|
Tiêu đề: Nghĩa Tình Đồng Đội Gửi bởi: crawling0805 trong 27 Tháng Mười Hai, 2010, 06:01:53 pm Nghĩa Tình Đồng Đội
Đại tá: Nguyễn Văn Hồng Nhà Xuất Bản: Hội Nhà Văn Số hoá: crawling0805, GG LỜI NÓI ĐẦU Nghĩa tình đồng đội, cuốn sách chưa đến 200 trang của đại tá Nguyễn Văn Hồng, một người đã trải qua cuộc chiến chống Mỹ và 10 năm làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia. Anh là một phó tư lệnh, tham gia nhiều trận đánh lớn, tận mắt chứng kiến những số phận của bạn bè, đồng chí trong chiến tranh và cả trong thời bình. Nhiều tấm gương hi sinh khiến anh không thể quên, và hàng chục năm sau vẫn còn đau đáu ví chua tìm được tung tích về đồng đội. Anh viết sách về họ. Những bài viết ngắn gọn, có thể ngày nay nhìn lại, không phải người nào cũng có một câu chuyện li kỳ hấp dẫn. Nhưng tất cả đều chân thực, đều có ý nghĩa thực sự với tác giả. Chỉ người nào có mặt trong những giờ phút ác liệt, qua nhiều năm dài chiến tranh mới hiểu được. Ngoài những tấm gương nổi tiếng, trong chiến tranh có vô số những mất mát tình cờ mà người ta có thể nhanh chóng quên đi. Trong nhiều câu chuyện của anh đại tá Nguyễn Văn Hồng, anh thậm chí không nhớ họ của người đồng đội. Chí có một cái tên. Ví như chuyện của liệt sĩ Bình, người xạ thủ đã bắn cháy 6 xe tăng Mỹ. Sau khi anh hi sinh, đơn vị chuyển đi quá vội không kịp để lại danh tính. Nhiều năm sau, tác giả trở lại tìm, tuy nhiều người vẫn còn nhớ, nhưng hài cốt anh đã chuyển vào cùng với những liệt sỹ “chưa xác định được danh tính” trong nghĩa trang xã, không thể tìm được nữa. Một số phận chỉ gói gọn trong vài giờ vinh quang trên chiến trường, sau đó không còn gì nữa, nếu không ai tìm lại thì chẳng còn có thể biết đã từng tồn tại con người như thế trên đời. Tác giả cuốn sách này là người trăn trở nhiều với những số phận như thế. Cuốn sách vì thế được viết ra với một mục đích thiết thực. Biết đâu, qua những trang viết người thân của những liệt sĩ vô danh ấy – có thể biết được chút gì đó về sự hi sinh của các anh. Nếu không, đó đơn thuần là kỉ niệm của tác giả, để đáp tạ những người đã cùng sống và chiến đấu với mình. Nhiều câu chuyện thật cảm động. Trần Xuân Nựu, bạn chiến đấu của tác giả, trong một lần đi trinh sát trên quốc lộ 19 đã bị mìn tiện đứt bàn chân phải. Tổ trinh sát, trong đó có tác giả, đi không nghỉ, hi vọng cứu sống anh. “Ban đêm, rừng kín mít, đất đá lởm chởm, không sao đi được. Đốt đuốc thì địch trên các chốt phát hiện, chúng tôi phải lấy những khúc gỗ mục có chất lân tinh, cho một người đi trước soi đường để tiếp tục khiên Nựu về căn cứ,… phải vượt qua đỉnh Hòn Giác cao hơn 300m so với mực nước biển và những đồi tranh trống trải…” Sau hai ngày trèo đèo lội suối, cuối cùng tổ cũng về đến trạm phẫu, và chỉ chậm 15 phút nữa là không thể cứu sống được. Tình cảnh hiểm nghèo, gay cấn lúc ấy chỉ có người trong cuộc, kề cận với cái chết mới hiểu được. 36 năm sau, hai người đồng đội cũ gặp lại nhau. Dù câu chuyện ngày ấy chỉ còn có họ nhớ đến thì cũng mang giá trị là cuộc sống ngày nay của một người. Ngày 5 tháng 11 năm 1971, cuộc vượt đường của Tiểu đoàn công binh Sư đoàn 3 Sao Vàng rơi vào ổ phục kích của địch. Phó tham mưu trưởng Phan Văn Bảy sa vào tay giặc. Suốt thời gian dài từ tội, anh đã phải có sức mạnh thần tình để bảo vệ bí mật về thân phận mình. Thậm chí có lần trong trại giam, một chiến sĩ cấp dưới cũ gặp lại anh, mừng quá đã gọi là thủ trưởng, lại phải mất thêm nhiều tháng chống chọi, nhưng cuối cùng cũng qua đi. Một số đồng đội của anh vào đêm bị phục kích, trong đó có tác giả, đã may mắn thoát được, nhưng những gì đã xảy ra vào đêm kinh hoàng đó thì không ai có thể quên được. Sau 36 năm, qua cuộc gặp mặt rất tình cờ với người em rể của anh Bảy, tác giả mới tìm được nhân chứng thực của một sự kiện lớn trong đời mình. Sự may mắn đã dành cho họ cuộc gặp gỡ đầy ý nghĩa ấy. Tác giả cũng là người tham gia vào cuộc tìm kiếm hài cốt liệt sĩ Trần Duy Chiến (người viết cuốn nhật ký Tây Tiến viễn chinh), tham gia tìm kiếm và vận động giúp đỡ những người đồng đội là thương bình, đang sống khó khăn… dù anh cũng rất bận bịu, người lính năm xưa nay đã là một doanh nhân thành đạt. Anh thể hiện tình đồng đội bằng sự cảm thông và giúp đỡ thiết thực. Công sức, thời gian mà anh bỏ ra để tìm kiếm tung tích các liệt sĩ, tìm kiếm những người hảo tâm, tổ chức gặp gỡ, quyên góp… là không hề nhỏ. Có những người bên cạnh ủng hộ anh, như anh Hoàng Văn Đông, trước đây là một sĩ quan hậu cần rất tháo vát, nay trở thành người làm kinh tế giỏi, đã đóng góp rất nhiều để giúp đỡ đồng đội cũ. Còn có nhiều người như thế nữa, khi nhìn thấy những hành động ấy, họ cũng sẽ quan tâm, và những người lính có thể tìm lại nhiều điều. * Điểm qua một số những mẩu chuyện trên để thấy việc một con người cất công đi tìm đồng đội là người có trái tim bao la nhân ái - thực sự là hiếm có trong cuộc sống tất bật mà mỗi ngày mỗi giờ người ta đều quy đổi ra vàng bạc, ra đô la. Nhớ nhau thì có nhớ nhưng không thể bỏ được cái sự ham sống ham làm của ngày hôm nay. Chiến tranh để lại dọc chiều dài đất nước cơ man nào là mộ chí trắng xoá, cơ man nào là nghĩa trang. Những người có tên và chưa có tên – Hàng ngàn con đường mòn trong rừng đã từng có chiến sĩ nằm xuống, đánh dấu bằng gốc cây hòn đá để đồng đội lại lên đường. Những con đường rừng ấy chỉ vài tuần không có người đi qua là cây rừng lấp ngay. Làm sao mà còn nhớ chỗ liệt sĩ nằm. Rồi những bãi cát dọc biển bao la, những gò đồi… đâu đâu cũng có liệt sĩ. Liệt sĩ nằm trên đất quê hương nhưng nếu không biết anh ở chỗ nào thì người thân vẫn canh cánh trong lòng chưa thể sống yên. Anh Nguyễn văn Hồng không chỉ kể về những người thân, bạn bè, người cùng đơn vị, anh còn làm công việc của một nhà ngoại cảm, tìm kiếm những mắt xích liên quan đến từng liệt sĩ… Cứ như thế miệt mài tháng năm. Tôi là một người đã tham gia chiến tranh, đã như các anh chứng kiến nhiều hy sinh của bè bạn, tôi thực sự xúc động khi đọc những bài viết chân thực của anh. * * Cảm ơn anh và các anh chị có trái tim nhân ái dành cho đồng đội. Và đồng đội chúng ta vẫn luôn ở bên bạn vè và mang may mắn đến cho chúng ta. LÊ MINH KHUÊ Tiêu đề: Re: Nghĩa Tình Đồng Đội Gửi bởi: crawling0805 trong 27 Tháng Mười Hai, 2010, 06:05:10 pm LỜI CẢM ƠN Để có được cuốn sách này, ra mắt bạn đọc, cuối năm 2006 và trước đó, tôi đã hai lần về lại chiến trường xưa, tại một số địa phương thuộc Liên Khu 5, đặc biệt tại hai tỉnh Bình Định và Quảng Ngãi, địa bàn tác chiến của sư đoàn 3 Sao Vàng. Tôi là một quân nhân đã lớn lên và trưởng thành trong đội hình chiến đấu của sư 3, một trong những sư đoàn chủ lục Quân khu 5. Ngoài việc xác minh, kiểm chứng lại tại thực địa, tôi đã được sự giúp đỡ tận tình của nhiều đồng chí, đồng bào, là những “nhân chứng sống”, cung cấp cho tôi nhiều tư liệu xác thực, có đối chiếu với những dòng hồi ức của những năm tháng chiến đấu tại chiến trường mà tôi đã ghi nhớ được. Tôi xin cảm ơn những người vừa là những nhân vật trong từng câu chuyện, vừa nhân chứng đã giúp đỡ nội dung cho cuốn sách này: bà Nguyễn Thị Nhị, vợ của liệt sĩ Hoàng Văn Bình, một du kích đã hy sinh cùng với đồng chí Bình và đồng chí Đức trong trận đánh giao thông tại mục tiêu Cống Đôi; ông Hai Bình, là người trực tiếp chôn cất liệt sỹ Bình và Đức; ông Thành, nguyên là xã đội trưởng (năm 1969). Những người này hiện ngụ tại xã Bình Nguyên, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Hoàng Chuân, nguyên chiến sĩ thông tin liên lạc thuộc Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 12, Sư đoàn 3, nay là một thương binh đang cùng với vợ, con sống tại thị xã Ninh Bình thuộc tỉnh Ninh Bình, người chiến binh dũng cảm năm nào trên mặt trận đường 19, đã nhiệt tình giúp tôi tìm được nơi cư ngụ của Trung tá Lê Anh Kiên, tại xã Hải Cường, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, người tiểu đội trưởng trinh sát năm xưa, đã cung cấp cho tôi nơi hy sinh và mai táng của liệt sỹ Thảo tại chiến trường đường 19, tỉnh Bình Định năm 1971. Anh thương binh cụt một chân Trần Xuân Nựu, nguyên là một sỹ quan tác chiến thuộc Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 12 đã gửi cho tôi một lá thư dài (tôi đã trích một đoạn trong bài viết) sau 36 năm chúng tôi mới gặp lại nhau. Hiện anh cùng gia đình đang sống tại xã Xuân Lam, huyện Nghi Xuân, Hà Tình. Anh Đào Quang Diệm, nguyên phó Giám đốc Sở Lao Động Thương Binh vã Xã Hội tỉnh Hà Tĩnh, là người anh ruột của liệt sỹ Đào Quang Phát, mà tôi có bài viết về trường hợp hy sinh của em anh. Đoàn Như Hưng, người đã cùng với tôi thuộc đại đội công binh Sư đoàn 3 trong những năm 60, nay là cựu chiến binh, ngụ tại thôn Vạn Trung, xã An Hảo, huyện Hoài Ân, Bình Định, người đã giúp tôi có được những thông tin khá chính xác một số liệt sỹ, hy sinh tại huyện Hoài Ân và An Lão, Bình Định, nay hài cốt các liệt sỹ đã được đưa vào nghĩa trang xã. Thân nhân gia đình liệt sỹ Hồ Huy Liễu, hiện trú tại xã Sơn Hàm, huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh. Gia đình anh chị Nghiêm Thanh Huề, Trương Thị Sen, những quân nhân thuộc Trung đoàn 12, Sư đoàn 3, đã liên tục trong 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường miền Trung. Hiện anh chị đang sống tại phường Trần Quang Diệu, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Trung tá Phan Văn Bảy, nguyên tham mưu phó, Trung đoàn 12, Sư đoàn 3; người sỹ quan tác chiến, không may bị sa vào tay giặc trong một tình huống hiểm nghèo, đêm 4-11-1971 tại mặt trận đường 19. Hiện trú tại số 39C Hai Bà Trung, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Anh đã cung cấp cho tôi một số tình tiết xảy ra trước, trong và sau khi anh bị bắt mà tôi đã ghi lại trong bài “Đêm ấy, không may anh bị sa vào tay giặc” của cuốn sách này. Trong cuốn hồi kí “Cuộc chiến đấu tự nguyện”, nxb Hội Nhà Văn – 2007, tôi có viết về sự kiện này. Gặp lại anh lần này và được anh cung cấp thêm thông tin, chứng minh những dòng hồi ức của tôi, cách nay 36 năm là chính xác. Tôi cũng xin chân thành cảm ơn những người sau đây đã cho tôi có cơ hội, những bài viết sẽ trở thành một cuốn sách, mà theo tôi, hy vọng sẽ góp phần thực hiện được ước muốn hướng về đồng đội, những người đã cống hiến máu xương cho đất nước được như hôm nay, cần nhắc đến họ, đời đời biết ơn họ. Các liệt sỹ, thương binh vẫn là đề tài nóng bỏng đối với tôi. Nhà văn Đặng Vương Hưng và gia đình liệt sỹ Trần Duy Chiến đã đóng góp vào kho tàng văn học của thế hệ chúng ta cuốn nhật ký chiến trường của một liệt sỹ trong cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và làm nhiệm vụ quốc tế ở CPC (Tây Tiến Viễn Chinh). Tôi cũng được vinh dự thay mặt cho những chiến binh ngày ấy làm sáng tỏ thêm về thời điểm lịch sử và những gì mà liệt sỹ Trần Duy Chiến đã viết trong cuốn nhật ký của anh. Và, đã cùng với nhà văn Đặng Vương Hưng, Quận uỷ và Uỷ ban nhân dân Quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng và thân nhân liệt sỹ Trần Duy Chiến thực hiện được ước nguyện của anh và gia đình là đưa hài cốt của anh về yên nghỉ tại quê nhà – nghĩa trang thành phố Đà Nẵng. Xin cảm ơn Thiếu tướng Lê Chí Thuận, một vị tướng chiến trường, người đã cùng tôi trải qua một chặng đường dài từ chiến tranh giải phóng đến lúc hoàn thành nhiệm vụ quốc tế ở CPC. Ông đã không phản đối khi tôi viết về ông, cả những thành công trong sự nghiệp cũng như bất hạnh diễn ra trong đời thường, cả những cái đáng có và không nên có trong con người ông. Những uẩn khúc về đời tư có mấy ai muốn đưa lên trên những trang giấy… Một người có cùng quan điểm, cùng cộng tác với nhau trong chiến đấu: Trung tá Hoàng Văn Đông. Trong những năm làm nhiệm vụ quốc tế, anh và những cộng sự trong ngành hậu cần đã giúp chúng tôi rất nhiều, giải quyết tốt công tác bảo đảm cho chiến đấu. Nay, về với cuộc sống đời thường, anh đã làm được nhiều việc có ích, được Uỷ ban nhân dân Quận Tân Bình tặng giấy khen. Anh đã giúp tôi nguồn tư liệt cho bài viết về nghĩa tình đồng đội của những cựu chiến binh hôm nay. Cuối cùng, có được cuốn sách mang nhiều ý nghĩa về nghĩa tình đồng đội, không thể không nhắc đến Trần Văn Tám, nguyên là quân nhân lái xe lúc tôi còn là Phó tư lệnh – Tham mưu trưởng Quân đoàn 4, nay Tám đã là chủ của một doanh nghiệp “ăn nên làm ra”, đã bỏ lại công việc sản xuất kinh doanh, giao cho vợ, Nguyễn Thị Oanh trông coi để cùng tôi rong ruổi đúng một tháng trời đi thu thập nguồn tư liệu phục vụ cho việc hoàn thiện cuốn sách. Bản thảo của cuốn sách cũng đã thu nhận nhiều ý kiến góp ý của một số vị lão thành cách mạng và một số cựu chiến binh: Đại tá Trần Hồng Cơ, Nguyễn Quý Hợp, Thiếu tướng Trần Tấn, Đại tá nhà văn Nguyễn Phán và nhiều đồng chí khác. Mong rằng “Nghĩa tình đồng đội” sẽ được tiếp tục trong thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau. TP. HCM, tháng 7 năm 2007 TÁC GIẢ Tiêu đề: Re: Nghĩa Tình Đồng Đội Gửi bởi: crawling0805 trong 27 Tháng Mười Hai, 2010, 06:08:59 pm THƯA CÙNG BẠN ĐỌC Sau năm 1975, trên làn sóng của đài tiếng nói Việt Nam, đài truyền hình Việt Nam và các phương tiện thông tin đại chúng đăng tải mục “ĐI TÌM ĐỒNG ĐỘI”. Đây là việc làm hết sức cần thiết, phù hợp với nguyện vọng của đông đảo các tầng lớp nhân dân, thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, là quan điểm của Đảng và Nhà nước ta. Chiến tranh lâu dài với nhiều kẻ thù xâm lược đã để lại hậu quả nặng nề cho dân tộc Việt Nam, hàng triệu sinh mạng đã nằm lại trên các chiến trường chưa được tìm thấy, hàng vạn liệt sỹ trong các nghĩa trang chưa xác định được danh tánh. Đó là nỗi trăn trở lớn nhất của nhiều gia đình, người thân và cộng đồng. Mỗi lần nghĩ về đồng đội, những người đã nằm lại trên các chiến trường, người thân chưa biết con em mình đang nằm ở đâu, chúng ta cảm thấy day dứt. Tôi tin rằng, trong các thế hệ, những người may mắn còn sống sau chiến tranh, nhiều người trực tiếp hay gián tiếp biết đồng đội của mình đã hy sinh được chôn cất ở nơi này, chỗ nọ; song, một số vì tuổi cao, sức yếu, trí nhớ lại mai một; một số do phải vật lộn với cuộc mưu sinh nghiệt ngã trong đời thường, và nhiều lý do khác… mà bỏ qua những cơ hội giúp người thân của những người đã hy sinh tìm lại họ. Tôi nghĩ khả năng tinh tế nhất của con người là khả năng biết yêu thường. Thật là thiếu sót và tội lỗi nếu là “vô cảm” với công việc này. Đã đi qua hai cuộc chiến tranh: chiến tranh chống xâm lược của đế quốc Mỹ ở miền Nam và cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc trên biên giới Tây Nam và làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, tuy tuổi đã cao, sức khoẻ giảm sút, song trí nhớ còn minh mẫn, tôi xin nêu lên một vài trường hợp, đặng giúp cho những gia đình có người thân đang nằm lại trên chiến trường hoặc các địa phương đã quy tập phần mộ các liệt sỹ vào các nghĩa trang họ vẫn chưa biết. Cuộc “Trường chinh tìm đồng đội” đối với tôi không những đi tìm những liệt sỹ đang nằm ở đâu có chưa được phát hiện hoặc đã đưa vào cac nghãi trang, người thân chưa được biết, mà còn đi tìm những đồng đội đã một thời chia ngọt sẻ bùi trong những năm tháng chiến đấu đầy gian khổ ác liệt, mang thương tật nay tứ tán mọi miền đất nước. Có khi là đi tìm những nhân chứng do chính liệt sỹ để lại, để các thế hệ mai sau biết dược những hậu quả nặng nề của chiến tranh đêm lại cho các thế hệ cha anh, hoặc là những người không may sa vào tay giặc nay đã trở về với đồng đội, v.v… Mong rằng cuộc “Trường chinh tìm đồng đội” được các tầng lớp nhân dân ta quan tâm sẽ không có điểm dừng. Chúng ta hãy làm một việc gì đó để dịu bớt những đau thương, mất mát của hàng triệu gia đình. NGUYỄN VĂN HỒNG Tiêu đề: Re: Nghĩa Tình Đồng Đội Gửi bởi: crawling0805 trong 27 Tháng Mười Hai, 2010, 06:11:59 pm NGƯỜI XẠ THỦ BẮN CHÁY 6 XE TĂNG - THIẾT GIÁP MỸ ĐÃ VÀO NGHĨA TRANG XÃ BÌNH NGUYÊN, HUYỆN BÌNH SƠN, QUẢNG NGÃI.
Trong các mối quan hệ cộng đồng, mỗi người mang một tính cách riêng, một đặc điểm nổi trội dễ làm những người xung quanh nhớ lâu, có khi nhớ đến suốt đời. Tôi được sống và chiến đấu với nhiều cán bộ, chiến sỹ, họ đã in sâu vào ký ức những kỷ niệm sâu sắc trong cuộc chiến đấu ở chiến trường, cũng như trong cuộc sống đời thường. Có người với những chiến công xuất sắc trong chiến đấu, họ đã hy sinh hoặc bị thương, có người đã một thời cùng chia ngọt, sẻ bùi, nhường nhau từng bát cơm, củ sắn; lại có người không may sa vào tay giặc nay đã trở về với đồng đội… Trong những câu chuyện dưới đây, tôi viết về những người đã in đậm nét trong ký ức tôi không bao giờ quên được. Trước hết là tấm gương hy sinh dũng cảm của người xạ thủ súng chống tăng B41, trong chiến đấu anh đã bắn cháy và phá huỷ nhiều mục tiêu là xe tăng, xe thiết giáp và các hoả điểm khác của địch trong cuối những năm 60 tại chiến trường Khu 5. Đặc biệt là trong trận tập kích cụm xe tăng địch tại Dốc Sỏi, phía tây thị trấn Châu Ổ thuộc huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi vào đêm 25/02/1968. Trận này một mình đồng chí đã bắn cháy 6 xe tăng, xe thiết giáp, một lực lượng của Sư đoàn Ameriacan Mỹ đi càn quét. Đó là đồng chí Bình (rất tiếc tôi không nhớ họ của đồng chí). Chỉ biết rằng: đồng chí là người dân tộc Mường, quê tỉnh Thanh Hoá. Nói về chiến công của anh, trong cuốn hồi ức mang tự đề “Cuộc chiến đấu tự nguyện” tái bản ở Nxb. Hội Nhà Văn 2007, trang 150 có đoạn viết: “…Không thể chờ đợi thêm được nữa. Tôi ra lệnh cho đồng chí Bình nổ súng. Quả đạn B41 đầu tiên, Bình tiêu diệt ngay một xe tăng cách đó khoảng 15 mét. Địch dựa vào các xe tăng, xe bọc thép bắn ra như vãi đạn. Đạn bay vèo vèo trên đầu, những luồng đạn lửa của súng trung liên, đại liên từ các tháp pháo xe tăng phóng ra xung quanh tua tủa. Có những luồng đạn lửa chạm vào đá sỏi, gốc cây bay vút lên không trung như những chùm pháo thăng thiên. Ánh chớp đầu các nòng pháo thỉnh thoảng lại toé lên như những cái máy chụp ảnh có dùng đèn palat… Nhưng mọi loại hoả lực đều bay vút ra phía sau. Vì chúng tôi đã lọt vào góc tử giác (cự ly an toàn). Lúc này chúng tôi mới thấy hết tác dụng của lối đánh gần (bám thắt lưng địch mà đánh), nhất là mục tiêu xe tăng. Trong lúc địch điên cuồng bắn ra xung quanh, anh em nằm sát vào gốc dừa “giải lao” quan sát từng luồng đạn lửa của chúng đang phun ra từ các họng súng trên xe tăng để xác định vị trí cụ thể của từng mục tiêu. Sau hơn 10 phút sôi động, trận địa lại im ắng, chỉ còn lại các trận địa pháo, cối từ các căn cứ bắn xung quanh. Nhưng chúng tôi vẫn an toàn, vì đang “nằm chung” với xe tăng địch trong cự ly rất gần. Xa xa về hướng Nam, tiếng súng lại rộ lên, pháo sáng địch bắn lên từng chùm, treo lơ lửng trên không trung, toả sáng cả một vùng. Chắc giờ này, một số căn cứ địch ở hướng Đức Phổ, Mộ Đức hay thị xã Quảng Ngãi… cũng đang bị ta tiến công. Quan sát một lúc khá chính xác, đồng chí Bình lại giương súng lên bắn phát thứ hai, thêm một chiếc xe tăng bốc cháy. Quan ngọn lửa và ánh chớp, chúng tôi phát hiện thêm các mục tiêu khác. Sau phát đạn thứ hai này, bọn địch không phản ứng đồng loạt, sợ lộ mục tiêu. Chỉ có chỗ nào bị đánh, chỗ đó phản ứng. Pháo cối từ Chi khu Châu Ổ và các căn cứ gần đó bắn liên tục ra xung quanh, nhất là hai bên trục đường phía Tây mục tiêu đang bị chúng tôi tiến công. Lần này chúng sử dụng cả “pháo chụp” đạn nổ trên không trung chụp xuống hòng sát thương ta. Chúng tuyệt nhiên không bắn pháo sáng, sợ lộ các mục tiêu còn lại. Trong thực tế chiến đấu, có trận không theo một nguyên tắc, bài bản nào cả. Chúng tôi bám vào mô đất, gốc dừa, trụ lại một chỗ, bắn cháy lần lượt từ xe tăng này đến xe tăng khác, cho đến lúc hết một cơ số đạn B41 mà vẫn không bị địch phát hiện. Cuối cùng địch chỉ còn lại một xe, trong khi chúng tôi đã hết đạn, phải rút lui. Lại thêm một lần ân hận. Lúc xuất phát, anh Quang và anh Biền nhắc chúng tôi mang thêm mấy trái lựu đạn chống tăng để dự bị. Chúng tôi đã không thục hiện. Tiêu đề: Re: Nghĩa Tình Đồng Đội Gửi bởi: crawling0805 trong 27 Tháng Mười Hai, 2010, 06:13:52 pm Sáng hôm sau địch cho một tiểu đoàn hỗn hợp, dưới sự yểm trợ của máy bay trực thăng chiến đâu, có kết hợp với pháo binh từ thị trấn Châu Ổ lên càn quét hai bên trục đường đất đỏ. Chúng cho xe tăng lên kéo 6 chiếc xe tăng, xe thiết giáp bị chúng tôi bắn cháy, bắn hỏng về căn cứ”.
Như vậy, trong trận này, ngoài đồng chí xạ thủ phụ làm nhiệm vụ tiếp đạn, một mình Bình đã bắn cháy 6 xe tăng, xe thiết giáp, bẻ gãy hoàn toàn cuộc tấn công càn quét của địch từ thị trấn Châu Ổ lên huyện lỵ Trà Bồng, thuộc tỉnh Quảng Ngãi trong chiến dịch Mậu Thân 1968. Tiếc thay, trong một trận đánh giao thông đêm mùng Bốn, rạng mùng Năm tháng 12 năm 1968 tại mục tiêu Cống Đôi trên đường quốc lộ số 1 thuộc xã Bình Nguyên, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, Bình đã hy sinh cùng với đồng chí Đức và một du kick tên Huỳnh Văn Bình. Năm 1968, sau chiến dịch Mậu Thân, để phân tán sự đối phó của địch ở chiến trường trọng điểm, ngoài nhiệm vụ kìm chân các lực lượng chủ lực địch trong các căn cứ, ngăn chặn chúng ra phản kích, một bộ phận chủ lực ta kết hợp lực lượng vũ trang địa phương đẩy mạnh việc đánh phá giao thông, góp phần cô lập địch trên từng khu vực. Đại đội công binh chúng tôi được giao nhiệm vụ bám đường quốc lộ số 1 trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đánh phá cầu cống dựng chướng ngại vật, và khi điều kiện cho phép có thể tổ chức các trận phục kích diệt các đoàn xe, tốp xe vận tải của địch từ cảng Quy Nhơn, Sa Huỳnh ra Chu Lai, Nước Mặn… Một trong những mục tiêu được chú ý trong thời gian này, Cống Đôi – Đây là điểm chốt giao thông của địch trên đường số 1 và đường sắt, nằm ở đoạn giữa căn cứ Chu Lai (Quảng Nam) và căn cứ Nước Mặn (Quảng Ngãi), cách ga xe lửa Trị Bình 300m về hướng Bắc. Địch có một trung đội hỗn hợp gồm cả Mỹ và lính Bảo An. Chúng lợi dụng đường tàu hoả, cố thủ trong hầm, được xếp bằng bao cát dày tạo nên những lô cốt nửa chìm, nửa nổi rất vững chắc. Xung quanh có một lớp rào lò xo một cuộn kết hợp mìn vướng nổ, đạp nổ và mìn Kleymo điều khiển. Mục tiêu nằm hoàn toàn trên cống đường sắt, cách cống đường 1 từ 15 – 20m. Bởi vậy mà ở đây nhân dân thường gọi là Cống Đôi. Hai hướng Đông và Tây là đồng trống, lúa đang thì con gái. Về phía Tây khoảng 400m là làng mạc nằm dọc theo triền núi chạy dài từ Bắc xuống Nam, nối với căn cứ Nước Mặn. Đây là vùng giáp ranh, tuy sát nách các căn cứ địch, song ban đêm ta hoàn toàn làm chủ. Vì sao chúng tôi chọn mục tiêu này, Cống Đôi? Trước hết, địa thế, cho phép ta cơ động lực lượng từ căn cứ xuống đây, trong quá trình chuẩn bị cũng như lúc tiến công và sau đó có điều kiện cơ động về lại căn cứ. Điều thuận lợi cơ bản thứ hai là ở đây phong trào du kích lên mạnh. Bộ đội địa phương và dân quân du kích miền Trung nói chung và Quảng Ngãi nói riêng không những đã giúp đỡ cho bộ đội chủ lực trong bước trinh sát, nắm địch mà còn là lực lượng sát cánh cùng bộ đội chủ lực tiến công vào các mục tiêu. Trận này cũng đã cho tôi một bài học kinh nghiệm trong việc chọn mục tiêu, việc đánh giá tình hình và sử dụng lực lượng cũng như về cách đánh. Trong chiến đấu, có tinh thần tiến công địch vẫn chưa đủ, người chỉ huy, dù ở cương vị nào cũng phải nắm chắc những nguyên tác cơ bản về tổ chức chỉ huy, về áp dụng các hình thức chiến thuật phù hợp với nhiệm vụ và mục tiêu được phân công. Tiêu đề: Re: Nghĩa Tình Đồng Đội Gửi bởi: crawling0805 trong 27 Tháng Mười Hai, 2010, 06:15:40 pm Đêm 4 tháng 12 năm 1968, chúng tôi tổ chức một tổ 3 đồng chí, gồm đồng chí Bình, Đức và một du kích tên Huỳnh Văn Bình đột nhập từ hướng Bắc, men theo đường tàu hoả, chui qua lớp hàng rào kẽm gai, tiếp cận lô cốt bằng bao cát ở hướng Bắc. Phía Đông, một tổ hoả lực B41 bố trí cách mục tiêu là ụ súng khoảng 150m. Để tạo điều kiện làm chủ mục tiêu, trên đường số 1 bố trí 2 tổ, nhiệm vụ là ngăn chặn quân phản kích ứng cứu từ Nước Mặn ra và từ Chu Lai vào.
Đêm cuối năm, trời mưa lất phất và rét. Sau khi tổ chức hợp đồng xong, các mũi các hướng tiếp cận mục tiêu. Một tình huống bất ngờ, trên hướng Nam mục tiêu: địch đưa lực lượng ra canh gác sát lớp rào kẽm gai, tổ hoả lực B41 không thể vào triển khai được. Đã gần 4 giờ sáng rồi mà địch vẫn không rút vào lô cốt. Phương tiện liên lạc không có, chỉ hiệp đồng ban đầu. Chúng tôi quyết dịnh cho tổ hoả lực phía Đông nổ súng. Lúc đầu địch cũng bị bất ngờ. Một số nhà bạt bị trúng đạn, bốc cháy – qua đám cháy phát hiện trong chốt địch bị rối loạn, vợ con lính kêu la. Vì nổ súng trễ, từ hướng Bắc địch cơ động bằng xe vào ứng cứu. Xe tăng của chúng từ Dốc Sỏi bắn dọc đường 1 và đường sắt nghe rát rạt. Thế là các tổ bố trí bên ngoài rút khỏi vị trí. Tổ của đồng chí Bình không ra được và bị hy sinh bên cạnh lô cốt ở phía Bắc Cống. Ngay sáng hôm đó, địch mở cuộc hành quân càn quét vào thôn Trị Bình, chúng tôi phải cấp tốc di chuyển, không kịp để lại danh tánh của hai đồng chí bộ đội Bình và Đức cho địa phương biết. Tiếc thương đồng đội, tôi quyết tâm đi tìm những “nhân chứng sống”. Hy vọng sẽ tìm được nơi yên nghỉ của các anh. Đầu năm 2004, tôi về xã Bình Nguyên, vào Uỷ bản nhân dân xã. Lần đó tôi mới chỉ biết được một ít tin tức: một số nhân chứng trong trận đánh đó nay vẫn còn sống. Nhưng vì thời gian eo hẹp, tôi chưa tiếp cận được họ: Người thứ nhất là nữ du kích có tên là Hoà và cô em gái tên Thuận – cô Hoà năm nay đã gần 60 tuổi, người đã cùng với tôi đặt vị trí chỉ huy tại ga xe lửa Trị Bình, thuộc xã Bình Nguyên trong đêm tiến công mục tiêu Cống Đôi. Người thứ hai, tôi còn nhớ có tên là Nhị, một nữ thanh niên mới lớn ở địa phương. Cô Nhị có em gái tên là Nhằn. Hồi đó hai chị em còn ít tuổi, cô Nhị khoảng 16 – 17 tuổi, cô em khoảng 14 – 15 tuổi, trong một gia đình cơ sở cách mạng ở thôn Trị Bình. Ngày đó gia đình cô Nhị ở ven sườn núi phía Tây căn cứ Nước Mặn. Trước mặt là cánh đồng lúa nước rộng khoảng 500 mét, theo con đường làng ra đường sắt và đường số 1. Những ngày đi chiến đấu chúng tôi được anh em du kích xã Bình Nguyên tận tình giúp đỡ và phối hợp hoạt động. Nhiệm vụ chủ yếu của bộ đội chủ lục chúng tôi là đánh giao thông trên đường Quốc lộ số 1. Ban ngày đồng chí Nguyễn Văn Mau, xã đội trưởng đưa chúng tôi lên sườn đồi. Ở đó có đài quan sát, có hầm bí mật. Nếu địch càn vô đây, chúng tôi sẽ cùng với du kích xã chống càn, hoặc xuống các hầm bí mật để bảo toàn lực lượng. Vì vậy, tuy gần bên căn cứ Nước Mặn, một trung đội quân chủ lực ta cùng với du kích xã ở đây, có khi ở cả ban ngày mà địch vẫn không phát hiện được. Không có hàng rào, lô cốt nào kiên cố bằng lòng dân. Đêm 4, rạng 5 tháng 12, chúng tôi gửi tư trang tại gia đình cơ sở này, tiếp cận mục tiêu Cống Đôi. Tiêu đề: Re: Nghĩa Tình Đồng Đội Gửi bởi: crawling0805 trong 27 Tháng Mười Hai, 2010, 06:17:56 pm Ngoài hai nhân chứng nêu trên, còn một số người dân khác, chúng tôi không biết tên, vì thời gian tác chiến ở đó chỉ có 1 tuần lễ.
Ngày 31 tháng 11 năm 2006, tôi về lại xã Bình Nguyên một lần nữa, với hy vọng gặp được cô Nhị. Co Nhị có vai trò rất quan trọng trong việc tìm mộ đồng chí Bình và đồng chí Đức. Tiếp nối những kết quả của chuyến đi trước, trong chuyến đi này tôi đến thẳng thôn Trị Bình. Theo con đường ngang từ đường số 1, rẽ về phía Tây, cách ga Trị Bình khoảng 200 – 300 mét về phía Bắc. Con đường đất đỏ đã được bê tông hoá, chạy thẳng vào thôn Trị Bình. Hai bên đường lúa xanh tươi tốt. Đây rồi! Ngôi nhà đầu làng trước đây là trường tiểu học. Năm 1968, cứ mỗi buổi sáng, bọn Hội đồng của chính quyền cũ đi xe Honda ngang qua ngôi trường này để vào thôn Trị Bình làm việc. Một buổi sáng chúng tôi tổ chức một tổ, ban đêm vào ém sẵn trong ngôi trường, kê nòng súng lên cửa sổ chờ đợi. Khoảng 6h30 sáng, hai tên Hội đồng đi xe máy vào trước họng súng của anh em ta. Cả tổ đồng loạt nổ súng, diệt một tên tại chỗ, một tên bỏ xe lại, chạy thoát thân. Anh em ra thu vũ khi và đốt luôn chiếc xe Honda. Tôi tiếp tục đi sâu vào thôn được người dân ở đây hướng dẫn đường đi, nước bước và cuối cùng gặp được cô Nhị. Hồi đó tôi được anh chị em du kích kháo nhau rằng cô Nhị là người yêu của du kích Huỳnh Văn Bình, một trong ba đồng chí đã hy sinh ở Cống Đôi. Cô Nhị nay vẫn giữ được dáng người mảnh dẻ. Trông bên ngoài chị đã già, nhưng dáng đi còn hoạt bát, nhanh nhẹn. Chị vẫn chưa biết tôi là ai? Vì sao tìm đến chị? Chi rót nước mời tôi và câu chuyện được bắt đầu: - Chị có phải là chị Nhị, có cô em gái là Nhằn? Hồi còn chiến tranh, gia đình chị ở phía sau căn cứ Nước Mặn, giáp với xã Bình Thuận? Tôi nói để khẳng định việc tôi tìm đến chị là chính xác. - Cuối năm 1968, chúng tôi tập kích mục tiêu Cống Đôi, trên đường số 1 và đường sắt, gần ga xe lửa Trị Bình, trong trận đó có 3 đồng chí hy sinh, trong đó có anh du kích tên Bình, hình như người yêu của chị? – Tôi nói tiếp. Chị nói chậm rãi như thì thầm: - Đó là chồng tôi! Chúng tôi lặng đi một lúc… Tiêu đề: Re: Nghĩa Tình Đồng Đội Gửi bởi: crawling0805 trong 27 Tháng Mười Hai, 2010, 06:20:57 pm Tiếng chó sủa ngoài sân làm tôi và chị Nhị sực tỉnh, trở lại với câu chuyện.
- Anh Bình nhà chị tôi đã nhìn thấy bia mộ ở nghĩa trang xã Bình Nguyên rồi. Còn 2 đồng chí bộ đội đến giờ chúng tôi vẫn chưa tìm thấy! Đầu năm 2004, tôi có qua xã Bình Nguyên, vào Uỷ ban xã hỏi thăm chị, biết hị vẫn còn sống. Vì thời gian eo hẹp, tôi phải đi ngay, không gặp được chị, tôi có để lại cho chị một lá thứ? Lần này tôi tìm đến chị… Tôi nói để gợi trí nhớ của chị về sự kiện xảy ra cách đây gần 40 năm. May ra chị còn nhớ và biết được phần mộ của 2 đồng chí bộ đội đã hy sinh cùng với người thân của chị. Chi cho biết: - Trận đó diễn ra vào đêm 4 rạng 5 tháng 12 năm 1968 (tính theo âm lịch). Sáng hôm đó tôi không dám ra nhận xác anh Bình, mà một người thân của anh Bình ra nhận xác ảnh về chôn. Đó là ông Hai Binh ở xóm 5, thôn Nam Bình, xã Bình Nguyên. Còn 2 anh bộ đội, một anh to con, nặng khoảng 70 kg, mặc xà lỏn bôi nhọ nồi đen thui (tức là đồng chí Bình, xạ thủ B41 – TG) và một anh người tầm thước (đó là đồng chí Đức – TG) thì không có ai nhận. Bọn lính thuê luôn ông Hai Binh cùng mấy người nữa mang đi chôn. Lúc đó, đồng chí Thành lên thay đồng chí Mau làm xã đội trưởng (đồng chí mau bị hy sinh sau đó)!.. - Chị có thể dẫn tôi đến nhà ông Hai Bình và anh Thành được không? Không trả lời tôi, chị lật đật vào buồng thay quần áo, với tay lên giàn bếp lấy cái nón lá rồi cùng tôi lên xe đến thẳng nhà ông Hai Binh. Trên đường chúng tôi đều im lặng, mỗi người theo đuổi một suy nghĩ. Chẳng mấy chốc chúng tôi đến nơi nhà ông Hai Binh ở trên đầu dốc, gần đối diện với nghĩa trang liệt sỹ xã Bình Nguyên qua đường số 1 và đường tầu hoả, thuộc sườn phía Đông căn cứ Nước Mặn. Ông Hai năm nay đã gần 70, nhưng thân hình vẫn mạnh khoẻ, hai bắp thịt cuộn lên trên đôi tay cháy nắng. Ông đang bơm nước tắm rửa cho đàn heo. Ông làm nghề nấu rượu, lấy bã để nuôi heo. Thấy chị Nhị và tôi đến ông đi rửa chân và mời chúng tôi vào nhà. Người dân quê Quảng Ngãi thật thà trông đến dễ thương. Sau lời giới thiệu của chị Nhị và lời đặt vấn đề của tôi về 2 đồng chí liệt sỹ hy sinh tại Cống Đôi, ông Hai nói ngay: - Chónh tay tôi chôn cất hai anh bộ đội miền Bắc, bọn chúng thuê người chôn cất, nhưng tôi đâu phải vì tiền. Thấy anh em bộ đội miền Bắc, bọn tôi thương đứt ruột, nhưng không dám biểu lộ, vì sợ chúng trả thù! - Thế bây giờ mộ của 2 đồng chí bộ đội ở đâu, nhờ ông Hai chỉ giùm! – Tôi đề nghị. Rót nước mời tôi và chị Nhị, ông nói chậm rãi: - Hôm xã có chủ trương quy tập các mộ liệt sỹ vào nghĩa trang xã. Lúc đó tôi đi vắng. Khi về thì họ đã bốc đưa vào nghĩa trang đầu dốc! Ông chỉ tay lên sườn núi, cạnh đường số 1, sườn phía Đông căn cứ Nước Mặn. Ông nói thêm: - Hồi đó, đơn vị bộ đội rút đi, không để lại tên tuổi của hai anh đó, nên hiện giờ có nhiều tấm mộ đều ghi “chưa xác định được tên”. Nhưng chắc chắn hài cốt của hai anh đã được đưa vào nghĩa trang xã rồi đó!... Chúng tôi lên nghĩa trang thắp nhang cho các anh. Bên cạnh mộ của đồng chí du kích Huỳnh Văn Bình, Nguyễn Văn Mau (xã đội trưởng) có nhiều nấm mộ chưa xác định được tên. Trong những ngôi mộ đó chắc chắn có hai đồng chí của chúng ta là đồng chí Bình và đồng chí Đức. Rời nghĩa trang xã Bình Nguyên, chia tay với chị Nhị, lòng tôi bùi ngùi thương nhớ các anh. Riêng đối với hai đồng chí Bình và Đức, người viết bài này mong muốn tìm được địa chỉ của thân nhân để chuyển đến họ nơi yên nghỉ cuối cùng của hai anh. Mọi chi tiết xin liên hệ với tác giả bài viết này: Nguyễn Văn Hồng – ĐT: (08)-8105660 hoặc 0913.957777. Hoặc những người đã nêu trên ở xã Bình Nguyên, huyện Bình Sơn - Quảng Ngãi. Quảng Ngãi – TP. HCM tháng 12 – 2006 Tiêu đề: Re: Nghĩa Tình Đồng Đội Gửi bởi: crawling0805 trong 27 Tháng Mười Hai, 2010, 06:37:48 pm NƠI ANH NẰM XUỐNG CHỐT CÂY RUI
Gần cuối năm 1969, sau một loạt các trận chiến đấu thắng lợi trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi: đánh sập cầu Châu Ổ (tháng 2/1968), tập kích cụm xe tăng Mỹ ở Đốc Sỏi, phía Tây thị trấn Châu Ổ (cuối 2/1968), đánh địch càn quét ở thôn Trà Bình, bắn cháy xe tăng, tiêu diệt một số tên và bắt sống một tên Mỹ khác thuộc Sư đoàn American (tháng 3/1969); phục kích tiêu diệt và bắn cháy đoàn xe vận tải quân sự của địch trên quốc lộ 1A (tháng 10/1969) tại huyện Đức Phổ; và cả trận tập kích không thành mục tiêu Cống Đôi tại xã Bình Nguyên, huyện Bình Sơn, đại đội công binh Sư đoàn 3 chuyển vào phía Nam tỉnh Bình Định, sáp nhập cùng tiểu đoàn 6, trung đoàn bộ binh 12, làm nhiệm vụ đánh giao thông trục đường quốc lộ 19 – Đèo An Khê. Để phối hợp với mặt trận B3 mở chiến dịch tiến công ở Tây Nguyên sẽ diễn ra vào đầu năm 1972, trung đoàn 12 trong đó có tiểu đoàn 6 bước vào công tác chuẩn bị chiến trường. Nhiệm vụ chính là cắt đứt đường quốc lộ 19 tại đèo An Khê không cho địch vận chuyển tiếp tế từ vùng đồng bằng miền Trung lên Tây Nguyên. Đây là một địa bàn hết sức khó khăn, phức tạp. Đối tượng tác chiến là sư đoàn “Mãnh hổ” Nam Triều Tiên, trực tiếp là trung đoàn số 24 (*). Để cắt đứt đường 19, ta phải làm chủ được mặt đường. Ngoài các trận địa hỏa lực, bộ binh phải bám đường để tiêu diệt bộ binh, cơ giới của địch và đánh bại cuộc phản kích, giải tỏa của chúng. Trước khi mở chiến dịch, trong quá trình chuẩn bị chiến trường cũng đã có nhiều đồng chí bị thương vong, trong đó có đồng chí Thảo (lại một trường hợp tôi không nhớ họ của đồng chí). Đây là trường hợp thứ hai, có thể gia đình chưa biết được phần mộ của anh. Vì anh hy sinh ở một nơi đặc biệt khó khăn. Đến nay đã 35 năm tôi vẫn chưa biết thân nhân, quê quán của anh. Hy vọng nhờ bài viết này, linh hồn anh mách bảo, sẽ đưa anh về với gia đình. (*): Xem “Cuộc chiến đấu tự nguyện” – NXB Hội Nhà Văn tái bản 2007. Tiêu đề: Re: Nghĩa Tình Đồng Đội Gửi bởi: crawling0805 trong 27 Tháng Mười Hai, 2010, 06:39:10 pm Tôi chỉ nhớ tên anh là Thảo, hy sinh tháng 11 năm 1971 tại núi Cây Rui, phía Nam đỉnh đèo An Khê, nơi giáp giới giữa hai tỉnh BÌnh Định và Gia Lai.
Lúc ấy, trong điều kiện xa căn cứ, việc qua lại từ phái Nam sang phía Bắc đường 19 phải qua hệ thống đồn bót của địch và con sông Côn ngăn cách; đồng chí Thảo được mai táng tại sườn phía Nam chốt Cây Rui khoảng 2km. Có câu chuyện vui làm tôi nhớ mãi về anh và cũng từ đó tôi đã tìm được “nhân chứng sống” của trường hợp này. Tôi là một cán bộ tham mưu, thường rất gần gũi với anh em chiến sỹ trinh sát. Trinh sát là “tai mắt” của người chỉ huy. Tiểu đội trinh sát của tiểu đoàn do Nguyễn Văn Cọng và Lê Anh Kiên chỉ huy. Lê Anh Kiên có bố tên là Lê Văn Thảo. Chúng tôi thường hay nói đùa Kiên với đồng chí Thảo là hai bố con. Từ đó, mỗi lần nghĩ về Lê Anh Kiên là nhớ đến đồng chí Thảo. Có một lần đi chúng tôi trinh sát mục tiêu chốt Cây Rui, để phục vụ cho kế hoạch chiến đấu, cắt đường 19. Chốt Cây Rui có một đại đội thuộc Sư đoàn “Mãnh Hổ” Nam Triều Tiên, đóng chốt trên một điểm cao của đỉnh đèo An Khê. Đây cũng là nơi tiếp giáp giữa hai tỉnh Gia Lai và Bình Định. Phía Bắc núi Cây Rui là đường quốc lộ 19 chạy ngoàn ngoèo theo sườn Nam của dãy Núi Ông Bình, từ phía Đông thuộc tỉnh Bình Định lên Gia Lai. Phía Nam là rừng già liên hoàn, cây cối rậm rạp, kín đáo. Bao quanh chốt Cây Rui là 4 lớp rào kẽm gai, xen kẽ mìn sát thương bộ binh. Chốt Cây Rui là một vị trí rất lợi hại. Từ đây ta có thể khống chế hàng chục km đường đèo hiểm trở. Muốn cắt đứt sự vận chuyển tiếp tế của địch lên Tây Nguyên là phải làm chủ và giữ vũng chốt Cây Rui. Ngược lại, chốt Cây Rui còn thì vẫn còn làm chủ được Đường 19, dù là ta hay địch. Vì vậy chúng tôi đã tập trung khá nhiều về nhân lực và thời gian cho việc chuẩn bị tiến công chốt Cây Rui. Tổ trinh sát vừa từ phía Nam tiếp cận Cây Rui, đồng chí Thảo vướng phải mìn, hy sinh… Đồng chí Thảo là một chiến sỹ trinh sát dũng cảm, đã cùng với tiểu đội trinh sát của tiểu đoàn 6, luôn luôn bám mặt đường, theo dõi quy luật hoạt động của địch tại đèo An Khê, bảo đảm cho tiểu đoàn hạ quyết tâm và làm kế hoạch chiến đấu chính xác. Nhờ đó hầu hết các trận đánh giao thông tại đây đều đạt hiệu suất cao, bắn cháy và phá hủy nhiều đoàn xe vận tải của địch, góp phần quan trọng vào thắng lợi ở chiến trường Tây Nguyên, đồng chí Thảo hy sinh là một tổn thất lớn cho tiểu đoàn trong quá trình chuẩn bị và chiến đấu lâu dài ở đây. Chúng tôi vô cùng thương tiếc. Vì quân số ít, đường về căn cứ mất hơn 2 ngày, núi cao hiểm trở, chúng tôi không đưa được đồng chí Thảo về căn cứ. Tiểu đội trinh sát đã chôn cất đồng chí Thảo ở sườn phía Nam của chốt Cây Rui như đã nói ở trên. Sang năm 1972, ta mở chiến dịch Tây Nguyên. Trung đoàn 12 tiến hành cắt đường 19 trong suốt 18 ngày đêm. Cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt giữa Trung đoàn 12 Sư đoàn 3 quân Khu 5 với Su đoàn “Mãnh hổ” Nam Triều Tiên trên đoạn đường đèo chưa đầy 10 km. Xác giặc ngổn ngang, nhưng Trung đoàn 12 nói chung, Tiểu đoàn 6 nói riêng cũng bị tổn thất nặng nề (xem lịch sử Sư đoàn 3 Sao Vàng). Tiêu đề: Re: Nghĩa Tình Đồng Đội Gửi bởi: crawling0805 trong 27 Tháng Mười Hai, 2010, 06:41:48 pm Chiến dịch mùa xuân năm 1972 kết thúc, Tiểu đoàn 6 cơ động sang phía Bắc đường 19 và cùng với đội hình của Trung đoàn bước vào giai đoạn đánh địch nống lấn quyết liệt ở huyện Hoài Ân, Hoài Nhớn, Phù Mỹ… Đầu năm 1975, ta mở chiến dịch tổng tiến công. Trung đoàn 12 có dịp trở lại mặt trận đường 19, đánh chiếm toàn bộ các mục tiêu trên đường 19, đèo An Khê và cùng với đội hình Sư đoàn 3 phát triển vào phía Nam, tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng thị xã Bà Rịa và thành phố Vũng Tàu.
Đất nước ta đã sạch bóng quân thù. Song, không lâu sau đó, lại xảy ra chiến tranh Biên giới. Những người lính chúng tôi lại vác súng lên vai, ra trận. Vì vậy những trường hợp như đồng chí Thảo, có thể chưa được đưa hài cốt về nghĩa trang hoặc là gia đình chưa biết được nơi đồng chí hy sinh. Ngày 16/11/2006, tôi đến huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định để tìm Lê Anh Kiên, người lính trinh sát năm nào cùng một tiểu đội với đồng chí Thảo trong những năm hoạt động ở phía Nam đường 19. Lê Anh Kiên là một trong những chiến sỹ trinh sát gan dạ. Những người lính trinh sát thường đi công tác lẻ, từng tổ 2-3 người, xa sự chỉ đạo chỉ huy trực tiếp của đơn vị, là những người giáp mặt với kẻ thù, hay đến những nơi nguy hiểm nhất, độc lập xử trí những tình huống gay cấn. Vì vậy khi trong tổ có người hy sinh, hay bị thương, những người còn lại phải giải quyết với trách nhiệm và tình cảm anh em ruột thịt. Mỗi khi đi công tác với những chiến sỹ như thế, tôi rất yên tâm. Trong thắng lợi của những trận đánh hoặc các chiến dịch, có sự đóng góp đặc biệt quan trọng của người lính trinh sát. Gặp lại nhau hơn 30 năm xa cách, Kiên rất mừng. Anh nguyên là Trung tá, Trung đoàn trưởng đã nghỉ hưu, đang tham gia công tác trong hội Cựu chiến binh xã Hải Cường, huyện Hải Hậu. Anh là người nắm rất rõ trường hợp hy sinh và nơi mai táng liệt sỹ Thảo. Tôi hỏi quê quán Thảo, Kiên khẳng định với tôi một điều: - Thảo là người huyện Thanh Oai – Hà Tây. - Có thật không? – Tôi ngạc nhiên và mừng hết sức. Vì quê vợ tôi cũng ở huyện Thanh Oai. Cũng như trường hợp của Trần Xuân Nựu (trong bài viết tiếp sau), khi biêt được huyện thì sẽ tìm được người cần tìm ở xã nào. - Nhất định trong chuyến đi này mình sẽ đến huyện Thanh Oai. – Tôi khẳng định với Kiên như vậy. Nâng ly rượu với vợ chồng Kiên sau hơn 30 năm gặp lại, trong lòng tôi lại nghĩ đến chuyện khác, đó là niềm hy vọng sẽ tìm được thân nhân của Thảo. Hai ngày sau, tôi về huyện Thanh Oai và gặp đồng chí Trưởng phó phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện. Nôn nao trong lòng, tôi nêu thẳng vấn đề muốn tìm thân nhân của liệt sỹ Thảo. - Xin cảm ơn anh đã quan tâm đến công tác chính sách. Nhưng danh sách liệt sỹ của huyện có cả ngàn, phải lần tìm từng xã, phải có thời gian. Đồng chí cán bộ phòng Lao động Thương binh và Xã hội sốt sắng trả lời tôi và yêu cầu tôi ngồi chờ để đồng chí lục tìm. Tôi đến đây không được báo trước cũng hơi đột ngột, và biết rằng tìm người thân của một người trong hàng ngàn người, trong khi chưa biết được địa chỉ cụ thể thì đâu phải chuyện dễ. Vì vậy, tôi để lại địa chỉ liên lạc và hy vọng một ngày nào đó sẽ tìm được nhân thân của người đã mất. Có một điều chắc chắn là trường hợp liệt sỹ Thảo nếu không phải ở huyện Thanh Oai thì cũng thuộc một huyện nào đó của tỉnh Hà Tây. Người viết bài này mong rằng sẽ được các cấp ngành tỉnh Hà Tây và bạn đọc quan tâm cung cấp thông tin chính xác về nhân thân của liệt sỹ Thảo, đặng giúp gia đình biết được nơi hy sinh và an táng của anh. Địa chỉ liên lạc: Lê Anh Kiên – Đội 2, xã Hải Cường, huyện Hải Hậu – Nam Định. Điện thoại 0350.7935.527. Hoặc tác giả bài viết này. ĐT: (08).8105660 hoặc 0913.957777. TP.HCM, tháng 12 năm 2006 Tiêu đề: Re: Nghĩa Tình Đồng Đội Gửi bởi: crawling0805 trong 28 Tháng Mười Hai, 2010, 09:41:45 pm GẶP LẠI NGUỜI THƯƠNG BINH ẤY SAU 36 NĂM Đó là anh Trần Xuân Nựu, người thương binh cụt một chân. Hiện nay anh đang sống với vợ con tại xã Xuân Lam, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh. (Điện thoại: 0393.570.223) Gần cuối năm 1971, trong một lần đi trinh sát các mục tiêu địch trên đường quốc lộ số 19 tại đèo An Khê, tỉnh Bình Định không may anh đạp phải một quả mìn hộp zíp. Nói “không may” là vì trên một lối mòn, từ phía Nam, tiếp cận lên lề đường, ba đồng chí đã đi trước, tôi đi thứ tư và sau tôi là đồng chí Trần Xuân Nựu. Anh dẫm phải quả mìn ngay trên lối mòn đã có bốn người đi trước. Mìn hộp zíp, do Pháp chế tạo. Trái mìn hình tròn lớn hơn cái đít chen ăn cơm, giống như cái hộp zíp đánh răng thời kỳ chống Pháp đã được cấp cho bộ đội để đánh răng. Có lẽ vì vậy mà ta gọi là mìn hộp zíp (gọi là hình tượng). Vỏ của trái mìn zíp bằng nhựa, màu xanh nhạt có tác dụng chống máy dò mìn. Thuốc nổ là một hợp chất nhiều thành phần, chủ yếu là TNT. Cấu tạo theo nguyên lý đạp nổ. Kim hỏa gắn liền với tâm miếng mica hình lõm, đàn hồi. Dưới kim hỏa là hạt nổ. Mìn zíp có độ chống ẩm cao, chôn dưới mặt đất khoảng 1cm, nhiều chục năm vẫn còn tác dụng. Cây cỏ mọc lên rất khó dò phát hiện. Mìn zíp chỉ có tác dụng loại đối phương khỏi vòng chiến đấu, vì dẫm phải chỉ cụt chân. Song nếu vết thương không được xử lý kịp thời, có khi dẫn tới tử vong. Dọc hai bên đường 19 và xung quanh các điểm chốt của địch ở đèo An Khê đã được rải mìn zíp thành một tuyến trong phạm vi 15-20m từ vệ đường trở ra. Ở đây quân ta thương vong do mìn chiếm tỷ lệ cao. Trái mìn nổ đúng vào lúc giữa trưa, cách mặt đường khoảng 10 đến 15 mét. Xung quanh có các cứ điểm thuộc sườn phía Nam của dẫy núi Ông Bình; phía Tây là chốt Mâm Xôi (tên địa danh do bộ đội ta đặt ra), phía Đông là cứ điểm của một đại đội địch đóng ở đồi Hòn Kiềng (tên địa danh do bộ đội ta đặt ra)… Các lô cốt với những họng súng đen ngòm, trong tầm bắn có hiệu quả của binh lính Đại Hàn luôn trong tư thế sẵn sàng nhả đạn… Tuy nhiên, trái mìn nổ gần sát mép đường giữa buổi trưa trời nắng gắt, đã không làm cho bọn địch chú ý. Bàn chân phải của Nựu trái mìn tiện đứt hai phần ba. Không có sẵn dao kéo để chặt đứt luôn phần còn lại, chúng tôi phải gấp bàn chân anh lại, xé áo bó lại cho anh. Một cuộn băng cá nhân không thể ngăn được dòng máu đang xối xả phun ra. Bốn anh em thay nhau cõng anh ra khỏi những họng súng của địch xung quanh đang chĩa vào mình. Tôi động viên Nựu: - Ở đây gần địch, cậu cố gắng chịu đựng, đừng la to, chúng nó nghe thấy. Bọn mình sẽ đưa cậu về đơn vị!... Máu ra nhiều quá. Khuôn mặt Nựu trông nhợt nhạt. Hai đồng chí trinh sát thay nhau cõng Nựu ra khỏi tầm ngắm của các chốt địch; Kiên đi trước dò mìn, tôi đi sau cảnh giới và nhắc Lê Anh Kiên: - Cậu dò cẩn thận. Nếu dẫm phải mìn nữa , chết, chôn cất cậu ở đây thì dễ, còn bị thương thì không còn ai để khiêng cậu nữa đâu nhá! - Thủ trưởng cứ yên tâm! – Kiên tự tin trả lời tôi. Anh dò cẩn thận, từng bước vượt qua tuyến mìn của địch ở ven đường. Nựu đã bị ngất mấy lần, vì mất máu nhiều. Khi tỉnh dậy, anh rên la và nói qua hơi thở: - Tôi chết mất, các đồng chí cứ để tôi lại đây, đừng khiêng nữa!... Vừa dứt lời anh lại mê man. Tôi cúi xuống ghé tai vào ngực: tim vẫn còn đập. Tôi động viên và thúc giục tổ trinh sát khiêng tiếp, không nghỉ để rút ngắn thời gian về trạm phẫu, hy vọng cứu sống được Trần Xuân Nựu. Tiêu đề: Re: Nghĩa Tình Đồng Đội Gửi bởi: crawling0805 trong 28 Tháng Mười Hai, 2010, 10:15:44 pm Ban đêm, rừng kín mít, đất đá lởm chởm, không sao đi được. Đốt đuốc thì địch trên các chốt phát hiện, chúng tôi phải lấy những khúc gỗ mục có chất lân tinh, cho một người đi trước soi đường để tiếp tục khiêng Nựu về căn cứ. Nhưng cuối cùng cũng phải dừng lại ở đầu nguồn của suối Đồng Tre, một nơi kín đáo, an toàn. Từ đây về căn cứ phải mất hơn một ngày đường, phải vượt qua đỉnh Hòn Giác cao trên 300 mét so với mực nước biển và phải vượt qua những đồi tranh trống trải.
Đêm đó, mấy anh em không sao ngủ được. Lo lắng lớn nhất là không biết Nựu có “qua khỏi” đêm nay không. Mau sao trời mau sáng để rút ngắn được thời gian đưa nựu về trạm phẫu càng sớm càng tốt. Những cơn gió thổi qua lay động rừng cây nghe xào xạc. Một quả bom vướng nổ gần mấy anh em giật mình. Vùng này địch đã cho máy bay rải bom vướng nổ. Một quả “bom mẹ” khi rơi xuống hàng trăm “bom con” bung ra. Mỗi “bom con” chỉ bằng trái cam, có màu xanh lá cây, bốn góc bung ra bốn sợi dây vướng như những sợi chỉ dù, cùng màu xanh rất khó phát hiện. Thỉnh thoảng những luồng gió mạnh thổi qua hoặc thú rừng vướng phải làm cho bom nổ. Vì vậy nơi đây nghe tiếng bom bổ suốt ngày đêm. Sáng hôm sau trời rét lại mưa lất phất. Không nấu cơm được, mấy anh em ăn gạo sấy, uống nước lã, khiêng Nựu vượt qua được Hòn Giác, thì mọi người hầu như đã kiệt sức. Đến đây được một nửa đường về căn cứ và có thể đốt lửa đun nấu được rồi, chỉ cần cảnh giác máy bay phát hiện khói mà thôi. Ưu tiên số một lúc này là nước sôi để pha cho Nựu một ly sữa. Nói đến sữa, Kiên sực nhớ: hộp sữa Ông Thọ được cấp cho tổ trinh sát khi đi công tác, lúc lấy cuộn băng cá nhân để băng vết thương cho Nựu, Kiên lại quên ở suối Dầu, phía Nam đường 50m. Không có sữa để pha cho Nựu , còn một ít gạo sấy, chúng tôi cho vào cái hăng gô nấu cháo và bón cho Nựu từng thìa cháo loãng không đường, không muối. Đã hai ngày không ăn, vết thương lại mất nhiều máu, bốc mùi hôi, nhiều lần Nựu mê man, bất tỉnh… Sau hai ngày trèo đèo, lội suối, cuối cùng chúng tôi cũng khiêng anh về đến trạm phẫu của tiểu đoàn. Vết thương nơi chân anh bị nhiễm trùng. Các bác sỹ đã phải hai lần tháo ở mắt cá chân và đầu gối. Song cũng không kịp chặn vết thương bị hoại tử cứ “lép bép” ăn dần lên phía trên đầu gối. Cuối cùng phải tháo đến khớp háng. Đây là khớp cuối cùng của đôi chân. Các bác sỹ cho biết, nếu chậm trễ từ 15 đến 20 phút nữa là hết phương cứu chữa. Chúng tôi xa nhau từ ngày ấy. Ba mươi sáu năm đã trôi qua. Lòng tôi nuôi một hy vọng là sẽ gặp lại anh trong một ngày nào đó. Ba mươi sáu năm rồi, cuộc đời của một con người có biết bao thay đổi. Tiêu đề: Re: Nghĩa Tình Đồng Đội Gửi bởi: crawling0805 trong 28 Tháng Mười Hai, 2010, 10:17:11 pm Sau ngày 30/04/1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước được thống nhất. Song lại xảy ra cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam. Áo chiến chinh chưa rũ sạch bụi chiến trường, người lính lại khoác ba lô, vác súng lên vai ra trận. Tôi vẫn chưa tìm được anh.
Trong “Cuộc trường chinh tìm đồng đội” của nhân dân cả nước, một trong những đồng đội cũ đã găn bó một thời, tôi nhớ ngay đến Trần Xuân Nựu, người sỹ quan tác chiến, đã để lại một phần cơ thể trên chiến trường cách đầy 36 năm, hiện giờ đang ở đâu? Cuộc sống như thế nào? Ý định tìm lại người thương binh ấy lại thôi thhúc tôi. Hồi đó, cán bộ các cấp hầu như nhớ thuộc lòng cấp dưới do mình quản lý. Đến nay, tôi còn nhớ, tên anh là Trần Xuân Nựu, quê ở huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Tuy không nhớ ở xã nào, song hy vọng sẽ có ngày tìm gặp được anh. Tháng 11 năm 2006, trong một chuyến “xuyên Việt” đi tìm đồng đội, tôi về huyện Nghi Xuân và được người ta cho biết anh đang ở xã Xuân Lam. Mừng quá, tôi tìm đến ngay nhà anh. Đứng trước ngưỡng cửa, tôi thật ngỡ ngàng trước người thương binh với nét mặt già phải đến cả chục năm trước tuổi. Từ nhà trong, chân cà thọt anh bước đến. Sau giây phút xúc động, anh thốt lên: - Anh Hồng đó phải không? Mấy chục năm nay tôi cứ dò tìm tin tức về anh. Anh đã sinh ra tôi lần thứ hai, tôi quên sao được!... Thật không ngờ, ba mươi sáu năm đã trôi qua, anh sống trong đau đớn về thể xác, khủng hoảng về tinh thần, vậy mà khi gặp lại, trong giây lát anh vẫn còn nhận ra tôi. Nếu như gặp nhau ngoài đường chắc chắn tôi sẽ không nhận ra anh. Vui mừng xúc động, anh giành thời gian nói chuyện với tôi rất nhiều. Cũng phải, ba mươi sáu năm, một con người năng động hoạt bát như anh có biết bao nhiêu chuyện muốn nói, muốn giãi bày với tôi. Giây phút gặp nhau quá ngắn ngủi, làm sao chuyển tải hết được những điều diễn ra trong cuộc sống của quá khứ và hiện tại của gia đình người thân và bạn bè xung quanh anh. Trước khi vào miền Nam chiến đấu, anh chị đa có với nhau một cháu gái, đặt tên là Thủy. Sau ngày từ chiến trường trở về, chị sanh cho anh cháu thứ hai đặt tên là Chung. Hai cái tên của hai giai đoạn ghép lại (Thủy – Chung) cũng đủ nói lên mối tình của người hậu phương với tiền tuyến. Chị ở nhà thay anh làm tất cả mọi việc nặng nhọc của một thời “Thanh niên ba sẵn sàng”, “Phụ nữ ba đảm đang” tay cày, tay súng, bền gan chờ đợi ngày đoàn tụ. Ở chiến trường anh là một quân nhân mặt đối mặt với quân thù nơi gian khổ ác liệt nhất. Anh đã để lại một phần cơ thể nơi ấy. Tôi nói với anh để làm dịu những đau thương mất mát: - Cậu bây giờ đã là “ông ngoại”, có một mái ấm, trong đó có đầy đủ vợ, chồng, con, cháu. Đó cùng là một phần bù đắp những hy sinh mất mát. Đồng đội của chúng ta còn biết bao nhiêu người vĩnh viễn nằm lại trên các chiến trường, không được hưởng niềm vui trọn vẹn như ngày hôm nay… Nếu như ngày đó, trái mìn đó, cậu không lãnh đủ thì rất có thể mình hoặc đồng chí khác cũng mang thương tật như bây giờ, hoặc nằm lại vĩnh viễn nơi ấy. Trong chiến tranh mọi việc đều có thể!... Anh cười sảng khoái: - Xin cảm ơn các anh đã cứu sống tôi. Cho đến giờ tôi vẫn nói với các cháu: “Anh và các đồng chí trinh sát đã cứu sống bố, bây giờ mới có các con đó!”. Thế là trong chuyến “đi tìm đồng đội” lần này tôi đã toại nguyện, đã tìm được anh, người đồng chí, người bạn chiến đấu, đã chhia ngọt, sẻ bùi ở một chiến trường khó khăn ác liệt nhất - Mặt trận đường 19. Chia tay anh lúc hoàng hôn sắp buông xuống, bên kia cánh đồng, đối diện nhà anh, từng đàn cò trắng bay về đậu trên những lũy tre xanh ở một vùng quê yên tĩnh. Lòng tôi cảm thấy lâng lâng… Tiêu đề: Re: Nghĩa Tình Đồng Đội Gửi bởi: crawling0805 trong 28 Tháng Mười Hai, 2010, 10:19:45 pm Để kết thúc bài viết, tôi xin trích một đoạn trong lá thư dài Nựu viết gửi cho tôi sau ngày gặp lại nhau:
Anh Hồng kính mến! Hai giờ chiều ngày 14 – 11 – 2006, chiếc xe con mầu kẽm đỗ đầu ngõ nhà Nựu, Nựu thấy có linh tính gì khác những ngày thường, bèn ra ngõ. Thế là Hồng và Nựu – hai anh em mình – hai cơ thể như quyện thành một cơ thể, hai người đồng chí, hai người bạn, hai tình chiến đấu ôm nhau vui mừng khôn xiết. Từ ngõ, anh dìu tôi vào, chúng ta không bao giờ muốn buông nhau ra nữa. Nhưng vì cái chân gỗ của tôi, hai ta đã cùng ngồi xuống và chuyện trò của những ngày đã từng chiến đấu gian khổ. Những hình ảnh chúng ta đã cùng chiến đấu nó hiện lên và ấp vào đầu óc tôi tới tấp. Trận đánh chiến dịch lớn, những trận đánh pha đệm, những trận đánh tập kích, phục kích địch, đánh địch càn quét, đánh lên các điểm cao, đánh chốt,… vô cùng ác liệt. Ba mươi sáu năm qua, ngày gặp lại, ai đã từng qua cơn hoạn nạn mới hiểu nhau. Chúng ta là hai người lính, cùng trang lứa, nhập ngũ 1964, cùng vào chiến trường chấp nhận, đánh kẻ thù chung giải phóng dân tộc. Chuyện chiến đấu đã quay về quá khứ, ta cũng khép quá khứ lại, giờ chỉ ôn lại ngày tôi bị thương. Anh Hồng kính mến! Tháng 12 năm 1971 tôi và anh cùng đi chuẩn bị chiến trường (chốt giặc Nam Hàn – Mãnh Hổ) về Khe Dầu, đường 19 thuộc tỉnh Bình Định, đèo An Khê, đầu đội bom, chân đạp mìn, tôi đã lĩnh chọn quả mìn sát thương và mất một chân, lúc đó trời còn sáng, địch thì quá gần hai đến ba chục mét. Anh Hồng đã xé áo băng cho tôi. Tôi thấy gần địch nguy hiểm, nên dồn anh em ra xa. Khẩu súng đại liên của địch đã quay nòng chuẩn bị nhả đạn vào anh em mình. Tôi nói với đồng chí Bường liên lạc, đưa toàn bộ lựu đạn cho tôi rồi lùi ra xa, nhưng đồng chí Bường không chịu, vẫn nấn ná và cõng tôi xuống một cái khe, có cát, có nước. Đi tới đâu nước lùa cát xóa dấu vết, tránh được biệt kích và máy bay “Rọ” phát hiện. Đồng chí Bường dừng tôi lại một bên bờ suối, định giương súng bắn chiếc “Rọ”, nhưng tôi vỗ vai nói với đồng chí” “Lệnh chiến trường chưa được nổ súng!”. Vậy là chúng ta thoát được hai làn đạn đại liên và máy bay trực thăng. Ngay lúc ấy đồng chí Hồng lệnh một tổ trinh sát bám địch, đi trước. Nhưng đường bị địch phục kích, thế là đồng chí Hồng và anh em đã sử dụng bản đồ, địa bàn để xuyên đường tránh địch mà đi. Do địa hình hiểm trở, bom mìn nhiều, sau mấy ngày, anh Hồng và các đồng chí trinh sát đã đưa tôi về tới viện K206. Các bác sỹ lập hội đồng giám địch và giải phẫu ngay cho tôi. Lúc đó khoảng 5 giờ tối, vì trong mìn có chất độc, nó ăn da thịt tôi nghe “lép bép” rõ tiếng và đen từng đoạn như than. Lúc đó bác sỹ nói là không thể cứu chữa được nữa, vì chất độc đó sẽ thấm vào tim… … Bệnh viện thấy tôi có vấn đề về sức khỏe, nên sau đó đã đưa tôi sang nhà xác để cho hộ lý, y sỹ trực theo dõi. Sau 15 ngày thấy tôi có triển vọng về sức khỏe, không thể chết, bác sỹ liền cho tôi trở lại cùng điều trị chung với anh em… … Cuối năm 1971, tôi được chuyển ra miền Bắc. Anh Hồng lúc đó là tham mưu trưởng tiểu đoàn. Anh Hồng ơi! Anh còn nhớ không? Hôm đó anh viết cho tôi một bức thư dài đầy tâm huyết. Có đoạn thư ghi rõ mà tôi không bao giờ quên. Anh viết rằng: “Bụi chiến trường anh chưa rũ sạch, anh đã ngừng mặc áo chiến chinh”. Chín năm ở chiến trường ăn gạo rang, uống nước suối… nấu không khói, nói không tiếng… Đó là những kỷ niệm chắc hẳn trong tôi, trong anh, trong chúng ta sẽ không bao giờ quên được. Hôm nay, cầm bút ghi lại ký ức của chiến tranh, tôi như sống lại những ngày tiền tuyến, những ngày tôi và anh cùng anh em trong đơn vị xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước. Sau ba mươi sáu năm tôi gặp lại anh, cũng đã khá lâu, nhưng thời gian vẫn không làm cho tôi quên được quá khứ hào hùng ấy. Tôi nhớ lại kỷ niệm thuở xưa, tôi nhớ anh có nụ cười thật tươi và có duyên. Và bây giờ, hôm nay đây tôi lại gặp lại nụ cười ấy, hình ảnh người đồng đội năm xưa. Những dòng tâm sự tôi viết vẫn hơi nghiêng về ký ức chiến trường, nên có gì không phải thì mong anh thông cảm nhé! À mà anh Hồng ơi! Tôi báo để anh được mừng là hiện nay tôi có một tổ ấm rất hạnh phúc… Vừa rồi nghe tin anh Hồng bạn của bố đến thăm, các con tôi mừng lắm, và cũng mong chúng ta sẽ sát vai nhau đi suốt cuộc đời còn lại… Một lần nữa tôi xin cảm ơn anh! Trần Xuân Nựu (ký) Tiêu đề: Re: Nghĩa Tình Đồng Đội Gửi bởi: crawling0805 trong 29 Tháng Mười Hai, 2010, 03:49:34 pm TÌM ĐƯỢC HÀI CỐT CỦA ANH CÁCH XA NƠI GHI TRONG GIẤY BÁO TỬ HAI NGÀY ĐƯỜNG ĐI XE ÔTÔ Trong chiến tranh vì lý do này, hay lý do khác, những người hy sinh trong cuộc chiến tranh chống Mỹ ở miền Nam phần nhiều đều được báo tử “HY SINH TẠI MẶT TRẬN PHÍA NAM”… Nếu xét về địa lý, mặt trận phía Nam, mọi người hiểu là từ tỉnh Quảng Trị đến Cà Mau. Do đó, sau 30/4/1975, gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc “trường trinh” tìm đồng đội của các thế hệ chúng ta. Trong những năm chiến đấu khốc liệt, có nhiều trường hợp lấy không được tử sỹ do rất nhiều lý do. Những trường hợp mai táng được thì những người vẽ sơ đồ mộ chí vẽ không rõ, hoặc không đúng, sau này rất khó xác định. Có khi hồ sơ bị thất lạc, bị cháy, bị mất do địch đánh phá. Những người trực tiếp chôn cất đến nay phần nhiều tuổi đã cao, đầu óc không còn minh mẫn để nhớ lại một cách chính xác; có người đã qua đời… Tuy nhiên có những trường hợp người trực tiếp chôn cất đồng đội, ngoài sơ đồ mộ chí, hồ sơ liệt sỹ, họ có sáng kiến viết vào mảng giấy, cho vào lọ penicilin bỏ vào áo quầno của tử sỹ. Sáng kiến này đã giúp cho thế hệ sau xác minh danh tánh rất thuận lợi và chính xác. Dưới đây là một trong những trường hợp, nhờ sáng kiến đó mà gia đình liệt sỹ Đào Quang Phát đã tìm được hài cốt của anh ở một nơi hơn hai ngày đường đi xe so với nơi anh hy sinh được ghi trong giấy báo tử. Vào một ngày nọ, có một người từ huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh vào Sài Gòn gặp tôi. Qua lời tự giới thiệu, tôi được biết anh là người thân của liệt sỹ Đào Quang Phát, cháu của anh Đào Quang Diệm (anh Đào Quang Diệm hiện là phó Giám đốc Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Hà Tĩnh và là anh ruột của liệt sỹ Đào Quang Phát). Người này vào để hỏi tôi về nơi chôn cất của liệt sỹ Đào Quang Phát. Anh Diệm gọi điện thoại trực tiếp cho tôi vì tôi là một nhà ngoại cảm và là một cán bộ chính trị đã trực tiếp chôn cất liệt sỹ Đào Quang Phát. Anh cũng cho biết: “Giấy báo tử có ghi Đào Quang Phát hy sinh ngày 19/08/1965 tại thung lũng Thuận Ninh, huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định!”. Đây là một trong rất ít trường hợp được báo tử cụ thể nơi liệt sỹ đã hy sinh. Nghe xong, tôi vội tìm cuốn lịch sử Sư đoàn 3 Sao Vàng. Trong cuốn lịch sử, tôi nhớ viết rất rõ trận đánh Mỹ đầu tiên của Sư đoàn 3 tại thung lũng Thuận Ninh. Xin trích một đoạn như sau: “…Ngày 19/08/1965, đúng 7 ngày sau khi Sư đoàn không vận đặt chân lên đất nước ta và là ngày thứ 3 Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 2 Sư đoàn Sao Vàng tới Thuận Ninh, chuẩn bị bước vào chiến đấu. Dự kiến của Sư đoàn Sao Vàng là sau khi quân Nguỵ bị đánh đâu ở đường số 1, quân Mỹ buộc phải nhảy vào cứu, lúc đó các trận đánh Mỹ mới có thể bắt đầu. Không ai ngờ cuộc chạm trán đầu tiên của Sư đoàn với quân viễn chinh Mỹ lại xảy ra sớm hơn ở địa bàn chật hẹp như thế (trang 28)… … Chưa kịp tìm hiểu về đối tượng tác chiến mới các chiến sỹ Sao Vàng đã đánh thắng chúng trong một cuộc chạm trán bất ngờ ở thung lũng Thuận Ninh. Hơn 200 tên Mỹ bị tiêu diệt, 11 máy bay bị bắn rơi, 10 chiếc khác bị trúng đan. Tên Trung tá trưởng phòng tình báo bị cách chức. Còn tên Trung tá Xmít trực tiếp chỉ huy cuộc hành quân thì bị gọi về Sài Gòn khiển trách. Hắn thanh minh: “Vì tình bào không phát hiện được nơi đổ quân là khu vực đóng quân của Việt Cộng”; “lính dù đã rơi vào một tổ ong vò vẽ của Việt Cộng”. Hắn thú nhận: “Quân Giải phóng và du kích đánh rất giỏi, được tổ chức tốt, rất có kỷ luật” và ngày đó đã qua đi “như một cơn ác mộng” trong đời hắn (trang 35)”. Đúng ngày 19/8/1965 và cũng tại Thuận Ninh, Đào Quang Phát đã hy sinh như trong giấy báo tử đã ghi. Tuy nhiên tôi trả lời với anh Đào Quang Diệm rằng: “Trận này tôi có biết, nhưng tôi không trực tiếp tham gia. Đây là trận đánh Mỹ đầu tiên của Trung đoàn bộ binh 2 Sư đoàn 3 theo tình huống ngoài dự kiến. Là trận chiến đấu vô cùng ác liệt. Tuy là trận đầu tiên với đối tượng tác chiến trực tiếp là bộ binh Mỹ, Sư đoàn không vận số 1 “anh cả đỏ”, song bộ binh ta đã thể hiện tinh thần chiến đấu dũng cảm, dám đánh và quyết thắng Mỹ với một lối đánh rất táo bạo, tiêu diệt nhiều bộ binh, bắn cháy nhiều máy bay Mỹ trên bầu trời Thuận Ninh. Anh Đào Quang Diệm còn cho biết: Gia đình anh cũng đã đi “xem bói”, họ cho biết một trong ba ngôi mộ, có ba cục đá và một vết nứt trên nóc mộ ở một làng nhỏ Thuận Ninh chính là mộ liệt sỹ Đào Quang Phát. Gia đình liệt sỹ cũng đã vào tận nơi, và tìm đến tôi với hy vọng “nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Hồng” là nhân chứng sống cuối cùng. Như một người mắc bệnh nan y, hễ có người nào mách bảo uống thuốc gì thì tìm thuốc đó uống cho bằng được với hy vọng sẽ lành bệnh… Trong trường hợp này đã có người chỉ cho anh tìm đến tôi. Đó cũng là điều dễ hiểu. Song sự thật lại không phải như thế. Ngày đó tôi đang chiến đấu ở một nơi khác, huyện Phù Mỹ. Hai huyện Phù Mỹ và Bình Khê cách xa nhau hàng chục cây số. Thế rồi sự việc lại quay ngoặt 1800, khi hài cốt liệt sỹ Đào Quang Phát được tìm thấy tại một làng thuộc tỉnh Quảng Trị, một nơi cách thung lũng Thuận Ninh, tỉnh Bình Định (nơi được ghi trong giấy báo tử) đến 2 ngày đường đi ôtô. Tiêu đề: Re: Nghĩa Tình Đồng Đội Gửi bởi: crawling0805 trong 29 Tháng Mười Hai, 2010, 05:18:55 pm Ngày 9/11/2006 tôi ra thăm anh Đào Quang Diệm, nắm lại các thông tin về anh Đào Quang Phát để cùng với gia đình phối hợp tìm kiếm hài cốt liệt sỹ.
Anh Diệm tiếp tôi tại cơ quan Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Hà Tĩnh. Vào một buổi sáng cuối giờ làm việc. Anh nói: - Tôi là Phó Giám đốc Sở Lao động Thương binh và Xã hội, là người trực tiếp làm công tác chính sách. Trong khi đó có đứa em hy sinh tại chiến trường lại chưa biết mộ chí ở đâu thì thật là ân hận và có lỗi với gia đình. Vì vậy khi nghe tin anh có chiến đấu ở tỉnh Bình Định và theo sự mách bảo của nhiều người, tôi đã tìm đến anh!... Thế rồi anh chạy vào phòng, lục trong tủ, đem ra một số giấy tờ anh vừa nhận được từ Sở Công an, và Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Trị gửi ra. Anh cho biết tại một làng ở Quảng Trị, người ta san lấp mặt băng để xây dựng cơ bản thì phát hiện một bộ hài cốt được bọc trong tấm ni lông. Khi rạch tấm ni lông thấy lọ penicilin, bên trong có mảnh giấy bằng bàn tay có ghi đầy đủ họ tên, quê quán, ngày nhập ngũ… của anh Đào Quang Phát. Theo địa chỉ trong mảnh giấy, họ gửi đến Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Hà Tĩnh. Thế là tôi đã tìm được hài cốt của đứa em trai mà trong giấy báo tử ghi là hy sinh ở Thuận Ninh, Bình Định. Anh đưa cho tôi xem toàn bộ hồ sơ của liệt sỹ Đào Quang Phát gồm một mảnh giấy bằng bàn tay được viết bằng mực xanh Cửu Long, ghi trích ngang (Họ tên, năm sinh, quê, quán…) của liệt sỹ được cơ quan chính sách tỉnh Quảng Trị ép plastic rất cẩn thận, kèm theo biên bản giám định hài cốt có chữ ký của đại diện Sở Công an, Sở lao động Thương binh và xã hội tỉnh Quảng Trị và một công văn của Uỷ Ban nhân dân tỉnh Quảng Trị. Trường hợp của liệt sỹ Đào Quang Phát là một trong nhiều trường hợp may mắn nhờ những người trực tiếp chôn cất liệt sỹ có sáng kiến như trên. Chúng tôi nhận định: có thể Đào Quang Phát bị thương nặng tại trận đánh quân Mỹ ở Thuận Ninh ngày 19/8/1965 và được chuyển ra Bắc điều trị theo đường dây 559, khi đến Quảng Trị anh hy sinh được chôn cất tại đó. Chia tay anh Đào Quang Diệm, với tình đồng chí, đồng đội, tôi bày tỏ lòng cảm ơn Sở Công an, Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Trị đã đưa được liệt sỹ Đào Quang Phát về với gia đình. TP.HCM, ngày 05/12/2006 Tiêu đề: Re: Nghĩa Tình Đồng Đội Gửi bởi: crawling0805 trong 30 Tháng Mười Hai, 2010, 05:41:57 pm THÂN NHÂN ANH Ở ĐÂU? AI BIẾT CHỈ GIÙM! Trong một chuyến về quê, năm 2006 tôi nghe một câu chuyện đau lòng: có một bà cụ, năm nay đã gần đất xa trời, có đứa con được cho là “mất tích” trong cuộc chiến tranh chống Mỹ ở miền Nam. Đã gần bốn mươi năm, bà âm thâm chờ đợi tin con. Trước khi nhắm mắt xuôi tay bà chỉ mong nhận được hai chữ “liệt sỹ” về đứa con trai yêu quý đã rời cánh tay của người mẹ đi chiến đấu, nay đã mãi mãi không về… Chiến tranh đã kết thúc trên 30 năm, chẳng lẽ con bà đang làm một nhiệm vụ đặc biệt, phải “mai danh ẩn tích”, hay bị địch bắt rồi thủ tiêu, hoặc là một lý do nào khác… Nếu như còn sống năm nay anh đã trên 60 tuổi. Tôi định bụng sẽ tiếp cận bà, hỏi xem có phải con bà là người mà tôi biết chính xác anh đã hy sinh? Nhưng sau đó, tôi đã hỏi người có trách nhiệm ở địa phương mới biết là không phải. Những trường hợp như nói ở trên trong các cuộc chiến tranh nhiều lắm. Biết đâu, trong số quân nhân được xem là “mất tích”, có nhiều người biết họ đang nằm ở đâu, hy sinh trong hoàn cảnh nào… nhưng thời gian cứ trôi qua chưa nói ra được. Liệt sỹ dưới đây, có nằm trong trường hợp đó? Nếu ai biết thân nhân, xin chỉ giùm. Anh hy sinh trong một tình huống đặc biệt, làm cho tôi không thể nào quên được: Năm 1967, mùa khô thứ hai, một trong hai mùa khô, đế quốc Mỹ và tay sai đẩy mạnh cuộc phản kích chiến lược ở miền Nam, nhằm giành thắng lợi quyết định chiến lược chiến tranh cục bộ. Năm đó, Đại đội công binh Sư đoàn 3 quân khu 5, đóng quân ở khu vực Xóm Mít, Xóm Tranh và hoạt động tại thung lũng An Lão, một huyện miền núi thuộc tỉnh Bình Định. Một buổi sáng, tháng 2/1967 như thường lệ phân đội công binh triển khai ven bìa rừng để huấn luyện quân sự. Bãi tập là một khu đất trống, nằm ở dưới chân đồi giữa Xóm Mít và Xóm Tranh. Trước mặt, phía Đông là những thửa ruộng nước, lúa đang thì con gái. Phía Tây dựa vào sườn đồi thuộc dãy cao điểm Hòn Chè. Cạnh bãi tập hướng Nam có những khối đá to, chồng lên nhau tạo nên cái hang đá chứa được khoảng 3 – 4 người, nhưng trống hoác. Trên nóc hang là một cây bồ đề, rễ bám vào các phiến đá tua tủa. Ở đây, nhân dân tận dụng những khoảnh đất dưới chân đồi để trồng khoai lang, sắn (mỳ) và khoai sọ. Đây là vùng giải phóng từ năm 1965. Hôm đó, đơn vị huấn luyện khoa mục “khắc phục vật cản trong chiến đấu tiến công”, bài “bộc phá liên tục”. Chúng tôi đang luyện tập thì một chiếc “đầm già” (máy bay trinh sát L19) từ hướng thị trấn Bồng Sơn bay lên. Khi qua khỏi Xóm Mít, chiếc “đầm già” bay vòng trở lại và hạ độ cao, phóng một quả rốc két hoả mù xuống khu vực chúng tôi đang huấn luyện. Cùng lúc đã nghe thấy tiếng rít của máy bay phản lực từ xa. Linh cảm được sự nguy hiểm đang đến gần, phân đội công binh được lệnh giãn đội hình, tìm nơi ẩn nấp. Không kịp nữa rồi... Chúng tôi nằm bẹp dí giữa các luống khoai lang ở bìa rừng. Đồng chí Nguyễn Minh Hiển nhanh chân chạy được vào cái hang đá gần đó ẩn nấp. Cùng lúc hai máy bay phản lực nhào xuống trút bom. Một quả bom Napan trùm lên cái hang đá. Một vùng lửa đỏ cùng với cột khói bùng lên… Đồng chí Hiển bị chết cháy… Khi máy bay đã đi khuất, vất vả lắm chúng tôi mới kéo được xác đồng chí Hiển bị cháy đen, thân hình co quắp, ra khỏi hang đá và mai táng đồng chí ở một nơi gần đó… Tiêu đề: Re: Nghĩa Tình Đồng Đội Gửi bởi: crawling0805 trong 30 Tháng Mười Hai, 2010, 05:49:46 pm Đã gần 40 năm, tôi vẫn còn nhớ những chi tiết nhỏ trong cuộc sống hàng ngày của Hiển. Đồng chí là người bạn thân thiết, cùng một Trung đội, Đại đội và cùng năm nhập ngũ với tôi. Trong sinh hoạt, đồng chí cởi mở, chân thành với đồng đội, Về sức khoẻ, Hiển bị viêm amidan nặng, mỗi lúc thay đổi thời tiết, anh thường bị ho. Khổ nhất là những đêm vượt đường cùng với đơn vị xuống các xã Hoài Thanh, Hoài Hương, đông đường số 1 để nhận gạo. Khi đi qua những nơi địch thường ra phục kích, hoặc lúc men theo rìa ấp chiến lược, mọi hành động phát ra tiếng kêu đều có thể gây nguy hiểm đến tính mạng của hàng chục người. Thế mà thỉnh thoảng Hiển cứ ho, khạc… làm cho mọi người phải nín thở và bực mình. Bản thân Hiển nhiều lúc cũng cảm thấy phiền lòng với anh em. Đến nay, có một điều là tôi không nhớ rõ Hiển quê ở tỉnh Hà Tĩnh hay Nghệ An. Lúc đó, người ta thường gọi là Nghệ Tĩnh. Song, chắc chắn quê đồng chí ở một trong hai tỉnh đã nói ở trên.
Đã nhiều năm nay tôi chưa có dịp về lại nơi Hiển bị hy sinh. Nơi ấy, đã có biết bao đồng chí, đồng đội đã ngã xuống trong thời kỳ khốc liệt nhất. Đại đội trưởng Lê Xuân Chi; chủ nhiệm công binh Trần Khánh Tường, trinh sát Hồ Huy Liễu, chiến sỹ Trần Sỹ Mỹ; chính trị viên Tương, Đại đội trưởng Trưng, v.v… Trong chuyến về lại chiến trường xưa ngày 30-11-2006, tôi đã gặp Đoàn Như Hưng, Cựu chiến binh, thuộc đại đội công binh năm ấy; hiện Đoàn Như Hưng trú tại thôn Vạn Trung, xã Ân Hảo, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định. Gặp lại Đoàn Như Hưng, tại Xóm Ghềnh, tôi như sống lại những năm tháng trên vùng đất đầy bom đạn và chất độc hoá học Mỹ của một thời chiến tranh ác liệt. Còn đây, những địa danh quen thuộc, đã ghi dấu ấn vào ký ức những người lính sư đoàn 3 Sao Vàng; Xóm Ghềnh, Châu Sơn, Hóc Đèn, Vĩnh Đức, v.v… Không thể nào quên được. Tôi dừng lại hồi lâu đầu cầu phía Tây cầu Vạn Trung, chiếc cầu bắc qua sông An Lão, ngước nhìn lên dãy núi Hòn Chè. Con đường đất đỏ từ sườn đồi chạy xuống chân núi, ở đó có cái hang đá Hiển đã bị hy sinh, và cũng trên con đường đó Hồ Huy Liễu, Trần Sỹ Mỹ chiến đấu với giặc và cũng đã trút hơi thở cuối cùng khi các anh đang ở vào lứa tuổi đẹp nhất của một đời người, các anh đã gửi hồn vào đó… Anh Hưng cho biết: “Hài cốt của Nguyễn Minh Hiển và các đồng chí đã nêu ở trên, đã được quy tập về nghĩa trang xã Ân Hảo. Không hiểu gia đình Nguyễn Minh Hiển đã biết chưa”. Ai biết thân nhân Nguyễn Minh Hiển ở đâu, xin chỉ giùm, để tôi chuyển đến họ nơi an nghỉ của liệt sỹ Nguyễn Minh Hiển. Riêng Hồ Huy Liễu, gia đình đã vào nghĩa trang viếng mộ. * Địa chỉ liên lạc: Đoàn Như Hưng: Thôn Vạn Trung, xã Ân Hảo, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định hoặc tác giả bài viết này. ĐT: (08).8105660 hoặc 0913.957777. Bình Định – TP.HCM tháng 12-2006 Tiêu đề: Re: Nghĩa Tình Đồng Đội Gửi bởi: crawling0805 trong 31 Tháng Mười Hai, 2010, 10:23:07 pm ĐÃ TÌM ĐƯỢC MỘ ANH Cách nay hơn một năm, một người cùng quê vào Sài Gòn gặp tôi. Qua lời tự giới thiệu, tôi biết đây là người thân của Hồ Huy Liễu, xã Sơn Hàm, là người bạn thân, cùng nhập ngũ một ngày, cùng một đại đội với tôi. Anh đã hy sinh trong mùa khô năm 1967 tại thung lũng An Lão, tỉnh Bình Định. Đã trên 30 năm nay, gia đình anh chưa biết anh hy sinh ở đâu, trong trường hợp nào và hiện giờ được an táng ở đâu. Theo sự mách bảo, gia đình cử người vào tìm tôi, tại thành phố Hồ Chí Minh. Nhìn vóc dáng người thanh niên, hao hao có những nét giống Hồ Huy Liễu, “con cha, cháu ông, không giống lông cũng giống cánh”, tôi thầm nghĩ. - Cháu là cháu ruột của chú Liễu! - Người thanh niên chủ động tự giới thiệu trước. Ở ngoài quê cháu được biết, bác là người cùng đơn vị với chú Liễu trong những năm 60. Người ta nói với gia đình cháu là một trận đánh Mỹ, chú Liễu hy sinh, bác là người trực tiếp chôn cất? Tôi không hỏi cậu thanh niên ai mách đường cho cậu về tôi. Vì nhiều trường hợp tìm đến tôi đều có lý do, mục đích chính đáng. Không có những thông tin thì sao họ lại tìm đến tôi làm gì. Thấy cậu thanh niên trong có vẻ sốt ruột, muốn biết sự thật về chú mình, tôi rót nước mời cậu: - Cháu cứ uống nước đi, rồi bác sẽ kể chuyện về chú Liễu cho cháu nghe! Đã gần 40 năm nay, cái ngày định mệnh ấy đối với Hồ Huy Liễu vẫn còn đọng lại trong tôi. …”Một buổi sáng mùa khô năm 1967, sau những đợt ném bom, bắn phá dữ dội lên cao điểm Hòn Chè, phía Tây thung lũng An Lão, hàng đàn máy bay trực thăng từ hướng thị trấn Bồng Sơn, thuộc huyện Hoài Nhơn, Bình Định bay đến đổ quân xuống Hòn Chè. Lúc này Đại đội 2 chúng tôi đã sơ tán lên sườn đồi, dựa vào các hang đá để tránh pháo và sẵn sàng chiến đấu. Mấy chiếc HU1A quần đảo nhiều vòng rồi hạ độ cao. Cây cối trên các hang đá ngã nghiêng, tơi tả. Chiếc HU1A như dừng hẳn, cánh quạt vẫn quay tít. Tôi ngồi dưới hang đá nhìn lên, thấy rõ thằng Mỹ, mặt đỏ như gà chọi, tay lăm lăm khẩu đại liên, ngón tay để trong vòng cò như sẵn sàng nhả đạn. “Lộ rồi!” – tôi nghĩ thầm. Bỗng từng tràng súng liên thanh và lựu đạn từ trên máy bay tung xuống. Khói lửa mù mịt, khét lẹt. Tất cả Đại đội 2, dựa vào hang đá, sẵn sàng chiến đấu. Một toán linh Mỹ từ trên Hòn Chè tiến xuống, sục sạo khu vực hang đá. Tiểu đội trinh sát được phân công cảnh giới trước các cửa hang. Mỗi người một hướng. Trời càng về trưa, càng nóng như đổ lửa. Máy bay trực thăng, máy bay phản lực, hết tốp này đến tốp khác thay nhau trút bom, phóng rốc két, ném lựu đạn xuống hang đá. Chúng như bầy quạ đen đang giành ăn. Mùi thuốc súng, mùi bom xăng tràn vào các cửa hang, ngộp thở. Bỗng trước cửa hang đá trên hướng Tây (hướng Hòn Chè) tiếng súng rộ lên từng tràng nghe như có cả tiếng súng AK của bộ đội ta. Tiếng máy bay phản lực cùng với tiếng bom, pháo ầm ầm mãi cho đến chiều. Khoảng 16 giờ, địch cho trực thăng đáp xuống một đồi Sim gần khu vực hang đá, bốc quân đi. Tất cả chúng tôi mặt mũi lấm lem, bơ phờ, mệt mỏi. Cảnh vật nơi đây như vừa trải qua trận bão khủng khiếp. Những cây gỗ to, đường kính 2 – 3 tấc, bị đạn pháo tiện đứt, đổ ngổn ngang. Xung quanh bốn bề yên tĩnh lạ. Mọi người túa ra các hướng kiểm tra lại quân số. Tất cả bàng hoàng khi phát hiện Hồ Huy Liễu - một chiến sỹ trinh sát – hy sinh ngay trước cửa hang, xung quanh vương vãi vỏ đạn AK, song, súng không còn, địch đã lấy đi mất. Rất có thể Liễu đã chiến đấu với toán lĩnh Mỹ từ trên Hòn Chè xuống sục sạo, sau những loạt AK, anh đã hy sinh. Cả Đại đội 2 chúng tôi vô cùng thương tiếc…”. Tiêu đề: Re: Nghĩa Tình Đồng Đội Gửi bởi: crawling0805 trong 31 Tháng Mười Hai, 2010, 10:32:14 pm Cậu thanh niên ngồi nghe như nuốt từng lời. Tôi biết chắc, cậu không thể hình dung được nét mặt của người chú, vì lúc Liễu đi bộ đội, cậu vẫn chưa có “trứng”. Tuy nhiên, nghe tôi kể về Liễu, một giọt nước mắt đã lăn dài trên má của cậu; cặp mắt đỏ hoe, nhìn vào khoảng hư vô; hai tay cậu nắm chặt như hình ảnh “Trần Quốc Toản bóp nát quả cam…”.
- Bác hãy giúp cháu, chỉ cho cháu biết nơi chôn cất chú Liễu? Ở ngoài quê, gia đình cũng đã nhận được giấy báo tử rồi. Mấy chục năm nay, chúng cháu không biết được mộ chú Liễu được chôn ở mô. Vì trong giấy báo tử ghi nơi hy sinh là: “MẶT TRẬN PHÍA NAM”. - Lại “MẶT TRẬN PHÍA NAM” – Tôi nói thầm như không để cho cậu thanh niên nghe thấy. - Từ khi chú Liễu hy sinh, đến nay đã gần 40 năm, bác chưa một lần về lại nơi ấy. Nhưng bác vẫn còn nhớ như in từ gốc cây, ụ mối, và những lối mòn dẫn đến nơi mai táng Hồ Huy Liễu. Bác sẽ hướng dẫn cho cháu đi đến nơi! Tôi lấy giấy bút ra vẽ sơ đồ từ thị trấn Bồng Sơn, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định đến nơi mai táng Hồ Huy Liễu, ở giữa Xóm Mít và Xóm Tranh, thuộc thôn Vạn Trung, xã Ân Hảo, huyện Hoài Ân. Khu vực này trước đây thuộc huyện An Lão, mới tách về huyện Hoài Ân. Sau khi hướng dẫn cho cậu thanh niên đi theo bản đồ này, tôi dặn thêm: - Cháu cứ đi trước xem sao. Nếu không có kết quả, phôn vào cho bác, bác sẽ trực tiếp dẫn cháu đến nơi!.. Một thời gian sau, tôi nhận được điện và thư trả lời của gia đình liệt sỹ Hồ Huy Liễu là đã tìm được mộ anh. Nói sao cho hết nỗi vui mừng của chúng tôi. Nhất là gia đình và người thân của liệt sỹ. Người cháu của Hồ Huy Liễu, tên là Cường, cho tôi biết: - Cháu cầm cái sơ đồ bác vẽ hôm trước, nhờ máy tay xe ôm đưa đi tìm. Họ nói rằng: bác mày làm gì mà đã gần 40 năm rồi vẫn nhớ rõ từng gốc mít, từng địa danh ở cái huyện miền núi xa xôi này! Cháu lại càng yên tâm vì nghĩ rằng tay xe ôm này cũng biết. Và cháu đã tìm được mộ chú Liễu, đã đưa vào nghĩa trang Ân Hảo, nằm cạnh mộ của ông chính trị viên tên Tương! (đồng chí Tương quê ở miền Nam, là chính trị viên Đại đội 1, cùng hy sinh năm 1967.) Không để cho tôi nói một câu nào, Cường nói tiếp: - Khi nào về quê, bác cố gắng đến nhà cháu chơi, ai cũng muốn được gặp bác! - Xin chúc mừng các cháu và gia đình. Nhất định sẽ có dịp bác về thăm gia đình cháu! Ngày 12/11/2006, trường phổ thông trung học huyện Hương Sơn – Hà Tĩnh mời tôi về dự lễ kỷ niệm lần thứ 45, ngày thành lập trường (1961 – 2006). Tôi là cựu học sinh khoá đầu tiên của trường (1961 – 1965). Chương trình trong chuyến đi này của tôi xếp kín cả một tháng. Ngoài thời gian dự “ngày hội trường”, tôi dành tất cả cho việc tìm đồng đội - Những người đã hy sinh và cả những người đang sống, đã mấy chục năm chưa gặp lại họ. Trong số đó, tất cả là đồng đội của tôi, tôi còn nhớ. Tiêu đề: Re: Nghĩa Tình Đồng Đội Gửi bởi: crawling0805 trong 31 Tháng Mười Hai, 2010, 10:35:45 pm Ngày 13/11/2006, tôi về xã Sơn Hàm, tìm đường vào gia đình Hồ Huy Liễu. Đây là lần đầu tiên tôi đến xã Sơn Hàm, một xã miền Núi. Lúc nhỏ, ở quê, bận đi học; lớn lên tôi đi bộ đội. Qua hai cuộc chiến tranh liên tục, từ năm 1982 đến nay, tôi định cư tại thành phố Hồ Chí Minh. Cứ mỗi lần về thăm quê, vì lý do này hay lý do khác, tôi không thể đi hết được các xã trong huyện. Từ thị trấn Phố Châu, theo con đường 71, tôi đi một lúc, khi đã đến xã Sơn Trường mới biết mình đã qua khỏi xã Sơn Hàm mười mấy cây số. Được người dân ở đây mách bảo, theo con đường ngoằn ngoèo, có chỗ đã được trải nhựa, nhưng phần nhiều là đường đất, đường cấp phối, khi đến được Uỷ ban Nhân dân xã cũng là lúc hết giờ làm việc. Được nhân viên trực ở đây dẫn đường, tôi đã đến được gia đình người thân Hồ Huy Liễu.
Tiếp tôi tại nhà, có đông đủ các anh chị của Hồ Huy Liễu. Ông, bà cụ thân sinh của anh đã qua đời. Trên bàn thờ, ngoài chân dung các cụ, chân dung Hồ Huy Liễu được khắc trên đá hoa cương, ẩn sau những bát nhang đang nghi ngút khói. Liễu đấy ư? Đã gần nửa thế kỷ tôi mới được gặp lại anh, người bạn chiến đấu thân thiết, đã một thời cùng đồng đội “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, nay đã yêu nghỉ trên mảnh đất đã nhuốm máu anh và đồng đội. Tôi thắp cho anh một nén nhang. Cậu thanh niên tên Cường, cháu của Hồ Huy Liễu vẫn còn cất giữ tấm sơ đồ hôm vào Sài Gòn, tôi vẽ để hướng dẫn đi tìm mộ. Hôm nay Cường cũng lấy ra cho tôi xem, kèm theo cả giấy báo tử liệt sỹ Hồ Huy Liễu. Song, tôi không quan tâm, chỉ biết rằng, gia đình đã tìm được nơi yên nghỉ của Hồ Huy Liễu là tôi đã toại nguyện rồi. Cường không để thời gian im lặng, nói tiếp: - Hàng năm cháu và các bác, các chú ở đây có vào thắp nhang cho chú Liễu. Năm nào không vào được cháu gửi tiền vào nhờ bộ phận quản trang lo giùm. Cháu đã thoả thuận với họ. Ngoài sân, bóng nắng đã ngả về chiều. Tuy nhiên, trước tấm lòng mến khách và nhiệt tình của mọi người, tôi không nỡ từ chối một ly rượu ấm nồng, nghĩa tình sâu nặng của thân nhân người đã khuất… Thành phố HCM, 19-12-2006 Tiêu đề: Re: Nghĩa Tình Đồng Đội Gửi bởi: crawling0805 trong 02 Tháng Giêng, 2011, 10:07:25 am GẶP LẠI NGƯỜI NỮ Y TÁ TRUNG ĐOÀN NĂM ẤY Đó là Trương Thị Sen, quê ở xã Mỹ Thắng, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định, là nữ y tá cơ quan trung đoàn bộ, trung đoàn 12, sư đoàn 3 Quân khu Năm Trong những năm 60, các lực lượng vũ trang miền Trung ngày càng lớn mạnh. Từ sau ngày thành lập sư đoàn 3 Sao Vàng, ngày 2 tháng 9 năm 1965, đáp ứng yêu cầu phát triển lực lượng, lớp lớp thanh niên địa phương hăng hái lên đường chiến đấu. Quân chủ lực từ miền Bắc vào không đáp ứng kịp sự phát triển nhanh chóng của lực lượng ba thứ quân. Từ các làng quê, năm nữ thanh niên thoát ly lên căn cứ tham gia quân giải phóng. Trong các vùng địch kiểm soát, không chịu nổi áp lực, bất công dưới chế độ cũ, nhân dân đưa con em mình giao cho cách mạng để trả thù nhà, đền nợ nước. Trong các tầng lớp thanh niên nam nữ của xứ dừa Bình Định có cô gái Trương Thị Sen. Trong một đêm tối trời, Sen rời gia đình theo các chú lên căn cứ. Năm đó cô vừa tròn 18 tuổi. Lúc đó, ở Quân khu Năm, không phải Sen là người con gái duy nhất nhập ngũ vào quân đội, lực lượng vũ trang địa phương Quân khu đã có những đơn vị hoàn toàn nữ, làm nhiệm vụ chiến đấu và phục vụ chiến đấu, như các đại đội trợ chiến, các tiểu đoàn vận tải hoặc biên chế vào các bộ phận phục vụ hậu cần: nuôi quân, y tá, quản lý v.v… Tuy nhiên ở các đơn vị bộ binh, quân nhân nữ chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Vì vậy các cô rất được mọi người quý mến. Sen được bổ sung về cơ quan trung đoàn 12. Cuộc sống tập thể trong quân đội, lúc đầu chưa quen và rất gò bó đối với cô gái ở vùng đồng bằng miền Trung lắm tôm, nhiều cá, làm Sen rất bỡ ngỡ. Nhưng sự giúp đỡ của lớp người đi trước và tình thương yêu của đồng đội làm cho Sen yên tâm và tự tin. Nhờ đức tính chịu khó, khiêm tốn và đặc biệt là trí thông minh, cô “nhập cuộc” rất nhanh. Lớp y tá tại chức đầu tiên được mở ở Sư đoàn, Sen là một trong những nữ y tá đạt thành tích cao trong học tập, cả về lý thuyết và thực hành. Tổ nhân viên nữ phục vụ ở cơ quan trung đoàn, nhiều năm liền được đánh giá hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Trên chiến trường, mỗi người lính không phân biệt trai hay gái, trực tiếp chiến đấu hay phục vụ, ngoài trình độ chuyên môn phải biết sử dụng thành thạo vũ khí trong tay. “Giặc đến nhà đàn bà cũng phải đánh!”. Người chiến sỹ quân y khi cần cũng phải chiến đấu với quân thù để bảo vệ thương binh!...” Sen nghĩ vậy và chẳng bao lâu cô đã sử dụng thành thạo khẩu súng được trang bị. Trong điều kiện thiếu thốn, đói cơm, nhạt muối, sốt rét rừng hành hạ, Sen cũng như chị em trong tổ quân y, mặt mày nhợt nhạt, xanh xao, chân tay bị phù thũng… Nhưng khác với nhiều nam thanh niên, cô vẫn vui vẻ, yêu đời và hăng hái trong công tác. Hàng ngày cứ mỗi một buổi sáng hay chiều tối Sen mang xắc thuốc (túi cứu thương) đi một vòng khắp lượt trong cơ quan thăm bệnh, phát thuốc. Tay cầm thuốc, tay cầm ly nước, bệnh nhân chưa thuốc là cô chưa về. Ngoài chuyên môn y tá, Sen thường tham gia nấu ăn, cùng với nuôi quân ở nhà bếp. Lúc đi lấy rau rừng, lúc đi lấy củi hoặc kiếm thức ăn về cho heo. Tối tối, Sen thường ngồi bên ngọn đèn dầu làm bằng chai Ancol học tập để nâng cao trình độ chuyên môn. Sau khi kiểm tra việc mắc màn của bộ đội cô mới yên tâm về giường của mình sau 11 giờ đêm. Tiêu đề: Re: Nghĩa Tình Đồng Đội Gửi bởi: crawling0805 trong 02 Tháng Giêng, 2011, 04:40:02 pm Những ngày cơ quan tổ chức đi lấy gạo mới “tội nghiệp” làm sao! Từ trên căn cứ, Sen cùng các anh, các chị xuống đồng bằng cõng gạo. Có những chuyến phải đi cả tuần lễ mới cõng được gùi gạo về đơn vị. Đường đi vô cùng gian truân, vất vả. Ngoài định mức quy định, mỗi người phải cõng thêm một lượng lương thực, thực phẩm ăn trên đường. Vì vậy trọng lượng mang vác có khi lớn hơn trọng lượng của bản thân. Những lúc mưa gió, ướt át, lội qua sông, qua đồng, 50 – 60 kg gạo, cứ nằm mãi trên lưng suốt mấy tiếng đồng hồ, lên được cái gốc gần như đứt hơi. Tuy nhiên, những đợt xuống đồng bằng lấy gạo là một dịp Sen tranh thủ về thăm ba, má và các em. Có một lần, tôi đi cùng với Sen một chuyến; tối hôm đó, sau khi luồn lách qua các đồn bót và ấp chiến lược của địch, vừa về đến ngõ, Sen đã hớt hơ, hớt hải chạy thẳng vào bếp, lục cơm nguội ăn. Ăn xong, Sen chạy vào phòng má. Tôi liếc mắt qua cửa sổ đã thấy Sen vục đầu vào ngực má, kể cho má nghe đủ thứ chuyện. Má chải tóc cho Sen, trông Sen nhõng nhẽo như một đứa trẻ.
Hôm sau trên đường về căn cứ, tôi hỏi Sen: - Sao em không ở nhà với má, lên đây làm gì cho khổ? Bọn anh là con trai, mọi việc trong sinh hoạt đều đơn giản; em là con gái, ở nhà với má tham gia hoạt động ở địa phương có hơn không? Sen nói ngay không cần phải suy nghĩ: - Thế tại sao các anh không ở lại ngoài miền Bắc, đánh giặc giữ nhà mà lại vào đây? Anh nói vậy là xem thường con gái chúng em rồi nhà! Tôi chẳng biết nói sao trước lý lẽ rất thực tế đó. Sen còn đọc cho tôi nghe câu thơ nói về những người con gái quê hương cô với nét mặt trong có vẻ kênh kiệu: “Ai về Bình Định mà coi, Con gái Bình Định cầm roi đi quyền” Tôi chống chế đáp lại: “Con gái Bình Định có bốn cái tài Ăn trầu, hút thuốc, cưỡi trâu, leo dừa!” Sen tặng tôi một cái nguýt thật dài và sắc lẹm. Trên đường hành quân, mang vác nặng, những câu chuyện đại loại như trên đã xua tan mệt nhọc và cảm thấy yêu đời, yêu cuộc sống hơn. Ở đâu có quân nhân nữ, ở đó có tiếng cười, tiếng hát vang lên. Trương Thị Sen cũng như bao cô gái khác, rời cánh tay mẹ lên căn cứ hoạt động trong những năm chiến tranh khốc liệt ở dải đất miền trung mà ta thường gặp ở bất kỳ vị trí công tác nào, từ người pháo thủ đến cô gái lái xe, từ chị nuôi, y tá, thông tin bảo mật, đến những công việc nặng nhọc như người lính tiếp vận… Vì sao tôi lại viết về Sen? Trước hết, người nữ y tá Trương Thị Sen có đầy đủ những đức tính đại diện cho lớp nữ chiến sỹ trong những năm chiến tranh chống Mỹ ở miền Nam, cô đã hy sinh tuổi thanh xuân của mình cho cuộc kháng chiến đến ngày toàn thắng. Đối với tôi, Sen còn là một cô gái đã một thời cùng đồng câm, cộng khổ, chia ngọt, sẻ bùi trong những năm tháng ngặt nghèo nhất tại Bình Định. Mỗi lần lên cơ quan trung đoàn họp, chúng tôi thường được Sen chăm sóc, lúc thì chén trà, lúc gói thuốc, lúc ký đường, lúc hộp sữa… cô mang từ đồng bằng lên để dành “chiêu đãi” cán bộ phía trước về họp. Cuối năm 1973, sau khi kết thức khoá bổ túc cán bộ tiểu tiểu đoàn, tôi ra trường về lại đơn vị. Gặp lại Sen, cô đã là một Đảng viên. Lúc này cơ quan trung đoàn 12 đã chuyển về thung lũng An Lão, một huyện miền núi thuộc tỉnh Bình Định. Sau hiệp định Paris, trên chiến trường, quân đội Sài Gòn bị thua liên tiếp, vùng giải phóng ngày càng được mở rộng, vùng địch tạm chiến thu hẹp rất nhanh. Trung đoàn 12 cùng đội hình Sư đoàn 3 chuyển vào mặt trận phía Nam tỉnh Bình Định. Tình hình phát triển nhanh đến mức các lực lượng phía sau không theo kịp với đại quân đang tiến như vũ bão về phía trước. Tôi gặp Sen tại xã Long Khánh trong lúc cô đang chuẩn bị di chuyển với đội hình cơ quan trung đoàn. Trong lần gặp nhau duy nhất đầy ấn tượng đó, tôi hỏi Sen: - Nghe đâu đơn vị có chủ trương giải quyết chính sách phục viên cho quân nhân nữ? Thế em tính sao? - Em cũng không biết nữa. Có lẽ do trên quyết định thôi. Người ta sao, em vậy! – Sen lưỡng lự trả lời tôi, vừa như muốn ra quân, vừa như muốn ở lại đi theo đơn vị. Cô đang đứng ở giữa ngã ba đường. Đêm hôm đó, chúng tôi chia tay nhau. Tôi tiến quân phía trước cùng đồng đội. Sen theo cơ quan di chuyển phía sau. Từ đó đến nay, tôi chưa gặp Sen lần nào. Tiêu đề: Re: Nghĩa Tình Đồng Đội Gửi bởi: crawling0805 trong 02 Tháng Giêng, 2011, 05:04:59 pm Sài Gòn giải phóng, miền Nam hoàn toàn giải phóng. Chúng tôi tắm mình trong thắng lợi của dân tộc.
Một ngày cuối tháng 12 năm 1975, tình cờ tôi nhận được lá thư ngắn của Sen, Sen viết rằng: “Ngày ấy, nếu em nghe các anh thì bây giờ được sống với đơn vị vui biết mấy – Thôi thì bây giờ em chỉ việc nuôi con khoẻ, dạy con ngoan, đó là hạnh phúc nhất của đời em!”. Sen có gia đình rồi ư!? Lấy chồng từ bao giờ? Và lấy ai!? Thế mà ngày ấy tôi cứ lo là cuộc đời các cô gái thoát ly rồi đây sẽ ra sao? Lòng vừa buồn, vừa mừng. Mừng vì các cô được bù đắp xứng đáng khi hạnh phúc đã đến với họ. Buồn vì bao năm chiến tranh gian khổ, ác liệt, trong ngày vui chiến thắng, ở đơn vị thiếu vắng hình bóng các cô. Những ký ức của một thời quá khứ lại hiện lên trước mắt tôi như một cuốn phim quay chậm… Đã trên 30 năm chưa gặp lại người con gái ấy, bây giờ cuộc sống của cô ra sao? Đã từ lâu, tôi nuôi hy vọng được gặp lại những người bạn chiến đấu đã một thời xông phá lửa đạn, đã về với cuộc sống đời thường trên mọi miền đất nước. Tất nhiên, trong đó có Trương Thị Sen. Tôi được biết, sau năm 1975, Sen đã kết hôn với anh Nghiêm Thanh Huề, một cán bộ chính trị người cùng quê với tôi. Điều này làm tôi nhớ đến câu thơ trong thời chiến, các địa phương của hai miền kết nghĩa với nhau. “Bắc – Nam thống nhất Bình – Hà keo sơn.” Lúc đó tỉnh Hà Tĩnh kết nghĩa với tỉnh Bình Định. Tình cảm của anh chị đã hoà quyện vào tình yêu quê hương, đất nước. Còn gì hạnh phúc bằng. Không cần biết họ đến với nhau trong trường hợp nào, khi hay tin ấy, thực sự tôi mừng cho anh chị. Riêng Send, hạnh phúc đến với cô thật đúng lúc. Hôm gặp lại Sen, cô nói: “Tranh thủ thời cơ mà anh!”, khi biết tôi muốn hỏi điều đó. Trước đó, tôi đã có ý thăm dò vợ chồng cô đang ở đâu? Năm 2004, trong một lần về quê, tôi dừng lại ở ngã ba Phú Tài (cách thành phố Quy Nhơn khoảng 10km) rất lâu, vì có tin anh chị đang định cư ở đó. Song, hỏi mãi không có ai biết. Phải dựa vào hội Cựu chiến binh Sư đoàn tại tỉnh Bình Định! Cũng từ đầu mối này, không những tôi đã biết được địa chỉ và số điện thoại của vợ chồng Sen, mà còn tìm được nhiều bạn bè, đồng đội trên 30 năm trước đã cùng sống và chiến đấu trên một chiến trường ác liệt nhất ở Liên khu 5. Chuyến đi tìm đồng đội vừa qua một trong những người đầu tiên tôi đã tìm lại được là người nữ y tá trung đoàn 12, Trương Thị Sen và gia đình cô. Gặp lại vợ chồng người cựu chiến binh Sư đoàn 3, chúng tôi như sống lại những năm tháng hào hùng đã in sâu trong lòng mỗi người những kỷ niệm không thể phai mờ qua năm tháng. Hai người lính, hai Đảng viên đã vượt lên số phận, đến với nhau qua bao thử thách trong quá khứ đau thương. Họ đã tìm lại được tuổi xuân đã bị chiến tranh cướp mất. Họ đã sống và đang sống với nhau những năm tháng còn lại của cuộc đời thật hạnh phúc và bình dị. Chiến tranh đâu có phải mất tất cả. Từ trong tổ ấm ấy, một thế hệ nối tiếp, trẻ trung như những búp non đang nhú lên, phát triển trên những thân cây đã tàn héo. Sự hy sinh của các anh, các chị đã được đền đáp xứng đáng. Sống được đến bây giờ đã là hạnh phúc, có một mái ấm đầy đủ các thành viên ông, bà, cháu lại càng hạnh phúc biết bao… Chia tay vợ chồng Sen, sau những trận mưa cuối mùa đã tạnh… Quy Nhơn – TP. HCM, 25-12-2006 Tiêu đề: Re: Nghĩa Tình Đồng Đội Gửi bởi: crawling0805 trong 04 Tháng Giêng, 2011, 01:18:05 am NHỚ MÃI TÊN ANH Mậu Thân – năm 1968, Đại đội Công binh Sư đoàn 3 Sao Vàng thuộc Quân khu 5 được điều động từ tỉnh Bình Định ra hoạt động tại các huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh, Đức Phổ… tỉnh Quảng Ngãi. Đầu xuân năm 1968, Đại đội Công binh được giao nhiệm vụ đánh sập cầu Châu Ổ trên đường quốc lộ số 1 tại huyện Bình Sơn, cắt đứt giao thông tiếp tế của địch, tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị bạn tiến công một số mục tiêu trong vùng. Cầu Châu Ổ trong thời điểm xảy ra chiến sự là cầu bê tông, chân hình trụ, dài khoảng 200 mét, bắc qua sông Trà Bồng. Thị trấn Châu Ổ nằm sát mố cấu phía Nam và cặp theo Quốc lộ 1A. Đây là mục tiêu hiểm yếu bởi sông Trà Bồng rộng, nước sâu, chảy xiết và nằm trên huyết mạch giao thông quan trọng. Cầu Châu Ổ bị chặt đứt sẽ gây nhiều khó khăn cho việc vận chuyển, tiếp tế và cơ động lực lượng của địch. Vì vậy, địch rất coi trọng việc bố phòng, bảo vệ cầu Châu Ổ một cách nghiêm ngặt. Đầu câu phía Bắc có hai lô cốt hình lục giác giác (6 cạnh) được đúc bằng bê tông, có lỗ châu mai bắng được mọi hướng: Một ở đầu cầu, cạnh đường số 1 về phía Đông; một ở dưới bờ sông gần trụ cầu của nhịp thứ nhất và thứ hai. Mố cầu phía Nam cũng có hai lô cốt và chi khu quân sự đóng tại thị trấn Châu Ổ. Xung quanh các lô cốt và trụ cầu được bao bọc bởi các lớp rào kẽm gai lò xo (bùng nhùng). Dọc bờ sông hai bên đều có dây kẽm gai được chăng dưới mép nước để đề phòng đối phương đột nhập từ dưới sông. Lực lượng bảo vệ là một đại đội bảo an, hai phần ba đóng ở đầu cầu bờ Bắc, một phần ba ở bờ Nam. Trên các trụ cầu thường xuyên có lính gác. Thỉnh thoảng, khi có nghi ngờ, chúng thường ném lựu đạn hoặc bắn xuống dưới chân cầu. Muốn đột nhập vào cầu phải vượt qua hệ thống ấp chiến lược. Ban đêm, nhà dân ở xung quanh mục tiêu phải thắp đèn và gõ mõ khi có tiếng động. Phía tây cầu khoảng 1km có cầu đường sắt, thường xuyên có lính Mỹ thuộc Sư đoàn American nống ra phục kích, kết hợp với bọn thám báo hoạt động từ xa. Trực tiếp chi viện cho mục tiêu cầu Châu Ổ là bộ binh và pháo cối từ chi khu quân sự sát đầu cầu phía Nam. Ngoài ra, có các trận địa pháo trong vùng đã được chuẩn bị trước. Tóm lại, cầu Châu Ổ, đối với ta là một mục tiêu khá hóc búa… Chứng minh cho điều đó là đã có đơn vị không hoàn thành nhiệm vụ, thương vong cao khi tiến công vào mục tiêu này. Trong đêm đơn vị chúng tôi tiếp cận cũng đã bị lính Mỹ phục kích tại khu vực cầu đường sắt, bị thương một số đồng chí; hoặc đêm đi điều nghiên trước đó một tháng cũng bị địch phát hiện… Sau một thời gian nghiên cứu, chuẩn bị, đêm ngày 22 tháng 3 năm 1968, Đại đội Công binh thực hành tiến công cầu Châu Ổ. Theo phương án được phê chuẩn, quân ta tập trung tiến công đại đội (thiếu) của địch ở đầu cầu phía Bắc; dùng một lực lượng nhỏ có tăng cường thêm du kích địa phương chế áp chi khu quân sự bên bờ Nam. Lực lượng tiến công đầu cầu bờ Bắc được tổ chức thành hai bộ phận, có nhiệm vụ khác nhau: Bộ phận đánh cầu, do đồng chí Ngô Đức Trân, tiểu đội trưởng chỉ huy, sử dụng 120kg thuốc nổ TNT, có nhiệm vụ đánh sập một nhịp cầu và tiêu diệt lô cốt cạnh đó. Bộ phận tiến công trên bộ, tiêu diệt lực lượng địch bảo vệ cầu, làm chủ trận địa. Lực lượng này gồm 2 trung đội, do đồng chí Bùi Văn Tôn, trung đội trưởng trực tiếp chỉ huy. Tôi đi cùng đồng chí Tôn để chỉ huy chung cả hai lực lượng: dưới nước và trên bộ. Hoả lực chi viện cho trận đánh chỉ có trận địa cối 82mm, DKZ 75mm bố trí ở phía Tây cầu khoảng 300 mét, trong một khu vườn cạnh bờ sông. Phía Nam sông, sử dụng 6 khối bộc phá, mỗi khối 20 kg thuốc nổ TNT, phóng vào chi khu quân sự Châu Ổ. Tiêu đề: Re: Nghĩa Tình Đồng Đội Gửi bởi: crawling0805 trong 04 Tháng Giêng, 2011, 09:59:20 am Phương pháp chiến đấu là mật tập (theo lối đánh của Đặc công). Đồng thời sẵn sàng dùng sức mạnh binh hoả lực tiến công tiêu diệt lực lượng bảo vệ cầu của địch, tạo thuận lợi cho lực lượng dưới nước đánh cầu hoàn thành nhiệm vụ. Nhiệm vụ chủ yếu là đánh sập cầu. Tiêu diệt lực lượng bảo vệ cầu, làm chủ trận địa được coi là biện pháp hàng đầu.
Đêm hôm đó, sau khi bị lính Mỹ phục kích ở khu vực đường sắt, đội hình vẫn tiếp tục luồn lách qua các ấp chiến lược vào chiếm lĩnh. Sở chỉ huy (vị trí chỉ huy) của tiểu đoàn bố trí gần trận địa cối. Lực lượng phục vụ gồm y tá, vận tải, dân công đã đào được một số huyệt, trước hết là làm hầm nơi ẩn nấp khi có phi pháo, và nếu có hy sinh thì đây cũng là nơi chôn cất liệt sỹ. Khi các lực lượng của ta đi qua đây, không biết có ai nghĩ rằng, đêm nay có thể mình bị hy sinh và sẽ được chôn tại đây, tại những cái huyệt đã đào sẵn kia? Nhìn gương mặt đồng đội lầm lỳ, thấp thoáng bước đi trong bóng tối, tôi nghĩ rằng: với một mục tiêu hóc búa như thế này, khi hàon thành nhiệm vụ, trong đêm này, khó tránh khỏi những người sẽ ngã xuống trước họng súng của quân thù. Nghĩ vậy, lòng tôi trào lên một niềm thương cảm vô hạn đối với những đồng đội đang bước đi trước mắt mình. 23 giờ. Trong mục tiêu vẫn im lặng. Khu gia binh bao quanh trại lính, những ngọn đèn dầu lập loè, lúc mờ, lúc tỏ theo làn gió nhẹ từ bờ sông thổi lên. Xa xa hướng Đức Phổ, Mộ Đức và thị xã Quảng Ngãi từng chùm pháo sáng treo lơ lửng giữa bầu trời tối đen, xám xịt. Tiếng pháo cầm canh của địch bắn vu vơ từ đâu vọng lại nghe rất gần. Còn một tiếng đồng hồ nữa mới đến giờ “G”. Hẳn giờ này, trên chiến trường cũng đang có nhiều đơn vị cũng đang tiếp cận các mục tiêu. Và, một giờ nữa, nhiều sinh mạng cũng sẽ được định đoạt trong đêm nay… Ôi! Chiến tranh. Hai, ba chục năm, tốn biết bao công sức, của cải mới có được những con người, bỗng chốc họ sẽ trở về với cát bụi sau những tiếng nổ lạnh lùng, khô khốc… Đồng chí liên lạc ghé tai tôi thì thầm, cắt đứt giòng suy nghĩ vừa rồi: - Bộ phận đánh cầu đã xuống bờ sông, cách cầu khoảng 50m nữa. Lực lượng trên bộ đã vào vị trí triển khai! Tôi gật đầu, im lặng theo dõi đội hình các hướng các mũi đang áp sát mục tiêu. Lực lượng đánh địch trên bộ hoá trang như những chiến sỹ đặc công, tay cầm thủ pháo, lựu đạn, từ phía Tây đường số 1, vượt qua những khoảng trống tiếp cận các căn nhà lính, sẵn sàng tiêu diệt bọn địch đang ngủ ở trong đó. 23 giờ 45 phút, tiểu đội đánh cầu đã đưa được 6 khối thuốc nổ cố định vào trụ cầu. Đúng lúc này, đồng chí Ngô Đức Trân kiểm tra lại đồ dùng gay nổ thì phát hiện các kíp nổ hẹn giờ đã tuột ra khỏi các lượng nổ và rơi xuống sông. Một tình huống tuy đã có dự kiến phương pháp xử trí, song chúng tôi vẫn cảm thấy bàng hoàng. Trong lúc bối rối, sẵn có phương tiện gây nổ bằng nụ xoè, đồng chí Trân giật luôn. Sau tiếng “xoẹt” của nụ xoè, địch gác ở trên cầu lập tức phản ứng. Chúng la hét, bắn và ném lựu đạn xuống sông. Nhưng không kịp nữa rồi. Tổ hoả lực của đồng chí Tuất, bố trí bên cạnh, bắn sập ngay lô cốt bảo vệ cầu, tiêu diệt luôn số địch ở trong đó. Ở trên bộ, quân ta đồng loạt tung thủ pháo, lựu đạn vào các nhà lính, lửa cháy bốc lên sáng rực. Một tiếng nổ long trời lở đất của 120kg thuốc nổ TNT làm hai nhịp cầu đổ xuống dòng sông đang chảy xiết. Tôi và đồng chí Tôn vận động qua một khoảng sân, lợi dụng một ụ súng bằng bao cát cao khoảng 6 tấc để quan sát, theo dõi diễn biến trận đánh thì nghe có tiếng rên khe khẽ ở đâu đó… Đúng rồi, có người bị thương đang nằm bên góc sân. Qua ánh sáng của những đám cháy, chúng tôi nhận ra ngay đồng chí Thanh, tiểu đội trưởng, chỉ huy một tiểu đội tiến công chính diện vào trại lính. Sau khi chiếm được ụ súng nay (nơi chúng tôi đang ngồi) đồng chí cùng tiểu đội lao vào trại lính thì bị khẩu tiểu liên từ trên mố cầu bắn ra. Tiêu đề: Re: Nghĩa Tình Đồng Đội Gửi bởi: crawling0805 trong 04 Tháng Giêng, 2011, 10:03:32 am Trong một trận đánh công kiên trước đó, đồng chí được tặng thương Huân chương chiến công vì có hành động dũng cảm, sau khi hoàn thành nhiệm vụ của mình, đồng chí còn ôm bộc phá của đồng chí bên cạnh khi đồng chí này đã bị hy sinh, tiếp tục lên mở cửa, góp phần rất quan trọng vào thắng lợi của trận đánh.
Trong trận này, đồng chí bị thương khá nặng. Trong hơi thở gấp gáp, đồng chí còn hỏi chúng tôi: “Cầu đã bị đánh sập chưa? Anh em ta đánh đến đâu rồi?”… Nuốt cảm xúc vào bụng, tôi nói với Thanh: “Cầu đã bị đánh sập hai nhịp, đơn vị đã làm chủ hoàn toàn trận địa. Chúng tôi sẽ đưa đồng chí ra ngay!...”. Tiếc thương thay, sau khi đưa đồng chí ra đến trạm phẫu của tiểu đoàn, đồng chí Thanh của chúng ta đã trút hơi thở cuối cùng… Tiểu đoàn đã tổ chức mai táng luôn trong cái huyệt vừa mới đào trong đêm tại khu vườn của một gia đình cơ sở. cách đầu cầu Châu Ổ về phía tây khoảng 300 mét. Sau ngày giải phóng, có dịp qua đây, tôi mới biết: tại đầu cầu phía Bắc, sau trong đội hình địch có cái lô cốt bê tông, trong quá trình chuẩn bị, trinh sát ta không phát hiện được, cũng không tìm hiểu kỹ qua cơ sở địa phương. Đồng chí Thanh hy sinh chính là do khẩu địa liên của địch đặt trong cái lô cốt lợi hại này. Và đây cũng là nguyên nhân trước chúng tôi đã có đơn vị không hoàn thành nhiệm vụ… Sau trận đánh đó, đơn vị chúng tôi cơ động tác chiến liên tục và chuyển vào các tỉnh phía Nam cho đến khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng. Năm 1976, toàn bộ Sư đoàn Sao Vàng chuyển quân ra biên giới phía Bắc. Đến nay, cũng đã 40 năm, hình ảnh đồng chí Thanh và gương hy sinh dũng cảm của anh còn đọng mãi trong ký ức của chúng tôi - những người đang sống. Rất tiếc, tôi đã không còn nhớ họ và quê quán cụ thể của đồng chí. Chỉ biết rằng đồng chí được sinh ra và lớn lên ở tỉnh Bình Định. Qua bài viết này chúng tôi muốn biết phần mộ của đồng chí đã được đưa về với gia đình hoặc vào nghĩa trang chưa. Hiện giờ người thân của đồng chí Thanh đang ở đâu?... Mọi chi tiết xin liên hệ tác giả bài viét này - Địa chỉ: 212 Cộng Hoà, phường 12, Quận Tân Bình – TP. Hồ Chí Minh – ĐT:(08).8105660– 0913957777. TP. Hồ Chí Minh, tháng 3 năm 2007. Tiêu đề: Re: Nghĩa Tình Đồng Đội Gửi bởi: crawling0805 trong 04 Tháng Giêng, 2011, 10:44:03 pm ĐÊM ẤY, KHÔNG MAY ANH BỊ SA VÀO TAY GIẶC Trong cuốn hồi ức mang tựa đề “cuộc chiến đấu tự nguyện” – Nhà xuất bản Hội Nhà Văn, năm 2007, trang 173, tôi có viết về cuộc vượt đường của Tiểu đoàn Công binh Sư đoàn 3 Sao Vàng, từ phía Bắc đường 19 sang phía Nam, đêm 4 rạng 5/11 năm 1971. Đêm đó đội hình vượt đường của ta bị lọt vào ổ phục kích của địch, bị tổn thất nặng nề. Đồng chí Phan Văn Bảy, Phó Tham mưu trưởng Trung đoàn 12 bị sa vào tay giặc. Đã 36 năm trôi qua, những gì đã xảy ra trong đêm kinh hoàng đó thì vẫn còn đọng mãi trong ký úc của những người đang sống. Từ khi đồng chí Phan Văn Bảy bị địch bắt và sau này được trao trả, chúng tôi chưa gặp lại đồng chí lần nào. Để được biết rõ hơn những diễn biến cụ thể trong đêm vượt đường đó và cuộc sống của đồng chí từ ngày bị sa vào tay giặc, là một cán bộ tham mưu đã từng trải, có thể đồng chí sẽ nắm được những tình hình của phía bên kia, tôi quyết đi tìm đồng chí. Bằng cách nào để biết được nơi cư ngụ của đồng chí? Đã 36 năm rồi, có biết bao thay đổi trong từng gia đình và toàn xã hội. Trong những năm 60 – 70, tôi cũng chưa tiếp xúc với anh lần nào. Bởi vì giữa chúng tôi, mỗi người một cương vị. Trong chiến tranh thông thường cương vị khác nhau, thì môi trường công tác cũng khác nhau. Lúc đó, tôi la một cán bộ phân đội, trực tiếp chiến đấu phía trước; đồng chí là một cán bộ tham mưu ở cơ quan Trung đoàn. Một năm, có họp hành với nhau 1 – 2 lần. Có khi đồng chí biết tôi, nhưng tôi lại chưa biết đồng chí. Đồng chí rời xa đơn vị từ ngày ấy, việc tìm lại càng như “mò kim đáy biển”. Sự đời không ai biết được chữ ngờ. Tháng 11-2006, trong một chuyến đi ra phía Bắc, sang Bắc Ninh tìm đồng đội, tình cờ tôi gặp lại đồng chí Lê Văn Tuất. Qua đó tôi đã biết được đồng chí Phan Văn Bảy đang sống ở thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Nơi mà một tuần trước đó, tôi đã lưu lại một ngày. Tuất là em rể của anh Phan Văn Bảy. Song cái địa chỉ mà Tuất cho tôi biết, không đúng, tuy nhiên anh Bảy đang ở thành phố Quy Nhơn là hoàn toàn chính xác. Ban liên lạc Hội Cựu chiến binh Sư đoàn 3 Sao Vàng tại tỉnh Bình Định thường xuyên duy trì chế độ sinh hoạt. Hàng năm đều có tổ chức gặp mặt. Đó là nguyên nhân đưa tôi đến gặp trực tiếp đồng chi Phan Văn Bảy, trước hết bằng điện thoại và sau đó liên lạc với nhau bằng thư từ. Mục đích của việc tìm đồng chí, đồng đội trong những năm chiến tranh khốc liệt ở chiến trường khu 5, anh là nhân chứng sống còn lại trong đêm vượt đường 19 của Tiểu đoàn công binh. Tôi muốn biết tất cả những chi tiết trong đêm hôm đó xảy ra cho tiểu đoàn công binh và cho cả đồng chí Phan Văn Bảy. Hiện nay anh đang sống tại: Số 39C, đường Hai Bà Trưng, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định – ĐT: 056.829074. Anh Phan Văn Bảy cho biết: vào khoảng trung tuần tháng 9 năm 1971, có cuộc họp Đảng uỷ Sư đoàn 3 mở rộng. Sau chiến dịch Mậu Thân năm 1968, để chuẩn bị cho chiến dịch Xuân năm 1972, theo chỉ thị của Quân khu 5, sư đoàn xốc lại đội hình, tổ chức lại thành sư đoàn đủ để làm nhiệm vụ. Lúc đó đồng chí là phó ban tác chiến sư đoàn, được đồng chí Nguyễn Nam Khánh và Chu Huy Mân (1) giao nhiệm vụ về trung đoàn 12 làm trung đoàn phó, sang phía Nam đường 19 trực tiếp chỉ huy tiểu đoàn 6 của trung đoàn 12 và tiểu đoàn 19, không cho quân dịch từ Quy Nhơn và vùng đồng bằng miền Trung tăng viện lên Tây Nguyên trong thời gian quy định. Sau khi nhận nhiệm vụ cụ thể, được về trung đoàn 12, anh mừng lắm, vì trước đây anh cũng đã công tác một thời gian ở trung đoàn này. Sau khi dự cuộc họp với Ban chỉ huy trung đoàn, ngày 2-11, anh xuống Bình Khê dự họp với huyện uỷ và Uỷ ban nhân dân huyện vào ngày 3-11, bàn công tác phối hợp hoạt động trong thời gian sắp tới. Sau đó anh đi cùng với tiểu đoàn công binh sang phía Nam đường 19. Việc bảo đảm hành lang do tiểu đoàn 6 đảm nhiệm. (1) Đồng chí Nguyễn Nam Khánh: nguyên thượng tướng, Phó chủ nhiệm Tổng cục chính trị. Chu Huy Mân: nguyên Đại tướng, chủ nhiệm Tổng cục chính trị - Lúc đó là tư lệnh Quân khu 5. Tiêu đề: Re: Nghĩa Tình Đồng Đội Gửi bởi: crawling0805 trong 04 Tháng Giêng, 2011, 10:46:28 pm Khoảng 2 giờ sáng ngày 5-11-1971, toàn bộ đội hình đã vượt sông Côn, qua đường 19 an toàn. Khoảng 5 giờ sáng gần vào đến bìa rừng thì bất ngờ bị địch phục kích, nổ súng. Anh đi trước đội hình và bị thương ngay loạt đạn đầu. Ở phía sau anh cũng có nhiều đồng chí bị hy sinh, bị thương.
Vì bị thương nặng, sợ không qua khỏi được, anh đã đưa tất cả tài liệu cho đồng chí liên lạc, hẹn với nhau nếu thoát được, sẽ về hang đá trong núi lấy lại. Sau đó anh leo được một đoạn và ngất đi do mất máu nhiều. Sau khi tỉnh dậy, anh biết mình đã bị sa vào tay giặc. Trong những ngày sau đó, kẻ thù đã dùng mọi thủ đoạn từ dụ dỗ, mua chuộc đến tra tấn tàn bạo nhất, kể cả dùng những đòn tâm lý để anh khai sự thật. Bọn tình báo của sư đoàn 22, quân đội Sài Gòn đến bọn Mỹ, bọn Đại Hàn thay nhau hỏi cung. Được sự giúp đỡ, chỉ vẽ của một số anh chị em bị bắt trước đó về kinh nghiệm trong việc khai báo, rằng trước khai như thế nào, về sau đều khai như vậy, nếu không chúng sẽ hỏi cung suốt và sẽ bị tra tấn đánh đập, anh đã khai là giao liên của xã, theo quân giải phóng sang phía Nam đường 19 để lấy tài liệu. Chúng nó không tin, vì diện mạo của anh trông phương phi (chúng tôi thường gọi anh là Bảy râu). Một điều nguy hiểm hơn là trong đội ngũ của ta lúc đó, có một số người không chịu nổi cảnh thiếu thốn, ác liệt đã đầu hàng giặc hoặc về “chiêu hồi”…Mỗi lần những tên này xuất hiện, bị anh chị em tù chửi bới, doạ đánh chết, nên bọn địch đã chuyển chúng đi nơi khác. Sau 5 ngày bị tra khảo, đánh đập, kẻ thù đã để lại trên người anh những di chứng và bệnh tật. Do sự khôn khéo trong lời khai và nhờ sự đùm bọc, chở che của anh chị em từ ở trại giam Quy Nhơn, anh đã giấu được tung tích, một cán bộ trung đoàn. Tuy nhiên, địch vẫn nghi anh ít nhất cũng là một chỉ huy tiểu đoàn hay bí thư huyện. Vì lẽ đó mà anh bị chúng tra tấn khủng khiếp. Chúng không khai thác được gì thêm, ngoài những nội dung sau: Họ và tên: Ngô Văn Hiền. Quê quán: Phổ Cường, Đức Phổ, Quảng Ngãi. Năm 1954, do quê nghèo vào Bình Định làm ăn và lập gia đình tại Bình Khê. Khi giải phóng về, họ bảo làm liên lạc cho họ. Tôi là dân dưới quyền của họ thì phải làm theo!... Tiêu đề: Re: Nghĩa Tình Đồng Đội Gửi bởi: crawling0805 trong 04 Tháng Giêng, 2011, 10:47:26 pm Trong thời gian dài bị bắt, anh đã trải qua 3 trại giam của địch là Quy Nhớn, Phú Tài, Phú Quốc. Ở trong nhà tù của địch, các anh vẫn nêu cao khí tiết của người cách mạng, như không chịu chào cờ “Ba que”, không chịu chào quân cảnh. Vì vậy mà anh đã bị xếp vào loại tù binh có máu mặt cùng với anh La Văn Hậu (trung đoàn 22), Nguyễn Mai (trung đoàn 2), Nguyễn Tâm (tỉnh đội trưởng Khánh Hoà).
Anh kể tiếp: Khoảng tháng 2, 3 năm 1972 quân ta tiến đánh các mục tiêu quận Hoài Ân, Phù Mỹ, Bồng Sơn thuộc tỉnh Bình Định, địch chuyển trại tù binh nữ vào Cần Thơ, sau đó ra Phú Quốc. Anh cũng bị chuyển ra đảo Phú Quốc luôn. Chúng đưa anh qua khu KD9, là nơi giam giữ toàn tù binh bị thương nặng. Địch thường gọi là khu “tàn phế”. Đến đây, anh đã được gặp lại một số anh em quen biết và cùng hoạt động với nhau ở tỉnh Quảng Ngãi và nhận nhau là đồng hương. Anh được bầu vào ban lãnh đạo Đảng uỷ (tất nhiên là hoạt động bí mật trong tù). Tưởng là yên ổn để chờ dịp trở về với đồng đội thì một tình huống rắc rối đã xảy ra: Số là trong trại KD9 có đồng chí Hạnh là chiến sĩ trinh sát của D4 bị bắt vào đây. Gặp anh, mừng quá nên Hạnh đã nói: “Đó là thủ trưởng trung đoàn tôi, chứ không phải là giao liên đâu!”. Bọn địch nghe được, anh phải chống chọi mấy tháng trời, chết đi sống lại dưới bàn tay tàn bạo của kẻ thù. Nhưng rồi cũng qua đi. Sau này Hạnh rất ân hận về sự nông nổi của mình… Từ đó anh vẫn mang cái tên Ngô Văn Hiền, sinh hoạt đồng hương với số anh em quê Quảng Ngãi. Ngoài tổ chức chi bộ, chi đoàn, còn có hội đồng hương để quản lý nhau và giúp nhau giữ trọn khí tiết của một quân nhân trong nhà tù của địch. Khoảng tháng 3 – 1973, anh nằm trong số anh chị em được trao trả tại Lộc Ninh. Gặp lại anh, có nhiều người hỏi: “Cái gì tạo cho anh sức mạn để vượt qua những thử thách trong nhà tù đế quốc?”. Anh trả lời: “Trong quân đội có 10 lời thề danh dự, trong đó có ý: khi ra trận mạc quyết chí xung phong, dù đầu rơi máu chảy cũng không lùi bước. Nếu bị quân địch bắt, dù phải chịu cực hình tàn khốc thế nào cũng cương quyết một lòng trung thành với sự nghiệp cách mạng, không bao giờ phản bội, cung khai…”. Đó là danh dự của người quân nhân cách mạng. Để chứng minh lòng trung thành với Đảng, anh cho biết: “Khi được về lại với đồng đội, quân khu 5 đã công nhận thời gian liên tục của tuổi Đảng, tuổi quân và tặng huân chương chiến công hạng Ba, vì có thành tích giữ bí mật của Đảng, của quân đội trong thời gian bị địch cầm tù.”. Sau đó anh được thăng quân hàm trung tá và được giải quyết chính sách hưu trí. Về tỉnh Bình Định, nơi anh đã sống và chiến đấu, hiện còn nhiều anh chị em cứ gọi: “Chú Hiền ơi! Về Quảng Ngãi mà ở, sao lại ở Quy Nhơn!”… Mặc dù tên anh là Phan Văn Bảy, được sinh ra ở xã Bồng Sơn, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định - Họ đã có ý nhắc lại những gì anh khai với địch trước đây. Qua câu chuyện về anh, tôi bồi hồi nhớ lại cái đêm kinh hoàng đó; Cái đêm mà tiểu đoàn tôi vượt qua đường 19 đã bị tổn thất nặng nề. Đêm đó, may mắn tôi thoát chết, còn anh thì bị sa vào tay giặc. Đã 36 năm trôi qua, tôi đã tìm lại được một nhân chứng thực mà tôi đã có lần viết trong cuốn hồi ký mang tự đề “Cuộc chiến đấu tự nguyện” – Nhà xuất bản Thanh Niên – 2005. Nhà xuất bản Hội Nhà Văn tái bản 2007. TP.HCM 12 – 2006. Tiêu đề: Re: Nghĩa Tình Đồng Đội Gửi bởi: crawling0805 trong 04 Tháng Giêng, 2011, 10:53:39 pm ĐẠI ĐỘI TRƯỞNG LÊ XUÂN CHI Sau ngày nhập ngũ vào quân đội, cuối năm 1964, tôi được biên chế vào đại đội công binh, thuộc sư đoàn 325 chuẩn bị đi B (vào miền Nam) Đại đội công binh có khoảng 150 người. Đồng chí Lê Xuân Chi làm đại đội trưởng; Trần Hữu Biên – chính trị viên. Hai đồng chí đều quê tỉnh Nghệ An. Hồi đó, chúng tôi đóng quân ở huyện miền núi, Tuyên Hóa thuộc tỉnh Quảng Bình – huấn luyện để chuẩn bị vào chiến trường miền Nam. Trong đại đội, có một đồng chí trùng họ, trùng tên, cùng ở một huyện và có thể cùng một tuổi với tôi. Để phân biệt nhau, đại đội trưởng Lê Xuân Chi thường gọi tôi là “Hồng đen”, vì tôi có nước da ngăm đen. Còn đồng chí kia có nước da trắng như con gái, nên được đặt cho cái tên “Hồng trắng”. Chỉ một chi tiết nhỏ này mà làm tôi nhớ mãi người đại đội trưởng thân thiết, gần gũi với chúng tôi, cùng đồng cam, cộng khổ, chia xẻ ngọt bùi với chùng tôi trong những năm đầu đánh Mỹ ở chiến trường Khu 5. Anh thuộc lớp người đi trước. Năm 1964, khi tôi nhập ngũ anh đã là đại đội trưởng, mang quân hàm trung úy. Tôi không có ý định so sánh thế hệ này với thế hệ khác, bởi thể hệ nào cũng có những con người làm nên lịch sử của dân tộc và theo quy luật tiến hóa thì thế hệ sau sẽ hoàn chỉnh hơn thế hệ trứơc trên mọi phương diện. Thế hệ thanh niên lúc chúng tôi vào quân đội, một sỹ quan cấp úy như Lê Xuân Chi đã là người đầy quyền uy, là mục tiêu mọi người trong đại đội hướng tới. Tuy nhiên, anh là một người rất hiền từ và quyết đoán bởi tầm hiểu biết rộng cả kiến thức quân sự và đường đời từng trải. Anh có dáng người cao, vai rộng, tác phong nhanh nhẹn, hoạt bát, tính tình cởi mở. Cái miệng hơi rộng, hàm răng trên trắng, đều và hơi dô, làm cho khuôn mặt lúc nào cũng như đang cười. Khi anh cười hai đuôi mắt đã có những vết “chân chim” chứng tỏ cuộc đời anh đã trải qua nhiều gian khổ. Cả đại đội đều quý mến anh bởi ngoài những đức tính trên, anh còn là một cán bộ mẫu mực cả về trách nhiệm và cả về kỷ luật. Anh có sức thuyết phục đặc biệt đối với cấp dưới và cùng cấp. Những ngày xây dựng lán trại ở vùng núi Tuyên Hóa, anh thường đi cùng chúng tôi lên rừng đẵn tre, nứa về làm nhà. Anh bày vẽ cho chúng tôi chặt tre, nứa, đẵn gỗ, kết bè đưa xuống suối chở về doanh trại . Anh nói: - Ở trên rừng, cây nứa mọc thẳng, khi chặt một tay phải nắm lấy thân cây, nếu không cây nứa sẽ phóng thẳng xuống có khi bị thủng bụng, hoặc bị xuyên ngang hông, rất nguy hiểm. Khi kéo nứa từ trên núi xuống phải cho phía gốc đi trước và song song với hướng đi của mình… Vì vậy cánh lính mới chúng tôi đã tránh được những tai nạn, rủi ro. Tiêu đề: Re: Nghĩa Tình Đồng Đội Gửi bởi: crawling0805 trong 04 Tháng Giêng, 2011, 10:55:32 pm Đã từ lâu, tôi muốn ghi lại hình ảnh của anh – ngưởi thủ trưởng đáng kính lúc chúng tôi còn là lính dưới quyền của anh. Không riêng gì đối với anh, tôi muốn lúc đầu óc mình còn minh mẫn, có điều kiện nhắc đến đồng đội càng nhiều càng tốt. Đó là cách tốt nhất để tưởng nhớ đến những người đã ngã xuống, những người đã đi qua các cuộc chiến tranh, làm cho họ sống lại, trở về với những người đang sống và các thế hệ mai sau.... Thời gian còn lại của một đời người khi đầu óc còn minh mẫn mới là đáng quý. Nếu để thời gian qua đi cho đến lúc chỉ còn là cái xác biết cử động, không còn nhớ một cái gì về quá khứ nữa thì thật đáng tiếc… Song, viết về một con người khi chưa biết được đầy đủ về người đó thì đâu phải chuyện dễ. Đại đội trưởng Lê Xuân Chi đã có lần tôi nhắc tên anh trong cuốn hồi ký mang tựa đề “Cuộc chiến đấu tự nguyện”. Anh sống với chúng tôi tại chiến trường miền Nam trong khoảng thời gian chưa đầy 3 năm, từ cuối năm 1964 đến mùa khô năm 1966 – 1967. Tuy thời gian không dài, nhưng anh đã trở thành linh hồn của đại đội công binh Sư đoàn 3 Sao Vàng. Nếu còn sống, nay anh cũng đã gần 80. Anh hy sinh trong một trận bố ráp bằng máy bay trực thăng tại chiến trường khu 5. Trong một lần về thăm lại chiến trường xưa, cuối năm 2006, tôi được biết, hài cốt của anh đã được đưa vào xã An hảo, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định, nơi anh đã từng chiến đấu và ngã xuống trước bom đạn của quân thù. Nhừng dòng hồi ức cách đây 40 năm lại đưa tôi về với người đại đội trưởng ấy.
Trong hai mùa khô (1965 – 1966 và 1966 – 1967) đế quốc Mỹ đổ quân ồ ạt vào miền Nam hòng giành thắng lợi quyết định chiến lược “chiến tranh cục bộ” ở miền Nam Việt Nam. Đối tượng tác chiến chủ yếu của sư đoàn 3 Sao Vàng tại tỉnh Bình Định và một phần phía nam tỉnh Quảng Ngãi là sư đoàn không vận số 1 Mỹ. Không một thủ đoạn tàn bạo nào mà kẻ thù không áp dụng trên mảnh đất này. Song song với việc đánh phá và hủy diệt bằng máy bay B52 ném bom “rải thảm”; rải chất độc hóa học hủy diệt môi trường sống, Sư đoạn không vận số 1 liên tục mở các chiến dịch “tìm diêt” quân ta bằng các chiến thuật “Trực thăng vận”, “Thiết xa vận”, “Phượng Hoàng vồ mồi”, “Bủa lưới phóng lao”,… ở các vùng rừng núi và vùng giáp ranh. Dưới đồng bằng, được sự giúp sức của Mỹ , ngụy quyền Sài Gòn thực hiện chính sách dồn dân lập ấp chiến lược để “tát nước, bắt cá”, cắt đứt nguồn tiếp tế và mối quan hệ máu thịt quân – dân. Đơn vị chúng tôi bước vào cuộc chiến đấu trực tiếp với bộ binh Mỹ, vô cùng gian khổ ác liệt. Để đối phó với âm mưu thủ đoạn của địch nhất là chiến thuật “Trực thăng vận”, từ người chỉ huy đến chiến sĩ phải tìm cách thích nghi với điều kiện sống và chiến đấu trên chiến trường. Đây là quy luật của cuộc chiến tranh sinh tồn đang diễn ra hàng ngày, hàng giờ giữa hai lực lượng không cân sức, lợi thế nghiêng hẳn về phía Mỹ. Trước hết, làm thế nào để nâng cao sức cơ động của bộ đội ta, khi mà quân Mỹ dùng máy bay trực thăng bốc quân ở chỗ này, đổ quân ở chỗ nọ, quân tâ chỉ có đôi chân và các trang bị lỉnh kỉnh không phù hợp với tình hình chút nào. Vì vậy, chiếc ba lô “con cóc” dần dần được thay thế bằng chiếc gùi làm từ cái bao cát của Mỹ’ chiếc võng vải bạt nặng nề với cuộn dây đai to gần bằng ngón tay được thay thế bằng chiếc võng vải dù hoặc vải vinilon, khi cuộn lại chỉ bằng một nắm tay và mấy mét dây dù làm dây mắc võng vừa nhẹ, vừa bền; bếp nuôi quân với những nồi niêu, xoong chảo cồng kềnh đã được thay bằng chiếc hăng-gô cho 2-3 người tự lực nấu nướng; hộp sữa gui-gô đeo vào thắt lưng, lúc nào cũng có thức ăn, có khi là ruốc bông, có lúc là cơm dừa kho với mắm cái. Lại còn có cả bông băng, túi cơm, áo mưa, dao găm, cuốc xẻng; chiếc bi đông Tiệp đít lồi nhường chỗ cho chiếc bi đông US (Mỹ). Tất cả “gia tài” của người lính được dàn trải một vong khép lín trên chiếc thắt lưng. Chưa tính đến khẩu súng, bao xe đạn, lựu đạn,… những trang bị không thể thiếu đối với mỗi một người lính… Tiêu đề: Re: Nghĩa Tình Đồng Đội Gửi bởi: crawling0805 trong 04 Tháng Giêng, 2011, 10:57:08 pm Trên dây lưng của đại đội trưởng Lê Xuân Chi còn lủng lẳng khẩu súng ngắn K54, hai băng đạn và chiếc xà cột (do Liên Xô viện trợ) lúc nào cũng nằm bên hông trái…
Có một lần trên đường hành quân, đội hình đại đội dừng lại bên một bờ suối để ăn trưa. Đang ăn thì máy bay trực thăng Mỹ bay đến quần đảo máy vòng rồi phóng mấy quả rốc két xuống bờ suối. Đại đội được lệnh dàn đội hình lên sườn đồi, sẵn sàng chiến đấu. Sau một hồi bắn phá, máy bay khuất sau ngọn đồi trước mặt, cảnh vật nơi đây trở lại yên tĩnh. Chúng tôi xuống bờ suối để tiếp tục hành quân. Thấy đại đội trưởng đang loay hoay tìm kiếm một vật gì đó xung quanh mấy tảng đá, hỏi mãi, anh mới nói: - Cái răng! Tau (tiếng địa phương là tao) làm rớt cái răng, không biết hắn ở nơi mô rồi! Thì ra trên hàm răng hơi to và đều đặn của anh có một chiếc răng giả. Lúc ăn cơm anh tháo ra để trên tảng đá. Máy bay trực thăng lên bắn phá, chiếc răng bị rớt xuống cái khe, chúng tôi tìm mãi mới phát hiện được. Tự dưng lòng tôi trào lên một niềm thương cảm đối với anh - ở nhà anh đã là người cha, người chú, lẽ ra phải được sống quây quần giữa đám con cháu, chúng nó sẽ săn sóc anh trong bữa ăn, giấc ngủ hàng ngày. Thế mà bây giờ… Biết làm sao được, vì đất nước đang chiến tranh. Đêm Noel năm 1966, Sư đoàn 3 tập kích tiêu diệt gọn tiểu đoàn pháo binh Mỹ tại gò Xuân Sơn, huyện Hoài Ân, Bình Định, Sư đoàn không vận Số 1 Mỹ tức tối đổ quân càn quét khắp nơi kéo dài cho đến mùa khô 1967. Một buổi chiều, trên đường đi công tác về ngang qua huyện Hoài Ân, men theo bìa rừng giáp với huyện An Lão, đồng chí Lê Xuân Chi bị hy sinh để lại cho chúng tôi niềm tiếc thương vô hạn. Sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, quân và dân huyện Hoài Ân đã đưa hài cốt của anh vào nghĩa trang liệt sỹ xã Ân Hảo cùng với các liệt sỹ Trần Khánh Tường, Nguyễn Minh Hiển, Trần Sỹ Mỹ, Hồ Huy Liễu, Nguyễn Văn Trưng… và nhiều đồng chí khác là đồng đội với anh. Anh nằm đó, quê hương anh và người thân đã biết chưa? Qua bài viết này, chúng tôi, những người may mắn còn sống sau chiến tranh xin gửi lời chia buồn đến gia đình anh. Mọi thông tin về liệt sỹ Lê Xuân Chi – xin liên hệ: Đoàn Như Hưng (CCB) theo địa chỉ: Đội 2, thôn Vạn Trung, xã Ân Hảo, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định – hoặc tác giả bài viết này: Nguyễn Văn Hồng – Địa chỉ: Số 212 Cộng Hòa – Phường 12 – Q. Tân Bình – TP.HCM – ĐT: (08) 8105660 – 0913 957777. TP.HCM – tháng 5 năm 2007. Tiêu đề: Re: Nghĩa Tình Đồng Đội Gửi bởi: crawling0805 trong 13 Tháng Giêng, 2011, 10:57:16 am TÌM ĐỒNG ĐỘI TRONG CUỘC CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI TÂY NAM VÀ CHIẾN TRƯỜNG QUỐC TẾ Quân và dân ta đang kiên trì cuộc “trường trinh tìm đồng đội”. Trong chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, hàng triệu sinh linh chưa được tìm thấy hài cốt và chưa xác định được tên trong các nghĩa trang khắp cả nước. Chiến tranh biên giới Tây Nam và làm nhiệm vụ quốc tế, danh sách liệt sỹ lại càng dài thêm và cuộc tìm kiếm đó lại càng khó khưn, hầu như sẽ không có điểm dừng. Chúng ta đã phải trả giá cho cuộc chiến tranh biên giới và làm nhiệm vụ quốc tế bằng hàng triệu sinh mạng. Những yếu kém, bất cập trong công tác chính sách thời kỳ chống Mỹ chậm được khắc phục trong hai cuộc kháng chiến đó. Bên cạnh những kết quả đạt được, nhờ sự nỗ lực của các lực lượng vũ trang các quân khu 5, 7, 9 phối hợp với chính quyền và quân đội cách mạng các nước anh em, đã đưa được hàng ngàn liệt sỹ ở chiến trường quốc tế về nghĩa trang của ta; hiện vẫn còn nhiều trường hợp “chưa được xác đinh”. Cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam có những nét đặc thù riêng. Từ khi cuộc chiến tranh nổ ra và cả những nguyên nhân của nó, đến khi quân ta đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử, thời gian là trên 10 năm, cả thế giới đều biết. Nhiều quốc gia, ngay từ đầu đã lên án cuộc chiến tranh lấn chiếm biên giới nước ta do tập đoàn phản động dưới thời Pôn pốt-Iêng Xa Ri phat động và sau 10 năm quốc tế đã chứng kiến cuộc rút quân tình nguyện Việt Nam về nước. Và, chúng ta cũng đã cố gắng làm cho thế giới biết được bản chất của cuộc chiến tranh này. Trong cuộc kháng chiến chống xâm lược để giải phóng dân tộc, nhân dân ta đã phải chấp nhận sự hy sinh to lớn, đem lại cho đất nước hòa bình, thống nhất. Càng đau xót hơn khi Tổ Quốc đẫ được thu về một mối, đất nước đã thanh bình, thì hàng vạn người con ưu tú đã phải hy sinh trong cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và làm nghĩa vụ quốc tế ở nước láng giềng. Sự hy sinh này vô cùng to lớn, hậu quả thật nặng nề. Việc tìm hài cốt của những người đã hy sinh, giúp đỡ những người bị tàn tật, khó khăn sau chiến tranh là việc làm rất cần thiết và đầy tính nhân đạo. Tiếc rằng những việc làm đó đang còn ở mức khiêm tốn. Trong những bài viết ngắn dưới đây, tôi xin nêu lên một vài trường hợp, nhằm góp phần xoa dịu những hy sinh, mất mát do chiến tranh gây ra. Tiêu đề: Re: Nghĩa Tình Đồng Đội Gửi bởi: crawling0805 trong 13 Tháng Giêng, 2011, 05:56:14 pm TÂY TIẾN VĨNH CHINH MỘT NHÂN CHỨNG THỰC CỦA CUỘC CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI TÂY NAM VÀ NHIỆM VỤ QUỐC TẾ Ở CAMPUCHIA Cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia của một bộ phận quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam chưa được nói nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng. Song, mọi người dân Việt Nam và nhiều quốc gia trên thế giới và trong khu vực đề hiể rằng: Đây là cuộc chiến tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam nhằm bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam, đồng thời mang tinh thần quốc tế cao cả đối với nước láng giềng. Đi tìm những đồng đội trong cuộc chiến tranh này, đồng thời cũng là tìm những nhân chứng lịch sử của một thế hệ sau 30-04-1975, qua đó nói lên rằng truyền thống chống ngoại xâm của nhân dân ta dù thế hệ nào cũng được giữ vững và phát huy cao độ. “Tây tiến vĩnh trinh” – nhật ký của liệt sỹ Trần Duy Chiến là một trong hàng trăm ngàn nhân chứng lịch sử, phản ánh một cách chân thực cuộc chiếnd đấu đày hy sinh gian khổ của một bộ phận quân tình nguyện Việt Nam trong cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và làm nhiệm vụ quốc tở Campuchia. Trần Duy Chiến là một thanh niên sinh ra và lớn lên dưới chế dộ cũ ở miền Nam, tại thành phố Đà Nẵng. Anh chưa được hấp thụ một cách có hệ thống nền giáo dục dưới chế độ xã hội chủ nghĩa. Sau năm 1975, trong lúc nhân dân ta đang tập trung hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục nền kinh tế đã bị kiệt quệ, tình hình trên tuyến biên giới Tây Nam đã có những diễn biến rất phức tạp do chính quyền phản động Pônpốt – Iêng Xa Ri gây ra. Nhận rõ nguy cỏ đất nước bị lâm nguy, Chiến xung phong nhập ngũ vào quân đội. Dù đất nước vừa trải qua một cuộc chiến khốc liệt, nhân dân ta đang được sống trong những ngày hòa bình thật sự, lớp lớp thanh niên vẫn sẵn sàng lên đường đi chiến đấu theo tiếng gọi của Đảng. Trần Duy Chiến đã thực sự bước vào cuộc chiến tranh, như anh đã viết trong cuốn nhật ký của mình. Điều trước tiên, lúc ra trận, anh nghĩ về mẹ như bao nhiêu người con thân yêu khác của Bà Mẹ Việt Nam, nhưng anh đã biết đưa tình cảm mẹ con quyện vào tình yêu đất nước: “… Mẹ kính yêu! Rồi mai đây trên vạn nẻo đường đất nước, lúc đứng bên lề biên giới, lúc ngoài biển khơi, lúc trên hải đảo xa xôi, lúc đứng trước mặt quân thù. Hay lúc con gục xuống trên mảnh đất thân yêu của Tổ Quốc … con đều thầm gọi tên mẹ. Lúc đó mẹ sẽ hiện ra trước mặt con như một bà tiên hiền dịu, an ủi con, khuyên nhủ con. Thế là con lại có đầy đủ nghị lực, xông ra phía trước, tiêu diệt quân thù, hay đứng vững trước gió mưa lạnh buốt. Mẹ thân yêu của con ơi! Mẹ đừng buồn, đừng nhớ và đừng khóc nghe mẹ. Ngày mai đây, khi dân tộc mình thoát khỏi vòng điêu linh chết chóc, đất nước mình thoát khỏi nạn ngoại xâm, lúc đó con sẽ về bên mẹ, để mẹ được nhìn kỹ đứa con của mẹ sinh ra”. (Nhật ký ngày 4-11-1978) Tiêu đề: Re: Nghĩa Tình Đồng Đội Gửi bởi: crawling0805 trong 13 Tháng Giêng, 2011, 09:39:59 pm Chiến được bổ sung về tiểu đoàn 2, Trung đoàn 812 thuộc Sư đoàn bộ binh309, chiến đấu ở một nơi khó khăn, gian khổ và ác liệt vào bậc nhất – miền cực Tây Campuchia, tỉnh Bát Tam Băng. Cuộc sống của người lính quân tình nguyện ở một nơi quyết liệt về tình hình địch, khắc nghiệt về thời tiết, thiếu thốn về vật chất và xa hậu phương đã được Trần Duy Chiến ghi lại một cách chân thực trong cuốn nhật ký của anh. Một nhân chứng sống động, đau thương và mất mát, là bản chất của cuộc chiến tranh.
“... Giữa đường hành quân tôi ghi vội vào đây vài dòng nhật ký. Đất mới Pai Lin – nơi có rất nhiều kim cương và cũng là nơi đẫm máu những người lính đã ngã xuống, cây cỏ tốt phủ đầu. Ầm,…Ình… Một tiếng nổ, cùng làn hơi mạnh, hất tôi té xuống ngang đường, khẩu cốt 60 đè lên cổ, tay tôi rát rát. Tôi lật vội khẩu cối sang bên, ngồi dậy, đưa tay phải coi. Một miếng mảnh nhỏ ghim vào còn lú ra, coi quanh người không có gì, tôi hoàn hồn cất tiếng hỏi: - Mìn gì? - “Kapêhai”(KP2) - Mấy đứa bị thương? - Bốn đứa! - Có đứa nào chết không? - Thằng Lâm chết, ba thằng Tuất, Ngọc, Được bị thương! – Đồng chí Nhu trả lời tôi. Tôi bước lên, thấy Lâm bị mìn KP2 ngã nằm trên đường. Mảnh xuyên vào vai, vào đầu rất nhiều, cái xoong và mấy cái túi cóc xung quanh bị trái mìn thổi đi đâu mất. Chưa kịp hoàn hồn thì lại “ầm... ình…”, một trái KP2 vừa nổ cách tôi 5 mét. Tôi không bị gì cả, hơi ép xô tôi ngã xuống đất trong khi tôi ngồi trên chiếc balô. Trái mìn thứ hai đã làm dồng chí Thọ mất cả chân và cũng chết liền sau đó. Ngồi bên tôi, đồng chí Lộc bị thương. Thiệt là ớn cho những con đường ở Pailin… Chiều hôm qua cũng vậy, đơn vị tôi vừa đến nơi đây tạm dừng để nấu cơm ăn. B1 được qua bên suối để ngủ, ngờ đâu bên ấy đầy mìn. Mới chưa đầy mười phút là đã đụng một trái. Một đồng chí chết, ba người nữa bị thương”. (Nhật ký ngày 21-10-1978) Tôi không cho rằng: đây là cuốn nhật ký duy nhất được phát hiện trong cuộc chiến tranh “mới” này. Tuy chưa thể phản ánh một cách đầy đủ, sinh động của một bộ phận quân tình nguyện Việt Nam làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia; song, ở đây chúng ta đã tìm được một liệt sỹ, có đầy đủ phẩm chất và bản lĩnh chính trị của một quân nhân, có thể đại diện những gì đẹp đẽ nhất của một thế hệ. Thế hệ sau 30-4-1975. Tiêu đề: Re: Nghĩa Tình Đồng Đội Gửi bởi: crawling0805 trong 13 Tháng Giêng, 2011, 09:42:59 pm Trong phạm vi bài viết nhỏ hẹp này, tôi không thể trích dẫn đầy đủ những nội dung Trần Duy Chiến đã viết trong cuốn nhật ký thấm đẫm máu và nước mắt của những người chiến sỹ quân tình nguyện trên chiến trường quốc tế - một nhân chứng đầy sức thuyết phục, góp phần nói lên tội ác của cuộc chiến tranh do bọn đao phủ dưới chính quyền Pônpốt phát động chống lại nhận dân ta và nhân dân Campuchia. Đồng thời cũng phản ánh cuộc sống, chiến đấu đầy hy sinh gian khổ của bộ đội ta trong những năm làm nhiệm vụ quốc tế trên chiến trường nước bạn.
Với cương vị là những người chỉ huy, lãnh đạo các đơn vị thuộc quyền, chúng tôi rất tự hào với lớp chiến sỹ như Trần Duy Chiến, có những suy nghĩ và hành động đã được thể hiện trong cuốn nhật ký của anh. Xin cảm ơn nhà văn Đặng Vương Hưng, và những người thực hiện đã có công sưu tầm, biên soạn một cách công phu và xuất bản cuốn nhật ký của liệt sỹ Trần Duy Chiến thật đúng lúc. Mong rằng “sự kiện Trần Duy Chiến” sẽ được tiếp tục trong thời gian tới. Có thể nói cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và làm nhiệm cụ quốc tế trên chiến trường Campuchia của một bộ phận quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với nền an ninh nước nhà, bảo đảm sự tròn vẹn lãnh thổ của tổ quốc thân yêu của chúng ta; thực hiện câu nói bất hủ của Bác: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước!”. Sau khi Chiến hy sinh, anh được đồng đội đưa về phía sau mặt trận, tạm thời chôn cất tại nghĩa trang của quân tình nguyện Việt Nam, cạnh sân bay quốc tế tỉnh Bát Tam Băng – Campuchia. Trước khi quân tình nguện hoàn thành nhiệm vụ quốc tế rút về nước, hài cốt của Trần Duy Chiến được đưa về an táng tại nghĩa trang liệt sỹ tỉnh Bình Dương. Ngày 28-4-2007, theo nguyện vọng của gia đình và cũng là ý nguyện của Trần Duy Chiến, đã có lần anh ghi trong cuốn nhật ký, chúng tôi đã cùng với lãnh đạo quận Sơn Trà, quê anh, tổ chức di dời hài cốt của anh về nghĩa trang thành phố Đà Nẵng. Anh sẽ được vĩnh viễn nằm lại trên quê hương, bên cạnh đồng đội và người thân của anh. Dưới đây là một số hình ảnh trong lần di dời hài cốt Trần Duy Chiến từ nghĩa trang liệt sỹ tỉnh Bình Dương về nghĩa trang thành phố Đà Nẵng. (ảnh) Ngày 20-04-2007 nhà văn Đặng Vương Hưng (người biên soạn và giới thiệu cuốn nhật ký của liệt sỹ Trần Duy Chiến) và tác giả bài viết này (người chỉ huy Sư đoàn 309 lúc Trần Duy Chiến hy sinh), viếng mộ Trần Duy Chiến tại nghĩa trang tỉnh Bình Dương trước khi di dời hài cốt về nghĩa trang thành phố Đà Nẵng. (ảnh) Vô cùng thương tiếc liệt sỹ Trần Duy Chiến và các chiến sỹ đã hy sinh vì sự nghiệp bảo vệ tổ quốc và nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia. (ảnh) Hài cốt đồng chí Trần Duy Chiến đã được đưa lên khỏi mộ, để chuyển về nghĩa trang thành phố Đà Nẵng (tác giả ngồi giữa cùng với người thân của liệt sỹ). Tiêu đề: Re: Nghĩa Tình Đồng Đội Gửi bởi: crawling0805 trong 14 Tháng Giêng, 2011, 12:07:40 pm TÌM NGƯỜI THƯƠNG BINH MÙ HAI MẮT Đó là Nguyễn Văn Hóa (ảnh), nguyên Phó Tiểu đoàn trưởng, Tiểu đoàn công binh số 25, thuộc Sư đoàn bộ binh 309. Trong những năm 80 của thế kỷ 20, vì có những thành tích đặc biệt xuất sắc trong nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, Tiểu đoàn công binh 25 được tuyên dương là đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Trong thành tích chung của tập thể cán bộ, chiến sỹ tiểu đoàn, chúng tôi ghi nhận sự đóng góp xứng đáng của anh Nguyễn Văn Hóa. Sinh ra và lớn lên ở một huyện miền núi nghèo, Quế Sơn tỉnh Quảng Nam, Hóa đã có mặt từ những ngày đầu của cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và cùng với đoàn quân tình nguyện làm nhiệm vụ quốc tế trên đất nước Chùa Tháp. Nhiệm vụ của công binh ở chiến trường rất nặng nề và phức tạp. Bao nhiêu trận đánh cấp Sư đoàn, Trung đoàn, có khi cả Tiểu đoàn đều có sự tham gia của Tiểu đoàn công binh: làm đường cơ động cho xe tăng, pháo binh, dò gỡ mìn địch, khắc phục vật cản cho bộ binh vào chiến đấu, bắc cầu qua sông, qua suối, xây dựng công trình Sở chỉ huy, kho trạm, và cả nhiệm vụ truy quét địch trên địa bàn được phân công… Một đặc trưng của chiến trường Campuchia là mìn. Mìn ở đây gồm nhiều chủng loại, được bố trí rất tinh vi, nham hiểm. Người lính công binh phải thành thạo các động tác phát hiện, dò gỡ trên cơ sở phải nắm chắc nguyên lý cấu tạo của từng loại mìn và am hiểu tường tận thủ đoạn bố trí của địch. Cũng vì không thông thạo những nội dung trên, tỷ lệ thương vong của bộ đội trên chiến trường do mìn địch rất cao. Có nhiều trận đánh không thành, phải trả giá… Tiểu đoàn công binh Sư đoàn 309, đảm nhiệm địa bàn hết sức phức tạp về địa hình, thời tiết với nhiều đơn vị địch trên tuyến biên giới miền cực Tây và Tây bắc tỉnh Bát Tam Băng. Trong những năm làm nhiệm vụ quốc tế, Nguyễn Văn Hóa đã cùng với tập thể chỉ huy, lãnh đạo Tiểu đoàn 25 hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đáp ứng với những yêu cầu trong chiến đấu, xây dựng và giúp bạn. Nơi nào khó khăn, nơi đó có Hóa cùng tập thể chỉ huy của Tiểu đoàn. Với một đối tượng tác chiến, trước đây là “học trò” của các lực lượng vũ trang ta, trên chiến trường, địch đã tiến hành kiểu chiến tranh du kích, nhằm tiêu hao lực lượng, gây cho ta không những bị loại khỏi vòng chiến đấu trên chiến trường, mà còn là hậu quả lâu dài đối với nhân dân ta, đất nước ta. Để giảm bớt thương vong, người lính trên chiến trường không thể chỉ trải qua những khóa huấn luyện trong nhà trường hay trên bãi tập mà phải tìm những kinh nghiệm trong thực tế chiến đấu la hết sức quan trọng. Nguyễn Văn Hóa là tấm gương tự học, tự nghiên cứu và truyền đạt những kiến thức cho đồng đội. Tiêu đề: Re: Nghĩa Tình Đồng Đội Gửi bởi: crawling0805 trong 14 Tháng Giêng, 2011, 07:06:34 pm Những năm đầu của cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và làm nhiệm vụ quốc tế, bộ đội ta có bị bất ngờ trước những thủ đoạn của địch trên chiến trường. Hóa đã thu gom nhiều trái mìn “lạ”, anh đã bỏ ra nhiều thời gian công sức để nghiên cứu nguyên lý, cấu tạo của từng loại mìn: mìn đạp nổ, mìn vướng nổ, mìn điện (chạy bằng pin), mìn nhảy cao, mìn nhảy thấp, mìn chống bộ binh, chống xe tăng, …
Bước vào “phòng ngủ” của Hóa (là túp lều trong khu vực đóng quân tại chiến trường) ta có cảm tưởng đây là một cái “xưởng chế tạo bom, mìn”. Trong các góc nhà, chỗ nào cũng có mìn, có trái sau khi lấy thuốc nổ ra chỉ còn vỏ; có trái đã tháo kíp; có cả những trái vừa mới đi tháo gỡ trên biên giới về. Tất cả đã bị Hóa làm mất tác dụng và trở thành những “học cụ” (đồ dùng huấn luyện) để truyền đạt kiến thức và những kinh nghiệm cho các lớp chiến sỹ trẻ ngay trên chiến trường. Tích cực mày mò, nghiên cứu, Hóa đã tích lũy nhiều kiến thức, ở nhà trường và cả trong sách vở không thể có đầy đủ được. Kiến thức của Hóa, dĩ nhiên đã trở thành kiến thức của Tiểu đoàn công binh số 25. Ngoài những kiến thức về mìn, chất nổ, để giúp chính quyền và lực lượng vũ trang cách mạng xây dựng tuyến phòng thủ quốc gia dọc biên giới, trong thời gian chuẩn bị, Tiểu đoàn công binh đã tổ chức những lớp tập huấn chuyên môn về mìn và các kiểu dáng công sự, hầm hào, Nguyễn Văn Hóa là một trong những “giáo viên” đào tạo nên đội ngũ chuyên môn kỹ thuật, sau này đã làm nòng cốt, nhân rộng ra trong các lực lượng vũ trang cách mạng và nhân dân tỉnh Bát Tam Băng trong nhiệm vụ xây dựng tuyến phòng thủ quốc gia (K5). Là người chỉ huy, mỗi khi giao nhiệm vụ cho Nguyễn Văn Hóa, bao giờ chúng tôi cũng yên tâm. Mùa khô năm 1982 Sư đoàn mở chiến dịch tổng hợp đánh chiếm các căn cứ của địch trên tuyến biên giới Campuchia- Thái Lan, Tiểu đoàn công binh đã mở hàng chục km đường cơ động. Đêm giao thừa, trong khi nhiều đơn vị ở tuyến sau đang tập trung bên những chiếc radio nghe các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước chúc tết đồng bào ta, theo dõi chương trình đón xuân mới thì trên tuyến biên giới phía Tây tỉnh Bát Tam Băng, Hóa cùng với tiểu đoàn công binh chia nhau từng nắm cơm, từng bi đông nước, đốt đuốc, cưa cây làm đường để đưa pháo vào chiếm lĩnh. Các anh đã gỡ được hàng chục quả mìn chống bộ binh và chống xe tăng, đưa đội hình bước vào triển khai chiến đấu đúng thời gian quy định. Nhờ đó, trận đánh đã giành thắng lợi một cách xuất sắc. Trong một trận khác, khi bộ binh đánh chiếm được căn cứ của một trung đoàn địch đã phát hiện một hang đá chứa gần chục chiếc xe ô tô và hàng trăm xe đạp thồ, trước khi tháo chạy, địch đã bố trí mìn dày đặc xung quanh hang đá, dưới bánh xe, dưới ghế ngồi… Tiêu đề: Re: Nghĩa Tình Đồng Đội Gửi bởi: crawling0805 trong 14 Tháng Giêng, 2011, 10:39:07 pm Tức khắc công binh của Sư đoàn được điều đến. Sự chỉ huy, điều khiển bộ đội và trực tiếp dò gỡ của Hoàng Văn Khạ - Tiểu đoàn trưởng và Nguyễn Văn Hóa – Phó Tiểu đoàn trưởng, đã vô hiệu hóa hàng trục trái mìn, đưa số xe ô tô và các chiến lợi phẩm khác về phía sau được an toàn…
Và còn nhiều thành tích, công lao khác của Tiểu đoàn 25 nói chung, của cá nhân Nguyễn Văn Hóa nói riêng đã được ghi nhận và đánh giá cao. Tiếc thay: “Ai chiến thắng mà không hề chiến bại, Ai nên khôn mà chẳng dại một đôi lần…” Nói sai, viết sai có khi chỉ cần một câu đính chính hoặc một vài lời xin lỗi là xong. Với “nghề” công binh chỉ cần sai một lần là phải trả giá có khi cả sinh mạng của một hoặc nhiều người. Trong một lần huấn luyện, nghiên cứu mìn tại chiến trường để phục vụ kịp thời cho nhiệm vụ chiến đấu, một trái mìn phát nổ đã làm Hóa bị mù hai mắt, bị cụt một tay. Thật là đau xót – một mất mát của đơn vị, một bất hạnh đến với Hóa và người thân cảu anh. Hóa được chuyển về hậu phương – Từ đó đến nay chúng tôi không biết anh ở đâu. Trong cuộc mưu sinh để tồn tại, anh xoay xở ra sao khi bóng đen phủ một lớp dày lên mặt, lên cả gia đình anh. Cụt một tay còn có tay kia, cụt hai tay còn có hai chân… Mù hai mắt, cuộc đời chìm trong bóng tối… Hàng năm cựu chiến binh Sư đoàn nhóm họp, thiếu vắng tin tức Nguyễn Văn Hóa. Chúng tôi có cử cán bộ đi tìm nơi anh cư ngụ ở huyện Quế Sơn nhiều lần nhưng không gặp. Lần này tôi quyết tìm anh. Tình cờ có một người bạn chưa biết mặt tên là Nguyễn Tấn Thái gọi điện cho tôi. Nhân đọc “Tây tiến viễn chinh”, Thái biết tôi qua lời giới thiệu của một nhà biên soạn được thể hiện trong cuốn sách. Từ đó tôi biết được Thái ở huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam. Tôi nhờ Thái tìm chỗ ở của Nguyễn Văn Hóa. Gần một năm sau, Nguyễn Tấn Thái gọi điện báo tin cho tôi: “Hóa hiện là hội viên Hội người mù tỉnh Quảng Nam – Địa chỉ: 604 Phan Chu Trinh – TX. Tam Kỳ - Tỉnh Quảng Nam. Điện thoại: 0510 852634”. Thế là câu chuyện đã được “gỡ nút”. Tiêu đề: Re: Nghĩa Tình Đồng Đội Gửi bởi: crawling0805 trong 14 Tháng Giêng, 2011, 10:40:25 pm Ngày 8-11-2006 tôi đến thị xã Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
Đây rồi, mặt tiền của con đường Phan Chu Trinh hiện lên tấm biển: HỘI NGƯỜI MÙ TỈNH QUẢNG NAM. Bước xuống xe tôi, đi thẳng vào nhà. Ngồi trong phòng chờ mà lòng tôi thấy nôn nao, xúc động. Từ phòng trong, Hóa lần theo bờ tường đến chỗ tôi. Nếu tôi không chào anh, chắc chắn anh không biết tôi đang đứng bên cạnh. - Hóa đấy phải không? Đã bao năm nay anh em không biết Hóa ở đâu… - Thủ trưởng Hồng! Em không thấy gì hết! – Hóa xúc động mạnh. - Cậu không thấy mình, nhưng mình thấy cậu rất rõ từ bên Campuchia cơ!... (ý tôi muốn nói là thấy được công lao to lớn và sự hy sinh ủa Hóa ở chiến trường để kêu gọi chút tự hào trong anh). Và tôi cũng đã nói chuyện với Hóa tình hình của tiều đoàn công binh từ sau ngày Hóa bị thương(1983) đến nay: một vinh dự lớn là tiểu đoàn công binh 25 được tuyên dương anh hùng lực lượng vũ trang trên chiến trường quốc tế, một niềm vinh dự cho tiểu đoàn công binh nói riêng, cho Sư đoàn 309 nói chung. Trong đó có sự đóng góp xứng đáng của những người cán bộ như Hóa. Có một điều lạ là tiếp tôi ngoài Nguyễn Văn Hóa còn có 2 người nữa: một người thuộc Sư đoàn 2, tên là Châu Văn Lan; một người là nhân viên dân sự ngành địa chất tỉnh Quảng Nam, Nguyễn Sự. Ba anh em cùng là hội viên Hội người mù, có lẽ cùng tuổi với nhau và đặc biệt cùng mù cả hai mắt và cụt tay phải… Biết nói gì với Hóa và 2 người mù trong lúc này. Một câu động viên an ủi? Quá quen thuộc và lạc lõng… so với sự hy sinh của các anh. Hy sinh một phần cơ thể ở chiến trường chỉ là một, sự hy sinh của phần đời còn lại mới to lớn làm sao… Tiêu đề: Re: Nghĩa Tình Đồng Đội Gửi bởi: crawling0805 trong 14 Tháng Giêng, 2011, 10:41:25 pm Tôi định bụng hỏi anh về gia đình vợ, con và cuộc sống hàng ngày? Song, tôi đã được biết vợ anh đang làm hộ lý ở bệnh viện huyện Quế Sơn, một huyện miền núi nghèo của tỉnh Quảng Nam. Bao năm anh đi chiến đấu, ở nhà chị dành dụm từng đồng tiền để chu cấp cho 2 đứa con vào đại học, những mong sau khi hoàn thành nhiệm vụ anh về đỡ bớt gánh nặng đè lên đôi vai người vợ đáng thương. Ngày đón anh về, vợ con anh thất vọng khi anh không còn nhìn thấy gì nữa… Nếu còn một mắt dẫn đường, với sự năng động, cần cù của một người lính như anh thì anh đâu có mặt trong cái Hội người mù này… Còn về kinh tế ư? Điều này cũng khỏi cần phải hỏi đối với một quân nhân sinh ra và lớn lên ở một miền quê nghèo – Quế Sơn – Quảng Nam, ngoài đồng tiền chính sách, một người mù hai mắt, cụt một tay thì còn nguồn thu nào khác ngoài những tấm lòng hảo tâm… Giá như anh có một cái sổ tiết kiệm, mỗi tháng chỉ cần dăm bảy chục bạc! Tôi nghĩ bụng…
Để xua tan khoảng trống im lặng, tôi lấy ra cuốn hồi ức “Cuộc chiến tranh bắt buộc” đưa tận tay hóa: - Mình tặng cậu cuốn sách, viết về những năm tháng Sư đoàn ta làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia. Trong đó mình có viết về cậu và Tiểu đoàn công binh 25. Lúc nào anh chị em ở đây rảnh rỗi, cậu nhờ họ đọc cho nghe!... Nói thật lòng, mình và cả Sư đoàn chịu ơn cậu nhiều lắm. Đơn vị hoàn thành được nhiệm vụ cũng nhờ đóng góp công lao và cả sự hy sinh của những người như Hóa!... Trong chiến tranh, có thắng lợi nào mà không phải trả giá đâu. Biết nói gì hơn. Sau khi tìm được nơi ở của Nguyễn Văn Hóa, thấy được hoàn cảnh của anh và gia đình thật khó khăn, tôi đã trao đổi với ban liên lạc truyền thống hội cựu chiến binh Sư đoàn 309 tại thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng Nai về trường hợp của đồng chí Nguyễn Văn Hóa. Sau tết nguyên đán Đinh Hợi, hội cựu chiến binh sư đoàn nhóm họp theo định kỳ. Thật cảm động biết bao trước nghĩa tình đồng đội của hội cựu chiến binh dành cho đồng chí Hóa. Ban liên lạc truyền thống vừa đề xuất ý kiến giúp đỡ đồng chí Hóa, đã được toàn thể hội viên hưởng ứng nhiệt liệt. Cùng với những tấm lòng hảo tâm của những cựu chiến binh, thường vụ Đảng ủy và chỉ huy Sư đoàn 309, những người đang kế tục sự nghiệp truyền thống của Sư đoàn cũng chia sẻ những đau thương mất mát của đồng đội sau chiến tranh. Đến ngày 22-04-2007, chúng tôi đã tiếp nhận được 10 triệu đồng của các tổ chức và các cá nhân hội cựu chiến binh sư đoàn và của tập thể lãnh đạo, chỉ huy Sư đoàn 309. Ngày 28-05-2007, Ban liên lạc truyền thống Hội cựu chiến binh Sư đoàn 309 đã cử đồng chí Hoàng Văn Khạ, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn công binh 25 thuộc Sư đoàn 309 cùng đại diện thay mặt chỉ huy Sư đoàn 309 đã về huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam trao tận tay đồng chí Hóa và gia đình số tiền nói trên. Cùng dự có đại diện ngành lao động thương binh và xã hội ở địa phương và đại diện UBND xã, nơi đồng chí Hóa cư ngụ. Chúng tôi xin chuyển lời cảm ơn chân thành của đồng chí Hóa và gia đình anh, của địa phương nơi anh cư ngụ đến Thường vụ Đảng ủy và chỉ huy Sư đoàn 309, Hội Cựu chiến binh Sư đoàn tại TP.HCM và tỉnh Đồng Nai. Mọi thông tin xin liên hệ: Ban liên lạc hội cựu chiến binh Sư đoàn 309 (đồng chí Nguyễn Xuân Lục). Địa chỉ: Số 61, đường Cộng Hòa, Phường 13, Quận Tân Bình – TP.HCM. Hoặc tác giả bài viết này: Đại tá. Nguyễn Văn Hồng – ĐT: (08).8105660 – 0913.957777. Tiêu đề: Re: Nghĩa Tình Đồng Đội Gửi bởi: crawling0805 trong 15 Tháng Giêng, 2011, 10:15:59 pm CHIẾN TƯỚNG LÊ CHÍ THUẬN Trước khi viết bài này, tôi đã được dự ngày sinh nhật lần thứ 80 của ông tại nơi ông thường trú, phường 13, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh. Tôi nói với ông, tôi sẽ viết một bài về ông với tình nghĩa đồng chí, đồng đội, mừng thọ ông, ông nhất trí. Tôi lục tìm trong trí nhớ của mình, xới tung lên bao sự kiện về ông mà tôi và nhiều người khác đã sống và chiến đấu cùng với ông trên các chiến trường trong các cuộc chiến tranh đã qua. Gọi ông là “chiến tướng” như lời một đồng chí đã nói trong buổi mừng thọ ông, vì suốt cuộc đời binh nghiệp, từ anh lính binh nhì lên đến cấp tướng chủ yếu gắn liền với những bước quân hành của ông với đồng đội trên chiến trường. Ông có nhiều nét đặc trưng rất cá tính của một người từng trải. Đỉnh cao của vinh quang đi liền với những trận đánh xuất sắc và những vết thương đầy mình. Song, cuộc đời, ông cũng là một trong những người bất hạnh. Số phận của mỗi con người là một câu chuyện bi hài, không ai giống ai. Trong sự nghiệp: có thành công, có thất bại; có may mắn, có rủi ro. Trong đời thường hạnh phúc luôn đi kèm nỗi bất hạnh… Bởi vậy, khi viết về ông, tôi không né tránh điều gì, và, cũng vì ông không phản đối. Ông có cái tên cúng cơm, nói đúng hơn là tên được cha mẹ đặt cho vừa lúc mới lọt lòng là “Nẹt” – Lê Văn Nẹt. Có thể nhìn khuôn mặt của ông lúc nhỏ, người ta đoán được tính tình, phong cách của ông sau này cho phép ông được “ăn to nói lớn”. Theo các nhà thần học thường hay xem tướng số, họ “nhìn mặt, đặt tên”. Cái tên là một phần “bản sao” của đức tính. Những người sau này công tác với ông hay dưới quyền ông, phần lớn đều có cảm nhận như vậy. Tuy nhiên, chúng tôi thường vẫn gọi tên ông là “Thuận” – Lê Chí Thuận. Cái tên này không biết có từ bao giờ. Theo phán đoán của chúng tôi, khi ông lớn lên, trưởng thành lên, muốn ông thuần tính hơn, ôn hòa hơn, người ta đặt tên cho ông là Thuận, ngược 1800 với tên do cha mẹ đặt ra lúc còn nhỏ. Còn chữ lót “Chí” (vợ ông là bà Chí) có thể xuất phát từ mối tình của ông đối với bà, lúc tình yêu cảu hai người lên đến đỉnh điểm. Những mối tình đầu đời, người ta thường làm một cái gì đó thật ý nghĩa để nói lên, đại loại như “ Em là một phần của đời anh” hoặc “đời anh không thể thiếu em”, … Ông đã lấy tên bà làm tên lót cho mình. Sau này, ông thường nói là “mụ Chí” mỗi khi nói về bà. Tiêu đề: Re: Nghĩa Tình Đồng Đội Gửi bởi: crawling0805 trong 15 Tháng Giêng, 2011, 10:17:22 pm Chiến tranh chống Pháp, tôi không được biết, chỉ nghe ông kể. Chiến tranh chống Mỹ, chúng tôi được biết khã rõ về ông. Khi tôi có mặt tại chiến trường Liên Khu Năm, trong những năm 1965, 1966 trở đi, ông Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 52, Quân khu 5, sau đó Trung đoàn trưởng Trung đoàn 12, rồi Phó Sư đoàn trưởng Sư đoàn 3 Sao Vàng. Một trong những trận đánh vang dội nhất tại chiến trường Khu 5 do ông chỉ huy là trận tiêu diệt gọn tiểu đoàn đồn trú toàn là lính dân tộc Re khét tiếng gian ác tại căn cứ Giá Vụt thuộc tỉnh Quảng Ngãi, một trong những căn cứ vững chắc nhất của địch ở miền Trung. Căn cứ này có 9 lớp rào kẽm gai đủ loại, xen kẽ mìn sát thương bộ binh và mìn chống xe tăng. Trong căn cứ có hầm ngầm, hệ thống hỏa lực chặt chẽ và công sự vững chắc. Thế mà chỉ trong một đêm đã bị Lữ đoàn 52 của ông san bằng. Với lối đánh táo bạo, triệt để lợi dụng địa hình rừng núi, ông đã tổ chức đưa pháo vào gần, lên cao, chế áp mãnh liệt căn cứ địch, đảm bảo cho bộ binh mở cửa, đột phá thành công. Đồng thời trên các ngả đường, quân ta cắt đứt mọi sự chi viện của địch từ bên ngoài vào tăng viện, ứng cứu.
Khi ông về làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 12, hoạt động ở chiến trường Nam Bình Định, ngoài quân chủ lực Sài Gòn, đối tượng tác chiến là Mỹ và Đại Hàn (Nam Triều Tiên). Những trận đánh đãm máu, thắng lợi vang dội ở vùng đồng bằng và đặc biệt là những trận đánh giao thông trên trục đường 19, đèo An Khê tiêu diệt và phá hủy nhiều đoàn xe vận tải của địch, đều có mặt ông. Suốt dải đất miền Trung, hầu như nơi nào cũng in dấu chân ông: Ba Tơ, Giá Vụt, Minh Long, Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Nghĩa Hành… (thuộc Quảng Ngãi); Hoài Ân, Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát, An Nhơn, Tuy Phước, Bình Khê, Vĩnh Thạnh (tỉnh Bình Định); rồi đến Gia Lai, Phú Yên, Đắc Lắc… Tất nhiên, ông đi đâu, chúng tôi đi đó, nhưng với cương vị ông, bước chân ông phải rộng hơn, dài hơn. Những bạn bè, đồng đội cùng trang lứa với ông, trong đời binh nghiệp đều thành đạt: Thiếu tướng Nguyễn Duy Thương, Thiếu tướng Lê Huẩn, Thiếu tướng Trần Bá Khuê, Thiếu tướng Huỳnh Hữu Anh, Đại tá Nguyễn Văn Vợi. Thiếu tướng Mai Tân, … Các anh đã qua một thời khói lửa với bao chiến công hiển hách đi liền với sự mất mát thương đau… Ông thuộc loại “cao số”. Trước hết là về tuổi tác, năm nay ông làm thượng thọ 80. Song, nhìn vóc dáng, ông còn phong độ lắm. Đã có lần ông thổ lộ với tôi: “Nhiều đêm sinh lý đòi hỏi, làm tao không ngủ được!”. Có lẽ ông hồi xuân đấy! Ông được tận hưởng gien của ông bà. Ông già thân sinh ra ông mất ở tuổi 93, Nếu trong điều kiện được chăm sóc về y tế tốt, ông già của ông có thể chưa phải “đi” ở cái tuổi này. Còn ông, nhìn phong thái, dám chắc ông sẽ vượt lên tuổi của ông già. Song ai mà biết được, vì còn nhiều nguyên nhân “nặng ký’, tác động lên tuổi thọ của ông. Nói chuyện với ông, ta có cảm tưởng là không đủ thời gian cho ông nói; mà toàn là chuyện chiến đấu. Tôi rất thích được hầu chuyện ông. Vì tôi không cần phải nói nhiều. Có lần ngồi trong xe, bên cạnh ông, tôi đã ngủ thiếp đi lúc ông đang kể một câu chuyện tấn công vào một mục tiêu nào đó, lúc ông còn là Đại đội trưởng. Khi ông vỗ vào vai, tôi mới sực tỉnh. Ngoài chuyện chiến đấu, ông biết nói gì khi hầu như cả cuộc đời ông theo sát gót chân người chiến sỹ trên chiến trường. Tiêu đề: Re: Nghĩa Tình Đồng Đội Gửi bởi: crawling0805 trong 15 Tháng Giêng, 2011, 10:19:15 pm Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, hết giặc, ông chuyển sang làm kinh tế với cương vị là Tư lệnh đoàn 333 (tương đương cấp Sư đoàn). Cấp trên giao cho ông một phần Tây Nguyên. Ông phải đánh thức vùng đất này, phải làm ho nó giàu lên, ít nhất cũng thay đổi cho được nếp suy nghĩ và sinh hoạt cho một bộ phận nhân dân các dân tộc ở đây, đã bao đời ủng hộ cách mạng, đã được giải phóng, đang cần sự quan tâm của những người làm cách mạng. Trong chiến đâu, ông đã có những hành động táo bạo; trong làm kinh tế, tuy chưa có nhiều kinh nghiệm, song, lần đầu tiên lên vùng đất này, ông nghĩ ngay đến “nước”, phải làm một cuộc “cách mạng nước”. Đất đã giành lại được rồi, bây giờ vùng này, có nước là có tất cả. Được trung ương quan tâm (quan tâm ở đây nghĩa là đông tình với ông, ủng hộ đề xuất của ông) phải xây dựng một công trình thủy lợi (hồ chứa nước) chí ít cũng là tầm cỡ khu vực. Chẳng bao lâu, giữa một vùng đồi núi đã xuất hiện một hồ nước mênh mông (EAKA). Đi thuyền trên hồ làm ta nhớ đến bài hát “Hồ trên núi” của Phó Đức Phương. Những cánh rừng khô hạn, vàng úa thay vào đó là những nông trường cà phê trĩu quả, những ruộng lúa xanh tươi, gió vờn lượn sóng, những vườn rau, ao cá, chuồng heo, chuồng bò xen lẫn với những bản làng đông vui. . Người dân nơi đây đã thực sự được đổi đời. Các vị lãnh đạo Đảng và nhà nước ở trung ương thay nhau vào chỉ đạo và rút kinh nghiệm cho vùng đất này.
Những tưởng ông sẽ gắn bó với mảnh đất này đến cuối đời, chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra, kéo ông trở lại chiến trường. Năm 1978 để đối phó với tình hình biên giới diễn biến ngày càng phức tạp, Bộ tư lệnh quân khu 5 quyết định thành lập Sư đoàn bộ binh 309. Từ khắp các địa phương, chúng tôi cùng với ông lên biên giới. Ông là người chỉ huy đầu tiên của Sư đoàn 309, bắt đầu lao vào trận tuyến mới. Trong mười năm chiến tranh biên giới Tây Nam và làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, ông đã thể hiện là một cán bộ chỉ huy dày dạn kinh nghiệm. Trong chiến tranh chống Mỹ, ông sống và chiến đấu bằng những kinh nghiệm thực tế trên chiến trường. Những kinh nghiệm đó lại được bổ sung trong những năm làm nhiệm vụ quốc tế. Ai đã đến những vùng xa xôi của đất nước Chùa Tháp, dù là thành thị hay nông thôn và trên tuyến biên giới giáp Thái Lan, gặp cán bộ chính quyền địa phương từ huyện lên đến tỉnh, họ đều biết ông Thuận là ai. Tại tỉnh Bát Tam Băng và một số vùng thuộc tỉnh Xiêm Diệp, nhiều người gọi ông là chú Tư, ông Tư, bác Tư. Có người còn đặt tên cho một đoạn đường ở Bát Tam Băng là “đường Ông Thuận”. Chả là đi đâu, ở đâu ông cũng quan tâm đến đường sá. Vì ở đây, đường sá gắn liền với sự sống còn của các lực lượng ta trên chiến trường. Hai vấn đề được ông và Bộ tư lệnh mặt trận quan tâm nhiều nhất là làm đường và trồng cây. Thấy ông rầy la quá, nhiều người thấy khó chịu, cho ông là cực đoan. Thấy ông đến, ít người muốn tiếp xúc ông, lại gần ông. Những ai có tính hay tự ái lại càng tránh xa ông. Có lần ông đi kiểm tra một đơn vị nọ, không thấy chủ trương trồng cây của ông được thực hiện, giờ nghỉ trưa, ông tự mình và kéo theo đồng chí công vụ ra vườn đào hố trồng mấy cây chuối. Mấy tháng sau, ông quay lại, mấy khóm chuối của ông đã xanh tốt, có cây đã cho ra bắp chuối đỏ au, xòe cánh, để lộ ra những nhánh chuối quả non trông thật đẹp mắt. Thế là được dịp, ông lại càng la hét. Anh em chiến sỹ thương ông khi trên mâm cơm đã có thêm thịt, cá, rau, quả,…tự tay mình làm ra. Tiêu đề: Re: Nghĩa Tình Đồng Đội Gửi bởi: crawling0805 trong 15 Tháng Giêng, 2011, 10:20:27 pm Ông còn hướng dẫn cho chúng tôi trồng sen, gieo hạt sen. Ông nói:
- Chuẩn bị một bao đất sét, ngồi trên thuyền, nếu không có thuyền thì ngồi trên bè chuối cũng được, lấy đất sét vo tròn như những cái trứng chim cút, nhét hạt sen vào đó, rải xuống ao hồ. Rồi cả việc xây dựng doanh trại trên chiến trường, ông “bắt” bộ đội xây là vôi, lò gạch, lên rừng đốn gỗ về làm nhà. Ông nói: “Không được xin dân, dân ở đây còn khổ lắm!” . Đóng quân ở đâu, dù đồng bằng hay rừng núi, vị trí đóng quân phải là một điểm tựa, cụm điểm tựa, đề phòng địch tập kích. Cũng là người chỉ huy, tôi đồng tình với hành động của ông. Khi vận động bằng lý thuyết không có hiệu quả, người cán bộ chỉ huy, lãnh đạo phải lấy hành động của mình làm gương, như vậy tiếng nói của mình mới có sức thuyết phục. Công việc ở chiến trường thật bề bộn. Nước sông, công lính. Ông đi đến đâu, ở đó sôi động hẳn lên. Việc bức xúc nhất, các cấp quan tâm nhiều nhất là công tác bảo đảm hậu cần. Trong những năm đầu tiên làm nhiệm vụ quốc tế ở tỉnh Bát Tam Băng, một nơi cách xa hậu phương hàng ngàn cây số, công tác bảo đảm vật chất cung cấp cho bộ đội gặp rất nhiều khó khăn. Trước yêu cầu của chiến trường, người chỉ huy nào có trách nhiệm chẳng phải lo lắng. Hàng tuần trong các buổi hội nghị giao ban ở cơ quan Sư đoàn luôn căng thẳng. Tư lệnh với trách nhiệm trước hàng ngàn người, phải lo cho họ có đủ những yếu tố cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu. Một trong các yếu tố đó là công tác đảm bảo hậu cần. Vì vậy cơ quan được nêu lên nhiều nhất, “được” chỉ trích nhiều nhất là cơ quan hậu cần. Nhưng để đảm bảo đầy đủ cơm, áo, gạo, tiền trong bối cảnh đất nước vừa qua khỏi cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, hậu phương cách xa hàng ngàn cây số, đâu phải chuyện đơn giản. Ngành hậu cần cũng rất bức xúc trước nhiệm vụ nặng nề nhưng khả năng còn nhiều bất cập. Ở đây phải có sự nỗ lực rất lớn. Người chỉ huy và cơ quan phải xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ và khả năng cao nhất có thể để khắc phục từng vấn đề mấu chốt, giữa tự thân vận động với sự chi viện của cấp trên và tận dụng những điều kiện tại chỗ. Có như vậy mới bảo đảm cho một lực lượng khá lớn, hoạt động lâu dài trên một địa bàn khó khăn, phức tạp. Ông là người luôn năng động, miệng nói tay làm. Sống và công tác với ông mấy chục năm, tôi chưa bao giờ nghe ông kể một câu chuyện tiếu lâm. Đức tính cương trực, mạnh mẽ thật tương xứng với vóc dáng phương phi và giọng Huế oang oang của ông. Tuy nhiên, ông hay mủi lòng khi nói chuyện trước công chúng về sự hy sinh, mất mát của đồng đội. Không kiềm được cảm xúc, ông khóc, khiến nhiều người nước mắt cũng chảy quanh hoặc làm cho không khí trong hội trường chùng xuống, im lặng hồi lâu. Có người nghĩ: ông đóng kịch. Riêng tôi thì không. Ông khóc thật. Khóc tự trong đáy lòng mình. Những cán bộ, chiến sỹ có thành tích, tận tụy với công việc, ông không bao giờ quên và luôn nhắc đến họ. Ngược lại ông nhớ rất lâu, chỉ trích mạnh mẽ và hay định kiến với những ai không cùng chính kiến, làm ông phật ý. Đây thực sự là một điểm yếu trong con người ông, làm khổ ông. Bởi vậy, nhiều người thương ông, tôn trọng ông, thông cảm với ông, nhưng họ ít muốn gần ông. Mọi viếc rắc rối thường sinh ra từ hai phía. Tiêu đề: Re: Nghĩa Tình Đồng Đội Gửi bởi: crawling0805 trong 15 Tháng Giêng, 2011, 10:21:28 pm Từ khi ông là phó tư lệnh Mặt trận 479, các chiến dịch mở ra, ông thường được phái xuống chỉ đạo trên một hướng độc lập. Có lẽ, vì trước khi lên mặt trận, ông là Sư trưởng Sư 309, hoạt động ở tỉnh Bát Tam Băng, nên phần nhiều ông đi lên hướng đó. Cũng hợp lý thôi. Ông tổ chức sở chỉ huy hỗn hợp, bao gồm các thành phần: Chủ tịch (hay phó chủ tịch) ủy ban nhân dân tỉnh, chỉ huy trưởng (hoặc tham mưu trưởng) Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, trưởng hoặc phó đoàn chuyên gia quân sự và dân sự tỉnh cùng đại diện các đơn vị cần thiết theo yêu cầu nhiệm vụ thuộc quân tình nguyện Việt Nam. Nhờ đó mối quan hệ giữa các lực lượng ngày càng chặt chẽ, tạo được sức mạnh tổng hợp trên cùng một địa bàn. Đồng thời trong quá trình phối hợp hoạt động , các cơ quan chính quyền và lực lượng vũ trang địa phương có điều kiện chủ động giải quyết công việc của mình theo từng nhiệm vụ và cương vị được giao.
Ông là một trong những người may mắn, nhiều lần thoát chết. Có lần thoát chết trong một trận B52 của Mỹ, những lần bị phục kích, bị mìn và bị Sư đoàn Mãnh Hổ, Nam Triều Tiên bao vây nhiều ngày tại núi Bà tỉnh Bình Định. Trong những lần đó, nhiều người bị thương vong, riền ông vẫn bình an. Tôi còn nhớ, một lần chiếc xe U – Oat chở ông trên đường số 5 từ Si Sô Phôn về thị xã Bát Tam Băng – Campuchia, bị địch phục kích, một trái đạn B40 bắn trúng đít xe. Nếu trái đạn đó trúng vào đầu hoặc giữa thân xe thì ông và mấy người trên đó đã thiệt mạng. Một lần khác, ông đi cùng tư lệnh Mặt trận lên kiểm tra biên giới, đến khu vực Đăng Kum, phía Bác Si Sô Phôn, chiếc xe GMC bị mìn, hất tung mọi người xuống đường, ông vô sự. Trong một trường hợp “may mắn” khác mà không phải ai cũng muốn là ông không có mặt trong vụ rắc rối xảy ra ở tỉnh Xiêm Diệp, năm 1983. Năm đó, đồng chí tư lệnh mặt trận 479 có trong danh sách phái đoàn quân sự nước ta, do Bộ Quốc Phòng tổ chức sang Hungari tham gia và học tập. Trước tình hình diễn biến phức tạp ở chiến trường và tiện thể đồng chí tư lệnh phó Lê Chí Thuận đang ở hậu phương, đồng chí tư lệnh Lê Thanh đã ủy quyền cho tư lệnh phó đi thay. Thế là bao nhiêu rắc rối trong vụ đánh giặc ngầm ở Xiêm Diệp gây nhiều tai tiếng, đồng chí tư lệnh lãnh đủ. Còn ông lúc đó đang ở tận trời Tây. Trong chiến đấu là thế, đi qua ba cuộc chiến tranh, thương tích đầy mình, ông luôn có mặt ở những nơi khó khăn gian khổ , ác liệt nhất. Song, đã mấy ai biết được, vị tướng ấy, cuối đời có những bất hạnh. Tiêu đề: Re: Nghĩa Tình Đồng Đội Gửi bởi: crawling0805 trong 15 Tháng Giêng, 2011, 10:22:25 pm Tôi đã từng chứng kiến cuộc đời của nhiều chiến binh dã dám xả thân vì Tổ Quốc, sống thanh cao, giản dị, trung thực, hết lòng yêu thương đồng đội, nhưng lại bất hạnh ngay từ trong tổ ấm của mình.
Ngày thượng thọ 80 của ông, hàng chục con cháu, dâu, rể về chúc mừng ông. Đồng đội, bạn bè xa gần đến thăm ông, mừng cho ông. Vợ chồng tôi cũng đến với ông. Nhưng người mẹ của ba đứa con ông không có mặt. Họ đã chia tay với nhau cách nay vài năm. Câu chuyện bi kịch của gia đình xảy ra từ sau ngày ông rời quân ngũ về nghỉ hưu. Trong cuộc sống hàng ngày, khi “cơm chẳng lành, canh không còn ngọt” thì thiếu gì chuyện để người ta nói. Thông thường những chuyện như gương “người tốt, việc tốt”, ít được nhắc đến. Thói đời là thế. Khi mâu thuẫn lên cao thì chẳng còn gì để được gọi là tốt của nhau nữa. Bà đâm đơn ly hôn. Ông thấy cay đắng quá. Viết những dòng này, tôi thấy cay cay ở khóe mắt… Những năm ở chiến trường quốc tế, bà thường sang thăm ông. Thấy ông bà sống hạnh phúc, thực lòng chúng tôi không nghĩ đến tình huống ngày hôm nay. Tình cảnh của ông bà bây giờ chẳng giống ai. Ở nhiều nước trên thế giới, vợ chồng ly hôn là chuyện thường trong các mối quan hệ gia đình và xã hội. Ở ta, vợ chồng ly hôn, nhất là khi đầu đã bạc, răng đã long là chuyện lớn lắm. Người ta xem chuyện này quan trọng đến mức sẽ có ảnh hưởng dây chuyền trong gia đình và ngoài xã hội. Ông thấy trước được vấn đề, nên đã cố gắng thuyết phục bà, và đã sử dụng đến phương cách cuối cùng là thông qua các con, mong sao bà nghĩ lại. Nhưng mọi cố gắng của ông đều bị thất bại. Đơn của bà đã nằm trên bàn ông chánh án nhiều ngày, nhiều tháng. Ông bỏ về quê để thể hiện rằng: ông không đồng ý ly hôn. Tòa gửi giấy gọi ông nhiều lần, ông đều vắng mặt. Thế là điều khoản cuối cùng của bộ luật hôn nhân và gia đình đến với ông. Tòa xử vắng mặt, thuận tình theo đơn ly hôn của bà. Tiêu đề: Re: Nghĩa Tình Đồng Đội Gửi bởi: crawling0805 trong 15 Tháng Giêng, 2011, 10:23:57 pm Một nỗi buồn khác đến với ông trước đó, cô con gái yêu quý của ông qua đời do bệnh ung thư. Một lúc ông phải mang hai cái tang: tang con và “tang tình”. Kể từ đó, từ cái ngày tòa phán quyết cho bà được ly hôn, ông sống một mình. Nói đúng hơn ông sống giữa tình đồng đội. Nhưng đồng đội cũng chỉ biết thông cảm cho hoàn cảnh éo le của ông. Biết làm gì bây giờ, đó là việc riêng của ông bà, gia đình ông bà và cái pháp lý của bản án đã tuyên.
Ông sống một mình, nhưng không cô đơn. Hàng ngày đồng đội vẫn đến thăm ông. Ông cũng vậy, hiếm khi thấy ông ở nhà. Ông vẫn năng động, mạnh mẽ, khó đoán được ông đang vui hay buồn. Thỉnh thoảng ông lại nhảy tàu về Huế, quê ông, lúc thì viếng mộ con gái, khi thăm bạn bè, người thân. Những lúc trải gió, trở trời, ông vào viện ít ngày. Đại diện hội cựu chiến binh thay nhau vào thăm ông. Năm rồi, ông khoe với chúng tôi: “Tao đã làm được hai việc: một là nâng cấp được căn nhà, hai là xây được một cái nhà thờ ở quê!”. Xây nhà thờ là một việc lớn, có mấy ai đã làm được như ông. Còn nâng cấp nhà đang ở, tôi nói: “Ông làm hơi trễ đấy! Nhưng trễ còn hơn không!”. Để kết thúc bài viết đã dài, tuy chưa nói lên hết những điều thú vị của đời ông, tôi xin trích đoạn thơ ngắn của thiếu tướng Minh Long đã được ghi lên chiếc bình hoa tặng ông trong ngày mừng thọ ông 80 tuổi” Trai xứ Huế, Đâu có giặc, Đều có mặt. Chiến tướng này Từ lính lên Trí, dũng, liêm, trung Bộc trực tính riêng. Về đời thường Vẫn tiếp tục Đấu tranh cho chân lý. Cuộc đời của ông là vậy đó. Vì ông vẫn thường được gọi là Lê Văn Nẹt. TP.HCM. Tháng 6 năm 2007. Tiêu đề: Re: Nghĩa Tình Đồng Đội Gửi bởi: crawling0805 trong 16 Tháng Giêng, 2011, 12:55:48 pm NGHĨA TÌNH ĐỒNG ĐỘI Cũng như biết bao số phận của người lính sau chiến tranh, Phan Thế Liễn, một cựu chiến binh thuộc Trung đoàn 15, Sư đoàn 5, chiến đấu tại chiến trường Miền Đông “Gian lao mà anh dũng”, vì lý do sức khỏe được trở về địa phương và xây dựng gia đình. Năm 1978, anh cưới vợ. Vợ anh là chị Nguyễn Thị Hảo. Những tưởng anh sẽ được bù đắp xứng đáng những năm tháng cống hiến tuổi xuân của mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc; hạnh phúc của người lính sẽ đơm hoa kết trái dưới mái nhà tranh ở một vùng quê yên tĩnh, và đó cũng là nguyện vọng duy nhất của người thương binh 81% Phan Thế Liễn. Ngờ đâu, không lâu sau đó, nỗi bất hạnh đè lên vợ chồng anh khi đứa con đầu lòng của anh chị bị dị tật bởi ảnh hưởng chất độc da cam, anh mang về từ chiến trường, thảm họa chiến tranh mà hàng triệu người đang phải gánh chịu. Cái giá phải trả cho ngày hôm nay quá lớn, quá sức chịu đựng của anh. Kinh tế gia đình đã kiệt quệ lại càng bi đát hơn, khi những đồng tiền chính sách của một thiếu tá, thương binh như gió vào nhà trống. Anh chị đã tập trung mọi khả năng để mong sao cho đứa con được tồn tại, qua khỏi cơn hiểm nghèo. Có nỗi bất hạnh nào lớn hơn? Khi đứa con thứ hai được sinh ra cũng trong trường hợp tương tự… Đến đây thì anh hoàn toàn bị gục ngã, mọi hy vọng về tương lai cuộc đời người cựu chiến binh coi như đã tiêu tan trong anh. - Tại sao mình không là liệt sỹ, mà lại là thương binh? – nhiều đêm nằm vắt tay qua trán anh suy nghĩ như vậy. Được vậy thì bây giờ mình đã “sống” với đồng đội ở một nơi nào đó trên chiến trường hay tại nghĩa trang ở quê nhà, để vợ, con khỏi phải chịu nhiều bất hạnh như hôm nay. Đúng là trời không có mắt như anh tưởng... Nhìn xung quanh, những bạn bè cùng trang lứa, những người đã nằm xuống chẳng nói la làm gì? Những người đang sống, phần nhiều đã lên chức ông chức bà, có “của ăn, của để”. Tại sao họ may mắn thế? Anh cũng biết, có được cuộc sống như vậy, nhiều người trong họ cũng đã phải lao động cật lực, đổ mồ hôi, sôi nước mắt, cũng phải chịu những đắng cay, tủi nhục; Nhiều người cũng phải đứng trên đôi chân, đội lên từ bùn lầy. Để có được cuộc sống dễ chịu, đối với người cựu chiến binh, đâu phải chuyện dễ. Rồi anh nhìn lại mình, vợ chồng anh đâu phải là người “nông dân cày đường nhựa”, đâu phải là người “công thần” chỉ biết hưởng thụ… Thế thì vì sao? So sánh với những người xung quanh, anh có phân “mắc cỡ”, tự trách mình không biết xoay xở, là người bất lực… và những suy nghĩ cứ lùi dần về quá khứ! Những lúc trong bước đường cùng người ta cho là do số phận. Ông bà, cha mẹ cũng quanh năm “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”, tuy ở cái xứ sở của “quê hương năm tấn” song vẫn cứ thiếu trước hụt sau. Đến đời anh, đất nước đã được thanh bình trên ba mươi năm, nhưng chiến tranh vẫn còn đeo bám: vết thương luôn hành hạ, các con anh bị bệnh hiểm nghèo, người vợ đáng thương chân yếu tay mềm đã nai lưng ra gánh vác công việc nặng nhọc để phụ với chồng, nuôi con bệnh hoạn… Đến đây, anh tin là con người ta cũng có số. Số anh lận đạn từ nhỏ. Dò mãi không tìm được lối ra. Trong cơn tuyệt vọng, đáng quý biết bao những tấm lòng hảo tâm. Đồng đội đã kịp thời dang rộng vòng tay nhân ái, đón anh. Tiêu đề: Re: Nghĩa Tình Đồng Đội Gửi bởi: crawling0805 trong 16 Tháng Giêng, 2011, 12:57:00 pm Trong những năm gần đây, Hội cựu chiến binh tại Phường 13, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh là một trong những điển hình hoạt động từ thiện có hiệu quả thiết thực, trước hết đối với những mảnh đời bất hạnh trong đội ngũ những cựu chiến binh. Ở đây, dù anh thuộc quân, binh chủng nào, đơn vị thuộc quân khu hay quân đoàn, ở miền Bắc hay miền Nam… khi đến định cư tại đây, đều được coi là “tứ hải giai huynh đệ”. Đội ngũ cựu chiến binh ngày càng đông, sức mạnh khối đoàn kết ngày càng được tăng cường. Tuy hoạt động mang tính tự giác, song mọi người đều thực hiện theo một quy chế được thiết lập hết sức dân chủ và đặc biệt là sự quan tâm giúp đỡ của lãnh đạo Ủy ban nhân dân phường. Trong năm qua, Hội cựu chiến binh đã có những hoạt động mang ý nghĩa sâu sắc và nghĩa tình đồng đội. Mỗi một hội viên hay gia đình họ khi đau ốm nằm viện, Ban liên lạc Hội cử đại diện đến thăm (tất nhiên có quà theo một định mức đã thống nhất); Những hội viên hoặc gia đình của họ có người qua đời, hội cử đoàn đại biểu đến thăm viếng; Những hội viên cao tuổi, hàng năm đều được tổ chức mừng thọ; Con cháu hội viên học giỏi, hiếu thảo đều được tặng quà; giúp vốn làm ăn cho những gia đình hội viên gặp khó khăn… đã trở thành nề nếp sinh hoạt bình thường.
Đặc biệt trong năm rồi, các chi Hội Cựu chiến binh trên địa bàn phường 13 đã làm được hai việc, mà trong hoàn cảnh hiện nay không phải dễ dàng. Đó là giúp đỡ hai đồng chí đặc biệt khó khăn. Trong bài viết trước, chúng tôi đã phản ánh trường hợp đồng chí Nguyễn Văn Hóa, người thương binh mù hai mắt, cụt một tay trong khi làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia. Trường hợp thứ hai, trong bài viết này, chúng tôi xin đề cập đến những tấm lòng hảo tâm của những Cựu chiến binh, những người vừa qua khỏi hai cuộc chiến tranh, nhiều người cuộc sống còn chật vật, song đã mở rộng vòng tay giúp đỡ Phan Thế Liễn đang trong cơn tuyệt vọng. Nhiều người đến phường 13, Quận Tân Bình nghe cái danh từ là lạ “Q16”? Người viết bài này xin được nói ngay: đó là “cuộc vận động của Hội Cựu chiến binh, giúp đỡ Phan Thế Liễn, cựu chiến binh, thương binh thuộc trung đoàn 16, sư đoàn 5 đang gặp nhiều khó khăn. Việc tặng nhà tình thương, nhà tình nghĩa trong những năm gần đây, đã trở thành lương tâm và trách nhiệm của toàn dân, một hoạt động “đền ơn đáp nghĩa” mang nét đẹp văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta. Tuy nhiên, ở đây những Cựu chiến binh làm từ thiện còn mang một ý nghĩa đặc biệt. Các hội viên ở đây, tuy vẫn còn nghèo nhưng trong lòng họ luôn thôi thúc làm một việc gì đó để xoa dịu bớt những đau thương, mất mát của đồng đội, những người đã cùng chia ngọt, sẻ bùi, trên cùng một chiến hào năm xưa, đang gặp nhiều khó khăn, thậm trí là bất hạnh cần sự giúp đỡ, sẻ chia. Một trong những tấm gương đáng trân trọng về nghĩa tình đối với đồng đội là trung tá Hoàng Văn Đông, người cựu chiến binh sư đoàn 309. Hiện anh và gia đình đang sống tại số nhà 98/18 Đường Cộng Hòa, Phường 13, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh. Điện thoại: (08).2938.566. Tiêu đề: Re: Nghĩa Tình Đồng Đội Gửi bởi: crawling0805 trong 16 Tháng Giêng, 2011, 12:58:38 pm Trong những năm làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, Hoàng Văn Đông là một cán bộ hậu cần. Bộ ba: Hoàng Văn Đông – Lê Văn Duyệt – Chu Đình Lịch luôn có mặt ở những nơi khó khăn nhất, bảo đảm cho bộ đội những nhu cầu cần thiết trên một địa bàn hết sức phức tạp, tỉnh Bát Tam Băng, Campuchia. Các anh thường xuyên có mặt trên các cung đường vận chuyển từ hậu phương sang tận biên giới Campuchia – Thái Lan. Đã có mấy ai biết được trên những nẻo đường ra mặt trận đầy chông gai, cái chết luôn cận kề bởi địch phục kích, bởi mìn đủ loại, bởi đường sá lầy lội… Khó khăn là thế, song yêu cầu chiến đấu của bộ đội không thể thiếu đạn, thiếu gạo, và các nhu yếu phẩm khác…
“Xưa kia tôi cũng là người nông dân, Ra đoàn quân đánh tây, bây giờ thành vệ quốc đoàn…” Hoàng Văn Đông cũng như nhân vật trong bài hát của một nhạc sỹ nào đó. Từ một nông dân chân chất, anh trở thành một sỹ quan hậu cần. Nhờ thế mà trong chiến đấu, anh là một trong những cán bộ xông xáo, sáng tạo, miệng nói tay làm. Cái gì chưa biết, chưa thạo, cứ làm rồi sẽ biết, sẽ thạo, sẽ thành bài học. Anh có cái đức tính mà không phải ai cũng có một cách dễ dàng: dễ nhất trí mỗi khi có những chủ trương của trên đề ra về công tác đảm bảo hậu cần, nuôi quân, phòng bệnh. Không những thế, anh còn đề xuất nhiều biện pháp khắc phục khó khăn để thực hiện thắng lợi những chủ trương đó. Nhờ có cái khướu “ăn nói” mà ta thường dùng cái danh từ mỹ miều mang tính văn hóa là “Nghệ thuật giao tiếp”, những việc cần đến công tác quan hệ, xã giao mới đạt được những điều mong nuốn, chúng tôi đều giao cho anh, ủy quyền cho anh. Và hầu như tất cả những lần đó anh đều thành công. Có người nói: “Anh quan hệ theo cách có đi có lại(!)”. Riêng tôi, không nghĩ như vậy. Vì đã qua kiểm chứng một số việc quan trọng cần đến “tài ăn nói” của anh. Còn nhớ, đầu năm 1979, Sư đoàn 309 chuyển hướng tiến công từ mặt trận Đông Bắc Miên thuộc địa bàn quân khu 5, sang phía tây tỉnh Bát Tam Băng. Lần đầu tiên, sau năm1975, cả đội hình một sư đoàn, hành quân thần tốc từ tỉnh Natakiri về Đức Cơ, Gia Lai vào thành phố Hồ Chí Minh sang tỉnh Bát Tam Băng, với cung đường trên 2 ngàn km, để lại sau lưng biết bao công việc phải giải quyết. Không hiểu bằng cách nào đó mà trong một thời gian ngắn, Sư đoàn đã có được một khu hậu cứ tại chung cư Phường 18, Quận Tân Bình với sự thỏa thuận của địa phương đại thể là “Quận đồng ý cho Sư đoàn sử dụng khu này đến khi nào xét thấy không cần thiết nữa thì thôi (!)”. Thật là một câu thỏa thuận rất giá trị cả lý và tình… Có được một cơ sở như vậy giữa một thành phố đô hội, trong lúc bế tắc của Sư đoàn, lúc bấy giờ đâu phải chuyện dễ. Sư đoàn yên tâm, rảnh tay phía sau để tập trung lo chiến đấu phía trước. Ở đây, trước hết chúng tôi cảm nhận sự quan tâm đáng trân trọng của Quận Tân Bình, Phường 18, tuy nhiên phải thấy rằng sự quan tâm đó đến được với Sư đoàn thông qua mối quan hệ nhanh, nhạy của Hoàng Văn Đông và những cộng sự của anh. Tiêu đề: Re: Nghĩa Tình Đồng Đội Gửi bởi: crawling0805 trong 16 Tháng Giêng, 2011, 06:08:24 pm Từ sau ngày quân tình nguyện Việt Nam hoàn thành nhiệm vụ quốc tế, rút quân về nước, lớp cán bộ như Hoàng Văn Đông, người thì về nghỉ hưu, người chuyển tới đơn vị khác; cũng có người đã qua đời. Cuộc sống của những người sau chiến tranh có một nghìn lẻ một khó khăn. Sau bao năm chiến tranh, bây giờ họ mới có thời gian ngồi lại để tìm bước đi thích hợp cho hoàn cảnh và điều kiện của mình. Trong dòng chảy của nền kinh tế thị trường, nhiều người may mắn nắm bắt được cơ hội, không ít người bươn trải ngược xuôi mà cuộc sống vẫn cứ thiếu trước hụt sau. Hoàng Văn Đông cởi bộ đồ lính ra, trở về nguyên mẫu của một nông dân cần cù, chất phác, hay lam hay làm. Đức tính chịu khó “cóp nhặt chặt bị” vẫn còn giá trị trong nền kinh tế nhiều thành phần hiện nay.
- Con người ta ăn thua ở cái tính kiên trì, chịu khó! – Anh nói với đoàn cán bộ Cựu chiến binh và đại diện UBND Phường khi lên tham quan mô hình trang trại của anh ở tỉnh Bình Phước. Anh tập trung mọi vốn liếng của một người lính sau chiến tranh, cùng với vợ con, bỏ lại sau lưng thành phố hoa lệ, đi thực hiện ước mơ làm giàu từ bàn tay khối óc của mình. - Thật là điên rồ, bỏ cái thành phố này mà lên rừng ẩn dật – Không biết đùa hay thật có người đã thốt lên như vậy. Bây giờ nhìn vào cơ ngơi của anh, đã có mấy “người điên” được như vậy. mỗi năm anh chị kiếm được không dưới một trăm triệu đồng được chắt ra từ những giọt mồ hôi, nước mắt của vợ chồng anh. Thật là “có công mài sắt, có ngày nên kim” quả không sai. Có tiền rồi, anh bắt đầu tham gia hoạt động từ thiện. Trước hết với đồng đội, những người đang cần đến lòng hảo tâm, như Phan Thế Liễn, Nguyễn Văn Hóa và nhiều trường hợp khác. Đồng tiền làm ra từ sức lao động của gia đình anh lại càng có ý nghĩa. Trong một lần về quê, thấy hoàn cảnh gia đình anh Liễn quá khó khăn: chồng thương binh 81%, con bị bệnh hiểm nghèo, vợ đau yếu, căn nhà đơn sơ trống trơn, trống hoác; Hoàng Văn Đông đã vận động vợ chồng anh Liễn vào nơi anh đang sinh sống. Ngoài việc giúp đỡ bạn có một ít cơ sở ban đầu, anh đã tích cực cùng hội Cựu chiến binh và những nhà hảo tâm giúp đỡ người thương binh Phan Thế Liễn đang sống với hai bàn tay trắng. Trong một thời gian ngắn, với sự quan tâm của lãnh đạo Phường 13 và những tấm lòng của đồng đội, Phan Thế Liễn và gia đình anh đã có được căn nhà khang trang, trị giá 35 triệu đồng. Đây là tấm lòng cao cả của tập thể Cựu chiến binh, của các cơ quan ban ngành ở Phường 13, của các Mạnh Thường Quân, trong đó có sự đóng góp xứng đáng của Hoàng Văn Đông. Gặp Hoàng Văn Đông, tôi có ý định hỏi anh chuyện này Anh nói: - Có thực mới vực được đạo. Nhiều lúc biết đồng đội khó khăn, muốn giúp nhau trong cuộc sống, không có tiền thì không thể làmgì được! Hôm họp Hội Cựu chiến binh sư 309, anh tuyên bố: - Từ nay các đồng chí đi thăm anh em ở các bệnh viện, nếu nhà không có phương tiện, cứ bắt taxi mà đi tôi sẽ thanh toán hết! Việc xây nhà tình nghĩa tặng gia đình đồng chí Liễn và một số việc làm khác, là kết quả bước đầu còn khiêm tốn. Song, đây là tấm lòng của những Cựu chiến binh tại Phường 13, và trên hết một ước mơ bao năm nay đã trở thành hiện thực với người thương binh, Cựu chiến binh Phan Thế Liễn và gia đình anh. Qua bài viết này, gia đình anh Liễn muốn gửi vào đây lời cảm ơn sâu sắc những tấm lòng hảo tâm, đã khơi dậy trong anh niềm hy vọng về tương lai của cuộc sống. Mọi thông tin xin liên hệ: Hoàng Văn Đông điện thoại (08).2938.566. Hoặc tác giả bài viết này: Nguyễn Văn Hồng, điện thoại: 0913.957.777. TP.HCM 07 -2007 |