Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thảo luận Lịch sử bảo vệ Tổ quốc => Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước... => Tác giả chủ đề:: quangcan trong 10 Tháng Giêng, 2011, 04:22:58 pm



Tiêu đề: Hồi Ký Đường Ra Trận - CCB Sư đoàn 2 : Ông Nguyễn Đăng San.
Gửi bởi: quangcan trong 10 Tháng Giêng, 2011, 04:22:58 pm
Được sự đồng ý và cho phép của Ông Nguyễn Đăng San, CCB sư đoàn 2, tôi xin đưa lên cuốn sách Hồi Ký Đường Ra Trận của Ông để mọi người có thể hiểu thêm về một thời Hoa Lửa, một thời oai hùng của những người con Việt.


Tập Bút Ký Của Nguyễn Đăng San
Ký ức thời binh lửa - Nhà xuất bản hội nhà văn - Sách có 186 trang.

65 - Nguyễn Du - Hà Nội - Tel & Fax: 0438.222.135
Email: nxbhoinhavan@yahoo.com.vn
Chịu trách nhiệm xuất bản: Trung Trung Đỉnh
Chịu trách nhiệm bản thảo: Trần Quang Quý - Biên tập: Nguyễn Văn Sơn.
Vẽ bìa: Lã Quý Hưng - Văn Hợi
Sửa bản in: Lã Quý Hưng.

In 2000 cuốn khổ 15 x 21. Tại Công ty in Thành Trung lô 7/7.
Đường Trần Phú - P Trần Hưng Đạo - TP. Thái Bình.
Giấy đăng ký KHXB số: 1182-2010/CXB/28-74/HNV.
Số quyết định của Giám đốc: 939/QĐ.
NXBHNV - Nộp lưu chuyển tháng 12 năm 2010.


Tiêu đề: Re: Hồi Ký Đường Ra Trận - CCB Sư đoàn 2 : Ông Nguyễn Đăng San.
Gửi bởi: quangcan trong 10 Tháng Giêng, 2011, 04:25:31 pm
                                            
 Lời Giới Thiệu

   Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước anh hùng của dân tộc Việt Nam, sẽ còn được tái hiện qua những tác phẩm văn học dưới nhiều dạng thức nghệ thuật khác nhau. “ Ký ức thời binh lửa” của Nguyễn Đăng San góp thêm một tiếng nói, một góc nhìn về khoảnh khắc thời trận mạc mà chính tác giả đã trải qua. Bằng cách nhìn thẳng thắn, trực diện của người trong cuộc, dưới ngòi bút của Nguyễn Đăng San, những câu chuyện về chiến tranh, về tình đồng đội, thân phận con người hôm qua và hôm nay, cả sự cam go quyết liệt trong từng trận đánh được hiện ra chân thực và cảm động. Hình ảnh người chiến sỹ trong“ Ký ức thời binh lửa” được tác giả khắc hoạ bằng sự rung động của một trái tim đầy nhiệt huyết. Nguyễn Đăng San đã cho bạn đọc hiểu thêm giá trị hiện thực của một thời số phận con người được gắn liền với số phận dân tộc. Hiểu thêm về sự mất mát hy sinh của người lính, một sự hy sinh vô giá. Gian khổ, đói khát, ngày tiếp ngày đối mặt với đạn bom, sự sống và cái chết chỉ trong gang tấc. Nhưng phẩm chất của họ thật anh hùng và vô cùng cao đẹp. Dù chông gai, dù máu đổ họ vẫn băng vượt, tất cả vì miền Nam ruột thịt.“ Không kẻ thù nào ngăn nổi bước ta đi”. Đó là âm hưởng vang vọng trong“ Ký ức thời binh lửa”. Bằng cách thể hiện dung dị, đằm thắm, đơn sơ mà chân tình. Tuy chưa đạt tới giá trị văn chương, câu chữ ngôn từ còn thô ráp, nhưng từng câu chuyện ít nhiều đều có được cái hồn của người viết thổi vào ngọn bút.
   “ Ký ức thời binh lửa”chủ yếu miêu tả người thật việc thật, nhân vật có tên tuổi gắn với từng vùng quê cụ thể. Tuy vậy các chi tiết vẫn có có sức lay gợi, ẩn chứa nỗi niềm sâu nặng của tác giả đối với đồng đội, đối với quê hương. Nguyễn Đăng San từng cầm súng thời trận mạc, từng lăn lội đi tìm hài cốt đồng đội những năm hoà bình, điều đó đã làm nên sức nặng và tính nhân văn của cuốn sách“ Ký ức thời binh lửa” đã toát lên được cái ân nghĩa tình đời của những con người hôm qua và hôm nay, chân thành, giản dị mà sâu nặng vô cùng.
   Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu tập“ Ký ức thời binh lửa”. Và mong nhận được sự góp ý phê bình của bạn đọc đối với cuốn sách.


                                                              
Minh Chuyên ( Nhà văn)


Tiêu đề: Re: Hồi Ký Đường Ra Trận - CCB Sư đoàn 2 : Ông Nguyễn Đăng San.
Gửi bởi: quangcan trong 10 Tháng Giêng, 2011, 04:27:40 pm
Ký ức thời binh lửa

Từ những năm 1964-1970, cuộc chiến tranh do Mỹ gây ra trên đất nước ta, ngày càng trở nên rất khó khăn và ác liệt. Là học sinh năm cuối trường cấp ba, được thông qua báo chí tuyên truyền về cuộc chiến đấu anh dũng của quân dân ta, và tội ác của kẻ thù trên khắp các chiến trường. Những điều tôi nhận được ở người cha cùng người mẹ tảo tần hôm sớm, từ những người anh người chị đang tham gia nơi lửa đạn, đã làm thôi thúc tôi cầm súng lên đường đi cứu nước. Tạm biệt mái trường cùng làng quê yêu dấu của mình, ngày 16 tháng 4 năm 1970 tôi bước vào Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.

Ngày ra đi có người thân cùng bạn bè ngả nón trông theo, tiếng hát được cất lên sau luỹ tre làng: “ Yên tâm vững bước mà đi, hỡi người mà em yêu.  Việc nhà việc nước, dẫu có bao nhiêu em vẫn làm tròn. Anh cứ yên tâm vững bước anh lên đường…”.

                                       
Chương I
NGÀY ĐẦU TRONG QUÂN NGŨ

Ngày đầu trong quân đội tôi được biên chế vào Đại đội 2, Tiểu đoàn 629, Trung đoàn 2, Quân khu Tả Ngạn (nay là Quân khu 3). Đơn vị tập trung tại xã An Châu, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Do thay đổi sinh hoạt, nên sức khoẻ tôi có phần giảm sút, người đang từ 45 kg giảm xuống còn 42 kg, lo ngại bị trả về địa phương, nên khi quân y kiểm tra đã cùng mấy đồng chí sút cân cho thêm ít đá, sỏi, vào túi quần áo để được ở lại phục vụ trong quân đội.
Những ngày đầu đơn vị cùng nhân dân Hải Dương tham gia phòng chống bão lụt, trên con đê sông Thái Bình và Kinh Thày. Chuyển sang đất Chí Linh rồi đến thị trấn Đông Triều tỉnh Quảng Ninh, nhận thay quân trang. Những chàng trai tuổi mười bẩy mười tám vừa bước vào quân ngũ, khoác trên người bộ trang phục cũ lại rộng, thay đổi cho nhau mãi mà mặc vẫn không đúng với số đo, lính trẻ cười đùa nói với nhau; ăn cơm Chính phủ rồi sẽ vừa thôi.
Ngày đêm đơn vị học cách đánh địch trong hầm hào kiên cố, cùng phản kháng chống cự của giặc, học bắn máy bay, đánh xe tăng, học leo trèo cùng tác phong nghi lễ và kỷ luật trong quân đội…
Đường hành quân, trên vai chiếc ba lô đựng quần áo cùng đất cát cho vào căng phồng nặng trĩu, đoàn quân vừa đi vừa hát bài: Tiến bước dưới Quân Kỳ- Vì nhân dân quên mình- Hành quân đêm... qua đồng ruộng phì nhiêu màu mỡ được nhân dân hát cho nghe những làn điệu chèo của đồng bằng Bắc bộ.

Nghe em hát sắp qua cầu.
Trời Côn Sơn bỗng xanh mầu dân ca.
Em về Chi Ngãi đâu xa.
Sao em lại bảo rằng ta qua cầu
Qua cầu sợ dòng sông sâu.
Để em dải yếm bắc cầu anh qua...


Tếng ai đó hát ru con ngủ, nghe sao chứa đầy gian lao thử thách.

“… à ơi! đố ai đốt cháy ao bèo.
Để anh gánh đất gánh đá
Đông Triều về ngâm.
Bao giờ chạch đẻ ngọn đa.
Sáo đẻ dưới nước, thì ta lấy mình.
Bao giờ rau riếp làm đình.
Gỗ lim làm ghém thì mình lấy ta…”.

Trong lúc đất nước có chiến tranh, thanh niên nam nữ đi tham gia bảo vệ Tổ quốc, bao lời ca tiếng hát của quê hương thấm trong tâm hồn người lính chúng tôi đi vào nơi khó khăn ác liệt trong cuộc chiến.
Đồi núi nơi đóng quân luyện tập, tiếng chim hót rộn ràng bay bổng, nhưng có lẽ chúng cũng biết chia sẻ với bộ đội đang ngày đêm trên thao trường vất vả, tiếng chim ngân: Bắt con tép kho cà, như mách bảo chiến sỹ đang hành quân là: dốc cao khó vượt, chúng tôi nói với chim rằng: khó khăn khắc phục. Đêm đến, đồng đội kể cho nhau nghe về sự tích của Sao Hôm, Sao Mai, Hòn Vọng Phu hoá đá chờ chồng…Và tiếng ai đó hát vọng lại.

“Chiều chưa đi màn đêm buông xuống …
Có người thiếu nữ đêm đông mong chồng…”.

Lời ca trong bài Đêm Đông của nhạc sỹ Nguyễn Văn Thương, cũng làm cho người ra đi nhớ về nơi có cây đa bến nước sân đình cùng mây khói lam chiều, mà bao người thân đang mong mỏi đợi trông.


Tiêu đề: Re: Hồi Ký Đường Ra Trận - CCB Sư đoàn 2 : Ông Nguyễn Đăng San.
Gửi bởi: quangcan trong 10 Tháng Giêng, 2011, 04:28:56 pm
Đoàn quân hành quân qua Bến Tắm, Côn Sơn, vẫn thấy vang lên trong hồn thơ của Đại Cáo Bình Ngô. Dòng lục đầu Giang được gắn liền với chiến công Chương Dương Vạn Kiếp. Cánh núi Phượng Hoàng thoảng gió thông reo, nhắc truyện dâng sớ của thầy Chu Văn An mà khí phách kiên trung. Bao câu chuyện xưa vẫn ngân vang cùng hồn thiêng sông núi. Đất nước trải qua hàng ngàn năm cơn binh đao khói lửa, những gì có được hôm nay thì biết bao thế hệ đã phải ngã xuống cho Tổ quốc bình yên.
Qua vùng Đông Bắc được nhân dân đón tiếp bằng tình quân dân về một thời chiến tranh gian khổ, được nghe những khúc tình ca của người hậu phương gửi ra tiền tuyến.
“…Bài hát em hát gửi ra chiến trường
Rằng em vẫn là thuỷ chung.
Chứ em đợi chờ ấy là người ơi!
Sông bến đây cũng một con đò.
Trong bão tố cũng phải chèo xá chi…”.

Lời ca tiếng hát được chúng tôi mang vào cuộc chiến, trong đoàn quân thay nhau ra mặt trận, cũng không ít người ôm ấp niềm tin chung thuỷ được gắn mãi cùng hồn thiêng sông núi, ẩn hiện giữa mây trời phương Nam Tổ quốc.
Sau năm tháng học tập chính trị quân sự, đơn vị tiến hành kiểm tra bắn xạ kích bài một, bài hai, ba, ném lựu đạn, thủ pháo, cùng tất cả các môn đánh địch trong mọi tình huống. Thế là chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ trên đất Bắc, được cấp trên cho về chia tay gia đình cùng bà con làng xóm để vào nơi gian khổ ác liệt nhất của cuộc chiến tranh.
Ngày chia tay đi chiến trường có người thân trong gia đình, cùng bà con thôn xóm tiễn chân tôi qua cây đa năm gốc cuối thôn. Chị Hà người con gái thứ ba trong gia đình đi lấy chồng xa tới muộn, chạy đến ấn vào túi cóc ba lô tôi chị nói: Chị cho cậu mấy đồng tích cóp từ việc bán mía, để em mua thuốc bồi dưỡng sức khoẻ, phải cố gắng giữ gìn sức khoẻ thì cậu mới hoàn thành nhiệm vụ được giao, bố mẹ lo nghĩ về em nhiều lắm đấy. Chị chúc em đi chân cứng đá mềm… Chị chớp nhanh những giọt nước mắt vẫy nón nhìn theo…
Trở lại nơi đóng quân, mấy anh em đi thị trấn Phả Lại chụp ảnh nói với nhau: Chúng mình vào chiến trường B- C- K, trong cuộc chiến nếu có phải hy sinh, thì hình ảnh hôm nay sẽ mãi là tấm hình để gia đình cùng quê hương làm kỷ niệm. Khi chỉnh sửa thấy quần áo trên người mặc cũ quá, nên tôi đã mượn chiếc áo của đồng đội tên là Nguyễn Văn Doanh còn lành và mới hơn để chụp. Đồng chí nào cũng mua sổ tay, giấy bút, một vài kiều ảnh tô màu làm kỷ niệm.
Đầu tháng 10, các chiến sỹ đi chiến trường được cấp phát quần áo, mũ tai bèo, bình tông nước, cạp lồng, thuốc phòng chống sốt rét, dụng cụ chống độc, võng, màn, tăng bạt che mưa gió, cùng hai miếng lân tinh dùng cho việc hành quân cơ động ban đêm v.v… Phương tiện phục vụ cho cuộc hành quân vào mặt trận, được sắp đặt trong chiếc ba lô con cóc gọn gàng. Gia tài người lính vào cuộc chiến thật giản dị, nhưng cũng mang đầy một tình yêu quê hương đất nước.
Đêm khuya lắm rồi anh em ngày mai vào chiến trường tâm sự với nhau. Không lo gì cho cá nhân mà sao cứ thấy bâng khuâng, người nào cũng mong sớm có ngày vui thống nhất để không còn cảnh khắc khoải chờ mong. Gà đã gáy sang canh hai mà không ai chợp mắt, có lẽ tâm trạng người nào cũng đang nhớ về nơi làng quê yêu dấu của mình và các gia đình có người ngày mai ra trận, cũng đang nghĩ về những người con yêu quí của mình.
Còn bố mẹ tôi sẽ ghi vào sổ theo dõi người con trai thứ ba của gia đình, tham gia trong Quân đội ngày vào chiến trường với biết bao thử thách của khói lửa chiến tranh.[/size]


Tiêu đề: Re: Hồi Ký Đường Ra Trận - CCB Sư đoàn 2 : Ông Nguyễn Đăng San.
Gửi bởi: quangcan trong 10 Tháng Giêng, 2011, 04:30:52 pm
Chương II
ĐƯỜNG RA MẶT TRẬN

Đúng 8 giờ sáng ngày mùng 10 tháng 10 năm 1970. Bộ đội với trang phục cùng ngôi sao vàng lấp lánh, tập trung tại sân kho hợp tác xã Văn An. Đoàn quân nghiêm trang chào cờ Quân Giải phóng Miền Nam. Lễ xuất quân đi chiến trường hôm nay có lãnh đạo Trung đoàn, Bộ tư lệnh Quân khu. Nhân dân chính quyền nơi huấn luyện, cùng gia đình có người thân ra trận đến rất đông, trai gái hẹn hò nhau ngày Nam Bắc thống nhất. Khi chia tay còn có chị em cô gái nơi trung đội tôi đóng quân, Thuỳ Vân người con gái nhanh nhẹn chạy ra hàng quân nắm chặt tay nói trong nghẹn ngào: Hẹn các anh ngày đất nước hoà bình trên quê hương chúng em thôn Bình Giang, xã Cổ Thành, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Phút chia tay cô gái đầy lưu luyến xinh đẹp, tôi cầm tay Vân rồi nói.
“… Về đi em!  Nếu yêu nhau.
Hãy yêu rộng hơn cả non nước cuộc đời.
Cầm bàn tay em, mà anh nói gì nhiều đâu.
Cuộc đời đang xuân mà thôi nhé tạm biệt.
Dòng nước mắt, dù thiêng liêng.
Cũng không làm cho lòng ta lùi bước…”.

Tạm biệt mảnh đất Chí Linh vùng Đông Bắc, cùng bóng dáng cô thôn nữ trong chiếc áo vải nâu và chiếc nón bài thơ duyên dáng xinh đẹp, cũng làm cho trái tim khát vọng của tuổi trẻ chúng tôi đi vào cuộc chiến với bao ước hẹn của tương lai.
Đoàn quân đến ga Cao Xá thuộc huyện Cẩm Giàng, 14 giờ chiều hôm sau lên chuyến xe lửa đi vào phương Nam. Sân ga hôm nay có hàng trăm người đến tạm biệt  con em của mảnh đất Hải Dương vào chiến trường. Người đi người ở ôm hôn nhau mà không sao nén được xúc động của những giọt nước mắt chia ly. Bao người thân cùng đồng đội tôi không nói ra, nhưng vẫn nhận biết được một việc có thể xẩy ra, trong số người lên chuyến xe lửa vào chiến trường chiều nay, thì đây cũng sẽ là lần gặp người thân của mình lần cuối cùng.
Còi tàu cất lên đoàn xe dần dần chuyển bánh, hai bên sân ga bà con cầm nón mũ vẫy chào đoàn quân ra trận. Ôi mảnh đất Hải Dương quê hương tôi miền Bắc với khẩu hiệu. “ Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, hôm nay lại vẫy chào con em mình vào chiến trường miền Nam đánh giặc.
Tàu qua mảnh đất Hải Dương, Hưng Yên, thành phố Hà Nội, dừng lại ga Thường Tín, Hà Tây. Nơi khởi đầu của việc đưa đón binh khách được nghỉ lại đây hai ngày, tối đến xem chiếu phim cùng văn công phục vụ. Không khí ngày ra trận thật nhộn nhịp đông vui, binh trạm có hàng ngàn người vào Nam ra Bắc, càng thúc dục đoàn quân tiến nhanh về phía trước.


Tiêu đề: Re: Hồi Ký Đường Ra Trận - CCB Sư đoàn 2 : Ông Nguyễn Đăng San.
Gửi bởi: quangcan trong 10 Tháng Giêng, 2011, 04:31:58 pm
Chúng tôi tạm biệt hậu phương lớn miền Bắc ra chiến trường với lời thề: Ra đi không hẹn ngày về, chưa tan hết giặc chưa về quê hương. Xe lửa chạy qua thành phố Nam Định - Ninh Bình - Thanh Hoá - Vinh. Do chiến tranh quê tôi đã khó khăn, nhưng đi vào các tỉnh phía trong, thì làng mạc cùng nhân dân phía Nam càng khó khăn và ác liệt hơn nhiều. Qua sông Lam, núi Quyết, xe ô tô vận chuyển đến cách thị xã Hà Tĩnh gần chục km dừng lại. Đêm Khu 4 thường có máy bay địch đánh phá oanh tạc, đơn vị được các mẹ và dân quân du kích tới thăm hỏi động viên, kể cho nghe về những chiến công cùng với việc hy sinh của hàng trăm bộ đội thanh niên xung phong nơi tuyến lửa, đặc biệt là Tiểu đội mười cô gái hy sinh trên ngã ba Đồng Lộc. Chiều hôm sau xe chạy qua đèo Ngang, đường quốc lộ bị bom đạn máy bay đánh phá liên tục, có nhiều ổ trâu ổ gà chưa kịp sửa chữa, xe chạy trong đêm chỉ có đèn gầm, chiến sỹ lái xe nhìn không rõ chạy vấp phải hố bom pháo làm hất cả chính trị viên Đại đội xuống đất. Đêm ngày 20 tháng 10 năm 1970, đoàn quân đi chiến trường xuống mấy chiếc tàu kéo chạy ngược lên thượng lưu Sông Gianh đi vào trạm Xuân Sơn.

Trong khoang hầm sà lan trời tối đen như mực, anh em hát những khúc ca của đồng bằng Bắc bộ, còn tôi đứng lên ngâm bài thơ của Lưu Trùng Dương.

“ Vượt núi băng sông.
Chân tôi bước, qua hương đồng cỏ lội.
Vòng lá nguỵ trang đã bao lần thay lá mới.
Tôi lên đường, theo tiếng gọi quê hương.
Ra tiền tuyến, ra tiền tuyến
Đôi chân tôi mạnh bước.
Đời của ta đâu có giặc là ta cứ đi
Tiếng hát năm xưa, bay bổng diệu kỳ
Như chắp cánh vinh quang, người lính trẻ …”.


Tiêu đề: Re: Hồi Ký Đường Ra Trận - CCB Sư đoàn 2 : Ông Nguyễn Đăng San.
Gửi bởi: quangcan trong 10 Tháng Giêng, 2011, 04:33:08 pm
Đồng chí Hiệu chiến sỹ cùng trung đội, đứng lên bắt nhịp cho hát bài “ Vui hội tòng quân” của nhạc sỹ Huy Du, được phổ thơ Chính Hữu.
“ Có những ngày vui sao cả nước lên đường.
Xao xuyến bờ tre từng hồi tiếng trống
Có những ngày vui sao rộn rã lên đường
Tiếng hát hành quân từng hồi trống giục.
Xóm dưới làng trên con trai con gái,
          Xới nắm cơm đùm
Ríu rít theo nhau súng nhỏ súng to,
Trên đường chật chội
Tiếng cười hăm hở đầy sông đầy cầu…
          …Ơ đất nước mình đây hai mươi năm trước
Xôi nắm cơm đùm hành quân không mỏi
Xung sướng bao nhiêu tôi là đồng đội
Của những người đi đánh giặc hôm nay…”.

Lời bài hát này vừa dứt nhịp hát khác lại dâng lên, khúc ca chứa đựng tình yêu quê hương đất nước, làm chúng tôi thêm tự hào đã có những tháng năm cùng cả nước tham gia đánh đuổi giặc ngoại xâm. Lời ca là động lực để mỗi người có thêm sức mạnh vượt qua khó khăn thử thách.
Bỗng ngọn lửa trong khoang sà lan cháy bùng lên, tiếng kêu thất thanh: Sà lan cháy, sà lan cháy … những chiếc balô trong khoang tàu được đẩy lăn đi lăn lại chặn ngọn lửa, dầu trong thùng ống nổ vung ra tràn vào sàn có tre nứa, lửa cháy càng thêm hung dữ.
Trung đội trưởng Tô Sỹ Quảng ra lệnh cho bộ đội nhảy lên mặt boong, lựu đạn từ túi cóc ba lô rơi vào đám cháy, được mấy anh nhanh tay cầm vứt ra sông. Đồng chí Mai Hải, Kim Sơn cùng tôi kéo chiếc bạt bịt vào đám cháy.
Hầm sà lan cháy làm một số chiến sỹ mất bình tĩnh, người trước chưa nhảy lên được miệng hầm tàu, thì người sau đã nhảy thúc vào mông người trước rơi xuống sông. Tiếng kêu cứu… cứu… những đồng chí bám vào dây kéo lên được ngay, số người bị nước sông mưa to chảy mạnh trôi dạt vào bãi. Thật đau xót cho trung đội tôi trong số đồng chí ngã xuống sông đêm ấy, thì Nguyễn Văn Doanh đã phải vĩnh biệt yên nghỉ bên bờ sông Gianh của tỉnh Quảng Bình.
Xe vận chuyển đơn vị tôi vào xã có phong trào du kích mạnh Cự Nẫm, phía tây tỉnh Quảng Bình, cũng từ đó ngày đêm chúng tôi hành quân theo chiều dài dãy Trường Sơn đi vào phương nam. Vượt qua núi cao suối sâu, cung đường bị máy bay địch đánh phá thường xuyên. Đêm tối đồng đội chống gậy đi theo nhau bằng miếng lân tinh phát sáng gắn sau mũ. Những con vắt xanh to bằng cuống chiếu nhẩy từ cành cây bò vào cắn tai, cắn cổ, hút máu, dưới đất là đàn mối, rắn, rết, bọ cạp, người đi tới đâu thì hàng trăm con côn trùng đói khát nghiêng đầu bám đuổi. Nhiều lúc anh em không bám sát đội hình, phải gọi hú tìm nhau vang cả cánh rừng. Trời mưa to không lấy được củi khô đun nấu phải ăn toàn gạo rang và lương khô, bữa cơm là một hai soong nước gạo rang vàng pha muối, cho vào một hai hộp thịt lợn 0,25 kg làm nước mắm. Nắm cơm mang theo ăn đường hành quân chấm với ruốc thịt ruốc cá mặn chát, hơi sặc mùi ngũ vị hương.
Nhân dân trên rừng núi thiếu gạo, muối, quần áo, chăn màn, thuốc chữa bệnh, cuộc sống người dẻo cao thật đơn sơ, họ đem con sóc, chuột rừng, đứng ở đường mòn, đợi người qua lại đổi gạo muối… Anh em đi chiến trường cũng chẳng có gì trao đổi lấy ảnh tô màu cho đồng bào xem. Nhìn nhân dân trong rừng núi ngạc nhiên thích thú, nên chúng tôi đã tặng lại cho họ.
Trạm giao liên dưới cánh rừng cổ thụ bị máy bay địch bắn phá ngày đêm. Đã lâu không có rau ăn chúng tôi nói với nhau; anh nào biết rau tàu bay đi hái về cải thiện. Những tưởng được bát canh rau ngon và mát ruột, nhưng khi đưa lên miệng lại là bát nước canh đắng ngắt. Lúc ấy tìm hiểu ra mới biết; cây ấy dân làng tôi thường gọi nó là cây cứt lợn, đồng đội nhìn nhau cười mà rơi đầy nước mắt.


Tiêu đề: Re: Hồi Ký Đường Ra Trận - CCB Sư đoàn 2 : Ông Nguyễn Đăng San.
Gửi bởi: quangcan trong 11 Tháng Giêng, 2011, 08:44:45 pm
Đoàn quân vào chiến trường được cán bộ quân lực Trung đoàn 1- Sư đoàn 2, Quân khu 5 tiếp nhận bổ sung vào các phân đội chiến đấu. Trên đường đi đã có mấy người ốm đau sốt rét, tôi sốt cao không thể hành quân tiếp do vậy mà đồng chí Sơn cán bộ ra tiếp nhận đã gửi tôi vào trạm quân giới nhờ y tế cấp cứu.
Người tôi nóng lên 39- 41 độ, cơ thể rét run cầm cập mà mồ hôi chảy ra như tắm, miệng nôn ra nước vàng đắng ngắt. Các đồng chí đến kiểm tra nói với nhau: Chiến sỹ trẻ từ miền Bắc mới vào rất hay bị sốt ác tính, phải theo dõi và tiêm thuốc cắt cơn sốt cho đồng chí này.
Được y tế trạm chăm sóc tiêm thuốc liên tục, tôi qua được cơn sốt rét đầu trong núi rừng Trường Sơn nguy hiểm, tình cảm các anh đã làm tôi nhớ đến bài thơ “Tình Đồng Chí” của Chính Hữu, khi chia tay anh em chưa kịp nhớ tên, tôi giới thiệu và đọc tặng những người đồng đội.
“ Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá.
Anh với tôi hai người xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau.
Súng bên súng đầu sát bên đầu
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ.
Đồng chí!
Ruộng nương anh gửi bạn thân cày.
Gian nhà không mặc kệ gió lung lay
Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính.
Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi
áo anh rách vai, quần tôi có đôi miếng vá.
Miệng cười buốt giá chân không giày
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay…”.
Nghe xong mấy anh đứng lên bắt tay nói: Đồng chí đọc bài thơ làm chúng tôi cảm động quá, đơn vị đồng chí đóng cách đây không xa, thế nào rồi cũng ra kho đây lấy hàng, nếu ra nhớ vào thăm chúng mình ở xưởng cưa thuộc binh trạm 31, đóng quân ở tỉnh Savanakhẹt của đất nước Triệu Voi này nhé.
Được các anh chỉ vẽ đường tôi đi gần một ngày về đến sở chỉ huy Trung đoàn. Đoàn bộ đang đóng quân gần bản Chiềng thuộc khu địa đạo Kà Tồn, nằm ở phía bắc  huyện Mường Phìn. Được Ban quân lực E biên chế vào đại đội 7- D2 (tiểu đoàn 60), lần theo đường dây điện thoại về doanh trại trời cũng sắp tối. Chính trị viên Đoàn Văn Quế, gặp mặt thăm hỏi động viên và cho đồng chí Thập liên lạc dẫn bổ sung vào B.2, Trung đội do anh Nguyễn Văn Hài làm B trưởng, ở cùng nhà hầm với các đồng chí: Lâm- Khuyến- Nhuận- Quỳnh- Tân- Sứ- Đức- Tiến.
Các anh từ chiến trường Quảng Nam, Quảng Ngãi mới ra, mỗi đồng chí mang theo một loại vũ khí, ngang lưng một hai quả lựu đạn US (lựu đạn thu được của Mỹ sản xuất), quần áo, tăng, võng các anh đựng trong chiếc gùi cũ bạc màu, do chiến trường khó khăn gian khổ người nào cũng ốm yếu. Chúng tôi những chiến sỹ trẻ đoàn Hà Nội, Hải Dương mới bổ sung chưa thích nghi với rừng sâu nước độc, do vậy ngày nào cũng có người ốm đau sốt rét. Quần áo chăn màn tắm giặt không có xà phòng thuốc tẩy, hạn chế phơi chỗ trống có nắng đề phòng máy bay biệt kích địch phát hiện. Vị trí ăn ở ẩm thấp đã làm cho cơ thể bị ghẻ nở và ký sinh trùng phát triển, lũ ve rận đẻ bám đầy gấu quần vạt áo phải vạch bắt cho nhau, đun nước sôi luộc chăn màn quần áo mấy lần mới hết ngứa. Người đau ốm ăn uống thiếu dinh dưỡng, dẫn đến thiếu hồng cầu nghiêm trọng, ngày đêm luyện tập trên thao trường vất vả, nên người nào cũng bị hoa mắt chóng mặt, đi lại mấy chục mét đến nhà bếp ăn cơm và đem nước về uống, cũng phải bám cây ngồi bệt xuống đất nghỉ mấy lần.
Tranh thủ giờ nghỉ anh em xuống khe suối câu con cua con cá, hái rau rừng nấu ăn, sau đó các loại rau cũng không thể mọc kịp để mà xào nấu cải thiện. Một lần hai chúng tôi ra suối bắt được con lười (xấu hổ) đem về chuẩn bị giết thịt, thì anh Nguyễn Xuân Cử người Thái Nguyên chiến sỹ trung đội 4 đến chơi bảo: Thả nó về với núi rừng, chứ giết con vật này “ đen” lắm. Anh em mang gạo giã làm bánh trôi bánh chay, lính trẻ chưa hiểu ẩm thực lấy đường ngọt trộn nắm thành cục, do vậy luộc mãi mà bột vẫn sống.
Chúng tôi mới vào được các anh vào trước mách bảo: Ba lô đồng chí nào cũng phải có túi gạo rang, gói muối, đề phòng lạc trong núi rừng, hết thực phẩm... Bữa cơm có bột cá khô, hạt đậu xị kho với quả trám rừng, bát canh lá tai chua, quả bứa, thỉnh thoảng được mấy ngọn lá rau khoai, sắn, măng tre nứa và củ chuối rừng xào với mỡ hoá học.
Trong khó khăn gian khổ nhưng tình đồng đội được thể hiện từ lời nói đến việc làm, chăm sóc khi ốm đau bệnh tật, bữa cơm có lá rau miếng thịt đều dành cho người ốm yếu. Anh em mời nhau bát nước chè rừng, hơi thuốc lào trộn lá sắn phơi khô. Cùng nhau tâm sự về làng quê yêu dấu, người có em gái trêu đùa: Chiến tranh kết thúc bạn nào còn sống trở về chưa vợ sẽ gả em gái cho...
Tiếng hát anh chị em thanh niên xung phong dân công hoả tuyến vang lên trên mỗi cung đường binh trạm: “ Ơ..ơ..! Trông lên mà đỉnh núi ơ thời cao, tình thần mà cứu nước ớ còn cao hơn nhiều. Bạn thanh niên ơi, lên cao trên núi mà trông. Sóng vỗ biển đông, mênh mông đất nước. Như nhắn nhủ khó khăn không lùi, mưa nắng gian khổ gió sương không ngại bạn thanh niên ơi… Đời chưa hết giặc là ta chưa về…”.
Đúng như vậy đời chưa hết giặc là ta chưa về. Ngày đêm máy bay địch quần đảo thả pháo sáng đèn dù ném bom phóng Rốc két, rừng núi không một lúc nào yên lặng. Cung đường binh trạm bị máy bay đánh phá, được các anh các chị nhanh chóng chạy ra san lấp phá bom nổ chậm, kịp cho những chuyến hàng tới tiền phương.
Một lần chiều trở trời thấy tiếng thú rừng kêu mấy anh trong tiểu đội đem súng đi săn về không tháo đạn để vào giá đỡ, hai giờ sáng tôi khoác súng đi diễn tập theo phương án phổ biến. Khi pháo hiệu bắn lên tấn công vào hầm hào quân xanh, khi tiến lên bóp cò thì một loạt đạn thật phát nổ kêu tằng tằng chiu chíu. Lệnh cho dừng cuộc diễn tập, đồng chí tiểu đội trưởng chạy đến nói: Súng đồng chí vừa có đạn nổ. Lúc đó mới biết là khẩu AK của mình có đạn thật bắn ra và tôi giật mình về sự bất cẩn nguy hiểm đó. Nhưng rất may không xảy ra mất an toàn cho đồng đội trên thao trường.


Tiêu đề: Re: Hồi Ký Đường Ra Trận - CCB Sư đoàn 2 : Ông Nguyễn Đăng San.
Gửi bởi: quangcan trong 11 Tháng Giêng, 2011, 08:45:40 pm
Đỉnh Phukatồn một dãy núi cao nhất khu vực Trung đoàn tôi đóng quân, phỉ biệt kích nguỵ Lào thường tập trung cho quân đi cướp phá kho tàng, chỉ điểm máy bay địch đánh phá nơi trú quân, vào cuối tháng 10 năm 1970 chúng đã cho quân xuống đánh phá khu trú quân của đơn vị.
Trước tình hình địch đánh phá như vậy, Trung đoàn lệnh cho tiểu đoàn chúng tôi triệt phá khu có giặc. Phân đội cho bao vây ba hướng là. Đông- Tây- Nam. Phía Bắc vách núi cao dựng đứng thác sâu không cần vây bỏ trống. Khi hoả lực nã vào địch chống cự bằng đạn cối 61 và M79, đạn súng cạc pin và tiểu liên cực nhanh. Không thấy địch phản ứng đơn vị cho bộ đội xung phong. Nhưng địch đã quăng dây rút chạy bằng con đường dốc đá hiểm trở mà phía phân đội chủ quan không vây hãm. Kiểm tra nơi đóng quân, chỉ còn một xác chết và mấy sợi dây buộc ở gốc cây, mỏm đá. Cho bộ đội truy kích thì vấp phải mìn lá địch rải trên đường rút chạy.
Rút kinh nghiệm về trận tập kích địch trên đỉnh núi, đơn vị chỉ ra rất nghiêm túc về việc đánh phỉ biệt kích nguỵ Lào trên núi cao có thác sâu hiểm trở.
Ngay sau khi đánh thu hồi khu trú quân địch trên dãy núi, các đơn vị trong tiểu đoàn thay nhau giữ chốt. Núi cao gió thổi ào ào các tay súng sẵn sàng đánh địch trong từng phút từng giờ, cuộc sống trên cao rất căng thẳng, hàng ngày nuôi quân đun nấu cơm nước đem từ chân núi lên sẵn sàng nhả đạn vào phỉ biệt kích địch rình phục, đường leo trèo hơn 8 giờ đồng hồ mới vào được vị trí chốt giữ.
Cao điểm được Trung đội tôi chốt giữ an toàn, đến lượt đơn vị khác thay thế, mấy ngày sau anh em nhận được tin đáng tiếc xẩy ra, đồng chí Trung đội phó đi kiểm tra đốc gác, bị chiến sỹ canh gác ngủ gật nghe tiếng động tưởng phỉ biệt kích địch đột nhập, đã nổ súng vào người anh bằng mấy viên đạn AK.
 Một hôm đơn vị đang học cách đánh địch có hầm hào kiên cố, thì Sư đoàn trưởng mặc quần áo bà ba đen đến kiểm tra đột suất, một lúc sau Sư đoàn trưởng ra lệnh: Đại đội 8, tiểu đoàn 2 dùng hoả lực bắn sát mặt đất…
 Lệnh của Sư trưởng được tiểu đoàn trưởng Trần Như Tiếp chấp hành. Tiếng súng đại liên nổ từng loạt, đạn bắn vào cành cây lá rụng bay tung toé, mùi khói súng khét lẹt, các chiến sỹ bò vận động đúng kỹ chiến thuật, tiến mãi mới vào được hầm hào quân xanh…
 Tôi đã được gặp và nghe Sư đoàn trưởng nói truyện mấy lần, chưa lần nào thấy ông cười, nhưng hôm nay thấy Sư đoàn trưởng Nguyễn Chơn cười vui hơn. Rút kinh nghiệm học tập tại thao trường. Thủ trưởng nói: Tình huống học tập, giả định, phải thật sát thực tế. Khi tiến đánh đồn bốt giặc chúng bắn trả rất dữ dội, các đồng chí phải vận dụng địa hình mới tiến lên vào được… thao trường có đổ mồ hôi, thì chiến trường mới giảm bớt thương vong đổ máu…
 Rừng già nhiều muỗi, vắt, bọ cạp, cắn đốt cùng chất độc hoá học rải xuống huỷ hoại. Truyền đơn địch kêu gọi đi theo rải xuống trắng các cánh rừng, lời lẽ bi ai, làm các chiến sỹ càng thêm căm tức bọn tay sai bán nước.
Hàng ngày tổ ba người đều hội ý rút kinh nghiệm, khoảng 10 đến 15 ngày phân công nhau đi lấy lương thực, thực phẩm. Vượt qua trọng điểm máy bay địch đánh phá cùng ngầm sông thác lũ, đến kho bãi trên đường vận tải có lúc gạo đã hết mà thực phẩm cũng chẳng còn, trời mưa tầm tã anh em mắc võng nằm đợi đoàn xe của 559 quấn xích vào lốp vận chuyển đến. Có ngày nằm đợi công binh lao xuống dòng nước vớt gạo, gói bọc trong túi nilon thả từ đầu nguồn sông xuống. Hàng nhận xong, chúng tôi đi hàng chục ngày mới về đến nơi trú quân, số gạo thực phẩm trên đường đi người đi lấy mang về ăn cũng gần hết.
Ngày lễ tết đơn vị cho người biết tiếng Lào đi mua lợn về giết thịt cải thiện, do nhiều ngày ăn uống thiếu dinh dưỡng, nên khi có mỡ thịt vào bụng, hầu hết các chiến sỹ đều bị đường ruột. Trên võng ngủ cũng như ngày đi công tác phải nhanh chóng đào hầm, chuẩn bị sẵn hướng đề phòng máy bay địch đánh phá.
Gian khổ ác liệt có người tinh thần sa sút giả vờ ốm đau. Nghiêm trọng hơn ở một đại đội trong Tiểu đoàn có người giả vờ điên loạn lấy súng tự thương vào chân tay, sát hại cán bộ. Có anh đang hành quân giả động kinh chết ngất, biết người này có biểu hiện như vậy y tá lấy nước cất tiêm vào người, mấy phút sau anh ta tỉnh dậy chúng tôi nhìn nhau cười mà suy ngẫm.
Trong số vào chiến trường với nhau một đợt, có tên cầm truyền đơn đi theo giặc, chỉ điểm cho máy bay địch đánh phá khu đóng quân đơn vị. Tiếng tên phản lại đồng đội trên máy bay OV- 10 phát xuống, làm các chiến sỹ càng thêm căm phẫn.
Đêm giao thừa năm Tân Hợi 1971. Cái tết đầu tiên chúng tôi cầm súng xa nhà đi chiến đấu, đóng quân trên núi rừng Trường Sơn hùng vĩ. Đại đội tổ chức cho bộ đội đón xuân dưới ánh sáng đề phòng máy bay địch phát hiện, trong cánh rừng già hoang vắng, lời người giới thiệu nghe thật vui tai: Đàn thùng, Nhị nứa, Sáo tre, hoà cùng bản nhạc Tiếng Đàn Ta Lư. Đồng đội chúng tôi cùng ngân vang bài “… Xuân chiến khu nhớ từng làng quê xóm cũ…”, đến ca khúc: Trường Sơn Đông nhớ Trường Sơn Tây...
Cũng cái tết đón xuân cùng anh em đồng đội, anh Hoà người Hà Tây với cảm xúc đã đọc đoạn thơ: Đường vào, trong bài thơ dài “ Nước non ngàn dặm”, của nhà thơ Tố Hữu. Tiếng sáo trúc cùng giọng anh ngân lên làm chúng tôi trào dâng theo lời thơ đưa về một miền ký ức.
“ Đường vào khu Bốn, vào Thanh
Không đi thì nhớ không đành phải đi.
Lắng nghe sóng biển rầm rì.
Đường ra tiền tuyến lắm khi giục lòng!
Đường đi vào đó miền trong
Đường về Nam ấy, ai mong cũng là
Đường về xứ Huế quê ta
Mấy sông cũng lội, mấy xa cũng gần…
Đêm nay trăng lặn cuối tuần.
Còn thu hay đã lạnh dần hết thu?
Quân đi rung lá nguỵ trang
Xôn xao như sóng trường giang trùng trùng
Đường ta đi, đẹp vô cùng.
Nghìn năm luyện bước anh hùng đấy trăng?
Đường vui, không đợi mùa trăng
Ta đi, làm ánh sao băng giữa đời
Người đi, không thấy mặt người
Vẫn nghe ríu rít tiếng cười tuổi xuân…”.
Bữa cơm chiều 30 tết có thêm hộp thịt lợn hai lạng, gói thuốc lào thuốc lá Trường Sơn và mấy chiếc bánh kẹo. Trong căn nhà hầm đồng đội kể cho nhau nghe, về phong tục tập quán của mỗi người trên đất nước. Trong ánh sáng le lói hắt ra từ chiếc đèn dầu tự tạo, xa xa tiếng máy bay địch gầm rít, cùng tiếng bom rơi đạn nổ của núi rừng vọng lại; xin thùng… xin thùng… Võng đung đưa mà chúng tôi nhớ về làng quê yêu dấu.


Tiêu đề: Re: Hồi Ký Đường Ra Trận - CCB Sư đoàn 2 : Ông Nguyễn Đăng San.
Gửi bởi: quangcan trong 11 Tháng Giêng, 2011, 08:48:45 pm


CUỘC CHIẾN ĐẤU TRÊN MẶT TRẬN ĐƯỜNG 9- NAM LÀO 1971

Hai giờ sáng ngày 01 tháng 2 năm 1971, tức ngày mùng 6 tết Tân Hợi. Đơn vị báo động diễn tập chiến đấu, đoàn quân bám sát nhau theo miếng lân tinh gắn sau người trước phát sáng. Qua ngầm Koongle, nước sông chảy mạnh làm mấy đồng chí trượt chân trôi hàng chục mét. Đến thị trấn Mường Phìn, thì hai ngày sau được lãnh đạo phổ biến chuyển trạng thái từ diễn tập sang chiến đấu, đánh ngăn chặn cuộc hành quân của địch đưa ra đánh phá đường vận tải chiến lược của ta ở đường 9 Nam Lào, mà chúng lấy tên là: Cuộc hành quân Lam Sơn 719.
 Hàng chục ngày đợi địch đến tác chiến. Cuộc đánh ngăn chặn địch ra đường 9 đã được Bộ tư lệnh chỉ đạo đến từng khu vực. Chiều ngày 16 tháng 2 phân đội đang đào hầm trên bãi cỏ tranh, hàng đàn máy bay HU1A địch bay đến cách mặt đất hơn 100 mét bắn đại liên phóng Rốc két. Cả đơn vị định nổ súng nhưng đều phải dừng lại, vì chưa có ý kiến của chỉ huy mặt trận.
 Ngay sau khi bị máy bay địch phát hiện phân đội cơ động về phía Đông Bắc sân bay Thà Khống (sân bay chỉ còn là một bãi đất rộng), phục kích đánh địch đổ bộ theo chỉ đạo của Trung đoàn. Từng đàn máy bay địch, chúng nghi chỗ nào có quân đội và hàng hoá của ta, là chúng cho rà sát xuống mặt đất dùng cánh quạt rẽ nát cành cây ngọn cỏ rồi ném lựu đạn, cho binh lính xuống càn quét bắn phá. Hàng chục chiếc cần cẩu bay H34 vận chuyển vũ khí súng đạn cùng xe tăng đại bác đến các cao điểm, chúng tỏ ra với sức mạnh cùng ưu thế của vũ khí Hoa Kỳ. Nhằm cắt đứt ngăn chặn đường vận tải của ta từ Bắc vào chiến trường. Còn là cuộc thử nghiệm của chúng về “Việt Nam hoá chiến tranh”. Cho nên địch đã tập trung một số lượng lớn về pháo binh, không quân với trên một trăm nghìn binh lính bộ binh tinh nhuệ, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của hơn một vạn sỹ quan cố vấn Mỹ. Có trợ thủ tích cực của hàng chục tiểu đoàn phỉ nguỵ Lào quấy nhiễu đánh phá.
Nhưng kẻ thù đã bị ta biết trước ý đồ đen tối, nên khi địch đổ quân xuống Đông bắc đường số 9, ngay lập tức bị quân chủ lực ta cho một đòn, bằng việc tiêu diệt lữ đoàn biệt động số 39 và bắt sống tên đại tá Thọ.
Từng đàn máy bay địch thi nhau lên xuống bắn phá chuẩn bị cho việc đổ quân. Khi chiếc cần cẩu H34 của Mỹ bị pháo cao xạ ta bắn cháy nổ gẫy đôi, kéo theo xe pháo văng xuống đất, lập tức bầu trời quanh khu vực đen đặc với trên 50 chiếc máy bay các loại, tạo thành ba tầng lao tới phóng Rốc két bắn đại liên.
Pháo phòng không 37 ly của mặt trận thỉnh thoảng điểm vào tốp máy bay chúng một loạt, địch sợ hãi không dám xuống thấp mà cho máy bay đánh bom phá huỷ khu vực. Thấy giặc đánh bom triệt phá như vậy chúng tôi nói; lũ giặc vô cùng tàn bạo phải trả giá với quân ta ở mặt trận này.
Mờ sáng hôm sau tôi cùng Trần Chí Sứ tiểu đội phó, chạy đến chỗ máy bay cháy, thấy hai xác giặc mặc quần áo trắng to béo chết gục. Anh Sứ nói; hai thằng này rất to con, khả năng đây là hai thằng Mỹ. Hai anh em định vào lục soát tìm vũ khí, thì có tiếng máy bay địch xuất hiện, hai người vừa về đến hầm thì mấy chục chiếc trực thăng đến bắn phá và cho quân xuống lấy xác hai tên chết thảm hại mang đi.
Khi địch cho binh lính xuống khu vực nào, là các loại máy bay trinh sát OV10- L19, máy bay chiến đấu F105 - AĐ6- C130, chiến lược B52 đánh phá, dùng cần cẩu bay vận chuyển xe tăng, súng đạn xe quân sự, máy xúc, máy ủi đến san lấp mặt bằng, lắp hầm Boong ke và các phương tiện kỹ thuật hiện đại khác. Phải khẳng định vũ khí quân sự cùng công tác hậu cần của địch đưa ra đường 9, để đánh vào đường vận tải của ta, địch hơn ta rất nhiều lần.
Nhưng phía ta đã chủ động đưa các Sư đoàn 320- 308- 304- 324, Sư đoàn 2, cùng một số quân binh chủng ra nghênh chiến với chúng. Sư đoàn 2 chúng tôi hành quân từ Khu 5 ra Nam Lào từ tháng 9 năm 1970. Đơn vị được bổ sung quân số và huấn luyện ngay ở khu vực sau này địch ra chiếm đóng.
Sau chiến dịch Lam Sơn 719 địch thất bại, chúng đã cách chức một số tên tình báo vì không nắm được quân số và di chuyển của quân chủ lực, trong đó có nói đến lực lượng của Sư đoàn 2 quân khu 5.
 Tiểu đoàn 2 (60), chúng tôi tổ chức đánh địch đổ ra phía tây bắc Bản Đông, hàng chục ngày cơ động làm mấy đồng chí đau chân, không bám đội hình. Đường thường xuyên chuyển hướng cho đơn vị khác di chuyển,(chuyển làn rẽ bằng cành lá cây cho phía sau), làm tôi lạc hướng. Đường tiếp cận mới phát cây cối rậm rạp khó nhận, đêm tối chân đau tôi không thể bám sát đội hình, nên phải nằm lại khe suối. Đến nửa đêm bị máy bay địch ném bom nổ cách hơn 100 mét, đất đá văng phủ kín người, làm cả đêm tôi suy nghĩ về việc không bám sát dẫn đến lạc đội hình vào lúc chuẩn bị tấn công địch, đồng đội có hiểu cho không hay nghĩ mình lẩn trốn trận chiến đấu.
Trời tảng sáng nhanh chóng quay lại đường cũ, qua bãi máy bay địch đánh phá trong đêm, gặp trinh sát tiểu đoàn đang tìm gọi người đi lạc. Như vậy trong đêm nhiều đồng chí đi không đúng đội hình và bị trúng bom, về đơn vị anh em chạy ra thăm hỏi động viên: Cả Trung đội lo nghĩ tới đồng chí trong trận bom máy bay B52 đêm qua…


Tiêu đề: Re: Hồi Ký Đường Ra Trận - CCB Sư đoàn 2 : Ông Nguyễn Đăng San.
Gửi bởi: quangcan trong 11 Tháng Giêng, 2011, 08:50:38 pm
Phân đội tập kết cạnh phía bắc sông Sê Pôn, nghe nhận lệnh trận tập kích vào bãi xe tăng địch, cùng các ký tín hiệu hỏi đáp khi đánh vào vị trí. Theo chỉ đạo từ 18 giờ 30 phút đến 19 giờ, pháo các hướng của Trung đoàn bắn vào bãi xe tăng địch, các chiến sỹ của đơn vị áp sát hàng rào. Đúng 19 giờ các đại đội bộ binh xung phong tiến lên vào cao điểm 229... Thực hiện lệnh đơn vị tôi ồ ạt chạy vào cao điểm theo hợp đồng. Nhưng lúc này các đơn vị hoả lực ĐKZ 75, cối 82, của Trung đoàn đi cùng cánh mới triển khai bắn được vào vị trí. Vì thế yêu cầu bộ binh dừng lại, tránh ra hai phía để bắn phá mục tiêu địch xong mới được xung phong.
Hoả lực ta cấp tập xong, bộ đội vượt mấy lớp rào dây thép gai bãi mìn, cùng cây thông tin nhiệt đới địch cài đặt, các chiến sỹ vừa chạy tấn công và gỡ cây gai xấu hổ bùng nhùng mới vào được bãi xe quân sự địch. Đơn vị dàn hàng ngang quét hàng loạt đạn AK, trung liên, B40, B41 vào khu trung tâm.
Sao địch không chống cự ? Đơn vị cho cơ động băng qua đường 9, chỉ thấy hai chiếc xe bốc cháy do tiểu đội đồng chí Phùng vừa bắn vào thêm mấy quả, cạnh xe là mấy tên lính địch chết cháy đen thui, hầm hào lán trại chúng đã rút chạy từ lúc nào. Như vậy là hàng trăm xe tăng, xe quân địch đã kịp tẩu thoát khỏi cao điểm.
Các mũi tấn công vào cao điểm 229 được lệnh nhanh chóng rút khỏi vị trí, vừa ra đến sông Sê Pôn, thì tiếng gầm rít của máy bay AĐ6, máy bay F 105 lao tới đánh bom phá huỷ.
Tiểu đoàn cho học tập rút kinh nghiệm, về cuộc tập kích vào bãi xe quân sự địch. Được lãnh đạo chỉ ra khá nghiêm túc các vấn đề cần khắc phục. Nổi lên là công tác hợp đồng tác chiến giữa hoả lực và bộ binh, phải thực hiện theo giờ hợp đồng, có phương án bổ sung khi cánh cơ động có vấn đề xảy ra. Mũi của tiểu đoàn phó Trần Đôi bị bom pháo, lại không có người thay thế kịp thời. Dẫn đến hàng trăm chiếc xe địch chạy thoát trên con đường độc đạo về Lao Bảo tỉnh Quảng Trị. Làm cho trận đánh của phân đội vào cao điểm không hiệu quả.
Sau khi một số vị trí chiếm đóng của địch ở đường 9 Nam Lào, bị pháo binh và bộ binh ta tấn công đánh chiếm, địch trên điểm cao 748 hoảng loạn bỏ chạy (đồi yên ngựa, không tên). Phân đội giao nhiệm vụ cho đại đội 7 chúng tôi lên giữ chốt. Nhận lệnh, cán bộ chiến sỹ khẩn trương bơi qua sông. Từng đồng chí lần bám vào mỏm đá tai mèo, gốc cây, núi đá dựng đứng 75- 80 độ, trèo từ dưới bờ sông lên bản cao hơn một trăm mét quanh co mất hơn một giờ đồng hồ mới tới.
Bản Sê Pôn, một khu vực của đồng bào ít người nằm trong hõm núi, cũng bị bom pháo địch bắn phá làm mấy người tử nạn, họ bới đất cát chôn vội vào đám hố bom pháo ngay trước cửa nhà bỏ chạy sơ tán. Xác người chết bị mấy đàn lợn nái đẻ thả rông, thi nhau dùng mõn nhọn đào bới phơi ra nắng trông thật thảm thương. Chúng tôi phải nhanh chóng đào bới chôn cất lại.
Bản có hơn hai chục nóc nhà trên một trăm nhân khẩu, lúc này chỉ còn một cô gái người ốm yếu, chân tay co dúm sợ hãi khóc nói bằng tiếng Lào pha Việt: Xin các ải đừng bắn… Chúng tôi lại gần mới biết, người con gái bị thương liệt hai chân và đã mấy ngày đói khát, bộ đội ân cần thăm hỏi nói với cô gái: Thà hán khăm Việt vào giữ bản cho đồng bào, noọng đừng sợ… Mấy phút sau cô gái bình tĩnh ra hiệu xin ăn uống. Tôi chia túi gạo rang đem theo, anh Lâm ra thác múc nước để lại ngay cạnh, thấy chúng tôi chăm sóc cô gái tật nguyền chắp tay nói: Xin cám ơn Thà hán (bộ đội) Việt Nam nhiều…

                                                                                         *

 Điểm cao 748 ngay từ ngày đầu khi địch đánh ra đường 9 Nam Lào, chúng đã dùng máy khoét núi đào hầm làm mặt bằng đặt pháo 105 ly, cùng các phương tiện kỹ thuật để chỉ huy cho cuộc hành quân.
Chính từ trận địa trên cao điểm mà chúng đã chỉ điểm cho máy bay xe tăng pháo kích, cùng bộ binh đi đánh phá các khu vực của ta ở khu vực đường 9. Nhưng trước những đòn pháo kích cùng phản công của bộ đội, mà binh lính địch cùng cố vấn Mỹ trên cao điểm đã hốt hoảng bỏ chạy.
Đứng trên điểm cao quan sát thấy toàn bộ phía dưới thung lũng Sê Pôn, tuyến đường ngang dọc của ta ra chiến trường. Rất nhiều những chiếc vải dù của biệt kích thám báo đèn dù thả xuống còn mắc trên cành cây cổ thụ, từng dãy hố bom pháo khoét sâu cách nhau 5 đến 10 mét chạy dài hàng cây số, cây cối bị bom đạn chất độc hoá học rải xuống cháy đỏ tàn lụi.
Hàng chục chiếc máy bay địch đang săn đuổi chiếc xe vận tải của ta bụi đất cát mù mịt. Chúng tôi nhìn cầu mong cho đồng chí lái xe thoát nạn, nhưng không thể nào thoát được bởi hàng chục quả đạn Rốc két, bom từ máy bay chiến đấu trút xuống, chiếc xe ô tô bay lên cháy dữ dội. Tôi chợt nghĩ không biết đồng chí ấy tên gì, quê quán ở đâu và năm nay bao nhiêu tuổi. Với sức nổ của bom đạn địch như vậy, chắc thân thể người chiến sỹ này cũng chẳng còn gì.
Cánh rừng giáp ranh với tỉnh Quảng Trị Việt Nam, không còn nhìn thấy màu xanh của cây cối, mà thay vào đó bằng một màu vàng cháy đỏ của sự tàn phá khốc liệt từ các quả bom pháo. Chúng tôi nói với nhau: Nếu địch còn chiếm giữ cao điểm 748, thì nó phát hiện thấy mọi hoạt động của quân ta trong khu vực.
Đơn vị đang triển khai củng cố hầm hào, thì một chiếc máy bay trinh sát OV10 đến bắn ba quả đạn khói chỉ dẫn mục tiêu để máy bay đến đánh bom bắn phá.
Chúng tôi gọi nhau vào vị trí chiến đấu, từng tốp máy bay địch lao xuống trút bom. Loạt đầu bom nổ cách chốt giữ mấy trăm mét, sau chúng xác định được toạ độ, ném vào nổ cách hầm tôi hai ba mươi mét. Cứ như vậy từng đợt máy bay F105 máy bay AĐ6 bổ nhào tới trút bom.
Bom nổ rung chuyển quả đồi, đầu óc chân tay tôi cuống cuồng, mắt nổ đom đóm, tiếng kêu ùng ục, vị trí chốt giữ nghiêng ngả, đất đá ngoài hầm văng vào người thình thịch. Chốt giữ trùm lên một màu đỏ của những quả bom nổ vô cùng dữ dội công phá lớn, sức ép bom đẩy Phạm Văn Tiến và tôi ép sát cạnh hầm. Hai người dùng ngón tay trỏ bịt chặt lỗ tai, nghiến răng, nhắm mắt nhẩm đếm 1-2-3 chết… không chết.
Cao điểm trùm lên một màu khói lửa tôi và Tiến ngạt thở, máu trong miệng trào ra, hai anh em gục sát vào sàn hầm nói với nhau, nếu máy bay địch đánh bom liên tục và đổ quân xuống ngay thì đơn vị ta khó mà giữ được vị trí, khả năng hai anh em mình hy sinh tại cao điểm này.
Lệnh giữ nguyên vị trí sẵn sàng đánh địch đổ bộ. Sau mỗi loạt bom chúng tôi thay nhau đứng lên quan sát xem địch có cho quân xuống cao điểm chốt giữ. Đồng chí Tiến được lệnh chuyển sang hầm bên cạnh, tránh một khi hầm bị sập gây thương vong mất hai người.
Hầm chốt giữ của trung đội trưởng có tiếng kêu cứu, tôi và Tiến chạy sang hất  các bao cát đè vào đồng chí Hài, hà hơi cứu chữa cầm máu cho anh xong, rồi dìu đưa anh ra cách hầm cũ bị sập khoảng 20 mét. Mấy loạt bom tiếp theo thì đến Tiến bị thương, phải đưa đồng chí trở lại hầm cùng tôi lúc ban đầu. Các vị trí chốt giữ thấy quá nguy hiểm, do vậy sau mỗi loạt bom máy bay địch đánh xuống, đồng đội đứng lên gọi báo cho nhau về khu hầm hào chốt giữ của mình.
 Quan sát hướng máy bay ném bom, chạy đến đưa mấy đồng chí bị thương chuyển sang hầm cạnh đồi. Trở lại vị trí chiến đấu quen dần với tiếng bom nổ và cách đề phòng, đói bụng quá lấy dao bổ hộp thịt cho vào miệng, khi bom gầm đặt bàn chân che không để đất cát văng vào và đưa hai tay lên ôm mặt bịt tai.
Máy bay địch ném bom nổ liên tục trên ba giờ đồng hồ, sau chúng ném xuống một đợt bom Napan và bom xăng. Kho đạn địch bỏ lại trên cao điểm cháy nổ bay tứ phía. Đồng chí Lâm tiểu đội trưởng gọi bảo tôi cùng anh Nhuận, dìu trung đội trưởng Hài và đồng chí Tiến đưa ra khỏi khu vực chốt giữ. Đưa được hai anh ra ngoài vị trí nguy hiểm khoảng 500 mét, thì gặp các đồng chí của C3 thuộc Tiểu đoàn vận tải số 19, vào đón đưa hai anh về tuyến sau.
Đại đội 3 thuộc tiểu đoàn 19 làm nhiệm vụ vận tải của Sư đoàn, đều là chị em nữ người miền Nam, được Đảng Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Trở lại vị trí chốt giữ, hầm hào bị bom trút xuống nổ sập gần hết, 6 khẩu pháo  bị đất đá chôn vùi. Cao điểm 748 chỉ còn là một bãi đất cát bột, chân lội vào như bị sôi lên, ngập đến gần đầu gối nóng bỏng.


Tiêu đề: Re: Hồi Ký Đường Ra Trận - CCB Sư đoàn 2 : Ông Nguyễn Đăng San.
Gửi bởi: quangcan trong 11 Tháng Giêng, 2011, 08:52:24 pm
Các chiến sỹ còn lại trên vị trí chốt giữ trở lại bản Sê Pôn với bộ quần áo tả tơi, đầu tóc đỏ ngầu bụi đất cát của khói bom đạn bước đi lảo đảo không vững, miệng nhổ khạc ra máu hồng đắng ngắt, đi ra thác nước rửa mặt mũi chân tay giặt giũ quần áo. Cô gái tật nguyền trong hang đá bò ra vẫy gọi. Như một linh tính, do thấy thiếu người trước khi lên cao điểm, cô đã khóc và nói: Noọng thương Thà hán Việt Nam nhiều … Bộ đội hãy ở lại giúp bản cho noọng … bắt tu kay(con gà) giết thịt, lấy quả bầu bí nấu ăn… Nghe xong chúng tôi nói: Bộ đội Việt Nam không làm vậy đâu, còn phải đi đánh giặc, noọng đừng sợ có Thà hán khác đến giữ bản cho noọng... Chuẩn bị rời bản chúng tôi múc nước đưa thêm cho cô gái mấy gói cơm sấy và hai hộp thịt nhỏ vừa nhặt được của địch trên cao điểm.

Tạm biệt người con gái Lào tật nguyền không biết tên. Nhiều lúc tôi cứ mông lung suy nghĩ, không biết số phận người con gái ấy sẽ ra sao giữa chiến trường bom đạn? Nhiều lúc tôi vẫn nhớ tới bản làng trên triền núi cao có thác nước (Tả Sa Neng) chảy suốt ngày đêm thơ mộng, cùng một dẫy hoa Chăm pa xinh đẹp và những chuyện đau buồn đã xẩy ra trong chiến tranh ngày ấy. Chắc dân bản và cô gái sẽ không bao giờ quên những ngày khó khăn ác liệt. Song cũng chứa đầy tình cảm của người lính đi từ Đông Trường Sơn sang Tây Trường Sơn đánh giặc, đem lại yên vui cho hai dân tộc Việt- Lào.


TRÊN CAO ĐIỂM 723 VÀ 660

Sau khi bàn giao cao điểm 748 và bản Sê Pôn, đơn vị tôi nhanh chóng cơ động về cao điểm 723. Trên đường bị bom pháo địch bắn phá nổ ngay trước đội hình, có đoạn vừa chạy qua thì máy bay B52 đánh bom rải thảm, rừng núi không một lúc nào yên lặng. Đơn vị bị địch từ điểm cao 680 phát hiện, dùng phi pháo bắn phá gây tổn thất thêm một số đồng chí. Khu giao chiến bị địch đánh phá rải chất độc hoá học, cây cối ngổn ngang người và thú rừng bị thương gục xuống uống nước rồi chết, nguồn nước tanh hôi thối. Đêm tối nuôi quân lần mò khe rãnh chắt lọc mới có nước về nấu cơm cho đơn vị.
Trời tảng sáng tôi được phân công xuống nuôi quân lấy nước, khi mở vung nồi nghĩ có đỗ rang cho vào đã hỏi đồng chí nuôi quân: Nước uống hôm nay các đồng chí có đỗ đen rang cho vào đấy à. Anh Nhẫn chạy đến nhìn soong nước hốt hoảng nói: Đêm tối nuôi quân phải lần mò mới tìm được ít nước cho vào can về nấu, phấn khởi vì có nước nấu ăn mà không nghĩ có nòng nọc trong nước. Khu vực này không con suối nào có nước, anh em đi cả đêm mới tìm được đủ nước về đun nấu cho đơn vị. Có suối còn nhưng không thể nào dùng được, vì nguồn nước có người và thú rừng  bị thương, chết máu mủ chảy xuống mất vệ sinh vô cùng, vũng có côn trùng sống thì  dùng được, nhưng đun nấu thiếu kiểm tra như thế này là có lỗi với các đồng chí…
Ngày 15 tháng 3 nuôi quân bò đến đưa cho mỗi chiến sỹ bốn nắm cơm và ít muối gạo rang ăn trong hai ngày. Nhận bình tông nước và các anh cho biết là nguồn nước không tốt chưa kịp đun sôi, ai còn viên lọc nước sát trùng cho vào hãng uống. Chúng tôi đang bao vây chuẩn bị tấn công vào đồn bốt địch, biết bình nước hôi thối, nhưng vì quá khát mà phải nhắm mắt nín thở nuốt vội qua cổ họng.
Sau trận bao vây đánh địch ở cao điểm 723 và 660, trong chiến dịch đường 9 Nam Lào tháng 3 năm 1971. Nhiều lúc tôi nghĩ lại những con suối có người và thú rừng chết cùng nước uống thời kỳ ấy mà vẫn rùng mình.
Ta và địch giành giật nhau từng thước đất của quả đồi, Trung đoàn bao vây chặn đánh tất cả các đường tháo chạy tiếp viện của địch, quanh khu giao chiến đồi núi trọc làm cho bộ binh đơn vị tôi rất khó tiếp cận vị trí.
Rừng núi bị máy bay pháo kích đánh phá không còn một cây nào xanh nguyên vẹn, Ban chỉ huy Trung đoàn bị máy bay HU1A- HU1B phát hiện bắn Rốc két và trút bom xuống làm sập hang đá. Gây tổn thất mất Trung đoàn phó Hoàng Suất, trưởng ban tác chiến Nguyễn Tiến, cùng một số đồng chí trinh sát, thông tin.
Trên cao điểm địch cho quân đến chỗ có mặt bằng gọi trực thăng đến bốc đi. Nhưng máy bay đến đã bị pháo phòng không ta nổ súng tiêu diệt, do vậy chúng không thể hạ cánh tiếp tế, hoảng loạn thả cả hàng tiếp viện về phía đơn vị đang bao vây. Chiến sỹ quân Giải phóng chúng tôi vui mừng thu chiến lợi phẩm, như ở chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.
Trong căn hầm thấy địch trên cao điểm chắp tay làm dấu cầu khấn may mắn, anh em nói với nhau: Số phận binh lính địch sẽ được các chiến sỹ đơn vị ta quyết định. Từng loạt đạn pháo cối bắn vào cao điểm, tiếng la hét xin rút chạy của địch ngày một rõ. Đồng chí Sơn chiến sỹ thông tin tiểu đoàn, kéo dây trực tiếp cho lãnh đạo báo cáo diễn biến trên cao điểm. Lệnh từ sở chỉ huy cho ba mũi đánh thẳng vào sở chỉ huy địch trên cao điểm, đồng thời thả lỏng một hướng để địch chạy vào chỗ có bộ đội phục kích.
Đaị đội được lệnh đánh thẳng vào trung tâm cao điểm, đang tấn công vấp phải mấy khẩu đại liên địch bắn trả dữ dội, không thể nào phát triển chia cắt được. Đại đội trưởng Phan Minh Duệ, điện về xin cấp trên cho dùng súng đạn B40, B41, tiêu diệt mục tiêu (loại vũ khí thời kỳ này chỉ được dùng vào việc bắn lô cốt, xe tăng địch). Được trên cho đồng ý hoả lực ta dập tắt mục tiêu chống cự, chớp thơi cơ các chiến sỹ dũng mãnh xông lên quật ngã những tên ngoan cố. Trên cao điểm, địch không còn khả năng với những đòn sấm sét của quân giải phóng, buộc phải hạ vũ khí cầm cờ trắng lũ lượt kéo nhau ra hàng. Đơn vị nhanh chóng bắt tù binh, thu hồi vũ khí, làm chủ hoàn toàn cao điểm.


Tiêu đề: Re: Hồi Ký Đường Ra Trận - CCB Sư đoàn 2 : Ông Nguyễn Đăng San.
Gửi bởi: quangcan trong 11 Tháng Giêng, 2011, 08:53:18 pm
Sau khi đánh chiếm làm chủ cao điểm 723 xong. Đơn vị tôi được lệnh cơ động về bao vây địch tại điểm cao 660. Đêm tối đồng đội bám sát nhau theo miếng lân tinh phát sáng vào vị trí qui định .
Quân địch đã mấy ngày đói khát không còn nước uống, phải bẻ chuối rừng nhai chống khát. Máy bay địch đến chúng hý hửng phất cờ báo vị trí tiếp viện. Nhưng nhiều chiếc đến đều bị pháo phòng không ta bắn cháy, sợ hãi thả thang dây cho lính dưới đất trèo lên, thấy máy bay cháy lao xuống kéo theo mấy thằng văng vào núi chúng khiếp sợ.
Máy bay địch giảm dần. Trung đoàn cho bắn một đợt pháo cối cùng ĐKZ.75 vào cao điểm. Đơn vị được lệnh đánh chiếm mục tiêu, từ những chiếc hầm vây lấn chúng tôi xông lên đánh vào vị trí. Địch hoảng loạn chạy trốn, nhưng đã bị tất cả các cánh quân của ta bao vây ập đến. Các ổ súng đại liên địch chống cự ngay lập tức bị những quả đạn B40 bắn đến phá nổ cùng hàng loạt đạn trung liên và tiểu liên AK nã tới dập tắt.
Sáng ngày 21 tháng 3 năm 1971, buộc sỹ quan binh lính nguỵ hạ vũ khí kéo nhau ra đầu hàng, một vài tên hỏi cấp bậc chức vụ người đến bắt mới chịu giơ tay. Quân giải phóng nhìn quân hàm cầu vai ve áo chúng nhanh trí đáp chức vụ của người cầm súng còn cao hơn của địch, buộc chúng phải nhanh chóng đầu hàng. Có tên yêu cầu cán bộ ngang hàng đến mới chịu giơ tay và có ý phân biệt cấp chức, làm một vài chiến sỹ đơn vị tôi không còn bình tĩnh đã nổ súng kết thúc số phận chúng.
Địch trên cao điểm ra hàng van lạy khóc lóc kể lể … nào là bị bắt đi quân dịch…vợ con nheo nhóc phải đi…không đi cũng chết và bị đẩy vào chỗ chết… Xin các ông Cộng sản tha tội… đừng bắn.
Một loạt đạn tiểu liên nổ vào mấy tên địch luồn rẽ ngang định trốn chạy. Bọn trong hàng sợ bị vạ lây, sụp người xuống đất khóc thảm thiết … Xin các ông đừng bắn… lạy các ông, xin các ông… có tên đi thêm mấy bước quì xuống xin tha tội, hàng loạt tên nằm xuống xin ăn uống... Thật nhục nhã và đê hèn với kẻ bại trận.
Chúng tôi nghĩ hàng chục ngày nay đơn vị tao còn đói khát ác liệt hơn cả lũ chúng bay đây, biết bao đồng đội tao hy sinh do bom đạn của chúng mày. Nếu không vì chính sách tù hàng binh của quân Giải phóng, thì tao sẽ cho chúng bay một băng AK.
Đêm 20, sáng ngày 21 tháng 3 năm 1971, một số địch trên cao điểm 660, đói khát không thể chịu đựng được nữa, chúng bỏ vũ khí xuống tìm gặp quân giải phóng nằm vào cạch bếp nuôi quân, đồng chí Nhẫn và Bút tưởng người đơn vị, đá vào chân để tránh lấy chỗ vào nấu cơm. Thì hơn chục tên địch đứng dậy van lạy tha tội, tiểu đội nuôi quân bắt đưa chúng nhanh chóng thoát khỏi khu vực giao chiến.
 Các mũi tấn công của Trung đoàn giảm dần tiếng súng, hô hào tất cả bộ đội ra bắt tù binh, chúng tôi không ngờ sỹ quan binh lính địch lại kéo nhau ra đầu hàng đông như thế, dây trói mang theo bị thiếu. Vì thế bắt chúng tháo hết tất, giầy dép. Và chỉ dẫn chúng đi theo đường dây điện thoại thoát khỏi khu vực nguy hiểm, đề phòng địch cho máy bay tới đánh phá tiêu huỷ,(đường dây điện thoại do các chiến sỹ thông tin chạy rải theo người chỉ huy trận đánh).
Chiến thắng trên cao điểm 660 vừa xong, chúng tôi xuống cách vị trí chiến đấu một đoạn, thì có các đồng chí trong đoàn văn nghệ xung kích của mặt trận đến hát mừng chiến thắng. Tiếng hát trong trẻo của ca sỹ vang lên, làm ngây ngất bao người lính chúng tôi vừa bước ra từ cuộc chiến đấu vô cùng ác liệt.
                            
 “Ai đã tới miền quê em Quảng Trị Thừa Thiên.
Qua đường 9 tình Do Linh, thắm trong giọng hò… ”.

Được các anh các chị văn công hát cho nghe mà người nào cũng rơi nước mắt. Vì trong niềm vui chiến thắng cũng không ít đồng chí hy sinh dưới bom đạn ác liệt của kẻ thù. Còn là sự quan tâm của Bộ tổng tư lệnh cùng nhân dân cả nước, vẫn dõi theo từng bước đi của chúng tôi nơi chiến trường khó khăn gian khổ.


Tiêu đề: Re: Hồi Ký Đường Ra Trận - CCB Sư đoàn 2 : Ông Nguyễn Đăng San.
Gửi bởi: quangcan trong 11 Tháng Giêng, 2011, 08:55:31 pm
 
TÀN KHỐC CỦA CHIẾN TRANH

Sau khi chiến thắng địch ở cao điểm 660, chúng tôi cùng vệ binh chỉ dẫn bọn sỹ quan binh lính địch đầu hàng đưa về ban chỉ huy Trung đoàn cách cao điểm tác chiến mấy km. Đồng chí Tịch chính trị viên (anh nói tiếng Anh và Pháp khá tốt), cùng với Tiểu đoàn trưởng Trần Như Tiếp và một số đồng chí trong Ban chính trị hỏi binh lính sỹ quan địch. Được chúng khai báo đã biết được ý đồ của địch, các anh yêu cầu tên lính phục vụ điện đài cho tên tiểu đoàn trưởng bị bắt mở máy gọi điện về báo cáo trực tiếp với sở chỉ huy chúng: Không được để máy bay ném bom một thời gian, vì con cái còn đang đi lạc trong vùng giao chiến và tản mát trong rừng.
Mấy ngày sau địch cho máy bay đến khu vực hai bên giao chiến, bắn phá với lượng bom đạn chưa từng có vào vị trí giặc thất trận bỏ chạy. Trước tình hình bom đạn như vậy, đơn vị cử người đi làm lại công tác tử sỹ thu dọn chiến trường, có đồng chí được phân công nhiệm vụ này cáo đủ lý do…
Thấy vậy, tôi xung phong đi cùng các đồng chí trong Tiểu đoàn. Tổ công tác đến cao điểm 660 và 723 khu chôn cất chiến sỹ ta hy sinh. Một cảnh tượng hết sức đau xót và tàn khốc tận cùng của chiến tranh được hiện ra trước mắt: …kia bộ quần áo màu xanh vải Ga ba đin, chiếc thắt lưng da màu nâu nhạt Trung Quốc, đây cánh tay, bàn chân và đầu người trơ trọi trên mặt đất. Cành cây cháy dở vắt ngang từng đoạn ruột, gan, ruồi bọ và những con mối…
Tất cả những gì có trên mặt đất đều được trộn lẫn và trở về với đất.
                                                       
                                                                                             *

Sau khi chiến thắng địch trên mặt trận đường 9 Nam Lào cuối tháng 3 năm 1971 về. Đơn vị trở lại khu Kà Tồn phía Bắc huyện Mường Phìn, chúng tôi được nghe cán bộ tuyên huấn vào nói chuyện ý nghĩa của thắng lợi việc đánh địch đưa ra đường 9 Nam Lào. Làm cho chúng thất bại ý định của việc: Việt Nam hoá chiến tranh. Lúc này chiến trường có nhiều phóng viên báo chí vào phỏng vấn ghi chép, hình ảnh ngoan cường của cán bộ chiến sỹ trên mặt trận.
Đơn vị có Đội văn Công của Tổng cục Chính trị đến biểu diễn. Nghệ sỹ Kim Cúc người to béo hát mấy bài rồi ngâm lời thơ của Tố Hữu có đoạn.
                                     
“ Em là ai, cô gái hay nàng tiên.
Em có tuổi, hay không có tuổi…”.

Các chiến sỹ xem văn công biểu diễn xong về lán trại nghêu ngao: Em là ai Kim Cúc hay thùng phi... Sau chiến thắng trên chiến trường khó khăn ác liệt, lại có các anh chị trong đội văn công xung kích vào biểu diễn, trong lúc còn khét mùi khói bom đạn, làm cho các chiến sỹ rất xúc động. Bởi làm lên chiến thắng còn có cả: Tiếng hát át tiếng bom.
Đơn vị nhận được rất nhiều quà của nhân dân miền Bắc gửi tặng. Những lá thư của thanh thiếu niên học sinh Hà Nội, Hải Dương, Thái Bình… viết thăm hỏi động viên các chiến sỹ ngoài mặt trận. Thư được Chính uỷ Trung đoàn Nguyễn Tá, đọc lại cho bộ đội nghe tình cảm của nhân dân hậu phương gửi vào. Trong nhiều lá thư ấy, có nội dung của nữ sỹ Ngân Giang, làm tôi còn nhớ mãi, thư bà viết động viên con trai cùng các chiến sỹ có đoạn:
                                 

“… Nếu chỉ biết ăn và biết ngủ
Lớn khôn thành vợ lại thành chồng
Dòng đời như vậy sao yên được
Khi cả miền Nam lửa bão bùng…”.


Cũng lâu lắm rồi chúng tôi mới được yên lặng ngồi nghe lời nhắn nhủ của người thân từ miền Bắc gửi vào, nên khi lời thơ của bà vang lên thấm vào chúng tôi theo từng huyết mạch.
(Đồng chí Mão con nữ sỹ Ngân Giang, chiến sỹ trinh sát Trung đoàn, bị thương ốm yếu đưa ra Bắc cứu chữa, nhưng quá nặng đã mất).
Sơ kết chiến dịch, đánh phản công ngăn chặn địch ở đường 9 Nam Lào, từ tháng 2 đến tháng 3 năm 1971, với năm mươi tư ngày đêm đại đội 7- D2- E1- F2 chúng tôi đánh tiêu diệt thu hồi nhiều vũ khí trang bị của địch, làm tốt công tác dân vận và chính sách tù hàng binh. Bình quân mỗi cán bộ chiến sỹ trong đơn vị bắt sống 13 tù binh địch.


Tiêu đề: Re: Hồi Ký Đường Ra Trận - CCB Sư đoàn 2 : Ông Nguyễn Đăng San.
Gửi bởi: quangcan trong 11 Tháng Giêng, 2011, 08:57:58 pm


TRÊN CAO NGUYÊN- BÔLÔVEN

Để an toàn cho tuyến đường vận tải của ta ở Hạ Lào. Đầu tháng 4 năm 1971, Sư đoàn 2 chúng tôi cùng quân tình nguyện Lào, chủ động tấn công mở rộng hành lang cho đường vận tải chiến lược 559. Nhằm xoá đồn bốt quân phiến loạn Thái Lan, phỉ nguỵ Lào phản động, đang quấy nhiễu đánh phá theo chỉ đạo của chính quyền nguỵ ở Sài Gòn.
Nhận lệnh lên Cao Nguyên Bôlôven, đường hành quân vào vị trí chiến đấu bộ đội chủ yếu ăn lương khô giảm bớt khói lửa, tránh qua lại khu đông dân, bảo đảm bí mật trước giờ nổ súng. Hàng chục ngày mang vác vũ khí lương thực thực phẩm chúng tôi đến cánh đồng Pha Lan- Đồng Hến. Mấy ngày sau phân đội tổ chức đánh tiêu diệt số đồn bốt nhỏ của địch nằm rải rác trên trục đường án ngữ. Đến trung tuần tháng 5, Trung đoàn giao nhiệm vụ cho phân đội đánh địch giải phóng thị trấn Pắk Soòng. Một khu đông dân cư sầm uất của vùng Hạ Lào, vị trí được chúng bảo vệ rất vững chắc.
Song với tinh thần quyết chiến quyết thắng, chỉ sau mấy ngày thắt chặt vòng vây đơn vị tôi đã đánh và làm chủ hoàn toàn khu vực. Nhân dân thị trấn lúc đầu hoang mang lo sợ, nhưng do làm tốt công tác tuyên truyền và giữ nghiêm kỷ luật. Đơn vị đã lấy được lòng tin của nhân dân các bộ tộc Lào, với anh bộ đội Giải phóng quân Việt Nam. Cửa hàng cửa hiệu bán hàng trở lại, dưới gầm nhà sàn đều có xe ô tô và xe Honda của nhân dân để đi lại vận chuyển. Hàng tiêu dùng; chăn, màn, quấn, áo, đồng hồ, xe đạp, lương thực thực phẩm bày bán tự do, người qua lại mua bán đông đúc.
Ngược lại công tác hậu cần của đơn vị tôi lúc này gặp rất nhiều khó khăn, các bếp không còn gạo nấu tiếp tế cho vị trí chiến đấu, mấy ngày liền bộ đội trên cao điểm ăn toàn rau tàu bay lá sắn, nấm chân chim luộc. Gần chục ngày mỗi chiến sỹ được cấp 0,5 kg gạo nếp/ngày, gói được nắm cơm nhỏ. Thấy anh em đứt bữa anh Phan Văn Thanh (Liễu) quân nhu tiểu đoàn, lấy súng bắn mấy con bò thả rông của bọn phỉ Vàng Pao quân phản động Lào giết lấy thịt. Đại đội tôi được bữa thịt bò đỡ đói, nhưng đồng chí Liễu ngay lập tức đã bị kỷ luật về chính sách dân vận.
Các bếp nuôi quân hầu như không còn gì mà nấu ăn cho bộ đội, anh em thay nhau vào rừng cà phê tìm mật ong, có đồng chí bị ong bò vẽ cắn đốt ngộ độc nặng, phải cứu mãi mới sống. Đói quá anh em tìm mật và ăn chuối chín, đã làm cho người say cồn cào choáng váng.
Mặc dù đói khổ như vậy, nhưng hàng hoá đường sữa bánh kẹo bày bán tự do. Được cán bộ chiến sỹ giữ nghiêm kỷ luật:“ Không lấy cái kim sợi chỉ của nhân dân…”, giữ vững lòng tin của đồng bào trên vùng đất.
Sau khi Trung đoàn đánh chiếm giải phóng thị trấn, phân đội tiến hành đánh địch trên quốc lộ 13. Đánh chiếm xong, Tiểu đoàn giao nhiệm vụ cho đại đội 7 chúng tôi chốt giữ cao điểm Pắk Kụt. Vị trí được lãnh đạo đơn vị quán triệt: Không cho địch từ Pắk Sế theo đường 13 quay lại tái chiếm Pắk Soòng, không cho chúng chạy về Pắk Sế... Chỉ đạo của Sư đoàn trưởng Nguyễn Chơn là: Đánh kéo địch từ Pắk Sế và các nơi vào khu vực Pắk Kụt. Trung đoàn Ba Gia dùng một lực lượng đánh thọc phía sau sườn địch, phải cho chúng một đòn thật bất ngờ, không kịp chống đỡ. Tiêu diệt bằng được binh lính đang có ý đồ phản kích lại, bẻ gẫy bằng được cuộc tái chiếm của chúng vào khu vực; Pha Lan, Đồng Hến và thị trấn Pắk Soòng.
Điểm cao Pắk Kụt một ngọn đồi nằm cạnh đường quốc lộ số 13, có sông suối cầu bắc qua, một vị trí án ngữ hết sức quan trọng của cả hai phía. Với địch đây là vị trí bảo vệ vòng ngoài cho cụm quân sự ở Y Tu- Bản Nhik. Chính vì thế mà địch phải ra sức đánh chiếm hòng lấy lại vị trí.
Đơn vị lên chốt được lãnh đạo chỉ thị: Phải chiến đấu và thu hút địch vào cao điểm, tạo thuận lợi để Trung đoàn tập trung đánh vào cụm quân sự chúng.

BỐN CHIẾN SỸ TRÊN CAO ĐIỂM PẮK KỤT

Sau khi chúng tôi được giao lên cao điểm Pắk Kụt giữ chốt, triển khai đào hầm củng cố vị trí chiến đấu vừa xong, thì bị máy bay cùng pháo kích địch bắn vào vô cùng dữ dội. Chốt giữ trở thành nơi mưa bom bão đạn của kẻ thù, từng tốp máy bay địch lao tới ném bom, đạn pháo 105 ly, cối 165 ly từ căn cứ quân sự Bản Nhík bắn tới, sau là những đợt lính bộ binh địch tràn lên tấn công.
Trong ba ngày địch tấn công vào cao điểm bị đơn vị tôi đánh thiệt hại gần một tiểu đoàn, gồm 3 đại đội lính Com Măng Đô nguỵ Lào, quân Thái Lan. Vị trí được giữ vững, nhưng chốt giữ thương vong một số đồng chí phải điều động và thay thế liên tục.
Ngày mùng 9 tháng 6, từ mờ sáng địch cho máy bay đánh bom, bắn pháo cối vào cao điểm. Cuộc chiến đấu trở nên ngay go và vô cùng ác liệt, có đồng chí vừa bổ sung vào đến vị trí thì đã bị thương. Sau mấy giờ bị địch đánh phá và cho lính bao vây đường tiếp viện. Khoảng 14 giờ chốt giữ bị một đợt pháo cối và bộ binh địch tràn lên đánh phá làm nhiều đồng chí thương vong. Chốt giữ lúc này còn có: Tô Ngọc Lâm tiểu đội trưởng và các đồng chí Vũ Minh Quỳnh, Phạm Văn Tiến, cùng tôi.
Những tay súng còn lại, triển khai đánh từng đợt phản công của địch lên vị trí chốt giữ. Pháo cối địch bắn cấp tập vào cao điểm, tiếp đến là hàng loạt đạn súng đại liên, đạn M79, cùng với hàng loạt lính bộ binh tràn lên dùng tiểu liên AR 15 bắn như vãi đạn vào cao điểm
Quân số trên chốt còn ít, phải đánh trả với quân số địch quá đông, chốt giữ mỏng manh khó giữ, lúc này ta và địch giành giật nhau từng thước đất của quả đồi. Cơ số đạn cũng không còn đảm bảo cho cuộc chiến đấu với lũ giặc hung dữ, do vậy người lãnh đạo chỉ huy: Nhằm thật chính xác từng tên mới được nổ súng, tiết kiệm đạn, để địch đến thật gần mới được bắn … Thực hiện lệnh chiến đấu của người chỉ huy cao nhất còn lại trên cao điểm, chúng tôi xác định sống chết với quân thù tại vị trí vô cùng ác liệt này.
Địch tiếp tục cho bắn một đợt pháo cối cỡ lớn vào cao điểm, 30 phút sau cho lính bộ binh tiến lên. Các tay súng ngắm chính xác từng tên lính đi đầu đang khật khưỡng thở hồng hộc lao đến.
Thời cơ đánh địch đã đến, được chỉ huy ra lệnh. Chúng tôi đồng loạt nổ súng vào những tên đi đầu. Có lẽ địch tưởng chốt giữ đã bị bom pháo của chúng đánh chết hết, cho nên khi bị chốt giữ đánh trả lại địch đã hoảng hốt rút chạy. Ngay lập tức chúng tôi được lệnh đồng loạt bật khỏi hào quét đạn sát lưng địch. Xác giặc chết ngay mép chiến hào, số địch còn lại chạy thục mạng lăn xuống chân cao điểm.
Tranh thủ cơ hội ấy chúng tôi nhanh chóng thu lượm vũ khí, bổ sung cho cuộc chiến đấu. Pháo cối địch lại tiếp tục bắn đến, và trước tình hình một mất một còn của cao điểm, đồng chí Lâm xác định cho những người còn lại: Phải giữ bằng được cái chốt quan trọng này, vì đây là vị trí thu hút để cho Trung đoàn đánh được vào cụm quân sự của chúng ở Y Tu- Bản Nhik”.
Quân giặc với ý đồ phải chiếm bằng được cao điểm, chúng tiếp tục điều thêm quân, cho pháo cối triệt phá để bộ binh tràn lên bắt sống chúng tôi. Giờ phút trên Pắk Kụt hết sức căng thẳng, đơn vị cho quân đến nhưng không thể vào được. Vũ khí đạn trên chốt cạn dần, không còn cách nào khác đồng chí Lâm phân công mỗi người quan sát bảo vệ vững chắc một hướng, để địch vào thật gần mới được nổ súng, bắn tỉa chính xác, ném lựu đạn khi mấy thằng chụm vào nhau. Nhưng tuyệt đối không cho địch phát hiện chốt còn lại ít người, dùng AK phải kết hợp với vũ khí thu được của chúng, nhưng không cho địch biết là vũ khí lấy được của chúng.
Thực hiện ý định của người chỉ huy, khi địch vào cách vị trí chốt giữ khoảng 25 mét, chúng tôi đánh trả lại chúng bằng những loạt đạn AK, kèm theo là tiếng nổ của lựu đạn chày, lựu đạn US- đạn AR15 của Mỹ, khói lửa trên cao điểm mù mịt, địch hoảng loạn hô hét- Vici… Vici …còn rất nhiều, rút ngay- rút ngay.
Tiếng súng giảm dần, chốt chiến hào biến dạng đồng đội gọi tìm lại nhau, thì thấy đồng chí Lâm ngã vật người xuống hào và tay ôm chiếc mũ ở bụng, tôi vội lao đến, thấy ruột trong bụng xổ ra nằm trong chiếc mũ và anh đang cố nén giữ. Tôi hiểu đồng chí bị thương rất nặng, nhưng dấu kín không để cho chiến sỹ của mình biết, nhằm giữ vững lòng tin cho cuộc chiến đấu của đơn vị. Máu từ bụng đổ xuống đã đông đặc dưới chiến hào anh đứng chỉ huy.
Anh nói với chúng tôi trong hơi thở đứt quãng: Các em còn lại gần đây nghe anh nói, khi nói xong thì sẽ cho anh uống nước… Các đồng chí … các em hãy chiến đấu giữ chốt và thu hút địch, để cho đơn vị đánh vào Y Tu bản Nhik… trả thù cho anh cùng đồng đội hy sinh … Anh vẫy tay ra hiệu cho tôi ghé sát xuống người nghe anh nói.“Sau này chiến tranh kết thúc, hoà bình lập lại, em nào còn sống trở về, nhớ tìm đến quê hương anh ở đất Thái Bình, kể lại trận đánh của đơn vị, để cha mẹ gia đình quê hương anh biết, về cuộc chiến đấu giữ chốt vô cùng ác liệt này, cùng với việc mà anh hy sinh hôm nay …”.
Ba chúng tôi ghé sát vào người để anh hôn và cầm tay vĩnh biệt mấy người còn lại trên cao điểm. Anh mỉm cười… tin tưởng vào các chiến sỹ của anh còn lại chiến đấu giữ chốt.
Người tiểu đội trưởng kiên cường dũng cảm của đơn vị trên chốt Pắk Kụt, đã thanh thản ra đi trong vòng tay của đồng đội vào khoảng 16 giờ ngày mùng 9 tháng 6 năm 1971. Cao điểm lúc này còn lại ba người nổ súng chiến đấu giữ chốt, trời tối đơn vị tăng cường lực lượng củng cố trận địa. Cùng lúc ấy tiếng súng pháo cối của ta đã nã vào trúng cụm quân sự địch đóng ở khu vực Y Tu- Bản Nhík.
Mấy ngày sau Trung đoàn đã tập trung đánh tiêu diệt được cụm cứ điểm quan trọng của địch ở Hạ Lào, giữ vững mở rộng tuyến đường vận tải Trường Sơn, trả thù cho các đồng chí anh dũng hy sinh trên Cao Nguyên Bôlôven, đất nước hoa Chăm Pa xinh đẹp.


Tiêu đề: Re: Hồi Ký Đường Ra Trận - CCB Sư đoàn 2 : Ông Nguyễn Đăng San.
Gửi bởi: quangcan trong 11 Tháng Giêng, 2011, 08:58:57 pm
Sau khi chiến đấu giải phóng được một vùng rộng lớn ở miền Hạ Lào. Cuối tháng 6 năm 1971, Trung đoàn hành quân trở về đóng quân ở phía nam huyện Mường Phìn thuộc Lào. Làm lán trại cho bộ đội ăn ở học tập chính trị huấn luyện quân sự. Đơn vị chỉnh đốn theo nghị quyết số 19 của Mặt Trận dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Trong học tập thảo luận các chiến sỹ đều phân tích đặt câu hỏi. Nếu có phải hy sinh trên chiến trường đánh giặc xâm lược có thiệt không …? Cả đơn vị bàn luận rồi cùng nhau đồng tâm ra nghị quyết: Hy sinh vì Tổ quốc Việt Nam yêu quí không thiệt...
Do có nhiều thành tích chiến đấu công tác, tôi được chi bộ xét kết nạp vào Đảng, lớp đảng viên Hồ Chí Minh. Đồng chí Trần Văn Thành người Hà Tây, trung đội trưởng, đảm bảo số một. Đồng chí Trần Văn Sơn người Quảng Nam, chính trị viên phó đại đội bí thư chi đoàn đảm bảo thứ hai, giúp đỡ tôi đứng trong hàng ngũ. Lễ kết nạp diễn ra trang trọng vào 14 giờ ngày 14, tháng 12, năm 1971, trên sườn núi phía tây của cánh rừng Trường Sơn đất nước Triệu Voi hùng vĩ. Dưới lá cờ quang vinh tôi nguyện hoàn thành nhiệm vụ của Đảng và Quân đội trao cho trên chiến trường đầy khó khăn ác liệt.
Là tiểu đội trưởng đảng viên trẻ tôi được tham dự các lớp tập huấn, từ đó mà nâng cao về kỹ chiến thuật trong chiến đấu. Được nghe giới thiệu lại những trận đánh có tính chất quyết định của Trung và Sư đoàn trong chiến dịch. Và các bức điện của, Anh Văn- Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Đặc biệt là bức điện của Tổng Tư lệnh chỉ đạo cho phân đội trong chiến dịch Nam Lào.
Tôi cũng không thể quên hình ảnh và câu nói của Sư đoàn trưởng, Nguyễn Chơn, thời kỳ ấy. Làm tăng thêm sức mạnh cho mỗi người lính chúng tôi trên bước đường công tác, chiến đấu. “… Người chỉ huy phải thật giỏi và sâu sát cụ thể. Có giỏi thì chiến sỹ mới bớt thương vong hy sinh … Đơn vị cử người đi trinh sát đồn bốt địch đóng quân, về báo cáo với lãnh đạo để chuẩn bị cho việc chiến đấu chỉ có khoảng 9 lô cốt. Khi cho trinh sát đi kiểm tra lại, thì có tới 11 chiếc. Nếu quan liêu không chuẩn bị lại, thì hai chiếc lô cốt địch còn lại kia nó bắn ra, thì hậu quả nghiêm trọng như thế nào ?...”. Cùng bao câu truyện cụ thể khác được Sư đoàn trưởng nêu ra, mang đầy ý nghĩa trách nhiệm của mỗi cán bộ chiến sỹ với đất nước.
Dưới tán cây trong rừng già che khuất, đơn vị được huấn luyện kỹ từng động tác đánh địch trong hầm ngầm, lô cốt và thành phố thị xã, luyện bắn súng và ném lựu đạn thật. Một hôm trong buổi huấn luyện Tiểu đoàn phó Cẩn ra tình huống, đưa tiểu đội tôi lên tiêu diệt cụm hoả lực địch phía trước. Thấy địch quân xanh chống cự mạnh, tôi báo cáo địch chống cự rất quyết liệt không thể tiến vào được, đề nghị dùng hoả lực tiêu diệt, được chỉ huy ra lệnh cho tiêu diệt mục tiêu. Nhưng lúc rút kinh nghiệm tôi đã bị Tiểu đoàn phó Thân Văn Cẩn phê bình “ Đồng chí San tiểu đội trưởng lại ra tình huống cho cán bộ Tiểu đoàn… ”.
Thời kỳ này trong Trung đoàn đều được cải thiện bồi dưỡng sức cho bộ đội, vào ngày lễ Quốc khánh, thành lập Quân đội, cho các đồng chí là người dân tộc Mường, Tày, biết tiếng Lào mang tiền Kíp tới các bản mua trâu, bò, lợn, gà về giết thịt nấu ăn cho đơn vị. Có con, trâu, bò, lợn, mổ ra thì trong thịt đầy những con giun sán gạo cựa quậy. Anh em tiếc vì mấy tháng mới được cấp tiền mua về giết đun nấu cải thiện mà lại phải đem chúng đi chôn.
Ngày đêm máy bay địch đánh bom ở các gầm sông binh trạm và rải chất độc hoá học như mưa phùn xuống. Chỉ sau mấy tiếng đồng hồ lá cây rụng phủ kín mặt đất. Rồi máy bay B52 ném bom phá và bom bi nổ chậm kéo dài hàng chục giờ liền. Nhiều đoạn đường ô tô ta bị máy bay chúng săn đuổi đánh hỏng hàng chục chiếc xe cháy nổ còn mang đầy hàng hoá.
Máy bay trinh sát L.19- OV10 phát hiện có đường ống xăng dầu, dây thông tin liên lạc, là cho máy bay lao tới đánh bom phá huỷ. Tiếng gầm rít từ những trái bom giặc ném xuống mà lo cho các đồng chí thanh niên xung phong, dân công hoả tuyến, đang ngày đêm trên các đoạn đường trọng điểm.
Thỉnh thoảng đơn vị có anh chị em văn công chiếu phim từ miền Bắc và Quân Khu 5 vào biểu diễn thì đoàn bộ sắp xếp bộ đội lần lượt đến chiếc nhà hầm lớn ngồi xem, nhà phủ kín lá nguỵ trang đề phòng máy bay biệt kích địch phát hiện. Còn được cán bộ tuyên huấn vào nói chuyện tình hình sản xuất và chiến đấu của quân dân ngoài miền Bắc
Một hôm trung đội tôi có đồng chí trong đội văn nghệ xung kích vào chơi, đoàn đang biểu diễn ở trạm giao liên 31- 32. Chị là đồng hương với Trung đội trưởng Trần Văn Thành, người Hà Tây. Sau những câu truyện ấm tình trên quê hương đất Bắc, chúng tôi đề nghị chị hát tặng cho các chiến sỹ đơn vị nghe mấy bài.
Trong bộ quân phục cùng chiếc mũ tai bèo còn mới. Chị Liên đứng lên ngân vang bài: Đường tôi đi dài theo đất nước, Hà Tây quê lụa và ca khúc “ Nổi lửa lên em”. Khi chị ca sỹ hát tới đoạn:… Nổi lửa lên em miếng nước ngọt ngào, muối đượm quê hương tình thương chiến trận, phút ngọt bùi nhớ nắm cơm ngon...
Đã làm tôi nhớ đến đồng chí Võ người tỉnh Hưng Yên, khi còn huấn luyện trên đất Bắc, anh là nuôi quân của đại đội. Trên đường hành quân ra trận anh đứng lên giới thiệu rồi hát bài: Nổi lửa lên em. Trong núi rừng Trường Sơn ngày đầu gian lao vất vả, tiếng Võ cất lên bay bổng làm các chiến sỹ rất xúc động.“…Lửa chiến tranh còn, bỏng đất quê mình…. Đôi quang gánh nặng tình yêu đất nước. Hơi bếp Hoàng Cầm ta sưởi ấm nơi nơi…”.
Lời hát chứa chan tình yêu quê hương đất nước đi vào cuộc chiến, thì giờ đây đồng đội của Võ ngày ra đi còn sống, chỉ còn là câu chuyện kể về một chàng trai trẻ đất nhãn lồng có giọng hát hay, đã hiến trọn tuổi thanh xuân của mình trong trận chiến đấu đánh ngăn chặn địch ở chiến trường đường 9 Nam Lào.
Chị ca sỹ vừa hát xong thì trung đội trưởng Trần Văn Thành, chạy vào giá đỡ kéo chiếc ba lô rút ra tấm vải dù nhờ chuyển đến gia đình giúp anh: “Anh nhờ Liên, chuyển giúp tới mẹ hộ anh ba chéo vải dù hoa, mảnh dù của người con trai nơi chiến trường ác liệt gửi về làm quà tặng mẹ, để mẹ cùng gia đình làm kỷ niệm! Món quà chắc cũng là kỷ vật của người từ chiến trường gửi về quê nhà miền Bắc… Biết đâu khi tấm vải dù hoa này đến được tay mẹ anh cùng gia đình, thì trong mặt trận gian khổ ác liệt này thì Thành cũng hy sinh mất rồi…”.
Như một lời tiên tri trăng trối. Đồng chí Trần Văn Thành trung đội trưởng, người đảm bảo tôi vào Đảng đã hy sinh trong trận đánh giữ chốt vô cùng ác liệt, tại  điểm cao thuộc xã Ngọc Tụ, huyện Đắk Tô, tỉnh Kon Tum.


Tiêu đề: Re: Hồi Ký Đường Ra Trận - CCB Sư đoàn 2 : Ông Nguyễn Đăng San.
Gửi bởi: quangcan trong 11 Tháng Giêng, 2011, 09:01:35 pm
Trên Đường Vào Chiến Trường Tây Nguyên

Đầu năm 1972, Sư đoàn tôi hành quân trở lại chiến trường Khu 5 và Tây Nguyên. Đoàn quân về Tổ quốc với khí thế của một đơn vị ra chiến đấu và lập lên nhiều chiến công to lớn ở mặt trận đường 9, trên Cao nguyên Bôlôven nước bạn Lào.
Hàng ngày vượt qua núi cao suối sâu cùng bom đạn của kẻ thù bắn phá, thỉnh thoảng mới được nghỉ lại một ngày để bộ đội lấy lương thực thực phẩm. Đường hành quân có các quân binh chủng, thanh niên xung phong, dân công hoả tuyến. Người vào Nam ra Bắc tấp nập, trai gái truyện trò thân mật bên cánh võng, những lá thư viết vội gửi về người thân chúng tôi ngoài hậu phương miền Bắc,(thư truyền tay từ chiến trường ra bỏ vào hòm thư không phải dán tem).
Đường hành quân gặp anh chị em thương bệnh binh từ chiến trường đưa ra, ai cũng ân cần thăm hỏi, mong các đồng chí nhanh lành vết thương chóng khỏi bệnh, thương bệnh binh nặng trên võng cáng, giơ tay vẫy chào đoàn quân ra mặt trận và hẹn nhau ngày Nam Bắc thống nhất.
Đêm tối đồng đội tâm sự với nhau về làng quê yêu dấu và những tháng năm tuổi thơ cắp sách tới trường. Đơn vị ra qui chế người nào cũng phải kể về quãng đời của mình, trả lời những câu hỏi của đồng đội nêu ra. Như vậy hôm nay đến lượt tôi nói về mảnh đất thân yêu của mình, rút kinh nghiệm từ các anh kể trước, tôi bình tĩnh nói rành rọt:

Các đồng chí thân mến! Tôi có tên đầy đủ là Nguyễn Đăng San. Sinh ngày, 02 tháng 8 năm 1952, tại xóm Cổng Trước, thôn Đồng Xá, xã Đồng Gia, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.
Quê hương tôi được bồi đắp bởi hai con sông Kinh Thầy và sông Thái Bình, nước phù sa chảy vào quanh năm ngầu đỏ, nên đồng đất nơi đây ngày một thêm phì nhiêu màu mỡ. Những vườn vải thiều, nhãn lồng, ngọt lịm trĩu quả, cùng với hoa trái ngắn ngày mà người dân quê tôi biết tạo ra bởi một nắng hai sương. Chị em phụ nữ nơi đây xinh đẹp, chịu thương chịu khó, nên đã có nhiều chàng trai về“ làm rể”, rồi ở lại đây làm ăn sinh sống.
Còn truyền thống đánh giặc cứu nước, thì các đồng chí đã biết về những năm tháng trường kỳ kháng chiến, các đoàn xe ô tô tàu hoả của địch vận chuyển hàng từ cảng Hải Phòng lên phía Bắc chạy qua vùng đất nơi đây, đều khiếp sợ về cách đánh độn thổ và áp đảo của quân dân đường 5. Tiêu biểu là trận chặn đánh đoàn xe lửa vận chuyển vũ khí của chúng lên Điện Biên Phủ của Đội du kích đường Năm. Đặc biệt có người nữ liệt sỹ Anh hùng Mạc Thị Bưởi, bên dòng sông Kinh Thày của một thời đánh Pháp, đuổi Nhật.
 Cuối năm 1964, máy bay Mỹ leo thang ra đánh phá miền Bắc, làng mạc quê tôi trở thành một vị trí trọng điểm về các cuộc tập kích đánh phá của địch. Nhưng máy bay chúng đã bị quân dân quê tôi đánh trả bằng những đòn sấm sét, nhiều chiếc bị bắn rơi tại chỗ, giữ vững mạch máu giao thông cho tuyến huyết mạch của Hà Nội- Hải Phòng. Có tấm gương chiến đấu của người phụ nữ được nhà thơ Tố Hữu viết ca ngợi. “… Chuyện cô du kích xóm Lai Vu. Rắn quấn ngang chân vẫn bắn thù…”.
Vùng đất quê tôi được Thuỷ Đạo Tướng Quân, đời nhà Trần, cuối thế kỷ mười hai về đây mở mang lập ấp. Dân làng yên vui mở hội tri ân người có công xây dựng làng xã, nhằm giáo dục con cháu ngày một trưởng thành phát triển. Nhân dân trong vùng thường truyền nhau về ngày hội lớn của làng đó là; lên Chùa Muống, xuống Chùa Bùi.
Đình Đồng một ngôi đình cao to tôn thờ thành hoàng làng tướng công Đào Công Nhã, ngài được nhà Trần phân bổ về mở mang lập ấp, tạo dựng thành làng Đồng Xá- Trại Đồng- Đồng Hạ, Phí Gia. Thôn xóm trong làng truy ơn tướng công, đã góp công góp của xây dựng ngôi đình thờ phụng ngài, tôn vinh những người có công xây dựng quê hương đất nước. Thỉnh cầu các anh hùng hào kiệt phù hộ độ trì cho mưa thuận gió hoà, nhân dân yên vui hạnh phúc.
Ông bà nội tôi thuộc lớp người thành đạt trong làng, ông được học và đi thi ở Văn Miếu mà không thành. Nhưng ông vẫn được quan trên mời ra phân với chức quan; Tuần Phủ, một ông quan huyện lúc bây giờ. Nhưng không hiểu thế nào mà ông lại không nhận chức quan ấy. Mà trở về làng mở lớp dạy học bắt mạch cắt thuốc, chữa bệnh cứu người. Nên ông tôi vẫn được bà con trong khu vực quí trọng gọi ông là: Cụ Tuần.
 Ngày giỗ tết của ông bà được các con cháu trong họ, tổ chức rất trọng thể thành kính. Những năm kinh tế còn nhiều khó khăn, nhưng lăng mộ của ông bà vẫn được gia đình cùng các môn sinh xây dựng bằng những phiến đá xanh to cao, trạm khắc hoạ tiết của: Tùng – Cúc – Trúc – Mai, cùng những câu văn thơ đã được các nhà nho dịch ra, với nhiều ý tứ nhân văn và hàm ý sâu sắc.
Bố mẹ gia đình tôi làm ruộng, với con trâu đi trước, cái cày đi sau, một nắng hai sương chân nấm tay bùn mà vẫn không đủ ăn. Những năm 1930 – 1932, bố tôi vào đồn điền cao su Phú Riềng- Nam Bộ làm thuê, làm mướn. Sau không chịu được cảnh bất công của một số tên cai quản thay cho chủ đồn điền Pháp lúc bấy giờ, từ đó mà bố tôi trốn vào Sài Gòn, chạy sang Nông Pênh đất nước Chùa Tháp làm đầu bếp kiếm sống. Rồi lại phải trở về nơi chôn rau cắt rốn của mình làm ăn sinh sống, trong tháng năm đi đất khách quê người, bố tôi nói khá nhiều về nỗi nhọc nhằn nơi tha phương. Tôi xin trích đọc mấy câu thơ để các bạn nghe những ngày nơi phố phường tấp nập.
“… Bước chân phiêu lãng, bốn phương trời
Sài Gòn hoa lệ, chiều mưa lạnh.
Tháp cổ Nông Phênh, một quãng đời…”.


Chính từ gian nan vất vả cùng hai tiếng quê hương, mà bố tôi đã rời phố phường trở lại quê nhà làm ăn sinh sống, nhưng cũng để lại cho chủ hãng và thợ thuyền nơi đây luyến tiếc về một người đầu bếp tài giỏi.
Bố mẹ tôi biết nhìn xa trông rộng hiểu kỹ nhớ lâu, biết viết văn làm thơ cùng  giọng đọc truyền cảm. Truyện được bố tôi nhớ rất kỹ như: Tam Quốc Diễn Nghĩa, văn thơ Hồ Chủ Tịch và Tố Hữu… Đặc biệt là văn thơ của đại thi hào Nguyễn Du, được bố tôi học thuộc và hát nẩy câu Truyện Kiều này khá hay.
Đồng đất quê hương nổi tiếng với những quả dưa hấu đỏ, củ đậu, xu hào, bắp cải, khoai lang bở thơm ngon mà mùa nào thức ấy, hàng hoá sản xuất ra được đưa đi tiêu thụ ở thành phố Hải Phòng, Hà Nội, khá đắt hàng. Nhưng cuộc sống của nhân dân quê tôi bị ảnh hưởng khá nghiêm trọng của các cuộc chiến tranh gây ra, vì thế mà kinh tế nơi đây gặp nhiều khó khăn vất vả lắm. Những năm nhuận cùng tháng ba ngày tám hàng năm, người dân quê tôi đổ ra đồng hái rau, đào bới khoai mọc mậm, cốt sao ăn cho qua ngày đoạn tháng. Nồi cơm độn tới ba phần khoai khô mới được một phần cơm, ăn với một rổ ngọn khoai lá đỗ và khoai luộc chấm với muối vừng mặn chát. Mâm cơm may ra có bát canh cua mắm tép, do tôi đi học về tranh thủ vác dậm xuống cạnh đầm sông đánh bắt về nấu nướng. Ngày quan trọng của làng được mặc bộ quần áo vải nâu mới, hoặc quần áo cũ bạc màu đem ra hiệu nhuộm lại, bữa cơm giỗ tết mâm cúng gia tiên, có đĩa thịt gà, thịt vịt. Chỉ đến ngày 29 - 30 tết nguyên đán, thì mấy gia đình trong họ mới tích cóp mua chung nhau được thúng gạo nếp, con lợn 50- 60 kg đem về giết thịt gói bánh, chia nhau từng bát nước xáo ăn tết.
Cuộc sống vật chất còn nhiều khó khăn, nhưng văn hoá thì mang đầy tính nhân văn của làng quê lúa nước. Những buổi trưa hè cũng đêm trăng thanh gió mát, tiếng sáo diều vi vu, nhịp cối xay thóc tiếng chày giã gạo, điệu trống chèo ngoài sân đình trong sân kho hợp tác xã. Giọng hát của từng đôi trai gái nghe thiết tha mặn nồng lắm các đồng chí ạ!
Vào năm 1955- 1956, lúc ấy tôi mới được mấy tuổi nhưng do ấn tượng mà tôi vẫn còn nhớ như in. Các chú bộ đội về làng trước khi tiến vào tiếp quản giải phóng thành phố Hải phòng. Lúc ấy các anh với bộ quần áo vải ka ky cũ bạc màu, bởi tháng năm dài chiến tranh vừa mới giũ xong. Chiếc áo trấn thủ mùa đông, ngôi sao vàng gắn trên mũ trông thật oai nghiêm. Nhất là các đồng chí nuôi quân với những chiếc soong chảo nấu cơm canh to lỉnh kỉnh.
Làng xóm chào đón bộ đội về làng rồi ngân vang bài: “.. Các anh đi ngày ấy đã lâu rồi, xóm làng tôi còn nhớ mãi…Các anh đi đến bao giờ trở lại ...”. Quê hương  tôi ngày ấy thật đông vui, không sao nói hết tình cảm của người dân quê tôi với các anh Bộ Đội Cụ Hồ, của những ngày đầu hoà bình trên đất Bắc.
Chiếc sân gạch gia đình tôi to nhất xóm, bà con kéo đến chật kín dự giao lưu liên hoan văn nghệ chào đoàn quân chiến thắng. Chị em phụ nữ với trang phục quần áo của đồng bào Thái, Mường, Tây Bắc, thanh niên nam nữ và các anh bộ đội quây quần rồi ngân vang bài.
“ Kết đoàn chúng ta là sức mạnh, kết đoàn chúng ta là sức manh… Vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh. Anh em ơi vì nhân dân quên mình…Đoàn vệ quốc chúng ta, từ nhân dân mà ra, được dân tín được dân mến muôn phần…”.
 Điệu múa sạp xoè hoa vang lên rộn rã, hoà lẫn tiếng hát đệm của thanh niên nam nữ, đứng vòng quanh trong ánh trăng sáng của ngày mới hoà bình.
“ Sòn sòn sòn đô sòn… sòn sòn sòn đô rê…”.
Nhịp phách cùng tiếng vỗ gậy tre theo nhịp bước, được các anh các chị ra vào từng đôi uyển chuyển, tiếng vỗ tay hân hoan của người dân quê tôi với các anh bộ đội cứ kéo dài vang mãi…


Tiêu đề: Re: Hồi Ký Đường Ra Trận - CCB Sư đoàn 2 : Ông Nguyễn Đăng San.
Gửi bởi: quangcan trong 11 Tháng Giêng, 2011, 09:02:24 pm
Miền Bắc thanh bình chưa được bao lâu, thì vùng đất nơi đây lại phải đối phó với cuộc chiến tranh phá hoại do không quân Mỹ gây ra. Làng xóm quê tôi trở thành một trận địa phóng tên lửa, quanh dàn phóng là những mâm pháo 14,5 ly- 37 ly và các loại pháo cỡ lớn khác. Quê hương tôi trở thành mục tiêu bắn phá của kẻ thù.
Tháp chuông nhà thờ, nơi thánh đường của đồng bào công giáo cũng trở thành pháo đài quan sát của bộ đội phòng không. Thôn xóm các chiến sỹ pháo phòng không đến thường trực chiến đấu rất đông, mảnh vườn trước cổng gia đình tôi đào thành hầm chỉ huy mặt đất. Mỗi khi địch bay vào đánh phá sân bay Kiến An, kho xăng dầu đặt ở thành phố Hải Phòng. Cầu Lai Vu, Phú Lương, và thị xã Hải Dương, thì đạn pháo và tên lửa bắn lên lao vào bày quạ Mỹ.
Quen dần tiếng đạn pháo tên lửa trẻ con trong làng đến cạch hầm chỉ huy, nghe bộ đội chỉ dẫn cho khí tài bắn tìm máy bay giặc. Mỗi lần được nghe người chỉ huy hô, hướng máy bay địch xuất hiện, chuẩn bị phóng… phóng… Một chùm lửa đỏ vút lên bay vào không trung tìm máy bay địch… nổ đi…tên lửa nổ, máy bay địch cháy…cháy rồi, chiếc kia bị thương bay ra biển. Thì tất cả mọi người đều nhẩy lên mừng chiến công của các anh pháo thủ.
Vào trung tuần tháng 12 năm 1966, từ bệ phóng bắn lên hai quả tên lửa tiêu diệt được máy bay địch đánh phá cầu Lai Vu, Phú Lương. Nhưng làng xóm quê tôi bị những hạt thuốc từ thân đuôi tên lửa cháy và hoạt động chưa hết rơi xuống, mùa hanh khô năm ấy đã làm cháy mất trên 60 hộ dân trong làng, xóm nhà thờ đạo cháy gần hết. Chị gái thứ hai gia đình tôi cháy mất ba gian nhà gỗ, bếp núc và chết hết một đàn lợn đẻ.
Tên lửa từ trận địa gầm rít phóng lên, máy bay địch lượn vòng quanh đánh phá, Nguyễn Đình Din phát hiện thấy mái nhà hàng xóm bốc khói, trèo lên lăn mình vào lửa, dập tắt được ngọn lửa đỏ hung dữ. Din được Hồ Chủ Tịch gửi tặng huy hiệu cháu ngoan Bác Hồ trong phong trào: Người tốt việc tốt.
Sau lần nhà cửa trong làng bị cháy, mỗi khi thấy tên lửa từ trận địa phóng lên, các gia đình chủ động cho người trèo lên dập tắt lửa vừa bén vào rơm rạ trên mái, từ đó giảm bớt được cháy lan ra.
 Chúng tôi đi chăn trâu ngoài cánh đồng, mỗi khi nhìn thấy máy bay ta cất cánh đánh nhau với máy bay địch trên không, tên lửa đạn pháo vây quanh nổ vào lũ giặc, cháy nổ tung những con ma thần sấm Mỹ, đứt vỡ rơi xuống đất làm mấy mảnh thì sướng lắm các đồng chí ạ!
Một hôm chiếc máy bay địch bị quân dân ta bắn cháy trên bầu trời làm tôi  còn nhớ mãi. Vào một chiều chúng tôi đang đánh dậm ở ven sông Văn úc, nghe tiếng máy bay địch nhìn lên, đã thấy chúng bay ngay trên đỉnh đầu, bọn tôi đội mũ rơm ngâm mình xuống nước quan sát, thì một quả tên lửa của ta bay đến nổ vào trúng tốp máy bay địch, làm một chiếc cháy nổ ngay trên đầu mảnh vỡ bay xuống nước kêu rào rào. Nhìn máy bay địch bốc cháy lửa đỏ lao xuống đất chúng tôi cầm dậm giơ lên cao reo hò… máy bay Mỹ cháy rồi anh em ơi… máy bay cháy… một chiếc bị thương loạng choạng bay ra biển.
Bọn tôi chạy về làng Đồng Hạ xã Liên Hoà, xem chiếc máy bay bị tên lửa ta bắn rơi, chiếc máy bay Mỹ F5 cháy đâm xuống cạnh nhà mẫu giáo hất tung bụi tre và mấy cây xoan to bật lên. Tên giặc lái được dân quân du kích kéo từ chiếc máy bay ra, người cao to không còn đầu. Viên giặc lái trong bộ quân phục màu trắng, đeo quân hàm trung uý, gan lá lách phình ra thịt mỡ cháy khét lẹt. Nhìn tên phi công lái chiếc máy bay đi đánh phá miền Bắc mất đầu thê thảm mùi thịt cháy gây quá, tôi nhổ bãi nước bọt. Thế là người tôi như bị dị ứng, nhổ nước bọt mấy ngày liên tục.
Mấy ngày sau địch cho máy bay bắn phá ác liệt vào trận địa, làm mấy đồng chí trong xe điều khiển khí tài đóng ở xóm tôi thương vong. Trong mấy tốp máy bay ấy, chúng cho một chiếc rải ký sinh trùng xuống đồng ruộng, một tuần sâu bướm nở bám kín cánh đồng và rặng phi lao. Nhưng rất may cho đồng ruộng quê tôi, loài sâu bướm địch rải xuống, không thích nghi với khí hậu đều chết hết.
Làng xóm mỗi khi có đơn vị tên lửa pháo phòng không về, bố tôi chỉ đạo các cụ phụ lão đun nước uống cho bộ đội, cùng với dân quân du kích, thanh thiếu niên ra san lấp đường để xe kéo bệ phóng và pháo phòng không vào trận địa, lấy cành cây làm nguỵ trang, xin quần áo cũ để các anh lau chùi vũ khí.
Lúc này các thành phố, thị xã, nhà máy trường học bị máy bay địch đánh phá  ác liệt, người từ khu công nghiệp nơi đông dân phải đưa về nông thôn sơ tán, gia đình ông Bác ruột và nhà tôi có ông Phan Tất Tuân. Cụ là Nhân sỹ yêu nước. Đại biểu Quốc hội khoá 1 và II, được đưa từ Hà Nội về ở cùng với người con gái, là bác dâu lấy anh ruột bố tôi. Cụ phúc hậu đẹp lão, nhưng chân ông yếu quá, mỗi khi đi lại đều phải nâng đỡ chống gậy cho cụ.
Một hôm cụ gọi mấy đứa tôi vào nhà rồi ông nói cho chúng tôi biết:         Chiếc gậy trúc mà ông đang dùng là của Bác Hồ đến thăm và tặng trước khi ông đi sơ tán về làng. Cụ nâng chiếc gậy rồi đọc mấy câu thơ rồi nói; ông chỉnh sửa mấy vần thơ mộc mạc gửi về cảm ơn Hồ Chủ Tịch. Bác Hồ đã trăm công ngàn việc mà vẫn nhớ đến thăm và tặng cho ông chiếc gậy trước khi đi sơ tán…
Cụ Phan Tất Tuân ở với bác cùng gia đình tôi được gần một năm, nhưng thấy làng mạc nơi đây cũng bị bom đạn địch thường xuyên đánh phá, nên Chính phủ cho xe về đón cụ đi sơ tán nơi khác.
 Anh trên tôi lên đường nhập ngũ, được biên chế vào tiểu đoàn tên lửa bảo vệ vùng trời Thanh Hoá. Đầu năm 1968 gia đình tôi nhận được tin anh bị thương do máy bay địch đánh phá vào đơn vị anh đang chiến đấu với địch ở xã Quảng Cư, huyện Quảng Xương. Tin anh đã làm cho họ hàng gia đình tôi rất lo lắng.
Thế rồi vào một chiều tối, anh khoác chiếc ba lô vào chào hỏi mọi người đang vây quanh mẹ tôi đau yếu. Bố tôi chạy ra ôm chặt lấy anh và nói to; thằng Bùi nó còn sống về đây rồi mẹ nó ơi vui lên, thằng San, thằng Sẻ, ra đỡ anh vào nhà ngay đi… Mấy phút sau mọi người vạch áo anh xem vết thương và hỏi về cuộc chiến đấu đánh máy bay bảo vệ cầu Hàm Rồng của bộ đội. Song bố tôi nói; gia đình họ hàng nhận được tin anh bị thương đã làm cho mẹ tôi suy nghĩ dẫn đến ốm nặng. Và cho anh biết địa phương vừa làm lễ truy điệu cho mấy người đi chiến trường hy sinh, trong đó họ gần nhà tôi mất ba người, một anh con ông bác ruột là Nguyễn Đăng Noi, tử trận ở thượng Lào. Hai cháu, Nguyễn Đăng Thạch và Nguyễn Đăng Nhưỡng, hy sinh ở mặt trận Khe Sanh, tỉnh Quảng Trị.
 Anh tôi về chơi mấy ngày trở về viện điều trị tiếp. Khi đi bố tôi động viên: Anh Điệp con trai cả gia đình tham gia bộ đội chống Pháp, bị thương điều trị chưa khỏi, đã xin về tiếp tục chiến đấu. Chị Hạnh người con gái gầy yếu tham gia thanh niên xung phong, làm đường trên Cao Bằng, Bắc Kạn, vất vả mà chị phục vụ tốt, được khen thưởng đấy. Còn anh là trai lớn lên khi đất nước có giặc, phải xứng đáng với truyền thống của gia đình cùng quê hương.
Sau khi bị thương anh tôi về chơi, nhưng rất lo lắng nên gia đình động viên để anh trở lại đơn vị ngay.


Tiêu đề: Re: Hồi Ký Đường Ra Trận - CCB Sư đoàn 2 : Ông Nguyễn Đăng San.
Gửi bởi: quangcan trong 11 Tháng Giêng, 2011, 09:03:17 pm
Đồng ruộng cày cấy lúc này còn toàn người lớn tuổi và chị em phụ nữ hoặc mấy người không đủ sức khoẻ tham gia việc xã hội. Thế nhưng trong làng cũng có mấy người trốn tránh đảo ngũ, có anh không dám ra ngoài sợ gặp chính quyền địa phương cùng đơn vị về nhắc nhở, người nào cố tình trốn tránh cũng xấu hổ vì những câu nói ra nói vào. “ Ai cũng trốn đảo ngũ ở nhà như tôi, thì mất nước”.
Năm 1967 tôi học xong phổ thông cấp hai thi đỗ vào trường cấp ba huyện, được tiếp tục theo học. Phấn khởi vì 6 xã trong khu mới được hơn chục người vào học. Ngôi trường được xây dựng theo kế hoạch 5 năm lần thứ nhất của Nhà nước 1961-1965, một huyện đông dân chạy dài mấy chục km mới có một ngôi trường, nên việc học phải chăm chỉ mới theo kịp. Được vào học như một giấc mơ của tuổi trẻ nông thôn chúng tôi ngày ấy. Hàng ngày phải đi bộ đến trường và về trên 20 cây số, một năm sau cố gắng lắm gia đình tôi mới mua được cho chiếc xe đạp cũ do Liên Xô sản xuất, mọi người thường gọi nó là xe con trâu với giá 272 đồng. Chiếc xe đạp thì cao, mà người tôi thì thấp bé phải đạp vạy cả người chân mới chạm vào bàn đạp.
Xe đi lại nhiều săm lốp hỏng liên tục phụ tùng bán theo sổ phân phối, có tiền cũng khó mà mua được đồ thay thế, nhiều hôm phải dắt xe do bục lốp, đứt xích, trượt cá, chạy cấp tốc đến trường. Ngoài giờ học cùng gia đình đan thúng mủng, dần, sàng… để kịp cho mẹ sáng mai đưa ra chợ phiên bán lấy tiền mua đèn dầu rau cám lợn... Ngày thu hoạch củ đậu, khoai lang, xu hào, bắp cải, gồng ngánh đẩy xe cải tiến đi tiêu thụ. Bán xong nông sản gia đình trồng ra, mẹ tôi lại ra chợ mua hàng về bán, tôi còng lưng đèo 60-70 kg rau củ mang đến thành phố Hải Phòng bán lãi được mấy đồng, phấn khởi đạp xe ra chợ Sắt mua được một hai cân mỳ sợi, đem về nấu canh cho cả nhà ăn chống đói, vất vả lắm các đồng chí ạ!
Thấy tôi nói vậy, mấy anh tranh nhau nói; như thế có gì mà đói khổ đâu đồng chí San của tôi ơi. Quê bọn mình ở Thái Bình, Nam Định, Nghệ An…còn đói khổ bằng mấy cơ đấy, quê bạn có đồng đất trồng hoa màu được thu quanh năm, lại được gia đình nuôi ăn học đến cấp ba, chứ bọn tớ chỉ được học đến lớp năm lớp sáu thôi, anh em nông thôn đã mấy người có xe đạp mà đi. Như vậy là đồng chí sướng hơn bọn mình nhiều lắm đấy.
Các đồng chí thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Hà Tây, thi nhau hỏi về tình yêu tuổi học trò và những ngày còn huấn luyện trên đất Bắc.
Tôi trả lời: Các đồng chí thân mến, nói bảo tôi chưa để ý tới cô gái nào cũng không phải, còn nói đã yêu rồi cũng chưa đúng, vì tôi đã được cầm tay và ôm hôn một cô gái nào đâu, thú thực với các bạn chưa hề biết nụ hôn tình yêu, chỉ được nghe chuyện tình qua những câu chuyện kể. Khi mình còn trẻ đi học, lớn lên vào bộ đội, huấn luyện xong vào chiến trường ngay, làm gì có thời gian mà yêu thương đâu các anh.
Nghe thấy tôi nói vậy, anh Quỳnh người Hà Nội giọng khàn khàn đứng lên nói: Đồng chí San ơi, tôi đã được bạn cho xem lá thư của một cô bạn gái nữ sinh rồi đấy nhé. Thấy Quỳnh thế, mấy đồng chí chạy lại giật võng nói: Yêu cầu đồng chí kể thật chi tiết cho đồng đội biết về mối tình thơ mộng này, để bọn mình biết tình yêu của lính. Chiến tranh kết thúc anh em mình còn sống, phải về gia đình cô bạn gái đồng chí, nếu lên duyên của một chiến sỹ quân Giải phóng từ mặt trận nóng bỏng trở về, với một cô gái trong tháng năm dài mà người Nam kẻ Bắc, thì mối tình chung thuỷ ấy, được tạc cùng với chiến công của người lính ngoài mặt trận phải không các đồng chí.
 Các đồng chí hỏi tình yêu sau luỹ tre làng của mình phải không? Tôi xin tiếp tục trình bày để các bạn nghe về tình cảm ấy nhé: Hàng ngày mình đến trường với cô gái có tên Phương Hoa, con một gia đình liệt sỹ thời chống Pháp, ông hy sinh trên Việt bắc. Hoa có cảm tình với mình, nhưng San chậm hiểu quá, nghĩ lại mà thấy thương cho nàng. Mấy lần chiếc xe đạp đang đi bị hỏng, Hoa dừng lại đứng sát vào người nói nhỏ: Anh gửi xe rồi cùng mình đến trường kẻo muộn. Sợ muộn tôi lên chiếc xe thiếu nhi Đức cùng Hoa tới lớp,(xe thiếu nhi Đức, Liên Xô, chỉ bán phân phối cho con liệt sỹ và thương binh), đường gập nghềnh sỏi đá hai đứa bám chặt vào nhau. Bạn học đi đường nhìn thấy hai đứa đạp sát xe vào trêu đùa: Chà hai bạn đẹp đôi quá... Hoa đỏ bừng đôi má, tủm tỉm cười đạp xe nhanh tới lớp.
 Ngày mình vào bộ đội, Hoa viết thư nói về tình cảm của hai đứa khi cắp sách tới trường, và trách sao lại không để ý tới Hoa. Ngày chuẩn bị vào chiến trường mình xuống gia đình cô ấy chia tay. Trong ngôi nhà đơn sơ đắp đất lợp rạ, trên bàn thờ có di ảnh ông bố, mình thắp nén nhang thầm chúc vong linh ông yên lòng bên thế giới tâm linh, phù hộ cho hai mẹ con vượt qua nỗi đau chiến tranh, xứng đáng với người hy sinh vì Tổ quốc.
Khi chia tay mình nói: Đất nước có chiến tranh anh vào chiến trường với nhiều khó khăn ác liệt, người chiến sỹ nơi bom rơi đạn nổ, khó có điều kiện trở lại mảnh đất xây dựng hạnh phúc, nên Hoa đừng đợi đừng chờ San nữa. Chắc em cũng hiểu rồi, bố Hoa đã hy sinh vì nền độc lập tự do của dân tộc, làm cho mẹ Hoa bị đơn côi gối chiếc, cha con cũng chưa biết mặt nhau. Phải khó khăn lắm mẹ mới vượt lên được bởi nỗi đau mất chồng và nuôi dạy em ăn học, nên đừng để cho mẹ lại phải chứng kiến nỗi khắc khoải của cô con gái đã thiệt thòi mất bố, lại phải mong chờ về một người bạn trai nơi chiến trường ác liệt.
Hoa lau nhanh những ngọt nước mắt, chạy vào nhà đem ra tặng mình chiếc khăn tay rồi nói: Em tặng anh chiếc khăn làm kỷ niệm, về một thời mà hai chúng ta đi trên con đường cắp sách tới trường và cùng ngồi chung một lớp...
Trở lại đơn vị, mình viết thư nhắc lại chuyện hôm chia tay. Khoảng một tháng sau, chắc cô ấy suy nghĩ nhiều lắm mới viết thư gửi được cho mình, nói sẽ thực hiện theo lời khuyên của tôi lúc đi mặt trận.
Các chiến sỹ tiếp tục yêu cầu nói về những cô gái nơi đơn vị huấn luyện có cảm tình với lính trẻ.
Tôi xin hỏi, anh em cho cảm nhận những chuyện tôi kể về quê hương, cùng tuổi thơ tôi cắp sách tới trường, các đồng chí nghe thấy thế nào?
 Anh Thành trung đội trưởng nói ngay, ngày mình còn đi học rất thích nghe và đọc các bài văn viết hay, từ hôm được nghe các bạn nói về làng quê yêu dấu của mỗi đồng chí, thấy cứ hiện về làng xóm mình trong ấy. Đồng chí sắp xếp kể khá hấp dẫn và cảm động đấy, nói tiếp cho đồng đội nghe đi. Nhưng khi kể về tình yêu thì phải mạnh bạo lên, chúng mình toàn lính trẻ chưa biết gì tình yêu cùng vợ con phải không các đồng chí.
 Bây giờ tôi xin nói tình yêu bằng lời thơ của Trần Sơn Lâm, để mọi người cùng nghe, đồng chí Lâm lính đại đội cối 82 thuộc Trung đoàn 141. Đại đội anh ấy đã mấy lần đi phối hợp chiến đấu với đơn vị mình rồi đấy. Mấy đồng chí hỏi; có phải anh Lâm người Thái Bình không nhỉ? Đúng rồi, anh Lâm hơn chúng mình mấy tuổi thôi, thơ anh viết tình yêu lính trẻ tôi rất thích bài “ Chuyện Riêng Của Lính”, tôi đọc bài thơ để các bạn thấy tác giả muốn khắc hoạ tình yêu đôi lứa, vợ chồng xa nhau lâu ngày gặp lại, và lính ta đi chiến trường chưa biết một nụ hôn. Anh Thắng nhìn mọi người nói đồng chí San dẫn chuyện hấp dẫn, nhưng để đợi lâu quá. Các đồng chí thi nhau nói: Không biết các bạn thế nào, chứ bọn mình ở nhà rồi đi bộ đội cho đến nay, chưa biết gì về yêu đương cả. Đồng chí Lê Quang Nhuận, người ít nói trong trung đội lên tiếng. Có nhắc chuyện tình yêu thì mình mới điểm lại, hầu hết lính đơn vị ta đều là người chưa có vợ. Vì mười bảy mười tám tuổi, ông nào cũng xung phong đi bộ đội, xin bằng được vào Nam đánh giặc cứu nước, làm gì có thời gian để mà yêu thương đâu.


Tiêu đề: Re: Hồi Ký Đường Ra Trận - CCB Sư đoàn 2 : Ông Nguyễn Đăng San.
Gửi bởi: quangcan trong 11 Tháng Giêng, 2011, 09:05:13 pm
Đồng ruộng cày cấy lúc này còn toàn người lớn tuổi và chị em phụ nữ hoặc mấy người không đủ sức khoẻ tham gia việc xã hội. Thế nhưng trong làng cũng có mấy người trốn tránh đảo ngũ, có anh không dám ra ngoài sợ gặp chính quyền địa phương cùng đơn vị về nhắc nhở, người nào cố tình trốn tránh cũng xấu hổ vì những câu nói ra nói vào. “ Ai cũng trốn đảo ngũ ở nhà như tôi, thì mất nước”.
Năm 1967 tôi học xong phổ thông cấp hai thi đỗ vào trường cấp ba huyện, được tiếp tục theo học. Phấn khởi vì 6 xã trong khu mới được hơn chục người vào học. Ngôi trường được xây dựng theo kế hoạch 5 năm lần thứ nhất của Nhà nước 1961-1965, một huyện đông dân chạy dài mấy chục km mới có một ngôi trường, nên việc học phải chăm chỉ mới theo kịp. Được vào học như một giấc mơ của tuổi trẻ nông thôn chúng tôi ngày ấy. Hàng ngày phải đi bộ đến trường và về trên 20 cây số, một năm sau cố gắng lắm gia đình tôi mới mua được cho chiếc xe đạp cũ do Liên Xô sản xuất, mọi người thường gọi nó là xe con trâu với giá 272 đồng. Chiếc xe đạp thì cao, mà người tôi thì thấp bé phải đạp vạy cả người chân mới chạm vào bàn đạp.
Xe đi lại nhiều săm lốp hỏng liên tục phụ tùng bán theo sổ phân phối, có tiền cũng khó mà mua được đồ thay thế, nhiều hôm phải dắt xe do bục lốp, đứt xích, trượt cá, chạy cấp tốc đến trường. Ngoài giờ học cùng gia đình đan thúng mủng, dần, sàng… để kịp cho mẹ sáng mai đưa ra chợ phiên bán lấy tiền mua đèn dầu rau cám lợn... Ngày thu hoạch củ đậu, khoai lang, xu hào, bắp cải, gồng ngánh đẩy xe cải tiến đi tiêu thụ. Bán xong nông sản gia đình trồng ra, mẹ tôi lại ra chợ mua hàng về bán, tôi còng lưng đèo 60-70 kg rau củ mang đến thành phố Hải Phòng bán lãi được mấy đồng, phấn khởi đạp xe ra chợ Sắt mua được một hai cân mỳ sợi, đem về nấu canh cho cả nhà ăn chống đói, vất vả lắm các đồng chí ạ!
Thấy tôi nói vậy, mấy anh tranh nhau nói; như thế có gì mà đói khổ đâu đồng chí San của tôi ơi. Quê bọn mình ở Thái Bình, Nam Định, Nghệ An…còn đói khổ bằng mấy cơ đấy, quê bạn có đồng đất trồng hoa màu được thu quanh năm, lại được gia đình nuôi ăn học đến cấp ba, chứ bọn tớ chỉ được học đến lớp năm lớp sáu thôi, anh em nông thôn đã mấy người có xe đạp mà đi. Như vậy là đồng chí sướng hơn bọn mình nhiều lắm đấy.
Các đồng chí thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Hà Tây, thi nhau hỏi về tình yêu tuổi học trò và những ngày còn huấn luyện trên đất Bắc.
Tôi trả lời: Các đồng chí thân mến, nói bảo tôi chưa để ý tới cô gái nào cũng không phải, còn nói đã yêu rồi cũng chưa đúng, vì tôi đã được cầm tay và ôm hôn một cô gái nào đâu, thú thực với các bạn chưa hề biết nụ hôn tình yêu, chỉ được nghe chuyện tình qua những câu chuyện kể. Khi mình còn trẻ đi học, lớn lên vào bộ đội, huấn luyện xong vào chiến trường ngay, làm gì có thời gian mà yêu thương đâu các anh.
Nghe thấy tôi nói vậy, anh Quỳnh người Hà Nội giọng khàn khàn đứng lên nói: Đồng chí San ơi, tôi đã được bạn cho xem lá thư của một cô bạn gái nữ sinh rồi đấy nhé. Thấy Quỳnh thế, mấy đồng chí chạy lại giật võng nói: Yêu cầu đồng chí kể thật chi tiết cho đồng đội biết về mối tình thơ mộng này, để bọn mình biết tình yêu của lính. Chiến tranh kết thúc anh em mình còn sống, phải về gia đình cô bạn gái đồng chí, nếu lên duyên của một chiến sỹ quân Giải phóng từ mặt trận nóng bỏng trở về, với một cô gái trong tháng năm dài mà người Nam kẻ Bắc, thì mối tình chung thuỷ ấy, được tạc cùng với chiến công của người lính ngoài mặt trận phải không các đồng chí.
 Các đồng chí hỏi tình yêu sau luỹ tre làng của mình phải không? Tôi xin tiếp tục trình bày để các bạn nghe về tình cảm ấy nhé: Hàng ngày mình đến trường với cô gái có tên Phương Hoa, con một gia đình liệt sỹ thời chống Pháp, ông hy sinh trên Việt bắc. Hoa có cảm tình với mình, nhưng San chậm hiểu quá, nghĩ lại mà thấy thương cho nàng. Mấy lần chiếc xe đạp đang đi bị hỏng, Hoa dừng lại đứng sát vào người nói nhỏ: Anh gửi xe rồi cùng mình đến trường kẻo muộn. Sợ muộn tôi lên chiếc xe thiếu nhi Đức cùng Hoa tới lớp,(xe thiếu nhi Đức, Liên Xô, chỉ bán phân phối cho con liệt sỹ và thương binh), đường gập nghềnh sỏi đá hai đứa bám chặt vào nhau. Bạn học đi đường nhìn thấy hai đứa đạp sát xe vào trêu đùa: Chà hai bạn đẹp đôi quá... Hoa đỏ bừng đôi má, tủm tỉm cười đạp xe nhanh tới lớp.
 Ngày mình vào bộ đội, Hoa viết thư nói về tình cảm của hai đứa khi cắp sách tới trường, và trách sao lại không để ý tới Hoa. Ngày chuẩn bị vào chiến trường mình xuống gia đình cô ấy chia tay. Trong ngôi nhà đơn sơ đắp đất lợp rạ, trên bàn thờ có di ảnh ông bố, mình thắp nén nhang thầm chúc vong linh ông yên lòng bên thế giới tâm linh, phù hộ cho hai mẹ con vượt qua nỗi đau chiến tranh, xứng đáng với người hy sinh vì Tổ quốc.
Khi chia tay mình nói: Đất nước có chiến tranh anh vào chiến trường với nhiều khó khăn ác liệt, người chiến sỹ nơi bom rơi đạn nổ, khó có điều kiện trở lại mảnh đất xây dựng hạnh phúc, nên Hoa đừng đợi đừng chờ San nữa. Chắc em cũng hiểu rồi, bố Hoa đã hy sinh vì nền độc lập tự do của dân tộc, làm cho mẹ Hoa bị đơn côi gối chiếc, cha con cũng chưa biết mặt nhau. Phải khó khăn lắm mẹ mới vượt lên được bởi nỗi đau mất chồng và nuôi dạy em ăn học, nên đừng để cho mẹ lại phải chứng kiến nỗi khắc khoải của cô con gái đã thiệt thòi mất bố, lại phải mong chờ về một người bạn trai nơi chiến trường ác liệt.
Hoa lau nhanh những ngọt nước mắt, chạy vào nhà đem ra tặng mình chiếc khăn tay rồi nói: Em tặng anh chiếc khăn làm kỷ niệm, về một thời mà hai chúng ta đi trên con đường cắp sách tới trường và cùng ngồi chung một lớp...
Trở lại đơn vị, mình viết thư nhắc lại chuyện hôm chia tay. Khoảng một tháng sau, chắc cô ấy suy nghĩ nhiều lắm mới viết thư gửi được cho mình, nói sẽ thực hiện theo lời khuyên của tôi lúc đi mặt trận.
Các chiến sỹ tiếp tục yêu cầu nói về những cô gái nơi đơn vị huấn luyện có cảm tình với lính trẻ.
Tôi xin hỏi, anh em cho cảm nhận những chuyện tôi kể về quê hương, cùng tuổi thơ tôi cắp sách tới trường, các đồng chí nghe thấy thế nào?
 Anh Thành trung đội trưởng nói ngay, ngày mình còn đi học rất thích nghe và đọc các bài văn viết hay, từ hôm được nghe các bạn nói về làng quê yêu dấu của mỗi đồng chí, thấy cứ hiện về làng xóm mình trong ấy. Đồng chí sắp xếp kể khá hấp dẫn và cảm động đấy, nói tiếp cho đồng đội nghe đi. Nhưng khi kể về tình yêu thì phải mạnh bạo lên, chúng mình toàn lính trẻ chưa biết gì tình yêu cùng vợ con phải không các đồng chí.
 Bây giờ tôi xin nói tình yêu bằng lời thơ của Trần Sơn Lâm, để mọi người cùng nghe, đồng chí Lâm lính đại đội cối 82 thuộc Trung đoàn 141. Đại đội anh ấy đã mấy lần đi phối hợp chiến đấu với đơn vị mình rồi đấy. Mấy đồng chí hỏi; có phải anh Lâm người Thái Bình không nhỉ? Đúng rồi, anh Lâm hơn chúng mình mấy tuổi thôi, thơ anh viết tình yêu lính trẻ tôi rất thích bài “ Chuyện Riêng Của Lính”, tôi đọc bài thơ để các bạn thấy tác giả muốn khắc hoạ tình yêu đôi lứa, vợ chồng xa nhau lâu ngày gặp lại, và lính ta đi chiến trường chưa biết một nụ hôn. Anh Thắng nhìn mọi người nói đồng chí San dẫn chuyện hấp dẫn, nhưng để đợi lâu quá. Các đồng chí thi nhau nói: Không biết các bạn thế nào, chứ bọn mình ở nhà rồi đi bộ đội cho đến nay, chưa biết gì về yêu đương cả. Đồng chí Lê Quang Nhuận, người ít nói trong trung đội lên tiếng. Có nhắc chuyện tình yêu thì mình mới điểm lại, hầu hết lính đơn vị ta đều là người chưa có vợ. Vì mười bảy mười tám tuổi, ông nào cũng xung phong đi bộ đội, xin bằng được vào Nam đánh giặc cứu nước, làm gì có thời gian để mà yêu thương đâu.
Các anh bàn luận lắng xuống tôi nói. Như vậy là các đồng chí đã bình phẩm bài thơ của Trần Sơn Lâm rồi đấy, bây giờ tôi xin đọc để các bạn cùng nghe.

“Những ngày ở chiến trường.
Đạn bom thù ác liệt,
Người lính cần tình thương
Thời gian chờ diệt giặc,
Thường kể chuyện quê hương.
                  ***

Chuyện yêu đương đủ điều.
Anh có vợ kể nhiều
Kể liều và kể tất.
Những chuyện riêng, riêng nhất.
Đêm tân hôn trăng mật
Trước khi đi chiến trường.
***

Lính trẻ chưa yêu đương
Ôm bụng cười ngây ngất.
Biết đâu tóc hương mật
Nụ hôn ngon hơn đường.
***
Nghe chuyện đồng đội kể
Càng thêm yêu quê hương.
Càng thương người chiến sỹ
Giữa chiến trường đạn bom…”.


Nghe đọc xong anh nào cũng nói thơ anh Lâm viết dí dỏm mà vui, giá như thanh niên nước mình không phải cầm súng đi đánh giặc, thì rất nhiều người được đào tạo làm rạng danh đất nước. Chiến tranh làm tổn thất nhiều nhân tài đất nước, cùng một lớp người tài giỏi phải hy sinh cho độc lập tự do của dân tộc.
Bây giờ tôi sẽ nói chuyện lính trẻ nơi đóng quân để các đồng chí cùng nghe. Khu vực tôi huấn luyện có nhiều cô gái với nước da trắng và tóc dài đen óng mượt, có cảm tình với lớp tân binh bọn mình. Nhiều trưa hè nóng bức anh em đang nghỉ, mấy cô sắn quần lội suối sang chơi, thấy bộ đội mồ hôi nhễ nhại lấy bẹ cau gấp lại quạt cho anh em ngủ, người nghịch lấy ngọn cỏ quẹt vào mặt mũi, cô bạo hơn thì xoã tóc xuống mặt trêu đùa. Bọn mình tỉnh giấc các cô lúng túng chạy vào nhà bếp lấy rơm rạ che mặt.
 Sau giờ huấn luyện học tập chúng mình thường ngồi hát đối giao duyên với nhau vui lắm. Thanh niên nam nữ bên dòng sông Cầu qua đoạn Phả Lại, họ hát rất hay và giỏi văn thơ hò vè lắm đấy các đồng chí nhé.
Ngày chúng mình chuẩn bị đi chiến trường, mấy cô rủ đi thị trấn Phả Lại, Sao Đỏ, chụp ảnh xem phim. Lúc chia tay đi chiến trường nhiều cô ra tận hàng quân chào tạm biệt và hẹn chúng tôi trên vùng đất địa linh nhân kiệt của Côn Sơn, Chí Linh. Thuỳ Vân, cô gái duyên dáng có nhiều cảm tình với San, nhưng mình không thổ lộ hứa hẹn gì, chỉ mong cho Vân ngoài hậu phương sớm có ngày vui hạnh phúc.
Chúng tôi mong ngày đất nước yên tiếng súng trở về làng quê xây dựng hạnh phúc gia đình sao mà thiêng liêng thế. Nhưng khi Tổ quốc lâm nguy đồng đội tôi đều tự nhủ, biết có thể hy sinh trên chiến trường đầy khó khăn ác liệt, nhưng vẫn nhận vào mình sự hy sinh thanh thản ấy.


Tiêu đề: Re: Hồi Ký Đường Ra Trận - CCB Sư đoàn 2 : Ông Nguyễn Đăng San.
Gửi bởi: quangcan trong 11 Tháng Giêng, 2011, 09:07:18 pm


Những Trận Bi Hùng Trên Đất Tây Nguyên

Đoàn quân sau mấy tháng hành quân đi bộ liên tục, vượt hàng trăm km đến gần ngã ba biên giới, Việt Nam- Lào- Căm Pu Chia, qua huyện Ngọc Hồi vào huyện Đắk Tô, tỉnh Kon Tum, đường hành quân vũ khí súng đạn, lương thực thực phẩm trên vai sức khoẻ bộ đội đã có phần giảm sút.
Nhân dân trên núi rừng Tây Nguyên, chịu đựng biết bao khó khăn gian khổ. Nhưng đồng bào vẫn một lòng đi theo Đảng, Bác Hồ, hôm nay chúng tôi về chiến đấu trên mảnh đất có văn hoá của Trường Ca Đam San và anh hùng Núp, cùng đứng lên lãnh đạo đánh Tây thắng lợi, nên cán bộ chiến sỹ đều xác định có khó khăn gian khổ ác liệt đến mấy cũng phải vượt lên. Cây cối vươn cao mấy người vòng tay nhau mới ôm hết một gốc cây to, rừng núi ẩm ướt ít người qua lại. Quân địch từng ví so sánh: Dốc Tây Nguyên- Gan Cộng sản.
Ngày đêm bộ đội qua dốc cao suối sâu, công tác hậu cần gặp rất nhiều khó khăn, trên lưng lúc nào cũng trên 60 kg súng đạn, quần áo, gạo, muối. Việc vận chuyển súng đạn cỡ lớn vào vị trí chiến đấu càng khó khăn hơn nhiều. Địch thường xuyên cho biệt kích thám báo vào bản làng quấy rối, xúi dục kẻ xấu nổi dậy, hổ báo thú giữ rình rập bắt người ăn thịt.
Gian khổ ác liệt đã có phần tử phản lại đồng đội, đi theo và chỉ điểm cho máy bay pháo kích địch đánh phá nơi trú quân. Nhưng bọn giặc đã bị đoàn quân cho một đòn choáng váng, không còn cơ hội tái chiếm cao điểm đồn bốt cũ.
Địch bắn vào khu trú quân hàng trăm quả đạn pháo 105 ly, bom từ những tốp máy bay F 105, AD6 và B52 rải xuống, nổ phá tan tành cả một khu rộng lớn, làm cho việc chiến đấu giữ chốt gặp nhiều khó khăn. Nhưng cán bộ chiến sỹ vẫn chiến đấu ngoan cường, xác định nhiệm vụ cho từng tổ công tác. Đồng đội thay nhau lên đánh chiếm điểm cao chiến đấu đến cùng, truy kích địch tái chiếm đồi Ngọc Tụ,(xã Ngọc Tụ thuộc huyện Đắk Tô, tỉnh Kon Tum ngày nay).
Tổ trinh sát đi chốt giữ trên đường 14, một đồng chí bị thú dữ ăn thịt. Lúc đầu tưởng lộ vị trí phải di chuyển, đảm bảo an toàn trước giờ tiến quân đánh vào sào huyệt địch ở Tây Nguyên.
Thám báo biệt kích địch hoạt động mạnh bộ đội hạn chế ra sông suối tắm giặt,  đầu tóc quần áo chúng tôi bám đầy đất cát và khói bom đạn. Đến bữa phải cử người đi gần một giờ đồng hồ mới có cơm đem về ăn. Hàng tháng trời chiến đấu trên đất Cao nguyên. Đơn vị tôi hy sinh mất một số đồng chí, trong đó có anh Trần Văn Thành và Lê Quang Nhuận, hai anh cùng Trung đội.
Đầu tháng 4 năm 1972, lương thực thực phẩm gặp vô cùng khó khăn, mỗi chiến sỹ trong ngày được cấp 0,2 đến 0,3 kg gạo, đơn vị thay nhau đi đào củ chuối lấy măng tre nứa. Sau đó củ chuối măng rừng cũng không còn mà lấy cải thiện. Trong lúc đánh chiếm đồn bốt Ngọc Tụ vét được ít gạo địch bỏ lại hý hửng đem về, không biết gạo có thuốc mìn địch pha trộn đem nấu ăn với nhau, làm mấy anh bị nhiễm độc nặng phải cứu mãi mới sống.
Chiều ngày 23 tháng 4 đơn vị được lệnh cơ động xuống đánh vào cụm quân sự địch mạnh nhất tại Kon Tum lúc bấy giờ. Nuôi quân phát cho mỗi đồng chí mấy miếng sắn luộc, một nắm cơm nhai được hai miếng. Dù khó khăn gian khổ nhưng đồng chí nào cũng xác định và thực hiện theo đúng lời thề danh dự trong Quân đội. Đó là: Thắng không kiêu, bại không nản, dù gian lao khổ hạnh không sờn lòng... Đơn vị hạ quyết tâm đánh thắng giải phóng bằng được cụm cứ điểm quan trọng của địch tại Đắk Tô II. Xứng đáng với truyền thống của Trung đoàn Ba Gia: Đánh là chiến thắng.
Khoảng 22 giờ đêm chúng tôi mang vác vũ khí súng đạn, cùng một bó cây dài hơn một mét bí mật qua mấy lớp rào dây kẽm gai, bò vào giữa sân bay thì pháo sáng địch bắn lên. Bộ đội nằm sát mặt đường băng hướng về lô cốt địch sẵn sàng chiến đấu. Đến vị trí phân công từng tổ nhanh chóng đào hầm, hạn chế tối đa tiếng cuốc xẻng.
Pháo cối địch từ cụm căn cứ bắn vượt về đường 14, xung quanh khu vực, đạn tiểu liên pháo sáng bắn cầm canh quan sát liên tục. Đại đội trưởng Lê Văn Khân, bò đến từng tổ chiến đấu kiểm tra chỉ hướng tấn công, đề phòng trong bốt địch đánh ra, anh động viên từng chiến sỹ của mình.
Hầm của từng tiểu đội chiến đấu được nhanh chóng đào xong, chúng tôi tựa vào nhau tâm sự: Hàng chục ngày nay bọn mình không được tắm giặt, quần áo đầu tóc bê bết đất cát, gian khổ ác liệt quá, đơn vị mình ăn toàn rau, măng, sắn, củ chuối rừng thay cơm, không biết ngày mai thế nào đây. Chiến tranh kết thúc chúng mình còn sống phải tìm đến nhà nhau chơi nhé: Riêng tiểu đội trưởng San về phố Bạch Mai, thành phố Hà Nội, Quỳnh nói với ông bố bà mẹ cùng toàn thể anh em trong gia đình, gả cho đồng chí một cô em gái rất xinh…
 Quê Khuyến vùng chiêm trũng Nam Định, dân làng chủ yếu theo đạo thiên chúa giáo, người dân quê mình cần cù chịu khó, con trai mười bảy mười tám đều lên đường đi đánh giặc, thôn xóm lúc này chỉ còn người lớn tuổi và chị em phụ nữ thay trai cày bừa đồng áng, người ngoài hậu phương miền Bắc hiện nay cũng vất vả không kém gì bọn mình ở mặt trận. Đồng lúa quê mình bằng phẳng thẳng cánh cò bay và gạo tám quê Khuyến thơm ngon nổi tiếng đấy…
Mấy anh em trong hầm nuốt nước bọt rồi nói; ước gì đêm nay có nắm cơm mà ăn thì sướng biết mấy. Thôi nhé, chúng mình phải chiến đấu đánh đuổi giặc ngoại xâm đã, đất nước hoà bình lúc đó có ăn cháo cũng sướng các đồng chí nhỉ. Bọn mình nhớ, khi đất nước thống nhất anh em mình còn sống phải tìm về đến nhà nhau chơi, nói lại những tháng ngày cực kỳ khó khăn gian khổ và ác liệt của chiến tranh, song cũng đầy tự hào vinh quang này.
Trong căn hầm nhỏ tôi điểm lại, mấy năm qua đơn vị đã lập lên nhiều chiến công ở mặt trận đường 9, trên cao nguyên Bôlôven Nam Lào. Trong niềm vui thắng trận, cũng không ít đồng chí hy sinh anh dũng, cùng tình cảm của đồng đội dành cho nhau trong những lúc nguy nan nhất của cuộc chiến. Ngày mai trận giáp mặt với kẻ thù hung bạo trong căn cứ, mỗi đồng chí lại phải vượt lên để chiến thắng vị trí quan trọng của địch trên Tây Nguyên, làm bàn đạp cho những trận chiến đấu tiếp theo của mặt trận. Tình đồng đội đã làm tôi bồi hồi nhớ lại, những tháng năm cùng nhau trên một chiến hào, vượt lên muôn vàn bão tố để chiến thắng quân thù.
… Ta đã cùng nhau chung sống một thời
Chung tiểu đội hành quân đi phía trước.
Đường Trường Sơn gian nan ta cùng bước
Một căn hầm mấy đứa ngủ chung nhau…


Trời vừa rạng sáng, địch trong cứ điểm phát hiện đã bị đơn vị tôi bao vây, ngay lập tức chúng bắn cấp tập đạn pháo 105 ly, cối 81ly, đạn đại liên và M79, cùng với 4 chiếc xe tăng chạy ầm ầm ra sân bay bắn phá tấn công đánh áp đảo để bắt sống đối phương.
Thấy xe địch chạy về hướng phục kích, Đại đội trưởng ra lệnh: Các đồng chí nhằm thẳng xe tăng địch, súng B.40- B.41 chuẩn bị bắn. Đợi xe địch chạy vào gần, đại trưởng Khân cầm khẩu B.41 bóp cò, quả đạn nổ bay vào chiếc xe địch đi đầu, chiếc xe đứt xích khựng lại cháy bùng lên, ba chiếc phía sau chạy vọt lên bắn về phía đơn vị.
Quả đạn từ khẩu M79 tôi bắn ra nổ vào tháp pháo xe tăng địch, các loại vũ khí đơn vị tôi nổ trút về phía chúng, xe tăng địch bắn tới tấp đại liên vào vị trí phục kích. Tôi lệnh cho đồng chí xạ thủ B.41 bình tĩnh đợi xe vào gần mới được bóp cò, quả đạn B41 từ khẩu súng đồng chí Côn bắn ra, nổ tung chiếc xe tăng đang hung dữ xông về phía chúng tôi.
Tiếng từ các hầm reo lên: Xe tăng địch cháy…cháy rồi… hai chiếc… hai chiếc tăng địch cháy các đồng chí ơi...
Mấy tên từ trong hai xe cháy nhảy ra bắn lại chống cự, ngay lập tức đã bị các đồng chí Khuyến, Quỳnh, và đồng đội dùng súng M79 và AK tiêu diệt. Hai chiếc tăng còn lại thấy thế bắn bữa bãi bỏ chạy. Cùng lúc ấy thì phân đội xe tăng của ta xuất hiện, thế là cả hai chiếc xe địch đã bị các chiến sỹ xe tăng ta nổ súng tiêu diệt.
Lúc này đạn pháo 105 ly, cối 81 của địch bắn liên tục vào khu vực chúng tôi chiếm giữ. Một lúc sau bốn xe tăng của ta từ phía Tân Cảnh chạy đến, một chiếc bốc cháy dữ dội, đồng chí lái xe và quay phim nhảy ra thoát hiểm chạy về phía chúng tôi. Anh phóng viên nhẩy vào hầm tiểu đội anh Hỗ, tiếp tục quay diễn biến trận đánh, đồng chí xe tăng chạy vào hầm tôi an toàn. Mấy phút sau anh hỏi về diễn biến trận đánh, rồi anh nói: Xe tăng của phân đội cùng với bộ binh của Sư đoàn 2, đánh và làm chủ hoàn toàn thị trấn Tân Cảnh xong, thì được lệnh về đây chiến đấu, nhưng xe của phân đội đã bị xe tăng địch bắn đứt xích và cháy thùng dầu phụ, tiếc quá…!
 Một lúc sau anh nói; các đồng chí đói lắm phải không…, nói xong anh lấy nắm cơm bẻ cho mỗi người một miếng. Vừa ăn xong miếng cơm gạo trắng của anh cho thật là ngon, thì nóc hầm tôi bị quả đạn cối 61 của địch bắn tới nổ đất cát rơi đầy người. Chúng tôi cười nói với nhau: Đêm qua nóc hầm làm ẩu, thì quả đạn cối địch vừa rồi đã chôn vùi ba chiến sỹ bộ binh C7- D2- E1- F2 và chiến sỹ phân đội xe tăng cùng một chỗ.
 Hình ảnh người chiến sỹ xe tăng trong trận chiến đấu ngày ấy, còn đậm mãi trong lòng tôi về những ngày vô cùng khó khăn ác liệt.


Tiêu đề: Re: Hồi Ký Đường Ra Trận - CCB Sư đoàn 2 : Ông Nguyễn Đăng San.
Gửi bởi: quangcan trong 11 Tháng Giêng, 2011, 09:09:33 pm
Hơn 10 giờ ngày 24 tháng 4 năm 1972. Đơn vị ra lệnh cho những người còn lại cầm súng vọt khỏi hầm đánh vào căn cứ địch. Tiểu đội được lệnh vòng phía tay trái, qua mấy lớp rào dây thép gai cắt dở tiến đến, lính địch trong cứ điểm bắn áp đảo mở lối chạy xuống sông Pô Kô, nhưng chúng đều bị các tay súng của đại đội 5 đại đội 6, cùng phân đội phục kích tiêu diệt.
Tổ chiến đấu qua được mấy lớp rào thép gai, vấp phải ổ súng đại liên địch không thể phát triển được, hai bên giằng co nhau từng thước đất. Đồng chí Hỗ phát hiện thấy hoả lực địch kìm chế, anh cho bắn quả đạn B40 vào cụm đại liên, hoả lực địch tắt, các mũi tấn công bắn cấp tập vào khu lô cốt, làm cho khói lửa trùm lên mù mịt, lợi dụng cơ hội tôi hô các đồng chí nhanh chóng tiến lên để chuẩn bị đánh vào khu trung tâm.
Tiểu đội tôi đang cơ động thì gặp tên lính địch người to cao bị thương vào cằm, đang quằn quại trong chiếc hố pháo mặt mũi đẫm máu, vẫy tay cầu cứu nói ú ớ trong mồm bằng tiếng nước ngoài pha Việt, chỉ tay vào miệng xin nước uống. Tôi thoáng nghĩ, có lẽ đây cũng là mấy phút cuối cùng ân hận của đời lính đi đánh thuê xâm lược.
Vừa nạp đạn xong thì phía sau các tổ vận động tới, tôi phân công đồng chí Hoài xạ thủ trung liên(RPD), bắn cấp tập uy hiếp số địch đang co cụm chống cự, để đồng chí Khuyến, Quỳnh và Thắng, vòng qua tay phải bắn yểm trợ ném lựu đạn. Các đồng chí được giao nhiệm vụ thực hiện theo đúng kế hoạch, đã quật ngã số địch ngoan cố, mấy tên còn lại chạy xuống bơi qua sông.
Đạn địch bắn đan chéo vô cùng dữ dội vào cánh tiểu đội, tôi cùng đồng đội lăn mấy vòng nổ súng tiêu diệt số chống đỡ, dập tắt được số địch đang co cụm trong cứ điểm.
Chúng tôi tiếp tục vận động đánh thẳng vào khu trung tâm chỉ huy chúng, tôi đang nổ súng bắn vào chiếc hầm thứ ba, thì khẩu M79 tôi sử dụng gẫy kim hoả. Trước tình thế nguy hiểm tôi yêu cầu các mũi nổ súng tiêu diệt bọn ngoan cố. Địch trong cứ điểm thấy không còn đủ khả năng chống cự đã gọi to vọng ra. “Xin các ông Cộng Sản đừng bắn, đừng bắn… để chúng tôi đầu hàng… ”. Số địch từ trong hầm bỏ vũ khí chạy ra giơ tay hàng.
Chúng tôi bắt binh lính địch giao ngay cho vệ binh để các đồng chí đưa ra khỏi khu vực đang bao vây truy quét. Đơn vị tôi cơ bản làm chủ được cụm quân sự địch Đắk Tô II, lúc gần 11 giờ, ngày 24 tháng 4 năm 1972.
Vừa đánh và làm chủ được căn cứ chúng mấy phút, thì tốp máy bay AĐ 6 địch từ hướng bắc lao tới đánh bom. Nhìn bom nổ lửa đỏ dội xuống, tôi hô lớn: Máy bay địch ném bom…bom Na Pan…bom cháy vào hầm…vào hầm ngay. Các đồng chí đang chạy từ hầm này sang hầm khác tiêu diệt bọn lẩn trốn, nghe thấy đã nhanh chóng vào hầm thoát nạn.
Cụm quân sự địch phủ kín một màu đỏ của bom đạn, binh lính nguỵ cùng quân xâm lược bị thương nằm rải rác trong ngoài cụm cứ điểm, bị ngọn lửa đỏ của bom đạn hung dữ thiêu huỷ. Nhìn binh lính vùng dậy chạy được mấy mét rồi quị xuống kêu hét chết cháy. Tôi nghĩ; bọn giặc dã man tàn bạo quá, nếu máy bay địch không ném bom bắn phá, thì rất nhiều binh lính chúng được sống sót.
Khoảng 15 phút sau tiếng bom đạn thưa dần. Như vậy đơn vị tôi đã chiếm lĩnh và làm chủ hoàn toàn cụm cứ điểm quan trọng của địch ở Đắk Tô II, căn cứ Phượng Hoàng, tại huyện Đắk Tô, tỉnh Kon Tum.
Sau khi đánh thắng chúng tôi được phân công chốt giữ trong chiếc nhà hầm nổi rất lớn, trong hầm địch thất trận bỏ chạy, còn khá nhiều vũ khí súng đạn, cùng trang thiết bị hậu cần cho binh lính. Khi thu nhặt lương thực thực phẩm tôi nghĩ, sao đơn vị mình lại may đến thế, nếu hôm nay không đánh thắng thu được chiến lợi phẩm như thế này, thì chúng tôi đói không biết như thế nào. Trong hầm anh em thu được máy thông tin điện đài PRC.25, súng tiểu liên cực nhanh AR15. Tôi may mắn hơn, lượm được khẩu súng cùng một dây đạn 8 viên M.79 còn khá mới.
Mừng quá tôi nói với đồng chí, Thắng, Quỳnh, Khuyến, Hoài, số đơn vị mình hôm nay rất may. Sáng nay xe tăng địch đưa ra tiêu diệt bắt sống anh em mình, nhưng chúng đã bị đơn vị ta bắn cháy 2 chiếc, tiêu diệt bắt sống hàng chục tên trong cụm quân sự mạnh nhất của chúng tại Tây Nguyên. Giải phóng Đắk Tô rồi không biết nước sông Pô Kô có chảy được ngược như quân giặc nói không,(trước đó địch tuyên truyền nếu Cộng sản đánh chiếm được Đắk Tô-Tân Cảnh, thì nước sông Pô Kô sẽ chảy ngược). Phút cuối đánh vào cứ điểm thì khẩu M79 của San mới bị gẫy kim hoả, súng vừa hỏng đạn sắp hết thì lại thu nhặt được khẩu M79 còn khá mới thay thế, anh em mình đang đói thì thu được lương thực, thực phẩm của địch. Chúng tôi nhìn nhau cười mà rơi nước mắt!
 Chiều tối các đơn vị phục vụ của ta từ trên núi xuống, vào hầm đốt đuốc tìm chiến lợi phẩm, để lửa rơi xuống sàn làm cho hầm lô cốt cháy. Tiếng hô trong hầm vọng lại báo cháy, thấy lửa đỏ tạt mạnh tôi hô mọi người cầm vũ khí ba lô thoát hiểm, anh Quỳnh nói; mẹ thằng nào đốt đuốc làm kho lô cốt cháy thế này, còn gì mà lấy được nữa. Khói lửa thốc mạnh vào mặt mũi ngạt thở, tôi cúi giáp xuống đất kéo được 2 khẩu súng chạy ra. Kiểm tra lại thấy anh em tiểu đội ra đủ, đồng chí Thắng không kịp đưa vũ khí trang bị ra theo.
Đại đội trưởng Lê Văn Khân người tỉnh Nghệ An, anh được cán bộ chiến sỹ rất quí mến, bị hy sinh cuối năm 1972 bên dòng sông vệ, tỉnh Quảng Ngãi.


Tiêu đề: Re: Hồi Ký Đường Ra Trận - CCB Sư đoàn 2 : Ông Nguyễn Đăng San.
Gửi bởi: quangcan trong 11 Tháng Giêng, 2011, 09:11:27 pm
Đơn vị được lệnh bàn giao cụm quân sự để mặt trận B3 quản lý. Trên đường cơ động về Kon Tum. Tôi và Nguyễn Văn Vặn gặp nhau, hai người cùng nhập ngũ ngoài miền Bắc và vào chiến trường với nhau một ngày. Vặn đang ở tiểu đoàn 3 (90) cùng Trung đoàn, chạy đến ôm chặt lấy tôi nói rất xúc động: Thế mà ai lại bảo là đồng chí hy sinh ở đường dây 559 rồi... Tôi nói; mình rất may trên cao điểm 748 và 723 ở chiến dịch đường 9, đến cao nguyên Bôlôven Nam Lào, trung đội mình bị quân giặc bao vây đánh phá rất ác liệt, anh em chốt giữ trên cùng cao điểm hy sinh gần hết, mình chỉ bị thương và sức ép nhẹ thôi.
Chúng mình trực tiếp cầm súng chiến đấu, còn đến ngày hôm nay là may lắm rồi đấy. Vặn hỏi: Đồng chí có nhận được tin tức gì ở quê nhà không? Nghe đâu, làng mạc khu mình bị máy bay Mỹ đánh phá dữ dội lắm. Bệ phóng tên lửa đóng ở xã Đồng Gia của bạn được pháo bắn bảo vệ dày đặc, thôn xóm mình toàn bị hứng bom của địch và đuôi thuốc đít tên lửa của ta cắt rơi xuống… Chúng tôi nói cho nhau biết số đồng chí cùng nhập ngũ đi chiến trường đã hy sinh mất các anh: Doanh- Xuân- Hiệu - Hùng - Càn… giờ chỉ còn lại có mấy người thôi. Sau đó Vặn hỏi; đồng chí có biên thư gửi về quê được không... Tôi trả lời; làm gì có giấy bút để viết mà gửi... Phút gợi nhớ của hai người về quê hương sao mà hồn nhiên tươi trẻ thế.
Thấy anh lặng người hạ thấp giọng nói: Không hiểu thế nào mà gần đây Vặn  thương người con gái nơi đóng quân quá San ạ. Nghe anh nói xong tôi nói; ngày còn trên đất Bình Giang, mình được mấy người cho biết là Vặn và Ninh yêu nhau lắm phải không?
Ngần ngừ mấy phút rồi Vặn kể: Tiểu đội mình đóng quân trong nhà bà Bát cả, tiểu đội đồng chí ở nhà bà Bát hai. Sau buổi học tập huấn luyện mình và cô ấy thường tâm sự với nhau, tớ giọng khàn khàn thuốc lào. Nhưng cũng học được vài làn điệu chèo để hát cho mấy cô ấy nghe. Ninh có cảm tình với mình, nhiều hôm hai đứa dắt tay nhau qua suối đi sang khu thao trường tâm sự, ngắm nhìn sao đổi ngôi, nghe tiếng chim cu và gà gô cất tiếng gáy, mà hai đứa xao xuyến đến rơi nước mắt. Tình yêu của hai đứa mình có mấy người trong đơn vị biết, và đến tai trung đội trưởng: Tô Sỹ Quảng, nên mình không được ở cùng nhà để ra vào gắm cô ấy nữa, mà phải di chuyển sang nhà ông bà Hải cùng xóm. Có hôm hai đứa đi năm sáu cây số ra thị trấn Phả Lại xem phim, trời mưa hai đứa đứng dưới bụi tre mơ ước, nếu đất nước mình không có giặc anh em mình không phải xa nhau, thì vui và hạnh phúc biết mấy.
Ông Bát hai bà vợ sinh được Đĩa to, Đĩa nhỏ (tức Ninh) và Văn, mấy cô con gái ông bà ấy khá là xinh. Làng Bình Giang có Len con ông Mát gia đình cô ấy hai anh em mình đã ở một thời gian, trong thôn còn có: Hương, Mơ, Lựu, Luyện và Na, họ cao to đẹp gái biết làm thơ hát đối với bọn mình, nhiều lúc lính đơn vị ta không sao vận thơ kịp để hát đối giao duyên.
Lửa tình lâu ngày cũng bén Vặn và Ninh yêu nhau say đắm. Ngày chuẩn bị đi chiến đấu mình nghĩ khó mà trở về với cô ấy được, nên đã nói với cô ấy là: Ninh đừng đợi Vặn nữa, em hãy đi xây dựng gia đình và khi sinh cháu, nhớ đặt tên có chữ cái vần (V) trùng với chữ cái của Vặn. Để hàng ngày gọi tên con mà nhớ tới mối tình của anh và em. Cô ấy gục đầu vào lòng khóc và nói sẽ đồng ý với đề nghị của Vặn.
Tôi và Vặn bảo nhau; nếu anh em mình còn nhất định phải về làng Bình Giang, để cám ơn các gia đình và những cô gái có cảm tình với anh em bộ đội. Một trong hai người còn về được thì thay mặt nói với nhân dân nơi đóng quân; là bọn mình rất nhớ và thương yêu cái làng quê bé nhỏ ấy.
Rồi Vặn ghé sát vào tôi nhấn mạnh: Nếu mình không may hy sinh, San còn may mắn trở về phải đến thăm và nói với Ninh hộ rằng; Nguyễn Văn Vặn vẫn ngày đêm nhớ về mối tình đầu của hai đứa ngày ấy.
Một lúc sau anh hỏi tôi; đơn vị đồng chí có đói lắm không, chứ đại đội mình hàng chục ngày nay gian khổ quá, đêm qua Vặn vào khu đồn bốt Trung đoàn ta đánh thắng làm chủ, mà không nhặt được một tý lương thực thực phẩm gì cho vào bụng. Mấy hôm nay đơn vị vận động đánh địch liên tục, mà chỉ có mấy miếng sắn nhỏ cho vào bụng thôi.
Tôi mở ba lô lấy đưa cho anh ba gói cơm sấy và hai hộp thịt ba lát nhỏ, vừa mới thu nhặt được trong hầm hào lô cốt địch. Đồng đội bắt tay tạm biệt những ngày vô cùng khó khăn ác liệt trên núi rừng Tây Nguyên hùng vĩ, hẹn gặp nhau ngày Nam Bắc thống nhất, trên quê hương Kim Thành của Hải Dương yêu dấu.
Nhưng rồi Nguyễn Văn Vặn một anh lính nhỏ bé nhanh nhẹn, cũng đã phải hy sinh trong một trận chiến đấu với quân thù tại xã Đức Chánh, huyện Mộ Đức tỉnh Quảng Ngãi, vào một chiều cuối thu ngày 06 tháng 10 năm 1972.


Tiêu đề: Re: Hồi Ký Đường Ra Trận - CCB Sư đoàn 2 : Ông Nguyễn Đăng San.
Gửi bởi: quangcan trong 13 Tháng Giêng, 2011, 02:33:12 pm

CUỘC CHIẾN TRONG THỊ XÃ KON TUM

Để phối hợp với các mặt trận, đặc biệt là chiến trường Quảng Trị và Khu 5. Ngay sau khi chiến thắng Đắk Tô - Tân Cảnh, đơn vị tôi nhận lệnh về đánh địch trong thị xã Kon Tum. Vượt qua bãi bom lân tinh, mìn lá, mấy ngày sau phân đội tiến vào giáp khu vực có địch, nhưng lại quay ra cách thị xã hơn chục km.
Như vậy đơn vị tạm dừng tấn công địch. Phân đội củng cố bổ sung điều chỉnh lực lượng, học tập bình xét thi đua. Tôi được đại đội đề nghị mặt trận tặng huân chương chiến công hạng ba, về thành tích chiến đấu đánh địch ở đồi Ngọc Tụ, chỉ huy bắn cháy xe tăng, tiêu diệt bắt sống thu hồi nhiều vũ khí trang bị, góp phần giải phóng căn cứ Phượng Hoàng, Đắk Tô II.
Ngày 20 tháng 5, đơn vị triển khai học tập chỉ dẫn trên bản đồ, và hướng tấn công thu hút địch vào phía Nam của thị xã. Để các hướng của ta từ phía Tây Bắc tấn công vào biệt khu 24 của địch. Khi lãnh đạo chỉ dẫn trên bản đồ xong, các chiến sỹ chất vấn chi tiết đồn bốt giặc đang án ngữ. Nhưng chỉ huy đơn vị chỉ đưa ra một con số địch chung chung, và nhân dân trong thị xã nghĩ bộ đội Giải phóng như những bóng ma, “ Cộng sản nhẹ như những con nhái bén, bảy tên Việt cộng không đu gẫy cành đu đủ, cướp bóc giết người v v…”. Do vậy, khi đơn vị vào đánh địch và tiếp cận với nhân dân phải thận trọng, gây lòng tin cho đồng bào.
Cánh quân phía Nam đơn vị tôi lúc này gặp vô cùng khó khăn về lương thực, thực phẩm, nhiều đồng chí bị phù vì ăn thiếu muối, mỗi bữa được hơn bát cơm độn ngô và củ chuối. Mấy ngày liền toàn cháo loãng đồng đội thay nhau vào rừng đào củ mài, lấy cây môn ngứa mọc hoang dưới nước nấu canh, nhổ cỏ tranh phơi khô đốt hoà nước thay muối khoáng. Bát cơm canh rau cháo nhạt muối đen xì, anh em mời chào nhau mà hun đúc tình đồng chí trước khi vào trận.
Chiều ngày 24 tháng 5 năm 1972, nuôi quân đơn vị phát cho mỗi đồng chí một nắm cơm to bằng quả trứng vịt và 2 chiếc bánh sắn không nhân nhạt muối. Đến 21 giờ cánh quân phía Nam vượt qua đồi núi nương rẫy, đến cạnh bờ sông Đắk La bao quanh thị xã. Bộ đội dừng lại đào hầm, làm vừa xong thì có lệnh vượt sông tiến vào tấn công địch.
Cánh Nam tiến vào đánh địch trong Kon Tum có hai phân đội, đó là tiểu đoàn 2 (60) Trung đoàn 1, tiểu đoàn 6 thuộc Trung đoàn 141, cùng với đặc công trinh sát,  đại đội súng cối 82 và ĐKZ của Trung và Sư đoàn tăng cường.
Phân đội đang tiếp cận thì mũi của đại đội 5 vấp phải mìn, đã gây cho đồng chí Phan Minh Duệ đại đội trưởng và mấy chiến sỹ trinh sát hy sinh, (khi tôi mới vào, anh Duệ là đại đội trưởng C7). Ngay lập tức cánh quân chúng tôi bị địch ở ấp Hương An và lính bảo vệ cầu Đắk La trên trục đường 14, dùng súng đại liên cùng pháo cối từ trên cao bắn cấp tập vào đội hình. Bộ đội nằm sát gốc cây và mép bờ chắn nước tránh đạn. Mấy phút sau địch chuyển làn cho ấp bên cạnh nã đạn đến, từng loạt đầu và mảnh đạn pháo cắm phầm phập vào ruộng cùng thân cây chuối.
Trước tình hình vô cùng nguy hiểm, phân đội cho các chiến sỹ vượt qua bãi bùn lầy rau muống vào giáp mương nước cạch thị xã, anh em nhanh chóng rửa chân tay, bắt những con đỉa to bằng ngón tay đói khát bám quanh chân hút máu, gạt bùn rửa giầy dép quần áo.
Tiếng bộc phá của công binh bắt đầu đánh phá bốt đầu cầu địch, súng cối 82, hoả lực ĐKZ của Trung đoàn 141 bắn phá mục tiêu dọc đường phố. Cánh tấn công của đơn vị tôi bị địch chủ động bắn trả lại vô cùng dữ dội, mấy đồng chí vừa mới bổ sung về lúng túng rơi cả trang bị.
Đồng chí Thân Văn Cẩn, tiểu đoàn phó ra lệnh cho đại đội 6 xung phong. Chính trị viên Thảo báo cáo rơi súng ngắn, hai tay anh rà theo chớp đạn tìm súng,      ( đồng chí Thảo mới từ đại đội quân y về). Trước tình hình địch bắn trả như vậy, tiểu đoàn phó Cẩn ra lệnh cho đại đội 7 chúng tôi xung phong. Thực hiện lệnh, trung đội trưởng Nguyễn Đức Dục cho bộ đội vọt lên. Như một mũi tên đơn vị tiên lên đẩy được địch lùi cách xa 500 mét, phát triển đánh sâu vào bên trong. Lúc này đồng chí Dục tiến trước, đến tôi, đồng chí Quỳnh, Hoài và Khuyến, tiếp theo là một số chiến sỹ người Hà Tây mới bổ sung chưa kịp nhớ tên. Khi đánh địch chạy qua ngã ba đường phố Phan Thanh Giản (nay là đường Trần Phú) hơn 100 mét, thì đội hình bị quả đạn cỡ lớn bắn đến nổ, làm mấy đồng chí lăn vào cạnh đường. Anh Quỳnh chạy đến gục sát vào tôi nói; đồng chí San ơi tôi hy sinh rồi… anh gọi bố mẹ cùng anh chị em trong gia đình cùng các đồng chí ơi… Đồng chí Hoài người Nghệ An to khoẻ, được tiểu đội phân công cầm khẩu trung liên RPD ngã áp sát vào anh Quỳnh nói: Các đồng chí ơi, đồng chí San ơi tôi hy sinh mất rồi...
 Địch bắn vô cùng ác liệt vào chỗ các chiến sỹ bị thương hy sinh. Phía sau các đơn vị tiến lên bắn về phía địch qua chỗ chúng tôi, đạn nhảy từng tràng trên mặt đường nhựa, thấy rất nguy hiểm tôi hô lớn: Chúng tôi đang bị thương nằm ở phía trước, cẩn thận không bắn nhầm vào quân ta đấy. Hoả lực và bộ binh xông lên bắn đẩy được địch cách xa chỗ chúng tôi thêm mấy trăm mét.
Đồng chí Khuyến người tỉnh Nam Định, bị thương gẫy xương đùi trái nói to:   Đồng chí San ơi tôi hy sinh mất rồi… anh kêu đau và gọi đồng chí Toán y tá đại đội lên băng bó. Sau đó anh nói: Các đồng chí hãy giữ lấy vị trí chiến đấu, không thì hy sinh hết...(Đồng chí Khuyến tiểu đội phó vừa mới được kết Đảng trước khi vào trận).
Được 10 - 15 phút sau các đồng chí bị thương nặng đều hy sinh, vào khoảng 5 giờ sáng ngày 25 tháng 5 năm 1972, trên đường phố Phan Thanh Giản, trong đường phố của thị xã Kon Tum.
Các mũi tấn công của ta đánh vào trung tâm thị xã, bị địch chống cự rất ác liệt, các thương binh tử sỹ vẫn nằm ngoài mặt đường, thấy thế tôi nói các đồng chí đang băng bó vết thương vào gọi cửa nhờ nhân dân giúp đỡ. Mấy đồng chí vào gọi mãi mà không thấy có người ra mở, tôi bảo đồng chí Toán cầm súng AK bắn phá khoá mở cửa để đưa thương binh vào nhà ngay. Sau loạt đạn cùng tiếng đập gọi, cửa nhà cũng được mở, từ trong nhà hai mẹ con chạy ra chắp tay cúi lạy: Xin các ông Cộng sản đừng bắn…đừng bắn… Thấy như vậy tôi nói ngay. Cộng sản không bao giờ bắn, đồng bào đừng sợ… trước đó địch tuyên truyền về phía quân giải phóng miền Nam không đúng sự thật, đã làm cho nhân dân trong vùng địch rất hoang mang.
 Chiếc xe vận chuyển lính địch chạy đến bắn dữ dội vào khu chúng tôi đang chiếm giữ, các thương binh đều phải cầm súng bắn trả lại giặc. Hai thằng trên chiếc xe máy chạy đến nổ súng, đã bị quả đạn M79 của tôi bắn ra nổ, làm cho người và xe hai tên văng xuống đường, một tên chạy lại đầu hàng.
Trời rạng sáng thấy bảy tám đồng chí nằm ở mặt đường, một người còn động đậy, tôi bảo mấy anh ra đưa ngay vào nhà cấp cứu, khi đưa vào thì nhận được là anh Chính người của đại đội 6 cùng tiểu đoàn, anh bị thương mất miếng sọ đầu, không biết về sau đồng chí này có sống được không ?
Ba tên quần áo rằn ri lái xe chạy nhanh bị đồng chí Toán cầm khẩu trung liên RPD xả đạn, (súng đồng chí Hoài sử dụng trước lúc hy sinh) chiếc xe đâm vào tường nhà hai thằng nhẩy xuống giơ tay hàng. Các đồng chí đánh chiếm khu tháp nước tỉnh trưởng bắt đưa về thêm mấy tên, trói cho vào một chỗ với bộ phận đang bảo vệ thương binh.
Khoảng 10 giờ hai mẹ con gia đình chúng tôi trú ẩn, xin phép cho đi mua cơm thức ăn. Tôi nghĩ cho họ đi sẽ bị lộ, trước tình thế đó tôi đã phải rút hai chiếc bánh dự trữ đưa cho. Bóc bánh ăn xong hai mẹ con đi ra chắp tay cúi lạy, nói: Cám ơn ông Cộng sản, bánh các ông làm bằng thứ gì mà ngon thế…Chiếc bánh sắn tôi đưa cho họ ăn, không có nhân và nhạt muối, nếu gia đình người này còn sống, chắc họ không thể nào quên được sự kiện ngày đó.
 Ngay sau khi tổng thống nguỵ Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu, đến chỉ đạo trực tiếp cho chúng tại Kon Tum, địch cho máy bay phi pháo bắn phá tất cả các khu vực nghi có quân giải phóng chiếm giữ, dãy phố đơn vị tôi chiếm giữ dần dần sụp đổ.
 Đồng chí canh giữ 6 tên tù binh địch báo cáo: Tình hình này sẽ rất khó khăn, nếu để tù binh địch như thế này rất nguy hiểm, dồn mấy tên này xuống hầm cho chúng nó một quả lựu đạn… Chiến sỹ này vừa nói xong tôi nói ngay, cấm đồng chí không được làm như vậy, vi phạm chính sách tù hàng binh. Nhưng số chúng cũng không thoát được cái chết từ bom đạn của chính chúng gây ra, khoảng 21 giờ mấy tên tù binh bị ngay quả đạn pháo 105 ly của chúng bắn đến phá huỷ, dân trong nhà bị thương được các đồng chí y tá đơn vị cứu chữa ngay.
Khoảng hai giờ sáng ngày 27 tháng 5, chúng tôi bị thương nhưng chưa có người khiêng ra anh em bò sang dãy phố bên cạch, không còn một người dân nào trong nhà. Sau đó bị máy bay pháo kích địch đánh phá liên tục làm nhà cửa đổ nát, trâu, bò, lợn, gà, chết chương phình hôi thối. Khoảng 11 giờ tôi được nuôi quân bò vào đưa cho bát cơm canh cà chua, phải ăn vội và chỉ hướng cho các anh đi phục vụ thương binh khác, các đồng chí mang cơm canh vào phục vụ không rõ là người của đơn vị nào.
 Chiều tối tôi cùng đồng chí Ao chiến sỹ đại đội 5 cùng tiểu đoàn, cùng các đồng chí bị thương ẩn lấp trong ngôi nhà bị bom pháo đổ nát, phía sau là chuồng trại nuôi gia súc, phải tổ chức chống lại bọn dân vệ ở ấp ngoài thị xã đánh vào. Một số bị thương chưa có người đưa ra kịp hy sinh, phân heo trâu bò bắn tung toé đầy người.
 Súng AK của Phạm Như Ao và tôi đều hết đạn, súng ngắn (K54) anh Ao cầm còn mấy viên, hai anh em nói với nhau: Nếu địch vào lục soát khu chuồng lợn thì vào giả chết cùng các đồng chí đã hy sinh, nếu địch phát hiện thì Ao bắn nốt mấy viên đạn súng ngắn cuối cùng...
Khoảng 20 giờ mấy tên địch đến đá vào chân anh Duyên đi ra nói với nhau: Thấy mấy tên Việt cộng nằm trong chuồng heo và bụi chuối chết thẳng cẳng mà nổi cả gai ốc, bọn này chết hết rồi. Tôi và Phạm Như Ao giả nín thở thoát chết. Tối hôm sau được các đồng chí vận tải đến tìm đưa ra, tôi lấy chiếc xe trong nhà dân bỏ lại định đi, nhưng đau không thể nào lên xe đạp được. Các đồng chí vận tải chạy vào dìu tôi đưa ra ngoài khu vực nguy hiểm. Các anh cõng qua chỗ mấy ngày trước đơn vị vào thấy nhiều đồng chí chết đang bị phân huỷ mà chưa được đưa ra. Thấy vậy tôi nói, tình hình phục vụ thế nào mà mấy ngày hôm nay không có người vào vận chuyển anh em thương binh và tử sỹ ra…? Hai đồng chí khiêng võng cáng tôi nói: Chúng tôi bị bom pháo địch thương vong cũng khá nhiều, qua thôn ấp bị bọn bảo an dân vệ phục kích bắn ném lựu đạn, nên việc vào đón các đồng chí trong thị xã ra rất khó khăn, hàng chục đồng chí hy sinh trong khu tháp nước và biệt khu 24 không thể nào đưa ra được, phải chôn ngay ở vị trí chiến đấu, có đồng chí đưa ra ngoài cánh đồng vùi tạm vào rãnh luống ngô, khoai, dưới bụi chuối, vì không còn đủ người vận chuyển...


Tiêu đề: Re: Hồi Ký Đường Ra Trận - CCB Sư đoàn 2 : Ông Nguyễn Đăng San.
Gửi bởi: quangcan trong 13 Tháng Giêng, 2011, 02:33:55 pm
Gần bốn ngày bị thương chiến đấu trong thị xã, tôi được các đồng chí vận tải vào khiêng ra trạm cấp cứu tiền phương, trạm phẫu vừa bị máy bay B52 ném bom hầm hào nghiêng ngả. Y bác sỹ đưa lên bàn soi đèn pin kiểm tra rồi nói: Đồng chí bị đứt gân gót chân phải, mông đùi trái còn rất nhiều mảnh găm sâu trong thịt phải mổ mới lấy được, nhưng trạm phẫu không còn thuốc giảm đau, vì vậy đồng chí cho quân y buộc chân vào bàn chịu đau để mổ gắp mảnh, (bàn phẫu làm bằng tre nứa gỗ). Tôi nghiến răng nghe tiếng dao kéo thao tác nối gân và mổ gắp mảnh. Rồi y tá lấy quần áo cũ xé băng lại vết thương.
 Tiếp tục cho tôi lên võng khiêng về phía đông nam của dãy núi Chư hreng cách thị xã Kon Tum khoảng 12 km. Tại đây hơn chục ngày mà không có bông băng thay thế. Trước tình thế như vậy buộc các đồng chí trạm cấp cứu phải vào thôn bản nhặt chăn, màn, quần áo, của đồng bào dân tộc bỏ chạy, đem về băng bó cho thương binh. Do băng gạc không được hấp sấy tiệt trùng triệt để, đã làm vết thương của vài người bị nhiễm trùng hoại tử, có đồng chí phải tháo khớp cưa chân tay mấy lần. Lương thực thực phẩm càng khó khăn gấp bội, nuôi quân đi đào bới củ chuối, mót ngô, khoai, sắn, về xào nấu cho chúng tôi ăn qua ngày.
Tại trạm quân y tôi và Phạm Như Ao gặp nhau hoan hỷ; hai anh em nhờ vào phân rác lợn phủ đầy người mà che được mắt bọn bảo an dân vệ, địch phát hiện thì hôm nay không còn thấy nhau nữa. Hai anh em còn nói cho nhau biết dãy chuồng lợn hôm đó có sáu đồng chí hy sinh. Đại đội 6 cùng phân đội có hai đồng chí, anh Duyên xạ thủ B40 và một chiến sỹ đoàn Hà Tây mới bổ sung, cùng bốn đồng chí thuộc tiểu đoàn 6 của Trung đoàn 141 vào đánh địch ở cánh phía Nam với đơn vị.
 - Đồng chí Phạm Như Ao điều trị xong, về chiến đấu và hy sinh ngày 17 tháng 9 năm 1972 tại xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.
Hơn chục ngày sau tôi được cáng di chuyển, trên đường bị máy bay HU1A địch phát hiện, chúng rà sát ngọn cây bắn đại liên ném lựu đạn, làm cho mấy đồng chí thêm nặng. Tối đến qua sông bằng thuyền độc mộc, nước chảy mạnh lật đổ làm mấy anh em trôi mấy chục mét. Hàng chục ngày sau về đến Đội điều trị 5, lúc này có bông băng mới, và được tiêm thuốc chu đáo.
Mấy ngày sau được cáng về trạm điều trị 3, vừa chân ướt chân ráo thì đêm đến bị ngay một loạt bom từ máy bay B52 rải xuống phá huỷ. Thương binh trong hầm được đồng chí Nguyễn Hữu Gia, người con của đất lụa Hà Đông, là y tá phòng mổ đến cứu chữa. Bom địch ném xuống trạm đã làm cho gần 20 đồng chí bị thương và hy sinh.
 Tôi tiếp tục được chuyển đến bệnh viện 211, đóng trên đất Lào hay Căm Phu Chia gì đó. Viện có đủ phương tiện cùng y bác sỹ giỏi điều trị. Tại đây hơn một tháng nằm cùng nhà hầm với đồng chí Hoạ, anh bị mảnh bom nằm trong phổi cứ hai ba ngày bác sỹ lại phải vào hút máu mủ từ cơ thể anh ra mấy lít. Đồng chí Hoàn người Hà Tây bị bom phạt mất 2 cánh tay phải tháo đến hai khớp vai. Các đồng chí bị bom Na pan cháy mặt mũi chân tay cong queo, một hai ngày thay bông băng thì những con dòi bò ra đã to bằng đầu đũa, các anh bị bỏng cháy được quấn bằng một lớp vải phủ kín mà nước vàng vẫn chảy ra rất hôi thối. Hầu hết thương binh nằm điều trị ở viện đều là những đồng chí bị thương rất nặng, đưa từ chiến trường Khu 5 và Tây nguyên đến.
Một hôm có người chạy vào hốt hoảng nói, có thú giữ đang rình phục bên đầu nhà, tưởng thật mọi người trong lán lấy ống nứa cọ vào nhau doạ Cọp, một lúc sau thấy anh Tập đi từ đầu nhà vào, hoá ra do anh bị cháy bỏng nặng phải băng bó toàn thân làm hình thù thay đổi.
Chúng tôi bị thương mất máu người ốm yếu, nhưng đến bữa cũng chỉ có một hai bát cơm ăn cùng với nước mắm gạo rang, mấy anh em chống gậy đi gần một ngày mới tìm nhổ được mấy củ sắn con và ít lá bí ngô già về cho vào ống nứa nấu nướng để anh em cùng ăn.
Vết thương của tôi ổn định được vài ngày lại bị sưng tấy chảy mủ. Được y bác sỹ bệnh viện 211 có biện pháp khắc phục cứu chữa, đến tháng 8 năm 1972 vết thương mới ổn định, và được viết giấy chứng thương cho ra viện.

                                                      *
                                                  *       *

Thương bệnh binh ra viện được đồng chí Thật cán bộ Sư đoàn vào đón. Trên đường đi thỉnh thoảng anh bắn được thú rừng, liền chỉ đạo cho giết thịt nấu nướng bồi dưỡng cho anh em ăn để lấy sức hành quân. Bộ đội nghỉ ở trạm nào đều phải tham gia sản xuất, nhổ sắn lên lấy củ thì bẻ cành đem trồng lại, để sau này cho người đơn vị khác hành quân qua lấy củ nấu nướng. Đây là việc làm được cán bộ chiến sỹ trong chiến trường Khu 5 quán triệt. Tại trạm thu dung huyện Sa Thầy trong lúc đợi người ra viện về Sư đoàn một thể, anh em đi phát cây cối trồng ngô khoai, bị lũ ruồi vàng bám đuổi dày đặc đốt sưng cả mặt mũi chân tay.
Bữa ăn của thương bệnh binh trên đường hành quân, không quá một lạng gạo gạo đỏ Tây Nguyên trồng cấy, (loại gạo phải đun nấu rất lâu mới chín và không nở). Thức ăn được chế biến từ măng tre nứa thành nem, giò, chả... Có ngày hết gạo ăn toàn măng tre lồ ô đỏ luộc, làm cho người yếu bị say choáng váng, thỉnh thoảng vặt hái được mấy cây khoai môn nước dân ta thường lấy nấu cám cho lợn, anh em đun nấu nhừ mỗi đồng chí húp một bát, hơi ngứa họng nhưng cũng thấy ấm lòng và mát ruột.
Cuộc chiến đấu của đơn vị tôi trên vùng đất Tây Nguyên trong mùa hè đỏ lửa năm 1972, là cuộc đọ sức về công tác quân sự tại chiến trường của ta và địch, còn là việc chia lửa cho chiến trường Quảng Trị. Song cũng khẳng định một khí phách kiên cường của bộ đội trên mảnh đất Cao Nguyên, với muôn vàn khó khăn gian khổ để chuẩn bị cho ngày toàn thắng.


Tiêu đề: Re: Hồi Ký Đường Ra Trận - CCB Sư đoàn 2 : Ông Nguyễn Đăng San.
Gửi bởi: quangcan trong 13 Tháng Giêng, 2011, 02:34:29 pm
Đường đi từ chiến trường Tây nguyên về mặt trận Quảng Ngãi, trong đoàn có mấy đồng chí thuộc Trung đoàn 141 và một số anh em trong Sư đoàn. Nơi đến là vùng ven biển miền Trung đơn vị đang chiến đấu ở huyện Ba Tơ, Mộ Đức, Đức Phổ… Đường hành quân thương bệnh binh thường bị ốm yếu và sốt rét, cùng vết thương tái phát. Chúng tôi dắt nhau qua nương rẫy của đồng bào người Thượng, Cơ Tu... Trời mưa rừng núi hoang vắng côn trùng phát triển, những chú giun đất to như con rắn bò ngang trên mặt đường, loài vắt xanh, bọ cạp, muỗi rừng và ve chó, tìm người bâu đậu. Các đồng chí giao liên thường xuyên phổ biến phải cảnh giác với biệt kích thám báo cùng thú dữ rình rập, có ngày hành quân không gặp một người nào qua lại.
Trên đường anh Thuỷ tìm hái được nắm rau đem về cải thiện, bát canh rau rừng nấu cho mỗi người một bát, ăn vừa xong phải chạy đi nôn mửa, tôi vào trạm giao liên gọi y tá cấp cứu. May sao trạm có thuốc giải độc và cho mấy bò gạo đem về nấu cháo cứu đói.
Nhìn anh em quần áo rách rưới vì khó khăn gian khổ, đi lấy măng dưới trời mưa thu rả rích, nghĩ suy về ngày mai đến trạm có gạo muối để mà lấy không. Đội quân ngày một ốm đau thưa dần, chúng tôi ngồi lại động viên nhau, để vượt qua khó khăn hành quân trở về đơn vị.
Chặng đường gian lao vất vả anh em đến được Dốc Cọp- Gốc Khế và các xã vùng ven huyện Ba Tơ, được đồng bào đón vào kể cho nghe về một thời đen tối của nhân dân nơi đây, cũng từ đó mà nổi lên phong trào du kích Ba Tơ. Tôi thầm nghĩ thế mà đã thấm thoát hơn hai năm xa miền Bắc, hôm nay mới được quanh bếp lửa nghe nhân dân nói về gương đánh giặc giữ làng của đồng bào miền Tây Quảng Ngãi.
Vượt qua thác lũ mưa rừng chúng tôi đến dòng sông Vệ, trời mưa nước chảy cuồn cuộn, đồng đội bám vào nhau bơi qua sông bị trôi gần một km. Qua dòng nước hung dữ anh em tạm biệt nói với nhau: Chiến tranh kết thúc, hoà bình lập lại, đồng chí nào còn sống nhớ đến thăm Thuỷ người đất mỏ Hòn Gai. Khải người huyện Sóc Sơn thành phố Hà Nội. Còn San người huyện Kim Thành tỉnh Hải Dương. Chúng mình phải tìm đến nhà nhau chơi đấy nhé…

Đầu tháng 11 năm 1972, tôi về đến Núi Ngang- Hòn Dầu, nơi đóng quân của đơn vị, được đồng chí Đoàn Văn Quế chính trị viên tiểu đoàn ra đón, anh động viên giao nhiệm vụ cho tôi về trung đội trinh sát. Mấy hôm sau tôi cùng các đồng chí đi chuẩn bị cho việc đánh đồn bốt trên quốc lộ số một và địch ở núi Đất, xã Đức Lân, huyện Mộ Đức.
Đêm tối phải đi lại vận động nhiều làm vết thương dưới gót chân và mông tái phát, buộc tôi phải vào trạm xá C- 20 của Trung đoàn điều trị, ít ngày sau vết thương ổn định được cán bộ mời lên giao nhiệm vụ: Đồng chí bị thương vào chân không phù hợp với chiến đấu nữa. Nhưng công tác được giao lại rất quan trọng và cần thiết, do vậy lãnh đạo hai ban Tham mưu và Hậu cần đã thống nhất, điều đồng chí về nhận nhiệm vụ tại Ban hậu cần Trung đoàn.


Tiêu đề: Re: Hồi Ký Đường Ra Trận - CCB Sư đoàn 2 : Ông Nguyễn Đăng San.
Gửi bởi: quangcan trong 13 Tháng Giêng, 2011, 02:36:15 pm
CÔNG TÁC HẬU CẦN TRONG VÙNG ĐỊCH

Về đội thu mua thuộc Ban hậu cần Trung đoàn, tôi cùng các đồng chí trong đội thường xuyên xuống vùng địch tiếp nhận lương thực thực phẩm, để cấp phát cho các đơn vị trong Trung đoàn. Nhiệm vụ đặt ra không ít khó khăn vất vả, Trung đoàn cử tới ba đồng chí trinh sát làm nhiệm vụ bám địch mở đường và mấy chục chiến sỹ thuộc đại đội vận tải 19, để cõng gùi hàng đưa về kho dự trữ cấp phát. Khi tổ trinh sát nắm tình hình thấy bảo đảm an toàn, cho người bí mật vượt qua quốc lộ đi vào thôn ấp nhận gạo muối do nhân dân đóng góp giúp đỡ cách mạng. Nhiều mặt hàng mua của vợ con binh lính địch đi mua từ khu quân sự đem về bán. Thôn ấp ngày thì địch kiểm soát, đêm tối bộ đội giải phóng chúng tôi vào, nên việc phân định kẻ tốt-xấu, người liên quan tới công việc đòi hỏi rất thận trọng. Người được giao nhiệm vụ ở lại trực tiếp chỉ huy tiếp nhận hàng hoá, rất lo cho các chiến sỹ mới từ rừng núi xuống, sợ các đồng chí không nắm được đường đi và tình hình địch, sẽ lạc vào ổ phục kích, bãi mìn.

Ngày đêm địch cho máy bay quần đảo, bắn hàng trăm quả đạn pháo cỡ lớn từ hạm đội ngoài biển vào, làm cho các xã vùng ven của Quảng Ngãi bị bom đạn cày xới tan tành. Đồn bốt địch mở loa kêu gọi nhân dân bộ đội và dân quân du kích đi theo chúng khai báo chiêu hồi. Ngày 27 tháng 1 năm 1973 Trung đoàn đang ém quân ở phía tây Nam huyện Mộ Đức, hơn 8 giờ sáng đất trời yên tiếng bom rơi đạn nổ. Chúng tôi đồng loạt nhảy lên khỏi mặt hầm mừng Hiệp định Pa-ri có hiệu lực, anh em ôm hôn nhau mà trào rơi nước mắt, đồng đội cười nói với nhau: Đất nước hoà hợp rồi các đồng chí ơi…anh em ơi, mấy chục người chúng tôi đứng sát nhau ngân vang bài:
“ Giải phóng miền Nam
Chúng ta cùng quyết tiến bước
Diệt đế quốc Mỹ, phá tan bè lũ bán nước…”.

Đất trời yên lặng gần một giờ thì tiếng pháo địch từ núi Xương Rồng, Đức Phổ, chiến hạm ngoài biển Sa Huỳnh lại bắn đến ác liệt hơn, làm cho các chiến sỹ và nhân dân nơi đây tiếp tục đổ máu.
Sau tết cổ truyền Quí Sửu 1973, đêm đến đội công tác vượt qua đường một sang các xã phía đông của huyện Mộ Đức. Đường đi được du kích địa phương cùng trinh sát dẫn đường, đơn vị men theo bờ ruộng đến cạnh quốc lộ quan sát, nếu không có địch mấy chục người nhanh chóng vượt qua, đồng chí đi cuối đoàn cầm cành cây xoá dấu vết mặt đường qua lại.
Bà con nhân dân thôn một, thôn hai đồng chí Bí thư Đảng uỷ xã Đức Lân tới chúc mừng. Quà cho mỗi đồng chí là chiếc khăn tay mùi xoa, bánh xà phòng thơm, những chiếc bánh xèo và bát cháo thịt vịt nóng… Đêm tối ngày ấy trên quê hương núi Ấn sông Trà, còn thấm đậm tình quân dân trên dải cát trắng miền Trung đầy bóng giặc lúc bấy giờ.
Tôi cùng mấy đồng chí xuống nằm lại vùng ven biển đợi nhân dân huy động đóng góp lương thực, mua thực phẩm để giao cho bộ đội trong Trung đoàn đến khuân vác mang về. Có hàng vận chuyển bằng tàu biển không số từ miền Bắc đưa đến, được nhân dân làng chài ven biển đem vào chôn xuống bãi đất cát đắp thành mộ giả, thôn ấp luôn bị địch càn quét khống chế. Mỗi khi bộ đội qua lại được bà con, cùng các cháu nhỏ cảnh giới xoá dấu vết giầy dép, nhặt mẩu thuốc lá do sơ ý vất ra cho vào bếp đốt…
Mỗi khi có giặc càn quét vào làng đồng chí Phạm Thị Nguyện, bí thư Đảng ủy xã Đức Lân căn dặn du kích: Nếu thấy không an toàn thì đưa đồng chí Tần, đồng chí San xuống hầm bí mật. Có đợt địch càn quét hàng tuần trong khu vực không sao liên lạc về đơn vị, để khi bộ đội xuống tránh được sự kiểm soát và giữ bí mật cho đường dây cung cấp. Anh em nằm sâu trong vùng địch kiểm soát được bà con đùm bọc khi có giặc, chăm sóc lúc ốm đau. Tình cảm của nhân dân nơi đây không bao giờ phai mờ trong ký ức của chúng tôi trong những ngày khó khăn gian khổ ấy.
Đêm ngày 13 tháng 3 năm 1973, đội công tác đi từ huyện Nghĩa Hành vượt đường quốc lộ số một sang xã Đức Tân- Đức Minh, gồm có: Trần Văn Tần, Phan Văn Tao, Trần Văn Ngọc và tôi, chỉ huy đơn vị xuống tiếp nhận mang vác hàng hoá về. Khoảng 22 giờ đêm hôm sau gùi hàng và bám theo kênh dẫn nước đến giáp đường quốc lộ, người dẫn đường dừng lại quan sát, thì từ phía sau có người nói nhỏ truyền lên: “các đồng chí không được đi vào đoạn này, vì chiều nay nhân dân đi làm, quan sát thấy địch ở cầu Dắt Giây chúng đem mìn ra khu vực này cài đặt …”
Nghe như vậy nên toàn đoàn quay đầu lại đi sang khu đất có mộ đắp, cách vị trí nói có mìn khoảng 100 mét. Khi quay lại đồng chí Phan Văn Tao đi trước, đến Trần Văn Ngọc và tôi, mỗi người cõng một thùng hàng đi cách nhau hơn 2 mét, khi anh Tao bước lên thì vướng vào quả mìn Clâymo của địch cài đặt, mìn nổ đẩy lùi anh Tao lại mấy mét, đồng chí Ngọc và tôi bị hất về phía sau. Ngay lập tức tiếng đề ba của pháo cối cùng tiếng nổ của đạn M79- AR15, đại liên pháo sáng của địch từ cầu Dắt Giây chúng bắn đến cấp tập. Tôi bò vào lay gọi đồng chí Tao, anh khẽ nghiêng người lắc đầu. Đồng chí Ngọc cố tháo chiếc đai gùi thùng dầu đậu phụng để tôi nâng anh sang lấp phía sau ngôi mộ tránh đạn bắn thẳng đến, anh Ngọc gượng nói; đồng chí quan sát xem địch có cho lính đến không, rồi anh tháo chiếc túi đựng sổ sách ghi chép diễn biến hàng ngày của đội đang quản lý cho tôi và nói: “Đồng chí mang túi cặp này về giao cho đơn vị, khả năng tôi và đồng chí Tao bị thương nặng không chắc có sống được…”. Nhận xong túi anh đưa tôi nói; hai đồng chí đợi tôi ra đón người vào khiêng anh ra. Anh Ngọc cầm tay tôi nói: “Em đi nhanh lên, đề phòng địch và pháo đấy”. Tôi chạy lại được hơn 100 mét thì gặp đội trưởng Tần cùng anh em du kích đang vào.
 Đồng chí Trần Văn Ngọc và Phan Văn Tao, được nhanh chóng khiêng đến trạm quân y tiền phương. Tại đây hai anh được Quân y trạm tận tình cứu chữa, nhưng vết thương quá nặng đã làm hai đồng chí hy sinh, vào quá nửa đêm ngày 15 tháng 3 năm 1973, trạm quân y tiền phương của tỉnh đội Quảng Ngãi đóng ở xã Đức Minh, huyện Mộ Đức.
Tôi cùng đội trưởng Trần Văn Tần, đứng lặng người vĩnh biệt đồng chí Trần Văn Ngọc, anh được sinh ra trên vùng đất kiên cường thuộc xã Điện Phước, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, đồng chí luôn được các chiến sỹ quí trọng bởi vượt lên muôn vàn khó khăn gian khổ hoàn thành nhiệm vụ được giao. Và chúng tôi nhớ đến câu chuyện mà đồng chí Phan Văn Tao, mới kể cho anh em nghe trong bữa cơm chiều nay:
Ngày Tao còn làm anh nuôi ở đại đội 14 súng 12,7 ly, trực thuộc Trung đoàn. Sau chiến dịch về đơn vị đóng quân gần cơ quan tham mưu. Một hôm mình lên ban chỉ huy thăm Trần Văn Tần, người đồng hương tỉnh Quảng Nam, thấy máy điện thoại kêu liên tục mà không ai nghe. Mình chạy vào nhà nhấc máy, đầu dây gọi hỏi đồng chí nào cầm máy đấy, mình nhanh nhảu trả lời; Tao nghe đây, đầu dây kia hỏi tiếp ai nghe đấy? Tôi vẫn trả lời Tao đây mà, đầu dây gọi nói to đồng chí nào mà lại trả lời như vậy. Mình không hiểu nên vẫn trả lời chiến sỹ Tao đây mà. Đầu dây gọi dập máy. Khoảng 15 phút sau thủ trưởng Phạm Xưởng có mặt tại ban chỉ huy hỏi đại đội trưởng, vừa rồi đồng chí nào thường trực máy điện thoại, anh Tần chưa hiểu đầu đuôi câu truyện báo cáo thủ trưởng: Tôi vừa xuống các trung đội kiểm tra chỗ ăn ở của anh em bộ đội, có Phan Văn Tao chiến sỹ nuôi quân nghe điện thoại hộ, đồng chí vừa gọi tôi về đây thì thủ trưởng tới...
Lúc này thủ trưởng Trung đoàn hiểu ra tên người trả lời trên máy điện thoại với ông là như vậy. Lãnh đạo ngồi tâm sự với chiến sỹ nuôi quân Phan Văn Tao, một gia đình có nhiều người tham gia cách mạng, mà hôm ấy cũng chỉ còn một bà mẹ già vẫn ngày đêm tần tảo vì miếng cơm manh áo và hương khói cho người chồng cùng mấy đứa con hy sinh cho cuộc kháng chiến của dân tộc. Và giờ này đêm nay mẹ lại phải nuốt nước mắt vào trong, vĩnh biệt người con yêu quí cuối cùng của bà cho Tổ quốc, trên dải cát trắng ven biển tỉnh Quảng Ngãi.
Ngày hôm sau binh lính địch tràn vào các xã Đức Chánh, Đức Minh, Đức Lân, Đức Tân… tìm Cộng sản tiêu diệt, tôi cùng Trần Văn Tần mặc quần áo bà ba  đi ra cánh đồng ven biển huyện Mộ Đức, Bình Sơn, hàng tuần sau mới trở lại được Ban hậu cần Trung đoàn.


Tiêu đề: Re: Hồi Ký Đường Ra Trận - CCB Sư đoàn 2 : Ông Nguyễn Đăng San.
Gửi bởi: quangcan trong 13 Tháng Giêng, 2011, 02:37:32 pm

Cánh tiếp nhận mua hàng của đơn vị ở Quảng Ngãi bị địch phát hiện ngăn chặn, việc ra vào vùng ven gặp nhiều khó khăn. Trung đoàn quyết định cho đội di chuyển sang huyện Hoài Nhơn và Tam Quan tỉnh Bình Định, để tiếp nhận và mua hàng, đảm bảo cho công tác chiến đấu của Trung và Sư đoàn.
Sau khi đội chuyển sang tỉnh Bình Định, thì việc đi lại tiếp nhận có nhiều thuận lợi, hàng hoá được bà con vùng giải phóng và vợ con bính lính địch đi mua từ các thành phố thị xã vận chuyển về. Tiếp nhận mua hàng xong thuê xe Honda chạy mấy chục km về xã Hoài Sơn, huyện Hoài Nhơn, cho vận tải cõng hàng lên kho trong hang đá ở khu vực An Đỗ cất dấu. Ngày nào cũng phải một hai giờ sáng mới về đến thôn ấp, dân làng nơi trú quân ngồi đợi xem đơn vị có mua được hàng về đủ an toàn không? Vì rất nhiều các chiến sỹ vận tải của Trung đoàn phải vượt núi trèo đèo, mong có lương thực thực phẩm mang về phục vụ cho các chiến sỹ đang ngày đêm chiến đấu ở Quảng Ngãi.
Chúng tôi được bà con thăm hỏi xong, đem xôi, sắn luộc, cơm nếp, bổ những trái dừa ngon mời chiến sỹ ăn uống. Biết bao khó khăn gian khổ những tháng ngày phải luồn sâu trong lòng địch, để móc nối tiếp nhận hàng về cho đơn vị, hình ảnh thân thương của người dân xứ dừa Bình Định, vẫn đậm mãi trong mỗi cán bộ chiến sỹ chúng tôi ngày ấy.


DÒNG THU BỒN VÀ TÌNH NGƯỜI ĐẤT QUẢNG

Tháng 8 năm 1973. Trung đoàn hành quân về chiến đấu trên vùng đất Quảng Nam, Quảng Đà. Những chiến sỹ làm công tác hậu cần xuống ngay các huyện, Hiệp Đức, Duy Xuyên, tiếp nhận mua lương thực thực phẩm, ngày nào cũng có các tổ vào các ấp chiến lược, để tiếp cận vận động vợ con binh lính địch cho người vào khu quân sự địch mua hàng về bán cho bộ đội giải phóng. Nên việc tiếp cận với mọi người rất thận trọng. Đường đi lối lại theo chỉ dẫn của du kích địa phương, dò phá mìn của tổ trinh sát, có ký tín hiệu cụ thể chính xác cho từng ngày đêm vào vùng thôn ấp có địch kiểm soát.
Những ngày qua lại cánh đồng trên núi có đồn bốt địch chiếm đóng, phải vác cày cuốc đi làm đồng cùng nhân dân, được sự giúp đỡ của bà con thôn ấp đi mua hàng về hộ. Đồng chí Vui và tôi được giao nhiệm vụ qua đèo le đến thôn Đồng Nùng xã Sơn Trung, tại đây được sự giúp đỡ tận tình của Trần Thị Bốn một cô gái xinh đẹp, đã vận động bà con trong vùng địch bán trang sức đi mua lương thực thực phẩm từ vùng địch về bán lại cho bộ đội.

Một hôm ba đồng chí du kích khiêng quả mìn tự tạo về kiểm tra, vì địch đạp vào mà không tác dụng. Nhưng khi vừa gõ vào thì quả mìn phát nổ bay vào nhà, làm cho các cháu trong một gia đình tử vong, chúng tôi chạy đến cả ba cháu đã đứt thành mấy mảnh, ông bố nhặt để trong chiếc nia tre đan. Hình ảnh này vô cùng đau thương cho gia đình và nhân dân nơi đây. Đường vào thôn ấp dày đặc các loại vũ khí cài đặt, trâu bò vào bụi tre cây cối ăn cũng chạm phải mìn nổ.
Khi bị địch trên núi Hòn Tàu phát hiện bắn phá, đơn vị được lệnh chuyển hoạt động khu vực tiếp giáp cầu Bà Rén. Được cô dì chú bác nơi đây vào thị xã Hội An liên hệ mua hàng giúp đỡ, mỗi khi xuống giao nhận đều có kế hoạch cùng thời gian hoạt động. Đơn vị hoàn thành nhiệm vụ được giao là có sự giúp đỡ tích cực của nhân dân thôn xóm nơi giáp gianh giữa ta và địch, đặc biệt là gia đình thím Ba ở xã Phước Thạch.
Gần tết nguyên đán 1974, các đồng chí nuôi quân tiểu đoàn 3 cùng Trung đoàn, đi xuống vùng ven mua hàng nhưng không nắm được qui luật hoạt động của địch, đã bị chúng phục kích ném lựu đạn, làm ba đồng chí hy sinh, trong đó có Đồng Văn Hiệp, người xã Cẩm La cùng nhập ngũ đi chiến trường với nhau một ngày. Khi các anh hy sinh nhân dân trong ấp tưởng tôi bị tử nạn, hơn chục ngày sau đơn vị cho trinh sát xuống nối lại đường dây hoạt động, bà con gửi hương hoa đưa về thắp hương.
Lúc này càng khó khăn trong việc mua mắm, muối, về cấp phát cho các đơn vị, Ban hậu cần cử một tổ xuống các xã vùng ven huyện Đại Lộc- Duy Xuyên, sau gần một tháng ra vào nắm tình hình, nhưng khó khăn trong việc mua vận chuyển hàng đưa ra ngoài khu vực địch kiểm soát. Do vậy đơn vị tôi trở về Đèo le, Đá trắng, Đồng Nùng, trà trộn với nhân dân vào vùng địch mua hàng, nhận được việc giúp đỡ của nhân dân thị trấn Đông Phú, nhiều đêm phải bí mật mang vác hàng qua đồn bốt địch kiểm soát.
Trung đoàn cử 3 đồng chí trong ban tham mưu xuống làm việc, đi vấp phải mìn đã làm cho anh Phi bị thương gẫy chân. Nằm trong vùng địch kiểm soát, làm chúng tôi chạy chữa cho đồng chí gặp không ít khó khăn, mất gần chục ngày sau mới nhờ được người khiêng anh qua đồn bốt giặc kiểm soát.
Tôi cùng đồng chí Trường- Vui, mua hàng xong chưa có người xuống vận chuyển, bị địch phát hiện cho pháo bắn phá và cho quân vào càn quét, cướp mất hết số hàng trị giá trên 12.000 đồng (tiền Sài Gòn cũ), cất dấu trong khu nhà bỏ hoang và vườn cây rậm rạp. Sau khi bị địch càn quét, lãnh đạo địa phương cùng đơn vị  nghiêm khắc kiểm điểm, đảm bảo cho việc hoạt động trong những ngày tiếp theo.
  Khi Trung đoàn đánh vào Nông Sơn- Trung Phước và khu công nghiệp Đức Dục, đơn vị đem hàng qua dẫy núi Bàn Thùng qua xã Sơn Phúc, bị địch phát hiện bắn pháo hơi cay và chất độc, vừa thoát khỏi vùng ngạt thở thì bị pháo từ căn cứ Thượng Đức bắn tới. Công việc vận tải bằng đường bộ gặp nhiều khó khăn, nên đã cho vận chuyển bằng thuyền từ huyện Hiệp Đức xuôi theo dòng sông Thu Bồn, cấp đủ lương thực thực phẩm cho các đơn vị chiến đấu. Mưa nước sông Thu dâng cao, thuyền bị trôi đột ngột nghiêng đổ hết người và hàng xuống nước, trong địa danh của đoạn  dốc dựng đá dừng. Khu trước đây quân đội địch thường cho máy bay luyện tập bắn phá trước khi bay ra đánh phá cầu cống miền Bắc. Những chuyến hàng đến vị trí chiến đấu của đơn vị tôi tại khu vực Nông Sơn- Trung Phước, cũng đầy những khó khăn gian khổ của các chiến sỹ làm công tác hậu cần.
Nhiều ngày phải luồn sâu trong vùng địch kiểm soát, bị chúng rình phục bắn phá. Được nhân dân cho xuống hầm che dấu tránh bom đạn, pha cho cốc nước bột khoai sắn sấy phơi khô, hát cho nghe những khúc tráng ca về tình người đất Quảng. Bao tấm gương cùng hình ảnh của bà con nhân dân nơi đây, vẫn mãi là động lực để mỗi người chúng tôi có thêm sức mạnh trên bước đường công tác.
Khu đơn vị đóng quân có thanh niên xung phong tỉnh Quảng Nam, Quảng Đà, các đồng chí trong đội biệt động hoạt động ở thành phố Đà Nẵng- Hội An- Tam Kỳ. Chúng tôi được các anh chị kể cho nghe về tình hình địch trong thành phố thị xã. Qua các anh các chị kể chúng tôi hiểu thêm về những khó khăn, cùng thử thách của các đồng chí trong sào huyệt địch.


Tiêu đề: Re: Hồi Ký Đường Ra Trận - CCB Sư đoàn 2 : Ông Nguyễn Đăng San.
Gửi bởi: quangcan trong 13 Tháng Giêng, 2011, 02:39:56 pm
Ngày còn đi học tôi được đọc và xem tuyển tập: Những lá thư từ tuyến đầu Tổ quốc. Là quyển truyện tập hợp các lá thư của nhân dân miền Nam gửi ra cho người thân của mình ngoài miền Bắc. Thư và Bưu thiếp của đồng bào phương Nam đều khắc hoạ về việc khó khăn và ác liệt cùng tội ác của chế độ Ngô Đình Diệm.
Đồng bào rừng núi bị đói cơm nhạt muối, nhân dân các tỉnh miền Trung- Cao Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long bị giặc đàn áp bằng luật 10/59, máy chém, nhà tù đi đến đâu là nơi ấy người dân bị đầu rơi máu chảy, chúng thực hiện chính sách bằng việc bắn nhầm còn hơn bỏ xót, chôn sống người nghi là đi theo cách mạng đến vai, đem trâu bò cày bừa trên thân xác đến chết.
Hôm nay đứng bên đập nước Vĩnh Trinh thuộc huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, đã làm tôi nhớ đến tội ác của quân thù được tố cáo trong truyện viết cách đây không xa: Mấy chục đồng chí và người dân bị giặc cắt tai mổ bụng cho vào bao tải vất xuống đập nước trong xanh này. Bên đập nước mà lòng tôi se lại, bởi dấu ấn cùng tội ác của kẻ thù còn đọng mãi nơi đây.
Người thanh niên ném quả đạn xuống đập nước vớt cá, lựu đạn nổ mà nước hơi gợn sóng, một lúc cá mới nổi lên được vì đáy hồ quá sâu, anh thanh niên nói: "Đồng chí San ơi có rất nhiều cá, anh biết bơi xuống vớt về cho đơn vị nấu canh ăn nhé."
Tôi nhảy xuống dòng nước rồi vội bơi lên ngay, vì khi người vừa chạm vào lòng hồ, thì tôi nghĩ dưới đập nước có các chiến sỹ và người dân vô tội đã bị giặc tra tấn giết hại đem vất xuống hồ nước này.
Thấy tôi lên người thanh niên nói: Sao nhiều cá thế mà anh không bắt lại lên ngay? Tôi bình tĩnh hỏi lại; đây có phải đập nước Vĩnh Trinh thuộc huyện Duy Xuyên không. Người thanh niên trả lời: Vâng, đập nước Vĩnh Trinh đấy anh ạ ... Tôi lặng người chân như có ai níu kéo, trên đường về tôi nói cho anh biết, trước đây những chiến sỹ cách mạng cùng người dân vô tội nơi đây đã bị bọn Quốc dân đảng và chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm, đem tra tấn giết hại vô cùng dã man rồi đem quăng xác vất xuống đập nước này. Người thanh niên nghe câu chuyện xảy ra trong hồ nước rất xúc động nói: Tội ác kẻ thù được khắc cốt máu xương.
Trở lại Ban hậu cần Trung đoàn, tôi được giao công tác trợ lý cho các đồng chí lãnh đạo ban. Cùng các bộ phận trong hậu cần lập kế hoạch, tiếp nhận vũ khí súng đạn, lương thực thực phẩm chuẩn bị cho những trận chiến đấu của đơn vị.

Cơ quan Trung đoàn đóng quân tại xã Sơn An, huyện Hiệp Đức. Quanh khu đơn vị, là đội sản xuất của các đồng chí bị địch bắt giam mới được trả về từ bờ sông Thạch Hãn, tỉnh Quảng Trị, theo ký kết của Hiệp định Pa-ri năm 1973. Chúng tôi đến thăm động viên và được nghe các anh chị nói về sự tàn bạo của kẻ thù ở các nhà tù trong đất liền, cũng như ngoài Côn Đảo và Phú Quốc. Các đồng chí vừa kể vừa khóc, về nỗi đắng cay tủi nhục bởi những trận đòn roi nơi địa ngục trần gian của giặc. Ngày trở về với nhân dân đồng đội cũng không ít những khó khăn cùng câu hỏi đặt ra… chị cứng rắn hơn thì nói: Chúng tôi còn may mắn so với nhiều đồng chí, có người bị địch đem đi tháo khớp cưa chân tay, cắt gân, bẻ răng và bắt nuốt vào bụng. Có người bị chúng tra tấn đóng đinh vào các khớp và bắn giết hàng chục người cùng một lúc, các đồng chí ấy không còn nhìn thấy tương lai của đất nước như chúng tôi ngày hôm nay… Các chị được trao trả đã trên ba mươi tuổi, đan áo len hộ anh em bộ đội lộ rõ vẻ suy nghĩ: Chị em tôi bị địch bắt trả về nhưng rất khó xây dựng gia đình và sinh con đẻ cái, vì trong lao tù bị địch tra tấn hành hạ giã man quá.  Nhìn đội quân chiến thắng với bộ quần áo bà ba đen, trồng cấy trên đồng ruộng cùng nương sắn đồi ngô. Chúng tôi không khỏi nghĩ suy về những năm tháng, đầy sóng gió trong cuộc đời các anh các chị.
Cuối năm 1974 theo chỉ thị của Bộ tư lệnh, các phân đội trong Trung đoàn được cấp phát đầy đủ vũ khí súng đạn, lương thực, thực phẩm, đảm bảo cho những trận đánh dài ngày của chiến trường. Ban hậu cần tổ chức cho bộ đội làm kho chứa với khối lượng lớn để phục vụ cho chiến đấu. Hàng tháng trời Ban hậu cần chỉ đạo đơn vị thu mua, vận tải, làm kho trong khe núi phía đông xã Sơn An, Sơn Tú... Do diễn biến của chiến trường có phần thuận lợi, nên việc làm kho dự trữ tạm dừng. Đầu năm 1975 các đơn vị cho học cách đánh địch trong thành phố thị xã. Các tiểu đoàn đại đội, được bổ sung quân số và vũ khí súng đạn, đảm bảo cho việc chiến đấu dài ngày.

Đường vận tải chiến lược của đoàn 559 được mở đến thị trấn Hiệp Đức. Bộ đội, Thanh niên xung phong, Dân công hoả tuyến, đi lại tấp nập đông vui. Máy bay pháo kích địch giảm dần, bà con tham gia tăng gia sản xuất tiếp lương tải đạn cho chiến dịch. Tiếp xúc với nhân dân, được bà con nói về tình hình binh lính địch đóng ở Hội An, cầu Bà Rén, thị xã Tam Kỳ, thành phố Đà Nẵng, và tư tưởng địch bị giảm sút nhiều khi Mỹ giảm bớt cố vấn và vũ khí súng đạn. Địch hoảng loạn nghe những binh đoàn Cộng sản rất thiện chiến, sắp tập trung đánh lớn vào sào huyệt chúng tại miền Trung. Địch còn nói nếu đụng vào quân của Trung đoàn 1(đoàn Ba Gia) Sư đoàn 2, do ông Nguyễn Chơn Sư chỉ huy đánh đâu thắng đấy, thì bỏ chạy cho an toàn tính mạng.

Thời cơ đánh địch và tin chiến thắng từ Buôn Ma Thuột trên Tây Nguyên truyền về, làm tiếp thêm sức mạnh cho cán bộ chiến sỹ tiến lên giải phóng các khu căn cứ địch phòng thủ ngoan cố. Trung đoàn hạ quyết tâm theo chỉ đạo của Bộ tư lệnh: Một ngày bằng hai mươi năm. Với khí thế tin tưởng vào ngày toàn thắng, đơn vị tiến vào giải phóng huyện lỵ Thăng Bình, Duy Xuyên, thị trấn Nam Phước và thị xã Tam Kỳ… Tin chiến thắng làm nức lòng cán bộ chiến sỹ bao ngày mong đợi, đồng chí nào cũng muốn làm thêm một việc gì cụ thể, góp phần vào việc giải phóng thống nhất Tổ quốc. Nhiều đồng chí từ cơ quan Tham mưu, Chính trị, Hậu cần của Trung đoàn, muốn được xuống đơn vị trực tiếp chiến đấu. Quân giặc từ các đồn bốt hoảng loạn di tản. Thời cơ đánh địch đã đến, các phân đội đồng loạt tiến lên đánh vào sào huyệt của trung tướng địch: Ngô Quang Trưởng, đang hô hào tự thủ. Các cánh quân phát triển đánh nhanh vào khu phi quân sự, quanh thành phố. Địch dùng máy bay pháo kích đánh phá giữ dội, cho trực thăng di chuyển cố vấn và bộ máy chỉ huy tại các khu đồn trú. Bầu trời thành phố Đà Nẵng, hàng chục chiếc trực thăng bay đến vận chuyển gia đình tướng tá, vợ con binh lính tháo chạy.
Thời cơ tiến vào giải phóng thành phố Đà Nẵng đã đến, quân ta từ các hướng đồng loạt nổ súng, đánh vào trung tâm bộ máy chỉ huy địch trên sân bay, quân cảng và dinh luỹ sào huyệt của chúng tại miền Trung. Cờ mặt trận giải phóng và cờ đỏ sao vàng tung bay trên dinh luỹ đồn bốt địch trưa ngày 29 tháng 3 năm 1975. Bộ đội nhân dân ôm hôn nhau trong niềm vui chiến thắng đầy xúc động. Dòng người cùng cờ hoa chiến thắng mà đồng chí nào cũng rơi nước mắt. Cha con gặp nhau, vợ gặp chồng và đồng đội gặp nhau, sau bao năm xa cách vì khói lửa chiến tranh bởi người còn người mất.
Chúng tôi đứng sát nhau ngân vang ca khúc: Giải Phóng Miền Nam và bài Tiến Quân Ca, đồng đội nhìn nhau mà bùi ngùi xúc động. Cờ tung bay trên dải đất miền Nam đã thấm đẫm máu xương của hàng triệu người con ưu tú của dân tộc, ngã xuống trên chiến trường đầy khó khăn cùng thử thách của khói lửa chiến tranh.


Tiêu đề: Re: Hồi Ký Đường Ra Trận - CCB Sư đoàn 2 : Ông Nguyễn Đăng San.
Gửi bởi: quangcan trong 13 Tháng Giêng, 2011, 02:40:30 pm
Chương III
NGÀY VỀ MIỀN BẮC

Ngay sau khi giải phóng miền Nam, chúng tôi những thương bệnh binh được sớm cho ra an dưỡng điều trị. Trên đường ra phía Bắc hôm nay có xe ô tô vận chuyển. Mà đồng chí nào cũng bâng khuâng, vì sau bao năm dưới mưa bom bão đạn mới được về khi đất nước bình yên. Đoàn xe vận chuyển cho thương binh nghỉ ở trạm giao liên huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế, chạy qua Khe Sanh, Dốc Miếu,  tỉnh Quảng Trị, đến vùng cát trắng tỉnh Quảng Bình, về trạm giao liên huyện Thường Tín. Tôi ngẫm lại, mấy năm về trước từ nơi đây ra đi một lớp trai tráng hùng mạnh, hôm nay đất nước yên tiếng súng một số đồng chí đã hy sinh ở các mặt trận phía Nam, số may mắn trở về nhưng cũng bị thương một vài lần cùng ốm yếu bệnh tật, đấy cũng là tất yếu của cuộc chiến tranh khi xẩy ra.
Xe vận chuyển về đoàn an dưỡng 155 thuộc thị trấn Kẻ Sặt, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Chúng tôi được về điều trị an dưỡng bảo nhau: Chúng mình còn may mắn từ chiến trường ra, nhưng người nào cũng ốm yếu bệnh tật, nên để trạm chăm sóc cho người khá lên mới về.
Gần một tháng sau, tôi từ trại an dưỡng sau mấy năm cầm súng xa nhà đi chiến đấu về quê. Đoàn tàu khách vận chuyển đến ga Phú Thái. Rời ga, trên quãng đường hơn 10 km về nơi chôn rau cắt rốn, mà tôi bồi hồi nhớ đến từng đồng chí của mảnh đất này ra đi ngày ấy.
Về nhà mọi người trong gia đình mừng mừng tủi tủi. Bố tôi nói: Gia đình nhận được tin con bị thương mấy lần nhưng do yêu cầu, hôm nay đất nước hoà bình con được sống trở về như thế này là may lắm rồi. Thanh niên xã ta đi chiến trường hy sinh mất khá nhiều. Gia đình anh chị Sương chiều nay nhận được tin cháu Tuyết hy sinh lúc 10 giờ ngày 26 tháng 4, trên đường tiến quân vào giải phóng Sài Gòn. Nhà anh chị Lộ có hai đứa con trai đi bộ đội, cả hai cháu vào chiến trường đều hy sinh hết… Chiều nay nhận được tin con về bố mẹ cho chị Miến vợ anh Bùi đạp xe lên ga Thái đón, nhưng có lẽ hai chị em không nhận được nhau vì khi chị về làm dâu, thì con đi bộ đội và vào chiến trường rồi.
Bà con hàng xóm, cùng các gia đình có con em ngoài mặt trận biết tôi từ chiến trường trở về, chạy đến hỏi thăm cùng tin tức người thân nơi tuyến lửa. Tình cảm của người hậu phương với chiến sỹ từ nơi bom rơi đạn nổ trở về, tôi không sao nói hết lòng tự hào của người lính khi đất nước hết chiến tranh.
Sau khi từ trại an dưỡng về tôi đến các xã; Ngũ Phúc, Bình Dân, Đại Đức, Tam Kỳ… những gia đình có con em đi chiến trường với nhau một ngày, kể lại cho bố mẹ cùng người thân trong gia đình họ biết, từng đồng chí ra đi cùng tôi ngày ấy, đã ngã xuống trên chiến trường miền Nam.
Khi mở xem lại thư ảnh gửi về gia đình trước khi đi chiến trường, thì bao nghẹn ngào xúc động, vì chiếc áo mượn của đồng đội chụp ảnh ở thị trấn Phả Lại mặc trên người tôi còn đây, mà Nguyễn Văn Doanh đã hy sinh ngay từ một đêm mưa rơi của ngày đầu ra trận bên dòng sông Gianh thơ mộng của tỉnh Quảng Bình.
Sau thời gian điều trị tôi được quân y giám định xếp loại thương tật 3/4. Đơn vị làm thủ tục cho đi Liên Xô đào tạo, nhưng lại xin chuyển ra đất mỏ Quảng Ninh. Tháng 8 năm 1975, tôi được lãnh đạo xí nghiệp Tuyển Than Hòn Gai tiếp nhận vào làm việc, nhanh chóng cầm giấy lên phòng lao động tiền lương Công ty than Hòn Gai làm thủ tục. Người lính từ chiến trường về được cơ quan tiếp nhận ngay tôi phấn khởi qua trạm kiểm soát hai mươi mét thì đồng chí bảo vệ gọi dừng lại. Khi quay lại tôi thầm nghĩ; làm gì mà phải kiểm tra kỹ thế nhỉ, thì anh trong trạm gác chạy ra ôm chặt lấy tôi và nói: Có phải đồng chí San đấy không? Đúng rồi đồng chí San bị thương cùng nằm viện với nhau trên núi rừng Tây Nguyên đây. Anh là Vũ Minh Hoạ chiến sỹ đại đội 17 cối 82 thuộc Trung đoàn 141 đây. Sau lần điều trị ở viện 211 vết thương trong phổi anh đỡ dần và trở lại đơn vị đang chiến đấu ở Đức Phổ, Quảng Ngãi. Nhưng sau vết thương tái phát phải đi viện liên tục, nên được cho ra bắc điều trị, rồi trở lại cơ quan trước khi đi bộ đội. Anh không còn đủ sức khoẻ với sản xuất nên được bố trí làm công tác bảo vệ tại cơ quan văn phòng này. San còn nhớ Thuỷ cùng nằm viện với bọn mình không? Hiện giờ Thuỷ đang làm việc ở phân xưởng cơ khí cùng xí nghiệp Bến Hòn Gai đấy…
Ngày mới chuyển ngành về thời tiết và công việc thay đổi, sức khoẻ tôi có phần giảm sút, những cơn sốt rét và ám ảnh của chiến trường luôn đến trong giấc ngủ. Tiếng gầm rít của bom B52 ném xuống, từng đợt pháo bầy ngoài biển Đông vẫn bắn vào ầm ầm. Và đồng đội trong trận mạc hiện lên, giọng nói tính cách anh em hiện về nhắn nhủ: Đồng chí cũng biết bao khó khăn ác liệt tại chiến trường, nhưng vẫn còn may mắn được sống trở về, chúng tôi hy sinh trên mặt trận khốc liệt, mong người còn lại trong cuộc chiến, chuyển thông tin đến các gia đình để mọi người cùng thế hệ mai sau biết cái giá phải trả khi đất nước có chiến tranh...
 Năm 1976 cuộc sống gia đình tôi đến như bao gia đình khác, kết hôn xong vợ chồng mong sớm có tiếng con trẻ trong nhà. Nhưng chất độc hoá học do quân đội Mỹ rải xuống chiến trường mà tôi nhiễm phải thật vô cùng khủng khiếp. Chất tác hại trở thành nỗi lo của mọi người trong gia đình, mừng khi vợ mang thai nhưng chỉ được mấy tháng là bị hỏng. Mấy lần như vậy làm cho cơ thể vợ từ 52 kg xuống còn có 37 kg. Nhiều hôm nửa đêm gà gáy phải chạy sang gọi gia đình anh chị Phạm Quang Tàm, người hàng xóm hiền lành tốt bụng đến khiêng chạy đến bệnh viện tỉnh cấp cứu. Vợ ốm không có tiền mua thêm ô tem phiếu để mua thịt cá trong cửa hàng nhà nước, nồi cơm độn hạt kiều mạch đen xì và thức ăn mang đến cho người nằm viện là mấy con cá nhỏ phơi khô.
Tháng 7 năm 1977 cơn bão số 3 tràn vào vùng mỏ, gió giật cấp 12- 13, làm cho ngôi nhà tranh của gia đình mới mua 520 đồng đổ tường, bay hết mái. Khó khăn  thời bao cấp những năm 1977- 1979 tưởng chừng khó mà khắc phục được. Buộc phải gượng và nhanh chóng vượt lên, hết thời gian làm cơ quan về phải đi cậy bẩy đá xanh mang về nung vôi đóng gạch. Sau mấy tháng liền ngôi nhà bị bão đổ lúc này được xây và lợp bằng ngói đỏ hoàn thành. Trong niềm vui của nội ngoại và bà con tiểu khu Ba Đèo, Hòn Gai.
Mấy năm liền vợ chồng chăn màn quần áo đến viện Phụ sản Hà Nội, bệnh viện 103 và rừng núi Yên Thế tỉnh Bắc Giang. Cùng Tiên Sơn của Bắc Ninh và Bình Lục thuộc tỉnh Hà Nam. Nghe ai mách bảo có người cắt thuốc cho việc sinh nở, lại phải chắt bóp cùng vay mượn đi đến lấy thuốc.
Năm 1978 - 1982 tôi đi học và trở về làm việc, một năm sau xí nghiệp đề bạt phó phòng, được giám đốc Công ty than Hồng Gai điều về Xí nghiệp phục vụ Đời sống, Xí nghiệp Vận tải làm trưởng phòng. Sức khoẻ hai vợ chồng khá dần, tôi không sao tả hết về niềm vui của gia đình, đó là ngày 03 tháng 7 năm 1983 cô con gái yêu quí cất tiếng khóc chào đời, trong sự vui mừng của dòng họ và bà con láng giềng khu phố.
Năm 1993 tôi lại được trên điều về mỏ than Núi Béo làm việc, công việc được giao làm hoàn thành tốt. Năm 1996 – 1998, công nhân ngành Than gặp không ít khó khăn, hàng hoá sản xuất ra tiêu thụ giảm đơn vị phải tự lo việc làm cho công nhân. Là quản đốc phân xưởng buộc tôi phải tiêu thụ sản phẩm để đảm bảo lương cho công nhân. Thế là từng đoàn sà lan than được vận chuyển đưa vào các tỉnh Nam Định- Ninh Bình- Hà Nam giao bán cho nhà máy. Khi tiếp xúc với cán bộ công nhân các nhà máy phía Nam đồng bằng Bắc bộ, thấy họ gặp khó khăn hơn nhiều, lương có mấy trăm ngàn đồng một tháng mà nhà máy công trường nợ tới hàng năm, khi có thì trả lương bằng nguyên liệu đốt nghiền từ đá vôi ra.
Năm 1998 - 1999 gia đình đi vào sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường còn nhiều lúng túng, nguy cơ đổ vỡ rất nhanh nếu không được thay đổi phương thức. Từ đó mà trạm nghiền xi măng của gia đình tôi tại thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hoá được hình thành, với sự giúp đỡ của anh em bạn bè và Công ty Lắp máy & xây dựng số 5. Trạm sản xuất kinh doanh lấy pháp lý của: Xí nghiệp tập thể thương binh Quang Minh Hải Phòng. Nhờ vào trạm sản xuất mà thương hiệu của xí nghiệp Quang Minh và mác xi măng “Lam Sơn” của gia đình được cất cánh trong các nhà máy sản xuất tấm lợp trên đất: Nghệ An, Thanh Hoá, Hà Nam, Bắc Ninh, cùng trục đường nông thôn. Nhờ vậy mà gia đình đã giải thoát và thu hồi được số nợ khó đòi của mấy nhà máy, trong số tiền vay mượn kinh doanh với lãi suất 3% tháng. Hàng hoá sản xuất ra đến đâu được tiêu thụ ngay đến đó, tạo được công việc cho trạm nghiền xi măng và tấm lợp phát triển, đứng vững trong vùng đất khắc nghiệt của nắng gió Bắc miền Trung.
Tháng tám năm 2002 tôi vừa tròn 50 tuổi, được mỏ than Núi Béo thuộc tập đoàn Than cho nghỉ chế độ. Được nghỉ tôi nhanh chóng thành lập Công Ty Cổ Phần Hoà Bình. Doanh nghiệp được uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh cấp 19,2 ha, núi đá và khu chế biến nghiền sàng. Với chức năng khai thác chế biến sản xuất vật liệu xây dựng. Lúc đầu mới tiến hành giải phóng mặt bằng, gặp không ít khó khăn là vốn và thủ tục pháp lý. Nhưng biết vận dụng sáng tạo của mỗi thành viên trong Công ty, nhận được sự giúp đỡ của nhân dân địa phương cùng khách hàng, nên đã dần tháo gỡ được vướng mắc và sản xuất kinh doanh của Công ty ngày một phát triển. Tạo cho trên một trăm con em cựu chiến binh, nhân dân địa phương có việc làm và thu nhập ổn định.
Công ty đóng góp đầy đủ các nghĩa vụ nhà nước, làm tốt công tác dân vận, đi đầu trong phong trào đền ơn đáp nghĩa uống nước nhớ nguồn. Cuộc sống của cán bộ công nhân như được tiếp thêm sức mạnh. Góp phần vào công cuộc xoá đói giảm nghèo, xứng đáng với sự tin yêu của anh em đồng đội.


Tiêu đề: Re: Hồi Ký Đường Ra Trận - CCB Sư đoàn 2 : Ông Nguyễn Đăng San.
Gửi bởi: quangcan trong 13 Tháng Giêng, 2011, 02:41:15 pm
NỖI ĐAU THỜI HẬU CHIẾN

Lời hẹn ước khi chia tay trong buổi chiều thu năm 1972, bên dòng Sông Vệ tỉnh Quảng Ngãi như một định mệnh cuộc đời. Chúng tôi tìm được Đồng Văn Khải, người thương binh cùng nằm viện trên núi rừng Tây Nguyên theo lời hứa khi chia tay về đơn vị, Khải đang lang thang đi bán chè khô ở thị trấn Đông Anh, thành phố Hà Nội, người anh mang nhiều dấu tích của chiến tranh với đôi chân tập tễnh, cùng hai tai bị sức ép bom nghe không rõ. Trên vai chiếc ba lô mang chè ngon của đất Thái Nguyên, bộ quần áo bạc màu điểm mấy miếng vá. Anh em ôm hôn nhau nhớ về một thời gian khó, trên đường về gia đình anh đã khóc và kể cho đồng đội nghe về nỗi đau sau chiến tranh của vợ chồng trong gia đình Khải:
Sau khi kết hôn xong người vợ mang thai cả nhà Khải mừng lắm. Nhưng rồi cái thai chẳng được bao lâu nằm trong bụng mẹ. Thuốc men chạy chữa mãi thì vợ sinh được một trai, một gái. Nhưng cả hai lại mang hậu quả của chất độc da cam/dioxin, chất độc tàn ác đã cướp đi quyền làm người của cả hai đứa con vợ chồng mình sinh ra. Thằng con đầu mười mấy năm quằn quại trên giường bệnh như một con rắn, chữa mãi rồi cháu vẫn chết, đứa con gái thì loạn điên phá phách. Chính từ bệnh tật của hai đứa, đã làm cho gia đình rơi vào cảnh nghèo khó và túng quẫn. Vợ chồng tần tảo khắp nơi, ai thuê việc gì cũng làm, mới có tiền mua gạo mắm muối cùng thuốc uống an thần cho hai đứa. Lúc đầu hai con Khải mắc bệnh dị tật quái ác, do chưa hiểu biết đã có người nói độc mồm độc miệng, nào là hướng đất cát, mồ mả và ăn ở của gia đình. Năm cháu 18 tuổi bệnh quá nặng phải đưa đi bệnh viện, nhưng gia đình thì vô cùng khó khăn, chạy khắp xóm vay mượn được hơn triệu đồng bạc cho cháu đi viện. Rồi đứa con cũng vẫn ra đi trong nỗi buồn thảm thiết của gia đình. Còn món nợ vay của bà con hàng xóm cũng đã khá lâu mà vẫn không sao trả được, nhân dân nơi đây, còn khó khăn lắm.
Đứa con gái thứ hai đến nay mười bảy mười tám tuổi rồi, lẽ ra tuổi nó cũng sắp đi xây dựng gia đình và sinh con đẻ cái. Thế nhưng người vợ chịu thương chịu khó lại phải ở nhà chăm sóc phục dịch cho con, sợ nó lên cơn phá phách chạy ra ngoài va phải ô tô, xe máy, nhẩy xuống cầu cống sông ngòi, moi móc chuột bọ cho vào miệng… Gia đình họ hàng cũng cố chạy chữa, nhưng cũng khó mà qua được cái chất độc tàn ác ấy. Nhiều lúc nghĩ cơ cực quá vợ chồng Khải đã định liều mình xoá đi tất cả. Nhưng nghĩ đến những đồng chí đã một thời ra trận cũng vơi đi phần nào của nỗi buồn nghiệt ngã…
Chúng tôi còn cho nhau biết, anh em đồng đội đến thăm một số gia đình cựu chiến binh bị nhiễm chất độc da cam/đi-ô-xin, nhìn thấy mà đau xót thương tâm. Đó là anh Hạnh người thành phố Thái Bình, sinh bốn đứa thì đã chết mất ba. Vợ chồng Tôn người Nam Sách Hải Dương, sinh được hai cháu thì cả hai đều làm cho vợ chồng anh chị ấy sợ hãi trong những cơn hung dữ. Đồng chí Nguyễn Đại Số, phường Hà Lầm thành phố Hạ Long, ba đứa con lúc đầu học giỏi, từng tham gia giải cờ vua cấp tỉnh. Không ngờ cả ba cháu lớn lên đều phát bệnh và phá phách những gì có trong nhà anh chị ấy vất vả làm ra. Cựu chiến binh Nguyễn Văn Xoay hai đứa con gái sinh đôi, gào thét mỗi khi nắng gió trở trời, cấu xé nhau lúc ăn cơm và mặt trời mới mọc. Vào nhà hai chị em ruột Nguyễn Thị Thương, Nguyễn Văn Tâm, con của vợ chồng đồng chí Liên ở xã Lê Lợi, huyện Hoành Bồ, da hai cháu bị nứt vỡ như những con rắn lột và máu mủ rỉ ra ngày đêm. Dẫu đã biết hai cháu như vậy, nhưng mỗi lần vào thăm mà vẫn giật mình và người bị tăng huyết áp.
 Mỗi gia đình Cựu chiến binh, Thanh niên xung phong, Dân công hoả tuyến, tham gia chiến trường có nạn nhân bị nhiễm chất độc da cam/điôxin, là một biểu tượng được phơi bày bởi tội ác của chiến tranh do Mỹ gây ra. Chúng ta phải lên tiếng, các công ty sản xuất ra chất tác hại của Hoa Kỳ, phải có trách nhiệm về hậu quả đặc biệt nghiêm trọng này.
Tạm biệt Khải người thương binh nghèo, mang hậu quả tàn khốc của chiến tranh do Mỹ gây ra, chúng tôi quặn đau về một thời binh lửa, tôi và anh cùng biết bao đồng đội, từ chiến trường khói lửa trở về mà cuộc chiến vẫn quẩn quanh.



Tiêu đề: Re: Hồi Ký Đường Ra Trận - CCB Sư đoàn 2 : Ông Nguyễn Đăng San.
Gửi bởi: quangcan trong 13 Tháng Giêng, 2011, 02:42:19 pm

Chương IV
NGHĨA TÌNH ĐỒNG ĐỘI SAU CUỘC CHIẾN

Là người được may mắn sống sót trở về, mỗi khi nói về chiến trường khó khăn ác liệt. Trong trí nhớ vẫn hiện về những tháng năm của chiến tranh tàn khốc, hình ảnh đồng đội dưới thời mưa bom bão đạn và nỗi đau chiến tranh không bao giờ nguôi, không sao nói hết được sự chịu đựng gian khổ của các chiến sỹ ngoài mặt trận, những tấm gương hy sinh nơi chiến trường ác liệt. Lời đồng đội trăn trối trước lúc ngã xuống chiến hào, như một mệnh lệnh. Chúng tôi còn nguyện góp sức xây dựng đất nước ngày một thêm no ấm, làm ấm lòng các gia đình có người thân hy sinh trên chiến trường.
Thực hiện lời dặn trước lúc hy sinh của người chỉ huy giữ chốt Tô Ngọc Lâm. Từ những năm 1978- 1981, tôi dò hỏi về quê hương anh trên mảnh đất Thái Bình, nông trường chè huyện Đại Từ và Đồng Hỷ của tỉnh Thái Nguyên, nơi đồng chí có một thời gian làm việc trước khi đi chiến trường. Vào những ngày lễ tết, giải phóng Miền Nam 30 tháng 4, ngày thương binh Liệt Sỹ 27 tháng 7, Quốc khánh mùng 2 tháng 9. Ngày thành lập Quân đội nhân dân… Mỗi khi qua lại tỉnh Thái Bình, thì hình ảnh người liệt sỹ kiên cường dũng cảm của đơn vị lại hiện về, làm cho người cùng chiến hào nhớ đến tháng ngày anh và tôi quên mình trong lửa đạn.
Với mọi nguồn thông tin, đúng 36 năm ngày hy sinh của anh, cũng là ngày tôi tìm được về quê hương người liệt sỹ ở thôn Ô Mễ, xã Tân Phong, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Tôi cùng với Trần Mạnh Cường chiến sỹ đại đội 14 cùng Trung đoàn, về gia đình người đồng chí đã cùng tôi giữ cao điểm Pắk Kụt, ngày 09 tháng 6 năm 1971. Gia đình liệt sỹ cũng đã ngày đêm tìm kiếm thông tin anh nơi chiến trường ác liệt, nhưng vẫn bặt vô âm tín. Thì hôm nay những nghẹn ngào xúc động đã được nghe người đồng đội kể về tinh thần chiến đấu và hy sinh anh dũng của anh trên cao điểm, và lời trăn trối của đồng chí trước khi về cõi vĩnh hằng. Mà đến hôm nay tôi mới thực hiện được: “ Chiến tranh kết thúc em nào còn sống trở về, nhớ tìm đến quê hương anh ở đất Thái Bình, kể lại để gia đình biết về việc anh hy sinh trên chiến trường ác liệt trong giờ phút hôm nay…”.
Thời gian cùng qui luật của tạo hoá, bởi hơn ba chục năm sau tôi mới tìm được quê hương anh. Thay mặt Liệt sỹ tôi thắp nén hương trước hương hồn cha mẹ anh, nhắc lại lời trăn trối và chiến công của anh trước lúc ngã xuống chiến trường ác liệt ngày ấy. Người cháu đích tôn là Tô Văn Cẩn con ông anh cả trong dòng họ, nhận tôi làm người thân trong gia đình. Với tình làng nghĩa xóm trên quê hương, càng làm tôi nhớ đến chiến công và hành động Anh hùng của anh ngày ấy.
Tôi biết được quê hương liệt sỹ Tô Ngọc Lâm, là nhờ vào báo An ninh thế giới viết đưa tin về ông Lê Văn Cam, ở thôn Đồng Hạ xã Vũ Phúc, thành phố Thái Bình, người Cựu chiến binh đã bỏ toàn bộ thời gian công sức nhiều năm đi tìm địa chỉ cho các thân nhân gia đình có người hy sinh. Ông Cam tra cứu trên 51.000 liệt sỹ trong toàn tỉnh Thái Bình, tìm người có tên Lâm vì trước đó tôi không nhớ được họ anh. Người Cựu chiến binh bưu tá cho những linh hồn liệt sỹ đến các nghĩa trang, đài tưởng niệm mới tìm được quê hương của liệt sỹ Tô Ngọc Lâm trong thần tượng đồng đội.
Liệt sỹ Phạm Như Ao, cán bộ đại đội 5 cùng tiểu đoàn 2 (60), cùng tôi bị thương và tiếp tục chiến đấu cho đến khi hết đạn. Rồi hai người phải giả chết trong chuồng lợn khi địch vào lục soát phía Nam. Vì đất nước có giặc mà anh không thoát được bom đạn của kẻ thù tại chiến trường Quảng Ngãi. Về thăm gia đình liệt sỹ, tôi không sao nói hết được cảm xúc của mình, khi tìm thấy mộ Phạm Như Ao trên hàng trăm bia mộ các anh hùng liệt sỹ tại nghĩa trang huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.
Em liệt sỹ là: Phạm Văn Đảo, hiện ở thôn An Lao- xã An Thanh, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.
Hàng năm vào ngày 16 tháng 4, ban liên lạc bạn chiến đấu từ chiến trường trở về gặp nhau để nhớ về một thời cầm súng đi cứu nước. Ban tổ chức mời những gia đình có người đi chiến trường hy sinh tới dự, để vơi đi nỗi buồn cùng mất mát của chiến tranh. Gia đình liệt sỹ nghe tin trong thời gian học tập huấn luyện trên đất Chí Linh, Nguyễn Văn Vặn có mối tình sâu nặng với cô thôn nữ nơi đóng quân. Bố liệt sỹ tuổi cao sức kiệt trước khi về với tiên tổ, đã mời chúng tôi cùng một thời với con ông đến nói nguyện vọng.
 Nếu Vặn có con với người phụ nữ ấy, thì đó là giọt máu sót lại của chiến tranh đối với gia đình và dòng họ. Phải tìm đem cháu nó về với gia đình. Nhờ các đồng chí tìm hài cốt Vặn đưa về nơi chôn rau cắt rốn, đặt nấm mộ con ông ở nghĩa trang quê nhà…
Bố liệt sỹ rất tự hào của một thời hoạt động trong đội du kích đường 5. Và quê hương ông đã được Đảng Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Hài cốt của Vặn được gia đình cùng đồng đội ra đi ngày ấy thực hiện theo nguyện vọng. Còn mối tình người lính trẻ với cô thôn nữ nơi đóng quân, được tôi cùng đồng đội nhập ngũ ngày ấy về mảnh đất Chí Linh tìm lại. Cô thiếu nữ ngày xưa tóc đã điểm bạc, nghe chúng tôi kể lại việc hy sinh của anh trên chiến trường, cũng như nguyện vọng của người cha quá cố cùng dòng họ.
 Người thiếu phụ nghe câu chuyện xong, chị nghẹn ngào nói trong nước mắt: Ngay sau đó em đi lấy chồng được đứa con trai, cùng với hai cháu nữa… xin cho em giữ kín trong lòng về kỷ niệm cao đẹp này các anh ạ… Gia đình em bây giờ  cũng yên bề gia thất…Vì nước mình có chiến tranh giặc giã phải không các anh …
Tôi cùng đồng đội tìm liệt sỹ Khuyến, trên các nghĩa trang nhà bia tưởng niệm, tỉnh Nam Định. Tại huyện Hải Hậu anh là người xã Hải Giang, nhưng ngày tháng hy sinh của anh sai lệch tới hàng năm tại chiến trường, từ đó người mẹ và các em có phần nghi ngờ, vì trước đó có tin anh hy sinh ở đồng bằng sông Cửu Long, gia đình đã cho người vào Nam bộ tìm kiếm. Nên khi được tin chúng tôi là người cùng đơn vị và anh bị hy sinh trong thị xã Kon Tum, làm gia đình có phần nghi vấn. Tôi và Đỗ Văn Chi chiến sỹ cùng đại đội đến thăm, nhìn bà mẹ cùng mấy người em, thì họ đều giống người hy sinh như tạc. Trong câu chuyện tôi có nhắc đến khuyết tật của anh trong khoé mắt. Nghe xong bà mẹ, ông cậu ruột (em ruột bà mẹ) đứng lên xác nhận đặc điểm ấy có từ ngày Vũ Văn Khuyến mới sinh ra.
Hai mươi ngày sau, Vũ Đình Phiên em ruột liệt sỹ vào ban chính sách Sư đoàn 2, Quân khu 5 xem lại hồ sơ, thì anh ruột mình là Vũ Văn Khuyến hy sinh trong trận chiến đấu ngày 25 tháng 5 năm 1972 trong thị xã Kon Tum, đúng với người còn lại trong trung đội về cho biết. Trước đó gia đình liệt sỹ mất không ít thời gian cùng kinh phí tìm kiếm.
Gia đình liệt sỹ: Phan Văn Tao, ông bố và anh chị em ruột trong gia đình, đều hy sinh hết vì cuộc kháng chiến. Bà mẹ được nhà nước truy tặng danh hiệu bà Mẹ Việt Nam Anh hùng. Gia đình anh không còn người nào, nên gia đình Phan Văn Năm, con ông chú đang phải thờ phụng gia đình liệt sỹ, tại vùng cát trắng ven biển xã Bình Giang, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.
Chị em gia đình liệt sỹ: Vũ Văn Quỳnh, hiện ở phố Bạch Mai, thành phố Hà Nội, cô em gái có tên Vũ Thị Vân khi anh còn chung sống thường hay nói đùa “ Chiến tranh kết thúc, bạn còn sống trở về sẽ gả cô em gái cho…”, hiện đang làm việc tại Cộng Hoà Liên Bang Đức. Thỉnh thoảng Vân gọi điện về thăm hỏi người bạn chiến đấu còn lại và chứng kiến giờ phút cuối cùng lúc anh hy sinh.

Gia đình liệt sỹ: Lê Quang Nhuận, dành một phần đất ở phố Bạch Mai, thành phố Hà Nội bán đi, dùng vào việc chi phí tìm kiếm hài cốt liệt sỹ, quanh khu đồi Ngọc Tụ, huyện Đắk Tô, tỉnh Kon Tum. Nhưng có lẽ vật đổi sao dời mà gia đình và đồng đội chưa gặp được nhau.


Tiêu đề: Re: Hồi Ký Đường Ra Trận - CCB Sư đoàn 2 : Ông Nguyễn Đăng San.
Gửi bởi: quangcan trong 13 Tháng Giêng, 2011, 02:44:06 pm

Sau khi thực hiện việc làm tình nghĩa với đồng chí đồng đội, có gia đình chính sách cùng các Cựu chiến binh viết thư thăm hỏi, nhờ cấp thông tin người hy sinh trong mặt trận. Có lá thư của người anh trai liệt sỹ nói về sự khắc khoải của bà mẹ, cùng tình cảm của bà con xóm làng với những người hy sinh vì Tổ quốc.
Tiễn con đi mẹ mong ngày gặp lại.
Đất nước bình yên con đi mãi không về.
Hàng ngày mẹ ra ngoài hiên nhìn thanh niên qua lại, tưởng con đi lâu về quên mất ngõ vào ra. Mẹ nhìn theo và giơ tay vẫy gọi: Có phải Chử Bá Chiêm con của mẹ đấy không? Nhà mẹ đây con đi quên lối, đất nước bình yên mà đi mãi không về sao cứ để mẹ mong… Rồi đến ngày không còn đủ sức, mẹ đưa cho anh 5 chỉ vàng mua bằng số tiền trợ cấp 35 đồng/ tháng của nhà nước phụ cấp. Mẹ nói: Đây là số tiền vàng mà mẹ chắt chiu tích cóp mấy chục năm liền, để dùng vào việc đi tìm hài cốt đứa em hy sinh ở chiến trường Nam Lào đem về. Trước khi mẹ nhắm mắt còn gọi vào nói: Tìm anh em đồng đội còn sống trở về cung cấp thông tin, có khó khăn tốn kém vất vả bao nhiêu cũng phải cố tìm hài cốt của em đưa về nơi chôn rau cắt rốn con nhé…

Anh trai liệt sỹ là Chử Bá Chiếm, hiện đang ở phường Phạm Ngũ Lão, thành phố Hải Dương.
Việc con trai Tống Anh Tuấn, đi tìm người cha chưa nhớ mặt là Tống Văn Diệp. Bố Tuấn là một đại đội trưởng xuất sắc của C.11- D3- E1- F2, hy sinh trong một trận đánh ác liệt, diễn ra ngày 24 tháng 4 năm 1972 tại khu vực Tân Cảnh, huyện Đắk Tô, trên vùng đất Tây Nguyên đầy nắng gió. Bố, mẹ, vợ, chồng cùng người thân và đồng chí đồng đội chắt chiu tiền bạc đi vào núi rừng phương Nam, nơi diễn ra cuộc chiến tìm hài cốt các anh hùng liệt sỹ, cùng biết bao câu chuyện cảm động khác, của những người được sống trong hoà bình và phát triển hôm nay.


TIẾNG GỌI LINH THIÊNG BÊN NHỮNG TƯỢNG ĐÀI

Những tháng năm tôi cùng các đồng chí nơi chiến trường ác liệt, thì giờ đây hình bóng các anh, các chị, vẫn hiện về những tháng ngày mưa bom bão đạn. Trong ký ức người ra trận, luôn hồi tưởng nhớ đến những đồng chí ngã xuống cho đất nước bình yên. Đồng đội đang ở đâu, hay các anh các chị vẫn nằm lại nơi chiến trường ác liệt năm nào. Những chiến sỹ có danh và khuyết danh làm lên Tổ quốc, muốn biết tên anh hỏi con suối dòng sông sẽ biết, muốn biết tên anh hỏi con đường truy kích địch năm nào. Về thăm lại chiến trường xưa, mà tim tôi vẫn trào dâng về năm tháng khói lửa chiến tranh.
 Đoàn đại biểu chiến sỹ Trường Sơn về thăm lại chiến trường: Viếng đồng đội, cám ơn đồng bào, chứng kiến thành quả cách mạng. Nhân kỷ niệm 50 năm ngày mở đường Trường Sơn- Đường Hồ Chí Minh, Anh hùng. Tại đài tưởng niệm nghĩa trang Quốc gia đường 9 tỉnh Quảng Trị, có tới 1000 đại biểu đến làm lễ dâng hương. Tôi được ban tổ chức mời đọc lời thơ tôi viết về một thời binh lửa, được khắc hoạ vào hai đôi lục bình kính viếng ở nghĩa trang Quốc gia Trường Sơn, và Bảo tàng Đường Hồ Chí Minh tại Hà Nội. Khi lời thơ tôi đọc vang lên:
Trường Sơn ơi! Tôi dâng nén hương thơm.

Xúc động tự hào nhớ thời binh lửa.
Anh ở nơi đâu góc biển chân trời.
Ta đã cùng nhau chung sống một thời
Chung tiểu đội hành quân đi phía trước.
Đường Trường Sơn gian nan ta cùng bước
Một căn hầm mấy đứa ngủ chung nhau
Súng đạn ba lô quần áo gối đầu
Mảnh chăn mỏng chung nhau cùng đắp
Mỗi trận bom gầm hầm tung bật nắp
Đè đỡ lên nhau che chắn bom thù
Giữa mênh mông khói lửa mịt mù
Vẫn cố gọi mong thấy nhau đủ mặt.
Túi lương khô chia nhau dè dặt .
Điếu thuốc lào mỗi đứa kéo nửa hơi
Vẫn say sưa vẫn thấy yêu đời
Đi đánh giặc mà vui như trẩy hội.
Bởi nơi ấy là tình đồng đội.
Tình quê hương đất nước chứa chan…
* * *

Khi ta lớn lên đất nước có chiến tranh.
Như dông tố từ đâu ào ạt tới
Phía Bắc phía Nam đạn thù cày sới
Máu Lạc Hồng nhuộm đỏ non sông
Tôi cùng các anh không thể ngồi trông.
Tổ quốc gọi ta lên đường cầm súng
Buổi đầu gặp nhau gỡ ngàng lúng túng
Mưa nắng thao trường biết mấy gian lao
Tôi các anh chung một chiến hào
Chung trận địa chung kẻ thù phía trước
Chung quê hương bờ tre bến nước
Bát nước chè xanh hơi ấm quê nhà
Chung một màu Cờ, chung- Tiến Quân Ca
Chung một cái tên là anh bộ đội.
Trận đầu tiên chiến công vang dội
Tim đập dồn khoảng lặng giữa Trường Sơn
Trận địa mịt mù tiếng súng tiếng bom
Tiếng quân reo tiếng kẻ thù tháo chạy
Đường Chín Bản Đông chiến công lừng lẫy
Đồi không tên Quảng Trị Nam Lào
Anh bị thương khi đánh điểm cao
Ta và địch giành nhau từng thước đất
Máu từ bụng anh ướt đầm mặt đất
Miệng vẫn hô phải giữ chốt đến cùng
Anh vỗ vai tôi để lại tớ một mình
Phải chiến đấu không cho giặc tràn tới.
Ngày chiến thắng sống nhớ về thăm mẹ
Câu nói nửa trừng anh ngừng hơi thở
Miệng vẫn cười thanh thản giữa trời xanh
Rừng Trường Sơn ôm trọn nấm mồ anh
Sống giữ đất lại trở về với đất.
Tôi theo đoàn quân tiến về phía trước.
Giải phóng miền Nam đất nước thanh bình.
Trong biển người bát ngát những màu xanh
Bóng hình anh vẫn trong lòng đồng đội...

Khi đọc đến câu. Anh ở nơi đâu góc biển chân trời… Thì trong tôi nghe rất rõ tiếng gọi linh thiêng từ các anh hùng liệt sỹ ở nghĩa trang nơi đây: Các đồng chí ơi …San ơi …ơi…  tiếng gọi lúc to lúc nhỏ, lúc hư, lúc thực, rồi lịm dần. Trước mắt tôi là hình ảnh những người lính tuổi 18, đôi mươi, với bộ quần áo xanh cùng chiếc mũ tai bèo hiện lên, cầm súng vượt qua hàng rào bùng nhùng dây kẽm gai, xung phong đánh vào đồn bốt địch. Tôi cố trấn tĩnh đọc hết lời thơ và quan sát xem ai đang gọi, chỉ nhìn thấy mọi người xúc động rơi nước mắt nức nở, thẫn thờ. Rất khó diễn tả hình ảnh cùng nghĩa tình đồng đội nơi thế giới tâm linh. Cũng có thể từ thinh không thăm thẳm, linh hồn các anh hùng liệt sỹ đã gọi chúng tôi…Bởi nghĩa tình đồng đội vẫn như ngọn lửa cháy mãi với những người còn sống. Xin cám ơn các anh hùng liệt sỹ, cám ơn đồng đội một thời binh lửa, đã giúp đỡ tôi vượt qua mọi khó khăn thử thách. Cũng chính các anh các chị nhắc nhở chúng tôi, phải sống xứng đáng với những người hy sinh vì Tổ quốc.


Tiêu đề: Re: Hồi Ký Đường Ra Trận - CCB Sư đoàn 2 : Ông Nguyễn Đăng San.
Gửi bởi: quangcan trong 13 Tháng Giêng, 2011, 02:46:33 pm

Nhân kỷ niệm 62 năm ngày thương binh liệt sỹ 27 tháng 7 năm 1947- 27 tháng 7 năm 2009, đoàn đại biểu chiến sỹ bị địch bắt năm xưa ra đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, dự lễ truy điệu và an táng trên 300 liệt sỹ bị địch sát hại, vừa mới được qui tập trên đảo. Và tôi thực sự xúc động được nghe các đồng chí bị địch bắt giam kể lại, về chuồng cọp nhà giam và trên 4000 chiến sỹ kiên cường bị địch tra tấn giết hại. Đất nước bình yên thấm đẫm máu đào bao người chiến sỹ, không chút riêng tư để đất nước trường tồn. Về thăm khu di tích nhà tù trên đảo Phú Quốc và bảo tàng các chiến sỹ bị địch bắt tù đầy tại huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội. Chúng tôi cảm phục những người một thời trong lao tù bất khuất. Người cựu tù Phú Quốc Lâm Văn Bảng, thương binh 1/4, muốn gửi lại thế hệ mai sau bằng hiện vật và tiếng nói của lương tri, nhắc nhở cháu con không để cảnh nước mất nhà tan. Cựu tù Phùng Văn Nghị cầm dao rạch bụng, vạch tội ác kẻ thù, cứu nghìn người thoát cái chết trại giam. Ông Nguyễn Suy, đất Sông Hương Núi Ngự, vạch lối chỉ đường để Đảng bộ trong tù vùng lên tranh đấu. Và đây người Cựu tù: Ngọc Tiến, Lai Cách Hải Dương.
    
Anh bị thương mất miếng sọ đầu.
    Trong lao tù vẫn kiên trung bất khuất.
    Ngày ba mươi, tháng tám, Mậu Thân.
    Lãnh đạo anh em vùng lên tranh đấu.
    Phá xích xiềng, diệt bè lũ tay sai.
    Quyết đứng lên giành tự do độc lập…

Ông Lê Đình Thảo người đất Tổ Hùng Vương, trong lao tù vẫn đứng lên đòi quyền lợi cho anh em tù binh, chống lại sự đàn áp dã man tàn bạo của giặc, cũng từ đó mà chiến sỹ ta đã phong cho ông chức trưởng phòng bổ củi.
Người bị giặc bẻ răng, anh bị chúng cắt gân… tàn ác dã man chúng đóng đinh vào sọ. Xin cảm phục các anh về một thời bát cơm chan đầy máu, chiến công các anh trong lao tù, sẽ mãi được thế hệ mai sau ngân vang mãi bên tượng đài Nắm Đấm.

...Tôi chào anh chào người chiến sỹ
Những chứng nhân của thế kỷ anh hùng.
Đầu đội trời chân đạp sóng biển Đông.
Các anh tô cờ hồng thêm chói lọi...


Tiêu đề: Re: Hồi Ký Đường Ra Trận - CCB Sư đoàn 2 : Ông Nguyễn Đăng San.
Gửi bởi: quangcan trong 13 Tháng Giêng, 2011, 02:48:10 pm

GẶP LẠI ĐỐI THỦ TRONG TRẬN ĐÁNH ĐẮK TÔ II NGÀY 24 THÁNG 4 NĂM 1972

Theo đề nghị của các cơ quan chức năng, để phía Mỹ gặp lại đối thủ của họ gần 40 năm về trước. Cựu chiến binh và cơ quan MIA muốn nắm lại trận đánh của đơn vị tấn công vào căn cứ quân sự tại Đắk Tô và căn cứ Phượng Hoàng diễn ra ngày 24 tháng 4 năm 1972, có liên quan tới trung tá cố vấn pháo binh Brown Robert, tử trận. Ngày 10 tháng 11 năm 2009, tại khách sạn Sài Gòn- Hạ Long, Quảng Ninh, những đối thủ chiến trường năm xưa gặp lại nhau. Thay mặt cho người Mỹ trên chiến trường Tây Nguyên năm 1972, ông Kell Ray thừa nhận: Lúc đó họ đánh giá quá thấp về lực lượng của đối phương thời kỳ ấy.

Phải đoàn hỏi sâu về người bị thương mà cánh tấn công của tôi lên gặp phải. Theo sỹ quan Mỹ cố vấn cho cụm quân sự được cứu thoát về kể lại: Ngày 24 tháng 4, cụm quân sự phát hiện đã bị phía đối phương bao vây. Cố vấn Mỹ cùng trung đoàn trưởng số 47 của Việt Nam cộng hoà cho xe tăng ra bắn phá để bắt sống đối phương. Nhưng khi xe tăng ra đánh phá bị đối phương bắn cháy một lúc 2 chiếc, bị pháo binh xe tăng bắn phá liên tục. Đặc biệt hoảng loạn thấy bộ binh đã ép sát hàng rào chuẩn bị tấn công vào căn cứ. Nên họ đã bàn bạc cho số sỹ quan rút chạy cách cứ điểm mấy trăm mét để cho máy bay tới đón. Nhưng đến không thể nào thực hiện được vì các hướng đã bị thắt chặt vòng vây. Cho quân chạy qua cây cầu xây lắp bí mật, lúc đặc biệt cần thiết, nhưng cây cầu đã bị công binh đối phương phá huỷ từ lúc nào không rõ. Dòng sông Pô Kô lúc trở thành vật cản nguy hiểm, một số chạy thoát vào rừng đói gần chết, mấy ngày sau được lính Sài Gòn nhảy xuống tìm, vì trong đó có cố vấn Mỹ.   Đoàn công tác bàn tán rồi nói: Lúc ấy các ông gặp rất nhiều khó khăn ác liệt, nhưng không hiểu thế nào mà vẫn đánh thắng vào được cụm cứ điểm mạnh nhất ở Tây Nguyên lúc bấy giờ? Phái đoàn Mỹ nhận được của tôi câu trả lời: Người chiến sỹ quân đội nhân dân Việt Nam chúng tôi có lời thề. “…Thắng không kiêu bại không nản, dù gian lao khổ hạnh không sờn lòng, vào sống ra chết không nản trí…”. Bằng ý thức trách nhiệm với Tổ quốc, chúng tôi đều vượt lên để giành chiến thắng.

Phái đoàn tiếp tục nói: Trong lúc các ông đói khổ căm thù đối phương như thế, gặp đối thủ bị thương các ông có bắn giết lấy những gì mà người này có trên người không? Tôi trả lời; phía trước tôi là đồn bốt mục tiêu kẻ thù chúng tôi phải nhanh chóng tiến lên tiêu diệt. Những binh lính bị thương và đã ra đầu hàng không có vũ khí trên người, chúng tôi không bao giờ bắn giết kẻ thất bại. Chỉ sử lý những tên chống đối, hoặc để chúng lại mà chứng kiến tội ác của chính quân đội họ tiếp theo. Vì sau mỗi trận đánh đối phương thường cho máy bay ném bom bắn phá, đốt cháy, phi tang những gì còn lại trên mặt đất, kể cả binh lính thương vong còn quằn quại trong trận địa.
Những chiến sỹ quân đội nhân dân Việt Nam đều đồng cam chịu khổ, không vì lợi ích cá nhân mà làm xấu đi hình ảnh người chiến sỹ Quân Giải phóng lúc bấy giờ. Chúng tôi đều có lòng tự trọng thương yêu Tổ quốc mình, nhân dân đất nước tôi muốn có chính trị vững vàng, kinh tế ngày một phát triển. Riêng tôi từ chiến trường ác liệt được sống trở về, đấy là điều vô cùng may mắn với một chiến sỹ bộ binh trực tiếp chiến đấu như tôi. Nhưng nỗi đau do chiến tranh gây ra thì không bao giờ nguôi. Biết bao đồng đội tôi phải ngã xuống dưới mưa bom bão đạn từ phía đối phương mang đến, người được sống trở về lại mang nhiều di hoạ của chiến tranh để lại.
Chiến tranh đã khép lại, chúng ta cần có cái nhìn đúng hơn về tội ác mà phía quân đội Mỹ mang đến. Còn tôi sẽ nói với những người đồng đội đã từng tham gia cuộc chiến, biết tin tức về những người Mỹ tử trận tại chiến trường Việt Nam và Lào. Hãy mở lòng vị tha giúp họ tìm lại những người mất tích, mà quân đội Hoa Kỳ đã đem con em nhân dân Mỹ đến gây chiến rồi tử trận.
Ông Kell Ray, trưởng phái đoàn thay mặt cho gia đình người tử trận, cảm ơn những thông tin do tôi cung cấp, về người bị thương bên cằm phải và tử nạn do chính máy bay Mỹ đánh bom Napan, bom cháy tiêu huỷ, lúc 11 giờ ngày 24 tháng 4, năm 1972, tại căn cứ Phượng Hoàng, huyện Đắk Tô, tỉnh Kon Tum, Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Hồi Ký Đường Ra Trận - CCB Sư đoàn 2 : Ông Nguyễn Đăng San.
Gửi bởi: quangcan trong 13 Tháng Giêng, 2011, 02:50:35 pm
                                                         
Chương V
ĐỒNG ĐỘI VÀ NHỮNG THÁNG NĂM KHÔNG THỂ NÀO QUÊN

Những tháng năm gian khổ ác liệt tại chiến trường, chúng tôi không bao giờ quên những người đã từng gối đất nằm sương và có những kỷ niệm đi vào như một chương huyền thoại. Người cùng một tiểu đội trong chiến trường đầy khó khăn ác liệt là Phạm Văn Tiến, năm 1973 anh đã về làng xóm tôi báo tin, những chiến công cùng tổn thất của khói lửa chiến tranh.

Nhưng số còn may, hơn biết bao đồng đội.
Được sống trở về khi đất nước bình yên.
Bốn mươi năm sau tôi mới nhận được tin Tiến, đang bươn chải cuộc đời tại thành phố Hồ Chí Minh, với bao lo toan vất vả nơi phố phường tấp nập. Anh em trở lại Sài Gòn tìm gặp nhau, nhớ về ngày ấy trên cao điểm 748 (đồi không tên đá chồng), trong chiến dịch đường 9 Nam Lào, tháng 3 năm 1971. Với hơn ba giờ đồng hồ hai chúng tôi trên cao điểm, tính từng giây từng phút mà thoát chết. Đồng đội nắm tay nhau mà trào rơi nước mắt, nghĩ suy về ngày mưa bom bão đạn, người mất người còn trong ký ức chiến tranh.
Tiểu đoàn trưởng Trần Như Tiếp, hiện ở thành phố Đà Nẵng, nhận được tin chiến sỹ trong tiểu đoàn anh cuối năm 1970 còn sống, ông lặn lội đến thành phố Hạ Long, tìm người lính còn lại trong trận đánh vô cùng ác liệt của phân đội ông chỉ huy. Hai người cựu chiến binh gặp nhau, ôn lại một quá khứ với bao phen một mất một còn ở đường 9, trên cao nguyên Bôlôven Nam Lào...
Anh em về thành phố Hải Dương thăm đồng chí Chính uỷ Nguyễn Tá, ông nguyên là lãnh đạo của Trung và Sư đoàn. Người Cựu chiến binh văn võ song toàn, xúc động nhớ về thế hệ thanh niên chúng tôi ngày ấy, thay nhau vào mặt trận và lần lượt ngã xuống trong chiến trường ác liệt…
Chúng tôi về huyện Thái Thuỵ còn nhiều khó khăn của tỉnh Thái Bình, thăm đồng chí thương binh 1/4 Nguyễn Sỹ Hùng, anh nguyên là một cán bộ tham mưu giỏi của Trung đoàn, cũng gửi lại chiến trường bằng một bên chân trái, để cùng nhân dân Căm-Pu-Chia đánh đuổi bọn Pôn-Pốt. Gần 40 năm sau người thương binh vẫn cùng Cựu chiến binh của làng, làm giàu trên mười héc ta đầm nuôi tôm cá, để có tiền cho việc vào Nam ra Bắc, tìm lại đồng đội còn sống cùng hài cốt anh em hy sinh trên chiến trường ác liệt ngày ấy. Mấy đứa con vợ chồng anh sinh ra được đặt tên theo bóng hình đồng đội, (một cháu mang tên đồng chí Sư đoàn trưởng, một cháu mang tên Chính uỷ Sư đoàn, trăn trối trước lúc hy sinh). Trong bàn thờ của gia đình, anh còn thờ cúng danh sách những người đồng chí.
 Những việc làm cùng nghĩa cử của đồng đội tôi một thời ra trận, cũng tạo cho mỗi người có thêm sức mạnh, làm ấm lòng những gia đình có người ngã xuống trong khói lửa cuộc chiến. Mỗi lần đồng đội gặp lại nhau, là một lần thấy cái giá phải trả khi đất nước có chiến tranh.
 Gần nửa thế kỷ đã qua nhưng tình đồng đội vẫn đằm thắm thân thương như những ngày còn ở chiến trường, dù người đó hôm nay là một tướng lĩnh, công chức, doanh nhân, hay người dân bình thường, nhưng luôn có nhau về một thời binh lửa.
Bao tấm gương hy sinh của các anh hùng liệt sỹ, cũng như đồng đội tôi còn lại sau chiến tranh. Như thiếu tướng: Phạm Xưởng. Chính uỷ: Nguyễn Tá. Giáo sư: Đỗ Ca Sơn. Trung tướng: Lê Minh Cược. Các đồng chí: Đỗ Văn Chi, Đồng Văn Khải, Ngô Chí Thuỳ, Trần Văn Tần, Vũ Văn Hoạ… Bà: Thái Thị Thành người chiến sỹ quân y với một gia đình, có tới năm anh chị em ruột cùng người cháu là liệt sỹ và người mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Quyên, trên mảnh đất Bình Trị Thiên khói lửa. Người Cựu tù Phú Quốc Lâm Văn Bảng với khí phách của một “Chàng trai Cầu Giẽ”. Cùng biết bao đồng chí đồng đội cùng nhân dân cả nước, vượt lên nỗi đau mất mát của chiến tranh, xứng đáng với truyền thống của non sông đất nước.
Chúng tôi, những người đã từng một thời chia bom sẻ đạn nơi chiến trường khốc liệt, được tôi luyện bằng phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, đã góp một phần nhỏ bé cùng nhân dân cả nước để làm lên mùa xuân 1975 đại thắng, thống nhất non sông.
Ký ức thời binh lửa, chép lại bức tranh khốc liệt về cuộc chiến đấu của đơn vị   trực tiếp giáp mặt với quân thù trên chiến trường. Nhằm giúp tôi cùng các bạn hình dung lại sự tàn khốc của chiến tranh. Cũng là bức thông điệp muốn gửi đến thế hệ mai sau, biết cái giá phải trả cho nền độc lập của đất nước hôm nay. Để mỗi người suy ngẫm và làm tốt chính sách với những người có công với nước, đặc biệt là các mẹ Việt Nam Anh hùng, gia đình thương binh liệt sỹ và những người bị tổn thất do chiến tranh gây ra.
 Cùng nhau tiếp tục sự nghiệp cách mạng cao cả mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn. Xây dựng nước Việt Nam“ Đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”. Như Bác Hồ kính yêu của dân tộc hằng mong muốn. Đó cũng là tâm nguyện của tác giả muốn gửi tới các độc giả cùng anh em đồng đội gần xa.
Xin cám ơn tạm biệt anh em đồng chí, của những tháng năm không thể nào quên để cùng nhau tiến về phía trước./.


Tiêu đề: Re: Hồi Ký Đường Ra Trận - CCB Sư đoàn 2 : Ông Nguyễn Đăng San.
Gửi bởi: quangcan trong 13 Tháng Giêng, 2011, 02:52:15 pm
THẮM MÃI NGHĨA TÌNH ĐỒNG ĐỘI

Hai người, hai lứa tuổi, hai quê hương, hai đơn vị và địa danh khác nhau … Nhưng điểm chung của chúng tôi gặp nhau. Và đều là Cựu chiến binh thời chiến tranh chống Mỹ. Chúng tôi có cùng một tâm nguyện. Sống hết lòng vì đồng chí đồng đội đã hy sinh xương máu cho nền độc lập tự do của Tổ quốc. Nên hai chúng tôi tìm đến nhau và quen nhau, qua một sự kiện.

Ông Cam kính mến !
Tôi tên là: Nguyễn Đăng San
Nguyên quán, xã Đồng Gia, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương, thương binh 3/4.
Hiện thường trú tại: ............. thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
Tôi đã có hàng chục tờ báo khá dài viết về ông, đăng trên các báo: Thái Bình, Giáo dục thời đại, Tuổi trẻ, Đại đoàn kết, Lao động, An ninh thế giới….
Tôi thực sự xúc động, hết sức khâm phục, vì một người đã ở tuổi “Thất thập cổ lai hy”, gầy yếu và gia đình lại nghèo khó thiếu thốn. Vậy mà ông đã làm được việc rất lớn lao, phi thường. Suốt hơn 10 năm trời ròng rã, vượt qua nắng mưa với một chiếc xe đạp cũ cọc cạch. Ông đã hành trình trên khắp đất nước. Từ Đông đến Tây Trường Sơn, sang biên giới nước bạn Lào- Campuchia. Đến từng nơi đóng quân của chiến trường xưa, từng nghĩa trang, để tìm ra một con số hơn 21.000 địa chỉ, tin tức mộ liệt sỹ. Sau đó báo cho ngần ấy địa chỉ, gia đình và thân nhân. Để giúp họ tìm lại hài cốt và tin tức của Cha, Anh, Chồng, Con mình, mà từ ngày giải phóng đến nay họ đang mong mỏi chờ mong.
Một con số khó tin, nhưng đó lại là sự thật, một sự thật đến kinh ngạc. Tôi cứ hình dung 21.000 địa chỉ, là ngần ấy bì thư, con tem, ngần ấy tờ giấy và ông ngồi viết thư đến 21.000 địa chỉ, là một chặng đường ông đã đi qua. Nếu cộng lại của chặng đường đạp bộ như thế, có thể gần hết một vòng quanh trái đất. Còn là chi phí cho hơn 10 năm với số tiền kinh phí cũng không nhỏ.
Lúc đầu đọc báo tôi cũng chưa hẳn đã tin. Đến khi ông nhận được thư của tôi, nhờ ông tìm giúp hộ địa chỉ quê hương người liệt sỹ tiểu đội trưởng đơn vị tôi. Ông đã nhanh chóng tìm ra giúp đỡ tôi. Xin thú thực với ông, tôi đã khóc nhiều khi nhận được tin báo của ông. Ông biết không. Suốt hơn 30 năm tôi đã đi tìm và gửi thư đến các cơ quan chức năng, đài báo địa phương, đến Trung ương. Mà sự khát khao tìm quê hương người đồng đội gần như vô vọng. Nhưng ông chỉ sau thời ngan ngắn đã tìm được địa chỉ mà tôi cần.                                              
Xin bày tỏ lòng biết ơn của tôi đối với ông. Ông biết không! Đó chính là thần tượng của tôi, mà suốt chặng đường tôi đã qua, thần tượng ấy đã khắc sâu trong trái tim tôi. Tôi không thể không kể lại để ông, cùng anh em đồng chí nghe và suy ngẫm.



Tiêu đề: Re: Hồi Ký Đường Ra Trận - CCB Sư đoàn 2 : Ông Nguyễn Đăng San.
Gửi bởi: quangcan trong 13 Tháng Giêng, 2011, 02:55:00 pm

                
 Chuyện về người chỉ huy giữ chốt trên cao điểm: Păk Kụt.

Chúng tôi thuộc C7 – D2 – E1 – F2. Hay còn gọi là Đoàn Ba Gia. Mà không ai không biết đến một đơn vị đã được Đảng Nhà nước phong tặng. Ba lần danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Với những chiến công vang dội của chiến thắng Ba Gia-Vạn Tường ở tỉnh Quảng Ngãi. Rồi năm 1971 với chiến thắng ở Bản Đông- Sê Pôn- Đồi không tên. Điểm 660 và 723 trong chiến dịch đường 9 Nam Lào. Trên Cao nguyên Pôlôven. Đến chiến thắng lẫy lừng ở Đắc Tô, Tân Cảnh, năm 1972. Cùng mảnh đất khu 5 anh hùng.
Sau chiến dịch đánh ngăn chặn địch ở đường 9 Nam Lào năm 1971 “Lam Sơn 719”. Đơn vị tôi nhận lệnh đến cao nguyên Pôlôven. Trung đoàn đánh thắng và giao cho trung đội tôi chốt giữ cao điểm Pắc Kụt, một cao điểm rất quan trọng của địch, vì đó là một điểm án ngữ cho một vùng rộng lớn của miền hạ Lào. Chính vì vậy, cao điểm trở nên vô cùng khốc liệt.
Địch cay cú bị quân ta đánh bật khỏi cao điểm mất vị trí án ngữ. Nên chúng đã điên cuồng dùng máy bay pháo kích và bộ binh đánh phá. Có bao nhiêu bom đạn ở vùng hạ Lào, đều được chúng huy động đến bắn phá cao điểm. Pháo từ xa nã tới, lính bộ binh phản công, chiếm lại cao điểm. Chúng bắn và la hét xông lên như một lũ thiêu thân. Từ ngày mùng 6 đến ngày mùng 9, tháng 6, địch tấn công lên chốt vô cùng ác liệt. Nhưng chúng đã bị trung đội tôi đánh trả quyết liệt, làm cho giặc thiệt hại, ba đại đội lính nguỵ Lào & quân Thái Lan.
Mỗi khi địch xông lên, tiểu đội trưởng Tô Ngọc Lâm, bình tĩnh và ra lệnh.  “ Phải để địch đến thật gần mới được nổ súng…”. Những tên lính địch hiện rõ qua làn khói đạn, nghe rõ hơi thở hồng hộc của chúng. Địch tưởng đơn vị tôi không thể tồn tại sau những trận bom pháo dày đặc như mưa đổ xuống, có thằng kéo lê súng bước khật khưỡng như những thằng say rượu.
Tiểu đội trưởng Lâm ra lệnh: Bắn – chúng tôi nhất tề nổ súng, địch khựng lại, từng loạt đạn quật ngã binh lính địch liều lĩnh đi đầu. Chúng bất ngờ hoảng hốt trước cách đánh gần táo bạo gan dạ dũng cảm của tiểu đội, địch cuống cuồng la hét rút chạy. Anh Lâm hô lớn “ Xung phong ….”. Chúng tôi bật khỏi chiến hào, quét đạn tới tấp sát lưng địch, số địch còn lại tháo thân chạy xuống chân cao điểm. Tranh thủ cơ hội ấy chúng tôi thu lượm vũ khí trang bị địch bổ sung khi sắp hết đạn giữ chốt.
Máy bay, bom pháo địch đánh xuống, nổ gần ùng ục, oàng oàng. Tai chỉ còn nghe tiếng o….o. Hết bom, đến pháo kích, địch tụ lại dưới chân cao điểm, bắn đổ đạn rồi hò hét tiến lên. Nhưng không một thằng nào dám xuất hiện, vì cú đánh giáp mặt của đơn vị, đã dạy cho chúng biết thế nào là “ Cộng sản”.
Khói lửa mịt mùng đen đặc, tiếng súng dần thưa thớt. Tiếng máy bay ầm ì xa dần. Chỉ còn tiếng lốp đốp của những đám cháy quanh khu rừng gần cao điểm. Gió Lào cuồn cuộn mang theo cát bụi và cái nóng xua dần khói bom, khói súng. Trận địa quang dần, lúc này mới nhìn thấy mặt trời đỏ cũng dần xuống sau dãy núi phía xa.
Đồng đội tìm lại nhau theo vị trí phân công, chiến hào biến dạng. Khi đến vị trí của tiểu đội trưởng, thì anh ngã vật xuống hào, một tay ôm chặt chiếc mũ cối ở bụng, lúc này tôi mới biết là anh bị thương rất nặng và ruột xổ ra nằm trong chiếc mũ anh đang nén giữ.  Máu từ bụng đã đổ ra đen quánh dưới vị trí anh đứng chiến đấu. Anh nói với mấy người còn lại trên cao điểm trong hơi thở đứt quãng.
 “…Các đồng chí … các em … quyết chiến đấu đến cùng, phải giữ chốt bằng được. Trả thù cho anh và đồng đội …”.
 Anh ra hiệu bằng cái đầu khẽ nhúc nhích, ba chúng tôi ghé sát vào người anh, nghe anh thều thào nói.
“… Sau này chiến tranh kết thúc … em nào còn sống trở về, nhớ tìm về quê cha mẹ anh ở đất Thái Bình kể lại trận đánh này cho gia đình anh nghe về cuộc chiến đấu giữ chốt và việc anh hy sinh ngày hôm nay…”
Ba chúng tôi là: Vũ Minh Quỳnh, Phạm Văn Tiến và Nguyễn Đăng San, từng người ghé sát xuống để anh đặt đôi môi khô ráp hôn vào má, bắt tay và anh mỉn cười thảnh thản ra đi tin tưởng vào những người còn lại.
Người tiểu đội trưởng dũng cảm kiên cường của đơn vị ra đi trong vòng tay của đồng đội lúc 16 giờ ngày mùng 9 tháng 6 năm 1971. Chúng tôi còn lại trên cao điểm chống trọi giữ chốt. Mấy tiếng sau đơn vị tăng cường lực lượng củng cố trận địa, cho những cuộc chiến đấu tiếp theo.

Thưa ông Cam !
Chiến tranh kết thúc Bắc Nam sum họp một nhà, trong niềm vui vô bờ bến ấy, song cũng chứa đựng biết bao những đau thương mất mát & hậu quả tàn khốc của chiến tranh để lại. Các chiến sĩ hy sinh ngoài mặt trận, và hy sinh một phần xương máu, cống hiến tuổi thanh xuân của mình cho đất nước.
Chất độc màu da cam của kẻ thù đã để lại những di chứng đau thương, hiện có người đang phải gánh chịu, sự hy sinh mất mát không có gì bù đắp nổi. Đất nước từng ngày từng giờ đang thay da đổi thịt, cuộc sống mới bừng lên, sự hưng thịnh là thực mục sở thị. Những người từng khoác áo lính trên chiến trường, khó tin rằng mình đang sống như ngày hôm nay. Trong cuộc sống và cơ chế thị trường đây đó vẫn còn nhiều điều nhức nhối.
Người chiến sĩ sau chiến tranh trở về phải vật lộn, đối mặt với cuộc sống đời thường, mâu thuẫn nảy sinh theo quy luật. Thế hệ không phải trải qua chiến tranh tràn đầy sức sống, được trang bị đầy đủ tri thức văn hoá, phơi phới đi lên.                                                        
Một lớp người, tuổi thanh xuân đã gửi lại chiến trường, sức lực gần như cạn kiệt, phải còng lưng, gánh vác hậu quả chiến tranh. Người giàu, kẻ nghèo, cũng dần được phân định rõ rệt. Người chiến sĩ trở về sau chiến tranh, lại thêm một lần vật lộn với cuộc sống đời thường.
 Để chiến thắng với bản thân, quả là một cuộc chiến không kém phần gian khổ, có khi còn phải trả một cái giá quá đắt. Tôi cũng như nhiều đồng đội, mảnh đạn và chất độc da cam còn nằm trong cơ thể, nó vẫn đang âm ỉ tàn phá không hề buông tha. Nhiều khi tôi như sắp gục ngã, trước những nỗi đau mất mát & sự tàn khốc của cuộc chiến. Nhưng trấn tĩnh lại, tôi nhận thấy rằng. Mình vẫn còn là người rất may mắn, còn sống sót trở về, được nhìn thấy quê hương, đồng chí, đồng đội, của những năm tháng nơi bom rơi đạn nổ. Được chứng kiến đất nước, hoà bình thống nhất.
Lời nói của tiểu đội trưởng Tô Ngọc Lâm, còn văng vẳng bên tai, anh và biết bao đồng đội hy sinh còn nằm lại nơi chiến trường, để cho đất nước có cuộc sống yên vui  hôm nay. Tôi như người có lỗi và chính đó cũng là động lực vươn lên trước cuộc sống của tôi một cách vững vàng.

Ông Cam kính mến !
Từ khi nhận được sự giúp đỡ của ông, tôi tìm về quê hương gia đình liệt sỹ Tô Ngọc Lâm. Thực hiện lời dặn trước lúc hy sinh của anh. Những giọt nước mắt nghẹn ngào cảm động, nén lại hơn 35 năm tuôn rơi. Anh em con cháu Liệt sỹ coi tôi như người ruột thịt, tôi cũng toại nguyện được lời hứa trước vong linh người đồng đội trước lúc ngã xuống.
Nhưng còn một điều, khiến tôi luôn day dứt, day dứt không yên, ông có biết đó là điều gì không?. Là ông ! Vâng, chính là ông đấy…. Nhịp sống mới hối hả. Người ta lao vào làm giàu, lo toan tính toán cho bản thân, gia đình, chỗ đứng & địa vị.
Đây đó không tránh được sự bất chấp cùng thủ đoạn. Đạo đức tình cảm của con người đôi khi được xem bằng “giá cả”. Tình cảm, đôi khi cũng được đem ra thành “cơ chế thị trường”. Cuộc chiến tranh vĩ đại của dân tộc có lúc cũng trở thành mờ nhạt trước một số người. Di tích lịch sử văn hoá có khi bị xem nhẹ. Thông tin đại chúng đã từng đưa tin, ngay chính học sinh và một số lớp trẻ cũng không mặn mà với môn học Lịch sử  văn hoá của đất nước.
Cho nên, điều tất yếu ấy cũng đã xảy ra, có người nhìn thấy những thương binh, những chiến sĩ bị địch bắt tù đày tra tấn, bị nhiễm chất độc da cam. Vì đó họ còn gặp vô cùng khó khăn và khó có điều kiện làm giàu. Còn có những ánh mắt nhìn họ rất xa lạ, chính vì vậy, mà sự đền ơn đáp nghĩa đôi khi trở thành một hình thức hời hợt.
Thế nhưng ông ! Suốt hơn 10 năm trời dòng giã, đã âm thầm chịu đựng, vượt qua bao khó khăn gian khổ, để có được con số 21.000 địa chỉ liệt sỹ, cần tìm kiếm, phải liên lạc, và hàng ngàn cây số đường xa. Quả là một hy sinh rất lớn, có nơi họ còn cho ông là “ kẻ gian, lợi dụng… ”. Cản trở việc ông làm. Ông không thanh minh lý giải. Khó có thể diễn tả, tâm trạng xúc động cảm phục kính nể của tôi, đối với ông.
Không ai có thể nghĩ rằng, trong cuộc sống hiện nay, lại còn có một người và nghĩa cử như ông, chịu đựng khó khăn, vượt lên chính mình, vượt lên tất cả. Cho một suy nghĩ  giản dị của ông … Tôi cho đó là sự đền ơn đáp nghĩa, tuy có khó khăn thiếu thốn, đó là sự thật. Nhưng không thấm vào đâu, so với sự hy sinh mất mát của đồng bào, đồng chí. Nhờ đó mà chúng ta mới có đất nước thanh bình hôm nay.
Được tận mắt chứng kiến cảnh nhà dột nát, cái gường cũ ọp ẹp, chiếc xe đạp cũ kỹ, cọc cạch trơ trụi, như thân gầy của ông, mới thấy hết giá trị to lớn của việc ông làm. Tôi hiểu cho con số 21.000 địa chỉ liệt sỹ kia. Điều khâm phục của tôi, là sự bình thản của ông, ông không bận tâm đến những gì khác, ngoài việc ông đang làm.
Nhìn từng đoàn khách, gia đình thân nhân liệt sỹ tìm về với ông, chỉ một việc tiếp khách, tìm địa chỉ, tra cứu sổ sách, ghi chép trả lời. Nếu là một cơ quan lưu trữ chính sách, thì hàng chục người có chuyên môn, được đào tạo và phương tiện hiện đại, cũng phải mất nhiều thời gian. Vậy mà ông làm việc tận tuỵ. Không lương – Không chế độ – Không một sự hỗ trợ nào. Ông bình thản, coi đó là một việc làm bẩm sinh của ông.
Có một điều tôi thấy thật ngạc nhiên, không thể ngờ được rằng: Việc làm của ông không phải ít người, không biết đến. Hàng chục bài báo có uy tín viết về ông và thực tế đã chứng minh rất cụ thể về việc của ông. Có thể nói là không ai không biết đến hàng chục năm nay. Vậy mà sao ông? Vẫn không sao, lọt vào mắt cơ quan chính sách xã hội hiện tại. Biết rằng ông không bao giờ muốn người khác nói về mình.
Thế nhưng, nhìn hoàn cảnh của gia đình vợ chồng ông. Tận mắt chứng kiến nghĩa cử của ông. Một cựu chiến binh như thế ?  Làm sao tôi không thể, không day dứt về ông. Tôi tự hỏi ?  Hay giá trị và việc làm của ông, có ý nghĩa rất lớn với 21.000 địa chỉ liệt sỹ, đã khiến cho những cơ quan chức năng, còn trong hoàn cảnh khó khăn. Cho nên không có điều kiện gần ông. Hoặc biết đâu, lại có sự mặc cảm với ông, là múa rìu qua mắt thợ.
Thay mặt cho những đồng đội của liệt sỹ Tô Ngọc Lâm, xin chân thành cám ơn ông, tôi sẽ mang điều day dứt về ông, về một sự hy sinh hết lòng vì đồng đội. Không làm gì khác hơn, tôi cầu nguyện vong linh các anh hùng liệt sỹ. Hãy về với ông, giúp đỡ ông và bao đồng đội, vượt qua cảnh nghèo khó, tiếp tục vươn lên với công việc của mình.
Riêng tôi gọi là một chút lòng thành, chia sẻ với ông, gánh vác một chút khó khăn,  tiếp sức cho ông, làm bưu tá cho những vong hồn liệt sỹ. Để ông vững bước, trên con đường vì đồng đội. Xin tặng ông bộ dàn máy vi tính, cho công việc lưu trữ hồ sơ của ông, được thuận lợi. Tuổi ông đã cao, nhưng ông cố gắng đi học để thao tác, sớm sử dụng thành thạo. Tôi tin ông sẽ vượt lên & đạt được tâm nguyện của ông cũng như bao đồng đội. Tất cả vì một nghĩa cử cao đẹp, cho những người hy sinh, để làm lên một đất nước hôm nay.

      Xin chúc ông thành công trong cuộc sống./.
                                                                  


Tiêu đề: Re: Hồi Ký Đường Ra Trận - CCB Sư đoàn 2 : Ông Nguyễn Đăng San.
Gửi bởi: quangcan trong 20 Tháng Giêng, 2011, 03:00:16 pm
                             
Thành phố Hồ Chí Minh ngày 12 tháng 12 năm 2009.

CHUYỆN VIẾT KỂ LẠI CHIẾN TRƯỜNG, THẤM  VÀO DÒNG MÁU VÀ HƠI THỞ TRÁI TIM TÔI.

Kính gửi: Nguyễn Đăng San. Tác giả của tập“ Ký ức thời binh lửa”.
   
Được đọc tác phẩm. Tôi có đôi dòng tâm sự cùng tác giả và các độc giả trên khắp mọi miền đất nước. Xin được nói lên cảm xúc của riêng mình.
Tên tôi là: Phạm Văn Tiến. Sinh ngày 10 tháng 10 năm 1952. Quê quán xã Đồng Lạc, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.
Hiện đang cư trú tại ................, phường 24, Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Nhập ngũ ngày 16 tháng 4 năm 1970. Đơn vị huấn luyện, Tiểu đoàn 629 trung đoàn 2 Quân khu Tả Ngạn (nay là Quân khu 3). Vào Nam chiến đấu ngày 10 tháng 10 năm 1970. Cùng tiểu đội với Nguyễn Đăng San. Đó là trung đội 1- C7- D2- E1 (Trung đoàn Ba Gia Vạn Tường), F2, Quân khu 5.

Đồng chí San thân mến! Tôi được anh gửi tặng tác phẩm anh viết, “ Ký ức thời binh lửa”. Sau 40 năm xa cách anh em gặp nhau tại thành phố mang tên Bác. Anh có biết không, tôi cứ đọc đi, đọc lại nhiều lần của dòng hồi ký. Những câu chuyện anh viết, thấm vào tôi từng hơi thở, hoà tan vào dòng máu của tôi, có cái gì đó khó tả lắm, cảm nhận của tôi thật thiêng liêng, trân trọng.

Từng dòng chữ của anh như một người chiến sỹ giao liên, chỉ dẫn dòng suy tư nhớ về những năm tháng đã qua. Đó là từ khi tôi khoác trên người bộ quân phục mang tên “Anh Bộ Đội Cụ Hồ ”. Những mốc thời gian, cùng tên làng tên đất đi qua: Nếm mật nằm gai, truy kích đánh giặc giữa đại ngàn Trường Sơn và gió Lào nắng gắt. Giữa bom đạn điên cuồng của quân thù, trút xuống nhằm huỷ diệt những gì trên mặt đất. Những trận pháo bầy 105 ly và 155 ly cầy sới nát mặt đất. Nghĩ lại thật là khủng khiếp, không có giấy bút nào tả hết được sự ác liệt ngày ấy của đơn vị, trên cao điểm 748 (đồi không tên đá chồng) ở chiến dịch đường 9 Nam Lào năm 1971. Để lại trong Tiến một câu hỏi đặt ra với gần 4 giờ máy bay Mỹ ném bom liên tục mà mấy anh em vẫn còn may mắn. Mới hiểu bom đạn địch không thể giết được ý trí và con người Việt Nam. Nói thêm như thế để hiểu rõ về sự tàn ác của bom đạn giặc. Cùng sự chịu đựng gian khổ của người lính chúng tôi nơi tuyến lửa. Trong đó có niềm tự hào nho nhỏ của mình, góp phần cho việc giải phóng dân tộc. Để Tổ quốc có thái bình ngày 30 tháng 4 năm 1975. Song điểm cao (đồi không tên đá chồng) nơi vị trí chốt giữ của đơn vị chúng tôi, mãi đi vào ký ức không thể nào quên, trong cuộc đời mỗi chúng tôi còn sống ngày hôm đó.

Đọc tập hồi ký anh viết tôi cảm động rất nhiều. Xin cám ơn người bạn chiến đấu  vẫn nhớ đến tôi trên từng chi tiết của trận đánh. Rồi chứng kiến nhịp thở ngắt quãng của tiểu đội trưởng: Tô Ngọc Lâm người Thái Bình, mỗi khi nhớ đến anh mà tôi bồi hồi xúc động. Do cuộc sống đưa đẩy, mà tôi chưa có dịp về quê hương của anh, song nhất định tôi sẽ đến quê hương anh, để làm cái việc mà lẽ ra tôi phải làm lâu lắm rồi. Mong anh Lâm nơi chín suối tha thứ và phù hộ cho tôi thực hiện được ước nguyện của mình.
 Song cũng thật hạnh phúc qua “Thắm mãi nghĩa tình đồng đội”, của anh Nguyễn Đăng San, thì tôi càng cảm kích về nghĩa tình đồng đội của người cùng đơn vị, đã làm được việc mà tôi còn chưa làm được. Đó là anh đã tìm được quê hương người Tiểu đội trưởng quả cảm của chúng tôi trên chốt Pắk Kụt.

Với anh, thực sự là người có tâm với đồng đội, không chỉ với người hy sinh, với anh em còn sống trên mọi miền Tổ quốc. Để lại tôi một tấm gương sáng về nghĩa tình của người lính hiện hưu giữa đời thường. Một lần nữa tôi thật sự cảm động cho sức khoẻ của anh, bị giảm sút nhiều vì bom đạn và chất độc da cam của kẻ thù, song anh vẫn ngày đêm nhớ về đồng đội rồi chia sẻ động viên, xây dựng kinh tế. Anh để lại cho tôi nhiều bài học về nghĩa tình đồng đội, xen lẫn sự cảm phục, càng thêm tin yêu cho mỗi chúng ta vào cuộc sống.

Chúc tình bạn của những người lính Cụ Hồ mãi bền chặt, thuỷ chung.

Thân tặng: Nguyễn Đăng San.
Anh vẫn đi dù tóc điểm pha sương
Một chiều thu giữa Sài Gòn hoa lệ
Mưa giăng giăng vần vũ, nước nhạt nhoà
Gặp lại anh sau một chuyến đi xa
Về nơi Miền Tây, Kiên Giang, Phú Quốc
Nơi đồng đội xưa, mọi miền Tổ quốc
Yên nghỉ ngàn thu bao năm trước quên mình
Vì độc lập tự do lớp lớp đã hy sinh
Cho giang sơn được hoà bình thống nhất
Vì một Việt Nam kiên cường bất khuất
Để dáng đứng Việt Nam mãi mãi trường tồn
* * *
Nên xá gì quản ngại mưa tuôn
Lòng lâng lâng xen nỗi buồn man mát
Sau gần 40 năm giữa bom rơi đạn lạc
Gặp lại nhau tình đồng đội dâng trào
đi bên anh lòng xen lẫn tự hào
Không hổ thẹn với bao người ngã xuống
Vì nghĩa tình, vì đất nước quê hương
Anh vẫn đi dù tóc điểm pha sương
Sức khoẻ đâu có còn thời trai trẻ
Để lại trong tôi lòng cảm mến nghẹn ngào
* * *
Đất nước hôm nay ta thay đổi biết bao
Dẫu thời gian còn hằn sâu nơi khoé mắt
Trái tim đỏ vẫn rộn ràng nhịp đập
Cùng bước chân thầm lặng nghĩa tình đời
Kỷ niệm chẳng phai bao năm tháng xa rồi
Cao điểm Không tên, 660, Sê Pôn, Thà Khống.
Tân Cảnh, Đắk Tô, đỉnh cao nguyên gió lộng
Mưa rả rích tuôn không chút nắng để ấm lòng
Cứ hiện về quanh mái tóc hoa râm
Nhớ đồng đội biết ai còn ai mất
Lan toả bên anh một nghĩa tình chân thật
Vẫn sẻ chia thương nhớ tới bạn bè
Tình đồng đội của một thời trai trẻ
Tháng năm giữa đường đời không thể nào quên./.

                                                  
Thơ: Phạm Văn Tiến.


Tiêu đề: Re: Hồi Ký Đường Ra Trận - CCB Sư đoàn 2 : Ông Nguyễn Đăng San.
Gửi bởi: quangcan trong 20 Tháng Giêng, 2011, 03:03:22 pm

ĐÔI ĐIỀU CẢM NHẬN VỀ KÝ ỨC THỜI BINH LỬA CỦA: NGUYỄN ĐĂNG SAN.


Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta, đã lùi xa hơn 30 mươi năm, nhưng kỷ niệm về chiến tranh, vẫn còn đọng mãi ở mỗi cán bộ chiến sỹ quân Giải phóng miền Nam rất sâu đậm, dai dẳng…nhất là với anh em quê hương miền Bắc, tình nguyện vào Nam chiến đấu, sẵn sàng chấp nhận mọi gian khổ, ác liệt, hy sinh… Cùng nhau tâm nguyện lời thề:
   
“ Đứng trên đỉnh núi Trường Sơn xin thề
   Chưa thắng giặc Mỹ chưa về quê hương…”.

Sau đại thắng mùa xuân 1975, đất nước thống nhất hoà bình lập lại, trên hai miền Nam Bắc. Trong ngày vui chiến thắng người mất người còn, mỗi lần họp mặt đồng đội,  kỷ niệm ngày truyền thống. Lại có dịp hồi tưởng kỷ niệm sâu sắc về một thời trận mạc  chiến trường xưa. Niềm vui nỗi buồn đan xen nhau, chuyện trò tâm sự tưởng chừng như không bao giờ cạn…
Một trong nhiều chiến sỹ trung đoàn 1 (Đoàn Ba Gia ), Sư đoàn 2, Quân khu 5. Đơn vị 3 lần, được Đảng nhà nước tuyên dương “ Đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân ”. Nguyên là học sinh trường cấp ba, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương, rời ghế nhà trường vào bộ đội, tình nguyện đi chiến trường miền Nam chiến đấu. Đó là Nguyễn Đăng San, đồng chí đã tham gia chiến đấu ở chiến trường khu 5, Tây nguyên, đường 9 Nam Lào, nhiều lần bị thương. Được kết nạp Đảng tại trận và tặng thưởng huân chương chiến công…

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ ở chiến trường ra, tuy sức khoẻ có giảm sút, nhưng đồng chí vẫn tiếp tục lao động trên mặt trận kinh tế, cùng nhân dân làm ra nhiều của cải cho xã hội, giúp đỡ các đồng chí là thương binh, con em bộ đội, có công ăn việc làm. Đặc biệt đồng chí bỏ nhiều thời gian, công sức, đi tìm thu thập, gặp gỡ, nắm thông tin, xác minh nhiều trường hợp hy sinh, giúp cho nhiều gia đình tìm lại người thân đang yên nghỉ tại chiến trường… Đồng chí San là chiến sỹ chiến đấu giỏi, có tình cảm trách nhiệm với đồng đội, đồng chí còn say sưa, viết nhật ký chiến đấu của mình cùng đơn vị. “Ký ức thời binh lửa”, của Nguyễn Đăng San, đã ghi lại một phần cuộc sống chiến đấu gian khổ, ác liệt, tình đồng đội, tình quân dân ở chiến trường… Đây là những mẩu chuyện rất thật, sống động. Mong các đồng chí, các bạn trẻ đọc, cùng suy ngẫm để nhận biết thêm về những năm tháng, sống chiến đấu của anh bộ đội Cụ Hồ cầm súng đi đánh giặc cứu nước.

                                                                 
Hải Dương, tháng 10 năm 2009.
                                                           Nguyên Đại Tá: Chính uỷ Trung Đoàn 1
                                                                                    Nguyễn Tá.


Tiêu đề: Re: Hồi Ký Đường Ra Trận - CCB Sư đoàn 2 : Ông Nguyễn Đăng San.
Gửi bởi: quangcan trong 20 Tháng Giêng, 2011, 03:05:57 pm
                                                 

CUỘC CHIẾN VÀ NHỮNG NGƯỜI ĐỒNG ĐỘI

Đà Nẵng ngày 22 tháng 12 năm 2009.

Chiến tranh thật sự là thảm khốc ác liệt, bao nhiêu đồng đội gắn bó keo sơn trong một chiến hào, chiến đấu hào hùng giành thắng lợi từ trận này đến trận khác, từ địa bàn này đến địa bàn kia, từ đông Trường Sơn sang tây Trường Sơn của nước bạn Lào yêu quí. Trên mọi nẻo đường Tổ quốc Việt Nam thân yêu, những kỷ niệm buồn vui, đói no có nhau, luôn mang theo ký ức người chiến sỹ quân giải phóng miền Nam một thời cầm súng đi cứu nước.

Với tôi cũng vậy. Nguyên là tiểu đoàn trưởng bộ binh 2 (D60), thuộc Trung đoàn 1 Sư đoàn 2 quân khu 5. Là người chỉ huy phân đội chiến thuật cấp tiểu đoàn, sau mỗi trận đánh, sau mỗi chiến thắng, cũng gắn liền với tổn thất máu xương. Vì thế quân số phải thay thế bổ sung liên tục. Nhất là khi đế quốc Mỹ tiến hành cuộc “ Chiến tranh cục bộ ”, quân dân ta phải dồn sức đánh liên tục từ chiến dịch này sang chiến dịch khác, làm cho Mỹ phải cút. Sau cuộc tiến công nổi dậy của mùa xuân Mậu Thân năm 1968, Mỹ bắt đầu xuống thang, từ cuối năm 1969 đầu năm 1970, chúng chuyển sang chiến lược “ Việt Nam hoá chiến tranh”, với phương châm dùng hoả lực Mỹ, binh lính nguỵ, thực chất là một cuộc thay màu da xác chết tại chiến trường.

Để tằng cường thêm áp lực cho quân nguỵ, đế quốc mỹ tăng cường hoả lực phi pháo, rải chất độc hoá học và tiến hành nhiều cuộc hành quân đánh phá. Sau khi đơn vị kết thúc chiến dịch 180, thì Sư đoàn bộ binh 2 và Trung đoàn bộ binh 141 mặt trận Quảng Đà được lệnh, hành quân ra phía bắc đường số 9 để củng cố lực lượng, trang bị bổ sung quân số huấn luyện chuẩn bị cho nhiệm vụ mới.

Với gần một tháng vượt ngược đường Trường Sơn ra Bắc đường 9, đứng chân tại Mường Phìn- Mường Noọng tỉnh Svanakhẹt và tỉnh Khâm Muộn, trên đất nước Lào hoa chăm pha xinh đẹp. Tại đây đơn vị được bổ sung quân số, trang bị, trong đó có các đồng chí là con em của quê hương tỉnh Hải Dương, Hưng Yên và thành phố Hà Nội, đây là lớp thanh niên được huấn luyện kỹ chiến thuật 6 tháng trên miền Bắc, có chất lượng khá tốt.

Tiểu đoàn bộ binh 2 còn gọi là tiểu đoàn 60 của tôi chỉ huy là một trong ba tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 1( đoàn Ba Gia), Sư đoàn 2, chưa bao giờ lực lượng của đơn vị được sung sức đầy đủ như những năm ở chiến trường khu 5. Trung đoàn đang tổ chức huấn luyện, thì phát hiện có một tiểu đoàn nguỵ Lào được “ quan thầy” của chúng đưa ra thăm dò chiếm điểm cao Phukatồn, gần khu vực của đơn vị tôi đóng quân, chúng dùng bom pháo đánh phá dữ dội. Sư đoàn, trung đoàn ra lệnh cho tiểu đoàn 2 của tôi phải đánh tiêu diệt bọn phỉ, giữ vững khu vực đống quân của Sư đoàn. Tiểu đoàn chúng tôi dùng hoả lực chế áp, bộ binh tiến công áp đảo, quân địch hốt hoảng khiêng cõng số chế bị thương bỏ chạy, rút đến đâu chúng rải mìn lá đến đó, làm hạn chế quân ta truy kích đuổi theo. Đây là một thử thách ban đầu, của các chiến sỹ mới được bổ sung vào đơn vị.

Đơn vị ngày đêm lăn lộn trên thao trường huấn luyện, với sự chỉ đạo trực tiếp sát sao của Sư đoàn trưởng Nguyễn Chơn đến với tiểu đoàn bộ binh 2 Trung đoàn 1. Đơn vị đón xuân bên nước bạn Lào, có đồng chí Bí thư Khu uỷ, cùng đồng chí tư lệnh khu 5 đến thăm hỏi động viên, chuẩn bị bước vào nhiệm vụ chiến đấu mới.

Đầu tháng 2 năm 1971 thời tiết Lào nắng ráo, núi rừng xáo động vì bom gầm đạn rít, do cuộc hành quân với qui mô lớn ( Lam Sơn 719 ) của địch. Đây là cuộc đánh phá mà chúng dùng một lực lượng tới 55.000 quân, trong đó có 15.000 quân Mỹ, trên 500 xe tăng thiết giáp, 300 khẩu súng đại bác, hàng nghìn máy bay các loại, ngoài ra chúng còn huy động 9 tiểu đoàn quân của phỉ nguỵ Lào. Nhưng địch đã sai lầm lớn, vì chúng ta đã biết trước ý đồ của địch. Nên Bộ tư lệnh đã thành lập mặt trận B70, do tướng Lê Trọng Tấn và Lê Quang Đạo làm tư lệnh, chính uỷ. Mặt trận bao gồm nhiều Sư đoàn, binh chủng của ta rất thiện chiến “ nghênh chiến đón tiếp”. Ngay khi chúng vừa đổ quân xuống phía đông bắc đường 9 đã bị lực lượng ta cho một đòn phủ đầu, bằng việc tiêu diệt lữ đoàn 39 biệt động Sài Gòn, bắt sống đại tá Thọ… Đơn vị Sư đoàn 2 “ giữ gôn ”, bảo vệ sân bay Tà Khống, Sê Pôn, dùng lực lượng của E 141, hoạt động ở Phudotuya đến Phalan đồng Hến, ngăn chặn sự phối hợp của địch. Trung đoàn 1 dùng D1 và D2 của tôi đánh chiếm bãi xe tăng cao điểm 229, cầu chữ S trên đường 9. Sau hơn 20 ngày quân địch bị ta đánh khắp nơi, chúng không thực hiện được ý định chiếm Sêpôn. Ngày mùng 3 tháng 3 năm 1971 địch đưa sư đoàn 1 nguỵ đổ xuống các cao điểm 748- 723 PhuRệp cao điểm 660 Phurateng. Sư đoàn bộ binh 2 quân khu 5 được lệnh tập trung tiêu diệt địch trên các cao điểm này. Từ ngày 13 đến ngày 21 tháng 3, tiểu đoàn bộ binh 2 ( 60 ) của tôi chỉ huy tham gia đánh địch ở cao điểm 748, vây ép địch trên cao điểm 723, bôn tập tiến công địch cao điểm 660. Có thể nói đây là những trận chiến đấu giành thắng lợi lớn, góp phần vào chiến thắng vang dội của quân ta đánh lại cuộc hành quân có qui mô lớn của Mỹ nguỵ đưa ra ngăn chặn đường tiếp viện của ta ở đường 9 Nam Lào. Nhưng đây cũng là những ngày cán bộ chiến sỹ của đơn vị gặp vô cùng gian khổ và ác liệt nhất, đòi hỏi mỗi đồng chí phải vượt qua mọi thử thách để lập nên chiến công trên mặt trận.

Sau kết thúc chiến dịch đường 9 Nam Lào, đơn vị lại bước vào đợt hoạt động chiến đấu ở cao nguyên Bôlôven. đầu tháng 5 thời tiết vùng Nam Lào rất khắc nghiệt, nắng, nóng và khan hiếm nước. Do phải giữ bí mật, đơn vị cơ động tránh khu có dân, không đốt lửa nấu cơm, hàng tuần đơn vị ăn cơm nắm, lương khô 702, bộ đội vượt qua chặng đường 15 ngày gian nan vất vả. Đơn vị tiến công diệt địch cứ điểm Pắcsoòng, làm chủ tiểu khu giữ vững Phumặcchanh, Bản Kiềng, Pắk Kụt. Phải giữ bằng được bàn đạp này nhằm thu hút địch, để cho Trung đoàn đánh chiếm Ytu- Bản Nhík. Thắng lợi ở Ytu- Bản Nhík, không chỉ có giá trị về chiến thuật mà còn làm cho địch bị phá vỡ kế hoạch tái chiếm Pắcsoòng, tạo điều kiện cho nước bạn Lào giữ vững mở rộng vùng giải phóng, gây niềm tin phấn khởi trong nhân dân, cũng như lực lượng vũ trang của Quân đội Phathét Lào.

Đơn vị hành quân về bắc đường 9, rút kinh nghiệm qua các trận chiến đấu, học tập, huấn luyện quân sự chuẩn bị trở vào chiến trường Tây Nguyên và khu 5. Cũng là cái tết thứ hai đơn vị đón xuân bên đất nước Triệu Voi. Sau đó hành quân cấp tốc vào các tỉnh trên cao nguyên. Giữa tháng 3 năm 1972, đơn vị phối hợp với toàn chiến trường, tiến hành đánh một số cụm chốt giữ của địch trên đường 14, điểm cao Ngọc Tụ v.v… Lúc này đơn vị gặp không ít khó khăn về cung cấp lương thực, thực phẩm. Những với tinh thần vượt mọi khó khăn gian khổ, đơn vị đã tiến hành đánh giải phóng được tuyến phòng thủ của địch từ ĐắcTô đến Tân Cảnh, giành thắng lợi rực rỡ ngày 24 tháng 4 năm 1972. Tạo đà cho việc đơn vị đánh địch trong thị xã Kon Tum, địch quyết giữ cao  nguyên trung phần, cho nên chúng huy động tổng lực để giữ bằng được thị xã Kon Tum. Do đó đơn vị tôi có phần tổn thất về lực lượng.

Trong trận đánh địch vào thị xã Kon Tum, tháng 5 năm 1972 nhiều đồng chí bị thương, trong đó có đồng chí Nguyễn Đăng San, chiến sỹ của Tiểu đoàn tôi bị thương. Sau khi bị thương đồng chí San đi điều trị rồi về làm quân nhu của Trung đoàn. Còn tôi  điều trị vết thương xong về nhận nhiệm vụ khác, nên hai người xa nhau từ đấy, gần đây  hai anh em tìm gặp được nhau còn lại sau những lần mưa bom bão đạn. Hai người cựu chiến binh tìm gặp được nhau sau 40 năm xa cách, tại thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh. Cùng nhau nhớ về những tháng năm đầy khốc liệt của chiến tranh, tình đồng đội được chia sẻ bằng niềm vui của tập “ Ký ức thời binh lửa ” của một chiến sỹ bộ binh trực tiếp cầm súng đánh giặc ở đơn vị tôi chỉ huy. Hồi ký ấy đã phản ánh đầy tính chân thật xúc động về cuộc chiến đấu của đơn vị, và tình đồng chí trên chiến trường đầy gian lao thử thách, tô thắm thêm chủ nghĩa anh hùng cách mạng của quân dân ta.

Tôi mong tập hồi ký sớm ra đời, không chỉ để cho một lớp người cầm súng đi đánh giặc hồi tưởng, mà còn làm cho bạn đọc xa gần, hiểu thêm về tâm hồn người lính trong những năm tháng chiến tranh. Nhân đây tôi cũng có đôi lời thay cho lời tựa của tập hồi ký thời binh lửa do Nguyễn Đăng San nhớ viết lại, nói lên tình đồng đội, chỉ có trong khói lửa chiến tranh, tình cảm của người lính mới sâu đậm gắn bó, không bao giờ xoá mờ trong ký ức của họ./.

                                                                           
Đại Tá: Trần Như Tiếp
                                                      Trưởng ban liên lạc bạn chiến đấu đoàn Ba Gia
                                             Nguyên Tiểu Đoàn Trưởng D2- E1- F2: Quân khu 5.


Tiêu đề: Re: Hồi Ký Đường Ra Trận - CCB Sư đoàn 2 : Ông Nguyễn Đăng San.
Gửi bởi: quangcan trong 20 Tháng Giêng, 2011, 03:07:12 pm
                                         
     
TRÀO DÂNG TRONG TÔI VỀ MỘT THỜI RA TRẬN

Những cuốn sách khác tôi chỉ đọc một lần, nhưng khi đọc “Ký ức thời binh lửa”, của cựu chiến binh Thương binh Nguyễn Đăng San. Đã làm tôi cuốn hút đọc đi đọc lại nhiều lần. Hồi ký đã đưa tôi về miền ký ức và tuổi xuân phơi phới của mình. Ký ức nhắc tên làng tên đất, tình đồng đội những tháng năm khó khăn gian khổ trong khói lửa chiến tranh.

Chiến tranh đã lùi xa. Song những gì về một thời trận mạc, vẫn còn đọng mãi trong mỗi người cầm súng đi đánh giặc cứu nước. Kỷ niệm thân thương bên dòng sông Thu Bồn và tình người đất Quảng. Đã hiện về đồng đội tôi những năm công tác chiến đấu bên dòng sông Thu và bà con bên dãy Hòn Tàu đầy thân thương yêu quí. Tầng lớp thanh niên vượt lên thử thách để cho ngày thống nhất non sông. Nhiều lúc tôi tự hỏi động lực nào giúp đồng đội tôi vượt lên khó khăn gian khổ. Không riêng tôi, mà người dân trong đất nước hình chữ S đều cho đó là tình yêu quê hương đất nước.

Hồi ký tác giả viết về nghĩa tình đồng đội từ đầu cho đến cuối thật thiêng liêng và trân trọng. Cuốn “ Ký ức thời binh lửa”, được coi như nén hương thơm để tri ân với những người hy sinh vì Tổ quốc. Cuốn sách khắc hoạ thật sống động cần được nâng niu góp phần vào việc giáo dục thế hệ trẻ, biết cái giá mà ông cha ta phải trả cho ngày đất nước thống nhất.

                                 
Phạm Ngọc Hạnh- Thương binh 4/4.
                                    Nạn nhân chất độc da cam/điôxin.
                    Cựu chiến binh Trung đoàn 31. Sư đoàn 2. Quân khu 5.


Tiêu đề: Re: Hồi Ký Đường Ra Trận - CCB Sư đoàn 2 : Ông Nguyễn Đăng San.
Gửi bởi: quangcan trong 20 Tháng Giêng, 2011, 03:08:18 pm

THẤY MÌNH NHƯ TRẺ VÀ SỐNG LẠI VỀ MỘT THỜI CHIẾN TRANH KHỐC LIỆT

                              
 Sa Đéc ngày 19 tháng 9 năm 2010

Là người lính đi qua chiến tranh, sống chiến đấu trên mảnh đất liên khu 5. Nếm trải đủ mùi khốc liệt của chiến trường Trung Trung Bộ. Đã từng cầm súng trực tiếp chiến đấu với bọn viễn chinh Mỹ. Nên khi đọc: Ký ức thời binh lửa, của Cựu chiến binh thương binh Nguyễn Đăng San, tôi thấy mình như trẻ và sống lại về một thời chiến tranh khốc liệt ấy. Cuốn hồi ký rất thật và vô cùng cảm động. Xin cảm phục người đồng chí đã làm được và nói lại được về một thời bi hùng của chiến trường, về những nghĩa tình đồng đội sau cuộc chiến.

Chiến tranh sẽ lùi dần về dĩ vãng. Những gì đi vào lịch sử hào hùng, sẽ mãi là bất tử. “ Ký ức thời binh lửa” là một tư liệu quí. Chứa đầy giá trị nhân văn của một thời cả nước cầm súng đi đánh giặc và dựng xây đất nước. Cuốn sách xứng đáng được tôn vinh, góp phần vào việc giáo dục thế hệ mai sau, thấy cái giá phải trả cho ngày độc lập.

                                            
Huỳnh Hoàng Phương
         Địa chỉ: .............. Thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp


Tiêu đề: Re: Hồi Ký Đường Ra Trận - CCB Sư đoàn 2 : Ông Nguyễn Đăng San.
Gửi bởi: quangcan trong 20 Tháng Giêng, 2011, 03:10:01 pm

CUỐN SỬ SỐNG ĐỘNG VỀ NHỮNG NĂM THÁNG ĐI QUA LỬA ĐẠN

Tôi quen cựu chiến binh Nguyễn Đăng San rất tình cờ ! Đó là một lần đi dự hội nghị do Binh đoàn 12 tổ chức nhằm bàn bạc công việc chuẩn bị kỉ niệm 50 năm đường Trường Sơn huyền thoại. Thấy đôi lục bình đặt trong Bảo tàng Đường Hồ Chí Minh có bài thơ rất hay, tôi hỏi tác giả bài thơ thì được ban tổ chức giới thiệu gặp anh San.
Ngay từ lần gặp đầu tiên, tôi đã “mê” ngay những kí ức một thời lửa đạn của anh. Vốn là Biên tập viên phụ trách chuyên trang Tiếp lửa truyền thống (trên trang 2, Báo Quân đội nhân dân hàng ngày), tôi thấy ngay đây là một nhân vật hấp dẫn của truyên trang. Ngay sau đó, được anh cung cấp tư liệu, tôi đã viết hai bài: “ Nhớ nhé quê anh ở Thái Bình” nói về cuộc chiến đấu không cân sức của anh San và một vài đồng đội (trong đó có Tiểu đội trưởng Tô Ngọc Lâm, quê ở Thái Bình. Một người mà anh San cứ đau đáu mong Đảng Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho anh) và bài “ Giá mà gặp lại cô ấy” viết về kỉ niệm của anh với một cô gái Lào tàn tật trên đất nước Triệu Voi. Cả hai bài báo nhỏ ấy đều có tiếng vang trong bạn đọc, được nhiều người gửi thư khen ngợi…
Thế rồi một ngày, tôi đi công tác ở Hải Phòng thì anh San điện bảo tôi có điều kiện rẽ qua chỗ anh, anh nhờ đọc và góp ý về cuốn “ Ký ức thời binh lửa” của anh. Tôi đã bắt xe đi ngay Quảng Ninh với mong muốn tiếp cận với cuốn hồi ký của một người lính đã đi qua những thử thách khốc liệt nhất của cuộc chiến tranh, người đã nhiều lần sống sót qua những trận đụng độ sinh tử với quân thù.
Đọc “ Ký ức thời binh lửa của anh”, trong tôi cứ tràn lên nỗi nghẹn ngào. Dẫu biết chiến tranh là khốc liệt, dẫu đã xem rất nhiều bộ phim chiến tranh, với những đoạn phim được dàn dựng bằng những tưởng tượng phong phú của các đạo diễn tài ba, nhưng không ai có thể tưởng tượng ra một cuộc chiến tranh tàn khốc mà đầy những vẻ đẹp của khát vọng, hoài bão, lý tưởng “ Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/Mà lòng phới phới dậy tương lai”; càng không ai có thể tưởng tượng, đằng sau nụ cười luôn phảng phất trên môi người lính Nguyễn Đăng San, lại là một mảng ký ức đẫm máu, đầy đau thương như thế.

Và tôi lặng đi, tôi chưa dám viết, chưa dám bình luận, phân tích về cuốn Hồi ký này. Tôi chắc chắn sẽ làm việc này, nhưng tôi muốn có thời gian để đọc lại Hồi ký vài lần nữa, và tôi sẽ nhốt mình trong phòng gác lại mọi công việc bếp núc vốn lúc nào cũng căng như dây đàn của một phóng viên thời sự, để suy ngẫm, để có một bài viết ngang tầm với ký ức rất đẹp, rất hào hùng mà cũng rất đời của anh San.   Chính vì vậy nên anh hỏi tôi có cần thêm bớt, cơ cấu gì về cuốn hồi ký này không? Tôi cho rằng, hãy để cuốn hồi ký tồn tại một cách tự nhiên, đừng chạm bàn tay nghệ thuật sắp đặt, sẽ làm mất giá trị lịch sử chân thực về một thời kì anh hùng của dân tộc, một thời kì sôi động và hào hùng nhất của người lính Nguyễn Đăng San.

Và, với trải nghiệm của một người làm báo về đề tài lịch sử- truyền thống, tôi cứ mê mải nghĩ: Anh San đang dốc sức đề nghị để Tiểu đội trưởng Tô Ngọc Lâm được danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, còn tôi thì nghĩ: Anh San xứng đáng là một người anh hùng của Quân đội nhân dân Việt Nam. Và tôi thầm mong: Giá như tất cả các bạn trẻ trên đất nước Việt Nam được đọc một lần “ Ký ức thời binh lửa” thì họ sẽ tường tận về cha ông mình hơn, hiểu rõ cái giá mà cha ông đã bỏ cho nền hoà bình, độc lập, thống nhất hôm nay./.
                
Nguyễn Hồng Hải- Phóng viên Báo Quân đội nhân dân.
                                Hà Nội ngày 10 tháng 4 năm 2010.


Tiêu đề: Re: Hồi Ký Đường Ra Trận - CCB Sư đoàn 2 : Ông Nguyễn Đăng San.
Gửi bởi: quangcan trong 20 Tháng Giêng, 2011, 03:11:24 pm

KÝ ỨC THỜI BINH LỬA: GIÁ TRỊ ĐÍCH THỰC CỦA CUỘC CHIẾN


Đọc: “ Ký ức thời binh lửa” Tôi thấy như có Tôi và thế hệ đàn Anh của chúng ta ở trong đó.
Tại sao tôi nói Ký ức quá gần?  Xin trả lời: Vì chúng ta chưa quên.
Tại sao tôi nói. Ký ức Anh viết quá đúng? Bởi vì: Chúng ta đã trải qua.
Tại sao tôi nói ký ức là chân thật? Bởi vì Anh không phải là nhà văn, nhà báo, không phải là nghệ sỹ, để tạo nên một hình tượng chỉ thông qua sách vở giáo điều.
Tính chân thật khách quan chính là chất men làm say đắm tâm hồn những người lính chiến.
Tôi đồng ý với nhà báo Nguyễn Hồng Hải “ Hãy để cuốn hồi ký tồn tại một cách tự nhiên”. Đó là giá trị đích thực mà mọi người cần phải tìm./.

                                  
Đàm Duy Tường
                   Nguyên chiến sỹ E31. F2. Quân khu 5
         Nguyên Đại Tá- Chủ nhiệm chính trị tỉnh Bắc Kạn.



Tiêu đề: Re: Hồi Ký Đường Ra Trận - CCB Sư đoàn 2 : Ông Nguyễn Đăng San.
Gửi bởi: quangcan trong 20 Tháng Giêng, 2011, 03:12:37 pm

NGUYỆN CỐ GẮNG XỨNG ĐÁNG VỚI LỚP NGƯỜI KHÔNG TIẾC MÁU XƯƠNG

Nhân chuyến ra Hà Nội hội thảo: Giọt nước mắt thắm tình đồng đội. Cháu được đọc “ Ký ức thời binh lửa” của Cựu chiến binh Nguyễn Đăng San. Cuốn hồi ký đã đưa cháu về những trang sử hào hùng của dân tộc, và rõ hơn về sự ác liệt của chiến tranh, cũng như sự hy sinh anh dũng của quân dân ta, thực hiện theo di chúc thiêng liêng của Hồ Chủ Tịch “Quyết tâm đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ, bảo vệ miền Bắc giải phóng miền Nam”. Ngày còn trên nghế nhà trường chúng cháu được thầy cô cho biết; Miền Bắc là nơi chi viện sức người sức của cho Miền Nam ruột thịt. Hôm nay những dòng Ký ức đã đưa cháu về một Miền Bắc thật sự  là hậu phương vững chắc cho việc giải phóng Miền Nam. Chúng cháu thế hệ sinh ra sau chiến tranh. Nguyện cố gắng xứng đáng với lớp người không tiếc máu xương cho ngày độc lập tự do hôm nay.

                                              
Nguyễn Thị Thuý Hằng.
                                Xã Ân Nghĩa huyện Hoài Ân- Tỉnh Bình Định
                              Trường Trung Học Cơ Sở Ân Thạch.


Tiêu đề: Re: Hồi Ký Đường Ra Trận - CCB Sư đoàn 2 : Ông Nguyễn Đăng San.
Gửi bởi: quangcan trong 20 Tháng Giêng, 2011, 03:13:56 pm

NÊN TIẾP TỤC PHÁT ĐỘNG CÁC CỰU CHIẾN  BINH VIẾT VỀ NHỮNG KỶ NIỆM SÂU SẮC.


Năm 2008, tôi ra vùng mỏ viết về tình cảm của Doanh nhân, Cựu chiến binh Nguyễn Đăng San với Tiểu đội trưởng Tô Ngọc Lâm. Hai năm sau tôi rất cảm động được đọc bản thảo và tham gia biên tập lần đầu “ Ký ức thời binh lửa” của cựu chiến binh San.
Đây là tập ký ức, nhưng nó đã vượt qua tính hồi ký, trở thành một cuốn sách viết sự thật về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của quân dân ta trên khắp các chiến trường. Tập hồi ký cho chúng ta thấy sự khốc liệt của cuộc chiến tranh, nhưng cao hơn là tinh thần vượt qua muôn vàn khó khăn gian khổ, sẵn sàng hy sinh cho nền độc lập tự do Tổ quốc của người lính Cụ Hồ. Cho chúng ta hiểu thêm về nghĩa tình đồng đội của anh bộ đội trong khói lửa chiến tranh- một cội nguồn làm lên sức mạnh của quân đội nhân dân Việt Nam Anh hùng. Hồi ký còn mở ra biên độ về hậu phương Miền Bắc và các bộ tộc Lào cùng với nhân dân Việt Nam đánh Mỹ. Tập hồi ký còn là bản tình ca về nghĩa tình đồng đội sau chiến tranh.
Tuy không phải nhà văn, nhà báo, nhưng Cựu chiến binh Nguyễn Đăng San, đã dồn lên đầu ngọn bút viết về những chuyện thật sinh động và sâu sắc, khắc hoạ nhiều tình tiết trong cuộc chiến tranh. Nếu không phải là người lính trực tiếp cầm súng chiến đấu, thì khó mà tưởng tượng được. Và tôi không hiểu làm sao anh lại nhớ được một cách chân thực chi tiết căn kẽ và xúc động đến như thế.
Hy vọng sau khi “ Ký ức thời binh lửa” ra mắt, sẽ có thêm nhiều Hồi ký chiến trường của các Cựu chiến binh trực tiếp chỉ huy chiến đấu, trên khắp các mặt trận từ Bắc vào Nam. Chắc chắn đây sẽ là những tập sách viết về 2 cuộc chiến tranh một cách chân thực đầy đủ và sinh động.
Góp lại, để chúng ta có một tổng tập nói về hai cuộc chiến tranh. Một đề tài mà nhiều nhà văn đã đầu tư trí tuệ công sức nhiều năm qua, nhưng vẫn còn nhỏ bé so với sự vĩ đại của hai cuộc kháng chiến.
Đây cũng sẽ là một gợi ý gửi tới Bộ Quốc Phòng, Hội Cựu chiến binh Việt Nam: nên phát động các Cựu chiến binh cả nước viết về một thời đánh giặc cứu nước oai hùng.
                                             
Thái Bình ngày 25 tháng 7 năm 2010
                                                                   Nhà báo: Lã Quí Hưng
                                                           CVP Hội nhà báo tỉnh Thái Bình


Tiêu đề: Re: Hồi Ký Đường Ra Trận - CCB Sư đoàn 2 : Ông Nguyễn Đăng San.
Gửi bởi: quangcan trong 29 Tháng Ba, 2011, 12:47:02 pm
Kính thưa các đ/c và các bạn, chiến tranh đã lùi xa nhưng vẫn còn trong ký ức của chúng ta, trong những người cầm súng đi cứu nước, CCB Nguyễn Đăng San (trung đoàn 1, sư đoàn 2 )đã viết về một thời binh lửa đầy tự hào, kính mời quý vị cùng nghe nghệ sỹ Hồng Liên thể hiện bài thơ "Bức tình đồng đội" và truyện thơ "Anh và tôi" của anh - viết về kỷ niệm một trận đánh tại cao điểm 723 trên đường 9 - Nam Lào năm 1971 cùng tiểu đội trưởng Tô Ngọc Lâm đã hy sinh.

http://www.4shared.com/file/nJHbcOG4/bac_san_cd1.html
http://www.4shared.com/file/pzZezCr-/bac_san_cd2.html


Tiêu đề: Re: Hồi Ký Đường Ra Trận - CCB Sư đoàn 2 : Ông Nguyễn Đăng San.
Gửi bởi: buivantan1974 trong 24 Tháng Hai, 2013, 09:25:37 pm


Những Trận Bi Hùng Trên Đất Tây Nguyên

Đoàn quân sau mấy tháng hành quân đi bộ liên tục, vượt hàng trăm km đến gần ngã ba biên giới, Việt Nam- Lào- Căm Pu Chia, qua huyện Ngọc Hồi vào huyện Đắk Tô, tỉnh Kon Tum, đường hành quân vũ khí súng đạn, lương thực thực phẩm trên vai sức khoẻ bộ đội đã có phần giảm sút.
Nhân dân trên núi rừng Tây Nguyên, chịu đựng biết bao khó khăn gian khổ. Nhưng đồng bào vẫn một lòng đi theo Đảng, Bác Hồ, hôm nay chúng tôi về chiến đấu trên mảnh đất có văn hoá của Trường Ca Đam San và anh hùng Núp, cùng đứng lên lãnh đạo đánh Tây thắng lợi, nên cán bộ chiến sỹ đều xác định có khó khăn gian khổ ác liệt đến mấy cũng phải vượt lên. Cây cối vươn cao mấy người vòng tay nhau mới ôm hết một gốc cây to, rừng núi ẩm ướt ít người qua lại. Quân địch từng ví so sánh: Dốc Tây Nguyên- Gan Cộng sản.
Ngày đêm bộ đội qua dốc cao suối sâu, công tác hậu cần gặp rất nhiều khó khăn, trên lưng lúc nào cũng trên 60 kg súng đạn, quần áo, gạo, muối. Việc vận chuyển súng đạn cỡ lớn vào vị trí chiến đấu càng khó khăn hơn nhiều. Địch thường xuyên cho biệt kích thám báo vào bản làng quấy rối, xúi dục kẻ xấu nổi dậy, hổ báo thú giữ rình rập bắt người ăn thịt.
Gian khổ ác liệt đã có phần tử phản lại đồng đội, đi theo và chỉ điểm cho máy bay pháo kích địch đánh phá nơi trú quân. Nhưng bọn giặc đã bị đoàn quân cho một đòn choáng váng, không còn cơ hội tái chiếm cao điểm đồn bốt cũ.
Địch bắn vào khu trú quân hàng trăm quả đạn pháo 105 ly, bom từ những tốp máy bay F 105, AD6 và B52 rải xuống, nổ phá tan tành cả một khu rộng lớn, làm cho việc chiến đấu giữ chốt gặp nhiều khó khăn. Nhưng cán bộ chiến sỹ vẫn chiến đấu ngoan cường, xác định nhiệm vụ cho từng tổ công tác. Đồng đội thay nhau lên đánh chiếm điểm cao chiến đấu đến cùng, truy kích địch tái chiếm đồi Ngọc Tụ,(xã Ngọc Tụ thuộc huyện Đắk Tô, tỉnh Kon Tum ngày nay).
Tổ trinh sát đi chốt giữ trên đường 14, một đồng chí bị thú dữ ăn thịt. Lúc đầu tưởng lộ vị trí phải di chuyển, đảm bảo an toàn trước giờ tiến quân đánh vào sào huyệt địch ở Tây Nguyên.
Thám báo biệt kích địch hoạt động mạnh bộ đội hạn chế ra sông suối tắm giặt,  đầu tóc quần áo chúng tôi bám đầy đất cát và khói bom đạn. Đến bữa phải cử người đi gần một giờ đồng hồ mới có cơm đem về ăn. Hàng tháng trời chiến đấu trên đất Cao nguyên. Đơn vị tôi hy sinh mất một số đồng chí, trong đó có anh Trần Văn Thành và Lê Quang Nhuận, hai anh cùng Trung đội.
Đầu tháng 4 năm 1972, lương thực thực phẩm gặp vô cùng khó khăn, mỗi chiến sỹ trong ngày được cấp 0,2 đến 0,3 kg gạo, đơn vị thay nhau đi đào củ chuối lấy măng tre nứa. Sau đó củ chuối măng rừng cũng không còn mà lấy cải thiện. Trong lúc đánh chiếm đồn bốt Ngọc Tụ vét được ít gạo địch bỏ lại hý hửng đem về, không biết gạo có thuốc mìn địch pha trộn đem nấu ăn với nhau, làm mấy anh bị nhiễm độc nặng phải cứu mãi mới sống.
Chiều ngày 23 tháng 4 đơn vị được lệnh cơ động xuống đánh vào cụm quân sự địch mạnh nhất tại Kon Tum lúc bấy giờ. Nuôi quân phát cho mỗi đồng chí mấy miếng sắn luộc, một nắm cơm nhai được hai miếng. Dù khó khăn gian khổ nhưng đồng chí nào cũng xác định và thực hiện theo đúng lời thề danh dự trong Quân đội. Đó là: Thắng không kiêu, bại không nản, dù gian lao khổ hạnh không sờn lòng... Đơn vị hạ quyết tâm đánh thắng giải phóng bằng được cụm cứ điểm quan trọng của địch tại Đắk Tô II. Xứng đáng với truyền thống của Trung đoàn Ba Gia: Đánh là chiến thắng.
Khoảng 22 giờ đêm chúng tôi mang vác vũ khí súng đạn, cùng một bó cây dài hơn một mét bí mật qua mấy lớp rào dây kẽm gai, bò vào giữa sân bay thì pháo sáng địch bắn lên. Bộ đội nằm sát mặt đường băng hướng về lô cốt địch sẵn sàng chiến đấu. Đến vị trí phân công từng tổ nhanh chóng đào hầm, hạn chế tối đa tiếng cuốc xẻng.
Pháo cối địch từ cụm căn cứ bắn vượt về đường 14, xung quanh khu vực, đạn tiểu liên pháo sáng bắn cầm canh quan sát liên tục. Đại đội trưởng Lê Văn Khân, bò đến từng tổ chiến đấu kiểm tra chỉ hướng tấn công, đề phòng trong bốt địch đánh ra, anh động viên từng chiến sỹ của mình.
Hầm của từng tiểu đội chiến đấu được nhanh chóng đào xong, chúng tôi tựa vào nhau tâm sự: Hàng chục ngày nay bọn mình không được tắm giặt, quần áo đầu tóc bê bết đất cát, gian khổ ác liệt quá, đơn vị mình ăn toàn rau, măng, sắn, củ chuối rừng thay cơm, không biết ngày mai thế nào đây. Chiến tranh kết thúc chúng mình còn sống phải tìm đến nhà nhau chơi nhé: Riêng tiểu đội trưởng San về phố Bạch Mai, thành phố Hà Nội, Quỳnh nói với ông bố bà mẹ cùng toàn thể anh em trong gia đình, gả cho đồng chí một cô em gái rất xinh…
 Quê Khuyến vùng chiêm trũng Nam Định, dân làng chủ yếu theo đạo thiên chúa giáo, người dân quê mình cần cù chịu khó, con trai mười bảy mười tám đều lên đường đi đánh giặc, thôn xóm lúc này chỉ còn người lớn tuổi và chị em phụ nữ thay trai cày bừa đồng áng, người ngoài hậu phương miền Bắc hiện nay cũng vất vả không kém gì bọn mình ở mặt trận. Đồng lúa quê mình bằng phẳng thẳng cánh cò bay và gạo tám quê Khuyến thơm ngon nổi tiếng đấy…
Mấy anh em trong hầm nuốt nước bọt rồi nói; ước gì đêm nay có nắm cơm mà ăn thì sướng biết mấy. Thôi nhé, chúng mình phải chiến đấu đánh đuổi giặc ngoại xâm đã, đất nước hoà bình lúc đó có ăn cháo cũng sướng các đồng chí nhỉ. Bọn mình nhớ, khi đất nước thống nhất anh em mình còn sống phải tìm về đến nhà nhau chơi, nói lại những tháng ngày cực kỳ khó khăn gian khổ và ác liệt của chiến tranh, song cũng đầy tự hào vinh quang này.
Trong căn hầm nhỏ tôi điểm lại, mấy năm qua đơn vị đã lập lên nhiều chiến công ở mặt trận đường 9, trên cao nguyên Bôlôven Nam Lào. Trong niềm vui thắng trận, cũng không ít đồng chí hy sinh anh dũng, cùng tình cảm của đồng đội dành cho nhau trong những lúc nguy nan nhất của cuộc chiến. Ngày mai trận giáp mặt với kẻ thù hung bạo trong căn cứ, mỗi đồng chí lại phải vượt lên để chiến thắng vị trí quan trọng của địch trên Tây Nguyên, làm bàn đạp cho những trận chiến đấu tiếp theo của mặt trận. Tình đồng đội đã làm tôi bồi hồi nhớ lại, những tháng năm cùng nhau trên một chiến hào, vượt lên muôn vàn bão tố để chiến thắng quân thù.
… Ta đã cùng nhau chung sống một thời
Chung tiểu đội hành quân đi phía trước.
Đường Trường Sơn gian nan ta cùng bước
Một căn hầm mấy đứa ngủ chung nhau…


Trời vừa rạng sáng, địch trong cứ điểm phát hiện đã bị đơn vị tôi bao vây, ngay lập tức chúng bắn cấp tập đạn pháo 105 ly, cối 81ly, đạn đại liên và M79, cùng với 4 chiếc xe tăng chạy ầm ầm ra sân bay bắn phá tấn công đánh áp đảo để bắt sống đối phương.
Thấy xe địch chạy về hướng phục kích, Đại đội trưởng ra lệnh: Các đồng chí nhằm thẳng xe tăng địch, súng B.40- B.41 chuẩn bị bắn. Đợi xe địch chạy vào gần, đại trưởng Khân cầm khẩu B.41 bóp cò, quả đạn nổ bay vào chiếc xe địch đi đầu, chiếc xe đứt xích khựng lại cháy bùng lên, ba chiếc phía sau chạy vọt lên bắn về phía đơn vị.
Quả đạn từ khẩu M79 tôi bắn ra nổ vào tháp pháo xe tăng địch, các loại vũ khí đơn vị tôi nổ trút về phía chúng, xe tăng địch bắn tới tấp đại liên vào vị trí phục kích. Tôi lệnh cho đồng chí xạ thủ B.41 bình tĩnh đợi xe vào gần mới được bóp cò, quả đạn B41 từ khẩu súng đồng chí Côn bắn ra, nổ tung chiếc xe tăng đang hung dữ xông về phía chúng tôi.
Tiếng từ các hầm reo lên: Xe tăng địch cháy…cháy rồi… hai chiếc… hai chiếc tăng địch cháy các đồng chí ơi...
Mấy tên từ trong hai xe cháy nhảy ra bắn lại chống cự, ngay lập tức đã bị các đồng chí Khuyến, Quỳnh, và đồng đội dùng súng M79 và AK tiêu diệt. Hai chiếc tăng còn lại thấy thế bắn bữa bãi bỏ chạy. Cùng lúc ấy thì phân đội xe tăng của ta xuất hiện, thế là cả hai chiếc xe địch đã bị các chiến sỹ xe tăng ta nổ súng tiêu diệt.
Lúc này đạn pháo 105 ly, cối 81 của địch bắn liên tục vào khu vực chúng tôi chiếm giữ. Một lúc sau bốn xe tăng của ta từ phía Tân Cảnh chạy đến, một chiếc bốc cháy dữ dội, đồng chí lái xe và quay phim nhảy ra thoát hiểm chạy về phía chúng tôi. Anh phóng viên nhẩy vào hầm tiểu đội anh Hỗ, tiếp tục quay diễn biến trận đánh, đồng chí xe tăng chạy vào hầm tôi an toàn. Mấy phút sau anh hỏi về diễn biến trận đánh, rồi anh nói: Xe tăng của phân đội cùng với bộ binh của Sư đoàn 2, đánh và làm chủ hoàn toàn thị trấn Tân Cảnh xong, thì được lệnh về đây chiến đấu, nhưng xe của phân đội đã bị xe tăng địch bắn đứt xích và cháy thùng dầu phụ, tiếc quá…!
 Một lúc sau anh nói; các đồng chí đói lắm phải không…, nói xong anh lấy nắm cơm bẻ cho mỗi người một miếng. Vừa ăn xong miếng cơm gạo trắng của anh cho thật là ngon, thì nóc hầm tôi bị quả đạn cối 61 của địch bắn tới nổ đất cát rơi đầy người. Chúng tôi cười nói với nhau: Đêm qua nóc hầm làm ẩu, thì quả đạn cối địch vừa rồi đã chôn vùi ba chiến sỹ bộ binh C7- D2- E1- F2 và chiến sỹ phân đội xe tăng cùng một chỗ.
 Hình ảnh người chiến sỹ xe tăng trong trận chiến đấu ngày ấy, còn đậm mãi trong lòng tôi về những ngày vô cùng khó khăn ác liệt.