có những cán bộ có thể nhận và hoàn thành nhiệm vụ này, nhưng trong thâm tâm, anh vẫn cảm thấy yên tâm hơn nếu người ngồi ở đây là Nguyễn Đình Hướng.
Thấy đại đội trưởng vẫn còn đứng ngẩn ngơ nhìn ra đường, Hướng sốt ruột bước tới giục tiểu đội trưởng Lân:
- Kìa... Anh Lân đưa đại đội trưởng về đi chứ! Mà các ông buồn cười nhỉ, cứ loanh quanh ở đây ám bọn tôi mãi làm gì. Trời sắp sáng rồi đó!

Trời đã sắp sáng mà không thấy tiểu đội trưởng trinh sát Trương Đình Lân trở về, chính trị viên tiểu đoàn Lương Xuân Báo sốt ruột nói với tiểu đoàn trưởng Vinh:
- Thôi, không chờ nữa. Anh cho một cậu trinh sát nào đó biết đường đưa tôi xuống đại đội 9 ngay kẻo sáng ra đi lại sẽ rất khó khăn.
Tiểu đoàn tưởng Vinh do dự:
- Hay là... để đến đêm nay anh hãy ra đó. Ngày đầu tiên, chắc chưa có chuyện gì đâu?
- Không được. Tuy tiểu đoàn ta đã đánh nhiều trận rồi, nhưng đây là trận đầu tiên ta giữ chốt ở đồng bằng, lại ngay sát nách địch. Anh em họ rất cần tới sự có mặt của tôi.
- Thôi được rồi, để tôi cho cậu Thêm đi với anh.
Thêm là một chiến sĩ trinh sát trẻ, mới bổ sung vào chiến trường được hai tháng nay nhưng do được đào tạo trinh sát cơ bản nên vừa được đề bạt giữ chức tiểu đội phó tiểu đội trinh sát. Cậu này được cái nhanh nhẹn, dũng cảm, nhưng lại hơi hấp tấp. Vì vậy khi Thêm tới nhận nhiệm vụ, tiểu đoàn trưởng phải dặn thêm:
- Cậu đi theo chính trị viên, vừa làm nhiệm vụ dẫn đường, vừa bảo vệ thủ trưởng. Phải hết sức cẩn thận, tỉnh táo. Nếu xảy ra chiến đấu, cậu phải yêu cầu các đồng chí chỉ huy có mặt tại trận chú ý bảo vệ thủ trưởng. Rõ chưa?
Thêm đáp “Rõ” rồi ngước nhìn chính trị viên, ngạc nhiên hỏi:
- Thủ trưởng cũng mang tiểu liên ạ?
- Tiểu liên chứ. Lên chốt mà. Mang súng ngắn thì nát ai?

Vừa lúc đó Trương Đình Lân cũng về tới nơi. Anh vội chạy ngay tới trước mặt tiểu đoàn trưởng báo cáo tình hình triển khai trận địa chốt của đại đội 9. Nghe xong, tiểu đoàn trưởng quay sang nói với chính trị viên:
- Đấy, anh thấy chưa? Tôi biết ngay thế nào Hùng Phong cũng đưa quân sang Đông đường. Nếu anh em họ đã quyết tâm như thế thì chúng ta có thể yên tâm. Tôi sẽ báo cáo ngay lên trung đoàn để khi cần sẽ yêu cầu trung đoàn dùng cối và pháo tầm xa chi viện cho anh em bên đó.
Thấy chính trị viên đã nai nịt gọn gàng, Lân vội hỏi:
- Chính trị viên định ra chốt ạ? Tôi xin đưa chính trị viên đi ngay.
- Không cần - Tiểu đoàn trưởng nói - Cậu Thêm sẽ đi với anh Báo. Còn cậu, tôi ra lệnh hãy vào hầm ngủ đi vài giờ. Khi nào cần, tôi sẽ gọi.
- Dạ báo cáo tiểu đoàn trưởng tôi...
- Anh yên tâm đi - Thêm vội nói chen vào - Hầm hố anh em trong tiểu đội đã chuẩn bị xong cả rồi. Anh cố ngủ lấy vài tiếng. Mấy đêm nay anh thức trắng rồi đấy.
Nói xong, Thêm dẫn chính trị viên đi ngay. Tiểu đoàn trưởng quay lại vỗ vào vai Lân, thân mật ra lệnh:
- Đi ngủ đi! Khi thế trận đã bày xong rồi thì lính trinh sát các cậu được phép xả hơi một chút trước khi trận đánh bắt đầu. Chỉ có mỗi cái kẽ hở này thôi, phải biết tận dụng chứ!


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 21 Tháng Ba, 2012, 11:08:12 am
Nghe lời tiểu đoàn trưởng, Lân loạng choạng bước xuống hầm: Lúc này anh mới thấy toàn thân ê ẩm, rã rời. Không kịp tháo bao đồ bao xe ra khỏi người, anh lăn ngay xuống nền hầm trải lá. Và chỉ trong giây lát, anh như bị nhấn chìm vào giấc ngủ mê mệt...

... Anh và nàng cùng bước đi trên bờ đê lộng gió. Mái tóc của nàng cắt ngắn rồi uốn rất khéo thành từng búp xoã xuống ngang vai, giờ đây được những làn gió đẫm hơi nước từ dưới sông thổi thốc lên, bay bồng bềnh. Rồi, những búp tóc ấy đột nhiên cứ duỗi dài ra, dài ra mãi cho đến khi trở thành một suối tóc đen mướt phủ kín cả hai vai... Đó Chính là mái tóc đã từng khiến anh ngẩn ngơ đứng nhìn theo không biết bao nhiêu lần. Nhưng dường như cái suối tóc ấy vẫn không ngừng chảy, nó cứ dài ra, dài ra mãi. Đột nhiên nàng cất tiếng cười giòn tan rồi rướn mình lên và bắt đầu chạy... Nàng chạy mỗi lúc một nhanh hơn, chiếc áo pô-pơ-lin màu thiên thanh nàng mặc đột nhiên căng phồng lên rồi thoắt trở thành một đôi cánh nâng nàng bay vút lên. Anh ngơ ngác nhìn theo rồi nghẹn ngào cất tiếng gọi - Thanh ơi! Nhưng... dường như nàng chẳng còn nghe thấy tiếng anh nữa mà chỉ ngước lên nhìn lên trời xanh và cất tiếng cười giòn vang, lay động cả bầu trời. Bỗng một đám mây lướt qua vai anh. Mà không phải là đám mây. Đó là mái tóc của nàng. Anh mừng rỡ, vội túm lấy mái tóc ấy và đột nhiên thấy mình nhẹ bẫng... Anh cũng đang bay lên, bay lên cùng sóng tóc của nàng. Trong giây lát, anh thấy mình lâng lâng hạnh phúc.
Bỗng từ trên thinh không vang lên tiếng nàng gọi - Anh Ban ơi... Em đang bay tới chỗ anh đây... Chờ em với!
Một cái gì đó chợt nhói lên trong tim anh. Đôi tay anh tự nhiên mềm nhũn, rã rời, không còn đủ sức mà bấu víu vào suối tóc của nàng nữa. Rồi anh tuột ra khỏi cái dòng suối dịu êm ấy và bắt đầu rơi... Rơi mỗi lúc một nhanh hơn. Gió ù ù thổi. Mặt trời rực rỡ trên đầu. Anh vẫn đang rơi... Và, cuối cùng thì mặt đất đây rồi. Một mặt đất rừng rực những lửa, quằn quại, đỏ bầm như máu. Anh hét lên một tiếng thật to, như nói lời vĩnh biệt... và nhắm mắt cam chịu... Anh đã sẵn sàng chờ cú va đập cuối cùng. Một luồng sáng loá lên chói gắt và những chuỗi tiếng nổ dữ dội. Có lẽ... đó là cú va đập khi một tiểu hành tinh đã lao vào trái đất để tự sát?...


Anh choàng tỉnh.
- Anh Lân mê ngủ gì mà kêu khiếp thế?
- Ai đấy?
- Em... Linh đây. Anh cứ ngủ đi. Pháo nó vừa bắn đấy mà.
Lân vừa khum tay che ánh sáng chói gắt ùa vào vừa lồm cồm bò ra cửa căn hầm kèo chật hẹp. Linh đang ngồi lau súng ngay trên bậc lên xuống.
- Mấy giờ rồi hả Linh?
Linh ngửa mặt nhìn lên bầu trời rồi đáp:
- Có lẽ cũng phải đến tám giờ rồi.
- Tiểu đoàn trưởng có cho gọi mình không?
- Không... Lúc nãy thủ trưởng có đi ngang qua đây nhưng không thấy hỏi anh.
- Ngoài kia có tình hình gì mới không?
- Hình như... địch đang vào chốt của C9. Vừa rồi, có một tốp máy bay tới ném bom.
Lân chợt nhớ tới giấc mơ vừa rồi. Thanh vừa bay vừa gọi tên cậu Ban. Hồi còn ở lớp Thanh có bao giờ tỏ ra là thích cậu ấy đâu nhỉ? Phải chăng, ngoài ấy gặp chuyện gì rồi? Nghĩ vậy, nên Lân vội nai nịt lại cho gọn gàng rồi leo lên, chạy sang hầm chỉ huy.

Tiểu đoàn trưởng Vinh, và trợ lý tham mưu Hai đang ở trong hầm. Tiểu đoàn trưởng đang nói chuyện điện thoại với trung đoàn.
- Báo cáo A1... Pháo địch bắn rất dày, và rồi một phi đội AD6 vừa ném bom ở phía Bắc làng Sòng. Trận địa của C9 vẫn chưa bị lộ. Đường dây hữu tuyến vẫn thông. Tôi vừa trao đổi tình hình với anh Báo. Anh em vẫn tranh thủ thời gian địch chưa sang để củng cố công sự.
Lân cúi thấp đầu chui vào hầm và nghe thấy tiếng trung đoàn trưởng vang trong máy:
- Đài kỹ thuật trung đoàn vừa thu được tin, sẽ có hai đại đội Mỹ từ căn cứ dã chiến ở Cam Vũ thuẩn bị hành quân ra phía Ngã Tư Sòng. Anh nhắc anh em chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu. Cố gắng giữ bí mật trận địa, đợi địch vào thật gần rồi hãy đánh. Trung đoàn sẽ cho pháo bắn yểm trợ nếu tụi Mỹ này thực sự dám vào giải tỏa chốt.

Tiểu đoàn trưởng Vinh phấn chấn hẳn lên:
- Nếu Mỹ ra thì rất tốt. Chúng tôi sẽ cố gắng đánh trận đầu thật ngon. Chào thủ trưởng.
Tiểu đoàn trưởng đặt máy xuống rồi ra lênh cho trợ lý tham mưu:
- Hải, cậu hãy thông báo cho C9 biết, có thể bọn Mỹ từ Cam Vũ sẽ theo đường 71 sang. Yêu cầu cho bộ đội sẵn sàng chiến đấu. Vẫn phải cố gắng giữ bí mật trận địa. Đợi cho địch vào thật gần mới được đánh.
Trợ lý Hải quay chiếc máy khác ở góc hầm để liên lạc với C9 nhưng tay quay lại nhẹ hẫng.
- Báo cáo thủ trưởng... Mất liên lạc rồi. Hình như đường dây lại bị đứt. Chắc là do loạt pháo vừa rồi.
- Con khỉ! - Tiểu đoàn trưởng bực mình gắt toáng lên - Cứ thử kêu đốt tịt. Đến lúc cần thì lại không làm việc được. Yêu cầu thông tin đi khắc phục ngay.
Hải vội bò ra cửa hầm gọi với sang hầm bên cạnh:
- Thông tin đâu. Đường dây xuống C9 lại đứt rồi. Cho người đi nối mau lên!
Tiểu đoàn trưởng đang lồng lộn trong hầm bỗng nhận ra sự có mặt của Lân.
- Cậu... không ngủ nữa à?
- Tôi cũng ngủ được chừng hơn một tiếng rồi ạ!
- Thế thì tốt rồi. Trung đoàn vừa báo tin Mỹ có thể tung quân từ Cam Vũ theo đường 71 lên giải toả hoặc thăm dò gì đó. Mình đang liên lạc với C9 nhưng đường dây lại đứt rồi. Tôi chỉ sợ anh em dưới đó chỉ chăm chú chuẩn bị đón đánh địch từ hướng cầu sắt sang mà không chú ý gì tới hướng đường 71.
- Thủ trưởng để tôi đi cho. Truyền đạt tiểu đoàn họ không có kinh nghiệm rất có thể bị máy bay địch nhìn thấy.
- Đúng vậy... - Tiểu đoàn trưởng gật đầu - Thôi được cậu đi đi. Nhắc anh Báo và Hùng Phong đón đánh địch trên đường 71. Mỹ đấy! Vì thế dứt khoát phải đợi chúng vào thật gần mới đánh. Tập trung hỏa lực mà đánh phủ đầu. Sau đó, cho một bộ phận cơ động nhẹ xung phong bám sát địch mà đánh.
Lân đáp “Rõ” rồi vọt lên khỏi hầm chạy đi ngay. Anh lợi dụng địa hình địa vật len lỏi chạy qua những khu vườn hoang, những bụi cây dại, thoăn thoắt bò dọc theo những bờ đất, những khu mồ mả ở ven làng. Thi thoảng lại cảnh giác dừng lại nghe tiếng máy bay trực thăng, máy bay trinh sát của địch. Cũng may, nơi này giáp các căn cứ lớn của địch, lâu nay ít bị bom đạn tàn phá nên vẫn còn chút cây xanh. Nếu khéo lợi dụng địa hình địa vật thì với một hai người cũng có thể di chuyển từ xóm này sang xóm khác được. Nhưng với điều kiện máy bay trực thăng vũ trang, máy bay trinh sát của địch chưa hoạt động ráo diết, dày đặc thì mới được. Lân tin rằng, chỉ cần ngoài chốt nổ súng là khả năng di chuyển như vậy sẽ rất khó khăn.

Một loạt pháo địch ào ào bay vọt qua đầu anh rồi nổ ành ành ngay phía sau cái xóm nhỏ nơi đặt vị trí chỉ.
huy tiểu đoàn. Sau loạt đạn ấy, pháo địch bắt đầu chuyển làn rồi mỗi lúc một bắn dày đặc tập trung hơn ra phía đường 71. “Có lẽ chúng nó bắn dọn đường cho bọn Mỹ đi rồi. Phải nhanh chân lên, pháo bắn xong là đến lượt bọn trực thăng quần đảo. Không nhanh thì khó có thể vượt qua cánh đồng trước mặt”. Lân nghĩ vậy trong khi nằm bên một gò đất vừa tránh pháo vừa chờ thời cơ vọt qua cánh đồng trống huơ trống hoác trước mặt. Qua được cánh đồng này, vượt qua nốt con đường sắt là tới làng Sòng rồi.
Chíu... oành... oành! Chíu chíu... Oành... oành... oành...
Đạn pháo nổ ngay rìa cánh đồng. Cát bụi bay mù mịt. Thảo nào, dây điện thoại cứ bị băm nát ra là phải.
Hai thằng OV10 bắt đầu vo ve bay lượn săm soi dọc theo hai bên đường 71 và đường số 1. Kiểu này mấy cậu thông tin hữu tuyến cũng khó mà khắc phục được đường dây. Lân nghĩ vậy và biết rằng mình đang mang một mệnh lệnh quan trọng.

Oành... Chíu... oành... oành!
Tranh thủ khi loạt pháo thứ hai nổ, Lân bật dậy, lao ngay vào màn khói bụi. Nhưng anh cũng không đủ thời gian vọt qua cánh đồng. Khói bụi chưa tan đã thấy thằng OV10 nghiêng cánh rồi phóng một quả đạn khói xuống khu gò cát phía Tây Nam làng Sòng, tiếp giáp với cánh đồng. Ở đó thì có cái mẹ gì nhỉ? Cái gò cát lơ phơ vài bụi dứa dại và gai xấu hổ. Phải rồi, hình như đêm qua C9 tập kết quanh đó trước khi vượt qua đường sắt vào làng. Chẳng lẽ thằng trinh sát này nhìn thấy được cả những dấu dép cao su hằn trên cát chắc?
Lân chờ đợi một loạt pháo kích dày đặc dội vào cái gò cát mà thằng OV10 vừa chỉ điểm. Nhưng chờ mãi vẫn chẳng thấy pháo dội vào đó. Ngược lại pháo địch bắt đầu tăng tầm, bắn vọt qua cái xóm nhỏ mà Ban chỉ huy tiểu đoàn và những bộ phận trực thuộc đang dấu quân.

Thì ra cái thằng mất dạy này chơi trò ú tim. Nó phóng đạn khói hú họa xuống, làm như đã nhìn thấy mười mươi cái gì đó, nếu ở trên cái gò đó mà có người thì nhất định sẽ có phản ứng, có sự xao động. Và lúc ấy, nó mới gọi pháo bắn dập vùi để tiêu diệt đối phương.
Lân vừa canh chừng thằng chỉ điểm trên trời vừa bò nhích từng đoạn một. Chỉ có vài trăm mét mà sao diệu vợi thế. Nắng đã bắt đầu gay gắt, mồ hôi túa xuống mắt, xuống miệng mặn chát. Lân chợt nhớ tới giấc mơ lạ lùng vừa rồi. Giá như anh biết bay. Giá như... mái tóc của Thanh che rợp được một góc trời khiến thằng rinh sát điện tử trên kia bị đui mù. Giá như... ? Bỗng thằng OV10 đổi hướng, bay ngoắt sang phía Đông đường một... Lân bật ngay dậy như một chiếc lò xo, dùng hết tốc độ vượt qua chặng cuối cùng trên cánh đồng trắng, vượt qua con đường sắt nằm tơ hơ, lặng phắc dưới nắng rồi lao vào những bụi cây dại ven làng. Anh đã tới đích. Vẫn chưa thấy thằng địch dội bom pháo vào thẳng cái làng này. Có nghĩa là, chúng vẫn chưa phát hiện ra lực lượng ta. Lân nghĩ vậy rồi vừa thở hổn hển vừa chạy vào những ngõ xóm đi tìm đại đội trưởng đại đội 9.


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 21 Tháng Ba, 2012, 11:09:02 am
Thấy pháo địch bắn nhiều và máy bay trinh sát địch chà xát săm soi dọc hai tuyến đường, Hùng Phong đoán rằng địch chuẩn bị đi kiểm tra đường. Không thể ngồi chờ ở vị trí chỉ huy, anh bật dậy nói với chính trị viên tiểu đoàn Lương Xuân Báo:
- Anh ngồi ở đây... để tôi ra chốt trung đội 1 xem anh em đã sẵn sàng chưa. Có lẽ địch sắp sang rồi đấy.
Nói rồi anh xách súng vọt đi ngay. Cậu liên lạc đại đội hớt hải chạy theo sau. Vừa chạy được một đoạn thì nhìn thấy Lân từ trong một ngõ nhỏ lao ra.
- Kìa Lân? Cậu... ra ngoài này làm gi?
Lân nói trong hơi thở đứt quãng:
- Đường dây xuống chỗ cậu bị đứt... ông Vinh... ra lệnh cho tớ...
- Có chuyện gì thế? Hùng Phong hỏi dồn.
- Mỹ... bọn Mỹ từ hướng Cam Vũ sẽ lên... theo đường 71. Trinh sát cấp trên thông báo vậy. Tiểu đoàn ra lệnh cho C9... chuẩn bị đón đánh địch. Ông Vinh dặn... cố gắng giữ bí mật trận địa đến cùng... đợi địch vào thật gần mới được đánh. Cố gắng đánh đòn phủ đầu vào bọn Mỹ cho... thật giòn!
Hùng Phong thoáng một chút ngạc nhiên:
- Bọn Mỹ đi tiên phong kia à? Quả thật... bọn tôi không nghĩ rằng chúng sẽ đi từ phía Cam Vũ lên theo đường 71. Chúng tôi lại đang chờ bị chờ bọn sư đoàn Bến Hải từ phía Nam cầu Sòng tiến sang kia. Nhưng không sao, chúng tôi chỉ cần điều chỉnh lại đội hình, bố trí lại hỏa lực một chút là có thể sẵn sàng tiếp khách được rồi.
Nói rồi, Hùng Phong bước tới nắm chặt lấy hai bàn tay Lân.
- Cám ơn... lớp trưởng nhé! Anh đã mang mệnh lệnh đến rất kịp thời. Thôi, tôi phải ra chốt đây. Hầm chỉ huy của đại đội tôi ở chỗ có cái cây trứng cá to nhất làng kia kìa. Ông Báo đang ở đó, cậu ghé vào xem ông ấy có nhắn gì về tiểu đoàn không?

Hùng Phong vẫy tay chào Lân một lần nữa rồi quay đi. Bất chợt Lân buột miệng gọi:
- Ban ơi!
Hùng Phong sững người quay lại:
- Lân... cậu... gọi tớ đấy à? Có chuyện gì nữa không?
Lân đành cười, ấp úng:
Không... Không có chuyện gì nữa đâu. Đánh tốt nhé!
Khi Hùng Phong đi khuất rồi, Lân mới hiểu rằng hình như vừa rồi anh gọi giật cậu ấy lại là vì anh chợt nhớ tới giấc mơ của mình. Có lẽ, trong tiềm thức, anh định nói với Ban một câu gì đó nhưng chắc chắn là anh sẽ không kể cho cậu ta nghe về giấc mơ kỳ lạ ấy, nhất là không thể nói rằng Thanh đã bay lên cùng với mái tóc của mình. Cái mái tóc dài lần đầu tiên Lân nhìn thấy khi đi đón các bạn học sinh Hà Nội về sơ tán, chứ không phải cái mái tóc uốn bồng kiểu cách mà Thanh đã làm trong kỳ nghỉ hè năm lớp chín. Hồi đó, vào ngày khai trường, Lân đã chết lặng đi khi nhìn thấy mái đầu xa lạ của Thanh. Vậy mà nhiều người, trong đó có Ban, lại khen là đẹp, là mốt kia chứ? Riêng Lân thì đã lặng lẽ làm một bài thơ khóc cái mái tóc dài ấy. Một bài thơ mà Thanh chưa bao giờ được đọc. Bài thơ, cho đến tận hôm nay anh vẫn chỉ giữ riêng cho mình.
... Đâu rồi mái tóc mướt xanh dòng sông tắm gội hồn anh mỗi ngày?
Đại loại là như thế. Nhưng lúc này mà nhớ tới thơ ca và một mái tóc dài thì thật vô duyên hết sức!

Đúng là Mỹ đi thật. Sau hai giờ dùng máy bay phóng rốc két, rồi pháo bắn hàng ngàn quả đạn pháo và súng cối dọc theo đường 71 tới làng Sòng, hai đại đội lính thủy đánh bộ Mỹ có xe tăng đi trước yểm trợ từ căn cứ dã chiến ở Cam Vũ tiến thẳng ra hướng Ngã Tư Sòng. Một cuộc hành quân thật ầm ĩ nhưng vẫn rất thận trọng. Cứ đi được một đoạn, đoàn xe địch lại dừng lại để chờ pháo bắn dọn đường. Tới gần mười một giờ trưa thì đội hình hành quân của địch đã tới cách điểm chốt chặn bí mật của đại đội 9 chừng năm trăm mét. Từ chín giờ sáng tới giờ, Đại đội trưởng Hùng Phong vẫn nằm lỳ bên cạnh nơi bố trí khẩu 12 ly 7 do trung đội phó trung đội hỏa lực Phạm Văn Hinh trực tiếp chỉ huy. Khẩu đội còn lại, vẫn bố trí trên hướng thính đề phòng địch từ bên kia cầu tràn sang bất ngờ. Anh cũng đã quyết định ở lại đây trực tiếp chỉ huy trận đánh này. Chắc mẩm phen này bét ra cũng phải vồ được vài chục tên lính cổ da Mỹ.

Phương án tác chiến mà Hùng Phong chọn cũng rất táo bạo. Anh quyết định đợi cho đến khi bộ phận đi đầu của địch vượt qua tầm bắn có hiệu quả nhất của khẩu 12 ly 7 thì mới cho nổ súng. Lúc đó, khẩu súng máy này sẽ tập trung quật vào giữa đoàn xe chở quân để tiêu diệt càng nhiều sinh lực địch càng tốt. Còn tốp địch đi đầu, chắc chắn là có xe tăng, sẽ dành cho tiểu đội 1 có tăng cường thêm một khẩu B41 đánh chặn. Anh yêu cầu các xạ thủ B40, B41 ngay từ loạt đạn đầu phải bắn cháy hai chiếc xe tăng đi đầu buộc chúng phải vón cục, dồn đội hình lại. Lúc đó sẽ dùng cối 60 ly mà bắn vào từng cụm, từng cụm một. Bộ đội sẽ chỉ xung phong bám thắt lưng địch mà đánh khi thấy chúng có dấu hiệu lúng túng, vỡ trận. Hạn chế tối đa thời gian thoát ly công sự để tránh bị sát thương vì phi pháo và hỏa lực từ trực thăng bắn xuống.

Nhờ có hơn hai giờ đồng hồ để chuẩn bị đón đánh địch nên Hùng Phong rất tự tin. Anh hồi hộp theo dõi từng bước tiến của hai đại đội Mỹ và hơi ngạc nhiên trước sự thận trọng thái quá của bọn chúng. Anh đoán rằng có lẽ, địch chưa biết chắc chắn có lực lượng ta chốt ở Ngã Tư Sòng hay không? Cứ xem cách đánh hỏa lực của chúng thì cũng có thể đoán được điều đó. Chúng bắn nhiều pháo, cối nhưng mật độ không tập trung ở khu vực nào mà hình như chỉ bắn theo kiểu “rung cây nhát khỉ”. Vì vậy, đến lúc này đại đội vẫn chưa có thương vong. Một vài ngôi nhà trong làng đã bốc cháy dữ dội nhưng Hùng Phong đã ra lệnh cho bộ đội án binh bất động. Chừng hơn chục người dân còn mắc lại trong làng đã được bộ đội đưa xuống hầm, vừa tránh bom pháo, vừa canh chừng đề phòng trong số họ có thám báo, gián điệp của địch trà trộn nằm lại để do thám. Vì thế, có cơ sở để tin rằng địch tuy đã có nghi ngờ, phỏng đoán, nhưng vẫn chưa phát hiện ra lực lượng của ta đã có mặt ở khu vực Ngã Tư Sòng. Điều đó giải thích thái đội thận trọng trong hành quân của đơn vị quân Mỹ này.
Đã nhìn rõ những chiếc xe tăng dẫn đường của địch vừa đi vừa dùng súng máy bắn như vãi đạn sang hai bên đường. Đại đội trưởng Hùng phong xoa hai tay vào nhau rồi quay sang nháy mắt cho các xạ thủ 12 ly 7 chuẩn bị. Băng đạn sáng loáng đã sẵn sàng. Cậu xạ thủ số một ướm hai thanh bệ tỳ vào vai, rê nòng súng theo sự di chuyển chậm chạp của đoàn xe. Anh trung đội phó nằm bên cạnh tỏ vẻ sốt ruột hơn cả, đôi mắt đỏ đọc của anh mở trừng trừng, trong miệng anh luôn ngậm một cọng cỏ nhưng từ cổ họng anh ta vẫn phát ra những tiếng gừ gừ như tiếng của những con sư tử đang rình mồi.
- Tới đi... Tới đi nào!Chỉ cần chúng mày vào thêm bốn trăm mét. Không... chỉ cần ba trăm mét nữa thôi!
Nhưng đột nhiên chiếc xe tăng M113 đi đầu bỗng dừng lại, dạt sang bên phải đường. Chiếc thứ hai vọt lên, rẽ sang trái rồi quay tất cả các nòng súng pháo về phía Bắc đường mà bắn như trút đạn. Những chiếc xe tăng đi giữa đội hình cũng dạt cả ra, làm thành ba cụm xe tăng, hai ở phía Bắc, một ở phía Nam đường.
- Chúng nó làm cái trò gì thế nhỉ?
Trung đội phó Hinh thổi phù cọng cỏ ra khỏi miệng lầu bầu hỏi.
- Có lẽ... - Hùng Phong nghển cổ lên quan sát – Chẳng lẽ... Chúng nó không đi nữa sao?
- Mẹ kiếp! Làm ăn cái kiểu gì thế không biết? Anh trung đội phó 12 ly 7 lầu bầu chửi rủa.
Quả nhiên, những chiếc GMC chở đầy lính bắt đầu lùi dần rồi lần lượt quay đầu về phía Cam Vũ.
- Chúng nó chuồn thật rồi! - Hùng Phong thốt lên.
- Mẹ cha cái bọn nhát gan! Hay là... đuổi theo mà choảng cho chúng nó một trận, đại trưởng ạ.
- Không được! Chúng ta không đủ thời gian để tiếp cận chúng đâu. Chỉ cần mình vọt ra khỏi công sự là tụi trực thăng vũ trang sẽ bu tới ngay. Sau đó, từng ấy khẩu súng máy và súng phóng lựu từ bấy nhiêu cái xe tăng sẽ vãi đạn vào đội hình xung phong của ta. Ấy là chưa kể pháo, cối chúng cũng kịp bắn chặn ngay lập tức. Chuyện gì xảy ra sau đó thì anh cũng đoán được rồi!
Trung đội phó Hinh càu nhàu:
- Mẹ nó... Bở ăn thế mà bỗng dưng...
- Cơn cá mất là cơn cá to. Thôi, không sao! Còn nhiều dịp mà.
Hùng Phong vỗ nhẹ vào vai anh trung đội phó hỏa lực an ủi và cũng để tự an ủi mình. Đúng là tiếc thật. Có lẽ bọn này chỉ được lệnh đi thăm dò mà thôi. Chúng đi đến đây là đủ để nói với cấp trên rằng khu vực Ngã Tư Sòng chưa bị chủ lực Việt Cộng khống chế. Rất có thể sau đó, lực lượng lớn quân ngụy sẽ từ bên phía Nam cầu sắt tiến sang để giải toả khu vực Nam Quán Ngang hôm qua vừa bị ta cắt đường.


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 21 Tháng Ba, 2012, 11:10:04 am
Phán đoán vậy nên sau khi nhìn thấy rõ ràng đội hình hành quân của bọn Mỹ đã thực sự lui hết về hướng Cam Vũ, Hùng Phong liền đứng dậy ra lệnh - Thôi, thu dọn đồ nghề. Chúng nó không đi theo đường này nữa đâu.
Vừa lúc đó từ vị trí chỉ huy, chính trị viên Lương Xuân Báo cho liên lạc ra truyền lệnh của tiểu đoàn cho rút phần lớn lực lượng về trận địa cơ bản, chỉ để lại một tiểu đội chốt ở hướng này, bố trí lại hỏa lực, sẵn sàng đón đánh địch từ phía Nam cầu sắt tiến sang.
Nghe truyền đạt mệnh lệnh xong, trung đội phó Hinh bỗng kêu lên:
- Cho lính ăn cơm rồi mới chuyển, được không đại đội trưởng?
Hùng Phong gật đầu:
- Được! Anh cứ cho anh em ăn cơm đi. Bỗng dưng tớ cũng chợt nhớ ra từ sáng đến giờ chưa có gì bỏ vào bụng đây. Đói khiếp lên được!
Trung đội phó Hinh khoát tay ra lệnh cho lính của mình:
- Anh em mười hai li nhếch chú ý... Cơm nắm một viên... Chén!
Trận địa ồn ào lên vì cái lệnh vui vẻ này. Cậu Ngọt, xạ thủ của khẩu đội 1, từ nãy đến giờ vẫn im như hến bỗng lên tiếng:
- Phải rồi! Hay là bọn Mỹ quay về ăn cơm rồi mới ra. Em nghe nói, bọn nó nguyên tắc lắm. Đến giờ ăn cơm là nhất định không chịu đánh đấm gì nữa.
Hùng Phong bỗng bật cười:
- Vậy. . ăn cơm xong cậu cứ ôm súng ngồi đây mà đợi. Tụi Mỹ nó ăn uống cũng lâu ra phết đấy!
13
Trời đã ngả về chiều. Nắng mỗi lúc một thêm gay gắt. Phải ngồi bó gối trong công sự chiến đấu ngụy trang kín bằng đủ những thứ lởm khởm, hấp nhiệt như bao tải dứa, gỗ dán, tôn múi... nên các chiến sĩ trung đội hai và anh em xạ thủ đại liên đi tăng cường người nào người đó đều nhoai ra vì nắng. Cũng may trong cái xóm nhỏ này còn có được một cái giếng khá nhiều nước, nên anh em không bị cơn khát dày vò. Nhưng uống nước nhiều, mồ hôi càng ra nhiều hơn, lại càng mệt mỏi, rã rời. Đã vậy, lại không thấy bóng dáng thằng địch nào, anh em bắt đầu sốt ruột. Đã có người chủ quan, cho rằng có lẽ thằng địch sợ, không dám đi giải toả nữa cũng nên. Trung đội trưởng Nguyễn Đình Hướng cũng mệt nhoài, người đẫm mồ hôi, nhưng vẫn phải bò đi bò lại qua các hầm chiến đấu, nhắc nhở anh em kiên trì chờ đợi, cố gắng giữ bí mật trận địa chốt để tránh bị thương vong vì phi pháo trước khi chạm súng với địch.
Ngoài đường 71, từ sáng đến giờ vẫn vắng tanh, không một bóng người qua lại. Có lẽ dân trong vùng đã sơ tán hết. Trên trời, không một phút nào vắng sự hiện diện của máy bay trinh sát. Giữ trưa có một chiếc OV10 sà xuống rất thấp, nó bay dọc đường 71 đến tận ngã tư mới ngóc lên rồi bay vòng trở lại, xà xuống thấp một lần nữa. Tiếng rít của nó khoan vào không gian oi bức, nghe đến khó chịu. Khi nó bay qua cái xóm này, Hướng nằm ngửa dưới một tấm liếp nứa nhìn lên, thấy rõ cả thằng phi công. Hình như nó nghi ngờ gì đó nên đảo lại một vòng nữa. Hướng quát thật to để cả trận địa nghe tiếng:
- Tất cả nằm yên! Không được rời vị trí ấn nấp. Không được bắn máy bay trinh sát!
Chiếc OV10 đảo thêm vài vòng nữa rồi yên tâm vọt lên cao, lảng ra xa dần. Có lẽ, nó đã khẳng định rằng không đời nào Việt Cộng lại dám đưa quân sang chốt ở phía Đông đường. Vì thế cho đến tận lúc này, mặc dù địch đã pháo kích dữ dội vào làng Sòng, nhưng vẫn chưa có quả pháo nào bắn vào cái xóm nhỏ loi thoi mươi nóc nhà ở phía bên này.
Đợi dứt một đợt pháo kích, Hướng gọi tiểu đội trưởng tiểu đội 4 Trần Văn Vôi, tiểu đội trưởng tiểu đội 5 Nguyễn Bá Trọ, cùng với Toàn khẩu đội trưởng đại liên tăng cường tới nhắc nhở:
- Chúng ta được lệnh ra xây dựng trận địa chốt ở đây là để chặn địch từ hướng Đông theo đường 71 lên đánh vào sườn đại đội. Khi địch chưa tới thì nhiệm vụ chủ yếu của chúng ta là phải giữ bí mật, đồng thời tranh thủ củng cố trận địa cho thật vững chắc. Nếu chưa đánh mà đã bị thương vong là không hoàn thành nhiệm vụ. Vì vậy, tôi nhắc lại, từ giờ phút này, trừ những đồng chí được phân công quan sát, còn lại không một ai được nhô lên khỏi hầm. Dứt một đợt pháo kích, các tiểu đội lại tiếp tục cho anh em đào thêm hầm tránh pháo và công sự chiến đấu. Đào đến đâu, ngụy trang ngay đến đó. Riêng anh em khẩu đội đại liên thì tập trung xây dựng hầm súng máy và đường hào xuyên vào ngôi nhà bê tông. Tất cả rõ chưa?
Tiểu đội trưởng Nguyễn Bá Trọ, người Hà Tĩnh, vốn là lính của một trung đoàn trực thuộc Mặt trận B5 vừa được bổ sung về đại đội trước khi vào khu tứ giác nhưng đã nổi tiếng là người “hay có ý kiến”, lập tức lên tiếng ngay:
- Tui xin có ý kiến... Tui không tán thành việc tiểu đội đồng chí Vôi lấy nồi niêu xoong chảo của dân ra vục đất đào hầm. Như rứa là vi phạm chính sách dân vận đó.
Hướng ngơ ngác nghiêng tai vào tận mặt Vôi hỏi nhỏ:
- Nó nói gì mà líu ra líu díu vậy?
Vôi ngoác miệng cười, bắt chiếc giọng của Trọ, nói oang oang:
- Không có chi mô! Đồng chí Trọ thể hiện quyết tâm đấy thôi!
Hướng gật đầu:
- Vậy thì tốt. Quyết tâm nhé. Thôi, mọi người về chỗ đi. Nó lại sắp ca bài ca pháo kích rồi đó.
Toàn và Vôi vội đứng dậy ngay. Trọ ngơ ngác nhìn mọi người, hỏi:
- Họp hành chi mà lẹ dữ hè?
Vôi vỗ vào vai cậu ta cười:
- Thôi, họp thế đủ rồi. Về mà tranh thủ đào hầm đi. Tôi thấy tốc độ bên ông hơi chậm đó!
Trọ trợn mắt:
- Kể gì quân ông vi phạm chính sách. Khi mô đại đội qua đây, tui phê bình đến nơi đó!
Quãng hai giờ chiều. Hướng đang ngồi tựa lưng vào vách hầm thiu thiu ngủ thì tiểu đội trưởng Vôi bò tới gọi giật:
- Anh Hướng! Ra mà xem, có chuyện rồi!
Hướng vội nhảy lên khỏi công sự cùng Vôi bò dọc theo tường ngôi nhà ven đường, ra tới đầu hồi thì anh nhìn thấy điều mà Vôi vừa thông báo. Trên đường 71 xuất hiện một tốp chừng hơn hai chục người, toàn đàn bà trẻ con, gồng gánh, cõng địu nhau từ phía Đông chạy lên. Có lẽ là dân chạy loạn.
- Bỏ mẹ rồi, để họ lên đây thì phiền lắm.
- Làm thế nào, anh?
Vôi lo lắng hỏi. Hướng suy nghĩ một lát rồi quyết định:
- Cậu cùng một cậu nữa bò ra đường đón họ rồi giải thích để họ quay trở lại đừng cho họ lên khu vực ngã tư.
- Như vậy... thì lộ rồi còn gì?
- Làm thế nào để họ không nhìn thấy các cậu từ xóm này ra là được. Nếu có lộ thì cũng đành chịu. Không thể để bà con rơi vào cái túi lửa này được.
Vôi định chạy đi nhưng trung đội trưởng Hướng lại gọi với theo:
- Này, nhưng chớ có lôi thằng Trọ đi đấy. Lúc này không phải là lúc tuyên truyền chính sách!
Tiểu đội trưởng Vôi gật đầu cười rồi vội chạy đi thi hành mệnh lệnh ngay. Hướng vẫn nằm ở đó hồi hộp quan sát. Lạy trời mấy thằng OV10 đừng quay lại vào lúc này.
Đoàn người đã tới khúc quanh của con đường. Đã nghe rõ tiếng các bà các cô lao xao trò chuyện, tiếng những đứa trẻ khóc ngặt nghẽo trên lưng những bà mẹ. Có lẽ vì nắng quá. Đúng lúc đó, Vôi và một chiến sĩ từ một bụi cây ven đường nhô ra. Toán người chạy loạn đột ngột sững lại vì ngạc nhiên, có người kêu ré lên “Cha mẹ ơi! Việt Cộng đó!”, một vài người vội quay đầu co cẳng chạy bán sống bán chết. Vôi nói gì đó với họ khiến họ có vẻ như đã bình tĩnh trở lại. Một số người đứng yên lắng nghe rồi lặng lẽ tản ra, quay trở lại. Có người trước khi đi còn đưa tay lên vẫy hai anh chiến sĩ giải phóng.
Một lát sau, Vôi trở lại. Hướng sốt ruột hỏi:
- Cậu nói gì với họ thế?
Vôi mỉm cười đáp:
- Tôi nói, chúng tôi là quân giải phóng, là bộ đội của Bác Hồ. Khu vực này hiện đang bị bom pháo Mỹ phong toả, sắp có đánh nhau to, bà con nên quay trở lại tìm chỗ an toàn mà trú chân.
Họ định kéo nhau sang Đông Hà à?
- Vâng... Họ nói ở dưới kia Mỹ cũng vừa cho tàu chở quân từ Cửa Việt lên đông lắm. Có cả xe tăng, vì thế nên họ tính chạy sang Đông Hà lánh nạn.
- Thôi được rồi, họ không lên đây là tốt rồi. Cậu trở về nhắc anh em không được lên khỏi hầm. Chúng ta có thể bị lộ. Nếu vậy, sẽ có pháo kích dữ dội lắm đấy. Thậm chí, có thể máy bay cũng sẽ đến oanh tạc. Phải sẵn sàng mà chịu trận!
Nhưng Hướng chưa kịp nói xong thì đã nghe tiếng đề pa đầu nòng của pháo địch từ bốn phía nổ liên tục. Rồi, tiếng đạn pháo rít gió à à bay tới.
- Nằm xuống!
Hàng trăm trái đạn pháo nổ rền. Nhưng vẫn chưa có trái nào rơi vào trận địa trung đội 2. Lần này, chúng tập trung hỏa lực bắn vào làng Sòng và dọc theo đường số 1 tới khu vực ngã tư.
- Sao có thể nhanh thế được? Chẳng lẽ trong cái đám dân chúng ấy có chỉ điểm?
Vôi vừa lồm cồm bò dậy sau một loạt pháo vừa bực bội hét lên.
- Không phải đâu. Có lẽ, chúng dọn đường cho quân từ bên kia cầu sang đấy. Về hầm mau! Toàn trung đội sẵn sàng chiến đấu!
Hướng cũng hét lên thật to rồi bật dậy chạy về hầm của mình. Toàn khẩu đội trưởng khẩu đội đại liên do tiều đoàn tăng cường đang lật tám vỉ cói ngụy trang khẩu súng máy láng bóng của mình lên càu nhàu:
- Lắm cát quá! Từ sáng đến giờ lau súng đến ba bốn lần rồi mà vẫn chưa được bắn. Sốt ruột lắm rồi, trung đội trưởng ơi!
Hướng không nghe rõ những lời của Toàn, nhưng vẫn gật đầu cười:
- Đừng sốt ruột! Thế nào thằng địch cũng sang mà!
Pháo bắn mỗi lúc một dày. Lần này thì đạn đã rơi vào khu vực chốt của trung đội. Banh... Banh... Banh!
Toàn pháo tăng tốc. Bắn nhanh như chớp. Đạn phá dưới đất có, đạn đum đum nổ trên trời găm mảnh xuống như mưa rào cũng có. Lối bắn này thật hiểm độc.

Cái xóm nhỏ từ sang tới giờ vẫn bình yên bỗng chốc dìm trong khói lửa. Những ngôi ngôi nhà trúng đạn pháo đổ rầm rầm. Cát bụi mù mịt. Mảnh đạn pháo bay véo véo xé roàng roạc những tấm tôn lợp mái. Trung đội trưởng Hướng ngồi ép mình dưới thành hầm, hai tay ôm lấy đầu, trong tai anh lại như có hàng ngàn con ong vo ve, quần thảo. Sau mươi phút cấp tập, pháo địch bắt đầu chuyển làn, bắn lui về phía Bắc đường. Hướng chưa kịp ngẩng lên thì đã thấy cái mặt đen nhẻm của Vôi ló ra trên miệng hầm, đôi hàm răng trắng nhởn của cậu ta nhe ra giống như cười. Hướng buông hai bàn tay đang bịt chặt hai lỗ tai ra rồi vừa rũ bụi đứng lên vừa hét thật to:
- Có ai việc gì không?
Vôi lắc đầu rồi chỉ về phía cầu sắt. Hướng nhảy lên khỏi hầm, khum tay che nắng để quan sát. Trơng nắng chiều, anh đã nhìn thấy những chớp sáng lấp lấp loá từ những tấm kính của đoàn xe quân sự đang nối nhau qua cầu.
- Chúng nó sang đấy!
Hướng nói và chợt vui sướng vì vẫn nghe được giọng mình. Vậy là đôi tai anh vẫn còn nghe được.
Tiểu đội trưởng Vôi vẫn lom lom nhìn về phía cầu:
- Đông quá, có dễ tới cả chục xe.
Khẩu đội trưởng Toàn kéo cần khoá nòng đại liên đánh roạc một cái.
- Nhưng chưa chắc đã đến lượt anh em mình!
Hướng gật đầu giải thích:
- Bọn mình chủ yếu đón lõng địch từ hướng Đông theo đường 71 lên. Nó đi hướng ấy thì vào rọ của trung đội một rồi!
Và chỉ vài phút sau, từ phía trận địa chốt đầu làng Sòng tiếng súng đã vang lên.
- Tiếng 12 ly 7 đấy. Bên ấy họ đánh rồi!
Nghe tiếng Toàn reo lên như vậy, từ các công sự chiến đấu mọi người đều ngóc đầu lên dỏng tai lắng nghe. Tiếng súng mỗi lúc một rền vang từ phía trận địa của trung đội một. Tiểu đội trưởng Vôi vội chạy tới bên trung đội trưởng, hỏi:
- Bên trung đội một đánh rồi. Chúng ta phải làm gì đi chứ?
Hướng nghiêm mặt, lạnh lùng đáp:
- Cậu đừng có chạy hoắng lên như thế. Nhắc anh em, củng cố lại công sự, ngụy trang kỹ. Cứ ngồi dưới hầm mà chờ. Chưa đến lượt chúng ta đâu!


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 21 Tháng Ba, 2012, 11:10:39 am
Đúng lúc đại đội trưởng Hùng Phong định quay trở về hầm chỉ huy thì từ đài quan sát, anh em trinh sát báo về rằng từ bờ Nam, địch đang rục rịch chuẩn bị hành quân sang.
- Tốt. Chẳng lẽ chúng mình đợi cả ngày uổng công sao?
Hùng Phong nói vậy rồi ra lệnh cho trung đội phó Hinh chuẩn bị hỏa lực. Xong xuôi, anh gọi trung đội trưởng Hoàng tới dặn:
- Tôi và cậu Phát, trung đội phó của cậu sẽ chỉ huy ở đây. Cậu sang bên kia cùng tiểu đội 5 canh chừng hướng Cam Vũ sang, đề phòng bọn Mỹ quay trở lại.
Pháo ầm xa và các loại súng cối của địch cùng lúc ầm ầm bắn về khu vực làng Sòng. Đúng là bài bắn dọn đường rồi. Hùng Phong nghĩ vậy rồi chạy tới bên hầm trung đội phó Hinh.
- Hai con gà cồ của ông sẵn sàng chưa?
Hinh gật đáp “Gáy lúc nào cũng được ạ!”. Hùng Phong nhô người lên một ụ đất, chăm chú quan sát bờ bên kia. Chừng mươi phút thì nghe thấy tiếng động cơ nổ ầm ì xen trong tiếng pháo. Rồi, những chiếc xe đi đầu nhô lên cầu.
- Chúng nó sang đấy. Hỏa lực chú ý... Đợi xe địch vào tới điểm chuẩn mới được bắn!
Pháo địch chuyển làn, bắn lui dần về phía Bắc.
Đoàn xe địch gồm 12 chiếc GMC chở đầy lính của trung đoàn 2 sư đoàn Bến Hải được bốn chiếc M113 đi tháp tùng đang từ từ vượt qua cầu. Bọn này hành quân khá khinh xuất. Có lẽ sau khi hai đại đội Mỹ đi thăm dò trở về báo cáo không thấy có Việt Cộng ở khu vực làng Sòng nên chúng mới chủ quan đến vậy.
Hùng Phong dán mắt vào đoàn xe, thầm mong chúng đừng nhát gan mà quay trở lại như bọn Mỹ. Phía sau lưng anh, vang lên tiếng trung đội phó Hinh nhắc các xạ thủ:
- Bỏ qua hai chiếc bọc thép đi đầu. Tập ung hỏa lực quật đổ chiếc xe chở quân thứ ba và thứ tư. Sau đó khẩu một rê nòng bắn găm hai chiếc xe bọc thép lại, yểm hộ cho B40 lên tiêu diệt. Khẩu hai bắn dọc theo đoàn xe yểm trợ cho bộ binh xung phong.
Tiếng cậu Ngọt làu bàu:
- Mẹ nó, tự nhiên sao lại mót đái thế?
- Tập trung vào... Đái với ỉa gì!
- Là... em nói thế thôi!
Những chiếc xe đi đầu đã tới điểm quyết chiến.
Tiếng Hùng Phong vang lên đanh gọn:
- Đánh.
Pằng... pằng... pằng... pằng... pằng... pằng... pằng... pằng!
Hai khẩu 12 ly 7 cùng gầm lên dữ dội. Đạn găm thun thút vào hai chiếc xe đi đầu. Một chiếc lật nghiêng, cày trên mặt đường toé lửa rồi nổ bùng. Chiếc thứ hai lao xuống khu ruộng hoang bên cạnh rồi cũng nổ tung. Bọn lính trên xe, đứa bị hất văng xuống đường, đưa bị hất tung lên trong đám lửa dữ đội. Hai chiếc bọc thép bị đạn 12 ly 7 bắn vỗ mặt hốt hoảng dạt sang một bên, chưa kịp xoay trở gì thì một chiếc đã bị đạn B40 bắn trúng đùng đùng bốc cháy. Chiếc thứ hai may mắn hơn, chỉ bị đạn hất tung mất băng xích. Bọn địch trên xe hốt hoảng bật của xe nhảy ra chạy tháo thân.

Phút chốc đội hình hành quân của địch trở nên rối loạn. Những chiếc xe đi phía sau vội vã quay đầu xe tháo chạy. Thêm vài chiếc nữa bốc cháy. Cả đoạn đường ngùn ngụt khói lửa... Bộ binh địch từ trên xe nhảy xuống vừa chạy trở lui vừa bắn vung lên trời. Hai khẩu 12 ly 7 vẫn quét từng loạt đạn vào từng cụm địch, cối 60 ly của đại đội từ phía sau cũng bắt đầu thong thả rót đạn xuống lòng đường. Nhiều tên địch trúng đạn, văng xuống đường liền bị những chiếc xe đang cố quay đầu chạy nghiến nát bét. Máu loang đỏ trên mặt đường – Hỏa lực thôi bắn! Trung đội một... xung phong!
Tiếng đại đội trưởng Hùng Phong vang lên. Các chiến sĩ trung đội 1 do trung đội phó Nguyễn Tiến Phát chỉ huy bật ngay khỏi công sự lao xuống mặt đường. Tiếng tiểu liên vang lên giòn giã. Đại đội trưởng Hùng Phong quan sát trận đánh một lát rồi, quay lại phía các chiến sĩ 12 ly 7 đang hò reo trợ chiến, hét lớn:
- Anh Hinh... Cho bộ đội xuống hầm. Giá súng, chuẩn bị đánh máy bay trực thăng!
Ba chiếc trực thăng chiến đấu kiểu UH1A từ phía Đông Hà ầm ầm bay dọc theo bờ sông. Xuống tới ngang cầu sắt chúng lượn một vòng hẹp quanh nơi xảy ra chiến sự rồi bắt đầu chúi xuống xả súng máy và phóng rốc két. Hùng Phong sốt ruột nhìn ra mặt đường. Điều mà anh lo nhất đã xảy ra, bộ đội ham đánh, thoát ly công sự khá xa.
- Bắn kiềm chế máy bay địch!
Anh ra lệnh rồi bật khỏi công sự lao xuống đường.
Chíu… chíu... chíu...
Một loạt đạn từ trực thăng bắn xuống cày ngay trước mặt anh. Trên trận địa, khẩu 12 ly 7 của Ngọt đã lên tiếng. Hùng Phong chạy thêm một đoạn nữa, vượt qua nơi có chiếc xe M113 cháy thì nhìn thấy bộ đội đang đuổi theo bọn địch chạy đạt xuống khu ruộng phía Đông đường. Anh đứng dậy, huơ tay hét lớn:
- Phát! Cho bộ đội rút lui... Nhanh lên!
Phát nghe tiếng, anh ngoái lại nhìn nhưng vẫn tiếp tục lao về phía trước. Vừa lúc, hai chiếc trực thăng địch từ phía Đông quay lại. Những cái đầu đen trũi của nó bắt đầu chúi xuống. Bốn trái rốckét cùng phóng xuống một lúc. Đại đội trưởng Hùng Phong vừa kịp nằm xuống thì đã thấy chớp loá ngay trước mặt, sau lưng, bên phải, bên trái. Ngay sau đó, mặt đất bị cày lên bởi những loạt súng máy. Mấy thằng giặc trời này lợi hại thật. Hùng Phong nghĩ vậy và lo lắng nhìn về phía trước. Sau lớp khói mờ mờ, anh nhìn thấy bộ đội của mình đang lúp xúp chạy lộn trở lại.
- Chú ý trực thăng đấy!
Chíu. chíu... chíu... oành!
Khói đạn xộc vào tận cuống họng khiến Hùng Phong ho sặc sụa, Nhưng anh vẫn cố dướn người lên, hét đến vỡ họng:
- Phát! Cho bộ đội lui về ngay!
Lần này thì dường như Phát đã hiểu được tình hình. Anh ta dừng lại, la hét và vẫy mũ ra lệnh cho bộ đội lui quân. Chỉ sợ không kịp nữa. Mấy chiếc trực thăng có vẻ như đã biết chúng cần phải làm gì. Sau một hồi hoang mang không biết nên bắn vào đâu, lúc này pháo và súng cối của địch cũng đã bắt đầu dồn dập bắn vào khu chiến. Nếu bộ đội không về công sự nhanh thì thể nào cũng có thương vong. Anh nghĩ vậy rồi tranh thủ lúc mấy chiếc trực thăng địch chưa quay đầu để bật dậy, chạy lộn trở lại, vượt qua đường trở về.
Trên trận địa, hai khẩu 12 ly 7 vẫn đang bắn kiềm chế mấy chiếc trực thăng địch yểm hộ cho bộ đội ta lui quân. Khi vừa lao xuống công sự, Hùng Phong đã nghe thấy tiếng trung đội phó Hinh reo lên:
- Trúng rồi! Phen này thì mày toi rồi con ơi!

Vừa thở, và ngước nhìn lên trời, Hùng Phong đã nhìn thấy một chiếc trực thăng đang cháy. Nó bay loạng choạng như thằng say rượu, hộc ra một bọng khói đen xì lồi bất lực chúi dần, chúi dần xuống cho đến khi lao cắm đầu xuống sông, dựng lên một cột nước cao ngất.
- Hinh... Không bắn nữa. Cho hạ súng xuống, vào hầm trú ẩn ngay!
Đại đội trưởng ra lệnh như vậy vì tin rằng địch đã phát hiện ra vị trí của hai khẩu 12 ly 7 và chỉ một lát nữa thôi, chúng sẽ chỉnh pháo bắn trùm lên khu vực này. Trận đầu trên chốt, đánh như vậy là được rồi. Phải bảo toàn lực lượng để còn chiến đấu dài ngày.
Trung đội một cũng đã kịp lui quân về chốt trước khi pháo địch bắn cấp tập lên trận địa và tốp máy bay ném bom AD6 từ phía Đông lao tới gầm rú trên đầu.

Hùng Phong rất mừng khi chỉ có trung đội phó Phát và hai chiến sĩ bị thương nhẹ, không có chiến sĩ nào hy sinh khi xung phong. Tuy vậy anh vẫn nghiêm khắc cảnh cáo:
- Nếu một lần nữa không nghe lệnh chỉ huy, anh sẽ bị kỷ luật!
- Bộ đội đang hăng mà đại đội trưởng ạ!
- Bộ đội hăng thì chỉ huy càng phải tỉnh táo!
Trung đội phó Phát vừa băng lại vết thương trên cánh tay vừa thanh minh:
- Báo cáo đại đội trưởng... lúc đó ngon ăn quá... Với lại, tiếng súng đạn nổ dữ quá, tôi cũng chưa kịp nghe thấy lệnh của đại đội...
- Không trình bày! Rút kinh nghiệm lần sau có xung phong thì phải chú ý nghe lệnh chỉ huy. Từ giờ, lệnh cho anh em không được rời hầm chiến đấu. Khi ngớt pháo thì lập tức củng cố lại công sự, ngụy trang thật kỹ. Rõ chưa?
- Báo cáo rõ!
Phát vừa đáp vừa lau những vết máu đang ròng ròng chảy trên mặt:
- Cậu bị thương cả vào đầu nữa à? - Đại đội trưởng lò lắng hỏi.
- Chỉ bị sướt da đầu thôi ạ. Gáo của tôi cứng lắm!
- Vào đầu là phải cẩn thận đấy. Lát nữa anh Hoàng sẽ quay lại đây chỉ huy trung đội, cậu phải cùng với mấy cậu bị thương về hầm phẫu để quân y kiểm tra vết thương cho, rõ chưa?
Phát nhăn nhó:
- Nghĩa là... chúng tôi phải về tuyến sau?
- Sau với trước cái gì? Trạm Quân y tiểu đoàn nằm ngay trong làng này thôi. Các cậu bị thương nhẹ thì sau khi kiểm tra, làm thuốc xong sẽ quay trở lại trận địa chiến đấu ngay.
Pháo địch vẫn bắn nhưng chuyển làn dần sang hướng đường 71. Ba chiếc AD6 không hiểu sao lại trút bom xuống phía Bắc làng Sòng. Đó chính là điều bất ngờ khiến Hùng Phong và các chiến sĩ trên trận địa chốt đều ngạc nhiên. Trung đội phó 12 ly 7, Phạm Văn Hinh nhô hẳn đầu lên khỏi công sự nghe ngóng một lát rồi hỏi với sang:
- Sao thế đại đội trưởng, bọn nó bỏ rơi chúng ta rồi sao?
- Cái cậu này... Không bom pháo vào đây thì càng tốt chứ sao!
- Nhưng... như thế thì đối xử với nhau nhạt nhẽo quá! Mình vừa quật cho nó một đòn ra trò. Xác con cháu nó còn nằm đầy kia mà?

Hùng Phong lắng nghe pháo địch bắn một lát rồi nói với Phát và Hinh:
- Có lẽ... địch phỏng đoán rằng đây chỉ là một bộ phận quân ta từ phía Bắc xuống đánh một trận phục kích rồi rút về trên đó co cụm ở khu vực Phú Hậu, Kim Đâu, An Bình nên chúng dùng phi pháo đánh chặn. Chúng không ngờ được rằng đánh xong ta sẽ cắm chốt ngay ở đây. Như vậy là yếu tố bí mật vẫn còn. Chúng ta phải ngụy trang kỹ trận địa để tận dụng yếu tố này.
Đại đội trưởng Hùng Phong thực sự cảm thấy vui khi phát hiện ra điều đó. Rất có thể từ giờ đến tối, địch sẽ không dám đưa quân sang nữa. Bây giờ là lúc anh cần phải chuẩn bị kỹ càng cho cuộc chiến đấu thực sự quyết liệt sẽ diễn ra vào ngày mai.


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 21 Tháng Ba, 2012, 11:11:41 am
Buổi chiều hôm đó, anh nuôi trưởng Ngô Xuân Cung bỗng dưng biến thành một hộ lý giúp việc sơ cấp cứu cho thương binh ở hầm phẫu của đại đội. Trận này cũng thật lạ, ngoài chốt đánh nhau rần rần thì chưa thấy thương binh nào về. Vậy mà ở phía sau thì đã có tới năm người bị thương vì đạn pháo, trong đó cậu Thơm, thông tin đường dây của tiểu đoàn đã chết vì bị thương nặng và mất quá nhiều máu. Đội phẫu tiền phương của tiểu đoàn, được trung đoàn tăng cường cho một y sĩ trẻ, tên là Tính nghe nói đã tốt nghiệp một trường đào tạo quân y sĩ nào đó ở Miền Bắc vào, tiểu đoàn quyết định ưu tiên đưa cậu này xuống phục vụ đại đội 9. Đại đội vẫn có một y tá tên là Hoan, chỉ được học sơ sơ về bông băng, thuốc men tiêm chọc có một tháng trên đại đội quân y trung đoàn nên khi biết lần này đại đội có hẳn một y sĩ đi cùng thì mừng lắm.
Nhưng hóa cái cậu lính mới cập kênh này lại chưa có kinh nghiệm gì. Thấy máu còn run. Xử lý vết thương còn lóng nga lóng ngóng. Đến khi cậu Thơm tắt thở thì cậu chàng trở nên bấn loạn, gục xuống khóc tu tu. Y tá Hoan thấy vậy thất vọng quát um lên:
- Cậu có câm ngay đi không? Ở mặt trận lúc nào chả có người chết. Nhồi nhét sách vở cho lắm vào mà hèn yếu thế thì về phía sau mà đi tiêm chó tiêm gà cho rồi!
Trước tình hình đó, chính trị viên Khang đề nghị anh Cung bám hầm phẫu để động viên và giúp đỡ cậu y sĩ này và y tá Hoan trong việc sơ cứu thương binh.

Là cấp ủy viên, anh Cung biết rằng lúc này mình phải có mặt ở những nơi khó khăn nhất nên đã vui vẻ chấp hành mệnh lệnh. Sau khi sơ liệm cho Thơm, anh tới ngồi bên cậu y sĩ trẻ lựa lời an ủi:
- Không phải vì tay nghề của cậu non kém mà cậu ấy chết đâu. Nó bị thương nặng quá đấy thôi.
- Nhưng... em... em run quá nên... đã không... không cầm máu được cho anh ấy...
Y tá Hoàn chủng chẳng:
- Trong điều kiện như thế này, ông có là thánh cũng chẳng cứu được nó.
Vừa lúc đó thì tiếng súng rộ lên phía đầu làng. Anh Cung vỗ nhẹ lên vai Tính nói nhỏ:
- Ngoài kia anh em mình bắt đầu đánh rồi đó. Cậu phải cứng rắn lên để còn lo cứu chữa cho anh em chứ. Trận này ác liệt lắm. Chỉ một lát nữa thôi là thương binh sẽ ùn ùn đưa về đấy!
Đợi mãi vẫn không thấy có thương binh từ ngoài chốt về, y tá Hoan sốt ruột hết đi ra lại đi vào, thi thoảng lại lẩm bẩm:
- Quái... Sao mãi không thấy đưa ca nào về nhỉ?
Anh Cung bật cười:
- Cái thằng này lẩn thẩn rồi. Chẳng lẽ cậu lại mong cho anh em mình bị thương à? Các ông mà càng thất nghiệp thì phúc của đại đội càng to, hiểu chưa!
- Nhưng... đánh to như thế mà không thấy gì thì... lạ quá?
Một cậu thương binh nằm ở góc hầm bỗng lên tiếng:
- Có ai bị thương nặng thì anh em người ta mới đưa về ngay. Còn chết thì phải đến tối mới ghom về.
Y tá Hoan gật gù:
- Cũng phải! Chết rồi thì chả cần phải đưa về ngay làm gì.
Cậu y sĩ trẻ rùng mình thốt lên:
- Các anh nói... nghe kinh bỏ mẹ!
Đúng lúc đó thì có liên lạc đại đội tới mời anh Cung về gặp chỉ huy đại đội. Y tá Hoan mau miệng nói luôn:
- Có lẽ đại đội gọi bác về để đi tải thương đấy.
Anh Cung cũng nghĩ như thế. Nhưng khi về tới hầm chỉ huy thì đại đội trưởng Hùng Phong đã về tới đó. Thấy đại đội trưởng mặt mày tươi tỉnh, anh Cung đoán ngay rằng đại đội vừa thắng to, nhưng cũng không nghĩ rằng mình tránh được nhiệm vụ dẫn người ra chuyển thương binh liệt sĩ về.
- Anh em đánh tốt chứ, đại đội trưởng? - Anh Cung hồi hộp hỏi.
- Tốt lắm - Hùng Phong hồ hởi nói - Sơ sơ tính cũng diệt được gần trăm thằng. Bắn cháy năm xe, trong đó có hai xe tăng, bắn rơi một trực thăng. Đánh thế mới là đánh chứ! Ăn chắc cái huân chương chiến công rồi, ông cậu ạ.
- Tuyệt lắm. - Anh Cung ngập ngừng hỏi - Thế... anh em mình có sơ xảy mất đứa nào không?
- Bốn đứa bị thương... Nhưng nhờ trời đều nhẹ cả. Lát nữa trời tối, chúng nó sẽ tự mò về quân y làm thuốc. Nếu không bị nhiễm trùng thì chưa đứa nào phải về tuyến sau đâu.
- Quá tốt- Anh Cung thở phào- Tớ cứ tưởng cậu gọi tớ về để ra khiêng anh em đây. Không biết ngoài chỗ thằng Hướng có đứa nào việc gì không?
- Đó chính là điều tôi định bàn với cậu đây - Hùng Phong ngồi xuống bên cạnh anh Cung - Bọn thằng Hướng phải ăn lương khô suốt cả ngày nay rồi. Ngoài đó thì không thể nấu nướng gì được đâu. Anh xem có thể, nắm cho chúng là vài chục nắm cơm rồi cho người mang ra đó được không?
- Sao không được? - Anh Cung hăng hái nói - Để tớ lo vụ này cho. Chập tối, chỉ cần cho cậu Thảo liên lạc đưa tớ ra ngoài đó là được.

Anh ra cũng tốt. Coi như anh thay mặt cấp ủy động viên anh em ngoài đó luôn. Nhờ anh thông báo tình hình chiến đấu chiều nay cho anh em biết. Nói với cậu Hưởng rằng khi địch chưa lên thì cố gắng giữ bí mật. Ngày mai, chắc chắn sẽ quyết liệt lắm đây.
Anh Cung gật đầu cười:
- Được rồi, để tôi thử làm chính trị viên một lần xem sao!
- Nếu có thương binh... nhờ anh chuyển về luôn. Mười giờ đêm nay vận tải tiểu đoàn sẽ vào chuyển thương binh liệt sĩ ra.
- Được rồi, tôi đi triển khai bếp núc đây. - Anh Cung vừa ngoi lên khỏi hầm vừa nói - Bọn này sẽ cố gắng tìm cái gì cho anh em ăn tươi một tí. Trong cái làng này chắc chắn phải còn cái gì đó chứ!
Vừa lúc chính trị viên Khang đi kiểm tra về, nghe thấy anh Cung nói vậy liền cười, thông báo luôn:
- Anh khỏi phải lo, bọn thằng Nỏ vừa lôi ở đâu về một con bê và hai con chó bị chết vì đạn pháo. Mấy đứa chúng nó đang tính làm thịt để khao quân đấy!
- Hay lắm - Anh Cung cười ha hả - Thế là khỏi lo phải vi phạm chính sách nếu muốn kiếm chút chất tươi cho anh em. Tôi thấy trong làng vẫn còn không ít gà lợn chó má đâu.
Hùng Phong tặc lưỡi:
- Tối nay cho anh em bắt nhốt xuống hầm rồi thịt dần. Với mật độ bom đạn như thế này thì chỉ ngày một ngày hai đất đá ở cái làng này cũng ra cám hết, nói gì tới lợn gà chó má?
Chính trị viên Khang vội cải chính:
- Nhưng... đó không phải là chủ trương của lãnh đạo chỉ huy đâu đấy nhé?
Hùng Phong cười hô hố:
- Việc gì mà chính ủy phải chạm trổ, nắn nót thế? Đừng có ai hé ra với ông Báo câu nào là được!

Nhưng thật không may chính trị viên Lương Xuân Báo cũng vừa từ hầm bên cạnh lò dò sang. Nghe thấy câu nói cuối cùng của Hùng Phong, Báo nghiêm giọng hỏi:
- Các vị định bịt mắt tiểu đoàn chuyện gì đấy?
Ba người đớ ra nhìn nhau. May sao anh Cung nhanh trí nói ngay:
- A... chả là có con bê trúng đạn pháo. Anh em định làm thịt nhưng e rằng chính trị viên lại phê bình là vi phạm chính sách dân vận nên...
Chính trị viên Báo nháy mắt cười:
- Nếu là bò bê đã chết vì đạn pháo của địch thì việc gì phải kiêng kỵ. Làm thịt đi. Nhưng nhớ gửi về cho Ban chỉ huy tiểu đoàn một đùi. Có điều, phải đặc biệt chú ý lửa khói đấy.
Anh nuôi trưởng Cung hào hứng tuyên bố:
- Thủ trưởng yên tâm đi. Mấy thằng lính nhà bếp của tôi thuộc loại siêu hạng rồi. Với lại, thủ trưởng không thấy nhà cửa trong cái làng này vẫn đang cháy ngun ngún đó sao? Té nước theo mưa thì thằng địch có biết đằng giời mà lần!
Chính trị viên Báo gật gù:
- Đúng thế... Nhưng vẫn cứ phải cảnh giác, giữ bí mật. Nhất là đừng để cho số bà con còn nằm lại trong làng nhìn thấy. Với họ, bò chết hay bò sống thì cũng thế thôi.

Bấy giờ Hùng Phong mới chợt nhớ ra điều nan giải này, liền hỏi:
- Tiểu đoàn có chủ trương thế nào về số bà con còn mắc kẹt ở đây ạ. Để họ lại đây với bộ đội mình thì nguy hiểm quá. Cũng may mà hôm nay không có người dân nào bị thương vì bom pháo đấy!
- Tôi vừa bàn với anh Vinh rồi - Chính trị viên Báo nói - tối nay trinh sát sẽ vào đưa họ ra, tạm thời giao cho du kích địa phương. Vài bữa nữa, du kích sẽ đưa họ sang Đông Hà tìm gia đình.
Hùng Phong thở phào nhẹ nhõm liền quay sang nói với anh Cung:
- Anh cứ đi lo việc của mình đi. Nhớ chuẩn bị cơm nước tươm tất cho bọn thằng Hướng nhé.
16
Vào lúc mặt trời lặn thì pháo địch cũng ngớt bắn, những chiếc máy bay trực thăng vũ trang và OV10 cũng lần lượt bay về căn cứ. Trên trời chỉ còn thằng AC130 lượn lờ tít trên cao và bắt đầu lục bục bắn ra những trái pháo sáng. Vì trời vẫn chưa tối hẳn nên những trái pháo sáng treo lơ đễnh trên trời chỉ khiến cho buổi hoàng hôn thêm ngột ngạt. Trung đội trưởng Hướng cho phép bộ đội ngoi lên khỏi hầm để hít thở một chút không khí trong lành. Anh đứng nhìn bao quát quang cảnh cái xóm nhỏ sau một ngày hứng đạn pháo rồi lắc đầu nói với hai cậu tiểu đội trưởng:
- Thêm vài trận pháo kích nữa thì nơi này thành một đống lởm khởm.
Tiểu đội trưởng Trọ, mặt đen nhẻm vì khói bụi, trố mắt nhìn mấy ngôi nhà đã bị đạn pháo phá banh, nói oang oang:
- Như ri thì tai hại quá hè... Chẳng còn cái chi dính vô cái chi nữa!
Hướng tặc lưỡi:
- Như thế cũng tốt. Tối nay chúng ta sẽ dỡ hết gỗ ván tấm ghi ở những ngôi nhà đó ra bồi lên nắp hầm Trọ nghi ngại gãi đầu:
- Như rứa là vi phạm...
- Vi veo cái con khỉ - Vôi bực mình gắt - Ngày mai thì tất cả sẽ ra cám hết. Chúng ta lấy những thứ đó để xây dựng trận địa tại chỗ, chứ có tha đi đâu mà vi phạm.
Trọ nhăn nhở cười:
- Như rứa thì kêu bằng vận dụng linh hoạt hề!
- Hề!
Vôi vừa nhại lại giọng của Trọ vừa vươn vai ngáp một cái rõ dài:
- Ngồi suốt ngày dưới hầm, ê cả người. Giá như thằng địch nó ghé qua đây để anh em mình thể dục một tí thì còn đỡ.
Hướng không nghe rõ, thấy Vôi uốn éo tưởng kêu đói liền bảo:
- Ráng chờ đi. Đợi trời tối hẳn đại đội sẽ cho người mang cơm sang.
Trọ che miệng cười:
- Ông nớ bữa ni coi chừng hư nốt cái lỗ nhĩ rồi đó!
Vôi nháy mắt ra hiệu cho Trọ chớ có nói liều. Trung đội trưởng Hướng nhìn quanh một lượt rồi chợt nhớ ra:
- Sao không thấy mấy thằng đại liên đâu nhỉ? Vôi, mày chạy lại xem, hay đạn pháo nó thả trúng lỗ của mấy thằng ấy rồi?
Vôi vội chạy lại trước ngôi nhà bê tông, nơi bố trí hầm đại liên, gọi váng lên:
- Toàn ơi... Toàn! Bọn mày còn sống không đấy?
Vẫn không nghe thấy tiếng ai thưa, Vôi hốt hoảng đạp qua đám gạch ngói bị pháo băm vụn chạy tới cửa hầm phía trước ngôi nhà. Đứng bên trên ngó xuống. Vôi bỗng bật cười rồi cúi xuống hét lên:
- Dậy mau! Địch lên kìa!

Thì ra mấy ông tướng đang kéo gỗ. Trời nóng, lại bom pháo tùm lum lên thế này mà chúng nó ngủ được thì tài thật. Nghe tiếng hét, Toàn và ba cậu xạ thủ giật mình choàng dậy, mắt nhắm mắt mở lao ngay ra hầm súng khiến Vôi rũ ra cười. Trung đội trưởng Hướng cũng vừa chạy tới, hiểu ngay vấn đề liền lắc đầu mắng:
- Bọn mày có ngủ thì cũng phải để lại một thằng cảnh giới chứ? Địch nó mà lên thì nó bắt sống tất!
Toàn gãi đầu thanh minh:
- Anh em vừa đào xong cái ngách hầm. Mệt quá nên...
- Thôi được rồi - Hướng khoát tay - Tranh thủ lúc thằng địch nó lau pháo, lên mà thở một chút cho thoải mái.
Một ngày nặng nề đã trôi qua. Địch chưa lên chốt nhưng bom đạn của chúng thì khá hào phóng. Trong ngày ít nhất cũng có tới hàng trăm quả đạn pháo rơi vào trận địa. Tuy vậy, Hướng cũng hiểu rằng đó chỉ là những trái đạn bắn dọn đường, bắn ngăn chặn cho đội hình hành quân trên hướng đường 1, chứ địch vẫn chưa pháo kích có mục đích chiến thuật rõ ràng vào khu vực trận địa này. Hồi chiều, ngồi trong hầm, nghe tiếng súng vang lên từ hướng chính diện của đại đội, Hướng đã hy vọng địch sẽ dùng trực thăng đổ quân về phía này mở một mũi tiến công thứ hai vào chốt của ta. Nếu vậy thì anh và đồng đội sẽ có dịp chia lửa với trung đội bạn. Nhưng tiếng súng chỉ nổ rộ lên chừng ba chục phút. Đội hình hành quân của địch bị đánh tan, hối hả tháo chạy về bên kia cầu. Từ đó tới bây giờ không có dấu hiệu chứng tỏ địch dám quay trở lại. Có lẽ trên hướng chính đại đội đã đánh rất hay, tiêu diệt được nhiều sinh lực địch nên chúng còn chưa kịp hoàn hồn. Nhưng, ngày mai có thể tình hình sẽ khác. Nhất định địch sẽ phải tung ra những lực lượng mạnh nhất để nhổ chốt của ta, giải toả cho tuyến đường huyết mạch này.


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 21 Tháng Ba, 2012, 11:12:25 am
Nguyễn Đình Hướng tin là như vậy và anh hiểu rằng, anh và đồng đội mình còn có cả một đêm để biến cái xóm nhỏ bên gò cát này thành một pháo đài thực sự.

Gần tám giờ tối thì anh nuôi trưởng Ngô Xuân Cung cùng với hai cậu anh nuôi gùi cơm ra tới trận địa cho trung đội hai. Trước khi anh đi, chính trị viên Nguyễn Xuân Khang cứ nhất định đòi theo sang để động viên anh em bên đó, anh Cung ngăn mãi chẳng được. Thấy vậy, đại đội trưởng Hùng Phong liền bảo:
- Anh không nên đi cùng anh Cung. Cấp ủy của đại đội chỉ còn ba người, hai anh mà đi “kẹp díp” với nhau, lỡ mà kềnh cả là chi bộ mất sức chiến đấu đấy!
Nghe đại đội trưởng nói thế chính trị viên Khang như sực tỉnh, không đòi đi nữa. Đúng vậy, hiện thời cấp ủy của đại đội chín chỉ có ba là Khang, Tại và Cung. Hùng Phong tuy là đại đội trưởng nhưng chưa phải là đảng viên chính thức nên không thể có chân trong cấp uỷ. Các trung đội trưởng cũng chỉ có Hoàng là Đảng viên chính thức nhưng cũng vừa mới được điều về để làm “nguồn”, phòng khi vào trận các cấp ủy viên có thương vong thì còn có nguồn bổ sung để bảo đảm sức lãnh đạo của chi bộ.
Khi chính trị viên đã đồng ý không theo anh Cung ra chốt nữa thì Hùng Phong mới tiến lại, ghé vào tai anh Cung nói nhỏ:
- Thế là cậu có thể yên tâm thử làm chính ủy một lần được rồi!
- Thằng khỉ! Chẳng có chính ủy nào bằng món thịt chó hầm của tao đâu. Cứ cho chúng nó chén cho ngon thì chúng nó sẽ đánh như hùm như hổ cho mà coi.
Trung đội trưởng Hướng mừng rỡ ôm chặt lấy anh Cung khi anh và tổ nuôi quân gùi cơm canh sang tới trận địa.
- Tôi biết rằng ông cậu nhất định sẽ sang mà. Tình hình đánh đấm ở bên đó thế nào hả cậu. Nằm bên này nghe súng bắn mà sốt cả ruột.
- Bên đó đánh rất tốt. Bắn cháy năm xe, có hai xe tăng, bắn rơi một máy bay, diệt khoảng trăm thằng gì đó. Anh em ta chỉ có năm sáu người bị thương nhẹ thôi.
- Tốt quá. Chắc là Hùng Phong phởn lắm đây. Hình như bọn Mỹ chưa đi, phải không cậu?
- Có hai đại đội từ hướng Cam Vũ sang, nhưng chúng không vào tới trận địa - Anh Cung như chợt nhớ ra, hỏi:
- Này, hình như... cái tai của mày lại tốt hơn lên phải không Hướng?
- Không biết... Có lúc nghe rất nét. Có lúc lại tịt ngóm. Mà thôi, quên nó đi cậu - Rồi đôi cánh mũi của cậu ta chun lên hít hà - Chà... thơm quá. Hình như... có món gì khác thường, phải không?
- Dĩ nhiên là có món độc rồi - Anh nuôi Cung hớn hở thông báo - Có thịt bò kho và đặc biệt, có cả món thịt chó hầm nữa nhé. Tiếc rằng tớ chỉ thiếu lật tung cả cái làng ấy lên mà không kiếm đâu ra được một củ riềng. Nhưng cũng may còn kiếm được mấy khóm xả nên nó mới dậy mùi thế đấy. Chúng bay thấy chưa, không khéo bọn Mỹ bên Đông Hà nó cũng ngửi thấy ấy chứ.

Anh em trong trung đội cũng đã bu cả đến khi biết tin anh nuôi đã mang cơm sang. Nghe thông báo có món ăn tươi, tiểu đội trưởng Trọ lập tức chất vấn:
- Đại đội kiếm đâu ra những thứ ni hè?
Anh nuôi trưởng Cung nói oang oang:
- Bò chết, chó chết, lợn chết đầy trong làng kia kìa. Cứ thoải mái mà ăn đi, không sợ vi phạm chính sách đâu.
Vừa nói anh Cung vừa bảo Nỏ lôi từng bọc ni lông ra, dặn Hướng và các tiểu đội trưởng:
- Đây là cơm nắm dành ăn cả ngày mai đấy. Mỗi thằng hai nắm. Trong cái thùng sắt này là thịt bò hầm. Còn trong cái xô nhựa này là thịt chó nấu theo kiểu nhựa mận đấy.
Anh em chiến sĩ không nén nổi vui mừng nhảy lên reo hò ầm ĩ, có đứa còn hô “Bác Cung muôn năm!”, khiến trung đội hưởng Hưởng phát hoảng:
- Chúng bay làm gì mà nhắng cả lên thế? Giải tán, về hầm ngay! Pháo nó nện cho vài quả vào đây thì khênh nhau không kịp giờ. Từng tiểu đội đến lấy cơm mang về chia cho anh em.
Ồn ào một lúc rồi đâu cũng vào đấy. Anh em chiến sĩ tản ra ăn cơm. Lúc này anh Cung mới có thời gian hỏi thăm:
Anh em bên này an toàn cả chứ?
- Hả?
- Đã có đứa nào bị thương chưa?
- A... cậu yên trí đi... Chưa phải khiêng thằng nào về đâu - Hướng vừa nhồm nhoàm gặm cái chân chó vừa nói - Chỉ buồn một nỗi thằng địch nó không đến. Ngồi suông dưới hầm nghe pháo, buồn tình lắm. Mà quên, quân của tôi, bọn thằng Đồng ấy, đã được đánh đấm gì chưa?
- Chưa... Làm gì mà đã phải dùng đến lực lượng dự bị? Chúng nó nằm dưới hầm ngủ suốt ngày thì có.
- Làm cái gì cơ?
- Ngủ!
- Đi trận mà được ngủ ngày. Sướng nhỉ?
- Đêm trước đã thức trắng mà. Vì thế, trừ những đứa lên chốt, còn lại đào xong hầm là chúng nó lăn ra ngủ. Bom pháo nổ ầm ầm xung quanh cũng mặc.

Im lặng một lát rồi đột nhiên Hướng hỏi một câu rất vu vơ:
- Này... ông cậu. Có thấy nhớ nhà không?
- Cái thằng... hỏi lẩn thẩn!
- Thật đấy. Hồi đánh nhau trên núi thì không sao! Mấy hôm nay hành quân xuống đồng bằng, bỗng dưng nhớ nhà quá, cậu ạ! Nhất là những lúc im lặng như thế này.
Anh Cung bỗng lặng đi không biết nói gì với cậu thanh niên này. Trong lòng anh bấy lâu tưởng như đã tĩnh lặng, giờ đây lại cồn cào nỗi nhớ nhà, nhớ vợ và bốn có con gái xinh xắn, vui tươi. Vào giờ này, mấy mẹ con đang quây quần với nhau bên ngọn đèn dầu hay trải chiếu ngồi đầu hè ngóng trăng sao để nhớ người đi xa. Lúc anh ra đi, bé Cải mới bi bô tập nói. Hồi này, chắc nó đã nói sõi lắm rồi. Còn con Mai thì từ ngay anh đi đã phải bỏ học ở nhà trông em và làm việc vặt để chị cả và mẹ đi làm lấy công điểm. Không biết mấy mẹ con có kiếm được ngày hai bữa? Không biết, mái nhà anh chưa kịp dọi lại trước lúc ra đi có qua nổi mùa mưa bão sắp tới? Không biết những tờ giấy báo tử hàng ngày gửi về làng xóm có khiến vợ anh mòn mỏi héo hon vì những đêm dài trằn trọc không ngủ?
- Ngoài ấy dạo này cũng gay lắm - Anh Cung khẽ thở dài - Giặc giã đã đi một nhẽ. Lại còn đói nữa. Thắt lưng buộc bụng, cái gì cũng dành cho tiền tuyến cả mà. Cậu có biết tin gì về gia đình không?
- Có Hướng khẽ gật đầu - Trước khi vào chiến dịch này em có nhận được thư nhà. Bố mẹ em vẫn còn khoẻ. Ông anh là bộ đội cao xạ, bị thương nặng vừa được về phục viên và đã lấy được vợ. Hai đứa em thì năm nay cũng lớn cả rồi. Như thế cũng yên tâm rồi. Nhưng ngoài nhà ông cậu thì gay đấy! Một nách bốn đứa con, mợ ấy chèo chống chắc là vất vả lắm.
Anh Cung vỗ vai Hướng, nói át đi:
- Ôi dào... Mình lo thì cũng chẳng được. Đàn bà thời đại này cũng giỏi lắm. Họ sẽ xoay xỏa được thôi.
Một loạt tiếng đề pa đầu nòng từ các trận địa pháo vang lên và ngay sau đó những chớp lửa loá lên cùng với những tiếng nổ chát chúa.
- Chúng nó lại bắn vào làng Sòng rồi! - Anh Cung đứng dậy, lo lắng nhìn những cột lửa vừa dựng lên bên kia đường quốc lộ số 1. Trung đội trưởng Hướng bụm tay làm loa hô lớn:
- Pháo kích đấy, tất cả xuống hầm ngay!
Rồi Hướng quay lại cầm tay anh Cung kéo xuống hầm.
- Cậu xuống hầm đi đã. Pháo bắn thế này chưa về được đâu.
Hai người ngồi sát bên nhau trong căn hầm tránh pháo. Hướng ngẩng lên, gõ cộc cộc vào trần hầm, khoe:
- Ghép bằng cọc bê tông dỡ từ mấy cái hàng rào của dân trong xóm này đấy. Cậu thấy có chắc gáo không?
- Được lắm! - Anh Cung khen.
- Hầm hào ở đây bọn em đều làm chắc chắn thế này cả. Có thể chịu được đạn cối, pháo nổ tức thì hay pháo chụp. Nhưng nếu nó có trúng một trái đạn xuyên phá thì vẫn cứ đi đứt.
Hướng giải thích như vậy rồi kết luận:
- Chết vì bom pháo của chúng nó thì cú lắm. Vì thế tôi yêu cầu anh em phải tận dụng mọi thứ ở đây mà làm hầm tránh bom, tránh đạn cho thật chắc chắn. Còn một khi bộ binh của chúng nó đã lên thì bọn tôi chấp tất. Mỹ hay ngụy cũng cóc sợ. Xác chúng nó phải chất thành đống thì may ra mới lên được cái chốt này.
- Tớ cũng tin chắc như vậy!
- Cậu bảo gì? Đấy, cái tai em lại lùng bùng rồi đấy. Phải nghe pháo bắn một lúc thì nó mới hồi lại được.
Bắn chừng nửa giờ vào khu vực Ngã Tư Sòng pháo địch mới chuyển làn bắn dần lên phía Bắc đường 1.
Anh Cung ngoi lên khỏi hầm nghe ngóng rồi nói với Hướng:
- Bọn mình về bên đó đây.
- Nếu vậy thì cậu phải nhanh chân lên - Hướng vừa ngước nhìn lên trời vừa nói - Nó thắp pháo sáng rực trời thế này khi vượt đường cậu phải cẩn thận đấy.
Anh Cung gọi hai cậu nuôi quân thu dọn đồ đạc chuẩn bị ra về rồi quay lại bất ngờ ôm chặt lấy Hướng.
- Tớ về nhé! Tối mai, tớ lại sang.
Hướng vỗ nhẹ vào vai cậu Cung, rồi nói đùa:
- Hy vọng... tối mai vẫn còn được ăn cơm của cậu!
- Cái thằng!
- Nếu lại vớ được con chó chết nào thì cậu nhớ ưu tiên anh em ngoài này nhé!
Hai cậu anh nuôi đi cùng đã sẵn sàng, trước khi đi cậu Cung bỗng quay lại hỏi:
- Các cậu có nhắn gì bên đó không?
- Không... à mà có. Cậu bảo thằng Đồng quản anh em cho chặt và nói giùm với Hùng Phong rằng nếu ngày mai địch có mò sang đây thì cứ yên trí. Bọn này còn thì chốt còn.
- Được... Thay mặt chi ủy tôi ghi nhận quyết tâm của các đồng chí.
- Hả? Cậu nói gì cơ?
Cậu Cung bỗng phì cười. Cả đời mình mới nói được một câu long trọng nhất thì cái thằng phải gió này lại không nghe được. Thế có phí không cơ chứ? Thôi, mặc kệ nó. Không nghe được thì nó cũng biết mình cần phải làm gì. Những chiến binh như nó cần gì phải răn dạy thêm nữa?


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 21 Tháng Ba, 2012, 11:12:48 am
Điện mật đến.
Gửi đồng chí trung đoàn trưởng, đồng chí chính ủy Trung đoàn 4.
Trung đoàn đã triển khai tốt thế trận và đánh thắng những trận đầu quan trọng ở khu tứ giác. 17 giờ chiều nay, Bộ tư lệnh Quân đội Mỹ ở đường 9 đã ra lệnh cho Trung đoàn hai Sư đoàn Thuỷ quân lục chiến số 3 đi giải toả các chốt của ta trên tuyến đường sông và đường bộ từ Cửa Việt đến Ngã Tư Sòng. Sư đoàn Bến Hải ngụy ngày mai sẽ tiếp tục tung lực lượng lớn đi giải toả khu vực từ Ngã Tư Sòng đến Nam Quán Ngang, có sự phối hợp tối đa của pháo binh không quân và một tiểu đoàn lính Thuỷ đánh bộ Mỹ từ hướng Cam Vũ theo đường 71 đánh sang.
Để phối hợp với các đơn vị trong sư đoàn, Tư lệnh sư đoàn lệnh cho các đồng chí:
- Tiếp tục giữ vững các tuyến chốt trên đường 1 và đường 71, nhất là đoạn đường từ Ngã Tư Sòng tới Nam Quán Ngang.
- Chuẩn bị lực lượng để khi có thời cơ thì tổ chức những trận đánh vận động tiến công kết hợp chốt trên tuyến đường 1 và đường 71.
- Phối hợp thật tốt với trung đoàn 6 đang triển khai thế trận ở khu vực phía Đông, khống chế đoạn đường sông từ Cửa Việt lên Đông Hà, buộc địch phải tung lực lượng lớn quân Mỹ đi giải toả.
Chúc các đồng chí chiến đấu thắng lợi.

Sư đoàn trưởng Phạm Sùng.
Chính ủy sư đoàn Bùi Hữu Tâm.



Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 21 Tháng Ba, 2012, 11:13:12 am
Trong hầm chỉ huy tác chiến của trung đoàn, bảy giờ tối. Trung đoàn trưởng Trần Đông Hải đọc xong bức mật điện rồi đưa qua bàn cho cho chính ủy Lê Nông.
- Anh đọc đi, rồi ta bàn công việc.
Chính ủy ngồi xuống chiếc ghế gỗ đối diện, ghé sát vào ngọn đèn dầu vắt leo lét trên chiếc bàn tre, đọc kỹ bức điện rồi ngẩng lên hỏi:
- Ta có cần điện trả lời sư đoàn không?
- Tôi muốn bàn với anh chuyện này trước khi tôi sẽ viết điện trả lời.
- Anh đã có ý định gì rồi, phải không?
- Phải... Tôi chợt nảy ra ý này...
Trung đoàn trưởng bước tới bên tấm bản đồ treo trên vách hầm, dùng đèn pin dọi lên khu vực Ngã Tư Sòng rồi nói với chính uỷ:
- Ngày mai sẽ là một ngày rất quyết liệt với tiểu đoàn 7 đấy. Nhưng tôi không lo. Nhất định anh em ta sẽ giữ vững được tuyến chốt. Điều mà tôi đang toan tính liên quan tới bức điện báo vừa rồi của sư đoàn.
Chính ủy Lê Nông chợt mỉm cười, ông cũng đã đoán ra “âm mưu ma quỉ” của ông già láu cá này rồi.
- Có phải... anh muốn nói tới việc... sư đoàn cho phép khi có thời cơ thì tổ chức những trận vận động tấn công?
Đôi mắt trung đoàn trưởng Hải bỗng quắc lên trong ánh đèn. Ông ném chiếc bút chì lên bàn rồi ngồi phịch xuống chiếc ghế gỗ đối diện với chính ủy.
- Đúng! Anh hiểu ý tôi rồi đó. Tin tức sư đoàn vừa thông báo cũng khớp với tin tức anh Tân và anh em trinh sát của ta vừa báo về, ngày mai nhất định tiểu đoàn Mỹ ở Cam Vũ sẽ lại lên. Hôm nay anh em đại đội 9 đã đợi bọn chúng vào chốt, nhưng chúng đã không vào. Ngày mai, chắc chắn bọn sư đoàn Bến Hải ngụy sẽ từ phía Nam cầu Sòng đánh sang một cách quyết liệt. Trong lúc đó, bọn Mỹ từ Cam Vũ nhất định sẽ đưa quân lên phối hợp. Ít nhất chúng cũng phải đưa lên một đại đội.
Chính ủy Lê Nông gật gù:
- Anh muốn úp bọn này, phải không?
- Đúng vậy... Bọn lính Thuỷ đánh bộ Mỹ hẳn hoi, không thể bỏ qua được. Diệt được vài chục thằng Mỹ cũng cứ sướng hơn đánh tan cả một tiểu đoàn quân ngụy. Diệt gọn được một đại đội Mỹ thì sẽ gây chấn động lớn, tới tận nước Mỹ chứ chẳng chơi.
Chính ủy trầm ngâm suy nghĩ một lát rồi hỏi:
- Nhưng. . anh định dùng lực lượng nào?
- Đại đội 7, đại đội dự bị của tiểu đoàn 7. Anh thấy thế nào?
- Như vậy:. liệu có mạo hiểm quá không? Tiểu đoàn 7 còn phải chốt dài ngày trên tuyến này. Nay mai, anh em thương vong nhiều lấy đâu ra lực lượng thay thế?
- Anh đừng lo - Trung đoàn trưởng xua tay - Tôi chỉ có ý định dùng hai trung đội của đại đội 7 thôi. Ngoài ra, sẽ yêu cầu tiểu đoàn 7 đưa bộ phận dự bị của đại đội 9 đi phối hợp, bộ phận này sẽ làm nhiệm vụ chốt đường, chặn địch lại cho hai trung đội kia tấn công Chính ủy tỏ vẻ ngạc nhiên:
- Đánh vận động tấn công vào đội hình địch đang hành tiến mà chỉ dùng có hai trung đội thì tôi e là hơi mỏng.
Trung đoàn trưởng Hải kéo chính ủy tới bên bản đồ dùng đèn pin dọi lên rồi giải thích:
- Không hẳn thế đâu. Đây anh xem, địa hình hai bên đường từ Cam Vũ ra Ngã Tư Sòng rất trống trải. Bố trí lực lượng lớn sẽ rất khó giữ bí mật. Mấy hôm trước anh em trinh sát nhà mình úp bọn biệt kích ở đoạn này. Ta sẽ không đón đánh địch ở khu vực này nữa vì địch đã cảnh giác, mà phải đợi cho chúng ra gần tới làng Sòng, trước khu vực chốt của ta chừng một cây số thì mới đánh.
- Như vậy là phải dâng điểm chốt lên à? - Chính ủy hỏi.
- Không! Chốt cơ bản vẫn giữ ở điểm cũ. Ta sẽ đưa lực lượng dự bị của đại đội 9 ra lập một chốt cơ động bí mật trên đoạn này. Khi địch tới anh em tại chốt cơ động này có nhiệm vụ chặn địch lại, dùng hỏa lực đi cùng đánh thật rát, làm cho đội hình của chúng ùn ứ, rối loạn, tạo điều kiện cho lực lượng chính xung phong lên tiêu diệt sinh lực địch. Điều mấu chốt là phải đánh phủ đầu thật mạnh, tiếp cận địch thật nhanh. Xung phong chừng mười phút là bộ đội phải rút lui ngay để tránh bị phi pháo địch sát thương.
Chính ủy ngồi yên lặng, lắng nghe trung đoàn trưởng Trần Đông Hải sôi nổi trình bày ý định tác chiến của mình. Ông biết, đó là một phương án táo bạo nhưng điều mà ông lo ngại nhất chính là việc bộc lộ lực lượng trong khu vực địa hình trống trải, địch lại có hỏa lực pháo binh rất mạnh. Đánh thì được, nhưng làm sao để anh em rút lui khỏi chiến trường mà không bị thương vong nhiều mới là vấn đề. Đắn đo một lúc, ông đành phải nêu ra điều băn khoăn đó với trung đoàn trưởng.
- Tôi cũng đã nghĩ đến điều đó và đã nghĩ ra một giải pháp như thế này. Đêm nay ta sẽ đưa bộ đội vào tập kết ở cái xóm 1 nhỏ này, từ đây ra mặt đường 71 chừng hơn một ki-lô-mét. Tại đây, ngay trong đêm nay, bộ đội phải xây dựng cho được một khu hầm hố trú ẩn tương đối vững chắc và một trận địa phòng ngự giống như một điểm chốt. Sáng sớm mai, từ đây bộ đội sẽ bí mật hành quân ra tiếp cận mặt đường, chọn vị trí ém quân. Ngày mai, khi đánh xong, bộ đội bắt đầu lui quân thì ta sẽ dùng pháo và súng cối bắn kiềm chế, đè đầu số địch còn lại trên chiến trường và cả quân tăng viện nếu có để cho anh em có thời gian cơ động thật nhanh về điểm tập kết này. Tôi nghĩ rằng, nếu hành động nhịp nhàng, bộ đội ta có thể rút về nơi có hầm trú ẩn tương đối an toàn để tránh sự truy kích của phi pháo địch.

Chính ủy Lê Nông đã tỏ ra hài lòng với kế hoạch của trung đoàn trưởng. Nhưng, như một người phản biện, ông thấy mình phải có trách nhiệm giúp người chỉ huy tính đến tất cả mọi tình huống:
- Được rồi, cứ coi như quân của ông thoát được sự phong toả của phi pháo địch rút lui về vị trí này an toàn. Nhưng có thể vì thế mà vị trí trú quân bị lộ (nên nhớ rằng máy bay trinh sát của địch luôn ở trên đầu ông, nhất là khi quân đội Mỹ hành quân), địch có thể đột ngột tăng viện để bao vây truy kích, thậm chí dùng trực thăng đổ quân xuống vây chặt nhúm quân này của ông? Như vậy, chẳng phải hai trung đội này sẽ có nguy cơ bị tiêu diệt gọn sao?
Trung đoàn trưởng cười ha hả:
- Anh cũng tinh ranh đấy. Đây chính là điều mà tôi băn khoăn nhất. Vì thế, tôi cần phải có sự đồng ý và phối hợp và chi viện của Bộ tư lệnh sư đoàn. Nếu sư đoàn đồng ý thì khi tình huống này xảy ra, sư đoàn vẫn còn một vài đơn vị dự bị để tung vào trận. Tôi ngờ rằng cụ Sùng rất mong điều này xảy ra để có cơ hội đánh một trận thư hùng với Sư đoàn Thuỷ quân lục chiến và sư đoàn không vận số 1 Mỹ. Kéo được Mỹ ra cho sư đoàn đánh một trận ra trò, có khi chúng ta còn lập được công lớn ấy chứ!
Chính ủy Lê Nông đã bị thuyết phục. Ông đứng dậy, bước tới xiết chặt tay người chỉ huy của mình:
- Được rồi. Tôi đồng ý. Anh báo cáo ngay với sư trưởng đi!


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 21 Tháng Ba, 2012, 11:13:41 am
Đại đội trưởng Hùng Phong hơi bất ngờ khi trận pháo kích dữ đội nhất trong ngày vừa dứt thì tiểu đoàn phó Nguyễn Hồng Thanh xộc ngay vào hầm chỉ huy của mình.
- Hùng Phong, anh Báo đâu rồi?
- Anh ấy vừa cùng chính trị viên đại đội đi kiểm tra tình hình đơn vị sau trận pháo kích vừa rồi - Hùng Phong trả lời rồi hỏi thêm - Có việc gì mà đích thân anh phải xuống tìm anh Báo thế?
- Tiểu đoàn trưởng yêu cầu anh ấy cùng anh em trinh sát đưa số dân trong làng bị mắc kẹt ở đây ra giao cho du kích địa phương, xong việc phải về vị trí chỉ huy tiểu đoàn ngay. Sao mà tối thế này, cậu không có cái gì đốt lên cho sáng sủa một tí được à?
Hùng Phong bảo cậu liên lạc tìm chiếc đèn dầu vắt thắp lên rồi quay lại hỏi tiếp:
- Chỉ có việc gọi anh Báo về mà anh phải đích thân đi sao? Hay anh được tiểu đoàn trưởng cho xuống thay anh Báo chỉ huy anh em chúng tôi?
- Không phải vậy. Để tớ thở chút đã. Hôm nay sao chúng nó bắn pháo khiếp vậy?
Hùng Phong bật cười khẽ:
- Bọn nó sẽ hầm anh em chúng tôi suốt đêm nay cho mềm bớt đi để sáng mai gặm thử đấy mà.
Tiểu đoàn phó gỡ chiếc bi đông đeo bên sườn ra tu một hơi rồi hỏi:
- Trung đội hai còn lại bao nhiêu người ở bên này?
- Mười hai người?
- Vũ khí thế nào?
- Ngoài trang bị thông thường chỉ còn lại hai B40, một trung liên nữa thôi.
- Được rồi. Cậu điều thêm cho tớ một trung liên, một B41. Lấy ở trung đội ba chứ đừng rút của trung đội 1. Sáng mai địch sẽ đánh sang rất mạnh đấy. Tiểu đoàn trưởng yêu cầu đưa anh Tại ra trực tiếp chỉ huy trung đội một chiến đấu ở phía đầu cầu, còn cậu, phải thường xuyên ngồi ở đây.
- Sao lại thế ạ? Tôi định sáng mai tôi sẽ ra ngoài đó, gọi anh Tại về đây trực chỉ huy chung.
- Không được - Tiểu đoàn phó trả lời dứt khoát - Ngày mai tình hình sẽ diễn biến rất phức tạp. Cậu phải ngồi đây mà bao quát chung đồng thời giữ liên lạc thật chặt với tiểu đoàn.
- Vậy... thủ trưởng định lấy quân của tôi để làm gì?
- Để đánh địch chứ còn để làm gì nữa?
Rồi tiểu đoàn phó giải thích cho Hùng Phong nghe mệnh lệnh chiến đấu của trung đoàn vừa ban xuống.
Nghe xong, Hùng Phong hào hứng đề nghị:
- Hay để cho tôi chỉ huy mũi phục kích này? Sáng nay, bọn tôi đã vồ hụt bọn Mỹ này rồi. Cú lắm!
- Không được. Ngày mai, hướng của cậu sẽ là hướng chính, cậu rời khỏi đây thế nào được? Anh Vinh giao cho tôi sử dụng lực lượng hai trung đội dự bị của đại đội 7 và một bộ phận của đại đội các cậu để tổ chức trận đánh này. Quân của các cậu làm nhiệm vụ bí mật lập chốt đánh chặn địch để hai trung đội của đại đội 7 xung phong lên tiêu diệt.
- Một trận vận động tấn công kết hợp chốt?
- Đại loại thế. Thôi bây giờ cậu đi tập hợp anh em đi.
Chỉ nửa giờ sau, trung đội phó Trần Xuân Đồng đã tập hợp đủ quân số và trang bị sẵn sàng chờ lệnh. Tiểu đoàn phó Nguyễn Hồng Thanh lập tức dẫn quân đi ngay.
Chính trị viên Lương Xuân Báo cùng chính vị viên đại đội Nguyễn Xuân Khang tranh thủ thời gian pháo địch ngưng bắn đi gom số dân còn mắc kẹt trong làng lại. Chính xác còn mười bốn người dân bị kẹt lại, đa số là ông bà già. Có một phụ nữ mang thai sắp tới ngày sinh và ba đứa trẻ quãng chín mười tuổi nhưng lại không phải là con cái những người trong làng. Chúng khai rằng chúng tá túc bên chợ Cầu Đông, hôm trước lỡ qua bên này lượm ve chai nên bị mắc kẹt không trở về bên kia sông được. Người phụ nữ mang bầu là vợ một tên trung sĩ bảo an đóng quân trong thị xã Đông Hà. Chị ta sắp tới ngày sinh nở nên định vô trong đó dựa dẫm vào chồng, xe đi tới đây thì xảy ra chiến sự, lái xe không dám qua cầu. Chị ta định dạt vào nhà một người quen ở làng này tá túc, đợi cho tình hình yên ổn thì sẽ qua bên Đông Hà tìm chồng, ai dè khi vào tới nhà người bà con thì thấy cửa đóng then cài, gia đình nhà ấy cũng đã bỏ vô Đông Hà từ bữa trước rồi. Thế là chị ta bị kẹt lại. Khi các chiến sĩ trung đội 3 tìm thấy chị trốn trong chuồng trâu, chị vừa khóc vừa lạy như tế sao, xin rằng nếu mấy ông có định xử tử hình chị ta thì hãy làm ơn làm phước đợi cho chị ta sanh đứa bé xong đã. Cung cách này thì chỉ nửa tháng nữa là chị ta sẽ sanh thôi, chồng chị ta là trung sĩ bảo an, có tội với cách mạng hay không chị ta không biết nhưng riêng chị ta thì là dân làm ăn lương thiện, cả đời chưa làm hại ai. Anh em bộ đội phải làm công tác tư tưởng rất lâu chị ta mới thôi kêu khóc van lạy. Bây giờ, giữa đêm hôm bỗng nhiên bị lùa ra khỏi hầm, chị ta tưởng rằng Việt Cộng sắp mang chị ta đi thủ tiêu nên lại bắt đầu gào khóc cứ nhất định không chịu đi. Cũng may là có mấy bà già hiểu chuyện, xúm lại an ủi chị ta mới chịu rời nơi ẩn nấp để theo bộ đội rời khỏi làng.

Trong lúc anh Cung phát cơm nắm và nước uống cho số dân chuẩn bị rời làng, chính trị viên Lương Xuân Báo tranh thủ hội ý với Ban chỉ huy đại đội 9 để nắm tình hình, xác định nhiệm vụ của đại đội ngày hôm sau. Trước khi đi, anh bắt tay từng người rồi dặn thêm:
- Vừa rồi, pháo nó bắn rất nhiều vào chốt của trung đội 2. Các anh cho người sang kiểm tra xem anh em có ai bị thương vong thì đưa sang bên này ngay trong đêm. Rất có thể, sáng mai địch sẽ có một mũi từ hướng Đông lên đánh thẳng vào chốt của cậu Hướng đấy.
Tiểu đội trưởng trinh sát Trương Đình Lân tới báo cáo số dân di tản đã sẵn sàng lên đường, chính trị viên Báo ra lệnh:
- Các cậu đưa bà con đi trước đi. Chú ý lắng nghe pháo bắn để hướng dẫn bà con tránh đạn. Nếu có ai bị thương thì cho đưa ngay về phẫu của tiểu đoàn để cứu chữa. Tôi và hai liên lạc tiểu đoàn sẽ đi ngay phía sau các cậu.
Hùng Phong tiễn chính trị viên tiểu đoàn một đoạn tới đầu con đường ra cánh đồng, Lương Xuân Báo dừng lại ôm lấy đôi vai rắn chắc của anh đại đội trưởng trẻ tuổi:
- Hôm nay cậu chỉ huy khá lắm. Cứ thế mà phát huy. Phải vững vàng và tỉnh táo, Hùng Phong nhé!
Hùng Phong xúc động đáp khẽ:
- Em sẽ cố gắng để không phụ lòng tin cậy của anh.
Nói rồi, anh vội bứt khỏi vòng tay của chính trị viên tiểu đoàn, quay đầu chạy trở lại ngay. Anh vội vã rời khỏi chính trị viên tiểu đoàn vì bỗng dưng trong lòng anh bỗng dâng lên một tình cảm thật lạ lùng. Anh biết, chính trị viên Lương Xuân Báo luôn dành cho anh sự ưu ái nhưng từ trước tới nay, anh chỉ đơn giản nghĩ rằng đó là tác phong công tác của chính trị viên khi chăm sóc, vun đắp cho một điển hình, một tấm gương để tạo động lực cho công tác chính trị của mình. Hôm nay, chính trong khoảnh khắc ngắn ngủi vừa rồi khi chính trị viên ôm chặt lấy anh, anh bỗng nhận ra ngoài tình cảm đồng chí, tình cảm cấp trên đối với cấp dưới, dường như anh Báo còn dành cho anh một thứ tình cảm khác, sâu đậm và giản dị chân thành hơn - đó có phải là tình anh em? Hùng Phong cũng có một anh trai, nhưng thật lạ là chưa bao giờ anh thấy giữa mình và anh trai lại có được những phút thân mật, gần gũi khiến tự sâu xa trong tâm hồn dội lên những rung động như anh vừa mới có. Nhưng thôi, lúc này đâu phải là lúc để phân tích rạch ròi những chuyện đó.

Đại đội phó Nguyễn Đình Tại vẫn chờ anh ở hầm chỉ huy, thấy anh trở lại liền đề nghị ngay:
- Anh cho tôi sang chỉ huy chốt trung đội 2. Bên này đã có hai anh rồi!
- Không được - Hùng Phong lắc đầu- Vừa rồi tiểu đoàn phó đã truyền đạt mệnh lệnh của tiểu đoàn trưởng, ngày mai anh sẽ ra nắm trung đội một chỉ huy chiến đấu trên hướng chủ yếu. Tôi và anh Khang thì phải ngồi tại đây để chỉ huy chung. Bên ấy cứ để giao cho cậu Hướng là được rồi. Nếu địch chưa đánh được vào trung tâm thì khi cần sẽ dùng trung đội ba chi viện cho cả hai hướng.
- Nếu vậy... bây giờ tôi qua bên đó xem anh em mình có ai bị thương vì trận pháo kích vừa rồi không.
- Được. Nhưng anh phải chú ý an toàn, pháo địch còn bắn nữa đấy. Mà này, anh qua chỗ anh Cung, bảo anh ấy cho một cậu biết đường đi cùng, nhân tiện gùi sang cho thằng Hướng thêm một hòm lựu đạn và một hòm đạn đại liên. Không chừng những thứ thứ đó ngày mai được việc đấy.
Đại đội phó Nguyễn Đình Tại vừa đi khỏi thì pháo địch lại bắn cấp tập vào làng Sòng. Lần này chủ yếu là pháo từ trận địa Thiên Trường Hạ bên kia sông và pháo từ ngoài tàu biển bắn vào. Những ngôi nhà còn lại gần khu hầm chỉ huy tiếp tục bốc cháy. Lửa bén từ những ngôi nhà lợp lá dừa, lợp tôn sang những hàng dừa, hàng dương ven những con đường làng. Tiếng lửa reo phừng phừng. Gặp lúc gió từ ngoài biển thốc vào khiến ngọn lửa mỗi lúc một lan rộng và bốc cao. Nhìn từ bên ngoài vào, có lẽ ai cũng thấy làng Sòng đã biến thành một biển lửa. Đại đội trưởng Hùng Phong đứng trước cửa hầm, nhìn ngọn lửa đang tham lam ngốn ngấu những gì còn sót lại trong cái làng nhỏ này, thở dài, nói với chính trị viên đại đội Nguyễn Xuân Khang:
- Bấy giờ tôi mới hiểu vì sao người ta thường nói là chiến tranh lửa khói. Trong đời chúng ta có lẽ chưa bao giờ phải đứng nhìn một cuộc hỏa tai lớn như thế này mà không thể làm gì được cả!


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 21 Tháng Ba, 2012, 11:14:53 am
Tám giờ sáng, sau hơn hai giờ liền nã pháo như mưa vào khu vực làng Sòng, một tiểu đoàn địch có xe tăng và trực thăng vũ trang yểm trợ bắt đầu vượt qua cầu sắt đánh vào chốt của trung đội 1. Dưới sự chỉ huy của đại đội phó Tại, các chiến sĩ trung đội 1 không rời công sự chiến đấu mà đợi địch đến thật gần mới nổ súng. Hai khẩu 12 ly 7 được bố trí trên hai hướng, bắn chéo cánh xẻ hất đội hình địch sang hai bên. Bị hỏa lực ta chặn đứng, bộ binh địch lùi lại dùng súng cối cùng với pháo và những khẩu súng máy trên xe tăng bắn dữ dội vào chốt.
- Hỏa lực 12 ly 7 chú ý! Khẩu một kiềm chế máy bay trực thăng. Khẩu hai yểm trợ cho các xạ thủ B40, B41 chuẩn bị đánh xe tăng!

Đại đội phó Tại hét vang. Vừa lúc đó, một trái róckét từ trực thăng phóng xuống, nổ bung ngay trước hầm 12 ly 7 khẩu số một. Cậu Ngọt xạ thủ số một gục ngay trên càng súng, xạ thủ số hai cũng bị thương. Trung đội phó Phạm văn Hinh vội nhảy sang hầm súng, lật cậu xạ thủ số một đặt sang bên rồi quay lại nói với cậu xạ thủ số hai đang cố tự băng bó vết thương:
- Thằng Ngọt chết rồi... Cậu cố gắng tự băng lấy vết thương nhé. Tớ còn phải đánh đây!
Rồi Hinh nâng càng súng còn nóng hổi máu đồng đội lên vai mình rê nòng hướng về phía Đông, nơi ba chiếc trực thăng nối đuôi đang sầm sầm lao tới.
- Anh Hinh. Hầm lộ rồi. Nó phóng róc két nữa đấy!

Nghe tiếng đại đội phó cảnh báo, nhưng Hinh vẫn ghì chặt càng súng chờ đợi. Đến khi cái đầu tù tù, đen trũi của một trong hai chiếc trực thăng hiện rõ trong vòng ngắm, anh nghiến răng xiết cò. Khẩu súng trên vai anh rung lên cùng một lúc với tiếng rít “Víu... oành!... Víu... Oành!” của hai trái rốc két.
- Trượt rồi con ơi! Nhưng mày cũng giỏi lắm! Nào, thằng kia vào đi!
Hinh vừa hét lên như vậy vừa rê nòng theo chiếc thứ hai. Anh thoáng nghĩ rằng phải bắn nhanh hơn vài giây, nếu không nó sẽ kịp phóng róckét rồi ngóc lên tránh đạn.
Cái đầu của con cá mập đã nằm gọn trong vòng ngắm. Một. . hai... ba. Anh nghiến răng xiết cò.
Pằm... pằm pằm! pằm... pằm pằm!
Đạn găm thun thút thân máy bay. Một chớp lửa bục lên. Hinh còn kịp nhìn thấy thằng xạ thủ súng máy văng ra khỏi máy bay, rơi tự do xuống mặt đất như một cái bị cát. Chiếc máy bay đột nhiên loạng choạng. Thêm một cái bục nữa, một quầng lửa đỏ bùng lên dữ dội. Nó khựng lại, quay quay một vòng rồi lao đầu chúi xuống nổ bùng ngay bên bờ sông.
Hinh chỉ kịp nhìn thấy có vậy. Một trái đạn pháo từ chiếc xe tăng M113 gần nhất đã quay nòng bắn thẳng vào ụ súng của anh. Trái đạn xuyên phá nổ giữa hầm.
cát bụi bay lên mù mịt.
Đại đội phó Tại hét lên:
- B41 đâu! Diệt thằng M113 kia ngay!

Ngay lúc đó một phát đạn B41 lao vút tới chụp lấy chiếc xe tăng. Thực ra thì cậu xạ thủ B41 đã tiếp cận được tới cự ly bắn. Nhưng anh đã chậm hơn thằng xạ thủ trên xe tăng một nhịp nên nó đã kịp nhằm vào ụ súng 12 ly 7 của Hinh nhả đạn.
Tiếng súng nổ rền trên toàn tuyến. Bộ binh địch vừa bắn vừa ào ạt xông lên. Có lẽ tới cả trăm thằng.
Khẩu đội 12 ly 7 thứ hai đã sẵn sàng. Các xạ thủ cũng đã nhìn thấy đồng đội mình vừa hy sinh. Họ cắn chặt hàm răng, kiên trì chờ đợi.
- Bắn! - Tiếng khẩu đội trưởng Côi hét lên. Khẩu súng máy rung lên bần bật. Làn đạn quét ngang sườn đội hình địch. Hàng thục tên bị quật ngã. Từ các công sự chiến đấu, các chiến sĩ trung đội 1 dùng tiểu liên, trung liên, bắn thẳng vào những tốp địch gần nhất. Đội hình tấn công của địch lập tức bị hất ngược trở lại. Bọn lính sư đoàn Bến Hải vừa kêu la rùm trời vừa tháo lui. Từ phía sau, hai khẩu cối 60 của đại đội liên tục phóng đạn vào đội hình bộ binh địch đang tháo lui.

Đợt tấn công đầu tiên của địch đã bị bẻ gãy.
Đại đội phó Tại và khẩu đội trưởng Côi lập tức chay tới hầm chiến đấu của khẩu đội 1. Họ lặng đi trước một cảnh bi tráng bày ra trước mặt. Thi thể trung đới phó Hinh đẫm những máu, nằm đè lên khẩu súng máy. Toàn bộ phần đầu của anh bay đâu mất. Từ cái cổ tơ tướp máu đã đông lại thành cục, đỏ rực lên trong nắng như một ngọn lửa.
- Trời ơi, anh Hinh!
Khẩu đội trưởng Côi nấc lên nghẹn ngào rồi nhào tới lên tới ôm lấy thi trung đội phó. Đại đội phó Tại run rẩy bới lớp đất vừa bị bom đạn hất xuống nền hầm. Thi thể hai chiến sĩ còn lại lộ ra.
- Họ đã hy sinh cả rồi!- Tại khẽ kêu lên.
- Làm thế nào bây giờ anh? - Khẩu đội trưởng Côi vừa quệt nước mắt chảy ràn rụa lẫn với bụi cát và khói súng vừa nghẹn ngào hỏi.
- Hãy cứ để họ nằm yên đấy đã. Cậu xem khẩu súng còn dùng được không rồi bố trí lại hỏa lực, chuẩn bị chiến đấu. Bây giờ cậu là người thay anh Hinh chỉ huy trung đội. Phải cứng rắn lên!
Côi vừa gạt nước mắt vừa lật thi thể trung đội phó ra đặt nằm xuống lòng hầm, rồi lột áo ngoài ra úp lên phần trên thi thể người chỉ huy của mình. Xong xuôi, anh quay lại lau những dòng máu đang còn ướt đẫm trên khẩu súng, kéo khoá nòng, xem xét cẩn thận khẩu súng rồi quay lại nói với đại đội phó Tại:
- May quá, chỉ bị gãy càng và hỏng cái kính ngắm. Nòng súng tuy bị sứt sẹo qua loa nhưng chưa bị gãy. Dùng để đánh bộ binh thì vẫn tốt!
Đại đội phó Tại gật đầu:
- Được rồi! Khẩu đội 1 vẫn còn hai chiến sĩ, may mà anh Hinh không cho họ ra cả đây. Bây giờ cậu lấy một xạ thủ chính bên khẩu đội 1 bổ sung cho khẩu đội 2 rồi đưa khẩu đội này bố trí phía sau đội hình để làm nhiệm vụ dự bị. Khi nào tôi ra lệnh thì mới được đưa lên, rõ chưa?
- Tôi hiểu rồi!
Đại đội phó vỗ nhẹ lên vai Côi nói thêm:
- Đừng phụ lòng trung đội phó của các cậu.

Giao nhiệm vụ cho Côi xong, đại đội phó Tại vội lom khom chạy đi kiểm tra lại trận địa chốt. May sao, trong đợt tấn công đầu tiên, ngoài ba người của 12 ly 7 đi phối thuộc, trung đội 1 chỉ bị thương ba, không mất thêm người nào. Ba chiến sĩ bị thương cũng đều nhẹ. Băng bó vết thương xong họ vẫn có thể chiến đấu được.
Kiểm tra tình hình trận địa xong, đại đội phó Tại vừa định cho liên lạc về báo cáo thì đại đội trưởng Hùng Phong đã xuất hiện.
- Tôi không thể ngồi ở trong ấy mà nghe các ông nổ súng được.
- Lỡ tiểu đoàn gọi thì sao?
- Ôi dào. Từ sáng đến giờ không thể nào mà liên lạc được với tiểu đoàn. Đường dây bị pháo nó băm nát rồi. Liên lạc viên của tiểu đoàn cũng không thấy xuống. Tôi đã dặn ông Khang bám ở vị trí chỉ huy rồi.
- Bên thằng Hướng thế nào? Tại chỉ sang phía Đông đường, hỏi:
- Pháo bắn vào đó rất dữ. Nhưng địch thì vẫn chưa thấy lên.
Đúng lúc đó, từ phía Tây, hướng đường 71, tiếng súng bỗng nổ rộ lên. Tất cả các trận địa pháo địch dường như đều quay nòng về hướng đó mà bắn khiến cả một góc trời như tối xầm lại.
- Gì thế nhỉ?
Đại đội phó Tại vừa che mắt ngóng về phía ấy vừa hỏi.
- Ông Thanh đánh đấy. Chắc chắn tiểu đoàn Lính Thuỷ đánh bộ Mỹ ở Cam Vũ đưa quân lên giải toả rồi. Đêm qua, ông ấy xuống lấy nốt nửa trung đội 2 của mình, bảo là đưa đi phối hợp với đại đội 7, phục kích bọn Mỹ từ Cam Vũ lên. Cấp trên thánh thật, đoán trúng phóc!
- Các vị ấy đúng là gặp may rồi. Hôm qua, đại đội mình chờ mãi mà nó không lên.
Hùng Phong nhìn bao quát trận địa trước mặt rồi nói với đại đội phó Tại:
- Nếu bọn Mỹ bị choảng đau thì đám lính ngụy này cũng rét đấy! Nhưng cũng có thể bọn chúng sẽ điên cuồng hơn.
- Bọn lính kia thì không ngại gì. Nhưng, hỏa lực của chúng thì khiếp thật đấy. Nhất là pháo và trực thăng tiến công!

Tại báo cáo vắn tắt về đợt tiến công đầu tiên rồi kể về hành động chiến đấu và hy sinh dũng cảm của trung đội phó Hinh và hai chiến sĩ 12 ly 7. Nghe xong đại đội trưởng Hùng Phong khẽ thở dài:
- Quân của anh Hinh đánh giỏi lắm. Hôm qua cũng đã bắn cháy một máy bay trực thăng rồi. Tiếc rằng hôm nay anh ấy bị sớm quá!
- Lúc đó, nếu anh ấy không đánh dằn mặt lũ trực thăng thì chúng nó sẽ làm mưa làm gió trên đầu chúng tôi rồi dùng róckét và súng máy mà xỉa vào từng hầm một ấy chứ.
Đại đội trưởng Hùng Phong cũng dễ dàng hình dung ra tình huống lúc ấy. Anh cũng biết, trong những trận đánh như thế này, trên một địa hình bất lợi cho phòng ngự như thế này, một ổ súng máy 12 ly 7 khi đã phát dương hỏa lực thật khó mà giữ được bí mật. Nhất là khi phải đối mặt với trực thăng chiến đấu của địch. Chỉ có những người có đủ dũng khí, dám ngẩng cao đầu đối mặt với quân thù thì mới có thể làm nên chiến thắng. Hinh và các chiến sĩ của anh là những con người như vậy. Được chiến đấu với họ, thật là một niềm hạnh phúc lớn lao.
- Để mình lại đó thăm các anh ấy một chút? Hùng Phong thở dài nói.
Đại đội phó Tại định ngăn lại, nhưng đại đội trưởng đã bật dậy chạy về phía hầm chiến đấu của khẩu đội 12 ly 7 vừa hy sinh.

Trung đoàn trưởng Trần Đông Hải loạng choạng bước lên khỏi hầm chỉ huy. Nhìn đồng hồ, đã năm giờ ba mươi phút chiều mà sao trời vẫn còn nắng, không gian vẫn oi nồng đến vậy? Chính ủy Lê Nông ngồi trên chiếc ghế làm bằng hai khúc cây ghép lại, trên tay ông cầm chiếc đài bán dẫn hiệu Xiong Mao nâng lên tới tận áp mang tai, chiếc cần ăng ten cũng đã được rút ra nâng lên hết cỡ, vậy mà âm thanh phát ra từ chiếc Rađiô vẫn è è, rào rạo, thi thoảng mới nghe được đôi ba tiếng của phát thanh viên. Thấy vậy, trung đoàn trưởng liền cười, bảo:
- Ông muốn nghe tin tức thì qua hầm thông tin, bảo mấy cậu hai oát nó mở đài, mắc cáp cho mà nghe. Muốn nghe đài Hà Nội, đài Giải phóng, đài ngụy Sài Gòn đều được hết.
- Vậy à? Như thế nếu cánh lính thông tin nó có nghe đài địch chúng ta cũng chẳng kiểm soát được đâu nhỉ?
- Kiểm soát thế nào được, anh em họ tự giác thôi.
Trung đoàn trưởng ngồi xuống bên cạnh chính ủy vươn vai ngáp dài.
- Bây giờ tôi mới thấy buồn ngủ đây. Cả ngày hôm nay, lúc nào cũng căng như giây đàn.
Chính ủy vỗ nhẹ vào vai trung đoàn trưởng:
- Hay anh vào ngả lưng một lát đi. Khi nào trực ban tác chiến tổng hợp xong tình hình từ các đơn vị, tôi sẽ gọi anh dậy cùng nghe tình hình.
Trung đoàn trưởng uể oải đứng dậy:
- Có lẽ cũng phải ngả lưng một tí thật. Nhưng đúng ba mươi phút anh phải gọi tôi dậy đấy nhé!
Chính ủy gật đầu đồng ý. Ông đã có ý định để cho trung đoàn trưởng ngủ lấy một tiếng đồng hồ nếu không có tình hình gì đột xuất.

Nhưng đúng nửa giờ sau, khi anh Trưởng ban tác chiến vừa cầm cuốn số ghi chép tình hình vừa tổng hợp trong ngày bước vào hầm chỉ huy thì từ căn hầm chữ A ở góc nhà, trung đoàn trưởng đã lồm cồm bò ra.
- Sao mà ông thính mũi vậy? - Chính ủy bật cười hỏi. Tôi đang định cho ông ngủ thêm ba mươi phút nữa - Chỉ cần thư giãn một lát là được rồi. Nào, bây giờ cho chúng tôi nghe tổng hợp tình hình đi.
Một ngày chiến đấu căng thẳng đã trôi qua khi đơn vị cuối cùng của trung đoàn 2 sư đoàn Bến Hải buộc phải rút qua bờ Nam sông Hiếu. Trên hướng Tây đường 71, sau khi bị chặn đánh trên đường hành quân ra phối hợp giải toả Ngã Tư Sòng, mất hơn năm chục tên lính và ba xe tăng, tiểu đoàn 2 Thuỷ quân lục chiến Mỹ ôm đầu máu rút về căn cứ dã chiến ở Cam Vũ nằm án binh bất động. Trên hướng Đông đường 71, một đại đội Biệt động quân đi dò đường đã bị chặn đứng khi chạm vào chốt của trung đội đại đội 9 do trung đội trưởng Nguyễn Đình Hướng chỉ huy. Tiểu đoàn Thuỷ quân lục chiến số 3 đi phía sau đã thận trọng dừng lại cách chốt chừng hơn một cây số xây dựng trận địa dã chiến chốt lại ở làng Vạn, ngay sát bờ Bắc sông Hiếu. Để bảo vệ cho tiểu đoàn này, pháo binh địch đã dựng một hàng rào lửa có chu vi chừng vài cây số xung quanh nơi tiểu đoàn Mỹ thốt lại. Trực thăng chiến đấu và máy bay trinh sát AC130 của địch thay nhau quần đảo, bắn pháo sáng dội đèn pha, phóng róckét và đạn cối xuống bất cứ nơi nào chúng nghi ngờ có lực lượng ta tiếp cận.
- Khoan đã. Trinh sát của ta có nắm được địa hình khu vực này không?
Anh trưởng ban tác chiến không do dự trả lời ngay:
- Tôi có hỏi trợ lý trinh sát, đồng chí ấy nói rằng trinh sát trung đoàn cũng có đạp qua địa hình ở khu vực này một lần.
- Sư đoàn đã nắm được tình hình tiểu đoàn Mỹ này chưa?
- Nắm được. Vì trên. ấy cũng vừa gọi điện xuống yêu cầu ta cung cấp thêm tin tức về khu vực địch cụm lại đêm nay. Bây giờ tôi xin báo cáo tiếp...
- Được rồi! - Trung đoàn trưởng vội ngắt lời - Không cần báo cáo chi tiết nữa. Tình hình các đơn vị tôi cũng đã nắm được rồi. Bây giờ đồng chí hãy trở về cùng với anh em trong ban tham mưu thử xây dựng ngay một phương án tập kích địch cụm lại trong đêm nay. Thời điểm nổ súng không được quá ba giờ sáng. Sử dụng lực lượng như thế nào các đồng chí cứ đề xuất nhưng phải gọn nhẹ và nhất thiết không được đụng đến các đơn vị đang giữ chốt. Bây giờ là sáu giờ mười phút, một tiếng rưỡi nữa tôi sẽ nghe phương án của các đồng thí!
- Báo cáo trung đoàn trưởng, tôi xin đi thi hành mệnh lệnh ngay!
- Được... Nhân thể gọi cho tôi trợ lý cơ yếu đến đây. Tôi cần gửi ngay một mật điện về sư đoàn.

Đợi cho anh trưởng ban tác chiến bước ra khỏi hầm chỉ huy, chính ủy Lê Nông mới quay sang trung đoàn trưởng hỏi:
- Anh định xin cấp trên cho úp tiểu đoàn Mỹ này à?
Trung đoàn trưởng gật đầu:
- Có thời cơ thì cũng phải thử xem chứ. Biết đâu cấp trên lại chẳng ủng hộ chúng ta.
- Nhưng... nếu cấp trên đồng ý thì ta xử dụng lực lượng nào đây?
- Tôi không định dùng nhiều lực lượng, Có thể chỉ cần một đại đội của tiểu đoàn 8 cộng với hỏa lực tăng cường. Đánh nhanh, rút nhanh. Chủ yếu là tiêu diệt một bộ phân sinh lực địch và không cho chúng nó ngủ yên đêm nay.
Chính ủy trầm ngâm suy nghĩ một lát nói:
- Tôi e rằng... sư đoàn không đồng ý đâu!


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 21 Tháng Ba, 2012, 11:16:03 am
Chính ủy đã đoán đúng. Một giờ sau, họ nhận được điện trả lời của sư đoàn trưởng Phạm Sùng:
“Trung đoàn 4 không tổ chức trận đánh nào trong đêm nay. Cấp trên đã có phương án khác. Yêu cầu các anh đôn đốc các đơn vị tranh thủ thời gian củng cố trận địa. đào thêm nhiều hầm hào và công sự chiến đấu, đưa thương binh liệt sĩ ra phía sau, bố trí điều chỉnh lại lực lương để chuẩn bị cho ngày mai. Địch đã điều động toàn bộ trung đoàn 2 sư đoàn 3 Thuỷ quân lục chiến phối hợp với sư đoàn Bến Hải ngụy vào nhiệm vụ giải toả khu vực từ Nam Quán Ngang tới Ngã Tư Sòng. Sư đoàn không vận số 1 cũng đã được lệnh sẵn sàng trợ chiến. Mỹ đã phải tung lực lương lớn ra đối phó. Các đồng chí phải sẵn sàng cho những tình huống quyết liệt nhất sẽ diễn ra trong những ngày tới”.

Đọc xong bức điện trả lời của sư đoàn, trung đoàn trưởng liền quay sang nhìn chính ủy cười:
- Ông đoán tài thật đấy! Sư đoàn không cho ta đánh. Nhưng hình như cấp trên cũng không định cho bọn Mỹ này ngủ yên đêm nay đâu.
Rồi trung đoàn trưởng tiến lại máy điện thoại, trước tiên ông gọi cho trợ trưởng ban tác chiến trung đoàn ra lệnh ngừng chuẩn bị phương án tập kích địch trong đêm. Rồi, ông yêu cầu tổng đài nối máy cho ông nói chuyện với tiểu đoàn 7.

Tại hầm chỉ huy tiểu đoàn 7, tiểu đoàn trưởng Vinh vội chộp lấy điện thoại.
- A lô... Tôi là Vinh đây ạ.
- Anh Tân đã xuống tới đó chưa?
- Báo cáo thủ trưởng, thủ trưởng Tân cũng vừa tới ạ.
- Cho tôi nói chuyện với anh ấy ngay.
Tham mưu trưởng Quách Duy Tân vừa tới, chưa kịp uống xong hớp nước, vội cầm lấy điện thoại.
- Báo cáo anh, tôi đây ạ.
Tiếng trung đoàn trưởng vang lên:
- Cấp trên không cho chúng ta đánh đêm nay đâu. Anh không cần phải qua tiểu đoàn 8 nữa, nắm tình hình của D7 xong, anh trở về Sở chỉ huy ngay.
Tham mưu trưởng Tân băn khoăn:
- Tôi không thể ở đây với anh em một ngày được à?
- Không được... Tình hình ngày mai có thể có những diễn biến phức tạp. Anh Cường đã xuống tiểu đoàn 9 rồi. Tôi cần anh có mặt ở Sở chỉ huy để giúp tôi xoay sở.

Tham mưu trưởng suy nghĩ giây lát rồi trả lời:
- Vâng, nếu vậy thì tôi sẽ có mặt ở Sở chỉ huy trước năm giờ sáng ngày mai. Nhưng xin phép anh cho tôi ra chốt kiểm tra tình hình một chút.
- Được. Nhưng anh phải cẩn thận. Pháo địch bắn dữ lắm đấy!
Đặt điện thoại xuống, tham mưu trưởng quay lại nói với tiểu đoàn trưởng Phạm Quang Vinh và chính trị viên Lương Xuân Báo:
ông Hải gọi về. Tôi không có may mắn được ở lại chiến đấu với các cậu ngày mai rồi. Nào, bây giờ cho tôi nghe tình hình chiến đấu ngày hôm nay của tiểu đoàn các cậu.

Tiểu đoàn trưởng Vinh và chính trị viên Báo thay nhau báo cáo tình hình tiểu đoàn sau một ngày chiến đấu. Nghe xong, Tham mưu trưởng trầm ngâm suy nghĩ một lát rồi nói:
- Trong bối cảnh chiến đấu như hôm nay mà tiểu đoàn hy sinh chín đồng chí, bị thương mười lăm, thì chưa phải là nhiều. Nhưng có điều cần phải suy nghĩ là số hy sinh và bị thương đa số là anh em giữ hỏa lực. Các xạ thủ 12 ly 7, đại liên, trung liên B40, B41... đều có cả. Cứ đà này thì chiến đấu dài ngày là có vấn đề đấy.
Tiểu đoàn trưởng Vinh đáp:
- Báo cáo Tham mưu trưởng... chiến đấu trên địa hình trống trải thế này, hễ hỏa lực xuất hiện là địch phát hiện được ngay. Và, phải nói, khả năng phản hỏa lực của địch cũng rất nhanh. Nhất là thằng địch trên xe tăng và trực thăng. Quả thực chúng tôi rất lo ngại tình trạng này và chưa nghĩ ra cách đối phó.
- Chúng ta phải ra tận nơi quan sát xem sao? - Tham mưu trưởng Tân quyết định - Tôi muốn ra xem trận địa của đại đội 9.
- Vâng... Tôi sẽ đi cùng Tham mưu trưởng - Tiểu đoàn trưởng Vinh nói vậy rồi quay sang dặn chính trị viên Báo - Có lẽ lát nữa các đơn vị sẽ đưa thương binh liệt sĩ từ chốt về. Anh để mắt tới việc này nhé. Tôi sợ ở trên chốt anh em họ chưa kịp khâm liệm cho các liệt sĩ Chính trị viên Báo thở dài:
- Tất nhiên là tôi không thể không làm việc này rồi!
Tiểu đoàn trưởng bỗng bật cười:
- Thì ai bảo anh là chính trị viên?

Tham mưu trưởng Tân dặn thêm:
- Nửa đêm đại đội vận tải họ sẽ đưa đạn, gạo vào rồi cáng thương binh liệt sĩ ra. Với thương binh thì không phải nói, nhưng với anh em liệt sĩ thì các anh nên kiểm tra lại. Phải ghi tên tuổi, đơn vị, ngày hy sinh cho rõ ràng để tránh nhầm lẫn.
- Vâng, thủ trưởng cứ yên tâm - Chính trị viên Báo nói - Tôi cũng đã quen việc này rồi mà.
Nói vậy nhưng chính trị viên Báo biết rằng chẳng bao giờ anh có thể quen được với những công việc như thế này. Anh có riêng một cuốn sổ nhỏ bìa màu đen, chỉ dành riêng để ghi chép tên tuổi, quê quán, thành tích tóm tắt, ngày hy sinh và nơi chôn cất các liệt sĩ (nếu như còn có thể đưa được thi thể họ về một nơi nào đó để chôn cất). Đã có lần tiểu đoàn trưởng Vinh nói đùa “Ông này vừa là Nam Tào vừa là Bắc Đẩu vì có hai cuốn sổ ghê gớm nhất. Cuốn bìa màu đỏ thì ai cũng muốn có mặt, vì đó là sổ ghi công, ghi danh sách khen thưởng. Còn cuốn bìa màu đen thì ai cũng khiếp vì đó là danh sách quân số bổ sung cho Diêm vương”.
Thực ra, chính trị viên, sau này là chính ủy Lương Xuân Báo còn có một cuốn sổ nữa, bìa màu xanh, đó là cuốn sổ anh yêu quí nhất nhưng không mấy ai được biết trong đó anh đã ghi chép những gì. Mãi cho tới sau này, khi anh đã thành người thiên cổ, tướng Hùng Phong là người có duyên nên đã tìm được cuốn sổ trứ danh ấy. Nhưng đó là chuyện của những năm sau này, chưa nên kể ra vội. Chỉ biết rằng đêm hôm ấy, trong cuốn sổ bìa đen của chính trị viên Lương Xuân Báo đã có thêm chín cái tên.

Ở đại đội 9, như thường lệ, việc sơ liệm các liệt sĩ trước khi chuyển về phía sau được giao cho anh nuôi trưởng Ngô Xuân Cung. Trực tiếp phụ việc cho anh Cung là y tá Hoan, Quân y sĩ Tính thì phải lo chăm sóc băng bó lại các vết thương cho thương binh nên có lý do chính đáng để vắng mặt. Chính trị viên Nguyễn Xuân Khang cũng có mặt ở đó nhưng không đủ dũng khí để mó máy vào những thi thể đã lạnh cứng của đồng đội. Anh đành phải thú nhận với anh Cung rằng mình sợ, mặc dù là chính trị viên, đúng ra anh không được để nỗi sợ hãi vớ vẩn ấy ảnh hưởng tới hình ảnh của mình. Anh cũng rất dằn vặt về điều này, ghê sợ thi thể những người đồng đội đã hy sinh vì nước là một cái gì đó rất nhẫn tâm và phi chính trị, nhưng anh chưa thể quen được với công việc này. Anh Cung cũng hiểu được nỗi khổ tâm của anh chính trị viên trẻ này nên khi thi thể của bốn liệt sĩ được đưa từ chốt về, anh liền nói ngay với Khang:
- Việc này để tôi, anh cứ về hầm chỉ huy đi!
Nhưng chính trị viên Khang cũng không nỡ quay đi. Anh phải ngồi đó mà quan sát và giúp anh Cung lấy thứ này thứ khác. Đó là điều tối thiểu mà anh phải làm được vào những lúc như thế này.
Công việc được tiến hành trong căn hầm rộng mà đại đội chuẩn bị để dành làm nơi sơ cứu thương binh.
- Thắp đèn lên rồi chuyển các cậu ấy vào đi.

Anh Cung ra lệnh rồi cùng chính trị viên Khang và y tá Hoan bước xuống hầm, bắt đầu công việc.
Thực ra, cũng chẳng làm được gì nhiều trong điều kiện như thế này. Cũng còn may là vào lúc này pháo địch cũng tạm thời ngưng bắn nên anh Cung cũng có thể bình tĩnh mà sang sửa lại cho anh em đôi chút. Trước tiên, anh lần lượt mở những cái bọc bằng võng hoặc tăng gói tạm thời thi thể các liệt sĩ ra, sắp đặt lại những phần thân thể họ bị bom đạn tàn phá rồi lấy nước sạch lau hết máu và khói bụi trên gương mặt họ. Sau đó, nếu có thể thì thay cho họ bộ quân phục khác. Cuối cùng, gói họ lại trong những tấm tăng võng. Ghi tên họ, quê quán họ lên một mảnh giấy rồi dán ra ngoài. Cũng có khi không tìm nổi một mảnh giấy, một cây bút thì đành phải lấy than hoặc nhựa lá cây để viết họ tên quê quán họ ra ngoài tấm võng liệm. Thế là xong. Sau đó, các chiến sĩ vận tải sẽ tới chuyến họ về một nơi nào đó ở tuyến sau để chôn cất. Ấy là khi tình hình chiến trường tương đối yên ả như lúc này thì mới có thể làm được những việc đó. Anh Cung cũng biết rằng, rất nhiều liệt sĩ đã không được hưởng cả sự chăm sóc tối thiểu ấy.

Anh Cung còn nhớ như in lần đầu tiên mình làm công việc này. Đó là khi đơn vị bị trúng bom toạ độ trong một trạm dừng chân ở gần giới tuyến. Có hai cậu trong đại đội hy sinh và không hiểu vì sao lúc đó anh lại được chính trị viên Lương Xuân Báo yêu cầu đến giúp một tay để khâm liệm họ. Có lẽ lúc đó chính trị viên Báo chỉ nghĩ rằng anh là người nhiều tuổi nhất đại đội nên giao cho anh làm việc hiếu nghĩa này là phù hợp nhất. Cũng có thể chính trị viên nghĩ sâu xa hơn, rằng anh là người từng trải nên trước sự sống và chết sẽ không dao động hoang mang? Chỉ biết rằng lúc đó anh đã hoàn toàn không có một chút ghê sợ nào khi lần đầu tiên tiếp xúc với thi thể không nguyên lành của những người đồng đội đã hy sinh bởi bom đạn. Đến khi đơn vị bước vào chiến đấu thì cứ sau mỗi trận đánh, hễ đại đội có liệt sĩ, trước khi chuyển về phía sau là chính trị viên Báo đều yêu cầu anh làm cái việc chăm sóc sang sửa lại cho anh em. Trong suốt một thời gian dài, anh Cung cứ nghĩ rằng đó là một nghi thức bắt buộc, một khâu trong công tác chính sách mà đơn vị nào cũng phải làm trong chiến đấu. Mãi về sau anh mới biết rằng không phải như vậy, trong điều lệnh chiến đấu của quân đội không qui định khi có chiến sĩ hy sinh thì chỉ huy các phân đội nhất thiết phải tiến hành những nghi thức ấy mà chỉ cần họ đưa được thi thể liệt sĩ ra khỏi trận địa rồi chuyển về phía sau, còn ở phía sau họ làm gì trước khi chôn cất anh em thì không còn là trách nhiệm của họ nữa. Nhiều đơn vị đã không làm điều này, nhiều người chỉ huy không thấy cần phải làm điều này ở cấp mình. Đây là một nghi thức mà chính trị viên Lương Xuân Báo tự đề ra và đã cố gắng làm chu đáo, tạo thành một ý thức, một tập quán ở đại đội 9, và sau này ở cả tiểu đoàn 7, khi anh Báo lên làm chính trị viên tiểu đoàn.
T
uy đã dày dạn trước cái chết như vậy, nhưng hôm nay, anh Cung cũng phải rùng mình, ớn lạnh khi mở cái bọc thi thể của trung đội phó Phạm văn Hinh ra. Trong căn hầm ngột ngạt, dưới ánh đèn leo lét hiện ra một thi thể đẫm máu, không đầu. Cái cần cổ của Hinh bị đạn rockét băm nát bấy, giống như một cái cây sau trận bom bị mảnh bom phạt ngang thân và xé tướp ra vậy.
- Trời ơi!
Anh Cung khẽ rên lên rồi choáng váng ngồi bệt xuống nền hầm. Cậu Hoan cũng hốt hoảng kêu ớ lên một tiếng. Chính trị viên Khang đang loay hoay với mấy cái ba lô của anh em liệt sĩ ở góc hầm thấy vậy xô vội tới hỏi:
- Có chuyện gì thế?
Khi ánh mắt anh vừa chạm vào cái thi thể đẫm máu và không nguyên vẹn của người đồng đội thì lập tức mặt mày xa xẩm choáng váng như vừa bị đập một cái vào đầu, lồng ngực anh như bị bóp nghẹt, ruột gan như muốn lộn lên. Anh vội lao tới chúi vào một góc hầm rồi nôn thốc nôn tháo.
Y tá Hoan rên rỉ:
- Khủng khiếp quá! Làm thế nào bây giờ, anh?
- Phải tiếp tục thôi - Anh Cung thở một hơi thật dài.
- Cậu mở ba lô của anh ấy ra xem có cái áo nào không? Không thể để anh ấy mặc cái áo đẫm máu thế này được.

Hoan vội lôi một chiếc ba lô lại và tìm được một cái áo cũng chẳng biết có phải là của anh ấy hay không? Điều đó lúc này có quan trọng gì. Anh Cung rũ tung chiếc áo ra, bảo “Tốt lắm, có vẻ vẫn còn mới”. Rồi, anh cố gắng gỡ từng cánh tay đã cứng ngắc của Hinh ra, lột chiếc áo cũ máu đã đọng lại khô cong như bánh đa ra. “Kìa, giúp tớ một tay chứ?”. Hoan run rẩy lần tới, cố không nhìn vào phần đầu của thi thể người chết. “Không việc gì mà phải sợ. Anh em mình chứ ai?”. Anh Cung quát khẽ. Loay hoay mất một lúc hai anh em cũng mặc được cho Hinh chiếc áo sạch. “Tốt rồi... Xem nào, cái quần... trong vẫn coi được, không phải thay đâu”.
Hai anh em ngồi bệt xuống thở. Chính trị viên Khang gắng gượng quay lại rụt rè lên tiếng:
- Xin lỗi anh Cung nhé, tôi...
Cung xua tay:
- Không sao... Anh không cần gắng gượng làm gì. Không quen là không quen, thế thôi.
Nghỉ một lát rồi Hoan trải chiếc võng xuống nền hầm, lấy một tấm tăng nilon trải lên trên.
- Gói vào được chưa, anh Cung?
Anh Cung gật đầu. Hai anh em thận trọng nâng cái xác lên, đặt vào tấm tăng. Anh Cung bắt đầu thận trọng cuốn tấm tăng lại. Bỗng, anh dừng tay, thần người ra một lát rồi nói:
- Phải rồi... Quả dưa. Cậu... chạy sang hầm tôi, bảo thằng Nỏ đưa cho quả dưa hấu, mang sang đây Hoan ngạc nhiên hỏi lại:
- Dưa... à? Đang như thế này... ăn uống làm sao được mà anh... ?
- Không phải để ăn.
Anh Cung nhăn mặt gắt. Hoan bỗng vụt hiểu ra vội chui lên khỏi hầm chạy đi ngay. Một lát sau, cậu ta quay lại ôm theo một quả dưa hấu tròn vo.
Đêm hôm qua trên đường mang cơm ra chốt cho bọn thằng Hướng về, thì bị một trận pháo kích, anh và hai cậu anh nuôi phải chúi đầu xuống một thửa ruộng ven đường nằm tránh pháo tới nửa giờ đồng hồ. Lăn lóc thế nào mà vô tình anh quơ được một cái cục tròn vo. Vừa lúc pháo sáng địch bung lên trên bầu trời và anh đã nhận ra mình đang ôm một quả dưa. Mừng quá, anh hét lên thông báo với hai cậu anh nuôi “Mình đang nằm giữa ruộng dưa đấy”. Quả nhiên một lát sau, Nỏ cũng sờ được thêm hai quả nữa. Đêm qua, mấy anh em hoan hỉ bổ ra chén ngay một quả. Quả thứ hai, anh sai Nỏ mang lên biếu chỉ huy đại đội. Quả thứ ba, cả ngày nay mấy cậu nuôi quân cứ nằng nặc đòi bổ nhưng không hiểu sao, anh cứ nhất định không cho. Bây giờ thì anh biết vì sao anh cứ có linh tính rằng mình nhất định phải giữ quả dưa này đến đêm nay để dùng vào một việc gì đó quan trọng hơn rồi.

Anh thận trọng đón quả dưa trên tay y tá Hoan rồi lặng lẽ đặt lên phần đầu của thi thể anh trung đội phó 12 ly 7 Phạm Văn Hinh trước ánh mắt sững sờ của chính trị viên Khang.
- Vừa đẹp!
Anh ngắm lại một lượt, gật gù tỏ ra hài lòng rồi bảo y tá Hoan:
- Bây giờ thì gói lại thôi!
Từ đó về sau, không bao giờ anh Cung còn ăn dưa hấu nữa.


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 21 Tháng Ba, 2012, 11:17:05 am
Nhưng điều mà anh không ngờ nhất là câu chuyện sau đây:
“Đó là vào dịp đầu năm bảy mươi hai, khi anh Cung vừa được giải ngũ trở về. Anh vừa về hôm trước thì hôm sau Thơm, vợ Hinh đi xe đạp, lai theo thằng cu Pháo tới tận nhà tìm anh. Vừa nhìn thấy anh, Thơm đã oà lên khóc tức tưởi, rồi cứ tên Hình mà réo gọi thảm thiết khiến vợ và mấy cô con gái của anh cũng oà lên khóc theo.
- Chuyện gì thế này, hả các bà các cô? - Anh bực mình quát tướng lên - Cứ như nhà có đám ma ấy là thế nào, hả?
- Thì chả phải là đám ma sao? - Thơm tức tưởi - Anh Hinh nhà em cũng theo bác về đây... Đêm qua, anh í... bảo em thế... Sáng nay, em vội đạp xe đưa cháu tới đây... thì thấy bác về thật... ôi anh Hinh ơi là anh Hinh ơi... nến anh về thì ra mà xem mặt con trai anh đây này... Thằng Pháo đây này. Năm nay nó đã năm tuổi rồi đấy anh Hinh ơi...
Khóc than rầm rĩ một lát rồi Thơm cũng bình tĩnh trở lại chuyện Hinh hy sinh, đã có giấy báo tử, ai cũng biết rồi. Nhưng anh ấy chết thế nào thì ai biết được. Vậy mà Thơm cứ kể vanh vách.
- Bác Cung ơi... Lần nào em cũng mơ thấy nhà em mình đầy máu... Nhưng lạ nhất là chưa lần nào em nhìn thấy mặt... Sau đó thì lại thấy toàn là dưa hấu, cứ tròn long lóc, lăn ầm ầm khắp nơi... Hay là nhà em chết trong ruộng dưa hả bác? Lạ nhất là đêm hôm qua... Em lại thấy nhà em về, lần này cũng không thấy mặt, trên đầu trùm một cái áo bộ đội, hai tay ôm một quả dưa hấu, em chỉ nghe tiếng anh ấy cười, rồi bảo “Bác Cung cho đấy!”. Sáng ra, em bỗng thấy ruột gan cồn cào, đoán ngay là bác về. Nhà em cũng theo bác về. Thế là mẹ con em vội đạp xe tới đây. Không ngờ y như thật, bác bảo, anh ấy có thiêng không?


Anh rùng mình, thấy sởn gai ốc khắp người. Nếu vậy thì Hinh thiêng thật đấy.
Kỳ lạ nhất là hôm ấy Gái lớn đi thuỷ lợi trên Huyện về, không hiểu sao lại mua ở đâu được một quả dưa. Bảo rằng có người bên kia sông gánh sang bán một gánh dưa, nói rằng dưa trái mùa ngon lắm nên nó quyết định mua một quả về cho cả nhà ăn xem sao?
Anh vộí bảo con đem rửa đi, rồi để nguyên cả quả mang lên thắp hương cúng chú Hinh. Anh khấn rằng, Hinh ơi, nếu mày có linh thiêng thì từ nay hãy quên chuyện quả dưa hấu đi, đừng để vợ con mày nó hành tao về chuyện ấy nữa.

Cúng xong, mấy đứa trẻ trong nhà và thằng Pháo ríu rít gọi nhau đi bổ dưa. Anh vội vã bỏ ra vườn đợi đến khi lũ trẻ ăn dưa xong anh mới dám quay vào nhà.
Gái lớn vội mang một thỏi dưa đỏ au đến trước mặt bố “Bố đi đâu thế? Cả nhà ăn dưa rồi. Ngọt lắm. Phần bố đây này”. Anh đỡ lấy thỏi dưa rồi gọi cu Pháo đến cho nó luôn. Thằng bé hồn nhiên đón lấy miếng dưa, vừa chạy tới bên mẹ vừa reo lên “Mẹ ơi... Bác Cung cho con đấy”. Mẹ nó mắng yêu “Cái thằng này tham ăn quá đi thôi”. Thằng bé vừa ngồm ngoàm gặm miếng dưa vừa hỏi “Có phải đây là dưa bố con gửi về không ạ?”. Chị Thơm lặng ngắt, rưng rưng nhìn anh Cung cầu cứu. Anh vội tiến lại, ôm lấy thằng bé rồi nói “Phải. Đó là quà bố cháu gửi về đấy. Nếu cu Pháo ngoan, không quấy mẹ, quấy ông bà thì khi nào bố về, sẽ mua cho cu Pháo thật nhiều quà”.
Từ sau ngày hôm đó, vợ Hinh còn nằm mơ thấy chồng nhiều lần, nhưng không còn thấy có những quả dưa nữa.

Có những lúc thời gian dường như ngừng trôi, không gian cũng như sắt lại, đặc quánh. Vào những khoảng khắc ấy, con người bỗng thấy mình nhỏ nhoi, nhẹ bẫng như một cái lông gà tình cờ bị một cơn gió nhẹ đẩy lên, bay vật vờ cùng với cát bụi. Nhưng bản tính quật cường của con người dường như không chấp nhận số phận mỏng manh của một chiếc lông gà. Anh ta phải vận dụng hết bản năng và sức mạnh con người của mình để bám víu lấy mặt đất, không chịu để mình dễ dàng bị cuốn đi cùng đám cát bụi vô tri kia.
Trung đội trưởng Nguyễn Đình Hướng đã chợt nghĩ như vậy khi cố thu người thật nhỏ luồn qua những mảng tường, những tảng bê tông để bò vào căn hầm chiến đấu của khẩu đội đại liên. Pháo địch vẫn đang tập trung bắn vào chốt, Hướng chỉ cảm nhận được điều đó qua những cơn chấn động rùng rùng của đất đá dưới chân mình. Đôi tai anh đã hoàn toàn vô dụng từ sáng hôm nay, khi địch ném bom và bắn pháo dữ đội chưa từng thấy vào cái xóm nhỏ loi thoi hơn chục nóc nhà này để dọn đường cho lính Thuỷ đánh bộ Mỹ lên giải toả. Hôm qua, bọn biệt kích ngụy được trực thăng đổ xuống, đã hùng hổ húc thử vào bức tường thép này rồi... Khác với bọn lính chủ lực sư đoàn Bến Hải, lũ biệt kích này ngông nghênh và nhanh nhẹn như một lũ khỉ. Tất cả bọn chúng đều mặc đồ rằn ri, bôi mặt đen như đít nồi mà chẳng biết để nát ai? Ngay đợt tấn công đầu tiên chúng đã áp sát trận địa chốt của trung đội. Lại còn dám gọi loa kêu các bố chúng mày ra hàng nữa. Tiểu đội trưởng Nguyễn Bá Trọ điên tiết, bật lê, cắp tiểu liên dẫn đầu tiểu đội xông lên đánh giáp lá cà, hất chúng bật trở ra mặt đường 71. Từ đó đến chiều chúng còn xông lên năm đợt nữa, nhưng lần nào cũng ôm đầu máu mà tháo lui. Đến ba giờ chiều thì các con nản lòng, gọi trực thăng tới bốc nhau về căn cứ, bỏ lại hơn ba chục cái xác còn nằm rải rảc trên trận địa. Thử xem, hôm nay bọn quan thầy Mỹ của chúng có khá hơn không?

Ngay trong đợt tiến công đầu bên địch trong buổi sáng nay, Hướng đã chỉ huy một trận đánh kỳ lạ, một trận đánh hoàn toàn không có tiếng nổ, giống y như cái đêm anh bắn xong quả B41 thứ sáu trong trận đánh căn cứ pháo binh cao điểm 241, chỉ có điều lần này trận đánh câm lặng diễn ra ban ngày nên có cái vẻ gì đó rất kỳ cục, giả tạo. Bọn Mỹ đã nghênh ngang tiến vào trước họng súng của các anh sau khi đinh ninh rằng với từng ấy bom pháo dội vào một cái xóm nhỏ, nằm tựa lưng vào một cái gò cát thấp lè tè thế kia thì khó còn có sinh vật nào sống nổi. Khẩu đại liên của Toàn nằm phía trước ngôi nhà duy nhất còn chưa đổ sập hoàn toàn đã sẵn sàng nhả đạn nhưng trung đội trưởng Hướng vẫn chưa ra lệnh nổ súng. Nói cho đúng hơn là khẩu tiểu liên trong tay anh còn chưa rung lên vừa để quật đổ những tên Mỹ đầu tiên vừa phát lệnh nổ súng. Anh đã qui định như vậy, không một ai được phép nổ súng trước anh. Rất tiếc rằng, với cương vị là người chỉ huy, anh không thể giành lấy một khẩu B41 hay B40, nhưng anh kiên quyết giành lấy quyền bắn gục tên địch đầu tiên. Và, anh đã chọn Hắn - Một thằng Mỹ to lớn kềnh càng, không mặc áo mà chỉ khoác hờ hững một chiếc áo giáp chống đạn, không đội mũ sắt mà cuốn trên đầu một chiếc khăn màu đen có những đường vân và những bông hoa nhỏ màu trắng trắng. Hắn cắp một khẩu súng máy nòng loe với những băng đạn dài vàng chóe vắt qua vai. Hình như khẩu súng của nó đang nhả đạn và cái miệng nó thì ngoác ra, hò hét gì đó. Anh không nghe thấy cả tiếng súng lẫn những lời hò hét của hắn. Anh rê đầu ruồi khẩu tiểu liên vào đúng giữa ngực nó, rồi từ từ xiết cò. Thằng Mỹ khựng lại, buông rơi khẩu súng máy rồi ngã bật ngửa vể phía sau. Cùng lúc anh nhìn thấy những trái lựu đạn nổ tung, những trái B40, lao vút về phía chiếc xe tăng địch gần nhất. Nó bỗng đỏ lựng lên rồi nổ bung, đùn khói lên đen kịt. Những thằng Mỹ gần đó bị hất tung lên, lăn lông lốc trên mặt đất lầm bụi.
- Không một ai được rời công sự!
Hình như anh đã hét lên như khi nhìn thấy cậu Trọ bật lên khỏi hầm, ôm ngang khẩu tiểu liên mà bắn găm vào lưng những thằng Mỹ đang chạy lộn trở lại. Nhìn sang bên phải, anh thấy nòng khẩu đại liên của Toàn giật lên từng hồi, khói và tia lửa toé ra. Nhìn theo hướng bắn của khẩu đại liên, anh thấy từng tốp địch gục ngã, hình như luồng đạn của khẩu đại liên quét tới đâu là ở đó đội hình địch vỡ ra từng mảng.
- Đại liên thôi bắn đi!
Anh lại hét lên. Có lẽ vì không nghe tiếng mình, nên anh sợ Toàn không nhận được mệnh lệnh nên lại vừa hét vừa hươ tay lên ra hiệu:
- Thôi bắn đi, nó phát hiện ra mục tiêu bây giờ!
Cuối cùng thì khẩu đại liên cũng thôi bắn. Cái nòng đen xì của nó không giật lên từng hồi nữa nhưng vẫn bốc khói nghi ngút.

Đợt tiến công đầu tiên của địch đã bị đẩy lùi nhanh chóng. Hoá ra cái lá gan của bọn Mỹ còn nhỏ hơn cả bọn biệt kích ngụy. Chỉ cần quật đổ vài thằng là chúng chùn ngay lại. Cũng khác với bọn ngụy mỗi khi lui quân, bọn lính thuỷ đánh bộ Mỹ đều tìm cách lôi bằng được những thằng chết về phía sau. Nhưng, cũng có những cái xác chúng không thể lôi về được, ít ra là cho tới lúc này. Trong đó có thằng Mỹ “của anh”. Cái thằng Mỹ ôm súng máy, cuốn khăn đen trên đầu vẫn còn nằm cách hầm của Hướng chưa đầy hai chục thước. Quá nguy hiểm nếu như đồng đội của nó cố gắng tìm cách lôi nó về.
Cái xác Mỹ ấy cứ nằm tênh hênh ra đó chứng kiến thêm ba đợt xung phong bất thình của đồng đội nó. Cả ba đợt, không có thằng nào vào được tới gần chỗ nó.

Lần vừa rồi, có một thằng táo tợn đã cố gắng bò gần tới nơi, nhưng tiểu đội trưởng Nguyễn Bá Trọ đã găm cho nó một loạt tiểu liên vào trúng đầu. Hắn đang cố bò tới cái xác thằng bạn thì bỗng khựng lại, cong gập người lên như một con tôm rồi bật ngửa ra phía sau, hai chân giãy liên hồi. Những thằng Mỹ ở phía sau nó loay hoay mất một lúc rồi tròng được một sợi dây vào cổ nó mà kéo xuống. Khẩu đại liên trên chiếc xe M41 gần đó giận dữ quét một băng đại liên và nã liền mấy phát pháo về phía công sự chiến đấu của Hướng và Trọ khiến cát bụi bay mù mịt. Khi nó dừng bắn, Hướng ngạc nhiên khi thấy cái xác thằng Mỹ lúc nãy đang nằm ngửa bây giờ bỗng dưng bị lật sấp xuống. Có lẽ một phát pháo từ xe tăng đuối tầm đã nổ ngay cạnh nó. Cái thằng này cũng... lỳ thật đấy. Cuối cùng, sau một đợt bắn pháo dữ dội để dọn đường cho đợt xung phong thứ năm thì thằng Mỹ “của anh” cũng biến mất. Lần này thì nó đã bị đạn pháo của đồng đội băm nhỏ ra và ném tung mỗi nơi mỗi mảnh. Sau khi pháo dứt, Hướng chỉ còn nhìn thấy ở đó một đám máu thịt bầy nhầy trộn lẫn với đất cát mà thôi. Cái khăn đen có những hoa văn màu trắng của nó, thật lạ lùng, lại ném vào tận phía sau hầm chiến đấu của anh, mắc vào một cái cột của ngôi nhà đã bị sập, tuy đã rách te tua nhưng vẫn cứ bay phơ phất trước gió như một cây cờ phướn vậy.


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 21 Tháng Ba, 2012, 11:18:14 am
Trận pháo kích dữ dội vừa rồi cũng đã bắn sập những mảng tường cuối cùng của ngôi nhà bê tông, nơi Hướng bố trí khẩu đại liên. Vẫn còn chút may mắn là trước đó Hướng đã quyết định chuyển hai chiến sĩ trong khẩu đội đã bị thương khá nặng về căn hầm trú bom mới làm đêm hôm qua ở phía sau của tiểu đội cậu Trọ. Sau năm đợt xung phong bất thành, rõ ràng địch đã nhận ra sự lợi hại của ổ hỏa lực này và nó đã trở thành mục tiêu của tất cả những khẩu pháo trên xe tăng và những khẩu Rockét, Bazoka vác vai của bọn lính Mỹ. Khẩu đội trưởng Toàn đã hy sinh và cuối cùng căn nhà bê tông nơi khẩu đội đại liên tựa vào để xây dựng hầm chiến đấu cũng bị đánh sập hoàn toàn.

Từ bên hầm chiến đấu của mình Hướng đinh ninh rằng, cậu Điền, xạ thủ cuối cùng của khẩu đội đại liên, cũng đã hy sinh sau loạt pháo bắn trực diện ấy. Nhưng một lát sau, anh lại thấy cái đầu trắng phớ những vôi cát của Điền ngoi lên, ngay sau đó là cáì nòng súng đại liên đen xì.
Thấy từ phía xa, bọn lính Thuỷ đánh bộ Mỹ lại bắt đầu dồn đội hình, có vẻ như chúng sắp sửa mở đợt xung phong thứ năm. Hướng liền vẫy tay ra hiệu tiểu đội trưởng Bá Trọ bò tới rồi dặn:
- Tớ không thể nghe thấy gì nữa đâu. Cậu và cậu Vôi mỗi người chỉ huy một hướng, tự động chiến đấu giữ chốt. Tớ sang với cậu Điền nắm khẩu đại liên. Nếu tớ chết, cậu sẽ thay tớ chỉ huy trung đội.
Trọ gân cổ lên cãi gì đó. Hướng xua tay, chỉ vào tai mình:
- Vô ích, tớ có nghe được gì nữa đâu mà cậu “có ý kiến”. Cứ như thế nhé. Cậu bò ngay đi truyền lệnh cho thằng Vôi rồi về vị trí chiến đấu. Chúng nó sắp lên rồi đấy. Chú ý, còn ba quả đạn B40 chỉ được dùng để đánh xe tăng. Phải để cho xe tăng vào thật gần mới được bắn. Tích cực dùng lựu đạn mà đánh bộ binh. Sắp hết đạn rồi đó!

Anh nhìn thấy Trọ nhăn nhó, miệng mấp máy liên hồi rồi mới chịu bò đi. Như vậy là xong rồi. Anh không còn phải lo chỉ huy chiến đấu. Có gì mà lo chứ, quan sát hai thằng tiểu đội trưởng đánh từ sáng đến giờ, anh hoàn toàn yên tâm. Chúng nó đều là những tay khá cả. Hôm qua chốt hy sinh một bị thương bốn. Đêm, đại đội bổ sung cho chốt thêm năm tay súng nữa. Thế là vẫn đủ mười bốn. Từ sáng đến giờ đã hy sinh mất bốn, bị thương hai, hiện trên chốt chỉ còn tám người chiến đấu được. Mỏng đấy, nhưng cóc sợ. Bây giờ đã ba giờ chiều rồi, chỉ cần mình trụ được thêm hai tiếng nữa là bọn Mỹ sẽ phải cuốn gói về căn cứ, chờ ngày mai lên đánh tiếp. Đến đêm, đại đội sẽ đưa thêm người và đạn dược sang, anh em trên chốt sẽ đào thêm hầm và công sự chiến đấu, bố trí lại thế trận. Thế là ngày mai lại có thể bắt đầu như mới... Nhưng mình cũng chẳng nên ngồi ở đây làm gì nữa. Điếc lòi rồi. Hoàn toàn không nghe được nữa thì còn chỉ huy cái nỗi gì? Hướng đã quyết định như vậy. Đêm nay, anh sẽ đề nghị Hùng Phong cho từ chức rồi về phía sau điều trị để khỏi vướng cẳng đồng đội. Quyết định như vậy rồi, anh thấy lòng mình hoàn toàn nhẹ nhõm, thanh thản.

Cuối cùng, anh đã bò qua cái đống vôi gạch sắt thép lổn nhổn để tới được nơi khẩu đội đại liên bố trí hầm súng. Xạ thủ Điền cũng đã nhìn thấy anh tới, vội nhoài người ra, hối hả đẩy bớt đống gạch vỡ tạo một lối cho anh trườn vào hầm rồi nhe răng cười, nói huyên thiên gì đó. Hướng lắc đầu chỉ vào tai mình:
- Tớ không nghe thấy gì nữa rồi! Cậu để anh Toàn ở đâu?
Điền chỉ vào ngách hầm tối om bên trong, đó là cái ngách hầm trú ẩn đào xuyên vào bên trong ngôi nhà mà hôm qua anh em khẩu đội đại liên đã hì hục đào suốt đêm. Cái ngách hầm đó thông với hầm chiến đấu nay đã sạt lở và bị một tảng bê tông chắn ngang, gần như lấp cả lối vào. Hướng chỉ ra phía mặt đường, bảo Điền canh chừng địch lên rồi cố lách người chui vào bên trong ngách hầm. Anh gần như vồ phải cái xác lạnh cứng của khẩu đội trưởng Toàn nên lại hốt hoảng chui ra ngay.
- Phía trong cũng bị sạt rồi à? Hướng hỏi.
Điền gật đầu ra hiệu rằng có một trái đạn pháo đã nổ giữa lòng nhà nên cái ngách hầm mà họ đào xuyên từ ngoài này vào đã bị sập. “May mà mình đã cho chuyển hai cậu thương binh ra phía sau, Nếu không thì chúng nó bị vùi dưới đó rồi”. Hướng nghĩ vậy rồi bước tới bên khẩu đại liên. Khẩu súng bị mảnh đạn băm nham nhở, nhưng vẫn còn dùng được. Chỉ tiếc rằng trong băng đạn chỉ còn chừng ba chục viên.
- Còn lựu đạn không?
Điền gật đầu rồi cúi xuống móc từ một cái hốc dưới chân ra ba quả lựu đạn Trung Quốc.
- Tiểu liên có còn đạn không?
Điền mở băng đạn cắm trong khẩu tiểu liên dựng bên cạnh ra chìa cho Hướng xem. Băng đạn rỗng không. Vậy là hai thằng chỉ còn ba mươi viên đạn đại liên, ba trái lựu đạn, trong khẩu tiểu liên của Hướng cũng chỉ còn hơn chục viên đạn.
- Không sao, như thế này vẫn đủ sài. Ngoài hai thằng mình ra, trận địa vẫn còn sáu tay súng bố trí ở hai bên cánh nữa. Nếu phối hợp nhịp nhàng, chúng mình vẫn đủ sức giữ chốt!
Hướng nói mà không nghe thấy một lời nào của mình nên có cảm giác như mình không còn nói ra lời nữa. Chỉ đến khi nhìn thấy Điền cười và gật đầu lia lịa, Hướng mới tin rằng cậu ấy đã nghe được những lời anh vừa nói trong câm lặng.

Bỗng dưng, anh muốn nói chuyện với Điền thật nhiều vì cho đến tận lúc này anh chẳng biết gì về cậu ta, ngoài một cái tên. Ngay cả với khẩu đội trưởng Toàn cũng vậy, từ hôm Toàn đưa khẩu đội ra cái chốt này tăng cường cho trung đội của mình, Hướng chưa có lúc nào rảnh mà ngồi tâm sự với cậu ấy. Bây giờ thì Toàn đã hy sinh. Hướng cảm thấy mình có lỗi vì đã biết quá ít về một con người đã cùng mình vào sinh ra tử.
- Nhà cậu... có mấy anh em hả Điền? - Anh buột miệng hỏi. Điền xòe ra ba ngón tay.
- Ba người à? Thế, có mấy anh em trai?
Điền đưa lên một ngón tay. Vậy ra, cậu ta là con trai duy nhất trong nhà.
- Có vợ chưa?
Điền lắc đầu cười. Nó có vẻ ít tuổi, chắc chắn là chưa biết yêu đương là gì rồi. Mình hơn nó đến dăm bảy tuổi, mà cũng đã có mẩu tình vắt vai nào đâu?

Hướng định hỏi thêm vài câu đơn giản nữa để Điền có thể dùng ký hiệu hay cử chỉ mà trả lời. Nhưng đúng lúc đó, gương mặt Điền bỗng thay đổi, cậu ta chỉ ra phía đường lớn rồi la lên một câu gì đó. Hướng vội xô lại nhô người nhìn ra và thấy ngay rằng bọn địch lại đang bắt đầu một đợt tấn công mới. Anh nhìn thấy hai chiếc M41 đang tiến về mé trái của trận địa, bọn lính Thuỷ đánh bộ lốc nhốc theo sau. Một tốp trực thăng trợ chiến từ phía Đông lao tới, phóng rockét và bắn đại liên xuống trận địa. Mặt đất lại rung lên. Một trái rockét nổ bung ngay phía trước cửa hầm đại liên.
- Vì vướng cái khe cát kia nên xe tăng chúng nó không bò lên hướng này đâu. Chú ý, khi nào tôi vẫy tay thì cậu bắn quét vào bọn bộ binh chạy phía sau xe, yểm hộ cho bọn thằng Trọ đưa B40 lên đánh tăng. Hướng hét lên. Điền rê nòng khẩu đại liên về phía địch. Chiếc xe tăng vừa bắn như vãi đạn, vừa thận trọng tiến lên. Hướng tin rằng lúc này xe tăng địch lại liều mạng tiến công từ mé bên phải sang để vào đánh khẩu đại liên bướng bỉnh này. Tiểu đội trưởng Nguyễn Viết Vôi đang cho xạ thủ B40 chuẩn bị đánh xe. Thấy xạ thủ dự bị này có vẻ lúng túng, Vôi liền chộp lấy súng. “Thằng Vôi chơi thứ ống lươn này cũng khá lắm”. Hướng nghĩ vậy rồi vỗ vào vai Điền hét lên “Bắn thu hút địch để thằng Vôi đánh xe tăng. Điền nhe răng cười gật đầu. Khẩu đại liên giật lên từng hồi. Bọn lính chạy phía sau xe dạt vội ra, lăn long lóc trên mặt đất tránh đạn. Nhìn thấy cái thớt trên của chiếc xe quay sang phía mình, Hướng hét lên:
- Cúi xuống! Nó bắn pháo đấy!
Păng... oành! Păng... oành!
Những trái đạn pháo nổ bung ngay trước mặt. Đám gạch đá vôi vữa tung lên rơi rào rào. Hướng cố thu người chúi vào một góc hầm để tránh mảnh đạn và gạch đá đang rơi như mưa xuống hầm. Điền ngã vật xuống, đè ngay lên người anh. Máu từ trên mặt, trên người cậu ta xối ra ướt đẫm.
- Điền!
Anh hét lên rồi vội xốc cậu ta dậy, hối hả lần tìm vết thương. Một mảnh găm vào vai, một mảnh đạn khác sướt qua đầu, vạt một miếng ngay ở trán bên trái, thảo nào máu chảy tràn cả lên mặt cậu ta trông đến khiếp. Hướng vội lần trong bao đồ, lấy ra hai cuộn băng băng tạm vết thương cho Điền.
- Không sao đâu, cậu chỉ bị nhẹ thôi. Chưa chết được đâu mà lo!
Điền bỗng tỉnh lại, mếu máo chỉ tay lên phía trên, rồi lại ngất đi. Hướng nhìn lên, thấy nòng khẩu đại liên đã bị tiện cụt. Cái vết cắt trên nòng súng thật ngọt, phần bị cắt rời ra cũng văng đi đâu mất. Nhìn xuống băng đạn, thấy đã rỗng không. Không sao, nó đã hoàn thành sứ mạng của mình rồi. Nhìn sang bên phải trận địa, Hướng vui sướng reo lên “Thằng Vôi khá lắm! Lên mà xem này! Điền ơi. Thêm một xe tăng nữa đi đời rồi!”. Đó là chiếc xe tăng thứ hai bị bắn cháy ngay ven đường 71, chiếc đầu tiên là sản phẩm của Hướng. Bây giờ, thì nó đã có bạn rồi!

Nhưng anh không kịp đợi Điền tỉnh lại, đứng lên mà xem chiếc xe tăng thứ ba vừa bị bắn cháy trong ngày hôm nay. Trên những thảm ruộng hoang bên kia đường 71, lố nhố đầy lính Mỹ. Bốn năm chiếc xe tăng khác lại đang dàn hàng ngang, xịt khói đen xì... Đám lính Mỹ vừa bị đánh bật ra đường lại đang nhấp nhổm chuẩn bị xung phong. Có như quân Mỹ đang chuẩn bị dốc toàn lực cho một đợt tấn công dữ dội mới.
Hướng vội cúi xuống bế Điền lên, đưa về phía cuối hầm súng, rồi cố sức tuồn cậu ta vào ngách hầm phía trong, nơi khẩu đội trưởng Toàn đang nằm.
- Cậu nằm yên đó đã nhé. Để tớ ra tiếp bọn này đã!
Cẩn thận hơn, anh vần thêm một tảng bê tông chắn lối vào ngách hầm phòng khi đạn pháo có cả cái vào đây thì cậu ấy cũng không bị thêm vết thương nào nữa. Xong xuôi, anh mới quay trở lại, tìm khẩu tiểu liên của mình rồi lấy ba trái lựu đạn ra xếp ngay bên cạnh khẩu đại liên vừa bị tiện cụt nòng.
- Được rồi! Tao sẽ cho chúng mày biết tay!
Anh gào lên đến rát cả cuống họng để cảm nhận được sự rung động của thanh quản và để tin rằng mình vẫn còn nói được tiếng người.


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 21 Tháng Ba, 2012, 11:19:40 am
Đó là một ngày chiến đấu căng thẳng. Từ tám giờ sáng tới giờ, đại đội trưởng Hùng Phong vẫn theo dõi sát sao cuộc chiến đấu trên cả ba điểm chốt. Điểm phía bắc Cầu Sòng địch sang sớm nhất. Vẫn là quân của trung đoàn 2 sư đoàn Bến Hải đi tiên phong. Đến gần trưa, địch dùng trực thăng đổ thêm một đại đội kỵ binh bay Mỹ xuống phía Tây làng Sòng rồi theo đường 71 đánh vào chốt. Hùng Phong cho trung đội ba xuất kích ra đánh chặn. Giao tranh chừng một giờ thì bọn kỵ binh bay đột ngột lui về phía bờ sông rồi hai giờ chiều thì cho trực thăng tới bốc quân về. Tiểu đoàn dùng súng cối tập kích lúc chúng dồn quân về để lên trực thăng, diệt thêm chừng mươi tên nữa. Có vẻ như bọn ky binh bay chưa thực sự muốn vào cuộc.

Buổi chiều sư đoàn Bến Hải thay quân, đánh tiếp, nhưng chốt Nam làng Sòng do đại đội phó Tại và trung đội trưởng Hoàng chỉ huy vẫn vững như bàn thạch.
Điều mà Hùng Phong lo lắng nhất là chốt phía Đông đường 1, do trung đội trưởng Nguyễn Đình Hướng chỉ huy. Một tiểu đoàn lính Thuỷ đánh bộ Mỹ đã đổ quân và cả xe tăng xuống trước chốt của Hướng từ chín giờ sáng. Hỏa lực pháo binh và không quân của địch dường như cũng dành ưu tiên cho hướng tiến công này. Từ nơi quan sát ở khu vực ngã tư, Hùng Phong hồi hộp theo dõi trận đánh trên chốt của Hướng.
Qua ba đợt tấn công, có vẻ như trận địa của Nguyễn Đình Hướng vẫn vững, nhưng Hùng Phong đoán rằng rất có thể lực lượng trên chốt đã sứt mẻ, đạn cũng sắp hết. Nếu không chi viện kịp thời thì Hướng khó có thể trụ được đến tối.

Hai giờ chiều, khi có dấu hiệu bọn kỵ binh bay rút quân, không mở tiếp những đợt tiến công từ hướng Tây vào làng Sòng, tiểu đoàn mới đồng ý cho Hùng Phong sử dụng lực lượng dự bị của đại đội sang chi viện cho chốt phía Đông. Nhưng trong điện thoại, tiểu đoàn trưởng Phạm Quang Vinh vẫn nhắc đi nhắc lại “Anh không được rời vị trí chỉ huy. Hãy giao nhiệm vụ chi viện cho trung đội phó Trần Xuân Đồng”. Hùng Phong không cãi, nhưng anh biết mình sẽ phải đích thân dẫn anh em đi vì trung đội trưởng Đồng chưa nắm được con đường vu hồi để sang phía Đông đường. Trong điều kiện pháo binh địch phong toả dữ đội thế này, nếu liều lĩnh vượt đường ở khu vực Ngã Tư Sòng thì chẳng khác nào tự sát. Mặt khác, linh tính mách bảo anh rằng, cuộc chiến đấu ở ngoài đó đang vô cùng quyết liệt. Là đại đội trưởng, anh không thể đứng nhìn. Vì thế, không nói lại chi tiết mệnh lệnh của tiểu đoàn trưởng, anh dặn chính trị viên Khang:
- Anh cho người ra chốt trung đội 1 gọi anh Tại về cùng anh chỉ huy chung, giữ liên lạc với tiểu đoàn. Tôi sang bên kia với anh em đây. Nếu tiểu đoàn trưởng có hỏi, anh cứ nói tôi đi kiểm tra các chốt.
Nhận được lệnh của đại đội trưởng, Trung đội trưởng Trần Xuân Đồng vui vẻ thốt lên:
- May quá. Tôi cũng đang định lên kiến nghị với đại đội cho tôi dẫn phần còn lại của trung đội vượt đường sang chi viện cho anh Hướng đây.

Chỉ mười lăm phút sau, mười hai tay súng còn lại của trung đội đã tập hợp đầy đủ, nai nịt gọn gàng, ngụy trang kín mít, sẵn sàng đợi lệnh. Đại đội trưởng Hùng Phong cũng đã ngụy trang xong, tới đứng trước hàng quân, dõng dạc lên tiếng:
- Các đồng chí... Chúng ta sẽ vượt đường sang chi viện cho trung đội trưởng và anh em bên đó. Trong điều kiện địch đang pháo kích dày đặc và máy bay địch hoạt động không ngừng như thế này, chúng ta phải hết sức thận trọng thì mới bảo toàn được lực lượng để sang tới bên đó. Từ phút này, các đồng thí nhất nhất phải hành động theo mệnh lệnh của tôi. Rõ chưa?
Tất cả đáp “rõ!”. Đại đội trưởng Hùng Phong khoát tay:
- Mỗi người cách nhau ba mét, theo tôi tiến!
Hùng Phong dẫn bộ đội bám theo rìa làng tiến về phía Bắc. Pháo địch vẫn bắn từng chặp, khi thì bao bọc quanh làng Sòng, khi thì bắn thẳng vào giữa làng. Vì có rất nhiều trận địa pháo địa cùng bắn vào khu vực này nên đạn pháo rơi chẳng theo một quy luật, một trật tự nào cả. Tuy vậy, cũng có thể thấy rõ, các trận địa pháo từ Đông Hà, Thiên Trường Hạ, Cam Vũ, Bái Sơn chủ yếu tập trung bắn vào phía Nam Ngã Tư Sòng và dọc theo tuyến phía Tây đường 71. Các trận địa pháo từ Phía Bắc như Quán Ngang, Cồn Tiên, Dốc Miếu, tập trung phong toả từ phía Bắc làng Sòng tới Kim Đâu, Phú Hậu... Còn các dàn pháo hạm từ ngoài biển và từ phía Cửa Việt thì chủ yếu bắn dọc theo đường số 1 và tuyến phía Đông đường 71, bao quanh chốt của trung đội 2. Ấy là chưa kể hàng chục khẩu súng cối và pháo tự hành trên xe tăng, xe bọc thép. Các phi đội trực thăng chiến đấu thì thay nhau bừa ngang bừa dọc theo hai trục đường 71 và đường 1, theo hướng từ Đông sang Tây, và từ Nam lên Bắc. Hễ phát hiện ra nơi nào có hỏa điểm hoặc có lực lượng ta cơ động là chúng bu tới tiến công bằng Róckét, súng phóng lựu và súng máy, có khi còn sà xuống thật thấp để cho bọn lính trên trực thăng tung lựu đạn nữa. Vì vậy Hùng Phong phải hết sức thận trọng, vừa cơ động vừa nghe pháo địch bắn vừa phải canh chừng đám trực thăng và máy bay trinh sát OV10 bay ở tầng trên.

Tới rìa phía Bắc của làng Sòng, anh cho bộ đội dừng lại, nằm rải rác quanh những bụi cây, gò đất, chờ thời cơ vượt qua quãng đồng trống rộng chừng năm trăm mét để tới bờ con lạch nhỏ. Anh chăm chú quan sát đường bay của tốp trực thăng một lát rồi ra lệnh:
- Chú ý khi nào tôi ra lệnh thì từng tốp ba người một vọt thật nhanh qua bãi trống. Bám được bờ khe là phải nằm bẹp xuống ngay, không được động đậy. Rõ chưa!
Các chiến sĩ đều nghe rõ mệnh lệnh. Ba chiếc trực thăng từ hướng Bắc đã vòng trở lại. Đợi đến khi nhưng cái bóng đen xì của chúng lướt qua đầu Hùng Phong liền ra lệnh:
- Tổ thứ nhất... Tiến lên! Tổ thứ hai chuẩn bị!
- Tiến!
Tốp trực thăng bay qua phía cầu sắt rồi lộn trở lại, lần này hai chiếc bay so le nhau ở phía Tây đường, một chiếc lảng ra phía Đông đường rồi đột ngột ngoặt lại, chúi đầu xuống.
- Tạch... tạch... tạch... tạch... Ùng... Oành!
- Nằm yên! Nó bắn trúng đội hình cũng không nhúc nhích!
Hùng Phong hét lên trong tiếng súng máy và rốc két nổ chát chúa. Đạn cày ngay khoảng trống trước mặt. Trung đội trưởng Đồng lo lắng hỏi:
- Hay là chúng phát hiện ra mình rồi?
- Không đâu... Nó bắn vu vơ để phong toả rìa làng này thôi. Chú ý, lần này quay lại, nó sẽ bắn ngay sau lưng chúng ta đấy!
Tạch... tạch... tạch... đùng!... tạch tạch tạch đùng... !
Đúng như Hùng Phong dự đoán. Lần này thằng trực thăng bắn súng máy và phóng lựu đạn vào rìa cái làng nhỏ đã xơ xác bởi bom đạn.
- Vọt đi!
Hùng Phong hét lên khi chiếc trực thăng vừa ngóc đầu lên để lấy lại đường bay theo trục Bắc - Nam.
Khi toàn đội đã bám được con lạch, Hùng Phong ra lệnh cho mọi người bám theo con lạch vừa quan sát tốp trực thăng đang quần thảo trên đầu vừa tiến lên.

Hôm trước, khi đi cùng Hướng đưa trung đội 2 sang chiếm lĩnh trận địa theo con đường này thì ven con lạch vẫn còn sót một vài vạt cây. Nhưng lúc này thì hai bên bờ lạch đều đã bị bom phát quang hết cả rồi. Đất đá ngổn ngang trong lòng khe, mùi thuốc bom khét lẹt, một vài hố bom sâu hoắm bây giờ đã thành những cái hố chứa nước, chứng tỏ địch cũng đã chú ý tới con lạch này và trút xuống đây không ít bom đạn. Tuy vậy, vẫn còn có thể lợi dụng những khóm cây bụi, cỏ dại để ngụy trang. Khi bộ đội chui qua được cái cống dẫn nước qua đường 1 thì pháo địch lại bắn dữ dội. Hùng Phong không dám khinh xuất cho bộ đội lên khỏi con lạch để tiến về phía chốt mà phải nằm lại, chờ cho pháo địch chuyển làn.
Đúng lúc đó tiếng súng lại vang lên trên điểm chốt. Hùng Phong vẫy trung đội phó Đồng bò lại bên mình rồi nói:
- Dứt pháo, cậu dẫn một tổ vọt lên ngay. Đến chỗ mấy bụi dứa dại kia thì nằm lại để quan sát trực thăng địch. Nếu thuận lợi, cậu cho tổ lao bám mé bên phải gò cát. Tới đó, bỏ ngụy trang bằng cây xanh rồi phủ cát lên người và từng người bò dần lên phía trên gò cát. Lên được đó rồi thì tất cả nằm im, chờ toàn đội hình lên đủ thì chúng ta xông thẳng xuống mé bên phải, đánh vào sườn đội hình địch. Chú ý nhắc anh em đừng để cát vào nòng súng.

Đây chính là đoạn khó khăn nhất. Nếu bị địch phát hiện, chúng sẽ lập tức dựng hàng rào hỏa lực rồi gọi trực thăng đến săn đuổi từ trên cao, lúc đó thì rất nguy hiểm.
Trung đội phó Trần Xuân Đồng hiểu rõ nguy cơ ấy khi bắt đầu trút bỏ lá ngụy trang vùi mình vào cát.
Thực ra, cát ở đây có pha với cả đất phù sa nên ẩm và dễ dàng bám vào cơ thể, áo quần không bị trôi vuột đi như thứ cát trắng và khô trên những bãi biển. Có lẽ vì thế, bình thường người dân trong vùng vẫn trồng dưa, trồng khoai lang trên những cánh đồng cát như thế này. Tuy vậy vào thời điểm này, trên cánh đồng cát trước mặt, những gốc dưa, những khóm cà đều đã khô héo hết cả, chỉ còn lơ phơ vài ba bụi cỏ dại. Nếu ngụy trang bằng cây lá thì chẳng khác nào lạy ông con ở bụi này, những thằng địch trên trời kia sẽ phát hiện ra ngay. “Đại đội trưởng thông minh thật”. Anh nghĩ vậy khi ngoái lại phía sau, và nhận rõ từng người đang di động, trên đầu trên lưng họ cũng phủ toàn cát, trông như một đoàn bọ hung đang dũi cát vậy. Thế này bọn trực thăng từ trên cao nhìn xuống cũng khó mà phát hiện được.

Quá nửa đội hình đã lên đến đỉnh mé Đông của gò cát. Từ đây nhìn xuống cái xóm nhỏ nơi có trận địa chốt của trung đội 2 chỉ thấy khói bụi mù mịt, tiếng súng, tiếng lựu đạn nổ rền. Nhìn rõ cả bọn lính Mỹ đang chạy tới chạy lui và những chiếc xe tăng địch từ bên kia đường 71 vừa bắn pháo vừa dàn hàng ngang tiến lên.
Có lẽ địch đang dốc toàn lực xung phong vào chốt từ cả ba hướng. Đại đội trưởng Hùng Phong nghĩ vậy rồi bò tới bên trưng đội trưởng Đồng, ra lệnh:
- Không cần đợi anh em lên đủ cả đâu. Cậu dẫn hai tổ từ đây đánh vào bên trái đội hình địch rồi xông ngay lên chốt. Tôi chờ số anh em còn lại lên rồi đánh vòng sang hướng bên phải. Chú ý tận dụng yếu tố bất ngờ, tiếp cận địch càng gần, càng tốt.
Trung đội phó Trần Xuân Đồng đáp “Rõ!” rồi thoăn thoắt bò lên trước đội hình, hét lớn:
- Anh em, theo tôi!
Rồi Đồng ôm súng, lăn lông lốc xuống theo triền gò cát. Năm chiến sĩ đi đầu lập tức bám theo anh. Chỉ một loáng, họ đã mất hút trong đám khói bụi mù mịt do bom pháo địch dựng lên quanh trận địa chốt. Họ đã lao vào cơn lốc xoáy của một trận quyết tử.

Không nghe được, nhưng Hướng vẫn “đọc” được diễn biến của trận đánh khi nhìn thấy những trái lựu đạn nổ bung giữa đội hình địch, những tên lính Mỹ bị hất tung lên, ngã gục theo đủ kiểu, ở bên trái, bên phải anh. Đội hình của chúng bị dội lại, vỡ ra, rồi lại tụ lại và tiếp tục xông lên. Đồng đội anh vẫn đang chiến đấu. Biết là như vậy, anh cảm thấy thật yên lòng Một tốp chừng gần chục tên đang lao về phía anh. Chúng đã tới sát cái hàng rào gỗ mà chủ ngôi nhà đã dựng lên chỉ để ngăn trâu bò từ ngoài đường khỏi tràn vào phá khu vườn đang gây dựng của ông ta. Không biết ông chủ ngôi nhà này làm nghề gì, nhưng có vẻ là người khá giả nhất trong xóm và cũng biết chăm chút cho ngôi nhà của mình. Qua hai ngày bom đạn, ngôi nhà mái bằng duy nhất trong xóm của ông ta đã thành một đống gạch vụn. Vậy mà lạ thay cái hàng rào gỗ thì vẫn còn sót lại một đoạn chưa bị bom đạn quật đổ. Bọn Mỹ thì chưa một lần tới được cái hàng rào ấy khi khẩu đại liên của Toàn còn “làm việc”. Hễ thằng Mỹ nào vượt qua đường 71 là lập tức bị quật đổ. Nhưng sáng nay đã có một lần, một chiếc xe tăng M41 vượt qua được điểm chốt chặn của cậu Vôi ở mé bên phải rồi lao thẳng vào phía ngôi nhà này. Nó được lệnh phải đè cho bẹp dí cái ổ súng máy chết tiệt ấy. Khốn nỗi, không thể lao thẳng từ hướng chính diện vào được vì vướng con lạch khá sâu. Vì thế, muốn lao vào đè bẹp cái hỏa điểm đó xe tăng địch buộc phải theo đường 71 từ mé phải mà đánh vào. Như vậy thì rất nguy hiểm vì sẽ phơi sườn ra, làm mồi cho súng chống tăng của Việt Cộng.

Nhưng lần ấy, cậu Lanh, xạ thủ của tiểu đội Nguyễn Viết Vôi đã bắn trượt. Nói cho chính xác, khi cậu ta vừa lấy đường ngắm chuẩn bị siết cò thì trúng đạn. Viên đạn vẫn kịp lao đi trước khi người xạ thủ ngã xuống nhưng đã không trúng đích. Chiếc M41 đã vọt qua, lao thẳng về phía ngôi nhà có khẩu đại liên. Nhưng, nó còn cần một chút thời gian để bẻ lái, hướng mũi xe thẳng vào ngôi nhà trước khi thực hiện một cú nhấn ga để chồm thẳng vào ụ súng nguy hiểm của đối phương.
Vào đúng giây khắc hiểm nghèo ấy, từ vị trí chiến đấu của mình, Hướng đã kịp nhảy ba bước rồi nhào tới chộp lấy khẩu B41 của cậu Rinh vừa bị thương. Đó là viên đạn B41 cuối cùng của trung đội, đó cũng là phát đạn B41 cuối cùng mà Nguyễn Đình Hướng được bắn trong cuộc đời mình. Và anh đã không bắn trượt. Phát đạn đã hất tung phần trên của chiếc xe tăng. Tất cả đạn pháo và nhiên liệu trong lòng nó phát nổ dữ dội.

Nhưng Hướng chỉ thấy mặt đất rùng rùng, khói bụi mù mịt, đất đá ném rào rào, chứ không nghe thấy tiếng nổ. Đó là lần đầu tiên anh cảm thấy tiếc vì đã không nghe được tiếng giãy chết huy hoàng của một con ác thú.
Bây giờ thì có chừng mươi tên lính thuỷ đánh bộ Mỹ đang dùng cái xe cháy ấy làm điểm tựa. Chúng loay hoay làm gì đó một hồi rồi bỗng Hướng thấy một vệt lửa sáng loà lao thẳng tới, chụp lấy cái đống gạch đá bên trên hầm chiến đấu của anh. Không khí thoắt bị nung lên, nóng rực, khẩu tiểu liên trên tay anh cũng rát bỏng. Khói xộc vào hầm. Tối om.
- Chúng nó chơi cái của khỉ gì thế này nhỉ? Súng phun lửa chắc?
Hướng vừa ho sặc sụa vừa cố ngoi lên. Không nhìn thấy gì ngoài khói. Nhưng anh vẫn cảm nhận được thằng địch đang lao lên ngay trước mặt mình. Anh hét lên, cảm thấy cuống họng mình rát bỏng rồi cắp khẩu AK nóng bỏng bật lên khỏi hầm, lia hết tất cả số đạn còn lại trong khẩu súng về phía trước. Khi khẩu súng khựng lại đột ngột, anh biết rằng đã hết đạn. Anh quăng khẩu AK về phía sau lưng mình rồi lăn xuống hầm, quờ tay tìm ba trái lựu đạn. Khói đã tan dần, Hướng nhìn thấy bọn Mỹ đang lố nhố xông lên. Anh bình tĩnh lần lượt rút chốt hai trái lựu đạn rồi tung về phía trước. Những ánh chớp nháng lên. Anh nhìn thấy mấy thằng Mỹ ngã vật ngay phía trước cửa hầm.

“Bậy giờ chỉ còn một trái lựu đạn duy nhất. Dù sao, chúng nó cũng không thể bắt sống mình được”. Anh thoáng nghĩ vậy rồi quay lại, ghé vào chỗ cục bê tông mà anh vừa bê tới chèn ngách hào hét lớn “Điền, còn sống thì cứ nằm yên trong đó nhé!”. Rồi anh quay lại, bình tĩnh mở chốt quả lựu đạn thứ ba, lôi cái đầu giây giật nụ xoè ra, hít thở một hơi thật dài rồi tựa lưng vào vách hầm, chờ đợi.
Lúc đó, trong ngách hào khoét sâu vào lòng căn nhà, Điền cũng vừa tỉnh dậy. Anh đã nghe tiếng trung đội trưởng Hướng vang lên trong tiếng súng đạn rền trời. Anh cố gượng dậy, mò mẫm trong bóng tối tìm cách bò ra.

Nhưng anh đã nghe thấy tiếng bọn lính Mỹ hò hét và tiếng bước chân của chúng huỳnh hụych trên mặt đất. Tiếng một thằng hét lên, rồi anh nghe tiếng trung đội trưởng Hướng vang lên rành rọt:
- Vào đây đi! Tao sẽ chia đôi với chúng mày!
Có tiếng vật nhau. Tiếng thở dốc. Tiếng những thằng Mỹ gầm rú điên loạn. Và cuối cùng là một ánh chớp chói loà. Điền khẽ kêu lên “Anh Hướng!” rồi ngất lịm đi như bị lôi tuột vào một cái ống cống đen ngòm, sâu thăm thẳm.


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 21 Tháng Ba, 2012, 11:21:59 am
Trong cuốn sách của thiếu tướng Phạm Xuân Ban sau này không có đoạn nào mô tả tỷ mỉ những ngày ông và đồng đội chiến đấu trên chốt thép Ngã Tư Sòng. Cũng dễ hiểu thôi, vì đó là một tập luận văn quân sự, tác giả không có ý định mô tả chi tiết những hành vi chiến đấu của mỗi con người, mỗi đơn vị trên chiến trường mà chỉ phân tích những ý nghĩa chiến thuật chiến dịch và ghi nhận những đóng góp của mỗi trận đánh vào thế trận chung của toàn mặt trận.
Tuy vậy, khi kể về tấm gương hy sinh anh dũng của trung đội trưởng Nguyễn Đình Hướng, ông vẫn không ghìm được ngòi bút của mình và đã để xuất hiện trong cuốn sách lý luận quân sự khô khan của mình những dòng rất nhiều cảm xúc, như một đoạn trữ tình ngoại đề như sau:
... Khi bới hết đống gạch vụn vùi lấp gần kín cái công sự chiến đấu của khẩu đội đại liên, chúng tôi đều sững sờ khi nhìn thấy một hình ảnh lẫm liệt. Thi thể đẫm máu của trung đội trưởng Nguyễn Đình Hướng nằm đè lên xác của hai thằng lính Thuỷ quân lục chiến Mỹ to lớn, kềnh càng. Cả hai thằng Mỹ vẫn còn mở trừng trừng những đôi mắt xanh, xám ngoét. Trên gương mặt chúng là những thớ thịt méo mó, đông cứng lại, hằn rõ dấu vết của sự bàng hoàng khiếp đảm và u uất vì không lý giải được, vì sao cái chết lại đến với chúng đột ngột và khủng khiếp đến thế?
Có lẽ chúng ta sẽ không bao giờ biết được về giây phút cuối cùng lẫm liệt của người dũng sĩ anh hùng Nguyễn Đình Hướng nếu không có một chút may mắn.
Sau khi tiếp tục bới sâu vào căn hầm của khẩu đội đại liên, chúng tôi đã tìm thấy một ngách hào và ở trong đó có một người còn sống, đó là xạ thủ Tạ Văn Điền. Cậu ta bị thương khá nặng và đã được trung đội trưởng Hướng đẩy vào ngách hào này trước khi diễn ra đợt tiến công cuối cùng của ngày hôm ấy. Nằm trong ngách hào ấy, cậu ta đã được chứng kiến những giây phút cuối cùng của trung đội trưởng Hướng. Khi anh đã bắn hết đạn, hai tên Mỹ nhảy được vào hầm súng và định bắt sống anh. Nhưng chúng không ngờ rằng anh vẫn còn một trái lựu đạn cuối cùng. Đợi cho khi cả hai thằng Mỹ xô vào ôm lấy mình, anh đã cho nổ trái lựu đạn và hy sinh một cách oanh liệt.
Hôm đó, chính tôi, người viết những dòng này, đã chỉ huy một lực lượng dự bị ra chi viện cho điểm chốt này. Nhưng, chúng tôi đã đến hơi muộn. Mặc dù vẫn kịp cùng anh em đang chiến đấu trên chốt đánh bật đợt tiến công cuối cùng của địch trong ngày hôm ấy, giữ vững trận địa. Nhưng, nếu chúng tôi quyết đoán hơn, chi viện sớm hơn, cơ động nhanh hơn thì có lẽ trung đội trưởng Nguyễn Đình Hướng đã không phải hi sinh!
Nhưng tấm gương hy sinh oanh liệt của anh đã khích lệ tất cả mọi người trong đơn vị chúng tôi. Vì vậy, chúng tôi đã đứng vững trên chốt thép Ngã Tư Sòng thêm năm ngày nữa, cùng với các đơn vị bạn phong tỏa và khoá chặt khu yết hầu Đông Hà, Cửa Việt. Khốn đón vì bị cắt đứt cả hai tuyến đường bộ và tuyến đường thuỷ trên sông Hiếu, Bộ chỉ huy quân đội Mỹ ở Đường 9 buộc phải tung hai trung đoàn Thuỷ quân lục chiến, một chiến đoàn của sư đoàn kỵ binh bay số 1 cùng sư đoàn Bến Hải ngụy Sài Gòn ra để đối phó, giải toả.
Vậy là đúng ý đồ chiến dịch của Bộ tư lệnh sư đoàn và Bộ tư lệnh mặt trận - Kéo Mỹ ra mà đánh tạo điều kiện cho quân ta ở Mặt trận phía Tây tăng cường vây ép căn cứ Khe Sanh và giảm áp lực của địch đối với vùng giải phóng thừa thiên - Huế.
Sau đó ít ngày, vào giữa tháng năm, sư đoàn Hồng Bàng đã tạo thế, lừa địch đổ quân ra vùng bãi cát Cửa Việt để đánh một trận tiêu diệt lớn (sẽ được mô tả và phân tích kỹ lưỡng trong chương tiếp theo của chuyên luận này - P-X-B) - diệt gọn tiểu đoàn 4 Thuỷ quân lục chiến Mỹ, một đơn vị có truyền thông rất lâu đời, từng tham gia những trận đánh lớn ở Châu Âu trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, tùng có nhiều chiến tích lẫy lừng trên chiến trường Triều Tiên. Thanh kiếm và lá cờ truyền thống của tiểu đoàn Thuỷ quân lục chiến này hiện còn được lưu giữ trong Nhà truyền thống sư đoàn Hồng Bàng.
Có thể nói, chiến công này có phần đóng góp rất quan trọng của những người lính đã hiên ngang đứng vững trên chốt thép Ngã Tư Sòng, trong đó có tấm gương hy sinh oanh liệt của người dũng sĩ Nguyễn Đình Hướng...


Trong đoạn văn trên thiếu tướng Phạm Xuân Ban - Tức Đại đội trưởng Hùng Phong hồi đó - có nói đến sự ân hận, nuối tiếc vì mình đã không đưa lực lượng chi viện đến sớm hơn vài phút. Nhưng điều đó chỉ xuất phát từ tình cảm cá nhân của ông trước sự hy sinh của trung đội trưởng Hướng mà thôi. Trên thực tế, trong điều kiện lúc ấy đại đội trưởng Hùng Phong đã hoàn thành tốt nhất có thể được, nhiệm vụ chi viện cho anh em trên chốt. Nhưng có một việc mà ông đã không nhắc tới trong bài viết của mình, và có thể nhiều người ở tiểu đoàn 7 hồi đó nếu còn sống đến nay, có lẽ cũng không nhớ. Đó là mặc dù đã hoàn thành tốt nhiệm vụ chỉ huy chiến đấu trong suốt thời gian giữ chốt Ngã Tư Sòng. Hùng Phong vẫn bị tiểu đoàn trưởng Vinh thi hành kỷ luật với hình thức - Không chấp nhận đề nghị tặng thưởng Huân chương và cảnh cáo trong phạm vi toàn tiểu đoàn vì đã không chấp hành nghiêm mệnh lệnh của người chỉ huy. Đó là việc, anh đã tự ý dời vị trí chỉ huy để dẫn đội dự bị ra chi viện cho chốt của Nguyễn Đình Hướng. Mặc dù rất yêu quí Hùng Phong, nhưng lần đó chính trị viên Lương Xuân Báo cũng chẳng thể bênh vực được anh. Hùng Phong im lặng chấp hành kỷ luật. Chỉ có một lần, anh ca thán với anh nuôi trưởng Ngô Xuân Cung:
- Kỷ luật thì cũng đúng thôi. Không chấp hành mệnh lệnh của người chỉ huy có khi còn phải đưa ra toàn án binh mà xử ấy chứ. Nhưng cậu thử nghĩ xem, nếu hôm đó tôi không dẫn quân đi thì, dù thằng Hướng đã chết hay còn sống, tôi cũng chẳng còn mặt mũi nào mà nhìn mặt nó nữa? Rồi, còn bọn thằng Côn?
Cậu không thấy ngay sau chiến dịch tứ giác, nó chẳng xộc đến tận nơi chỉ vào mặt tôi mà mắng “Thằng Hướng nó chết là do mày! Tại sao nó đã điếc lòi như thế mà mày vẫn để nó chỉ huy một cái chốt?” Cậu bảo, tôi biết thanh minh thế nào với nó được?

Người thay trung đội trưởng Nguyễn Đình Hướng chỉ huy giữ vững chốt phía đông Ngã Tư Sòng trong suốt những ngày còn lại là Trung đội phó Trần Xuân Đồng. Anh đã tỏ ra rất xứng đáng với người chỉ huy tiền nhiệm của mình. Sau chiến dịch, anh cũng được tặng thưởng Huân chương chiến công giải phóng hạng nhì và được đề bạt trung đội trưởng. Những năm tháng chiến đấu sau đó anh cũng trưởng thành rất nhanh và đến cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ, anh đã trở thành trung đoàn trưởng.
Nhưng trong lòng anh vẫn còn canh cánh một lời hứa mà mãi tám năm sau anh mới thực hiện được.
... Tháng năm, năm 1976, Sư đoàn đang làm nhiệm vụ tiễu trừ bọn Fulrô và xây dựng địa bàn ở Tây Nguyên. Một buổi chiều, quyền sư đoàn trưởng Hùng Phong đang ngồi đọc tài liệu trong phòng làm việc thì tiếng chuông điện thoại trên bàn reo vang. Anh vội nhạc máy, từ đầu dây bên kia, tiếng trung đoàn trưởng Trần Xuân Đồng vang lên:
- Alô. . sư trưởng đấy phải không? Vâng, tôi Đồng đây mà. Không có tình hình gì đặc biệt đâu ạ. Tôi gọi điện để... mời thủ trưởng xuống đây. Tối nay... tôi với anh Côn định...
Sư đoàn trưởng Hùng Phong cười vang:
- Thằng Côn sang đó rồi hả? Các cậu lại định tụ tập để nhậu nhẹt chứ gì? Thôi đi nhé, tình hình đang phức tạp lắm đấy. Chưa phải lúc xả hơi đâu các bố trẻ ạ!
Im lặng một lát rồi tiếng Đồng lại vang lên:
- Nhưng... Hôm nay là ngày giỗ anh Hướng, anh quên rồi à?
- Thôi chết - Quyền Sư trưởng Hùng Phong giật mình thốt lên - Cậu không nhắc thì tớ quên thật. Thôi, thế này nhé. Cậu với Côn cứ chuẩn bị đi, lát nữa mình xuống.
Nói vậy, nhưng vì phải loanh quanh thu xếp công việc và nghe trực ban tác chiến báo cáo tình hình trong ngày nên hơn một tiếng sau, Hùng Phong mới xuống tới trung đoàn 4. Nguyễn Danh Côn giờ đang là trung đoàn phó trung đoàn 5, đã đứng trước cửa chờ từ bao giờ. Anh vừa từ trên xe bước xuống liền bị cậu ta choang cho một câu phủ đầu:
- Chúc mừng ông vừa nhận quyền sư trưởng nhé. Lên to rồi! Ông quên những thằng sống thì không sao, nhưng quên cả những thằng chết thì cứ liệu hồn!
- Xin lỗi... thú thực là mình nhiều việc quá...
- Anh thì nhiều việc sao bằng ông Báo mà ông ấy vẫn nhớ đấy. Hồi chiều ông ấy vừa điện cho tôi, nói rằng thật không may, đúng hôm nay phái đoàn của Bộ cùng với Bộ tư lệnh Quân đoàn xuống kiểm tra sư đoàn ông ấy nên ông ấy đành phải vắng mặt. Ông ấy còn nhắc rằng, chúng ta vẫn còn nợ anh Hướng rất nhiều đấy?
- Nợ gì? - Hùng Phong buột hỏi lại như vô tình.
- Nợ xương máu, nợ danh dự chứ nợ gì? Thế ông quên béng cả cái chuyện ông Báo đang tìm cách đề nghị truy phong Anh hùng cho anh Hướng à?
- Chuyện đó hả? Nhớ chứ... Mình và ông Báo cùng ký vào Đơn đề nghị hai làn rồi nhưng vẫn chưa được. Thấy bảo rằng, trên Bộ và những cơ quan khen thưởng của Trung ương người ta nói rằng thành tích của đồng chí Hướng thì rất tốt, nhưng cái chết của cậu ấy thì... không được đẹp lắm! Tự sát không phải là một hành động anh hùng.
Nguyễn Danh Côn nhăn mặt:
- Mẹ khỉ! Tôi mà biết thằng nào ở trên những cái cơ quan chết tiệt ấy nói bậy như vậy thì tôi sẽ vả cho rơi răng ra. Nói thế chẳng hóa ra cụ Hoàng Diệu tuẫn tiết cũng không phải là hành động anh hùng à?
- Cái cậu này... vẫn chứng nào tật ấy. Không thể nói năng văng mạng như vậy được!
Quyền Sư đoàn trưởng Hùng Phong chỉnh cho Côn một chập vùng vằng bước đi trước. Côn cười xòa theo sau, nói một câu vu vơ, vớt vát để làm lành:
- Là tôi bực mình thì nói thế thôi, chứ... anh và ông Báo cũng đã cố gắng nhiều rồi!
Vừa bước vào nhà ăn riêng cứa Ban chỉ huy trung đoàn, Hùng Phong đã nhìn thấy trên cái bàn lớn kê ở giữa phòng bày một mâm cỗ cúng thịnh soạn, khói hương nghi ngút. Và, anh bỗng sưng sốt khi nhìn thấy bên cạnh đó bày một lô những thứ đồ mã lạ lẫm gồm đủ cả ba lô, mũ cối, bi đông, dép râu, tăng võng và lạ nhất là một khẩu B41 to gần như súng thật với cả một ba lô đạn đủ sáu viên.
- Những thứ này là... ? - Hùng Phong ngơ ngác hỏi
- Tôi tự làm cả đấy - Đồng hí hửng khoe - Anh quên tôi là dân làng Cót, nhà có nghề chuyên làm vàng mã à?
- Nhớ rồi. Nhưng không ngờ... lại đẹp thế này!
Đồng bước tới bên bàn thờ lấy ra một vật khác. Đó là một thứ gì đó na ná như cái máy nghe nhạc bỏ túi kiểu Walkman, bên cạnh còn lòng thòng hai cái tai nghe nữa.
- Cái gì mà lạ thế này?
- Cái máy điếc đấy! - Đồng giải thích - Thú thực tôi cũng chưa nhìn thấy cái máy điếc bao giờ. Vừa rồi tôi phải viết thư và nhờ một cô bạn làm bác sĩ chuyên khoa Tai - Mũi - Họng vẽ cho một cái mẫu đấy!
Hùng Phong cảm động gật đầu:
- Tôi hiểu rồi. Phen này thì ông Hướng được trang bị từ đầu đến tai rồi còn gì. Thế các cậu cúng chưa?
Côn gật đầu:
- Tôi với thằng Đồng vừa cúng rồi, Chỉ đợi anh tới thắp cho nó một nén nhang, rồi ra lệnh “phát quân trang” là bọn tôi hoá ngay.
Hùng Phong chỉnh đốn lại trang phục rồi trịnh trọng bước tới thắp lên bàn thờ một nén nhang. Từ sâu thẳm trong lòng anh, bỗng trào lên một nỗi xót thương vô hạn.
- Hướng ơi... ! Chúng tôi vô cùng thương nhớ cậu. Chắc hẳn bấy nay cậu vẫn hành quân theo sư đoàn. Có khôn thiêng thì... hôm nay về đây uống rượu cùng bọn tớ và nhận quân trang đi nhé! Khẩu B41 thì oách rồi. Nhưng
nếu ở dưới đó có giặc thì cậu cũng đừng bắn liền một mạch sáu quả, kẻo lại rách màng nhĩ một lần nữa đấy. Thằng Đồng nó đã làm cho cậu cái máy điếc. Bây giờ thì cậu có thể nghe được mọi điều rồi. Nhưng hãy bỏ ngoài tai những điều người ta nói sai về cái chết của cậu, và nói nhăng nói quậy về cuộc đánh giặc giữ nước của chúng mình nghe chưa? Nếu không, cậu sẽ lại nổi khùng lên đấy.
Quyền Sư đoàn trưởng Hùng Phong khấn xong, bèn ra lệnh cho đốt mã.


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 21 Tháng Ba, 2012, 11:23:05 am
PHẦN KẾT
Trong sổ tay của chính uỷ

Trên giá sách của giáo sư kiêm nhà văn Trương Đình Lân, bên cạnh cuốn sách của Thiếu tướng Phạm Xuân Ban còn có một cuốn sổ tay bìa màu xanh, đóng toàn bằng thứ giấy pôluya viết thư của lính. Cuốn sổ dày tới hơn hai trăm trang, đã ghi chép gần hết. Đó là cuốn sổ ghi chép, giống như một thứ nhật ký mặt trận của chính ủy Lương Xuân Báo. Thời gian và mưa nắng đã khiến cho một số trang trong cuốn sổ đã úa vàng, nét chữ phai mờ rất khó đọc. Cái bìa bằng ngôn màu xanh cũng bị giòn và mủn ra. Để bảo quản cuốn sổ quí giá này, giáo sư Lân đã phải đem đi đóng bìa cứng, rồi dày công dùng bút chì bi h mẩn tô lại những nét chữ đã bị mờ. Có thể nói cuốn sổ ghi chép của chính ủy Lương Xuân Báo giống như một khối ký ức đã cô đặc lại, mỗi lần mở ra đọc lại một trang thì giáo sư Lân lại có cảm giác như mình vừa được sống lại với những khoảng khắc, những năm tháng hào hùng, được gặp lại những gương mặt bạn bè đồng chí thân quen, thậm chí có cảm giác như có thể ngửi thấy mùi bom đạn, mùi chết chóc, mùi lương khô, mùi gạo rang, mùi mắm kem cô đặc, mùi ca-la-thầu hay mùi thuốc lọc nước Phăngtôxit... vậy? Và, cũng phải thú nhận rằng, những trang ghi chép của chính ủy Báo đã giúp ông lấy lại được cảm hứng để bắt tay vào việc viết tiếp cuốn tiểu thuyết về chiến tranh mà ông đã bỏ dở từ mấy năm nay. Đôi lúc ông còn cảm thấy tiếc vì Hùng Phong đã đưa cho ông cuốn ghi chép này hơi muộn. Khi đọc kỹ cuốn ghi chép ông mới hiểu vì sao mãi đến tận những ngày đầu năm vừa rồi, tướng Hùng Phong mới quyết định giao cho ông giữ cuốn sổ quí giá này.

Chừng một tháng sau cái đêm giao thừa thiên niên kỷ mà tướng Hùng Phong được xuất hiện trên cầu truyền hình như một trong số những nhân vật nổi bật của thế hệ ra trận chống Mỹ cứu nước, ông bỗng lại tìm đến nhà giáo sư Lân. Sau vài ba câu chuyện, ông rút trong cặp ra một cái hộp sắt tây choáng lộn, loại hộp bánh sô-cô-la, sản phẩm cao cấp của một Hãng bánh kẹo vừa mới liên doanh với nước ngoài, dạo này thường thấy xuất hiện liên tục trên chương trình quảng cáo của đài truyền hình, khiến người ta tin rằng chỉ cần được ăn loại bánh này một lần thì có chết cũng đáng đời lắm rồi! Nhưng nghe nói, giá của mỗi hộp bánh như thế này bằng giá cả một gánh gạo.
- Tôi muốn ông giữ hộ cái này! - Tướng Hùng Phong rụt rè nói.
Giáo sư Lân thận trọng đẩy cái vật khả nghi ấy ra.
- Nhưng... là cái gì mà quí thế?
- Ông mở ra xem khắc biết!
Giáo sư Lân thận trọng mở chiếc hộp ra, bên trong là một cái bọc vai đỏ. Mở tiếp lớp vải đỏ ra, giáo sư Lân ngạc nhiên nhìn thấy cuốn sổ màu xanh trứ danh của chính ủy Lương Xuân Báo.
- Cuốn sổ ghi chép của ông Báo - ông Lân thốt lên - Nghe nói ông Báo có ba cuốn sổ, cuốn đen ghi tên các liệt sĩ, cuốn đỏ ghi công lao, khen thưởng của mọi người, còn cuốn xanh... không ai biết ông ấy ghi chép những gì.
Tướng Hùng Phong nháy mắt cười:
- Ông cứ đọc đi, rồi khắc biết!
Giáo sư Lân tâm sự:
- Hồi còn ở chiến trường anh em trong đơn vị thường đùa tôi vì thấy tôi cũng hay hí húi ghi chép. Họ bảo “Cậu định rắp tâm làm nhà văn mà chỉ có một cuốn sổ thì mèng lắm. Chính trị viên Báo có những ba cuốn sổ kia, mà ngày nào cũng ghi ghi chép chép nhé.
Coi chừng ông ấy thành nhà văn trước cả cậu đấy!”. Trong thời gian còn làm tiểu đội trưởng trinh sát, được ở gần ông ấy, tôi đã có lần tò mò định xem trộm xem ông ấy ghi chép những gì, nhưng đúng như ông nói, tôi cũng chỉ ngó trộm được vào hai cuốn sổ kia thôi. Chứ, cái cuốn sổ này thì... hôm nay tôi mới được mó vào đấy. Mà này, làm sao mà ông lại có được của quí này vậy?

Tướng Hùng Phong bỗng trở nên tư lự:
- Đêm giao thừa vừa rồi, ông có hỏi thăm tôi về chính ủy Báo. Tôi đã kể cho ông nghe về những năm tháng cuối đời buồn bã và cô đơn của ông ấy. Nhưng, tôi vẫn còn giấu ông một chuyện... Đó là chuyện... có một người đàn bà ở trong cái xóm nhỏ ở thành phố Việt Trì, nơi mà ông Báo trở về sống những năm cuối đời đã rất yêu ông ấy. Bà ta là giáo viên cấp 1, và cũng là vợ một liệt sĩ, nhà nằm kề hàng rào với nhà ông Báo. Bà ấy kể rằng, khi trở về, ông Báo sống lặng lẽ như một người ở ẩn. không tham gia công tác gì ở địa phương, cũng không làm thêm việc gì mà chỉ sống bằng tiền lương hưu của mình. Đều đặn, cứ mỗi tuần một lần vào thứ bảy ông ấy lại lên tàu xuôi Hà Nội. Khi đi thì vui vẻ hy vọng, nhưng khi về bao giờ cũng mệt mỏi, rã rời.
Thời gian đầu, bà giáo cứ tưởng ông có vợ con ở Hà Nội, vì chuyện khúc mắc nào đó mà bỏ về đây chăm nom hương khói cho các cụ và sống một mình, cuối tuần thì mới về thăm vợ con. Nhưng rồi, sau một lần ông Báo bị sốt rét tái phát, bà giáo qua lại chăm sóc, mới dần dần được ông Báo kể cho nghe gia cảnh của mình. Thì ra, hàng tuần ông về Hà Nội, là để xem vợ con ông có nhắn nhe gì về không. Trước khi bỏ về Trung Quốc, vợ con ông đã bán hết nhà cửa, tài sản, nhưng ông hy vọng rằng, nếu còn nghĩ tới ông thì thế nào bà Lý Hảo Hảo cũng nhắn tin về qua hàng xóm và bạn bè ở Hà Nội. Nhưng, năm này qua năm khác vẫn bặt vô âm tín. Ông Báo ngày càng tuyệt vọng. Bà giáo rất thương ông, rồi yêu ông lúc nào không biết. Có lần bà đã vượt qua tất cả sự tự trọng của một người đàn bà để thổ lộ nỗi lòng với ông, mong ông từ nay sẽ sống chung với bà, hai người sẽ nương tựa vào nhau mà sống những năm cuối đời. Nhưng dĩ nhiên là ông Báo không chịu rồi. Trước sau ông ấy vẫn cứ nói “Tôi đã có vợ con rồi. Vợ con tôi sớm muộn cũng sẽ trở về tìm tôi thôi”.

Giáo sư Trương Đình Lân lắc đầu thở dài:
- Đúng là ông Báo... ? Không ai có thể lay chuyển được những điều mà ông ấy đã tin đâu. Mà... . cái con bé Hảo “tàu lai” ấy cũng quá thể thật đấy! Ngày xưa học cùng với chúng mình nó cũng lì lợm ra phết rồi! Cậu còn nhớ cái lần nó đánh nhau với con Đào không?
- Nhớ - Tướng Hùng Phong bỗng bật cười - Nhưng là con Đào xông vào xé nó trước đấy chứ. Chỉ vì... tớ nhờ Hảo gà cho mấy chữ trong giờ kiểm tra Trung văn chứ có to tát gì đâu!
-... Và để trả công, trong giờ ra chơi cậu đã khen hai cái lúm đồng tiền của con Hảo là có duyên chứ gì?
- Cũng có chuyện đó... Mà nó có duyên thật đấy chứ. Vì thế nên chính ủy Báo nhà mình mới chết chìm vì hai cái lúm đồng tiền ấy - Tướng Hùng Phong nói vậy rồi bỗng trở nên đăm chiêu - Nhưng suy cho cùng... cũng là lỗi tại tôi cả. Hồi đó, nếu tôi và Thanh không đùa giỡn, giới thiệu con quỉ cái ấy với ông Báo thì có lẽ...
- Thôi không nhắc lại chuyện đó nữa - Giáo sư Lân giục - Ông kể tiếp về cái bà giáo nào đó và cuốn sổ này đi.
- Chuyện về bà giáo với ông Báo nhà ta chỉ có vậy thôi. Dù sao, những ngày cuối đời, ông Báo cũng không phải chết trong cô đơn. Người đàn bà ấy đã chăm nom săn sóc ông cho tới phút cuối cùng, và bây giờ vẫn hương khói và chăm nom phần mộ cho ông ấy.

Vào lần thứ hai tôi ghé về thăm mộ ông Báo, bà giáo đã mời tôi về nhà ngồi chơi rồi mang ra đưa cho tôi cái bọc vải đỏ này rồi nói rằng “Trong những năm tháng sống gần anh Báo tôi chẳng thấy anh ấy có tài sản gì quí giá. Có mấy gian nhà các cụ để lại thì sau khi ông Báo qua đời, thằng cháu con cô em gái anh ấy cũng đã bán đi rồi. Nhưng trong những ngày ốm đau, tôi thường thấy anh ấy không rời cuốn sổ này, thi thoảng lại mang ra đọc. Có lần anh ấy còn đọc cho tôi nghe một vài đoạn. Toàn là chuyện trận mạc cả. Nhưng tôi biết với anh ấy, đó là những năm tháng đẹp nhất. Trước khi mất, anh ấy đưa cho tôi cuốn sổ này và dặn rằng, nếu anh ấy chết thì hãy giữ giùm anh ấy, khi nào các con anh ấy tìm về thì hãy đưa cho chúng. Nhưng tôi nghĩ, có lẽ chúng chẳng về nữa đâu. Và nếu có về thì chắc gì chúng nó đã hiểu được giá trị của những gì mà anh ấy đã viết trong cuốn sổ này. Vì vậy, tôi nghĩ rằng tốt nhất là giao nó lại cho các anh, những người đồng đội của anh ấy. Chắc chắn anh sẽ hiểu và trân trọng những giá trị của nó”... Thế đấy, và mình đã có trong tay cuốn sổ này.
- Vậy sao hôm nay ông lại quyết định trao nó cho tôi?
Tướng Hùng Phong đứng dậy, đi đi lại lại trong phòng, suy nghĩ một lát rồi nói:
- Tôi nói thực, khi đọc lại cuốn sổ này... có nhiều đêm tôi đã không ngủ được. Có những sự việc diễn ra trong chiến tranh mà hồi đó chúng ta không hề chú ý tới hoặc có thể cho qua một cách đơn giản. Nhưng bây giờ đọc lại, bỗng thấy sợ. Chẳng hạn như chuyện... hành quyết thằng T... vì tội đã đầu hàng địch và chỉ điểm cho B52 đánh vào kiềng của trung đoàn. Cái thằng mà sau đó trong trận tập kích đầu mùa mưa vào căn cứ biệt kích ở Động Nóc, chúng ta bắt lại được ấy...


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 21 Tháng Ba, 2012, 11:23:33 am
... Giáo sư Trương Đình Lân bỗng rùng mình, ớn lạnh. Chuyện đó làm sao mà ông có thể quên được. Đó là một buổi chiều trời mưa như trút. Tiểu đội trinh sát được lệnh dẫn thằng phản bội đi thi hành bản án. Hắn vốn là trung đội trưởng, trong trận đánh đầu tiên khi sư đoàn lật cánh về hướng Tây đường 9 để chống lại chiến dịch nhảy cóc chiếm điểm cao của địch, hắn đã bị bắt và đã đầu hàng địch. Truyền đơn có ghi những lời xin đầu hàng hèn hạ có chữ ký của hắn đươc máy bay địch rải trắng rừng. Rồi sau đó máy bay B52 ném bom trúng hàng loạt vị trí đóng quân của trung đoàn, khiến vài chục chiến sĩ hy sinh. Mười ngày sau, trong trận tập kích một căn cứ biệt kích địch ở Động Nóc, anh em ta bắt được vài chục tù binh địch, trong đó có hắn...
Tiểu đoàn báo cáo lên trung đoàn, trung đoàn báo cáo lên sư đoàn... rồi nhận được lệnh “Giải tù binh về phía sau. Riêng tên phản bội, xử bắn ngay tại chỗ!”... Tiểu đoàn trưởng Vinh lúc đó còn nằm viện vì bị thương trong trận bom B52 vừa rồi. Hùng Phong vừa được đề bạt lên làm tiểu đoàn phó nhận được lệnh hốt hoảng hỏi lại chính trị viên Lương Xuân Báo “Xử bắn à? Sao cấp trên không đưa về phía sau lập toà án mà xử rồi muốn bắn, muốn giết thế nào chẳng được?”. Chính trị viên Báo lạnh lùng đáp “Đó là mệnh lệnh, phải thi hành thôi. Có lẽ cấp trên muốn an ủi vong linh h ơn ba chục anh em vừa bị bom B52 giết chết đấy. Chính vì nó khai ra vị trí đóng quân của trung đoàn nên mới bị B52 rải thảm”. Hùng Phong đành phải gọi tiểu đội trưởng trinh sát Trương Đình Lân lên giao nhiệm vụ đi thi hành bản án.
Dưới trời mưa như trút. Lân và ba chiến sĩ trinh sát dẫn tên tội đồ xuống một khe suối. Hắn đã rũ ra như một cái xác không hồn nhưng vẫn luôn miệng rên rỉ kêu oan. Lân điên tiết vả cho hắn một bạt tai rồi hét lên:
- Bịt mõm nó lại. Trói vào cái cây kia. Oan khuất cái nỗi gì? Vì mày mà mấy chục anh em mất mạng kia kìa!
Khi tên phản bội đã bị trói chặt vào cây, đội hành quyết đã được lệnh mang súng lên thì anh nuôi trưởng Ngô Xuân Cung hớt hải chạy xuống, người ướt như chuột lột.
- Khoan đã! Khoan đã!
Anh vừa chạy như lao xuống dốc vừa kêu thất thanh. Lân vội hạ lệnh cho anh em hạ súng xuống chờ xem có chuyện gì. Anh nuôi Cung chạy tới, vừa thở, vừa lôi từ trong ngực ra nắm cơm còn bốc khói.
- Phải cho nó ăn đã. Các cậu định biến nó thành ma đói à?
Lân ngớ người ra và chợt nhớ rằng, trong tất cả những cuốn sách mà anh đã đọc, khi nói đến bọn tử tù trước khi bị đưa ra pháp trường đều thấy được hưởng ân huệ ăn bữa cơm cuối cùng. Vậy mà các cấp lãnh đạo chỉ huy không ai nghĩ ra.
- Được rồi... Tôi cho phép. Nhưng phải mau lên! Dềnh dang mãi... khổ tâm lắm!
Anh Cung vội chạy tới lôi miếng giẻ bịt miệng tên tử tội ra rồi đưa nắm cơm lên miệng nó.
- Ăn đi... Rồi mày có chết cũng đừng có oán chúng tao!
Tên tử tội cắn một miếng cơm nhưng lại nhổ ra, phun phì phì rồi gắng sức hét lên:
- Tôi không ăn... Tôi bị oan... ! Tôi bị địch bắt nhưng... không làm chỉ điểm...
Chỉ gắng gượng được có vậy rồi hắn gục đầu xuống, ngất xỉu. Anh Cung hốt hoảng quay lại nói với Lân:
- Nó ngất xỉu rồi. Hay là tạm cởi trói ra, đợi cho nó tỉnh lại đã?
Lân mệt mỏi xua tay:
- Không được. Thôi, cứ để cho đi như thế này có khi lại hơn. Anh về đi cho chúng tôi thi hành nhiệm vụ.
Anh Cung rũ áo thất thểu leo ngược dốc về đơn vị.
Lân ra lệnh cho đội hành quyết nâng súng lên. Ba loạt súng nổ vang hoà với tiếng gió mưa gào thét.
Trên đường về đơn vị, bốn anh em lặng lẽ bước đi, không ai nói với ai câu nào. Tới tận lốí rẽ vào tiểu đoàn, cậu Quân bỗng dừng lại, vừa vuốt nước mưa trên mặt vừa nghẹn ngào hỏi Lân:
- Liệu... Nó có bị oan không anh?


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 21 Tháng Ba, 2012, 11:24:35 am
... Câu hỏi đó đến hôm nay lại vang lên trong đầu Lân khi nghe tướng Hùng Phong nhắc lại chuyện đau buồn đó.
- Liệu... nó có bị oan không ông?
Bất giác, giáo sư Lân bật lên tiếng hỏi. Tướng Hùng Phong nhìn ông một vài giây rồi lắc đầu:
- Tội đầu hàng địch thì thành lập... Nhưng tội chỉ điểm thì... không biết!
Giáo sư Trương Đình Lân vỗ nhẹ vào cuốn sổ tay của chính ủy:
- Vậy... ở trong này... ông ấy viết như thế nào?
Tướng Hùng Phong tặc lưỡi:
- Thì... ông ấy cũng để lại một dấu hỏi to tổ bố! Liệu nó có bị oan hay không? Nhưng... ông ấy có viết thêm rằng, thằng ấy mới chỉ vừa được đề bạt từ tiểu đội trưởng lên, là do sau chiến dịch ở khu tứ giác mất quá nhiều cán bộ, phải đôn lên thôi, nhưng thằng này còn non lắm. Nó mới vào chiến trường được hai tháng, đánh vài ba trận nhì nhằng gì đó. Một thằng ú ớ như thế thì làm sao đọc được bản đồ để mà chỉ trúng phóc từng vị trí đóng quân của trung đoàn trong một vùng địa hình phức tạp như vậy?
- Ôi trời - Giáo sư Lân bỗng ngồi phịch xuống ghế kêu lên - Một điều đơn giản thế mà sao mình không nghĩ ra nhỉ? Hồi đó, khi lật cánh về vùng núi cao phía Tây, đến bọn trinh sát có sỏi trong đầu như chúng mình có khi còn chưa xác định được chính xác vị trí trên bản đồ nữa là?
Tướng Hùng Phong đứng dậy, bước tới vỗ nhẹ vào vai giáo sư Lân:
- Thôi, quên chuyện đdó đi. Hãy coi như đó là một trong nhưng điểm còn mờ nhoè của quá khứ. Từ bây giờ tôi giao cuốn sổ này cho ông đấy. Hy vọng ông sẽ tìm thấy ở trong này khối điều có thể viết được thành tiểu thuyết!
- Sao ông không giữ nó? Nó cũng có ích cho ông khi khảo cứu lịch sử chiến tranh cơ mà?
- Tôi không muốn giữ... những thứ mất ngủ này. Vả lại thằng con tôi dạo này nó phá quá. Thường xuyên về lục lọi chôm đồ đem đi cầm để lấy tiền tiêu xài. Tôi sợ lúc nào đó nó vớ được cái hộp này, tưởng có đồ quí đắt tiền nên mang ra khỏi nhà. Đến khi nó biết là trong đó chỉ có một cuốn sổ cũ nát, thì nhất định nó sẽ chửi tôi một chập rồi ném cái thứ vô giá này vào một thùng rác nào đó thì tôi lại thành ra kẻ có tội. Vì thế tôi mới quyết định giao nó cho ông để ông khai thác và giữ gìn, khi nào... con ông Báo tìm về thì ông trao lại cho chúng nó!
Tuy đã giao quyền cho ông một cách rộng rãi như thế nhưng trước khi ra về tướng Hùng Phong vẫn còn dặn quài thêm một câu:
- Nhưng ông Lân này, dẫu sao những nội dung trong cuốn sổ ghi chép này vẫn chỉ được công bố một cách “có chọn lọc” thôi đấy nhé!

Sau khi đọc kỹ cuốn sổ ghi chép của chính ủy Báo, giáo sư Trương Đình Lân đã hiểu vì sao mà tướng Hùng Phong tỏ ra dè dặt và thận trọng đến thế khi trao cuốn sổ này cho ông. Trong cuốn sổ ghi chép này, có không ít trang chính ủy Báo dành để viết về Hùng Phong, đủ cả những chuyện hay, chuyện dở. Trong đó có hai chuyện đáng chú ý và cũng không đến nỗi phải xếp vào diện “công bố hạn chế”.

Chuyện thứ nhất
-
Liên quan đến câu nói từng nổi tiếng một thời như một danh ngôn của Anh hùng quân đội Phạm Hùng Phong.
“Tình yêu lớn nhất, thiêng liêng nhất của tuổi trẻ chúng ta phải là tình yêu Tổ Quốc”.
Đó là một câu trích trong bản báo cáo mà Hùng Phong đã đọc trong Đại hội đại biểu Thanh niên - sinh viên toàn quốc đi đầu trong phong trào thi đua “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” diễn ra tại Thủ đô Hà Nội. Khi những lời này của Anh hùng Quân đội Phạm Hùng Phong vang lên trên diễn đàn thì tiếng vỗ tay đã nổi lên như sấm. Và ngay trong ngày hôm đó nhiều tờ báo lớn đã dùng lời nói này để rút tít cho những bài xã luận quan trọng viết về tinh thần vì nước quên thân của tuổi trẻ hai miền Nam Bắc trên các mặt trận sản xuất và chiến đấu. Một nhạc sĩ nổi tiếng còn lấy cảm hứng từ câu nói lẫy lừng này để sáng tác ra bài hát “Tình yêu lớn của chúng ta”. Bài hát ấy cũng lập tức trở thành bài hát được tuổi trẻ cả nước yêu thích và luôn vang lên ở bất kỳ cuộc hội họp nào của thanh niên trong những ngày cả nước sục sôi quyết tâm đánh Mỹ, thắng Mỹ. Những lời vàng ngọc ấy cũng lập tức biến thành những khẩu hiệu, xuất hiện trên các tờ áp phích, các pannô tuyên truyền cổ động cho những phong trào thi đua yêu nước của thanh niên ở khắp các địa phương trên miền Bắc. Thậm chí, một đơn vị thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn còn khắc cả câu nói nổi tiếng ấy lên vách núi để thể hiện quyết tâm và tình yêu lớn của tuổi trẻ đơn vị mình đối với non sông, đất nước, với con đường “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Trong những lần Hùng Phong cùng đoàn Anh hùng dũng sĩ, đi về các địa phương, các trường học để kể chuyện chiến đấu thì ở đâu cũng thấy Ban tổ chức căng những tấm băng rôn lớn ghi câu nói nổi tiếng của người anh hùng. Và khi Hùng Phong bước lên diễn đàn thì lập tức cả hội trường vang lên tiếng hát bài “Tình yêu lớn của chúng ta”. Những lúc ấy anh cũng cảm thấy toàn thân mình nóng bừng lên rạo rực một “tình yêu lớn”. Và, anh bỗng cảm thấy hình như mình đã là một biểu tượng, một nhân vật lớn của lịch sử, một nhà tư tưởng thông thái đã từng nói ra những lời sâu sắc huyền bí, ma mị như một thứ sấm truyền vậy.


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 21 Tháng Ba, 2012, 11:25:24 am
Đương nhiên, anh cũng quên béng đi cái xuất xứ có vẻ hơi “trần tục” của những lời vàng ý ngọc ấy. Nhưng chính ủy Lương Xuân Báo đã không quên, trong cuốn sổ ghi chép của anh còn lưu lại những dòng sau đây:

Ngày...
Đêm qua mình phải thức suốt đêm để viết cho xong bài nói của Hùng Phong. Đại hội sắp khai mạc đến nơi rồi mà cậu ấy vẫn mải chơi quá. Chẳng để tâm gì cả. Đã nói, không thể dùng bản báo cáo ở Đại hội anh hùng chiến sĩ thi đua để nói ở Liên hoan thanh niên sinh viên toàn quốc được, tính chất hai đại hội này hoàn toàn khác nhau. Nhưng cậu ấy lại xuề xoà bảo “Ôi dào, đại hội nào mà chả giống đại hội nào”. Không thể được, bài nói này phải mang tinh thần của thanh niên, của tuổi trẻ, phải có âm hưởng hùng tráng tinh thần vì nước quên thân. Cách nói cũng phải khác. Chân thành và cởi mở hơn. Cô Hảo và cô Thanh nói đúng, với thanh niên phải có thêm một chút lãng mạn nữa... Và mình đã quyết định thêm vào đoạn kể về chuyện Hùng Phong phải dùng mưu để đươc đi bộ đội như thế nào. Rồi khi chia tay với các bạn cùng lớp, trước những người bạn gái trong lớp, Hùng Phong đã nói “Các bạn ạ, với tuổi trẻ chúng ta, tình yêu lớn nhất, thiêng liêng nhất là tình yêu Tổ Quốc”. Đúng, phải chốt bằng câu này!...
Ngày...
Cuối cùng, nhờ sự động viên của Thanh và Hảo, cậu ta đã chịu dành thời gian để luyện tập bài nói trên diễn đàn liên hoan thanh niên, sinh viên toàn quốc. Cũng may, cậu ta cũng sáng dạ, nên học khá nhanh. Nói cũng tạm được. Nhưng khi đến đoạn phải nói cái câu “Các bạn ạ, với tuổi trẻ chúng ta tình yêu lớn nhất, thiêng liêng nhất là tình yêu Tổ Quốc, thì cậu ta bỗng nhăn mặt lại như nhai phải hạt sạn rồi kêu “Không ổn rồi, ông Báo ơi. Nghe cải lương quá đi mất”. “Cải lương là thế nào, nhất định cậu phải nói câu ấy. Tôi cam đoan rằng nó sẽ có tác động rất lớn đến người nghe”. Cậu ta lắc đầu quầy quậy “Không thể được. Thời là học trò, tôi là một thằng tài tử, đại lãn, có bao giờ nói được một câu cho ra hồn. Bịa thì cũng phải vừa vừa thôi chứ. Tôi mà nói ra những lời màu mè, diêu cua thế này bọn thằng Côn, thằng Lân và những thằng cùng học với tôi ngày ấy, nó lại không cười cho thối mũi ra à? Không chừng, lại phản tác dụng là đằng khác”. Mình hiểu Hùng Phong cũng có cái khó. Nhất là khi còn phải đối diện với những người bạn cùng lớp này còn đang chiến đấu bên nhau trong một đơn vị. “Thôi được rồi, nếu... nói trước các bạn nữ sinh cùng lớp mà cậu cho là không được thì ta coi như cậu nói câu đó trong một lần giao lưu với thanh niên địa phương nơi đóng quân nào đó là được chứ gì? Có phải lúc nào bọn thằng Côn, thằng Lân cũng có mặt ở... những cuộc giao lưu như thế đâu?”. Hùng Phong suy nghĩ một lát rồi nhăn nhó hỏi lại “Nhưng... thủ trưởng cho rằng tôi... nhất thiết phải nói câu ấy à?”. “Nhất thiết - mình nghiêm giọng - Cậu tin mình đi. Mình là dân làm công tác chính trị có nghề, mình biết loại công chúng nào muốn nghe cái gì chứ?”.
Thế là Hùng Phong đành phải hàng phục. Cậu ta nghĩ ra một tình huống khác, trong đó, cái câu chốt kia đã được nói ra một cách hoàn toàn tự nhiên. Phải công nhận, cậu này cũng thông minh và láu cá thật!...


Khi đọc đến đây, giáo sư kiêm nhà văn Trương Đình Lân liền vỗ đùi đánh đét một cái rồi thốt lên:
- Ôi cha… ! Cái lão Báo này đúng là... thánh thật! Vậy mà bấy nhiêu năm nay, mình vẫn cứ tin rằng thằng Ban không chỉ lập công trên chiến trường, mà chỉ với một lời nói, nó đã góp phần khích lệ tinh thần yêu nước của cả một thế hệ! Ai ngờ... đó cũng lại là tác phẩm của chính ủy Lương Xuân Báo?

Hồi ấy, chính ông cũng đã viết một bài rất hay gửi ra cho một tờ báo lớn ở Hà Nội, tham gia cuộc thảo luận về chủ đề “Tình yêu lớn” này. Ông đã viết một cách xúc động và chân thành. Khi bài của ông được đọc trên đài Tiếng nói Việt Nam, ông đã khóc vì sung sướng và tự hào. Bây giờ, dẫu biết Hùng Phong không phải là tác giả đích thực của câu nói ấy, nhưng ông cũng không cho rằng đó là những lời giả dối. Vì, suy cho cùng, cái “tình yêu lớn” ấy là có thực, là một nét tiêu biểu, sâu đậm trong diện mạo tinh thần của thệ trẻ Việt Nam trong những năm tháng quyết liệt và hào hùng ấy. Sau tất cả mọi điều, một lần nữa, xin cám ơn chính uỷ!


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 21 Tháng Ba, 2012, 11:27:15 am
Chuyện thứ hai

Trong cuốn sổ ghi chép của chính ủy hoá ra không chỉ có những điều liên quan đến chiến trường, đến những những chiến công, đến công tác Đảng đến việc xây dựng con người điển hình, mà còn có cả chuyện trai gái nữa. Có lẽ, đây chính là những trang ghi chép mà tướng Hùng Phong không thích nhất.

... Hùng Phong quyết định sẽ cưới vợ trước khi vào Học viện dự một khoá đào tạo ngắn hạn... Cậu ta yêu cầu mình nán lại Hà Nội vài ngày để làm chủ hôn cho cậu ta rồi hãy vào đơn vị. Mình tò mò hỏi “Cưới vợ à? Sao nhanh vậy. Tớ chẳng thấy cô Thanh nói gì với cô Hảo cả”. “Nhưng... em có cưới Thanh đâu?”. Mình ngạc nhiên quá, rõ ràng nó vớí Thanh yêu nhau cơ mà “Vậy thì... cậu... cưới ai? Hay ông chủ tịch huyện nhà cậu lại dở trò ép hôn? Cậu ta lắc đầu cười “Ông chủ tịch huyện cũng chưa biết gì cả”. “Vậy... thì cậu lấy ai mới được chứ?”. “Cậu ta ghé vào tai mình nói nhỏ “Em cưới con gái một ông tướng ở Tổng cục Chính trị”.
Thật ngạc nhiên hết chỗ nói. Dường như biết mình không hài lòng, cậu ta vội giải thích “Hồi trung đoàn mình Tổng kết chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, vị thủ trưởng ấy có vào. Nghe em báo cáo thành tích, Ông ấy rất mê, liền cho gọi tới nói chuyện vài ba lần. Có lần, ông ấy buột miệng hỏi “Vậy là... cậu vẫn chưa có vợ nhỉ!”. “Vâng... em vẫn còn trẻ mà”. Ông ấy gật đầu cười “Phải, còn trẻ lắm. Tương lai của cậu rất... sáng lạn. Khi nào ra Hà Nội ghé vào nhà mình chơi. Mình cũng có hai cô con gái đấy, nếu cậu thích thì mình gả cho một đứa?”. Lúc đó, em cũng chỉ cười mà nói đại rằng “Vâng... nếu được làm con rể thủ trưởng thì phúc cho em quá”. Ai ngờ, vừa rồi cùng đoàn dũng sĩ của sư đoàn vừa ra tới đây, vị thủ trưởng ấy đã cho một anh trợ lý tới mời em đến nhà chơi thật. “Mình nhớ rồi. Có phải, cái hôm có xe con đến tận trạm khách đón cậu”. “Vâng, đúng đấy... Em đến nhà ăn cơm với gia đình thủ trưởng. Gặp Hoan, thế rồi... em đồng ý lấy cô ấy làm vợ”. Mình sửng sót nhìn cậu ta và quả thực không hiểu vì sao cậu ta lại có một quyết định nông nổi như vậy “Vậy thì... tại sao cậu lại còn yêu cô Thanh?”. Hùng Phong thở dài “Em yêu cô ấy từ hồi còn đi học. Nhưng hồi đó cô ấy có thèm để mắt tới em đâu. Bây giờ, dường như thấy em cũng nên người nên cô ấy mới quay lại. Nhưng cô ấy đã chậm chân mất rồi. Em đã nhận lời lấy người ta, biết làm thế nào?”. Mình thuyết phục “Nếu cậu không muốn lấy cái cô con gái ông tướng ấy thì có thể nói thẳng ra. Ông ấy sẽ thông cảm thôi. Chứ cưới xin vội vàng thế, sa u này cậu sẽ hối hận đấy”. Hùng Phong cười, nói nửa đùa nửa thật “Nhưng... em cũng muốn thử làm con rể một ông tướng xem sao?”. Mình giận lắm, không nói gì thêm nữa. Tối đó Hảo đến, minh hỏi “Em đã biết chuyện Hùng Phong sắp lấy vợ chưa?”. “Biết rồi, em cũng đang định hỏi anh đây? Vì sao bộ đội các anh lại kỳ cục thế, yêu một người lại đi cưới một người?”. “Cô Thanh cũng biết chuyện này rồi à?”. “Đừng nói đến nó nữa, em đang tức điên lên đây. Ai đời, biết người yêu sắp đi lấy người khác mà nó vẫn vui hơn hớn. Lại còn nói, mình chậm chân hơn, được anh ấy yêu là hạnh phúc lắm rồi. Mình không muốn ngăn trở con đường tiến bộ của anh ấy. Phải là em á... Em sẽ làm cho tanh bành lên! Anh hùng thì đã có gì ghê gớm nào?”. “Thôi nào... Người ta là người trong cuộc, người ta tự biết phải làm gì chứ”. Hảo bỗng dưng ôm chầm lấy anh “Còn anh nữa... Em sẽ không tha cho anh nếu anh bội bạc em đâu nhé”... Anh sẽ luôn trung thành với em... như trung thành với Đảng vậy!”. Hảo bỗng ngước nhìn mình, nũng nịu “Anh Báo... Em cũng đang định bàn với anh đây. Hay... nhân dịp này chúng mình cũng... cưới luôn đi!”. Mình vội xua tay “Chưa được, nếu muốn cưới, anh cũng phải mang lý lịch của em vào để báo cáo Đảng ủy trung đoàn hẳn hoi đã. Anh đang là Chủ nhiệm chính trị, Đảng ủy viên, không thể hành động tuỳ tiện được”.
Hảo bỗng xịu mặt xuống “Vậy là... anh không yêu em? Hay... cũng muốn tìm một cô tiểu thư con một ông tướng nào đó?”. Mình chỉ biết ôm chặt cô ấy vào lòng mà nói “Không bao giờ... Anh không đánh đổi tình yêu của em để lấy bát cứ thứ gì, dù để được làm tướng chăng nữa! Nhất định chúng mình sẽ phải là của nhau!”...
... Hai ngày sau, chính ủy Lương Xuân Báo lặng lẽ khoác ba lô lên đường vào đơn vị, cương quyết không chịu nán lại dự buổi hôn lễ rất lộng lẫy hoành tráng của anh hùng quân đội Phạm Hùng Phong. Nhưng, một tháng sau anh lại trở ra Hà Nội. Đảng ủy trung đoàn đã đồng ý cho anh lấy Hảo làm vợ và cho anh nghỉ phép mười ngày để tiến hành hôn lễ.
Trong cuốn sổ ghi chép của anh chỉ có rất ít dòng viết cái ngày hạnh phúc đó:
... Mình không ngờ gia đình nhà Hảo lại chuẩn bị đám cưới cho bọn mình chu đáo đến thế. Mình cảm thấy xấu hổ vì điều đó. Gia đình nhà mình chỉ có em gái, em rể và một vài người tới dự. Mẹ ơi, sao mẹ không gắng sống tới ngày hôm nay. Con thật có lỗi với mẹ!
Vợ chồng Hùng Phong cũng tới dự và tặng quà.
Thanh là phù dâu, cô ấy mặc áo dài và trang điểm thật lộng lẫy. Lại còn vui vẻ đến chào và chúc mừng hạnh phúc của vợ chồng Hùng Phong nữa. Không thấy có một chút biểu lộ sự đau khổ sầu muộn của một cô gái thất tình. Hảo kể rằng hình như dạo này cô ấy còn rất vui vẻ hạnh phúc nữa. Đàn bà, thật không biết đường nào mà lần!
Đêm đầu tiên có vợ... Thật là tuyệt vời. Chợt nhớ lại câu chuyện tiếu lâm của lính về một người đàn ông đã năm mươi tuổi mới cướí được vợ. Sau đêm động phòng, ông ta chạy ra khỏi nhà ôm mặt khóc hu hu. Có ông hàng xóm đi qua liền cười hỏi “Đã biết là ngu rồi phải không? Ông ta gật đầu thành thật “Tôi khóc vì tiếc đời quá, sao đến tận hôm nay mình mới lấy vợ?”. Ông hàng xóm liền thở dài mà rằng “Lão này hấp lìm rồi! Lão ta vừa ném bỏ năm mươi năm hạnh phúc mà không biết. Còn lâu mới biết là mình ngu, con nhé!”...


Đọc tới đây giáo sư Lân cũng phải bật cười. Không ngờ cái ông chính ủy bên ngoài trông thì khô khan mà lại hóm thế không biết!
Lật qua chừng mươi trang nữa, giao sư Lân bỗng đọc được những dòng mà ông đau buồn nhất. Đó là những dòng ghi chép vào năm bảy mươi hai, trong phần Chiến trường Tây Nguyên khi đó ông Báo đã là chính ủy trung đoàn, còn Hùng Phong đang là trung đoàn phó.

Lần đầu tiên nhận đươc thư của Hảo kể từ ngày vào Tây Nguyên đến giờ. Mừng không kể xiết. Mừng nhất là Hảo báo tin nàng đã sinh được cho mình một thằng con trai và đặt tên là Lương Xuân Phong, đúng như mình và nàng đã dự kiến trước lúc chia tay. Điều mừng thứ hai là tuy bụng mang dạ chửa nhưng nàng vẫn hoàn thành tốt chương trình đại học năm cuối cùng và đã tốt nghiệp vào loại giỏi. Nhưng... trong thư Hảo còn kể thêm một chuyện nữa khiến mình vô cùng tức giận... “Còn một tin nữa, em cũng không biết có nên coi là tin mừng hay không? Ấy là việc, cái Thanh nó cũng... đã sinh con trai. Không nói ra thì anh cũng thừa biết đó là con của ai rồi. Có điều lạ là cái Thanh lại rất mừng vui hạnh phúc vì điều đó mặc dù nó đã phải trả giá. Nó bị đuổi học vào năm cuối và sau khi sinh con thì ông bố đang công tác ở Pháp liền vội vã đưa cả hai mẹ con qua bên ấy. Có lẽ là để tránh tai tiếng cho gia đình.
Hôm nó đi, em cũng đến chia tay, định an ủi nó vài câu ai ngờ nó lại còn động viên em “Tao đi rồi mày đừng buồn, Hảo nhé. Còn tao, chẳng có gì ân hận đâu. Tao đã có thằng Bảo, thế là đủ. Nếu mày có viết thư cho ông Báo thì chớ có bép xép điều gì kẻo ông ấy lại hành anh Ban thì khổ cho anh ấy!” - Anh xem, con bé nó có điên dại hay không? Em kể với anh chuyện này, nhưng anh không được làm gì anh Hùng Phong đâu đấy. Em đã hứa với cái Thanh là sẽ giữ im lặng. Nhưng với anh, em làm sao mà có thể im lặng được?... “. Đọc đến đây, mình nổi điên lên chỉ muốn lập tức chạy đi tìm Hùng Phong rồi cho hắn mấy cái bạt tai. Sau đó khi đã kiềm chế được cơn giận thì trong lòng mình lại dâng lên một nỗi buồn khôn tả. Chẳng lẽ, bấy lâu nay mình đã nhầm lẫn về một con người. Bây giờ phải làm sao đây? Chẳng lẽ lại dấu tổ chức, dấu Đảng một chuyện tày trời liên quan đến nhân cách một con người, một cán bộ chỉ huy. Tính Đảng không cho phép mình im lặng. Nhưng... làm như vậy thì Hùng Phong coi như bỏ đi. Đảng và quân đội cũng sẽ mất một người chỉ huy tài ba, dũng cảm? Mình phải làm sao đây để vẹn cả đôi đường!


Sau đó là một khoảng dài đến nửa tháng trời chính ủy Báo không ghi một dòng nào vào cuốn sổ ghi chép của mình. Có lẽ đó là những ngày ông rất đau khổ dằn vặt vì không biết phải làm như thế nào cho đúng?
Rồi cuối cùng, ông đã làm như thế này:
... Không thể chịu đựng thêm được nữa, hôm nay mình quyết định phải giải quyết cho xong “việc ấy”. Mình gọi Hùng Phong lên lán của mình, đuổi cậu công vụ ra ngoài rồi đưa cho Hùng Phong lá thư của Hảo và lạnh lùng bảo “Cậu đọc đi”. Cậu ta đọc xong, nghệt mặt ra một lúc rồi buột ra những lời ngu ngốc “Như vậy mà... cũng có con thì lạ nhỉ? Chúng tôi chỉ... ngủ với nhau có vài lần thôi mà. Hay là cô ấy thù tôi nên... Mình giận quá chồm ngay tới, dang tay tát một cái thật lực vào mặt hắn rồi gầm lên “Mày là một thằng khốn nạn, một thằng đểu, nghe chưa?”.

Đúng lắm. Hắn là một thằng đểu. Giáo sư Lân cũng cảm thấy hả hê khi đọc đến những dòng này. Vậy là chính ủy Báo đã làm hộ ông cái điều mà đáng ra ông phải làm nhưng lại không dám làm, nói hộ ông cái điều đáng ra ông phải nói nhưng đã không dám nói. Nhưng dù có vậy thôi, trong cuốn sổ ghi chép của chính ủy từ đó về sau không thấy có một chữ nào về chuyện này nữa.

Nhưng ông cũng đã im lặng, không báo cáo chuyện này với tổ chức Đảng. Đây là lần đầu tiên trong đời người chiến sĩ cộng sản, chính ủy Lương Xuân Báo vi phạm những nguyên tắc sống mà mình đã tôn thờ.


Tiêu đề: Re: Tiểu thuyết "Những bức tường lửa" - Khuất Quang Thụy
Gửi bởi: quangcan trong 21 Tháng Ba, 2012, 11:28:45 am
Cuối cùng thì giáo sư kiêm nhà văn Trương Đình Lân cũng tìm được những dòng liên quan đến cuộc đời và số phận mình trong cuốn sổ tay của chính uỷ.
Ông đã thực sự xúc động về điều đó.
Thì ra, trong suốt một thời gian dài, chính trị viên tiểu đoàn Lương Xuân Báo đã băn khoăn, trăn trở về việc chưa thể kết nạp được tiểu đội trưởng trinh sát Trương Đình Lân vào Đảng. Lần thứ nhất, anh bị hoãn kết nạp Đảng là vào đầu năm 1968. Việc trì hoãn ấy bề ngoài thì là vì anh là người phải chịu trách nhiệm về việc đào ngũ của quân nhân Nguyễn Hữu Vững, chiến sĩ trong tiểu đội trinh sát và lại là người cùng làng với anh. Còn lý do thực, bây giờ, đọc trong cuốn sổ ghi chép của chính ủy anh mới biết...

“Ngày... xuống tiểu đội trinh sát kiểm điểm việc cậu Vững đào ngũ. Một thằng hèn nhát đào ngũ thì có hàng vạn lý do, nhưng dù sao vẫn phải kiểm điểm thật sâu sắc để rút kinh nghiệm về việc giáo dục và quản lý con người. Những bất ngờ về con người là điều mà những người làm công tác chính trị như mình học tập được nhiều nhất!
Tội nghiệp cho cậu Lân đã phải gánh trách nhiệm về việc này. Nhưng... thật là tệ hại khi sự kiện này lại khiến mình thở phào vì có được một lý do dễ chấp nhận nhất để trì hoãn việc kết nạp Đảng cho cậu ấy.
Thực ra, quá trình rèn luyện, phấn đấu của Trương Đình Lân cũng đã chín muồi. Cậu ấy hoàn toàn xứng đáng được đứng trong hàng ngũ Đảng cho dù có phải gánh thêm trách nhiệm về vụ cậu Vững đào ngũ đi chăng nữa. Mình cho rằng, nếu được bồi dưỡng, Trương Đình Lân có đủ khả năng để trở thành một cán bộ chính trị vững vàng trong tương lai không xa. Cậu ấy có trình độ văn hoá cao, đọc nhiều, viết rất tốt, lại có sự hiểu biết sâu sắc về tâm lý, tình cảm của con người.
Nhưng rất tiếc rằng lý lịch của cậu ta lại có vấn đề. Gia đình từng bị quy là địa chủ. Ông bố đã từng là công chức của chế độ cũ. Với một lý lịch như vậy. Đảng ủy cấp trên không thể thông qua việc kết nạp nếu không được điều tra kỹ càng, có sự xác nhận của Đảng bộ địa phương rằng gia đình tuy là địa chủ nhưng không có nợ máu với nhân dân và có công với kháng chiến. Bố tuy có làm công chức cho chế độ cũ nhưng không gây tội ác, không tham gia các tổ chức phản động, không chống phá cách mạng. Một xác nhận như thế thì lúc này đơn vị chưa thể cử người về hậu phương mà làm được. Vì vậy cậu Lân đành phải chịu thiệt thòi thôi...
Thật nực cười khi việc một chiến sĩ trong tiểu đội cậu ta đào ngũ lại là cái cớ thích hợp để những người làm công tác Đảng, công tác chính trị như mình cảm thấy bớt day dứt, áy náy trước những thiệt thòi về quyền lợi chính trị của một người cán bộ tốt như Lân?...
- Ông ấy đã rất thành thật khi viết ra điều này!
Giáo sư Trương Đình Lân đã nghẹn ngào thốt lên như vậy khi đọc được những dòng này. Ông cay đắng nhớ lại những nỗi buồn phiền, tủi hổ của mình khi cứ liên tục bị bạn bè bỏ lại phía sau mặc dù hồi đó, ông luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình và được Ban chỉ huy tiểu đoàn và các chiến sĩ rất tín nhiệm. Giá như hồi đó, chính trị viên Báo nói cho anh biết lý do sâu xa này thì có lẽ anh cũng không tủi thân nhiều đến thế!
Trong cuốn ghi chép, còn có vài ba lần ông Báo nhắc đến điều này với những băn khoăn day dứt thực sự. Ông đã từng muốn đưa anh xuống đại đội làm trung đội trưởng từ rất sớm nhưng không được. Cuối cùng thì không ngờ chính ông lại là người về tận quê hương của Lân để tìm cách có được bản xác minh lý lịch có lợi cho quá trình tiến thân của anh sau này.
Việc đó diễn ra vào năm 1971, khi ông đã lên làm Chủ nhiệm chính trị trung đoàn và được sư đoàn giao cho nhiệm vụ dẫn đoàn anh hùng dũng sĩ của sư đoàn ra Hà Nội dự Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua toàn quốc, sau đó còn lưu lại tham gia nhiều sự kiện chính trị khác ở hậu phương. Mặc dù vừa phải quản lý đoàn, phải giúp anh em hoàn thiện báo cáo điển hình, học cách diễn thuyết... Rồi lại còn rơi vào chuyện yêu đương với Lý Hảo Hảo, nhưng chính ủy Lương Xuân Báo vẫn bố trí được thời gian để về quê anh làm nhiệm vụ của một cán bộ Đảng.
May mắn thay, trong cuốn sổ ghi chép của mình ông cũng đã ghi lại một đoạn về sự việc này.
... Thế là mình cũng thu xếp được hai ngày về quê Trương Đình Lân để làm cái việc xác minh lý lịch cho cậu ấy. Thực ra, việc này đã nằm ngoài thẩm quyền của mình, vì bây giờ mình đâu còn là Bí thư Đảng ủy tiểu đoàn nữa? Nhưng trước khi ra Hà Nội, biết rằng đây là một cơ hội tốt để giải quyết việc mắc mớ này cho cậu Lân, mình đã xin phép chính ủy trung đoàn rồi xuống tiểu đoàn 7 xin Đảng ủy tiểu đoàn ủy nhiệm cho mình đi làm việc này, chỉ khi nào hoàn thành xong việc này lương tâm mình mới được thanh thản.
Vì biết rằng bố của Hùng Phong hiện nằm trong thường vụ huyện uỷ, chủ tịch huyện, nên mình nghĩ rằng rất thuận lợi, nếu được ông ấy giúp đỡ. Vì thế trước khi đi mình đã nói cho Hùng Phong biết rồi yêu cầu cậu ấy viết vài dòng giới thiệu với ông bố Chủ tịch huyện để nhờ ông ấy giúp đỡ. Ai ngờ, nghe xong Hùng Phong nhăn nhó nói “Nếu thủ trưởng muốn việc của thằng Lân xuôi chèo mát mái thì... chớ có dây vào với ông chủ tịch huyện nhà tôi. Mình ngạc nhiên hỏi lại “Sao thế?”. Hùng Phong cười nhạt “Cũng là những vấn đề do lịch sử để lại mà thôi. Nhưng tốt nhất anh cứ về xã độc lập mà hành động thì tốt hơn”. Mình lấy làm lạ, hình như bố con nhà này có chuyện mắc mớ gì thì phải, được ra Hà Nội công tác, nhưng từ hôm đó tới nay Hùng Phong mới chỉ xin ghé thăm nhà có một lần, mà về buổi sáng thì buổi chiều lại có mặt tại Trạm 66 ngay? Cứ nghĩ sẽ gặp rất nhiều khó khăn trắc trở khi về làm việc ở xã Vân Hương, nhưng hoá ra mọi việc đều vô cùng thuận lợi. Hóa ra ở làng ở xã ai cũng biết tới gia đình cụ cử Hạt và đều cho rằng đó là một gia đình có nề nếp, gia giáo. Tuy cụ cử đã mất, nhưng trong trí nhớ của dân làng cụ vẫn là một người rất đáng kính trọng. Nhiều cán bộ, Đảng viên trong xã tự nhận từng là học trò của cụ. Người ta cũng quên chuyện gia đình cụ cử bị qui địa chủ từ lâu rồi. Còn ông Trương Đình Tụng bố của Trương Đình Lân thì hóa ra, trong thời Pháp chỉ là một nhân viên kế toán của tòa thị chính Sơn Tây chứ có làm vương làm tướng gì? Hiện thời ông cũng đươc tín nhiệm giao nhiệm vụ làm kế toán cho Hợp tác xã mua bán của xã!
Hoá ra quan liêu chính là thế này đây, nếu đơn vị chịu cử người về làm việc với địa phương sớm hơn thì có lẽ số phận của Trương Đình Lân bây giờ đã khác.
Chỉ một buổi chiều mình đã hoàn thành bản xác minh lý lịch cho Trương Đình Lân. Còn thời gian, mình quyết định ra ủy ban huyện gặp ông Phạm Xuân Biên một lần xem sao? Chẳng gì, mình cũng là thủ trưởng của Hùng Phong kia mà. Nhưng ấn tượng về cuộc gặp gỡ này chẳng ra làm sao! Ông ta rất khách khí, quan dạng, mặc dù cũng rất tư hào về ông con anh hùng.
Nhưng điều bất ngờ nhất là... khi mình đang ngồi nói chuyện với ông chủ tịch thì một người xuất hiện, đó là một anh thư ký của ủy ban mang giấy tờ gì đó tới xin chữ kí của ông chủ tịch. Mình đã sững sờ khi anh ta bước vào - Đó chính là thằng Vững! Nhưng hình như hắn chưa kịp nhận ra mình. Thấy chủ tịch đang có khách, anh ta vội lui lại, cúi chào, lễ phép nói “Tôi xin lỗi” rồi lùi dần ra, khép cửa lại.
- Anh ta là... ? - Mình rụt rè hỏi.
- Đó là cậu Vững, chánh văn phòng. Cánh tay phải của tôi đấy - Ông chủ tịch hào hứng nói - Cậu ta vừa đi học trường Đảng tỉnh về. Năng nổ, tháo vát và... rất trung thành. Đặc biệt là trung thành!
Mình đã định kêu lên “Ông dùng nhầm người rồi. Đó là một thằng đào ngũ!... nhưng không hiểu sao lại ghìm lại được. Có lẽ vì ánh mắt và giọng nói rất đặc biệt của ông chủ tịch khi ông thốt ra cái câu “Đặc biệt là trung thành!” để nói về thuộc hạ của mình.
Mình lặng lẽ đứng dậy, xin phép ra về. Sau đó mình cũng không kể với Hùng Phong về chuyến viếng thăm và cuộc gặp gỡ đặc biệt này...


- Trời ơi... Thì ra ông ấy cũng đã biết về thằng Vững. Vậy mà... ông ấy đã im lặng? Điều này chẳng giống ông Báo một tẹo nào cả!
Giáo sư Trường Đình Lân giận dữ quẳng cuốn sổ xuống bàn. Ước gì bây giờ ông Báo còn sống thì ông sẽ lập tức tới tìm ông ấy mà nói rằng - Thưa chính uỷ, ông đã từng làm được nhiều việc rất tốt. Ông cũng là một người rất dũng cảm, nhưng trong việc này thì ông đã là một kẻ thoả hiệp hèn nhát. Sao hồi ấy ông không vạch mặt cái thằng khốn nạn ấy ra, ông hoàn toàn có đủ khả năng và quyền hạn để làm điều ấy kia mà? Nhưng ông đã lặng lẽ quay đi, để mặc cho một kẻ hèn nhát, cơ hội, quay lưng lại với đồng đội trong những tháng ngày nước sôi lửa bỏng ấy nhởn nhơ đi lại giữa nơi tôn nghiêm của nhà nước rồi luồn lách, nịnh bợ dối trá để mà thăng quan tiến chức, mưu cầu danh lợi cho riêng mình. Ông có biết bây giờ nó đã có được một chân trong thường vụ tỉnh ủy rồi không? Nhưng ông yên tâm đi, ông đã ra đi rồi, nhưng tôi và nhiều đồng đội của chúng ta vẫn còn sống. Chúng tôi không bao giờ từ bỏ cuộc đấu tranh của mình. Nhất định, một ngày nào đó, bộ mặt thật của những thằng hèn nhát, cơ hội như nó sẽ bị phơi bày ra sánh sáng.

Thưa chính uỷ! Những dòng cuối cùng trong cuốn ghi chép của mình ông đã thốt lên đau đớn… “Nhờ trời, hôm nay đài báo tin kẻ thù đã phải rút chạy khỏi các tỉnh biên giới nước ta. Tổ quốc thêm một lần chiến thắng. Nhưng trong cuộc chiến tranh kỳ cục này, tôi là một trong những người thua cuộc - Nước không mất nhưng nhà đã tan! Tuy vậy, tôi vẫn còn giữ được một thứ vô cùng quí giá, đó là niềm tin. Nếu không còn niềm tin sẽ không còn khả năng chiến thắng trong bất kỳ cuộc đấu tranh nào, kể cả trong cuộc đấu tranh để giữ gìn nhân phẩm của chính mình”.


Thưa chính uỷ! Ông cũng đã từng nói với chúng tôi rằng, cuộc chiến đấu với kẻ thù trên chiến trường dù ác liệt và gian khổ hiểm nguy đến mấy thì cũng sẽ có lúc chấm dứt, nhưng cuộc chiến đấu giữa cái thiện và cái ác, cái xấu và cái tốt vì sự hoàn thiện của con người thì sẽ chẳng bao giờ có hồi kết đó sao?
Điều mà ông gọi là “niềm tin” thì vẫn còn đấy, nhưng rồi sẽ đến lúc con người lại phải đặt ra một câu hỏi lớn hơn “Người ta phải tin vào cái gì đây?”. Có lẽ, đến lúc ấy thế hệ mai sau sẽ lại cần đến những con người như ông, thưa chính uỷ!


Hà Nội - Tháng Tư năm 2004

HẾT.