Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Văn học chiến tranh => Tác giả chủ đề:: hoi_ls trong 18 Tháng Giêng, 2011, 05:09:34 pm



Tiêu đề: Truyện ngắn - Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Giêng, 2011, 05:09:34 pm
NGƯỜI LÍNH HAY NÓI TRẠNG

Nguyễn Quang Lập

Đời tôi có chi mà kể ông, sau khi thoát chết hàng trăm trận, vốn có chút ít kinh nghiệm tác chiến, được học qua học viện quân sự cao cấp, tôi về làm tư lệnh sư đoàn, thế thôi.

Viết báo, làm văn cứ nhằm vào mấy thằng có nhiều huân chương để khai thác, là dại. Nhảy xuống tụi lính kia kìa! Ở đấy các ông sẽ kiếm được khối chuyện. Khi ông đã được chúng nó cho gia nhập hội, nghĩa là khi ông được chúng nó coi như một thằng lính thực thụ thì ông cứ phải há hốc mồm mà nghe chúng nó nói. Sao ông cười?... Thôi được, tôi xin hiến cho ông một chuyện, từ thời tôi còn là một thằng lính, nhưng không phải chuyện của tôi… Chuyện một thằng bạn của tôi.

Cậu ta tên là Phạm, Nguyễn Phạm. Nó có nước da đen, đen một cách khủng khiếp. Chúng tôi thường trêu nó: “ Phạm từ lọ mực chui ra, lại còn nói láo con nhà võ lâm”. Đầu tiên nghe thế nó cáu lắm, sau nhàm tai, nó chỉ nhe răng cười. Phạm hay nói trạng. Nó nói trạng giỏi như thánh. Ôi sao ông lại cười? Thật đấy! Dạo đó, chúng tôi đang ở Nghệ An, chuẩn bị cho một chiến dịch lớn. Một hôm nó được lệnh đi đón một cán bộ cao cấp. Biết Phạm hay nói trạng, đại đội trưởng Thắng dặn đi dặn lại: “Mày đừng có ngứa mồm nói bà láp nhé! Ông ấy … khạc ra lửa đó, coi chừng!” Phạm gật đầu: “Anh yên chí, tôi cũng khạc ra lửa!” Anh Thắng nghe hắn nói thế thì chán ngán, đe một lần nữa “Làm sao… tao không chịu trách nhiệm đâu đó! Đồ khỉ!” Nó cười khì. Thế là Phạm đi. Người cán bộ cao cấp ấy là phó tư lệnh. Dọc đường dẫn ông về nó câm như hến, một tay cầm gậy, một tay cầm tựa phát cây con, cứ thế Phạm lầm lũi đi không hé răng chi hết. Phó tư lệnh buồn bã theo hắn mệt quá, không khí xem ra nặng nề, kiếm chuyện nói cho vui:

- Cậu Phạm này…

- Dạ?

- Tớ hỏi thật nhé?

- Dạ thủ trưởng cứ hỏi thoải mái.

- Nói cậu đừng giận… chứ cậu đen quá! Đời tớ chưa thấy ai đen như cậu.

Chỉ cần có thể, coi như đã vào “gam” trạng của nó rồi! Phạm quay lại nhìn Phó tư lệnh với một bộ mặt bi thảm hết mức.

- Thủ trưởng tưởng tôi đen thật đấy à? Tôi ngụy trang bộ da của tôi đấy thôi.

- Thế ra cậu trắng?

- Dạ… Phạm gãi đầu - không những trắng mà còn óng ánh lân tin nữa. Thật khổ, cha mẹ tôi sinh ra tôi không lường trước sau này có chiến tranh…

- Óng ánh lân tinh? - Phó tư lệnh ngờ vực hỏi. Hắn tỉnh bơ, vừa đi vừa nói:

- Dạ. Cho nên … trước khi nhập ngũ, mẹ tôi bắt tôi phải nhuộm da. Mẹ tôi mượn thùng phi về, mua một cân thuốc nhuộm thả vào, đổ nước đun thật sôi. Xong, tôi nhảy vào đó… đậy nắp lại. Có phèn chua nữa, màu bền phải biết! Chỉ tiếc mẹ tôi không mua được màu xanh lá cây, phải nhuộm màu đen.

Phó tư lệnh nghe đến đó phải đứng lại dựa vào gốc cây mà cười:

- Cái thằng nói láo vừa vừa chứ! Nước sôi.. hì hì… nhảy vào… đồ nói … hì hì láo!

 Phạm nói trạng với bất kỳ đối tượng nào, bất kỳ thời điểm nào, chỉ cần có thời cơ là hắn nói. Sau này tôi mới biết Phạm sinh ra ở cái nơi “nhà nhà nói trạng, người người nói trạng”, đấy là thôn Huỳnh Công, xã Vĩnh Tú, Vĩnh Linh. Những chuyện trạng của Phạm không phải trăm phần trăm nó bịa ra, một phần là gia tài của bà con cô bác ở cái làng ấy. Phạm là thằng trinh sát có nghề, khỏe thua voi một chút, chỉ có đều là vụng chân vụng tay vô kể. Những việc vặt đại loại như đục đẽo, đan lát, gò hàn… không ai dám giao cho nó làm. Vì thế nó đâm ra sướng. Mỗi lần trinh sát về hoặc là nó ngủ, hoặc là nó đút tay túi quần tha thẩn hết lán này sang lán nọ để có dịp là nói trạng. Suy cho cùng đời cũng phải có những thằng như thế mới thực là đời, nếu không thì chán chết!

***

Trong sư đoàn bộ của chúng tôi hồi đó có hơn chục cô gái làm thông tin vô tuyến 15 oát. Cô nào cũng khá gái cả. Hết thảy đều mê Phạm. Xung quanh các cô có hàng trăm thằng vui tính, nhiều tài vặt. Phạm không vui tính theo nghĩa thông thường. Nghĩa là không bao giờ nó nói bông lơn. Phạm không phải là khách thường xuyên của lán “mì chính cánh” kia. Trông bề ngoài nó như một thằng lầm lì ít nói. Phạm chỉ nói khi người ta hỏi nó. Hầu như tất cả mọi sự trả lời của nó đều là mở đầu của một huyền thoại. Không ai có thể bắt chước được, Phạm cứ mở mồm là đá cũng phải cười. Các cô gái thích hắn lắm. Mỗi lần gặp Phạm, các cô hồi hộp chờ nó nói để được cười ré lên, túm áo nhau mà cười, đấm lưng nhau mà cười… Không cô nào biết Phạm mấy tuổi, ở đâu, hoàn cảnh gia đình ra sao. Phạm đứng ngoài cuộc tất cả những lần anh em đàm luận về tình yêu, về những đặc điểm, những yêu cầu “đối tượng” cần “nghiên cứu”. “Cái thằng Phạm thế mà khô khan”, anh em thường nói thế. Tôi cũng nghĩ thế mặc dù không nói ra. Ấy thế mà nhầm, nhầm to hết!

Đó là cái đêm tôi thấy Phạm ngủ sau cùng mặc dù xưa nay nó vẫn được mệnh danh là kẻ có một lịch sử ngủ sớm. Tôi để ý xem nó làm gì. Thấy Phạm lục trong ba lô ra một cuốn sổ ngồi hí hoáy viết. Nó viết lâu lắm, có đến ba tiếng đồng hồ mới xong. “Chắc cu cậu nổi máu văn chương!” Tôi nghĩ vậy rồi nằm đợi cho Phạm cất tiếng ngáy pho pho mới lẻn dậy. Lính trinh sát lấy một mảnh giấy trên túi áo ngực của một người đã ngủ say có gì là khó.

Tôi lật ra xem: “Kiều Vân, em yêu quí nhất của đời anh!” và tôi cười, ôm bụng mà cười. Cười, không phải vì đó là chuyện hài hước mà vì bất ngờ quá, thú vị quá. Có điều không dám cười to. Cắn lưỡi, bịt mũi mà cười. Cứ khục khục. Hơn mười phút tôi mới đọc tiếp được bức thư tình của Phạm gửi cho Kiều Vân, một hoa hậu của sư đoàn tôi. Té ra bức thư rất ngắn, chỉ thế này thôi: “Kiều Vân đừng nghĩ rằng thằng nói trạng là thằng nói láo. Trong rừng lạnh quá, tôi nói trạng cho anh em cười, cười thiệt to, vậy thôi. Đời có nhiều chuyện để khóc nhưng rất ít chuyện để cười. Kẻ nào tìm được nhiều chuyện đáng cười để cho mọi người phấn chấn vui vẻ mà quên hết nhọc nhằn, kẻ đó thực có ích cho đời có phải không Kiều Vân? Hôm qua Minh Thủy túm áo tôi nói: “Em vừa đi lấy gạo về, em mệt quá! Anh nói trạng đi". Hôm trước Phương Thanh chạy đến tìm tôi nói: “Em nhớ nhà quá, anh nói trạng đi!” Chỉ riêng Kiều Vân là hiểu sai vai trò gây cười của tôi. Tại sao Kiều Vân lại gọi tôi là: “ Phạm nói láo”? Tôi buồn. Nhưng tôi không ghét Kiều Vân đâu. Tôi yêu Kiều Vân, yêu ghê lắm. Yêu đến muốn chết đi được. Nếu không phải là người lính đang đánh nhau với Mỹ - ngụy có lẽ tôi chết mất vì sự lạnh nhạt của Kiều Vân. Kiều Vân ạ:

Tôi yêu em đến nay chừng có thể
Ngọn lửa tình chưa hẳn đã tàn phai
Nhưng không muốn em bận lòng thêm nữa
Hay hồn em phải gợn bóng u hoài
Tôi yêu em âm thầm không hy vọng
Lúc giận hờn lúc hậm hực lòng ghen
Tôi yêu em chân thành đằm thắm
Cầu em được người tình như tôi đã yêu em


            Nhà thơ Liên Xô: Gooc-ki

Tôi lại phì cười. Trời ơi có ngần ấy chữ mà hí hoáy hơn ba tiếng đồng hồ. Trời ơi “nhà thơ Liên Xô: Gooc-ki”! Phạm ơi là Phạm, tao muốn chết vì buồn cười quá! Tôi đang khoái chí bỗng bị ngã dúi vì một lực đẩy rất mạnh.

- Tổ cha mi! Mi đọc … đồ khỉ!


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Giêng, 2011, 05:11:03 pm
Tôi quay lại, vội vàng chìa tay trả bức thư cho Phạm. Ngỡ Phạm sẽ chửi um lên, chẳng ngờ sau khi nhận được thư, cậu ta lẳng lặng ngồi xuống cạnh tôi.

- Ông viết thư hay quá!

- Tao yêu con Vân… răng mi cười?

- Ai người ta cười chuyện ấy! Cười là cười thơ Pus-kin thì ông nói thơ Goor-ki. May con Vân nó chưa đọc… Kiều Vân là sinh viên năm thứ nhất đại học sư phạm văn Hà Nội đó.

Tao biết. Đại học… Kệ! Tao yêu nó chứ yêu chi cái “đại học” của nó. Có điều mi phải bí mật… Nếu không tao chém chết.

- Yên chí, tôi sẽ giúp ông. Tôi làm “bè trầm” tốt lắm.

Chúng tôi ngồi với nhau cho đến sáng thì thầm vạch một kế hoạch “tác chiến”, bước một sẽ … bước hai sẽ … Nhưng toàn bộ kế hoạch tạm thời bị trì hoãn vì chúng tôi được lệnh đi trinh sát cứ điểm 174 ở Tây bắc Quảng Trị. Cũng may cuộc đi lần đó không ai mệnh hệ gì. Về đến đơn vị, báo cáo với chỉ huy sư đoàn xong, chúng tôi đi luôn đến lán nữ. Tụi con gái vừa thấy cái mũi đen chũi của Phạm chạm ngõ nhà mình, đã hét toáng lên:

- A! Ơ! Anh Phạm! Anh Phạm! Tụi bay ơi!...

- Chào anh nói trạng vĩ đại!

- Anh Phạm ơi… chúng em “dớ” anh lắm! Anh phải kể thiệt “diều” chuyện hí, anh Phạm.

Tụi con gái bao vây lấy Phạm. Phạm ngồi xuống giường của Kiều Vân (theo kế hoạch đã duyệt ở bước một). Kiều Vân thấy Phạm ngồi cạnh mình thích lắm, cầm tay Phạm lay lay:

- Bắt đầu đi anh Phạm!

Phạm không nói gì, với tay lên giá đỡ lấy cái lược của Kiều Vân chải đại tóc mình. Tôi ngồi nghĩ thầm: Kiều Vân nó niềm nở với Phạm thế sao trong thư cậu ta bảo cô ta lạnh nhạt? Có lẽ cậu ta quá bi quan thôi! Quá bi quan, có lẽ… Thấy Phạm cứ cầm lược chải tóc miết, Kiều Vân sốt ruột giục:

- Gớm! Chải gì mà chải khiếp rứa! Tóc con trai có một nhúm mà cứ làm đỏm mãi à…

- Bậy. Có sao người ta mới chải!

- Hay là chấy? Kiều Vân nheo mắt hỏi, tụi con gái cười rúc rích.

- Đâu có! Hỏi ông này mà xem. Hôm qua đi trinh sát 174 về, dọc đường bị trực thăng đuổi bắn chạy gần chết. Đang chạy mình nghe choang choang trên mũ sắt, lật mũ ra thấy năm sáu lỗ thủng đạn 12 ly 7. Sờ tay lên đầu, úi chà đầu đạn cắm đầy, tóc rối quá về mượn lược chải thôi.

Phạm chìa tay ra, đúng là năm cái đầu đạn nằm lỏng chỏng trên tay nó thật. Phạm cất lược lên giá đỡ. Tụi con gái đấm Phạm, xô Phạm, lay Phạm, cười chảy nước mắt.

- Khỉ này! Gớm! Cứ làm như thánh lắm!

- Đồ ma bắt!.. “dưng” mà tức cười quá!

Sau hôm đó, bẵng đi một tuần không thấy Phạm nhắc gì về Kiều Vân nữa. Tôi sốt ruột chờ Phạm kể về tiến trình phát triển tình cảm của hai người. Phạm vẫn lặng lẽ như xưa. Đến hôm chuẩn bị đi trinh sát lần cuối cùng toàn bộ những cứ điểm đã trinh sát để chuẩn bị cho chiến dịch lớn của sư đoàn sắp mở màn, tôi mới có dịp hỏi lại chuyện ấy. Sau bữa cơm chiều, tôi thấy Phạm đi ra sau nhà ngồi tựa vào một cây táo nhìn xa xôi vào khoảng tối của cánh rừng săng lẻ. Tôi chạy đến, không nói gì, ngồi xuống cạnh. Phạm cúi đầu hí hoáy viết xuống đất “Kiều Vân - Cần viêu, Kiều Vân - Cần viêu…”, có đến hàng chục chữ như thế.

- Đã đưa thư cho… ấy chưa? Tôi hỏi.

- Đưa rồi.

- Nó nói sao?

- Nó nói tao nói trạng.

- Sao nữa?

- Hết.

- Tầm bậy… ông phải quẳng cho nó thêm vài lá thư nữa.

- Thôi.

- Chấm hết?

- Không, tạm thời chấm lửng..

Sau đó tôi biết thực ra chuyện không đơn giản như thế. Phạm đã phục suốt năm buổi tối để chọn đúng một buổi tối chỉ có mỗi mình Kiều Vân ở nhà. Phạm bước vào, hít một hơi thật sâu rồi bắt đầu nói. Cậu ta nói bạt mạng, lung tung, “đầu ngô mình sở”, rằng yêu Kiều Vân như thế này, đau khổ vì Kiều Vân như thế nọ… rằng đã nhiều đêm không ngủ, nhiều ngày không ăn… rằng vì Kiều Vân mà Phạm “ruột đau như cắt nước mắt đầm đìa”… toàn những lời tán tỉnh của giới mày râu thời trung cổ. Kiều Vân há mồm nghe, thích thú như một cô bé đang thưởng thức một tấn hề tuồng, và khi Phạm nhắm mắt dúi vào tay Kiều Vân lá thư tình thì cô ta phá lên cười:

- Anh Phạm ơi anh Phạm! Hay quá! Lần sau… lại như thế này nữa nhé! Em thích lắm! Anh nói trạng giỏi hơn trạng Quỳnh đó.

Phạm lẳng lặng rút lui. Còn Kiều Vân xem đó như một tác phẩm mới của Phạm … cô ta thì thào với tụi con gái để rồi nằm ôm lưng nhau rúc rích cười suốt đêm hôm đó.


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Giêng, 2011, 05:12:46 pm
Chúng tôi lại lên đường. Đời thằng trinh sát là vậy. Cuộc sống của hắn, nỗi đau khổ, niềm vui sướng của hắn chính là nơi ranh giới giữa cái sống và cái chết. Tiểu đội trinh sát chúng tôi có chín người. Bao giờ cũng vậy, lượt đi tôi dẫn đầu, Phạm đi cuối, lượt về thì ngược lại. Hai đứa tôi là “gạo trên sàng” của tiểu đội trinh sát này…

Đợt này chúng tôi đi dài ngày. Phải khảo sát kỹ tất cả các dữ kiện cho một chiến dịch lớn, chúng tôi gọi đó là khảo sát tổng hợp. Chui qua một rừng le, đến rừng dẻ tía thì Phạm mất tích. Chúng tôi buộc dừng lại. Trinh sát lạc rừng, lạc đường là chuyện cơm bữa.

Phạm bò về khi chúng tôi đã mất hết hy vọng tìm kiếm. Áo quần nó rách bươm, đấy là bằng chứng của việc băng rừng, cắt lối.

- Lạc hả?- tôi hỏi.

- Ừ lạc… tổ cha hắn chỉ sẩy chân một cái mà mò mãi không tìm được lối ra - Phạm nằm ngửa, dạng cả chân tay lên đám lá mục - Lạc… nhưng mà hay ghê gớm.

Tôi biết sắp được nghe một chuyện trạng của Phạm nên ngồi im, vểnh tai lên.

- Tao đang loay hoay tìm đường thì nghe tiếng con gái léo nhéo. Ngỡ là cánh thanh niên xung phong, chẳng dè.. tiên! Tiên tắm tụi bay ạ. Mười sáu nàng tiên cả thảy. Họ đang tắm, áo quần, cánh đuôi, cánh tay dăng đầy bờ suối. Tao trố mắt nhìn. Chà, ngắm đã thôi…

- Có giống … phụ nữ hạ giới không? Về mặt… cấu trúc ấy?

- Đại loại cũng gần giống. Khỉ quá! Tao động mạnh mấy cô tiên giật mình vơ vội áo quần bay mất. Vừa bay vừa mặc áo quần… có một cô đánh rơi chiếc khăn mùi xoa, tao nhặt được đây này.

Phạm xòe ra chiếc khăn mùi xoa trắng tinh. Có trời mà biết được nó kiếm ở đâu ra. Chỉ biết chắc chắn không phải của nó. Làm sao nó lại có cái khăn trắng, sạch như thế được.

***

Tôi không phải là anh làm văn nghệ nên tuyệt nhiên không biết giấu tình tiết câu chuyện. Tôi nói toạc ra cho ông hay đó là chuyện trạng cuối cùng của đời Phạm. Sau đó thì Phạm hy sinh. Rất nhiều cái chết của người lính thực ra không rắc rối, phiền phức như trong văn chương các ông viết đâu. Nhiều khi nó giản dị lắm. Thằng lính nào đi đánh giặc cũng tâm niệm, cầu mong mình đừng chết hoặc có chết thì phải chết trong một tư thế thật đàng hoàng, chững chạc… Nhưng cái chết thường đến bất ngờ quá, chóng vánh quá!... Phạm chết ngay trên đường quay trở về đơn vị, cách doanh trại chỉ 6 km thôi. Nghĩa là, khi chúng tôi tưởng có thể thở phào nhẹ nhõm sau bao nhiêu nguy hiểm đã vượt qua… Tiểu đội trinh sát chúng tôi dẫm phải một bãi mìn bọn thám báo vừa gài. Mìn nổ, tôi đi sau cùng nên chỉ bị sức ép…

Tôi có cái hạnh phúc cay đắng này: được nhìn thấy đôi mắt Phạm ánh lên lần cuối cùng, được nghe Phạm nói những lời cuối cùng, được chứng kiến cái rùng mình cuối cùng của Phạm … Đấy là khi tôi tỉnh dậy, bò đến chỗ Phạm. Nó nằm sấp, hai tay bấu vào một cái rễ cây. Phạm mở mắt trân trân nhìn tôi, mồm mấp máy. Tôi ghé tai sát xuống, ghé sát xuống nữa.

- Trong túi áo.. khăn mùi xoa… trả … Kiều Vân… tao ăn cắp của nó… xin lỗi … bảo nó… chuyện của tao nói … lá thư tình… Tao nói trạng - Phạm ngừng lại một chút rồi nói to hẳn - nói trạng … xin… đừng… bận… tâm…

Tôi lặng lẽ vuốt mắt cho Phạm rồi vừa đi, vừa bò đến đơn vị thì kiệt sức, ngất xỉu…

Vâng! Cái điều mà ông hỏi thì tôi cũng đang muốn kể. Kiều Vân đến thăm tôi trong trạm xá sư đoàn. Trông mặt cô ta bơ phờ, mệt mỏi. Tôi không nói gì hết. Kiều Vân cũng vậy. Cả hai cứ nhìn nhau. Cuối cùng tôi rút khăn mùi xoa đưa cho Kiều Vân.

- Phạm gởi trả lại Kiều Vân đấy, nó xin lỗi.

Tôi định nói thêm với Kiều Vân rằng Phạm nhắn với cô ta tất cả những hành động, những lời thổ lộ, bức thư tình kia chỉ là nó thích bịa ra cho vui như là một chuyện trạng vậy. Nhưng nghĩ lại, tôi không nói. Kiều Vân đón lấy khăn mùi xoa, và khi thấy một vệt máu chạy dài từ góc khăn này đến góc khăn kia thì cô kêu lên thảng thốt:

- Chết!... Chết thật rồi!

Và cô đứng bật dậy, ấp chiếc khăn mùi xoa trước ngực, đi giật lùi vài bước rồi xoay mình bỏ chạy.

Tối hôm sau Kiều Vân lại đến. Cô lặng lẽ ngồi xuống bên tôi, đầu cúi xuống, nước mắt cứ rơi từng giọt. Một lúc Kiều Vân hỏi mà không nhìn tôi.

- Anh ấy có nói gì… nói gì cũng được… về em không?

Tôi định lắc đầu, nhưng không hiểu sao, tôi lại nói:

- Phạm nó nói… nếu Kiều Vân có thương nó thì cứ nghĩ là nó đang đi đánh giặc và nói trạng ở một miền đất khác.

Đột nhiên Kiều Vân ngẩng mặt lên:

- Ờ nhỉ! Rứa mà em không nghĩ ra… suốt đêm qua em không nghĩ ra… Anh ấy làm sao mà chết được anh nhỉ? Đạn 12 ly 7 bắn vào đầu không thủng kia mà…

Kiều Vân chợt phá lên cười, như là cô đang vừa nghe xong một chuyện trạng của Phạm vậy. Rồi đột ngột im bặt. Một tiếng nấc từ trong lồng ngực còn rất non trẻ của cô bỗng bật lên, sâu thẳm.

Huế, 3-1984.
N.Q.L.
(9/10-84)


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Giêng, 2011, 05:46:40 pm
CHỊ HẠNH

Lý Hoài Xuân


Chị Hạnh hơn tôi những mười tuổi; nghĩa là năm chị biết nhảy cò cò, chơi ô quan thì tôi “oa oa” cất tiếng chào đời. Nghe đâu khi tôi còn ngậm vú mẹ, thỉnh thoảng chị bồng tôi đi chơi nhà hàng xóm.

Tôi mến chị, vì chị là người cưng chiều tôi; chị khéo bày cho tôi những trò chơi hấp dẫn; khi nào tôi bị mẹ đánh, chị thường chạy sang bênh. Những năm kinh tế nhà tôi khó khăn, có lúc phải ăn sắn khoai trừ bữa, chị đã bớt phần mình, mang sang cho tôi những bát cơm trắng tinh.

Chị Hạnh là người con duy nhất trong gia đình dì tôi. Ba chị là du kích, bị Tây bắn khi chị mới lên hai. Dì tôi đã ở vậy nuôi chị và thờ cúng dượng tôi, chứ không “đi bước nữa” như một số người.

Dì tôi và chị Hạnh có nhiều nét thật giống nhau, từ khuôn mặt trái xoan đôn hậu dễ thương, đến cái má lúm đồng tiền, đôi mắt sáng… Khác chăng là dì tôi thường búi tóc, ăn trầu, mà chị Hạnh thì không. Dì tôi thương chị lắm, một ngọn roi cũng không dám đụng vào; lớn rồi mà đi đâu xa về, dì tôi cũng có quà cho chị. Với con một số nhà, như thế không khéo sẽ thành hư, nhưng với chị Hạnh thì không. Chị ý thức rất cao tình thương của dì tôi nên luôn luôn tỏ ra biết điều, không bao giờ cãi lại dì tôi hoặc làm việc gì trái với lời dì tôi dạy bảo. Có điều hơi ngạc nhiên là không hiểu tại sao kinh tế gia đình dì tôi khá thế mà dì tôi chỉ cho chị học đến lớp ba! Khi tôi biết thắc mắc điều này thì dì tôi đã qua đời rồi. Dì tôi mất đột ngột vì bệnh thương hàn nhập lý. May sao trước lúc dì tôi “ra đi”, chị Hạnh đã có chồng.

Xung quanh chuyện chồng con của chị, cũng có nhiều tình tiết hấp dẫn lắm! Năm chị đến tuổi hai mươi, có một anh bộ đội miền Nam ra tập kết - tên Chức đến dạm hỏi. Thương hoàn cảnh anh bộ đội không cha không mẹ, dì tôi đồng ý ngay. Chị Hạnh lúc đó không rõ có ưng hay không, mà cứ mỗi bận thấy anh Chức đến nhà là tìm cách đi trốn. Có lần không trốn kịp, chị phải ngồi đóng đinh trong buồng im như thóc. Một hôm đang ngồi thổi cơm, lúc quay lại rút rơm cho vào bếp, chị Hạnh bỗng giật nẩy mình vì thấy anh Chức đã ngồi lù lù sau lưng từ bao giờ rồi. Mặt chị đỏ như lửa nung; chị cắn môi, không dám hé nửa lời. Mãi đến khi nấu xong cơm, chị mới lấy lại được bình tĩnh, đứng dậy mời anh ra uống nước. Biết “đối phương” đang ở trong thế “bị bao vây”, anh Chức bèn đưa ra điều kiện: chị phải trả lời câu hỏi của anh thì anh mới chịu uống. Chị Hạnh tủm tỉm cười, lườm anh, rồi bật ra một câu gọn lỏn: “không yêu!”. Nhanh như cắt, anh Chức túm lấy tay chị hỏi vặn: “Tại sao không yêu nào?”. Chị Hạnh mở căng mắt nhìn trân trân vào mắt anh. Một tình yêu nồng nàn dâng đầy trong hai tâm hồn. Đó là giây phút chị trả lời anh. Đó là lần đầu tiên trong đời chị nhận từ anh những chiếc hôn huyền diệu. Ấy thế mà đến lúc cưới, dì tôi vẫn không hết băn khoăn, cứ thanh minh với người này người khác, vì sợ mang tiếng “ép duyên con”. Dì tôi hy vọng anh Chức sẽ “ở rể” với dì, sẽ gần gũi dì để chăm lo tấm tranh nuộc lạt. Ai ngờ chưa đầy một tháng sau khi cưới, anh Chức có lệnh đi học. Anh là một trong số những người đầu tiên được chọn đưa về Nam hoạt động. Chị Hạnh sống chung với anh cả thảy chỉ vẻn vẹn một tháng ba ngày.

Hơn nửa năm sau ngày anh Chức ra đi, dì tôi mất. Lo trăm ngày cho dì tôi xong thì chị Hạnh sinh cháu. Mẹ tôi thay dì tôi sang giúp chị xông phây. Tôi một buổi đến trường, còn một buổi ở nhà vừa học vừa trông con cho chị. Thời kỳ này chị Hạnh giữ chức Bí thư đoàn thanh niên xã, công việc khá bận rộn. Tuy thế, đêm đêm chị vẫn nhờ tôi dạy cho chị học thêm văn hoá và tập ký lại chữ ký. Vui nhất là những lúc viết thư cho anh, chị nhờ tôi đọc những câu thơ hoặc những câu ca dao hay để trích vào. Tôi thêm tên của anh và chị vô, khiến chị rất thú vị. Trong số những câu chị gửi cho anh, tôi còn nhớ được câu này:

“Dù cho sóng gió bão bùng
Hạnh em vẫn giữ thủy chung vẹn tuyền”


Thư đi, thư về. Tôi không biết trong thư anh đã nói gì với chị, mà cứ sau mỗi lần có thư, tôi thấy chị vui hơn. Có thời gian vắng thư anh, chị ngồi lục lại những lá thư cũ ra xem. Chị viết thư hỏi “Cục động viên đi Bê” và được biết anh đã vào sâu, không có điều kiện liên lạc. Hàng tháng, chị dành khoản tiền lương của anh để lại mua sắm cho con. Bé Phúc được chị chăm sóc chu đáo nên rất chóng lớn. Vầng trán và đôi tai của nó giống anh Chức như tạc. Chị thường chỉ cho bé Phúc xem ảnh ba treo ở cột nhà. Đi đâu về, chị cũng ngước nhìn lên chỗ cột nhà ấy. Dường như ở đó có một sức mạnh tiềm tàng đem lại niềm vui cho chị! Vâng, nhờ có những niềm vui nho nhỏ ấy mà chị giấu được những giọt nước mắt vào lòng. Tôi thực sự sợ những giọt nước mắt của chị! Đã mấy lần tôi chứng kiến cảnh chị nằm vắt lên mộ dì tôi khóc rồi chị cào hết cỏ trên mộ dì tôi mà dì tôi vẫn không thể nào sống lại được! Mong sao chị đừng phí thêm nước mắt nữa! Nhưng, sự đời không dễ dàng như thế, có những chuyện không đâu cũng có thể làm người ta giày vò, và vẫn cứ phải trào nước mắt ra.

Lúc đó vào khoảng giữa đêm. Một loạt bom rải thảm làm tôi thức giấc. Tôi thoảng nghe gần chỗ tôi nằm có tiếng ai khóc ấm ức. Tiếng khóc lúc gần lúc xa, lúc cố nén lại, lúc muốn bật ra. Xen vào tiếng khóc ấy là tiếng trẻ thơ kè nhè van xin: “Mẹ, mẹ đừng khóc nữa!” Quái lạ! Hay là ai bị bom ở đâu? Hay là tôi còn ngủ mê? Hai tai căng ra, tôi chú ý nghe lại lần nữa. Đúng là tiếng khóc của chị Hạnh rồi!

- Mẹ! Mẹ! Tôi lay gọi mẹ tôi. Hình như chị Hạnh có chuyện gì không vui đang khóc, mẹ ạ!

Mẹ tôi bật dậy, nghiêng tai về phía có tiếng khóc, nhận định:

- Ừ, đúng con Hạnh. Có thể hắn mê!

- Không! Tôi cãi lại. Con nghe lâu rồi! Hay chị ấy nhớ “dì qua”? Mẹ chạy sang với chị ấy một tí đi!

Mẹ tôi nhảy lên khỏi hầm. (Thời kỳ này cả làng tôi đều phải xuống ngủ hầm để tránh bom Mỹ). Tôi lẽo đẽo chạy theo sau.

Chị Hạnh ngồi úp mặt lên hai đầu gối, tay chân giật giật như người động kinh. Cháu Phúc đứng sau lưng ôm choàng lấy cổ mẹ.

- Hạnh! Hạnh! - Mẹ tôi hoảng hốt gọi - Sao thế con?

- Dạ… thưa dì… chị Hạnh nấc lên từng tiếng một. - Thiên hạ họ đặt điều ác quá! Tính con có thế đâu! Chẳng qua là thương các anh ấy luyện tập vất vả, có khi nấu thêm bát canh, có khi để dành củ khoai… Vậy mà…

Ồ, tôi hiểu rồi! Thì ra chị khóc vì có kẻ vu khống chị có “quan hệ ái tình” với mấy anh bộ đội. Họ cho rằng việc mấy anh ấy ăn cơm chung với chị, đi họp ban đêm với chị, thường xuyên cho con chị quà là có “lý do” cả! Nhất là sau buổi sinh hoạt Đoàn gần đây, không rõ ai đã đưa chuyện đó ra phê bình. Chị Hạnh kiên quyết gạt bỏ những điều bịa đặt về mình, song có một số kẻ xấu lợi dụng chuyện này “tung hỏa mù” trước mọi người. Chúng đưa ra cái “thuyết”: “Có lửa mới có khói”, “lửa gần rơm lâu ngày cũng bén”, gây nên không khí thực thực hư hư làm chị hết sức khổ tâm.

Như có gì cào xé trong lòng, tôi giận dữ tuyên bố:

- Chúng nó xuyên tạc mặc kệ chúng nó, hơi đâu mà chị lo! Thật vàng chẳng sợ lửa.

Nghe tôi nói, mắt chị bỗng sáng lên. Chị xúc động nhìn tôi mếu máo:

- Biết thế, nhưng… anh ấy đâu có hiểu!...

Đúng là dư luận xã hội nguy hiểm thật. Có thể có, có thể không, nhưng khi đã tung ra thì ai dễ gì thanh minh được. Chị Hạnh sợ dư luận đến tai anh Chức, làm anh không yên tâm công tác. Tội cho chị quá, lúc nào cũng phải sống trong tâm trạng băn khoăn!

Cho đến hôm tôi lên đường nhập ngũ, chị Hạnh vẫn dặn đi dặn lại với tôi rằng: “Nếu cậu có gặp thì nói với anh hãy tin vào chị, chị không bao giờ phụ bạc anh đâu!”


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Giêng, 2011, 05:48:10 pm
***

Tôi trở lại làng mình sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Trong số những đứa con của làng cầm súng ra đi, tôi là người về sau cùng. Có lẽ vì thế mà làng đã giành cho tôi một tình cảm khá đặc biệt trong buổi đón tiếp. Từ các em bé ngày tôi đi chưa sinh, đến các cụ ông cụ bà lưng đã còng, phải chống gậy dò dẫm từng bước một, không ai không có mặt. Duy chỉ có mẹ con chị Hạnh là chưa thấy đến. Ai đó đã mách thầm với tôi: anh Chức - chồng chị đã hy sinh. Từ ngày truy điệu anh đến nay, thỉnh thoảng chị phải đi viện vì bệnh đau tim.

Nghe đâu anh Chức mất từ tết Mậu Thân, nhưng không rõ lý do tại sao mãi đến năm bảy mươi ba ký hiệp định Pari mới báo tử! Chị Hạnh đã chết ngất khi nhận được tin này; mẹ con chị khóc suốt tháng trời trước bàn thờ anh!

Ôi, chị Hạnh ơi! Sao mà đời chị cay đắng thế? Liệu chị còn đủ nghị lực sống tiếp những ngày không có anh không? Chị đã hết lòng chung thủy với anh, đã vì anh mà kiên trinh bảo vệ danh dự cho mình, và cuối cùng!...

Từ đó, mỗi lần về nhà, dù bận mấy tôi cũng không quên sang thăm, động viên an ủi chị.

Một buổi tối, biết tin chị ốm nặng vừa đi viện về, tôi vội vã chạy sang. Mới đặt chân đến sân, tôi bỗng nghe từ trong nhà tiếng chị vọng ra:

- Phúc, vì sao con không trả lời dứt khoát với anh ấy?

- Chẳng lẽ mẹ không hiểu nữa à? Phúc xẳng giọng.

Tôi linh cảm có chuyện không hay, nên tần ngần đứng lại.

- Nè Phúc, mẹ vẫn chưa hiểu ý con nói! Có phải con chê cậu ta không nghề nghiệp không?

- Không! Con chỉ lo… Mẹ thử nghĩ mà xem: bà ngoại con như thế… mẹ như thế… Liệu con… có như thế không? Phúc nấc lên.

Chị Hạnh buông một tiếng thở dài. Phúc nói tiếp:

- Anh ta là bộ đội, mà bộ đội thì… Thôi, con không nói nữa! Tùy mẹ…

Phúc bỗng khóc òa. Hình như chị Hạnh có nói thêm vài câu nữa rồi mới khóc theo. Tôi không nghe rõ chị nói gì và cũng không hiểu mình đang đứng ở đâu! Trước mặt tôi: bóng đêm mỗi lúc một dày thêm. Sương đã bắt đầu thấm ướt hai vai. Một luồng gió bấc lạnh lùng chạy qua gáy làm tôi rùng mình. Tôi nghe bên tai mình “u u”, những dấu hỏi cứ thay nhau hiện lên: “Có nên vào thăm chị lúc này không? Liệu mình vào, có giúp ích gì cho mẹ con chị không? Cứ vào! Thôi, có lẽ để lúc khác hay hơn!”. Rồi, như người vừa đánh mất một báu vật, không giữ được thăng bằng, tôi buồn bã quay về.

“Anh ta là bộ đội, mà bộ đội thì…” Bên tai tôi câu nói đầy lo ngại của Phúc thỉnh thoảng lại vang lên. Tôi có cảm giác mình đang ngồi trên một chiếc đu quay với tốc độ không làm chủ được. Nhắm mắt, rồi mở mắt, tôi trăn trở cùng câu nói ấy.

“Phúc ơi, cháu không biết rằng cậu cũng đang là bộ đội ư? Đã có một người con gái đi qua đời cậu. Cô ta như một đốm sáng huyền ảo hiện lên chập chờn trước mắt cậu. Cậu đã cố hết sức mình vượt qua một quãng đường dài đầy gai chông để đuổi bắt. Khi đốm sáng ấy gần nằm trọn giữa lòng tay thì có một vị thần chợt hiện ra chặn đứng ngay bước chân của cậu. Đó là mẹ cô ta. Mẹ của cô ta không muốn cô ta kết duyên với cậu, chỉ vì cậu là bộ đội!” Tôi miên man suy nghĩ … Thông thường một số bà mẹ gánh chịu quá nhiều thương đau hay có tâm trạng tâm lý như Phúc, còn các cô gái thì ngược lại. Đằng này… Phải chăng Phúc có hoàn cảnh riêng, nên không giống các cô gái đó? Mà kể ra nỗi băn khoăn của Phúc cũng chẳng dễ gì trách được! Cô gái mồ côi già trước tuổi ấy đã biết dự cảm những điều có thể xảy ra…

Buồn gì hơn trong một gia đình chỉ có toàn phụ nữ với nhau, công việc trong nhà, dù nặng nhọc đến mấy cũng phải lao vào làm. Tôi đã thấy trường hợp một chị phụ nữ có mang leo lên giữa trời mưa chói lại nóc nhà bị tốc rồi! Nói đâu xa, gia đình dì tôi đây đã mấy khi có tiếng cười đàn ông chiều ba mươi tết đâu! Trong lúc đó các gia đình xung quanh thì lại không như thế! Tôi thương dì tôi, tôi thương chị Hạnh, và tôi rất cảm thông với cháu Phúc. Nhưng, chẳng lẽ… Tôi nghĩ về những đồng chí đồng đội của tôi đang ở ngoài đảo xa (trong đó có Quân - người định “đặt vấn đề” với Phúc - một cô giáo mới ra trường, mà có lần chị Hạnh kể cho tôi nghe). Họ không phải là số ít! Nếu ai cũng như Phúc cả, thì…

Tôi không biết mình ngủ từ lúc nào mà khi mở mắt ra thấy trời đã sáng. Với sự bức xúc trong lòng, tôi chạy ù sang nhà chị Hạnh kể hết đầu đuôi chuyện tối qua. Mắt chớp chớp, chị Hạnh nhìn tôi xúc động. Lát sau, chị chỉ tay về phía Phúc đang ngủ, thầm thì:

“Em cứ yên trí, rồi đâu sẽ vào đấy thôi! Chị biết tối qua Phúc thức viết gì cho cậu Quân rồi!”.


Huế 1984
L.H.X.
(9/10-84)


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Giêng, 2011, 05:51:55 pm
KHOẢNG LẶNG

Dương Thành Vũ


Tiếng súng đã ngưng bặt từ lúc trời sẫm tối. Bị kẹt lại ở khu vực giáp ranh ngoại ô thành phố, người lính ẩn mình vào hàng rào dâm bụt, ở góc vườn sau một ngôi nhà tường xây mái ngói theo kiến trúc cổ truyền.

Ở đây bóng đêm khá dày, nhưng người lính hiểu mọi ngõ ngách thoát thân đều đã bị đối phương khóa chặt. Liệu có phép lạ nào xảy ra? Đồng đội đã rút lui an toàn, bởi chẳng nghe cuộc chạm súng nào cả. Cũng may là đêm không trăng, khu vực này lại chưa có đèn đường chiếu sáng. Nhưng liệu bóng đêm che chở cho người lính được bao lâu? Bao lâu nữa thì bình minh ngày mới lột trần anh ra trước mũi súng đối phương?

Có ngôi sao băng xẹt ngang qua bầu trời, rơi rụng tan biến đâu đó giữa thinh không. Khát vọng tâm thức văn hóa từ ngàn xưa đã tin, rằng nếu kịp ước điều gì đó khi ánh sao trời băng qua thế gian chưa kịp tắt, điều ước sẽ trở thành sự thật. Nếu kịp, lúc này anh ước ao điều gì nhỉ? Người lính nhớ hôm lên đường anh không thể tìm được cơ hội nào để hôn người yêu. Hạnh phúc nho nhỏ của những đôi tình nhân bị nhấn chìm trong cờ đèn kèn trống, tiếng loa phóng thanh, sự ồn ào như muốn lấp đầy những khoảng trống lòng người. Bây giờ người lính chẳng còn gì ngoài mấy quả lựu, hai băng tiểu liên, súng AK47 gắn lưỡi lê nhọn hoắt. Là chiến binh, anh chọn cái chết, nếu không được vinh quang thì cũng phải ở tư thế đàng hoàng khi ngã xuống. Tất cả sẽ chấm dứt. Tín điều và tình yêu. Ước mơ và nghiệp dĩ. Và có lẽ, cả hận thù mông muội nữa. Ước gì được hôn người yêu trước lúc từ giã cõi đời.

Bất chợt đèn điện căn bếp của ngôi nhà trước mặt người lính bật sáng. Thử vận may xem sao? Biết đâu lại gõ đúng một cơ sở hoạt động nội thành hay một gia đình có cảm tình với cách mạng? Cứ thử liều một phen!

Súng cầm tay sẵn sàng nhả đạn, người lính băng tới cánh cửa. Và như trong câu chuyện “Ngàn lẻ một đêm” anh nhặt được trong ba lô của người lính Cộng Hòa tử trận, cánh cửa mở ra đón người lính rồi nhẹ nhàng khép lại. Mà không! Đây không phải là câu chuyện thần thoại; đó là câu chuyện ngụ ngôn về sức mạnh của một dân tộc thường xuyên đối mặt với những kẻ thù hung hiểm nhất, là đạo lý vượt lên trên tín ngưỡng lẫn ý thức hệ. Sức mạnh ấy làm lành vết thương sau những cuộc chiến, cứu vớt dân tộc ra khỏi bờ vực hoang tưởng. Cũng lạ, người chịu thiệt thòi nhất trong chiến tranh lại là người dễ dàng tha thứ cho nhau nhất. Điều này, mãi sau này người lính mới thấu hiểu. Và bị ám ảnh mãi bởi khuôn mặt người chiến sĩ gục ngã với cuốn truyện thần thoại đẹp nhất mà con người có thể sáng tạo ra.

Đối diện người lính là một phụ nữ luống tuổi dáng dấp “tư sản” (Trong thâm tâm, người lính muốn được lọt vào gia đình thuộc giới lao động nghèo. Tầng lớp mà anh tin tưởng luôn luôn đứng về phía những người kháng chiến).

Nhìn từ bên ngoài, ngôi nhà không có vẻ gì giàu có so với những biệt thự nhà lầu trong thành phố (tất nhiên cả xã quê anh chẳng có ai có được cái nhà như thế này, lại có cả cái ăng ten trên nóc nhà y như là doanh trại quân đội, mà sau mấy ngày chiếm đóng trong thành phố, người lính mới biết đó là ăng-ten dùng cho máy thu hình trong gia đình) nhưng chỉ trong căn bếp thôi, người lính đã nhìn thấy những đồ đạc lạ mắt, kiểu dáng rất đẹp và hẳn là khá đắt tiền. Điều này khác hẳn những gì người lính có thể hình dung ra trước khi tiến vào thành phố.

Gia chủ, có lẽ thế, dáng người quí phái, khá đẹp, từ bà ta tỏa ra mùi thơm dịu dàng. Cạm bẫy nào cũng được che dấu bên trong dáng vẻ sang trọng thơm tho này? (mùi thơm ấy, mãi sau này người lính mới biết đó là mùi nước hoa). Dù gì thì cũng đừng quên bài học cảnh giác, phải thường xuyên cảnh giác!

- Cậu cất súng đi. Ở đây chẳng ai hại cậu đâu! - Tiếng người phụ nữ cất lên nhỏ nhẹ - Cơ duyên đưa đẩy cậu vào đây thì cứ tạm nghỉ ngơi qua đêm cho lại sức, sáng mai hết giới nghiêm, tôi sẽ chở cậu ra khỏi thành phố, ở ngoài đó có nhiều vùng “xôi đậu”, chắc cậu sẽ thoát thân được. Cứ yên tâm, có gì tôi sẽ chỉ chỗ cho cậu trốn.

Người lính hơi bối rối nhưng mũi súng cũng tự nhiên chúc xuống. Linh cảm mách bảo, rằng anh sẽ được an toàn, chí ít cũng trong đêm nay:

- Con cảm ơn tinh thần yêu nước của mẹ.

Người phụ nữ bật cười nhẹ. Nụ cười hiền hậu đầy thiện ý, bất giác người lính cũng mỉm cười theo; nhưng mắt vẫn đảo nhìn quanh, lượng định con đường thoát thân nếu có bất trắc. Chủ nhà có vẻ không quan tâm tới sự đề cao cảnh giác của người lính. Bà mở tủ lấy ra bộ đồ pi-ra-ma, bảo:

- Cậu vào phòng tắm, tắm rửa rồi thay bộ đồ xi-vin, à đồ dân sự này vào không lỡ có ai tới bất tử thì phiền. Và cậu cũng nên cất súng đi chứ, chả lẽ cậu cầm nó suốt đêm chĩa vào tôi.

- Cho tôi hỏi, mẹ làm công việc gì? Có cộng tác với địch không?

- Tôi làm nghề dạy học và chẳng hề nghĩ rằng đi dạy học là có cộng tác với địch hay không. Nói cậu không tin chứ ở trong này, không chỉ có dân thường, mà ngay cả quân nhân lẫn công chức chính phủ cũng chỉ có một ít quan tâm tới chính trị thôi.

- Đó là chính sách ru ngủ nhân dân ta của bọn tay sai bán nước. Chúng muốn…

- Thôi, cậu nên tạm quên thế sự trong những lúc hiếm hoi như thế này. Con đường vẫn còn dài và khốc liệt lắm. Bây giờ cậu đi tắm cho nhẹ người - gia chủ mở cửa phòng tắm, chỉ xà phòng khăn tắm và hướng dẫn cách mở vòi sen cho người lính rồi nói tiếp - Cậu cứ tự nhiên như ở nhà. Tôi đi làm cơm cho cậu ăn. Đánh nhau cả ngày chắc cũng đói lắm rồi!


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Giêng, 2011, 05:54:47 pm
Người lính mang cả ba lô con cóc lẫn súng đạn vào buồng tắm, cầm theo bộ đồ bà chủ nhà vừa trao. Khi bước ra với bộ đồ dùng để mặc trong nhà, người lính trông tươi tỉnh, khuôn mặt sáng hẳn lên.

Nói là “làm cơm”, nhưng chủ nhà khui thịt hộp nấu mì ăn liền cho người lính ăn. Thoáng gặp ánh mắt người lính tò mò nhìn chai rượu vang Pháp chính hiệu đặt trong tủ chén, người phụ nữ nói:

- Rượu vang Pháp đó. Tôi lấy ra cho cậu uống nhé.

Người lính lắc đầu một cách vô thức, nói “Cảm ơn mẹ, con không được uống rượu khi đang làm nhiệm vụ” rồi cúi xuống tô mì, tiếp tục ăn. Người phụ nữ dịu dàng nói:

- Chai rượu này là con trai tôi mua dành cho một dịp vui của nó. Nhưng rồi… nó không bao giờ trở về nữa. Bây giờ tôi mời cậu uống thay nó. Cậu cứ yên tâm, có giường chiếu ở kia, có say thì ngủ. Tôi không hại cậu đâu. Sáng mai tôi sẽ đánh thức và đưa cậu lên đường. Chắc không gặp trở ngại gì đâu.       

Người lính vẫn cương quyết lắc đầu:

- Con nói rồi, chúng con không được phép uống rượu khi vào thành phố. - Chợt nhớ tới quân trang quân dụng, anh định hỏi mẹ xử lý cách nào để mang theo nếu được mẹ đưa ra “vùng xôi đậu” nhưng rồi anh nghĩ, sáng mai hẵng hay, người lính chỉ tò mò hỏi - À, mà con trai mẹ công tác gì? Vì sao anh ấy không về nữa?

- Nó cũng như cậu: bị ném vào cuộc chiến tranh này. Đừng... tôi biết cậu định nói gì. Cậu có con đường của cậu, có lý tưởng của cậu; và, thú thật, tôi không quan tâm đến điều ấy. Tôi chỉ nghĩ: chiến tranh là một kiếp nạn của đất nước. Gặp cậu, tôi cứ nghĩ rằng được gặp lại con trai mình; dẫu rằng tôi chẳng thể giữ được cậu, cũng như tôi đã chẳng giữ được con trai tôi. Đang chiến tranh mà! Tôi đi ngủ đây, có sẵn thức ăn nguội trong tủ đựng thức ăn, muốn ăn thêm gì cậu cứ tự nhiên lấy mà ăn.

Bà lấy chai rượu cùng chiếc ly chân cao đặt lên bàn ăn, sau đó lên nhà trên và khép cửa ăn thông với nhà bếp lại; lát sau, người lính ngửi thấy mùi nhang đốt.

Người lính nhìn chai rượu sang trọng mà trong đời mình chưa từng biết đến và một cuộc đấu tranh tư tưởng diễn ra trong đầu. Cuối cùng, người lính cầm chai rượu, bóc lớp vỏ nắp chai làm bằng nhựa dẻo màu đỏ tươi, loay hoay với cái nút bấc một hồi rồi ấn nó lọt vào chai, rót rượu vào cái ly chân cao. Màu rượu lóng lánh như màu hoàng hôn trong buổi chiều tà nào đó xao xuyến nụ hôn đầu. Màu rượu như màu mắt em đằm thắm và đắm say. Màu rượu như màu giấc mơ thời hoa niên. Rượu ngon tuyệt.

Từng ly. Từng ly một, người lính nâng cao cốc mời những đồng đội chết trẻ ở chiến tranh; anh cũng mời chàng trai con của chủ nhà về uống với mình, mời người lính chết trẻ với cuốn thần thoại của xứ sở Ba Tư, của cõi con người về chạm cốc (Trời ơi, nếu người lính ấy chết bởi mũi súng của anh thì đau xót quá. Người mẹ này nói: chiến tranh mà!) Mùi nhang trầm thơm ngào ngạt trong khuya vắng lặng thanh bình. Chắc người Mẹ đang cầu nguyện cho hòa bình sớm trở về trên quê hương tan nát. Từng ly. Từng ly một.

Men rượu lan tỏa - lâng lâng - ngây ngất: cơn say đến thật huy hoàng! Tủ đựng chén nhẹ nhàng quay ngược bốn chân lên trời; tiếp đó là các thứ khác bay lơ lửng trong không gian hay chúc ngược xuống đất. Thật kỳ diệu: chẳng có gì rơi đổ cả. Chẳng có cuộc chiến tranh nào hết... Người lính say thật rồi. Vâng chỉ có cơn say đến thật huy hoàng. Khốn kiếp! Chẳng có góc vắng nào để hôn người yêu. Chẳng có con đường nào để quay về với người yêu.

Không gian tĩnh lặng như nỗi buồn vô cớ. Men say ngất ngây như nụ hôn đầu đời, run rẩy ngọt lịm như trái cấm trần gian. Chẳng có cuộc chiến tranh nào cả. Chẳng có tín điều lộng lẫy nào cả.

Đỉnh điểm cơn say dìu người lính chìm sâu vào giấc ngủ tuổi thơ. Anh gục xuống bàn cứ thế mà ngủ với cõi chiêm bao lạ lùng như ảo ảnh. Hình như có bàn tay của mẹ dìu anh vào giường ngủ, buông mùng cho anh. Những ngày tháng tuổi thơ mẹ vẫn thường bế anh vào giường mỗi lần anh ngủ quên trên bàn học.

Cõi chiêm bao lộng lẫy bày biện ra giấc mơ thầm kín vời xa, đưa người lính trở về hoàng hôn sóng sánh màu rượu vang Pháp, cơn say bối rối mắt nhìn, đắm đuối bờ môi. Nhưng rồi tất cả vụt tan biến trong sự ồn ã buổi tiễn đưa. Chẳng có góc kín riêng tư nào cả. Chỉ có nụ cười của nàng. Nụ cười đau nhói.

Cõi chiêm bao bày biện ra nỗi buồn. Nỗi buồn thường bị lên án. Người lính mơ hồ nhận ra niềm hạnh phúc trong nỗi buồn kia.

Và rồi cơn say lặng lẽ rút lui. Men rượu chếnh choáng dịu êm tan biến dần. Bình minh một ngày mới tràn vào nhà. Người lính tỉnh giấc. Bản lĩnh người chiến binh cùng lúc với bản năng sinh tồn trỗi dậy. Ý thức chiến đấu của người chiến sĩ giành lại thế chủ động; chúng túm cổ giấc chiêm bao lộng lẫy lôi tuột ra khỏi cõi mơ riêng tây của người lính. Ý thức người chiến sĩ cách mạng miệt thị tình cảm ủy mị giấc mơ yếu mềm của anh, miệt thị cơn say lẫn màu hoàng hôn óng ả của rượu vang Pháp. Ý thức chiến đấu trương phình ra lấp đầy những khoảng lặng trong anh… Nhưng dù sao cũng không thể xua đi cái cảm giác bồn chồn xao xuyến: anh sắp phải rời nơi chốn yên bình này. Trong tâm thức người lính không có ý niệm đào ngũ. Những chiến binh miền Bắc đều ý thức được rằng, đào ngũ không chỉ trở thành kẻ phản bội nhục nhã không có gì có thể biện minh được, mà gia đình của họ ở ngoài Bắc cũng rơi vào cảnh khốn cùng ê chề nhục nhã, bị làng xóm họ hàng lánh xa vì sợ liên lụy.

Trước mắt anh, như người phụ nữ có con trai chết trẻ nói: con đường còn dài và khốc liệt! Anh là một người lính, cho dù không có những chính sách cột chặt lòng trung thành của người lính vào cuộc chiến anh cũng phải chiến đấu cho Tổ Quốc. Nhưng người lính tử trận trong ba lô có cuốn truyện thần thoại “Ngàn Lẻ Một Đêm” chiến đấu cho cái gì nhỉ? Và người con trai của Mẹ, “bị ném vào cuộc chiến tranh này” chiến đấu cho ai? “Bọn tay sai bán nước!” Nhưng họ, những người lính “bị đưa đi làm bia đỡ đạn thì làm tay sai cho ai? Có khả năng bán nước chăng? Những người như anh lớn lên ở ngoài kia, mấy ai dám chống lệnh gọi đi nghĩa vụ quân sự? Chắc những người ở trong này cũng thế. Còn với mẹ có con trai chết trận, mẹ đã không oán thù anh, người lính bên kia chiến tuyến, phía đã sát hại con trai của mẹ, lại còn che chở cho anh. Mẹ đã nói gì khi từ trên nhà trở xuống sau khi thắp nhang cầu nguyện xong nhỉ: “các con không phải là kẻ thù của nhau. Các con là nạn nhân của chiến cuộc”. Anh đã phản ứng trước điều mẹ nói, nhưng mẹ lại mỉm cười độ lượng: “Cậu hãy cứ ăn cho no vào để có sức mà chiến đấu, tôi nói để mà nói, cậu đừng để ý làm gì. Cố tận dụng giây phút nghỉ ngơi này. Tôi hứa với cậu sáng mai tôi sẽ đưa cậu ra khỏi ngoại ô thành phố để tìm về đơn vị, nếu cậu không có ý định hồi chánh...

Trời ạ, nếu như lúc này người ta tuyên bố cuộc chiến tranh đã kết thúc thì điều gì sẽ đến với anh nhỉ?

- Cậu dậy rửa mặt đánh răng, ăn sáng. Khoảng một tiếng đồng hồ nữa tôi sẽ chở cậu đi. Coi như hai cô cháu ta về quê ăn giỗ.

Tiếng người mẹ như ngọn roi quất vào tim người lính.

D.T.V
(261/11-10)


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Giêng, 2011, 09:31:25 pm
XUÂN NỮ

Dạ Ngân


Nhà văn Dạ Ngân nghỉ việc công sở mấy năm nay, trở về tổ ấm của mình lặng lẽ “chép” lại những vết son trên chặng đời đã qua.

Truyện gửi tới Sông Hương dưới đây là góc nhìn rất hẹp về chiến tranh song mở ra trước độc giả nhiều ngã rẽ với một Xuân nữ lỡ mang kiếp đào hoa mà bạc phận cho những người đàn ông từng “hành quân” qua cuộc đời chị.

Trân trọng giới thiệu.
S.H



Thường thường, trước khi cột dây xuồng vô chạt cây bình bát ở góc bến của chị, tôi phải nhóng xem hồi lâu. Hoặc cắm dầm ngóng nghe hoặc sẽ kêu lớn để đánh động: “Chị Xuân ơi, em lên chơi nè, được không?” Tôi thích cả hai trường hợp. Chị đang một mình thì chị em sẽ được riêng tư thỏa thuê còn như có ông nào trong nhà, tôi sẽ được ngắm cái ông may mắn sở hữu chị. Dám chắc tôi không phải kẻ tò mò duy nhất. Những người chưa quen biết sẽ cho xuồng từ từ trôi qua mong nhìn thấy một lần người đàn bà nguy hiểm; cánh đàn ông không xa lạ thì dần dừ dầm chèo hy vọng được mời mọc để bước lên và ngồi lâu. Đàn bà con gái ư, đa số xì xào sau lưng những lời muôn thuở của đàn bà, riêng tôi, tôi được trọng thị như một người bạn vong niên trong trẻo. Người đẹp nào cũng cảm nhận được quyền lực của mình nhưng không phải ai cũng tận dụng nó để làm ra lợi. Chị cảm động vì tôi và chính vì chị bình thản tự tại nên chị rất đặc biệt, tôi tin là vậy.

Gần bốn mươi năm đã trôi qua kể từ khi tôi biết chị lần đầu. Không cứ mọi ký ức chiến tranh đều đau buồn, u ám. Thời gian quá xa để những cơn ác mộng trong đêm thưa dần, để những con rắn con đỉa không khiến mình hét lên trước khi choàng tỉnh. Nhưng những gì tốt đẹp nhất thỉnh thoảng vẫn lóe lên, như những viên ngọc sắc nét trong bóng tối. Bữa cơm rụt rè đầu tiên ở nhà người đánh dấu chặng đời thoát ly; tiếng hát ai đó vút lên trong một buổi hoàng hôn dào dạt những đoàn xuồng, một câu thơ của Thâm Tâm gửi thầm theo chàng trai vừa khiến mình xao động… Và chị, chị là một phụ nữ thường dân khiến tôi day dứt tới tận hôm nay bởi ấn tượng khi chị xuất hiện, cái cách chị chấp nhận chiến tranh và cuối cùng là sự mất hút để phải rất nhiều tin đồn vương vãi như thể người ta đã tìm thấy xiêm áo, giày dép bên bờ sông trong câu chuyện về những thiếu phụ cả gan làm cho người đời phải nhắc đến.

Tôi thích vẻ chín muồi của chị ở quãng sau này hơn mặc dù lúc đó chị đã bị xoi mói nhiều hơn. Nhưng hãy nói về ấn tượng ban đầu trước đã. Một gương mặt có cạnh hàm hơi vuông nếu nhìn nghiêng. Không trái xoan không mũi dọc dừa không mày cong mi rậm môi hồng nhưng toàn bộ gương mặt đẹp vẻ đẹp đằm thắm, sáng rỡ. Gì nữa? Thêm làn da ngà ngà tươi, thêm chiếc cổ vươn cao trên chiếc áo bà ba khoét trễ, chị như một món quà giữa khung cảnh hoang tàn và bị dồn đuổi sau Tết Mậu Thân. Tôi tinh khôi mười tám tuổi, lần đầu tiên tôi thấy những người đàn ông trong nhóm của mình bất động như bị điểm huyệt trước một người đàn bà. Quá đẹp để nghẹn thở nghĩ về sự tàn khốc của chiến tranh đang có mặt ở quanh chị, khắp nơi. Đó là một buổi chiều điêu linh, nhóm đi Cứ chúng tôi đang dựng chòi trong biền lá dừa nước, vườn của dân phía trên đã bị thuốc khai hoang làm cho bình địa, biền lá la liệt những tàu lá chết vàng gãy gục. Du kích sống rải rác trong những căn chòi thấp phủ bằng những tàu lá chết, tất cả sự sống phải bị che đậy bằng cái chết của cả một biền lá để qua mắt lũ máy bay các loại quần thảo suốt ngày. Chị hiện ra, ở đường mòn có những bẹ dừa nước thả dài trên đất sình, chị giống một nàng tiên hơn là người thực giữa buổi chiều thê lương đó. Chị nói chị không thể chạy ra ven vì có một bà má mù lòa, chị phải bám trụ cùng với mấy người bà con trong đội du kích. Trong khi những người đàn ông nhóm tôi há hốc không nói nên lời, tôi đoán biết vì sao chị không chạy đi. Tản cư trong cảnh ra vô giữa hai vùng, nhất định chị sẽ không trót lọt được với những gã lính đồn đói khát nhiều thứ trong hàng rào kẽm gai, bằng như phải ra chợ kiếm sống thì chị cũng không thể yên ổn bởi nhan sắc của mình.

Dạo ấy chị mới chỉ có một anh bộ đội trên bàn thờ, người chồng nghe đâu quê tận U Minh. Từ chỗ chòi Cứ của mình tôi rải thêm một lớp bẹ dừa nữa để thật khô chân mỗi khi chạy qua chỗ chị. Những đọt dừa non đã bắt đầu le lói màu xanh trên một biển lá vàng. Chúng tôi giống những con còng thập thò trong hang trong lỗ. Những khi được thoát ra, tôi thích ngắm chị xắn cao quần đi từ mép lạch lên với chùm lưới cá trong tay, để lộ đôi đùi non miễn nhiễm với ô rô cóc kèn như thể trong da đã có chất kháng sinh. Tôi thích được múc nước trong cái khạp dội xuống mái tóc dài đen tuyền mỗi khi chị gội đầu bằng nước lắng tro - chúng tôi không có tiền và cũng không mua được xà bông, những lúc ấy cái cổ thanh thanh là tâm điểm của ánh mắt thán phục, không biết mô tả thế nào cho xứng. Càng thích hơn khi nhìn chị nghiêng nghiêng chải tóc trong áng chiều được thả lỏng, thời gian ngơi nghỉ như một cam kết bất thành văn của cả hai bên: lũ giặc trời thôi không tác oai nữa, các họng pháo ở chi khu cũng im miệng cho nguội nòng và quân lính của đối phương trong những cái đồn gần nhất cũng phải ăn uống tắm táp theo kiểu nào đó để tồn tại và dân đi Cứ chúng tôi rất thích la cà với dân bám trụ để thư giãn. Tôi chỉ có một địa chỉ duy nhất là chị, một bà góa phi thường hơn là đáng thương trong cảnh mẹ lòa, phải tự tìm ra con cá lá rau và đêm đêm còn phải lên đồng cuốc đất vãi mạ cấy gặt để có hột gạo lứt mà cầm cự với thời cuộc. Tôi thường hỏi, ở đâu ra nhan sắc này và ở đâu ra sự gan góc dường ấy?

Cuộc chiến ngày mỗi khốc liệt ngoài sức tưởng tượng của con người. Trước khi tình cờ gặp lại chị trên một bờ kênh rất xa vịnh nhà của chị, một con kênh thuộc quyền kiểm soát hoàn toàn của bên kháng chiến, đã đến tai tôi tiếng đồn về một Xuân nữ cao có số sát chồng, nguy hiểm còn hơn một tay bắn tỉa. Dung mạo, làn da, vóc dáng chị giống hệt bức ảnh người phụ nữ trên hộp thuốc Xuân nữ cao bổ âm thịnh hành thời đó và biệt danh ấy do ba người đàn ông trong nhóm của chúng tôi loan ra. Nó hơi sến nhưng nó vẫn có ý nghĩa nào đó về mặt tri ân, như một ghi nhận, như một liều thuốc. Phải nói rằng cuộc gặp lại của chị em tôi có không khí của người nhà, ai nói sao về chị, mặc, tôi vẫn say mê chị như ngày nào, thậm chí có phần sùng bái. Cuối cùng chị cũng đã phải bật gốc khỏi biền lá, thay vì chạy theo dân tản cư, chị bị cuốn vào bên trong cùng với những người kháng chiến, một thường dân cá biệt và nổi bật. “Nhà” của người bám trụ cũng chỉ là một mái chòi dưới một lùm cây bình bát sống sót, một chiếc bàn bằng cây tạp, một khuôn bếp, một bộ vạt tre cho dân đi Cứ lui tới làm khách và một tấm vách ngăn với chiếc giường của gia chủ bên trong. Bà má của chị trên bàn thờ nhìn tôi, người bộ đội đầu tiên của chị sau chiếc lư hương nhìn tôi và chị nhìn tôi, buồn rầu. Chính vì vậy mà chị mặn mà hơn, không sao cưỡng nổi. Chị bảo con cá lá rau của lung Ngọc Hoàng này không bỏ đói ai cả, chị biết cầm phảng phát đất cấy lúa, cũng qua ngày đoạn bữa như thường. Tôi biết rõ cái nết nhẫn chịu của chị với bom đạn giặc giã, nó không có gì đáng nói trong câu chuyện của chiến tranh, nó quen thuộc như mở mắt ra là cụ bị đồ lề để có thể lát nữa sẽ phải xuống xuồng chui rúc tránh né cuộc càn, nếu chuyện đó không diễn ra thì canh chừng bom pháo cho đến lúc chiều xuống mới ra đồng phát cỏ cấy trồng hay bắt cá lượm ốc hái rau qua ngày. Duy có một điều tôi muốn chính chị liệt kê ra nhưng lại không dám hỏi. Nghe đâu chị đã có tới ba người trong một năm, cả ba đều được ra mắt chính thức với mấy người quen trong Cứ và dĩ nhiên, người đi thì đi luôn, chỉ có giấy báo tử quay về. Là nhà báo, tôi biết mặt họ hết, cả ba đều là sĩ quan cấp tiểu đoàn, một người quê ở Bến Tre, một người quê Rạch Giá còn người kia là dân Bạc Liêu. Khí phách và sự phóng túng của những sĩ quan chủ lực miền thì khỏi phải nói nhưng họ biết mà vẫn lần lượt đâm đầu vào để chết, liệu có nên không? Nhưng mà, khi đã đứng trước chị thì chính tôi cũng muốn bế bổng chị lên để hít hà mặc mọi chuyện ra sao thì ra, mặc hết.

Vẫn cái bếp có khuôn cắm bằng cây tạp, chị không chịu ngồi bếp xổm bao giờ. Vẫn cái giàn để hong những cây củi chặt ra bằng ngăn ngắt. Vẫn cái ấm nước gạo rang đặc biệt uống bằng chén, hầu như chúng tôi không có trà bao giờ, nhưng nước gạo rang chỗ chị vàng nhất và cũng thơm nhất. Có lẽ đàn bà đẹp thì cái gì cũng thơm và làm gì cũng thấy có lý. Vẫn cái cách chải tóc cẩn thận sau một ngày lấm láp, dáng đứng không lả lơi nhưng cực kỳ gợi cảm. Tôi đã thấy lại chị, một cái nụ câm trước một bông hoa đã nở tràn nhưng trong tôi đâu chỉ dừng lại ở sự thân thiết giản đơn đó. Tôi thích có chị trong tầm mắt, người ta đàm tiếu bao nhiêu thì tôi càng muốn biết thực sự chị dễ yêu và dễ gắn với đàn ông chiến trận là vì lẽ gì, lực hấp dẫn trai tài gái sắc, hay thuần túy đàn ông đàn bà, hay hàm chứa một sứ mệnh bí ẩn? Chị thường tình gái góa hay chị là một câu đố, một bài toán khó?


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Giêng, 2011, 09:32:27 pm
Một lần, một người đàn ông ngồi trên gờ cây bình bát trước cửa chòi của chị thôi thúc tôi ghé lại. Tôi ngờ ngợ, tôi có biết người này không? Lực lưỡng, tóc xoăn, da ngăm, miệng rộng, nhìn qua cũng biết lại một anh bộ đội chủ lực miền, họ rất khác với cánh cán bộ dân chính hay du kích hay địa phương quân. Tôi đã nhớ ra, anh từng đóng quân trong vườn nhà tôi, thần tượng âm thầm thời thiếu nữ của tôi và thật nực cười, tình cảm ấy bỗng dưng kết thúc khi vợ của anh từ Đầm Dơi đánh đường lên đơn vị thăm anh, một người phụ nữ trẻ không gây được ấn tượng nào ngoài cái sự trẻ. Vợ anh tầm thường đâu phải lỗi của anh nhưng tôi cũng không còn tôn thờ anh nữa. Đã nói đó là tình cảm bốc đồng của tuổi dậy thì mà lại. Sau đó, tên tuổi anh vang dội lên mãi, từ đại đội trưởng rồi tiểu đoàn phó và không chừng, lúc mắc kẹt trên gờ cây bình bát này, anh đã tiểu đoàn trưởng rồi cũng nên. Thiệt là, tôi muốn kêu lên với bà chị của mình, chị không khước từ bất kỳ ai hết, phải không? Anh ta đang giũa một cây lược cài tóc từ một mảnh nhôm máy bay, cánh bộ đội rất tài ở những ngón này: đàn hát, tấu hài, bắt rắn mò tôm và những trò thủ công từ tấm kính cho cây đèn pin, hay khắc bông lên cây kẹp tóc, hay biến một chai cồn thành cây đèn dầu có nắp dùng để bắt muỗi trong mùng… “Anh dân trung đoàn Một từng chà xát ở Long Mỹ, đúng không?” - tôi hỏi gặng để khiến anh ta nhớ tôi là ai. Nhưng hoặc là tôi đã lớn bổng lên không thể nhận ra cô bé hay trèo cây dưới vườn dừa, hoặc Xuân nữ của tôi đã làm mờ mắt anh ta. “Bộ dạng tui có đóng dấu trung đoàn sao? Chị Xuân cô ở trên nhà, cô lên uống nước đi!” Tôi cột xuồng, bước gấp lên, tôi bắt gặp chị sau vách chòi, chỗ chị đang múc nước từ khạp đổ vô ấm. “Chắc chắn ông nầy có vợ rồi chị ơi!” Chị bình tĩnh, khẽ cau mày, chị không từ bà mẹ mù lòa đã ra người thiên cổ kia, chị cũng không phải sản phẩm của sình bùn, chị thuộc về bí ẩn của tạo hóa ở cái cách cau mày nầy. “Có chắc không?” - chị thờ ơ hỏi lại. “Em biết rành, vợ anh nầy dân Đầm Dơi, không xấu không đẹp nhưng mà…” Chị nghiêm trang: “Người ta trận mạc, đừng có khắt khe!” Tôi không chịu lùi: “Còn quân phong quân kỷ, ảnh bỏ ngũ luôn à?” Chị đưa tôi cái ấm để vấn lại mái tóc, hai cánh tay thon dài như đang cử hành một vũ điệu: “Đừng lo, ảnh đã ở mấy ngày nay. Tối nay em ở lại chơi, chị em mình liên hoan tiễn một người trở lại đơn vị, nghen? Có lịnh điều quân lên Châu Thành Cần Thơ rồi, chắc khó về lắm”. Nếu quãng đời làm báo trong chiến tranh có khoảnh khắc nào khiến tôi do dự và dễ đầu hàng nhất thì chính là giây phút này, khi sự khẩn khoản khiến chị đẹp lịm đi. Chị bảo tôi nhóm lửa nấu nước, còn chị thì bước ra và ngồi xuống tình tứ bên mép kênh với người đàn ông sắp đi vào tuyến lửa. Năm đó để giành thế thượng phong ở bàn Hội nghị bốn bên, Hà Nội tin mật vào rằng phải vừa đánh vừa đàm, động viên tổng lực, mọi người dân đều phải được huy động, không chừa một ai.

Tôi tìm mọi cách dõi theo người đàn ông thứ năm ấy và không ngạc nhiên khi nghe anh đã nằm xuống trong một trận thư hùng dữ dội ở Phong Điền Cần Thơ. Không ngạc nhiên nhưng càng hình dung càng bứt rứt. Tóc xoăn, ngăm đen, ngang tàng, sức vóc, khéo tay, hoạt khẩu… Đã bị chôn xuống đất đen một con người như vậy, đã kết thúc dễ dàng một cuộc đời như vậy sao? Liệu Xuân nữ đã hay tin này chưa, lần này nhất định tôi phải chứng kiến sự đón nhận khắc nghiệt này. Bốn lần trước tôi chỉ tưởng tượng ra, chị đau khổ kiểu gì với ba cái giấy báo tử trong một năm và chị là người hay sắt đá mà không biết sợ cái tờ giấy ấy? Chị không có nốt ruồi nào trên mặt, nốt ruồi sát phu càng không, còn cái tướng sát phu là tướng gì và nó ra làm sao hở trời? Tôi sẽ lột trần chị ra, nếu được, chị không má bầu không hồng hồng dâm đãng, vậy chị liên tục cần đàn ông để làm gì, chị cần một đứa con ư, sao cứ nhè các chàng sĩ quan ấy để phải ra nông nỗi cho cả hai bên? Chị đón tôi bằng ánh mắt đỏ hoe và quần áo tóc tai vẫn trang trọng như thường. Chị bày trên tấm vạt những kỷ vật, anh Thứ Hai một bức ảnh bán thân từ thời anh là học sinh chợ huyện trước khi về quê đăng lính, anh Thứ Ba một cái gương cầm tay có khắc hai con bồ câu kề mỏ vào nhau sau lớp thủy, anh Thứ Tư một tấm vải dù chị đã thêu tên anh bằng chỉ đỏ vào góc khăn. Chị cầm lên cây lược cài tóc của anh Thứ Năm, dùng cả hai tay từ từ cài nó lên và lặng lẽ nhìn tôi, chị khóc không thành tiếng, nước mắt lã chã đầm đìa, Xuân nữ của tôi, khóc cũng không giống ai, khóc cũng đẹp thì có chết người ta không chứ! Mọi ý định của tôi đều không nỡ, ngay cả câu chất vấn vì sao chị không đưa họ lên bàn thờ cũng không thể nữa, một cách dàn hàng ngang như vậy để làm gì, có ích cho ai?   

Tôi ra vô với chị thường hơn khi có dịp. Chủ trương vừa đánh vừa đàm của Hà Nội đã khiến cho vùng kháng chiến mở ra, từng tháng một. Lung Ngọc Hoàng nườm nượp người và xuồng ghe. Cũng có nghĩa là đàn ông con trai đi qua cái bến cây bình bát của chị đã dập dìu hơn. Đến người Thứ Sáu thì tôi không chậm chân nữa, tôi phát hiện ra ngay và tôi đã xộc lên chòi, tôi kéo chị ra xa, tôi xoay chị bằng hai bàn tay giận dữ và tôi dồn chị như một quan tòa: “Chị tu đi, chị xuống tóc đi, chị đừng khiến người ta lui tới sập sận nữa! Chết chóc đủ rồi, tai tiếng đủ rồi, chị có biết người ta nói gì sau lưng mình không? Chị đâu còn trẻ nữa, già không bỏ nhỏ không tha là sao? Chị không thấy anh chàng nầy trai tơ ngơ ngác hay sao? Chị từ chối đi, chị làm cứng đi, chị xua đuổi anh ta đi, chị phải để người ta sống mà trở về với ba má người ta, gần kết thúc rồi, gần lắm rồi, không lâu nữa đâu, chị hiểu không?” Chị giang tay tát thẳng vào mặt tôi, trân trối nhìn, nhịp thở dồn dập lên ngực: “Em mà cũng nói cái giọng đó hả? Không chị em gì nữa, kệ chị”.

Tôi đã nói những gì vậy hở trời, xét cho cùng chị có lỗi gì đâu. Không biết chàng trai búng ra sữa kia để lại cho chị kỷ vật gì. Mỗi người là một cơn bão chứ không phải là chồng hay người tình nữa. Sau này, khi ký ức đã thành những thớt vỉa trong tôi, mỗi lần bóc chúng lên là mỗi lần tôi nhìn sâu hơn vào thớ quặng của chúng, tôi hiểu chị thấu đáo dần. Trời sinh ra những người đàn bà đẹp để làm gì? Họ là những ánh chớp cho ta thấy cả đất và trời trong một lúc nào đó, không hư vô thường tình chút nào, lúc đó. Rồi mọi thứ sẽ trở lại đều đều, quân bình, nhàm chán, thậm chí tẻ nhạt. Nó, những tia chớp giật ấy là hiểm họa mà cũng là tài năng phải có trong cuộc đời này, không dành riêng cho ai cả.

Người Thứ Bảy đang cùng chị hiện ra trước mắt tôi trên một chiếc xuồng. Lúc này chị đã dời lên kênh Long Phụng, giữa lung Ngọc Hoàng, chắc lại là một mái chòi nho nhỏ, có chiếc bàn và ấm nước gạo rang uống bằng chén, có khuôn bếp đứng nấu, có bộ vạt hiếu khách và có căn buồng với những chiếc gối xinh xinh để đêm đêm chị thả người xuống, tung mái tóc dài ra, hai cánh tay thon nuột chờ đợi dịu dàng; tôi hình dung chị sẽ không bốc lửa ma quái mà luôn luôn cao nhã, ân cần, dâng hiến, ngầy ngà. Không khí tháng Tư năm Bảy lăm cấp rấp ở khắp nơi, dào dạt hy vọng ở khắp nơi. Người đàn ông đứng tuổi cầm chèo, chị ngồi mũi và quay mặt về phía ông ta, chiếc xuồng lướt đi hối hả. Tôi hét lên vui mừng, chúng tôi giận nhau và xa cách nhau như thế đủ rồi, đã ngửi thấy mùi chiến thắng rồi, một người đàn ông cuối cùng cho chị, không đáng mừng sao? Chị chờ xuồng tôi chạm vào rồi mới nhỏ nhẻ: “Chị đưa anh Tư ra kinh xáng rồi về. Ra đó nhiều ghe máy ra hướng Ngã Bảy, anh quá giang dễ hơn. Anh rượt theo đơn vị mà, em!” Chị nhìn người đàn ông của mình, âu yếm, buồn thương. Không khí nước rút bao bọc chị, nó khiến chị đằm thắm, từng trải hơn nhưng cũng da diết hơn trong giây phút lặp lại kẻ ở người đi, biết đâu, lại là đi mãi nữa? Tôi biết người Thứ Bảy này nhưng ông ấy lại không biết điều đó. Ông là vị chỉ huy tài ba của tiểu đoàn chủ lực danh tiếng tỉnh nhà, mắc mớ gì đó với tỉnh đội nên có ý định bỏ ngang. Dù sao ông ta cũng đang trở lại chiến trường, nói theo cách nói thời đó, là không viện cớ bất mãn để nằm dài, chờ thời, bảo mạng. Tôi lướt xuồng đi, mấy lần ngoảnh nhìn. Đáp lại nụ cười ma mãnh của tôi, chị vẫn nghiêm trang như trước nay, mặt có tươi lên đôi chút.

*

“Chị đi tu đi, sao chị không xuống tóc đi cho thiên hạ nhờ!” Tôi đã nói những gì, tôi đã nhân danh gì, nhà đạo đức, sự ghen tuông hay lòng đố kỵ? Tôi day dứt mãi, chị đã biến mất ngay khi người đàn ông ấy ngã xuống trong ngày 30 tháng Tư ở cửa ngõ vào Cần Thơ. Không làm sao lần ra được dấu vết của chị. Cho tới tận hôm nay, nhiều lúc bất chợt gặp một cái cằm hơi vuông nhìn nghiêng bên vành khăn sư nữ hay một dáng đi thanh thoát trong nếp áo nâu sồng, tôi vẫn thắt tim hy vọng. Có phải chị đó không, Xuân nữ? Nhưng chắc gì trời đã để chị chọn đường tu, có khi chị đã về với trời xanh và mây trắng, đã xong một sứ mệnh và một đời người, thôi thì cứ nghĩ vậy cho thanh thản. Cuộc sống đã lại đều đều, nhàm chán, thậm chí là tẻ nhạt quá rồi, chị ơi!

D.N
(260/10-10)


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Giêng, 2011, 09:47:09 pm
THĂM THẲM ÁNH CHIỀU

NGUYỄN NGỌC LỢI


Vùng quê đó mấy năm nay có nhiều người đổi đời nhờ nghề mua bán đồ đồng nát. Sắt thép nhôm nhựa, mua đi bán lại cũng thành nhà thành xe... Người ta đập nhà cũ xây nhà mới, mua ô tô, lên đời xe máy... làng xóm đêm ngày rộn rịch chuyện làm ăn buôn bán.

Thiên hạ làm được sao mình lại không. Nghĩ thế nên hai người đàn ông tóc đã muối tiêu, đôi bạn thân gần nhà, lại cùng bộ đội đã từng chiến đấu ở Lào ngày trước bàn nhau sang đó xem sao, biết đâu trời cũng sẽ thương... Nghe chuyện, mấy chị hàng xóm miệng nói mắt lườm. Người ta ăn chán ra rồi, tưởng đâu bở… Mà sang đó… có khi lại tìm được con rơi con vãi... Thanh minh mà làm chi, ai tin. Thôi thì… Ừ, có dại mới không… Hồi trẻ chúng tôi cũng ấy lắm chứ bộ, đi đâu các em theo đấy, tội gì mà không. Hai ông tếu táo đùa lại…

Vùng đó sang Lào không xa lắm, thủ tục giấy tờ không đến nỗi nhiêu khê. Hai ông đó, cứ tạm gọi là ông A và ông B, người năm lăm người năm tư tuổi, cầm giấy thông hành trên tay cũng thấy bồn chồn háo hức... Kỷ niệm xa lắc ùa về giục giã thôi thúc, bao điều mới lạ, bao điều hấp dẫn nơi miền đất ấy đang chờ.

Là lính đặc công chiến đấu vùng Xảm Thông, Long Chẹng, ông A bồi hồi nhớ lại những lần bí mật treo mình trên những vách đá tìm cách đột nhập sào huyệt phỉ Vàng Pao… Ông B trẻ hơn, nhớ về những chuyến xe rong ruổi trên đường bom đạn khiến có người lo thắt ruột thắt gan. Sáng xuất phát, trưa họ đã tới cửa khẩu làm thủ tục, đổi tiền kíp, ăn trưa ở thị trấn giáp đường biên. Cơm nước xong, nghỉ ngơi một chút hỏi tình hình đường sá rồi cả hai thống nhất cứ túc tắc đi bộ, vừa rèn luyện vừa thăm dò. Đường xa vắng vẻ, cảnh sắc gợi nhớ, có bao nhiêu chuyện thời lính đều tuôn ra. Chuyện cũ, đã được nghe bao nhiêu lần rồi mà lúc này vẫn thấy như mới lần đầu. Khung cảnh mới, cảm hứng mới, chuyện sau mấy chục năm được thời gian ấp ủ và chiêm nghiệm của lứa tuổi mãn chiều xế bóng đã trở nên thi vị, lung linh… Ông A kể về những chuyến luồn rừng đột kích sào huyệt địch. Đường đi sên vắt kinh người, phải bám mình trên vách đá chênh vênh hiểm trở. Chuyện về những tên phỉ tóc dài luồn rừng như sóc, ẩn hiện như ma. Để cho câu chuyện thêm mùi mẫn ông A thêm dấm thêm ớt. Con gái thượng Lào hay lắm, da trắng môi hồng, gặp bộ đội Việt cứ lúng la lúng liếng ánh mắt… Nào em Khăm Lả bạo dạn, em Bun May thùy mị đa tình… Cứ vậy, chuyện nối tiếp nhau trên suốt chặng đường, mệt đâu nghỉ đấy, rồi lại đi rồi lại kể. Xong chuyện ông A lại đến chuyện của ông B. Chuyện của ông B cũng không kém… Ông A há hốc nghe... Xe vào kho nhận hàng. Đang mùa chiến dịch, kho giữa rừng nhộn nhịp đông vui. Những cô thủ kho trẻ măng hồn nhiên nghịch ngợm, mau nước mắt và sẵn sàng trao gửi… Các chàng lính xế là nỗi mong chờ, là người mang lại niềm vui, vì vậy mà hầu như anh nào cũng có một khối tình mang theo trên những chuyến xe để mà nhấm nháp… Ông ta có nói quá lên không? Hóa ra mình không được như ông ấy. Có khi có thế thật… Lão ấy đa tình thế kia mà, chẳng trách gì lúc vượt cửa khẩu, khi nhìn con đường mất hút trong những cánh rừng, nhìn những dãy lèn đá thâm u nét mặt lão bỗng nhiên đổi khác.

Cứ thế, họ tiếp tục đi, núi rừng vẫn như bất tận và thưa thớt làng bản. Cảnh cũ đây rồi, người xưa chẳng thấy… Đâu còn những trạm khách đông vui, những binh trạm nhộn nhịp. Cả hai trầm lắng, tâm hồn trào dâng những kỉ niệm bấy lâu cất giữ trong kí ức mịt mù. Ông A càng hiểu thêm những điều ông B kể. Lính lái xe lém lỉnh, bom đạn sống chết biết đâu lường. Các em dân công, thanh niên xung phong và “các thím” mũ mềm tóc tết đuôi sam điệu đà duyên dáng…- Lính xế rơi vào đó sẽ như cá gặp nước, tha hồ vùng vẫy, tha hò lặn ngụp… đúng không? Ông A khích bạn. - Không phải lúc nào cũng thế, không phải với ai cũng thế. Có người gặp rồi lại quên. Còn có người gặp một lần, gặp rất tình cờ mà nhớ mãi. Nét mặt ông B vời vợi như nuối tiếc, bâng khuâng… Hoàn cảnh nhiều khi không cho con người ta thực hiện được ý muốn, thực hiện được dự định… Ông B úp mở, chẳng chuyện gì đi được tới tận cùng...

Vào sâu hơn làng bản vẫn cứ thưa thớt, lâu lâu mới có vài cụm nhà, chỗ thì bám đường, nơi thì xa xa trong các khóm me lùm táo. Hai người rẽ vào xin nước uống để thăm dò nguồn hàng rồi đi tiếp. Chiều ngày thứ hai họ quyết định dừng lại ở một thị xã trên đường 13.

Thị xã bên sông Mê Công vẫn còn nghèo khó sơ sài. Lác đác mấy căn nhà tầng mới xây trơ trọi trên những khu đất mọc loang cỏ dại. Nhà tôn cũ kỹ chen giữa những khu vườn um tùm cây cối. Dăm ba ngôi chùa với mái vòm cong vút, thấp thoáng bóng áo vàng của sư sãi đi lại dáng điệu trầm mặc. Lúc này mặt trời đã đổ bóng loang đỏ cả một quãng dài mặt sông. Trong ánh hoàng hôn vàng vọt, toàn bộ khung cảnh gợi một điều gì đó rất hoang vắng cô liêu. Hai người đứng ngây ra một lúc, nghe đâu đây như trong thinh không sâu thẳm đang dâng lên một điều gì đó huyền bí lạ lùng. Đất lạ, người lạ, cảnh lạ… Lúng túng cân nhắc một lúc cuối cùng cả hai nhắm một quán cơm nằm tách bạch bên đường, đi tới. Quán cơm ở đây chả khác mấy quán cơm bên nhà. Cũng vài bộ bàn ghế cập kênh, cũng những lọ tương ớt, ống đũa. Vài con gà luộc treo lủng lẳng, khay thức ăn chín nấu sẵn và nồng nàn mùi thức nướng… Bên bếp lò rừng rực lửa và nồng khét mùi dầu rán, một người đàn ông độ bảy mươi có nước da ngăm ngăm khuôn mặt hiền hậu, áo bà ba màu cháo lòng, quấn phạ xà lùng đang đảo đảo một thứ gì đó trong chảo khẽ ngước lên nhếch mép. - Xăm bài đi… Ông A có vẻ tự tin bước đến chắp hai tay chào. Ờ. ờ… anh em ngồi đi. Dạ, bác cho hai suất… Ăn cơm, hai suất… Ông già gật gật…

Ông A ngỡ ngàng chăm chăm nhìn… Cứ nghĩ xem chủ quán sẽ nói gì bằng tiếng Lào thì lại được nghe tiếng Việt. Chủ quán là người Việt?…- Bác cũng nói được tiếng Việt? - Tôi là người Việt mà… Thong thả lau tay vào cái tạp dề nhem nhuốc trước bụng, chủ quán trả lời rồi lẳng lặng mở tủ xách ra thẫu rượu. Còn ông B. Không để ý gì tới trao đổi giữa chủ quán với bạn, ông cứ dán mắt vào vách hông nhà. Trên mảng vách bằng gỗ treo la liệt những thứ giết người. Lựu đạn mỏ vịt Mỹ, đại liên Mỹ, súng phóng lựu, RBD, B 40… Rất nhiều những băng đạn vắt ngang dọc… và… Ông chăm chú nhìn khẩu AK bắt chéo với khẩu AR15 ở chính giữa. Chủ quán thật là chịu khó sưu tầm các loại vũ khí… Toàn những thứ làm nhói lên bao điều đau đớn, buồn bã… Đã lâu lắm rồi ông không nhìn thấy những thứ này. Lòng ông bồn chồn nôn nao một cảm xúc lạ… Rồi ông A cũng quay nhìn, mắt sáng lên nói. Để hỏi xem chủ nhà có bán không. Ông B không nói gì, lòng vẩn vơ.

Chủ quán bê thẫu rượu đặt xuống bàn, mắt nhìn thân thiện ấm áp. Anh em mới sang, có khỏe không… Vậy là giữa chủ và khách đã không còn khoảng cách, không khí thuận hòa. Lạ thế, gặp nhau chỉ cần nhìn nét mặt, chỉ nghe một câu nói... Một lúc thì cơm được dọn, rượu được rót. Cá sông nướng vàng, cà sống chấm một thứ gì đó, cà chua om đậu phụ… Chủ quán: - Mời anh em, tôi không uống được rượu… Vậy là chủ uống nước, khách uống rượu. Lâu rồi mới có một ngày đi bộ, chân tay đã rã rời, rượu vào đến đâu gân cốt giãn đến đó.

- Anh em uống cứ tự nhiên, tôi có chút việc… Chủ quán đứng dậy bước chầm chậm, gồ vai nhòn nhọn nhấp nhô, mặt đượm vẻ trầm tư. Khách được tiếp thêm đĩa đậu phụ kho tương. Các chú cứ ăn nhé, lúc nào xong gọi, tôi vào nhà trong một lát.


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Giêng, 2011, 09:48:34 pm
Phía sau còn nhà. Cả ông A và ông B lúc này mới để ý. Chẳng trách gì ngoài này sơ sài, chỉ hai gian vách gỗ, bốn bộ bàn ăn. Góc trái phía trước đặt bếp và tủ thức ăn. Gần cửa thông ra sau và áp góc nhà kê một bộ dong gỗ. Nhà trong và gian ngoài cách nhau khoảng sân có mấy khóm chuối và vài cây trứng gà. Lúc này thì chủ quán như biến mất trong nhập nhoạng của mảnh vườn và từ đâu đó vọng ra tiếng tụng kinh gõ mõ. Trong ánh hoàng hôn chợt tắt và ánh đèn vừa chợt sáng, thời khắc giao hòa của ngày và đêm, của âm và dương, tiếng tụng kinh kèm với tiếng cốc cốc điểm nhịp khiến không gian trở nên huyền hoặc đến lạ lùng. Chưa từng được chứng kiến một khung cảnh đầy vẻ liêu trai thoát tục như thế này, cả hai bỗng nhiên dừng đũa thẫn thờ…

- Anh em ăn đi chứ, không quen miệng ư?

Chỉ nghe tiếng mà không thấy người. Chủ quán đứng đâu trong bóng tối nhập nhòa nơi góc nhà, sau vườn cây nói vọng ra. Thị xã đầu hôm, vùng ngoại ô vắng lặng buồn tê tái. Xa xa, có lẽ đó là trung tâm cũng chỉ hừng lên mấy quầng sáng, còn lại tất cả ánh đèn chỉ le lói như những ngôi sao lẻ xa lắc trong màn đêm cuối tháng. Cả hai giục nhau ăn cho xong bữa để tìm chỗ ngủ. Thế rồi bữa cơm cũng ăn xong. Khách vừa dừng đũa thì chủ quán xuất hiện.

- Lại bàn uống nước, mặc tôi.

Chủ quán bưng mâm bát ra sau nhà, một lúc thì tiếng nước chảy, tiếng kì miết và tiếng lách cách của va chạm bát đĩa. Vậy là chỉ mình ông, vừa nấu nướng vừa phục vụ. Ông B đưa mắt nhìn ông A. Người nhà đâu cả? Ai đang tụng kinh gõ mõ trong kia? Hai người thì thào trao đổi bên ấm trà đã được chủ quán pha sẵn.

- Nếu không chê thì anh em cứ nghỉ ở đây. Chủ quán chỉ vào bộ dong gỗ. Cũng đã có anh em bên nhà sang làm ăn ngủ ở đó rồi. Anh em đi đâu thì đi, tối về đây…

Khoảng chín giờ, phố xá vắng tanh. Thi thoảng mới có đôi ba chiếc xe máy vụt qua, ánh đèn quét sáng trước quán một vệt phút chốc mất hút trong màn đêm. Chủ quán dọn dẹp đồ đạc rồi đóng cửa đi ra nhà sau. Buổi đầu như thế là thuận lợi. Có chỗ ăn nghỉ, lại gặp người đồng hương… Kêu mệt đi nằm, ông B vừa đặt lưng đã nghe tiếng ngáy nhè nhẹ. Ông A cũng đi nằm, chỉ một lúc cũng chìm vào giấc ngủ. Sáng hôm sau, khi cả hai thức dậy đã thấy bếp lò đỏ lửa. Chủ quán giục họ rửa ráy để ăn sáng và đi sớm cho được việc. Ăn mỗi người nắm xôi chấm với một thứ chẻo lạ nhưng rất ngon, hai người hẹn chiều tối sẽ quay về rồi ra đi.

Họ thống nhất chọn những khóm nhà rìa thị xã. Vùng này trước đây chiến sự ác liệt lắm. Đúng thế, khi được hỏi người ta bảo hầu như nhà nào ở đây cũng có chút gì đó do chiến tranh để lại. Mảnh bom pháo, vỏ đạn, xác xe cộ... Mấy năm gần đây đã có người thu gom nên bây giờ đã ít đi. Ông A bảo ông B, trâu bạc đi đâu mất mùa đấy, tưởng đâu dễ ăn… Mấy mụ ở nhà độc mồm độc miệng. Dù vậy cũng không đến nỗi trắng tay, đến nửa buổi sáng họ gặp được mấy vỏ bom bi, dăm ống pháo sáng bằng nhôm và khung một chiếc xe Jep cháy. Bữa trưa ăn tạm vắt xôi chủ quán đùm cho mang theo rồi họ đi tiếp. Lác đác họ lại gặp vỏ bom, ống pháo sáng… Mua ở đâu họ gửi tiền đặt cọc ở đó, hẹn ngày tập kết rồi thanh toán luôn. Người Lào chỉ nói một lời, chữ tín với họ là điều bất di bất dịch. Ngôn ngữ bất đồng, mọi giao dịch phần nhiều chỉ dùng bằng tay…

Thấm thoắt họ sang đây đã được ba ngày. Nhẩm số hàng mua được đã kha khá, đủ cho một xe tải nhẹ. Ông A bàn với bạn, ta chỉ cần ở thêm một ngày nữa. Ông B ậm ừ… có lẽ vậy…

Ba ngày đã qua, ngày nào cũng như ngày nào, sáng dậy ăn rồi đi, chiều về chủ quán đã dọn sẵn cơm canh chờ. Chẳng bữa nào giống bữa nào, thực đơn được thay liên tục khiến cả hai rất ngon miệng. Và bữa nào cũng vậy, chủ quán chờ họ ăn xong để dọn rửa rồi đi mới đi nằm. Và đêm nào cũng như đêm nào, thân thể bấy bá, chân cẳng mỏi nhừ, cả hai nằm chờ giấc ngủ trong tiếng tụng kinh và tiếng cốc cốc điểm nhịp tẻ nhạt vọng ra từ sau mảnh vườn um tùm bóng lá đầy huyền bí. Đã mấy ngày rồi mà họ không gặp ai ngoài ông già chủ quán. Mà chủ quán cũng chỉ như chiếc bóng âm thầm. Chỉ có tiếng tụng kinh là hiện hữu, nó luôn được bắt đầu mỗi lúc hoàng hôn nhuốm đỏ trời chiều cho tới tận khuya. Giấc ngủ của hai người như trôi trong miên man những lời kinh kệ nhuốm màu huyền hoặc.

Tối thứ ba, lúc đó có lẽ đã gần nửa đêm, ông B chợt thức bấm vào sườn ông A… Ở nhà trong hình như có tiếng đàn bà. Tiếng nói thì thào loáng thoáng không rõ, lúc tiếng Việt lúc tiếng Lào. Có lẽ vợ chồng chủ quán đang trao đổi gì đó để giúp họ… Nào là chỗ nọ, chỗ kia. Nghĩ thế một lúc rồi cả hai lại chìm vào giấc ngủ. Sáng hôm sau, ông A nói với chủ quán rằng mấy ngày được bác giúp đỡ nhiều. Hôm nay bọn em đi một ngày nữa, tối xin bác cho thanh toán để sáng ngày kia về sớm. Chủ quán ư hử rồi lặng lẽ làm công việc.

Chiều đó, một phần cũng cảm thấy mỏi mệt, một phần hàng tập kết đã được kha khá nên ông A bàn với ông B nên về sớm. Lúc cả hai về đến quán cơm thì mặt trời hẵng còn khá cao. Bên kia sông là đất Thái, vẫn làng mạc ruộng đồng và lác đác đôi cụm nhà tầng cao vượt. Tất cả soi bóng xuống mặt nước được ánh nắng cuối chiều quét lên một màu vàng mật ong khiến cảnh sắc trở nên tráng lệ và u hoài đến thăm thẳm. Một cảnh tượng thật ít gặp… Điều đó khiến ông A chợt cảm thấy nhớ nhà. Còn ông B... Ông A nhìn ông B đứng bần thần, vẻ mặt hoang vắng như hóa đá ngoài cửa quán. Ông A lẩm bẩm, lão sao thế không biết...

Vẫn cũng như mọi hôm, cuối chiều quán vắng tanh, chủ dọn cơm rồi để mặc hai người. Ông già đi ra ngoài và từ nhà trong lại vang lên tiếng tụng kinh gõ mõ như mọi hôm.   

Bữa tối nay cả hai đều ăn uể oải. Chẳng phải thức ăn không ngon, cũng chẳng phải vì mệt. Tầng tầng khói bếp lưu cữu trong góc nhà, sự nhập nhoạng của thời khắc giao hòa sáng tối khiến họ có cảm giác không còn là mình nữa. Thế rồi bữa ăn cũng đã xong. Chủ quán bước vào để dọn rửa, tiếng loảng xoảng của mâm bát làm hai người như sực tỉnh. Lúc đã ngồi vào bàn nước, ông A lại nói lời cảm ơn vì mấy ngày nay được chủ quán coi như người nhà. Ông A đưa ra một nắm tiền. Xin bác cho thanh toán… Ô, thế ra chúng ta không phải người nhà à? Không, em không có ý đó, nhưng… Thôi, thế này... Cũng chẳng đáng mấy. Gặp được bà con bên mình là tôi vui rồi. Chuyện tiền nong tôi lấy chỗ này bù chỗ nọ… Mở hàng ăn tôi không lấy lời lãi làm đầu… Dạ, bọn em có tiền mà... Tôi không bảo anh em không có tiền… Chủ quán rút tờ một trăm nghìn. Được rồi… Sao bác lấy ít vậy, ông A kêu lên, nào tiền nghỉ, tiền ăn… vả lại hôm nào bác cũng cho ăn ngon… Ông A nhẩm tính, như bên nhà, chừng ấy bữa ăn, chưa nói tới việc đi về nghỉ ngơi đàng hoàng, cũng phải tốn bạc triệu, vậy mà… - Các chú ngon miệng là tôi vui. Toàn đồ chay cả, chẳng hết mấy… Tôi lấy vậy thôi. Người mình cả mà…

- Ôi, sao đồ chay mà ngon vậy, bác thật tài chế biến! - Ông A kêu.

- Tôi mở quán ăn chay đã mấy năm. Đường tu còn dài lắm, công phu tu tập chẳng bao giờ cho đủ…

Vẻ mặt bình thản, dáng điệu từ tốn khoan thai, chủ quán nói mà như đọc kinh Phật. Cả hai người đều hiểu họ đang được hưởng phúc từ ông, người cùng quê hương dòng giống... Chủ quán nói tới hai tiếng “người mình”. Vâng, người mình… đơn giản vậy mà lúc này, giữa mảnh đất xứ người được gọi lên sao mà ấm áp… Cả ông A và ông B ngồi yên lặng. Họ đâu có những năm đằng đẵng của người xa xứ để mà hiểu được tấm lòng đau đáu hướng về cố quốc của người chủ quán. Người xa xứ thì có nhiều nhưng có phải ai cũng có tấm lòng như vậy đâu. Hình như chủ quán đang có niềm trắc ẩn hoặc sám hối điều gì…


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Giêng, 2011, 09:49:37 pm
Để phá bỏ bầu không khí có phần nặng nề bởi sáng mai họ đã về nước, ông A cố nói giọng vui vẻ:

- Bác vẫn chưa kể chuyện cho bọn em nghe… Bác sang đây từ...?

- Cũng mới thôi. Chiến tranh li loạn…

- Bác cũng là bộ đội??

- Không, tôi là lính Sài Gòn… Chắc anh em cũng là lính.

- Dạ, dạ... chúng em cũng có tham gia bộ đội… Ông B lên tiếng. Lính Sài Gòn thì cũng là người mình, hơn nữa bây giờ…

- Cứ để tôi nói. Giờ đây không là chi nữa nhưng hồi trước thì… Chẳng phải là tôi thanh minh đâu, thực lòng chẳng ai muốn… Tôi trốn lính mãi mà không được. Anh em tin không thì tùy… Người ta bảo với tôi rằng là người dân ai cũng phải có nghĩa vụ với nước. Thực lòng lúc đó tôi cũng nghĩ thế, nhưng hóa ra... hóa ra... Năm 71, lúc đó tôi đã ba mốt tuổi. Sau mấy tháng quân trường được điều ra Quảng Trị tham gia Lam Sơn 719. Chắc anh em biết… Kết cục lữ dù 3 tan tác ở đường 9 nam Lào. Lữ trưởng bị bắt, lính số chết số bị bắt, tản mát hết... Tôi may mắn trốn thoát… Ông dừng lại rót trà rồi nâng chén nước lặng lẽ uống…

Cả hai chăm chú nghe như ngừng thở. Câu chuyện đã bắt đầu vào hồi gay cấn… Vứt bỏ quần áo súng đạn, tôi chạy một mạch không còn biết trời đất. Vượt núi luồn rừng, mãi đến lúc màn đêm buông xuống và không còn nghe tiếng súng nữa thì tôi mới dám dừng lại. Lần đầu vào rừng, lại là rừng rậm, đủ thứ sợ… Sợ thú, sợ người… Cuối ngày hôm sau, đói quá tôi phải liều đi tìm cái ăn. Chỉ xuống gần nơi có người thì mới có cái ăn. Tôi chui lủi quanh các rẫy cũ bẻ ngô, moi sắn, vặt trộm đu đủ, chuối xanh… Khi không còn gì thì ăn rễ cây cóc nhái kiến bọ… Một hôm định mò ra đào trộm sắn thì tôi gặp người. Ông nói, nói bằng tiếng Việt… Đừng chạy nữa. Đi với tao. Hóa ra ông ta đã biết tôi trốn ở đó mấy hôm rồi…

- Bác ở với họ bao lâu? Ông A hỏi.

- Ban đầu thì ở chung, sau ra riêng... Họ tốt lắm, cho tôi ăn, cho tôi mặc...

- Sao bác không tìm về? Ông B buột miệng.

- Về ư? Giao tranh đang ác liệt. Đường xa rừng thẳm. Không chết vì cái này cũng chết vì cái kia. Biết đâu lại rơi vào tay… Tôi ăn cơm Lào, mặc áo quần Lào, cũng đi nương, cũng đi săn. Và trở thành người Lào… Mấy năm sau nghe tin bên nhà đã hòa bình tôi mừng lắm. Vậy là hết cảnh bắn giết, sẽ không còn cảnh li tán chết chóc. Tôi lưỡng lự phân vân, họ bảo Việt Nam hòa bình Lào cũng đã hòa bình. Mày muốn về thì về, không muốn về thì ở lại… Lúc đó nhà chẳng còn ai, ba tôi đã mất trước đó mấy năm, má tôi cũng chết do mảnh pháo ngoài ruộng...

Nói đến đây mắt chủ quán ngấn lệ. Cả ông A và ông B ngồi im phăng phắc, nỗi buồn từ chủ quán truyền sang khiến họ tê tái… Tôi có đứa em gái không biết trôi dạt phương nào. Có lẽ ở quê lúc đó tôi đã bị xóa khỏi tâm trí của mọi người. Sáu năm trời rồi còn gì… Bấy giờ chủ quán khóc thật, khóc lặng lẽ, khóc đau đớn. Ông A nhìn ông B, hai người nhìn nhau lặng lẽ. Điều gì khiến họ trở thành chỗ để người đàn ông xa xứ này chia sẻ điều sâu kín?…

- Điều đau nhất của tôi là mất vợ… Lấy bàn tay xương xẩu chùi nước mắt chủ quán nói tiếp. Trước lúc lên trực thăng ở Đông Hà, anh bạn người làng về thăm nhà lên cho tôi hay tin con vợ tôi đã theo một sĩ quan vào sài Gòn… Chồng ra trận, vợ ở nhà theo trai… Nhưng thôi, không nói tới chuyện đó nữa… Trong hai người có ai tham gia trận Lam Sơn không? Ông già đột nhiên đổi hướng câu chuyện

- Không, anh em chúng tôi sau đó vài năm mới vào bộ đội. Em ở Thượng Lào, còn ông này…

- Còn em... Ông A chưa nói chưa xong thì ông B tiếp, em là lính lái xe chạy tuyến phía Tây.

Trời đã tối, và từ nhà trong lại vọng ra tiếng đọc kinh và tiếng mõ cốc cốc… Hai thứ âm thanh hòa quyện như xe vào nhau và kéo dài như không đầu không cuối.

- Xin lỗi bác… Do dự một lúc rồi ông A mạnh dạn hỏi. Thưa bác… Có gì không phải mong bác bỏ quá cho. Phải chăng chỉ mình bác ở đây? - Vâng, chỉ có mình tôi… Sang đây tôi cũng có vợ, nhưng… bà ấy tịch đã ba năm rồi…

- Trời, em xin lỗi…

- Chú có lỗi gì…

- Dạ thưa... Bác đã theo đạo Phật? Ông B thăm dò…

- Mô phật, cuộc đời vô thường, đời người là bể khổ. Chẳng mấy ai thoát khỏi kiếp luân hồi… Bỏ công tu tập may ra kiếp sau bớt được khổ đau… Sau hai lần sinh không được nuôi con vợ chồng tôi quyết định ăn chay niệm Phật trọn kiếp tu hành... Giọng nói chủ quán  nhuốm vẻ bi ai.

- Thế bác có bác gái lúc nào?

- Chuyện dài lắm, anh em đã buồn ngủ chưa?

- Chưa, chưa, bác kể tiếp đi!

- Ở trong nhà người Lào đó được mấy tháng thì xin ra ở riêng. Tôi dựng một gian nhỏ ngoài rìa bản, cũng phát nương tỉa bắp, cũng nuôi con chó con gà… Vậy mà ngày tháng trôi qua lúc nào. Dạo đó hòa bình đã gần một năm và đến mùa mưa. Mùa mưa bên này thì các chú biết rồi. Mưa dầm dề dẳng dai. Mưa ngập sông ngập suối mưa thúi đất thúi đai… Trưa đó, ngồi trong nhà nhìn ra tôi thấy một cái bóng chờn vờn bên kia đồi. Đầu tiên là một chấm nhỏ xuất hiện từ mí rừng rồi cứ xịch dần xịch dần. Hóa ra đó là người, một người có dáng điệu kì quái.

Chừng như đã mỏi, chủ quán ngừng kể, đi lại góc nhà kéo chiếc ghế phô tơi cũ đặt cạnh thành phản rồi ngả lưng. Đã gần chín giờ, nhà trong vẫn tiếng đọc kinh và tiếng cốc cốc vọng ra đều đặn miên man. Giọng chủ quán rủ rỉ, không gian yên ắng, tiếng đọc kinh và tiếng mõ đều đều càng vang lên rành rọt. Bất ngờ, giọng chủ quán cao vút khiến ông B giật mình.

- Tôi như không tin vào mắt mình. Chẳng lẽ là ma?… Nhưng không phải. Không phải ma mà là người. Một người đàn bà, một cô bộ đội Việt… Tôi nhận ra điều đó nhờ vào cái quần quân phục và cái nón vải ướt mèm trật bên vai khi cổ đến gần…

- Sao lại là bộ đội nữ… Ông A không hiểu.

- Đúng là nữ quân nhân, một cô bộ đội… Nhưng cổ bị điên… Cổ bị người ta bỏ quên…

- Bị bỏ quên…

Thật không thể tin được. Ông A lẩm bẩm trong miệng.


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Giêng, 2011, 09:51:30 pm
- Thế đấy. Hòa bình đã được hơn một năm… Tỉnh lại cổ kể cho tôi nghe… Cổ là lính coi kho. Kho ở giữa rừng mà suốt ngày nhộn nhịp đông vui. Đi chiến trường hóa ra lại vui. Dạo đó là cuối năm bảy tư, khí thế cách mạng hừng hực… Ban đầu thì thế, không hiểu sao xe vào thưa dần, thưa dần rồi mất hẳn. Ba cô gái giữa rừng sâu không bom đạn, không cả tiếng máy bay. Vài tháng sau hai người kia lần lượt chết, một do sốt rét một bị rắn độc cắn. Vậy là chỉ còn lại một mình cổ. Một mình giữa rừng sâu, đàn ông còn hoảng huống chi là đàn bà con gái… Thân gái côi cút đơn độc hàng năm trời, đêm hôm, mưa gió… Chắc mưa rừng các chú đã biết…

Dạ, dạ… Họ trả lời như như máy và cảm thấy trong đầu bùng bùng, ầm oàng sấm chớp của những trận mưa rừng đã gặp… Ông A rùng mình nhớ lại những trận mưa hãi hùng ở vùng núi cao thượng Lào. Rừng núi bịt bùng. Những tầng mây đen ngập trời sà thấp tận ngọn cây và sấm chớp như muốn đánh vỡ cả núi non. Con người lúc đó có cảm giác như đang nằm dưới đáy đại dương đen ngòm…

- Cổ không đi một mình…, trên tay còn có đứa con… Chẳng biết ai đã để lại cho cổ đứa con…

Cả ông A và ông B lại điếng người. Câu chuyện sao mà kinh khủng, sao mà khó tin. Làm sao có chuyện như vậy được. Biết rằng trong chiến tranh tất cả mọi chuyện đều có thể, nhưng… Số phận con người cùng cực đến thế thì khó mà tưởng tượng nổi.

- Mình cổ để trần, khoác chéo qua người một đoạn dây rừng ngoắc lủng lẳng những vỏ lon, những củ sắn và túm rau rừng… Một tay bế con một tay cổ uốn éo vừa đi vừa múa.

Không khí trong quán như đặc quánh, cả hai nín thở. Câu chuyện càng lúc càng cuốn hút đến rợn người… - Cô ta xuống đến trước cái lều thì tôi đi ra. Tôi định ra bảo cô vô nhà trú mưa. Nhưng thấy tôi, cô giật mình hốt hoảng bế con chạy ngược trở lại vào rừng. Tôi chạy theo gào khản cả cổ mà cổ đâu có dừng… Mưa quất chéo rát và tối tăm mặt mũi. Thoáng chốc cô mất hút trong màn mưa. Lúc đó tôi chưa biết trong cái bọc là đứa con. Tôi cứ cắm môi bước, vừa đi vừa vạch lá tìm. Lúc lâu tôi mới bắt gặp được hai mẹ con. Dưới một gốc cây to cô ta đang cho con bú… Cổ còn trẻ lắm các chú ạ, còn trẻ lắm, có lẽ chưa tới hai mươi... Da xanh tái, tóc tai dính bết trên khuôn mặt xanh xao Tấm lưng trần gồ lên những đốt sống và những dẻ sườn... Chỉ có hai bầu vú… Hai bầu vú của người đàn bà trẻ trong kì nuôi con… nó đầy đặn... Lúc này thì giọng ông to hơn và như muốn đứt hơi... Bầu vú hồng hào... căng mọng… Các chú biết không? Ngước lên nhìn tôi bằng cặp mắt ngây dại, vô hồn rồi cổ lại cúi xuống cho con bú. Một tay cổ đỡ đầu đứa bé, một tay nâng bầu vú có cái núm thâm thâm ấn vào cái miệng bé tin hin… Nhưng... Ông nấc lên. Đứa bé… nó đã chết…

- Trời… Ông A và ông B đồng loạt thốt lên… Cả hai người bủn rủn chân tay.

...Sữa hòa với nước mưa chảy tràn trên khuôn mặt bé tí, đã tím bầm và trương mọng… Thế đó. Đứa bé đã chết… Nó đã chết. Có lẽ đã mấy ngày rồi. Chủ quán nấc lên… Thân thể nó tím ngắt và đã bốc mùi... Lúc đến gần nghe mùi khăn khẳn tôi chưa nhận ra… Cô ấy không biết gì hết, không hề biết. Đứng nhìn những giọt mưa như những mũi tên cắm xuống vỡ tan trên tấm lưng trần, vỡ tan trên khuôn mặt tím đen căng mọng của đứa bé và trên bầu vú no tròn trắng xanh của cổ mà tôi chết lặng...

Lúc này chủ quán cũng đang chết lặng, khuôn mặt tái nhợt và ngồi thở dốc. Trong không gian nhỏ của ngôi nhà chỉ có tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ chạy ở đâu đó vang lên rành rọt và một lúc thì lại có tiếng cốc cốc kèm theo tiếng tụng kinh vọng ra.

Chẳng lẽ những tiếng đó từ nơi khác vọng đến. Chung quanh đây có nhà nào gần đâu. Ông A nhìn sang, ông B vẫn ngồi bất động như đã hóa đá.

- Thế rồi sao nữa bác? Một lát thì ông A đánh bạo hỏi.

- Tỉnh lại tôi rất hoảng. Một lúc nhớ ra tôi chạy về bản gọi thêm người. Nghĩ rằng khó lòng mà dằng được đứa bé ra khỏi mẹ nó, ai ngờ… Tôi vừa đưa tay ra thì cô đã đặt nó vào tay tôi. Vừa chạm tay vào cái bọc thì một mùi hôi khắm không thể tả xộc lên khiến tôi nôn thốc nôn tháo… Nói đến đây ông nhăn mặt và đầy vẻ đau đớn… Lại ắng lặng một hồi lâu… Mấy người Lào dằng lấy cái xác trong tay tôi… Hiểu ra, tôi nắm lấy tay cổ, rồi tôi dìu cổ. Mưa to lắm, đường rừng vừa trơn vừa nhiều gai góc và đá nhọn. Lết đi được một đoạn, khi nhận ra không còn đứa bé trên tay cô lại gào lên rồi cấu xé tôi… Người ta đã chôn đứa bé… Dìu cổ về lều được một lúc thì mấy người đàn ông quay về báo đã chôn nó. Người ta chôn nó trong mưa, không hương không khói... Vậy là cái lều của tôi có thêm người đàn bà. Dân bản bảo nó là người Việt thì nó phải ở với mày. Có cổ trong nhà, tôi bận lắm. Hàng ngày phải canh cổ, đến bữa ăn cũng phải dỗ phải đút, lúc ngủ cũng phải canh. Có lúc cô xé toang áo quần rồi chạy vào rừng tìm con… Rất nhiều lần như thế. Phải tới nửa năm cổ mới hồi phục. Chẳng biết do tôi dỗ dành gợi nhắc hay do các loại lá cây, rễ cỏ dân bản mang cho mà cô khỏi điên.

- Thế rồi cô ta ở với bác chứ?

- Vâng. Có lẽ đó là duyên tiền định. Tôi yêu cổ ngay từ lúc dìu về và nghĩ rằng đây mới là người đàn bà của mình… Tiếp đến là những ngày chỉ có hai người… Tôi đút cho cổ ăn, tắm rửa cho cổ. Chúng tôi thành vợ thành chồng y như trời phật đã định sẵn vậy.

- Chuyện thật là… hiếm gặp, bác nhỉ. Mà sao cô lại…

- Thật tội nghiệp cho cổ… Cái kho... cổ không thể bỏ cái kho… Biết đâu sẽ có xe quay lại nhận hàng… Hơn một năm sống trong chờ mong đến tuyệt vọng… Hòa bình đã từ lâu, người ta kéo nhau về hết mà cổ đâu có biết… vẫn một mình với cái kho. Một mình tự xoay trở tất cả. Đứa bé chưa đầy năm bị ốm, chẳng biết xoay xở ra sao, cổ liều mạng bế con vượt rừng…

Trước mặt họ lúc này là một pho tượng, một pho tượng nhà mồ khô đét gồ ghề những vết rìu đẽo vạc. Chủ quán đã ngừng nói, ông hộc lên đau đớn như một con thú bị thương. Nỗi khổ đau của người đàn bà được ông cứu vớt và lấy làm vợ, dù đã mấy chục năm nay đang trở về hành hạ ông. Ông cứ ngồi thế, nét mặt đông cứng và toàn thân câm lặng. Chủ quán khiến cả hai nín thở và cảm thấy đau nhức vòm ngực. Mặt ông A tái xanh còn ông B run lẩy bẩy và mất hết thần sắc.

Chẳng biết lúc đó là mấy giờ. Xa xa, bên kia sông, phần đất Thái, ánh điện đang hồng rực, đang sáng xanh trên những tòa nhà cao tầng. Mặt trời lặn ở bên đó. Ông B nhớ chiều đầu tiên đến đây, trước khi tắt mặt trời cũng để lại một mặt nước sông Mê Công đỏ ngầu như màu máu... Câu chuyện của chủ quán khiến ông lúc này chỉ biết ngồi im lặng. Hình như không chịu được nữa sự nặng nề, căng thẳng, ông rụt rè.

- Thưa… sau đó thì thế nào ạ? 

- Chúng tôi trở thành vợ chồng và quyết định sẽ không về nước. Một năm sau chúng tôi dời xuống đồng bằng, cốt tránh xa cái nơi ám ảnh đau thương ấy. Thế rồi lại từ ATôPơ lên Thà Khẹt và bây giờ... trụ lại đây… Từng ấy thời gian, hai lần sinh đều chỉ là một bọc thịt… Chủ quán lắc đầu đau đớn. Họ rùng mình ớn lạnh…- Thấm thoắt thế mà đã sắp hết một đời người. Cổ đã chết, tôi cũng chẳng còn sống được bao nhiêu... Phật dạy muốn thoát khỏi luân hồi, người tu tập phải đi trên con đường vô ngã… Tôi biết đường về cõi niết bàn thì mịt mờ thăm thẳm. Một mình tôi vẫn cố giữ, quyết không xa rời năm giới, gắng sống sao để được phúc cho đời sau… Cổ làm gì mà phải chết buồn chết khổ như vậy. Khi sinh ra bọc thịt thứ hai cổ khóc đến mù cả hai mắt… Cổ chết… sau đó mấy tháng… Mười tám tuổi đi bộ đội, chân ướt chân ráo đã vào Trường Sơn coi kho. Còn tôi, tuy cầm súng nhưng đã nổ phát đạn nào đâu… Hay là 0tại kiếp trước… Chẳng biết kiếp trước chúng tôi ăn ở thế nào mà chịu quả báo như vậy. Thôi, khuya rồi đó, các chú đi nghỉ đi, mai còn về…

Chủ quán đứng dậy rồi mất hút vào khoảng tối sau nhà. Ông A và ông B cũng lẳng lặng lên chỗ ngủ. Đã quá nửa đêm, giấc ngủ đến với họ chập chờn chao đảo. Ông A nghe rành rọt tiếng tụng kinh, tiếng gõ mõ, rồi lại thấy như hương khói từ đâu đó ùa đến phủ kín chỗ nằm. Xa xa ánh đèn le lói như ma trơi dọi tới rồi tiếng nói tiếng cười lao xao và có cả tiếng rậm rịch của bước chân. Có lúc ông lại thấy bộ dong dưới lưng rung rinh trôi nổi. Ông bật dậy và giật mình. Chẳng biết bạn ông đã dậy từ bao giờ, một mình trong bóng tối và đang nói chuyện với ai đó…

Tiếng của ông B: Thế con chúng ta đâu… Sao em không báo cho anh… Ngày đó đang chiến dịch, gấp lắm… Giải phóng Sài Gòn… Về quê em người ta bảo em đã có giấy báo tử… Giọng ráo hoảnh như tiếng nói từ một cõi nào đó âm u vọng về, ông B vẫn độc thoại.

Ông A định lay cho bạn tỉnh lại thì bỗng dưng toàn thân ông B nảy lên bần bật rồi vọt xuống đất lao thẳng ra cửa.

Bóng đêm đã nuốt chửng ông B.

Quay vào nhà, ông A hốt hoảng định gọi chủ quán nhưng sững lại. Trong khuya khoắt thanh vắng, lại tiếng tụng kinh và tiếng mõ cốc cốc lại vang lên rành rọt. Trời ơi, mình biết làm sao đây…

Tháng 4 năm 2010
N.N.L


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 19 Tháng Giêng, 2011, 07:59:59 am
HÔ-VI-LÔ

NGUYỄN KHẮC PHỤC


Ông X nổi tiếng đến nỗi, chỉ cần tôi nhắc tên ổng trước mặt bạn, bạn sẽ ồ lên đầy vẻ háo hức và lẩm nhẩm hát ngay một giai điệu nào đó trong một bài hát nào đó của ông.

Vì một công vụ, tôi buộc phải có mặt tại thành phố N. vào những ngày tháng sáu nóng khủng khiếp. Nóng đến nỗi, trước tám giờ tối, những công dân thành phố thích nấp dưới những bóng cây dọc con sông chảy qua thành phố hơn là trở về ngôi nhà nóng nảy của mình… May mắn thay, tôi được sắp xếp ở khách sạn K., một khách sạn không sang trọng gì so với các khách sạn khác trong thành phố. Nhưng nó lại nằm mấp mé bờ sông đoạn nối với biển nên gió trời thường xuyên thăm viếng các cửa sổ của nó. Bên cạnh cái hay bao giờ cũng kèm cái dở. Vì mấp mé bờ sông nên khách khứa trọ tại đây có nhiều dịp để thưởng thức mùi cá các loại từ khô, ướt, đến các mùi vị ươn nồng khác của cái bến cá tấp nập cho đến nửa đêm mỗi ngày… Và tôi được xếp phòng cạnh ngay căn phòng của ông X. Dĩ nhiên, như tôi vừa nói trên, cái hay và cái dở thường đánh bạn với nhau. Tôi được hưởng cái diễm phúc làm người hàng xóm với nhân vật nổi tiếng kia. Nhưng kèm theo lại có một tai họa. Ông X không mấy khi nhớ mở chốt cửa phòng vệ sinh sau khi đã sử dụng nó. Tôi cũng cần thuật lại một chút để các bạn có thể hiểu được cái bố cục kỳ khôi của khách sạn K. Để tiết kiệm diện tích và tăng thêm số phòng cho thuê, người thiết kế đã bố trí hai phòng ở liền nhau dùng chung một toa-lét. Bên này sử dụng thì mở cửa phần mình bước vào và khóa chốt của phần bên kia. Xong bao giờ cũng phải nhớ mở chốt cho láng giềng. Nhưng ông X lại ít khi dành thì giờ cho những chuyện lặt vặt như vậy. Đương nhiên sự đãng trí ấy của ông X gây cho tôi những trở ngại đáng kể trong sinh hoạt và không khỏi có lúc oán trách ông…

Nhưng cứ hễ có dịp ngó thấy mặt ông đăm chiêu, tư lự, khi hân hoan nồng nàn khi trăn trở mở rộng với mái tóc muối tiêu lượn sóng duyên dáng đi dọc hành lang tầng hai khách sạn, tôi lại ân hận và xấu hổ trước những nỗi khó chịu tầm thường của tôi. Nghệ sĩ thì phải vậy chớ, ông đâu còn tâm trí để nhớ cửa toa lét cho mình một khi những con ong vàng vo ve bên tai ông những nốt nhạc thần thánh hay êm ái… Tôi còn được những nhân viên khách sạn long trọng kể cho hay rằng, ông là khách mời đặc biệt của địa phương. Và mọi người đều hồi hộp chờ đợi ở ông một sáng tác phẩm, cụ thể là một ca khúc tuyệt vời như ông đã có dịp làm cho những địa phương khác trước đây. Bạn thử nghĩ xem, bạn kiêu hãnh vì quê hương bạn, bạn xúc động mỗi lần quê hương bạn hiện lên trong phim ảnh hoặc được người ta ca tụng trên báo chí hẳn bạn sẽ hiểu nỗi háo hức của những người ở đây chờ đợi ca khúc của ông X viết về mảnh đất yêu dấu của mình… Trong đó họ sẽ bắt gặp những giai điệu hào hùng, mà lại đằm thắm âm hưởng quê nhà…

Tôi còn biết thêm điều này nữa, ông X rất chú ý đến chiến công thời chống Mỹ của các chiến sĩ biệt động thành N. Ông dự tính phải viết bằng được một ca khúc tầm cỡ để ca tụng họ và thông qua cái sự ca tụng ấy bầy tỏ lòng biết ơn của nghệ sĩ đối với những người anh hùng, những người đã cung cấp chất liệu sống cho các nghệ sĩ cảm hứng và sáng tạo… Chỉ đến cuối tuần này ông sẽ tổ chức hát, trình bày bài hát đó trước đông đảo các vị đại biểu có thẩm quyền và hâm mộ âm nhạc nói chung, tài năng của ông nói riêng…

Vào một buổi chiều, có một chuyện đáng tiếc xảy ra trong phòng ăn. Từ trước tới rày, ông X thường ăn tiêu chuẩn 150 đồng một ngày. Không hiểu cô gái chịu trách nhiệm báo cơm nhằm đúng ngày có những xáo trộn về mặt trí nhớ báo lầm phần ăn của ông tụt xuống 50 đồng một ngày. Đứng ngay giữa phòng ăn, ông X mặt đỏ tía tai quát lên:

- Tôi là ai cô biết rồi chớ? Tôi có phải hạng người ăn thứ cơm 50 đồng không? - Cô gái báo cơm run lên, rồi rối rít xin lỗi và thật sự ân hận. Nhưng cơn giận dữ vì tự coi là cô gái cố ý làm nhục mình, ông X đùng đùng bỏ ra khỏi phòng ăn. Ông đi rồi, tất cả chúng tôi vội vã ngó vào phần ăn của mình để xem mình là hạng người nào. Hầu như tất cả chúng tôi đều là hạng ăn cơm 50 đồng một ngày…

Rồi cuối cùng ngày ông tổ chức trình bày ca khúc của ổng ca tụng các chiến sĩ biệt động mang một cái tựa đề khá gợi cảm và khái quát: “Hát về em, người nữ anh hùng biệt động”. Tôi không được vinh dự là khách dự buổi trình bày ấy nên không hiểu diễn biến cụ thể ra sao. Nhưng biết chắc một điều, buổi biểu diễn phải thành công lắm thì gương mặt ông mới rạng rỡ thế kia khi ông trở lại phòng. Và có lẽ ngây ngất trong vinh quang và xúc động, ông thấy cần chia xẻ chút ít với tôi, kẻ láng giềng bất hạnh của ông. Ổng nhẹ nhàng gõ cửa phòng tôi. Mở cửa trông thấy ông, tôi sung sướng mời ổng vào và long trọng khác thường mời ông dùng tạm ly trà Mai Hạc. Thế là quên bẵng nỗi buồn bị liệt vào hạng người ăn cơm bậc thấp nhất trong khách sạn, tôi rụt rè hỏi ổng: do đâu mà ông có thể viết bài hát tuyệt vời và chân thực đến thế. Ngạc nhiên vì sự thiếu hiểu biết và máy móc của tôi, ông trả lời hóm hỉnh: “Anh hãy yêu đi, anh sẽ hiểu bí quyết thành công của nghệ thuật!”

Vừa lúc đó một đồng chí phụ trách văn hoá địa phương lên thăm và chúc mừng thành công của ông X bước vào phòng tôi. Chúng tôi nói nhiều chuyện nhưng chủ yếu xoay quanh việc ca tụng và thán phục tài năng của ổng… Bỗng nhiên ở căn phòng đối diện, căn phòng dành cho những nhân viên khách sạn trực đêm văng vẳng ra một giọng hát phụ nữ, hát sai nhạc nhưng khá cảm động. Đặc biệt hơn nữa, cô gái nào đó trong căn phòng ấy lại hát đúng bài của ổng vừa sáng tác và vừa trình bày. Hình như người hát mỗi lúc một say sưa, cho nên bên cạnh cái vụng về chính ông X cũng phải thừa nhận, “ca sĩ” nghiệp dư này hát có hồn hơn ca sĩ chuyên nghiệp nhiều… Đồng chí phụ trách văn hoá mở cửa bước ra và ghé mắt vào cửa sổ che rèm sơ sài của căn phòng ấy nhìn mặt “ca sĩ” và hào hứng trở lại:

- Các anh biết không, người đang hát dĩ nhiên phải có hồn hơn ca sĩ chuyên nghiệp vì một lẽ đơn giản: chính chị ấy là nữ anh hùng biệt động thành N. thời chống Mỹ. - Không để ý tới thái độ kinh ngạc của tôi và ông X., đồng chí ấy kể tiếp: - Và hiện giờ chị ấy làm một công việc hết sức khiêm tốn: chuyên báo cơm cho khách ở khách sạn này!

Không hiểu ông X nghĩ gì lúc đó, còn tôi, tôi nhớ đến gương mặt bối rối và thái độ cuống quít của người nữ anh hùng ngày xưa ấy trước mặt nghệ sĩ sáng tác bài hát ca tụng chính chị khi chị báo cơm lầm từ 150 đồng xuống 50 đồng một ngày… - Và các anh hãy lắng nghe, dưới đường vừa vọng lên tiếng gì đó mơ hồ như là: Hô-vi-lô… Tôi lắng nghe, vâng, quả thực là tiếng Hô-vi-lô của những người bán dạo hột vịt lộn trước cửa khách sạn. Tiếng rao ấy liên quan gì đến người nữ anh hùng biệt động và người nhạc sĩ nổi tiếng? Đồng chí ấy nói tiếp:

- Một trong những chiến công chói lọi nhất của chị ấy và đồng đội là trận đánh bọn sĩ quan Mỹ trong chính khách sạn này… (khi ấy đây là cư xá của chúng)… Họ đã dùng tiếng rao của những người bán hột vịt lộn làm khẩu lệnh tấn công… Hô-vi-lô… có giống ba nốt nhạc kỳ diệu không, thưa nhạc sĩ X?

Thành N ngày 20 tháng 9 năm 1983
N.K.P
(4/12-83)



Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 19 Tháng Giêng, 2011, 08:03:09 am
NGƯỜI CHA

NGUYỄN QUANG HÀ

Lúc bố đi bộ đội thì Nguyệt còn nhỏ lắm. Nhưng Nguyệt vẫn nhớ rất kỹ ngày đơn vị bố hành quân đi B, qua làng. Bố ghé tạt thăm nhà một tí thôi là đi ngay.

Mẹ con Nguyệt tiễn bố một chặng đường dài. Sau lưng bố đeo ba lô. Trước ngực bố bế Nguyệt. Mẹ đi theo sau. Cả nhà lọt thỏm vào giữa hàng quân dài dằng dặc. Đến bến đò quan thì hai mẹ con dừng lại. Nguyệt lấy tấm ảnh mới chụp để trong ví mẹ, tặng bố. Bố hôn lên trán Nguyệt, rồi xa, từ đấy.

Không ngờ, mấy tháng sau, Mỹ thả bom xuống cánh đồng đang gặt, Nguyệt không còn mẹ nữa. Bị một mảnh bom trúng ngực, mẹ Nguyệt chết ngay tại chỗ. Mẹ chết, Nguyệt khóc mấy ngày liền.

Càng thương mẹ, Nguyệt càng nhớ bố. Nguyệt hỏi ông bà:

- Bao giờ bố cháu về?

Ông bảo:

- Miền Nam đang tổng tấn công. Thắng trận thế nào bố cũng về ngay.

Nguyệt cứ mong bố hoài. Một hôm có chú bộ đội đến tìm Nguyệt ở lớp học. Cô giáo dắt Nguyệt tới, đặt tay Nguyệt vào tay chú. Chú bồng Nguyệt trên tay, âu yếm:

- Cháu có nhớ chú không?

Nguyệt đã nhận ra chú:

- Hôm ấy chú vác ba lô cho bố để bố bế Nguyệt.

- Đúng rồi. Cháu nhớ lắm.

Chợt nhớ bố, Nguyệt hỏi ngay:

- Thế bố Nguyệt đâu?

Chú bộ đội muốn trả lời ngay. Nhưng có cái gì ngăn nơi cổ, không muốn cho chú nói. Chú cứ ôm chặt lấy Nguyệt, và lòng thì cứ rối lên nỗi nhớ người đồng chí của mình, bên nhau giữ cửa Đông Ba suốt hai mươi tư ngày đêm, kiên cường, anh đã chết ở phút cuối cùng chặn địch.

- Bố cháu không còn nữa, Nguyệt ạ.

Nguyệt òa khóc. Vừa khóc, vừa gọi “Bố ơi! bố ơi! Trả bố đây! Trả bố đây!” Nước mắt Nguyệt tràn ra, tưởng không gì ngăn nổi. Chú bộ đội rơm rớm nước mắt:

- Bắt đầu từ giờ phút này chú là bố của con, Nguyệt ạ.

Những ngày nghỉ phép, bố đi đâu cũng cho Nguyệt đi đấy. Hai bố con như dính nhau cả ngày. Chưa bao giờ Nguyệt được chiều chuộng như thế. Hai bố con xin phép ông bà về thăm quê bố. Nguyệt có thêm ông, bà và nhiều chú bác, anh chị mới. Ai cũng quý Nguyệt. Ai cũng thương Nguyệt. Cả ông bà cũng muốn giữ Nguyệt ở quê. Nhưng hết phép, bố lại phải vào Nam chiến đấu. Ông bà nội phải xuống thăm quê bố, xin phép ông bà chú bác ở quê cho mang Nguyệt về họ hàng ở quê mới chịu.

Hôm chia tay, Nguyệt lấy bài thủ công cắt giấy dán chiếc mũ bộ đội, có ông sao vàng ở giữa, cô giáo chấm cho Nguyệt điểm mười. Nguyệt tặng cho bố:

- Lần sau bố về, con không cho bố đi nữa đâu. Bố hứa đi.

- Ừ. Lần sau về, bố ở hẳn nhà với Nguyệt. Đồng ý không?

Nguyệt thơm bố một cái thật dài vào cái sẹo trên trán. Thế rồi bố đi. Thời gian cứ trôi. Nguyệt ở nhà với ông bà, cũng lớn lên từng ngày. Nguyệt lên lớp ba, lớp bốn, rồi lớp năm. Hai bố con viết thư cho nhau rất đều. Nguyệt nhớ bố nên theo dõi kỹ từng bước đi của bố. Vì vậy Nguyệt chăm đọc báo, nghe đài. Mặt trận này nối tiếp mặt trận kia. Rồi bất ngờ chiến dịch Hồ Chí Minh nổ bùng ra. Tin chiến thắng tới tấp dội về làm náo nức cả làng xóm. Buôn Mê Thuột giải phóng. Huế giải phóng. Rồi Đà Nẵng vùng lên. Đơn vị của bố đang tiến thẳng vào Sài Gòn. Lá thư cuối cùng Nguyệt nhận được của bố gửi tại bưu cục Nha Trang. Rồi Sài Gòn giải phóng. Từ đó Nguyệt rất mong mà không có thư bố gửi về. Nguyệt chợt lo, rồi bồn chồn. Nguyệt hỏi ông bà:

- Có tin gì của bố con không?

- Ông bà cũng đang mong đấy.

Các chú bộ đội trong làng về thăm quê, làm Nguyệt càng nóng ruột. Nguyệt đã lớn rồi. Nguyệt đã biết nghĩ. Nên lắm lúc Nguyệt chột dạ: “Hay là…” Rồi Nguyệt gạt phắt đi, không dám nghĩ nữa. Có điều Nguyệt hay gặp lại bố trong giấc mơ nên càng nhớ. Một buổi trưa, Nguyệt ở trường về, thấy chú bộ đội ngồi với ông bà trong nhà. Ông bà nhủ Nguyệt cất sách vở rồi cho phép Nguyệt được ngồi cùng bàn. Linh tính báo cho Nguyệt chắc có chuyện gì. Chú bộ đội hỏi:

- Nguyệt có nhớ ra chú không?

- Không ạ.

- Cháu có nhớ dòng chữ hỏi thăm cháu viết bằng bút bi bên lề thư bố cháu gởi từ Nha Trang về không?

- Dạ, có ạ.

- Dòng chữ ấy là của chú.

- Thế bố cháu đâu hả chú - Nguyệt hồi hộp hỏi.

Chú bộ đội không trả lời. Chú lấy trong xắc ra, đặt lên bàn từ chiếc ảnh Nguyệt tặng bố trên bến đò quan, rồi từng lá thư của Nguyệt gửi vào chiến trường. Cuối cùng là quyển nhật ký của bố Nguyệt:

- Xe tăng của bố cháu bị bắn cháy ở Xuân Lộc. Nhưng xe tăng của chúng ta đã vào thẳng dinh Độc lập, đánh tan sào huyệt cuối cùng của kẻ thù. Bố cháu đã hy sinh rồi, và, Nguyệt ạ, bây giờ thì chú là bố của con. Kháng chiến đã thắng lợi. Nam Bắc đã thống nhất. Đất nước đã hòa bình.

Nguyệt ngồi lặng như khúc gỗ. Nước mắt Nguyệt cứ tràn ra. Nguyệt thấy nghẹn nơi cổ. Cố gắng lắm Nguyệt mới không òa khóc như ngày nào.

- Hãy lau nước mắt đi con.

Bất giác Nguyệt ôm chầm lấy chú bộ đội, và bất giác Nguyệt cất tiếng gọi:

- Bố!

- Con!

Ghì chặt Nguyệt trong lòng, chú bộ đội cũng thốt lên tiếng gọi ấy. Và chưa bao giờ anh nghe rõ tim mình đập, rộn ràng như thế.

N.Q.H
(4/12-83)


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 19 Tháng Giêng, 2011, 08:13:40 am
NGƯỜI GÁC SAU CHIẾN TRANH

ĐINH DUY TƯ


Chiếc xe hồng thập tự chở đến bệnh viện một bệnh nhân tâm thần. Chị ta có thể gọi là một cô gái, hai mươi chín tuổi, có chồng làm thợ rừng. Cách đây mấy hôm, đột nhiên chị ta lên cơn điên dữ dội. Theo người nhà bệnh nhân cho biết, chị ta luôn miệng kêu gào tên một người nào đó.

Tiến gấp hồ sơ lại. Trước mặt anh, cô y tá trực vẻ mặt đầy lo lắng. Bên ngoài, trời nắng to, gian phòng họ ngồi không có gió nhưng mát lạnh. Bộ phận điều hòa nhiệt độ vẫn làm việc bình thường. Bệnh viện yên tĩnh. Dường như chưa bao giờ yên tĩnh đến thế! Những cây phượng vĩ sau mấy hôm mệt lữ vì gió Lào, giờ đây đứng yên rũ bóng xuống con đường lát đá.

Đột nhiên có tiếng thét. Rồi tiếng kêu và sau đó là những lời huyên thuyên.

- Chị ta đấy! Giọng nhỏ nhẹ, cô y tá nói.

Tiến đứng lên và bước về phía tiếng kêu. Cô y tá đi theo anh. Qua song cửa Tiến nhìn vào buồng bệnh. Người đàn bà bị điên đang nằm sấp, hai tay dập sàn sạt vào thành giường. Thấy Tiến đến chị ta ngẩng mặt lên nhìn. Khuôn mặt hốc hác, phờ phạc. Chị ta cười rú lên. Đôi mắt! Tiến sợ hãi vì đôi mắt quen quen ấy. Như không thể chịu nổi, Tiến vội vã sãi những bước thật dài như chạy trốn…

Cô y tá đuổi theo Tiến:

- Anh Tiến!

Tiến dựa hẳn người vào hành lang nói như ra lệnh:

- Cho cô ta ngủ. Tôi cần gặp người nhà của cô ta. Nói đoạn, Tiến trở về phòng.

Câu chuyện của họ xảy ra cách đây đã hơn mười năm nhưng Tiến vẫn không sao quên được cô gái thanh niên xung phong đã từng yêu anh chàng ở trạm đường ống đèo 101. Anh ta tên là Nhương, quê ở thị trấn Ba Đồn. Trong hang đá đặt những bể dầu trung chuyển, Tiến và Nhương đã ăn lương khô, uống nước suối Tiên hàng tháng ròng. Nhiệm vụ của họ là bảo vệ đoạn đường ống từ cây số 38 trở vào. Họ có bốn bể xăng hết đầy lại vơi, hết vơi lại đầy. Tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác họ tiếp nhận và chuyển đi… Hai người trong hang đá, đêm nào cũng kể chuyện cho nhau nghe. Chuyện của họ giống như chuyện ngàn lẻ một đêm. Thường thì không tranh luận. Một người kể, một người nghe. Đêm nay người nầy mai người khác.

Tiến nhớ hoàn cảnh của Nhương không khỏi đau lòng. Trong những đêm nằm nghe tiếng chim từ quy gọi, Nhương thường bật dậy ngồi lắng nghe. Đời Nhương cô đơn ngay từ lúc lọt lòng mẹ. Cậu bé sinh được tròn một ngày thì có tin bố hy sinh ngoài mặt trận… Nhương ở với mẹ hai năm rồi phải về với ông nội. Mẹ Nhương đi lấy chồng. Bố mẹ, ngày xưa gặp nhau đất khách, bây giờ mẹ Nhương đi bước nữa cũng quê người. Nghe nói mẹ Nhương sau này cũng vất vả, lận đận bên một bầy con và người chồng làm chơi ăn thật. Đến nỗi không có tiền về thăm con…

Nhương bước vào học cấp ba cũng là năm giặc Mỹ điên cuồng bắn phá miền Bắc. Dạo đó nhà trường phải đưa học sinh sơ tán lên rừng. Thương ông bà, Nhương không đành lòng ra đi. Đã một lần cậu bé trốn học trở về nhà… ông nội Nhương khẳng khái bảo đứa cháu:

- Ông mệ trốn thằng Mỹ phải ngồi hầm là điều bất đắc dĩ. Tuổi trẻ như cháu mà bỏ học để về ngồi hầm há chẳng phải hổ thẹn ư? Chiến tranh. Nhà nước đưa cháu lên rừng học cũng là sách lược “đánh vẫn đánh, xây vẫn xây” đấy cháu ạ.

Tiếng ông rất đỗi ngọt ngào. Ngày hôm sau Nhương lau nước mắt ôm bọc dù đựng áo quần sách vở ngược rừng lên trường… Nhương có ngờ đâu đó là lần cuối cùng cậu bé được sống bên ông bà nội. Bữa hay tin bom đánh trúng nhà - một loạt bom tọa độ, Nhương chạy về. Lần đầu tiên trong đời Nhương thấm thía trọn nghĩa hai chữ tang tóc. Nhà đã tan rồi! Ông mệ sống chung hầm chết chung mồ.

Nhương quyết tâm bỏ học. Lá đơn bằng máu thay cho một bài tập làm văn chạy suốt quyển vở dày đã làm chấn động ban giám hiệu nhà trường. Không ai cầm lòng giữ Nhương lại, đành cho cậu lên đường nhập ngũ.

Thế rồi Nhương được về đèo quyết tử - tên gọi đèo 101 dạo đó, thay thế cho một chiến sĩ vừa hy sinh. Một tổ thanh niên xung phong được điều đến hỗ trợ cho việc mở đường ống mới và đưa bốn bể xăng vào hang. Trong những ngày thi công Tiến được chứng kiến một tình yêu. Nhương đã chiếm được trái tim của cô gái thanh niên xung phong nổi tiếng về sắc đẹp và có giọng hát tuyệt vời.

Sau khi nhiệm vụ hoàn thành, cuộc họp mặt giữa hai thứ quân được tổ chức tại hang đá. Mọi người ăn lương khô hút thuốc lá và hát… đêm đó Hiền hát một bài dân ca quen thuộc: Người ơi người ở đừng về. Nhương ngồi trên phiến đá, cặp mắt cứ nhìn Hiền không động đậy. Hiền cũng vậy, cứ nhìn vào Nhương. Cuộc vui đến hai giờ sáng thì mọi người lăn ra ngủ. Đêm, bên ngoài cửa hang ánh trăng chiếu sáng vằng vặc. Núi rừng như được một lớp thủy ngân bao phủ. Thỉnh thoảng có một đợt gió ào qua, lùa vào hang như nàng tiên dưới suối mang hơi nước đến. Trong tiếng gió ấy vẳng lại tiếng người… Tiến mở mắt nhìn sang chỗ Nhương. Chiếc màn dạt về một phía, không thấy Nhương đâu cả.

Có lẽ có một đám mây vừa lướt qua. Ánh trăng đột nhiên mờ ảo.

- Đừng… em van… Tiếng người con gái yếu ớt như đang rạn ra từng mảnh.

- Anh thề… Người con trai nói, giọng quả quyết.

Tiến khẽ mỉm cười. Anh xoay người nằm nghiêng và ấn tai vào chiếc gối. Một cánh tay Tiến đưa lên bịt nốt tai còn lại. Chẳng biết thằng Nhương đang thề cái gì?

Chuyện ấy sớm được lãng quên.

Hiền ra lại đường mười, tiếp tục phá đá mở đường. Thỉnh thoảng Hiền lại lên hang. Hiền lên một mình, khi về đã có Nhương bên cạnh. Những lúc ấy, Tiến thường vác súng đi kiểm tra đường ống… Một bữa Tiến quay về, gặp Hiền vừa đi ngược lại vừa khóc. Tiến xộc vào hang, Nhương giật mình ngẩng đầu lên.

Tiến không nhận ra Nhương nữa.

- Sao cậu như ma chết trôi thế kia? Tiến thốt lên.

Hai người ngồi đối diện nhau. Nhương nhìn Tiến và lập tức quay mặt để tránh cái nhìn ngược lại. Một lúc sau, Nhương khẽ nói giọng đượm buồn:

- Tiến thông cảm cho… mình bồng bột…

- Chuyện gì mới được chứ?

Nhương cúi đầu, ngón chân dí trên mặt đất. Tiến thấy khuôn mặt Nhương như biến sắc. Một chuyện rất quan trọng. Tiến chuyển sang ngồi gần Nhương hơn. Sau những phút im lặng, Nhương bỗng nói:

- Tiến ạ, điều kiện này không thể để Hiền sinh nở được. Đành phải …

- Sao? Cậu bàn với Hiền phá thai à? Tiến hỏi như đánh trả lại những tiếng nói rất rõ ràng của Nhương.

- Ừ! Nhương nói thêm - Tôi xin chịu kỷ luật!

Tiến nổi cáu:

- Kỷ luật… con khỉ! Kỷ luật rồi cậu liệu có cứu được đứa bé kia không? Đằng nào cũng phải mẹ tròn con vuông cái đã…

Để xoa dịu thần kinh đang căng như dây đàn. Tiến xách súng đứng dậy. Anh bảo Nhương:

- Chuyện đó, tính sau. Đã đến giờ tuần tra!


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 19 Tháng Giêng, 2011, 08:15:29 am
Thực tình Tiến muốn Nhương gặp lại Hiền. Chắc chắn trên một đoạn đường ống nào đó, Hiền đang ngồi để đợi phiên gác của Nhương. Câu chuyện vừa rồi đang dở dang… Cái gì dở dang là không ổn. Một cô gái lâm vào hoàn cảnh như Hiền thì không thể đưa đôi mắt đỏ hoe về đơn vị.

Sau khi Nhương ra khỏi hang, Tiến bắt đầu lần mò kiểm tra hệ thống bể chứa. Chợt Tiến sững lại, trước chiếc đồng hồ báo áp suất bơm… Áp suất bị tụt xuống quá mức quy định. Nguy rồi! Có một đoạn ống bị vỡ. Tiến vội vàng quay máy nói, báo về Tổng kho. Van bể được mở ra: van đường ống được đóng lại.

Tiến ra khỏi hang và đi ngược lên phía trước. Khẩu súng vang lên những tiếng nổ cấp báo. Từ bên kia đèo có những tiếng nổ khác đáp lại. Nhương đã có mặt chỗ đường ống bị vỡ! Hẳn cậu ta đang tìm cách bịt chặt đường ống và đợi Tiến đến.

Chợt Tiến đứng sững lại. Máy bay! Rầm rầm… một loạt bom tọa độ đánh xuống bên kia đèo. Những cột khói khổng lồ trùm lên và mảnh bom rơi lộp độp. Lá cây lả tả bay. Tiến nhoài người, nâng khẩu súng bắn tiếp một loạt đạn nữa. Không gian im lặng đến cháy lòng. Nhương không trả lời, có nghĩa là … Mới thoáng nghĩ đến đó, Tiến thấy mọi vật xung quanh quay cuồng, chao đảo. Mặc dù lấy hết sức bình sinh vượt lên đèo, Tiến vẫn nghe hai bàn chân nặng trịch. Con đường ống như cứ dài ra trước mắt anh…

Đêm đó thi hài Nhương được đưa về hang đá. Trên một tấm đá bằng phẳng, Nhương nằm như đang ngủ đầu quay về phía đông. Đồng chí chỉ huy trưởng rút một lá cờ đỏ phủ lên mặt anh. Mọi người không ai cầm nổi nước mắt khi nghe Tiến đọc lời vĩnh biệt. Lễ mai táng bắt đầu… Một tổ thanh niên xung phong đứng thành từng những bậc thang lấy đất dưới cửa hang đắp cho Nhương một ngôi mộ nổi. Ngôi mộ nằm sau một ụ đá nhỏ cao vừa đầu người. Ụ đá như một tấm bia. Mấy hôm sau, Tiến dùng con dao găm “năm tác dụng” đẽo gọt ụ đá thành hình người. Phải mất một thời gian khá dài, Tiến mới hoàn thành được đài kỷ niệm ấy.

Từ ngày Nhương hy sinh, Hiền vẫn lên hang đá đều đặn. Buổi sáng, cô ngắt những bông hoa rừng tươi mát nhất đem đến cắm bên chân tượng đài. Những hôm trời mưa, Hiền vẫn tần tảo kiếm bằng được những loài hoa ấy … Bên mộ Nhương, Hiền như cánh bướm tìm được nguồn mật dâng lên từ lòng đất. Chính trong những phút giây đó trái tim cô gái được an ủi bởi hình ảnh Nhương đang thật sự sống dậy trong cô. Hiền quyết định giữ lấy giọt máu của Nhương. Thế rồi trong một buổi chiều mở tuyến, Hiền đã sinh… Thông cảm hoàn cảnh của cô, ban chỉ huy tuyến giải quyết cho về địa phương với đầy đủ các giấy tờ. Trong đó, Hiền được cấp một tờ giấy đăng ký kết hôn với người đã khuất. Tờ giấy không có chữ ký của người chồng…

Vào một buổi sáng, sau một thời gian xa vắng Hiền bồng con lên thăm mộ Nhương. Vừa bước vào cửa hang Hiền nhận ra sự vắng mặt của Tiến. Hang đá lạnh lẽo và lặng ngắt. Bốn bể xăng nhô lên hình bán nguyệt, bụi bám một lớp dày. Một bầy dơi nghe động hốt hoảng bay vào ngách đá. Treo mình trên ấy, chúng bật lên những tiếng kêu như cố tình dọa dẫm hai mẹ con người đàn bà lạ.

Hiền đứng nhìn quanh và chợt hiểu vì sao chiếc đồng hồ áp suất không báo. Bếp lửa trong ngách đá kia thôi không reo. Mọi vật trong hang núi như đang đóng thành băng… Đi thêm mấy bước, mắt Hiền như bị thôi miên trước một con người đứng im, chiếc mũ cứng đội trên đầu và băng đạn đeo kín ngực. Chỗ này trước kia là “tượng đài” kỷ niệm của Tiến kia mà? Hiền cố ghìm chân để đứng thêm một lúc và quả quyết bước tới. Mộ Nhương và “tượng đài” vẫn đó. Đồng đội của anh trước lúc ra đi đã gửi gắm nơi anh hình ảnh người lính gác mãi mãi canh giữ cho cuộc đời…

***
Sau hiệp định ngừng bắn năm 1973. Tiến rời Trường Sơn. Ngày chưa nhập ngũ, Tiến có giấy gọi vào trường y. Bây giờ Tiến lại tiếp tục bước vào giảng đường sau những năm lăn lộn trên chiến trường. Suốt trong quãng thời gian hơn mười năm anh không hề gặp lại Hiền. Tuy vậy, qua những người thân quen, anh được biết vài nét sơ lược về người phụ nữ ấy.

Hôm nay bỗng nhiên gặp lại Hiền, Tiến không còn tự chủ được lòng mình. Anh đã từng tiếp xúc rất nhiều bệnh nhân tâm thần - kể cả những cô gái rất trẻ, nhưng chưa bao giờ họ làm cho lòng anh phải run lên. Với tư cách người thầy thuốc, lẽ ra phải ngồi lại thì anh bước vội về phòng mình, bước như chạy… Không! Có lẽ nào Hiền lại điên? Một con người đứng trước mộ Nhương. Mắt ráo hoảnh răng cắn chặt vào môi lại có thể loạn trí? Bao nhiêu năm trôi qua, vết thương lòng đang được cô gái hàn gắn bằng hạnh phúc thực tại, với ba đứa con, một ngôi nhà ấm cúng. Thế thì sao Hiền lại điên? Câu hỏi lặp lại không biết bao lần trong đầu óc Tiến. Anh nhớ ngày trước, mỗi lần bức xúc, Hiền thường chạy xuống rửa mặt ở suối Tiên… Những lần như vậy, Nhương thường phàn nàn: người mà chi lạ, giận là bỏ đi.

Không biết câu chuyện ngày xưa ấy có quan hệ gì đến bệnh trạng hiện nay của Hiền? Tiến tự hỏi lòng. Bất giác, anh quay sang người chồng đang đứng tựa lưng vào cửa sổ. Liệu anh ta có biết hay đó là chuyện riêng của Hiền? Đã là chuyện riêng thì mình cũng phải tôn trọng… Tiến nghĩ vậy và hỏi khéo:

- Hình như anh và chị ấy vừa qua có sự xung đột phải không?

- Không! Thưa bác sĩ hoàn toàn không… Chúng tôi sống rất hạnh phúc.

- Nghĩa là cơn điên của chị ấy bộc phát.

- Vâng!

Anh ta trả lời xong, vẻ mặt trở nên bối rối. Tiến nhận ra điều đó và khẽ thở dài:

- Căn bệnh gì cũng có nguyên nhân của nó. Tìm được nguyên nhân mới hy vọng cứu chữa…

Câu nói của Tiến như kéo những nếp nhăn trên vầng trán của anh ta giãn ra. Môi anh ta mấp máy, hai khóe miệng giật liên hồi. Nhưng rồi tiếng kêu thét của người vợ đang vọng lên kịp ngăn anh ta lại.

- Cô ta gọi gì vậy? Tiến hỏi và im lặng lắng tai nghe.

- Một người không quen biết! Người chồng trả lời và mở cửa bước ra ngoài.

Cô y tá chạy xộc vào, vừa thấy Tiến cô ta nói ngay:

- Chị ấy lại lên cơn… Anh Tiến! Kỳ lạ vô cùng. Cô ta lắc chiếc cằm ngắn và đầu hơi động đậy: - Không gọi chồng cũng chẳng gọi con. Suốt thời gian lên cơn cứ kêu tên một người không có trong gia phả.

Tiến như bật dậy:

- Ai thế? Người ấy tên gì?

- Nhương! Anh nghe không, chữ Nhường bỏ dấu huyền…

Tiến ngồi phịch xuống ghế hai tay ôm lấy thái dương, miệng Tiến lắp bắp:

- Hóa ra…

- Anh Tiến! Anh làm sao thế? Cô y tá hỏi dồn dập.

Tiến lắc đầu:

- Không! Tôi hơi choáng…


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 19 Tháng Giêng, 2011, 08:17:03 am
Đêm hôm đó, Tiến không tài nào chợp được mắt. Anh nghĩ về người đồng chí của mình. Nhương ơi! Cậu hãy yên nghỉ đừng khuấy động thần kinh người con gái ấy. Cô ta bây giờ là bệnh nhân của mình… Cô ta đang vật vã, đang gọi cậu đấy! Cậu có nghe không?

Tiến chợt nghe bên ngoài đang có ai đi đến. Ai thế nhỉ? Hay là Hiền lại lên cơn, lại kêu gào và lại khóc.

- Bác sĩ! Bác sĩ Tiến… có tiếng người khe khẽ gọi.

- Ai đấy?

- Tôi!

Tiến bật công tắc. Ánh sáng trong căn phòng bừng lên. Chồng của Hiền bước vào.

- Xin lỗi bác sĩ, tôi có câu chuyện riêng.

Lại chuyện riêng của người chồng, Tiến thầm kêu lên. Mỗi người đều mang cái riêng ấy thì không thể gọi là hạnh phúc!

- Bác sĩ ơi, tôi có một câu chuyện này… Tôi làm nghề thợ rừng. À, bác sĩ có biết cây số 38 không?

- Đường mười hả?

- Phải!

Anh ta kể lại rằng chuyến đi rừng vừa rồi, anh ta đã đặt chân lên đèo 101. Trong khi hạ thủ một gốc cây, anh ta phát hiện chiếc hang đá và bốn bể xăng. Bốn bể xăng tuy đã vơi cạn, nhưng giữa lúc nhiên liệu hiếm hoi này thì giá cả của bốn “đáy” bể ấy không phải là nhỏ. Người thợ rừng xem đó là của trời cho và tính chuyện làm giàu.

Anh ta nghĩ cách làm ăn nhỏ giọt và lâu dài. Cứ mỗi chuyến đi, mang theo một chiếc can sắt đựng hai mươi lít… Anh ta đã làm được mấy chuyến liền.

- Xăng đâu mà anh bán cho xe khách tư nhân nhiều thế? Hiền lo lắng hỏi chồng, khi thấy anh đếm tiền.

- Xăng trên rừng…

- Của ai vậy? Người ta không bảo vệ à? Hiền vẫn hoàn toàn vô tình trong câu chuyện.

Người thợ rừng lắc đầu:

- Không! Một lát sau, anh lại nói: - Sao lại không? Có một người gác đã hóa đá… Anh ta cũng đội mũ, cũng quàng súng nhưng chỉ là bức tượng đá.

- Trời ơi! Hiền kêu lên.

Chuyện đơn giản thế thôi - Người thợ rừng tiếp tục, nhưng suốt đêm hôm đó vợ anh luôn giật mình. Cô ta ngồi dậy nhìn anh rồi lại nằm xuống không biết bao nhiêu lần, tâm thần cô ta hoảng loạn. Kêu rằng lửa cháy ở trong lòng; lửa nung thịt da từng mảng. Có lúc cô ta kêu: Đừng anh… rồi lại khóc. Tiếng khóc nghe ai oán và ngậm ngùi. Cặp mắt cô gái chứa đầy sự sợ hãi. Đang ngồi đột nhiên cô ta giơ hai tay lên trời: Anh Nhương, đừng bắn em! Em không có tội. Em bị oan…

Nhưng cũng có những giây phút cô ta tỉnh táo. Những giây phút đó đáng sợ hơn hàng trăm lần cô ta điên. Những thứ mà anh chồng vừa sắm được bằng tiền bán xăng, cô ta dùng hết sức lực đẩy ra khỏi nhà.

Anh ta kể như những lời thú tội. Tiến đã hiểu tất cả…

- Vợ anh điên nhưng rồi sẽ tỉnh; Còn anh - anh là một kẻ điên… Tiến nhìn thẳng vào mặt anh ta với một vẻ lạnh lùng.

- Thưa bác sĩ.. Một câu chuyện đơn giản chỉ có thế thì làm sao mà vợ tôi điên được?

Tiến cau mày giọng hạ xuống:

- Không đơn giản như anh lầm tưởng đâu. Máu và nước mắt anh hiểu không? Chẳng lẽ anh lại không hiểu một chút gì về chuyện riêng của cô ấy?

- Cô ta đã một đời chồng! Anh ta hy sinh rồi. Thưa bác sĩ.

- Anh đã thấy anh ta sao lại bảo anh ta đã hy sinh? Tiến nói, mắt nhìn lên bóng mình in trên tường.

Người chồng ngạc nhiên hỏi lại:

- Ai kia?

- Người gác kho xăng ấy. Anh ta là một người lính sau chiến tranh chưa trở về.

Người thợ rừng kêu lên:

- Bác sĩ, bác sĩ…

Như một thân cây bị bật rễ, anh ta gục mặt trên bàn. Tiến nhìn anh ta và như nói với người bạn cũ: Anh ta bắt đầu lên cơn điên rồi đấy. Cái mà anh ta gọi giản đơn chính là cái mầm của tội ác.

Bỏ mặc anh ta trong phòng, Tiến bước ra hành lang mở phanh cúc áo ngực. Anh nghe trong lòng mát rượi. Một cảm giác hoàn toàn êm dịu đang dâng lên…

***

Vào một ngày đầu thu, sau khi ra bệnh viện Hiền và Tiến lên thăm hang đá cũ. Hiền ôm trong cánh tay một bó hoa lớn, đủ màu sắc, Tiến cầm hương. Đi giữa hai người là một đứa bé mặc đồng phục màu xanh. Lên đến cửa hang họ dừng lại.

- Ai?

Có tiếng người quát hỏi. Một đồng chí bộ đội hiện ra trước cửa hang. Tiến khẽ chào và nói:

- Báo cáo anh, chúng tôi lên thăm mộ…

Anh bộ đội dẫn hai người vào hang. Chiếc hang như mở rộng cửa đón họ. Hiền và Tiến cùng đứng sững lại trước bức tượng.

- Anh Nhương đấy! Hiền thì thầm.

- Cậu ta vẫn gác. Tiến đưa tay lần theo từng đường nét anh tạo dựng hồi nào và khẽ thốt lên.

Anh bộ đội nhìn Hiền đang cúi xuống trước ngôi mộ. Hiền đặt bó hoa xòe như cánh quạt. Vẫn những cánh hoa tươi mát như ngày nào…

Đồn 119 tháng 6-1983.
Đ.D.T
(3/10-83)


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 19 Tháng Giêng, 2011, 08:24:19 am
Ngã ba đường 9

THANH HẢI


Trạm gác ngã ba đường 9, một trạm gác lộng gió. Trạm làm bằng gỗ, vuông vắn, nằm ngay giữa trung tâm của những chuyến đi về, xòe hai cây tre chắn đường ra hai bên như hai cánh tay của cô gái Vân Kiều trong điệu múa dân tộc. Hai cánh tay ấy cử động theo một động tác mộc mạc gần như đơn điệu nhưng chân tình, trìu mến. Cánh tay nằm ngang. Mời các anh dừng lại, đường chưa đi được. Các anh xuống xe, đi bách bộ vài bước cho bớt cái co chân, chật chội trên thùng xe. Kìa cái màu xanh non của đồi gần. Kìa cái màu xanh đậm của núi xa. Bóng mây lởn vởn, chập chùng. Đường lên Lao Bảo đây. Đường về Khe Sanh đấy. Các anh hãy đi trong kỷ niệm và bồi dưỡng. Cánh tay giơ lên. Các anh đi nhé, đường thông rồi. Khói bộc phá tan dần đang ngược lên chiều gió.

Người ngồi ở trạm gác điều khiển hai cánh tay ấy là một anh bộ đội cao vừa phải, da sạm đen, có bộ đi nhanh, bao giờ cũng đeo cái còi lủng lẳng ở cổ, cây bút chì trên túi áo. Chiếc còi ấy chỉ lên tiếng khi có một chiếc xe nào đó do “trái tim dưới vòng tay lái” hơi mất bình thường một chút, chạy quá tốc độ khi gần đến ba-ri-e hoặc đỗ sai nơi quy định. Sau khi còi lên tiếng, cây bút chì làm việc: số xe… của… ngày… giờ…

Xe chúng tôi đỗ ở ngã ba chờ người trên Lao Bảo về. Khí hậu mùa này ở vùng đường 9 quả thật khó chịu. Nắng lên, nóng. Mây che khuất mặt trời, gió, lạnh. Trời như đang trong cơn sốt thất thường. Tôi đến tránh ở hướng tây khuất sau bức tường gỗ của trạm gác. Ở đây tôi đứng gần như sau lưng anh bộ đội coi trạm.

- Xe vào quân khu hả? Xin mời…

Anh bộ đội coi trạm không hút thuốc nhưng ngả người ra, mắt lim dim, hễ hả nhìn theo làn bụi cuộn lên đặc quánh, vàng nhợt rồi kéo dài như một làn khói rơm sau đoàn xe. Chúng nó lại vào. Những khuôn mặt trẻ măng gợi nhớ một cái gì, gợi suy nghĩ một điều gì. Cái gợi nhớ lâng lâng, tươi mát; cái suy nghĩ phơi phới, trẻ trung. Ra trận. Đi chiến trường. Như vậy đấy à! Mà mình cũng ở chiến trường đấy chứ. Điều mơ ước, tưởng tượng của anh khi còn ở quê làng, bây giờ hóa bình thường, quá đổi bình thường. Anh đã chuyển cái mơ ước, cái tưởng tượng hào hùng thi vị ấy qua cho người khác, những người khác, những đoàn xe…

- Ba hả?

Cánh tay giơ lên. Chúng nó đi phép. Nét mặt của những chàng đi phép náo nức lạ. Nếu xe dừng lâu ở ngã ba này anh có thể đọc được tiểu sử sơ lược của những anh chàng ngồi vắt vẻo trên thùng xe qua từng nét mặt. Anh này đăm đăm, lông mày nhíu lại, đôi môi tươi, kín đáo. Anh chàng có vợ, có con và giàu sức tưởng tượng. Ngồi đây mà anh đã mơ về quê nhà. Anh này trẻ nhưng thoáng nét ưu tư. Người yêu có vấn đề gì chăng? Còn mình? Sáu năm hơn rồi đấy nhỉ. Mỗi lần có xe đi phép qua, anh nhìn ngang, nhìn ngửa, bắt gặp một nét mặt quen, anh reo lên và trong gió đường 9 anh chạy theo gửi một lá thư. Lâu lâu những đứa đồng hương đi phép vào, dừng xe lại năm ba phút, trao anh một lá thư, một bao thuốc, một gói quà, một mớ tin tức bề bộn, cái sau thành cái trước, cái vừa qua thành cái đã qua. Rồi xe đi…

- Anh, vợ con anh đấy à?

- A… đồng chí!

Anh bộ đội coi trạm gác định nổi nóng với tôi nhưng lại thôi, không nói nữa. Một tấm ảnh cỡ 9x12 để trước mặt. Trong ảnh, một người mẹ uốn tóc dài trùm lấy khuôn mặt xinh xắn đứng cạnh đứa con gái lên năm, lên sáu. Hai mẹ con nói gì qua cái nhìn tươi tắn, thăm thẳm ấy, cái nhìn của ngàn tiếng nói, của trăm lá thư. Anh ạ, em với con đấy. Anh đi được năm tháng thì em sinh. Bây giờ con đi mẫu giáo rồi. Thùy Dương ngoan lắm! Hôm anh Định về phép qua nhà Thùy Dương cứ hỏi mãi… Đôi mắt anh từng hôn lên đó nhòe đi, ươn ướt. Đừng yếu đuối vậy em ạ. Bao nhiêu lá thư về anh đã viết: đất nước còn bóng giặc. Bao nhiêu lá thư gửi vào em đã viết: anh yên tâm.

Lại một đoàn xe nữa vào quân khu. Anh bộ đội coi trạm gác vội vàng kéo cây tre lên.

- Đi nhé! Tuấn, mày không nhận ra tao à? Chuyến này tao đi xa đây…

***

Tiếng còi ô tô gọi liên hồi. Xe trong ra. Ngoài này còi cũng gọi liên hồi. Xe ngoài vào đông hơn, tiếng còi lạ tai hơn. Không phải tiếng khét, chói tai của Din430. Cũng không phải tiếng ồm ồm, giọng trầm của anh chàng ba cầu. Nó như đánh nhịp, bông đùa. Một anh lái nào vui tính, bốc đồng chăng? Anh bộ đội coi trạm gác thổi còi cho chiếc xe trong ra dừng lại. DD 3402. Xe đi phép. Mời các vị bớt hồi hộp một chút, nhường đường cho người vào chiến trường. Anh DD 3402 đỗ sịch một bên đường. Chiến sĩ trên xe phóc xuống, uốn người, nhảy nhảy. Một anh bộ đội chậm chạp xuống sau, khẽ đặt giò phong lan xuống thềm xe. Một con két lông xanh mịn đậu trên vai anh nhúc nha nhúc nhích. Quà chiến trường cho con bé đây. Anh đủng đỉnh đi đến bên ba-ri-e. Cây tre chắn ngang đường sương gió mài nhẵn lì. Những bàn tay chờ đợi vuốt lên đó, ánh lên một màu vàng óng. Thời gian đợi chờ soi lóng lánh trong cái màu vàng quen thuộc đó. Tự nhiên anh bộ đội đưa tay mình cầm lấy cây tre. Bụi đất đường 9 theo bánh xe lăn cũng chia vòng theo hai ngả. Gió đẩy bụi chạy vào, tung lên, bốc theo ít lá xào xạc, chạy, cuồn cuộn chạy lên rồi vượt hẳn qua những đồi sim, me, tranh lẫn lộn. Mấy bụi cây cao ở góc đường nằm ngoài tầm gió khẽ đung đưa tàn lá. Dưới gốc cây, mấy viên đá tròn nhẵn bắt làm bếp vẫn ở thế cũ, xa xôi, bâng khuâng. Đôi cột trụ treo võng bám hờ hững ở hai gốc cây đàng xa. Vết lì trên thân cây ôm tròn sinh động nghe có tiếng võng của một đêm rừng. Anh bộ đội đi về phía lùm cây bất chợt hất lên một tờ giấy trắng ngả màu: Một chiếc B.52 và một dãy bom đang rơi. Mấy con cu ngói bay vút lên trời, màu lông óng ả. Chúng không bay thẳng mà lượn một vòng, sà theo gió, rồi chập chờn đậu xuống lùm cây xa. Đoàn xe vào đến ba-ri-e.


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 19 Tháng Giêng, 2011, 08:25:08 am
Anh bộ đội coi trạm gác lóng ngóng, lóng ngóng thật sự. Anh định kéo cây tre lên, rồi lại thôi. Anh ra cửa, lại vào. Chiến sĩ đi phép dàn cả lên mặt đường.

- Văn công! Văn công!

- Cho anh em bắt tay đi!

Những mái tóc tết đuôi sam. Những mái tóc uốn dài vòng quanh những cái cổ thon. Nụ cười trắng nõn, hàng mi cong chớp chớp. Chiếc mũi dọc dừa, đôi má đỏ ửng. Cặp mắt đen láy, ướt át. Khoảng khắc vẻ đẹp văn công đã hiện cả ra ngoài khung cửa. Một diễn viên - có lẽ là diễn viên xiếc - uốn mình một cái trên xe, nhẹ nhàng rơi xuống mặt đường làm mọi người cười rộ lên.

- Đạt! Đừng tếu đấy, còn để sức…

Tiếng nói từ trong xe vọng ra, làm vẻ già trước tuổi, đứng đắn, tỉnh táo.

- Có chị mới cần giữ sức…

Những tiếng cười con trai nổi lên. Cây tre chắn ngang đường vẫn nằm vậy không sốt ruột, cũng không mời mọc. Anh ta nằm im, vô tư, lơ đãng. Anh bộ đội ban nãy đứng bên lùm cây nhẹ nhàng đi về phía văn công. Tiếng nói trong thùng xe làm anh giật mình. Hai chân kéo anh đi. Anh đi bồn chồn, rất nhẹ, rất nhẹ sợ tan vỡ một cái gì đó đang hình thành.

- Huệ!

Một cái đầu trong thùng xe nghiêng ra, ngỡ ngàng, rồi…

- Anh Hanh! Ôi, anh…

Anh bộ đội coi trạm gác kéo cây tre lên rồi thả xuống. Anh chồm người nhìn ra khung cửa. Chị diễn viên đã nằm trong vòng tay người chồng.

- Con đâu?

- Em đi chiến trường… Anh…

- Anh về phép.

Hai dòng thương nhớ từ từ lăn trên má người vợ. Người chồng mím môi lại, cố hỏi thêm, nhưng tất cả đều tan biến. Năm năm rồi. Bé nga lên bốn. Mặt mũi nó thế nào? Nó ở nhà với bà ngoại. Nó có giống nét mặt nhòa nhòa trước mặt anh không? Đôi mắt ấy. Làn tóc ấy. Năm năm thương nhớ gửi về bây giờ là đây. Em có khác đi đấy chứ. Nào cái bàn tay đánh đàn của người nghệ sĩ nhân dân đã từng ra Cồn Cỏ…

Xe hai đầu ba-ri-e ùn lại, ùn lại. Mấy anh lái xe nóng tính bóp còi inh ỏi. Cây tre chắn đường vẫn làm ngơ. Trên trời một đám mây trắng trôi nhẹ, lơ lững, sà xuống một đỉnh núi xa. Ánh nắng xuyên qua mây, chiếu xuống màu xanh cây rừng, ngời lên sắc nõn ngỡ ngàng, tươi mịn. Lan trên đồi nở hoa màu trắng đục, nhấp nhô, nhấp nhô, bát ngát, vô tận. Đàng xa, màu hoa lẫn trong màu khói bộc phá làm đường nổ lên hàng loạt. Anh bộ đội coi trạm gác lơ đãng nhìn mây, tay gõ gõ tấm ảnh xuống mặt bàn. Người mẹ trong ảnh tách ra, đi xa dần. Bé Thùy Dương rung rung mái tóc lớn lên, lớn lên. Anh ngồi bên con. Vợ anh ở đâu về, đôi má hồng hào… Ra đi. Sum họp. Sum họp. Ra đi. Điều mong ước và điều phải làm cho điều mong ước. Trong ấy, trong xa ấy còn bao nhiêu điều mong ước, hai mươi năm nay vẫn còn là điều mong ước. Ai chỉ nghĩ đến cái mong ước của mình mà quên điều mong ước lớn nhất của đất nước, người ấy … Không! Đất nước chưa yên, quân thù còn đó. Sao lại lo vun quén, suy nghĩ, chăm chút cho hạnh phúc riêng mình?

Một anh lái xe, mặt đỏ bừng, vùng vằng chạy lại.

- Ngủ gật à?

Anh bộ đội coi trạm gác không nói, đưa mắt về phía Huệ và Hanh. Anh lái xe, ngoái lại, sững sàng, giọng thấp hẳn đi, hối hận.

- Họ gặp nhau!

Mây đường 9 sà thấp, ấm áp, trắng nõn. Gió thổi lên cao, lên cao theo những sườn đồi xanh mát. Tiếng đoàn xe nổ máy…

Tháng 12-1973.
T.H.
(3/10-83)


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 20 Tháng Giêng, 2011, 07:56:45 am
Chuyện ở rừng mai vàng

HỒ NGỌC DIỆP


Không biết ai đã trồng rừng mai ở làng Đông Dương nầy lúc nào? Khi chúng tôi lớn lên thì đã thấy nó. Ngày trước, cứ đến tết xuân sang, người Ba Đồn lên, người Hướng Phương xuống, người Quảng Hợp, Quảng Kim vào, cứ theo sở thích mà cắt, mà chặt mai đưa về cắm độc bình. Cứ thế, mai mỏi mòn, xơ xác. Có cây chỉ trơ lại gốc. Có cây chỉ còn thân, cằn cỗi, khẳng khiu.

Đúng ngày Bác Hồ phát động tết trồng cây đầu tiên, cô giáo dạy cấp I chúng tôi đưa chúng tôi đến trồng tại rừng mai đó.

Bọn con gái thì đào hố bỏ phân và tưới nước. Bọn con trai chúng tôi thì đi bứng những cây mai con mà hạt già rụng xuống ở những kẻ đất ẩm mọc lên đưa đến trồng và then che, rào dậu. Rồi ngày ngày, theo sự phân công của cô giáo, chúng tôi đã thay phiên nhau tưới nước, vun xới cho mai. Khi chúng tôi học lớp cuối cùng của cấp III trường huyện thì mai đã ra hoa lượt đầu tiên. Đã thôi rồi lối chặt mai bừa bãi như những năm trước đây. Những cây mai vừa lớn bên những cây mai cổ thụ đan thành rừng mai. Mùa xuân đến, mai nở vàng trời, mai rụng vàng đất. Cánh mai chấp chới trong gió như hàng ngàn hàng vạn cánh bướm vàng. Hương mai nồng nàn, ngào ngạt. Đứng dưới rừng mai tưởng như đang đứng ở một chốn thần tiên! Làng Đông Dương vì thế mà có người gọi là làng "Hoàng Mai" (Làng mai vàng). Có một người hay thơ yêu một cô gái trong làng "Hoàng Mai" và để kỷ niệm nơi bắt đầu của một tình yêu giàu chất thơ mộng, anh đã ký dưới những bài thơ tình yêu nổi tiếng của mình với bút danh: Mai Liên (Rừng mai đã kết tất cả lại). Chúng tôi rất yêu thơ Mai Liên, vì trong đó có rất nhiều hương sắc của rừng mai vàng chúng tôi.

Không hiểu vì sao cô giáo của tuổi nhỏ chúng tôi không lấy chồng. Có một độ xuân chín, mai nở vàng rực, cô đã lên công sự cùng dân quân ở rừng mai nhả đạn vào máy bay Mỹ đang bắn phá một địa điểm của đơn vị bộ đội ra-đa đóng gần đó. Phát hiện được hỏa lực lợi hại, giặc Mỹ đã trút đạn xuống rừng mai. Khi biết tin cô giáo hy sinh trong cuộc chiến đấu đó, chúng tôi đến thăm thì mai đã rải thảm vàng nấm mộ. Rừng mai đã ôm ấp, chở che cho giấc ngủ ngàn năm của cô. Và từ đó, đi đâu xa về, chúng tôi đều ghé đến thăm cô. Hương trầm quyện trong hương mai gợi biết bao nỗi niềm của người đang sống với người đã khuất. Chúng tôi đã đọc và chép cho nhau bài thơ "Hương mai" của Mai Liên. Nhà thơ đã viết tặng hương hồn cô giáo chúng tôi với một niềm rung cảm sâu xa, tha thiết nhất.

Những ngày tột cùng tội ác của chiến tranh phá hoại Giôn-xơn, một bệnh viện đã đến trú ngụ dưới rừng mai vàng làng Đông Dương này. Những ngôi nhà chôn mình trong cát. Rừng mai xanh, sáng chiều tỏa bóng ôm trọn những mái nhà. Dưới rừng mai đó, bao sinh linh đã sống lại. Dưới rừng mai đó, bao em bé đã oa oa chào đời. Cô bạn gái học cùng lớp tuổi nhỏ của tôi bấy giờ là y tá của bệnh viện này. Cô có cái tên rất đẹp: Thùy Mai.

Một buổi sáng, từ hầm mổ bước ra sau một đêm phục vụ cho ca mổ đẻ một người mẹ hở van tim được mẹ tròn con vuông, thì Thùy Mai cùng các bác sĩ tiếp tục đón tiếp mấy cái băng ca nữa ùn ùn chuyển tới. Đêm qua, loạt bom tọa độ dội xuống một làng bên bến phà Gianh. Cả sáu người trong một gia đình bị sập hầm chết nghẹn, chỉ cứu được cháu gái chưa tròn năm. Có lẽ người mẹ đã ôm chặt con vào lòng nên cháu gái chỉ bị chấn thương nhẹ. Người ta đã nuôi cháu bằng sữa bò và bột dinh dưỡng. Nhưng bất kỳ đứa trẻ nào cũng cần có một người mẹ mới có thể đảm bảo cuộc sống lâu dài. Thùy Mai đã nhận nuôi đứa bé. Khi lên ba, bé gái đã biết bập bẹ gọi: "Mẹ! Mẹ Thùy Mai!".

Đầu năm 1972, có một chuyến xe quân sự từ chiến trường Tây Nguyên ra Bắc, vượt được phà Gianh độ mười cây số, xe hỏng nặng. Người lái xe cho biết: ít ra đến hết đêm nay anh mới có thể chữa xong xe. Trung úy bộ binh Dương Trúc sau khi được đoàn trưởng đồng ý đã đi tắt đồng cát từ quốc lộ I để đến rừng mai làng Đông Dương. Nhà anh giờ sơ tán cách chỗ xe dừng không xa; ở hướng Đông nhưng anh lại đi thẳng hướng Tây. Anh đã nói với đoàn trưởng của mình: "Tôi đến đó để thăm mộ một cô giáo cũ. Chính cô đã giúp cho tôi…" Anh không nói hết ý nhưng đoàn trưởng đã hiểu.

Anh cất mũ, đứng lặng yên trước nấm mộ cô giáo ngày tuổi nhỏ dưới rừng mai. Đang độ xuân, mai rắc vàng lên vai anh, lên lớp cỏ xanh phủ trên nấm mộ. Hương mai thoảng đưa trong gió, gợi những nỗi niềm nhớ thương… Nếu không có tiếng ru con à ơi vọng ra từ một nhà hầm gần đó thì không biết trung úy bộ binh Dương Trúc sẽ đứng trầm ngâm như thế trong bao lâu.

Tiếng ru con à ơi… đã làm anh bừng tỉnh. Không! Không thể nào khác được, đó là tiếng ru con của Thùy Mai! Anh bước tới phía nhà hầm. Qua khe cửa sổ, dưới ánh đèn phòng không tù mù đặt kín đáo ở góc nhà, anh nhận ra được Thùy Mai đang nhẹ nhàng đẩy võng ru con.

- Hãy gõ cửa - Anh nghĩ.

- Đừng! - Một tiếng nói khác từ trong anh dõng dạc vang lên.

Anh đã cố quên đi cô gái ấy, cô gái lần đầu tiên đã làm cho trái tim anh rung động. Tình bạn học cũ đã chuyển sang tình yêu từ bao giờ anh chẳng rõ nữa. Đêm trước lúc anh lên đường nhập ngũ, Thùy Mai đã đến với anh với những nỗi xao xuyến, ngập ngừng. Anh đã đặt chiếc hôn đầu tiên lên môi người yêu khi Thùy Mai ngả người vào ngực anh, ngay dưới rừng mai này. Lúc đó những cánh mai trong gió khẽ đưa hương, báo tin bắt đầu từ ngày mai, xuân bước vào độ chín. Bảy năm trời, anh không nhận được một lá thư nào của Thùy Mai. Có lẽ vì ở chiến trường anh không có một địa chỉ rõ ràng. Nhưng tin đầu tiên về Thùy Mai đến với anh qua lời một đồng chí trong đơn vị mới hành quân từ Bắc vào là dòng tin dữ dội: "Thùy Mai đã lấy chồng, vì tôi thấy cô ấy đã có con".

"Cô ấy đã có con", anh nửa tin nửa ngờ. Nhưng trước mặt anh giờ đã là sự thật, không thể ngờ mà phải tin. Và Thùy Mai thì đang chao võng và cất tiếng à ơi… kia:

Trúc với Mai, Trúc đi Mai nhớ!
Trúc trở về, Trúc nhớ Mai chăng?


Một câu hát ru đã được cải biên lời. Anh nhớ rất rõ mẹ anh đã ru anh thuở nhỏ, chính câu hát phải thế này:

Trúc với Mai, Mai về Trúc ở
Trúc trở về, Mai nhớ Trúc không?


Trung úy bộ binh Dương Trúc cứ đứng như vậy để nghe những lời hát ru của cô gái vọng ra. Chợt anh nghĩ, nếu có một người nào đó từ đâu tới và thấy anh đứng đây, người ta sẽ cho anh là một đứa kẻ trộm đang nghe ngóng, rình mò, và sẽ lôi thôi hơn nữa nếu chồng Thùy Mai ở đâu đó bước về, chạm mặt anh đang đứng lặng ở đây.

Anh xóa dấu dày rồi khẽ quay gót. Khi anh trở lại quốc lộ I, xe cũng vừa chữa xong. Mới quá nửa đêm, xe rồ máy thẳng hướng đèo Ngang, chồm tới.


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 20 Tháng Giêng, 2011, 07:57:57 am
Cuối mùa đông năm này, tình cờ tôi lại gặp nhà thơ Mai Liên tại Hà Nội. Anh vừa bước ra từ trụ sở một nhà xuất bản với nét mặt rạng rỡ. Anh kéo tôi ngồi xuống ghế đá ở một vườn hoa gần đó, giọng rất hể hả:

- Nếu không có anh, chưa hẳn tôi đã hoàn thành tiểu thuyết đầu tay này. Với những gì tôi đã biết về rừng mai vàng ở quê vợ, và câu chuyện tình dưới rừng mai vàng ấy của bạn anh: Thùy Mai và Dương Trúc mà anh đã hồ hởi kể cho tôi nghe 5 năm về trước lúc tôi đang theo học lớp đại học hàm thụ văn khoa, tôi đã soạn, đã viết, mãi hôm nay mới hoàn thành. Cảnh thực, người thực, việc thực bước vào trang sách… như thực. Tên bài thơ "Hương Mai" dạo trước tôi đã lấy làm nhan đề cuốn tiểu thuyết này.

Rồi với những phấn chấn mới mẻ, anh tiếp lời mình một cách say sưa:

- Nhân vật của tôi: Dương Trúc và Thùy Mai, sau đó đã thông hiểu nhau, xây dựng hạnh phúc sau ngày đất nước thống nhất. Ngày cưới của họ đúng độ xuân chín, mai vàng cắm đầy bàn giữa hai họ, hương bay ngào ngạt. Đứa con nuôi là đứa con chung của họ. Cô ấy sẽ là một bác sĩ nổi tiếng trong tương lai.

- Rất đáng tiếc, cuộc đời của họ không như anh tưởng tượng. Tôi ngắt lời anh.

Nhà thơ Mai Liên sửa lại đôi kính cận, há mồm nghe những lời chậm rãi của tôi sau đây:

- Họ không gặp lại nhau và không bao giờ lấy nhau. Sau ngày đất nước thống nhất, không hiểu do đâu mà Thùy Mai có rất nhiều bạn bè, loại người chuyên bán buôn, móc nối. Ít lâu sau thì Thùy Mai tự bỏ nghề và đi buôn. Cô ta đã lấy một anh chàng thợ may chết vợ, giàu sụ nhưng nát rượu. Họ chửi nhau suốt ngày, Thùy Mai sẵn sàng làm bất kỳ điều gì, miễn hái ra tiền. Mùa xuân năm ngoái chính cô ta đã đến rừng mai vàng làng Đông Dương cùng một bọn xấu khác trộm cành mai đưa về bán ở chợ Ba Đồn, bị công an phát hiện, giữ lại mấy hôm.

- Thế còn anh Dương Trúc? Nhà thơ Mai Liên sốt ruột hỏi tôi.

- Dương Trúc bạn tôi, đã trở về quê hương sau ngày Thùy Mai lấy chồng. Nhưng chiến tranh đã cướp của anh một bàn chân phải trong chiến dịch Tây Nguyên năm 1972. Anh chưa lấy vợ, nhận chăm sóc nghĩa trang liệt sĩ ở rừng mai vàng quê anh, ở đó còn có nấm mồ cô giáo tuổi nhỏ của chúng tôi.

Vẫn bằng giọng chậm rãi, tâm tình, tôi kể tiếp cho anh nghe:

- Đứa con nuôi của Thùy Mai năm nay là một học sinh giỏi văn của trường phổ thông Trung học Ba Đồn. Cháu vẫn ở với Thùy Mai, mặc dầu có người chú ruột ở Huế tha thiết muốn đưa cháu vào sống với gia đình mình. Lần gặp lại cháu gần đây, cháu đã nói với tôi: "Cháu không thể từ bỏ người đã nuôi cháu từ cái ngày gia đình cháu gặp điều bất hạnh, mặc dầu người đó hiện nay cháu chẳng thích tí gì. Nhưng nhất định mọi cái tốt đẹp sẽ lại đến, nhất định sẽ lại đến!"

Nhà thơ Mai Liên đứng dậy, lững thững đi bên tôi dọc hàng cây cơm nguội. Bỗng dưng nét mặt rạng rỡ, hả hê, phấn chấn của anh lúc nãy biến mất. Anh trầm ngâm, thỉnh thoảng đưa tay lên sửa lại đôi kính cận. Tôi đoán, chắc lúc đó anh đang nghĩ về trang sách anh đã viết và con người thực ngoài đời.

Tôi chia tay anh để còn chuẩn bị thêm mấy thứ cho chuyến trở lại quê hương trong dịp xuân mới này, khi con tàu Thống nhất độ hai giờ nữa sẽ rú còi rời ga Hàng Cỏ. Tôi sẽ đến rừng mai vàng làng Đông Dương quê tôi mà ngắm hoa nở, mà ngửi hương say, mà nhìn cánh mai, như trăm nghìn cánh bướm vàng vờn trong nắng ấm. Tôi sẽ đem đến cho bạn tôi, anh thương binh Dương Trúc một chiếc chân giả loại mới có những thiết bị tự động mà tôi mua từ nước ngoài về với một giá khá đắt. Với chiếc chân giả có những thiết bị tự động này, anh ấy có thể dễ dàng đi trên cát rừng mai vàng và đến từng nấm mồ liệt sĩ nhổ từng cây cỏ, kẻ lại dòng mộ chí, trong đó có nấm mồ cô giáo tuổi nhỏ của chúng tôi. Và chắc chắn, các cháu học sinh của trường cơ sở Quảng Phương dưới sự hướng dẫn của các thầy cô giáo sẽ đến trồng thêm những cây mai trên đồng cát, đan thêm dày rừng mai như chúng tôi trước đây đã đến trồng trong ngày tết trồng cây nhớ Bác Hồ.

H.N.D
(2/8-83)


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 20 Tháng Giêng, 2011, 08:13:37 am
Thím Thoải

HẠNH LÊ


Sáng thứ sáu, mẹ vợ bảo “chiều nay con cố gắng về sớm lên thăm mộ ông Phương với mẹ”. Tôi gật đầu “dạ vâng” rối dắt vội xe ra cửa. Năm nào cũng thế, cứ vào ngày giỗ ông Phương, hai mẹ con lại chuẩn bị đèn nhang viếng mộ ông.

Mẹ bảo ngày còn sống, món ăn ông thích nhất vẫn là cơm nếp đùm trong chiếc mo cau. Mẹ cũng không quên vào bàn thờ lấy cuốn nhật ký dã vàng ố bỏ vào tay nải. Mẹ bảo ngày còn sống cuốn nhật ký này ông qúi còn hơn vàng. Có lần ông suýt chết vì nó. Ấy là lần đánh đồn Dốc Miếu. Đánh xong rút về ông mới hay là mình đánh mất cuốn nhật ký. Thế là một mình ông mò trở lại trận địa. Ở cương vị chỉ huy, ông vẫn biết là mình sai và phiêu lưu, nhưng mất cuốn nhật ký thì đời ông còn gì. Bao nhiêu năm tháng trận mạc buồn vui đời lính ông đã ghi lại vào đó cả. Mẹ bảo chuyện đời ông buồn và tội nghiệp lắm. Mấy chục năm trời, ông xem đơn vị là nhà, đánh giặc là niềm vui, cố giấu một nỗi đau riêng kiêu hãnh và thầm kín.

Ấy là năm 1956, làng Cổ Liễu bàn tán xôn xao chuyện đám cưới của thiếu úy Phương. Nhiều người kháo nhau đây sẽ là một đám cưới to và đẹp nhất làng. Cô dâu là bí thư xã đoàn, đẹp vào loại hiếm có. Còn chú rể thì tốt nghiệp trường Lục quân. Hàm đeo thiếu úy. Cao một mét bảy mươi lăm, người như gỗ lim, mũi thẳng trán vuông, mặt chữ điền. Thời chiến đám cưới không có gì là to, nhưng đúng là thật đẹp. Đám rước đông như hội, Phương và Thoải đi sóng đôi sau họ hàng. Cô dâu vận áo dài xanh ngọc, cổ đeo kiềng bạc, tóc thả dài tự nhiên. Chú rể mặc quân phục sĩ quan mới cứng. Đôi dày lính den bóng cộm lên loang loáng lối đi bờ đê xanh rì cỏ. Cô dâu Thoải thẹn thùa chỉ đến vai chú rể. Đám con trai con gái làng xầm xì ao ước đẹp đôi như Phương Thoải. Hôm ấy trời nhiều nắng. Lúa đang ở thì con gái xanh nhức mắt. Cò cũng về nhiều hơn mọi hôm, bay trắng toát cả cánh đồng Bàu Vá. Phương trông thật nghiêm nghị, anh có vẻ hồi hộp, mồ hôi rịn ra lấm tấm trên màu da như đồng hun. Còn Thoải thỉnh thoảng lại vấp, tà sau chiếc áo dài ghim đầy hoa trinh nữ màu hồng phấn. Chưa bao giờ Thoải thấy hạnh phúc như vậy. Thỉnh thoảng cô lại liếc nhìn Phương đi bên cạnh, lòng hồ nghi như rằng đây chỉ là một giấc mơ. Tim cô nhoi nhói một niềm vui với ý nghĩ Phương bây giờ đã là của Thoải. Dường như đám con nít chăn trâu trong làng đang chế nhạo Thoải. Trong số những gương mặt quen quen, Thoải chỉ nhận ra thằng Lô con nhà Bổng. Chúng nó xếp hàng dọc theo bờ đê và đồng thanh hô to “hông vợ chài là hai vợ chồng”. Thoải thấy mặt mình nóng ran ran, cô lại liếc nhìn Phương thấy anh cũng bối rối. Thoải có cảm giác là cả hai như đang bay lên. Cô khẽ nắm tay Phương và nhận thấy tay anh hơi run run.

Đó là những ngày tháng hạnh phúc nhất của Phương và Thoải. Căn phòng cưới của họ đầy ắp cổ cò, một loài hoa chỉ mọc ven bờ đê làng Cổ Liễu. Tuần trăng mật của họ đúng vào mùa trăng. Đêm nào, Phương cũng đưa Thoải ra bờ đê. Dưới ánh trăng vàng rỡ, cánh đồng Bàu Vá như chìm trong sương mù. Tận phía bên kia cánh đồng, có tiếng bầy vạc kêu sương thảng thốt. Phương run run lần tìm cúc áo Thoải. Mùi hương bồ kết từ tóc Thoải thoang thoảng bay làm anh ngây ngất “lúc này em mơ điều gì hở Thoải?”. Nép vào vai chồng, Thoải bảo “em mơ một đứa con trai”. “Con trai đi lính như anh rồi không về thì sao”. Thoải đưa tay bịt miệng Phương “anh đừng có nói gở, năm tới em sẽ sinh cho anh một đứa con trai”.

Những ngày hạnh phúc qua mau như một giấc mộng. Đã đến lúc Phương phải về đơn vị. Hôm đưa Phương đi, Thoải may cho chồng hai chiếc áo mới. Cô cũng không quên gói theo một mo cơm nếp tám thơm để Phương mang về đơn vị. Thoải đưa chồng đi tắt qua cánh đồng Bàu Vá. Nắng sớm mai đỏ rực như máu. Ven bờ đê hoa trinh nữ còn say ngủ. Cả hai đều im lặng đeo đuổi những suy nghĩ riêng. Họ đi ngược con đường của ngày cưới. Thoải thấy tim mình lại nhoi nhói đau. Chiến tranh biết khi nào Phương về. Một người bạn thân của cô vừa mời có giấy báo tử. Đến đầu làng, họ chia tay. Thoải bật khóc nức nở. Cứ như có một linh cảm đau buồn nào đó làm rạn nứt trái tim cô. Như rằng sau cuộc chia ly này Thoải sẽ mãi mãi mất Phương. Âu yếm hôn vợ, nhưng miệng anh méo xệch. Nước mắt Thoải mặn đắng trên môi anh. Thoải không biết sau đó mình về nhà bằng lối nào. Cô chạy như bị ma đuổi, người tê dại vô tri. Một sự trống vắng ghê rợn xâm chiếm tâm hồn Thoải. Sau đó là những ngày chờ đợi. Căn phòng cưới cứ rộng ra và trống hoang hoác. Đêm đêm, Thoải ngủ trong nước mắt. Cô ôm chiếc gối của chồng để mặc cho lòng thổn thức. Tháng đầu tiên sau ngày cưới, Thoải lại có kinh. Đêm ấy Thoải khóc nhiều nhất. Thế là ước mơ của cô vẫn chưa thành. Chiều nào đi làm đồng về lòng Thoải cũng tràn đầy hy vọng, cô ghé ủy ban xã hỏi bác Tá đưa thư có ai gửi gì cho mình không. Suốt mấy tháng ròng, Thoải chỉ nhận được một cái lắc đầu với câu nói động viên “chắc là thư đang trên đường ra, vài hôm nữa thì đến. Trong ấy nghe bảo đánh nhau căng lắm”. Niềm hy vọng chợt tắt, lòng Thoải lại rối bời.

Lá thư đầu tiên của Phương, Thoải nhận được nó trong một ngày mưa dầm. Tim Thoải đập thình thình. Mở lá thư, tay cô run run. dường như lá thư đã qua nhiều tay người, nó mềm oặt và nhòe mồ hôi. Thoải đọc ngấu nghiến như một người đói lâu ngày. Thư không đề ngày gửi. Đúng là nét chữ của Phương. “Anh vẫn khỏe. Đánh nhau hăng lắm. Hết đánh nhau là nhớ em. Đi rồi anh mới tiếc sao không ngủ với em nhiều hơn, em cố gắng giữ gìn sức khỏe”. Tiếp đó la những đoạn nhòe Thoải không thể nào đọc được. Dường như là Phương viết có ai đó ở làng trên đã chết. Đoạn tái bút “Em đã có gì chưa? anh sẽ về. Chăm sóc mẹ giúp anh. Ngàn lần hôn em người vợ hiền chung thủy của anh”.

Sau đó những lá thư cứ ngày một thưa dần. Thoải chờ đợi trong héo hắt. Cô lao vào công tác đoàn thể, xem đây như một niềm vui. Đã đẹp lại còn năng nổ giỏi giang. Thoải tiến vù vù. Ở cuộc họp nào Thoải cũng được mời phát biểu. Được tổ chức đánh giá là một cán bộ trẻ có nhiều triển vọng. Thoải xa nhà nhiều hơn và cũng đi họp ban đêm thường xuyên hơn. Mẹ vợ kể năm đó mẹ đâu chừng tám chín tuổi. Bà thường bảo mẹ cùng đi họp với thím Thoải cho vui. Sau này thì mẹ mới biết, ý bà muốn mẹ canh chừng thím. Đàn bà con gái đẹp hơ hớ, lại xa chồng, bao nhiêu cái dục vọng đưa đẩy, rất dễ sa ngã lầm lỡ. Nhưng đến cuộc họp đêm, mẹ chỉ biết có ngủ. Khi nào họp xong, thím lay dậy bảo “về Dụng” thì mẹ lại thức dậy cùng về.

Vắng chồng, Thoải càng đẹp ra. Cô rực rỡ như một bông hoa đồng nội. Đêm đêm, Thoải phải hai ba lần đi tắm cho dịu nỗi nhớ chồng. Trai làng nhiều đứa ỡm ờ hay chặn đường Thoải chòng ghẹo. Táo tợn nhất là thằng Lô. Lô bây giờ phát mã, người cao lớn tồng ngồng. Thằng Lô hay bảo Thoải “nào, cho sờ tí”. Thoải chửi “đồ con nít” thằng Lô chỉ ngoay ngoáy cái mông rồi nhăn mặt cười hê hê.

Bước ngoặt đời Thoải bắt đầu từ hôm cô được lựa chọn đi dự đại hội chiến sĩ thi đua. Lần đầu tiên trong đời Thoải đi ô tô, cô thấy cái gì cũng lạ. Hà Nội thời chiến trong mắt Thoải, một cô gái quê, vẫn cứ to đùng và đẹp rực rỡ, Thoải thấy mình cứ bé nhỏ trước những con người lịch lãm và sang trọng. Lần đầu tiên Thoải thấy mình không nhớ chồng. Trong bữa tiệc tối ấy, cô có uống một cốc rượu nhỏ. Thoải chả biết đó là rượu gì, chỉ nghe đầu lưỡi cay cay chua chua. Đêm ấy trời Hà Nội mưa rất to. Chiếc máng xối ngoài hàng hiên nhà nghỉ đổ nước ào ào. Thoải thấy người nóng rực và bức bối đến kỳ lạ. Có tiếng gõ cửa lẫn trong tiếng mưa. Thoải e dè rút then. Lấp lóa trong ánh chớp trời là gương mặt một người đàn ông. Phải một lúc lâu Thoải mới nhận ra đó là vị trưởng đoàn. Thoải không còn nhớ sau đó mọi việc diễn ra như thế nào. Cô thấy đầu óc mụ mị, chân tay tê dại. Cái bóng đen to lớn đổ ập lên người cô. Thoải thấy mình như đang bay lên trong ngày cưới. Chiếc áo dài màu xanh ngọc dính đầy hoa trinh nữ. Phương vừa khóc vừa gọi theo, nhưng không hiểu tại sao Phương cứ cắm cúi đi. Anh không hề ngoái đầu lại một lần nào. Thoải nghe loáng loáng có tiếng hô đồng thanh của bầy trẻ chăn trâu “hông vợ chài là hai vợ chồng”.

Suốt đêm ấy Thoải khóc trong niềm ân hận. Cô để mặc cho những giọt nước mắt tủi hổ chảy đầm đìa.


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 20 Tháng Giêng, 2011, 08:15:36 am
Dự đại hội chiến sĩ thi đua về được hai hôm, Thoải nhận được tin chồng. Phương nhờ một người bạn viết hộ là anh đã ra Bắc, đang ở trại điều dưỡng E3 để điều trị vết thương. Thoải tức tốc thu xếp lên thăm chồng. Từ nửa đêm cô đã dậy, ra vườn nhặt mo cau và nhen lửa nấu cơm bếp. Bần thần nhìn ngọn lửa, nước mắt Thoải chảy ròng ròng. Thoải thấy người trống rỗng, cảm giác tội lỗi dày vò lòng Thoải. Thoải thoáng nghĩ đến một điều xa xôi như là cái chết. Chết là hết, nhưng Thoải sợ...

Thăm chồng về độ nửa tháng Thoải thấy người hay choáng, nôn khan và thèm chua. Thoải biết là mình có thai. Mẹ vợ bảo năm ấy thím Thoải độ chừng hai lăm hai sáu. Tóc thím dài, đen nhánh. Nước da trắng như trứng gà bóc. Khuôn ngực thay lảy cái độ chín của một người phụ nữ ngấp nghé ngưỡng cửa làm mẹ. Tin thím Thoải có thai làm cả nhà vui như hội. Ông ra vườn đẵn tre để đan nôi cho đứa cháu hiếm hoi mà ông mơ ước. Còn bà ngày nào cũng tíu tít “Thoải ơi! con ăn gì bảo để mẹ mua. Ấy dà , phải là kiêng cữ cho nhiều. Đàn bà chửa là cửa mả đấy”. Rồi thím Thoải bị động thai. Máu ra nhiều. Nửa đêm ông chạy đi tìm y tá. Bà thì chầu chực bên giường. Mẹ vợ bảo trong nhà chỉ có một mình mẹ vợ biết vì sao thím Thoải động thai. Buổi sáng hôm ấy, mẹ thấy thím lặng lẽ leo lên xà nhà. Từ trên cao thím Thoải bổ nhào xuống như một con chim bị đạn. Lúc ấy mẹ vợ không hiểu vì sao thím lại làm như vậy, chỉ kịp kêu lên một tiếng rồi dìu thím vào giường. Máu ra rất nhiều, chảy ướt cả quần và hai bàn chân thím Thoải.

Điều trị lành vết thương, Phương được phép về thăm gia đình. Anh dành ngày phép ngắn ngủi để chăm sóc vợ. Căn phòng cưới của họ lại đầy ắp hoa cổ cò. Suốt ngày Phương ngồi bên giường vợ. Gương mặt Thoải xanh xao, gân xanh ở cổ nổi phập phồng. Cô đã ăn được một ít cháo trắng. Phương bỗng ít nói hẳn. Ngày phép cuối cùng, Phương lặn lội đi thị trấn mua tặng vợ một mảnh lụa và mấy mét vải may áo quần sơ sinh. Anh tháo tấm ảnh cưới bỏ vào ba lô. Đêm ấy trăng cũng sáng như sau ngày họ cưới nhau. Không gian thanh vắng, đầy ắp thứ ánh sáng trắng như pha lê. Có tiếng cười vọng lại từ bờ đê của lũ con trai con gái làng. Phương nghe rõ hơi thở nặng nhọc và gấp gáp của vợ. Anh thấy cổ họng đau nhức. Bao ngày qua Phương đã cố nuốt một vật đắng vô hình. Đã đến lúc Phương phải nói. Anh hỏi vợ “Cái thai mấy tháng rồi?”. “Dạ ba”. “Của ai vậy? Thoải bật khóc nức nở. Gương mặt cô phù ra dưới ánh trăng. “Chỉ cần em nói của ai, anh sẽ tha thứ cho em”. Giọng Phương buồn bã, nghe xa xôi như tiếng con vạc lẻ bầy kêu khan ngoài cánh đồng Bàu Vá. Thoải nói trong tiếng nấc “Em van anh hãy tha lỗi cho em. Ngàn lần em van anh, em cắn rơm cắn cỏ lạy anh...”

Thoải sinh con trai. Phương gửi về một lá thư dài, kèm theo là một đơn ly hôn. Trong lá thư Phương viết cho gia đình anh cho biết đứa con Thoải sinh không phải là của anh. Cả làng Cổ Liễu bàn tán xôn xao. Có người cho là Phương ở bạc. Người thạo tin thì xầm xì chuyện Thoải “đi đêm”. Cũng chẳng ai biết một cách tường tận sự việc nó thế nào. Sau ngày ly hôn, Thoải bị khai trừ khỏi Đảng, bị cắt tuột hết chức tước. Thoải ẵm con về nhà cha mẹ đẻ. Người làng ngày một ít thấy Thoải. Mẹ vợ bảo đời thím Thoải sa sút lận đận từ đó. Thỉnh thoảng mẹ có gặp thím Thoải đi củi. Người gầy và héo hắt lắm, nhìn mãi mới nhận ra. Mỗi bận như thế, thím Thoải hay kéo mẹ vợ ra một góc rừng kín đáo “nì, Dụng, chú có hay gửi thư về không con?" “Dạ có mà ít”. “Chú có khỏe không?”. “ Dạ vẫn khỏe”. Thím Thoải hỏi nhiều lắm, mẹ vợ không nhớ hết. Rồi thím khóc, hai con mắt đỏ hoe hoe. Thím bảo đời thím thế là hết. Chỉ tội cho chú Phương lỡ làng. Mẹ vợ bảo mỗi bận ông Phương về phép, bà Thoải hay thập thò ngoài hàng chè tàu. Có lần bà suýt bị chó cắn. Năm sau, thím Thoải đi bước nữa, lấy thằng Lô trong làng. Cũng là rổ rá cạp lại. Thằng Lô hay rượu, lại cả ghen. Nó đánh thím Thoải ngày một. Mà đánh tàn nhẫn lắm. Nó cột tóc thím Thoải vào chân chiếc giường tre, lột hết áo xống thím, vừa đánh vừa chửi rầm rĩ “Mày là con đĩ thúi. Nghe ông nói chưa, mày là con đĩ... Phúc ba đời nhà mày mới được gặp ông”. Nghe tin này, ông Phương buồn lắm. Có bận về phép, ông ra tận chợ Tréo tìm bà Thoải. Bà đang lúi húi bán rau. Bất chợt thấy ông, mặt bà đỏ bừng, tim đập choi choi như thời con gái. Ông bảo bà “con có khỏe không? anh có chút quà này cho cháu”. Im lặng một lúc rồi ông thở dài “em đừng có cãi nhau với Lô làm gì, kẻo nó đánh nhiều mà đau”. Hai người đứng giữa chợ, nước mắt bà Thoải chảy ròng ròng. Ông chỉ nói có vậy rồi ông lại đi. Tan buổi chợ về nhà, bà Thoải lại khóc. Đêm hôm ấy, mẹ vợ thấy bà đứng thập thò bên hàng chè tàu tay cầm một gói quà. Nhác thấy mẹ vợ, bà Thoải nhao ra khỏi chỗ nấp, giọng thầm thì “nì Dụng, mang cái này vào cho chú Phương giúp thím. Mai chú đã đi chưa hở con?” “Dạ con nghe nói là mai chú đi sớm” “rứa mai mi đừng nấu cơm bếp, để tau bới cho chú nghe”. Suốt đêm đó Thoải thức trắng. Trăng tháng tám giải lên thềm nhà những vệt sáng lấp lánh. Gió từ cánh đồng Bàu Vá thổi u u. Vẫn là ánh trăng ngày ấy nhưng sao Thoải thấy nó nhợt nhạt và vô nghĩa quá. Thoắt mà đã mười năm rồi còn gì. Thoải nhen lửa nấu cơm nếp. Nhìn những tia lửa nhỏ lóe xanh nhảy nhót, Thoải nghe lòng bồi hồi. Nếu không có những vết đau nhức do buổi chiều thằng Lô đánh, có lẽ Thoải đã nghĩ rằng mình đang ở nhà Phương. Buổi sáng sau ngày cưới nắng đẹp lắm. Hôm ấy Phương trêu Thoải vì cô mặc áo trái. Ôi tiếng cười của Phương, sau bao năm tháng đau buồn Thoải vẫn thèm được nghe. Nó vang vọng như một ánh hồ quang, chói sáng rồi vụt tắt ở đâu đó trong lối đi mơ hồ của tiềm thức. Như buổi sáng hôm nào tiễn Phương đi, Thoải ra vườn nhặt chiếu mo cau. Cô dùng dao xếp cắt lấy phần bẹ, nhúng khăn ướt lau phần bụi ở mặt ngoài. Mặt trong chiếc mo cau cô lau bằng khăn mùi xoa, kỷ vật mà Phương tặng từ hồi họ mới yêu nhau. Bàn tay Thoải khéo léo đồ xôi vào ruột mo cau. Nhìn những hạt nếp dẻo dính trên chiếc khăn tay, bỗng dưng Thoải bật khóc nức nở.

Mẹ vợ kể sáng hôm sau, trời còn mờ đất, mưa đổ lâm thâm, đã thấy bà Thoải vận áo mưa sùm sụp đứng thập thò bên hàng chè tàu, trông hom hem và tội nghiệp lắm. Mẹ vợ ngạc nhiên : ủa thím không biết à! chú Phương đã được xe đón đi từ hồi đêm. Hồi khuya chú bảo là sang thăm thím mà...”. Thím Thoải lắp bắp “ thế à, thế à...” rồi thím ngồi sụp xuống đất, đặt mo cơm nếp bên vệ đường, moi ruột lấy ra một tờ giấy xếp nhỏ bỏ trong bao ni lông. Phủi mấy hạt xôi bám vào tờ giấy, thím đưa cho mẹ vợ bàn tay thím Thoải run run “nì Dụng, con gửi cái này gấp cho chú”. Mẹ vợ bảo “thím vô nhà tí đã”. Thôi thím về, thím về đây, kẻo không thằng Lô nó thấy, nó lại hành thím”.

Bỏ thằng Lô, Thím Thoải đi thêm ba bước nữa nhưng bà không có lấy một ngày hạnh phúc, người chồng sau cùng của thím bị liệt, cả con chồng con vợ ông lại đến mười mấy đứa. Thím suốt ngày quần quật ngoài đồng. Người đen đúa gầy nhom. Tóc cũng đã bạc nhiều. Duy chỉ có đôi mắt là vẫn đen lay láy sâu hun hút, nhìn ai như thắp lửa bập bùng.

Năm 1975, Miền Nam giải phóng, Thiếu úy Phương ngày nào giờ đã là trung tá. Ông vẫn chưa có gia đình. Rồi chưa kịp nghỉ ngơi ông lại tiếp tục đi chiến trường K. Niềm vui của đời ông là đơn vi. Cánh lính trẻ tếu táo cứ gọi đùa ông bằng bố. Người ông thương nhất là binh nhất Sơn. Nó mồ côi cha. Mẹ Sơn còn rất trẻ và đẹp. Thỉnh thoảng thấy thủ trưởng buồn, Sơn nghịch nửa thật “ hay là bố về ở với mẹ con. Xin báo cáo với bố mẹ con ngày xưa là hoa hậu đấy. Bố muốn ăn cơm “ lếp” thì mẹ nấu cơm “ lếp” cho bố ăn. Thằng Sơn nói ngọng chữ “ nếp” thành chữ “ lếp”.Nói là làm thật, bữa nọ hai mẹ con vào. Chút nữa thì ông làm rơi chén. Mẹ Sơn giống Thoải đến kỳ lạ. Từ dáng đi cho đến khuôn mặt trái xoan, đôi mắt sâu hun hút những lúc vui lại nhấp nhánh cười. Lâu lắm ông Phương mới có một ngày vui như vậy. Nhưng rồi tất cả chỉ dừng lại ở đó. Nhìn mái tóc búi gọn thành tó xanh đen trên bờ vai tròn trặn của mẹ Sơn, ông biết là mình chưa thể nào quên được Thoải. Thoải là tất cả những gì ông đã có và đã đánh mất trên đời này.

Ông Phương mất năm 1984 tại chiến trường K do bạo bệnh. Một tháng sau, mẹ vợ nhận được một gói bưu phẩm gồm có thư, cuốn nhật ký, bức ảnh ngày cưới ông Phương và một cuốn sổ tiết kiệm. Trong thư ông viết: “ Dụng thương yêu của chú! chú biết là mình khó có thể qua khỏi bệnh, nên chú viết thư này cho cháu. Cuốn nhật ký là cả một đời chú. Chú đã viết nó trong những ngày đau buồn nhất. Chú biết là mình không thể nào mang theo được. Bây giờ cháu hãy giữ nó giúp chú. Còn cuốn sổ tiết kiệm đó là chút tiền mọn mà chú đã cóp nhặt mấy mươi năm đi lính. Không nhiều nhặn gì nhưng với quê mình cũng là to lắm. Cháu hãy giúp chú, đưa cuốn sổ tiết kiệm cho thím Thoải, để thím đỡ vất vả trong ngày già. Chú gửi lời thăm Thuần và các cháu”. Tái bút “Chút nữa thì chú quên. Bức ảnh ngày cưới của chú giữ lại đừng gửi cho thím Thoải làm gì. Không khéo rồi ảnh hưởng đến người khác. Còn cuốn sổ tiết kiệm chú đã ghi tên của thím rồi”.

Cuốn nhật ký của ông Phương rất dày. Dường như là nó đã được đóng thêm nhiều lần và đóng rất khéo. Tôi mở trang đầu, vẽ hình một đôi chim bồ câu đang bay. Trang tiếp theo “ Ngày... tháng ... năm, vừa đi đào công sự về thì nhận được thư Thoải. Đang mệt bả người bỗng dưng thấy khỏe lại. Thoải bảo là chưa có thai. Hơi buồn. Nhưng việc ấy thì vội thế nào được. Mấy thằng quỉ sứ đọc lén chúng nó cười chuyện kín của vợ chồng mình. Thoải ơi! gắng lên em nhé. Anh nhớ em vô cùng. “Ngày tháng năm, suốt mấy hôm trời vẫn không ngớt mưa. Thằng nào cũng nhớ nhà mặt nghệt ra như ngỗng. Giờ này em làm gì? ở quê chắc là đang vào vụ lúa. Chiều nay B2 chết ba đứa. Bao giờ anh mới được gặp em. Không biết là có còn được gặp em nữa không?” Ngày tháng năm. Tại sao em nông nổi vậy Thoải. Em bôi tro trát trấu lên mặt anh. Em giết chết đời anh mất rồi. Tại sao em lại làm vậy. Cái thai là của ai? nếu em nói rõ có thể là anh sẽ tha thứ. Nhưng... “Ngày tháng năm. Mày đã thấy hả giận chưa. Bây giờ mày là thằng tự do, thằng chưa vợ. Nếu còn sống từ cuộc chiến này trở về mày sẽ là mì chính cánh. Thì ra mày cũng làm như cái cách mà nhiều người khác đã làm”. Ngày tháng năm. Thoải có lỗi hay không? tại sao mình lại làm như vậy? liệu mình có vội vàng quá hay không? có phải ly hôn là cách duy nhất hay không? Thoải ơi! thế là anh đã giết chết đời em mất rồi. Cái thằng người ích kỷ trong anh đã đẩy em vào con đường cùng...”

Tôi lật trang cuối đề ngày 22. 03. 1984. Trước ngày mất hai hôm ông Phương viết “Càng có tuổi anh mới hiểu cái quí nhất trên đời là vị tha. Yêu em, nhưng anh đã không làm được điều đó. Nhìn em khổ sở anh ân hận vô cùng. Mấy hôm nay bác sĩ bảo rằng anh sẽ qua khỏi bệnh. Anh không tin điều đó. Anh chỉ tiếc là đã không gặp được Thoải trong ngày chia tay này. Trước cái chết, anh hiểu là con người ta đã có biết bao nhiêu lầm lỡ. Điều anh ân hận suốt cả đời mình là tại sao anh không thể tha thứ cho Thoải. Bây giờ anh mới biết hạnh phúc của đời người là ngắn ngủi biết bao. Đã thế anh còn không biết giữ nó. Anh đã hắt hủi em. Tại sao anh làm vậy? hãy tha thứ cho anh nghe Thoải. Anh không giấu diếm rằng suốt những năm tháng đã qua anh chỉ có em. Chỉ nghĩ về em, niềm hạnh phúc lớn nhất của đời anh. Nhiều lúc anh nghĩ số phận chúng ta có thể đi theo một hướng khác nếu như... Anh biết những năm tháng qua em đã bị khinh rẻ, khổ sở như thế nào. Điều đó khiến lòng anh đau đớn. Nhưng tất cả đã muộn màng. Hãy tha thứ cho anh nghe Thoải. Ngàn lần hôn em, người vợ hiền chung thủy của anh”.

Cuối năm 1999, tôi về quê dự đám cưới của Hải, người anh vợ. Trước khi đi, mẹ vợ bảo “con về nhớ ghé thăm bà Thoải. Cho mẹ gởi lời thăm bà, nhân thể mẹ gởi cho bà cuốn nhật ký. Mẹ nghĩ là đã đến lúc bà Thoải cần nó”. Tôi gặp bà Thoải trong ngày cưới của anh Hải. Bà vẫn còn rất đẹp dù đã tàn tạ nhiều. Suốt đêm hôm ấy bà Thoải chỉ nói chuyện ông Phương. Thỉnh thoảng bà lại kéo chéo áo lau nước mắt. Bà bảo suốt một đời bà chỉ có ông là người tốt nhất. Nhưng bà đã để mất ông. Khi tôi đưa cuốn nhật ký, bà cầm tay nó run run, bảo “có mấy lần bà nài con mẹ vợ anh cho bà mượn vài hôm. Nhưng Dụng nó bảo chưa cho bà mượn được”. Mân mê tấm bìa nhựa cuốn nhật ký, bà hỏi “mày đã đọc chưa hả cháu. Ông có hận mắng bà nhiều không?”. Tôi cười bảo “bà cứ đọc rồi khắc biết”

Nắng đã lên. Sương mù tháng chạp giăng kín cánh đồng Bàu Vá. Gió mụ mị thổi qua những vườn chuối, tiếng tàu lá đập trong gió xao xác như những tiếng thở dài. Xa tít tận trên cao, mảnh trăng muộn cuối năm nhợt nhạt như một gương mặt người thiếu máu.

Trại viết Nha Trang tháng 5 năm 2000
H.L


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 20 Tháng Giêng, 2011, 08:29:06 am
Tiếng súng giữa rừng

PHAN VĂN LỢI


Những ngày cuối năm 1970. Hướng chiến dịch của mùa khô mới đã được xác định. Địch sẽ huy động một lực lượng lớn các đơn vị quân chủ lực tinh nhuệ phối hợp với quân ngụy Lào, có sự chi viện tối đa hỏa lực pháo binh và không quân Mỹ để tiến hành một cuộc hành quân quy mô dọc đường Chín nhằm cắt đứt hành lang vận chuyển chiến lược của ta, sau đó sẽ nống ra đánh phá đường giao thông và các kho tàng hậu cần của tuyến đường Trường Sơn vùng Trung - Nam Lào.

Về phía ta, Bộ tư lệnh chiến dịch đã hình thành một thế trận phản kích trong thế chủ động, sử dụng khối bộ đội chủ lực cơ động tác chiến hiệp đồng binh chủng kết hợp với lực lượng tại chỗ của các mặt trận B4, B5 và bộ đội Đoàn 559, quyết tâm bảo vệ bằng được tuyến vận chuyển chiến lược cùng các cơ sở hậu cần, đồng thời tiêu diệt và làm tan rã ở mức cao nhất lực lượng quân chủ lực ngụy. Mặc dù vẫn còn lác đác những cơn mưa cuối mùa và nền rừng đang sũng nước, nhưng bên dưới tấm thảm xanh mênh mông của rừng Lào, không khí chiến dịch đang nóng lên từng ngày.

Ở trung đoàn 92, các tiểu đoàn bộ binh và hỏa lực vẫn lặng lẽ ém quân trong những khu rừng dưới chân núi Pu Leng, nhưng các cán bộ chỉ huy từ cấp tiểu đoàn trở lên cùng tham mưu, trinh sát đang tất bật gấp rút lên đường trinh sát thực địa. Mặc dù đã được phổ biến kế hoạch tác chiến chiến dịch, nhưng ban chỉ huy trung đoàn vẫn hết sức lo lắng. Trong đội hình sư đoàn, trung đoàn 92 được sử dụng như một đơn vị dự bị cơ động, sẵn sàng đánh phản kích để bảo vệ các kho hậu cần dọc tuyến đường 22 nếu địch từ đường Chín tiến vào khu vực Mường Noọng - A Lưới, đồng thời phải chuẩn bị phương án đánh chặn các tiểu đoàn quân ngụy Lào tiến từ hướng tây nam lên. Công tác chuẩn bị chiến trường buộc phải chia làm hai hướng. Trung đoàn trưởng phụ trách đoàn cánh nam đi về hướng Pha Đo Tuya, còn đoàn của tham mưu trưởng Đặng đi lên hướng bắc.

*
Đài quan sát của đoàn chuẩn chiến cánh bắc đặt trên đỉnh một ngọn núi được ghi trong bản đồ là điểm cao 323. Ở đấy vào những ngày nắng, qua ống nhòm bội số lớn có thể quan sát cả một vùng rừng rộng từ sông Sê Băng Hiêng ra tới sông Sê Pôn. Nhưng vào mùa này những ngày trời trong rất hiếm hoi. Hầu như suốt ngày sương mù phủ trắng trên những cánh rừng và mây lấp đầy các khe núi. Ngay cả những ngày tạnh ráo, cũng chỉ có thể quan sát tầm xa trong vài giờ vào buổi chiều.

Chỉ để một tổ chốt ở đài, Đặng chia đoàn thành nhiều toán hỗn hợp chỉ huy - tham mưu - trinh sát, len lỏi trong các cánh rừng trải dài hai bên đường 22. Trung đoàn đã nhiều năm hoạt động ở chiến trường Trung - Nam Lào, địa hình ở đây không phải xa lạ, nhưng quy mô chiến dịch lần này khác với những năm trước. Ý đồ chiến thuật cho những trận đánh sắp tới hoàn toàn tùy thuộc vào diễn biến của chiến dịch, đòi hỏi công tác trinh sát phải hết sức tỉ mỉ chính xác để có thể xác định phương án tác chiến cụ thể và linh hoạt. Đặng nhắc các toán trinh sát đặc biệt chú ý nghiên cứu kỹ lưỡng những con đường địch có thể cơ động tăng, thiết giáp, những cao điểm trực thăng có thể đổ quân, cẩu pháo đến đặt trận địa hỏa lực hoặc xây dựng căn cứ phong tỏa...

Trong những ngày ấy, trên lớp lá rụng mục ải bốc mùi ẩm mốc phủ dày nền rừng già, dấu chân của các toán trinh sát và của thám báo ngụy giẫm đè lên nhau. Những lối đi vô hình của ta và địch đan cài ngang dọc bên dưới tán cây rừng. Đã có đôi lần chạm mặt nhưng cả hai bên đều cố né tránh, hạn chế nổ súng. Địch không muốn để lộ ý đồ cuộc hành quân. Phía ta, ngoài việc giữ bí mật, còn phải tránh bắn lầm nhau. Trong vùng chiến trường dự kiến, ngoài trinh sát của trung đoàn 92, còn có quân của các đơn vị bạn: trinh sát pháo binh, công binh, thông tin kỹ thuật, bộ đội binh trạm... Hầu hết các toán thám báo địch đều mặc trang phục giả bộ đội ta, trang bị tiểu liên AK, rất khó phân biệt khi chợt gặp trong rừng. Các trinh sát đều được phổ biến rất cẩn thận mật khẩu, ám hiệu quy ước thống nhất trong toàn sư đoàn và được thay đổi theo từng thời gian nhất định.

Sau hơn nửa tháng, đoàn của Đặng đã cơ bản hoàn thành công việc. Anh cho phần lớn đoàn rút về hậu cứ, chỉ để lại hai trợ lý tham mưu và tiểu đội trinh sát của Cương.

*

Mãi gần trưa nắng mới hửng. Sương mù tan dần, những ngọn núi như trồi lên từ trong sương, trên đỉnh nhuốm nắng vàng hươm. Tham mưu trưởng Đặng mở nắp hộp da lấy ống nhòm đưa lên mắt, chỉnh tiêu cự chăm chú quan sát các điểm cao phía nam sông Sê Pôn. Anh muốn soát lại lần cuối toàn cảnh vùng chiến trường sẽ diễn ra trong dự kiến để quyết định một phương án tác chiến thích hợp.

Mặt trời lên cao, màu mây trắng bạc chói nắng đến nhức mắt. Trước cửa lán đài quan sát, Thái khum bàn tay che mắt dõi theo chiếc OV.10 nãy giờ vẫn lượn đi lượn lại trên vùng trời phía nam Bản Đông, tiếng động cơ u u rền rĩ lúc gần lúc xa nghe khó chịu như có con nhặng vo ve quanh quẩn đâu bên cạnh. Sau lưng Đặng, hai cán bộ tham mưu đang chúi đầu trên tấm bản đồ đưa đầu bút rà theo những kí hiệu chi chít, rì rầm trao đổi với nhau.

- Vừa rồi cậu nào điều nghiên cái 551? - Đặng chợt hỏi, mắt vẫn không rời khỏi ống nhòm.

- Tôi, anh ạ! - Một trợ lý tham mưu trả lời - Tôi đi với trinh sát D3.

Đặng buông ống nhòm, quay lại ngồi xuống bên tấm bản đồ:

- Địa hình ở đấy thế nào?

Trợ lý tham mưu hơi nhíu mày như để nhớ lại:

- Mỏm này trên đỉnh khá rộng, tương đối bằng phằng. Không có cây cao, chỉ cỏ gianh với cây bụi lúp xúp. Sườn phía sông Sê Pôn khá dốc, phía nam và tây nam thoai thoải.

- Tăng PT82 lên được không? - Đặng hỏi tiếp.

Trợ lý tham mưu lúng túng:

- Tôi cũng... chưa tính tới. Có sơ đồ đây anh ạ! - Anh nói, rồi lật loạt soạt xấp sơ đồ, rút ra một tờ đưa cho tham mưu trưởng.

Đặng không trách cấp dưới của mình. Đây là lần đầu tiên sư đoàn chiến đấu có xe tăng tăng cường, chính anh cũng vừa nhận được thông báo qua điện mật. Nếu có tăng phối thuộc sẽ sử dụng ở đâu? Trong điều kiện nào? Chưa hẳn trung đoàn đánh ở hướng này, nhưng tài liệu trinh sát tỉ mỉ sẽ rất cần cho sư đoàn. Đặng chăm chú nghiên cứu bản sơ đồ, suy nghĩ một lúc rồi nói:

- Theo mình, vị thế của 551 rất quan trọng. Nếu địch lập ở đó một cứ điểm vừa che chắn được sườn nam cho mũi tiến quân lên Bản Đông, vừa phong tỏa đường 22, đồng thời có thể làm bàn đạp để tiến về hướng Mường noọng - A Sầu - A Lưới... - Anh ngẩng lên gọi - Cương ơi, dậy đi!

Tiểu đội trưởng Cương đang ôm súng ngồi tựa góc lán ngủ ngon lành, nghe gọi liền bật dậy đưa tay dụi mắt. Đặng cười:

- Thèm ngủ lắm hả? Thôi, chịu khó vậy. Mình có việc cho cậu đây!

Cương bước tới, ngồi xuống trước mặt tham mưu trưởng. Đặng đưa tay chỉ một điểm trên bản đồ:

- Cậu chọn lấy một tổ, làm kỹ cho mình cái 551. Thật chi tiết! Trên đỉnh địa hình địa vật thế nào? Dài rộng bao nhiêu? Trực thăng đáp xuống cùng lúc được mấy chiếc? Có thể cấu tạo cứ điểm kiên cố được không? Nếu địch đặt ở đấy pháo cỡ 105, 155 tầm khống chế sẽ ra sao? Tìm hiểu sườn điểm cao về tất cả các hướng, xem hướng nào tăng PT82 của ta có thể lên. Tìm đường cho tăng đi. Nghiên cứu kỹ cấu tạo địa chất, độ dốc, độ lún, suối, hẻm núi, khe cạn; chú ý vật cản như cây, đá tảng phải ở mức độ công binh có thể bí mật khắc phục được... Ghi chép, vẽ sơ đồ cẩn thận. Thời gian năm ngày. Được không?

Cương nhoẻn cười, anh hiểu đó là mệnh lệnh chứ không phải câu hỏi. Đặng quay sang nói với hai cán bộ tham mưu: “Có gì ăn không? Ăn xong ta về luôn. Ở nhà còn bao nhiêu là việc, sẽ bận tối mắt tối mũi lên chứ chả chơi đâu!”


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 20 Tháng Giêng, 2011, 08:30:08 am
*

Thái trải tờ giấy, chỉnh cho mép dọc trùng với hướng bắc - nam của kim địa bàn rồi bắt đầu vẽ sơ đồ tổng thể điểm cao 551. Bên cạnh anh, Thắng loay hoay ráp các mảnh sơ đồ từng phần mà ba người đã vẽ phác để ghi nhớ trong hai ngày qua. Cậu vuốt phẳng một tờ nhàu nát lấm lem đất, băn khoăn nhìn những nét vẽ, miệng lẩm bẩm: “Tờ này vẽ phần nào nhỉ?”. Tiểu đội trưởng Cương đang ngồi xem lại những ghi chép trong cuốn sổ tay, nghe vậy ghé mắt nhìn sang:

- Mỏm đông bắc, chỗ dốc đứng. Phần này cậu vẽ chứ còn ai!

- Ừ nhỉ! - Thắng gãi đầu cười khì - Mấy hôm nay đầu óc cứ lú lẫn thế nào ấy! Mà dạo này tay em cứng quèo, nét vẽ không còn mềm mại như trước. Hồi còn đi học, em vẫn nổi tiếng là người có hoa tay nhất trường đấy!

Cương tủm tỉm:

- Chỉ khoác! Cậu hoa mắt hoa mũi thì có, lấy đâu ra hoa tay!

Thắng giãy nảy:

- Em nói thật đấy! Hồi đó em đã mơ sau này làm họa sĩ. Đi đâu em cũng mang theo tập giấy vẽ và hộp chì màu, gặp gì thích là vẽ. Đám bạn phục lăn, đứa nào cũng bảo em có năng khiếu.

- Lấy cho mình những tờ sườn nam. - Thái nói, tay đưa bút họa nhanh mấy đường cong bình độ.

- Đây anh! - Thắng đặt mấy tờ sơ đồ trước mặt Thái, tiếp tục tán róc - Suốt ba năm học cấp ba, em làm “họa sĩ chuyên nghiệp” chuyên trang trí cho tờ báo tường của lớp. Báo tường lớp em lần nào cũng đứng nhất toàn trường. Còn em mà vẽ mẫu thêu thì lũ con gái cứ gọi là thích mê. Dạo ấy con gái đứa nào cũng đua nhau thêu khăn tay, không phải để dùng mà đem tặng người thân: anh trai, bạn trai, người yêu... Anh Thái này, trên đỉnh đồi có mấy chỗ trũng hình yên ngựa, anh nhớ chưa? - Thấy Thái gật đầu, Thắng lại liến láu kể - Cuối năm lớp mười em bận tối mắt tối mũi. Dạo ấy cả nước rùng rùng ra trận, thanh niên trai trẻ lớp lớp nối nhau nhập ngũ. Hầu như con gái toàn trường đều đưa khăn đến nhờ em vẽ mẫu. Phổ biến nhất là hình chim bồ câu ngậm phong thư, khi một con, khi hai con. Còn mấy đứa nhờ vẽ cặp bồ câu cùng tha hai trái tim lồng vào nhau thì cứ lén lén lút lút, chẳng là các nàng thêu khăn tặng người yêu. Thành ra kỳ thi năm ấy em phải thi lại hai môn. Anh tính suốt ngày suốt đêm phải bò ra vẽ cho kịp, thời gian đâu mà ôn bài...

Cương phì cười:

- Cậu bịa đến khiếp! Học dốt thì cứ nói dốt, chứ chỉ vẽ mấy con bồ câu nhỉnh bằng con tôm, làm gì bận đến thế!

- Em mà bịa a? - Thắng cãi - Không tin lúc nào về quê em, anh hỏi thử xem! Mà đâu chỉ có khăn. Các chị các cô trong làng trong xã còn tới “đặt hàng” em vẽ mẫu thêu áo gối. Chiến tranh, anh nào cũng tranh thủ cưới vợ trước khi ra mặt trận...

- Sao cậu không cưới lấy một cô?

- Em thì... - Thắng gãi đầu ngượng ngùng - Lúc đó em mới mười tám tuổi...

- Thế cậu có người yêu chưa?

- Em cũng có... à mà... chưa...

- Một là có, hai là chưa, sao lại “à mà”?

Thắng lúng túng ngập ngừng một lúc rồi kể, giọng không còn liến thoắng như trước:

- Hồi ở quê em có cô bạn thân lắm, lại rất xinh, tên là Thảo. Nhà cô ấy ở xóm trên, em xóm dưới, nhưng hai đứa từ hồi nhỏ đã cùng nhau đi chăn bò ngoài bãi sông. Bãi sông quê em đất phù sa màu gan gà, đi chân đất cứ mát rượi, êm như nhung. Ở đó vào mùa nước cạn người ta thường trồng rau cải. Đến vụ hoa, dọc bãi cứ vàng rực cả lên... - Thắng ho húng hắng, lại kể tiếp - Mấy năm học cấp ba hai đứa không còn đi chăn bò nữa, nhưng cùng đến trường, học cùng lớp, ngày nào cũng gặp nhau. Cho đến năm lớp mười, những hôm phải nghỉ học không gặp, em cứ thấy bần thần... Rồi em nhận ra cả cô ấy cũng vậy, thỉnh thoảng lại cầm vở chạy từ xóm trên xuống để hỏi về một bài toán bài hóa nào đó mà em biết Thảo thừa sức làm được. Cô ấy học giỏi hơn em nhiều... Quả thực lúc đó hai đứa chưa nói gì với nhau nhưng trong đầu em cứ vấn vương nghĩ về Thảo, rồi nhớ nhớ mong mong đến nôn nao cả người... Buổi chiều cuối cùng trước ngày em nhập ngũ, Thảo đến nhà rũ em ra bãi sông... - Thắng chớp chớp đôi mắt ươn ướt - Dạo ấy vào vụ cuối đông gió heo may se lạnh, bãi sông vàng rực hoa cải. Đến bây giờ em vẫn như nhìn thấy cô ấy đứng trước mặt, ánh mắt sâu hun hút, đôi má ửng hồng, mái tóc dài bay bay... Phía sau Thảo là thảm hoa vàng dập dờn như sóng, sau nữa là dòng sông xanh, rồi đến bờ đê phía bên kia xanh ngắt màu cỏ, đẹp không thể tả! Em vội rút tập giấy vẽ và hộp chì màu, bảo cô ấy cứ đứng yên như thế để em vẽ. Em đưa bút hối hả vẽ phác hết bức này đến bức khác. Lúc đó hình như “máu” họa sĩ nổi lên, em không còn nhớ tới thời gian, không nhớ chuyện ngày mai nhập ngũ. Hồn vía bay lên mây, em múa bút cố lột tả cho được vẻ đẹp của Thảo trên nền hoa cải dòng sông bờ đê... Mãi đến khi cô ấy vùng bỏ chạy, em mới giật mình bừng tỉnh. Em ngơ ngác nhìn theo, thấy Thảo vừa chạy vừa ôm mặt khóc. Bấy giờ em mới nhận ra chiều đã muộn, mặt sông bắt đầu mờ sương... - Thắng bỗng im bặt.

Cương buông thõng:

- Cậu thật ngốc!

- Vâng, đúng là em ngốc thật! - Thắng gượng cười - Lúc đó em nhìn xuống những tờ phác thảo, thấy chẳng bức nào ra hồn. Thế mới là ngốc! Từ đó em cạch mộng họa sĩ.

Thái buông bút ngẩng lên hỏi:

- Chả lẽ trước lúc ra đi, cậu không đến xin lỗi cô ấy sao?

- Tối đó em đến, thấy cửa nhà Thảo đóng im ỉm. Em không dám gọi cứ đi tới đi lui đến tận khuya làm chó trong xóm sủa ran. Sáng hôm sau lên xe, em đưa mắt tìm mãi chẳng thấy Thảo đâu. Mãi lúc xe sắp lăn bánh, em gái cô ấy chạy tới đưa em gói giấy nhỏ, nói: “Chị Thảo gửi anh chiếc khăn”...

- Chắc là chiếc khăn tay thêu đôi chim bồ câu mỏ ngậm hai trái tim lồng vào nhau? - Cương hỏi.

- Không! Một chiếc khăn trắng tinh! - Thắng thở dài, mặt buồn thiu.

- Sau này cậu có viết thư cho Thảo?

- Có viết nhưng... không kịp! - Thắng nghẹn ngào - Thảo chết sau đó mấy tháng. Cô ấy trực 12 ly 7, bom đánh trúng trận địa...


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 20 Tháng Giêng, 2011, 08:31:15 am
*

Tổ trinh sát của Cương đã hoàn thành nhiệm vụ khá suôn sẻ. Trong ba ngày, họ sục sạo khắp cao điểm 551, vẽ xong sơ đồ có đánh dấu ghi chú cẩn thận những chi tiết cần thiết, và tìm được ba con đường xe tăng có thể lên. Công việc hoàn tất, mọi người thở phào nhẹ nhõm. Sáng hôm ấy, họ quay về.

Đi được chừng cây số thì gặp một con suối nhỏ nước cạn, bờ bên này dốc đứng, phía bên kia thoai thoải. Lúc Cương vừa lội xuống nước, bên kia xuất hiện một toán người mặc quần áo bộ đội. Anh ngờ ngợ, định hỏi mật khẩu thì toán thám báo đã bất ngờ nổ súng. Hàng tràng tiểu liên quất tóe nước, cắm phầm phập vào bờ dốc đứng. Cương bị bắn trúng ngay từ loạt đạn đầu tiên. Anh ưỡn người loạng choạng ngã úp mặt xuống suối, vùng máu đỏ từ từ loang ra trôi theo dòng nước. Thắng đang đứng trên bờ dốc, vừa kịp trút súng khỏi vai đã thấy đau nhói cả hai chân. Anh khuỵu xuống, cố ôm súng lăn tròn mấy vòng tránh đạn. Thái từ phía sau nhào tới, nép vào gốc cây bắn xả cả băng đạn vào đám người lố nhố bên kia suối, rồi xộc tới ôm Thắng chạy quay trở lại nằm nấp sau một gốc cây to: “Cậu bị ở đâu?”, Thái thay băng đạn hỏi nhanh. “Cả hai chân anh ạ! Chắc gãy xương...” Nhìn sang bên kia thấy bọn địch vẫn thập thò trên bờ suối, Thái di chuyển nhanh về phía dưới một quãng, bắn liền mấy loạt vào những lùm cây đang lay động. Bọn thám báo lập tức bắn trả, đạn bay rào rào. Thái bò nhanh lại chỗ Thắng nằm. Anh lấy dao găm xẻ hai ống quần, băng vội vết thương để tạm cầm máu, rồi hỏi: “Cậu còn bắn được không?” Thắng mím môi gật đầu. Anh đỡ Thắng nằm sấp, đặt khẩu AK vào tay cậu, dặn: “Nấp ở đây. Nếu chúng tràn xuống suối, cố bắn cản, không cho chúng tới chỗ Cương. Tớ sẽ trở lại ngay”. Nói xong, anh xách súng chạy vội lên mé trên.

Thắng nén đau gác súng lên khúc rễ cây ngắm thử, rồi quờ tay rút ba quả lựu đạn đặt trước mặt. “Không biết anh ấy đi đâu nhỉ?”. Thắng nhìn về hướng Thái vừa chạy, bỗng hiểu ra: Thái sẽ vượt suối ở quãng trên đánh vào sau lưng bọn kia. Thắng phấn chấn giương súng nổ mấy loạt vào mé rừng bên kia suối. Bọn địch bắn trả, tiểu liên nổ rền từng tràng, đạn bay ràn rạt cắt lá rụng lả tả. “Chỉ tổ phí đạn! Đố chúng mày làm gì được ông!” Thắng bình tĩnh điểm xạ nhịp đôi, hút sự chú ý của địch về phía mình. Nghe tiếng súng, anh đoán bọn chúng chưa đến một tiểu đội.

Mặt trời đã nhô khỏi ngọn cây, mé rừng bên kia suối sáng rõ hẳn lên. Từ chỗ nằm không nhìn thấy Cương, nhưng Thắng biết anh ấy đã hy sinh. Bằng mọi cách phải lấy được xác. Với lại toàn bộ tài liệu trinh sát đều do Cương giữ. Bây giờ mọi sự đều trông cậy vào anh Thái... Sao anh ấy lâu thế? Thắng cảm thấy như đã hàng giờ trôi qua. Bọn địch chần chừ, nhưng chúng sẽ đoán ra bên này chỉ có một tay súng... Anh định di chuyển vị trí bắn, nhưng vừa nhỏm dậy vết thương đã nhói lên buốt đến tận óc. Thắng choáng váng, mắt nhòa đi. Nhìn sang bên kia chỉ thấy những quầng sáng chập chờn, rồi chợt mấy ánh chớp bùng lên sáng lóa, lá cây bay tơi tả trong quầng cát bụi. Trước lúc ngất lịm, anh còn kịp nghe tiếng AK nổ giòn giã từng loạt ngắn.

*
...Trong cơn mê, Thắng có cảm giác như mình đang nằm trên một đám mây bồng bềnh trôi. Tiếng gió lướt rì rào bên tai, có cả tiếng cành lá xào xạc. Bên dưới anh dập dờn bãi sông nở đầy hoa cải vàng tươi sắc nắng. Bỗng đám mây tan ra, Thắng rơi thẳng xuống. Anh chới với hụt hẫng, căng người chờ sự đau đớn, nhưng khi chạm đất lại thấy êm ái như vừa ngả mình trên đống rơm. Phải rồi, mình vừa rơi đè lên vạt cải đang trổ hoa. Hình như Thảo đang nấp đâu đó trong ruộng hoa, anh không nhìn thấy cô, chỉ nghe tiếng gọi văng vẳng: “Thắng ơ...ơi... ơi...”. Thắng giật mình tỉnh lại, mở mắt ra. Anh chỉ nhìn thấy màn sương trắng mờ đục, nhưng đúng là có ai đang lay gọi anh, tiếng gọi gấp gấp: “Thắng ơi, tỉnh chưa?” Thắng chớp chớp mắt. Màn sương tan dần, hiện lên rất gần trước mặt anh là khuôn mặt ngăm đen quen thuộc với đôi mắt mở to đầy lo lắng. “Anh Thái!”, Thắng reo mừng rỡ, giọng khản đặc. Thái thở phào:

- Cậu làm mình lo quá! Nào, uống chút nước cho đỡ khát. - Anh luồn tay nâng đầu Thắng lên, tay kia cầm bi đông ghé sát vào miệng cậu - Uống từng ngụm thôi, từ từ kẻo sặc.

Thắng hớp mấy ngụm nước, hỏi:

- Thế còn anh Cương?

- Cương hy sinh rồi. Mình vừa cõng cậu ấy lên mé bờ suối.

Thắng nghẹn ngào:

- Cho em nhìn mặt anh ấy...

- Đừng cử động. Nằm yên để mình xem lại vết thương.

Anh không muốn để Thắng nhìn thấy tiểu đội trưởng của mình lúc này. Cương bị trúng hàng chục phát đạn, thân hình thủng lỗ chỗ bê bết máu, khuôn mặt vỡ toác lầy nhầy xương thịt, biến dạng đến không còn nhận ra. Cuốn sổ tay cùng bản sơ đồ cũng bị đạn xuyên thủng, lấm máu.

Hai vết thương của Thắng đều ở bắp chân. Chân trái bị đạn xé một vết dài hai đốt ngón tay; chân phải nặng hơn: viên đạn xuyên qua bắp chân, lỗ đạn ra toác thịt rách xơ nhầy máu. Thái lau sạch máu khô cùng bụi bẩn rồi nghiêng lọ cồn dốc vào cuộn bông, nói: “Chịu khó nhé! Sẽ rất buốt, nhưng đỡ lo nhiễm trùng.” Anh dùng bông tẩm cồn lau kỹ quanh miệng vết thương, Thắng nghiến răng chịu đau, cơ hàm bạnh ra căng phồng, khuôn mặt tái xanh lấm tấm mồ hôi. Thái đặt gạc lên vết thương, nhẹ nhàng quấn những vòng băng. Anh động viên:

- Cậu gặp may đấy! Bị ở phần mềm, không trúng xương. Chỉ dăm bữa nửa tháng là chạy nhảy được ngay ấy mà! Còn đau lắm không?

- Em... chịu được! - Thắng cố giữ giọng bình thản, chợt ngờ ngợ khi nhìn thấy những cuộn băng lạ mắt - Anh lấy đâu ra mấy thứ này?

- Của tụi thám báo. Có năm thằng. Mải nhăm nhăm về phía cậu nên mình đến sát sau lưng mà chúng chẳng hay biết gì. Chắc bọn này cũng định mò lên 551, và không chỉ có một toán. Chúng mang theo cả máy truyền tin, tiếc là trúng lựu đạn hỏng mất rồi. Nếu có máy, mình dò tìm tần số chúng gọi nhau sẽ biết thêm đôi điều... - Anh trầm ngâm - Mình nghĩ, anh Đặng nói đúng. Nếu chiến dịch nổ ra, nhất định địch sẽ đổ quân chiếm điểm cao này. Bằng mọi cách phải đưa được tài liệu trinh sát về trung đoàn.

Thắng bảo:

- Để em lại đây, anh mang tài liệu về trước, rồi cho người quay lại đón.

Thái mỉm cười:

- Chẳng việc gì phải vội! Cậu với mình cùng về, đã nổ súng ngay đâu mà phải cuống lên! - Thái lấy ra một hộp thịt, dùng dao mở hộp xoáy tanh tách quanh một vòng, bật nắp đưa cho Thắng - Chiến lợi phẩm đấy! Cậu cố ăn rồi nằm nghỉ một lúc lấy sức. Mình đi lo cho Cương.

Nói xong anh xách súng đứng dậy đi luôn.


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 20 Tháng Giêng, 2011, 08:31:55 am
*

Họ dừng một lúc bên mộ Cương. Nấm đất đơn sơ được bao quanh bằng những tảng đá bê từ dưới suối lên. Cho đến lúc này Thái vẫn chưa biết quê Cương ở đâu. Anh về tiểu đội mới một tháng, chỉ chúi đầu vào công việc, không quan tâm đến điều gì khác. Thái cảm thấy như mình có lỗi với Cương, dù biết trong hoàn cảnh này chẳng thể làm gì hơn được. Trên lưng Thái, Thắng đang khóc lặng lẽ, mấy giọt nước mắt rơi xuống gáy anh nóng hổi. “Ta đi thôi!”, Thái ngậm ngùi nói. Anh cõng Thắng đi men bờ suối tìm lối xuống. Phía bên kia suối mấy con diều hâu đang lượn vòng vòng, chúng đã đánh hơi thấy mùi xác chết của bọn thám báo.

Mặt trời ngả về chiều, nắng lốm đốm trên nền lá rụng. Xung quanh yên ắng, chỉ có tiếng chim hót, tiếng gió xào xạc trên ngọn cây và tiếng sột soạt khi họ lội trong những đám cây lá rậm rạp. Thái bước từng bước ngắn, cố giữ nhịp chân đều đặn để khỏi phí sức. Lúc trưa anh đã quyết định bỏ ba lô lại, chỉ mang theo những thứ thật cần thiết: hai khẩu AK, một băng đạn dự trữ, dao găm, bi đông, cùng mấy cuộn băng cá nhân, hai phong lương khô, mấy hộp thịt và tấm võng. Chặng đường về tới hậu cứ trung đoàn không xa, người khỏe có thể đi trong một ngày, nhưng bây giờ Thái chưa biết mình phải đi mấy ngày mới tới. Điều anh lo nhất là vết thương của Thắng, để lâu sẽ nhiễm trùng. Với lại cậu ấy bị mất máu nhiều, rất dễ bị choáng...

Chừng giữa buổi thì họ ra khỏi rừng, bước xuống một sườn dốc thoai thoải mọc đầy lau. Lá lau tua tủa bông trắng muốt phất phơ, vô số cây lau khô già rụi xuống chằng chéo ngang dọc trên nền đất sỏi. Thái chật vật nghiêng người lách qua những khóm lau, chân loạng choạng sục trong đám thân lau khô giòn gẫy răng rắc, thỉnh thoảng lại xốc nhẹ đỡ cho Thắng khỏi tuột. Mồ hôi ròng ròng trên mặt thấm vào những vết lá lau cứa buốt nhon nhót. Anh chớp chớp đôi mắt cay xè nhìn về phía trước, chỉ thấy nắng chiều viền lửa trên những lá lau nhọn sắc. Lúc này không thể dừng lại, phải ra khỏi rừng lau trước khi trời tối. Anh cắn môi lầm lũi bước, cảm thấy vòng tay Thắng đang lỏng dần. Chốc chốc cậu lại giật mình quàng chặt hai cánh tay níu lấy cổ áo anh.

Mãi lúc chiều xế hai người mới ra khỏi rừng lau. Trước mặt họ là con suối rộng chảy qua dưới chân một ngọn núi đá, giữa dòng lô nhô những tảng đá đen sì. Thái chùng chân đặt Thắng ngồi xuống hòn đá cạnh bờ suối, ngoảnh lại hỏi: “Mệt không?”. Thắng lắc đầu, giọng khàn khàn yếu ớt:

- Em... không sao!

Thái vục bi đông xuống suối lấy đầy nước, đưa cho Thắng:

- Cậu ngồi đây đợi, nhớ giữ súng trong tay. Mình đi tìm chỗ ngủ. - Anh lội ào qua suối đi về hướng vách núi.

Thắng uống mấy ngụm nước rồi nghiêng bi đông dốc nước vào lòng bàn tay rửa mặt. Nước suối mát lạnh làm anh thấy tỉnh táo hơn. Mặt trời đã xuống thấp. Thắng nhìn bóng núi đang loang nhanh trên vùng cỏ lau, chợt nhận ra từ sáng tới giờ anh và Thái vẫn chưa ra khỏi bóng râm của điểm cao 551...

Đêm đó hai người nghỉ lại trong một hang đá nhỏ ở chân vách núi. Trên nền hang vẫn còn những dấu vết chứng tỏ đã từng có người trú ở đây: mấy hòn đá sém lửa ám khói, vài đống tro tàn, những thanh củi cháy chưa hết... Thái chặt cành lá che kín trước cửa hang rồi mới nhóm lửa. Suốt đêm anh chỉ ngủ chập chờn, thỉnh thoảng lại ngồi dậy chất thêm củi vào đống lửa. Bên cạnh, Thắng nằm thiêm thiếp, chốc chốc lại giật mình ú ớ. Thái đặt tay lên trán cậu, tạm yên lòng vì Thắng không sốt, vết thương cũng không bị rỉ máu. Trước cửa hang con suối vẫn rì rào chảy miết. Trong đêm khuya thanh vắng, nghe rõ tiếng nước réo ồ ồ quanh mấy tảng đá chắn giữa dòng. Lẫn trong tiếng suối là tiếng chim ăn đêm kêu khắc khoải, tiếng côn trùng rền rĩ, tiếng con mang tác đều đều văng vẳng lúc gần lúc xa... Lúc lúc lại có đợt gió cuộn tới, lướt rào rào trên rừng lau bên kia suối. Thái đặt súng xuống đất, ngả mình cạnh đống lửa lo lắng nghĩ tới chặng đường ngày mai. Đến hôm nay là vừa hết thời hạn năm ngày theo quy định của tham mưu trưởng Đặng. Nếu đi kiểu này, chưa biết mấy ngày nữa mới về đến hậu cứ...   

Sáng ra Thái dậy sớm đun nước muối để nguội, rửa vết thương rồi thay băng cho Thắng. Hai người đợi đến lúc sương tan bớt mới lên đường. Rút kinh nghiệm hôm qua, Thái cõng Thắng lên lưng, xếp dọc chiếc võng buộc thành cái địu theo kiểu phụ nữ dân tộc địu con khi lên nương, lại dùng dây võng choàng qua hai đùi buộc chân Thắng treo vào thắt lưng mình. Anh nhún người xốc thử mấy cái rồi ngoảnh lại hỏi:

- Cậu thấy sao?

- Ổn rồi anh ạ! - Thắng nhoẻn cười - Thế này em đỡ mỏi mà anh cũng được rảnh tay. Chỉ sợ anh mệt.

- Yên trí! Cậu nhẹ hều, chừng bốn chục kí chứ mấy! - Anh cầm khẩu AK đưa cho Thắng - Cậu tròng dây qua cổ, khoác chéo sau lưng cho dễ đi.

Thái men theo bờ suối vòng qua ngọn núi đá rồi nhằm hướng mặt trời mọc rảo bước. Anh không sợ lạc đường. Vùng rừng nào đã đi qua một lần là anh có thể nhắm hướng cắt rừng quay trở về đúng chỗ mà không cần lần theo đường cũ.

Sáng nay gặp cánh rừng thưa và tương đối bằng phẳng nên Thái đi liền một mạch, đến gần trưa mới dừng lại khi gặp một khe nước nhỏ. Để Thắng nằm nghỉ, anh xách súng lủi dọc bờ khe, lát sau quay trở lại với mớ rau rừng trong tay: “Ta sẽ nấu món canh rau với thịt hộp. Suốt tuần nay toàn ăn lương khô, nuốt nghẹn cả cổ”. Anh nói, rồi nhặt cành khô nhóm lửa.

Khi ngọn lửa vừa bùng lên thì chợt nghe tiếng máy bay rì rì ngay trên đầu. Thái vội gạt banh đống lửa, bẻ cành cây dập khói. Anh ngẩng đầu lo lắng nhìn lên. Chiếc máy bay trinh sát bay khá thấp, thoáng thấy bóng nó lướt qua kẽ lá. Thái khoác chéo súng sau lưng, chạy tới gốc cây mọc ở đầu dốc bám thân cây thoăn thoắt leo lên, ngồi nép trong tán lá. Chiếc OV.10 lượn vòng trên khoảng rừng thưa, bán kính chừng ba kilomet. Hết vòng lượn thứ ba, nó tăng độ cao bay thẳng về hướng đông, nhỏ dần thành một chấm đen rồi mất hút. Thái chăm chú quan sát vùng rừng chiếc máy bay vừa lượn trên đó nhưng không phát hiện ra điều gì, chỉ thấy ngút ngàn cây lá xanh rợp im lìm như đang mơ màng trong giấc trưa. Anh tụt xuống đất, lẳng lặng quay lại chỗ bờ khe.

- Sao anh? - Thắng ngước mặt lên hỏi.

- Mình không rõ! Nó lượn ba vòng trên rừng, sau đó bay thẳng.

Thắng luồn tay gối đầu, mắt nhìn lên vòm cây, trầm ngâm:

- Em nghĩ, ở đó có địch! Năm ngoái có lần em với anh Cương đụng biệt kích, trước đó cũng có một chiếc L.19 lượn kiểu như vậy. Nó bay liên lạc chứ không phải trinh sát.

- Có thể cậu nói đúng. Thôi, đành gác món canh rau lại. Cậu ăn thịt hộp nhé! - Thái nói, lấy dao mở một hộp thịt ba lát.

Thắng ngồi tựa gốc cây, bẻ cành cây làm đũa gắp từng miếng thịt cho vào miệng uể oải nhai. Thấy cách Thắng cầm đũa, Thái hỏi:

- Cậu thuận tay trái à?

- Em thuận cả hai tay. Cầm đũa, bắn súng tay nào cũng được. - Thắng cười, kể - Dạo đang huấn luyện tân binh, em trêu ông đại đội trưởng bằng cách nheo mắt phải, bắn tay trái, ông ấy chửi um lên. Khi em bảo em bắn tay nào cũng được, ông không tin cho bắn thử, cả hai tay đều đạt loại giỏi. Có vậy khi trung đoàn đến nhận quân ông mới “tiến cử” em vào trinh sát, chứ lúc đầu thấy em thấp bé nhẹ cân ai cũng chê.

Ăn xong, hai người nghỉ một lúc rồi đi tiếp. Thái dùng võng địu Thắng như lúc sáng, nhưng lần này anh nới dài dây khẩu AK, lên đạn khóa lại, bảo:

- Cậu choàng qua vai phải, kẹp súng bên nách trái. Lúc gặp địch cứ cặp vào hông tớ mà bắn. Bắn găm từng loạt ngắn, đừng xả cả tràng. Chỉ có mỗi băng đạn thôi đấy...

Thắng ngập ngừng:

- Hay... ta đi vòng?

- Biết nó ở đâu mà vòng? Cứ đường mình mình đi. Nếu gặp địch, chủ động xốc tới bắn xả mà thoát. Thế nhé!

Thắng im lặng. Anh biết không còn cách nào khác. Hai người buộc chằng vào nhau thế này lúc đụng địch không thể lăn, bò, xoay trở như bình thường. Thắng nhìn xuống đôi chân quấn đầy băng của mình, chợt ứa nước mắt. Anh ấy đã quyết hai người sống cùng sống, chết cùng chết...


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 20 Tháng Giêng, 2011, 08:39:27 am
Cánh rừng họ đi qua trong buổi chiều mọc toàn cây săng lẻ. Những thân cây thẳng tắp cao vút, lớp vỏ bên ngoài màu nâu nhạt phồng rộp bong từng mảng loang lổ. Đang mùa thay lá, những tán săng lẻ ngả màu vàng áy. Trên nền rừng thưa thoáng lác đác những chiếc lá mới rụng khô cong, giẫm lên nghe lắc rắc như những lá thiếc mỏng. Thái vừa đi vừa cảnh giác nhìn quanh, tai căng lên lắng nghe từng tiếng động. Nghe hơi thở đều đều của Thắng, anh biết cậu đang nghển đầu nhìn qua vai mình. Vài con chim cất tiếng lảnh lót, bay vụt từ cây này qua cây khác. Thỉnh thoảng lại có ngọn gió lùa tới làm lá cây rụng xao xác. Rừng vẫn êm đềm và hoang vắng như vốn có từ xa xưa.

Chừng giữa chiều, rừng săng lẻ thưa dần. Nền trời xanh thấp thoáng sau những thân cây. Thái rảo bước. Ít phút sau, trước mặt anh hiện ra một trảng cỏ rộng chừng trăm mét. Mé bên kia trảng có những lùm cây bụi lúp xúp, tiếp đó là những tán cổ thụ xanh rậm lớp lớp nối nhau cao dần theo triền núi.

Thái dừng sau một gốc cây, nhìn ra. Bãi cỏ vắng vẻ đìu hiu, cánh rừng phía bên kia im ắng. Không có một dấu hiệu nào đáng nghi ngại. Anh lấy bi đông vặn nắp uống mấy ngụm nước rồi quài tay đưa ra phía sau cho Thắng:

- Cậu uống nước, rồi ta đi tiếp!

- Hay anh đặt em xuống, nghỉ một lúc cho đỡ mệt.

- Thôi, tranh thủ đi cho được độ đường. Với tốc độ này, chỉ ngày mai là về tới hậu cứ.

Bước ra khỏi rừng, Thái cõng Thắng chạy băng qua bãi trống. Mặt trời từ phía sau rọi tới soi bóng họ đổ dài. Qua được nửa bãi. Thái vẫn chạy lúp xúp, những lùm cây đã ở gần trước mặt. Chợt từ rặng cây xanh ấy, mấy con chim hốt hoảng bay vọt lên. Một ý nghĩ lướt nhanh trong đầu. Thái vừa nâng súng lên thì đã thấy đám cành lá lay động, rồi mấy bóng lính mặc quần áo rằn ri bước ra. Tiếng Thắng thét ngay bên tai nhưng anh không nghe rõ; ngón tay cái tự động bật khóa an toàn, ngón trỏ siết cò, anh vừa bắn xả vào đám người mới xuất hiện vừa chạy xộc tới. Bên hông anh khẩu tiểu liên của Thắng phụt khói nẩy bần bật. Thái lao thẳng vào chỗ bọn lính vừa xuất hiện. Loáng thoáng xung quanh toàn những bóng rằn ri. Anh lia nòng súng sang phải, sang trái, nổ liên tiếp từng loạt ngắn. Thắng cũng bắn xối xả, vỏ đạn văng tóe mắc kẹt vào giữa hai người nóng bỏng. Bị bất ngờ, bọn biệt kích nhảy ào sang hai bên, có tên đã nâng súng lên nhưng không dám bắn vì sợ trúng đồng bọn ở ngay trước mặt. Thái lao vọt qua toán lính, nhào vào đám cây lá rậm rịt. Sau phút bàng hoàng, bọn lính bắt đầu bắn đuổi theo, tiếng tiểu liên cực nhanh nổ rền như tiếng máy, đạn bay chiu chíu. Thái chúi người chạy vòng vèo qua những thân cây cổ thụ, bươn lên sườn dốc. Mãi đến lúc tiếng súng phía sau thưa dần rồi ngưng hẳn, anh mới dừng lại vịn tay vào một thân cây, khuỵu hai đầu gối xuống đất há hốc mồm thở dồn dập. Tiếng Thắng gọi lọt qua tiếng ù ù trong tai. Anh lẩy bẩy cởi nút buộc trước ngực, đặt Thắng tựa vào gốc cây, rồi ngồi bệt xuống đất. “Cậu... không dính... viên nào đấy chứ?”, Thái hổn hển hỏi.

- Không! Nhưng chân em...

Thắng ấp úng, nhìn xuống chân phải. Máu đang loang nhanh trên những vòng băng. Không thấy dấu đạn, chắc vết thương bị va chạm nên chảy máu trở lại. Thái xé vạt áo thắt ga-rô, hỏi:

- Súng cậu còn đạn không?

- Em bắn hết sạch rồi!

Thái lấy băng đạn cuối cùng lẩy ra ba viên đặt vào tay Thắng:

- Lắp vào súng, ngồi đây đợi. Tranh thủ băng lại vết thương. Nếu địch mò lên, chưa lộ không nổ súng. Bọn chúng đang cay cú, nhất định sẽ đuổi theo. Mình phải xuống “hỏi thăm” trước.

Anh cởi bi đông nước và chiếc túi vải để lại cho Thắng, xách súng bước đi, lát sau đã mất hút.

*

Thái len lỏi qua các gốc cây đi xuống. Văng vẳng tiếng người lao xao mé trảng cỏ. Anh nhắm hướng nhẹ nhàng luồn qua đám cây lá rậm rạp. Chợt nghe thoảng trong gió những âm thanh là lạ, Thái dừng lại nghe ngóng. Tiếng động rõ dần: cành cây lay loạt soạt, lá khô vỡ lép bép... Thái từ từ xoay người nép sau gốc cây nhìn ra. Những cành lá trước mặt rung rung. Một, hai, rồi ba tên lính bước tới, màu áo ngụy trang gần như lẫn trong màu lá. Súng ARC.15 báng gập, thắt lưng lỉnh kỉnh súng ngắn, dao găm, lựu đạn M26... Tên đi cuối khoác chiếc ba lô lính màu rêu vuông vức như chiếc máy vô tuyến. Tên dẫn đầu xách súng khom người tìm vết, hai đứa đi sau nâng súng trong tư thế bắn bình tĩnh đảo mắt quan sát, nòng súng rê theo ánh mắt. Chúng đi nhanh và êm không kém gì anh, nhưng ở trong rừng ba người cùng bước gây ra tiếng động lớn hơn. Thái nghĩ nhanh cách đánh. Bọn này thiện chiến, phản xạ như máy. Nếu nổ súng vào một tên, hai đứa kia sẽ bắn hạ anh ngay tức khắc.

Chúng đã đến gần. Thái từ từ nâng súng lên, ngắm vào ngực tên đi giữa. Khoảng cách càng lúc càng ngắn lại. Ba mươi mét! Hai mươi lăm... hai mươi... “Sao lâu thế?”... Mười lăm mét. Qua đường ngắm, hai tên lính chập vào nhau. Thái bóp cò. Loạt đạn nổ vang, hất tên đi giữa nhảy dựng lên rồi đổ vật xuống. Tên đi cuối thả rơi súng loạng choạng bước thêm một bước, ngã nhào. Thái quay mũi súng sang tên còn lại. Thằng này nghe súng nổ hoảng hốt nhảy sang trái một bước, quay lưng chạy. Thái bắn theo. Trượt! Bắn loạt nữa, lại trượt. Tên lính sắp lủi vào bụi rậm. Anh bình tĩnh ngắm rồi siết cò, nã hết những viên đạn còn lại. Mấy vòi máu phụt ra trên tấm lưng áo loang lổ, tên lính chới với níu tay vào cành cây, lảo đảo xoay người lại rồi ngã vật vào đám dây leo.

Đặt khẩu súng hết đạn xuống đất, Thái nhảy ra nhặt khẩu tiểu liên của tên đi giữa khoác lên vai, gỡ nịt đạn của hắn thắt vào lưng. Đột ngột, một tiếng súng nổ vang. Thái lăn nhào hai vòng, chồm dậy chĩa súng về hướng phát ra tiếng nổ. Trước mặt anh cách chưa đầy chục bước, tên lính đi cuối đang nằm sấp chĩa khẩu Côn 45 về phía anh, cánh tay cầm súng run lẩy bẩy. Tức điên người, Thái nhảy tới tung chân đá văng khẩu súng, dí nòng tiểu liên vào trán hắn. Tên lính trừng mắt nhìn lên. Thái chằm chằm nhìn hắn. Hai luồng mắt chọi nhau như tóe lửa. Chợt Thái hất súng lên vai, cúi xuống gỡ chiếc ba lô đỡ tên lính nằm ngửa, mở cúc áo xem vết thương. Trên ngực hắn thủng hai lỗ, bọt máu phì ra, phập phồng theo từng hơi thở nặng nhọc. Bỗng tên lính nấc lên một tiếng, giật nẩy người rồi chầm chậm ngoẹo đầu sang một bên, từ khóe môi trào ra dòng máu tươi. Đôi mắt hắn dại đi, hai hàng mi từ từ khép lại. Thái thở dài, nhặt khẩu tiểu liên và chiếc ba lô đứng dậy, bước loạng choạng. Lúc này anh mới nhận ra đùi bên trái đang đau nhói. Thái ngồi tựa vào gốc cây, rút dao găm xẻ ống quần chỗ máu loang: viên đạn xước qua đùi xé rách thịt, vết thương đang rỉ máu. Không có thời gian để băng. Anh hối hả mở nắp ba lô, dốc ngược đổ các thứ bên trong ra: hai bộ quân phục dã chiến, tấm chăn thám báo, cá hộp, gạo sấy, mấy cuộn băng cá nhân..., cuối cùng là một khối pin nhãn hiệu Mỹ còn mới nguyên, chắc pin nguồn dự trữ cho máy vô tuyến. Thái nhặt những cuộn băng, mấy hộp cá và hai bao gạo sấy túm trong tấm chăn, nhét trả những thứ còn lại vào ba lô, cài nắp cẩn thận. Anh buộc hai quả M26 vào khúc rễ cây trồi trên mặt đất, mở khóa rút quai ba lô luồn qua khoen lựu đạn rồi cài lại như cũ. Đặt chiếc ba lô nằm đè bên trên, anh luồn tay mò mẫm bẻ thẳng chốt hai quả lựu đạn...


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 20 Tháng Giêng, 2011, 08:41:34 am
*

Đang ngồi băng lại vết thương, Thắng chợt dừng tay khi nghe tiếng súng nổ rất gần, thoạt đầu là mấy loạt ngắn, tiếp theo một loạt dài nổ rền. Tiếng súng của anh Thái, bọn địch vừa gặp chỉ mang tiểu liên cực nhanh. Anh quấn nhanh mấy vòng băng cuối cùng, bỗng sững người bởi nghe một tiếng nổ nhỏ khô khốc. Tiếng súng ngắn! Thắng ngồi lặng, chân tay bủn rủn... Một con rắn trườn ngang trước mặt ngóc đầu nhìn anh, lưỡi thụt ra thụt vào như tia chớp. Thắng đờ đẫn nhìn con rắn như nhìn que gỗ, nó trườn đi lúc nào anh cũng chẳng hay.

Có tiếng chân bước vội vã giẫm cành khô gãy răng rắc, Thắng nâng súng lên, vừa lúc Thái ào tới. “Anh Thái!”, Thắng mừng rơn. Thái ấn vào tay Thắng khẩu tiểu liên Mỹ rồi ngồi thụp xuống chìa lưng trước mặt cậu: “Ôm lấy tớ!” Anh cõng Thắng khập khiễng rảo bước, giải thích ngắn gọn: “Mình hạ được ba đứa, nhưng phía dưới còn đông. Ta phải đi càng xa càng tốt”.

Hai người đi được chừng mươi phút thì nghe phía sau vang lên hai tiếng nổ liền nhau dội rền như tiếng sấm. Thái đứng lại, thở phào: “Ổn rồi!” Anh đặt Thắng xuống đất, mở nắp bi đông nước tu ừng ực, đưa tay quệt nước đọng dưới cằm, kể:

- Mình cài lựu đạn, bọn đi sau dính rồi! Giờ hết lo chúng đuổi theo.

- Lúc nãy em sợ quá! - Thắng nói - Nghe phát súng ngắn cuối cùng, cứ ngỡ anh “bị” rồi.

- Cũng sém chết! - Thái lấy ra cuộn băng cá nhân, vạch ống quần xem lại vết đạn - Thằng ngụy bị thương nên run tay, nếu không giờ này mình đâu còn được ngồi với cậu!

Anh vừa băng vết thương vừa nghĩ về tên lính đã bắn mình. Xét về tư cách người lính thì đó là một người lính giỏi và can đảm. Trông nó ít tuổi hơn mình; không biết quê quán nơi nào? Ở đó cậu ta cũng có những người thân đang chờ đợi...

Tối đó hai người ngủ lại trong một túp lều dựng tạm lợp lá chuối che sương, không dám đốt lửa. Vừa đặt mình xuống, Thái đã ngủ thiếp đi. Mệt nhọc và căng thẳng trong mấy ngày qua làm anh kiệt sức.

Gần sáng, Thái chợt giật mình bật dậy khi nghe tiếng người thét ngay bên tai. Anh vớ lấy súng đưa mắt nhìn quanh, nhưng không thấy gì lạ. Chợt hiểu ra đấy là tiếng thét của Thắng, anh vội quay sang. Thắng đang sốt hầm hập, sờ tay lên trán nóng như đụng than hồng. Thái xé vội vạt áo, mò tìm bi đông dấp nước vào mảnh vải rồi đắp lên trán cậu. Ngoài ra anh chẳng còn biết làm gì hơn, đành ngồi chờ trời sáng. Bên ngoài sương mù đặc quánh, đám hơi nước li ti tràn vào lều lạnh buốt. Sương rơi lộp độp trên những tàu lá chuối. Bên cạnh anh, Thắng vẫn nằm li bì, chốc chốc lại oằn người rên rỉ trong cơn mê.

*

Lúc trời sáng rõ, Thái mở băng xem lại vết thương ở chân Thắng. Cả hai vết đều đang mưng mủ, xung quanh đỏ bầm. Không có thuốc kháng sinh, giờ chỉ còn cách đưa Thắng về hậu cứ càng nhanh càng tốt. Anh đặt gạc lên trán Thắng, quấn mấy vòng băng quanh đầu rồi dấp nước vào gạc để hạ nhiệt. Nước mát lạnh làm Thắng tỉnh lại. Cậu mở mắt nhìn quanh, hỏi:

- Sáng rồi hả anh?

- Ừ, sáng rồi! Cậu thấy trong người thế nào?

- Em... chỉ thấy mệt. - Thắng mỉm cười yếu ớt.

Nhìn khuôn mặt hốc hác của Thắng, Thái biết cậu đang rất đau nhưng cố giấu. Suốt hai ngày qua trừ lúc ngủ mê, Thắng không hề rên la một tiếng.

- Ta đi tiếp nhé! Tranh thủ đi sớm cho nó mát. - Thái nói, cố giữ vẻ bình thản.

Chỉ mang theo một khẩu súng, Thái địu Thắng trên lưng bước khập khiễng. Sương còn phủ dày trên rừng, nhìn về hướng mặt trời chỉ thấy một quầng sáng nhòa. Thái nhắm hướng mặt trời đi tới. Rừng đang rộn lên tiếng chim hót, tiếng thú chạy sột soạt trong bụi cây. Những cành lá đọng sương quệt vào người làm quần áo ướt sũng. Thái không để ý đến sự vật xung quanh, chỉ chăm chăm tìm lối đi, cố tránh những vòm dây leo rậm rịt.

Chừng giữa buổi thì sương tan hết, ánh nắng chan hòa khắp nơi. Hai người lên tới một đỉnh dốc cao, nhìn ra phía trước chỉ thấy lớp lớp cây rừng chắn ngang tầm mắt. Nếu leo được lên cây sẽ nhìn thấy ngọn núi Pu Leng, hậu cứ trung đoàn đóng ở chân núi. Nhưng lúc này Thái không thể leo được, vết thương ở đùi đang nóng ran, giật giật đau nhức. Anh cũng không dám dừng lại nghỉ, sợ ngồi xuống rồi, sẽ không đủ sức cõng Thắng đứng lên đi tiếp. Thắng vẫn đang sốt hầm hập. Cậu ngoẹo đầu trên vai anh, hơi thở ngắt quãng nóng rực. “Chắc không còn xa nữa đâu...”, Thái tự động viên, bước từng bước nặng nhọc. Mặt trời lên cao, nắng càng lúc càng gắt. Không bỏng rát như nắng hè, nhưng cái nắng rừng Lào đầu mùa khô ong ong khó chịu khiến đầu óc váng vất, lớp da trên người khô rộp lên. Thái loạng choạng đứng lại, mở nắp bi đông uống mấy ngụm nước. Anh gọi Thắng, chỉ nghe tiếng đáp nửa mê nửa tỉnh. Dừng lại lúc này là chết, chết cả hai. Thái nghiến răng chịu đau đi tiếp. “Một bước... hai bước... ba bước...”. Anh nhẩm đếm, chân phải bước tới đặt xuống làm trụ, chân trái lê theo... “Đúng một nghìn bước mình sẽ dừng lại nghỉ...”. Một lúc sau không còn nhớ đã đếm được mấy bước, anh đếm lại từ đầu...

Không biết bao nhiêu thời khắc đã trôi qua! Bóng hai người lặng lẽ tròn lại rồi đổ dài liêu xiêu trước mặt. Thái vẫn lê từng bước như quán tính, như một phản xạ phát ra từ tiềm thức. Hai tai ù đặc, mắt loa lóa những quầng nắng, hầu như anh không còn nhìn thấy gì, nghe thấy gì, chỉ cảm nhận dưới bước chân nền rừng đang thấp dần. Đến lúc vấp phải một vật gì đó, anh ngã nhào. Cả hai người lăn xuống triền dốc...

Vết thương nhói lên đau buốt làm Thắng tỉnh lại, thấy mình vẫn ở sau lưng Thái. Anh ấy nằm im như ngủ. Ánh mặt trời lóa mắt làm Thắng khó chịu. Sao lại ngủ giữa nắng thế này? Anh ngơ ngác chớp chớp mắt, bỗng nhận ra mình vẫn bị buộc dính vào Thái, chân trái đang bị người Thái đè lên. Thắng vội lay, vừa lay vừa gọi. Không có tiếng trả lời. Một ý nghĩ lướt qua trong đầu lạnh buốt, anh hoảng hốt đưa tay lên mũi Thái. Còn thở! Thắng cuống quýt tìm bi đông nước...

Dòng nước chảy tràn trên mặt rồi xộc vào mũi khiến Thái thở hắt một tiếng. Anh mở mắt lờ đờ nhìn quanh, cảm thấy vướng víu như bị trói. “Anh Thái, anh tỉnh chưa?...”. Tiếng gọi dồn dập ngay bên tai làm Thái dần dần nhớ lại mọi việc. Anh chậm chạp cởi nút thắt trước ngực, chống tay ngồi dậy. Người anh như đang rời ra tùng mảnh, đầu nhức buốt, môi khô rộp, trước mắt loe lóe hàng ngàn đốm lửa tung tóe như lửa hàn. Anh nhắm mắt một lúc rồi mở ra nhìn. Thắng đang nằm bên cạnh, đôi mắt trũng sâu, những vệt nước mắt đọng ngoằn ngoèo trên khuôn mặt đen sạm bụi đất. Anh chống súng đứng dậy nhưng lại khuỵu ngay xuống. Chân trái bất động, máu đen bầm trên những vòng băng, vết thương sưng tấy nhức nhối. “Mình không còn đi được nữa...”, anh bất lực ngả người nằm xuống. Thắng đã lại thiếp đi, sự sống trong người cậu ấy đang cạn dần. Mình cũng hết sức rồi! Cả hai sẽ cùng chết ở đây. Anh từng thấy bao nhiêu người chết lặng lẽ trong rừng: chết vì kiệt sức, vì bị thương, bị sốt rét, bị đói... Mình chết cũng được, chỉ tiếc cho Thắng, cậu ấy còn trẻ quá... Có thể trung đoàn sẽ cho người đi tìm, nhưng giữa rừng núi mênh mông biết tìm ở đâu? Tập tài liệu trinh sát đang cồm cộm trong ngực áo anh. Vậy là sự hy sinh của ba người sẽ trở nên vô ích...

Những suy nghĩ cay đắng làm Thái tuyệt vọng. Anh nhắm mắt lại, mơ hồ cảm thấy còn một điều gì đó mình chưa nghĩ tới. Điều gì nhỉ? Anh cố tập trung tư tưởng. Đầu óc lùng bùng. Những ý nghĩ lướt nhanh, mờ nhạt và vô định. Có lúc anh tưởng đã chộp được điều mình cảm thấy, nhưng nó chỉ thoáng qua, mất hút. Thôi, chẳng việc gì phải nghĩ ngợi cho mệt óc. Đằng nào cũng chết, mà chết là hết! Anh thả lỏng toàn thân, nằm lơ mơ. Thật dễ chịu khi chẳng còn phải căng thẳng lo lắng...

Một ngọn gió lướt tới làm cây lá rì rào, nghe như tiếng thở dài của rừng. Và đâu đó có tiếng nước chảy róc rách đều đều như tiếng thời gian trôi... Một tia chớp lóe sáng trong đầu. Tiếng suối? Đó chính là điều anh cảm thấy mà chưa nghĩ ra. Có con suối ở gần đâu đây. Thái loạng choạng chống tay ngồi dậy, chớp chớp mắt nhìn quanh. Kia rồi! Dòng suối ở ngay phía trước, cách chưa đầy trăm bước chân. Mặt nước loáng nắng... vách núi phía bên kia... những tảng đá ven bờ... Một khúc suối quen thuộc! Thái nhặt khẩu tiểu liên bật khóa an toàn, ngón tay run run đặt nấc bắn phát một rồi dựng ngược súng tựa vào thân cây con cạnh chỗ nằm, ngoắc đầu ngắm hình tam giác vào giữa hai nhánh cây mọc chẽ đôi. “Đoành... đoành... đoành...”, từng phát súng nổ cách quãng đều đặn, tiếng nổ dội vào vách đá vọng rền rền trong rừng.

Lúc các chiến sĩ vệ binh của Trung đoàn 92 ập tới thì cả hai người đều đã bất tỉnh. Thái nằm ngửa mặt lên trời, cánh tay phải dang ngang, ngón tay co cứng ngắc trên cò khẩu tiểu liên đã bắn hết đạn.

*

Đúng như tham mưu trưởng Đặng nhận định, ngay sau khi vượt qua biên giới Việt - Lào, địch đã chiếm điểm cao 551 làm điểm tựa bảo vệ cánh nam cho mũi tiến quân dọc đường Chín lên Bản Đông - Sê Pôn. Từng đàn trực thăng chở quân bay rợp trời như chuồn chuồn trước cơn mưa đổ xuống điểm cao hai tiểu đoàn thuỷ quân lục chiến. Những chiếc Chinooks do phi công Mỹ lái nặng nề tha pháo 105 ly dưới bụng đưa tiểu đoàn pháo binh tới chiếm lĩnh trận địa. Thế trận hình thành đúng như phương án tác chiến đã chuẩn bị. Sau năm ngày vây lấn, một trung đoàn quân chủ lực của ta được tăng cường xe tăng, pháo binh và hỏa lực phòng không đã tiến đánh điểm cao 551 ngay giữa ban ngày. Địch hoàn toàn bị bất ngờ trước thời điểm tấn công cũng như sức đột kích và hướng đột kích của xe tăng ta. Toàn bộ quân địch bị tiêu diệt, ta bắt sống hơn trăm tên và thu mười hai khẩu pháo. Trận đánh này góp phần rất quan trọng trong thắng lợi bước đầu của chiến dịch, làm đảo lộn kế hoạch tiến công của địch, buộc chúng phải bố trí lại lực lượng, điều chỉnh kế hoạch hành quân.

Về sau hẳn đâu đó trong sử sách sẽ có đôi dòng viết về trận đánh ấy, nhưng sẽ không ai biết trước khi chiến dịch còn chưa bắt đầu, những người lính trinh sát của trung đoàn 92 đã đổ máu dưới chân cao điểm để chuẩn bị cho trận thắng. Và đó là một trận thắng của đơn vị bạn. Còn trung đoàn ngay từ đầu chiến dịch đã rời khỏi vị trí ém quân đi về hướng tây nam...

P.V.L


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 20 Tháng Giêng, 2011, 09:04:26 am
Lá cây thuộc bài

TRẦN THỊ HIỆP


Chập choạng tối có lệnh rút. Đây là lần đầu tiên sau ba ngày chiến đấu đơn độc trong lòng địch, chúng tôi mới liên lạc được với đồng đội và thật thất vọng, mệnh lệnh không phải giục xốc tới mà rút lui.

Chúng tôi, bốn đứa còn lại đào cái huyệt như cái hố cá nhân, chôn Lương. Lương là thằng dễ thương nhất, bạn chiến đấu và kể cả bạn ngoài đời, giờ đây nó đã ngủ giấc vô cùng, ngủ như đá nằm trong lòng đất giấc miên viễn. Ai có đào hầm rồi lấp lại mới thấy, dù là chất đất gì đi nữa, số đất đào lên khó lòng nén xuống cho hết. Không để cho địch và người chủ ngôi nhà này khám phá ra nơi mai táng, đất dư mang ra vườn rải đều. Cũng may sau ba ngày đánh nhau ác liệt nơi nào cũng có đổ vỡ, vôi vữa tung tóe khắp nơi. Dù làm cách gì cũng thấy chỗ ấy đất có vẻ mới và khang khác thế nào. Tôi nói ý này, thằng Thịnh bảo mầy tưởng tượng hão, ai biết được. Chúng tôi phải lấy cỏ rác, lá khô, lá vàng và một ít vôi gạch vụn trải một lớp, hi vọng vài ngày sau, nếu có mưa thì khó mà phát hiện nơi ấy có một con người nằm. Mộ không nấm rất dễ thất lạc, nhưng chúng tôi tin chắc một câu chuyện đau thương sâu sắc như thế này làm sao quên được? Chỗ hắn nằm là trung điểm gốc khế và cái giếng, phía sau ngôi nhà hai tầng đoạn giữa con đường Lữ Gia, chạy ven theo phía tây thành phố Nha Trang.

Đêm ba mươi tết Mậu Thân, chúng tôi xuất phát từ căn cứ Đồng Bò, đi dọc con đường mòn dưới chân mấy ngọn núi đất nhấp nhô giữa một vùng đất thấp ngập mặn. Vùng đất này rất thấp, mùa lụt nào cũng ngập, nước biển tràn vào không cây cối gì mọc được, rất trống trải, nhưng lại rất bất ngờ đối với địch. Đoạn phía nam người ta gọi là Đồng Muối. Chúng tôi thâm nhập thành phố Nha Trang bằng con đường chọc vào sườn thành phố này. Các mũi tiến công từ nhiều hướng đã thâm nhập sâu vào nội thành, súng nổ ran khắp nơi. Được tin cánh phía bắc đã lập công đầu. Cánh này băng qua một nhánh sông cầu Hà Ra lên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm đánh thẳng vào hông dinh tỉnh trưởng, bọn địch đã bỏ chạy. Cánh phía tây của chúng tôi có một đơn vị đã lập chiến công ngay từ những phút đầu, tiến chiếm được đài phát thanh, cái miệng om sòm của địch ở đầu bắc cách chỗ chúng tôi chừng cây số. Nhóm tôi, chỉ hơn trung đội bị chận lại nơi đây, trong số này có bán tiểu đội gồm năm người của tôi, đã hi sinh mất một. Lương hi sinh lúc băng qua con đường, hắn chạy rất nhanh cạnh tôi, chỉ còn một bước chân nữa là đến chỗ an toàn, tôi thấy nó ngã, tưởng nó vấp, tôi thét: “Chạy đi!” Nó yên lặng, vào chỗ nấp tôi kêu thêm mấy lần nữa, nó vẫn nằm yên. Trời ơi nó bị bắn gục, sau này thấy đạn trúng vai xuyên qua ngực, hi sinh ngay. Chúng tôi mấy thằng còn sống liều mạng kéo hắn vào nhà, đạn thép cày trên đá mặt đường sáng lòa, lạ qúa thế mà chẳng có đứa nào bị thương, chắc là nhờ vong hồn hắn phù hộ. Từ đó hoàn toàn mất liên lạc. Ba ngày qua chúng tôi chiến đấu đơn độc. Chúng tôi có bản đồ nhưng đây là lần đầu tiiên đến một thành phố lạ, hoàn toàn mù mịt về điểm đứng của mình, lại chẳng nhận thêm lệnh nào, không biết phải đi về đâu, phải làm gì. Chung quanh súng nổ khắp nơi. Mới ló đầu ra đã bị bọn địch đóng ở cuối đường quạt lên. Nghe tiếng nổ biết mấy khẩu M 16, có cả đại liên M 60. Bọn chúng đặt điểm kháng cự cuối con đường đầu kia, kiểm soát cả đoạn đường thẳng này. Không diệt được ổ súng ấy, sẽ không làm sao thoát khỏi ngôi nhà này và khó lòng đưa Lương về căn cứ. Đã ba ngày qua, hơn 70 giờ rồi, xác bắt đầu hủy, ruồi nhặng đã vo ve. Chúng tôi đành chôn bạn ngay trong lòng địch, hi vọng sau ngày chiến thắng, hòa bình sẽ đem hắn về quê hương.

Chưa biết phải xử trí sao, chúng tôi được lệnh rút. Chúng tôi tính, phải đợi bên ngoài trời thực tối mới thoát ra khỏi cái căn nhà quỉ ám này. Mấy ngày qua địch biết căn nhà chúng tôi cố thủ, thôi thì đủ thứ đạn lớn nhỏ trút lên. Cái gì nhô ra chúng bắn ngay. Khu vực này mấy ngày qua chìm ngập trong lửa đạn, song điện không bị cắt, đó là ý đồ của địch, chúng muốn có ánh sáng để kiểm soát con đường này tránh cho ta di chuyển, tiếp tế, chuyển thương binh tử sĩ, và rút lui. Rất khó băng ngang qua 20 mét đường nhựa trống trải sinh tử sang phía bên kia, chuồn ra cánh đồng. Thằng Trịnh leo lên gác đẩy cánh cửa kính ra dùng cửa làm gương quan sát cuối đường đầu kia. Hắn chưa nhìn thấy gì cả thì xoảng, kính bị bắn vỡ, một mảnh kính vỡ ghim vào má, máu chảy ròng ròng. Như thế có nghĩa là bao nhiêu họng súng, bao nhiêu con mắt thù nhìn chăm chăm vào căn nhà này, nhất cử nhất động của chúng tôi chúng đều theo dõi. Tôi có cách khác, tôi nhặt một mảnh kính nhỏ, buột vào đầu cây gậy đưa ra quan sát phía đầu đường. Chiếc gương soi rất nhỏ, hình đa giác, cỡ nửa bàn tay vừa mới đưa ra đã bị một vài viên đạn bay qua cheo chéo. Rất may nhờ nó nhỏ quá và ở xa nên địch không bắn trúng. Chỉ cần vài giây tôi cũng kịp nhận ra nơi bọn địch bố trí. Lạ thật, nơi ấy tối thui, không đèn đóm gì cả, trong khi đó đoạn đường này lại sáng trưng. Sau nghĩ ra mới biết bọn địch rất tinh quái, nhiều kinh nghiệm chiến đấu. Chúng bắn bể tất cả những bóng đèn sáng ở phía ta. Tôi nghĩ muốn băng qua khúc đường này cũng phải làm như chúng thôi. Tôi leo lên gác bắn vỡ được hai chiếc bóng điện đường, phía bên này đường. Còn những bóng khác ở xa quá không bắn bể được. Bắn ba phát không trúng. Thằng Hoài ở dưới nhà gọi với lên: “Xa quá bắn không trúng đâu, phí đạn!” Nếu không tắt được mấy ngọn đèn ấy thì chúng tôi rất khó, phía sau còn sáng, khi băng qua đường sẽ là những cái bóng đen hiện rất rõ trên cái phông sáng, làm bia cho địch nhắm. Nhưng biết làm thế nào, phải làm cho mất điện. Đức nói: “Muốn có bóng tối, chỉ có cách bắn đứt dây điện. Tôi nhìn lên, đêm ba mươi trời tối đen như mực, nhờ mấy bóng đèn còn lại, chăm chú lắm thì mới nhận ra nhưng sợi dây điện là những sọc đen mờ mờ. Thế nhưng khi nhìn vào súng, từ lỗ chiếu môn đến đỉnh đầu ruồi, không thấy gì cả. Đành bỏ ý định bắn đứt dây điện, chỉ còn cách phá hỏng lưới điện chốn này. Chúng tôi lấy chất nổ TNT, quấn lại trong chiếc tất nhà binh, ở trong nhà dùng sào đẩy ra cột điện cạnh nhà, cho nổ. Cả một vùng rộng lớn chìm trong bóng tối.

Từ khi điện tắt, địch biết phía ta sắp sửa rút. Chúng bắn rất rát, đạn thép cày trên đá vạch sáng vun vút lướt qua, chúng thay nhau bắn cầm canh. Ngôi nhà chúng tôi đang chiếm giữ là nhà dân, một gia đình trung lưu, không hiểu vì sao tôi nghĩ họ ở trong ngành giáo dục. Trước khi đi kháng chiến gia đình tôi cũng như thế này. Có bàn học đầy vết mực, có bảng đen phấn trắng. Đúng là một cuộc sống hiền hòa, không biết họ đi đâu, có được an toàn hay không? Trong nhà còn nguyên vật dụng sắm tết. Chúng tôi không đụng đến, nằm đất, nấu cơm bằng nồi niêu của mình. Trong nhà vào dịp tết không thiếu thức ăn và đủ vật dụng cho chúng tôi sống thêm nhiều ngày nơi đây nữa. Ban đêm nằm trong nhà áp tai vào tường nghe tiếng địch dùng búa tạ phá tường, tiếng động trầm trầm. Càng lúc tiếng đập phá càng gần. Có lẽ chúng tiến chỉ còn cách chúng tôi ba căn. Tiếng động dễ sợ như tiếng búa đóng nắp quan tài.

Lệnh trên cho rút là hợp lí. Chúng tôi một đơn vị nhỏ, toàn mấy thằng con trai nhà quê xứ Bắc, không nắm được một tí gì về vùng này, bị cô lập ở giữa một biển người xa lạ, thù địch. Đây chỉ là một trận thử lửa để chứng tỏ cho cả thế giới biết rằng nếu muốn quân ta cũng có thể hạ sơn dạo chơi giữa lòng thành phố của chúng được.

Chúng tôi bàn, cả bốn đứa phải nhanh chóng thoát ra một lúc. Trang bị thật gọn nhẹ, bỏ lại mọi thứ không cần thiết, thắt lại quai dép, buộc ba lô, tư thế sẵn sàng kéo nhau tới gần cửa ra vào. Hẹn xuất phát như vận động viện chạy cự li ngắn. Tôi tính, phải nuốt 20 mét đường sinh tử này từ hai đến ba giây, khoảng cách chúng thay băng đạn, không được chậm hơn. Loạt đạn trước sắp dứt, tôi hô: “Chạy!”. Cả bốn lao vào chỗ núp bên kia đường đứng lại thở một hơi rồi mới nghe loạt súng thứ hai. Bọn địch không đủ thời gian lắp băng khác. Chúng tôi quay lại nhìn căn nhà phía bên kia đường, nơi đã che chở cho chúng tôi trong mấy ngày qua, và hiện nay bạn tôi đang còn nằm lại. Sau đó chúng tôi thoát khỏi thành phố nhanh chóng, tìm lại được đơn vị và trở lại căn cứ không mấy khó khăn.


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 20 Tháng Giêng, 2011, 09:06:00 am
Tôi chưa thấy ai ham học như Lương. Ba lô hắn luôn luôn có sách giáo khoa. Hắn nói học ôn thực kĩ để khi hết chiến tranh trở về học lại đại học. Hắn sợ bỏ bài vở lâu quá, sau này lớn tuổi khó học. Thằng này ngây thơ hết chỗ nói. Hắn tưởng lên Trường Sơn vào Nam đánh nhau với bọn Mỹ giống như đi chơi, có được sự yên ổn để ôn bài vở. Cuộc chiến cuốn hút chúng tôi đảo lộn, chà xát như cát bờ biển bị sóng vỗ. Làm gì có giây phút yên ổn để tĩnh tâm học hành, với lại sống nay chết mai, ai tính chuyện lâu dài. Tội nghiệp, phải khó nhọc lắm mới mang và bảo vệ được mấy quyển sách dày và nặng như đá, vượt Trường Sơn nắng lửa mưa dầm vào một tỉnh miền Nam trung phần này. Cái ba lô của hắn nặng gấp hai lần của tôi. Ai có đi đường trường mới biết cái gì hơi nặng một chút cũng muốn vất. Đến nỗi mấy cái hạt nút áo tôi còn muốn cắt bớt đi cho nhẹ, thế mà hắn mang theo cả lô sách vở. Sách nước ngoài in trên thứ giấy đặc biệt, dày, trắng, láng và rất nặng. Quyển sách nho nhỏ không dưới hai cân. Bây giờ thì khỏe rồi, cái ba lô, hành trang đi đánh giặc và đi học không còn hành hạ hắn, đè nặng lên đôi vai khẳng kheo, bộ ngực trắng trẻo lộ xương sống xương sườn của thằng con trai hai mươi mốt tuổi ốm o và yếu đuối như con gái nữa. Lúc chôn hắn chúng tôi đặt mấy quyển sách quanh cu cậu, có thằng khóc còn hài hước: “Sướng nhé, xuống dưới đó tha hồ mà ôn tập!”

Có lần tôi vô tình mở một quyển sách ra, thấy bên trong có ép một chiếc lá khô, kiểu học trò ép hoa lá kỉ niệm trong lưu bút ngày xanh. Tôi hỏi đùa: “Kỉ niệm một cuộc tình của mầy phải không? “Hắn lắc đầu nói: “Không phải. đó là thứ lá cây thuộc bài. Học trò nhà quê đứa nào cũng tin ép lá cây này trong vở, học bài rất mau thuộc và lâu quên. Lên Trường Sơn tao thấy loại cây này rất nhiều. Tao hái một mớ hạt hết chiến tranh đem về gieo quanh vườn trường cấp một cho bọn học trò hái ép trong vở...” Lần đầu tiên tôi nghe chuyện này. Tôi cười thầm, cho đó là chuyện vớ vẩn. Phi thức tế, không khoa học, thuộc loại mê tín dị đoan. Hắn một thằng sinh viên học khoa học, luôn luôn đầu lớp, trưởng thành và già dặn như người lớn mà tin cũng lạ thực.

Sau này thằng Hiền đi phép về Bắc, hắn với Lương ở cùng một xã, chúng tôi nhờ hắn mang kỉ vật và báo tin Lương hi sinh. Hiền cứ cằn nhằn mãi: “Tại sao không báo tin bằng quân bưu lại bắt tao làm công việc khó khăn này? Cho tao lao vào lửa đạn còn hơn... khó quá, tao sợ lắm...” Sau động viên mãi nó mới chịu, nhưng không vui. Lúc trở lại đơn vị nó kể:

- Kì dị ma quái lắm chúng mầy ơi!

- Sao?

- Bước vô nhà hắn, mới thấy mặt tao thì cả nhà òa khóc! Tao không cần phải báo tin, chỉ tường thuật sự việc... Mẹ nó nói, lúc nào hòa bình đến đón bà vào Nam đem nó trở về Bắc hương khói.

Sau hòa bình, ai cũng có công việc quan trọng riêng, phải mấy năm sau chúng tôi mới đến đón mẹ Lương vô Nam. Bây giờ được hiên ngang giữa phố xá đông người, dưới ánh mặt trời, thực đáng kiêu hãnh! Thành phố này đông vui và sầm uất hơn trước nhiều. Thật đúng với lời bài hát “Từ trận đánh hôm nay ta xây lại bằng mười” Nhà cửa phố xá mở mang to đẹp. Tôi hồi tưởng lại tết Mậu Thân năm 68, buổi chiều trước khi xuất kích đánh vào thành phố, tại một vạt rừng thưa, chúng tôi được phổ biến thêm một lần nữa bản đồ Nha Trang. Đây là tấm bản đồ của bọn Mỹ phát cho lính ngụy do ta thu được, thật đúng là loại bản đồ quân sự, nghe nói chúng cập nhật hàng năm. Bản đồ in rất rõ và có nhiều chi tiết, đến nỗi một cái nhà bếp, cái chuồng lợn cũng thấy ghi chú. Con đường mà chúng tôi tiếp cận và băng qua tiến chiếm Nha Trang là một con đường mới mở nằm ở phía tây thành phố, đường tiếp cận với một vùng gọi là Đồng Nai, đồng tiếp giáp với núi thấp, vào sâu là vùng núi Đồng Bò, một căn cứ quan trọng. Lâu nay chúng tôi học trên sa bàn đã nhẵn địa hình địa vật vùng này. Chúng tôi ghi nhớ tên con đường là Lữ Gia. Giải phóng rồi cách mạng làm chủ đất nước, một loạt danh nhân thuộc thế hệ cũ không còn hợp thời nữa bị bỏ đi, thay vào tên mới. Lữ Gia ngày trước đổi thành Lê Hồng Phong.

Lạ quá, chúng tôi nghĩ đúng là con đường ấy, thế nhưng giờ đây nó khác xa cái lúc chúng tôi băng qua và băng về trong đêm đầy ánh lửa đạn. Cái nhà ngày trước chúng tôi cố thủ đánh nhau với địch ba ngày đã bị phá. Nơi ấy người ta xây dựng lên ngôi trường cấp một. Chúng tôi vẫn còn hoài nghi, đi vào xem, quả đúng là đây. Cây khế và cái giếng không thể lầm lẫn được. Chỉ có điều mảnh đất chúng tôi chôn Lương giờ đây là một khu vườn hoa.

Giờ đó học sinh đã ra về, còn lại một ông lão làm bảo vệ đang ở ngaòi vườn làm cỏ. Ông lão tưởng chúng tôi là khách tham quan, chào hỏi qua loa xong vẫn ngồi xuống nhổ cỏ. Tôi làm quen: “Chiều rồi nghỉ tay uống nước đi chớ bác Hai?” Ông lão vẫn không chịu dừng tay nhổ cỏ, nói như phân bua: “Cây cỏ gì lạ quá... nhổ mãi không hết?...”

Tôi hỏi:

- Cây cỏ gì?

Ông lão nói:

- Hoa trồng chăm sóc tưới nước thì không chịu tươi tốt mà cái thứ cây cỏ gì lạ quá, cuốc bao nhiêu, dẫy bao nhiêu cũng cứ mọc. Có khi tức mình tôi nhổ cả gốc rễ lên, ai ngờ mấy ngày sau chúng lại mọc tràn lan, chiếm hết phân tro.

Tôi hỏi lại một lần nữa:

- Cỏ gì đó bác Hai?

- Thứ cây này không có tên, chỉ nghe bọn học trò gọi là “cây thuộc bài”. Đứa nào cũng hái lá ép trong vở, tin nhờ đó học bài mau thuộc. Vùng này xưa không có, sao không biết gần đây nó mọc ghê quá...

Tôi giật mình chợt nhớ đến lần mở sách ra thấy ép lá cây học thuộc bài, tôi lẩm bẩm: “À thì ra lá cây thuộc bài”. Ông lão làm vườn: “Ông cũng biết loại lá cây này sao?” Tôi nói:

- Học sinh nào cũng biết, cũng tin. Thuở nhỏ tôi cũng làm thế...

Tôi chợt nhớ lại ngày trước Lương từng nói đã hái hạt cây loại này tính đêm về quê gieo. Hôm chúng tôi chôn, có thể trong áo quần hắn còn vương vải loại hạt cây này, giờ được dịp phát triển đúng với ý định của hắn lúc còn ở Trường Sơn, chỉ khác ngôi trường này không phải là quê hương thôi. Trong vườn có nhiều luống hoa hồng. Tôi quan sát thấy ngay trên nơi chôn nó có một khóm hồng đỏ thắm, cánh hoa sáng lên gương. Tôi đến bên mân mê cánh hồng, ông lão nói: “Lạ lắm, trước nó là gốc hồng bạch sao bứng lên trồng nơi ấy lại hóa thành hồng đỏ thắm?” Tôi thì tôi hiểu...

Chúng tôi bàn bạc với ban giám hiệu. Họ dành cho gia đình mọi sự giúp đỡ. Hôm sau chúng tôi thuê người bốc mộ. Hiệu trưởng cho học sinh nghỉ học, không hiểu sao có mấy đứa bé hay tin tới xem, đuổi mãi không chịu đi.

Khi người làm công giơ chiếc cuốc lên tính bổ xuống gốc hồng thì bà mẹ Lương hét lên:

- Dừng lại! Để bứng bụi hồng sang trồng nơi khác.

Một lúc sau bà lại đổi ý, nói:

- Thôi không bốc nữa, để em nó nằm lại trên đất học này cũng được. Khi còn sống nó là thằng rất hiếu học. Buổi trưa học quên cả ăn cơm. Tối lại lên gác chong đèn ngồi học quên cả muỗi đốt...

Tôi tính kể lại chuyện Lương đem sách vở lên Trường Sơn ôn bài, sau thấy kỉ niệm đó đau xót quá, không kể. Mẹ Lương tiếp: “Em nó còn rất mê trồng cây. Giờ đây nó được an nghỉ giữa chốn học đường. Ngày ngày được nghe tiếng trẻ con học bài, tiếng chơi đùa của bọn trẻ con. Mỗi sáng được thức dậy trong hương hồng thơm ngát, còn đâu bằng? Đất nước độc lập thống nhất rồi, đâu chẳng là quê hương?”

T.T.H


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 20 Tháng Giêng, 2011, 09:19:17 am
Mai vàng trước ngõ

TRẦN CÔNG TẤN


Tôi có hai người bạn gái học cùng một trường, ngồi chung một bàn. Tôi ngồi giữa. Bên trái là Kim Mai, bên phải là Hồng Trinh. Tính nết hai cô khác nhau: Trinh luôn nói, cười. Mai thì lặng lẽ. Chỉ giống nhau ở chỗ cả hai cùng xinh đẹp và yêu mến tôi.

Chúng tôi có nhiều ước mơ. Hẹn nhau sẽ thực hiện sau khi xong đại học. Nhưng bước vào năm cuối cấp 3, thì mỗi đứa một nơi. Đầu năm học, bố Trinh gọi con vào trung tâm thành phố đóng phim hay làm du lịch gì đó. Giữa năm, mẹ Mai gọi con về đi học ngành dệt. Cuối năm đó, tôi đến tuổi đi bộ đội. Sau ba tháng tập luyện, tôi được điều đi đánh Pôn Pốt ở Kămpuchia.

Đêm hôm trước ngày tôi rời Hóc Môn, cả hai cô bạn đều đến chia tay. Hồng Trinh đi xe máy đến trước, đèn pha chiếu sáng choang, bóp còi inh ỏi. Xe dừng ngay giữa sân, Trinh vẫn ngồi trên xe, réo gọi:

- Thiện đâu! Không ra dìu em xuống xe à?

Má tôi hỏi: "Đứa nào đó?". Tôi cười, trả lời: "Bồ của con". Má tôi ngạc nhiên: "Tao tưởng cái con kia - con nhỏ ít nói, hay đến cuốc vườn giúp má. Nó là con Mai mà!".

- Vâng. Kim Mai - Tôi trả lời qua quýt với má rồi ra đón Trinh.

Vừa ngồi xuống ghế, Trinh mắng tôi như tát nước:

- Anh là ngờ nghệch lắm. Đi lính mà làm gì? Đang học ngon lành, sắp vào đại học, lại đùng đùng đi lính. Giá mà biết trước sớm, em chạy "lo" cho là Thiện yên chí ở nhà học tiếp. Còn tương lai của chúng mình nữa chứ. Sao anh dại dột thế?

Má tôi nghe Trinh nói vậy, cũng bùi ngùi:

- Trận mạc gì lại ra đi lúc Tết sắp đến. Tôi bảo cứ ở nhà ăn Tết xong xuôi hẵng đi. Hắn nói đang vào chiến dịch mùa khô. Phải đi ngay mới kịp. Mùa khô, mùa ướt mắc gì đến con?...

Thấy má tôi sụt sùi, Trinh bật khóc, kéo tôi ra sau vườn. Tôi đỡ Trinh ngồi xuống chiếc chõng tre, bên cạnh bụi xa-ri um tùm. Chổ này mát mẻ kín đáo. Tôi âu yếm ôm Trinh vào lòng, hôn lên đôi mắt, lên môi em mặn ướt xót xa. Trinh khóc nhiều lắm, lâu lắm, tấm tức mãi không thôi. Tôi chỉ biết dỗ dành Trinh bằng trăm ngàn cái hôn nồng thắm. Cuối cùng Trinh cũng nguôi ngoai, em ôm chặt lấy tôi và nói trong nước mắt:

- Thôi đã lỡ rồi. Ngày mai anh cứ đi đi. Ở nhà em sẽ chờ anh. Trăm năm em cũng đợi. Ngàn năm em vẫn chờ. Nhỡ mai kia anh về có đui què, mẻ sứt gì em cũng không bỏ anh...

Nghe Trinh nói vậy, tôi xúc động đến ứa nước mắt. Mãi tới khuya chúng tôi mới rời được nhau, khi xe Trinh đã phóng vút đi, tôi vào nhà thấy má đang loay hoay cắm cành hoa mai vào bình. Mùi hoa ngào ngạt đến bâng khuâng, cành mai vàng rực rỡ dưới ánh điện. Năm nay mai nở sớm thật. "Mai nhà ai cho thế hay má mua?" Tôi bỡ ngỡ hỏi. Má tôi ngạc nhiên:

- Vậy ra mày chưa gặp nó à. Bông của nó đem tới đó. Con Mai bảo mày rất thích loại bông này. Ít nữa nó sẽ trồng cho một gốc trước ngõ nhà mình. Má bảo mày ở sau vườn. Nó chạy ra ngoài ấy lâu lắm mà...

Ra thế. Mai đã ra tìm tôi sau vườn và đã chứng kiến cuộc chia tay của tôi với Trinh. Mai đã lặng lẽ ra về. Đúng tính cách của Mai nhường nhịn, không xen vào hạnh phúc của người khác. Hôm sau, tôi ra đi mang theo nhiều kỷ niệm của cả hai người bạn gái.

Cuộc chiến đấu của chúng tôi ở vùng Phai Lin rất quyết liệt để bảo vệ mỏ ngọc quý của nhân dân Kămpuchia. Nhiều bạn tôi đã ngã xuống. Trong một trận đẩy lùi cuộc tấn công của địch, tôi bị đạn pháo gẫy một chân, hai tay bị dập nát và mù một mắt. Suốt thời gian ở mặt trận, thỉnh thoảng tôi nhận được thư của Trinh. Hoàn cảnh ở xa Tổ quốc, thông tin chậm chạp khó khăn. Những lá thư Trinh đã làm tôi mãn nguyện.

Thư Trinh viết rất dài, kể nhiều chuyện đổi mới ở quê hương và nhắc lại những lời đêm chia tay, mong ngóng ngày tôi trở về. Bạn bè trong tiểu đội rất quý những bức thư đó và họ đọc đến thuộc lòng. Có người còn làm cả thơ ca ngợi, mối tình thủy chung Trinh dành cho tôi. Có điều tôi rất ngạc nhiên là Trinh làm Hải sản, Hải quan hay buôn bán gì đó mà giàu có rất nhanh. Nghe nói em đã xây nhà lầu và mua sẵn để dành cho tôi một chiếc "Đơ-rim" láng cóng. Chuyện tôi bị thương bạn bè giấu mãi rồi cũng lộ. Tin đó đã đến tai Trinh và Mai. Trinh đã gửi ngay cho tôi một lá thư dài mười tám trang, vừa trách móc vừa xót đau khi biết tôi mất một mắt và gãy nát chân tay. Em vẫn hứa như đêm chia tay là dù có sao cũng vẫn đợi chờ... Còn Mai - theo thư má tôi kể: Khi biết tin tôi bị thương, Mai đến ôm má và báo tin: "Con đã tình nguyện xin đi chiến đấu ở Kămpuchia. Qua bên đó con sẽ di tìm để chăm sóc anh Thiện".

Thành thương binh nặng, tôi được chuyển về nước. Một năm sau, vết thương ổn định, tôi được vào trại thương binh an dưỡng. Mặc dầu vượt qua được què quặt nhưng hai tay tôi cong quèo, dị dạng. Còn mắt thì hõm vào, sâu hoắm, bước đi phải nhờ đôi nạng gỗ. Ở trại, tôi được chế độ ưu đãi có người nuôi riêng. Nhưng tôi muốn về nhà với má nên gắng sức luyện tập. Khi chân tay đỡ lóng ngóng, tôi lao vào học nghề thợ mộc. Tôi nghỉ phải học lấy một nghề để kiếm sống rồi xin về, vừa đỡ cho nhà nước khỏi phải nuôi, lại còn giúp đỡ được mẹ già. Còn chuyện yêu đương lãng mạn của tôi thì đã lùi vào quá khứ. Trinh đã hốt hoảng khi gặp lại tôi ở bệnh viện và sau đó em lãng dần. Nghe đâu sau lần ấy không lâu Trinh đã cặp bồ với một anh chàng "xuất nhập" gì đó và hiện đang ở nước ngoài với chồng. Tôi đã nghĩ đến Mai, nhưng em ở Kămpuchia chưa về. Mà có được gặp Mai thì cũng chỉ là bạn. Tôi chẳng mong đợi gì khi nghĩ đến hoàn cảnh tàn phế của mình.

Thời gian vùn vụt trôi qua. Một năm sau tôi đã trở thành thợ mộc thực thu. Cả trại thương binh đón má tôi lên, mừng cho bà cụ và liên hoan tiễn tôi về với gia đình. Tôi nhớ buổi sáng ba mươi Tết năm ấy, khi ngồi với má trên xích lô trở về xóm làng quê tôi. Ngược chiều xe tôi là một rừng mai biết đi kìn kìn ra chợ hoa ngày Tết. Tôi nói với má: "Nhà mình cũng phải cố mua một nhành mai". Má cười: "Ừ. Mua. Nhưng phải chờ đến mười giờ đêm nay ra mua, mới rẻ"...

Suốt cả buổi sáng bà con lối xóm đến thăm. Ai cũng thương, cũng quý và ái ngại cho tôi. Nghe họ thì thầm với nhau: "Hòn đạn mũi tên ác độc quá! Thằng Thiện con bác Hai trước kia đẹp trai là thế mà bây giờ...". "Con bồ giàu thế cũng bỏ chạy mất tiêu rồi..."

Thật tan nát ruột gan... Xế chiều, buồn quá, tôi xách hòm đồ nghề thợ mộc ra trổ tài với má. Nhà có bao nhiêu chân ghế, chân bàn khập khiểng què quặt, tôi đục đẽo, cưa cắt, chắp ghép cho lành lặn hết. Mặt trời sắp lặn, má tôi mua được nếp, gà đem về, bà đứng sững nhìn mớ thành phẩm đồ gỗ ngổn ngang giữa sân, mỉm cười sung sướng:

- Mồ tổ cái thằng! Vậy là bây kiếm được nghề nuôi má rồi đó nghen.

Tôi vô cùng sung sướng với niềm vui bé nhỏ của má. Nhưng ngay lúc đó có một niềm vui lớn hơn ập đến với tôi. Thọat tiên, con Mực vẫy đuôi rồi lao ra đường. Tôi nhìn theo ra ngõ, bỗng tháy một cành mai lớn, nở vàng rực rỡ đang di động trên bờ rào chè tàu nhà tôi. Rồi cành mai trùm kín cả ngõ. Cành mai vụt chạy tới phía tôi với tiếng kêu tha thiết:

- Anh Thiện!...

"Mai"! - Tôi cũng kêu lên. Cái bào rời khỏi tay, tôi chới với nắm được một bàn tay mát rợi, rối rít hỏi:

- Mai! Em về hồi nào? Em từ đâu về?...

Mai bật khóc. Khóc như trẻ con. Tôi đứng ngây người ra đấy chẳng biết phải làm gì nữa. Má tôi đỡ lấy cành mai, bà cũng sụt sùi:

- Vào nhà đã, các con!...

Chuyện tình của chúng tôi chỉ đơn giản có thế. Hiện nay Kim Mai làm thợ dệt. Còn tôi thợ mộc. Chúng tôi đã có hai con. Cháu trai tên Ngọc Quý. Cháu gái là Phai Lin. Anh muốn hỏi giống mai vàng ấy à? Đó là một loài hoa chung thủy với mùa xuân. Bây giờ thì tôi không chỉ ước mơ mua một cành, mà Kim Mai đã trồng hẳn một cây. Từ năm ngoái, trước ngõ nhà tôi cây mai ấy đã nở vàng rực. Nếu anh thích, Tết này mời anh đến chơi vào sáng ba mươi, vợ chồng chúng tôi xin biếu anh một cành đẹp nhất về chưng đón Tết...

T.C.T
(120/02-99)


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 20 Tháng Giêng, 2011, 10:08:06 am
Tiếng vọng làng Thòi

TIẾN DŨNG

Ngày trước đi ngang Phủ Diễn, thầy địa lý Cú Đẹn dừng lại khá lâu nhìn doi cát trồi ra ở cuối làng Đọp cười: Chỗ này giống y chang cái hĩm. Nghịch! May có con sông đâm vào nên thuỷ thổ tương sinh, sau ắt sinh làng nhưng âm khí nặng. Chẳng ai để ý đến lời thầy, mà cũng chẳng để ý làm gì vì đó chỉ là doi cát hoang, mọc toàn gai ngấy nên gọi cồn Ngấy. Cồn Ngấy nổi tiếng lắm ma, nhiều rắn độc. Đồn rằng ở đó có con bạch xà sống lâu năm nên đã thành tinh. Những đêm trăng suông nó thường hiện hình con gái đẹp để ám đàn ông. Những anh nào số đen dính phải không mất mạng thì cũng mất hồn. Chú Tộ suốt ngày ngồi nơi gốc nhãn cuối làng hướng về doi cát vừa hát vừa bắt “chim” ra chơi - Người làng bảo chú bị ma Cồn Ngấy hút hết dương khí sinh điên. Lão Bất chăn trâu với tôi kể: Đêm trăng suông sáng như ban ngày, thằng Tộ đang cất vó bỗng có đứa con gái mặt hoa da phấn, mùi ngâu ngào ngạt bước đến. Thoạt nhìn, Tộ đã mê mẩn tâm thần. Nó dẫn cu Tộ vô Cồn Ngấy. Tụi bây biết vô đó mần chi không? Thấy chúng tôi há hốc mồm lắc đầu. Lão chụm bàn tay trái vòng hình chữ o rồi lấy ngón trỏ tay phải thọc vào lôi ra liên tục. Lão cười hô hố làm mấy đứa con gái thẹn đỏ mặt. Lão làm bộ rùng mình.Thôi. Không kể nữa. Hãi lắm. Mấy đứa chăn trâu bọn tôi đang khoái nghe một hai giục lão kể. Lão chun mồm hình chữ o. Khi cu Tộ nhà ta đang “phi ngựa” chợt thấy cô gái chỉ có cái đầu và hai vú tròn như hai quả bưởi là người, còn lại mình rắn to như cái cột nhà.Eo ơi! Tộ ta hét lên một tiếng kinh hoàng rồi chết giấc. Mấy đứa con gái cũng hét lên eo ơi rồi co rúm người lại sợ hãi. Tụi bây biết ai cứu thằng Tộ không? Sau một ngày tìm kiếm tao mới lôi được nó từ bụi gai ngấy ra đó. Lão Bất thở dài. Tội nghiệp, hãi quá nên nó bị tâm thần. Lão Bất kể nhiều chuyện ma Cồn Ngấy làm chúng tôi sợ chẳng dám đi đêm. Khổ nhất là con Lấm nhà dì Liêng, đêm nó bắt tôi đến ngủ chung,buổi sáng đi học kiểu gì nó cũng túm áo tôi vì sợ. Chẳng riêng con Lấm sợ mà tôi cũng rất sợ nhưng là con trai nên tôi làm ra vẻ già gan, cứng cựa thế thôi chứ trong người run lắm.

Cồn Ngấy từng có vài người đàn ông bỏ mạng vì rắn bắp chuối, nên người đời thêu dệt nhiều chuyện ma cực kì rùng rợn, hãi hùng. Càng ngày Cồn Ngấy càng trở thành ma địa, chẳng ai dám bén mảng tới. Vậy mà vào ngày bạch lộ có kẻ dám cả gan đến dựng lều giữa Cồn Ngấy ở. Kẻ đó là dì Liêng mẹ con Lấm. Làng được phen xôn xao. Người bảo dì điên, kẻ nói dì là hiện thân của bạch xà tinh. Dì Liêng trước đây đẹp nổi tiếng làng Đọp lại học giỏi. Đang học dở lớp 10 dì gác bút cùng với 11 cô gái làng trở thành những chiến binh Trường Sơn làm cho nhiều chàng trai tiếc ngẩn ngơ. Nghe bảo dì là đại đội trưởng phá bom Trường Sơn từng được phong dũng sĩ diệt Mĩ.

Ngày đất nước ca khúc khải hoàn chỉ còn bảy nữ chiến binh của làng trở về, trong đó có dì. Dì Liêng bị bom Na-Pan cháy đen mất nửa mặt nhưng dì che khăn, một bên vẫn còn nét đẹp của một thời xuân sắc. Mẹ dì cứ đưa bàn tay già nua rờ rẫm khuôn mặt con mà khóc. Khi đi con tui lành lặn, đẹp như hoa, như tranh mà giừ tàn tạ như thế này con ơi! Bố dì chửi: Bà câm mõm đi. Con Nụ, con Hoa, con Xuyến, con Vi bị bom vùi, một mẩu xương cũng không có đem về. Nó không chết là mừng rồi.

Bảy nữ chiến binh đều đã ngoài băm. Ở làng Đọp ngày đó con gái ngoài hai mươi chưa chồng đã gọi là “ngồi cồn” huống chi các chị ngoài băm. Các nữ chiến binh trở về nhưng chỉ có cô Nhuỵ lấy được ông chồng là ông chủ tịch xã chết vợ, còn lại vẫn phòng không gối chiếc. Lão Bất ông ổng. "Ngày trước các em là những con thiên nga! Bây giờ các em là những con vịt già". "Cốc cốc cốc ai có một mốc đem ra mà phơi. Đến khi động trời không phơi được nữa". Câu nói lão Bất như xoáy vào nỗi đau của những nữ chiến binh. Nhưng lão chẳng để ý, cứ nghêu ngao: "Tuổi xuân em gửi chiến trường/ nên giừ phải trượt mạ giường trong đêm".

Đùng một cái, dì Liêng có bầu. Ngày ấy chửa hoang là ghê gớm lắm. Dì đi đâu người ta cũng chỉ trỏ, bàn tán. Dì Liêng không dám ra khỏi nhà. Nếu có chuyện phải đi thì cũng sụp nón che mặt, lầm lụi mà đi. Rồi người ta bắt dì Liêng ra giữa đình đọc “cáo trạng”. Chửa hoang, tước thẻ Đảng. Xóm trưởng Mục là tay tự ý bắt dì ra “đấu tố”. “Chánh án” Mục hỏi.

- Ai là cha đứa bé trong bụng? Khai mau sẽ được khoan hồng!

Dì nước mắt chảy dài chỉ im lặng lắc đầu. Dân làng một số người nhui, xỉa xói.

- Đồ chửa hoang. Cũng Đảng viên đấy bà con ạ. Lại còn dũng sĩ diệt Mĩ nữa chứ! Ngữ ấy làm xấu mặt làng, phải cạo trọc bôi vôi, bỏ bè chuối trôi sông. Quẳng ra Cồn Ngấy cho ma rắn thịt.

Thậm chí có kẻ còn ném đá vào dì như đấu địa chủ ngày xưa. Khi đó dì chợt quắc mắt đứng dậy đá bay bàn “chánh án”, túm lấy cổ áo xóm trưởng:

- Bà bảo cho mà biết nhá, khi bà đang lo đánh Mĩ thì mày trốn nghĩa vụ ở nhà nằm với mấy mụ vợ của mấy anh đang đi bộ đội. Đừng lên mặt với bà. Bà đếch ngán. Thằng mô giỏi thì ra đây!

Dì Liêng dúi tay Mục ngã chỏng khoèo rồi vớ lấy chiếc đòn gánh múa tít.

- Lúc nãy đứa mô ném bà. Đứa mô chửi bà. Có giỏi thì mở mồm đi. Bà thích thì bà chửa, bà đẻ, ảnh hưởng chi đến bát cơm hay mồ mả đứa nào.

Đám đông đột nhiên im bặt chẳng có ai dám mở miệng, vòng vây cứ dạt ra. Dì Liêng quẳng đòn gánh ưỡn bụng đi về. Lão Bất cười khành khạch.

- Con Liêng nó có võ, đụng vào nó đá bể dái. Ha ha... Không chồng mà chửa mới ngoan/ có chồng mà chửa thế gian sự thường.

Tay Mục lồm cồm bò dậy đuổi theo dì nhưng có mấy người ngăn lại. Lão hậm hực bảo sẽ trị bằng được dì Liêng. Nghe đâu tay Mục tâu lên xã, xã gọi dì Liêng lên mấy lần nhưng rồi cũng chẳng làm được gì. Sau vụ đó, đi đâu dì Liêng cũng không thèm che nón nữa. Dì cứ ưỡn cái bụng như vậy mà đi. Những ai nói vướng đến tai dì, dì sẵn sàng “dửng vây” xắn quần lên chửi. “Dửng vây” vậy thôi nhưng dì buồn lắm. Dì khóc suốt. Bố dì chửi:

- Biết nhục chưa con. Mày còn ngồi đó mà tưới nước mắt. Lòng tao cũng đang muối đây. Cút ra khỏi nhà cho khuất mắt tao.

Thế mà dì đi thật. Dì cầm rựa ra Cồn Ngấy chặt tre, lấy lau cù làm tranh dựng lều ở. Mẹ tôi bảo Dì Liêng chuyển dạ vào đêm bão. Một vài người vẫn nghe tiếng kêu của dì nhưng giữa đêm bão quật, lại sợ ma nên họ không dám ra. Cơn bão khủng khiếp làm cho hơn nửa số nhà trong làng đổ. Nhà tay Mục xóm trưởng to đùng mà tường đổ đè cho gãy cả hai chân, suýt chết. Vậy mà túp lều bé như lỗ mũi của dì Liêng nằm giữa Cồn Ngấy không việc gì. Bão tan, người làng đã nghe tiếng khóc oe oe vọng ra từ Cồn Ngấy. Ai cũng bảo dì Liêng là ma nên túp lều mới không bị đổ. Đẻ giữa đêm bão không đèn, nến, không người đỡ mà con bé bụ bẫm, đẹp như tranh. Lão Bất thì lắc đầu lè lưỡi. Con bạch xà tinh thấy người đối xử với người ác quá nên đêm đó nó động lòng sai bầy rắn, con mô con nấy to như cột nhà quấn lấy nhau để níu lều chống bão. Bạch xà hiện thành bà đỡ đẻ. Hai con mắt nó là hai viên ngọc sáng, cần chi phải đèn nến. Con bạch xà tinh rứa mà tốt thật.


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 20 Tháng Giêng, 2011, 10:13:03 am
Dì Liêng đã “bắn phát đại bác” mở màn cuộc cách mạng không chồng mà chửa cho những nữ chiến binh làng. Dì Lúa, dì Mì, dì Ni cũng mang bụng ra Cồn Ngấy dựng lều ở. Mẹ tôi bảo. Ra đó để tránh những thị phi của người đời. Những người cùng cảnh ngộ thường hiểu nhau, san sẻ và nương tựa lẫn nhau để sống. Và rồi những nữ cựu chiến binh quá lứa lỡ thì ở những làng khác tìm đến xin nhập khẩu Cồn Ngấy, tạo nên một quần cư làng đặc biệt, Làng không chồng. Tên làng không chồng dài quá họ lại gọi làng Thòi. Bởi Cồn Ngấy là doi cát thòi ra, bây giờ bỗng nhiên thòi ra làng. Vậy là làng có tên. Lão Bất bảo. Thầy Cú Đẹn phán như thánh. Đất như cái hỉm bây giờ thành làng hỉm.

Không chồng nhưng những người đàn bà không thể thiếu đàn ông. Tạo hoá đã sinh ra vậy. Làng Thòi thỉnh thoảng vài ba ngày lại xuất hiện vài ba người đàn ông, họ là chú lái xe, anh buôn thịt lợn, có cả ông cán bộ xã, cán bộ huyện... Có ông cán bộ huyện đến thăm làng vờ say rượu rồi chui trong nhà dì Nin tranh thủ ngủ trưa. Tôi và thằng Cò đến rình nhưng bị con chó nhà dì đuổi cho chạy thục mạng. Thằng Cò bị nó ngặp cho một miếng vào cẳng đau nằm lăn lộn dưới đất. Nó bảo. Ông huyện có lẽ quen rồi nên chó không cắn.

Những nguời đàn ông đến rồi đi, chẳng thấy ai ở lại. Họ đi rồi cái bụng của những người đàn bà cứ phình to ra. Cồn Ngấy ngày một sinh sôi. Sau này các nhà xã hội học chắc sẽ đau đầu về sự sinh làng này.

Tôi cũng sinh ra ở làng Thòi. Những đứa trẻ làng Thòi chúng tôi lớn lên chẳng biết cha mình là ai. Hồi nhỏ, tôi hỏi cha con đâu? Mẹ không trả lời, mắt ầng ậng nước. Câu hỏi không có câu trả lời cứ ray rứt mãi trong tôi. Chiều, tôi đang mò ốc với thằng Cò thì con Lấm chạy đến. Anh Vin ơi. Lúc đêm cha em về, bộ đội đàng hoàng nhé, cha cho em nhiều quà lắm có con lật đật thích ơi là thích. Khi cha chuẩn bị đưa em đi ăn kem thì nghe tiếng mẹ khóc nên em tỉnh dậy. Thì ra em nằm mơ, tiếc ơi là tiếc. Thằng Cò bĩu môi. Đừng có mà mơ. Cha mày là chú Tộ đang bắt “chim” chơi ngoài gốc nhãn. Con Lấm cắn môi. Cha anh thì có. Em cũng nghe các dì nói chú Tộ là cha anh Cò. Thằng Cò nhảy lên xô con Lấm ngã xuống sông. Tôi hốt hoảng lao theo vớt con Lấm lên. Đêm đó con Lấm sốt cao, nó cứ gọi cha ơi, cha chở con đi ăn kem.

Dì Liêng sinh anh Lậm đầu nhưng anh chết từ năm 9 tuổi. Mẹ tôi kể. Anh Lậm biết đi cấy, đi bắt ốc bắt cua từ rất sớm. Đận dì Liêng ốm anh Lậm đi ra đầm chao lươn bán để thuốc thang, rau cháo cho mẹ và em. Đêm, chờ mãi không thấy anh về, mọi người đổ đi tìm, thấy xác anh nổi trên đầm vạc. Tôi hỏi cha anh Lậm, con Lấm là ai. Mẹ lừ mắt. Con nít. Hỏi lung tung. Nhìn con Lấm cứ gọi cha trong mê sảng, tôi thấy cục gì cứ trồi lên trong cổ rồi tôi chạy ra bờ sông khóc tức tưởi, khóc không tài nào nín được.

Những đứa trẻ Cồn Ngấy chúng tôi biết làm lụng từ rất sớm, chả đứa nào học lên đến cấp 2. Nghèo đói một phần nhưng, đi học sợ sự phân biệt “chủng tộc” của bọn trẻ làng khác. Chúng tôi được chúng gọi là những đứa con hoang làng Thòi, con không cha... Những câu nói đó như những con quái vật gớm ghiếc gặm vào tuổi thơ chúng tôi.

Lần đi học về qua Đầm Vạc, con Lấm reo lên. Hoa súng đẹp quá, anh Vin lấy cho em đi. Tôi bơi ra hái một ôm đưa cho con Lấm thì bị Thằng Ngọ con lão Mục cướp. Tôi giằng lại bị nó đá lộn xuống đầm. Tôi lóp ngóp bò lên bờ, thấy miệng mằn mặn, đưa tay lên quyệt thấy tay đầy máu. Tôi nhìn nó căm thù. Nó bảo nhìn gì thế thằng không cha. Miệng tôi sưng vù cũng không đau bằng câu nói đó. Dùng hết sức bình sinh, tôi lao vào húc nó bổ chửng. Đè lên người nó tôi đấm tới tấp. Tôi đang nổi điên thì bị một bàn tay như gọng kìm chít lấy cổ. Lão Mục. Lão cứ nắm lấy cổ tôi cho thằng Ngọ vùng dậy trả đòn.Tôi bị nó đấm đá vào mặt vào bụng đau, tức không thở được. Con Lấm thì gào khóc. Anh Vin ơi, anh Vin ơi. Khi tôi máu mồm máu mũi ròng ròng, cha con lão mới chịu buông tha. Con Lấm vừa khóc vừa tìm cỏ mực nhai đắp lên cái miệng rách, của tôi. Tôi gượng đau bảo con Lấm về đừng mách mẹ. Tôi không muốn mẹ buồn.Tôi thất thểu ra về trong người sùng sục nỗi căm giận. Tôi sẽ báo thù. Tôi nghĩ ra ngàn cách báo thù cha con lão Mục như trong phim. Tôi chỉ chờ đợi cơ hội.

Một đêm trời tối thui, gần 2 giờ sáng tôi và thằng Cò đang hì hụi ở Đầm Vạc cất vó bỗng nghe tiếng ùm rất lớn phía sông Ngân, tiếp đến là tiếng quẫy nước. Thằng Cò tưởng ma co rúm người lại. Tôi bảo. Nhanh lên chắc có người tự tử. Tôi và nó cầm đèn chạy đến thì thấy một người đang chới với giữa dòng nước xoáy. Thằng Cò bấu tôi. Lão Mục. Chẳng suy nghĩ, tôi đưa cây đèn cho thằng Cò rồi lao xuống. Tôi đã có kinh nghiệm, nước xoáy mạnh không nên bơi mà lặn xuống. Tôi lặn một mạch rồi trồi lên, lựa thế luồn tay kẹp lấy cổ lão, chân đạp mạnh để lái khỏi vòng xoáy. Thằng Cò đã tìm đâu được cây tre dài lao ra, tôi nắm lấy. Lão Mục quay người túm lấy tôi bấu chặt. Tôi phải dùng hết sức bình sinh của tuổi mười sáu để tụt xuống gỡ bung hai bàn tay như gọng kìm của lão, rồi tiếp tục kẹp cổ lão. Kiểu kẹp này là lão Bất bày cho tôi. Lão bảo như vậy người được cứu mới không dìm mình chết theo.Tôi mệt nhoài, hai chân mỏi nhừ như sắp bị chuột rút. Càng gần bờ, càng lắm đá ngầm, chân tôi va vào đá bị cứa nhiều nhát. Tôi biết máu chảy nhiều nhưng không có cảm giác đau. Chật vật lắm tôi và thằng Cò mới dìu lão lên được bờ. Lão uống no nước, bụng như trái sim. Thở hí hóp. Tôi mệt bở hơi tai nhưng phải xốc lão lên vai chạy cho nước trong mồm ộc ra. Khiếp! Mùi rượu nồng nặc.

Thoát chết, hôm sau lão đi chấm phẩy đến nhà tôi với mấy cân gạo. Lão nói lí nhí, khúm núm cảm ơn cứu mạng và xuýt xoa khen tôi, bảo mẹ tôi đã sinh được một người con dũng cảm. Tôi chả thèm nói gì, bỏ ra ngoài. Lão Bất cười hô hố. Mày cũng được đấy. Tao tưởng mày trả thù dìm chết thằng Mục. May! Tao cũng cảm ơn mày.

Thì ra lão Mục hay mò đến nhà dì Phí, lão Bất thấy ghét nên quyết định cho một vố. Lão quét vôi đầy mặt chờ Mục ra về liền nhảy xổ đến nhát. Mục ta tưởng ma chạy tõm xuống sông luôn. Lão Bất bảo. Kiểu trả thù của mày đểu nhất trong các kiểu trả thù. Tôi chẳng biết, chỉ thấy lòng trống rỗng và buồn, tôi cứ đi như kẻ mộng du và đến nhà dì Liêng khi nào chả biết. Con Lấm nhảy bám vào cổ tôi. Hoan hô! Tí nữa anh đưa em đi xem phim nhé. Có cái gì đó mềm mềm, cưng cứng đang ngọ nguậy nơi ngực tôi. Thì ra Lấm đã lớn...! Chỉ một khoảng khắc, mắt con Lấm và mắt tôi gặp nhau. Tôi sững sờ. Nó cũng sững sờ. Một cảm giác lạ chưa từng có đang lan khắp cơ thể và tâm hồn tôi. Con Lấm buông nhanh tôi, mặt đỏ bừng chạy vào nhà. Tôi đứng trân, thấy lâng lâng lạ lắm. Đêm, nghĩ đến ánh mắt của con Lấm tôi thao thức không ngủ nổi.

Gần sáng, tôi mới chợp mắt. Tôi thấy mình dắt con Lấm ra sau đống rơm. Chúng tôi trần truồng dính chặt vào nhau với những khoái cảm dâng trào bất tận, cảm giác đầu tiên tôi mới biết. Nhưng thoáng chốc tôi lại thấy trong vòng tay mình không phải Lấm mà là một người con gái khác, đầu người, mình rắn to như cột nhà đang ngọ nguậy. Tôi hét lên kinh hoàng rồi vùng dậy, mồ hôi vã ra dầm dìa, thấy trong người nôn nao lạ lắm. Đũng quần ướt sũng, tôi thò tay xuống thấy nước gì đó nhầy nhầy. Tôi hoang mang, sợ ma rắn làm cho điên như chú Tộ. Sáng, tôi chẳng dám kể với mẹ mà kể với thằng Cò. Nó cười. Mày giờ mới phọt à. Đó là nước để sinh em bé đó. Tao phọt từ năm ngoái, thỉnh thoảng tao cũng tự nghịch cho nó phọt. Thích lắm. Vậy tôi đã trở thành đàn ông?

*
*   *

Trong tiềm thức và vô thức tôi muốn bỏ đi thật xa để không ai biết gốc gác của mình. Đơn giản thế thôi. Những đứa trẻ sinh ra ở làng Thòi cũng đã bỏ xứ tha hương khi chưa đến tuổi vị thành niên. Có lẽ chúng cũng giống tôi. Tôi khoác tay nải ra đi trong chiều mưa ảm đạm. Mẹ nước mắt vắn dài. Con ơi con đừng đi. Mẹ lạy con. Tiếng gọi được đầy đủ quyền làm người đã thúc dục tôi cất bước bỏ lại đằng sau người mẹ liêu xiêu trong cơn mưa tầm tã. Chiếc xe ca lăn bánh, tôi thấy con Lấm đuổi theo xe ngã dúi dụi gào lên. Anh Vin ơi... Tôi vuốt mặt, nước mắt lẫn nước mưa mặn chát. Tôi phải đi, chào nhé. Chào làng Thòi, chào những nỗi đau, chào mối tình trong trắng đầu đời, chào tất cả.

Tôi phiêu bạt nhiều nơi. Bao nhiêu năm quăng quật, va đập với đời cuối cùng tôi cũng làm được anh thợ cả. Tôi dẫn năm đứa đàn em sang Lào nuôi chí lớn. Nhiều cơ hội đến với tôi nhưng tôi chẳng thể nào nắm bắt được. Tôi hiểu, mình chẳng có kiến thức để xây những công trình lớn. Tôi chỉ xây những ngôi nhà nhỏ cấp 4 và công trình vệ sinh.. Đi đâu tôi cũng thấy mình nhỏ bé và tự ti; thấy mình chông chênh, thiếu thốn một cái gì đó rất khó đặt tên trên bước đường hình thành tính cách và bản lĩnh của một con người. Cái dáng đi lúi cúi mắt nhìn xuống, cố tật của cư dân làng Thòi tôi vẫn không thể nào sửa được.

Bảy năm rồi tôi chưa về làng. Tôi chỉ nghe loáng thoáng thằng Cò vào tù vì nghiện rồi đi xách ma tuý; con Lấm cũng bỏ nhà đi sau tôi mấy ngày, không biết đi đâu. Thằng em cùng mẹ khác cha điện bảo. Tết này anh về chứ. Mẹ nhắc anh suốt. Tôi gắt. Tao không về. Dập máy rồi tôi thấy buồn mênh mang. Những mái nhà tranh thấp tè mốc thếch bên sông Ngân ngầu đỏ, những con người làng Thòi cứ hiện trước mắt tôi. Đến bây giờ tôi mới hiểu vì sao khuôn mặt mẹ và những người đàn bà làng Thòi đều khắc khổ, đôi mắt buồn ầng ậng nước như chực khóc và dáng đi lúi cúi, tất tả. Họ chỉ vui khi ngồi bên nhau kể chuyện Trường Sơn. Tôi và thằng Cò có lần nghe lỏm được chuyện của mấy dì. Dì Nụ kể. Tiểu đội tao 12 vịt giời. Đàn ông không có nhưng lại nhiều bom. Lần được giao phá 3 quả bom trên đồi B2, tao cởi truồng bò lên phá được 2 quả, đến quả thứ 3 tao trèo lên cứ ôm bom mà ngủ. Tao mơ thấy đang ôm người yêu mới chết chứ. Khi mọi người đến thấy tao đang ôm bom rên ư ử. Mấy dì đấm nhau cười rung cả mái tranh, khuôn mặt ai cũng rạng rỡ, mắt long lanh... Có lẽ những ngày tháng ở Trường Sơn, chiến trường ác liệt nhưng đó là quãng đời đẹp nhất, bi hùng nhất của mẹ tôi và những người đàn bà làng Thòi.

Chẳng thể về quê, nỗi đau đớn ấy đeo đẳng, day dứt mãi trong tôi suốt những chặng đường phiêu bạt. Bây giờ nằm đón Tết một mình nơi lán công trường heo hút trong cánh rừng Lào tôi trằn trọc không tài nào ngủ nổi. Tiếng gọi làng Thòi cứ vọng mãi trong tôi thúc dục. Vâng, tôi chẳng có cớ gì mà không về với mẹ. Tôi phải về thôi. Chẳng cần lấy đồ đạc, tôi lao ra khỏi lán vượt rừng ra đường lớn đón xe về Việt . Tôi về đến đầu làng đúng vào thời khắc giao thừa, bầu trời đêm rực sáng bởi những chùm pháo hoa ngũ sắc.       

Làng Nghè 31/10/2009
T.D


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 20 Tháng Giêng, 2011, 10:33:51 am
Quán quân dân

NHẤT LÂM


Trời về tối lúc tạnh lúc mưa, lại có gió nên càng mịt mờ như khuya khoắt, nhà nào cũng ăn cơm lúc chập choạng, bởi mưa gió chẳng biết làm gì. Tháng mười chưa cười đã tối. Mùa mưa miền Trung vốn tự cổ xưa đã não nề, những năm chiến tranh càng buồn hơn.

Hôm nay có ba người khách, ba anh bộ đội còn rất trẻ, đến từ chiều, coi bộ đi đường xa, nhờ mẹ nấu cho ăn bữa cơm tối và bây giờ ôm nhau ngủ ngon lành trên cái sạp nứa ghép lại, một kiểu giường ra đời trong năm đầu kháng chiến chín năm.

Mẹ Chắt thấy lạnh, tuy đã mặc thêm cái áo bông, nhưng áo đã cũ mà gió Bắc hun hút giữa đêm tối, mẹ có cảm giác như trời có bao nhiêu gió cứ tìm nhà mẹ mà thổi vào. Bên Lào trời có lạnh không? Nếu lạnh thì đốt củi chứ áo quần đâu có nhiều. Nhìn những anh bộ đội đến quán mẹ thì biết, có anh bận quần cụt, chờ quần dài khô mới có cái mặc. Mẹ nhớ và thương Tùng, thiếu vài tháng là đủ hai năm, cầu trời cho con chân cứng đá mềm, để trở về với mẹ. Mẹ mủi lòng nhớ thằng con trai duy nhất, đang cày ruộng thì hò trâu mà xung phong nhập ngũ và ra đi không kịp về thăm mẹ.

Mẹ lên giường nằm chưa ấm chỗ thì có tiếng gọi, mẹ Chắt dậy mở cửa. Ai gọi tui đó, mẹ nói vọng ra sân, trời tối ngả bàn tay không thấy.

- Chúng con mẹ ạ

- Có việc chi mà khuya gió...

- Dạ có phải là quán Quân Dân không ạ...?

- Phải.

- Mẹ cho chúng con ngủ lại... Khiếp trời cả mưa cả gió.

Khi ánh sáng từ chiếc bật lửa tàu bò được bật sáng, mẹ Chắt nhờ châm vào chiếc đèn hoa kỳ đã cũ, và quả nhiên ngôi nhà ấm áp hơn.

Điều làm mẹ Chắt ngạc nhiên là thấy người con gái... Con gái cũng đi bộ đội sao. Cô còn trẻ chưa vượt qua tuổi 20, dong dỏng cao, da trắng, đôi mắt đen đẹp. Có lẽ họ đi từ xa đến, anh bộ đội thì còn sung sức, cô gái lấm tấm mồ hôi nên khi mẹ rót nước mời, cô cám ơn và uống ngon lành.

Anh bộ đội cao hơn cô một cái đầu, người khỏe mạnh, tóc dày đen, nét nổi trội là cái miệng có duyên, anh ta mang cái ba lô chật căng, lại khoanh bụng cái bao gạo, một cái xắc cốt da thêm khẩu súng lục, khi anh bỏ những thứ ấy xuống cái ghế băng, như trút gánh nặng, người anh như lớn cao một ít, cái áo xita vải dày ướt đẫm mồ hôi sau phía lưng. Ấy vậy mà anh không tỏ ra mệt nhọc, vui vẻ hỏi thăm mẹ Chắt thân tình. Lát sau anh ta mở ba lô đưa cho cô gái bộ áo quần, tấm vải đen dài dùng làm chăn đắp cho kẻ đi đường và bảo cô:

- Em đi thay áo quần mà nghỉ ngơi.

Anh đặt ba lô ruột tượng gạo lên sạp nứa, riêng khẩu súng lục thì không rời thân.

Nằm bên mẹ Chắt, cô gái thao thức khó ngủ, làm mẹ cũng mất ngủ theo, nên khi có tiếng gà mẹ và cô vùng dậy, cả hai mẹ con ngồi bên bếp lửa và cô hỏi chuyện làm quen. Khi nồi cơm đã sôi, mẹ nhờ cô bóc đậu phụng để rang làm muối bới cơm nắm cho ba anh đến trước đi đường.

Trời sáng dần, cô hỏi mẹ đường ra bờ sông, khi cô trở về đang phơi áo quần thì anh bộ đội trách yêu sao không gọi anh dậy cùng đi, anh cũng thay bộ quần áo lấm bụi đường trường. Ba anh bộ đội đến trước đang ăn cơm mời cô gái và anh bộ đội có súng lục. Họ thì thầm là cấp gì... C hay D...?, còn cô gái là gì thì họ nhìn nhau nghi ngại, em gái, đồng đội (y tá) chẳng hạn, hay vợ chưa cưới... Bây giờ họ giữ ý tứ để khi ra đường tha hồ mà tranh cãi không phân thắng thua.

Mấy ngày sau trời đẹp hẳn lên, nắng ấm mùa đông không những cây lá trẻ trung, xanh lại mà những cụ già ngày lạnh co ro hớn hở ra vườn. Khách của quán Quân Dân cũng chỉ anh bộ đội có súng lục cùng cô gái đến trong đêm, thành thử đến bữa ăn mẹ cùng ăn như một gia đình và cô gái đi ra thị trấn bên bờ sông mua được cá tươi, hến... bữa ăn tươi hơn. Dù họ mời ép mẹ Chắt cũng chỉ tròn ba bát.

- Các con ăn đi, mẹ ăn vậy là đủ no rồi, người già ăn no quá nặng bụng.

Khi đặt bát đũa xuống mâm, mẹ nhìn hai người. Ngày kia có chợ phiên cuối tháng, đông vui lắm, nếu còn ở lại đi chợ mà xem. Chợ họp về đêm đông người lắm.

Họ đã ở đến ngày thứ năm, anh không thể dùng dằng không đi, điều cần nói với bà mẹ thì chưa thể nói, họ đi trên đê La Giang, con đê chạy dài theo bờ sông, đã qua mùa lụt, nước trong vắt và những chiếc đò căng buồm từ dưới chợ Tràng lên họp chợ phiên tối nay nhộn nhịp. Những bè nứa dài như hạm đội kỳ lạ từ Phố Châu về, Ngàn Trươi xuống tấp vào ven sông, khói cơm chiều từ khum lá che tạm trên bè bóc lên giữa trời nước con sông La hai bên bờ từ Linh Cảm về lá dâu xanh tốt. Nếu chiếc cầu sắt Thọ Tường không bị giật mìn đổ gục chắn dòng thực hiện tiêu thổ kháng chiến, thì không ai nghĩ đến chiến tranh. Diên thấy vui khi đi bên Cao và nói những ý định khi anh trở về, hai người sum họp thành vợ thành chồng. Nhưng điều cần nói với mẹ trước lúc anh chia tay thì cả hai người chưa nói được. Cao không thể không nói để ngày kia ra đi. Chợ đã đông người, đèn hoa kỳ được thắp sáng như sao sa, không thiếu một thứ gì, từ cây lá làm nhà ở đến cái giường tre, đôi đũa, hàng ăn được bày bán ở nơi cao ráo và mùi thơm thức ăn kho nấu lơ lửng một vùng rộng cuốn hút những ai cần ăn.

Cao mua năm yến gạo và hỏi người đi xe đạp thồ có biết quán Quân Dân... Người thanh niên nhận lời chở giúp và xin chéo dù loang lổ làm ngụy trang.

Sáng dậy Cao gói ghém ba lô và khi ăn cơm anh mới thưa với mẹ Chắt xin gửi Diên, anh nói ngập ngừng, vừa nói vừa thăm dò.

Thật ra qua mấy đêm ngủ mẹ đã dò biết những gì ở người con gái, uẩn khúc ở quê nhà, cuộc kháng chiến đã chuyển qua giai đoạn mới, làng quê của Diên có những thay đổi mới, phân chia ruộng đất, thay đổi thành phần. Cha mẹ của Diên vốn có ruộng đất, có nhà ngói trâu mộng, ông biết tổ chức làm ăn trở nên giàu có bát ăn bát để. Diên được đi học, sau làm công tác Đoàn. Diên chơi thân với Hiền em ruột Cao, và Hiền là chiếc cầu cho hai người đến với nhau. Hiên đã biên thư nói rõ sự tình với anh trai, Cao gửi thư cho Hiền dặn Hiền gần gũi Diên và bảo Diên đừng làm điều gì không hay. Không được công tác thì vui vẻ ở nhà giúp đỡ công việc, thành phần nọ thành phần kia chỉ là sự quy định của con người của một thời, cái chính là từ mỗi con người dù ở thành phần nào thì cái nhân cách của anh mới quyết định. Trong một lá thư sau anh bảo Diên “ Chờ anh về”, một ngày gần đây thôi, anh về trước dự định khi có quyết định đề bạt và ra chiến trường. Diên đồng tình những gì Cao bàn định và ra đi trong đêm đến một nơi xa nhà gần ngày đường và Cao đã chờ cô ở đó.


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 20 Tháng Giêng, 2011, 10:37:19 am
(http://tapchisonghuong.com.vn/Image/Image/4-99-QuanQuanDan-NhatLam.jpg)

Vậy mà đã ba năm, ba năm hai mẹ con sống hẩm hút với nhau trong quán Quân Dân mà anh bộ đội nào ghé qua cũng lầm tưởng họ là mẹ con đúng nghĩa và trong số họ không ít anh âm thầm nuôi hy vọng. Có anh bồng bột rất bộ đội đặt vấn đề.

- Mẹ ơi, cho con cô Mộng Diên mẹ nhé...

 Mẹ Chắt cười, vừa vui vừa độ lượng.

- Con của mẹ đó, nhưng bây giờ mẹ đâu ép buộc, con hỏi nó, nó ừ thì gật. Nhưng theo mẹ thì con gái còn trẻ, chờ vài ba năm nước nhà độc lập có chi mà lo muộn.

Diên cười ngất, tự nhiên mình có tên mới: Mộng Diên. Bộ đội trẻ đến hồn nhiên, cũng chính họ đặt tên quán mẹ Chắt thành quán Quân Dân.

Quán mà chẳng có gì mua bán, gạo của bộ đội gửi mẹ thổi cơm giúp, từ thức ăn, củi lửa gói gọn trong lon rưởi sữa bò gạo. Từ ngày có Diên, mẹ như có thêm tay thêm chân, những việc củi, lửa, nước non Diên giúp mẹ, lại còn chăn nuôi trồng rau, bữa cơm thêm tươi, tình thương con của mẹ, nỗi nhớ người yêu của Diên đang chiến đấu nơi xa dồn vào bữa cho mỗi anh bộ đội ghé qua. Có đêm chỉ có hai mẹ con, mẹ nói:

- Khi Tùng về, mẹ mong có con dâu đẹp nết. Còn Cao về mẹ sẵn sàng cắt nửa mảnh vườn cho Cao và Diên được ở gần mẹ.

Rồi nửa tháng sau có đoàn thương binh từ mặt trận trở về, hai mẹ con đến chăm sóc theo đoàn thể hội Mẹ Chiến sĩ và đoàn thanh niên địa phương. Đêm về nhà lặng lẽ nỗi buồn nặng trĩu nghĩ đến người thân, không thư từ gửi về, không hề có tin tức tháng này qua năm nọ rồi năm sau, năm sau nữa lại đến.

Ngày lễ ngày tết một mẹ một con và hôm nào có anh bộ đội đi qua ghé vào, hai mẹ con vơi đi nỗi nhớ và đó là điều an ủi lớn nhất, niềm vui lớn nhất khi anh bộ đội ấy thông thạo tin tức, biết cách nói chuyện quân ta đang thắng trên mọi miền đất nước, con của mẹ nhất định sẽ trở về...

Và Tùng, anh bộ đội từ mặt trận Trung Lào đã trở về nguyên vẹn làm mẹ Chắt sung sướng ôm con mà khóc, nhìn Diên tràn đầy hy vọng.

- Con yên tâm, ngày một ngày hai thôi Cao nhất định về đây. Hai mẹ con ta với Tùng chuẩn bị những gì để đón.

Tùng ở nhà được một tháng, anh ra đi về đơn vị buổi sáng thì buổi chiều có hai người đến nhà giới thiệu với mẹ, họ là công an cần gặp Diên, họ chờ cho đến khi Diên trở về, nàng đau khổ chờ tin tức Cao, không lý do gì đất nước đã có hòa bình, anh Tùng đã trở về, biết bao người đã trở về, tại sao anh ấy... không có một mẩu tin. Diên đã khai hết những gì như sự việc vốn đã xảy năm ấy.

Cao đạp xe đi dọc con đường sắt hơn mười năm trước còn đầy đủ tà vẹt, đường ray. Bây giờ chỉ còn trơ sóng đường do người đi bộ đã mòn.

Anh đi như vậy 18 cây số lóc xóc đôi khi phải dùng chân xuống đất để tránh nguy hiểm.

Bây giờ anh đang đứng chờ đò bên bờ Bắc cầu sắt Thọ Tường, chiếc cầu khá dài oằn mình xuống lòng với sức nặng hàng ngàn tấn sắt thép, nước trong đến độ Cao nhìn thấy những thanh sắt dọc dưới làn nước sâu. Với con mắt của một vị chỉ huy tiểu đoàn, đã qua bao trận đánh Cao ước tính khối lượng mìn khi phá sập chiếc cầu này, bây giờ cần bắc lại thì bắt đầu từ đâu. Anh thấy vui và quên đi những ngày tháng quá nặng trĩu bởi mảnh đất, ngôi nhà ngói để chịu thành phần mà đáng lẽ sau nhiều năm trận mạc được trở về anh và đồng đội, ai đã chết thì đành một nhẽ, hy sinh vì Tổ Quốc... Ai còn sống thì công việc phải làm. Vậy mà mất đi những gì thật đáng tiếc. May nỗi oan của anh được một cán bộ hiểu biết tổ chức xác minh làm rõ cho anh. Ông đánh giá Cao là một cán bộ cấp tiểu đoàn bậc trưởng đầy triển vọng, cần được cử đi học hành chính quy hơn, chiến tranh là thảm họa của dân tộc chả ai muốn. Nhưng chiến tranh còn đè nặng lên chiến sĩ... và lúc nó xảy ra thì người thay thế lớp ông chỉ huy sư đoàn, quân khu là những cán bộ như Cao.

Đò qua được một nửa, niềm cháy bỏng gặp lại Diên, mẹ Chắt làm anh bồn chồn. Mẹ Chắt đã già thêm theo năm tháng. Còn Diên... Anh muốn có đôi hài vạn dặm như câu chuyện cổ tích để qua sông không cần con đò chậm chạp mỗi ngày chèo vài chuyến. Nhưng khốn nỗi ngoài chiếc xe đạp Super của Pháp thì ngôi sao vàng trên mũ là niềm thiêng liêng, anh còn có gì đáng giá, đôi giày vải mới nhận đi được vài tuần chỉ có giá đi chơi trên đường phố. Cao hăm hở đạp nhanh đến ngôi nhà đơn sơ mà một thời gọi là quán Quân Dân thì lạ thay vắng hoe như nhà vô chủ, anh bơ vơ chẳng biết làm gì, chẳng biết hỏi, ngoài hai người thân yêu anh nào quen ai ở đây.

Từ phía đường tàu, một cụ già đi tới, chả lẽ đó là mẹ Chắt, sao mẹ lại như vậy, một bà mẹ bốn năm anh đã gặp cùng ngồi ăn cơm nói chuyện...

- Con chào mẹ

- Anh hỏi ai?

- Dạ con hỏi... M...

- Cao đấy hử... Trời.

Nếu Cao không nhanh đến đỡ mẹ thì bà cụ đã khuỵu xuống.

- Mẹ làm sao vậy, thế cô ấy đi đâu...?

- Sao anh về muộn vậy, để hắn chờ đỏ con mắt.

Khi bóng chiều lụi nắng, mẹ Chắt mới nói xong những gì đã xảy ra. Tình yêu, tình thương Diên dâng lên, anh muốn làm cái gì đó mà chẳng biết làm gì. Mẹ Chắt khuyên anh chuyện đã vậy đừng nóng nảy. Khi đến trước đồn công an thị trấn vừa mới lợp lá gồi còn mới, mẹ vẫn chậm rãi; bình tĩnh nghe con.

Thấy anh xuất hiện Diên chỉ kêu lên:

- Anh Cao.

Anh nhào tới, Diên trong vòng tay anh. Mẹ Chắt ràn rụa nước mắt, người chiến sĩ trực đồn nhìn ba người lặng lẽ như nhìn lên sân khấu xem vở kịch đoạn kết.

Huế 12. 98
  N. L


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 20 Tháng Giêng, 2011, 02:14:11 pm
Đêm bơ vơ

KIỀU VƯỢNG


Đêm giữa thu. Hà Nội se lạnh. Sao chới với nhưng mây vẫn vũ làm nền trời như khô khốc, nhạt nhòa. Một hồi còi tàu rú dài như thả thêm vào đêm luồng khí lạnh. Quang nhìn đồng hồ sân ga dã quá mười hai giờ khuya.

Cả ngày nay, Quang phải làm một việc hệ trọng của đời người. Nói đúng hơn. Quang phải đóng một vai quan trọng trong lễ cưới của Nhạn, em gái mình. Nhạn tốt nghiệp đại học chưa được bao lâu thì kết hôn với một giáo sư trẻ, thầy dạy của cô. Chú em rể lại là con trai độc nhất của một vị Thứ trưởng có thừa quyền lực. Bởi thế, Nhạn được nhận công tác ở một trường phổ thông trung học giữa thành phố trước ngày cưới. Nhưng tất cả chuyện đó đối với Quang chỉ là vặt vãnh. Cái lớn nhất là anh đã mãn nguyện. Quang chỉ có một ước muốn mong sao cho đứa em gái duy nhất của mình được hạnh phúc. Tổ tiên, phúc đức thế nào mà dòng họ nghèo hèn nhà anh lại sinh ra một cô Nhạn xinh tươi, thông minh và nết na đến thế. Quang chỉ phân vân một điều là em gái mình sống quá vô tư. Vô tư nhiều lúc tới mức vô tâm.

Đối với Nhạn, cuộc đời này bất cứ cái gì cũng trong suốt, đẹp rực rỡ. Cái gì cũng đáng yêu và đáng say. Quang chỉ có một mong muốn là em gái mình được hạnh phúc và hôm nay đã đến.

Nhưng chính đêm nay, khi đứa em gái duy nhất của anh đang chứa chan hạnh phúc trong một biệt thự sang trọng thì cũng chính là đêm Quang thấy mình bơ vơ nhất trong suốt hai mươi bảy năm anh có mặt ở thế gian trần tục.

Chuyến tàu Thống Nhất rời ga Hà Nội vào lúc một giờ khuya. Hà Nội đang vùn vụt, loang loáng, vội vàng lùi lại phía sau. Quang cảm thấy tàu chạy quá chậm. Anh muốn nhảy khỏi đoàn tàu nặng nề để nhằm hướng Nam chạy thật nhanh bằng đôi chân của mình. Anh muốn lẩn trốn thật nhanh khỏi cái thành phố hào hoa, giàu sang và ồn ã này. Anh thề với lòng mình đây sẽ là đêm cuối cùng với Hà Nội. Anh đã thề thì anh sẽ giữ lời thề ấy.

Trong đầu óc u nặng của Quang chỉ còn chơi vơi bóng hình làng biển, nơi mẹ đẻ ra anh. Làng anh mang dáng một con thuyền nhỏ bị cạn lại vừa giống một chiếc lá bàng khô rộp trên bãi cát. Đêm nay, nơi ấy Quang chỉ còn một người thân duy nhất đó là người cha tội nghiệp. Người cha mà số phận luôn đun đẩy, quăng quật không một phút bình yên. Cha Quang tên là Cát nhưng ông phải mang thêm cái từ đệm là Đao. Cả làng cả xứ biển này nói đến Cát Đao thì ai cũng biết. Ông sống sờ sờ nhưng lại cứ như một huyền thoại cổ xưa. Nhiều kẻ vô công rồi nghề còn đem chuyện ông để thêm pha, bịa đặt đủ thứ hài hước làm vui.

Quả thật Cát Đao có một cuộc đời chìm nổi, cam go tới mức vừa huyền thoại lại vừa lạ lùng. Sắp vào tuổi sáu mươi nhưng cứ mỗi chiều tà, khi mặt trời chìm dần sau rặng tre làng mà ngày ấy vẫn chưa gặp tai họa nào ập đến thì ông biết mình chưa thể ăn ngon ngủ yên.

Còn đêm nay, trên con tàu già nua mệt nhọc lắc lư, Quang hình dung cha mình đang hết vào lại ra đường nhìn về phía chân trời phía Bắc. Người cha tội nghiệp của anh làm sao ngủ được trong căn lều cổng chợ đêm nay. Ông như thân gà trống nuôi con đằng đẵng suốt hơn hai chục năm trời chỉ mong có hôm nay. Ông còn mong gì hơn kia chứ. Ông đang đinh ninh hai đứa con đã trưởng thành, đàng hoàng, bề thế nhất làng nhất xã. Con Nhạn thì đành một nhẽ. Đàn bà tốt nghiệp đại học vừa ra trường đã có công ăn việc làm, chồng con đàng hoàng thế là ông mừng. Niềm hy vọng lớn nhất của ông là thằng Quang. Ông tin tuyệt đối con trai mình đã tốt nghiệp đại học bách khoa ra trường gần một năm nay, là kỹ sư gì đó ở một Công ty giàu có nhất tỉnh. Ông tin và ông mãn nguyện lắm, thật bõ công lăn lóc, tần tảo nuôi con. Chính từ lòng tin ấy mà hơn ba năm nay ông sống lặng lẽ, vui vẻ với cái nghề chẻ nan tre, đan rổ bán cho dân làng buôn cá từ biển lên chợ huyện. Căn nhà cũ cha mẹ để lại ở giữa làng ông bán lâu rồi. Hơn mười năm trước ông đã dựng cái lều bằng tranh tre ngay trước cổng chợ Đón. Bây giờ ông tin không lâu nữa thằng kỹ sư Quang nhà ông sẽ có biệt thự giữa thành phố, có vợ đẹp con khôn và sẽ đón ông lên. Ý nghĩ tốt đẹp ấy nâng vực ông sống thanh thản, tử tế và tốt bụng với tất cả mọi người.

Vợ Cát Đao tên là Đài. Thời xuân sắc, cô gái Đài đẹp nhất vùng mà bất cứ chàng trai nào trông thấy đều phải cắn răng thật chặt để nuốt khan nước miếng. Nhà Cát Đao và nhà cô Đài cách nhau một bờ dậu bằng mây do bố Đài trồng. Cây mây trồng ở đất cát vùng biển, có hơi nước mặn đẻ lan nhanh quá thể. Cứ sáng một ngày, hàng mây lại mọc thêm vô vàn đọt trắng. Rồi một lần bố Cát Đao đào một cái hào thật sâu dọc bờ mây bên mảnh vườn chó ỉa nhà mình cho mây khỏi đẻ lấn sang. Vài ngày sau, một trận mưa rào, đất cát lở làm hàng mây đổ sụp. Một trận ẩu đả xảy ra giữa hai nhà, tiếp đó là một trận đánh nhau sứt đầu mẻ trán, mối hận thù sinh ra từ đó. Hai nhà cách nhau một bờ mây nhưng hàng chục năm trời không nhìn mặt nhau. Bố mẹ đã thù nhau thì con cái cũng theo. Cô Đài và chàng Cát bằng tuổi. Cát học dở dang bỏ theo cha làm nghề chài lưới kiếm sống ngoài biển. Cát có một biệt tài là bơi lội như con rái cá.

Năm mười bốn tuổi, một trận giông tố đột ngột giữa biển. Dân làng chết gần trăm mạng, trong đó có người cha thân yêu của Cát. Cát Đao phải bơi bộ suốt hai ngày hai đêm ròng trên biển. Lần ấy Cát nhai gần hết chiếc quần lót vải nhuộm nâu của mình để quai hàm khỏi cứng lại mong giữ được sức mà bơi. Lần ấy, Cát được tàu hải quân cứu sống.

Đầu năm 1966, giặc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc dữ dội. Trai gái làng ông tranh nhau đi thanh niên cảm tử ở đoàn vận tải thuyền nan chống Mỹ để chèo thuyền chở đạn và gạo vào chiến trường Nam khu bốn. Cát Đao và Đài có mặt trong đoàn quân ấy. Đại đội của họ có một trăm chiếc thuyền nan và hơn hai trăm con người mà chưa mấy ai qua tuổi hai mươi. Chiến tranh. Thuyền và người cứ hao mòn dần. Không ngày nào họ không phải đào hố huyệt dọc hai triền sông để chôn cất đồng đội rồi lại vội vàng ra đi. Bom đạn mù mịt. Thỉnh thoảng họ lại phải dừng thuyền vớt xác đồng đội vô danh vừa trôi nổi trương lên từ dòng sông ấy. Sống chết là thế, đau thương là thế nhưng Cát và Đài cùng ngõ làng vẫn không chào hỏi nhau suốt hai năm trời đằng đẵng.



Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 20 Tháng Giêng, 2011, 02:16:32 pm
Đến một chiều đông, đó là chiều ngày 20 tháng một ta năm 1968. Cô Hậu đi cùng thuyền với Đài bị thương phải nằm lại một hiệu ảnh bên đường. Mình Đài chèo một thuyền ba tấn gạo vượt kênh Son ra cửa Lạch Cờn Nghệ An. Đài phát hiện thuyền mình bị mảnh bom găm thủng nan nứa. Nước rò vào rất nhanh. Đài gác mái chèo nhảy xuống lòng khoang, dùng khăn mặt nút lỗ thủng rồi vội vàng tát nước. Mải tát nước, chiếc thuyền của cô bị gió đẩy ra sát cửa biển Lạch Cờn. Hoảng hốt, Đài cầm sào chống nhưng nước sâu quá, cô cạy bát mái chèo nhưng không thấm vào đâu với sức nước ròng và gió lớn. Đài nhận ra, gió Tây Nam quá mạnh. Chỉ chốc lát thôi cả cô và con thuyền nhỏ sẽ làm mồi cho cá dưới đại dương. Đài gắng hết sức nhưng càng gắng thuyền càng dạt ra biển rất nhanh. Giữa lúc vô cùng tuyệt vọng, Đài nghe tiếng người hét lẫn trong tiếng gió rít:

- Ghìm thật chắc chèo. Không được buông lái...

Bơi theo cứu thuyền lại chính là Cát người hàng xóm hận thù của cô. Không biết trời đất run rủi thế nào, Cát phát hiện có một chiếc thuyền đang gặp nạn. Cát hét người bạn cùng đi:

- Có thuyền bị nạn dạt ra biển, mày cố chèo nhanh đuổi đoàn vào tuyến để khỏi mắc cạn. Tao phải ra cứu...

Chỉ nói vậy, Cát nhảy xuống dòng nước lạnh bơi cứu thuyền trong gió rét cuồng loạn.

Đài nhận ra có người cứu mình. Cô vứt sợi dây dừa buộc sẵn một đầu vào cọc chèo xuống sau thuyền. Cát túm dây vừa bơi vừa kéo lê chiếc thuyền vào cửa lạch. Mãi khi Đài nhận ra người cứu mình chính là Cát thì cô mới òa khóc. Cô khóc như chưa bao giờ được khóc nhưng Cát không nghe vì sóng to gió lớn và Cát đang dồn hết phần sức lực còn lại để kéo thuyền. Kéo được thuyền vào được đầu kênh Cát Vàng thì họ gặp nước ròng rất nhanh, mặt sông bỗng dưng cạn rặc. Trời tối mịt tối mù. Đài kéo tay Cát khỏi mặt sông bùn loãng lên thuyền. Toàn thân Cát giá cóng. Đài lấy chiếc buồm nâu lau người cho Cát. Đài chui vào khoang lật các bì gạo ra hai bên thành một cái rãnh sâu giống hệt như một hố huyệt của chiếc quan tài. Đài lôi Cát dúi vào quan tài ấy cũng chỉ mong hơi nóng của gạo phả ra làm Cát khỏi chết cóng. Đài đắp chiếc chăn chiên, phủ cả chiếc buồm nâu lên người Cát xong, cô chui ra ngồi ở sạp luồng khoang lái. Biển và trời đen đặc chùng chiềng, sóng trắng lân tinh. Gió rít lên từng cơn như cố xô đẩy những hàng sú vẹt ngàn đời ngẩn ngơ chịu rét. Gió đạp vào vách núi ven sông bật lên những tiếng hú dài rùng rợn. Tiếng chim quái ác trong hang núi khắc khoải thả xuống hai tiếng “ cho chừa- cho chừa...”. Bỗng Đài nhận ra một đốm lử lập lòe trên hông núi Quỳnh Lập. Đài hiểu đó là nơi sơ tán những người bị bệnh phong hủi của bệnh viện.

Trời càng về khuya càng giá cóng. Sương như có thể bốc được trên tay. Cô đưa tay vuốt tóc mà ngỡ đang chạm vào mặt chảo mỡ đặc. Lại một tiếng chim “ cho chừa”. Lại một tiếng gió hú từ vách đá. Biển và trời thành một khối đặc. Rét cóng và sợ hãi. Đài chui vào khoang chất gạo ngồi cạnh Cát. Cát tỉnh dậy từ lâu và hiểu hết nên nhỏ nhẹ:

- Đài nằm xuống cho đỡ cóng. Đói rét, khổ ải, sống chết tính từng giây chẳng lẽ còn hận thù nhau mãi...

Đài òa khóc. Cô nấc lên nghe giống tiếng nấc của gió gào. Cô cảm thấy lồng ngực mình sắp vỡ tung ra. Nước mắt cô nóng hổi trên mặt chàng trai Cát. Họ úp mặt vào nhau. Họ quấn chắc vào nhau như để đỡ rét. Họ kệ cho con thuyền mắc cạn cứ run lên bần bật và hình như đang lún dần xuống mặt sông lênh loáng bùn loãng. Đó là đêm đầu tiên, lần đầu tiên hai con người biết mùi thơm của da thịt con người. Đó cũng là lần đầu tiên hai thể xác, hai linh hồn được hòa quyện nhau và họ nhận ra sự mới lạ sung sướng của kiếp làm người.

Đoàn thuyền của họ vẫn nặng hàng vượt sông Lam, vào sông La, lên tận sông Ngàn Sâu, Ngàn Phố, Ngàn Trớc. Ngược gió và nước. Chiến tranh khốc liệt hơn lên. Họ lại vượt hàng trăm hải lý từ cửa biển Lạch Hội Nghệ An vào Đồng Hới, vào sông Nhật Lệ Quảng Bình. Thuyền họ lại ngược sông Kiến Giang lên tận vùng Thác Tre, Xuân Bồ trao hàng sang những chiếc xe thồ chở tiếp vào đường mòn Hồ Chí Minh. Bao cay cực, chia ly họ quên hết. Họ chỉ nhớ có chiến tranh và kỷ niệm. Kỷ niệm hình như nhiều hơn số bom đạn kẻ thù dội xuống mà họ từng hứng chịu trên đường xa sông vắng.

Rồi chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ kết thúc. Chàng trai Cát và cô gái Đài lại trở về cái làng biển mang dáng một con thuyền mắc cạn mà họ từng gặp. Làng biển của họ cũng xơ xác vì bom đạn. Bờ mây ngăn cách hai nhà cũng bị bom Mỹ cày tan tác. Họ cưới nhau ngày 16- 10- 1972. Đám cưới Cát và Đài chỉ có nhiều trầu cau và vô vàn những cái ống điếu thuốc lào. Quà mừng cưới là những mủng gạo tẻ, những rá gạo nếp. Nhiều ông già xách từng xâu cá quần dài vắt vai từ ngoài biển về qua sân nhà Cát vứt vào mừng đám cưới. Nhiều bà già mắt nhá nhem lần trong cạp váy nâu lấy ra mấy đồng bạc vo tròn như cái chỏm cau. Rồi họ sinh con trai đầu đặt tên là Quang. Quang được mười ba tháng tuổi thì họ lại sinh tiếp cô gái Nhạn xinh tươi để đêm nay đang tràn trề hạnh phúc với thầy giáo trẻ ở thủ đô.

Năm Nhạn lên bốn, một thảm họa ập đến gia đình họ. Đó là một trưa hè nắng quái. Đài nhốt hai đứa con nhỏ đi mua cá ngoài biển về chợ Đón bán. Về đến cổng chợ Đài bị cảm gục xuống khi đòn gánh còn đè trên lưng. Dân làng vội đưa đến trạm xá nhưng không thể nào cứu sống được.

Hai ngày sau, Cát từ ngoài khơi trở về nhận tin vợ chết. Cát ôm hai đứa con chạy ra mộ Đài úp mặt lên đống cát giữa đồng. Những ngày sau Cát khắc tên vợ vào cái bai chèo dựng cạnh bàn thờ và thề:

- Cả đời tôi chỉ có mình Đài. Tôi thề sẽ nuôi con một mình cho chúng nên người...

Cát bỏ nghề biển để chạy chợ nuôi con. Ông lam lũ và cam phận. Trời xa lắm và đất thì lỳ lợm lắm.

Năm Quang mười sáu tuổi ông Cát bán ngôi nhà giữa làng lấy tiền nuôi con ăn học. Ông ra dựng một cái lều ngay giữa cổng chợ Đón, giữa nơi vợ ông quỵ xuống vì cảm nắng. Ông mở quán tiết canh lòng lợn. Mấy năm đầu làm ăn khấm khá, khách dồn hết cả về quán của ông. Dân chài lưới ngoài khơi vào đến đất liền thế nào cũng rủ nhau vào quán ông Cát. Có tiền thì trả. Chưa có tiền thì chịu. Lâu nữa thì xách cá về đổi trừ nợ. Phàm ở đời khi đói khổ thì họ khinh. Lúc kiếm được miếng ăn họ lại dèm pha ghen ghét. Rồi công an, thuế vụ trong xã đến hạch họe, ăn không chịu trả tiền. Nhiều hôm ăn không trả lại còn hạch sách nữa. Đến một chiều như không còn chịu đựng nổi, ông Cát đòi tiền ra mặt cánh thuế vụ. Họ dọa sẽ đưa người về bắt ông. Điên tiết vì quá chén ông rút con dao bầu chọc tiết lợn để sẵn lùa mấy chàng thuế vụ chạy tán loạn. Ông công khai tuyên bố giữa chợ:

- Vợ chồng tao đi chèo thuyền chở gạo đánh Mỹ, thừa sống thiếu chết trở về. Nay vợ chết, con dại mở cái quán kiếm ăn. Đứa nào lớ xớ định quy t tao chém. Tao chém hết rồi mới chém tao sau.

Cái tên đệm Cát Đao có từ hôm đó (ở vùng biển con dao thì gọi là đao mà). Cũng từ đó cánh thuế má phải lờ dần và ông giữ lời thề bên bàn thờ vợ sống một mình thật để nuôi con. Năm Quang và Nhạn lên cấp hai thì đều học giỏi nhất vùng. Năm nào cũng được đi thi học sinh giỏi ở huyện, ở tỉnh. Hết lớp mười hai Quang đạt giải nhì quốc gia về môn toán, được vào thẳng đại học bách khoa. Quang học hết năm thứ nhất thì Nhạn cũng đoạt giải ba môn văn trong kỳ thi tuyển quốc gia và vào thẳng đại học sư phạm 1 Hà Nội. Ông Cát trần lưng xoay sở ở quán tiết canh lòng lợn để nuôi hai đứa con ăn học giữa thủ đô. Nhờ trời quán ông ngày một khấm khá. Không chỉ đủ nuôi con mà có của ăn của để. Đang lúc ăn nên làm ra thì một trận ốm ập đến quật ngã Cát Đao. Ông sốt liên miên và ho khắc khoải, cầm canh hàng tháng vì bệnh cảm hàn. Những kẻ lâu nay cùng bán hàng ganh ghét Cát Đao đông khách liền tung tin ông bị ho lao. Họ lại còn bảo lao hang lao hốc gì đó tận trong gan trong phổi. Những người từng ăn tiết canh lòng lợn ở quán Cát Đao đều lo sợ mình bị lây bệnh. Vùng nhà quê nghe đến bệnh ho lao thì sợ lắm.

Trận ốm cảm hàn qua đi Cát Đao mở lại quán tiết canh lòng lợn nhưng hai tháng ròng, không một ai lai vãng đến. Nhiều người trước đây rất thân thiết nay cũng lảng tránh.


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 20 Tháng Giêng, 2011, 02:17:22 pm
Một chiều, buồn và chán. Cát Đao ngồi uống rượu một mình. Ông bê cả cái bình rượu bằng sành lên uống ừng ực. Cát Đao càng uống càng thấy rượu nhạt thếch. Hình như rượu ông uống không chảy vào họng mà cứ trào ngược lên thành hai dòng nước mắt chảy tong tong xuống cái vỏ hũ sành. Ông uống, ông tuyệt vọng. Lấy gì nuôi hai đứa con ăn học đây. Ông đã thề và ông phải giữ trọn lời thề trước hương hồn người vợ. Trong lúc quá say và tuyệt vọng, Cát Đao lia chai xăng đầy lên mái tranh và châm lửa đốt quán. Cái quán ở cổng chợ bốc cháy, bà con xúm đến dập lửa nhưng không kịp. Người quanh chợ, người trong làng thấy rõ giữa lúc lửa than còn đỏ rực Cát Đao vẫn quỳ bên đống tro than để xin hương hồn vợ tha thứ. Dân làng còn thấy Cát Đao bò vào bê bát hương thờ vợ ra ngoài rồi gục đầu xuống đôi vai không ngớt rung lên.

Ngay sáng hôm sau, dân trong làng người vác cho cây tre, kẻ đội mấy bó tranh, người cầm nắm lạt đến dựng lại quán cho Cát Đao. Cái quán mới lại đẹp hơn, sang hơn và Cát Đao cũng ân hận hơn vì hành động vô thức của mình. Cát Đao thấy con người tốt quá, thương yêu nhau quá. Người nhà quê, có ganh ghét nhau nhưng khi hoạn nạn họ xúm ngay lại để giúp nhau. Họ không như cánh dở nhà quê dở thị thành, cứ ganh ghét nhau là viết đơn nặc danh, đặt đủ điều xấu xa bêu riếu lẫn nhau cho hả giận.

Cũng từ đó Cát Đao thay đổi hẳn tính nết. Ông thấy cả cái làng này ai cũng đáng quý đáng yêu. Hàng tháng ròng không ai thấy Cát Đao cười. Ông đi mua tre về chẻ nan đan rổ, nức bằng những sợi mây bán cho dân buôn cá từ biển lên chợ huyện.

Hai tháng liền, không thấy bố gửi tiền, linh tính như mách Quang có gì không ổn ở nhà. Anh nhảy tàu về và hiểu hết mọi sự. Hai cha con ôm nhau khóc. Quang hứa sẽ vừa học vừa làm thêm nuôi em để đỡ dần cho bố.

Đoàn tàu phanh kít lại, Quang đập đầu vào thành ghế phía trước và anh như sực tỉnh. Đây mới là ga Phủ Lý. Cảnh nhộn nhịp lên xuống. Tiếng người ngái ngủ rao bán hàng đêm không làm Quang chú ý. Con tàu lại tiếp tục nghiền bánh sắt xuống đường ray. Quang lại cảm thấy mình bơ vơ nhất trần gian. Chắc đêm nay bố không ngủ được. Bố đang nóng lòng chờ mình về kể lại đám cưới của em. Anh nghĩ đến những năm tháng bươn chải giữa thủ đô. Từ ngày bố gặp tai họa một mình anh vừa học vừa làm thuê ở một quán ăn lớn để có tiền nuôi em. Anh chỉ xin chủ quán là không bao giờ xuất hiện nơi khách đang ăn. Anh cấm em gái không được đến ký túc xá của trường Bách khoa. Anh xin bạn bè cùng phòng không hở tin anh đang làm thuê lấy tiền ăn học và nuôi em. Kỳ nghỉ hè tiếp anh nhờ bạn bè xin việc cho Nhạn làm gia sư cốt để Nhạn khỏi biết tin nhà. Nhạn thì vô tâm lắm. Cứ ngày mùng mười hàng tháng anh trai đem tiền đến cho mình là vui. Mỗi lần gặp em gái, Quang không hề lộ một thoáng phân vân. Anh tỏ ra vui vẻ hào phóng mỗi lần gặp Nhạn và bạn bè của nó.

Nhưng sự đời cái gì cũng có giới hạn. Vừa học vừa làm thuê giữa đất khách quê người thì nuôi thân đã khó huống hồ gì nuôi em. Nhiều hôm Quang phải nhổ lông, làm lòng hơn sáu chục con gà vịt ngan ngỗng cho tới thấu sáng. Tiền kiếm mỗi ngày một khó nên vào năm học thứ ba được tròn một tháng thì anh bỏ học để đi làm nuôi Nhạn. Khóa bách khoa vừa mãn, Quang vẫn bình yên vì Nhạn và bố không biết tin mình bỏ học. Quang đến ký túc xá trường Sư phạm bảo Nhạn:

- Anh nhờ được người xin việc ở một Công ty điện tử lớn nhất tỉnh rồi. Ngày mai anh về, sẽ gửi tiền đều hàng tháng cho em. Em cố học giỏi năm cuối cùng để dễ xin việc...

Quang xa Hà Nội gần một năm rồi nhưng có nghề ngỗng gì đâu. Thân cô thế cô, lại không một đồng tiền dính túi thì xin việc sao nổi ở thời buổi này. Học hành dở dang. Trở về quê thì có khác gì cầm que sắt chọc vào tim bố. Anh dồn góp mua một cái xe Phượng Hoàng cũ và một đôi quang gánh. Cơ quan và nơi công tác của anh gần một năm nay là cái hè quá rộng của Bưu điện tỉnh. Anh lẫn trong cái chợ người vô tận. Ai thuê việc gì dù đắt rẻ cũng làm đến nơi đến chốn. Quang không bon chen, không to tiếng. Anh kết thân với cánh ba gác xích lô và cả những anh chàng xe ôm ngổ ngáo. Anh có một kỷ luật nghiêm ngặt là tối thứ bảy nào cũng đạp xe về quê với bố. Tuần thì mua gói bột ngọt, tuần sau lại mua cái chậu thau bằng nhựa. Cát Đao tin con trai tuyệt đối. Những tối bên bố Quang thường vẽ ra bao tương lai tươi sáng. Bố Quang vui và càng sống tốt với mọi người. Ông bắt đầu tin vào số phận. Bõ công ông nuôi con một mình hơn hai chục năm trời. Con trai ông nay là kỹ sư, lại là kỹ sư điện tử nữa. Con gái ông là cô giáo. Ông im lặng chờ ngày mình sung sướng, mở mày mở mặt với dân làng.

Chuyến tàu lại gồng lên như lôi Quang về với thực tại. Sáng nay anh sẽ về kể với bố đám cưới sang trọng của em gái mình. Và ngày kia anh lại lẩn vào cái chợ người lam lũ. Lại chuyện trò với cánh ba gác xe ôm. Lại gặp những ông chủ tốt bụng, ngoài tiền công còn cho anh cả một bữa ăn trưa. Rồi tối tối, sau mấy bát cơm bình dân chắc bụng anh lại về với cái hè quá rộng ở cửa Bưu điện tỉnh. Rồi sáng hôm sau, trong lúc nhao nhao chờ việc anh lại gặp những ông bụng phệ bước ra từ những chiếc ô tô sang trọng vào nhận những khoản tiền quá lớn của con cháu từ nước ngoài gửi về. Anh nhớ cả những bà chạy tao tác vào điện khẩn cho con là bố say rượu vừa bị tai nạn giao thông. Anh nhớ cả câu chuyện mấy cô quét rác đêm khuya trên đại lộ khoe với nhau rằng:

- Chồng tao khác chồng mày. Chồng tao không nghiện chè nghiện rượu, chỉ thỉnh thoảng nghiện đánh phỏm thôi.

Anh ước gì mình là nhà văn để viết một thiên phóng sự mang tên “ Chuyện ở sân Bưu điện tỉnh”.

Một luồng gió lạnh thổi qua cửa sổ làm Quang bàng hoàng, anh lẩm nhẩm:... Sao lại có một đêm bơ vơ đến thế này. Bỏ học đi làm thuê nuôi em, nay em đã đi lấy chồng. Bố thì đang tin con trai mình thành đạt. Ngày mai nên về đâu. Trái đất đêm nay có ai bơ vơ như mình không.

Chỉ có tiếng gió rít qua cửa sổ và tiếng bánh sắt con tàu nghiến kèn kẹt xuống đường ray.

Đúng tám ngày sau cái đêm dự đám cưới em gái trở về Quang đã gặp một biến cố.

Sáng hôm ấy trời tháng Tám nhưng nắng hanh. Một ông giáo già nghỉ hưu ở sát hồ ga chuyên làm cây cảnh đã gặp Quang. Ông thuê Quang cứ lặn xuống hồ vục một thúng bùn đội lên đổ vào vườn thì ông trả ba trăm đồng bạc. Tính Quang thì ai thuê mình dù đắt rẻ khó khăn cũng làm đến nơi đến chốn. Ông còn bảo Quang:

- Cháu biết không, cái loại bùn hoa dưới hồ ga lâu năm, cứ phơi khô đập nhỏ bón cây cảnh thì không có một loại phân vi sinh nào bằng.

Buổi sáng ấy Quang đã lặn hụp bốc từ lòng hồ lên được tám mươi thúng bùn thì trời đã quá trưa. Có điều hồ ga là nơi phân rác cả thành phố dồn lại lâu năm. Cỏ lia thia và rong rêu phủ kín. Cái cỏ lia thia quái dị đã cứa vào da thịt Quang hàng trăm vết xước. Từ những cái vết rỉ máu ấy gặp nước tù đọng lâu ngày làm da thịt anh ngứa ngáy và sưng tấy lên. Quang tắm xong, anh thấy toàn thân như bị ai xát ớt và muối, nóng đến khủng khiếp. Anh nhận hai mươi bốn ngàn đồng nhưng không có tiền lẻ, ông chủ đã đưa năm tờ bạc năm ngàn mà không đòi lại chỗ tiền thừa. Đó là sáng đầu tiên sau gần một năm làm thuê Quang kiếm được nhiều tiền nhất. Hai mươi lăm ngàn chỉ trong một buổi sáng.

Quang vào quán, ăn một tô cơm kèm theo cá mặn và uống hai cốc rượu đầy rồi đạp xe về sân Bưu điện tỉnh. Anh gối đầu lên chiếc đòn gánh để ngủ như thường lệ, khi nào khách gọi thì dậy đi làm. Tự nhiên anh thấy toàn thân nóng rực như lên cơn sốt. Đúng là sốt thật. Váng vất, co giật, đau đớn rồi lại lịm đi, trong mơ màng Quang thấy bố cười nhìn anh đầy mãn nguyện. Thấy cả em gái đang khoác tay người chồng mới cưới đi thập thững trong công viên sang trọng. Và cuối cùng anh đã mơ gặp được mẹ Đài. Mẹ Đài như trẻ ra, mặc một bộ quần áo đen, trùm khăn đen như để giấu đôi mắt u buồn. Mẹ Đài khẽ lắc đầu rồi nhìn anh chằm chằm và đưa tay vuốt mắt anh đến ba bốn lượt. Quang muốn cố quằn quại nâng đôi tay thật cao để bám được vào cổ mẹ như xa xưa nhưng không được.

Ngay chiều hôm ấy, các nhân viên Bưu điện tỉnh và cả cái chợ người nhao nhác, ồn ã vì xác chết đột ngột của một kẻ làm thuê.

Trên mộ anh, tấm bia bằng đá hoa cương em gái anh khắc dòng chữ: Chỉ có tình ruột thịt mới có sự hy sinh thầm lặng đến vậy, ơi anh Quang!

Đầu Xuân 1999
K.V


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 20 Tháng Giêng, 2011, 02:46:15 pm
Gió qua đồng chó ngáp

NHẬT HÀ


Lần đầu về thăm Đồng Tháp Mười, thú thật, tôi thấy có nhiều điều rất lạ, từ mảnh đất, sông nước, cây cối, chim muông tới các địa danh và nhất là con người.

Chiếc xuỗng gắn máy đuôi tôm chở chúng tôi băng băng xé sóng trên dòng Vàm Cỏ Tây xanh biêng biếc, lấp loáng mây trời và in bóng hàng tràm gió thướt tha, huyền ảo, lung linh. Xuồng chạy độ nửa giờ thì quẹo vô con kinh ngầu đỏ phù sa.

Hai bên bờ kênh, xanh um những rặng đu đủ, trái như đàn heo núc ních treo chi chít suốt từ thân lên ngọn; những hàng chuối già ngả nghiêng bạt gió, quẫy có tới hàng hai ba chục nải, trái to như ngón tay ông Hộ Pháp... Thú vị nhất là chim. Chim bay hàng đàn hàng lũ, nhiều con to bằng vốc tay bình thản vô tư nhởn nhơ khắp trên bờ, dưới nước mò bắt cá tôm. Thấy tiếng động lạ chúng lập tức bay vù lên trời, kêu vang loạn xạ. Nào là cồng cộc, cốc đen, giang sen, bồ nông, cò trắng, cò bợ, cò ma...

Năm Đức, cán bộ phòng văn hóa hướng dẫn đoàn chúng tôi đi thực tế, kiêm luôn tài  công xuồng máy. Anh  rất xứng đáng là một thổ công, đồng thời là một nhà động vật học có tầm cỡ. Chúng tôi hỏi gì anh đều trả lời rất rành rẽ, rất say sưa!

Nhìn thấy một đôi chim rất to, mỗi con nặng cỡ năm sáu kilô và khi thấy động chúng phải chạy lấy đà như máy bay tới cả chục mét rồi mới giang cánh bay lên, kêu quác quác, nhà thơ nữ Ánh Tuyết liền hỏi:

- Anh Năm ơi, chim gì mà bự tổ chàng vậy?

Năm Đức nở nụ cười láu lỉnh trên khuôn mặt rám nắng đáp:

- Chim "già đẫy" đó, loài chim hay bắt cá tôm bên bờ nước. Chà, lâu lắm rồi mới lại thấy chim này bay về, quả là đất lành chim đậu! Một con này mà mần thịt, xé phay, trộn gỏi... mười thằng nhậu cứ là... quắc cần câu!

Ánh Tuyết nhếch mép cười tỏ vẻ khinh khi cánh đàn ông chúng tôi nghe thấy nhậu là sáng mắt, sáng lòng.

Tôi quan tâm nhiều tới đất đai. Nhìn hai bên bờ ven lòng kênh thấy đất trắng xóa, tôi hỏi, Năm Đức hào hứng trả lời:

- Đây là loại trầm tích Halogen, thường kêu là đất phù sa mới, thuộc vùng đất thấp, thấp hơn mặt biển. Thành phần chủ yếu là đất sét chứa nhiều sắt nhôm rồi đến cát vàng và bùn đen, kiếm cả ngày không thấy một hòn sỏi hay hòn cuội. Đất này phải thau chua, rửa mặn mới làm lúa được. Trung ương đào cho con kinh mới này, dẫn nước ngọt từ kênh Hồng Ngự vô đó. Ngày xưa, đất này chỉ có lúa ma. Đồng đất này tên là "cánh đồng Chó Ngáp" mà anh.

- Cái tên "chó ngáp" nghe kỳ kỳ, chắc là có sự tích gì chăng, anh Năm?

Hoàng Đô liền hỏi.

- Có chớ... nhưng mà thôi, tới xã, hỏi ông Ba Long kể cho nghe.

- Thế cái tên Đồng Tháp Mười sự tích ra sao - tôi hỏi.

- Vầy nè... ngày xửa, ngày xưa dân miền Trung dạt vô đây sanh cơ, lập nghiệp, khai khẩn đất hoang theo lệnh của triều đình nhà Nguyễn. Họ đào thấy mấy cái tháp bằng gốm đổ nát nằm lẫn với sình. Đếm đi đếm lại cái nào cao nhất cũng chỉ đến mười tầng, vậy là họ kêu luôn khu này là Đồng Tháp Mười. Mấy ông già sống cách nay hai ba trăm năm thế mà khôn, thấy chi kêu nấy! Trên Sài Gòn có ngã ba Chú Ía, chắc là cha nào ngồi ỉa, các ông già nhìn thấy, đặt tên luôn, rồi sau mới kêu chệnh ra cho coi mòi văn minh, lịch sự.

Bọn tôi phì cười, Ánh Tuyết thì cười ngặt nghẽo, mặt đỏ tía. Nắng mỗi lúc một chói chang. Mặt trời đã lên ngang đỉnh đầu, không khí nóng lên hầm hập đến nỗi Năm Đức phải cởi phăng áo quãng ra sàn phơi ra bộ ngực chắc lẵn, đen đúa.

- Chừng mấy chục phút nữa tới xã biên giới Bình Phong, hả chú Năm?

Tôi lại nôn nóng hỏi.

- Thì cứ yên tâm đi cha, chi mà nôn dữ vậy? Làm văn chương phải đi như vậy mới có cái mà viết chớ? Cứ ở thành phố, đi nhà hàng bia ôm hoặc o bế bà xã, có mà... - Năm Đức nói rồi nháy mắt với Ánh Tuyết - kỳ này nữ thi sĩ có chùm thơ bất tuyệt là cái chắc!

Ánh Tuyết nở nụ cười rất duyên cho hằn in hai lúm đồng tiền. Năm Đức lại ồn ã nói:-Ôi thằng tình nguyện chết chìm trong hai lún đồng tiền của em đó, Ánh Tuyết à!

- Thôi đi cha, tán vừa phải thôi nha. Người ta gái một con rồi đó - Hoàng Đô vội xen vô - nhưng mà phải công nhận gái một con trông mòn con mắt, anh Năm nhỉ?

Ánh Tuyết đám vô lưng Hoàng Đô thùm thụp. Tôi nói:

- Kể ra có chú Năm tếu vậy mà vui, đỡ ngán đường xa, nắng nóng.

- Nhằm nhò gì, mấy cha chưa gặp ông Ba Long đó, bá láp bá xàm hết cỡ... Ông nhậu hết mình mà làm bí thư xã cũng hết chỗ chê! Mấy lần Huyện định rút ông lên, ông hổng chịu bảo: "Tôi xa dân không được, xa cánh đồng Chó Ngáp là không chịu nổi!". Vậy đó, chưa thấy ai kỳ cục như ông làm quan to hổng chịu, tối ngày bám trụ ở cái vùng đất giáp biên này, ghê thâý mồ!

Tôi còn đang ngẫm nghĩ về lời Năm Đức thì nhìn thấy từ xa một cây cầu khỉ bắc ngang dòng kênh và lá cờ đỏ sao vàng tung bay phất phới trên mấy nóc nhà phibrô xam xám.

Và hình như Năm Đức đã phôn lên từ trước nên tôi thấy có gần chục anh chị em  đứng lố nhố nơi cửa trụ sở chờ đón chúng tôi. Tôi nhảy cò lên bờ, cúi đầu chào mọi người

Một ông chừng ngoài năm chục tuổi, dáng quắc thước, cặp mắt sáng, vận quần âu, áo sơ mi trắng, đầu đội nón nỉ tiến lên, xiết chặt tay tôi, rồi nói oang oang:

- Xuồng ghe chi chạy như rùa bò vậy hả, thằng Năm? Tao biểu mấy đứa làm đồ nhậu cá lóc nướng trui, giờ nguội ngơ!

- Dạ, thưa chú Ba và mấy anh - Năm Đức đang lui cui, từ xuồng nói lên - con nói nhà dân sáu giờ cho mượn xuồng, mà nó còn chở rau ra chợ, phải chờ hoài hơn tiếng sau. Rõ là "Long An trung dũng, kiên cường, toàn dân đánh giặc mượn xuồng không cho"

Mọi người phá lên cười trong cái gió lồng lộng từ phía đông thổi tới. Nghe hai tiếng "chú Ba", tôi hiểu rằng vậy là đã gặp anh Ba Long, con người huyền thoại!

Sau gần nửa giờ làm thủ tục thì tiệc nhậu bắt đầu. Cả chục người ngồi quây quần quanh chiếc bàn tròn, la liệt đồ ăn.

Anh Ba Long trịnh trọng đứng lên khai mạc:

- Bữa nay, xã ta được vinh dự đón tiếp các nhà văn, nhà thơ. Nào, ta nâng ly chúc sức khỏe các đồng chí... vừa nhậu lai rai ta vừa tranh thủ làm việc nhà, cần phỏng vấn các đồng chí cứ tự nhiên nha?

Chúng tôi cùng đứng lên cụng ly lanh canh. Ba Long cầm chung rượu, uống một nửa rồi đưa qua tôi, người lớn tuổi nhất trong đoàn.


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 20 Tháng Giêng, 2011, 02:47:54 pm
Chiếc chung được xoay một vòng, anh Ba cuốn cá lóc, rau vô bánh tráng, chấm mắm nêm, nhai ngon lành rồi cười ha hả, anh nói:

- Tao đố mấy cha biết vì sao tao có tên Ba Long.?

- Sao mà biết được chú Ba, mỗi người đều có bí mật của riêng mình, Bao Công đã nói vậy chú - Ánh Tuyết nhanh nhẩu đấp.

- Chà, con này giỏi, nhớ "giai" đó. Bao Thanh Thiên mặt đen xì mà xử án hết chỗ chê! - Ba Long cầm ly rượu uống cái "trút", rồi khà lên và tiếp - ngày má tao đang mang bầu tao thì ông già tao ra đồng, má tao khóc thảm thiết: "Anh Bẩy ơi, anh mới để cho em được ba lon bắp... mà anh đã bỏ má con em anh đi... đau xót lòng em biết bao!"

Mọi người rộ lên, Ánh Tuyết mặt đực ra như ngỗng ỉa, tôi phải ghé tai giải thích, nghe ra, nàng cười như nắc nẻ.

Anh Ba khoát tay cho mọi người trật tự, rồi lại nói:

- Vậy là khi sanh ra tao, má tao đặt tên luôn là Ba Lon, tới khi đi bộ đội, tao phải hối lộ thằng trung đội trưởng một gói thuốc thơm nó mới cho thêm con "dê" (ý nói chữ g) vào sau tên tao, mới thành tên lịch sử như vầy.

Mọi người lại cười ran. Nhân cơ hội mọi người không để ý, tôi nhẹ đẩy chung rượu qua Hoàng Đô, định trốn một tua, nào ngờ Ba Long cảnh giác cao, kiểm soát kỹ, nói:

- Hà, mày quê ở đâu?

- Dạ, ngoài Bắc, anh Năm.

- Cụ thể ở tỉnh nào?

- Dạ, Hà... Nội.

- Vậy mà tao cứ tưởng mày quể An-Giang chớ, uống rượu mà cũng tính "ăn gian" hả?

Không khí bàn nhậu càng lúc càng rộn ràng, xôm tụ. Rồi thấy tôi cứ ngồi ngó lơ ra cánh đồng trước mặt, Ba Long lại bảo:

- Uống đi, nhà văn, tới rồi đó!... Chiều tao đến dẫn bọn bay đi tham quan cột mốc biên giới, chi mà cứ ngồi ngó lơ hoài. Cánh đồng Chó Ngáp này thì có chi đáng ngó. À mà bọn bay cho biết điển tích "cánh đồng Chó Ngáp" không?

Năm Đức nháy sang tôi, ý chừng nói: ổng bắt đầu bốc lên đó, rồi khích:

- Kể đi chú Ba, thật đúng là trang huyền thoại, nghe cả chục lần không ngán!

- Như vầy nè... Năm 19... gì ấy, quên mẹ nó mất rồi, thôi được, cho qua năm đó, đại đội bộ đội địa phương của tao oánh nhau với một tiểu đoàn ngụy tại kinh Cả Cối, bên xã Hưng Điền. Bọn nó trang bị tận răng lại có máy bay trực thăng yểm trợ.

Quần nhau nửa ngày thì xác cả hai bên đã phơi đầy mặt ruộng, bờ kênh. Tao bị dính đạn vô bắp đùi, máu chẩy lênh láng, nhức nhối quá chừng. Được lệnh rút, thằng Bẩy Hồng dìu tao khập khễnh đi. Bất ngờ bọn nó đưa máy bay trực thăng xuống, đổ quân chặn đầu, rồi hốt cả tao và thằng Bẩy lên. Về tới Sài Gòn, chúng băng bó sơ sơ cho tao, rồi đẫy ra đảo Phú Quốc nhốt. Ở ngoải, bộ đội mình có cả ngàn, Bắc, Trung, Nam có hết. Một năm ở ngoài đảo, sống cảnh tù đay cực khổ, tao ngán quá chừng. Một đêm tao bàn với năm anh em cùng lán trốn. Xưa tao là tay chài và bơi có hạng ở sông Vàm Cỏ Tây mà. Anh em nhứt trí, vậy là bọn tao ra bến cướp thuyền, đợi gió lên, căng buồm chạy. Nào ngờ sau một đêm, rơi đúng lên đất Căm pu chia. Ngày đó dân Căm pu chia tốt lắm, họ cưu mang bọn tao  và chúng tao đêm đi, ngày thì ngủ bờ ngủ bụi, ăn cả chuột, rắn nướng... ròng rã hơn tháng trời thì tới được cái chùa vàng bên kia cột mốc chiều bọn bay ra sẽ thấy. Năm anh em chia tay nhau, ôm nhau, rơi nước mắt... Chờ đêm xuống, tao vượt qua đường biên, tìm về cánh đồng nơi có vợ và ba đứa con, tao đã mấy năm xa vắng. Nỗi nhớ lúc đó sao mà cứ cồn cào gan ruột!

Về tới ruộng nhà mình, tao run quá, cứ hình dung sắp được ôm vợ mà sướng run lên... Tao bò vào tới cửa, lắng nghe tiếng vợ con ngáy pho pho, rồi giường tầm vông kêu cót két. Tao mới nhè nhẹ la lên:

- Hường, Hường ơi, anh về nè, Ba Long về nè!

Vợ tao kém tao hai tuổi, đẹp gái nhất vùng này. Một hôm tao ra sông Vàm Cỏ Tây bắt cá, khi tới gần một cây cầu bắc từ cửa một ngôi nhà nghiêng xuống sông thì tao hít một hơi không khí cho tràn đầy hai buồng phổi, rồi lặn xuống. Lúc tao trồi lên, hai tay cầm hai con cá bự tổ chảng thì... Trời đất! Tao nhìn thấy một cô nàng da dẻ trắng phau phau, vận quần đen, cởi trần đang ngồi trên cầu xối nước ào ào. Từ một gốc tràm, tao mới lặn ra sau lưng nàng thiệt nhẹ nhàng, rồi trồi lên, nói: "Nè, cho em hai con cá nè, đem về nấu canh chua cho ba nhậu". Nàng tưởng tao là ma ôm quần chạy té. Một lát thì ông già của nàng vác búa ra, tao hoảng quá, mới giai bầy rằng nhà nghèo quá, phải đi mò cá, bán kiếm tiền mua gạo, chớ không có cố ý ghẹo con gái nhà lành. Tao tưởng ổng cho tao một búa bể đầu chớ, nào ngờ ông vứt búa đi, rồi cười khùng khục, kêu tao vô nhà. Tao cứ vậy với cái quần cụt và hai tay hai cá đi theo ổng. Không hiểu sao tao không chạy, chớ sức tao mà chạy, chấp ba ổng không đuổi kịp. Vừa đi ổng vừa bảo tao:

- Mày đã coi được da thịt con gái tao, tao cho mày luôn, chịu không? Nếu không chịu... tao giết! Trời đất, ông muốn gả con gái cho người ta mà nói giọng ông nội vậy đó! Tao mới ngẫm nghĩ rất lung lừa thì mình cũng tới tuổi rồi, cưới vợ được rồi... Vậy  là tao nhẹ gật đầu. Trưa đó, tao nhậu với ông chết bỏ. Nàng thì đứng từ xa cười khúc khích. Mấy hôm sau, tao kêu bà già tao mang rượu tới nhà nàng và dắt nàng về luôn, khỏi phải vu qui với tân hôn chi hết ráo! Thế là thành vợ chồng vui vẻ hạnh phúc ra phết! Vợ tao được cái đẹp người, lại có hai bầu vú to như hai trái dừa Xiêm, lại ngoan nết và hay lam, hay làm, chớ không ngổ ngáo như tao. Rồi nàng đẻ sòn sòn cho tao ba đứa con, hai trai một gái. Thằng lớn tao giành quyền đặt tên cho nó là thằng Gạo. Lon thì phải có gạo chớ?... Rồi chiến tranh bùng nổ và tao đi bộ đội lại vì nghe mấy đứa con gái trong xóm hát bài "Lá còn xanh như bao anh còn trẻ"... nghe đi tòng quân mà bắt ham!


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 20 Tháng Giêng, 2011, 02:50:38 pm
Ngụm một ngụm nước đá lấy hơi, Ba Long lại nói:

- Tới khúc nào rồi nhỉ?

- Tới khúc Hường ơi, anh về nè - Hoàng Đô nhắc vở.

- Ủa, phải, một lát thì nàng ngọ nguậy rồi ra khỏi giường, đốt đèn cầy lên, thắp nhang lên và tới bên bàn thờ khấn khứa. Nàng khấn như vầy nè: "anh Ba Long sống khôn, chết thiêng phù hộ cho em tránh hòn tên mũi đạn, được sống mà nuôi hai thằng con trai của anh lớn lên, đi bộ đội trả thù cho anh...

Nghe vậy tao tức muốn đỏ con mắt, bèn vung chân đạp tung cửa và nhào dô ôm lấy nàng... Có lẽ nàng thấy đầu tóc tao bù xù như tổ quạ, râu ria xồm xoàm như tướng cướp và hôi như cú, nàng mới đẩy mạnh tao ra làm tao loạng chạng xuýt dính vô tường. Tao mới nói:

- Hường, em mong tôi chết lắm hả? Để lấy chồng bé hả?

Nghe giọng nói, nàng nhận ra tao liền chạy đến ôm chặt lấy tao như thể cả đời chưa bao giờ được ôm! Tao nghe xương sống, xương sườn "răng rắc" nên mà bữa đó tao không bị gẫy cái xương nào!

Sau khi rời tao ra, nàng nhễu nhão khóc:

- Anh ơi, trên người ta gởi giấy báo tử của anh về cho em... em cứ ngỡ hôm nay hồn ma anh hiện về, hu... hu... hu!

Tao bật phì cười thì bất ngờ con chó Mi-lu nhà tao từ đâu xuất hiện, xông tới đớp vô giò tao, rồi nhay nhay quần tao vốn đã te tua tơi tả. Tao mới điên tiết lên, sẵn con dao găm dắt sau lưng tao cho nó một nhát direct vô cuống họng thế là nó lăn ra, "ăng ẳng", rồi ngáp ngáp ba cái, rồi tắt thở.

- Quân dã man, nó làm gì mà anh giết nó?! Vợ tao hét lên. Tao quăng con dao nhểu máu vô gầm giường, đứng ngẩn nhìn con chó. Bậy thật! Xưa tao đi đâu về, nó cũng ngoáy tít cái đuôi mừng rỡ. Thế mới biết, con người ta khi bị kích động, tâm thần bất ổn, khùng lên bất tử thì không có chuyện chi không dám làm!

Ân hận thì đã trễ! Lúc đó ba đứa con tao từ buồng trong mới ngọ nguậy. Tao giựt mình nhận ra là mình vẫn còn có ba đứa con. Tao lao vô ôm lấy ba con mèo, con chuột và hôn hít mặc cho chúng khóc thét.

- Rồi sau sao nữa anh Ba? Tôi lại hỏi.

Anh Ba kéo cái đĩa thuốc ra tới gần, rê một điếu, bật quẹt hút, phả khói um lên, rồi lại tiếp:

- Rồi sau Tỉnh ủy về đây lập căn cứ, một ông gặp tao hỏi: "vùng này kêu là vùng gì, chú?". Tao mới nói liền: "vùng cánh đồng Chó Ngáp". Vậy là thành tên, nghe mới sướng lỗ tai không chớ!

Tất cả lại cười ồ. Ánh Tuyết gợi ý tiếp:

- Chuyện tình của chú Ba coi bộ đẹp tựa một bài thơ!

- Tao thì chẳng biết thơ phú là gì, không như cha Bẩy Hồng bạn tù Phú Quốc của tao làm bí thư huyện ủy bên huyện nọ. Nó khoái làm thơ Đường lắm. Một hôm nó qua nhà tao chơi, đọc thơ cho cả chục người nghe hay ra phết! Nó bảo sẽ đọc một bài thơ Đường. Mọi người im lặng nghe. Và nó đọc:

Chào mào vui hót cành cam,
Gió reo trên nẻo đường làng em ơi!


Ánh Tuyết bật phì cười, phụt cả cơm ra nền nhà, đến là mắc cỡ... Khoảng hai giờ chiều thì cuộc nhậu ngưng, Ba Long bảo chúng tôi đi nghỉ, năm giờ sẽ dẫn đi thăm cột mốc. Nằm trên giường tầm vông có đủ chiếu gối mà tôi không sao chợp mắt được, cứ nghĩ tới chuyện anh Ba kể, sao mà hay quá, sống động quá!... Trong khi nằm giường bên anh Ba Long đã ngáy khò khò. Tôi thầm nghĩ: anh thiệt là một con người tiêu biểu của vùng đất Phương Nam, vùng Đồng Tháp Mười này: cương trực, coi khinh cường quyền, bạo lực, sống điệu nghệ, hào phóng hết mình và rất mực thủy chung.

Chốc sau, một cô gái chừng mười lăm tuổi có khuôn mặt chữ điền khá giống anh Ba Long bước vô gật đầu chào tôi, rồi nhẹ ngồi xuống giường kêu: "Ba, Ba!". Ba Long mở choàng mắt dậy nắm tay cô gái, nói: "Có chuyện chi vậy gái?". "Chủ nhật này là giỗ má con". Kỳ này chẵn mười năm má con đi xa. Con lên xin ba ít tiền về mua đồ. Ba định là mấy mâm hả ba?". Ba Long ngồi nhỏm dậy, đưa bàn tay thô nháp vào túi quần lấy ra cái ví rồi rút ra xấp tiền dúi vô tay con gái "Làm năm mâm! Con gái về đi, chiều thứ bẩy cha về. Hôm nay mới thứ năm". Cô gái thong thả bước ra. Tôi liền nhỏm dậy: "Con gái anh à". Ừa, mười lăm, học lớp 9. Tôi cười cười: "Con gái giống cha giầu ba đụn!"

Anh bảo: "Làm cán bộ giầu mẹ gì. Gà trống nuôi con, nuôi cho ba đứa ăn học muốn hụt hơi!". Không nén được xúc động, tôi xin lỗi anh, hỏi: "Chị mất rồi à, mất trong trường hợp nào, anh Ba".

- Năm 1978 đó, chú à. Một năm thật là khủng khiếp! Đang mùa gặt lúa, dân ta ra đồng cả trăm người người thì bất thình lình đại bác rồi các cỡ súng lớn, nhỏ từ bên kia biên giới bọn Pônpôt bắn sang như mưa. Từng đám khói đen và lửa bùng lên khắp các ruộng và rừng tràm. Dân ta mạnh ai nấy chạy như vịt đàn, vô cùng hoảng loạn chẳng biết chuyện gì đang xẩy ra. Ở trụ sở này mình phải hét anh chị em nhẩy đò xuống kênh lánh nạn. Chúng nó bắn suốt từ trưa tới chạng vạng tối thì ngưng. Chừng bẩy giờ tối thì thằng Gạo hớt hơ hớt hải đạp xe tới hét toáng lên: Ba ơi, má chết rồi! Vì sao chết? Má cùng mấy dì đang cắt lúa thì bị đại bác bắn qua. Khi con ra đồng thì má và mấy dì đã chết, tay vẫn còn ghì chặt bó lúa. Tôi như đứt từng khúc ruột, loạng choạng đứng dậy cho thằng con chở về nhà. Về tới nhà thì vợ tôi đã được bà con liệm vô cỗ hàng, đậy hờ nắp chờ tôi về. Tôi như điên như loạn lao tới  hất tung nắp ra và tôi quì xuống ôm lấy Hường của tôi, người vợ rất mực thủy chung và rất mực yêu thương của tôi! Vậy là mãi mãi tôi đã phải rời xa Hường!...

Bà con kéo tới mỗi lúc một đông, ngỏ lời chia buồn với tôi. Tôi chợt nhớ ra: mình là cán bộ đứng đầu của xã, không thể để bà con mềm lòng. Tôi lau nước mắt, đứng lên và nói với bà con:

- Xin bà con hãy bình tĩnh, chờ sự chỉ đạo của cấp trên. Hãy chôn cất nhang khói cho người đã chết và ráng đào hầm hào tránh đạn...

Ngay đêm đó, tôi chôn cất Hường sau vườn nhà mình, rồi lặng lẽ ra đi, lòng nặng chình chịch như có đá đeo, chú à!

Lát sau anh Hai Hơn chủ tịch ủy ban xã bước vô và anh nói liều: Báo cáo đồng chí bí thư, liên lạc từ ấp 4 vừa chạy lên báo, đêm qua lợi dụng có trăng non đầu tháng, dân bên kia sang cả trăm người, gặt trộm lúa, chỉ một đêm mà chúng gặt hết cả ba hec-ta loại giống mới OM... năng suất cao... Dân đang hoang mang và nóng giận lắm... giờ ta tính sao, anh?

Ba Long nhíu cặp chân mày sâu róm rồi lại từ từ dãn ra, trầm ngâm suy nghĩ, rồi anh nói gọn lỏn: "- Để tao!"

- Có cần triệu tập họp liên tịch ủy ban và chi bộ không anh? - Hai Hơn lại hỏi.

- Thôi, khỏi! - Ba Long khoát tay - chuyện nước sôi lửa bỏng này, triệu tập được mấy ủy viên các cấp lên lại mất cả ngày. Để tao qua gặp xã trưởng của nó!

- Đi vậy có nguy hiểm không, anh Ba. Anh là bí thư... hay là ta cử đồng chí trưởng công an xã qua?

- Không được! Tao biết mặt thằng Xôm-Xít, xã trưởng, để tao đi!

Nói rồi anh Ba cáo lỗi tôi và chạy nhanh về phòng chuẩn bị đi.

Một loáng sau, chúng tôi đã thấy anh chỉnh tề trong bộ complé xanh, cà-vạt đỏ, giầy đen băng qua cầu khỉ, đi nhanh vào giữa cánh đồng xanh ngát.

Tôi chợt thấy nhoi nhói trong tim, thực sự lo lắng cho chuyến đi của anh. Lỡ mà chúng nó nổ cơn khùng bất tử rồi không biết chuyện gì sẽ xẩy ra, làm sao anh về kịp đám giỗ mười năm của chị Hường? Ôi, người cán bộ đứng mũi chịu sào con thuyền dân xã vùng biên giới này thật lắm gian nan!" Phần khác, chúng tôi cứ tiếc hùi hụi chuyến đi ra thăm cột mốc để có cảm hứng thực cho văn và thơ, thế là đành dang dở, biết bao giờ mới có dịp nữa đây?

Suốt hai giờ chúng tôi sống trong tâm trạng hồi hộp, lo lắng... Tới khi hoàng hôn ngả sang mầu tím nhạt và vầng mặt trời đỏ như trái hồng đang ngả dần xuống phía trời Tây thì anh Ba hiên ngang trở về. Chúng tôi lập tức quây lấy anh. Anh cười lớn và kể:

- Bọn bay biết không, tao đi một mình, không mang súng ngắn, tao cũng lo lo. Đi tới gần cột mốc, tao bèn hát váng lên:

"Vì nhân dân quên mình. Vì nhân dân hy sinh. Anh em ơi. Vì nhân dân quên mình. Đoàn vệ quốc chúng ta, ở nhân dân mà ra..."Hát cho đỡ sợ mà hề hề! Tới cột mốc tao đứng khựng lại nhìn sang cái chùa vàng phía bên kia. Sao mà nó hiền lành, dễ thương đến thế, vậy mà... rồi tao ung dung vượt qua đường biên...

Bỗng có sáu thằng lính của nó như từ dưới đất chui lên, chĩa súng AK vô ngực tao, hô "giơ tay lên" và đồng loạt lên qui-lát cái "réc".

Xém chút nữa thì tao teo dái, nhưng rồi tao nghĩ: thế ta là thế đứng trên đầu thù, sợ mẹ gì. Vậy là tao xổ ra một tràng tiếng Căm pu chia bồi. "Tao là xã trưởng xã Bình Phong, qua gặp xã trưởng chúng mày, bàn việc quan trọng! Việt Nam-Cam pu chia "xa-ma-khi" mà, rồi tao cười vang.

Thằng Xôm-xit từ chòi bước ra, súng trễ ngang hông, coi bộ rất ngầu. Nó chửi bới om sòm tụi lính của nó. Thế là các nòng  súng đều chúi xuống. Và tao hiên ngang tiến vô văn phòng của nó làm việc. Hút thuốc ba số năm và bia lon xả láng! Thằng Xôm-xít hứa với tao sẽ cho lính canh ngăn không cho dân qua cắt trộm lúa nữa. Khà khà, muốn bắt cọp phải vô hang nó, phải không các nhà văn?"

Tôi gật đầu ngẫm nghĩ lời anh!

Từng đợt gió hào phóng chạy ngang qua cánh đồng Chó Ngáp, phả vào thân thể chúng tôi từng đợt vô cùng dịu mát!

N.H


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 20 Tháng Giêng, 2011, 03:38:13 pm
Trạng của tôi

ĐINH DUY TƯ


“Chỉ vì thằng Mỹ, tao mới đến nông nỗi này. Ví như không có hắn, tao thành trạng lâu rồi”.
Đó là tuyên ngôn của một trạng lính. Vâng! Hắn tên là Nguyễn Đăng Lính ở cùng làng với tôi. Hai đứa nhập ngũ một ngày, nhưng ngành nghề có khác nhau.

Khi đồng chí cán bộ tuyển quân hỏi Lính:

- Ở nhà đồng chí làm gì?

Lính đưa hai bàn tay gài hình răng lược, giọng tỉnh như sáo:

- Em ấy à?... Em lái chiếc thuyền máy duy nhất của hợp tác xã đánh cá ven biển. Chiếc thuyền có tải trọng gần hai tấn, một bánh lái ở đằng đuôi.

- Thôi, được rồi! - Cán bộ tuyển quân khoát tay và nhận xét: - Hơi dài dòng...

Cúi đầu vào tờ giấy chi chít chữ trên tay, ông đằng hắng đọc tiếp:

- Ngô Bá Cơ!

- Có tôi! - Tôi lách ra khỏi đội hình, và tiến lên phía trước.

Cán bộ tuyển quân săm soi một lúc.

- Đồng chí ở nhà...

- Tôi làm thợ sửa chữa xe đạp. - Tôi nói và cảm thấy nóng ran trên mặt.

- À, ra thế!

Rồi, người tiếp theo. Đó là một cô gái có khuôn mặt đầy đặn, đôi lông mày như hai vầng trăng khuyết; tóc dài hơn tà áo, đen và mượt như lụa. Cô khẽ cười, đôi má xoay xoáy hai cái lúm đồng tiền. Cán bộ tuyển quân như ngây ra trước vẻ đẹp quyến rũ của con gái nhà lành. Giọng mềm hẳn, anh ta hỏi nghe cứ như chim họa mi hót.

- Ở nhà, em làm gì Lâm?

- Em ấy à? - Lâm dứ dứ ngón chân trên mặt đất: - Học hết lớp mười, em nhập ngũ luôn.

Thế rồi, vì có nghề lái thuyền, nên Lính được vào học lái xe. Tôi chỉ vì sửa xe đạp mà vào nghề thợ. Lâm cũng vào thợ, nhưng học ở lớp điện. Thấy Lính được vào lái xe, tôi cứ buồn cười. Nhà hắn có nốc nác chi mô mà xưng lái thuyền, lái máy... Rõ là trạng! Biết vậy, tôi cũng khai mình là lái máy bay, chắc chắn được tuyển vào phi công cũng nên...

Khi đã về “khung”, Lính mò sang chỗ tôi, và nói:

- Mày dốt bỏ mẹ ấy! Cứ khai đại là lái ca nô, hay tàu thủy có hơn không?

Tôi chống chế:

- Tao không nói láo được!

- Này, - Lính nhìn tôi: - Nói láo mà được việc cũng chẳng xấu đâu! Mai đây, tớ vi vu tay lái vượt dặm đường dài, cậu xo xó ngồi một chỗ mà không buồn à?

Lính đảo mắt nhìn quanh, và hỏi:

- “A mi” xinh tươi của mày đâu rồi?

- Ai? Tôi hỏi lại.

Lính cười.

- Cái Lâm ấy mà! Tao mà như mày là cứ như chuột sa chĩnh gạo đấy nhé.

Tôi vặc lại:

- Chuột sa chĩnh gạo là sa như thế nào? Vừa chân ướt chân ráo đã đòi trăng hoa.

Lính nghiêng đầu như cố lắng nghe lần nữa rồi nói:

- Không trăng hoa thì chết héo, chết khô ở chiến trường này.

Thấy tôi không chút mặn mà, Lính mời tôi điếu thuốc rồi ra về. Tổ xe ở bên kia núi đi theo đường mòn. Xe có đường tránh, người ở đây cũng tìm cho mình một con đường tránh. Nên chi, đang bước, Lính bỗng đứng lại, phía trước có tiếng chân người...Chân ai, chân người hay chân hổ? Lính vẫn nghe kể khu rừng này từng có con hổ thọt độc ác như kẻ khổng lồ trong truyền thuyết xưa. Mấy năm gần đây, bom đạn ùng oàng nó biến đâu mất tăm!

Nhưng không phải hổ báo gì sất mà là Lâm, Lâm đang cầm trong tay mấy đọt măng rừng to như bắp chuối. Vừa đi, hai tay Lâm cứ như đang hành quân xa. Lính ngồi thụp xuống định chơi ác cô, trùm kín mặt, vai. Sợ Lâm đùng đùng chết ngất, nên Lính chờ Lâm đến gần, liền đứng bật dậy:

- Ôi trời ! - Lâm như té ngửa ra sau. 

Nhanh tay, Lính chụp lấy và kéo Lâm vào bên mình. Lâm mở mắt:

- Anh làm em chết khiếp!

- May là anh, nếu là hổ thì không phải chết khiếp mà là chết thật! - Lính nói không chút đắn đo.

Lâm nhìn những búp măng, ngạc nhiên hỏi:

- Có hổ à?

Lính thản nhiên:

- Rừng nào chẳng có hổ, làng nào mà chẳng có con gái đẹp. Như cái làng sinh ra em đó ...

Lâm cười, hai hàm răng trắng đều, trắng muôn muốt hé ra giữa đôi bờ môi mỏng.

- Dóc! Anh tán em à?

- Có tán mới đi tìm em...

- Tìm em thật à? - Lâm thật thà hỏi.

- Không thật thì cứ hỏi thằng Cơ. Nghe nói cái Lâm nó đi hái măng rừng là anh ba hồn, chín vía bay lên tận mây xanh, tóc mềm như lá lúa bỗng nhiên dựng đứng như búp măng em vừa hái. Anh lạnh gáy, anh sởn cả gai ốc...Xem đây!

Lâm  hạ thấp giọng sau khi nhìn những nốt sần nhỏ trên da Lính.

- Thương rứa lấy chi em trả? Không kiếp này thì kiếp sau, anh Lính nhé.

Lính tỏ vẻ quan tâm hơn:

- Nhớ lần sau có đi đâu thì báo trước để anh canh chừng mấy con cọp dữ nhé!

Lâm tỏ ra dặt dè:

- Dạ! Cảm ơn anh... Em về đây!

- Ây! - Lính kêu lên: - Để anh đưa em về lán.

Lâm khẽ nói:

- Lần sau cũng được, anh!

- Nhưng...Lính nói: Anh vẫn không yên tâm chút nào.

- Gần lán rồi, chẳng còn cọp nữa đâu! Lâm nói và chạy ù về lán. 


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 20 Tháng Giêng, 2011, 03:39:16 pm
Và, lần sau Lính lại sang tổ điện cơ. Lần này thì Lâm đang tắm dưới suối, cách lán non cây số. Đi cùng với Lâm còn có cánh con gái thợ điện. Trên đường về, Lính nhận ra các cô gái về trước. Cô bé Lâm đâu nhỉ? Vốn thích trêu chọc, Lính tìm đến nơi Lâm tắm. Cô nàng vẫn đắm mình trong suối, ngẩn ngơ nhìn trời nhìn đất, nhìn mây và nhìn dòng nước lấp loáng chảy qua thân thể kiều diễm của mình. Chợt Lâm để ý chút lay động rất khẽ khàng trong bụi rậm cách đó chỉ vài bước chân. Lâm nghiêng người trước một tảng đá đang án ngự, đang che chở cho cô, rồi Lâm cứ phải nằm im, án binh bất động để tự bảo vệ trước một mối đe doạ nào đó. Dường như chờ đợi quá lâu, trong bụi nhô ra một bóng người. Lại là Lính! Trời ơi, sao Lính cứ bám riết mình như hình với bóng thế này? Lính cười khanh khách:

- Tuyệt đối an toàn, em lên đi!

- Không! Không! - Lâm tự cởi trói cho mình: Anh về đi, về đi!...

- Ơ hay! - Lính cố ra giọng ngạc nhiên - Anh đã nói là canh chừng mấy con cọp dữ cho em mà!

Lâm ngúng nguẩy:

- Thôi đi ông tướng, bữa khác...

- Còn bữa này?... - Lính nhịn cười nói tiếp: - Không cho ăn thì cho thấy trong khoảnh khắc chẳng được sao?

Lâm không chút nao núng:

- Thấy à? Thì đây, cho anh thấy...

Lính lúng túng nhưng thời gian gấp gáp quá, nên đôi mắt mở to không mở được mà nhắm lại trước thời cơ ngàn năm có một thì tiếc, nên cứ lim da lim dim. Lâm đứng thẳng người lên và hỏi.

- Thấy rõ chưa, anh Lính?

Lính tiu nghỉu như hổ mất mồi. Lâm không tắm khỏa thân như Lính tưởng. Trên cơ thể như một tuyệt tác giai nhân ấy, Lâm mặc quần xà lỏn, áo may ô ba lỗ...Lâm cười như nắc nẻ, khiến Lính nổi đóa:

- Cười gì vậy?

- Em thấy anh buồn có phải không? Buồn chi vô duyên thế!

Lính nói, không nhìn thẳng vào mặt Lâm như mọi lần.

- Thấy họ về cả, sợ Lâm bị hổ chụp, anh mới đi bảo vệ. Lần sau, thèm!

- Chê thiệt hả? - Lâm vừa nhặt áo quần trên phiến đá để thay, và nói như đang dấy lên sợi tình.

- Đi theo em, chỉ cho thấy thôi nghe.

Và, lần đầu tiên trong đời Lính được nhìn bức tượng của người phụ nữ. Bức tượng ấy bằng da, bằng thịt không phải là đá hoa cương. Có thể nói bức tượng ấy là vật vô giá trong cuộc đời Lính. Lính định nói trạng vài câu, nhưng cứ sợ tiếng nói của anh làm mờ đôi mắt của chính mình. Chữ nghĩa trong đầu trạng bay đi hết, lưỡi của trạng như đã tụt sâu vào tận trong trái tim... Cuối cùng cả Lính và Lâm tự tìm cho nhau những nụ hôn khát cháy như tia nắng mặt trời. Cả hai ghì lấy nhau.

- Anh! Anh...

- Em! Lâm ơi!...

Bỗng Lâm giật nảy người, đẩy Lính ra. Sắc mặt Lâm tái nhợt.

- Anh, cái gì vậy anh?

- Cái gì? Lính nhìn Lâm và vẫn cứ nghĩ rằng Lâm vừa bị rắn cắn.

Lâm chỉ tay vào ngực Lính, cố dấu vẻ sợ hãi:

- Trên ngực anh kia kìa! Em! Đau quá!

Lính cũng ngạc nhiên:

- Cái gì? Có cái gì đâu... Rồi Lính lại đính chính cho Lâm hay: - À, cái bùa bổn mạng ấy mà!

Nói rồi, Lính luồn tay vào trong cổ áo lôi ra cái bùa bổn mạng cho Lâm thấy. Đó là một vật màu sáng bạc. Lâm nói:

- Cho em xem với!

- Không được! Tay đàn bà sờ vào là mất thiêng.

Lâm ngây ra:

- Thật à? Hay lại nói “dóc” đấy!

- Thật mà!

Lúc này trông Lính hiền như bụt.

Học xong chúng tôi ra trường. Từ giã rừng già Quỳ Hợp trong một buổi chiều nhưng chưa tới hoàng hôn. Thế quái nào, cả tôi, Lính và Lâm lại được điều về tăng cường cho đội xe chủ lực của Bộ Giao thông vận tải có “văn phòng” đóng tại cây số 0 đường 20 Quyết Thắng. Tôi và Lâm là lính “thợ đội” còn Lính ở tổ xe. Chỉ vài hôm tiểu đội trưởng bên xe sang gặp tôi:

- Cậu với thằng Lính cùng quê à? ... Một thoáng nghi hoặc anh nói:

- Mình muốn kiểm tra lý lịch bằng miệng thằng này một chút.

Hóa ra Lính tâng bốc dòng họ nhà hắn như bán trời không văn tự. Hắn dám nói rằng, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm với hắn là cao cao cao chi tổ. Trạng Quỳnh là cao cao tổ, Trạng Cờ, Trạng Lợn, ... đều tổ cả. Riêng bà Huyện Thanh Quan, ông nội hắn gọi bà là cô ruột...

- Phải rứa không Cơ? - Tiểu đội trưởng xe lại hỏi.

- Thì đã sao... Tôi nhún vai và nói tiếp. - Vốn gốc hắn là dân Kinh Bắc đấy anh ạ.

- Thế à!.

Tôi giảng giải ra vẻ rất sành lịch sử.

- Từ thuở xa xưa châu Ô, châu Ri chỉ bạt ngàn lau sậy, không người khai khẩn. Đến mãi năm - Tôi ngừng lời để ngẫm nghĩ: - Năm nào nhỉ, có một đoàn người di cư từ Kinh Bắc vào. Đoàn người này hầu hết là quan văn, quan võ của triều đình bị chúa ghét bỏ cho lưu đày..

Tiểu đội trưởng đứng bật lên như trên ghế vừa có điện cao áp.

- Thôi! Té ra cả làng nhà cậu đều con cháu của trạng cả.

Tôi cố gắng thuyết phục.

- Chuyện thật đấy chứ, không tin, anh cứ nhìn kỹ trong cổ thằng Lính lúc nào cũng có một kỷ vật bất ly thân...

Tiểu đội trưởng lại ngồi xuống, tay vỗ lên đùi.

- Đúng! Một sợi dây màu đen có ánh hào quang ngũ sắc ...Cậu ta không cho ai xem, mỗi lần đi tắm tháo ra và bỏ vào trong một chiếc hộp bằng bao diêm. Anh ta đâm tò mò - “Cái gì vậy cậu”?

Tôi ngồi gần lại tiểu đội trưởng xe, giọng nhỏ hẳn:

- Tuyệt đối bí mật nghe! Đó là dây đeo cái bùa bổn mạng của hắn đó.

- Bùa bổn mạng, mình chưa nghe...

Tôi nhăn nhó:

- Anh chưa nghe thật à? Bùa bổn mạng là cái bùa hộ mệnh. Bọn phi công Mỹ đứa nào chẳng có. Không có, máy bay cháy thì xác nó thiêu luôn.

Tiểu đội trưởng thắc mắc.

- Hay nhỉ! Mà nó kiếm đâu ra? Thảo nào nó vừa chạy vào tuyến trong mà không phải hứng chịu một quả bom nào.


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 20 Tháng Giêng, 2011, 03:41:02 pm
Về tới tiểu đội, bên những điếu thuốc và nước trà suông, tiểu đội trưởng gợi ý:

- Tao nghe nói mày có cái bùa gì đó cho xem với Lính.

Lính lắc đầu, giọng cương nghị.

- Không xem được!

- Sao lại không...?

Theo Lính thì tấm bùa này có từ bốn đời, các đời khác thì Lính không tường tận lắm! Cụ cố của Lính đeo trong thời Văn thân, đoạn theo Cần Vương đánh Pháp. Rất nhiều lần suýt bỏ mạng, nhưng đạn thấy cụ cứ như thằng câm hoặc chỉ sạt qua mang tai nghe nong nóng... Khởi nghĩa thất bại, cụ trở lại quê và sống trọn tuổi già. Đến đời ông nội Lính, theo Việt Minh lên tận chiến trường Đông Bắc rồi Điện Biên Phủ. Ở cứ “Điện Biên”, cụ vừa dười hào ngoi lên thì vấp phải một thằng Pháp. Hai bên nhìn nhau chưa biết nên xử trí thế nào? Cụ súng dài, thằng Pháp súng lục nên hắn nhanh tay hơn. Viên đạn nổ, cụ tưởng mình đã chết! Không hiểu vì sao lại không chết? Thằng Pháp nã tiếp phát đạn thứ hai, nhưng súng bị hóc... Thế là hai bên đấu tay đôi. Cụ rút lưỡi lê dầu súng đâm xả vào mặt làm cho thằng giặc tắt thở. Bao nhiêu lần cái chết kề bên, rút cuộc “súng gươm vất bỏ cụ hiền như xưa”. Sang đời người cha kính yêu “hát mãi khúc quân hành” từ chống Pháp sang chống Mỹ. Mậu Thân 68 ở Huế, tấm bùa hộ mệnh vẫn cùng ông đi cùng năm tháng, chung thủy như hình với bóng. Đã bao phen sự sống mỏng như sợi tóc, đồng đội liên tiếp ngã xuống trước họng súng quân thù, mà ông không giọt máu nào, phải đổ!... Mãi lúc rút lên A Lưới, ông không thắng nổi căn bệnh hiểm nghèo: Sốt rét ác tính...

Đó là câu chuyện của Lính - bản anh hùng ca huyền thoại và cách mạng. Chẳng ai có thể đánh giá được bao nhiêu phần trăm là sự thật. Nhưng năm tháng làm nhiều người phải tin. Dù không tin vẫn phải cảm nhận chừng như với Lính là có lý! Hằng trăm chuyến hàng cuôn theo bụi đỏ ở Trường Sơn; thật diệu kỳ, bom đánh đằng đầu thì Lính đang ở đằng đuôi, bom đánh đằng đuôi xe Lính ở đằng đầu, bom đánh giữa đội hình thì Lính không hang đầu cũng ở đằng đuôi. Dường như Lính đang luôn luôn được quý nhân phù trợ! Bom nổ, xe cháy, đạn trên xe nổ, đồng đội có đi không có về, mà Lính vẫn thanh thản đến ngạc nhiên! Bom đạn sợ Lính đã đành, cái chết cũng sợ Lính thì không thể nào tưởng tượng được?. Có người đã phải đặt vấn đề:

- Bùa cái quái gì? Không chừng đó là sợ dây thông tin nối với máy bộ đàm...

Một số lái xe tỏ ra nghi ngờ:

- Xe của chúng mình đi đâu cũng trúng địch đuổi theo, đánh bom chặn đầu chặn đuôi, lại lấp lửng. Hay là...

Nghĩa là, đã có người nghĩ đến Lính là gián điệp. Nhưng ý nghĩ đó bị chặn đứng.

- Gián điệp nó ngồi trên chỏm núi kia kìa! Nó cầm vô lăng thì bom đạn không có mắt, tránh chi được?

Lập luận thế nào đi chăng nữa, Lính vẫn cứ là Lính, khoáng đạt và vô tư. Vẫn yêu! Cứ nhảy xuống xe là tình yêu xịch đến. Mấy hôm nay xe của Lính - chiếc BIU...60, vào xưởng để tân trang, “mông má” lại những vết thương trong cuộc chiến. Lâm và Lính lại có điều kiện ngồi bên nhau thủ thỉ, tâm tình. Lâm bảo dưỡng hệ thống điện, tôi cho mỡ vào bốn cái moay ơ bánh xe...Lính ngồi xổm trước mặt Lâm.

- Quê anh ấy à, đẹp như một nàng thiếu nữ. Trước mặt dòng sông Kiến, đêm trắng lai láng giọng hò; “Anh còn nhỏ lắm anh ơi, phái về bú mẹ một hơi hò...ra hò!...Con tôm  đất quê anh to bằng bắp chân cái, con rạm to bằng con cua...”

Lâm cười.

- Thế con cua to bằng con gì?

Lính trố mắt.

- Không tin à? Hết giặc về khắc biết. Con cua  ấy à to bằng cái này này...

Lính chỉ vào “nơi ấy” làm cho Lâm chín đỏ đôi bầu má.

Đột nhiên Lính nói:

- Cưới nghe.

- Nỡm à? Đã bảo hết chiến tranh!

Hết chiến tranh không chừng phải đem phơi! Để mốc thì tội lắm! Em không nghe bọn trẻ làng anh hát à? Chúng cầm hai cái thìa gõ vào nhau và nên bài nên bản; rằng “Hôm nay nắng to cốc cốc cốc...có cái gì mốc thì đem ra phơi kẻo mai trở trời thì không phơi được!...” Cốc cốc cốc...

Lâm chép miệng:

- Uổng nhỉ?

- Ừ! Lính nói! - Tối nghe...

Đêm hôm đó khuya lắm mới thấy Lâm về. Nghe đâu, Lính về bên đội xe...Chúng tôi nằm cách nhau bức vách nứa, tiếng thở dài đến não ruột của Lâm nghe rất rõ. Rồi, tôi có nghe tiếng Lâm khóc sụt sùi như một cơn mưa mùa đông chợt đi chợt đến. Là thế, con bé này với thằng Lính chắc có vấn đề!...

Hơn một tháng sau, tôi thấy Lâm làm việc trễ nải, bần thần và hay quên. Bảo dưỡng chiếc máy phát điện, Lâm tháo vào tháo ra không biết mấy lần; lắp vào thì thiếu vít, tháo ra lắp lại thì thừa ốc. Có lúc tôi gọi.

- Lâm!

Lâm ngước mắt nhìn tôi đờ đẫn cả thần tính lẫn thần hồn.

Chiến dịch mở ra. Đó là những ngày ngừng bắn trong dịp tết Nôen năm ấy. Xe pháo tấp nập vượt biên giới, đưa hàng trung chuyển sang Lào.

Lấy hàng từ cảng Gianh, Lính đánh luôn cả xe hàng vào xưởng. Ngồi trên ca bin Lính vẫy Lâm tới trao cho mấy bộ quần áo nhàu nát và nói nhanh.

- Cho em mấy phong lương khô F2 đây.

- Ăn trộm hàng trên xe hả?  - Lâm nói rõ to.

- Còn khướt, nhìn cái mặt anh là biết hàng hóa bảo đảm rồi.

Lâm hỏi thêm.

- Mai anh về hả?

- Ừ! Lính hỏi lại: Có chuyện gì vậy em?

- Chuyện vui lắm! Mai về em sẽ kể cho anh nghe.

Lính tếu táo:

- Ích kỷ thế! Bây giờ...

- Đã bảo ngày mai mà lại! Kéo dài thời gian cho cổ anh dài ra.

Chia tay Lâm, Lính đạp còi vang cả khu rừng già. Xe chuyển bánh về phía chiến trường...

Lâm đưa áo quần của Lính ra bờ suối. Chưa dìm xuống nước vội, cô đưa tấm áo màu xanh nhạt đặt lên đầu gối và úp mặt lên đó. Lâm ngồi như thế rất lâu để tận hưởng cái mùi mồ hôi rất đàn ông của Lính. Rồi chậm rãi Lâm kiểm tra lại túi quần, túi áo của anh trước khi cho vào dòng nước trong veo, mát lạnh. Có vật gì hơi cưng cứng nơi túi áo ngực? Lâm mở túi. Trời ơi! Cái hộp đựng báu vật của Lính... Không mở hộp nhưng trái tim Lâm như bị một ngọn giáo đâm vào.

- Trời! Lâm hét vang cả cánh rừng già đang vào buổi hoàng hôn.

Không còn đủ sức giặt giũ, Lâm bê cả chậu áo quần trở lại lán. Dáng đi liêu xiêu, mắt mờ mờ, mặt biến sắc...Lâm đổ ụp xuống giường. Phía chân trời có tiếng sấm ùng oàng nghe như bom đang nổ.

Đúng rồi, bom đang nổ dữ dội trên đất Lào. Với Việt Nam bọn Mỹ giữ lời cam kết ngừng bắn, nhưng ở Lào chúng lật lọng, một đoàn phản lực hối hả trút bom xuống đoàn xe. Lúc này xe BIU 60...đang dẫn đầu. Lính cố bứt lên xa đoàn, cố tạo nên làn bụi để đánh lừa lũ giặc lái. Từ trong hẻm núi, Lính thấy một chiếc máy bay trực thăng xuất hiện. Có tiếng súng nổ tạch tạch tạch...à, chúng chơi cả bom lẫn đạn. Bỗng mắt của Lính chao đảo, quay như chong chóng và Lính vội vàng đạp phanh. Anh còn kịp kéo phanh tay trước lúc gục xuống trên vành tay lái...

Dứt trận bom, đồng đội bế anh vào một căn lều giã chiến để sơ cứu. Người ta thấy Lính mở mắt, miệng cười méo xệch.

- Tôi không chết đâu? Không chết đâu nhé! Tôi có bùa hộ mệnh...à, cái bùa ấy là kỷ vật của mẹ tôi trước lúc qua đời sau trận bom của Mỹ. Lâm ơi! Anh tin là chúng mình rồi sẽ có con. Em hãy cho con cái bùa ấy để đốt lòng căm thù của nhiều thế hệ xưa nay.

Dường như Lính trở thành ngọn lửa cuối cùng ở dân gian nên anh trở nên tỉnh táo lạ thường:

- Không có bùa ngải nào hết chỉ có niềm tin là chiến thắng mà thôi!

Hàng hóa đang đi vào nên không thể đưa Lính ra bệnh viện tuyến ngoài. Càng lúc càng thấy Lính suy kiệt dần. Mãi sáng hôm sau đón được chiếc xe ra thì Lính trút hơi thở cuối cùng. Thi hài Lính được quàn trong lán. Lâm xin đơn vị được bịt khăn cho anh - một vành khăn trắng, trắng đến lạnh lùng.

Trong lúc thay quần áo khâm lượm thi hài cho Lính, mọi người mở to mắt kinh ngạc trong sự im lặng đến sững sờ. Trong cổ áo Lính là một cây thánh giá có hình chúa Giê Su bị đóng đinh bằng bạc trắng.

Đại đội trưởng đánh mắt sang tôi và hỏi:

- Lính theo đạo à?

Tôi gật đầu rất nhẹ.

- Gia đình nó theo đạo toàn tòng. Tôi trả lời anh.

Đại đội trưởng dậm chân xuống đất, tất cả sinh lực dồn vào tiếng kêu cuối cùng như một nỗi đau không có gì đau hơn nữa:

- Lính ơi! Trạng của tôi ơi!...

Đ.D.T
(190/12-04)


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 20 Tháng Giêng, 2011, 03:54:06 pm
Nấm mồ thứ sáu

HOÀNG BÌNH TRỌNG


Gập tấm bản đồ địa hình lại và vừa kịp đút vào xà cột, thì trung uý Trương Đình Hùng nghe có tiếng chân người lội bì bọp dưới suối. Lách mình ra phía sau cái trụ chằng phủ đầy dây hoa lạc tiên, anh thấy một người đàn ông trạc ngoại ngũ tuần, cao lớn, vẻ mặt thô tháp, cõng chiếc ba lô cóc phồng căng từ dưới dốc bươn bả trèo lên.

- Chào đồng chí! - với chất giọng ồm ồm, người đàn ông lên tiếng - Xin hỏi, đồng chí là chỉ huy trưởng của đơn vị Kn làm nhiệm vụ thu gom hài cốt liệt sỹ phía nam núi Phù Then, phải không ạ?

- Xin lỗi... Bác à...? - Hùng nhìn người khách lạ từ đầu đến chân - Bác là ai?

- Tôi là Trần Đình Quang, bây giờ thì chuyên trị vào rừng tìm quế, tìm trầm, nhưng thời chống Mỹ là làm lính cụ Hồ, nhiều năm từng là thổ công ở vùng này.

- Bác nhiều năm đánh giặc ở vùng này? - Trung uý Hùng lại hỏi, mắt bắn ra nhiều tia nắng - Hẳn bác thuộc quân số của E5, Fn?

- Đúng, chút nữa là quân số của C3, D2, E5, Fn - Ông Quang tiếp - Riêng C3 của chúng tôi, hồi đầu 1971, có sáu chiến sĩ hy sinh ở Đồng Chuối, được đem về chôn cất...

- Ồ, sao lại có sự gặp gỡ ngẫu nhiên lý thú thế này! Nhiệm vụ chúng cháu về đây là để thu gom hài cốt các liệt sĩ hy sinh trong trận đánh đồn Đồng Chuối ấy đấy - Trung uý Hùng hăm hở cắt lời ông Quang - Nhưng thưa bác...năm ngôi mộ, chứ làm chi có sáu?

- Sáu, được chôn làm hai nhóm: Nhóm năm ngôi, nhóm một ngôi. Nhưng này, nếu chỉ cất bốc mấy bộ hài cốt ấy thì sao lại cho quân đào bới ở đây?

- Không đào bới ở đây thì ở đâu?- Hùng lúng túng vặn lại. Rồi hết nhìn mấy dãy hào hố đào nham nhở ven suối, anh lại đảo mắt về cánh lính trẻ mặt đỏ hâm hia, lưng áo đẫm mồ hôi, kẻ dùng xà beng, người dùng cuốc thuổng đang đánh vật với các tảng đá nằm dưới những cái hố đào thăm dò theo lệnh của anh với vẻ mặt buồn rười rượi.

- Không đào bới ở đây thì ở đâu? - Hùng bất giác lặp lại câu nói của mình. Đoạn, anh mở xà cốt lấy tờ bản đồ địa hình lúc nãy, trải ra đất, rồi tay trỏ miệng nói- Nếu đồng đội cũ của bác là các liệt sĩ La Đình Lang, Trần Lài, Đinh Văn Vụ, Nguyễn Văn Bắc, Hoàng Văn Sa thì phần mộ của họ được đặt ở nơi có khoảng cách ngắn nhất giữa suối Không Tên với đồi Yên Ngựa, vậy ngoài thực địa, nó không phải ở quãng này, thì ở đâu?

- Nhầm to, nhầm to! - Ông Quang nói nói cười cười- Suối Không Tên với đồi Yên Ngựa không ở đây. Chúng ở bên kia, cách nơi này độ bốn trăm mét, chếch về hướng tây nam cơ.

- Cách đây độ bốn trăm mét chếch về hướng tây nam thì lấy đâu ra suối?

- Đúng là bây giờ ở đó không còn suối thật. Nhưng trước 1973 thì có. Vì sao lại thế? Vì có hiện tượng suối đổi dòng xẩy ra. Ồ, khó hiểu lắm hả? -Ông Quang nhìn "chiếu tướng" vào dáng người nhỏ nhắn có khuôn mặt trắng trẻo đang đỏ lựng lên vì nắng của viên trung uý, cười giọng mũi - Nói cho mà biết nhé, trong chiến tranh hiện tượng đó rất hay xảy ra. Chỉ cần một quả bom trên máy bay ném xuống làm vách núi phía đầu nguồn sạt lở, đất đá đổ xuống chắn mất dòng chảy làm nước suối ứ đọng. Tức nước vỡ bờ, đến một độ nào đó, suối lại tự khai thông dòng mới. Nhân đây xin nói thêm, tấm bản đồ đồng chí đang dùng được thành lập sau hoà bình lập lại, khác loại bản đồ thời chúng tôi còn ở lính. Nếu trong bản đồ cũ, thì suối Không Tên được vẽ phía bên kia cơ.

- Chẳng lẽ lại như vậy? - Hùng nheo mắt nhìn xa xôi, hạ thấp giọng - Bác ơi! Cháu rất muốn tin theo lời bác, nhưng... còn một điều cháu hơi phân vân là tại sao trong tờ bản đồ này, một đồng chí cấp trên đã đánh dấu vị trí khu mộ các liệt sĩ của C3 ở đúng chỗ chúng ta đang đứng?

- Câu hỏi nghe thú vị đấy. Theo tôi thì lẽ này... Có lẽ là... Cái vị lãnh đạo đó vì một lý do nào đó mà có sự nhầm lẫn giữa bản đồ cũ với bản đồ mới. Nhưng thôi, trăm nghe không bằng một thấy; tốt nhất, đồng chí trung uý đi theo tôi qua bên kia để tôi chỉ vị trí sáu ngôi mộ ấy cho khỏi mất công đào bới.

Chẳng cần biết đối tượng có đồng ý hay không, ông Quang đã xốc chiếc ba lô cóc nặng chình chịch lên vai, nhằm hướng mặt trời lặn, rẽ lối bước đi ào ào. Trung uý Hùng như bị đặt vào một chuyện đã rồi, bèn ra lệnh cho bộ đội tạm thời ngừng đào bới. Xong, anh vẫy gọi tay liên lạc mặt non choẹt đến thì thầm vài câu gì đó, rồi cả hai vừa đi vừa chạy cố đuổi cho kịp người cựu chiến binh dãi dầu sương gió ấy. Và mười phút sau, ba người đã đến trước một mô đá tự nhiên nhưng vuông vức như bức tường xây, bị phủ kín bởi những dây chạc chìu, dây bìm bìm, dây hoa phong lan xanh um; đây đó có điểm xuyết những nụ hoa đủ các màu sắc xanh vàng trắng đỏ nom rất ngoạn mục. Ẩn dấu sau bức màn thiên tạo rực rỡ này là lớp địa y màu xám lục, dày dặn, xôm xốp, Chính nhờ "tấm áo đất" khiêm nhường này bảo vệ mà chất sơn màu đỏ của các chữ đề trên mặt đá cách đây ngót một phần ba thế kỷ vẫn tươi màu:

PHẦN MỘ CÁC LIÊT SĨ (từ trái qua phải)

TRẦN LÀI- ĐINH VĂN VỤ- LA ĐÌNH LANG-HOÀNG VĂN SA- NGUYỄN VĂN BẮC

Chờ cho hai anh bộ đội đọc xong, ông Quang dẫn họ đi vòng ra phía sau mộ đá, cách nơi này độ năm chục mét.

- Đây là phần mộ của liệt sĩ Châu Quyền - ông Quang cố lấy giọng tự nhiên, nhưng vừa nói ông vừa nuốt khan nước bọt liên tục  - Thú thật với hai đồng chí, động lực mạnh nhất thôi thúc tôi đang trên đường đi tìm trầm nơi xa, phải lăn lội đến đây để gặp bằng được các đồng chí vào thời điểm này là vì lo lắng cho phần mộ của cậu Châu Quyền này đó.

- Vì nó rất dễ bị bỏ sót bác nhỉ? - Hùng nhìn đối tượng vẻ thông cảm- À bác ơi, tại sao hồi đó, người ta không chôn sáu liệt sĩ này vào một cụm mà tách ra như thế?

- Đó là cả một câu chuyện dài, nếu đồng chí cho phép, tối nay tôi kể cho mà nghe- Ông Quang cười buồn, rồi vỗ nhẹ lên vai anh trung uý- Này, mặc dù cấp trên chỉ giao nhiệm vụ cất bốc hài cốt liệt sĩ ở nhóm mộ năm ngôi, nhưng giờ phát hiện thêm ngôi thứ sáu này, thì các đồng chí cất bốc luôn một thể nhé?

- Cất bốc thì dễ thôi, nhưng đưa vào nghĩa trang liệt sĩ được hay không phải được cấp trên phê duyệt. Bác này, cháu hỏi khí tò mò... Có phải hồi đó, bác là thủ trưởng quân chính của C3 không ạ?

- Sao biết?

- Căn cứ vào nét đi dáng đứng, lời ăn tiếng nói, và sự hiểu biết của bác về cách sử dụng bản đồ địa hình ấy mà.

- Mình biết sử dụng bản đồ thành thạo trước ngày nhập ngũ cơ. Vì trước thời làm lính, mình là kỹ sư địa chất. Nhưng dù sao thì anh bạn trẻ cũng đã đoán đúng: Hồi đó mình là quân chính của C3 - Ông Quang cười xoà, xoa hàng ria mép lốm đốm bạc, cất cao giọng- Vậy thì nhân danh cựu thủ trưởng của đơn vị C3, mình có quyền chứng nhận đây là mộ của liệt sĩ Châu Quyền được chứ?

- Dạ, Hùng vẻ lưỡng lự - Cháu thấy... Trường hợp này có cái gì hơi... đặc biệt. Do đó cháu phải thỉnh thị lên trên để chờ phương hướng giải quyết mới được.

- Nếu thế thì ngôi mộ này không khéo sẽ bị san lấp để làm đường cao tốc mất thôi!

- Không lâu đến thế đâu - Hùng tiếp - Dùng điện thoại di động để liên lạc, cháu cùng lắm là mất một buổi thì bao nhiêu cánh cửa ban này phòng nọ đều được mở hết thôi mà.


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 20 Tháng Giêng, 2011, 03:55:41 pm
Hôm sau, trong khi cánh lính tráng của đơn vị lo công này việc nọ, thì ông Quang lần vào bản Vân Kiều gần đó để xin ván, để mượn các thứ đồ nghề. Rồi ông cưa. Ông đẽo. Ông bào. Ông đục. Ông chạm khắc. Gần trưa ông đóng xong cho người đồng đội quá cố của mình một cái tiểu bằng gỗ gie có hình "Lưỡng long chầu nguyệt" phía đằng đầu có hình chữ Hán "Tiên cảnh nhàn du" trên nắp ván thiên, có nhiều hình hoa lá chim muông ở thành bên trái với thành bên phải. Và tất cả đều được chạm khắc bằng những đường nét bay bướm, tinh tế đến mức lúc ông đem chiếc tiểu về chỗ có khu mộ năm ngôi, thì cánh lính tráng xúm cả lại mà ngợi khen không tiếc lời.

- Bác Quang, bác Quang! Vào đây cho cháu gặp tí.

Chợt nghe có tiếng của trung uý Hùng gọi mình trong chiếc lán mới dựng tạm, ông Quang rẽ lối đi vào.

- Bác Quang này! - Hùng nói - Tại sao Châu Quyền vốn là một tên lính ngụy, mà bác lại bảo chúng cháu đưa hài cốt ông ấy vào nghĩa trang liệt sĩ?

- Tin ấy từ đâu ra? Ơ kìa, sao đồng chí có vẻ mất bình tĩnh đến thế nhỉ! Việc gì có đó. Nào, đồng chí hãy cho tôi biết tin ấy từ đâu ra, rồi tôi sẽ nói cho đồng chí rõ: Vì sao tôi lại cầu xin các đồng chí đưa hài cốt Châu Quyền vào nghĩa trang liệt sĩ?

Không phải vì nội dung câu nói mà chính vì cái chất giọng bỗng nhiên bị khản đặc của ông Quang, vì cặp mắt bất chợt đỏ kè lên của ông khi câu nói đó đã làm cho Hùng xúc động.

- Đại khái thế này, bác ạ- Hùng tiếp - Mới đầu cháu gọi điện cho lãnh đạo tỉnh đội trình bày trường hợp của ông Châu Quyền để xin ý kiến giải quyết. Chẳng rõ vì lý do gì đó mà lãnh đạo tỉnh đội lại gọi điện ra quân khu. Ngẫu nhiên mà ông trưởng phòng quân lực quân khu là người trước đây từng làm chính trị viên trưởng của đại đội ba.

- Nguyễn Cự Đỉnh, đúng không?

- Phải, ông ta tên là Nguyễn Cự Đỉnh, cấp bậc trung tá. Cách đây độ năm rưỡi, chính ông Đỉnh đã thông báo cho tỉnh đội ta biết vị trí của năm ngôi mộ này.

- À, vậy chính hắn là tác giả của cái chấm đỏ trong bản đồ của đồng chí đó. Vì hắn vẫn tưởng bản đồ địa hình bây giờ cũng giống loại hắn quen dùng trước đây mà. Chao ôi, Quyền! đã lấy cả mạng sống của mình ra để lập công chuộc tội, mà đến nay vẫn không sao xoá bỏ nổi cái danh hiệu một tên lính ngụy, Quyền ơi là Quyền ơi!

Ông Quang bất giác kêu lên, úp mặt vào chiếc bàn dã chiến, khóc tức tưởi. Mọi người xung quanh xúm cả lại hỏi han, an ủi ông, rồi thi nhau bàn tán, nhưng ông hầu như chẳng để ý gì đến họ. Bởi lẽ đúng vào lúc những giọt nước mắt của con người ở tuổi ngũ tuần ấy tuôn ra như mưa đổ thì tâm hồn ông đang lần theo ký ức mà sống lại với những kỷ niệm của thời quá vãng.

Cách đây đúng ba mươi bốn năm, trong một trận tập kích chớp nhoáng vào đồn A So, đại đội quân Giải phóng do thiếu uý Trần Văn Quang chỉ huy đã bắt được gần ba chục tù binh, trong đó có bác sĩ Châu Quyền. Đang lúc đồng chí y tá mới hy sinh chưa có ai thay thế để sơ cứu cho bộ đội bị thương, lại thấy Châu Quyền có vẻ mặt phúc hậu, Quang đã giữ cậu ta lại làm thầy thuốc của đơn vị. Mới đầu, Quang chỉ định dùng Quyền dăm bữa nửa tháng đợi khi cấp trên cho y tá khác đến, sẽ trả Quyền về hậu cứ. Nhưng y tá khác chờ mãi chẳng thấy đến, trong khi đó thì Châu Quyền càng ngày càng tỏ ra là một thầy thuốc vừa có tài vừa có đức, đúng nghĩa "Lương y như từ mẫu" được hầu hết anh em trong đơn vị yêu mến và kính phục. Thời gian không lâu, giữa Quyền và Quang đã hình thành một tình bạn rất tâm đầu ý hợp. Điều đó, kể cũng dễ hiểu. Trước hết, cả hai đều là trí thức, nên lời ăn tiếng nói của họ dễ lọt tai nhau. Thứ nữa, cả hai đều sôi nổi mộng mơ, giàu chất nghệ sĩ. Những lúc rỗi rãi ở hậu cứ, Quang và Quyền hay rủ nhau đi câu cá, hay đi ra rừng làm thơ đọc cho nhau nghe. Phải nhận rằng, Châu Quyền là một thi sĩ bẩm sinh. Những bài thơ Quyền viết về mẹ, về người yêu, về em gái, về nỗi đau do chiến tranh gây ra cho xóm làng cho đất nước đã để lại nhiều ấn tượng sâu sắc cho người đọc.

Đáng tiếc là chẳng hiểu sao, trong khi Quang và hầu hết anh em của đơn vị yêu mến và kính phục Quyền như thế thì chính trị viên trưởng Nguyễn Cự Đỉnh vẫn cứ xem Quyền là "một tên lính ngụy". Với ông Đỉnh đã là một tên lính ngụy, mà là lính ngụy trí thức, thì dù có được tập thể giáo dục cải tạo đến mấy, anh ta vẫn không sao tẩy rửa được vết nhục của một kẻ từng "liếm gót giày cho ngoại bang". Ngoài việc luôn nhìn Quyền bằng con mắt "đề cao cảnh giác" và nhắc nhở mọi người đề cao cảnh giác như mình, ông còn xui anh em trong đơn vị chống lại chủ trương giữ Châu Quyền làm thầy thuốc của Quang, xui anh em phê phán Quang có "tư tưởng tiểu tư sản lập trường bấp bênh", không phân rõ địch ta... Về phần mình, vốn là một chàng trai can trường đội trời đạp đất, Quang chẳng lấy thế làm bằng. Nhưng với Châu Quyền thì khác. Bị một vị cao cấp là ông Đỉnh luôn nghi kỵ. Quyền đâm ra mặc cảm với thân phận hàng binh của mình, và nhiều lần khẩn khoản cầu xin Quang cho được trực tiếp cầm súng đánh Mỹ để "lập công chuộc tội", nhưng Quang đều gạt đi. Tuy nhiên, từ bấy, nếu tinh ý, ai ai đều nhận thấy bên cạnh công việc chuyên môn mà anh luôn hoàn thành xuất sắc. Quyền còn bỏ nhiều công sức vào việc học ném thủ pháo, bắn súng B40, B41và đánh bộc phá. Rõ ràng anh ta đang cố tự trang bị những kiến thức quân sự cần thiết, để hễ có thời cơ thì xông lên "lập công chuộc tội".


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 20 Tháng Giêng, 2011, 03:56:24 pm
Và cái thời cơ ấy đã đến.

Đại đội do Trần Văn Quang chỉ huy nhận nhiệm vụ tập kích đồn Đồng Chuối vào đêm 30 tháng 4 năm 1971. Theo phương án đã vạch, đúng 23 giờ, bộ đội đã vào vị trí tập kết. Như thường lệ, mỗi lần ra trận, thầy thuốc Châu Quyền bao giờ cũng bám sát đại đội trưởng Trần Văn Quang. Lúc này, cách họ một quãng độ 5,6 mét là nơi ẩn núp của hai chiến sĩ đánh bộc phá là La Đình Lang và Đinh Văn Vụ làm phận sự mở đột phá khẩu. Đúng 23giờ 10 phút, nhận hiệu lệnh của đại đội trưởng. La Đình Lang vác bộc phá tiến vào lớp rào kẽm gai ngoài cùng. Một tia lửa màu da cam bật lên, tiếp liền là tiếng nổ dậy đất. Một quãng rào gồm nhiều lớp dài độ ba bốn sải tay bung ra, dồn về hai phía. Nháy mắt, Đinh Văn Vụ lao lên với quả bộc phá thứ hai để bứt nốt ba lớp rào phía trong. Nhưng anh chưa kịp giật kịp nụ xoè, thì bao nhiêu cỡ súng trong đồn đã hướng cả về phía đột phá khẩu mà dội lửa. Và một tình huống không lường trước được là La Đình Lang và Đinh Văn Vụ đều trúng đạn.

- Báo cáo! Cho tôi lên thay Đinh Văn Vụ!

Đang bàng hoàng, Quang càng bàng hoàng hơn khi nghe giọng nói của Quyền. Và vị chỉ huy trẻ tuổi này chưa kịp có phản ứng gì, thì Quyền đã rời bệ tỳ, vọt lên khỏi chiến hào, vừa bò vừa lăn về phía thi thể của Đinh Văn Vụ, nhặt lấy quả bộcphá.

Oàng! Bộc phá nổ. Đột phá khẩu đã được mở.

Mười phút sau quân ta hoàn toàn làm chủ vị trí Đồng Chuối.

Trong trận này, đơn vị C3 bị tử vong sáu chiến sĩ, trong đó có ba chiến sĩ đánh bộc phá là: Đinh Văn Vụ, La Đình Lang, Châu Quyền; Ngoài ra còn chín anh em bị thương, trong đó có đại đội trưởng Trần Văn Quang.

Sau gần hai tuần vào điều trị vết thương ở bệnh viện của một binh trạm, Quang về lại đơn vị. Việc đầu tiên, anh bắt đồng chí liên lạc dẫn mình đến thăm phần mộ các đồng đội mới hy sinh. Đến nơi thấy có sáu ngôi mộ lại chôn làm hai nhóm. Quang ngạc nhiên hỏi, thì tay liên lạc cho biết: "chính trị viên trưởng bắt phải làm như thế"

Chiều hôm đó, Quang lại nêu câu hỏi trên với Nguyễn Cự Đỉnh, không ngờ ông này trả lời một cách lạnh lùng:

- Gì thì gì, chứ vong linh các chiến sĩ quân đội cách mạng cũng không thể để lẫn với hồn ma một tên lính ngụy được.

-"Một tên linh ngụy"! - Quang cảm thấy như bị nghẹt thở - Qua ngần ấy cam go thử thách, thậm chí, cuối cùng Châu Quyền đã lấy cả máu của mình để tẩy rửa cho cái bản lý lịch từng có một thời đứng trong hàng ngũ quân đội Cộng hoà, mà vẫn chưa sạch được ư? Tôi hỏi đồng chí, giả sử trong cái khoảnh khắc Đinh Văn Vụ và La Đình Lang mới hy sinh, mà Châu Quyền không nhảy lên thay thế kịp thời, thì liệu đơn vị ta có giành dược chiến thắng Đồng Chuối, và liệu tôi với đồng chí có còn sống đến bây giờ để bình công luận tội cậu ấy được nữa không?

- Tôi thừa nhận trong giây phút đó. Châu Quyền đã có một hành động sáng chói. Nhưng... Nó chỉ mang tính chất ngẫu hứng, đột biến!

- Ngẫu hứng đột biến! - Quang cười khô khốc- Nhưng để có sự ngẫu hứng đột biến tuyệt vời đó, thì ý thức cách mạng trong con người của công dân Châu Quyền phải được nâng cao một cách tiệm tiến đã chứ? Tôi thực sự cầu chúc cho mọi người, ở những khoảnh khắc sinh mệnh của tập thể đang như nghìn cân treo sợi tóc, có được những hành động "ngẫu hứng, đột biến" như thế. Kể cả tôi, kể cả đồng chí, đồng chí chính trị viên ạ.

-Thế nào? - khuôn mặt dài đuồn đuỗn của Nguyễn Cự Đỉnh chợt tái mét đi vì xúc động- Anh định đánh giá tôi là một thằng hèn phải không?

- Đâu có, tôi chỉ muốn anh biết nhìn nhận cho thật công bằng đối với công dân Châu Quyền mà thôi!

- Không thể có sự công tâm với cái tên lính ngụy mạt hạng ấy được!

Mấy tiếng"tên lính ngụy mạt hạng" từ cái miệng loa kèn của Nguyễn Cự Đỉnh nói ra làm Quang cảm thấy như bao nhiêu hơi nóng trong người anh đều bốc cả lên mặt. Anh cố nén giận, nhưng Đỉnh lại vẫn lải nhải nhắc đi nhắc lại mấy tiếng đó thêm nhiều lần, khiến Quang lộn cả ruột.

- Câm mồm đi!- Quang quát the thé. Anh không có quyền xúc phạm đến vong linh đồng chí ấy!

- Đồng chí...ha ha...Chỉ có những ai lập trường tiểu tư sản bấp bênh mới là đồng chí của tên lính ngụy mạt hạng ấy mà thôi!

- Trời ơi! Nghĩa tử nghĩa tận, anh nỡ nào...Thôi xin anh câm mồm đi! Câm mồm đi!

Nhưng Nguyễn Cự Đỉnh chẳng những không chịu câm mồm, mà tiếp tục dùng nhiều lời lẽ thô bỉ, cay độc hơn nữa để nói về Châu Quyền. Cuối cùng thì cái gì nhất định đến đã đến. Bốp bốp! Hai cái tát như trời giáng nhằm vào khuôn mặt dài đuồn đuỗn của Đỉnh, khiến Đỉnh ngã ngửa vào một bụi cây gai váng lồ, kêu oai oái...

Sau cái sự kiện động trời đó, Quang bị gọi về sư đoàn bộ bắt làm kiểm điểm. Trong lúc làm kiểm điểm, chẳng biết Quang cãi bướng sao đó, mà người ta cách chức đại đội trưởng của anh, chuyển anh về đơn vị tăng gia vùng hậu cứ. "Phúc bất trùng lai hoạ vô đơn chí", trong một lần cuốc đất trồng rau bên suối, anh đụng phải bom bi, lại đi nằm viện. Lành vết thương thì cũng là lúc Miền Nam hoàn toàn giải phóng, Quang được chuyển ra Bắc, rồi được giải ngũ về quê.

Biết nằm gắng cũng không ngủ được, Hùng vén màn ngồi dậy, đẩy nhẹ cánh cửa sổ khép hờ, nhìn ra ngoài trời. Những mái phố ngói đỏ, những hàng cây xanh um giờ đã nhạt nhoà trong màn sương trắng bồng bềnh làm cho không gian như được nới rộng thêm ra. Phía cuối chân trời, một màn mây đen kịt, oằn xuống như sống lưng một con lợn chửa, chốc chốc lại bị những tia chớp hình chân rết chặt ngang xé dọc, kèm theo là những tiếng sấm rền vang. "Trong núi Phù Then trời mưa rất to, chẳng biết bác Quang rúc vào đâu cho khỏi ướt?". Hùng lẩm bẩm như người mộng du, và cảm thấy ân hận vì hồi chiều mình đã bỏ bác ta ở lại một mình trong đó.

Đúng ra thì hồi chiều Hùng đã tìm đủ mọi cách để đưa ông Quang về cùng đơn vị, kể cả việc anh đã ra lệnh cho cánh lính trẻ khênh ông lên xe đặt ngồi ngay ngắn sau hàng tiểu sành đựng hài cốt năm liệt sĩ, nhưng ông chỉ nán lại một lúc khấn khứa nhỏ to trước vong linh các đồng đội vài câu, rồi gạt nước mắt nhảy xuống đất, đến trước mặt Hùng, giọng khản đặc:

- Đồng chí đưa anh em về ngay đi cho kịp tập kết hài cốt liệt sĩ vào nghĩa trang, nếu để muộn nghĩa trang đóng cửa, thì vất vả lắm đó. Còn tôi, hôm nay dứt khoát phải ở lại đây với Châu Quyền, kẻo một tổ sáu anh em bấy lâu xúm xít bên nhau, mà nay năm đứa đi rồi, chỉ mỗi nó ở lại thì lẻ loi đơn chiếc quá!

- Nhưng giữa rừng sâu núi thẳm thế này, mà bác ở lại một mình qua đêm, nếu có chuyện gì bất trắc thì tính sao?

- Không can chi đâu, tôi từng là một nhà địa chất, lại từng làm lính Cụ Hồ, và nay thì chuyên ngậm ngải tìm trầm cơ mà... Thôi xin đồng chí cho tôi được ở lại một mình hôm nay với Châu Quyền, chỉ một mình thôi, để tôi với nó tâm sự với nhau cho trọn đêm, rồi ngày mai thì "tùy nghi di tản". Nó thì nằm lại ở đây để đợi con đường con cao tốc mở lối đi qua; tôi thì tiếp tục cái nghề tìm quế tìm trầm kiếm đồng tiền bát gạo nuôi con ăn học. Thôi, đồng chí lên xe mà về đi kẻo muộn. Chúc đồng chí đêm nay ngủ ngon...

Nhưng đêm nay Hùng không hề ngủ. Lo cho năm liệt sĩ nọ có mồ yên mả đẹp trong nghĩa trang xong, Hùng cùng anh em bộ đội về doanh trại. Suốt ngày tối mặt tối mũi vì công việc này việc nọ tưởng đặt lưng xuống giường là Hùng có thể kéo bễ được ngay. Nào ngờ, hình ảnh ông Quang với nước da dãi dầu sương gió, với khuôn mặt thô tháp khắc khổ, với ánh mắt nhìn vừa chan chứa yêu thương vừa ngang tàng quyết liệt, cứ bám riết lấy anh, làm anh lúc nào cũng tỉnh như sáo...

Hôm sau, mới bảnh mắt Hùng đã mượn chiếc hon-da của một người bạn trong tỉnh đội, phóng ngay vào núi Phù Then. Quãng đường từ đây đến đó bình thường đi xe máy chỉ mất một tiếng; nhưng lần này, do trận mưa kéo dài hôm qua đã làm cho mực nước các con suối cắt qua đường dâng cao gây ách tắc giao thông, do vậy, Hùng phải lăn lội hơn hai tiếng mới chỉ đi được già nửa đường. Và đúng vào lúc chàng trung uý trẻ dắt xe qua khỏi chỗ ách tắc cuối cùng, thì anh thoáng thấy bóng dáng ông Quang xuất hiện ở bên kia suối với một gánh nặng lặc lè trên vai.

- Chào đồng chí!- Ông đặt gánh xuống, lấy khăn lau mồ hôi chảy thành dòng trên khuôn mặt tái nhợt vì mệt mỏi- Tôi biết hôm nay thế nào đồng chí cũng trở lại tìm tôi.

- Căn cứ vào đâu mà bác đoán chắc như vậy?

Ông Quang cười xoà:

- Có gì đâu. Đã là người lính thì không bỏ rơi đồng đội, thế thôi.

- Vậy mà chúng cháu đã bỏ bác ở lại một mình trong đó suốt hôm qua đến giờ!- Giọng Hùng như nghẹn lại- Chiều hôm qua, sau khi về đến doanh trại, cháu lại rất nóng lòng muốn được gặp bác để bàn một việc liên quan đến hài cốt ông Châu Quyền.

- Cụ thể là thế nào?

- Chúng ta có thể bốc hài cốt ông Quyền đem vào nghĩa trang, nhưng đặt ở khu "chiến sĩ vô danh". Vì trong đó có một khu biệt lập như vậy.

- Không được! Cậu ấy có tên tuổi có ngày sinh tháng đẻ, có quê hương bản quán hẳn hoi, thì sao lại là "chiến sĩ vô danh"?

- Nhưng nếu không bốc đi bây giờ, để năm bữa nữa tháng nữa đường cao tốc sẽ đi qua, thì mộ bác Châu Quyền bị san bằng mất, chứ còn à?

- Nếu có bị san thì cũng vẫn nằm trong lòng đất mẹ chứ mất đi đâu mà sợ - Ông Quang nói tỉnh bơ, rồi cười xoà  - Đùa cho vui, chứ tôi đã bốc hài cốt cậu ấy về đây rồi. Nó kia kìa- Ông trỏ vào một đầu gánh, nơi có chiếc tiểu gỗ được che hờ bằng hai tàu lá cọ.

- Bốc rồi ư?- Hùng xúc động la lên- bác định đem ông Châu Quyền về đâu?

-Đem về quê tôi - Ông Quang tiếp - Phần mộ cậu ấy sẽ nằm trong khu lăng mộ họ Trần nhà tôi. Sau này khi đi hết chặng đường trần thế khổ ải để về cõi vĩnh hằng, tôi lại được ở gần Châu Quyền như những tháng năm xa xôi hai chúng tôi từng bên nhau trong các căn hầm chữ A dọc Trường Sơn thời đánh Mỹ. Thế cũng hay đấy chứ?

Và ông cười khô khốc. Trong đời, Hùng chưa từng nghe có tiếng cười nào lại làm anh bùi ngùi xúc động đến thế.

H.B.T
(190/12-04)


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 20 Tháng Giêng, 2011, 04:16:43 pm
Kẻ hèn nhát

VIỆT HÙNG


Ga H. một đêm mưa phùn ảm đạm.
Khách chờ tàu nằm la liệt dọc các hành lang.
Tôi bước vào phòng đợi, trong tâm trạng không vui mà cũng chẳng buồn. Tìm một chỗ ngồi bất kỳ…

Tiếng người xướng ngôn viên báo đoàn tàu đã xin đường. Tôi đứng dậy xách hành lý theo dòng người tuôn chảy vào ga. Mùi hôi hám, ẩm thấp bốc lên. Cái mùi thường phải ngửi ở bất kỳ nhà ga nào. Một kẻ ngái ngủ đến hỏi tôi xin lửa hút thuốc lá…

Đoàn tàu tiến vào đường sắt số 1. Rồi nó dừng hẳn. Tôi mở tấm vé xem lại, luống cuống chạy ngược, chạy xuôi, tìm toa của mình. Càng lúng túng hơn khi biết tàu chỉ dừng 5 phút.

- Phải toa số 5 đây không anh? - Tôi hỏi người đàn ông thò đầu ra cửa sổ.

- Phải đấy, lên mau đi!

Tôi chạy về đầu toa bên phải. Lạ quá, cửa đóng! Không thể tả hết nỗi bối rối khi đó. Cứ như gà mắc tóc. Chạy ngược lại bên trái. Người đàn ông khi nãy giơ tay vẫy tôi, ra hiệu nên leo qua cửa sổ. Đoàn tàu có dấu hiệu chuyển bánh. Tôi ném bừa túi du lịch qua cửa, bám vào tay người đàn ông tốt bụng, gắng sức đu mình trườn qua. Anh ta cũng cố để kéo cái thân hình to béo của tôi… Thế là thoát nạn, tôi thở phào nhẹ nhõm tìm số ghế. Chính tại khoang đó. Người đàn ông thu xếp một chỗ trên giá đựng đồ, đặt túi du lịch của tôi lên, lặng lẽ không nói gì. Tôi loay hoay buộc lại hành lý. Nhìn ngó ngược xuôi… sực nhớ, rút bao thuốc lá, quay lại, tôi muốn mời người đàn ông một điếu trước khi tỏ lời cảm ơn. Nhưng anh ta đã ngả lưng, kéo sụp chiếc mũ lưỡi trai che nửa mặt. Có lẽ đã ngủ, hoặc anh không thích nói chuyện vào lúc này. Tôi ngồi xuống, theo tiếng xình xịch của đoàn tàu, cố ru mình chợp mắt.


Điểm tâm xong, tôi lại rút bao thuốc lá ra mời người đàn ông tốt bụng khi đêm.

- Cảm ơn anh, nhưng… tôi hút thuốc nặng lắm. - Vừa nói anh vừa rút bao Đà Lạt ra khỏi túi áo.

Ngồi đối diện nhau, giữa ánh sáng ban ngày, tôi mới có dịp ngắm kỹ anh ta… Da ngăm đen, vóc người nhỏ thó, khuôn mặt thanh tú nhưng buồn, hàng ria mép khá rậm, trên mình mặc bộ áo quần xoàng xĩnh. Ở anh toát ra sự trầm tư khó hiểu. Ngoài ra còn có cái vẻ, mà dẫu không rành tướng số, cũng có thể đoán được, con người này rất chật vật với cuộc đời. Chợt, anh chăm chú nhìn tôi. Tôi hơi sững người bởi trong cái nhìn như muốn đọc điều gì. Thời gian im lặng hơi lâu. Tôi rất muốn bắt chuyện, song chưa biết nên nói thế nào. Chợt nhìn xuống, thấy anh ta mang một chân gỗ, tôi buột miệng:

- Trước đây chắc anh cũng từng ở quân ngũ?

- Vâng, đúng thế!

Câu trả lời hoàn toàn điềm tĩnh, phớt đời, làm tôi bối rối.

Lại im lặng.

- Anh bị thương ở mặt trận nào? - Tôi nhìn xuống một lần nữa để hỏi.

- Chẳng ở mặt trận nào. Hết chiến tranh tôi trở về nguyên vẹn. Còn đây - anh giơ chân lên - là hậu quả đi sau.

Tôi lại lúng túng bởi thái độ hờ hững, thản nhiên như không của anh. Anh hơi khó chịu - tôi suy nghĩ. Như đoán được điều đó, anh lên tiếng:

- Chắc anh cũng thế, cũng từng ở lính?

- Vâng, cũng từng.

Anh ngắm nghía sự lành lặn của tôi từ đầu đến chân. Tôi hơi xấu hổ với thân hình to béo của mình.

Lại một hồi im lặng.

Để rồi tôi cố phá tan bầu không khí lặng ngắt đang bao trùm:

- Thời chiến tranh anh từng ở đâu?

- Ngay cái chỗ kéo anh lên tàu ấy. - Câu trả lời như được chuẩn bị sẵn. Anh nhìn tôi vẻ dò xét. Cái nhìn khó hiểu gây cho tôi cảm giác gai gai. Tôi đưa mắt lảng đi.

- Có lẽ anh là người của thành phố H.? - Anh ta lại hỏi.

- Phải!

- Tôi thuộc thành phố ấy như lòng bàn tay. Nhưng… nơi đó là nỗi ám ảnh trong đời, khiến hơn 20 năm tôi không dám trở lại, thậm chí còn rùng mình khi đi ngang đó.

Sửng sốt trước lời nói, sự tò mò thúc giục tôi cố bám theo tìm hiểu. Một thanh niên ngồi gần, kể một câu chuyện hài hước, cắt ngang chúng tôi. Khi câu chuyện kết thúc, tôi nôn nóng tìm cách gợi lại.

- Trước, tôi từng là lính biệt động nội thành. - Anh nói chắc nịch, sau khi tôi cố lái câu chuyện.

Dừng lại trầm ngâm. Rồi anh kể một thôi, một hồi, cảnh sinh hoạt của thành phố thời chiến tranh. Tôi chẳng quan tâm vì cái đó tôi cũng biết. Điều cần tìm hiểu là nỗi ám ảnh anh nói khi nãy.

Lan man trở về quá khứ. Chính tôi đã từng ở cái đội biệt động ấy nhiều năm mà sao không biết con người này nhỉ? Tôi nhẩm tính: đúng, hơn 20 năm rồi còn gì. Mà cũng phải thôi! Vì bí mật của công tác nội thành thời đó, có khi chiến đấu gần nhau vài ba năm mà chỉ biết tên chứ không hề biết mặt. Tôi nhìn lại anh ta rất lâu - cũng quen quen.

Tôi im lặng. Anh cũng im lặng. Có lẽ anh nghĩ ngợi. Và hình như cả một sự đấu tranh nội tâm rất dữ, thể hiện trên khuôn mặt. Tôi cũng ở tâm trạng ấy. Nhưng, cả hai đều muốn tỏ ra mình đang lóng tai nghe những câu chuyện tào lao bên cạnh. Tưởng tượng sự lặng lẽ, nặng nề, dài ngang cả thế kỷ… Tôi quyết định phá tan sự tĩnh lặng sau khi đã đặt trước tình huống bất ngờ nào đó:

- Tôi cũng từng ở cái đội biệt động của anh!

- Thật sao…? - Anh ta giật mình, trố mắt.

Phút ngỡ ngàng qua đi. Rồi anh hỏi tôi, vẻ cứng rắn:

- Anh ở đó từ năm nào?

- À, từ… 1973.

- Có nghĩa là…

Lại im lặng. Khuôn mặt anh trở lại vẻ căng thẳng, trán giật giật liên hồi…

- Ngày ấy tôi đã đi rồi. Tôi rời đội biệt động từ năm 1971 cơ. - Anh nói buồn bã.

Thực chất, tôi có mặt ở đội biệt động thành phố từ trước đó nhiều. Không hiểu sao lúc bấy giờ tôi lại phải nói dối. Vì lẽ gì cơ chứ?...


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 20 Tháng Giêng, 2011, 04:17:58 pm
Nhiều phút nữa trôi qua, chẳng ai nói. Rồi anh ta bặm môi hỏi, khi trán đã lấm tấm mồ hôi:

- Từ khi anh về đội, cho đến sau này, có bao giờ anh nghe nhắc đến Sơn Hải?

Tôi giật mình, bởi, câu chuyện về Sơn Hải đã bị chôn vùi trong quá khứ từ lâu lắm. Cái tên Sơn Hải ngày ấy đi vào lịch sử Đội biệt động. Cái tên mà bọn cảnh sát ngụy rất chờn khi nhắc đến, bởi tài xuất quỷ nhập thần của anh ta.

Những chiến công của Sơn Hải, mọi chiến sĩ trong đội còn nhắc mãi đến sau này. Bọn mật vụ tung ra một lực lượng đông đảo, rải khắp nơi, lần theo dấu vết Đội biệt động, nhưng, anh cùng những đồng đội vẫn liên tục gây xôn xao dư luận.

- Sơn Hải thì ai mà chẳng biết. - Tôi trả lời anh ta.

- Hắn là một tên phản bội!

- Nhưng… Không… - Tôi ớ người ra, trong tâm trạng không hiểu được mình định nói gì.


Không thể phủ nhận những chiến công của Sơn Hải!

Lần ấy, tên Giôn, một tên CIA dưới lốt cố vấn Mỹ, đang bí mật đi thu thập tin tức tình báo ở thành phố. Lệnh trên đưa về: khử gấp tên Giôn, thu toàn bộ tài liệu hắn đang giữ. Phải tiến hành ngay vì Giôn ở lại thành phố không lâu. Nhiệm vụ được giao cho Sơn Hải và hai chiến sĩ cùng phân đội. Bỏ ra một ngày nghiên cứu, Sơn Hải nắm được - tên Giôn liên tục thay đổi phòng ở tại khách sạn T., mỗi ngày vài ba lần là chuyện thường. Một buổi chiều, biết chắc giờ này hắn đang có nhà, Sơn Hải đeo lon trung úy cảnh sát, ngang nhiên phóng Hon Đa 67 vào khách sạn. Tên lính bảo vệ chặn anh lại:

- Ngài trung úy đi đâu?

Anh rút tấm “Công vụ lệnh đặc biệt” ra. Tên lính khúm núm như đã quen anh từ lâu:

- Xe của ngài đâu mà ngài đi xe này?

- Chú mi không đọc kỹ à? Chính vì sự “ đặc biệt” đó…

Bước nhanh về phòng giao dịch, anh chìa tấm công vụ lệnh cho cô tiếp viên:

- Tôi cần gặp ông Giôn-linh-cơ, chuyên viên hậu cần, mới ở Sài Gòn ra cách đây 5 ngày.

Người tiếp viên nhìn anh, thoáng nghi ngại, nhưng với dáng dấp phong trần của một cảnh sát, cặp lon trung úy “chói ngời” trên ve áo, cùng tấm công vụ lệnh đặc biệt đủ để anh khẳng định mình.

- Dạ… Ông chờ cho một lát. - Cô mở sổ liếc rất nhanh. - Ông Giôn mới chuyển phòng cách đây 2 giờ. Để tôi gọi báo trước. - Cô tiếp viên quay máy.

- Cô hãy nói với ông ta, tôi từ chỗ thiếu tá L.T. đến. Vừa nói anh vừa rút thuốc ra châm lửa.

- Xin mời ông lên phòng 207, ngài cố vấn đang chờ. - Cô tiếp viên nhã nhặn đặt máy.

Anh điềm tĩnh bước lên cầu thang. Bấm chuông phòng 207. Một người Mỹ mở hé cửa, nói giọng lơ lớ:

- Ông là ai?

- Tôi được thiếu tá L.T. cử đến gặp ngài. - Miệng nói, tay rút tấm công vụ lệnh chìa ra.

Tên Giôn mở rộng cửa khi nghe nhắc đến L.T. - một nhân vật quan trọng, y là nhân viên của CIA dưới lốt thiếu tá cảnh sát, khi ấy đang chỉ huy mạng lưới tình báo ngụy ở tỉnh T. Bước vào phòng. Khóa trái cửa. Tay trái đưa lên túi áo ngực như muốn rút ra giấy tờ gì đó, rất nhanh, tay phải anh rút súng ngắn có gắn ống giảm thanh. Tạch - Tạch… Tên Mỹ quỵ gục. Sơn Hải lục tung va ly, thu toàn bộ giấy tờ, tài liệu, cùng một máy ảnh nhỏ, nhét vào người. Mọi việc trong chớp mắt. Anh lẳng lặng đóng cửa đi xuống, chào cô tiếp viên. Nổ máy xe, chào tên lính gác. Ngoài đường đã có 2 người mặc thường phục ngồi trên chiếc 67 khác chờ anh. Sau 20 phút, cô tiếp viên nghi ngờ gọi điện thoại lên phòng 207. Không ai trả lời. Cô gọi tiếp cho viên sĩ quan chỉ huy khách sạn. Sau 30 phút, khách sạn báo động, xe cảnh sát hú còi inh ỏi chạy đến. Thời gian ấy đủ cho Sơn Hải giao xong tài liệu, thay biển số xe, rồi dúi xe vào một xó xỉnh nào đó. Đáng lẽ phải trở về nơi an toàn, nhưng anh đã mạo hiểm nhảy xe ôm trở lại. Trong bộ đồ thường phục, anh đứng nghênh ngang hút thuốc gần đó như một tên mật vụ, ngắm nghía sự xôn xao của cảnh sát trong khách sạn…

- Không nhưng gì cả! Đối với lịch sử, mãi mãi hắn là một thằng phản bội. Một kẻ hèn nhát!

- Ôi… lịch sử ư?... Tôi thẫn thờ buột miệng, một câu nói ngoài chủ đích.

Thực ra, tôi gặp Sơn Hải đúng một lần, cách đây hơn 20 năm, nhưng lại vào buổi tối, nên mọi hình ảnh chỉ còn lờ mờ trong ký ức. Đó là cái buổi xét kỷ luật anh. Bữa ấy, anh ngồi cúi đầu trong cuộc họp bất thường chỉ gồm 6 người (đội trưởng, đội phó, trưởng phân đội 5, Sơn Hải, Quang và tôi).

- Anh phải báo cáo lại toàn bộ hành trình của anh cho đến khi bị bắt. - Đội trưởng yêu cầu.

- Tôi phải kể đến 100 lần sao? Điều gì cần nói, tôi đã nói hết. - Sơn Hải trả lời nóng nảy.

- Đến lượt đồng chí Quang!

- Nhiệm vụ của tôi là bảo vệ vòng ngoài. Những gì của tôi, tôi đã báo cáo xong. Còn sự việc xảy ra sau, tôi không được chứng kiến.

- Sơn Hải! Như vậy anh đã không bảo vệ được cho mình, không tự biện minh được việc làm của anh. Thử hỏi, khi chúng tóm được anh, chúng không mở tiệc ăn mừng ấy à? Làm gì có chuyện lại thả anh ra dễ dàng như thế! Những lời của anh báo cáo thật ngây ngô như con trẻ… Trong chiến đấu không có thì giờ để phán xét. Hồi sau sẽ rõ! Hôm nay tôi thay mặt toàn Đội, buộc phải nghĩ anh là người thỏa hiệp với kẻ thù. Nói đúng hơn là hèn nhát, phản bội. Dẫu anh có nhiều chiến công, nhưng, chỉ một phút như thế coi như xóa sạch…

- Trời ơi… Sơn Hải ôm đầu rú lên - ở vào hoàn cảnh ấy, người ta có thể làm khác tôi được không? Tôi không tin! Không tin! Tôi xin chịu kỷ luật và đi khỏi Đội, nhưng cũng phải nói với các anh rằng, trong hàng ngũ chúng ta có bàn tay kẻ thù nhúng vào. Chúng ta đã mắc mưu chúng nó. Mắc mưu…


- Đúng thế! Hắn là ai anh biết không?... Người đang ngồi đối diện với anh đấy!

- Trời!... - Tôi cúi đầu, mồ hôi ướt đẫm, không dám nhìn anh ta. - Chẳng lẽ lại như thế!

- …


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 20 Tháng Giêng, 2011, 04:19:30 pm
Ngày ấy, Đội biệt động nội thành được chia ra nhiều phân đội nhỏ, từ 3 đến 5 người, sống trà trộn, lẩn khuất trong dân, làm đủ các nghề công khai từ đạp xích lô, chạy xe ôm, bán quán phở… cho đến những người là lính, là sĩ quan trong quân đội cộng hòa. Vì tính nguy hiểm của công việc, nên phân đội nào chỉ biết phân đội đó. Phân đội trưởng mới biết đội trưởng. Chiến sĩ khác phân đội không hề biết nhau. Chỉ những trận đánh phối hợp lớn, họ có thể gặp nhau chốc lát, không kịp biết tên, chưa kịp nhớ mặt, rồi ai lại về đó.

Lúc đầu, tôi cũng là người lính của một phân đội như Sơn Hải. Nhưng do sinh ra ở thành phố, thông thạo địa hình, tập quán, nên tôi được rút lên làm trợ lý tác chiến cho Đội. Thế là nghiễm nhiên tôi trở thành nhân vật thứ 3, sau đội trưởng và đội phó. Tôi là người trực tiếp truyền đạt mệnh lệnh của đội trưởng xuống các phân đội.

Tên Long - một đại úy mật vụ dưới lốt công chức. Một tên cáo già. Hắn chỉ huy mạng lưới mật vụ rải từ thành phố về một số huyện. Nhiều cơ sở của ta bị vỡ vì hắn. Khá nhiều cán bộ nằm vùng bị hắn bắt sống. Một đặc điểm - tên Long không bao giờ xuất đầu lộ diện. Chỉ thị của Thành ủy xuống Đội biệt động: lên bản án tử hình tên Long. Khẩn trương! Không thể để nó tác oai, tác quái được nữa!

Nhiệm vụ giao cho phân đội 5. Tôi là người đi truyền đạt. Sơn Hải chịu trách nhiệm trinh sát và thi hành bản án. Quang (chiến sĩ cùng phân đội) bảo vệ vòng ngoài. Toàn bộ kế hoạch đã tính kỹ từng chi tiết. Nhưng, rủi ro thay, bản án không thành. Sơn Hải bị tên Long bắt sống. Rồi được thả. Sự việc lùng nhùng ở đó. Có điều gì uẩn khúc?

Sau vụ này tên Long biến mất. Sơn Hải bị khai trừ Đảng, chuyển đi đơn vị khác theo quyết định của đội trưởng. Anh ta đi đâu? Chỉ có đội trưởng biết! Chiến sĩ các phân đội bàng hoàng khi nghe tin, mặc dù đa số chưa biết mặt anh. Người ta đặt nhiều dấu hỏi xung quanh số phận Sơn Hải. Cần suy xét ư? Nhưng, chiến tranh không có thời giờ để suy xét. Đội trưởng, một con người cương trực và quyết đoán, đã chỉ thị xuống các phân đội: “Không được nhắc lại chuyện Sơn Hải. Nên nhớ, thời gian chẳng cho chúng ta suy nghĩ nhiều. Không còn cách nào hơn, nếu như chúng ta không muốn gặp nhau trong trại giam và cùng nhận chung bản án tử hình của kẻ thù.”

Đó là nỗi đau và mất mát của toàn Đội biệt động.

Bốn tháng sau, mùa mưa dầm bắt đầu. Những trận đánh mới lại cuốn hút chúng tôi. Bị thương. Hy sinh. Rồi có người bị bắt. Mỗi lần như thế sẽ có một phân đội di chuyển chỗ ở và địa bàn hoạt động. Chúng tôi phải dành thời giờ cho những nỗi đau mới…

Thế là Sơn Hải, một thuở hào hùng khiến kẻ thù run sợ. Sơn Hải, kẻ hèn nhát. Sơn Hải, tên thỏa hiệp, phản bội. Và bây giờ… Sơn Hải - một công dân bình thường đang sừng sững ngồi trước mặt tôi. Biết nói gì đây, khi cả hai chúng tôi đều buồn bã ngồi suy ngẫm lại cái được và cái mất của ngày ấy.

Không ngờ sau chuyện Sơn Hải tôi còn có dịp gặp tên Long.

Năm 1975. Thành phố giải phóng. Chúng tôi đã hoàn thành sứ mạng lịch sử của mình. Đội biệt động giải tán. Toàn thể anh em gặp nhau, những người còn sống. Bao năm phối hợp chiến đấu chỉ ước ao một lần được gần gũi nói chuyện, thế mà lúc bấy giờ nhiều người đã chẳng còn. Trong cái vui có thật nhiều cái buồn. Đôi dòng lưu bút, vài tấm ảnh kỷ niệm, rồi hối hả chia tay mỗi người mỗi ngả. Tôi lên đường về làm quản giáo ở một trại tập trung học tập cải tạo các sĩ quan ngụy. Khi ấy mới có thời gian ngồi ôn lại quá khứ. Đã có lúc tôi nghĩ đến tên Long.

Trong số mấy trăm sĩ quan ngụy, hầu hết trước đây thuộc các đơn vị đóng ở các tỉnh Q. và T., họ hay nhắc đến một người được mệnh danh là “Ngài nguy hiểm”, bởi gã nổi tiếng mưu mô, xảo quyệt với các chiến hữu. Giáp mặt gã, một người to béo, cổ ngắn, mắt một mí, có giọng nói sang sảng không hề vấp bao giờ, ai cũng thừa nhận ở gã cái nhìn nham hiểm…

Giật mình khi nghe nhắc đến Ngô Văn Long, tôi về ngay phòng quản lý hồ sơ, đối chiếu danh sách. Xin mở hồ sơ số 108. Một bản hồ sơ được đánh dấu đỏ: “… thiếu tá mật vụ đội lốt dân sự. Từ 19.. đến 19.. chỉ huy mạng lưới mật vụ từ thành phố H. đến thị trấn P. Từ 19.. đến 19.. chỉ huy mạng lưới mật vụ của hai huyện Q. và P…. Rất xảo quyệt. Gây nhiều tội ác, cụ thể tháng… năm…, rồi tháng… năm… Đã 2 lần bị cách mạng tuyên án tử hình, nhưng đều thoát chết…” Thế là rõ! Tôi gấp hồ sơ lại. Tìm cơ hội thuận lợi tiếp cận tên Long.

Dịp ấy đã đến. Một ngày lễ, đồng thời là ngày liên hoan mừng thành quả tăng gia sản xuất của số sĩ quan học tập cải tạo trong trại. Lệnh của trại trưởng cho mỗi mâm được quyền uống một chai rượu. Vào lúc tất cả đều đã lâng lâng, tôi đi về mâm tên Long.

- Chào ông Long! Chào “Ngài nguy hiểm!”

- Ô… ông cán bộ mà cũng gọi tôi thế ư? - Tên Long lúng túng.

- Sau một hồi bâng quơ, tôi quyết định vào đề:

- Ông Long! Trong cuộc đời binh nghiệp của ông, những kỷ niệm nào đáng nhớ?

- Ôi, kỷ niệm thì biết bao nhiêu mà kể.

- Thế thời kỳ ở thị trấn P.

- Cũng nhiều lắm, nhớ sao hết được. - Gã lúng túng và tìm cách lảng đi.

- Ông còn nhớ Sơn Hải chứ?!

- Sơn Hải nào? - Gã giật mình.

- Thôi, đừng giả vờ nữa. Cái người mà ông bắt được năm 1971, rồi thả họ ra ấy!

- Sao ông cán bộ biết rõ thế?!

- Chính tôi đã từng ở cái biệt đội của Sơn Hải. Tôi đã nghiên cứu kỹ vụ này, nhưng, vẫn muốn nghe ông kể đầy đủ hơn. Cụ thể, vì sao ông lại thả Sơn Hải ra?

- Ông đã biết thì tôi chẳng giấu làm gì.

Sau khi gật gù, ngẫm nghĩ khá lâu, Long nói tiếp:

- Thực ra hồi đó, trong hàng ngũ các ông có kẻ phản bội…

- Sao?... - Tôi giật mình theo cảm tính.

Dòng hồi tưởng của tôi bị cắt ngang, bởi, có một người bán báo đến gạ gẫm chúng tôi. Buộc lòng phải mua mỗi người một tờ. Rồi Sơn Hải tiếp tục kể:

- Tôi quen một cô sinh viên người thành phố. Thông thường cứ một tuần chúng tôi gặp nhau một lần. Vào tuần ấy, đúng ngày hẹn cô ta, tôi lại phải đi làm nhiệm vụ, rồi bị tên Long bắt, sau đó thì đi thẳng cho đến bây giờ. Tội nghiệp… Không biết cô còn chờ tôi bao lâu. Bởi chúng tôi đã vẽ ra nhiều viễn cảnh tươi đẹp khi chiến tranh kết thúc. - Sơn Hải thở dài thườn thượt.

- Sao anh không trở lại tìm cô ta?

- Còn gì nữa đâu mà trở lại. Đã trắng tay còn thêm nỗi nhục suốt đời đeo đuổi tâm can.

- Ngày ấy họ chuyển anh đi đâu?

- Lên rừng. Về một đơn vị hậu cần, làm đủ các thứ việc lăng nhăng dành cho tên hàn nhát. Tôi sống vật vờ, lay lắt như một cái bóng cho đến ngày kết thúc chiến tranh. Nhiều khi muốn chết mà không chết được.

- Sau đó?

- Được xuất ngũ. Không bị ra tòa án binh là may rồi! Trở về quê hương với bản lý lịch có đoạn ghi: “… Dù có nhiều thành tích trong chiến đấu, nhưng chỉ một phút yếu hèn đã thỏa hiệp với kẻ thù… trở thành phản bội…” Tôi nộp toàn bộ hồ sơ cho chính quyền xã. Ba ngày sau được gọi lên ủy ban. Chủ tịch và Bí thư nhìn tôi hằm hằm từ đầu đến chân như muốn ăn tươi nuốt sống: “Bao năm đi thoát ly, tưởng mày làm đến ông này bà nọ. Té ra cũng chỉ là thằng phản bội. Thảo nào mà mày còn lành lặn trở về. Người ta không hy sinh thì cũng mất cái này cái kia…” - Họ nguyền rủa tôi. Sống ở cái xã một trăm phần trăm các gia đình có người đi theo cách mạng, và cũng đến quá nửa các gia đình có con em hy sinh trong chiến tranh, tôi trở thành cái gai lạc lõng. Mọi người luôn kiếm cớ để xỉ vả tôi. Chán nản mà vẫn phải lập lại cuộc sống. Chiến tranh đi qua, để lại một dải cát trắng cùng những hàng rào kẽm gai bùng nhùng. Trước khi vỡ ruộng, người dân xứ tôi đi thu nhặt vỏ đạn, phế liệu chiến tranh, bán kiếm sống qua ngày. Tôi cũng hòa nhập vào cuộc đời mới như thế. Một đêm trăng sáng, nằm trong nhà thao thức với nỗi tủi hờn, tôi chợt nghe tiếng động ngoài sân. Chạy ra, thấy 3 thanh niên đang bốc những thành quả của tôi lên xe ba gác - những cuộn dây kẽm gai, những vỏ đạn pháo, sau bao ngày lượm lặt chờ để bán.

- Sao các anh lại lấy của tôi? - Tôi lên tiếng.

- A… thằng phản bội. Mày không được quyền như chúng tao nghe rõ chưa? Ai cho mày đi nhặt những thứ này? Nhân danh những người đã ngã xuống, chúng tao tuyên bố tịch thu của tên phản bội.

Tôi nhảy ra giữ lại thì… “Rầm”, một quả đấm giữa mặt làm tôi hoa mắt. Tiếp theo một thằng nhảy lên đá một cú rất có nghề vào giữa bụng, cú đá đích đáng dành cho tên phản bội. Tôi ngã nhào. Chúng nhảy xổ vào tôi như thú vồ mồi. Chắc chắn tôi có thể quật ngã cả 3 thằng. Nhưng đã kịp kìm lòng. Bao năm cái chết gần kề chẳng ngán, giờ phải chịu thua 3 thằng nhóc. Tôi biết bọn này chỉ là những kẻ quá khích. Chắc chắn sau lưng chúng có người xúi giục. Chúng bẻ quặt tay tôi ra sau lưng, trói vào cột nhà.

- Thằng phản bội! Quân lừa đảo! Mày nhảy múa trên xác đồng đội…

Chẳng còn từ xấu xa nào chúng không gán cho tôi. Cứ mỗi tội, một cái tát nảy lửa đầy uất hận.

- Tôi lạy các anh! Lạy… - Tôi van vỉ - dẫu sao tôi cũng phải sống, phải tồn tại. Hãy để cho tôi làm người bình thường, được làm lại cuộc đời trên mảnh đất này.

- Không! Mày không được làm người bình thường! Không được giống bọn tao! Không được làm những gì chúng tao làm, rõ chưa?

Dường như đánh đã mỏi tay, chúng cởi trói cho tôi, rồi hì hục cả đêm chuyển hết số phế liệu mà bao ngày tôi lặn lội bới móc, hòng kiếm sống qua ngày. Đêm ấy, tôi khóc tức tưởi: “Cuộc đời ơi! Còn nỗi khổ nào hơn thế nữa hay không?” Cứ thế lầm lũi cúi đầu mà sống. Rồi, một đợt điều động thanh niên rà phá bom mìn, tôi ghi tên đầu tiên. Chính vì thế mà có cái chân gỗ này. Sau lần đấy, họ hả dạ lắm, như đã trừng trị được tên phản bội. Cái nhìn với tôi có thay đổi chút ít, nhưng cũng chỉ một thời gian. Sau đó dịp may lại đến. Người ta kêu gọi thanh niên đi nông trường cà phê ở Tây Nguyên. Cơ hội cho tôi. Tôi xung phong. Và đã được chọn vì chẳng ai muốn đi. Ngày đeo ba lô ra đến đầu làng, tôi chỉ tay lên trời thề không bao giờ quay lại. Nhưng mà, anh thấy đấy!... quê hương làm sao quên được. - Sơn Hải ngẩng đầu, khuôn mặt tươi tỉnh - rất may cho tôi, phía trước đã khá hơn.


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 20 Tháng Giêng, 2011, 04:20:10 pm
Ánh nắng nhạt dần. Một cơn gió nhẹ thổi qua, mang theo mùi thơm dìu dịu của lúa. Đã một đêm, một ngày, anh giấu mình dưới ruộng. Người khô róc, toàn thân bỏng rát. Mở bi đông, anh ngửa cổ tu. Chỉ còn mấy giọt nước cuối cùng. Nhìn sang bên phải, anh ra hiệu cho Quang. Quang cũng dốc ngược bi đông lắc lắc - đã hết. Mặc dù nắm vững quy luật đi về của tên Long, nhưng cẩn thận, để tránh bất trắc, anh vẫn ẩn mình trước từ đêm qua để giành thế chủ động.

Mặt trời thấp dần. Xe tên Long đã về. Vẫn chỉ thấy 2 tên bảo vệ mặc thường phục. Tòa vi-la xây theo kiểu quê, ngự ở thị trấn P., có mặt tiền xoay ra cánh đồng, mà từ đây, nhìn xuyên qua hàng rào anh có thể thấy rõ mọi manh động bên trong. Suốt ngày đóng cửa im ỉm - đó là dấu hiệu tốt. Anh nóng ruột nhìn mặt trời - một đêm, một ngày qua nhanh, giờ còn khoảng một tiếng, sao mà lâu thế. Trong nhà có 2 con chó rất khôn, nhưng anh đã nằm ngoài ruộng với chừng ấy thời gian, chắc chắn chúng sẽ không kịp đánh hơi.

Bóng tối bao trùm. Anh ra mật hiệu cho Quang theo bờ ruộng bò sát hàng rào. Lại nóng ruột chờ đợi, cho đến khi bóng tên Long ngồi trong phòng khách đang in lên bức bình phong bằng vải dựng trước cửa. Hắn đã ăn xong và đang ngồi gật gù hút thuốc. Giờ này 2 tên bảo vệ thường ở nhà dưới. Cả 2 cắt hàng rào chui vào, nép theo những lùm cây ngoài vườn. Cách phòng khách chừng 20m, Quang phải nằm lại để cảnh giới, và sẽ nhảy vào khi nghe tiếng súng. Như một cơn gió, anh băng mình đến trước cửa. Thò tay định rút súng.

- Đứng im! Giơ tay lên trời!

Anh giật mình sửng sốt. Hai họng súng AR 15 đen ngòm từ hai bên hông cửa chĩa thẳng vào mặt anh. Cùng lúc, ngoài vườn, hai họng súng như thế bắt Quang nằm im.

- Làm gì phải to tiếng thế! Ông Sơn Hải hả? Mời ông vào. - Tên Long từ trong nói vọng ra.

Sơn Hải nhẩm tính: không kịp rồi, giờ có rút súng ra, chưa chắc đã bắn được, mà mình thì tan xác. Điều quan trọng là tên Long ngồi tận trong kia. Anh từ từ bước vào. Ở cửa hông thông với nhà dưới, 2 tên bảo vệ cũng lăm lăm 2 khẩu súng ngắn chĩa vào anh.

- Chào ông Sơn Hải, ông trẻ hơn tôi tưởng nhiều. Nghe tiếng ông đã lâu. Mời ông ngồi! Nhưng, trước khi vào bàn, đề nghị ông bỏ vũ khí ra.

Hai tên lính gác dí súng vào lưng anh, thò tay xuống rút khẩu súng ngắn có gắn ống giảm thanh đặt lên bàn.

- Ông chuẩn bị cho cú “viếng thăm” tôi khá chu đáo đấy ông Sơn Hải ạ! Nhưng, đáng tiếc… - Hắn vẫn ngồi yên nơi bộ sa lông giơ tay ra hiệu mời anh ngồi. - … Mời ông hút thuốc… Uống nước.

Sơn Hải điềm tĩnh rút một điếu thuốc châm lửa, không nói gì.

- Tôi biết ông là người có học, lại được đào tạo bài bản trong nghề quân báo. Tôi cũng thế! Cho nên chúng ta hãy chơi bài ngửa với nhau và hãy nói chuyện lịch sự.

- Tôi không cần lịch sự. Và cũng chẳng chấp nhận cuộc chơi nào cả. Lần này tôi đã thất bại. Nhưng ông đừng vội mừng… Số phận tôi hiện nằm trong tay ông. Xin cứ việc định đoạt. - Anh điềm tĩnh rít một hơi thuốc thật sâu.

- Đừng nóng tính. Ông còn trẻ lắm! Tôi sẽ rất tiếc là nếu phải bắn một người táo bạo và can trường như ông.

- Cứ việc bắn, chẳng có gì phải tiếc.

Dừng lại một lúc, giả vờ suy nghĩ, tên Long nói tiếp:

- Bây giờ tôi thả ông ra, ông tính sao? Liệu ông còn nuôi ý định quay lại khử tôi nữa hay không?

- Ông nên nhớ, tôi đến đây không phải vì tôi, mà vì những người đã bị ông bắt và giết.

- Ông vẫn nuôi ý định quay lại?

- Tất nhiên!

- Tôi tưởng ông là người có học, thông minh và quân tử.

Trong chiến tranh không có sự quân tử cá nhân… - Dừng lại ngẫm nghĩ một lúc, Sơn Hải nói tiếp - Được, ông đã nói thế, tôi cũng sẽ thoái thác một lần nếu lại được giao việc này. Nhưng, nên nhớ, chỉ một lần mà thôi, không có lần thứ hai. Trong cuộc chiến, thế đã là sòng phẳng lắm rồi.

Tên Long lại ra vẻ ngẫm nghĩ:

- Tôi tin ông. Xin ghi nhận. Tôi cũng chỉ cần thế! Thôi, ông có thể ra về bình yên bằng cửa trước. - Hắn nói với 2 tên lính - trả vũ khí lại cho ông ta.

Sơn Hải bước thẫn thờ, ra hiệu cho Quang rút lui bằng cửa trước: “Hỏng! Hỏng! Lộ hết rồi! Trong hàng ngũ chúng ta có kẻ phản bội.”

Chỉ ngày hôm sau, tin đồn có một chiến sĩ biệt động bị bắt và đồng ý cộng tác với địch đã loang ra…

Mặt trước của chiến tranh, đối với Sơn Hải cũng khép lại từ đấy.


Tôi tiếp tục hồi tưởng cuộc đối thoại với tên Long:

- Ông nói ai phản bội? - Tôi hỏi tên Long sau khi đã cố trấn tĩnh.

- Một trong những nơi mà các ông gọi là “cơ sở đáng tin cậy”. Chính cái chỗ phân đội 5 vẫn dùng để liên lạc với nhau. Anh ta đã bị chúng tôi đe dọa và mua chuộc. Đáng tiếc, anh ta chẳng phát huy được gì, bởi, kế hoạch của các ông kín như bưng, bao giờ cũng bí mật đến phút chót, người thì phân tán ở khắp nơi. Nhưng, lần ấy, các ông đã sơ hở, và anh ta nắm được.

Trong đầu tôi hiện lên hình ảnh người đàn ông tên là Tâm, một “cơ sở đáng tin cậy của phân đội 5”…

- Đáng lý khi nhận được tin này tôi phải xa chạy cao bay. - Tên Long tiếp - nhưng, tôi đã quyết định liều mạng ở lại để đấu trí với các ông. Khi đầu tôi có ý định mua chuộc Sơn Hải nhưng rồi tôi gạt đi ngay. Chuyển qua tính kỹ một trong hai phương án: bắt một người hoặc cả hai. Tôi biết Sơn Hải là người thông minh và can trường, thường không thích dùng số đông. Chẳng bao giờ tôi có được những người lính như thế. Quả nhiên đúng, tôi mừng khi thấy mình anh ta xuất hiện, như thế, kế hoạch ly gián đã thành công. Không ai có thể thanh minh được cho anh ta. Việc bắt một mình Sơn Hải là thượng sách. Việc thả anh ta ra lại càng thượng sách hơn. Chẳng tốn phát đạn nào, tôi vẫn đạt hai mục đích: vừa loại được một đối thủ nguy hiểm khỏi võ đài, vừa gây hoang mang trong hàng ngũ các ông…

Sau cuộc đối thoại đó, tôi chẳng muốn gặp tên Long nữa. Chừng vài tháng sau, tên Long nằm trong danh sách chuyển ra Bắc, về một trại học tập khác. Hết hai năm làm công tác quản giáo, tôi được chuyển ngành về học đại học. Ra trường, sự nghiệp của tôi cứ thế thăng tiến...
           

Đoàn tàu dừng lại ga N. Sơn Hải đứng dậy thu xếp hành lý. Vồn vã bắt tay tôi:

- Thôi nhé, chào người đồng đội. Cứ tin rằng phía trước bao giờ cũng khá hơn. Phải hy vọng như thế mà sống, còn biết bám víu vào đâu nữa.

Sơn Hải đi xuống. Hình ảnh người cựu binh chân thấp chân cao đang bước trên sân ga, sắp hòa nhập vào dòng người vội vã cứ lòa nhòa trước mắt tôi. Anh vẫn ngẩng cao đầu. Ôi, đôi vai gầy bé nhỏ, mà phải gánh chịu nỗi bất hạnh quá nặng của một đời người.

Anh vẫn bước đi đầy tự tin.

- Dừng lại đi, Sơn Hải, hãy dừng lại. - Tôi hét lớn - tôi đây này, anh nghe không? Chính là tôi… Ngày ấy vì sơ suất tôi đã làm lộ khi đi truyền đạt mệnh lệnh. Và sau đó tôi biết kế hoạch bị lộ từ đâu. Nhưng tôi đã im lặng... cho đến bây giờ. Thế mà tôi vẫn can đảm ngồi xét kỷ luật anh nữa chứ! Ôi...

Những lời nói âm âm, u u bay tứ tung giữa không gian loạn nhịp. Chẳng ai thèm nghe tôi, bởi, phỏng còn có ích gì. Tôi gục mặt bên cửa sổ. Sơn Hải đã hòa vào dòng người hỗn loạn. Anh chỉ là một chấm nhỏ giữa cuộc đời, nhưng, một chấm sáng lung linh.

Còn tôi - mãi mãi cái bóng mờ nhạt.

Đoàn tàu xình xịch chuyển bánh, chở đi một khối tâm tư nặng đến hàng vạn tấn.                                       

Huế: 1992 - 2008
V.H


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Giêng, 2011, 01:39:50 pm
Người đi xe máy một chân

ĐỖ KIM CUÔNG


Bây giờ bạn bè ít được gặp anh lang lang trên phố. Thảng hoặc dăm bữa nửa tháng, có khi hơn mới tóm được anh. Ấy là khi anh phải ra khỏi nhà đi nạp bài cho những tờ báo mà anh thường cộng tác, hoặc đi nhận nhuận bút một vài bài thơ lẻ in trên báo.

Vào lúc trong túi rủng rỉnh có tiền, gương mặt anh sáng hẳn. Tiện đường, ghé qua chỗ tôi thế nào anh cũng rẽ vào. Chưa thấy người, đã thấy tiếng. Chỉ cần nghe tiếng đế giày của chiếc chân gỗ gõ vào từng bậc cầu thang, biết là anh đã tới rủ đi chơi làm vài vại bia. Tôi không uống được, nhưng anh vẫn cứ mời, Có cái cớ để anh em được ngồi với nhau ít phút chuyện trò ba lăng nhăng. Những câu chuyện thường là không đầu, không đuôi. Giữa anh và tôi không có nhu cầu trao đổi công việc, hay bàn chuyện làm ăn, kể cả chuyện văn chương như anh nói “cũng nên cho vào sọt rác”. Nhưng lâu ngày anh và tôi không gặp nhau lại thấy nhơ nhớ, thấy thiêu thiếu, hệt như cái cảm giác một người đã quen với ly cà phê sáng, vì một lý do nào đó bẵng đi một thời gian không được uống cà phê nữa. Mỗi buổi sáng anh ta trở dậy, thấy buồn buồn, bâng khuâng và thèm có một ly cà phê, nói chuyện với bạn bè. Mỗi lần gặp tôi, cao hứng anh Hoàng còn đọc vài bài thơ mới viết. Giọng xứ Nghệ, lại sống ở Hà Nội nhiều năm, anh đọc thơ truyền cảm. Đôi mắt của ông thi sĩ đã ngoài sáu mươi vẫn lung linh sáng, quyến rũ. Tôi dám cược rằng giữa tôi và anh nếu gặp một cô gái đẹp thì chỉ ít phút sau câu chuyện của cô gái ấy và anh đã như ngô nổ. Tôi chỉ còn là một nhân vật phụ. Người nghe chuyện cứ ngỡ anh và cô gái là đôi bạn tri kỷ từ kiếp nào.

Vài tháng gần đây, anh Hoàng chết chẹt trong ngôi nhà hai tầng vuông vức như cái hộp ở khu tập thể cách xa trung tâm thành phố. Đơn giản – anh đã lên chức ông ngoại. Bữa con gái anh đẻ, tôi đang mắt nhắm mắt mở tìm đôi giày đi đá bóng, nghe tiếng anh nói to trong điện thoại “Con T đã đẻ rồi. Tao đã trở thành ông ngoại. Ba ký rưỡi em ạ. Nó có cái trán rộng, giống hệt như tao... Good bye nhé... Hôm nào gặp nhau, khao”.

Cái hôm nào ấy của anh đã mấy tháng nay tôi chờ chưa thấy tới. Bởi vì anh Hoàng bận rộn với đứa cháu ngoại “đích tôn”. Chị vợ anh Hoàng bỏ hẳn sạp hàng ngoài chợ để ở nhà chăm sóc con gái và đứa cháu ngoại. Anh đóng cửa ngồi nhà ngắm cháu và sẵn sàng nghe vợ và con gái sai bảo. Anh mua hàng đống sách dạy về ăn uống, chữa bệnh cho trẻ sơ sinh. Anh loay hoay đọc sách Tàu, sách Nôm để đi tìm chữ đặt tên cho cháu. Anh bỏ hẳn thú tập thể dục buổi sáng và niềm đam mê đánh cờ với các cụ hưu ở dưới gốc cây bàng trong khu tập thể để có thêm thời gian trông nom “con mèo bông yêu quý của ông”. Trẻ con mới đẻ ăn ít, mặc ít không đáng lo. Vả chăng cha mẹ chúng đều là kỹ sư, bác sĩ, tiền đâu có thiếu. Anh dâng tặng tình yêu con trẻ cho đứa cháu ngoại.

Một hôm, anh Hoàng đến chỗ tôi làm việc. Anh vất bịch cái cặp xuống ghế, nhìn tôi không nói năng gì. Mặt buồn như người mất sổ gạo. “Có chuyện gì vậy anh?”. Tôi súc ấm, pha trà nhìn anh ái ngại. “Mất rồi... Đi mất rồi!”. “Ai mất, ai đi?”. Tôi sốt ruột. “Con cháu ngoại nhà nội sang đón đi rồi, em ơi!”. Anh nói mà như khóc. Tôi phì cười. “Cháu nội nhà người ta, thì nó về ở với ông bà nội là đúng, chứ có sao?”. “Chị em buồn lắm. Còn anh cả đêm qua không ngủ được...”

Ở phòng khách có tiếng điện thoại reo. Lúc tôi trở vào đã thấy anh Hoàng ngủ, gối đầu lên thành ghế bộ sa lông ngáy ngon lành. Trông anh, ngủ thật tội. Mái tóc của anh luôn đen óng mượt, vài tháng nay không chải thuốc nhuộm đã thấy trắng lốm đốm nơi chân tóc. Gương mặt chữ điền, cương nghị hằn rõ dấu hiệu mệt mỏi. Đôi giày da của anh, một chiếc nằm lăn lóc dưới đất. Chiếc còn lại bó chặt lấy cái chân gỗ màu nâu được chằng néo bằng những sợi dây da chắc chắn. Một bàn chân lành lặn của anh gác lên thành ghế. Còn chiếc chân cụt tới đầu gối nằm sõng soài, bất động dấu trong ống quần. Nhìn gương mặt hiền lành của anh lúc ngủ, không ai nghĩ anh là người nóng tính, dễ nổi giận. Vậy mà có lần, anh đã túm áo một gã lái xe con, chạy ẩu xô ngã một chị chở rau bằng xe máy, toan bỏ chạy. Anh lôi gã ra khỏi xe và bắt xuống xin lỗi và đi mua bông, thuốc đỏ băng bó cho người đàn bà nhà quê. Chị ta chưa tan cơn hoảng loạn sau một phen thoát chết.

Vào những năm “chín mươi” khi làm việc ở một tờ Tạp chí Văn nghệ, tôi mới có dịp gặp mặt anh Hoàng. Chẳng hiểu trời xui đất khiến thế nào, một lần tôi đi dự hội nghị ở Hà Nội. Trong đám giấy tờ người ta vất vào sọt rác, tôi lại lượm được một tập thơ của anh, bản photo, chữ nghĩa nhoè nhoẹt cả. Tôi cầm lên và đọc để cho qua quãng thời gian phải nghe những báo cáo, tham luận dài lòng thòng. Ngay từ những câu thơ, bài thơ đầu tiên của thi sĩ họ Hoàng đã cuốn hút tôi. Thơ của một người lính ra trận trở về xót thương cho người đồng đội đã mất. Thơ viết về mẹ, về Hà Nội. Rất nhiều bài thơ viết về tình yêu. Tôi đã mang những bài thơ ấy của anh về Nam chọn in vài bài trên tạp chí. Lần dò qua bạn bè, tôi cũng biết được anh Hoàng đang làm biên tập viên cho một tờ báo. Khi anh nhận được nhuận bút của những bài thơ và cuốn tạp chí anh có viết cho tôi vài dòng “Đã in thơ cho anh, lại còn gửi nhuận bút, thế là quý rồi. Anh yêu biển lắm, nhưng chưa có dịp nào ghé Nha Trang”. Chưa gặp tôi bao giờ, chẳng thân quen, anh đã xưng hô như vậy.

Rồi một ngày anh Hoàng đến Nha Trang thật. Tôi và mấy cô ở toà soạn được nhìn tận mắt, sờ tận tay một thi sĩ đã nổi danh với những truyện ngắn, bài thơ gây nhiều tranh cãi. Bữa cơm chiều tôi đãi anh món vịt Cầu Dứa. Ngồi lân la chuyện trò, tôi mới vỡ lẽ ra anh cũng là lính giải phóng thuộc Công Trường 5, quân của ông Thân Trọng Một. Anh vào chiến trường năm 1966, lặn lộn nhiều với vùng giáp ranh quanh cố đô Huế. Cái thứ lính bộ binh quân giải phóng, quanh năm suốt tháng sống ở vùng gáp ranh mặc quần đùi, đi dép râu, đầu trần mang AK trước ngực, ăn nằm ở dề với du kích địa phương, đi xây dựng cơ sở bám dân, giữ đất. Anh Hoàng đã từng nhiều ngày nằm hầm, chui bụi ở Hiền Lương, bãi cát Triều Dương, các mạ cá o trong các làng kháng chiến đã nhiều người nhận anh làm con nuôi, anh nuôi và cả làm con rể hụt. Đánh xong chiến dịch Mậu Thân – 1968 đại đội của anh hy sinh quá nửa. Đơn vị lại được điều sang vùng Hương Thuỷ, đêm đêm về các làng Thanh Thuỷ Thượng, Nham Biều, Thuỷ Dương vừa kiếm gạo ăn, vừa giữ địa bàn vùng giáp ranh xôi đỗ đầy hiểm nguy và phức tạp. Suốt ngày chốt gác theo dõi địch. Ba bốn giờ chiều trinh sát đã phải bám đường xuống đồng bằng mua gạo mắm, nắm tình hình địch. Nhiều đêm, vấp địch phục kích, bộ đội, cán bộ du kích cáng thương binh, liệt sĩ, ôm gùi rỗng trở về.

Anh Hoàng kể – Một lần về ấp Năm lấy gạo, chẳng ngờ tao bị dính mìn Clay mo của tụi Mỹ “mũ lồi xanh”. Vết thương ở bụng, nhưng không nguy hiểm tới mạng sống. Tao được cáng lên điều trị ở bệnh xá Nam. Chưa đầy nửa tháng, vết thương đã lên da non, những trận sốt rét lại ập đến. Cứ một ngày hai cữ. Cơn sốt đến vào quãng chiều và đêm. Ăn cái gì nôn ra cái ấy. Dạo đó Mỹ đang càn mạnh vùng giáp ranh Huế. Bộ đội đói vàng mắt. Thành uỷ chỉ đạo các đơn vị phải ưu tiên cho thương bệnh binh đang điều trị tại trạm xá. Tiêu chuẩn cho thương bệnh binh cũng chỉ đủ cho một người mỗi ngày nửa lon gạo. Gạo ít, anh chị em phục vụ trạm xá đành nấu cháo loãng cho người ốm, nấu lẫn với môn vót. Một thứ nước xanh rớt, ngai ngái đến người khoẻ ăn còn khó nuốt, huống chi tao đang sốt rét thập tử nhất sinh. Quờ tay lên đầu, tóc rụng lả tả. Nhưng tao không muốn chết. Cố mà húp chút nước cháo cho có hơi gạo. Húp vào chưa ấm bụng lại nôn. Cô y tá chăm sóc cho tao trong những lúc đau ốm ở Trạm xá Nam tên là Lược, anh em hay gọi là O Lược. Cứ mỗi lần nôn, O Lược đã để sẵn một cái xoong dưới gầm sạp. O Lược vừa đấm nhẹ vào lưng tao vừa nói: “Nôn chi mà dữ hè... Ráng chịu eng Hoàng...”. Khốn khổ càng ráng chịu càng nôn. Nôn cho tới khi ói ra mật xanh, mật vàng, người lả đi, miệng đắng nghét mới cảm thấy sung sướng, sảng khoái dễ chịu. Mồ hôi túa ra. Mệt rũ người và cơn sốt đã lui từ lúc nào. O Lược cho tao uống chút nước gạo rang để lấy sức “cho có chất gạo”. O nheo mắt cười “Ráng sống mai này thống nhất còn về quê lấy vợ nghe eng Hoàng”.

Hỡi ôi, vào những năm “sáu chín”, “bảy mươi” khốc liệt ấy, mấy người lính có đủ tự tin, lạc quan để hy vọng mình còn sống để trở về quê hương. Ngày chiến thắng, ngày thống nhất như lời của các ông chính trị viên, mỗi khi xuống đơn vị làm công tác tư tưởng, giảng bài cho bộ đội đều khẳng định sẽ có. Nhưng trong sâu thẳm trái tim mỗi người lính như cánh tao đều hiểu rằng cuộc chiến này vẫn còn gian khổ, khốc liệt và số phận dành cho một người lính trong chiến trường như hạt cát giữa rừng bom lửa. Cả một đại đội bộ binh của tao vào chiến trường, sau hai lần tấn công về Huế, còn lại 18 người. Chậm tiến bộ, ngang ngạnh như tao cũng đã là trung đội phó. Những năm sống ở giáp ranh, quen biết nhiều cô du kích, cán bộ, nhưng tao chẳng thân với cô nào.Có người chưa kịp làm quen, họ đã hy sinh trước mắt mình. Chỉ một đêm đi đồng bằng mua gạo. Một trái mìn nổ. Một quả pháo bắn vu vơ vào hậu cứ. Lãnh đủ. Gần một tháng trời nằm ở trạm xá, được o Lược tận tình chăm sóc, chuyện trò... tao có cảm tình với o. O Lược người Vĩ Dạ, lên xanh từ những năm 1965. Công bằng mà nói o không thật đẹp, nhưng có duyên, là một trong số những y tá, hộ lý thương lính ở Trạm xá Nam. Trạm xá tiền phương chỉ có một ông bác sĩ và gần chục cô y sĩ, y tá, hộ lý. Họ vừa phải lo cứu chữa trị cho bộ đội, cán bộ huyện xã bị thương tật, đau yếu dưới đồng bằng, giáp ranh chuyển lên trước khi chuyển tiếp cho Viện Quân Khu, vừa phải lo cùi gạo cơm để đảm bảo bữa ăn cho mười mấy con người. Lúc bình thường không có địch thì không có vấn đề gì. Lo đào hầm cho chắc, chốt gác đề phòng tụi thám báo, biệt kích. Nhưng căng thẳng nhất mỗi lúc địch càn vào hậu cứ, tất cả từ thầy thuốc đến thương, bệnh binh phải cầm súng để bảo vệ thương bệnh binh.


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Giêng, 2011, 01:40:25 pm
Mùa khô 1969, thật khủng khiếp. Khắp rừng núi Trị – Thiên đâu đâu cũng thấy lính Mỹ thuộc Sư đoàn Kỵ binh bay số I càn quét, chiếm đóng các điểm cao. Suốt dải giáp ranh bao quanh Huế, chúng đổ quân xây dựng nhiều cứ điểm phòng thủ. Quân Mỹ, quân ngụy rải quân chốt chặt đường 12, càn lên cả đường tuyến vùng A So, A Lưới. Người Mỹ và chính quyền Ngụy đã thấm thía với những đòn tấn công và nổi dậy của Việt Cộng. Chúng không muốn tái diễn một “Mậu Thân” nữa! Vào một buổi sáng mùa hè, một trung đoàn quân Mỹ và trung đoàn E54 ngụy tổ chức càn lớn vào vùng rừng giáp ranh Hương Thuỷ, Hương Trà, Phong Quảng. Một tiểu đoàn lính biệt động quân nhảy dù xuống điểm cao dọc bờ sông Hương, chia thành ba mũi xọc thẳng vào khu vực hậu cứ của bệnh xá Nam. Địch chia cắt luôn đại đội vận tải, một đơn vị có nhiệm vụ bảo vệ cho khu bệnh xá. Các mũi tiến quân của địch tiến rất nhanh. Chúng đã phát hiện ra một vài căn hầm, kho quân lương. Một cô y tá và một anh thương binh đi lấy măng bị tụi biệt kích bắt sống ngoài Bãi Đá. Một anh du kích xã lúc địch tấn công vào hậu cứ,, khiếp sợ quá đã ra chiêu hồi, chỉ điểm nơi đóng quân của các đơn vị. Pháo địch căn sẵn toạ độ, bắn cấp tập từng đợt để bộ binh tiến vào truy quét.

Bác sĩ Khuê trạm xá trưởng đã quyết định chia nhỏ số thương binh sơ tán, tránh địch. Tao sốt rét chưa dứt, được o Lược và một cậu chiến sĩ bị thương nhẹ đưa vào rừng tránh địch. Tao bước đi không nổi, tay chống gậy, lưng đeo chiếc gùi lội dọc theo con suối Đá. Địch đã vào được khu trạm xá và nơi đóng quân của đại đội vận tải. Chúng bắn loạn xạ. Ném lựu đạn, đặt mìn giật hầm. Nghe rõ cả tiếng tụi ngụy gọi nhau í ới truy bắt Việt Cộng... Gần hai tiếng đồng hồ, o Lược đã đưa được tao tới một hang đá gần bờ sông Hai Nhánh. Cậu bộ đội bị thương chẳng rõ đi lạc hướng nào, sau này biết rằng cậu ta đã nhập vào với trung đội vận tải. Bị sốt lâu ngày sức yếu tao mệt lử, chân cẳng rủn ra. Nhiều lúc o Lược phải dìu đi... Đến được bãi đá bên sông, o Lược mới dừng lại. Chưa kịp mắc xong chiếc võng. Cơn sốt đã ập tới. Mắt hoa, đầu đau như búa bổ. Chỉ thấy nhói đau ở cánh tay. Người lúc nóng, lúc lạnh. Triền miên trong những cơn mơ. Lúc thấy tụi ngụy đuổi. Lúc lại  thấy con cọp vằn lông trắng đứng nhe nanh, chực vồ. Loáng thoáng nghe như có tiếng pháo nổ rất to ở trên đỉnh hang đá, ngoài bãi rẫy của đồng bào Vân Kiều. Đến khi tao tỉnh lại, thấy mình đang nằm trong một cái ổ được lót bằng cỏ tranh, lá đùng đình, lá nón êm ái. Không gian tối om. Râm ri tiếng côn trùng kêu trong đất. Mi có biết lúc ấy người đang nằm ép sát, ôm lấy tao là ai không?...”

Anh Hoàng hỏi tôi và đưa một cọng hành tươi ngâm đá lên miệng nhai. Mải nghe chuyện, đĩa thịt vịt luộc hai anh em mới chỉ ăn được vài lát.

“O Lược đấy! Anh Hoàng nói – chắc là thấy tao rét quá, chăn mùng không đủ ấm, o Lược đã sưởi ấm cho tao bằng chính cơ thể mình. Tao nằm im bất động, nín thở để nghe nhịp tim của một người con gái. Hơi thở nhẹ, phảng phất cả mùi xà bông Mỹ trên mái tóc cô. Lâu lâu, o Lược lại lấy cái khăn mặt lau nhẹ lên trán, lên mặt của tao. Tao biết, o Lược cũng không ngủ được. Có lúc o cầm lấy bàn tay giá lạnh của tao. Bàn tay o mềm mại, nóng ấm.

Một lúc lâu, o Lược trở dậy, cời than. Lửa cháy bập bùng. Ngoài cửa hang o Lược đã dùng một tấm ni lông che bớt ánh sáng. O lật từng chiếc áo, chiếc quần đang hong quanh bếp lửa. Buổi chiều lúc luồn rừng, chạy giặc, áo quần đều ướt hết cả. Rồi o Lược khẽ nâng đầu tao dậy, kề miệng vào chiếc ca US cho tao uống chút nước cháo. O bảo “Ngủ đi ông tướng ạ. Mai còn có sức để leo núi. Mỹ vô càn đông hung. Chúng nó vào cứ đốt hết cả lán trại rồi... Eng mơ chi mà dữ rứa hè? Cứ la hét hoài à... Ngủ đi cưng, ngoan nào...” Thì ra, o biết tao cũng thức. Nhưng o giả đò như không hay. Tao đã nói với o như ri: “Cám ơn em! Anh sống được đến lúc này là nhờ em... Mai ngày còn có lúc gặp lại, anh sẽ trả ơn...”. “Eng là bộ đội giải phóng, em là lính trạm xá... Biết lấy gì mà trả ơn cho nhau đây?” Nghe o Lược nói, nước mắt tao ứa ra. Ấm nóng hai gò má. Tao và o Lược đã sống với nhau ba ngày trong hang đá, cho đến khi tụi Mỹ, tụi ngụy rút khỏi hậu cứ”.

Anh Hoàng nhìn tôi: “Tao không còn cơ hội để trả ơn o Lược. Chuyện rồi cũng đến tai Ban chỉ huy trạm xá. O Lược là đảng viên, chi bộ họp kiểm điểm suốt một đêm. Tao được bác sĩ Khuê và anh chính trị viên trạm xá mời lên viết bản tường trình. Học theo tính cách của thủ trưởng Thân Trọng Một, tao chỉ viết một chữ “KHÔNG” to tướng vào tờ giấy kẻ xé ra từ tập vở Côdiđô 100 trang của học trò. Hai ngày sau, tau được trả về đơn vị dưới giáp ranh. O Lược bị cách ly với kẻ “tình nhân nguy hiểm” bằng hình thức đưa vào trại sản xuất của Trạm xá cách hậu cứ hai ngày đường”.

Tôi gắp vào bát của Hoàng mấy miếng thịt vịt, bắt anh ăn. Thịt vịt nướng, chấm ruốc mắm gừng, nhậu với Lade đặc sản của dân Cầu Dứa. Anh Hoàng ăn có vẻ khoái. Tôi hỏi anh. “Chị nhà có biết chuyện o Lược không?”. Anh nhìn tôi, tay vẫn cầm chiếc đùi vịt. “Biết, bà ấy cạo đầu... Mi là lính Công Trường 5, tạo mới kể cho nghe chuyện này... Bem đấy nghe!” Về cô y tá Lược ở Trạm xá Nam tôi cũng đã có lần được gặp chị. Trong chuyến cáng thương binh vượt đường 12 sang giao cho chúng tôi chục lon gạo để ăn dọc đường. Sau ngày Huế giải phóng, tôi không bao giờ được nghe tin tức về chị nữa.

Tôi biết nhiều về người vợ anh Hoàng bây giờ. Trong con mắt tôi chị thực xứng đáng với danh hiệu người phụ nữ anh hùng. Anh Hoàng đã cho tôi xem tập album gia đình. Nhiều bức ảnh chị chụp từ thời con gái rất trẻ, đẹp, đầy sức sống và nghị lực của các cô gái sinh ra trong những năm đất nước có chiến tranh. Chị chưa bao giờ nói cho tôi lý do vì sao chị dũng cảm lấy anh Hoàng. Còn tôi đinh ninh cho rằng chỉ có sức mạnh của tình yêu, của tình mẫu tử, tình yêu con người mãnh liệt, một cô gái như chị mới dám vượt qua tất cả để chọn anh làm chồng. Một anh thương binh cụt một chân. Chưa tới bốn mươi tuổi đã ngồi chơi xơi nước, ăn theo vợ. Nghề nghiệp không có. Lại hay mơ mộng viển vông là hy vọng sống bằng THƠ, chết vì THƠ. Lạ thật? Một kẻ không có tem phiếu, còng cọc sống bằng mấy đồng thương tật lại đủ sức làm một cô gái Hà Nội như chị xiêu lòng. Vậy mà anh chị đã sống rất vui vẻ, hạnh phúc! Nhiều lần tôi đi ngang qua khu chợ xép, lẳng lặng đứng nhìn chị bán hàng. Cái gánh hàng ăn vặt vãnh ấy, đã giúp chị nuôi chồng, nuôi cô con gái quý hơn vàng đủ sống và ăn học thành người. Trong những câu thơ của anh tôi đọc ngoài những ý tưởng cao xa, sang trọng còn ẩn náu cả vị mồ hôi mặn mòi của người đàn bà bán hàng rong, lẩn quất cái mùi nước tanh nồng bao quanh ngôi nhà mái lợp giấy dầu khi xưa của anh vào những ngày Hà Nội dầm trong mưa và úng lụt...

Bây giờ anh Hoàng đã được sống trong ngôi nhà tầng thoáng rộng. Cô con gái lắp cho bố điều hoà. Anh làm thơ, viết báo bằng vi tính. Đi xe máy đến toà soạn. Cuộc sống cơ cực, nghèo khổ đã bị đẩy lùi xa. Kể cả việc anh đã lần mò tìm ra tung tích của o Lược, người con gái đã vì anh mà chịu nhiều tai tiếng, đau khổ. Nhiều năm sau anh mới biết rằng o Lược đã có lần được đưa ra Bắc chữa bệnh. O không có ai quen biết ở xứ Bắc, vậy mà o đã về tận làng quê anh ở miền Trung lần tìm tung tích người yêu. Làng quê anh bom đạn tàn phá hết cả. Cha mẹ anh đã mất, anh em ly tán. Anh Hoàng đi khỏi làng từ bé, chẳng ai biết anh ở đâu mà tìm. Có tin đồn anh đã hy sinh ngoài mặt trận. Chị Lược chán nản quay về trại điều dưỡng. Lúc ấy có đợt cán bộ đi Nam. Chị xin với cấp trên trở lại chiến trường. Trên đường giao liên Trường Sơn, ngày o Lược trở về Nam cũng là ngày anh Hoàng nằm trên võng cáng bị đạn tiện mất một chân, thương tật đầy mình, ra Bắc. Giời đã không cho o Lược được gặp anh. O Lược lại trở về sống với những cánh rừng hoang dã một thuở.

Ai nhỉ, ai đã nói câu này: ẩn khuất trong mỗi con người đều chứa đựng cả một pho tiểu thuyết. Anh Hoàng đấy, biết bao nhiêu là câu chuyện vui, buồn. Lâu ngày mới gặp lại anh, đến đây định chơi với tôi anh lại ngủ. Thật rõ chán! Mỗi chuyện cỏn con – đứa cháu ngoại được ông bà nội đón về bên nhà, đã khiến anh buồn đến vậy ư? Lạ nhỉ!

Tôi còn đang loay hoay với đống giấy tờ, công văn, anh Hoàng đã trở dậy từ lúc nào. Anh thành thạo đút đoạn chân cụt vào phần chân gỗ đã xỏ giầy. “Chán nhỉ...”. Nghe anh than, tôi biết trong túi anh lúc này nhẵn tiền. “Anh ở lại đi ăn cơm bụi với em” Tôi động viên. Anh nói quả quyết. “Không. Anh phải về ăn cơm với chị. Chị bảo hôm nay có món chả rán, ngon lắm. Hay em về nhà anh, ta làm vài vại bia”. Tôi không thể đi theo anh được.

Chỉ một loáng, anh Hoàng đã biến khỏi phòng. Rồi tiếng xe máy rồ ga. Thi sĩ một chân của tôi đã mất hút vào con đường rợp xanh bóng cây của thành phố.

Đ.K.C
(185/07-04)


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 26 Tháng Giêng, 2011, 10:50:31 am
Duyên nợ trăm năm

NGUYỄN VĂN VINH


Tết Mậu Thân năm ấy tôi tròn mười sáu tuổi. Soi gương, tôi thấy y xì một con bé tóc lơ xơ hoe nắng, xấu tệ.

Ngân bạn tôi lại bảo: "Dung không đẹp nhưng dễ thương nhờ nước da trắng, mắt to, tính lại hiền". I...i, tôi hiền ư? Tại Ngân không thấy tôi vật thằng Khai té chỏng gọng trước sân nhà khi cùng chơi ù mọi. Mẹ tôi ngao ngán: "Con gái kiểu đó mai mốt ai dám rước". Tôi xụ mặt: "Thì thôi! Mẹ tưởng con thèm lấy...". Khai lồm cồm đứng lên phủi bụi cướp lời nói tiếp: "chồng lắm mẹ ơi!", rồi loe cái miệng loa ra sằng sặc cười và bỏ chạy tán vào xóm. Vừa lúc ấy, tôi gặp ánh mắt mẹ âu yếm nhìn tôi, tôi liền chạy vào định sà vào lòng mẹ nhưng khựng lại vì thấy đôi mắt lém lỉnh của tụi con trai còn đứng đấy, tôi sợ mai đi học tụi nó loan truyền và chọc quê tôi đã lớn rồi còn nũng nịu với mẹ.

Tết đó ba mẹ tôi vừa xây nhà xong. Ba mẹ tôi vất vả làm lụng suốt gần hai mươi năm mới xây được ngôi nhà tường, mái ngói. Cũng có công chị em tôi nhặt đá vụn trong vườn trong những ngày nghỉ học, dồn đống cho ba tôi đúc táp-bờ-lô. Đất nhà tôi toàn sỏi, đá vụn, chúng tôi nhặt bớt  giúp ba tôi đỡ công cào gom khi đánh vồng trồng trọt. Đất vườn nhà tôi sát đồn lính. Đồn mấy lần lấn đất nhà tôi bằng ba hàng rào thép gai khum khum hình mái nhà và gài đầy lựu đạn, mìn! Dải đất dọc hàng rào ba tôi phải bỏ hoang cho lau lách mọc đầy, chớ ra đó vỡ đất có ngày vướng mìn, toi mạng. Tết ấy, cả nhà tôi được ở nhà mới. Tôi thích nằm ngửa trên nền xi măng láng nhìn lớp lớp ngói đỏ thứ tự, lớp lang và băng, kèo, rui, mèn toàn bằng gỗ kiền nâu ngù mà lòng tràn trề sung sướng. Cây lá quanh vườn nhà tôi cũng rỡ ràng hơn mọi năm. Cội mai già trước sân đã sớm điểm mấy bông hoa vàng tươi mơn mởn, suốt ngày khẽ rung theo ngọn gió đông như muốn cùng gia đình tôi mừng nhà mới, xuân mới.

Tết sầm sập tới. Mẹ tôi búi đầu trong đống hàng áo quần bà con lối xóm xa gần đặt may. Mẹ tôi, ba tôi, anh thợ và hai chị học may phải thức khuya may cho kịp. Tôi cũng thức để làm khuy, nút giúp mẹ và lo chè, cháo giữa đêm cho thầy, thợ. Tiếng máy chạy : "Xè... xè..." và ánh đèn măng- sông sáng suốt đêm, thật vui. Mẹ tôi muốn ăn một cái Tết trong ngôi nhà mới đàng hoàng, đầy đủ hơn mọi năm nên nhờ bà ngoại tôi dưới làng lên gói bánh tét và làm giúp vài loại mứt, bánh. Tôi tưởng gói bánh tét dễ. Ai ngờ tôi gói trầy trật mãi mới được một đòn bánh vừa đầu to đầu nhỏ và lỏng lẻo chứ không đều rí múi lạt và chặt chịa như những đòn bà ngoại gói. Thế mới biết người xưa dạy, học ăn, học nói và còn học gói nữa... Củi nấu, ba tôi đã chuẩn bị mấy tháng trước khối củi gộc khô đượm chất sau chái bếp từ đầu tháng chạp. Chiều hai chín Tết thợ thầy đã nghỉ. Ba tôi nhúm bếp ngoài sân, che bên một tấm bạt cũ phòng mưa, sợ nấu trong nhà khói ám tường mới. Xong, bắc nồi đồng to đùng lên, chất bánh vào, đổ nước lút bánh và nấu sôi sùng sục suốt ngày đêm. Ba tôi thức coi chừng lửa và châm nước cho bánh chín đều. Tôi cũng háo hức ngồi chầu rìa chờ vớt bánh nhúng vào thau nước lạnh rồi mở ra thử xem đòn bánh đầu đời của tôi gói hương vị thế nào.

Đêm ba mươi thăm thẳm, cảnh vật, sinh linh chìm trong yên tĩnh. Hình như nàng Xuân đã tha thướt ngự về vén màn sương khuya tỉ tê, tâm sự với vạn vật sau bao tháng xa cách. Tôi thức dậy, co ro lên nhà trên để chờ ba tôi sai bảo và phụ mẹ cúng giao thừa. Pháo đì... đùng nổ rộ, khắp nơi đón giờ phút thiêng liêng mới mẻ của một năm. Hương cháy một hồi rồi mà pháo vẫn còn nổ. Ồ không, tiếng súng!?. Tiếng súng  đùng... đoàng... nổ khắp đây đó, phía sau nhà tôi cũng nổ từng hồi rát rạt, veo veo... Ba tôi giục cả nhà xuống hầm. Ngồi trong hầm ba tôi thì thào với mẹ tôi: "Chắc Việt Cộng về rồi, mẹ mi nợ!!". Một lát sau tiếng súng hơi yên, ba tôi lên. Tôi cũng thè thẹ đi rón rén sau lưng ba. Nhìn qua khe cửa ra ngoài đường nhờ nhờ sương đêm, tôi thấy có bóng người chỉ mặc áo may ô, quần xà lỏn xách súng chạy. Sáng mồng một, vẫn còn tiếng súng nổ từng hồi dưới đồn Mang Cá, nơi đóng quân của lính Cộng hoà. Bà con xóm tôi đều ùa ra đường, tụ tập từng nhóm năm ba người đứng nhỏ to bàn tán, ai cũng lo lắng, sợ sệt. Sau đó tôi biết chính xác, Giải Phóng quân đã về. Chính cái đồn lính sát nhà tôi, các anh đã chiếm rồi bỏ trống để tiếp đi giải phóng nơi khác, nên hồi khuya mới có một số lính hoảng loạn chạy tản ra nhà dân trốn. Sáng nay đã nghe loa gọi ra trình diện cùng với lớp lính tráng đã trốn chui nhủi đâu đó, tử thủ. Tối mùng hai Tết nhiều Giải Phóng quân đến nhà tôi, nhưng số đông họ đứng lẫn ngoài vườn, chỉ hai anh đưa vào năm, sáu ruột tượng gạo nhờ mẹ con tôi nấu cơm rồi vắt từng cục cho họ. Ba tôi chất một giỏ tre bánh tét tặng các anh, nhưng các anh không nhận. Các anh khiêng hai thúng cơm đi mất vào bóng tối. Lần đầu tiên được gần gũi với các anh giải phóng. Tôi thấy các anh cũng hiền, thậm chí còn đẹp trai và sáng sủa, tuy hơi có vẻ bí ẩn một chút. Chứ không bặm trợn, nham nhở, chọc gái thô tục như những ông lính cộng hoà tôi từng gặp những lúc tôi mặc áo dài trắng đạp xe đến trường. Các anh ấy đi và không bao giờ trở lại nhưng đã gieo trong lòng tôi những tình cảm tốt về Giải Phóng quân.

Suốt buổi sáng ngày mùng ba Tết, đồn bắt loa phát lệnh buộc gia đình tôi đi tản đi nơi khác để đồn mở rộng phòng ngự và tầm xạ thủ! Ba tôi nấn ná vì lưu luyến ngôi nhà mới ở chưa đầy hai tháng. Bỗng bên đồn nã đại liên vào "khu đị" nhà tôi. Mẹ tôi hoảng réo ba tôi và kéo chị em tôi chạy đại ra đường. Qua bên Niệm Phật Đường xin tá túc, ba tôi mới sực nhớ chưa kịp đem theo áo quần thay và đồ gia dụng. Ba tôi trở lui xin vào nhà. Hai cha lính cầm súng lừ lừ, trợn trạo không cho. Ba tôi và tôi cùng năn nỉ họ mới kéo thép gai cho vào lấy được ít ký gạo. Trong lúc gấp gáp như vậy ba tôi cũng chôn được hai đầu máy Singer xuống hầm rác sau khi đã bọc vào tấm toa-đờ-tăng. Ba tôi chạy qua Niệm Phật Đường được một lát thì nghe: "ầm" ba tôi chạy lại. Ngôi nhà tôi đã bị lính giựt sập ngổn ngang gạch đá. Ba tôi nhặt được một miếng tường bể văng ra ngoài hàng rào còn mới nguyên màu vôi hồng, cầm đi lui đi tới khóc ràn rụa, tôi cũng thút thít khóc theo nhưng vẫn chưa thấm đâu được nỗi ở nhà thuê mướn sau này. Cũng chiều đấy có mấy anh giải phóng vào Niệm Phật Đường, leo lên bệ quan sát bên đồn. Hai anh mang súng AK, một anh mang cây súng như ống thổi lửa và mấy trái lựu đạn to như bắp chuối sứ. Ba tôi gọi súng B40. Lòng tôi đang căm thù bọn lính đang tâm giựt sập nhà tôi. Tôi lân la đến bên các anh và ngõ ý dẫn các anh tiếp cận đồn vào một nơi kín đáo, dễ nhìn vào trong. Các anh hội ý riêng với nhau rồi đồng ý. Tôi dẫn các anh theo con hẻm ngoằn ngoèo luồn lách trong xóm đến một lớp học bỏ hoang gần cái lô cốt. Tôi thấy lớp bao cát chắn bên trên như bung ra bởi lớp bụi bốc lên. Tôi hả dạ nhảy cỡn lên vỗ tay. Một anh giơ ngón tay bảo im lặng rồi vẫy tôi rút lui.

Hôm sau tôi lại theo đám bạn xóm, toàn những cu cậu rắn mắt, nghịch ngợm nhất, chỉ tôi và cái Vy là gái, kéo thành đoàn chạy ra cồn, một anh du kích đứng gác dưới lùm cây chặn lại. Thằng Khai mau miệng: "Dạ tụi em ra cồn nhổ sắn ăn, nhà hết gạo rồi!". Tôi đoán anh ấy là du kích vì anh không mặc bộ đồ màu cỏ úa mà mặc áo đen, quần tây xanh. Chúng tôi ra cồn, nhảy từ ngôi mộ này đến ngôi mộ khác tìm đồ hộp do máy bay trực thăng thả cho lính trong đồn, vì du kích bắn rát quá nên đã quýnh quáng thả ra ngoài vòng đai đồn lính. Chúng tôi tìm được mấy thùng đạn và một thùng đồ hộp. Cả bọn khiêng vào nạp đạn cho các anh du kích. Đồ hộp các anh cho tụi tôi chia nhau đem về gia đình ăn tạm qua ngày. Hôm sau nữa, chúng tôi kéo ra cồn nhiều người hơn và cũng nhảy trên các ngôi mộ, mả Tàu tìm đồ hộp. Bất thần trong đồn bắn ra mấy loạt đạn. Đạn bay chiu chiu và veo véo trên đầu. Cái Vy nhảy choi choi trên nấm mộ đất, miệng nói. "Đạn chê! đạn chê!" thì bị một viên đạn bắn trúng ngực ngã vật chết không kịp kêu lên một tiếng. Cả bọn vừa chạy vừa ré om sòm. Tôi cũng la hớt hải, thì bị đạn xuyên thủng ruột. Anh du kích hôm trước tôi gặp đã bất chất nguy hiểm lao vào tầm đạn của lính trong đồn vác tôi chạy vào cho cô cứu thương băng bó, chích thuốc sơ cứu. Lát sau, ba và chú tôi làm cáng gánh tôi xuống bệnh viện. Giữa đường tôi thấy các anh Giải phóng đứng lấp ló trong các con hẻm ven đường. Biết tôi bị đạn các anh chỉ cho ba tôi những đoạn đường không bị xác những chiếc xe tăng cháy và cầu sập. Nằm viện tôi được các y bác sĩ Giải phóng tận tình cứu chữa cho dến khi họ rút qua bên kia sông.

Năm 1977 tôi tốt nghiệp Trung học Sư phạm, được bổ dạy miền núi năm năm. Về dạy huyện đồng bằng hai năm nữa tôi được nhận nhiệm sở huyện ven đô. Cầm quyết định về trường phổ thông cơ sở, tôi ngạc nhiên khi thầy hiệu trưởng cười cười, nhìn tôi vẻ thân quen và hỏi:

- Dung đấy phải không?

- A... anh! Xin lỗi... sao thầy biết tên em?

Thầy hiệu tủm tỉm cười:

- Chính Dung đã giới thiệu cho tôi đấy thôi.

- I...i, em cho thầy biết tên bao giờ đâu

Thầy hiệu cười xoà.

- Hồi Mậu Thân.

Trong cái đầu mụ mị của tôi bỗng mường tượng ra anh du kích có nước da đen, thắt lưng đeo mấy trái lựu đạn chày và nhất là mỗi khi miệng anh cười cứ như một lời hẹn ước xa xôi. Tôi lắp bắp:

- Là... là anh du kích bồng em chạy băng qua cồn mồ?

Chúng tôi tìm hiểu nhau và quyết định lập gia đình với nhau. Trái đất quả tròn, ai ngờ Tết Mậu Thân năm ấy lại mở đầu duyên nợ trăm năm của chúng tôi. Và nay năm Giáp Thân, vợ chồng tôi tổ chức đám cưới bạc. Hôm nay, chồng tôi chở tôi về xóm xưa, nền cũ đã có người khác ở, tìm thăm ông Khai, bà Ngân và những bà, ông bạn năm nào rồng rắn một đoàn chạy ra cồn mồ nhặt đạn cho Giải Phóng quân. Và chúng tôi không quên đến thắp hương mộ Vy, cô bạn gái của tôi chết vào ngày mùng năm năm ấy.

N.V.V
(183/05-04)


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 26 Tháng Giêng, 2011, 10:58:18 am
Lâm thâm nước mắt ngày vui

CHÂU DIÊN


Đơn vị của tôi đi bộ từ một tỉnh miền Trung, lên qua Mường Phăng thì Điện Biên đã giải phóng. Sau một tháng đi bộ nhưng gần như chạy bộ, chúng tôi được phép nghỉ lại hai ngày ở một bản, hồi đó bản này nằm khá sâu trong rừng, nhưng nay thì nó đã ở bên một nhánh đường mới làm dẫn ra phố huyện Tuần Giáo để nối vào con đường số 6 chạy tuốt lên Điện Biên Phủ.

Thời đó, không có chuyện nghỉ là nằm ườn ra đâu. Nghỉ là thay đổi hoạt động. Không có một tẹo tèo teo thời giờ nào đủ cho ai đó ngồi một mình nghĩ vơ nghĩ vẩn đâu. Nhưng cũng chẳng có gì nhiều nhặn để thay đổi, vì vậy cứ nói đến nghỉ là nghĩ ngay đến chuyện liên hoan. Mệt thì cũng liên hoan cái đã. Mà đã liên hoan thì thế nào cũng có tiết mục diễn kịch lửa trại. Và hễ đã diễn kịch thì thế nào tôi cũng phải đóng vai nữ. Cái ông chính trị viên đại đội của tôi là một ông thích kịch. Và chẳng rõ vì sao, ông bao giờ cũng chủ trương kịch là phải vừa cảm động vừa vui. Mà muốn vui thì tốt nhất là cố nhét vào một vai nữ. Nhất hạng khi vai nữ lại do một anh lính đóng thì vui càng thêm vui. Nguyên cái việc người ta vừa xem diễn vừa bàn tán xem  "ai đóng nữ đấy nhỉ" là đã đủ vui rồi, chả cần cốt truyện hấp dẫn lẫn diễn viên tài ba. Ấy vì thế mà tôi chẳng được nghỉ ngơi gì đã được chính trị viên lôi ngay vào cuộc tập kịch.

Tôi bảo anh:
- Xin phép thủ trưởng cho em sang bản bên kia, em có người nhà trong đại đội dân công nhắn sang lấy thư gia đình.
- Thôi đi ông tướng, đừng có bịa chuyện, lại lần mò sang cô dân công nào bên đó chứ gì?
- Thật sự là em có thư mà...
- Sao khi gặp người ta không đưa thư ngay, lại vẽ vời bắt qua bên đó lấy?
- Nào ai ngờ là anh em gặp nhau trên đường chiến dịch?
- Anh em thật hay anh em kết nghĩa đấy?
- Báo cáo thủ trưởng, không phải anh em ruột, nhưng gọi là người làng thôi thì cũng đúng mà gọi là anh em họ cũng được, ở làng chúng em nhà nào mà chẳng có tí họ hàng với nhau... Em không biết nói sai đâu thủ trưởng ạ. Ở quê, em đã có người hứa hẹn rồi.
- Cậu này, lính mà dài dòng. Tôi chọn cậu đóng vai con gái quả là tinh đời. Được rồi, tôi tin cậu. Nhưng tập ba lần cho nó thuộc vở hòm hòm rồi cho cậu đi.

Vở kịch đúng là cảm động và vui. Lạy giời đất, chính trị viên của tôi giá mà sau đó anh không giẫm phải mìn, thì sau này chắc là phải có chân trong giới kịch. Cầu cho anh yên nghỉ! Cầu cho mọi người không bao giờ quên anh!

Chính trị viên bữa đó đã bịa ra câu chuyện kịch như thế này. Cô gái tên là Lụa, chính trị viên giảng cho chúng tôi, tên cô gái này trùng tên cô Lụa trong vở kịch  "Anh Sơ đầu quân" của ông Nguyễn Huy Tưởng, nhưng trong vở này cô Lụa đi dân công và bị thương. Một anh bộ đội trẻ đi ngang, liền dắt trộm một con trâu của đồng bào để cô ngồi lên cho đỡ mệt và tự anh dắt trâu đưa cô về trạm quân y. Đó là tội vi phạm kỷ luật rất lớn, vì theo đúng lời thề quân đội nhân dân, không ai được tơ hào cái kim sợi chỉ của dân, thế mà đây lại tơ hào hẳn một cái to đùng bằng cả một con trâu. Nhưng anh bộ đội trẻ trót thương và yêu cô Lụa, anh tìm cách cho cô cưỡi lên lưng trâu, đưa cô trót lọt về quân y. Người dân mất trâu đi mách cấp chỉ huy. Mọi người chắc mẩm khi anh bộ đội kia về thì thế nào cũng bị thi hành kỷ luật. Trên đường trở về đơn vị, anh đã trúng bom địch và hy sinh. Còn con trâu thì quen đường đã chạy về với chủ. Người chủ đến gặp cấp chỉ huy xin tha kỷ luật anh bộ đội trẻ, và cũng là lúc nhận được tin anh bộ đội mới hy sinh...

Đúng là điềm gỡ hay sao ấy, chính trị viên nhất định đòi đặt tên cho vở kịch là "Lâm thâm nước mắt ngày vui". Anh xếp đặt cho câu chuyện xảy ra vào ngày chiến thắng, và đúng ngày chiến thắng thì có người bị thương và có người trúng mìn. Thủ trưởng quân sự không cho vở kịch được đứng cái tên đó. Bảo là đặt tên thế nó sái. Sái là gì? Sái là sái, thế thôi, không đặt tên như vậy, chả ai đặt tên kịch như vậy hết. Sau đành thoả hiệp đặt cái tên vui vui, "Con trâu bị thương ở đít". Vì trong vở kịch có chi tiết anh bộ đội trẻ tán cô dân công, "con trâu bị thương ở đít nhưng anh bảo đảm nó đủ sức chở em về trạm quân y, em đừng lo..."

Nhưng trong câu chuyện này, đúng vào cái ngày sắp diễn kịch ấy, chính tôi mới thực sự là kẻ lâm thâm nước mắt ngày vui.

Tập kịch xong, đã thấy cô em từ bản bên kia sang. Cô sốt ruột chẳng hiểu vì sao chờ mãi mà không thấy tôi qua. Vừa gặp nhau, cô nói Mự nhớ eng lắm và mấy tiếng quê đó làm cho người tôi như tan ra. Ờ, thế mà đã ba năm rồi đó. Ba năm rồi kể từ ngày tôi cầm tấm giấy chứng nhận đặc cách tốt nghiệp phổ thông 9 năm, rồi đi tòng quân. Giờ đây, cái gương mặt tròn căng da ngăm đen kia đang làm tôi nhìn lại và thấy hết, cái bến sông với những cô gái có gương mặt căng tròn thế kia, những chuyến chở củi với những tay chèo có gương mặt căng tròn thế kia, những câu hát vui ghẹo loang đi trên mặt sóng từ khoé miệng những cô gái giặt lụa có những gương mặt căng tròn thế kia...

Tôi ngây người không biết vì mải nhìn em hay chỉ là vì chờ em đưa thư cho. Nhưng cô chỉ im lặng dắt tay tôi lôi ra phía đồi sim, rồi kéo tôi ngồi xuống bên cạnh. Hương vị người con gái kề sát bên mình khiến tôi chợt nhớ tới điều cần nhớ:
- Thư đâu, cho anh xem nào.
- Gì mà vội thế?
- Thư ai viết cho anh?
- Thì cứ đôi hồi đã, em khắc nói... Mà anh phải bình tĩnh kia... Không được đùng đùng lên đâu đấy... Em nói thật nhé... Ba bốn năm anh đi, anh có đoái hoài về nghỉ phép lần nào đâu... Từ bữa đó biết bao nhiêu đổi thay, anh có ở nhà cũng chẳng hiểu hết, phương chi là xa nhà xa làng nước...
Tôi bắt đầu cảm thấy có điều gì không ổn trong những lời rào đón của cô em họ.
- Chuyện cái Cảnh với anh hử?
- Còn cảnh vẻ gì nữa, chị ấy cắt đứt anh rồi...
- Sao kia?
- Tuyên bố rồi, tuyên bố giữa cuộc họp xóm là cắt đứt, tuyên bố trước các bà con bần cố là không dây dưa gì hết nữa...
- Chuyện gì vậy, em?
- Thì đã bảo là anh phải bình tĩnh mà!...


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 26 Tháng Giêng, 2011, 11:00:09 am
Tôi nhìn cô em, mơ hồ mong là em đang đùa trêu mình đây. Nó mới chưa đủ mười tám. Nó mới nhớn. trên nét mặt tơ căng tròn, vẫn tưởng như nó đang cùng tốp thiếu nhi hát múa ở sân đình. Tôi vẫn thấy như nó còn rất trẻ con. Tôi vẫn nghĩ là nó đang trêu đùa. Nhanh thật! Mới đủ lông đủ cánh thế mà đã xung phong xa nhà đi dân công chiến dịch.

- Thôi, anh van em đấy, có chuyện gì ở nhà thì nói cho anh nghe đi. Đừng làm anh sốt ruột nữa. Tốt nhất là đưa thư đây cho anh coi.

Cô em không nói gì, quay mặt sang nhìn tôi, mắt ngân ngấn nước. Rồi em ôm mặt khóc nức nở. Tôi đứng vụt dậy. Em ngừng khóc và lấy tay khẽ kéo tôi ngồi xuống.

- Nhiều điều lạ lắm anh ạ... Để em nói, anh đừng hỏi gì hết... Ôi, em thương anh quá... tội thân anh quá... Anh chẳng được ở nhà mà xem, mọi thứ hoàn toàn không giống như hôm anh ra đi đâu... Mà anh không biết cũng phải, thư từ chẳng ai gửi được... Có ai được đi khỏi nhà đâu?... Là nói bên phía nhà anh ấy... Nhà em may còn là trung nông nên cũng có tự do không bị bao vây, nhưng cũng chẳng dám chạy qua chạy lại, vì sợ bị quy là liên quan...

Tôi chẳng hiểu gì hết về một loạt những điều mới lạ cô em gái vừa nói ra. Nào bao vây, nào liên quan, nào trung nông, nào tuyên bố, nào cắt đứt, nào dây dưa...

Tôi ngắt lời cô:
- Mẹ anh thế nào hả em?
- Mự ốm nặng... Ốm đói...
- Thế còn chị dâu cả nhà anh đâu?
- Chị cả đã bỏ ra ở riêng. Anh cả ở bộ đội mãi đẩu đâu chắc là cũng chưa biết tin tức gì... Chị cả tuyên bố cắt đứt rồi. Cũng như cái cô Cảnh của anh ấy. Cũng cắt đứt rồi... Em chỉ thương ông nội... Ông nội đói lắm... Người nho nhã thế mà chiều tối phải đứng bên rào gọi sang nhà cháu dâu... Con lạy bà, bà thương con, bà cho con xin nắm sắn khô... Cả làng im phăng phắc, nghe rõ tiếng ông nói hừ hừ như người rên...
- Vậy là đã xảy ra chuyện gì ở làng?
- Em cũng chẳng hiểu hết nữa. Bố anh thì bị bắt..
- Thế là nghĩa gì?
- Em cũng chẳng biết nữa. Hôm nào chiến thắng giặc Pháp anh về anh khắc biết. Bây giờ, em chỉ biết báo tin cho anh đến vậy thôi.
- Vậy là em không mang theo thư từ gì hết?

Em ngước mắt nhìn tôi, cặp mắt trong veo như thể muốn nêu câu hỏi: hoá ra em nói với anh từ nãy giờ anh vẫn chưa hiểu gì cả sao? Cô đờ đẫn ngồi im một lát. Như thể cô chẳng còn biết cách kể nhiều hơn nữa sao cho tôi hiểu nhiều hơn nữa. Rồi cô nói, chẳng ra nói với tôi, chẳng ra nói với ai hết:

- Giời ơi là đất ơi, giá mà lúc nào cũng cứ vui như cái ngày tiễn anh đi tòng quân, làng nước sung sướng biết bao nhiêu!

Những ngày vui như cô em mới nhắc đến tôi đã quên rồi. Hay nói cho đúng, lúc vui thì chẳng để ý, bây giờ có người nhắc lại, bỗng thấy ngỡ ngàng. Ba năm trước, nó nhảy múa sòn la đố để tiễn đưa các anh trai lên đường. Chia tay mà vui như ngày hội. Vậy là đã từng có những ngày vui. Bây giờ đã là những ngày vui xưa, liệu có còn những ngày vui khác? Tôi không rõ. Tôi chỉ biết một điều, cô em đây, mười tám tuổi, nhớn nhao rồi, không còn nhảy múa như xưa, em sống giữa những biến cố, mà chỉ biết kể lể, ngoài ra thì không biết vì sao lại có những điều này nọ đã xảy ra. Sau này về già, tôi còn biết thêm một điều nữa, rằng cũng chẳng nên trách ai, vì chính tôi đây nào cũng có biết gì nhiều...

Buổi tối, vỡ diễn "Lâm thâm nước mắt ngày vui" vẫn phải ra mắt mọi người.

Tôi không biết nói với chính trị viên như thế nào để được thủ trưởng cho phép nghỉ diễn. Mà làm sao nghỉ được? Tôi như người chiến sĩ bị thương. Bị thương mà có điều kiện thì vẫn phải làm nhiệm vụ chứ? Tôi không thể vì việc riêng mà làm hỏng cuộc liên hoan của tất cả mọi người. Lửa trại hồng rực một góc rừng. Trên trời máy bay địch không bay đêm nữa. Vẫn cử người canh gác máy bay, nhưng chưa một lần nào tiếng kẻng phải gõ lên và nước phải giội vào đống lửa khuya bập bùng như mọi khi.

Tiếng nói yếu ớt của tôi trong vai cô Lụa khiến cho ai ai cũng cảm thấy tôi sắm vai nữ giỏi, đúng là cái chất giọng khoẻ nhưng bị hụt hơi của một cô gái đi dân công bị thương... Hết buổi diễn, có mấy người còn đến gần đưa tay sờ sờ vào vai tôi xem có đúng là con gái không...

Câu chuyện vừa kể có một chi tiết trong cuộc đời nhà nghiên cứu văn hoá họ Mai. Tết Giáp Thân, ông tặng tôi những bài thơ ông viết cách đây nửa thế kỷ. Tôi xin phép từ cuộc đời ông viết ra một câu chuyện khác, thì ông bảo:
- Cũng được, nhưng văn chương sao nói hết?
- Sau chiến dịch, ông về nhà chứ?
- Vẫn chưa về được. Xuất ngũ. Rồi công nhân thủy lợi. Sửa sai mới về. Cả gia đình đoàn tụ hết, có người chiến đấu ở Nam Bộ ra tập kết cũng về, cả chị dâu nữa, cùng đi bốc mộ ông nội. Mẹ thì già rồi, nhưng đi nhanh con cón...
- Thế còn cô Cảnh?
- Cảnh vẻ gì nữa...
- Quên, còn bố?
- Bố bị án tù chung thân, sửa sai thì được tha ngay, rồi đi tham quan Liên Xô, rồi được ra làm việc trở lại, cụ là một trong những đồng chí sáng lập Đảng hồi ba mươi ba mốt mà...
- Sao rồi anh thành nhà nghiên cứu văn hoá?
- Cũng như mọi người thôi. Làm công nhân một hồi thì nhờ bố được sửa sai thì con cũng được cho đi đại học. Mình chọn đi học Sử. Học cái mệnh lâm thâm nước mắt ngày vui ấy mà...


Biệt thự Nha Trang,
giữa tháng 2-2004
C.D
(183/05-04)


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 26 Tháng Giêng, 2011, 11:10:58 am
Chuyện ở làng Hạ

NGUYỄN TRƯỜNG


Làng Hạ nằm phía hạ nguồn sông La Ngà. Đất chật. Người đông. Đói nghèo thành nếp. Hồi hai bên đánh nhau, nơi đây là vùng địch hậu. Giải phóng hơn chục năm mà làng Hạ đói nghèo vẫn hoàn nghèo đói. Không ít người bỏ làng đi xa chẳng thèm ngoái cổ nhìn lại. Vậy mà hơn mười năm lại đây, nhờ vực dậy cái nghề tơ tằm truyền thống vốn có từ xưa, làng Hạ đang trở thành một làng nghề giàu có nhất nhì trong vùng. Nhà cũ lỗi thời phá đi xây mới. Đường làng bùn lầy được thay bê-tông. Trường tiểu học tranh tre nứa lá hồi nào nay lên hai tầng. Điện lưới dọc ngang khắp làng đã đẩy năng suất ươm tơ kéo sợi lên cao chưa từng thấy. Chất lượng tơ tằm đạt chuẩn xuất khẩu. Hàng bán chạy hơn cả tôm tươi. Thu nhập người dân ngày một cao.

Làng Hạ đổi đời. Nom ai cũng có máu mặt.

Phú quý tất sinh lễ nghĩa. Và lễ nghĩa hợp cái tâm người làng Hạ lúc này là dỡ bỏ ngôi đình làng lâu nay hoang phế để xây ngôi đình mới to đẹp hơn. Thế là chuyện được đem ra bàn. Cả làng Hạ ngàn người như một: không để thua đình làng Thượng vừa xây xong. Đúng quá! Hoan hô! Nhưng ngót một trăm rưỡi triệu lấy đâu ra? Ối! Lo bò trắng răng! Có gì ghê gớm lắm đâu! Hô một tiếng là êm ngay thôi mà!

Quả vậy, "Tâm thư" của làng "thống thiết" đến nỗi mới phát ra chưa đầy nửa tháng mà "hảo tâm" của người làng Hạ ở trong nước và ở cả nước ngoài đã vượt ngoài dự đoán: hai trăm triệu có thừa! Trong số dân làng hiện ở nước ngoài gửi tiền về giúp làm đình có ông Dù là vượt trội hơn hết.

Tháng 5 năm Quý Mùi khởi công xây đình. đến giữa tháng 8 là hoàn tất đâu vào đấy. Một ngôi đình cao to đường bệ, đẹp lộng lẫy, biểu tượng cho truyền thống văn hoá làng và sự phát đạt của một làng quê đang soi bóng lung linh bên bờ sông La Ngà, khiến cả làng Hạ những ngày này vui như có hội.

Ngày khánh thành đình làng kết hợp với thu tế cũng đã đến. Nhận được thư mời, ông Dù từ nước ngoài bay về. Ông về sớm mấy ngày đợi chờ trên thành phố. Sáng nay ông đi ô tô con về làng dự lễ. Chẳng may bị kẹt xe giữa đường nên ông tới chậm không kịp dự lễ khánh thành mà chỉ kịp dự lễ tế mà thôi. Ông vội vã thay bộ com-lê để mặc vào bộ y phục truyền thống, rồi hoà vào đám bô lão đang khăn áo chỉnh tề đứng phủ phục trước hương linh các ngài khai canh khai khẩn nên làng Hạ này.

Chuyện ông Dù ngày xưa đi lính làm đồn trưởng ở đây ra sao coi như được khép lại. Mọi người ai cũng niềm nở, tay bắt mặt mừng đối với ông và xem ông như vị thượng khách của làng trong ngày hội này. Nhiều cặp mắt dồn về phía ông. Nhưng đang lúc hành lễ nên việc chào hỏi tạm gác lại. Trước mặt là ba gian thờ, đèn nến sáng trưng, kèn trống rập rình. Lời xướng theo nghi lễ tế thành hoàng làng đĩnh đạc vang lên hoà với tiếng trống, tiếng chiêng rung động cả khoảng không yên lặng, làm cho lễ tế vô cùng uy nghiêm. Một con bò thui và ba con heo quay vàng ươm, béo ngậy được đặt cúng ở chính điện và hai gian thờ hai bên. Dân làng Hạ tập trung về chật cứng trong ngoài. Nét mặt ai nấy rạng rỡ...

Sau lễ tế là tiệc rượu. Nói là rượu, nhưng cả làng được một phen uống bia xả láng. Có Việt kiều về làng mà! Sẵn mang theo mấy chai rượu ngoại đắt tiền, ông Dù đem khui mời làng, làm cho bữa tiệc thêm màu mè, rôm rả.

Cuộc vui đang nửa chừng thì ông Dù cao hứng, tự đứng ra giữa đình làng có đôi lời. Ông hắng giọng, nói: "Thưa làng. Là con dân của làng ở phương xa về, tôi vô cùng cảm kích vì chúng ta đã xây được ngôi đình tráng lệ thế này để thờ phượng các ngài có công với dân với nước...". Thấy nhiều người ngửa mặt lắng nghe, ông Dù tiếp: "... Tôi cũng hết sức cảm động khi nghĩ rằng, nhờ phước đức của các ngài mà dân làng ta nguyên vẹn như hôm nay và xem ra chẳng mấy ai phải chịu nhiều bất hạnh trong cuộc chiến tương tàn vừa qua. Nay tôi về sau 20 năm biệt xứ, đề nghị chúng ta...". Ông Dù vừa nói tới đây thì cả cuộc tiệc bỗng ồn lên, không còn ai nghe ông nói thêm được gì nữa. Có vài tiếng xì xào ở mấy bàn cuối: "Cha này nói mà không biết sờ sau gáy mình!"; "Lão ta nói chối tai thế mà nghe được à!"; "Ối, có tiền đô rủng rỉnh, nói quấy nói quá sao chẳng được!".

Ông Dù vừa nói xong thì một anh dân làng ăn mặc tuềnh toàng, mặt đỏ gay, tay cầm ly rượu tiến tới trước mặt ông, hất hàm nói: "Tôi đề nghị ông nói lại đi. Có đúng dân làng này không mấy ai bất hạnh vì chiến tranh, phải không?". Một số vị cao niên biết sẽ có chuyện chẳng lành xảy ra, vội cầm tay anh ta dằn lại: "Thía ơi, mày ngồi xuống nói năng đuề huề một chút được không!". Thía vung tay xô những người can ngăn ra. Bằng cặp mắt có lửa, Thía nhìn thẳng mặt ông Dù, nói như hỏi tội: "Thế ông có biết hồi chiến tranh, ai đã cưỡng hiếp một người đàn bà ở làng này không? Cưỡng hiếp không được, ai đã bày mưu bắt bà ta đày ra bỏ xác ngoài Côn Đảo?". Ông Dù đang chếnh choáng hơi men, chẳng biết người chất vấn mình là ai. Ông trố mắt nhìn anh ta với thái độ thách thức. Giá như ông biết thủ thế để nói năng khôn khéo một chút thì có thể chẳng có chuyện gì lớn xảy ra. Đằng này, do khoái chí bởi một vài người quen thân ngồi quanh xun xoe, tâng bốc nên ông càng tỏ ra yêng hùng của kẻ "bạo vì tiền", đã buột miệng thốt lên: "Nếu điều đó do chính cái người đang đứng trước mặt anh gây ra thì đã sao? Tại sao anh không nói tất cả đều vì chiến tranh tương tàn để quên nó đi, mà lại khêu gợi ở đây làm gì?". Ông Dù nói thế làm Thía đã ngứa gan rồi, nhưng có lẽ còn nhịn được. Không ngờ ông Dù lấn lướt, chỉ tay vào mặt Thía: "Sao anh quá dốt, ăn nói chẳng giống ai bây giờ cả. Vậy anh muốn làm gì tôi nào?". Đang lúc đấu khẩu căng thẳng thì có mấy người sấn tới, nói như thét vào mặt Thía: "Thía! Mày đúng là quân phá đám! Mày ăn nói ngang ngược và vô phép như vậy được à!".

Trong cơn điên tiết, lại như có lửa đổ thêm dầu, Thía gạt phăng những kẻ bênh vực ông Dù ra, chồm tới túm lấy ngực áo thụng ông ta, mặc cho nhiều người lao tới cố giải cứu. Đang lúc giằng co, Thía dồn sức vào một cánh tay đẩy ông Dù một cái thật mạnh về phía sau làm đầu ông ta đập vào cột đình, toé máu tai. Ông Dù gục ngay tại chỗ, bất tỉnh nhân sự. Hoảng quá, một số người ôm chặt Thía, ghì lại. Còn ông Dù tức tốc được đưa ra ôtô con đi cấp cứu.

Cuộc tiệc đến đây láo nháo như ong vỡ tổ. Không khí ngày vui của làng phút chốc trở nên nặng nề, nghiêm trọng. Không ít người tỏ ra bực dọc, lặng lẽ bỏ về. Số người ngồi lại tiếp tục cầm đũa nhưng chẳng còn tâm trí nào để vui vẻ với nhau.

Thía bị áp giải ra trụ sở xã để lập biên bản. Hồ sơ ghi rõ: "Trần Thía lâu nay thần kinh bất thường, do uống nhiều bia rượu, lại bị kích động mạnh, đã dẫn đến hành vi phạm tội đánh người gây thương tích". Thía bị quản chế. Sau đó người ta đưa Thía đi khám ở bệnh viện tâm thần, rồi nhập viện luôn. Riêng ông Dù bị chấn thương ở đầu, phải nằm điều trị ở Bệnh viện Thành phố.

Mấy ngày sau, làng Hạ cử một số người lên thành phố thăm và nói lời lỗi phải với ông Dù. Tiện đường, họ tạt vào Bệnh viện tâm thần xem Thía thế nào. Lúc ghé mắt qua chiếc cổng sắt, người ta thấy Thía ngồi một mình ở ghế đá ngoài sân. Phát hiện ra người làng Hạ. Thía nói với vẻ mặt buồn buồn: "Bà con có đến thăm ông Dù, cho tôi gởi lời xin lỗi ông ấy!..."


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 26 Tháng Giêng, 2011, 11:12:23 am
Mùa đông năm 1954, anh Bài đi tập kết lúc đứa con trai đầu lòng vừa tròn hai tuổi. Tưởng hai năm sau anh sẽ trở về, ai ngờ càng ngày anh càng biệt vô âm tín. Tháng ngày đằng đẵng, chị Ngọt lo tảo tần buôn bán nuôi con. Đã ngoài ba mươi tuổi mà trông chị xuân sắc vẫn căng tròn như thời con gái đẹp nhất của làng Hạ này. Nhiều đấng mày râu trong làng dẫu đã yên bề rồi vẫn thấy thèm khát gạ gẫm, chòng ghẹo làm cho chị phải chịu không ít tai tiếng đồn đãi trong bà con chòm xóm.

Từ ngày về làm đồn trưởng ở đây, tên Dù thường lân la chỗ chị Ngọt. Là bạn học cũ với anh Bài, nhưng hồi "Chín năm", anh Bài "xếp bút nghiên" theo kháng chiến, còn Dù thi mãi bằng thành chung không đỗ, buồn tình quay sang đi lính cho Pháp. Dáng người Dù cao kều. Nước da tái tái. Cứ trông đôi môi mỏng dính, tương phản với cặp lông mày rậm rì nhô ra ở phía trên hai con mắt ti hí, nhìn ai như không muốn mở hết, là đủ biết con người này thuộc hạng háo sắc, lại ranh mãnh không phải vừa.

Sau ngày vào lính, do hăng máu đánh trận nên Dù được thăng cấp rất nhanh. Mới cấp đội, hắn nhảy tót lên cấp quan một trong vòng chưa đầy một năm. Hoà bình lập lại, hắn đeo lon trung uý, chỉ huy một đại đội lính đóng ở giữa làng Hạ, nơi quân Pháp chiếm đất xây đồn từ năm 1947 đến giờ.

Một hôm, tên Dù đến chơi nhà chị Ngọt. Hắn ngồi nhắc chuyện cũ và nói không ngượng miệng với chị Ngọt rằng: "Hồi ấy, anh là kẻ đến trước, nhưng Bài đã thắng vì nó học giỏi lại đẹp trai hơn. Nay Bài đi lạc hướng chẳng biết bao giờ trở về. Anh khuyên Ngọt nên bước đi bước nữa kẻo già mất!". Thấy chị Ngọt im lặng, hắn tưởng xuôi gió thuận buồm, bèn giở giọng sỗ sàng: "Anh tuy vợ rồi, nhưng vợ anh không còn khả năng sinh đẻ được nữa. Vậy Ngọt hãy đồng ý...". Không để cho hắn thừng đưng dài dòng, chị Ngọt đứng dậy, nghiêm mặt: "Tôi là đàn bà có chồng. Anh không được ăn nói bậy bạ như thế!". Tên Dù cụt hứng, đành lủi thủi ra về mà lòng vẫn chưa nguôi ham muốn người phụ nữ đẹp này.

Vào cái đêm trung thu năm ấy, đường làng rộn ràng tiếng trống trẻ em. Dù xăm xăm tìm tới chị Ngọt. Lâu nay hắn cũng muốn cho mọi người nhìn thấy hắn đeo đuổi chị Ngọt, và lấy làm thoả chí khi có ai đó thêu dệt nên chuyện "dan díu" giữa hắn với người đàn bà xinh đẹp này. Vừa đến đầu ngõ, hắn thấy chị Ngọt một mình ngồi khâu vá dưới ánh đèn toả sáng trong nhà. Hắn nhẹ bước vào đứng trước thềm một lúc. Lòng hắn bỗng rạo rực lên, vì chưa bao giờ hắn thấy chị Ngọt quyến rũ và hấp dẫn như lúc này. Hắn vào nhà, lên tiếng chào hỏi rồi chủ động ngồi xuống bên cạnh chị Ngọt và buông lời ong bướm như mọi khi. Chị Ngọt vẫn giữ phép lịch sự tối thiểu đối với hắn. Không ngờ, hắn đột ngột thổi tắt ngọn đèn, dùng sức đè ngửa chị xuống giường. Hắn hôn lấy hôn để lên người đàn bà mà lâu nay hắn thèm khát đến điên cuồng. Hắn vừa thở vừa nói lí nhí không nên lời. Giọng hắn trở nên thều thào, yếu ớt như kẻ van xin. Trong khi hai tay hắn sờ soạng, cào cấu như con thú vồ mồi. Bất ngờ hắn bị một cú hích rất mạnh. Chị Ngọt đã hất hắn đổ ình xuống đất, rồi chạy bổ ra sân, hô hoán lên. Cả xóm tưởng nhà chị có trộm cướp, mọi người đốt đuốc chạy tới làm hắn một phen bẽ mặt, vội chuồn thẳng về đồn, vừa hổ thẹn vừa căm tức lên tận cổ.

Đã không lấy thì khuấy cho hôi; thế mà "lấy" chẳng được, "khuấy" chẳng xong, giờ hắn chỉ còn cách... trả thù.

Thời kỳ này, Mỹ ngụy ở miền Nam đang công khai xé bỏ hiệp định Giơ-ne-vơ và thi hành chính sách tố cộng gắt gao. Ở làng Hạ, bọn tề ngụy càng đục nước béo cò, tìm đủ cách để lung lạc, bôi lem hoặc quy kết rồi bắt tù đày đối với những người kháng chiến hoặc có người thân tập kết ra Bắc. Chị Ngọt là người chịu chung số phận cay đắng ấy.

Những ngày cuối đông năm Bính Thân, trời mưa tầm tã và gió rét căm căm kéo dài cả tháng trời. Dân buôn bán làng Hạ ai nấy tê cóng vẫn phải hối hả nối đuôi nhau đổ về thị tứ từ sáng tinh mơ. Suốt cả năm làm ăn chỉ nhờ vào những ngày giáp tết như thế này.

Sáng nay chị Ngọt dậy sớm. Sau khi lo cho cu Thía xong, chị tất tả quang gánh ra chợ bình thường, mà nào hay đây lại là buổi sáng định mệnh của đời mình.

Vừa trông thấy chị gánh hàng qua ngang qua trước cổng đồn, tên Dù vội cho lính gọi chị vào đồn xét hỏi. Hắn nhìn chị bằng đôi mắt trơ tráo của kẻ cuồng si lại hết sức giảo hoạt trước một người đàn bà mà hắn cố tình chiếm đoạt không thành. Hắn đường đột sấn tới giở trò sàm sỡ với chị ngay trước mặt đám lính. Bị xúc phạm quá trắng trợn và thô lỗ, chị không kìm được bực tức. Sẵn đòn gánh trong tay, chị phang thẳng lên người hắn. Thế là bọn lính đứng đó ập tới, hô hoán lên, rằng bắt quả tang kẻ đột nhập vô đồn để ám hại đồn trưởng. Vốn có tên trong "sổ đen", lại có hành vi phạm pháp rõ ràng, lập tức chị bị bắt ngay tại chỗ, rồi bị đưa lên giam ở lao tỉnh một thời gian. Sau đó chị bị kêu án tù, đày ra Côn Đảo biệt tăm biệt tích.

Khi mẹ đi tù, cu Thía chưa đầy 4 tuổi. Ông bà ngoại phải đem Thía về nuôi. Nhà ngoại nghèo nên Thía chẳng được học hành mấy. Xong lớp ba, Thía phải bỏ học để ở nhà giúp ngoại cắt cỏ, chăn trâu. Tuổi nhỏ kham khổ, cái ăn cái mặc chẳng bằng ai, nhưng Thía vẫn lớn như thổi. Lớn lên, Thía hơi cộc tính và chẳng biết sợ ai bao giờ. Có lần Thía đánh chảy máu miệng thằng Hiệp con ông đội Sừng ở xóm chợ chỉ vì hắn dựa thế cha đi lính Tây để nói xấu gia đình Thía. Đám bạn cùng lứa đều nể mặt Thía vì Thía có sức vóc hơn hẳn bọn chúng và thường "ra tay" dẹp yên bọn choai xóm chợ càn quấy trong làng. Người làng Hạ phần lớn ai cũng thương yêu Thía. Mỗi lần gặp Thía đâu đó, người ta thường nói với nhau: "Đúng là cha nào con nấy!".

Ở tuổi mười lăm mà trông Thía khôi ngô, lực lưỡng chẳng khác nào một thanh niên. Quanh năm bám đồng bám ruộng lo làm lụng vất vả nuôi thân, Thía vẫn ngày đêm mong ngóng ngày đoàn tụ gia đình. Năm Thía hăm hai tuổi là lúc miền Nam hoàn toàn giải phóng. Thía nóng lòng chờ tin mẹ, tin cha từng giờ, từng ngày. Nào ngờ đâu, một cái tin đầy bất hạnh đến với Thía như cú sét ngang trời: trong đoàn người trở về từ Côn Đảo không có mẹ của Thía. Chị ấy đã nằm lại đất đảo vì một cơn bạo bệnh cách đấy mấy tháng. Mấy ngày sau, lại một tin đau đớn nữa đến với Thía: cha của Thía hi sinh trong ngày tiến quân vào giải phóng Sài Gòn xuân 1975. Hai cái tin ập đến một lúc như xé gan xé ruột ấy đã làm Thía bị sốc quá mạnh, ngã gục xuống và trở thành như người mất hồn sau đó. Thía không ăn uống, nằm vật vã mấy ngày liền. Cặp mắt Thía quầng thâm, sưng tấy lên, thể lực giảm sút hẳn. Từ đó về sau, tính tình Thía thay đổi khác thường. Có lúc Thía ăn nói khôn ngoan, hiểu đời hơn trước. Song cũng lắm khi giở chứng, Thía nói năng lung tung, không chuyện nào ra chuyện nào. Những ngày gần đây Thía hay đi lang thang. Nếu ai mời vài ly rượu, lúc say lên, Thía trở nên hung dữ, chửi bới loạn xạ không nể mặt một ai. Dân làng Hạ bảo nhau: Thằng Thía bị thần kinh thật rồi!

Những ngày nằm viện, ông Dù mới hay người hành hung mình ở đình làng Hạ hôm ấy là ai. Ký ức xa xăm của những năm tháng làm đồn trưởng lại hiện về trong ông làm ông giật mình. Có lẽ vì tự cho mình là người có công giúp làng làm nổi ngôi đình to đẹp thế kia, nên ông ăn nói bạo miệng mà không nghĩ đến có một thời ông là kẻ có tội với bao gia đình ở mảnh đất làng Hạ này, trong đó có gia đình anh dân làng hôm nọ. Những ngày nằm viện là những ngày ông hồi tưởng, liên hệ... Rồi ông tự trấn an mình. Bởi, có nhiều chuyện oan nghiệt, đau lòng do chính ông gây nên ở làng Hạ, nhưng xem ra giờ đây chẳng ai nhắc lại chuyện cũ đầy thù hận ấy làm gì, trừ Thía con bà Ngọt mà ông vừa tỉnh ngộ ra sau cuộc đụng độ hôm ấy.

Bệnh trạng ông Dù không đến nỗi tệ hại lắm nên ông cũng sớm xuất viện để kịp lên máy bay theo chiếc vé khứ hồi. Trước ngày lên đường, ông ghé bệnh viện tâm thần gặp Thía để nói với Thía những điều mà ông đã nghĩ kỹ là cần phải nói vào lúc này.

... Sáng nay, người ta thấy ông Dù dùng ô tô con đưa Thía về làng trước sự ngỡ ngàng của bà con làng Hạ kéo nhau ra ngõ đứng xem. Ông Dù dừng xe, đưa tay chào mọi người với vẻ mặt tươi tỉnh và nụ cười cởi mở như chẳng có chuyện gì xảy ra. Còn Thía thì tỉnh bơ với đôi mắt như vô cảm. Có tiếng xì xào đâu đó trong đám đông: "Chắc hai người họ đã hoà hợp với nhau để khép lại chuyện cũ rồi chứ gì!”.

N.T
(182/04-04)


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 26 Tháng Giêng, 2011, 02:37:53 pm
Bông hồng nhung và hai mươi ngọn nến

NGUYỄN NGỌC LỢI


Tôi diện bộ "téc gan" quân nhu, dắt súng vào người, dặn dò cậu lái xe rồi hoà vào dòng người đi ra sân bay. Được giao nhiệm vụ về nước sắm hàng, gặp một sự kiện quan trọng, tôi không muốn bỏ lỡ dịp được chứng kiến. Thị xã Lộc Ninh năm 1973 đã trở thành thủ đô của chính phủ cách mạng.

Hôm nay là ngày chính quyền hai bên tổ chức trao trả tù binh. Thị xã mới được giải phóng, đường phố rực rỡ cờ hoa mừng hiệp định Pari vừa được ký kết... Không khí hoà bình bao trùm, niềm hân hoan hiện rõ trên từng khuôn mặt người dân. Chen trong hàng người đứng chờ đón người thân, tôi hồi hộp nhìn chiếc C130 đang lượn vòng. Mải mê dõi theo vòng lượn cuối cùng của chiếc máy bay, tôi giật mình vì một cái vỗ vai. Quay lại, tôi nhận ngay ra Linh Phương, Tôn Nữ Linh Phương. Vẫn dáng ngang tàng như hôm nào, nhưng chiếc quần ống chẽn màu sữa, chiếc áo phông màu trắng bó lấy khuôn người dong dỏng, mềm mại. Mạnh dạn cầm tay kéo tôi ra khỏi đám đông, ánh mắt nghịch ngợm, Linh Phương nói:

- Chà, hôm nay trông anh hiền lành quá ta, lại dễ thương nữa, chả bù cho... Hôm đó trên lãnh địa của anh nên bị anh bắt nạt, còn hôm nay...

Cô bỏ lửng câu nói, mắt nhìn tôi đăm đắm, rất lạ.

Hôm đó với hôm nay chưa xa. Đó là một ngày của năm 1971, cùng với một đơn vị Khơ Me đỏ, đơn vị tôi làm nhiệm vụ quân quản ở thị xã CraChê vừa được giải phóng. Cảnh buôn bán sầm uất diễn ra trên các đường phố. Tôi và cậu Thư đang tuần tra thì nghe tiếng huyên náo ở một phố bán hàng lưu niệm người Hoa. Vừa tới nơi, tôi thấy một phụ nữ từ trong quầy hàng nhào ra túm cái túi xách trên tay một cô gái. Lời qua lại của hai người cho tôi biết chủ hàng nghi cho cô gái lấy trộm đồ. Lục trong túi xách thấy không có gì, bà ta áp vào định soát người cô. Cô gái chùng chân, xoay người và bất ngờ tạt mạnh cạnh bàn tay phải vào mặt người đàn bà. Bà ta ngã ngửa ra trên sạp hàng, mũi chảy máu. Ông chồng thấy vậy nhảy ra tức thì. Cũng bằng thế võ đã dùng, người đàn ông bị cô đánh ngã nằm đè lên người vợ chưa kịp dậy. Cảnh tượng diễn ra trong nháy mắt. Cả đoạn phố huyên náo. Nghe tiếng chạy huỳnh huỵch từ xa của mấy người lính Khơ Me đỏ, tôi rúc còi. Cậu Thư cũng chĩa nòng khẩu AK lên trời, ra dáng sẵn sàng hành động. Tôi tiến đến trước mặt cô gái, nghiêm giọng: "Cô là người gây rối trật tự công cộng. Đề nghị cô đi theo chúng tôi". Thái độ của tôi rất kiên quyết. Thư nhanh trí tiến đến sau lưng cô gái ẩy nhẹ: "Đi, đi nhanh". Bằng linh cảm và kinh nghiệm nhiều năm hoạt động, tôi phán đoán rất nhanh. Đây là một cô gái tốt, không xử lý nhanh, để cô gái rơi vào tay lính Khơ Me đỏ thì không hiểu điều gì sẽ xảy ra. Khi chúng tôi đưa được cô gái vẫn đang hậm hực lên xe thì một tốp lính Khơ Me đỏ chạy tới. Chiếc xe Jép nhanh chóng ra khỏi thị xã. Tới một đoạn đường vắng, tôi cho xe dừng, quay lại nói với cô gái:

- Cô xuống đi, đã sang đây, muốn làm gì cũng phải cẩn thận.

Cô gái xuống xe với nét mặt ngỡ ngàng. Chắc đến lúc này cô mới hiểu mình đã được giải thoát. Nét ngang tàng, bướng bỉnh biến mất, cô đến bên buồng lái, miệng lí nhí cảm ơn. Vẫy một chiếc xe đò chạy hướng Tây Ninh, trước lúc lên xe cô còn ngoái nhìn tôi một lần nữa. Cậu Thư tủm tỉm:

- Chà, pha "đánh cướp cứu Kiều Nguyệt Nga của chàng Lục Vân Tiên" hôm nay thật là ngoạn mục. Hành động nghĩa hiệp của cậu thế nào rồi cũng được "nàng" đền đáp.

Mấy ngày sau, không biết từ đâu cả đơn vị biết chuyện tôi cứu Linh Phương. Anh Ba Tri, thủ trưởng của tôi cho biết "nàng" là "ái nữ" của một cán bộ dân sự có cỡ ở R, ông tên là Tôn Thất Thời. Tôn Nữ Linh Phương được ông cho theo bác ruột vào Sài Gòn học trung học. Nghe đâu cô còn giấu ba theo một khoá Thái Cực Đạo và đã đạt " nhất đẳng huyền đai". Tài năng và sắc đẹp của cô làm bao chàng trai ở chốn đô thành điêu đứng. Cơ sở của người bác bị lộ, Linh Phương bỏ dở lớp tú tài, trở về tham gia trong bộ phận Kinh tài tỉnh. Một mình Linh Phương sang CraChê khảo sát thị trường. Hành động mang tính "anh hùng võ lâm" của cô đã náo động cả vùng và suýt phải trả giá.

- Chả trách gì em thấy cú đánh của cô ta hôm đó có vẻ thuần thục lắm. Con gái học võ thường bị ảnh hưởng của những cuốn sách võ hiệp. Hành động của Linh Phương hôm đó thật là...

- Còn cậu thì sao...? Ông nheo mắt nhìn tôi - Cậu cũng muốn trở thành hiệp sĩ đó thôi. Coi chừng nghe, con gái có võ là không vừa đâu, lại là "cục cưng" của Sáu Thời nữa. Nó "đá" ngã cậu không chừng đó.

Câu nói nửa đùa nửa thật của anh Tri vừa như nhắc nhở vừa như thách thức. Hình ảnh Linh Phương đứng giữa đám người Hoa mặt mày dữ tợn mà không hề nao núng như kích thích, như gợi tò mò trong tôi.

Chính quyền do Pôn Pốt cầm đầu ngày càng lộ vẻ phản phúc. Ngày ngày chúng tôi phải chứng kiến những cái chết thương tâm của bà con Việt kiều cũng như CămPuChia do lính Khơ Me đỏ giết hại. Anh em chúng tôi dù trong bụng sôi sục, muốn tìm cách trả thù nhưng ngoài mặt vẫn phải cười, nói và chào hỏi chúng. Một hôm, anh Ba Tri gọi tôi lên phòng riêng và nói. Anh cho tôi biết quan hệ giữa ta và Khơ Me đỏ ngày càng xấu đi nghiêm trọng... Sau một lúc vòng vo, anh hạ giọng nói tiếp. Sắp tới, bọn chúng sẽ mở một trường hạ sĩ quan ở Ché Lăng. Nơi đó có vợ và con trai của Sáu Thời. "Cậu hiểu rồi đấy, nếu để vợ con ở đấy khác chi sống giữa hang hùm...". Ông Sáu Thời muốn nhờ chúng tôi đưa vợ con ông ấy về CraChê. "Cho dù đây không phải vợ con của một cán bộ quan trọng thì nghĩa vụ của chúng ta cũng phải..."

- Thôi, thủ trưởng không phải nói nữa, em hiểu rồi.

- Cậu chọn thêm ba người, đến tài vụ nhận tiền, xuống cơ sở lấy hàng rồi đón mẹ con bà ấy luôn. Dọc đường liệu tuỳ cơ ứng biến, khẩn trương lên, chúc các cậu thành công.

Anh nắm chặt tay tôi trước lúc vội vã bước ra. Tôi cũng nhanh chóng trở về phòng riêng chuẩn bị, độ mười lăm phút sau chúng tôi lên đường. Cũng cần phải nói rằng qua nhiều năm chiến đấu và công tác đặc biệt, chúng tôi đã hình thành một thói quen khẩn trương, sẵn sàng nhận nhiệm vụ. Tổ công tác do tôi chỉ huy gồm cậu Thư, người luôn cặp kè bên tôi như hình với bóng, anh Chư, vốn là một trinh sát bộ binh, có tài xử lý các tình huống gay cấn và một cậu mới bổ sung nhưng đã trải qua thử thách. Tôi đặc biệt thích cậu này ở tài bắn AK và khả năng đi xe máy. Bốn chúng tôi, mỗi người một xe Hon Da 90, nai nịt gọn ghẽ, nổ máy lên đường. Chúng tôi ra khỏi thị xã cũng vừa lúc trời đổ mưa. Ánh điện đỏ quạch của những căn nhà ngoại ô soi rõ con đường loang loáng bóng nước. Trời mưa to càng thuận lợi, tôi động viên mọi người. Bốn chiếc xe lao đi như bão cuốn. Không hiểu sao lúc này tôi thấy phấn chấn và kích động lạ thường. Phải chăng vì người mà tôi và các đồng chí sắp sửa giải thoát khỏi chốn nguy hiểm là mẹ và em trai Linh Phương? Phải chăng hình ảnh Linh Phương, một thiếu nữ mảnh mai vẫn hiên ngang đứng giữa vòng nguy hiểm hôm nào đã kích thích tôi. Tôi vẫn luôn nhớ lời Trà My mỗi lần chúng tôi ngồi với nhau: "Em rất lo, anh là người bốc đồng, dễ bị kích động. Làm gì thì làm nhưng phải cẩn thận, nhớ giữ gìn để về với em".


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 26 Tháng Giêng, 2011, 02:40:46 pm
Lần này thì tôi suýt phải trả giá bởi hành động chủ quan của mình. Vì nóng ruột muốn tới ngay nhà của mẹ Linh Phương. Gia đình Linh Phương sang Cămpuchia từ bao giờ tôi không biết. Chỉ biết rằng ông Sáu Thời đã bí mật về nước hoạt động từ lâu. Linh Phương về Sài Gòn học nên ở bên này chỉ còn bà Sáu và cậu con trai út. Tôi phân công anh Chư và cậu kia mang bọc tiền đến cơ sở lấy hàng, còn tôi và Thư đến thẳng nhà bà Sáu. Nhà bà Sáu ở trong một hẻm, đường vào nhỏ hẹp, ngoắt ngoéo. Đến chỗ có bức tường, tôi bảo Thư tắt máy, đẩy xe vào bóng tối. Cả hai men theo bóng các ngôi nhà đi vào. Theo anh Ba Tri chỉ dẫn thì ngôi nhà có ánh đèn leo lét kia, cách chúng tôi mấy bước chân là nhà Linh Phương. Đang chuẩn bị vọt qua luồng ánh sáng phát ra từ một khe cửa thì tôi phát hiện ra nòng một khẩu AK sau bức tường. Thằng lính Pôn Pốt chỉ kịp hự lên một tiếng khi tôi nắm nòng súng kéo ra và lên một gối vào hạ bộ của hắn. Trong nhà có tiếng đàn ông Miên gắt gỏng, tiếng đàn bà ú ớ, rên rỉ. Chưa kịp có hành động tiếp theo thì tôi đã bị một cú đá tạt ngang mạng sườn nặng như vồ nện. Bị ngã dập xuống nền đường nhưng tôi cũng kịp vẩy một phát súng vào cái bóng to lù lù trước mặt. Hắn hộc lên một tiếng, buông rơi khẩu súng rồi đổ gục. Khi tôi đứng lên được thì Thư đã dắt mẹ con bà Sáu vọt ra ngoài. Sự việc xảy ra quá nhanh nên bọn lính quanh đó đã không kịp phản ứng. Khi xe tôi vọt ra được đường lớn thì mới có tiếng huyên náo phía sau. Chúng bắn theo ràn rạt.

Xe Thư chở hai người đi trước, tôi bám theo. Một lúc sau thì có tiếng xe máy từ ngôi nhà bên đường rồi cùng một lúc lao ra bốn năm ánh đèn pha sáng quắc. Thấy xe Thư đi đã khá xa, tôi quyết định đi chậm để chặn địch. Vậy là tôi bị nạn đêm hôm đó. Vừa chạy vừa ngoái đầu bắn trả, xe tôi bị trúng đạn. Tôi bị văng vào một lùm bình bát ven sông. Thật may là không bị thương, tôi nhanh chóng bò xuống mép sông và nấp sau một ụ đất. Bốn thằng lính áo đen dừng xe. Chúng hô nhau tìm kiếm. Lấy hơi nín thở, tôi lặn ra giữa sông và nhắm bờ bên kia bơi tới. Bắn loạn xạ xuống mép sông một lúc, không tìm thấy tôi, chúng hậm hực lên xe về. Khỏi phải nói cuộc trở về của tôi gian nan ra sao. Có lúc tôi tưởng như không còn gặp lại được anh em, không còn được gặp Trà My nữa. Chả lẽ đã vượt qua biết bao gay cấn, nguy nan mà tôi lại bị chết vì một lý do vớ vẩn như thế này sao.

Tôi bơi trong nỗi tuyệt vọng, trong bóng đêm đen kịt. Cho tới lúc tưởng chừng như kiệt sức thì chân tôi chạm được vào bờ. Tôi mừng hú và lịm đi trên bờ cát ven sông. Gần sáng, tôi được cha con một người Việt kiều vớt lên thuyền và cho ẩn trong khoang máy. Nằm dưới khoang nghe tiếng hoạnh hoẹ của bọn lính áo đen, tôi thầm cảm ơn số phận, cảm ơn cha con bác Việt kiều. Chiều hôm sau, khi cậu Thư mang xe đến đón tại bến sông thì tôi chỉ còn như một cái xác. Cho đến sáng hôm sau, khi tôi tỉnh dậy thì đã thấy Thư ngồi bên cạnh, miệng tủm tỉm:

- Đưa được mẹ con bà Sáu về tới nơi, quay lại chẳng thấy cậu đâu. Tưởng rằng cậu đã bị ngoẻo hoặc bị chúng tóm, ai ngờ... Nhưng thôi, cũng bõ cho công xông pha và suýt cả bỏ mạng... Hắn lấp lửng. Hai người rồi còn khổ với nhau nhiều đây. Cậu có biết ai đã ngồi nhìn cậu một cách mê mệt, đắm đuối suốt từ đầu hôm đến gần nửa đêm lúc cậu đang ngủ không? Không chờ được cậu, Linh Phương đã đi rồi. Thật tội nghiệp cho Trà My. Hắn trao cho tôi mảnh giấy. Chữ con gái mềm mại, bay bướm: "Xin chào người đã cứu mẹ và em trai. Nhìn anh ngủ thương lắm. Hẹn ngày đền đáp..." Thư nhìn tôi, nháy mắt cười.

Lúc đó tôi chỉ muốn thụi cho cậu ta một quả. Hắn học đâu được cái thói lấp lửng đáng ghét thế không biết. Nghĩ lại những điều Thư nói hôm nào thế mà linh nghiệm. Tôi gặp lại Linh Phương hôm nay có phải là tình cờ hay do số phận?

Cũng cần phải nói cho bạn đọc rõ, trước lúc gặp Linh Phương tôi đã yêu Trà My. Tôi đã yêu bằng tất cả niềm say mê, lãng mạn của trái tim tuổi trẻ. Trà My là y sỹ trạm phẫu của đơn vị. Cô là Việt kiều, từ Cam Pu Chia trốn về nước tham gia cách mạng. Nhiệm vụ của đơn vị đã đưa Trà My trở lại mảnh đất mà em đã lớn lên. Là một cô gái thuỳ mị, nết na và đầy nhạy cảm, tình cảm mà Trà My dành cho tôi đằm thắm như là tình cảm của một cô em gái hay hờn dỗi, có khi lại như là của người mẹ, người chị gái đầy bao dung. Hăng say với công việc được giao, hằng ngày được sống trong vòng tay yêu thương của Trà My, tôi chẳng mong gì hơn.

Làm nhiệm vụ đặc biệt, hằng ngày chúng tôi luôn tiếp xúc với những thứ dễ làm xiêu lòng những ai, nói như cách nói lúc này là "không có lập trường, quan điểm vững vàng". Đó là những hàng hoá cao cấp, những lượng tiền, vàng rất lớn, những cô gái đẹp có đầy rẫy trong những đại lý, trong các nhà hàng. "Ông bạn mới" sớm trở mặt, chúng tôi sống trong tình trạng căng thẳng, đầy bất trắc. Đã có nhiều trường hợp chiến sỹ của đơn vị bị thủ tiêu. Để thích ứng với tình hình, đơn vị tôi gồm toàn những người trẻ khoẻ, thông minh, đầy bản lĩnh công tác và chiến đấu. Mỗi một người đều có thể đảm nhiệm những công việc khác nhau. Ngoài nhiệm vụ chung tôi còn kiêm thêm chân trợ lý và bảo vệ cho anh Ba Tri. Thủ trưởng Ba Tri là một người đầy bản lĩnh và có nhiều kinh nghiệm. Gần anh, tôi được ảnh hưởng nhiều về khả năng xử lý, tính quyết đoán và nhạy bén trong các tình huống gay cấn. Trong quan hệ với bộ đội anh cũng là người rất tế nhị. Hàng ngày, sau những giờ phút căng thẳng, tôi được mấy phút gặp Trà My. Phải nói rằng hồi đó chúng tôi yêu nhau trong sáng, không một chút tính toán, vụ lợi. Tình yêu đã gắn kết số phận chúng tôi, chỉ tiếc rằng do hoàn cảnh mà chưa hẹn được ngày sống chung. Anh em bạn bè tôi, những "chiến binh dũng cảm" luôn đồng tình và cổ vũ cho mối tình của hai đứa. Mối tình của tôi với Trà My đang đẹp như trăng rằm thì không biết do ma xui, quỉ khiến mà để cho tôi phải gặp Linh Phương.

Linh Phương cầm tay kéo tôi tới một quán nhỏ cạnh đường. Trời miền đông nắng chói chang. Linh Phương gọi ra mấy chai bia, cô thành thạo bật nút chai, rót bia ra cốc, đẩy đến trước mặt tôi:

- Anh uống La ze đi. Sao hôm nay trông anh hiền thế... Anh sang đây tìm hàng, đúng không? Nếu sang tìm hàng thì anh nhầm chỗ rồi. Đã về đến đây thì phải nghe em chứ không phải như ở bên kia đâu - Linh Phương nhắc lại chuyện cũ một lần nữa - Em mang ơn anh. Bản thân thì được anh giải thoát, mẹ và em trai thì được anh cứu. Anh đã suýt bỏ mạng vì gia đình em. Hãy cho em có cơ hội được đền đáp. Ngày mai hãy về Lò Gò, chỗ đó sẽ có đủ hàng cho anh. Anh chỉ cần đi xe đến Tây Ninh, hai giờ chiều mai em sẽ tới đón. Hãy chờ em ở ngã tư trung tâm

Về Lộc Ninh lần này tôi có nhiệm vụ tìm mua một số mặt hàng cho đơn vị mà bên kia không có. Vậy mà Linh Phương nói đúng. Cô đi rồi, suốt buổi chiều một mình ra chợ, lượn khắp các đại lý, chẳng ở đâu có loại hàng tôi cần. Thủ đô của chính phủ cách mạng lâm thời bề bộn bao công việc. Ở đây hầu hết là các cơ quan mới chuyển từ R về nên việc buôn bán còn rất lèo tèo, hàng hoá còn khan hiếm. Sáng hôm sau tôi quyết định về Tây Ninh khi mặt trời chưa mọc. Tôi mới đến Tây Ninh một lần hồi thị xã mới giải phóng nên rất bỡ ngỡ. Đang lo chưa biết tìm Linh Phương ở đâu thì chiếc honda 90 đã phanh kít ở đầu xe. Trong trang phục du kích, quần áo bà ba đen, khăn rằn quấn cổ, mắt đeo kính mát, trông Linh Phương như một nhân vật trong tiểu thuyết hay một phim chuyện nào đó. Cô giơ tay làm hiệu rồi phóng vụt đi trước, xe tôi bám theo. Từ Tây Ninh về ngã ba Lò Gò đâu chừng hơn ba chục cây số. Gần bốn giờ chiều chúng tôi tới nơi. Đến một ngã ba, chỉ vào bóng một cây ngô đồng, Linh Phương bảo tôi dừng xe. Xem qua danh mục hàng tôi cần, cô bảo:

- Xe cứ chờ ở đây, còn anh đi theo em.

Đến đây thì tôi phải phục tùng Linh Phương. Ngồi sau cô trên chiếc honda, tôi khâm phục tài xử lý xe máy của Linh Phương. Qua mấy đại lý, tôi lại càng khâm phục Linh Phương ở khả năng xử lý quyết đoán trong giao tiếp, mua bán. Về phương diện này, tôi nghĩ tốt nhất cứ để cho Linh Phương giúp. Khoảng gần sáu giờ tối chúng tôi đã gom đủ hàng. Trở về nơi xe đậu, Linh Phương trao cho cậu lái xe sơ đồ đường đến các điểm và số hàng ở từng nơi. Cô bảo: "Anh tìm chỗ nào ăn tối, em đưa anh Bảo đi có chút việc, khoảng mười một giờ đêm trở lại". Tôi nghĩ chẳng đi đâu mà vội. Từ đây lên Tây Ninh rồi theo cửa khẩu Xa Mát trở về, quá lắm chiều tối mai chúng tôi sẽ có mặt đúng hẹn ở đơn vị. Tôi gật đầu với cậu lái xe rồi đi theo Linh Phương. Xe chay được một lúc, cô nói: "- Em đưa anh đi ăn, sau đó về ra mắt ông già. Ba em mong được gặp anh lắm". Tôi ngó lại bộ quân phục trên người, lo lắng. Đoán được suy nghĩ của tôi, Linh Phương bảo anh chẳng cần bận tâm gì đến vẻ bên ngoài cả, ba là người dễ thông cảm, hơn nữa anh là...


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 26 Tháng Giêng, 2011, 02:42:23 pm
Nhà của Linh Phương nằm trong một khu vườn um tùm cây trái, cạnh con lộ về Sài Gòn. Một ngôi nhà lợp tôn to vừa phải nhưng lịch sự, thoáng mát. Nhà có một khoảng sân khá rộng được chắn bằng những tấm ghi sân bay, phía trên là một dàn hoa ti-gôn lấm tấm hoa. Khoảng sân đã được trang hoàng rất đẹp. Hai dãy bàn xếp dọc theo chiều dài sân phủ vải trắng muốt. Bàn nào cũng có một lọ pha lê hoa tươi. Những bông cẩm chướng đỏ nổi bật trên nền vải trắng trông thật trang nhã. Phía trên, chỗ gần cửa ra vào là một bàn lớn được phủ một tấm vải thêu rực rỡ. Một lọ hoa hồng trắng rất to đặt ở giữa. Ba bốn nam nữ thanh niên ăn vận lịch sự, nói cười nhỏ nhẹ chạy đi chạy lại ra dáng tất bật. Tôi phát hoảng, chưa kịp đoán xem sắp có sự kiện gì xảy ra ở đây thì một người đàn ông tầm thước, khoẻ mạnh trong bộ đồ ký giả màu cà phê đã ra tận ngõ đón. Đưa tôi vào phòng khách, ông bảo:

- Con ngồi đi, hãy coi đây như là nhà của con.

Cử chỉ của người đàn ông mà tôi đoán là bác Sáu Thời, ba của Linh Phương rất ôn tồn, tình cảm. Ông làm tôi thấy tự tin". - Bác nghe tiếng con từ lâu..." ông nói. Giọng Nam Bộ trầm ấm, rủ rỉ đầy xúc động. Ông nói rằng gia đình mang ơn tôi, cái ơn rất lớn. Ông khen tôi là một chiến sỹ dũng cảm tuyệt vời, có quan điểm và tình thương giai cấp cao cả. Ông nói nhiều lắm. Ông nói nếu tôi đồng ý ông sẽ xin chuyển cho tôi về dân chính và gửi đi học một lớp đào tạo cán bộ cốt cán cấp huyện sắp được mở nay mai. "Nhưng dù sao bác cũng vẫn muốn coi đây như là nhà con".

Tôi ngồi im, hai cốc la ve trên bàn chưa ai kịp uống. Những điều ông nói ra với tôi thật quá đột ngột, làm tôi ngỡ ngàng. Tôi sinh ra và lớn lên ở nông thôn miền Bắc, dù đã học xong cấp ba nhưng cũng chỉ quen với cái cày cái cuốc. Tôi quen với bờ tre mái rạ, quen với hạt lúa củ khoai. Suốt hơn năm năm trời lăn lộn ở chiến trường Căm pu chia, tôi chưa một lần về quê thăm bố mẹ và các em. Ba năm trước, tôi nghe tin thằng em trai cũng đã vào bộ đội nhưng từ bấy đến nay chẳng nghe tin tức. Sức khoẻ bố mẹ tôi ra sao cũng không hề biết. Lần đầu được tiếp xúc với những người tuy là đồng chí nhưng lại ở một tầng lớp khác, tầng lớp thượng lưu. Tôi lo lắng:

- Dạ thưa bác, trước hết cháu xin cảm ơn bác vì những tình cảm mà bác đã dành cho. Những gì bác nói thật quá lớn đối với cháu. Bác cho cháu...

- Tất nhiên rồi, nhận lời hay không là tuỳ cháy. Cháu cứ suy nghĩ rồi trả lời sau cũng được. Thôi, chúng ta ra ngoài kẻo mọi người chờ.

Từ phòng khách bước ra, tôi loá mắt bởi ánh sáng của những ngọn đèn măng sông chiếu tới. Dưới ánh sáng xanh, tôi nhận ra khoảng hơn vài chục thanh niên nam nữ, ai cũng trẻ trung, xinh đẹp và khoẻ mạnh. Họ mặc những bộ đồ dân sự thật trang nhã, lịch sự. Đặc biệt, tôi chú ý một thanh niên dong dỏng, độ tuổi tôi, dáng trí thức. Anh ta xăng xái bày lại những lọ hoa, những chai bia trên các dãy bàn, bắt tay chào người này người nọ. Người này thỉnh thoảng sánh bước với Linh Phương. Cái bàn lớn phủ tấm vải thêu đầu hai dãy bàn đã chất đầy quà tạng. Đặc biệt, giữa hai dãy bàn mới xuất hiện một bàn tròn kê cao hơn. Phía trên có một chiếc bánh ga tô phủ kem rất lớn. Trên chiếc bánh có những ngọn nến mới được thắp sáng, ánh sáng lung linh làm cho không gian như ngưng đọng và trở nên huyền ảo. Ánh mắt đổ dồn tới khi ông Sáu dắt tay tôi xuất hiện nơi khuôn cửa. Tôi "đọc" được vẻ thảng thốt bất ngờ có phần ghen tỵ của đám người. Người như "chú Sáu" sẽ có biết bao kẻ muốn được gần gũi, cầu thân. Họ đang tìm kiếm cơ hội để được gần ông. Ngoài uy tín của ông sẽ có lợi cho những ai được ông để mắt tới, ông còn có cô con gái trẻ đẹp. Tôn Nữ Linh Phương sẽ là cái đích theo đuổi của rất nhiều chàng trai, trong đó có những trí thức trẻ Sài Gòn bỏ thành ra cứ hoạt động, những sĩ quan trẻ, những cán bộ dưới quyền "chú Sáu". Họ đang ngồi dưới kia, tôi đoán vậy. Ông kéo tôi ngồi xuống dãy ghế đã có mấy thanh niên trẻ tuổi ngồi. Mấy người đứng dậy chào ông. Cậu em Linh Phương cũng từ đâu ào tới. Ba Linh Phương ghé tai tôi nói nhỏ:

"Hôm nay là sinh nhật lần thứ hai mươi của Linh Phương, cháu cứ tự nhiên nhé".

Từ nãy, tôi cũng đã đoán như vậy khi đếm thấy hai mươi ngọn nến trên chiếc bánh. Tôi lúng túng và thầm trách Linh Phương không cho biết để chuẩn bị một chút quá mừng. Xin thú thật, trong đời tôi chưa bao giờ được chứng kiến một lễ sinh nhật sang trọng như vậy. Người dẫn chương trình là một cô gái xinh đẹp. Cô nhanh nhẹn đứng dậy và nở một nụ cười quyến rũ. Người đẹp, lại duyên dáng và lịch sự, lời cô nói sao mà bay bướm, cuốn hút. Từ đâu đó phát ra một bản nhạc êm dịu, vui tươi. Bản nhạc vừa dứt thì Linh Phương xuất hiện. Trong bộ áo dài trắng kiểu nữ sinh, trông nàng như một bông huệ đầy vẻ trong trắng, kiêu sa. Tôi không dám nhìn nàng và hoang mang nghĩ rằng có phải mình vừa ăn cùng nàng, được ngồi sau xe nàng suốt cả chiều nay? Tuy có cảm giác đang lạc vào giữa chốn "thượng lưu" nhưng không hiểu sao lúc đó tôi không hề mặc cảm với bộ quân phục đang mang trên người. Linh Phương bước tới chiếc bàn, nơi đặt tấm bánh sinh nhật. Nàng chụm miệng lần lượt thổi tắt các ngọn nến. Chưa mời mọi người ăn bánh, rút ra một bông hồng nhung được giấu từ đâu đó, Linh Phương bước đến dãy bàn đầu tiên. Sang bàn thứ hai, tôi chưa thấy nàng trao bông hoa cho ai. Chàng thanh niên mà tôi chú ý từ đầu buổi ngồi ở đầu bàn thứ ba. Tôi nghĩ nàng sẽ trao bông hoa cho anh ta. Mà quả thực, tất cả những đàn ông đang có mặt đều xứng đáng được nàng tặng hoa, trừ ba người, đó là tôi, ba và em trai nàng. Tôi nghĩ. Tôi lơ đãng nhìn các dãy bàn. Lúc này chẳng ai để ý đến việc ăn kẹo, uống bia, những thứ đang ê hề trước mặt. Linh Phương đã đi qua chàng trai đó, qua tiếp hai người nữa. Người nào cũng được nàng tặng một nụ cười khả ái và trìu mến. Bất ngờ Linh Phương dừng trước mặt tôi. Nàng nghiêng mình, hay tay nâng bông hồng:

- Xin tặng anh, chàng "hiệp sĩ" của lòng em... Đôi gò má ửng đỏ, đôi môi phớt hồng chúm chím, cặp mắt long lanh của nàng nhìn tôi đăm đăm, chan chứa bao điều... Hình như không khí buổi lễ ắng đi một lúc. Có tiếng vỗ tay đốp đốp. Tôi run rẩy đứng dậy như người lên cơn sốt. Sự việc diễn ra quá bất ngờ. Từng rơi vào những tình huống gay cấn, nguy hiểm nhưng lần này, gặp tình huống này thì tôi chết lặng. Tôi giơ tay đỡ lấy bông hoa trong niềm ngây ngất khỏ tả. Nàng trao hoa cho tôi, bàn tay với những ngón thuôn dài nuột nà như vô tình chạm nhẹ vào tay tôi. Một cảm giác mát rượi, êm ái ngập tràn trong tôi.

Sau đó tôi không nhớ gì nữa hết. Hình như lúc buổi lễ gần xong, khi mọi người đang vỗ tay cùng hát bài "Tự nguyện" thì nàng kéo tôi đi. Nàng chở tôi đi bằng chiếc xe mà cả buổi chiều chúng tôi đã đi. Chúng tôi ngồi với nhau trên một tảng đá ven sông. Mặt sông đen thẫm, bầu trời đen thăm thẳm, vài vì sao xa lắc. Đêm ở vùng giải phóng sao mà bình yên và êm ả đến dịu dàng. Ở đây tưởng chừng chưa hề có bom đạn. Trước mặt, dòng nước lặng lẽ trôi. Những dề lục bình cũng đang trôi lặng lẽ. Trong bờ cỏ, tiếng cá quẫy lóc bóc, tiếng côn trùng rỉ rả. Xa xa, bên kia sông hình như đang có tiếng những cặp chim tìm nhau trong bóng đêm... Nàng đang ngồi rất gần, tà áo dài, những sợi tóc bay bay, mơn man trên má, trên miệng tôi. Quanh tôi phảng phất hương thơm, mùi của da thịt ngây ngất, mùi của một thứ nước hoa sang trọng. Đã từng có những giây phút bên cạnh Trà My nhưng tôi chưa từng gặp thứ hương thơm giống như hôm nay. Không khí yêu đương tràn ngập. Nàng xoay người, hướng khuôn mặt xinh đẹp đang tràn trề hạnh phúc sang tôi: " - Sao anh yên lặng vậy, ba đã nói gì với anh?". Thấy tôi không nói gì, nàng hỏi. Nàng đâu biết trong tôi đang diễn ra sự đấu tranh, giằng xé. Tôi hiểu những điều ba Linh Phương nói, nếu chấp thuận ông, tôi sẽ có tất cả. Tôi sẽ có vợ đẹp, có tiền đồ và điều quan trọng nữa là hàng ngày không còn phải đối mặt với hiểm nguy. Nhận lời ông tương lai tôi sẽ được đảm bảo. Còn với Trà My...? Suy nghĩ của tôi trở nên mong manh. Khuôn mặt Trà My hiển hiện. Trời ơi, phải nói rằng nếu đem so sánh, về dung nhan thì Trà My của tôi kém xa nàng. Linh Phương có một cốt cách cao sang. Cổ nàng cao, trắng muốt, khuôn mặt trái xoan có vầng trán trắng mịn, chiếc mũi thẳng nhỏ nhắn, đôi mắt to, đen thăm thẳm. Chẳng còn đâu hình ảnh một Linh Phương ngang tàng, dữ dội ngày nào. Nàng đã trở về với một tiểu thư đài các đầy mộng ước. Tự nhiên tôi thấy nhớ và thương Trà My đến thắt ruột. Tôi và Trà My đã có với nhau những năm tháng gắn bó gian truân, những kỷ niệm đau thương và dịu ngọt. Giờ đây chắc em đang mong ngóng tôi về. Cũng có thể em đang vất vả, chăm sóc một thương binh nào đó. Tôi đã từng được em chăm sóc, đã mang trong mình dòng máu của em. Trà My đã tiếp máu khi tôi trúng đạn của bọn Lon Non. Trà My đã trở thành máu thịt của tôi... Nhưng chẳng lẽ tôi lại nói những lời chối từ trong một không khí như thế này sao, có phũ phàng và tàn nhẫn quá không? Nhưng tôi kịp nghĩ rằng có lẽ Linh Phương sinh ra không phải để dành cho tôi. Số phận của tôi đã được an bài, dù rằng mối tình với Trà My chưa đi đến qui ước...:

- Linh Phương ơi, anh xin cảm ơn những gì em và ba đã dành cho anh. Đó là những điều anh không dám nghĩ tới. Anh xa nhà đã lâu, bấy nay chỉ quen phục tùng mệnh lệnh, giờ đây con người anh cũng không còn là của riêng anh nữa. Làm người chiến sỹ, anh phải phục tùng mệnh lệnh, chiến đấu vì nước, vì dân... Chắc em không muốn anh là người hám danh, cầu lợi, là kẻ phản bội... Người hiệp sỹ trong câu chuyện của em cũng ghét áp bức, ghét cả những kẻ phụ nghĩa, bạc tình...

- Thôi, em hiểu anh muốn nói gì rồi, anh có người yêu rồi phải không?

- Linh Phương ạ, em là một cô gái tuyệt vời. Nếu nói rằng không yêu em là anh tự dối lòng. Nhưng em có vội vàng khi chọn anh không? Anh sợ rằng mình không đáp ứng được những gì mà ba và em kỳ vọng. Có bao nhiêu người xứng đáng với em hơn... Tôi nói như một cái máy, không kịp hiểu có phải đó là tiếng nói của lòng mình hay chỉ theo suy nghĩ thoáng qua...

Toàn thân Linh Phương rung lên. Lúc này thì cô đã xoay mặt hướng ra sông. Trăng hạ tuần mọc muộn trên sông Vàm Cỏ. Ánh trăng quét lên mặt nước một lớp vàng lóng lánh, nhấp nhô theo từng con sóng nhỏ. Khuôn mặt Linh Phương cũng rờ rỡ ánh trăng nhưng đã đầm đìa. Nhìn từng giọt nước mắt tròn lăn trên đôi gò má diễm lệ, có lúc tưởng chừng tôi không cầm lòng được. Bên kia sông, tiếng bìm bịp nghe thật não nề. Hình như đó là tiếng gọi của những cặp trống mái. Bất ngờ Linh Phương quay sang tôi:

- Anh có nghe tiếng bìm bịp gọi nhau không? Cô hỏi trong tiếng nấc.

- Nó đang báo thời gian, sắp sáng rồi Linh Phương ạ. Linh Phương thở dài: "- Vậy thì về thôi anh. Em nghe tiếng còi xe bạn anh gọi rồi đấy". Linh Phương cả quyết đứng dậy. Tôi tranh Linh Phương cầm lái nhưng cô không chịu. Trở lại vẻ rắn rỏi thường ngày, cô cho xe chạy như bay. Trước lúc tôi lên xe, Linh phương trao tôi một hộp các tông" - Tặng anh chiếc Ra đi ô, mỗi lần nghe hãy nhớ đến em. Chúc anh mạnh giỏi, hạnh phúc". Linh Phương quay xe một cách dứt khoát, không kịp cho tôi có một lời từ biệt. Chiếc xe lao đi một cách dữ dội trong ánh bình minh.

Mùa hạ năm 2003
N.N.L
(178/12-03)


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 26 Tháng Giêng, 2011, 04:07:31 pm
Lũ quét

XUÂN ĐÀI


Chuyện thằng Thanh con cô Ngoan ở làng Đông cuối tháng này tổ chức đám cưới với con Thuý con cô Lâm ở làng Nổi, dân xã Vĩnh Sơn ai cũng tỏ tường. Cái đận cô Lâm có chửa, điều tiếng khắp làng, người ta đoán già đoán non về cha của đứa bé. Đoán vụng đoán trộm, thì thầm nhỏ to sau lưng, chứ thấy bóng cô đi ngang qua là họ im bặt. Nó mà nghe được nó tế cho! Nó vén mồm, vén váy, réo tên cúng cơm ba đời nhà mình ra mà chửi.

Con ấy đâu vừa! Vắng mặt cô Lâm người ta lại xầm xì chắc con của lão Ngộ lùn hay con của lão Thống rỗ trưởng xóm. Nghe những lời ong tiếng ve như thế, mụ Kinh Coòng ngồi bán tạp hoá ngoài cây đa đầu lang, bĩu môi: các ông các bà chẳng biết cái chi hết! Thấy lão Thống rỗ với thằng Ngộ lùn hay thậm thà thậm thụt ra vô nhà cô Lâm thì đổ vấy cho người ta, chứ "giống" ấy là của người quê mình tận Hà Nội hay tít trong Sài gòn chứ không quanh quẩn đây đâu. Con Lâm nó ngoa ngoắt nhưng nó không ngu. Mấy đận nó bảo xuống thị xã chơi với dì dượng, thực ra là nó đi thật xa để "kiếm" đứa con. Thử hỏi lão Thống với thằng Ngộ cùng người họ Bùi với nó, đâu dám trắng trợn loạn luân như vậy. Người quê ta, có chức có quyền, có học vị bằng cấp đang công tác khắp nước, thơm ngon mát bổ, ngu gì lại đi chung chạ với đứa chân lấm tay bùn, hàng tháng trời không tắm, hôi rình như khỉ...

Làng Vĩnh Sơn nằm dọc sông Vạn Phường có đến tám dòng họ. Họ Trần và họ Lê là hai họ lớn, gia phả họ Lê trên bốn mươi đời. Nhà thờ rộng và đẹp hơn cả chùa làng. Còn họ Bùi là dân ngụ cư. Cô Bùi thị Lâm là con ông Bùi Viết. Tính đến ông Viết mới có năm đời. Bố mẹ cô Lâm vừa buôn bán vừa làm ruộng. Từ lúc nhỏ, Lâm đã biết theo cha mẹ chạy chợ. Mùa nào thứ đó, chỉ có buôn trâu là chưa làm. Khi nhỏ Lâm đã đẹp, lớn lên càng đẹp. Người tầm thước, thon nhỏ, da trắng, ăn nói khéo léo, chả thế mà thanh niên trong làng nhiều anh "xin chết" nhưng anh nào cũng được Lâm tặng cho một chiếc guốc vào mông. Cô Lâm cùng lứa với cô Diệu, cô Ngoan, đều sinh giữa thập niên bốn mươi, cùng tốt nghiệp lớp mười một khoá. Chỉ có Diệu vào được đại học Bách khoa, còn Ngoan với Lâm ngày nào cũng lên uỷ ban lục hòm thư. Giấy báo đại học đâu chẳng thấy, chỉ lượm được toàn vỏ chuối...

Bấy giờ, thanh niên trai tráng nờm nợp đi bộ đội. Con gái rủ nhau đi thanh niên xung phong. Xã Vĩnh Sơn đợt đó có năm cô lên huyện khám tuyển, bốn cô trúng trong đó có Ngoạn, còn Lâm bị loại, quay về làng khóc như cha chết. Mụ Kinh - Coòng - tạp - hoá vừa nguýt vừa bảo con ấy khoẻ như voi, chắc là đỏng đảnh nên người ta mới đuổi về, liền bị cô Lâm đứng ngay trước ngõ, xắn quần, tốc áo, chửi cho một trận. Dẻo mồm dẻo mép như mụ Kinh Coòng cũng phải câm miệng hến, ngồi trong bếp dỏng tai lên nghe. Mụ sợ cô Lâm một thì sợ ông Viết mười. Ông Viết dám mang khâu liềm cào sập nhà mụ rồi cho một mồi lửa, chứ mụ Kinh đừng có cậy giàu mà gieo tiếng xấu cho con gái ông. Thời chiến mà trốn nơi hòn tên mũi đạn là đồ hèn. Người họ Bùi nghèo chứ không hèn.

Không đậu đại học, không trúng thanh niên xung phong, cô Lâm dựng lều ngoài đường cái quan mở hàng nước. Gọi là hàng nước thực ra cô bán đủ các loại thượng vàng hạ cám. Ai hỏi cô Lâm làm gì, ông Viết trả lời rất thời thượng: Cháu nó làm thương nghiệp! Các anh bộ đội hành quân qua quán thì vẫy tay: Chào em cô gái Lam Hồng xinh đẹp!

Làm nghề buôn bán trên đường cái, khách thập phương ghé đến, có anh lấy cớ uống nước chè, ăn kẹo lạc mà ngồi từ trưa cho đến khi chủ quán dẹp hàng. Tán tỉnh thế nào cô Lâm cũng chỉ che miệng cười, miễn là nước cứ uống sình bụng, kẹo cứ ăn cho mẻ răng và tiền cứ nộp đầy đủ là được. Nghe đâu dân làng đồn đại cô cũng có mối tình với anh lính trẻ trên huyện đội. Sâu đậm lắm, dám cả gan vô hiệu ảnh Thanh Bình, ôm vai ghé má "chơi" một kiểu làm kỷ niệm. Duyên vừa mới bén hơi, thề non hẹn biển, chung thuỷ một đời thì anh huyện đội được chuyển sang quân chủ lực rồi đi chiến trường vào Nam. Thằng Tuấn Sún, cháu gọi mụ Kinh Coòng bằng bà dì bảo đã được nhìn tận mắt tấm ảnh cô Lâm chụp chung với anh huyện đội, bị mụ Kinh cho một cái tát nổ đom đóm mắt, kèm theo một câu xỉ vả: Mi chỉ ăn nói ba láp ba xàm! Ngữ con Lâm chỉ có chụp ảnh chung với lợn, chứ bộ đội nào mà thèm áp má kề vai với nó. May cho mụ Kinh Coòng câu xỉ vả vô cớ của mụ được gió cuốn ra đồng, chứ đến tai cô Lâm thì chắc lần này ông Việt ông đốt nhà mụ thật.

Chuyện tình duyên của cô Lâm người đồn thế này người đồn thế nọ, chẳng biết thực hư ra sao, chứ đến năm ngoài ba mươi cô vẫn ế chồng. Bây giờ băm tư rồi mới sắp được làm mẹ. Cha đứa bé là ai chỉ một mình cô biết. Cha cô - ông Viết - có cạy mồm, cô cũng không nói. Chỉ có mụ Kinh Coòng đi đâu cũng hát nghêu ngao bằng giọng hát xẩm: Không chồng í - a mà chửa mới ngoan. Có chồng í - a mà chửa... thế gian í - a cũng nhiều... Dân xã Vĩnh Sơn chẳng ai đồng tình với cách hát hò độc miệng của mụ. Người ta thương cô Lâm đẹp nhất xã mà số phận hẩm hiu, quá lứa lỡ thì. Người ta thương dòng họ Bùi nghe đâu nguồn gốc tận tỉnh Hoà Bình, nghèo đói cơ cực mới dắt díu nhau vào tận miền Trung này làm dân ngụ cư.

Ông Đề, em bà con cô cậu với mụ Kinh Coòng, bất chấp máu mủ ruột rà, làm một bài vè dạy cho con nít hát, giễu cợt lại mụ Kinh lắm điều. Hát rằng: Mụ Kinh là mụ Kinh Coòng / chồng thời không có mà con cả bầy / mụ Kinh là mụ bầy hầy / con cái cả bầy chẳng thấy chồng đâu. Trẻ con cứ lượn qua lượn lại trước cổng nhà mụ Kinh hát nghêu ngao. Chồng mụå vác gậy chạy ra, trừng mắt: Rứa tau là gì hả? Đồ chó đẻ! Trẻ con xô nhau chạy, vừa chạy vừa la: Ông là nhôông chứ không phải chồng. Bà là gấy chứ không phải vợ (1)... Ông Kinh phì cười, chửi: Tổ cha bây! tổ cha bây! Đồ mất dạy...

Cô Lâm sinh đứa con gái bụ bẫm, cười có lúm đồng tiền, đặt tên như ca sĩ Bùi Diễm Thuý. Diễm Thuý ngoan và học giỏi. Càng lớn càng giống mẹ, may mắn hơn mẹ, diễm phúc hơn mẹ, thời của Diễm Thuý là thời bình yên. Diễm Thuý thi đại học lần đầu tiên đã đậu ngay hai trường. Thời còn học cấp I có lần nằm bên mẹ, bóp tay mẹ, sờ má mẹ, vuốt tóc mẹ, Thuý thủ thỉ: Cha con là ai hả mẹ? Mẹ ôm chặt Thuý vào lòng, khóc tức tưởi...

Hôm cầm giấy báo đậu hai trường đại học, Diễm Thuý vừa mừng vừa lo, nói với mẹ chỉ học một trường để mẹ đỡ vất vả. Mẹ cô cười trong tiếng khóc, khóc trong tiếng cười, chửi yêu con...

- Cha mi, mi có học đến... tỷ trường, tau cũng nuôi được. Học phí là thứ giẻ rách, đứa hèn mới không lo được cho con...

Nói đến đó mẹ Thuý thấy mình hơi quá lời liền dịu giọng hỏi: Chứ học phí mỗi trường một năm bao nhiêu con?

- Cứ bán hết cả lều hàng xén của mẹ, may ra mới nộp đủ một trường. Còn trường thứ hai thì phải bán cả nhà.

- Tổ cha mi, đừng dọa tau, làm chi có đắt như rứa!

- Ban nãy mẹ mạnh mồm, bây giờ run rồi hả? Không tin mẹ đi hỏi thiên hạ, thiên hạ người ta biết "giá" của đại học cả đó.




------------------------------------------------------
(1) Tiếng địa phương vợ chồng gọi là "gấy - nhôông"


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 26 Tháng Giêng, 2011, 04:09:30 pm
Mới đó mà đã sáu năm, Diễm Thuý bây giờ đã kỹ sư chế tạo máy, làm việc ngay giữa thủ đô, sắp làm lễ cưới với cậu Thành, lập trình viên phần mềm, thua mình hai tuổi, con cô Ngoạn người họ Võ, cũng là dòng họ ngụ cư.

Thành và Thuý bén duyên nhau, bất chấp tuổi tác, bất chấp giàu nghèo. Cái mà hai trái tim đập cùng nhịp là họ đồng cảnh ngộ. Những năm học cấp II, Thuý và Thành vẫn xưng hô là chị chị em em. Khi lên cấp III, tuy hơn Thành hai tuổi nhưng Thuý chỉ học trước Thành một lớp. Thành là đứa thông minh. Từ năm Thuý học lớp mười một, Thành học lớp mười thì hai từ "chị em" tự dưng biến mất, thay vào đó là xưng tên. Đại để "Thuý đừng thức khuya nhiều mà ốm đấy", "Thuý có hai quả lê chia cho Thành một quả này". Đến giờ học, Thành ghé nhà chở Thuý đi bằng xe đạp đến trường. Thuý và Thành là đôi song ca hay nhất huyện. Không chỉ những ban học cùng trang lứa mà bàn dân thiên hạ đều biết Thuý Thành yêu nhau. Bạn học cùng trường, đứa nào cũng vun vào, chỉ có cô bé Lê Thị Na, người cùng xóm với Thuý, học sau Thành một lớp là mỗi lần gặp Thuý thì... ngó lơ. Thuý biết là Na ghen nhưng cứ tảng lờ như không biết gì, nên lúc nào gặp Na, Thuý cũng vồn vã. Có lần Thuý đưa cho Na một nắm kẹo. Na ngúng nguẩy "em không quen ăn của ngọt, thôi chị để dành cho anh Thành".

Từ sâu thẳm trong tâm hồn, Na biết mình vô lí. Từ nhỏ đến giờ anh Thành vẫn coi mình như em ruột. Tình yêu của mình là đơn phương. Đơn phương thì đau khổ, tức giận vô cớ với người con gái được người con trai mình yêu yêu thực lòng; chỉ có những người nhỏ nhen nếu không nói là đê tiện thì mới như vậy. Từ khi nhận ra điều phức tạp mà đơn giản ấy, Na dần dần thay đổi cách cư xử với Thuý. Hễ gặp Thuý là Na vồ vập trước, nhiều lần Na mời Thuý đi ăn kem. Dù đang rất bận, Thuý vẫn nhận lời. Thuý hiểu những day dứt, chua xót, cả sự cao thượng mới chớm nở trong lòng Na.

Có lần mụ Kinh Coòng ngồi rửa rau muống trên bến sông, Na đang tắm, bơi lượn trước mặt mụ. Mụ ngoắt Na vào. Na ngồi lên phiến đá bên cạnh. Mụ liền oang oang:

- Báu bổ chi cái thằng con hoang mà mi cứ đeo đuổi hắn. Con hoang nó yêu con hoang. Nó lấy nhau là phải đạo rồi. Mi là con nhà tử tế...

Không nói không rằng. Na hất tung rổ rau muống lên bờ, rồi xô mụ Kinh Coòng ngã nhào xuống nước. Bến sông sâu, may mà mụ Kinh Coòng biết bơi. Vừa lổm ngổm bò lên bờ, mụ vừa chửi Na là đồ con đĩ. Na đâu có vừa, dù em đang ở tuổi học trò. Hai tay xỉa xói vào mặt mụ:

- Tôi nể bà là người trong họ, không thì tôi đánh cho bà một trận. Bà không được xúc phạm mẹ con anh Thành, mẹ con chị Thuý. Lần sau bà còn gọi tôi là con đĩ, tôi nhất định cho mấy cái răng của bà đi... sơ tán!

- Tao thách mi đánh tao, đánh đi!

- Này đánh! Nói chưa dứt câu. Na đấm thẳng vào mặt. May mà mụ Kinh Coòng kịp giơ cái rổ lên che, Na dang cả hai tay khoẻ mạnh của tuổi mười bảy, một lần nữa xô mụ Kinh Coòng xuống sông.

- Ơi bà con làng nước ơi, nó giết tôi, nó giết tôi. Cứu tôi với! Con đĩ Na nó giết tôi, ới làng nước ơi...

Bà con đứng dọc bến sông, từ nãy đến giờ chứng kiến sự việc chỉ cười. Ông lão Tần, phơ phơ tóc bạc, cười móm mém: Mụ Kinh ơi, mụ có chết cả làng này cũng chẳng ai thương.

Na từ bến sông leo lên bờ, để nguyên quần áo ướt đi về nhà. Mụ Kinh Coòng lại buông theo lời xỉ vả:

- Con nhà tử tế, cha mẹ đàng hoàng, yêu người tử tế không yêu lại say như điếu đổ cái thằng con hoang mà không biết nhục! Con gái nhà họ Lê nhà choa không có thứ đó, đồ mất nết.

Ôm bộ quần hoa sặc sỡ Na bước thẳng, không thèm ngoái lại. Về đến nhà, chui vào buồng thay quần áo rồi cô lăn ra giường, ôm gối khóc tức tưởi. May mà cả nhà đi vắng. Cơn tức giận nguôi dần, thôi khóc, Na lại nghĩ về Thành. Ngày nhỏ mọi người trong làng đều nói với lũ trẻ, bố Thành là bộ đội, chiến đấu ở mặt trận miền Tây Nam Bộ không biết thất lạc hay đã hy sinh đến nay vẫn không thấy có giấy báo tử... Mãi cho đến khi gần tuổi trăng tròn, Na mới biết về số phận của Thành. Không phải ai mà chính anh Thành kể cho Na nghe tường tận...

Ngày đi thanh niên xung phong cô Ngoạn mới mười chín tuổi, hết đội bom ở Bến Thuỷ, Đồng Lộc... rồi vào mở đường tận miền tây Quảng Bình. Năm cô xuất ngũ về làng đã ngoài ba mươi. Cha mẹ cô mong ngóng hai đứa con. Một thằng anh bộ đội, một đứa em thanh niên xung phong cứ biền biệt ở phương trời xa ngái. Không một lời nhắn về, không một lá thư. Đến khi nhận giấy báo tử người con trai, mẹ cô Ngoạn vật vã mấy ngày, nằm liệt giường cả tháng, khi đứng dậy đi lại được thì... hoá điên. Ngày ngày cầm một cành cây trên tay, hết ra chợ nhảy múa lại đi dọc bờ sông nói lẩm bẩm đúng hai câu "con Ngoạn sắp về lấy chồng, thằng anh nó cũng sắp về lấy vợ". Nghe vậy bà con làng nước thương quặn lòng. Có người nhìn bà, ái ngại: Anh ấy hy sinh rồi, thôi bà về nghỉ đi, con dắt bà về nào. Bà lão cãi: Hắn hy sinh chứ đã chết mô! Bà con đứng xung quanh không ai nỡ cười trước câu nói ngớ ngẩn của bà mẹ mất con. May mà cha cô Ngoạn biết nén cái đau cái thương vào lòng để khoẻ mạnh chăm sóc, cơm cháo cho bà lão.

Hơn một năm sau bà lão về với đất để lại ông lão đơn côi. Chiều chiều ông ra bến sông nhìn về phương trời xa lắc, ngóng chờ đứa con gái. Trời thương, cuối năm bảy hai ông lão nhận được thư con từ tận đường 20 trong Quảng Bình gửi về kèm theo một tấm ảnh chụp chung với hai người bạn trai và ba người bạn gái. Đúng dịp cô Diệu kỹ sư nghỉ phép về làng, ông đưa cho Diệu xem thư và xem ảnh. Diệu tính tình xởi lởi pha chút láu cá, liền chỉ anh thanh niên đứng cạnh Ngoạn trong ảnh, cao ráo, khuôn mặt hốc hác nhưng hai mắt sáng, nụ cười tươi, dáng dấp đẹp trai, bình phẩm:

- Chắc anh này là người yêu của Ngoạn. Đứng sát với nhau thế này chụp ảnh, thường là những người yêu nhau, ông ạ. Vài hôm nữa ra Hà Nội, con viết thư cho Ngoạn nói Ngoạn gửi về cho ông một tấm ảnh chỉ hai người chụp với nhau.

Ông lão cười:

- Được rứa thì hay quá. Khi mô hoà bình con Ngoạn dắt anh ni về làng, ông tổ chức đám cưới linh đình rồi cho anh ở rể. Hai đứa mà thuận lòng thì sướng quá, con hè.

Ngoạn chưa kịp về để thực hiện điều tưởng tượng của Diệu, thì dịch sốt thương hàn đã đưa ông lão về với bà lão.


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 26 Tháng Giêng, 2011, 04:11:50 pm
Mùa thu năm Bính Thìn (1976), Ngoạn khoác ba lô con cóc, đội mũ tai bèo về làng thì chỉ còn lại ngôi nhà lá đơn sơ và cái bàn thờ với ba tấm ảnh cha mẹ và anh trai, vây quanh tấm bằng tổ quốc ghi công. Điều cô ngạc nhiên là ba nén hương ai đó vừa mới thắp toả khói thơm khắp nhà.

Buổi đầu bà con làng nước, dòng họ, mỗi người một tay xúm lại sửa chữa ngôi nhà bao năm lạnh lẽo không có hơi người. Sự cảm động của Ngoạn rồi cũng mau chóng qua đi, chỉ còn lại nỗi cô đơn, sự mất mát người thân và đồng đội là còn mãi day dứt...

Mỗi lần bà Tám, cô ruột, bà Quỳnh, dì ruột nhắc đến chuyện chồng con, Ngoạn chỉ thở dài và buông một câu: Con già rồi biết lấy ai, ai lấy. Có ông nào vừa đôi phải lứa, cô với dì làm mối cho con.

Bà Tám, bà Quỳnh thương cháu, nghĩ đến hạnh phúc của cháu thì nói vậy chứ cả cái xã này nồi tròn đã úp vung tròn, nồi méo đã úp vung méo, chỉ còn bọn choai choai mới lớn và ông Đông goá vợ, tối ngày ôm cái chai rượu đi ngất ngưởng khắp xóm, không thể gả cháu mình cho ông được.

Gần hai năm sống lủi thủi trong ngồi nhà rách nát, niềm vui duy nhất của Ngoạn là nhận được thư của bạn bè, đồng đội một thời, cư ngụ khắp các tỉnh. Thư từ theo năm tháng cứ thưa dần. Đầu năm bảy bảy, Ngoạn ba lô khăn gói ra ga lên tàu. Mọi người trong xã chỉ biết Ngoạn đi thăm bạn, theo như Ngoạn nói. Cuối năm đó Ngoạn bồng về làng một bé trai kháu khỉnh, còn đỏ hỏn. Đó là thằng Thành của ngày hôm nay, làm đám cưói với con Thuý. Khác với cô Lâm dạo nọ, dân xã Vĩnh Sơn cũng ít bàn tán về ai là cha của đứa bé. Cuộc chiến tranh để lại vô vàn những hố bom trong làng, những người trẻ tuổi ra đi không trở về... và bốn đứa trẻ không biết cha mình là ai. Cách nay đã hơn ba mươi năm, dạo cô Liên, chồng đi bộ đội chiến đấu ở chiến trường xa, bặt tin tức bỗng nhiên có chửa. Không biết ai dạy mà trẻ con chăn trâu trong xã cứ hát oang oang theo nhạc của bài "Đường cày đảm đang", một bài hát rất phổ biến của thời bấy giờ:

Từ ngày anh đi ở nhà em chửa hoang / đẻ đứa con trai nó giống cả làng...

Cô Liên xấc bấc xang bang một dạo, mất chức đội trưởng sản xuất, bị khai trừ Đảng. Theo như cách nói của nhiều người thời bấy giờ là rơi xuống hố phân, mất hết. Không có chuyện mất hết. Bố mẹ chồng nhất định không cho Liên ôm quần áo về nhà bố mẹ đẻ. Mẹ chồng cô bảo con là con dâu mẹ. Sinh con trai hay con gái thì cháu vẫn là cháu của ông bà. Mai mốt chồng con về, nó phải biết thông cảm và tha thứ cho con. Bằng không, mẹ sẽ lấy thêm vợ cho nó, làm nhà riêng cho nó ở thì con vẫn là vợ cả, đứa tê là vợ lẽ. Cả lẽ gì cũng là vợ cả.

Ba năm sau chồng Liên về thật, lành lặn khoẻ mạnh. Đi đâu anh cũng dắt thằng cu đi theo. Lúc thì ngồi sau yên xe đạp, lúc thì cõng chạy nhong nhong. Thằng bé cười nắc nẻ mỗi lần được bố cù (thọc lét). Từ đó ba năm đôi, mắn như gà. Bây giờ vợ chồng Liên đã có năm con, đứa con gái út mới vào đại học.

Trước cách đối xử cao thượng của người lính đã dẹp tan những lời ong tiếng ve của kẻ xấu miệng. Và trẻ con, không hiểu sao, cũng thôi không hát các bài lếu láo...

Theo "lệnh" hai bên gia đình, Thuý và Thành thức đến một giờ đêm liệt kê danh sách khách mời đám cưới dài mười tám trang sách học trò. Khách trong làng ngoài xã không bỏ sót ai đã đành. Khách là người làng, người trong họ, ngoài họ, những ai thân tình nhất đang công tác, làm ăn buôn bán khắp cả nước, phải gửi thiệp mời đến tận nơi. Sót là không được. Mình phải mời người ta, còn người ta có về hay không đó là việc của họ. Cái danh sách ngoài xã cũng dài dằng dặc đến hơn ba mươi người, mở đầu là ông Lê Mỹ Nhàng hiện đã nghỉ hưu đang ở trong Sài gòn. Ông Nhàng không những là ân nhân của dòng họ Lê mà còn là ân nhân của cả xã. Cái xã Vĩnh Sơn ở vùng quê heo hút này thời nào cũng có người làm lớn. Dưới triều Nguyễn có ông làm đến thượng thư. Không tính ông bộ trưởng đã nghỉ hưu, xã còn vài ông tướng, ông tá đương chức đương quyền, cỡ cán bộ cấp cục, cấp vụ, giáo sư tiến sĩ, bác sĩ... thì, theo cách nói mụ Kinh Coòng là đông như... lợn con. Dù vậy, làng trên xóm dưới vẫn quý nhất ông Lê Mỹ Nhàng. Ông đã xuất tiền xây bốn căn nhà tình nghĩa tình thương cho xã, trong đó có hai ngôi nhà, theo chỉ đạo của ông, xã dành cho mẹ con cô Ngoạn, mẹ con cô Lâm vì là mẹ goá con côi. Ngôi trường cấp II khang trang nằm ngay chính giữa xã, xây hết tám trăm triệu là tiền đóng góp của những người công tác trong ngành ông, lúc ông đang tại chức. "Một người làm quan cả họ được nhờ", câu nói của ngày xưa, bây giờ cũng... xưa rồi. "Một người làm quan, cả xứ... được nhờ". Thời hiện đại, phải nói thế mới... hợp nhãn!

Ông Nhàng về hưu ở lại Sài gòn, một vợ một con gái, không biết làm ăn những gì mà giàu quá vậy? Đó là điều mà dân xã Vĩnh Sơn hay xầm xì bàn tán. Bàn tán cũng chỉ là bàn tán chứ chẳng ai biết đầu cua tai nheo ông Nhàng làm ăn những gì. Mãi cho tới khi có anh nhà báo, cũng là người họ Lê, con dân của làng, làm phóng viên một tờ báo ngoài Hà Nội, từng ngang dọc hết Tây, Tàu, Mỹ; hết Việt Bắc, Tây Bắc, Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Sài gòn, miền Tây miền Đông Nam Bộ... biết tường tỏ mọi chuyện trên đời kể ra, mọi người mới vỡ nhẽ. Anh bảo ông Nhàng lúc từ Hà Nội vào Sài gòn đã được phân cái nhà mặt tiền trên con đường lớn ở quận nội thành. Đến khi ông được đề bạt lên cấp cao hơn, người ta lại điều cho gia đình ông chuyển sang cư ngụ trong một villa chỉ cách chợ Bến Thành không quá hai cây số. Lại vẫn theo lời kể của anh phóng viên, cuối thập kỷ 80 người ta hóa giá rẻ rề như là cho không. Cái này gọi là lộc nước, anh nhà báo bình luận. Ấy vậy mà có đứa lếu láo trong đám nhà báo, dám gọi lộc nước ra chữ khác, na ná như nước. Giấy hoá giá chưa ráo mực, chớp thời cơ, ông bán ngay già với giá gần một nghìn lượng vàng (giá hiện nay thì villa đó phải hơn hai nghìn lượng). Ông mua một ngôi nhà trong hẻm với giá sáu mươi bảy lượng năm chỉ (anh nhà báo nói chi tiết đến từng chỉ, gớm thật!). Hơn chín trăm cây vàng còn lại, ông ra ngoại thành mua đất, phân lô, bán lại cho mọi người. Giá đất tăng vòn vọt. Ban đầu giá mua một bán gấp hai gấp ba, đến những năm cuối thế kỉ đất ông mua một, bán gấp năm gấp bảy. Ngoài việc mua bán đất, ông còn xây nhà khắp các quận huyện để cho thuê. Kể đến đó, anh nhà báo hạ giọng: cho đến nay, đất của ông nằm rải rác nội thành, ngoại thành, còn chừng vài hécta chưa bán. Nói đi phải nói lại, cũng có người được lộc nước, bán, mua nhà khác nhỏ hơn để ở. Tiền dư ra gửi về quê xây nhà thờ họ, xây trường, lập quỹ khuyến học. Số người làm giàu sống sa đọa rồi đạo đức giả kiểu ông Nhàng không nhiều nhưng cũng chẳng ít.

- Số người thực lòng nghĩ đến quê hương bản quán nhiều hay ít hơn loại người như ông Nhàng?

Anh nhà báo:

- Bà con bắc thang lên hỏi trời, chớ tôi không biết...


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 26 Tháng Giêng, 2011, 04:17:54 pm
Nghe anh nhà báo nhởn nha trò chuyện, chồng cô Liên, cái anh bộ đội coi con người như con mình, rít một hơi thuốc lào, nghểnh cổ nhả khói lên trời, hạ giọng:

- Ông Nhàng biết nghĩ đến dân làng như thế là quá tốt, kể ra ông cho chừng này tiền để xây dựng xã là còn quá ít, giá như ông cho mỗi thằng lính như tôi một cái nhà thì hay biết mấy.

Cô Liên nguýt chồng, vừa đi vào bếp vừa nói: cho tất cả các ông cựu chiến binh nhà anh mỗi người một cái nhà, có tiền là vỏ hến.

- Mẹ nó chẳng biết cái gì cả. Cựu chiến binh xã này, hồi mới hoà bình là hơn tám mươi người, gần ba mươi năm nay, chết dần chết mòn, bây giờ chỉ còn lại hai mươi ba mống. Mỗi cái nhà, cao nhất là tám triệu, tính ra tất cả, cũng chưa đến hai trăm triệu.

Chồng cô Liên buông điếu cày đứng lên nói với tất cả mọi người đang ngồi xung quanh:

- Ông Lê Mỹ Nhàng giàu nứt đố đổ vách như rứa là cũng nhờ xương máu của bọn lính tráng chúng tôi, đúng không anh nhà báo?

Mụ Kinh Coòng từ nãy giờ chỉ há hốc mồm ngồi nghe, lúc nãy nhổ quệt trầu vào góc nhà, to tiếng:

- Xưa nay tôi cứ nghĩ ông Nhàng rộng lòng, cho xã như thế là nhiều. Bây giờ mới biết của nả nhiều như rứa, số tiền xuất ra cho xã từ trước đến nay chỉ mới bằng một nắm thóc trong kho thóc. Khi mô ông Nhàng về đây, tôi đề nghị uỷ ban xin tiền ông xây thêm cái trạm xá với mấy ngôi nhà cho các gia đình liệt sĩ. Xã ta có bao nhiêu liệt sĩ? - Chưa ai kịp trả lời, mụ đã quay sang hỏi anh nhà báo: - Thế chú có biết vợ ông Nhàng làm chi không, chẳng lẽ chỉ ăn rồi chơi à.

Anh nhà báo chẳng thèm nhìn vào mặt mụ Kinh Coòng, đáp:

- Bà ấy gốc gác con nhà nông, ngồi chơi, chịu sao nổi. Bà cũng chạy ngược chạy xuôi buôn bán bằng nước bọt, rồi chơi hụi, quê ta gọi là chơi họ. Thắng cũng nhiều, bể hụi cũng lắm. Hồi mới vào Sài gòn bà xấp xỉ bốn mươi, nghe nói chịu khó đi đền đi chùa, xin một thằng con cầu tự. Trời phật cũng thương tình, đâm nụ kết hoa cho một cái bầu. Thời đó chưa có siêu âm, bà đi thầy lang bắt mạch bốc thuốc, nghe nói con trai. Mừng hơn bắt được vàng. Đến tháng thứ bảy vô ý vô tứ, xuống cầu thang trượt ngã. Thế là sẩy thai.

Mụ Kinh Coòng suýt xoa:

- Tội nghiệp hè, rứa là vẫn không có thằng chống gậy. - Mụ lại ngoảnh sang anh nhà báo: - Lâu nay chú có gặp ông bà ấy không?

Anh nhà báo:

- Ông vẫn tráng kiện, da dẻ hồng hào, chỉ tóc là trắng như cước. Còn bà Nhàng, mới ngoài sáu mươi, ăn uống muốn gì có nấy, ấy vậy mà gầy còm như cây sậy, hệt bà lão "cổ lai hy", chẳng bù cho cô giúp việc béo phây phây. Còn cô con gái, du học bên Liên Xô. Hồi Liên Xô tan rã, sẵn đô la trong tay, cô dông tuốt sang Mỹ. Học hành bằng cấp thế nào không ai hay, chỉ biết là cô lấy một ông chồng Mỹ nghe nói cũng nghèo, thất nghiệp. Ông bà Nhàng có đưa cho tôi coi ảnh cháu ngoại. Một đứa cháu gái bụ bẫm, tóc vàng mũi tẹt, vừa giống búp bê vừa giống vượn.

Mụ Kinh Coòng từ nãy đến giờ lắng nghe, đột nhiên thở dài: - Tội nghiệp hai ông bà già, con trai không có, con gái lại làm me Mỹ. Ông trời chi mà ác rứa hè!

Dân xã Vĩnh Sơn chuẩn bị lễ cưới cho Thuý và Thành nhiệt tình hết chỗ chê. Trang trí hội trường lộng lẫy, hai chữ Hỷ đỏ chói, cắt từ hai khổ giấy to hơn hai cái nia. Lời chúc hạnh phúc cho đôi trẻ bằng tiếng Việt, tiếng Tàu, tiếng Anh... đủ cả. Hai cái rạp dựng ở nhà cô Ngoạn, cô Lâm cao vút trời, rộng mênh mông, bàn ghế để tiếp bà con phải huy động gần như là khắp xã, kê san sát với nhau. Ai cũng nhiệt tình giúp đỡ cô dâu chú rể. Xăng xái nhất, ngoài Lê Thị Na ra, là mụ Kinh Coòng. Mụ Kinh là người khẩu xà tâm phật, cả làng ai cũng biết nên không ai giận mụ. Hai ngày hôm nay, dẹp gánh hàng xén đầu làng, mụ chạy ngược chạy xuôi, hò hét đám thanh niên trang hoàng hội trường, đốc thúc bọn trai trẻ dựng rạp, khiêng bàn khiêng ghế, rửa bát rửa nồi...

Họ hàng thân thuộc của cô dâu chú rể từ ngoài Bắc kéo về, từ trong Nam dồn ra, đã hơn hai chục. Duy có một người, cô Ngoạn và cô Lâm và bà con hai họ trông ngóng là ông Nhàng thì chưa thấy tăm hơi đâu cả.

Ngày tốt, giờ tốt đã được thầy coi. Đúng đầu giờ Thìn, họ nhà trai đến rước dâu. Bong bóng nổ đùng đoàng thay pháo. Vui quá trời. Hai họ cười nói, trò chuyện, ăn uống, vài người say bét nhè. Cuối giờ Ngọ mọi người lục tục kéo nhau lên hội trường để đại biểu chính quyền đoàn thể, họ nhà trai nhà gái... kính thưa và hát hò.

Ông chủ tịch xã vừa bước lên micrô vừa gõ thì nghe tiếng ô tô. Ngoài nhìn ra cánh đồng thấy chiếc xe màu phớt trắng đang từ từ bò vào làng. Không ai bảo ai, mọi người reo ầm lên: Cụ Nhàng, cụ Lê Mỹ Nhàng về đúng lúc quá!

Chiếc xe vừa bò vào sân hội trường mọi người đã xúm đông xúm đỏ vây quanh. Chú tài xế bước ra khỏi xe, không còn cách nào dẹp được bà con, mở cửa cho ông chủ. Trong xe, ông chủ Nhàng ăn mặc xềng xoàng, ngoài sự tưởng tượng của bà con. Mãi khi anh tài xế dẹp được đám đông, mở cửa để ông chủ bước ra thì mọi người kinh ngạc khi thấy mặt ông Nhàng tái mét như đít nhái, mồ hôi vã ra như người mới tung chăn khỏi nồi nước xông. Bước xuống xe, loạng choạng, hình như ông cố gượng đứng lên thật vững. Không kịp bước vào hội trường, ông rướn người đưa hai tay lên trời, không phải nói mà kêu, mà hét thật to: - Trời ơi! con Thuý, thằng Thành, cả hai đứa đều là con tôi, đều là người họ Lê.

Chỉ nói được vậy, rồi ông ngã nhào ra sân.

Mụ Kinh Coòng hét lên: - Cấp cứu, cấp cứu mau lên chú lái xe ơi.

Dân xã Vĩnh Sơn không ai hốt hoảng, có lẽ họ đã linh cảm điều này từ lâu, chỉ có bọn choai choai mới lớn là thảng thốt, ngơ ngác.

Ông chủ tịch xã leo lên ghế trước ô tô. Hai anh thanh niên trèo lên ghế sau, đỡ ông Nhàng nằm gối đầu, gác chân lên người họ. Chiếc xe trực chỉ hướng về bệnh viện huyện

Mụ Kinh Coòng lặng lẽ nhìn theo, thở dài...

Trước thềm hội trường, cô Ngoạn cô Lâm đứng cứng đờ, vô cảm như hai cái cột điện.

Hơn hai mươi năm trước các cô đi "kiếm" một đứa con mong ấm cửa ấm nhà, lúc tuổi già có nơi nương tựa, láng giềng làng nước ai cũng thương mến và cảm thông. Các cô cứ ngỡ tìm đến ông Nhàng là "giống" tốt của một dòng họ bề thế, có bề dày lịch sử mà quên rằng họ Lê hay bất cứ họ nào cũng có người anh hùng và thằng đốn mạt. Bất hạnh đã ập đến và hạnh phúc không mỉm cười. Nhờ cuộc chiến tranh đẫm máu, ông Nhàng hoạt động ở những vùng hậu phương xa ngái, nơi hòn tên mũi đạn không lao tới mà mau chóng thăng quan tiến chức. Khi cuộc chiến tranh kết thúc, ông lại sống ở thành phố giàu đẹp, hưởng nhiều bổng lộc, sống thừa mứa để... luôn dâm dật chân tay. Ngoài đứa con gái chính thống, ông cũng không tài nào biết hết những đứa con vương vãi của mình đang sống cù bơ cù bất ở khắp mọi miền đất nước và bầy con đói khát mà mẹ chúng một thời là các chiến sĩ anh dũng ngoài mặt trận, nay đang cư ngụ tại "làng không chồng" cách xã Vĩnh Sơn không bao xa.

Mụ Kinh Coòng ngồi thụp xuống đất, tấm tức khóc và nói như nói riêng với chính mình: - Khổ cho thằng Thành với con Thuý. Con Thuý có chửa ba bốn tháng rồi, nhìn vào cái ngực, cái cổ nó là tôi biết. - Mụ bỗng la lên: - Làm răng bây giờ trời ơi, chức quyền tiền bạc mà làm chi để hại đời hai người đàn bà, hại cả dòng họ Lê nhà tui.

Cụ Hiền mấy hôm nay vui vẻ đi khắp làng xởi lởi thăm hỏi mọi người, bây giờ trầm ngâm chắp tay sau lưng đi đi lại lại, bỗng cụ ngẩng lên nói như quát:

- Cấp cứu mà làm gì. Hạng người đó chết đi cho sạch xã, sạch nước!

Dứt lời cụ quay gót đi thẳng. Nhiều người nhìn theo cụ. Cụ cũng là người họ Lê, vai chú Lê Mỹ Nhàng. Cụ là tiến sĩ ngữ văn, dạy học trong Sài gòn, cũng đã nghỉ hưu.

- Thằng Thành, con Thuý chạy đi đâu rồi? - Vẫn là câu hỏi thảng thốt của mụ Kinh Coòng.

Mấy hôm nay trời đã mưa rả rích suốt ngày đêm, báo hiệu sắp có lụt lớn. Xe cấp cứu ông Nhàng vừa chuyển bánh được một lát, trời bỗng vặn mình nổi cơn bão, mưa như ném đá vào các nóc nhà, cây cối... Con sông Vạn Phường chảy dọc làng gầm réo, gạch đá, rác rưởi... tuôn ào ào. Lũ quét đã về... Tiếng loa kêu gọi chống lũ oang oang. Sẽ ra sao sau cơn lũ này, làng xóm của tôi?

X.Đ
(177/11-03)


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 27 Tháng Giêng, 2011, 02:32:51 pm
Cồn cát

ĐỖ KIM CUÔNG


Nhiều năm trôi qua tôi đã trở thành người đàn ông đứng tuổi. Có một mái ấm gia đình, vợ con hạnh phúc. Nhưng mỗi lần nghĩ về nàng, một người đàn bà chỉ kịp quen trên chuyến đò từ Huế ra Phong Điền, chia tay nàng để nhiều năm sau, tôi mới được gặp lại nàng trong một hoàn cảnh khác, tôi vẫn giữ nguyên một cảm giác hết sức lạ lùng. Một ý nghĩa luôn ám ảnh tôi khá kỳ quặc rằng: Tôi đã bị nàng hiểu lầm, là một chàng lính giải phóng “hám gái, dại khờ”... Bởi vì sau vụ việc ấy, chính tôi cũng rủa thầm mình là ngu ngốc.

Giải phóng Huế được mấy ngày, tôi bước sang tuổi 24. Tạm xem là một gã con trai mặt mũi sach sẽ, sáng sủa. Chưa một lần yêu. Lứa tuổi chúng tôi, chẳng có thời gian và điều kiện làm cái công việc trọng đại ấy. Tôi vất những trang vở cuối cùng sau kỳ thi tốt nghiệp phổ thông cấp III, năm ngày sau tôi đã có mặt trong đội lính đi chiến trường. Nối tiếp những trận đánh nhau mà một ý niệm duy nhất cần hiểu: chiến tuyến phía bên kia là địch, là những trận đánh ác liệt, là đói khát và cái chết. Đã có vô số bạn bè cùng vào chiến trường với tôi ngày ấy, đã không trở về... Chính vì vậy, tôi đã ngỡ ngàng lần đầu đứng trên dốc cầu Trường Tiền nhìn muôn vàn tà áo trắng của đám nữ sinh văn khoa, khoa học, sư phạm của đại học Huế như một đàn cò phấp phới bay trên những chiếc xe đạp mi-ni lạ mắt. Cô nào cũng đẹp, cũng xinh, môi son, má phớt hồng. Các cô đi quét dọn trường sở, đường phố, làm trật tự viên...

Cho đến bữa tôi được gặp nàng trên chuyến xe đò thưa khách đi Phong Điền. Nàng mặc chiếc áo dài màu mỡ gà, quần trắng, đội nón Huế mỏng tang. Mãi tới khi chiếc xe vượt qua cầu Hiền Sĩ tôi mới bắt chuyện được với nàng. Tiếng được tiếng mất khuất lấp trong tiếng máy xe nổ giòn và cặp mắt tò mò của những người ngồi quanh. Tôi chỉ hiểu một cách mơ hồ: Nàng đã đi dạy học được hai năm, tại một trường tiểu học ở Phong Điền. Nàng nhận được tin thông báo trên loa truyền thanh “công chức các sở, giáo viên, giáo sư... phải đi trình diện tại công sở của mình”, “đương sự sẽ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm”. Đại loại những kiểu thông báo na ná giống những thông báo cho các sĩ quan, binh lính ngụy quyền Sài Gòn phải ra nộp súng, đầu thú trình diện ngay tại chỗ... Nàng càng sợ.

Lúc chiếc xe dừng lại ở dãy phố thị trấn Phong Điền vắng ngoe vắng ngoét, bóng áo bộ đội giải phóng nhiều hơn bóng áo dân, tôi chỉ nhận được ở nàng cái chụp nón lên đầu, nguẩy mông và bước xuống cửa xe đã mở sẵn với một câu chào xã giao rồi không một lần ngoái đầu nhìn lại. Hình như tôi cũng vội đi tìm Thu, một người lính cũ cùng đơn vị. Loanh quanh một hồi trong huyện đội, té ra thằng nhỏ trước cùng đơn vị với tôi đã được huyện điều về làm bí thư xã Phong Lai. Tôi ăn vội chén cơm trong nhà ăn tập thể huyện đội, rồi ra bến xe định quay về Huế.

Mới có xế trưa. Nắng tháng tư đổ lửa xuống những mái nhà tôn, con đường trải nhựa láng bóng như gương. Vài cái xe ca, xe đasu, xe lam chở khách. Mấy gã lái xe ngái ngủ hoặc ngồi lai rai trong quán nhậu uống la-de. Mùi mực nướng thơm nồng chỉ càng làm cho tôi thêm háo nước. Một cái xe đang chờ khách đi Huế chỉ có đôi ba người, chính lúc ấy tôi nhìn thấy lưng áo màu vàng mỡ gà của nàng ngồi khuất sau một gốc cây bàng. Và cái ánh mắt hơi sáng lên rạng rỡ của nàng khi nhận người bạn đồng hành trên chuyến xe buổi sáng, khiến tôi quên đi vẻ khiếm nhã của nàng lúc chia tay, tôi nở một nụ cười nửa như ngạc nhiên, nửa như có ý hỏi: Sao cô còn ở đây? Nhưng trong tiềm thức sâu thẳm của tôi đã thích những từ “dạ”, “thưa vâng” cái chất giọng ngọt ngào tưởng như có thể cắn ăn được.

- Sao chị chưa đi về trường?
- Tội em quá anh ơi! Không có xe đi Cao Ban- Sơn Tùng. Mấy người ở đây biểu với em cây cầu bị sập. Chừ em không biết tính răng? Không tới “trình diện” đúng thời gian, sợ cách mạng phạt. Muốn đi lại không có xe...
- Chẳng lẽ không còn một phương tiện nào khác ư? Tôi e ngại dùm cho nàng.
- Chỉ còn cách đi bộ, đạp đường tắt qua làng, qua cồn cát Triều Dương...
- Chị có thể đi bộ mười hai cây số? Tôi tròn mắt ngạc nhiên và nhìn nàng.
- Giá như có người quen ở làng cùng về, em sẽ đi. Nhưng chờ mãi, em chưa gặp một ai.
- Nếu chị muốn, tôi sẽ cùng chị đi Cao Ban- Sơn Tùng. Tôi cũng có chút việc ở đấy... Tôi... đi tìm một người bạn!

Nhiều năm sau, tôi không thể nào giải thích được cái giây phút đưa ra quyết định đường đột vào lúc ấy. Tôi sẽ cùng nàng cuốc bộ hơn ba giờ đồng hồ giữa trưa hè nắng chang chang, băng qua những triền đồi cát chỉ mọc toàn thanh hao, dứa dại, xương rồng bàn chải. Và chỉ có hai người. Một đàn ông, một người đàn bà mới quen nhau trong chuyến xe đò tình cờ.

Suốt cả tiếng đồng hồ, lúc tôi chủ động gợi chuyện nàng, lúc tôi cố nghĩ ra những câu chuyện về thủ đô Hà Nội, về Hồ Gươm, chuyện các cô gái thanh niên xung phong trên những con đường Trường Sơn ác liệt. Về tuổi thơ đi học của tôi trong tiếng máy bay phản lực gào rú, bom nổ ở cái thị xã nhỏ nhoi bên sông Trà Lý. Còn nàng trả lời tôi từng câu một về chuyện đi dạy học trò, lương tháng giáo viên. Giải thích cho tôi cặn kẽ thế nào là giáo sư đệ nhị cấp, đệ nhất cấp. Tú tài một, tú tài hai, ban A, B, C, D. Có lúc tôi triết giảng về Mác, nàng bình phẩm Hê-Ghen, Giăng Pôn-sác...

Chỉ có điều trong suốt quãng đường bốn cây số đầu tiên ấy, đội hình hành quân theo hàng một. Nghĩa là tôi đi trước, nàng theo sau. Đến một chặng khá dài, tôi dừng lại chờ, nàng vọt lên đi trước, tôi bám gót. Vâng, những đoạn bám đuôi ấy, tôi sung sướng thỏa thuê ngắm nàng. Một thân hình mảnh dẻ, da trắng gương mặt hồng lên vì nắng. Chiếc áo dài màu mỡ gà dán vào người. Ở khoảng giữa hai vai tôi thấy màu vàng hơi sẫm lại vì mồ hôi ra ướt lưng áo. Đôi tay nàng thon nhỏ, có những ngón búp măng. Sang đến giờ đi bộ thứ hai nàng có vẻ đuối mệt. Chốc chốc nàng lại tụt lại phía sau. Có thể tôi là một người vô ý, nhiều lúc cứ lãng quên giữ theo nhịp bước của một người quen đi trong rừng, bỏ rơi nàng cả đoạn dài. Thêm một chút tự ái của kẻ trai biết người bạn đồng hành giữ ý trong lúc trò chuyện với mình. Thậm chí tôi còn có ý nghĩ rất cực đoan: nàng chỉ muốn tôi làm cây gậy chống để băng qua cái trảng cát nóng khủng khiếp dài mười hai cây số. Đường vắng không một bóng người. Tôi có một cây súng ngắn làm bùa hộ mệnh cho nàng. Hoặc giả nàng nghĩ, tôi là một anh lính trẻ dại gái. Nhưng thực lòng lúc ấy tôi thương nàng. Có thể là tình thương của người anh đối với một cô em gái phải vượt qua một chặng đường chông gai, cần được nâng đỡ. Cũng có thể đó là cái chất lửa tình yêu lóe cháy khi tôi bắt gặp trong ánh mắt nàng mà trái tim tôi vội vàng ngộ nhận? Và cũng có khi còn là cái ý nghĩ mơ hồ của một anh lính giải phóng muốn chứng tỏ sự cao thượng trước phái yếu, lại là một cô giáo xinh đẹp ở vùng mới giải phóng! Tôi không nỡ để nàng đi một mình giữa một vùng đất mới qua các cuộc tranh chấp chưa tới nửa tháng trời, đám lính ngụy, ác ôn vẫn còn lẩn quất, chưa ra đầu thú nộp súng. Còn chính tôi luôn tự cãi chày cãi cối cho hành động có vẻ phi lý rằng: nàng cần được giúp đỡ. Tôi có dịp trở lại đi qua cánh rừng phi lao ở bãi cát Triều Dương nhìn nơi giấu quân trong đêm đầu tiên đại đội bộ binh của tôi lọt về đồng bằng Phong Quảng để đánh vào chợ Sịa, Phú Lương. Tôi đi thăm lại những chiến sĩ của tôi đã chết, hiện đang chôn cất tại đó. Mỗi bước đạp lên cát bỏng, tôi lại có hàng tỉ lý do để biện minh cho mình. Bởi giờ là lúc nàng không còn sức để tiếp chuyện tôi nữa, vì mệt. Nàng bám theo tôi lẵng nhẵng như một cái đuôi, tay cầm guốc, đi chân trần trên cát bỏng.

Đến một lúc, tôi phải tự động viên mình bằng cách chọn những bụi tre, cây cao làm đích để đánh đu với sức lực, sự mệt mỏi để cố bươn tới.


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 27 Tháng Giêng, 2011, 02:33:38 pm
Thực tình tôi cũng không hiểu nàng đang nghĩ gì về tôi. Dù nàng có nghĩ gì về tôi chăng nữa cũng thây kệ. Tôi cũng mệt mỏi sau quãng đường dài. Chân căng tức trong đôi dày vải. Chỉ còn nguồn động viên duy nhất mỗi lần nàng đến gần, tôi chờ, lại bắt gặp một nụ cười hé nở và một giọng nói làm cho nao lòng: “Răng, anh mệt lắm hỉ? Sắp tới rồi nghen?”. Bữa mô anh vô Huế, ráng ghé nhà em chơi...”

Gắng mãi, hai kẻ lữ hành trên vùng cát bỏng cũng đến được bãi cát Triều Dương. Tôi dặn nàng ngồi chờ tranh thủ nghỉ lấy sức để tôi đi kiếm nước uống. Tôi khát cháy cổ, mệt rã rời nhưng vẫn còn gắng sức chạy bộ quanh một vòng hồ nước sang phía bên kia tìm bụi chuối non còn sót lại sau những ngày địch tràn vào triệt phá Triều Dương. Sau khi uống no một bụng nước lạnh, có mùi tanh nồng và chặt được hai cây chuối non, tôi chạy trở lại chỗ nàng ngồi, đưa cho nàng, rồi tôi tất tả tìm tới cánh rừng dương cách đấy không xa, ngay cạnh đầm nước. Tôi rút trong chiếc ba lô luôn đeo trên lưng một nắm nhang mua được ở bến xe, thắp nhang và cắm vào những ngôi mộ đất. Mười tám ngôi cả thảy. Họ là những người lính của K4, K10 đã hy sinh trong ngày chống càn, quân ngụy đánh vào bãi cát Triều Dương, đánh vào Cao Ban, Sơn Tùng... Tôi như vẫn hình dung ra gương mặt của cậu Nhiếp y tá đại đội có chiếc răng vàng, cậu Công liên lạc và những người lính của tiểu đội cối... Bất giác, tôi hét lên:

- Mới có mười lăm ngày mà chúng mày đã thành người thiên cổ. Thành phố Huế, Đà Nẵng và cả Sài Gòn đã giải phóng rồi... Tụi bay có biết không?

Giữa lúc tôi đang dàn dụa nước mắt, tôi cảm giác như có bàn tay ai đặt lên vai mình. Tôi quay phắt lại. Và nhìn thấy gương mặt nàng.

- Anh... Em thiệt có lỗi với anh... Đây là những ngôi mộ của đồng đội anh phải không? Nàng nói và ngồi xuống bên tôi.
- Phải... Mộ của bạn bè tôi! Giọng tôi căng cứng.
- Rứa mà em cứ tưởng... Nàng nói mà không dám nhìn vào tôi.
- Tưởng chi? Tưởng tôi lừa chị hử...
- Anh đừng trách em... Em đã có chồng... Chồng em là lính ngụy nên gặp anh em sợ... Em biết anh là người tốt.

Tôi tránh ánh mắt của nàng bằng cách ngồi xoay lưng ra mặt hồ nước. Không gian yên tĩnh quá. Hoang vắng. Hơi nóng đến ngạt thở. Ở một vạt lau lách phía bên kia hồ nước bỗng vang lên tiếng chim bìm bịp kêu rời rạc từng tiếng một.

Tôi không nhìn thấy mặt nàng nhưng cảm thấy rất rõ sự bối rối của nàng. Tôi đứng bật dậy, hệt như mỗi lần chỉ huy đại đội hành quân sau khi hết giờ giải lao mười phút:

- Xuất phát!

Suốt cả quãng đường còn lại hơn bốn cây số chúng tôi không nói với nhau một lời nào. Tôi đi trước, cách nàng chừng mười mét. Có vẻ nàng đã bước mau hơn. Đi được một lúc khá lâu, tôi đã nhìn thấy những ngọn cây, mái nhà ở Cao Ban. Thấp thoáng bóng người phía xa. Thỉnh thoảng bật lên một tiếng súng con, đâu đó khó định hướng.

Khi còn cách bờ tre đầu làng chừng vài trăm thước, dừng lại bên cây cầu gỗ, tôi nói:

- Giờ sắp tới làng rồi...
- Rứa anh không vào làng đi thăm người quen ư?
- Tôi chẳng có bạn nào ở đây cả.. (điều này thì tôi nói dối, nhưng lại là sự thật với nàng). Tôi đưa chị về tới đây an toàn. Chị có thể an tâm trình diện. Giờ tôi phải về thị trấn để kịp chuyến xe. Thôi chào chị!
Tôi không kịp để cho nàng nói một lời dã quay gót.

Đi được chừng vài chục mét, tôi nghe có tiếng người chạy lào xào trên cát, và tiếng gọi với:

- Chú bộ đội.. Chú.. Bữa mô chú vô Huế nhớ hỏi nhà..

Đêm hôm ấy, tôi đã phải trả giá cho cuộc hành quân đi bộ suốt sáu giờ đồng hồ băng qua trảng cát đồi tranh bằng một cơn sốt nóng kinh người. Cậu y tá ở trạm trực dúi vào tay tôi liều thuốc Nivaquin. Tôi đã lẳng lặng quăng nó vào gầm phản, đắp chăn buông màn ngây ngất trong một cơn nhức đầu như búa bổ. Chập chờn mộng mị, tôi chỉ thấy mình khát nước. Tôi còn nghe thấy cả tiếng con bìm bịp kêu buồn bã trên hồ nước, những ngọn cây dương xác xơ bị pháo chém ngả nghiêng đang ứ nhựa..

Nhiều năm sau, nhớ về nàng, tôi thỉnh thoảng vẫn âm thầm tự hỏi: nàng còn dạy ở cái trường tiểu học heo hút ấy, hay đã bỏ nghề? Hoặc giả nàng cùng chồng vượt biển Thuận An trốn sang Hồng Kông, Phi Luật Tân.. Vào những năm khốn khó nhất của đất nước, sắn độn cơm, nhai hạt bo bo, đi xếp hàng mua năm lạng thịt tiêu chuẩn từ lúc gà gáy canh hai. Hay nàng đang ngồi ở một sạp hàng ở chợ Đông Ba, Tây Lộc đọc những tờ báo rẻ tiền hay những cuốn truyện tình? Tất cả đều có thể xảy ra! Hệt như cái quyết định của tôi trong một giây để đưa nàng trở lại với ngôi trường năm nào..

Bẵng đi dễ có tới hơn mười năm. Khi ấy tôi đang làm việc ở một tờ báo tỉnh K. Một buổi sáng, sau cữ cà phê ở quán Cây Sữa tôi nhận được một cú điện thoại. Đầu giây phía bên kia là giọng nói của một người phụ nữ. “Chào anh.. Anh chẳng nhớ ra em đâu. Anh là ân nhân của em ngày còn ở Huế. Em rất muốn được gặp anh, nếu anh thấy tiện..” Ân nhân nào đây? Tôi tự hỏi mình. Cô gái đã được tôi cứu thoát trong ngôi nhà cháy ở Phú Lương B, hay người đàn bà có sáu đứa con, chồng đi lính ngụy chết trận ở A Lưới? Tôi đã bảo cậu quản lý của đại đội cho chị ta cả bao gạo.. Chịu, tôi không sao nhớ nổi.

Đúng chín giờ, tôi có mặt ở quán cà phê ngoài biển, trước cửa khách sạn Hải Yến. Quán đông người nhưng tôi cũng nhận ra chiếc áo váy màu mỡ gà của người khách lạ. Người ấy đang hướng mặt về phía tôi, có ý tìm kiếm chờ đợi. Sau vài giây tôi ngờ ngợ và nhận ra người đàn bà ấy chính là nàng. Vẫn nụ cười kín đáo với hàm răng trắng lóa.. ”Nhờ đọc báo, nghe đài nên em tìm ra anh”. Nàng bảo. “Còn em sau bao năm trôi dạt đi những đâu, bây giờ mới xuất hiện?” Tôi hỏi. “Em vẫn là cô giáo, đi dạy học. Chỉ có điều em đã xa làng Triều Dương lâu rồi. Chừ em sống ở Tây Nguyên”. Trò chuyện một lúc, tôi hiểu rằng nàng đã chia tay người chồng cũ. Vào những năm sau giải phóng, anh chồng ép nàng đưa con đi vượt biên qua Mỹ, nhưng nàng không chịu. Nàng cũng không thể ở lại vùng nông thôn Quảng Điền còn nhiều thành kiến. Đã có lúc nàng định xin nghỉ dạy, về Huế mở tiệm ăn, khi một mình phải nuôi ba đứa con dại và mẹ già. Và nàng đã lên với vùng cao nguyên đất đỏ vừa đi dạy học vừa khai hoang ruộng rẫy tỉa bắp, trồng cà phê.. “Anh có biết không, một trong những lý do khiến em không theo chồng qua Mỹ, chính là chuyến theo anh vượt qua cồn cát về Triều Dương. Kỷ niệm ấy thật khó quên.. Được gặp lại anh, dù chỉ một lần, rứa là em mãn nguyện rồi..”

Và rồi nàng lại tan biến đi hệt như một cơn mưa bóng mây. Đã một đôi lần, tôi lên cao nguyên. Sau những ngày mưa ở đâu cũng ngút ngát, điệp trùng cái màu xanh của những rừng cao su, cà phê, hồ tiêu. Nàng như lọt thỏm, tan biến giữa cái màu xanh ấy.. Và tôi vẫn chưa có dịp gặp lại nàng. Tên nàng là Công Tằng Tôn Nữ Huyền Trang, nhà ở xế cổng Đông Ba.

Đ.K.C
(168/02-03)


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 27 Tháng Giêng, 2011, 03:30:45 pm
Chuyện ở hầm ngày ấy

NGUYỄN TRƯỜNG

Nơi hầm tối là nơi sáng nhất
          (Thơ Dương Hương Ly)


Vừa chân ướt chân ráo về đến xã Vĩnh lúc nửa đêm, tôi nằm chưa chợp mắt, thì pháo hạng nặng từ hạm đội ngoài khơi tới tấp dội vào rung trời chuyển đất. Dứt loạt pháo, đội trưởng du kích Lợi tuôn ra khỏi hầm gọi giật vào: "Trời sáng rồi đồng chí ơi! Chắc hôm nay địch càn vùng này thôi!". Tôi hoảng lên, quơ vội ba lô và chiếc thắt lưng lao ra. Một cảnh tượng ngổn ngang của cây cối đổ ngã đang còn khét lẹt mùi khói đạn đập vào mắt làm tôi rùng mình. Tranh thủ giữa hai loạt pháo, Lợi đem tôi chạy như bay qua mấy đám ruộng vừa gặt xong vụ tám. Đến một cồn cát dốc lài lài, Lợi bảo tôi chạy trước, còn mình đi sau để xóa dấu vết.

Cồn cát dài và rộng ra đến tận bãi biển, lưa thưa mấy hàng cây phi lao, còn toàn là xương rồng và bốm gai nhọn lúp xúp. Sau đợt pháo cấp tập kéo dài, giờ đây tất cả trở lại yên tĩnh đến lạnh lùng. Chỉ có tiếng ì ầm của sóng biển vọng vào và tiếng vi vút của hàng phi lao vật vờ trong gió sớm nghe rờn rợn như đang báo hiệu một ngày bão tố dữ dội sẽ ập tới bất cứ lúc nào.
Chạy quanh co một lúc, Lợi dừng lại, đưa tôi cầm hộ cây súng các - bin, rồi quỳ xuống dùng tay bới bới lôi lên cả cái nắp hầm đầy cát chảy ròng ròng xung quanh. Lợi giục tôi "xuống mau", xong, cửa hầm sập xuống. Lợi vội vã lao đi.

Căn hầm tối om om, bốc mùi ẩm ướt hăng hắc đến nghẹt thở. Loạt đạn pháo thứ hai lại ầm ầm trên đầu làm cho căn hầm giật lên rùng rùng như đánh võng. Ngồi một lúc, tôi bắt đầu thấy xót xáy và chẳng yên tâm chút nào. Hầm đâu mà hẹp lại ở ngay chính giữa đường đi. Chắc cũng thuộc loại "hầm làng" ai ở cũng được đây. Hoặc cực chẳng đã mới đưa tôi xuống như thế này. Nhưng nghĩ lại tôi thấy dù sao vẫn hơn là chạy nổi trên đất để thí mạng cho bom rơi đạn lạc lúc này. Bây giờ tôi mới đâm ra cảnh giác. Nhìn bộ dạng đội trưởng du kích Lợi mới quen từ lúc nửa đêm tôi thấy lo lo. Người trông rắn rỏi, điển trai mà sao mặt cứ lạnh như tiền. Khi đọc xong giấy giới thiệu của trên, Lợi chẳng nói chẳng rằng, đưa ngay tôi vào ngủ hầm tránh pháo, sau đó xách súng đi đâu đến gần sáng mới về.

Giờ đây tôi như cá trong nò. Ngồi dưới hầm tối, chỏng tai nghe tiếng đại bác, rồi trực thăng quần lui quần tới xoành xoạch cùng tiếng đạn rốc - két, trọng liên nổ chát chúa trên đầu, tôi co mình lại, tưởng tượng ra bao tình huống xấu nhất có thể xảy đến. Bỗng có tiếng chân chạy thình thịch rung đất với một giọng nói hấp tấp: "Lợi đây Lợi đây". Tôi vừa nhận ra giọng của Lợi thì cửa hầm đã bật lên: "Đồng chí cho thêm một người nữa". Một bóng người tay cầm túi xách vội tụt xuống. Cửa hầm lập tức đậy lại ngay. Tôi hết sức thắc mắc. Hầm chật mà nhét hai người ư! Trong khi tôi chưa rõ người vừa xuống là ai thì đã nghe giọng của cô gái nói trong tiếng thở dốc: "Anh là anh Thống phải không? Tội nghiệp, mới về chưa kịp nghỉ một chút lại phải chịu cực rồi!". Tôi ngạc nhiên. Song đoán cô gái cũng là du kích. "Cô ở trung đội của anh Lợi à?". "Em là y tá, em ruột anh Lợi". Cô gái còn thủ thỉ: "Căn hầm này anh Lợi tự đào lấy để ở một mình và chỉ có hai anh em biết thôi!". Nghe cô gái nói tự nhiên tôi thấy vợi bớt lo lắng phần nào.

Sau đợt trực thăng vũ trang bắn phá ác liệt là tiếng rầm rầm như cối xay lúa của máy bay phản lực và trực thăng vận. Cả không gian như rạn vỡ ra từng mảng bởi tiếng gầm ré kinh hãi của động cơ phản lực nhằm uy hiếp đối phương và hỗ trợ cho tốp đổ quân xuống vùng này. Cô gái đoán ngay trực thăng đang đáp xuống cánh đồng tôi và Lợi vừa chạy qua để tới đây. Qua lỗ thông hơi lọt xuống một thứ ánh sáng mờ đục, tôi cố quan sát xem khuôn mặt và biểu hiện của cô gái ra sao trong tình thế này. Nhưng đành chịu. Căn hầm vẫn tối như bưng.

Lúc này mọi động thái diễn ra trên mặt đất, sau một giờ ồn ào náo động, bỗng chốc yên lặng đến lạnh người. Tôi thấm mệt và lả đi, cho đến khi cô gái lay vào vai: "Ngồi dậy! Tụi nó đi xăm hầm kìa!". Lắng tai. Đúng là có nhiều tiếng chân giày bước xột xạo trên cát cùng với tiếng cọc sắt cắm xuống phầm phập nghe mỗi lúc một gần. Chốc chốc tiếng súng tiểu liên bắn chúi xuống đất đinh tai nhức óc. Sau mỗi loạt súng là tiếng la hét, đe nẹt nhằm khủng bố tinh thần của bọn lính. Rồi tiếng gọi chiêu hồi phát ra từ chiếc loa tay nghe éo éo. Tôi toát mồ hôi. Tim như muốn nhảy ra ngoài. Còn cô gái ngồi điềm nhiên như chẳng có chuyện gì xảy ra. Hình như đoán được gan ruột tôi lúc này, cô gái trấn an bằng cách ghé tai tôi thì thầm: "... Anh biết không, bọn địa phương quân và lính Hắc Báo làm ra vẻ hùng hổ thế vì tuân lệnh thượng cấp, chứ ở vùng này đã xảy ra mấy vụ xăm phải hầm, lập tức lựu đạn bật nắp tung lên mù mịt, cùng với AK mặt đối mặt sát ván một mất một còn, khiến chúng cũng từng khiếp vía kinh hồn rồi. Có lần phải gọi cả trực thăng cứu thương đến giải quyết hậu quả nữa đó! Sau mấy lần tự rước họa vào thân, nay bọn này xem ra cũng ớn, nên chỉ xăm qua loa rồi xéo ngay thôi!". Cô gái kể một mạch làm nửa tai tôi ham lắng nghe, còn nửa tai kia vẫn chỏng lên xem động tĩnh bên trên thế nào.

Khi tiếng cọc xăm hầm đã xa dần, tôi thở phào nhẹ nhõm thì cô gái cười khúc khích: "Anh hãi quá phải không? Anh em mình ngồi hầm kiểu này thì địch cần gì phải đi xăm cho mệt. Hầm ở chính giữa đường ai mà chẳng biết!". Câu nói nửa thật nửa đùa của cô gái làm tôi cứ ngẫm nghĩ mãi. Có lẽ ở một vùng giải phóng mà địch thường chà đi xát lại thành vành đai trắng nên buộc du kích phải biết cách đánh lừa như thế mới bám trụ nổi lâu dài. Giờ tôi mới thấy sự cảnh giác của mình quả ngây ngô và càng thấu nỗi gian nguy mà người chỉ huy du kích xã này phải nếm trải hàng ngày. Tôi chột dạ vì sự cả đoán của mình lúc ban sáng.

Những giờ khắc căng thẳng tột độ đã qua. Tôi ngã mình xuống cố ngủ lấy một giấc. Thế mà cứ trăn qua trở lại không sao chợp mắt nổi. Tôi quay sang cô gái: "Cô tên gì nhỉ?". "Em tên Hường ạ!". "Hường tham gia đã lâu chưa?". "Mới sáu tháng!". "Hường đã có người yêu chưa?". Chẳng hiểu sao không trả lời. "Hường học hết lớp mấy?". "Xong 12". Tôi không hỏi thêm nữa, nằm im hồi lâu. Miệng khát khô và bắt đầu ho khúc khắc. Đột nhiên một bàn tay của Hường sờ lên trán tôi. Chắc là y tá kiểm tra sức khỏe đây! Bàn tay mềm và mát lạnh cùng hơi thở âm ấm phả ra bên tai gây nên cái cảm giác mơn man dễ chịu làm sao. Một anh con trai gần ba mươi tuổi với bao ham muốn lứa đôi rạo rực trong lòng, thế mà chưa hề một lần được cầm tay con gái nói chi đến việc nằm sát bên nhau, mông kề mông, má kề má như thế này. Cảm xúc hưng phấn chạy rần rần khắp toàn thân. Tôi bắt đầu sinh tâm ý tứ... Càng nghĩ, tôi càng rạo rực. Thử đánh bạo xem sao. Thế nhưng tôi chợt liên hệ đến mấy đồng chí trong cơ quan trên rừng bị kiểm điểm, bị kỷ luật rạt gáo vì quan hệ nam nữ không lành mạnh làm tôi thấy chờn. Vậy mà ác nghiệt thay, hầm quá chật như nêm lấy nhau, khiến mỗi lần Hường và tôi trở mình, hai cơ thể cứ cọ sát vào nhau làm máu trong người tôi rừng rực, nóng bừng.


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 27 Tháng Giêng, 2011, 03:32:30 pm
Trong lúc đang phân vân với bao ý nghĩ trái ngược nhau thì một cánh tay của Hường vắt lên ngực tôi. Tim tôi phập phồng. Cứ nằm yên chờ xem. Chẳng thấy cử động gì thêm ngoài hơi thở đều đều của Hường. Có lẽ Hường ngủ quên. Tôi bỗng thấy tim mình trào dâng lên một tình cảm nồng nàn đối với cô gái. Học hành thế vẫn ở quê tham gia chiến đấu, chịu bao gian khổ ác liệt vẫn khí khái, yêu đời... Tôi cầm lấy bàn tay cô gái mân mê trên ngực mình. Bàn tay thon thon mềm mại này chắc phải là của một người đẹp đây! Tôi nằm sát vào Hường để cho hai bờ má áp vào nhau trong cái cảm giác đê mê của anh con trai tràn trề dục tính. Bất chợt, Hường tỉnh giấc, vùng vằng rút khỏi tay tôi, rồi nằm quay lưng lại như một phản ứng. Nếu dừng ngang đây thì chẳng chuyện gì. Đằng này hơi quá đà, tôi run run nói lời con tim mình cùng lúc quàng tay ôm hôn rối rít lên tóc, lên môi của Hường. Như một phản xạ tự nhiên, Hường đẩy tôi ra rồi ngồi nhổm dậy quấn tóc lại thành búi, giọng thẳng thừng, đanh và dứt khoát: "Nếu anh còn làm vậy, em sẽ bật tung hầm lên cho mà xem!". Xong, Hường ngồi né vào một góc hầm. Giận dữ. Im lặng. Căn hầm trở nên nóng bức, khó thở. Điên đầu. Bẽ mặt. Biết ăn nói thế nào đây! Rõ là hành vi suồng sã, mông muội của một kẻ không chế ngự nổi bản năng thấp hèn. Tôi lựa lời xin lỗi. Tôi xuống nước thảm hại. Nhờ bóng tối mà tôi không biết ngượng mặt ngượng miệng. Tôi thanh minh đủ điều, thao thao và chờ phúc đáp. Nhưng phía Hường vẫn ngồi yên. Chắc cô ta rắc rối đây. Không khéo lại mách với anh trai mình, hoặc tệ hại hơn, sẽ báo cáo lên trên thì quả là tai họa!

Tôi đang đắng họng, chẳng biết làm cách nào thì có tiếng đằng hắng ở góc hầm, tiếp theo là giọng ngọt pha tí dí dỏm: “Anh Thống à! Nếu anh muốn cũng được. Nhưng phải ra nơi có ánh sáng để biết mặt mũi nhau đã chứ. Rồi anh còn phải nói lời tỏ tình với em nữa, hơi mệt tí thôi, nhưng nếu được mặt được lòng thì cả hai anh em cũng đành phải chờ đợi... phải không anh?”. Ôi, tôi không ngờ lời lẽ nhỏ nhẹ, dịu dàng như mật rót thế kia! Tim tôi lặng đi. Tôi thấy mình nhỏ nhoi thế nào ấy. Dù đã mát mẻ trở lại sau câu nói có lý có tình của Hường nhưng nghĩ lại tôi vẫn thấy bứt rứt làm sao. Không hiểu Hường thật tình hay chỉ để xoa dịu lấy lòng tôi lúc này? Bởi tôi hiểu dưới hầm tối, nơi ranh giới giữa cái sống và cái chết có khi mong manh, gang tấc, vẫn có người sẵn sàng xông lên quyết sống mái với quân thù, song cũng có kẻ nảy sinh tư tưởng sống rày chết mai không biết ra sao, đã dẫn đến hành vi liều lĩnh, sống vội, thậm chí đầu hàng... Phải chăng vì cảnh giác mà Hường tỏ ra khôn khéo đối với tôi? Tôi nằm xuống suy nghĩ lâng lâng rồi thiếp đi lúc nào không hay...

Khi Hường gọi tôi dậy thì cửa hầm cũng vừa bật mở. Trời đã tối mù mịt tự bao giờ. Tôi và Hường lên khỏi hầm thì Lợi cho hay địch vừa rút bộ sang xã khác lúc chập choạng tối. Chưa biết tình hình sẽ như thế nào.
Nhìn lên bầu trời không trăng sao. Mây đen sầm xuống như báo hiệu sắp có mưa to. Gió từ khơi thổi thốc vào mang theo tiếng ầm ào dữ dội của sóng biển gây nên cái cảm giác không bình yên và lo âu thường trực ở địa bàn đầu sóng ngọn gió này. Tôi xích lại để nhìn cho rõ mặt cô gái suốt hơn một ngày nằm dưới hầm tối bên nhau, nhưng cũng chỉ thấy lờ mờ. Trong lúc đó, Lợi trao cho tôi lệnh “hoả tốc”, bảo tôi phải đi khỏi địa bàn này ngay đêm nay. Tôi đưa tay tạm biệt Hường. Không ngờ Hường nắm chặt lấy tay tôi và chỉ nói: “Đi đâu cũng đừng quên xã Vĩnh nghe anh!”.
Ngày quê của Hường giải phóng cũng là ngày tôi đang tiếp tục hành quân về phía . Sau khi giải phóng Sài Gòn, tôi được phân công nhiệm vụ mới ở đây. Dù bận việc tới đâu, ký ức về cô y tá ở xã Vĩnh với bao chuyện “nhẹ như bấc nặng như chì” hồi ở hầm cứ ám ảnh và thôi thúc tôi.

Hơn một năm sau, tôi ra ngoài này, tìm về xã Vĩnh để hỏi thăm anh em Hường. Mẹ của Hường lau nước mắt, cho biết Lợi đã hy sinh trong chiến đấu. Còn Hường được đưa lên rừng, sau đó ra Bắc. Trong gian nhà tranh mới dựng sau ngày giải phóng, tôi đến thắp hương lên bàn thờ liệt sỹ Lợi. Bất chợt tôi sững người trước bức ảnh bán thân của cô gái treo ở góc nhà. Thấy tôi nhìn ngơ ngác, mẹ của Hường mới cho hay đó là ảnh Hường hồi còn học trên thành phố. Tôi nhìn không chớp mắt. Lần đầu tôi biết mặt mũi Hường qua tấm ảnh này đây. Mẹ của Hường còn cho biết chỉ ba hôm nữa thôi Hường đi tàu thống nhất sẽ về tới nhà sau năm năm học Đại học Y Hà Nội. Tôi ngậm ngùi cho hoàn cảnh của mẹ và cứ nơm nớp chờ ngày gặp lại Hường.

Ba hôm sau, tôi lên trực ở sân ga từ sáng sớm. Đến gần trưa, con tàu Thống Nhất lù lù vào ga. Người đi đón thân nhân chen chúc. Hành khách xuống tàu đảo mắt nhìn quanh. Tôi vô cùng hồi hộp khi phát hiện một cô gái dong dỏng cao với khuôn mặt giống hệt Hường trong tấm ảnh ở nhà. Tôi gọi to: “Hường, Hường ơi!”. Nhưng có lẽ cô gái không nghe thấy. Trong lúc đó, một chàng trai rẽ đám đông xốc tới cầm giúp cô gái túi hành lý. Cô gái tươi cười ngồi lên sau xe chàng trai, rồ máy phóng đi. Lạ thật! Thế mà ba hôm trước, tôi có hỏi về chuyện riêng tư của Hường thì mẹ của Hường lắc đầu: “Số nó khó lắm. Được người được nết lại lớn tuổi rồi mà chưa chịu ai cả!". Đứng bàng hoàng một lúc, chợt tôi để ý đến một cô gái khác tay xách vai mang cũng hao hao giống Hường trong ảnh. Hay lúc nãy mình nhìn nhầm người. Có lẽ đây mới là Hường thật chăng. Tôi sấn tới: "Xin lỗi, Hường phải không?". Cô gái chỉ liếc mắt, bỏ đi bằng một câu nói lém lỉnh: "Tiếc quá, sao em không đặt tên mình là Hường nhỉ!". Bực dọc. Hết hy vọng. Đang quay lui thì một cô gái đi bên cạnh mau miệng: "Anh vừa hỏi Hường nào vậy?". Tôi nhanh nhẩu: "Hường xã Vĩnh, em Lợi". Cô gái bối rối, vội để chiếc va - ly xuống đất, trố mắt nhìn tôi từ đầu đến chân: "Vậy anh là ai mà biết em?". Tôi ngây người ra, giọng run run: "Vậy là Hường đây à! Tôi là Thống. Hường còn nhớ không?". Hường mở to đôi mắt nhìn vào mặt tôi một cách sửng sốt, rồi nói như reo lên: "A! Anh Thống đã từng ở hầm bí mật với em đây ư? Lâu quá rồi phải không? Đã gần bảy năm không có tin tức gì. Ai ngờ...".

Hai mươi lăm năm sau. Vợ chồng tôi được xã Vĩnh mời về dự lễ khánh thành nhà truyền thống xã. Đó là một ngày thu quang đãng. Đường thôn ngõ xóm rực rỡ cờ sao tung bay trong gió lộng. Ngày khánh thành nhà truyền thống cũng là ngày hội của toàn xã. Bà con từ các ngả đường nườm nượp đổ về khu trung tâm. Sau lễ đặt vòng hoa viếng nghĩa trang liệt sỹ và lễ khánh thành nhà truyền thống, mọi người háo hức vào xem các hiện vật từng thấm mồ hôi, nước mắt và máu của mình trong suốt cuộc chiến tranh "tan nhà nát cửa cũng ừ" của một thời đã qua.

Lần lượt xem từng hiện vật, bỗng nhiên mắt tôi sáng rực lên khi nhìn thấy khẩu súng các - bin trưng bày trong tủ kính với hàng tít ghi: "Khẩu súng của trung đội trưởng du kích Nguyễn Văn Lợi từng chiến đấu hàng chục trận, lập nhiều chiến công xuất sắc từ 1968 đến 1970". Bên cạnh khẩu súng là cái nắp hầm đã mục ruỗng, chữ ghi: "Nắp của một căn hầm bí mật mà đồng chí Nguyễn Văn Lợi đã che giấu, bảo vệ an toàn cho nhiều cán bộ trên về công tác ở địa phương". Tôi bồi hồi nhớ lại động tác anh Lợi nhờ cầm hộ cây súng kia để mở cái nắp hầm này, đưa tôi và em gái anh xuống ở chung một chỗ...

Chiều hôm ấy, tôi và Hường đến thắp hương và ngồi rất lâu bên mộ anh Lợi. Sau đó chúng tôi lên thăm lại cồn cát thuở nào. Nhìn quanh không còn tìm đâu ra xương rồng và bốm gai nhọn lúp xúp. Không còn biết đâu dấu tích căn hầm bí mật ngày ấy. Chỉ có phi lao hàng nối hàng dọc theo ven biển tít tắp, xanh um, phủ kín bãi bờ. Đó đây những ngôi nhà cao tầng sang trọng mọc lên trên cát, hướng mặt ra biển đông như mời gọi du khách bốn phương. Xa xa, những con tàu đại dương tấp nập ra khơi vào lộng như mắc cửi.

Tôi và Hường ung dung bước đi trên cát. Bầu trời mùa thu quê hương trong xanh đến nao lòng. Gió từ khơi xa lồng lộng thổi vào làm tóc Hường bồng bềnh trông như một thiên thần từ trong bóng tối bước ra. Bất giác tôi ôm lấy Hường, nằm ngửa lên trên cát như để nhớ lại chuyện xưa và lắng nghe hết lời nhắn gọi từ mảnh đất còn nặng bao ân nghĩa này...

     
N.T
(197/07-05)


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 27 Tháng Giêng, 2011, 03:48:39 pm
Ân tình

NGUYỄN ĐỨC SĨ TIẾN


Người ta thường nói xem mặt đặt tên, nhưng điều này lại không đúng với thượng tá Kha. Nhìn bề ngoài, ai cũng nghĩ ông là người khô khan, thật ra ông lại là người rất đa cảm.

Cầm tay bắt mạch cho thượng tá Kha, những đường chỉ tay của ông ta đã làm cho trung tá Thiệp hết sức ngạc nhiên nên buột miệng:

- Nói khí không phải, xưa nay, tôi thấy anh là người mẫu mực, chỉn chu đến mức khắc kỉ, lạnh lùng. Không ngờ, anh lại là người rất đào hoa và ân tình.

Thượng tá Kha nhếch mép, gượng cười:

- Gần về hưu rồi, còn đào hoa, đào hiếc gì nữa, sắp “đào ngũ” rồi thì có.

Trung tá Thiệp nhìn thẳng vào mắt thượng tá Kha, ngần ngại nói:

- Xin lỗi, anh không thích nói về mình nhưng tôi biết anh là người nhìn vợ con mình mà nghĩ đến vợ con người khác và vợ con người ấy cũng nhìn chồng, cha mình mà nghĩ đến anh và vợ con anh.

Thượng tá Kha giật mình ngồi dậy, chằm chằm nhìn trung tá Thiệp, dò xét:

- Ai nói cho anh biết điều đó?

- Tôi biết xem bói mà.

- À... ra thế! - Thượng tá Kha thở phào - Chuyện khá dài dòng. Thôi, ra bàn uống nước, tôi sẽ kể cho anh nghe.

Thượng tá Kha rót nước mời khách rồi thong thả kể:

- Hồi Cách mạng tháng Tám thành công, tôi tham gia dạy học ở Tổ Bình dân Học vụ của xã. Ở đó có cô Nụ vừa đẹp người, vừa đẹp nết. Tuổi trẻ và công việc đã gắn kết chúng tôi lại với nhau. Lúc chúng tôi đang đắm say trong tình yêu cũng là lúc tôi nhập ngũ, tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ. Ở nhà, cô ấy như một cô dâu chưa chính thức đã thay tôi chăm sóc mẹ. Sau ngày hòa bình lập lại, khoảng giữa năm 1955 thì tôi được điều về Thanh Hóa xây dựng Đường dây Thống Nhất. Về đó, gần nhà, quê tôi ở Hà Tĩnh, anh biết rồi đấy, nên tôi đã xin nghỉ phép về tổ chức đám cưới. Tôi mua quà cho mẹ, sắm sửa mọi thứ cần thiết cho đám cưới rồi mượn chiếc xe đạp của đơn vị, phóng một mạch gần hai trăm cây số về quê. Về đến đầu làng, thấy đình làng đèn đóm sáng trưng và bà con đang tụ họp đông đủ, tôi ghé xe vào. Biết tôi mới tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ trở về, mọi người đã chào đón tôi như một vị anh hùng. Nhưng khi tôi đến cầm tay Nụ và hớn hở mời bà con vài ngày nữa đến dự đám cưới thì ông đội trưởng Đội Cải cách, người đang làm chủ tọa buổi họp dân chúng, nghiêm mặt nói: “Xin lỗi đồng chí Kha. Vì đồng chí là đảng viên, là cán bộ quân đội nên tôi thấy cần báo cho đồng chí biết chúng tôi đã xếp gia đình cô Nụ vào thành phần địa chủ, phú nông.”. Nghe thế, tôi choáng váng như bị trúng đạn. Còn Nụ thì nấc lên mấy tiếng rồi giống hệt một thân cây bật gốc, đổ vật vào người tôi như một cái xác không hồn.

Kể tới đây, thượng tá Kha lập cập đứng dậy mở toang cửa sổ. Nắng ấm và gió mát tràn vào căn phòng dành cho hộ độc thân chật hẹp. Ông thở sâu mấy cái rồi ngồi kể tiếp, giọng nghèn nghẹn như bị nghẹt mũi:

- Sau khi được cấp cứu, Nụ tỉnh lại. Tôi và cô Na, bí thư Ban Chấp hành Chi Đoàn, bạn nối khố của Nụ, cùng nhau dìu cô ấy về nhà. Về đến ngõ nhà mình, cô ấy như người mất hồn, ôm Na khóc nức nở: “Na ơi! Nụ không thể làm vợ anh Kha được nữa rồi. Mẹ anh ấy đang cần người chăm sóc. Thôi thì tình chị duyên em. Nụ trăm lạy, nghìn  lạy. Na có thương Nụ thì hãy thay Nụ làm vợ anh ấy.”. Xong, cô ấy gục vào vai tôi, nghẹn ngào: “Anh ơi! Số phận không cho em làm vợ của anh. Anh còn thương em thì hãy coi Na như em. Na sẽ thay em phụng dưỡng mẹ. Nghe em đi anh. Mẹ đã già yếu lắm rồi. Làm sao anh có thể bỏ mẹ ở nhà một mình mãi được?”.

Thần sắc của thượng tá Kha thay đổi hẳn. Giọng nói trở nên mếu máo. Đôi mắt trở nên mờ đục. Làn da rám nắng cũng trở thành nhợt nhạt. Kí ức đã làm ông xúc động.

Trung tá Thiệp bị câu chuyện tình éo le, lãng mạn cuốn hút, tỏ ra tò mò:

- Khi đó, thái độ cô Na thế nào?

- Na giãy nảy nói: “Nụ đừng nói gở. Nụ nhất định sẽ là vợ của anh Kha.”. Nói xong, cô ta ù té chạy để lại tôi và Nụ trong đêm tối. Còn lại hai người, chúng tôi chỉ biết ôm nhau khóc suốt đêm. Tảng sáng, tôi về thăm mẹ. Khi hai mẹ con đang hàn huyên thì dân quân xách súng đến, mời tôi lên ủy ban. Sau khi kiểm tra giấy tờ của tôi, đồng chí chủ tịch xã đã yêu cầu tôi không được quan hệ với gia đình Nụ để tạo điều kiện cho chính quyền làm việc. Tuy thế, tôi vẫn đến nhà Nụ để xem thực hư thế nào. Song tôi không gặp được Nụ. Dân quân không cho vào. Hết phép, tôi trở về đơn vị, người gầy rộc đi như vừa trải qua một cơn bạo bệnh.

Hồi đó, dính vào thành phần địa chủ, phú nông là phải ra khỏi Đảng, là phải chấm dứt con đường binh nghiệp. Không hiểu chàng lính trẻ Kha đã giải quyết mối tình trắc trở của mình như thế nào để an cư lạc nghiệp nên trung tá Thiệp hỏi:

- Anh đã giải quyết mối quan hệ “tình chị, duyên em” của mình như thế nào?

- Ở đơn vị, tôi đã gửi rất nhiều thư về cho Nụ nhưng cô ấy không trả lời. Tôi chỉ nhận được thư của Na. Nụ đã nhờ Na hồi âm cho tôi. Một năm sau, Na điện cho tôi biết mẹ đau nặng, về gấp. Tôi xin nghỉ phép về chăm sóc mẹ. Về nhà, tôi tìm Nụ nhưng không gặp. Cô ấy đã bỏ làng ra đi để lánh mặt. Không ai biết cô ấy ở đâu cả. Hết hơn nửa thời gian nghỉ phép mà mẹ vẫn nằm liệt giường. Không biết lấy ai trông nom mẹ để trả phép đúng hạn, nhất là khó an tâm công tác, khó hoàn thành nhiệm vụ, tôi đã viết đơn xin giải ngũ. Thấy thế, Na động lòng trắc ẩn, nghe lời Nụ, nhận gánh vác việc gia đình tôi. Vì cám cảnh trước hoàn cảnh của tôi, vì nhiệm vụ chăm sóc mẹ chiến sĩ Chi Đoàn giao mà cô ấy đã quyết định như vậy.

- Anh trở thành chàng Kim Trọng chứ? - Trung tá Thiệp hỏi.

- Vâng. Không cưới vợ, tôi phải giải ngũ. Hơn nữa tôi có yên bề gia thất, Nụ mới chịu về làng, mới chịu lấy chồng. Tuy hơi cập rập, không được chuẩn bị trước như năm về định cưới Nụ nhưng tối hôm sau, đám cưới vẫn được tổ chức khá chu đáo. Song oái ăm thay, khi hai họ đã ra về, tôi ra sau hè thì thấy Nụ nằm bất tỉnh giữa hàng rào dâm bụt. Tôi hốt hoảng bồng cô ấy vào nhà cùng vợ cấp cứu. Thấy tay cô ấy nắm chặt tờ giấy, nghĩ là giấy gói thuốc tự tử, tôi liền gỡ để xem. Tôi chưa lấy được thì cô ấy tỉnh. Cô ấy chằm chằm nhìn vợ chồng tôi như để nhớ chuyện gì đã xảy ra, xong vội bỏ tờ giấy vào miệng nhai. Thấy cô ấy tỉnh, vợ tôi ôm bạn than khóc: “Nụ ơi, Nụ đừng chết! Anh Kha vẫn là chồng của Nụ. Na chỉ là người thay Nụ làm cô dâu khi Nụ vắng mặt mà thôi. Nụ hãy coi đám cưới này là đám cưới Nụ.”.


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 27 Tháng Giêng, 2011, 03:51:52 pm
Đôi mắt của thượng tá Kha bỗng nhấp nháy liên tục. Ông lấy tay dụi mắt. Trung tá Thiệp nóng lòng giục:

- Ý cô Nụ thế nào?

- Nụ dứt khoát phản đối. Vợ tôi cố thuyết phục thì cô ấy nói: “Nếu vì Nụ mà Na không làm vợ anh Kha thì một là Nụ phải đi biệt xứ, hai là tự tử.”. Biết Nụ đã nói là làm, vợ tôi chỉ biết ôm cô ấy mà khóc. Nửa đêm, vợ tôi lén vào buồng, tháo chiếc kiềng vàng, quà cưới dâu của mẹ tôi, để lại trên chiếc gối dành cho vợ chồng đêm tân hôn, bỏ trốn. Chuyện này chưa xong, chuyện khác lại đến. Rối như tơ vò. Khi tôi đang như người thất thần không biết xử lý thế nào, Nụ bảo tôi ở nhà trông mẹ để cô ấy đi tìm Na.

Bỗng chuông điện thoại reo lên. Thượng tá Kha xin lỗi, cầm máy nghe. Xong, mặt mày tươi tỉnh, nói:

- Thúy Kiều, Thúy Vân cùng bốn đứa con đang trên đường đến thăm tôi. Mẹ con họ đến, “thầy bói” thử đoán xem ai là vợ con tôi, ai là vợ con người khác nhé!

- Nhưng anh phải kể xong đã!

- À, mà...mà đến đâu rồi nhỉ?

- Nụ đi tìm Na. - Trung tá Thiệp nhắc.

- Tảng sáng thì Nụ dắt Na về. Nụ buồn nhưng Na lại tươi cười. Na sốt sắng báo cho tôi biết thành phần gia đình Nụ đã được sửa sai: trung nông chứ không phải địa chủ, phú nông.

Trung tá Thiệp vỗ đùi, thốt lên:

- Trời! Cách đám cưới chỉ một đêm mà trước đó không ai biết quyết định ấy sao?

- Có. Nụ biết nhưng đã muộn. Từ chỗ ở để lánh mặt, nhận được quyết định sửa sai, Nụ tất tưởi chạy về. Cô ấy chạy đôn, chạy đáo, ngã lên, ngã xuống, xây xát cả mặt mũi, tay chân. Về đến ngõ nhà tôi, thấy trong nhà đông người cô ấy không vào mà đến sau hè vạch hàng rào nhìn vào. Thấy tôi giơ tay thề: “Vui duyên mới không quên nhiệm vụ!”, cô ấy đã ngất xỉu.

- Chà! - Trung tá Thiệp chặc lưỡi - Rắc rối quá!

- Đúng vậy. Na thì có cớ để trả tôi cho Nụ. Nụ thì dứt khoát từ chối với lý do sợ Na phải ở quá vì dẫu sao vẫn mang tiếng là đã có một đời chồng. Năm miếng trầu là dâu nhà người mà. Còn tôi thì vô cùng bối rối. May mà nhờ đã trải qua nhiều kinh nghiệm trận mạc. Những lần đứng trước làn tên mũi đạn, trước sự sống và cái chết đã rèn cho tôi có được sự phản ứng nhanh nhạy khi phải đối đầu với các tình huống gay cấn, nguy kịch. Lúc đó, như được thần phật sai bảo, tôi bạo miệng nói: “Bắn không nên thì đền đạn. Anh có một người bạn tên là Đông, từng sống chết có nhau. Anh ấy hơn anh về mọi mặt. Anh sẽ giới thiệu cho Nụ”.

- Liều! Liều thật! - Trung tá Thiệp lắc đầu - Ngộ nhỡ anh ấy không đồng ý thì sao?

- Liều nhưng có cơ sở - Thượng tá Kha giải thích - Tôi tin là người đã cùng bạn vào sinh ra tử trước kẻ thù sẽ không bao giờ bỏ bạn trước mọi khó khăn, hoạn nạn. Hơn nữa, tôi đã thường tâm sự và cho Đông xem thư của Nụ. Cậu ta đã từng nói: “Ước gì tớ cũng có được một cô Nụ như cậu”. Tôi bạo miệng là vì vậy.

- Còn Nụ và Na nữa chứ? - Trung tá Thiệp thắc mắc.

- Tôi không ngờ lời nói đó đã có tác dụng xoay chuyển tình thế. Nụ ngúng nguẩy đấm thùm thụp vào lưng tôi. Na thì vừa nhảy cẫng lên, vừa vỗ tay đôm đốp rồi giục tôi đi mời Đông về. - Giọng ông trở nên trẻ trung, dí dỏm - Gỡ được thế bí, tôi liền thoát khỏi vòng vây. Hai hôm sau, tôi mang “quân tiếp viện” về ứng cứu.

Trung tá Thiệp vui lây và gật gù thán phục:

- Tài! Tài thật! Làm thế nào mà anh thuyết phục được bạn mình?

- Ra đến đơn vị tôi tìm gặp Đông ngay. Tôi kể cho cậu ta biết mọi chuyện. Khi tôi nói ra ý định của mình, cậu ta nắm chặt tay tôi nói: “Tớ và cậu là một. Cậu đã yêu thì chắc tớ cũng thế. Vả lại, không thành công cũng thành nhân. Ít nhất tớ cũng giúp được cậu giải quyết tốt hơn công tác dân vận”. Điều đáng lo là liệu Đông và Nụ có chiếm được cảm tình của nhau hay không mà thôi. Không ngờ, vở kịch do tôi dàn dựng đã được hai người nhập vai rất nhanh. Họ làm như vậy là vì hạnh phúc của vợ chồng tôi. Sự tế nhị của họ đã làm cho chúng tôi bớt áy náy. Nhờ vậy, hôm sau tôi và Đông yên tâm trở về đơn vị, trả phép đúng hạn. Từ đó, Đông và Nụ thư đi từ lại với nhau thường xuyên. Dần dần, tình yêu nảy nở. Cuối năm 1957, hôn lễ của họ được tổ chức. Tôi được cử về đại diện cho đơn vị và họ nhà trai, quê chú rể ở tận Quảng Trị mà.

Cùng xây đắp hạnh phúc cho nhau, tình bạn, tình đồng chí của họ thật trong sáng và cao thượng. Nhưng tại sao thượng tá Kha lại nhìn vợ con mình mà nghĩ đến vợ con người khác? Ông là người ân tình, độ lượng hay đồng sàng dị mộng? Nghĩ thế, trung tá Thiệp phân vân hỏi:

- Hai gia đình sống thế nào?

- Chúng tôi như hình với bóng của nhau. Tôi và Đông càng tri âm, tri kỉ hơn trước. Na và Nụ cùng dạy một trường, cùng ở chung một dãy nhà tập thể, chỉ cách nhau một bức vách nên tối lửa tắt đèn có nhau. Con cái cũng rất giống nhau. Đêm tân hôn của Đông và Nụ cũng là đêm vợ chồng tôi động phòng hoa chúc sau hơn một năm kết hôn. Kết quả là hai chàng quý tử đã ra đời. Cuối năm 1958, tôi và Đông rủ nhau về phép, chúng tôi lại có thêm hai cậu con trai,cũng như lần trước, mỗi đứa chỉ cách nhau vài ngày. Những năm tiếp theo, tôi và Đông cũng đều về phép với nhau. Đến đầu năm 1961 thì Đông đi B. Anh ấy tình nguyện trở về quê hương chiến đấu nên được điều động về Quân khu Trị Thiên. Từ khi anh ấy vào chiến trường, sợ Nụ buồn, nhớ chồng, tôi không về phép nữa. Năm 1972, Đông hy sinh khi tiến về giải phóng Quảng Trị. Ngày mẹ con Nụ nhận giấy báo tử, tôi đã về thăm và dự lễ truy điệu. Thấy tôi, Nụ than khóc: “...Nhờ anh mà em có được anh Đông. Thấy anh, em càng thương nhớ anh ấy. Anh thì về đây. Còn anh ấy sao lại bỏ mẹ con em ra đi?”. - Thượng tá Kha im lặng cố nén cơn xúc động rồi kể tiếp. - Sau lễ truy điệu, vợ chồng tôi đã bàn với nhau là phải có trách nhiệm với vợ con của người đã khuất. Mỗi lần tôi mua quà gì cho vợ con thì cũng đều mua cho mẹ con Nụ. Vợ tôi chăm sóc, dạy dỗ con mình như thế nào thì cũng chăm sóc, dãy dỗ con của người đã hi sinh như thế. Nhờ trời, cả hai đứa đều khỏe mạnh, chăm ngoan và đều đã tốt nghiệp đại học như hai đứa con của vợ chồng tôi.

Bỗng hai người đàn bà và bốn chàng trai ùa vào. Họ tíu tít hỏi han và quấn quýt lấy thượng tá Kha. Tình cảm mà họ dành cho nhau cùng câu chuyện chứa chan ân tình trong tình bạn, tình đồng chí, tình yêu, tình người vừa nghe đã làm cho trung tá Thiệp không thể nhận ra trong số họ ai là vợ con của thượng tá Kha, ai là vợ con người khác. Nhưng thật kỳ lạ, ông lại nhìn thấy nụ cười của người nơi chín suối.

         
Trại sáng tác VHNT TT.Huế,
                 Vinh Hiền, 8 - 2004

                          N.Đ.S.T


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 27 Tháng Giêng, 2011, 04:01:26 pm
Về cội

NGUYỄN TRƯỜNG


Chiều xuống. Lúc mặt trời sắp lặn sau dãy núi phía tây cũng là lúc người ta thấy ông già xóm Chùa thường mon men tới thả câu ở cái bến sông này.

Ông lặng lẽ đến rồi lặng lẽ đi như chẳng để ai bận tâm đến mình. Nhiều khi ông ngồi như phỗng, chẳng bắt chuyện với ai, cũng chẳng quan tâm tới tiếng cá quẫy lao xao dưới nước. Vẻ mặt lúc nào cũng thẫn thờ như đang chìm đắm trong một tâm tưởng sâu kín, hoặc mơ màng theo một hình bóng nào đó có liên hệ với ông từ phía bên kia. Có khi bóng đêm phủ kín mặt sông đã lâu, ông mới đủng đỉnh xách câu ra về. Người thì cho ông "ấm đầu", kẻ lại bảo ông bực chuyện đời muốn tìm chốn tĩnh tâm...

Ở cái làng quê này, các vị cùng lứa với ông đều đã lên lão cả rồi. Riêng ông cứ hây hây như một bậc tráng niên. Vóc dạc săn chắc. Tóc tuy điểm bạc mà răng cỏ y nguyên. Bọn trẻ xóm Chùa hay đùa vui ông là "60 năm vẫn chạy tốt!". Ông cười ha hả, cũng pha trò tếu lâm chọc cười lại không thua.

Sau ngày nghỉ hưu, cơ ngơi của ông trên thành phố đều giao hết cho vợ chồng đứa con trai để một thân một mình về sống với mảnh vườn xưa xanh um cây trái và ngôi nhà cổ của cha mẹ để lại. Ngày ngày ông lấy bàn cờ, chén rượu, hoặc buông cần trên sông làm thú vui với các bạn đồng niên thời còn để chỏm học trường làng với nhau. Thỉnh thoảng ông lại rong xe đi giao du đó đây để thăm đồng chí đồng đội vài ba ngày mới về. Bà con dòng họ thấy ông thui thủi, ai cũng khuyên ông bước tiếp. Nhưng tính ông khó, ông thấy không có ai sánh nổi bà vợ tâm phúc của mình. Từ ngày bà lâm bệnh qua đời, ông đành ở vậy như một nỗi cam chịu, chẳng tơ tưởng chuyện gối chăn ở lứa tuổi này làm gì nữa.

Thế rồi hôm nọ ông lên thành phố thăm con. Nếu như người ta không kể ra với ông chuyện người đàn bà bên kia sông hồi nào cùng với cô con gái từ Mỹ mới về và hiện đang ở dưới quê thì ông đâu hay biết gì. Vừa về tới nhà thì ông đã xon xen sang thăm mẹ con bà ấy. Nhưng không hiểu sao khi ra giữa dòng ông đột ngột đổi ý, lặng lẽ quay ghe lui. Và thế là chiều nào ông cũng xách câu tới ngồi đây như để soi bóng mình xuống dòng nước trong xanh in sắc trời vời vợi. Trước mắt ông từng đàn chim trắng từ đâu ngoài biển xa nối đuôi nhau bay là là dọc sông hướng về phía núi. Nắng thu trải vàng như lụa xuống đôi bờ tre rũ bóng hiu hiu trong gió chiều. Ông ngồi lặng yên với bao ký ức xa xăm của thời trai trẻ hiện về, làm ông bàng hoàng đến nao lòng.

Con sông Lợi Hà đổ từ nguồn ra phá, không dài, rộng hẹp theo khúc. Mùa hè sông cạn, nước lội ngang rốn. Trẻ con hai bờ tha hồ ra giữa dòng nô đùa, bơi lặn. Có một thời chúng chia ra hai phe hai bờ đánh giặc giả với nhau. Vui thì thật vui. Không ngờ trong một trận "thuỷ chiến" kịch liệt gây nên thương tích cho cả đôi bên, làm cho bên thắng bên thua từ đó về sau coi nhau như "quân thù" mà giữa dòng sông là "trận mạc" bất khả nhượng. Hễ trẻ con bên này bơi ra tắm giữa sông thì trẻ con bên kia nhào xuống, hai bên rượt đuổi nhau tới số. Tiếng la hét náo loạn một khúc sông. Người lớn không sao cản nổi. Các cu cậu ấy sau này lớn lên thành nam thanh nữ tú mà mối "hiềm" kia vẫn để bụng, đã dẫn đến chuyện con gái bờ nào lấy chồng bờ nấy, lâu ngày thành "lệ" của một vùng quê.

Hôm ấy, giữa trưa hè chang chang, Trần ngồi hóng mát ở bờ sông, chợt thấy một cô gái đánh trần xuống tắm sông một mình ở bờ bên kia. Chàng lén nhìn không rời mắt. Sau một hồi bơi bì bõm, đột nhiên thấy cô gái chới với, sau đó chìm nghỉm khỏi mặt nước. Nhanh như sóc, chàng trai nhảy tõm xuống sông, sải tay chốc lát đã tới bên kia, kịp vớt cô gái lên, rồi vác chốc ngược sau lưng mình, vừa chạy vừa la cấp cứu. Xóm làng nghe tiếng chạy tới. Phải mấy phút sau cô gái mới tỉnh lại, cả thẹn đến chín mặt. Mọi người đều hú hồn hú ví cho cô Mận, con gái cô cả Sằng, suýt nữa chết đuối nếu không có chàng trai lực lưỡng và quả cảm ở làng bên.

Tiếng lành đồn xa. Chẳng bao lâu cái "lệ" cố hữu trên cũng mất dần, không còn mấy ai nhắc tới nữa.

Mận là hoa khôi trường trung học, từng làm "xôn xao oanh yến" ở cái quận ngoại thành này. Cô có mái tóc dài óng mượt như suối nước tuôn đều xuống đôi bờ vai thon, trông quí phái và sang trọng hẳn trong đám bạn gái cùng trang lứa. Duy chỉ có đôi mắt sóng sánh như đang ẩn chứa một điều gì bi lụy bên trong làm cho gương mặt cô gái lúc nào cũng u u buồn buồn thế nào ấy.

Sau cái hôm suýt chết đuối đến giờ, Mận cứ vào ngẩn ra ngơ. Ngày nào cô cũng xuống bến nước bâng khuâng nhìn sang bờ bên kia với một nỗi mong chờ khắc khoải cháy lòng. Bỗng đâu sáng hôm đó, cô bắt gặp chàng trai hôm nọ đang chèo ghe từ từ cập vào chỗ cô đang đứng. Cô hồi hộp định bỏ chạy lên bờ thì chàng trai lên tiếng: "Mận quên tôi rồi à?". Cô gái nửa mừng vui nửa bối rối: "Quên răng được người đã cứu sống em!". Cả hai cùng cười. Mận mời chàng trai vào nhà. Ông cả Sằng đi vắng. Hai người ngồi nói chuyện suốt buổi. Chẳng mấy chốc họ phải lòng nhau. Từ đó về sau, hai người thường qua lại trên sông. Rồi tình yêu nảy nở. "Mới đầu trăng gió sau ra đá vàng". Say đắm, khắng khít tưởng khó rời nhau nửa bước. Dân làng ai cũng trầm trồ khen họ đẹp đôi, lại như có duyên trời định.

Sau khi rõ đầu đuôi ông cả Sằng một mực ngăn cấm con gái quan hệ với chàng trai bên kia sông. Ông vin chuyện đã thành "thói" trong dân gian ở đây, rằng, trai gái hai bờ sông này mà lấy nhau thì sớm muộn cũng vợ nơi chồng ngả, hoặc nếu có ăn đời ở kiếp thì con cái chẳng ra gì. Tuy nhiên, cả làng này ai lạ gì ông cả Sằng. Sở dĩ nói vậy là vì ông đã đem con gái mình hứa hôn với Vệ đang học trường võ bị sĩ quan Đà Lạt, là con trai một của ông chánh Thừa giàu có nhất vùng này.

Vệ và Trần là bạn cùng lớp cùng trường hồi còn học phổ thông trên thành phố. Sau khi tốt nghiệp tú tài, Trần vào đại học, còn Vệ chọn con đường binh nghiệp để tiến thân. Vệ cũng thuộc hạng đẹp trai, học giỏi, nhà giàu. Chỉ vì Vệ có cái tính dương dương tự đắc khiến không ít bạn bè xa lánh. Vệ cũng tán tỉnh lắm cô gái mà chẳng đậu được cô nào. Thấy Mận đẹp người đẹp nết, Vệ cũng rắp rem từ lâu, song thấy khó, vì Mận đã yêu Trần. Nay Vệ chỉ còn cách dựa vào "chước" của ông chánh Thừa mà thôi.

Nhân ngày đầu xuân, chánh Thừa đến chơi nhà cả Sằng. Ngồi uống trà, thấy nhà cửa cả Sằng làm dang dở vì thiếu tiền, chánh Thừa gợi chuyện cho cả Sằng mượn ít vốn. Cả Sằng mừng rơn. Sau đó, để đáp lễ, cả Sằng đến thăm nhà chánh Thừa và được chủ nhà thết đãi thịt béo rượu ngon. Giữa lúc chén tạc chén thù, Chánh Thừa gợi ý muốn làm su gia, thế là cả Sằng gật gù tâm đắc liền.

Vào quân trường một thời gian, Vệ xin phép về nhà đi hỏi vợ. Dẫu biết người ta đã gắn bó nhau thắm thiết, Vệ vẫn phớt lờ, mang cân đai áo mão sĩ quan đến nhà như để khoe mẽ với cha con cả Sằng. Cả Sằng hí hửng, sốt sắng cho nhà chánh Thừa làm lễ ăn hỏi vội vội vàng vàng như để phòng xa một chuyện mà ông lường trước có thể xảy ra, mặc cho con gái ông vật vã, khóc than đến đâu.

Trần không ngờ sự thể ập tới nhanh chóng dẫn đến nông nỗi này. Anh mạnh dạn gặp ông cả Sằng để nói điều hay lẽ phải. Nhưng ông đã dùng quyền uy của người cha trong gia đình còn rặc đầu óc phong kiến hủ bại để bác tất. Anh đến tìm Vệ trong khi hắn cố làm lấy được để coi như "chuyện đã rồi", xong, đã hấp tấp chuồn đi tự bao giờ.

Sau cái lễ ăn hỏi phũ phàng ấy, Mận dở sống dở chết như cái xác không hồn. Giờ đây cô chỉ còn tin cậy vào Trần, bởi nước mắt mình đã bất lực, không lay chuyển nổi lòng dạ người cha. Ngờ đâu cái đêm Trần chèo ghe sang, không phải để bàn chuyện tốt lành, mà cũng chỉ để khuyên Mận nên làm theo sự sắp đặt của cha, khiến Mận gục đầu, khóc rũ rượi. Khi Trần không còn gì để nói nữa, Mận đột ngột vùng dậy chạy bổ xuống sông. Hoảng lên, Trần lao theo ôm chặt lấy Mận vực lên ghe của mình. Hai người lời qua tiếng lại không ai chịu nghe ai. Rồi chẳng hiểu thế nào họ lại cùng nhau chèo ghe ngược lên thượng nguồn đến tận khuya mới về. Kể từ dạo ấy trở đi, hằng đêm Mận thường trốn nhà theo Trần thả ghe lênh đênh trên sông vắng. Buồn tủi thân phận mình, lại xót xa cho người yêu, Mận đã quyết "nhị đào thả bẻ cho người tình chung" suốt cả tuần trăng như thế.

Đến hồi ông cả Sằng biết chuyện thì "nước đã đến chân". Nhân lúc Vệ ra trường, ông vội vã cho nhà chánh Thừa làm lễ vu quy ngay trong tháng.

Hôm gia đình Vệ làm lễ rước dâu, pháo nổ dòn bên kia sông, thì bên này cảnh sát cùng một trung đội nghĩa quân ở địa phương nổ súng truy bắt Trần vì có kẻ phản bội khai báo ra cơ sở hoạt động nội thành do Trần phụ trách. May sao Trần đã thoát được lên cứ.


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 27 Tháng Giêng, 2011, 04:02:28 pm
Bao năm cầm súng chiến đấu trong hàng ngũ quân giải phóng, vào sinh ra tử khắp các chiến trường, Trần vẫn không sao nguôi được chuyện tình oái oăm của mình bên dòng sông năm nào. Mỗi lần nhớ đến Mận là mỗi lần căm thằng Vệ đến nát lòng. Hắn đã gây nên hai chuyện tày đình: cướp giật tình yêu của bạn và quay lại cái nền nếp gia phong cổ hủ để cô gái phải chịu số phận "cha mẹ đặt đâu con ngồi đó", về làm vợ hắn như thế kia. Hắn cố tình làm kẻ tình địch trong khi hắn là quân địch trên chiến trường. Thù này rõ nhân đôi để anh không chùn tay súng mỗi khi gặp hắn bất cứ ở đâu.

Mùa hè đỏ lửa 1972. Cứ điểm 302 của địch thường xuyên bị pháo kích và có nguy cơ bị tấn công nhổ khỏi vị trí trong chiến dịch này. Tin mật từ Tham mưu Trung đoàn: một đại đội bộ binh địch đang sửa soạn tăng viện cho 302. Lệnh trên giao cho đại đội trưởng Trần khẩn trương lên phương án tác chiến và trực tiếp chỉ huy một đại đội tăng cường chặn đánh bằng được lực lượng chi viện cho 302.

Sau khi quân báo nắm chắc ngày giờ đich xuất phát, đại đội trưởng Trần bí mật ém quân mai phục từ lúc trời chưa sáng ở trục đường lâu nay địch thường chủ quan là khu vực an toàn nội giới mỗi lần điều quân bằng đường bộ lên 302.

Đúng 9 giờ sáng hôm đó, một đoàn xe chở quân có tăng thiết giáp yểm trợ ùn ùn nhằm hướng 302 tiến lên. Chờ tất cả lọt gọn vào ổ, lệnh phát hoả gióng lên, các cỡ súng đồng loạt nổ rền chặn đầu, khoá đuôi trong giây lát. Bị tấn công bất ngờ, hai xe bọc thép đi đầu bốc cháy, cả đoàn quân xa hơn chục chiếc hoảng loạn, dồn đống lại. Hầu hết số tân binh trên xe lăn cù xuống đất, buông súng xin hàng, nhốn nháo, thất thần như gà vướng tóc. Cả đoạn đường mù mịt khói đạn. Trong đám hỗn quan hỗn quân ấy không thấy có tên chỉ huy đoàn xe. Hỏi riết, một hàng binh mới chỉ chỗ ẩn trốn của tên đại uý. Hắn ngồi dấu mình trong một hốc đá gần đó, đinh ninh chẳng ai nhìn thấy. Đại đội trưởng Trần cùng hai chiến sĩ bò sát tới, lên tiếng gọi hàng. Nhưng tên đại uý vẫn im hơi lặng tiếng với khẩu tiểu liên tử thủ lăm lăm trong tay. Khi biết chỗ ẩn trốn bị lộ, hắn len khỏi hốc đá, men theo bụi rậm, định bỏ chạy lên núi. Đại đội trưởng Trần đưa súng lên ngắm bắn thì kịp phát hiện ra tên đại uý ngoan cố kia chính lại là Vệ. Anh cho lính bắn chỉ thiên uy hiếp, rồi tự xưng tên mình để gọi Vệ đầu hàng. Thấy không còn cách nào khác, Vệ đã đưa hai tay lên. Trần bực dọc quát vào mặt: "Sao mày khờ đến thế hả Vệ!".

Đám hàng binh nhanh chóng đưa về tuyến sau, được đối xử tử tế. Sau một ngày nghe cán bộ binh vận nói chuyện, đến chiều, tất cả đều được phóng thích. Trước lúc ra về, Vệ gặp Trần nói lời của người vừa tỉnh ngộ: "Cám ơn bạn đã không bắn. Lần này về nhà, tôi sẽ bỏ ngũ để kiếm nghề làm ăn lương thiện thôi!".
Mùa xuân 1975, Vệ mang lon trung tá. Lúc mũi tiến quân của Trần vào giải phóng thành phố cũng là lúc Vệ đưa cả gia đình lên máy bay di tản sang Mỹ.

Gần 30 năm định cư bên đó, chẳng hiểu sao hai vợ chồng sống ly thân. Sau này Vệ lấy vợ khác. Còn cô Mận ngày nào nay đã là bà Mận thì luôn mong đợi một ngày trở về nước. Nỗi nhớ cố hương cứ bứt rứt, thôi thúc không yên. Mãi đến mùa thu năm nay, bà mới cùng con gái hồi hương.

Những ngày đầu về sống lại trong ngôi nhà cũ của mình, bà đã khóc âm thầm vì cha mẹ nay chẳng còn ai, vì cuộc hôn nhân đã không hạnh phúc lại xô đẩy bà lưu lạc đến chừng ấy thời gian ở chốn đất khách quê người mà bà không ham không muốn. Nay như lá vàng mùa thu rụng về cội, bà chỉ biết ngậm ngùi khổ tủi cho duyên phận bẽ bàng của mình.

Từ hôm trở về, ngày nào bà cũng xuống bến nước ngày xưa để nhìn sang bờ bên kia với một nỗi nhớ da diết những đêm trăng trên sông, cùng một hoài bão bấy lâu canh cánh bên lòng. Làm sao ai kia hiểu nỗi đoạn trường cái ngày bà về nhà chồng cũng là ngày hay tin người yêu bỏ nhà đi kháng chiến? Và làm sao người ta tha thứ cho bà giữa lúc người yêu vào giải phóng thành phố cũng là lúc bà bỏ chạy khỏi đất nước này?... Mới đó mà đã ba mươi năm rồi! Không hiểu bây giờ ông ấy đang ở đâu? Bà nôn nóng. Bởi lâu nay bà vẫn hy vọng sớm muộn cũng gặp được ông ấy vì một sự thật hệ trọng có thể ông chưa biết tới. Và bà tin cái sự thật ấy sẽ làm cho ông hạnh phúc mà thông cảm tất cả cho bà...

Chiều nay bà Mận ra ngồi bờ sông. Khúc sông ở đây quá rộng nên người ở hai bờ khó nhận ra nhau. Vậy mà bà Mận vẫn để ý một người đàn ông ngồi câu cá bên kia sao mà hao hao giống ông Trần ngày xưa đến thế. Bà xuống đò định chèo sang, nhưng nghĩ lui nghĩ tới thấy không nên. Bà ngại lắm chuyện. Đến lúc có người cho bà hay hoàn cảnh ông Trần hiện giờ ở bên đó, bà lấy làm tủi tủi mừng mừng, mới quyết định cùng con gái sang sông.

Chiều thu yên ả. Những vạt nắng cuối ngày trên mặt sông mỗi lúc một nhạt dần. Chỉ còn những tia nắng mỏng manh lọt qua kẽ lá từ hàng cây lộng gió bên kia chiếu vật vờ xuống bến nước tạo cho đôi bờ cảnh tranh tối tranh sáng trông ngoạn mục.

Như mọi buổi chiều, ông Trần vẫn tới ngồi chỗ cũ. Vừa thả câu một lúc, ông bỗng thấy bóng ai bên kia trông giống bà Mận thuở nào đang cầm tay một sô gái bước xuống đò, chèo hướng mũi vào bến nước ông ngồi. Ông đâm bối rối, vội vàng xách câu bước nhanh về nhà như có ai đuổi sau lưng. Vừa điông vừa tự hỏi: Phải chăng hai mẹ con bà Mận sang sông tìm mình? Mà sao mình lại bỏ chạy như thế này nhỉ? Tự dối lòng làm gì khi chính mình cũng mong gặp bà ấy vì cái chuyện nghi nghi hoặc hoặc từ những ngày xưa?...

Băn khoăn hội hộp bởi những suy đoán thực thực hư hư trong đầu. Ông đứng lặng ở góc nhà, mắt đăm đăm ra phía bờ sông. Ông định quay trở lại bến nước khi nãy thì bất chợt có tiếng người ngoài ngõ đi vào.
Đúng là hai mẹ con bà ấy đây rồi! - Ông thốt lên trong cổ họng với một niềm vui dè dặt mà lòng lại như đang nhóm lửa...

 
N.T


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 27 Tháng Giêng, 2011, 04:18:11 pm
Chuyện tình nơi Cửa bể

NGUYỄN NGỌC PHÚ


Quán rượu của o Tam lúc nào cũng đông khách, phần lớn là khách quen. Quán ở gần bến, thuyền câu về cập bờ chỉ nhảy ba bước đã có thể cụng bát với nhau rồi.

Rượu ở đây ngon, rượu nếp của dân chuyên nấu bằng mạch nước nguồn. Giếng nước trong văn vắt, rượu sủi tăm như mắt mèo đựng trong hũ sành nút bằng lá chuối khô càng để lâu càng ngọt. Thứ "cao gạo" này uống vào cứ lịm dần, lịm ở đầu lưỡi, lịm lên con mắt rồi thấm dần từng tế bào, cả cơ thể ngấm trong rượu từ chân lông, kẽ tóc, giấc ngủ cũng lịm đến. Cũng men ấy, cũng công thức pha chế ấy, cũng nếp lứt, cũng ủ như thế nhưng hễ thay nước ở làng khác là rượu đã biến chất rồi. Dân chợ huyện nhà nhà nấu rượu và nuôi lợn rất nhiều, con nào cũng béo nung núc, lông mượt nằm chềnh ềnh phơi bụng bên những bờ tre lót bằng lá tre khô. Chúng không thèm dúi mũi vào các bụi môn, bụi khoai. Lợn được nuôi bằng hèm rỗng ruột chóng lớn. Vì thế ở làng này có một nghề khá phổ biến nữa là mổ lợn. Đàn ông người nào mặt cũng hum húp nặng trịch, ra đường chỉ thấy cúi gằm nhìn xuống, ngồi uống ruợu tay cứ xoa xoa như thói quen hai tay, hai dao mài vào nhau trước lúc chọc tiết lợn.

O Tam mù từ nhỏ. Trước o là anh Nhất, anh Nhì đều hy sinh ở chiến trường. Hồi các anh ấy ở nhà thường dắt o đi chơi ra sân đình xem chợ. O chỉ nghe tiếng người mua bán mặc cả nhau đã hình dung ra được chỗ nào bán trầu, chỗ nào bán hàng xén. Vui nhất vẫn là nơi bán cá. Con gái làng biển vừa bán, vừa đếm. Họ đếm lạ lắm. Một chục thì đếm thành 11 con, gọi là chục chẵn, 10 con mới là chục trụi. Rồi họ lại đếm bằng tiếng lóng nữa nghe cứ như hát vậy mà chưa có sai bao giờ. Khác với các cô gái làng biển da ngăm đen, chân đi vòng kiềng, người cứ chúi về phía trước, dáng thâm thấp, nặng chình chịch - o Tam người dỏng cao, nước da trắng và cái miệng cười thật xinh có cái lúm đồng tiền, duyên đáo để. Những lúc o ăn trầu, hai gò má ửng hồng, khối cô mắt mũi đàng hoàng phải thua xa. Giọng o nói nhỏ nhẹ bên những người đàn ông quen "ăn sóng nói gió" sừng sững chắc nịch như dãy núi Nam Giới. O Tam giống như khe nước Hao Hao mát rượi làm chùng lại những bắp gân nổi cuồn cuộn như những múi dây chăng buồm: O Tam rót rượu thật tài. Rót từ hũ vào những chiếc chai thuỷ tinh màu xanh hơi đục, đế dày in chữ nổi có từ thời Pháp thuộc, o bảo thế. Rượu rót đố nhiểu ra ngoài một giọt. O lấy rượu quen "thổ", chỉ nhấp nhấp một chút là biết được chất lượng.

Những buổi tối sau khi đám khách chân nọ đá chân kia xiêu vẹo bá vai nhau xuống thuyền đánh một giấc dài cho các bà "nội trợ" cầm lái ra đến rạo là vừa sáng - o Tam ngồi tựa cửa vào vách tường trên bộ phản gỗ mun láng bóng có thể soi gương được. Cả ngày, người o như được ướp trong hơi rượu thơm nồng và không khí bỗ bã của đám thực khách bây giờ như muốn được rũ bỏ bằng cách nhấp từng ngụm nhỏ bát rượu được đựng riêng trong cái hũ sành giấu dưới góc chân phản. O đang nhấm nháp mình. Thỉnh thoảng tiếng thạch sùng tặc lưỡi, bầy chuột rúc rích và con mèo mun lặng lẽ trườn vào lòng o lim dim mắt. O khóc, từ hai khoé mắt rỉ ra những giọt nước nóng hổi rơi xuống lông mèo. Không biết bộ lông mượt và ấm áp đã thấm hết bao nhiêu ký ức buồn tủi của o. Đám đàn ông đến ồn ào như giông, như bão, o bị cuốn vào chuyện đong đếm đến lúc họ đi, không khí chùng xuống như những ngày biển êm khiến lòng o lại nổi sóng, hụt hẫng. Mà đàn ông cũng kỳ, có những chuyện phải giấu thì họ lại rủ rỉ với nhau khi có hơi men. Tai o thính lắm. O cứ tưởng tượng ra những chuyện kín của họ. Trí tưởng tượng bao giờ cũng bay bổng hơn hiện thực đêm đêm dày vò o. O đâm nghiện cái mùi mồ hôi nằng nặng, mùi tóc rối, đâm nghiện cả cái chạm tay, chạm vai với da thịt sần sùi. Nhiều khi vuốt vuốt bộ lông mượt của con mèo hay mép phản phẳng lì trơn bóng vô hồn, o cứ thèm cấu xé một vật gì đó nóng hôi hổi, xù xì thô nhám. O nhận ra từng người qua giọng nói, qua bước chân và qua mồ hôi mặc dầu chưa có người nào dám sàm sỡ với o kể cả những kẻ nát rượu quen uống chịu và trả bằng cá. Họ quý o, nể o, nhìn o thật thánh thiện từ cái bờ vai thon thả, suối tóc chảy dài.

Trong đám khách uống rượu ấy, o Tam để ý một người con trai lơ lớ giọng ngoài Bắc. Anh uống một mình lặng lẽ không say chỉ đến lúc đứng lên trả tiền giọng mới hơi lạc đi. Cứ chập tối là anh đến ngồi một góc, uống chậm cho đến lúc vãn khách. Hỏi dò o Tam mới biết: Người ấy tên là Tuấn - con trai Hà Nội chính cống. Đi bộ đội ở đặc công thuỷ. Trong một lần đánh tàu ở Cửa Việt anh bị thương. Khuôn mặt khá đẹp trai của anh bây giờ nhăn nhúm, chằng chịt vết sẹo. Mắt, mũi cũng bị biến dạng đi qua hàng chục ca phẫu thuật chỉnh hình. Anh quyết định ở lại làng chài này vì nghe đâu anh có một người bạn chiến đấu quê ở đây đã hy sinh ở chiến trường. Và suốt ngày anh cùng với chiếc thuyền con trên biển. Anh thạo nghề câu lưới. Chỉ đến tối anh mới lên bờ nhờ bóng đêm che đi khuôn mặt dị dạng của mình mà đám trẻ con chưa quen nhìn anh đã khiếp. O Tam lại nghe người ta bảo nhau: Ông Tuấn ấy "sát cá" lắm; hay cá sợ khuôn mặt của anh. Nghe nói ngày trước, dân đi biển thường lấy nhọ nồi bôi vẽ lên mặt hình thù những con thuồng luồng thè lưỡi ra dọa cá. Một đêm trăng rằm sau khi hết khách, trời đã về khuya. Mùa hè nóng bức bối, o Tam lần xuống bến đá tắm. Làn nước mát như muôn ngón tay mềm ve vuốt da thịt o. Vẳng lại tiếng gà eo óc gáy. Thảng thốt, o cởi bộ đồ ngoài và lần ra xa bờ. Hình như o muốn tìm khoái cảm qua làn da mơn man con nước thuỷ triều sóng sánh ánh trăng. O khoả tay bơi nước vào. Quá mải mê, đắm chìm trong những giây phút hoà nhập với thiên nhiên, o tự nhiên bị mất phương hướng và không nhận ra phía bờ nữa. Cứ thế o mon men bước trầy, bước trật nơi sâu, nơi cạn. Bỗng nhiên o bị hẫng và rơi vào ven nước chảy của lạch sông. O chới với định kêu lên nhưng nhận ra mình đang ở trần nên lưỡi o líu lại. O đạp nước tung toé như con cá bị mắc câu. Nước xô vào mũi cuốn o đi. O chỉ còn kịp nghe tiếng mái chèo mơ hồ đâu đó đập nước cạnh mình rồi lịm dần.

Người đến kịp thời cứu o Tam chính là Tuấn. Từ lâu, Tuấn đã để ý đến o. Vừa ngồi uống rượu, Tuấn vừa ngắm nhìn o, nhận ra ở o Tam có nét gì quen quen như đã gặp ở đâu rồi mà không sao nhớ nổi. Nhà Tuấn ở cạnh hồ Thuyền Quang. Ngày nhỏ Tuấn đã say mê câu cá. Đêm xuống, Tuấn xách chiếc cần câu cùng ít mồi làm bằng mắm tôm luyện với bột giã viên nhỏ như kẹo mắc vào lưỡi câu uốn bằng dây thép mảnh đi câu trộm cá hồ. Có hôm, câu mãi chẳng được con cá nào, Tuấn đang bực mình thì nghe tiếng thở hổn hển. Ngoái lại đằng sau thấy một cặp đang mắc câu xoắn xuýt vào nhau như rắn trên bãi cỏ dưới chân chiếc ghế đá. Thì ra một ả điếm đã "ám" Tuấn từ đầu hôm đến giờ mới bắt được khách. Tuấn vụt đứng dậy đá phăng chiếc giỏ đựng cá xuống hồ, bẻ đôi chiếc cần câu dẻo quánh lùi lụi đi về nhà như một gã "trê" bẹp đầu vừa thoát nạn. Từ đó Tuấn cạch không ra hồ câu buổi tối nữa. Nhiều lúc bần thần nhớ Hà Nội đến nao lòng nhưng mặt mũi thế này, thôi đành làm gã dân chài; vả lại nhà Tuấn cũng đã nhận được giấy báo tử từ lâu. Trận đánh đó Tuấn cùng với anh Dũng - người con trai làng biển ở vùng này, một con rái cá nổi tiếng được giao nhiệm vụ đánh chiếc tàu chở xăng. Mọi việc diễn ra khá thuận lợi nếu như Tuấn không bị chuột rút, anh Dũng vừa bơi vừa dìu Tuấn. Tốc độ của họ chậm lại. Mìn nổ, cả bồn xăng lớn trên tàu bùng cháy, sáng như ban ngày. Xăng tràn xuống nước rực đỏ như một biển lửa - Tuấn bị bỏng nặng, khuôn mặt cháy xèo xèo. Anh Dũng có tài lặn đã ngụp xuống đẩy Tuấn thoát ra khỏi con rắn lửa đang cuộn tới. Những ngày Tuấn ở viện quân y buồn chán, anh Dũng thường đến chơi và kể cho Tuấn nghe về làng chài của mình.

Cái làng thật lạ. Một nửa sống trên bờ chủ yếu theo đạo thiên chúa, còn một nửa sống trên những chiếc thuyền câu nối lại với nhau như bè, như mảng. Nghe nói ngày trước họ chính là dân Bồ Lô - một tộc người nghe đâu là gốc Chiêm Thành. Đến nay họ vẫn còn giữ lại vài đặc điểm riêng của bộ tộc ấy như: Lưng hơi cong, cổ rụt, tóc xoắn. Họ sống thành cộng đồng, lấy thuyền làm nhà, con cái đẻ ra cứ lổm nhổm trên thuyền như cua. Sản phụ đẻ xong họ ném rau thai xuống biển, vì thế có một dây vô hình nào đó gắn những đứa bé ấy với nghề biển. Chúng biết học câu trước khi học đếm, mà học cũng để nhìn được mặt chữ và đếm tiền mà thôi. Người chết, họ phải mua đất trên bờ để chôn, bí quá thì chở sang núi Nam Giới lật đá làm huyệt. Có lần cao hứng, Dũng còn hứa gả em gái út cho Tuấn. Nghe Dũng kể, Tuấn đã hình dung ra cô gái đó có chiếc mũi dọc dừa và đôi mắt buồn mơ mộng. Dũng chép miệng và nhìn ra xa như hình dung ra em gái mình ở đâu đó phía cuối chân trời đang nổi mây bồng bềnh. Đôi mắt của út đã làm cho bao chàng trai mê mẩn. Nghe út nói thèm sim thế là sáng mai vừa chưa tỏ mặt người đã có một chàng trai thập thò ngoài cửa vạt áo cuộn lên đựng đầy sim chín; thì ra chàng ta đêm đó đã thắp đuốc chèo thuyền sang núi Nam Giới để hái sim kịp đưa về cho người mình yêu trước lúc trời sáng. Chao ôi, những quả sim mòng mọng nước ấy cứ ám ảnh Dũng mãi. Đến lúc bị thương nặng trước lúc nhắm mắt Dũng vẫn ao ước được ăn một quả sim chín. Quả sim ấy Tuấn đã hái được ở khe núi mang về, nhưng Dũng không ăn mà chỉ hôn đôi môi lạnh ngắt của mình lên màu da mọng chín của quả sim và anh khẽ mỉm cười rồi tắt thở.


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 27 Tháng Giêng, 2011, 04:19:29 pm
Đêm đó, sau khi uống rượu ngà say, Tuấn xuống chiếc thuyền con của mình định chèo sang núi thì linh tính một điều gì bất ổn mà chiếc thuyền ra giữa dòng cứ xoay tròn. Một cái xoáy nước lớn như cái lúm đồng tiền của mặt sông phụng phịu làm cho anh bần thần, rã rời tay chèo. Bãi sú đã hiện ra trước mặt. Anh cho thuyền tấp vào, buộc dây vào cây sú. Bỗng nhiên Tuấn nghe tiếng đập nước. Một khuôn hình phụ nữ như được tạo bằng ánh trăng, hai cánh tay trần khoả vào nước, mái tóc đen dài, đôi bờ vai thon - O Tam!

... Tuấn bế o Tam đặt lên chiếc phản gỗ. Anh cuống quýt mở rương lấy áo cho o bỗng nhìn thấy mấy tấm ảnh kẹp trong cuốn sổ tay rơi ra. Tuấn bàng hoàng kêu lên: Anh Dũng! Người con trai trong ảnh chính là Dũng. Phía đằng sau tấm ảnh có ghi dòng chữ quen thuộc của Dũng: "Tặng út Tam của anh - anh Nhì". Thế mà Tuấn cứ đi tìm mãi. Nguyễn Anh Dũng là tên của một thủ trưởng đặt cho anh sau một trận đánh khá ác liệt. Từ đó các bài báo viết về anh đều lấy tên Dũng - người làng không ai biết chiến công của anh, họ chỉ quen gọi anh là Nhì: là thứ hai con của ông Tám Thành, cháu của cố Tứ Lợi ở làng Ngũ Đại.

Khi nghe tin anh Tuấn cưới o Tam mọi người trong làng ai cũng vui. Từ bữa đó quán o Tam sôi nổi hẳn lên. Các con "sâu rượu" đãi Tuấn bằng tất cả sự phóng khoáng của dân biển. Một đêm mùa đông sau khi vãn khách, Tuấn bỗng thấy o Tam lằng lặng đóng cửa sớm hơn mọi ngày và thắp ba nén nhang lên bàn thờ. Hương trầm thơm đánh thức trong Tuấn bao nhiêu kỷ niệm. Nhìn lên tờ lịch trên tường, Tuấn chợt giật mình: đúng ngày này, năm ấy anh Dũng hy sinh ở trạm quân y tiền phương. Đến nay o Tam vẫn chưa biết ngày hy sinh của anh mình vì giấy báo tử gửi về đề tên: Nguyễn Anh Dũng, Tuấn hỏi: "Sao hôm nay em lại thắp hương". O Tam bảo "Em buồn quá! Nhớ hai anh Nhất và Nhì quá! Tội nghiệp chết mà không biết ngày giỗ". Đêm đó, hai người nằm cạnh nhau, o Tam báo cho Tuấn biết tin mừng là o đã có thai. Tuấn khấp khởi mừng. Đôi bàn tay sần sùi đầy vết sẹo của dây cước ăn vào thịt các đốt ngón tay cứ xoa mãi trên cái bụng phập phồng của o. O Tam kể: trước lúc lên đường đi bộ đội, anh Nhì đã nói cho o nghe về mối tình của anh với một cô gái trong làng theo đạo Thiên chúa. Cô ấy là người hát thánh ca hay nhất của nhà thờ. Họ thường hẹn gặp nhau ở đồi sim bên núi Nam Giới. Anh đã để lại một giọt máu đó là thằng Sim cháu bà Lục Tú hiện nay. Thằng Sim - Tuấn thảng thốt kêu lên. Đúng, thằng Sim, cái thằng da thịt trắng trẻo, má phúng phính như con gái, đi cùng thuyền với Tuấn. "Thế còn mẹ của Sim" - Tuấn hỏi: "Mẹ của Sim đã chết khi mới đẻ ra nó" - O Tam rủ rỉ nói - "Chị ấy đẻ khó, đưa lên bệnh viện; các bác sỹ bảo phải mổ. Hoặc là cứu mẹ thì mất con. Được con thì mất mẹ. Chị ấy bảo: "Đây là giọt máu duy nhất của anh ấy, của dòng họ ấy, các bác sỹ cứu cháu. Còn tôi thế là toại nguyện rồi. Khi gặp anh ấy bên kia tôi không còn gì phải hối hận".

Đến gần ngày o Tam sinh con, Tuấn ở nhà chăm sóc. Đàn ông vượt biển còn có bạn bè, đàn bà "vượt cạn" chỉ một mình. Cái đêm o Tam trở dạ, cả cái đám thực khách ở tửu quán gần như không ngủ, họ vừa nhấm rượu vừa lặng lẽ nhìn nhau không ai nói gì. Không khí như chùng hẳn xuống. Bà Hiểu hộ sinh của trạm xá xuống đỡ đẻ cho o Tam ở phòng trong. Đám đàn ông ngồi ngoài kẻ đun nước người về lấy áo lót cũ của con cái mình cho "gặp may". Khi nghe tiếng khóc oa oa của đứa bé, Tuấn đẩy cửa bước vào. O Tam lịm đi. Câu đầu tiên khi o tỉnh dậy hỏi Tuấn: "Anh ơi con mình có đầy đủ chân, tay, mắt mũi không? Tuấn rối rít "Lành lặn cả em ạ, bàn tay năm ngón, mũi đẹp lắm, con gái mũi dọc dừa, lớn lên khối chàng mê. Đôi mắt hơi buồn giống như Đức mẹ Ma-ri-a đồng trinh". Từ khoé mắt của o Tam những giọt nước nóng hổi lăn xuống gò má, hai tay o ghì lấy khuôn mặt của Tuấn hôn lên mắt, lên mũi, lên từng vết sẹo chằng chịt của anh. Khuôn mặt rạng rỡ - Bà Hiểu quay mặt giấu đi những giọt nước mắt vào chiếc khăn mỏ quạ của mình.

Sau khi o Tam "mẹ tròn con vuông", nhiều lúc thấy Tuấn bế con nựng nựng một lúc rồi im bặt; O Tam trực giác một điều gì đó không yên ổn trong Tuấn. O hỏi: "Hình như anh có điều chi buồn?". Giọng Tuấn chùng xuống: "Anh sợ con mình sau này lớn lên nhìn thấy mặt mũi cha". O Tam lại khóc. Những giọt nước mắt bây giờ không thấm vào lông mèo nữa mà nhoà vào má đứa con gái còn đỏ hỏn.

Sau một chuyến đi biển dài ngày về, Tuấn bỗng thấy nhà mình đầy ắp tiếng cười của trẻ con. Thì ra lũ trẻ nghe tin Tuấn uốn diều giỏi đã đến nhờ anh làm những con diều sáo ra gò biển thả. Từ đó, bao giờ o Tam cũng dự trữ những túi kẹo dành cho lũ trẻ. Nhất là những đứa bé nhát gan cứ thập thò ngoài cửa, thấy Tuấn về là chạy cuống quýt: "Ông ba bị chúng mày ơi!" bây giờ cũng đã sà vào lòng anh.

Đêm tháng ba "rét nàng Bân", thuyền của Tuấn đi đánh cá Chim. Trước lúc nhổ neo bỗng nghe thấy tiếng o Tam gọi: "Anh Tuấn ơi!" - Tuấn và thằng Sim sững người lại khi thấy o Tam phăm phăm xuống bến như người mắt sáng - Thì ra, tấm áo len o đan cho Tuấn đêm ấy đã xong nút cuối cùng. Bằng một linh cảm nào đó, o bước đi trong đêm theo sự dẫn dắt của một con người vô hình tìm đúng thuyền của Tuấn. Tuấn vội nhảy lên bờ: "Em về đi, con đâu?". O Tam gục vào vai Tuấn. "Anh ơi! Hay là anh về với em đi! Con em gửi cho bà Thất Bát hàng xóm rồi" - Tuấn nghẹn giọng: "Anh phải đi, đang mùa cá Chim - bây giờ em về kẻo con mong". O Tam sững sờ: "Em không biết đường về nữa đâu" - Tuấn đành nhờ bà Cửu Vạn dắt về.

Chuyến đi biển được rất nhiều cá Chim. Con cá Chim thật lạ, câu không ăn. Nó bơi thành bầy lấp lánh lật nghiêng, lật ngửa như những chiếc đĩa trắng - Dân biển phải chọn người da dẻ thật trắng bơi vào lưới; cá Chim theo người vào luôn. Hôm đó, ông Mười Hoá ngồi trên cột buồm nhấp nhổm như con thú rình mồi phát hiện ra một bầy cá Chim rất đông. Thằng Sim hăng hái xin lặn xuống nước vì da nó trắng nhất. Tuấn đưa cho nó bát nước mắm sánh màu cánh gián và dặn: "Cẩn thận nghe Sim, dạo này lắm Mập xà, thấy động phải lên ngay". Thằng Sim lặn xuống thấy cá đông, nó mê mải bơi một vòng, phía sau chân nó có hàng trăm con cá Chim theo nó để vào lưới. Bỗng nhiên ông Mười Hoá kêu lên: "Sim ơi! có Mập xà, lên thuyền nhanh đi cháu" - Mọi người nhìn về phía cây rạo bằng tre trồng giữa biển khơi thấy lưng con Mập xà nổi lên như lưng trâu. Thằng Sim luống cuống, tay chân rối rít không bơi thêm được. Cá Mập mắt kém nhưng mũi thính lắm. Nó đang hít hít tìm mồi và bơi về phía Sim. Tuấn bỗng kêu to: "Sim, đứng yên đừng bơi nữa". Anh vội lấy con dao nhọn chuyên uốn lưỡi câu đâm vào đùi trái của mình và lặn xuống biển phía sau lái con thuyền. Màu máu đỏ loang tan ra trong nước. Con Mập xà ngửi thấy mùi máu quay ngoắt lại tấn công Tuấn - Mọi người tranh thủ kéo Sim lên thuyền. Khi họ quay lại thấy Tuấn đang cầm dao bơi đứng đối mặt với con Mập: Nhưng sức anh yếu dần, sau một cái quẫy mình của con cá làm cho thuyền nghiêng hẳn đi, Tuấn không còn để lại dấu vết gì ngoài chiếc áo len và chiếc quần bộ đội màu cỏ úa trên thuyền.

Nghe tin Tuấn chết mất xác, một họa sĩ điêu khắc từng sống nhiều năm ở Hà Nội về hưu ở làng chài này đã nặn cho anh một bức tượng thạch cao theo tấm hình của Tuấn chụp trước lúc lên đường, khuôn mặt đẹp trai, lành lặn, pha chút hào hoa, lãng tử. Ngày hạ huyệt, tất cả thực khách quán o Tam mù đều có mặt. Họ mặc cho bức tượng chiếc áo len và chiếc quần cỏ úa. O Tam nhờ Sim trồng lên đầu mộ một cây dương. Bây giờ cây dương ấy đã vút cao chẻ ra hai nhánh như hai bàn tay đang ấp ủ nâng đỡ cả bầu trời trong xanh thoảng gợn chút đám mây màu vẩy cá - Màu mây báo hiệu mùa bão sắp đến...

 
Hà Tĩnh - tháng 4 năm 2003
 N.N.P


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 27 Tháng Giêng, 2011, 04:29:39 pm
Người tù chăn dê núi Cẩm

NHẤT LÂM


Không biết duyên cớ từ đâu mà cô Ngọc ở Hà Nội chạy lên Thái Nguyên rồi dừng chân dưới chân đèo Nhe mở quán qua ngày.

Ngày ấy núi rừng thật bí hiểm, con người không đụng chạm đến rừng, đến cây lá. Ai vào rừng kiếm lâm thổ sản, đốn cây... thì có cái lễ xin rừng. Lễ là một con gà, cánh sơn tràng thì có đầu heo, mâm xôi, chai rượu và bông ba hoa trái, tùy mức độ của con người, miễn là lòng thành. Người ta bảo rừng thiêng lắm, kẻ nào xúc phạm đến rừng, đốn chặt bừa bãi là bị trừng phạt. “Ham của rừng thì rưng rưng nước mắt”.

Đèo Nhe nằm trên tuyến đường của hai tỉnh Tuyên- Thái, một bên núi cao rừng rậm, một bên rừng rậm suối sâu. Nước chảy ầm ào quanh năm. Con đường như sợi chỉ mảnh mai chạy giữa rừng xanh bất tận. Trong ngày cũng vắng bóng người, họa hoằn mới có tiếng vó ngựa của bà con dân tộc Tày, Nùng... qua lại như người sơn nhân. Kháng chiến, nơi đây trở thành căn cứ địa cách mạng, được canh gác cẩn thận. Cơ quan đóng ở rừng sâu, trong những cái lán dưới tán cây già, dọc triền suối, được gọi là An Toàn khu (ATK).

Không hiểu sao một cô gái xinh đẹp như Ngọc, dừng chân trên dặm đường khói lửa lại tấp về đây, mở quán qua ngày. Với cái tên “Quán Ngọc” để các chàng trai trẻ có dịp lên về hai tỉnh Tuyên -Thái dừng chân và ngắm.

Anh chàng Điền là người hay đến quán, gần như chủ nhật nào cũng có mặt. Điền ở xa quán cả chục cây số. Chàng trai tú tài trường Bưởi Hà Nội lẽ nào không cảm mến một cô Ngọc đồng hương phiêu bạt lên đây. Để rồi duyên nợ kéo hai người vào trại giam, rồi sau chung thủy trọn đời, nhưng đó là chuyện dài sau này.

Ra khỏi cổng trại giam Cẩm Sơn, ông Điền đứng lặng nhìn trời, nhìn đất, nhìn mông lung... nhìn người qua lại trên quốc lộ số 3 hết sức vội vàng. Người nào cũng đội mũ rơm, vòng lá ngụy trang. Cả nước lại đối mặt với cuộc chiến tranh chống Mỹ, một tên xâm lược giàu mạnh và tàn bạo nhất hành tinh. Vì thế mà ác liệt hơn cuộc chiến chống Pháp mà thế hệ ông Điền tham gia ngày Hà Nội khói lửa, rồi lên rừng và ông bị vạ. Ông không hiểu do đâu, tại làm sao mà họ có thể gán cho ông cái tội ấy. Tội làm gián điệp. Ông thông thạo tiếng Pháp. Ai đã học bậc trung học thời ấy mà chẳng thông thạo tiếng Pháp như ông. Ông nói chuyện với một sĩ quan cấp tá bị ta bắt làm tù binh.

Ông nhớ như thuộc làu những gì mình đã nói với viên sĩ quan Pháp ấy, và thậm chí nói rất hoa mỹ, đúng lập trường: Cuộc chiến tranh mà chính phủ Pháp gây nên là phi nghĩa, chính nhân dân Pháp cũng lên án và ủng hộ cụ Hồ Chí Minh. Một sĩ quan cấp tá như ông đã tham gia đánh Đức Hít-Le bị cụt một tay, ông phải là người ủng hộ chúng tôi kháng chiến, như các ông kháng chiến chống phát xít Đức chiếm đóng nước Pháp.

Tên thiếu tá De Courté đi đường dài ngày, áo quần lem luốc râu ria xồm xoàm, tiều tụy như người ăn mày trên nẻo đường chiến tranh. De... cúi gầm mặt lấm lét nhìn anh bộ đội cụ Hồ giảng cho nghe bài học vỡ lòng về một cuộc chiến tranh phi nghĩa. Anh ta giỏi tiếng Pháp, còn hơn cả người Pháp ít học, lại còn tặng De... cả nải chuối với mấy điếu thuốc lá mà hắn thèm rỏ dãi. Viên thiếu tá tù binh và có lẽ là cả Ngọc, họ đoán rằng: anh này nhất định là cấp chỉ huy trong bộ đội cụ Hồ. Họ đâu biết, Điền chỉ là một chiến sĩ bình thường của cục Địch Vận có nhiệm vụ thông dịch, viết những tờ truyền đơn bằng chữ Pháp để gửi đến nơi nào có binh lính Pháp đóng đồn, vô vùng tạm bị chiếm. Điền làm việc ấy quá khỏe, chẳng khác nào một sinh viên đi làm gia sư cho cô cậu đang học tiểu học. Vì thế anh có thời gian đến quán Ngọc tán chuyện cho vui và cũng để khỏa lấp thời gian hàng ngày.

Ông Điền quá xúc động, được nhìn mây trời, sông núi tự do. Đành rằng những ngày tháng chăn đàn dê đông mấy trăm con, chẳng bị ai câu thúc. Sáng mở chuồng, đàn dê chen lấn xô đẩy, con nào cũng có mục đích riêng; con thoát ra đi kiếm sống, con đực xồm thì chăm chăm vào chuyện ấy, con nhỏ bị kẹt, kêu lên như ai đâm cổ. Ông đem theo bi đông nước, một quyển sách, đôi khi vớ được quyển sách hay, nguyên bổn tiếng Pháp của các tác giả lớn: Dumas, André Maurois, ... thế là vui rồi. Ông đọc như ăn tươi nuốt sống con chữ in trên trang giấy ố màu. Khẩu phần trưa đạm bạc khó ai tin, nhưng là sự thật: vài khúc sắn với dúm muối. Cả nước khó khăn về lương thực, gạo cho bộ đội, cán bộ cũng hụt hơi, nhiều tháng mậu dịch xin khất nợ, đào đâu ra gạo ăn cho tù nhân. Những năm sau ở trại, quản giáo, rồi giám thị trưởng cũng nể ông, họ lấy làm tiếc, nếu ông không bị cái vạ tiếng Tây thì bây giờ ông là sếp của sếp trại trưởng này. Không ai quản ông, nhưng ông vẫn là người tù, người tù chăn dê.

Giờ đây ông ra khỏi trại, có giấy tờ hẳn hoi, do ông thứ trưởng ký. Ông đi một đoạn đường khá dài, dài đến bốn- năm cây số và nhìn lui, trại giam sau núi mờ dần. Nơi ấy đã giữ lại của ông thời gian hơn mười năm. Cuộc đời tù quá đắng cay mà ông chẳng biết vì sao thượng đế lại chọn ông. Trong khi ông gánh chịu, chẳng một cơ quan nào, hay một ai tra cứu xét lại cho ông nhờ. Vậy mà ông tưởng như mới đây thôi. Ông reo lên: ôi tự do...

Cái quán nước bên quốc lộ 3 chỉ là mấy tàu lá cọ che tạm nắng mưa, chẳng có gì đáng kể, thuốc lá điếu bán lẻ, kẹo lạc, nải chuối tiêu vàng vỏ, nước chè Thái ủ kín ấm chuyên với cái phích tre. Bà già chủ quán nhìn ông và đoán ra người tù được tha, nhưng bà chưa hỏi vội.

Bưng chén nước ấm trong tay, ông xúc động, ông đưa lên bờ môi và tự hỏi: Về đâu bây giờ...? Trong giấy phóng thích đã ghi rõ “Không được cư trú ở Hà Nội”. Trong khi ông là người Hà Nội gốc, thật khó xử. Làm sao báo cho Ngọc và người thân. Sau giây phút vui sướng tột độ khi được tự do bước ra cổng trại giam, đến lúc này thì ông âu lo dằn vặt: Về đâu!

Ngày Mỹ ném bom miền Bắc là ngày 5 tháng 8 năm 1964. Ngày ông Điền ra trại là ngày 10 tháng 8 năm 1966. Đợt tha này là nhân dịp lễ Quốc khánh, mà sao cả trại đông vậy chỉ có mình ông. Mình vô tội... - Ông tự hỏi, tự trả lời rồi thưởng thức chén trà Thái.

- Ông đi về Quán Triều, cũng đến dăm cây số, xuôi tàu, nhưng nghe đâu tối mới có tàu chạy. - Bà chủ quán nói với ông.

- Vậy bà cho tôi ngồi đến chiều nhé!

- Thì tôi có lấy tiền ngồi của ai đâu, thằng Mỹ nó thả cái ầm là hết, mà sao không báo cho người nhà đến đón?

- Nào tôi có biết là mình được tha.

- Máy bay, máy bay...

Súng phòng không bắn lên trời từ phía khu gang thép. Ngồi trong cái hầm kèo của bà chủ quán, nghe đạn nổ, ông Điền mường tượng như ngày ấy ở đèo Nhe, chỉ có khác cô chủ quán là Ngọc, một cô Ngọc trẻ đẹp, dân Hà Nội tản cư, và máy bay Pháp bay đến dội bom Na Pan Khu ATK, loại máy bay cánh quạt bay với tốc độ gấp ba bốn lần xe du lịch hiện đại. Bây giờ không lực Hoa Kỳ kiêu ngạo Thần Sấm, con Ma, thập tự chinh với tốc độc siêu tốc.


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 27 Tháng Giêng, 2011, 04:31:31 pm
Hôm ấy cũng đẹp trời, Điền từ cơ quan xuống quán Ngọc, đang nói chuyện sau một tuần xa nhau, từ dưới đèo đi lên là ba anh bộ đội với một tù binh người Âu. Có lẽ họ đi từ xa, dài ngày nên mệt mỏi. Đặc biệt là tên tù binh lê đôi dép kiểu Bình Trị Thiên không muốn bước, tóc râu bờm xờm như người rừng hoang dã. Khi bọn họ vào quán, tên tù binh ngồi bệt xuống đất không khách sáo và Điền thấy thương. Ngoài cái dáng tiều tụy, tên tù binh cụt một tay, nom càng thiểu não. Uống ly nước ngon lành, nét mặt người tù bớt mệt mỏi, và đôi mắt sáng lên khi thấy mấy nải chuối treo ở cái sào nứa thật ngon mắt.

Điền bắt chuyện và hai người như cái duyên định mệnh gặp nhau, họ nói tràng giang tiếng Pháp như suối chảy. Tên tù binh không ngờ nơi đèo heo hút gió lại có một người am tường tiếng mẹ đẻ của y, có thể nói là rất trí thức.

- Vâng thưa ông tôi là một tù binh, một thiếu tá bị bộ đội Ông Hồ bắt tại mặt trận, trên một cánh đồng, tôi đâu ngờ lầy thụt đến khủng khiếp.

- Hình như cánh đồng ấy là Hải Lăng tỉnh Quảng Trị.

- Vâng ở đó có một thánh đường, tên như con gái đẹp Thanh Hương.

- Ồ thế thì tôi biết rồi, ông là thiếu tá De Courté chỉ huy trận càn quét huyện Hải Lăng tỉnh Quảng Trị và bị bộ đội 95 của chúng tôi tiêu diệt, còn ông thì may hơn, bị bắt sống và đang nói chuyện với tôi.

- Vâng thưa ngài đúng vậy.

- Ông đã đi bộ từ Quảng Trị ra cả tháng trời, vất vả thật, nhưng vì chiến tranh và do chính phủ Pháp gây nên.

- Thưa ông đúng vậy, các ông có giết tôi sau khi lấy cung?

- Giết ông... Nếu giết ông thì đưa ông ra đây làm gì... Ông sẽ được hưởng chính sách nhân đạo của cụ Hồ và nhân dân Việt . Ông được đối xử tốt, nghỉ cho lại sức rồi được tha về nước qua con đường biên giới Việt Trung như hai ông Trung tá Le Par và Charton. Ông biết đấy, bộ đội chúng tôi chỉ thả tự do cho ông bằng con đường ấy.

Viên thiếu tá họ De quý tộc rạng rỡ nét mặt và cám ơn chính sách nhân đạo của cụ Hồ Chí Minh.
Điền được đà và trước người yêu càng nói càng hăng. Cô Ngọc vốn đã yêu mến Điền, nay thì bái phục và mừng lắm. Kháng chiến thành công, vợ chồng về lại Hà Nội thế là trọn vẹn, con đường hạnh phúc Ngọc đã ôm ấp từ ngày gặp Điền và quen anh. Còn mấy anh bộ đội dẫn tù, họ cho rằng đã gặp một chính ủy ở An Toàn khu.

Khi tên tù binh đi rồi, Điền còn ngồi lại nói hươu nói vượn- Tên này có giá lắm. Hắn dòng dõi quý tộc, tham gia thế chiến đánh Đức cụt tay, đáng lẽ về hưu, lại qua Đông Dương. Đúng là thực dân nòi mà chắc muốn leo lên đại tá, ai ngờ đại nhục...

Điền cầm mũ nan chào Ngọc và hẹn chủ nhật đến, nếu... Cũng vừa lúc máy bay Pháp đến ném bom cháy. Chúng bay dọc sông Lô rồi bất ngờ cắt bom vào rừng Nứa. Loại bom có chứa xăng bột, nứa bén vào cháy đỏ lựng trời.

Lửa cháy đến chiều, nhờ có trận mưa nên lửa dập tắt, đúng là trời cứu phe ta.

Một tuần sau, các chiến sĩ cảnh vệ đến bắt Điền tại nơi làm việc và dẫn anh đi trong đêm. Đi như vậy hơn một tuần rồi dừng chân ở một cánh rừng. Bị bắt với Điền có đến bảy tám người, nhưng chẳng ai biết họ ở bộ phận nào. Riêng Ngọc, Điền chẳng biết gì, sau này Ngọc xin được thăm anh mà không gặp, họ cho nhận thư và anh xúc động rơi nước mắt.

Cả đêm Điền mất ngủ, anh được giam bằng hệ thống kín đáo giữa rừng có rào gai và hào sâu, cảnh vệ cầm tiểu liên kín đáo. Chỗ này là đâu. Mù tịt, bởi chẳng có ai liên lạc với ai. Ngày ăn hai bữa cơm tù kháng chiến, nói đúng hơn là ăn hai bữa sắn, rồi bắp già, rau rừng. Bù lại nước trà rất ngon và thoải mái uống.

Người ta ra câu hỏi đánh máy trên giấy, anh cứ việc trả lời, phải giải trình hàng mấy trang giấy mới tạm đủ cho một câu hỏi. Anh viết bằng một loại văn đã học trường Pháp Việt bậc Tú tài.

“Tôi có bằng tú tài... là do học giỏi nên có học bổng, chứ gia đình tôi bình thường, bố là thợ sắp chữ, mẹ buôn hàng xáo. Tiếng Pháp được sử dụng chính trong nhà trường, tiếng Anh mới là ngoại ngữ, tôi biết cả hai thứ tiếng là nhờ vậy.

Với tên tù binh họ Đờ là sự tình cờ gặp nhau trong quán cô Ngọc người Hà Nội tản cư, tôi cũng là dân Hà Nội gốc, gặp và quen và thân và yêu. Tôi yêu cô Ngọc”


Anh viết thế nào cũng bị người phụ trách cho là thiếu thành khẩn, chưa đạt. Điền không hiểu thế nào là đạt.

Sau này chuyển trại Cẩm Sơn, anh mới biết, đạt có nghĩa là nhận tội làm chỉ điểm để máy bay Pháp ném bom.

Thì ra vậy!

Điền ra đi từ ngày Hà Nội khói lửa, anh chiến đấu ở khu chợ Đồng Xuân, đơn vị được lệnh rút qua bên kia sông Hồng, không hiểu từ đâu, anh được điều về làm công tác địch vận ở bộ phận chuyển ngữ, Việt sang Pháp và ngược lại. Điền bất ngờ đến rụng rời là mình bị bắt vì tội danh làm gián điệp cho Pháp.
Số người ăn sắn tù như anh đã hết, họ được tha được minh oan... vô tội. Anh còn lại một mình. Về trại Cẩm Sơn anh mới biết kháng chiến chống Pháp đã thắng lợi.

Trại giam núi Cẩm Sơn khá đông, được chia thành đội, mỗi đội từ 25 đến 30 tù nhân, ghép vào như vậy để hình thành từng bộ phận lao động như trồng rau, chăn nuôi, tưới cây.

Ông Điền đề xuất nuôi dê và ông xin giám thị trưởng trại được đi chăn như ông Tô Vũ đời xưa. Trại trưởng mừng và cho cấp dưới đi mua dê, còn chuồng trại thì do tù làm lấy, không đâu có kỷ luật và nhiều tài vặt như ở trại tù này. Cái gì họ cũng làm được và khéo tay.

Với quyển sách cầm tay, hàng ngày ông Điền lùa đàn dê lên núi Cẩm vừa chăn vừa đọc sách. Sách ông mượn thư viện trại, nhưng là của chị Ngọc lên thăm và cung cấp.


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 27 Tháng Giêng, 2011, 04:33:13 pm
Ngọc về Hà Nội đến thăm nhà mới biết ông chuyển trại và gắn bó thăm nuôi. Nhờ có Ngọc, ông liên lạc được với đồng đội từ khi ở bộ đội thủ đô. Thế là tròn 15 năm mới có tin tức và Điền được tự do, và Mỹ đã ném bom miền Bắc. Cô Ngọc xinh đẹp ngày nào nay là chị Ngọc thủy chung với anh Điền, nhận lời sống trong cái lán tre lá cũng ở bên này núi Cẩm. Ông Điền chăn dê nuôi gà, bà Ngọc bán quán, may vá nuôi sống nhau. Hai con người Hà Nội gắn bó nhau như tiền định, cùng đi kháng chiến, cùng liên lụy và theo nhau cho đến bây giờ. Cô Ngọc chỉ có thời gian ngắn, riêng Điền lao đao như Thúy Kiều. Kiều nhan sắc tài hoa, còn Điền đẹp trai học giỏi Pháp ngữ và vạ miệng.

Mỗi lần lùa dê lên núi, ông Điền trìu cảm nhìn bạn đời mà ông quý không có một loại ngọc nào sánh được, cho dù đó là ngọc quý lưu ly.

- Máy bay hay đến về chiều, em đừng đi đâu xa nhé, đừng ra gần quốc lộ...

Ngọc đùa:

- Ông Tô Vũ ơi, chính ông mới cần gìn giữ, thằng Mỹ ngồi máy bay nó thấy dê là ông xơi bom đấy.

Đời ông không may chuyện này, hóa hay chuyện khác. Nhờ có Ngọc ông được bù đắp những tháng ngày của cuộc đời còn lại. Nếu Ngọc có với ông một đứa con thì thật đầy ắp trọn vẹn.

Tháng tám ở vùng bán sơn địa nắng màu vàng như hổ phách, sương sớm tan lá rừng biêng biếc và về đêm trời se lạnh. Người dân hai bên sườn núi Sơn Cẩm chờ sương tan là đi hái chè, lứa chè cuối cùng trong năm rồi đẵn cành chờ mùa xuân ra lộc. Một vụ chè mới bắt đầu.

- Máy bay... máy bay... máy bay.

Mặt đất rung chuyển, tiếng bom dội xuống, súng phòng không tầm thấp tầm cao bắn lên trời, tên lửa vạch ngang dọc tìm mục tiêu... Và

- Trúng rồi, bà con ơi rơi rồi... kìa dù đỏ, máy bay cháy.

Một tiếng nổ như quả núi nổ tung vì một nguyên nhân nào đó.

Chiếc dù đỏ lơ lửng rồi rơi đâu đó trong cánh rừng vào huyện Phú Lương, có ai đó bảo sau núi Chúa.

* * *

Khi chiếc xe U-oát dừng trước nhà, vợ chồng ông Điền cũng vừa ăn cơm xong, ông đang điều chỉnh đài bán dẫn để nghe bản tin chiều, bà Ngọc làm việc gì đó phía sau.

Ba bóng người xuất hiện, ba anh bộ đội áo quần giày mũ còn mới. Người đi đầu tiên lên tiếng.

- Xin chào hai bác, chúng tôi là bộ đội ở quân khu.

- Vâng xin chào các anh, nhưng mà các anh tìm ai.

- Chúng tôi đến gặp bác... bác là bác Điền...

- Vâng tôi là Điền đây, các anh gặp tôi có việc gì chứ, mời ngồi tạm uống chén nước.

Cả khách lẫn chủ ngồi quanh bộ bàn ghế trúc vàng không còn mới, nhưng rất ưa nhìn. Loại trúc vàng tỉnh Bắc Kạn. Anh bộ đội có tuổi vào đề:

- Bộ đội ta vừa bắn rơi máy bay trưa nay, tên phi công đã bị bắt đang ở chỗ chúng tôi.

- Vâng.

Ông Điền như muốn nói thì tôi có liên can gì.

- Đồng chí tư lệnh quân khu muốn khai thác để biết ý đồ mà có kế hoạch lập trận địa phòng không. Quân khu không có ai nói thạo tiếng Anh, và đồng chí nhờ bác giúp cho.

- Nghĩa là quân khu nhờ tôi làm thông dịch.

- Vâng thưa... đồng chí.

- Quả thật tôi có biết tiếng Anh, nhưng bỏ lâu rồi, vả lại... tôi xin các anh.

Bà Ngọc từ sau nhà đi ra và nói không kiêng dè:

- Không, chẳng thông dịch thông diếc gì cả, ông đã lao đao lận đận vì nói tiếng Tây với thằng Đờ gì nhỉ... bây giờ nói với thằng Mỹ giặc lái thì tàn đời. Xin các anh tha cho nhà tôi.

- Thưa bác đó là chuyện đau lòng mà khi ra đi đồng chí tư lệnh đã dặn chúng tôi là... Vâng chuyện quá khứ làm bác buồn là phải. Đồng chí tư lệnh quân khu biết và có lần bảo chúng tôi có dịp đến thăm hai bác. Thời chiến mọi chuyện có thể xẩy ra. Bây giờ cả nước dốc lòng dốc sức đánh Mỹ mong bác gái thông cảm để bác ông...

- Không, là tôi nói vậy, ông ấy quyết định, đừng để tôi đi thăm nuôi dài ngày ở trại giam. Bạn bè một thời là trung tá, đại tá... họ có biết chữ Pháp chữ Anh đâu. Ông thì biết giỏi, đến thằng Pháp ấy cứ mẹc xì mẹc xì rối rít để rồi làm một ông Tô Vũ.

Bà nói một tăng như cái lò xo lâu ngày bị dồn nén nay bùng ra.

- Thôi mình ạ, số phận cả thôi, mà tôi có làm điều gì không phải đâu. Bây giờ cả nước đánh Mỹ sao mình lại từ chối. Vả lại đã có ai đuổi tôi ra khỏi hàng ngũ anh bộ đội cụ Hồ, chưa ai cho tôi về hưu giải ngũ cả. Bây giờ quân khu đến đón. Thôi mình để tôi đi. Các anh chờ tôi thay bộ quần áo tươm tất, nói chuyện với ba thằng Mỹ là...

- Thế này bác ạ, bác cứ đến quân khu, mọi thứ đã có sự chuẩn bị đầy đủ cho người lính ra trận.

Ông Điền xúc động nhìn bà Ngọc như nói với vợ: Đó em thấy không...Bà ra tận xe tiễn chồng, xe chạy, bà nhìn sao và như thấy mình năm nào trên đèo Nhe.

                                       
N.L


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 28 Tháng Giêng, 2011, 08:17:45 am
Chuyện kể sau chiến tranh

NGUYỄN THỊ LÊ NA


Chiếc Suzuki chồm lên trên con dốc ngoằn nghoèo ghồ ghề đất đá. Người đàn ông cố giữ lấy tay lái dù vậy vẫn không tránh khỏi quệt vào đám cây cỏ dại ven đường. Xe chạy chậm dần và dừng hẳn trước ngôi nhà tranh thấp lè tè nép bên ngọn đồi heo hút. Người đàn ông khoác chiếc túi xách căng phồng rồi đi thẳng vào nhà vừa lúc ánh chiều sắp tắt.

Nụ lúi húi vật lộn với đám củi ướt, khói xộc vào mắt, vào mũi cay xè không hề biết đến sự hiện diện của người đàn ông lạ mặt. Mãi đến khi thắng bé kéo lay vạt áo:

- Mạ ơi! Có ai hỏi mạ tề!

- Nụ... Nụ không nhận ra anh à? Anh đây mà! Quân đây mà ...

- Anh ...!

Cả cơ thể Nụ run lên, hai bàn tay lấm lem cứ xoa xoa vào nhau luống cuống vì thừa thãi. Cứ thế, thời gian như ngừng trôi trong ánh mắt sững sờ, trân trối của Nụ nhìn người đàn ông đang đứng trước mặt, nụ cười rạng rỡ trên gương mặt chuyển sắc hồng rồi tái, miệng lắp bắp những lời không rõ nghĩa. Thằng bé không hiểu gì im lặng nép vào mẹ, ngây thơ nhìn chằm chằm vào người khách lạ. Bất chợt, Nụ khóc nấc lên, quay mặt kéo vạt áo lau dòng nước mắt tuôn trào.

- Anh còn tìm tui mần chi nữa! Lâu sau Nụ mới cất tiếng nghẹn ngào.

- Nụ không mời anh vào nhà ư?

Người đàn ông vẫn giữ giọng nhẹ và êm khiến Nụ sực tỉnh cơn mê, quay sang thằng bé:

- Con sang nhà bác Thơm chơi, cho mạ nói chuyện với khách!

- Dạ! Thằng bé ngoan ngoãn, lon ton khuất sau hàng rào.

Nụ tĩnh tâm nhìn kỹ người đàn ông đối diện. Vẫn gương mặt ấy, đôi mắt ấy, nhưng vầng trán cao hơn bởi cái đầu húi cua ba phân, chiếc áo sơ mi sặc sỡ những chim cò bận với chiếc quần Jean bốn túi bạc màu ôm lấy một cơ thế đã bắt đầu nặng nề. Cái con người hiện tại khác với ngày xưa quá; ở anh ta dường như không còn chút hơi hướng của ngày xưa ấy nữa. Ngày ấy, Quân hiền lành, tốt bụng. Bọn con gái trong làng đứa nào cũng mê cái dáng người rắn rỏi, lại thông minh học giỏi và khéo tay. Công việc của Đoàn thanh niên vào tay Quân đều êm chèo mát mái. Nụ xinh đẹp và hiền thục. Hai người phải lòng nhau tự khi nào...

Quân đảo mắt nhìn quanh một lượt, rồi nhìn Nụ:

- Nụ, em gầy đi nhiều quá. Chắc cuộc sống của em vất vả lắm?

- Tui chẳng có chi vất vả cả. Rừng núi vây quanh, bầu bạn, hàng xóm bao bọc. Con cái vui vầy... Còn anh, lâu nay sống có được bình yên không?

- Nụ à, có chút quà cho em với con...

Người đàn ông như không hề để ý đến câu hỏi của Nụ, cúi xuống túi xách rồi lần lượt xếp lên bàn những thứ hàng xa xỉ mà Nụ chưa một lần mơ tới:

- Chắc Nụ giận anh nhiều lắm, nhưng hôm nay thực lòng anh xin chịu tội với em. Chiến tranh trận mạc, chúng mình không tìm được nhau. Giờ anh cầu xin em để hai cha con về sống với nhau, không được dài lâu thì dăm bữa nửa tháng cũng được. Cuộc sống ở thị xã dù sao cũng đỡ vất vả hơn...

Quân nói một mạch không hề biết Nụ đang thực sự hoảng hốt:

 - Anh nói răng, anh muốn đưa con tui về với anh ư? - Nụ không tin ở tai mình nữa.

- Anh biết như thế em sẽ rất buồn, nhưng dù sao anh là cha nó...

- Anh mà cũng tự nhận mình là cha thằng bé ư? - Đôi mắt thất thần của Nụ nhìn thẳng vào người đàn ông, nước mắt lưng tròng: Thì ra, lâu nay anh đã biết nó là con anh rồi? Vậy bao năm nay đi đâu, răng anh không một lần hỏi thăm, anh có biết mạ con tui đã sống thế nào không? Bây chừ anh còn muốn đưa nó đi...

Sự uất ức khiến Nụ nói không hết câu. Cảm xúc gợn lên khi nhìn thấy người mình trọn đời tôn thờ, yêu dấu phút đầu qua đi. Dường như nỗi đau dồn nén đã lâu nay có dịp bùng lên như ngọn lửa, gương mặt Nụ đanh lại:

- Nếu anh đến đây chỉ vì mục đích đó thì anh về đi và đừng bao giờ đến đây nữa!

- Nụ... anh xin em...

Quân nói chưa hết câu, Nụ gắt lên:

- Anh đi đi.

Người đàn ông đứng lên lầm lũi đi trong bóng đêm vừa sập xuống. Gương mặt rắn đanh, xám lại vì thất vọng và tức giận.

Chiếc xe chồm lên lao vào bóng tối, nhả lại làn khói đen kịt cùng mùi xăng khen khét xộc vào mũi. Nụ nằm vật ra giường. Sự việc quá đột ngột, quá phũ phàng làm Nụ không còn kịp trở tay, không kịp suy nghĩ. Đôi mắt nhìn hun hút vào màn đêm dày đặc bao phủ, mặc cho đàn muỗi vo ve quanh mình. Nụ quay cuồng với bao ý nghĩ. Làm thế nào bây giờ? Thằng bé là kết quả của tình yêu nồng thắm đầu đời của Nụ... Một đêm, máy bay đánh vào làng, cha mẹ và đứa em trai còn nhỏ của Nụ ở trong hầm bị trúng bom. Đêm đó, Nụ đi trực chiến ở bờ biển. Quân đã nhặt từng mảnh xác của mỗi người, chôn cất tử tế. Điều đó càng làm Nụ yêu Quân hơn. Quân như người cha, như người anh trụ cột trong gia đình Nụ. Nhưng rồi Quân cũng ra đi. Anh nhập ngũ ít ngày sau đó. Quân đi rồi, Nụ đứng ngồi không yên cũng hăng hái ghi tên vào thanh niên xung phong với hy vọng gặp lại Quân ở chiến trường. Tiểu đội của Nụ chốt ở cung 20, đoạn có ngầm Ta Lê, nằm phía Tây Trường Sơn, suốt ngày san lấp hố bom thông đường cho xe qua. Vẫn chưa gặp lại Quân. Cứ mội lần nhìn bộ đội hành quân vào , Nụ không kìm mình  được cứ hét toáng lên hỏi có ai là Quân làng Trung Lộc trong đó không! Đáp lại Nụ, ai cũng nhận mình là Quân cả. Sau mỗi lần như thế, Nụ lại buồn nhưng cứ tin vào hy vọng. Sự trẻ trung trong sáng của những trái tim thiếu nữ như thách thức tất cả, bom đạn, chết chóc, mọi eo xèo căng thẳng của chiến tranh gần như chỉ làm họ thêm cứng cáp.

Không biết Quân có nghe thấu  những thổn thức trong lòng Nụ không, mà buổi sáng ấy, một buổi sáng như thực như mơ của chiến trường, họ đã gặp nhau. Sau một đợt thông đường, Nụ đang ngồi bên con suối kỳ cọ những lớp đất còn dính bết hai bàn chân, thì Tím hớt hải chạy đến: "Nụ ơi! Có anh bộ đội tìm mi tề!" Như có linh tính mách bảo, Nụ biết đó là Quân. "Là anh Quân đó, Quân của tao đó!" Nỗi vui mừng chảy tràn trên cả khuôn mặt vẫn còn lấm lem của Nụ. Họ cứ ghì chặt lấy nhau như đã xa nhau cả thế kỷ. Một tiếng đồng hồ cho một cuộc gặp gỡ quả là quá ít so với việc Quân chạy bộ 50 cây số đến gặp người yêu. Tiễn nhau đến một khoang cỏ, hai người dùng dằng, không nỡ chia tay, sợ ngày mai không còn gặp nhau được nữa. Và trong niềm hoang sơ của bạt ngàn cây rừng như che chở, họ đã trao cho nhau nỗi niềm đam mê thánh thiện. Giữa vũ trụ bao la và tình yêu của hai trái tim đang còn rất trẻ, những ràng buộc, những ước lệ của con người đặt ra đã trở thành vô nghĩa. Nụ ngả đầu vào ngực Quân cảm nhận bàn tay của Quân đang vuốt trên mái tóc vẫn đang dày và óng ả: "Anh về báo cáo với đơn vị, rồi chúng mình cưới nhau nghe Nụ?". "Dạ, em sẽ chờ anh. Lâu mấy em cũng chờ!". 


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 28 Tháng Giêng, 2011, 08:19:47 am
- Mạ, mạ ơi! Ông khách về rồi à? Tối thui ri răng mạ không thắp đèn lên?

Tiếng thằng bé lay thức, giục Nụ ngồi dậy.

- Để mạ dọn cơm cho con ăn. Nụ nói và kín đáo lau nước mắt.

- Mạ, răng mạ khóc rứa, ông khách nói chi mạ à?

Nụ không nói gì. Thằng bé xích lại gần chị hơn, thỏ thẻ:

- Mạ ơi, bác Thơm nói cha con cũng có chiếc xe vừa to vừa đẹp như của ông khách đó, đúng không mạ? Không biết khi mô cha lên đây mạ hè?

Nụ lau vội dòng nước mắt nhìn thắng bé trân trân, nói như quát:

- Không phải rứa mô, con đừng nghe tầm bậy!

Rồi như thấy mình vô lý, Nụ dịu dàng:

- Thôi, ăn cơm đi kẻo đói, con!

Thằng bé bưng bát cơm vẫn không thôi nhìn Nụ dò xét. Còn chị thì nhìn nó với bao nỗi yêu thương, bao niềm tủi cực. Đã mười tuổi mà trông nó còm cõi như đưa bé lên sáu, lên bảy. Gầy nhẵng, xanh xao đến tội nghiệp. Những ngày tháng vất vả dọc các tuyến đường đạn bom rồi đến lâm trường trồng rừng, thằng bé đã không đủ dinh dưỡng...

Nụ cắp cái rá định sang nhà Thơm vay lon gạo nấu cháo cho con thì giật mình bởi âm thanh của tiếng động cơ chói tai đến gần. Lại là anh ta. Lần này anh ta đi cùng một phụ nữ thật sang trọng. Vẻ quý phái toát ra từ quần áo, dáng đi, và cả những đồ trang sức trên người cô ta nữa. Chưa kịp định thần, người phụ nữ tự giới thiệu mình là vợ Quân rồi nói luôn không cần rào đón:

- Chị Nụ à! Chắc chị đã hiểu mục đích của vợ chồng em lên đây. Em biết chị đã chịu nhiều khổ sở, nhưng không lẽ cuộc đời chị đã khổ rồi còn để thằng bé phải khổ theo. Em mong chị hãy để nó về sống với chúng em. Em hứa sẽ thương yêu chăm sóc nó như con đẻ của mình...

Người phụ nữ dừng lời, lôi từ túi xách ra một gói vuông vức được gói ghém cẩn thận, dè dặt đẩy về phía Nụ.

- Chị à, đây là chút lòng thành, em mong chị hãy nhận lấy. Chị cũng đã vất vả nuôi thằng bé bao năm...

Quân đệm thêm lời vợ:

- Đây là số tiền đủ giúp Nụ tạo lập cuộc sống mới, Nụ có thể...

Nụ im lặng. Vợ chồng Quân nín thở dõi mắt theo từng cử chỉ của Nụ. Nụ cầm lấy gói  tiền to như viên gạch bọc trong giấy báo, hiểu rằng người ta đang trả cho tuổi thanh xuân của mình. Ngày Quân trở về đơn vị, lòng Nụ như có một khoảng trống không thể gì lấp đầy được. Lại càng lo lắng hơn khi Nụ cảm thấy cơ thể mình có những biểu hiện khang khác. Tháng thứ nhất, thứ hai còn là những nghi ngờ, nhưng đến tháng thứ ba thì Nụ không thể giấu được. Cả tiểu đội xôn xao. Nụ bị truy bức, chất vấn, dằn lên dằn xuống như một kẻ tội phạm. Đứa bé trong bụng cứ lớn dần lên cùng với những thấp thỏm đợi chờ của mẹ. Mỗi loạt bom dội về là trái tim Nụ thêm một lần nhức nhối... Nụ không biết, hay đúng hơn là Nụ không tin mình đủ sức đợi chờ xoay xở giữa rừng Trường Sơn ra sao để sinh con và chờ Quân quay lại. Nhưng gần nửa năm trôi qua, Quân vẫn bặt vô âm tín.

Giữa lúc Nụ phải sống dở chết dở vì những nguyên tắc của tổ chức thì chiến tránh kết thúc. Người ta vui niềm vui chiến thắng nên không mấy ai còn nhớ đến chuyện riêng của Nụ nữa. Thế nhưng, sinh con ở chiến trường cũng khó, mà mang cái bụng vượt mặt về quê lại càng khó hơn khi không có Quân bên cạnh. Chao ơi! Hạnh phúc! Nụ sắp có con. Hạnh phúc đấy nhưng ai sẽ chấp nhận cái hạnh phúc mà Nụ đang có? Nụ hiểu rằng gia đình Quân sẽ không chấp nhận đứa bé khi không có chí ít một lời của Quân. Nụ đành xin chuyển về làm công nhân ở lâm trường Khe Su với hy vọng rằng Quân sẽ tìm đến.

Thấm thoắt đã mười năm, Nụ lấy Trường Sơn đặt tên con để mãi mãi hoài niệm về những điều không bao giờ cũ. Thằng bé lớn lên trong sự âm thầm chịu đựng đan xen những thấp thỏm đợi chờ của mẹ. "Hãy chờ anh nghe Nụ ..." Chỉ một câu hẹn hò mà Nụ đã bỏ quên cả thời con gái. Bao năm qua, chiến tranh đã kết thúc, Quân đi đâu, sao không trở lại tìm Nụ như đã hứa? Hay anh đã vĩnh viễn nằm lại một góc chiến trường nào đó rồi chăng? Ý nghĩ đó làm tim Nụ nhói đau. Thời thiếu nữ đã trôi vào quá khứ, Nụ lấy cuộc sống của con để tạo niềm vui và lãng quên số phận. Nhưng con người đâu phải gỗ đá, chính những cái đời thường nhất lại làm Nụ phải khổ sở. Những đêm một mình đối diện với chính mình, kỷ niệm cũ ở chiến trường cứ len lỏi gặm nhấm trái tim Nụ. Nỗi nhớ Quân lại cồn cào cháy bỏng. Cuộc sống đối với Nụ vốn khắc nghịêt lại càng khắc nghịêt hơn giữa thiếu thốn trăm bề ở vùng xa xôi heo hút này.

Hình như Thượng đế có một lần mỉm cười với Nụ. Nụ được tin Quân đã về. Mẹ con Nụ tươi hẳn lên, ấm áp hẳn lên giữa cái lạnh thấu xương của miền rừng núi mùa đông. Ai cũng vui lây niềm vui đang ngời lên trong từng ánh mắt, lời nói của Nụ. Cứ nghĩ đến giây phút gặp lại Quân, Nụ bước đi mà không hề cảm nhận được những đợt gió rét cứ táp vào mặt. Đôi chân đưa Nụ về đến ngõ nhà Quân lúc nào không biết. Nụ đứng tần ngần trước ngõ hồi lâu. Không biết bây giờ Quân thế nào? Anh ấy có nhận ra bé Sơn ngay không nhỉ? Nó giống anh ấy như tạc, mà... mình cũng già đi nhiều, liệu... "Ai như cô Nụ đã về thế?". Tiếng bà Bung làm Nụ giật mình. "Ôi! Bác Bung! Bác làm chi mà đi đường này?". "Ờ, sang giúp bà Tùng lo tổ chức lễ cưới cho thằng Quân đó!" "Bác nói răng? Anh Quân cưới vợ à? Cưới ai?" "Nghe đâu cô vợ là con một ông to ở Bộ cơ! Mà cũng mừng cho ông bà Tùng, bao năm vò võ mong con, cứ tưởng nó hy sinh rồi ấy chứ?" Nụ không tin ở tai mình nữa. Đã từng chịu đựng bao hoàn cảnh mà giờ Nụ thấy đất trời như chao đảo dưới chân. Làm sao có thể tin được một điều đang có thực, rằng cái anh bộ đội trẻ trung đã từng vượt bộ 50 cây số để đến gặp người yêu một giờ đồng hồ, giờ vai đeo quân hàm trung tá đỏ thắm, rằng cái anh bộ đội đã từng hứa hẹn Nụ đợi chờ đang sánh duyên cùng con gái một cấp cao ở Bộ... Hóa ra những gì Nụ ấp ủ lâu nay chỉ là cơn gió thoảng qua. Sao số phận lại trêu ngươi cuộc đời của Nụ chứ, cơn cớ gì Nụ lại trở về đúng hôm nay mà không phải một ngày nào khác? Cơn cớ gì con chị lại phải chứng kiến cảnh trớ trêu này? Giờ thì còn gì để Nụ ở lại đây thêm nữa. Nụ âm thầm lặng lẽ dắt con trở lại lâm trường trước bao ánh mắt ngỡ ngàng của mọi người. Nỗi đau đớn ê chề choán lấy tâm hồn Nụ. Nhưng liền đấy chợt lòng quyết tâm một niềm tin sắt đá rằng Quân của Nụ đã chết, chết thực sự trên cõi đời này; và rằng, bé Sơn là của riêng chị, duy nhất chị.

Quân nhìn bàn tay Nụ run run khi cầm gói tiền, khẽ nhếch mép cười, vẻ đắc thắng. Nhưng Nụ không cất gói tiền vào rương như anh ta tưởng, chị khẽ cười và bất ngờ vung tay ném ra sân.

- Tui không không ngờ anh là một kẻ bạc tình bạc nghĩa lại bạc nhược đến thế. Tui thiếu thốn cực khổ thật, nhưng không hề bán con. Các người định dùng những đồng tiền này để mua con tui ư? Để đền bù cho quá khứ tủi nhục và tuổi thanh xuân của tui ư? Các người định sắp xếp cho tương lại của tui ư? Sao các người lại có thể nhẫn tâm thế nớ?

Quân hoảng hốt chồm theo nhặt lại những đồng tiền xanh màu lá cây bay tung tóe. Còn người vợ vẫn nhỏ nhẹ, dường như lường trước được sự việc:

- Chị, em biết chị giận anh Quân là đúng, nhưng vì hoàn cảnh...

- Phải, bây giờ các người đổ lỗi cho hoàn cảnh, nhưng đã mười năm rồi chứ có phải ngày một ngày hai mô!

Nụ lẳng lặng đến bên con, ôm chặt lấy thằng bé như sợ có ai cướp mất. Trong mê ngủ thằng bé quờ tay ôm lấy mẹ như bản năng vô thức.

- Các người về đi. Tui không cần những thứ các người mang đến. Cầm lấy và đi đi.

Nụ rít lên, lời nói bật ra từ cuống họng chỉ đủ cho vợ chồng Quân nghe với tất cả sự uất ức, tủi nhục. Nụ ngồi bệt xuống thềm nhà, vỗ về con trong trạng thái hư hư thực thực giữa sự ê chề, đau đớn quyện trong tình mẫu tử trào dâng. Thằng bé là hiện hữu tình yêu của chị, là một phần cơ thể của chị, là niềm tin, là ý chí để chị vượt qua biết bao gian truân, khổ cực. Làm sao ai có thể mua những thứ đó bằng tiền?


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 28 Tháng Giêng, 2011, 08:21:32 am
Đã mấy tháng trời trôi qua kể từ ngày Quân đến cùng vợ, mọi chuyện tưởng như đã ngủ yên dưới tầng ký ức, Nụ cố quên tất cả để sống nuôi dạy bé Sơn khôn lớn bằng tất cả nỗi đau bị phụ bạc và lòng thương con vô bờ bến của một người mẹ làm thay bổn phận người cha. Nhưng số phận lại một lần nữa thử thách bản lĩnh của Nụ. Con người ấy vẫn không buông tha cuộc đời của chị. Quân lại tìm đến nhưng không phải một mình, cũng không phải cùng vợ, mà với bà mẹ. Nụ muốn hét vào mặt anh ta rằng anh là một gã đàn ông tráo trở, bạc nhược, rằng anh ta không đáng để Nụ phải đau khổ đợi chờ vò võ bao năm qua, anh không có quyền đến đây làm khổ mẹ con Nụ thêm nữa. Nhưng trước mắt Nụ là bà Tùng già nua, gương mặt khắc khổ hằn những vết nhăn.

Bà móm mém nhai trầu, vẻ khép nép mở lời:

- Con ơi, mạ là người bạc phước. Sinh được có mỗi mình thằng Quân mà nó không ra chi. Biết được cơ sự thế ni, mạ đã bắt nó đi đón con về, không cho nó cưới người khác...

- Thôi chuyện đã rồi, ván đã đóng thuyền, bác đừng nhắc lại nữa. Nụ khẽ khàng ngắt lời bà Tùng, nước mắt rơm rớm.

- Con nói phải. Chừ nhắc lại khác chi đem dao cứa vết thương cũ. Đứng vào hoàn cảnh con, mạ cũng đau đớn tủi cực lắm. Có điều...

Nụ lại cướp lời:

- Bác hiểu cho con như rứa là được rồi. Thôi, chừ anh Quân đưa bác về, con xin lỗi phải đi tưới mấy luống cây mới ươm.

Nụ nói và nhớm gót bước đi, vẻ dứt khoát không có gì phải nói đi nói lại nữa. Nhưng bà Tùng đã quỳ mọp, phủ phục tấm thân khô đét xuống bàn chân chị. Cả con người bà rung lên trong cơn tuyệt vọng:

- Nụ ơi! Mạ lạy con. Suốt đời này mạ coi con như con dâu của mạ. Trời đang trừng phạt thằng Quân, trừng phạt gia đình mạ. Con vợ nó trời không cho sinh nở. Ông nhà lại đang bị bệnh hiểm nghèo... Mạ xin con cho thằng cu Sơn về ít bữa, ông cháu gặp một lần. Đó là ước nguyện cuối cùng của ông ấy...

Bà Tùng nói và khóc hu hu như trẻ con. Nụ vội đỡ bà Tùng dậy và vùng chạy lên đồi. Chị chạy như bay qua những triền đất sỏi vượt qua đỉnh đồi với những cây mới trồng cao ngang vai người. Chị chạy như người mất hồn, bàn chân gai cào rớm máu tưa tướp. Cuối cùng dừng lại ở một mái đồi trồng toàn cây huện, tán rợp một vùng trời. Đây là những vùng rừng Nụ cùng mấy chị em trong tiểu đội thanh niên xung phong trồng khi mới chuyển về lâm trường. Nó cũng đã được gần mười năm. Chị dừng lại, tựa lưng vào một thân cây, thở dốc. Chao ôi, sự đời sao trớ trêu thế? Vợ Quân không thể có con ư? Người đàn bà giàu có và đài các ấy lại không sinh nở được ư? Nụ thấy bủn rủn cả chân tay, hai đầu gối mình quỵ xuống từ lúc nào. Nỗi buồn thấm tận cùng chân tơ kẽ tóc, thấm cả vào mọi ý nghĩ của chị, đến nỗi chị ngỡ mình là người đàn bà không con kia. Hóa ra, với người đàn bà, nỗi đau không con còn lớn hơn nỗi đau không chồng. Bỗng dưng chị bật khóc. Chị khóc cho thân phận người phụ nữ. Ông Tùng lại bị bệnh hiểm nghèo ư? Việc bà Tùng lọ mọ đến đây xin thằng Sơn về, hẳn bệnh ông đã vào giai đoạn cuối. Ngày xưa, khi Nụ còn ở nhà, trong làng, ông bà Tùng được tiếng là người ăn ở phúc đức nhất. Ở đâu nhà cháy, hầm sập; ở đâu có người bị nạn, ông bà đều lao đi cứu chữa, giúp đỡ, sẻ chia khó khăn. Bây giờ chính ông đang đối diện với cái chết mà không ai có thể giúp gì được. Tự dưng Nụ thấy mềm lòng...

Chị quay trở về, Quân và bà Tùng vẫn còn đợi ở đó. Nghĩa tử là nghĩa tận, chị sẽ cho thằng cu Sơn về thăm ông Tùng. Nhưng chị chưa kịp mở lời thì cu Sơn đi học đã về, nhanh miệng chào khách. Cậu chàng đi chiếc xe đạp của mẹ, không ngồi được trên yên, đành ngồi lên chỗ uốn cong của hai thanh xiên, trông rất buồn cười. Nhìn mặt Quân cứ nghệt ra khi trông thấy thằng bé, khiến sự co kéo trong Nụ lại dâng lên tức nghẹn lồng ngực. Hơn mười năm chị vật vã nuôi con một mình, vật vã với nỗi đau sinh nở, vật vã với dư luận xã hội, vật vã với thiếu thốn, tủi cực. Vậy mà, anh ta lặng câm ở chân trời góc bể nào đó! Giờ để thằng bé về dưới đó, nó sẽ như chim tìm được đàn, như sông tìm được biển, biết nó có còn nhớ tới mẹ không? Làm sao chị sống nổi nếu thiếu thằng bé, thiếu đi niềm hạnh phúc nhỏ nhoi, thiếu đi chỗ dựa duy nhất và cũng là vũ trụ bao la ấy.

Thằng Sơn đẩy xe vào nhà và đi ra sau giếng rửa mặt. Bà Tùng nhìn theo giọt máu của mình, nụ cười giãn rộng, đôi mắt già nua cũng nheo cười. Nụ chợt thấy thương hại cho cả hai mẹ con bà Tùng, liền lên tiếng:

- Thưa bác, nghĩa tử là nghĩa tận, con sẽ cho cháu Sơn về thăm ông nội nó ít ngày.

- Mạ ơn con lắm, Nụ ạ - Bà Tùng nhanh nhảu nói, cầm lấy bàn tay Nụ, nước mắt rơm rớm.

- Anh cám ơn em lắm lắm - Quân rối rít tiếp lời, khom  người muốn cầm tay Nụ nhưng lại không dám.

- Nhưng để con hỏi ý kiến cháu nó đã, bác ạ.

Nụ nói với bà Tùng, không hề để ý đến Quân. Chị ra kéo cu Sơn vào buồng. Hai mạ con ngồi lên chiếc giường ngủ. Đầu óc Nụ rối tung lên, không biết nên bắt đầu từ đâu, nói thế nào cho con trai hiểu. Chị vừa nghĩ vừa đưa tay vuốt lại mặt chiếu cho phẳng, bất ngờ chạm phải cái gì ghồ lên ở góc chiếu. Nụ tò mò lật ra, thấy một bọc quần áo của bé Sơn đã gói ghém cẩn thận ở đó tự lúc nào.

- Sơn, con nghe mạ hỏi! Con gói quần áo làm chi mà không nói cho mạ biết?

- Dạ... con....

- Con... Có phải con biết hết chuyện rồi không?

- Dạ... Hôm trước bác Thơm nói cho con nghe hết, bác còn nói ông nội ốm rất nặng... Con muốn... nhưng con sợ mạ...

Nụ nhìn thằng bé sững sờ, rồi bất chợt chị ôm chầm lấy con. Ra thế! Người ta bảo lá rụng về cội, quả không sai. Nụ chợt thấy nhẹ nhõm trong lòng khi nghĩ rằng con mình đã lớn, đã là bạn của mình được rồi. Chị định mắng cho nó mấy câu, nhưng không hiểu sao lại nói:

- Sơn này, con nên đưa nhiều quần áo đi theo. Về dưới đó, có thể con phải ở lại lâu với ông bà nội.
Nói rồi. Nụ quay mặt lén lau dòng nước mắt nhạt nhoà trên má.

- Mạ, mạ đừng khóc, con về thăm ông rồi quay về với mạ...

Tiễn bà cháu, cha con đi một quãng, Nụ bước thấp bước cao trên con đường ngoằn nghoèo đầy cây cỏ dại về căn nhà tranh quen thuộc. Cô đơn và trống trải dâng ngập cõi lòng. Chưa bao giờ chị có cảm giác chơi vơi, hụt hẫng như lúc này. Mặt trời ối đỏ như máu nghiêng hẳn về phía núi. Nụ nhóm bếp nấu cơm cố đánh tan cảm giác đơn độc. Khói bếp như làn mây mỏng luồn qua chái bếp. Không biết khói bếp hay một cái gì khác làm mắt chị cay cay.

                           
Tháng 07/2003
                                N.T.L.N


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 28 Tháng Giêng, 2011, 08:46:16 am
Người chợ Kệ

DƯƠNG ĐỨC KHÁNH


Cho đến thời buổi này, cái chợ làng Thanh vẫn đông một khúm lèo tèo dưới tán cây sen cổ thụ vào buổi chiều xế. Vẫn làng tàng, xập xệ như cái tên gọi xưa nay: Chợ Kệ!. Cái tên chẳng ăn nhập gì đến tên làng, tên đất nhưng nó gắn liền với bản chất xuề xòa, nhân hậu của những lớp người quê bao đời nghèo khó.

Người làng kể, thuở trước ven sông Bồ cứ hai ba làng mới có được cái chợ. Chợ làng Thanh đông đúc cũng nhờ người làng dưới làng trên. Một hôm có người đàn bà làng Hạ mang thai sắp đến ngày sinh nở, đang giữa buổi chợ chiều sắp tan bỗng đau trở dạ. Vật vã, rên la đến ngất lịm! Cả chợ xúm lại. Là đàn bà với nhau, cũng từng qua lần đi biển mồ côi nên ai cũng cảm thấy quặn lòng. Thế là mỗi người một tay, kẻ giúp chăn người giúp chiếu. Cuộc vượt cạn nơi góc lều quán chợ cũng mẹ tròn con vuông!

Chuyện phúc đức là vậy nhưng về sau có người ác mồm ác miệng rằng: Đàn bà làng khác đến đẻ rơi đẻ rớt giữa chợ làng mình là điềm xui, điềm gở! Có ngày cũng “chợ tàn làng mạt!”… Mụ Thợ Rèn - người ra tay bà đỡ bất đắc dĩ hôm ấy thì ngoe nguẩy xua tay: “Ôi dào! Ông trời có mắt, mình cứ ăn ở cho phải, ai nói chi mặc kệ! Cứ “kệ” là qua hết!”. Rứa là chợ Kệ có tên từ đó.

Chẳng biết ông trời có bao giờ trông thấu, nhưng lòng dạ Mụ Thợ Rèn và những câu chuyện quanh cái sự “kệ” của mụ thì mấy đời người làng cũng còn nhắc.

Cái lò rèn - cơ nghiệp một đời của vợ chồng mụ là mái tranh cũ kỹ, xiêu vẹo trên mỏm đất đầu bến chợ. Ông Thợ Rèn người gầy gò, chậm chạp, nhưng bù lại, mụ to cao, chắc nịch, lanh lợi khó ai bì. Mụ ngồi trên sạp tre cao nghệu, lừng lững như một nữ tướng, hai cánh tay phì phụt hai ống bễ đen sì như hai nòng đại bác trong Thành Nội. Mỗi bận sắt chín đỏ, ông gắp ra đặt lên đe là mụ nhảy xuống, thủ búa tạ. Nghề cả đời quen rồi. Cứ nhìn mụ vã mồ hôi hì huỵch giáng một loạt mấy chục búa rúng rính mặt đất, đàn ông sức vóc cũng phải ngao ngán!

Người giỏi giang thường nặng tật. Mụ có máu mê coi đua ghe - là một cây cổ vũ hăng nhất làng. Cứ hễ đến dịp làng mở hội đua ghe là có phải rèn gươm cho vua thì mụ cũng dẹp, cũng kệ! Và bất kể gần xa, làng nào tổ chức đua, có ghe làng Thanh tham dự là có mặt mụ. Mụ thức nửa đêm, nấu cả mủng xôi bưng theo. Tới nơi mụ phân phát cho những tay đua người làng người một vắt to tướng trước giờ vào cuộc.
Mụ đứng trên bờ, mỗi bận ghe làng lướt ngang là mụ lao xuống nước, cầm nón vừa tát vừa “Dô khoan la hè! Dô khoan la hè!”. Bận nọ ở bến Lở làng Hạ Lang, mụ say sưa hô tát, khum lên khum xuống một hồi, cái quần lĩnh lưng vận sũng nước, tuột luốt! Mụ mặc kệ! Nước sông Bồ thì trong leo lẻo. Đàn ông trên bờ vừa la vừa cười hô hố! Mụ cứ tát, cứ hô cho tới khi ghe làng qua khỏi, mụ quăng theo luôn cái nón móp méo tơi tả rồi mới thủng thẳng, kéo quần lên!... Lần ấy ghe làng về “nhứt phá”, giựt luôn giải “tam liên thắng”, cờ trống tưng bừng mặt sông! Mụ vừa đi vừa chạy trên bờ, tay vung lên trời: “Nhờ tau đó! Nhờ tau đó!”

Có lẽ thường “mặc kệ cái sự đời” như thế nên mụ mới đặt cho người con trai duy nhất tên là Tùy. Người làng gọi là Tùy “say”. Người chú thấp đậm, tính khí cũng “tào lao xịt bộp” giống mụ mười mươi, chỉ khác là sau này chú không theo được nghề thợ rèn. Hồi ấy làng nước bom đạn triền miên, trai tráng phải chui nhủi trốn tránh nạn quân dịch. Một lần bị bọn cảnh sát bao vây, bí quá, chú nhảy thỏm vô ngồi trong lu dú chuối. Biết bọn chuyên ăn bẩn, tay chú kẹp sẵn tờ bạc một trăm giơ lên. Một thằng giở lu liền chụp ngay tờ bạc rồi giả bộ chửi đổng, kéo cả bọn lùng sục nơi khác. Lần đó chú thoát. Nhưng cũng không ít lần chú bị bọn chúng rượt đuổi, chạy trối chết!

Về sau sẵn mấy sào ruộng ông bà để lại, chú dựng lều đêm ngủ luôn ngoài đồng. Rứa mà được lắm việc. Ban đêm giữa đồng có thể nhìn hút tầm mắt tận chân núi, đêm nào trực thăng cũng thả pháo sáng quanh các căn cứ Mỹ. Chú thức cả đêm, ngồi đoán tọa độ những chiếc dù rơi. Mờ sáng chú cắt đường đồng, và dường như mười chiếc dù rơi xuống đồng làng là vào tay chú hết bảy! Nhà chú mền mùng các thứ toàn bằng vải dù. Thằng cu Rớt con chú cũng mặc tà lỏn bằng vải dù, thấy cả chùm “ớt cà” lồ lộ. Chú còn mấy cái để dành lúc xóm giềng có đám tiệc, chú cho mượn che rạp. Hôm đạp lúa xong, chú đem cái dù mới tinh bung ra đậy luôn đụn rơm mới xây. Ui chao, nó vừa vành vạnh, có sẵn cả cái lỗ tròn trên chóp vừa tròng vào đỉnh trụ, cứ y như là nước Mỹ sản xuất chỉ cho chú đậy đụn rơm không bằng! Hàng xóm nhìn qua kêu: “Chà, Tùy chơi sang như Mỹ hè! Chú đứng phủi phủi tay, giọng tưng tửng: “Chiều qua, tui mới “đánh” một cú tê-lê-phôn khẩn cấp cho tụi Mỹ: A lô, trời sắp mưa dầm rồi, gởi cho tau thêm cái nữa đậy đụn rơm chơi! Rứa là sáng ni tui ra đầu cồn… nhận hàng! Hề hề... ”

Mấy bữa trời lụt, dân chợ ít ai sẵn xuồng ghe, phải lội nước lở cả chân. Còn chú thì ung dung ngồi gọn lỏn trong chiếc “ca-nô” bằng cái vỏ xốp đựng quả đạn quả bom gì đó của Mỹ, có mũi có lái đàng hoàng. Tay chú sai sải cây dầm đôi bơi ra ghếch lên nền miếu góc chợ ngồi rung đùi uống rượu tỉnh khô!... Bác Đới thợ hàng mã ngồi trong nhà ới ra: “Bộ mới “đánh dây thép” nữa hả Tùy!” - “Ơ… cái ni là hắn “gởi trực tiếp”. Chiều qua tui đang đứng giữa đồng… một thằng L 19 bay ngang, tui chỉ tay xuống ra dấu: Lụt! lụt! Rứa là hắn bay vòng lại, thả xuống! Hề… ”

Cái nền miếu cạnh cây sen góc chợ là chỗ tụ tập chơi đùa của lũ con nít. Chú thường ra đó ngồi uống rượu, chú nói: “Ngồi đây, cảnh sát có ụp tới cũng nhiều đường mà chạy!”. Nói vậy chớ tới lúc ngà ngà, chú hát hò một hồi, gió sông thổi lên hiu hiu là chú lăn ra ngủ khò. Trời có sập chú cũng kệ!... Ruộng mấy sào, cày bừa xong là giao sấp cho vợ con, say sưa nhưng cũng chẳng phiền hà chi ai. Cứ mỗi chuyến đò là có mấy o bán rượu làng Phước Yên, Hương Cần gánh ngang qua. Mối quen cả. Mấy o cứ việc đong đầy bi-đông thoải mái cho chú, rồi tới mùa, chú đong lúa đong nếp lại cho mấy o nấu rượu. Rứa là huề!

Ở làng thời đó người rượu chè say sưa như chú cũng hiếm. Đàn ông trai tráng lớp thoát ly theo Giải phóng, còn lại cũng bị bắt quân dịch cả. Mấy lão nông thì chiều về thường ghé quán mụ Gái, móc đồng bạc kẽm, đứng tợp vài ly là vác cày vác cuốc về nhà, chẳng ai uống kiểu “đong lúa” như chú.
Đến chiều nọ, chú đang ngồi khề khà vừa nhìn bọn trẻ chơi túm rễ sen đánh đu, bỗng từ đàng xa lù lù… một thằng Mỹ, tay cầm chai rượu bước chệnh bước choạng, miệng như đang hát nghêu ngao. Lúc đầu tưởng tụi lính, chú tính nhớm cẳng chạy. Nhưng bọn trẻ thì biết rõ, đó là thằng Mỹ “say” trong cái tốp lính Mỹ “chạy làng”!... Đêm căn cứ Ti-bon trên núi Mệ bị pháo quân giải phóng tấn công, cả trái núi đỏ lựng như hòn than khổng lồ... Mờ sáng, cái thứ bay dạt về đồng làng không phải là những chiếc dù mà là… một tốp lính Mỹ te tua xơ mướp bị đẩy xuống từ một chiếc trực thăng! Chúng la ó hoảng loạn, xí lô xí la như bồ chao bể tổ một hồi rồi thất thểu kéo nhau vô náu trong nhà thờ hoang.

Chiều nào bọn trẻ ra cồn thả diều cũng gặp những cái đầu vàng cháy gục xuống rũ rượi, mũ sắt úp xuống cỏ, ngồi ôm súng ngóng phía góc trời. Lúc sau chiếc trực thăng liệng tới, thả xuống mấy thùng vuông. Cả tốp xúm lại, lao nhao quanh một thằng cầm một xấp dày những bức thư… Những bàn tay to bè run run từng tấm ảnh áp vào ngực, rồi hôn lấy hôn để, mắt mũi giàn giụa… Có thằng đang đọc thư bỗng bật lên quay quắt như điên dại… Những chai rượu được bật nắp, tu ừng ực… Rồi từng loạt đạn điên loạn bắn xối xả lên trời lẫn tiếng gào thét. Từng gương mặt đỏ ngầu vằn lên giận dữ như đang nguyền rủa một ai đó…


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 28 Tháng Giêng, 2011, 08:48:09 am
Bọn trẻ quen mặt thằng Mỹ “say” bởi mỗi lần từ ngoài cồn kéo về, hắn thường lếch thếch sau chót, chẳng hàng ngũ chi cả. Mặt mũi lơ lơ láo láo như thằng hề. Cái mũ có hình con ó trắng hắn đội quay ngược đằng sau… Mấy bữa nay hắn thường lang thang dọc đường làng, nghêu ngao những bài hát tiếng Việt như con nít nói ngọng. Bọn trẻ cứ chạy theo cười rần rần! Hôm đi ngang vạt mía hắn bẻ một cây rồi cầm cả cây mía dài ngoằng, cạp ngang ngấu nghiến khiến bọn trẻ cười nôn ruột!...

Lúc hắn khệnh khạng tiến lại gần, bọn trẻ cười rộ lên. Chú Tùy cũng đang hứng, giơ giơ cái bi-đông vẫy vẫy. Rứa là hai ông thần men hút lại! Bi- đông và chai cụng nhau cái cốp! Chú Tùy vỗ vỗ ra dấu mời hắn ngồi xuống nền miếu.

- “Hê lô!... du… tên chi? Chú Tùy hỏi, pha tiếng Mỹ học lóm rồi chỉ vào mấy chữ trên túi áo hắn.

- Tô ny Phớt sờ! Hắn nói.

- À, rứa là tên Phớt!... Phớt là “phớt tỉnh ăng lê”... Mình tên là Tùy - Tùy chợ Kệ! Ô kê!... Uống!...
Qua-Việt-Nam- bao-lâu-rồi?

Hắn gật gật rồi đưa hai ngón tay: “Hai... nam!”

Chú vỗ đùi cái bốp: Ha! Rứa là nói tiếng Việt được! Ô kê! ... Mình là... chống quân dịch - không thèm đi lính! ... Đánh thuê - chết uổng mạng! Hiểu chưa? Ở đây - uống-rượu-hát hò chơi! ... Chờ hòa bình... Về nước-với-vợ-con! Hiểu chưa! ... Uống! Khà... Ngon không? Ngon hơn Uyt-ky không?

- Ô kê! Num bờ oan! Tuyet!Tuyet!...

Rượu ngấm. Chú bắt đầu hát, rồi hò… Hắn ngồi nghểnh cổ nhìn rồi gục gặc hát theo.

Bọn trẻ cứ lăn ra mà cười. Đến lúc hắn đứng dậy loạng choạng bước đi, không biết đứa nào đã bày đầu ra bài hát, cả bầy chạy theo vỗ tay hát ghẹo: “Hành quân xa không có tiền mua phở/ Trở lui về mà xin vợ vài trăm!...” Vậy mà cách có mấy buổi chiều hắn đã thuộc, giọng hắn ò ò theo bước đi khật khưỡng: “Hanh quan xa khong co chien mo phọ…”

Và cứ chiều nào chú Tùy gặp thằng Phớt là bọn trẻ cứ như được xem một chương trình ca kịch hò vè tạp lục khỏi mua vé. Mỗi đứa bẻ một nhánh lá sen lót đất, ngồi bệt khoanh tay ngóng cổ chuẩn bị những trận cười nghiêng ngửa.

Một lần, rượu sắp cạn thì dáng một o gánh rượu vừa lên đò. Thường thì o ghé, nhưng nay thấy chú đang nghí ngố với thằng Mỹ, o hoảng hồn sụp nón le te cố chạy cho khỏi… Vạt áo lụa tím bay bay trông càng duyên dáng…

“O ơi!... O Hường!”... Chú kêu giật mấy tiếng o mới khựng lại. Mặt o tái mét, rồi đỏ bừng!... Ngập ngừng một hồi o mới đặt gánh xuống cách một khoảng xa. Bọn trẻ phải xách bi-đông lại. Tay o run lập cập, rượu đổ cả ra đất! Xong o vội vã quẳng gánh chạy.

Cặp mắt xanh lè của thằng Phớt cứ nhìn theo ngây dại… Chú nói: “Đó là o - bán - rượu!”… Rồi giọng chú ngâm vè: “Còn trời còn nước còn non/ Còn o bán rượu/ ta còn say sưa… ta còn say sưa!… Hắn gật gù vẻ đắc ý rồi bẹ theo: “Cọn tròi/ cọn nuoc/ cọn non… Hô hô! Num bờ oan! Tuyet!... Cọn o ba ruou… !
Dứt vè tới hò. Chú gõ lóc cóc nhịp chày điệu hò giã gạo: “Hò hô hố hô… Đáo tới nơi đây…” Lúc cao hứng giọng chú càng thanh, càng vang…

Phía gốc sen đầu dưới, mấy mụ gánh khoai sắn, trầu chè đã lác đác họp chợ chiều. nghe giọng chú hò ai cũng ngong ngóng…

Điệu hò thức dậy trong các mụ một thời trẻ trung xa xưa. Thời làng nước còn yên bình… Những đêm trăng thanh thậm thịch tiếng chày… Gạo trắng mấy cối rồi nhưng tiếng chày tưởng chừng không bao giờ dứt. Mấy mụ thường kể, đôi lúc hết gạo còn đổ cả trấu vô mà giã, mà hò! Trai gái hò đối hò đáp, say sưa tới thâu canh…

“Hò hô hố hô!... Đáo tới nơi đây… ! Tiếng hò càng vang bởi cái giọng ồ ồ của thằng Phớt bẹ theo.

“Ơi cha! Mệ cô cái thằng Tùy say, hết chuyện nghịch tặc nghịch đời chưa! Hắn dạy thằng Mỹ hò!”. Mụ Lé vừa sắp bánh ú bánh tét vào mẹt vừa chửi vừa cười. Mụ Thêm thì lườm đứt con mắt, giọng chanh chua: “Ơi dà! Hò với giã!... Mậu Thân hắn “giã” cả trăm quả ca-nông tàu vô cái làng ni rồi! Chưa bưa à! Răng còn hò với giã!!.”. Mụ đang lầm bầm xỉa xói thì giọng chú Tùy oang oang: “Mấy mụ ơi!... lắng tai mà nghe Mỹ hò giã gạo này… Hò hô hố hô!...”. Chú bắt nhịp.

“Đáo tói noi đay/ đát nuoc la lung/ nghe con chim keu tui cung sơ… Họ hô!...”

“Mấy mụ nghe được chi không? Để tui hò “thông dịch” lại cho mấy mụ nghe: Hò hô… Đáo tới nơi đây/ đất nước lạ lùng/ nghe con chim kêu tui cũng sợ/ gặp con cá vẫy vùng run ví cũng… ờ run! Hò hô!... Đó, mấy mụ nghe hay chưa!...

Mụ Thêm vỗ đùi ra chiều hả hê: “Ờ, không run răng được!... Chết gần hết rồi mới “chạy làng” về đây! Không run răng được!”. Cả chợ cười cái rần. Mụ Lé nổi hứng: “Chà, hò nghe hợp tình chi lạ! Đây, thưởng cho… một đòn bánh tét! Hai anh em ăn cho no mà hò!...” Lại một trận cười.

Mấy cái trò hò hát đã ăn thua gì! Chú còn nghĩ cách bày nhiều trò ngoạn mục khác khiến cả làng phải cười nhiều trận đến khản cổ!...

Đó là buổi chiều trước hôm làng tổ chức đua ghe. Sau mấy ngụm rượu phừng phừng, chú rủ thằng Phớt xuống bến chợ. Thấy chú đứng chỉ chỉ chỏ chỏ ra cột vè giữa sông. Cột vè là một cây tre ngà cắm xuống lòng sông, trên ngọn có lá cờ ngũ sắc phấp phới… Chú đứng múa may giải thích với hắn về điều lệ cuộc đua. Tay chú ra bộ cầm dầm bơi “Hò hồ dô khoan! La hè! La hè!...”. Hắn ra vẻ thích thú gật gật, cười cười “Ô kê! Ô kê!...”


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 28 Tháng Giêng, 2011, 08:49:12 am
Rồi không biết chú dặn dò thế nào mà đến sáng mai, lúc ba hồi trống nổi lên, xóm làng tề tựu đông đủ thì từ phía nhà thờ hoang, dáng thằng Phớt cũng lênh khênh đi ra…

Giọng chú Tùy bô bô, tếu táo: “Xin trình với làng, với bà con: Hôm nay ghe phe Tư - chợ kệ có một tay đua “đại kì khôi” xin tham gia!...” Chú chỉ tay phía thằng Phớt - “Một tay đua đến từ… bên tê đại dương! Hề hề… Xin trình làng!”...

Chú thủ sẳn cái áo thun xanh viền đỏ của đội đua tới dúi dúi vào tay hắn. Hắn lột quần áo lính bỏ gốc sen hăm hở tròng áo thun vào, nhưng đứng kéo mãi cũng không tới quá ngực, cứ như bắt người lớn mặc áo con nít ba tuổi! Hắn đứng cười ngố ngáo rồi hươ tay làm động tác thể dục, bày cả cái bụng đầy lông lá! Cả làng rộ những trận cười vỡ chợ!... Chú Thao người phe Nhì lên tiếng đùa: “Ơ, ghe phe tư chơi chi có Mỹ nữa hè! Ai bơi cho lại!...”

Giọng chú Tùy cà rỡn: “Mỹ dưng mà… thành dân chợ Kệ rồi!... Biết uống rượu Hương Cần, biết hò giã gạo… được mụ Lé thưởng bánh tét đàng hoàng nghe! Hề!...

Đến lúc những đội đua sắp hàng làm lễ vào cuộc, hắn cũng khép nép đứng vào. Và lần lượt như mọi người, hắn cung kính cắm nén nhang lên bàn thờ Thành hoàng nghi ngút khói trầm và bắt chước chắp tay vái ba vái… Lúc ấy bỗng nhiên những tràng cười lặng phắc. Chú Thao cũng đứng gật gù, mỉm mỉm...

Trống nổi lên. Cuộc đua bắt đầu.

Hắn ngồi một cặp với chú Tùy và nhất cử nhất động theo chú… Đến vòng thứ nhì coi bộ hắn đuối! Những nhát chèo bắt đầu rời rạc, lỗi nhịp rồi buông xuôi luôn! Hắn há hốc thở, mặt mày tái mét…

Tới pha lộn vè, các ghe tranh nhau khép vòng quyết liệt. Bỗng bọn trẻ la lên giữa tiếng trống giục và tiếng reo hò: “Ghe phe Tư lật!... Chết cha thằng Phớt chìm rồi!... Khống! Hắn nổi lên! Hắn biết bơi!...
Trong cuộc đua, pha lộn vè là gay go, hấp dẫn nhất, ghe lật là chuyện thường! Kinh nghiệm, sự điêu luyện là lúc này. Nó đòi hỏi những tay đua phải nhanh nhẹn xao nước, rồi phải nhịp nhàng, đồng bộ phóng lên ghe tiếp tục cuộc đua… Nhưng những động tác này đối với một thân hình nặng nề - một người Mỹ như thằng Phớt thì phải học tới “bạc râu” may ra mới theo kịp!... Hắn bị bỏ lại! Chới với giữa cột vè một lúc rồi bơi vô bờ, ngồi thở hồng hộc!...

Thằng Phớt bỏ cuộc, tất nhiên! Nhưng chú Tùy lại thành công thêm một mẻ gây cười để đời cho cả làng…

Thấm thoắt mà đã hơn ba chục năm trời. Tôi - người kể lại câu chuyện này là đứa trẻ “đầu chưa sạch cứt trâu” trong đám trẻ của cái chợ Kệ ngày ấy. Vừa qua, tôi mới gặp lại chú Tùy tại Đồng nai. Lâu ngày chú cháu gặp lại nhau mừng khôn xiết!...

Người làng tôi vào miền Đông lập nghiệp gần hết nửa làng. Mấy năm gần đây bà con đều phất lên nhờ nghề trồng tiêu… Cứ nhìn vườn tiêu xanh mướt, bát ngát hơn hai héc-ta của chú đủ biết cuộc sống gia đình chú sung túc nhường nào… Xấp xỉ sáu mươi, già đến nơi rồi nhưng cái tính “tào lao xịt bộp” của chú vẫn như ngày nào! Lúc tôi mở miệng định hỏi “chiếu lệ” về đời sống… , chú đã xua tay, giọng tưng tửng: “Ui dào, khỏi hỏi!... Tiền bạc tau chừ… lâu lâu phải kêu thím mi… chất ra sân, phơi! Để mối mọt ăn hết!” Thím ngồi bên lườm chú: “Ba mi thì cứ tật tào lao không bỏ, cháu chắt cười cho!” Chú hề hề: “Ơ, chú cháu tui lạ chi nhau! Dân chợ Kệ mà lị!”

…Ngồi khề khà với chú trên bộ sập vuông vức, cao nghệu. Tôi bỗng nhớ cái nền miếu cạnh gốc sen của chú cháu ngày nào, gợi nhắc: “Chú còn nhớ thằng Phớt không chú!” - “Ui chao! Cái thằng bạn Mỹ nhớ đời! Quên răng được… à, mà không biết hắn còn sống hay chết hồi đó rồi!...” - “Hắn còn sống chú ơi!... Năm ngoái cháu về quê, gặp hắn trong đoàn cựu binh Mỹ ghé thăm làng mình, tìm chú quá trời!”. Chú nhảy dựng lên, vỗ đùi bôm bốp: “Ui chao! Rứa à! Thiệt rứa à!”. Tôi tính đùa chú cho vui (nhưng biết đâu có thật rồi cũng nên. Nghe nói mấy năm qua, rất nhiều đoàn cựu binh Mỹ tìm về làng tôi), thấy chú tin như đinh đóng cột, sẵn trớn tôi phịa luôn: “Hắn ghé chợ Kệ, quay phim chụp ảnh không sót chỗ nào!... Rồi còn lại ngồi chỗ nền miếu trầm ngâm xúc động, ra vẻ nhớ chú lắm!”… Chú cứ há hốc nhìn tôi, vỗ đùi lia lịa: “Ui chà!... Rứa cháu thấy hắn có già dữ không?” -“Cũng già nhưng không khác mấy, vẫn cái gương mặt ngố ngáo như hề, gặp là cháu nhận ra liền!”…

Chú nốc liên tiếp hai ly rượu, rồi cao giọng: “Trái đất tròn! Rồi có ngày tau với hắn cũng gặp lại!... À, mà nghe nói hột tiêu của mình phần lớn xuất qua Mỹ!...” Chú vỗ cái bốp: “Rồi! Tau sẽ đi Mỹ!” Rồi chú vỗ bùm bùm xuống bộ sập: “Này, trong này là hai tấn rưỡi, tau đang trữ, chờ giá! Tau sẽ “mần” một chuyến “xuất khẩu tự túc”!... Qua bên đó, tau sẽ đi tìm thằng Phớt! Uống rượu với hắn… hai ba tháng đã đời chơi! Hà!…”
Lúc chia tay tôi đã chếnh choáng, chú còn vỗ vai: “Dứt khoát tau sẽ đi Mỹ! Tau phải gặp lại thằng Phớt mới được!...”

Tôi nói vói lại: “Qua bên đó chú nhớ tổ chức một trận đua ghe… với một buổi hò giã gạo… giới thiệu với nước Mỹ luôn nghe chú!...”

- “Cha cái thằng… con nít nhớ dai!... Dân chợ Kệ! Hề!...

                                   
D.Đ.K


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 28 Tháng Giêng, 2011, 09:06:59 am
Khúc ngoặt của dòng sông

ĐỖ KIM CUÔNG


Nấn ná mãi tôi mới quyết định đi thăm Hiền. Quãng đường hơn trăm cây số, vượt qua đèo Cả không có gì đáng ngại. Chỉ hơn ba giờ đồng hồ ngồi xe đò và hơn một giờ nữa trên chếc xe ngựa của ông Sáu cụt chân là tôi đã có thể tới làng Vĩnh Hiệp Nam, về ghềnh Đá Đỏ. Nhà cô giáo Hiền ở đó.

Thắm - cô học trò tôi đã từng làm chủ nhiệm 3 năm ở khoa Văn cao đẳng sư phạm cũng sống ở đó với mẹ và đi dạy học. Trường trung học cơ sở nơi Thắm dạy học cách nhà 15 cây số... “nhưng chiều thứ bảy nào, dạy xong tiết cuối cùng, muộn mấy em cũng đạp xe về ghềnh Đá Đỏ, thầy ạ - trong một lá thư Thắm viết cho tôi như vậy - Chẳng phải em nhớ mẹ, mà em yêu những mỏm núi đá và con sóng, bờ cát nơi này. Thầy ơi, biển ở đây thật đẹp. Phía bờ đông hầu như quanh năm suốt tháng sóng đánh tơi tả vào ghềnh đá. Vậy mà chỉ cần vượt qua một yên ngựa nhỏ sang phía bờ tây, chui qua dưới tán rừng thông đã gặp bãi cát trắng mịn màng. Mặt nước êm sóng có thể nhìn thấy cả những mảng rêu xanh sâu vài chục sải... Thầy đã nghe thấy địa danh Vũng Rô bao giờ chưa?”.

Tôi không ám ảnh bởi chưa tới được Vũng Rô. Sự chậm trễ nấn ná để thu xếp về ghềnh Đỏ một chuyến xuất phát từ sự cẩn trọng. Tôi không muốn cho mẹ con Hiền phải vỡ mộng. Người thiếu phụ phải chật vật nuôi ba đứa con nhỏ bằng đồng lương giáo viên tiểu học ít ỏi đã quá khổ rồi. Một thời gian dài chị buồn phiền và bị gây khó dễ khi làm việc vì dư luận định kiến bởi có chồng đi lính ngụy? Cơ cực để có được từng cân gạo đong bằng sổ hàng tháng. Khổ vì những bản kiểm điểm theo từng học kỳ, từng năm để được Hội đồng giáo viên xác nhận đủ tiêu chuẩn dạy đám học trò lít nhít ở một làng chài nghèo thiếu chữ. Đã có năm, Hiền không được công nhận là giáo viên dạy giỏi vì có anh cán bộ xã phê bình một cô giáo ngày chủ nhận lại đi bán bánh canh cho con nít... Nhưng cái thời kỳ khốn khó đó, đồng lương giáo viên tiểu học không đủ nuôi sống bốn mẹ con Hiền lại thêm bà mẹ già luôn đau yếu. Hiền nhẫn nhục chịu đựng để thực hiện ý nguyện của người chồng quá cố. Bằng mọi giá Thắm chỉ cho tôi coi những vết sẹo trên cánh tay cô. Đó là kết quả của những ngày hè hai mẹ con Hiền đi vào bãi rác Mỹ ở căn cứ Đông Tác đào sắt vụn, dây thép gai, bán phế liệu. Đi lượm phế liệu cũng phải đi đào trộm. Du kích, bộ đội bắt được sẽ phạt tiền, thu đồ nghề. Tôi không ngờ một cô sinh viên khoa văn lại rành rẽ cả việc gỡ những trái mìn díp, mìn râu, dám cưa cả những trái pháo lép để lấy cát tút bán đồng nát. “Cực lắm thầy ơi!”. Câu nói của cô học trò nhỏ cứa vào lòng tôi. Để xác minh mối quan hệ giữa mẹ con Hiền với một người quá cố từ lâu, tôi cần có thời gian. Tôi không muốn vì sự thiếu cẩn trọng của mình mà làm cho trái tim của Hiền và các con cô nhói đau thêm một lần nữa. Họ đã quen với sự thiếu vắng hình ảnh người cha mười mấy năm nay. Nhưng mỗi lần lên lớp giảng văn, bất chợt nhìn ánh mắt của Thắm, cô học trò nhỏ ngồi ngay bàn thứ hai là tôi nghĩ ngay đến đôi mắt, giọng nói của người lính ngụy trong sư đoàn Thủy quân lục chiến ở chốt Cồn Nổi năm nào.

Nhiều năm đã trôi qua, trong cơn mê mụ, doi đất Cồn Nổi vẫn hiện về. Nhập nhòa trong ký ức hỗn độn của tôi là những rặng tre la ngà, những cây mít, cây bưởi bị bom pháo chém cụt ngọn, lá cành xơ xác bị phá nát từ dạo Mậu Thân. Vài ngôi nhà dân chỉ còn sót lại mảng tường cao chưa tới một mét nham nhở vết đạn... Doi cát ấy, nằm ngay trên bờ bắc của sông Bồ, đã làm cho dòng sông về đến đây gãy khúc, tạo ra bên lở bên bồi. Dăm bảy hộ dân ở làng Hiền Sĩ đã ra cồn dựng nhà lập vườn. Trong cuộc giao tranh “giành đất cắm cờ” mùa xuân 1973, khi bị các sư đoàn ngụy phản kích, bộ đội của Sư đoàn 324 giữ được một nửa cồn. Nửa còn lại do quân ngụy chốt giữ. Khi đại đội bộ binh của tôi tiếp nhận chốt, tình hình chiến sự ở đây đã yên. Phía quân ta và quân ngụy đang sống trong những ngày “hòa hợp”. Ranh giới phân biệt giữa ta và địch chỉ là một lạch nước nhỏ và một căn nhà lợp tranh, phên thưng bằng lồ ô, có bộ bàn ghế đóng bằng tre để hai bên tới ngồi nói chuyện, đấu lý đảm bảo cho các điều khoản 4 bên đã ký ở Paris được thực hiện. Căn nhà đặc biệt ấy được gọi là “nhà hòa hợp”. Cách căn nhà chưa tới 30 mét đã là chốt của chúng tôi và phía bên kia là lính bộ binh của sư đoàn Thủy quân lục chiến ngụy được đánh dấu bằng những lá cờ nửa xanh, nửa đỏ và cờ vàng có 3 sọc.

Chính ở trong ngôi nhà “hòa hợp” và những ngày giữ chốt Cồn Nổi, tôi quen Thực. Theo quy ước, cứ vào 8 giờ sáng thứ 3 và thứ 6 trong tuần, quân ta và quân ngụy cử ra một tổ tới nhà “hòa hợp” để trao đổi, trò chuyện. Những ngày đầu mới gặp nhau, bên nào cũng đưa lý lẽ để thuyết phục phía bên kia mình là chính nghĩa, anh kia xâm lược. Người bảo anh ăn lương Mỹ, cầm súng hại dân bán nước. Kẻ bảo anh dùng súng Nga Xô, Trung cộng tàn phá quê hương... Cãi vã một hồi mãi cũng nhàm chán. Họ mời nhau uống chè BLao, hút thuốc lào Vĩnh Bảo, ăn kẹo mè xửng Huế, kẹo nu ga Hà Nội... Rồi tỉ mẩn hỏi nhau tên tuổi, quê quán. Những họng súng AK, AR15 không còn chỉa vào nhau để dè chừng. Nhưng đêm đêm súng vẫn nổ. Ây là những phát đạn bắn chỉ thiên của một vài chốt ngụy phía bờ nam sông Bồ nghe tiếng chuột chạy rúc rích, hay đàn nhím ăn đọt măng tre tưởng trinh sát, đặc công mò vào. Lâu lâu, một trái mìn gài bị nổ bất chợt. Mìn ở vùng giáp ranh thì nhiều vô kể. Mìn ta gài, mìn địch gài, mìn du kích gài và cả những bẫy mìn dài hàng trăm mét để phòng thủ tuyến chốt trong những ngày tranh chấp. Đêm nào cũng nghe tiếng mìn nổ.

Nhiều năm sau, tôi đọc những cuốn sử, những bài báo tổng kết về chiến tranh cách mạng đã cố dò tìm những chi tiết, sự kiện về cái thời kỳ “hòa hợp” ấy, nhưng ít người nhắc đến. Mặc dù cái thời khắc hy hữu của một cuộc chiến tranh chỉ kéo dài chưa tới 4 tháng. Nhưng tôi không thể quên được Thực, một viên thượng sĩ ở tuyến chốt Cồn Nổi và những người lính ngụy có những cái tên rất Nam Bộ: Tư Thiêm, Út Lượt, Ba Đòn... Giấu sau cái vẻ ngoài của những bộ quần áo rằn ri, xanh xám, mũ sắt, ba lô cồng kềnh súng đạn là những gương mặt sạm đen vì mưa nắng và những mối lo toan sau những cặp mắt mệt mỏi, chán chường. Một lần nói chuyện, Tám Thực cho tôi hay anh là con thứ 7 trong nhà. Cha anh làm nghề dạy học ở Bình Định. Ông cụ mất đã lâu. Tám anh chị em trong nhà đều là thầy cô giáo dạy tiểu học và đệ nhị cấp. Thực học xong trường Sư phạm cộng đồng duyên hải Nha Trang, anh được bổ về dạy học ở Vĩnh Hiệp Nam ngay dưới chân đèo Cả. Anh lấy vợ ở đấy và đã có 3 con. Thực tưởng đã thoát đi lính, chẳng ngờ trong một cuộc dồn quân bắt lính... Những cuộc trò chuyện như vậy rất hạn chế, vì hai bên đều giữ ý. Nhưng hai cụm chốt ở gần nhau nên tôi vẫn thường nhìn thấy Thực và những người lính ngụy. Thỉnh thoảng chúng tôi lấy được gùi rau lang, chuối rừng trên rẫy, anh nuôi lại san sẻ cho những người lính ngụy ở chòi gác phía bên kia một ít. Họ chủ yếu là ăn gạo sấy với đồ hộp.


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 28 Tháng Giêng, 2011, 09:07:51 am
Tháng 10, miền Trung dầm dề trong những cơn mưa. Nhưng ít ai ngờ năm ấy lụt to đến vậy. Mưa có hai ngày đêm nước sông Bồ, sông Hương đã dâng cao nhấn chìm đồng bằng xứ Huế. Cả một dải đất dưới chân bình độ 28 kéo dài từ sông Ô Lâu đến tận sông Bồ trở thành biển nước mênh mông. Doi đất Cồn Nổi chỉ một đêm nước đã nhấn chìm sâu 2 mét. Nhờ có phòng bị trước, chúng tôi đã đóng sẵn những mảng bè lồ ô ở ngay khu vực chốt. Nửa đêm, nước lên đến đâu, bè lồ ô nổi lên tới đấy. Người và súng đạn, lương khô chất cả lên bè cột chặt vào thân mít, cây muỗm to hơn thân người. Chỉ nghe tiếng nước sông réo gào, cuộn chảy. Mưa đổ sầm sập xuống những tấm tăng luôn bị gió giật liên hồi. Vẳng lên trong đêm, tiếng súng bắn chỉ thiên gọi cấp cứu ở một chốt nào đó. Lẫn trong gió cả tiếng người la hét... Rồi lại chìm lấp trong tiếng mưa rơi xối xả.

Hửng sáng, tôi nhìn ra sông không biết đâu là bờ. Chiếc bè của chúng tôi nước dâng lên đã bám tới nửa thân cây muỗm. Làng Lai Bằng, làng Hiền Sĩ chìm trong nước. Rặng tre lồ ô chỉ còn trơ lại vạt lá xanh trên ngọn nổi vật vờ giữa dòng nước bạc. Phía nam Cồn Nổi, nơi đại đội lính ngụy chốt giữ không còn để lại dấu tích. Đứng từ đài quan sát trên ngọn cây muỗm, tôi nhìn không thấy bóng dáng một người lính ngụy. Họ đã chạy đi đâu trong đêm Thủy Tinh nổi giận? Dòng sông mênh mông cuộn chảy cuốn theo những cây rừng to bị đánh bạt gốc từ trên nguồn đổ về. Bầy quạ đậu đen đặc trên những cành cây trụi lá đứng rình rỉa xác một con nai chết trương bụng trôi theo dòng nước.

Sáu ngày sau nước mới rút. Đi trên lớp phù sa nhão nhoẹt chúng tôi sang khu vực chốt phía nam của quân ngụy. Trận lũ cuốn mất một phần đất phía đuôi Cồn Nổi. Hầm hào sụt lở cả. Một người lính ngụy nào đó đã kịp cột cái xoong vào chạc cây xoan chưa bị nước cuối đi. Trong một căn hầm sập, xác một người lính ngụy bị những bao cát đè chỉ chòi một bàn chân lên khỏi mặt bùn. Trong mớ rào gai bùng nhùng của bụi tre lồ ô tôi đã lượm được chiếc ba lô của một người lính ngụy khác. Ngoài mớ áo quần dính bùn đất còn có một gói gạo sấy, nước ngấm gạo đã chua. Và một tập thơ có tên “Rừng dậy men mùa” của Đông Trình. Lần giở qua, tôi biết ngay đấy là chiếc ba lô của Thượng sĩ Thực. Tập thơ ấy, Thực đã mua tại Đà Nẵng, với một dòng chữ viết bằng mực bút bi “Thân yêu tặng Hiền và các con của ba. Hẹn ngày về Gành Đỏ...”. Tôi nhìn quanh quất khu vườn tan tác sau trận lụt. Thực và những người lính dù chạy đi đâu trong đêm nước dâng?...

Cô giáo Hiền không ngăn được nước mắt khi cầm cuốn sách trên tay. Đã bao năm trôi qua, tập thơ được tôi bọc kỹ trong lớp giấy ni-lông “Đúng là nét chữ của chồng em rồi... Ảnh hay đọc sách. Đi đâu có cuốn nào hay là mua và gửi cho mẹ con em cùng đọc”. Hiền đặt cuốn sách lên bàn thờ và thắp nhang. Trong khoảng không gian mờ tỏ, tôi nhận ra tấm ảnh Thực. Ảnh trẻ. Còn rất trẻ. Trên một mảng tường còn thấy treo cả tấm ảnh chụp hai vợ chồng ngày cưới cùng với những tấm bằng khen của Hiền, của Thắm qua từng năm học.

Hiền quay ra bàn nước, nét mặt chị đã tỉnh táo trở lại. “Con Thắm nhắn: Mẹ cố giữ thầy ở lại chơi. Chiều nay tan giờ họp rút kinh nghiệm con sẽ về”. Mới ngoài tuổi 40, nhưng trông Hiền không còn trẻ. Chị phải lo toan vất vả nhiều vì con cái, công việc.
Nắng đã tàn sau dãy Đại Sơn, chỉ còn một chỏm vàng treo trên mỏm Đá Bia. Mỏm đá đen lớn, ngạo nghễ nổi lên giữa đám núi lô xô hiểm trở của vùng đèo Cả. Cách nhà Hiền không xa là ngôi trường tiểu học. Trường đã được xây mới, hai tầng với 10 phòng học khang trang. Hiền đã chỉ cho tôi coi dãy phòng học, nhà trệt còn sót lại sau ngày giải phóng nay đã được tu bổ, thay mái tôn bằng ngói. Những căn phòng học cũ kỹ ấy là nơi Thực đã từng dạy học. Hiền còn khoe: “Anh phó chủ tịch huyện bây giờ từng là học trò của nhà em. Lâu lâu ảnh xuống xã công tác đều ghé thắp hương cho thầy...”.

Tôi lững thững đi ra biển. Con đường mòn chạy dọc theo một bên triền núi một bên là những đìa tôm. Không gian yên tĩnh. Mặt biển xanh lục, từng đợt sóng ào ào đạp vào ghềnh đá. Liệu ở một nơi nào đó, Thực có nghe thấy tiếng lũ trẻ đang ê a đọc bài văng vẳng trong gió và tiếng chim bìm bịp giấu mình trong bãi đầm lầy khua động cả buổi chiều?

                                     
Đ.K.C


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 28 Tháng Giêng, 2011, 02:00:37 pm
Thợ đóng cối xay

ĐỖ KIM CUÔNG


Quán cà phê cây sứ của vợ chồng Tư Hiền nằm ngay mặt tiền con đường nhỏ dẫn ra biển. Quán không trang hoàng đèn xanh đèn đỏ, không quầy két, không người chạy bàn, chỉ dăm ba bộ bàn ghế nhựa rẻ tiền.

Chưa rõ mặt người anh Tư đã đưa đám bàn ghế đặt dưới gốc cây trứng cá, trong lúc đó vợ anh - chị Hiền nhóm lò than đun nước sôi, chế sẵn vào những chiếc phích. Quán lẹp xẹp vậy mà đông khách. Cà phê pha đậm, thơm ngon. Khách uống cà phê sớm là những bác đạp xích lô, xe thồ rỗi việc, dăm anh công an trông coi trong trại tạm giam mắt đỏ ngầu vì phải thức đêm, các bác hưu trí đi tập ngoài bãi biển trở về vừa nghe bản tin buổi sớm, vừa bàn chuyện thế sự. Quán cà phê cóc của anh Tư chị Hiền đã có mặt ở đây cả chục năm trời. Căn hộ cấp bốn trong dãy nhà gia binh bị bao quanh bởi đám dây thép gai bùng nhùng, nằm sát khu đất hoang, chó ỉa sau ngày giải phóng chia cho cán bộ, công nhân viên không ai buồn nhận, bây giờ thành ra có giá. Mặt tiền rộng 8m, ăn sâu 5m giáp với tường rào của nhà tạm giam. Ngày vợ chồng Tư Hiền đến đây cỏ dại mọc dày. Con nít chơi đùa chỉ sợ rắn cắn. Đi ra hơn trăm mét đã là bãi cát ven biển, chạm mặt đã gặp dãy núi đá lô nhô của Hòn Tre, Hòn Chụt. Đêm sóng vỗ vào bờ cát nghe cồn cào nôn nao cả ruột gan. Rừng cây phi lao ngoài bãi cát mọc xen lẫn những bụi bờn bờn, cây gai, khoai lang dại, chỉ tiện cho đám cướp giật và những cô gái điếm hành nghề.

Hơn 20 năm sau, dãy phố nhà Tư Hiền thành ra có giá. Đường trải nhựa, gạch lát vỉa hè. Một đoạn phố ngắn vài trăm mét đã mọc lên dăm bảy cái khách sạn, nhà nghỉ cao năm bảy tầng. Gian nhà tập thể của vợ chồng Tư Hiền cũng “ăn theo” tân trang lại, nâng mái đổ tầng. Đã có nhiều người tới dạm mua ngôi nhà để xây biệt thự, khách sạn. Anh Tư chị Hiền nhất quyết không là không. Đồng lương hưu ít ỏi và mấy ly cà phê, thêm dăm chục đĩa bánh bèo, bánh hỏi bán cho đám con nít ăn sáng trước khi tới trường đủ để cho hai vợ chồng già sống no đủ. Niềm vui mỗi ngày là được nghe tiếng chân quen thuộc, tiếng gậy tre đánh chó của mấy bà già trong xóm đi bơi biển qua gọi xéo vào nhà hối thúc chị Hiền trở dậy nhóm bếp, nổi lửa. Anh Tư sau lúc bưng cà phê cho khách ngồi lặng lẽ nhìn vị giáo sư già vừa đánh cờ tướng, vừa bình phẩm những nhân vật mà ông quen biết từ ngày còn ở Hà Nội, nay người thăng quan tiến chức, mai có kẻ ra hầu toà. Đối thủ cờ của vị giáo sư thường là một anh nhà văn về hưu, cũng có khi là nhà đạo diễn kiêm biên kịch cho những vở tuồng, thiếu chân một bác xích lô cũng là đối thủ. Mỗi sáng, một ly cà phê đen đặc quánh đủ để ông đánh cả chục ván cờ có thua, có thắng. Có những hôm thiếu tay chơi cậu hoạ sĩ là người lót đường. Cậu hoạ sĩ trẻ đáng tuổi con trai út của giáo sư, mới ra trường được vài năm. Không xin được vào cơ quan nhà nước, cậu đi chép tranh thuê cho Galeri trên phố và âm thầm vẽ tranh để hy vọng một ngày nào đó sẽ nổi tiếng.

Một buổi sáng, lúc quán còn vắng khách cậu hoạ sĩ dõng dạc tuyên bố: “- Năm năm nữa cháu sẽ tổ chức một cuộc triển lãm tranh cá nhân mang tên “Vẻ đẹp biển!”. Cậu ta bình thản uống ly cà phê đen rồi nói tiếp: “ Dứt khoát lúc ấy cô chú Tư sẽ là khách mời đặc biệt của cháu”. Ông giáo sư thủng thẳng: “Hẳn cậu không quên tôi chứ?”. “Quên sao được bác. Bác là vị khách đặc biệt thứ hai”. Ông giáo sư đùa: “Cậu có định mời ông dân biểu”. Ông “dân biểu”, vị giáo sư già vừa nêu có tên là Xu cũng thỉnh thoảng uống cà phê ở quán cây sứ. Ông dân biểu đã ngoại thất thập, nhưng có cô vợ trẻ. Ông Xu đã từng được bầu trúng Hội đồng Nhân dân của phường một lần cách đây đã lâu, tính khí thất thường, hay quan trọng hoá từ chuyện to tới chuyện nhỏ. Ông giáo sư không ưa, hay gọi đùa ông Xu là ông dân biểu. Hai vợ chồng ông Xu sống trong một ngôi biệt thự cũ, đã hoá giá. Tháng đôi ba lần, ông Xu ra uống cà phê, mỗi lần ông Xu uống không bao giờ anh Tư cầm tiền của ông ta trả cho ly cà phê sáng. Nhắc tới ông dân biểu, cậu hoạ sĩ nói: “Không ông Xu cháu sẽ đưa vào tranh cùng với chiếc cối xay của chú Tư… Chú có chịu không?”. Anh Tư nghe cậu hoạ sĩ nói vậy, vội xua tay: “Chết chết ai lại đi đưa cái cối xay vào tranh. Chỉ có tôi cổ giả mới giữ nó”. Cậu hoạ sĩ vụt đứng dậy vươn vai và nói: “Chú Tư ơi! Chú là người thợ đóng cối xay cuối cùng của thế kỷ XX. Cháu dám cá với chú bây giờ không còn tìm đâu ra người thợ đóng cối xay nữa”. Chị Hiền đang ngồi xếp bánh bèo ra đĩa, góp chuyện: “Nè, chú Đông, vẽ ai thì vẽ nhưng vẽ cái cối xay của cô là phải trả tiền đồ làm mẫu. Tài sản quý giá của cô chú đó nghe”. Cậu hoạ sĩ hùng hồn tuyên bố: “Cô muốn lấy bao nhiêu tiền nhuận mẫu cháu cũng trả”.

Trên tầng hai nhà anh Tư quả là có một cái cối xay lúa, đan bằng tre đóng đất nện. Hàng răng gỗ đóng ở hai mặt thớt chiếc cối xay đã mòn vẹt. Một bên tai cối tròn nhẵn thín vẫn còn đính ở đấy chiếc tràng xay bằng gỗ. Chiếc cối xay như một bảo vật của gia đình. Không sợ trộm cắp bẻ khoá, đục tường vào nhà lấy đi đem bán đồ cổ và có bán cũng chẳng ai mua. Vài chục năm nay người dân quê đã xay xát gạo, đánh bóng gạo bằng máy. Chiếc cối xay trở thành mẫu vật để cậu hoạ sĩ vẽ tranh. Câu chuyện về chiếc cối xay đất ấy lại liên quan tới một đoạn đời của ba con người, tình cờ tôi biết được sau những lần ngồi uống cà phê, xin phép chép lại hầu bạn đọc.

Tôi nhớ có hôm, ông giáo sư vừa đánh cờ tướng với cậu hoạ sĩ, buột miệng hỏi: “Quái lâu nay không thấy ông dân biểu đi tập ngoài biển nhỉ?”. “Ông dân biểu của bác có chuyện rồi!”. Cậu hoạ sĩ vẫn không dời mắt khỏi con mã, chỉ chờ ông giáo sư sơ hở là chụp. Tôi ngồi hóng hớt nghe được một câu: “Cô vợ trẻ với ông dân biểu không đồng thuận ý kiến. Ông dân biểu quen ăn mỡ heo. Cô vợ trẻ biểu ăn dầu đậu nành giảm béo. Chẳng hiểu họ tranh luận những gì, một lúc thấy bàn ghế xô nhau và kết cục là chai dầu đậu nành vọt qua cửa sổ bay thẳng từ tầng sáu xuống dưới đất”. “Khủng khiếp! Cậu có bịa không đấy nhóc?”. Ông giáo sư giương mục kỉnh như có ý không tin. “Cháu bịa, cháu chết?”. “Ấy đừng chết… Cậu chết thành phố ta lại mất một tài năng văn nghệ…”. Ông giáo sư chép miệng và nhanh tay nhón một quân pháo trong lúc cậu hoạ sĩ không để ý, căng cổ ra cãi. Anh Tư ngồi nghe chuyện cười khùng khục trong cổ họng, đế thêm: “Hệt như ngày nào lão ta quăng cái mũ sắt lính ngụy từ nhà sàn xuống tận dưới suối khi phát hiện ra tôi ôm hôn cô Hiền, làm chết cả một bầy cá xanh”. Chị Hiền đang mải pha chế nước mắm chấm bánh bèo ở gần đấy, liếc xéo chồng hứ một tiếng: “Gớm cái ông này, ai thèm hôn ông?”. Nhưng tôi biết rõ chi tiết thứ hai ném mũ sắt chết cả một đàn cá suối là bịa. Hoạ cái mũ sắt lính nguỵ có nhồi thủ pháo, lựu đạn. Nhưng trong câu chuyện đùa của anh Tư về cái mũ sắt ném chết cá còn ẩn chứa cả nỗi uẩn khúc, éo le của người trong cuộc. Chỉ có điều sau bao nỗi thăng trầm của hai người đàn ông và một người đàn bà, chiến tranh đã không cướp đi một ai. Đã có thời họ là đồng đội của nhau, nhưng cũng là tình địch của nhau. Có lúc kẻ nọ hành xác, đày đoạ kẻ kia. Nhưng đến một ngày người kia lại đến đè ngửa kẻ nọ, nếu không ông ta sẵn sàng cầm dao đâm chết đứa con trai ruột của mình dám lấy sạch tiền của ông để đi bao gái và đánh bạc.

Câu chuyện bắt đầu từ một trạm xá tiền phương của một đơn vị đóng ở bờ nam Khe Trăng. Gọi là trạm xá cho oai, thực ra chỉ có một ông bác sĩ trạm trưởng, một ông chính trị viên và sáu cô vừa là y tá vừa là hộ lý, nấu ăn. Ở trạm xá ngoại trừ ông bác sĩ và ông chính trị viên, số y tá, hộ lý vừa phải lo chăm sóc thương binh vừa phải đi gùi gạo, nấu cơm, đi hái rau rừng, đi cáng thương. Khi có địch càn y tá, hộ lý cũng phải cầm súng đi chốt gác. Làm nhiệm vụ bảo vệ, cáng thương cho trạm xá còn có một trung đội vận tải, nhưng họ không thuộc biên chế của trạm xá. Công việc bận rộn nhất của trạm xá là mỗi khi sư đoàn, trung đoàn mở chiến dịch còn không chẳng mấy khi trạm xá có đông thương binh, bệnh binh. Những ca thương binh nặng, trạm xá chỉ sơ cứu rồi cho chuyển đi Quân y viện 94, Viện 26… Có lúc bình thường ở trạm xá chỉ có vài ca thương binh nhẹ, nhiều nhất là lính sốt rét; nhưng để lo cho đủ miếng ăn, lo chạy càn, bảo vệ thương bệnh binh nhiều khi rất vất vả. Vào mùa mưa lũ, nước sông Hương, sông Bồ dâng cao. Mưa trắng núi, trắng rừng, trạm xá không có gạo dăm bữa, nửa tháng là chuyện thường. Để có cái ăn cho thương binh, các cô hộ lý, y tá của bệnh xá phải mang quần áo, thuốc men - chủ yếu là thuốc sốt rét, thuốc cảm, đau bụng, viên C, mì chính, muối vào sâu trong rừng gặp đồng bào đổi sắn, đổi lúa, rau lang… Đường rừng đi bộ tới được các bản người Pacô, Vân Kiều cũng mất vài ba ngày.


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 28 Tháng Giêng, 2011, 02:03:14 pm
Anh Tư là lính bộ binh của KX bị mắc kẹt ở trạm xá Khe Trăng vừa tròn hai tháng mười tám ngày. Anh bị thương vào cánh tay. Viên đạn AR15 của tên lính ngụy đi phục kích chỉ đủ sức phá vỡ một rẻ xương cánh tay. Giá như Mỹ không đổ quân càn ở Động Chuối, núi Bông, Dốc Chè, và trận lũ đầu mùa nhấn chìm sông Bồ, Khe Trăng, Khe Lu hẳn anh Tư đã được đưa ra ngoài Viện 94 để điều trị. Ông Xu ngày ấy là chính trị viên bệnh xá đến gặp Tư động viên: “Đồng chí bị thương, nhưng không nguy hiểm đến tánh mạng. Giáp ranh địch đang càn. Sông Bồ đang lụt. Trong lúc chờ đợi, đồng chí ở lại với anh em trạm xá… Chờ thời cơ… Tôi thay mặt cấp uỷ, lãnh đạo trạm xá phân công nhiệm vụ chính trị cho đồng chí như vậy… tư tưởng đồng chí đã thông chưa nào? Khi công việc hoàn thành, tôi sẽ chấm điểm thi đua gửi về cho đơn vị”. Tư suýt phì cười khi nghe ông Xu huấn thị, hệt như những buổi ông tập trung cả trạm xá có cả thương bệnh binh để thông báo tình hình thời sự. Loanh quanh vẫn chỉ là chuyện ta thắng, địch thua khắp nơi quân dân miền đang vùng lên quật khởi đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào… Nghe ông Xu nói xong, Tư bảo: “Ở đơn vị tôi không ai người ta chấm điểm thi đua. Bộ đội chỉ có mỗi việc sáng đi chốt gác, bám địch. Chiều tối đi đồng bằng, gặp tụi bảo an thì đánh không thì vào nhà dân mua gạo, đậu phộng…”. Ông chính trị viên trạm xá phê bình ngay: “Đơn vị cậu không chấm điểm thi đua, báo công là khuyết điểm”. Tư nghe và chỉ cười. Cái “thời cơ” mà Tư phải chờ đợi là mỗi buổi sáng theo các o đi vào rừng bẻ măng giang và hái môn vót. Hạnh phúc nhất là được vào rẫy đồng bào gùi sắn, gùi lúa. Xay giã lúa nương để có hạt gạo cũng công phu lắm. Buổi tối, các cô nấu ăn, phục vụ đưa lúa xuống hầm, bịt vải vào đầu chày giã lúa trong những chiếc mũ sắt Mỹ. Hì hục cả đêm cũng chỉ được vài lon gạo. Một lần Tư bảo ông Xu: “Anh cho tôi đóng một cái cối xay, xay lúa!”. “Cối xay! - Ông chính trị viên reo lên - sáng kiến… sáng kiến! Cậu biết đóng cối hử, khá lắm. Tôi sẽ báo cáo với trên”. Tư chẳng biết cấp trên là ở đâu. Nhưng sáng hôm sau ông Xu đã thông báo: “Lãnh đạo đồng ý cho đồng chí đóng cối xay, xay lúa. Ta còn kháng chiến lâu dài, còn phải nhờ cậy đồng bào nhiều …”.

Tư được cấp năm lon gạo, một lon muối, một muỗng mì chính và vác theo túi đồ nghề vào rừng chặt lồ ô, chuốt nan đan cối. Khó nhất là tìm đâu ra gỗ nhãn, để làm dăm đóng cối. Mất một ngày trời, Tư leo núi tìm được cây dẻ gai thay cho gỗ nhãn làm nêm cối. Bao năm không cầm đến cái cưa, cái tràng, cái đục, phải vài ngày cánh tay Tư mới đỡ nhức mỏi. Nghề đóng cối xay Tư học lỏm được ở bác Cả Điền. Ngày hè nghỉ học ở làng, Tư đi theo bác Cả Điền sửa cối, đóng cối mới cho bà con nông dân. Bác Cả Điền đi trước vai khoác chiếc tay nải trong để bộ đồ nghề làm cối, tay xách chiếc điếu cày. Tư gánh mấy vòng răng cối gỗ nhãn, theo sau. Gia chủ nào gọi vào đóng cối, sửa cối là ngày hôm ấy hai thầy trò có cơm rượu thịt. Tư sáng dạ, lại khéo tay hay được bác Cả Điền khen. Anh đâu ngờ rằng một ngày kia lại trở thành người thợ đóng cối xay bất đắc dĩ trong rừng.

Bước sang ngày thứ năm thì Hiền đến. Cô mang vào cho Tư thêm 5 lon gạo, muối và mì chính. “Ông Xu lệnh cho em mang gạo, muối cho anh và coi thử công việc đến đâu để em về báo cáo với thủ trưởng. Chiều em về phải mang theo gùi rau”. “Thủ trưởng của cô quan tâm tới lính gớm nhỉ. - Tư nói giọng trêu chọc cô y tá - Rau khỏi cần đi kiếm, chốc tôi cho. Tôi tìm thấy ở đây cả một khe núi mọc đầy môn vót, môn thục, tai voi…”. “Thế thì nhất em rồi. Bù lại, trưa nay em nấu giúp anh ăng gô cơm…”. “Trao đổi vậy là công bằng”. Tư bảo và anh lại tập trung vào công việc đóng cối. Hiền là học sinh Đồng Khánh, hoạt động trong phong trào học sinh, sinh viên bị lộ, theo ông chú lên rừng từ sau đợt Mậu Thân - 68. Những ngày nằm ở trạm xá, hình như Hiền có cảm tình với Tư. Tư cũng thật sự thích cô. Không hẳn vì cô ăn nói nhẹ nhàng, có duyên mà vì cô là người có học thức, hiểu biết. Khi biết Tư đã tốt nghiệp tú tài - theo cách gọi của người - cô càng quý trọng anh hơn. Nhưng cũng vì Hiền là hoa khôi của trạm xá nên cô cũng là người hay bị mấy anh thương bệnh binh, cánh lính vận tải đàm tiếu, thêu dệt nhiều chuyện. Một trong những người mà Hiền căm ghét và tỏ ra có ý khinh thường chính là ông Xu - chính trị viên của trạm xá. Ông Xu mới ngoài 30 tuổi, đã có vợ và một con ở quê. Xuất thân là một anh nông dân chạy máy nổ bơm nước, sau mấy kỳ đại hội xã viên được bầu vào chân phó chủ nhiệm Hợp tác xã nông nghiệp. Lần lữa mãi, vào những năm 1970, Xu mới phải nhập ngũ. Sau 9 tháng huấn luyện, học tập Xu được phong thiếu uý dẫn quân đi B. Ai ngờ vào chiến trường Xu bị giữ lại điều về làm chính trị viên cho trạm xá. Các cô y tá và cả mấy anh lính hay thóc mách đồn rằng ông Xu từng bị vài cô (còn cô nào thì đấy là điều bí mật nội bộ!) cho ăn tát và hắt nước vào mặt khi hứng tình, ông Xu giở trò sàm sỡ. Đã có cô vốn từng là y tá, hộ lý ở trạm xá phải lặng lẽ khoác gùi, ba lô chuyển đi công tác ở đơn vị khác.

Bữa cơm được dọn ra dưới tán cây rừng. Đã lâu, Tư có được một bữa ăn ngon đến vậy. Hai lon gạo nấu đầy một ăng gô Liên Xô. Hiền bổ một hộp cá nấu với mì chay ông Phật. Chỉ một loáng, hai người đã chén sạch cơm và mì chay. Mồ hôi chảy nhễ nhại trên gương mặt sáng xanh của Tư. Hình như Hiền ăn ít hơn, có ý nhường cho anh. Trong lúc cô y tá của bệnh xá nằm ngủ trên võng, Tư đã tranh thủ hái xong cho cô gùi rau. Anh không ngủ, ngồi chẻ từng mảnh nhỏ gỗ dẻ để tối hong khô trên than lửa. Dăm cối xay làm bằng gỗ nhãn là tốt nhất, nhưng giữa rừng sâu đào đâu ra nhãn? Đang chăm chú mài con dao găm Liên Xô vào phiến đá, tự nhiên Tư thấy nóng ở lưng. Anh chưa kịp quay lại đã thấy Hiền vòng hai tay qua ngực anh và áp má nàng vào tấm lưng trần nhớp nháp mồ hôi. “Em yêu anh!” Tư chỉ nghe được ba chữ ấy. Đầu óc anh quay cuồng vừa như hoảng loạn bởi điều lớn lao nhất bất ngờ ập đến, vừa xúc cảm trào dâng bởi hạnh phúc đến không ngờ.

Hiền là cô y tá đẹp có tiếng ở trạm xá, cha mẹ cô ở thành phố đều đi dạy học. Một ông anh trai là bác sĩ, cô là sinh viên nhưng lại ham mê cách mạng. Gia đình, anh em có những bất đồng về chính kiến, nhưng sự nhiệt tình và lòng hăng say khát vọng của tuổi trẻ, muốn đổi đời mà Hiền đã bỏ nhà, bỏ học đường đến với cách mạng, đi kháng chiến. Những ngày Tư nằm trạm xá, được cô chăm sóc. Anh biết cô là người có bản lĩnh cứng cỏi, có phần ương bướng của một cô gái tự ý thức được trách nhiệm về bản thân mình. Chỉ có điều Tư không hiểu sao Hiền lại lựa chọn anh để nói câu ấy. Tư chỉ là một trong số cả trăm thương bệnh binh, dừng chân nơi trạm xá. Phải nhiều năm sau nữa, khi trở lại rừng tìm về thác đá ở Khe Trăng, gặp lại Hiền anh mới hiểu hết câu nói ngắn gọn, kiệm lời của người con gái.

Còn bây giờ? Rừng trưa nghiêng ngả trong những đợt gió đổ ào ào trên tán lá cây xanh rợp một khoảng trời. Con thác Bơn đổ nước ào ào xuống Khe Trăng, bươn bả vượt qua những ghềnh thác, hẻm núi đổ ra sông Bồ. Đã nhiều lần Tư và những người lính bộ binh KX đi đánh địch ở vùng sâu, vào làng gặp dân mò mẫm quanh các xóm ấp La Chữ, An Hoà, Kim Long. Nhìn về phía đông, thành phố hừng lên trong ánh điện. Ngọn đèn trên đỉnh Phu Vân Lâu chớp đỏ. Từng trái hoả châu xanh lét treo trên bầu trời hắt xuống mặt nước sông Hương lấp loáng. Thành phố Huế đấy, nhưng trong tâm thức của Tư và những người lính thấy xa xôi vời vợi, cách trở. Còn bây giờ một người con gái Huế bằng xương bằng thịt đang hiện hữu ngay bên anh. Hai con người ở hai vùng đất khác nhau, chưa có thời gian dài để trò chuyện, quen biết, nhớ mong. Nhưng trái tim họ cùng nhịp đập thổn thức và hoà quyện làm một trong niềm đam mê say đắm. Họ nằm thả mình trên một tảng đá lớn bên bờ Khe Trăng rất lâu. Không gian im ắng. Chỉ có tiếng nước dưới lòng khe, tiếng con tắc kè kêu bảy tiếng thảng thốt. Nếu không có tiếng máy bay OV10 lâu lâu đảo vòng trên đầu phát ra thứ âm thanh quái dị, không ai nghĩ chiến tranh, bom đạn chết chóc ở liền kề. Chợt Tư buột miệng: “Thật phi lý!”. Hình như Hiền hiểu được điều anh nghĩ, nàng ghì anh xuống và nói: “Chỉ có tình yêu của anh và em hiện hữu”. Có tiếng pháo nổ đâu đó nổ ở ngả địa đạo 310. Hiền ngồi dậy, vấn tóc: “Không khéo địch càn, anh à”.


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 28 Tháng Giêng, 2011, 02:04:34 pm
Những chuyến đi vào rừng sâu gặp nhau của Tư và Hiền không lọt qua mắt ông Xu. Đến lần thứ ba Hiền mang gạo muối ra tiếp tế cho Tư đã bị ông phát hiện. Một cuộc họp chi bộ khẩn cấp được triệu tập ngay trong đêm, kèm theo hai quyết định. Quyết định thứ nhất Hiền bị kỷ luật khai trừ lưu đảng một năm và đưa lên trại sản xuất của tỉnh tại Làng Tà trồng rau sắn. Quyết định thứ hai, anh lính bộ binh Tư phải quay trở lại giáp ranh ngay để đơn vị kiểm điểm về hành vi “phi đạo đức”. Cho dù Tư đã cố khẳng định họ đến với nhau vì tình yêu, sẽ chờ đợi nhau… vân vân và vân vân. Nhưng theo ông Xu, mọi lý lẽ đưa ra chỉ là ngụy biện cho hành động “tha hoá về mặt đạo đức của người chiến sĩ cách mạng trong lúc cuộc chiến đấu đang nước sôi lửa bỏng” (!). Đó là kết luận cuối cùng được ghi trong biên bản của cuộc họp chi bộ trạm xá.

Tư và Hiền ra đi không còn có cả cơ hội chia tay nhau nữa… Tư tần ngần nhìn chiếc cối xay lúa anh đã dành vào đấy công sức hơn một tháng trời. Chiếc cối xay giúp các chị phục vụ thay cho việc giã gạo bằng chiếc mũ sắt của Mỹ. Chiếc cối xay mới chỉ kịp khoan, dùi lửa thủng một bên tai cối. Một tai cối còn lại chưa kịp hoàn thành. Cậu hoạ sĩ khi vẽ lại cái cối xay bằng tranh sơn dầu đã gặng hỏi chủ nhân. Anh Tư, chị Hiền nhìn nhau cười. Chị Hiền bảo: “Thời chiến tranh, người ta làm cối chỉ có vậy!”.

Ba năm hai tháng mười bốn ngày sau, Tư mới có dịp trở lại cánh rừng ở bên bờ Khe Trăng tìm vợ. Lúc ấy, chiến tranh đã chấm dứt. Anh không còn phải leo dốc, cuốc bộ mà ngược dòng sông Bồ bằng con thuyền máy cao tốc, lấy được của thuỷ quân ngụy ở bến Đông Ba. Hai người gặp nhau nước mắt dàn dụa. Ai cũng tưởng người mình yêu đã chết. Tư cõng vợ xuống thuyền và nhờ mấy người lính khiêng chiếc cối xay lúa để về Huế ra mắt cha mẹ vợ.

Buổi sáng ấy biển động. Lất phất vài hạt mưa. Quán cà phê cây sứ vắng khách hơn mọi ngày. Dãy bàn ghế nhựa nằm tênh hênh dưới các gốc cây trứng cá được che thêm bằng những chiếc ô lớn của hãng bia Heniken. Đã quá nửa giờ vẫn chỉ có một mình ông giáo sư ngồi nhâm nhi chén cà phê đen đánh cờ một mình. Anh Tư phóng xe máy đi lấy cây đá về cho vợ, bật cười trêu vị giáo sư: “Ai thắng, ai thua thưa giáo sư?”. “Thằng tay phải thua thằng tay trái. Ngu quá đi mất”. Chị Hiền nhìn ông giáo sư cười ngất.

Quãng gần nửa giờ sau, cậu hoạ sĩ trẻ mặc độc cái quần soóc lửng, áo phông ngắn tay nhoe nhoét màu sơn cưỡi trên chiếc xe honda sáu bảy lao tới quán. Chưa kịp gạt cần chống xe, cậu hoạ sĩ trẻ nói ngay: “Hai bác biết tin gì chưa? Cậu hoạ sĩ trợn tròn đôi mắt - Đêm qua, ông dân biểu chết rồi!”. Anh Tư như không tin vào đôi tai mình hỏi lại: “Cậu nói ông Xu á?”. “Thì ổng chớ ai nữa. Chết vì treo cổ hay uống thuốc ngủ quá liều, đại loại như vậy… Mới bảnh mắt, công an thành phố đến đầy nhà, khám nghiệm tử thi ngay tại hiện trường. Khám xong họ đưa ổng vào nhà xác rồi”. “Sao cậu biết rành rẽ vậy?”. Vị giáo sư hai tay cầm hai quân cờ, không biết tay nào sẽ xơi tay nào, gương mục kỉnh lên hỏi cậu hoạ sĩ: “Cháu ở tầng năm, ổng ở tầng sáu. Cháu với mấy gia đình phải lên làm chứng ký vào biên bản”. Anh Tư thẫn thờ: “Vậy cô vợ trẻ của ổng đâu?”. Cậu hoạ sĩ giơ tay lên trời: “Nói tới cổ làm gì… Cổ theo thằng bồ bỏ đi Sài Gòn đã cả tuần nay rồi còn gì”.

Ba gã đàn ông, ngồi ba góc như ba ông đầu ra không nói năng chi. Ba ly cà phê nguội ngắt. Như thể họ nghe rõ tiếng rít gào của một ông già đã ngấp nghé tuổi 70 trong cái lần cách nay không lâu, ông bắt gặp cô vợ trẻ đi chơi với tay bồ ngoài bãi biển... “Ông thì ông giết! Lành làm gáo, vỡ làm muôi…”.

Hỡi ôi! Ông Xu đã chết. Lấy ai để mà giết cô vợ trẻ hư đốn, mê lão chỉ vì căn nhà biệt thự đã hoá giá ước tính bán được cả vài trăm cây vàng… Lão chết, lấy ai để vài tháng một lần lên trại tù thăm nuôi thằng con trai duy nhất không chịu học hành, mải ăn chơi đua đòi đi theo mấy đứa đâm thuê chém mướn, gây rối ở nhà hàng đánh người ta trọng thương.

Ông giáo sư là người đầu tiên phá vỡ không khí im lặng: “Làm một ván chăng?”. Cậu hoạ sĩ trẻ lắc đầu quầy quậy: “Cháu thua… Cháu xin thua bác. Cháu chẳng còn tâm trí nào để đánh cờ”. Ông giáo sư thủng thẳng đứng dậy: “Tuỳ… Để cậu tự do suy nghĩ về cái tiêu đề cho cuộc triển lãm tranh nay mai”.
Đâu đó, sấm động ngoài biển. Cả ông giáo sư và cậu hoạ sĩ trẻ không hề biết anh Tư vào nhà từ lúc nào. Anh đứng bên chiếc cối xay, châm lửa hút thuốc và ngồi vào phía bên tai cối chưa bị đục thủng, lặng lẽ nhìn ra biển. Mưa giăng giăng ngoài xa. Đứng từ gác hai, anh thấy thương những con thuyền của ngư dân xóm Bóng vẫn lầm lũi ra khơi như những pháo đài di động trên mặt nước.

                                   
Hà Nội 9/2007
                               Đ.K.C


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 28 Tháng Giêng, 2011, 02:20:35 pm
Ngôi mộ có hai hài cốt

XUÂN ĐÀI


Làng Tân Mỹ Đông nằm dưới chân núi Tịnh Hồng, trước năm 1975 là vùng của quốc gia, nói cho ngay ban ngày quốc gia điều khiển về hành chính, ban đêm “việt cộng” kiểm soát mọi mặt. Trong làng nhiều người đi lính hai phía, phía nào cũng có sĩ quan cấp tá, cấp úy và binh nhất, binh nhì…

Khi đất nước thu về một mối, các ông sĩ quan cộng hòa đi học tập cải tạo ở các trại ngoài Bắc. Các ông sĩ quan giải phóng, ít lâu sau người về hưu, người phục viên. Các ông sĩ quan Việt cộng hòa dần dần được ra trại, phần lớn ra nước ngoài định cư, người ở lại quê làm ăn không nhiều. Làng Tân Mỹ Đông chỉ có hai dòng họ, họ Huỳnh và họ Phan. Tình làng nước, tình họ hàng, gắn bó với nhau đã hơn ba trăm năm nay, việc phải cầm súng đánh nhau đó là chuyện của một thời, chuyện của quá khứ dù quá khứ chưa xa. Hòa bình rồi, chính quyền địa phương, lúc này lúc nọ có phân biệt đối xử, còn nhân dân thì không, cư xử với nhau, bao bọc, che chở, thương mến bằng tình làng nước, tình họ hàng. Núi Tịnh Hồng cách làng không xa đã từng là chiến địa khốc liệt…

Một hôm hai thằng nhỏ, một là Cu Dứa, một là Cu Teng, vác hai khẩu súng đã mục nát từ sườn núi về nộp cho ủy ban xã, chúng cho biết nhặt được hai khẩu súng khi vỡ đất khai hoang. Mấy ông cựu sĩ quan trong làng, liếc qua là phân biệt được liền, một khẩu là R16, một là AK47. Đây là súng của lính ở hai chiến tuyến khác nhau. Sao lạ vậy cà? Dân làng bàn tán xôn xao. Anh Ba Râu trước là trung sĩ Việt cộng hòa, tợp một ly rượu rồi phán:

- Chuyện này tôi rành sáu câu.

Những người lớn tuổi trong làng không ai lạ gì tiểu đoàn 7 dù của Ba Râu đã từng quần đảo với quân giải phóng ở trên các cao điểm núi Tịnh Hồng. Ngay ngày hôm đó, hai thằng nhỏ đi cùng mấy anh xã đội và Ba Râu đến chỗ nhặt được hai khẩu súng. Hai đứa cho biết chúng lượm súng khi đào xới dưới độ sâu hơn nửa mét. Ba Râu nhận định, vậy thì quanh đây sẽ có hai hài cốt của hai người lính ở hai phía.

Anh xã đội trưởng gật gù, thấy Ba Râu nói có lý.

Chính quyền xã liền huy động dân quân ra hiện trường đào xới, nơi nhặt được hai khẩu súng. Dân làng nhiều người mang theo cuốc, xẻng, phụ giúp với đám trẻ. Đào xới toát mồ hôi hột chẳng tìm thấy gì ngoài những hòn đá nhỏ, hòn đá to. Nhiều người đã nản lòng, nghi ngờ nhận định của Ba Râu. Không chịu thua, Ba Râu lý giải: Đây là lưng chừng núi - Ba Râu ngước mắt lên đỉnh núi nói tiếp - trên đó Việt Nam cộng hòa đặt là cao điểm 115, còn phía giải phóng gọi là gì tôi không rành. Ông lão Huỳnh Đệ, hai hàm răng đã đi sơ tán hết, cười móm mém, nói đùa: giải phóng đặt là Đồi xương tan.

Ở làng Tân Mỹ Đông, ngoài Ba Râu còn có Bảy Bùi là thượng sĩ quân giải phóng, từng tham chiến các trận đánh ở núi Tịnh Hồng. Thời niên thiếu hai anh cùng giăng câu bắt cá, mò cua bắt ốc với nhau, lớn lên cầm súng ở hai phía, trở thành kẻ thù của nhau. Bây giờ lại là bạn thân mở lò làm bánh tráng. Theo Bảy Bùi và Ba Râu, câu chuyện về hai khẩu súng có thể kể gọn lại thế này. Cao điểm 115 trước đây lính Việt Nam cộng hòa chiếm giữ để bảo vệ chi khu Nước Trong và khống chế hoạt động của du kích làng Tân Mỹ Đông và những làng kế cận. Năm bảy hai, quân giải phóng tập kích đánh chiếm được cao điểm. Một tiểu đoàn quân giải phóng, súng ống đầy đủ, quyết giữ cho được điểm cao có tầm chiến lược này. Mỹ và quân lực Việt cộng hòa uất ức, quyết giành lại ngọn đồi bị mất. Chuyện đó xảy ra, chỉ sau mười ngày quân giải phóng chiếm giữ. Máy bay phản lực Mỹ, hết tốp này đến tốp khác, dội bom cao điểm. Quân giải phóng tổn thất khá nặng. Tiểu đoàn trưởng hy sinh. Chính trị viên và tiểu đoàn phó hội ý chớp nhoáng, lệnh cho các chiến sĩ rút xuống lưng chừng núi, sẵn sàng chặn đánh bộ binh của đối phương. Đối phương từ chân núi hò reo tiến lên. Khi quân lính của họ chỉ còn cách chưa đầy mười mét, quân giải phóng núp sau các hốc đá, gốc cây, bắt đầu nổ súng. Và đối phương bắn trả quyết liệt. Trận đánh giáp lá cà xảy ra ngay tức khắc…

Hai khẩu súng của quân đội hai bên vừa tìm thấy là sao đây? Bảy Bùi và Ba Râu đều có chung một nhận định, hai người lính, hết đạn, quẳng súng và đánh nhau bằng tay không. Chính quyền và nhân dân tin vào nhận định này nên đã đào xới xung quanh hai khẩu súng, nhất là phía dưới chân núi. Bảy Bùi phán một câu nghe có lý: hai anh lính này “chơi” nhau bằng tay, cả bằng răng nữa, không phân thắng bại, rồi ôm ghì lấy nhau cùng lăn xuống. Đá tai mèo nhọn hoắt, gốc cây bị bom đạn phạt ngang nhọn như chông thì thân xác nào chịu cho thấu. Hai thi thể của hai người lính còn nằm lẩn khuất đâu đây trong một cái hố, có thể là hố bom… Do bão lụt trong nhiều năm đã lấp vùi họ.

Ba Râu lạnh lùng nói thêm:

- Hai đứa chết mà không buông nhau ra, tôi tin là như vậy.

Nhắm theo đường thẳng của hai khẩu súng vừa tìm được, dân làng đào xới ở nơi thấp nhất thì tìm được xương cốt nằm ngổn ngang trong một đống, nguyên vẹn hai hộp sọ, xương sườn, xương ống tám chi của hai người. Bất ngờ nhất là nhặt được một lọ péniciline đóng nút thật chặt. Trong lọ có mảnh giấy ghi họ tên, năm sinh và số nhà ở Hà Nội. Bảy Bùi reo lên, đây là thằng lính giải phóng nhỏ hơn tôi bốn tuổi. Trong lúc lau chùi bùn đất ở các chi, bà con lại phát hiện ra một cái lắc bằng nhôm khắc tên họ, số lính và lại có địa chỉ ở một đường phố Sài Gòn.

Bảy Bùi cười cười nói với Ba Râu: Thằng này là chiến hữu của mày đó cha nội. Ông xã đội trưởng nghiêm mặt: Thôi đi Bảy Bùi, đừng đùa cợt vô duyên trước linh hồn người đã khuất.

Hai người lính khi trở về với đất có thể đều ở tuổi hai mươi, sinh cách nhau mấy ngày, nói chính xác, anh lính Sài Gòn hơn anh lính Hà Nội tám ngày và cả hai có một đức tính giống nhau, cẩn thận, linh cảm mình có thể chết bất cứ lúc nào nên mới để lại địa chỉ rõ ràng như vậy. Bà con làng Tân Mỹ Đông, không ai nói ra, song đều thầm cám ơn hai người lính trẻ đã để lại địa chỉ cho họ tìm kiếm hai gia đình đến nhận hài cốt con mình…


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 28 Tháng Giêng, 2011, 02:24:48 pm
Hài cốt hai anh được đưa về làng, dùng rượu đế Gò đen rửa sạch từ hộp sọ cho đến từng đốt xương. Nhiều người ngồi quanh hài cốt khóc xụt xịt. Má Tám Gừng nức lên, nghẹn ngào như khóc hai thằng con trai, một giải phóng, một cộng hòa đều tử trận năm Mậu Thân, 1968, đến bây giờ vẫn chưa tìm được hài cốt. Má lau nước mắt, hỏi: tụi bây tính sao để phân biệt xương cốt mà tách hai thằng ra hai bộ.

- Việc này dễ ợt - Anh Phó Chủ tịch xã nói - đưa ra Hà Nội thử ADN là phân biệt được liền, có điều hơi tốn kém.

Khác với mọi lần, Ba Râu nói nhẹ nhàng:

- Việc liên hệ với hai gia đình ở Hà Nội và Sài Gòn để tui và thằng Bảy Bùi lo. Cứ nhắc điện thoại lên hỏi bưu điện là tìm được số phôn của thân nhân cả hai.

Mọi người lại bàn tán xôn xao. Người thì bảo nên thử ADN để phân biệt hài cốt nào là của anh lính giải phóng Hà Nội để đưa vào nghĩa trang liệt sĩ, hài cốt nào là của anh lính cộng hòa Sài Gòn để báo cho thân nhân họ đến nhận thi hài con mình về chôn cất. Ý kiến của má Tám Gừng là hai đứa đã ôm nhau, ngủ vùi hơn 30 năm nay, đã trở thành anh em, bạn bè không còn thù hận nhau nữa, nói cho ngay lúc sống sẵn khẩu súng trong tay thì cứ bắn đại, chứ thực lòng chúng nó chẳng thù hận nhau. Theo tui là cứ để vậy chôn chung vào một mồ, vườn nhà tui rộng, cho hai đứa về nằm đó, hàng ngày tui lo nhang khói, hoa kiểng và cây trái về cúng hai đứa, cầu mong tụi nó phù hộ cho bà con xã mình, bà con cả nước làm ăn thịnh vượng.

Dân làng Tân Mỹ Đông đứng vòng quanh hai thanh niên vắn số, lặng đi một lúc trước ý kiến đột ngột, không ai ngờ tới của má Tám Gừng. Một lúc sau, anh Phó Chủ tịch xã, phụ trách văn xã, giọng trầm trầm nói vừa đủ cho mọi người nghe.

- Đem thử ADN, tốn kém bao nhiêu đi nữa, dân làng mình cũng thừa sức đóng góp, chuyện nhỏ mà, nhưng tôi thấy việc sắp đặt của má Tám Gừng vừa có lý, vừa nhân ái, hợp lòng dân, cứ vậy mà làm, ai không đồng ý ý kiến má Tám thì giơ tay.

Chỉ có nước mắt chảy ròng trên những khuôn mặt già nua, trên những khuôn mặt bầu bĩnh của các cô gái, trên những khuôn mặt thanh tú của các chàng trai, tuyệt nhiên không có ai giơ tay phản đối đề nghị của má Tám cả. Anh Phó Chủ tịch kết luận, vậy là chúng ta đều đồng lòng chôn chung hai người vào một mộ và mai táng tạm thời ở vườn nhà Ba Râu, nhà Bảy Bùi, hoặc nhà má Tám Gừng, việc đó tính sau. Mai mốt hai gia đình Hà Nội và Sài Gòn đến nhận hài cốt hai con mình, nếu họ không bằng lòng chôn chung thì chúng ta sẽ làm theo ý họ.

Nhờ sự kiên nhẫn của Bảy Bùi và Ba Râu, bưu điện Hà Nội đã cho biết số điện thoại của gia đình anh lính Hà Nội, Nguyễn Văn Thà. Theo Bảy Bùi, bà mẹ anh Thà đã gần 80 tuổi vừa trò chuyện, vừa khóc nức nở trong điện thoại, do vậy, Bảy Bùi phải gọi nhiều lần, ráp nối lại mới hiểu được ý của bà già anh Thà. Mẹ anh Thà đã báo cho các anh chị của Thà và bà con trong dòng họ, ai cũng mừng mừng tủi tủi và cho biết gia đình sẽ kéo một đoàn về quê chúng ta vào một ngày gần đây, dân làng mình chuẩn bị đón tiếp ngay từ bây giờ là vừa.

Còn Ba Râu được “phân công” liên lạc qua bưu điện Sài Gòn để tìm thân nhân anh lính cộng hòa Phan Nhật Thanh, thì không suôn sẻ lắm. Gọi tới nhà anh Thanh, chủ nhà nói giọng thân tình, vui vẻ, nhưng lại cho biết ông là chủ ngôi nhà này nhưng mới mua lại chủ cũ hơn một năm nay. Chủ cũ là một ông cán bộ cấp cao của Trung ương đã nghỉ hưu, bán lại cho ông với giá hơn tám nghìn lượng vàng. Còn chủ thật sự của ngôi nhà sinh sống trước năm bảy lăm, hiện ở đâu ông không rõ, nhưng theo bà con khu phố thì gia đình này đã vượt biên từ sau giải phóng ít lâu. Tôi phải gọi điện thoại nhiều lần, lúc gặp người này, lúc gặp người nọ trong gia đình. Anh con trai nói chuyện với tui nhiều lần, phần lớn là anh chủ động gọi, anh cười cười bảo để cho tui đỡ tốn tiền. Sao lại có người tốt bụng vậy! Qua cách nói chuyện của ông chủ nhà, của anh con trai và những thành viên trong gia đình, tui nhận ra họ là dân sinh sống ở Sài Gòn lâu năm. Họ cho biết, sẽ tìm thân nhân gia đình anh Phan Nhật Thanh qua phương pháp lên mạng internet, họ bảo sẽ vào các oep, oep, lóc, lóc (1) với gì đó, tui đâu có rành. Anh con trai, lớn tuổi hơn tui là cái chắc, còn nói sẽ tìm qua các báo tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Pháp… trên toàn thế giới. Cách tìm tin tức người thân trên báo, họ không nói rõ mà dù có nói, Ba Râu tui cũng không hình dung nổi. Cả gia đình khi nói điện thoại với tui đều nhấn mạnh một điều, chắc như đinh đóng cột: nhất định sẽ tìm được thân nhân Phan Nhật Thanh. Và tui cũng xin thưa với bà con là gia đình trong Sài Gòn vô cùng cảm động trước tấm lòng của nhân dân xã mình, và họ khen quyết định chôn chung hai người vào một mộ ở vườn má Tám Gừng là quyết định đúng đắn, rất hợp với đạo lý người Việt Nam.

Nam Bộ đã vào mùa mưa, ông trời cứ sụt sịt suốt ngày, chắc động lòng thương cảm hai người lính chết lúc còn quá trẻ trong cuộc chiến tranh đã lùi xa. Dân làng Tân Mỹ Đông ngày ngày trông ngóng thân nhân gia đình Nguyễn Văn Thà ngoài Hà Nội vào. Và ngày ngày trông ngóng tin tức của gia đình xa lạ ở Sài Gòn cho biết kết quả việc tìm kiếm gia đình Phan Nhật Thanh đang sống ở phương trời xa ngái nào đó.

Câu chuyện tạm dừng ở đây vì không có gì để nói thêm. Tôi sẽ kể tiếp khi có tin tức của hai gia đình Hà Nội và Sài Gòn, họ có đồng ý chôn chung như cách làm của dân làng Tân Mỹ Đông hay sẽ thử ADN để tách riêng ra, con ai nhà ấy mang về thờ phụng. Không hiểu sao, linh tính mách bảo tôi, dân làng Tân Mỹ Đông nhất định tìm được thân nhân của Phan Nhật Thanh, dù họ có ở xa nửa vòng trái đất. Trời phật sẽ phù hộ những người có tấm lòng. Xin bạn đọc vui lòng chờ đợi một thời gian. Và tôi, tác giả truyện ngắn này xin giữ lời hứa sẽ viết tiếp nếu như dự cảm không phản bội tôi.

Sài Gòn mùa mưa 2007
                          X.Đ


------------------------------------------------------
(1) Ý Ba Râu muốn nói Website và Blog


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 28 Tháng Giêng, 2011, 02:58:51 pm
Hướng thiện

QUỐC THÀNH


Năm ấy lên cao nguyên thăm anh bạn, biết tôi lần đầu đến anh dẫn ra trung tâm xã coi cho biết, cũng là lúc dân đi rẫy về. Ngược chiều chúng tôi là một ông già, mắt nhìn xuống miệng cứ lẩm bẩm: "Muộn rồi, Muộn rồi". Tôi nghĩ ông vội đi đâu đó, chắc nóng lòng lắm.


Hôm sau tôi gặp ông vẫn dáng đi ấy vẫn câu nói ấy, tôi nghĩ rằng chắc ông bị tâm thần. Trong bữa rượu, nâng ly lên môi tôi chợt nhớ về con người lạ lùng đó. Không cưỡng được tôi hỏi bạn; anh kể rằng:
"Không biết lão từ đâu đến, có vợ con hay không, nghe giọng trọ trẹ họ đoán lão từ miền Trung lên. Trước khi lão lên, có mấy anh trên huyện, trên tỉnh về làm việc với ủy ban nhân dân xã. Hôm sau ủy ban huy động thanh niên kẻ tấm tranh người thanh gỗ dựng nên một cái nhà. Gọi nhà cho oai chứ chẳng hơn chòi canh rẫy bao nhiêu. Đúng thôi, ở đây đất vàng đất bạc, lấy đâu đất rộng làm nhà khang trang cho lão, khi mảnh đất đó vừa mặt tiền vừa gần trung tâm xã. Lão làm thuê cho các chủ vườn, rất cần cù lại có kỹ thuật nên ai cũng thích. Cứ nhìn vườn nhà lão mà coi, quanh năm rau quả tươi tốt. Lão dậy sớm, lúc trời chưa tỏ, nhóm bếp lên là ra vườn cuốc đất, dựng rào, tưới đậm nước mới vào ăn đi làm. Thương lão côi cút, thanh toán tiền công rồi chủ vườn thường cho thêm cái áo quần cũ hay gói đường...Có lẽ ngoài tiền công là lão đem về nhà, còn lại đều rơi rớt trên đường. Gặp người bán cream lão cho cái áo, gặp trẻ con lão cho gói đường. Người ta cảm ơn lão lại lẩm bẩm "muộn rồi"..! Không biết lão muốn kết giao với ai không, còn dân tình không muốn. Không phải họ ghét lão vì lão ăn ở chả mất lòng ai, nhưng nhìn cái mặt đen sì nổi những u cục, con mắt vằn những tia máu của lão nên họ không thích. Thế thôi. Sau này có người miệt dưới lên, nhận ra lão..."

Cậu bé Thê họ Lê sinh ở làng Trù Phú, dưới chân núi Ngự. Nhà cậu không tấc đất cặm dùi. Mẹ Thê mất sớm, cha làm nghề đào huyệt trên núi Ngự. Không biết vì thương con hay vì gái góa làng chê mà cha Thê ở vậy. Lũ trẻ làng cùng tuổi Thê đã đeo guốc mộc, tóc để chỏm cắp sách đến trường học dăm ba chữ, còn cậu vẫn lẽo đẽo theo cha lên núi. Cha Thê đào huyệt đẹp, đúng yêu cầu nên nhiều khách. Hơn nữa, cha Thê đã đào không bao gìơ có kiện tụng. Đừng tưởng núi Ngự mênh mông, muốn đào đâu cũng được. Nhiều người ngắm mạch ưng ý, hỏi dò biết đất chưa có chủ, bèn cho người đào. Huyệt đào dang dở có kẻ tới bắt lấp, còn dẫn về xã ăn vạ. Cũng đám đất ấy hôm sau cha Thê đào thì không sao. Người ta bảo cha Thê đi lại với ông xã. Chỉ tội huyệt đào một buổi, cha Thê kéo dài tới mấy bữa, ai cần phải thêm thù lao.
Mỗi lần cuốc xong một lớp đất, cha Thê lên hố, để Thê lúi húi với chiếc xẻng, vớ chai tu một hớp rượu, khà một tiếng rõ to, đưa tay quệt mép giảng giải cho cậu con. " Nghĩa tử là nghĩa tuyệt". Đó là bài học đầu tiên mang tính giáo lý mà Thê học được ở cuộc đời. Khoảng 12 tuổi Thê có một đam mê kỳ quái. Hắn bắt những con nhái bẻ hai chân cho chúng kêu chí chóe đầy thích thú. Một bận cha Thê lên muộn, nách cắp chai rượu nhìn thằng con chơi trò man rợ, mắng:

- Răng mi ác rứa?

- Chưa bằng nghĩa tử là nghĩa tuyệt!

Hắn ngước cái mặt đen nhìn cha, cười khênh khệch. Cha Thê tối sầm mặt,quay đi lau nước mắt...

Thời gian trôi như nước chảy chân cầu. Cậu bé ngày nào trở thành anh chàng Thê lực lưỡng. Trên khuôn mặt đã lún phún hàng ria quanh mép. Những đêm trăng sáng trai gái làng Trù Phú rủ nhau ra chiếc cầu cong đầu làng hát đối. Nhìn cảnh ấy, Thê muốn xông vô nhưng không dám, bởi trong ấy không có ai là bạn bè. Thê một mìmh cô độc, hết lủi thủi lên núi lại ra đồng mò cua bắt ốc. Đêm nọ vầng trăng mười sáu lên cao vằng vặc, từng tốp trai gái cất tiếng hát. Lời hát bay lên quấn lấy ngọn tre lan tỏa khắp không trung. Thê nghe lòng mình rạo rực như lửa cháy trong lồng ngực. Không dằn được, hắn len lén đến ngồi cùng tốp trai làng. Đám hát đang vui bỗng chững lại, tản ra. Còn lại một mình, Thê ức lắm, hắn thề phải trả thù, nhưng bằng cách nào thì hắn chưa biết.

Chiều mùa thu gió biển lên rời rợi. Từ núi về, Thê thơ thẩn trước cổng làng. Từ xa một làn bụi đỏ bay lên, chiếc xe Zepp phóng tới phanh lại bên kia cầu. Một chàng tóc hai mái cao lớn với khẩu col tòng tong trước háng đi vào nhà ông xã trưởng. Những đôi mắt trẻ con cùng lũ con gái nhìn theo, ao ước. Thê nghĩ, muốn oai phong lẫm liệt thì phải đi lính. Nhưng Thê không bằng cấp có đi lính cũng chỉ binh nhì, nhận ra thê, hắn buồn lắm...

Cũng là lúc chính quyền ngụy ra sức cũng cố. Chúng muốn tách cách mạng ra khỏi nhân dân nên rào ấp chiến lược và lập ra dân vệ. Dân vệ là một đội quân ô hợp, kẻ không sức khỏe không bằng cấp, người trốn quân dịch. Đội quân này dưới sự cai quản của một sĩ quan chính qui biệt phái. Mỗi tuần hai buổi kéo nhau đi tập bắn. Tất cả những gì ngắm được chúng đều bắn từ tấm bia mộ trên núi, con cò trắng đang tìm mồi dưới ruộng hay chùm hoa gạo đỏ trên cây.

Nhìn cậu con đã lớn không chữ, không đồng vốn giắt lưng, cha Thê buồn lắm. Thấy tụi dân vệ đi ngoài ngõ, ông chợt nghĩ, cho Thê đi dân vệ may ra đổi đời chăng? Cơm nước xong ông bảo Thê:

- Mày vô dân vệ đi!

- Dân vệ vác súng dài ngoằng - Thê trả lời.

- Mày đòi súng ngắn à? Vào dân vệ, có vài đồng, lúc rãnh rỗi lại giúp tao, không hơn hai người làm một việc?


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 28 Tháng Giêng, 2011, 03:00:58 pm
Vào dân vệ, Thê rất mẫn cán. Hắn luôn được đội trưởng khen ngợi trước hàng quân và không hiểu sao ông ta lại biết hắn mê cô Hiền con ông Hòa cùng xóm. Cô Hiền đẹp người, đẹp nết. Gia đình ông Hòa sống có nề nếp nên được dân làng kính trọng. Mẹ cô Hiền mất sớm, nhiều cô gái vẫn lăm le về làm mẹ kế cô Hiền, dẫu không hơn tuổi cô là mấy. Có mấy đám dạm hỏi nhưng ông Hòa tự để cô Hiền quyết định, nghe đâu người cô Hiền yêu đã lên xanh.

Buổi chiều tập xong đội trưởng dân vệ gọi Thê lại:

- Anh Thê mê cô Hiền?

- Dạ.

- Có muốn tôi bày cách không?

- Dạ. Được thế còn gì bằng ạ. Thê mừng rơn như vớ được của. Tên đại đội trưởng cúi đầu nói nhỏ. Thê gật đầu lia lịa. Vài ngày sau nhà ông Hòa bị tụi dân vệ khám xét. "Cây ngay không sợ chết đứng", ông Hòa ung dung ngồi hút thuốc, mặc kệ tụi dân vệ. Thật bất ngờ, ông choáng váng mặt mày, trời đất xoay tròn, khi thấy Thê đắc thắng lấy từ mái tranh xuống một tập truyền đơn cách mạng.

Ông Hòa bị bắt về đồn núi Ngự. Tụi dân vệ thay nhau đánh đập ông hết sức tàn nhẫn. Cô Hiền chạy khắp nơi tìm người cứu cha. Thân cô thế cô, tiền không có nên ông Hòa bị giam cả tuần, lúc đó tên đội trưởng mới ló mặt.

- Ông cứ nhận mình làm cơ sở cho Việt cộng, bọn lính thôi đánh ông rồi thằng Thê bảo lãnh cho ông về.

- Đổi lại tôi phải làm gì? Ông Hòa quắc mắt hỏi.

- Ông gả con Hiền cho thằng Thê!

Ông Hòa hiểu ra mưu mô của bọn chúng. Đêm đó ông xé áo bện thành dây tự vẫn...

Nhờ thu được tài liệu, bắt được Việt cộng nên tên đội trưởng được khen thưởng điều lên huyện. Thê được lên làm tiểu đội trưởng dân vệ chòm. Bài học thứ hai này hẳn hay hơn bài học đầu tiên mà cha Thê đã dạy.
Nhờ thêm mấy đồng lương dân vệ, cha Thê lại có sức nên thời gian qua cha con Thê đã sửa được mái nhà. Đột nhiên cha Thê qụy bệnh. Việc đào huyệt đã có kẻ thế chân. Tiền thuốc thang cho cha đã ngốn sạch đồng lương dân vệ của Thê, kinh tế gia đình Thê lại túng bấn. Thê thương cha lắm nhưng bất lực. Gà gáy sáng, nghe cha rên, Thê nóng ruột, hắn dậy lần về ngôi nhà cuối xóm, nơi hôm trước hắn thấy có đàn gà. Cả đời chưa bắt gà nên mới thò tay vào đã kêu quang quác. Hãi quá hắn chụp đại một con rồi bỏ chạy. Càng chạy gà càng kêu, hắn càng hãi, đành vặn cổ vứt vào bụi, về nhà nằm thở. Sáng ra, với danh nghĩa tiểu đội trưởng dân vệ, Thê trơ lại nhặt con gà, hắn không tin vào mắt mình. Dấu vết hắn chạy in lồ lộ, cỏ nằm rạp xuống, trên lá cỏ lớp sương mờ đã mất...

Thê càng lao vào làm dân vệ, hắn làm để quên đi túng quẫn. Mỗi lần về nhà thấy cha nằm lăn lóc, hắn lại ra đầu làng uống ruợu, khật khưởng về nhà lăn ra ngủ. Với kinh nghiệm tìm hầm bí mật học được bữa bắt trộm gà, cứ sáng sớm hắn lảng vảng vào vườn những nhà hắn nghi có quan hệ với cách mạng. Hắn luôn lập công và được khen thưởng, từ tiểu đội trưởng lên trung đội trưởng. Cấp hắn càng cao, dân làng càng oán hận hắn. Trong trung đội của Thê có Trần Hùng, học dở tú tài trốn quân dịch phải vô dân vệ. Một buổi nhìn bàn nhậu, Trần Hùng phân bua:

- Tay tao nhúng chàm rồi bay tao sợ lắm!

- Chàm là chi?

Thê đang gặm dở miếng xương ngước lên hỏi. Bọn dân vệ nhìn Thê cười rộ. Hắn biết bọn đàn em cười mình dốt, ức lắm, lăm lăm tìm dịp trả thù.

Mùa hè miền Trung gió Lào thổi rạt cây cối úa vàng cháy sém, sông suối cạn trơ đá sỏi. Trung đội dân vệ được lệnh tháp tùng cùng quân chính qui lên vùng sông Hai Nhánh, nơi nghi có bộ đội Bắc Việt cùng bộ đội địa phương đang hoạt động. Ngày hành quân, đêm dựng bạt giữa vùng đồi núi khô khốc. Đã mệt mỏi lại không dám ngủ vì sợ cách mạng tấn công nên thằng nào cũng phờ phạc, chán nản. Sang ngày thứ ba, trước khi có lệnh rút quân vài tiếng, tụi dân vệ bắt được một thanh niên quần áo tả tơi, hốc hác đang men theo dãy sắn. Hỏi gì người này cũng ú ớ không chịu trả lời. Thê cho trói người thanh niên lại, dẫn về trụ sở, bắt dân làng đến coi mặt cộng sản Bắc Việt. Dù không muốn, dân làng cũng phải tới. Họ không dám nhìn cho rõ, chỉ thấy người thanh niên mặt mày sưng vù, tím bầm, tóc bết thành mảng cúi gục thê thảm bên chiếc cọc. Chiều dân làng về hết, Thê bảo Trần Hùng đi mua rượu rồi hào phóng cho mọi người về, hắn dặn tối phải tới canh. Khi mọi người đến đông đủ, Thê cầm lên chai rượu màu đỏ rót cho mỗi người một ly.

- Nào, các chiến hữu, chúng ta mừng chiến thắng!

Nói xong câu nói văn hoa ấy, hắn gườm gườm nhìn mọi người ực hết ly. Bất đắc dĩ mọi người phải uống theo, chỉ có Trần Hùng cầm ly rượu tần ngần vì nghe mùi tanh tanh.

- Mi không uống hả Hùng?

Thê cắm phặp con dao xuống bàn, chai rượu nảy lên nghiêng xuống chảy ộc, bốc mùi tanh nồng nặc. Khiếp đảm trước thái độ của Thê, mọi người nhắm mắt...

- Anh em biết không? Thê lại lừ lừ nhìn mọi người. Đó là máu cộng sản!

Tất cả ngơ ngác nhìn nhau như nghe nhầm. Trần Hùng bụm miệng chạy chưa ra cửa đa nôn tung tóe đầy trụ sở. Mọi người cầm đèn ra sân. Người thanh niên đã hồn lìa khỏi xác, ngã gục xuống chân cột, mồm ngậm đầy giẻ, nơi cổ trái dòng máu đang ri rỉ, dưới sân một vũng máu đỏ thắm đang chuyển màu xỉn dần. Sáng ra cả làng đều biết tụi dân vệ uống máu người. Trần Hùng không dám đến trụ sở, nơi xác người thanh niên xấu số đang phơi nắng. Xế chiều có bà mẹ tới tìm con. Bà ôm xác người thanh niên khóc lóc, giọng đầy ai oán. Thê lên mặt ra oai:

- Nó làm cộng sản, không được chôn.

Vừa nói bà mẹ vừa túm ngực Thê đẩy dúi dụi, rồi thả Thê ra bà chỉ mặt:

- Răng mi ác rứa, ác rứa trời tru đất diệt thôi - Bà lại ôm con khóc, quay lại phía bà con phân trần - Con tôi biết làm cộng sản thì phúc nhà tôi lớn lắm bà con ơi! Hắn câm điếc thì biết chi. Hôm trước đi cày, thả bò cho ăn, bò đi mất. Hai ngày nay không thấy hắn về, Nghe bà con trên Hai Nhánh bảo dân vệ đây bắt, tôi về xin. - Bà ôm xác con gào lên - Mẹ về muộn, con chết oan, chết uổng con rồi con ơi!...

Dân làng nghe lòng ái ngại, tụi dân vệ tái mặt. Riêng Thê bản mặt hắn đen sì, không biểu cảm gì.

Việc giết người oan sau cũng được dàn xếp. Huyện mua quan tài, lo một ít tiền ma chay, còn Thê được lên làm đại đội trưởng, cai quản cả một vùng.


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 28 Tháng Giêng, 2011, 03:03:23 pm
Gần ba mươi, Thê vẫn chưa có một ai làm bạn. Cha Thê ngày càng lâm bệnh nặng không ai săn sóc và hơn nữa, lão sắp chết mà chưa thấy người nối dõi, lão buồn lắm, bảo Thê:

- Mày lấy vợ đi.

- Tui lấy ai, ai lấy tui?

- Mày lấy con Thúi ấy!

- Con Thúi chồng chết, nó bốn con, lại hơn tui chục tuổi!

- Hơn mày chục tuổi thì sao? Thứ mày đòi lấy gái tơ? Nghe tao đi.

Tối hôm sau cha con Thê sang nhà mụ Thúi. Mụ Thúi trước đây có lẽ không đến nỗi tệ lắm, nhưng từ ngày chồng chết ngoài mặt trận đường 9, một nách bốn đứa con vất vả, già nua teo tóp đi nhanh trước tuổi. Tiền tuất chỉ vài ngàn, mụ phải cuốc thuê gặt mướn chạy gạo chưa đủ cho lũ con, gái lớn mới lên mười, con nhỏ chưa đầy bốn tuổi, lúc nào cũng thò lò mũi. Đi làm ở làng bên về muộn, rửa ráy qua loa mụ Thúi giục con lớn dọn cơm ra mẹt, vừa ngồi xuống đã nghe đằng hắng ngoài sân. Dưới ngọn đèn dầu vàng nhợt cháy từ vỏ chai hắt ra, mụ thấy cha Thê lom khom bước vào, Thê theo sau cắp chai rượu cùng gói lá chuối. Mụ vội buông bát vồn vã:

- Ông với bác có việc gì phải sang nhà con ạ?

Cha Thê dừng lại, nhìn mọi người, nhìn mẹt cơm hấp đầy sắn, dĩa muối rang cùng bát mắm rồi lão nhìn Thê.

- Mi đặt lên đi.

Ngó thấy nhà chật, chỉ có chiếc bàn ba chân mặt tre đang xiêu vẹo, Thê lúng túng.

- Đặt lên đó.

Lão chỉ tay lên bàn tre, đợi Thê đặt đồ lễ xong, lão thủng thẳng:

- Hôm nay tao thấy ngày tốt, có con gà chai rượu sang hỏi vợ.

Mụ nhìn cha Thê không hiểu lão nói gì. Lão già quặt quẹo, đau ốm sắp xuống lỗ còn đi hỏi vợ. Hỏi ai chứ, chẳng lẽ hỏi mình?

Mụ Thúi nhìn cha Thê ngây dại, tay cầm đũa. Mấy đứa con mụ sững sờ không kém, chúng há hốc mồm nhìn lão để cơm sắn trắng đầy cả miệng. Đến lúc này cha Thê hiểu mình nói chưa trọn ý, để cả nhà ngơ ngác. Lão ho một hồi, quay mặt nhổ bã đờm xuống nền nhà, thủng thẳng:

- Là tao hỏi vợ cho thằng Thê.

- Con gái tui đang nhỏ mà.

- Là tao hỏi mày Thúi ạ. Tao hỏi mày cho thằng Thê.

Không đợi mụ Thúi nói thêm, lão sai con bé lấy dao thớt. Lũ trẻ hau háu nhìn tay lão bốc thịt gà vào tô nhựa. Nhà không có đàn ông nên chẳng có ly tách gì, lão vớ cái bát sứt eo gối lại chùi vào quần, giơ lên thổi phù phù, đặng trịnh trọng cầm chai rượu rót ra. Cũng rất trịnh trọng lão lên tiếng.

- Tao chúc bay đầu bạc răng long, con đàn cháu đống!

Lão ngửa cổ làm hai ực hết bát rượu. Đẩy tô thịt gà ra giữa mẹt.

- Ăn đi mày!

Lão hất hàm về phía Thê. Lúc này mụ Thúi mới biết thiếu bát vội lon ton xuống bếp. Thế là Thê có mụ Thúi làm vợ, dân làng chẳng bàn tán gì, cứ như chưa có chuyện gì xảy ra. Hơn năm sau mụ Thúi đẻ cho Thê thằng con trai, da đen thui nhưng hiền từ ngộ nghĩnh. Cha Thê toại nguyện lắm. Thằng con trai mới biết đi thì cha Thê mất. Trước lúc về thế giới bên kia lão cầm tay Thê thều thào: "mi phải tu"... Câu nói chưa trọn lão đã nhắm mắt. Thê cho tụi dân vệ lên núi đào huyệt. Đêm tối, đồi đầy sỏi, lại sợ cách mạng về nên chúng đào chẳng ra gì, cái huyệt nông choèn...

Mỗi lần đi càn về, Thê đưa cho vợ chiếc nhẫn hay sợi dây chuyền vàng. Rồi hắn xâu vào lạt một gói lá treo lên bếp. Nhờ Thê mụ Thúi cũng đỡ teo tóp vất vả hơn, có điều mỗi lần ân ái, chiều chuộng hắn mụ thấy ghê. Từ hơi thở tanh nồng nơi mồm mũi, đến làn da nhờn nhờn trên cơ thể Thê. Chịu không nổi mụ nói:

- Tui đẻ cho anh thằng con rồi, giờ tôi không ham của nớ, anh có muốn thì anh lên phố!

Mụ Thúi nói cũng thừa, Thê ít dám về nhà, hắn đã bị cách mạng tuyên án tử hình. Sợ bị giết, mỗi đêm Thê phải thay đổi chỗ ngủ đến mấy lần, khi ở đồn, khi ở bót gác. Nhìn ai hắn cũng nghi ngờ là người của cách mạng gài vào giết hắn. Càng sợ chết, hắn càng hung dữ, cứ sáng sớm hắn đã dẫn tụi dân vệ lùng sục các khu vườn, thấy đám cỏ nào mất sương là xua dân vệ lần theo...

Sáng nay Thê cho Trần Hùng ở lại giữ đồn, anh mừng lắm. Thoát được lúc nào lương tâm đỡ cán rứt lúc ấy, anh nghĩ vậy. Có điều anh không biết Thê dẫn lính đi tới nhà ông Đình, chú họ anh. Cha ông Đình còn là ân nhân của cha Thê. Trước đây cha Thê không biết ở đâu dạt về làng Trù Phú, Cha ông Đình cho cha Thê ở trong nhà, lớn lên cho mảnh đất dựng lều lấy vợ. Đã bị mìn nhiều lần nên đám dân vệ đùn đẩy nhau lên trước, Thê đi sau, khẩu col lăm lăm. Khi chiếc hầm bí mật dưới gốc tre cuối vườn bị lật, bất ngờ một thanh niên cao lớn nhảy vọt lên, nách kẹp AK nhả đạn thẳng về phía Thê. Nghe tiếng súng đanh giòn, tụi dân vệ nằm rạp xuống. Thê nghe cánh tay mình mát lạnh, giơ súng lên bắn theo người thanh niên chạy băng ra cánh đồng, nhưng không trúng. Nhìn xuống, hắn thấy cánh tay mình đầy máu. Tức vì bị thương, bị vồ hụt con mồi, Thê trói ông Đình lại dẫn về đồn. Bị đánh đập tàn nhẫn ông Đình vẫn không hé răng nửa lời. Chiều tối Thê cho tất cả dân vệ về nhà chỉ giữ lại ba tên canh phía ngoài. Trần Hùng đau đớn, cố tìm cách cứu chú Đình. Anh tự trách mình mấy lần không hành động để giờ một mình đơn độc giữa bầy sói. Đợi trời tối mịt trở lại đồn anh không thấy chú Đình đâu, anh nghĩ thằng Thê đã giam chú vào Conet, anh định lén đưa cho chú nắm cơm nhưng Thê gọi lại. Hắn hả hê thông báo, có con bò làng dưới say sắn, hắn bưng lên một tô gan xào với hành tây, rau mùi thơm nức mời. Mọi người thấy mồi ngon, rượu ngon, xúm lại. Đã no bụng nên Trần Hùng không thích, hơn nữa anh cũng chẳng còn lòng dạ nào để ngồi uống rượu. Cuộc ồn ào chả mấy chốc, trong đĩa còn vài miếng. Thê đem đến cho Trần Hùng:

- Ăn đi! Hắn quát lên.

Nhìn vẻ mặt sát khí của Thê, Hùng biết nếu mình khhông ăn mình sẽ trở thành Việt Cộng. Trần Hùng chưa kịp nuốt đã nghe giọng Thê cười vang:

- Thế nhé ta cùng chúng mày uống máu, ăn gan cộng sản. Giờ tay thằng nào cũng đã nhúng chàm rồi nhé!

Trần Hùng bàng hoàng ngơ ngác nhìn lên. Anh uất hận căm thù thằng Thê, căm thù tụi dân vệ, căm thù chính thể này và căm thù ngay cả bản thân mình. Ba ngày sau, không ai thấy anh ở làng nữa. Ai hỏi, ba anh bảo: Nó lên phố kiếm việc làm...


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 28 Tháng Giêng, 2011, 03:13:33 pm
Nhân kỷ niệm ngày độc lập của chế độ cộng hòa, tổng thống mở lễ hội mừng công tại phủ Đầu Rồng. Về dự gồm đại diện các binh chủng, tướng tá và cá nhân các thành tích chống cộng. Cầm tờ giấy gọi trên tay, Thê mừng lắm. Thê về nhà lấy xâu lá khô quàng vào cổ, xúng xính trong bộ đồ cứt ngựa lên xe nhà binh. Cả đời chỉ thấy tổng thống trên báo, giờ tổng thống cầm ly cùng đồ đệ đi từng bàn chuốc rượu. Hết đám tướng tá, tổng thống tới hai bàn dân vệ và chiêu hồi. Tổng thống đi chậm, vừa đi vừa nghe thành tích chống cộng của từng người. Thê lom khom bắt tay tổng thống, mặt ngây ra không nói được câu nào, hắn giật mình khi tổng thống chỉ vòng lá nơi cổ, hỏi.

- Dạ! Bẩm, quà cho tổng thống.

- Quà, quà cho tôi? anh mở ra xem nào!

Tổng thống lùi lại, đám cận vệ xấn lên. Thê xé từng chiếc lá, lớp bụi nhờ nhờ bay lên giữa chiều Sài Gòn oi bức, từng miếng thịt cong queo lộ ra.

- Cái gì đó?

- Bẩm tổng thống, tai người ạ. Tai cộng sản hong khô, tôi để dành chục năm nay.

Thê vừa nói vừa khom lưng, hai tay dâng lên...

Cái gì đến phải đến. Mùa xuân 75 về, cờ hoa phất phới sắp phố phường, làng mạc. Lính ngụy vứt mũ lớn tháo chạy trên đường I, dưới cửa Thuận rồi lần lượt chen nhau ra trình diện ủy ban cách mạng.Thê trốn lên núi Ngự, tìm đường sang bên kia đất Quảng, nhưng phương tiện không có. Một tuần lang thang ẩn nấp, phải ăn khoai sắn sống, bụng hắn đau anh ách đành mò về nhà tính kế. Đêm tối, qua mỗi ngõ chó sủa vang làm hắn bủn rủn chân tay, vừa đi vừa ngó trước trông sau. Đến nhà hắn không gõ cửa, lách rèm chui vô, con chó giật mình sủa vang. Nghe tiếng suỵt, nó nhận ra tiếng chủ ve vẫy đuôi ủ ử. mụ Thúi dậy châm đóm, hắn ngăn lại thì thầm:

- Còn gì ăn không?

- Còn cơm nguội, để tui đi lấy.

Không đợi dọn ra, Thê leo xuống bếp, vừa ăn vừa nấc cụt. Mụ Thúi thì thào:

- Cha mi định sao?

- Trốn.

- Đừng trốn. Mụ thì thào. Cha mi trốn sẽ bị giết, cứ ra ủy ban trình diện may ra được sống.

Nghe lời vợ đợi mặt trời lên cao Thê mới dám đến ủy ban. Hai anh bộ đội giải phóng tiếp hắn. Anh già hơn chưa đến ba mươi, anh còn lại trẻ măng chắc vừa mới rời ghế nhà trường. Đối diện với anh có ba người lính ngụy đang viết bảng tường trình. Thấy Thê vào, anh bộ đội già hơn đứng dậy, bắt tay:

- Chào anh. Anh đến có việc gì?

- Dạ! Tôi đến trình diện cách mạng.

- Mời anh ngồi. Anh bộ đội chỉ bàn và mang giấy ra tiếp.

- Anh tên gì? Anh bộ đội nhắc lại.

- Dạ Lê Thê ạ!

- Anh ấy tên Thê, họ Lê - Một người lính ngụy đang viết tờ khai, ngước lên nói.

- Trời đất ơi! Tên với họ. Sao anh khéo đặt tên thế? Anh bộ đội cười phì:

- Bây giờ anh viết bảng tường trình, nhớ ghi rõ năm tháng tham gia chế độ ngụy cùng những tội ác chống phá cách mạng.

Thê cầm giấy bút, hắn lay hoay cầm lên bỏ xuống. Chắc anh ta đang cố nhớ lại những việc làm của mình, anh bộ đội nghĩ vậy rồi lơ đãng nhìn qua cửa sổ. Xế trưa hai người lính ngụy lên nộp tường trình ra về, còn lại một người viết nốt rồi nộp. Anh lính ngụy nhìn Lê Thê rồi nói nhỏ với hai anh giải phóng:

- Hắn không biết chữ đâu các anh ơi.

- Anh ta làm gì?

- Dạ hắn làm dân vệ.

- Thôi, ta cho anh ấy về, chiều làm tiếp thủ trưởng nhỉ? Anh bộ đội trẻ hơn lên tiếng.

- Ấy. Các anh cho hắn về sẽ bị dân làng giết chết hắn, còn kiện các anh nữa đấy.

- Sao vậy? Thứ dân vệ có gì ghê gớm lắm đâu?

 Vẫn anh bộ đội trẻ nói tiếp.

- Đúng vậy! Người lính ngụy nói. Nhưng thằng này khác, nó ác lắm.

- Được rồi, anh ở lại giúp chúng tôi nhé, anh viết khách quan hơn!

Không ngờ bản tường trình của Lê Thê dài thế, mãi đến ba giờ chiều mới kết thúc. Cầm tập giấy trên tay hai anh lính giải phóng không thể tin được. Cái gì, ăn gan, uống máu còn vòng hoa quái gở gì thế này? Lê Thê ngồi đó, vẫn con mắt, cái mũi, nói tiếng người nhưng nhất định hắn không phải con người...


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 28 Tháng Giêng, 2011, 03:15:36 pm
Lê Thê được tập trung cải tạo tại trại Đất Bằng. Trại được hình thành sau ngày giải phóng nên thật đơn sơ. Mấy dãy nhà tranh, vách thủng tranh chống mưa gió. Ngăn cách trại viên với bên ngoài là hàng rào bằng tre đơn giản. Ở đây, trại viên lấy tinh thần tự giác, lòng ăn năn hối cải từ bản thân là chính. Họ tích cực học tập đường lối cách mạng chính sách cách mạng, tham gia lao động để sớm hưởng khoan hồng của cách mạng mà về sum họp với gia đình. Trên những ngọn đồi chất độc da cam phát quang, đầy tranh và cỏ dại giờ khoai sắn tươi tốt. Dọc theo những triền đồi đổ xuống là ao cá, ruộng lúa và rau xanh. Công việc hối hả quay trong guồng quay cuộc sống, mặc dầu từ trại viên đến cán bộ đều ăn mặc kham khổ,thiếu thốn, phải tằn tiện chi ly.

Thượng sĩ công an Trần Hùng cầm danh sách trại viên đến nhập sáng nay, anh ngồi vào bàn sổ. Mấy hôm anh nhớ nhà quay quắt. Từ trại về nhà chỉ hơn một giờ xe đạp, thế mà giải phóng được mấy tháng rồi anh chưa một lần ghé được. Nhiều khi anh tặc lưỡi an ủi, cha mẹ biết mình vẫn còn sống mạnh khỏe là được. Tập hồ sơ trên tay anh rung lên, khi đọc đến tên Lê Thê. Sao? Hắn vẫn chưa chịu chết à? Xếp hồ sơ vào tủ, anh vội xuống nơi nhận người, anh muốn nhìn lại mặt Lê Thê. Hai chục người xếp hai hàng, mặc áo sọc, kẻ đầu đội mũ, người đội nón cúi xuống dưới trời nắng. Đánh dấu Lê Thê lại, anh đọc tên từng người. Khi trại viên lần lượt vào trại, chỉ còn Lê Thê, Trần Hùng hỏi:

- Anh Thê, anh nhận ra tôi không?

- Dạ! Thưa ông, có ạ!

- Anh hãy gọi tôi là cán bộ Hùng. Hồ sơ anh khai đầy đủ chưa? Sáng mai anh lên tôi gặp nhé!

Đêm về trằn trọc, Trần Hùng không sao ngủ được. Anh muốn giết Thê để trả thù cho chú Đình, cho bà con làng Trù Phú. Mình dẫn Lê Thê qua trại bên, đến khe suối nổ súng, về báo Thê chạy trốn. Thế thôi rất khớp. Cũng chẳng ai đi tìm nguyên nhân chết của một tên ác ôn, khi xã hội đang bận bịu với bao nhiêu công việc cấp bách hơn. Song anh thấy lòng mình ray rứt.

Về phần Thê đêm ấy hắn cũng không sao ngủ được. Hắn không ngờ gặp Trần Hùng ở đây. Trên cương vị mới đầy quyền lực, Hùng là người nắm sinh mạng hắn. Hắn lạnh người nghĩ ngày mai phải gặp Trần Hùng. Hắn chợt nghĩ ra rằng hội trường gần trại, gần cán bộ giám thị, như thế tính mạng mình còn treo lơ lửng. Khi trời gần sáng, hắn yên tâm thiếp đi. Ngủ dậy người Thê phờ phạc, làm vệ sinh cá nhân rồi hắn cầm ca men tới nhận phần cơm ít ỏi của một ngày mới trong trại. Trại viên cũ mới đều ít nhiều quen biết trước đây, giờ gặp lại họ hỏi thăm nhau về sức khỏe, tình hình gia đình cùng địa phương sau ngay giải phóng. Riêng Thê không ai hỏi, hắn chào họ không trả lời, cứ như trước đây chưa một lần gặp mặt. Họ tránh ra cho Thê lấy cơm, kiên nhẫn đợi Thê ra họ mới vào, làm như Thê mang trong mình mầm dịch hạch.
Nhìn mặt Thê hốc hác, Trần Hùng cũng động lòng trắc ẩn, anh lấy giấy bút cho Lê Thê:

- Anh viết lại bản tường trình, khai rõ từng tội ác. À còn vòng tai các chiến sĩ cách mạng anh để ở đâu?

Thê cúi mặt, trước mắt hắn lại hiện lên chai rượu màu đỏ tanh nồng, đĩa gan người tái ngắt. Hắn biết trong tủ hồ sơ kia có súng và dao găm, vật bất ly thân của người lính. Hắn cứ mân mê tờ giấy, mặt hắn đã đen giờ càng đen thêm.

Trần Hùng chợt nhớ Thê không biết chữ, anh ra sân gọi người trại viên chăm vườn hoa:

- Anh ra xin phép cán bộ vào đây tôi nhờ, nhớ bảo tôi cần anh suốt buổi sáng này nhé!

Cất tập hồ sơ vào tủ, Trần Hùng để Lê Thê tự về trại. Anh biết hắn không dám trốn, hắn trình diện cách mạng để khỏi chết thôi. Anh thẫn thờ ngồi xuống bàn, ước muốn trả thù lại trỗi dậy thôi thúc anh. Từ ngày Thê vào trại đến giờ Hùng luôn mất ngủ, anh tự hỏi: "Nếu Thê không ác anh có dám tham gia cách mạng không? Có lẽ không! ước mơ tuổi trẻ của anh là làm bác sĩ, kỹ sư hay ông giáo gì đó chứ bản thân anh không thích súng đạn và máu đổ. Anh biết trong dòng họ anh có nhiều người tham gia kháng chiến chống Pháp, Mỹ, người tập kết ra Bắc, người ở lại xây dựng phong trào cách mạng, có người tự về quê hương cầm súng nhưng anh còn non nớt và chưa nghĩ tới. Nếu cuộc đời anh không gặp phải Thê thì cha anh chưa bố trí anh lên rừng...

Bàn giao vòng tai người cho nhà chứng tích tội ác giặc, trở về lòng Hùng càng ray rứt, đăm chiêu và hốc hac đi trông thấy. Buổi chiều, cơm nước xong, giám thị trưởng gọi anh lên. Anh băn khoăn không biết có chuyện gì, sao chiều nay họp thủ trưởng không nói. Nhìn thủ trưởng với mái tóc bạc, ông pha nước rồi lấy bao thuốc ra mời, Trần Hùng càng băn khoăn hơn. Ông kể cho anh nghe gia đình ông bị cường hào ác bá áp bức, nỗi khổ của người mẹ phải nuôi mấy anh em ông, về người cha bị giặc Pháp giam cầm ở Côn đảo và nhiều chuyện khác. Cuối cùng ông kết luận: "Người chiến sĩ cách mạng không thể mang lòng hằn thù cá nhân, phải biết đặt lòng hận thù đế quốc xâm lược, giai cấp thống trị độc ác lên trên hết." Trần Hùng hiểu, anh ra về lòng thấy vui như trút được tảng đá nặng bấy lâu nay đè lên ngực.

Lê Thê làm công việc chăn nuôi. Đàn gà heo do Thê nuôi mau lớn, đẻ dày, năng suất nhất trại. Ngoài thời gian rãnh rỗi Thê luôn giúp đỡ các trại viên khác yếu hơn. Thê gánh phân đến vườn tiêu, lấy lá cho cá ăn, không việc gì là hắn không làm. Hắn luôn được trại biểu dương và khen thưởng. Có điều Thê không vào đội nào được, hắn bị các trại viên tẩy chay, đành một mình lủi thủi cùng đàn gà chuồng heo.

Từng trại viên lần lượt trở về sum họp gia đình. Đối tượng dân vê, ấp trưởng, hạ sĩ quan chỉ vài tháng, thậm chí chỉ vài tuần tập trung học tập đường lối chính sách của nhà nước. Lê Thê đằng đẵng gần mười năm, từ một trai tráng trung niên giờ sắp lên lão. Trên khuôn mặt già đen sì nổi lên những u cục to bằng đầu ngón tay, đôi mắt vằn những tia đỏ đến khiếp. Trại viên đồn nhau đó là ác báo.

Không phải Thê không được ban giám thị trại quan tâm xét duyệt cho về, mà do phản hồi từ địa phương. Đã mấy lần Trần Hùng cùng giám thị trưởng mời dân làng lại, giải thích đường lối chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước đối với người có tội, song dân làng một mực từ chối. Chủ tịch xã, con ông Đình em họ Hùng thẳng thắn:"Địa phương tiếp nhận Lê Thê, song về phương diện an ninh không đảm bảo." Trên xe về trại, Hùng nhìn thủ trưởng dò xét:

- Hay mình tìm cho Lê Thê vùng đất mới?

Giám thị trưởng cười vui, rung rung mái tóc bạc:

- Hay lắm, ý cậu là... Ông chợt bật cười... Đúng!

Lần này trở lại cao nguyên, đi qua ngôi nhà nhỏ thấy lạnh lẽo, tôi ái ngại hỏi bạn. Không trả lời ngay, anh khuấy cho ly cà phê tan đường, hớp một hớp.

- Lão chết rồi. Trước lúc chết, lão khổ sở lắm. Đau lên đau xuống ba năm. Cũng nhờ bà con hớp nước bát cháo. Lão nhìn trân trân vào tay người bưng, từ đôi mắt đục mờ ứa ra hai dòng nước trong veo, miệng lẩm bẩm: "Muộn rồi! Muộn rồi!". Chính quyền xã tới thăm, hỏi lão yêu cầu gì, lão thều thào xin gặp vợ con. Người vợ già yếu không đi được, thằng con lên săn sóc lão được vài tháng trước khi lão mất. Thằng con lão cũng đen nhưng hiền lắm, không mấy khi mở miệng. Hôm đưa đám dân làng đi cũng đông. Họ khiêng quan tài đốt vang mã, đánh tha la. Họ chôn lão trong nghĩa địa của làng. Chôn lão xong, thằng con qùy trước làng, hai dòng nước mắt chảy dài, chắp tay vái lạy như tế sao...

Anh bạn tôi không biết nghĩ gì đó, búng tàn thuốc lá ra xa, buông lỏng: "Hết một đời người!.."

Đầu Ngọn, tháng 1-2002
Q.T


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 29 Tháng Giêng, 2011, 08:26:05 am
Con ngựa trong hầm bí mật

LÊ NGUYÊN NGỮ


Trong bối cảnh rạt rào gió bấc và nắng trải vàng như mật bên ngoài báo hiệu Tết sắp vê, con ngựa cũng đứng dạng bốn chân như lắng nghe câu chuyện đầy hoài niệm mà Tư Gồng bắt đầu kể tôi nghe. Giản dị vì đây là câu chuyện về chính nó, Tư Gồng trước kia đã lần khân hẹn khất với tôi chờ đến Tết Con Ngựa. Mà lúc này thì đã là cuối tháng chạp rồi.

... Bây giờ thì tôi xin bắt đầu và cũng xin phép hơi dài dòng một chút. Tư Gồng ngồi nghiêm chỉnh lại, đặng hắng và nói.

Bỏ bớt râu ria cho gần hơn, tới tháng ba năm bảy lăm, khi tin vừa có một đơn vị quân Giải phóng kéo ngang xóm Đàn Bà Giá thì đại đội tôi được điều về lập lại cái đồn ở đó, cách xóm không xa.

Chẳng biết liên quan gì với con ngựa mà tôi gặp này không, chớ trước đó nó có tên là xóm Xe Ngựa. Sau vì thứ xe thổ mộ ấy ngày một lỗi thời, bị cạnh tranh gay gắt bởi các xe lam nên những xà ích dần dà "gác càng xe", giải nghệ cả. Phần khác chiến tranh ngày một leo thang, nên họ lớp theo phía Cách mạng lớp đăng vào lính Sài Gòn lúc ấy đang đôn quân ráo riết. Đã chiến tranh là có chết chóc, những đàn ông, trai tráng trong xóm Xe Ngựa theo bên này hay bên kia, ngày "leo lên bàn thờ " một nhiều. Nhiều đến nỗi chỉ còn lại rặt đàn bà góa trong xóm để rồi khi chết tên thành địa danh như thoạt đầu tôi kể. Khổ nỗi địa danh này lại trở thành tên luôn cho cái đồn mà đơn vị tôi đóng mới chết. Đồn "Đàn Bà Giá"! Cái tên nghe vừa yếu xìu vừa có vẻ hơi dê dê. Nói theo cách hồi đó là rất... "phản tâm lý chiến". Chẳng biết có phải ảnh hưởng bởi cái tên hay không nhưng khi về đây đồn trú, tôi nghiệm thấy rằng thằng nào cũng có "máu" ấy cả. Từ đồn trưởng tới... trung sĩ quèn như tôi. Anh nghĩ làm sao khỏi, trên trăm thằng "ngựa đực" đang hồi sung sức nhất lại ở sát nách với xóm có cả "một rừng" đàn bà toàn trong tình trạng "không mấy dễ chịu" như vậy! Lỗi là tại cấp trên cho đóng đồn cạnh một nơi như thế.

Tôi hồi ấy tuy không bảnh trai lắm nhưng trông tướng tá cũng khá "bạo liệt". Tên tui là Tư Gồng mà! Trong những lần vo ve vào xóm này tôi cũng có quen, gọi là trên mức "tình cảm", một cô khá đẹp. Cô này tên Hòa, tính tình hơi lẳng lơ và cũng hơi... đanh đá cá cầy. Hòa nghe đâu có chồng theo Cách mạng và đã hy sinh. Thường những người có thân nhân theo Cách mạng đôi khi cũng hay phao lên như thế, để khỏi bị nghi ngờ và sống cho yên ổn. Nhưng mình quan tâm gì việc ấy. Chỉ là chuyện bồ bịch qua đường, miễn họ "chịu đèn" thì thôi. Sau khi quen được một thời gian, tôi nghe phong thanh đại úy đồn trưởng cũng đang tìm cách tán tỉnh Hòa. Cha đại úy này nguyên từ ngành tâm lý chiến pát-xê sang nên rất độc. Kỳ đơn vị ở đồn Cây Táo, xóm ấy có một bà nghe nói là vợ của ông nào tập kết về giữ chức vụ gì to lắm bên phía Giải phóng. Dù chẳng quen biết gì bà này nhưng có mấy hôm mới mờ sáng, hắn đã đến mặc quần đùi, áo may-ô, ngồi súc miệng, rửa mặt nơi giàn nước ăn sau nhà bà. Chẳng biết tác dụng sau đó ra sao, nhưng cái chiêu "nỗi oan Thị Kính" này tuy dễ làm nhưng... rất độc! Lần này thì trưởng đồn "ra chiêu" hay hắn định "tòm tem" thật? Và nếu hắn tòm tem thật thì không những bất lợi mà còn nguy hiểm cho tôi quá. Loạng quạng hắn mà tống một phát, mình bay lên Tây Nguyên, sẽ mất chỗ đội nón như chơi. Trên ấy nghe đâu các ông Giải phóng đang đánh lớn.

Tôi ở bên quân báo nên có điều kiện la cà ngoài xóm ban đêm. Một đêm trăng nhờ nhờ và cũng hơi khuya, tôi lại nhà Hòa định tìm cách tán tỉnh. Đèn nhà Hòa còn sáng. Cô này là thợ may nên hay thức làm việc rất khuya. Tôi ra sau nhà, tìm cách nhón người nhìn vào, thấy cô đang ngồi khuy nút gì đó nơi chiếc đi-văng. Dáng ngồi của cô rất đẹp và quyến rũ. Người phụ nữ ngồi làm những việc ấy thường dễ tạo xúc động cho cánh đàn ông. Huống chi đó là Hòa. Nhìn trộm như thế rất thích mắt. Lúc tôi còn đang say sưa ngắm cô thì bỗng phía trước nhà có tiếng gọi kêu mở cửa. Và khốn nạn cho tôi, tiếng kêu ấy lại là của thằng cha đại úy đồn trưởng! Trong lúc Hòa mở cửa, tôi biết thân phận mình nên vội vàng chuồn êm. Nhưng không êm. Cái đòn gỗ tôi vừa rời, bỗng lăn một vòng dưới chân gây ra tiếng động khá lớn. Thằng cáo già đồn trưởng tức tốc vòng ra sau. Nhác thấy dáng hắn, tôi vội thục mạng chạy. Và đã không còn kịp nữa. Theo đằng sau lưng tôi là tiếng lên đạn súng côn và tiếng quát "Đứng lại, không tau bắn!" của tên đại úy. Chắc hắn tưởng tôi là người cách mạng về. Mặc hắn dọa, tôi vẫn vắt giò lên cổ mà chạy, tôi biết cái tài súng của hắn nên dù có bắn thật cũng chẳng hề gì. Cái tội giờ này còn trốn khỏi đồn, lại vào nhà gái là lớn lắm. Đấy là chưa nói đến máu ghen của hắn. Nhưng nếu hắn cứ rượt mãi tới sáng thì sao? Chẳng lẽ lại chạy về đồn? Tôi vừa chạy vừa bấn loạn nghĩ. Phía sau hắn vẫn tiếp tục rượt, quát "Đứng lại... Đứng lại...!" và bắn theo mấy phát nữa. Vừa quẹo qua một ngã đường, trong lúc bí cùng không biết làm thế nào thì bỗng một cánh tay phụ nữ kéo ngay tôi vào nhà, lôi tuốt vào buồng và ấn vô nơi treo quần áo đàn bà cũ. Tôi vội rúc vào đó thì hóa ra trong ấy là một ngăn vách hầm bí mật. Liền theo bên ngoài nghe vọng vào lúc một xa dần tiếng chân rượt đuổi của tên đại úy đồn trưởng. Thật là hú vía! Bây giờ tôi mới hoàn hồn nhìn lại nơi che giấu mình. Đây đúng là một vách đôi làm hầm bí mật, tuy đơn sơ nhưng rất kín đáo và chắc chắn. Cuối nơi góc hầm có để một đôi dép cao su, tôi cầm lên xem thấy đã cũ và một con ngựa... gỗ! Nó chính là con ngựa này đây.

Lúc bấy giờ tôi mới nhớ đến tình cảnh của mình. Thật đúng là dở khóc dở cười! Thằng đồn trưởng máu gái đã đẩy "một trung sĩ quân báo lính Quốc gia lại được che giấu trong hầm bí mật bởi một cơ sở Việt Cộng". Cơ sở này là một bà già, tôi chỉ kịp nhìn như thế. Chắc bà ấy thấy rượt đuổi gắt gao, tưởng tôi người của bên Giải phóng thật mới ra tay che chở. Nghĩ đến đấy mình mẩy tôi tháo mồ hôi hột. Bình thường biết nhà nào có hầm thế này là tôi báo bắt ngay. Phải thoát nhanh ra khỏi nơi đây rồi hạ hồi phân giải. Chẳng hiểu sao, có lẽ nghĩ để làm bằng cớ hầu chứng minh sau này, tôi quơ theo luôn cả con ngựa và đôi dép cao su đã vẹt gót. Bà già biến đi đằng nào không rõ. Có lẽ là để an toàn cho tôi và cho cả chính bà. Đêm ấy với con ngựa và đôi dép cao su, tôi len lỏi đi một mạch tới khuya thì về đến nhà mình. Vợ con tôi đang ngủ. Tôi cất hai thứ ấy, tắm và thay đồ sạch sẽ rồi trở ngay lại đồn.

Trong quán cà phê đầu xóm, cái tin đại úy trưởng đồn "một mình một ngựa" đi phục và rượt nhau với Việt Cộng ngoài xóm Đàn Bà Giá nghe râm ran trong lính, trong dân. Khi ngang nhà Hòa, thấy cô trước ngõ, tôi vội giả bộ hỏi thăm về sự kiện này.

- Em không biết! - rồi Hòa tiếp giọng đầy nghi ngờ - Có khi giành gái rượt nhau rồi đổ thừa, chớ gần đồn vầy Việt Cộng nào dám về.

Tôi nghe mà chột dạ. Về đến đồn, tên đại úy xác nhận tin đó là đúng và khiển trách tôi:

- Việt Cộng xuất hiện ngoài xóm, còn trung sĩ quân báo lại chém vè, về ôm đít vợ thì. .. cũng nên kỷ luật!

Tôi vội bịa ra hoàn cảnh đột xuất nhà mình để y thông cảm bỏ qua, rồi hỏi gặp được Việt Cộng ở đâu?

- Cuối xóm! Đang đi tuần tra, bất chợt phát hiện ra hắn đi ngược lại. Trực nhìn thấy hắn vội bỏ chạy, tôi bèn rượt luôn! - Rồi y tiếp, giọng pha chút khâm phục - Cũng phải công nhận là thằng Việt Cộng ấy chạy giỏi thật. Mới đó mà mất bay mất biến!

Chẳng biết hắn có nghi ngờ gì mình không. Tôi ra vẻ phán đoán:

- Đại úy đừng loại trừ khả năng là... có thể có một cái hầm bí mật nào đó trong xóm.

Nghe vậy y ngẩn ra rồi gật gù:

- À... ừ... Ông đúng là dân quân báo! Có thể như thế lắm. Một cái hầm bí mật đâu đó trong xóm!?

Đã đến lúc tôi phải bắt bà già! Bắt để phần nào chứng minh người tối đó hắn rượt chính là Việt Cộng và kết quả những đêm tôi la cà ngoài xóm Đàn Bà Giá làm... công tác chứ không phải chuyện gái. Bà già này tên là Thà. Lê Thị Thà. Bây giờ thì tôi biết, bà có ông chồng tập kết và đứa con trai theo về phía bên kia.
Muốn bắt bà, phải về đem đôi dép cao su và con ngựa lên để làm chứng lý. Tôi bèn nói thác, xin tên đồn trưởng hăm bốn giờ về thu xếp việc nhà và nhân thể, mượn tài liệu nói về hầm bí mật để tham khảo. Y đồng ý ngay, giục tôi về và nhớ lên đúng phép.

Khi về đến nơi thì... trớ trêu thay trên nền nhà, đứa con gái bốn tuổi của tôi đang cưỡi trên lưng con ngựa gỗ! Mái tóc vàng tơ của nó bay bay ra sau theo trớn phi lui phi tới của ngựa. Tôi sững sờ ngồi xuống bên nó. Thấy tôi, nó nhoẻn miệng cười sung sướng và phi càng mau hơn. Bỗng Thuần - vợ tôi sau lưng sà xuống bá lấy cổ tôi.

- Anh, đêm về hồi nào? Lại nhớ hôm nay là sinh nhật bé Chi mà mua ngựa gỗ cho nó nữa!

Hóa ra hôm nay sinh nhật con gái tôi? Vợ tôi là người rất quan tâm đến những ngày kỷ niệm trong gia đình và luôn lấy đó làm thước đo hạnh phúc.

Tôi vội nói:

- Ừ... ừ... anh về khi đêm và... lại vội đi có chút việc.

Thuần âu yếm nói với con trong khi vẫn không rời cổ tôi.

- Bé Chi có thích quà sinh nhật của bố mua cho không nào?

Bé Chi sung sướng gật đầu liên tiếp:

- Thích, thích... mẹ ạ. Con ngựa này là ngựa... gái phải hông bố?

Thuần bảo khi cô lôi ra quà sinh nhật này, bé Chi quả quyết nó là ngựa gái và cứ nằng nặc đòi lấy đầu tóc của con búp bê hỏng gắn vào. Quả thật trên đầu ngựa bấy giờ đang có chỏm tóc vàng như râu bắp đang bay phất phơ theo gió.

Trưa đó nhân ngày vui của bé Chi và nhất là lần đầu tiên từ ngày nó chào đời, vợ tôi thấy chồng quan tâm mua quà sinh nhật cho con, đã làm một bữa cơm khá ngon. Có con ngựa đứng bên mâm ăn, không khí gia đình tôi bỗng khác đi. Đầm ấm và hạnh phúc hẳn lên. Và cũng suốt bữa cơm cùng với đứa con bốn tuổi của mình, tôi cứ nhìn con ngựa đến quên cả ăn. Cả vợ tôi cũng vậy. Tất nhiên là cái nhìn của tôi khác với vợ con. Cái nhìn đầy những xao động, bần thần! Anh bộ đội Giải phóng nào đã mua con ngựa này hẳn là một người cha tốt, hết lòng yêu vợ thương con! Chẳng biết anh ta người Bắc hay ? Anh đã mua hay có được con ngựa này trong trường hợp chắc đặc biệt và cảm động lắm! Con của anh bao lớn, gái hay trai? Chắc vì vướng bận hành quân, di chuyển nên đã phải gửi lại con ngựa vào hầm nhà bà Thà... Rồi với suy luận của một lính quân báo, qua trường hợp anh sở hữu con ngựa, tôi biết người bộ đội Giải phóng này tin tưởng ở chiến thắng gần kề, chắc chắn đến như thế nào và ngày về gặp lại vợ con sẽ không xa ra sao... Với người cha nhân hậu, yêu thương con như thế, tin tưởng vào chiến thắng của mình như thế, quyết không phải là một người lầm đường. Sự lầm lạc chỉ có thể rơi vào những người cha như tôi, theo về cái phía như tôi. ..! Việc định bắt bà già, người vừa can đảm cứu mạng sống mình cũng đủ cho thấy sự mờ tối của lương tri. Suốt một buổi chiều cùng với con ngựa, tôi luôn loay hoay với những nhận định, giác ngộ như thế. Và, đến khi tìm cách dán lại mớ tóc vàng cho chắc chắn vào đầu ngựa tôi quyết định đào ngũ, không trở về đơn vị nữa.

Thật may cho tôi, ngay đêm sau, tức là đêm đầu tiên tôi đào ngũ, đồn Đàn Bà Giá đã bị phía Cách mạng về "làm cỏ" sạch sành sanh! Tên đại úy trưởng đồn bị Hòa cùng Cách mạng bắt sống ngay nơi nhà cô, cũng trong đêm đó.

Con ngựa này không những đã giác ngộ mà còn cứu cả mạng tôi!

Sau đó là giải phóng hoàn toàn Miền . Do tôi đã đào ngũ và lại tích cực tham gia vào việc giữ gìn an ninh trật tự địa phương lúc mới tiếp quản, nên được giảm thời gian cải tạo. Mấy năm sau, tôi mới có dịp mang theo con ngựa này, tìm về xóm Đàn Bà Giá thăm lại bà Thà. Bà khi ấy đã già lắm. Tôi phải gợi, nhắc lại nhiều lần bà mới nhớ.

- À... con ngựa thì tôi nhớ! Thấy mất con ngựa, hồi ấy tui cứ đinh ninh đồng chí của người bộ đội gửi con ngựa về lấy rồi bị rượt, hóa ra là anh!

Rồi bà bồi hồi cho biết tiếp. "Sau giải phóng, có đồng chí bộ đội cùng đơn vị với cậu người Bắc gửi con ngựa, lại thăm cho hay cậu ấy đã hy sinh ở Xuân Lộc rồi. Thôi, anh đem con ngựa về, gọi là để tưởng nhớ cậu ấy, da ngựa bọc thây! Chính thằng con trai tui cũng... đâu có trở về. Đã vậy còn... lạc mồ, thất mả!". Bà nói và khóc.

Hơn một phần tư thế kỷ rồi. Đó là những lý do khiến con ngựa này luôn luôn được trình bày ở vị trí trang trọng bên bàn thờ nhà tôi như anh từng thắc mắc...

Tư Gồng vừa kể xong, một đợt gió chợt lồng trốt vào nhà. Con ngựa gỗ đang đứng im lìm bỗng bắt đầu nhấp nhổm vào nước kiệu tới, lui. Tôi hoảng hồn dụi mắt. Hóa ra là tại cơn gió bấc vô tình thổi làm trớn cho nó. Cận Tết quá rồi còn gì.

Cận Tết Con Ngựa 2002
L.N.N


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 29 Tháng Giêng, 2011, 01:57:32 pm
Hoài giang

NGUYÊN QUÂN


Gió từ đại dương lồng lộng thổi qua cửa sông, qua bãi cát trắng xoá rồi vỗ đập vào những tàu lá dài ngoằng của loài dừa nước, oà vỡ những thanh âm xạc xào.

Hùng cúi khom lưng trần che chắn từng ngọn gió, cố nhen nhúm cái bếp dã chiến. Ngọn lửa mong manh cứ nháng lên rồi tắt ngúm. “Gió lớn quá” tôi lẩm bẩm và dịch người tránh luồng khói cay xé mắt cứ chực tạt vào mặt.

- Anh thấy chưa, rồi nó cũng phải chịu thua mình thôi.

Hùng hả hê nói khi ngọn lửa dần bốc cao và những ngọn gió bây giờ lại trở thành tác nhân giúp lửa cháy to hơn.

- Ông nầy kiên nhẫn thật, gặp tôi thì thà ăn sống chú vịt còn hơn phải xì xụp lạy lục ông táo như thế.

Dụi đôi mắt ngộp khói tôi trả lời rất vô duyên. Hà - tay trạm trưởng y tế xã - một ông bạn tôi mới làm quen được trong chuyến rong chơi đầy ngẫu hứng này, vỗ nhẹ vai tôi cười:

- Chẳng kiên trì thế làm sao nó có được cô vợ đảm đang xinh đẹp như bây giờ phải không Hoài Giang?

Câu nói của Hà khiến những người đang ngồi quanh bếp lửa phá lên cười tán thưởng. Hùng lúng túng cúi gầm mặt, đôi tay ngượng nghịu chẳng biết giấu vào đâu nên cứ day qua trở về cái soong nước mới bắc lên mấy viên gạch kê tạm làm bếp.

Tiếng cười quá lớn đủ để đánh thức bầy vịt ngủ trong chuồng, chúng đồng thanh kêu toáng loạn. Hoài Giang đang giúp chồng nhóm lửa, vội vã đứng dậy bước nhanh về phía cái chuồng che chắn hơi sơ sài bằng lá dừa nước. Tôi nhìn theo cái dáng thon gầy với mái tóc xõa dài đột hiện giữa nền trời sáng loáng vầng trăng hạ tuần mới nhú. “Đẹp tuyệt”, tôi buột miệng khen. Từ tuyệt đẹp vừa thốt lên tôi chỉ có ý tán tụng khoảnh khắc thơ mộng bất chợt bắt gặp. Có lẽ mới quen nên Hà chưa hiểu hết ý tôi, anh ta vội tán theo:

- Chưa đẹp bằng chuyện tình và thân thế của nàng đâu. Hấp dẫn ly kỳ hơn tiểu thuyết phải thế không chú Hùng?

Hùng gật đầu và ném thêm vào bếp những nhánh lá khô. Tôi hơi bị bất ngờ trước thái độ mặc nhiên công nhận của Hùng, nó bắt tôi phải nổi tính hiếu kỳ tra gạn Hùng về cái gật đầu xác nhận đầy kiêu hãnh ấy...
Hà ví von thật đúng, cái khoảng khắc tôi cho là tuyệt đẹp vừa bắt gặp chẳng nghĩa lý gì so với câu chuyện Hà kể về thân thế Hoài Giang, về Hùng và mối tình của đôi vợ chồng chủ nhân cái cồn cát mà chúng tôi ngẫu nhiên ghé lại trong chuyến thả thuyền rong chơi dọc sông Hoài. Thật sự cái tên Hoài Giang là tôi mượn tên để gọi người đàn bà trẻ có dáng dấp thon gầy mảnh mai và bờ tóc mềm mại xõa dài như dòng sông hiện hữu trước mặt.

Chị Hảo nén tiếng nấc trong lồng ngực để đẩy mạnh, chiếc thuyền thúng chòng chành theo từng vòng sóng nước, con bé mấy tháng tuổi no căng sữa mẹ được gia thêm vài giọt thuốc ngủ nên vẫn say sưa giấc. Chiếc thuyền thúng nhỏ xíu dật dờ trôi giữa dòng sông mù mờ ánh trăng hạ tuần. Chị Hảo thầm đọc những lời cầu nguyện rồi xốc lại cây súng, quay lưng bước nhanh về phía cánh đồng tranh lách um tùm trải dài đến tận rừng già. Chị không đủ can đảm để nán lại, nhìn theo đứa con rứt ruột sinh thành mà giờ đây số phận nó lại phải gởi gắm vào sự định đoạt của dòng sông. Nhưng chị  có một linh giác rằng con nước hiền hoà thân thuộc gắn bó suốt cả một thời thơ ấu của chị sẽ cưu mang, bảo vệ đứa con gái của chị trong hành trình xuôi dòng qua cái thị trấn, qua gầm cầu ken đầy lính gác để đến được bến bờ bình yên, một làng chài ở hạ lưu con sông.

Vợ chồng chị đều ở trong đội du kích hoạt động bí mật giữa vùng địch chiếm, một đội viên bị lộ và bị bắt đã không giữ vững tinh thần trước những đòn tra tấn nên đã cung khai. Sự phản bội của y làm đa số du kích trong làng bị lùng sục bắt bớ, theo chỉ thị của Huyện đội, vợ chồng chị phải rút lên cứ ở thượng nguồn sông, đúng thời điểm chị đang mang thai. Hai tháng sau đứa bé chào đời. Chiến tranh đang ở thời kỳ bộc phát dữ dội, quân đội Sài Gòn liên tiếp mở nhiều cuộc hành quân cấp sư đoàn, quyết tâm san bằng cứ địa của quân du kích. Đứa bé mới sinh trở thành gánh nặng cho vợ chồng chị, cho đồng đội trong những trận chống càn, những trận oanh kích mang tính huỷ diệt. Cái khó là làm sao đưa được đứa bé an toàn vượt qua vùng chiến tuyến đầy lửa đạn, đầy những đồn bót chốt trạm của nhiều đơn vị lính Sài Gòn tăng cường, ngăn chặn các ngả đường tiếp tế của dân lên chiến khu.

Cùng tất biến, chị Hảo chợt nghĩ tới dòng sông. Dưới hạ nguồn, cách nơi chị đang chiến đấu chỉ một đêm nước ròng, có biết bao dân làng, biết bao bà con nội ngoại thân yêu của anh chị sẵn sàng nuôi nấng, chở che cho con chị. Qua một đường dây chưa bị lộ, chị liên lạc được với hội phụ nữ kháng chiến còn hoạt động trong làng để bố trí ngày giờ đón cháu bé. Vợ chồng chị tranh thủ từng giây từng phút tạm yên sau những đợt đánh phá để chặt tre, đan thuyền. Anh chị em ở huyện đội cũng chia phiên đi thu gom từng lớp nhựa ứa ra trên những thân cây chò cổ thụ bị miếng bom mảnh đạn băm vằm. Mỗi ngày, hình như chị mỗi có cảm giác yên tâm với quyết định của mình. Đứa con gái bé bỏng của vợ chồng chị sẽ được bình an xuôi dòng trong chiếc thuyền thúng tuy thô kệch bé nhỏ nhưng rất vững chãi bởi niềm tin và nghĩa tình...

“Cũng một đêm có trăng như thế nầy…” Người du kích nhỏ tuổi nhất của huyện đội năm ấy sửa lại thế cho chiếc chân gỗ, thở dài rồi dốc cạn ly rượu, nghếch mặt ra phía dòng sông đang giăng kín những ngọn đèn của người đi dũi tôm, lưới cá, nghề sinh sống của đa số cư dân vùng cửa biển. Tôi hiểu Hà muốn nói vào một đêm trăng xa xăm thời chiến tranh, chính những ngọn đèn dầu tù mù, chập chờn theo triều sương, sóng nước ấy đã vớt được đứa bé chưa tròn một năm tuổi, một bé gái mềm mại, duyên dáng  nhuần thấm đạo lý bồi, lở và nhân hậu trong xanh của một dòng sông. Như sự tính toán tỉ mỉ và những lời cầu nguyện đầy nước mắt của người mẹ...

Hoài Giang trấn áp xong hàng trăm chú vịt đã lên tiếng phản đối bọn người vãng lai không dưng phá vỡ giấc ngủ của chúng bằng tiếng cụng chén côm cốp, bằng tiếng cười ngợp ngụa hơi men.

- Ngày mai mà thất thu trứng là em bắt đền mấy anh đó.

Hoài Giang vừa cười vừa nói khi bỏ thêm vào nồi nước sôi sùng sục mấy quả trứng vịt nhặt được trong chuồng, nụ cười của người thiếu phụ mà tôi đoán chừng chỉ nhỉnh hơn tuổi hai mươi lăm một chút, thật hiền và quyến rũ, Hùng cũng trạc bằng tuổi ấy, chẳng hiểu bản lĩnh nào giúp hai vợ chồng còn rất trẻ có thể chịu đựng được cuộc sống gần như biệt lập, tẻ nhạt trên cái đảo cát không tên gọi, không mấy khi có bóng người. Gọi là đảo chứ thực chất nó chỉ là một cái bãi bồi khá lớn nằm giữa hai nhánh sông chạy dài ra phía biển và chỉ độc một loài cây dừa nước tồn tại được. Chúng mọc từng đôi một, như muốn nương tựa nhau để chống đỡ những phong ba bão táp của đại dương. Cơ ngơi của vợ chồng Hùng là căn chòi, khu chuồng trại từ mái lợp đến phên vách đều làm bằng những tàu lá dừa nhưng trông rất ấm áp vững chắc.

Đêm đã vào sâu, ngoài dòng sông vắng dần những đốm lửa chài, con trăng mười tám muộn màng chếch ngã hẳn về phía nguồn núi bỏ lại chút  ánh sáng mông mênh kỳ ảo phản quang từ cát, từ ngàn vạn ngọn sóng lăn tăn tìm đường về biển cả. Cái đẹp nguyên sơ hoang vắng thêm chút ngây ngây của men rượu như cũng khiến con người cởi mở cõi lòng hơn, giọng Hùng buồn buồn: “Bố em mắc nợ dân làng nhiều lắm anh ạ, không nhà nào không có người hy sinh, vùng đất này là vùng cách mạng truyền thống mà anh...”


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 29 Tháng Giêng, 2011, 01:59:36 pm
Qua những lời tâm sự nồng hơi men của Hùng tôi mới biết bố Hùng là một sĩ quan cấp tá chế độ cũ. Chính ông ta hồi ấy trực tiếp chỉ huy tiểu đoàn địa phương quân càn quét du kích ngay trên quê hương bản quán của mình. Sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng ông đi học cải tạo, ngôi nhà hai tầng nằm giữa trung tâm thị xã và của cải đều bị tịch biên, cả gia đình Hùng bị đuổi ra khỏi nhà chỉ với mỗi người một xách tay quần áo. Túng quẫn, hết đường nên bồng bế nhau tìm đường về quê. Phải vất vả làm lụng kiếm miếng cơm manh áo giữa thái độ ghẻ lạnh mà đa phần dân làng và chính quyền địa phương dành cho gia đình kẻ “nợ máu nhân dân” là áp lực khủng khiếp nhất trút xuống đầu thằng con trai mới chỉ hơn mười tuổi. Thời gian mấy năm đầu mới trở về làng, Hùng còn nhỏ nên sự kỳ thị ấy chẳng ảnh hưởng nhiều tới tâm tính. Nó chỉ ngạc nhiên vì lũ trẻ con trong làng cứ tìm cách gây gổ hay xa lánh anh em nhà nó. Càng nhẫn nhịn càng bị chúng lấn áp bắt nạt, sau quá nhiều trận đòn vô cớ nên bất chấp lời mẹ răn đe, căn dặn, Hùng đánh lại bọn chúng, bao nhiêu uất khí dồn nén lâu ngày bỗng chốc trở thành liều lĩnh hung hãn làm bọn trẻ khiếp sợ...

Hùng ngừng kể, cúi sát xuống bếp lửa châm thuốc, khuôn mặt nhíu lại theo từng bụm khói đặc quánh... Tuổi hoa niên của Hùng rất khổ nhọc, Hùng mỗi ngày mỗi trưởng thành trong gánh nặng vật chất cũng như tinh thần, phần giúp mẹ lo miếng ăn, tấm áo cho bốn đứa em còn quá bé, phần lo bới xách cho bố còn nằm vô thời hạn trong trại cải tạo. Cứ sau một lần cùng mẹ đi thăm bố về, Hùng lại càng thấm thía hơn tính cách trầm lặng, tủi nhục của ông và những giọt nước mắt chua xót của mẹ… Tôi không ngạc nhiên khi biết trước đây Hùng nổi tiếng là côn đồ với hàng chục tờ kiểm điểm còn chất chồng trong uỷ ban xã. Bị cô lập bởi những định kiến, nỗi đau xót, khổ sở mà với suy nghĩ của một đứa trẻ rất dễ nảy sinh sự phá phách hung tợn bắt người khác phải nể sợ mình thì dù sao cũng đỡ hơn phải nhẫn nhịn cúi gầm mặt mỗi khi ra đường như người lớn… Vuốt nhẹ mái tóc dài mượt mà của vợ đang tựa trên vai, giọng nói của Hùng dịu xuống trìu mến: “Nói thật với anh, hồi đó chỉ có Hoài Giang chịu kết bạn với em, cũng may nhờ có cô ấy giáo dục em mới vượt qua được mọi mặc cảm rồi hoàn lương để có ngày hôm nay...”

Nhưng chưa hẳn mọi việc được kết thúc ngang đó. Khi Hùng chịu nghe lời khuyên nhủ của Hoài Giang, cải sửa tính tình để làm lại cuộc đời, thì cái rối rắm nhất, khó khăn nhất lại ập xuống, đó là chuyện tình cảm. Lúc Hoài Giang nhận ra trong nhiều năm giúp đỡ, động viên những thanh niên chậm tiến, trong tim cô bí thư chi đoàn thôn bỗng nảy nở một thứ tình cảm đặc biệt với gã con trai lỳ lợm ngang bướng và có cái lý lịch đen nhất.

Hoài Giang rất khổ tâm khi biết mình đã yêu Hùng, vì cô biết bố mình chẳng bao giờ nguôi quên được cái chết của mẹ trong một trận đánh do bố Hùng chỉ huy đơn vị địch. Ông vẫn thường quy kết bố Hùng là thủ phạm đã bắn băng đạn tiểu liên xé nát vùng ngực người vợ thân yêu của mình, nên luôn trút hết nỗi căm thù ấy lên đứa con của “thằng sát nhân, bán nước...”  Đó là những lời gầm gừ mắng nhiếc mỗi lần ông thấy Hùng, và cũng rất nhiều lần ông la mắng Hoài Giang khi cô ra sức bảo vệ gia đình Hùng bởi những đối đãi thiếu công bằng của chính quyền thôn, như chính sách vay vốn, trợ cấp gia đình nghèo... Nhưng rồi thời gian cùng những lời nói dịu dàng uyển chuyển như dòng sông của đứa con gái ngày càng bào mòn thái độ thù ghét, hằn học của ông bố. Ông không còn chửi mắng hay nhìn Hùng bằng ánh mắt toé lửa.

Oái oăm thay lúc bố Hoài Giang bắt đầu thay đổi quan niệm hận thù thì bố Hùng lại trở về làng sau hơn mười năm gánh trả nợ nần đã gieo. Bố Hùng tuy không nói ra, nhưng sự khép kín, lạnh lùng với cuộc sống là hệ quả tất yếu của mười năm dài bị cầm cố, lao khổ bằng thứ tội danh bán nước nên luôn bị chà đạp sỉ nhục mà không thể minh oan được. Ông vẫn quan niệm rằng: Trong chiến tranh, số phận của một con người chỉ là hạt bụi giữa cơn lốc xoáy, không mấy ai có thể cưỡng lại được. Ông cũng thế, có sung sướng vui vẻ gì khi phải rời bỏ bục giảng, bỏ những đứa học trò bé nhỏ để cầm súng bắn giết người khác, nhất là với những người cùng quê hương, cùng kêu lên một tiếng mẹ ơi trước khi chết. Thôi thì ông cũng chấp nhận sự đối đãi với bản thân ông như thế, ông chỉ bất bình đau xót cho những đứa con vì chịu ảnh hưởng bởi tội danh của người lớn, nên cũng bị đánh mất sự hồn nhiên trong sáng của tuổi thơ trong mặc cảm khốn khổ, trong sự đối xử không công bằng. Nên khi mãn hạn tù trở về làng, ông rất uý kị, lãnh cảm với những người có vai vế ở chính quyền sở tại như bố con Hoài Giang.

 Thái độ bất phục của bố Hùng vô tình gợi lại lòng căm ghét, thù hận của bố Hoài Giang. Tình cảnh của Hùng và Hoài Giang thời đó căng thẳng không tưởng được, có lẽ nếu không vì thương nhau quá hoá liều, thì đã phải chia tay nhau. Và rồi hai đứa quyết định bất chấp sự từ bỏ của hai gia đình, bất chấp những buổi họp kiểm điểm, kỷ luật để dắt nhau ra uỷ ban đăng ký kết hôn. Trước tình yêu và luật pháp, Hùng và Hoài Giang đã qua tuổi vị thành niên, đã có đủ quyền chọn lựa hạnh phúc cho riêng mình, nên không ai ngăn cấm được.

Hùng rất chân quê, đậm dấu ấn lam lũ khắc khổ cũng như lối suy nghĩ rất thật thà, cứ xem mọi gian nan khó khăn chẳng khác gì việc còng lưng cuốc ruộng:

- Bọn em tính rồi, cả hai ông bố đều cố chấp cứ vin vào cái quá khứ để ghét bỏ thù hận nhau, nên chắc chắn chẳng bao giờ chấp thuận cho bọn em kết hôn… nhưng cứng như đá cũng bị thời gian bào mòn hà huống chi con người. Đến đời con em là xong, hết giận. Em chỉ ân hận Hoài Giang vì thương em mà không được mặc áo cưới, lên xe hoa đàng hoàng như thiên hạ.

Đăng ký kết hôn không ai ngăn cản được, nhưng sinh sống trong làng dưới bao áp lực nặng nề từ gia đình nội, ngoại hai bên mới thật sự khó khăn bức bối. Hai vợ chồng bàn nhau ra cắm dùi đảo cát vừa tránh lời ra tiếng vào, vừa dễ kiếm được bữa cơm bữa cháo nhờ sự hào phóng của thiên nhiên.

Hồi chân ướt chân ráo ra lập nghiệp ở đây, vợ chồng Hùng chẳng có gì ngoài một chiếc thuyền thúng, vài cái nơm, nò bắt tôm cá đắp đổi qua ngày. Cứ thế mà cả ngày lẫn đêm vật lộn với cuộc sống giữa bao la sóng nước. Cái chòi bằng những tàu dừa nước cũng bao lần rách tướp, thay mưa đổi nắng cố chống chọi từng cơn lũ rừng, từng cơn bão biển. Vất vả là thế, cô đơn là thế mà cả hai vợ chồng không hề nản lòng, cứ dành dụm từng chút một cho mơ ước và hy vọng hai ông bố sẽ không còn nhìn ngắm nhau bằng những hận thù của một thời xưa cũ.

Lợi dụng nguồn thức ăn vô tận do sông, biển hào phóng ban phát từ những đợt thuỷ triều lên xuống, Hùng gom góp vốn liếng nuôi thả vịt, từ vài con ban đầu đến bây giờ đã thành vài trăm con. Ở đây bốn bề đều là sông nước, khỏi mất công chăn dắt, đỡ tốn kém thức ăn nên lợi nhuận mang về cho vợ chồng Rô bin sơn thời hiện đại khá lớn...

Hùng thật thà tâm sự:

- Vợ chồng em thu hoạch mỗi ngày được hơn hai trăm quả trứng, ban đêm còn đi lưới tôm soi cá kiếm thêm chút đỉnh nên cũng tạm ổn.

Hùng lại ném thêm những tàu lá khô vào cái bếp dã chiến. Những tên bạn già nhưng còn ham chơi của tôi cứ vô tư thi nhau xé xác chú vịt tơ béo ngậy do vợ chồng chủ đảo chiêu đãi. Ánh lửa bập bùng từ những tàu lá dừa nước, loài cây sống thành đôi và độc nhất trên cồn cát ở ngã ba sông nầy soi rõ từng khuôn mặt đỏ nhừ men rượu. Chưa kịp nuốt hết quả trứng có mùi vị ngọt bùi lẫn gian khó của vợ chồng Hùng tôi đã hỏi:

- Còn phần hai ông bố, bây giờ đã ổn chưa?

Hoài Giang vuốt lại mái tóc dài đang bù rối vì gió:

- Gia đình chồng em xuất cảnh sang Mỹ nhiều năm rồi, tháng trước ông già có về thăm cứ luôn miệng than ở bên ấy buồn lắm, chẳng có bạn bè gì, ông còn đòi về ở luôn với thằng cháu đích tôn...

Hùng vui vẻ cắt ngang lời vợ:

- Bọn em thời gian đầu mới lấy nhau rồi ra đây lập nghiệp rất gian khổ và khó khăn đủ mọi bề, hai vợ chồng đâu dám có con nên bây giờ chỉ mới có một chú nhóc, nó còn bé quá không thể ra ngoài nầy được nên phải gửi ông ngoại nuôi giùm… hết giận lâu rồi anh ạ. Nghĩ chuyện đời cũng hay, nhìn hai ông bố ngồi khề khà chung mâm rượu, dành nhau bồng ẵm cái nghiệp chướng hai đứa em sướng hơn trúng số độc đắc...

Tôi chạm cốc chúc mừng với hai vợ chồng, người du kích nhỏ tuổi nhất Huyện đội ngày xưa vừa hát một câu tình ca của người nhạc sĩ tài hoa họ Trịnh, vừa chuếnh choáng đứng dậy, bước dần ra phía bờ sông, giọng hát nhừa nhựa hơi men dâng theo ngọn gió từ biển thổi vào lồng lộng, chiếc bóng khập khễnh duỗi dài giữa mênh mang bờ bãi sáng loáng màu trăng.
                                  
(TCSH số 231 - 05 - 2008)


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 29 Tháng Giêng, 2011, 02:09:14 pm
Ảo ảnh mùa khô

MINH HUỆ


Chúng tôi tìm được địa điểm chốt quân khá lý tưởng. Đấy là chiếc hang đá ở lưng triền núi; hang cao rộng vừa lõm sâu vào vách núi. Cửa hang được chắn bởi tảng đá khổng lồ, rất kiên cố; dù máy bay Mỹ có phát hiện thấy cửa hang mà phóng rốc két, đánh bom tấn thì người ở trong hang vẫn chẳng hề gì! B52 có rải thảm bom thì lại càng không ăn thua.

Phía trước hang là khoảng đất rộng khá bằng phẳng, chỉ cần cải tạo đôi chút là có thể dùng làm sân chơi bóng chuyền. Chúng tôi đã dựng lên trên trảng đất ấy hai dẫy nhà tạm mái giấy dầu. Nhà được che dưới tán lá xanh mượt vươn xa của gốc cây vàng anh; được bao quanh bởi những bụi cây sắn rừng, bụi cây mỏ quạ, cùng những cây leo khác mà tôi không biết tên gọi của chúng là gì, trổ nhiều hoa thơm màu trắng trông na ná như hoa loa kèn.

Đứng trước hang nhìn ra được cánh đồng Lùm Bùm: những thửa ruộng bằng phẳng hoặc bậc thang, thỉnh thoảng lại thấy nhô lên một lùm cây mua hoặc quỳ dại, tựa như chúng được một người khổng lồ nhổ chúng từ đâu đó rồi quẳng lại đây.

Hang chủ yếu dùng làm kho chứa hàng; không nên làm việc, ăn ngủ lâu ngày ở trong hang đá bởi như thế dễ mắc bệnh thấp khớp.

Không khí ở trong hang lạnh và ẩm ướt, lúc nào cũng có mồ hôi đá (nước thấm) tụ lại nhỏ xuống nền hang, tựa như dung dịch xút loãng, ngấm vào quần áo gây ngứa ngáy khó chịu lắm.

Những năm tháng chiến tranh sống ở núi rừng Trường Sơn, tôi nhận ra rằng: Không có gì ngán ngẩm bằng cứ phải nằm khàn ở trong hang đá mà nghe đếm từng giọt mồ hôi đá rơi tí tách lẫn trong âm thanh ì ầm dội qua dội lại bên vách đá của bom chùm B52 rải thảm ở nơi xa nào đó... sao mà rền rĩ đến não lòng!
Những thời khắc ấy, tôi hay nghĩ về miền Bắc... như muốn ứa nước mắt. Mẹ tôi đang ngày đêm mòn mỏi đợi tin các con. Bà năm nay tuổi đã ngoài bẩy mươi mà vẫn vất vả, lầm lũi, đơn côi... vì bà có hai thằng con thì cả hai đều đi thoát ly. Em tôi từ lâu không có tin về, đâu như nó đang chiến đấu ở mặt trận Tây Nguyên. Nghe nói đời sống của đồng bào Tây Nguyên đang bị giặc o ép cơ cực lắm: thiếu gạo, thiếu muối ăn đến phù thũng, mờ mắt, bạc đầu.

- Kỷ Linh ngủ đấy à?

- Không.

- Nội nhật ngày mai trời sẽ hửng.

- Sao anh biết?

- Có tiếng kêu của vợ chồng con chim thủ thỉ ở ngoài rừng đó. Nắng hạn mà cóc nghiến răng thì trời sắp mưa. Mưa nhiều mà chim thủ thỉ kêu thì trời sắp nắng. - Bu Tha giải thích với tôi như thế vừa chất thêm củi cây săng lẻ vào bếp lửa đang nấu nước. Tôi lắng nghe quả là có tiếng kêu của chim thủ thỉ thật: những âm thanh nghe rất nhỏ, mơ hồ, thì thầm lẫn trong cái ồn ào, lao xao của nước xối, mưa rơi. Trời dịu mưa, có con chim sâu dậy muộn đang lích tích gọi bạn kiếm mồi trong khóm sắn rừng trước cửa hang.
Những cơn mưa rừng tiếp nhau báo hiệu mùa khô đã hết; mưa nhỏ thôi nhưng rả rích, dầm dề. Mọi thứ ngấm nước không có chỗ phơi cứ sũng cả ra. May mà còn đống củi dự phòng bằng cây săng lẻ nên không thiếu cái đun. Củi săng lẻ ngấm nước vẫn cháy nỏ như gỗ thông và cháy không có khói. “Trời hửng nắng!” - Chỉ cần nghe nhắc đến mấy từ ấy thôi cũng thấy nhẹ cả người.

...Cả tổ công tác quây quần bên bếp lửa với chén trà nóng ngát hương, nghe Bu Tha kể chuyện. Anh rất thật thà, giọng trầm ấm, kể chuyện mà chẳng cần giấu giếm gì, về cái bản Bạc của anh, về những sinh hoạt văn hóa và tập tục của người Lào Thoong; về nỗi vất vả và kinh nghiệm đi rừng và đánh bắt cá trên sông Sê Kông... Có một chuyện mà Bu Tha kể nghe như huyền thoại, đưa sự liên tưởng của người nghe ngược thời gian về nửa chừng thiên niên kỷ thứ nhất sau Công nguyên:

Có một nhóm người Tầu (không xác định được rõ ngày, tháng, năm!) đã đến tìm kho báu ở vùng này, dọc theo hai triền sông Sê Kông. Họ đã tìm được mười tám bộ thần chủ bằng vàng của vua Hời xưa, nó được chôn cùng với chiếc sọ dừa đã hóa đá tại một hang đá khuất nẻo. (Không chừng cái hang đó lại chính là nơi chúng tôi đang ở”!”).

Theo sử sách thì vào năm 603 sau Công nguyên, vua nhà Tùy sai thái thú Châu Hoan đem quân đánh vào quốc đô nước Lân Âp, bắt được vua Hời và mười tám bộ thần chủ bằng vàng. Mỗi bộ thần chủ tiêu biểu cho một triều vua Lân Âp (truyền được 18 đời). Từ đấy nước Lân Âp bị tiêu diệt lệ thuộc vào nhà Tùy bên Trung Quốc.

Dưới thời nhà Tùy, đất nước Trung Hoa vào thời gian đó rất rối ren, nên rất có thể thái thú Châu Hoan đã không đem nộp những báu vật ấy cho vua nhà Tùy, mà đem chôn dấu ở núi rừng Trường Sơn. Chiếc sọ dừa hóa đá rất có thể là của vua Hời đã bị giết và đem chôn cùng kho báu, được yểm bùa làm thần giữ của. Tôi cần nói rõ thêm: Bu Tha là người dân tộc Lào Thoong, quê nội ở bản Bạc nhưng quê ngoại của anh lại ở Quảng Bình. Mẹ của Bu Tha là người Hời.

Trường Sơn, một mùa khô đại hạn. Trời nắng nóng đến cực độ không sao chịu nổi, suốt từ lúc rạng đông đến xế chiều, cứ hầm hập, hầm hập... Mỗi khi, có làn gió thổi qua quện theo hơi nóng từ những vách đá bị nắng thiêu đốt thì cứ như táp hơi lửa vào da thịt! Sông Sê Kông cạn kiệt, lòng sông phơi ra lổn nhổn những đá đầu sư. Từng đàn bướm đủ các màu rập rờn lượn trên những vùng nước trong xanh bị tách khỏi nhau, mà ở đó vẫn những cá to hở vây tay xách nặng. Bầu trời chói chang trong veo, từng đàn chim sải cánh bay lượn mãi trên cao, và chiều về, bao giờ cũng vậy, không thể thiếu tiếng ca thanh thót của chim họa mi. Khói lam chiều như màn sương mỏng lan tỏa trên những mái nhà sàn của bản Bạc nằm khuất nẻo sau những tàn lá cây khoọc sum suê. Có tiếng ai đó nghe quen thuộc từ phía bản Bạc, như tiếng của Kan Ly gọi chồng: “Bu Tha à...!”

Những buổi chiều trên mảnh đất hoang sơ nơi đây thật thanh bình, một nét thanh bình rất đặc trưng và vĩnh cửu, cho dù đang có chiến tranh! Bu Tha là người địa phương biệt phái sang giúp chúng tôi một thời gian để khảo sát dòng Sê Kông và đóng thuyền gỗ chở hàng chiến lược chi viện cho chiến trường khu V và Nam Bộ. Anh là tay đánh bắt cá cừ khôi nhất bản Bạc: da ngăm đen, mặt vuông chữ điền, người thấp đậm, đôi cánh tay săn chắc... Bu Tha mới ba mươi tuổi mà đã có hai con. Con gái lớn của anh mười tuổi, giúp bố mẹ được đủ việc. Cậu út mới lên ba. Kan Ly kém chồng ba tuổi, một thiếu phụ Lào Thoong xinh đẹp, khỏe mạnh, đảm đang... người gốc Cha Kơi.

Bu Tha thuộc lòng sông Sê Kông như thuộc đường đi ngõ ngách của bản Bạc: từng mô đất, tảng đá; chỗ nào có nước xoáy, sâu bao nhiêu, những hốc nào ăn thông với hốc nào... Dòng Sê Kông quanh co, uốn khúc, chỗ phình ra, chỗ thắt lại, lòng sông có nhiều đá ngầm, cứ khoảng non chục cây số lại có một thác, dưới chân một vài thác có bãi bồi. Đặc biệt có xoáy nguy hiểm và chảy xiết là các thác Hàm Sư Tử, thác Nhạy, thác Rồng.

Dọc hai bờ sông Sê Kông từ bản Bạc tới Bắc-Ca-Đon giang, nứa, tre, vầu chen nhau sin sít vươn xa xõa ngọn phủ bóng xuống mặt sông. Tiếng chim điêu điếu, chim tu hú, chim bìm bịp suốt ngày ồn ã báo hiệu một mùa khô tươi vui, nhộn nhịp của các bản bên sông. Người ta buông lưới, gõ sạp săn cá trên sông, say sưa hò hát. Song, với công việc vận tải bằng thuyền trên sông Sê Kông thì phải mùa thu mới đẹp, bởi khí hậu Trường Sơn khi này đã khô ấm, thác và ghềnh đã bị khỏa đi trong nước mênh mông, thuyền trọng tải mười tấn cũng có thể đi qua. Nước sông càng nhỏ thì thác càng dữ dội, thuyền độc mộc khả dĩ còn đi được, chứ thuyền trọng tải vài tấn thì cơ cực lắm: thuyền dễ bị mắc cạn và bục đáy khi xuống thác.

Mua thuyền của dân thì chỉ có thuyền độc mộc trọng tải chừng năm sáu tạ nên không đảm bảo được kế hoạch vận chuyển. Chúng tôi cần thuyền trọng tải từ ba bốn tấn nên phải đóng thuyền mới. Bu Tha giúp chúng tôi chọn mua gỗ đóng thuyền. Gỗ rừng phải mua của dân và phải qua lễ “đuổi ma” rồi mới được đem đóng thuyền. Dụng cụ và thợ đóng thuyền đưa từ Quảng Bình sang đây.


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 29 Tháng Giêng, 2011, 02:11:14 pm
Cả đội công binh đã làm việc cật lực suốt một tháng trời, dùng sức người sức bộc phá để phá những tảng đá nhô lên mặt sông, nắn bớt những quanh co trên dòng thác, đánh dấu luồng cho thuyền đi qua... Song, về cơ bản thì những thác trên sông Sê Kông vẫn còn nguyên vẻ hung dữ.

Chiếc thuyền gỗ tam bản mang biển số 01 trọng tải 2 tấn do Bu Tha và ba thủy thủ nữa có tay nghề vững đảm nhận, dẫn đầu đội thuyền chở hàng.

Thuyền chở hàng đi ngay ban ngày, đi lẻ tẻ; được ngụy trang cẩn thận lợi dụng những tàn cây che khuất, hy vọng đội thuyền đưa được hàng đến thung lũng Mường Mây một cách an toàn.

... Tới thác Hàm Sư Tử các tay lái của thuyền 01 đã bình tĩnh cố giữ để thuyền khỏi bị lật khi lao xuống thác, thì nó lại... bị nhấc bổng đặt lên bãi bồi.

Gay go rồi đây! Các thủy thủ bị xô ngã sứt đầu xẻ trán, sấp ngửa lóp ngóp đứng dậy. Một trong số thủy thủ đã phải tức tốc chạy ngược lên đỉnh thác ra hiệu cho thuyền đi sau biết mà dừng lại. Số người còn lại thì dùng xẻng đào cát làm lạch, dỡ hết hàng ở trên thuyền xuống; dùng tre, vầu làm đòn xeo và con lăn để lăn bẩy thuyền... Vất vả, chật vật đến mãi sớm hôm sau, các thủy thủ mới đưa được thuyền xuống nước. May mà thuyền không bị thủng đáy. Con thuyền lại được chất hàng lên để tiếp tục hành trình...

Vào thời điểm đó, các thủy thủ thuyền 01 chưa kịp ngơi tay thì đã thấy trên đầu xuất hiện một máy bay trinh sát vũ trang của Mỹ! Chiếc máy bay rà sát xuống mặt sông: cánh quạt tạo nên những luồng gió dồn dập làm lật thốc những ngọn cây rủ bóng và... thuyền 01 đã lộ ra! Thấy mục tiêu, chiếc máy bay trinh sát ngoắt quay lại, bắn xối xả và dội bom tới tấp vào chỗ thuyền đang neo đậu!

Sự việc xảy ra quá bất ngờ khiến chúng tôi không kịp trở tay. Tình hình đã trở nên hết sức nghiêm trọng - nghiêm trọng hơn nhiều so với những gì chúng tôi tưởng.

Máy bay trinh sát của bọn Mỹ rất cáo, nó phát hiện được ngay đội thuyền chở hàng của chúng tôi và chuyến hàng đầu tiên của mùa khô vận tải trên sông Sê-Kong đã bị trúng bom.

Không thể bó tay mà nhìn đồng đội hy sinh, nhìn những chiếc thuyền gỗ mà chúng tôi đã tốn bao công sức mới tạo nên với những hàng chiến lược bị bom đạn vằm nát và nhấn chìm trong nước. Cũng không thể ngưng trệ việc vận chuyển hàng chiến lược chi viên khẩn cấp cho cách mạng miền.

Chúng tôi hạ quyết tâm thực hiện khẩu lệnh hành động: Địch đánh, ta cứ đi! Địch đánh ta, ta đánh trả!

Ngay sau đấy, tất cả những thuyền gỗ trọng tải lớn đều được trang bị vũ khí đánh máy bay tầm thấp.
Quả nhiên, kẻ thù đã phải đền tội: Sau đó, liên tiếp có những chiếc máy bay trinh sát vũ trang của Mỹ được xơi “kẹo đồng”, biến thành bó đuốc và đâm đầu vào núi!

“Thuyền vận tải 01 bị bom Mỹ đánh chìm. Ba thủy thủ của tàu bị thương đã bị thương nặng giạt vào bờ, còn hoa tiêu Bu Tha vẫn chưa tìm thấy...”. Cái tin sét đánh đau thương ấy nhanh chóng truyền đi dọc Trường Sơn.

Chúng tôi, những người còn sống sót, những bạn của Bu Tha cùng gia đình anh và bà con ở bản Bạc, chia thành tốp đi tìm kiếm Bu Tha dọc hai bên bờ sông Sê- Kông; đã ròng rã 10 hôm rồi mà thông tin về anh vẫn biệt tăm. Tốp chúng tôi quay lại chân thác Hàm Sư Tử, buồn và đói mệt, chúng tôi bảo nhau ngồi nghỉ ở đó một lát cho lại sức để rồi lại tiếp tục hành trình.

Và lúc ấy, bỗng xuất hiện con bướm trắng rõ to, không rõ nó từ hướng nào lại, cứ bay lượn quanh quẩn mãi chỗ chúng tôi ngồi. Người tôi bỗng nổi gai rờn rợn như có cái gì đó vô hình, run rủi, linh thiêng!
Tôi khấn thầm: “Bu Tha ơi! Chúng tôi thương tiếc anh vô hạn và đã ra đi tìm kiếm anh ròng rã ngần ấy ngày rồi... Anh sống khôn chết thiêng, hồn anh có hóa thành bướm trắng thì hãy xin dẫn dắt chúng tôi tìm được đến chỗ anh nằm!”

Tôi khấn xong thì con bướm trắng lượn quanh chúng tôi một lần cuối, rồi bay tít lên trời cao! Lòng tôi đau như thắt lại và nước mắt cứ muốn trào ra. Hình như, ở vách núi trước mặt phía xa, lóa nhòa trong nắng hình ảnh một đàn cọp đang ăn xác người! Tôi đưa tay lên dụi mắt: Không! Không có gì! Chẳng qua đấy chỉ là ảo ảnh thoáng hiện trong tâm thức ở nơi tôi.

Vâng, thực tế là vài năm lại đây có những con cọp quen ăn thịt người chết, phiêu bạt đến sống ở vùng rừng núi nơi này. Chính mắt tôi, một tháng trước đây, đã nhìn thấy dấu chân cọp in bên bờ một con suối gần chỗ chúng tôi đang ở.

... Lại một chiều gay gắt nắng đầu mùa khô ở phía tây Trường Sơn, vẫn có những đàn chim sải cánh bay lượn tít trên trời cao, vẫn có khói lam chiều như làn sương mỏng trên mái những nhà sàn ở bản Bạc nằm khuất nẻo sau tàn lá khoọc sum suê, vẫn vang lên tiếng ca thánh thốt của chim họa mi... nhưng không nghe thấy tiếng gọi chồng quen quen của Kan ly từ bên bản Bạc vọng sang.

Vào giờ này, người thiếu phụ Lào Thoong ấy đang ngồi trên một tảng đá bên bờ sông Sê-Kông, lặng lẽ buồn nhìn theo dòng nước ngóng đợi người chồng mà chị biết rằng chẳng bao giờ anh còn về được nữa!
Bu Tha đã vĩnh viễn rời bỏ chúng tôi; vĩnh viễn rời bỏ người vợ trẻ và hai đứa con thơ, rời bỏ bà con họ hàng ở bản Bạc thân thương!

......Đó chỉ là ảo ảnh về những con cọp ăn xác người! Phải tin là như vậy vì nếu không coi đó là sự thật đối với số phận Bu Tha thì... đau lòng lắm!

Song, cái ảo ảnh ấy cứ như một điều linh nghiệm ám ảnh tôi khiến tôi phải day dứt, trăn trở nhiều đêm không ngủ.

Tôi không dám hé răng thổ lộ điều này với bất cứ ai, vì ngay lập tức, tôi sẽ bị mọi người phản đối, cho tôi là mắc bệnh hoang tưởng với những ý nghĩ ngớ ngẩn- quái dị, không thể chấp nhận được.

Tôi bí mật chuẩn bị chu đáo: chiếc búa tạ, chiếc búa đanh, bộ choòng phá đá và những chiếc đục bằng thép hợp kim được tôi cứng và mài sắc....

Tôi lẳng lặng ra đi, chỉ một mình thôi, đến chân thác Hàm Sư Tử-chỗ cái vách núi mà bữa trước hiện lên ảo ảnh.

Tôi chạm khắc vào vách đá ấy một tấm bia to, bằng phẳng, có viền hoa văn và những hàng chữ thật trang trọng:

            Liệt sĩ BU THA.
Sinh ngày. ... tháng.... năm....
Đã hy sinh vì sự nghiệp chống Mỹ cứu nước của nhân dân Lào-Việt ngày .... tháng.... năm....


Đời người ngắn, dài có gì là quan trọng lắm đâu. Cái chính là sống sao cho xứng đáng. Dẫu chúng tôi không tìm được thi thể Bu Tha, thì coi đấy là nơi anh yên nghỉ, để mai ngày, mọi người có thể đến được đây dựng một vòng hoa tươi và thắp một nắm nhang thơm để tỏ lòng thương tiếc anh, một con người bình thường thôi nhưng biết sống có lý tưởng-tình nghĩa thủy chung.

Hà Nội, mùa thu 2000
(TCSH số 154 - 12 - 2001)


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Hai, 2011, 03:24:04 pm
Chị Huệ

NGUYỄN NGỌC LỢI

Bây giờ thì Hồng sắp được gặp chị. Người chị mà suốt những năm tháng đi xa, ở đâu Hồng vẫn luôn nghĩ tới. Cứ mỗi lần như thế, một tình cảm thân thương choán ngập tâm hồn Hồng.

Giờ thì Hồng đã đứng đây. Ngôi nhà tranh bé nhỏ của chị vàng rực trong nắng đầu hè. Cả hàng cau nghiêng bóng, làn khói bếp mong manh. .. cũng gợi cho Hồng một cảm giác thân thuộc, một tình cảm thật khó tả. Chị và anh bước ra. Không biết chị có nhận ra Hồng không?

Chị Huệ thương Hồng lắm. Bấy giờ Hồng và chị cùng vào một khóa sư phạm miền núi. Ngôi trường sơ tán ẩn mình trong một khu rừng săng lẻ. Giao thông hào chi chít chạy dọc, chạy ngang. Mỗi độ đông về, lá rụng vàng mặt đất, xào xạc dưới bước chân đi. Bạn bè Hồng cùng lứa mười bảy, mười tám tuổi. Trai gái hồn nhiên và sức vóc. Chị hơn Hồng 2 tuổi. Hồng là dân sơ tán, ở tận một xã hẻo lánh toàn người dân tộc cuối huyện thì chị lại ở thị trấn, chị là Việt kiều ở Thái Lan về nước. Hồng đi học làm thầy giáo mà gia tài chỉ có chiếc ba lô vuông, vài bộ quần áo còn dính nhựa cây. Còn chị, nào là túi du lịch to, túi xách nhỏ, dép xăng đan. .. Chị nói nhà chị không giàu nhưng Hồng thấy chị thật sang.

Anh chị thật đẹp đôi. Anh có khuôn mặt rất đàn ông, dáng người tầm thước. Đôi lông mày lưỡi mác trên vầng trán rộng. Còn chị, tuy đường nét không còn mềm mại nhưng vẫn đẹp. Hồng nhớ hồi đó chị có vẻ đẹp thánh thiện, nhìn chị ít ai dám cợt nhả hay có những ý nghĩ u tối. Cử chỉ của chị thật dịu dàng. Chị rất khéo tay, từ thêu thùa, may vá đến nấu nướng. Hồng khen chị, chị bảo rằng đó là nhờ mẹ chị dạy bảo. Lúc nào bà cũng bảo con gái phải thế này, con gái phải thế kia. Hồng học cùng lớp với chị nên được ở gần chị. Người ta nói con gái đẹp thì ít thông minh. Hồng cũng nghĩ vậy. Nhiều bài toán thật đơn giản mà chị cứ phải loay hoay mãi. .. Thỉnh thoảng chị rủ Hồng đi chơi. Buổi chiều mát mẻ. Hai chị em đi lòng vòng qua khu nhà ở các lớp khóa trước. Qua hội trường, nhà truyền thống rồi quay về. Đi tới đâu, Hồng cũng gặp những đôi mắt ngưỡng mộ. Hồng thấy tự hào mỗi lần đi bên chị.

- Bố mẹ chị đã già rồi, chị có em trai là thằng Ngọc, nó bằng tuổi Hồng, mà sao Hồng lại giống thằng Ngọc của chị đến vậy. Ngày ở bên Thái nó gầy nhẳng. Chị đi đâu nó cũng đòi theo.

Hồng biết chị quý Hồng, thương Hồng không phải Hồng giống Ngọc của chị mà một phần còn do Hồng học giỏi, dễ mến nữa. Dạo đó là thời kỳ đánh phá ác liệt của máy bay Mỹ. Nhưng nơi sơ tán của trường thì bình yên. Thỉnh thoảng mới thấy bóng vài chiếc phản lực bay qua rồi mất hút. Mỗi lần có tiếng máy bay là chị sợ run lên. Nhìn chị mặt mày tái mét, run lẩy bẩy tìm nơi ẩn nấp thì Hồng lại trêu chị, chị cười bẽn lẽn.

- Chị à, lúc sợ nom chị càng đẹp hơn. Em mong máy bay Mỹ năng bay qua để chị lúc nào cũng đẹp như vậy.

- Thằng quỉ, mi muốn chị chết hay sao? - Chị nói mà mắt chị cứ long lanh ánh lên dõi về chỗ lội dưới suối.
- Hồng cười gì thế?

- Em đang nhìn chị.

- Em thấy gì?

- Chị đã yêu rồi phải không? Hồng nhìn thấy bóng anh Thi lực lưỡng đang từ khoảng rừng bên kia xắn quần lội qua suối. Hai gò má chị ửng đỏ. Vài bữa sau thì anh Thi đến. Anh Thi học khóa trên. Anh Thi là người dân tộc. Anh to khỏe như một con gấu, dáng điệu vụng về thật tội nghiệp, nhất là mỗi lần đứng trước chị.
Bù cho dáng điệu vụng về, anh Thi rất giỏi việc đi rừng, chặt gỗ, làm nhà. Anh làm cho chị chiếc bàn học bằng nứa rất đẹp. Anh bẫy thú cũng giỏi. Thấy chị thương và quý Hồng, anh rủ Hồng đi làm bẫy gà rừng. Anh bày cho Hồng cách thắt dây, gài bẫy:

- Con gà rừng hắn khôn và tinh lắm. Nếu mình gài lộ liễu hoặc gài que chắn đường không khéo là nó không tới đâu. Hồng biết anh đang lấy lòng Hồng: - Anh muốn được như Hồng lắm.

- Tại sao? Hồng giả vờ.

- Huệ có lúc nào nhắc tới mình không Hồng?

- Sao không, lúc nào mà chị chả nhắc tới anh. Chị khen anh thật thà, khỏe mạnh, khéo tay. .. Mắt anh sáng lên:

- Mà thôi Hồng ạ, chắc mình chẳng dám đâu. Huệ sẽ không về trên đó đâu. Người như Huệ sẽ không chịu được cái khổ trên đó. Mà về quê Huệ thì mình không thể. Bố mẹ mình già lắm rồi. Mình đi, không ai làm rẫy cho. Nhớ cái rẫy lắm! Nói tới đây, đôi mắt anh như tối sầm lại.

Chị Huệ càng ngày càng thương Hồng. Dạo đó đời sống thật kham khổ. Thức ăn chủ yếu là ngô đỏ và canh bí. Giáo sinh cải thiện đời sống bằng cách phát rẫy trồng thêm sắn, ngô. Đi rừng gài bẫy, xuống suối bắt cá. Hồng hay được đi thăm bẫy với anh Thi. Chiều nào anh em đi rừng về chị cũng đứng đón ở bờ suối. Chị nhắc Hồng chờ ráo mồ hôi rồi hãy tắm.

- Tắm xong lên đây chị vò đầu cho. Chị thường ngâm bồ kết gội đầu. Mỗi lần như vậy chị thường gọi Hồng xuống "ở đây nước sâu lắm, đừng bơi ra đó”, chị nhắc Hồng rồi quay sang anh Thi. Không biết anh chị nói với nhau những gì mà Hồng thấy anh Thi cười thật tươi.

Cuối năm học thứ hai thì anh Thi nhập ngũ. Cùng lúc chị nhận được tin Ngọc lên đường. Chiều hôm đó Hồng và anh Thi thăm rẫy ngô về thì thấy chị ngồi trên tảng đá giữa suối. Chị báo tin cho anh Thi. Hồng biết bỏ về trước. Hồng thấy dạo này anh chị không như trước. Chị thường buồn bất chợt, còn anh Thi thì hơi lầm lì. Hồng có hỏi nhưng chị bảo không có việc gì đâu Hồng ạ, tính anh Thi vẫn thế mà. Không khí đưa tiễn những người lên đường thật cảm động. Hầu như cả trường đưa chân những người nhập ngũ ra tận cửa rừng. Họ nắm tay nhau, đấm vào lưng nhau. Những giọt nước mắt, những lời dặn dò. .. Anh Thi bắt tay Hồng với ánh mắt thật buồn. Lúc quay về, chị nắm chặt tay Hồng như muốn nói một điều gì. Hồng cứ để yên cho chị buồn.

- Hồng à, mong sao anh Thi đừng có làm sao. Mà em cũng đừng bỏ chị mà đi nữa. Chị không về tiễn Ngọc được. Chắc Ngọc mong chị lắm.

Họ đi rồi. Không khí trong trường trầm hẳn xuống. Anh Thi ra đi như mang tất cả sự hồn nhiên tươi trẻ của chị đi theo. Rừng núi thì âm u. Thác nước chỗ tảng đá hai người thường ngồi vẫn ầm ào...


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Hai, 2011, 03:26:23 pm
Từ hôm anh Thi đi, Hồng chẳng muốn đi thăm bẫy gà rừng nữa. Mà chị cũng chẳng để Hồng đi. Hồng có cảm giác chị như con gà mái xòe cánh che chở cho con. Bao nhiêu tình cảm chị dành hết cho Hồng. Nhiều hôm Hồng bắt gặp chị ngồi bần thần. Anh Thi gởi về được hai lá thư rồi bặt hẳn. Chị buồn héo hon. Hồng nghĩ chắc linh cảm đã mách bảo chị điều gì.

Đợt kiến tập sư phạm sau đó Hồng bị một cơn thương hàn rất nặng. Khi chị cùng mấy người đưa Hồng đến trạm xá của một đơn vị bộ đội đóng cách mấy cây số thì lưỡi Hồng đã đen lại (thật may là chị đi cùng đoàn với Hồng). Các anh chị ở trạm xá thật tốt. Họ đã cứu sống Hồng. Chị mừng lắm. Ngồi tiện mía, bóc cam bón cho Hồng, thỉnh thoảng chị lại lấy khăn lau mồ hôi cho Hồng: "Chị bảo thì Hồng không nghe. Mồ hôi đang đầm đìa mà em cứ tắm. Mà con sông Găng cũng thật hấp dẫn, bãi cát phẳng, nước xanh trong". Mấy giường bên, các anh lính trẻ cứ chăm chú nhìn chị. Chị hỏi anh này, nói chuyện với anh kia. ..

- Thôi, trưa rồi, em nghỉ nhé. Chiều nay có tiết của chị, mai chị tới.

- Cậu có chị gái tuyệt thế? - Chị đi rồi, các anh bộ đội bắt đầu tán dương chị.

Ngọc, em trai của chị đi chưa đầy năm thì hy sinh, tin báo tử đã gửi về nhà. Chị về nhà chịu tang Ngọc. Qua mấy chặng nhờ xe và đi bộ, chị tới nhà thì trời đã tối. Ngôi nhà sơ tán nép mình dưới lùm tre bên chân đồi cà phê đã chìm trong hoàng hôn. Không có ai ra đón chị. Người hay đón chị là Ngọc thì không còn nữa. Ba mẹ chắc không dậy được. Ngày còn bên Thái, hai chị em còn nhỏ. Cho đến bây giờ, những kỷ niệm tuổi thơ vẫn còn đọng đầy trong ký ức chị. Hồi đó ba mẹ lo làm ăn, chị chăm Ngọc. Ngọc gầy tong teo, lúc nào cũng quấn lấy chị. Chị và Ngọc sinh ra ở Thái nhưng luôn mang hình bóng quê hương Việt . Chị chỉ biết Việt qua lời ba mẹ kể, nên không sao hình dung nổi cuộc sống ở Việt như thế nào. Song chị rất vui khi nghe tin sẽ được về Việt . Ngọc còn dại, chưa biết gì, song nó cũng rất mong tới ngày được về. Thế mà giờ đây không còn Ngọc nữa. Trong nhà yên ắng, ngọn đèn leo lét trên bàn thờ đang nghi ngút khói hương.

- Mẹ ơi!

Mẹ dậy khêu đèn và đỡ túi xách cho chị. Huệ ơi, con đã về muộn rồi, trưa nay Ủy ban đã làm lễ truy điệu cho Ngọc rồi.

Chị thấy thương mẹ quá. Mẹ ơi, chị ôm chầm lấy mẹ.

Đêm đã khuya, qua hẻm núi, một chùm sao đang nhấp nháy. Ngọc đã hy sinh ở hướng đó. Anh Thi chắc cũng đang ở hướng đó. Anh Thi ơi, chị bỗng thốt lên. Sao anh không hiểu em? Anh có làm sao không. Chị rùng mình. Chị linh cảm sẽ không bao giờ được gặp anh nữa. Nước mắt chị ứa ra. Tự nhiên chị như thấy anh Thi bằng xương bằng thịt hiện ra trước mắt. Anh cười, hàm răng trắng khỏe nở lóa làm rạng rỡ khuôn mặt màu da nâu của anh. Bất giác chị lại nghĩ tới Hồng. Giờ này chắc nó đang mong chị. Chị quay vào, lần giở chiếc va li mang từ Thái về. Chiếc quần téc gan màu rêu, chiếc sơ mi kẻ của Ngọc để lại còn mới. Chị gấp cả bộ và cho vào túi. Chị sẽ mang xuống cho Hồng: "Chị tưởng rằng sẽ không đi được nữa. Ba mẹ chị yếu rồi. Chị định ở nhà chăm sóc ba mẹ song ba mẹ bắt phải đi. Hơn nữa chị nghĩ tới em, nghĩ tới bạn bè và các thầy ". Chị nói với Hồng khi Hồng đỡ túi cho chị.

Mùa đông lại tới, rừng săng lẻ trút lá đầy lên cái mái nứa. Lá rụng vàng sân khu nhà ở. Buổi sáng, sương mù từ suối ùa lên mờ mịt. Mùa đông ở rừng thật rét, vậy mà da dẻ chị căng hồng. Hồng thật mừng khi thấy chị vui. Có bữa chị đùa:

- Để chị giới thiệu cho em một đứa nhé, chị biết có người thương em. Hồng ngạc nhiên trước sự hồn nhiên của chị. Hay là chị có ai rồi. Mấy đứa quê anh Thi rì rầm chuyện gì nghiêm trọng lắm. Họ không cho Hồng biết, mỗi khi Hồng hỏi. Nhưng rồi họ cũng không giấu được Hồng.

Một buổi sáng trăng, không thấy chị bên bàn học, Hồng đi tìm. Qua tán lá rừng, ánh trăng soi rõ chị đang ngồi trên tảng đá giữa suối. Chị ngồi như hóa đá. Mái tóc xõa qua bờ vai chảy tràn trên tấm lưng mềm. Chị ngồi câm lặng, mặc cho thác nước tung bụi, gầm gào. Hồng để yên cho chị ngồi. Hồng không dám làm động đến giây phút thiêng liêng của chị.

Chị Huệ làm cơm dưới bếp. Anh Huỳnh ngồi tiếp chuyện Hồng:

- Hồng à! Bây giờ mới được gặp em mà anh cứ tưởng như là biết em từ lâu rồi. Phải nói rằng Huệ tả rất chính xác. Giọng nói ấm áp của anh cứ thủ thỉ: Anh là bạn, cùng đơn vị với Thi. Hai người cùng tiểu đội vận tải cơ giới của đoàn 559. Thi thật tốt bụng và dũng cảm. Thi nhắc tới em và kể cho anh nghe câu chuyện của hai người. Anh là người chứng kiến sự hy sinh dũng cảm của Thi. Xe anh bị bom trong một đêm vượt trọng điểm. Anh bị thương. Thi bế anh lên xe mình, chưa kịp lên xe thì Thi lại trúng bom. Trước khi nhắm mắt, Thi nhắc tới em và chị Huệ. Thi gởi anh cái ba lô và nhờ anh chuyển tới Huệ...

Hồng ngồi nghe anh Huỳnh kể chuyện mà không biết chị Huệ đã đứng sau lưng từ bao giờ. Bàn tay chị cứ vuốt mãi lên vai Hồng, lên tóc Hồng, đưa Hồng trở lại cảm giác những ngày ở bên chị. Một cảm xúc thân thương trào dâng trong Hồng.


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Hai, 2011, 03:27:29 pm
Chuẩn bị thi tốt nghiệp ra trường thì Hồng được lệnh nhập ngũ. Mới chớm hè mà không khí thật oi nồng. Cho mãi tới bây giờ mà Hồng vẫn không sao quên được cảm xúc mùa hè năm ấy. Tiếng ve râm ran trong cánh rừng, dưới các tán cây ven suối, trong các cành hoa vỏ má nở vàng nơi thác nước. Tiếng ve đầu mùa dội vào lòng nỗi xao xuyến bâng khuâng thật khó tả. Không khí chiến tranh vào hồi căng thẳng. Ai cũng bồn chồn, đứng ngồi không yên. Không ai nói tới việc ra trường sẽ về đâu. Người ra đi cũng như người ở lại, ai cũng muốn tranh thủ chút thời gian còn lại. Không khí bịn rịn trở lại như hồi anh Thi ra đi. Chị Huệ chuẩn bị cho Hồng thật chu đáo. Thuốc đánh răng, khăn mặt, tem thư. .. Khi trao các thứ cho Hồng, chị nói:

- Em chưa thương ai phải không? Thế cũng hay, nếu không lại có thêm một người mỏi mòn như chị.

Nghe chị nói mà Hồng thương chị quá. Mấy ngày sau thì Hồng đi. Chị theo Hồng lên tận nơi giao quân. Lúc nghỉ trưa chị bảo: "Em tranh thủ ngủ đi một lúc, chập tối phải đi rồi". Hồng nằm xuống chiếc chõng tre trong một nhà dân. Chị ngồi cạnh Hồng. Khuôn mặt, giọng nói của chị dịu dàng một cách xót xa.

Hồng ứa nước mắt, chị lấy mùi xoa lau nước mắt cho Hồng. Tay chị vuốt mãi lên đầu Hồng. Trời nóng quá, chị phe phẩy quạt: "Ngủ đi em". Giọng nói ấm áp của chị như một lời ru. Hồng không sao ngăn được dòng nước mắt đang trào ra.

- Chị ơi, chị đừng buồn nữa, chị vui lên cho em đi.

- Chị có buồn đâu. Chị chỉ thương em thôi. Giọng chị thủ thỉ như dỗ dành Hồng. Tối đó Hồng hành quân. Hồng mang theo tình thương của chị đi cho mới tới mãi hôm nay.

Cơm trưa xong, anh Huỳnh dỗ con ngủ. Hồng và chị ra chiếc chõng đầu hè hóng gió. Nét mặt chị bây giờ đã dịu lại.

- Chị biết anh Thi hy sinh trước lúc em ra đi. Em gái anh Thi trên nhà viết thư báo cho chị. Chị không muốn cho em biết vì lúc đó em cũng sắp đi.

Bây giờ Hồng mới hiểu tại sao dạo đó chị lại có vẻ vui, hồn nhiên như thế, chị muốn giấu tin về anh Thi.

- Em cũng đã biết từ dạo đó! - Bây giờ thì chị ngạc nhiên thật sự: - Thế mà chị lại nghĩ là em đang giận chị. Anh Huỳnh tốt lắm Hồng ạ. Anh Huỳnh về xin dạy cùng trường với chị. Anh mang về cho chị các kỷ vật của anh Thi. Chiếc khăn tay chị tặng anh Thi trước lúc đi còn nguyên trong ba lô. Anh Huỳnh kể cho chị nghe bao nhiêu chuyện của anh Thi, càng nghe càng xót xa. Hồng ơi, anh Thi yêu chị mà chẳng hiểu chị. Anh ấy nói rằng yêu chị nhưng thấy chị như cành phong lan trên cây cao, con cá đẹp dưới suối sâu. Cá đẹp, hoa đẹp nhưng không bắt được, không hái được. Mà có bắt được, có hái được thì lại sợ hoa và cá chết mất. Anh còn nói nếu được, anh cũng không nỡ làm khổ chị. Trên quê anh khổ lắm. Anh đi mang theo tâm trạng nặng nề như vậy. Ba năm sau thì anh Huỳnh mới về đây. Hơn hai năm ở bên anh chị mới nhận lời yêu anh Huỳnh. Trong anh Huỳnh, chị tìm thấy có một phần anh Thi. Anh chị cưới nhau năm kia. Điều làm chị quý anh Huỳnh là anh tôn trọng kỷ niệm của chị.

Giọng chị rủ rỉ nhưng cặp mắt chị mơ màng như đang dõi về cõi xa xăm. Gợi lên trong Hồng những năm tháng đã qua: Rừng săng lẻ, những ngôi nhà đơn sơ mái nứa, tiếng ve râm ran. Giọng giảng bài của các thầy. Bạn bè chia tay mỗi lần về hè, về tết...

Ngoài kia, trước nhà chị, dòng sông lấp lóa nắng. Mấy con thuyền từ mạn ngược đang xuôi. Chị đang ngồi bên Hồng, dáng ngồi vẫn dáng ngồi như hôm đưa tiễn.

Mùa hè 2000


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Hai, 2011, 03:46:26 pm
Dứa dại

ĐỖ KIM CUÔNG

Tặng anh Hữu Ngọc, anh Đoàn, Lành - Ngọc Anh. Tưởng nhớ chị Tâm


Hảo không có giấy mời. Có thể những người bạn cũ của anh ở Huế cũng đã nghỉ hưu cả rồi, hoặc giả họ bận trăm công ngàn việc nên cũng chẳng nhớ anh ở đâu mà tìm... Song điều ấy không quan trọng.

Một anh bạn đồng nghiệp cùng phòng nhận trực thay cho Hảo hai ngày, thêm hai ngày nghỉ cuối tuần thành bốn. Đủ cho anh có đủ một chuyến về . Vợ Hảo - một người đàn bà tốt bụng, biết chồng có ý muốn đi về vùng đất gắn bó nhiều kỷ niệm, không cản. Vào buổi chiều trước lúc lên tàu, chị lặng lẽ đưa cho chồng nửa tháng lương. Bảo rằng: "để anh mua nhang đèn, hương hoa cho đám bạn cũ".

Thành phố rực rỡ màu cờ hoa mừng 25 năm ngày giải phóng, thống nhất đất nước. Trên sông Hương nhiều con thuyền chăng đèn kết hoa. Nghe bảo đêm nay thành phố còn tổ chức bắn pháo bông. Ở một khoảng sân rộng trước cửa Ngọ Môn mấy anh truyền hình đang tìm chỗ đặt máy. Học sinh, sinh viên ăn mặc đẹp đẽ. Con trai áo trắng quần xanh; con gái áo dài đủ màu sắc đi dự lễ mít tinh. Chỉ có điều Hảo đã đánh mất đi cái cảm giác nôn nao đến khó tả, của cái ngày tháng 3 năm ấy. Lần đầu tiên anh đặt chân vào thành phố bất chợt được nhìn thấy những tà áo dài của con gái Huế bay phấp phới trên cầu Tràng Tiền, cầu sông Hương, dọc đường Lê Lợi... Ở quê Hảo và những người lính giải phóng chưa ai được thấy con gái đi học ăn mặc đẹp như vậy bao giờ.

"Lạy trời còn tìm thấy khóm dứa dại. Dứa dại"...

Cô bé bán xe trái cây, nhìn Hảo như một anh lẩn thẩn mắng. "Ngu chi mà ngu rứa. Thơm của người ta ngon rứa mà kêu dứa dại". Hảo cười đỏ mặt. Anh nào dám chê những miếng thơm cùng với đám ổi, cóc đã được gọt vỏ ngâm nước đường của cô bé đang cắm trên đầu những cây que. Để cho cô bán trái cây hết xui, Hảo chìa ra cho cô bé một ngàn để đổi lấy một miếng dứa đã được cô rắc vào chút muối ớt.

Chuyến tàu Thống nhất vào đến ga Huế chưa đến 8 giờ sáng. Hảo không muốn ở lại đây lâu. Anh chỉ mất thêm 17 ngàn đã được người lái xe ôm chở anh ra tới quận lị Hương Trà. Dường như cái căn cứ chi khu với hàng chục lớp rào kẽm gai, tháp canh, lô cốt... đã bị xóa sạch, thay vào đó là một thị trấn của thời mở cửa. Cũng phố xá hàng quán đủ loại, cũng nhà hai ba tầng xây theo lối mới và một số cơ sở sản xuất của huyện. Phải mất một lúc, Hảo mới tìm ra căn nhà của vợ chồng kỹ sư Thoa. "Chú ở mô đến đây, tìm tui có việc chi?". Hảo tần ngần trong giây lát. Hay anh lầm! Cô kỹ sư mới ngoài 30 tuổi, nhưng trông lam lũ tất bật. "Có phải chị là người đã gửi thông báo này trong mục "nhắn tìm đồng đội". Hảo lặng lẽ chìa ra cho chị kỹ sư mảnh giấy anh ghi vội trong một lần ngồi coi truyền hình. Hảo bảo cô gái - "Tình cờ tôi nghe được về đây gặp cô hỏi cho rõ ngọn ngành". Thoa như reo lên - "Chú biết mạ Bê của cháu thiệt sao? Mời chú vô nhà, cháu vô ý quá! Chồng cháu bữa ni lại lên thành phố dự lễ, nhưng không sao, chú cứ vô đây".
Pha xong cho Hảo chén trà, Thoa vào bàn thờ thắp nhang. Hảo bước theo cô, nhìn ký tấm ảnh người đàn bà trong khung kính. Anh lặng lẽ đặt lên bàn thờ mấy phong bánh đậu xanh, bánh cốm mang từ Hà Nội vào. Anh thấy cay cay nơi khóe mắt. Nàng đấy. Thấp thoáng trong màn khói hương, như thể Bê đang bước ra gặp người quen cũ lâu ngày. "Dứa dại...Dứa dại!". "Chú nói chi con không hiểu". Thoa ngơ ngác nhìn người khách đường xa, chưa biết rõ tên tuổi, tung tích. "Con à... Con là con Xíu phải không?". “Dạ phải! Cô kỹ sư gật đầu. Chừ con tên Thoa, chồng con tên Hỉ. Răng chú biết tên con hồi nhỏ?". Hảo cười và xoa đầu cô gái. "Giờ con đi nấu cơm cho chú ăn đi. Cả đêm qua ngồi tàu, cho đến sáng nay chú chưa có hột cơm mô vô bụng".

Nhiều năm sau, Hảo vẫn thầm cám ơn cái duyên kỳ ngộ cho anh được gặp Phước. Anh là tù binh ngụy bị đại đội của Hảo bắt được trong một trận đánh ở gần Khe Trái, sông Bồ. Gã tù binh ngụy bị thương gãy chân. Vết thương không có thuốc sát trùng, sinh dòi bọ... Tổ trinh sát tiểu đoàn đã thả gã ra trên đường 12. Phước đã không chết vì vết thương mất nhiều máu, cũng không bị nhiễm trùng sài uốn ván như Hảo đã nghĩ. Phước được đoàn công binh ngụy đi tuần đường cứu thoát và đưa về bệnh viện Trung ương Huế. Sau nửa năm điều trị, Phước giải ngũ về làng. Anh chàng Phước trở thành thương phế binh. Để rồi đúng 5 năm sau, khi Hảo và tổ điều nghiên bị kẹt lại ở chi khu Hương Cần, anh đã gặp lại cả gia đình Phước. Mạ đẻ Phước là mụ Mến, em gái Phước là Bê. Cả Phước nữa đều là cơ sở cách mạng của một xã vùng sâu Hương Trà.

Bốn mươi tám giờ nằm bẹp như một con dán trong căn hầm xây nổi, ngay dưới căn hầm nhà Bê, Hảo chưa có dịp hỏi được vì sao Phước lại là cơ sở cách mạng bí mật của xã? Hai đêm liền tổ điều nghiên tìm cách đột vào chi khu H để lên sa bàn và phương án đánh địch. Đêm thứ hai, vào tới hàng rào thứ ba bị lộ. Một trinh sát viên hy sinh còn Hảo bị thương nhẹ ở tay. Tổ dẫn đường của huyện quyết định giấu các anh vào các cơ sở bí mật của xã. Đường lên căn cứ đã bị kẹt. Trong các làng, lính bảo an lùng sục. Phía Tây đường quốc lộ, ở Văn Xá Trung, An Đôn, Phú Ổ địch càn. Lính E54 ngụy rải kín con đường chiến lược cắt lên xanh. Đêm qua lúc đưa Hảo về nhà, anh được giải thích ngắn gọn: đây là những cơ sở tin cậy của thành phố. Lúc nhận ra Hảo, Phước mừng phát khóc. Anh ta chỉ kịp dặn dò cô em phải lo chu toàn cho "ân nhân cứu mạng", rồi Phước đi lo thu xếp chỗ ở cho một người khác.

Qua cái lỗ tò vò thoát khí của hầm chứa thóc Hảo quan sát được con đường làng. Trước cổng nhà Bê còn có một quán bán hàng tạp hóa. Ban ngày Bê ngồi đấy, vừa giả đò bán hàng, vừa canh chừng địch. Lâu lâu, một cô bé chừng 4 tuổi gầy gò, tóc túm đuôi gà từ khoảng sân nhà mụ Mến chạy sang với mẹ. Thấy mụ Mến kêu nó là con Xíu. Bê là vợ của một anh lính truyền tin ngụy, người cùng làng đóng quân ở Đà Nẵng. Nghe bảo anh ta có vợ bé. Sau một trận cãi lộn với chồng, Bê bỏ đất La Chữ về quê sống với mẹ, nuôi con... Buổi trưa lúc mụ Mến sang quán canh chừng, Bê vào nhà lo cơm nước, nấu cháo và tiêm thuốc cho Hảo, cô gái đã kể cho anh nghe hết sự tình. "Đời em khổ lắm anh à...!". Bê nói. Hảo nghe câu được câu chăng, nhưng anh đoán hiểu cả. Rồi cô bảo "Mấy anh khỏi lo, ngày mai tụi em sẽ giao bản đồ bố phòng chi khu H cho các anh. Nhà mẹ em tuy ở gần đình, tụi lính qua lại luôn nhưng chồng em là lính ngụy chúng ít nghi ngờ".

Căn hầm chứa thóc, nơi Hảo trú ẩn chỉ cao hơn một mét. Phía trên được dùng làm bàn thờ, xây kín chứa thóc lúa, đồ đạc. Hầm chật, anh chỉ có thể nằm ẹp xuống sàn, hoặc ngồi thu lu. Cửa ra ngoài bằng gỗ đã được Bê khóa chặt. Mọi việc ăn uống, đi tiểu tiện đều diễn ra trong một góc tối. Lúc tiêm cho Hảo mũi kháng sinh, Bê bảo - "Ráng chịu ghen anh. Tối êm, em đưa anh ra ngoài nằm cho thoáng". Có một lần con Xíu chạy vào nhà, như thể nghe được Hảo cựa mình trong hầm thóc, nó bảo mẹ “Mạ ạ, trong hầm thóc nhà mình có chuột!” Bê bảo con gái: "Chuột đó... Đi ra ngoài chơi với ngoại, để má dọn nhà". Con Xíu nghe lời mẹ chạy ra sân.


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Hai, 2011, 03:48:49 pm
Buổi chiều, Hảo lên cơn sốt. Cơn sốt kéo đến bất thần. Đầu anh như muốn vỡ ra làm đôi. Tấm chăn chiên trở nên mỏng manh. Hảo phải cuốn cả tấm dù hoa vẫn mang theo bên mình và tấm chiếu, đắp thêm cả cái bao gai mà vẫn rét run cầm cập. Hai hàm răng đánh vào nhau, tê cứng. Rồi một lúc sau lại nóng. Gian hầm thóc trở thành một lò than. Anh quằn quại bung bức có lúc chỉ muốn phá tung mảng tường để thoát ra ngoài... Hảo thiếp đi mê mệt.

Anh thấy mình đang chạy trên những cánh rừng đang bốc lửa. "Tụi Mỹ ném bom xăng tụi bây ơi!". Có tiếng ai gọi to - "Chạy cho mau". Những thân cây đang cháy xém than rơi từng cục đỏ hồng, bỏng rát nơi bàn chân. "Đây là đâu thủ trưởng". Hảo hỏi anh tiểu đội trưởng đang chạy phía trước". "Quảng Trị" Chả nhẽ chúng đốt cả cánh rừng dài hàng chục cây số? Anh tự hỏi và chạy trên con đường giao liên, đất đã cháy đen thành từng vạt. Mệt đến rã rời chân tay. Chiếc ba lô nặng, khẩu súng và chiếc ruột tượng gạo 7 kí như một khối đá đè trên vai. Đến một lúc, Hảo thấy mình ngã vào một vũng nước, nằm xen kẽ giữa những tảng đá. Khát quá. Anh vục đầu vào một tảng đá uống nước. Anh nhìn rõ từng đàn nòng nọc châu đầu đen đặc, đọng thành vũng dưới hố nước xanh rêu. Mặc. Ở một vũng nước khác, thằng Thắng, thằng Tùng, Nghi Phở, thằng Sơn, thằng Thịnh, thằng Tí bẹp, thằng Chiến, thằng Hiển cả một đám lính trần như nhộng đang ngụp lặn dưới làn nước trong vắt. "Sông gì đây tụi bây ơi!". "Nghe bảo đây là sông Xê Băng Hiêng, đất Lào rồi đấy! Vài trạm nữa sẽ đến rừng thông".

Hảo có cảm giác ai đó đang lay nhẹ anh. Một tiếng nói nhẹ như từ cõi âm vọng về. "Đồng chí bộ đội sốt cao lắm, anh Hai ơi". "Đưa đồng chí ấy ra ngoài cho đỡ ngột..."."Bữa nay địch chốt ở mô?”. "Bên xóm chùa, bên Thanh Lương đều có cả...". "Kẹt đường à? Chà nặng khiếp, anh Hai giúp em một tay...".

Hảo tỉnh dậy lúc đêm đã về khuya. Không gian im ắng. Ngôi nhà tối om. Chỉ có ngọn đèn dầu le lói như hạt đậu để trên bàn thờ Phật. Người Hảo sực nức mùi dầu gió. Ai đã xoa dầu cho anh? Ai cũng đã cởi bỏ hộ anh bộ quần áo giải phóng để mặc vào người bộ đồ pi za ma? Bê, Phước và cả mụ Mến nữa, họ đi đâu mà không thấy một ai? Họ ở đâu cả rồi? Anh cảm thấy chơi vơi, hụt hẫng như một kẻ lạc đường sau trận đánh không tìm thấy đồng đội giữa rừng già. Vết thương ở bả vai Hảo đau tức. Anh cố nhỏm dậy và sờ được can nước. Hảo tu một hơi dài. Nước đắng chát. A ha, chè xanh. Lâu quá rồi anh không còn được thưởng thức hương vị của bát nước chè xanh có chút gừng giải nhiệt. Anh còn sờ thấy được cả hộp sữa "Ông Thọ" uống dở. Hảo tu một hớp... Tỉnh cả người. Sau cơn sốt, đầu nhẹ bẫng. Anh muốn có một ai đó ở bên cạnh lúc này để hỏi nhưng chẳng có ai cả. Vẳng lên ba phát súng bắn cầm canh của tụi lính bảo an gác đêm ở ngoài đình, nhìn thấy rõ cả viên đạn đỏ lừ vạch lên nền trời. Lát sau một quả pháo sáng bắn lên tỏa ra thứ ánh sáng vàng vọt ma quái soi rõ bụi tre, cây dừa đổ bóng xuống khoảng sân rộng. Anh còn nhìn thấy cả phía bên kia con đường đất là cánh đồng lúa và những vạt tre làng đen thẫm... Súng lại rộ lên từng loạt, đâu như ở ngoài ngả đường Một...

Quãng 3 giờ sáng, Bê mới trở về. Cô luồn vào nhà, nhẹ như một con mèo. Hảo nằm im, giả vờ ngủ. Bàn tay cô mát lạnh sờ lên trán anh. "Sao quần áo Bê ướt nước thế này?". "Em vừa đi bám đường trở về mai đưa các anh đi. Anh bớt sốt rồi, em mừng quá. Anh nằm im chờ em mang cháo lên anh ăn".

Bê đút cho anh từng thìa cháo gà nấu nhuyễn. Ăn hết một tô cháo, người Hảo ướt đẫm mồ hôi. Bê đã thay bộ đồ đen bằng bộ đồ hoa mặc trong nhà. Trời tối, bóng cô trắng nhờ. Bàn tay Hảo ấm dần trong hai bàn tay cô. Chỉ nghe Bê nói mỗi câu. "Các anh bộ đội thiệt tội!"...

Chồng Thoa là cán bộ huyện. Anh hơn cô dễ có đến cả chục tuổi nhưng một điều, hai điều gọi Hảo bằng chú, xưng cháu. "Cháu nghe Thoa bảo chú là bạn chiến đấu của mạ cháu, từ Hà Nội vô đây tìm mộ cho gia đình cháu. Thật cám ơn chú". "Cậu đừng nói tới chuyện ân huệ ở đây, tủi lòng người đã mất. Từ bữa nhận được tin Thoa nhắn trên đài, tôi không lúc nào ngủ yên. Nghĩa tình với chị Bê tôi đâu có quên. Chỉ phải tội nghèo. Nhiều lần tôi muốn vô Huế một chuyến chơi mà chưa đi được". Chợt Hảo chỉ tay về hướng núi xa xanh. "Cậu có biết dãy núi kia tên chi không?... Không rành à. Kia là dãy Một Mái, Hòn Vượn. Còn dãy núi nằm như người đàn bà ngửa bụng lên trời là Hòn Dài. Qua bên kia sông Bồ là dãy núi 140, 165... Hồi là lính trung đoàn 4 tôi đã chốt mấy năm trời ở đó. Ngồi nói chuyện "hòa hợp" với tụi lính dù, lính thủy quân lục chiến ngụy hoài à". "Chú biết rành rẽ vậy ư?". "Thì cậu bảo...có vậy tôi mới quen được bà Bê, cậu Phước".

Phước cũng mất rồi. Sau đêm tổ trinh sát rời làng, có điệp báo cơ sở của mụ Mến bị lộ. Phước bị tụi bên an ninh của quận về bắt, chúng đánh dữ quá, nhưng anh kiên quyết không khai báo gì các cơ sở mật của ta ở vùng sâu. Phước được địch thả về ít ngày sau thổ ra huyết, chết. Mụ Mến bị tù cho đến ngày Lao Thừa Phủ được bộ đội vào đánh chiếm. Mụ cũng chỉ sống được ít năm nuôi con Xíu khôn lớn lên chút nữa rồi ra đi. Hảo đã hỏi Thoa. "Sao cháu không đi theo ba?". "Đi làm chi chú! Thoa hỏi lại anh - Sau ngày giải phóng, có lần ổng về đưa cháu vô Đà Nẵng nuôi ăn học. Ông nhủ cháu đi di tản. Lúc xuống tàu cháu bỏ trốn, trở về làng. Ở đây còn mồ mả ngoại cháu, cậu Phước và cả mạ cháu nữa. Bả không biết nằm ở nơi nào. Bao năm nay, lòng cháu đâu có yên hả chú. Thật là trời cho phước để cháu được gặp chú bữa ni".

Buổi sáng ngày thứ hai Hảo và vợ chồng Thoa ra đồng tìm mộ. Từ chiều hôm trước Thoa đã làm một mâm cơm cúng mẹ, cầu khẩn bà ngoại, cậu Phước sống khôn chết thiêng chỉ đường cho chú Hảo tìm ra nơi chôn cất mạ...Hảo chỉ đứng lặng trước bàn thờ và nhìn chăm chăm vào đôi mắt của người đàn bà trong tấm ảnh. Đã 25 năm rồi vẫn đôi mắt ấy và nụ cười ấy. Anh như thấy cả ánh chớp lóe lên của trái mìn clay mo phát nổ và những viên bi bay rào rào chém vào không khí. Toán vượt đường bị vấp phục kích đâu như quãng xóm Mới, Bầu Tháp. Cả tổ đã vượt qua đoạn đường rầy xe lửa. Bê bị trúng đạn ngay loạt đầu tiên. Lúc cõng Bê trên vai, anh còn kịp nhìn thấy cây gạo đầu làng trong ánh sáng của ngọn đèn dù. Tại đấy địch đặt một khẩu cối 61ly, chúng thả không tiếc đạn. Còn mấy ổ đạn đại liên bắn như xé vải trên cánh đồng trống trải.

Chồng Thoa định chở Hảo trên chiếc xe hon đa 67. Nhưng anh kiên quyết từ chối. "Cậu cứ để tôi đi bộ. Chân tôi dính bùn đất, tôi mới nhận ra đường". Thoa đành phải cho chồng chở đồ cúng tế, cuốc xẻng chạy ra đường lộ đứng chờ.


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Hai, 2011, 03:50:59 pm
Nhiều tháng sau khi đã trở về Hà Nội, ngồi tĩnh tại ở nhà Hảo cũng không sao giải thích được hành động của mình trong buổi sáng ở làng Dương đi tìm mộ cho Bê. Vợ Hảo bảo - "Oan hồn chị Bê linh thiêng dẫn đường cho anh".

Từ mảnh sân của nhà mụ Mến, Hảo không đi theo trục đường làng nay đã trải nhựa mà anh lại lội qua con hói, cắt băng giữa đồng lúa, vượt qua những bãi mồ mả để tiến thẳng về xóm mới Bàu Tháp. Hảo linh cảm rất rõ rằng, đấy chính là con đường mà các đồng chí du kích xã ngày trước đã đưa tổ trinh sát vào làng. Anh còn nhận ra được cả một vòm cống bi dẫn nước qua hai cánh ruộng, nay đã nằm sâu dưới nền đường nhựa. Nước vẫn rỉ rách chảy qua cống. Thoa lầm lũi đi sau tay anh cầm một bó nhang. Thỉnh thoảng gặp một ngôi mộ, có bia cô dừng lại nhòm ngó. Hảo vẫy tay, gọi Thoa. "Làm gì có bia, có mộ mà con tìm!". Cho đến 10 giờ sáng, Hảo đã vượt qua con lộ và đoạn đường xe lửa. Trận phục kích xảy ra ở chỗ này đây! Anh gặp lại con đường đất dẫn vào làng Phú Ổ, Liễu Thượng... Trời ơi cây đa đầu làng vẫn còn. Nơi ấy, khi xưa mỗi lần đại đội 3 đánh về đồng bằng quanh các làng phía Tây đường quốc lộ, cây đa đầu làng Phú Ổ được chọn làm điểm tập kết. "Dứa dại...dứa dại nơi góc ruộng". Điệp khúc ấy cứ lặp đi lặp lại như một lời cầu khấn của Hảo. Thoa bám theo sau anh cần mẫn như một cái đuôi. Cô đã thắp mấy tuần nhang mà vẫn chưa tìm ra được tung tích nơi chôn cất mẹ. Phía xa trên con đường làng, chồng Thoa bám sát bằng xe máy. Lâu lâu, anh ta dừng lại để định hướng đi theo.

"Dứa dại...dứa dại...Anh lạy em, chỉ đường cho anh, để con em được gặp mặt mẹ!". Mặt Hảo nóng bừng, mồ hôi ướt lưng áo. Nàng đã nói gì với anh nhỉ? Lúc ấy, Hảo cõng Bê thoát ra được khỏi tầm đại liên của tụi ngụy nằm phục kích ở đường sắt. Pháo địch ở Tứ Hạ nã như giã giò vào phía cửa rừng. "Em chết mất, anh ơi...!". "Gắng chịu chút nữa Bê. Lát nữa anh sẽ băng lại cho em". Hảo bảo vậy và đặt cô vào một ngôi mộ, có tường gạch vây tròn xung quanh. Ngồi đây sẽ tránh được đạn thẳng và mảnh pháo. "Anh cho em hớp nước. Khát..." Được uống chút nước như thể Bê tỉnh ra. Đầu cô gối lên đùi Hảo. Bầu trời rực sáng trong ánh đèn hỏa châu từ những chiếc máy bay thả xuống. Anh nhìn rõ gương mặt Bê trắng nhợt. Máu thấm đẫm vạt áo ngực. "Đừng đưa em đi nữa...các anh chạy đi...vào trong núi...Ban ngày chúng nó càn bắt hết...".

Đầu óc Hảo rối tung. Từ lúc gặp phục kích, đội hình, mỗi người đi một phương. Điểm hẹn tập kết cuối cùng là đầu làng Văn Xá Thượng. Bằng mọi giá, Hảo cũng không bỏ Bê. Chợt cô bảo anh "Anh cầm lấy tay em đi". Hảo cúi xuống nhìn vào đôi mắt Bê đang mở to, giọng cô yếu hẳn. "Hãy hôn em đi...Em sắp đi đây, anh ơi!”.

Đôi môi cô mềm, lạnh. Anh có cảm giác rất rõ lúc chạm vào, đôi môi của nàng hơi rung động. "Hãy tha lỗi cho em...Anh ơi!". Đôi tay cô níu chặt lấy cánh tay anh. Gương mặt Bê đẫm nước mắt. Hảo ôm chặt cô vào trong vòng tay anh. Bê có lỗi gì? Anh chỉ tiếc không có một cơ may để được gặp nàng. Đến một lúc anh thấy người Bê giật nhẹ. Linh hồn bé bỏng của nàng đã đi rồi...Tiếng súng đã ắng lặng. Chỉ còn bầu trời sao tháng bẩy đang bị cắt vụn ra bởi ánh đèn dù ma quái. Thấp thoáng trong màn ánh sáng mờ ảo, Hảo nhìn thấy bóng một người lính trinh sát đang chạy cắt băng trên đồng. Anh giả tiếng tắc kè gọi bạn...

"Dứa dại... dứa dại! ". Hảo đi như một kẻ lên đồng. Anh lội qua một đám ruộng lúa, vượt qua một vạt ruộng trồng kiệu, dãy trồng nưa... Hiển hiện trước mắt anh là một khóm dứa dại đứng ngay góc ruộng. Ở đấy còn có một khóm cúc dại, hoa nở vàng rực. Nghe tiếng chân người bước tới, ba bốn con bướm vàng và những con ong rừng đang hút nhụy hoa vội vã bay lên.

Như thể Hảo nhìn thấy nàng đang lấp ló sau cây dứa dại. Đôi chân Hảo khuỵu xuống.

Thoa thảng thốt. "Ở đây làm gì có mồ mả nào hả chú? "

Ngồi bệt trên nền đất ruộng ẩm mát, Hảo nhìn cô kỹ sư canh nông lúc này trông nhem nhuốc, bơ phờ hơn cả người đi cấy. Áo quần cô gái bê bết bùn đất. "Các chú có chôn mẹ con thế này thì mới không bị tụi ngụy sáng hôm sau đi lục soát trên đồng đào bới lên. Con ra mau lấy cuốc xẻng lại đây..."

Mới chỉ đào hơn một thước, dưới nền đất cát ẩm Hảo đã nhìn thấy mảnh dù hoa của anh cuốn quanh xác nàng...

Trong lúc Thoa ngồi khóc mẹ, Hảo thẫn thờ như một kẻ mất hồn. Mắt anh lại chạm phải những dãy núi xa mờ. Cỏ cây chưa mọc xanh trên đỉnh Hòn Vượn, Chóp Nón, Một Mái...Giữa hai dãy núi là đỉnh dốc Tranh. Từ các căn cứ của bộ đội, du kích ở vùng giáp ranh, con đường về đồng bằng qua ngả dốc Đu, dốc Cát đi qua đó. Hình như vẫn còn lại một cây khô bị bom ném cháy tự dạo Mậu Thân đứng trơ trọi giơ lên trời hai nhánh cháy như hai cánh tay trên lưng triền dốc Hòn Ngang. Ầm ì vọng lại tiếng máy cày trên đồng vắng.

Hà Nội - đêm 19/2/2001


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Hai, 2011, 03:56:54 pm
Người bán thước kẻ

NGUYỄN ĐỨC SĨ TIẾN

Chiến tranh biên giới Tây Nam kết thúc, nhận tấm thẻ thương binh, tôi trở về quê nhà. Để bớt gánh nặng kinh tế cho gia đình, tôi dã dành tất cả số tiền chính sách nhận được mở một quầy sách báo. Khách hàng của tôi khá đông.

Trong đó, người đàn ông luống tuổi có cánh tay phải teo tóp, quắt quéo là người khách thường xuyên nhất. Chiều chiều, mỗi khi đi bỏ những bó thước kẻ cho các hiệu tạp hóa trong thành phố về, ông thường ghé quầy của tôi đọc báo "cọp". Ông thường kiếm đọc mục "Nhắn tìm đồng đội" và tin tức. Thi thoảng báo có bài xã luận hoặc phóng sự hay, không có thời gian xem tại chỗ, ông mới mua về nhà đọc. Thoạt đầu, tưởng ông là người bị dị tật bẩm sinh nên tôi chỉ quan hệ với ông như những khách hàng bình thường khác. Mãi đến ngày 27-7, thấy trên ngực ông lấp lánh chiếc huy hiệu thương binh thì tôi mới quan tâm đến ông. Ông vừa vào đến quầy tôi đã niềm nở:

- Mời bác vào trong này uống với cháu li rượu nhân ngày Thương binh liệt sĩ của chúng ta đã.

Ông khẽ gật đầu rồi cầm mấy tờ báo bước vào ngồi ở chiếc ghế phía đối diện với tôi.

Tôi mở chai rượu bổ mà Ủy ban phường mới biếu sáng nay rót vào hai cốc, nói:

- Trước hết, xin bác thứ lỗi vì hôm nay cháu mới biết bác là thương binh.

Ông không nói gì, chỉ cầm li rượu cụng vào li tôi một cái đánh cốp, mắt vẫn không rời mục "Nhắn tìm đồng đội" trong tờ báo. Chờ ông đọc xong, tôi hỏi:

- Xin lỗi, bác tìm liệt sĩ nào vậy?

Ông chằm chằm nhìn tôi như để dò xét, như để xem có đáng thổ lộ tâm sự hay không. Một lúc sau ông mới nói:

- Tôi tìm hai người con. Một hi sinh trong trận đánh mở màn chiến dịch Hồ Chí Minh ở Buôn Ma Thuột. Một ở cửa ngõ Sài Gòn.

Tôi vừa lặng lẽ lắng nghe, vừa chăm chú nhìn ông. tôi thấy tay ông bóp mạnh vào li rượu. Người ông khẽ rung lên. Hai mắt đượm buồn rồi bỗng sáng quắc như có lửa. Và tôi nghe dường như có tiếng tanh tách phát ra từ chiếc cốc thủy tinh trong tay ông.

Biết ông đã mất nhiều thời gian, công sức tìm kiếm tung tích của hai người con đã hi sinh và đang nóng lòng muốn biết mộ của họ ở đâu nên tôi nói:

- Bác cho cháu biết tên tuổi của hai anh để cháu tìm hộ cho. Đọc thấy, cháu sẽ báo tin cho bác.

- Thế thì quý quá! - ông mừng rỡ nói - Đứa hi sinh ở Buôn Ma Thuột tên là Nguyễn Đông Bắc, sinh ngày 31-12-1947. Còn đứa ở Xuân Lộc là Nguyễn Thu Đông, cũng sinh ngày 31-12-1947.

Tôi vừa nghe vừa ghi vào sổ. Nhưng đến ngày sinh của liệt sĩ thứ hai, sợ ông nhầm lẫn, tôi cẩn thận hỏi:

- Liệt sĩ Nguyễn Thu Đông cũng sinh ngày 31-12-1947?

Ông đáp:

- Vâng, sinh đôi mà. Tôi đã lấy tên Chiến dịch Thu Đông 1947 ở Đông Bắc, nơi mình đã tham gia chiến đấu và bị thương, để đặt tên cho chúng.

Tôi hỏi thêm để biết rõ hơn về hai liệt sĩ cần tìm:

- Thế ai là anh, ai là em ạ?

Ông chặc lưỡi, vò đầu tỏ ra ân hận, nuối tiếc về sự sơ suất của mình:

- Rất tiếc là tôi cũng chẳng biết. Sinh được mấy ngày, do mất nhiều máu, kiệt sức, hơn nữa lại quá lo lắng vì không biết tôi sống chết ra sao nên vợ tôi đã không qua nổi cơn hậu sản. Khi tôi phục viên về nhà, hai đứa đã biết lật. Tôi đã hỏi những người thân trong gia đình nội, ngoại nhưng người thì nói đứa này sinh sau, đứa này sinh trước, kẻ thì nói ngược lại. Chẳng ai biết chắc chắn đứa nào anh, đứa nào em cả. Chúng giống nhau quá mà.

Vợ mất để lại hai đứa trẻ sơ sinh khát sữa. Ông lại chỉ còn một tay, làm thế nào mà xoay xở nổi. Nghĩ thế, tôi tò mò hỏi:

- Bác nuôi hai anh khôn lớn chắc vất vả lắm? Làm sao mà bác vượt qua được?

Ông lắc đầu, nhún vai:

- Vất vả thì hết chỗ nói. Nửa đêm nằm giữa hai đứa trẻ thèm sữa mẹ khóc thét lên, không tài nào dỗ cho chúng nín được, kể cũng da diết và đoạn trường thật. Riêng bị chúng "tè" ướt mèm, phải loay hoay thay tã và thay áo quần cho cả ba cha con cũng đã đủ xâm xoàng mặt mũi. Nhưng rồi mọi vất vả cũng dần dần trôi qua. Phần thì nhờ hai gia đình nội, ngoại và bà con chòm xóm, láng giềng. Phần thì nhờ cái này! - Ông vừa nói, vừa dứ dứ cánh tay còn lại trước mặt mình. Khi chúng còn nhỏ, tôi đã phải thường xuyên bắt cóc nấu cháo cho chúng ăn. Nhờ thế chúng đã không bị chết vì suy dinh dưỡng. Chú biết đấy, hồi đó làm gì sẵn sữa bò như bây giờ. Còn khi chúng lớn lên thì tôi lại phải làm thước kẻ đi bán để nuôi chúng ăn học.

Tôi chằm chằm nhìn cánh tay ông. Lòng vừa thán phục, vừa thương cảm:

- Còn một tay, sao bác không chọn nghề cho phù hợp với mình mà lại chọn nghề làm thước kẻ? Xin làm ở một cơ quan nào đó chẳng hạn. Như vậy có phải khỏe hơn không?

Ông cười:

- Hì. .. hì. ... Ai mà chẳng biết vậy. Song mình làm sao tốt bằng người lành lặn. Không làm được việc mà chiếm chỗ của người khác để nhận lương thì coi sao được. Xấu hổ chết! Chỉ có chọn nghề làm thước kẻ mới phù hợp với tôi. Bởi vì, tôi vốn xuất thân từ con nhà thợ mộc. Thước thì thị trường lại rộng, học sinh đứa nào chẳng cần. Hơn nữa, tôi còn có sở thích muốn làm cho bọn trẻ làm quen với mực thước, với ngay thẳng khi còn nhỏ. Do đó, chỉ có chọn nghề này, tôi mới có đủ điều kiện và động lực để vượt qua chính mình.


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Hai, 2011, 03:58:35 pm
Nghị lực vượt qua thương tật của ông đã làm tôi nhớ lại tấm gương tự lực của một thương binh mà mình vừa nghe trong buổi tọa đàm kỉ niệm ngày Thương binh liệt sĩ ở phường nên hỏi:

- Sáng nay, cháu nghe nói ở thành phố ta có một thương binh được cấp nhà tình nghĩa nhưng đã từ chối. Bác có biết người đó là ai không ạ?

Ông không trả lời mà lấy thuốc châm hút. Miệng thổi ra những vòng khói tròn xoe như những chiếc vòng đeo tay của phụ nữ. Mắt lim dim nhìn những vòng khói thuốc to dần, to dần rồi đứt đoạn, tan biến, hư vô. Xong, ông mở to mắt nhìn tôi, hỏi:

- Chú hỏi người đó để làm gì?

Tôi đáp:

- Thú thật với bác, cháu định làm đơn xin cấp nhà ở nhưng khi nghe chuyện của người thương binh đó, cháu cảm thấy cứ ngài ngại thế nào ấy. Vì vậy cháu muốn hỏi bác để quyết định mình có nên viết hay không.

Giọng ông trở nên thân tình:

- Chú đã hỏi thế thì tôi cũng không nỡ giấu. Người đó chính là tôi. Ông dừng lại nhấp ngụm rượu rồi nói tiếp - Dù xấu, dù nhỏ, tôi cũng đã có chỗ ở và thờ tự. Nhiều người trong số anh em chúng ta còn khó khăn hơn nhiều... Mà tôi khác, chú khác đó nghe. Chú còn phải lấy vợ, chật chội và chung đụng thế này phiền phức lắm. Chú cứ viết đơn đi. Chú xứng đáng được cấp nhà đấy.

Nói xong, ông đứng dậy bắt tay tôi siết chặt làm tôi đau nhói. Tôi khẽ rùng mình và cảm thấy bàn tay vạm vỡ của mình trở nên yếu ớt trong bàn tay còn lại của ông.

Sau lần tiếp xúc đó, chiều chiều đi bán thước về, ông vẫn ghé vào quầy của tôi như thường lệ. Nhưng khác trước, ông không còn phải vất vả kiếm báo đọc mục "Nhắn tìm đồng đội" như trước. Tôi đã làm việc đó dùm ông. Thời gian đọc báo của ông được dành cho những câu chuyện tâm tình. Chúng tôi đã kể cho nhau nghe về cuộc chiến đấu gian khổ nhưng hào hùng của mình, về tình cảm đồng chí, đồng đội. Chúng tôi đã tâm sự với nhau về những niềm vui, nỗi buồn của mình, về tâm tư, nguyện vọng của anh em thương binh. Dần dần, chúng tôi đã gần gũi, gắn bó với nhau hơn. Tuy khác thế hệ nhưng chúng tôi đã trở thành một đôi bạn tâm giao.

Một buổi chiều không thấy ông đến, tôi cảm thấy trống vắng nên lên xe lăn đi tìm ông. Thì ra ông bận tiễn đứa cháu đích tôn của mình vào trường đại học quân sự. Khi tôi đến thì ông vừa mới về.

Ông sống trong một ngôi nhà cổ, bề ngoài trông có vẻ lụp xụp nhưng bên trong lại rất gọn gàng, ngăn nắp. Trong phòng khách, chín cái khung gỗ lồng kính chưng huân chương và bằng Tổ quốc ghi công treo trên tường có sức thu hút mạnh mẽ. Chúng có màu sắc trang nhã, đường nét sắc sảo, lại điểm những nét hoa văn tinh xảo. Tất cả đều toát lên một vẻ trang trọng khác thường. Điều đó nói lên chúng phải được làm ra từ một người có tâm huyết, có con mắt của một nghệ sĩ và có đôi tay của một nghệ nhân.

Khi tôi đang mãi nhìn chúng thì ông đến vỗ vào vai:

- Nhìn gì mà kĩ thế?

Tôi đáp:

- Cháu chưa thấy ở đâu có những cái khung treo huân chương đẹp như thế này.

Ông gật gật đầu:

- À ra thế! Sẵn gỗ và rảnh rỗi làm treo chơi đấy mà. Chú thích thì để tôi tặng cho một cái.

Tôi đang kinh ngạc về khả năng của ông thì ông đã bước đến dỡ cái khung có tấm huân chương chiến công của mình xuống. Tôi biết phải mất nhiều công sức lắm ông mới làm được một cái khung như vậy nên vội cản:

- Thôi bác! Để bác làm cái khác rồi cháu lấy sau cũng được!

Ông cương quyết:

- Không sao! Chú lấy thì tôi mới làm cái khác thay. Nếu không nhiều khi lần lữa lại quên mất nên vô tình trở thành người thất hứa. Tính tôi việc gì phải là phải làm ngay. Ông vừa nói vừa gỡ cái khung cho tôi.
Từ khi tôi đem cái khung ông tặng treo tấm Huân chương Chiến công của mình lên, anh em thương binh đến chơi trông thấy đều khen đẹp và hỏi tôi mua nó ở đâu. Tôi đã nói nguồn gốc xuất xứ của nó cho họ biết. Thế là nhiều người trong số họ đã tìm đến ông. Vốn là người hảo tâm và biết trân trọng công lao, cống hiến của mọi người nên ông không từ chối một ai. Rồi người này giới thiệu cho người khác nên số người đến nhờ ông ngày càng đông. Số khung ông làm tặng ngày càng nhiều, càng đẹp và càng có hồn hơn. Có lẽ chỉ có ông người đã từng cống hiến, hi sinh và biết trân trọng sự cống hiến, hi sinh của người khác hơn cả chính mình, mới có khả năng làm được những cái khung như vậy.

...Ngày ông gục trên cái khung đang làm dở, trên bức tường ở phòng khách nhà ông, trừ những tấm huân chương và bằng Tổ quốc ghi công của hai người con, còn ba tấm huân chương của ông thì không còn lại cái nào. Ông đã dành tất cả cho mọi người.

Người thương binh già đáng kính đã ra đi...

(TCSH số 149 - 07 - 2001)


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 29 Tháng Bảy, 2011, 08:15:38 am
Đường phố lòng tôi

NGUYỄN BẢN

Tôi nhổ vào hai lọ crem Tokalon trắng và hồng, loại crem Pháp đắt tiền đang dùng dở của bà, rồi vảy nước bọt đi cho mất dấu.

Tôi không biết hàng ngày bà còn dùng nó hay không, nhưng mỗi khi sáng dậy, bà dậy muộn, mặt xị xuống, tóc rối bù, và cha tôi lại tới gần, nhìn kỹ vào mi mắt bà, lo lắng bảo:

- Mắt dì lại bị nặng rồi.

Lúc đó tôi lại tự nhủ thầm: "Mai ta lại nhổ và còn nhổ".

Tôi ghét bà, thực sự ghét bà.Tất nhiên, trước hết tại những chuyện dì ghẻ con chồng trong dân gian, trong thực tế đã chồng lên nhau những thành kiến nặng nề trong lòng tôi. Kỷ niệm ngày cha tôi cưới bà luôn sống lại trong tôi. Ngày đó tôi mới tám tuổi, đang học préparatoire (lớp 2 bây giờ), cả hai chân bị hạc tất (thấp khớp cấp), hai đầu gối sưng to, không đi được, phải bò lê, phải nghỉ học, và tôi đã bò lê tới ôm chặt lấy chân cha tôi khóc nức nở, khi mọi người giục cha tôi ra làm lễ tơ hồng. Tôi khóc theo bản năng, một bản năng mơ hồ tôi đang mất nốt cha. Nhưng không phải như thế. Cha tôi còn thương yêu, chăm sóc, bảo vệ tôi hơn, bảo vệ cả những niềm vui nhỏ của tôi. Bà chặt cần câu của tôi, cha tôi cho tôi tiền mua cần câu khác, dây câu khác, gián tiếp nhắc nhở bà phải tôn trọng những niềm vui nhỏ của tôi. Bà phàn nàn: "Tối nó chỉ đi chơi, chẳng chịu học hành gì cả". Cha tôi bảo:"Trẻ con phải có bạn, miễn là nó vẫn được điểm tốt". Và đúng là như thế, tôi học nhàn hạ và chưa hề bị điểm xấu về bất cứ môn gì.

Một lần, ngày mồng năm thang năm thì phải, bữa ăn, tôi với đũa sang đĩa thịt gà phía đối diện, gắp miếng tôi thích, bà mắng luôn:

- Đĩa trước mặt không gắp, lại với đũa sang đĩa khác, như thế là mất nết.

Nhìn nét mặt tủi hổ của tôi, cha tôi động lòng thương:

- Trẻ con, nó thích ăn miếng nào kệ nó.

Bà vùng vằng quật đũa xuống mâm:

- Không lần nào ông không chặn họng cả, tôi dạy nó, chứ tôi ức hiếp gì nó.

Cha tôi nghiêm mặt lại:

- Muốn dạy, để sau bữa ăn hãy dạy, lúc đang ăn, phải được vui vẻ.

Thế là bà quăng luôn bát cơm, hầm hầm chạy vào nhà khách, bà khóc và đập, đập hết những lọ hoa, bát đĩa, ấm chén, cốc tách Pháp, Nhật, Tàu, những thứ bà đem về khi lấy cha tôi, của hồi môn của bà, vốn liếng hàng đồ sứ của bà, bà chọn ra đập, bớt lại những thứ của cha tôi, đập bằng hết đồ của bà và được một sề đầy mảnh vỡ. Rồi bà đắp chăn mà khóc,nhịn ăn mà khóc. Cả ba người, bà, cha tôi và tôi hình như đều ân hận đều cảm thấy hình như mình phần nào có lỗi. Tất nhiên bà là người ân hận nhất, vì bà vốn đã không có quyền hành gì về kinh tế, từ nay lại càng không vì bà chỉ mang về có thế, nay lại đập vỡ hết cả rồi. Bà vốn trước là vợ một viên chức khí tượng, lương cao, nhà chồng giàu, chỉ quen việc nội trợ từ khi chồng mất mới mở hàng đồ sứ. Thời niên thiếu, bà là con một gia đình giàu có, là một trong những nữ sinh đầu tiên của trường tiểu học Hàng Cót, gia đình có tới năm ngôi nhà ở Hà Nội, có cả biệt thư ở Sa-Pa, nhưng ông bố đam mê, đã phá tán tất cả để làm ông bầu cho một đoàn tuồng cổ. Cha tôi cũng đã từng làm thư ký rồi bỏ đi buôn, thuộc hạng trung lưu, hồi nhỏ cũng chịu cảnh dì ghẻ con chồng, chắc rất hiểu những đứa con mất mẹ, nên nắm chặt quyền quản lý kinh tế gia đình, chắc ông nghĩ đó là cách bảo vệ con riêng của mình tốt nhất. Sau việc ấy, cha tôi chẳng những không giận bà, còn an ủi khuyên giải bà. Gia đình lại trở nên êm thấm. Nhưng từ đó cả vú em, người ở trong nhà hình như hơi lên mặt với bà. Có kẻ còn như làm chỉ điểm cho người bác, chị ruột cha tôi theo dõi bà. Bác tôi hễ cứ gặp tôi là soi mói, chì chiết bà. Tôi cãi, không phải để bênh vực bà mà vì không chịu nổi sự đặt điều ác ý. Bác tôi quát:

- Mày có biết đằng mù. Tuy tao không ở cùng nhà, nhưng cái gì tao cũng biết hết.

Em trai tôi, đứa em nhỏ mà bà sinh hạ được với cha tôi ốm quặt quẹo. Nó biếng ăn. Cháo bầu dục nó cũng không ăn. Có người mách, nếu có đứa trẻ khác ăn hộ sẽ chóng khỏi, nếu cho chó sẽ lâu thậm chí không khỏi bệnh. Bà bảo em gái tôi ăn hộ. Nó không ăn. Nó cho như thế là ăn thừa. Bà cáu:

- Cháo bầu dục không ăn, muốn ăn gì nữa.

Em tôi cãi:

- Ngon sao dì không ăn.

- Nứt mắt đã sĩ diện, có lúc rã họng ra.

Nó cãi tiếp:

- Tôi ăn của bố tôi, đâu ăn của dì.

- A, con này láo.

Bà xông vào đánh nó. Tôi đứng đó, chứng kiến từ đầu, thấy uất cho em tôi, liều xông vào vật lộn với bà, vừa thở vừa lắp bắp: "Ác độc... vũ phu!"

Tôi bị bà cào cấu xước mặt. Vú em vào can, bà mới thôi. Cũng may cha tôi đi Hải Phòng vắng, không biết chuyện. Bà không dám mách. Tôi cũng không dám mách. Vú em cũng vậy. Nhưng bác tôi biết ngay. Bác tôi bĩu môi:

- Trông mặt mũi đẹp nhỉ. Chả bênh dì nữa đi!

Rồi tôi cũng ốm. Năm năm sau, bệnh hạc tất lại tái phát. Lúc ấy tôi đang học lớp nhì năm thứ hai. Thầy thuốc bảo: sưng to mà nóng như vậy là dương hạc, phải uống thêm sâm. Cha tôi mua sâm cho tôi uống. Bà lồng lộn:

- Con lớn ốm thì uống sâm, con nhỏ ốm thì mặc xác.

Cha tôi như bị một nhát dao đâm vào tim. Ông quý nó hơn tôi, vì nó còn nhỏ, người ta dễ quý con nhỏ hơn con lớn, hơn nữa ông hợp nó hơn tôi vì thầy tử vi bảo: Số tôi có Xương, Khúc cư quan lộc, học giỏi, nhưng số nó có Khôi, Việt còn đẹp hơn, còn học giỏi hơn. Cha tôi đau đớn phân giải với bà:

- Bệnh dương tính mới uống được sâm, bệnh âm tính uống sâm để chết à, được, mai cả hai đứa cùng uống.

Nhưng bà không dám. Lúc đó bà mới vỡ lẽ. Mà bà thừa biết cha tôi không thiên vị con nào, mặc dầu có phần xung khắc với tôi.


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 29 Tháng Bảy, 2011, 08:19:11 am
Tuy vậy giữa tôi và bà vẫn luôn sinh chuyện. Con chó cái đẻ được ba con. Nhà giữ lại một con nuôi. Tôi cũng đòi giữ con mập mạp nhất riêng cho mình. Tôi thèm được bầu bạn, dù với con chó. Nhà tuy phong lưu, nhưng tôi thèm cảnh ấm áp gia đình những đứa bạn nghèo còn đủ cả cha lẫn mẹ. Vì vậy tôi cưng chiều nó. Nó quấn quít tôi. Đêm, có khi một hai giờ sáng, tự nhiên bừng tỉnh dậy, tôi ra sân chơi đùa với nó, dưới bầu trời đầy sao, cho tới sáng. Đôi khi nó theo tôi đi học, tôi phải đuổi nó về. Tôi yêu quý nó. Còn bà càng ghét nó. Bà mách cha tôi:

- Nó cho chó của nó ăn cả giò đấy.

- Để phần nó, nó không ăn, nó cho, kệ xác nó.

Phải, đó là thức ăn để phần tôi khi tôi đi học về, ăn ít ăn nhiều mặc xác tôi. Nhưng gai mắt bà. Bà tìm cớ để đánh nó. Nó cắn hóng, nó ỉa bếp. Tôi vặn:

- Nhỡ con kia ỉa thì sao?

- Tao rình bắt quả tang mới đánh.

Bà đánh nó một cách phũ phàng. Tôi cảm thấy như chính mình bị đánh. Tôi căm ghét bà, một sự căm ghét hồn nhiên trong trắng. Thật vậy, tuy căm ghét, nhưng không ít lần tôi vẫn bênh vực bà, mỗi khi bác tôi nghe vú em, người ở ton hót đặt điều nói xấu bà. Những khi ấy bác tôi thường bĩu môi nói mỉa: "Gớm, dạo này quý dì gớm nhỉ!". Thật ra, cũng có lúc bà tỏ ra tình cảm với tôi: "Cháy hôm nay ngon lắm!", bà gắp mấy con tôm to bỏ vào giữa miếng cháy vàng ươm đưa cho tôi. Thỉnh thoảng bà hỏi mượn tôi truyện. Thì bà còn biết làm gì hơn nữa ngoài việc ra chợ mua thức ăn và đọc truyện. Tôi mê truyện, mượn về rất nhiều. "Vợ ba Đề Thám", "Lá huyết thư", "Con voi già của vua Hàm Nghi", "Ngoại ô", "Ngõ hẻm"... Và một cuốn tôi quên mất tên truyện nhưng nói về cô Giang. Xem xong, bà bảo tôi:

- Dì biết cô Giang đấy.

- Sao dì biết?

- Cô ấy xuống nhà chơi mấy lần. Hình như là liên lạc giữa ông Học và bố con Ninh.

Bố con Ninh là chồng trước của bà. Tên ông là Nguyễn Trọng Thịnh. Ông cũng là người làng tôi nhưng từ nhỏ đã sống với bố mẹ buôn bán ở thị xã Ninh Bình, học hành ở đấy. Rồi ông sang học Collège Nam Định, sau khi đậu bằng thành chung đi học khí tượng, trở thành một trong mười mấy nhân viên khí tượng đầu tiên ở Đông Dương, và về làm việc tại đài thiên văn Phủ Liễn. Từ bữa đó tôi hay nghe bà kể chuyện về ông, đôi khi còn hỏi thêm điều này, điều khác. Tôi như được tiếp xúc thêm một nhân vật nối tiếp thêm vào chuyện cô Giang. Hình như chuyện cô Giang có thêm ông mới đầy đủ. Bà kể cho tôi nghe với một giọng tiếc thương. Bà kể những chuyện nho nhỏ về tính tình nho nhã và hào phóng của ông. Bà kể ông hay đi vắng, hay về làng, dạy thêm tiếng Pháp cho những thanh niên xấp xỉ tuổi ông, cho họ quần áo, đôi khi cho cả họ tiền. Bà nói sau khi nổ ra khởi nghĩa Yên Bái, mật thám sục đến nhà vì ông đã bỏ trốn, bà mới biết ông hoạt động, ông đi vắng là đi hoạt động, ông hay về làng là để tuyên truyền chống Pháp, cô Giang đến là để liên lạc với ông. Mấy ngày sau khởi nghĩa Yên Bái ông bị bắt ở Vinh. Một tháng sau, gia đình được thông báo, ông đã tự tử trong nhà lao Vinh, trước cả ngày ông Học cùng các đồng chí của mình lên máy chém. Bà vào Vinh, người ta chỉ cho bà một nấm mộ còn chưa mọc cỏ. Bà hỏi thăm những người gác tù. Có người thì thầm vào tai bà: "Bị tra tấn chết, không phải tự tử, không tự tử nổi trong nhà tù đâu". Cũng có người khẳng định ông tự tử, ông cắn lưỡi tự tử chứ không chịu khai báo gì. Có người lại bảo, ông ấy vượt ngục, xác tù khác đấy. Bà trở về với một niềm hy vọng mong manh chồng mình vượt ngục. Bà chờ đợi chín năm, không thấy tăm hơi, tin tức gì. Ông ấy chết thật rồi. Mùa thu năm 1939, bà lấy cha tôi. Ông ấy chết, khi bà đang mang thai chị Ninh. Bà lấy cha tôi, để chị Ninh lại sống với ông nội ở thị xã Ninh Bình.

Tôi ngẩn ngơ nghe bà kể, ngày này sang ngày khác. Quan hệ giữa tôi và bà trở nên êm thấm. Tôi bỗng thấy thương bà. Một cảm giác mơ hồ, dấy lên ở trong tôi: Nếu ông Thịnh còn sống, nếu bà còn được sống với ông, chắc chắn bà sẽ hạnh phúc hơn sống với cha tôi. Vì ông học cao hơn cha tôi, cha tôi chỉ đậu certificat (tiểu học) rồi đi làm thư ký, ông nho nhã và chắc chắn ông yêu nước hơn cha tôi, dũng cảm hơn cha tôi, mặc dầu cha tôi cũng là một người cách tân và yêu nước. Nhờ cha tôi, mà ngay thời niên thiếu, tôi đã biết về Nguyễn An Ninh, Phạm Hồng Thái và nhất là Phan Bội Châu. "Dậy, dậy, dậy, một tiếng gà vừa gáy... Thẹn cùng sông, hổ cùng núi, tủi cùng trăng... Nhật tân, nhật nhật tân, hựu nhật tân."Giọng cha tôi rung lên, xúc động, chứa chất, kìm nén bao nỗi niềm, khi đọc cho tôi nghe những câu thơ đó. Tôi thuộc bài thơ đó từ năm 1943, lúc tôi mới mười hai tuổi. Mỗi lần tôi ngủ muộn, cha tôi đánh thức tôi, ông lại nói:"dậy, dậy, dậy..., nhật tân nhật nhật tân."Nhờ cha tôi mà tôi thích đọc chuyện Đề Thám, chuyện cô Giang và nghe chuyện bà kể về ông Thịnh. Nhờ ông Thịnh mà tôi thôi căm ghét bà, mà không khí trở nên hòa dịu trong gia đình tôi. Ông Thịnh trở thành nỗi ám ảnh trong tôi. Ông vượt ngục hay đã chết. Ông bị tra tấn chết hay tự tử. Ông giữ vai trò gì trong cuộc khởi nghĩa Yên Bái. Nếu khởi nghĩa Yên Bái đứng vững trong một thời gian, liệu có khởi nghĩa tiếp ở đâu nữa không. Cô Giang trốn vào Nam, ông trốn vào Vinh, có cơ sở nào ở Trung Kỳ, Nam Kỳ của phòng trào đó không.

Tháng ba năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, mấy người đến chơi hỏi bà: "Nghe nói ông ấy trốn sang Nhật, theo phái ông Cường Để, bây giờ kéo quân về rồi, nếu ông ấy về thật, bà tính thế nào". Bà lặng im một lúc rồi nói: "Thế nào chẳng được, ai muốn thế này đâu". Tôi đứng nghe cũng cảm thấy hoang mang, một cảm giác hỗn độn vừa vui vừa lo lắng, vui vì ông ấy còn sống, vì vẫn thầm tiếc cho con người ấy, lo vì sẽ khó cho bà, khó cho cả cha tôi. Nhưng ông ấy không về, không có chuyện ấy. Ông ấy đã chết, chết thật rồi.

Ông đã ảnh hưởng đến tôi. Tất nhiên, còn do nhiều ảnh hưởng khác, ảnh hưởng của câu thơ "thẹn cùng sông, tủi cùng núi, hổ cùng trăng"... mà tháng 7 năm 1945 lúc tôi vừa tròn mười bốn tuổi, không ai gọi, chẳng ai xui, tôi đã không đắn đo mang theo con dao Thổ, có chạm hoa văn hai bên lưỡi của cha tôi, hăng hái nhập vào đoàn biểu tình vũ trang do Việt Minh tổ chức và lãnh đạo, kéo sang chống Nhật thu thóc ở làng bên, làng Phù Ninh tức Ninh Hiệp ngoại thành Hà Nội ngày nay. Và việc đó đã trở thành một niềm vui nho nhỏ suốt đời tôi.


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 29 Tháng Bảy, 2011, 08:20:07 am
Đầu năm 1950, khi đang công tác ở cơ quan Trung ương Đoàn Thanh niên cứu quốc ở rừng Cao Vân, tôi nhận được thư của chị Ninh. Chị cho biết ông nội chị đã mất, chị và bà nội đang tản cư ở Nho Quan. Chị Ninh cũng đã mất hơn chục năm nay, lúc chị năm nhăm tuổi. Năm ngoái, tôi về làng chơi, giữa đường gặp thằng con lớn của chị. Nó là thượng úy hải quân, sau khi mẹ mất, gia đình neo đơn, nhân lúc giảm biên chế, nó xin về một cục. Nó mời tôi lên nhà nó chơi. Tôi hỏi đời sống thế nào. Nó bảo tạm đủ ăn, nhưng vất vả. Tôi cười:

-Giá cháu không xin về, bây giờ có khi trung tá rồi, lúc về đảng viên chưa?

- Rồi chứ ạ, cháu không về, ít nhất cũng trung tá, hơn chục năm rồi còn gì.

Ngẫm nghĩ một lúc tôi bảo nó:

- Cả nước đang đền ơn đáp nghĩa liệt sĩ anh hùng, người có công với nước. Bác cũng vừa được truy lĩnh hai triệu, cháu có nghĩ gì về ông cháu không?

Nó ngớ người nhìn tôi:

- Ông nào hở bác, ông nội hay ông ngoại, hay ông nhà mình.

Nó vẫn coi cha tôi là ông ngoại.

Tôi lắc đầu:

- Ông Thịnh kia, ông ngoại chính thức của cháu ấy. Mà sao lại ông nôi hay ông ngoại. Ông nội hay ông ngoại thì cũng để lại hoàn toàn bằng nhau một phần tử gien di truyền trong đứa cháu. Nhưng thôi không khéo bác sẽ lan man mất. Bác đang nói về ông Thịnh của cháu kia mà.

Quả thật nó không biết gì về ông Thịnh. Nó chỉ biết bà tức dì tôi. Nó quý cha tôi như ông ngoại thật của nó. Mẹ nó, chị Ninh chắc chẳng nói gì với nó về cha mình. Có thể chị cũng chẳng biết gì nhiều. Có thể dì tôi không nói gì về chuyện này với chị, vả chăng, khi chị lớn lên, có thể hiểu biết, thì mẹ chị đã lấy cha tôi mất rồi, đã mẹ con mỗi người một nơi, mỗi người một cuộc sống. Cũng chẳng thể trách chị, khi ông chết, chị mới chỉ là một bào thai. Lớn lên, mẹ đi lấy chồng, rồi kháng chiến bùng nổ, tản cư, ông nội bà nội chết, bơ vơ một mình, lại trở về làng, lúc đã lỡ tuổi, đành lấy một anh thợ cắt tóc, rồi sinh con, nuôi con ăn học trong những năm thiếu thốn và gian khổ, có thể nghĩ gì ngoài những ý nghĩ vô cùng thực tế để tồn tại và mưu sinh.

Tôi nén những xúc động vô cớ và bảo nó:

- Ông Thịnh cháu là một liệt sĩ đấy.

Và tôi kể cho nó nghe về ông Thịnh. Nghe xong nó ngơ ngác hỏi tôi:

- Cháu phải làm gì hở bác?

- Chẳng làm gì cả. Thỉnh thoảng nghĩ về ông cháu. Nói cho các con cháu nghe về ông cháu. Linh hồn, xương cốt ông cháu đã hòa vào khí thiêng sông núi nước non rồi.

Tôi trả lời nó như thế. Làm gì? Nó ư? Tôi ư?. Những người biết về ông hầu hết đã mất, đã già, hoặc đã quên ông. Không, ông đã và mãi mãi là liệt sĩ vô danh. Tôi chợt nghĩ tới Lão Tử. Cái vô danh là khởi thủy của hữu danh. Cái hữu danh là phần thể hiện hạn chế của vô danh. Cái hữu danh là hữu hạn. Cái vô danh là vô hạn. Hồn thiêng sông núi là cái vô danh là vô hạn.

Tuy nhiên, về Hà Nội, đôi khi đi qua các đường phố Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khắc Nhu, tôi lại nhớ đến ông, một lần vào Đà Lạt, đến thăm một người quen ở đường Cô Giang, một đường phố nhỏ, xa trung tâm, hơi heo hút, tôi càng nhớ đến ông. Tôi chợt hiểu ra trong những đường phố ngổn ngang trong lòng tôi, có một con đường nhỏ mang tên ông, tuổi thiếu niên tôi đã đi qua con đường ấy, để tham gia biểu tình chống Nhật, tuổi thanh niên, tôi cũng đi qua đường ấy lên núi rừng Việt Bắc tham gia kháng chiến chống Pháp.

Tuy vô danh, nhưng ông là có thật, thật như cô Giang, người nhiều lần đến liên lạc với ông. Ông là Nguyễn Trọng Thịnh, nhân viên đài thiên văn Phủ Liễn, là một đồng chí của ông Nguyễn Thái Học, bị bắt ở Vinh và chết trong nhà lao Vinh. Cũng như ông, mọi chuyện tôi viết ra đây đều có thật, thật như bà dì tôi chính là chị ruột của đạo diễn, nghệ sĩ nhân dân Trần Hoạt. Nhưng ông Hoạt cũng đã mất khoảng hai chục năm rồi.

Cuối tháng 10-98
      N.B
(119/01-99)


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 06 Tháng Chín, 2012, 09:23:43 am
Chuyện nhỏ hồi chiến tranh

LÊ MINH KHUÊ


Xe vừa dừng thì từ phía ghế lái phụ có tiếng đập cửa gấp gáp. Vĩnh chồm dậy, mắt nhắm mắt mở. Nhưng không. Có phải báo động máy bay đâu? Vĩnh quay sang tôi nhe răng cười và mở cửa.

Trong bóng tối mờ mờ dưới đất, thấy một chiến sĩ cao cao đứng có vẻ ngượng ngùng. Vĩnh trao đổi gì với anh ta, tay hoa lên. Rồi quay sang tôi: - Họ muốn đi nhờ đến V. Sao anh?

Tôi yên tâm châm một điếu thuốc. Với Vĩnh, họ có nghĩa là một người, chứ không phải hai, không phải ba đâu mà lo. Cái nhìn nghịch ngợm dường như phải cố dấu của Vĩnh, nói với tôi như vậy. Tôi bảo:

- Cho người ta lên...

Người đi nhờ mừng rỡ chạy về phía hầm hộ tống của công nhân, bảo là lấy ba lô ba liếc gì đó. Còn Vĩnh thì cúi người khua lục cục dưới chân tôi. Tìm được cái bi đông. Cậu thở hắt ra như đánh vật. Chả hiểu tại sao lại cứ nhét bi đông xuống gầm ghế, mà lần nào cũng tìm quanh tìm quẩn mãi rồi mới thấy. Bảo bao nhiêu lần cũng không nghe... Nãy giờ tôi cứ nhìn Vĩnh một cách xét nét, nhưng không bực bội gì mà thấy buồn buồn sao đó. Vĩnh còn trẻ quá, mà chiến tranh thì khốc liệt,.. Vĩnh lúc lắc cái đầu, cười cười. Và cậu ngửa đầu uống nước, ngon tới nỗi ai trông thấy cũng phải thèm. Mà cậu cũng chỉ vừa uống đấy thôi, lâu la gì. Dù chả khát, tôi cũng không nhìn Vĩnh nữa mà quay người nhìn hai cái pháo sáng sắp tắt đang rơi xuống phía đông. Chàng lái phụ của tôi thế đấy ; cậu ăn uống, ngủ, chơi, cái gì cũng xông vào làm hết sức mình. Người kém nhiệt tình mấy, ở bên cạnh cậu cũng phải muốn hoạt động.

Lát sau, người đi nhờ trở lại. Anh ta hấp tấp, làm cái bi đông lại lăn xuống gầm ghế. Vĩnh liếc nhìn tôi, càu nhàu:

- Gớm, xe đã đi đâu mà ông anh vội vã thế.

Giọng trách móc của cậu nghe thật cảm động. Khuôn mặt trẻ măng, xấu xí nhưng dễ thương vô cùng của cậu lung linh trong ánh lập lòe của điếu thuốc, của sao xuyên qua buồng lái. Không bao giờ cậu thích ai làm phiền tôi, nhất là trong lúc như thế này.

Tôi thấy dễ chịu trở lại. Cái áo tôi đang mặc, bị trận mưa lúc kéo xe qua bến phà, ướt nhớp nháp quyện với mồ hôi.

Lúc chập tối, tôi và Vĩnh đánh xe qua thị trấn của tôi. Xe chúng tôi phải chờ tới nửa giờ mới qua được khúc đường bên kia cầu. Phải loay hoay một lúc, tôi mới định được hướng chỗ này là nhà của Thái. Kia là nhà bưu điện có bà Tháng gầy còm ngồi bán vé xổ số trước cửa. Và đây, trước là nhà tôi. Có cái bể không lẫn được. Nó còn nguyên vẹn trong đống vôi vữa, trong những bức tường chồng ngược, những hố bom sâu hun hút phía dưới, phía trên thì tua tủa lẫn vào bùn nào là thân nứa, nào là cành cây. Bể cạn khô. Cái gáo sắt rơi đâu trong lòng bể.

Tôi nghĩ đến cái bể nước thân thiết như sự sống. Tôi bảo Vĩnh:

- Cậu biết không, cứ sau mỗi trận mưa rào, cái bể đầy nước trong vắt. Người xung quanh hay đến xin để nấu nước uống.

Có tiếng chân dò dẫm. Chúng tôi quay lại, trông thấy bác Nắm chữa đồng hồ. Bác Nắm bưng một rổ bát, cái lành, cái vỡ. Bác vừa trong một mái nhà đổ nghiêng chui ra.

- Cha mẹ ơi, cậu đấy ư, cậu Bường?

Rồi bác níu tay tôi. Khóc. Kể. Nước mắt bác kèm nhèm.

Tôi xót xa cầm lấy bàn tay khô đét của bác Nắm chữa đồng hồ. Thị trấn không nhiều người nên chúng tôi hầu như quen biết nhau. Giờ đây toàn thị trấn đổ nát. Cách đây mấy ngày, nó còn là một dãy nhà nguyên vẹn. Với cửa hàng mậu dịch có cô bán vải xinh xắn làm bọn thanh niên trong thị trấn cứ có thì giờ là đút tay trong túi quần, quanh ra quẩn vào, bận chân người mua, người bán. Có cửa hàng ăn hay bán bánh bao không nhân buổi sáng và bán mì sợi có vài lá hành, hai hào một bát. Không hiểu sao chúng tôi cứ một mực gọi là tổng hợp. Ra tổng hợp uống cà phê. Ra tổng hợp làm bát phở. Người ở xa đến thường chả hiểu tổng hợp ở đây là cái quái gì... Còn có vài cửa hàng chữa đồng hồ. Hiệu chữa xe đạp. Hiệu may. Những cô thợ may áo hồng đăng ten ở gấu, ở cổ, đi dép tím hoặc guốc nhựa cao gót, thỉnh thoảng nhảy tàu ra Hà Nội, về là cái đầu xù ra với những búp tóc quăn tít. Những anh thợ khắc bút da xám ngoét ngồi cặm cụi sau cái hộp gỗ hình chữ nhật. Và những đứa con trai mười hai tuổi cứ vô cớ chạy từng đoàn từ đầu đến cuối thị trấn, la hét om sòm làm cho bọn chó cũng cuống lên, sủa từ sân các nhà.

- Hôm ấy, bác ở đâu, bác Nắm?

Hôm bọn nó ném bom, bác Nắm ngủ ở nhà, chứ còn đi đâu nữa? Trên cái giường một kê gần tủ sách của thằng Thuấn. Thì cũng nửa đêm thôi. Ông ấy, thằng Thuấn với hai đứa em nó nằm ở cái giường tây. Mấy đứa trẻ học bài xong, quên bỏ màn. Bác Nắm chợt mở mắt, định sang bỏ màn cho mấy bố con nó. Nhưng không hiểu sao lơ mơ lại thiếp đi. Thế rồi bác bị đập người vào cái gì đấy. Khói làm bác ho sặc sụa mãi, không sao lết dậy được. Ánh chớp nhoáng nhoàng như cơn dông kéo đến nửa đêm. Gạch ngói bay tứ phía, ghê cả người. Bác Nắm lết lại cái giường tây. Cái giường tung đi đâu mất, cậu ạ. Thế rồi bác Nắm ngất đi. Ngày hôm sau bác mới biết là chỉ còn bác trong nhà thôi. Ông ấy khỏe hơn bọn trẻ, nhưng cũng chỉ sống được hai giờ nữa. Nhưng vậy, thị trấn mình thiệt mất ba trăm hơn. Xung quanh đây thì vợ cậu, vợ cả Vinh nhà ông Phàn thuốc bắc vị chi là bảy người,.. Cậu ơi! Làm sao mà đẩy xuống địa ngục cả họ hàng tông giống nhà chúng nó, cái bọn dã man ấy đi.

Tôi đỡ lưng bác Nắm. Bác cứ gục xuống khóc rũ người. Cây thánh giá đeo bằng sợi dây đồng dài, đung đưa trên cổ. Sợi dây cũ kỹ đen xỉn lại. Bác đeo nó từ thời còn là chị Nắm chưa chồng, người đẫy đà và có cái cười thật phúc hậu.

Bên phải, bên trái chỗ chúng tôi đứng bỗng có nhiều người đang đi lại. Tối, bà con kéo về thị trấn, nhặt đồ đạc và thu dọn thị trấn. Hai người đàn ông khiêng cái tủ to lù lù đi qua. Tôi gọi: bác Thành, bác Quyết. Một bà cụ gánh hai cái gói gì toòng teng như cái chăn bông, tôi gọi: bà Vải...

Chúng tôi quây lấy nhau mừng mừng tủi tủi. Trời, tưởng là không gặp nhau nữa kìa?

Nền nhà tôi cạnh một hố bom sâu hút. Tôi giẫm phải cái chầy giã cua. Tôi biết thường ngày, nó hay nằm trên cái thớt đậy vại mắm.

- May cho hai cháu, cậu ạ. Cái tường đổ úp lên đống gạch. Hai chái ngủ trên đi-văng của ông nội, không việc gì. Còn mẹ nó thì nằm nhà ngoại. Không tài nào tìm cho đủ người cô ấy. Thôi, cậu thu xếp đi thăm con tí đi...

Bà con chào tôi, mỗi người đi mỗi việc. Bác Nắm bê rổ bát, cầm thêm mấy thanh nứa ở tay kia. Chiếc khăn tang của bác có hai chéo chảy dài xuống sau lưng. Thị trấn của tôi trắng khăn tang. Vệt bom B. 52 kéo dài từ bên kia cầu. Nghe đâu quả cuối cùng rơi vào trạm bơm đầu xóm Lưới. Hai cây số dày đặc bom.

Ở đây, người ta bồng bế nhau đi sơ tán mấy lần.

Mấy lần, bọn Mỹ trở mặt đi trở mặt lại.

Người ta kịp dựng lại một mái nhà, kịp có mang một đứa trẻ sắp đến ngày sinh... thế rồi tất cả lại tiêu tan trong khói lửa. Những ngày yên tĩnh ngắn ngủi, tiếp theo những thời gian dài đầu óc căng thẳng vì tiếng máy bay, tiếng bom nổ.

Cho đến lần này, cái vệt bom B.52 vạch ra, sắc như một lưỡi dao, xuyên qua giấc ngủ của các con tôi.


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 06 Tháng Chín, 2012, 09:25:52 am
Một lần, tôi đánh xe qua nhà, vợ tôi phàn nàn: sơ tán sơ tiếc, hết tiệt cả bát ăn, anh ạ. Mấy cái rổ vừa mua cũng bẹp dí bẹp dị thế kia thì còn đựng cái gì... thằng con tôi đứng gãi lưng sồn sột ở bậu cửa, cười phô hết hàm răng sún, đen như nhuộm mực tàu.

- Mẹ thật vớ va vớ vẩn. Người ta còn mất bao nhiêu thứ ấy chứ riêng gì nhà mình.

Mẹ nó lườm một cái khiến nó phải im bặt. Đêm, vợ tôi không ra than vãn, không ra đay nghiến, nói với tôi:

- Con cái thì dại như thế đấy. Nó có biết đâu, cái cùi dìa cho nó ăn bột ngày bế cũng là tài sản đấy. Cái quai thùng xách nước cũng là tài sản đấy. Nó không đáng giá gì, nhưng anh tính- thiếu nó thì mấy mẹ con có mà khóc, không có các thứ đó, làm gì có nhà này, làm gì có nó? Mới tí tuổi đầu mà giọng đã y hệt ông bố... Anh đi suốt năm suốt tháng, anh có biết đâu... Có đêm máy bay thả pháo sáng ngay trên đầu, tiếng nó rít nghe rợn cả chân tay mà trời mưa tầm mưa tã, hầm ngập nước đến miệng. Một tay em bê con bé lên sởi, thằng lớn thì sốt li bì đã mấy hôm, bản thân em thì bị cảm... Rồi nó bỏ bom. Em cứ ôm con mà che cho nó, bụng cầu khấn sao cho có chết thì chết nguyên lành để đến khi anh về còn cái mộ mấy mẹ con ra mà thắp hương...

Tôi ôm cái vai gầy giơ xương của vợ tôi, muốn san sẻ gánh nặng nhưng biết san sẻ thế nào? Có gia đình nào trong những năm này được sống sung sướng, đầy đủ?

Vợ tôi im lặng dần. Thằng con tôi đã hơn bảy tuổi rồi. Tôi đi bộ đội tám năm. Lúc đeo ba lô về thăm nhà sau một tháng làm anh tân binh, tôi không gặp cô ấy. Dạo đó chưa cưới nhau. Cô ấy đi đâu đó, vắng nhà. Mới đi lúc sáng thôi, nên cái áo thay lúc sáng chưa khô, còn phải ở đây. Cái áo hoa vàng vàng, xanh xanh, đã nhạt màu, những bông hoa li ti nhòe lẫn vào nhau. Cái áo hoa có hai ống tay ngắn, cái cổ tròn, trông dễ thương như cái áo của học sinh trung học. Tôi đứng nói chuyện với mẹ với em gái cô ở bờ giếng. Và ngắm cái áo có những bông hoa li ti nhòe vào nhau thành một chuỗi vàng, xanh trong suốt, trong sáng và kỳ ảo dưới cái nắng thơm tho đầu mùa thu. Lòng tôi nhẹ nhõm khi ra đi. Đến đường cái, tôi nhìn lại, qua hàng dâm bụt, thấy cái áo hoa phơi trên dây bay bay hai ống tay, bay bay hai cái vạt.

Tôi yêu vô cùng cái áo hoa bé nhỏ. Tôi yêu kỷ niệm về cái áo hoa. Bây giờ con tôi lớn rồi. Nhưng lần tôi về thăm vợ trước khi vào chiến trường, nó mới đẻ được đầy tháng... Vợ tôi đã làm mẹ. Hai bàn tay có những đường gân xanh xao, mềm mại. Vợ tôi mặc cái áo trắng giặt nhiều, mỏng manh như khói. Khắp người thơm mùi sữa. Khi tôi ngắm cái má, cái miệng của thằng con, cũng thấy mùi sữa ấy. Sau khi sinh con, vợ tôi đã gột đi tất cả cái ồn ào, sặc sỡ của thời con gái. Bây giờ, cô ấy có cái ồn ào của người đàn bà, cứ làm như cả thế giới này chỉ mình cô ấy được có con. Tôi giặt tã con, hâm cháo cho vợ và ngần ngại nhìn cái đầu chưa có tóc của thằng con. Thật là quái lạ. Thế kia mà khi lớn lên có đứa nặng đến bảy chục cân, cao một mét bảy nhăm? Còn lúc này, sao mà cả hai mẹ con yếu ớt thế? Trước khi đi chiến trường, tôi chăm nom hai mẹ con như chăm cả hai đứa trẻ.

Và đêm đi xa, ngồi trên xe ô tô lắc lư, tôi nghẹn ngào cảm thấy được hết cái hạnh phúc được làm cha. Thứ hạnh phúc không bình thường để có thể dễ dàng nói thành lời.

Sau đó cô ấy nuôi con một mình. Nuôi bố mẹ già cho tôi. Suốt trong bốn năm. Tay chân cô ấy nứt nẻ ra, tính tình cằn cỗi đi vì vất vả. Có đứa con thứ hai, tôi bị thương, được chuyển ra, lái xe ở tuyến miền tây Quảng Bình. Là lái xe, lại hay đi công tác, tôi thường ghé được qua nhà, ngắn ngủi nhưng cũng là rất may so với bao nhiêu anh em đồng đội còn ở chiến trường xa tít.

Vợ tôi không kịp chạy ra hầm. Lúc chôn cũng chỉ tìm được hai phần ba thân thể. Thiếu mất hai cánh tay.

Ở thị trấn của tôi, ít người kịp chạy ra hầm.

Tôi không ngờ chuyến công tác này tôi phải chứng kiến một điều chưa bao giờ tôi nghĩ tới. Vĩnh, cậu lái phụ của tôi cũng im lặng bên nỗi mất mát của tôi.

Lúc này chúng tôi đang chờ đội công nhân bắc ván cầu. Bom bỏ ở đây lúc hơn năm giờ chiều. Xe đang ùn lại, dễ đến hơn một cây số rồi. Tôi bắt đầu nóng ruột. Cậu chiến sĩ đi nhờ hết uống nước, hút thuốc, nhai lương khô, đến nói chuyện quân hàm với Vĩnh. Vĩnh ầm ừ góp chuyện. Rồi chuyện phụ cấp. Chuyện em ở nhà có chưa mày? Cậu ta hỏi Vĩnh, rồi cười hô hố: Tớ một nhóc rồi, nghe nói đã biết chửi lem lém, lần này mới biết mặt bố đây. Và lập tức, cậu sợ sệt nhìn tôi vì trót cười to quá. Hình như cậu Vĩnh bấu vào tay sao đó. Cậu làm lành bằng cách rút bao thuốc lá, mời Vĩnh: làm điếu ông! Rồi kính cẩn mời tôi. Tôi là lái chính cơ mà.

Tôi từ chối tự dưng không muốn hút.

Đêm, đưa cậu đi nhờ thêm một cây số nữa, chúng tôi quay lại lối rẽ vào làng mà thị trấn của tôi đang sơ tán. Hai thằng phải nằm ngoài xe chờ sáng, vì vào làng, phải lội bộ qua cánh đồng nước.

Vĩnh ngủ. Tôi lang thang đi lại dưới đường. Pháo sáng địch dăng một hàng thẳng tắp đâu như dưới bến phà.

Tôi bước vào sân khi thằng con tôi mới ngủ dậy. Chả biết làm gì, nó lấy tay xoay xoay cái quần cộc, kéo cạp quần lên quá rốn.

- Em đâu con?

Nó di di chân xuống sàn gạch. Chân đầy bùn, chắc tối đi ngủ, nó không rửa chân. Nó chưa nói được gì với tôi ngoài tiếng chào "bố". Đôi mắt nó tràn ngập những lời mà chắc nó đã để dành đến lúc gặp bố nhưng bây giờ không nói ra được. Nó đi lại đầu hè, nhắc cái nơm úp cá và kéo ra hai cái ghế nhỏ. Nó ngồi một chiếc, nghĩ sao lại đứng đậy không ngồi nữa, đưa cho Vĩnh một chiếc:

- Chú với bố ngồi xuống đi!

Nó ngồi bệt xuống sàn gạch và có vẻ ngồi như thế, nó nói được dễ dàng hơn:

- Em đang ngủ trong nhà, bố ạ. Bố đừng vào, để nó ngủ đã. Cả đêm qua nó khóc đấy.


Vĩnh ra xe lấy thêm ít gạo. Chủ nhà đi làm đồng vắng. Chỉ có một bà lão đến chín mươi tuổi, nhỏ như một đứa con nít, lưng còng gập xuống ngồi sưởi nắng ở góc sân. Bà lão đưa đôi mắt đục mờ nhìn ra vườn, không nghe tiếng chào của chúng tôi, cũng chả để ý đến người lạ. Đôi môi khô của cụ mấp máy, chắc là cụ đang sống với những tên người, tên đất mà cụ đã biết từ thuở xa xưa.

Thằng con tôi ngồi nhìn tôi, hai khuỷu tay chống lên hai đầu gối, bàn tay đan vào nhau. Lưng nó cũng gù xuống như lưng người già. Mặt nó xanh xao, hai cái má thật tóp vào, tóp sâu làm cho có giống vẻ khắc nghiệt của mẹ nó những năm sau này - Đôi môi nó sưng vều lên. Cái nhìn kinh hoàng như con chim nhỏ bị đạn. Nó khóc. Tôi ôm chặt lấy vai thằng con.

Mấy phút sau, cái sân đầy người. Mấy cô gái giữ trẻ trong cơ quan vợ tôi chạy sang. Ba cô may khăn tang. Quần áo nhem nhuốc, có vẻ như không còn gì để thay.

- Anh mới về ạ!

- Anh mới về ạ!

Mắt cô nào cũng còn sưng mọng. Nhà các cô cũng trong vệt bom B 52 ấy. Các cô lập tức kể cho tôi nghe. Cô thì lúc ấy đang ngủ say. Cô thì đang cho con bú:

- Anh không tưởng tượng được, em phải nằm ép xuống che cho con em. Thằng bé bây giờ ngủ cứ thổn thức.

Trẻ con ở đâu kéo đến rất nhanh. Đứa này chít khăn tang, đứa kia đính mẩu băng đen trên vai áo. Có đứa nhỏ tí cõng đứa em gần bằng nó, sườn vẹo sang một bên... Những đôi mắt long lanh còn vương lại dư âm kinh hoàng của tiếng bom dội vào tuổi thơ ấu.

Có người bảo bọn trẻ giải tán đi, đừng tập trung ở sân.

- Các cháu về đi. Rửa mặt ăn sáng rồi đến lớp chứ. Cô giữ trẻ ngồi cạnh tôi, nói nhỏ:

- Chả đứa nào còn bố mẹ đâu, anh ạ. Bây giờ xem có gia đình nào nhận nuôi, còn lại là tổ chức cho các cháu sinh hoạt tập trung, vật chất thì không lo vì ở trên cứu trợ đầy đủ... Nhưng bọn trẻ con, anh tính, làm thế nào cho chúng nó quen là thiếu vắng cha mẹ...

Sau một lúc im lặng, cô bảo tôi:

- Thôi, bố con chuyện trò đi. Xem như người mất thì mất rồi. Người sống phải lo chuyện người sống, chả nên ngồi mà buồn thương mãi.

Cái sân ồn ào một lúc rồi im lặng. Hai chiếc máy bay Mỹ sà thấp, bay sát qua bầu trời, tiếng rít của chúng làm cho cái sân gạch cũng rung lên. Ở góc sân kia, bà lão vẫn ngồi nhìn ra vườn, miệt mài với những tên người, tên đất mà chỉ riêng cụ biết.

Thằng con tôi xòe bàn tay ra, nhẩm đếm cái gì. Rồi nó nói giọng toan tính:

- Chỗ sữa các bác phát cho, em nó đòi ăn liên tục. Con bảo nó: để đêm ăn, nó không chịu! Bố tính ăn hết đi, đến đêm nó nhớ mẹ, nó khóc con lấy gì mà dỗ. Còn một ít, con cất tít lên bàn thờ, che cái gối lên. Con vừa ra giếng giặt, quay vào lấy thêm cái khăn, thấy nó đã xúc sữa bột vào bát, vừa ăn vừa cười. Con quát nó, bảo nó đói lắm. Mẹ hay cho nó ăn vặt nó quen mất rồi còn gì. Nó chưa biết mẹ chết đâu bố ạ. Hôm bị bom, nó khóc mất một ngày. Các bác đưa chúng con đi ngay, không cho nhìn thấy mẹ nữa. Nó khóc rồi nó quên ngay. Chỉ đòi về nhà thôi. Suốt ngày nó hỏi: Mẹ đi làm bị hỏng xe đạp à, sao lâu về thế? Các bác bảo con đừng nói cho bố biết là mẹ chết. Bố ạ, hai cái áo mẹ mới may cho, nó trèo rào, rách toạc hết cả. Mẹ chưa kịp may. Còn áo cũ để dưới phố thì mất hết rồi. Con đang tính có nên mua mấy mét chéo xanh may sơ mi cho nó, loại ấy vừa bền vừa rẻ...

Tôi vội phẩy tay bảo thằng con:

- Thôi, khoan đã con ạ.

Nước mắt ứ đầy lên, tôi phải kéo con đứng dậy, cố cười cho nó yên tâm. Tôi vào nhà, định là đứa bé có dậy thì nó dậy luôn. Nó nằm ở cái giường đôi kê gần cửa sổ. Quần nó xắn cao, phơi ra hai ống chân lở loét, ruồi bu đầy. Con tôi mở mắt nhìn tôi và im lặng cho tôi bế ra sân. Các cô cấp dưỡng mang cháo cho bọn trẻ. Trong khi anh em nó ngồi ăn, tôi giúp Vĩnh mang bao gạo vào nhà và lấy cái xoong sẻ đôi chỗ mỡ chúng tôi dành ăn đường, để cho bọn trẻ.

- Bố với chú Vĩnh ăn cháo với chúng con.

Thằng con tôi lo lắng, xăng xỏ tìm cái bát lành trong rổ bát dĩa sứt mẻ chắc nó đã bới lên từ trong ngôi nhà đổ nát của chúng tôi. Tôi không dám nhìn đôi mắt to, trước kia lòng trắng mắt xanh màu da trời, bây giờ vàng vàng như mắt người lớn mất ngủ. Hai hàm răng nó nhô ra. Nó làm gì cũng tất bật, nhìn trước nhìn sau như sợ mất cái gì.


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 06 Tháng Chín, 2012, 09:26:27 am
Tôi bỗng dưng nhớ lại lần về phép năm ngoái. Một buổi sáng tôi choàng tỉnh vì tiếng cười ròn rã của trẻ con từ nhà ngoài đưa vào. Vợ tôi bảo: - Thằng Huy nhà mình đấy mà. Nó dậy làm gì sớm thế không biết.

Con tôi nằm trên nền nhà hai chân đạp liên hồi xuống đất. Nó vừa cười vừa la hét một mình vì thích thú. Dưới đất, một cuốn tranh truyện trẻ con mở rộng, có vẽ hai con chó con đang vờn nhau. Con chó bị bạn đuổi đang cong đuôi nhảy qua bụi lá khoai. Đầu quay nhìn ra sau, cái mõm vênh lên, hai cái tai vễnh ngược, tôi cau mày: Gì mà cười ghê thế hả con?

Nó không nói được mặt dàn dụa nước mắt, ngồi dạy ôm cuốn sách vào lòng. Cười tức bụng làm thằng bé nhăn nhó.

Tôi không hiểu. Hai con chó vẽ trên giấy? Có gì đáng cười?.

Trong một đêm chờ thông đường, ngồi sau tay lái, sờ râu mọc tua tủa trên cằm, nghĩ đến tiếng cười của đứa con mới thấy sợ: Mình già quá mất rồi - mình nhìn bức tranh ngộ nghĩnh kia như nhìn vào bức tường. Còn thằng bé đã nhìn ra bao nhiêu điều hồn nhiên trong đấy. Cái gì đã làm tâm hồn nó rung động? Mình chịu thôi, già mất rồi.

Thế rồi những chiếc B 52 bay qua bầu trời quê hương. Những chiếc B.52 phun khói, rạch lên nền trời những giải băng tang trắng. Thằng con tôi ngồi với bố ôm gối không còn là đứa trẻ, đang nói toàn chuyện toan tính của người lớn. Cái già dặn của con tôi làm người lính trong tôi trỗi dậy. Bây giờ thì tôi hiểu được vì sao cậu Thược bạn tôi nhận được tin bom Mỹ bỏ trúng vào cả nhà, đã ôm B40 xông lên đón đầu đoàn xe địch, bắn cho đến lúc điếc đặc cả hai tai và bị thương nặng vào phần bụng mà không hề biết...

Vĩnh một mực bắt tôi ở lại với các cháu. Cậu đảm nhiệm lái xe đi lấy hàng đưa về điểm tập kết thay tôi. Nhưng cậu mới tập lái, làm sao tôi yên tâm được?

- Anh cứ yên chí đi. Anh ở lại với các cháu một thời gian. Tôi vào sẽ gặp thủ trưởng trung đoàn... Thế nào anh cũng được giải ngũ về với các cháu...

- Chuyện ấy thì tôi vào đơn vị sẽ tính sau - Tôi nói cho cậu yên tâm - Thôi, chuẩn bị lên đường đi, tôi đã gửi các cháu chu đáo rồi!

- Nhất định đi ngay đêm nay à?

- Chứ còn chờ đến bao giờ? Anh em người ta mong mình, chả biết mình vì sao về chậm, họ lại sốt ruột. Tớ thu xếp cho các cháu ở đây rồi. Cũng tạm được. Có lẽ đợt này vào xong, tớ sẽ ra phép với các cháu một thời gián. Thôi, chuẩn bị…

- Anh này quái lạ thật! - Vĩnh thiếu nước hét lên - Đã bảo để tôi...

Cậu giận dỗi. Cái mũi dễ thương đỏ lên. Đôi môi dày dày của cậu phụng phịu sắp khóc. Cậu biết là thôi, có gàn cũng uổng công. Cả buổi chiều cậu ta không thèm nói với tôi câu nào. Cậu dắt hai đứa con tôi ra bờ sông ngồi câu cá. Và cậu nói cái gì đó mà có lúc tôi đã nghe thằng con tôi cười.

Gần tối, tôi bế đứa con gái nhẹ tênh đi chào mọi người. Ai cũng nói giống nhau: - Anh cứ yên tâm anh ạ, có chúng tôi...

Đứa con gái nhỏ có đôi mắt dài, đen long lanh như mắt mẹ. Có hai lúm đồng tiền nhỏ xíu hai bên má. Tôi bế nó, áp cái đầu hôi mùi đất, hôi mùi nước mưa của nó vào mình. Nó níu chặt cổ tôi nhưng thỉnh thoảng lại giơ tay ra sau lưng, hoặc vào nách gãi sồn sột. Tôi bảo thằng anh nhớ chịu khó tắm rửa cho em. Thằng con tôi gật gật đầu và nét mặt nó lộ một vẻ nhọc nhằn thật đáng ngại. Đứa con nhỏ như linh cảm thấy là sẽ phải xa bố lâu dài, nó kéo sát mặt tôi lại hỏi:

- Bố đi lâu không bố?

- Bố đi ít hôm thôi. Bố đi đánh thằng Mỹ ấy, con hiểu không?

Con tôi gật đầu và chịu đứng xuống đất.

- Con ở nhà với anh với các cô nhé.

Đứa con gái tôi lại gật đầu. Nó gật đầu mà nhìn tôi rất nghiêm trang. Những nốt muỗi đốt trên trán nó đỏ như đánh dấu. Mẹ nó thường rất xót xa khi nó bị muỗi đốt...

Thằng con tôi lễ mễ xách túi cơm nếp. Các cô giữ trẻ nấu cho chúng tôi. Nó bắt tay tôi, tay kia xốc quần:

- Bố đi nhé, thỉnh thoảng về bố ạ.

Tôi bước lên bậu xe. Hai anh em nó khoác vai nhau:

- Đừng lo cho các con bố ạ.

Tôi đóng cửa xe sầm một phát. Con trai tôi đưa tay chùi mũi cho em nó.

- Bố đi bố nhé. Xong việc hãy ra với các con cũng được bố ạ. Bận thì viết thư bố nhé.

Xe nổ máy rồi, thằng con tôi chạy theo. Hai ống chân trần đen đủi dính mấy vệt bùn trắng. Hai ống chân lo toan của một người chủ trong nhà.

- Cẩn thận bố nhé. Đừng lo cho các con. Đừng lo bố ạ.

Con trai tôi. Con trai tám tuổi của tôi.

Hai anh em thằng bé quay lại căn nhà sơ tán. Bà lão ngồi ở sân bỗng quay lại nhìn hai đứa bằng đôi mắt đột nhiên rất tinh nhanh, rất thực tế mặc dù trời đang chạng vạng tối. Bà lão hỏi giọng khàn khàn: - Bố đi rồi hả?

- Bố cháu đi rồi bà ạ.

- Ờ, thế thì ở đây với bà...

Một người đàn bà to béo lực lưỡng như đàn ông từ trong nhà bước ra, ôm xốc lấy đứa con gái nhỏ. Tiếng còi ô tô từ xa vọng tới.

Bẵng đi một thời gian rất lâu, thằng bé không thấy thư của bố. Hai anh em nó đã quen với những ngày vắng mẹ, quen với sự có mặt của nhiều người luôn ở bên chúng nó.

Vào một buổi trưa, nó đưa con bé em đi học. Lúc về nhà, nó thấy trong nhà có khách. Vốn là một thằng bé ngoan, nó không muốn xộc vào nhà sợ làm phiền mọi người. Có hai người đàn ông ngồi ở bàn. Người đàn bà chủ nhà đang loay hoay rót nước. Không ai biết có nó đứng ở ngoài. Người đàn ông đeo cái túi đen trên vai giống các cán bộ trên huyện, nói:

- Chăm sóc con liệt sĩ giờ là trách nhiệm chung. Chị cứ để cho các cháu nó vào trường con liệt sĩ chị ạ.

- Các cháu nó ở đây với chúng tôi quen rồi, ít nhất thì các anh cũng để cho chúng nó hết năm học này đã.

- Tội nghiệp. Thế là bố mẹ đều mất.

- Chị cố gắng dấu đừng để cho các cháu biết là bố nó đã hy sinh...

Thằng bé nghe thấy hết. Nó hiểu rất nhanh là thôi, bố đã hy sinh, bố không bao giờ về nữa. Nó muốn hét lên một tiếng và chạy bổ vào nhà. Nhưng không hiểu sao nó không làm thế. Nó bình tĩnh đi ra không cho ai hay biết. Ra đến ngoài ngõ nó chạy. Nó nhằm hướng mái chùa giờ làm lớp học mà lao tới. Em nó đang học ở đấy. Nó phải nhìn thấy em nó. Nhỡ một chốc nữa lại xảy ra chuyện gì thì sao? Hai cái máy bay cổ ngỗng bay tít cao, những tiếng động của chúng vẫn chiếm đoạt cả không gian đồng quê yên tĩnh. Thằng bé nhảy phóc qua con mương, chạy qua luống khoai người ta mới trồng. Nó tới nơi. Nó thở như đứt cả tiếng. Nó bíu vào chân song cửa sổ. Em nó kia. Em nó đang cắm cúi làm toán. Cả lớp đang cắm cúi làm toán. Cô giáo ngồi trên bục trông thấy thằng bé đang nhìn chằm chằm vào lớp, cô có vẻ ngạc nhiên rồi cô xua xua tay, ý bảo đừng làm ồn, để cho các em học...

Đến lúc này thằng bé mới rên lên một tiếng trong cổ họng. Ý thức người lớn của nó làm nó bình tĩnh. Nó nghĩ là nó phải cho em nó học nên người. Nó phải dạy dỗ đứa em nó.

Nó đứng như vậy rất lâu. Mãi đến khi cảm thấy có chuyện gì đó xảy ra đằng sau, nó mới quay phắt lại. Bác chủ nhà cao lớn, mấy cô giáo và cả hai người đàn ông lạ đang đi nhẹ tới sau lưng nó. Trong lớp học, cô giáo và trẻ con nhìn ra. Thằng bé trở thành trung tâm của sự chú ý. Người đàn bà chủ nhà nói nhỏ:

- Đi về cho em nó học, con!

Nghe tiếng con của bà, thằng bé nhào tới và sà vào hai cánh tay khỏe mạnh của bà. Xung quanh lặng ngắt. Người ta chỉ còn nghe thấy tiếng thằng bé khóc và tiếng của người đàn bà dỗ dành:

- Cứ yên tâm, con ạ. Cứ yên tâm, con đừng sợ!

L. M. K.
(SH20/8-86)


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 06 Tháng Chín, 2012, 09:41:14 am
Họ là bạn của nhau

HOÀNG NHẬT TUYỀN

- Nhắn chú ấy chiều nay vào ngay. Vào ngay đây! Tôi chẳng sống được mấy ngày nữa đâu thím Đóa à!

Ông già bị bệnh gầy gò trong bộ đồ màu xanh lơ của bệnh viện trở mình nằm nghiêng và lấy sức để nói với người đàn bà vừa đến thăm. Một con mắt còn lại trên khuôn mặt xương xẩu của ông nhìn người đàn bà chứa đựng cả sự van lơn lẫn sợ hãi. Ông thở từng hơi dài nặng nhọc. Thịt chỗ con mắt bị bọn ác ôn chọc thủng từ lâu, giờ này trông đỏ lên và ươn ướt - Tôi mong chú thím thông cảm cho tôi. Thông... cảm cho tôi... ông bỏ lửng câu nói và đau đớn đưa hai tay ôm lấy ngực.

Người đàn bà đặt vội hăng-gô cháo xuống bàn, chạy tới bên giường bệnh. Bà cúi xuống, lo lắng nhìn ông già đang lên cơn đau.

- Nhà tôi chiều nay về anh Lam à! Anh ấy sẽ vào ngay. Không có gì phải thông cảm cả. Nhất định bệnh sẽ khỏi. Anh sẽ về sống với bọn tôi thôi. -Bà chậc lưỡi - Anh mà chịu khó nghe lời vợ chồng tôi thì đâu có đến nỗi này. Bọn tôi có điều gì sai quấy anh bỏ qua cho.

- Chú thím chẳng có gì sai quấy cả. Tôi... tôi... thôi thím nói với chú Bình là phải vào đây ngay. Tôi có một việc hệ trọng cần nói với chú ấy. Tôi... tôi sẽ không qua khỏi trong vài ngày nữa đâu.

- Anh đừng nói như vậy. - Người đàn bà lòng đầy lo lắng. Bà biết bệnh của ông già đang ở giai đoạn nguy kịch. Bà an ủi - Tôi đã hỏi mấy bác sĩ. Ai cũng bảo bệnh của anh rồi sẽ khỏi thôi. Hay anh cứ nằm để tôi lấy cháo đút anh ăn.

- Thôi... thôi... Tôi không ăn được đâu. Thím cứ để trên bàn đó tôi. Lượng sức mình, tôi biết. - Ông già nhìn người đàn bà nói như năn nỉ - Thím về đi! Chú Bình về thì thím nói chú vào đây ngay. Thím bỏ qua cho tôi. Tôi chỉ nói với chú ấy...

Người đàn bà nhìn ông già. Bà thấy sợ. Rõ ràng ông Lam, người mà bà và ông Bình, chồng bà, xem như một người cha, người anh ruột đã có những triệu chứng khác thường so với mấy ngày trước. Ngày nào, ba bữa, sáng, trưa, chiều, bà cũng mang cháo đến đây cho ông. Các bác sĩ bệnh viện đã cho vợ chồng bà biết ông Lam bị xơ gan ở giai đoạn nặng sẽ không qua được cái chết. Biết vậy nhưng "còn nước còn tát", họ cho ông ở lại bệnh viện để điều trị. Ông Bình đã gởi nơi này nơi kia mua thêm các loại thuốc quý để chữa bệnh cho ông Lam. Nhưng bệnh không giảm mà mỗi ngày một tăng. Ánh mắt xám đục và lời nói mệt mỏi ngắt quãng trong buổi trưa hôm nay của ông Lam làm cho bà Đóa sợ.

- Chẳng lẽ đã tới lúc rồi - Người bà Đóa hơi choáng váng nhưng bà vịn vào thanh sắt ở đầu giường, trấn tĩnh. Một lát bà lên tiếng:

- Nhà tôi về thì sẽ vào ngay - Giọng bà hơi run - Anh cố ăn một ít cháo. Tôi về đây. Biết đâu giờ này nhà tôi đã về rồi. Bà cầm nến bước ra khỏi phòng bệnh và mong ông Bình đã có mặt ở nhà lúc này. "Ông ấy nói với mình chắc chắn là sẽ về trong ngày hôm nay". Bà nhủ thầm trong lòng và không hề nghĩ ngợi gì về điều ông Lam cần gặp chồng mình để nói - "Có lẽ anh ấy cần trăn trối những lời sau cùng. Vì ngoài hai vợ chồng mình ra anh ấy còn ai thân thiết nữa đâu".

Bà bước xuống cầu thang bệnh viện.

***

Kể ra ông Lam lớn hơn ông Bình đến gần một giáp nhưng họ quý nhau có lẽ còn hơn anh em ruột thịt. Ngoài tình cảm quen biết đi lại trong xã, trong thôn từ thời trẻ, họ còn có một thời gắn bó với nhau mà ở nhiều trường hợp quan hệ cha và con cũng khó thể sánh nổi.

Thời kháng chiến chín năm khi ông Lam là một cán bộ nông hội ở thôn thì ông Bình là một cán bộ ở huyện. Cứ mỗi lần về xã công tác, dù có bận rộn cho mấy thì Bình cũng tạt ngang, tạt dọc bằng được đến nhà ông Lam để nói chuyện, thậm chí có lúc chỉ để chào hỏi. Ông Lam quý Bình ở cái tính điềm đạm, thẳng thắn, tuy có con nhỏ, nhà nghèo, cảnh đơn chiếc mà vẫn biết lo việc nước hơn việc nhà. Ngày mùa, ông Lam mượn trâu cày giúp phần ruộng của Hai Đóa vợ Bình. Khi bọn Tây lùng sục thì ông nhắc nhở và giúp mẹ con Hai Đóa chạy tản cư, Bình và Hai Đóa chỉ có một đứa con trai, còn nhỏ.

Hiệp định Giơnevơ được ký kết. Cứ tưởng bọn Pháp rút thì chiến tranh kết thúc, ai ngờ sự đời lại đầy biến động. Từ năm năm lăm trong xã cũng như các nơi khác trong huyện, bọn Quốc dân đảng, bọn Đại Việt và cả một số cán bộ Việt Minh phản bội đã nổi lên và tụ tập lại. Chẳng nói gì đến hiệp thương thống nhất, bọn chúng ngày đêm xách súng lùng sục, bắt bớ đánh đập những người liên quan đến Việt Minh.

Chỉ trong hai năm, ông Lam bị bắt đến sân vận động xã và có khi về quận tới trên mười lần. Bọn ác ôn đã dùng đùi trống để nện vào ngực, vào lưng ông. Hai Đóa thì chịu đủ kiểu tát tai, đá đít và đủ kiểu tra tấn khác. Bọn đầu bò đầu bướu ấy nhiều thằng còn lăm le tìm cách chiếm thân xác của chị. Chúng như những con chó đực, lại còn dở trò thách đố nhau nữa.

Ông Lam suy đi tính lại, rồi tìm được cách, bèn đưa hai mẹ con Hai Đóa ra sống ở thành phố với một người bà con. Những thằng mê cái thân hình đẹp đẽ của người đàn bà một con kia, đứa nào cũng tức tối nhưng chúng chẳng làm gì được chị.

Một năm sau đó, vào một đêm khuya trời mưa tầm tã, nghe tiếng người gọi cửa khe khẽ, vợ chồng ông Lam thức giấc. Một người đàn ông, áo quần đẫm nước, thều thào, khi ông Lam hé cửa:

- Em đây! Bình đây! Bình đây!

Người mới tới lách ngay vào nhà. Ông Lam bật đèn và bỗng ông ôm chầm lấy khách:

- Trời ơi! Chú Bình ở đâu mà lại lọt vào đây? Chú được lệnh đi tập kết lâu rồi mà!

- Lúc đầu thì có lệnh đi nhưng sau đó thì được lệnh ở lại gây dựng phong trào - Người mới tới cố nói nhỏ trong khi hai hàm răng của anh ta đánh vào nhau lập cập vì lạnh.

Ông Lam lấy ngay bộ áo quần mình cho anh thay và bảo vợ lấy khoai lang trụng cho anh ăn. Bình hết run. Ba người ngồi thì thầm trong bóng tối ở góc nhà, kể cho nhau nghe mọi chuyện mãi tới khi trời hửng sáng.

Tối tối Bình từ nhà ông Lam đi móc nối, liên lạc với các cơ sở.

Thế rồi có lần một cơ sở bị lộ, bọn lính bảo an bao vây và nổ súng trong lúc Bình và hai cán bộ nữa đang họp. Cán bộ kia bị bắn chết ngay tại chỗ còn Bình chạy thoát được, về tới nhà ông Lam. Bọn địch đánh hơi, nghi ông Lam che dấu Bình. Chúng sục sạo, dùng gậy sắt, xăm khắp vườn. Vợ chồng ông Lam cùng hai đứa con bị bắt và bị tra tấn. Nhưng cả bốn người đều không khai báo một câu nào. Riêng ông Lam, đến phút cuối cùng, bị bọn ác quỉ chọc thủng một mắt. Chúng dọa:

"Không chỉ hầm bí mật, sẽ chọc thủng mắt thứ hai". Nhưng ông Lam lắc đầu mãi. Bọn giặc đành chịu thua. Lần ấy Bình thoát được, lại hoạt động tiếp.


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 06 Tháng Chín, 2012, 09:42:38 am
Phong trào đồng khởi dâng lên. Xã được giải phóng. Bình được điều về tỉnh. Hai Đóa dẫn đứa con trai trốn khỏi thành phố, trở về quê cũ. Vợ gặp chồng. Con gặp cha. Bình động viên và đưa Hai Đóa vào rừng, nấu ăn, phục vụ cho bệnh viện tỉnh. Linh con trai của Bình vào đội du kích xã cùng với hai đứa con của ông Lam.

Làng quê nơi ông Lam ở đã bị biến thành "vành đai trắng". Bom đạn, càn quét, chết chóc, thương vong... đó là chuyện xảy ra hàng ngày. Hai đứa con ông Lam cùng nằm xuống trong một trận đánh gần hai tháng sau khi mẹ của họ bị một mảnh bom Mỹ cắt đứt làm đôi. Ông Lam đau khổ nhưng không bao giờ để bị bắt vào khu dồn. Ông bám trụ mãi ở quê mình với đội du kích. Người ta nhắc nhiều đến lần ông đã cứu được bốn thương binh khỏi bọn Mỹ trong một trường hợp rất nan giải. Nhưng ông Lam không thích người ta nhắc đến việc đó. Khi có người nói tới ông lẳng lặng bỏ đi. Bởi vì cũng vào thời gian ấy, ông Lam nhớ rất rõ, trong xã, người ta đã xôn xao về sự mất tích của Linh - đứa con duy nhất của ông Bình.

Hai Đóa vừa đi thì một bác sĩ và một cô y tá bước vào phòng. Họ xem mạch, nghe nhịp đập của tim rồi chích thuốc. Anh chàng bác sĩ trẻ nhíu mày khi nhấc ống nghe ra khỏi ngực ông Lam, rồi anh ta nói nhỏ với cô y tá. Cô gái vội vàng chạy đi và một lát sau trở lại, cầm theo một lọ thuốc. Bác sĩ tự tay chích cho ông Lam với số lượng thuốc nhiều hơn các lần trước. Ông Lam không hề để ý đến điều ấy. Ông thấy khó thở, người mỗi lúc một nhức nhối. Khi hai người đã đi, ông đưa hai tay ôm lấy đầu. Ông đoán mình không sống được bao lâu nữa nhưng ông không thấy sợ chết. Chốc chốc, ông liếc đôi mắt chỉ còn một con của mình về phía cửa. Ông đang ở tâm trạng nửa mong ông Bình đến nhưng nửa mong ông Bình đừng đến.

Ông đang bị dằn vặt trong nỗi đau mà mười mấy năm qua ông chưa hề nói cho ai, cả trong lúc người ta khẳng định trước dân chúng về những đóng góp của ông cho cách mạng. Từ ngày ông cứu được cùng lúc bốn người thương binh thoát khỏi tay bọn Mỹ, người ta thấy ông không được bình thường, ít nói và thơ thơ, thẩn thẩn, mặc dù ông luôn bám trụ với du kích. Sau ngày giải phóng, vợ chồng ông Bình đã mời ông về thành phố, nơi Bình làm việc, để sống với họ. Họ sẽ săn sóc ông. Nhưng ông Lam không chịu. Ông chỉ lắc đầu. Ông biết nỗi khổ tâm của vợ chồng ông Bình. Họ hay nhắc và hy vọng đứa con trai mất tích của họ còn sống. Hai Đóa đã héo hon vì trông mong gặp đứa con duy nhất của mình. Còn ông Bình, hễ về quê ghé vào ngôi nhà tranh sơ sài, sau khi hỏi han sức khỏe và tìm cách khuyên ông Lam về sống với mình, lần nào ông cũng nói tới việc ông để tâm tìm kiếm thằng Linh. Những lúc như vậy, ông Lam nghe tim nhói đau, tảng lờ nhìn đi nơi khác...

Có tiếng bước chân ngoài hành lang. Ông Lam cố sức rướn người lên một chút, đưa ánh mắt về phía cửa. Không phải ông Bình mà là một cô y tá bước vào phòng. Cô ta đặt ống nghe lên ngực và đặt tay lên trán ông Lam, rồi lại ra ngoài.

- Thằng Linh! Linh ơi! Ông lầm bầm trong miệng cái câu mà mười mấy năm rồi, hầu như đêm nào ông cũng nhắc. Sao con lại dại dột thế hở con. Bác biết ăn nói với cha mẹ con thế nào hả con? - ông thở khò khè - ừ, mà sao con lại chết dễ dàng như rứa chứ. Bác đâu có phải là kẻ chủ tâm...

Ông Lam mím môi, mắt nhìn vào bức tường trắng. Trong đầu ông sự việc của ngày nào đang hiện lên: Hôm ấy, đang giữa trưa, bọn Mỹ đột ngột đổ quân xuống gần nhà ông sau trận ném bom dữ dội. Chúng tràn vào phía trạm thương, nơi có khá đông thương binh từ vùng sâu mới đưa lên chưa kịp chuyển vào rừng. Du kích và cán bộ cố sức vừa đánh vừa khiêng những đồng chí của mình để chạy. Nhưng đến phút cuối cùng vẫn còn bốn thương binh chưa được đưa đi khỏi trạm, nhận ra tình hình nguy cấp, ông Lam mở nắp hầm bí mật, lao trong làn đạn, lần lượt bế từng người bỏ xuống hầm rồi đóng nắp. Xong xuôi, ông phủi bụi trên người, trấn tĩnh, bước vào túp lều tranh nhỏ của mình để "đón" bọn Mỹ như những người dân hợp pháp khác. Chợt ông Lam hoảng hốt, nhận thấy Linh lê về phía ông. Một chân của hắn bị thương. Không còn cách nào khác, ông Lam bế xốc Linh lên, mở nắp hầm bí mật thứ hai thả Linh xuống.

Bọn Mỹ tràn tới, đốt trạm thương, ném lựu đạn vào các căn hầm trống. Rồi không tìm thấy du kích, chúng đóng quân ngay trên ngọn đồi gần đó. Một, rồi hai ngày, ông Lam đứng ngồi không yên vì chưa tìm ra cách chuyển Linh và bốn người thương binh kia đi. Họ có thể chết. Ông lo sợ nhưng đành bó tay. Giữa chiều ngày thứ hai, một việc đáng tiếc xảy ra. Thằng Linh đã đội hầm bí mật, bò lên. Hắn nhặt tờ giấy truyền đơn có in cờ Hoa kỳ, rơi ở chân bụi tre. Đưa tờ giấy lên quá đầu, hắn lê về phía bọn Mỹ đang đóng.

- Thằng Linh, mày làm gì vậy? - Ông Lam nhận thấy và hoảng hốt hỏi.

- Tôi... tôi... không... thể nằm yên chờ chết - Linh biết mình bị phát hiện hắn hơi rúm người lại, nhưng rồi hắn đã trả lời và cố lê nhanh hơn.

- A! Mày là thằng sợ chết. Đồ chó đẻ. Đồ hèn nhát! Ông Lam tức giận, nghiến răng. Và trong giây phút lúng túng, ông nhặt ngay một cành củi gần đó, lao tới. Thằng Linh sợ hãi, đưa tay lên chống đỡ, đồng thời miệng gào thật to: "Cứu tôi với! Cứu tôi với! Việt cộng... Việt...". Hắn cố gào để cho bọn Mỹ đóng gần đó nghe thấy. Nhưng ông Lam đã thừa thế nện thanh củi vào gáy hắn. Linh ngửa người ra, hai tay, hai chân giãy đành đạch, mắt trợn trừng, miệng sùi bọt...

Chẳng một phút chần chừ, ông Lam cúi xuống bế xốc Linh lên đưa vào chỗ lùm tre và tìm khăn ướt đắp lên ngay mắt hắn. Ông nghĩ rằng, thằng Linh tỉnh dậy, ông sẽ trói tay, trói chân hắn lại, bỏ xuống hầm rồi sẽ tính sau. Ông không còn nhớ được vừa rồi ông đã đánh nặng hay là đánh nhẹ nữa. Ông không có ý đánh chết hắn vì ông thương ông Bình và Hai Đóa: họ chỉ mình hắn. Nhưng ông Lam bắt đầu hơi hoảng. Thằng Linh chẳng hề cựa quậy. Mặt hắn càng lúc càng tái rồi chốc lát cả làn da trắng trẻo đã chuyển sang màu tím thâm.

- Linh! Linh! Ông Lam vất chiếc khăn ướt ra và làm các động tác hô hấp nhân tạo, song thằng ôn con vẫn nằm bất động. Nỗi căm tức trong lòng ông Lam đã chuyển thành nỗi lo âu và ân hận - Linh! Linh! Tỉnh dậy đi con! Trời ơi! Linh! Bác đây mà con... Người ông toát mồ hôi lạnh. Ông ép tai mình vào sát mũi, vào ngực kẻ hèn nhát. Không nghe tiếng thở của hắn, ông Lam bàng hoàng, bứt đầu, bứt tai. Miệng ông mếu đi với cả sự đau đớn, chua xót - Linh! Linh! Trời ơi! Mày chết thật rồi hả con? Chú Bình, thím Đóa ơi... Tâm trí ông dường như đang bị xé nát ra thành hàng ngàn, hàng vạn mảnh. Lòng ông dường như càng tê buốt gấp trăm lần khi nhận được tin hai đứa con mình cùng mất. Ông bế thằng Linh lên, ép chặt vào bụng, hy vọng có hơi người hắn sẽ sống lại. Hy vọng cuối cùng ấy cũng vụt tắt. Thằng Linh đã chết hẳn tay chân hắn dần dần cứng lại.

- Đồ chó chết - Ông thốt lên mà chẳng hiểu là mình đang khóc hay là đang chưởi…

Đến tối ông lặng lẽ bế xác Linh ra chôn ở sau vườn.

***

Ông Bình về tới nhà thì đã xế chiều. Hai Đóa ra mở cửa.

- Thế nào? Ông hỏi vợ câu đầu tiên khi còn đứng giữa sân. Bệnh tình anh Lam có giảm tý nào không?

- Anh ấy yếu lắm rồi - Hai Đóa trả lời - Anh ấy nhắn khi nào mình họp về thì vào ngay. Trưa nay anh ấy không chịu ăn cháo.

Ông Bình chào người tài xế vừa đi với ông về, rồi bước thẳng vào nhà. Ông rửa ráy và vội vàng thay áo quần.

- Mình ăn một chút rồi hãy vào bệnh viện chứ?

- Tôi chưa thấy đói lắm. Chút nữa về ăn cũng được.- Ông Bình vừa đáp lời vợ vừa thò tay vào cái túi du lịch lấy ra hai hộp sữa mà ông mua ở dọc đường. Ông cho chúng vào một cái túi nhỏ hơn, rồi dắt chiếc xe đạp ra sân.

Khi ông Bình bước vào phòng bệnh, ông Lam giật mình, hơi ngẩng đầu lên. Cái nhìn chằm chằm từ con mắt còn lại của người ốm báo cho ông Bình biết có một việc gì đó khác thường.

- Anh thấy có khá tí nào không hả anh? - Ông Bình vội đặt tay quàng qua lưng ông Lam và hỏi.

Ông Lam không trả lời, uể oải đổi người từ tư thế nằm nghiêng sang nằm ngửa, ông đưa hai bàn tay gầy guộc nắm lấy bàn tay ông Bình và ngập ngừng:

- Chú… chú... bỏ qua cho tôi…

- Sao anh lại nói vậy? - Anh có chi mà phải bỏ qua.

Ông Bình hơi ngạc nhiên, nói và kéo vạt áo của người bệnh xuống, ông nghĩ, có lẽ ông Lam ân hận vì thời gian qua đã khước từ mọi yêu cầu của ông, và ông Lam vừa nói như vậy là để ông đừng buồn. Anh đừng nghĩ ngợi gì cả - ông nói - bệnh tình của anh rồi sẽ khỏi thôi mà.

Nhưng hai bàn tay của ông Lam đã bóp chặt thêm bàn tay Bình.

- Chú thím tha lỗi cho tôi- ông Lam nói trong hơi thở hổn hển, nặng nề - chính tôi... chính tôi đã giết chết thằng Linh rồi. Hắn định đi chiêu hồi...

- Cái gì? Ông Bình tưởng như có một tiếng sét đánh ngang tai. Ông đứng bật dậy như một chiếc lò xo. Và trong phút bàng hoàng, quên người đang nằm trước mặt mình là ai. Ông túm lấy cổ áo người đó nhấc lên - cái gì? Thằng Linh đã chết à? Nó mà đi chiêu hồi à?

Ông Lam bị kéo lên khỏi giường, hơi chới với, sửng sốt nhìn vào mặt ông Bình. Giọng ông như ứ trong cổ họng. "Cháu... cháu nó đã chết. Tôi... đã giết…"

Ông Bình buông tay khỏi cổ áo người bệnh, ngồi xuống. Ông đã trấn tĩnh được vì nhận thấy từ cái hốc lép màu đỏ, nơi con mắt ông Lam bị chọc thủng đang tràn xuống má mấy giọt nước trong vắt.

- Có thật vậy không anh Lam? Sao anh không nói với tôi từ trước? Tôi vẫn chưa tin...

- Đúng... đúng như vậy. Chú... chú thím tha... lỗi cho tôi. Tôi rất thương cháu nhưng sợ mọi người hiểu sai về chú. Với lại thím đang bị đau tim nên tôi chưa tiện nói ra. Còn... còn bây giờ... Chú... chú...

Một lần nữa, lời ông Lam như gáo nước lạnh dội vào mặt ông Bình. Ông đứng lên và thấy mọi vật chung quanh chao đảo. Ông bước ngay ra cửa, nghe tim mình như thể có ai đang lồng bàn tay vào bóp chặt nó lại. "Không thể có như thế". Ông bước xuống cầu thang và chẳng hiểu mình đi như vậy để làm gì. Ở sân bệnh viện ông thấy dễ thở hơn, "Có thể như thể chứ! Trong chiến tranh, có nhiều kẻ còn vững vàng hơn nó nhiều mà đã không giữ được mình, huống hồ khi nó đã quen sống với mẹ ở thành phố? Tại sao mình lại không tin anh ấy?" Ông Bình vừa nghĩ vừa cố sức chạy ngược trở lên cầu thang. Ông kịp nhận ra rằng, vừa rồi vì một đứa con hèn nhát không tự chủ được mình, ông đã xúc phạm đến con người mà từ lâu ông đã kính trọng.

- Hãy tha thứ cho tôi anh Lam. Hãy tha thứ... Ông vào phòng, quỳ xuống bên giường, ôm lấy người bệnh và thốt lên. Nhưng ông Lam đã tắt thở tự lúc nào.

- Anh Lam! Anh Lam... Bình đây... Bình...

Ông Bình nức nở, vừa gọi, vừa lay. Đáp lại lời ông chỉ có đôi mắt trũng sâu, còn một con, từ từ khép lại.

Nha Trang 1985
H.N.T.
(SH21/10-86)


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 06 Tháng Chín, 2012, 10:12:07 am
Trước giờ G

MƯỜNG MÁN


Những ngọn đèn mầu ẩn dưới tán lá phả xuống mặt đất thứ ánh sáng vàng nhạt, xanh dịu, tím loãng tạo khung cảnh huyền hoặc giả. Những chiếc bàn vuông thấp kê rải rác dưới các vòm cây. Vây quanh là những mặt người - cố ý lắm mới nhận ra đường nét đẹp xấu, mũi thẳng cao gãy hay tẹt, mắt một mí, hai hoặc nhiều mí; đã tật nguyền hay còn lành lặn, đang lính hay đã thương phế binh. Lính có. Dân sự có. Lính đông hơn dân. Quần áo lẫn vào nền đêm bóng lá, viền lóng lánh ánh đèn màu. Gió hạ tuần tháng ba từ mặt sông thổi lên len lách giữa cây lá và người, mát rợn. Nhạc từ máy thâu băng thoát ra. Ca sĩ hát cùng dàn nhạc của cô ta và người nghe, vừa nghe vừa ăn nhậu, râm ran chuyện trò. Thỉnh thoảng bật trên mớ hỗn âm đó là những tiếng cười ngã ngớn của một cô gái còn tỉnh hay một trai đã say. Rượu bia, rượu mạnh, thức nhắm luân chuyển trên những chiếc khay do các cô hầu bàn (áo sơ mi luôn quên cài mấy cái cúc phía trên ngực, quần ống loe dài phủ gót đi như quét trên mặt đất làm vẩn lên từng mảng bụi đêm) lui tới chào mời.

Phía cuối vườn, dưới mái tranh hình lục giác, trong quầng đèn hồng nhạt, một khuôn mặt sầu mộng mọc trên mặt quầy: khuôn mặt của bà chủ quán. Giọt Đắng góa phụ một cố đại úy quân lực Việt Nam cộng hòa - cái đinh, thỏi nam châm có sức thu hút lính tráng ở các doanh trại đóng trong khu vực nội ngoại thành, cả những nơi xa khác, với lời đồn đại truyền miệng "Người đẹp quán Giọt Đắng chỉ để chiêm ngưỡng như một cành hoa, một bức tượng không nên đụng vào. Quan hay lính gì bất kể, đứa nào cặp với nàng, dù chỉ qua một đêm, thế nào cũng có ngày chết trận". Có phải vì cái truyền thuyết ác hiểm ấy đã giữ nàng đứng mãi bên này đời góa phụ, để mỗi ngày khuôn mặt sầu mộng cứ lặn và mọc trên mặt quầy, không bay thoát về một nơi nào xa hơn?

Ban đầu "Giọt Đắng" là quán cà phê như các bảng tên vẫn còn treo giữa chạc ba cây nhãn trước ngõ. Dần dà theo đà tăng vọt của chiến sự, thành phố có đông sắc lính hơn. Những Giọt Đắng không còn làm đã khát các "chiến hữu" không quân, pháo binh, thiết giáp, bộ binh... từ Phú Bài, La Sơn, Giạ Lê đổ lên những nhảy dù, biệt động quân, thủy quân lục chiến từ Quảng Trị, Phong Điền, Quảng Điền ùa vào, quán trở thành quán rượu tự lúc nào chẳng ai nhớ nữa. Rượu tác dụng nhanh, đã hơn cà phê. Rượu dễ làm nguôi quên nỗi sầu chinh chiến xa nhà của các "chiến hữu" gốc Nam bộ hoặc từ các quê quán khác bị điều động tới ký gửi máu thịt xương da, đời trai trẻ trên vùng giáp ranh địa đầu giới tuyến này. Cho nên Giọt Đắng tha hồ đắng ở các quán tiệm khác, ở đây giờ là những ly cay. Có khách chiến chinh gọi quán là Vạn Giọt Cay. Có bọn khoái gọi là quán Góa Phụ. Ngoài góa phụ chủ quán, những "em" hầu bàn tiếp khách đều là góa phụ. Trẻ, đẹp, chồng chết trận: chi tiết lý lịch chung của những đoạn đời ghép lại thành vẻ hấp dẫn riêng cho địa chỉ này.

Đêm nay, lẩn giữa những đôi cặp nhóm cụm khác bên chai, ly có Nghệ - hạ sĩ phóng viên chiến trường - Đạo, trung úy sĩ quan báo chí của sư đoàn I bộ binh. Họ vừa từ mặt trận sôi động phía đông nam thành phố trở về. Máy quay phim, máy ảnh cassette gọn trong hai túi xách lấm lem bụi cát đặt trên một góc bàn. Chai bia thứ ba vừa rót sủi bọt trong hai chiếc ly cối lớn. Cơn khát mệt dường như đã tạm nguôi, Nghệ uống một ngụm, đưa mắt nhìn quanh:

- Mẹ kiếp, cứ như đang ở trong một đất nước mô khác, cách đây khoảng bảy tám chục cây số chớ mấy, đang máu đổ đạn bay. Hốt hết cả đám vằn vện rằn ri đỏ đen xanh tím ni quăng ra ngoài nớ chắc vui!

- Vẫn chẳng có chi khác cả - Đạo ho khẽ, ném mẩu tàn thuốc xuống chân.

- Một ngày mất công toi, chán và mệt.

- Phải chi đừng tiếc phim, cứ quay tưới hột sen rồi thay vì phóng sự mang tựa "kỷ niệm ngày thành lập tiểu đoàn năm tư bộ binh", đổi lại là ngày u ám...

- Đem bán cho mấy cha Việt Cộng được giá phải biết!

- Rồi tau, mi xách gói theo họ luôn.

Nói xong, cả hai cùng cười.

Buổi sáng ôm xách lên trực thăng đi làm nhiệm vụ, bây giờ nhắc kể thành ra chuyện đùa. Rừng núi Mỏ Tàu đã đón Nghệ và Đạo bằng một loạt pháo kích của quân giải phóng ngay khi chiếc trực thăng đổ họ xuống vừa cất lên quay đầu khuất sau mấy ngọn đồi trọc loang lổ hố pháo hố bom. Những thước phim chờ sẵn trong máy để ghi hình ảnh "oai hùng" của chiến sĩ mang phù hiệu cọp trắng nhân ngày thành lập đã không được sử dụng hết, bởi suốt cả buổi sáng hai phóng viên của ban thông tin báo chí sư đoàn bận chui vào hầm tránh pháo. Trưa ngớt pháo, thiếu tá tiểu đoàn trưởng hò hét vẫn không kiểm đâu đủ quân số để dàn cảnh quay một trận xung phong giả. Xác Việt Cộng lại càng khó kiếm hơn! Lính tráng lớp chết, lớp bị thương, lớp trốn, lớp sợ pháo cứ chui núp dưới hầm, hào, có dí súng colt 45 vào màng tang dọa nổ vẫn chẳng thằng nào chịu cất đầu lên! Chẳng lẽ quay cảnh máy bay tải thương? Thu vào máy ghi âm tiếng rên la kêu khóc, chửi thề tục tĩu?

Thiếu tá Vấn - Tiểu đoàn trưởng, đòi lột lon, phạt trọng cấm đại úy Cảnh - đại đội trưởng đại đội phòng thủ cứ điểm - vì y đã không "nhổ" được lính đang mọc rễ ở những nơi trú ẩn ra làm diễn viên. Đại úy Cảnh cự nự: "Đã bắn một thằng sứt tai, hắn vẫn ỳ tại chỗ, chẳng lẽ chỉ vì hai thằng phóng viên chó chết, những đoạn phim phải gió mà phải giết hết chiến hữu?" Vấn bứt rứt lui tới, hai ngón tay xoắn mãi ngọn ria mép cuối cùng cố nuốt giận nói với Đạo:

Hai ông rán đợi tới sáng mai, tụi tôi sẽ đánh đẹp, mặc sức quay!

Đạo chẳng phải trẻ nít, có thừa kinh nghiệm trong những trường hợp tương tự. Đã từng suýt chết mấy bạn ở Phú Thứ, Khe Sanh, đường Chín Nam Lào, nên cái mũi tinh khôn của tay sĩ quan báo chí lúc này như vừa ngửi thấy cái mùi của sự chết đang rình chờ đâu đó, thậm chí đang tán lạc cả trong gió. Đạo lắc đầu quả quyết:

- Khỏi cần tới sáng mai, thưa thiếu tá. Tôi sẽ quay ông trong tư thế đang chỉ huy qua máy PRC 25, và những ông này - Đạo đưa tay chỉ quanh đám thuộc hạ của Vấn - đang trong tư thế tác chiến, lùng sục. Thêm một màn tiếp xúc phỏng vấn tại chỗ với ít ngoại cảnh ngoài hầm là xong. Phim sẽ được ráp, nối thêm những đoạn chiến đấu, khói lửa sẵn có trong khi lưu trữ phim tài liệu, thiếu khối chi cái hay! - Đạo dừng lại, đón lấy gói Président Vấn đưa, nhón một điếu bật quẹt châm hút.

- Tụi tôi ở lại đây cũng được thôi, nhưng đêm hôm lỡ có đợt tấn công, một trong hai đứa thương vong chẳng hạn, bộ tư lệnh sư đoàn sẽ không để ông yên. Rõ ràng thiếu tá đã báo cáo về sư đoàn không trung thực, Mõ Tàu hết an toàn từ khuya rồi phải không?

Thiếu tá Vấn thở ra nhẹ nhõm, siết chặt tay Đạo, cố uốn cái giọng quen ra lệnh hò hét, thành giọng thân mật xuề xòa:

- "Tuyệt vời, vậy là ổn! mầy thiệt cao tay nghề, tao sẽ chơi đẹp với tụi mầy ngay?".

Vốn gốc Nam Bộ nói làm liền, Vấn rút một xấp tiền dúi vào túi áo Đạo:

- Không có gì, chút đỉnh tiền cà phê nhớ là bao giờ thiếu tá Vấn này cũng biết điều nghe mậy!

- Ông sẽ xuất hiện khoảng mười phút để ở nhà những vợ lớn, vợ bé, bồ bịch của ông thấy và nghe tiếng nói người hùng của mình trên màn ảnh nhỏ - Đạo cười tinh quái.

Thiếu tá Vấn như bất thần được gãi trúng chỗ ngứa hớn hở ôm hôn đánh chụt vào má Đạo.

- Đồ láu cá. Đ. má, hẹn lúc nào về tao sẽ tắm mầy và thằng Nghệ trong bia.

Sau đó, Nghệ bấm máy, Đạo làm đạo diễn. Thế là mười phút phim mới sẽ được ráp nối với hai mươi phút phim khác, với tiếng nói của thiếu tá Vấn hô: "sẵn sàng bảo vệ phòng tuyến đông nam Huế tới giọt máu cuối cùng!" thành cái phóng sự nóng bỏng, sôi động, mới toanh về các chiến sĩ cọp trắng. Đêm mai phóng sự sẽ phát trên truyền hình trấn an dân chúng, nếu đêm mai chưa tới giờ G, quân giải phóng chưa tiến công vào giải phóng, chiếm lĩnh thành phố.


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 06 Tháng Chín, 2012, 10:15:02 am
Xế trưa, sau khi cùng chia lửa nửa chai Gin với thiếu tá Vấn một tiểu đội hộ tống Đạo và Nghệ băng rừng lội suối ra đường đón xe về phố. Đạo rủa sả đám sĩ quan phòng hành quân bộ tư lệnh sư đoàn, bởi trong buổi họp bộ tham mưu họ đã báo lên ông tướng Mõ Tàu vẫn còn là một cứ điểm an toàn, viên trung tá tham mưu phó, trưởng khối chiến tranh chính trị hớn hở hạ lệnh bảo đi. Nghệ thinh lặng rẽ cây gạt lá bước nhanh, chẳng nói năng gì cả. Dọc quốc lộ một, cả hai đã gặp không ít lính đào ngũ bỏ về nhà, hoặc nhập chung vào dòng xe cộ chở người tản cư xuôi về phía Nam. Những tốp đi ngược lại đang tản ra trông phố mang đủ súng đạn quân trang ngồi tràn các quán xá dọc đường.

- Chai nữa không? - Nghệ hỏi, Đào uống hết phần bia còn trong ly mình.

- Thôi đủ rồi, kêu tính tiền rồi về!

- Mi tính đi mô?

- Tạt qua nhà chút xíu.

Nghệ khoác tay, vẻ uể oải:

- Mi về trước tau ngồi nán lại làm thêm chai nữa. Đạo đứng lên - càu nhàu gì đó không rõ, ném xấp giấy bạc lên bàn rồi bỏ đi.

Nghệ vỗ đánh bộp vào mông một chị hầu bàn vừa đi ngang qua bảo mang thêm một chai bia nữa, rồi gác cả hai chân, ghếch đôi dày lấm bụi lên chiếc ghế Đạo vừa bỏ trống.

Một chiếc jeep đậu lại trước quán. Một cô gái và một đại úy thủy quân lục chiến bước xuống, đi vào. Nghệ bỗng nhổm dậy gọi:

- Chị Như!

Gã thủy quân lục chiến và cô gái bước lại phía Nghệ. Cô gái lên tiếng:

- Nghệ đó à? Lâu quá không thấy ghé nhà, con Nhã cứ nhắc mãi. Răng ngồi một mình ngó buồn xo rứa?

- Buồn thiệt, mời anh chị cùng ngồi chơi.

Gã thủy quân lục chiến nhìn chăm miếng vải in chữ "Báo chí - Press" trên túi áo Nghệ, đưa tay ra bắt tay anh với vẻ thản nhiên nhưng thật ra là hạ cố, kéo ghế ngập ngừng ngồi xuống. Cô gái Như-giới thiệu hai người với nhau. Nghệ nhìn bộ quần áo hợp thời trang của Như, giọng nửa đùa nửa châm chọc:

- Chị cũng biết tới mấy cái quán kiểu ni à?

- Tại răng lại không? phải không anh Quân?

Như nói và nhún vai rất đầm, liếc nhìn gã đại úy, mỉm cười.

- Không những tới mà Như còn uống được cả bia lẫn rượu nữa mới tuyệt chứ!

Giọng bắc quá chuẩn quá đanh gọn anh ta làm Nghệ cảm thấy khó chịu. Nghệ buột miệng:

- Những cô giáo như chị đáng sợ thiệt.

- Thì chị cũng đã và đang nổi tiếng rồi còn chi?

Như cười thành tiếng, tỉnh khô.

Nghệ cười, Quân cười, Nghệ gọi thêm bia, đĩa gà nấu nấm.

Ba người cùng cụng ly. Như uống nhâm nhi, hai người đàn ông uống bạo.

- Kể cũng buồn cười, giờ chừ lắm người thu dọn bỏ đi, hấp tấp vội vã, lắm người vẫn còn lê la trong quán xá. Chị Như, răng chị chưa đi? Đà Nẵng hoặc Sài Gòn chi đó. Định trải đời son trẻ ra hứng lửa diêm sinh và tai họa sắp mưa xuống thành phố ni à? Chúa không can thiệp được để tấm đời son trẻ của chị còn lành lặn được mô-Nghệ nói.

- Cậu đang tuyên truyền tâm lý chiến đó à?- Như châm chọc.

- Nói thiệt chớ tuyên truyền chi! Nghe đây này-Nghệ lôi tuột cái máy cassette hiệu Sony ra khỏi túi xách, loay hoay điều chỉnh. Tiếng nói của Đạo từ băng nhựa vang lên khe khẽ: "Chúng tôi hiện có mặt tại cứ điểm Mõ Tàu, phòng tuyến bất khả xâm phạm do những tay súng tiểu đoàn hai, trung đoàn năm tư bộ binh trấn thủ..." Làm nền cho tiếng nói Đạo là những loạt pháo rền. Như đưa tay tắt máy.

- Thôi dừng cái trò nghịch ngợm và trẻ con của cậu lại đi, không ai dại mà tin mô. Hãy tiếp tục câu chuyện của chúng ta. Không có chúa mô cả, nếu có chắc chúa cũng đứng né ra bên lề. Có mưa thì cũng do những người trên núi xuống, hoặc đang ở cùng chúng ta. Cũng cầu một trận mưa thiệt lớn để rửa sạch phố phường, mặt đất.

- Tưởng tượng còn sống sót chị sẽ chui ra từ đống tro than, gạch ngói vỡ nát, xác người, thú vị hết biết! - Nghệ cười.

- Nhưng sẽ được thấy những cái mới hơn, khác hơn mọc lên sau đó chớ! Có lần cậu bảo cậu nhàm chán quá cái đời sống ni rồi mà.

Quân bật lách cách cái bật lửa zippo trên tay:

- Thưa cô giáo triết, cô đang cãi giùm bọn Việt cộng.

Như phá lên cười:

- Thì Nghệ cũng đang dở giọng tâm lý chiến ra mà. Còn anh?

- Tôi là võ biền, đánh đấm dễ hiểu hơn lý luận.

- Rứa anh có nhận là sắp có một cơn mưa như Nghệ nói không?

- Có chứ! Hơn là mưa, đôi khi cả một trận bão cơ đấy.

- Anh bị bắt buộc chờ đợi và chịu đựng cơn bão đó phải không?

- Phải rồi, có thể nói gần như là thế!

- Cũng như Nghệ thôi. Còn tôi, tôi hoàn toàn tự do, nhưng tôi đếch thèm chạy trốn - Như khẽ nhún vai.

Thấy câu chuyện dần trở nên nặng nề, Nghệ cười xuề xòa:

- Không ai đi thì mỗi người cùng chia lửa diêm sinh và tai họa với những người ở lại, cãi nhau chi cho mệt? Chừ thì uống đi, uống bù cho cơn khát ngày mai mốt, rồi tôi tìm xuống một chiếc đò, còn anh chị đi tâm tình nơi mô đó, mai mốt rất khó kiếm một chỗ thơ mộng.

Như đỏ mặt. Gã thủy quân lục chiến gật gù có vẻ biểu đồng tình với câu nói đậm đặc chất lính của Nghệ. Như với qua tát vào vai Nghệ:

- Thằng quỉ, thì mi cứ uống cho đã đi, rồi tới giờ G vắt giò lên cổ mà chạy.

Và, họ tiếp tục ăn uống. Như nhâm nhi, hai người đàn ông cạn ly này đầy ly khác. Gió, nhạc, tiếng động thấm mãi vào đêm. Giờ này có khi phòng tuyến Mõ Tàu đã vỡ. Những tiếng kêu, những hình người tháo chạy lom khom trong các hầm hố tuyến hào, chấp chới, lập lờ dưới ánh pháo, ánh đèn trái sáng. Nghệ lắc đầu, ôi! hơi đâu mà nghĩ! Đêm mai, vợ con bồ bịch thiếu tá Vấn sẽ nhìn thấy anh ta trên màn ảnh truyền hình có khi đấy là lần cuối. Có khi chúng ta không còn dịp để tắm bia như đã hứa, kính thưa thiếu tá! Lỡ chơi đành chịu, thì cứ làm ra vẻ chịu chơi! Nghệ nhủ thầm và bật cười khan. Khá khen cho cái tài láu cá của mi nghe Đạo, cứ tưởng tượng nếu lúc ni hai thằng còn lui cui bò tới bò lui trên cái miệng chảo lửa nớ! Ôi, hơi sức mô… Nghệ ngồi dựa ngửa trên thành ghế, nghe cơn say ngấm dần, tản mạn, âm u trong da thịt. Quán thưa vắng dần. Khuôn mặt sầu mộng của bà chủ quán biến đâu mất. Những bông cúc vàng trơ trọi với chiếc bình hoa trên mặt quầy. Những chị hầu bàn bắt đầu rỗi việc vô ra ngáp vặt. Như và gã đại úy thủy quân lục chiến cơ hồ đã quên hẳn Nghệ, hai người chụm đầu với nhau thầm thì chuyện gì đó có vẻ thú vị.

Chị Như không thèm chạy trốn, lì thiệt! Nghệ nghĩ và chăm chú nhìn ngắm Như qua kẽ hở giữa chiếc ly và chai bia mới mở còn đầy ắp trên bàn. Khuôn mặt trông nghiêng với mái tóc xõa, hàng mi cong, mũi thẳng, môi cười trông Như đẹp một cách kiêu kỳ.

Ba mươi hai tuổi, chưa chồng. Tu nghiệp năm năm ở Pháp về, dạy triết ở đại học Văn Khoa. Như - Tịnh Như- mê thể thao, ăn mặc thời trang, bát phố hơn mê dạy học. Phía trên ngực áo bên phải luôn luôn thêu một nhánh hồng dại như là dấu hiệu độc đáo riêng. Đấu thủ quần vợt thuộc loại khá của Câu lạc bộ thể thao Cercle, nơi tụ tập những nghệ sĩ-thương-gia, quan chức lắm tiền, nơi các bà các cô "quý tộc" thích bơi périssoire(1), lướt ván vào những chiều đẹp trời trên sông Hương. Bông hoa đẹp biết nói, của những dạ hội có khiêu vũ hoặc không ở các căn cứ quân sự. Bạn bè hầu hết là sĩ quan. Bữa nay ngồi xe Jeep với một thiếu tá nhảy dù, mai mốt lại thấy cặp tay một đại úy không quân ung dung đi dạo phố... Trong những đôi mắt nghiêm khắc và hiền hậu của Huế, Tịnh Như là một cô giáo hippy, một cái gì rất gai chướng. Cái khó chịu cô bày ra trước mọi người có lẽ là vẻ tươi trẻ hồn nhiên pha chút kiêu bạt.

Ngoài quan hệ là người thân của gia đình, Nghệ thích cái vẻ ấy ở Như và thích kiến thức khá đa dạng của cô từ triết học, phim ảnh, hội họa, văn chương hiện đại đến những suy nghĩ - đôi khi, khá lạ lùng, và độc đáo về đời sống. Có điều hẳn không ai ngờ với bề ngoài ấy, thỉnh thoảng Như lại thích triết luận với Nghệ về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam hành động của tất cả các Đảng thuộc giai cấp vô sản, của xã hội xã hội chủ nghĩa, xã hội Cộng sản chủ nghĩa, khác hẳn chủ nghĩa của cái xã hội cô đang sống, đang là một thành viên trong đó. Thật tình Nghệ không thể hiểu nổi con người Như.

Cũng như lúc này đố ai biết được ai là Việt Cộng, ai không phải Việt Cộng. Việt Cộng đang ở giữa mọi người. Trong quán này, ngoài đường sá, phố chợ kia. Họ ở dưới mọi hình thức, dưới đủ mọi màu áo. Là đặc công đang âm thầm xâm nhập, là quần chúng đang sẵn sàng nổi dậy và chuyện sẽ khó tưởng tượng nếu Tịnh Như cũng là một nữ Biệt động! Cả gã đại úy thủy quân lục chiến này, biết đâu là một trinh sát, tình báo của Việt cộng, thằng bé bán đậu phộng rang đang tha thẩn từ bàn này sang bàn nọ nhặt những cái nút chai kia cũng là liên lạc viên chẳng hạn! Quanh đây ai ai cũng có thể là Việt Cộng cả... Nghệ cảm thấy ghê gai cả da thịt, cảm thấy cần nói một câu gì đó để xua ý nghĩ kinh hoàng ấy đi.

- Này chị Như, có thiệt là tới giờ G chị cũng không thèm bỏ chạy? - Nghệ khoát tay nói:

Như hơi sửng sốt quay lại rồi dịu dàng mỉm cười nói như dỗ dành một đứa trẻ:

- Nghệ, em say rồi, nhắm mắt ngủ đi một lát sẽ dễ chịu ngay.

- Còn chị, bộ chị không buồn ngủ à? - Nghệ lè nhè, đoạn giật thót người khi nghe Như nói một cách bình thản:

- Không, chị thức chờ.

M.M.
(SH19/6-86)

-------------------------------------
(1) Xuồng thoi, có hai mái chèo


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 06 Tháng Chín, 2012, 02:09:16 pm
Hy sinh

TRẦN CHẤN UY



Đơn vị đặc công chúng tôi nhận mật lệnh thọc sâu hậu cứ địch chuẩn bị địa bàn cho chiến dịch Mậu Thân. Nói đơn vị cho có vẻ sang, nhưng thực ra chúng tôi chỉ có mười hai người kể cả một đồng chí du kích dẫn đường. Đơn vị tác chiến, trang bị hết sức gọn nhẹ. Cuộc chuyển quân phải tiến hành gấp rút trong mùa mưa để kịp thời "lót ổ" đón quân chủ lực. Đoàn quân lặng lẽ đi trong những cánh rừng mùa mưa sũng nước. Không thể đi men hoặc lội theo những dòng suối một cách thuận lợi như mùa khô. Mùa mưa, tất cả những con suối cạn, suối con, suối mồ côi đều bị đánh thức, cuộn mình như những dòng sông hung hãn. Đường hành quân trở nên hết sức gian khổ. Chúng tôi mang theo những trang bị như móc sắt, đinh sắt, thang bằng dây mây rừng giống như những người thi leo núi ở đỉnh Chô-mô-lung-ma. Nhiều khi đơn vị phải vượt qua những vách đá dựng đứng, trơn nhẫy, chỉ cần trượt chân hay nhỡ tay là tỏm xuống thung lũng mờ mịt bụi nước, sâu như vực thẳm ở dưới chân núi. Rừng Trường Sơn mùa mưa thật ảm đạm. Mưa rả rít hết trận này đến trận khác. Chúng tôi ngập đi trong nước. Nước từ trời trút xuống, từ đất ùn lên, từ bờ bụi dây leo chằng chịt hai bên quệt vào. Suốt ngày ướt như chuột lột. Áo quần ướt dính vào da thịt lạnh cóng. Những trận sốt rừng được thể nổi lên dữ dội. Đầu nặng như chì, nhức như búa bổ. Mắt tóe ra từng quầng hoa lửa. Đầu gối, khớp xương mỏi như dần. Nước da ngấm nước tái xám, nhợt nhạt. Những hàm răng va vào nhau lập cập. Mưa ẩm ướt lớp lá mục dày hàng thước làm cho sên vắt sinh sôi nảy nở nhiều vô kể. Thôi thì đủ các loại vắt: Vắt vàng, vắt nâu, vắt tím từ dưới đất giống như một nong tằm đang kỳ ăn rỗi. Vắt bám vào chân leo lên tận nách.

Rừng già mùa mưa thật khắc nghiệt, tất cả đều ướt sũng. Mưa hàng mấy tháng rồi còn gì! Thật tiếu lâm, ở giữa rừng mà thiếu củi. Có gạo nhưng không thể thổi cơm ăn, cứ "nện" lương khô và nước suối hết ngày này sang ngày khác. Họa hoằn chúng tôi mới tìm một hốc đá nhen lửa để luộc ống tiêm, tiêm cho những người bị ốm. Nhen được lửa ở Trường Sơn mùa mưa quả là một kỳ công. Chúng tôi phải bớt đi từng cái bì thư quý giá, từng cái quai dép cao su ít ỏi để đốt lên một ngọn lửa nhỏ nhoi vừa đủ làm sôi một ấm nước nhỏ xíu. Sức khỏe của bộ đội giảm xuống trông thấy. Những hốc mắt trũng sâu xuống, những gò má xám chì nhô cao lên. Nước da ai cũng tái mét, môi thâm xì lại. Lương thực mang theo cạn dần.

Tất cả những sự vất vả ấy, đối với chúng tôi - những người lính đặc công ở Trường Sơn chỉ là chuyện thường. Thật ái ngại cho Thư, cô du kích dẫn đường, người con gái duy nhất trong đội. Liệu cô ấy có thể chống chọi được với hoàn cảnh thời tiết khắc nghiệt của mùa mưa Trường Sơn hay không? Với tầm tuổi ấy, ở miền Bắc, em gái mình đang theo học ở nhạc viện Hà Nội. Trời ơi, giá mà không có chiến tranh thì… Tôi bất giác mỉm cười với cái ý nghĩ ngồ ngộ của mình.

Thư có dáng người thanh mảnh, nước da trắng hồng, mái tóc để xõa chấm eo lưng. Trông Thư giống như một cô gái con nhà khá giả ở thành thị. Thật mới đầu chúng tôi cũng khó mà tin được một cô gái vùng ven trông xinh là thế mà đã có một lý lịch mang đầy huyền thoại về những thành tích chiến đấu. Trông hiền lành, xinh đẹp vậy mà đã ba lần dũng sĩ chứ ít gì.

Tôi nhớ cái hôm Thư lên hậu cứ đón chúng tôi. Thú thật tôi hơi bị hẫng. Chúng tôi đã được báo trước là có đồng chí du kích vùng ven về đón. Cứ nghĩ đó là một đồng chí du kích đã lớn tuổi, mặt mũi gân guốc, cao lớn ngang tàng ra dáng "anh chị" hay chí ít cũng phải là một chàng thanh niên lực lưỡng, tầm thước, tay chân chắc nịch như rễ lim, rễ đước, đánh giặc dữ như hổ vồ. Ai ngờ! Hôm được tin đồng chí du kích đến, chúng tôi đang đánh "tiến lên" vội quẳng ván bài đang đến lúc sát phạt chạy ra. Trời ơi, thất vọng! Dần đường mũi đột kích lại là một "Ami" xinh tươi kiều diễm thế này ư? Chúng tôi, ai cũng cười mỉm, tỏ ý hơi coi thường cái cô gái có dáng người mềm mại mà hiền lành ấy. Trung đội trưởng Thịnh gật gù an ủi.

- Thôi! Cũng được. Chắc chắn là chúng ta sẽ cắt rừng vất vả hơn, nhưng có một cô gái xinh đẹp như thế giữa Trường Sơn thâm u này để "cải thiện mắt" thì cũng được.

Chúng tôi gật đầu đồng tình với sự an ủi đó. Cánh lính trẻ bắt đầu sà vào tán. Dãy nhà lá bỗng râm ran tiếng cười nói không hề hạ gam của cánh đặc công khi đã về hậu cứ, cứ xả ga hết cỡ, chẳng ý tứ lịch sự gì cả. Cô gái vẫn lặng lẽ nhìn chúng tôi mỉm cười. Đôi mắt bồ câu đen láy ánh lên một niềm vui hồn hậu. Bất giác, ánh mắt ấy dừng lại ở tôi, khiến cho câu đùa ác tôi chưa kịp nói đã bật ra đằng tai biến mất làm tai tôi lùng bùng như có ai mang bộ trống đánh bên cạnh mình với cường độ hàng ngàn đề-xi-ben. Toàn thân tôi bỗng nổi hết gai ốc, mồ hôi vã ra, chuếnh choáng như vừa uống rượu. Thú thật lần đầu tiên trong đời, tôi mới hiểu cái mà người ta thường gọi là "sóng khuynh thành". Cũng không rõ từ lúc nào, tất cả chúng tôi đã chuyển từ thái độ đùa cợt sang thương yêu. Tất cả đều coi Thư như là một cô em gái và mỗi người đều phải có trách nhiệm nâng niu, giúp đỡ.

Tối hôm đó đơn vị tổ chức liên hoan văn nghệ. Toàn ca sĩ "đực rựa" giọng vịt đực, hát như là hô khẩu hiệu. Thật bất ngờ, giữa buổi biểu diễn, cậu Sô (phụ trách văn nghệ) giới thiệu một tiết mục ngâm thơ của Minh Thư, du kích vùng ven. Bài thơ "Quê hương" của Giang Nam, tôi thuộc từ ngày còn đi học cấp hai. Bài thơ hay thật, nhưng chưa bao giờ tôi thấy xúc động như lúc này, khi được nghe qua giọng ngâm của Minh Thư. Giữa chốn núi rừng bạt ngàn này, tự nhiên giọng ngâm của Minh Thư vang lên trầm ấm, xôn xao. Độ rung ngân trữ tình của chất giọng ấm cúng ấy như có một sức mạnh quyến rũ kỳ diệu. Tôi nhìn chung quanh, những ánh mắt của các chiến sĩ đổ dồn về phía Minh Thư, nhưng có lẽ tâm hồn họ đang hướng về quê hương, vùng đất thiêng liêng nhất trong mỗi người lính xa nhà. Có những tiếng xì xào bàn tán: nghe đâu trước đây, cô ấy là một cô giáo thuộc loại "sắc nước hương trời". Đám ngụy quân, ngụy quyền và cả tụi Mỹ nữa cứ bâu xung quanh cô ấy hàng lô. Cô ấy cũng là nguyên nhân của những cuộc đọ súng giữa những tên ác ôn khét tiếng tàn bạo và hám sắc. Và cũng chính vì thế mà cô ấy gặp nhiều khó khăn trở ngại trong hoạt động bí mật hợp pháp. Cực chẳng đã với tụi giặc, cô ấy đành xin với mấy chú "nhảy núi". Từ đó Thư trở thành cô du kích vùng ven xinh đẹp, dũng cảm gan dạ và đầy mưu trí, nhiều phen làm cho địch khiếp đảm.

Buổi liên hoan văn nghệ đêm ấy gây cho chúng tôi nhiều ấn tượng sâu sắc. Sáng hôm sau, vừa mới tinh mơ, chúng tôi còn đang ngái ngủ, bỗng vang lên hai tiếng súng nổ rất đanh và gọn ở phía suối. Tôi xách súng nhào ra. Giữa đường gặp Minh Thư, tay lăm lăm khẩu côn 12. Cách đó một quãng, một con rắn hổ mang to bằng bắp tay bị bắn dập nát đầu đang quằn quại. Anh em đổ xô đến. Ai cũng thán phục Thư là tay súng cừ khôi. Từ đó chúng tôi hoàn toàn tin tưởng và khâm phục cô du kích vùng ven có giọng ngâm thơ tuyệt vời ấy.

Giờ đây, Thư đang bươn bả đi trong mưa. Mảnh vải nhựa choàng lên thân hình mềm mại ướt sũng. Hai ống quần được xắn cao lên để lộ đôi chân tròn lẳn trắng muốt bước thoăn thoắt trong rừng mưa. Bóng cô nhạt nhòa trong mưa. Lòng tôi nhói lên một nỗi đau: "Nếu không có chiến tranh thì..." Cơn khát của một tâm hồn trai trẻ đầy sinh lực chợt ào đến dữ dội trong tôi. Nhưng mà thôi, sau cái chữ thì ấy, chắc chắn là lắm chuyện rắc rối, phiền hà lắm. Mọi thứ khả năng thứ hai ấy sau chiến tranh hãy hay...

Đoàn người vẫn lần lụi đi trong những cánh rừng tối om. Tất cả đều im lặng. Thỉnh thoảng, lại một người trượt chân ngã lăn ra đất. Mặt mũi bê bết bùn. Đoàn quân dừng lại chốc lát rồi lại từ từ chuyển động. Nhưng rồi những ngày cuối của mùa mưa cũng sắp hết. Trên đỉnh trời, mây đen bị xé rách lổ chổ. Những mảnh trời xanh rời rợi hiện ra. Khó mà nói hết sự thèm khát màu trời xanh ấy của người lính Trường Sơn mùa mưa. Những ánh mắt rực sáng lên. Trời bắt đầu ấm và thế là những cơn sốt dịu lại. Chúng tôi hết sức khoan khoái vì được giải thoát khỏi sự ẩm ướt dai dẳng hàng tháng trời của mùa mưa.

Đơn vị quyết định dừng chân tắm giặt và nấu cơm bên một dòng suối. Ánh nắng vàng rực bên một khoảnh rừng đầy hoa bươm bướm. Lũ chim chóc hót vang chào đón tia nắng đầu tiên của mùa khô. Tắm giặt xong, Thư ngồi hong khô mái tóc óng mượt. Những tia nắng dàn dụa chảy trên mái tóc. Tôi bất giác mỉm cười với cái ý nghĩ ngồ ngộ cứ lởn vởn hoài trong đầu óc: Giá mà không có chiến tranh... Nhưng nếu không có chiến tranh, cái dáng vẻ trần trụi, chân thật của người lính sẽ được khoác vào những cái vỏ hình thức mượt mà, và như thế liệu mình có thể có hạnh phúc được chiêm ngưỡng cái vẻ đẹp bằng sự khao khát thực sự hay không? Đang chìm đắm trong những suy tư ấy bỗng Huy vỗ mạnh vào vai tôi nói:

- Này, mày đang làm thơ đấy à. Thôi, đi kiếm chất tươi với tao.

Tôi và Huy xách súng lội ngược dòng suối tìm thức ăn cải thiện cho đơn vị. Bao giờ cũng thế, cứ nghỉ chân là thằng Huy tìm cách cải thiện, khi thì vài con cá nhi đồng (cách gọi loại cá con của Huy). Khi thì một mũ cối đầy nấm lửa, tệ nhất cũng phải nắm lá chua nấu canh.

Huy quê Hà Nội, làng Ngọc Hà làng hoa nổi tiếng của Thăng Long cổ xưa. Những lúc rỗi, hắn hay giảng cho tôi về tính khí các loài hoa. Hoa Hà Nội nổi tiếng đẹp và có tính cách hẳn hoi. Nào đồng tiền, thược dược, lay dơn, hồng bạch, hồng nhung, đào, mào gà, thủy tiên. Thôi thì đủ loại, mỗi loại một phong cách khác nhau. Những lúc ấy mắt tôi cứ tròn ra như ốc nhồi, mồm há ra như hang đá, phục lăn như bị cái kiến thức về hoa của Huy. Thật đúng là người Hà Nội, sành chơi, có tiếng. Huy là một thanh niên rất đẹp trai. Dáng người dong dỏng, trắng trẻo thư sinh. Đúng mốt "Người dây". Huy lại là người chơi vi-ô-lông rất giỏi. Đến nỗi mù tịt về âm nhạc như tôi mà nghe tiếng đàn của hắn cũng nổi hết da gà lên một lượt. Nghe nói, Huy say mê kéo đàn Vi-ô-lông từ khi đọc sách về nhạc sĩ vĩ cầm nổi tiếng tài ba và cũng nổi tiếng bi kịch người Ý là Pa-ga-ni-ni. Có lần không có dây căng ác-sê, Huy phải đi tuốt đuôi ngựa bị ngựa đá lăn xuống ao bèo. Học xong lớp mười. Huy vào bộ đội. Chúng tôi vẫn gọi Huy là người "kiểng". Ấy vậy mà Huy lại là một chiến sĩ đặc công dũng cảm có tiếng. Có lần chúng tôi đi điều nghiên một khu đồi. Gần sáng, tất cả đã có mặt ở vị trí tập kết, chỉ thiếu có một mình Huy, mãi một lúc sau, Huy mới bò về đến nơi, miệng tủm tỉm cười.

- Tao bò vào phòng thằng đồn trưởng. Hắn đang ôm bồ ngủ. Nhìn lên đầu giường thấy gói ru-bi, thèm quá, tao tính rút một điếu nhưng nghĩ chúng mày cũng khao khát, tao nâng luôn cả gói. Sáng mai, thể nào thằng cần vụ cũng được mấy cái bạt tai điểm tâm.

Tôi đang miên man trong những dòng suy nghĩ ấy thì Huy vẫy tay ra hiệu. Chúng tôi leo lên một quả núi. Gần tới đỉnh, Huy dừng lại trao súng cho tôi rồi leo lên một cây dẻ cụt nhìn chăm chăm sang quả đồi bên kia rồi bất chợt reo lên:

- Tuyệt? Tuyệt! Thật là rừng vàng biển bạc Tùng ơi. Bên kia có dơi. Dơi núi bay rợp một góc trời. Chà có hang dơi là có thịt tươi rồi Tùng ơi!

Tôi vừa nghe Huy nói đến thịt dơi, nước bọt đã tứa ra đầy miệng. Hai thằng vội vã cắt rừng trèo lên quả núi đá đồ sộ. Lưng chừng núi, một cái hang đá sâu hun hút, tối om. Chúng tôi bước đi trên đống phân dơi dày hàng thước. Đàn dơi bay loạn xạ. Không mang theo vật gì để đựng. Huy cởi phăng quần dài, thắt gút hai ống quần rồi bỏ dơi vào. Chỉ một lúc sau, chúng tôi đã bắt được đầy một bọc dơi. Hai đứa hý hửng vác bọc dơi lùng nhùng trèo xuống núi. Về đến dưới suối, cả đơn vị đổ xô lại. Ai nấy trầm trồ, hoan hỷ. Trưa và chiều hôm ấy, cả đơn vị chén thịt dơi hả hê. Mặc dầu thịt dơi núi nấu muối bầm tím lại, dà hơn nhân nhẩn đắng. Nhưng dù sao, đây cũng là một bữa tiệc tươi rói giữa Trường Sơn.


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 06 Tháng Chín, 2012, 02:10:34 pm
Sáng hôm sau, Huy và Minh Thư dậy sớm, rủ nhau lên núi bắt dơi. Hai người mang theo một chiếc bao tải to tướng. Họ ra đi lúc đơn vị đang ngủ say sau những ngày lặn lội mệt nhọc.

Khoảng tám giờ sáng, chúng tôi bắt đầu nghe tiếng L19 quần đảo trên không. Ở chiến trường, chuyện đó rất bình thường, chẳng ai để ý đến nó. Nhưng chiếc L19 đổi vòng bay, hạ thấp độ cao lượn đi, lượn lại chung quanh quả núi đá. Vòng bay của nó ngày càng khép kín. Hình như nó đã phát hiện thấy một dấu hiệu bất thường nào đó. Tôi nghĩ ngay đến chuyện đàn dơi liền nói:

- Anh Thịnh ạ, Huy và Minh Thư dậy sớm. Họ vào hang bắt dơi. Có lẽ đàn dơi bị động tổ bay dáo dác nên thằng L19 nghi ngờ chắc.

Thịnh nói: "Loại máy bay trinh sát dai như đĩa đói ấy là ghê lắm đấy" - rồi anh ra lệnh.

- Coi chừng bị lộ, tất cả tản ra - Tuyệt đối không được nổ súng, giữ bí mật đến phút cuối cùng cho chiến dịch.

Chúng tôi dự đoán không sai, chỉ năm sáu phút sau, một đàn phản lực lao tới. Tiếng bom nổ rền trên đỉnh núi. Giặc oanh kích dữ dội, hết tốp này đến tốp khác.

Trong những ánh chớp nhoáng nhoàng, tiếng nổ dữ dội, tiếng cây cối đổ ầm ầm, tôi chỉ lo cho Thư và Huy. Nếu không may một quả bom rơi đúng miệng hang, sức ép dữ dội trong hang đá sẽ rất nguy hiểm cho hai người.

Máy bay giặc vừa cút khỏi, chúng tôi đã lao lên quả núi đá. Cảnh vật trở nên trơ trụi. Mặt đất bị đào bớt nham nhở. Những tảng đá lăn ầm ầm xuống suối. Cây cối bị tuốt hết lá giơ những cánh tay khẳng khiu lên trời. Khói bom đắng nghét. Không gian trở lại yên tĩnh một cách ghê rợn. Khó khăn lắm chúng tôi mới xác định được phương hướng.

Tôi lao về phía hang dơi. Một tảng đá khổng lồ đổ ụp xuống chắn lấy miệng hang. Đồng đội lao lên. Tất cả chững lại trước tảng đá khổng lồ xám xịt như một bức tường chết. Chúng tôi lao vào đào bới tìm kiếm, nhưng bất lực. Tảng đá lớn hàng trăm tấn đã ngăn cách hai người trong hang với chúng tôi thành hai thế giới riêng biệt. Lòng tôi quặn lên một nỗi đau đớn cùng cực. Ở trong kia, hai người bạn thân yêu của chúng tôi còn sống không? Ước gì có được sức mạnh thần thoại nhấc bống tảng đá khổng lồ kia quẳng xuống chân núi.

Như những người mất tinh thần, chúng tôi hoang mang tìm kiếm đào bới. Mãi sau chúng tôi mới phát hiện ra một kẽ nứt nhỏ. Tôi ghé vào hét lớn:

- Thư ơi! Huy ơi!

Tiếng gọi của tôi va vào bờ đá vọng lại một cách đơn độc buồn bã. Mãi một lúc sau, chúng tôi nghe như có tiếng trả lời rất nhỏ, mơ hồ và xa xôi như vọng lên từ lòng đất. Chúng tôi tìm mọi cách để phá hang. Các phương án liên tiếp được đưa ra nhưng tất cả đều vô hiệu. Chúng tôi đứng đực ra như phỗng, hai tay buông thõng, mắt ráo hoảnh nhìn không chớp vào tảng đá đồ sộ. Tất cả còn lại mười con người với những trang bị gọn nhẹ biết lấy gì để hất tung tảng đá lớn hàng trăm tấn này.

Chúng tôi nhìn nhau im lặng. Chỉ còn mỗi một cách duy nhất. Đánh bộc phá. Nhưng đánh bộc phá sẽ xẩy ra hai điều bất lợi. Thứ nhất, sức ép của bộc phá sẽ nguy hiểm đến tính mạng của hai người. Thứ hai, tiếng nổ của bộc phá sẽ làm lộ bí mật, bọn thám báo biết được ý đồ của ta và như thế chiến dịch sẽ thất bại. Nhưng nếu không phá được hang, tính mạng của Huy và Thư sẽ ra sao? Tình hình trở nên hết sức gay cấn, khó xử.

Suốt một ngày căng thẳng. Căng thẳng đến tột độ. Ai cũng cảm thấy mệt mỏi và bất lực. Trời tối dần, ánh hoàng hôn hấp hối phía bên kia cánh rừng cố hắt những tia nắng vàng vọt mỏng manh và yếu đuối lên nền trời đang sẩm tối. Chúng tôi chẳng nghĩ gì đến chuyện ăn uống, ngồi lặng im như những pho tượng đá quanh cái hang dơi đang giam hãm hai người đồng đội. Rừng núi trở nên lạnh vắng, hoang vu và khắc nghiệt. Những đôi mắt dò tìm nhau trong bóng tối. Ai cũng sợ phải nói lên một sự thực tàn nhẫn đến xót xa: bất lực và cái chết.

Tôi không thể quên cái đêm khắc khoải ấy. Ở trong kia, cái bóng tối đặc quánh của hang sâu giữa bốn bề là đá ấy, hai người bạn, hai người đồng chí, đồng đội của tôi đang phải chống lại cái đói và sự cô đơn đến rùng rợn. Chung quanh đồng đội cũng thức trắng. Những đôi mắt ánh lên một nỗi buồn man mác. Ai cũng muốn làm một điều gì đó. Nhưng tất cả đều bất lực, Thịnh hút liên miên hết điếu này đến điếu khác thứ thuốc rê khét lẹt và nặng chịch của vùng Quảng Bình quê anh. Khuôn mặt Thịnh đanh lại, hốc hác. Trong anh già đi hàng chục tuổi. Chợt anh đứng dậy ném mạnh tàn thuốc. Điếu thuốc vạch một vệt sáng hình vòng cung rồi tắt ngấm trong bóng đêm. Thịnh nói:

- Các đồng chí, bằng mọi giá chúng ta phải cứu được hai đồng chí ấy.

Lời nói của anh đầy quyết tâm, nhưng lời nói ấy cũng chỉ rơi vào khoảng không im lặng. Chính anh cũng thừa biết điều đó vượt ra ngoài khả năng của con người. Chúng tôi đứng tựa lưng vào tảng đá lành lạnh, lòng ngổn ngang đau đớn. Trong lúc mọi người cảm thấy hoàn toàn bất lực thì Phúc, một chiến sĩ còn trẻ măng, bỗng dậy reo lên.

Em nghĩ ra rồi. Chúng ta có thể dùng sào dài xuyên kẽ hở ấy để trao đổi với hai người trong hang.

Như có một sức mạnh kỳ lạ, tất cả chúng tôi đứng bật dậy. Sáng kiến của Phúc được tiến hành ngay. Chúng tôi tìm hai cây nứa nối vào nhau thành một chiếc sào dài. Sau đó viết một mảnh giấy nhỏ kèm theo, mảnh giấy, chúng tôi bỏ vào trong ruột nứa phía đầu mũi sào một chiếc bút bi, một cái bật lửa và hai bánh lương khô.

Cây sào được cẩn thận xuyên vào rãnh nứa. Gần ngập hết cả hai cây nứa bỗng chân tay chúng tôi run lên, cây sào bị đẩy đi đẩy lại như một sự báo hiệu tốt lành. Mười phút sau cây sào được từ từ đẩy ra. Chúng tôi nhẹ nhàng, hồi hộp kéo về phía mình. Một mảnh giấy nhem nhuốc và những dòng chữ thân thuộc của Huy run run trong bàn tay đầy đất bụi của Thịnh.

... Đã ba ngày rồi, chúng tôi trao đổi thông tin và lương thực cho hai người trong hang bằng phương tiện đặc biệt ấy. Cả đơn vị đau đầu vì chưa biết giải quyết ra sao. Những bánh lương khô cuối cùng được giành ưu tiên cho Thư và Huy. Đơn vị thay nhau đào củ mài, hái tàu môn thục nấu canh ăn. Tình trạng ngày một trở nên bi đát. Thời hạn quy định hành quân sắp hết. Bình thường ra thì hôm nay đơn vị đã cắm được xuống địa bàn, tiến hành điều nghiệm xây dựng cơ sở. Vậy mà, cho đến giờ phút này đơn vị vẫn còn kẹt lại giữa rừng trong hoàn cảnh khắc nghiệt này. Rồi lương thực cũng cạn hẳn. Ngày thứ tư, chúng tôi phải tiếp tế vào hang một ít củ mài luộc và ít quả sung rừng. Những cơn đói khủng khiếp ào đến. Chúng tôi nằm trong tình trạng hết sức khó xử. Không thể bỏ hai người đồng đội chết đói trong hang sâu, cũng không thể bỏ nhiệm vụ của đơn vị. Trưa hôm ấy chúng tôi nhận được một mảnh giấy nát nhàu, nét chữ nhòe ướt có lẽ vì nước mắt. Bức thư yêu cầu đơn vị tiếp tục lên đường làm nhiệm vụ.

Mắt tôi hoa lên, mờ đi, nước mắt ứa ra. Chưa bao giờ chúng tôi lâm vào một tình trạng bi đát như thế. Ai nỡ đang tâm ra đi bỏ lại hai người bạn thân yêu trong cái hang chết giữa rừng sâu này. Đã bốn ngày rồi đơn vị ăn toàn rau rừng và hình như ngày nào chúng tôi cũng nhận được mảnh giấy đề nghị đơn vị tiếp tục ra đi làm nhiệm vụ. Đến nỗi cuối cùng không ai còn can đảm cầm đọc những mảnh giấy ấy nữa.

Sang ngày thứ năm, đơn vị hội ý để tôi và Phúc ở lại thay nhau đào củ mài hái quả rừng để tiếp tế cho Thư và Huy. Còn tám đồng chí còn lại gấp rút hành quân làm nhiệm vụ. Chiến dịch bùng nổ, đơn vị sẽ quay lại tìm cách phá hang.

Hôm sau, khi chúng tôi chuyển thức ăn vào hang cho Huy và Thư đồng thời báo cho hai người biết quyết định của đơn vị. Cây sào bị níu giữ khá lâu, sau đó, chúng tôi nhận được một gói nhỏ bằng vải áo quân phục buộc cẩn thận bằng một nắm tóc. Chúng tôi nhìn nhau kinh hoàng. Tất cả linh cảm thấy một điều gì ghê gớm sẽ xảy ra. Bỗng một tiếng AK trầm đục và ghê lạnh từ trong hang đá vọng ra. Liền sau có một tiếng súng nữa lại vang lên. Chúng tôi không tin vào tai mình nữa. Chiếc gói tuột khỏi tay tôi rơi xuống đất. Tất cả bàng hoàng. Đất dưới chân chúng tôi như lún xuống. Thịnh chồm vào kẽ đá giọng thất thanh.

- Các đồng chí không được liều lĩnh.

Tiếng thét của anh va vào đá bật lại khô khốc và đơn độc. Cả không gian im lặng. Im lặng một cách rùng rợn. Trong đời lính chưa bao giờ chúng tôi phải chứng kiến một sự hy sinh đau đớn đến mức không thể chịu đựng nổi như thế. Tôi nhìn chăm chăm vào tảng đá, nước mắt chảy dàn dụa trên gò má nóng bỏng. Bất thần Phúc lao lên dáng một nắm đấm vào tảng đá đồ sộ. Bàn tay anh tóe máu. Tôi chạy lên đỡ lấy Phúc. Hai hàm răng anh nghiến chặt.

Sau những phút bàng hoàng, tôi nhặt gói vải lên, nhè nhẹ gỡ lọn tóc. Mảnh vải bung ra. Một vài vật kỷ niệm, chiếc đồng hồ và lá thư gửi gia đình của hai người. Chúng tôi đứng im như những pho tượng trước cái hang đá trở thành ngôi mộ đá chôn hai người đồng đội. Chúng tôi cúi đầu vĩnh biệt Thư và Huy, nỗi đau hằn lên những khuôn mặt hốc hác đầy cát bụi. Vuốt mảnh giấy nát nhàu trong tay, những dòng chữ thân thuộc cuối cùng của Thư và Huy như nhảy múa trước mắt tôi…

Chúng tôi bước đi trong những cánh rừng già, lòng nặng nề u ám. Đằng sau chúng tôi hòn núi đá, mờ dần rồi khuất hẳn. Chẳng ai nói điều gì, chúng tôi đi im lặng, mỗi người theo đuổi một dòng suy tưởng riêng.

Khi tiếng súng chiến dịch Mậu Thân sắp sửa bùng nổ, chúng tôi cấp tốc quay lại hang đá dùng bộc phá cực mạnh nổ tung tảng đá để đưa hài cốt của hai người bạn về phía sau mai táng. Nhưng hài cốt không còn nguyên vẹn nữa. Các loài chuột, loài thú trong hang tha đi rãi rác khắp nơi. Chúng tôi phải bấm đèn pin đi nhặt nhạnh những khúc xương rơi vãi trong các hang hốc, gờ đá. Không còn phân biệt được hài cốt của hai người. Chúng tôi đưa về chôn chung một ngôi mộ bên cạnh dòng suối.

Trước khi rời hang đá chúng tôi nhặt được khẩu AK đã mục nát báng gỗ. Trong băng đạn vẫn còn lại hai tám viên đạn đã rỉ sét. Khi tôi lấy viên đạn cuối cùng bung ra thì một gói ni lông nhỏ xíu rơi xuống, trong gói ni lông một mảnh giấy nhàu nát ghi chi chít những dòng chữ thân thuộc của Huy.

"Hôm nay là ngày thứ mười sáu khi các đồng chí ra đi. Chúng tôi vẫn hy vọng..."

Đọc đến đây, mắt tôi hoa lên. Mảnh giấy tuột khỏi tay rơi xuống đất. Thì ra chúng tôi đã ra đi bỏ lại hai người bạn yêu quý trong hang đá mà không ngờ họ vẫn còn sống, vẫn chống chọi với cái chết, bóng đêm và sự tuyệt vọng. Đêm ấy, trước khi trở về hậu cứ, chúng tôi đốt lên một đống lửa và ngồi quây quần chung quanh ngôi mộ của hai người cho đến sáng.

Bảy năm sau, miền Nam hoàn toàn giải phóng. Chúng tôi trở lại Trường Sơn đưa hai người đồng đội yêu quý về quê hương Minh Thư, mai táng bên gò đất cao cạnh bờ sông Sài Gòn ngày đêm dạt dào sóng vỗ. Hàng năm vào những ngày lễ ngày tết, các cụ phụ lão đến tảo mộ và thắp hương. Các em thiếu niên nhi đồng mang vòng hoa đến đặt lên ngôi mộ.

Họ kể về ngôi mộ chung của hai người liệt sĩ như kể về một câu chuyện thần thoại đầy kỳ tích của thời đánh Mỹ.

Nha Trang tháng 12-1984
T.C.U
(18/4-86)


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 06 Tháng Chín, 2012, 02:26:06 pm
Sống chậm

LÊ MINH KHUÊ


Tường lên chuyến xe rời khu cải tạo phạm nhân sau cùng. Đành phải ngồi cạnh một người đàn bà. Tường nhận ra bà khi ngồi sau bàn nói chuyện với bố. Bà này ngồi bàn gần bố con Tường nói chuyện có vẻ khá lặng lẽ với người đàn ông cao lớn tóc trắng xóa lông mày đen khuôn mặt hồng hào khá trẻ. Có lúc Tường thấy bà này rút ra mấy tờ giấy ướt lau khuôn mặt chắc là đầm đìa nước mắt. Bà này không có gì nổi bật so với đám người đi thăm
nuôi, các bà vợ bà con bà nào cũng sáng choang son phấn ngào ngạt nước hoa. Người đàn bà này mặc quần đen áo đen cổ tròn. Điểm sáng duy nhất trên người bà này là cái vòng ngọc trai với những viên ngọc nhỏ, thứ ngọc thật, trông trang nhã. Cái vòng ngọc trai và bộ quần áo đen may vừa khít thân thể còn đầy đặn có cái gì đó hấp dẫn. Có lẽ là sự kín đáo ẩn sau đó một cuộc đời một số phận không mấy đơn giản.

Tường lơ đãng nhìn ra. Rừng núi trập trùng. Trại cải tạo này ở thật xa nơi đô hội. Người ta chỉ cần lơ đễnh một chút, yên phận thây kệ sự đời là sẽ chôn vùi đời mình ở đây ngay. Cả trong ý thức giữa mênh mông núi và đá và cây cối cho dù bây giờ cây bị chặt hạ trống hoang nhưng vẫn gieo cho Tường cảm giác đó. Người ta có lúc khổ vậy sao giữa thế kỷ con người có nơi đã thừa mứa đến độ chán sống đến độ đi tìm mọi thú vui để rồi tự hủy hoại... Tường nhắm mắt cố ngủ. Trong xe người ta đã bớt, ồn ào người ta cũng cố ngủ sau buổi hàn huyên với những người đặc biệt: ăn cướp có, tham nhũng có, giết người có, lừa đảo có... ở cái trại cải tạo chung quanh bạt ngàn đồi trồng dứa, trồng cà phê. Bố Tường không khác mấy cái ngày ngồi trong căn phòng ông là sếp lớn máy lạnh chạy ro ro, ghế bành thật lớn, ngai ghế bành, mang cái áo vét mua ba ngàn đô ở Thụy Sĩ. Cô thư ký thạo việc thường gọi Tường là anh với cái vẻ thư ký sếp lớn không bờm xơm không lả lơi như thư ký hạng thấp. Lúc này bố Tường mặc quần áo tù may rộng trông như bộ pyjama lụa ông mặc trong phòng ngủ. Ông bảo ở trên này tao thấy hít thở thoải mái hơn ở thành phố, ở nhà chạy cho xong mấy thứ tao bảo rồi cứ yên để tao trên này một thời gian chả có gì mà mẹ mày cứ phải sướt mướt. Không lo được mấy thứ tao dặn thì liệu hồn. Bảo con mẹ mày ấy. Thằng Quyền không được lẩn như chuột thế, bảo nó rảo chân lên không thì vỡ mặt... Thật buồn lòng là ông chu du khắp nơi ký kết hợp đồng buôn bán này kia nhưng khi lâm nguy bố không còn nói năng lịch sự nữa. Có lần mẹ Tường (cháu nội giáo sư thời Pháp) đã bảo bố con nếu đặt đúng chỗ thì không làm những việc như thế. Đúng chỗ nghĩa là thời chiến tranh ông bắn B40 cự phách được tuyên dương dũng sĩ, bị bắt đày ra đảo, trở về ông chuyển ngành làm trưởng phòng tổ chức nhà máy lớn. Mẹ Tường bảo đến đó dừng là vừa sức. Dù sau này bố Tường học tại chức đại học rồi có bằng tiến sĩ mẹ vẫn bảo bố dừng ở chức trưởng phòng tổ chức là được nhất... Biết người biết ta, mẹ sống với bố như gán ghép, bà bị ông chồng sếp lớn coi khinh. Không có thằng này thì lấy cám đổ nồi, tinh tướng vài cái chữ thằng Pháp dúi cho ông già đã tưởng oai coi khinh thiên hạ. Thằng này đếch cần cái chữ nhá. Thằng này bình dân bần cố nông bây giờ xem đứa nào hơn. Ngày nào chả ký chi tiêu tiền tỉ... Có lần Tường đã nghe bố gặm nhấm cấm cẳn bà mẹ của Tường trong phòng ngủ. Khi xách cặp ra xe ông ung dung phong độ, nhìn thấy ông người ta phải cung kính chắp tay. Trong phòng ngủ ông hay mặc cảm nói năng với vợ như thế và từ ngày vào tù ông nói tự nhiên. Trở lại bản ngã là anh trai làng vùng trung du Bắc bộ nghèo từ thuở khai thiên.

Tường lơ mơ ngủ trong những hồi ức buồn bã của cái tuổi dưới ba mươi chưa có nhiều chuyện để kể như thế hệ cha anh. Xe đi rì rì qua những ngọn đồi thấy đường phẳng lì hiếm hoi ở xứ sở đường chưa qua nghiệm thu đã nham nhở. Chắc con đường này do phạm nhân làm. Tường thấy mình được sống chậm. Bây giờ có tụi bạn rủ Tường ngày nghỉ lên đồi thông gần khu chùa mới xây để thiền. Để sống chậm. Nhưng ngồi sống chậm mà nghĩ tới cha cựu tù Phú Quốc bây giờ tham nhũng là tù cộng sản thấy chán chường. Nghĩ tới mẹ lủi thủi sống theo triết lý của ông nội cái gì không phải của mình làm ra thì đừng nhận... Mẹ đi dạy học ở thành phố, lý lẽ ấy của mẹ xem ra bị vỡ như bong bóng. Không nhận quà cáp người ta sẽ sợ trù úm con người ta. Khổ thế. Mẹ chấp nhận rồi quen đi rồi cũng thành khôn ngoan thiên hạ khó lừa. Đấy. Mọi chuyện nó đâu để mình an lòng mà sống chậm.

Tường nhắm mắt. Nghe bên cạnh mình tiếng hát nho nhỏ nhưng trong vắt – Hello! Xin chào!

Yên trí mọi người ngủ say người đàn bà áo đen bên cạnh Tường hát. Thứ tiếng Anh không thật chuẩn nhưng xúc cảm đến nghẹn thở. Tường đã từng say mê đã từng bật khóc. Xin chào. Anh đã từng bên em trong tâm trí này, trong giấc mơ anh đã hôn lên đôi môi em cả ngàn lần. Đôi khi anh thấy em đi ngang qua cửa. Xin chào! Anh có phải người em đang tìm kiếm… Mỗi lần hát bài Hello Tường xót xa. Đời sống ô trọc bụi bặm cảm xúc con người như sự trớ trêu đặt nhầm chỗ. Bài hát lúc này cất lên lại đúng chỗ. Tường ngạc nhiên khi nghe người thế hệ năm X đang hát đang sống cái trạng thái của lớp trẻ chán ngán đời sống đô thị nhàu nát vì mọi thứ dở dang kém cỏi. Thấy Tường thức giấc người đàn bà nhìn sang. Cười ngượng. Xin lỗi cháu! Không sao cô ạ. Cô không ngủ được à?

- Không. Đang sống thật chậm rãi. Nghe xem nhé. Đôi khi anh thấy em đi ngang qua cửa. Xin chào! Anh có phải người em đang tìm kiếm… Sao bây giờ người ta không viết được lời bài hát cho nó tử tế như thế. Đơn giản mà tử tế!

- Không viết được cô ạ. Sống như thế nào thì hát như thế thôi!

- Ừ. Tôi cũng nghĩ như vậy! – Hai người im lặng khá lâu rồi cùng nói. Chỉ vài câu làm quen Tường thấy thích nói chuyện. Người đàn bà tuổi năm X trông còn khá trẻ, mắt còn ướt, tóc nâu đỏ tự nhiên chưa, phải nhuộm cằm chưa chảy xệ. Khuôn mặt nhẹ nhõm hướng ra cửa sổ. Bà nói như bức xúc. Tôi biết rõ vụ án của bố cháu. May mà ông ấy chỉ làm đổ một cái nhà. Do thiếu trách nhiệm gây hậu quả... Này. Cái cụm từ đó sao khó chịu thế. Sao không gọi thẳng đó là tội ác. Là sự độc ác nhẫn tâm đối với đồng loại. Cứ gọi sự vật đúng tên của nó sẽ hay hơn là hoa mỹ là né tránh là nói trật khấc...

- Còn chú nhà cô ạ!

- Gọi tôi là Vân. Còn cháu... Tường hả? Tên rất giống người đấy. Người đàn bà có vẻ muốn lảng tránh chuyện nhưng rồi quay lại ngay nói giọng bức xúc như vừa nói tới bố Tường. Không. Đó không phải là chồng tôi. Là một người bạn. Là đồng đội. Thì cũng một cung cách như thế thôi. Đổi tiền đô do phía chuyển nhượng giao sang ra tiền Việt dùng thủ tục thu chi khống, huy động vốn giả để rút ra hơn sáu tỉ bỏ túi. Rồi tiếp theo là vụ lấy tiền mà người ta chuyển cho quỹ phúc lợi công ty, không chuyển cho quỹ phúc lợi mà chuyển thẳng vào tài khoản do mình chỉ định để chiếm đoạt. Rồi lập biên bản khống, lập phiếu chi khống để hợp thức hóa cho phiếu thu huy động vốn... Túm lại - nói theo ngôn ngữ cư dân mạng nhé, nói túm lại người anh hùng của tôi bỏ túi hơn mười tỉ đồng phá hỏng một nhà máy do lòng người tan rã lĩnh án mười hai năm cải tạo. Đó. Tất cả giống nhau. Cái cách ăn cắp bòn rút nói mãi nhàm tai...

- Vâng. Cháu cũng nghĩ thế. Nói mãi đến nỗi không có chuyện ấy lại thấy thiếu vắng.

- Sao đàn ông bây giờ lại đến nỗi thế?

- Ấy. Cô nói thế cháu tự ái đấy!

- Nhưng nhìn mà xem. Chỗ nào cũng hỏng. Nhoe nhoét cả ra. Đụng vào đâu cũng ăn cắp.

- Có phải mình đàn ông ăn cắp đâu cô.

- Nhưng họ đầu têu. Họ gây ra mọi sự. Họ đã từng làm nên mọi sự cao cả khác thường. Cũng chính những con người ấy đặt sang chỗ khác, đặt nhầm chỗ nên mọi sự lại khác...

Thì bọn cháu cũng nghĩ vậy. Tường nhô hẳn người ra cảm thấy phấn chấn khi bên cạnh mình có một người đầy bất mãn đầy thất vọng, đầy hoài vọng và thông minh từ đôi mắt từ làn môi. Cháu luôn nói với bố rồi. Cháu cần gì cái xe mười tỉ để đứng chết cứng ở ngã tư giờ cao điểm cùng với bọn xe bãi xe uyn Tàu. Xung quanh nghèo nàn bụi bẩn người giàu đâu có sướng gì. Xe đẹp phải đi trong thành phố xanh um sạch sẽ người ta cùng giàu có cùng đi lại thong dong. Xe đẹp trong thành phố nghèo cũng như người đàn bà quí phái lội bùn trong chợ trời ngoại ô. Cháu đâu có ham. Em cháu yếu tim từ nhỏ nó cần gì phải sang Canađa du học đua đòi với con nhà lắm của. Nhưng bố cháu không chịu. Người ta du học người ta đi ô tô tiền chục tỉ con mình đâu có ngọng. Bố cháu làm đủ mọi mánh khóe kiếm tiền tỉ không thèm tiền triệu rồi đổ nhà rồi sập cầu rồi vào tù. Người ta đồn đại nhà cháu có vài chục triệu đô la gửi ngân hàng Thụy Sĩ. Thanh minh ai nghe. Bao nhiêu tiền phải đổ vào vụ án nhà cửa trưng dụng, tiếng oan đổ lên đầu cháu, mẹ cháu thằng em yếu tim của cháu đang học dở bên Canađa viết thư về bảo chán học rồi bố vào tù học làm sao đây. May mà nó không nghiện may mà cháu không phải loại đầu đất lấy tiền của bố để vào khách sạn nay em này mai em khác. Các em chân dài cần gì biết đến tiền nong xuất xứ ở đâu. Cháu không phải loại xài mấy cặp chân dài rồi làm vẻ đại gia. Mẹ cháu đứng bên vững như bàn thạch dù mẹ cũng phải a dua với đời nhưng mẹ cháu không thể đốn mạt vất con ra đó với đống tiền bố cháu nhặt dễ dàng. Bây giờ trong tù bố cháu vẫn bày ra mưu này mưu kia để chỉ huy đám tay chân cũ hòng che giấu một số việc chưa lo để găm tiền để lo ra để tiếp tục...


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 06 Tháng Chín, 2012, 02:27:02 pm
*

Người đàn bà đặt tay lên vai Tường. Như người mẹ. Cảm giác yên tâm cảm giác được che chở. Tường ngồi thẳng lên khi xe xóc một cái rất mạnh.

Cô biết không khi bọn cháu còn nhỏ nhà còn nghèo không khí nhà vừa êm ru mẹ hạnh phúc bố hay ngồi ăn cơm với cả nhà trong bếp chật. Mẹ cháu kể về mùa thu trong thành phố thời thiếu nữ có những buổi chiều vào công viên thấy hoa đẹp quá hái một ôm bị công an huýt còi. Những chuyện học hành nghịch ngợm làm cả nhà cùng cười. Nhưng đặc biệt là chuyện của bố. Bố cháu kể bị bắt giam bị đày ra đảo trong hàng trăm tù binh. Phòng giam của bố cháu cùng với mấy bác sĩ quan nằm ngay bên phòng giam tù chính trị. Nghe tên một người tù nổi tiếng bị giam bên kia, bố cháu hát rất to một bài hát ra đời khi người tù chính trị bên kia bị bọn Mỹ tuyên án tử hình. Thế là cả phòng giam cùng hát. Mấy bác sĩ quan bị đánh thương tích bầm giập cùng vịn vai nhau hát bài họ hay hát thời còn nhỏ tuổi. Thế là cả trại giam bùng lên. Bọn cai tù xông vào đánh nhau cùng tù binh. Bố cháu bảo đó là phút lóe sáng là phút thăng hoa của bao nhiêu con người lúc ấy. Không bao giờ quên được. Người tù chính trị bên kia nói vọng sang: Cảm ơn các anh! Giọng Huế. Bố cháu cũng bảo có một ngày chủ nhật hàng trăm tù binh tập trung ra sân để đi làm như nhiều hôm khác. Một tay sĩ quan mặt mũi hả hê, ăn mặc rất diện đi suốt hàng tù binh cộng sản. Hắn đứng chống nạnh nhìn những khuôn mặt hốc hác trong buổi sáng mai rồi hắn nói: - Báo cho mọi người một tin nghe! Hồ Chủ tịch của các người đã về chầu Phật bên Tây Trúc rồi! Một tiếng xào xào rất khẽ lan truyền như làn gió khắp sân trại giam. Đó là tiếng rên trong cổ họng của hàng trăm con người. Tiếng rên không kìm được cùng lúc cất lên ấy có một sức lan tỏa kỳ lạ làm cho tụi lính canh lăm lăm súng vì sợ có sự bùng nổ trước cái tin ấy cũng phải kinh ngạc đứng sát lại phía bên kia. Không có tiếng khóc to không có sự xáo trộn nhưng cái tiếng khóc âm thầm mới khủng khiếp. Bố cháu nhìn sang. Tất cả các khuôn mặt bất động môi mím chặt mắt nhìn thẳng. Cái nỗi đau lúc ấy nó thực sự nó thúc vào tim con người và sau buổi khổ sai trở về trại bố cháu mới khóc to lên được. Khi ấy bố cháu hai mốt tuổi đã là dũng sĩ là một con người của thuở ấy trong sáng thơ ngây...

Câu chuyện vẫn rì rầm theo bánh xe. Những phút thăng hoa những phút lãng mạn ấy có lẽ ai cũng phải qua ai cũng thấy trong bản thân có gì đó trong sạch. Để tôi kể cháu nghe cái chuyện tôi chưa từng kể với ai ngay cả với mấy đứa con sợ chúng nó bảo mình sến. Lúc đó tôi mười bảy tuổi ở trong đơn vị công binh làm đường. Cháu không có cái may được sống ở rừng Trường Sơn để thấy những cánh rừng bằng phẳng với hàng ngàn cây có độ tuổi hàng ngàn hàng trăm năm với những cơn mưa rồi nắng lên sạch sẽ. Thời gian đó bọn Mỹ đang ngừng ném bom để bàn bạc thương lượng gì đó chỉ biết là công việc giãn ra không phải làm đêm. Tôi đi vào rừng trở về doanh trại thấy có đơn vị tên lửa vừa dừng ở sân. Lính tên lửa ngày ấy giống như các hiệp sĩ trong tâm trí mọi người nhất là bọn con gái. Họ đi tập huấn ở Liên Xô, là những người lính có học điều khiển vũ khí hiện đại sau máy bay Mig. Về nước họ xung trận ngay. Đơn vị này chắc cũng mới về trông mới toanh quần áo còn thẳng nếp. Bộ đội nấu ăn xong tản về các xe. Cảm xúc của một đứa trẻ háo hức cái mới lạ và cảm xúc của thiếu nữ ở độ tuổi yêu đương đang lẫn lộn làm tôi đứng ngồi không yên. Mọi người nghỉ trưa yên ắng... Tôi ngồi nhìn qua cái cửa sổ kết bằng cây nứa và bị hút mắt về phía bên kia cái sân doanh trại mênh mông. Người lính đang vừa đi vừa đọc cái gì trong cuốn sổ tay. Người lính mặc quần xanh đi ủng cao tới đầu gối, chiếc áo capốt của lính Nga khoác hờ trên đôi vai rộng. Chiếc mũ sắt không rộng lắm để lộ khuôn mặt điển trai trẻ măng. Anh ta cứ đi cứ đọc gì đó và nắng lên khu rừng toàn cây săng lẻ cũng như được chiếu rọi những thân cây sáng bừng lên. Cây săng lẻ thân thẳng vút có những chấm loang trên vỏ cây trắng rất giống cây bạch dương mà tôi hay xem trong những phim Nga khi còn đi học. Tim tôi đập như phát cuồng vì hình ảnh người lính trang phục lính Nga đang đi trong rừng bạch dương... Dở hơi không?

- Không! Tường cười thành tiếng. Cô kể đi cũng như cháu kể cô nghe ông tù của cộng sản cháu mới đi thăm đã từng hát to trong nhà tù Mỹ để lên tinh thần cho người tù chính trị hồi nào ấy.

Cái khu rừng ngày ấy mới kỳ lạ, sau này có dịp đi du lịch trở về những vùng ấy tôi chỉ nhìn cây săng lẻ là cây săng lẻ chứ không phải cây bạch dương nữa. Không thể nhìn ra cây bạch dương nữa. Tôi đi theo người lính. Anh ta leo lên một cái xe đã có nhiều người lính ở đó. Họ có cuộc họp. Nhưng đơn vị tên lửa ở lại khu rừng một ngày. Buổi chiều hai đơn vị mời nhau ăn cơm chung. Tôi đã biết tên anh là Nghĩa. Chắc mặt mũi tôi có gì lạ lùng lắm nên anh ta đã đi lại phía mấy đứa con gái công binh ngồi và hỏi chuyện tôi. Những chuyện lính tráng quê đâu trường nào có hay nhận thư nhà không? Sau này em định làm gì. Tôi lí nhí nói không ra hơi vì xúc động. Tôi chưa từng thấy người lính nào đẹp như anh, thông minh như anh. Lúc đó có một khao khát mãnh liệt không dám nói thành lời là được người lính ôm thật chặt một cái như mẹ đã từng ôm mình hồi nhỏ. Nhưng bố ai dám. Cả anh ấy cả tôi giữa cái nhìn khắt khe của một thời dù chiến tranh dù chết chóc cũng chả ai dám làm gì theo ý mình... Suốt đêm hôm ấy nằm cạnh những đứa con gái vô tư đặt mình là ngáy tôi không tài nào ngủ được. Gần sáng thì thiếp đi thật sâu đến khi thức dậy thì nghe tiếng xe xích kéo pháo kéo tên lửa. Trời còn tờ mờ đơn vị chưa ai dậy nhưng đơn vị tên lửa đã hành quân. Tôi không còn thấy anh Nghĩa ở đâu nữa. Tôi chạy như phát cuồng ra phía con đường chính. Chiếc xe kéo pháo sau cùng đã đi. Tôi chân không chưa kịp xỏ giày cứ thế bước lên những lằn xe xích để lại trên mặt đất. Tiếng xe đi xa tim tôi như có ai xé rách. Tôi quay lại sân doanh trại gục đầu vào cái cây săng lẻ gần cổng rồi mím chặt môi mặc cho nước mắt cứ như suối không gì ngăn được. Đó chưa hẳn là tình yêu. Tình cảm gì đó như là nhớ mẹ lúc chiều về. Như là mong người anh trai. Không phải tình yêu nhưng tôi cam đoan lúc đó nếu anh Nghĩa quay trở lại tôi nhất định sẽ ôm chặt lấy cổ anh mà tha hồ khóc chả sợ ai nữa. Nhưng anh Nghĩa không quay trở lại và tôi cũng chẳng gặp anh suốt cuộc chiến tranh suốt cả những tháng năm hậu chiến những năm tháng hỗn độn mù mờ đổi mới, đổi mọi giá trị sau này...

Cho đến cái phiên tòa xử tham nhũng xử một kẻ làm tan rã nhà máy, tình cờ tôi tới dự và nhận ra người lính hơn ba chục năm trước khoác hờ áo capôt đội mũ sắt ủng cao tới đầu gối đi trong rừng bạch dương đầy nắng. Người đã làm cuộc đời tôi chỉ có vài tiếng đồng hồ mà bừng sáng cái ánh sáng lãng mạn của cả một đời... Dĩ nhiên bây giờ anh ta béo ra cái nhìn trẻ trung thời trước đã tắt nhưng kỳ lạ tim tôi vẫn đập lại gần giống cái nhịp đập năm nào hôm đầu tiên tới thăm anh ta. Vẫn biết một kẻ đã từng khai khống đã từng làm giả chứng từ đã từng thản nhiên bỏ túi hàng chục tỉ đồng không còn là của mình nữa nhưng sao lại đau đớn thế lại muốn khóc òa lên như đứa trẻ trong rừng bạch dương ngày ấy...

*

Tường giữ liên lạc với Vân, người đàn bà thế hệ năm X đã có những giây phút cùng Tường sống chậm trên con đường từ trại cải tạo trở về. Có những lúc lạ lùng người ta dễ dàng kể với một người chưa hề quen biết những chuyện không bao giờ và không thể kể với ai. Câu chuyện của Vân có lẽ sẽ không được nói ra nếu không có ngày hôm ấy.

Tường nhận được thư của bố từ trại đầy những hằn học. Thằng Quyền đã làm xong vụ tao bảo chưa? Bảo mẹ mày có thu được thì đừng gửi ngân hàng. Bảo thêm thằng Quyền là xử lý gọn vụ hôm nọ tao dặn đừng để tóe loe ra chết cả nút.

Thư gửi tay người thân tín đọc xong Tường phải đốt ngay. Kể cũng thương ông già thật nhưng ông ấy chỉ có thế, biết làm sao.

Trong quán cà phê người đàn bà trò chuyện với Tường không còn như hôm trên xe nữa. Nhưng có lẽ đây sẽ là người bạn nhỏ mà bà còn kể thêm được rất nhiều chuyện. Ví dụ chuyện này kể cho Tường nghe nhé. Tôi có cô bạn chồng giữ chức trưởng của một cửa khẩu. Hôm qua cô ta chưa ngủ nhìn thấy một người khách của chồng đến rất khuya. Người khách vẫn đội mũ mặc áo khoác trông bí hiểm nói nhỏ với chồng cô ta: Thưa anh xin anh mở cửa biên giới cho em 5 phút. Đúng 5 phút thôi ạ... Hai người thì thào. Khi người khách ra về chồng cô ta xách vào phòng ngủ một va ly nhỏ.

Chuyện ấy không thể là chuyện lãng mạn rồi. Thời chiến tranh chồng cô ta là anh hùng dũng sĩ đấy.

- Vâng - Tường cười - Dĩ nhiên là như thế.

L.M.K
(271/09-11)


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 06 Tháng Chín, 2012, 02:54:42 pm
Tiếng lục lạc

NGUYỄN QUANG LẬP

Quá nửa đời người anh chị mới gặp nhau. Âu đó cũng là chuyện thường tình. Sau hai mươi mốt phát đại bác vang trời báo tin ngày toàn thắng, có hàng ngàn cặp vợ chồng cách biệt hàng chục năm đã tìm lại nhau.

Chồng Bắc vợ Nam, chồng vợ trong ngoài song sắt nhà tù Mỹ - Ngụy, trên rừng d­ưới biển… ôm nhau mừng mừng tủi tủi. Thế là may mắn lắm rồi, còn bao nhiêu cặp vợ chồng cách nhau một thước đất mà gọi hoài có nghe tiếng nhau đâu!

Anh tìm chị ở Nha Trang, không có, ở Phan Thiết không có. Ra Đà Nẵng, mất mười ngày long đong, tất tả ngược xuôi thì gặp chị ở khu tập thể Ban quân quản phường Minh Hiếu. Chị đang đứng giữa sân, tay ômmột đứa bé lên hai. Hình như­ chị đang nói gì với nó.

Anh đứng sững lại ở cổng, ngực nh­ư bị kim châm hỏa đập mạnh. Ngày anh chị xa nhau hai người nào đã có con…

Nhưng anh đã bước lên - từng bước chậm và chắc, “Tiến lên đi, không có gì đáng sợ cả” đó là khẩu hiệu của riêng anh suốt ba mươi sáu năm mặc áo lính. Chị chưa nhận ra anh- “Lại một ông nào đến ban quân quản đề nghị, hợp đồng, trách móc, kiện cáo chi đây”. Anh thấy chị rõ lắm. Chao ôi, chị vẫn trẻ, trắng xanh thế kia.

-Lành! - Anh kêu khẽ.

Chị mở to mắt nhìn. Chị lúng túng đặt đứa bé xuống đất, vừa sửa lại mái tóc vừa nhìn anh chằm chằm. Anh dừng lại, cúi xuống sửa lại quai dép. “Khỉ! Tại sao mình lại làm cái trò này nhỉ?” - Anh ngước lên.

- Ơ! Trời!

Chị nhận ra anh, kêu lên và đứng ôm mặt khóc. Anh chạy bổ tới, dang rộng tay ôm ghì lấy chị. Chị bỗng giật mình đẩy mạnh anh ra. Anh kinh ngạc, ngẩn ngơ… Chị ngẩng lên: “Ơ, chồng mình kia mà, chồng mình đó chớ ai!”. Thì ra đó là phản ứng tự vệ bản năng của chị - hai mươi mốt năm ròng có ai ôm ấp chị đâu!

Chị sà vào ngực anh nấc lên: “Anh ơi!’ Sao lâu…thế?…” Ngày chia tay anh hứa với chị chỉ hai năm là gặp nhau thôi mà…

Anh đưa chị về khu gia binh s­ư đoàn. Anh là đại tá tham mưu trưởng sư­ đoàn. Còn chị, ròng rã hai mươi mốt năm xa anh, chì vẫn là một cấp dưỡng của các binh trạm 17, 26, 34… Tin anh tìm được chị chỉ một ngày sau tất cả cán bộ, chiến sĩ trong sư­ đoàn đều biết đến chúc mừng.

 Sư­ trưởng Hùng, người đã cùng anh chiến đấu mười năm nay, đến chơi liên tục chín mười tối liền ông không giấu diếm tình cảm đặc biệt của mình đối với vợ chồng người cán bộ cấp dưới này. Một lần, ngần ngừ mãi, ông hỏi anh: “Hỏi thực, chị vẫn còn có thể… có con chứ?”. Anh mỉm cười: “Còn anh ạ. Cũng lạ… nhà tôi đã bốn sáu tuổi rồi!”. Sư trưởng nắm hai bả vai anh lắc lắc: “Tốt quá? Tốt quá!”

Chị vẫn còn sinh nở được nhưng yếu sức lắm rồi.

Mư­ời sáu năm ở rừng chị nhiễm bệnh sốt rét kinh niên. Da chị xanh nhọt, tóc rụng nhiều, vàng ợt. Đêm đêm, anh ôm chị vào lòng. Chị lắng tai nghe nhịp tim anh còn khỏe không. Anh cũng đã già rồi, năm nay đã năm bảy tuổi chứ ít đâu.

Rất nhiều lần chị ngước lên, thấy kề sát mình khuôn mặt già nua của anh, những nốt sầncủa tuổi già cùng với mồ hôi cộm lên…Chị ôm anh, sờ thấy da lưng anh trơn khô - những lớp tế bào chết ngày mỗi dày thêm. Chị thở dài, chỉ một năm nữa, nếu anh chị không có con, coi như­ hết. Tuổi sinh nở của phụ nữ mấy ai tới được tuổi năm mươi!

Sáu tháng trôi qua, vẫn chẳng có dấu hiệu gì báo cho anh chị rằng sẽ có một đứa con. Anh mỏi mệt nhìn chị mỏng như­ tờ giấy, ngủ khó nhọc. Một đôi lần: chị kêu chóng mặt, buồn nôn. Và nôn thật. Nôn thốc tháo. Anh cuống lên, nhưng cũng khấp khởi mừng thầm…

-Không phải đâu anh ạ. - Chị buồn rầu nói: - Em đã sáu lần ngộ độc chất độc hóa học của Mỹ thả dạo em còn ở “xanh”, từ đó em vẫn hay bị thế này!

Cổ họng anh nghẹn tắc.

Sư trư­ởng Hùng vẫn đến thăm anh chị thư­ờng xuyên. Ông hay nói về những bài thuốc bắc “kéo dài tuổi trẻ, hạn chế tuổi già”. Ông tự tay đánh xe ra viện 17 mời trung tá bác sĩ Lê Giàu, bạn chiến đấu của ông thời kháng Pháp, một chuyên gia có tiếng về khoa sản, vào khám bệnh cho chị.

Bác sĩ Giàu là một người hiền lành, đa cảm. Nghe sư trưởng kể lại hoàn cảnh của anh chị, ông vui vẻ nhận làm một “bác sĩ riêng” cho chị. Ông tỉ mỉ kê đơn tất cả các loại thuốc có thể có trong thành phố này để chị uống, gia tăng thêm sức khỏe. Anh cầm thư­ giới thiệu và đơn thuốc của bác sĩ đi lùng khắp nơi và kiếm được không thiếu một thứ thuốc gì trong đơn kê, kể cả những thứ thuốc quý hiếm nhất.

Đêm đêm, anh vẫn ôm chị vào lòng. Mỗi đêm trôi qua chị càng thấy sự bất lực của hai người trước hy vọng của mình. Có đêm chị đã để tay lên mũi anh, cố tình đánh thức anh dậy, rồi chị lại nằm ôm anh khóc. Chị đâu nỡ đày đọa anh như­ thế nếu trước khi chia tay anh kịp để lại cho chị một dứa con.

Một đứa con! Thiếu nó mà nỗi nhớ thương xa xót của chị về anh suốt bao nhiêu năm đã tăng lên gấp bội. Những ngày ở rừng, cứ nghe tin có một đoàn cán binh nào sắp đi qua là chị lại thấp thỏm mong chờ. Mong chờ và ngồi khóc với bếp lửa rừng.

Có một lần, dạo chị còn cấp dưỡng ở binh trạm 26, nghe tin anh đang nghỉ chân ở binh trạm 34, chị gói cơm, một mình cắt rừng, đi suốt hai ngày đêm. Đến nơi chị kiệt sức và xỉu đi vì người đàn ông tên Chi đó không phải chồng chị. Anh ấy đã cầm tay chị nói một câu mà chị không thể quên được: “Thôi chị về đi. Vui vẻ mà về chị ạ. Chị cứ coi như­ chị đã gặp anh ấy rồi. Và tôi, tôi cũng coi như­ đã gặp vợ tôi rồi. Chị ơi! Trong chiến tranh đôi khi cũng phải có những giả sử huyễn hoặc như­ thế để mà sống, để mà trụ vững được…”.

Chị về cố gắng níu kéo cái niềm vui “giả sử” ấy để vượt qua 39 cây số rừng. Khu rừng chị đi qua vừa bị chất dốc hóa học dội xuống, lá rừng bắt đầu rụng. Chị chạy sấp ngửa và ngã sấp bên một con suối. Tỉnh dậy, chị gặp ngay ánh mắt người binh trạm trưởng: “Có… gặp không?”. Chị ứa nước mắt, khẽ gật đầu: “Gặp rồi”. Mới đó đã mười một năm… Có lẽ vì chất độc ma quỷ ấy mà chị không có con chăng? Câu hỏi đột ngột ập đến cuối ký ức của chị làm chị bất ngờ ngồi dậy, mồ hôi ướt đẫm.

Nhưng cuối cùng chị đã mơ hồ nhận thấy hạnh phúc đã về với anh chị. Khi đó, chị ngước lên, vẫn khuôn mặt già nua của anh lấm tấm mồ hôi. Chị rơm rớm nước mắt. Tự nhiên chị khẽ rùng mình. Một cảm giác mát rượi chạy từ gót chân lên môi chị. Chị níu anh xuống, hôn đến nghẹt thở và chị òa khóc. Một chút ngơ ngác của anh. Mặc kệ. Chị rúc đầu vào nách anh, mỉm cười.

Hạnh phúc đã thực sự đến với chị. Nhưng chị chưa thông báo cho anh hay. Chị phấp phỏng chờ đợi cho đến khi nó hoàn toàn chắc chắn. Một tháng sau, chị vén áo lên thấy hai núm vú của mình đã chuyển màu tím sẫm. Chị ngắm say sưa bầu vú của chì đang căng dần… lúc đó chị mới nở một nụ cười mãn nguyện.

Chị đ­ổ bệnh, nôn và nhiệt độ tăng cao. Anh phải nghỉ việc một ngày. Trong sự mệt mỏi, nhức nhối của cơn bệnh, chị nhận ra đứa con thân yêu của chị đang thành hình. Đến ngày thứ ba, chị tỉnh dậy, ngồi tựa vào lưng anh thì thầm:

- Em… đã… có… mang…

Anh rú lên, ôm chặt chị, hỏi:

- Có đúng không? Xem nào!

- Xem gì kia? Vô duyên. - Chị đỏ mặt đẩy anh ra. Anh ngượng nghịu ngồi bên, ôm vai chị lắc lắc:

- Đúng thế hả em?

Chị không trả lời, lặng lẽ hôn lên đôi gò má cao gầy của anh. Đêm đó, anh ngồi hút thuốc cho đến sáng, chị giục anh mấy chục lần anh cũng chẳng chịu chợp mắt.


Tiêu đề: Re: Truyện ngắn_Tạp chí Sông Hương
Gửi bởi: hoi_ls trong 06 Tháng Chín, 2012, 02:55:39 pm
…Cuối buổi giao ban hàng ngày, anh quay sang nói với sư­ trưởng:

- Anh Hùng này, vợ tôi… có thai rồi?

Sư­ trưởng Hùng ngửa người ra sau:

- Thế hả? Có chắc không? Anh đã kiểm tra chưa?

Anh cười, gãi đầu:

- Tối biết thế nào mà kiểm tra. Vợ tôi nói thế… chắc đúng. Một tháng năm ngày rồi…

Ông Hùng đưa tay giật giật cổ áo, mỗi lần xúc động ông thường làm thế

-Tốt quá! Tốt quá rồi!

Ông quay sang thông báo “tin mới nhận được trong ngày” cho các sĩ quan dự giao ban

- Tin mới toanh: Đại tá Chi sắp có con!

Mọi người ồ lên. Bắt tay. Bắt tay. Bắt tay. Cười. Cười râm ran. Anh cười… ứa nước mắt.

Ngày sau đó, khu gia binh râm ran chuyện vợ chồng đại tá Chi sắp có con. Vợ các sĩ quan kéo đến chia vui với chị. Chị ngồi lặng lẽ nghe các chị đã có con bày vẽ cho cách giữ gìn thai: ăn thứ gì, kiêng thứ gì đi đứng, ngủ ngáy ra sao. Chị nghe rồi mường tựa thấy đứa con của mình: khôi ngô, bụ bẫm, nó chập chững lần thành gi­ường đi về phía ba nó. Chợt nó kêu: “Pa! Pa!” và vẫy vẫy tay nhờ ba nó dắt qua một quãng khó đi… Tiếng người nói quanh chị nhỏ dần, quyện lại bồng bềnh trôi mơ màng như­ một bản nhạc nhẹ nhàng, êm dịu…

Đêm khuya, khichị đã chợp mắt được một lúc, tỉnh dậy thấy anh đang lục lọi va li riêng của mình. “Tìm gì vào lúc này nhỉ?”. Chị nghiêng người nhìn anh. Anh ngẩng lên, hớn hở:

- Đây rồi!

Anh chìa cho chị xem tấm ảnh của anh thời còn bé:

- Thằng con của chúng ta sẽ giống nh­ư tôi… như thế này.

Chị lườm anh:

- Biết là “thằng” hay “con” mà đã…

Anh ngẩn người “ờ nhỉ! ” rồi cười xòa.

- Nhưng thế nào nó cũng giống tôi.

Tháng sau, tháng sau nữa… Chị bắt đầu đi lại khó khăn. Da chị đã xanh càng tái xanh hơn. Anh tích cực bồi dư­ỡng cho chị. Sư­ trư­ởng Hùng tặng chị một lít lật ong trộn rư­ợu trắng với lòng đỏ trứng gà. Bác sĩ Giàu vẫn thường xuyên đạp xe đến thăm thai cho chị. Chị đang sống trong thời kỳ sung mãn nhất của hạnh phúc thì đột nhiên đổ bệnh. Lần này nặng hơn, đến nỗi sư trưởng Hùng có đêm phải thức trắng với anh ngoài hành lang phòng hồi sức. Bác sĩ Giàu trực tiếp chạy chữa cho chị, ông nhận thấy khát vọng của chị đã trở thành nhiệm vụ khắc nghiệt đối với ông.

Bệnh của chị khá trầm trọng. Không chỉ suy dinh dưỡng thiếu máu vì tuổi già như­ một số ca bệnh thường gặp, chị còn có một căn bệnh đáng sợ hơn, đấy là chất điôxin của chất độc màu da cam đã ngấm toàn thân chị. Tất cả các bảng phân tích hóa nghiệm về chị đã cho ông khẳng định như vậy. Cố nhiên điều này thì ông giấu mọi người ông bình tĩnh chống trả quyết liệt với căn bệnh nguy hiểm của chị. Tin tưởng vào tay nghề của mình, không bao giờ ông mất hy vọng.

Và rồi chị cũng đã khỏi bệnh. Chị ra viện, tuy có yếu hơn, vàng vọt hơn. Khi sắp đến ngày sinh nở hầu nh­ư chị đi lại không vững nữa. Anh dành tất cả thời gian rảnh ở bên chị. Anh trở thành cái nạng chống thực sự của chị. Chị mỗi ngày mỗi mệt nhọc, uể oải hơn nhưng trên nét mặt vẫn không hề giảm đi niềm hân hoan của một phụ nữ đến cuối kỳ sinh nở bỗng nhiên có một đứa con.

Đêm anh vén áo chị lên, ghé tai nghe tiếng đập của con mình. Anh nghe một cách nghiêm túc và kiên nhẫn. Rồi anh nằm xuống, ngó lên cái lục lạc treo ở trần nhà. Cái lục lạc đã theo anh mười bốn năm nay khắp tất cả các chiến trường. Một người bạn chiến đấu trước lúc hy sinh đã trao lại cho anh: “Cứ mỗi lần thắng trận mày lại rung lên cho tao nghe thấy, tao mừng”. Anh dã làm theo lời dặn đó chưa lúc nào quên.

Cái lục lạc làm bằng sừng dê, được chuốt, chạm trổ bằng bàn tay nghệ nhân, mỗi lần rung lên nghe nh­ư tiếng trẻ con cười. Sau ngày toàn thắng nó được treo ở trần nhà. Ngày mai, thằng con anh - không hiểu sao anh cứ nghĩ đó là “thằng” - lớn lên, chỉ cần một tuổi thôi là anh đã giao lại cái lục lạc cho nó rồi. Nó có nghĩa vụ phải giữ gìn cái lục lạc cho hết đời mình. Để khi bố mẹ nó đã yên nghỉ dưới “suối vàng”, mỗi lần thành công được một việc gì, nó phải rung lên cho bố mẹ nó mừng…

Anh lại nhổm dậy, vén áo chị, ghé tai nghe tiếng con mình.

- Thôi mà!- Chị dịu dàng phản đối: - Anh làm phiền con quá.

Anh không chịu:

- Yên nào! Để anh xem con nó có ý kiến gì không?

Chị phì cười. Rồi chị cũng tự nhiên tò mò.

- Nó có “ý kiến” gì không?

Anh ngẩng lên, đáp tỉnh khô:

- Không. Nó nhất trì hoàn toàn. Nhưng tại sao anh lại nghe “te- è, te- è”… hay nó đang thổi kèn?

 Chị đập khẽ vào vai anh:

- Ông già ơi… ma bắt ông đi cho rồi.

Anh cười khà:

- Ngày mai anh sẽ giao cái lục lạc cho nó, nó khỏi cần phải thổi kèn mệt

Và anh ôm hôn chị.

- Lão già này sẽ hỏi vợ cho thằng con lúc nó mười sáu tuổi.

- Lại “thằng”.

Nhất định là “thằng”lão già này đã nằm mơ thấy lão và con lão đến nhà bố vợ nó rồi!

***

Ngày đứa trẻ ra đời đã đến.

Chị run rẩy bước vào phòng hộ sinh. Hai nữ y tá dìu chị từng bước một lên bậc tam cấp. Bác sĩ Giàu đứng chờ ở cửa, ông trực tiếp đỡ đẻ cho chị bởi vì ông biết chắc đây là một ca đẻ khó. Sau lưng chị là anh, sư­ trư­ởng Hùng và gần sáu mư­ơi sĩ quan cùng s­ư đoàn. Họ hồi hộp ngóng theo bóng chị. Bác sĩ Giàu khép cửa, ông giơ tay chào, ra hiệu cho mọi người “cứ yên tâm”.

Một giờ… hai giờ… ba giờ,.. Anh đã uống liền mấy cốc nước đầy. Sư­ trưởng Hùng thỉnh thoảng lại đưa tay rung rung cổ áo. Một vài sĩ quan ghé tai vào khe hở căn phòng chờ nghe tiếng trẻ khóc. Bốn giờ… năm giờ… một nữ y tá mở cửa bước ra, lập tức chị bị giữ lại:

- Ra sao rồi?

- Chị Lành sinh rồi. - Chị y tá mỉm cười, nói run run - Con trai

- A! Hoan hô!

Mọi người nhẩy lên. Sư­ trưởng Hùng ôm lấy anh lắc rất mạnh. Anh quay cuồng trong niềm vui sướng tột độ. Chợt anh nghĩ đến cái lục lạc mà anh nhớ mang theo khi đem chị vào vào viện…

Trong phòng hộ sinh. Chị nằm lịm đi sau khi đã hỏi “trai hay gái” và mỉm cười sung sướng được bác sĩ Giàu cho biết: con chị là con trai. Đứa bé đã được đưa sang phòng hồi sức thai nhi. Người hộ sinh già đang “tắm” cho thai nhi trong bể nước hấp nhiệt. Bác sĩ Giàu đứng dựa vào tủ thuốc thở dốc.

Điều mà ông cố gạt đi trong tiềm thức có lý của ông đã đến… Đứa bé là một con người dị dạng! Chân trái cháu bị bẻ gập ra sau, cứng ngắc. Mặt cháu bị bóp méo đến ghê gớm: mí mắt trái phình ra rất lớn kéo xuống bịt kín toàn bộ gò má. Môi dư­ới cháu cũng phình to, trệ xuống quá cằm.

 Không! Tạo hóa không tàn nhẫn như vậy. Chỉ có chất độc màu da cam đã ngấm với nồng độ rất cao trong cơ thể người đàn bà tội nghiệp kia mới gây ra như­ thế.

Người hộ sinh già làm việc với một thái độ điềm tĩnh kỳ lạ. Tự nhiên ông thấy ghét người hộ sinh kia. Ông cảm thấy bức bối, khó thở:

- Nước! Cho tôi ly nước.

Ông kêu to. Một trợ tá từ phòng trực vội vàng cầm ly nước bước vào. Đi ngang qua đứa bé, chị đứng sững lại giật lùi… Choang! Ly nước vỡ tan tành. Chị ngồi thụp xuống, lặng lẽ ngước lên nhìn bác sĩ Giàu.

Ông không nói gì, khẽ thở dài, đi về phía cửa sổ. Ông mở hé cửa nhìn ra. Ngoài sân, mấy chục người lính đang quay tròn bên bố của đứa bé mới sinh. Anh đang giơ cao cái lục lạc rung rung, nói như­ reo:

- Tôi sẽ hỏi vợ cho nó lúc mười sáu tuổi.

Tiếng lục lạc vang lên, nghe như tiếng trẻ con cười.

Huế, tháng 10 năm 1984
N.Q.L
(12/4-85)