Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Văn học chiến tranh => Tác giả chủ đề:: vmt trong 17 Tháng Tư, 2011, 09:53:34 am



Tiêu đề: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 17 Tháng Tư, 2011, 09:53:34 am
                                   Phái viên bộ tổng
                                        Tác giả :Tô Đức Chiêu

Chiến sĩ Nga là người đầu tiên phát hiện ra tổ trinh sát năm người bị hổ cấu chết bên bờ khe Trai Nai. Họ gồm một tiểu đội trưởng, một chiến sĩ đo đạc, một chiến sĩ phụ trách pháo đối kính, một kế toán pháo binh, một thông tin vô tuyến..
Họ hết lương thực. Nhiệm vụ vẫn đang khẩn trương. Chiến sĩ Nga trẻ tuổi, được phái tới tiếp tế và truyền đạt chỉ thị của đại đội trưởng. Rừng Quảng Trị những ngày đầu mặt trận chưa mở ra, u tịch và hùng vĩ. Theo dấu đường mòn Nga phải tới chân điểm cao 333 gặp tổ trinh sát. Anh hăm hở. Nhưng bồn chồn. Truyền đơn chúng rải trắng rừng. Nào là Thiếu úy đại đội phó Mai Hiền Nhi đã về với chính nghĩa quốc gia. Nào là cha mẹ và vợ con đang trông chờ các bạn từng ngày. Nào là vì sao cụ Phan Nho vui mừng. Rồi vì sao ông Hồ Hữu Ngân hăng hái hoạt động?... Nga hồi hộp. Mỗi đoạn đường đi về phía trước hun hút như rừng tự nhiên khép lại mà chẳng bao giờ chịu mở lối ra. Bom tọa độ rít rợn người. Rồi bom B52. Bom lửa. Bom phá. Pháo bắn cầm canh. Pháo bầy. Trên bầu trời lúc nào cũng có những tốp L.19 lượn lờ chỉ điểm. Nga không thể ngập ngừng. Như người sợ ma bao giờ cũng sẽ bị ma hù dọa. Anh lên đường lúc ấy còn sớm mà giờ này bóng chiều đã lởn vởn trần ai trên những tán cây rừng. Chỗ này tối sầm lại. Chỗ kia nở phình ra. Chập chờn. Ảo ảnh! Sao lại không sợ được nhỉ? Bỗng có tiếng hót vang đồng loạt từ chân bên kia động Be Lao vọng tới. Vượn! Có khi tới hàng trăm con vượn. Rừng Quảng Trị ngày ấy vượn từng đàn, to như con bê, ào ào chuyền từ cành này sang cành khác, rung động cả rừng cây bạt ngàn. Một con, chắc là đầu đàn, hót lên cao vút, hàng chục hàng trăm con khác hót theo, tạo thành dàn hợp xướng hoang sơ hùng vũ, của rừng mà chỉ ở khung cảnh này con người mới được thưởng thức.

Gần chân điểm cao 333 khi bóng mờ sương khói hun hút đuổi theo bờ suối Nga mới tìm được tới khu vực tổ trinh sát trú quân thì thật lạ... dấu chân hổ chi chít. Mới lắm! Anh chờn chợn. Thằng dịch mình còn bắn nó được chứ hổ thì... Nga đưa đạn lên nòng mà tay anh run run. Hổ đuổi qua khe thằng què cũng phải nhẩy. Ở đây phải gọi là tót. Tót sao cho nhanh trước khi con hổ với những móng vuốt kinh khủng và sức mạnh của phi đoàn B.52 lao tới. Và cũng phải chọn cây to để nó không thể nào húc đổ. Mỗi bước đi là một nhận định, một ngó nhìn, một hồi hộp, một lo âu.

Nga nép mình dưới gốc cây to, sẵn sàng bật lên, và hú làm hiệu.

- Tróc! Tróc! Tróc!

Vách núi ngập ngừng trả lại những âm thanh ấy:

- Tróc! Tróc! Tróc!

Anh vòm hai lòng bàn tay che miệng làm loa thổi vào thinh không rờn rợn những tiếng gọi bầy kêu cứu:

- Tắc kè! Tắc kè! Tắc Kè!

Vách núi vẫn trả lại đúng ba tiếng như vậy:

- Tắc kè! Tắc kè! Tắc Kè!

Quái lạ! Chẳng lẽ họ đã di chuyển? Chẳng lẽ họ quá mệt và ngủ khì trên những ngọn cây đề phòng hổ tới? Nhưng phải có người thức cảnh giới chứ? Bỗng anh giật thót mình. Trời ơi! Cành cây rơi chứ đâu có phải tiếng động phát ra từ bước chân của hổ. Vạt rừng trống cháy đỏ hoàng hôn sườn núi bên kia chẳng khác nào nụ cười giễu cợt. Những loạt bom tọa độ nổ vang bên lèn đá Hi Gia cắt ngang mọi suy tưởng khiến Nga vội vã bước đi. Anh hú gọi. Rừng núi vẫn từ chối đáp trả lại tiếng hú gọi của anh rền vang hút theo triền dốc chạy dài. Càng đi càng thấy dấu chân loài dã thú ấy líu ríu với nhau thành từng cặp, từng cụm, như những cái hình bình hành chồng xếp khéo léo. Anh bủn rủn muốn khuỵu hai gối xuống và cô đơn chết lặng giữa rừng đại ngàn.

Trời ơi kìa! Các vị này chắc quá mệt không còn nghe thấy tiếng hú. Lại còn không cử người cảnh giới. Mất cảnh giác thật! Đồng loạt ngủ ngon thế kia giữa chốn bom rơi đạn réo và bộ binh địch có thể từ trên trời bổ xuống bất cứ lúc nào có chết cha người ta không cơ chứ! Năm cái võng thành hình ngũ giác như trụ sở Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ đung đưa giữa những thân cây. Nga hý hóp mừng thầm trong bụng và giận sôi người. Anh tính sẽ thu hết súng lại và hô biệt kích. Nhưng tới gần thì anh choáng váng. Bên cạnh chiếc võng đang tòng teo rúm ró chao đi chao lại là chiến sĩ có lẽ được phân công cảnh giới chết ngồi bên một gốc cây. Người anh rũ xuống. Thân đã tím lại. Súng tiểu liên vẫn dựa bên vai. Hai mắt lồi ra. Mặt rách toác. Quần áo tả tơi. Vết chân hổ cào cấu trên đất quanh chỗ anh ngồi. Chúng đã làm anh chết khiếp và hành hạ thân thể anh. Bốn người còn lại vẫn nằm im trên võng và chết trên võng. Thân thể nát nhừ. Có anh còn bị vặn ngoéo đầu lại phía sau. Ba lô nguyên vẹn. Súng đạn nguyên vẹn. Nga sững sờ. Trái tim như ngừng đập. Rừng sập bóng đen trĩu nặng. Đất trời bỗng dính chặt vào nhau tạo ra tiếng nổ khủng khiếp như thời tiền sử. Anh muốn gào mà không dám gào. Anh muốn khóc mà không dám khóc. Cuối cùng anh hét lên và trân trân chĩa súng bắn hết băng đạn ba mươi viên mà chẳng biết để làm gì. Thế rồi anh co cẳng chạy. Đâm vào cây vào cối cũng cứ chạy. Vừa thở dốc vừa chạy. Đêm ụp xuống cũng cứ chạy. Theo lối mòn đã dẫn anh tới đây mà chạy. Rừng già vô tận. Đêm tối không cùng. Phút chốc anh tưởng thế gian bỗng tan ra để rồi biến mất. Chính những loạt bom tọa độ đã thức tỉnh anh. Lần đầu tiên bom đạn kẻ thù không làm anh sợ mà còn háo hức cho biết anh là sinh linh đang tồn tại. Vậy thì anh phải hành động để thoát khỏi cái chết và về với sự sống.

Tin cả tổ trinh sát pháo binh bị hổ cấu bay vù về mặt trận rồi ngấm ngầm lan tỏa khắp các đơn vị. Những bộ đội làm nhiệm vụ lẻ tẻ trong rừng lo âu. Một phái viên Bộ Tổng tham mưu còn rất trẻ tên là Trang được phái xuống đơn vị pháo. Anh quê Thanh Hóa bên con sông nước phi như ngựa và sống gần bà con dân tộc mường. Nghe chuyện, anh không bình luận gì mà chỉ lẩm nhẩm trong miệng - Đàn hổ ít nhất phải năm con. Có khả năng nhiều hơn. Và chúng phải đồng lọat hành sự vào năm mục tiêu là các chiến sĩ trinh sát. Anh gặp đại đội trưởng. Rồi gặp chính trị viên đại đội. Rồi chiến sĩ Nga được gọi tới kể lại tỉ mỉ những điều mắt thấy.

- Chú mày! - Phái viên Bộ Tổng xưng hô với Nga thân mật - Có phát hiện ra dấu tích của sự vật lộn giữa người và hổ không?

Nga ngửa cổ lên trời ngẩn ngơ như rơi vào thinh không bao la:

- Em không để ý. Lúc ấy đã nhá nhem tối. Và anh bỏ qua em mới dám nói, thú thực em có phần nào mất bình tĩnh.

Phái viên xoa xoa hai bàn tay vào nhau:

- Không sao! Không sao! Cái sự đột ngột thế này có khi ai gặp cũng dễ mất bình tĩnh. Chính anh cũng đang rất lấy làm băn khoăn.

Rồi đột nhiên anh hất mặt lên và chớp mắt loang loáng nhìn Nga hỏi tiếp:

- Chú mày nhớ đường chứ?

Cái miệng Nga vắt vẻo chỉ kịp nhếch có một bên mép:

- Chắc là em nhớ. Nhưng để làm gì ạ?

Hàng mi phái viên cụp xuống. Anh nhìn vào một điểm vô hình thăm thẳm trong rừng đại ngàn:

- Để làm gì thì chú mày sẽ biết sau. Ngay bây giờ, đeo súng AK vào, đưa anh đi. Chúng ta sẽ tới nơi năm chiến sĩ hy sinh do hổ là kẻ thù gây ra tội ác.

Nga hơi ngán. Anh đã quay lại đây cùng tổ làm chính ách đưa thi hài liệt sĩ về phía sau chôn cất. Lần này là thứ ba. Mà bộ đội vào chiến trường đánh nhau với Mỹ hay đánh nhau với hổ đây? Dường như ngay chính trị viên đại đội cũng không khoái cử Nga đi theo phái viên. Hay là vị này muốn xa phía trước và gần phía sau hơn? - Anh lầm lũi đi trước dẫn đường, đôi mắt soi mói và cảnh giác. Phái viên đi phía sau chẳng nói chẳng ràng, thỉnh thoảng dừng lại nhìn đây đó làm chiến sĩ phải đợi. Nhiều lúc sốt ruột, nét mặt Nga trở nên nhăn nhó:

- Anh tìm gì ạ. Chẳng có mìn đâu.

Phái viên Bộ Tổng khoát tay ra chiều khẳng định:

- Đừng có tò mò quá, chú mày.

- Nhưng anh tìm dấu chân hổ à?

- Cũng có thể là như vậy.

Chiếc L19 sà xuống cánh rừng và tiếng loa rõ to bật vang. Cái giọng trọ trẹ nhát gừng từ phía trên rọi xuống: Hỡi các bạn cán binh bộ đội Bắc Việt... Hãy noi gương thiếu úy Mai Hiền Nhi... Vị phái viên chẳng để ý đến tiếng loa mà mải miết với những dấu chân trên đất còn Nga thì sốt ruột và chăm chú cảnh giới. Đến nơi tổ trinh sát pháo binh đi vào giấc ngủ vĩnh hằng phái viên quan sát từng dấu chân xem độ nhỏ to giống nhau hay khác nhau và từng cụm dấu chân như đếm sạn trong ra gạo. Rồi kéo Nga đi rộng tới những nơi bỗng dưng biên mất hẳn dấu chân hổ.

Họ ngồi ngủ dưới chân cây lim già. Phái viên Trang trầm tư lặng lẽ một lát rồi đứng lên, chậm rãi đi đi lại lại và dầu cây gậy chống cầm tay gõ nhịp vào bất cứ chỗ nào thuận tiện. Giọng anh dí dỏm và khêu gợi:

- Hổ ấy mà! - Vừa rồi đã xài hai con lợn quý giá của bếp anh nuôi mặt trận. Đêm đầu nó lùa tay vào chuồng bắt một con. Anh nuôi không hiểu sao cứ kiểm điểm hoài. Đêm hôm sau nó lại tới xài con nữa. Mình nghe tin xuống xem và làm cho một cái bẫy. Trò này mình học hồi nhỏ từ một ông già người Mường vùng Ngọc Lạc. Hồi lại tới. Quen mui lùa tay trước vào chồng. Đàn lợn hồn xiêu phách lạc im thin thít như thịt nấu đông. Lập tức dây bẫy bị tay hổ quờ phải kéo theo cò súng làm toàn bộ băng đạn bay ra khỏi nòng. Có tới bảy viên găm vào anh chàng trộm lợn tới mức siêu việt này.

Nga còn chưa hiểu ý định của phái viên thì anh Trang đưa ra câu hỏi:

- Hả? Chú mày đọc sách báo đã thấy nói hổ dữ đi hàng đàn tìm mồi bao giờ chưa? Ta có đầy đủ cơ sở khả nghi đây không phải là hổ. Ta cho rằng bãi tranh đang cháy đỏ hoàng hôn sườn núi bên kia trực thăng đã hạ cánh.

Nga nhìn theo ngón chỉ của phái viên trong lòng rộn rã bao ý nghĩ mới mẻ.  Và điều bất ngờ hơn đối với anh là đúng nơi ấy có dấu trực thăng đỗ xuống. Không thể khác được rồi! - Vị phái viên Bộ Tổng nói ngay - Máy bay trực thăng đã chở tiểu đội thám báo tới đây. Chúng tiếp cận mục tiêu tấn công và thay lốt người bằng lốt hổ. Ý đồ tâm lý của hành động đã có hiệu quả. Ghê thật! Mỹ có khác - Anh hạ một câu như vậy để kết luận cuộc khảo cứu của mình.

Những cánh quân trùng trùng ngấp nghé các cửa rừng. Gần chục tiểu đoàn mỹ và ngụy đã nhảy xuống vùng Cù Đinh - Baze ngăn chặn. Chúng tràn ngập trên các điểm cao quanh những bãi trống. Chúng chiếm khu vực Phù Tân ấp, suối La La, lèn 216, lèn Hi Gia, làng Tre, điểm ba trăm đất, điểm ba trăm đá. Rồi bộ binh ta áp sát các mục tiêu đã được chuẩn bị. Pháo cối một trăm hai mươi ly không tập trung đánh tiểu đoàn mà phân ra từng trận địa đại đội sẵn sàng chi viện cho bộ binh tiêu diệt địch ngoài công sự. Sở trường của bộ đội ta là đánh đêm! - Nghe tuyên bố như vậy phái viên Trang chỉ im lặng. Anh xin phép mặt trận cho tập kích hỏa lực vài trận thí điểm. Có trận nổ súng vào lúc gần sáng và sau đó trinh sát tiếp cận kiểm tra kết quả trận đánh. Không thấy xác địch. Cũng không thấy dấu tích thương vong. Chỉ có những điểm đạn nổ rất chụm, chuẩn xác và đồ hộp đủ các loại.

Chẳng hiểu Nga thấy mến vị phái viên Bộ Tổng này từ lúc nào tuy rằng có phần e dè anh. Chính Nga đã chứng kiến phút gặp gỡ khi phái viên từ chân điểm 333 trở về. Chính trị viên đại đội nhếch mép cười rất ý vị:  Sao! Ông bắt được hổ chứ? - Anh Trang biết mình bị giễu nhưng vẫn điểm tĩnh coi như chẳng có gì phải để ý. Anh từ tốn giải thích: Làm gì có hổ? Biệt kích Mỹ đội lốt hổ đó ông ạ. Xem ra bọn này cũng quỷ quái thật! - Chính trị viên lờ chuyện hổ đi mà xen vào- Bom pháo đủ loại đánh nát cánh rừng như ông đã thấy đấy. Nhưng bộ đội ta kinh hơn nhiều. Họ rất vững vàng ông ạ.


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 17 Tháng Tư, 2011, 09:57:31 am
                        Tiếp theo
 
Tới đây vị chính trị viên cười rất tươi. Anh ngừng nhưng Nga biết ẩn dụ phía sau lời nói ấy. Cái ngầm ý sâu sa là như thế này: Chính tôi (chính trị viên đại đội) đã xông xáo có mặt bên từng chiến sĩ lúc nguy nan nhất, nhẩy lên khỏi hầm ngăn chặn mấy anh bị đánh ác liệt quá sinh ra dao động: Nằm xuống! - Tôi đã hét lên như vậy tới khản hơi kiệt sức - không được rời vị trí chiến đấu! Tôi đã khẳng định niềm tin cho anh em và trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm chứ đâu có nhởn nhơ đi tìm vết tích của hổ.

Phải chăng dưới con mắt của chính trị viên, anh Trang chỉ là công tử. Sĩ quan tổng hành dinh! Thành phần lớp trên. Nghe nói giàu lắm. Các cụ ngày xưa có trang ấp kia mà! Nhất là khi mỗi sớm tuồn khỏi căn hầm đất tiu hỉu phái viên lấy lược chải đầu thì thế nào chính trị viên cũng lặng lẽ nhìn để rồi nguýt dài một cái. Nga băn khoăn về sự đánh giá không công bằng của chính trị viên. Nga thấy ở anh Trang sự có học và hiểu biết rộng rãi. Ấy vậy nhưng Nga để ý thấy không khi nào chính trị viên đại đội chính thức mời anh nói chuyện. Những khi các cán bộ chính trị giảng bài về đường lối, về lập trường, về xu hướng thời đại với những tính tất yếu gì đó anh vẫn nghiêm chỉnh ngồi nghe. Khi chiến sĩ hỏi chính trị viên đại đội: Thủ đô Lơ ke ở đâu và của nước nào? Vị chính trị viên đại đội đầy tự tin khẳng định: ở bên Tây và của nước Pháp! Có chiến sĩ bật cười. Nhưng anh Trang thì im như là không nghe thấy.

Một buổi sáng mùa thu gió lặng nắng vàng. Chiến sĩ Nga chui từ căn hầm ra vươn vai một cái rõ dài và bất ngờ kêu lên thèm khát: Chao ôi! Giống buổi sáng đến trường ghê quá. Anh thấy đôi mắt phái viên Trang mở rất to nhìn mình xa xăm lưu luyến.  Phái viên như muốn nói một câu gì đó với chiến sĩ. Nhưng rồi im lặng và đăm đăm hướng vào chốn vô hình. Từ đài quan sát đại đội trưởng điện xuống có tốp máy bay lên thẳng là là bay đứng trên mặt sông Cam Lộ. Sao? Sao lại là là trên mặt sông Cam Lộ? A! Chúng nhất bổng lên rồi. Ơ kìa! Chuẩn bị! Chuẩn bị! Lèn Hi Gia! Tọa độ... Đạn... Ngòi... Liều... ơ kìa! Chúng nó tắm. Lính Mỹ tắm! Chúng tồng ngồng từ trong lèn chạy ra, trắng có, đen có, như ngan như vịt đủ màu kỳ cọ dưới mưa phun của máy bay lên thẳng. Bắn! Bắn gấp! Tạm dừng! Lính Mỹ đã ồ ạt chạy cả vào trong lèn.

Vào thời điểm địch dàn quân ra khắp vùng Cù Đinh và hết sức ca lên việc thiếu úy Mai Hiền Nhi đầu hàng thì phái viên Trang được gọi về sở chỉ huy mặt trận. Chuyện hổ báo người ta cũng nhanh chóng quên đi như trời đã sáng chẳng còn sợ ma nữa. Mặt trận yêu cầu các phái viên từ Bộ vào, và của chính mặt trận cử xuống, nhanh chóng rút kinh nghiệm ban đầu để tìm cách bẻ gẫy cuộc hành quân Haxtin rầm rầm rộ rộ.

Hang núi thẳm sâu trong rừng đại ngàn. Điện sáng trưng. Không có bom đạn hoặc bất cứ thứ biệt kích thám báo nào mò được tới đây. Vị Tư lệnh vừa từ đài quan sát tiền duyên trên điểm cao 425 trở về ngồi ở trước bàn ghép bằng những thanh nữa đặt mấy chiếc máy điện thoại. Chuông reo. Ông cầm máy và cất giọng chắc nịch:

- Thu Bồn không tiêu diệt được mấy đơn vị Mỹ này thì có tội với đồng bào miền Nam ruột thịt! Tôi nhắc lại là có tội với đồng bào miền Nam ruột thịt! - Ông định đặt máy lại áp vào tai gọi tiếp - Hả? Vồ hụt à? Cho đơn vị rút kinh nghiệm. Rút kinh nghiệm ngay! Hổ vồ mồi mà vồ hụt thì còn ra cái thể thống gì nữa!

Tư lệnh ngồi chững chạc đầy vẻ oai phong. Nếu chỉ thấy trong tư thế đang hiển diện ta dễ đánh giá ông là con người bệ vệ, xa cách. Nhưng chính Trang đã gặp ông bên suối Cù Đinh, chính Trang đã cùng ông nhào vào một khe đã khi bom B52 chụp xuống nên hiểu ông là người thế nào. Anh giơ tay chào và ngồi vào vị trí. Đánh loáng, các hàng ghế đã chật người. Không cần tuyên bố lý do, không cần báo cáo theo nghi thức, Tư lệnh đặt máy và vào đề luôn:

- Lần đầu tiên chúng ta chạm trán với lính thủy đánh bộ Mỹ. Mỗi người trong chúng ta cũng như quân khu và mặt trận đều chưa có kinh nghiệm. Mọi bài bản huấn luyện ở hậu phương phải được áp dụng linh hoạt và không máy móc. Các đơn vị của Thu Bồn có pháo cối hạng nặng và sơn pháo bẩy nhăm ly chi viện đã mấy lần chộp hụt những đại đội Mỹ. Hồ vồ mồi như thế được chăng? Thế là thế nào? Kẻ thù với đội quân ngàn ngàn và bom đạn trung lai bất tận đang hung hăng tìm diệt và bình định mà ta lại định thu lu chui vào ba chân kiềng sao? Hả các đồng chí?

Và ông ngồi nghe. Lặng im để nghe. Không cắt ngang lời một người nào. Nhưng bất cứ ai dài dòng lặp đi lặp lại một nội dung thì ông nhắc ngay. Phái viên Trang trình bày ý kiến của mình. Sở trường đánh đêm từ thời chống Pháp vẫn làm ta đắm say song phải biết áp dụng sao cho phù hợp vì đối tượng tác chiến hôm nay là chú Sam ghê gớm chứ đâu phải anh gà trống Gô loa dạo nọ.

- Thưa thủ trưởng mặt trận! - Trang nói - Năm chiến sĩ của tổ trinh sát pháo binh bị hổ vồ như ta đã biết. Mới đây lại một chiến sĩ tình cờ thoát khỏi nanh vuốt của hổ. Đồi tranh. Chiến sĩ ra suối lấy nước. Nghe tiếng sột soạt khe khẽ anh cảnh giác ngồi thụp xuống đúng lúc con hổ phóng vút phía trên đầu. Chỉ phần ngàn của giây chậm trễ chắc chắn mặt chiến sĩ sẽ bay vèo. Loài hổi vồ hụt là biến. Thời cơ chiến đấu thắng kẻ địch để bảo vệ mình khắt khe là vậy. Nhanh một giấy không được. Chậm một giây không xong. Còn cái thế kiềng ba chân theo tôi chỉ là biện pháp chiến thuật nhất thời bởi nó mang tính phòng thủ thụ động.

Mắt Tư lệnh sáng lên:

- Vậy với pháo binh thì sao?

- Vẫn phải áp dụng thế hổ vồ mồi. Chi viện cho bộ binh đánh địch ngoài công sự hay độc lập tập kích vào sinh lực lộ cũng như vậy cả.

- Đồng chí phái viên! - tư lệnh mặt trận cao giọng. Ông hơi nhướng người về phía trước làm cho cái đầu cắt cua hùng dũng chẳng khác nào khối thuốc nổ sắp được châm ngòi - Liệu có nên đặt ra giả thiết địch là hổ và ta là mồi không?

 Trang điềm tĩnh báo cáo:

- Sự ấy đã xảy ra rồi, Thưa Tư lệnh. Ta mạnh. Và địch cũng mạnh. Năm chiến sĩ pháo binh địch cấu nát chẳng là báo hiệu hổ vồ mồi đó ư. Nếu ta không là hổ thì  dứt khoát sẽ biến thành mồi. Nếu kiền ba chân cứ tưởng là vững mà án binh bất động thì sẽ là mồi. Sẽ bị đớp gọn từng chân kiềng một hoặc cả ba chân cùng một lúc!

- Cám ơn đồng chí! - Tư lệnh hạ thấp giọng và ngồi xuống ở tư thế cũ.

Phái viên Trang cẩn trọng lắng nghe mọi ý kiến phát biểu và đặc biệt kết luận của Tư lệnh mặt trận. Anh đề nghị được tiếp tục gắn bó với đơn vị. Mây trắng bồng bềnh và anh muốn bay cao để nhìn ra xa tít tới cả vùng đồng bằng ven biển miền Trung rực rỡ ánh nắng mặt trời. Anh trở về với đơn vị hỏa lực. Chiến sĩ nghênh đón khi anh nhanh nhanh bước tới với mũ tai bèo đội lệch, túi 351 kềnh kệch bên sườn, cây gậy nhỏ cầm tay vừa để chống vừa vung vẩy vào không khí như lấy đà khua khoắng. Riêng Nga chỉ nhành miệng ra cười và xoe xoe hai mắt ngắm nhìn. Bốn khẩu pháo cối hạng nặng một trăm hai mươi ly dàn đội hình dưới chân điểm cao không tên chờ đánh tập kích vào bất cứ đơn vị lính thủy đánh bộ Mỹ nào nống ra khu vực đồi Con Thỏ bên kia tràng rộng Baze. Cuộc hội ngộ chẳng vui sướng gì giữa ta và địch được chọn là vào sáng sớm hoặc chiều về chạng vạng khi địch vừa đổ quân xuống hoặc thực hành bốc quân đi.

Lính Mỹ chơi sáng hơn cả các chàng công tử Bạc Liêu một thời cưỡi xe song mã. Máy bay ném bom hoặc pháo bắn cấp tập dọn bãi sạch tưng. Rồi rùng rùng máy bay trực thăng chở các chàng đáp xuống. Rồi co cụm lại hoặc đánh nống ra vùng chung quanh. Chiều đến ít khi đón về điểm cao ban đầu và đó là điều làm bao lần ta đã tập kích vào chỗ không người. Chúng có thể dùng trực thăng bốc đi. Rất bất ngờ. Rất nhanh chóng. Nhưng cũng có thể co về, hành động như vừa nấp sau màn sương khói mơ màng vừa phới lới bày ra trước mặt, nhận đạn dược, thực phẩm, thuốc men, đầy đủ, chi lý đến cả gói giấy vệ sinh và nước rửa, rồi đốt lửa, để đêm chìm xuống, luồn rất tài tình vào bóng đen sâu hút dành cho đối phương một mục tiêu không người.

Cuộc chiến ở Cù Đinh - Baze những ngày năm 1966 ấy hai bên chờn vờn nhau cứ như mèo và chuột. Lúc bên này là mèo thì bên kia là chuột. ở chỗ nọ bên này là chuột thì bên kia là mèo. Đôi khi cả hai đều là hổ, gầm gừ, nhe nanh, giơ vuốt, chẳng hiểu anh nào sẽ chộp được anh nào. Núi rừng nghiêng ngả. Cây cối bị tiện ngang. Từng đàn vượn mấy trăm con ào ào rừng cây cành lá biến đâu mất tăm. Tiếng hót của chúng chẳng còn vang vọng từ bên kia dãy Tia Pông đội về. Hổ cũng mất hút. Suốt ngày đêm rùng rùng chuyển động. Trường Sơn nghiêng ngửa. Trường Sơn bùng cháy. Trường Sơn oằn mình lấy sức như sắp đổ ụp xuống đồng bằng.

Tin từ mặt trận ngày mai địch sẽ đổ quân lần thứ hai xuống dãy đồi Con Thỏ bên kia tràng rộng Baze. Nhưng mỏm nào? Dãy đồi ấy có rất nhiều mỏm? Khó mà biết trước cụ thể mỏm nào vì ngay cả dự báo kia mới là phán đoán. Suốt đêm đó đài quan sát pháo binh do đại đội trưởng Xuân phụ trách thay nhau theo dõi mọi diễn biến. Từ Cam Lộ, từ 241, pháo địch vẫn bắn từng loạt động rồ tới các mỏm của đồi Con Thỏ. Chẳng có gì gọi là đặc biệt. Mờ sáng pháo địch bất ngờ như lên cơn sốt ác tính bắn cấp tập vào mỏm K và mỏm H. Rồi máy bay phản lực chúi xuống cắt bom. rồi từng đàn trực thăng chở quân khuấy động bầu trời. Đất xoay tròn. Núi đồi nghiêng ngả. Bốn khẩu pháo cối hạng nặng thập thình nhả đạn tìm điểm chạm rồi khi có phần tử chuẩn xác thì thi nhau tung đạn như muốn khợp lấy bầu trời đầy lửa. Hổ đang vồ mồi! Lính Mỹ lập tức đổ sang những mỏm đồi bên cạnh. Pháo cối chuyển làn. Đạn nổi găm những mảnh gang là là trên đất. Trận đánh diễn ra chừng ba mươi phút đồng hồ. Sở chỉ huy mặt trận điện xuống yêu cầu đại đội cử tổ trinh sát tới các mỏm K và H của đồi Con Thỏ, kiểm chứng kết quả bắn pháo của ta và xem xét mức độ thương vong của địch.

Phái viên Bộ tổng xin được đảm nhiệm tổ trinh sát này. Các cán bộ đại đội tròn mắt nhìn nhau. Chính trị viên bước đi bước lại trước căn hầm nhỏ. Anh người thấp. Đầu cứ hơi cúi xuống khoái trá đếm từng bước chân trên đất để rồi thỉnh thoảng mủm mỉm cười ruồi. Đôi lần anh đứng hẳn lại bập bạp đôi môi vào không khí ắt hẳn muốn hỏi bầu trời: Có nên đồng ý không nhỉ? Có gì lạ lùng ở chuyện này không nhỉ? Chơi trọi chăng? Và cái gương mặt viên thiếu úy chợt choài mang tên Mai Hiền Nhi ra hàng chẳng lẽ không phải là bài học cho ta hay sao? Phái viên Bộ Tổng có trình độ đấy, được anh em đơn vị mến yêu đấy, nhưng lại không phải thành phần cơ bản để ta hoàn toàn yên tâm. Gia đình anh có trang ấp kia mà! Vậy thì ghê gớm quá. Anh tư như mây trời lơ lửng biết đâu lại chỉ thích vù vù lượn theo chiều gió. Ngay cả chiến sĩ Nga cũng hiểu rõ điều này. Khi nhập ngũ anh đã phải kê khai thành phần gì, bố mẹ, ông bà, cụ kỵ, cả đến những người thân chưa bao giờ anh biết mặt và gặp gỡ, có bao nhiêu tài sản. Anh hiểu chính trị viên đại đội của mình là con người dũng cảm, khí phách hiên ngang, nhưng rất kị với những ai thuộc tầng lớp cứ bồng bềnh chiều mây lảng bảng. Nga hơi mủi lòng thay cho phái viên Trang. Dường như anh Trang nắm bắt được những làn sóng ngầm xô nhẹ ấy song không tỏ thái độ gì.


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 17 Tháng Tư, 2011, 10:00:33 am
                       Tiếp theo :
 Vào chốn hy sinh âu cũng chẳng được dễ dàng!

Mặt trận điện xuống đồng ý để anh Trang đi.

Nghe đâu phải có ý kiến của Tư lệnh.

Chính trị viên đại đội không cử Nga mà lại gọi chiến sĩ Hoàng tới giao nhiệm vụ:

- Đồng chí đi với phái viên Bộ Tổng.

Hoàng nhăn mặt lại như bát canh quá nhiều lá bứa:

- Tôi sẵn sàng ạ. Nhưng sao không phải Nga? Nga vẫn đi với phái viên kia mà.  Sao lại là tôi?

Chính trị viên hất chiếc mũ tai bèo đang đội đầu về phía sau rồi nở nụ cười phơ lớ:

- Là đồng chí! Nhiệm vụ nặng nề. Tổ có ba người. Phái viên Trang, đồng chí và một chiến sĩ vô tuyến mang theo máy 2W. Phải liên lạc vê theo quy định. Phải luôn luôn lắng nghe chỉ thị. Có tình hình nguy cấp phải báo cáo và mở máy liên tục. Đồng chí phải hiểu vì sao mình được chọn.

Hoàng đánh mặt làm cho cái mũi nhòn nhọn vắt vẻo như mũi tây hếch lên và miệng nhanh nhanh đáp gọn:

- Rõ!

Chính trị viên bỗng kéo mũ tai bèo trùm kín đầu:

- Chưa. Đồng chí chưa rõ hẳn. Đồng chí thành phần gì nhỉ? Nghĩa là bố mẹ, ông bà, cụ kỵ ấy mà.

- Bố mẹ em bần nông!

- Đấy. Còn ông nội đồng chí?

- Cũng bần nông.

- Đấy! Như thế chứ. Còn cụ kỵ chắc đồng chí chả biết. - Rồi xòe hai bàn tay ra nói tiếp - Chính vì vậy mà cử đi làm nhiệm vụ hôm nay. Phải quan sát mọi cử chỉ, mọi hành động vì tới đồi Con Thỏ cũng là lọt vào trong vòng của địch. Máy bay chở quân của chúng có thể hạ xuống bất cứ lúc nào. Một cán bộ có thể thông minh và vững vàng khi chỉ huy trên bản đồ tác chiến, thậm chí khi đi tìm vết chân hổ, nhưng trước tình huống hiểm nghèo lại chưa được thử thách để mà khẳng định. Lại càng chưa biết được sẽ như thế nào trước mọi sự cám dỗ... Thiếu úy đại đội phó Mai Hiền Nhi là bài học đau đớn cho chúng ta.

Tới đây người chậm hiểu nhất cũng rõ chứ đừng nói đến Hoàng. Anh nhảy nhót với chiếc ba lô cắm đầy ngụy trang và tiểu liên AK trước ngực. Từ các dẻo yên ngựa và sườn dốc khu đồi Không Tên xuống đã là suối Cù Đinh. Ngược về phía bắc đi nữa, đi nữa, tốp người đổ bóng trên tràng rộng Baze. Cỏ hoa chạy dài nhức mắt. Những vùng bị cháy đen xạm hoặc đỏ cạch khói vẫn nghi ngút bốc lên làm cho mặt đất mênh mông như tấm da báo căng mãi không biết đâu là bến là bờ. Chỗ này chỗ kia lửa ngùn ngụt lè ra liếm vào bầu trời sền sệt vàng cong nắng quái. Những bông lau còn sót lại tạo thành lớp bụi phấn màu bàng bạc trôi tít tới chân rừng. Các mỏm đồi Con Thỏ nối nhau như thiên nga rã cánh nhập vào với đàn khác ở An Hòa, ở Bái Sơn trùng trùng quẫy cựa dưới tro tàn và khói bom ảm đạm. Lúc nằm. Lúc chạy. Lúc ẩn mình bên khe đá hoặc các bụi sim mua. Lúc tưởng bị địch tóm gọn. Truyền đơn có ảnh Mai Hiền Nhi đang vui cười được rải dầy đặc. Có truyền đơn chúng vẽ người chiến sĩ giải phóng hai tay giơ cao, mũi súng chúi xuống đất với dòng chữ kêu gọi: Các bạn hãy tỏ thiện chí trở về                                                                                                                     chính nghĩa quốc gia bằng hành động như thế này và nếu như chưa có dịp thì hãy cứ giữ lấy tờ giấy có trong tay bạn làm căn cước. Hoàng thấy phái viên Trang chẳng nói chẳng rằng xé vụn tờ truyền đơn ném về phía trước.

Nga ở lại trận địa lòng dạ bâng khuâng: Bỗng anh nhớ phái viên Trang. Con người ấy đâu phải là bẻm mép. Trận địa bị đánh tơi tả suốt mấy ngày liền. Cây cối đổ ngổn ngang. Bỗng ào ào... ào ào... Đàn vượn không hót mà chuyền cành chạy trốn rất nhanh trong nỗi kinh hoàng. Một con bỗng rơi bịch xuống đất. Nó lăn quay hai ba vòng liền. Dường như nói bị hơi ép của bom hay có miểng nào găm vào trong người cũng chẳng biết nữa. Nó gắng gượng rồi ngồi xệp trên mặt đồi như là lấy sức. Nó quay lại nhìn! Nó nào có nghe. Anh chạy tới định bế lấy, nó liền chồm theo đồng bọn. Một con khác to lớn chẳng hiểu có phải đầu đàn hay không chạy lại đón nó, đỡ lấy một bên vai của nó, nhập vào với cả đàn tiếp tục ào ào... ào ào... trên những tán lá rừng còn sót lại.

Cả trận điạ quan tâm theo dõi bước chân của tổ chiến sĩ đi vào khu đồi Con Thỏ. Liên lạc vô tuyến mười lăm phút một lần. Quá trưa họ đến điểm cao H. Mọi kết quả kiểm tra được thông báo về. Đạn ta nổ rất chụm. Không còn một xác lính Mỹ nào. Nhưng dấu tích thương vong thì nhiều. Vết máu. Bông băng. Cả bộ phận nào đó của cơ thể. Mọi người hiểu rằng lính thủy đánh bộ Mỹ chiến đấu theo điều lệnh khá bài bản. Hầm cá nhân ưỡn cong dưới nắng. Không sâu. Nếu trụ lại có thể mắc võng nằm ngửa liu riu thõng thẹo theo chiều dài căn hầm. Súng gác chéo trước ngực. Bị hỏa lực tập kích chỉ cần ôm súng lăn nhào xuống là kín người. Bị bộ binh ập tới chỉ cần bật dậy là tha hồ xả đạn. Quanh mỗi công sự cá nhân là cả một chạn thức ăn phong phú. Hộp trứng. Hộp phomát. Hộp mứt hoa quả. Hộp lạc. Hộp rau. Cà phê tan và cồn đun nước pha tại chỗ. Nước rửa mặt. Giấy vệ sinh... Vô tuyến báo về vị phái viên Bộ Tổng nhanh chóng nhặt những đồ ăn lạ lùng ấy cho vào bo lô nên hai chiến sĩ kia cũng thoăn thoắt làm theo. Họ vừa chuẩn bị lui thì pháo địch rót tới. Rồi một đàn máy bay chở quân xuất hiện. Chúng muốn chiếm dẻo đồi Con Thỏ lần thứ ba. Rõ ràng đối phương toan tính ngăn chặn dòng thác bộ binh ta tràn qua ép vào vùng phía tây huyện Gio Linh.

Phái viên Trang kéo cả tổ nép mình bên một cụm sim mua già. Không được lộ! - Anh ra lệnh khi thấy chiến sĩ Hoàng giơ tiểu liên lăm lăm - Nhưng địch chụp lên đầu? Chưa! chúng còn chưa... Chúng chưa chụp... Hoàng lại giơ súng lên. Đôi mắt phái viên Trang vằn đỏ - Cấm! Tôi là người chỉ huy ở đây. Cấm manh động - Không được để kẻ thù phát hiện. Phải giữ bí mật đến cùng và tìm lối thoát.

Mất liên lạc. Cả đài quan sát vào trận địa thấy rõ máy bay chở quân hạ xuống. Có chuyện rồi! Chính trị viên bồn chồn ngồi lặng trên khúc cây đổ ngang phía sau trận đại. Anh kéo sụp vành mũ tai bèo xuống như tàu lá môn thục bị héo. Nghe chiến sĩ thông tin báo có những âm thanh lạo xạo từ phía đồi Con thỏ gọi về máy bộ đàm vừa liên lạc được anh lao tới thộp lấy ống nghe và gọi rối rít: Hả? Hả? Bến Hải đâu? Bến Hải đâu? Bỗng giữa những âm thanh loạn xạ trùng lai ấy vang lên giọng của chính phái viên Bộ Tổng:

- Tọa độ H!

Chính trị viên bật người như chiếc lò so cực mạnh:

- Hả? Sao lại tọa độ H?

Tiếng vọng từ phía đồi Con Thỏ hổn hển gấp gáp:

- Chúng đổ quân xuống rồi! Chúng đổ quân xuống rồi. H!

ấy là phút giây ba chiến trực thăng chở quân hạ hẳn. Rồi một chiếc khác nhất bổng lên từ từ hạ trên đầu ba chiến sĩ. Cái bụng nó lỳ lỳ gớm ghiếc. Cửa máy bay mở. Nhạc nổi lên. Tiếng gọi chiêu hồi vọng xuống. Máy bay thấp dần tưởng như sức gió hút bật ba chiến sĩ dính vào thân dưới của nó. Bỗng một thang dây tung ra vắt vẻo và tiếng gọi chua chát: Lên đi các bạn Bắc Việt! Tức thì khẩu súng ngắn trong tay phái viên nổi đanh hai viên đạn. Máy bay bật lên cao. Rõ ràng chúng muốn bắt sống nhưng không dám hạ hẳn xuống. Lính Mỹ trên mặt đồi khép chặt vòng vây. Tổ ba người còn rất ít đạn đang bắn phát một như bình tĩnh đếm từng bước chân trên đường đến cõi vĩnh Hằng. Một lần nữa Trang lại trực tiếp gọi vào máy:

- H!

Anh không thể nói gọn hơn được nữa. Đạn pháo cối ta chụp xuống. Lính Mỹ ào ra bốn phía. Lệnh bắn gấp liên tục. Nga vừa nạp đạn vừa giàn giụa nước mắt nức nở khóc một mình. May mà khói bụi mù mịt chẳng ai phát hiện ra. Trận đánh ngừng và sau đó Hoàng cùng chiến sĩ vô tuyến tơi tả chạy về.

Mọi người xúm lại:

- Anh Trang đâu?

Giọng Hoàng khản đặc:

- Hy sinh...!

Ngay lập tức lời khẳng định ấy được chỉnh lại bằng hơi thở ngập ngừng hổn hển:

- Có thể là hy sinh...!

Chính trị viên trợn tròn hai mắt:

- Sao lại có thể? Trình bày rõ xem nào.

Hoàng hối hả kể mà tiếng nói cứ lịm đi như tiếng gọi hồn chìm vào trong đất. Một chiến sĩ kêu lên: Cho cậu ấy uống đã! Cho cậu ấy uống đã! Một ca nước đầy được mang đến. Hoàng ực một hơi hết sạch rồi lại cất giọng khàn khàn đặc quánh:

- Chúng nó chụp xuống. Phái viên kéo chúng tôi vào bụi sim mua rất dầy và yêu cầu phải giữ bí mật. Anh quát lên: Không được manh động! Không được liều mình! Nhưng lộ rồi. Làm gì mà bọn Mỹ không phát hiện ra. Chúng thả thang dây kêu gọi. Rồi lính thủy đánh bộ lao tới. Chúng tôi đánh trả. Khẩu súng ngắn trong tay phái viên cẩn trọng điểm xạ từng phát. Tôi không thể nào quên được khuôn mặt anh ấy. Lạnh như sắt thép và hai mắt đỏ ngầu. Đạn hết, anh ném súng và bắt chúng tôi rút. Tôi thấy máu đã ướt đầm chân anh, trên vai anh và cả trên mặt anh. Tôi liền ghé vai định cõng thì anh thều thào nói trong hơi thở:

- Mau... Rút...

Tôi vặn lại:

- Còn anh?

Anh gắng sức nói và hai mắt thình lình biến thành hai tia lửa cháy rực có thể thiêu trụi cả một cánh rừng:

- Rút... u... út! - Đoạn anh lôi quả đạn từ túi đeo bên thắt lưng chờ lính Mỹ lăm le đi tới. Có lẽ chúng vẫn muốn bắt sống anh.

Chính trị viên tròm mồm ho hó hỏi lại:

- Bắt sống à?

Và thêm vào ngay:

- Chắc chắn không?

Chiến sĩ thông tin giảng giải thay cho bạn:

- Không ạ. Không chắc đâu anh ạ! Anh Trang không thể để mình rơi vào tay quân thù. Lựu đạn lăm lăm trong tay. Và anh chờ đợi. Chờ đợi! Anh gắng sức kìm chân địch cho chúng tôi thoát ra trọn vẹn. Tôi thấy rõ anh loay hoay để sẵn sàng rút nụ xòe quả lựu đạn. Anh sẽ chọn cho mình cái chết xứng đáng!

Cả trận địa lặng lẽ. Chính trị viên kéo vành mũ tai bèo rũ xuống và khuôn mặt đăm chiêu để rồi dần dần ửng đỏ. Bên khóe mắt anh hai giọt lệ cực lớn lăn ra. Đại đội trưởng Xuân cũng có mặt từ lúc nào. Cả đêm hôm ấy và ngày hôm sau toàn địa đội phấp phỏng chờ tin tổ tìm liệt sĩ. Họ về tay không. Họ đi theo đường cũ. Họ không thể rà sóat được hết các ngả đường từ đồi Con Thỏ về trận địa. Nhưng khi trời đêm sắp ụp xuống rừng già, chiến sĩ Nga xuống suối lấy nước thấy một hình hài đang di chuyển tới. Anh đứng lặng. Lúc đầu sợ hãi. Rồi bỗng khuỵu hai chân và hét lên: Anh Trang! Nga lao tới đón và nước mắt cứ ào ạt chảy ra. Rồi cả đại đội xúm lại. Người ta cười và khóc. Người ta gọi bác sĩ trung đoàn bộ binh phối thuộc tới. Người ta xung phong cho máu để chuyền. Người ta hồi hộp! Người ta nín thở! Người ta đợi chờ!

Rừng đêm sáng dần.

Trại viết Đồ Sơn.

T. Đ.C


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 17 Tháng Tư, 2011, 10:06:14 am
                                              Khoảng cách
                                              Tác giả :Triệu Bôn                    

Lúc 12 giờ trưa, đại uý "Đời Lãng Tử" được lệnh đưa tiểu đoàn 1 rút khỏi S.N dưới làn đạn dày đặc của đối phương. Cái tiểu đoàn vốn đã kiệt sức vì những tháng hành quân liên miên, đến nay lại bị vẹt đi quá nửa. Một số phơi xác trong rừng cao-su đất đỏ, một số bị thương phải bỏ lại...
I. Trên chiếc xe díp của Đời Lãng Tử còn lại bốn người: Y - tiểu đoàn trưởng, trung uý Lã Nam Phong - sĩ quan tham mưu tiểu đoàn, tên hạ sĩ nhất thông tin đeo máy PRC25 và tên lái xe. Tuy vậy trên xe vẫn chật ních, vì có quá nhiều những thứ "chiến lợi phẩm" y đã cướp được từ ngày hành quân lên "xứ thổ" này. Trong cái mớ lỉnh kỉnh toàn những hòm xiểng và bao bì ấy, y không nhớ có bao nhiêu loại của cải khác nhau. Y chỉ biết chung chung là thứ nào cũng đáng giá. Chẳng hạn như một bộ đồ trà bằng bạc nguyên chất sáng nhoáng, mấy tấm thảm sản phẩm địa phương rất đặc biệt, một cái hộp nhỏ bằng ngà voi đựng đầy những nhẫn vàng, và nguyên cả một con voi con đúc bằng vàng… Mang được những thứ đó về tới hậu cứ, y sẽ thừa sức trang hoàng căn phòng của y sang trọng hơn bất cứ phòng của một sĩ quan nào khác trong sư đoàn. Và dù không thèm lĩnh lương cả năm, y cũng thừa thãi tiền bạc để tiêu xài thỏa thích.

Từ mấy tháng nay, đống của cải ấy đã trở thành một niềm kiêu hãnh ngấm ngầm trong người y. Y chê bai đám sĩ quan ngang cấp và cấp trên là bần tiện, vì họ nhặt nhạnh từ tấm sà-rông của phụ nữ, đồ chơi của trẻ con, tới giường tủ, mền mùng của dân "thổ".

Chờ cho tên cần vệ chất xong cái hòm gỗ cuối cùng lên xe, Đời Lãng Tử quay xuống bảo:

- Thôi, mày đi sau! - Đoạn y hất hàm ra lệnh cho tên lái xe - Nổ máy!

Tiếng máy nổ rồ lên. Tên cần vệ mặt tái xanh tái xám, dùng cả hai bàn tay bám chặt lấy thành cửa xe miệng lắp bắp:

- Đại úy!… Công tôi hầu hạ ngài…

Đại uý Đời Lãng Tử vốn không ưa nhiều lời. Y dang thẳng cánh tay xô bật tên cần vệ ra để dẹp lối cho chiếc xe mớm bánh bò qua một hố đạn lớn trước cổng đồn. Nhưng, y vừa rảnh tay với tên lính hầu, lại đã có bốn, năm viên sĩ quan, chỉ huy các đại đội vừa xô nhau chạy đến vừa kêu nài cuống quýt:

- Tôi, đại đội trưởng đại đội A đây, thưa đại uý!

- Đại uý!

- Đại uý ơi, cứu chúng tôi!

Đời Lãng Tử quát lớn:

- Câm đi! Tôi hạ lệnh cho các ông phải về nắm lấy binh lính.

- Ôi, đại uý!…

Tên đại uý vẫn ngồi yên trên xe, mặt hầm hầm không thèm nhìn lại. Y đã cương quyết gạt tất cả những tiếng kêu cứu ra ngoài tai. Đối với y, tình thương và lòng trắc ẩn lúc này chỉ là một trò ngớ ngẩn. Y đâm ra bực tức với hết thẩy. Y bực với cái vết thương đang bốc mùi khó chịu dưới chân y. Y bực tên cần vệ dám đòi leo lên chiếc xe chật chội như cái ổ chuột này của y. Y thấy mình bị sỉ nhục khi y bắt buộc phải trố mắt nhìn mấy tên lính đu người lên một chiếc GMC, còn những thằng đứng trên thùng xe thì co chân đạp thẳng vào mặt lũ đang bám ở dưới, để hất chúng xuống. Cả một vùng rừng cao su chung quanh y, đâu đâu cũng dậy lên tiếng kêu khóc chửi rủa, lác đác có cả những loạt súng bắn lẫn nhau để tranh đường sống của sĩ quan và binh lính. Rồi đến lượt chính y cùng với trung uý Lã Nam Phong cũng phải rút súng, chĩa lăm lăm ra ngoài để sẵn sàng thanh toán tốp sĩ quan đang sán lại, chỉ chờ y sểnh mắt một chút là ùa nhau nhảy đại lên xe của y.

Ra khỏi đồn, chiếc xe díp của Đời Lãng Tử không đi lên đường, mà rẽ ngoặt sang phải, trườn lên những hố đạn gồ ghề và men theo dẫy hàng rào dây thép gai để phóng về phía biên giới. Chiếc xe chạy ì ạch quá chừng, mà đại uý lại luôn luôn thấy lạnh toát sau gáy. Lúc nào y cũng mường tượng thấy những nòng pháo lớn, những mũi súng tiểu liên của quân "cộng sản" đang nhằm vào chiếc xe tội nghiệp của y.

Một lần không hiểu có sự run rủi thần bí nào mà y đang ngồi bỗng chồm lên vồ lấy vòng lái, kéo mạnh về phía mình. Chiếc xe ngoặt gấp, suýt nữa lăn kềnh ra. Nhưng nhờ vậy nó đã tránh được một quả đạn súng cối bắn chặn rất sít. Nếu chiếc xe vẫn chạy theo hướng cũ thêm vài giây nữa, chắc nó đã bị xé ra từng mảnh rồi.

"Lạy chúa!" đại uý Đời Lãng Tử ngoảnh sang nhìn đám bụi viên đạn vừa tung lên và y bỗng phì cười. Y nổi tiếng là một gã có lòng tin đến ngu muội vào sức mạnh của hành động. Y chẳng tin gì Chúa cũng như vào bất cứ một thứ thần linh nào khác. Song, lần chết hụt này đã làm y động lòng nghĩ đến Chúa. Chúa có thật chăng. Nếu không có bàn tay phù trợ đầy mầu nhiệm của Chúa thì mọi mánh khóe khôn ngoan của con người đều trở thành vô ích chăng?… Y phì cười chính vì y thấy trong đầu óc y vừa xuất hiện một đức tính lạ lùng như vậy.

Chiếc xe díp chạy thêm được mấy chục giây nữa thì Đời Lãng Tử lại chết hụt lần thứ hai. Một quả đạn lại rơi đón đầu y. Y không nghe đạn nổ, chỉ nghe vút một tiếng như có roi quất qua đầu y và làm cho ánh nắng trước mũi xe như nổ toé ra từng chùm hoa cải vàng chấp chới. Gió tràn vào xe ù ù. Khi y ngẩng lên, y kinh ngạc nhìn thấy năm, sáu lỗ thủng gọn ghẽ như có người cầm mũi dao mà khoét trên tâm kính chắn gió. Y run người lên vì sung sướng và sợ hãi. Tại sao ngần ấy mảnh đạn bắn vào xe lại không có mảnh nào văng trúng người y nhỉ?

Y lại lầm rầm cảm ơn Chúa.

Nhưng tên hạ sĩ thông tin ngồi kế y đã không còn cái may mắn được cảm ơn Chúa như y nữa. Vừa nãy tên hạ sĩ này còn luôn mồm gào vào máy PRC.25: "Ó đen đâu? Ó đen đâu? Cọp biển đây! Cọp biển đây!…" mà bây giờ nó đã im bặt, người rụn xuống khúc cổ ẽo ợt lật ngửa hẳn ra sau thành ghế. Đời Lãng Tử nheo mắt nhìn tên lính thông tin một lát rồi lần hai bàn tay vào người nó. Trên cái ghế chật chội lại luôn bị tung lên nhồi xuống, phải vất vả lắm Đời Lãng Tử mới dựng được tên lính mềm nhũn dậy để tháo chiếc máy PRC.25 ra khỏi lưng nó. Nhưng hễ Đời Lãng Tử buông cái xác tên hạ sĩ ra để đeo máy vào lưng mình là nó lại nằm vật xuống, hích cả cái bả vai bê bết máu vào hông y. Nó làm y vướng víu. Y đặt tạm chiếc máy xuống dưới chân ghế rồi dùng cả hai tay định xô bật nó ra ngoài. Nhưng y xô ba, bốn lần mà cái xác vẫn nằm đó.

Lúc tên hạ sĩ còn sống, chưa bao giờ Đời Lãng Tử để ý xem nó là một con người như thế nào. Mãi đến bây giờ, khi nó đã hoàn toàn là một cái xác, y mới kịp nhận xét nó là một thằng vừa có vẻ ngông nghênh lại vừa ương bướng đến kỳ cục - Bởi vì y đã toát cả mồ hôi để đẩy mà nó vẫn ỳ ra đó như một gã có tính cù nhầy không biết sĩ diện là gì.

Đời Lãng Tử vừa thở hổn hển vừa chùi hai bàn tay dính máu lèo nhèo vào cái bao bì chất sau lưng y, rồi y vội vàng đeo máy, úp ống nghe vào tai. Một giọng nói ồ ề đang gọi đến y trong máy:

- Ông đại uý tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn Một nghe đây! Tiểu đoàn của ông phải trụ lại phòng ngự ở dốc L. Ông có nhiệm vụ hợp sức với tiểu đoàn Hai và pháo đội E chặn bước tiến của quân địch, chờ lữ đoàn Ba lên tiếp ứng. Lữ đoàn Ba đánh từ biên giới lên tiêu diệt chúng - Ngừng một lát - Hừm ông nghe rõ chưa?

- Dạ, thưa đại tá chiến đoàn trưởng… - Đời Lãng Tử bỗng quên phắt mình vừa nói gì. Y cau mày, cố hiểu ngầm cho hết ý tứ trong lời tên đại tá.

Không hề có một quy định rõ ràng, nhưng từ trước tới nay trong hàng ngũ chỉ huy của "Quân lực Việt Nam cộng hòa" đã hình thành hẳn một thứ tiếng lóng rất đặc biệt. Khi người ta "Chúng ta vừa đại thắng quân Cộng sản" thì có nghĩa là vừa có một vùng đất đai rộng lớn nào đó lọt vào tay đối phương, hoặc vừa có một đơn vị quan trọng của "quốc gia" bị đánh tơi tả. Khi người ta nói: "Tinh thần quân đội quốc gia càng ngày càng vững chắc", thì có nghĩa là việc hàng chục, hàng trăm binh lính tự nổi lên bắn chết chỉ huy rồi rủ nhau chạy ra hàng Việt cộng đang lan tràn như một thứ bệnh dịch trong khắp các đơn vị quân lực Việt Nam cộng hòa. Còn bây giờ đại tá chiến đoàn trưởng vừa nói: "Toàn chiến đoàn sẽ tiến lên…" thì y hiểu ngay là chiến đoàn đang bỏ chạy, đang tan rã. Hiển nhiên viên đại tá đâu có chịu chung số phận với chiến đoàn của hắn. Ngay từ ngày đầu vòng vây của địch quân xiết chặt quanh SN, hắn đã xa chạy cao bay rồi.

- Ông đại uý!

Tên đại tá lại cất tiếng ồm ồm trong máy, nhưng đã mất hẳn cái giọng lề rề ban nãy. Hắn đang gắt gỏng. Đời Lãng Tử giật mình trả lời vào máy:

- Dạ.

- Ông có nghe tôi nói không?

- Dạ thưa ngài…

- Thưa với gởi cái con mẹ gì! Ông nghe rõ mệnh lệnh chưa?

- Thưa đại tá…

- Tôi nghe. Cho phép ông nói, nói lẹ lẹ cái miệng lên!

- Thưa đại tá, tôi, đại uý Trần Trung - Y bỗng lấy giọng hết sức trịnh trọng - xin tuân lệnh ngài. Xin ngài hãy tin vào tôi và các chiến hữu anh dũng của tôi.

* * *

Nói chuyện với đại tá chiến đoàn trưởng xong, mối lo sợ và hy vọng càng lẫn lộn bời bời trong lòng Đời Lãng Tử. Nhân một lúc đạn của đối phương rơi hơi giãn ra, y liền cho xe vọt lên khỏi trảng dầu để phóng trên đường 13. Xe chạy nhanh và êm khiến y đỡ sốt ruột. Theo thói quen, y vẫn giơ tay xem đồng hồ. Miệng y càu nhàu giục tên lái xe chạy nhanh hơn nữa, nhưng đầu y lại nghĩ chuyện khác. Y đang thấp thỏm nghĩ đến bông mai lấp lánh trên chiếc cấp hàm thiếu tá. Biết đâu những lời hứa liều lĩnh vừa rồi lại chẳng biến đoạn đường 13 đẫm máu đối với chiến đoàn thành một con đường thẳng tắp dẫn đến công danh cho riêng y. Nghĩ vậy, y thấy người y lâng lâng như say rượu. Và khi vừa thoáng thấy mấy lớp hàng rào dây thép gai trên đỉnh con dốc thoai thoải, y đã ngả cổ cười sằng sặc, kêu to lên mấy tiếng: "Dốc L. đây rồi!".

Sau đó, y cho xe đi chậm lại rồi khôn ngoan đậu nép vào một chiếc xe bọc thép M.113 bị bắn cháy đang đứng bên đường. Y dõng dạc nói vào máy, ra lệnh cho các đại đội tiến vào vị trí dốc L. Mệnh lệnh của y chưa dứt thì súng trong vị trí dốc L. đã nổ ran. Những viên đạn chống tăng loại M.72 của Mỹ bay ra tua tủa. Ba chiếc M.113 đi trước y bị bốc cháy trong nháy mắt. Còn ở những chiếc GMC đi sau, nhiều tên lính bị trúng đạn đang giãy đành đạch trong thùng xe. Bọn lính bám đông nghịt trên các xe đều vội thụt đầu xuống. Khi hồi tỉnh lại, chúng vẫn tưởng bọn tiểu đoàn Hai của chúng ở bên trong hốt hoảng bắn nhầm, nên tất cả lại ló đầu lên nhao nhao la hét:

- Người nhà! Mấy cha nội ơi, người nhà!

- Đù mẹ mấy chả, bộ đui hả?

- …

Đáp lại bọn đang la hét om sòm đó, tiếng loa bỗng dõng dạc vang lên: "Hỡi các binh sĩ Sài Gòn. Dốc L. đã thuộc về tay Quân giải phóng, các anh đang đứng giữa vòng vây. Ai bỏ súng đầu hàng sẽ được cách mạng khoan hồng. Kẻ nào dám chống lại sẽ bị tiêu diệt ngay tức khắc"…

Tiếng loa dội đến quá bất ngờ làm chúng bủn rủn chân tay. Mấy tên ác ôn địch tì súng vào thành xe để bắn về phía có tiếng loa phát ra liền bị những đứa đứng bên cạnh giằng lấy súng vứt xuống đường. Bọn sĩ quan đứng nép sau lưng binh lính để giật khỏi bộ quần áo trận của chúng bất cứ thứ gì khiến người có thể nhận ra chúng là những tên chỉ huy.

Năm sáu chiếc xe bị ùn nghẹt lại trước cổng vị trí dốc L. Nhưng bọn lính ngụy chưa có đứa nào nhảy xuống hàng, mà những chiến sĩ Quân giải phóng ở bên trong cũng chưa xuất hiện. Không khí trên trận địa hết sức căng thẳng dù là đang tạm thời vắng tiếng súng. Giữa lúc đó, một chiếc GMC từ cuối đoàn rù rì lách đến, những cái bánh dưới tấm thân nặng nề của nó lăn rất chậm. Bọn lính trong thùng xe đứng cả dậy. Chúng vừa thi nhau gào to. "Mấy ông đừng bắn ạ mấy ông đừng bắn!" vừa lén cầm tiểu liên lên tay. Cho đến chỗ nhẽ ra chiếc xe phải rẽ vào cổng đồn để xin hàng thì bất ngờ nó vù ga lao vút qua. Một tên đứng trên thùng xe thét ra lệnh:

- Bắn! Tụi bay, bắn!

Từ bên trong vị trí dốc L. một quả đạn đỏ lừ rẽ hàng rào dây thép bay ra, rượt theo chiếc xe, nhưng hơi muộn. Nó chỉ kẻ vào không khí một vệt đỏ thẳng tắp cắt ngang con đường rồi nổ bung một cụm khói trắng ở bên kia rừng. Lập tức quả đạn thứ hai phóng ra, kéo cái đuôi lửa rít qua trước mũi xe. Tên lái xe khiếp đảm hãm cứng chiếc xe lại. Trên thùng xe lại thêm mấy thằng vừa gục xuống vì trúng đạn tiểu liên, máu lênh láng dưới đế giày của những thằng đang sống. Bây giờ chúng mới chịu giơ những bàn tay nhem nhuốc lên một cách thật sự. Riêng tên ác ôn vừa thét bắn lúc nãy vọt qua thành xe lẹ như con rắn và lủi vào nằm trong một lùm cây lúp xúp ở bên đường.

Thấy đạn ít bay về phía mình, Đời Lãng Tử càng tự tin y là một người cao mưu, đã biết chọn cái xác xe nằm chềnh ềnh giữa khoảng trống này làm nơi lánh mặt. Nấp ở đó, y nhìn bao quát được cả một vùng rộng. Những diễn biến ở trước cổng đồn dốc L đều lọt vào mắt y. Binh lính của y bị đánh, bị bắt, tan tác như thế nhẽ ra đã làm y phải đau lòng mới đúng, nhưng ngược lại, y vẫn rất dửng dưng. Còn vài chục đứa hay còn dăm ba đứa, hay chẳng có đứa nào sống sót qua vụ này, đối với y đều như nhau cả thôi. Đằng nào thì tiểu đoàn y và cả cái chiến đoàn này cũng tan nát rồi.

Trong chiếc máy vô tuyến điện, viên đại tá chiến đoàn trưởng đã mấy lần giục y báo cáo tình hình. Nhưng y không thiết báo cáo nữa. Báo cho hắn biết cái cảnh tượng tồi tệ này thì liệu hắn làm được trò gì? Mà việc quái gì y phải báo cáo với thằng nào? Biết đâu chỉ vài phút nữa… Y nhún vai, một ý nghĩ chua chát lại hiện lên trong óc y: "Mọi xác chết đều bình đẳng với nhau". Thế là y tự ý ra một mệnh lệnh rất thiết thực cho tất cả số quân lính còn lại của y:

- Tập trung hỏa lực bắn mạnh xuống hai bên đường, mở hết tốc độ, mạnh thằng nào thằng ấy chạy. Thằng nào chạy chậm không kịp thì bỏ! - Tiện mồm y chửi luôn vào máy - Đ… mẹ mấy thằng cha pháo binh dưới kia, không chịu bắn chi viện cho ông nội bay lấy một trái.

Hạ mệnh lệnh lần cuối cùng xong, y tháo chiếc máy PRC.25 ra và nghiến răng đập đánh bộp xuống mặt đường. Y cho xe nổ máy, mở hết tốc độ phóng qua dốc L. Y giống như một gã cờ bạc đang thua lụn bại, và đến đây là dốc kiệt túi để đặt vào canh bạc cuối cùng. Nếu giữ được tốc độ ngót trăm ki-lô-mét giờ thì chỉ cần mười phút sau y đã đến được chỗ pháo đội B dưới biên giới, hoặc bắt liên lạc được với lữ đoàn Ba thiết giáp lên tiếp ứng. Đến được đó là y có cơ hội để sống. Sống rồi thì khúc lưỡi lắt léo của y sẽ san đắp cho y tất cả. Tính mạng y không mất; danh vọng, địa vị của y cũng không mất mảy may. Nếu không được thế thì có nghĩa là y sẽ bỏ xác lại dọc đường, là hết. Cuộc đời, ái ân, khoái lạc, danh vọng, ước mơ… tất cả đối với y sẽ vô nghĩa hết!

Chiếc xe díp đang lao qua dốc L. Bỗng một tên lính từ trong lùm cây chạy xô ra giữa đường giơ hai tay lên vẫy cuống cuồng. Tên lái xe định tránh vòng sang phải. Nhưng Đời Lãng Tử đã kịp thò tay ra giữ chặt lấy vòng lái cho xe đi thẳng - Y biết giảm tốc độ lúc này là một việc cực kỳ nguy hiểm, mà đằng nào thì tên lính kia cũng chết. Thôi bỏ! Loáng sau, cái bóng của tên lính đã bị đè rập xuống trước mũi xe làm cho chiếc xe nhảy chồm lên. Lúc đó Đời Lãng Tử mới buông tay ra khỏi vòng lái và nghiến răng quát tên lái:

- Đồ ngu! Muốn tiêu mạng hả?


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 17 Tháng Tư, 2011, 10:09:19 am
                     Tiếp theo
 

Rồi không hiểu sao cơn khùng trong người y cứ thế phát mãi lên. Mỗi lần đạn của đối phương bay vèo vèo quanh người y, hoặc cái ống chân đang sưng vù của y bị xé xóc quăng qua quăng lại là một lần y nghiến hai hàm răng vào nhau ken két. Y chỉ muốn nhè vào giữa bộ mặt đầy mụn trứng cá của tên lái xe mà tát mà đấm, mà giày xéo. Khắp người y như đang bốc lửa phừng phựt. Và dù không tìm ra được tội gì của tên lái xe, y vẫn văng ra đủ thứ tục tĩu. Mà y càng chửi rủa, nỗi kinh hoàng càng như đè chặt xuống người y. Bỗng nhiên y nín bặt. Y đưa mắt nhìn ra lề đường tìm một cái cột cây số, xem y hiện đang ở đâu. Nhưng lúc xe lướt qua cột cây số, y lại không tài nào đọc được con số ghi trên đó. Vì ở ngoài khung cửa xe khói lửa, rừng cây, ánh nắng, mây trời và hàng trăm thứ khác như đang cùng tan chảy hòa trộn vào nhau loang loáng vút qua trước mặt y, lùa cái cảm giác ghê rợn vào tất cả các đầu mối thần kinh trong người y. Đầu óc y trì độn đi một cách quái gở.

Chiếc xe díp của Đời Lãng Tử đuổi kịp chi đoàn Hai thiết giáp (cùng trong chiến đoàn) đang rút chạy đúng vào lúc cả đoàn xe đã nằm gọn trong trận địa phục kích của Quân giải phóng. Y đang cố lách qua mấy chiếc xe tăng cồng kềnh thì xe y bị trúng đạn lộn nhào mấy vòng rồi cắm đầu xuống một con suối nhỏ chảy luồn qua mặt đường. Y bị xít mạnh vào một bụi dây mắc cỡ giữa tiếng hô xung phong vang dội của Quân giải phóng.

Y nằm chết giấc trong bụi mắc cỡ không biết đã bao lâu. Y tỉnh dậy lần thứ nhất khi không còn tiếng xung phong nữa, tiếng súng cũng chỉ nổ lác đác ở vài nơi. Nhưng khắp bốn phía rừng đều đang có tiếng người rẽ cỏ chạy ào ào, tiếng chân nện trên mặt đường thình thịch, tiếng gọi loa và rất nhiều tiếng người đang la hét:

- Bắt lấy nó!

- Giơ tay lên!

- Đằng kia đằng kia, nó lủi sau gò mối ấy!

- Hàng thì sống, chống thì chết!

- Hỡi anh em binh sĩ Sài Gòn…

Y thận trọng rút khẩu "côn" ra cầm tay. Y dùng hai khuỷu tay và sức đạp của chân trái còn lành để bò vào xa mặt đường thêm một đoạn nữa. Trong lúc dừng lại thở, tình cờ y nghe lỏm được câu chuyện của hai người - Chắc là cán bộ "Việt cộng" - ở bên kia con suối. Một người gọi to từ xa:

- Bao ơi! Bao ơi!

Một người đáp lại: "Có".

- Lại đây biểu.

- Gì vậy anh?

- Cậu cho lùng sục quanh chiếc xe díp chưa?

- Dạ chưa.

- Sao trễ vậy?

- Trời đất ơi, tù binh nhiều quá xá anh à…

- Thôi lấy một tiểu đội đi lại sục thật kỹ vào nghen. Coi chừng vớ được bọn chỉ huy đó.

- …

Đời Lãng Tử không còn đủ can đảm để nghe hết cuộc nói chuyện của họ. Người y run bắn lên. Suýt nữa thì y oà khóc. Nhưng tiếng khóc chưa kịp bật ra đã bị cắn môi, cố nuốt nó xuống. Nếu cần y sẽ giơ tay xin hàng để giữ lấy mạng. Nhưng cho đến phút này, y vẫn chưa hoàn toàn hết hy vọng trốn thoát tay đối phương. Y bò cuống cuồng, khẩu "côn" ngậm ngang miệng để đôi bàn tay được rảnh mà cào cấu, bám víu vào cỏ, vào đất và vào bất cứ vật gì có thể giúp y trườn đi nhanh hơn. Y lủi mãi, lủi mãi vào sâu trong cánh rừng dầu. Tự nhiên y thấy như mình bị rơi tõm xuống một cái hố sâu không cùng và tối mịt mù.

Y lại chết giấc.

Y hoàn toàn không biết việc những chiến sĩ Quân giải phóng đã đến lật ngửa y ra, xem có phải y vờ chết hay không.

II. Mãi đến nửa chiều, đại uý Đời Lãng Tử mới tỉnh dậy trong trận mưa rào.

Cái âm thanh đầu tiên dội vào tai y là tiếng lửa reo ù ờ ở chỗ chiếc xe tăng M.41 bị cháy bên cạnh đường 13. Dường như trời càng đổ mưa tầm tã bao nhiêu ngọn lửa càng bốc lên dữ dội bấy nhiêu. Lửa và khói chen nhau cuồn cuộn chui qua cái cửa xe tròn như miệng giếng xây. Qua khỏi đó rồi thì lửa đi đằng lửa khói đi đằng khói. Lửa cứ phun ngược, thành một cái lưỡi dài đỏ lòm liếm qua liếm lại, thui héo quắt từng quầng lá dầu non xanh láng trên ngọn rừng. Còn khói thì bị thấm mưa nặng, chỉ gượng tạt ngang được một quãng rồi từ từ sà xuống, tràn qua mấy cái bầu nước mưa để tiến lại khu đất rậm rì dây mắc cỡ. Đến đó đám khói dập dờn một lúc rồi lại bay trở ra. Cơn gió nhẹ làm nó bị rách tướp thành những cái vòi lủa tủa nom như một con bạch tuộc vừa khổng lồ vừa quái dị bò tới bò lui, quẩn qua quẩn lại và tản mát dần thành những đám khí màu nâu xỉn bay lang thang trong rừng. Chốc chốc lại một quả đạn bén lửa nổ "ục" trong xe. Đám cháy bất thần bùng to lên vài giây, nuốt phăng đi cả cái nòng thép dài thượt lẫn cái ụ pháo gắn trên xe. Những lúc đó, chiếc xe tăng trở thành một cái cồn thép đồ sộ đỏ lựng lên, gần điệp mào màu lửa.

Tiếng lửa reo ù ù mà lúc nãy mới tỉnh dậy Đời Lãng Tử đã nghe thấy bây giờ y còn phân biệt được trong đó cả một mớ âm thanh hỗn độn phần phật, ào ào như quạt gió của máy bay trực thăng đang bay lúc xa lúc gần. Y đưa tay lên vuốt nước mưa trên mặt và cố gắng nghe thật kỹ. Chẳng có chiếc trực thăng nào đến đón y ra khỏi cơn hoạn nạn này đâu. Chỉ có tiếng ngọn lửa đang quần nhau với mưa gió, chỉ có những hạt mưa trắng phếch đang thi nhau lao xuống, bắn những hạt cát nhỏ li ti lên sàm sạp trong bộ râu quai nón lởm trên mặt y mà thôi. Bỗng y rùng mình nhắm nghiền mắt lại khi đám khói nâu đang lừ đừ bay đến và trườn ngang người y. Y chưa kịp lật người nằm sấp xuống thì ruột gan y đã cuộn lên. Y oẹ liền mấy cái, vừa oẹ vừa hãi hùng nghĩ đến mùi tanh lợm mà y biết rất rõ là mùi thịt người bị thiêu cháy trộn lẫn với mùi khói dầu xe trong đám khói nâu vừa xộc vào tận cổ họng y. Y khạc nhổ một hồi rồi lại vục mặt xuống lớp đất rừng ướt rượt mà nôn thốc nôn tháo ra nữa. Y nôn ra mật xanh và máu! Vì mấy ngày rồi, đạn của "Việt cộng" có cho y nhô đầu ra khỏi cửa hầm để kiếm cái ăn cái uống gì đâu. Ngụm nước cuối cùng y được uống từ sáng ngày 28 kia - hôm nay đã 30 rồi - Lúc đó y đang nâng cái vỏ đạn đại bác trữ nước lên tu ừng ực thì một mảnh pháo đã bắn chéo qua cửa hầm, trúng vào ống chân phải của y. Y hoảng sợ quăng cả cái vỏ đạn ấy đi rồi khuỵu xuống. Đó là những giọt nước cuối cùng còn trữ được trong sở chỉ huy tiểu đoàn của y.

Trên suốt chặng đường rút chạy, y không còn đầu óc nào để nghĩ đến chuyện đói khát. Nhưng bây giờ cơn khát lại đột ngột trở lại, như đốt lửa trong cổ họng. Y hết nằm sấp thè lưỡi liếm cỏ ướt lại nằm ngửa hớp từng hạt mưa đang bắn chênh chếch vào mặt.

Đời Lãng Tử cứ nằm hớp mưa như vậy tới gần tối mới rón rén bò trở lại mặt đường. Lúc này ngọn lửa trên chiếc xe tăng đã gần tàn đang tỏa một quầng sáng hồng hồng ra chung quanh.

"- Trời ơi! - Y thốt lên - sao lại im thế này?". Nơi chiến địa chưa tàn ngọn lửa, chưa tan mùi thuốc súng, mà sao chẳng còn lấy một tràng súng máy, một tiếng động cơ, cũng chẳng còn lấy một tiếng rên? Họ (y chỉ Quân giải phóng) tổ chức trận đánh gọn lẹ quá, tài giỏi quá! Sự ồn ào ban chiều đâu cả rồi? Mặc dù đó là sự ồn ào thắng trận của đối phương đã làm y sợ chết giấc, nhưng lúc này y rất cần nghe thấy một tiếng động, tiếng động gì cũng được, để y tự chứng minh rằng y chưa phải là một hồn ma.

Y nhìn như lục lọi vào màn đêm hồi lâu. Y ngẩn ra trước ánh sáng lửa trên chiếc xe tăng đang hắt xuống mặt đường nhựa ướt mưa một vệt sáng lạnh lẽo chạy hun hút mãi về hai phía. Nhờ cái vệt sáng ấy, y đã thấy thêm một vật gì đen đen nằm ngang mặt đường, và y biết ngay đó là một xác người.

Y bò lại cái xác với ý định kiếm lấy một vài vật gì cần thiết. Nhưng khi đến nơi, sờ nắn ngót chục cái túi trên bộ quần áo trận mà chả được gì, y lại lần tay xuống mở dây, rút tuột hai chiếc giầy ra khỏi chân xác chết. Y lần lượt thọc tay vào từng chiếc giầy, moi được ở mỗi chiếc một gói mỏng bọc ni lông. Y giơ hai cái gói lên trước ánh lửa, mở ra xem thì thấy hai xấp bạc đô-la. Song, đô-la lúc này chẳng làm y vui. Y đang cần thứ gì bỏ vào miệng ăn được, uống được, hoặc như một con dao bỏ túi hay một vật gì có thể biến thành vũ khí phòng thân được kia.

Y đã thất vọng. Nhưng y chưa muốn xa cái xác chết. Y ngồi lại bên nó mở to đôi mắt đờ đẫn ra nhìn nó. Y chợt kêu lên một tiếng khe khẽ. Vì trong ánh lửa chập chờn từ xa hắt tới, y vừa nhận ra một con mắt chột tối om trên mặt xác chết. Y lật đật dùng hai tay giật đứt tung hàng cúc áo trên ngực nó và phanh rộng ra. Nhìn thoáng thấy cái hình người đàn bà khỏa thân xâm trên ngực xác chết, y lại đậy vội hai vạt áo lại. Y thở dài: Thì ra trung uý "Ngọn lửa tình", đại đội trưởng đại đội C! Thế là cả tiểu đoàn của y đều bị đánh tan! Y ngồi lặng đi hồi lâu rồi lại thở dài, buồn rầu nói với cái xác chết.

- Trung uý đừng trách tôi. Chúng ta là những thằng chó má đang sống những cuộc đời chó má. Hồi trưa tôi buộc lòng phải rút súng ra để ngăn không cho trung uý lên xe. Nhưng thế là trung uý đã đuổi kịp tôi rồi đấy. Chúng ta hiện nằm tại đây với nhau…

Trên đường quay trở lại chỗ cũ, Đời Lãng Tử nhặt thêm được một chiếc đài thu thanh bán dẫn cùng với hai vật nhỏ mà Đời Lãng Tử thấy quý hơn hai xấp đô-la rất nhiều: Một gói gạo sấy và một cuộn băng còn sạch. Y rờ tay bật cái núm trên chiếc máy thu thanh. Một giọng phụ nữ ỏn ẻn phát ra: "Đường mòn Hồ Chí Minh đã bị cắt đứt. Mùa mưa khắc nghiệt đang đến với các cán binh cộng sản. Họ đang lâm vào cảnh thiếu cơm, thiếu thuốc, thiếu vũ khí. Họ sẽ bị tiêu diệt…". Đời Lãng Tử nhếch miệng cười khẩy. Sự thật mới trớ trêu làm sao. Hàng vạn người ăn lương Mỹ đang bị chúng đẩy vào chỗ chết như thế này. Còn chúng thì ngồi tại Sài Gòn để lải nhải "cộng sản đang bị tiêu diệt, đang bị tiêu diệt". Y nghiến răng lại chửi: "Tiên sư con đĩ. Câm đi" và y liệng vù chiếc máy băng bên đường. Chiếc máy kêu lạo xạo một lát, rồi không hiểu sao nó lại tiếp tục nói. Nếu không vì vết thương làm y phải bò rất khó nhọc thì y đã chạy lại đập cho kỳ nát chiếc máy ra. Y đành bực tức bò lết đi, bỏ mặc cho cái giọng trơ trẽn của con mụ phát thanh viên cứ cất lên, làm tăng thêm sự quạnh quẽ trong rừng đêm.

Bò về tới chỗ cũ. Đời Lãng Tử nằm vật xuống lớp cỏ ướt mà thở dốc. Những ý nghĩ nguội lạnh trong lòng làm y kiệt sức. Y cứ luẩn quẩn mãi với câu hỏi: Nhẽ nào mình phải vĩnh viễn nằm lại giữa khu rừng hoang vắng này?

Y sực nhớ đến trung uý Lã Nam Phong. Từ lúc bị "Việt cộng" đánh ở dốc L. y không thấy Lã Nam Phong ngồi trong xe nữa. Nó đã chạy trốn? Hay nó đã ra hàng quân "cộng sản"? Cơn tức giận bỗng nhiên đùng đùng nổi lên trong lòng, y lẩm bẩm:

- Tao biết cái tiểu đoàn này không ra gì. Tao nắm nó như nắm một cái bong bóng trong tay. Nhưng tao nghĩ ít ra cũng còn hai đứa say mùi thuốc súng, say máu bọn cộng sản, là tao và mày. Vì thế tao đã nâng đỡ mày, đưa mày về làm sĩ quan tham mưu cho tao… Hừ, thằng khốn nạn! Quân khốn nạn!

Càng nghĩ, Đời Lãng Tử càng thấy mình là kẻ bị phụ bạc, bị phản trắc. Vô tình, những ý nghĩ hằn học đó đã kéo y ra khỏi tâm trạng rã rời ban nãy. Lòng y lại sôi sục ý chí trả thù đời, trả thù những người mà y gọi là cộng sản, và những thằng như trung uý Lã Nam Phong. Y ân hận vì đã có lần y đem mối thù cha ra kể cho Lã Nam Phong nghe. Chuyện ấy chẳng gây tai họa gì cho y. Song từ trước tới nay y vẫn xem đó là điều sâu kín nhất trong đời y, chỉ có những ai đã được y xem như cùng máu mủ mới được y bộc bạch cho nghe như vậy.

Trong màn đêm mông lung lòng y lại ngổn ngang những mưu toan cho quãng đời sắp tới của y. Ý nghĩ miên man hết chuyện này sang chuyện khác, và không biết từ lúc nào y đã quay về với dĩ vãng.

Hơn mười năm trời rồi, trong cuộc đời cầm súng chống cộng của mình, Trần Trung (tức đại uý Đời Lãng Tử) đã quá đủ thời gian để khảo cứu một cách tỉ mỉ tất cả những con đường leo lên bậc thang danh vọng của những sĩ quan y quen biết. Như Tám Chảng chẳng hạn, xuất thân từ một gã du đãng trên đường phố Sài Gòn nên Tám Chảng đã chọn cách uống máu người, ăn tim gan người, làm con đường tiến thân của hắn. Hắn khét tiếng yêng hùng chỉ vì thế. Vậy mà nay hắn mới leo lên được cấp thiếu tá. Còn như trung tá Hoài Việt thì khác hẳn. Lúc nào Hoài Việt cũng tỏ ra nhu mì. Hầu như Hoài Việt chưa bắn giết ai, chưa tra tấn ai. Hoài Việt tốt nghiệp trường sĩ quan Đà Lạt trước Trần Trung một khóa, lại hết ngồi ở văn phòng này đến làm việc ở bộ tư lệnh nọ. Thế mà nay Hoài Việt đã ngấp nghé lên tới cấp đại tá, chỉ vì Hoài Việt là một thằng rất đa mưu, rất lõi đời, biết nhũn nhặn đúng lúc và cũng biết bốc trời đúng lúc.


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 17 Tháng Tư, 2011, 10:12:19 am
                        Tiếp theo
 
Trần Trung hết lòng khâm phục trung tá Hoài Việt. Không biết bao nhiêu lần y tự nhủ lấy Hoài Việt làm tấm gương sống để noi theo. Song, y vẫn biết Hoài Việt sở dĩ lách lỏi được như vậy còn vì Hoài Việt có thần thế hơn y nhiều. Hoài Việt là con một vị tỉnh trưởng lừng danh thời tổng thống Ngô Đình Diệm. Còn y, bố y chỉ là một lão chánh tổng dưới thời Pháp cai trị ở ngoài Bắc. Cứ kể với cái thứ bậc chánh tổng trong xã hội hồi đó, bố y cũng là người có công lớn về việc đánh phá bọn cộng sản Bắc kỳ. Nhưng bố y đã bị nông dân miền Bắc vạch tội có nhiều nợ máu và xử tử từ năm 1953 rồi. Thành thử ngoài cái lý lịch chống cộng của gia đình, y đã vào đời chỉ với một khối óc thâm thù cộng sản mà thôi. Y giống như một gã đi buôn nhiều mánh khóe và tham vọng, biết vốn liếng ban đầu chẳng có là bao, nên càng chăm chỉ nghiền ngẫm cách vơ vét để trở thành một nhà triệu phú. Y cố theo gót chân Hoài Việt, đồng thời không bỏ qua lốt chân của Tám Chảng. Con đường tiến thân của y là một sự dung hòa giữa những con đường của hai thằng đó. Nghĩa là nếu có dịp, y sẵn sàng nhúng ngập cả hai bàn tay y vào máu người, song y lại luôn luôn cố chứng tỏ với cấp trên rằng y là một sĩ quan có học vấn, có năng lực, và nhất là có lòng trung thành với "sự nghiệp chống cộng".

Hồi năm 1960 khi sức vóc của Trần Trung đủ lớn, y liền bỏ học, quyết chí đi lính để báo thù cho cha.

Y bước vào đời chẳng có gì đặc biệt so với những tên lính khác. Nhưng không ngờ số phận y lại may mắn như vậy. Mới qua vài lần đi càn quét "tảo thanh" ở một vùng nông thôn miền Nam mà tên tuổi y đã được cấp trên xếp ngay vào danh sách những binh sĩ có lòng dũng cảm và đáng tin cậy.

Nửa năm sau, y được đi học trường hạ sĩ quan ở Tân Hiệp. Dịp ấy, y đã hí hửng mừng, cho là mình gặp số đỏ. Nhưng chẳng bao lâu sau,mỗi khi nghĩ lại cái may mắn ban đầu ấy y không khỏi nhún vai mỉm cười. Vì y đã gặp một dịp may khác lớn gấp bội:

Vào một buổi sáng giáp tết âm lịch, các đơn vị trong trường hạ sĩ quan đều ăn mặc chỉnh tề ra sân trường xếp hàng như đóng cọc xuống đất để đón một vị tướng đến thăm trường. Viên tướng ấy là một người có tầm vóc bình thường. Nhưng từ đôi giầy đen đánh xi rọi nắng sáng như kính, bộ quần áo xám là cứng đơ, đến mái tóc chải bóng rồi từ những bước đi chậm rãi, mỗi lần đế giầy chạm tới đất là một lần bộ ngực ưỡn giật ra phía trước, đến những cái nhìn gườm gườm soi mói và những cái nhún vai quá mạnh làm cho người nẩy lên… nhất nhất đều toát ra một vẻ oai vệ khác thường.

Đứng ở đầu hàng quân, Trần Trung không thể kìm hãm được những tình cảm trái ngược nhau do những ấn tượng mạnh mẽ dội vào óc y. Y vô cùng thèm muốn lại vô cùng khiếp đảm đối với vị tướng kia. Không hiểu đã nhìn thấy những gì lộ trên nét mặt Trần Trung mà tên tướng đang đi bỗng dừng lại nhìn chòng chọc vào người y. Nếu tên tướng cứ nhìn như thế một lát nữa, chắc y khuỵu xuống giữa hàng quân mất rồi. Nhưng tên tướng đã bước đến mặt y và hất hàm hỏi hai tiếng cộc lốc:

- Tên gì?

Hồn vía Trần Trung như vù bay lên mây hết. Y không nhớ y đã ăn nói ra sao trước mặt vị tướng nọ. Nhưng đến bây giờ y vẫn còn nhớ như in vào óc là lúc đó vị tướng đã mỉm cười với y và ra lệnh cho y đúng 10 giờ phải có mặt ở văn phòng nhà trường để gặp mặt hắn.

Tại văn phòng trường hạ sĩ quan. Lần thứ hai viên tướng hỏi tên Trần Trung, với giọng ít hách dịch hơn lần sáng:

- Cậu bé tên gì?

Trần Trung cố trấn tĩnh, moi óc nhớ lại những trang tiểu thuyết, xem người ta vẫn gọi loại người này là gì. Y lúng búng trong miệng:

- Kính thưa tướng quân…

Hai tiếng "tướng quân" lạ tai phát ra từ miệng một tên lính còn lún phún ria mép làm cho tên tướng rất khoái chí. Hắn vừa xua tay vừa cười ha hả:

- Chà, cậu bé ăn nói văn hoa quá!

Hắn định bảo Trần Trung gọi hắn theo cấp bậc cụ thể của hắn, nhưng lại thôi, hắn gật đầu:

- Thôi được thôi được, cứ nói đi.

- Vâng ạ, kính thưa tướng quân, tôi tên Trần Trung.

Nghe đến họ Trần, mắt viên tướng mở to, đẩy đôi hàng lông mày nhướng cao hẳn lên, và hàng lông mày lại xô đẩy những đường nhăn hằn sâu trên trán hắn, khiến chúng dồn cụm vào nhau như những nhát dao băm ngang bộ mặt hợm hĩnh của hắn. Hắn hỏi vội:

- Quê ở đâu?

- Kính thưa tướng quân, quê tôi ở Thượng Phùng…

Viên tướng không chờ Trần Trung nói hết đã bật người lên khỏi mặt ghế sa-lông lót nhung đỏ. Hắn đập cả hai bàn tay lên mặt bàn đánh rầm và reo to:

- Á… à

Nhưng ngay đó, tên tướng lai gieo phịch người xuống ghế và thở dài ảo não. Hắn cúi đầu nghĩ ngợi một lúc lâu mới ngẩng lên nhìn thẳng vào đôi mắt đang ngơ ngác của tên lính ngồi đối diện với hắn. Giọng hắn rầu rầu, như khấn một linh hồn nào đang lởn vởn ở đâu đây:

- Nói đi, bố cậu bị bọn khố rách áo ôm ngoài ấy đấu tố thế nào? Tài sản nhà cậu bị chúng tán phát thế nào? Nghe nói cái lầu trà giữa đầm sen của ông cụ bị chúng lấy làm lớp học cho trẻ con rồi phải không? Chị Hương của cậu giờ ra sao? Còn ở ngoài đó hay đã vào trong này?…

Trần Trung sửng sốt đến gai người. Không hiểu sao mà một vị tướng đường bệ nhường ấy lại biết bố y, biết gia đình y tỉ mỉ đến thế? Y rơm rớm nước mắt. Dường như chưa bao giờ thấy nhớ cái dinh cơ đồ sộ của nhà y bằng lúc ngồi kể chuyện cho viên tướng nghe. Y thấy hiển hiện lên trước mắt y một cái lầu lộng lẫy xây ở giữa đầm sen cùng với những đêm bọn lính dõng bắt người đem về đó tra tấn.

Vốn là từ trước, những cuộc tra tấn vẫn làm ngoài đồn Thượng Phùng. Giữa đêm hôm khuya khoắt bọn lính cũng vào đập cửa ngăn thùm thùm để gọi bố y ra đồn nhận mặt người bị bắt. Từ khi bố y làm thân được với ông đồn trưởng, ông đồn trưởng mới nể tình đem những người bị bắt về cái lầu trà của bố y để tra tấn, đỡ cho bố y phải lẩm cẩm đi đêm về hôm vất vả. Hơn nữa, ông đồn trưởng và bố y còn một thâm ý khác, muốn nhờ những chuyện khủng khiếp ấy để đe dẹp bớt cái lũ dân làng Thượng Phùng cứng đầu cứng cổ này.

Đêm đầu tiên nghe tiếng vồ đập bồm bộp vào ngực người, tiếng la thét, chửi bớt, tiếng chai lọ đổ loảng xoảng và cả những chuỗi cười khằng khặc từ ngoài lầu dội vào, y đã giật mình thức giấc. Quờ tay sang đám chiếu bên cạnh không thấy bố là y lồm cồm chạy vào buồng nằm ôm chặt lấy lưng mẹ. Nhưng chỉ ít đêm sau, không những không còn sợ hãi, mà mỗi khi nghe rục rịch là y đã ngồi nhỏm dậy, chạy băng qua cái sân gạch rộng mênh mông để ra ngoài lầu xem quan đồn trưởng, bố y và lính tráng đánh "bọn Việt Minh" - Y thích nhất là những lúc quan đồn trưởng nghỉ tay ngồi vào bàn uống rượu cùng bố y. Quan đồn trưởng là người dữ tợn hết chỗ nói đối với "bọn Việt Minh". Nhưng với y, ông ta mới dịu dàng và đáng yêu làm sao! Ông ta bế y lên cho ngồi trên đùi mình. Rồi cũng ông ta lại cầm cả những cái tỏi gà béo ngậy chấm vào tận môi y… Y cứ thức như vậy cho tới khi nào đàn chó lài nhà y thôi sủa ồm ồm trong sân, lính tráng lôi những nạn nhân lên đồn, và đám đầy tớ nhà y đang ngủ bị dựng dậy lặng lẽ như những cái bóng đi thắp đèn ra kỳ cọ, rửa ráy ngoài lầu. Sáng ra, cái lầu trà của bố y lại đượm vẻ nhàn tản, thanh đạm, đứng soi bóng mấy bức tường vàng nhạt lên mặt hồ sen phẳng lì. Ở trong lầu, hương trà thơm ngát lại thoảng ra…

Nghe Trần Trung kể, nhiều lúc viên tướng ngồi ngơ ngẩn. Đôi mắt gườm gườm của hắn thoắt thay đổi, mơ màng như nhìn về cõi xa xăm nào với tất cả nỗi bâng khuâng nuối tiếc. Trần Trung làm sao mà nhớ được cách đó ngót hai chục năm người cai quản khu Thượng Phùng là một ông đồn trưởng bảnh trai, nhưng độc ác không ai bằng. Ông đồn trưởng ấy sau này trở thành bạn tri kỷ của bố y, mặc dù bố y hơn ông ta đến vài chục tuổi. Nếu đồn Thượng Phùng không bị Việt Minh nhổ quá sớm thì chắc ông đồn trưởng đã kịp cưới chị y làm vợ lẽ rồi.

Viên tướng lại trở lại vẻ mặt lạnh lùng cố hữu của hắn. Hắn vẫn chưa nói cho Trần Trung hiểu quan hệ giữa chúng là thế nào. Nhưng rồi trưa hôm đó Trần Trung không quay về trại nữa, mà lên xe đi cùng viên tướng về nhà riêng của hắn. Một tuần sau, Trần Trung được đưa thẳng lên trường sĩ quan Đà Lạt.

Dịp may lạ lùng ấy khiến Trần Trung ngây ngất đến hàng tháng trời. Nghĩ tới những đứa bạn còn ở lại trường hạ sĩ quan, y thấy mình như đang nằm mơ. Không ngờ chỉ trong vòng mấy ngày mà y đã bỏ lũ bạn bè lại sau một khoảng cách dài đến thế.

Năm Trần Trung tốt nghiệp trường sĩ quan Đà Lạt, viên tướng nọ có viết thư cho y, hẹn sẽ lấy y về làm việc ở văn phòng của hắn. Nhưng Trần Trung không muốn thế. Lúc đó y đang nôn nóng được "Bắc tiến" theo lời kêu gọi của Ngô tổng thống để thực hiện cái ước mơ y từng ôm ấp suốt mấy năm trời là được trở lại Thượng Phùng quê hương y, được thẳng tay bắn giết để trả mối thèm khát oán hờn trong lòng y. Với tâm trạng ấy, y đã xin ra mặt trận.

Mới đầu người ta giao cho y chỉ huy một trung đội. Sau y được thăng cấp và lên chỉ huy đại đội.

Lần bị sa vào trận địa phục kích của Quân giải phóng ở miệt Bình Dương, cả đại đội y chỉ còn mỗi mình y thoát chết. Y lại được thăng đại uý và được thưởng "Anh dũng bội tinh" với ngôi sao bạc(1). Nực cười đến chết được. Dạo đó cũng vì tên lính thông tin bị bắn chết như thế này, y phải đeo lấy máy mà chạy. Sẵn máy đó, y vừa chạy vừa luôn mồm báo cáo với tên tiểu đoàn trưởng là đại đội y đang bị nguy ngập, nhưng đại đội y vẫn chiến đấu, quyết chiến đấu đến người cuối cùng để tiêu diệt quân…

Khi chiều, trong lúc bốc trời lên nói liều với tên đại tá chiến đoàn trưởng: "Xin ngài hãy tin tưởng vào tôi và vào các chiến hữu anh dũng của tôi", y bỗng mường tượng thấy cái hàm thiếu tá đã ở ngay trước mặt y chỉ cần y với tay ra là có thể tóm gọn lấy nó.

III. Rạng đông vừa láng một đường viền xanh hết sức mỏng manh lên những khu rừng phía biên giới thì đại uý Đời Lãng Tử đã chuẩn bị xong mọi thức. Y bắt đầu lên đường. Thực ra y không có gì để chuẩn bị lâu: Hai khúc gậy chống cầm hai tay; một dải vải buộc võng qua cổ để treo cái đầu gối bên phải lên cho ống chân đau khỏi vướng; một gói gạo sấy đựng trong bọc ni lông cũng buộc dây treo qua vai, và một xấp giấy bạc đô-la bỏ trong túi ngực.

Giấc ngủ mê mệt lúc gần sáng đêm qua dưới trời mưa lai rai và đầy muỗi mòng đã có tác dụng làm dịu bớt mớ dây thần kinh nhức nhối trong đầu y - Chính đêm qua là đêm y được yên ổn nhất trong vòng nửa tháng nay, kể từ hôm Quân giải phóng đặt súng cối ở bên kia lô cao-su và cho cả những tay thiện xạ AK lấn dần như những cái đinh vít mỗi lúc một xoáy sâu mãi vào xương tủy vị trí SN của chúng - Cơn đói cũng bớt cồn cào trong bụng y. Y thấy dễ chịu và khỏe ra. Chỉ có vết thương dưới chân y là đau đớn hơn lên. Y phải khổ sở lắm mới chống nổi hai cây gậy để nhẩy cò cò đi được một bước ngắn.

Nhẩy được vài chục bước như vậy mà mồ hôi đã nhớp nháp khắp người. Hai tai ù đặc lại. Y đã muốn nằm xuống nghỉ nhưng y lại tặc lưỡi tự an ủi: "Rồi sẽ quen đi. Bất cứ cái gì cũng có thể làm quen được tất". Thế là hai chiếc gậy của y lại tiếp tục chống xuốngđất, y lại dùng sức mạnh của đôi cánh tay để đu người lên nhẩy từng bước, từng bước.

Đi được một lúc khá lâu, y quay lại nhìn, thấy cái xác tên trung uý Ngọn Lửa Tình chỉ còn là một khối không rõ đường nét nằm trên mặt đường. Y gật gù: "Quả là cái gì dù khó mấy cũng vẫn làm quen được thật". Đầu óc y rảnh rang hẳn ra. Y vừa đi vừa ngắm cảnh. Mặt trời đã lên khỏi đường chỉ xanh vô tận vắt ngang phía trước mặt y. Giữa những cánh rừng dầu gặp mùa ra lá non xanh rờm rợp là con đường 13 sáng ánh lên như một dòng sông tràn trề nắng sớm. Y thấy y giống như một con thuyền thám tử đang phiêu du trên dòng sông hoang vu này. Trong chốc lát y bỗng trở thành một con người dễ tính và mơ mộng. Đến một cơn gió thổi hây hẩy từ biên giới lên y cũng bâng khuâng như vừa được một bàn tay âu yếm nào thoa nhẹ lên má. Y mải mê ngắm những chiếc lá dầu non trên cao, và ngạc nhiên không thể hiểu được đến một lúc nào đó nó sẽ biến thành chiếc lá già, sẽ rời khỏi cành rồi biến thành đất mục… Bởi vì y đang hy vọng sống và đang xa lạ với cái chết.

Lòng ham sống và cảnh trong sáng của thiên nhiên như đang phỉnh nịnh ý chí của y. Y quên bẵng những ý nghĩ biết ơn bàn tay che chở của Chúa. Y lại trở lại với tiềm thức vốn có trong người y: Trên đời này chỉ có sức mạnh của ý chí và hành động. Bất cần nhân nghĩa, bất cần chân chính, chỉ riêng những hành động tàn bạo và quyết liệt cũng đủ xây nên vinh quang hiển hách cho cả một đời…

Y lại ngoái lại phía sau. Cái xác tên trung uý đã như một chấm nhỏ lay động trong mớ hoa nắng. Lòng tràn đầy thỏa mãn, y dừng lại ngồi nghỉ giữa mặt đường. Y xoè bàn tay quết mồ hôi trên mặt và mỉm cười đắc thắng: Quãng đường còn lại hơn ba cây số có gì đáng ngại đâu. Nếu không bị bất ngờ lọt vào tay những tốp bộ đội Giải phóng thường đi lại lẻ tẻ trên đường, và nếu không gặp chuyện gì bất trắc khác, thì chậm lắm là đêm nay y đã ung dung ngồi trong vị trí của pháo đội B dưới cây số không rồi.

"… Việc đầu tiên, mình phải tắm rửa sạch sẽ, sau đó chờ máy bay trực thăng tới" - Nụ cười hé mở làm cho khuôn mặt vàng võ thoáng rạng lên khi y đang mơ màng nghĩ tới lúc người ta đưa y vào bệnh viện, vẫn biết dạo này các bệnh viện đang đầy nghẹt binh lính bị thương từ các mặt trận đưa về. Ở đó suốt ngày đêm đang náo loạn lên vì những câu chửi tục tĩu, vì tiếng la hét, rên rỉ, và tiếng hú mê sảng của lũ người mà vết thương càng làm cho chúng hung hãn như một bầy sói dữ ấy. Mặc, y vẫn nối tiếp vào một giấc mơ như ở trên thiên đường vậy: Một buổi sáng y tỉnh giấc trên một tấm nệm trắng tinh, cô y tá rất trẻ, rất đẹp cũng mặc đồ trắng, mùi dầu thơm sực nức khắp người, cô nhẹ nhàng như một nàng tiên bay lại bên giường y nằm. Cô nghiêng mình những sợi tóc mai mềm như tơ của cô rủ xuống khẽ chạm vào má y, và cô nói với y những lời thì thầm, vừa dịu dàng vừa cung kính:

- Ông đại uý. Ngài đại tá muốn vào thăm ông.

Chỉ tưởng tượng ra thế mà trống ngực y đã đập rộn lên. Song nếu như trong thực tế thì lúc đó y sẽ cố giữ một bộ mặt thật lãnh đạm. Y chỉ hé mở đôi mắt một chút rồi lại lim dim như chưa ra khỏi những ác mộng mang theo từ chiến địa trở về. Y khẽ nói với nàng:

- Mời đại tá vào.

Rồi y nghe thấy những bước chân rón rén đặt lên nền gạch của bệnh viện. Một người kéo ghế ngồi sát lại giường y. Lúc đó y mới mở bừng mắt. Có lẽ hình ảnh đầu tiên y thấy sẽ là mấy cái ngấn như mấy vòng chỉ thít vào đoạn cổ núng nính của ngài đại tá chiến đoàn trưởng.


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 17 Tháng Tư, 2011, 10:14:50 am
                Tiếp theo

"Mình sẽ nói với ngài đại tá thế nào nhỉ?" - Y vẫn đắm say đuổi theo những mộng tưởng - Phải rồi, y sẽ cố làm ra vẻ thiểu não mà nói với tên đại tá những lời nghẹn ngào như thế này:

- Kính thưa đại tá. Trưa ngày 30 tháng 5, khi tôi được lệnh ngài cho chiếm giữ dốc L để chặn đứng đà tiến của cộng quân thì cũng chính lúc ấy dốc L đã lọt vào tay chúng mất rồi. Tình thế của tôi thật muôn phần eo nghẹt. Từ bốn phía quân địch đổ ra ép chặt tôi lại, cắt nát đội hình của tôi ra từng mảnh. Nhưng để thi hành lệnh của ngài, chính tôi đã chỉ huy phá vòng vây, lại chính tôi dẫn quân xông lên chiếm lại dốc L, đánh bật hai tiểu đoàn cộng quân ra ngoài… Mong ngài cứ yên tâm. Mọi việc tôi đã giao lại cho trung uý Phan Họa (tức trung úy Ngọn Lửa Tình mà đêm qua y đã thấy phơi xác trên đường 13). Trung uý Phan Họa là một sĩ quan dũng cảm tuyệt vời. Còn tôi… - Đến đây đôi mắt y chắc sẽ long lanh lên vì những giọt lệ ứa ra - kính thưa ngài đại tá, tôi thật vô cùng ân hận vì đã bị trọng thương giữa cuộc chiến, chưa thực hiện được trọn vẹn lời hứa với ngài. Trong đời làm sĩ quan, đây là lần đầu tiên tôi thất hứa với cấp trên. Tôi tha thiết mong ngài cho tôi được chịu tội trước ngài. Tôi thật không xứng đáng…

Đấy, đại loại y sẽ nói với cấp trên những lời vừa bi hùng vừa dễ mủi lòng như vậy. Còn vị đại tá, ông ta sẽ nói thế nào nhỉ? Biết đâu đại tá lại chẳng nắm lấy bàn tay y mà an ủi:

- Ông đại uý! Tôi thật chưa được gặp một sĩ quan cấp dưới nào dũng cảm và trung thành như ông. Ông ráng tĩnh dưỡng. Đừng nói nhiều mà mệt. Ông còn yếu lắm. Ông cứ an tâm. Tôi lấy danh dự một đại tá mà bảo đảm với ông rằng ông sẽ được tuyên dương công trạng trước toàn quân đoàn, được thưởng "Anh dũng bội tinh" và được thăng cấp…

Đến đây, y bỗng bùi ngùi nhớ đến viên tướng năm xưa đã đưa y từ Tân Hiệp lên Đà Lạt. Cho dù hắn vẫn là một kẻ khinh khỉnh không thèm hạ mình xuống cho y cầu thân. Nhưng nếu hắn không bị du kích Việt cộng bắn chết trong một cuộc hành quân lớn thì hẳn cuộc đời y đã khác hẳn bây giờ.

Đầu óc Đời Lãng Tử còn đang bồng bềnh trong những giấc mơ ngọt lịm ấy thì tiếng súng bỗng nổ rộ ở phía biên giới. Tiếng súng đã nhanh chóng kéo y về với thực tại. Y thấy trong người chộn rộn lên khi y cố gắng lắng nghe để phân biệt từng loại tiếng nổ đang dội tới. Những tiếng nổ rền đất rõ ràng là tiếng mìn. Còn những tiếng lụp bụp là tiếng súng B.40, B.41 của Việt cộng. Khi nghe những tiếng cắc cùng, cắc cùng của súng trọng liên trên xe tăng Mỹ bắn, mắt y bỗng sáng lên. Y thì thầm gọi: "Lữ đoàn 3! Lữ đoàn 3!" bằng một giọng đặc biệt trìu mến. Đồng thời y cũng thấy lo lo. Những con đường đẫm máu đối với quân lực Việt Nam cộng hòa lại hiện lên trong trí nhớ của y. Y tự hỏi: Không biết nên đi tiếp hay nên ngồi lại chờ lữ đoàn 3 thiết giáp lên? Mà chắc gì lữ đoàn 3 đã lên nổi?

Y còn đang lưỡng lự, lại tiếp đến tiếng máy bay trực thăng lật phật từ xa vang tới. Y bàng hoàng như nằm mộng thấy thế nào thì lúc tỉnh dậy sự thật diễn ra đúng như vậy. Nhất là từ lúc thấy ba chiếc máy bay trực thăng bắt ánh nắng sáng loé như ba cục lửa từ phía nam bay lên dọc theo đường 13, y đã mừng rỡ quăng vù cả hai chiếc gậy đang cầm ở tay đi. Y hồi hộp chờ đợi. Đời y chưa bao giờ hồi hộp đến thế. "Chỉ vài phút nữa mình sẽ được nằm trên máy bay của đồng minh…". Y đâm ra tiếc cái công lê lết từng tấc một suốt từ sáng tới giờ.

Cho chắc chắn hơn, y cởi sẵn chiếc áo nhuộm đỏ đất rừng cao-su ra cầm ở tay, chờ đến lúc nom rõ cái đầu tròn quay của tên phi công y mới tung áo lên vẫy.

Hai chiếc máy bay vẫn bay thẳng. Chiếc bay sau cùng lượn một vòng bên trên chỗ Đời Lãng Tử đang ngồi, y càng giơ chiếc áo lên vẫy như điên như dại.

Chiếc máy bay lượn trở lại phía mặt trời rồi bắt đầu nhằm thẳng chỗ y mà cắm đầu lao xuống. Trời ơi! Y sung sướng trào nước mắt…

Chiếc máy bay lao xuống thấp dần, thấp dần. Cả khuôn mặt đỏ bự của tên phi công Mỹ, y cũng đã thấy rõ. Nhưng, giữa lúc tim y muốn vỡ ra vì quá vui sướng thì khẩu đại liên thò một khúc nòng đen sì dưới bụng máy bay bỗng nháng lửa. Y chỉ kịp thét lên một tiếng đau xé ruột rồi té ngửa ra mặt đường, nằm bất động. Ráng chừng tên Mỹ ngồi trên máy bay tưởng y đã chết nên nó chỉ bắn có một loạt rồi bay thẳng.

Y không lạ gì chuyện chúng vẫn đem bom giội cho phi tang xác lính và thương binh của chúng bị bỏ lại trận địa. Nhưng sự độc ác bất nhân đến cùng cực ấy thì lần này chính y mới nếm phải. Từ trước đây, qua những cuộc họp, những trận đụng độ với "Việt cộng" những khi đóng quân dã ngoại, người Mỹ đã làm y không biết bao nhiêu lần phải thất vọng. Song, cứ sau mỗi lần bị sỉ nhục ấy, y lại tự nhủ: Mình yếu, họ vừa mạnh vừa giàu, mình phải nhờ vả họ, nên những chuyện đó cũng là lẽ thường. Nếu như cái quân lực Việt Nam cộng hòa này là một đội quân có sức vóc thật sự thì tất nhiên y sẽ nói với người Mỹ bằng một giọng khác hẳn. Còn hiện nay, trong công việc cũng như trong mọi ngõ ngách của cuộc sống, lúc nào, chỗ nào y cũng như chạm phải những cánh tay lông lá của người Mỹ: Mệnh lệnh Mỹ, súng đạn Mỹ, quần áo Mỹ, đô la Mỹ, phim ảnh Mỹ. Cả mấy dòng "chỉ dẫn cách sử dụng"... in ngoài bao gạo sấy, y đang đeo dưới nách đây cũng sặc lên cái giọng ngọng nghịu của người Mỹ.

Y càng thấy nhục ê chề khi y lóp ngóp bò dậy đi nhặt lại hai cây gậy y đã trót liệng ra bên đường và lủi thủi lết đi. Người y rời rã, bẽ bàng hơn lúc nào hết. Màu xanh rờn của rừng dầu vào mùa mưa, ánh nắng mặt trời tuôn lai láng xuống con đường nhựa, những giấc mơ màng về một buổi sáng ở bệnh viện, tất cả đều tuyệt nhiên không gợi nổi một rung động nhỏ nào trong lòng y nữa. Hai cánh tay mỏi bủn rủn không còn đủ sức chống đôi gậy để nâng người y lên. Sức nóng và máu trong người y hầu như dồn cả xuống khúc chân đau của y làm nó căng nhức như sắp nứt toác ra. Hai hàm răng y nghiến vào nhau trèo trẹo. Y càng cố tập trung những nguồn sức mạnh quá tản mát trong người y lại bao nhiêu thì đất trời chung quanh y càng chao đảo hỗn loạn bấy nhiêu. Hai màng tai y đập bùng bùng. Mắt y mở căng, nhưng y không nhìn thấy gì hết. Mọi vât đều nhoè nhoẹt, chập chờn, tạo thành một khối vô hình đang nghiêng đổ xuống con người bất lực của y.

Y lại vừa thở hổn hển vừa đặt gậy xuống ngồi nghỉ trên mặt đường nhựa đã nóng hâm. Y ngồi choãi hai tay ra sau, đầu cúi gục, mái tóc bờm xờm rủ xuống che gần kín bộ ngực đang thở hi hóp. Không cần ngoảnh lại, y cũng thừa biết quãng đường y vừa đi rất ngắn. Ngồi ở đây, y vẫn còn ngửi thấy mùi thuốc súng khét lẹt do chiếc máy bay bắn lúc nãy.

Y ngồi như vậy từ non trưa. Tới lúc cái bóng thu gọn dưới chân y, y mới uể oải gỡ ra gói gạo sấy vẫn đeo bên nách y. Y xé lớp ni-lông bọc, nhón tay bốc vài hạt gạo bỏ vào miệng chai. Mấy hạt gạo cứ lẩn qua lẩn lại giữa hai hàm răng tê buốt của y. Miệng lưỡi y khô bỏng từ lúc nào rồi. Y lại đeo túi gạo vào chỗ cũ và định bò xuống đám sình cách mặt đường không xa.

Cơn khát giúp y bò nhanh hơn. Đến được bờ sình, y liền cúi cổ xuống mặt nước, nín thở uống ừng ực một hơi thật dài. Khi ngẩng lên thở, y mới giật mình nhìn thấy kế ngay chỗ có mấy cái xác chết mặc đồ lính trận đang bị sóng đánh phập phều dưới màng cỏ lưa thưa. Y lợm giọng, nhưng mắt vẫn không thể rời khỏi mặt nước trong leo lẻo. Y ngần ngừ hồi lâu, và cuối cùng đành phải đánh liều nhắm mắt lại, gục cổ xuống uống một hơi thật dài nữa trước khi bò trở lại mặt đường.

Từ lúc trời sáng rõ, y đã thấy ngay rằng đi giữa mặt đường trống trải này là một việc rất dễ nguy hiểm đối với y. Nhưng cái chân bị thương của y lại không cho phép y lẩn lút đi trong rừng, nên y vẫn phải đi trên đường, liều lĩnh như đánh một canh bạc "năm ăn năm thua" với số phận.

Y lại tiếp tục lết đi.

Lớp đường nhựa bị nắng nung nhão ra, núng nính dưới hai đầu gậy và dưới đế giày trái của y. Càng về sau, hơi nóng từ mặt đường càng xông lên làm y ngột ngạt khó thở. Y đang nhẩy cò cò trên đường mà đầu tóc y lại luôn luôn tưởng tới hình ảnh cái vạc dầu dưới địa ngục, và cả những vạc dầu có thật trên đời này do chính y bắt lính đun sôi sùng sục rồi múc từng gáo dội xuống ngực, xuống lưng những người du kích bị y bắt được trong những trận càn trước đây. Sự liên tưởng ấy khiến y thêm khổ sở gấp bội. Mỗi bước đi của y, y lại thấy như mình đang dẫn thân tới một cái vạc dầu đặt ở phía trước. Y rên rỉ. Y nguyền rủa quãng đường càng đi càng thấy xa mờ mịt. Y nguyền rủa những tia nắng khắc nghiệt trên cái xứ sở xa lạ này. Y nguyền rủa cuộc đời. Y nguyền rủa tên đại tá chiến đoàn trưởng. Xa hơn nữa, y nguyền rủa cả đến bọn đang ngồi ở Sài Gòn, ở "dinh độc lập" và ở tận bên nước Mỹ. Niềm trông cậy của y vào đám những tướng lĩnh và những tổng thống bị tan tành trong chốc lát.

Sự thật thì không phải mãi đến lúc này đức tín của đại uý Đời Lãng Tử mới bị đổ vỡ mà nó đã bắt đầu rạn nứt từ lâu lắm rồi. Vào năm 1960, khi mà bên phía "cộng sản" thành lập mặt trận để chống lại người Mỹ và tổng thống Ngô Đình Diệm. Thoạt tiên là đài phát thanh Sài Gòn và trên báo chí người ta đưa những tin tức mập mờ về những cuộc đụng độ giữa quân đội Quốc gia với vài ba nhóm cộng sản ở Bến Tre, Mỹ Tho, ở các tỉnh miền Trung hay ở một nơi, một vùng nào đó tận gần vĩ tuyến mười bảy. Trong những tin tức ấy, người ta cố xem Việt cộng như những đám nổi loạn lẻ tẻ không đáng kể. Nhưng rồi từ vùng chiến thuật này, vùng chiến thuật khác, các cuộc hành binh "tiễu trừ cộng sản" cứ liên tiếp mở theo nhau, mỗi ngày một phình to ra. Còn cộng sản thì vẫn "chưa" bị tiêu diệt. Rồi chẳng bao lâu sau, trên đài phát thanh và trên báo người ta đã bắt buộc phải đưa tin về cuộc hành quân này "gặp nhiều khó khăn", chiến dịch nọ phải "kết thúc trước thời gian quy định" và một loạt đơn vị tinh nhuệ của "Chính phủ" bị "thiệt hại nhẹ", "thiệt hại vừa" và "tổn thất nặng nề". Kế đến những đêm khuya súng nổ rền ở ngoại ô Sài Gòn, rồi những buổi sáng dân thành phố vừa mở mắt ra đã thấy cờ mặt trận tung bay ngạo nghễ trên nóc những bui-đinh Mỹ…


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 17 Tháng Tư, 2011, 10:17:58 am
           Tiếp theo:

Y tốt nghiệp sĩ quan được ít lâu thì đùng một cái, anh em nhà Ngô Đình Diệm bị hạ thủ. Suốt mấy ngày liền lúc nào y cũng bơ phờ như lần thứ hai trong đời y phải mồ côi cha. Nhưng cũng đúng vào dịp ấy y lại có một nguồn vui mới: Y vừa được thăng cấp.

Sau này nghiệm lại cuộc đời, y thấy hồi đó y lo nghĩ thật là viển vông. Ông Diệm đổ, ông Minh lên, rồi ông Minh đổ, ông Khánh lên… xét cho cùng thì ông Diệm, ông Minh, ông Khánh, hay cả ông Thiệu ngày nay cũng vậy, họ chỉ khác nhau về mặt mũi và tuổi tác, nhưng cả bọn họ đều rất giống nhau ở hai điểm cốt yếu là chống cộng tới cùng và chịu tuân theo bàn tay sắp đặt của người Mỹ. Thế thôi, có gì đáng để y phải rầu rĩ đâu. Riêng về y. Y đã tự vạch cho mình một cách sống là bỏ qua tất cả những điều bi thảm trước mắt để nuôi lấy những hoài vọng cao xa. Chính vì thế mà y thấy hai chữ "sát cộng" xâm ở cánh tay phải y không còn đủ nghĩa nữa, y phải xâm thêm ba chữ "Đời Lãng Tử" vào cánh tay trái cho cân xứng…

Mặc dù y đã cố mạo nhận rằng cuộc đời y là một cuộc đời lãng tử, song từ bấy đến giờ, cũng có những lần thời cuộc làm cho nó chao đảo như một con thuyền sắp bị lật úp giữa dòng nước xoáy.

Vào một ngày đầu mùa xuân 1968 - mùa xuân đen tối đối với "nền cộng hòa" của ông Thiệu - tình cờ, Đời Lãng Tử đã gặp trung tá Hoài Việt trên một chiếc xe bọc thép khi chúng bị điều từ vùng chiến thuật ba về cứu nguy cho Sài Gòn.

- Anh là một sĩ quan có rất nhiều triển vọng.

- Triển vọng gì thưa trung tá?

- Vì anh vừa có lòng dũng cảm vừa có sự trung thành. Mà trong lúc này người ta đang rất cần lòng trung thành...

Đời Lãng Tử bỗng ngớ người khi nghe tên trung tá nói đến những tiếng "dũng cảm" và "trung thành" với một giọng rất đặc biệt vừa hài hước, vừa giả dối.

Suy nghĩ một lúc thật chín chắn, y mới đáp lại cũng bằng đúng cái giọng đầy ẩn ý của viên trung tá:

- Vâng, tôi sẽ... chiến đấu tận tụy.

Chúng ngồi bên nhau, cùng đang giữ miếng với nhau, như mỗi đứa đã dắt sẵn mỗi một con dao găm trong mình. Hoài Việt bỗng ranh mãnh thốt lên:

- Ôi, phải đó, chúng ta sẽ "chiến đấu tới cùng cho lý tưởng".

Im lặng hồi lâu. Rồi bất giác cả hai đứa cùng phá lên cười sằng sặc.

Lần ấy Hoài Việt về Sài Gòn còn có một mục đích riêng rõ rệt là sẽ luồn lọt để kiếm cho bằng được một tấm hộ chiếu ra nước ngoài...

Còn Đời Lãng Tử, y chỉ có một miếng hộ thân duy nhất, là vừa làm theo mệnh lệnh cấp trên vừa lắng nghe thời thế. Đến một lúc nào đó, y sẽ sẵn sàng trút bỏ bộ quân phục sĩ quan trên người và xin vào làm ở một hãng buôn chẳng hạn, để chờ thời. Thế nhưng khi những làn sóng tấn công của đối phương vừa tạm lắng xuống là y đã từ bỏ ngay tất cả những mưu toan ngấm ngầm ấy. Y thầm trách y là một đứa non gan...

Đời Lãng Tử càng nghĩ ngợi càng thêm xót xa vì bế tắc.

Đời Lãng Tử nguyền rủa một hồi. Đến lúc y không tài nào nhắc bàn chân trái lên để nhảy được nữa thì y nằm vật xuống đường. Mặt đường đã nóng bỏng, y lại phải bò lết vào trong một búi cỏ hôi ở mí rừng. Y định sẽ ngủ một giấc thật dài trong búi cỏ đó - Ngủ cho quên nỗi hãi hùng đang xiết chặt lấy người y, ngủ để tạm lẩn trốn cơn đói, khát và quãng đường kỳ quái trước mặt y, và biết đâu lại chẳng có một dịp may mắn ngẫu nhiên nào sẽ xảy ra trong lúc y ngủ...

Nhưng y nằm lâu lắm rồi mà vẫn chưa thể ngủ được. Vì nóng quá, và vì y đang luôn luôn cảm thấy có một người nào đang rình rập mình. Y cố nghĩ xem tại sao y lại đâm ra hoảng sợ vu vơ như vậy. Chợt y nhớ đến khuôn mặt đen cháy của một chú bé có cái chỏm tóc bắt nắng đỏ hoe vừa mới chấm ngang mũi súng AR.15. Phải rồi, thằng bé người Bình Định. Y đã tóm được nó trong một căn hầm bí mật đào giữa bãi cỏ dưng. Y hỏi gì thằng bé cũng chỉ lắc đầu. Y tưởng nó quá khiếp sợ nên sinh ra ngớ ngẩn. Nhưng sau một hồi đánh đập bằng tay, bằng chân, bằng báng súng và bằng cả mũi dao găm lích sâu vào bắp đùi nó, nó vẫn chỉ có lắc đầu. Y lại tưởng là thằng bé bị câm. Y không moi được ở nó một lời nào, nhưng chắc chắn nó là một thằng cộng sản tí hon. Nghĩ vậy nên y đã bắt thằng bé lần lượt nuốt hết một băng đạn AR.15.

Thật không ngờ, cho đến lúc đứa bé ngã ra (chắc đầu đạn nhọn đã xiên thủng dạ dày nó), nó mới quắc mắt lên, nhìn thẳng vào mặt y mà chửi:

- Ù ẹ thằng báng nước! Bú ặc tao đây nè!

Trời! Thằng bé hãy còn nói ngọng.

Rồi cũng chiều hôm đó, trong lúc xua lính vào đốt phá một xóm nhỏ, y đã gặp một người lính già lén nâng mũi súng lên chĩa thẳng vào hông y. Nhưng y đã quay lại bắn chết anh ta trước khi anh ta kịp bóp cò súng.

Đôi mắt của đứa trẻ và đôi mắt của người lính già ấy lại đang hiện lên nhìn y trừng trừng. Y run sợ.

Y cũng đã nghe tiếng nói của đại tá Nguyễn Văn Thọ do đài phát thanh Hà Nội truyền đi. Y biết là chuyện những người quen của y như thiếu tá Phùng, đại uý Liễn, thiếu uý Phi Hùng... đã ra hàng quân cộng sản và đã được đối xử tử tế. Nhưng với y lại khác. Y lắc đầu để khẳng định lại một lần nữa ý chí của mình: Mình không thể làm theo bọn họ được.Cộng sản là ai? Như bọn người ở Thượng Phùng chẳng hạn, bọn người mà trước kia mình chỉ cần "hừm" một tiếng cũng đủ làm cho chúng sợ mất vía? Không! Không đời nào ta chịu công nhận những thằng khố rách áo ôm ấy.

IV. Mấy ngày sau khi kết thúc những trận đánh ác liệt ở vùng SN vào buổi sáng, có một tên lính nằm sóng soài trên bãi cỏ hẹp cạnh hàng rào dây thép gai của chốt pháo binh ngụy quân Sài Gòn ở gần biên giới Cam-pu-chia - Việt Nam. Hai bàn tay y dính bê bùn đất. Cả hai khuỷu tay và mảng đầu gối bên trái của y đều bị rách tưa ra. Máu ở những chỗ đó đã thâm đen lại, đóng thành vẩy ngoài lớp vải cứng. Mấy vòng băng bẩn thỉu bị xổ tung, vẫn còn mắc lòng thòng quanh cái ống chân phải sưng vù của y. Đàn kiến bồ nhọt đang lũ lượt bò dưới cỏ kéo nhau lại bâu bíu cái cục thịt sắp thối rữa ấy.

Y nằm không động đậy, mặt hếch lên, giữa bộ râu quai nón phủ gần kín khuôn mặt lộ ra hai hàm răng hạt bầu bạc phếch.

Trước đây hẳn y là một người vạm vỡ khác hẳn với bây giờ. Vì da thịt y tóp lại, tay chân y gầy teo như mấy que củi chắp nối vào nhau một cách tạm bợ. Bộ quân phục trên người y trở nên quá rộng, xệp xuống làm hằn lên cái khung người bên trong.

Ở cánh tay áo bên phải y vẫn còn gắn cái phù hiệu đầu con báo đen. Đầu con báo được thêu bằng loại chỉ màu than đá. Riêng cái miệng há hoác của nó lại thêu bằng một thứ chỉ đỏ lòm, làm nổi bật đôi răng nanh đen nhọn hoắt, trông như nó đang phun phè và sắp nhẩy bổ vào cắn xé ai.

Những năm tháng trước đây rõ ràng y đã là một con báo đen trong cái chuồng báo khổng lồ ở miền Nam. Nhưng lúc này, nếu trên ngực y không còn phập phồng một chút hơi thở thì y chẳng khác gì xác chết của một con vượn già. Một sự tương phản rất lạ lùng đang nảy ra giữa y và cái đầu con báo đen đeo bên cánh tay y.

Người nằm đó chính là đại uý Đời Lãng Tử.

Y bò đến đây từ trong đêm. Còn dăm bảy thước nữa là y vào được tận chỗ ở của bọn lính pháo thủ. Nhưng y đã kiệt sức. Dù sao thì y cũng có quyền yên chí rằng mình đã về đến đích rồi. Hơn nữa y lại đang nằm kề bên những "chiến hữu" cùng nòi giống với y, hẳn là họ phải khác xa với những tên phi công độc ác người Mỹ... Nghĩ vậy y càng thêm kiên nhẫn chờ đợi. Y chờ trăng lặn, rồi y chờ rạng đông. Trước lúc rạng đông y còn cố giữ được cho đầu óc y tỉnh táo. Nhưng rồi y đã thiếp đi trong khoảng thời gian ngóng chờ ánh bình minh. Y đang thiêm thiếp chợt nghe có tiếng chân người dẫm lên cỏ lạt xạt. Y hé mắt ra thấy hai tên lính vừa đến đứng sừng sững ngay bên cạnh y. Một thằng vừa thúc mũi giày vào thái dương y vừa nói với thằng kia.

- Chà sống dai quá trời!

Y mừng rỡ cất tiếng nói - thực tế chỉ là mấp máy đôi môi đã khô nứt. Hai tên lính chăm chú nhìn vào mồm y, rồi một thằng ngửa cổ cười phô những cái răng bịt vàng sáng loé. Còn thằng kia thì vừa nhún vai vừa nói với y:

- Trời đất! Tụi này cũng đang vắt giò lên cổ mà phóng đây nè. Việt cộng sắp tràn đến mà hổng biết hả, ông nội?

- Tôi là đại uý Trần Trung, tiểu đoàn trưởng...

Từ nãy thấy cách nói hỗn xược của hai tên lính, Đời Lãng Tử cho rằng chỉ vì chúng chưa biết y là một đại uý mà thôi, nên y cố dồn sức nói thật rõ hai tiếng "đại úy". Nhưng không ngờ, y vừa nói tới đó là hai tên lính đã quay ngoắt nhổ nước bọt lét tét và bỏ đi. Một thằng nói với lại, giọng khinh bỉ kéo dài ra:

- Ngài đại uý cứ nằm đó, xin mời!...

Vì không hiểu được cái ý vừa khinh bỉ vừa hài hước trong lời nói của tên lính nên Đời Lãng Tử đã mỉm cười, yên chí rằng mình sắp được cứu sống.

Hai tên lính đi khuất thì Đời Lãng Tử nghe tiếng xe hụ máy và tiếng người nói láo nháo ở bên trong lần hàng rào kẽm gai, làm trong lòng y lại thoáng gợn lên những phút giây hồi hộp. Nhưng tiếng máy nổ cứ xa dần, xa dần. Lại tiếp đến mấy chiếc xe nữa vừa hụ máy. Nhưng rồi cũng lại đi ra xa như những chiếc xe trước.

Bất giác, đại uý Đời Lãng Tử thở hộc lên một tiếng. Vòm trời buổi sáng trước mắt y bỗng tối sầm lại. Y nghẹt thở, quằn quại vì y vừa chợt hiểu: chẳng có chiếc xe nào ra đón y đâu. Bọn chúng đang bỏ chạy. Bọn tàn ác! Bọn đểu! Chẳng còn lấy một đứa nào đếm xỉa đến sự có mặt của y trên cõi đời này. Nước mắt y trào ra. Y kinh hoàng trước sự đổ vỡ đang tràn ngập lòng y. Lần đầu tiên trong đời y biết ân hận, hối tiếc tại sao y lại tự dấn thân vào con đường đầy máu me tanh tưởi này? Y mưu toan, luồn lách, y bắn giết trong ngần ấy năm trời để làm gì? Để báo thù cho cha ư? Nếu cha y còn sống đến ngày nay, liệu cha y đã trở thành một vị đại tá, như đại tá chiến đoàn trưởng chẳng hạn? Hay cha y đã là một con thú đội lốt người như thiếu tá Tám Chảng? Hay cha y đã là một kẻ ích kỷ và nhẫn tâm như những thằng ở pháo đội B này?... Nghĩa là cha y sẽ thuộc một trong những hạng người đáng kinh tởm đó?

Y lại nghĩ đến quãng đường 13 đẫm máu mà y đã lê lết mấy ngày đêm để về đến đây. Để làm gì? Rút ngắn cái khoảng cách giữa y và mục đích y hằng theo đuổi? Vô ích. Nó vẫn còn, đen ngòm ở ngay trước mắt y kia. Thế mà cả cuộc đời y đã ném vào đó? Vô ích. Hoàn toàn vô ích!

Trong đôi mắt đờ đẫn của Đời Lãng Tử, tròng đen đã kéo ngược lên, chỉ còn lại một chút như hai cái vuốt nhỏ núp sau đôi hàng mi - Sự sống đang lụi tắt trong đó - Đầu óc y lảng vảng lúc xa lúc gần. Một khối khí mờ khổng lồ bỗng nhiên xuất hiện trên cao và rơi thẳng xuống mặt y. Y lơ mơ thấy như y đang chạy trốn nó. Nhưng y chạy hoài vẫn không ra khỏi cái bóng ma quái của nó. Nó cứ lừng lững đuổi theo y, mỗi lúc một gần, gần mãi...

Y rùng mình, nấc lên một tiếng rồi trút hơi thở cuối cùng. Xác y lạnh dần giữa cỏ hoang.    
  TB



Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 17 Tháng Tư, 2011, 10:31:57 am
                                 Trung tướng giữa đời thường
                                 Tác giả :Cao Tiến Lê
   

Mới gặp lần đầu nếu không được giới thiệu khó ai nghĩ rằng Hoàng Lương là một trung tướng bởi anh có dáng người cao cao tóc cắt ngắn, da nâu, rắn rỏi, hàm răng trắng đều và khi anh cười, một cái cười truyền cảm như cả cuộc đời anh trọn vẹn vô tư chưa từng thất thiệt.
Lương thiếu hẳn cái vẻ oai vệ của cấp tướng với những bài diễn văn hùng hồn, cổ vũ. Hồi ở chiến trường mỗi lần về Hà Nội, không ngày chủ nhật nào anh vắng mặt trong số khán giả ở sân vận động Hàng Đẫy. Gặp đợt nghỉ tranh giải anh ra ngồi vỉa hè xem bọn trẻ nhỏ chia đôi, lấy dép làm gôn thi đấu giữa lòng đường, có những pha tranh cãi quyết liệt, không bên nào chịu bên nào dễ xảy ra ẩu đả, anh bước tới can ngăn: "Này, bên ở trần đúng. Bên mặc áo may ô sai, chèn người trái phép". Một đứa bên trần reo ầm lên "Thấy chưa? Chèn người trái phép, trong vòng cấm địa, phạt pê-nan-ti!" Cậu ta ôm quả bóng chạy tới để giữa đường trước gôn đối phương. Bên may ô hậm hực xỉa xói: "Ông Khốt" ơi, biết quái gì luật lệ. Như thế nào là chèn người trái phép? Dùng vai chèn đã sao? Mời ông ra khỏi sân cho chúng tôi nhờ".

Hoàng Lương cười khà khà: "Ừ, lâu nay xa Hà Nội mình không hiểu biết những luật lệ mới bổ sung". Nghe thế bọn trẻ nhìn anh với những cặp mắt độ lượng sẵn sàng tha thứ.

Ở thành phố không nhận ra anh đã đành, cả chiến sĩ ở chiến trường cũng khó nhận ra người chỉ huy của mình.

- Này, anh bạn đi đâu đó?

- Mình qua công binh có chút việc.

- Anh bạn đưa tớ mượn chiếc áo mưa.

- Nhưng tớ cũng cần.

- Công binh ở chỗ kia chứ xa xôi gì. Chạy ù cái là tới. Anh bạn đã cần bằng tớ à? Công văn hoả tốc Bộ tư lệnh gửi sư đoàn X, ướt hoặc chậm là chết người hàng loạt. Tớ phải chuyển ngay. Lính tráng gì đâu, ở chiến trường mà đầy rẫy cá nhân chủ nghĩa. Chắc ngoài Bắc mới vào chứ gì. Chúng tao diệt xong Mỹ, nguỵ còn phải về diệt bọn cường hào mới ở hậu phương. Trông cậu có vẻ chủ nhiệm hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, bộ mặt cậu đang thể hiện sự nuối tiếc, đứt ruột cái khoản bóc lột xã viên dưới chiêu bài làm chủ tập thể.

Cậu ta huyên thuyên trấn áp bằng lời và giằng lấy chiếc áo mưa trên tay Hoàng Lương như dành lại quyền lợi cho nông dân hồi cải cách ruộng đất. Đi dăm bước cậu ta còn ngoái lại hỏi:

- Này, tên gì, ở đơn vị nào để đêm về tớ còn mang trả.

- Thôi, không phải trả đâu. Tớ biếu cậu đấy.

Cậu ta đưa nắm tay nhứ nhứ:

- Đừng có giở cái giọng biếu xén mua chuộc ấy ra. Nói đi. Tên gì? Ở đâu?

- Không cần biết tên. Tớ ở kia kìa. Hoàng Lương chỉ vào khu rừng nhiều cây non nằm như rẻo đất thừa ít giá trị về quân sự.

- Ở Bộ tư lệnh mặt trận hở? À, công vụ của Hoàng Lương phải không? Lão ấy nghe nói lập dị lắm. Này, nói cho lão ấy biết, đừng kéo căng cuộc đời ra một cách không cần thiết. Lão ấy phải theo chiến sĩ, chứ đừng bắt chiến sĩ sống theo kiểu của lão ta. Bố bảo, cậu cũng chẳng dám nói lại với Hoàng Lương những điều ấy đâu. Công vụ như các cậu, cấp trên hoá thành mù. Mười giờ tớ chờ trước cổng gác nghe chưa? Nhớ ra mà lấy ni lông.

Câu nói vô tình của người lính ở mặt trận làm Hoàng Lương phân vân. Phải chăng anh đã kéo căng cuộc đời ra một cách không cần thiết. Phải chăng ở hậu phương đã trỗi lên bọn cường hào mới? Phải chăng những trợ lý, những công vụ xung quanh đã đưa tới anh những lượng thông tin hạn chế, có khi sai lệch. Không hẳn thế. Người lính anh gặp tình cờ ấy, chắc rằng đang có nỗi bực bội gì đó nên đã vơ đũa cả nắm. Còn anh, sáng nào anh cũng nhận được tin tức, cả nước đang dồn cho mặt trận. Trung ương Đảng, Bộ chính trị theo dõi bước đi của từng quân đoàn. Nghĩ thế lòng anh bồi hồi xúc động rạo rực, quên tất cả riêng tư, hoà bình vào tập thể, kéo tập thể theo một hướng tiến công.

Tuy vậy, trong cuộc sống Hoàng Lương sợ nhất là mình xa rời khỏi đời thường. Thực chất anh cũng rất thích những thú vui của đời thường. Mỗi lần về quê, mới tảng sáng anh đã vác cây sào và chiếc lồng rập trong đó có con chim cu cườm, lên núi bẫy chim. Con chim trong lồng cất tiếng gáy rồi tiếng gù giục giã. Con chim ngoài rừng trả lời từng tiếng thăm dò, tiếng gáy tăng dần, hùng hổ và tức giận như cảnh cáo kẻ nào đó đã xúc phạm đến mảnh đất thuộc quyền sở hữu của mình. Thông thường chúng nóng nảy vội vàng lao tới đậu vào thân lồng để cắn xé và tiêu diệt đối phương. Rập! Chiếc lồng trụp xuống. Trong tích tắc từ tự do chuyển ra mất mát, con chim vật vã tung hết lông đuôi lông cánh. Anh nấp sau bụi cây đứng dậy đưa cây sào hạ chiếc lồng bắt con chim sa lưới, tiếp tục chuyển sang vùng đất khác. Cũng có những con hết sức thận trọng, quanh quanh vòng ngoài, giọng gáy và gù lúc mượt mà, lúc sôi sục như dự báo nắng mưa hoặc tô đẹp cho không gian xanh thắm, cứ như nó không cần đất đai, không cần quyền hành, không thù hận, tranh chấp ngôi thứ, chỉ cần tiếng gáy, tiếng nhạc, cần sự đồng cảm bằng trí tuệ, tài năng, cần tìm kiếm sự thân thiện có văn hoá. Gặp những con như thế Hoàng Lương cố ghìm mình lại, không nôn nóng, anh cong lưỡi giả tiếng gáy tiếng gù giúp con chim trong lồng phát huy hết năng lực chinh phục và bắt cho kỳ được con chim ngoài trời. Đấy là con chim vô giá người đi săn mang mục đích thương mại, không bao giờ bắt được. Và cả anh nữa, anh cũng không bắt được nó. Anh ra về mang theo tiếng gáy tiếng gù của con chim lòng man mác buồn mất hàng tuần lễ.

Tối mịt anh mới về nhà. Bà mẹ rối rít kể chuyện ông tỉnh này, ông huyện nọ tới thăm, người anh cả phải tiếp liên tục. Mới một ngày mà bã chè đã đổ đầy gốc cây, vì khách nào đến cũng quý, cũng phải pha ấm chè mới, để ấm cũ dù chỉ rót đợt nước đầu đang chát, cũng chẳng đành, e rằng không trọng khách. Phải vay chè cả xóm. Nhưng bà không dám nói để con trai biết. Con mình là cán bộ cấp cao, là người của Đảng, không nên nói với con cái điều vặt vãnh trong nhà.

Anh hỏi:

- Còn khoai lang không mẹ. Nhà ta đã muối cà chưa? Anh thích nhất là được ăn khoai lang loại có bột với cà muối quả nho nhỏ chỉ nhích hơn ngón tay út. Sau đó bưng bát nước chè xanh đặc quánh uống liền một hơi.

Khi biết đơn vị mình sắp có tư lệnh mới là bao nhiêu câu chuyện rôm rả truyền tụng về anh. Cán bộ chiến sĩ cũng thông báo cho nhau biết những điều cần đề phòng:

- Này, ông ấy không thích nói chuyện vợ con, gia đình đâu nhé. Làm việc xong còn muốn nấn ná ngồi chơi, hãy gợi chuyện bóng đá, chuyện săn chim, đừng có thói quen hỏi thăm: "Thủ trưởng mấy cháu rồi, chị nhà hiện ở đâu ạ" là ông ấy sẽ dùng cái giọng nhát gừng hỏi lại "Xong việc chưa? Nếu xong rồi thì nên về". Lính ta thích tán chuyện sinh hoạt của ông ta nhất. Nào là không hút thuốc lá, không rượu bia, không cà phê, không nhận lương, một cậu khác chen vào: "Chả chắc thế đâu, không nhận lương theo kiểu ông bộ trưởng nọ thì cũng oái oăm lắm đấy. Một lần thấy tờ bạc năm mươi đồng ngân hàng Việt Nam để trên bàn cô thư ký, ông ta cầm lên hỏi với vẻ bực bội: Thằng cha nào vô công rồi nghề mà đi vẽ bức tranh nguệch ngoạc thế này". "Ấy, ấy…" ý kiến khác tưởng như phản đối nhưng thực chất là xác nhận thêm mặt xấu của vị bộ trưởng nọ. "Các cụ cốp có phải mua bán tiêu tiền gì đâu mà biết mặt đồng bạc. Người ta tặng, người ta biếu, người ta cấp theo tiêu chuẩn. Không biết mặt đồng bạc nhưng lại biết vàng. Thoáng nhìn là biết tuổi vàng. Trong nhà chắc có hàng chục cây vàng". "Đừng nhầm lẫn thế cậu ơi! Ông Hoàng Lương rất tiết kiệm và không dành gì cho gia đình cả". Một người cãi lại và anh ta kể hồi chiến tranh đánh Mỹ mỗi ông bố hoặc bà mẹ có con đi B là được trợ cấp mười tám đồng. Ông ta về hỏi người anh cả: "Theo tiêu chuẩn của em, mẹ được nhà nước trợ cấp mười tám đồng một tháng. Anh thấy đã đủ tiền nuôi mẹ chưa?". Người anh không hiểu là nói thật hay đùa; "Làm gì đến mười tám đồng cho tốn kém của chính phủ hả em? Chỉ cần mười bốn đồng là đủ nuôi mẹ thôi". Ông ta nghe thế, liền về báo với bộ phận theo dõi trợ cấp là chỉ gửi mười bốn đồng cho bà mẹ.

- Cả đến cấp tướng cũng có những sự ngây thơ mù quáng, chẳng hiểu đếch gì đời cả. Anh chàng lúc nãy nêu ý kiến về vị bộ trưởng nọ đế thêm vào.

Người khác cãi:

- Chẳng phải ngây thơ và cũng chẳng phải mù quáng đâu. Ông ta có mục đích của ông ta, chỉ biết xông lên, chỉ biết mặt trận, né tránh tất cả những công việc đời thường.

- Các cậu lại nhầm lẫn nữa rồi. Người ta có thể che phía này chắn phía kia, nhưng cuối cùng cũng bộc lộ sự thật. Trung tướng Hoàng Lương là người có bản lĩnh và bộc lộ đích thực y như mình có - người khen ngợi Hoàng Lương nói thế và kể tiếp: Hồi làm giám đốc một học viện cách Hà Nội hai mươi ki-lô-mét, nhân ngày chủ nhật có trận đấu bóng đá quốc tế, lái xe chuẩn bị xe chu đáo tính giờ giấc để vượt qua cầu Long Biên, các trợ lý nhấp nhổm vì biết tính thủ trưởng ham mê xem bóng đá và sẵn sàng cho mọi người đi nhờ xe. Nhưng tất cả đều bị hẫng. Nghỉ trưa xong Hoàng Lương đi đến sân vận động Hàng Đẫy bằng chiếc xe đạp công, cọc cạch, phải thả chân xuống đường thay phanh. Bản chất của Hoàng Lương là trong sáng và bất cứ trường hợp nào, điều kiện nào ông ta vẫn xử sự như thế…

- Giả dối thôi, hoặc sự giả dối đã thành thói quen.

- Ông ta thì cần gì giả dối với ai.

- Giả dối với cấp dưới, và tự ông ta giả dối với ông ta.

- Thôi, cậu im đi, nghi ngờ hết tất cả. Đối với cậu ai cũng xấu cả.

- Không phải thế. Không phải đối với ai mình cũng nghĩ xấu về họ, thực tế họ có mặt tốt, mặt xấu. Phải công nhận mặt tốt và nhìn rõ mặt xấu. Tướng lĩnh của chúng ta được như Hoàng Lương cũng là chuyện rất hiếm. Nhưng không phải là toàn diện cả về xử lý quân sự cũng như đời thường. Hoàng Lương không có đời thường. Nếu vấp phải cảnh sống đời thường như chúng ta, nghĩa là nuôi bố, nuôi mẹ, chạy thuốc men cho vợ, cơm áo cho con, sẽ biết ai vững vàng hơn ai. Tướng lĩnh trong chiến tranh, có khi chỉ là binh nhì khi sống giữa đời thường.

Một người nói to:

- Thôi đừng cãi nhau nữa hai ông bạn ơi. Đã làm tướng bao giờ cũng có tầm nhìn xa, cũng khôn hết. Dù là chiến tranh hay hoà bình. Họ biết chuẩn bị cho hoà bình từ khi đang chiến tranh. Chẳng thế mà đã có câu hát "Áo ta còn nhuộm máu đào. Mà xe bà tướng đã đi vào đi ra".

Người lúc nãy phê phán Hoàng Lương là ngây thơ mù quáng, đứng dậy nói:

- Tớ không tin là Hoàng Lương nằm trong số tướng lĩnh ấy. Hoàng Lương không cần của cải, không cần vật chất. Cả cuộc đời Hoàng Lương chỉ có chiến tranh, chỉ rực sáng lúc chiến tranh. Nếu chuyển hướng cuộc đời, Hoàng Lương sẽ vấp váp, hay nói một cách khác, Hoàng Lương không phải là Hoàng Lương vốn có như thời cha sinh mẹ đẻ, một mục đích bên ngoài đã trùm hẳn lên tâm hồn Hoàng Lương và Hoàng Lương cũng muốn đưa mục đích đó trùm hằn lên chúng ta, những người lính, những người bị chỉ huy, Hoàng Lương đang tự tách ra khỏi mình tự xa lìa mình, rồi ngày nào đó, mặt nào đó, Hoàng Lương sẽ đổ vỡ.

- Ôi chà, cái triết lý của cậu rối rắm quá chừng!

Bao giờ cũng thế, hễ ai đó nhắc đến chuyện Hoàng Lương là mọi người xúm lại nghe một cách vui thích, sau đó bàn cãi, phê phán, ca ngợi và chẳng bao giờ kết luận.

Kiểm tra mặt trận Cămpuchia xong, Hoàng Lương về thành phố Hồ Chí Minh rồi mới ra Hà Nội. Anh có ý định nghỉ lại một đêm tại Vinh để hỏi thăm tình hình gia đình. Hoàng Lương là vị tướng ít có tiếng tăm ở hậu phương, ít xuất hiện những nơi công khai trên lễ đài cũng như trong các đại hội, nhưng là nỗi lo lắng của kẻ thù. Chúng cho trinh sát cơ quan tham mưu thăm dò, bám riết hướng đi và sự xuất hiện của Hoàng Lương. Mỗi lần thất bại, chúng lộn xộn hỏi nhau có Hoàng Lương chỉ huy không? Anh là niềm tin của Bộ quốc phòng, luôn luôn làm thay đổi tình hình mặt trận. Anh theo dõi chặt chẽ tình hình địch. Khi thời cơ xuất hiện như một tia chớp anh nắm ngay được và lập tức định ra chủ trương tác chiến mới, quyết tâm tấn công rất linh hoạt rất táo bạo, sau đó các chi tiết của kế hoạch hình thành và hoàn chỉnh. Ở anh vừa có quyết đoán táo bạo vừa có thận trọng chắc chắn.

Đến thành phố Vinh đã xế chiều, anh không vào tỉnh uỷ hoặc Bộ chỉ huy quân sự, anh ngại làm họ mất thời gian và chưa chắc gì họ đã vui vẻ. Anh bảo lái xe chạy thẳng về nhà người em họ, nghỉ ngơi một đêm, thoải mái hỏi chuyện nhà chuyện cửa, chuyện giá cả và nghe những tiếu lâm mới chỉ trích châm biếm gọi đích danh một số người lãnh đạo hiện hành. Tính tình người em cũng bỗ bã nói không nể nang né tránh ai hết.

- Chắc là thủ trưởng lại nhớ khoai lang nhớ cà…

Lái xe nói một câu nhẹ nhàng nhưng bao gồm kết luận của suốt mấy năm liền anh ta đi với Hoàng Lương. Có mặt ông ta quả là giản dị trong sáng, nhưng cũng có mặt là giản đơn hoặc né tránh. Ông ta không biết hoặc không dám nhìn thẳng vào một xã hội đang nảy sinh muôn vàn phức tạp. Ngày tết, ngày lễ ông ta ngại sống ở thành phố, ở nơi đông đúc, ngại nâng cốc bia, chén rượu chúc mừng, sẽ đánh thức điểm nào đó trong người ông còn thiếu. Những ngày ấy ông thường lên biên giới ra hải đảo hoặc đến với mặt trận. Ông ra đi chẳng có gì ràng buộc, ra đi hết sức nhẹ nhàng. Nhưng còn lái xe, công vụ, bảo vệ, phải đi theo ông, khi họ ràng buộc với gia đình rất chắc trong những ngày lễ ngày tết. Cuối cùng ông cũng hiểu ra ông bỏ lại tất cả, chỉ cần một lái xe, hai thầy trò rong ruổi. Song nhiều lần phải ăn khoai với cà, phải sống những ngày quá đạm bạc, lái xe cũng tách ra khỏi ông, đưa ông đến chỗ nghỉ ngơi, rồi đi lo việc riêng của mình. Ông không phê phán lái xe về chuyện đi ăn riêng mà còn cho cả khoản tiền hai người đi công tác và nhắc lái xe trước khi ngủ nên làm hớp rượu cho giãn gân cốt. Thủ trưởng và lái xe hai người hai cách sống, không ai chen lấn vào ai, vả lại lái xe cũng thích khi đi với Hoàng Lương vì không phải nghe các bà vợ rỉ tai: "Chú đến tỉnh A xin cho chị thứ này, tỉnh B xin cho chị thứ kia… À mà đừng xin, cứ mua!". Tỉnh nào nỡ lấy tiền khi vợ cấp tướng muốn mua vài thứ lâm thổ sản của địa phương. Cũng có vài vị nghiêm mặt hỏi khi thấy lái xe đưa về những đặc sản quý giá, định bắt trả lại, nhưng nghe nói "bà nhà dặn" là ông ta im lặng.

Hoàng Lương chẳng xin, chẳng mua, ai biếu thứ gì là cho luôn lái xe hoặc công vụ đi theo. Tuy vậy Hoàng Lương cũng không phải là thần tượng hoàn toàn của lái xe, lái xe vẫn lắc lắc đầu một mình như xua ruồi khi hai tay bận cầm vô lăng, nghĩ "Cuộc đời như ông ta kể cũng buồn".

Nghe tiếng còi xe từ ngoài ngõ, người em chạy ra bô bô:

- May quá, bác đã về. Em đang định nhờ tỉnh uỷ hoặc tỉnh đội tê-lê-phôn. Bà trên nhà ốm nặng lắm.


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 17 Tháng Tư, 2011, 10:34:12 am
                   Tiếp theo
 

Hoàng Lương bảo lái xe ra phố ăn thật no, uống thêm cà phê đặc nữa, không được nghỉ ngơi đâu, phải đi đêm, còn anh sà vào mâm cơm của người em ăn một bữa thực sự dưa muối chấm với nước mắm loại hai đầy thú vị.

Về Đô Lương chỉ bảy mươi ki-lô-mét, xe chạy mất gần bốn tiếng đồng hồ. Đường không phải chỉ những chỗ lồi lõm bằng ổ gà mà như vũng trâu đầm. Nhờ có mui bạt, khung sắt chắc chắn nên người không bật ra khỏi xe khi bị những cú xóc tưởng như bất ngờ gặp bom nổ, đấy là chưa kể từ tỉnh lộ về xã còn phải đi bộ gần hai tiếng đồng hồ, bởi xã nhà rất nhiều cán bộ cao cấp làm việc ở trung ương hoặc không phải là cán bộ cao cấp thì cũng là loại nhân viên có thẩm quyền thương lượng hoặc điều hành được xe con cho những chuyến về thăm quê. Xe về xã cứ nườm nượp, nắng bốc bụi mù, mưa làm đất nhão nhoẹt, gây khổ sở cho những người đi bộ. Vậy là xã vác gỗ chôn đứng giữa đường, lấy hết ván lát cầu. Từ đó tất tật mọi người từ cao cấp đến nhân viên bình thường về xã đều đi bộ hoặc đi xe đạp gần mười ki lô mét.

Hoàng Lương dặn lái xe chờ dưới gốc cây đa tranh thủ chợp mắt, nếu bệnh tình bà mẹ không trầm trọng anh sẽ rời Đô Lương trước khi trời sáng.

Mẹ anh nằm liệt người đã hơn hai tuần. Không bệnh gì ngoài suy nhược cơ thể ở tuổi già. Anh cả, chị dâu và các cháu còn thức túc trực bên giường, nét mừng rỡ thể hiện trong từng đôi mắt khi thấy anh về và họ đưa tay như nhứ bảo im lặng sợ bà xúc động đột ngột. Anh thì thầm bảo chị và các cháu vào nhà trong tranh thủ nghỉ ngơi, đêm nay anh sẽ ngồi bên bà. Mẹ anh đang mê mê chập chờn giữa ngủ và thức bỗng giật mình rồi tỉnh hẳn khi nghe tiếng anh gọi nho nhỏ. Bà không ngồi dậy được, cứ nằm thế hỏi anh bao nhiêu chuyện, từ chuyện các chú lái xe chưa một lần về thăm nhà ta, chuyện sức khoẻ bác Đồng, bác Giáp, bác Trường Chinh... chuyện từ hoà bình đến nay anh mới về nhà ăn khoai lang với cà do chính tay mẹ muối, mẹ trồng có ba lần. Bà rất ít kỷ niệm về con, cả những thời trẻ dại của Hoàng Lương cũng nhạt nhoà trong bà, bởi con bà lớn lên đã trở thành vị chỉ huy, được mọi người tôn kính giữa con người về sau và con người trẻ thơ như không phải là một Hoàng Lương, mà là hai, là ba là nhiều ngả chắp vào nên đôi lần bà ngỡ ngỡ như Hoàng Lương là một vị khách.

Thấy mẹ nói chuyện có phần vui, người anh cả chen vào:

- Hoà bình với ta thôi mẹ ạ, chứ chú ấy đã có hoà bình đâu. Từ lúc chú ấy về con thấy mẹ khoẻ hẳn lên, hay mẹ ra Hà Nội thăm chú ấy ít bữa.

Bà lắc đầu khẽ cười thầm thì: Bao giờ mẹ có con dâu ngoài đó, mẹ sẽ ra thăm. Hai anh em cùng cười với mẹ. Nỗi lo lắng vơi dần. Bỗng bà hắt hơi ba lần rồi lên cơn nấc, từ lồng ngực lép kẹp như bị một sức nén giằng kéo, làm người bà co rúm, không nói được nữa, bà mở mắt nhìn hai đứa con rồi từ từ nhắm, xoè bàn tay, tắt thở. Bà ra đi đột ngột nhanh chóng như không phải cái chết là chuyện có thật.

Hai anh em cúi xuống lay đầu lay tay bà, cất tiếng gọi mẹ. Nhưng bà không mở mắt và không trả lời nữa. Đêm quá yên lặng, ngọn đèn dầu đứng im như một đốm nắng mặt trời lọt qua khe hở của phên nhà, tiếng thạch sùng chách chách. Hoàng Lương tấm tức khóc, nỗi đau mất mẹ, mất quá khứ tuổi thơ, mất cả con đường tương lai với mái nhà nho nhỏ này khi không còn bóng mẹ già nữa… Tất cả tràn về làm anh nhức nhối. Người anh cả đứng thẳng lên, răng cắn chặt vào môi một lúc rồi nói:

- Chú Lương này!

- Gì thế anh?

- Mẹ chết thật rồi!

Hoàng Lương không kìm được nước mắt, trả lời: Vâng, mẹ chết thật rồi!

Tiếng người anh cả rành rọt như ra lệnh:

- Bây giờ chú đi đi, đừng ở nhà nữa.

Hoàng Lương hết sức ngạc nhiên, bật ra câu hỏi, như hỏi trong chiến tranh khi nghe một tình huống xảy ra bất ngờ, phải thay đổi hình thức tác chiến:

- Sao thế anh?

Người anh có lẽ đang đắn đo để trả lời nguyên nhân vì sao Hoàng Lương phải ra đi đừng ở nhà nữa.

Hoàng Lương chợt nghĩ phải chăng suốt thời gian mẹ ốm đau, suốt cuộc đời mẹ, anh không chăm sóc giúp đỡ được gì cho mẹ cho gia đình cả. Những năm chiến tranh giữa bom đạn kẻ thù, những mất mùa đói kém, bữa cháo, bữa rau, tất cả vất vả của gia đình đã đặt lên vai người anh cả, chị dâu, giờ đây trong nỗi đau mất mẹ đã làm anh cả không chịu được, đã mất bình tĩnh, bộc lộ suy nghĩ thật thà, quay sang bực mình với em trai chăng, Hoàng Lương nói:

- Em có lỗi với gia đình…

Người anh cả cắt ngang:

- Em không có lỗi gì hết. Em là hạnh phúc của gia đình, là vinh quang của gia đình. Có em nên cấp tỉnh, cấp bộ, chính phủ trung ương và các cấp tướng khác mới biết mẹ, biết anh, biết gia đình ta. Còn anh là nông dân suốt đời trằn lưng trên đồng ruộng thì trong xã họ cũng không biết nổi tên tuổi anh huống gì cả nước.

- Vậy làm sao mẹ vừa tắt thở, chưa báo tang mà anh lại bảo em ra đi?

- Điều này xuất phát từ cụ thể, rất cụ thể, nhưng không thể nào bỏ qua được cái cụ thể đó. Không phải lỗi tại em, mà lỗi tại nơi khác, tại cơ chế xã hội nhà nước, tại thói quen con người. Trong nhà ta chỉ còn năm mươi kilôgam thóc chưa xay. Nước mắm hết, nhỏ nhoi và thấp giá như hạt muối cũng hết. Nếu em ở nhà, tỉnh uỷ, uỷ ban nhân dân huyện sẽ đến viếng, rồi cán bộ trong xã, các sư đoàn đóng quân gần đây. Thế nào tỉnh cũng điện ra Bộ quốc phòng… Mẹ của một vị tướng mất. Khách quý và xe cộ ùn ùn kéo vào. Em không có mặt ở nhà họ cũng đến viếng nhưng nhanh chóng và đơn giản hơn, chỉ ghi mấy dòng trong sổ tang là xong. Em ở nhà sau lễ viếng họ còn trò chuyện thăm hỏi, cho trọn nghĩa, trọn tình, phải đạo. Là tư lệnh của nhiều mặt trận, người trong xã ta đi bộ đội dưới sự chỉ huy của em cũng khá đông, gia đình họ sẽ đến. Vả lại mẹ ta mất khi đã có chắt có chít, là hồng tang, là tang vui, khách xa, khách quý sẽ ăn bữa cơm trưa, uống chén rượu, khách gần sẽ uống hớp nước, hút điếu thuốc. Thâm tâm ai cũng nghĩ đã làm tướng là giàu có, đàng hoàng, sang trọng. Tiếp đón không tử tế họ cho là nhà ta keo kiệt, hoặc thành cán bộ cao cấp rồi thì khinh miệt quần chúng, coi thường quê hương. Nếu em ở nhà chỉ riêng thuốc lá thôi cũng mất vài chục tút và phải loại thuốc lá đầu lọc cơ. Cũng có thể chạy vay chỗ này chỗ kia, ai cũng sẵn sàng cho mình vay, nhưng với số tiền chi tiêu như thế phải mất hàng chục năm sau anh mới trả hết và chưa chắc đã trả được, vì ngày càng eo hẹp về kinh tế.

Hoàng Lương đưa tay lên túi áo định tìm tiền, nhưng cả đời anh chẳng bao giờ cần đến tiền, cả những lúc nhân dân quân đội rậm rịch xôn xao hốt hoảng vì chuyện đổi tiền thì anh vẫn coi như chuyện xa lạ không liên quan đến mình, liên quan với anh là các thứ vũ khí mới, các chiến thuật, chiến lược mới. Tay anh đưa lên túi áo không gặp đồng tiền nào cả, chỉ gặp bộ quân hàm cấp tướng.

Người anh cả nhìn thấy động tác đó, giọng vẫn đều đều thuyết phục.

- Em cũng đừng băn khoăn gì chuyện này. Cũng đừng xử lý khác với số phận đã vạch. Em cũng có thể vay tiền cho anh để làm sang trọng đám tang mẹ, nhưng rồi em sẽ phải giải quyết hậu quả không phải bằng tiền mà bằng những yêu cầu giúp cho con cháu họ không đi nghĩa vụ quân sự, hoặc đi nghĩa vụ quân sự phải được đi học sĩ quan đi học nước ngoài rồi về công tác tại Bộ Quốc phòng. Làm như thế trong quân đội sẽ có dư luận về em. Chúng ta đã mất mẹ còn để mất luôn cả em nữa hay sao? Vả lại anh tin rằng em cũng không thể nhờ vả hoặc vay mượn ai. Em không làm và em không biết làm việc ấy. Trong người em quá nhiều thói quen như quen ăn khoai với cà, quen lý luận theo con đường đã vạch, cứ thế mà tiến lên, quen nghĩ chế độ ta không có sự xấu xa và hư hỏng. Đã làm tướng rồi thì không trở lại đời thường được đâu em ạ. Phải xử lý đúng hoàn cảnh cấp tướng dù là có lúc giả dối. Sự giả dối đôi khi được coi là sách lược. Công việc đời thường để cho người bình thường giải quyết. Thôi em đi đi.

Nghe anh nói, Hoàng Lương hết sức thấm thía. Phải là ruột thịt, phải coi cuộc đời của em là cuộc đời của mình anh cả mới dám nói những điều đúng sự thật, chua cay và mặn chát như thế. Quả là anh chưa lường hết mọi việc, chưa hiểu rõ cuộc đời của những con người bình thường và cuộc đời khó hiểu ấy lại bắt đầu từ gia đình anh. Muốn có xã hội mạnh mẽ phải xây dựng mọi gia đình vững chắc. Mẹ, anh cả, chị dâu và các cháu là thành viên vững chắc của gia đình, đã tỉnh táo, không chạy theo phù hoa, gỡ cho anh những điều anh chưa hiểu và mặt nào đó chính anh đã chạy theo phù hoa.

- Thật là đau xót khi phải thực hiện như ý anh nhưng cũng không có cách nào khác. Thôi, anh để em thắp nén hương khấn vái hương hồn mẹ đã.

- Hôm nay không phải là mồng một hoặc ngày rằm. Thắp hương lên, hương thơm sẽ bay xa. Thắp hương vào ngày bình thường là chuyện lạ. Hàng xóm láng giềng sẽ biết. Chỉ cần một người biết là em không thể đi được nữa. Em đi rồi anh sẽ gọi chị dâu và các cháu lại đây, anh sẽ báo tang, ai cũng tưởng khi em ra đi mẹ còn sống. Kể cả người trong gia đình.

Hoàng Lương vuốt chân vuốt tay mẹ, sửa lại đầu bà đang bị ngoẹo về một bên. Người bà khô đét, vàng vọt và cho đến lúc này anh mới nhìn mẹ một cách kỹ càng. Mẹ gầy như thế này ư? Mẹ ốm như thế này ư? Anh đưa hai tay ôm đầu khóc rưng rức. Mẹ ơi! Con có lỗi quá! Suốt đời mẹ con chẳng làm được gì cho mẹ cả.


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 17 Tháng Tư, 2011, 10:35:54 am
                                 Tiếp theo         ;


- Đừng khóc nữa. Ở tuổi anh em mình, nước mắt chỉ làm thêm mù quáng. Gà sắp gáy lần thứ nhất rồi.

Một lần nữa Hoàng Lương sửa lại đầu mẹ cho cân trên gối, lấy chiếc khăn đắp từ cổ xuống chân như sợ mẹ lạnh rồi bước vội ra khỏi nhà, như sợ mình sẽ khóc to lên, sợ cái thói quen từ thuở nhỏ, khi anh đã khóc thì không thể nào kìm nín ngay được, tiếng ức ức bóp nghẹt từng nhịp thở.

Anh rảo bước dưới hàng phượng, hàng mít và muôn vàn cây cối có giá trị về kinh tế. Anh đi một lần cuối cùng trên tuổi thơ mà mãi mãi rồi đây không còn ai nhắc lại nữa. Anh đi qua những Rú Hội, Cồn Trăn, Đền Mượu, những di tích lịch sử mà con trai thứ mười tám của Lý Công Uẩn đi dẹp giặc miền Tây bị thương về đến đây ngã xuống chết, mối vùi thành mộ, nhân dân lập đền thờ. Anh đi trên năm tháng chiến tranh mà giặc Mỹ đã dùng mọi loại bom, mọi loại máy bay để huỷ diệt mảnh đất này, nhưng con người vẫn sống vẫn kiêu hãnh, sản xuất và lao động trên nhiều ngành nghề khác phục vụ cho tiền tuyến. Bao nhiêu chiến sĩ trẻ mà anh chưa biết mặt, thế hệ sau anh đã trở thành anh hùng lực lượng vũ trang. Nhiều lần anh tự hào về mảnh đất quê hương anh. Thế mà bây giờ anh đi như trốn chạy, bóng anh đơn chiếc đan qua các thân cây, qua thôn xóm không ánh đèn, lơ thơ sáng dưới ánh sáng lờ mờ của chòm sao chiến sĩ. Anh đi trong bất lực, trong đau khổ, trong u uất. Có tiếng rì rào phía trước, gà gáy ư? Không phải, người nào đó vừa đi vừa nói chuyện. Có lẽ là các bà đi chợ sớm. Anh sợ gặp họ, anh nấp vào bóng cây, im lặng chờ họ đi qua, rồi anh lại bước, lại chạy, anh chạy cho ấm người, trong đầu óc mung lung không rõ mình đang né tránh một cuộc đời đói khổ hay vội vàng tính toán mong muốn đến sự giàu sang.

Người lái xe nằm trên võng, giật mình khi nghe anh gọi và hỏi lại:

- Cụ khoẻ hẳn rồi hả thủ trưởng?

- Ừ đã bình thường.

- Cái xã của thủ trưởng tệ hại thật, rào đường không cho xe con lên. Thủ trưởng phải góp ý với họ chứ. Chưa lần nào em gặp được cụ, lần sau nhất định em phải đưa một chiến sĩ đi theo, nó trông xe để em còn lên thăm cụ.

- Tiếc là cậu chưa được gặp cụ, cụ nhắc đến cậu luôn. Mình cũng chỉ là làm tướng ở chiến trường, còn ở nhà và ở quê chẳng có nghĩa lý quái gì. Nhưng rào đường cũng có cái hay của nó… Thôi ta đi nhé!

Xe vượt hơn ba mươi kilômét đường xóc xuống ngã ba Diễn Châu bắt đầu nhập vào đường số một để chạy ra phía Bắc, Hoàng Lương hỏi lái xe:

- Cậu là thượng uý à?

- Vâng ạ!

- Lương thượng uý bây giờ một tháng được bao nhiêu?

- Gọi theo lối mới, nghĩa là đưa lương vào hệ số thì em được khoảng sáu nghìn, đấy là kể cả hai mươi phần trăm thâm niên và hai mươi phần trăm người ta vẫn nói đùa là trả tiền xương máu cho quân đội.

- Còn trung tướng như mình thì mỗi tháng được bao nhiêu?

Lái xe mỉm cười, đưa mắt liếc trung tướng rất nhanh, óc nghĩ: Cái ông này cứ như trên trời rơi xuống không biết cả lương mình bao nhiêu nữa.

- Em cũng chẳng rõ lương trung tướng là bao nhiêu thủ trưởng ạ. Nhưng chỉ nhìn vào lương là sống vất vả lắm, dù là lương trung tướng hay đại tướng. Dân gian đã ghép từ "lương bổng" là có nghĩa của nó. Lương ít nhưng bổng lộc phải nhiều. Thủ trưởng thuộc loại có lương mà không có bổng.

- Bổng lộc gồm những khoản nào?

- Không có trong sổ sách và không có quy tắc, nhưng ở đâu cũng có cũng làm. Thủ trưởng trong sáng quá, thần thánh quá, nên họ không dám đặt ra với thủ trưởng đấy thôi.

- Tớ mà thần thánh à?

- Nói là thần thánh thì không đúng. Nhưng thủ trưởng có cách sống khác quá, cách biệt quá nên thủ trưởng không hiểu mọi người xung quanh mình. Lái xe chúng em vốn bỗ bã, mong thủ trưởng tha lỗi cho, với những nhận xét nông cạn. Thủ trưởng rất hiểu con người, nhưng hiểu họ để phục vụ cho mục đích của thủ trưởng, ví dụ như đưa người đi chỉ huy trung đoàn sư đoàn, cử người làm tác chiến hay tham mưu trưởng, cử người chỉ huy đánh vận động, hay đánh tập kích là thủ trưởng giỏi, nhưng thủ trưởng không hiểu việc riêng của từng người, nỗi đau của từng người. Thủ trưởng có đau bao giờ đâu mà thủ trưởng hiểu nỗi đau của người khác. Lái xe đưa mắt liếc Hoàng Lương chờ đợi những câu quát mắng, hoặc chấn chỉnh với những nhận xét hồ đồ, nhưng thấy Hoàng Lương vẫn im lặng, anh ta nói tiếp:

- Thủ trưởng đi lúc nào cũng được, về lúc nào cũng được, vì thủ trưởng có quyền tất cả. Đang đêm thủ trưởng lên chốt, đánh thức anh em dậy báo động chiến đấu, nói vài điều thăm hỏi rồi thủ trưởng về. Uy tín thủ trưởng tăng lên vì sự sát sao với chiến sĩ. Nhưng thủ trưởng cứ ở hai năm, ba năm như họ xem, họ phải lo trăm thứ, thiếu trăm thứ. Đời cũng so le quá, người như thủ trưởng được ở giữa thành phố thì lại không biết làm gì với thành phố cả, cứ muốn ra mặt trận, còn những người lính kia gắn liền với thành phố với hậu phương như rễ cây bám vào đất, thì họ không được lấy dăm mươi ngày về hậu phương trong một năm.

- Nhưng sao cậu lại bảo cuộc chiến đấu này là để phục vụ cho mục đích của riêng tớ?

- Nói ra thì bị bắt bẻ và cho là sai thủ trưởng ạ. Nhưng không ít cấp trên biến cuộc chiến đấu của dân tộc, biến xương máu của chiến sĩ cho mục đích của họ, trong đó thủ trưởng cũng có chút ít.

- Nhận xét mới mẻ quá. Tàn nhẫn quá, và cũng hư hỏng quá… Nhưng mà tớ sẽ nghĩ…

Về đến Hà Nội Hoàng Lương vào phòng riêng, đóng cửa, cần thiết lắm anh mới ra ngoài. Các sĩ quan Bộ tổng tham mưu nghĩ rằng anh đang nghiền ngẫm nghiên cứu những vấn đề mới mẻ về chiến trường sau một chuyến đi, làm sao dành được thắng lợi, hạn chế thương vong. Nhưng thực ra anh ngồi im trong phòng, hoặc đi đi lại lại, chẳng làm gì hết, chẳng nghĩ gì đến quân sự. Hình ảnh người mẹ gầy gò, da bọc xương, nằm đầu ngoẹo về một bên cứ như bức tranh lúc đóng lên tường, lúc ghim vào óc anh. Những ngày này ở quê anh cả chị dâu và các cháu đã xoay xở ra sao để đón tiếp khách, để đưa mẹ tới nghĩa trang. Anh như người bị đuổi ra khỏi gia đình, bị tước quyền làm con, làm em, tước mất quyền những người bình thường làm phận sự bình thường. Anh gọi tài vụ lên hỏi các khoản tiền của anh lâu nay còn lại, tài vụ cho biết trừ những đợt mà anh đã trích để ủng hộ đồng bào các tỉnh bị bão lụt, đến trước năm 1985 lương anh còn lại đã gửi tiết kiệm được một trăm nghìn đồng, sau đổi tiền hạ xuống mười lần nên từ một trăm nghìn chỉ còn mười nghìn và cho đến bây giờ tổng cộng lại anh có năm mươi nghìn. Xếp theo hệ số mới lương cấp tướng cũng không dư dật bao nhiêu. Vì chi cho các khoản…

- Thôi… thôi… tính rắc rối quá. Cậu cho mình xin năm chục nghìn.

Trung tướng Hoàng Lương lại cần đến tiền! Tin ấy làm xôn xao cả đám nhân viên thuộc cơ quan Bộ quốc phòng và kèm theo bao nhiêu lời bình phẩm. Nhất định sẽ có điềm gì xảy ra. Đất nước rồi sẽ thay đổi tư duy hay một tai vạ nào sẽ đến. Không phải là tai vạ thì cũng là một chuyện buồn. Đám nhân viên nháy nhau để chứng minh lời phán đoán của họ là đúng, khi thấy cô văn thư cầm bức điện gửi Hoàng Lương: "Mẹ đã chết. Em về ngay!".

"Mẹ trung tướng Hoàng Lương đã chết" Cơ quan chính sách và các đầu mối liên quan bắt đầu hoạt động, thành lập ban tổ chức chuẩn bị xe cộ, hương hoa, lời điếu. Họ hỏi nhau. Cụ thọ bao nhiêu nhỉ. Có chắt hay chít rồi. Đã là hồng tang chưa? Bàn xem những ai đi dự đám tang. Phải đàng hoàng, đầy đủ các bộ phận, đại diện cho Bộ quốc phòng, Bộ tổng tham mưu. Khoảng mười sáu người tất cả, phải sử dụng bốn hoặc năm xe con, vì còn lái xe và một số đồng chí tranh thủ nhờ xe về thăm quê. Điện gửi Bộ chỉ huy quân sự Nghệ Tĩnh cho một xe đón ở ngã ba Diễn Châu cùng đi lên Đô Lương. Phải đảm bảo tuyệt đối an toàn vì đây là đoàn cán bộ cao cấp. Ngày… giờ xuất phát. À có cần xe thông tin không? Thế nào cũng có một vài vị tướng cùng đi…


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 17 Tháng Tư, 2011, 10:38:16 am
                    Tiếp theo :

Nghe đồng chí phụ trách tổ chức báo cáo lại kế hoạch, Hoàng Lương hỏi:

- Như vậy là có khoảng trên ba mươi người về nhà tôi?

- Đúng. Phải đàng hoàng anh ạ.

- Sẽ mất hết đàng hoàng. Vì ô tô con không vào được xã tôi, phải đi bộ mười ki-lô-mét. Xem ra sĩ quan bộ ta từ cấp tá trở lên số đông bụng phệ, ì ạch lắm mà cuốc bộ thì…

- Hay là điện cho sư đoàn A đóng gần đó đến đắp đường.

- Ở quê tôi làm như thế không những họ chẳng cho đắp đường mà họ còn đào mộ mẹ tôi lên. Nhưng mà thôi, cảm ơn các đồng chí, đừng cử đoàn nào vào cả, tốn kém…

- Tốn kém cũng phải chịu chứ anh. Vì danh dự của quân đội. Anh Lương này, tôi nói thật với anh nhé. Anh xa rời cuộc sống nhiều quá, anh không hiểu đời thường.

- Đúng. Tôi không hiểu đời thường và chính đồng chí cũng không hiểu đời thường. Đồng chí báo lên trên giúp ý kiến tôi là đừng ai đi vào cả. Tôi sẽ bàn sau. Bây giờ tôi cần ra nhà bà con ngoài phố có chút việc riêng.

Hoàng Lương đến nhà người bác ở phố Hàng Bông. Ở đây bằng nguồn tin khác từ Bộ quốc phòng chuyển tới mọi người đã biết mẹ anh mất. Gặp người bà con làm giám đốc nhà máy thuốc lá Nghệ Tĩnh ra hợp đồng kinh tế đang chuẩn bị đi vào Hoàng Lương hỏi:

- Mấy giờ xe anh chạy?

- Độ một tiếng nữa. Chú cần gì không?

- Anh cho tôi đi nhờ về quê.

- Bộ quốc phòng không có xe à?

- Có, nhưng tôi không thích.

- Chú sẽ ra bằng cách nào?

- Chỗ anh không có xe nào ra à?

- Có, nhưng xe tải, ra để nhận vật liệu.

- Càng tốt, cho tôi ngồi ca-bin, êm gấp trăm lần xe tăng.

Người bà con nhìn anh, mỉm cười nói:

- Tướng gì mà giản dị thế!

Ông bác vốn tính khảng khái:

- Ước gì tướng lĩnh cả nước được như chú ấy thì quân và dân ta… được nhờ to.

Hoàng Lương cười buồn lắc đầu, rồi nói:

- Anh chờ tôi một tý, tôi gọi điện thoại về cơ quan.

Hoàng Lương gọi điện về gặp đồng chí thư ký riêng của anh hỏi tình hình. Đồng chí thư ký cho biết, ban tổ chức đang bàn chuyện nên mua vòng hoa ở đây, hay vào Đô Lương mua.

- Này, này, đồng chí nói giúp với ban tổ chức tôi đề nghị không một ai vào trong quê cả. Tôi đi một mình, tôi đại diện cho cơ quan là đủ rồi.

- Mấy giờ thủ trưởng đi để chuẩn bị xe?

- Không phải chuẩn bị xe, tôi đi nhờ.

- Ấy không được đâu. Phải có bảo vệ đi theo.

- Chẳng ai bảo vệ mình chặt chẽ bằng bà con mình. Tôi đi nhờ xe người anh em làm giám đốc nhà máy thuốc lá tỉnh nhà. Một giờ nữa xuất phát. Cậu nói giúp tiền mua hoa, tiền chi đám tang, giữ lại, sau này trợ cấp cho gia đình tôi.

Đồng chí thư ký khẽ cười. Nhớ đến chuyện quy định của chính phủ trợ cấp cho những bà mẹ có con đi B là mười tám đồng mỗi tháng, mà trung tướng chỉ dặn gửi mười bốn đồng… Chắc là trung tướng đùa, nên thư ký không báo cáo lại với tổ chức chuyện đó.

Về đến xã, thấy nhiều người đang vác gỗ đào hố giữa đường, giám đốc nhà máy thuốc lá xuống xe chào hỏi mời họ hút thuốc lá. Họ cho biết vừa có đám tang mẹ một trung tướng, nhiều quan khách từ tỉnh, huyện, trung ương tới dự nên lệnh của trên phải dỡ cọc rào đường. Đám tang xong rồi ta lại tiếp tục rào đường.

- Các ông để cho vài ngày nữa rồi hãy rào có được không?

Một người hỏi:

- Để xe ông lên chứ gì?

Giám đốc nhà máy thuốc lá nói đùa:

- Các ông có biết lâu nay các ông hút thuốc lá của ai không?

Vẫn người vừa hỏi lúc nãy trả lời:

- Chúng tôi biết ông là giám đốc nhà máy thuốc lá rồi. Nhưng hút cứ hút, mà rào đường cứ rào.

Hoàng Lương bước xuống, mọi người reo lên theo cách gọi riêng:

- À, bác Hoàng! À chú Lương. Thằng con trai tôi dạo trong chiến trường nó ở đơn vị bác đấy. Ai cũng thi nhau kể, con mình cháu mình, em mình ở đơn vị Hoàng Lương. Sau đó họ chuyển sang chuyện đám tang: Đông quá, vui quá, quả là hồng tang, cứ như ngày hội. Tiếc là chú về muộn.

Hoàng Lương bắt tay từng người cảm ơn, rồi nói với giám đốc nhà máy thuốc lá:

- Thôi anh em mình đi bộ. Phép vua thua lệ làng!

Đám người rào đường rộn lên: không đi bộ, cứ đi xe, chúng tôi chờ vài ngày nữa rào đường cũng được. Trung tướng sao lại đi bộ. Họ kéo cuốc xẻng lấp chiếc hố vừa đào.

Xe chuyển bánh, đám người rào đường đưa cuốc xẻng lên vẫy chào, trẻ con chạy theo sau reo hò, la hét, rất nhiều đứa chạy xuống ruộng vượt lên trước xe chắn đường, chổng đít vào xe vỗ vỗ cười phô hết cả hàm răng.

Giám đốc nhà máy thuốc lá vào thắp nén hương cắm lên bàn thờ vái cụ rồi ra về. Căn nhà lá lúc này hết sức vắng vẻ chỉ còn hai anh em. Chị dâu ra đồng còn các cháu đi làm theo công việc. Góc bàn thờ để mấy vòng rơm, gậy tre cho các con trai ruột chống và đội trong suốt thời gian đám tang. Hoàng Lương đưa mắt nhìn như muốn tìm, đâu là vòng xoăn dùng cho mình đội đầu, đâu là gậy dùng cho mình chống. Người anh cả hiểu ý đưa cho Hoàng Lương chiếc kim băng với mảnh vải đen: Chú cài vào áo bằng thứ này hợp hơn. Rồi giọng anh cả chậm rãi:

- Không ai biết mẹ chết rồi chú mới đi, kể cả chị dâu chú và các cháu. Sáng hôm sau anh báo tang và cho cháu đầu ra điện cho chú. Khách đông lắm, chưa có đám tang nào ở quê ta đông như thế. Bí thư tỉnh uỷ, huyện uỷ cũng vào khiêng quan tài. Họ đến vừa lúc đưa tang và từ nghĩa trang họ nói với anh những lời chia buồn rồi đi luôn, không ai trở lại nhà ta nữa. Tất cả đều yên ổn, tốn kém chẳng là bao. Dưới suối vàng chắc mẹ vui lòng lắm.

Hoàng Lương ngồi im, tâm hồn anh mang nỗi đau mất mẹ, và một nỗi đau cao hơn cứa sâu vào tim gan anh hơn, là không được sống như người dân bình thường, không được có mặt lúc phát tang mẹ và đưa tang mẹ, bởi một lý do anh là một trung tướng, một trung tướng trong sáng và quá nghèo. Một trung tướng lạc lõng giữa đời thường.
   CTL


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 17 Tháng Tư, 2011, 01:34:04 pm
                                       Đất ấm
                                       Tác giả :Đỗ Văn Nhâm

Chuyện của ông Phấn có lẽ gần với sự thật. Tôi lịm dần đi sau khi Lộc hy sinh, được chuyển ra tuyến ngoài, xa hẳn trung đoàn từ đấy. Bộ đội ta trụ lại. Đồi không tên nên Lộc được gói bọc cẩn thận, chưa kịp chuyển ra. Một ngày đêm bom pháo...
Mãi rồi cũng tìm được tảng đá có hình con gấu. Đồi không tên của tôi và Lộc đây rồi. Tôi bồi hồi đứng, một lúc mới nói được lời cảm ơn ông Phấn, người dẫn chúng tôi lên đúng chỗ cần tìm. Ông Phấn nhìn tôi, dường như có câu hỏi trong cái nhìn ấy. Tôi nói để ông yên tâm, công việc chúng tôi làm phải gượng nhẹ, và nếu làm hư hại cà-phê, chúng tôi xin bồi thường. ..

Không mấy chú ý đến lời hứa của tôi, ông Phấn gật đầu, quay đi, kiểu đi ban nãy, như tìm kiếm gì đó...

Đội quy tập đã dọn sạch cỏ rả đất cát chung quanh con gấu đá. Tôi đặt lễ, thắp hương rồi thầm thì gọi bạn.

Ba mươi năm trước trận hỗn chiến diễn ra ở đây. Và, Lộc bạn tôi vẫn còn nằm lại nơi này. Dấu tích quả bom lớn, nổ cách công sự ba chục bước chân làm chúng tôi ứa máu miệng ba ngày, giờ là một cái hố rộng, nông và um tùm cỏ dại.

Đơn vị cũ của tôi, Trung đoàn Thăng Long nổi tiếng, đã tìm kiếm đồng đội nhiều năm. Nhưng danh sách liệt sĩ chưa quy tập được còn dài lắm. Đôi khi bí bách, việc tìm Lộc chẳng hạn, trung đoàn cần đến những cựu chiến binh. Tôi xin nghỉ phép trở lại Ia Đ'răng chuyến này vì thế. Trước khi lên tàu, tôi đến thăm bà cụ Ngự, mẹ Lộc, cụ đổ bệnh đã lâu.

Có chú gấu đá làm vật chuẩn nên việc xác định khu vực đoạn chiến hào cũ khá thuận lợi. Đây là đoạn chiến hào Lộc đã sống những giây phút cuối tuyệt vời xứng danh một con người. Lúc đó tôi nằm bên kia hố bom, cũng trong một đoạn chiến hào cũ, cạnh xác anh trung đội trưởng còn ấm nóng. Súng hết đạn, chân tay bầm giập, không thể làm gì cứu bạn.

Một tuần bom đạn ngút trời, cả hai bên cùng bị thương vong. Nhưng giữ được Đồi không tên, án ngữ con đường đất đỏ dưới chân nó đến chiều hôm ấy, chúng tôi thắng.

Từ keo cuối cùng ấy chăng? Mệnh lệnh rút quân. Tưởng chuyện rời khỏi Đồi không tên, khi mặt trời đã lặn và sương mù đã dâng tràn thung lũng, sẽ tuyệt nhiên êm thấm. Nhưng mà không. Đài quan sát lần đầu khinh xuất.

Quá nửa trung đội đã lùi xuống chân dốc thì địch lên. Sáu chiếc xe tăng và bảy chục lính. Không hò hét, không pháo cối dọn đường mà lặng lẽ dàn trận. Rồi bất ngờ tăng tốc cuồn cuộn bùng lên như lũ quét.

Cà phê Đồi không tên bây giờ thật xanh. Mừng cho ông Phấn mà vẫn chạnh lòng. Ngày xưa máu đã đổ xuống thành từng vũng.

Cái hố hình chữ chi đang rộng dần, sâu dần. Lộc nằm đâu dưới đấy... Nhớ lại trận đánh cuối cùng cuộc đời chiến sĩ của mình, tôi vẫn cho rằng ngày ấy anh trung đội phó đừng dẫn tôi trở lại thì hơn. Để cứu nguy cho ba người, cuộc hỗn chiến không cân sức đã xảy ra. Mà rốt cục chỉ một tôi sống sót.

Đã khai quật hết đoạn chiến hào cũ. Lặng lẽ và kiên tâm, chúng tôi xem xét kỹ lưỡng từng xẻng đất. Rải rác ít vỏ đạn tiểu liên gỉ sét, mấy mẩu quai dép đúc, chiếc bàn chải ngày xưa cả tổ dùng chung... Những thứ gắn bó với tuổi hai mươi của tôi và Lộc. Và không còn gì khác.

Vùn vụt chiều buông. Sương mù giăng mắc mỗi lúc một dày. Gió hoàng hôn hun hút lạnh. Cả đội quy tập ngơ ngác buồn. Việc lớn chưa nên, bát cơm nóng hổi, thức ăn ngon ngọt của hòa bình đắng trong miệng.

Các chiến sĩ trẻ đốt một đống lửa lớn giữa lòng hố bom rồi bảo nhau thu xếp chỗ nằm. Tôi dựa lưng vào đụn cỏ khô nhìn vô định trời đêm. Nhớ vợ con và nghĩ về bà cụ Ngự giờ đang mòn mỏi tin con. Hồi còn khỏe, cụ và người con gái, em Lộc, đã vào Tây Nguyên. Đọc hết tập hồ sơ mộ chí của cơ quan chính sách. Đi hết mấy nghĩa trang. Sau Trung đoàn Thăng Long đánh một chiếc xe con, cử anh cán bộ trinh sát giỏi nhất hộ tống hai mẹ con cụ leo khắp mấy quả đồi nằm giữa lòng thung lũng Ia Đ'răng. Rồi chiếc xe đó tiễn cụ xuống tàu Thống Nhất trong hiu hắt và những lời hứa.

Tuần trước tôi cũng đã hứa.

Trời đêm rụng một vì sao.

Có tiếng bước chân nhè nhẹ. Đấy là ông Phấn. Ông ra mời chúng tôi vào nghỉ trong nhà ông. Một căn nhà nhỏ, xinh và chỉ một chiếc giường. Ông bảo, đêm ngoài trời sương gió nhiều, lạnh, chịu sao thấu! Tôi cảm ơn và thưa lại rằng chúng tôi hơn một chục người.

- Nhưng mà lạnh, ba bốn người một giường càng ấm. Còn thì cỏ khô... Nền sạch sẽ lắm.

- Thế thì phiền cho ông quá. Với lại, ông nhìn kìa... Bọn trẻ đã ngủ cả rồi.

- Vậy thì xin mời ông. Ông và tôi, dẫu sao cũng chẳng còn trẻ nữa.

- Cảm ơn ông! Ông về nghỉ đi. Thú thực, tôi không buồn ngủ, cũng không thể ngủ. Tôi muốn canh gác cho bọn trẻ và sống cùng quá khứ.

- Sống cùng quá khứ ư?

- Vâng.

- Nghĩa là...

- Tôi đã sống ở đây, lâu rồi... Đã từng uống nước dòng suối trước nhà ông. Đã chiến đấu nhiều ngày trên đồi.

- Cái đó thì tôi đoán được lúc ông nói về tảng đá. Tôi hiểu ông bây giờ trở về tìm bạn.

- Vâng... Đi tìm bạn tôi. Anh ấy là một anh hùng. Một chàng trai hai mươi tuổi, trẻ lắm, đẹp lắm!

- Dạ. Chiến tranh... cái thời chết trẻ bao nhiêu người!

Tuổi ngũ tuần trong lòng đầy gió. Lạnh, chưa hẳn do đất trời nên lạnh. Im ắng quá. Tôi chất thêm củi vào đống lửa. Ông Phấn đun nước, pha cà-phê. Ông bảo ông muốn thức cùng tôi.

Cà phê ngon thực.

Một lúc sau ông chủ trang trại rụt rè nói:

- Nè, ông... Ông thử coi lại xem, chuyện tìm kiếm ấy mà... có nhầm lẫn chi không. Mấy chục năm chứ ít đâu...

- Chính xác là ba chục năm dư mười bảy ngày. Ba chục năm... ông biết tôi biết, vật đổi sao dời nhiều lắm. Con đường đất đỏ ngày xưa chúng tôi chốt chặn, nay nắn thẳng sang bên kia đồi, thoáng rộng hẳn ra và được trải nhựa. Rồi cà-phê và cao-su. Cả thung lũng Ia Đ'răng cũng đã là một Ia Đ'răng khác. Ngổn ngang, nhộn nhịp, tươi xanh. Thị trấn mọc lên... Heo hút lùi xa. Khác, mà nhiều thứ vẫn không thể khác. Đồi không tên thành trang trại của ông. Nhưng con gấu đá còn đó. Bạn tôi cho nổ lựu đạn trên tay ngay đoạn chiến hào bên cạnh nó.


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 17 Tháng Tư, 2011, 01:35:49 pm
                         Tiếp theo:

Ông Phấn không nói gì nữa. Tôi cũng im lặng.

Chưa đến 9 giờ tối mà đêm như đã khuya khoắt lắm. Lạnh, vừa đủ lạnh cho ông Phấn và tôi ngồi xích lại gần nhau. Sương gió và tĩnh lặng. Cỏ khô và ngọn lửa. Cà-phê và thuốc lá. Bây giờ thì thuốc lá và thi thoảng chiêu một hớp rượu nhỏ cùng khô mực. Tuổi tri thiên mệnh ngoái lại nhiều hơn là hướng tới. Tôi kể cho ông Phấn nghe chuyện tôi và Lộc lạc nhau giữa rừng sâu. Hai đứa đi gùi gạo. Vừa đi vừa trò chuyện suốt một quãng đường dài. Đi và nói, một lúc bỗng giật mình, phía sau rừng đêm vắng bặt tiếng người. Tôi đã lên chót đỉnh bời bời gió núi. Gọi nhỏ. Gọi to. Rồi gào ngỡ vỡ toang lồng ngực. Chỉ có tiếng nai nghẹn tắc dưới lòng thung. Buồn, lo và sợ hãi. Chả biết sương đêm hay nước mắt ướt nhòe tuổi hai mươi. Tôi bèn giương súng lên trời... Lời gọi bạn vạch một vòng cung đỏ và tiếng vọng thật dài. Tiếng giật mình hốt hoảng... "Cái gì thế?". "Thằng quỷ! Mày ở đâu?". "Tao đây... dưới này... ở dưới này...". Giọng Lộc khê nồng. Trời ơi, hắn ngủ! Vấp phải một cái gì đấy, cậu ta ngủ nghiêng vào sườn núi, tưởng nhân thể nghỉ chốc lát mà thiếp đi luôn. Mừng tức thở, bực đầy hông, tôi dò dẫm lần xuống, véo tai Lộc một cái thật lực, đau buốt lòng mình đến giờ.

- Chúng tôi đã tìm nhau như vậy đấy. Dùng cả tiểu liên mà gọi. Bây giờ thì chịu. Đại bác tầm xa cũng chịu. Ba thước đất hóa nghìn trùng.

Ông Phấn thở dài, vào nhà đem ra một giỏ hoa trái lớn, đặt lễ, thắp hương trên lưng con gấu đá, bảo:

- Tôi và ông cùng gọi ông Lộc. Thử coi... Với lại, cho lòng ông nhẹ nhõm.

Ông Phấn cúi đầu. Tôi âm thầm gọi bạn. Lộc ơi! Mình đây! Sáng mình nói dối. Đừng giận nhá. Đúng là mẹ ốm. ốm xoàng thôi. Cậu ở đâu? Mẹ đã lặn lội vào đây. Mẹ buồn lắm. Anh em trung đoàn cũng đi tìm mãi. ở đâu thì bảo. ở đâu thì báo. Lộc ơi! Lộc về cho mẹ khỏe...

Tôi rưng rưng đứng giữa đỉnh đồi. Đôi chân trần bồn chồn trên đất đai không có tiếng nói. Trời đêm im lặng trên đầu. Từ cõi lòng sâu thẳm bất chợt bật lên một câu hỏi:

- Ông Phấn này, khi làm đất, ông có san ủi chứ?

- Tôi thì không. Tôi mua lại của người ta. Nhưng nghe bảo hai máy ủi làm ròng rã một ngày đêm mới xong.

- Làm cả đêm?

- Dạ. Máy móc thì ít. Đất muốn vỡ thì nhiều. Cứ sôi lên...

- Đất đá dồn đi những đâu, ông biết không?

- Tôi không hay. Chắc là các tụ thủy, hố bom...

Đúng! Hố bom! Có thể là những hố bom. Đã hơn ba giờ sáng. Tôi gọi bọn trẻ dậy. Thêm mấy đống lửa nữa được đốt lên. Cuộc tìm kiếm tiếp tục, lần này giữa lòng hố bom gần khu vực con gấu đá.

Ông Phấn mổ gà, nấu một nồi cháo lớn.

Sườn đồi bên này sẽ là nơi làm việc sau cùng, nghĩa là vào ban đêm, trong mắt những người thợ, phía trước đầu máy lúc sáng lúc tối tất cả chỉ là đất đá cây cối, và hố bom gần nhất sẽ bị lấp đầu tiên. Một chút suy nghĩ tính toán đó hay hương hồn Lộc xui khiến chúng tôi đã bắt đầu đúng. Rạng sáng, hiển hiện bạn tôi. Một bọc ni-lông đã cứng quèo, rách nhiều chỗ, mấy chiếc áo mầu nâu, một lọ thủy tinh nhỏ đựng mẩu giấy ghi danh... Thời gian và bom đạn... Lộc còn lại những gì?

Đánh nhau được một chập, tôi bị thương. Trung đội trưởng bắn cháy chiếc xe tăng gần nhất, cõng tôi chạy dọc chiến hào một đoạn thì trúng đạn. Anh hộc lên một tiếng và đi rất nhanh. Những điểm xạ hai viên một "đặc điểm nhận dạng" của Lộc đã tắt nhiều giây. Cậu ta ở đâu? Đang trườn về phía tôi? Bị thương hay đã chết? Tôi căng mắt nhìn về hướng con gấu đá. Một lúc, giữa tơi bời lửa đạn sáng tối, thấp thoáng những bóng đen lao tới. Bấy giờ thì chúng hò hét. Một bóng người nghiêng ngả đứng lên, đứng thẳng, hai tay chầm chậm giơ lên. Lộc? Tôi chưa kịp nghĩ tới tình huống tồi tệ nhất, quả lựu đạn trên tay Lộc chớp lửa.

"Đôi bàn tay vốn dĩ không có tiếng nói đã ròn rã một lời quyết tử!". Tôi nói với các chiến sĩ trẻ. Và nhớ lại không phải một mình Lộc ngã xuống lúc đó, nên bảo anh em mở rộng lòng hố bom. Qua nhiều sỏi đá, cây cối mục nát một lúc sau thấy dấu vết một con người. ít ỏi lắm, nhưng đúng là một con người. Ông Phấn chú mục vào những con số trên mảnh inox cỡ bốn đốt ngón tay, và nấc nghẹn. Không - ba - bốn - một - bốn - năm, người mang số lính đó là bạn ông; ngày xưa anh ta ở phía bên kia.

Chúng tôi tắm rửa cho Lộc bằng dầu thơm và lòng tâm nguyện.

Tôi ngồi với Lộc được một lát thì ông Phấn đến. Lại có những câu hỏi trong đôi mắt ấy.

- Nè, ông - Ông Phấn bắt đầu - Nếu gặp lại một người lính đối địch, từng đấu lê với ông, giả dụ thế, ông làm chi?

- Làm gì nhỉ - Tôi cười - Mọi chuyện đã qua quá lâu rồi. Tôi cũng gặp lại khối người.

- Dạ. Chuyện đã qua... Không, tôi muốn nói... Lúc hai bên giương súng vào nhau?

- Ông biết tôi sẽ làm gì rồi, hỏi chi nữa, ông Phấn. Thú thực tôi bắn không tồi. Thậm chí thời lính mới còn được gọi đi chỉnh súng cho cả trung đoàn.

- Thiệt may mắn cho tôi. Hôm ấy tôi là một thằng lái xe tăng, nhưng còn ở khá xa.

Một thoáng bất ngờ nhẹ nhõm. Hai bàn tay chầm chậm xiết lại.

Một đại đội bộ binh và đại đội xe tăng của Phấn nhận lệnh đè bẹp Đồi không tên. Trên bản đồ hành binh tác chiến của gã thiếu tá, nó là một vòng tròn tối sẫm nhức nhối căm hờn. Đại đội của Phấn, quân viện binh mới được điều đến đã nghe lính tráng đồn nhau, trên Đồi không tên toàn những tay súng chính quy Bắc Việt thiện chiến. Phấn và Huỳnh cũng tính nước tháo lui. Chuẩn bị dàn trận, Phấn đánh pan máy, nháy Huỳnh lủi xuống gầm xe. Gã thiếu tá huơ súng ngắn quát ầm ĩ. Phấn giả đò kỳ cục sửa máy, toan tính lần lữa chạy sau cùng.

- Huỳnh là em họ tôi. Lại cùng sinh viên văn khoa Sài Gòn. Cùng trốn lính mà không thoát. "Khi lá cờ vàng ba sọc đỏ thôi bay. Đời lính tráng tan tành tro bụi". Thơ của Huỳnh đó. Còn câu nầy nữa: "Anh sẽ về cùng con tàu thật sớm. Giành lại em. Và tuyên án giữa ban mai". Huỳnh tính xử gã thiếu tá đó.

Ông Phấn đốt thuốc mù mịt, ho sặc sụa. Tôi rót cho ông tách trà nóng. Một giọng khàn đặc chắp nối một mảnh đời buồn.

Tiếng súng trên Đồi không tên thưa dần. Phấn cho xe bò lên. Phấn vẫn sợ gã thiếu tá. Phấn cũng sợ viên thiếu úy trưởng xe. Mới tới lưng đồi mà không thấy trước mặt đùng đùng một cuộc phản kích. Lại giả đò trục máy. Không nghe tiếng viên thiếu úy. Phấn bỏ xe, chạy. Tạm hoàn hồn Phấn mới hay chính viên thiếu úy trưởng xe dắt díu tay mình lùi vào một bụi rậm. "Một đại đội Việt Cộng bị diệt gọn!". Bọn chiến tranh tâm lý sư đoàn loan báo. Viên thiếu úy rỉ tai Phấn: "Tin vịt ấy. Việt Cộng đánh xong, rút ngay. Họ chỉ để lại một tiểu đội kiếm thương binh và những người chết.".

Chuyện của ông Phấn có lẽ gần với sự thật. Tôi lịm dần đi sau khi Lộc hy sinh, được chuyển ra tuyến ngoài, xa hẳn trung đoàn từ đấy. Bộ đội ta trụ lại. Đồi không tên nên Lộc được gói bọc cẩn thận, chưa kịp chuyển ra. Một ngày đêm bom pháo... Những cuộc chiến giành đi giật lại... Có ai hy sinh sau đó? Có, cũng đã về nghĩa trang. Hồ sơ liệt sĩ chưa quy tập trận này không còn ai, ngoài Lộc.


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 17 Tháng Tư, 2011, 01:37:46 pm
                            Tiếp theo:

Ngẫm nghĩ tiếp, tôi nhận ra một điều cần làm rõ:

- Ông Phấn, em họ ông có thể là một người nhát gan, có thể không. Nhưng đã định đào tẩu, lại còn thơ nữa, thơ của một người thối chí, làm sao dám xông lên hòng bắt sống bạn tôi?

 - Vì thế nên nằm gần ông Lộc?

- Đúng!

- Tự Huỳnh không bao giờ hung hăng như thế. Tôi rành bụng dạ nó lắm. Có thể do gã thiếu tá thúc sau lưng. Có thể bị chết ở chỗ nào đó. Bom đạn tùm lum mà. Rồi máy ủi...

- Thôi, ta nói chuyện khác đi. Chuyện làm ăn chẳng hạn. Ông lên đây làm ăn thế nào?

- Chuyện dài lắm. Mà vẫn phải nhắc tới Huỳnh. Tôi nói gọn thế này. Trận ấy tôi thoát chết. Tưởng Huỳnh cũng trốn thoát, vì không nghe báo nó tử trận. Tôi lĩnh án đào binh lao công đến ngày giải phóng, về quê lấy vợ sinh con. Cuộc sống êm đềm. Không thấy Huỳnh về, tôi nghĩ nó phiêu dạt đâu đó. Nó vốn là một chàng lãng tử. Một năm, hai năm, rồi mười năm... Chú thím Tư lần lượt qua đời. Trước khi mất chú Tư ủy thác nó cho tôi. Đây là lần thứ hai. Lần đầu, lúc hai đứa bị bắt lính. Đâu đâu cũng gặp bộ đội mấy anh đi kiếm tìm liệt sĩ. Tôi chắc thằng Huỳnh chết rồi. Ai đi kiếm nó, những người như nó? Tôi đã hỏi những người cần hỏi. Mỗi người nói một khác. Cuối cùng tôi lên đây. Lại hỏi, lại kiếm tìm quanh Đồi không tên... Mệt mỏi, chưa biết tính sao thì gặp người muốn nhượng lại vườn đồi này. Lúc đó cà-phê mới trồng, ngó đã hay hay. Tôi đưa trước cho người ta một ít tiền, nhảy xe đò về quê bàn thêm với vợ. Cổ bảo, biết đâu được cả hai việc. Đúng, vợ chồng tôi mua, vừa thêm một chỗ làm ăn vừa tìm kiếm Huỳnh lúc rảnh. Gặp ông và mấy anh lên kiếm ông Lộc, bụng nghĩ ổng nằm trong vườn mình, tôi xắn tay cùng, với lại như vợ tôi nói, biết đâu đấy. Quả thực, tôi cũng đã xăm soi đào bới nhiều nơi. Không ngờ hôm nay mới gặp. Mừng, nhưng vẫn đau. To con như Huỳnh mà chỉ còn... như thế này.

Ông Phấn lại ho sặc sụa. Khuôn mặt, đôi mắt của một người hơn năm mươi nhìn thấy mặt trời, tối sầm. Tôi nói:

- Ông đừng buồn quá. Dù sao ông cũng đã làm trọn một lời ủy thác.

- Ông và mấy anh sẽ rước ông Lộc về nghĩa trang. Còn Huỳnh, người em xấu số của tôi...

- Ông tính sao?

- Tôi sẽ chọn một nơi thoáng đãng, sạch sẽ.

- Ông nói phải lắm. Chúng tôi có thể giúp được gì không?

- Cảm ơn ông nhiều. Tôi muốn ngồi lại với Huỳnh một lúc.

- Còn điều này nữa... Tôi buộc lòng phải nói. Nếu ngày xưa không phải em ông lao lên định bắt sống bạn tôi, thì là người khác. Lúc đó tôi nhìn không rõ lắm. Nhưng chắc không phải một người, Lộc dứt khoát không chịu một đổi một đâu. Các bạn của ông chắc vẫn còn ở đó. Xin ông lưu ý cho...

Mặt trời lên, tan sương, gió nhẹ, nắng ấm chan hòa thung lũng Ia Đ'răng. Chúng tôi đưa Lộc xuống chân đồi. Xe trung đoàn đến đón vừa đậu lại dưới đó.

Tôi vừa đi vừa nghĩ, phải báo tin cho bà cụ Ngự sớm nhất.
   ĐVN


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 17 Tháng Tư, 2011, 02:02:01 pm
                                        Trang bản thảo chép thuê                 
                                        Tác giả :Chu Lai
Cơn mưa đầu mùa bất thần ập xuống. Tổ trinh sát trùm vội tấm ni-lông lên đầu. Và họ sẽ cứ ngồi còng lưng suốt đêm như vậy nếu trận mưa không dứt. Để rồi sáng mai, họ lại phơi đầu chịu trọn một ngày nắng chói chang, không một tàu lá chở che…
Chưa có cái nắng nào gay gắt như nắng ở miền đất đỏ nơi đây. Da trời sau cơn mưa và rừng cao su sau kỳ thay lá mới, cùng mang màu xanh thắm cũng chẳng làm cho nắng dịu đi. Tiếng súng ì ầm từ đường ranh vọng về như càng làm cho màu nắng chói chang hơn.

Trưa hôm đó, một quân nhân cao lớn đang thả bước trên phố dẫn xuống chợ. Toàn bộ con người anh: từ cái mũ, vai áo, ống quần cho tới bao súng, chiếc xà-cột đều trát màu đỏ quạch. Đế giày của anh nặng chịch, thỉnh thoảng lại để rơi ra những lát đất, cánh tay phải bị thương đeo trước ngực. Bụi bặm và mệt nhọc. Anh có vẻ là một sĩ quan vừa bước ra khỏi trận đánh về đây. Có lẽ anh đang tìm kiếm ai, cặp mắt trũng sâu, hấp háy nắng cứ đảo hai bên hè đường ở cái thị trấn nhỏ gần biên giới này.

Đi quanh quất, lên xuống mãi rồi, mặt lộ vẻ vui mừng, anh dừng lại dưới một tấm biển màu xanh: "Photocopy".

Dưới nữa, cánh cửa sắt mắt cáo đang đóng im lìm. Nắng xế hắt lên những ô cửa han gỉ một vẻ buồn cũ, phong rêu như hàng năm nay không có bóng người qua lại, ra vào. Điều cảm nhận làm anh ngập ngừng… Bên kia đường, một cô gái mặc đồng phục thanh niên xung phong có cầu vai may bó khít trông thật nở nang, đang loay hoay tháo gỡ miếng tôn quăn queo, trên có hàng chữ bằng vôi trắng nguệch ngoạc: "Nhà đi vắng! Cám ơn". Anh qua đường.

Người sĩ quan dùng tay trái khéo léo giúp cô gái nhổ nốt chiếc đinh cuối cùng rồi bắt chuyện.

- Chị vừa ở trên "chốt" về?

- Sao anh biết? - Cô gái vui vẻ hỏi lại và hất mạnh mái tóc ngắn ra sau, để lộ khuôn mặt bầu bĩnh, rám nắng cùng đôi mắt lấp láy.

- Trông quần áo chị là biết à.

Cô gái cười thật giòn, cái cổ tròn trĩnh hơi ngoẹo sang bên:

- Đàn ông mà nhận xét tinh ghê! Thế còn anh? Chắc không phải vừa ở Sài Gòn lên chớ?

Anh cán bộ cười xòa. Thế là hai người quen nhau một cách khá dễ dàng, bởi lẽ họ đã cùng mang màu đất đỏ trên quân phục không bao giờ giặt sạch được nữa, và họ đã cùng "ở chốt".

- Chị chắc ở đại đội "nhõng nhẽo?".

- Sao cơ? Anh nói gì, tui nghe không hiểu? - Cô gái chúm môi cố nhịn cười.

- Chà! Lính của đơn vị nữ thanh niên xung phong duy nhất, đi đâu cũng chả lẫn được.

- Sao không lẫn được? - Cô gái hỏi lại.

- À, cứ to đùng… Không, cứ duyên dáng, dịu dàng như văn công quân giải phóng ấy.

- Anh cũng nhộn nhỉ?

- Nhộn vừa thôi. Sao? Nhà ai đi đâu mà chị tháo tấm biển của người ta?

- Nhà em đó anh - Cô thanh niên xung phong đã chuyển thành tiếng em thân mật hơn: - Phiền quá. Chả hiểu thầy mẹ em nghe ai mà đùng rầm sơ tán cả về Bình Long. Ông bả sợ mai mốt bọn phản động Cam-pu-chia thọc qua đây thiêu trụi sạch trơn. Thiệt rầu hết sức! Nghe tin, em giận quá trời, xin phép đơn vị về ngay. Thế là - Cô gái cười khúc khích - Thế là đâu lại vào đó. Ba cái thằng "Thổ" sức mấy hả anh?

- Ông bà già là dân công-tra hay sao mà gọi "thầy mẹ?".

- Thì bà con vùng này hầu hết gốc Bắc mà anh.

- Thế đâu cả rồi? Thầy mẹ chị ấy?

- Đi chặt tre về vót chông từ hồi mơi kia. Ủa! Đứng hoài đây ta. Anh vào nhà uống nước đã.

- Thôi, để lúc khác. Này chị, liệu cái tiệm Photocopy kia có nhận đánh máy thuê không?

- Em mới về không rõ. Nhưng trước vẫn có đấy. Nhà con nhỏ bạn em mà. Con bé đánh máy ngon lắm. Cứ gọi là như múa nhé! Hay là… Em thử sang hỏi xem. Nhưng thôi, con nhỏ lúc này kỳ lắm! A kìa! Họ mở rồi đó.

Có tiếng cửa sắt rít lên ken két. Người sĩ quan lau nhanh mồ hôi, tạm biệt người bạn mới quen, bước rảo qua đường.

Bên trong cánh cửa, căn phòng mờ mờ tối hiện ra với mùi dầu mùi mực in và mùi kim khí mốc thếch. Cái bàn in photo bụi bậm chiếm trọn một góc phòng. Chiếc máy chữ cỡ trung nằm lênh khênh trên chồng bìa giấy ngổn ngang làm người khách nhẹ người. Anh bước nhanh tới, suýt quên cả chào người đàn bà trạc tứ tuần đang lạ lẫm nhìn mình.

- Chào thím!

- Dạ! Có chi không chú? - Người đàn bà hỏi miễn cưỡng bằng cái giọng bắc rành rọt.

- Thưa không có chi. Tôi muốn hỏi nhà ta có nhận đánh máy không ạ?

- Chú muốn đánh máy?

- Dạ!

Bà ta đưa mắt nhìn chiếc máy chữ, thoáng lưỡng lự. Người khách mỉm cười giải thích:

- Tôi là phóng viên quân đội, vừa ở trận địa về. Thím đừng lo. Không phải tài liệu phi pháp gì đâu. Thím có thể xem…

Bà chủ nhà nhìn lấy lệ tấm thẻ nhà báo, vẻ mặt vẫn có chiều lo toan. Anh phóng viên nhìn vào khuôn mặt sắc sảo, có đôi vết tàn nhang và chắc cũng có một thời xuân sắc đó, hồi hộp chờ đợi. Hầu như cả cái thị trấn biên giới này, chỉ có độc một hiệu photo đây thôi.

- Có cần lắm không, chú?

- Dạ, cần! Rất cần! - Anh trả lời vội vàng và chợt nhìn thấy cái nón trên tay bà ta - Thím chắc… tính đi đâu?

- Đi chạy chợ kiếm tiền đong gạo chú ạ. Không sao. Chú đưa tôi xem thử.

Người đàn bà đón tập giấy nhàu nát trên tay anh, lật qua lật lại như đong, như cân.

- Nói thực với chú là máy hư lâu rồi.

Dáng chừng bà ta chê ít - anh nghĩ - Nhưng vẫn gặng hỏi:

- Chắc sửa được, thím?

- Chưa tìm được người, vả lại, đã lâu không có khách nên chưa tính sửa.

- Vậy… sao thím?

- Photo, chú có chịu không?

- Dạ chịu! Tay tôi đau không chép được.

- Trông chú có vẻ mất nhiều máu. Thế chú định in mấy bản?

- Chừng hai, ba gì đó, thím.

Bà cười:

- Ở đây chúng tôi chỉ nhận photo với số lượng lớn. ít quá khó làm mà tốn cho chú. Mực mắc lắm?

- Tốn là chừng bao nhiêu, thím.

- Chú chịu không nổi đâu. Vừa đổi tiền xong, dễ mấy ai đã có được tiền trăm. Lại là bộ đội mấy chú. Thấy chú đau tay, tôi cũng muốn làm nhưng… chú cảm phiền vậy - Bà ta cầm lấy nón.

Anh phóng viên thừ mặt, ngồi nán thêm chút nữa rồi cũng đành chặc lưỡi, đứng dậy. Cánh tay anh lúc ấy đột nhiên thấy nhức hơn. Bí thật! Sáng ngày mốt có người bạn ra ngoài đó, anh cần gửi gấp bài báo. Tòa soạn đang cần bài về biên giới. Vậy mà trong cả cái thị trấn biên giới heo hút này, anh không hề quen một ai để có thể nhờ chép hộ bản thảo cả. Và cũng sáng ngày mốt, anh phải trở lại "chốt" rồi. Còn nhiều việc dở dang ngoài đó. Hay cứ gửi bản nháp ra: càng không ổn! Bản thảo viết trên "chốt" lộn xộn, gạch xóa lèm nhèm, chữ nghĩa lụn vụn như củi que xếp lại, đến mình còn không đọc nổi nữa là mấy vị biên tập. Anh suy tính đắn đo.

Vừa lúc đó, ở nhà trong, bất chợt có tiếng dép thật nhẹ đi ra. Một cô gái khoảng mười chín, đôi mươi, dong dỏng cao, mặc bộ đồ hoa xanh nhã nhặn. Nước da trắng xanh và mái tóc buông xõa kiểu học trò. Ở cái xứ đất đỏ làm cao su, làm rẫy, cạo mủ này, một cô gái ăn mặc kiểu đó, dáng dấp và nước da ấy kể cũng hiếm. Khuôn mặt thanh thoát của cô ta gợi nhớ được cái nhan sắc thuở nào của người mẹ. Duy có đôi mắt sau cặp kính trắng là phảng phất điều gì như tư lự, không vui. Theo thói quen, anh phóng viên thầm nhận xét như vậy khi đế giày vải cộm đất của anh đã chạm vào bậc cửa.

- Cho cháu xem một chút được không, chú? - Cô gái nói, một giọng nói rất Nam Bộ cất lên khẽ khàng, có phần rụt rè. Anh phóng viên ngập ngừng quay lại, miễn cưỡng chìa tập bản thảo quăn quéo ra.

- Ít vậy viết tay được không chú?

- Viết tay?

- Dạ!

- Được!... được chứ! Nhưng… tốn công lắm.

- Để cháu coi - Mấy ngón tay nhỏ nhắn lật giở từng trang - hơn ba mươi trang… Được, chú à.

- Chữ tôi khó xem lắm.

Cô gái liếc mắt sơ qua trang giấy:

- Không khó lắm đâu chú.

Người mẹ đã ra đến đường, còn quay lại, nói hùn vào:


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 17 Tháng Tư, 2011, 02:03:39 pm
              Tiếp :


- Ừ! Phải đó. Con có rảnh chép đỡ cho chú. Đỡ buồn mà lại có tiền xài. Ấy, chữ em nó đẹp lắm, chú đừng lo! Đây! Đây! - Bà đi nhanh vào nhà trong lấy ra một quyển vở tập bìa xanh - Chữ em nó đấy. Được không chú?

- Má sao kỳ quá hà! - Cô gái khẽ nhíu lông mày trách mẹ, rồi giằng lấy quyển vở. Anh thoáng nhìn thấy những hàng chữ đều đặn, nghiêng nghiêng. Anh thấy vui hẳn lên.

- Không cần chép đẹp lắm. Rõ ràng, dễ xem là tốt rồi. Nếu có thể được, chiều mai tôi đến lấy. Còn phải tranh thủ soát lại rồi gửi đi. Liệu kịp không cô?

- Dạ, kịp! - Cô gái trả lời bình thản.

- Thế thì tuyệt quá! - Cám ơn! Cám ơn em… à, cháu nhiều lắm. Thế còn… còn… - Anh trở nên lúng túng trong lúc cô gái ý tứ cầm tập giấy lẳng lặng đi vào.

- Thế còn… còn… - Anh quay sang bà mẹ - Thím à! Thế này quả không phải, nhưng - Anh nói khô khan và lóng ngóng mở túi ngực - Tôi không có ý ngã giá, trả công… Nếu đánh máy được thì dễ, nó có giá chung rồi. Đằng này… thôi! Tôi còn hai chục đồng, thím cầm đưa cho cháu. Gọi là thù lao sức lao động.

Người mẹ vặn vẹo quai nón trong tay:

- Ấy! Rồi hẵng, để tôi hỏi cháu xem ý nó thế nào.

- Thôi, khỏi thím! Mẹ gật đầu là con cũng ưng mà (Thực ra anh ngượng đến chết nếu phải cò kè chuyện tiền nong với con gái. Các bà mẹ bao giờ cũng cụ thể hơn). Thím cứ cầm giùm. Nếu cô ấy kêu thiếu, tôi xin hoàn thêm. Gọi là đôi chút… - Anh thoắt nóng bừng mặt.

- Chà! Nắng ơi là nắng - Người mẹ nhìn ra đường làm ra vẻ thờ ơ khi cầm tiền nhét vào túi.

Ra tới đường, anh thở phào. Thế là ổn. Mẹ nói tiếng Bắc, con nói tiếng Nam nghe thật vui tai! Kể ra, nếu đánh máy chỉ mất khoảng bảy, tám đồng là cùng. Mà thôi! Chả nhằm nhè gì. Trên chốt có cái quái gì để tiêu tiền đâu. Ấy vậy mà ở đây, trong lúc tiền còn đang nằm cả ở bàn thu đổi, hai mươi đồng bạc hẳn cũng cần cho bữa ăn của gia đình này. Anh mỉm cười nhìn lên đỉnh dốc, một chiếc xe chở nước về trận địa đang ậm ạch bò lên. Nước trắng xóa trào cả xuống tốp bộ đội quân cảnh đang án ngữ tại ngã ba. Xa nữa, chìm trong ánh nắng rung rinh, một hàng dài công an biên phòng đang hành quân vào phía trảng dầu. Bụi đỏ cuộn lên phủ đầy đầu tóc các cô thanh niên xung phong đang cuốc bộ cùng chiều. Tiếng cười ré lên. Nhưng phía dưới chợ, trong dãy tiệm giải khát vẫn có nhiều người đang thong thả chiêu từng ngụm nước ngọt. Kỳ lạ thật, nơi đây chỉ cách trận địa non chục cây số mà cuộc sống vẫn êm ả, cách biệt như chẳng hề dính líu gì.

* * *

Hình như đã lâu lắm rồi, người trong phố dốc mới lại thấy căn phòng riêng của cô gái có ánh đèn.

Cô đang ngồi trên cái gác xép thật xinh, bày biện sơ sài. Trên tường còn in lại dấu vết ghim, gài của những tấm tranh, ảnh nhỏ to. Từ khung cửa sổ, hương sầu riêng thoang thoảng bay vào. Xa hơn chút nữa, nghe thấy cả tiếng vỏ trái su nứt nổ giòn khô.

Dưới ánh đèn bàn tỏa màu dìu dịu, xếp giấy trắng mới chỉ có một hàng chữ đậm nét, mềm mại ở trang đầu "Những người giữ chốt" - Đó là tên bài báo mà cô nhận chép trưa nay. Cô thôi không bần thần tô đi tô lại cái đầu đề nữa, mắt ngước lên. Sau cặp kính, cái nhìn của cô gái thẫn thờ? Có cái gì mờ mờ ảo ảo, không rõ hình thù đang trỗi dậy trong lòng cô…

Đúng! Lâu lắm rồi cô mới lại lên căn gác xép này, từ cái ngày ba của cô đi xa. Ánh đèn xanh, chiếc bàn hình bầu dục, chiếc đi-văng da màu trứng sáo, mái trần thấp có vết bò của rắn mối, giá sách ba ngăn ở góc phòng, mùi vị nồng thơm của giấy, của gỗ, của khoảng vườn dưới kia, tiếng động ban đêm… Tất, tất cả đều vô cùng quen thuộc đang thức dậy trong cô những năm tháng xa xưa… Ngày ấy cô còn chưa hiểu rõ ràng, nhưng thật luyến nhớ làm sao. Tuổi học trò yên ả của cô đã trôi qua ở căn gác này, trôi qua những bữa cơm sum họp thật vui. Lâu lâu, căn gác lại rung lên trong những tiếng nổ xa xôi để rồi lại tiếp chìm trong yên lặng. Một vài lần nghe bọn bạn kháo nhau có xác mấy ông "Việt Cộng" phơi ở dưới chợ, cô chỉ rùng mình và sau một giấc ngủ ngon, sáng ra, bầu trời lại thật đẹp! Ngày ấy hình như còn có cả tình yêu nữa. Anh con trai học trên cô hai lớp, tên Thanh, thông minh, khỏe mạnh, người vùng sông nước An Phú Đông… Đã có lần cô được xuôi thuyền trên dòng sông mênh mang ấy. Phải rồi! Thanh hay ngồi trên thành cửa sổ nói mãi không thôi về những chuyện hội thảo, xuống đường… Còn cô, cô vẫn ngồi ở ghế này, tai chẳng muốn nghe mà mắt vẫn nhìn lên. Thanh thật bướng bỉnh, chỉ ưa bàn chuyện học đường, chuyện hội họp. Giờ thì Thanh không còn nữa!...

Có lẽ khuya lắm rồi. Nhà ai, tiếng vót chông xào xạo, nhỏ dần. Nghe tiếng dao đưa ngọt, biết mũi chông đã nhọn lắm. Đã một đôi lần, cô chuyển bút xuống trang giấy. Nhưng ngòi bi tuồng như chạm vật cứng, nó không chịu lướt đi. Tập bản thảo hoen ố nước mưa và đất cát vẫn nằm im góc bàn. Những hàng chữ lụn vụn leo kín cả hai bên lề những trang giấy.

Ừ, lúc nhận chép, mình đâu có ngờ rơi vào tâm trạng này. Từ bữa đổi tiền đến giờ, má hay phàn nàn thiếu đủ này kia. Giúp má được đồng nào hay đồng đó, mình nghĩ vậy thôi. Vả lại mình cũng tò mò muốn biết "họ" viết lách thế nào. Từ ngày giải phóng tới giờ, mình đâu có sờ tới quyển sách mới nào đâu. Nếu như trước kia thì có bao giờ mình phải nhận cái việc "thuê mướn" ấy. Trước kia… Một nỗi chua xót dâng lên khiến cô cay cay sống mũi. Không bao giờ! Ngày ấy không bao giờ có cái cảnh này cả. Thỉnh thoảng tối thứ bảy, ba ở Sài Gòn về, mình cũng ngồi ở đây, bên khung cửa này, chép bản thảo cho ba. Và thế nào sáng mai, ba cũng thưởng cho một chầu đi Lái Thiêu… Sóng biển, xa lộ, cây trái đung đưa và những chiều trên đường về, da thịt đỏ sắc nắng… Bây giờ không có ba nữa. Ba ở đâu?... Ba có hay, má và con đang sống những ngày chờ đợi nôn nao, ba có hay con đang cắn bút trên trang bản thảo của người ta…

Bâng khuâng, cô cầm tập bản thảo nhoè ố dịch vào quầng sáng đèn. Những hàng chữ xiên xẹo lờ mờ hiện ra:

Cơn mưa đầu mùa bất thần ập xuống. Tổ trinh sát trùm vội tấm ni-lông lên đầu. Và họ sẽ cứ ngồi còng lưng suốt đêm như vậy nếu trận mưa không dứt. Để rồi sáng mai, họ lại phơi đầu chịu trọn một ngày nắng chói chang, không một tàu lá chở che…

Viết "thật" quá! Cô rời tập bản thảo. Chả làm sao tìm được những áng văn óng ả như của ba ngày xưa. "Họ" đang viết về cuộc sống ở "trên ấy" đây. Cũng tội cho chú ấy, mới dòm, tưởng là người lính bình thường. Ba ngày xưa khác cơ. Bao giờ cũng đi, về bằng xe riêng, quân phục chải chuốt… Cũng phải thôi, vất vả như "họ" lấy đâu ra văn hay! Tuy vậy, con mắt cô vẫn tò mò lướt qua trang giấy. Chữ với nghĩa cứ rối tinh lên:

Không ai bảo ai. Cục cơm vắt đều được nhét kín trong lần áo ngực để mai còn có thể nhai được mà giữ sức tuần này qua tuần khác… Mưa rổn rảng trên lá dầu. Mưa thấm ướt những lưng áo cả chục ngày nay không được giặt. Ôi chao! Thèm biết bao một mái nhà, một ánh lửa ấm cúng dưới kia. Cẩn thận nhé, đồng chí ơi! Chúng nó đang rình rập ở xung quanh. Ráng đừng để mắt díp lại…

Bất giác, cô khẽ rùng mình như chính những giọt mưa kia đang rơi xuống người. Cô co vai lại và chợt ngửi thấy mùi nắng thơm trên vải áo của mình… Họ thèm một mái nhà, một ánh lửa… Vườn sầu riêng, gác xép tuổi thơ này… Cũng thật tội! Thanh! Thanh nữa! Cô thấy buốt nhói trong ngực. Chắc Thanh cũng phải trải qua tất cả cảnh này. Tại sao Thanh lại đi? Đáng lẽ năm nay Thanh ra trường rồi. Không thể yêu nhau được nữa thì thôi, việc gì Thanh phải bỏ cuộc sống êm ấm mà đi như vậy? Cô gái thảng thốt như nhìn thấy cặp mắt to, trung thực và nghiêm nghị của người con trai đang ẩn hiện trước mắt.

Bình minh trên trảng dầu đến sớm như trên biển. Cây lá bỗng dưng ánh vàng lên, nhìn từ xa cứ ngỡ có một thành quách cổ xưa đang hiện ra nguy nga với những nàng công chúa sắp dạo gót trong rừng… Nhưng chỉ có những cô thanh niên xung phong đang bắt đầu một ngày rào lấp. Đông quá! Vui quá! Thật là trên lá dưới người. Tưởng như cả nước đang đến đây. Những cánh tay trần cùng với đất đá loang loáng trong nắng, những tấm lưng tròn con gái ướt đẫm mồ hôi và những tiếng cười ran lên đây đó.

Cô gái chớp chớp mắt, lắc đầu. "Mình không tin ngoài ấy lại vui đến thế". Cuộc sống này khó hiểu quá đi thôi. Lưng tròn con gái ướt đẫm mồ hôi… Con Lan có ở chỗ ấy không? Ngay cả nó nữa, đứa bạn gái thân nhất cũng nỡ bỏ mình ở lại mà đi thanh niên xung phong. Cô đưa tay khép bớt cửa sổ lại. Nó đang ở đây, ngay trước cửa nhà mình. Nó được về phép. Chiều qua nhìn thấy nó khoác ba-lô nhảy xuống xe, mình muốn chạy ù ra mà chân cứ như có ai trói lại. Mình mong ngóng nó sang chơi từng phút ấy, vậy mà tối qua nó sang,mình lại lảng ra vườn! Nhìn thấy vóc dáng mạnh mẽ, cái nhìn rừng rực của nó, mình không chịu nổi. Liệu nó có giận mình không? Lan ơi! Tao đang khổ sở vì cô đơn, khổ sở vì tập bản thảo này, mày có cách gì giúp tao được không? Hãy giúp tao hiểu được cuộc sống mà mày đang đam mê này nữa. Mày sang với tao đi!...


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 17 Tháng Tư, 2011, 02:05:28 pm
                   Tiếp


Xế chiều hôm sau, nhà báo trẻ lại đi xuống dốc, nét mặt tươi cười. Đêm qua anh ngủ được. Cánh tay đã bớt đau. Vết thương đang kéo da non. Với tâm trạng sảng khoái, anh mường tượng những ngón tay thon thả của cô gái đang lia bút những hàng cuối cùng. Chưa biết chừng cô bé dễ thương ấy đã viết xong từ trưa, đang ngoẹo cổ soát lại giùm mình. Cha! Cha! Chắc bản thảo sáng sủa phải biết!

Hết dốc. Anh dừng lại. Cánh cửa sắt mắt cáo vẫn im lìm vệt nắng phong rêu. Anh đưa tay bấm chuông.

Khuôn mặt người mẹ ló ra:

- Mời chú vào nhà.

- Xong chưa thím? Anh vui vẻ hỏi ngay.

- Để tôi hỏi cháu. Mai ơi! - Không tiếng trả lời - Mai!

Vẫn im lặng - Chú ngồi chơi uống miếng nước - Bà ta đi vào nhà trong.

Anh ngồi đợi, ngước mắt nhìn bâng quơ. Đỉnh đầu, chiếc móc quạt trần treo trơ trọi. Phía dưới, một chiếc tủ kính kiểu cổ có mạng nhện chăng. Một con chuột từ đó phóng qua chân anh rột rẹt… Nhà có vẻ nghèo?

Lát sau, người mẹ đi ra nói như xin lỗi:

- Cháu nó nói chưa viết xong chú ạ!

- Ấy chết!... Cô ấy hẹn chiều nay… Thế viết tới đâu rồi, thím?

- Cháu nó không nói.

- Ơ hay! - Anh sốt ruột đứng dậy - Thím gọi giùm cô ấy tôi hỏi một chút. Nếu còn ít, tôi đọc cho cô ấy chép luôn.

- Dạ!... Mai ơi! Mai!

Vẫn im lặng. Quái thật! Hay chữ nghĩa mình quá lỉnh kỉnh, cô ấy dò không được, ngại ra mắc cỡ? Hay tiền nong quá ít? Hay… thì cũng phải ra cho người ta hỏi một chút chứ - Anh thấy nhồn nhột ở sống lưng.

- Sáng mai chú lại vậy. Để tôi bảo cháu - Bà mẹ nói với giọng ngượng ngùng.

Anh cố giữ vẻ điềm tĩnh:

- Thôi cũng được. Sáng mai vậy. Chào thím.

Anh bước nhanh ra cửa. Tự nhiên anh thấy bực bội với chính mình. Cô ta tránh mặt: thật vô lý!

Đang cắm đầu đi, chợt có tiếng reo khẽ khiến anh giật mình, ngẩng lên: cô gái ở đại đội "nhõng nhẽo" đứng bên kia đường đang vẫy anh:

- Em đang soạn đồ để sáng mai quá giang xe về "chốt". Anh có cùng đi không? Hồi đêm nghe súng nổ nhiều, em chắc đang đánh lớn. Nôn ruột quá!

- Đi à? Có… à, tất nhiên là đi - Anh ậm ừ.

- Thế công việc xong chưa, anh?

Anh cười gượng gạo:

- Xin lỗi, cho phép hỏi gia đình cô bạn của… Cô tên gì nhỉ?

- Lan.

- Gia đình cô bạn của Lan thế nào?

- Sao anh?

- Tôi nhờ cô ấy viết hộ bản thảo mà lúc hẹn đến, lại tránh mặt không tiếp.

- Nó làm gì kỳ cục quá trời vậy? - Cô gái kêu lên - Để em chạy sang hỏi xem. Việc quân sự mà giỡn.

- Khoan! Cô ta là người thế nào, hả Lan?

- Được lắm anh à. Trước nó cùng học luật với em. Giải phóng về, nghỉ luôn. Mai bây giờ ở nhà làm vườn, thỉnh thoảng ra rẫy. Có việc thì đánh máy, in photo.

- Nhìn qua cách sống, cô ta có vẻ khó hiểu… như người cổ.

Nét mặt Lan chợt rầu rầu:

- Anh nói cũng đúng. Có lẽ Mai nó xa lánh xung quanh cũng một phần vì ba nó là thiếu tá tâm lý chiến đi học tập chưa về. Ông ngày trước làm văn, làm báo, viết cả quân sự nữa.

- Lan nói sao? - Anh phóng viên dừng ly nước đá trên môi, chăm chú.

- Dạ!...

- Ông già cô ấy là sĩ quan tâm lý chiến đang cải tạo à?

- Dạ!

- Có viết văn viết báo nữa?

- Dạ!

- Hèn chi…

- Sao anh?

- Không… không có sao.

Lắng đi một chút, anh phóng viên khẽ hỏi:

- Dạo này hai người còn chơi với nhau không?

Cặp mắt Lan sa sầm xuống:

- Ít lắm! Từ ngày thôi học tới giờ, Mai nó sống như cấm cung. Ngày xưa hai đứa em rất thân nhau. Từ ngày em đi thanh niên xung phong, nó lạnh nhạt hẳn đi. Mấy lần về phép em đều qua mà nó không cho em gặp. Ức ghê! - Cô gái tự nhiên rơm rớm nước mắt - Dạo này nó cũng buồn. Nghe đâu, cậu bạn trai của nó mới hy sinh gần đây. Nó càng cách biệt mọi người.

Anh phóng viên nhìn đăm chiêu sang ngôi nhà photo, hơi trầm giọng:

- Lan có định sang chào bạn sáng mai đi không?

- Có nên không anh? Sợ nó lại không chịu ra.

- Cứ sang, Lan ạ, chắc lúc này cô ấy cần có bạn. Nếu sang Lan nói giùm sáng mai tôi lại. Thôi, bản thảo cứ để đó, không cần phải chép nữa, Lan nhé!

- Dạ!

* * *

Lúc người phóng viên tới, ở nhà trong, Mai đã nghe thấy hết. Mai nhìn rõ cả vẻ mặt chú ấy thoáng bực bội. Mai muốn ra lắm mà hai chân cứ như bị dán cứng xuống đất. Ra, biết ăn nói gì với người ta? Đã trót không ra lúc đầu, sau làm sao còn dám gặp? Chắc chú ấy giận mình lắm. Mình có sai lời hứa bao giờ đâu. Ngày xưa, Thanh hay nói: "Em hỏi tại sao anh yêu em? Anh không biết. Nhưng có một điều em khác nhiều cô gái khác là em không biết nói dối". Thế mà bây giờ… Mình có muốn như vậy đâu. Nhưng mình không tài nào viết nổi nữa. Khuya hôm qua,mới chép được mấy trang mà đầu óc ê ẩm, cứ nghĩ đâu đâu. Cuối cùng lại gạch xóa nhiều hơn cả bản thảo của chú ấy. Biết nông nỗi này, từ chối phắt ngay từ đầu lại xong. Để bây giờ kẹt cả hai: lỡ việc chú ấy mà mình lắm điều khó xử.

Mai ăn quấy quá lưng chén cơm rồi lững thững đi lên gác. Cô nhăn mặt khi nhìn thấy tập giấy trắng. Oái oăm! Số phận trớ trêu sao! Con gái một viên sĩ quan tâm lý chiến Sài Gòn đang cải tạo, ngồi chép bản thảo thuê cho nhà báo Cách mạng. Đẹp chưa? Chưa nói người ấy hiểu ra sẽ khinh mình mà ngay chính mình cũng khinh mình.

Thôi! Sáng mai cứ đem trả quách cho chú ấy và nói dối bị đau bụng. Sượng mặt một lúc là cùng chứ gì. Nhưng còn… bài báo của người ta cần gửi đi bị lỡ chuyến? Vẻ mặt chú ấy chân thành quá. Người đầy bụi bặm, cánh tay bị thương… chú ấy vừa ở nơi nắng mưa chết chóc về đây. Ba ngày xưa đâu có đi vào những nơi ấy. Con mắt chú ấy đầy hy vọng khi mình nhận chép giùm bản thảo. Không! Không được đâu. Mình không lòng nào. Hay… cô mở rộng cánh cửa sổ và thoáng nghĩ tới Lan… Không! Làm thế hèn lắm. Khi nó sang chơi, mình lánh mặt, bây giờ thấy kẹt lại mò sang. Mà nó cũng không rảnh. Nghe nói sớm mai nó lại đi. Ngoài ấy, súng nổ suốt đêm. "Nắng, mưa, cơm vắt, những bộ quần áo cả tuần không được thay…". Trời ơi! Chỉ còn đêm nay nữa, biết tính sao đây?

Nào! Thử lần nữa coi. Bàn tay vô tình của cô gái lần giở những trang cuối. Vẫn những hàng chữ lụn vụn nối tiếp nhau…

Sau một đêm ngủ chập chờn, chúng tôi thức dậy. Chác! Chác! Đấy! Bọn phản động đang chào bình minh bằng mấy phát bắn tỉa vào đội hình trinh sát. Lại yên tĩnh. Trung đội trưởng Tâm đang ngơ ngác tìm cái gì ở dưới những lá dầu khô? Thấy anh lộ vẻ thất vọng, tôi cũng đứng dậy. Ấy! Có cái gì đang ngọ nguậy trong nách tôi. Tôi thò tay vào giật nảy mình. Một cái gì nóng hổi, đang phập phồng trong đó. Tôi nín thở lôi vật đó ra và chút nữa cười phá lên: một chú sóc màu hung đang giương đôi mắt lay láy và ngoáy tít râu ngỗ ngược nhìn tôi. Tâm lao tới, mắt toát ra vẻ âu yếm pha chút giận hờn:


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 17 Tháng Tư, 2011, 02:09:37 pm
                       Tiếp :


- Đây rồi! Cô mình đây rồi mà để tôi tìm hoài. Con gái đi ngủ lang không biết mắc cỡ ư? Con sóc cái đó anh.

Thế là bỗng dưng chúng tôi trở thành bạn thân. Tâm có đôi mắt màu xám tro, thăm thẳm và thâm trầm. Con mắt của người trinh sát nức tiếng dũng cảm trên toàn chiến lũy chốt chặn. Hôm qua, cũng đôi mắt tưởng như hơi quá nghiêm nghị ấy, tôi đã gặp anh khóc lúc đứng trước cái hố ngổn ngang gần trăm xác chết của bà con vừa bị bọn lính Cam-pu-chia giết bằng lưỡi cuốc.

Lúc này nhìn thấy thân hình nở nang và những động tác dẻo dai của Tâm đang đùa vui với con sóc nhỏ, tôi hỏi:

- Chắc ông là người vùng sông nước?

- Sông Sài Gòn anh ạ!

- Trước khi lên đây Tâm ở đâu?

- Tôi đi học.

- Năm thứ mấy rồi?

- Đang học năm thứ hai.

- …

Cô gái chợt lặng đi trong hơi thở bị dồn nén. Hàng chữ trước mắt cô nhảy nhót. Ai thế? Chú ấy viết về ai thế?... Đôi mắt thăm thẳm. Đôi mắt nghiêm nghị. Miền sông nước Sài Gòn. Một buổi nào Thanh đã đưa mình đi thuyền ở nơi ấy… Con sóc con ngỗ ngược ngoáy râu… Xưa kia Thanh cũng thường nuôi thú và hay tinh nghịch mang thú tới trường… Mang máng nhớ một tiết học, bà giáo già nghiệt ngã đang dõng dạc giảng về: "Những yếu tố thiết yếu để trở thành luật sư" thì, không hiểu Thanh dạy từ bao giờ, con vẹt nhảy thoắt lên bàn, hướng về phía bà giáo cất cái giọng trầm khàn: "Thanh ơi, có khách…"… Tâm! Thanh chứ. Sao lại là Tâm?

Bàn tay cô gái cũng run run mở trang kế tiếp. Hiện tại, quá khứ, thực và hư cứ dằng dịt hiện về trong đầu Mai.

Cái bữa Thanh từ biệt mình đi bộ đội, mình đã tỏ ra thờ ơ. Gia đình anh ấy đi theo cách mạng, anh có thể học tới đầu tới đũa, có đâu chịu lỡ dở như mình: "Phải rồi! Anh không muốn dây vào gia đình ngụy như tôi, anh bỏ đi chứ gì. Anh đâu còn yêu tôi. Anh muốn chạy trốn, nhưng việc gì mà phải đi đâu cho khổ". Mình còn nhớ, nghe nói thế, Thanh đã trừng mắt lên, con mắt thăm thẳm màu xám tro. Tưởng rằng Thanh sẽ quát lên. Nhưng không! Anh ấy chỉ thở dài và quay đi… Thế là xa nhau từ đấy. Khi nghe tin anh ấy hy sinh mình vừa buồn, vừa giận lại vừa thương… Thanh không yêu mình nữa. Thanh ích kỷ, Thanh chỉ nghĩ tới riêng mình. Mình việc gì mà phải sầu khổ cho nhiều.

… Ngay đêm hôm ấy, tiểu đoàn xuất kích. Gần sáng, họ trở về lấm láp và im lặng khác thường. Cả trung đoàn địch đã bị quét sạch ra khỏi đường ranh. Nhưng họ không vui. Trong ánh nắng trong vắt sau mưa, một chiếc G.M.C sơn màu xám biếc đang bon về phía sau. Trên xe, hai hàng vệ binh quân phục chỉnh tề, lưỡi lê lóa nắng đang uy nghi đưa Tâm, người lính trinh sát dũng cảm của họ về nơi an nghỉ cuối cùng. Người con trai vùng sông nước ấy đã bắn tới trái đạn B.40 thứ mười hai vào giữa sào huyệt kẻ thù, tạo cửa mở cho cả đội hình tràn lên chiếm chốt. Một tù binh cấp tiểu đoàn tên Khơ Ron khai rằng: "Nếu bên các ông không có những trái đạn kinh khủng đó bắn tới thì chưa chắc chúng tôi đã bật ra. Và như thế, theo kế hoạch của Quân khu 23, ngày mai chúng tôi sẽ thọc xuống tận chợ, cách đường ranh 9 cây số đốt phá…".

Cô gái bàng hoàng. Những hàng chữ nhoè đi. Ngoài trời, mây đang vần vũ. Gió đánh tung cánh cửa số tràn vào. Mái tóc mềm cô gái bay tung. Tiếng trái sầu riêng nào đứt cuống, rơi mạnh xuống đất. Cô gái nhắm chặt mắt lại không muốn đọc nữa, cô sợ một điều gì đó ghê gớm hơn sẽ đến. Nhưng những dòng chữ đã không buông tha, cứ cuốn lấy cô.

"… Lúc Tâm chưa ngã xuống, có một đêm nằm gác giò lên nhau, tôi hỏi:

- Này! Ông đẹp trai thế, ở dưới ấy có người thương chưa?

Tâm cười lặng lẽ (một điều ít thấy ở anh):

- Kể ra cũng có. Nhưng chúng tôi xa nhau tính từ ngày tôi nhập ngũ. Cô ấy không hiểu tôi, nhưng tôi tin sớm muộn gì cô ta sẽ nhìn ra lẽ phải. Một cô gái tốt và thông minh. Tôi… tôi không quên được cô ấy…

Mắt nhức nhối, tôi nhìn theo chiếc xe đang đưa người đồng đội của tôi về nghĩa trang rợp mát lá su. Giữa hai hàng vệ binh, con sóc nhỏ nhảy lên thành xe ngơ ngác như đang tìm ai…".

Thanh ơi! Cô gái bật khóc nức nở.

* * *

Sau trận mưa đêm qua, không khí buổi sáng thật mát mẻ. Ngự trị lên tất cả cảnh vật là màu xanh thắm của da trời, của rừng cao-su bạt ngàn.

Xuống hết dốc, anh bước tới góc hè quen thuộc và nhà báo hơi sững lại.

Trước mặt anh, cánh cửa sắt mắt cáo mở ra từ lúc nào. Nắng theo đó ùa vào. Căn phòng đầy nắng và gió như thoáng đãng hơn. Trước cánh cửa rộng mở, cô gái đang đứng nhìn ra bằng đôi mắt mở to, nghiêm trang.

Anh thấy hình như cô phờ phạc xanh xao hơn. Người phóng viên cất giọng nhẹ nhàng:

- May quá, cô có nhà! Nếu có thể được, cô làm ơn cho tôi xin lại bản thảo. Tôi không còn thời gian nữa cô ạ! Mong cô cảm phiền.

- Dạ! - Cô gái đứng lặng nhìn anh một thoáng như muốn nói điều gì rồi nhẹ nhàng bước đi vào.

Anh phóng viên khẽ nhếch mép: kỳ quặc. Lẽ ra cô ấy cũng phải nói gì chứ? Có chép được hay không? Vẫn chỉ lặng lẽ thế! Thật khó hiểu. Không biết cái bản thảo khốn khổ của mình có còn nguyên vẹn hay lại bị gián nhấm, mạng nhện chăng mất rồi!

Có tiếng dép nhẹ đi ra:

- Thưa chú đây - Giọng cô thật ngoan.

- Cám ơn! - Anh lơ đãng đưa tay ra và định đứng dậy đi luôn. Nhưng… anh bỗng sững sờ: kẹp giữa những ngón tay thon thon của cô gái, tập giấy trắng bong có những hàng chữ nghiêng nghiêng quen thuộc hiện ra đẹp làm sao, và bên ngoài, tập bản thảo được bọc ngay ngắn bằng một tấm bìa xanh nõn chuối.

Anh nhìn lên: cô gái vẫn đứng đó, đôi mắt có quầng thâm đang đăm đắm nhìn anh như mới gặp lần đầu. Người phóng viên chợt lúng túng. Anh thấy ngợp trước ánh mắt vời vợi như chất chứa điều gì ấy.

- Thưa chú! - Cô gái lên tiếng đột ngột - Nhân vật Tâm trong truyện chú viết, tên thực là Thanh. Cháu biết anh ấy.

"Không phải đâu!" Anh phóng viên định kêu lên như thế. Thanh nào?... Rồi như một chớp loé, anh chợt hiểu. Thế rồi dù biết chắc Tâm không phải là Thanh, người phóng viên vẫn im lặng.

Vừa khi đó, một giọng cười khúc khích phá tan không khí lặng lẽ ấy:

- Đã hài lòng chưa, đồng chí nhà báo ơi!

Anh phóng viên ngẩng lên gật đầu chào cô thanh niên xung phong quân phục thẳng nếp, AK lên nước xanh biếc đang cùng với nắng ùa vào làm sáng rực căn phòng.

- Đúng tám giờ xe chạy. Em chờ anh ở cổng thị đội - Nói xong, Lan ngồi xuống trước bạn, mặt hồng hào tươi tắn - Mai! Tao đi đây. Tao viết thư về, mày phải trả lời đấy nhé.

Cô gái nhìn bạn khẽ mỉm cười, gật đầu.

Người phóng viên nhận thấy mình chẳng còn lý do gì nán lại đây nữa, anh chào cô gái rồi bước ra đường.

Một đoàn xe lam trên chất đầy những bàn chông đang nối nhau đi về phía đường ranh, vụt qua trước mặt anh.

Và, chính cái lúc những âm thanh biên giới cùng với nắng gió đang dồn dập tràn về, lan tới tận những ngóc ngách sâu nhất của cái thị trấn nhỏ bé này, anh chợt nhìn thấy tờ hai mươi đồng màu xanh nằm thẳng thắn giữa hàng chữ nghiêng nghiêng, khoảng giữa những trang bản thảo.
  CL


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 17 Tháng Tư, 2011, 08:54:09 pm
            CÂU CHUYỆN NGÀY CHỦ NHẬT

Truyện ngắn. VŨ CAO

Buổi trưa chủ nhật. Đồng chí đại đội trưởng ngồi chơi với bảy tám chiến sĩ trong buồng ngủ của một tiểu đội. Đủ thứ chuyện. Chuyện chiến thuật, chuyện xạ kích, chuyện chém tre đẵn gỗ trên ngàn, chuyện tình duyên dã ngoại, đủ cả. Nhưng chuyện quanh quẩn mãi cũng thưa dần. Có anh đã lẻn đi kiếm người tu-lơ-khơ. Bỗng đồng chí đại đội trưởng bảo:

- Không biết các đồng chí thế nào. Chứ tôi thì tôi hay nhớ đến những chuyện chiến đấu cũ lắm. Nhất là thời kỳ học chiến thuật này. Lắm lúc học cũng vất, buổi sáng chỉ chạy một tiếng là nắm xôi tiêu mất rồi! Nhưng nếu nghĩ đến những khi vào sống ra chết ở mặt trận trước kia, tôi thấy như mình được động viên. Trước kia đánh nhau thật là gay, thật là gian khổ, có phải không các đồng chí?

Biết đại đội trưởng là người hay chuyện, một chiến sĩ xen vào:

- Chắc đồng chí lại muốn kể một câu chuyện gì ly kỳ lắm chứ gì? Đồng chí kể đi! Phải chuyện gì thật ly kỳ vào! Mấy khi, chủ nhật!

Đại đội trưởng nhìn quanh như để dò ý tứ anh em:

- Chuyện thì nhiều. Bảy tám năm chiến đấu thì hàng nghìn câu chuyện. Ly kỳ cũng nhiều cái ly kỳ. Nhưng tôi muốn kể cho các đồng chí nghe một câu chuyện mà đại đội ta trước đây đã đóng những nhân vật chính. Những lúc rỗi như lúc này cũng nên ôn lại kỷ niệm của đại đội ta. Phải không các đồng chí? Nhất là các đồng chí đây nhiều người mới. Tôi là người cũ, tôi kể chuyện cũ nghe!

Những cái đầu tóc ngắn xích lại gần nhau. Đồng chí đại đội trưởng kéo xong hơi thuốc lào bắt đầu kể.

*

* *

Hôm ấy là 13 tháng 3 năm 1954.

Sau hai hôm đào trận địa, đơn vị đồng chí đại đội phó Hạ được lệnh mở mũi chủ công vào Him Lam.

Quả bộc phá đầu tiên nổ từ lúc trời còn sáng. Nhưng người này lên, người khác lên, đột phá khẩu vẫn chưa mở được. Xung kích vẫn nằm im dưới các giao thông hào. Đại đội phó Hạ nhìn đồng hồ: tám giờ ba mươi.

mấy cỗ trung liên vẫn rầm rập xả vào lô cốt tiền duyên. Đại bác nổ vỡ từng mảng trời trước mặt. Hạ nằm sát lại cây gỗ chắn ngang:

- Bắn thật mạnh vào, cố lên. Đơn vị bạn đã chiếm được đồi bên kia rồi. Chỉ còn chờ chúng ta nữa là đánh thắng trận mở màn của chiến dịch!

Hạ đã khản tiếng. Con người trắng trẻo hiền lành như một thư sinh ấy, lúc thường hễ ai hỏi chuyện vợ con là đỏ mặt, giờ đây biến thành một đồng chí chỉ huy vô cùng linh hoạt và dữ dội. Được đề bạt đại đội phó sau chỉnh quân chính trị, hôm nay trước tiểu đoàn, anh lại được nhận nhiệm vụ chủ công, anh rất lo. Lời căn dặn của đồng chí chính trị viên, mấy câu hát động viên của mấy đồng chí văn công lúc chiều, khiến anh nghe xúc động gai cả người. Làm thế nào để thắng thật nhanh lại ít thương tổn. Trong đầu anh chỉ nghĩ có vậy. Nhưng tình thế lúc này đã đến lúc quyết liệt. Mấy tổ lên đánh hàng rào thương vong gần hết, đã phải sử dụng đến bộc phá của đại đội bạn. Khẩu đại liên đã phải dội nước vào nòng bao nhiêu lần rồi. Trung liên thì có khẩu bị đại bác bắn tung đất vào miệng tắc không bắn được, chữa xong lại bắn, lại chữa. Mấy hỏa điểm của địch vẫn ào ạt bắn ra.

Hạ thấy ruột nóng bỏng. Anh bảo trung đội phó Trang nằm bên cạnh:

- Đồng chí phải bình tĩnh, đơn vị bộc phá của đồng chí dù còn một người, đồng chí cũng phải ở lại đây chỉ huy đến cùng.

Trang hổn hển:

- Nhưng còn ai nữa đâu mà chỉ huy!

Hạ nghiêm nghị:

- Sao lại không còn! Cán bộ lúc này không thể rút xuống dưới!

Trời vào khuya. Nhưng hỏa pháo của địch bắn lên có lúc trông rõ từng gốc cây chặt cụt lởm chởm trên xoải đồi. Đạn chéo nhau xạt xạt như dao chém. Trăm linh năm từ Độc Lập Bản Kéo đổ từng hồi vào trận địa ta. Hạ chưa từng thấy một trận hỏa lực nào bão táp như lần này. Anh nghĩ bụng: Bây giờ là phút quyết định, mình bảo Trang như vậy nhưng chính mình cũng phải hết sức bình tĩnh và sáng suốt.

Một quả đại bác tung hàng rổ đất lên người Hạ. Anh chớp chớp mắt. Miệng anh đã dính đầy đất, đắng nghét vì hơi đạn. Anh bảo Trang:

- Đồng chí nhớ chứ, gian khổ là thế mà ta kéo pháo vào lại kéo pháo ra được. Tất cả chỉ là để tiêu diệt toàn bộ Điện Biên...

Bỗng có tiếng bộc phá nổ, đất chuyển dưới ngực. Hạ hồi hộp nhìn lên. Một bóng người sập xuống như khúc cây đổ.

- Ai đấy?

- Báo cáo đại đội. Kỳ đây, C1 nó bắn dữ lắm. Tôi đánh ống bộc phá vừa rồi nhưng hàng rào vẫn còn đến bẩy thước nữa. Anh em thương vong còn nằm ở trên.

Hạ thấy nhói trong ngực. Bao nhiêu đồng chí hy sinh rồi mà vẫn còn bẩy thước hàng rào chưa phá! Bộ đội làm thế nào để xung phong? Anh chỉ muốn lao mình lên xem thế nào. Nhưng anh đang ở cương vị chỉ huy, bỏ anh em đi sao được? Anh nhìn sang Trang, khẽ lắc đầu. Anh tự hỏi: Cũng lạ, Trang là một cán bộ đã từng đánh Phủ Thông, Nghĩa Lộ, đã được khen ba lần, tại sao đến bây giờ lại đâm ra rút dát? Có phải vì tình hình bỗng trở nên gay go quá chăng?

Trang vẫn chúi mặt vào thân cây để tránh đạn, bỗng ngóc cổ bảo anh:

- Báo cáo đồng chí Hạ. Hai khẩu trung liên bị nó bắn gẫy mất chân...

Hạ gạt đi:

- Gẫy chân thì làm ra chân mà bắn!

Nói rồi, anh gọi liên lạc:

- Xuống báo cáo tiểu đoàn, cho ngay một tổ bộc phá, chọn những anh em tốt nhất, tất cả đảng viên càng tốt. Báo cáo là còn bẩy thước rào nữa, mau lên!

Thấy bộc phá của ta ngừng, địch bắn ra càng mạnh. Đại bác nổ sau chân, nổ trước mặt, nổ bên phải, nổ bên trái. Hạ bỗng có cái ý nghĩ tự hào: Tất cả Điện Biên đang ra sức bắn dồn vào chúng tao, nhưng gan chúng tao sẽ đương đầu với chúng mày, gan thi với lửa!

Năm phút sau, Hạ thấy tiểu đội phó Tấn bò lên, theo sau là bốn đồng chí.

Hạ vội vã:

- Tấn à? Mấy người tất cả?

Tấn đáp:

- Báo cáo, năm người tất cả. Tôi, Xoan, Nhân, Song và Diện. Đồng chí tiểu đoàn phó cho chúng tôi lên nhận lệnh đồng chí.

Hạ ghé tai hỏi:

- Chắc chắn cả chứ? Sao không lấy tất cả là đảng viên?

Tấn giọng kiên quyết:

- Tôi bảo đảm là tốt. Tiểu đoàn đã chọn chúng tôi làm một tổ, tôi phụ trách, tôi bảo đảm.

Thấy Tấn nói rắn rỏi, Hạ yên tâm. Hạ biết Tấn đã lâu. Tấn là một đảng viên được thử thách nhiều. Trước khi vào bộ đội, năm 51, Tấn chở thuyền vũ khí cho bộ đội ta ở Đông Triều. Bị giặc bắt tra tấn, Tấn không chịu xưng khai. Sau được tha, Tấn tòng quân, tỏ ra một chiến sĩ tích cực, đặc biệt có tinh thần thương yêu anh em. Trong tiểu đội, có đồng chí Đa bị ghẻ lở đầy người. Tấn hàng ngày nấu nước lá cho Đa tắm, nhờ đó Đa khỏi. Chuyện ấy được nêu lên thành một màn kịch sinh hoạt để anh em học tập. Trận Sốp Hào, ta bị lộ, một mình Tấn đã dũng cảm bò vào sát cột cờ, rồi dẫn cán bộ vào nghiên cứu tình hình cho bộ đội tấn công.

Hạ trao nhiệm vụ cho Tấn:

- Mũi của ta là mũi chính, đơn vị bạn chỉ còn chờ ta là giải quyết trận này. Đồng đội đã thương vong. Cậu là đảng viên, phụ trách phá cho xong bẩy thước hàng rào còn lại, quan sát kỹ lưỡng đột phá khẩu để bảo đảm cho bộ đội ta lên. Tôi tin ở cậu.

Thấy Hạ nói với mình như với một người em, Tấn cảm động lắm, chỉ đáp được một tiếng “rõ” rồi quay lại phổ biến nhiệm vụ cho toàn tổ nghe. Tấn bảo Nhân:

- Đồng chí Nhân lên bộc phá trước.

Nhân nổi tiếng trong đơn vị là dũng cảm, những cũng nổi tiếng là hay nói bừa. Nhân thường hay đùa bảo: “Thằng nào cứ hay nói miệt tao, ra trận thằng ấy sẽ biết!” Riêng Tấn thấy Nhân dù sao cũng là một chiến sĩ tốt, chỉ phải cái tội hay vạ mồm vạ miệng. Mà cái tội đó chẳng qua trước kia do Nhân nghèo khổ phải lang bạt kỳ hồ, lúc buôn nồi lúc buôn củi, ăn nói lỗ mãng quen đi. Lỗ mãng nhưng thẳng thắn, không xu nịnh ai. Riêng đại đội này, về mặt dũng cảm chiến đấu, mấy người ăn đứt được Nhân. Tấn vì thành thực mến Nhân, nên thường hay tâm sự với Nhân, cho nên Nhân chỉ sừng sổ với mọi người, chứ đối với Tấn thì lại dịu.                     


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 17 Tháng Tư, 2011, 08:57:21 pm
                   Tiếp theo:
Được Tấn bảo mình lên trước, Nhân tỏ vẻ đắc ý, khuỳnh tay kéo lại giây lưng cho chặt. Anh ôm sát ống bộc phá dài hơn hai thước vào người, rồi bỗng cười bật lên:

- Thôi, chào các bạn ở lại bình yên nhé!

Nhân lao mình qua cây gỗ chắn ngang, chạy xộc lên sống đồi. Tấn và Hạ cùng thét:

- Nằm xuống! Chết bây giờ!

Tiếng thét của Tấn bị át đi trong tiếng đại bác thì tiếng kêu của Nhân ở trên đã dội xuống:

- Tao gãy chân rồi, bay ơi!

Hạ bảo Tấn, giọng uất ức:

- Thế là Nhân hỏng rồi! Đại bác các ông ấy bắn thế quái nào mà lại có lúc tịt đi thế này thì còn hiệp đồng cái gì!

Anh truyền xuống:

- Đề nghị ở trên cho pháo bắn đều vào chứ! Muốn chết mẹ nó ở đây cả à?

- Truyền xuống!

Tấn vẫn tay bảo Diện lên thay Nhân. Diện mới 20 tuổi, nhưng trận Ba Lay, Diện đã một mình lập chiến công đầu tiên bằng hai quả bộc phá nổ ròn luôn ba thước hàng rào. Tấn không quên dặn anh chàng trẻ tuổi ấy:

- Cậu phải rút kinh nghiệm của đồng chí Nhân, tránh làn đạn thẳng của địch. Đừng liều mạng vô ích.

Từ nãy nghe tiếng kêu của Nhân, Diện đã suy nghĩ ghê gớm. Nhất định trăm phần trăm là hy sinh rồi. Nhưng nếu mình sợ hy sinh thì đồng đội sẽ hy sinh... Diện không nghĩ gì nữa khi nghe lời dặn của Tấn. Anh né mình sang bên trái, khom lưng chạy được mười thước thì một viên đạn trúng giữa đầu. Diện không kêu được một tiếng, ngã chúi xuống, cả thân thể anh và ống bộc phá lăn xuống giao thông hào.

Trong ánh pháo sáng, tiểu động phó Tấn trông thấy rõ bóng Diện ngã. Anh nhìn sang Hạ thì cũng vừa lúc đồng chí đại đội phó nhìn sang anh, không nói gì. Thoáng một cái, Tấn tự bảo: Thế là năm đã mất hai rồi, bây giờ đến Xoan, mất nốt Xoan nữa thì... Anh cố nén một cái gì ứ lên cổ, nhưng Xoan đã lắc tay anh:

- Báo cáo đồng chí, cho tôi lên. Không chịu được nữa. Tôi sẽ rút kinh nghiệm máu của Nhân và Diện. Tôi bảo đảm đánh hàng rào, không chịu hy sinh.

Nhằm vào lúc pháo của ta bỗng đổ hồi như sét đổ xuống đồn địch, Xoan vọt lên. Hạ và Tấn cùng ghé mắt nhìn theo Xoan, cùng chia mối lo lắng trước cái sống chết của một đồng đội. Một phút. Hai phút. Bóng Xoan bò len vào những gốc cây cụt. Rồi không thấy Xoan đâu nữa.

Tấn nói một mình:

- Lâu quá, hay là...

Đại đội phó Hạ vẫn nín lặng. Súng phun lửa của địch lòe đỏ rực như từ miệng một con thú dữ khổng lồ. Quái, sao lâu thế. Xoan nó già dặn lắm. Nó gan dạ lắm nhưng cũng rất thận trọng. Chưa bao giờ thấy nó để ướt một gói bộc phá. Chưa bao giờ thấy nó hấp tấp một cái gì. Ngay cả những lúc bom nổ trên đầu, nó cũng cứ ung dung như không có gì xảy ra cả. Trận Nghĩa Lộ, nó nằm ở sân bay mấy tiếng đồng hồ liền, súng bắn sát lưng, nó vẫn nằm yên, cằm cắm xuống đất, mắt không rời hỏa điểm của địch. Vì vậy nó vẫn sống. Chẳng lẽ lần này nó lại chết hay sao?

Một tiếng ùm dội lên phía đột phá khẩu. Tấn buột miệng:

- Hoan hô đồng chí Xoan! Đừng hy sinh đấy nhá.

Anh nín thở chờ đợi. Một phút. Hai phút. Sao Xoan lại không xuống nữa thế này? Trung đội phó Trang từ nãy chẳng nói gì, thở đánh sượt một cái:

- Đã bảo mà! Lại đánh vội!

Hạ tức Trang lắm, đã muốn gắt mấy câu. Nhưng đúng là Xoan không thấy xuống thật. Đảng sẽ ghi công cho Xoan, Xoan ạ. Nhưng còn đột phá khẩu, làm thế nào? chẳng lẽ cứ cho bộ đội xung phong bừa lên? Hạ vừa ngoảnh lại nhìn Tấn thì vừa lúc Xoan lồm ngồm bò xuống.

- Trời ơi, sao mà chậm thế mày! Tao tưởng...

Hạ mừng quýnh, đỡ lẫy Xoan xuống cạnh, hỏi lắp bắp:

- Thế nào, thế nào, đột phá khẩu...

Xoan đưa cánh tay vuốt ngang mắt:

- Báo cáo, sống đồi toàn dây thép gai rải rác cả, tôi bò rất chậm. Gặp hàng rào, tôi đánh luôn ống bộc phá...

Hạ cắt:

- Nhưng đột phá khẩu thế nào mới được chứ?

Xoan vãn chưa hết thở:

- Đột phá khẩu... Tôi chỉ biết là tôi bò lên đấy đã gần lô cốt lắm, chỉ cách năm sáu thước là cùng. Nhưng hàng rào thì còn nhiều.

Tấn nghĩ bụng: Đã gần lô cốt lắm, mà hàng rào lại còn nhiều, thật là khó hiểu. Quan sát địch mà như thầy bói nói mò thế thì làm ăn cái gì! Hạ cố bình tĩnh hỏi thêm Xoan:

- Chắc chắn là còn độ mấy thước?

- Độ năm thước.

- Nghĩa là bộ đội vẫn chưa thể xung phong?

Xoan không trả lời. Tấn tự bảo: Nhất định Xoan nó cẩn thận. Phải tin nó. Nhưng không thể cứ ở dưới này mà phán đoán địch tình mãi được nữa. Anh bảo Xoan lui xuống phía dưới, rồi nói với Hạ:

- Tình hình thế này mà kéo dài mãi thì nguy hiểm quá. Đề nghị đồng chí cho tôi lên. Không thể để đại bác của nó cứ dội vào lưng anh em mình mãi...

Hạ ngắt lời:

- Nhưng đồng chí lên thì làm nhiệm vụ gì?

- Nếu có hàng rào thì tôi đánh nốt. Tôi sẽ quan sát kỹ đột phá khẩu.

Hạ tiếp:

- Đúng, nhưng chủ yếu là nắm được tình hình đột phá khẩu.

Hạ tiếp:

- Đúng, nhưng chủ yếu là nắm được tình hình đột phá khẩu.

- Rõ. Cho phép tôi bỏ cả cuốc xẻng, bánh chưng ở dưới này cho nhẹ. Tôi chỉ lên người không. Nếu cần, tôi sẽ lấy bộc phá của tử sĩ để đánh.

Thấy Hạ gật đầu, Tấn buộc vào trán cái khăn mặt cho đỡ vướng tóc. Nắm chặt quả thủ pháo trong tay, anh trườn khỏi cây gỗ. Hạ nói với theo:

- Cố lên em nhé. Anh chờ.

Nước mắt Hạ bỗng ứ lên. Thỉnh thoảng Hạ vẫn gọi Tấn bằng em, vì Tấn kém anh những bẩy tuổi. Sao lúc này Hạ thấy thương Tấn hơn bao giờ. Anh lấy hết tinh lực hai con mắt nhìn theo Tấn. Một trái hỏa pháo lại làm anh lóa mắt không nhìn thấy gì. Pháo củ ta nổ ròn. Hạ lẩm bẩm:

- ở trên biết tình hình ta rồi đấy, cố lên, Tấn ạ.

Vượt qua quãng đất phẳng. Tấn vừa bò vừa nhìn. Trước mặt Tấn, ba bốn bóng người nằm chen nhau, không động đậy. Tấn trông thấy rõ ràng một đồng chí chết nằm sấp đè lên ống bộc phá. Anh thoáng có cái ý nghĩ: ở đây đời con người như cái lá, sống chết không biết thế nào. Nhưng lại có cái gì kích thích anh mạnh hơn: nhất định phải sống, nhất định không được chết như những đồng chí này đã chết trước khi làm xong việc. Và muốn như vậy, chỉ có một cách là phải thận trọng. Thà chậm còn hơn là hỏng. Anh lách người qua mấy xác chết, nhìn suốt cái sống đồi nổi bật thành một vệt ánh sáng. Địch tập trung hỏa lực vào phía giữa, bò vào đấy thế nào cũng chết. Bên phải thì sườn đồi cao, đại liên nó quạt mạnh mà nếu có lên được cũng rất có thể ăn phải đạn thẳng của mình. Chỉ còn phía bên trái. Sườn bên này thấp hơn. Trung liên của ta cũng kiềm nó mạnh. Nghĩ thế, Tấn quyết định nhích người bò chếch sang bên trái. Bỗng tay anh vướng phải cái gì như bàn chân, lại có tiếng rên rỉ. Nhích thêm một bước nữa, cùi tay anh đụng vào... Rồi một tiếng thét:

- Mẹ thằng nào đạp vào tao đấy, trời ơi!

Tấn hỏi:

- Đồng chí nào đấy? Tấn đây mà!

- Lộ đây, Lộ B2 đây, chết mất, chào đồng chí, bị thương vào ngực, chết mất...

Tấn không biết nói thế nào nữa. Anh bảo:

- Để tôi gọi cáng thương.

- Không, cáng thương cũng không lên được nữa rồi. Nó bắn dữ lắm. Đằng nào tôi cũng chết rồi. Đồng chí cứ lên đi, nhớ bò sang bên trái... Sắp hết hàng rào rồi. Tôi sẽ cố sống đến lúc mở đột phá khẩu. Đồng chí lên đi.

Tấn cố nén một nỗi đau đớn chưa từng thấy trên đời mình. Một đồng chí sắp chết mà vẫn còn góp phần mình vào chiến đấu. Nắm lấy tay Lộ, Thấy nóng, Tấn bảo:

- Đồng chí không chết đâu! Tôi lên nhé.

Bàn tay Lộ rời ra. Tấn gỡ lấy ống bộc phá của Lộ ôm vào người, cắn răng nhoai lên, mắt nhằm thẳng lô cốt tiền duyên đứng sừng sững như cái bóng một nhà ngục. Hỏa pháo lóe sáng. Anh nằm yên, rồi lại bò. Những mảnh hàng rào rơi vãi vướng vào quần xềnh xệch. Anh phải gỡ từng mảnh, vừa gỡ vừa tranh thủy thở để lấy sức. Anh bỗng tự hỏi: ừ, mà phía bên trái này dễ tránh luồng đạn hơn, nhưng nhất định có mìn. Nhỡ mìn nổ thì sao? Tấn lại tự giải đáp: Không, nếu có mìn thì bộc phá của ta từ tối đến giờ cũng làm nổ hết rồi, không ngại. Tấn thấy yên lòng, cứ thế vừa bò vừa quan sát. Đạn địch từ hỏa điểm trung tâm vẫn quét sát sống đồi. Tấn đắc ý: Mẹ chúng mày, tao không đâm đầu vào đấy đâu mà chúng bay bắn! ống bộc phá kềnh càng kéo lê như thân cây chuối, có lúc anh định quẳng trái thủ pháo đi cho khỏi vướng, nhưng nghĩ khi cần đến không có cũng rầy, lại thôi. Ghếch mắt lên nhìn, anh thấy luồng đạn xiên của địch cao hơn người mình đến mấy tấc. Yên trí, Tấn ráng sức bò một hơi. Đến một mô đất nhỏ, anh dừng lại, nghiêng đầu ngó sang phía tay phải. Bỗng anh bàng hoàng: Cái gì kia nhỉ: Hay là ta hoa mắt? Chớp mắt mấy cái, anh lại nhìn: Đúng là cái lô cốt rồi, chẳng lẽ mình nằm mơ, mà cũng rõ ràng mình còn sống! Tại sao mình lại nằm ngang với lô cốt tiền duyên mà không còn thấy hàng rào? Một sự phấn khởi kỳ lạ dội thêm sức cho Tấn. Ngó sang trái, anh thấy mờ mờ mấy cái lô cốt nhỏ đã bị pháo ta chặt cụt, nhấp nhô mấy mảnh tường.

Một hồi đại bác của ta dội đến. Tấn chúi đầu xuống, lẩm nhẩm: đúng là hết hàng rào rồi, đồng chí Xoan đã đánh tan thước rào cuối cùng của địch, vậy mà đồng chí vội vã bảo còn đến năm thước! Hoan hô đồng chí Xoan! Khi nghe đồng chí ấy báo cáo, mình đã ngờ ngợ, nhưng mình không dám nói, nhỡ đồng chí đại đội phó lại cho là mình không dám lên, đoán bừa! Thích quá, đột phá khẩu đã mở! Tấn định lao ngay xuống báo tình hình khả quan cho Hạ biết, nhưng nhớ lại lời của Hạ dặn phải quan sát kỹ đột phá khẩu, anh cố nén sốt ruột, bò thêm mấy bước.

Cùi tay Tấn hụt một cái. Đúng là đất, mềm mềm, lại đỏ đỏ. Tấn với tay. Thì ra giao thông hào! Lập tức anh co người tụt xuống, bụng bảo dạ: Phải nhanh không có ông pháo của mình ông ấy xơi vào đầu là đi đứt! Một cái gì lạnh toát ra. Giao thông hào của nó vừa sâu vừa chật, đúng là chúng nó chỉ sợ chết. Tấn sờ quanh người, áo chỉ rách thôi, không việc gì cả. Chúng nó khiếp pháo ta, chuồn sạch vào trong hầm rồi! Bây giờ thì rõ ràng là mình đã đứng trong đồn địch! Tấn lấy mắt đo: Chiều rộng đột phá khẩu chừng sáu thước, nhất định không còn mìn, chỉ có rải rác dây thép gai, bộ đội ta lên thì ăn ngon đi rồi! Tiếc rẻ, Tấn men theo giao thông hào vào sâu thêm một quãng. Anh giật mình: Không được, càng vào sâu càng tiếc rẻ, phải ra thôi, nếu không, một là ăn pháo của ta, hai là nhỡ nó ra nó túm được là hỏng hết.

Tấn men ra chỗ cũ, đứng ngắm lại địa hình một lần nữa, rồi bám lấy mép giao thông hào nhoai lên. Mấy hỏa điểm của địch bắn ra vẫn dữ. Tấn chửi thầm: Đồ mù, bắn phí đạn! Nghĩ đến đại đội phó Hạ đang chờ ở dưới, anh định lao một mạch xuống cho chóng, nhưng lại sợ chết uổng, anh từ từ bò. Được bốn mươi thước, Tấn hít một hơi thở mạnh, băng mình xuống như một mũi tên, hai chân líu lại, tai ù lên không nghe rõ gì nữa.

Đại đội phó Hạ từ nãy sốt ruột nóng như lửa đốt. Đã mấy lần, trung đội phó Trang bảo Hạ: “Có lẽ Tấn chết mất rồi, anh ạ”. Hạ chỉ biết nói: “ Đợi một tí xem sao!” Sự thật thì trong bụng Hạ đã rất lo lắng. Tấn mà chết thì ai lên? Song chăng? Hay là mình? Không được, mình còn phải chỉ huy, mà cũng chưa có lệnh của tiểu đoàn... Hạ đang nhẩm trong đầu, trù tính một tổ khác lên, thì một bóng người vụt đổ xuống, vượt quá chỗ Hạ nằm năm thước, rồi lăn ra.

Hạ líu lưỡi hỏi:

- Tấn, Tấn phải không?

Tấn bò nhích lên chỗ Hạ, thều thào:

- Vâng, Tấn đây.

Hạ mừng rỡ, ôm lấy lưng Tấn, Trang thì sờ soạng quanh người Tấn, gỡ nốt mẩu dây thép gai còn vướng bên hông anh. Tấn nhìn hai đồng chí cấp trên:

- Báo cáo, cho phép tôi nằm im một phút để tôi thở đã, mệt lắm, sau sẽ báo cáo.

Nằm sát vào Tấn như để truyền sức cho anh, Hạ vẫy trung liên:

- Bắn liên tục! Truyền xuống lấy thêm đạn! Bắn vỡ mẹ nó nòng ra thì thôi!

Thấy trong ngực đã như hơn một chút, Tấn chỉ tay lên phía lô cốt tiền duyên, kể lại cho Hạ và Trang nghe tình hình đột phá khẩu anh nói: Như thế là đột phá khẩu đã mở do trái bộc phá cuối cùng của đồng chí Xoan mà đồng chí ấy không biết.

Hạ và Trang cùng thốt:

- Hoan hô đồng chí Xoan!

Tấn tiếp:

- Đề nghị báo tiểu đoàn cho bộ đội xung phong lên được rồi!

Hạ hỏi vặn đột ngột:

- Này, nhưng mà đồng chí Kỳ đánh xong ống bộc phá bảo còn bẩy thước hàng rào, đồng chí Xoan đánh được một ống nữa, có giỏi lắm là phá được hai thước. Tại sao lại không còn tí hàng rào nào nữa nhỉ? Tôi lo lắm.

Tấn ngơ ngác:

- Đồng chí lo cái gì! Rõ ràng là tôi đã thấy lô cốt tiền duyên đứng sừng sững sau lưng tôi, rõ ràng là tôi đã đi vào giao thông hào của nó đến mười thước. Bây giờ đồng chí lại không tin ở tôi...

Tấn thấy một nỗi buồn ngao ngán sập xuống người mình. Cấp trên không tin mình. Công lao của mình, không được tí gì kết quả sao? Ai không tin mình thì có lý, chứ đằng này lại là đồng chí Hạ, người đã từng hiểu biết mình...


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 17 Tháng Tư, 2011, 09:02:04 pm
                       Tiếp theo
Hạ an ủi:

- Tôi không ngờ đồng chí gì đâu. Nhưng rất có thể lên trên đó đồng chí mất phương hướng, quan sát chưa kỹ. Có thể là giao thông hào của nó ở ngoài dây thép gai mà đồng chí lại lầm là ở trong...

Nóng mặt vì tự ái, Tấn đáp:

- Tôi cam đoan với đồng chí là tôi nói đúng. Tôi là đảng viên, tôi không thể nói sai. Tôi lên mất nhiều thì giờ là để quan sát kỹ lưỡng. Tại sao đồng chí tin ở lời báo cáo của đồng chí Xoan, mà lại không tin tôi?

Hạ vẫn giữ bình thản:

- Cậu có nhớ kinh nghiệm Ba Lay không? Đồng chí Bạo đánh xong ống bộc phá chạy xuống báo cáo là hết dây thép gai, đến lúc bộ đội xung phong lên bị thương vong mất bao nhiêu đồng chí...

Tấn không kìm được uất ức nữa:

- Nhưng Ba Lay khác, mà ở đây khác! Đồng chí Bạo khác, mà tôi khác!

Tấn gục mặt xuống, muốn khóc. Trong lòng lúc ấy, Hạ thấy thương Tấn vô cùng, nhưng dù thương mấy đi nữa, cũng không bằng trách nhiệm đảm bảo đột phá khẩu. Nếu cứ nghe Tấn mà cho xung kích lên, thương vong ùn lại ai chịu trách nhiệm?

Trở lại bình tĩnh, Tấn nói:

- Bây giờ đồng chí chưa tin thì để tôi lên một lần nữa. Muốn bảo đảm, đề nghị cho một cán bộ trung đội đi với tôi, nhỡ tôi có làm sao còn có người về báo cáo.

Hạ thấy Tấn có ý dỗi, nhưng rất cảm động trước sự quyết tâm của Tấn, anh gật đầu:

- Được rồi, bây giờ đồng chí Trang lên cùng với Tấn, hai người cùng quan sát lại đột phá khẩu một lần nữa, phải bảo đảm chính xách một trăm phần trăm!

Thấy Trang nhìn mình có vẻ rụt rè, Hạ thêm:

- Lên ngay, bảo đảm trăm phần trăm!

Rồi quay lại Tấn, anh bảo:

- Em cứ yên tâm. Anh không ngờ vực gì em đâu. Bắt buộc phải như thế.

Trung đội phó Trang lao theo Tấn ra khỏi mười thước thì hai người cùng nằm xuống, bắt đầu bò. Đã quen đường, lại nóng ruột, Tấn trườn như con thằn lằn lên dốc, thoắt đã đến chỗ giao thông hào lúc nãy. Anh nhìn trở xuống, không thấy Trang đâu cả. Chết rồi! Anh túm một hòn đất làm hiệu rồi nhằm lúc có pháo sáng, anh giơ ba ngón tay lên mép giao thông hào, vẫy vẫy. Trang đang vướng mảnh dây thép gai, hồi hộp chưa biết bò lên hướng nào, chửi trong miệng: “Thằng Tấn bỏ tao đây à, Tấn ơi, lên hay là xuống bây giờ”. Anh đã thoáng có ý nghĩ “rút lui” thì vừa lúc trông thấy bàn tay vẫy của Tấn. Mừng quá, anh nhắm mắt nhoai lên. Tấn đỡ lấy tay Trang lôi xuống giao thông hào. Trang thở hồng hộc:

- Mày dẫn đường mà lại bò nhanh thế, định xỏ tao à?

Tấn cố nín cười:

- Ai dám xỏ đồng chí! Tôi nóng ruột quá thôi.

Rồi chỉ ra phía lô cốt tiền duyên, Tấn để bàn tay vào bên miệng nói:

- Đồng chí thấy rõ nhá. Đột phá khẩu đã mở, mình hiện đang đứng trong đồn địch. Đồng chí thấy rõ rồi chứ? Đồng chí có muốn vào sâu nữa thì theo tôi!

Trang chăm chú nhìn theo ngón tay chỉ của Tấn, miệng lẩm bẩm:

- ừ, mà đúng thật nhỉ. Thế mà cái thằng Xoan dám nói là còn năm thước hàng rào nữa. Làm chúng ông mất công. Cả cái ông Hạ cũng lẩm cẩm nốt! Còn bảo lên nữa làm gì! Suýt nữa thì mất mạng!

Tấn bật cười:

- Thế đồng chí có cần vào sâu nữa không?

Trang vội gạt:

- Thôi vào làm cái gì, đủ rồi. Cậu xuống báo cáo cho bộ đội xung phong lên được rồi.

- Thế đồng chí không xuống nữa à?

Trang cười:

- Lúc nãy thì cậu chỉ huy tớ. Bây giờ thì tớ lại chỉ huy cậu. Cậu xuống ngay nói với đồng chí Hạ, mau lên.

Đôi chút e ngại, Tấn bảo:

- Nhỡ tôi xuống giữa đường mà hy sinh... hoặc tôi báo cáo đồng chí Hạ, đồng chí ấy vẫn không tin tôi thì làm thế nào?

- Sao lại không tin? Cậu cứ bảo là có sự đồng ý của tôi là được. Tôi đứng ở đây chờ bộ đội xung phong là vào tung thâm luôn thể. Báo cáo với đồng chí Hạ là tôi đã đứng hiên ngang trong giao thông hào giữa đồn địch rồi!

Nhằm đúng đường cũ. Tấn trượt xuống dốc chỉ mấy phút đã bò tới đại đội phó Hạ nằm.

Thấy Tấn về, Hạ phấn khởi đập bàn tay xuống đất bồm bộp. Nhưng chỉ thấy có một mình Tấn, anh hỏi:

- Trang đâu, đồng chí Trang đâu?

Tấn lắc đầu:

- Không, đồng chí Trang vẫn sống, hiện đồng chí ấy đang đứng ở giao thông hào trên ấy rồi. Đồng chí ấy lệnh cho tôi về báo với đồng chí chó bộ đội xung phong.

Không nén nổi bực mình, Hạ gắt:

- Cái thằng Trang đồ ngu! Lên rồi không xuống nữa! Đứng ở trên ấy mà ăn pháo của ta à?

Hạ hỏi lại tình hình đột phá khẩu một lần nữa, Tấn vẫn trình bày như lần trước. Lần này thì không thể không tin Tấn, anh gọi liên lạc:

- Báo cáo tiểu đoàn đột phá khẩu đã mở. Đợi lệnh xung phong. Báo cáo cho pháo bắn mạnh vào lô cốt tiền duyên, yểm hộ cho xung kích tiến!

Tấn nói với Hạ:

- Bây giờ xin đồng chí cho tôi về nắm tiểu đội cùng anh em chiến đấu.

Hạ gạt đi:

- Không được. Đồng chí hãy nghỉ đã. Tiểu đội đã có tiểu đội trưởng. Đồng chí ở lại rải băng cho tiểu đội tiêm đao đánh vào đột phá khẩu.

Tấn rừng rực một nỗi sung sướng không cùng. Mình làm đầy đủ trách nhiệm, đồng đội tin ở mình, thế là đủ. Hạ nắm lấy tay Tấn:

- Thế nào, không giận anh chứ?

Tấn đáp:

- Không, đồng chí làm đúng. Đồng chí buộc lòng phải không tin tôi.

Hạ không ngờ Tấn lại thông cảm với mình sâu xa đến thế. Anh đăm đăm nhìn lên trên đồn, đợi lệnh. Người anh thấy như nhẹ đi một nửa. Bỗng một bóng người ở trên bò xuống. Hạ giật mình hỏi:

- Gì thế, gì thế?

Hạ mở to mắt nhìn, thì ra trung đội phó Trang! Trang lồm ngồm bò đến cây gỗ chắn ngang, thở không ra hơi:

- Báo cáo, Trang đây, về nhận lệnh đại đội!

- Lệnh cái gì! Ông là đồ ngu! Đứng trên ấy để ăn pháo của ta thì ai chịu trách nhiệm? ý chừng pháo bắn dữ, đành phải chuồn xuống chứ gì?

Trang cười nhạt:

- Vâng...

Năm phút sau, những tràng đại bác gầm lên từng hồi úp xuống đồi Him Lam, những mảng lửa đỏ rực.

Hàng nghìn mũi súng ngóc dậy.

Theo lệnh của đại đội phó Hạ, tiểu đội tiêm đao băng băng lên sống đồi, dẫn hàng nghìn chiến sĩ vượt qua đột phá khẩu, đánh vào trung tâm Him Lam.

Chiến thắng oanh liệt đầu tiên mở màn cho đại thắng chiến dịch Điện Biên Phủ.

*

* *

Kể xong câu chuyện, đồng chí đại đội trưởng nhìn quanh anh em:

- Thế nào, cái đột phá khẩu có ly kỳ không?

Một chiến sĩ đáp:

- Ly kỳ lắm. Nhưng mà đánh lâu như thế là do quan sát địch không cừ, phải kéo dài, tất nhiên thương vong...

Đồng chí khác nói theo:

- Chuyện đồng chí Tấn như thế là gan, bình tĩnh. Đồng chí Trang thì giao động quá. Riêng đồng chí Hạ tại sao lại bắt đồng chí Tấn lên quan sát đột phá khẩu đến hai lần, thế nhỡ đồng chí ấy hy sinh thì sao?

Một ý kiến nữa tiếp:

- Súng của mình không kiềm chế được hỏa điểm của nó mấy. Để nó phá dữ... à, nhưng báo cáo đồng chí đại đội trưởng, trận ấy đồng chí làm gì nhỉ?

Đại đội trưởng kéo nốt hơi thuốc lào:

- Làm chiến sĩ....

Xong, đồng chí chống hai nắm tay lên cằm:

- Nhân ngày chủ nhật, tôi kể các đồng chí nghe câu chuyện vừa rồi để nhắc lại một kỷ niệm, nhưng các đồng chí thắc mắc như vừa rồi là phải. Sự thật là trước đây chúng ta đánh địch nhiều lúc gay go, trình độ kỹ thuật và chiến thuật của ta còn kém; có những lúc ta phải lấy tinh thần hy sinh ra để thay cho chỗ kém ấy. Bộ đội ta vô cùng dũng cảm. Nhưng chỉ dũng cảm thôi, không đủ. Như Him Lam tôi vừa kể đấy, và một vài trận khác nữa, nếu chúng ta có một trình độ kỹ thuật và chiến thuật giỏi hơn, thì nhất định ta đỡ thương vong và còn thắng nhanh hơn... Các đồng chí suy nghĩ chắc thấy rõ điều ấy, tôi không cần phân tích lại câu chuyện...

Không thấy ai nói gì, đại đội trưởng say sưa tiếp:

- Đó là một điều tất nhiên trong hoàn cảnh chiến tranh trước đây. Cũng như có một sự thật nữa, là bên những trận chiến thắng của ta, cũng có những trận phải nhận là thất bại. Chúng ta lớn lên trong những chiến thắng và cả những thất bại. Qua chiến đấu, tôi biết thế nào là cái sống cái chết, thế nào tốn xương máu. Cho nên những đồng chí ta trước đây đã dũng cảm ta phải dũng cảm hơn. Ta phải học cho giỏi kỹ và chiến thuật hơn. Chúng ta phải đề phòng một cuộc chiến tranh hiện đại...

Nhìn ra khẩu K50 đặt trên giá, đồng chí đại đội trưởng thong thả:

- Đồng chí Hạ còn để lại một khẩu K50. Tôi không ngờ đồng chí ấy lại chết trong trận thọc sâu mất. Tôi nhớ mãi cái hôm vợ đồng chí ấy đội khăn trắng dắt đứa cháu đến đại hội mừng công. Trông chị ấy, tôi suýt khóc. Tôi cứ nghĩ đồng chí ấy chết đi để mình sống, cũng đủ để thấy mình phải làm gì...

Mấy chiến sĩ ngồi nghe bỗng chăm chăm nhìn vào mắt đại đội trưởng. Không ai nói gì cả, như sợ đụng chạm đến sự suy nghĩ của nhau. Ngoài sân, nắng chênh chếch chiếu vào mấy cái bia xạ kích sáng rực.

 V C 12-1956
 V N Q Đ 3-1957

 


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 18 Tháng Tư, 2011, 08:36:51 am
                                           Mai
                                           Tác giả : Anh Ngọc


Chúng tôi dừng lại ở bìa rừng, năm người và một chiếc cáng. Trận mưa chiều vừa tạnh, cây cỏ còn ướt đẫm, nhưng vòm trời đã hé ra mấy khoảng sáng xanh biếc. Bác sĩ Quý thận trọng nhấc đòn cáng lên để cho anh chiến sĩ bên cạnh ghé vai vào thay.

Kíp mới này gồm hai anh chàng đều trẻ măng và vạm vỡ, họ còn phải vượt gần mười lăm cây số trong đêm nay để về quân y viện tiền phương của mặt trận. Quý kéo đồng chí y tá đi theo dặn dò mấy câu, đoạn quay lại bên cáng. Người nằm trên cáng đắp một tấm vải dù che kín lên tận mặt. Có lẽ người bị thương đang ngủ, chỉ thấy vạt vải dù động đậy khe khẽ theo nhịp thở.

Quý ngần ngừ một chút rồi quả quyết lật nhẹ mép vải dù lên. Mặc dù con người này suốt thời gian vừa qua đã quá quen thuộc với mọi người ở đây nhưng chúng tôi vẫn cứ chú mục nhìn theo bàn tay của Quý. Đầu tiên là một mớ tóc cắt ngắn, đen nhánh, buông xoã trên võng, mái tóc của một cô gái Trường Sơn dầu dãi nắng mưa nhưng vẫn trẻ trung duyên dáng. Gương mặt cô gái tái mét, hốc hác vì vết thương mất máu và những trận sốt kéo dài.

Trong ánh chiều đang nhạt dần, vầng trán cô gái như một mảnh gương lặng lẽ phản chiếu bầu trời đầy mây. Bác sĩ Quý gật đầu ra hiệu cho kíp cáng lên đường và quay lại phía tôi. Cánh rừng vừa sáng ửng lên thoắt đã tím sẫm đi rất nhanh. Hai chúng tôi đứng bên nhau cùng nhìn theo chiếc cáng đang dần khuất về phía đồng bằng Cam Lộ. Có tiếng bom rền xa xa miệt Thạch Hãn, Tri Bưu.

- Anh quen Mai lâu rồi? – Tôi hỏi Quý.

- Trước anh một tuần.

-  Nghĩa là từ hôm cô ấy bị thương?

- Đúng thế.

Trên đường trở lại trạm xá trung đoàn tôi cứ muốn hỏi Quý thêm về Mai. Nhưng không hiểu sao hôm nay anh lại ít lời như vậy. Anh vẫn còn xúc động lắm, trông vẻ mặt thì biết ngay. Người con gái này đi qua đời anh chỉ vẻn vẹn mươi hôm, trong tình trạng cô nằm bất động trên giường bệnh, nhưng đã để lại trong anh một dấu ấn khó phai.

Bác sĩ Quý đã có mặt ở chiến trường này sáu năm liên tục. Sáu năm anh đi hết từ trạm phẫu này đến trạm phẫu khác, lúc đỉnh đèo này khi thung lũng nọ. Sáu năm đủ để anh sinh viên y vừa rời ghế nhà trường trở thành một bác sĩ chuyên khoa chấn thương từng trải. Công việc tập cho anh thói quen lặng lẽ, ít nói, và vì vậy vô số ý nghĩ, cảm xúc cứ sinh ra rồi tự chín ở trong đầu. Dần dà anh mất đi cái thú được thổ lộ tình cảm. Đối với anh, điều quan trọng duy nhất là công việc. Khi đã đeo tấm khẩu trang vào và cầm lấy dao, kéo là anh quên hết tất cả.

Và khi cô thanh niên xung phong có cái tên dịu dàng này được đưa về trạm xá trung đoàn, anh vẫn là một người như vậy. Nếu như cô trung đội trưởng đi theo cô ta không tình cờ dúi vào tay anh bác sĩ một gói giấy nằng nặng và vừa rơm rớm nước mắt vừa khẩn khoản yêu cầu anh thực hiện cái ý nguyện của bạn mình: gửi hộ chút kỷ niệm này theo địa chỉ đã ghi, nếu chẳng may cô ấy...

Quý lơ đễnh cầm lấy gói giấy, trong đầu thoáng cái ý nghĩ khôi hài: mấy cô gái dở hơi, cuộc sống đến thế mà còn nghĩ ra được cái trò này... Nhưng không hiểu sao, trong lúc chờ kíp mổ chuẩn bị, anh lại tò mò dở tập “di chúc” của cô thanh niên xung phong ra, không phải để đọc mà là để xem cho khỏi sốt ruột. Và thật không ngờ, tập nhật ký – vâng, đấy là một tập nhật ký - của Mai đã hấp dẫn anh đến mức không cưỡng nổi.

Cho đến khi đứng trước ca mổ anh vẫn còn chưa bình tĩnh lại được, và anh đã tiến hành công việc trong một tâm trạng thật ra là không có lợi cho một bác sĩ phẫu thuật. Nhưng ca mổ đã thành công. Chính đôi tay và con dao của anh đã làm việc hiệu quả để giữ cuốn nhật ký ấy ở lại bên anh, mặc dù cô gái phải chuyển về tuyến sau điều trị tiếp.

Trong mười ngày nằm ở bệnh xá trung đoàn, có lúc Mai tỉnh táo và anh bác sĩ đã hỏi xem cô có nhớ mình có một cuốn nhật ký nào không? Cô gái đỏ mặt khi biết anh đã đọc tập nhật ký nhưng cô không hề tỏ ý đòi lại ngay. Vả lại, cô sẽ còn trở lại đây cơ mà...

 

***

Trời tối một lúc chúng tôi mới về đến trạm xá. Tôi định đi thẳng về lán khách của mình nhưng bác sĩ Quý đã kéo tay dắt vào lán của anh. Nồi canh rau tập tàng vừa hái được dọc đường đã kéo chúng tôi trở lại với bao kỷ niệm của những ngày trước chiến tranh.

Dạo ấy Quý còn ngồi trên ghế trường đại học Y khoa Hà Nội. Anh chăm học và học giỏi. Nhưng tính tình lại củ mỉ cù mì và nhát gái. Trong lớp Quý có một anh tên Đức người Hà Nội, con nhà khá giả nhưng học hành lại chểnh mảng. Đức có một vẻ ngoài dễ thương và vì vậy được nhiều cô gái mến. Trước mắt một thanh niên mới ở nông thôn lên như Quý, Đức là một hình ảnh thật hấp dẫn, nhưng quá xa vời và nhiều lúc đến mức lạnh lùng.

Quý đang ở vào lứa tuổi đầy khao khát, nhưng bản chất rụt rè đã kìm hãm anh lại. Trong khi Đức và các bạn khác đã bắt đầu lao vào bao chuyện rắc rối, thì Quý vẫn là một chú bé thơ ngây trước tình yêu. Có lần đi phố, Quý gặp Đức đèo một cô gái lướt qua. Cả hai vờ như không trông thấy nhau. Nhưng lúc họ đi đã xa, Quý mới thoáng nhìn theo. Anh chỉ nhớ cô gái có mái tóc thật đẹp, mái tóc mượt mà óng ả như suối chảy dài trên vai. Ồ, thằng cha hạnh phúc thật. Giá như Quý có được một tình yêu như thế, anh sẽ sung sướng, sẽ tự hào, sẽ giữ gìn nó bằng cả đời mình. Và vì anh chưa có nó, nên anh càng thấy nó thiêng liêng và bí ẩn vô cùng.

Ấy thế mà khi Quý hỏi Đức về người yêu, anh ta chỉ trả lời qua quýt:

Đùa chơi tý chút đấy mà, có gì đâu. 

Mà quả thật, cho đến suốt hai năm cuối cùng ở đại học vẫn không thấy Đức có tiến triển mới gì về con đường tình ái. Hay là anh ta đã từ bỏ cô gái nọ? Hay là anh ta đang có những âm mưu? Dưới cái vẻ ngoài nhã nhặn nhưng lạnh lùng, anh ta là cả một cái dấu hỏi rất lớn đối với bạn bè.

Những ngày cuối cùng của họ ở trường đại học cũng là những ngày đất nước đang có chiến tranh trên cả hai miền. Họ ra trường vội vàng và cũng vội vàng lao vào nhiệm vụ. Bác sĩ Quý vác ba lô theo những đoàn quân ra trận, để kịp đón tuổi đời thứ hai mươi tư của mình trên một đỉnh dốc chót vót của Trường Sơn. Trong những năm tháng bận rộn với công việc của chiến trường, có đôi lúc Quý chợt nhớ tới bạn bè. Giờ đây mỗi đứa một nhiệm vụ, chắc chúng nó cũng đã trưởng thành lắm. Nhiều lúc anh muốn viết thư cho đứa này, đứa nọ, anh muốn nói với chúng nó là anh nhớ chúng vô cùng. Và cả Đức nữa, anh cũng rất nhớ... Nó là cái mảng đời của mình âm thầm mà mạnh mẽ, khao khát, hy vọng và khổ đau nữa...

- Sau đó, anh có gặp lại Đức lần nào không? – Tôi hỏi Quý cho có chuyện.

- Không..., mà có. Quý ra vẻ bí mật.

- Thế nào?

- Anh cũng đã chú ý rồi đấy nhé. Nhưng xin anh đừng sốt ruột. - Quý mỉm cười. Anh mở nắp cái hòm đạn đựng tư trang ở đầu giường và lấy ra một gói giấy.

- Chính là cái này đấy ư?

- Nó đấy.

- Có một cái gì về câu chuyện vừa rồi trong đó à?

- Thì anh hãy đọc đi đã.

Tôi cười thích thú. Cái mà mình chờ đợi đây rồi. Ai ngờ câu chuyện lại kết thúc theo chiều hướng ấy.

- Chúc anh đêm nay khó ngủ! – Quý cũng cười.

Tôi nắm tay Quý với lòng biết ơn và vội vã về lán riêng, trong lòng cũng lây cái bồi hồi lạ thường của anh bác sĩ.

 

II.

Tập nhật ký của Mai bao gồm một khoảng thời gian tám năm, kể từ ngày Mai bước vào năm thứ hai Khoa Văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội, đến tận ba ngày trước khi cô bị thương trong trận cứu xe ở ngầm P. cách đây mười hôm. Biết bao nhiêu sự kiện, tâm tư, suy nghĩ mà cô đã trải qua trong những năm đẹp nhất và cũng phiền toái nhất trong cuộc đời một người con gái. Dựng lại cả quãng đời đó trong nhật ký của Mai phải là một cuốn sách lớn với bề sâu của những chiêm nghiệm và từng trải rất mực, ở đây xin bạn đọc hãy tạm bằng lòng với chút ít âm sự của cô gái ấy về một vấn đề thôi mà nhiệm vụ của câu chuyện nhỏ này đặt ra và mong muốn giải quyết được: Những quan niệm về một tình yêu chân chính.

Vâng. Có lẽ chỉ có thế. Và vì vậy mà chúng ta hãy cùng nhau dở lướt qua tập nhật ký của Mai...

Mở đầu tập nhật ký, thay vì một dòng ghi số hiệu ngày tháng, cô gái dán vào đó một tờ lịch nhỏ bóc ra từ một bìa lịch, tờ lịch ngày 2-9-1964. Trên tờ lịch không ghi một dòng chữ nào, chỉ vẽ một bông hoa hồng nhỏ bằng bút chì mềm. Hiển nhiên, đấy là một ngày đáng nhớ lắm rồi.


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 18 Tháng Tư, 2011, 08:39:22 am
                Tiếp :
Trang thứ hai ghi sau đó bảy ngày:

“9-9-1964:

Một tuần nay mình sống trong một trạng thái lạ lùng. Thật không ngờ tất cả lại diễn biến nhanh đến thế. Mình và anh Đức biết nhau từ đầu năm thứ nhất, trong kỳ hội diễn văn nghệ của các trường đại học. Trong lúc V. người đệm ghi ta cho tốp nữ của mình hát bỏ đi đâu mất, thì chính anh đã đệm hộ. Anh nói với chúng mình lúc sắp ra sân khấu: “Các bạn thông cảm, mình chơi bật bông thôi”. Ấy thế mà anh đệm rất tuyệt. Chính câu nói ý nhị ấy đã làm mình chú ý đến anh.

Sau này quen nhau, anh Đức còn đệm cho mình hát nhiều lần, và khỉ quá, mình toàn hát sai. Thế mà anh còn bảo: “Tại anh chỉ biết bật bông làm Mai vào sai đấy”. Con người kỳ thật. Bọn bạn mình bảo: Con trai Hà Nội khéo nói lắm. Mình cho rằng anh là người khiêm tốn thật lòng chứ không phải khéo nói.

Cả nhà anh làm nghề y và đến lượt anh cũng thế. Mình thấy trong cái nghề đó một cái gì rất thiêng liêng. Vả lại nghề y và nghề sư phạm của mình lại rất gần nhau, đều chăm lo cho cuộc sống con người cả mà, một bên thể xác, một bên tâm hồn...

Mình đã đến với anh Đức như với một người bạn, hoặc đúng hơn là một người anh trai. Và dạo đầu, chính anh cũng thật bình thản khi có mặt mình. Cái kính trắng đã giấu đi đôi mắt của anh. Anh bình thản đến mức có lúc mình thấy sợ. Chỉ có một lần, lúc mình sắp ra về, anh lấy trên bình hoa xuống một bông hồng và trao cho mình. Hành động đột ngột của anh làm mình khó xử quá. Nhận hay không? Mình bất giác ngước mắt lên nhìn anh. Giá như lúc đó anh bối rối hoặc tỏ ra ấp úng chắc mình đã bỏ chạy mất rồi. Nhưng anh vẫn thản nhiên. Có lẽ anh có tặng cho bạn trai thì vẻ mặt cũng thế thôi. Và mình đã cầm lấy bông hoa. Yên tâm, nhưng thú thật, có một cái gì uất ức...

Đấy.  Anh ấy là người như thế đấy. Nếu không có cái đêm pháo hoa vừa rồi, giờ này mình và anh ra sao rồi nhỉ? Thôi đừng lẩn thẩn đi, Mai ơi. Hãy giữ lấy những gì cuộc đời này đã cho mày. Tất nhiên, còn do... người ta nữa”.

Những ngày tiếp theo, Mai ghi rất ngắn. Những ngày hạnh phúc người ta thường ghi nhật ký rất ngắn. Tất cả đều vừa ý, đều tốt lành cả, có gì phải trằn trọc đâu. Vả lại, trong những ngày hạnh phúc, người ta bận rộn với những gì có được trong tay hơn là những gì sinh ra trong đầu. Mai đã đến với tình yêu bằng tình cảm trong trắng, mãnh liệt của một cô gái mười chín tuổi. Hoàn cảnh gia đình đã tạo cho cô một lối sống thẳng thắn, cởi mở, cả tin. Nhật ký của cô hay nhắc đến một người bố thương con và giản dị, một người mẹ “nghiêm khắc với con cái nhưng lại mau nước mắt”.

Gia đình Mai từ Phú Thọ về Hà Nội sau ngày thủ đô giải phóng theo yêu cầu công tác của bố cô. Ông cụ làm ở Viện thiết kế, Bộ công nghiệp. Một con người say sưa với nghề nghiệp, đầy sáng kiến và hồn nhiên đến mức độ “xem tất cả lũ trẻ con trong khu tập thể như bạn bè”. Với cô con gái lớn đang học đại học cụ đã dành cho một lòng yêu thương đặc biệt. “Cái cười độ lượng và những câu chuyện vui mà bố kể không bao giờ cạn đã làm cho những buổi tối ở nhà ấm cúng vô cùng.” – Mai ghi. Đối với bạn bè, nhất là bạn trai của con, cụ tôn trọng và luôn hoà mình vào các cuộc trò chuyện của họ. Có lẽ với con mắt tinh tường, cụ phân biệt được ngay ai là người tốt ai là người xấu, nhưng vẫn dành sự đánh giá cho chính con mình.

“- Con này, anh chàng Đức là bạn thân của con à?

 - Vâng ạ.

 - Hình như anh ta không được tự nhiên ở nhà mình.

 - Tính anh ấy vẫn thế đấy bố ạ.”

Mai đã bênh vực cho Đức. Và bố Mai hiểu hết. Đúng, tính anh ấy như thế. Cái tính lạ thật. Tại sao với cái gia đình mà anh sẽ trở thành người thân, anh vẫn không thể cởi mở được? Tính anh ấy thế. Tại sao, ngay với Mai, nhiều lúc đang trò chuyện, anh ấy cũng im bặt và lặng lẽ xa vắng đi một lúc rất lâu? Tính anh ấy thế. Thú thật, cái tính ấy dạo đầu hấp dẫn tính hiếu kỳ của Mai ghê gớm, nó làm cho Mai lúc nào ở trước mặt anh cũng thấy mình như có lỗi. Và cái mặc cảm có lỗi ấy dày vò cô. Anh ấy còn cần gì ở mình? Mình còn thiếu sót gì đối với anh ấy?

Có lần, Mai đã hỏi thẳng Đức, nhưng anh vội vã lắc đầu quầy quậy. Anh bảo: Anh đã quen sống như thế từ bé. Trong gia đình anh, người ta rất ít nói chuyện với nhau. Bố anh là một cán bộ cũ trong ngành y tế, ông cụ lúc nào cũng như đang mải suy nghĩ một việc gì. Ở nhà anh, ngay khi ngồi vào mâm cơm mọi người cũng lặng lẽ, chỉ có tiếng bát đũa va chạm khe khẽ. Đừng có hắt hơi to trong nhà. Lại đừng có mà cười hô hố nữa. Bố chỉ cần khẽ cau mặt thôi là mẹ đã lo cuống lên. Có lần Đức đang ngồi tiếp Mai thì ông cụ dắt xe đi ra: “Đức này, chiều nay bên Phủ Doãn có một ca đặc biệt, con nên sang ngay.” Đức vội vã đứng lên. Và sau lần đó Mai tự nhủ sẽ không bao giờ đến nhà Đức nữa. Nhưng nghĩ thế thôi, rồi Mai vẫn đến. Mai tin mọi người đều có lý để đối xử tốt với nhau. Tính tự ái thật xấu, nó làm cho người ta mất sáng suốt. Mai cố kìm tính tự ái lại.

“Nếu như người ta gọi tình yêu là một bài thơ, thì lúc đến với nhau là lúc người ta viết dòng thơ thứ nhất. Bài thơ ấy hay hay dở, xúc động hay khô khan, thoạt đầu người viết có thể biết được một phần, một phần thôi chứ không phải là tất cả. Và cứ mỗi ngày mỗi tháng qua người ta lại viết thêm những dòng mới, lúc nhanh, lúc chậm, lúc phơi phới, lúc âm thầm, lúc ấm êm, lúc cay đắng...

Anh hãy bật lên dây đàn

            Những hoà âm mà chúng ta hằng yêu thích

            Em sẽ nói với anh bằng tiếng hát

            Một bài ca chưa có ở trong đời

            Một bài ca em chưa gọi nên lời

            Chỉ có trái tim em khẽ nhắc

            Có khi em hát lên bằng mắt

            Hay bằng tiếng thầm thì

            Và có khi bằng cả nỗi lặng im...”

Các bạn thấy đấy, như thế là họ yêu nhau.

Trong thời gian đầu, cả hai đều cảm thấy hạnh phúc tràn đầy. Là một nữ sinh khoa văn, nhật ký của Mai thời kỳ này đầy những câu thơ. Những câu thơ ấy được làm ra khá dễ dàng, nhưng chính vì thế mà nó gần với lời nói thông thường, nghĩa là gần với ý nghĩ thật. Họ gặp nhau nhiều và nhiều buổi về quá muộn bị bố mẹ rầy la.

Đôi bạn nói không bao giờ hết chuyện. Bởi vì trong mọi câu chuyện của họ có một từ huyền bí và hấp dẫn: Ngày mai. Ngày mai là tất cả những gì họ mơ ước, khát khao và tin tưởng. Nhưng cái ngày mai đó chưa đến và cũng chưa có dấu hiệu gì là sắp đến, nên họ vẫn còn nhiều thời gian để mà tô vẽ cho nó thật lộng lẫy. Mai nói với Đức về một ngày cô sẽ bước lên bục giảng. Ngày ấy, trước hàng trăm đôi mắt mở to, say sưa của các em học sinh yêu dấu, Mai sẽ kể cho các em nghe về những mơ ước của cô, cô sẽ kể sôi nổi, tha thiết như là đang kể với Đức đây.

Nghề dạy học với cô là một nghề tuyệt diệu, vì cô sẽ có bao nhiêu bạn bè, bao nhiêu tình thân. Mai tin rằng khi một người chỉ mơ ước làm việc tốt cho người khác thì người đó sẽ không bao giờ chịu đơn độc vì thiếu tình thân. Mà Mai thì chỉ mong làm điều đó cho mọi người. Tất nhiên, như người ta vẫn nói “người đang được yêu thì làm việc gì cũng trôi chảy”, trong mọi việc ấy Mai sẽ làm với sự trợ lực của Đức bên cạnh.

Khi anh khoác áo bờ lu trắng vào phòng mổ thì em cầm viên phấn trắng bước lên bục giảng. Có những phút cả hai đều vất vả. Nhưng vì thế mà cả hai sẽ hiểu nhau hơn, “mà nỗi vất vả một khi đã được người thân yêu thông cảm và chia sẻ thì sẽ giảm đi biết chừng nào, có thể lại còn trở nên thú vị nữa kia. Được làm nũng anh cũng là một điều thú vị chứ sao? Có phải thế không, anh Đức?”

 

III.

Theo cách ví von của Mai thì đến đây họ đã viết xong những dòng đầu tiên của bài thơ tình yêu. Những dòng suôn sẻ và nhiều hứa hẹn.

Nhưng...

Đúng là có một chữ “Nhưng” như thế ở giữa cuốn nhật ký của Mai thật. Vâng, một chữ “nhưng” với ba dấu chấm lửng (...).

“Ngày 3-11-1965:

Gần đây, anh Đức rất quan tâm đến ngày ra trường của mình. Của mình thôi, vì anh tin anh vẫn là người được số phận chiều chuộng. Chỉ hơn nửa năm nữa, cái gì sẽ đến với mình? Anh tha thiết bảo mình: Anh không thể xa em được đâu, chúng mình phải tính kế trước.

Nhưng...

Nhưng anh Đức ạ, em là người không muốn tính kế với tổ chức, với nhà trường một chút nào. Ai lại đi tính kế với những người đã nuôi dưỡng và dạy dỗ mình? Cứ cho là em vụng về không biết tính liệu mọi việc cũng được, anh Đức ạ.

- Anh sẽ tính hộ em, chúng mình thống nhất về quyền lợi mà.

- Cũng thế thôi.

- Nhiều người cũng làm như vậy, không riêng mình.

- Nhiều không phải là tất cả.

Anh bảo anh sẽ làm được. Anh có một ông chú làm ở Sở giáo dục thành phố. Anh ở Hà Nội lâu đời nhiều họ hàng lắm nhỉ. Những lúc này rất cần họ hàng, anh bảo thế.

 - Chỉ cần em không phản đối. – Anh nói.

- Ai  lại đi phản đối sự chăm sóc của người khác đối với mình. Nhưng, có điều anh Đức ạ, em... lại thích đi xa thì sao?

Anh loay hoay sửa lại mắt kính và lấy lại vẻ mặt lãnh đạm muôn thuở. Nhưng lần này mình không còn cái mặc cảm có lỗi trước anh nữa. Mặc dù mình rất xúc động. Anh có gan quay lưng và đi thẳng không? Chắc anh đang cố nén. Rất lâu, anh mới nói thật khẽ:

- Anh rất tiếc là đã để em nghĩ xấu về anh.

- Anh Đức! – Mình kêu lên và nắm lấy tay anh. - Em không nghĩ thế. Em muốn chúng mình mãi mãi là những người tự trọng.

- Em trẻ con lắm. – Anh cười chế giễu.

Thôi, hãy tạm bằng lòng với cái kết thúc này... “Anh điên mà em cũng điên, mười đêm gặp chín đêm liền giận nhau” mà...”



Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 18 Tháng Tư, 2011, 08:41:53 am
                          Tiếp :
Trong những ngày ấy, các trường đại học đều đi sơ tán. Đôi bạn ở xa nhau và ít dịp gặp gỡ nhau. Cả hai đều đang đứng trước một kỳ thi quan trọng của đời mình. Họ phải học tập khẩn trương và do đó những mắc mớ riêng tư cũng phải tạm thời đấu tranh để gác lại. Mai lao vào sách vở với tất cả lòng hồ hởi vốn có của cô. Từ bé Mai đã ham đọc sách. Cô nữ sinh ấy đã ngồi hàng buổi dưới bếp vùi đầu không biết chán vào những cuốn truyện thiếu nhi, những pho sách dày cộp nước ngoài và trong nước. Ham đọc sách, Mai còn biết rút ra từ sách những điều bổ ích cho mình. Sách vở đã đưa cô vào một thế giới vừa gần gũi vừa xa lạ, những con người cao thượng tuyệt vời, những tính cách anh hùng dữ dội, bên cạnh những gương mặt xấu xí và thấp hèn đến ghê tởm... Cô quên hết cả những gì quanh mình, để xúc động với những số phận của các nhân vật. Họ là những cô Lọ Lem, những chàng hoàng tử, những nàng công chúa hạt đậu... của tuổi thơ, và những Côdét, Giăng Vangiăng, những Natasa Rôxtôva, Paven Corsaghin... của tuổi thanh niên.

Mai thèm khát được sống như những nhân vật mà mình yêu thích. Cuộc sống của mỗi con người là hữu hạn, nhưng với cả nhân loại là vô hạn. Mỗi con người mất đi, nhưng những gì họ đã làm vì hạnh phúc của mọi người thì còn lại. Một cuộc sống chỉ biết mưu toan và nỗ lực vì lợi ích của riêng mình thôi thì đáng buồn biết chừng nào. Trong tình yêu cũng vậy. Mai thật lòng không muốn rơi vào địa vị của một cô Tônhia đã đánh rơi tình yêu đẹp nhất của một con người đẹp nhất mà không hay biết.

“Và trên tất cả những điều đó là lòng thành thật” - Mai ghi - “Anh Đức, em có thể, vì ngại ngùng, không dám giới thiệu anh với bạn bè, nhưng với những người thân thì em không hề giấu. Nhưng anh, anh đã bao giờ giới thiệu em với ba mẹ anh chưa? Gia đình anh không chú ý đến thủ tục ấy phải không? Lại một thói quen đáng phải trân trọng nữa. Anh đừng cho là em đòi hỏi, anh nhầm đấy, em cần một sự thành thật và sòng phẳng, anh Đức ạ.”

Trong lúc đó, có một thứ tiếng động còn mạnh gấp bội át đi cả những tiếng ồn ào qua lại đã bắt đầu nẩy sinh giữa hai người, ấy là tiếng gầm rít của chiến tranh. Cuộc chiến đấu lớn của đất nước đã dội vào những vách trường sơ tán. Hết đợt thứ nhất đến đợt thứ hai những thế hệ sinh viên đại học đã gác bút nghiên đáp lại tiếng gọi thiêng liêng của Tổ Quốc lên đường đánh giặc cứu nước. Giờ đây mỗi bài học đều có thêm một nội dung cấp thiết và mỗi tiết học đều có thêm một mục đích hướng ra phía trước. Những ngày thật bồi hồi nôn nao. Đến giấc ngủ cũng không yên lành nữa. Sáng dậy, Mai xuống suối, tay vục lên những giọt nước lạnh buốt như kim châm mà nghĩ đến những bạn bè mình, trai có, gái có giờ này đang lội qua con suối thứ mấy chục, mấy trăm trên con đường hành quân thăm thẳm vào chiến trường. Trong thử thách nghiêm trọng của dân tộc, phẩm chất con người cũng được sàng sẩy, chọn lọc lại. Bao nhiêu lớp nguỵ trang kín đáo đã rơi tuột, bao nhiêu sự thật đau lòng đã phơi bày, nhưng đồng thời bao nhiêu chân tình thắm thiết, giản dị, mà ít lời cũng đã tự khẳng định. Cả tình yêu nữa, cũng phải xem xét lại hết. Bởi vì, giờ đây đã có một thứ tiêu chuẩn để xem xét, một thứ tiêu chuẩn mà không ai có thể từ chối không chấp nhận : Tình yêu Tổ Quốc.

Mai ít gặp Đức, nhưng thay vì điều đó, cô lại nhận được thư anh luôn. Trong nhật ký của Mai còn kẹp nguyên cả những bức thư của Đức gửi. Có một bức như thế này:

“Mai ơi,

Nhiều lúc anh cảm thấy hốt hoảng vì lẽ gì anh cũng không rõ nữa. Có lẽ vì cuộc chiến tranh thì đang tiến đến rất gần mà chúng ta thì xa nhau quá. Những gì chúng ta đã có với nhau đã đủ để nói rằng chúng ta gần nhau chưa? Đã đủ để gắn bó chúng ta lại trước sức tấn công khủng khiếp của cuộc chiến tranh này chưa? Em có nghe thấy không, trên những đường phố Hà Nội dạo này luôn luôn vang lên cái điệp khúc “đồng bào chú ý, đồng bào chú ý, máy bay địch cách Hà Nội năm mươi cây số, ba mươi cây số...”. Cái điệp khúc mới rối bời làm sao, có lúc anh cay đắng nghĩ rằng: Máy bay địch cách ba mươi cây số, mà em ạ, còn chúng ta thì giờ này cách nhau ba trăm, ba ngàn... cây số!”

Tội nghiệp cho anh, người nào cảm thấy rằng trong cuộc chiến tranh này mình đơn độc thì thật đau khổ biết chừng nào. Còn Mai, ngược lại, Mai cảm thấy quanh mình mọi người đang xích lại với nhau hơn. Mọi niềm vui và đau khổ đều được bạn bè trân trọng sẻ chia. Có những tình bạn mà ngày thường Mai không dám đối xử thật hồn nhiên vì ngăn cách của giới tính, nhưng bây giờ Mai lại cảm thấy thoải mái, bởi vì tự đáy lòng tất cả đều trong sáng và chân thành. Có phải cái cá tính lạnh lùng đã ngăn cản Đức đến với mọi người, ngay cả trong lúc này chăng? Trong không khí xô bồ, bận rộn của hôm nay, một người “lịch sự” quá mức như anh sẽ nhận đứng vào chỗ nào để cái ly quần thẳng tắp kia khỏi nhàu, cái bàn tay trắng trẻo kia khỏi dây đất cát? Mai nghĩ rằng, cả Mai và anh đều phải thay đổi đi, đều phải sống khác trước. Nhất định Mai sẽ đương đầu với anh trong chuyện này. Mai không thể làm khác được. Anh là người có hiểu biết, chắc anh sẽ nhận ra phải trái.

 

***

Cái điều hệ trọng tất nhiên phải đến đã xẩy ra với đôi bạn trong mùa hè năm 1966. Đấy là một mùa hè khắc nghiệt. Trời nóng kinh khủng và máy bay giặc Mỹ luôn luôn rập rình đe doạ. Thành phố đã vắng ngắt người. Các cụ già và trẻ em Hà Nội chia nhau về nhiều ngả vùng quê. Giấc ngủ ban đêm bị xé vụn ra bởi những hồi còi báo động. Trên bầu trời Hà Nội những quả đạn cao xạ vạch đường đã thay cho những chùm pháo hoa ngày hội.

Căn nhà của gia đình Mai vắng ngắt không một bóng người. Chỉ có đôi bạn ngồi đối diện với nhau, lặng lẽ. Cả hai đều lấm láp và bụi bậm vì vừa vượt qua một chặng đường từ khu sơ tán trở về. Mặc dù đang những ngày bận rộn nhất trước khi bước vào kỳ thi tốt nghiệp, họ vẫn quyết định phải gặp nhau, bởi vì nếu không, họ sẽ chẳng bao giờ gặp lại nhau nữa. Nhật ký của Mai ghi sau hôm đó mấy ngày và toàn bộ câu chuyện đã được tường thuật gần như trọn vẹn. Đấy là những dòng đau đớn, nhưng là cái đau của một người tỉnh táo, bởi vì người đó đã có ý thức chủ động nhận lấy sự đau đớn tất yếu. Mai đã không nhượng bộ trong cuộc đương đầu mà Mai biết là không thể tránh khỏi.

Chúng ta hãy đọc màn kịch nho nhỏ đó trong tập “hồ sơ” mà cho đến nay, cô thanh niên xung phong ấy vẫn giữ mãi bên mình.

“Ngày 24-6-1966. Hà Nội. Giữa hai kỳ báo động.

Về Hà Nội từ chiều 20-6. Trước đó một tuần mình đã thông báo cho anh biết quyết định của mình: Đăng ký xin ra chiến trường phục vụ ngay sau khi nhận bằng tốt nghiệp. Mình đã suy nghĩ rất chín chắn trước khi đi đến quyết định này. Toàn bộ những tâm niệm của mình từ lúc biết nghĩ đến nay, toàn bộ những mơ ước mình hằng ấp ủ từ tấm bé đều dẫn mình đến quyết định ấy. Bố đã viết thư động viên mình rất nhiều, cả các em và bạn bè nữa. Bây giờ, trước mắt mình chỉ còn anh... Anh ấy sẽ phản ứng ra sao? Mình đã lờ mờ nhận thấy một cái hố cách chia hiện ra. Nhưng dù sao đi nữa, mình vẫn không thể thay đổi quyết định. Trong lúc cả dân tộc đang đầm mình trong gian lao, lẽ nào lại có thể chăm chăm chỉ lo vun vén cho cái tổ ấm của mình được. Việc ấy chỉ nghĩ đến thôi cũng đã xấu hổ. Mình trở về gặp anh với quyết tâm ấy choán ở trong đầu.

Vẫn căn phòng thân yêu của những kỷ niệm những năm qua. Mỗi bậc cầu thang dường như vẫn ấm dấu chân anh. Khung cửa sổ nơi lần đầu hai đứa nắm tay nhau trước lúc tạm biệt sau đêm dạo chơi đầu tiên dưới màu sắc rực rỡ của những chùm pháo hoa... Tất cả còn nguyên vẹn, nhưng sao lòng mình trống trải.

Có tiếng gõ cửa quen thuộc. Anh hiện ra, gầy và xanh đi nhiều. Ôi, nếu không có những vướng mắc đang đòi hỏi cả hai phải nghiêm túc giải quyết, mình đã ôm chầm lấy anh như xưa. Nhưng mình đã nén được. Trước sau cũng phải một lần sòng phẳng. Nếu cả hai vượt qua được thử thách này, hạnh phúc sẽ càng bền chặt hơn nhiều. Mình hy vọng như vậy.

Có lẽ đọc được những xúc động trên nét mặt mình, nên anh quyết định tấn công ngay. Anh để nguyên cả áo khoác ngoài ngồi xuống ghế:

- Anh xin hỏi lại em một câu thôi: Em vẫn giữ quyết định ấy chứ?

- Thì anh bỏ áo khoác ra đã nào. – Mình bình tĩnh mỉm cười: - Anh làm như hỏi em xong một câu là anh bỏ đi ngay ấy. Chúng mình đã đạp gần trăm cây số về đây lẽ nào lại không dành được mấy phút để nói chuyện cặn kẽ với nhau hay sao. Anh vẫn cho là em trẻ con trong quyết định này à?

- Không phải trẻ con nhưng cũng không phải là người lớn.

- Vì sao vậy?

- Em vẫn chưa thoát ra khỏi cái thế giới sách vở mộng mơ của em. Em nên biết, cuộc sống thật phức tạp và khắc nghiệt hơn nhiều.

- Em chưa hề nghĩ là nó đơn giản và dễ dàng.

- Em hãy cho anh biết: Em dạy ai ở ngoài mặt trận? Ở đấy người ta cần bàn tay, đôi vai, chứ không cần đến khối óc của em. – Có lẽ chưa bao giờ anh nói bằng cái giọng như thế với mình, dằn từng tiếng và thách thức.

- Anh quên rằng em cũng có bàn tay và đôi vai như mọi người hay sao? Em có thể làm bất cứ việc gì mà mặt trận cần đến. Vả lại, chiến tranh là công việc của con người, mà con người không chỉ hành động bằng tay mà còn cần đến bộ óc, rất cần là đằng khác. Cũng như nghề y của anh, chắc anh không thể cầm cái dao mổ như một cái máy.

- Chiến tranh, tất cả chỉ tại cái cuộc chiến tranh chết tiệt này.

- Anh nói chỉ đúng một nửa thôi. Chúng mình không ai muốn chiến tranh cả, nhưng kẻ thù đã bắt chúng mình phải cầm súng.

- Cái thứ chính trị ấy của em, nói thì dễ lắm, nhưng làm thì khó đấy.

Anh nói vậy và đứng dậy.

- Thế còn anh thì sao? Anh cũng có thể cần phải ra trận cơ mà? Nhất là chuyên khoa ngoại của anh. – Mình hỏi rất thật.

- Anh cũng phục vụ mặt trận, nhưng bằng những phương tiện khác, cứu chữa một lúc cho rất nhiều người.

- Không phải bằng con dao của anh à?

- Một ít thôi. Chủ yếu là bằng khối óc.

- Em không hiểu.

- Có một người quen cho anh biết là anh sẽ được giữ lại công tác ở một cơ sở thực hành và nghiên cứu ở Hà Nội. Có thể anh sẽ được đi học thêm ở nước ngoài. - Những câu này anh nói rất nhanh nhưng rõ ràng, mắt nhìn đi nơi khác. Nhưng mình biết là anh vẫn theo dõi thái độ của mình. Có phải đây là đòn tấn công cuối cùng của anh không? Sự thể có thế thật hay anh bịa ra? Có lẽ anh đã nói thật. Nhưng điều đó có giúp ích gì được cho mình đâu.

 Anh Ngọc



Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 18 Tháng Tư, 2011, 09:05:03 am
                   Trong lòng địch    
                   Tác giả : Nguyễn Lai

LTS: Đồng chí Nguyễn Lai (Nguyễn Tùng Thiện) nguyên đại tá thuộc Tổng cục tình báo Bộ tổng Tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam có gửi đến Tòa soạn Tạp chí Văn nghệ Quân đội bản thảo cuốn hồi ký dài viết về những tháng năm ông cùng đồng đội vượt biển vào Nam hoạt động trong lòng địch. Trong thư gửi kèm theo đồng chí Nguyễn Lai ghi rõ: “Đây là những sự kiện đã được kết luận và xác minh qua kiểm tra của Quân ủy Miền” và có nhã ý tặng các nhà văn quân đội làm “tư liệu sáng tác nếu thấy có giá trị ít nhiều”.
Ban biên tập đã đọc và thấy đây là một cuốn hồi ký có giá trị, trong phần văn xuôi số này xin gửi đến bạn đọc một vài đoạn trích từ những ghi chép về cuộc đời hoạt động tình báo của đồng chí Nguyễn Lai.

Xem bói

Tôi không nhớ rõ tháng ngày xảy ra câu chuyện. Chỉ nhớ đó là khoảng sau khi xảy ra chiến dịch “Lam Sơn 719” của Mỹ. Tôi có nhiệm vụ vào nội thành Sài Gòn xác nhận, đánh giá cậu Trung úy thủ khoa Hành chính Quản trị Bộ Tổng Tham mưu quân ngụy Sài Gòn và một vài cơ sở khác.

Sau khi làm xong việc, đúng ngày hẹn tôi phải đi xe đò về Bến Tre và theo đường 26 đi Giồng Trôm, ghé lại Lương Quới vờ xem bói rồi “đi thăm chị” để trở vào căn cứ.

Nhà ông thầy bói tên Tư Oanh ở cạnh đường 26 gần cầu Kinh. Từ phà Rạch Miễu có chị giao thông viên bí mật tên Năm sẽ đi với tôi với hình thức là hai người không quen biết. Chỉ khi ra hiệu cho nhau và khi đến nhà ông Tư, lúc không có người lạ mới nhận “cậu, cháu” và cậu “về thăm mẹ cháu bị bệnh”, cháu sẽ đưa cậu lên ghe tam bản, chèo vào căn cứ.

Tôi đến phà Rạch Miễu đã 2 giờ chiều. Đứng đợi chị Năm theo kế hoạch. Đợi hoài, đợi mãi mà không thấy chị đâu. Tôi vào quán nước, gọi một chai nước cam. Uống chậm rãi, chờ đợi. Nhưng nước thì hết mà giao thông viên vẫn chưa thấy. Không lẽ ngồi mãi hay sao? Lại gọi thêm 1 chai nữa. Có lẽ cũng không giống ai. Cứ ngồi vậy hết chuyến phà này cập bến đến chuyến phà khác. Người, xe, phà đi lại sôi động. Còn tôi ngồi bất động. Bụng như có lửa.

Một giờ đã trôi qua. Ngồi mãi bọn mật vụ, thám báo nhan nhản sẽ sinh nghi. Ở đất miệt vườn, ngồi đọc báo cũng là chuyện nghi ngờ của bọn này. Tôi quyết định lên xe đò đi Giồng Trôm. Lúc này đã 15 giờ. Đường không quá xa, chừng 20 - 30km. Trên đường vắng tanh. Lúc này ai cũng lo về nhà, cơm nước, chuẩn bị đối phó với pháo bầy, pháo mồ côi không biết bắn vào nhà mình lúc nào. Đất “tự do oanh kích” mà. Hầm hào phải có sẵn và nằm ngủ bên miệng hầm.

Xe chạy đến gần cầu Kinh xã Lương Quới. Tôi xuống xe tìm nhà hỏi thăm thầy Tư xem bói. Làng mạc xơ xác, vắng tanh. Trên lô cốt sát cầu Kinh một khẩu đại liên MG họng súng đen ngòm hướng thẳng theo đường quốc lộ. Người duy nhất tôi gặp trên đường là một trung úy đi xe hon đa 90 từ bốt gác ra.

Tôi đến nhà thầy Tư. Có lẽ bà con thập phương đến đây xem bói mong tìm lời phán truyền “an cư, lạc nghiệp” trong thời buổi chiến tranh chết chóc này cũng không ít. Bước qua sân nhìn vào gian giữa: bàn thờ khói hương nghi ngút. Không khí thật im ắng.

Nhưng vừa bước qua cửa, nhìn sang gian bên phải bàn thờ thì tôi không khỏi giật mình. Một tốp lính rằn ri với súng ống trong tay, mấy máy bộ đàm PRC 25, cần ănten nhô lên. Lính ngồi im lặng chỉ có tiếng liên lạc qua máy của tên thiếu úy.

Tôi thoáng nghĩ: Mật phục chăng? Mật phục ai đây? Mình ư? Dù sao cũng phải hết sức bình tĩnh thực hiện đúng kế hoạch. Vào xin xăm và coi như không có tốp lính ngụy ở gian bên. Tôi thấy có một vị trung niên, tóc búi, mặc đồ bà ba màu xám đang đi lại bên bàn thờ. Tôi ra chiều mừng rỡ, muốn xóa cái không khí im lặng nặng nề này:

- Kính chào bác Tư. Nam mô ai di đà phật! Tôi có chuyện muốn thưa với thầy nhờ thầy giúp đỡ.

- Ông có gì cứ nói - Bác Tư dừng lại bên cạnh tôi.

- Thưa thầy! Chẳng giấu gì thầy, tôi có 2 thằng con trai tòng quân ở vùng I chiến thuật. Chúng báo cho biết nó đã đi qua Lào chiến đấu chống Việt Cộng. Không rõ hiện nay sức khỏe nó ra sao. Nhờ thầy cho tôi xin một quẻ.

Thầy Tư bảo tôi cho biết tên hai đứa, ngày tháng năm sanh. Rồi thầy lấy ống thẻ ra, bảo tôi quỳ xuống, lắc ống thẻ. Tôi lấy thẻ văng ra ngoài dâng thầy, thầy cầm xem và phán:

- Hai thằng con ông, một bị bắt, một bị thương nhẹ. Đứa bị bên kia bắt coi như khỏe rồi. Còn thằng bị thương nhẹ chắc sẽ về thôi.

Tôi giật mình với câu “bị bên kia bắt, coi như khỏe rồi”. Chỉ có người cảm tình với cách mạng mới dám nói ra ý này, mà nói ra trước tốp ngụy khác gì đòn tâm lý. Tôi không rõ ý định của thầy Tư ra sao.

Lúc này việc bại trận của cuộc hành quân Lam Sơn 719 đã đồn vang. Lính chết, bị thương la liệt đã dấy lên sự lo lắng trong xã hội và quân đội ngụy. Tên nào cũng lo sợ bị đưa ra đường 9 - Nam Lào.

Thầy Tư mới mời tôi ngồi uống nước. Tôi cũng nhân dịp tâm sự về gia đình, vợ con “lo phát ốm”. Bọn lính ngồi đó không làm gì cũng ngồi nghe hai bên trò chuyện. Tôi cũng không biết việc này kết thúc ra sao, cảm thấy đối tượng mật phục không phải là tôi. Vì nếu là tôi, chúng không thể để yên cho tôi đàm đạo với thầy Tư. Cuối cùng cô Năm từ sau nhà bước ra. Trong bụng tôi mừng quá như trút được một gánh nặng vì bị ức chế cả ngày nay. Tuy vậy tôi cũng hết sức tự nhiên, không muốn để bọn lính Ngụy nghi ngờ.

- À, cháu Năm. Mẹ cháu khá chưa? Cậu định đi Bình Đại, nhưng nghĩ lại muốn vào thăm mẹ cháu nên xuống xe thăm thầy Tư đây. Con thu xếp đưa Cậu vào thăm mẹ cháu kẻo tối rồi, đi lại khó khăn.

Chị Năm cũng bình tĩnh, cúi chào tôi vừa nháy mắt ý muốn tôi phải chấm dứt việc trò chuyện với thầy Tư và thưa:

- Cậu ơi! Mẹ cháu khá rồi và bả rất mong cậu đó.

Tôi cũng sửa soạn lại đồ đạc, cúng một ít tiền rồi chào thầy Tư.

Vừa khi, trùng hợp lúc đó, máy PRC 25 phát đi lệnh của đại đội trưởng yêu cầu trung đội tập trung về ăn cơm. Vậy là bọn lính cũng xôn xao, sửa soạn súng ống trong thế ra về.

Cô Năm đưa tôi ra rạch phía sau nhà và dùng xuồng đưa tôi về căn cứ. Cô cứ thanh minh là bị lính kèm riết nên không đi đón tôi được.

(Tháng 2-2009 tôi có tìm về nhà ông thầy bói. Nhà vẫn còn trên mảnh đất đó, con ông đã chuyển ra lô 26. Ông Tư Oanh đã mất và con ông cho biết ông Tư lúc còn sống là người có cảm tình và đã nhiều lần giúp đỡ cho cách mạng).

Một lần thoát hiểm

Sông Nhơn Trạch chảy ra sông Giồng Trôm sát thị xã Bến Tre và chia cắt mảnh đất ra hai phần ở sát vàm (đầu sông): bên phải là xã Nhơn Thạnh, bên trái là xã Mỹ Thạnh. Hai xã này là vùng căn cứ. Nhưng đầu vàm, sát sông Giồng Trôm là vùng hai bên làm chủ. Ban ngày: Ngụy. Ban đêm ta về hoạt động. Đây là cửa ngõ ra vào để thâm nhập thị xã Bến Tre và sau đó là Sài Gòn, Cần Thơ, Mỹ Tho. Dân ở đây ta nắm không chắc, không phân loại được, địch ta lẫn lộn. Tôi đi công tác vào Sài Gòn cũng từ cửa ngõ Mỹ Thạnh và trở về thì qua đất Nhơn Thạnh.

Trước đây có lần tôi đi qua An Hóa bằng ghe từ sông Nhơn Thạnh qua kinh Chẹt Sậy, còn đi bộ thì chưa.

Kế hoạch như sau: tôi đi xe đò từ Sài Gòn về Bến Tre sau đó đi xe lam về ngang gần cầu kinh Chẹt Sậy. Xuống xe đi dọc theo đường nhỏ cặp mé sông đến nhà ông hai Cao Đài (cha của năm Khoa - cán bộ quân báo Mỹ Thạnh). Ông sẽ đưa tôi qua Nhơn Thạnh bằng ghe máy và từ đó lội bộ vào sâu đất Nhơn Thạnh, gặp ghe bà con làm ăn xin qua sông, đến căn cứ H69. Căn cứ lúc này ở vạt mía của vợ chồng anh cụm phó Nguyễn Văn Tâm sát mé sông Nhơn Thạnh.

Sau khi làm việc xong ở cơ sở trong Sài Gòn. Tôi lên xe đò ra về. Y theo kế hoạch tôi xuống xe ở đầu kinh Chẹt Sậy. Tôi xuống xe, gặp ngay một bãi cỏ trống. Một tình huống bất ngờ, một xe Jeep truyền tin của quân Sài Gòn đã nằm tại đó. Chúng nó đang liên lạc với ai đó qua máy bộ đàm. Có lẽ việc này tôi thấy cũng bình thường và cũng thiếu cảnh giác nên không chú ý. Tôi đi ngang qua vạt đất theo đường mòn cặp mé sông và đi vào xóm bờ sông của thị xã Bến Tre. Dân cư ở xóm này chủ yếu là người ở các xã lân cận, chạy giặc tránh bom đạn về đây dựng nhà tạm bợ để trú ngụ. Nên khi hỏi nhà ông Hai Cao Đài tôi cũng không gặp khó khăn gì. Ông là một ông già quắc thước, một chức sắc trong đạo Cao Đài, ở Mỹ Thạnh ông có một khu vườn rộng, một nhà thờ Cao Đài tuy đã bị phá hủy nhưng nền nhà còn lại cho tôi biết là một nhà khá lớn.
 

 


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 18 Tháng Tư, 2011, 09:08:35 am
                    Tiếp theo
Tôi đã từng gặp ông Hai nhiều lần trong căn cứ. Gặp tôi ông rất tôn trọng khách và buộc tôi phải dùng cơm trưa với ông, xong ông sẽ đưa tôi qua sông vào đất Nhơn Thạnh.

Chừng xế trưa, ông đưa tôi xuống bến, lên một chiếc thuyền không mái khá to. Ông tự nổ máy và điều khiển thuyền vượt sông, hướng vào rặng cây bần, cây gừa, sát vàm sông Nhơn Thạnh.

Khi ngồi trò chuyện, tôi hỏi ông tình hình bên Nhơn Thạnh và việc có chiếc xe truyền tin của quân ngụy ở bãi cỏ đầu kinh Chẹt Sậy có gì bất ổn không? Ông bảo không có gì đâu. Bà con trong căn cứ ra bán rau, quả cho biết mọi việc đều yên ổn.

Qua sông rồi, thuyên giảm tốc độ và ghé vào rặng cây sát một chòi lợp lá dừa nước bên cạnh. Ông cắm sào, giữ thuyền ổn định, chỉ cho tôi con đường mòn đi vào bên trong và bảo “chú yên tâm, không có gì”. Xong ông đẩy ghe ra và nổ máy đi về hướng Giồng Trôm.

Tôi bước xuống hàng cây và ghé vào chòi lá, ý định muốn hỏi thêm tình hình. Tiếng máy thuyền nổ to đã làm cho mấy con chó trong nhà sủa vang. Tôi là khách lạ vào nhà nên chúng nó càng ra sức sủa.

Tôi bước vào nhà. Thật bất ngờ tôi gặp ngay mấy người trong nhà đang đứng dậy và ai cũng im lặng không ai chào mặc dù tôi đã chủ động chào chủ nhà. Tôi nhìn thấy trong nhà có một bà quen quen tôi đã từng gặp đôi lần trong căn cứ. Đó là bà chín Hương thường đi thuyền vào mua trái cây, đem ra Bến Tre bán. Bây giờ tôi mới biết nhà bà. Và bà ở bên nào trong cuộc chiến này, tôi cũng chưa biết. Tôi chào bà lần nữa “chào chị Chín. Trỏng có yên không chị?”

Im lặng.

Ủa sao kỳ vậy? Sao không ai nói gì trong lúc đàn chó vẫn sủa và cũng không ai bảo chúng “im đi”.

Tôi cũng đứng sững một lúc khá lâu. Tôi nhìn chủ nhà. Nhưng chủ nhà lại nhìn vào một nơi khác và im lặng. Tại sao lại có chuyện hai người điếc gặp nhau? Có chuyện gì vậy?

Đàn có lúc này đã hết sủa và tôi chỉ còn ra khỏi nhà hướng vào đường mòn. Thú thật, tôi cũng không nghĩ đến có địch ở bên trong. Một ngu xuẩn và thiếu cảnh giác nghiêm trọng.

Tôi đi theo đường mòn, qua một đám ruộng khô hoang khoảng 50 mét, vào một hàng chuối lơ thơ, và sau cùng là một hàng rào bông bụp chạy dọc theo đường mòn. Bên trong hàng rào thấy một mái nhà tranh. Hàng rào bông bụp dài chừng hai mươi bước, ở giữa cách quãng làm cửa ngõ. Tôi bước mấy bước đầu tiên theo hàng rào và theo quán tính tôi nhìn vào mái nhà bên phải tôi. Từ hàng rào đến ngôi nhà phải qua một sân hẹp chừng mươi bước.

Trong khi chân đang bước thì mắt tôi đập vào một mục tiêu di động: một tên lính ngụy mặc áo rằn ri, lăm lăm ở tay một khẩu súng AR15 và đang đi giữa sân, hướng vào nhà.

Ngỡ ngàng! Mật phục!?

Câu hỏi vụt đến: Đi nữa hay quay lại! Quyết định sao đây?

Câu trả lời là phải tiếp tục đi, đi nhanh, đi nhẹ. Vì tôi thấy tên lính ngụy còn cách xa nhà, xa hơn tôi cách cửa ngõ. Vậy khi tôi đi qua cửa ngõ nó cũng chưa đi đến nhà, và nếu nó quay lại thì tôi đã đi qua ngõ rồi. Hàng rào sẽ che mắt nó, nó không thể thấy kịp và tôi đã đi vào lùm chuối phía sau.

Cái quyết định của tôi tính trong chớp mắt và không biết các nhà tâm lý học phân tích thế nào. Chứ tôi thấy quyết định này là một quyết định tổng hợp của sự tính toán lý trí, bản năng sống và cả sự chấp thuận hy sinh nếu tên lính thấy tôi, nhả đạn. Phía trước là căn cứ, là đất sống, phía sau là nhà Bà Chín Hương, sông Giồng Trôm, là thị xã Bến Tre, không phải là nơi an toàn.

Viết ra thì quá dài chứ thực tế chưa đến 30 giây! Và tôi đã quyết định hành động đúng. Tôi qua được cửa ngõ, vào được vườn chuối. Và không có băng đạn AR 15 găm vào sau lưng tôi.

Qua lùm chuối, đến một nhánh sông Nhơn Thạnh, ngồi kín đáo, tôi chờ có thuyền qua lại, xin quá giang. Tôi qua được sông, đi vào căn cứ của H69, cũng không xa nơi tôi bị mật phục. Tim tôi không đập mạnh. Tại sao? Không phải tôi không hồi hộp. Nhưng có lẽ lý trí tập trung quá, căng thẳng nên thần kinh tim không huy động được.

Kể lại mọi chuyện ai cũng mừng cho tôi. Hú vía! Hú vía! Tôi nói cũng nhờ đàn chó của bà chín Hương sủa dai dẳng và chấm dứt khi tôi chuẩn bị đi vào đường mòn.

Ngồi hình dung lại: Quay lại đoạn phim tôi vào nhà bà Chín. Chó sủa dai dẳng buộc bọn mật vụ đang ở (hoặc đang ngả lưng trong nhà) cho một tên ra coi chuyện gì xảy ra. Tên này cũng loại quan liêu, chỉ cần ra đến cổng thôi. Trong lúc đó chó không sủa nữa. Và tôi phải đi qua một đám đất 50 mét, vườn chuối 20 mét. Vị chi có khoảng một thời gian im lặng chừng 5 phút. Chừng ấy phút đã giải thích cho tên lính đi ra cổng là không có gì. Không có Việt cộng gì ráo. Thôi lại vào ngủ hoặc đánh bạc cũng nên! Vì vậy tôi thoát nạn.

Nhưng có một điểm chưa rõ là lính ngụy vào đây bằng đường nào? Và xe máy truyền tin đang liên lạc với ai? Vậy có lẽ lính ngụy bí mật đã đi từ nơi có xe truyền tin, đi qua sông, qua nhà bà Chín và đi vào đây. Cho nên bà Chín quá kinh ngạc biết địch bên trong mà tôi lại chui vào. Không dám nói, nên cứ “muốn nói mà không nói được như “gà mắc tóc”.

Sau này (tháng 12-2009) tôi có tìm lại bờ sông nơi bị lính mai phục. Ba mươi tám năm rồi, địa hình địa vật và con người đã thay đổi. Tuy vậy tôi vẫn được thấy nơi chòi có chó sủa, con đường hẻm vào nơi lính mai phục nhà vườn có hàng rào bông cẩn. Người dân cho biết chòi trái cây là của ông Tư Rê, ông đã chết. Bà Chín Hương có chòi cùng nghề ở bờ sông đối diện và đã chết. Nhà có hàng rào bông cẩn là của ông Tám Điệp.

Bị bắt và ra tòa án binh xét xử

Tôi bị bắt vì mang thẻ căn cước giả. Bị giam giữ ở nhiều nơi, từ bót Nguyễn Văn Tố, phòng giam của Cảnh sát đặc biệt đến nhà lao Chí Hòa.

Một hôm quản tù gọi tôi bảo ngày mai vào phòng “giảo hình”. Giảo hình là gì? Chưa nghe bao giờ, có cảm giác kinh kinh. Nhưng đây chỉ là động tác kê khai lại lý lịch. Đến mục khai khi cần báo tin cho ai, tôi nói không nhà cửa, người quen. Hai tay thư ký nhìn nhau và nhìn tôi rồi nói: “Ông này mà là loại vô gia cư à?”. Cuối cùng nó cũng ghi nội dung như vậy. Tôi vào lao Chí Hòa không gặp rắc rối gì. Có lẽ hồ sơ đã hoàn tất, các cấp phê duyệt. Chỉ còn tòa án sắp xếp chương trình để xử. Ngày 21 tháng 2 năm 1972, quản tù thông báo ngày mai sẽ đưa tôi ra tòa. Tôi bị tòa án quân sự  lưu động vùng 3 chiến thuật số 3 đường Bạch Đằng xét xử. Bạn bè tội phạm mừng cho tôi và khuyên dặn phải cẩn thận.

Đó là tòa nhà cổ một tầng. Bên trong bày mấy dãy ghế ngồi bằng gỗ lim đen kịt và nặng nề. Bên trên như là sân khấu gồm bàn ghế chủ tọa, thư ký, luật sư và vành móng ngựa. Một không khí lạnh lẽo và quy tắc bao trùm. Đến giờ khai mạc phiên tòa viên lục sự (thư ký tòa) báo cáo có 14 phạm nhân. Tôi nhớ trong đó có 3 nữ phạm nhân là tiếp tế cho Việt cộng, 2 phạm nhân là lính đã giải ngũ của Quân đoàn 4 nhưng dùng căn cước sai quy định, 1 phạm nhân là tôi dùng căn cước giả.

Lục sự sắp xếp thứ tự đề nghị xét xử: tội nhẹ xử trước, nặng xử sau. Ông ta dự định đưa tôi ra xét thứ 14 là tội nặng nhất.

Nhưng ông chánh án trung tá Thành (ở dưới tôi nghe và thấy phù hiệu quân hàm của ông) đã sắp xếp lại. Tôi bị đưa ra xét ở số thứ tự 7. Tên lục sự thưa chánh tòa: “Tên Thiện này nặng nhất nên đưa vào số 14”. Nhưng chánh án gạt đi và bảo: “Ông lục sự thực hiện theo sắp xếp của tôi. Cứ vậy mà thi hành”. Tôi nghe ông nói giọng Quảng Bình - Quảng Trị.

Tôi được đưa lên số thứ 7 với hai người lính đã hết hạng quân dịch nhưng đi lại bằng căn cước quân đội. Tôi cũng hết sức bất ngờ và lại suy nghĩ ông Thành là ai? Đến khi tòa gọi 3 người ra vành móng ngựa, hai người lính kia nhận có sai sót chưa làm căn cước dân sự mới. Đến tôi, chánh án hỏi:

- Ông Thiện, tại sao làm giấy tờ giả đi vào Sài Gòn để làm gì?

- Thưa ông chánh án, xin ông xét lại cho, tôi là nạn nhân chiến cuộc ở Quảng Trị, tôi chạy vào Sài Gòn bị mất giấy tờ. Bây giờ tôi muốn trở ra tìm vợ con nên nhờ người mua căn cước. Ai ngờ là giấy giả. Do vô tình mà phạm tôi xin tòa lượng thứ.

Chánh án hỏi luật sư biện hộ: “Ông luật sư có ý kiến gì không?”. Lúc này tôi mới biết tòa án có cử cho tôi một luật sư biện hộ. nhưng tôi chưa bao giờ được tiếp xúc với luật sư. Luật sư nói: “Thưa chánh tòa, ông Thiện là nạn nhân chiến cuộc, ông chạy loạn bị mất giấy tờ căn cước nên có sai phạm là mua căn cước giả để tìm đường về quê. Xin tòa cho ông tại ngoại để ông về quê làm giấy tờ và sum họp cùng gia đình”.

Một điều rất lạ là sau khi nghe báo cáo trình bày và luật sư biện hộ, ông chánh án nói với ba chúng tôi:

- Tôi nói cho ba anh biết, sau này về, ba anh phải đi làm giấy tờ căn cước ngay chứ không được đi lại với giấy hiện nay.

Tòa chưa luận án mà chánh án nói như vậy khác gì chánh tòa đã sơ bộ thông báo kết luận là tha cho 3 người.

Quả thật sau khi xử xong 14 bị cáo, tòa họp và luận tội: Hai anh lính được tha bổng. Còn tôi bị 3 tháng tù treo. Tôi cũng chú ý nghe lời kết tội của tòa và lời tự biện hộ của 3 nữ phạm nhân can tội tiếp tế cho Việt cộng. Tôi nghe các chị nói: “Các ông có buộc tội tôi bao nhiêu cũng không quan trọng. Vì các ông còn ở đây đâu mà giữ chúng tôi trong tù”.

Từ ngày bị bắt đến nay cũng đã 3 tháng thiếu 3 ngày. Như vậy 3 ngày nữa tôi được tự do.


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 18 Tháng Tư, 2011, 09:10:46 am
                                       Tiếp :Tôi cứ thắc mắc không rõ ông trung tá Thành là ai? Có quan hệ gì với ngành? Sau này anh Ba Quốc cho biết: Đơn vị không có quan hệ gì với ông Thành cả. Có thể đây là tâm lý dao động trước hiệp định Paris sắp ký của các nhân viên chính quyền Sài Gòn.

Câu chuyện ngụy trang phù hợp với thực tế xã hội, diễn biến chiến sự ở Đông Hà - Quảng Trị lúc đó cũng làm cho bọn cảnh sát an ninh bất lực (ta đã chiếm Đông Hà - Quảng Trị nên mọi điều tra đều không thể làm được). Hết sức tránh các vấn đề dính líu đến chính trị thì những người bình thường trong bộ máy ngụy quyền có cảm tình với ta, có thể giúp đỡ được.

Sau khi ở tòa án về và được thông báo kết quả, các bạn tù trong nhóm đều vui mừng cho tôi. Tuy vậy có một người đã nói: “Bác cẩn thận, nếu hồ sơ của bác không cho phép tòa án xử nặng bác thì bọn an ninh quân đội sẽ bắt cóc bác đưa về giam không xét xử và thời gian giam là vô tận. Ở Chí Hòa thường thả tù vào buổi chiều. Nếu ra cổng bác thấy có xe an ninh quân đội đứng chờ là điều rất nguy hiểm đó”.

Ngày 24 tháng 2 năm 1972, tôi được ra tù. Thật bất ngờ là ngày này trùng hợp với ngày sinh nhật của con tôi và không có xe nào của an ninh quân đội ngụy đứng chờ cả.

Lời kết

Là một cán bộ điệp báo nhưng khi thì tôi ở trong đô thị làm công việc của ngành: xây dựng lực lượng, giáo dục chính trị, bồi dưỡng nghiệp vụ, chỉ đạo hoạt động; khi thì tôi ra sống với anh em ở vùng ven trong cụm điệp báo, trở thành một cán bộ chỉ huy của lực lượng vũ trang tham gia cùng địa phương chống càn quét, bắn tỉa, bao vây đồn bốt giặc...

Tôi được đi nhiều, sống nhiều ở những môi trường chính trị đối lập nhau và tôi cho rằng những năm 1968 - 1972 là những năm tôi sống và hoạt động phong phú nhất, vượt qua nhiều nguy nan nhất, tự rèn luyện nhiều nhất, thấy rõ mình là ai nhất. Tuy vậy tôi cũng không dám tự cho là tôi đã chịu đựng được những thử thách cao nhất. Tôi chỉ nghĩ rằng qua thử thách cụ thể trong thực tế tôi đã trụ vững để vượt qua. Còn thử thách cao hơn? Tôi chưa gặp và chưa thể nói như đinh đóng cột là mình sẽ vượt qua. Trong phần kể lại các câu chuyện, tôi có nói đến yếu tố may mắn. Tôi không chờ đợi yếu tố may mắn vì nó sẽ chi phối suy nghĩ của tôi. Nhưng người nào trong công việc hằng ngày lại không mong đến sự may mắn? Có người nói: Nếu có đủ tài năng thì cần gì đến may mắn? Có người lại nói: “Có đến sáu mươi phần trăm việc thành công đều nhờ may mắn?”. Tôi bị địch phục kích, nhưng may mắn là tên lính ngụy quay lưng vào nhà, nên nó không thấy tôi và tôi đi thoát. Có phải là may mắn không? Gặp sóng Lưỡi Búa nếu cơn sóng thứ hai là cơn sóng mạnh thì thuyền đã chìm. Nhưng cơn sóng thứ hai yếu nên nước tràn vào ghe, chưa đủ sức để ghe chìm. Vậy có phải may mắn không? Qua kênh Dương Văn Dương, do lạc đường, đơn vị tôi từ vị trí hành quân ở cuối trở thành đi đầu, vượt qua được kênh an toàn. Còn đơn vị đi đầu lại thành đơn vị đi cuối và bị thiệt hại rất nặng. Ai gặp may? Ai gặp rủi? Nói chuyện này để thấy ngoài bản lĩnh con người còn có yếu tố may rủi tức là điều kiện khách quan chi phối. Xin đừng nghĩ rằng đây là duy tâm mà phải xem xét sự việc một cách khách quan cả nội lực và cả yếu tố khách quan cộng lại.

 

NGUYỄN LAI


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 18 Tháng Tư, 2011, 09:20:42 am
                           Trên mái nhà người phụ nữ
                           Tác giả :  Dạ Ngân

Chiến tranh dưới góc độ nào cũng vẫn là chiến tranh. Con người đã đi qua nó như thế nào, đó là câu hỏi mà văn học có thể trả lời được.
Trong cuộc kháng chiến thứ hai (1954 - 1975), không người dân nào có thể đứng bên ngoài nó. Người phụ nữ càng phải đóng nhiều vai.

Cho đại cuộc, cho niềm trắc ẩn mẫu tử và cho nỗi tự nhiên đàn bà của mình nữa. Thực sự có những công việc không tên, không cần ghi nhận và sau đó, nó để lại dư vị lạ kỳ không bao giờ có nữa ở thời không chiến tranh. Nhưng đâu chỉ có vậy, đâu chỉ có hy sinh, vô tư và hiện thực. Bên dưới đổ nát là gì, là một khoảng trống của đau thương. Bên trên đổ nát là gì, nhất là với những người đàn bà vừa trút ra khỏi vai bao nhiêu là gánh nặng? Cũng là khoảng trống nốt.
Thật không đành lòng nếu như chưa đặt bút về đối tượng đó. Ở đâu cũng nhìn thấy nỗi niềm phụ nữ, đó là vẻ đặc sắc Việt Nam. Tôi viết như được thôi thúc bởi chị bởi em quen thuộc trên những nẻo đường tôi qua. Đó là truyện ngắn nhiều hư cấu nhất mà tôi tự tin một cách khác thường, khi viết.
                                                                                   Lời tác giả.

     Khi bắt gặp nụ cười run rẩy trên môi đứa con gái, chị cảm thấy tức thì về cuộc sống hiu hắt của mình, cảm giác rõ ràng như đang đêm mà ngọn đèn duy nhất trong nhà tắt phụt.
Đó là lúc nó, con Thảo lẫm chẫm của mười tám năm trước, lấn qua lối gặt của chị, bàn tay tháo vát túm một lượt hai bụi lúa rồi xiết một đường hái ngọt xớt, để lại trên đầu rạ vết cắt không bình thường, lởm chởm hàm chó.
- Độ rày trời mau tối quá chừng!
Nó nói, cái giọng rụt rè mà như lưu ý chị. Quả thời tiết cuối năm còn chịu ảnh hưởng của tháng mười chưa cười đã tối, nhưng lúc con gái chị đứng sững lên băn khoăn nhìn trời thì chiều còn roi rói.
Một buổi chiều như mọi buổi chiều khô ráo trong mùa gặt. Cánh đồng bỗng hực vàng xối xả, không trung lả tả chim lá rụng và chân trời sau ven lá dừa nước bên kia sông lựng đỏ như một mẻ than khổng lồ. Chung quanh bốc lên mùi nồng ngái muôn thuở của rơm rạ, mặt đất se se dưới chân mát rượi màu xanh của rau đắng đồng, rau bợ và vài thứ cỏ linh tinh khác mọc len lỏi giữa những hàng lúa. Kéo khăn rằn trùm đầu xuống cổ, nghe hơi gió mát lạnh mang tai, chị biết nước sông đang rong bờ và lục bình đang nao nao đổ vào cái eo vịnh cong như sợi dây cung bên xóm.
Hai Mật nhận thấy đôi tay quán xuyến của con gái cũng có cái gì đó nao nao. Một chân chồm hẳn qua bên chị, nó thâu tóm về mình một lối lúa có tới mười lăm buội. Chiếc áo bà ba màu khói đã cũ dán vào lưng hằn một đường eo chắc lẳn hồng hồng. Hai cánh tay thon thon vung vẩy khéo léo và hấp tấp như đang múa. Tiếng hái ăn rạ ròn khướu như tiếng trâu ăn cỏ. Lát lát nó ngẩng mặt lên nhìn vạch chấm hết lối gặt là cái bờ mẫu với những cụm bông mắc cỡ tím rưng rưng chen bên những bụi cỏ đuôi gà. Phải chật vật lắm chị mới theo kịp con dù nó chỉ dành cho chị một lối lúa hèm hẹp. Chưa bao giờ chị thấy con quyết liệt và bồn chồn như vậy. Khi đặt nắm lúa cuối cùng xuống. Khi đã không quên dùng hái khoèo những bông lúa vung trên bờ mẫu để tránh chân người, nó ngoảnh nhìn chị, ánh mắt chờ đợi và thăm dò. Chị thử làm thinh. Không giấu nổi sốt ruột, nó buột miệng:
- Nữa hay về, má?
Chị nheo mắt kín đáo quan sát con. Đầu nó cúi thấp, miệng nhấm nhá một cách vô bổ cọng rạ trong trong, chót mũi rám nắng lấm tấm mồ hôi hột, cả người nó căng thẳng trong sự chờ đợi khổ sở. Chị chợt hiểu và cảm thấy hoảng sợ với ý nghĩ không bao lâu mình sẽ làm bà ngoại. Đã trù tính hết mọi chuyện nhưng khi nó đến chị lại bị bất ngờ như là nó ập đến. Thời gian mới nghiệt ngã làm sao! Chị thì vẫn trinh nguyên mà con gái chị sắp không còn con gái nữa. Nếu là người dứt ruột đẻ ra nó chắc hẳn chị đã vui mừng và lo âu trước sự bắt gặp này. Ngược lại, trái tim son rỗi của chị bỗng dưng đập những nhịp đập đồng cảm bạn bè với cô con gái.
- Về thôi, con.
Vừa nghe mệnh lệnh hào phóng ấy. Thảo vứt ngay cọng rơm, mỉm cười và bước né qua mặt chị, cái lưỡi hái trên tay quạt ràn rạt trên đầu rạ. Không thể vù chạy vì có chị nên dáng đi của nó gây tức cười trong vẻ cố ý nghêu ngao. Đáng nói là nụ cười của nó, nụ cười run rẩy như một đoá quỳnh xoè nở, nụ cười không giấu nổi cái hạnh phúc trinh nguyên, nụ cười thú nhận sự chuyển hoá từ cái nụ bỗng dưng thành cái bông nở ra kỳ hết, nụ cười thú nhận cái vẻ phụ nữ trọn vẹn của mình. Đứa con gái cứ đi và cứ cười, còn người mẹ thì lủi thủi theo sau và cứ hiểu theo cách hiểu của một người đã trải qua cả tâm trạng ấy.
Trong đời người phụ nữ ai cũng có ít nhất một lần cười cái nụ cười của Thảo đang cười. Đó là lúc cô ta được giải thoát khỏi công việc và trong đầu ngợp những hình ảnh về cuộc gặp gỡ với cái người đang thập thò ở chỗ hẹn nào đó. Lần đầu tiên ấy, lần đầu tiên thôi, cô gái là một đoá quỳnh trong đêm giao thừa của đời mình.
Hai Mật nhớ lại thời trẻ, cái thời chính mình cũng cảm thấy sự tươi mát của mình, cái thời chị để tóc chấm chôn áo bà ba và kẹp nó bằng cái kẹp ba lá sáng trưng như mọi cô gái miệt nầy. Chị yêu thầm một anh bộ đội có gương mặt của cậu học sinh thành đạt; trên đó, khi vui hay buồn đều toát ra vẻ thanh cao thơ trẻ. Hai người thường bắt gặp cái nhìn của nhau, không phải ánh mắt đắm đuối mà là sự tò mò ngờ nghệch, mỗi lần như vậy, cả hai đều hốt hoảng quay đi, người rúm lại như bị phỏng lửa.
Cứ khoảng một tuần, đơn vị của Cường lại báo về đóng quân trong xóm của Hai Mật. Anh là người sức vóc trong tiểu đội nên hay giành phần cầm chèo, chị biết vậy vì mỗi khi xuồng cập bến bao giờ anh cũng xuất hiện trước cửa nhà chị với cây trung liên và cái ba lô xề xệ một bên vai, còn vai kia là đôi chèo với bộ quai đánh rất bóng bằng dây chuối xiêm khô. Anh chỉ trao cho chị cái nhìn ngập ngừng rồi quay sang nói năng và mỉm cười dạn dĩ với má chị. Vì vậy, nếu không có buổi chiều lập cập ngoài ruộng thì mối tình ấy mãi mãi là một bí mật thiêng liêng chỉ riêng chị biết.
Đó là một buổi chiều yên tĩnh, chiến tranh chỉ lảng vảng ở đâu đó bên ngoài cảm giác của trái tim đang yêu. Lúc ấy đang mùa thu hoạch lúa, những đợt tấn công mùa khô của ta vào quân địch đã bắt đầu liên tục. Tranh thủ thời gian máy bay giặc ngừng hoạt động, nông dân hay ở lại trên ruộng cho tới tối mịt, những đêm có trăng họ còn thức suốt ngoài đồng. Đang xúc vô bao mớ lúa do chính mình đập lấy, Hai Mật bỗng thấy cả người bồn chồn, linh cảm đó ngày nay người ta gọi là hiện tượng thần giao cách cảm. Chị biết đơn vị của Cường đang trên đường đáo lại xóm chị.
- Về má ơi! Chị kêu lên, bàn tay xoắn không chặt nuộc lạt trên miệng bao.
- Cái con nhỏ nầy! Má chị trách nhẹ.
Sau đó chị làm ộc lúa trong bao ra đất nẻ và cuối cùng thì bỏ béng mớ lạt dừa ở đâu đó nên chị bị mắng thực sự.
- Vìa thì vìa! Bộ đói bủn rủn hết rồi ha?
Chị vụt cười, nụ cười run rẩy sung sướng. Má chị ngạc nhiên nhìn chị, nhìn đến độ khi bà hiểu lờ mờ cái gì đó rồi mới buông tha chị. May thay, bà chỉ phán một câu thật xứng đáng là một bà mẹ chiến sĩ, đúng như chức vị của bà hồi ấy.
- Thế nào tối nay tụi nó cũng đáo vìa. Thôi, vô cơm nước sơm sớm! Kiếm cái gì nấu cho tụi nó ăn giờ, Mật? Chèo sút mồ hôi mà tới nơi còn phải đào hầm đào hố.
Chị xốc gọn hơ bao lúa hai giạ lên vai và đi như chạy vô mí vườn. Chị gặp Cường tại bờ bến, trong ánh hoàng hôn chập choạng, chị nhìn thấy ánh mắt tỏ tình ngượng ngập của anh. Chị đáp lại bằng nụ cười của một đoá quỳnh trong khoảnh khắc bừng nở. Từ giờ phút đó, kể như chị đã từ giã những niềm vui vô tư để bắt đầu thời kỳ đau khổ của hạnh phúc.
Một tuần sau, đơn vị của Cường lại đáo về, nhưng người xuất hiện trước cửa nhà chị với cây súng và cái ba lô của Cường, với cả cây chèo thon thon bằng cây đước mun bóng không phải là Cường. Bằng sự từng trải của người goá bụa, má chỉ an ủi chị một câu:
- Chiến tranh mà! Rồi nó qua thôi con!
Dĩ nhiên rồi nó sẽ qua, chiến tranh và những nỗi khổ. Ký ức chị lưu giữ hình ảnh một anh Cường với gương mặt phúng phính lông tơ, nụ cười vụng về và ánh mắt mát lành như buổi sớm…
Hai Mật nhìn thấy con cúi xuống cái bồ đập lúa hình chiếc loa, tay ôm xốc lên một mớ rơm, chắc là để cho bầy vịt rỉa lúa sót. Nó như nhỏm chạy vô mí vườn, chỗ hàng dừa bao ngạn bắt đầu tập họp bóng tối dưới những tàu lá bề bộn. Nó đang đi con đường tâm trạng của chị hồi đó. Đợi nó là ai kia? Có thể lắm là cái cậu thầy giáo đã để lại chiến trường biên giới một bàn chân ấy. Ngoài tiếng ghi-ta trữ tình và nhiều nội tâm, cậu ta còn có một phong thái trầm tĩnh tự nhiên và thái độ sống tận tâm hiếm có. Mới chuyển về xóm  Vịnh thay cho tay thầy giáo có cái lưng dài hơn cặp chân, vị thầy mới đã đứng ra sửa trường, chấm dứt cảnh trùm áo mưa trong giờ dạy. Nhưng, chính vị thầy giáo tật nguyền đó hay người khác bây giờ không phải là việc chị nữa. Chị sẽ ngồi đúng chỗ mà con Thảo đặt.
Ừ, ngay cả việc chọn lựa đó nó cũng có vẻ giống chị. Nó đã khá giống chị từ hồi chị mới nhận nó về. Hồi ấy, trong nhà đã có ba đứa nhỏ. Một đứa gái lên bảy, con của chị cán bộ phụ nữ tỉnh. Hai đứa trai lên năm, con sinh đôi của chị cán bộ địch hậu. Thảo là con chị y sĩ có tiếng trong tỉnh. Lúc đầu, thấy các chị các cô bồng chống con cái lòn xòn theo, mấy bà má trong Hội mẹ chiến sĩ đã nghĩ ra cách nhận lũ nhỏ về nuôi giúp. Dù rất ái ngại, những người phụ nữ có nhiệm vụ thoát ly gia đình cũng phải chấp nhận và cho đó là kế sách hết sức nhân nghĩa, là lối ra táo bạo cho hoàn cảnh ngặt nghèo của họ. Những năm đó, con người còn bám ruộng vườn được, miếng cơm manh áo không nan giải lắm. Má con chị đã làm ruộng, đã trồng khoai ở bất cứ khoảnh đất trống nào trong vườn nhà, đã xúc tép bắt cua, đã chằm lá mướn để nuôi bầy trẻ lóc nhóc. Những gia đình làm việc nầy như gia đình chị đều chung một ý thức hồn nhiên rằng: đây cũng là cách góp sức mình cho cách mạng.
Má của Thảo chuyển Thảo qua tay chị ngay cái ngày dứt sữa cho nó. Người mẹ bặm môi nhịn khóc ra đi. Cũng ngay đêm đó, lúc đi đỡ sanh cho một cán bộ khác ở cữ, má nó lọt vô ổ của tụi biệt kích và hy sinh. Đêm đêm con Thảo cứ khóc thét lên từng chập, ánh mắt khắc khoải nhìn chị, nhưng khi chị ẵm nó lên, nó lại không chịu áp đầu xuống vai chị, vừa khóc rưng rức nó vừa ngoảnh nhìn dao dáo ra bóng tối ngoài cửa. Đúng như má chị tiên đoán, khi bén mùi chị thì nó vượt được cơn sốc bí ẩn trong nó. Vào thời kỳ bập bẹ tập nói, tự dưng, chưa ai kịp dạy, nó đã kêu được tiếng má rành rạnh, khi kêu, nó nhìn đúng chị và cùng với tiếng nói đầu tiên, nó gửi tới chị ánh mắt long lanh vui sướng. Cảm thấy vừa hạnh phúc vừa bất hạnh, Hai Mật bỗng rùng mình trước cái chức má mà chị không hề mong đợi. Ngay sau đó, một niềm vui cao quý bùng dậy, dập tắt cái cảm giác kỳ lạ ban đầu, chị lao tới ôm chầm lấy nó, để lại trên khắp mặt mũi nó những vệt nước nóng hổi.
Đã có một đơn vị khác chuyển tới vùng chị thay cho đơn vị của Cường vừa nhổ lên vùng trên. Chị lại yêu một anh bộ đội. Tại sao chị cứ chọn đối tượng này, điều đó cũng khó giải thích như bản thân tình yêu và không ai định giải thích làm gì. Nhưng quả tình, cuộc sống của họ có cái gì đó khiến các cô gái dù tính toán thiệt hơn đến mấy rồi cũng không cưỡng nổi sự hấp dẫn của họ. Đó là cuộc sống quy củ dung dị, là sự chân thành trong thái độ cư xử và trên cùng là cái chất sống hiên ngang khoáng đạt của họ.
Lần này, trái tim đã đằm thắm của chị gặp được một người thâm trầm. Mở đầu cuộc gặp gỡ được má chị cho phép, anh nói trang trọng:
- Anh hiểu em Mật à. Chuyện đó không có gì quan trọng hết. Anh sẽ coi con Thảo như con anh.
Chị muốn bật cười, nhưng dưới ánh trăng thanh mảnh lọt qua kẽ lá vú sữa hai màu, chị cảm thông sâu sắc vì gương mặt trắng tái đi bởi xúc động chân thành. Không có vẻ cao thượng của kẻ biết hy sinh, cũng không có vẻ khổ sở của kẻ cảm thấy mình thiệt thòi, điều anh nói ra giản dị như mọi sự giản dị khác của anh. Chị im lặng, định dành cho Tráng sự bất ngờ trọng đại khi chị thuộc về anh.
Quả con Thảo càng ngày càng có vẻ giống chị như con đẻ. Cũng nước da bánh ít và gương mặt nhẹ nhõm, phúc hậu, cũng giọng cười giòn rụm hết mình và tướng đi lẹ làng, nhanh nhẹn như làn gió. Cũng cái thần thái phảng phất vẻ buồn buồn thường thấy ở những người sớm chịu đựng mất mát lớn lao. Ngoài sự phát hiện đó, chị còn nhận thấy sự thú vị khác ở chị, rằng chị chưa bao giờ cho người ngoài xóm biết Thảo là đứa con nuôi bất đắc dĩ vì chị cảm thấy không nỡ. Lời thú nhận đó sẽ làm cho tình thương ngậm ngùi trong chị không còn trọn vẹn và thiêng liêng.
Lần đầu tiên chị biết được cảm giác run rẩy khi người đàn ông chạm tới lúc con Thảo vốn nghịch ngợm đã cầm ngón tay ám khói của Tráng dí vào cái bớt lọ trong mái tóc mai của chị.
- Đó! Cậu chùi đi! Con chùi hoài mà nó không chịu sạch!
Nó cười khăng khắc, một chân dậm đồm độp trên giường, cánh tay tròn như ống chỉ cầm chắc tay của cậu Tráng mà miết tới miết lui bên tai chị như điều khiển cái bàn chải.
- Đố Thảo biết sao má có cái bớt này? - Anh nói, hơi thở gần đến mức chị muốn choáng váng. Tại vì hồi mới sanh má, ngoại trét lọ chảo lên đây để làm dấu nè nghe!
- Sao phải làm dấu hả ngoại? Con bé kéo cổ má chị vào cuộc.
Bà chỉ cười, nụ cười mãn nguyện rồi lặng lẽ quay lại với bếp lửa.
- Làm dấu đặng để dành cho cậu mà!
Anh nói hể hả và cười hệch hạc. Từ chiếc áo màu lá cây của anh toát ra cái mùi kỳ lạ làm đầu óc chị chao đảo. Phải huy động hết sức mình chị mới nhấc nổi tay lên chạm vào vùng ngực ấy để đẩy anh ra. Anh lùi xa chị vài bước và nhìn chằm chặp vào mặt chị bằng ánh mắt trêu trọc, còn chị thì bủn rủn đứng lên cười mếu máo.


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 18 Tháng Tư, 2011, 09:23:25 am
                                  Tiếp theo
Chị còn có những buổi chiều xao xuyến một đời. Đó là những lúc sông Nước đục duềnh lên trong tiếng dào dạt của dầm chèo, đoàn quân đi dưới cái bóng âm thầm của rừng lá dừa nước dày như bức tường thành ven sông, hoàng hôn vãi xuống giữa dòng một dải lụa ửng tím. Vài cánh cò chểnh mảng trên không trung nghi ngút màu lam, màu trắng nuột nà trên đôi cánh trở thành điểm sáng riêng tư lãng mạn giữa trời chiều. Tiếng bần rụng thảng thốt trong biển lá, từ đó vọng ra tiếng chim bìm bịp âm trên mặt sông như tiếng vỗ khắc khoải trên mặt ống. Ngồi trên cây dừa nhoai ra mép nước, Hai Mật nhìn thấy tất cả họ, khi đoàn xuồng cắt ngang dải lụa để từ doi lá bên kia đi chéo sang doi lá bên nầy. Họ giống nhau lạ lùng, cái khổ người chắc nịch, cái vành nón tai bèo chấp chới, cái gương mặt bất động trên những chiếc xuồng xôn xao lá nguỵ trang. Ai cũng có thể là anh Tráng của chị, nhưng chỉ mỗi mình anh mới dễ dàng nhận ra dáng ngồi trông ngóng của chị trên cây cầu dừa. Trong chiến tranh, được nhìn thấy nhau như vậy cũng là hạnh phúc. Đó là những buổi chiều đỏ bầm, như tứa máu, là những khúc ca bi tráng không nguôi trong ký ức. Có khi đoàn quân bất ngờ đảo lại xóm chị vào lúc nửa đêm và anh Tráng của chị cũng bất ngờ xuất hiện với nụ cười tươi tỉnh. Rồi một hôm, vào lúc hừng đông, sông Nước đục mù mịt sương tưởng có thể múc được bằng nón, họ trở về xóm chị, mình mẩy người nào cũng bốc mùi thuốc đạn. Trên chiếc xuồng Tráng thường đi bỗng trống trơn, chỗ anh vẫn ngồi vần vũ màu sương tang tóc. Mới nhìn thấy cái khoảng trống ấy, chị cảm thấy được ngay cái khoảng chống chếnh không sao bù đắp nổi trong cuộc đời mình, như giông bão vừa cuốn phăng bóng cây vững chãi trên mái nhà chị.
Dĩ nhiên rồi nó sẽ qua, chiến tranh và những nỗi khổ.
Bằng tất cả tiềm lực man dại của nó, giặc bình định ác liệt vùng chị. Chúng quẳng vào mảnh đất bằng bàn tay ấy bảy mươi ba tiểu đoàn. Má con chị bồng chống bốn đứa nhỏ lóc nhóc ra tá túc trong vườn dừa của người bà con gần chợ Vị Thanh. Nhà đông miệng ăn, chị phải tập tành mua gánh bán bưng. Đầu đội chiếc nón lá thâm kim, một mình giữa những thúng gạo, vừa nhấm nhá gạo sống, chị vừa tự an ủi: rồi nó sẽ qua, chiến tranh và những nỗi khổ. Dù cực đến mấy, chị nghĩ, mình sẽ cầm cự được cuộc sống mong manh nầy để làm cho trót lời hứa với ba má bọn trẻ con trong nhà, nếu như má chị không bị bắt. Trong khi theo dõi chị cán bộ binh vận, má của hai đứa nhỏ sinh đôi, địch đã phát hiện ra đường lui tới của chị. Chúng đã bắt luôn bà má, trong khi Hai Mật đi vắng. Lại một lần nữa, nhờ sự bao bọc của bà con chỗ chị tản cư tới, sau khi gom được bốn đứa nhỏ, chị bồng chúng lên Cần Thơ vừa để rộng đường lẩn tránh vừa để gần nhà lao giam má chị. Ở tại thành phố trung tâm này, chị đã làm mọi việc: giặt ủi, gánh nước mướn và cả việc rửa chén cho các quán nhậu.
Sau hiệp định Pa-ri, giặc chưa kịp thực hiện việc trao trả tù nhân thì má chị đã chết trong khám. Chị đưa bốn đứa trẻ trở về mảnh vườn không còn một cây đứng, công việc đầu tiên là dựng cái chòi trên nền cũ lởm chởm gốc sậy và đóng ngay cái bàn thờ phập phình bằng cây mí bái.
Mấy đứa nhỏ lần lượt được ba má đón đi. Chị cán bộ phụ nữ tỉnh đến xin Hai Mật cho nhận con lại, bảo là cuộc chiến đã dễ thở, chị có thể mang nó bên mình được. Hai đứa sinh đôi được má cho người đem lên chiến khu Đ, để theo đường Trường Sơn ngược ra Bắc học vì mẹ chúng đang ở ngoài kia sau đợt trao trả tù đầu tiên. Còn bé Thảo, nó cũng được đón ba nó trong căn chòi của chị. Anh hay tin vợ chết lúc còn học ở trường chính trị trong rừng miền Đông. Sau đó anh được giữ lại làm cán bộ giảng dạy, mãi đến sau này anh mới biết được địa chỉ tạm trú của con.
Khi chị bảo với Thảo lần thứ ba rằng người đàn ông ấy là cha nó, đôi mắt kinh ngạc của nó ánh lên vẻ gan góc của sự vâng lời. Nó bỡ ngỡ ngã vào lòng anh, ngượng nghịu né tránh những cái hôn nhám râu của anh. Chỉ vài giờ sau nó đã thật sự tin anh là ba nó. Nhưng khi anh móc từ trong bóp ra tấm ảnh ố vàng của người đàn bà và bảo đó là má nó, lập tức nó giẫy nẩy phủ nhận và gắng sức giẫy khỏi vòng tay anh rồi từ xa, nó đứng sững nhìn anh bằng con mắt hoài nghi tội nghiệp.
Đêm đó, nó nhất định không chịu ngủ với ba. Khi anh kéo nó vô cái mùng của mình trên nền đất trong chòi, nó cự tuyệt đến mức anh nổi giận. Lúc đã lên được mùng của chị thì nó bật cười hăng hắc:
- Ba nói là ba của con sao ba không ngủ với con với má? Bộ ba hổng thương con sao?
Câu cuối cùng nó nghiêm túc một cách bất ngờ, bất ngờ đến mức cả hai người lớn đều lúng túng. Sau đó nó giở trò nằn nì anh, không được nó bèn khóc ầm lên, buộc anh phải lên giường với má con nó. Chị còn nhớ rõ, khi cánh tay bồi hồi của anh giở mí mùng lên để chui vào, chị đã ngồi bật dậy, hai tay ôm đầu gối, người rúm ró trong cơn sốt điêu đứng. Nhưng con Thảo không để chị yên, nó buộc chị và anh nằm xuống và loay hoay thu xếp công phu sao cho khi nó nằm giữa thì hai người không ai gần hoặc xa nó quá. Chỉ một lúc sau nó đã ngủ yên trong tư thế thanh thản của thiên thần, lâu lâu nấc khẽ lên như một đứa trẻ oan ức điều chi. Chị rón rén đưa tay lau nước mắt trên mặt nó và đụng phải bàn tay anh, bàn tay trắng xanh với sợi dây đồng hồ màu đen giản dị mà sau nầy, mỗi khi nhắm mắt lại, chị như nhìn thấy nó hiện ra bồn chồn bên cái mí mùng động đậy. Lần này, người bật dậy chính là anh, anh chui ra khỏi mùng như một kẻ bỏ chạy. Suốt đêm đó, chị nhìn thấy đóm thuốc lập loè từng chập trên cái bàn bên kia vách chòi.
Sáng ra, trước khi khom người chui qua mái lá, với ánh mắt băn khoăn, anh nhìn chị cái nhìn thật sâu và buông một câu thòng ý tứ:
- Tui tính đưa con Thảo về cho bà nội nó ở ngoại ô Cần Thơ. Nhưng, giờ tui để nó lại làm gánh nặng cho cô.
Anh lùi lũi bước, đôi vai xuôi xuôi như bị sức níu vô hình từ mặt đất. Hai má con chị bấu vào tay nhau nhìn theo mút mắt. Bỗng Thảo chạy theo anh và khóc ngất lên, nhưng anh vẫn không lần nào dám dừng lại. Chị lao theo níu nó trở về, vừa mừng như thoát được cái gì vừa như giận dỗi, cái cảm giác quái quỷ chính chị cũng phải rủa thầm. Chị đã chờ nhưng anh không bao giờ trở lại nữa. Thêm một lần, giông bão chiến tranh cuốn mất cái bóng cây trên mái nhà của chị.
Số phận đã gắn chị với số phận đứa con gái mồ côi.
Chị đặt bên cạnh lư hương của bà và má mình cái lư hương thứ ba dành cho anh ấy. Thực tình, đêm đầu chị cắm lên cái lư hương đó hai cây nhang nhưng nó đã làm cho con Thảo thắc mắc khổ sở. Sau đó, Thảo luôn giành phần thắp nhang và chê chị đếm không rành, ba liệt sĩ thì ba cây nhang chứ sao lại bốn. Nhìn con, chị càng thấy không nỡ nói ra sự thật. Cái tâm trạng cảm thấy mình mồ côi phân nửa sẽ khác nhiều tâm trạng mồ côi hoàn toàn. Dĩ nhiên nó sẽ chịu đựng được tất cả nhưng nói ra thì chính chị cũng là kẻ mồ côi vì Thảo đã thành nơi nương tựa tinh thần của chị. Họ đang cần cho nhau như một sự tổn thương cần được bù trợ sau mất mát.
Nhưng có sự thật nào nằm yên trong bọc được. Hôm ấy, nó đã chạy vù về nhà và chỉ kịp hỏi một câu cần hỏi rồi úp mặt vào lòng tay lắc đầu nguầy nguậy như bảo rằng nó không tin, nó không thể tin điều đó. Khi nó ngẩng lên, chị bỗng sững nhìn, vẻ thiếu nữ trên mặt nó đã biến mất.
Càng lớn, tình thương của Thảo với chị càng đằm thắm. Vừa rồi, nó xin phép chị cho nó về thăm bà ngoại, cái người đã mấy lần xuống thăm má con nó và nói tránh là bạn thân của ngoại quá cố nên nó phải kêu là ngoại.
Giờ đây, nó đang đứng trước mặt chị, trưởng thành trọn vẹn trong bộ bà ba đen tươm tất, mái tóc cắt hình chiếc lá túm hờ sau lưng không phải bằng cây kẹp ba lá của chị ngày xưa mà là cây kẹp bằng nhựa in một bông hồng trinh bạch.
- Gấp thì đi đi! Ở nhà má nấu cơm ăn trước chứ gì!
Suýt nữa nó sẽ mỉm cười nếu như không chợt nhận thấy trên mặt chị ngưng đọng vẻ hiu hắt và rắn rỏi của hoàng hôn. Người phụ nữ trong nó bỗng hiểu: Chính vì vậy mà má nó hay mở mắt thao láo nhìn lên mái nhà, ở đó, đêm đêm, cuộc chiến tranh vẫn chưa hề nguội lạnh. Lập tức trong đầu nó hiện ra những khuôn mặt đàn ông mà nó có cảm tình. Có người nào trong số họ hợp và có thể làm nơi nương tựa vững chãi cho má con nó không? Nó nao lòng khi nhìn thấy con đường nghiệt ngã của thời gian và chiến tranh đi qua đầu má nó, đó là lằn tóc rụng theo vết kẹp xĩa, cây kẹp hai mươi năm của chị để lại trên mái tóc đã thưa một con đường thu úa. Nhưng má nó vừa quay lưng vô bếp, chắc để tránh ánh mắt bàng hoàng của nó, vừa thúc hối:
- Sao lần chần vậy? Gấp thì đi đi con!
Lúc đó, chị nghe trong không gian nhoè tối có tiếng ghi-ta bập bùng.

Truyện ngắn . Dạ Ngân



Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 18 Tháng Tư, 2011, 02:57:32 pm
                    Người chưa kịp giải bài toán GaLoa
                    Tác giả : Hoàng Nghị                     

Tôi ngồi miên man chìm trong tột cùng nỗi nhớ, nỗi nhớ bạn bè, nhớ về một thời chinh chiến. Tĩnh nằm đây, mãi mãi tuổi 21, chưa một lần yêu, chưa kịp giải hết các bài toán của GaLoa...
Tôi đến cổng nghĩa trang Trường Sơn trời đã ngả về chiều. Chị quản trang có nét mặt buồn buồn, nước da sạm màu nắng gió miền Trung, tận tình chỉ dẫn tôi tới mộ Tĩnh. Tôi thắp nén nhang, châm một điếu thuốc cắm lên phần mộ. Gió Trường Sơn thổi về se lạnh, đốm nhang lập lòa quấn khói quanh tấm bia, nghĩa trang bao la yên lặng chỉ nghe tiếng lá rừng xao xác, tiếng rì rào mơ hồ như vọng về từ cõi hư vô. Tĩnh nằm đây, giữa mười ngàn đồng đội, phần mộ nằm giữa những hàng lối thẳng tắp, như quân cờ trên một bàn cờ.

Tôi ngồi miên man chìm trong tột cùng nỗi nhớ, nỗi nhớ bạn bè, nhớ về một thời chinh chiến. Tĩnh nằm đây, mãi mãi tuổi 21, chưa một lần yêu, chưa kịp giải hết các bài toán của GaLoa...

Năm học nào cũng bắt đầu bằng mùa thu. Mùa thu ở Thanh Sơn đẹp kỳ lạ. Con sông Bứa chạy sát trường, ôm gọn phố Vàng rồi xuôi đổ về sông Hồng. Nước sông mùa này cạn, trong vắt, nhìn thấy từng hạt cát vàng óng ánh lẫn trong sỏi cuội. Con sông miền núi nào đáy cũng thường đầy sỏi, sỏi hai ven bờ, sỏi tràn kín bãi giữa. Mùa thu là mùa gọi tình của muôn loài, nhất là loài chim. Rừng núi Thanh Sơn nhiều chim, nhất là chim gáy. Những con gáy đực cổ đeo cườm chiều chiều đối nhau gọi bạn, tiếng nghe êm đềm da diết gợi trong ta những hoài niệm xa vắng. Cho đến bây giờ dù đã qua thời trai trẻ nhưng mỗi khi nghe tiếng chim gáy trong tôi vẫn dâng dâng một nỗi nhớ mơ hồ...

Dạo ấy, tôi đang học lớp 8B trường Thanh Sơn. Trong tốp từ Yên Sơn về có đến mấy thằng ở Hà Nội lên sơ tán, đứa nào cũng sáng sủa, cao ráo, còn lại dăm đứa là người Hà Nam lên khai hoang. Mấy xã Yên Lương, Yên Sơn ở mút đầu của huyện, giáp tỉnh Hòa Bình nên tất cả đều ở ký túc. Bọn nó gom thành một hội, nghịch nhất lớp, rất hay gạ những nhóm khác đánh nhau, cứ ra chơi là kéo nhau sang lớp 8A trêu chọc bọn con gái. Trong bọn ấy có một đứa vẻ ngoài không có gì ấn tượng là Tĩnh. Mặt xương xương, tóc mỏng, người khô gầy như cây mới trồng thiếu nước. Nó luôn mặc bộ đồ đen, chiếc quần ta ống thùng thình, áo thì xẻ tà có hai túi vuông ở đưới, cái màu đen từ thuốc nhuộm thủ công dùng lâu ngày nên đã phai bạc. Tính tôi vốn không thích nhộn nhạo, nên mỗi khi thấy nó a dua, a tòng cùng bọn kia trêu chòng, chọc ghẹo những đứa khác thì rất khó chịu. Phải thú thực là tôi không ưa nó.

Sau một thời gian học, chúng tôi đến kỳ kiểm tra các môn. Hôm ấy, cả lớp ngồi đợi trả bài kiểm tra một tiết môn địa. Thầy dạy địa lý là thày Kiếm, cũng còn trẻ, người dong dỏng cao, trắng trẻo. Thầy đọc tên từng đứa cùng số điểm được chấm, đọc được già nửa lớp bỗng thầy ngừng lại, nhìn chăm chăm vào một bài rồi đột ngột ngẩng đầu lên gọi:

- Cậu nào là Tĩnh. Nguyễn Đình Tĩnh, đứng lên!

Cả lớp quay xuống bàn cuối cùng nhìn đứa tên Tĩnh vừa bị thầy gọi. Nó đứng dậy, vừa cài khuy cổ vừa nháy mắt làm trò với mấy đứa ngồi cạnh. Thầy Kiếm chắp tay sau lưng, đi xuống giữa lớp rồi dừng lại giọng châm biếm:

- Bài của cậu đáng được điểm 5 (thang điểm Liên Xô), nhưng tôi “chiếu cố” cho cậu 1 điểm.

-Thưa thầy, tại sao ạ?

- Đấy là điểm tôi cho vì cái “công” của cậu đã chép được kín 4 trang giấy. Lần sau còn “quay” bài kiểu này thì không có điểm nào nữa đâu.

- Em không “quay” - nó cãi - bài do em tự làm.

Thầy nheo nheo mắt nhìn thằng học trò mới lớn:

- Cậu lên bảng, trình bày lại bài làm cho cả lớp nghe.

Đề kiểm tra hôm ấy hỏi về địa lý các nước Nam Mỹ, những điều kiện phát triển kinh tế từng nước. Nó lên bảng vẻ rất tự tin, tay cầm phấn, tay cầm khăn lau vừa nói vừa viết. Đến nước nào nó ghi tên lên bảng nước đó cùng tên thủ đô, dân số, diện tích lãnh thổ. Nó say sưa nói về dãy Andes, thao thao bất tuyệt về con sông Amazon, tại sao cấu tạo địa lý Trung Mỹ lại có nhiều mỏ dầu hơn Nam Mỹ... hình như trình bày miệng thế này nó còn được thể hiện kiến thức hơn cả làm bài trên giấy. Đến khi nó so sánh chiều dài bờ biển giữa Braxin và Achentina cùng sự khác biệt về động vật biển của hai nước thì thầy ra hiệu cho nó dừng lại. Cả lớp im phăng phắc nhìn lên bẳng, dõi theo nó như đang xem một bộ phim trinh thám. Những con số, những nét chữ viết bằng phấn trên bảng trơn và vẫn phóng khoáng thẳng băng như viết trên dòng kẻ. Thầy cho nó về chỗ rồi trầm ngâm ngồi giở lại bài kiểm tra để trên bàn. Không thể tin được, một đứa học trò miền núi trong điều kiện không có gì nhiều về sách báo, tài liệu mà nói về một châu lục xa lạ cứ vanh vách như tả cái xóm nó ở. Trong thầy nhiều cảm xúc đan xen, cái thông minh khác biệt cùng bộ dạng nhởn nhơ ngạo mạn ấy như dự báo điều gì trong linh cảm của thầy.

Một năm học mới lại đến, lớp tôi bây giờ là 9B, vẫn như thế, toàn con trai, toàn người Kinh, có khác là sau một năm đứa nào cũng phổng phao hơn đôi chút, nhiều đứa đã ăn diện, làm dáng nhưng phá phách nghịch ngợm thì còn tai quái hơn trước. Thầy Bùi Ngọc vẫn chủ nhiệm lớp tôi, khi chỉ định cán bộ lớp thầy có vẻ rất đắn đo. Thằng Tĩnh không làm lớp trưởng hay lớp phó mà làm trưởng ban cán sự toán, ngoài ra ban Toán còn tôi và Nguyễn Thế.

Nguyễn Thế có bố là giám đốc một lâm trường của huyện. Nhà nó khá giả nên trông nó lúc nào cũng bảnh bao. So với bạn bè cùng lứa thì nó béo tốt, đẹp trai hơn cả. Nó cũng giỏi toán, đeo kính cận từ cấp2; đứa nào cận cũng đều có dáng trí thức, nó cũng vậy, nhất là mùa rét nó quàng khăn phula xanh, áo bông cổ lông, đi học bằng xe favorit, bọn con gái lớp A nhiều đứa mê mệt vì nó. Thằng Thế không hay đầu têu như thằng Tĩnh nhưng nghịch ngầm, nó giống những đứa nhanh lớn khác: khôn sớm, yêu sớm. Bên 9A có cái Nhung, quê Hà Đông, nhà bố mẹ làm nghề may nên quần áo lúc nào cũng xúng xính. Nó đẹp thuộc diện nhất trường, nhiều đứa lớp tôi sang mon men nhưng chỉ có thằng Thế là thành công. Thằng Tĩnh không ưa thằng Thế, không hiểu sao hai thằng rất hay chạnh chọe.

Dạy toán cả hai lớp là thày Hải. Thầy nhỏ người, còn trẻ, chưa vợ, rất hay làm dáng. Mỗi khi có giờ toán là bọn lớp A rất sợ, nhất là bọn con gái. Có lần thầy vào lớp A, đi lên, đi xuống, nhìn từng đứa rồi chỉ vào cái Nhung bắt lên bảng chữa bài tập về nhà. Nó loay hoay một hồi không làm được, mặt cúi gằm, tay vân về vạt áo. Thầy nheo nheo mắt nhìn nó rồi kéo dài giọng:

- Xin được hỏi “quý cô” quê ở đâu ta?

Cả lớp không đứa nào dám cười thành tiếng, chỉ lấy tay bụm miệng rúc rích.

- Xin mời “quý cô” về chỗ, 0 điểm.

Nhưng khi sang lớp chúng tôi thì khác hẳn. Thầy giảng rất say sưa, rất hay, kiến thức rộng và điều đặc biệt là thày có niềm đam mê với toán học. Một hôm thày giải một phương trình lượng giác. Đây là một bài ngoài giáo trình thầy cho chúng tôi làm thêm để khuyến khích ai yêu môn toán thì cùng làm. Thầy giải xong cách thứ nhất thì đóng khung nghiệm số trên bảng. Thầy giải sang cách thứ hai, cái hay của lượng giác là sự biến ảo, thày chuyển từ tag sang cotag, từ sin sang cosin, đảo vế trái sang vế phải... chúng tôi chăm chú vừa nghe vừa chép liên tục, chỉ có tiếng thầy giảng và tiếng ngòi bút xoàn xoạt trên giấy. Sau một hồi biến đổi các nghiệm số được đóng khung bên trên lại xuất hiện. Thầy vừa lau tay vừa đi xuống giữa lớp và hỏi:

- Qua hai cách giải của bài toán, em nào có ý kiến gì không?

Phần lớn cả lớp còn chép chưa xong, chưa kịp ngẩng đầu lên thì tiếng thằng Tĩnh oang oang:

- Em ạ.

- Mời cậu, thắc mắc ở điểm nào?

- Không ạ, nhưng em có cách giải khác.

Cả lớp im lặng, hồi hộp.

- Cậu đình dùng phương pháp ngụy biện phải không?

- Không ạ.

- Xin mời lên bảng.

Nó lên bảng, thản nhiên xóa hết phần giải của thày, chỉ để lại đề toán ban đầu. Thêm một đại lượng vào hai vế phương trình, triệt tiêu dần từng hàm số, phương trình được rút gọn, hóa giải. Chỉ sau ít phút cho ra nghiệm số đúng nghiệm số của thầy. Thầy vừa theo dõi, vừa thẩm định tính chính xác của bài giải. Khi thầy vừa gật gật vẻ tâm đắc vừa nhìn sang thì bắt gặp vẻ mặt nhâng nhâng tự phục của nó, những cảm hứng đang dâng lên trong thầy chợt tan biến, nét mặt thầy đanh lại và nói với giọng lãnh đạm:

- Cậu về chỗ, có em nào còn cách giải khác nữa không?

Thầy đã công nhận nó như công nhận một tài năng đặc biệt nhưng thày không vui. Không phải vì nó là trò mà có cách giải bài toán ngắn gọn, đơn giản hơn thầy mà từ những gì toát ra ở nó. Vẻ khinh bạc của đứa trẻ mới lớn, cái đáng ngạo nghễ nhưng cũng rất tội nghiệp. Toán học vốn gần gũi với triết học. Thầy kết thúc bài giảng bằng một câu bâng quơ mà lúc đó chúng tôi ít đứa hiểu: “Một phương trình toán học có thể tìm nghiệm số bằng nhiều cách khác nhau, nhưng có những phương trình nếu ta không sớm tìm cách giải thì cả đời cũng không tìm ra nghiệm”.


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 18 Tháng Tư, 2011, 03:00:18 pm
                              Tiếp :
Cuối năm ấy, cả trường có một phần thưởng đặc biệt của huyện dành cho học sinh xuất sắc nhất: được mua một chiếc xe đạp mifa thiếu niên, gióng ngang, giá ưu tiên. Chiếc xe đó thuộc về thằng Tĩnh.

Những ngày ấy, chúng tôi rất thích lội ra bãi sông Bứa hái quả doi, những bụi doi dại mọc từng khóm như những khóm trúc đào, quả ăn chua chua ngọt ngọt. Tôi đi đây đó cũng nhiều nhưng chưa thấy nơi nào có loại cây này như ở dòng sông Bứa. Tôi thích nhất những hôm trời quang, nắng nhẹ nằm phơi mình trên sỏi mát lạnh, nhìn về phía xa, dãy núi có độ cao 1054m lượn vòng như lưỡi hái nên người nơi đây gọi là núi lưỡi hái. Màu xanh thẫm của núi in trên nền xanh nhạt của trời thu thật kỳ vĩ. Bên kia bờ không xa là đồi Vân phủ kín cỏ gianh và những bụi cây lúp xúp. Gọi là đồi nhưng không cao lắm, chân đồi tỏa vùng mấy xã, các cụ nói trong ấy nhiều cọp, rừng nào nhiều cỏ gianh thì thường nhiều cọp. Chúng tôi cũng chẳng sợ, đã có lần rủ nhau trèo đồi hái quả me rừng và dâu da đất. Quả me rừng tròn như bi ve, màu xanh như ngọc, ăn hơi chan chát, hợp với bọn con gái.

Nhà tôi quê gốc Thái Bình nhưng bố mẹ tôi sống ở Hà Nội. Mẹ tôi có một quầy hàng tạp hóa trong chợ Đồng Xuân, các anh tôi đều học cả trên đó và đều ham đọc truyện. Nhà có một tủ sách rất lớn chia làm hai ngăn, sách truyện của anh cả tôi thường được đóng dấu trên góc: “Tủ sách gia đình - 22 Hoàng Hoa Thám - Hoàng Phương”. Con dấu anh tôi tự khắc bằng mắt cây gạo, rất đẹp. Khi lên Thanh Sơn khai hoang, tôi xin bố tôi mang theo rất nhiều truyện. Được thừa hưởng tính ham đọc từ các anh, tôi thường đọc mê mải, nhiều lần bị thầy bắt quả tang vừa học vừa đọc truyện trong lớp. Cũng như các bạn khác, tôi trọ học ở ký túc xá, lán tự làm bằng tre nứa, có hai đứa: tôi và Trọng. Nhà thằng Trọng ở 14 Hàng Thùng, nó hay khoe trên gác nhà nó là nhà nhạc sĩ Hoàng Vân, cô Oanh và chú Vân rất quý nó. Chỉ riêng thế đã làm tôi phục lăn, trong bọn Hà Nội học ở đây nó “oai” nhất. Tính nó tẩn mẩn, hay ghi chép, sưu tầm “lời hay, ý đẹp”. Cứ rỗi rãi là tôi với nó lại bàn luận về Tam Quốc, Thủy Hử.

Một tối, tôi đang ngồi học một mình ở lán, thằng Tĩnh đi đâu qua, rẽ vào, nó hỏi:

- Có  truyện gì mới không? Lâu quá không được đọc.

Tôi với trên giá nứa xuống quyển “Nhạc Phi diễn nghĩa” bản dịch theo âm giọng Sài Gòn. Sách đã cũ, giấy ngả màu vàng ròn đến nỗi chỉ gập lại là gãy nhưng chữ in vẫn rất nét. Nó ngồi đối diện, ngọn đèn dầu le lói chia ánh sáng cho hai đứa. Trong quầng sáng đung đưa ấy tôi chợt nhận thấy một khuôn mặt mệt mỏi, già trước tuổi, không còn vẻ mặt bất cần đời, không còn chút gì vẻ kênh kiệu nghịch ngợm. Ngồi trước quyển truyện nó hoàn toàn thành con người khác, trong suốt và thánh thiện. Tôi buông sách vở, lấy trong túi đồ chiếc bánh mỳ anh tôi mới đem từ Hà Nội lên, bẻ đôi đưa nó một nửa. Nói nhìn tôi rồi nhìn cái bánh như nhìn một kỳ quan của thế giới. Vừa chậm rãi ăn, vừa đọc nhưng hình như tâm trí không còn tập trung nữa. Một lát sau nó gập sách trả tôi rồi đứng dậy, vừa vươn vai, vừa đi ngó quanh lán tôi ở nó buông một câu:

- Chúng mày sướng thật!

Dừng một lát nó nói tiếp bằng một giọng rất nhẹ:

- Nhưng mày thì khác, có điều lúc nào mày cũng nghiêm túc quá.

Tôi không hiểu nó nói tôi khác cái gì, chắc là không giống phần đông đám học trò Hà Nội lên đây thường hay phô phang. Thực ra trong tôi “phần” Thái Bình nhiều hơn là Hà Nội, hơn nữa tôi vốn sống nội tâm, không ưa ồn ào chứ chưa có ý thức về sự nghiêm túc.

Rất lâu sau này khi tôi có dịp về xã Yên Sơn, nghe kể về nó tôi mới biết nhà nó nghèo, rất nghèo. Nhà đông anh em, chỉ mình nó được theo học tới cấp 3 còn chỉ hết cấp 2 đã phải nghỉ ở nhà đi nương, đi ruộng. Chiếc xe đạp được ưu tiên giá rẻ như vậy mà phải vay mượn khắp xóm mới mua được. Đã nhiều lần tôi tự hỏi điều gì đã làm cho nó luôn luôn nghiệt ngã với mọi người? Một vùng vẫy kiểu con trẻ? Một khao khát bứt phá ra khỏi mặc cảm của cảnh nghèo túng? Nhưng có lẽ no muốn khẳng định mình, muốn chứng minh một khả năng mà chỉ nó có.

Cả ba năm cấp 3 chúng tôi chỉ có một cô giáo duy nhất, cô Mỹ dạy sinh vật. Chồng cô là thày Mai dạy vật lý, nhưng cô cũng chỉ dạy một năm lớp 8 rồi cả hai vợ chồng thầy, cô chuyển về Hà Nội. Còn lại toàn bộ giáo viên ở trường là các thầy. Trong các thày thì thầy Đinh Quốc Chương dạy Trung văn là vui tính hơn cả. Thầy cao to, da ngăm đen trông dữ tướng nhưng thực ra lại rất vô tư và dễ tính. Thầy người Trong (ở Thanh Sơn đồng bào dân tộc Mường thường được gọi là người Trong), rất thích nói chuyện thời sự, chính trị trong nước, ngoài nước. Mỗi khi thầy vào lớp, cả lớp bao giờ cũng đứng lên đồng thanh chào:

- Lảo shư hảo.

Thầy đáp lại:

- Thủng xuế mãn hảo.

Khi giảng bài thày thường có thói quen kéo dài câu cuối để cả lớp đế theo kiểu như: rất chính... chính xác, rất phong... phong phú. Có lần, vào giờ của thầy, thầy đã báo trước hôm nay sẽ gọi kiểm tra miệng bài tập cho về nhà. Bọn tôi sợ nhất lên bảng môn này vì hết đường “quay”, cũng không thể “phím” cho nhau được. Sau khi đứng lên làm thủ tục chào thầy, cả lớp ngồi xuống hồi hộp. Biết chúng tôi sợ, thày có vẻ “khoái” lắm, vừa mủm mỉm cười vừa lướt từng đứa. Bỗng nhiên thằng Tĩnh đứng lên, vẻ mặt rất “quan trọng”.

- Thưa thầy, chúng em vừa nghe tin phái đoàn Mỹ đã bỏ về, không họp hội nghị Pari nữa, tình hình có vẻ rất “căng thẳng”. Thầy có tin gì mới phổ biến cho chúng em với ạ.

Cả lớp nhau nhao:

- Đúng ạ, đúng ạ, đề nghị thầy nói chuyện hội nghị bàn tròn ạ, thầy kể chuyện về bác bộ trưởng không bộ ạ...

Thầy ra hiệu cả lớp trật tự rồi dõng dạc:

- Các em hoàn toàn yên tâm. Chính phủ ta đã cử một cố vấn đặc biệt sang mật đàm, dù phái đoàn Mỹ tuyên bố bỏ họp nhưng thực chất cuộc đàm phán vẫn đang tiếp tục.

Thày say sưa phân tích những thế mạnh, thế yếu của Mỹ, những diễn biến trong chiến trường đang có lợi cho ta. Những cuộc đấu trí (được truyền khẩu) giữa Kitsingger và cố vấn Lê Đức Thọ... Khoảng 20 phút sau thầy chợt nhìn đồng hồ:

- Thôi, thôi! Hôm khác nói tiếp, còn nhiều vấn đề lắm, các em giở vở, hôm nay học bài mới.

Thầy dễ tính như vậy nên cả hai lớp đứa nào cũng quý thầy, chỉ có thằng Tĩnh là quá trớn. Hôm ấy, thầy giảng cách đặt câu có từ (Zài). Từ này đứng một mình trong câu sẽ là động từ, nếu đứng sau động từ trong câu sẽ là giới từ, cũng có khi nó lại là một tính từ. Kết thúc bài giảng thầy “chốt”.

- Ở mỗi trường hợp trong câu có từ “Zài” các em cần lưu ý vị trí của nó để câu được đúng nghĩa. Trong ngữ pháp Trung văn đây là một từ rất quan trọng...

Thầy ngắt ở đấy, chưa kịp nói nốt thì thằng Tĩnh giọng rất to đế theo:

- Quan... hệ.

Bọn con gái đỏ hết mặt, không dám cười còn tụi con trai quanh nó thì khỏi nói, chúng đập bàn khoái chí hò reo. Thầy nghiêm mặt lại, cả lớp bỗng im bặt. Thầy mắng nó hỗn, bắt đứng lên “quạt” nó một trận rất tay gắt. Nó đứng im như thóc, mặt cúi gằm, tưởng sau trận này nó thấm thía lắm ai ngờ hôm sau khi vào lớp, chúng tôi thấy một dòng chữ rất to chạy ngang trên bảng:

 “Tinh quả trang, can treo lủng lẳng”, dưới có ngoặc kép “cấm xóa”. Cái chữ kia thì không còn ai vào đây nữa, mà cũng chỉ có nó mới có gan phiên âm tên thầy cùng với câu xuyên tạc bậy bạ như vậy. Chỉ có mấy đứa thường hay a dua với nó là phởn chí, vừa đọc to vừa nhấn mạnh từng âm tiết còn phần lớn cả lớp cảm thấy ngượng với thầy. Vừa lúc thoáng thấy bóng thầy chủ nhiệm vào lớp một đứa vội chạy lên xóa vội dòng chữ ấy. Có lẽ thầy Trung văn không bao giờ biết câu này. Xét cho cùng trong cái lỗi này có cả sự tòng phạm của chúng tôi.

Một chiều thứ bảy, phần lớn các lán đã về nhà để lấy gạo và thức ăn cho tuần sau. Thằng Trọng cũng về, chỉ còn tôi ở lại, đang loay hoay soạn lại bài vở thì thằng Tĩnh bước vào:

- Cuối tuần vắng vẻ buồn quá, mang cờ ra đây tao với mày làm mấy ván.

Nó và tôi đều mê cờ tướng, cứ rỗi là gạ nhau đánh. Nó hay mã, cứ vào trận là rình đấu xe, dùng pháo nổ tan sĩ, tượng đối phương rồi hai mã quấn nhau sang. Một con khóa tướng một con tìm nước chiếu. Khi đã vào thế của nó thì nghĩ đến nát cả óc cũng không thoát ra được. Tôi thích dùng pháo, nhất là thế pháo đầu mã đội. Sức công phá của pháo thật mãnh liệt, công thủ biến hóa, thế đánh đa dạng, nhiều ván tôi chuyển từ pháo đầu sang pháo lăn, nó thí gần hết quân cuối cùng vẫn chịu thua. Mỗi khi ngồi vào bàn cờ, vừa xếp quân nó vừa lẩm bẩm:

- Làm “tướng” kiểu này khổ thật, chỉ quanh quanh, không được ra ngoài, hở ra là bị chộp.

Có lần thua liền mấy ván nó càu nhàu:

- Ông nào nghĩ ra bàn cờ này vô lý bỏ mẹ. Đánh nhau gì mà hai bên quân, mã ngang bằng nhau đến từng ly từng tý.

- Muốn lệch thì một bên bỏ bớt quân đi.

- Thế thì còn gì nói nữa.

Nó là thế, tính cách của nó là thế, luôn luôn muốn phá bỏ, đảo lộn những quy ước đã có. Khi tôi và nó vừa bày xong cờ, chưa kịp đi thì thầy Bùi Ngọc bước vào vẻ mặt rất giận dữ:

- Cậu Tĩnh, cả cậu Nghị nữa, lên đây.

Tôi ngơ ngác không hiểu chuyện gì, liếc sang nó thấy mặt nó vẫn tỉnh queo. Hai đứa theo thầy về văn phòng nhà trường, đến nơi thấy có cả thầy hiệu trưởng đã ngồi ở đấy. Chưa kịp ngồi xuống thầy Ngọc đã hỏi dồn:

- Trưa nay những cậu nào ra phố Vàng, cậu nào vào cửa hàng ăn uống phá phách?

Ngày ấy cả phố Vàng chỉ có một cửa hàng ăn uống mậu dịch, thông thường hay bán phở thịt lợn, phở đu đủ, bánh bao... gọi là phở nhưng thực ra giống bánh đa nấu. Hôm ấy tan học thằng Tĩnh cùng mấy đứa ở lại rủ nhau ra ăn trưa, chẳng hiểu có chuyện gì mà nó cà khịa, cãi nhau ầm ĩ với nhân viên bán hàng. Lúc quay ra thấy cái bảng dựng ngoài cửa dùng để ghi thực đơn, nó vớ cục phấn viết luôn xuống dòng chữ. Hôm nay có: Phở thịt lợn toàn lông.


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 18 Tháng Tư, 2011, 03:03:36 pm
                                      Tiếp theo
Khi cửa hàng phát hiện ra thì bọn nó đã về rồi nhưng họ biết ngay đây là lũ học trò cấp 3 nên vào báo nhà trường. Thầy Ngọc được cử ra giải quyết, nhìn dòng chữ trên bảng thầy biết ngay là thằng Tĩnh.

- Cậu cho là mình tài giỏi nhất phải không?

Có lẽ thầy bị kích động đến tột độ, chưa bao giờ tôi thấy thày giận dữ đến như thế.

- Cậu khinh thường bạn bè, cậu khoe chữ đẹp bằng cách viết bậy, chửi thầy trên bảng à? Viết láo lếu cho cả huyện đọc à? Cậu có biết tại sao tài giỏi thế mà cả ba năm không năm nào được bầu làm lớp trưởng, lớp phó không?

Nó ngồi im chịu trận, tôi càng không dám ho he gì. Chắc thày biết tôi không tham gia vào vụ này nên chỉ xoáy vào nó. Thày hiệu trưởng lúc đầu chắc cũng định đợi nó lên để “chỉnh” nhưng thấy thầy Ngọc quyết liệt quá nên thầy thôi và cho nó về làm bản kiểm điểm.

Từ hôm ấy nó trở nên trầm lặng, không tham gia vào bất kỳ một trò tếu táo nào nữa. Nó gần như trở thành một con người khác.

Cả khối 10 bấy giờ cũng đã bị cuốn vào bài vở chuẩn bị cho kỳ thi tốt nghiệp sắp tới. Không khí học tập đã trở nên nghiêm túc rất nhiều. Sau vụ thằng Tĩnh khoảng gần một tháng, nhà trường chọn hai đội đi thi học sinh giỏi toàn tỉnh. Thằng Tĩnh là đội trưởng đội toán, thầy Hải rất kỳ vọng vào nó (sau này chuyển về làm hiệu trưởng trường chuyên ở Vĩnh Tường thầy có nói với một số bạn khi gặp là cho đến bây giờ, gần hết cuộc đời dạy học của thầy vẫn chưa có đứa nào giỏi toán hơn nó). Đội văn thì thầy Ngọc chọn mãi cũng chỉ được hai đứa, thầy liền chuyển thằng Tĩnh sang thi văn. Thầy Hải phản đối kịch liệt nhưng không xong vì dù sau thày Ngọc vẫn là chủ nhiệm lớp. Kết quả kỳ thi thật không ngờ. Nó đạt giải đặc biệt văn toàn tỉnh. Bài thi của nó hay đến nỗi Ty giáo dục Phú Thọ ngày ấy cho in làm tài liệu để các trường trong tỉnh tham khảo.

Vào đúng ngày Lonnon ở Cămpuchia làm cuộc đảo chính, ngày 8-3-1970, bọn con trai lớp tôi đi khám nghĩa vụ quân sự. Không còn là những cảm nhận mơ hồ nữa, chiến tranh đã là những gì rất rõ ràng với từng đứa chúng tôi.

Những ngày cuối cùng của năm học, những ngày cuối cùng của đời học trò, thằng Tĩnh được gọi lên văn phòng hiệu trưởng. Nó được nhà trường thông báo: Tỉnh xét đặc cách cho sang Liên Xô học đại học: thời gian tập trung: sau kỳ thi tốt nghiệp. Nó mừng lắm, cả lớp chúng tôi cũng mừng, coi đây như một niềm tự hào của cả trường, niềm tự hào vì trong bạn học có thằng giỏi như nó. Nó lại bắt đầu “bốc”: “Sang Liên Xô kiểu gì tao cũng phải đến thăm nơi ở của Lép Tônstôi, đặt hoa trên mộ thi hào Puskin” v.v... và v.v... dù biết nó đang ba hoa nhưng tôi vẫn tin ai chứ nó thì điều gì cũng có thể làm được.

Còn tuần nữa đến ngày thi thì số con trai bọn tôi đã đi khám sức khỏe được lệnh tập trung. Huyện đội về làm việc với nhà trường, hơn một chục đứa trúng tuyển bộ đội, trong số đó có thằng Tĩnh. Khi phát giấy gọi nhập ngũ cho từng người, đến nó, thầy hiệu trưởng nói:

- Riêng trường hợp của em, em có thể làm đơn đề đạt nguyện vọng, nhà trường sẽ có ý kiến để em tiếp tục đi học ở Liên Xô.

Những ngày tiếp sau nó lại thu mình như cũ, lặng lẽ không bắt chuyện với ai. Không ai biết nó đang suy nghĩ những gì. Đến cuối tuần nó lên gặp ban giám hiệu đứa lá đơn xin trả lại giấy báo đi học ở Liên Xô và tình nguyện nhập ngũ. Có lẽ đây là một quyết định vô cùng khó khăn đối với nó. Điều gì đã khiến nó chấp nhận cùng những người bạn ra trận mà bỏ qua cơ hội chỉ đến một lần trong đời. Đâu rồi cái tính ngang ngạnh, một mình một lối của nó? Đâu rồi sự ngạo mạn, tự phụ luôn luôn làm người khác khó chịu? Cơn giận dữ của thầy Ngọc chăng? Hay nét mặt buồn của thày Chương? Có thể là lâu về trước những câu nói xa xôi của thầy Hải khi nhìn dáng vẻ nhâng nháo của nó lúc lên bảng giải toán? Có thể lắm, vì nó luôn là đứa thông minh nhất trong bọn tôi. Nó rất biết thế nào là đi lính và thế nào du học ở châu Âu. Nó đã quyết định chọn cho mình cách giải của một bài toán. Nó đã trở thành một con người khác.

Cuối năm 1970, tôi rời Thanh Sơn trở về Hà Nội. Không thi đỗ đại học tôi vào làm việc trong viện Hóa. Sang năm 1972 theo lệnh động viên cục bộ tôi lên đường nhập ngũ. Sau nhiều ngày hành quân trung đoàn tăng cường thuộc Quân khu III chúng tôi rời dường mòn Hồ Chí Minh rẽ về Lệ Thủy vượt sông Long Đại và một ngày đầu mùa mưa 72, chúng tôi tới Quảng Trị.

Ôi! Quảng Trị!

Không thể nói về Quảng Trị chỉ bằng vài nét chấm phá. Những năm cuối của cuộc chiến chống Mỹ không nơi nào khốc liệt như chiến trường này. Những trận đánh đẫm máu, những cuộc hành quân, những chiến dịch lớn của cả ta và địch. Máu xối đỏ từ thượng nguồn Ba Lòng tới  Cửa Việt. Những cánh rừng tưới bom napan còn khét mùi thịt cháy. Thành quách bị san phẳng, những làng mạc bị thiêu rụi. Từng tấc đất, từng ngõ ngách được giành giật. Không ai biết chính xác có bao nhiêu chiến binh của cả hai bên đã nằm lại nơi này. Đã nhiều năm rồi mà những địa danh nóng bỏng như Thành Cổ, Đông Hà, Tà Sơn, Khe Sanh... còn mãi bồi hồi trong lòng mỗi người lính chúng tôi.

Một chiều, trên đường chuyển quân từ Hương Sơn, Hướng Hóa về phía đông, đơn vị tôi nằm ém ở cứ điểm Khe Van đợi cắt đường 9 tiến vào Cam Lộ. Tôi thoáng thấy trong đơn vị bạn đang hối hả rút về phía tây một bóng dáng quen quen, chợt khi thấy nó vừa đi vừa vuốt vuốt tóc thì tôi bật lên gọi:

- Chiến, Chiến!

Nó quay lại, đúng là thằng Chiến, Đinh Quyết Chiến ở Võ Miếu. Ngày ở trường chúng tôi hay trêu nó nhất vì cái kiểu vuốt tóc điệu đà ấy. Nó mang cái học điển hình của bốn dòng họ người Mường ở Thanh Sơn: Đinh, Quách, Bạch, Hà. Nó dừng một chút rồi nhận ra tôi, hai đứa lao vào ôm lấy nhau, mặt mũi nó lem luốc, binh phục xộc xệch còn khét mùi thuốc súng.

- Tao ở 264, vừa đánh Ái Tử.

Một loáng rất nhanh nó đẩy tôi ra rồi đi ngay. Đi được mấy bước nó quay lại nói như hét:

- Tao mới gặp thằng Tĩnh, nó ở pháo, trung đoàn Bông Lau.

Không kịp trò chuyện, trong khoảnh khắc nó đã mút hút vào đoàn quân dưới chân đồi.   

Từ hôm ấy, sau mỗi trận đánh, mỗi lần về nơi đóng quân mới tôi cố để ý dò hỏi về thằng Tĩnh nhưng không gặp. Lúc ấy tôi còn chưa biết rằng sẽ mãi mãi không gặp nó nữa. Nó đã ngã xuống trong một trận đấu pháo khi yểm trợ cho cánh quân đánh vào sân bay Tà Cơn. Nó đã không kịp đợi đến ngày Hiệp định Pari được ký kết, cái Hiệp định mà ngày nào nó đã dùng để “cứu” cả lớp thoát khỏi bài kiểm tra môn Trung văn...

* * *

Những người lính đang lặng lẽ nằm ở nghĩa trang Trường Sơn đông bằng một sư đoàn. Tôi cảm thấy mọi bon chen, ham hố trên đời thật nhỏ nhoi, vô nghĩa. Cái quan trọng nhất của đời người không phải là thời gian tồn tại mà là dấu ấn để lại. Đã 30 năm qua, có biết bao học sinh đã học qua trường Thanh Sơn mà cũng chưa có một trò nào giỏi như Tĩnh và cũng đầy tính cách như nó. Mỗi cuộc hội trường, hội lớp, mỗi khi bạn cũ gặp nhau chuyện gì rồi cũng lại quanh về “thằng Tĩnh”. Nó đã góp một phần trong sự nghiệp giải phóng đất nước và nó đã để lại trong lòng các thày cô trong mỗi bạn bè một cái tên. “Tĩnh”. Tĩnh ơi. Nếu có thể tao sẵn sàng đánh đổi mọi thứ có ở trong đời để chỉ một lần thôi cùng mày ngồi lại bên bàn cờ và tao hứa sẽ không dùng pháo tấn công mày nữa.

Bóng chiều đã chập choạng, tôi lần lữa không muốn đứng lên. Xa xa Trường Sơn vẫn uy nghi hùng vĩ, đâu đây phía nam dòng  Bến Hải đang âm thầm chở trên mình những ký ức của một thời chia cắt.
 H Ng.


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 18 Tháng Tư, 2011, 03:09:39 pm
                                  NGÀY KHÔNG BÌNH THƯỜNG
                                  Tác giả : Phạm Hoa

Minh đẹp một cách yếu ớt, Bạo đẹp một cách khỏe khoắn và tháo vát. Ðó là một đôi bạn rất thân và cũng rất hay giận nhau. Thế quái nào Minh lại yêu anh đại đội trưởng pháo, to và đen nhẻm. Bạo lại yêu anh chàng sinh viên có phần yếu đuối, lịch sự và kiểu cách. Anh sinh viên ấy cùng tuổi với Bạo. Bạo rất bực với cách xưng hô "tôi" trong mỗi lá thư của anh ta gửi đến. Nhưng đó chỉ là nhược điểm nhỏ thoáng qua. Bạo vẫn yêu anh ta nhiệt tình và say đắm.
   
   Trời đã sắp sáng. Bạo biết thế vì cô đã thức được một lúc lâu. Ðêm qua, Bạo bồn chồn như đứa trẻ ngủ trong đêm ba mươi Tết, chỉ thấp thỏm mong trời mau sáng. Một loạt bom xa xa làm cô chợt tỉnh. Từ lúc đó, Bạo không nhắm mắt được nữa. Cô nằm im một lát mới nhỏm dậy. Căn nhà hầm tối, đen như trong hộp, râm ran tiếng ngáy của đồng đội. Cô rón rén bước ra cửa.

Bên ngoài, trời sáng lờ mờ mát lạnh. Bạo cảm thấy tỉnh táo và khỏe khoắn. Một cảm xúc háo hức là lạ. Cô muốn chạy vù ra sân. Muốn gọi tất cả mọi người dậy. Bạo dừng lại ngắm những giọt sương đang từ từ tròn hạt. Lúc quay vào nấu cơm ăn sáng, cô đụng đổ cây đèn, rồi lại đụng đổ cả chiếc xoong đựng nước uống trên bàn. Cô phì cười vì sự vô ý của mình.

Sạp nằm có tiếng cựa mình. Chị Thành quát:

- Ðứa nào đấy?

Bạo bịt miệng cười:

- Em đây.

Một lát sau, ở góc hầm có ánh lửa cháy bập bùng. Không riêng gì Bạo, ngay sau đó các cô gái khác đều trở dậy cả. Mới năm giờ sáng, họ dậy sớm hơn mọi khi. Căn nhà hầm nhộn nhịp, chứa đựng vẻ khác thường.

Ðó là một buổi sớm của ngày hai mươi - Ngày không bình thường của tiểu đội thông tin trên đèo Văng Mu, điểm chốt của điểm cao trên một ngàn mét. Là ngày vui của các cô gái. Hôm nay họ sẽ nhận được thư nhà, thư bè bạn, thư người yêu. Mỗi một tháng họ được nhận thư một lần vào ngày hai mươi. Thư gửi đến sẽ dồn về ban chỉ huy đại đội, cơ quan đóng cách họ những mười lăm cây số dưới thung lũng. Dưới đó, anh liên lạc sẽ dần bóc thư của từng người một đọc dõng dạc qua máy điện thoại. Họ không còn cách nào tốt hơn. Chính năm cô gái trên Văng Mu yêu cầu đại đội làm như vậy. Nếu không chờ thư đến tay các cô lại chậm thêm vài chục ngày nữa. Những lần đầu, bao nhiêu bí mật gia đình, bí mật tình yêu bị bóc trần như ban ngày, các cô rất ngượng. Lại có thêm vài anh tủm tỉm cười, chế nhạo, các cô la lối lên. Ðại đội trưởng phải ra lệnh cấm không được ai bén mảng lên nhà đại đội khi cậu liên lạc đọc thư vào máy. Tất cả quen dần thành nếp sống bình thường của năm chiến sĩ thông tin trên điểm cao. Từ đó, ngày hai mươi trở nên gần gũi thân thiết, là ngày mong chờ của các chiến sĩ. Một ngày vui thực sự, ngày họ được hòa nhập vào đời sống hằng ngày của những người thân ở phương xa. Ðó là ngày thiêng liêng và đặc biệt quan trọng đối với những người đang yêu như Bạo. Nhất là chỗ ở của các cô gái lại chót vót trên cao một ngày hàng chục trận bom giội xuống, thiên nhiên lại tàn khốc, là nơi bom đạn ác liệt, là nơi mà nhiều bạn bè không quen biết...

Bạo vẫn hí húi nấu cơm trong góc hầm. Cô mặc chiếc áo mỏng không có tay, mặt đỏ rực lên vì nóng. Sáng nay Bạo có vẻ bận rộn và vụng về. Ðánh đổ đèn, đánh đổ xoong là Bạo. Bỏ quên hộp thịt đã mở dưới đất cho kiến vào cũng là Bạo. Chốc chốc lại thấy chị Thành hỏi vọng vào:

- Ðứa nào đổ nước ra cửa hầm tràn cả vào nhà đây?

Bạo chạy ra cửa xem, tủm tỉm cười:

- Em.

- Lại em. Ðãng trí quá em ạ.

Trong hầm, các cô gái vội vã thu dọn những đống dây điện, đống cuốc, xẻng vào góc. Căn hầm sáng sủa và rộng rãi hơn. Một điều lạ nữa là hôm nay: không ai bảo ai, các cô đều chải tóc soi gương tỉ mỉ như trong ngày sẽ có khách đến chơi.

Tiểu đội có Minh là nhỏ nhắn, thanh mảnh được coi là đẹp gái nhất. Minh rất hay tỉa tót làm dáng, nhưng cô vẫn thầm ghen với nước da đỏ thau của Bạo. Minh đẹp một cách yếu ớt, Bạo đẹp một cách khỏe khoắn và tháo vát. Ðó là một đôi bạn rất thân và cũng rất hay giận nhau. Thế quái nào Minh lại yêu anh đại đội trưởng pháo, to và đen nhẻm. Bạo lại yêu anh chàng sinh viên có phần yếu đuối, lịch sự và kiểu cách. Anh sinh viên ấy cùng tuổi với Bạo. Bạo rất bực với cách xưng hô "tôi" trong mỗi lá thư của anh ta gửi đến. Nhưng đó chỉ là nhược điểm nhỏ thoáng qua. Bạo vẫn yêu anh ta nhiệt tình và say đắm.

Cả tiểu đội có năm chị em. Chị Thành không giống các cô. Chị cao và nhỏ người, nắng chiến trường làm nước da chị đen sạm và khắc khổ. Chị hơn các cô một tuổi. ý thức làm chị của Thành rất rõ. Các cô gái ở đây đều rất nể và sợ Thành. Có lẽ chỉ có Bạo là người dám nói đùa với chị. Thành cũng rất mến Bạo. Mặc dù Bạo có ngang tàng đôi chút, nhưng lại dũng cảm, việc phá mìn vướng, cả đại đội không ai giỏi hơn Bạo.

Bạo bê nồi cơm nóng hổi đặt ra tảng đá. Cùng lúc đó, chiếc máy điện thoại đặt trên bàn nứa rung lên bần bật. Một hồi chuông dài và gắt. Thành dẹp sổ theo dõi công việc sang bên, chạy tới cầm máy. "Hồng Hà đâu...". Một giọng đàn ông ồm ồm cộc lốc của ông trung đoàn trưởng pháo. Ông nói một câu ngắn của người quen ra mệnh lệnh:

- Khu vực dê sáu tám (D68) bị mìn vướng, đứt toàn bộ dây. Yêu cầu sáng nay phải nối cho họ trực chiến.

Thành buông máy nhẩm tính toán luôn. Chị có thói quen sắp xếp công việc ngay sau khi nhận điện. Tổng số dây điện khu vực tiểu đoàn pháo vị chi là hai ki-lô-mét. Vừa phá mìn vướng vừa rải dây, nối dây, mất đứt hai người một ngày vất vả. Sau đó chị giục mọi người đi ăn cơm. Trong đầu Thành thoáng linh cảm thấy rằng: công việc hôm nay sẽ rối mù lên cho mà xem. Nắng đẹp thế này, nhất định nó sẽ đánh mạnh.

Năm người con gái ngồi xúm quanh chiếc bàn ăn nhỏ. Chiếc ghế buộc bằng ba đoạn nứa võng xuống phát ra tiếng kêu kẽo kẹt. Minh sốt sắng nhất. Nhỏ người nhưng rất nhanh. Ba cô cướp được ba cái bát lành. Bát của chị Thành tất nhiên là không cô nào dám tranh. Còn lại là chiếc bát thủng trôn vì bom bi. Bạo phải dọn bếp núc nên chậm chân ra sau. Cô cầm chiếc bát hỏng lên, nhất định không chịu thua.

- Hôm nay đến lượt đứa nào ăn bát thủng !

- Cái Minh.

- ứ! Hôm qua em ăn bát thủng rồi.

- Mới có buổi chiều. Phải cả sáng nay nữa mới đủ một ngày.

- Không.

- Này.

- Không.

- Này.

Giằng nhau một lúc, Bạo cười:

- Thế mày gọi tao là chị tao nhường cho.

- Thì chị. Nào chị Bạo ơi!

- Dạ đi.

- Dạ. Ðược chưa.

- Ðược. Em ngoan ăn cơm rồi đi phá mìn cho giỏi nhé. Chị cưng, chị thương.

Bạo còn đáo để vuốt đầu Minh mấy cái, chị Thành giục, họ mới bắt đầu bưng bát. Miếng cơm vừa trôi khỏi miệng, lại có điện thoại. Lần này là điện dưới đại đội công binh gọi lên. Ðường dây từ đơn vị gọi lên sở chỉ huy sư đoàn tiền phương bị đứt. Một giờ đêm qua ở dưới đó có một quả bom nổ chậm bất chợt nổ.

Bữa ăn lại được tiếp tục. Vẫn cái đà vui vẻ một cách khác thường ấy, Bạo dọa sẽ mách tay đại đội trưởng pháo là Minh ghẻ ruồi. Bao giờ Minh cũng yếu lý lẽ hơn. Cô chỉ còn biết chê cái tên của Bạo, cái tên thô như một người lên gân. Ai lại Quang Bạo, Minh Bạo hay là Thành Bạo dù sao nghe vẫn vương vướng. Cái tên này phải hình dung ra một cô gái to béo gân guốc, đáo để...

Một loạt bom. Rồi một loạt nữa. Ba loạt cả thảy. Cả hầm lắc mạnh như sắp vỡ đôi. Sau đó là tiếng phản lực sà rất thấp, có cảm giác như các ngọn cây cũng bị gió quật tung. Các cô gái nhìn nhau, đoán:

- Chắc ở cây số mười.

- Không! Cây số mười bốn.

- Có khi sát chân đèo.

Họ còn đang xác định vị trí bom rơi thì có điện. Từ lúc đó, điện gọi tới tấp lên tổ chốt thông tin. Ðơn vị nào cũng la ầm lên đường dây liên lạc của họ bị đứt. Các cô gái phải ăn cơm nhanh hơn. Thành hết nhận điện của đơn vị này lại cắm phích nghe đơn vị khác. Anh nào cũng to mồm đòi phải nối dây ngay tức khắc, Thành phát bẳn lên, quát vào máy:

- Từ từ đã nào. Làm gì mà các ông hét ầm lên như thế? Phải hiểu cho người ta chứ.

Thành buông máy sững sờ giây lát. Chị giắt lại mấy sợi tóc vương trên má, nhẩm tính. Dê sáu tám hai người. Ðại đội công binh một người buổi sớm, buổi chiều lên sư đoàn bộ. Xuống lèn đá một người. Rồi chị tặc lưỡi thầm nghĩ: bận mấy cũng chẳng bằng đêm hôm kia. Ba lần B.52 ném bom luôn xuống đèo. Quả nổ, quả không. Vừa rải dây, nối dây mất một ngày một đêm mới xong. Cùng lắm chỉ bằng hôm đó chứ mấy? Các cô gái đã biết trước tình thế. Họ đứng dậy sau bữa ăn. Cô nào cũng trong tư thế sẵn sàng. Có cô đã đội mũ sắt, khoác súng vào người.


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 18 Tháng Tư, 2011, 03:12:04 pm
                         Tiếp theo:
Chị Thành và miếng cơm cuối cùng rồi đứng dậy nốt... Chị phân công việc luôn. Năm người đều ra mặt đường cả. Bạo và chị sẽ xuống Dê sáu tám. Khi đi mang theo dụng cụ phá mìn vướng.

Thoắt một cái họ đã đứng ở ngã ba rẽ đi các hướng. Họ vội vã chia tay nhau. Ðến chỗ ngoặt, Minh vẫn còn ấm ức với Bạo. Cô giơ nắm tay nhỏ xíu lên dọa:

- Tối nay, nối dây về sớm "ông" nhận thư của mi qua điện thoại cho coi, "ông" sẽ nhận là Bạo.

Bạo cười to:

- Thách Minh đấy! Thách đấy!

Bạo khoác tấm lá chắn cao ngang đầu đi trước. Tấm lá chắn là vật che mảnh đạn hình tam giác, được kết bằng những nùn rơm to và chắc như bắp tay. Dụng cụ phá mìn còn có cây sào dài bảy tám mét, có chạc dùng để quơ những sợi dây mìn vướng nhỏ như sợi tóc. Loại mìn vướng này rất nhạy và rất hiểm độc. Một cơn gió thoảng qua cũng có thể làm cho mìn nổ. Hai người còn luồn qua sào phá mìn một cuộn dây điện nặng chục cân.

Bạo là cô gái siêng năng và chăm chỉ. Khi yêu, tình yêu của cô cũng rất mạnh mẽ. Trong tâm hồn cô gái trẻ này có một khoảng rộng yên tĩnh, đằm thắm và thiết tha dành cho người mình yêu. Vốn sinh ra trên đồng đất trồng màu ven sông Hồng, Bạo rất chân thật và hơi vụng về. Gần như cô không biết viết thư, không biết nói những câu hoa hòe hoa sói. ở giữa điểm cao như vùi mình trong bom đạn, đời sống đơn giản đi nhiều lắm. Công việc bình thường ở đây là ăn ngủ, phá mìn và nối dây điện. Không hề có thứ công việc nào xen lẫn, không khái niệm thứ bảy, chủ nhật. Không có một giờ rảnh rỗi. Vậy mà trong mỗi lá thư bao giờ Bạo cũng mở đề bằng câu: "Hôm nay nhân tiện ngày chủ nhật" hay "Hôm nay nhân tiện trời mưa..."; có hôm cái Minh vớ được mẩu thư viết dở, nó tò mò xem rồi đọc toáng lên. Bạo đứng đực ra nhìn, mặt đỏ gay, một lúc mới biết chạy tới giằng miếng giấy lại. Thế mà Bạo còn làm thơ gửi cho anh sinh viên rất giỏi chữ nghĩa. Ðại khái cũng câu ba câu bảy gập ghềnh như đá dưới lòng suối cạn:

Bèo hợp lại tan

Hoa nở rồi tàn

Nhưng tình yêu giữa đôi ta không đứt

Như sợi dây em nối đêm ngày...

"Tìm bảy ngày cũng không thấy vần" - Vẫn cái Minh ranh mãnh nó vớ được, đọc xong nó nói như vậy. Từ đó, mỗi lúc hậm hực điều gì muốn trả thù, Minh lại lấy giọng ê a ngâm:

"Bèo hợp rồi lại tan..." thế là đủ để Bạo toát mồ hôi, chịu thua. Mãi sau này Bạo phải mặc cả đổi chỗ nằm gần cửa hầm cho Minh, nó mới chịu quên cái đoạn thư khổ sở đó đi cho.

Thế nào chiều nay Bạo cũng có thư. Cô tin rằng lá thư sẽ rất dài. Từ chiều hôm qua Bạo đã linh cảm như vậy. Niềm tin ấy làm Bạo bồn chồn thích thú. Cô vui khác ngày thường. Bạo cảm thấy mình yêu cuộc đời hơn, yêu mảnh đất chiến trường mà cô đang sống và yêu mọi người. Cô tự hứa từ nay cô sẽ dễ dãi hơn đối với Minh. Không kể chuyện ma con khỉ độc dọa nó nữa. Cô yêu cả con đường gập ghềnh này, cả những ngọn cây cỏ xanh này, cho đến con chim đang hót xa xa...

Hai người đi sâu vào cánh rừng le tốt ngập đầu. ở đó lác đác có những cây cọ rừng mập mạp xanh tốt, lá vươn dài như lá dừa. Thỉnh thoảng mới thấy những cây khộc già nua đầu cành đang nứt những búp lá non tơ. Cho đến lúc nghe tiếng ho của một pháo thủ và con gà cục ta cục tác trong khẩu đội gần đó, thì họ dừng lại. Ðã đến khu vực mìn vướng nổ. Nhiều trái tự hủy, để lại một đám đất nát bét và một khoảng cây cối giập, gãy xơ xác.

Chị Thành quan sát xung quanh rồi nhận xét:

- Dây mìn đấy, Bạo ạ! Mắt thường mà cũng trông thấy một quả kia kìa!

Bạo nhìn theo hướng bàn tay Thành. Một trái mìn mầu xám xù xì nấp dưới một cành cây nhỏ. Cô quạt bằng mũ sắt, tắc lưỡi:

- Kệ nó chị ạ. Chọc một cái là nó nổ, sợ gì!

Bạo nói rồi vẫn ung dung ghếch AK lên đùi, cầm mũ sắt quạt. Trời nóng. Trên đôi má đỏ chín của Bạo đã có mấy giọt mồ hôi. Khi đã buộc tóc lại thật gọn, xắn quần xắn tay áo, họ mới đứng dậy bắt đầu công việc. Bạo dựng lá chắn lên, chống thật chắc chắn. Cô ngồi thụp phía sau như một đứa trẻ đi trốn. Chị Thành đứng xa hơn làm nhiệm vụ rải dây. Bạo đưa sào lên phía trước. Cô chỉ cần vung sào, khuấy động cành cây ngọn cỏ, chạm vào bốn sợi dây vướng nổ là trái mìn sẽ nổ. Trái mìn đầu tiên Bạo phá hôm đó lại không phải là trái chị Thành trông thấy. Ðó là quả vùi sâu trong đống lá mục. Cô vừa tung sào bất thần đã có tiếng nổ. Bạo giật bắn người rồi lại cười khanh khách. Bụi chưa tan, cô đã dịch lá chắn về phía trước rồi giải lao một phút. Cô hỏi chị Thành.

- Sinh viên đại học chắc họ sống sướng lắm chị Thành nhỉ? Ông bạn em ông ấy viết thư, em cảm thấy các ông ấy sang trọng lắm. Có đúng không chị?

- Ðấy là em cảm giác thế. Họ cũng vất vả lắm. Họ ở một phòng mười hai người cơ đấy!

Bạo lẩm bẩm:

- Có thể là như vậy.

Bạo lại thu mình sau tấm lá chắn. Cô đưa sào về phía trước. Trái mìn lần này gan góc hơn. Bạo phải quơ chục lần nó mới nổ. Tiếng nổ vẫn rất to làm Bạo giật nảy mình, cô đưa ống tay áo quệt mồ hôi trên mặt rồi quay về phía Thành nói chuyện tiếp.

- Em có một miếng vải hoa rất đẹp. Em sẽ cắt một chiếc áo lót thật nghịch ngợm. Cổ theo kiểu trái tim xoay về vai trái. Hàng khuyết sẽ xẻ bên hông.

Nói xong chưa kịp nghe Thành trả lời, cô lại ngồi thụp xuống, dịch tấm lá chắn về phía trước. Bạo phá mìn say mê tỉ mỉ và ung dung làm người khác đến phát thèm lên được. Ðó là cung cách phá mìn rất bình tĩnh, thông minh mà chị Thành cũng khâm phục. Công việc này rõ ràng không thể để một người vội vàng, hấp tấp làm được.

- Ngày còn ở nhà ấy mà, cái "lão" người yêu của em bấy giờ còn nhỏ và yếu hơn em cơ. Có hôm đi chăn bò ngoài bãi sông Hồng, em dọa cho sợ, phải đuổi bò về cơ đấy.

Thành cười:

- Thật là đáo để.

Thành cũng có biết qua người yêu của Bạo. Cái anh chàng quá trẻ ngồi vắt chân qua lan can thềm nhà chụp một kiểu ảnh rất điệu. Thành không chê gì anh ta. Chị chỉ thoáng ngờ vực trong lòng một điều, hình như Bạo sắc sảo hơn anh ta quá nhiều. Trong cuộc đời thực, liệu đôi trai gái này có sánh vai nhau được không? Bạo đã phá đến trái mìn thứ năm, thứ sáu... Họ đã trông thấy khẩu đội pháo xa xa. Rất lạ là hôm nay, Bạo không quen được với tiếng nổ. Mỗi một tiếng mìn dội lên Bạo vẫn giật nảy mình quay lại cười khanh khách. Chị Thành thấy Bạo có vẻ chủ quan quá, quát vọng lên:

 

- Bạo! Chú ý vào. Coi chừng đấy!

Bạo cười, đôi môi đỏ chót rất xinh.

- Chị yên tâm. Một mình em đã phá hàng nghìn quả mìn rồi.

Niềm vui ấy lan sang cả Thành. Phải, chị rất tin tưởng Bạo, nhưng điều ấy cũng có thể xảy ra lắm chứ? Công việc quen thuộc của Bạo là phá mìn, nhưng ai biết đâu được, bất cứ một sự chủ quan nào chẳng gây ra tai nạn? Phía trước kia, trong những bụi cây lòa xòa hiền lành, một ụ đất mấp mô, hay dưới đám lá mục, là những cái chết bất thần đang rình núp chờ đón; nhất là hôm nay Bạo lại có vẻ coi thường. Nghĩ như thế, tự nhiên Thành muốn ứa nước mắt. Chị yêu Bạo quá. Chị muốn đối xử dịu dàng với Bạo, muốn cho Bạo cái gì. Ðứng trước những người tốt người ta thường có những ý nghĩ trong lành hơn. Chị Thành đứng ngẩn người ra nhìn Bạo hồi lâu. Cô ấy vẫn cúi lom khom sau chiếc lá chắn. Và hễ cứ sau một trái mìn nổ, Bạo quay lại chuyện trò. Vẫn là dòng suy nghĩ sôi nổi của Bạo về bạn, về người yêu. Sau khi nói xong chẳng cần biết Thành có nghe hay không, cô lại quay về phía trước, dịch tấm lá chắn lên.

Họ trở lại Văng Mu lúc sương mù đã kết thành từng cụm đặc sánh trên đầu. Bất ngờ lý thú là lúc đi cả tiểu đội chia tay nhau ở chỗ rẽ, lúc về lại gặp nhau đúng chỗ ấy. Ðủ mặt cả năm người, Bạo trông thấy từ xa Minh đi trước. Nó thất thểu vì đói và nhọc.

Cứ sau một ngày lăn lộn ngoài đèo khuôn mặt đầy đặn của nó lại bị vơi đi một tí. Bạo vẫn tỉnh như không gọi rối rít:

- Tớ cứ tưởng cậu về lâu rồi!

- Thì người ta cũng tưởng đằng ấy về lâu rồi.

- Tớ làm mà cứ nóng cả gan ruột. Chỉ sợ cậu về trước mệnh danh tớ, nhận thư.

- Tớ mà về trước xem, chả phải bàn.

- Thôi thôi các cô! Chóng lên. Còn khối việc phải làm ra đấy.

Họ vào đến trước sân, chị Thành đã buộc xong hai chiếc tăng vào những gốc cây nhỏ. Những chiếc tăng xòe nặng buộc thõng xuống để hứng sương đêm lấy nước dùng. Mỗi đêm một tấm tăng rộng có thể hứng được một lít nước. Mười chiếc tăng hết đêm họ sẽ dồn được mười lít nước. Thứ nước kết tinh từ hơi sương trong ngăn ngắt. Trừ khi bom đánh gần, hơi sương qua khói thuốc đạn sẽ đắng ngắt như pha thuốc ký ninh. Các cô gái lần lượt căng những chiếc tăng ra đón nước. Sương dày làm ướt cả mặt, cả tóc. Khu đèo lạnh hẳn xuống vài độ.

Tối hôm đó các cô gái ăn cơm rất nhanh chóng. Hầu như ai cũng vội, cũng mong cho đến cái giờ phút mong chờ ấy. Các cô không đùa ầm ĩ nữa. Cái Minh nhỏ bé lại còn tỏ ra chín chắn, nó nói:

 

- Biết mình có thư không mà trông. Cái gì đến sẽ đến, cái gì không đến sẽ không đến.

Bạo vạch mặt:

- Rõ đồ nói khoác. Có thật không mong thư không? Thế thì cử cậu đi sửa đường dẫn lên sư bộ nhé.

- Ứ, tớ cũng có mong.

Bạo cười ha hả. Chưa đến sáu giờ tối, các cô đã xúm xít bên tảng đá. Ai cũng tỏ ra bình thản. Chỉ có Bạo vẫn xông xáo đứng trong cùng, là người cầm ống nghe máy điện thoại. Phải đến hai chục phút rồi, Bạo vẫn chưa liên lạc được với đại đội. Thỉnh thoảng lại nghe tiếng sét nổ sàn sạt, rầm rầm trong máy điện thoại, cầm lấy ống nghe giật nẩy tay lên.

Bạo sốt ruột gắt:

- A-lô... Thăng Long đâu. Cắm dây cho chặt vào.

Cuối cùng sự mong chờ của các cô gái đã được thỏa mãn. Tiếng cậu liên lạc rõ mồn một trong máy. Cậu ta bảo mọi người đều có thư, trừ chị Thành. Tất cả các cô thở phào một tiếng. Thư của Bạo được đọc trước. Mặt cô đỏ ửng lên, cô đứng vào nghe máy, nụ cười bỗng nở trên môi ngượng ngập.

Mọi người chăm chú nhìn Bạo. Họ không được nghe đọc thư, nhưng tò mò muốn biết Bạo có tin lành hay dữ. Tin buồn hay vui. Bắt đầu mặt Bạo đỏ chín, nghe đọc thư, cứ thế cô tái dần đi. Một tay Bạo buông thõng xuống. Các cô ngạc nhiên sợ hãi nhìn Bạo. Giây phút căng thẳng ấy cũng chấm dứt khi Bạo chuyển ống điện thoại cho Minh. Mặt Bạo chợt đỏ bừng, mấy giọt nước mắt nóng hổi lăn rất nhanh qua má. Cô ấm ức dằn từng tiếng:

- Hắn vẫn chẳng xưng anh với mình. Cóc cần!

Các cô gái nhìn nhau rồi phá lên cười. Cứ thế lần lượt từng cô. Họ xếp hàng chờ đến lượt mình vào nghe cậu liên lạc đọc thư. Thời gian vẫn trôi. Ở Văng Mu, một tháng lại có một ngày không bình thường như vậy. Nhưng nói cho cùng, cái ngày ấy cũng chỉ là ngày bình thường trong suốt bốn năm trời dài đằng đẵng trên điểm cao Văng Mu của những người lính.

P.H


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 18 Tháng Tư, 2011, 08:42:28 pm
                           Tiếng vạc sành
                           Tác giả :Phạm Trung Khâu

Gần nhà tôi có ông Hai Râu kẽm, bị địch bắn sứt xương hàm trên và mất mũi, khi nói chuyện phải gỡ miếng vải băng trên lỗ trống đó, âm đầu phát ra thường là croọc-croọc lúc sau mới rõ tiếng người, mặc cảm mất mát khiến ông thường xa lánh gia đình và con người. Tôi và thằng con trai về ngủ miếng vườn xưa, đêm đó “tiếng vạc sành” kêu quá từ đầu đến cuối đêm. Và hôm sau tôi viết truyện ngắn này.
                                                                              Lời tác giả

Như đờn đứt dây...

Quát - bạn của Khản kể: Ở đây có một loại động vật kêu ròng rã suốt đêm. Tiếng kêu của nó là bản hợp tấu sự đau đớn, cô đơn, một nỗi buồn da diết, là tiếng kêu thất thanh của nỗi đau mất hạnh phúc mà không do mình gây ra.

 

Truyền thuyết về nó cũng không xưa lắm. Đồn rằng, xưa có một cặp vợ chồng trẻ. Người chồng như thiên thần. Vợ cực kỳ xinh đẹp. Họ sống trong một ngôi nhà nhỏ, không rời nhau một bước. Đôi vợ chồng làm lụng cật lực kiếm miếng ăn, manh quần, tấm áo. Ngày lại ngày, niềm say mê nhau càng lớn rộ khi họ có thêm một đứa con. Họ hạnh phúc thật.

Chiến tranh.

Người chồng phải xa gia đình, xa ngôi nhà đang cuốn tròn họ trong yêu thương. Hai năm sau được tin chồng chết trận. Người vợ điên loạn suốt một thời gian. Nhưng tuổi trẻ, sức sống mãnh liệt. Cơn buồn rồi cũng nguôi ngoai. Vài năm sau, người vợ tái giá với một người cùng làng. Người chồng sau một mực gắn bó với vợ, với con người chồng trước.

Lúc này ở vùng đó, dân làng đồn có một con rắn lạ về ở. Vết nó bò in xuống mặt ruộng người ta ước lượng nó lớn hơn cây cột đình. Có người khẳng định thấy nó đầu cuốn gốc cây bên này, đuôi cuốn gốc cây bên kia, mình ép dẹp lép làm cái gàu “sành sạch” tát một cái ao lớn để bắt cá. Người khác kể đã thấy đuôi nó cuốn tròn làm gốc, mình dựng đứng làm thân cây cổ thụ, lừa thú vật và người đi ngang qua bắt ăn thịt.

 

Cách đó mấy hôm người vợ đêm nào cũng nghe tiếng: “tọc, tọc, tọc” ở lùm cây hoang sau nhà. Chồng về, vợ kể lại và nghi chắc là tiếng huýt sáo của con rắn độc, anh quyết rình bắn.

Y như lời nói, khoảng chín giờ tối tiếng “tọc, tọc” lại vang lên. Lúc to, lúc nhỏ, lúc như van lơn cầu khẩn khiến người lính mủi lòng. Nhưng muốn trừ rắn độc anh vẫn ghìm súng chờ bên cửa sổ.

Chẳng chờ lâu, chừng hơn tiếng đồng hồ sau. Dưới ánh trăng mờ, con rắn thò đầu ra toan bò qua bụi chuối phía sau nhà.

Người lính ngắm kỹ, miết cò súng. Ba tiếng nổ vang lên. Con vật oằn oại trong ánh trăng. Nghe tiếng nổ người làng đốt đuốc chạy đến. Nhưng khi tới nơi mọi người sững sờ rồi run lẩy bẩy. Đó không phải là con rắn mà là con người. Một con người giống khuôn mặt quỷ. Ba viên đạn đều trúng vào ngực, hắn đang thoi thóp trên vũng máu. Khi gặp người vợ lính, hắn lấy tay che mặt mình lại còn tay kia chỉ vào túi áo rồi tắt thở.

Người ta khiêng anh vào nhà. Móc trong túi thì là những bức thư của vợ gởi lúc trước và cả bức thư anh mới viết cho chị. Người vợ cũng nhận ra chồng trước của mình qua cặp mắt và cái sống mũi thanh có vết sẹo từ bên trái.

Hóa ra, người chồng trước của chị bị thương rất nặng nên tất cả đồng đội tưởng anh chết. Anh sống. Lần đầu soi gương, trong kiếng hiện ra không phải gương mặt của anh mà là gương mặt dị dạng. Phía dưới cặp mắt sáng và cái mũi thanh là một phần trống hoác. Xương hàm dưới bị cắt một nửa. Răng trên gẫy gần hết. Cái lưỡi rụt vào trong làm lộ cái miệng như một cái hang sâu hoắm, đỏ lòm trông rõ cả cuống họng. Khi nói chuyện, lời nói chỉ phát ra những tiếng “tọc, tọc” liên hồi cùng với đờm dãi rớt ra.

 

Ba năm.

Anh không muốn trở về quê hương với hình dáng gớm ghiếc. Nhưng nhớ gia đình. Anh quyết định về ban đêm. Đứng ngoài cửa sổ gọi, để gia đình không trông thấy mặt mình, còn anh trông rõ vợ con một lần, rồi gửi lại bức thư và ra đi vĩnh viễn. Đến quê anh biết vợ mình đang sống với người khác. Mấy đêm rồi, anh núp phía sau nhà gọi vợ ra cửa sổ. Tiếng gọi tên người vợ hiền qua lưỡi trở thành tiếng “tọc, tọc”.

Người vợ khi biết người chết là chồng trước của mình nên điên loạn trở lại, ít tháng sau té sông chết đuối. Người chồng sau bị bắt. Còn đứa con không cha, không mẹ trước tuổi thơ.

Riêng anh, dân làng đồn là hồn anh hóa thành con chim vạc sành, khoác đôi cánh màu xanh của người lính. Hằng đêm, với gương mặt xấu xí anh ẩn mình trong các lùm cây “tọc, tọc” ròng rã từ lúc chạng vạng tới sáng, lên tiếng kêu đau thương để gọi vợ con. Tiếng kêu xé lòng của hạnh phúc bị số phận cay đắng tước đoạt.

Nghe bạn kể xong. Khản buồn buồn nói:

- Tao trốn công việc, trốn cái ầm ĩ của thành thị về nông thôn để tìm sự thanh thản vài bữa. Mầy kể tao nghe chi chuyện đó buồn thảm quá!

Quát vỗ vai Khản:

- Buồn vui cuộc sống chỗ nào, nơi nào cũng có - Quát cười khì rồi tiếp - Tao giao cái nhà này cho mày, một tháng, mặc sức nghiên cứu buồn vui. Gạo, nước, mắm, bột ngọt, hột vịt, lạp xường, vợ tao để sẵn trong tủ. Muốn ăn đồ tươi phải đi chợ xã. Cần cứ mần mấy con gà. Muốn giải trí thì ra ruộng bẫy chim cu. Có thể chụp được vài con, nướng nhậu cũng đã lắm. Còn lưới chụp mầy phải tập cho thành thạo. Loại này khôn lắm. Sảy một lần khó bắt lại được.

 

Và đây là ngày thứ hai Khản làm chủ nhà thằng bạn. Đọc sách mãi đâm buồn. Sáng nay thấy mặt trời mọc đẹp quá. Khản chợt muốn ra đồng chụp lưới bắt chim cu.

Chưa tới sáu giờ mà ông trời đã vạch đường xanh đậm ở tít xa để chui lên. Hôm nay, ông không khoác cho mình những tia sáng chói lọi như những nan quạt hình ngọc lựu mà một nhà văn nào đó đã tả. Nhưng đẹp nhất có lẽ là những đám mây phía trên. Những đám mây phiêu diêu trong cổ tích với đủ hình dạng. Màu trắng lốp, được vừng sáng đỏ viền quanh, cộng với cái xốp ướt của nước của mây làm cho nó lóng lánh khác thường. Khản nhìn nó với lòng cực kỳ thán phục và biết rằng một chút nữa cái trứng khổng lồ đó sẽ nhỏ hơn, ánh sáng đỏ bớt chói chang. Và sẽ mất đi một buổi sớm mai. Cho nên Khản bắt tay vào công việc một cách sốt sắng.

“Ở đời có bốn cái ngu. Làm mai, giải nợ, gát cu, cầm chầu”. Lại nhớ lời thằng bạn nói. Gát cu có vẻ tiêu cực và công phu. Nào phải có những cái lục, một dụng cụ gát cu, lục phải chạm trổ tinh vi, phải ngụy trang sao cho cu bổ đừng ngờ. Nhưng khó khăn nhất vẫn là chuyện cu mồi. Một con mồi gát được ít nhất cũng phải huấn luyện từ ba đến mười năm. Cũng có thể cu mồi là những con gát bắt được. Đó là những con có mã tốt, giọng gáy say. Qua thời kỳ huấn luyện, phải biết nhận ra hơi chủ. Biết gióng lểu đôi, lểu ba. Biết chiêu, bo, gù rút khi người chủ ra hiệu lệnh.

Con mồi giỏi nhất là khi thấy con bói đến gần lục, phải “rút” cho kỳ được đồng loại nhảy vào bẫy.

Thuyết xong về cách gát cu, bạn Khản nói tiếp:

- Cách gát này tao nghĩ thụ động quá. Lựa một cành cây, gát cái lục có con mồi lên, ngồi chờ. Cả ngày được một vài con là nhiều, thậm chí không có con nào nữa. Bởi vậy người đời mới xếp vào loại ngu thứ ba.

Nghe Khản nói, Quát ngồi hẳn xuống chiếc ghế dựa. Bật lửa, đốt thuốc. Quát nhả những vòm khói tròn bay lên trần nhà, mơ màng nhìn nó.   

- Không đâu mày. Trò chơi nào cũng có cái đam mê của nó. Đời sống không có ý vị gì, khi mình không có một đam mê. Biết rằng sẽ mất nhân cách khi uống rượu. Cha tao hồi trước làm nghề hạ bạc, giàu lắm. Sau bỏ nghề về đây mua hàng mấy trăm công ruộng. Lên bờ ông lại sanh ra đam mê nghề gát cu. Ông đổi hai mẫu ruộng lấy con cu mồi. Một mẫu lấy một cái lục. Và hàng trăm công ruộng khác bay theo nghề gát cu của ông. Gia đình sa sút. Bệnh tật kéo đến đeo đẳng như rẫy bìm bịp. Đến lúc hấp hối ông vẫn ra dấu cho mồi rúc lên từng hồi gióng giả mới chết.

 

Nói xong thằng bạn Khản lại mơ màng nhìn theo khói thuốc. Ánh mắt đăm đăm về xa xăm. Khản biết nó cũng đang đeo đuổi theo một đam mê nào đó. Khản cắt ngang dòng suy nghĩ của nó.

- Sao mầy không theo nghiệp ổng?

- Cùng là loài cu thôi. - Quát trả lời - Nhưng có chút ít bổng lộc, chút gạo trắng nước trong, chút lồng son gác tía, thì lại dùng đúng ngôn ngữ loài mình sát hại đồng loại mình. Những thứ đó tao khác ba tao, một cắc cũng không mua.

- Vậy chứ chụp cu khác với gát như thế nào?

- Tao thực dụng hơn. - Quát nói - Chụp kiếm mồi nhậu. Con mồi không có tội khi đồng loại sa lưới. - Nói xong Quát lại nhìn khói thuốc.

Lưới chụp sẵn. Soạn thêm đồ nghề, cu mồi, cơm nước cho cả ngày. Khản vác, xách các thứ đó ra đồng.

Đi một hồi tới khu vườn hoang. Nghe tiếng chân người, bầy trao trảo trên cây ớt hiểm bay loạn xạ. Một con rắn hổ ngựa giật mình, chạy phăng phăng trên mặt nước của một ao to.

Chui qua đám nhãn lồng. Ruộng hiện ra. Những vạt lúa vừa cắt xong còn trơ rạ vàng tươi, mập mạp.

Khản chọn chỗ như lời bạn dặn, cắm cột, chăng lưới, giựt thử. Hai mảnh lưới chụp vào nhau nhanh như chớp. Các thanh tre nằm song song rất đều, hứa hẹn không sảy con bổi nào.

Làm xong cái tum bằng lá dừa, thả cu mồi, buộc dây nhà. Khản chui vào tum ngồi chờ.

Nghe theo lời Quát, Khản chừa bốn năm khe hở để quan sát.

Sáu con bồi từ hướng Bắc bay tới. Khản giựt dây nhá. Bầy cu trên không đang ngon trớn, bỗng thấy con mồi chớp cánh, nên đảo vòng. Khản chụp dây nhá giựt lia lịa, ý thúc bọn chúng đáp nhanh xuống. Bầy bồi định đáp xuống lưới, chợt thấy con mồi chớp cánh liên hồi. Con đầu đàn cất cánh bay lên, kéo theo năm con sau bay thẳng.

 

Khản tiếc rẻ. Ngồi chờ hồi nữa. Hơi nản, nên lục tìm túi hộp quẹt đốt thuốc hút. Khi quay lại, hai con cu đất không biết từ hồi nào, đã đứng gọn trong lưới. - “Đố trời cho mày thoát” - Khản nghĩ và chụp dây giựt thật mạnh. Vút. Hai cánh lưới úp nhanh vô cùng. Quá đà Khản té ra sau. Khi ngồi dậy được, anh thấy hai con cu đất đang thảnh thơi bay về phương Nam. Nó lẹ hơn lưới chụp. Không hiểu tại sao nó thoát được. Sửa lại lưới, Khản ngồi chờ một hồi lâu nữa. Ngồi một lúc không thấy con nào. Anh định cuốn lưới. Trong lúc đang tính, anh chợt nghe bên tai mình có làn hơi thở mạnh và mùi mồ hôi pha mùi đất khen khét.

Quay lại, sát Khản, một gương mặt xương xương đen ngòm hiện ra. Nhưng ghê nhất là hai hàm răng. Nó nhỏ, đều, nhưng nhọn một cách kỳ lạ và đóng bợn vàng khè khiến Khản liên tưởng đến ma cà rồng.

Hắn cười tự tin và nói nho nhỏ nhưng chắc chắn, như ra lệnh với Khản.

- Xê ra chút coi, để tui chụp cho vài con. Chớ giờ tới chiều chú không bắt được con nào đâu. Tối thắc mắc tức chết mẹ!

Tự động Khản xê ra, nhường chỗ cho thằng nhỏ. Và không biết sao mình lại nghe lời nó.

Thằng nhỏ lại ra lệnh:

- Xê ra chút nữa, ngồi sát vào vách tum.

Khản lật đật làm theo.

 Bấy giờ, nó mới chễm chệ ngồi vào chỗ Khản. Nó vạch rộng hai lỗ quan sát, giựt thử dây nhá, rồi tỉnh bơ nó rút một điếu trong gói thuốc thơm của Khản, quẹt lửa, thản nhiên thả khói.

Nó rít từng đợt thật sảng khoái. Khản nghe như cả tiếng khói đảo giòn giã trong hai lá phổi của nó.

Chậm rãi rít thuốc, độ nửa điếu, Khản nghe nó nói nhỏ:

- Cu đất ba con, phía Bắc.

Chú ý dữ lắm mới thấy ba chấm đen lao tới, Khản quay lại nhìn thằng nhỏ. Nó vẫn phì phả khói, đoạn đặt điếu thuốc xuống ruộng, hơi xê mình ra sau một chút.

Ba con cu trên cao, đang đà bay hướng khác.

Khản nóng lòng định giựt dây nhá. Nhưng thằng nhỏ quyết định nắm tay Khản lại:

- Đừng!

Nó nói và đợi ba con mồi gần đến, thò tay kéo một cái, con mồi ở giữa chớp nhẹ đôi cánh, chỉ có một lần. Nó buông dây nhá, nắm sợi dây giựt.

Ba con mồi trên đà bay, thấy con mồi chớp cánh. Chúng đảo lại sà bay xuống lưới chụp. Đợi chúng còn cách lưới bốn năm tấc, thằng nhỏ nắm sợi dây giựt một cái. Hai mảnh lưới ụp vào nhau cũng không nhanh lắm nhưng ba con cu đất đã nằm gọn trong lưới, chúng nhảy lung tung tìm đường bay lên.
 Không kiềm được sự vui mừng, Khản khoái trí vỗ tay đèn đẹt.

Thằng nhỏ mỉm cười và ra lệnh:

- Chú lại gỡ đi. - Nói vậy, nhưng nó vẫn cùng đi.

Khản định thò tay kéo lên.

- Chú đừng kéo vậy rách lưới.

Một tay lồng phía dưới nắm gọn con cu đất mập ú, tay trên cầm cái mỏ ấn xuống và ngón út đưa xuống mắt lưới kéo lên. Con cu đất sút khỏi lưới. Nhẹ nhàng nó kéo ra đưa cho Khản và dặn:

- Coi chừng sẩy.

Bỏ xong mấy con cu vào lồng, giờ Khản mới quan sát thằng nhỏ với vẻ thích mến thực sự.

Nó độ mười ba, mười bốn tuổi. Người khô đét. Móng tay, móng chân đầy ngấn bùn đen. Bộ đồ nó mặc, chẳng có hình dáng gì gọi là quần áo. Giẻ lau nhà Khản sạch hơn gấp trăm lần.

Khản ái ngại nhìn nó.

Riêng thằng nhỏ, biết Khản đang đánh giá mình. Mặt chẳng để lộ cảm xúc nào, nó nhìn Khản nói:

- Tui lạ lắm không?

Khản chợt giật mình khi nghe câu hỏi đó và hơi thẹn.

Nó móc bịch thuốc rê, quấn hút. Khản đưa cho nó điếu thuốc thơm.

- Thuốc đó thơm nhưng của chú. Giúp chú khi nãy lấy một điếu là huề. Còn tôi quen thứ rê chảng này rồi.


 


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 18 Tháng Tư, 2011, 08:47:10 pm
                          Tiếp :
 Nó đứng dậy nói tiếp:

- Cu đàn mỗi ngày ăn ba lần. Hừng đông, trưa và sẩm chiều. Trừ ngày nào có mưa lớn, sau mưa chúng mới đi ăn trộm, nhưng ít khi gặp lắm. Chú có thể ăn cơm hoặc ngủ đợi trưa chụp nữa. Nhưng chắc chú không chụp được đâu. Nó khôn hơn quỷ. Tui mắc vào nhà anh Bầu chịu mối mai đào mương. Chớ không tui lại chỉ cho chú. Chú ở xa đến phải không? - Nói xong chẳng chờ Khản trả lời, nó đứng dậy phủi đít rồi đi về phía cái nhà lá bên kia ruộng. Khản muốn rủ thằng nhỏ ăn cơm, nhưng nhìn bộ răng nó, Khản không giữ lại. Đồng trống, gió từng cơn phẩy vào người. Hương rạ ngát. Một khoảng trống mênh mông yên ắng. Bữa cơm đạm bạc nhưng ngon.

Ăn xong. Khản lấy miếng vải bạt trải ra. Nằm nghỉ đợi trưa chụp tiếp. Anh quyết phải bắt được vài con chớ không bao giờ chịu thua loài hải cánh tầm thường này.

Nằm thoải mái trên rơm, Khản mới tức cười. Lâu nay, không nói ra nhưng Khản vẫn tự hào với học vị tiến sĩ của mình và đã từng lệnh cho người ta. Nhưng hôm nay nơi thôn dã, Khản lại răm rắp nghe theo lệnh một chú nhóc lên mười. Và, phải học khôn nhiều hơn mới có thể bẫy được loài động vật có cánh chỉ sinh tồn bằng bản năng tự vệ. Khản lại mỉm cười và nằm yên lặng. Xa, lũy tre xanh cuối làng, có tiếng gà eo óc. Một con gáy, hai con gáy. Tiếng gà lưa thưa đếm bước chân thời gian đưa hồn Khản bay về giấc kê vàng xa xôi trầm lắng.

Đến gần hai giờ chiều mới thức giấc. Khản cố nằm nán lại và hé mắt nhìn. Năm sáu con se sẽ. Bốn con dòng dọc đầu vàng nghệ đang xúm xít chung quanh chân mổ những hột lúa của bọn cu mồi làm rơi. Chúng xem Khản như khúc gỗ vô tri chứ không phải một con người mà mỗi chữ ký quyết định hàng trăm số phận người khác. Khản vui vẻ ngồi dậy “hù” một tiếng. Cả bọn bay toán loạn.

 

Anh chui ra khỏi tum, vươn vai, khoan khoái hít lấy những luồng không khí trong lành.

Xa xa, bụi chuối xiêm ra hoa đỏ khiến anh chú ý. Dưới gốc có một người đang nằm. Hình dáng ấy, không ai khác, chính thằng nhỏ hồi sáng.

Khản đi đến đó.

Nó xê ra những cái thân cây chuối cho Khản ngồi.

- Hồi nãy, tui có lại thấy chú ngủ mê quá. Có hai bầy khá đông, nếu chú thức sẽ chụp giùm được. - Nó nói.

Chụp nhiều hay ít Khản không quan tâm. Cái háo hức chính của Khản là muốn biết tại sao mình làm như nó, mà không chụp được dù là hai con cu đã đứng gọn trong lưới.

Khản hỏi:

- Cháu tên gì?

- Tui tên Nhọn.

- Nhà gần đây không?

- Nhà cháu cách nhà thầy Quát bảy cây cầu.

- Cháu biết chú ở đó?

- Tui còn biết chú ở đây chơi cả tháng nữa. Anh Bầu nói lại.

Khản sang chuyện khác:

- Tại sao chú cũng làm như cháu mà không chụp được con nào hết?

Nhọn cười. Khản tránh không dám nhìn hàm răng nó.

- Tui đã ngồi xem chú chụp từ khi vác lưới ra kia. Nghề chụp cu dở ẹt.

- Tại sao chú cũng nhả mồi mà nó không đáp xuống lưới?

- Cái ngoắc tay gọi bạn với các ngoắc tay cầu cứu nó khác xa lắm. Con cu mắt nó tinh, trên cao nó thấy con khác xa hàng cây số. Đợi nó lại gần chú giựt dây nhá cho con mồi chớp cánh một cái nhẹ. Đó là cái chớp gọi bạn. Còn chú giựt liên tục, bắt buộc con mồi chớp cánh liên tục vì sợ hãi. Đó là cái chớp cánh báo hiệu sự nguy hiểm. Dù giống vật nhưng nó có thèm sà xuống chỗ chết đâu!

Khản thấy tim mình thắt lại vì sự thiển học ở cuộc sống nông thôn của mình và bắt đầu thán phục sự am hiểu của Nhọn.

Khản móc thuốc mời Nhọn với vẻ trân trọng đặc biệt. Lần này nó cầm.

- Cháu năm nay bao nhiêu tuổi?

- Tui mười hai, mười ba gì cũng quên mất.

- Còn mẹ cha cháu?

Nhọn vờ mượn cái hộp quẹt thuốc và khen nó đẹp. Khản biết nó không muốn nói về chuyện gia đình. Nên đặt vấn đề khác.

- Có con đã đứng sẵn trong lưới rồi, sao chú giựt nó vẫn thoát được?

Nhọn rít hơi thuốc, thong thả:

- Đã nói với chú nó khôn hơn quỷ. Chú để ý xem khi nó đậu xuống đất không bao giờ mổ lúa ăn liền. Nó đứng liếc mắt quan sát xem có nguy hiểm không mới mổ ăn. Cho nên khi nó đậu xuống lưới, khó mà chụp được nó vì lưới nhanh, nhưng không bằng đôi chân, đôi cánh của nó. Chỉ động một chút là nó bay mất. Muốn bắt được, phải canh lúc nó xuống cách độ vài tấc, chú giựt đố con nào thoát. Cái trớn nó đang sà xuống muốn đảo lên thì không được, vì sát đất nếu đảo lên bất ngờ, nó cũng phải té xuống. Cuối cùng nó phải nằm gọn trong lưới chú.

- Vậy mà chú tưởng dễ xơi nó lắm. Hèn chi...

Ở đây tụi tui không có tiền. Nên bắt buộc phải theo dõi bọn nó để kiếm cái ăn hàng ngày. Chú phải biết cách sinh sống mới bắt được nó. Tui đố chú tháng ba tìm được ếch ngoài đồng hay dưới mương rạch. Còn người sành ăn ếch chỉ ăn có lúc này vì thịt nó ngon và thơm hơn thịt gà. Nhưng muốn bắt, chỉ có tụi tui thôi.

Và để chấm dứt câu chuyện Nhọn nói:

- Giờ chúng sắp sửa đi ăn buổi chiều, chú rình chụp được rồi.

Khản lắc đầu, vỗ vai Nhọn:

- Chú chụp chơi chứ không muốn bắt nhiều. Cháu lại đây.

Nhọn theo, Khản bắt ba con cu chụp được lúc sáng đưa cho Nhọn. Nhọn lắc đầu:

- Không! Chú đem về nướng đi. Tụi cháu ăn hoài.

Khản nhìn Nhọn, tiếp:

- Cháu xách về làm sạch treo đó. Chiều chú lại chơi. Chú cháu mình nướng nó và tâm sự thêm về chuyện chim cò. - Khản cười.

Nhọn e dè cầm lấy, rồi hỏi:

- Chừng nào chú lại?

- Chiều chiều.

- Làm món gì để tui lo. Chú uống rượu không?

Khản lưỡng lự một chút rồi nói:

- Có chút rượu cũng được. Tiền đây. Còn cu thì nướng.

 

Khản nghĩ chắc gia đình Nhọn có trục trặc gì đây, nên có ý muốn tối nay đến chơi. Vả lại ở nhà Quát một mình cũng buồn. Và Nhọn đang thực sự thu hút Khản.

Khản lui cui cuốn lưới, nhổ cọc rồi đưa mắt tìm Nhọn.

Cái dáng nhỏ thó của nó đã khuất sau đám bắp xanh rờn.

Sự sạch sẽ, giàu sang lịch sự của người khách lớn tuổi làm Nhọn chăm lo chút đỉnh cho bản thân mình.

Cái áo rách lúc sáng được thay bằng cái áo mầu đỏ, đỏ trông đến kỳ cục, và cũng đã có vài chỗ vá. Cái quần dài sờn hai đầu gối, ở mông có một miếng vá. Còn hàm răng được nó đánh kỹ.

Ba con cu được làm sạch sẽ treo ở chái bếp. Còn nhà chẳng ra nhà. Vì nó có mái không có cửa, có vách không có ván lợp. Một bàn thờ, một giường nằm. Trên cái bàn ăn nhỏ bằng tre, dọn sẵn chén đũa ra, nước mắm. Một ly uống rượu. Toàn bộ chỉ có bấy nhiều. Riêng đĩa rau mới nhìn đã thấy rất ngon lành.

Khản đến. Nhọn cười vẻ thèn thẹn vì sự nghèo nàn của mình.

- Chú ngồi chơi nghen. Tui nướng nó, chim nướng một lửa mới ngon.

- Sao cháu không ướp cho thơm?

- Nó ướp gia vị, mất mùi chim. Để tui làm lát chú ăn sẽ biết.

Nhọn gạt lửa bắt đầu nướng.

Ngồi không, Khản đi vòng quanh nhà người bạn nhỏ.

Dưới bàn thờ, có một hộp thiếc cũ khá to. Trong đựng đồ chơi Nhọn nặn bằng đất. Khản ngồi xuống lấy từng vật trong đó ra quan sát.

Một con trâu cỡ cườm tay nằm thảnh thơi ngơi nghỉ. Nó đưa cặp mắt bằng hai hột đậu đen nhìn xa vẳng nhớ lại thời làm lụng cực nhọc đã qua. Miệng nó ngoạm ngang một bông lúa nhỏ. Bông lúa hơi khô chứng tỏ con trâu này được nặn cách đây không lâu.

Thầy trò Tam Tạng đi Tây Trúc thỉnh kinh. Đường thiên lý xa xôi muôn dặm mà thân hình Đường Tăng lớn hơn ngón chân cái. Gương mặt thầy hiền hòa đầu đội mũ tỳ lư làm bằng những hột lứa dựng ngược thật đều và khéo. Thầy đang cưỡi con ngựa trắng, tay cầm gậy thiên trượng bằng nhánh trúc nhỏ, trên cắm ruột trái mù khô. Cạnh là chú Sa Tăng đeo một sâu sọ đầu bằng hột thầu dầu trông rất dữ tợn. Còn anh Trư Bát Giới ham dâm với hai còn mắt ti hí, hai lỗ tai heo bằng lá nhãn khô dựng đứng, hai tay ôm cái bụng phệ nung núc mỡ, có cái lỗ rún sâu hoắm. Trư đang lười biếng nằm cạnh gốc cây khò khò ngủ. Riêng bác Tề Thiên có lẽ tác giả tốn công với bác nhiều nhất. Bác vận quần da hổ, áo thầy Tam Tạng may cho, y như trong phim. Hai tay bác cầm ngang cây thiết bảng bằng một cành tre nhỏ. Cây thiết bảng được nối với một thanh nứa dài và uốn cong theo lưng bác bằng một sợi dây nhợ. Thấy ngộ, Khản cầm ngang lưng bác đưa lên cao. Bất ngờ thanh nứa động đậy giựt sợi dây lia lịa. Thế là, hai chân bác Tề Thiên đong đưa. Tay bác nâng cây thiết bảng lên, lúc thì gạt bên này, lúc thì gạt bên kia. Lúc giơ lên cao, lúc thẳng tay đập xuống. Bác đang đi một bài hầu quyền tuyệt diệu. Nếu lúc này nam tài tử Lục Tiểu Linh Đồng thấy cũng chắc phải khen tài đối với bác. Khản say mê nhìn. Quên luôn Nhọn, quên luôn mùi cu nướng thơm lừng. So với xe hơi, chiếc máy bay điều khiển bằng điện tử từ xa Khản mua cho những đứa con, nếu mang vật này về thì chắc chắn chúng sẽ bỏ hết để chọn bác Tề Thiên.

 


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 18 Tháng Tư, 2011, 08:49:31 pm
                               Tiếp :
Khản quỳ một chân bên con trâu, tay nâng nó như một báu vật. Con trâu đất bỗng hỉn mũi như nhận được hơi người chủ cũ, nó phình to lên như con trâu thật ngoác miệng nhìn Khản cười. Nụ cười kéo tận mang tai, nửa thương, nửa khinh. Nó nói:

- Có phải ông tiếc những ngày xưa phải không? Khi ông cười tôi, nhàn nhã rong chơi khắp đồng không mông quạnh. Lúc đó lòng ông trong sạch như bông sen trắng. Còn bây giờ... ha ha... ha ha...

Nói đến đây, đầu nó ngước cao và cười thành tiếng “ha ha” “ha ha”. Nó cười đến hàm răng trên ta tả rụng xuống hết nó mới thôi cười và ngâm nga:

Con trâu có một hàm răng

Ăn cỏ đất bằng, uống nước bờ ao.

Ngậm xong miệng lại cắn ngay bông lúa và từ từ biến nhỏ lại thành đất nằm gọn trong lòng bàn tay Khản.

Ôi! Cái thời xa xưa của Khản, cái thời quá vãng ào qua lạnh buốt. Khản thấy rưng rưng và day dứt trong lòng.

Tiệc bày xong.

Nói là tiệc nhưng chỉ có hai người.

Hai chú cháu ngồi ngang nhau. Không ngần ngại Khản làm một ly rượu nếp rặc vừa nồng vừa thơm, khà một tiếng nhỏ. Đoạn, Khản xé một đùi chim béo múp, nóng hổi chấm nước mắm, bỏ vào miệng. Ngắt thêm vài đọt rau thơm, cắn nửa trái ớt hiểm, Khản bắt đầu nhai. Mỡ chim tươm ra đầy môi. Cái béo, cái ngọt, cái nồng, cái cay cộng với mùi chim nướng nó quyện tê đầu lưỡi.

Khản uống luôn hai ly với hai đùi chim. Anh bạn nhỏ, ngồi nhìn Khản ăn, mỉm cười nói:

- Tui nói đâu có trật, chú ướp rồi nướng ăn không ngon hơn đâu.

Vị ngon của rượu nếp rặc vẫn chưa tan, Khản gật gù:

- Không bữa tiệc nào ngon hơn.

Nhọn sung sướng nói:

- Nhằm nhò gì chú. Chim này thịt long nước ăn không ngọt hung. Bữa nào ra giữa đồng đem rau rượu, nước mắm theo. Cháu làm cho chú món chim ướp sình nướng rơm. Món đó còn ngon hơn nữa.

Đợi cơn khoái cảm qua, Khản mới trở lại ý chính là mình muốn tìm hiểu hoàn cảnh người bạn nhỏ ở đợ này, vì càng lúc càng thấy mến nó hơn.

Nhưng hỏi thẳng thì nhớ lại cái lẩn tránh của nó lúc ban trưa, Khản suy nghĩ tìm cách khác. Anh vào đề:

- Rượu ở đây ngon quá!

-Cái nầy là của thằng bạn, nó gởi cho tui và chú. Rượu nếp rặc. Nó còn gởi thêm một mớ phèo heo đang luộc nữa kia. Đợi hết chim tui chú sẽ làm tới món đó.

- Nãy giờ cháu chưa uống ly nào. - Khản muốn Nhọn uống vài ly. - Vậy mà cháu nói, cháu với mấy thằng bạn uống hoài.

Con chim nướng trong chén rượu Nhọn còn nguyên. Nó rót rượu thật gọn. Bọt rượu sôi tràn thành ly và nổ tanh tách nhưng không rớt ra ngoài một giọt. Nó xé một đùi chim đút vào mõm con chó cò, rồi mới xé đùi kia bỏ vào miệng, đánh ực một ly rất thạo.

Giờ Khản mới chú ý đến con chó.

Con chó háo hức nhai miếng thịt chim, đuôi ngoáy lia lịa. Toàn bộ cơ thể nó thật thiểu não, có thể nói chỉ còn một bộ khung xương với dúm da bọc. Chỉ có cặp mắt nó sáng quắc. Khản biết nó đói và chợt nhớ tới người bạn đã nhận xét là khi đói mắt người ta sáng lạ thường và trở nên hung dữ hơn. Ăn xong nó thè lưỡi liếm mép rồi liếm bàn tay Nhọn.

 - Bạn tui đó chú. Thầy trò tui không lúc nào rời nhau. Nó giỏi lắm, nhưng lúc này thiếu cơm nên ốm nhom, ốm nhách, tội nghiệp. Nó bắt “ông đen” số một. Chú biết không, bữa hôm nó bắt một con lớn hơn cườm tay chú nữa, dài gần hai thước. Con rắn hổ đen phùng bàn nạo với nó, cháu thấy cháu còn sợ. Hai con thủ thế. Con rắn trườn tới, nó thối lui; con rắn thối lui nó nhào tới. Một hồi, nó đưa chân trái tới miệng con rắn, dứ một cái con rắn mắc lừa mổ liền xuống đất. Lợi dụng phút đó, nhanh như chớp nó nhào tới cắn ngang cổ cúp con rắn, quay qua, quay lại lia lịa. Nó nhả ra, con rắn nằm im không nhúc nhích được. Tôi chỉ cần lấy cái mác vớt khứa cổ đem về. Thầy trò nấu nồi cháo đậu xanh rồi cùng với mấy thằng bạn làm một bữa bí tỷ.

- Tiền đâu mấy cháu mua rượu?

- Đứa nào dư thì mua, không có thì thôi. Tụi cháu làm mướn. Ngày nào không ai mướn thì săn chuột, thối quốc, hay nặn đồ chơi chơi.

- Cháu làm gì?

Thằng Nhọn đưa bàn tay to bè, chai sần. Những đốt tay phù to như những đốt tre, cười hồn nhiên:

- Đủ nghề hết, mần cỏ, đào mương, cuốc đất.

Nói xong, để chứng minh, nó vào buồng ôm ra lỉnh kỉnh vá, cuốc, dao, cái nào cái nấy sáng giới vì cọ sát với đất. Chứng tỏ lao động cật lực. Nhọn tiếp.

- Bây giờ ít ai mướn làm quá. Người lớn như anh Bầu làm một ngày, ăn cơm chủ, chủ trả mười ngàn. Tui làm giỏi như ảnh nhưng chủ chỉ trả sáu ngàn mà anh Bầu phải lãnh dùm người ta mới mướn. - Nói xong, nó ôm con chó lên. Con chó thè lưỡi liếm gò má nó. - Nhọn tiếp - Tội nghiệp con này nó theo cháu hàng ngày. Nhưng mình ăn cơm chủ, cho nó ăn nữa thì chủ không chịu, thỉnh thoảng cháu lén đổ vài muỗng, nên nó ốm nhom - Nhọn lại cười.

- Còn ba má cháu đâu?

Nhọn nhìn xuống đất hồi lâu nói:

- Ba má cháu thôi nhau bảy năm rồi. Cháu ở với ba, nhưng ba buồn đi rượu chè đôi ba tháng mới về. Còn mẹ thì đi luôn. - Nói xong, nó vẫn nhìn xuống đất.

- Cháu sống như vậy thì sao sống nổi?

- Biết làm sao giờ chú! Cháu van vái ba má cháu về. Rồi, cháu sẽ làm cật lực để có tiền mua bộ đồ hớt tóc. Nghề đó học nhanh và dễ làm ra tiền lắm. Với lại nó ít cực hơn nghề làm mướn của cháu. Chớ chú nghĩ, cháu có học hành gì đâu mà làm nghề khác được?

Khản nhìn mãi ngọn lửa bập bùng trong bếp, thằng Nhọn đứng dậy nói tiếp: - Cháu xắt lòng heo, chú cháu mình làm tiếp.

Khản đưa tay ngăn:

- Không! Chú không uống nữa. Cháu dẹp đi. Đêm nay chú ở đây chơi với cháu:

- Phèo non ngon lắm.

- Không - Khản trả lời dứt khoát.

Nhọn nghe lời:

- Nếu chú ở thì chú ngủ giường cháu. Cháu ngủ ngay bàn này.

- Cháu ngủ chung với chú. - Khản nói.

- Không, cháu nằm chỗ nào cũng được, với lại cháu ngủ đâu con chó cò này theo ngủ đó.

Dọn dẹp xong, nó trải chiếu cho Khản nằm, rồi ra sàn ôm mấy khúc củi bự vào.

Khản hỏi:

- Cháu làm gì vậy?

- Hun muỗi. Ở đây muỗi nhiều lắm chú.

Khản nằm im trên giường. Men rượu nồng lâng lâng mạch máu. Những ngày trước uống cỡ này dễ ngủ say lắm. Đêm nay lạ chỗ Khản trằn trọc mãi.

Đêm sâu, ánh trăng lại rớt ở hiên nhà. Những lùm cây xung quanh không còn trông rõ hình dáng, bếp củi Nhọn nhóm gần tàn, thỉnh thoảng cơn gió thoáng qua, nó bùng lên uốn éo một điệu múa lạ rồi tắt ngay. Qua ánh lửa, Khản thấy Nhọn nằm co ro trên chiếc ghế ăn cơm, con chó cò nghếch cổ nằm ngủ trên kheo chân Nhọn.

Khản chắc mấy ly rượu đã làm nó ngủ say. Anh định đi về thành phố, anh sẽ mua tặng liền cho nó một bộ đồ hớt tóc hiệu Pháp, loại tốt nhất. Chợt có tiếng Nhọn ho. Khản hỏi:

- Cháu chưa ngủ à?

- Đêm nào cũng vậy chú - Nhọn trả lời - Buồn quá. Nhất là tiếng con vạc sành nó kêu “tọc, tọc” suốt đêm. Cứ nghe hoài cháu không ngủ được. Đó, chú có nghe không?

Từ lúc chiều đến giờ Khản không chú ý, giờ nó nói, Khản yên lặng nghe “tọc, tọc, tọc”. Tiếng kêu đều đều phát ra từ những lùm cây quanh nhà.

Nằm nghe nó kêu Khản thao thức mãi, chợt đầu anh chạm vào một gói gì nho nhỏ dưới gối. Đó là một tấm ảnh cũ của ba Nhọn và Nhọn. Người đàn ông trong ảnh đang cười, để lộ những chiếc răng nhỏ đều, nhọn một cách kỳ lạ y như hàm răng của Nhọn.

Khản rùng mình choàng dậy.

“Tọc, tọc, tọc”. Khản biết giải quyết vấn đề Nhọn bây giờ không phải đơn giản là mua một bộ đồ hớt tóc loại tốt, mà chính là tiếng vạc sành của truyền thuyết ngày xưa.

Khản len lén đứng lên lấy cái mền đắp cái hình hài tiều tụy của nó. Rồi anh bước hẳn ra ngoài trời trở về nhà bạn mình.

Ánh trăng khuya làm ướt cả đường đi.

“Tọc, tọc, tọc” đâu đâu cũng có bản hợp tấu đau đớn, da diết, bi thương đó. Tiếng kêu thất thanh của nỗi đau nhất đời người, nhưng không do mình gây ra. “Tọc, tọc, tọc”. “Tọc, tọc, tọc” Khản chợt nhìn thấy chùm tóc lòa xòa trước trán mình bỗng bạc trắng và nghe ngàn tiếng vạc sành như những tiếng răng nhọn hoắt cắn xé trong tim mình.

“Tọc, tọc, tọc”. “Tọc, tọc, tọc”. Anh đi như chạy dưới ánh trăng tai tái

 Ph Tr Kh.


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 18 Tháng Tư, 2011, 09:19:16 pm
                          Thăm chồng nơi chiến trận
                           Tác giả :Hàn Thị Trang

  Hơn 40 năm trong quân ngũ quả là thời gian khá dài đối với cuộc đời một người phụ nữ. Có biết bao nhiêu chuyện vui, buồn xen lẫn trong khoảng thời gian ấy. Có chuyện dễ dàng phai mờ theo năm tháng. Nhưng cũng có những kỷ niệm càng chôn chặt trong ký ức, lại càng sáng ngời lên trong đời sống hiện tại.
                                        - - - - - - -
 Vợ chồng tôi tạm chia tay nhau đầu năm 1964. Anh vào chiến trường miền Nam. Tôi ở lại miền Bắc tiếp tục học thêm chuyên môn và chăm sóc ba con nhỏ. Hơn một năm sau, cuối năm 1965, tôi cũng theo bước chồng vào chiến trường, với cương vị quân y sĩ khoa sản. Nhiệm vụ là chăm sóc sức khỏe trung đoàn nữ thanh niên xung phong trên đường dây 559. Trung đoàn toàn những cô gái khỏe mạnh từ Thanh Hóa, Quảng Bình, Nam Định, Ninh Bình và một số tỉnh miền Bắc tuyển chọn vào. Vậy mà chỉ trong một thời gian, bom đạn, ốm đau, bệnh tật, đói khát và biết bao khó khăn, phức tạp của giới nữ đã làm chúng tôi xuống sức nhanh chóng. Chỉ mới một năm làm việc ở Trường Sơn mà các cô trẻ, đẹp đã mất đi phần lớn vẻ duyên dáng, mượt mà của giới mình.


Biết được sức khỏe và khó khăn của trung đoàn, cấp trên đã điều động toàn đơn vị trở ra miền Bắc điều dưỡng và công tác ở tuyến ngoài. Tôi được các anh cấp trên cho biết, chính Bác Hồ sau khi nghe báo cáo về cuộc sống của chúng tôi ở Trường Sơn đã chỉ thị đưa trung đoàn ra Bắc.


Cuối năm 1967, sau khi tốt nghiệp bác sĩ, tôi tiếp tục làm đơn xin vào chiến trường miền Nam một lần nữa. Tôi tâm niệm rằng, mình sinh ra trên đất miền Nam thì không có lý do gì lại vắng mặt trong cuộc chiến tranh giải phóng chính quê hương mình. Một điều khác cũng không kém sức lôi cuốn, thôi thúc là vào đó sẽ có cơ hội gặp chồng. Các anh trong Cục quân y và Bộ Quốc phòng không muốn cho tôi đi, với lý do chồng tôi đã đi rồi, các con tôi còn nhỏ. Một vài bạn thân cũng khuyên can, nhưng ý đã định, tôi quyết thực hiện cho bằng được. Và thế là tôi trở lại chiến trường lần thứ hai. Chồng tôi - anh Lư Giang - khi đó là Sư đoàn trưởng Sư đoàn Sao Vàng, đang chiến đấu ở Bình Định.


Sau một thời gian công tác ở Quảng Nam, tôi đề nghị quân khu cho phép vào Bình Định thăm chồng. Anh Chu Huy Mân, anh Giáp Văn Cương, anh Đặng Hòa, anh Nam Khánh và các anh trong Bộ Tư lệnh hồi đó tính toán mãi, cuối cùng mới đồng ý. Anh Chu Huy Mân còn nói vui: “Nếu sư Ba cần, cô Trang cứ ở lại, chúng tôi không truy tìm đâu mà lo”.


Được các anh đồng ý cho đi, tôi mừng chảy cả nước mắt. Tôi vội thu xếp khăn gói lên đường cho kịp với đoàn anh Nam Khánh, cũng về sư đoàn.


Quãng đường từ Quảng Nam vào Bình Định thật khó khăn, cực nhọc. Suốt ngày leo dốc, lội suối đá, tránh bom tọa độ. Càng vào sâu các tỉnh ở miền trong, mức độ ác liệt, khó khăn càng không thể tưởng tượng nổi.


Mấy ngày đầu còn theo kịp anh Nam Khánh, sau tôi sợ ảnh hưởng đến kế hoạch của đoàn, nên lùi lại đi một mình. Cứ như vậy, ngày đi, đêm nghỉ. Có ngày đến được trạm giao liên, nhưng cũng nhiều lần mới đi được nửa đường thì trời đã tối. Nghe anh em giao liên nói, nếu phải dừng lại giữa đường thì nên ngủ ở một hòn đá giữa suối nước, nếu không sẽ bị hổ ăn thịt. Vậy là hôm nào không tới được trạm, tôi tìm một tảng đá lớn ở giữa suối, ngồi, tựa ba lô mà ngủ gà ngủ gật cho hết đêm.


Khắc đi, khắc đến. Vào một buổi trưa, tôi tới sở chỉ huy Sư đoàn Sao Vàng. Một anh cán bộ còn trẻ nhưng đôi mắt trũng sâu, thâm quầng, có lẽ vì mất ngủ, xem tờ giấy rồi nói với tôi:
- Mời chị tạm nghỉ ở nhà khách, họp xong thủ trưởng sẽ ra ngay.
“Nhà khách”, nói cho sang vậy thôi, thực ra chỉ là cái lán lợp lá nón nấp dưới lùm cây, giống như lán nghỉ của chị em chúng tôi ở đường dây 559. Nhưng không hề gì, tôi đã quen với chiến trường từ lâu.
- Từ đây đến chỗ anh Giang còn bao xa, đồng chí?
- Gần thôi chị ạ! Chỉ năm phút đi bộ.
- Vậy thì cho tôi vào có được không?
- Dạ, không được, Tư lệnh nguyên tắc lắm. Chị thông cảm.
- Chả lẽ nguyên tắc quân sự lại áp dụng luôn đối với vợ  - Tôi vừa nói vừa cười. Anh cán bộ trẻ vui vẻ đáp:
- Chị cũng là cán bộ, lại là vợ thủ trưởng, chắc chị hiểu tính nguyên tắc của thủ trưởng. Nhất là ở thời điểm này, đơn vị đang triển khai tác chiến.


Nghe chừng thuyết phục anh cán bộ bảo vệ không xong, tôi đành vào lán mắc võng nghỉ. Bấy giờ trong đầu óc tôi bâng khuâng một câu hỏi: Tại sao biết vợ lặn lội vào đến đây mà anh ấy không ra đón? Trước đó mấy phút, tôi tưởng tượng khi biết vợ đến, anh sẽ dừng họp ra đón ngay. Mấy năm rồi còn gì. Lúc đó, tôi sẽ sà vào lòng anh mà khóc, mà kể anh nghe về hai lần vào chiến trường, chuyện các con gửi quà cho bố. Chuyện bị phục kích ở sông E-mơ, bị đạn bắn vỡ hết cả ba lô, kính lão mà người không việc gì. Rồi chuyện xe ô tô bị đổ ở trạm Buôn Phiên mà anh em gọi đùa là trạm “Buồn Phiền” bị gãy xương vai và bàn chân, chị Tùng vợ bí thư tỉnh uỷ Đắc Lắc chết tại chỗ… Còn một chuyện khác nghĩ lại rất buồn cười mà tôi cũng muốn kể cho anh. Đó là chuyện khi tôi làm đơn tình nguyện vào chiến trường, lẽ ra phải “Kính gửi đồng chí Phạm Ngọc Mậu", không hiểu thế nào tôi lại viết kính gửi đồng chí Hồ Tùng Mậu. Anh Mậu gặp tôi vừa cười vừa nói đùa: “Này cô Trang ơi, tôi là Phạm Ngọc Mậu, còn Hồ Tùng Mậu đã đi lâu lắm rồi, muốn gửi đơn cho cụ ấy, cô phải gặp Diêm Vương chớ sao lại đưa cho tôi”.


Biết mình nhầm lẫn một cách ngớ ngẩn, tôi ngượng chín cả người.


Thế rồi cái câu hỏi: “Tại sao anh ấy không ra đón tôi” lại xuất hiện trong đầu. Tôi bỗng tủi thân. Cổ họng nghẹn đắng, nước mắt trào ra lúc nào không biết. Giận hay ghen, tôi không rõ. Tôi có nghe nói các thủ trưởng thường được những cô y tá, công vụ tuyển chọn từ đồng bằng lên, chăm sóc rất tận tình. Và biết đâu đấy, anh Giang cũng chỉ là một người đàn ông bằng xương bằng thịt…


Mỗi một phút chờ đợi lúc này sao mà nó dài đằng đẵng. Tôi bỗng giở toàn bộ ba lô rồi xếp lại, để giết thời gian. Nhưng thực ra, trong ba lô chẳng có gì nhiều. Vài bộ quần áo. Một hộp thuốc quân y. Nhưng khi xếp đến gói quà của các con tôi gửi cho bố, thì tôi thấy bủn rủn cả chân tay. Ôi, các con bé bỏng đáng thương của mẹ. Hiện các con đang sống ra sao… Tôi bần thần giở ảnh của Chinh (con lớn), của Lê (con thứ Hai), của Phương (con gái út) ra xem. Các con tôi đang mỉm cười như khích lệ lòng kiên nhẫn. Các con còn hát, còn đọc thơ thu vào băng cát-sét gửi cho bố.
Cho đến chiều, đồng chí liên lạc mới ra trạm mời tôi vào gặp “thủ trưởng”. Tôi vẫn bực mình nghĩ: “Anh ấy quan cách quá, chỉ dăm phút đồng hồ mà không thèm ra đón. Còn mình… mình đã lặn lội hàng ngàn dặm đường…”.

 


Đúng như anh cán bộ ở trạm nói, năm phút sau tôi đã vào tới sở chỉ huy tiền phương sư đoàn. Nhìn thấy anh Giang, tôi định nhảy đến ôm chầm lấy anh sau những năm xa cách. Nhưng nhìn ánh mắt không vui, của anh tôi sững lại ngay. Tôi cố kìm nén để khỏi bật ra tiếng khóc, vì tủi thân. Cũng may, anh Nam Khánh, anh Huỳnh Hữu Anh, anh Sơn Diệp trong Bộ Tư lệnh sư đoàn đều có mặt, chúc mừng buổi hội ngộ đặc biệt của vợ chồng. Mới nói chuyện qua loa được một lúc, anh Giang bỗng đứng dậy nói với mọi người: “Thôi, ta hành quân cho kịp”.


Vậy là hành quân. Anh Giang và Bộ Tư lệnh đi trước, tôi đi sau với cơ quan. Một đồng chí cán bộ tác chiến cho biết, chiến dịch đã bắt đầu rồi. Sở chỉ huy đang rời đến một quả đồi gọi là Hòn Nọc, để chỉ huy hai hướng Mỹ Trinh, Mỹ Lộc (huyện Phù Mỹ) và khu thung lũng Hoài An. Anh cán bộ giải thích, thời điểm này chiến trường Bình Định đặc biệt gay cấn. Sư đoàn không vận số 1 Mỹ qua hai mùa khô đã rút đi, nhưng chúng lại đưa lữ đoàn xe tăng thay thế. Vậy là hết “không vận”, ta lại phải đối phó với “Thiết xa vận”. Hết “Kỵ binh bay” lại phải đánh với “Kỵ binh thiết giáp”.


Vốn làm nghề y, nên khi nghe anh cán bộ tác chiến nói về chiến thuật, về vũ khí, về cách đánh, tôi chỉ hiểu được một phần. Nhưng tôi biết đại thể, tại khu vực giáp ranh này đang diễn ra một cuộc đọ sức rất quyết liệt. Một bên là Sư đoàn Sao Vàng mà chồng tôi đang làm sư đoàn trưởng và các lực lượng địa phương tỉnh Bình Định. Một bên là hàng trăm xe tăng, hàng ngàn lính Mỹ, chưa kể đến lực lượng quân nguỵ.


Vừa hành quân tôi vừa tìm cách hỏi dò về tình cảm của chồng tôi đối với mọi người xung quanh, đặc biệt là các cô gái phục vụ còn rất trẻ. Biết đâu, ở chiến trường lâu ngày, xa vợ xa con lại là người chỉ huy cao nhất. Tôi cố nén cơn ghen tức vừa chợt bùng lên làm như vô tình hỏi anh cán bộ đi cùng.
- Này, khi thủ trưởng nghỉ ngơi, các cô y tá, công vụ có phục vụ chu đáo không?
- Có chứ - Anh cán bộ hồn nhiên trả lời.
- Vậy khi ngủ…?
- Không, cái đó thì không. Thủ trưởng ở hầm riêng, cần gì thủ trưởng mới gọi.
Thế cũng đủ rồi. Tôi không hỏi thêm gì nữa, hèn gì anh ấy lạnh nhạt đến thế. Cái máu “nữ nhi thường tình” lại nổi lên như một cơn lốc khiến tôi hết sức đau đớn.


Sở chỉ huy tiền phương sư đoàn đóng trên mỏm một quả đồi cây xanh. Ở giữa có thể quan sát được cả khu vực đồng bằng và giáp ranh rừng núi. Tôi không thông thạo địa hình, nhưng anh Giang nói điểm cao này rất bất ngờ, có thể tránh được bom B52 và thuận tiện cho việc chỉ huy tác chiến.
Đêm ấy, mồng 3-5-1968, sư đoàn đã dàn đội hình chuẩn bị nổ súng. Vợ chồng tôi nghỉ ở một căn hầm bò. Các chú vệ binh, công vụ khéo tay đã ken những cây rừng thành bàn ghế và cả chỗ nghỉ lưng, nom rất phẳng phiu xinh xắn. Vốn đã sống ở Trường Sơn mấy năm, tôi thấy chỗ nghỉ thế này cũng là sang lắm rồi. Dưới ánh đèn dầu nhỏ tôi nhìn anh, anh nhìn tôi… rồi bỗng dưng anh ôm chầm lấy tôi. Tôi khóc. Bao nhiêu nghi ngờ phiền muộn như được bù đắp. Anh gầy tọp.  Tôi xúc động đến ngột thở, một lát sau mới tỉnh táo được trở lại. Tôi cười, tay với chiếc ba lô định khoe với anh món quà của các con gửi cho bố mà tôi đã giữ gần một năm nay. Nhìn nét mặt, tôi thấy anh nghiêm hẳn và trầm lặng. Tôi thầm hiểu anh có điều gì đó băn khoăn chưa tiện nói ra. Im lặng một phút, anh hỏi:
- Em vào đây làm gì?


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 18 Tháng Tư, 2011, 09:21:41 pm
                                   Tiếp :
- Em vào đây làm gì?
Chao ôi, nghe anh hỏi mà tim tôi se thắt lại. Tôi thầm nghĩ: Ba năm trời xa nhau, hôm nay mới gặp mà sao anh lạnh lùng đến thế. Song tôi vẫn giữ vẻ bình thản trả lời:
- Em đến thăm anh. Nếu có điều kiện em sẽ ở lại công tác và gần gũi chăm sóc anh. Vừa nói, tôi vừa trao gói quà của các con gửi cho anh.
Anh cầm gói quà một cách thờ ơ, rồi để ngay xuống bàn. Nhìn cử chỉ và nét mặt của anh, tôi bỗng choáng váng, nghẹn ngào:
- Sao lại thế, anh Giang? - Anh Giang ơi, chả lẽ mấy năm mới gặp nhau, có biết bao nhiêu chuyện cần nói, cần bàn anh không muốn nghe sao? Biết thế, em chẳng cần xông vào nơi bom đạn, xa xôi này làm gì… Hay anh đã thay lòng đổi dạ với mẹ con em. Anh cứ nói đi. Em đủ sức chịu đựng tất cả.
Tôi dằn hắt, hờn dỗi. Anh không nói chỉ lắc đầu và ôm chặt tôi hơn như sợ tôi tuột khỏi vòng tay. Một lúc sau, anh mới nhỏ nhẹ nói:
- Hãy hiểu cho anh, Trang.
- Từ trước tới nay em hiểu, nhưng bây giờ thì em không thể hiểu.
- Anh thương yêu em, thương yêu các con hơn bao giờ hết, đặc biệt là lúc này.
- Thương mà anh lạnh nhạt với mẹ con em như vậy đó. Thương mà không muốn cho em ở gần. Thương mà anh chẳng hỏi han gì đến các con từ khi anh vào chiến trường. Thương mà anh… - Tôi chì chiết. Anh vẫn ngồi yên. Bất giác tôi nhìn lên mắt anh. Anh khóc. Đây là lần thứ hai tôi thấy anh khóc. Lần thứ nhất anh khóc trước mẹ tôi.
- Vào thăm thì được, nhưng ở lại thì không được.
- Vì sao?
- Chiến tranh mà. Chúng mình còn có các con nhỏ.
- Em đã thu xếp đâu vào đó cả rồi.
- Cũng không ổn, ở chơi với anh đêm nay, sáng mai em phải về quân khu ngay. Anh thở một hơi dài như lấy sức trước khi làm một công việc nặng nhọc, rồi nói tiếp: Trang ơi, em đừng day dứt anh mà tội nghiệp cho cả hai người. Không lúc nào anh quên em và các con. Khi vào chiến trường anh đã giấu một tấm ảnh em và các con vào gấu áo để lúc nào anh cũng có em và con bên cạnh.


Anh nói nhỏ nhẹ, từ tốn khiến lòng tôi dịu đi. Anh nhắc tới những kỷ niệm khi tôi còn là một y tá phục vụ ở viện Quân y 108, vì thương yêu anh mà tôi bất chấp hoàn cảnh để kết tóc xe tơ cùng anh. Hoàn cảnh anh ngày đó thật éo le. Anh đi Nam Tiến năm 1946, vợ ở nhà bị bọn cường hào ức hiếp đến chết. Đứa con gái duy nhất của anh, cháu Lê Chinh côi cút, đói rách, bệnh tật không nơi nương tựa… Sau khi tập kết ra Bắc năm 1957, anh là trung đoàn trưởng nhưng chưa có chế độ lương, mỗi tháng được hai mươi lăm đồng phụ cấp. Tôi làm ở khoa phụ sản trong bệnh viện. Có lần, do sơ ý để mất tiền của bệnh nhân, anh đã phải bỏ số phụ cấp ít ỏi của mình trừ nợ dần cho tôi. Nhưng cái đó không quan trọng, khó khăn nhất là mẹ tôi không chịu nhận anh làm có rể, vì anh đã có một đời vợ và có con. Mẹ tôi nói: “Mẹ rất thương nó nhưng mẹ không đồng ý con làm vợ lẽ”. Một buổi sáng, tôi đưa anh đến gặp mẹ. Với một nét mặt buồn, anh nói:
- Thưa mẹ, chúng con thương yêu nhau thực sự. Trang đã rất hiểu hoàn cảnh của con. Mẹ cho phép chúng con xây dựng với nhau. Con không còn cha, còn mẹ, cháu nhỏ cũng mất mẹ - Nói đến đó anh khóc. Mẹ tôi ngồi yên như một pho tượng. Anh nói tiếp: “Nếu xây dựng được với Trang, đời con còn có thêm tình thương của người mẹ mà bao năm con đã mất”. Nghe nói đến đó, mẹ tôi đứng dậy ra ngoài sân lấy khăn chấm nước mắt. Khi vào trong nhà mắt mẹ cũng đỏ hoe. Mẹ cầm tay anh và cầm tay tôi chập lại với nhau.


Ngọn đèn dầu trong hầm lúc mờ, lúc tỏ. Thi thoảng gió lọt vào lay động khiến nó nghiêng ngả làm cho khuôn mặt anh vốn gầy càng trở nên hốc hác. Nhìn chồng, tôi như đứt từng khúc ruột. Còn anh, anh vẫn đăm chiêu nhắc lại chuyện cũ.


Nói chuyện với tôi trong hầm, nhưng chốc chốc anh phải dừng lại, im lặng nghe ngóng. Bên ngoài sở chỉ huy có tiếng lao xao. Tôi đoán chừng các anh trong Bộ Tư lệnh cũng không ngủ, đang giải quyết công việc khi vắng anh. Biết vậy nhưng tôi tảng lờ như không có chuyện gì xảy ra, mong cho giây phút êm ả bên nhau được kéo dài thêm. Khoảng giữa đêm, có tiếng bom bay B57 rải và tiếng pháo biển gầm rít, rền rĩ ở dãy núi bên cạnh. Anh đứng dậy đi ra ngoài, nét mặt lộ rõ vẻ lo lắng. Lát sau, anh trở vào ngồi xuống, buồn rầu nói với tôi: “Không khéo nó đánh trúng đội hình hành quân của ta…”.


Gần sáng, không gian có lúc im lặng dễ sợ. Không tiếng súng, không tiếng người, không tiếng côn trùng, không cả những ánh pháo sáng vàng bợt từ phía Phù Mỹ rộ sang.
- Em có điều gì băn khoăn nữa không?


 Anh hỏi tôi. Được dịp, tôi thổ lộ rõ ý định của mình. Trước tiên, tôi giở gói quà của các con gửi cho anh. Trong đó có ba lá thư, ba tấm ảnh, một cuộn băng cát-sét. Con gái út gửi cho bố một con búp bê ngộ nghĩnh nữa. Anh chăm chú lật từng trang thư. Tay run run, hình như anh khóc. Tôi không nói gì, cứ để cho cha con anh tâm sự với nhau. Khi thấy anh thẫn thờ xếp lại những tấm ảnh, tôi mới ngỏ ý định xin ở lại sư đoàn. Vừa nghe anh đã nhìn thẳng vào mắt tôi, như trách móc, như thương cảm. Anh bảo rằng, đời anh có hai việc lớn phải làm. Việc thứ nhất là chiến đấu giải phóng quê hương. Anh có hai quê hương, Hà Bắc là nơi anh sinh ra, còn miền đất Phú Yên, Khánh Hòa là nơi anh trưởng thành. Việc thứ hai là chiến đấu giải phóng hoàn toàn miền Nam. “Đấy cũng là lời nguyền của anh, không thể không làm được. Vì vậy anh cần em giúp anh…”.
- Thì em có cản trở gì anh đâu. Em chỉ mong được ở gần, giúp đỡ anh dù ở cương vị nào cũng được. - Tôi vội bám lấy anh, hấp tấp.


Anh ngồi bần thần ngẫm nghĩ một lúc lâu. Tôi mừng là mình đã thuyết phục được anh. “Nếu ở sư đoàn bộ không tiện, em xin xuống bệnh xá”. Tôi nói thêm. Anh thở dài, không trả lời thẳng vào đề nghị của tôi:
- Em biết không, sư đoàn này đã chiến đấu liên tục ba năm. Ba năm trời cướp đi gần một vạn sinh mạng, tương đương với quân số của một sư đoàn. Mới mấy ngày nay thôi, cũng có hàng trăm cán bộ, chiến sĩ thương vong. Nếu cứ cái đà này, sự tổn thất của đơn vị còn đến mức độ nào nữa?... Anh rất thương yêu em và các con, nhưng anh không thể chấp nhận em ở lại - Rồi anh nói về bộ đội: Sau đợt tiến công đầu năm, địch có phần hồi phục và dồn, đẩy sư đoàn đến giai đoạn khó khăn hơn. Ngay bữa cơm của sư đoàn trưởng cũng chỉ được một phần ba là gạo. Bộ đội hy sinh bằng hàng trăm cách khác nhau. Đánh đồn hy sinh, chống càn hy sinh. Lấy gạo hy sinh. Đi công tác hy sinh. Mưa lũ, núi lở cũng hy sinh. Bắn nhầm nhau, hy sinh. Đói quá tự động đi nhổ sắn của đồng bào dân tộc trúng cạm bẫy cũng hy sinh. Trong chiến đấu trực tiếp với địch hy sinh một phần, thì hy sinh ngoài chiến đấu có khi đến hai, ba phần - Rồi anh nói tới công việc của người chỉ huy, mỗi ngày có tới hàng trăm báo cáo điện khẩn của cấp dưới và tới hàng chục mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên, cái nào cũng phải xem ngay, giải quyết ngay. Mỗi khi bước vào chiến dịch thì không có thời gian để buồn và để làm bất cứ việc gì riêng tư… Nghe anh nói, tôi không nghi ngờ gì về tình cảm tốt đẹp và sâu sắc của anh. Nhưng tôi vẫn muốn ở lại sư đoạn với động cơ hoàn toàn khác. Tôi muốn chia sẻ với các chiến sĩ mọi gian khổ, ác liệt một cách chân thành. Nghĩa là sống cùng sống, chết cùng chết với anh em. Thoạt nghe, anh có vẻ dìu dịu, gật đầu. Anh nói tôi có thể về bệnh xá và không có một ưu tiên nào so với mọi người. Tôi cũng chỉ mong có vậy. Tôi thở phào đinh ninh chuyện ở lại sư đoàn đã xuôi. Nhưng vài phút sau, anh bỗng đứng dậy xua xua tay:
- Không được, không thể được! Dù sao anh em ở bệnh xá cũng không nỡ dể em khổ sở, vất vả, như vậy sẽ không công bằng. Thôi, anh đề nghị em dừng ngay ý kiến đó lại - Rồi anh nói như ra lệnh: Đêm nay thăm anh là được rồi. Sớm mai em phải trở ra quân khu ngay. Cũng từ ngày mai, chiến dịch chuyển sang đợt hai, chúng mình không còn điều kiện chuyện trò nữa đâu - giọng anh chùng xuống, tha thiết: Nếu em còn thương yêu anh, còn tin anh, em hãy nghe anh! Anh không muốn bàn tới chuyện này nữa.


Một loạt pháo nổ như sấm rền chung quanh sở chỉ huy, khói lại mù mịt tràn vào hầm. Đèn vụt tắt. Hết loạt pháo nổ, khói tan tôi nhìn ra cửa hầm thì trời đã sáng.


Bên ngoài, tiếng anh Nam Khánh, anh Huỳnh Hữu Anh và các anh trong cơ quan gọi nhau đi giao ban.


Anh lặng lẽ đứng dậy phủi đất trên tóc, trên vai tôi, rồi bất chợt anh ôm ghì tôi vào lòng. Anh nói giọng đượm buồn: “Thôi, ta chia tay ở đây. Anh không đưa tiễn em được, hãy hiểu cho anh”. Tôi chưa kịp phản ứng thì anh đã quay ra thật nhanh. Tôi bàng hoàng, sững sờ đứng nhìn cái dáng cao gày của anh chui ra khỏi căn hầm. Tôi cũng thu xếp ba lô chuẩn bị lên đường. Cậu Thành, y tá cơ quan lúc ấy đã đứng ở lại một gốc cây chờ tôi. Tay Thành xách hai cái gói nhỏ bọc ni lông xanh, Thành nói với tôi: “Sư đoàn nghèo lắm, chỉ có vài lạng đường và ít gạo rang tặng chị. Chúng em chúc chị và các cháu mạnh khỏe. Chị đi đường an toàn”.


Hôm ấy là sáng mồng 4-5-1968.


Một đêm ở sở chỉ huy sư đoàn sao mà ngắn ngủi. Nó ngắn ngủi tới mức tôi tưởng như trong đời không có đêm ấy. Sau này, khi đất nước thống nhất, tôi đã có hàng ngàn đêm được gần chồng. Nhưng cái đêm hôm ấy để lại một dấu ấn sâu đậm nhất trong suốt cuộc đời của tôi.

 

HÀN THỊ TRANG


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 18 Tháng Tư, 2011, 09:31:41 pm
                            Chuyến đi cuối năm
                            Tác giả : Đỗ Chu

Truyện ngắn “Chuyến đi cuối năm” của tôi đã được in lần đầu cách đây khoảng mươi năm về trước trên tờ Văn nghệ, sau đó nó đã được đưa vào tập “Một loài chim trên sóng” và rồi có mặt trong “Đỗ Chu Tuyển tập truyện ngắn”.

Ban biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội có nhã ý dành cho tôi quyền tự chọn một cái ngăn ngắn để gửi tới bạn đọc hôm nay, tôi cân nhắc và thấy nên lấy tác phẩm này.

Tôi muốn rủ người đọc hãy cùng tôi làm một chuyến đi về phía cửa sông rộng lớn, đi tìm lại cho mình sự thanh thản cần thiết giữa những ngày sống thật lắm rối rắm vướng bộn và bức xúc...

                                - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - -

Bác Kiên một tay chống điếu cày, tay kia cầm chiếc đóm đang cháy dở. Đã là chiếc đóm thứ ba rồi mà bác vẫn chưa hút xong điếu thuốc. Bác còn đang há miệng lắng nghe Lăng kể chuyện.

- Lạy chúa tôi, khéo loạn to mất. Bác dụi đóm, kêu tướng lên. Thoạt đầu nghe nói sinh thái đang bị tàn phá tôi chẳng hiểu ý tứ là thế nào, con người nghĩ ra lắm sự quái gở, nó dám làm đủ mọi chuyện khủng khiếp. Tôi từng đã nghe có cá heo được huấn luyện đánh thuỷ lôi như đặc công, nay lại thấy bồ câu mang bạch phiến, đại bàng mang máy ghi âm... Thế chú định ở lại đây bao lâu nào, mười ngày thôi, mười ngày e vội quá. Thôi thì cứ nghỉ lại nhà chúng tôi, năm hết tết đến mấy tay cán bộ địa phương thằng nào cũng hớt hải bận bịu, hay nhất là chú cứ ở lại đây.

Lăng đang chuẩn bị bảo vệ luận án tiến sĩ, anh đi chuyến này là mong tìm kiếm thêm chút ít hiểu biết nhằm bổ sung cho bản luận án đó. Anh là giảng viên khoa sinh thái học trường Đại học quốc gia. Bạn bè thân quen thì thích gọi anh là thằng Lăng “chim học”. Là vì anh khá am tường về các loài chim, đã có sách viết về chim và đặc biệt là rất yêu chim. Giờ anh lại đang muốn phân họ các loài chim ở đồng bằng Bắc bộ. Đây là một đề tài thuộc chuyên môn hẹp, do vậy cần tỉ mỉ và sâu. Phàm ở đời đã định phân loại cái gì là y như rằng sẽ phải tập hợp và so sánh chúng, mà một khi đã tập hợp và so sánh thì rất dễ lầm lỗi, có khi lầm lỗi suốt đời. Nhưng cũng chớ có quá lo sợ, bởi vì đối tượng nghiên cứu ở đây không phải là con người mà là những chú chim, do vậy nếu có sao thì bất quá cũng chỉ là một sự lầm lẫn viển vông mà thôi. Chẳng thế mà xung quanh không ai thấy Lăng là một phần tử đáng xem là nguy hại, họ hoàn toàn yên tâm về anh.

Duy chỉ có Kim Thúy, vợ anh là hay phàn nàn về chồng mà thôi. Hình như không có bà vợ nào lại không thích phàn nàn về chồng mình, vì cũng rất ít ông chồng có thể khiến các bà vừa lòng. Các bà xem đó là đối tượng để tấn công, tấn công liên tục và không khoan nhượng. Hạnh phúc chính là tấn công, họ rỉ tai nhau như vậy. Và nói chung là họ luôn thắng lợi. Khi biết Lăng sắp đùng đùng bỏ nhà đi giữa lúc thiên hạ đang cắm mặt lo kiếm tết, Kim Thuý dậm chân, hai tay chống nạnh, miệng gầm gừ như một con báo đói.

- Lại nổi cơn gàn rồi. Trốn vợ mà chui vào rừng vào núi, bò bò nấp nấp, rình rập suốt ngày để mong thấy một con chim! Còn có cái nghề nào oái oăm hơn cái nghề anh chọn không? Chả hiểu sao Nhà nước lại ngớ ngẩn bỏ tiền trả lương cho anh, trong mọi sự dại dột ở đời thì dại dột nhất là đã nuôi báo cô mấy ông khoa học. Nếu tôi mà có quyền sinh quyền sát trong tay thì tôi bỏ tiền của ra đầu tư cho các nhà văn cơ, chính họ mới là những người đang tích cực xúm vào cải tạo môi trường sinh thái chứ không phải mấy ngài đâu. Sinh thái xã hội thời mở cửa là thứ sinh thái có hơi bị hấp dẫn, văn chương thời mở cửa là thứ văn chương có hơi bị cực kỳ, đọc đến trang nào cũng chỉ muốn ôm mặt khóc rú lên. Năm nào cũng thấy có những tin sốt dẻo, năm nào cũng có những thành tựu tuyệt cú mèo.

Nói vậy thôi chứ ở đời có vợ nào là vợ chẳng thương chồng. Cho nên Kim Thuý dù uất nghẹn họng vẫn còn dư tỉnh táo để kịp dúi vào tay chồng một cuốn sách nặng như một hòn gạch chỉ đúng vào lúc anh hoang mang xách túi chạy ra khỏi cửa. Một cuốn sách nặng như một hòn gạch thì tất nhiên phải là một tác phẩm lớn. Chỉ những gã bất tài bất tướng mới chịu viết những câu chuyện ngăn ngắn mà thôi. Vừa tiễn chân chồng ra ga cô vừa tranh thủ xả hơi.

- Đây là cuốn tiểu thuyết “Nỗi buồn của em”, giải thưởng “Bọ xít vàng” năm nay đấy anh nhé. Nó sắp được dịch ra toàn thế giới. Mang tiếng là người cầm bút lúc này mà không biết chửi bởi phanh phui, không biết dùng cán bút làm đòn xoay xở thì có họa là ngớ ngẩn. Anh nên cẩn thận khi mở ra đọc vì nó đúng là một quả bom dư luận đấy chứ không phải chuyện đùa đâu. Anh hay lang thang ở những chỗ quê mùa, lại ít đọc là dễ thành lú lẫn lắm. Nói thật nhé, em thấy chả có cái nghề nào lại dễ kiếm tiền hơn nghề văn lúc này đâu anh ạ. Làm cái nghề ấy giả dụ có đi xin đi chọc người khác cũng có thể được tiền. Con bạn em, tác giả cuốn sách này ấy mà, nó vốn chỉ là một con bé ngồi đan len trên phố Hàng Mắm, rồi lớn lên thì tếch đi lấy chồng. Mấy năm gần đây chẳng hiểu vì sao, có lẽ là vì đã chửi mẹ chồng, nên nó bị thằng chồng dắt ra toà ly dị. Thân gái mà không chồng thì trước mắt chỉ còn hai con đường, một là treo cổ hai là tìm mọi cách len lỏi tới làng văn nghệ. Nó quyết định chẳng tội gì mà chết, phải đứng lên cầm bút đòi quyền sống. Rồi nó rủ em cùng làm đơn xin vào học một trường viết văn, Hà Nội có tới mấy trường dạy viết văn anh hiểu không. Nhưng dạo đó em còn đang ngu lâu nên em đã không nghe nó. Mấy ông thầy trường đó thật quá là nhiệt tình, có một ông tấp ta tấp tểnh ngày nào cũng tới động viên em nên chịu khó vào học, ông ấy lắp bắp bảo em là một đứa có thiên bẩm, viết văn cần nhất là phải có thiên bẩm. Người ta thì chân thành mà mình lại nỡ ngờ vực cho họ là một lũ mẹ mìn, thế là toi mất một dịp may. Nhưng cũng chưa muộn, thiên bẩm chưa dùng thì vẫn còn đấy, cho nên sang năm em sẽ viết cho anh coi. Tranh thủ lúc giáp tết em làm nốt mấy phi vụ này đã, xong xuôi em nhất định phải bắt tay vào chơi một cú tiểu thuyết. Viết như con bạn em thì anh bảo em đã kém cạnh gì. Có một ông lớn đã hứa sẽ cung cấp tư liệu cho em. Họ là những người chọc trời khuấy nước, cho nên chỉ cần hắt xì hơi một cái là nhà văn viết cả năm chẳng hết. Mà lại sang lây, cũng bõ một đời cầm bút. Anh hãy đợi đấy, con vợ anh không phải tay vừa đâu. Công ty “Nguduha” của em lần này làm luôn cả việc buôn bán văn hoá.

Phải lắm. Điều ấy thì Lăng có thể tin. Gì chứ để góp phần làm mất cân bằng sinh thái thì em là một tay có cỡ.

Ngay từ hôm đầu về sống với nhau đã thấy ngay Kim Thuý nào phải tay vừa. Chẳng qua anh vốn vẫn là một thằng hấp lìm khờ khạo, suốt đời chỉ biết đến những gì trên mây trên gió, còn vướng vào việc đời là quáng quàng như gà mắc tóc. Sang năm có lẽ cả Lăng nữa cũng sẽ viết văn. Cả nhà mình, cả thành phố mình sẽ cùng nhau viết văn, và như Thuý nói thì lúc đó chả còn ai đói nữa, ai cũng sẽ có cái để bốc bải vào mồm. Chao ôi, chỉ nghĩ vậy cũng đã đủ thấy là danh giá.

 

*

*    *

Hoá ra vấn đề môi trường sinh thái lại là vấn đề quá rộng lớn và cũng quá nan giải. Càng nghĩ Lăng càng thấy con đường mà mình đang đâm đầu vào là hết sức rối rắm và có thể dẫn đến những tệ hại khôn lường.

Nó không phải chỉ là chuyện phân họ các loài chim, cũng không phải chỉ là chuyện hiệu ứng lồng kính, sự sụt lở của tầng ôzôn trong khí quyển hay các đại dương bị ô nhiễm hoặc các lục địa bị xói mòn cạn kiệt. Nó vẫn là chuyện con người, là sự rồ dại khó bảo của giống người đang sống ở khắp nơi.

Ra tới ga Hàng Cỏ, lúc sắp lên tàu mà Thúy nào đã chịu buông tha cho anh, cô ấy đòi phải ôm hôn nhau trước lúc tạm biệt. Chỉ còn thiếu nước không tìm nổi cái lỗ để chui xuống cho rảnh. Anh chợt nhớ tới câu chuyện của một nhà hiền triết La Mã nọ, trước lúc chết đã gửi cho bạo chúa Nê-rông một bức thư, trong thư ông đã châm biếm kẻ độc tài, nếu được phép cầu xin bệ hạ một ân huệ cuối cùng thì thần chỉ dám tâu bày thế này, bệ hạ là người quyền khuynh thiên hạ, muốn làm gì cũng được, bệ hạ cứ làm các cuộc chiến tranh, cứ giết, cứ đốt, nhưng cúi xin bệ hạ đừng làm thơ nữa, thần lấy làm hổ thẹn mỗi khi phải nghe thơ của bệ hạ.

Nếu có thể được dặn dò người vợ trẻ của mình một lời chân thành thì có lẽ Lăng cũng sẽ nói một câu gì đó tương tự như vậy. Anh cầu xin em chớ có viết văn làm gì, công việc đó thực sự sẽ là một tai họa cho cái tổ ấm vừa mới xây dựng của hai ta, em cứ làm kinh tế, cứ đi buôn, cứ tham gia mọi hoạt động xã hội, nhưng cầm bút viết văn thì chớ! Bởi vì tuy lười đọc nhưng anh cũng đã có dịp nhòm vào một vài cuốn sách in mấy năm nay rồi, anh có thể nói toạc ra rằng, một là anh ngu dại hai là chính họ.

Bây giờ Lăng ngồi đây, một mình một bóng trong căn nhà tranh ở một làng ven biển. Vợ chồng bác Kiên dành cho anh một khoảng tự do hoàn toàn, các nhà khoa học phải có chỗ yên tĩnh để làm việc, thời gian đối với họ là vàng ngọc. Bác đã nói với vợ con như vậy.

Hai vợ chồng bác suốt ngày cặm cụi ngoài đồng, đang là vụ cấy chiêm, phải cấy gấp để khi ngẩng lên là đã thấy tết. Sau lưng họ là một đội ngũ kế thừa sự nghiệp khá đông, hai trai ba gái, phải cái bọn trẻ đang còn nhỏ quá. Thằng anh cả tóc tai bám đầy bùn đất, mới chỉ biết nhảy lên chiếc xe đạp kể từ cái hôm thi đậu vào trường cấp ba của huyện. Đứa út thì đúng là còn đang nấp sau lưng con chị, bọn chúng lỉnh đi đâu suốt ngày, suốt ngày tấp tểnh đợi tết, đứa nào đứa nấy lấm lem mũi dãi.

Thành thử Lăng là người về đây để trông nom nhà cửa giúp họ. Nhà sinh thái học bày la liệt trên chiếc bàn gỗ ọp ẹp kê sát cửa sổ nào tài liệu tham khảo, tiếng tây tiếng tàu, nào bút chì bút mực, tất nhiên có cả cuốn tiểu thuyết “Nỗi buồn của em” ngoài bìa có in hình một cô gái quên không mặc quần áo, tay nâng một bông hồng. Nó là đầu câu chuyện của các nhà đổi mới đang toan tính kiếm chác một cái gì đó thì phải.

Những chú ruồi chốc chốc lại lao thẳng vào mặt anh như những chiếc máy bay thần phong hồi thế chiến thứ hai, chúng nó muốn nhắc nhở với anh rằng hiện trạng sinh thái nơi đây là rất đáng lo ngại.

- Chỉ có tiếng chim là thiếu. Im ắng quá. Làng xóm giờ vắng vẻ tiếng chim hót. Thuở chị em chúng tôi đang còn con gái, đi một bước chim chóc nhảy theo một bước, chỉ lo vô ý dẫm vào chúng thì phải tội. Mùa gặt tháng mười là chim ngói, bồ nông. Mùa nước nổi là kền kền, mồng két, kịp đến lúc cày vỡ là khắp đồng ríu rít sáo đen, sáo sậu, những chú sáo mỏ vàng dưới làn cánh có chấm trắng, chúng đậu trên lưng những con trâu lững thững gặm cỏ.

Bác Kiên gái vạch vú cho con bú, nhẩn nha trò chuyện với Lăng. Mùi sữa hoi hoi thơm. Đứa bé vừa hít sữa vừa nhai vú mẹ chùn chụt. Giọng người đàn bà nghe khê nặng mà ấm. Dân biển gần muối mặn, tiếng nói không mấy mềm mỏng, nhưng được cái dễ gần, dễ tin.

Y như buổi đầu mới gặp Lăng, người chồng lại vẫn ngồi khoanh đùi trước thềm, tay chống điếu cày, tay cầm chiếc đóm tre ngâm đang bén lửa. Sức vóc anh vạm vỡ, nước da đen bóng như đồng hun, những mảng khối vừa thô nháp vừa rất đỗi hài hòa trên khuôn mặt vốn lầm lì. Nhưng một khi anh cất tiếng cười thì vẻ lầm lì lập tức vụt biến và cả gương mặt rạng rỡ ngay lên, rất hiếm gặp được ai có tiếng cười hồn hậu đến vậy.

Họ cùng lắng nghe tiếng sóng vỗ ầm ì phía bể. Có tiếng gì như tiếng vỏ đỗ nổ lép bép râm ran, một tiếng thở thật sâu, thật rộng, mơ hồ trong gió. Đấy chính là nước ròng. Con nước thuỷ triều đang ròng. Nó còn lên dần, lên cao dần, cho tới quá nửa đêm.

 


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 18 Tháng Tư, 2011, 09:34:38 pm
                                 Tiếp :
Vào mùa xuân năm con khỉ, năm Mậu Thân đó, chú Lăng có biết anh em chúng tôi đã ăn một cái tết như thế nào không? Rạt cả lên rừng, ngày húp một vậc cháo. Một tiểu đội chỉ được phép đổ ra đúng một bát gạo thôi, nước thì tha hồ, muốn ăn đặc cho vừa vừa, muốn mát ruột cứ việc gia thêm.

Tôi cõng thằng bạn trên lưng ròng rã nửa tháng trời, không sợ mình mệt mà chỉ lo nó chết. Nó bị mảnh pháo tiện mất một bàn chân. Lâu lâu tôi lại phải đứng khựng lại nghe ngóng xem nó có còn thở nữa hay không.

Một hôm tới phiên tôi nấu cháo, tôi nghĩ vân vi đằng nào anh em mình cũng có thể chết, không chết vì bom đạn mà chết vì đói, vì ốm đau quá. Tôi đánh liều cầm cái xẻng men theo bờ suối, chỉ cần lật mấy gốc tranh lên là đã có giun, những chú giun rừng dài vừa bằng cái que cời bếp, lóng lánh như xà cừ. Tôi kiếm một lúc được đầy mũ sắt, mang ra suối mổ rửa sạch ruột rồi cứ lưỡi lê tôi thúc cho chúng nát nhão cả ra, vứt vào đó nhúm muối, mắt trước mắt sau tôi trút tuốt cả vào nồi cháo đang sôi sùng sục. Cả bọn xúm vào sì soạt húp, loáng cái hết veo, có cậu thấy ngon quá, chả kịp hỏi xem thứ cháo hôm nay là thứ cháo gì, dùng ngón tay vét sạch cả đáy nồi.

Nhưng khi tôi vừa đưa thìa cháo lên miệng thằng bạn thì nó nhăn ngay mặt, nó nhìn tôi chằng chằng. Mày quấy cháo giun hả? Tôi gật đầu. Thì đã khác gì rươi ở nhà. Làm sao sống được mà cùng về với nhau là tốt rồi. Ở nhà rươi nấu với măng chua, ném thêm nắm lá thì là vào, ngon bằng tiến vua nhá. Còn nếu sang thì đúc rươi lẫn trứng và thịt nạc, bỏ ít vỏ quýt nữa... Tôi nói lảm nhảm một hồi nhưng nó chỉ húp nổi đến thìa cháo thứ ba là oẹ ra. Nó gạt tay tôi rồi thều thào: “Giun không là rươi được, không thể nào cứt cũng như rươi!”

Đúng là tôi bó tay ngồi nhìn nó chết. Nó mất nhiều máu quá, nếu ở hoàn cảnh khác, bị thương vậy đã thấm vào đâu. Vậy mà nó chết mới tức chứ. Mẹ kiếp, tôi vẫn cứ phải nghĩ mãi, chưa hiểu sao đói là thế mà nó không chịu húp cho mình một bát cháo giun. Nó là dân biển, nuốt rươi từ thuở lọt lòng. Lũ trẻ chúng tôi ăn sống nuốt tươi là chuyện hàng ngày, có gì là lạ, rồi chăn chiếu quần áo, trong nhà ngoài thuyền có chỗ nào là không có mùi tanh tưởi nhỉ.

Vào độ cuối thu trời đất giao chuyển, khi trong người thấy ngây ngấy mỏi mệt ấy là lúc rươi cũng từ dưới bùn sâu ngoi nổi lên mặt nước, chỉ việc gọi nhau mang rổ rá ra mà vớt về. Con xanh là đực, hồng hồng là cái. Chúng làm tổ trong đất nhưng vào mùa sinh nở lại phải ngoi lên tìm nắng gió mà quấn quýt với nhau. Rươi béo nhất là vào tháng chín tháng mười. “Tháng chín đôi mươi, tháng mười mùng năm, anh ra ngoài bãi vớt trầm cho em”.

Con rươi nhỏ nhoi mà được gọi là trầm. Nó tầm thường thế nhưng nếu biết làm thì cũng thơm nức chả kém gì trầm hương đâu. Chưa quen mà nhìn vào thì quả là có sợ, nhưng quý lắm đấy. Nhà nào neo thì đổ rươi vào hai thùng sơn quẩy lên tỉnh, chưa tới chợ đã thấy thiên hạ nhao nhao đòi mua. Nhà nào có sức thì xếp những thúng rươi vào lòng thuyền, chèo mãi lên mạn Bắc Giang, Vĩnh Phú. Ở vùng này bán rươi xây nhà ngói là chuyện phổ biến. Những tưởng sống trên vùng đất mặn mòi thì chỉ những vất vả là vất vả, vậy mà nếu chịu thương chịu khó, rồi có lúc đất đai lại cũng sẽ trả nghĩa cho mình đến là hào phóng.

Rươi là rươi, rươi không thể là giun. Không thể cứt cũng như rươi được. Thằng bạn tôi hôm ấy sắp chết còn cố nghển cổ lên mà cãi, nghĩ kỹ thì thấy nó có lý. Đấy là nó muốn trăng trối với tôi, đừng bao giờ để mình sa xuống sự xoàng xĩnh thấp hèn, phải sống sao cho không một đứa nào dám nhổ vào mặt mình, sống là rất khó, chết thì dễ. Nó là đứa tài trai nhất vùng, thử hỏi con gái làng này có mấy cô là không thầm mong ước có ngày được theo nó về nhà. Cô ấy nhà tôi là một ví dụ cụ thể. Cô ấy mê nó lắm, họ đã từng có dạo quấn với nhau như rươi đực, rươi cái vào tiết động trời. Mà thế là phải quá, sống như thế mới thật là sống, đám trẻ các anh, các chị bây giờ nom nhốn nháo vậy mà chưa chắc đã bằng một góc cái chúng tôi đã qua. Tôi từ mặt trận về, nó chẳng còn thì bà ấy mới chịu làm vợ tôi đấy thôi. Tôi tự biết mình là một đứa may mắn trên cõi đời này, kiếp người thật luẩn quẩn, cái may của người này lại là cái rủi, cái thiệt của kẻ khác.

Chú là nhà chim học giả, nghe chú bàn luận thì ra chừng cũng là người hiểu nhiều, đi nhiều, vậy chứ chú đã bao giờ được tham dự một cuộc săn sít chưa đã. Sang xuân mời chú quay lại đây, chúng tôi sẽ dắt chú ra vùng cói ngoài cửa sông xem những đàn sít mào đỏ bay về, chú sẽ hiểu những con đà điểu châu Phi của chú cũng chả là đếch gì. Chú mà đuổi bắt nổi một con sít là vợ chồng tôi lập tức đứng ra làm mối gả ngay cho chú một cô vợ đẹp tuỳ chú chọn. Đã có vợ buôn bán trên thành phố rồi chứ gì, thì vớ thêm một cô vợ bé để lại đây lấy chỗ đi lại. Cá nục, tôm he chả bằng cái tè he vợ nhỏ.

Chú hãy hình dung những con sít từ ngoài biển sải đôi cánh rộng sà vào vùng cửa sông. Thoạt đầu chúng chỉ mới là những chấm đen, lấm tấm đen, rồi sau hàng lối hiện ra dần. Con đầu đàn bỗng cất bổng lên cao, nó quan sát nhận định địa hình, trong khi cả bầy bám đuổi nhau lượn vòng tròn bên dưới. Rồi bất thần cả đàn theo hút con chỉ huy sà thấp, chớp mắt chúng đã biến trong lau sậy. Thế là sít đen mào đỏ đã về. Cả vùng rộn lên một niềm vui, không ai vội nói ra nhưng cứ nhìn vào ánh mắt long lanh của đám con trai con gái là đủ biết. Họ là những kẻ sắp được hưởng sự sung sướng tột bậc. Họ hướng mắt trông cả ra đồng, rỏng tai lên mà nghe ngóng. Bầy sít ngoài đó đang kêu, đang gào gọi nhau và chúng múa. Nhìn bầy sít từng đôi vờn múa với nhau thì không gì đẹp bằng. Giống công trong rừng múa bằng đuôi, hồi ở lính mắt tôi đã nhìn thấy. Nhưng thấm gì so với sít, sít múa bằng cánh, đôi cánh rập rờn vẫy đạp mềm mại khéo léo còn bằng mười các cô văn công. Một khi đã trông thấy đàn sít xoè cánh múa lượn thì phải hiểu văn công nhà ta chưa biết múa, đấy là họ đang ưỡn, đang ngoáy, đang nẩy mông, đánh vú, đang làm những động tác vừa gây cấn vừa thô lậu trước mắt chúng ta. Cũng như họ đã hát vậy, nói có chú, mỗi bận tôi được vinh dự ngồi nghe các đồng chí ấy hát tôi lại chợt nghĩ đến đàn sít mào đỏ quê mình, giọng của chúng mới thanh tao làm sao, trong khi ấy giọng người thì thế đấy, nghe cứ như sắp định hành hình ai không bằng. Thì tôi cũng nhất trí tiếng hát là tiếng súng, nhưng thà là tiếng súng hẳn lại đi một nhẽ, như thế chúng tôi vẫn còn chịu được.

Chú thì chưa phải chạy đứt hơi bao giờ, nom chân tay chú mảnh dẻ học trò thế kia là tôi biết chú nhàn nhã từ bé. Trai gái ở đây thì khác, họ sống trong sóng gió, sống giữa bão táp, do vậy mà phải biết bơi, biết chạy sớm lắm. Đứa nào không biết bơi biết chạy thì khó làm người ở nơi này, mà cũng không nhập đàn nổi. Gọi là nơi đầu sóng ngọn gió mà.

Năm mới ở vùng chúng tôi mở đầu bằng cuộc đua đuổi sít. Đám con trai mười bảy, mười tám được các cụ già xua từ các làng ra đồng. Trai thì ở trần gân cốt nổi lên như thuồng luồng sắp qua lạch, gái thì cởi áo, trên ngực chỉ còn thấy có một dải yếm. Làng nào ở xứ này mà không có tháp chuông nhà thờ họ, các tháp chuông đứng trang nghiêm in hình trên nền trời xanh cũng là một ấn tượng đẹp của vùng chúng tôi. Nhớ lúc sắp mất, thằng bạn tôi nó nắm chặt lấy tay tôi, miệng mấp máy nhắc tới những cái tháp chuông, những tiếng chuông, những mùa đi vớt rươi và những cuộc săn bắt sít ngoài bãi. Nó thèm được thấy lại quê nhà.

Khi những tiếng chuông cùng nhau đổ dồn ấy là hiệu lệnh gọi đám trẻ rầm rập lao vào cánh bãi. Mất hút ở trong đó từ ngang trưa cho tới tận khuya. Tôi đã từng có lần bám theo bạn đuổi lũ sít như thế mà đành bỏ cuộc. Chúng nhanh lắm, vừa bay vừa lủi, có vồ được thì cũng chưa hẳn đã giữ nổi, là bởi chúng cựa rất mạnh, có thằng ôm được con sít vào lòng thì mặt mũi chân tay đã rách nát như bị chém. Mỏ sít, móng sít sắc như dao.

Chiều xuống, mặt trời nấp đằng sau các tháp chuông. Làng mạc chìm dần dưới ráng chiều rực rỡ. Rồi mặt sông tối sẫm, từng đôi trẻ nằm vật trong lau sậy, trong những bị cói ngập lút đầu. Họ thở mới khiếp làm sao. Trời đất quay cuồng, đảo thiên đảo địa tất cả. Mắt nổ hoa cà hoa cải, tháp chuông ngả nghiêng, mặt trời nhảy nhót chấp chới, tai ù váng chả còn biết ai đang nói gì, gọi gì nữa.

Nhưng mà vui vì chiến thắng, đã lập được công trạng, đã đuổi bắt được sít, đã bảo nhau lùa được chúng. Có một bí mật này mà dạo đó tôi đã không biết, ta không thể nào bắt nổi một con sít đâu nếu ta chỉ cậy mình có sức khoẻ. Muốn bắt nổi nó còn cần phải có một con bé thương anh, phải có một con bé chấm anh từ lâu rồi mà anh không biết, chính nó sẽ bám theo hút anh trong bờ bãi mênh mang kia và giúp anh xua lùa một con sít nào đó.

Đấy, bí mật là ở chỗ ấy, vậy mà tôi suốt tuổi trẻ đã không hiểu ra. Chỉ đến khi thằng bạn sắp qua đời nó mới cho biết, nó dặn tôi nếu có ngày trở về thì hãy tới tìm cô ấy nhà tôi bây giờ và hỏi cô ấy hộ nó, liệu có còn nhớ cái buổi hai đứa cùng lùa một con sít mào đỏ ngoài bãi vắng chăng.

À thì là thế, họ đã từng có lần cùng nằm vật ra bên cạnh một con sít bị bắt chéo cánh. Con sít nằm đó mở mắt thao láo nhìn họ, kinh hoàng không rõ vì sao mình bị tóm cổ. Còn họ thì nhìn nhau mà cười, mà thở. Quấn chặt lấy nhau mà thở. Thở cho tới khuya, cho tới lúc trăng đã cao, khi con nước ròng dâng lên xô đẩy ồ ạt.

Lần ấy tôi đã một mình lang thang trong đêm bãi. Tôi bị lạc đường buồn bã vì chạy suốt ngày mà vẫn công cốc. Đã không bắt nổi một con sít thì nên mò về nhà mà bú mẹ. Cưa lừa kéo xẻ, thằng nào khoẻ ăn cơm vua, thằng nào thua thì về bú mẹ. Anh chưa phải là một thằng đàn ông, anh là một đứa bại trận và chả có ma nào muốn quấn lấy anh có vậy thôi

Suốt mấy ngày liền Lăng lang thang ngoài cửa sông. Vùng cửa sông
tưởng vậy mà hóa ra có rất nhiều ô trũng đầm lầy. Nhiều khi anh phải xắn quần vòng vo lội tung bùn để tìm lối ra. Quả thật không dễ gì bắt nổi một con sít ở nơi này. Muốn sống được ở một nơi như thế này mà yếu đuối và dối trá là điều không thể có. Một nhánh lá ở đây cũng cứng và sắc như cưa, mỗi cọng rễ đều đâm bám vào đất một cách vững bền. Đến từng bước chân người cũng phải thế, nếu không thì ngã.

Hãy còn quá sớm khi nghĩ tới cái ngày đàn sít mào đỏ bay về. Mà tết thì sắp đến rồi. Đã tới lúc sắp phải chia tay với vợ chồng bác Kiên và các cháu.

Cái tết bao giờ cũng là một điểm hẹn thời gian, đây là dịp để gia đình xum họp, cùng nhau nhân rộng những vui mừng đã tìm thấy trong một năm và để chia vợi những gì gọi là buồn phiền. Đời con người ta đâu dễ trút bỏ nổi một cái gì đã từng là gắn bó, là thân thiết. Cũng chẳng khác nào loài chim. Chúng đi tứ xứ kiếm ăn nhưng rồi đến một lúc vẫn biết gọi nhau tìm về chốn cũ. Mỗi loài đều có một quê hương của nó cho dù nơi ấy rất nghèo khó, cái tình của muôn loài sâu xa là vậy.

Người có hồn người, đất đai cỏ cây đều có hồn của nó cả, để mất cái hồn ấy, để cái hồn ấy phiêu diêu hoảng hốt thì sinh thái hỗn loạn và khổ vô chừng. Gọi được nó về, hòa nhập được cùng nó thì sinh linh thuần thục lúng liếng. Cái hồn lúc tụ lúc tán, còn cái cốt thì bao giờ cũng cứng cáp kiên nhẫn, nó là xác của hồn. Tâm linh rối loạn là nguồn cơn của mọi sự mất cân bằng trong sinh thái tự nhiên và sinh thái xã hội. Mà con người hãy cứ liệu hồn, sự độ lượng chở che của trời đất dù to lớn cũng là có hạn, nó chỉ khẽ rùng mình là sự sống khó bền.

Vậy thì Lăng sẽ lại ra tàu, nay mai anh sẽ trở lại cái tổ không mấy ấm áp trên căn gác của ngôi nhà năm tầng kia. Anh sẽ về với Thúy. Về để lại tiếp tục nghe người vợ hiền thảo bàn về văn chương và cái công ty vô trách nhiệm vô hạn của cô. Về để chịu đau tai nhức óc mà nghe cô bé nhà bên vừa đạp chân vào tường vừa gào thét như một con dở: “Vắng anh là mất anh rồi, vẫn biết đứng lên là thấp hơn ngồi, giời ơi”. Dạo này không phải chỉ lắm nhà văn, nhà thơ mà còn lắm hoạ sĩ nhạc sĩ nữa. Hát thế mà cũng gọi là hát được ư? Nó là đĩ đực, là chim gái, là rẻ tiền chứ sao lại có thể gọi là âm nhạc được.

Sự nổi tiếng thời này hóa ra cũng dễ dàng. Một cô gái đan len thất nghiệp cũng có thể giật giải văn chương nữa là. Thật giả đều loạn xị ngậu là vì cái cân giá trị với những tiêu chuẩn của nó cũng chả đủ độ tin cậy nữa rồi. Dẫu sao thì anh vẫn cứ phải quay về nơi ấy. Chính chuyến đi này đã mang lại cho anh nghị lực.

Anh tự biết mảnh bằng tiến sĩ lấy lúc nào nên lúc ấy, tuy vậy, để trở thành một nhà sinh thái đúng nghĩa thì còn lâu, còn tốn nhiều cơm gạo. Nhưng một hệ sinh thái thực sự, một hệ sinh thái hiếm thấy thì anh đã gặp ở nơi này. Không hiểu từ đâu, không hiểu bắt đầu từ sự run rủi nào mà linh tính mách bảo anh phải rời ngay cái thành phố đang rất đáng phàn nàn về môi trường sinh thái để đến đây, đến không chần chừ, dù chưa dám chắc chuyến đi đã mang lại cho mình một ý tưởng mới mẻ hoặc một phát hiện bất ngờ.

Những đợt gió bấc ào tới khiến Lăng rùng mình. Anh phóng tầm mắt nhìn ra cửa sông, nơi mấy cánh buồm vá chằng vá đụp đang căng phồng lên, chúng từ từ tiến vào những luồng lạch giữa lau cỏ.

Ngoài ấy là biển. Biển đang thở. Bãi bờ đang thở. Những nhịp thở trầm quyện nồng nàn. Mặt trời đang nhô lên sưởi ấm tất cả. Tiếng chuông nhà thờ từ trong các làng ngân nga nhè nhẹ. Lặng đứng ngẩn ngơ giữa một vùng trời nước vắng vẻ. Mùi bùn mặn làm anh thấy ngất ngây say. Lòng anh thầm thì gọi đàn sít mào đỏ sớm quay về với anh, với mùa màng, với những năm tháng sao mà lắm nhiêu khê thế này

 Đỗ Chu .


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 18 Tháng Tư, 2011, 09:42:53 pm
                    Một chuyện tình thời chiến tranh    
                    Tác giả : Trung Trung Đỉnh

  Tôi được ông Ba Sang gọi lên lán chỉ huy để nhận nhiệm vụ. Thực lòng tôi chẳng ưa gì ông, một ông già khó tính, mặt lúc nào cũng lầm lầm, lì lì, khô như củi. Ngoài bốn mươi tuổi mà ông vẫn chưa có “thời cơ” lập gia đình, phần vì hoàn cảnh chiến tranh, quanh năm suốt tháng ở phía trước. Phần vì bản tính ông khô khan thế nên rất khó gần phụ nữ.

Nghe đâu trước khi được về Nam chiến đấu, ông cũng có mối tình khá sâu nặng với một cô giáo rất xinh ở Hà Nội, nhưng khổ nỗi, chỉ vì ông biết yêu mà lại không biết thổ lộ tình yêu, nên cuối cùng người ông yêu sa vào tay một người bạn, hôm ông dẫn anh ta tới thăm cô nàng. Kể từ sau cái ngày đáng buồn ấy, ông không còn có cảm tình với bất kỳ người con gái nào nữa.

Ấy thế mà khi cậu công vụ của ông tới gọi tôi thì trung đội trưởng Chín Thung của tôi lại bảo: “Tao biết tỏng nhiệm vụ chi rồi. Mi phải nhận đó nghe. Cứ nhận đại đi, rồi về tao nói cho mà hay sau!”. Quái lạ cái nhà anh Chín Thung này! Tôi thấy cái sự ấm ớ của anh mới rõ là nhảm nhí, vì tôi là lính, làm sao dám từ chối lệnh của cấp trên mà xui nhận với lại không nhận! Vậy nên tôi mới hỏi anh: “Anh nói gì lạ? Anh biết nhiệm vụ gì không mà cứ nói càn?”- “Thì mày cứ tới đó khắc biết”. Thế đấy! Nói thế thì còn nói làm gì? Tôi là y tá của đơn vị. Vâng, một y tá bất đắc dĩ. Chả là sau trận đánh đồn Chè, tôi ngồi buồn, tí táy mở túi thuốc chiến lợi phẩm của đơn vị ra xem, tình cờ thấy có quyển sách “Cẩm nang y tá”, liền mò mẫm đọc. Té ra cái sự tiêm chích theo như trong sách này dạy cũng chẳng phải khó khăn gì cho lắm. Mà ngay cả cái việc chẩn đoán các căn bệnh thông thường, thực ra cũng đơn giản. Ví như muốn tiêm chích một loại thuốc có dầu thì nhất thiết phải luộc thuốc lên, rồi tiêm vào mông. Sau khi phóng mũi kim xuống, phải rút ngược lên một tí, coi xem có máu không. Nếu có máu hút theo có nghĩa là ta đã chích trúng động mạch, cần phải kéo nhanh mũi kim lên hoặc nhấn sâu xuống, rồi lại thử coi xem máu có còn hút theo thuốc lên xa- ranh nữa không. Nếu máu hết theo lên tức là không nguy hiểm nữa, tiêm được rồi đấy. Còn nếu dùng kháng sinh thì nhất thiết phải thử phản ứng trước khi tiêm. Bệnh nào cũng có nguyên nhân và cách chữa trị. Tìm được nguyên nhân thì chữa trị đơn giản, cứ theo ba-rem liều lượng có sẵn, thế là ổn. Thằng Đào kêu đau bụng, rờ vô hố chậu phải cu cậu giật thót lên. Tôi bảo đau ruột thừa, phải đưa nó đi cấp cứu ở trạm xá gấp. Thế mà trúng choóc. Cũng vì có vụ đau ruột thừa của thằng Đào mà tôi có dịp làm quen với trạm xá. Nói tới trạm xá tức là nói tới cái sự tươi đời vì ở đây lúc nào cũng vừa có nếp lại cũng vừa có tẻ!

Người tôi được làm quen đầu tiên là y sĩ Thư. Chị Thư tiếp nhận thương bệnh binh ở phòng cấp cứu, sau khi hội ý chớp nhoáng với bác sĩ Long, họ đi đến kết luận là phải mổ ngay. Tôi được họ mời phụ mổ. Đến nước này tôi phải thú nhận trình độ chuyên môn giê rô của mình. Cả bác sĩ Long lẫn chị Thư đều không tin, họ bảo lúc này không cần khiêm tốn. Té ra cái sự phụ mổ cũng chẳng có gì ghê gớm lắm. Tôi đứng cạnh chị Thư, tiếp tay cho chị những thứ dao kéo bông gạc khi anh Long cần. Sau ca mổ, tôi được chị rủ xuống bếp chị nuôi... tư tỏi. Ấy là món chè đỗ xanh nấu với mật ong. Lần đầu tiên được chén món này, tôi thấy ngon và thơm vô cùng. Còn anh Long thì thậm chí không thèm ăn. Anh bảo chỉ cần nhắc đến đỗ xanh là anh đã ớn dựng tóc gáy! Chẳng là năm ngoái trạm xá được trên cấp đậu xanh thay gạo, cả tháng trời ăn tuyền đậu xanh nên anh ngán đến tận bây giờ. Hôm rời bệnh xá về, chị Thư gởi tôi một lít mật ong và một túm đỗ xanh, bảo “biếu anh Ba Sang”, tôi mới biết ông Ba đâu phải chú người gỗ. Chị Thư bảo chị với “anh Ba” là đồng hương. Biết vậy, tôi chẳng bình phẩm gì. Tôi thấy chị nói tiếng Huế hay Trị Thiên gì đó, còn ông Ba nói rặt giọng Quảng, đồng hương Miền cũng còn khó nữa là. Tôi nghĩ, nếu ông Ba mà “vớ” được bà Thư này, thì đời ông coi như  được đền bù xứng đáng. Chị Thư người mảnh dẻ, nhưng không phải cái mảnh dẻ yểu điệu, yếu đuối. Chính sự mảnh dẻ của chị lại toát lên vẻ cứng cỏi, kể cũng có hơi khô, nhưng bù lại, nghe chị nói ta có cảm giác chị đang thì thầm từ đâu đó, một thứ giọng ngân nga như chuông lại vừa trầm ấm, gần gũi.

- Em nói anh Ba đừng gởi chi cho chị nữa, nghen.
Đấy, giọng chị đấy, chỉ cần nghe là ta không có cách nào khác mà không “dạ”.

- Dạ, tôi ngoan ngoãn nói.

Tôi hồi ấy mới mười chín, hai mươi, lại mới vào chiến trường, mới tham gia đánh đấm được dăm trận lẻ tẻ, mới đủ mọi thứ nên thấy cái gì cũng lạ, cũng hong hóng nghe, hong hóng theo dõi, và cả hong hóng suy nghĩ nữa. Về tới đơn vị, tôi kể lại chuyện đó với anh Chín Thung. Anh Chín là người Quảng, cùng quê với ông Ba Sang. Đã nhiều lần anh muốn cho chị Thư tìm hiểu ông Ba nhưng cả anh cũng là người vụng, chỉ biết nói với chị rằng, anh Ba Sang là người tốt! Nói thế thì ai chả nói được? Chả lẽ anh em chúng tôi là người xấu hết à? Thật khó lọt lỗ tai tôi chứ chưa nói gì tới tai chị Thư. Vả lại, nghe đồn chị Thư cũng lắm chuyện lắm. Chị chỉ thích yêu mấy anh bộ đội miền Bắc, có học thức cao, lại trẻ tuổi. Chính anh Chín có lần bảo với tôi rằng, chị Thư mê tay Long bác sĩ, nhưng tay Long đã có vợ, có con “ở ngoải” nên cứ tránh chị, mặc dù hai người làm việc cùng nhau. Tôi nghiệm thấy có lẽ đúng. Anh Long tỏ ra khá lạnh lùng với chị Thư, một điều “cô”, hai điều “cô”, ngay cả khi chê món chè anh cũng có cái vẻ của người né tránh. Còn chị Thư thì cứ nhẹ nhàng như không. Mọi cử chỉ của chị đều giản dị và hơi đượm buồn, hơi... cam chịu.

Hôm tôi đem mật ong và đỗ xanh của chị Thư về trao cho ông Ba Sang, ông tra hỏi tôi rất nhiều, rằng Thư có nói gì với em không? Thư có bảo bao giờ thì đi với đội phẫu ra phía trước không? Thư không viết cho anh chữ nào à? Tôi bắt thóp được tình cảm của thủ trưởng nên cứ ấm ớ kể rằng, chị ấy chỉ hỏi thủ trưởng có khỏe không, có hay buồn, hay cáu với anh em không thôi. Ông Sang ngồi thừ ra một lúc rồi bỗng đưa cho tôi chỗ đỗ xanh và mật ong ấy, bảo đem về nấu chè cho anh Chín và anh em trung đội trinh sát cùng ăn. Tôi chả dại gì không nhận. Về đến nơi, đem “chiến lợi phẩm” ra khoe, anh Chín mắng tôi một trận lên bờ xuống ruộng, rồi mới nói: “Mày đừng bép xép, ông ấy hâm hâm nhưng tốt bụng cực kỳ, đừng để nhiều người hay chuyện, ông ấy nhụt chí”. Tôi tất nhiên là “vâng”.

 Bẵng đi một thời gian vì bao nhiêu công chuyện, hôm nay ông Ba Sang lại nhớ tới tôi mà gọi, hẳn có chuyện gì đây? Tôi mong sao mọi điều đến với ông và chị Thư được suôn sẻ. Và tôi tự dưng cảm thấy ngùi ngùi thương ông, lại cũng phát hiện ra ông đâu phải người khô như củi mà thỉnh thoảng anh em lính tráng chúng tôi cứ hay đem ra bình luận.

***

ttTôi vừa lội qua suối thì đã thấy anh chàng công vụ của ông Ba Sang đón ngay trên bờ. Đó là một thanh niên dân tộc Bahnar có giọng nói cứng, rất khó nghe: “Thủ trưởng biểu tui chờ anh.”, anh ta nói từng tiếng một. “Có chuyện gì quan trọng không?”, tôi hỏi. Anh ta bảo rằng, thủ trưởng bố trí cho tôi tới trạm xá học một thời gian để về làm y tá chính thức cho đơn vị. Tôi nghe mà ngán ngẩm. Thực lòng, tôi đâu có mê cái nghề ấy. Chẳng qua vì lúc rỗi tôi tò mò tìm hiểu, rồi khi bí thì ra tay, bây giờ đến nước này rõ là thân làm tội đời rồi! Anh bạn công vụ khoác súng đi trước, bảo tôi theo sau. Tôi buồn bã ra mặt, trong lòng chỉ nghĩ tới chuyện phải từ chối thế nào để ông ta hiểu, đừng bắt tôi đi học. Nhưng tôi đâu có nghĩ được điều gì cho mạch lạc?

- Anh Bình. Thủ trưởng biểu tui dẫn anh vô đây.

Tôi sững lại trước cửa một căn nhà hầm nhỏ, có biển  đề “Quân y đơn vị”. Chẳng lẽ chuyện đã gọn ghẽ thế này rồi sao? Chẳng lẽ ông ta không cần hỏi xem nguyện vọng của tôi? Nghĩ thế, người tôi giận run lên, nhưng chân vẫn cứ bước vào. Tôi không ngờ chị Thư đang ngồi đó, trước cái bàn ghép bằng phên nứa, cùng cái túi quân y. Thấy tôi vào, chị ngẩng lên nhìn tôi, mặt đầy nước mắt. Rồi bỗng chị lao tới, ôm chầm lấy tôi, vừa nức nở khóc, vừa nói:

- Em ơi! Chị em mình bị người ta đánh tráo cho nhau rồi!

Tôi không hiểu. Không tài nào hiểu được đánh tráo cái gì và ai là người ta?

Té ra ông Ba Sang không phải là chú người gỗ. Chính âm mưu này do anh Chín lập ra, sau này tôi mới biết. Anh Chín đã tới trạm xá gặp bác sĩ Long, kể về tình yêu của ông Ba Sang với chị Thư, rồi anh đề nghị anh Long, nếu thương chị thì nên cho chị chuyển về đơn vị chúng tôi, để hai người có dịp gần nhau, vì vả hai cùng đều lớn tuổi cả rồi, mà chiến tranh thì chả biết tới bao giờ chấm dứt. Anh Long nghe cũng xuôi tai, có điều, anh đề nghị cho cậu y tá Bình - tức là tôi, về trạm xá thế chân chị Thư, phải có thêm một y tá nam trẻ khỏe như tôi thì anh Long mới chấp nhận.

Cho mãi tới bây giờ tôi vẫn nhớ gương mặt đen sạm của ông Ba Sang khi ông tới chỗ chúng tôi, bắt gặp cảnh khóc lóc của chị Thư. Ông nói run run:

- Thôi, thôi mà. Không có gì đâu mà. Nếu các đồng chí không ưng thì thôi cũng được kia mà. Ở đây với trạm xá cũng vẫn là một đơn vị, tôi đâu có ép...

Đúng thế. Trạm xá chỉ là một đầu mối của đơn vị. Nhưng tôi đã nhận ra nét mặt quá đau khổ của thủ trưởng Ba, khi ông khẽ đặt tay lên vai tôi, nói nhỏ: “Tuỳ em thôi mà!”.

Không phải tuỳ tôi, điều ấy tôi hiểu. Nhưng lúc đó nếu tôi từ chối, hẳn từ chối được. Ấy vậy mà tôi đã lại “vâng” một cách nước đôi, để rồi sau đó phải khoác ba lô về trạm xá thật. Còn chị Thư với ông Ba đã thành vợ chồng sau đó nửa năm, đúng vào dịp tôi được nhận bằng y tá, trước Tết ta vài  ngày, trước khi toàn đơn vị được lệnh vào chiến dịch lớn. Đám cưới của họ, nói như anh Chín Thung là lấy vui làm gốc, món ăn chỉ có độc một nồi quân dụng lớn chè mật ong nấu với đỗ xanh, do chính anh Chín vừa là anh nuôi vừa là trưởng ban tổ chức nấu, ai ăn được bao nhiêu thì tuỳ khả năng mà múc.

 
TRUNG TRUNG ĐỈNH


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 19 Tháng Tư, 2011, 09:24:19 am
                          Con thú bị ruồng bỏ .
                          Tác giả : Nguyễn Dậu

Mỗi năm, vào dịp sang thu, tôi lại được mời lên Ba Vì một lần. Đây là một vùng gò đồi rất đẹp. Hàng ngàn quả đồi nõn nuột cỏ xanh, tròn trịa như một mâm xôi. Rồi kế đến là vùng đồi dứa, đồi sim, đồi sơn, đồi chẩu. Càng vào sâu chân núi, rừng càng rậm rạp dần, thâm u dần, để trở thành rừng già trùm lấp những tảng đá nguyên sinh nổi tiếng trên non Tản.

Bạn tôi, thiếu tướng Nguyễn Hồng Quyền đã nghỉ hưu và định cư tại nơi đây. Trang trại của ông - có thể gọi như vậy - Gồm gần hai chục nóc nhà làm bằng gạch và gỗ, nằm trên một trái đồi hình yên ngựa, xung quanh có hai ba dòng suối nhỏ uốn lượn vây bọc. Xa hơn nữa, một dòng sông mênh mang đỏ rực phù sa, đang cuồn cuộn chảy xuôi, mất hút vào giữa những eo núi hẻo lánh.

Thật ra mảnh đất này không phải là đất tổ của Quyền. Năm 1948 chúng tôi có dịp chiến đấu chống Pháp ở đây. Rồi tới năm 1953 lại một phen nữa, đơn vị chúng tôi nhận nhiệm vụ phá bung hành lang trung du của địch mở lối thông thoát từ miền đồng bằng lên Việt Bắc, qua nẻo Hòa Bình, Sơn Tây, Phú Thọ. Trong một tối lửa trại liên hoan quân dân, trung đoàn trưởng Nguyễn Hồng Quyền được cô gái xinh đẹp nhất vùng Bất Bạt say đắm. ở anh có nét điển xảo của trai Hà Nội có tư thế hiên ngang, có ngựa hồng, côn bát là hình ảnh “trai thời loạn” rất dễ làm xao xuyến những trái tim thiếu nữ thời bấy giờ. Họ thành vợ thành chồng. Con cái của họ giờ đã khôn lớn, hầu hết đi công tác ở nơi xa. Cố nhiên họ đã nên ông nên bà vì có một đàn cháu nội cháu ngoại khá đông đúc.

Thiếu tướng là một con người sởi lởi, hào phóng, chí tình chí cốt với họ hàng và bầu bạn. Nhưng ông mắc bệnh gia trưởng quân phiệt một cách nặng nề. Ông yêu thương mọi chiến sĩ nhưng cậu nào bướng bỉnh, ông cho đi an dưỡng hoặc cho thuyên chuyển tới đơn vị khác không thương tiếc. Ông đùm bọc họ hàng đến hết mình, nhưng chớ nên để ông phật ý. Chỉ một giận dữ nhỏ, ông thù ghét rất lâu, thậm chí rất đáng buồn là ông ghét họ suốt đời.

Như nhiều người khác ông cũng mắc bệnh nghề nghiệp. Nghĩa là ông ưa mọi ý muốn của ông phải được chấp hành, mọi rắp tâm phải được thực hiện. Bởi vậy con dâu về ở cạnh ông đã đành. Con rể cũng phải về ở cạnh ông nữa. Rồi dần dần, một số con cháu trong họ cũng thiên cử đến đây quây quần cùng ông cho “tre ấm bụi”. Không cần phải khéo léo cho lắm, ở cương vị ấy, người ta dễ dàng “ngói hóa’ cho cả xóm. Thế là cái xóm nhỏ gồm toàn con cháu của ông, trở thành trang trại. Sau khi về hưu thì vị thiếu tướng nghiễm nhiên trở thành chòm chóp của trang trại này.

Mới sau mươi hai, thiếu tướng còn trẻ khỏe hơn tuổi tác. Ông cao lớn, đẫy đà, hồng hào, dáng đi mạnh mẽ, giọng nói oang oang, tiếng cười rồ rộ, tràn trề sức sống. Tuy đầu óc ông không còn thích nghi với một đơn vị chính quy hiện đại nữa, song ông quá thừa năng lực điều khiển việc sản xuất kinh dinh của trang trại, để cho nó ngày một phồn vinh sung túc.

Ngoài công việc điều hành trang trại, thiếu tướng đặc biệt ham thích săn bắn, câu cá, cờ tướng. Đôi khi, cao hứng lên, ông cũng làm thơ. Những bài thơ Đường luật lổn nhổn những từ ngữ, xửa xưa: sơn hà, tráng sĩ, vung gươm, thôn nữ cửi canh, chinh phụ, bồi hồi v.v...

Bởi tôi cũng thành thạo vài ngón như bắn súng, câu cá và ham cờ nên vừa là niềm vui vừa là tai họa, mỗi năm ông bạn già ấy lại “buộc” tôi phải lên chơi với ông một lần, thậm chí ông có lúc còn chèo kéo tôi lên định cư hẳn cùng ông, làm quân sự quạt mo cho ông trên một số lĩnh vực.

Lần này, Nguyễn Hồng Quyền xuống tận Bất Bạt để đón tôi. Trung tướng không dùng xe máy “ban căng” như mọi lần. Thay vào đó, ông cưỡi một con ngựa trắng, đực tơ, bốn vó khá dài. Trên tay ông dong theo dây cương một con ngựa hồng cái, có bộ lông rất mượt, có cặp mắt mầu vàng chanh và bộ lông bờm màu hồng nhạt không gọt xén. Trao cương ngựa cho tôi, ông vừa vỗ về con hồng, vừa nhìn tôi cười ha hả:

- Sao? Ngạc nhiên lắm à? Có gì đâu, tớ muốn chúng mình lại cùng nhau phóng ngựa, như ngày xưa trẻ trung đã phi ngựa trên thảo nguyên Hoa Bắc ấy mà. Xương xống lưng của tớ thì tuyệt rồi. Mà xương sống của ông thì chắc cũng chẳng kém gì đâu. Đồng ý chứ?

Tôi tỏ vẻ hân hoan. Bởi vì cái gì dính tới thời son trẻ tôi cũng ham thích.

- Đồng ý thôi. Chỉ phiền cái sắc du lịch của mình hơi nặng.

- Cứ ghì vào sau yên ấy. Con hồng không chịu nhường bước con bạch đâu. Rồi ông sẽ thấy nó phi nước đại hay đến mức nào. Phải tháo kính trắng ra, bỏ vào túi áo, kẻo văng mất đấy.

- Cặp ngựa này ông sắm từ bao giờ vậy? Năm ngoái tôi không thấy chúng chúng.

- À, mời lên Lạng Sơn tậu đấy. Lúc thường thì dùng chúng kéo máy ép mía, máy ép dầu. Lúc cần thì đi săn. Săn thứ mà không có ngựa tốt để cưỡi thì nguy hiểm lắm. Ông quá rõ điều ấy còn gì? Thôi, lên ngựa đi!

Chúng tôi cùng lên ngựa. Quyền huýt gió một tiếng chói tai. Từ bụi cỏ gần đấy, một con chó to lớn mầu trắng đen loang lổ, băng lại cạnh chân ngựa. Nó vẻ vẩy đuôi, giương mặt mắt xanh thau, chờ lệnh chủ. Thiếu tướng hể hả, hất hàm hỏi tôi:

- Ông vẫn nhớ nó chứ?

- Làm sao tôi quên được con Tuýt của ông. Không phải chó nữa, mà thực sự là một con beo rừng. Năm nay nó đến ba chục ki lô đấy nhỉ?

Vị chòm chóp của trang trại cười rung cả yên ngựa:

- Ba mươi bảy ki lô đấy!

- Thế còn con Múc?

- A, con Múc, cái con trời đánh, ông nhắc đến nó làm gì? Rồi thì tôi sẽ cho ông rõ mọi chuyện. Ê, này Tuýt! Mày không kính chào bạn của chủ mày à?

Con Tuýt ngoáy tít cái đuôi dài, “oẳng” một tiếng hùng dũng. Đoạn nó đứng thẳng lên bằng hai chân sau, hai chân trước chụm lại, hướng về tôi mà vái ba vái.

- Thôi, đủ rồi - Chủ nó ra lệnh - Hãy dẫn đường cho chúng tao.

Con Tuýt vọt lên trước. Con ngựa bạch lao theo nó. Không chờ giật cương, con Hồng cũng băng lên, phi song song cùng bạn nó. Chúng tôi vùn vụt phi lên đèo, lượn quanh suối rồi lại vượt dốc băng đèo. Sau lưng chúng tôi, bụi đỏ của vùng đồi đá ong bốc lên cuồn cuộn.

Con Tuýt xứng đáng được chủ nó cưng chiều. Nó bỏ xa đầu ngựa hàng trăm mét. Có lúc nó tạt sang sườn trái, có lúc nó lại vòng bên sườn phải, chúng tôi. Bốn chân nó thoăn thoắt, mờ mờ không còn rõ hình hài. Bộ lông khoang của nó như kẻ một đường thẳng trên ngọn cỏ. Đôi lúc, nó đánh hơi thấy một mùi hoang thú nào đó. Nó lập tức rống lên, rẽ ngang vào rừng sơn. Song, dù máu săn của nó nóng tới dâu, nó vẫn nghe lệnh chủ mà quay ngoắt trở lại, rồi vun vút băng vọt lên dẫn đầu. Đôi ngựa chúng tôi đang cưỡi đây, cũng rất hăng máu non tơ, dường như muốn đuổi vượt con Tuýt. Chúng thở ra hơi trắng, bốn vó dồn dập sải dài nước đại. Sỏi đá, cây cỏ dưới mặt đường như kéo thành vệt, loang loáng trôi về sau lưng. Nhưng không ồn. Chẳng nói gì ngựa thồ, ngựa ép mía, ngay đến ngựa chiến cũng không thể theo kịp tốc độ của chó săn. Con Tuýt láu lỉnh hiểu ý đôi ngựa. Ngựa phi nhanh, nó tăng tốc nhanh hơn. Ngựa chậm dần, nó hãm đà phóng, cứ lừng lững ở mé trước như trêu như chọc.

Quả thật đây là những giây phút sung sướng lành mạnh trong đời tôi. Thuở trai trẻ, chúng tôi được dịp ngồi trên yên những con ngựa cao lớn mà bay vút trên thảo nguyên bao la. Những con ngựa ấy, tôi chỉ đứng ngang tới bả vai chúng, rất xứng đáng với những cái tên rất kêu: Thiên - lý - Hoa - lưu, tích - tuyết - ô - tuy, xiển - điện - hoàng - phiêu, v.v... so với chúng thì hai con ngựa nhiệt đới mà chúng tôi đang cưỡi đây, chỉ đáng gọi là con ngẽo xoàng sĩnh. Song tôi vẫn thấy chứa chan hào hứng. Tôi thầm cám ơn bạn già, cảm ơn đôi ngựa, cảm ơn con Tuýt tinh khôn, cảm ơn trời đất mênh mang và cảnh sắc của thiên nhiên hào hùng xung quanh... Tất cả đã khuấy lại trong tim tôi những kỷ niệm đẹp đẽ đã trôi qua, những sôi nổi chỉ còn âm ỉ của một thời xuân sắc đã lướt vào dĩ vãng.

Vị chòm trại đột ngột chụm môi rúc còi lanh lảnh ra hiệu cho chó và ngựa dừng lại bên bìa rừng chẩu.

- Được nửa đường rồi, chúng ta tạm nghỉ một lát. Thế nào, ông bạn, cảm giác về xống lưng ra sao?

Cả hai chúng tôi cùng nhảy xuống. Cương ngựa được cột chặt vào gốc chẩu. Chúng lúc lắc đầu, quạt mạnh đuôi, gõ móng thậm thịch xuống nệm cỏ, tỏ ý còn muốn được rong ruổi nữa, tuy rằng hơi thở của chúng đã khá nặng nề.

Chúng tôi ngồi xuống nệm cỏ mật. Giữa hai hàng chẩu non. Thiếu tướng rót rượu mật ong ra. Chúng tôi cùng nhau tợp vài ngụm, rồi hút thuốc lá, loại thuốc sợi vàng óng, đặc sản của Ba Vì. Riêng Quyền, ông nhồi vào tẩu. Ông đã quen dùng tẩu từ mấy chục năm rồi.

Tôi lim dim mắt, hỏi bạn già:

- Tình hình các cháu nội ngoại của ông ra sao? Nhất là cái con Quỳnh ấy?

- Chúng nó đều ăn khỏe, ngủ khỏe. Riêng cháu Quỳnh thì ngoài phần học văn hóa ra, cháu vẫn thích đi chơi trên đồi rừng, vẫn thích làm thơ về rừng. Từ ngày không còn con Múc, nó ít đi rừng hơn. Vả, tôi cũng cấm cháu nữa.

- Nghĩa là, anh không hề thấy con Múc quay trở về?

- Con Múc trở về ấy à? - Thiếu tướng mỉm cười, lắc đầu nhè nhẹ - Về con Múc, anh sẽ được thấy mọi điều. Hiện giờ tôi không muốn nói cùng anh vội. Nhớ rằng tôi mời anh lên đây lần này khác hẳn những lần trước. Dù rằng anh không ưa săn bắn, tôi vẫn ép anh phải dự cùng tôi một cuộc săn bắt bằng được.

- Một con thú đặc biệt mới xuất hiện chăng?

- Ồ, bí mật quân sự!

Tôi không hỏi han gì nữa. Tính nết đến khỉ của cái ông già này là vậy! Khi không, tự dưng ông nói tộc toạc đủ mọi điều. Lúc thích hỏi, thì ông ta lì lì ngậm tăm.

Con Tuýt nằm duỗi chân cách chủ nó chừng nửa mét. Lưỡi nó thè dài, màu đỏ hồng có điểm những chấm đen lấm tấm. Thân nhiệt của nó, được sả ra từ đầu lưỡi, bốc thành hơi trắng nóng hầm hập. Hàm răng của nó trắng bóng. Bốn chiếc nanh cửa dài và cong, nhoáng sáng đến dễ sợ. Chẳng rõ từ ngày nào ra đời rồi trưởng thành đến nay, bộ nanh ghê gớm kia đã cắn xé biết bao gà lôi với chim đa đa, thỏ và chồn, hươu và hoẵng, gấu và cáo. Kinh dị hơn, chủ nó đã đôi lần tường thuật cho toi nghe những trận ác đấu của nó với gấu ngựa và báo đen. Trong những cuộc cắn xé sinh tử đó, phần lớn nó đã chiến thắng, dù đẫm máu nhưng huy hoàng. Có nhiều phen nó đã sắp bị kẻ thù xé xác. Nhờ nòng súng thiện xạ của ông chủ, nó được cứu thoát. Chủ và chó đều có ân huệ sâu sa với nhau. Nếu như chủ đã cứu chó thoát khỏi cửa tử nhiều phen, thì chó cũng đã răm bảy bận đưa chủ trở về cõi sống.

Trong các cuộc săn đuổi gay cấn và hấp dẫn lạ lùng kia, thiếu tướng đã hai phen bị báo gấm vồ lén, đã một lần bị gấu ngựa quật ngã. Mỗi lần ngặt nghèo vậy, con Tuýt mới được dịp bộc lộ hết tài năng của nó. Nó nhanh chóng chọn chỗ yếu của hoang thú, để tìm hướng lao vào. Không do dự trù trừ, không hấp tấp, sai chệch, nó chồm tới, ngoạm rất chính xác vào cổ họng ác thú mà xé rách bằng hai ba cái quẫy đầu mạnh mẽ. ác thú bị đòn chí tử, không còn kịp gây thương tích cho chủ nó nữa.

Nguyễn Hồng Quyền thường đắc ý nói với tôi.

- Anh rõ chăng, lúc nó mới chào đời, tôi đã thấy “tướng lạ” của nó. Dưới hàm của nó có ba sợi lông dài màu xanh biếc. Chỉ người sành chọn chó mí hiểu thế nào là “tam tu vi long, nhị tu vi hổ”. Đấy, thế đấy. Chó của tôi thì kém đếch gì một con beo? Này, anh còn nhớ thượng tướng Th. không? Cái ông già đã gạ tôi đổi con Tuýt lấy một cặp bẹc giê Sibêri đấy. ồ, xin lỗi! Ngài hãy đổi cho tôi một cặp rồng thực sự, tôi cũng xin kiếu ngài thôi.

Vốn thâm giao, thường niên gặp gỡ, lẽ cố nhiên tôi hiểu rõ lai lịch con Tuýt vô giá kia. Tổ của nó vốn nòi chó săn Na uy băng giá. Trong trận tiêu diệt đồn Đại Bục năm xưa. Giữa hàng trăm chiến lợi phẩm quan trọng, trung đoàn trưởng Nguyễn Hồng Quyền chỉ mừng rỡ khi đoạt được con chó săn này, vốn là kẻ “cận vệ” của tên Pháp đồn trưởng. Ông gởi về nhà, giao cho vợ ông trông nuôi. Trong đàn con cháu của nó, không pha tạp một sợi lông màu nào. Và ông đặt cho nó một cái tên rất âu yếm: Bạch Ngọc!

Bạch Ngọc có đôi tai nhỏ, dựng đứng. ức nó nở, bụng nó thon, toàn thân nó chác nịch như thỏi giò bó. Đôi mắt của nó mang màu da cam, le lói tia sáng. Nó không sủa inh ỏi như chó nhiệt đới, mà lặng lẽ tiếp cận đối thủ, và chỉ tấn công khi nó biết chắc sẽ có một cú đợp chí mạng.

Năm trước một lần về phép thăm nhà, thiếu tướng lấy làm lạ lùng khi thấy con Bạch Ngọc thường hay lặng lẽ băng mình vào rừng sâu những lúc xế chiều. Ông sỏ ủng vào chân, xách khẩu AR15, loại tiểu liên cực nhanh, rồi cũng lặng lẽ đi vào rừng, theo hướng đi của Bạch Ngọc.

Từ xa, dưới một gốc chám già nua, ông đã thấy Bạch Ngọc đang đùa rỡn với con chó vạm vỡ, có bộ lông đen bóng như lụa lĩnh. Ông rón rén vòng theo hướng ngược chiều gió, dần dần tới gần đôi chó bằng động tác đi cực kỳ êm nhẹ của thợ săn lành nghề. Và ông nằm phục xuống quan sát.

Đôi chó quá vui vẻ, nên không hề phát hiện con người đã quá gần chúng. Nòng súng AR15 đã được lên. Song, chỉ một tích tắc ngắn ngủi, vị thiếu tướng tinh ranh đã quyết định không bóp cò. Ông chỉ rê đầu súng theo họat động của con chó rừng đen tuyền kia, mà chờ đợi.

Con chó rừng và con Bạch Ngọc ngửi hít nhau, đùa rỡn vật lộn nhau. Sắp đến lúc phấn khích, con chó rừng rụt cả đầu, cả thân mà chạy thành vòng tròn rộng xung quanh con Bạch Ngọc. Đôi lúc nó ngẩng cao đầu, tru lên từng hồi dài, rồi tung vọt người lên không, nhảy vút từ tảng đá này sang tảng đá khác với điềm cuồng say ghê gớm. Con Bạch Ngọc cũng nhảy nhót, nhưng dường như nó chỉ xoay mình trên tâm điểm. Cuối cùng nó hứng khởi cắn nhẹ vào má con chó rừng, rồi đứng im với tư thế mời mọc.

Quả nhiên ông thiếu tướng dự đoán. Một hiện tượng thiêng liêng của tự nhiên đã diễn ra. Con chó rừng hăm hở làm cái việc gắn đuôi con Bạch Ngọc. Biết chắc rằng đôi chó không thể mau chóng tách rời nhau, thiếu tướng đứng lên, nhẹ nhàng lùi dần ra cửa rừng. Ông ngồi trên một khúc gỗ ẩm ướt, mồi lửa vào tẩu thuốc và ngâm nga một câu thơ gì đó. Ông vui! Một cuộc phối giống vô cùng hiếm hoi mà có dụng ý đến đâu người ta cũng không dám mong ước. Thiên nhiên yêu chiều ông đến thế là cùng.

Chừng nửa tiếng sau, Bạch Ngọc êm như ru chạy ra. Nhác thấy chủ, nó ngạc nhiên nhưng mừng quýnh. Đôi mắt sung sướng của nó lấp lánh như bốc lửa. Ông Quyền đập nhẹ bàn tay lên đầu nó, nói với nó vài lời trìu mến, khi nhìn thấy từ cụ thịt dưới đuôi nó rỉ rả vài giọt máu tươi. Đoạn, cả chủ cùng chó, với nỗi niềm hoan hỷ, chậm bước quay về trại. Đó là lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất, con người say sưa sát phạt kia đã không nổ súng vào một con thú rừng.

Trước khi lên xe, trở lại đơn vị, ông dặn dò cặn kẽ vợ con cách chăm sóc và bồi dưỡng Bạch Ngọc, đồng thời phải biên thư báo cho ông biết diễn biến của nó từng tuần một. Bà Quyền ngoan ngoãn vâng mệnh lệnh chồng: bà chỉ âm thầm buồn bực vì xưa nay chưa bao giờ chồng bà quan tâm như thế tới bà, tới con gái và con dâu mỗi kỳ thai nghén sinh nở.

Con Bạch Ngọc đã không phụ lòng ông chủ. Nó đẻ lứa đó được bốn chó con. Con đầu khoang đen trắng, tức con Tuýt. Con thứ hai hoàn toàn đen kịt, có cặp mắt tóe lửa giống mẹ, được đặt tên là con Múc, còn hai con kia mang mầu lông xám đậm. Tuy tiếc đứt ruột, vị thiếu tướng vẫn phải tặng một con cho một ông Bộ trưởng có ân sâu dìu dắt ông tự thuở thiếu thời.


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 19 Tháng Tư, 2011, 09:26:49 am
                  Tiếp theo :
 Khi Tuýt và Múc được tám tháng tuổi, cũng là lúc ông tướng già được về hưu. Ông dốc hết sức mình vào việc dẫn dắt trang trại của mình ngày một phồn vinh trên đường kinh dinh. Cũng với sự tận tình như vậy, ông chăm sóc, huấn luyện con Tuýt, con Múc cùng một bầy năm sáu con chó săn khác. Tuýt và Múc càng lớn càng khác biệt nhau. Cùng vạm vỡ, cao lớn, cùng nồng cuồng với thiên chức săn đuổi tìm diệt, song con Tuýt được chủ nó yêu quý hơn con Múc nhiều. Tuýt biết phán đoán, ứng xử hầu hết ý chủ. Nó gần như hiểu tiếng người. Ngoài chức trách dữ dằn, quyết liệt và man rợ trong săn bắt, nó rất dịu dàng, quất quýt con người. Chỉ cần dậy bảo đôi lần, nó biết mừng đón, biết vái chào, biết canh phòng và làm vui lòng chủ. Nếu cần sai nó lấy đôi dép, lấy con dao, lấy chiếc điếu cày, nó làm rất khéo. Nếu cần thúc nó trừng phạt gia cầm và gia súc, nó tuyệt đối làm vừa ý chủ.

Còn Múc thì hoàn toàn ngược lại.

Nó không hề thua kém Tuýt về khoản săn đuổi, vật lộn và cắn xé. Nhưng chỉ thế thôi. Nó dửng dưng với những việc mà con Tuýt say mê. Nó không quẩn quanh bên chân chủ, không biết chào đón, lại càng đần đội với những việc chủ muốn sai khiến. Trong cái trại đông đảo người này, nó chỉ thân thiết và gắn bó với riêng cháu Quỳnh. Mỗi lần cháu Quỳnh lên đồi sim, hoặc vào rừng, nó thường đi theo, nửa bước không rời. Những lúc tiễn cháu Quỳnh đi học rồi, nó thường quay về nằm duỗi dài chân ở đầu thềm, dỏng tai nghe, chăm chú nhìn. Nó nghe gió ngàn, nghe suối reo, nghe mọi động tĩnh trong rừng sâu. Đầu mũi ướt bóng của nó luôn nhún động, để như nắm bắt, như phân biệt, như tận hưởng mọi thứ hơi lạ theo gió lùa tới.

Nó thờ ơ như vậy, dần dà, nó bị ông chủ thất sủng. Ông quên đi những công lao của nó, chỉ biết cáu gắt quát tháo mỗi khi nó lì lợm không chịu xua đuổi đàn gà quấy phá vườn rau hoặc không chịu xua đuổi lũ gia súc đang tứ tán trên đồi. Tình hình xấu đến nỗi, ông đã quất cho nó vài ngọn roi da, khi nghi ngờ nó xơi tái mất hai con gà giống Đông Cảo, mà ông lận đận về mãi miền Từ Hồ mới mua được.

Trong nghề săn bắn và nuôi dưỡng chõ săn, ai cũng biết rằng người ta tuyệt đối tránh ngược đãi chó của mình. Sự trung thành sẽ mất đi, nếu con chó bị trừng phạt oan uổng. Một con người tinh ranh và sáng suốt như thiếu tướng Hồng Quyền mà cũng phạm phải sai sót đó, thật đáng buồn biết chừng nào.

Sở dĩ ông thù ghét nhưng chưa nỡ ruồng bỏ con Múc vì hai lý do. Thứ nhất, ông sợ cháu Quỳnh buồn, ông yêu thương và quý báu cháu Quỳnh, còn cháu Quỳnh thì lại trìu mến con Múc như một bạn nhỏ thân thiết. Thứ hai, hồi đầu năm, con Múc lập được một chiến tích có thể xem là phi thường được.

Những ngày xuân, mưa phùn và nắng ấm, làm cho rừng già trở nên tươi rói vì những búp nõn và chồi non. Tại các nẻo đồi mươn mướt từng đợt cỏ xanh mềm như nhung lụa. Muông và thú trong rừng sau đợt nghỉ đông hoặc ngủ đông dài dặc, bây giờ bừng tỉnh, nhộn nhịp đi kiếm ăn, tìm đôi, phối giống và sinh sản.

Một đàn lợn rừng từ bên kia sông Đà đã ùa sang bên này. Các đồi lạc, đồi dứa của trang trại bị lợn rừng tàn phá nặng nề. Ông Quyền cùng Quý, con trai thứ ba, quyết định rủ nhau đi săn bắt đàn lợn rừng tệ hại kia. Lợn rừng chậm chạp, chỉ cực kỳ hung dữ khi bị dồn vào tử địa. Có khỏng sáu con họp thành đàn, đang trũi húc vào các luống lạc. Khi phát hiện ra có người và chó vây bủa, chúng mở đường máu lao về phía sông Đà. Chúng đi tựa sườn vào nhau, hai nanh dưới to bằng ngóng tay trỏ, nhe ra, lông bờm dựng đứng. Đàn chó phân vân, không biết nên tấn công đàn lợn bằng cách nào. Những mảnh đạn ghém tuy trúng đích cũng không khiến chúng ngã được, bởi lớp mỡ quá dày.

Bản thân vị tướng cũng có phần lúng túng, chưa có cách nào để đạt kết của tối ưu. Trong khi đó, đàn lợn vẫn rất trật tự, tựa sườn vào nhau mà lần lượt xuống sông bơi đi hết. Riêng có con đầu đàn, khổng lồ, không hiểu sao nó lại không lao xuống nước. Nó dừng chân bên bụi lau, và quay đầu trở lại. Đôi mắt nhiều lòng trắng của nó ong lên sòng sọc. Nó tru hộc lên, những chiếc lông cứng và dài như lông nhím dựng đứng suốt từ gáy tới lưng. Hai chiếc nanh trước trắng bóng, con cong của nó chĩa ngược lên trời với vẻ đe dọa không thể không làm ta rùng mình.

Con Tuýt bị chủ thúc xông lên. Chính nó cũng trần trừ. Bởi vì giống cho săn thường chỉ đánh vào điểm yếu nhất của đối thủ là hầu họng. Các loại thú hoang thường để lộ cổ họng, dù có lớp lông mao bao bọc. Với lợn rừng lại là chuyện khác. Nó hầu như không có cổ. Lớp mỡ dày đặc ứ bự quanh vùng mặt, nối liền bả vai và xương ức.

Bị thôi thúc vì lệnh chủ, con Tuýt nhảy vào. Nó ngoạm đúng phần má con mồi. Nhưng nó đã bị trừng trị trở lại. Con lợn rừng chỉ hất mạnh cái mũi lên, hai chiếc nanh nhọn đã đóng ngập vào xương sườn con Tuýt. Con Tuýt rống lên đau đớn, nhưng nhanh nhẹn, nó vùng thoát rồi chạy về bên chủ, máu chảy đầm đìa. Ông thiếu tướng kinh hoàng vì đấu sĩ số một của ông chiến bại. Ông lập tức nâng khẩu AR15 lên. Cùng lúc ấy con Múc đã xông tới. Ông liền ngừng lại để xem bản lĩnh con Múc. Con Múc hiểu rằng, qua cú đòn đau của con Tuýt, nó không thể ngoạm cổ con lợn rừng được. Nó liền chạy vòng tròn quanh con mồi. Con lợn rừng hung tợn và cũng lì lợm xoay tròn người, đôi mắt trắng sáng không rời con Múc. Bất thình lình, đang đà chạy bình thường, con Múc nhảy vào con lợn. Nhưng khi gần tới cổ lợn, nó ngoặt người đổi hướng và đợp rất chính xác vào cẳng chân sau của con mồi. Tiếng xương gãy nghe giòn lắc rắc. Con mồi rống lên, nhưng con Múc đã vọt ra xa. Lợn rừng hung tợn lên gấp trăm lần. Nó khập khiễng nhưng nhanh nhẹn xông vào tấn công bất kỳ ai. Cũng may hôm ấy tất cả đều ở trên mình ngựa, nên bầy ngựa nhảy rạt ra xa khá nhanh nhẹn. Cơ hội tốt đẹp đó tạo thuận lợi cho Múc. Trong khi con lợn xông theo con ngựa của ông Quyền từ mé sau, con Múc băng tới, ngoạm vỡ xương chiếc chân bên kia của con lợn. Lúc này, con lợn mới rống lên thảm thiết. Gãy hai cẳng giò má sau, nó không còn sức bật sức dướn nữa. Nó nằm bẹp xuống, điên cuồng rũi răng nanh vào đất đá, làm cho đất đá bị lõm thành một hố sâu. Phần còn lại, Múc dành cho người và bầy chó kia kết thúc. Nó đứng im, vừa thở vừa ngắm nghía con mồi bị nó đánh gục.

Sau cái chuyện đó, ông Quyền với con mắt người đi săn thấy rằng ở con Múc còn nhiều tiềm năng ghê gớm, mà chỉ khi lâm sự nó mới bộc lộ ra. Còn với cặp mắt của người chủ, ông vẫn không xóa bỏ được mối ác cảm đối với “tên đày tớ” ương bướng này.

Trở về trại, ông chăm sóc chu đáo vết thương con Tuýt, nhưng việc cần phải làm là ban thưởng cho con Múc thì ông không làm.

Năm trước, lên thăm và ở chơi cùng ông Chòm Trại, tôi đã thân ái nhắc nhẹ ông về tính công bằng và sự cần thiết phải gạt bỏ thành kiến. Song, ông bạn già của tôi vốn không thể cao cả hơn thượng đế được, mà chính thượng đế thường hay bảo thủ. Ông cười, chế nhạo lại tôi:

- Trừng phạt và ưu ái là hai mặt của sự chăm sóc và gây dựng. Nếu con Múc muốn tôi ưu ái thì nó hãy ngoan ngoãn như con Tuýt. Tôi có hẹp hòi gì đâu? Mà có nực cười không nhỉ, khi anh thấy cần giảng dạy cho tôi về mặt nuôi dạy chó săn?

- Về việc đào tạo chó săn thì anh hơn tôi không chỉ một, mà là hàng vạn lần. Tôi chỉ lưu ý anh về tính di truyền sinh vật. Theo anh kể, bố nó là giống chó rừng thuần chủng. Còn mẹ nó là nòi giống của loại chó tinh quái có nguồn gốc hàn đới xa xôi, đã được thuần hóa. Con Tuýt được thừa hưởng cái gien máu của mẹ nó quá nhiều. Còn con Múc thì ngược lại nó giống bố nó từ thể hình, màu lông và tính cách. ở nó tính “rừng” đậm hơn tính “nhà”.

Thiếu tướng cười vang vọng, đắc thắng:

- Theo ý anh thì con hổ và con voi rừng có mang tí tính “nhà” nào không? Vậy mà người ta dạy nó làm xiếc được đấy. Vấn đề là nó có ngoan ngoãn không? Có phục tùng không?

- Nhưng anh đã có tình thương yêu và tính kiên nhẫn của những nhà dạy thú chưa?

Ông tướng già quen với việc ra mệnh lệnh lúc này mới im bặt. Ông trầm ngâm giây lâu, đoạn vỗ vai tôi:

- Này, mình tặng con Múc cho ông ấy!

- Tặng tôi?

- Mình rất thực tâm đấy. Có lẽ ở cùng ông, thích hợp cho nó hơn.

- Ôi, cảm ơn tình bạn của anh. Nhưng, tôi biết dùng nó vào việc gì? Chả lẽ để nó canh chừng những con sâu mọt đục phá cái bàn viết của tôi à? Vả chăng, tôi biết kiếm đâu ra thịt sống để nuôi nó, trong khi chính tôi cũng chả có thịt mà ăn?

Chúng tôi lại cười, và cùng cười rồ rộ. Nguyễn Hồng Quyền không phải con người lúc nào cũng cố chấp. Ông ta chỉ bướng bình lúc nào sự ngu dốt bị xúc phạm. Trộn lẫn trong tim ông có tính hồn nhiên, phóng khoáng, tự phụ và hiếu thắng, nên nói chung, ông ta không giận bực gì lâu. Sự hào phóng và khoáng đạt vẫn là phong thái chủ chốt của ông.

Tuy chưa hoàn toàn gạt bỏ sự căm ghét con Múc, song ông xem chừng cũng muốn mối quan hệ xấu ấy được đổi khác đi. Một hôm, để con Tuýt ở nhà, ông gọi riêng con Múc ra sông tắm cùng ông. Chủ và chú cùng bơi lội đùa nghịch. Ông ôm con Múc vào vòng tay, ngắm nghía những sợi lông dưới cằm nó. Ông sờ nắn những cái móng đã thoái hóa ở cổ chân nó (phương đông gọi là huyền đề).

Lúc đầu con Múc le lói ánh mắt đề phòng người chủ. Chưa khi nào nó được ông gần gụi, xoa vuốt như lần này, nên với bản chất rừng, nó hoang mang nghi ngờ ông. Cử chỉ của nó rất e dè, thận trọng. Có lúc tưởng chừng như nó sắp sửa muốn liếm tay, liếm mặt ông già, nhưng khi gần sát ông, nó liền đứng khựng và trở lùi. Lưỡi nó thè dài, mắt nó rừng rực ngắm thẳng vào mắt ông, người và thú cùng dò xét nhau và cùng chưa xóa bỏ được định kiến. Con Múc không biết nói, cái đó đã hẳn. Những cử chỉ để giãi tỏ lòng trung, nó cũng không thạo nữa. Nó biết làm sao đây để cho ông chủ cũng hiểu rằng mặc dù bị ông ghẻ lạnh, ruồng rẫy, nó vẫn yêu mến ông, vẫn muốn gắn bó với cái trang trại này, cái cơ ngơi này.

Một đêm mưa rét, khi con Tuýt và bầy chó săn kia đi tìm nơi ấm áp ngủ ngon, con Múc đã phát hiện thấy một con báo gấm đang quẩn quanh ngoài hàng rào mắt cáo, tìm lối vào trại. Nếu là con Tuýt hoặc chó khác, đã sủa ngậu lên, báo hiệu với chủ. Với Múc, nó không ồn ào thế. Nó sù lông, nhảy vút tới bên bờ rào, đôi mắt tóe lửa. Con báo gấm, một ác thú nham hiểm bậc nhất của rừng sâu, vừa gầm gừ nhè nhẹ, vừa chạy đi chạy lại tìm một lỗ hổng to rộng. Con Múc cũng gầm gừ nhẹ nhẹ, bám sát con báo gấm từng bước chân để ngăn chặn. Nếu không có hàng rào tre khỏe khoắn, chắc chắn đã diễn ra một cuộc cấu xé đẫm máu mà phần bi thảm hẳn thuộc về con Múc. Bởi vì chó rừng, dù hung hãn, đồ sộ tới mức nào cũng thường lảng tránh báo gấm. Khi đói khát, b ị cơn đói cồn cào kích thích, báo gấm dám liều lĩnh tấn công và cắn xé cả cọp rừng.

Cứ như thế, hai con thú trong cái thế đối chọi qua lớp rào tre, suốt đêm mưa gió. Đã mấy lần báo gấm định leo trèo hàng rào cao. Nhưng nó biết rằng khi leo rào, nó sẽ bị phơi bụng ra. Một ác thú nham hiểm đâu có dại dột vậy.

Lúc trời tang tảng sáng, con báo gấm đành rống lên một tiếng căm hờn, vút thẳng vào rừng. Con Múc ướt sũng, mệt mỏi bơ phờ trở về nằm dài ở cửa buồng cháu Quỳnh.

Chính cái lần ấy, khi thấy con Múc rũ rượi, thảm hại vì suốt đêm căng thẳng, ông chòm trại đã chỉ vào mặt nó mà mắng:

- Mày giấu đôi gà Đông Cảo của tao ở góc nào, hang hốc nào. Đêm qua mưa gió lẻn đi làm một bữa hả hê phải không?

Chiến công quật ngã lợn rừng đầu đàn, làm cho mối quan hệ chủ và chó có phần dẹp hơn. Nếu cứ cái đà ấy, cái đà mà chiến tích của Múc ngày càng vượt trội Tuýt, thì số phận của nó sẽ đẹp đẽ nhường nào. Nhưng hỡi ơi, định mệnh của nó nghiệt ngã, số kiếp của nó có chứa sẵn một kết cục ảm đạm, nên đã xảy ra một việc cực kỳ phi lý như sau:

Vào độ rằm tháng bảy, khắp nơi người ta náo nức sửa soạn cúng lễ vong hồn tiên tổ. Về phần mình, ông thiếu tướng với cương vị chòm chóp của trại, ông làm hẳn cỗ thái lao, để trước là tỏ lòng tri ân tổ tiên, sau là ban ân cho con cháu. Thái lao, theo tục cổ là lễ tam sanh, gồm có một trâu trắng, một ngựa trắng và một dê trắng. Ông Quyền không thể quá ư nệ cổ, nên biến báo đi chút ít: một lợn trắng, một dê trắng và một gà trắng. Thế, e rằng cũng quá linh đình rồi. Dê và lợn đã được quay hồng. Gà thì được rán chín cả con. Tất cả bày đặt lên ban thờ tổ.


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 19 Tháng Tư, 2011, 09:31:17 am
                             Tiếp theo
Con Tuýt quanh quẩn dưới gầm bàn thờ. Mùi vị thịt rán kích thích tì vị nó dữ dội, xưa nay nó chỉ biết mùi thịt sống và cũng chỉ ăn toàn thịt sống. Người muốn chó thường dùng máu nồng và thịt gây để kích thích tính hăng say sâu xé. Chưa bao giờ Tuýt được ngửi hít hương vị thơm tho lạ lùng đến thế.

Trên gian thờ tổ vắng ngắt.

Cánh mũi của Tuýt phồng nở rộng. Nước rớt nước rãi của nó lều rều theo đầu lưỡi nhỏ xuống đất. Bằng một động tác còn nhanh hơn ma quỷ, con Tuýt nhảy lên ban thờ, ngoạm chắc lấy con gà quay, rồi vọt ra cửa. Nó toan tính phóng thẳng ra nơi vắng vẻ bên bờ suối.

Tại hiên hè, nó gặp con Múc đang nằm ở cửa buồng cháu Quỳnh. Cũng lúc đó, tiếng đế ủng của ông chủ thậm thịch nơi xa. Nó vội nhả con gà quay ra, nhảy tót vào cửa ngách, rồi êm như động tác của mèo cái, nó vọt qua cửa sổ, mất hút.

Ông thiếu tướng tròn xoe mắt nhìn con gà thái lao có vết răng chó bập vào, rồi ông trừng mắt nhìn con Múc nằm gần đó. Giận sôi sùng sục, ông vào nhà ngang lên tiếng gọi vợ con. Đoạn, ông rút chiếc roi gân bò, chạy đến bên con Múc.

Múc không hiểu người ta định làm gì, song nó linh cảm thấy sự chẳng lành. Nó đứng phắt dậy toan mừng chủ chút ít, thì một loạt roi da xiết bỏng trên lưng nó. Con vật rú lên thêm thảm, nhảy vọt ra sân, nhưng vẫn còn bàng hoàng ngơ ngác, chưa dám chạy xa hẳn. Chỉ đến lúc nhác thấy ông chủ giằng lấy khẩu súng hai nòng trên tay cậu Quý, thì nó hiểu rằng không thể chậm trễ chút nào nữa. Từ cái “gậy” sắt ấy nó đã thấy tóe lửa nhiều lần. Sau lúc lửa tóe, có bao muông và thú giãy giụa tan xác.

Nên, nó dồn hết sức lực vào bốn cẳng, luồn lỏi qua dãy chuồng gà, chuồng lợn, rồi vượt qua cửa rào, nó lao thẳng về phía rừng. Sau lưng nó, vang lên những tiếng nổ đoàng đoàng, tiếng chiu chíu xé gió bên tai nó. Bản năng sinh tồn giục nó chạy miết. Cũng chưa khi nào nó chạy tinh khôn như lần này. Không kẻ chỉ, không thẳng băng, mà ngoằn ngoèo đổi hướng. Có lúc tiếng đạn sát rạt trên lưng, nó nằm lăn ra, giả tảng chết. Rồi thình lình vọt lên, băng đi như một vệt đen mờ ảo.

Vào tới rừng, nó đứng lại quay nhìn xóm trại, nó thoáng thấy ông Quyền và cậu Quý trên yên ngựa. Dẫn đầu đàn chó săn tầm thường là con Tuýt - anh ruột nó, kẻ xảo quyệt đáng ghê đối với nó. Thế là nó chạy thẳng, chạy mãi vào rừng sâu, sang tận bên kia núi Ba Vì.

Từ đó nó trở về với cuộc sống hoang dại mà tổ tiên nó xưa kia hằng sống.

 

*

Ngồi một lúc, chúng tôi cùng nghiêng người, nằm chống tay trên nệm cỏ. Xa xa, ba đỉnh núi màu lam sẫm như lách qua những dải mây trắng mà chĩa chọc nền trời xanh. Núi non Ba Vì thuần một màu đen xẫm của rừng già. Về gần miền có làng bản, mầu rừng nhạt đi dần. Đó đây từng vệt lá cây màu vàng, màu đỏ xỉn, và màu xanh nõn nuột của rừng cọ, rừng sơn.

Thiếu tướng Quyền gõ gõ tẩu thuốc, gảy hết lượt tàn tro, đoạn nạp thêm mồi sợi mới. Ông nheo mắt nói với tôi:

- Lúc nãy anh cứ gặng hỏi xem tôi mời anh lên để săn bắn con thú gì. Tôi nói thật ra, e rằng anh ngạc nhiên.

- Con Múc?

- Chính thế. Anh nhanh ý đấy.

- Quả thật không còn gì khiến tôi kinh ngạc hơn. Con Múc vẫn còn sống, anh cứ để cho nó sống. Nó đã giúp ích anh không ít. Anh hãy rộng lượng cho nó được tự do.

- Tôi cũng có ý quên nó đi. Nhưng nó làm hại tôi quá chừng. Tôi không thể không diệt nó.

- Làm hại?

- Chừng một năm nay, nó thường xuất hiện ở bìa rừng. Có lúc nó còn mò vào trại. Thậm chí nó còn dám xông vào buồng cháu Quỳnh.

- Thế thì có gì là tại hại? Nếu như là nó muốn quay về với chủ cũ thì sao? Chuyện ấy xưa nay thường xảy ra.

- Ông bạn ơi, ông quá đồng cảm với nó đấy. Một năm nay tôi đã mất hai chục con gà, bốn đầu lợn và hai con dê sữa đấy. Để khi nào tôi găm vào mình nó trọn băng đạn AR15, rồi tha hồ ông thương xót nó.

- Thế là do cầy cáo và báo beo vồ bắt thì sao? Chẳng có con chó rừng nào kênh nổi dê lợn đâu, nhất là lại kênh qua hàng tre nhà anh.

Thấy mình đuối lý, ông chòm trại đỏ mặt, châm thuốc hút:

- Cứ cho là béo báo tha dê và lợn đi, còn những con gà? Anh không thấy con Múc nó rất háu thịt gà à? Đôi gà Đông Cảo và con gà Thái Lao... anh đã rõ rồi đấy!

Đến lượt tôi đuối lý. Tôi im lặng hồi lâu. Lòng tôi bồn chồn và buồn bã. Tôi chợt thấy tiếc công tiếc việc ở dưới Hà Nội. Té ra tôi lên đây để chứng kiến cái kết cục mạng sống của con Múc.

Thiếu tướng hỏi tôi:

- Sao, ông nghĩ ngợi gì vậy?

- Không, à mà con Múc giờ đây nó thế nào? Ông đã đích mắt nhìn thấy nó chưa?

- Rồi. Tôi lại bắn trượt nó hai lần nữa. Thật là một con chó quái quỷ lạ lùng. Nó to lớn gấp rưỡi, hung dữ gấp mười, còn nhanh nhẹn thì gấp trăm.

- Để sinh sống và tồn tại giữa bầy ác thú trong rừng sâu, nó cần phải trưởng thành như vậy. Nó không thể không độc dữ hơn.

- Anh vẫn cứ bênh nó chằm chặp.

- Tôi tiếc rằng anh đã bất công với nó. Trong trường hợp bị hắt hủi, bị hằn thù như vậy, đến con người cũng không thể không biến đổi tính cách, huống chi một con thú.

Chúng tôi lại lên ngựa. Con Tuýt dẫn đường. Có thể do cách nói năng bộc trực của tôi, khiến bạn già không vui. Dọc đường ông chẳng nói một câu nào. Bởi vậy, tôi biết mình sai lầm. Định kiến của con người quen bệnh quyền uy kia là không thể thay đổi. Tôi tỏ lòng thương tiếc con Múc nhiều quá, điều đó chỉ khiến ông Quyền càng tăng thêm quyết tâm hạ sát nó mà thôi.

Thấy chúng tôi phi ngựa về đến cổng trại, bà Quyền và đàn con cháu ra tận sân chào đón. Bà, năm nay đã ngót sáu mươi. Vóc người mảnh mai, nhỏ nhắn, nên trông bà không đến nỗi già nua như tuổi tác. Trên vẻ mặt thanh tao của bà vẫn còn những đường nét vốn xưa xinh đẹp. Song, ở bà điều hấp dẫn người ta chính là phong thái đôn hậu, hiền từ của bà. Cạnh bà là cháu Quỳnh, cũng mảnh mai hiền từ, cũng gương mặt trái xoan, trông cháu giống bà ngoại như đúc.

Cháu nhảy bổ vào lòng tôi:

- Cháu chào ông trẻ. Ông có khỏe không ạ?

Tôi nâng bổng cháu lên, rồi hạ cháu xuống:

- Cám ơn cháu! Ông trẻ vẫn khỏe. Còn cháu cứ mỗi năm lên đây, ông lại thấy cháu như ăn nhầm phải bột nở ấy. Cao bằng bà rồi đây này.

Cả nhà cùng cười giòn giã. Bà Quyền hào hứng nói:

- ấy, ông cứ quở cháu thế. Cháu bé lại mất!

Nghe nói cháu bị con Múc làm cho sợ hãi, phải không?

Cháu Quỳnh cười như nắc nẻ:

- Cháu chả việc gì phải sợ con Múc cả - Cháu ghé sát tai tôi, thì thào - Rồi cháu sẽ kể mọi điều về con Múc cho ông trẻ nghe. Chứ mỗi lần nhắc đến con Múc, ông ngoại cháu ghét lắm.

Thiếu tướng Quyền quát to:

- Quỳnh, mày nói gì ông phỏng?

Cháu Quỳnh vội vàng “không ạ” rồi lẩn ra nấp sau lưng bà. Bà Quyền xót cháu, cằn nhằn chồng:

- Khiếp cho ông này. Làm cháu mật xanh mật vàng chạy cả lên mắt thế này này - Bà quay sang phía tôi, cười - Lên đây, ông giúp tôi một tay, cạo cho ông ấy bớt cái nóng nảy đi.

Ông Quyền hỏi vợ:

- Cạo tôi? Cạo đầu tóc, hay cạo râu ria?

- Cạo cái cặp mắt gườm gườm của ông ấy?

Ông già cười khà khà.

Một chút xung đột ý kiến không làm sứt mẻ tình bầu bạn giữa chúng tôi. Chỉ vài câu chuyện vui vui, hoặc vài ván cờ là tất cả sẽ qua đi như mưa rào ngày hạ. Nói chung thì, theo ý tôi, Nguyễn Hồng Quyền là một người bạn biết chơi đẹp, biết ăn ở, biết cư xử. Trên đời còn nhiều những mẫu người đáng chán hơn: hãnh hợm một cách ngu si, thông thái trong tưởng tượng, hào phóng có điều kiện, và ngủ say li bì trên hào quang giả trá.


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 19 Tháng Tư, 2011, 09:33:49 am
                                 Tiếp theo :
Chúng tôi đi bơi, đi câu cùng nhau. Ông dắt tôi đi xem tận mắt những máy ép mía do ngựa kéo, rồi máy ép dầu lạc, dầu sả. Ông còn dự định chế tạo một loại xà phòng dùng nguyên vật liệu địa phương. Tôi vui mừng và chúc mừng ông về tất cả mọi điều ấy. ở ông hiện rõ những ham muốn vật dụng chủ nghĩa. Nhưng, dẫu sao cũng là còn muốn làm việc, còn muốn sáng tạo, muốn sinh lợi. Thế chẳng có ích gì cho đời hơn là chỉ ngồi ôn lại quá khứ hào khoáng đã xa xôi sao?

Duy có điều tôi mong muốn được biết là kế hoạch vây bủa con Múc. Ông già chỉ tinh quái, lim dim mắt, cười ruồi, rồi lảng sang chuyện khác. Tôi làm sao yên tâm được. Tôi biết rằng chỉ khi nào găm đủ cả băng đạn vào mình con Múc, ông Quyền mới có thể ăn ngon ngủ yên. Lay chuyển ý định phi lý trong đầu ông thiếu tướng, có lẽ còn khó hơn vần tảng đã ngược với Ba Vì.

Người được gặp con gỡ con Múc nhiều nhất lại chính là cháu Quỳnh.

Chuyện đáng buồn xảy ra với con Múc khiến cháu giận dỗi ông ngoại. Cháu khóc liền mấy ngày, bỏ ăn mất ba bữa, và ngẩn ngơ thương tiếc không lúc nào nguôi.

Hơn nửa năm sau. Một hôm cháu lên đồi kiếm sim chín và hoa rừng thì bất ngờ cháu gặp con Múc đứng ngay trước mặt cháu và ve vẩy đuôi chào mừng. Quỳnh không tin vào mắt mình nữa. Cháu nhìn chó, sợ hãi. Con Múc lông lá sồm soàm hơn, bẩn thỉu quá và dữ tợn quá. Thấy con thú cứ ngoáy tít đuôi mãi, cháu bạo dạn hỏi nó:

- Mày có phải là Múc không. Nếu là Múc thì lại đây với mình! Nào!

Nói xong cháu ngồi xuống, dang hai tay ra. Con Múc sô vào người Quỳnh hơi mạnh, làm cháu suýt ngã ngửa ra. Người và chó, đôi bạn thân thiết ấy, làm mọi cử chỉ có thể làm để tỏ tình nhớ thương nhau. Con Múc hôi tanh nồng nặc, nhưng Quỳnh cứ để mặc nó liếm lên má, lên tóc cháu. Cháu ứa nước mắt, hỏi nó:

- Bạn ở rừng sâu à?

- !

Bạn có khổ với lũ hổ báo không?

- !

- Bạn có bị đói luôn không?

Con chó chỉ biết rít ứ trong họng, cà sát bộ lông vào người cô chủ của nó. Phải nửa tiếng sau, Quỳnh mới buồn rầu rời chó.

- Bạn không về được đâu. Ông mình sẽ giết chế!

Con chó hiểu ý ấy. Nó oẳng nhẹ một tiếng. Đôi mắt của nó nhoáng ánh lửa, ve vẩy đuôi một lần nữa, liếm bàn tay Quỳnh một lần nữa, rồi băng vút về rừng.

Từ đó, cứ cách vài buổi, cháu Quỳnh lại lên đồi sim một lần. Lần nào con Múc cũng đợi sẵn. Mỗi lần vậy, đôi bạn lại trìu mến ve vuốt nhau, rồi lại bịn rịn chia tay.

Nếu tôi là một cây bút giàu sức tưởng tượng và liều lĩnh hơn, tôi sẽ lợi dụng đặc thù của văn chương mà viết vài đoạn thật hay. Tôi sẽ thêu dệt rằng: một lần cháu Quỳnh gặp gấu ngựa ở trong rừng, con Múc đã tung hết sức lực ra để vật lọn với gấu cứu cô chủ. Hoặc giả là: có lần cháu Quỳnh bị trăn quấn. Con Múc đã bật vọt lên cao. Khi buông mình rơi xuống nó ngoạm đúng “thất thốn” là tử huyệt của giống trăn quấn. Nó cắn xé đến nỗi con trăn phải từ từ mới bỏ vòng quấn, cô chủ nó thoát nạn. Cũng có thể lãng mạn hơn, tôi viết rằng: có lúc người và chó ngồi ngắm ánh trắng bờ suối, ròi con Múc rúc lên lanh lảnh từng hồi, gọi bạn tri âm của nó cùng một đàn chó xinh xắn ra chào mừng cô chủ.

Nhưng bởi vốn có tính thận trọng một cách hủ lậu, tôi không thể bịa đặt như vậy. Về mối quan hệ lạ lùng kia, tôi chỉ có thể nói thêm điều này. Một lần, cháu Quỳnh bị cảm cúm nặng. Hơn chục ngày liền, cháu không thể ra đồi sim gặp con Múc. Nửa đêm cháu nghe có tiếng cào cửa quen thuộc. Cháu vui mừng chạy ra tháo chốt cài. Con Múc tọt vào, âm thầm quấn quýt cháu Quỳnh. Không may cho nó, con Tuýt và lũ chó săn kia phát giác thấy đã sủa nhặng lên, rồi chặn kín cửa ra vào. Con Múc nhe nanh xông thẳng vào con con Tuýt như một cánh chớp. Con Tuýt không ngờ rằng con Múc đã biến đổi mạnh mẽ dữ dội nhường ấy. Bị cắn xoạc bả vai, nó lăn ra sủa rống lên. Bầy chó kia kinh hãi không dám nhúc nhích. Con Múc nhảy vọt qua đầu lũ chó săn, biến mất vào đêm tối.

Ông Quyền đã gạn hỏi cháu gái đủ điều. Cháu Quỳnh chỉ khóc thút thít, không hé lấy nửa lời. Ông liền tuyên bố với cả nhà:

- Con Múc lọt vào trại để trả thù. May có con Tuýt không thì cái Quỳnh bị xé xác ra rồi. Từ nay cả nhà phải cẩn thận lưu ý. Cái giống chó đã thù là thù dai lắm đấy!

Ông bắng bó vết thương cho con Tuýt, ban thưởng cho nó khá hậu hĩnh: nửa ký thịt nai rất tươi.

Dù soa trẻ thơ vẫn là trẻ thơ, ông cháu vẫn là ông cháu. Cháu Quỳnh sợ tính ông nghiêm nghị, giận ông xử nặng con Múc, nhưng nó vẫn rất yêu ông ngoại. Ông cháu làm lành với nhau, thắm thiết với nhau vì sợi dây huyết thống bí ẩn ràng buộc.

Vào dịp rằm tháng tám, ông Quyền dùng xe máy đưa cháu Quỳnh đi Hà Nội sắm đồ chơi trung thu cho nó và các em nhỏ. Ông còn đưa cháu vào lăng viết di hài Bác Hồ. Cháu sung sướng. Cháu hớn hở. Trong một phút bồng bột hồn nhiên, cháu nũng nịu vòi vĩnh ông ngoại:

- Ông ơi, ông cho cháu đón con Múc về nhé?

- ừ, ông đồng ý, nếu cháu tìm thấy nó.

- Cháu tìm được thì sao nào?

Ông thiếu tướng phì cười:

- Đến mười cái thằng bố mày, đếm mười cái thằng ông mày cũng chả tìm nổi, nữa là...

Qua vẻ mặt và ánh mắt của cháu gái, ông chòm trại dường như phát hiện ra điều gì. Ông bèn gặng hỏi cháu gái:

- Cháu thấy nó rồi phải không?

-Vây ạ.

- Ở đâu?

- Nhưng ông phải hứa với cháu là không giết nó cơ.

- Ừ, ông hứa!

Cháu gái hào hứng kể cho ông ngoại nghe hết mọi điều, đoạn kết luận:

- Cháu thấy là nó, con Múc ấy, nó chẳng có lỗi gì đâu ông ạ.

- Nó ăn gà, ăn dê, ăn lợn.

- Cháu chả thấy tận mắt khi nào. Nhà mình có nhiều chó hư. Sao ông chỉ nghi ngờ mình nó thôi?

- Nó không vâng lệnh. Nó không chịu sai khiến như con Tuýt, thế cũng là tội to rồi. Những quân bướng, cần phải nghiêm trị.

Ngày hôm sau cháu Quỳnh lên đồi sim với con Múc. Ông già chòm trại lặng lẽ xách súng đi theo cháu gái, cách chừng ba trăm mét. Cháu Quỳnh không thấy con Múc đâu. Còn ông già thì thoáng thấy. Tuy không nhìn rõ hình thù nó song ông thấy các bụi sim lay động ràn rạt, ông biết rằng con Múc đã nhìn rõ ông. Nó chuồn biến như tăm cá mất hút dưới đáy sông. Cháu Quỳnh hoàn toàn không rõ gì về việc ông nó đi theo mé sau cả.

Những lần sau, mỗi khi cháu Quỳnh lên đồi sim, ông già thường gói cho cháu một ít thịt rán tẩm bột, bảo đem cho con Múc. Cháu gái cảm động ứa nước mắt, tưởng rằng ông ngoại đã thực sự hồi tâm chuyển ý, sẽ cho đón con Múc về. Còn ông già cũng rất vui sướng khi cháu gái khoe với ông rằng con Múc đã ngốn sạch sành sanh gói thịt rán, đến nỗi không còn tí mỡ dính lá chuối.

Một buổi chiều, tôi sang làng Ngọc Nhị, thăm mấy người bạn cũ trở về. Vào đến sân tôi ngạc nhiên khi trước mắt tôi là quang cảnh sửa soạn đi săn: người ngựa, súng ống, dây chão và đòn khiêng. Bầy chó săn ngồi thành vòng tròn chờ đợi chủ. Con Tuýt lăng xăng chạy đi chạy lại. Nó ve vẩy đuôi, hoặc đứng nghếch mắt nhìn chủ, chờ đợi sai khiến, hoặc đi giám sát từng con ngựa, cứ y như nó là một viên phán quan của cuộc săn vậy.

Thiếu tướng với vẻ mặt đỏ gay, cặp mắt lóng lánh có nhiều sợi lông mày bạc trắng cong rủ xuống quanh mí. Mỗi lần mở cuộc săn bắn, ông thường có vẻ say sưa, kích động như vậy.

Tôi hỏi lại ông:

- Săn gì vào cái giờ chiều này?

- Chó rừng!

- Con Múc phải không? Anh miễn cho tôi can dự vào cuộc sát phạt này nhé.

- Không được! Anh phải tận mắt trông thấy tôi sẽ chiến thắng sau hai ba lần thất bại.

- Bạn ơi, anh cầm chắc thắng lợi đến thế sao?

- Như cầm tỏi gà trong tay vậy.

Lòng tôi buồn rầu, nhưng tính tò mò thúc giục. Vả chăng tôi muốn xem sẽ kết thúc ra sao, cái trò quái gở giữa một bên quyết ý tìm diệt và một bên tinh quái né tránh. Chúng ta, con người, loại động vật cao cấp nhất, nhờ có hai bàn tay lao động đã phát triển được trí thông minh. Nhưng sau khi rời bỏ rừng sâu tiến về đồng bằng xây nên những trung tâm văn hóa, chúng ta đã quay lưng lại, đã phũ phàng và độc ác với rừng sâu. Chúng ta đã tàn hủy cái nôi sinh ra mình. Chúng ta đã săn bắn, tiêu diệt các sinh vật còn nương tựa vào rừng, mà ngu ngốc không hiểu rằng chúng ta đã tàn hủy tự nhiên và phá hoại thế cân bằng sinh thái. Các sinh vật, dữ và lành, tồn tại được nhờ rừng rậm. Rừng rậm tồn tại và phát triển được cũng đã nhờ sự sinh sôi của muông thú. Và cuối cùng, nếu muông thú và rừng rậm không tồn tại nữa, thì làm sao chúng ta có thể tồn tại được.

Thuở xa xưa, con người sống đơn giản hơn. Người ta chỉ biết rằng điều quý ở trên trời là mưa nắng trăng sao, điều quý ở dưới đất là ngũ cốc dồi dào, điều quý ở sông hồ là cá tôm sò hến, điều quý ở trong nhà là cháu thảo con hiền. Nhưng ngày nay điều quý lại là châu báu vàng bạc, là uy thế lộng quyền, là sát phạt muông thú và sát phạt lẫn nhau. Hôm qua tôi đau đớn vì anh đánh đấm tôi. Ngày hôm nay, tôi sung sướng được hành hạ nó. Ngày mai nó hả hê vì trừng trị kẻ khác... Một cơn lốc luẩn quẩn xoáy sâu vào ngõ cụt. Biết bao giờ mới tỉnh ngộ, mới tháo gỡ, mới đồng cảm và yêu thương?

Đoàn săn bắt rầm rập phóng lên đồi sim. Tôi và ông thiếu tướng sóng vai nhau. Cậu Quý và người anh rể vòng ra mé sau đồi. Con Tuýt nồng cuồng hăng say dẫn đầu đàn chó - những con chó có thể hình tuyệt đẹp, băng băng nhảy nhót giữa các lùm cây bụi cỏ.

Chỉ chớp nhoáng sau, gọng kìm vây bủa đã xiết chặt quả đồi. Tôi kinh hoàng khi thấy cháu Quỳnh đang ngồi khóc. Con Múc nằm suỗi thẳng cẳng dưới chân cháu.

Cháu Quỳnh chạy lại bên ông ngoại khóc nức nở:

- Ông ơi, ông. Con Múc ăn xong gói thịt là nó lăn ra. Nó sắp chết mất rồi. Làm sao lại thế, hả ông?

Ông già cúi xuống an ủi cháu gái:

- Không sao đâu. Nó không thể chết được. Thuốc ngủ chỉ vừa liều lượng thôi mà.

- Ông trộn thuốc ngủ vào thịt...? Trời ơi...

Con chó rừng mềm rũ rượi. Song, đôi mắt rực lửa của nó vẫn trừng trừng ngắm nhìn tất cả. Nó hiểu rằng nó đã bị bít hết mọi ngách sống. Thuốc ngủ liều cao làm tê liệt thần kinh và gân cốt nó. Nhưng từ nơi xa xăm nào không rõ, có thể là từ rừng sâu, có thể là trong từng tế bào máu, nảy sinh một ý chí mãnh liệt giục nó phải vượt lên, phải sống còn. Nó rống to một tiếng, vọt mình lên, phóng cẳng lao đi.

Lập tức con Tuýt đuổi sát mé sau. Con Múc vừa chạy vừa ngã. Nó lồm cồm bò dậy, được vài bước lại ngã rúi rụi. Cuối cùng không chạy nữa, nó quay phắt lại, nhe bộ răng nanh ghê gớm, chờ đợi. Con Tuýt và cả bầy chó đã hiểu sức mạnh khủng khiếp của con Múc, chỉ chờn vờn nhảy nhót ở khoảng xa, không dám tiếp cận.

Để khỏi mất thì giờ, ông chòm trại nâng nòng súng AR15. Một loạt đạn ngắn gọn rít lên, hòa cùng một tiếng thét xé trời xé đất của cháu Quỳnh. Con Múc lăn ra đất, không chút giãy giụa. Nó nhận đủ cả băng đạn từ cổ trở xuống. Máu nó xối tuôn, đỏ sẫm cả bộ lông đen. Đôi mắt nó mở to, vẫn màu lửa nhưng dịu hơn trong đó nhoáng lồng ánh mây trắng, trời xanh, rừng sẫm và ngọn Ba Vì uy nghi màu tím đậm.

Có lẽ đã được huấn luyện đầy đủ, nên, khi con mồi gục xuống, bầy chó săn đua nhau lăn sả vào, mỗi con đợp cho con Múc một miếng để làm vui lòng chủ, với dáng dấp bẩn thỉu hèn mạt quá chừng.

Cháu Quỳnh chạy đến cạnh tôi. Thấy quang cảnh thương tâm ấy, lòng dạ trẻ thơ không chịu đựng nổi. Cháu lả đi trong vòng tay tôi. Không rõ có phải tôi hoa mắt hay bị hoang tưởng, tôi thấy vầng trán mịn màng của cháu bỗng như gợn một nếp hằn sâu còn mái tóc xanh đen của cháu bỗng như bạc trắng đi.

Thiếu tướng tiến lại, kéo vai áo tôi:

- Về thôi, anh. Cháu Quỳnh làm sao thế?

Tôi nói như mình trong mộng:

- Anh bắn giỏi thật đấy. Một cú “đúp” tuyệt vời. Anh hạ sát cả con Múc lẫn cháu Quỳnh.

Ông chòm trại bàng hoàng, kêu lên:

- Bậy nào! Không thể thế được. Cháu Quỳnh có làm sao không?

Tôi nâng cháu Quỳnh lên, đi về phía con ngựa, đoạn nhảy lên yên:

- Tôi đưa cháu Quỳnh về trước đây. Ông cứ yên tâm. Thân thể cháu Quỳnh vẫn nguyên vẹn. Nhưng băng đạn mà ông bắn vào lòng nhân ái, vào tình yêu thiên nhiên của cháu thì không thể nào cứu chữa nổi.

                                                                                                                          Tháng 8.1998

                                                                                                                                  N.D

 


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 19 Tháng Tư, 2011, 01:16:53 pm
                                       Cát trắng
                                       Tác giả : Nguyễn Trí Huân

      Đạo không thể nhớ được một cách rõ ràng anh đã hấp tấp đi khỏi cái bệnh xá nhỏ và hẹp ấy như thế nào. Dường như lúc chia tay với anh, mọi người đều nhìn anh bằng một đôi mắt trách móc. Điều đó phải cho đến lúc này, khi đã ra đến cửa rừng Đạo mới mường tượng nhận thấy, và tự nhiên những cái nhìn trách móc ấy cứ xoáy mãi vào tâm can Đạo.

Đạo cảm thấy khó chịu với chính mình. "Mày đã cư xử chả ra làm sao!". Đạo thở dài, lòng bỗng day dứt và cũng phải đến tận lúc đó, anh mới hiểu hết mình đã gắn bó với cái bệnh xá nhỏ ấy như thế nào. Hơn hai tháng trước đây, Đạo buộc phải vào viện với một khuôn mặt khổ sở và suốt trong khoảng thời gian dài dặc đó, Đạo cứ giữ nguyên một khuôn mặt khổ sở như thế. Vốn là một người hiếu động, Đạo có thể chịu đựng được mọi sự giày vò của vết thương nhưng không sao chịu nổi sự giày vò của nỗi nhớ. Vì thế, khi được ra viện, Đạo đã hấp tấp chạy như đi trốn, đến nỗi anh quên chào cả mấy đồng chí hộ lý trong bệnh viện. Mấy tháng trời qua, Đạo luôn luôn nhớ biển, nhớ cái tiếng sóng nôn nao thúc vào mạn thuyền, nhiều lúc tưởng không thể nào chịu đựng thêm được nữa. Bây giờ thì nỗi vui háo hức được về với biển lắng đi, Đạo lại bồi hồi nhớ bệnh xá, nhớ những cơn đau vật vã của cậu Lâm và giọng nói van nài, tha thiết của cậu Hải: "Lâm ơi, tao thương mày lắm! Mày đừng van nữa. Chị y tá đến rồi kia. Đừng làm cho chị ấy khổ!".

Bất giác, Đạo khẽ rờ tay lên vết sẹo trên cổ. Vết sẹo như có lửa nóng bỏng. Anh vội rụt tay lại gượng nhẹ cài nút áo rồi đi như chạy lên đỉnh một ngọn đồi chi chít hố đạn đại bác và đạn cối 106 ly 7.

Một luồng gió bất ngờ ào đến thổi rạp những bụi lau thưa thớt còn lại trên đỉnh đồi, biển đột ngột hiện ra trước mắt Đạo xanh thẳm, vô tận. Đạo đứng ngây người. Tự dưng nước mắt muốn trào ra. Ở rất xa mà Đạo tưởng như nghe rõ tiếng sóng đang ào ạt tiến vào bờ vừa hùng dũng, vừa uy nghi và kih đã trào lên bờ cát rồi, sóng nằm xoài ra đắm đuối trên những dấu chân người...

Quê hương Đạo không có biển. Anh sinh ra ở một làng cát ven dòng sông Đáy. Quanh năm nước sông đục ngầu, chở đầy phù sa cuồn cuộn đổ ra biển. Dọc hai bên bờ sông, từng dãy lò nung thủy tinh đắp bằng đất sét lúc nào cũng hừng hực những lửa...

Đạo gặp biển từ lâu. Sóng và gió đã thổi chất mặn của muối biển tràn ngập khắp cơ thể Đạo, nhưng mãi cho tới trận đánh ở Sa Thạch vừa rồi, biển mới thực sự trở thành nỗi nhớ của anh. Lần ấy, Đạo bị thương nặng và một ông già cùng với một cô gái - con của ông - đã giấu anh dưới ván thuyền, đưa anh tránh càn trên khắp những vùng biển dày đặc tàu giặc. Những ngày ấy nếu không có tiếng sóng thì buồn biết bao. Sóng đã kể cho anh nghe về những mùa cá hố, những mùa cá chuồn, về đời sống phóng đãng, dũng cảm của những người dân biển trước những con sóng dữ...

Đạo sửa lại chiếc dây lưng, lúng túng như bị một người trông thấy sự xúc động vụng về của mình, Đạo chạy lao xuống dốc, luống cuống và rạo rực. Biển thấp dần rồi khuất hẳn sau những hàng cây lớn rất nhanh dưới chân đồi. Đạo về đến đầu làng Sa Thạch lúc mặt trời gần lặn. Làng như vừa qua một cuộc càn nên không khí rất im ắng. Trên con đường trục chạy vòng vèo giữa làng, những dấu giày đinh còn in chồng chéo lên nhau hỗn độn. Một vài người lánh càn về muộn, đòn gánh nghiến trên vai trèo trẹo. Có tiếng trẻ khóc, tiếng gắt và tiếng gàu múc nước ở một chiếc giếng cạn. Sóng biển ầm ào sau những hàng dừa đã hết trái, xơ xác.

Đạo tạt vào một ngôi nhà gần đấy.

- Chào thím! Giặc hắn vừa mới càn sao vầy thím? - Đạo hỏi khi thấy một người đàn bà ngồi xây lưng ra ngoài đang nhặt những hạt lúa vãi tung toé trên cát một cách kiên nhẫn.

Người đàn bà không quay lại, trả lời giọng bực dọc:

- Còn chi nữa. Quân bất nhơn vậy đó. Đến cái quần đàn bà cũng không từ!

Trong bếp lửa cháy bập bùng, một người con gái ngồi day mặt ra nhìn Đạo.

- Ủa, anh Đạo! - Cô gái chợt kêu lên thảng thốt làm người đàn bà cũng vội vã quay lại.

- "Hương!" - Đạo khe khẽ gọi như biết bao nhiêu lần an thầm gọi tên cô. Người Đạo rùng lên còn cô gái thì đứng khựng nơi ngưỡng cửa, ngó Đạo trân trân. Lửa bếp cháy lan ra ngoài nổ lép bép, khô khát.

- Sao Hương lại ở đây? Bác đâu?

- Cha em đi biển. Nhà hắn đốt trọi rồi. Anh bỏ ba lô xuống đi chớ. Thím Tư, anh Đạo mà con đã kể cho thím nghe hồi hôm đó.

- Con nhỏ nó cứ nhắc hoài, tao cứ ngỡ thằng Cảm. Chú mạnh thiệt chưa?

- Dạ, mạnh - Đạo đã trở lại trạng thái thoải mái, tự chủ. Anh cởi ba lô trong lúc Hương luýnh quýnh chạy vào ấn lại củi vào bếp. Bà thím thôi không nhặt những hạt lúa trên cát nữa. Bà dong dả chạy ra ngoài. Chắc là đi kiếm thức ăn. Đạo biết nhưng không giữ.

- Giặc hắn càn có đông không Hương? Đưa rau đây anh nhặt cho.

- Một đại đội. Hắn ngủ ngoài cồn cát. Sáng vô, chiều về. Ba em ổng nhắc anh miết.

- Ba nhắc hay Hương nhắc?

Cô gái đỏ mặt. Cái nhìn làm Đạo cúi xuống. Một cảm giác lạ, đột ngột chạy như một đợt sóng rân rân trong cơ thể.

Lát sau Đạo đi ra biển. Gió và sóng như ùa vào ngực anh. Đạo rạo rực, ngây ngất và thật lạ, có lúc anh lại cảm thấy biển như ở phía sau mình, ở xung quanh mình, còn anh đang đứng trên một con thuyền, sóng cứ mềm mại luồn qua, luồn lại dưới đáy con thuyền đó.

Một loạt súng chợt rộ lên ngoài cồn cát làm những cảm giác ấy của Đạo mất đi. Người Đạo bỗng chuyển sang một trạng thái khác. Anh trở lại nhà giữa lúc Hương đã dọn xong bữa ăn. Bà thím lại ngồi nhặt từng hạt lúa trên cát một cách kiên nhẫn.

- Du kích xã đóng ở đâu Hương? Này, bọn bảo an chúng nó có mấy chục đứa tất cả?

- Anh hỏi làm chi vậy? Lát em sẽ dẫn qua bên thôn đội. Giờ phải ăn cơm đã. Coi bộ anh đói hung rồi đó!

Nói xong cô gái cười. Đôi mắt sâu thẳm như màu nước biển lúc chiều tối. Không hiểu sao, mỗi lần bắt gặp cái nhìn của Hương, Đạo lại liên tưởng đến cái màu xanh sâu thẳm, chói chang của biển.

Chợt nhìn thấy vết sẹo đo đỏ ló ra trên cổ áo Đạo, lòng cô gái se lại. Những kỷ niệm lại phập phồng trong ngực cô. Ngày ấy anh cứ bảo em là Biển, còn em thì lại sợ. Nếu không vì vết thương của anh, em đâu dám đi trên những con sóng đó. Ăn cá đi anh, sao cứ dựng đũa hoài. Đừng làm em mắc cỡ như hồi hôm nữa...

Ngoài xa, ở cuối hàng dừa, sóng biển vẫn ầm ầm bào lên bờ cát nồng nhiệt và dữ dội.

Cô gái bới lại mái tóc, khuôn mặt trái xoan hơi nghiêng nghiêng về phía Đạo.

- Anh và anh Cảm ra thuyền trước đi. Ba em ổng đang đợi đó!

Đạo kiểm tra cây tiểu liên một lần cuối, lên đạn, khóa chốt an toàn rồi cùng với Cảm, một du kích có nụ cười bẽn lẽn, đi về phía biển.

Họ đi thành một hàng, cô gái vừa đi vừa nghịch ngợm nhặt những vỏ sò đủ màu lấp lánh trên cát tung về phía trước. Sương biển bốc lên mờ mịt. Những đợt sóng dồn dập như phả những giọt sương ấy vào mặt họ.


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 19 Tháng Tư, 2011, 01:27:45 pm
                               Tiếp:
Đêm qua, Hương đã dẫn Đạo đi gặp đồng chí chính trị viên thôn đội. Cô gái đưa anh đi lòng vòng khắp làng rồi dẫn anh ra trước biển.

- Thôn đội trưởng đó. Ở đây không có chính trị viên.

Cô gái mỉm cười tinh nghịch, khuôn mặt trái xoan hơi nghiêng nghiêng, tiếng cười của cô thoảng tan trong không khí mát lành của đêm biển.

- Ủa, hồi hôm chính anh đặt tên cho đồng chí đó thôi. Có việc chi mà gấp dữ vậy anh?

Đạo sững người. Anh không ngờ thôn đội trưởng lại chính là cô gái. Ngày Đạo bị thương, Hương còn là một cô nữ sinh trung học nhút nhát. Cô sợ biển và sau mỗi lần thay băng cho Đạo, cô lại lén bỏ ra mũi thuyền thút thít khóc. Hương nói cô chính thức thôi học và xin vô nhập đội du kích thôn sau ngày đưa Đạo về bệnh xá non một tuần lễ.

Hai người đứng nói chuyện được một lát thì Cảm đến. Họ kéo nhau đi về phía cửa biển. Trước mặt, cồn cát nổi lên lập loè với những đống lửa đốt vung vãi. "Chắc bọn chúng nó đang nấu ăn" - Đạo lẩm bẩm. Anh chợt quay lại. Một ý nghĩ bất ngờ loé lên sáng rực như một tia chớp. Đạo nắm lấy cánh tay của Cảm, giọng anh run lên sôi nổi: "Thế vầy, được không? Bọn mình sẽ lót trong cát một ngày, đêm tung cát dậy mà đánh, chắc gọn"...

Từ ngoài xa, những cồn sóng lân tinh trong suốt cứ lừng lững ập vào bờ, rồi lại hối hả rút lui, rồi lại sầm sập xô tới. Ba người ngồi ở sát mé nước, mắt dòm ra phía cửa biển lặng lẽ quan sát và sáng nay, họ cùng xuống một chiếc thuyền do bác Tám, cha cô gái chở ra cồn cát.

- Xuống khéo không té. Tôi tưởng chú quên biển rồi chớ!

- Quên sao được bác, con trông về hoài thôi!

Chiếc xuồng nổ máy, biển như phẳng lặng hơn. Sương tan dần và cái màu xanh vô cùng, vô tận ấy chả mấy chốc đã lại vây bọc xung quanh Đạo. Cô gái ngồi rất thấp trong khoang thuyền. Đạo và Cảm nằm lẫn vào đống lưới bao giờ cũng chiếm một khoảng lớn. Lòng Đạo háo hức, anh tưởng tượng đến lúc ba người tung cát bật dậy đánh vỗ mặt vào bọn giặc. Chuyện cứ y như trong tiểu thuyết trinh thám vậy. Đạo mỉm cười khi nhớ đến gương mặt ngơ ngác, bẽn lẽn của Cảm: "Nếu chúng nó nhóm lửa nấu ăn ngay trên bụng mình thì biết tính cách sao!".

Đạo là một chiến sĩ trẻ. Anh ham mê đánh giặc hơn bất kể một công việc nào khác. Thấy giặc, Đạo không thể ngồi yên được. Những chuyện hành hung, cướp giật của chúng lại càng làm cho lòng ham mê đó của anh hừng hực lên như lửa cháy. Đạo mồ côi cha mẹ từ nhỏ. Bố anh chết giữa một cơn say điên đảo. Những kỷ niệm mà Đạo còn giữ được về bố vẫn là những cơn say tàn nhẫn ấy. Hồi đó, Đạo chỉ thấy sợ, thấy ghét mà không hiểu trong cuộc đời quá ngắn ngủi của bố mình chứa chất một nỗi khổ u uất không sao giải thoát nổi. Bố anh đã từng đi lính cho Pháp rồi bỏ trốn về trong một cơn say điên dại. Từ đó ông cụ luôn luôn tự giày vò, hành hạ mình cho đến chết. Mãi sau này khi Đạo nhận ra được những tâm sự day dứt của bố thì ông không còn nữa. Lúc bấy giờ Đạo mới thấy thương bố xót xa. Sau khi bố Đạo mất được ít lâu thì Đạo mất mẹ. Anh còn nhớ đêm hôm ấy, có một người đàn ông cao lớn, vai khoác một chiếc tay nải vải nâu đã cũ tìm đến nhà Đạo lúc sao tua rua gần lặn. Mẹ Đạo vội vã trở dậy. Hai người đi được nửa giờ thì chó rộ lên ở bãi cát bên kia sông. Con đò cũng bị bắn nát, ván thuyền trôi giạt trên những ngọn sóng đục ngầu, sôi réo lên ở hai bên bờ cát...

Từ đó, Đạo bắt đầu một thời kỳ lang thang trên khắp các bãi sông của bọn chủ thầu trong vùng. Ngày này nối ngày khác, anh gò lưng kéo những xe bò cát nặng nề đổ vào những lò nung thủy tinh đỏ ngòm những lửa. Nhiều khi Đạo đứng mê mẩn hàng giờ nhìn những người thợ lấy ra từ cửa lò từng khối thủy tinh lỏng trong suốt. Đạo bị cuốn hút vào công việc đó.

Đạo mơ ước trở thành một người thợ đúc thủy tinh. Sau này khi đã là một sinh viên khoa thổ nhưỡng học, ước mơ ấy vẫn lấp lánh trong những dự định lớn lao của anh. Nhưng cũng giống nhiều người bạn khác cùng lứa tuổi, Đạo luôn cảm thấy lòng mình như có một điều gì đó chưa yên. Bấy giờ, chiến tranh đã lan ra cả nước. Những chiếc máy bay Mỹ hôm nào cũng ầm ầm lao qua bầu trời thành phố. Tiếng bom đã chấn động đến mọi ngõ ngách của cuộc sống. Vào một buổi chiều mùa hạ, Đạo về làng. Anh đi lang thang trên những khu ruộng cát, dưới vầng mặt trời lúc nào cũng đỏ cháy lên gay gắt. Đạo chui vào hầu hết các lò thủy tinh, để rồi sáng hôm sau, anh lặng lẽ từ biệt dòng sông, từ biệt những triền cát, nơi mẹ anh đã chết như cái chết của một chiến sĩ. Ngày ra đi, Đạo đã tâm niệm rằng, sẽ không còn kỷ niệm nào sâu nặng hơn, tha thiết hơn những kỷ niệm về mẹ, về dòng sông quê hương nữa. Nhưng Đạo đã lầm. Ba năm ở chiến trường của anh là ba năm dày đặc kỷ niệm. Đạo lại gặp những dòng sông, những triền cát. Từ những dòng sông, những triền cát ấy, anh đã lao vào những cơn xoáy lốc của những trận đánh dữ dội. Đạo hoạt động nhiều năm ở vùng ven biển này và có lẽ chính cái sóng gió hung hãn, không hề biết khoan dung đó của biển đã tạo cho anh một lối đánh hiểm hóc, táo bạo. Với lối đánh ấy Đạo đã gieo những nỗi kinh hoàng cho bọn giặc trong khắp khu vực đơn vị anh hoạt động.

Có lần ở trụ sở xã Mỹ Hoài, giữa lúc bọn hội đồng xã cùng với bọn bình định đang chuẩn bị bước vào bữa tiệc khởi đầu cho chiến dịch "bình định trắng" của chúng thì Đạo cùng với một du kích khác bất ngờ bật ra từ một chiếc tủ đứng kê ở góc nhà. Khẩu tiểu liên rung lên trong đôi bàn tay của anh. Lần khác, Đạo đóng vai một đại uý an ninh ngụy, cùng với ba chiến sĩ khác, bận đồ lính thản nhiên vượt qua mấy tầng lính gác vào thẳng phòng làm việc của tên thiếu tá quận trưởng quận Bồng Đức. Không may, một đồng chí đi cùng để lộ nòng khẩu tiểu liên sau chiếc áo khoác. Biết bị lộ Đạo vụt đứng dậy, đưa tay chộp lấy chiếc đài "sô-ni" để trên bàn, ném vỡ mặt tên quận trưởng, xách cặp tài liệu mật của nó rồi lại ung dung thoát ra bằng lối cửa chính...

Sau lần bị đơn vị Đạo giả làm đoàn lái buôn đánh cho tơi tả ở xóm ba Sa Thạch, bọn bảo an không dám nghỉ trong làng nữa. Chúng ngủ đêm ở cồn cát ngoài cửa biển. Sáng ra chia thành nhiều mũi thọc vào đất liền, bắt đầu một ngày cướp đoạt, chém giết. Buổi chiều chúng lại hợp điểm ở bãi cát, xách ôm theo những của đã vơ vét được lên thuyền kéo về đồn.

- Hôm qua bọn cướp lại đốt thêm hai ngôi nhà nữa. Gà vịt trong làng chúng cũng bắt đi hết trọi. Làng không còn tiếng gà như nằm ngủ miết anh Đạo hè?

Cảm nói khẽ khẽ, Đạo nghe tiếng được, tiếng mất. Hai người vội nằm rạp xuống kéo lưới phủ kín mình khi có tiếng xuồng máy vang lên ở phía trước. Ba chiếc thuyền chở hai trung đội địch đang chậm chạp vào bờ. Lúc đi ngang qua thuyền bác Tám, một thằng hỏi như quát:

- Đi biển sớm dữ vậy, ông già?

- Có đi sớm mới có cá cho mấy thầy nhậu chớ!

Bác Tám trả lời trong tiếng máy nổ phành phạch. Mùi xăng tỏa ra nồng nặc. Khi bọn giặc đi khỏi, bác Tám bẻ lái hướng mũi thuyền về phía cồn cát. Nắng sớm đổ đầy trong khoang thuyền.

Đêm ấy những người dân Sa Thạch không ngủ. Trời vừa mới ập xuống, người ta đã kéo nhau ra bãi biển lặng lẽ ngồi đợi. Trước mắt họ, những con thuyền, mũi hướng về phía cồn cát cũng dềnh lên, dềnh xuống trầm tĩnh và trang trọng. Biển im lìm, giấu kín những con sóng dữ. Vài du kích không nén được đi đi lại lại. Bóng người, bóng súng in đậm nét lên vạch sáng của đường chân trời. Cứ thế cho đến ba giờ sáng.

Đột nhiên, một ánh chớp lựu đạn loé lên ngoài cồn cát. Tiếng nổ vừa dội lại đã bị chìm lấp bởi hàng loạt những tiếng súng nổ khác, bởi tiếng sóng. Chớp loè loè từng đám như phụt lên từ mặt biển. Rồi tiếng AK nổ. Đường đạn bắn găm, đỏ rực. Lâu lắm mới nghe tiếng đại liên địch phản ứng từng loạt ngắn rời rạc, khắc khoải. "Vầy là ngon rồi". Một người nào đó bất chợt kêu lên, giọng run run và lạnh. Những người khác thở trút ra và đều cảm thấy luống cuống. Trong một khoảnh khắc, không ai nhớ mình đang ở đâu nữa.

Nhưng cũng chỉ mươi phút sau đó, từ rất xa ngoài cửa biển, từ những căn cứ nằm sâu trong đất liền, pháo địch bắt đầu hộc lên. Đường đạn réo xoèn xoẹt qua đầu mọi người trùm xuống cồn cát những quầng lửa sáng rựng. Đèn pháo treo dọc cửa biển. Ánh đèn túa ra cháy xèo xèo, kéo theo một cái đuôi khói rớt chầm chậm xuống mặt nước.

Không ai bảo ai, tất cả mọi người cùng chạy ào xuống thuyền một lúc. Súng lựu đạn, mác va chạm lích kích. Những chiếc thuyền nổ máy chồm lên. Mũi thuyền đè sóng vùn vụt lao về phía cửa biển.

Trời cũng vừa rạng.

Mới đó mà đã nửa năm trời trôi qua. Cuộc sống thanh bình như một người đi vắng lâu ngày đột ngột trở về làng với vẻ mặt vừa bỡ ngỡ vừa quen thuộc. Người ta đổ xô ra bãi biển vào những buổi chiều, mắt dõi tìm trên sóng những thuyền cá và khi bắt gặp cồn cát đang sừng sững như một con tàu, lòng mọi người lại dịu xuống yên tĩnh và mặt biển như cũng bớt mênh mông hơn.

Đạo đã nằm lại trên đỉnh cồn cát ấy. Những người đi biển đêm kể rằng, đêm đêm họ vẫn thấy anh bồng súng đứng gác trên đỉnh cồn, người sáng lên lấp lánh như màu cát biển. Có người bảo anh đã biến thành một loài chim làm tổ trong cát, suốt ngày chao lượn trên sóng gọi báo cho những thuyền lưới biết vùng biển nào nhiều cá hố, cá chuồn... Đôi khi họ còn cam kết rằng, nhiều buổi sớm ra cồn, họ đều bắt gặp những dấu dép cao su mới nguyên, cát trên cồn còn in rõ vết nước của một người vừa mới bước lên từ dưới biển...


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 19 Tháng Tư, 2011, 01:29:30 pm
                             Tiếp theo :
Đạo lặng lẽ ra đi và một cuộc đời mới của anh lại được bắt đầu bằng những truyền thuyết dân dã. Trong một cuốn sổ còn lại của anh, trang cuối cùng có ghi mấy dòng chữ vắn tắt: "Cát biển Sa Thạch - hàm lượng si-líc - Nhà máy kính - công suất...".

Đó là những điều duy nhất mà anh còn để lại. Ngoài Hương ra, không một ai hiểu được những dòng chữ sơ lược ghi trong cuốn sổ tay ấy. Nhưng có một điều mà mọi người thấy rất rõ là anh yêu vùng biển này, và để ghi công đức của anh, Đảng bộ và nhân dân Sa Thạch đã xây một bia mộ trên đỉnh cồn với những dòng chữ cũng rất vắn tắt, sơ lược: "Liệt sĩ... sinh ngày... mất ngày... tại cửa biển Sa Thạch".

Không một ai biết thêm gì về cuôc đời của anh cả.

Vào những đêm trăng, cát trên cồn sáng lên như một bầu trời với vô số những vì sao nhỏ, lóng lánh. Những đêm như thế, Hương và trung đội du kích của cô thường đi dạo trên bãi biển. Cô gái thôi không nhặt vỏ sò như ngày nào nữa. Vỏ sò không làm cho nỗi nhớ của cô nguôi được. Cô còn nhớ rất rõ đêm hôm ấy, khi anh tung cát đứng dậy, cát dưới chân anh bay lên mù mịt. Lửa lân tinh dưới biển toé sáng. Sóng ầm ầm xô vào bờ cát sôi sục. Đầu đằng kia, Cảm cũng đang nhảy qua những xác chết, đường lê sáng loáng như một làn chớp phóng thẳng vào lưng những thằng giặc bỏ chạy xuống sát mé nước. Vào những giây phút chót của trận đánh, Đạo bị thương ở ngực. Khi Hương dìu được anh lên đỉnh cồn thì pháo đất, pháo hạm đã chụp đạn xuống dày đặc. Trong những tiếng nổ hỗn loạn của kim loại, Hương thấy Đạo khe khẽ gọi và lúc cô cúi xuống, khuôn mặt của anh chỉ còn lại một nụ cười...

Sau này, mỗi lần nhớ tới cái đêm kỳ lạ ấy, Hương lại không sao quên được nụ cười của Đạo. Nụ cười đã làm cho lòng cô than thản. Theo ý muốn cuối cùng của anh, mọi người đành để anh nằm lại trên đỉnh cồn. Nhiều đêm biển động, Hương lo lắng bồn chồn. Hai cha con cô lục đục trở dậy đi vội ra bãi biển. Những đêm như thế cô không sao ngủ được.

Rồi kẻ thù trở lại làng cô với những khuôn mặt quỷ quyệt hơn. Những mùa cá lại bị bỏ qua. Pháo bắn suốt ngày trên cửa biển, trên đỉnh cồn. Khắp làng không còn một ngôi nhà nào nguyên vẹn. Đội du kích của cô rút vào hoạt động bí mật. Những trận đánh lại diễn ra hàng ngày, hàng giờ. Làng biển Sa Thạch lúc nào cũng như có lửa.

Cuộc sống cứ thế căng thẳng và kéo dài cho tới một ngày kia, khí trời trở nên oi bức. Mây đùn lên ở ngoài xa tầng tầng. Những con sóng trăn trở vỗ vào bờ. Nhìn bọt biển phơn phớt một màu tím, người dân biển biết sắp có bão lớn và người ta thấp thỏm chờ đợi cũng căng thẳng và ngột ngạt như trước một trận đánh lớn. Cuối cùng cơn bão ấy đã đến. Suốt đêm, sóng biển gầm thét quật vào bờ bức thiết, giận dữ. Gió gào rú trên những khung cửa ngỏ. Vườn dừa quật ngã. Sấm nổ rung đất và chớp chạy từng luồng sáng rực trên biển.

Hương và trung đội du kích của cô bất ngờ tập kích diệt gọn một đại đội lính chủ lực ngụy chính trong cái đêm bão táp đó. Khắp nơi, tiếng súng vũ trang khởi nghĩa cùng nổ dậy đồng loạt. Hàng ngàn, hàng vạn người kéo về bức rút quận lỵ Tam Sa. Cờ, dáo mác dựng rợp trời. Những trung đoàn chủ lực từ căn cứ địa cũng bắt đầu tràn xuống đồng bằng, đạp hết cứ điểm này đến cứ điểm khác.

Đó là những ngày vui nhất của quê hương cô. Cô cảm thấy tự hào mỗi khi nghĩ về Đạo. Chưa bao giờ làng biển của cô có một cơn bão lớn như thế, một trận đánh lớn như thế.

Vài ngày sau bão tan. Biển lặng dần. Một màu xanh mềm mại tha thiết lại hiện lên. Làng biển nát tươm, xơ xác. Không ai buồn vì mọi người đều biết rằng, một mùa cá chật chội khoang thuyền sẽ trở về với họ. Người ta lại cuồn cuộn đổ ra bãi biển với một tâm trạng mới mẻ, khác thường. Đột nhiên, có tiếng kêu thất thanh của một cô bé:

- Cồn cát trôi mất rồi! Má ơi, mộ anh Đạo...

Kinh hoàng, người ta chạy ào ào về phía cửa biển. Lòng người nào cũng nhói lên, ngơ ngác. Chỗ cồn cát chỉ còn là một khoảng biển xanh thẳm, vô tận. Hương cúi xuống bốc lên tay mình một nắm cát. Vậy mà cô vẫn nghĩ, không còn ai có thể gắn bó với làng, với biển hơn cô nữa. Cô nhớ tới một dòng sông quanh năm đỏ ngầu phù sa. Anh đã sinh ra bên một dòng sông như thế. Cô hình dung ra những dãy lò thủy tinh với hình dáng của những người thợ đang rút ra từ lửa những khối thủy tinh trong suốt như nước biển...

Buổi chiều hôm đó, những thuyền lướt từ ngoài khơi trở về, thuyền nào cũng đầy ắp cá. Biển lại hiền hòa, sóng từng đợt trào lên bờ cát rồi nằm xoài ra đắm đuối trên những dấu chân người...

Người dân Sa Thạch còn kể thêm rằng, chưa có năm nào biển được mùa cá như sau cơn động biển, động trời năm ấy.

Bình Định xuân 1973

 N.T.H


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 20 Tháng Tư, 2011, 02:35:30 pm
                                        Thung lũng hoa vàng    
                                        Tác giả : Huỳnh Thạch Thảo


Tôi có dịp làm quen với người cựu binh phía Nam thời 1975 khi về Củng Sơn viết bài kinh tế miền núi. Đêm Thị trấn heo hút này vẫn nhấp nháy dãy điện và cũng như bao phố núi khác, cũng có quán đèn mờ, karaôkê văng vẳng, video xập xình và các dãy quán nhậu đèn dầu ngọn lu ngọn tỏ

Đám thanh niên mới lớn chập chững làm theo thiên hạ cũng phì phèo thuốc lá, văng tục, đi lang thang và tụ tập từng nhóm đàm tiếu các cô nàng đang mua vé vào xem cải lương Sài Gòn ra Trung biểu diễn.

Thấp thoáng vài mái tóc quăn tít, đen cóc cáy trong bộ quần bò, áo pul trắng thơm sực mùi camay của đám thanh niên Êđê. Bên tôi, thằng bạn cũ ở quê nhà sót lại, giải phóng vào du kích xã, vào đoàn thanh niên và đến nay chễm chệ ngồi ghế chính quyền. Bên cạnh, còn vị khách phương xa mái tóc điểm bạc đang cúi đầu đếm bước và cô con gái trắng trẻo, dễ thương đến dịu dàng đang tò mò tròn mắt nhìn quang cảnh xa lạ trước mặt. Duy, bạn tôi khẽ nói: “Đây là chú Nam, người mà cách đây hai mươi năm trong đoàn người tháo chạy toán loạn ở trận mở màn đánh Ban Mê, tin sống đấy, cậu ráng khai thác”. Rồi nó bảo nhỏ vị khách. Người đàn ông nhìn tôi cười nửa miệng, khẽ gật với khuôn mặt chữ điền, ánh mắt sâu kín trên sóng mũi thẳng. Thả bộ cũng hết thị trấn trong 15 phút, chúng tôi quay về nhà khách. Duy chiêu đãi bia lon cho thằng bạn lâu ngày gặp mặt và tế nhị cáo từ. Ngồi bên cạnh người cựu binh ngày trước, cả hai yên lặng nghe gió núi lồng lộng thổi về từ phía xa như ngàn con chiến mã băng băng tung vó đổ về đồng bằng, rồi lao đến, ồ ạt, cuộn tung lá cỏ rồi vút đi bỏ lại phía sau âm thanh của hàng cây nghiêng ngã roàn roạt.

 Người lính cũ trên bờ Nam vào buồng buông mùng cho con gái, trở ra với chai rượu trên tay, nhỏ giọng:

- Hai mươi năm qua rồi, nhưng hình ảnh cũ luôn để lại trong tâm trí tôi. Đau đớn, dằn vặt, khổ tâm dù tôi đã sang phía bên kia bờ đại dương để sống. Tôi biết anh thích nghe câu chuyện tôi kể. Ừ. Thì tôi kể, nói anh nghe. Đừng viết gì trên mặt báo. Có tội cho người đang còn sống và những người đã mất đi, thân xác trải dài theo đường Năm, đường Bảy, dọc thượng nguồn sông Ba mênh mông, cả trên những cánh rừng heo hút từ Hậu Bổn, Cheo Reo, và cả những con đường mòn phủ ngập cỏ tranh mơ hồ trên sơ đồ tác chiến. Đêm nay, ngồi cùng anh dù quá lâu mới có dịp trở lại nhưng tôi vẫn còn cảm giác như ngày nào cùng tháo chạy...

Ông thở dài. Phía xa, đợt gió của đại ngàn tiếp tục đổ xuống ào ạt và gió từ thung lũng sông Ba thổi lên réo rắt, để hợp lại vun vút, cuồng nộ như thít chặt không trung, như tái hiện hàng loạt bước chân rầm rập, hỗn loạn, nức nở, ai oán và lại yên lặng. Ông cúi đầu, trầm buồn kể...

“ Tháng ba năm một chín bảy lăm.

Một tiếng nói vang lên không đúng mật ngữ:

- Ê Kỷ, tao chuồn đây!

Lại tiếng trả lời khẩn thiết :

- Khoan đã, mày...

Nam đã vứt vội ống bộ đàm cho thằng hạ sĩ truyền tin rồi nhoài người trườn vào cánh cửa trực thăng HU.1A vừa hạ xuống và đang hối hả nhấc càng bốc khỏi mặt đất. Cánh quạt tạo cơn xoáy lốc cuốn tung cát bụi, xoáy tròn từng đám cỏ tranh. Khi máy bay đảo vòng lượn, anh ngồi thở dốc vuốt vầng trán đẫm mồ hôi, mắt nhìn xuống bóng gã lính ban nãy đang khom người chạy lúp xúp tránh gió giật rồi mất hút trong đám lau sậy. Hết rồi. Xong rồi. Cả tiểu đoàn đóng rải rác các cứ điểm phía Tây nam Ban Mê Thuột bị nướng sạch. Đại đội tiếp viện của Kỷ vừa đổ xuống bị giập pháo nặng nề lúc chiều vừa sập tối. Bọn bên thông tin đã cung cấp số liệu trinh sát cho quân báo. Vậy mà cả lũ không tin ở hướng này, làm gì có T.54, cũng chẳng thấy vết môlôtôva lẫn dép lốp. Giờ đây thì có thật khi Nam được lệnh đi thị sát. Tội Kỷ. Chờ bọn nhảy dù đến thì nó nằm trong poncho phủ bụi đất đỏ hoặc tan xác nơi rừng rậm. Nam lắc đầu thở dài. Thằng lái phụ chuyển gói salem sang anh, hét to át tiếng động cơ rung lắc ầm ĩ: “Hút đi, Đại úy. Hú vía hả?”. Anh khẽ gật, châm thuốc, vị đắng cay xòe nơi cổ. Nhìn qua khung kính phía bên dưới là những trảng rừng ngút mắt, từng cụm khói bốc lên từ từ và hiện dần nhánh sông Sêrêpốc lấp lánh trong nắng buổi sáng. Nam biết, phía đó quân giải phóng dày đặc. Nam thẩn thờ chợt nhớ Kỷ cho đến khi thằng lái hạ dần độ cao đưa máy bay từ từ tiếp đất làm khói bụi bốc lên vần vũ. Nó lột mũ lái, mỉm cười quay sang bảo nhỏ lúc khóa xong hệ thống điều khiển cần: “Đến rồi, Đại úy”. Anh đẩy nhẹ cửa, nắng lóa mắt trải dài trong sân cỏ cháy sém nham nhở đất cát. Từng ụ đất chống đạn trong bao cát đặt dài bên cạnh những cụm thép gai xen kẽ với vỉ sắt PSP. Nam bước tránh hàng máy bay lên thẳng và bọn kỹ thuật đang ngồi hút thuốc trò chuyện to nhỏ bên cạnh. Trung sĩ trực ban nhô đầu kêu từ hầm số 1: “Đại úy, đại tá cho gọi...”. Anh quay lại đã thấy Hiền, bạn Kỷ chờ sẵn từ lúc nào bên cửa phòng trực. Quần Jean sẫm, áo pul vàng bó sát khuôn ngực đầy đặn, trông cô nhỏ nhoi khác lạ và không hợp với khung cảnh chiến trận này. Hiền đến sát bên, nghe rõ tiếng thở dồn, đôi mắt tròn ngơ ngác, khẩn cầu: “Kỷ không về sao anh?”. Nam khẽ lắc: “Nó ở lại, về sau”. Hiền khóc, bíu chặt Nam: “Sao anh không đưa Kỷ về? Hai người dối em”. Nam mệt mỏi quay sang hướng khác, nói chậm: “Nó kẹt, ít bữa sẽ về, em nên quay lại Sài Gòn”. Hiền lắc đầu, khóc nấc: “Không, em sẽ ở lại”.

 Anh nín lặng, từ xa chiếc Jeep phóng hết tốc lực, xoáy tung bụi đến sát chỗ anh trong tiếng phanh gấp, có tiếng gọi: “Nam lên xe, về phòng tác chiến”. Đại úy Phi nhô người ra ngoài kéo vội Nam: “Ổng đợi, gầm gừ trên đó, tan nát hết rồi hả ?”. Nam nhìn Hiền rồi cúi đầu lúc xe trở ngược tay lái nghiến rít lên đá sỏi dằn sốc để chạy về Bộ chỉ huy. Chao! Kỷ ơi, con Hiền lên thăm mày. Cô bé văn khoa gặp chàng sĩ quan Đà Lạt trong đêm “Hát cho đồng bào tôi nghe” tại Sài Gòn ba năm về trước. Thôi hết.

Một giờ sau từ phòng tác chiến bước ra, Nam được tin cả đại đội Kỷ kể như xóa sổ trên bản đồ hành quân.

2

Trong tiếng pháo rít róng dồn dập nổ, chớp nhoáng ùng oàng, tiếng AK nhịp dài, B40 toang toác, ầm ào và hỏa tiễn rú rít chụp xuống phía sân bay chính. Tiếng la hoảng loạn của đội cảnh vệ trong tiếng trực thăng quạt cánh rời khỏi mặt đất. Nam vứt vội ống nghe, chụp lấy mũ sắt khi được lệnh di tản khẩn cấp để lao vội ra ngoài. Trời mờ sáng, sương mù dày đặc bóng người lom khom hối hả qua lại, anh nghe rõ tiếng Thiếu tá Hoàng: “Zoọt thôi. Bám theo bọn bọc hậu. Mẹ kiếp, bọn sĩ quan tham mưu họ tẩu từ lúc nào rồi, còn lính nữa, chạy sạch!”. Nam quay lại vừa lúc Phi đến, gọi giật: “Đi Nam, theo tao...”. Chiếc Jeep Phi dự tính còn đó, cả hai liền hòa vào dòng xe đang chen nhau xuống phố. Nam chợt nhớ Hiền đang ở khách sạn Anh Đào liền nhắc: “Qua ngã sáu, đón Hiền, rồi vù thẳng ra sân bay”. Phi trợn “Đ.m, tan nát sân bay rồi. Việt cộng giập gớm thiệt, không khéo xuống đó bị nghẽn”. Rà sát cửa thềm khách sạn, Nam nhảy vội từng bậc, từng bậc thang xoắn ốc rồi đạp tung cửa phòng kịp thấy Hiền cuốn mình trong chăn run rẩy, tím ngắt. Nhận ra anh, cô càng ôm chặt. Nam nói vội: “theo anh, lẹ lên, trễ rồi”. Xe lại trở đầu cho Phi rước thêm gia đình người bạn. Cuống cuồng, vội vã, va lách, chen lấn rồi hối hả theo dòng người xuôi hướng đồng bằng bởi sân bay không còn bọn lái. Tuồn chạy. Nháo nhào. Phía ngã sáu đã dày đặc từng cụm khói lan tỏa trong tiếng đì đùng của súng, lựu đạn, kho tiếp liệu, trung tâm hành quân. Tiếng khóc, tiếng réo như át hẳn tiếng gầm rít của từng loại máy bay tiêm kích, của bom tọa độ, của Cachiusa, ĐKZ, của muôn vàn kim khí va chạm nhau loảng xoảng. Rồi nghẽn đường. Rồi thông đường. Rồi chà đạp lên nhau để chạy. Gã thiếu tá Thanh, bạn Phi đã vung súng ngắn mở đường và lăm lăm súng phóng lựu bên hông xe canh chừng trước mọi sắc lính lúc Nam lo thay lái để Phi nắm tiểu liên. Một tên rằn ri rớt xuống từ chiếc GMC chật cứng vội chạy theo đu bám càng xe Nam van nài: “Thiếu tá, thiếu tá cho em lên với”. Gã bạn Phi lạnh lùng lắc đầu: “không được”. Tên rằn ri nhỏ giọng lần nữa liền bị vẩy nhẹ phát đạn vào ngực ngã đập xuống đường và đoàn xe phía sau đang rú ga đến cháy lốp bình thản đạp lên. Một chiếc, hai chiếc, đoàn quân xa đi qua không để vết tích gì của tên lính ban nãy, chỉ còn chiếc thẻ mã hiệu KBC sũng máu trơ trọi dưới lòng đường. Nhà cửa tan nát, súng ống vứt lăn lóc cùng xác chết, vật dụng vung vãi như cơn bão lớn vừa quét qua. Từng dòng người vẫn chạy, máu vẫn đổ sủi bọt trên đường nhựa hâm hấp nóng, trên các hành lang với những đôi mắt mở trừng không còn sự sống.

Xe qua khỏi thị xã. Dừng lại trong cái nắng hanh của tháng ba Tây Nguyên, từng cơn gió khô khốc thổi bốc từng đám đất đỏ tạt vào những người đã kiệt sức. Mọi người mồ hôi bết bụi, lào phào từng tiếng ngắt quãng và nhìn lại phía sau thị xã Buôn Mê Thuột khói lửa ngùn ngụt. Thiếu tá Thanh chửi đổng: “Mẹ nó. Cả bầu đoàn thê tử cuốn sạch, không nói một tiếng”. Nam yên lặng, lục túi cá nhân tìm khăn tay đến mở nắp capô xả nước bình. Nóng, nóng cùng khắp thùng xe, lốp xe, mặt đường, từ thân thể trong cơn hỗn độn, nháo nhào. Anh đem khăn lại cho Hiền. Cô ngồi rũ rượi trong góc, mắt nhắm nghiền và miệng cầu kinh nho nhỏ. Nam khẽ lay vai, cô hốt hoảng mở choàng mắt và thờ thẫn cầm lấy: “Đi đi đâu nữa anh?”. Nam lắc đầu khi nghe xa xa vọng lại những tiếng nổ đanh giòn: “Cứ theo dòng người, hẵng hay”. Thiếu tá Thanh đóng máy bộ đàm, cáu kỉnh: “Lộ béng, thông tin bị nhiễu, phía Việt cộng đào mã tao trong máy. Thôi, chuẩn bị tuồn về Cheo Reo, mấy cha ở dưới”. Gã đến bên vợ con, người đàn bà đầy đặn sau mấy giờ tuôn chạy mắt đã thâm quầng, đôi tay trắng múp ôm choàng hai đứa nhỏ ngơ ngác, bàn chân đặt trên chiếc Sansonal đã ố bụi vàng và xung quanh đồ đạc hòm xiểng chất đầy. Gã nhìn với khuôn mặt đờ đẫn thoáng chốc rồi nghiến răng: “Đi tụi mày”. Nam, Phi ngồi băng trước, gã cầm thêm M.16 bọc hậu phía sau. Xe lại chuyển bánh hướng theo đoàn xe đang chen nhau cuốn bụi cả một vùng. Anh mường tượng cảnh đàn bò rừng đang rùng rùng di chuyển tìm vùng đất sống trong cơn lốc mịt mù khói xăng, lửa đỏ, trong những triền cỏ úa vàng và cả những bụi dã quỳ bầm máu.

Buổi chiều xe Nam bám kịp đoàn xe của các sĩ quan bên quân đoàn. Đủ sắc lính còn áo mũ cân đai, có cả xe bọc thép M.113 và M.48 tuôn xích rào rạt. Trên từng thùng xe GMC, DOG, cả xe của hãng Phi long, quân nhân khu gia binh và dân chúng đang chen chúc đu bám cùng vẻ mặt kinh hoàng. Họ ngước nhìn từng phi đội máy bay đang rà sát yểm trợ rồi sãi cánh sang ngã Ban Mê. Thiếu tá Thanh nối được ban tham mưu, thúc Nam vượt gấp, lách qua từng dòng xe dày đặc để rẽ ngang vào trảng trống trước mặt. Sáu chiếc Jeep phủ bụi có dãy ăng ten tua tủa châu đầu vào nhau và trước nó túm tụm nhiều người. Gã phóng xuống, lao đến gằn giọng: “Mẹ! Các ông chạy giỏi dữ vậy. Sao...”. Đại tá Quảng, tham mưu phó quân đoàn, khẽ nạt: “... xuống được đây là may rồi. Còn bao người đang kẹt trên đó, có giỏi về Tuy Hòa mà xỉ vả”, rồi... đùng đoàng, chớp nhoang nhoáng lé, bầu trời như chao đi bên mặt đất đưa võng. Lưỡi gươm khổng lồ đột ngột phạt xuống bởi tiếng rít của hỏa tiễn, của pháo, của tiếng hô xung phong ồ ạt từ những quả đồi trọc xung quanh vang lên trong trận tập kích đột ngột. Cắt xé, banh nát đội hình với tiểu liên, trung liên, đại liên quất chéo cánh sẻ, với M.79, B.40, B.41, cối không giật và cả lựu đạn bùng nổ dữ dội. Từng chùm bom từ F.5, F.111 không giúp nổi phản kích mà thêm phần hỗn loạn làm cả không gian bùng vỡ, sôi réo trong tiếng hô, tiếng rên, tiếng gào, tiếng khóc... Mọi người từ ngơ ngác sang kinh hoàng chỉ kịp chúi đầu vào xe mình để nhìn bánh xích M.113 và nòng pháo quay cuồng, cấp tập. Lại ngừng, không gian im ắng chỉ tồn tại từng cụm khói, bãi lửa cuồn cuộn, mùi khét của thây người chết cháy và những đống thịt xương vung vãi, nhòe nhoẹt với đồ đạc. Rồi lại ồn ào, la khóc, tiếng gào thét chửi bới gọi tìm nhau văng vẳng. Tốp sĩ quan bật dậy, tức tốc đảo vòng xe rời trảng, vẫy tay cho cả đoàn quân xa còn lại tiếp tục tuôn xuống đồng bằng. Bỏ lại phía sau lưng di thể cuộc chiến với mảnh đất một thời đã sinh sát.

Ông Nam ngừng lời kể lơ đãng nhìn ra ban công nhà khách, nhìn những tàn cây đang nghiêng ngã vì gió và lắng tai nghe lời thì thầm của đất. Như từ trong sâu thẳm nỗi nhớ đang dần hiện về, ông lại cúi đầu thì thầm kể: “Tôi nhớ đoàn quân rút chạy bị chặn vào buổi trưa ngày hôm sau tại chân đèo Cheo Reo. Lúc những loạt A.K bất thần tuôn xuống xối xả và B.40 bắt nhịp chặn đứng chiếc chiến xa mở đường máu. Vậy là tán loạn, không còn sự chỉ huy, mạnh ai nấy chạy. Đoàn rồng rắn của hàng trăm ngàn dân thường cộng thêm lính và mấy ngàn xe pháo đạp lên nhau tìm đường thoát. Bọn biệt động và thiết giáp liều chết xông lên bị đánh bật xuống chân đèo cộng thêm bọn không quân từ sân bay Thành Trung- Phan Rang đổ bom phá vây trúng phải đội hình. Vậy là tan nát rệu rã. Xe tôi tuồn rừng sang Phú Bổn. Đói, khát, tuyệt vọng chưa kịp nghỉ ngơi thì chập tối những loạt pháo kích dập xuống ngay lòng thị xã. Lại hỗn loạn cực điểm và kéo cả người dân ở đây vào con đường địa ngục.


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 20 Tháng Tư, 2011, 02:37:10 pm
                                      Tiếp theo:
Con đường địa ngục 7B cả gia đình thiếu tá Thanh đã chết ở đó, khi xe chúng tôi cạn kiệt xăng, nước. Phía trên đầu là những chùm đèn dù lơ lửng của máy bay ném xuống soi đường. Tôi bỏ xe dẫn Hiền bám theo đoàn người khi gã thiếu tá nấn ná ở lại vẫy xe cho vợ con đi nhờ. Tôi nghe gã kêu rống liền ngẩn nhìn. Bọn lính kỵ binh từ chiếc GMC đang pha đèn nhảy xuống cả tốp, chúng bâu lại, chửi bới : “ĐM. Sao không tử thủ...”. Rồi đạp gã ngã nhào. Khi gã còn lê la dưới đất chúng xô đến chiếc Jeep cười khả ố lôi người phụ nữ và hai đứa nhỏ ra ngoài. Gã rút súng nhả đạn làm hai thằng bật ngửa, còn gã nhận nguyên băng M.16 nát bấy, hai đứa nhỏ chúng nhét lại chiếc Jeep bật chốt lựu đạn trước khi đẩy bà mẹ lên xe chúng. Buổi sáng tiếp theo trận bom lạc hướng nhằm vào con đường địa ngục, xóa sổ thêm lũ người hành hương tìm đất sống. Tụi tôi lại luồn rừng, nhổ trộm sắn mì và uống nước suối nơi bản Thượng. Những bản này cũng bị bọn lính đến trước tàn phá, cướp bóc, nát sạch.

Trưa hôm sau chúng tôi đến thung lũng Sông Ba, thoáng nghe gió thổi mát rượi dù trời đang chan nắng. Ở đây đã có nhiều người, nhất là cấp chỉ huy quen mặt chạy xuống sớm đang ngồi kêu trời bởi dòng sông rộng trên 300 mét trở thành: “Thung lũng chết” vì không có một cầu phao nào như công binh báo trước. Phía sau, dòng người vẫn đổ đến. Tôi nghĩ, chỉ cần một trận pháo nữa thì hủy sạch. Đoàn người vẫn đổ đến trước dòng sông Ba cuộn chảy loang loáng nắng. Rồi máy bay Chinooc đổ vỉ sắt PSP, rồi hàng đàn trực thăng bu đen đặc trên thung lũng sông Ba để ném bánh mì, lương khô, sữa hộp xuống những con người lả đi vì đói khát, vì hoảng loạn cứ lịm dần gục xuống mặt sông gợn nước. Những xác người từ thượng nguồn lững lờ trôi cộng những người hoảng loạn đến điên dại đang thất thểu đi lại thành một hình ảnh khủng khiếp. Phi cũng chết nơi đấy bởi Hiền bị ốm. Cô ấy đã cạn kiệt sức lực không lê bước nổi. Phi đi  tìm sữa trong lúc máy bay tiếp tế đổ thực phẩm thưa dần. Sự giằng co đến ẩu đả và chốt lựu đạn đã bật. Phi bò về người đầy máu với lon sữa trên tay và đuối hơi dần bởi thi gan cùng mặt trời trút lửa lúc ban ngày và hơi đất, sương núi bốc mù mịt vào ban đêm. Ngày rưỡi sau công binh bắt xong cầu phao chở hàng vạn con người để họ ào lên, bám lên và rơi xuống dòng sông cuộn chảy. May sao, không có cuộc pháo kích lớn xảy ra nhưng tôi vẫn biết, thung lũng sông Ba đã trở thành nghĩa trang khổng lồ vì đói, bệnh tật, vì thanh toán nhau để giành sự sống dù là đoạn cuối cùng để đặt chân đến đồng bằng”.

Ông Nam đứng lên, bước chếch ra ban công hướng mắt đăm đăm về phía có nhánh rẽ của dòng sông Ba đang lặng chảy và mờ trong sương mù. Tôi bước đến sát cạnh để nghe ông nói: “Tôi không qua được bởi Hiền đã ốm. Để ngày hôm sau trông thấy từng bầy quạ đen dày đặc bãi sông. Trên khúc sông dài, xác người vẫn trôi xuống và từ phía tỉnh lộ 7B dòng người vẫn còn thất thểu, ùn ùn kéo xuống cầu phao qua sông.

Hiền là cô gái Sài Gòn lần đầu va chạm với tiếng súng khởi điểm cuộc tấn công và bị kéo vào cơn lốc hoảng loạn của sự sụp đổ. Tôi tưởng cô ấy không thể qua được dù một phần ba chặng đường máu lửa. Nhưng không, từ cơn kinh hoàng tột độ của phi pháo đổ xuống lòng Ban Mê Thuột đến khi thấy vợ gã thiếu tá bị quẳng lên xe, thì cô ấy bình tĩnh trở lại để bám theo tôi từng bước, ngủ vùi trên vai tôi dưới tán lá rừng lạnh lẽo đầy ánh lân tinh và mơ thấy Kỷ về hiện hữu cùng cô ấy trên chặng đường dài. Lúc bên bờ suối cạnh buôn Thượng bị tàn phá, tôi đứng canh cho cô ấy tắm và nghe có tiếng nấc tắt nghẹn nên đã lao vào để sững lại. Bên dòng nước róc rách chảy, ba cô gái Thượng bị lính hãm hiếp nằm trần truồng trên gờ đá mắt trừng trừng nhìn mây trời và dòng máu đen thẩm còn đọng nơi khóe miệng. Tôi ôm chặt cô ấy, sợ cơn ức chế lâu ngày bùng phát. Nhưng không, Hiền vẫn yên lặng và bình thản hái lá cây rừng che phủ”.

Lúc Hiền sốt ven bờ sông Ba. Bên tôi, cô ấy nói: “Bạn anh chết, Kỷ chết, em thì theo anh. Có vướng bận không hở Nam?”. Tôi lắc đầu, Hiền cầm tay tôi, khá lâu để nói: “Em để ý mỗi khi bên kia đánh, họ chỉ nhằm vào đám lính, ta phải đi le hoặc hòa vào dân chạy nạn”. Cũng đúng, mỗi lần tập kích, mỗi lần bắn chéo cánh sẻ họ thường quạt tơi bời vào những ai còn mang quân phục nên sau này sắc lính lại hợp cùng áo dân. Rồi chúng tôi thoát được khi còn kẹt bên này sông Ba. Tôi đưa Hiền lên quả đồi có nhiều bụi sim tím và lũ chuồn chuồn cánh đỏ. Trực thăng cánh quạt quần đảo chờ bốc người di tản bị lạc đã đáp xuống khi tôi vẫy rối rít chiếc áo lót của Hiền và tay cầm vài thẻ vàng mang theo sáng lóe trong nắng chiều. Máy bay đảo vòng bốc thêm vài gia đình khá giả để quay về bệnh viện tiểu khu Phú Yên. Trên trực thăng tôi nhìn xuống đồng bằng Tuy Hòa xanh rì ruộng lúa và bỏ lại sau lưng thung lũng tử thần, quên đi con đường chết. Hiền đã ngất khi nhìn thấy bãi biển lấp lánh những cơn sóng bạc vỗ về bãi cát phía xa...”.

Người đàn ông ngừng kể, chậm rãi đi vào trước phòng đứa con gái và nhẹ đặt người xuống ghế. Ông nhìn tôi, nói nhỏ:

“Hoài Niệm đã ngủ, nó không biết mình và con của cha Kỷ mẹ Hiền. Ngày Kỷ về Sài Gòn học khóa huấn luyện cấp tốc khi trở lên Kỷ đâu biết đã để lại giọt máu và khi Hiền lên thì Kỷ đã chết. Lúc chúng tôi rời Tuy Hòa vào thẳng Cam Ranh sang hạm đội  bên Phú Quốc thì Sài Gòn bị tấn công và giải phóng. Tôi đưa Hiền qua Mỹ và liên lạc cho gia đình nhưng không một tin tức. Tôi thành người chồng hờ bên đứa con người bạn vừa sinh ra. Khi con bé đủ tuổi, cô ấy bên những cơn strees đầy bấn loạn phải vào viện Tâm thần và mất ở đó. Hai mươi năm tôi trở lại chiến trường xưa cùng con đường máu lửa. Từ Ban Mê Thuột  lên dòng Sêrêpốc thả nhẹ nắm tro của Hiền như lời ước nguyện cuối cùng là về bên Kỷ và xuôi đường tỉnh lộ 7B qua thung lũng sông Ba hiền hòa đâu còn thung lũng tử thần như tên gọi thuở nào. Giờ đây, mọi vật đã khác hẳn, những nhịp cầu sắt xưa kia bị đánh sập nay đã thay bằng trụ xi măng vững chắc. Dòng sông Ba mơ màng với những cánh buồm lộng gió nhẹ nhàng xuôi ngược. Đôi bờ thấp thoáng cỏ lau, hoa vàng của mướp, những nương bắp trổ cờ. Nó trở thành thung lũng hoa vàng dù trong lòng đất một thời chứa đựng máu xương và nước mắt. Bởi chiến tranh nào cũng có kết quả của nó”.

Ông im lặng. Ngoài kia, gà rừng đã gáy. Sương núi tràn xuống bay la đà. Đã hết những cơn gió lộng thổi từ thung lũng phía xa và của đại ngàn. Tất cả vẫn yên lặng như chìm vào cõi vô thức đầy hoài niệm.

 

Huỳnh Thạch Thảo


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 20 Tháng Tư, 2011, 02:48:49 pm
                              Chiều vô danh
                                Tác giả : Hoàng Dân

Tôi còn sống? Sống ngơ ngác giữa bãi chiến trường ngổn ngang bao nhiêu đồng đội đời đời im lặng! Tại sao kẻ may lạ là tôi? Nếu tất cả những kẻ hay do dự và sĩ diện hão như tôi đều sống sót cả thì cuộc đời mới vô duyên làm sao?
Nhìn vợ tôi tất bật với bữa ăn tươi chiều nay, tôi nghĩ: “Đàn bà các vị chúa là hay cầu toàn! Cần quái gì phải chẻ hành chẻ ớt cho mất thì giờ? Tống vào dạ dày thì còn đẹp cái nỗi gì?”. Nghĩ vậy, nhưng tôi chỉ mỉm cười, không dám nói ra thành lời.

Thằng Long, con trai tôi hỏi:

- Bố cười cái gì thế?

Tôi ôm nó vào lòng, thủng thẳng:

- Bố buồn cười vì mẹ con chiều bố con mình quá thành ra phải đợi món “mầm đá” khí lâu.

Vợ tôi lườm:

- Người đâu mà háu đói hơn cả trẻ con!

Tôi cười:

- Biết làm sao được! Đời lính đã rèn cho anh thói quen phải ăn nhanh, chạy nhanh và hôn cũng nhanh nốt.

Thằng Long cười khanh khách:

- Ê, bố nói bậy nhá!

Vợ tôi bê nồi sườn bung với dọc hà và nghệ vào, nói:

- Xong rồi! Anh vớt cho con mấy miếng sườn để nó gặm thịt.

Tôi loay hoay đảo ngoát vớt ra một bát sườn đầy, những miếng sườn giẻ quạ ninh nhừ nom đã thấy ngon. Thằng Long vừa thổi phù phù vừa gặm mút một cách thích thú. Nó nhai xương và nhã bã ra đầy một góc mâm. Vợ tôi cằn nhằn

- Con phải cho bã xương vào cái bát con kia kìa, không được nhả ra mâm.

Tôi gạt đi:

- Kệ nó, có khách khứa gì đâu mà ngại.

Đã đói thì chớ, vợ tôi lại chẳng chịu bớt một thao tác nào của cái quy trình ăn bún bung rất là rườm rà: gắp bún vào bát, trần nước sôi, rắc hành và rau thơm, chan nước sườn bung...

Tôi sốt ruột, gắt khẽ:

- Thôi đưa đây, anh làm lấy cũng được.!

Nhận bát bún nóng từ tay vợ, chưa kịp ăn, tôi chợt cảm thấy nôn nao lơm giọng. Tôi đặt bát bún xuống, nhắm mắt để cố trấn tĩnh lại, nhưng không thể nào chịu nổi cái cảm giác buồn nôn đang dâng lên cuồn cuộn. Người tôi ớn lạnh, ghê ghê như bị tái phát một cơn sốt rừng. Tôi cố gắng đứng dậy lảo đảo bước tới cái giường và nằm vật ra hổn hển.

Vợ tôi hốt hoảng quăng tuốt cả đũa với muôi, vội chạy ra đỡ tôi nằm xuống. Một bàn tay đặt lên ngực tôi, một bàn tay sờ trán tôi, vợ tôi run run:

- Anh làm sao thế?

Tôi nhắm nghiền mắt, khẽ nói:

- Em cứ ra ăn với con đi. Anh chỉ chóng mặt qua loa thôi. Chắc là anh bị thiếu máu não thật. Có lần bác sĩ đã bảo thế nhưng anh không tin.

Vợ tôi càng lo lắng hơn:

- Bệnh ấy có nguy hiểm không hả anh?

Tôi trả lời quấy quá:

- Nó cũng vớ vẩn như cảm cúm thôi mà!

Thằng Long chợt nheo nhéo gọi:

- Mẹ ơi, nhiều kiến đen quá. Nò bò đầy mâm đây nay!

Trời ơi! Kiến đen! Chính đám sinh vật li ti ấy đã khiến tôi suýt ngã gục trên bát bún bung. Chúng đang nhe răng gặm sồn sột trong óc tôi...

Vợ tôi tất tả trở lại mâm và kêu lên:

- Trời ơi, sao con nhã bã xương lung tung ra cả sàn thế này? Tại con nên kiến mới bò vào nhiều đến thế đấy.

Thằng Long cãi:

- Ứ phải tại con. Tại nhà mình nhiều kiến thì có.

Thằng Long nói đúng. Nhà tôi ở trên một gò đất nên ai cũng bảo nhà tôi là thiên đường của các loài kiến. Tôi đã từng tưới dầu hoả, rắc thuốc diệt kiến mà xem ra chẳng ăn thua gì. Có lần tôi đã xoắn cả mớ giấy để đốt chúng, nhưng không xuể. Không thể nào tiêu diệt nổi đám sinh vật quái quỷ ấy. Mà hễ nhìn thấy chúng là tôi như bị dị ứng và buồn nôn.

Để khỏi phụ công vợ đã mất cả buổi chiều cho một bữa ăn tươi, tôi bèn vùng dậy, hùng dũng bước ra mâm và ngồi xuống:

- Nào, bố con mình tiếp tục đi!

Nhưng rồi, đầu óc tôi bỗng loé sáng những chùm đèn dù ma quái, lơ lửng... Tiếng bom nổ. Tiếng đạn rít. Tiếng gào thét của những người đã chết. Một mớ âm thanh ầm ầm náo động trong tâm tưởng tôi. Tôi chỉ còn nhìn thấy hàng triệu con kiến đen đang xâu xé những mẩu xương thịt của đồng đội tôi trong cái buổi chiều ảm đạm ấy. Tôi bỗng nhớ lại tất cả những gì mà tôi đã cố quên đi.

*

... Trường Sơn, những chiều mưa rấm rứt. Những cánh rừng đại ngàn âm u, ẩm ướt. Vắt rào rào quăng mình trên lá mục vừa bén hơi người.

Tôi ì ạch bám sát đội hình hành quân. Đầu chúi xuống hai vai tê bại, đầm đìa mồ hôi, ớn lạnh. Dù đã độn lót khá kỹ, những cành đạn cối 60 ly vẫn cứ thản nhiên và vào lưng tôi đau thon thót.

Một tiếng chửi bật lên khe khẽ: “Tổ cha...”. Tôi ngẩng đầu lên. Vũ đang quài tay ra phía sau sờ mó cái ba lô vuông nhầy nhợt mỡ. Chết cha rồi! Cái thùng mỡ 10 ký đã bục vỡ trong ba lô. Mỡ nhểu giọt xuống lá rừng. Mỡ chảy theo lưng áo, ống quần và luồn qua gót chân, chui vào mặt dép đúc, trơn tuột. Vũ hơi cúi người, lột dép cầm tay và lại chửi: “Tổ cha bay!”.

Tôi buồn cười, nhưng không cười nổi. Mệt quá. Chỉ khẽ nhếch mép. Phải nói Vũ là thằng tốt nết nhất tiểu đội. Chỉ có nó mới chịu đeo cái “của nợ” ấy trên lưng mà đi ròng ròng ngày này qua tháng khác. Mồ hôi trộn vào mỡ khét mù. Lúc nào cũng nhớp nháp ngứa ngay. Có môt đêm, trong lúc đang mò mẫm lao người xuống một cái dốc đứng, Vũ túm phải một cây nứa tép dập, cây nứa cứa lòng bàn tay vũ tướp máu. Máu, mỡ, mồ hôi quyện vào nhau lầy nhầy. Nghĩ mà sởn gai gà!

Vũ lầm lũi bước đi trước mặt tôi. Cái thằng chân đi vòng kiềng mà khoẻ và lì số một. Hắn là con dân chài nòi vùng biển Nghệ An mà! Ôi chiến tranh kỳ diệu. Con người sinh ra và lớn lên trong bão tố biển khơi bỗng nhiên nhảy lên rừng sâu núi thẳm để tải bộ thế này? Tôi chợt nghĩ đến Thời. Hắn là một gã lính ba trợn ba trạo. Có thói quen nói mà không bao giờ thèm để ý đến người nghe. Những ngày đầu sống với hắn, tôi cứ chờn chờn ghê ghê. Người đâu mà băm bổ, thô lỗ?

Có lệnh tạm dừng, triển khai đào hầm, dựng lán. Tôi thở phào. Sẽ được xả hơi vài ba ngày đây. Không ai bảo au, tất cả đều nặng nề thả người đánh phịch xuống đất, xoạc rộng hai chân, ngả người vào chiếc ba lô và lim dim đôi mắt. Không ít chàng lính đã ngoẹo đầu ngủ rũ. Tôi cũng thèm ngủ kinh khủng. Đầu óc cứ mê mụ, bồng bềnh... Bỗng tôi giật thót. Một cái bàn chải sắt nào đó đang chà sát lên má tôi. Tôi tỉnh hẳn. Thời! Chính hắn! Hắn đang nhăn nhở cười. Dù biết hắn chính gốc Khâm Thiên – Hà Nội, tôi vẫn cứ ngờ ngợ. Hắn có bộ râu tua tủa rất đàn ông. Hắn không giấu giếm niềm tự hào về bộ râu rễ tre ấy. Hắn thường cao giọng kể đi kể lại mối tình đầu của mình. Hắn bảo sau mấy đêm đi chơi với bé (hắn gọi người yêu là “bé”), hắn hỏi: “Em có biết anh yêu em từ bao giờ không?” Bé đáp: “Chưa thấy!”. Thế là hắn lia râu túi bụi vào mặt bé. Hắn bảo bé cứ sướng rên lên... Mỗi lần kể xong, hắn lại cười khùng khục: “Cái hôn không râu như cà phê không đường!” Chẳng hiểu sao, các chiến hữu nghe mãi cái chuyện vặt ấy mà không chán? Ngược lại, hễ hắn dứt lời là tất cả ôm bụng cười ngả nghiêng, ngặt nghẽo, cười đau quặn thắt cả ruột gan. Đứa thì tung hô Thời là “lãnh tụ của ái tình”. Đứa lại gọi hắn là nhà “Ma sát thịt”. Còn tôi thì buột mồm gọi nôm là “Thời râu!” Xem ra Thời có vẻ ưng ý với cái tên của tôi hơn cả. Hắn chộp ngực tôi, day thật lực và hùng hồn tuyên bố: “Thời... râu! Được đấy. Vừa nho nhã, vừa đời và cũng rất...đực! Ô hô! ông Nghĩa thánh thật!...”

Vừa nói Thời vừa làm động tác nhún nhảy. A! Tôi thoáng bối rối, nhưng kịp trấn tĩnh ngay. Cái phản xạ đầu tiên của người lính mà tôi cũng quên phắt đi mất. Đi thì thôi, hễ dừng là phải đào hầm, cưa cây.

Tôi vừa ngật ngưỡng kéo cưa vừa lơ mơ ngủ và rồi lăn ra đất lúc nào không hay. Thời hì hục cắt gỗ một mình. Sau khi bó gỗ thành hai ccọ to, Thời mới đánh thức tôi dậy. Tất nhiên vẫn là bằng... bộ râu!

Hắn cất giọng khàn khàn:

- Về thôi!

Dứt lời, hắn xốc vác gỗ to tướng lên vai và lắc lư bước đi như con gấu. Tôi nhìn theo và thèm khát một sức vóc cường tráng như hắn. Hắn khoẻ phát sợ. Hai bên nách kẹp hai bao gạo 50 ký, hắn có thể ung dung bước đi như kẻ nhàn tản dạo mát. Dạ dày hắn có sức chứa bảy lần vục đầy cơm bằng loại bát B.52 và cao hứng lên, có thể tráng miệng thêm hai phong lương khô nữa. Hắn ăn như hùm, nhưng làm khoẻ như voi nên mọi người đều vui vẻ nhường nhịn hắn và hắn cũng sẵn lòng gánh vác giúp anh em những công việc nặng nhọc. Cái sức lực hơn người của hắn còn được chính hắn oang oang tô vẽ không chút ngượng ngùng rằng: “Mẹ kiếp! Đêm nào tao cũng mơ thấy bé. Và đêm nào tao cũng đánh mất một thằng Thời con. Biết đâu trong đám những thằng Thời con chưa kịp làm người ấy, chẳng có đứa sẽ là thi sĩ. Hô hố...”

Sau khi đào xong hầm thì tất cả đều mệt lử. Tôi cảm thấy cơ thể rệu rã, miệng đắng ngắt, mắt nảy đom đóm. Vẫn còn một việc nữa là lấp đất, Thời thở dốc, tì ngực vào cái cán xẻng, lầu lầu:

- Mẹ kiếp! Toàn nhữmg việc nặng nhọc, khốn khổ. Thằng lính mà phải làm cả thợ sơn tràng, thợ đấu, ngựa thồ... thì đến đá cũng phải xỉu, nói đếch đến người!

Nhìn đôi mắt đỏ ngầu đờ đẫn của Thời, tôi biết hắn đang phải vật lộn với con đói ngủ dữ dội lắm. Tôi giằng cái xẻng trong tay hắn, bảo:

- Ngủ đi! Giờ thì đến lượt tao làm việc chứ.

Có lẽ chỉ đợi thế, Thời đổ vật xuống đất, ngáy luôn. Bộ râu lem nhem đất và đầy những cọng lá khô quăn queo rung lên đều đều sao mà ngon lành?

Vừa phủ xong đất lên nóc hầm, chưa kịp chui vào ngồi thở thì có lệnh hành quân gấp. Cha mẹ ơi! Nước sông công lính. Chúng tôi lần ngược trở  lại co đường vừa mới đi hôm trước. Nghe đâu địch đã đánh hơi thấy một cuộc di chuyển lớn của binh đoàn. Tôi lắng nghe tiếng rên “eo...u u” dai dẳng của thằng OV-10 và buột mồm hỏi một câu bầng quơ:

- Chẳng lẽ nó ở tít trên cao kia mà cũng nhòm thấy cái thùng mỡ trên lưng Vũ khoèo hay sao?


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 20 Tháng Tư, 2011, 02:51:56 pm
                            Tiếp theo :

Chiến dịch lớn đã bắt đầu. Nó cuốn những người lính vào một cơn lốc chóng mặt. Nó thổi bay những ý nghĩ vụn vặt từng đeo bám trong đầu, nhưng cũng thổi bùng lên một nỗi khát thèm được sống tưởng đã bị vùi lấp trong vô vần những biến cố, những sự kiện chồng chéo lên nhau xô bồ, hỗn tạp.

Sống - đó là niềm hy vọng mỏng manh của những người lính trong bất kỳ cuộc chiến tranh nào, nhưng dường như càng mỏng manh nó càng hối thúc người lính phải suy nghĩ về nó một cách nghiêm chỉnh.

Chúng tôi hối hả hành quân giữa các làng quê và đô thị. Những bàn chân quen bước thấp bước cao trong rừng, nay nện gót trên mặt đường nhựa phẳng lỳ cứ tức anh ách. Máu tụ lại, da phồng rộp, vỡ toét, bỏng rát lên tận óc. Vừa đi vừa chạy vừa chạy vừa thở và xuýt xoa đau đớn. Dừng chân là nổ súng. Nổ súng xong lại chạy xuốt đêm ngày. Chiến tranh kết thúc đến nơi rồi. Một cuộc chiến dù dài lâu đến đấu vẫn có ngày kết thúc! Và sẽ có một viên đạn cuối cùng dành cho một người lính cuối cùng ngã xuống trước giờ phút khải hoàn.

Chúng tôi đi suốt đêm và dừng lại ở một trảng cát. Phía sau lưng là một cánh rừng cao su bạt ngàn. Còn trước mặt là căn cứ địch rộng tám kilômet vuông. Đó là mục tiêu phải đánh chiếm của đơn vị chúng tôi.

Một tổ ba người moi một cái hố chiến đấu. Tôi, Vũ và Thời cũng âm thầm đánh vật với cát. Tiếng lưỡi xẻng bập vào cát sột sẹ. Tiếng thở nặng nhọc, gấp gáp. Những chùm pháo sáng của địch lơ lửng trên bầu trời, thứ ánh sáng lạnh lẽo ma quái. Thỉnh thoảng, một loạt đạn lửa từ trong căn cứ địch vọt lên bầu trời, loằng ngoằng những đốm lửa ma trơi.

Đang moi sâu dưới hố, Thời bỗng nhảy phắt lên, thở hồng hộc. Tôi ghé sát vào hắn, thì thào:

- Sao thế?

Thời lia cái cằm bàn chông vào má tôi, giọng rin rít:

- Xương! Xương người!

Tôi và Vũ ngớ ra. Thời lẩm bẩm:

- Dép đúc, dây lưng...

Vũ buột miệng, lào thào:

- Quân ta à?

Tôi lẳng lặng lấy ra tấm ni lông màu cỏ úa và trải rộng trên cát. Thời nhảy xuống hố. Hắn thận trọng moi dần từng cái xương vùi trong cát ướt đưa lên cho chúng tôi. Tôi và Vỹ loay hoay xếp đặt. Tất cả là ba bộ hài cốt. Một tổ ba người bị bom vùi từ bao giờ? Chắc là từ hồi F9 trừng trị sư đoàn “Tia chớp nhiệt đới” của bọn Mỹ. Ngày ấy, bị địch giội bom rải thảm, nã pháo cực nhanh và dùng hàng đàn xe tăng bọc kín sau lưng, các chiến sĩ F9 đã quyết tử trên mảnh đất đẫm máu này. Mai sau, chẳng biết có ai đến đây để cắm một tấm bia với dòng chữ: “Nơi yên nghỉ của hàng trăm liệt sĩ vô danh thuộc sư đoàn 9 – QGPMN”? Thời chống hai tay vào mép hố, nhảy lên. Hắn vừa buộc túm tấm ni lông thành một bọc trông lởm khởm vừa thì thầm:

- Dám thưa hương hồn các anh. Bọn em gồm ba đứa là Thời râu, Vũ khoèo và Nghĩa thư sinh trói gà không nổi...

Nghe Thời khấn khứa, tôi chạnh lòng. Khoé mắt cay cay. Vũ cũng xúc động lắm. Hắn dụi nhanh mắt vào tay áo. Còn Thời khấn xong thì ngồi xổm, bần thần. Bộ râu bê bết cát ướt của hắn như dài ra, tua tủa, rung rung. Lát sai hắn chỉ tay xuống hố, giọng khàn đục:

- Phải mai táng theo nghi lễ nhà binh!

Tôi và Vũ còn đang ngơ ngác chưa hiểu ý định của Thời thì hắn đã gắt khẽ:

- Mỗi thằng nộp ba viên đạn AK thay cho ba loạt súng bắn vĩnh biệt.

Thời đặt cái bọc xuống đáy hố, xếp chín viên đạn thành một hàng ngay ngắn bên cạnh cái bọc và nhảy lên.

Sau khi lấp đầy cát vào hố, Thời bảo:

- Ngày mai, đứa nào còn sống phải nhớ đánh dấu ngôi mộ này. Nếu quên thì thằng Thời râu mang trọng tội lừa dối các linh hồn chết, hiểu chưa?

Chúng tôi hì hục moi cát đào một cái hố khác. Vừa buông xẻng thì pháo binh ta cũng khai hoả.

* 

Hàng nghìn quả đại bác và hàng chục phi đạn ĐKB gầm rít vang trời. Không gian như vỡ toác và rùng rùng chuyển động. Cùng lúc, các cỡ súng của địch cũng thi nhau khạc đạn. Cả một vùng trời đất bị nung nóng ngùn ngụt lửa khói. Không thể phân biệt nổi tiếng nổ của súng ta và súng địch. Chỉ còn một mớ âm thanh hỗn độn ù ù như xay lúa, chát chúa như muôn vàn cặp đe búa gõ đập loạn xạ bên mang tai.

Nép sát vào nhau dưới hai làn hoả lực khủng khiếp, chúng tôi tưởng như ngạt thở trong trạng thái cảm xúc đầy mâu thuẫn. Chợt thấy sung sướng là vì được chứng kiến đoạn kết ngoạn mục của một cuộc chiến tranh kéo dài ba thế hệ. Lại thoắt run bởi thấm thía nỗi sợ hãi xon người. Chao ôi, những ngày thiếu đói triền miên của cuộc đời sinh viên, những cơn nguy khốn cùng cực giữa vòng vây kẻ thù, những lời khen chê vô bổ, những soi mói đố kỵ tầm thường của người đời... Tất cả, phỏng có nghĩa lý gì khi chỉ lát nữa thôi, có thể sẽ bị vùi sâu dưới cát? Vào khoảnh khắc yếu đuối nhất của bản năng con người khi phải đối mặt với tử thần, tôi bất giác nhìn sang Thời. Hắn nghiến răng trèo trẹo, quai hàm bạnh ra, những sợi râu đen bóng dựng đứng lên như con nhím xù lông. Nhưng, không hiểu sao, tôi thấy hắn rất đẹp. Một vẻ đẹp ngạo nghễ gai góc, hình như hắn bất cần? Và vì thế, có lễ hắn không có những phút yếu đuối như tôi? Tôi bỗng nôn nao thèm khát có được phẩm chất liều lĩnh như hắn. Tôi bị thuyết phục trước vẻ đẹp ngang tành, dữ dằn của Thời. Tôi ôm lấy hắn. Khác với mọi lần, bộ râu của hắn không hề gây cảm giác khó chịu, mà hình như những sợi râu cắm vào da thịt tôi khiến tôi có thêm sức mạng, giúp tôi can đảm hơn! Đột nhiên, Thời quàng tay riết chặt cả tôi và Vũ. Tôi nghe rõ nhịp đập không bình thường của cả ba con tim. Thời nói. Lần đầu tiên, tôi được nghe hắn noi bằng một giọng run run, ngập ngừng:

- Nếu còn sống, chúng mày phải ra Hà Nội. Tao có hai đứa em gái...

Hoả lực của ta đột ngột chuyển làn, bắn sâu vào căn cứ địch. đó là hiệu lệnh mở cửa. Đại đội chủ công chúng tôi bắt đầu phần việc của mình.

Người thứ nhất ôm bộc phá lao lên. Một tiếng nổ rung chuyển trận địa. Cát bụi, mẩu dây thép gai, ống bơ... bay lên tung toé.

Dường như địch cũng nín thở, căng tai căng mắt chờ đợi cái biến cố sinh tử này?

Cửa mở chìm trong lưới đạn dày đặc của kẻ thù. Chớp lửa loang loáng chói mắt. Tiếng nổ rền rĩ vô tận. Cát bị quyện vào khói lửa vón cục thành từng cây nấm xám khổng lồ từ từ bay lên không trung, tản ra, che kín cả một góc trời vần vũ...

Con số thương vong tăng lên chóng mặt. Hầu hết các cán bộ trung đội, tiểu đội đã hy sinh. Đồng đội của chúng tôi lần lượt gục ngã ở các hàng rào vòng ngoài. Vẫn còn hai hàng rào dây thép gai nữa.

Chính trị viên trưởng Toán rướn cổ thét to, giọng khản đặc:

- Đồng chí Hào dẫn bộ đội lên mở cửa!

- Rõ ... o õ!

Lát sau đã thấy hai người trườn ngang qua mép hố của chúng tôi. Đó là Bê phó Hào và chiến sĩ Bình. Hào động viên Bình:

- Bình tĩnh nhé! Ôm chặt bộc phá, chuẩn bị lao lên áp sát mục tiêu.

Bình ngẩng mặt lên, lý nhí: “Rõ!”. Bỗng “hự” một tiếng, Bình ngoẹo đầu sang bên phải. Một viên đạn xuyên qua trán Bình. Máu và óc trắng phun ra xối xả. Hào giật khối bộc phá trong tay Bình, đứng bật dậy, vọt lên. Nhưng cả một băng tiểu liên cực nhanh AR15 của địch đã hất anh ngã ngửa. Đầu Hào thõng xuống vai Thời. Thời nâng gáy Hào, vuốt mắt cho anh. Thời xoay xác Hào nằm dọc theo mép hố, lẩm bẩm: “Thế là toi một cây tiếu lâm!”. Những sợi râu dựng đứng của Thời chợt giãn ra nom dễ sợ.

Chiến sĩ  Ngọ từ phía sau bò lên, tiếp tục công việc dang dở của Bình và Hào. Ngọ bị trúng đạn vào chân nhưng vẫn cố lết lên. Chúng tôi dán mắt vào Ngọ. Hai mươi thước. Mười thước. Năm thước... Một vồng lửa tròn lăn tới và trong nháy mắt đã nuốt chửng Ngọ. Súng phun lửa! Thời chửi toáng lên: “Đ. mẹ! Chúng nó xịt súng phun lửa!”... Nhưng, Ngọ vùng đứng đậy. Toàn thân Ngọ rừng rực như một bó đuốc. Bó đuốc khét lẹt ấy lừng lững tiến về phía hàng rào. Một tiếng nổ kinh thiên động địa. Thịt xương người chiến sĩ bị hút vào cây nấm xám khổng lồ, bay lên trời và tan biến trong khoảng không mờ mờ, vô định.

Thắng, cậu liên lạc đại đội chạy ào đến chỗ chúng tôi như một cơn lốc. Thắng nằm sấp, hổn hển:

- Các anh trong Ban chỉ huy đại đội bị thương và hy sinh ba người rồi. Chỉ còn chính trị viên phó Huấn. Cấp trên chi viện xe tăng. Anh Huấn bảo anh Nghĩa cử người ra rừng cao su dẫn xe tăng vào vị trí chiến đấu. Hết!

Truyền xong lệnh, Thắng chồm dậy và lao vụt đi. Tôi bật lên tiếng kêu thảng thốt. Những con rắn lửa loằng ngoằng đang quấn lấy người Thắng. Chúng nó đổ đạn vào một mục tiêu trần trụi trên mặt đất. Trời ơi! Thắng còn trẻ quá. Chưa đầy mười tám tuổi và mới suýt soát ba mươi sáu ký!

Thời thở dài:

- Tôi và ông phải đi bộ đội và đi bộ đội là phải. Còn nó? Ai bắt nó tống gạch đá vào túi quần. Ai bắt nó khai gian ngày sinh tháng đẻ?

Đến lượt tôi thở dài. Thời nhăn nhó:

- Ông đa cảm bỏ mẹ. Sao không ở nhà mà làm thơ? Thôi, xin chào!

Dứt lời, Thời đứng dậy sửa lại bao đạn chuẩn bị vọt lên khỏi hố. Tôi vội vàng:

- Không! Việc này của tao.

Thời nheo mắt nhìn tôi. Những sợi râu của hắn giật giật như thể có một bàn tay vô hình nào đó đang túm những chân râu kéo tụt vào trong da. Tôi hiểu, đó là dấu hiệu của sự điên khùng. Mặc! Tôi vụt đứng dạy. Vũ cũng lập tức đứng dậy. Tôi ấn vai hai chiến hữu:

- Ngồi xuống! Nó xơi gọn cả tổ bây giờ!


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 20 Tháng Tư, 2011, 02:54:02 pm
                              Tiếp theo :


Vừa kịp thụt xuống thì “oành”, một quả đạn cối 81 ly rơi sát mép hố. Oành! Oành! Oành... Mảnh cối rít lên lạnh gáy. Cát bụi trút ào ào xuống đầu khiến chúng tôi tối tăm mặt mũi. Thời khạc nhổ ầm ầm và văng ra một câu chửi rất tục.

Cối địch bắn lui dần về phía sau lưng chúng tôi. Hình như chúng muốn ngăn chặn quân ta ở trong rừng cao su?

Bỗng “xoẹt – rầm – oành! Oành oành oành...” Những tiếng nổ loạn xạ đã nuốt chửng tiếng gào thét của Thời. Chúng tôi đều ôm đầu, nhắm mắt. Chúng nã pháo 155ly. Những quả đạn réo lên như xé màng nhĩ và nổ từng chuỗi như bom chùm. Thời lắc đầu rũ đất cát, rác rưởi đầy tóc đầy râu, gào lên:

Nghe đây! Sau này chúng mày chịu khó lang thang khắp 36 phố phường Hà Nội tìm “bé” cho tao. Còn bây giờ, tao ra dẫn xe tăng. Đứa nào cãi, tao rút chốt lựu đạn US cho chết luôn cả ba ở đây!

Tôi gai người trước những lời lẽ quyết liệt của Thời. Đầu óc sách vở của tôi còn kịp hiểu rằng Thời là một hiệp sĩ mà chúng tôi phải chịu ơn suốt đời. Vũ rơm rớm nước mắt:

- Anh Thời ơi, anh cầm nốt chỗ bông băng cá nhân của em...

Rồi Vũ run rẩy móc túi ngực ra mấy viên tăng lực ấn vào miệng Thời, nói vội: “Anh ăn đi để lấy sức”...

Tôi ôm lấy Thời, âm thầm gạt nước mắt. Những sợi râu xuyên qua áo lính, mơn man trên da thịt tôi buồn buồn, nao nao. Mắt tôi nhoè nhoẹt, cay xót. Thời buông tôi. Đôi mắt hắn đỏ ngầu, nhưng không phải màu đỏ của cơn đói ngủ hôm nào. Hình như hắn cũng khóc? Theo cách của hắn. Những mao mạch trong mắt hắn vỡ ra thành nước mắt. Hắn cất giọng khàn khàn, là lạ:

- Vĩnh biệt!

Thời phốc lên và mất hút trong biển cát bụi mịt mù. Tôi căng mắt dõi theo bóng Thời. Không thấy gì cả. Chỉ có khói lửa cuồn cuộn. Một cảnh tượng tan hoang, hỗn độn. Có cái gì đang sụt lở ầm ầm trong tâm tưởng? Lòng đầy mặc cảm, tôi muốn được hét lên gọi tên Thời. Hắn thế đấy! Dám sống thật với con người thật của mình. Đùa bỡn với tất cả!

Tôi mệt mỏi ngồi thụt xuống hố và lại bồn chồn đứng bật dậy. Vũ nhìn tôi, đôi mắt đỏ hoe, thẫn thờ. Cái hố cát nơi chúng tôi đang đứng chợt như rộng ta, toang hoác, trống trải lạ lùng - Ước gì nó rộng nữa, rộng mãi và tan biến thành biển cả hay sa mạc.

Mặt đất bỗng rung lên cùng với những tiếng động lạ. Xe tăng! Tiếng ai đó reo lên. Tôi và Vũ cùng dán mắt vào cánh rừng cao su. Đúng là xe tăng rồi!

Bốn chiếc xe tăng T34 từ trong rừng cao su lừ lừ bò ra. Xe tăng ta vừa hành tiến vừa nã đạn yểm trợ cho bộ binh mở cửa. Chúng tôi nhìn rõ Thời ngồi chễm trệ trên chiếc xe tăng đi đầu.

Bàng hoàng vì sự xuất hiện đột ngột của bốn chiếc xe tăng, súng địch chợt im bặt khoảng mấy giây đồng hồ. Nhưng, ngay lập tức, quân địch điên cuồng giáng trả. Một cơn mưa đạn cấp tập ác liệt trùm lên bốn chiếc xe tăng. Mặt đất chao đảo. Không gian như bị nung nóng hàng ngàn độ trong cuộc đọ sức của sắt và lửa. Tưởng như tất cả sẽ hóa lỏng trong chớp mắt.

Bỗng, một quầng lửa màu da cam bùng lên, phủ kín chiếc xe tăng đi đầu. Một tiếng nổ long óc... Chiếc xe tăng bốc cháy đùng đùng. Con mãnh thú bị tử thương còn kịp gửi lời chào vĩnh biệt bằng mấy phát đạn cuối cùng. Không có chiến sĩ nào bật nắp tháo pháo nhảy ra! Bi tráng thay là cái chết của những người lính xe tăng. Họ tự đến, tự đi, tự bắn chào vĩnh biệt và tự mai táng cho mình! Mắt tôi hoa lên, chập chờn... Lửa vàng rừng rực... khói đen cuồn cuộn... Tiếng nổ âm u, văng vẳng... Mười ngón tay vô tri của tôi chới với bấu vào bờ cát đang sụt lở... Thời ơi!

* 

Tôi cũng không nhớ nổi, sau cái chết của Thời cùng năm chiến sĩ xe tăng, tôi và Vũ đã xông lên như thế nào và vì sao tôi còn may mắn sống sót?

Tôi còn sống? Sống ngơ ngác giữa bãi chiến trường ngổn ngang bao nhiêu đồng đội đời đời im lặng! Tại sao kẻ may lạ là tôi? Nếu tất cả những kẻ hay do dự và sĩ diện hão như tôi đều sống sót cả thì cuộc đời mới vô duyên làm sao? Ờ, tại sao kẻ thù lại bắn tồi đến thế? Tôi cũng xông lên, cũng phơi mình lù lù trên bãi trống kia mà! Sao tôi không dính một viên đạn? Ôi, Thời, mày thiêng lắm! Bom đạn tránh người mà! Nhưng mày đâu biết nó tránh những ai?

Chiến tranh đến trời long đất lở và ra đi lặng ngắt như thế này ư? Tôi lẳng lặng bước đi như một kẻ mộng du. Tôi lẩm bẩm gọi tên từng người đang yên nghỉ theo những tư thế rất khác nhau. Vũ đây! Chàng trai vùng biển chất phác vô tư, chỉ nghe nói đến chuyện người ta hôn nhau đã thẹn thùng ngượng nghịu. Tôi quỳ xuống vuốt mắt cho Vũ và cúi đầu vĩnh biệt. Nước mắt tôi ứa ra, ròng ròng. Bên má tôi còn ấm nóng hơi thở của Vũ đêm nào, gần đây lắm, chỉ vài chục tiếng đồng hồ thôi... Bây giờ... Tôi nấc lên nghẹn ngào và lảo đảo đứng dậy. Tôi vừa loạng chạng bước thấp bước cao vừa lảm nhảm gọi tên đồng đội. Bình này, Ngọ này, Hảo này, Lân này, Hùng này, Phong này, Khương này... Bỗng tôi khựng lại. Thắng! Chú liên lạc đại đội nằm ngửa, giang rộng hai tay hai chân, đôi mắt mở to nhìn bầu trời cao xanh vòi vọi. Tôi ngồi xụp xuống, vuốt mắt cho Thắng nhưng vô ích. Thi thể người lính trẻ đã lạnh ngắt, cứng đờ. Chẳng lẽ Thời luôn luôn đúng? Đôi mắt trong veo của Thắng chưa kịp hiểu gì hết! Cả cuộc đời và cả chiến tranh. Thế mà lồng ngực bên trái của Thắng đã hứng trọn một loạt đại liên bắn vỗ mặt?

Tôi cúi đầu im lặng. Không gian cũng im ắng lạ thường. Chỉ có giò ù ù bên tai. Bầu trời quang đãng bao la. Và con người sao mà bé bỏng? Và tôi ngậm ngùi hiểu ra rằng, khi buông vũ khí, tôi mới là kẻ đáng thương đến chừng nào?

Bất giác, tôi vồ lấy khẩu AK, lên đạn và chĩa thẳng nòng súng lên trời. Tôi nghiến răng bóp cò. Có tiếng ai đó quát to. Mặc! Tôi quẳng cái hộp đạn rỗng và lắp tiếp một băng khác. Lại lên đạn và xiết cò. Ai đó bóp mạnh vào vai tôi, quát:

- Điên hả? Không được bắn nữa!

Tôi mắm môi, miết cứng vòng cò. Một tiếng “đoàng” lẻ loi, khô khốc. Hết đạn. Đó là viên đạn cuối cùng trong đời lính của tôi. Tôi thẫn thờ buông thõng khẩu súng. Tôi bỗng thèm được nghe tiếng gầm của hàng ngàn khẩu trọng pháo. Thiếu vắng những âm thanh đó, tâm hồn tôi như hụt hẫng?

Chính trị viên phó Huấn đứng trước mặt tôi. Nom anh hốc hác, nhợt nhạt. Anh buồn rầu, nói:

- Không tìm thấy xác Thời, ông ạ!

Tôi giật nẩy người:

- Sao? Mất xác à?

Huấn gật đầu và lầm lũi bước đi. Tôi chạy như bay tới chỗ chiếc xe tăng bị bắn cháy đen thui. Không còn dấu vết gì của Thời, kể cả một vệt máu cháy đen.!

Chúng tôi dàn hàng ngang tìm kiếm. Mười phút. Hai mươi phút. Rồi ba mươi phút. Bất chợt, tôi dừng lại trước một đám kiến đen lổm ngổm, xúm xít. Tôi vội ngồi xuống, dán mắt vào cát. Không có gì cả. Đàn kiến đang kiếm ăn trên một vũng máu tím bầm đầy cỏ rác và bụi bặm. Tôi thất vọng đứng dậy đảo mắt nhìn đám kiến đen đang tầng tầng lớp lớp bu quanh một miếng mồi. Một miếng mồi tua tủa râu đen.

Tôi qùy đầu gối xuống cát, chống hai tay, chổng mông, phồng má lấy hơi thổi đám kiến đen đang lăn xả vào phần thi thể của Thời. Vô ích! Chúng cứ ỳ ra không chịu buông tha miếng mồi. Và hình như chúng còn cố tình trêu ngươi tôi? Chúng chúi đầu rúc sâu vào các chân râu, ngoáy chân, một cách ngạo mạn. Mắt tôi long lên nhức nhối. Những con kiến đen to dần, to dần đến khủng khiếp. Những sợi râu của chúng oằn oại như những cái vì bạch tuộc. Những chiếc răng của chúng nhọn hoắt như răng cá mập. Người tôi chợt đờ ra, lạnh toát. Một nỗi sợ hãi xen lẫn sự kinh tởm dâng lên khiến tôi nghẹt thở và buồn nôn. Kiến đen, những con vật nhỏ bé hiền lành vụt trở thành những tên đồ tể khổng lồ say máu một cách điên dại. Chúng đang gặm sồn sột khiến tôi đau đớn và bất lực. Nhưng, chính vào cái thời khắc yếu đuối một cách quái gỡ ấy, hàng ria vểnh lên ngạo nghễ của Thời đã hối thúc tôi hành động. Tôi dùng bàn tay phải cướp lại mảnh thi thể của Thời. Những con kiến đen túa ra trên mu bàn tay và các kẽ ngón tay của tôi. Chúng tràn cả lên trên phía cổ tay. Tôi điên tiết dùng bàn tay trái miết mạnh giết từng con cho đến khi không còn một mống kiến đen nào trên tay tôi nữa. Giá có một nắm rơm hoặc một can xăng, tôi sẽ phóng hỏa thiêu sạch lũ kiến nhung nhúc trên mặt đất. Tôi dùng hai đế dép đúc chà đi xát lại đám kiến đàn chạy trốn náo loạn. Tôi biết là không thể nào tận diệt được những sinh vật nhỏ bé này bởi vì chúng có mặt ở khắp các hang cùng ngõ hẻm. Và bởi vì tạo hóa sinh ra chúng cũng như đã sinh ra con người vậy. Mọi tính toán nhằm tận diệt lẫn nhau đều có kết cục đáng buồn. Tôi thốt rùng mình như bị lên con sốt rét ác tính...

... Trong cơn mơ chập chờn mộng mị, tôi nghe văng vẳng một lời ai đó rất mơ hồ: “Không khéo tay này bị bệnh thiếu máu não cũng nên!”.

H.D


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 20 Tháng Tư, 2011, 03:05:01 pm
                                     Đất
                                     Tác giả : Anh Đức

LỜI TÁC GIẢ: Truyện ngắn Đất được tôi viết vào khoảng tháng 3 năm 1964, trong chuyến về Cà Mau. Đó là một chuyến đi vô cùng ấn tượng, tôi được chứng kiến cảnh quân và dân đất mũi đánh bại chiến dịch dồn dân lập ấp chiến lược của Mỹ – Ngụy, giành lại tự do ngay trên mảnh đất cha ông khai khẩn. Truyện được viết trong bối cảnh đêm trừ tịch, gợi lên không khí linh thiêng của ngày Tết. Đối với tôi điều quan trọng của truyện ngắn là hình tượng, chi tiết. Trong Đất tôi đã dựng hình tượng người nông dân Nam Bộ với cá tính rất đặc sắc, tình yêu đất đai, làng mạc đến quên mình. Tôi cũng đưa vào không khí Tết Nguyên Đán ở Nam Bộ. Tưởng như mới đó, vậy mà truyện ngắn ra đời đã 44 năm rồi, chóng thiệt.
                                    _ _ _ _ _ _ _ _ _

Hồi gần tết Giáp Thìn, đâu tối hăm ba tết thì phải, anh Định phụ trách tờ báo tỉnh bảo tôi:

- Nè hay là cậu đi Xẻo Đước một chuyến đi. Ấp chiến lược Xẻo Đước đã bị dứt điểm rồi. Cậu viết một bài nói về cái Tết đầu tiên của bà con mới thoát vòng kiềm kẹp ở đó thì hay lắm. Nhân tiện cậu giải quyết luôn chuyện chiếc xuồng...

Tôi nói:

- Ờ, được để tôi đi!

Và hôm sau tôi sửa soạn lên đường, với niềm vui xen lẫn hồi hộp. Trở lại Xẻo Đước giải phóng, tôi sẽ gặp lại những bà con quen suốt mấy năm ròng lăn lộn trong đấu tranh. Thế là, với thói quen thường có, trong đầu tôi chưa đi đã phác ra những tình tiết: bà con nông dân trở về ôm chầm lấy những gốc cây bị giặc đốn mà khóc, những bờ luỹ ấp chiến lược bị san bằng, từng đống dây thép gai bị vo cuộn lại, và tôi còn mường tượng ra cả tiếng mái chèo vỗ nhịp trên sông vv… Theo tôi, trong một thiên phóng sự về sự tự do của đất thì không thể nào không đả động mọi thứ ấy.

Những mà, hỡi bạn đọc thân mến của tôi ơi, còn một điều tôi chưa nói rõ với các bạn. Đấy là chuyện về chiếc xuồng mà Định vừa căn dặn tôi giải quyết trong chuyến đi này. Nguyên do thế nào mà Định căn dặn tôi như vậy? Thưa các bạn, vì chiếc xuồng ấy mà bấy nay lòng tôi cứ thấp thỏm không yên. Cũng chẳng phải chỉ riêng tôi, cả anh phụ trách toà soạn nói trên, phải chính Định đấy, anh ta đã cùng tôi mượn một chiếc xuồng của bà con Xẻo Đước đi mấy năm nay mà chưa có dịp đem trả.

Xẻo Đước vào năm ấy tình hình thật hết sức khó khăn. Ban đầu chúng tôi còn ở ngoài xóm, về sau bọn giặc tổ chức “tự vệ hương thôn” lùng riết quá, chúng tôi không ở xóm được nữa. Vào ở trong cứ rừng với một cái “Rađio” cổ lỗ sĩ và một cái máy quay “Rônêô” lâu đời, chúng tôi vừa bắt vọp ăn vừa chép tin, in tin. Làm công việc đó được năm sáu tháng, tới cuối tháng chạp ta năm 59, chúng tôi nhận được lệnh của cấp ủy bảo phải cấp tốc di chuyển về một vùng khác để xây dựng công tác in ấn. Thư cấp ủy dặn chúng tôi tối hôm ấy ra bờ sông sẽ có xuồng đón. Hai chúng tôi vác máy lội từ trong cứ rừng ra bờ sông. Quần áo hai đứa đều ướt hết cả. Chúng tôi chui vào một lùm ráng ngồi đợi. Nhưng đợi mãi mà chẳng có xuồng nào đến đón. Một tiếng đồng hồ trôi qua… Rồi hai tiếng. Cũng chẳng thấy bóng xuồng. Tôi và Định sốt ruột quá. Ở đây không thể đi đường bộ được. Mà thư thì dặn phải đi gấp. Bấy giờ giữa đêm hai mươi tám Tết, chúng tôi cứ lom khom bò ngược bò xuôi trên bờ sông, ngóng đợi, Định nói:

- Tôi e anh em đi đón mình gặp chuyện không hay rồi!

Tôi lưỡng lự đáp:

- Có thể… Nhưng rán đợi một chút nữa coi!

Sương đêm cuối năm xuống mới lạnh lẽo làm sao. Bờ sông quạnh vắng. Đêm tối ngửa bàn tay không thấy. Trời lạnh nhưng chúng tôi không dám đốt thuốc hút. Muỗi cắn không dám đạp mạnh. Tôi và Định ngồi trong lùm ráng dõi mắt nhìn ra sông. Vẫn không thấy gì cả. Định khẽ nói:

- Hết hy vọng rồi Bảy à. Có lẽ phải vô xóm kiếm mượn một chiếc xuồng thôi!

Tôi tán thành ý kiến đó của Định và xung phong đi. Định dặn tôi:

- Phải cẩn thận nghe. Lúc này không phải là lúc chúng ta hy sinh hoặc để bị bắt đâu!

Tôi cầm trái lựu đạn, nhón bước ra khỏi lùm ráng. Cái nhà trước tiên tôi nghĩ tới chuyện mượn xuồng là nhà ông Tám, một gia đình quyết không rời bỏ Đảng và Cách mạng những ngày đen tối nhất. Ông Tám là một ông già chạc ngót bảy mươi, hãy còn gân guốc, và là người duy nhất ở Xẻo Đước còn để đầu tóc. Ông già này tới Xẻo Đước từ thuở heo rừng còn vô ỉa trong chòi, lúc cọp còn rình rập những người tới khẩn đất, và con chim đi theo cọp đêm đêm cứ kêu nghe “boong boong… krỏi… krỏi”. Nói không ngoa , ông Tám chính là một cuốn sử biên niên của xứ rừng U Minh Hạ này đó vậy. Ông là một tay bẫy heo rừng và chồn cáo thật kỳ tài. Trời ban cho ông một cái mũi tinh nhạy đến nỗi chỉ cần ngửi nước rạch buổi sáng ông cũng biết ngay là có heo rừng hay chồn đến đây uống nước hồi đêm. Đứng gần người ông, lắm lúc tôi cứ nghe như toát ra mùi vị của rừng nê địa, của cây đước, dòng kinh biển, ngọn lửa không bao giờ tắt dưới đất xốp mỡ màu.

... Khi tôi lần đến cái ụ xuống nhà ông thì thấy có xuồng đậu trong ụ. Dưới xuồng có cả chèo nữa. Tôi định lên nhà có tiếng chân hấp tấp đi ra. Tiếng ông Tám quát:

- Ai đó?

Tôi khẽ đáp:

- Tôi…

Ông Tám ôm chầm lấy tôi trong bóng tối. Ông cho tôi biết tụi tự vệ hương thôn mới đi tuần ngang. Tôi liền trình bày tình cảnh chúng tôi và hỏi mượn xuồng. Ông Tám nói ngay:

- Được, được, cứ việc lấy đi!

Tôi quay trở lại lấy xuồng. Rủi cho tôi, dây buộc xuồng là dây xích sắt. Lúc tay tôi với lấy, sợi xích bật kêu rủng rẻng. Kế đó là tiếng chân tình thịch đi tới. Ông Tám đằng hắng. Tôi biết ngay là có động. Chắc bọn tự vệ hương thôn đi tuần đã trở lại. Ghìm sợi dây xích trong tay, tôi nín thở, hồi hộp. Bọn tự vệ hương thôn đi qua, tôi nhè nhẹ tháo từng mắt xích một. Xong rồi, tôi kéo chiếc xuồng ra khỏi ụ, dong về phía bờ sông mà Định đang ngồi đợi.

Giữa đêm trừ tịch đó, tôi với Định vượt khỏi Xẻo Đước trên chiếc xuồng của ông Tám. Dọc đường, trong lúc tìm quai chèo, tôi phát hiện sau lái xuồng còn có bốn đòn bánh tét lớn và hai gói trà “Thiết La Hán” giấu kỹ dưới sạp. Tôi cầm đòn bánh lên, thấy vẫn còn ấm. Thật là lạ. Chẳng biết ông Tám để bánh và trà dưới xuồng làm gì. Chúng tôi đoán chắc ông Tám tính đem cho bà con.

Sau khi rời Xẻo Đước, chúng tôi không đem trả chiếc xuồng ngay được. Một phần vì công việc ngày đồng khỏi quá nhiều. Lẽ khác là sau đó ít lâu Xẻo Đước bị đóng thêm bốt, đồng bào bị giặc vây ép gắt gao hơn. Cho tới lúc Xẻo Đước trở thành ấp chiến lược, tôi chẳng biết sự thể đó ra sao nữa.

Mãi đến hôm nay, tôi mới về lại Xẻo Đước. Cơ quan xuất cho tôi một số tiền tương đương với chiếc xuồng để tôi hoàn trả lại ông Tám.

 

 

Tôi về Xẻo Đước vào hôm hai mươi tám Tết. Xóm làng ở ven sông có vẻ huyên náo hẳn lên. Dưới các bến, mấy thím mấy chị đang kỳ cọ tách đĩa, cười cười nói nói. Trên bờ các em túm tụm múa hát. Một cái lò bún đang ồn ào. Trong buổi trạng vạng, tôi nhìn thấy những cọng bún trắng nõn thòng xuống miệng ảng. Trên các mái nhà, khói ấm bốc lên. Quả nhiên, tôi nhìn thấy cả dây thép gai. Nhưng dây thép gai không vo cuộn lại, mà dàn ra, vây kín lấy xóm ấp. Cả những bờ luỹ cũng còn sờ sờ trước mặt. Một tấm biển cắm sát bên sông. Tôi chèo sát, và nhìn thấy dòng chữ “Quyết tử giữ làng”. Tôi tự nhủ: “Vậy là ấp chiến lược đã xoay ngược chiều lại rồi!”.

Cho dù trời tối, tôi vẫn không quên cái bến nhà ông Tám, chỗ tôi đã rón rén kéo chiếc xuồng dạo nọ. Bây giờ trên bờ án ngữ một bức thành đất dày, cao có tới bốn lỗ châu mai sâu hun hút. Bên ngoài ụ xuồng, dây thép gai ràng rịt sát mặt nước, chỉ còn để hở một lối nhỏ vừa đủ chen lọt mũi xuồng.

Tôi lách xuồng vào ụ, buộc dây. Sợi xích sắt nay cũng rủng rẻng khua lên trong tay tôi. Nhưng tôi không hồi hộp nín thở như trước nữa. Giờ đây, giá tôi có vung sợi dây xích xuồng lên, cho nó tha hồ kêu thì việc gì ấy chỉ có nghĩa là báo cho ông Tám biết là có khách tới mà thôi. Chính bây giờ cái ý niệm về hai chữ tự do trong tôi mới thật rõ, thật cụ thể. Tự do như có thể sờ nắn được trong tiếng động thoải mái của sợi dây xích. Tự do ở bước chân tôi đặt lên con đường đất. Và tự do được đánh dấu chỗ cồng nhà ngày trước bọn giặc vẫn thường rậm rịch kéo qua.

Người tôi gặp đầu tiên trong nhà không phải là ông Tám mà là anh Hai Cần, con của ông, và một số anh em du kích. Họ đang ngồi quây quần trên bộ ván giữa, ăn uống, súng ống để bên cạnh.

Tôi bước vào. Mọi người ngẩng lên. Nhưng họ chưa nhận ra được tôi. Mãi một lúc sau, anh Hai Cần vụt kêu “a” lên một tiếng rồi nhảy từ trên bộ ván xuống, vồ chụp lấy hai vai tôi. Anh ngó tôi với đôi mắt như bị loá đèn và la:

- Trời ơi, chú Bảy…

- Phải, tôi đây anh Hai!

- Trời đất, chú đi đâu mà đi biệt Xẻo Đước mấy năm nay vậy chú Bảy?

- Đi công tác chớ đi đâu… Sao, cả nhà mạnh giỏi bình yên hết hả? Bác Tám đâu rồi?

- Ba tôi?

Anh Hai Cần chỉ nói thế, rồi đứng sững. Đoạn anh nói tiếp giọng buông thõng:

- Ba tôi chết rồi!

Ông Tám chết. Tôi chưng hửng đứng lặng. Anh Hai Cần không nói thêm tiếng nào nữa. Anh nắm tay tôi kéo lại bộ ván, ra ý bảo tôi ngồi xuống. Một anh ngồi phía trong nói:

- Thôi, chuyện cũ để rồi nói sau… Bây giờ chú Bảy ngồi đây nhậu chơi với tụi tôi vài ly đã…

Tôi ngồi ghé xuống. Giờ tôi mới nhận ra từng người. Người vừa nói là chú Tư Đương. Chú này hồi đó cũng ở trong đội tự vệ của địch, có lần bị xua đi lùng “cứ”, chính chú đã bước giẫm lên người tôi, kéo ráng phủ kín cho tôi và nói: “Nằm cho kỹ một chút nghe!”. Tất cả mấy anh em ngồi nhậu tôi đều biết cả. Hầu hết anh nào trước kia cũng bị bắt ép vào đội tự vệ hương thôn, anh nào cũng từng vác gậy rượt chúng tôi, nhưng cũng chính họ là những người bảo vệ chúng tôi tích cực nhất. Họ là những người trải qua cái thời kỳ xóm làng bị chìm trong tăm tối, bị vậy bọc bởi dây thép gai, và bây giờ thì họ là những người du kích đứng sau luỹ chiến đấu. Khi họ nâng ly rượu trao cho tôi, tôi nhận ra rượu Xẻo Đước vẫn trong vắt như xưa. Nhìn những tăm rượu trào lên trong ly, tôi thẫn thờ nghĩ đến ông Tám. Ông Tám chết trong trường hợp nào tôi chưa được rõ. Anh Hai Cần vẫn chưa nói cho tôi biết. Một anh nào đó lại cất tiếng giục tôi:

- Làm đi, chú Bảy!

Tôi uống ly rượu làm nhiều lần, uống từng hớp một. Cái chai lít sau đó lại ghé vào miệng ly tôi, rót nữa. Tôi giơ tay ngăn lại:

- Nói thiệt với mấy anh, tôi còn phải đi…

- Đi đâu, Tết nhứt mà còn lặn lội đi đâu?

Anh Hai Cần nài nỉ thành thực:

- Ở lại chơi chú Bảy. Ở ngủ với tôi một đêm, rồi tôi nói chuyện cho nghe…

Tiệc rượu nhỏ cuối năm không kéo dài bao lâu. Anh em du kích lần lượt vác súng đi hết, người đi bám lộ, kẻ đi gác. Chị Hai Cần dọn cơm cho tôi ăn và nói với chồng:

- Ở nhà chơi với chú Bảy, tôi đi họp phụ nữ tính chuyện ngày mai đem bánh trái ủy lạo anh em bộ đội coi…

Chị Hai Cần đi rồi, chỉ còn lại có tôi với anh Hai. Tôi hỏi chuyện về cái chết của bác Tám. Anh Hai Cần lặng thing. Lát sau anh chậm rãi bảo tôi:

- Chú Bảy à, tối đó ba tôi tính đem bánh, trà vô “cứ” cho mấy chú. Ba tôi ổng lo lắm, sợ Tết nhứt mấy chú ở trong “cứ” buồn. Chiều đó vợ tôi luộc bánh chín rồi, ba tôi liền lấy bốn đòn đem ém dưới sạp xuồng… ổng sợ tụi nó thấy. Tính khuya là chống xuồng vô mấy chú. Ai ngờ khuya tụi nó cứ đi rỏn hoài.

Tôi nói:

- Hèn chi tôi rờ mấy đòn bánh tét thấy còn nóng. Anh Hai ơi, vậy là tụi tôi có lỗi với bác Tám lắm. Bữa nay chẳng giấu gì anh, tôi đem hoàn lại gia đình một số tiền. Chiếc xuồng dạo nọ…

Anh Hai Cần im lặng, không nói gì hết. Hồi sau, anh ngước lên, mắt đỏ hoe. Anh không nhắc nhở tới chuyện chiếc xuồng nữa:

- Ba tôi mất hồi năm ngoái, chú Bảy à. Lúc đó tụi nó ráo riết dồn bà con vô ấp. Không ai chịu đi. Chú biết nhà tôi thì lại ở ngay đầu xóm nên mỗi lần tụi nó kéo vô là ghé trước. Năm lần bảy lượt o ép, ông già tôi đều kiếm cách lướt qua hết. Ba tôi nói: “Nhà mình ở đầu xóm mà không núng thế thì không làm gương được cho lối xóm!”. Thật, nhà tôi không động đậy, cả xóm cũng không nhúc nhích. Lính tráng gặp ba tôi thảy đều ngán. Ban đầu ba tôi nói: “Nhà tôi cũng như nhà mấy chú, đừng có nghe lời người ta đến đây đòi dọn đòi dời, tôi không đi đâu!”. Lượt sau chúng lại vô, hùng hổ dỡ nhà, ba tôi đem cây mác mài bén ngót ra phóng cắm giữa nhà, nói:

- Tôi nói thiệt chớ không phải giỡn đâu. Chú nào leo lên rút một cọng lá tôi chém cho coi! – Ba tôi nói tỉnh khô vẫn gọi tụi lính bằng “chú”. Không thằng nào dám leo lên dỡ nhà hết. Tụi nó nhắm không êm, bỏ nhà tôi kéo sang nhà thím Sáu Ơn, tưởng đâu đàn bà goá thì dễ ăn hiếp. Nào ngờ thím Sáu Ơn cũng không chịu đi. Tụi nó bật lửa đòi đốt nhà. Thím Sáu bồng bế kêu hết mấy đứa con ra ngồi giữa nhà nói:

- Đốt cho mẹ con tôi chết luôn thể!



Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 20 Tháng Tư, 2011, 03:07:50 pm
                                 Tiếp :
Thằng lính sắp đốt nhà nghe thím nói thì buông mồi lửa, ngẩn ngơ. Vậy là lần đó, tụi nó cũng bó tay kéo về. Thằng quận trưởng Sông Đốc tức lắm. Nó cách chức thằng đồn trưởng Xẻo Đước, đổi thẳng khác tới. Thằng đồn trưởng mới này tên là thằng Đởm, chánh cống ác ôn. Mới về nó tuyên bố:

- Tôi không lùa được dân Xẻo Đước thì tôi chết sao?

Rồi mới tới ngày hôm trước, hôm sau nó đã dắt lính vô. Hay tin, ba tôi vẫn ngồi điềm tĩnh tại bộ ván gỗ này. Cử chỉ ba tôi lúc đó khác lắm chú Bảy à. Phần tôi, tôi biết lần này gay go, vì thằng Đởm là thằng gian ác có tiếng. Cho nên, tôi luôn ở sát bên ba tôi, mắt không rời cây búa bửa củi giấu sau cánh cửa. Tất nhiên nhà tôi là cái nhà đầu tiên tụi nó ghé. Chưa vô tới sân, thằng đồn trưởng Đởm đã nổ súng. Sau phát súng, nó kề miệng thổi phù phù vô nòng cây “côn 12” rồi thét:

- Ai là chủ nhà đây?

- Tôi!

Ba tôi đáp gọn.

Tên đồn trưởng xộc vô. Nó ngó quanh quất, ngó tôi và ba tôi, đoạn vẫy súng nói:

- Ê, ông là chủ nhà hả? Ông biết tôi tới đây có chuyện gì không?

Ba tôi từ trên ván bước xuống đất:

- Được, chuyện chi cũng được. Nhưng mấy người đình đãi cho tôi một chút…

Tên đồn trưởng nghe nói, tưởng đâu ba tôi ngán nó rồi, nên nó đắc chí ngó mấy tên lính, nháy mắt. Đoạn nó ngồi lên ván, tréo ngoảy chân, đốt thuốc thơm hút:

- Được, ông già lo cụ bị đồ đạc đi. Có nghe chớ?

Ba tôi đáp:

- Có, tôi có nghe!

Nhưng ba tôi không đi cụ bị đồ đạc, cũng không đi lấy ghe. Ba tôi mở tủ thờ lấy cái áo dài bằng xuyến đen ra. Đây là cái áo ba tôi chỉ bận khi giỗ kỵ. Bấy giờ ba tôi thong thả bận vô. Ba tôi bận áo rất kỹ lưỡng, vuốt từng nếp nhăn trên áo. Xong rồi ba tôi đưa tay xổ đầu tóc, xoã  ra. Tụi nó không biết ba tôi làm cái gì. Mà ba tôi cũng chẳng ngó ngàng để ý gì tới tụi nó. Hình như bấy giờ ba tôi chỉ biết có việc ba tôi làm. Sau khi bận áo và xoã tóc, ba tôi rút mấy nén nhang, bảo tôi:

- Hai, con đốt đèn lên!

Tôi rùng mình quẹt lửa đốt đèn. Cái ống quẹt cứ run lên trong tay tôi. Ba tôi đốt nhang quỳ xuống trước bàn thờ, lầm rầm khấn:

- Thưa ông bà, cha mẹ, thưa các hương hồn liệt sĩ, nhà cửa đất đai đây là của ông bà, cha mẹ và cách mạng đã tạo lập cho con. Bữa nay người ta tới ép buộc con phải bỏ đi. Con không thể phụ bạc công ơn cha mẹ, công ơn cách mạng. Vậy con xin chết để cho cha mẹ và các liệt sĩ ngó thấy. Khấu đầu xin cha mẹ và các vị chứng giám cho...

- Ông già câm miệng!

Thằng đồn trưởng la lên. Nó không chịu nổi những giây phút rùng rợn đó nữa. Cũng vừa lúc ba tôi khấn vái xong. Bước tới góc nhà chụp cây mác, ba tôi quay phắt tới trước mặt tên đồn trưởng:

- Việc của tôi đã xong, bây giờ mấy người muốn gì?

Thẳng đồng trưởng xanh mặt. Nó không nói rằng nó muốn gì cả. Nó đưa khẩu súng “côn 12” lên, chĩa vô ngực ba tôi. Tức khắc ba tôi cũng chĩa mũi mác nhọn hoắt về phía nó. Và tôi, không chần chờ, lập tức vớ ngay cây búa bửa củi giấu sau cánh cửa. Bọn lính lên đạn rốp rốp. Ba tôi nhích mũi mác tới. Thằng đồn trưởng lùi lại. Tay súng nó run lẩy bẩy. Thình lình tôi thấy nòng súng trong tay nó gặc mạnh một cái. Phát súng nổ “đùng”. Ba tôi đưa tay lên mặt. Một dòng máu chảy xuống mặt ba tôi. Nhưng ba tôi vẫn đi tới. Thẳng đồng trưởng cứ lùi. Bỗng nhiên, nó buông rơi khẩu súng, hoảng hốt rú lên, quay người bỏ chạy. Nhưng tôi đâu để nó chạy. Cây búa trong tay tôi đã bay theo. Lưỡi búa cắm ngập vô gáy thằng đồn trưởng. Nó kêu trời ơi rồi té sấp, hai tay vã xuống nền nhà…

… Kể tới đây, anh Hai Cần dừng lại. Anh chụp chai rượu rót vô ly. Anh rót rượu tràn cả ra ngoài. Nhắc ly rượu uống cạn, anh dằn cái ly không đánh cốp xuống ván, ngó chằm chằm ra đêm tối. Bóng anh in trên vách, bất động. Tôi khẽ hỏi:

- Còn tụi lính, nó không bắn à?

- Không, họ không bắn tôi. Khi đó tôi cũng không chém họ. Tôi vứt búa, bước tới đỡ lấy ba tôi. Ba tôi đã tắt thở. Chợt một người lính cầm ngọn mác của ba tôi đưa cho tôi và bảo:

- Chạy trốn đi, để đây tụi tôi tính.

Tôi sửng sốt nhìn anh ta. Nhưng hai anh lính khác cũng giục tôi:

- Chạy mau đi!

Nói rồi họ khiêng ba tôi đặt dựa vô vách. Một anh đi lượm cây búa tôi chém thằng đồn trưởng ban nãy, đem lại đặt kế bên ba tôi. Tôi hiểu, liền cầm cây mác vọt ra vườn. Lúc chạy một đỗi, tôi nghe họ la:

- Tụi bây ơi, thằng già nó chém chết ông trung úy rồi!

Anh Hai Cần đưa tay lên quào quào ngực:

- Sau đó cả tháng tôi mới bị bắt. Nhưng không có đứa nào nghi tôi chém chết thằng đồng trưởng, trừ mấy người lính kia. Lúc tôi được thả, về đến nhà thì tất cả xóm ấp đều bị nó dùng dây thép gai bủa chặt lại rồi. Sau cái chết của ba tôi, cũng không có ai chịu dời đi. Lùa bà con không được, tụi nó mới đem dây thép gai tới rào thành ấp chiến lược luôn. Gần một năm, bà con bứt nài tháo ống cả chục lần. Có lần tụi nó đưa cả đại đội về kềm giữ. Rốt cuộc …

Anh Hai Cần dừng lại, hỏi tôi:

- Chú có biết tụi tôi phá ấp ra sao không?

- Chỉ nghe nói sơ sơ chớ không rõ lắm!

Anh Hai Cần cười hà hà:

- Nè, phá khác hơn mọi chỗ hết thảy, nghe, phá ban ngày!

- Phá ban ngày? – Tôi hỏi lại.

Anh Hai Cần gật đầu:

- Ừ, vậy mới “đã chớ”. Tụi tôi tính nếu làm ban đêm thì khó ém anh em lực lượng.

- Anh em lực lượng nào?

- Anh em bộ đội vô tiếp chớ lực lượng nào. Chú nên biết, sự phá ấp ở đây không phải phá “ên” mà được, phải đi đôi với sự đánh bót. Tụi tôi móc nối với anh em địa phương quận huyện. Gay nhứt là làm sao đưa anh em lọt vô ấp

- Ém quân ngay trong ấp?

- Chớ sao. Coi vậy mà cũng không khó lắm đâu. Nhà nào tụi tôi thương lượng thu xếp để ém quân cũng đều đồng ý. Bà con nói: “Xin miễn là phải đánh cho dứt mới được”. Tôi nói: “Đã đánh là phải đánh cho dứt, bà con đừng lo!”. Họ nói: “Nếu làm thiệt thì tụi tôi xin chứa ngay anh em ở trong mùng, để anh em bắn chết mẹ tụi nó, rồi mình tháp tùng phá ấp luôn!”. Đêm đó, tụi tôi đưa anh em vô ém. Sáng ngày, bọn lính thả ra khỏi bót đi nghễu nghện bị anh em tốc mùng nổ súng. Tụi nó bị bắn gục trong các ngõ, có thằng vừa kêu “trời” vừa chạy về bót mà chạy không kịp. Tụi tôi réo mấy thằng trong bót ra hàng. Bà con áp phá bót tanh banh, nhưng không phá ấp. Ấp chiến lược về mình thì mình xài, không thèm phá …

Anh Hai Cần thôi nói.

Anh thôi nói đã lâu. Ấy thế mà trong đêm tối, tôi vẫn còn nghe. Tôi nghe đây là nghe tiếng súng nổ giữa ban ngày, tiếng rú của lũ giặc, và tiếng của ông Tám, tiếng nói của ông già nông dân ngót bảy mươi tuổi ấy cất lên vang rợn:

- Thưa ông bà, cha mẹ, thưa các hương hồn liệt sĩ, nhà cửa đất đai đây là của ông bà, cha mẹ và cách mạng tạo lập cho con …

Cứ thế, tôi nghe tiếng nói ấy. Và thưa bạn đọc, tôi xin nói ra cái điều kỳ lạ là cũng ngay bấy giờ tôi cảm thấy như đất nền nhà dưới chân tôi nóng hâm hấp, cơ hồ như đất đang động cựa, tái hiện lại những vũng máu tươi. Thế rồi, khi tôi quay lại, tôi không thấy anh Hai Cần ngồi cạnh tôi nữa. Anh đang qùy trước bà thờ. Cái bàn thờ mà cha anh đã qùy dạo đó. Mùi nhang lại toả lên.

Giữa lúc năm cũ đi qua. Và một năm mới đến.

3-1964
A Đ


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 22 Tháng Tư, 2011, 10:18:51 am
                         Chuyện cũ kể lại
                         Tác Giả : Phan viết Dũng    

“Đó là mối tình đầu của mình”, ông trầm giọng, “và cho đến bây giờ, đã mấy chục năm qua rồi, mình vẫn không thể nào quên được”…

Ông ngồi đấy, mái tóc điểm bạc, giọng cứ rủ rỉ. Ông kể:

Như phần đông trong đơn vị, mình nhập ngũ vào những ngày đầu tiên khi chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ đánh phá miền Bắc. Vừa tốt nghiệp cấp ba, bọn con trai hăng hái viết đơn tình nguyện ra mặt trận. Có đơn được viết bằng máu. Tuổi học trò thời ấy thật vô tư trong sáng.

Trong ba lô, mình vẫn mang theo tập lưu bút của lớp 10c. Nguyệch ngoạc là chữ bọn con trai, nắn nót tròn trĩnh là chữ bọn con gái. Có những dòng lưu bút viết bằng mực tím, bên cạnh là một cánh phượng lấy từ sân trường, được ép khô và tấm hình của người bạn gái. Những ngày ở đơn vị huấn luyện là những ngày  vất vả. Nhưng tất cả rồi cũng đi qua. “Một hòn gạch là một thằng giặc”, mấy cái ba lô đan bằng tre ngày một to ra bởi số lượng gạch trong bao ngày càng nhiều hơn và sức chịu đựng của mình ngày càng tăng theo những cuộc hành quân dã ngoại. Đầu tiên là những ngày leo trèo trên những dãy núi đá vôi Vĩnh Lộc. Hai đôi giày cao cổ rách mướp đá vì tai mèo. Tiếp đến là những ngày chạy bở hơi tai, khói ra lỗ mũi dưới cái nắng tháng tám hun hút gió Lào trên đồi trập trùng ở vùng Minh Sơn - Đô Lương. Sau sáu tháng huấn luyện, đôi phù hiệu binh nhì được gắn thêm một ngôi sao để trở thành binh nhất. Ấy cũng là lúc cất sao, gửi tư trang lại hậu cứ, nhận quân phục mới vào chiến trường.

 

Ông dừng lại, như suy ngẫm về những người lính thời ấy. Thỉnh thoảng, một cơn gió ào qua trên tán cây rừng. Có tiếng vượn hú, xa lắm những nghe rõ cũng tiếng chim, tiếng gió như hoà tấu theo câu chuyện kể:

Trên đường vào Nam, đơn vị dừng chân ở một làng nhỏ ven sông. Con sông chảy qua trước làng nước ngọt và xanh đến nao lòng. Phía sau là những dãy núi điệp trùng, nhấp nhô, xanh đậm trong ráng chiều. Tên rất đẹp: Lệ Sơn. Cái tên đó có thể có nghĩa là “núi đẹp”, hay có nghĩa là “giọt nước mắt của núi”. Sau những ngày bom đạn đầu năm 1965, đây là khoảnh khắc bình yên ở làng quê hẻo lánh này. Đêm qua, khi đơn vị vừa đến làng bọn mình được phân công về nghỉ tại nhà dân. Các chị, các mẹ, các em vui vẻ đưa anh em về từng nhà một. Mình cùng thằng Luy, thằng Bao trong tổ ba người đi theo một cô gái. Không nhìn rõ mặt, chỉ thấy trên tấm lưng thon thả là mái tóc đen dày, mượt óng ả, thỉnh thoảng lại lấp lánh dưới ánh trăng. Ông bà chủ nhà đang thức đợi bọn mình. Trên tấm phản đặt giữa sân là một rổ khoai mới luộc còn bốc hơi và một ấm nước chè xanh hãm với gừng. Ông chủ nhà bảo: “Đưa các anh ra bến tắm rửa, Hiếu”. Hiếu đưa bọn mình xuống bến sông trước nhà. Nước sông mát lạnh, lấm tấm sao trời. Rửa chân tay xong, mình thấy tỉnh táo lạ thường, một ngày hành quân vác nặng biến mất. Chén hết rổ khoai luộc, ba thằng đánh một giấc tới sáng.

 

Một buổi sáng thật bình yên. Tia nắng đầu tiên chiếu qua những tàu cọ, mang theo màu xanh của lá và tiếng chim cu gay sớm với mình vừa xa lạ, vừa thân quen đến thế. Ông bà chủ nhà và Hiếu ra đồng, Tuấn, em trai Hiếu chuẩn bị đến trường.Ăn sáng xong có lệnh triệu tập cán bộ tiểu đội lên đại đội họp. Lúc này mình đã là tiểu đội trưởng

Nội dung cuộc họp thật ngắn gọn. Bình thường, như những trạm dừng chân khác, đơn vị chỉ nghỉ lại một ngày, chiều lại tiếp tục hành quân. Nhưng ở đây đơn vị sẽ nghỉ lại một thời gian, chờ lệnh mới. Hai ngày đầu tiên được nghỉ ngơi, ngày thứ ba bắt đầu có việc. Đại đội giúp dân đào giao thông hào, làm hầm chữ A, lại có thêm mấy ngày thu hoạch mùa nữa. Công việc khá bận nhưng mà vui. Mình còn vui hơn vì được tất bật bên người con gái mà ngay từ cái nhìn ban đầu đã có nhiều cảm mến. Em không đẹp rạng rỡ, không mạnh mẽ đến táo tợn như những cô gái mà mình gặp ở những vùng quê khác. Hiếu hiền thục, chăm chỉ, duy chỉ có một điều… em ít nói, không một thằng nào trong tiểu đội, kể cả những thằng đẹp trai chai mặt tiếp cận được. Ngoài công việc chung của đơn vị, riêng mình có một công việc khá lý thú là giúp cậu Tuấn ôn thi tốt nghiệp cấp hai. Lúc đầu chỉ một mình Tuấn, sau đó thêm hai đứa bạn cùng lớp. Mình giúp Tuấn những lúc rỗi. Thường là những buổi chiều cơm nước xong, có khi là buổi đêm bên ngọn đèn phòng không đã được che bớt ánh sáng. Những lúc đó mình thấy Hiếu ngoài sân, luôn tay luôn chân. Lúc thì hái rau, lúc thì xay, giã, giần, sàng. Thỉnh thoảng Hiếu lại liếc nhìn vào trong nhà. Bất chợt mình bắt gặp đôi mắt em mở to, trong sáng lạ thường. Cánh áo nâu lúc nào cũng ướt đẫm mồ hôi bó chặt lấy tấm thân chắc lẳn của người con gái đang thì. Những lúc đó, lòng mình xao xuyến lạ. Mấy cái hằng đẳng thức đáng nhớ của lớp bảy dễ thế mà cứ quên ngược, quên xuôi. Phải mở sách ra xem lại mới giảng giải được cho mấy cậu học trò nhỏ. Kể ra, từ ngày đến đây Hiếu đối xử với mình chẳng có gì đặc biệt, cũng giống như thằng Luy, thằng Bao ở cùng nhà. Ông bà, Hiếu và cả cậu Tuấn nữa coi bọn mình như những đứa con trong nhà. Mấy ngày đầu, lấy cơm từ bếp đại đội về bọn mình ăn riêng. Cơm lính, tháng hai mươi bốn cân có phần dư dả. Thức ăn thì lúc nào cũng thịt hộp, bột trứng, ngán đến tận cổ. Biết ý, hôm thì Hiếu cho bọn mình cơm hến nấu với rau mùng tơi. Hôm thì bát canh rau tập tàng nấu với cua đồng, ba đứa tranh nhau không thừa cặn. Canh rau với cà ghém, với quả trám chần qua nước sôi, có ít rau thơm lùa với cơm, bát mắm. Một lần mình đề xuất, buổi sáng cả nhà bận công việc đồng áng không theo giờ giấc của bộ đội được, còn buổi chiều anh em xin được ăn chung với gia đình. Ông bà, đặc biệt là Hiếu không chịu nhưng bọn mình bê cơm về cứ đợi gia đình cùng ăn luôn thể. Vui nhất là Tuấn, lúc đầu cậu còn sợ chị Hiếu, sau được bọn mình động viên, có vẻ hợp với mấy món cơm hộp của các anh. Nhìn rá khoai cõng cơm của gia đình mình thấy thương quá. Lúc đầu hơi ngại, nhưng sau đó cứ mỗi lần nhận được cơm về mình lại vội vàng trộn lẫn cơm bộ đội vào rá cơm gia đình với lý do là thực hiện khẩu lệnh “cùng ăn, cùng ở, cùng làm” Hiếu mới chịu. Em nguýt mình một cái rõ dài. Mà cơm độn khoai cũng có hương vị của nó. Vừa ngọt, vừa bùi, chén mãi không biết no. Ăn quen đâm nghiện, mình cứ nhặt những lát khoai nhấm nháp với cà ghém cũng phải được mấy lần xới. Mê nhất là món khoai xéo mỗi sáng. Lát khoai thái mỏng, phơi được nắng, trắng thơm, nấu với ít đỗ đen, ăn với vừng không biết no. Biết ý, sáng nào Hiếu cũng dành phần cho mình một bát cái hương vị làng quê ấy.

 

Giặc Mỹ bắt đầu đánh mạnh miền Bắc, chiến trường miền Nam quân ta đang đánh lớn. Lính ta bắt đầu sốt ruột. Kể ra chờ đợi lâu cũng chán, nhưng đợi đơn vị phải thay đổi nhiệm vụ. Mỗi ngày, bọn mình phải lên lớp  một buổi về phong tục, tập quán và học cả tiếng nước bạn Lào. Lính tráng bắt đầu tập tọng đánh vần những con chữ loằng ngoằng, lạ lẫm. Lính ta nhanh lắm, nhác thấy các em trong làng đã xổ ra hàng tràng. Nào là noong ngăm lai (em đẹp lắm, nào là noong hắc ái bò (em yêu anh không). Chị em trong làng chỉ biết cúi mặt, đấm vào lưng nhau thùm thụp rồi té chạy xuống bến nước, thùng xô va nhau loảng xoảng. Biết ngày sắp lên đường, nhưng chưa một dịp nào được nói chuyện với Hiếu lâu một chút. May quá, sáng đó đơn vị được nghỉ, Hiếu rủ:

- Các anh đi bẻ bắp với em đi.

Thằng Luy, nháy mắt về phía thằng Bao:

- Anh với anh Bao phải viết cho xong báo tường. Em đi với tiểu đội trưởng đi.

Lý do chính đáng gớm, nhưng mình cũng thầm cám ơn hắn cho mình có dịp được gần Hiếu. Băng qua đường tàu sau làng là một con đường mòn dẫn vào một thung lũng giữa những dãy núi đá vôi điệp trùng. Vừa đi em vừa kể:

- Lệ Sơn có tới 99 ngọn núi. Ông bà kể rằng, xưa có 100 con phượng bay đi vào đất kế đô. Tiếc là chỉ thiếu một ngọn núi, một con không có chỗ đậu, cả đàn phải bay đi. Nếu không làng này là đất đế đô đó anh.

- Sao gọi là Lệ Sơn?

- Em nỏ biết. Nghe nói xưa làng trồng vải để tiến vua, trong núi còn nhiều gốc vải to lắm.

- Đúng rồi, lệ chi là cây vải. Người ta gọi quả vải là giọt nước mắt của cây. Chắc vậy mới có tên là Lệ Sơn.

- Thiệt hả anh? - Em lắng lại, nhìn xa xăm lên những chóp núi. Mặt trời lên rực rỡ nhưng nét mặt em thoáng buồn. Tự nhiên mình cũng thấy nao lòng, buột miệng hỏi:

- Sao em không học tiếp?

- Học răng được anh. Hết lớp bảy là gắng lắm rồi. Cả nhà chỉ mong cho cu Tuấn học đến nơi đến chốn. Còn em… con gái mà.

Đến rẫy, em thoăn thoắt bẻ những bắp ngô chắc hạt. Chỉ một loáng đã đủ gùi của em và của tôi. Trên đường về, em vui trở lại:

- Anh còn trở lại, khi nào em đưa anh đi thăm động Chân Linh, thiêng lắm. Tục truyền trong động có cái tráp bằng vàng của tiên nữ bị chìm xuống đáy nước. Một vị đạo sĩ muốn cướp lấy, vì vậy đã xảy ra một cuộc quyết chiến. Dấu tích còn lại là những vết chém dưới Lèn đứt chân và trên núi vẫn còn hình của nàng tiên và vị đạo sĩ hóa đá. Trong động có đủ hoa thơm cỏ lạ đẹp lắm. Nhưng người ta bảo vô nó phải là người có thiện tâm. Bởi vậy có mấy câu thơ truyền khẩu: “Động môn vô tỏa thược/ Tục khách bất tằng lai”. Cha em giảng, có nghĩa là: “Cửa động không then khóa. Tục khách chẳng dễ qua”, đúng không anh?

- Đúng vậy - Mình trả lời em.

 


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 22 Tháng Tư, 2011, 10:21:08 am
                             Tiếp theo :
Về đến nhà, câu chuyện của Hiếu cứ ám ảnh. Mình liên tưởng đến nàng tiên nữ Chân Linh với người con gái của cái làng Lệ Sơn ấy. Rồi tự hỏi, có phải lòng em cũng không cửa khóa, mong sao anh không phải là tục khách. Nhiều lần mình mỉm cười với cái ý nghĩ vớ vẩn ấy làm cho hai thằng cứ cật vấn mãi về cái buổi sáng đi bẻ bắp trên rẫy ấy.

Tháng Chạp, không khí những ngày giáp tết đến gần, cũng là lúc đơn vị được lệnh lên đường. Sáng sớm, đại đội thông báo nhận quân trang, lương thực, vũ khí. Để lại những bộ quần áo đi B, chiếc mũ tai bèo của bọn mình được thay bằng bộ quân phục Pa-thét Lào với chiếc mũ lưỡi trai lạ mặt. Chiến trường C đang vào mùa khô, đơn vị phải lên đường gấp. Bộ đội khẩn trương, cả làng cũng nhộn nhịp. Hiếu ra đồng từ sớm, nửa buổi cày đã thấy em về, thì thụp giã cối gạo mới. Cậu Tuấn định bỏ buổi học, nói mãi mới cắp sách đến trường. Được hai tiết học thấy cu cậu có mặt ở nhà, hăng hái đi bẻ lá nguỵ trang cho bọn mình. Mình xoa đầu cu Tuấn:

- Phải thi cho đỗ Tuấn nhé.

- Nhất định em sẽ lên đại học - Tuấn trả lời mình rồi hắn quay về phía Hiếu - Phải không chị Hiếu?

Hiếu vẫn lúi thúi trong bếp. Mình tần ngần trước cửa bếp, rồi mạnh dạn nói với vào:

- Anh đi nghe Hiếu.

- Dạ - Em ngước nhìn, đôi mắt đỏ hoe. Không biết vì khói bếp hay là vì em đã khóc.

Nơi tập kết là sân kho hợp tác. Bộ đội, dân làng bịn rịn chia tay. Những gói cơm mới được bọc lá chuối tươi từ tay các cô gái làng cứ dúi vội vào tay những chàng lính trẻ. Mình cố ý đợi, rồi cuối cùng Hiếu cũng đến. Em ngơ ngác, dõi tìm từng hàng quân. Em chạy đến chỗ bọn mình. Hiếu trao cho Bao và Luy hai đứa hai gói mo cau. Mình chỉ nghe loáng thoáng: “Hai anh đi mạnh khỏe”. Còn mình đứng đầu tiểu đội, em cúi đầu chạy lướt qua, không một lời tạm biệt. Mình buột miệng gọi:

- Hiếu!

Em vẫn không quay đầu lại. Bóng em lúi chúi, hấp tấp trên con đường làng và xa dần… Đi một quãng, mình ngoái lại, Lệ Sơn lặng im trong chiều tím. Có lẽ mình sẽ không bao giờ trở về cái làng quê ấy nữa.

 

Mười lăm phút nghỉ tại chỗ. Đơn vị tản ra hai bên đường. Hương rừng đặc quánh sương đêm. Mình tựa lưng vào một ổ mối, chẳng buồn cởi ba lô, súng đạn.

- Tiểu đội trưởng ăn cơm với chúng tôi. - Một giọng ai đó mời chào.

- Cơm nếp của chị Hiếu, ngon lắm - Giọng thằng Bao lém lỉnh.

- Cám ơn, tôi không đói, các cậu cứ tự nhiên.

Mà có đói làm sao mình nuốt nổi, thật ê chề, buồn chán. Mình biết đó là mo cơm được nấu bằng hạt lúa nương. Tháng mười đói nước, no nắng, hạt lúa sắt lại được em tuốt bằng tay rồi xay, giã dần sáng, cơm dẻo và thơm lắm. Giá như mình cũng có được một mo cơm em trao, tối nay mình cũng sẽ không ăn, chỉ ngửi thôi. Ngửi đến no mùi hương của em. Mùi sương, mùi của nắng, của cả hương bồ kết mỗi tối em trải trước sân, rồi quay quay mái tóc hong gió. Nhưng mình đâu được diễm phúc đó…

 

Nửa đêm, đến trạm nghỉ ngơi. Đơn vị rời khỏi đường lớn đi vào một nhánh đường mòn. Qua một sườn đồi thoai thoải, trạm giao liên đóng bên bờ một con suối cạn trong cánh rừng già. Đội hình tản ra, phát cây, căng võng. Mình mở ba lô… Trời ơi, cái gì thế này? Một chiếc mo cau căng tròn còn hơi ấm. Mình nâng lên áp vào mặt, vào má, vào môi. Không phải cơm nếp. Một mo khoai xéo, thơm bùi, thứ mà mình thích nhất trên đời. Một phong thư rơi trên cỏ, mình nhặt lên. Móc vội tăng võng, mình chui vào chăn bấm đèn pin lần mở phong thư. Một lọn tóc nho nhỏ, đen huyền, quấn gọn như một chiếc vòng tay. Một trang giấy học trò chỉ vỏn vẹn có mấy chữ: “Em chờ anh! Hiếu”. Mình áp phong thư vào ngực rồi  mở ra mở lại, đọc đi đọc lại. Chỉ có mấy chữ đó thôi. Nét chữ của em như hạt lúa nương mẩy tròn.

Mùa mưa năm bảy hai đơn vị về hậu cứ an dưỡng, chuẩn bị nhận nhiệm vụ mới. Dừng chân ở một làng cách Lệ Sơn không xa mình hăm hở trở lại tìm em. Thằng Tuấn đã vào đại học. Cha mẹ Hiếu đón mình giàn giụa nước mắt. Còn em, từ tấm hình trên bàn thờ nhìn mình như ngày nào, không nói, e ấp và thoáng buồn. Bà mẹ kể, mấy tháng sau khi bọn mình đi, Hiếu vào thanh niên xung phong. Một năm sau gia đình nhận được giấy báo tử. Em nằm lại dưới chân núi Phu-la-nhích ầm ào bom dội. Mình thắp nén hương, nhắn gọi: “Hiếu ơi, anh đã về”. Rồi mở túi áo ngực, mình đặt lên bàn thờ vòng tóc nhỏ, một phần máu thịt của em…

 

Ông kể chuyện này vào một buổi chiều cuối năm, trong một lần chúng tôi có mặt trên trọng điểm ATP, gần nơi Hiếu ngã xuống. Đó là một ngày đã đóng cửa rừng. Tết đến, rừng cô quạnh lắm. Biết là chuyện cũ nhưng cứ mạn phép ông mà chép lại như thắp một nén hương cho những mối tình mãi còn với người còn sống.
  P V D .
 

 



Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 22 Tháng Tư, 2011, 10:30:42 am
                                   Mười ba bến nước

                                   Truyện ngắn. Sương Nguyệt Minh

 Người xưa bảo: “Con gái mười hai bến nước”. Mười hai bến nước là bến nào? Là: Công, hầu, khanh, tướng, sĩ, nông, công, thương, ngư, tiều, canh, mục. Cũng có khi người ta thay “sĩ, nông, công, thương” bằng: “Nho, y, lý, số” hoặc thay bằng: “Cầm, kỳ, thi, họa”. Dù quan niệm thế nào thì đó cũng là 12 địa vị cao thấp khác nhau trong xã hội; hoặc có thể là 12 nghề, tượng trưng cho 12 cái bến đời. Phận đàn bà, con gái như con thuyền nan mong manh, trôi dạt; người chồng coi như bến đậu. May nhờ rủi chịu.

Nhưng, thời hiện đại thì khác, chiến tranh “ba mươi năm không đêm nào ngủ được”; hòa bình lâu rồi, người lính vẫn thường trực trong quân ngũ đến mức nhiều thế hệ khai ở mục nghề nghiệp hai chữ: BỘ ĐỘI. rõ ràng người lính là bến nước thứ 13 rồi. Neo đậu ở cái bến người lính thì coi như đằng đẵng xa vắng chồng, coi như chịu cái bến đời chiến tranh mất mát hy sinh, cùng cực khổ đau, bất hạnh.

Tháng 8. 2004, tôi đi dự Trại sáng tác Văn học chiến tranh và người lính ở Đại Lải, và truyện ngắn MƯỜI BA BẾN NƯỚC ra đời trong cảm thức như thế. Một tâm trạng thật lạ lùng, vừa rõ ràng rành mạch vừa mông lung như đi trong mù sương, làm tôi quên không gian tự nhiên bên ngoài để bước hẳn vào không gian nghệ thuật mười ba bến đời. Suốt một tuần ngòi bút trôi cùng con thuyền số phận người phụ nữ, rồi neo đậu ở bến Người lính – bến chiến tranh.

                                    Nhà văn Sương Nguyệt Minh

1.Tôi lấy vợ mới cho chồng.

Một chuyện lạ chưa từng xảy ra ở làng Yên Hạ. Cô dâu là bạn thân của tôi đã quá lứa lỡ thì. Cô ấy đang cần tấm chồng và khao khát một đứa con hợp pháp. Tôi làm bà mối, tôi cùng nhà trai đi ăn hỏi, đi xin cưới, đi rước dâu.

Đám cưới có vui, có buồn, có sượng sùng. Và đúng lúc cô dâu mới vào buồng hạnh phúc thì tôi lặng lẽ ra lối cửa sau đi tắt qua vườn. Túi đồ ôm vào lòng, vừa đi vừa khóc, tôi chạy cùn cụt ra bến nước, ới đò sang sông về nhà với mẹ.
Người ta ví: Con gái mười hai bến nước. Tôi khốn nạn hơn những người đàn bà khác. Tôi những mười ba bến nước.
 2.
Tôi sinh nở lần đầu vào một buổi trưa.
Tháng năm âm lịch, cuối vụ gặt, tôi đem cơm ra đồng cho thợ. Cào cào, muồm muỗm dồn đến đám lúa cuối cùng nhiều quá. Thợ gặt bỏ liềm hái vồ tới tấp. Tôi cũng đạp gốc rạ lội sòm sọp đến chộp. Tự nhiên, bụng đau lâm râm, rồi cồn lên đau dữ dội. Tôi vội bỏ nắm cào cào đã vặt càng vào nón và ôm bụng. Ch­­ưa kịp lên bờ thì ối vỡ, nước ối chảy ư­ớt sũng hai ống quần. Tôi ới chồng. Anh bỏ đon lúa đang bó dở, hốt hoảng chạy đến bế tôi lên bờ. Mẹ chồng tôi quýnh quáng sai đứa cháu gọi bà đỡ đẻ. Nhưng không kịp, tôi đẻ ngay trên bờ ruộng ẩm ướt ngổn ngang lúa tươi và cuống rạ vừa cắt.

“ối giời cao... đất dày ơi...ời!” Mẹ chồng tôi gào lên và xỉu ngay bên đon lúa. Tôi chỉ kịp cố gồng sức ngẩng lên nhìn xuống giữa hai háng mình, rồi ngật đầu sang một bên.

Mãi mãi, không bao giờ tôi quên được tiếng mẹ chồng kêu và cái cục thịt tôi đã đẻ ra ấy. Mẹ chồng tôi líu lưỡi, giọng hoảng loạn, kinh hoàng. Cục thịt đỏ hỏn chỉ có cái miệng tròn tối om, há ra ngậm vào như cá mắc cạn ngáp lúc sắp chết. Thợ gặt chân tay xước sát lấm bùn đất, đứng, quỳ châu quanh tôi. “Về lấy cái liễn sành, bỏ Nó vào đem đến gò Mã Giáng mà chôn.” Tiếng người láo pháo. “Đừng... Đặt Nó lên bè chuối cho trôi sông.” Và xa gần bước chân đạp trên gốc rạ lẫn tiếng lội nước gấp gáp ọp ọp.

Tôi không ra khỏi nhà. Lúc nào mắt cũng đỏ hoe. Chồng tôi ít nói. Anh lầm lì, nâng giấc, săn sóc tôi như chăm bẵm con nhỏ. Mẹ chồng tôi nhìn con dâu tiều tụy quá, nước mắt bà ứa ra. Mẹ chồng rất thương tôi, mẹ chồng nàng dâu mà y như mẹ đẻ và con gái. Tôi vừa nấc vừa nói, giống hệt đứa bé gái ngoan bị đòn oan:

- Bu ơi! Sao ... con... đến nỗi này?

Mẹ chồng tôi thở dài:

- Nhà ta đời đời ăn ở hiền lành, có ác với ai bao giờ đâu mà để tội để nợ cho con!

Chồng tôi đang xách siêu thuốc bắc. Anh giật mình, đánh rơi bộp xuống nền nhà. Siêu vỡ, nước thuốc vàng sẫm chảy lênh láng, hơi nước bốc khói mù mịt.

Tôi thường mất ngủ. Trong giấc mơ đêm tối trời, tôi thấy đám thợ gặt đội nón mê, ngồi bệt xuống cỏ hút thuốc lào chờ cho Nó hết ngáp. Rồi họ bỏ Nó vào cái liễn sành màu da lươn, đậy nắp đem đến gò Mã Giáng chôn. Lại có đêm tôi mơ thấy Nó trên bè chuối thả trôi ở bến nước sông Hoàng Long. Và con Thuồng Luồng tóc đen dài xoã sượi, vai trần trắng, vú căng mẩy như vú con gái, nhưng mình rắn, bàn chân tay nhái có màng mỏng bơi đến đẩy bè chuối vào bờ. Tôi vùng vẫy, hò hét: “Trả con tôi. Trả con tôi đây...” Tỉnh dậy, mới biết mình trong vòng tay chồng. Người lạnh toát, mồ hôi vã ra. Vai áo chồng cũng đẫm mồ hôi, anh đã rất vất vả giữ tay chân vợ vùng vẫy khi mơ...
3.
Tôi nhớ, mùa hè năm Giáp Thìn. Trời không mưa, nhưng nước thư­ợng nguồn đổ về một tuần liền. Quê tôi lụt to. Nư­ớc cuốn rều rác, cành tư­ơi, củi khô... cuồn cuộn. Nửa đêm, vỡ đê sông Hoàng Long. Nước réo ồ ồ. Chó tru. Gà quác. Trâu, bò phá gióng. Dê phá chuồng kêu khản giọng. Dân kinh hoàng, nháo nhác chạy lụt như­ chạy loạn. Tôi kịp trèo lên cây đa đầu làng. Suốt đêm ở ngọn cây, gọi mẹ ời ời; lo lũ cuốn thì ít, lo con Thuồng Luồng bắt kéo xuống nư­ớc thì nhiều.

Đêm trăng suông. Cây đa gồng mình chống chọi  lũ xiết. Tôi đói, kiệt sức. Nửa đêm, n­ước xói bật gốc cây đa, tôi bị lũ cuốn theo.

Sáng hôm sau, tỉnh dậy, thấy mình nằm trơ trơ trên gò Thuồng Luồng. Xung quanh nước réo ùng ục. Đám đông đứng ngồi lố nhố. Tiếng người nói lao phao. Con Vện cắn nhanh nhách, nghe sốt ruột. Mẹ tôi cư­ời mếu máo, bảo: “Con Thuồng Luồng vớt mày ở bến nư­ớc đưa lên đây đấy, con ạ”. Tôi ngạc nhiên quá...

Năm tôi mười sáu tuổi, có ông giáo sư sử học dẫn sinh viên về điền dã ở làng tôi. Họ thuê bọn đánh dậm chúng tôi đến đào đất khai quật gò con Thuồng Luồng. Tôi nhận ra anh Tào người làng Yên Hạ trong số người lạ này. Anh Tào có vẻ rất mến và hay trêu đùa tôi. Đào, bới, cả tuần chẳng có gì chỉ thấy vỏ hà vỏ hến, xương động vật và một tấm ván thôi. Lúc lấp đất, anh Tào cầm nộm rơm giống hình con gái quẳng xuống hố. Tôi hỏi: “Anh Tào làm cái gì đấy?” “Tao yểm. Đó là cốt đứa con gái, hồn con Thuồng Luồng. Đứa nào yêu tao mà bỏ thì phát điên, thành con Thuồng Luồng.” Những người lạ bật cười. Còn tôi vừa ngượng chín mặt vừa ngơ ngác. Về sau, yêu nhau rồi, tôi hỏi về cái nộm rơm ấy, anh chỉ cười cười bí ẩn, không nói.

Lại ồn: Vào một đêm trăng. Sương mù bay la đà mặt sông. Sóng óc ách vỗ vào hang núi. Thằng ăn trộm người làng Yên Hạ về khuya, đò nghỉ. Hắn định cởi áo, đội gói đồ ăn trộm lên đầu, bơi qua sông thì thuyền đánh cá đêm chở đầy sương mù chui từ trong hang nước ra, lướt nhẹ đến. Cô gái khoác hờ cái áo, ngồi phía đuôi thuyền, bảo: “Anh lên đi. Tôi chở qua sông cho.” Thằng trộm ôm đồ nhảy xuống thuyền. Ra giữa sông vắng vẻ, thấy thuyền chỉ một mình cô gái, hắn dở trò sàm sỡ. Cô gái nhảy tòm xuống sông. Thằng trộm kịp nhận ra cô gái chỉ có phần ngực trở lên là giống người, còn thân mình rắn, bàn chân tay nhái có màng. Hoảng quá, hắn biết vừa chạm phải con Thuồng Luồng. Chưa biết xoay sở ra sao thì cô gái nhô cả vai trần và bầu vú lên khỏi nước. Đôi tay nhái bám lệch mạn thuyền. Nước ào vào, thuyền đắm. Thằng ăn trộm bị dìm uống no nước sông, rồi được đẩy lên bờ. Run quá, hắn co chân chạy thì tiếng gọi giật sau lưng: “Anh gì ơi! Của anh này.” Hắn quay lại. Vẫn cô gái ban nãy. Nhưng mặc gọn gẽ, áo khô, quần khô sắn tận gối lộ bắp chân tròn trắng. Gói đồ hắn thó trộm bỏ quên dưới thuyền cũng khô nguyên, cô ta đưa cho hắn rồi chèo thuyền chui luôn vào sương mù. Chẳng thấy con Thuồng Luồng đâu. Hãi quá! Từ đêm đó, thằng trộm mất hồn, ngơ ngẩn nửa năm...

Thuồng Luồng và bến n­ước như làn sương mù huyền thoại, bí ẩn vô cùng với tuổi thơ tôi.
4.
Chồng tôi tên là Lãng, bộ đội thời chiến nghỉ phép trước ngày ra mặt trận. Anh chư­a muốn cưới vợ, những ngày đầu đi chơi loăng quăng, gần hết phép, mẹ giục quá mới nháo nhào tìm. Lúc đó, tôi chưa hết buồn vì tin người yêu chết ở chiến trường thì gặp anh.

Đám rước dâu bằng thuyền. Cập bến, mọi người lên bờ, đứng chờ tôi lấy nậm nước đem về rửa chân mẹ chồng. Cái lệ này có từ bao giờ tôi chẳng biết. Người ta bảo: Mẹ chồng nàng dâu vốn truyền đời xung khắc. Con dâu mới múc nước rửa chân mẹ chồng để lấy lòng. Trước lúc rước dâu, mẹ tôi đưa cho cái nậm nhỏ làm bằng vỏ quả bầu be khô giống cái hồ lô và dặn những điều cần thiết về làm dâu nhà người.

Người ta hay ví bến đời với bến nước. Con gái mười hai bến nước. Lúc ấy, tôi chẳng biết mình đang ở bến thứ bao nhiêu.

 Đám rước dâu đi tiếp. Bất chợt, mọi người giật mình và ồn ào bởi tiếng hô:“Thanh niên cả như tôi thì mất nước.” Tôi nhận ra anh Tào. Trước ngực anh đeo cái mẹt tròn, quét vôi trắng viết dòng chữ: “Tôi là thằng đào ngũ.” Tôi không tin sau cái mẹt kia là người mình đã từng yêu. Bom đạn mù trời miền Bắc. Cả trường anh đóng cửa, nhập ngũ. Người ta ồn: anh chết nơi bom đạn một năm rồi. Nay họ lại nói: anh sợ chết, ghí đầu nòng súng CKC vào gót chân trái... bắn. Người thì cãi: anh Tào lau súng bị cướp cò. Đơn vị tước quân tịch đuổi, về quê đã mấy ngày rồi. Xã bắt lao động cải tạo đóng gạch. Chiều tối, dân quân giải anh Tào đi dong, bêu khắp làng. Anh Tào chân thọt chấm phẩy đi trước, dân quân khoác súng K44 nòng rỗ đi sau. Lũ trẻ con lốc nhốc theo sau nữa đồng thanh hô lại: “Thanh niên cả như tôi thì mất nước.” Tôi đi bên cạnh chồng, lòng rối bời.

Anh Lãng cưới tôi hôm trước thì ngay hôm sau phải về đơn vị. Anh đi xa không biết ngày nào về. Chồng tôi cố dấu nỗi buồn vào lòng. Anh chào lần lượt từng người rồi quay lưng, đi rất nhanh, như chỉ sợ nấn ná sẽ ở nhà luôn.
5.
Người vợ xa chồng có trăm ngàn cơ cực, chẳng nỗi khổ nào giống nỗi khổ nào. Có những đêm dài ghê gớm, tôi lục sục không ngủ. Nằm một mình ôm gối, nhớ chồng, trằn trọc chờ sáng. Tôi lôi cái áo cũ bạc màu của chồng ra ấp vào mặt, nỗi nhớ càng nôn nao, da diết hơn. Khốn khổ nhất là mấy ngày áp kỳ kiêng kị sử dụng sô màn của đàn bà. Hai bầu vú tôi cứng nhưng nhức. Nhũ hoa sân lại. Má đỏ hồng tươi tắn. Mắt long lanh... Lúc nào cũng chỉ mong chồng về.

Con gái chưa biết hơi trai thì tò mò, dụt dè; nhưng đã phải hơi trai rồi thì nghiện. Đêm đêm, tôi nằm tưởng tượng ra đủ điều, vò gối ấp áo vào mặt tìm hơi chồng. Không chịu nổi lại đổ lúa vào xay, xay đến sáng, hoặc múc nước giếng khơi đổ ào ào tắm cho lửa lòng dịu đi, hoặc sang ngủ chung giường tìm hơi mẹ chồng.

Mẹ chồng tôi biết. Bà đã trải qua những năm tháng chờ chồng nên hiểu lòng con dâu. Mẹ chồng tôi lặng lẽ lục tìm trong hòm lấy quần lót cũ của con trai bỏ vào chã đất rang, tay khoả miệng lẩm bẩm. Bà làm theo cách riêng nhuốm màu sắc dân gian giúp con dâu vững lòng lúc con trai mình đi xa.

Làng Yên Hạ của chồng tôi có hai bến tắm. Bến tắm đàn bà phía đầu nguồn, bến tắm đàn ông phía hạ nguồn, cách nhau vài trăm b­ước. Bọn con gái cứ để nguyên áo quần dài, lội dò dẫm ra xa bờ, n­ước đến đâu vén áo đến đó; nước dâng qua bầu ngực thì đội áo lên đầu hoặc cởi ra vo viên ném vèo vào triền sông. Tôi đã gặp chuyện ầm ĩ ở bến tắm này. Bắt đầu từ lúc ông xã đội trưởng và hai dân quân bất chợt nhìn xuống bến thấy đầu tóc con gái loã xoã, vai trần nhô lên tụt xuống. Lại tiếng quẫy nước um ũm và cái đầu đàn ông. Cứ ngỡ Thuồng Luồng quần nhau với người. Té ra là anh Tào với tôi dưới bến nước. Ông xã đội rất ghét những thằng đào ngũ, hoặc chân thọt, mắt chột, tay khoèo, thấp bé nhẹ cân...không phải ra trận, ở nhà hay chim chuột vợ lính khi họ đang nơi hòn tên mũi đạn. Vợ ông chửa hoang với thằng công nhân lái xà lan. Ông ta căm lắm, chuyên rình bắt gái làng ra bến nói chuyện với thợ thuyền sông nước. Tôi kêu oan:

- Tôi tắm, không may bị chuột rút...

Anh Tào lúng túng, sợ sệt:

- Tôi đánh xe trâu đến đây. Bỗng nghe tiếng người chết đuối kêu cứu...

 Ông xã đội nhếch mép, khinh khỉnh:

 - Đã phạm tội tự thương, đào ngũ làm mất thành tích năm năm liền “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” của xã nhà; lại vi phạm chính sách hậu phương quân đội, làm người lính ở chiến trường không yên tâm chiến đấu. Còn bịa cả chuyện con Thuồng Luồng. Từ xưa đến nay, ta chỉ nghe chuyện Thuồng Luồng cứu người chứ chưa bao giờ nghe chuyện người cứu Thuồng Luồng. Ta đồ rằng: Thuồng Luồng là đứa con gái nần nẫn này ở dưới nước mày mới nhảy xuống... 


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 22 Tháng Tư, 2011, 10:35:34 am
                        Tiếp theo :
Dân quân dẫn anh Tào và “con Thuồng Luồng” là tôi về trụ sở uỷ ban xã lập biên bản. Anh Tào vẫn cởi trần, chỉ mặc quần đùi thập thễnh đi sau. “Con Thuồng Luồng” mặc quần lụa đen ướt dính bết vào đùi, không được mặc áo, trên mình chỉ độc cái xu chiêng ướt sũng nước. Vai “con Thuồng Luồng” trần rờ rỡ dưới trăng. Đang đi, bỗng dưng ông xã đội cho “con Thuồng Luồng” đứng lại mặc áo, rồi thả cho về. Ông bảo: “Nể cái thằng lính đang sống chết ở chiến trường đánh nhau với Mỹ - Ngụy, ta tha.” Tôi đi một đoạn còn nghe ông rủa sau lưng: “Rạc rài. Giống cái là giống bạc tình.”

 “Giống cái là giống bạc tình?”. Tôi đã nhìn thấy bờ tre nhà mình: bầu ngựa đực bụng bé trèo lên lưng bầu ngựa cái bụng to. Bầu ngựa đực lẹo xong, mệt quá gác càng, vừa rời lưng bầu ngựa cái, liền nằm ệch ra. Nó bị ngay đôi kiếm nhiều răng cưa của bầu ngựa cái bổ vào bụng và móc ra từng miếng thịt trắng đến tận khi sồi ruột mới thôi. Người ta bảo, loài bò cạp cũng thế. Chúng nó âu yếm, lẹo nhau xong, con đực bao giờ cũng mệt hơn vì bị rút hết sinh khí. Con cái liền quay lại ăn thịt luôn bạn tình.

Tôi chưa nhìn thấy bò cạp cái ăn thịt bò cạp đực bao giờ. Chỉ thấy rắn nước ở đầm Vạc. Khi con cái lột xác, con đực luôn phục ở bên bảo vệ và đi kiếm mồi về nuôi. Lúc con đực lột xác còn bấy dậy, thì con cái dẫn con đực khác về tổ. Chúng làm tình với nhau trước mũi con rắn vừa lột xác. Và chén luôn bạn tình cũ đang bấy bớt, không còn khả năng tự vệ.

 Tôi là đàn bà, là giống cái. Người ta cũng coi tôi là giống bạc tình a?

 

6.

Chiến tranh kết thúc, chồng tôi về. Nguyên vẹn, thân thể không sất síu tí nào. Mừng ơi là mừng. Mẹ con, anh em, vợ chồng gặp nhau mừng mừng tủi tủi bao nhiêu thì anh Lãng hậm hực bấy nhiêu. Không biết bằng cách nào, anh Lãng biết người ta ồn vợ mình trăng gió. Buổi tối, mọi người đến chơi về hết, nhà tôi lẽ ra vui như tết thì lại buồn hơn đám ma. Mẹ chồng bảo:

- Bu không giữ được danh tiếng vợ anh.

Anh đay nghiến:

- Tôi bao nhiêu năm, bom đạn không chết lại chết vì điều tiếng thiên hạ đấy.

Đến lượt tôi, giọng sẽ sàng, nhưng hơi lạnh:

- Em là vợ anh. Chỉ anh mới biết em chung thuỷ hay là không. 

Anh Lãng mặt nghệt ra. Rõ ràng anh không ngờ tôi nói thế. Anh chưa biết sẽ định liệu số phận cuộc hôn nhân thời chiến rất mong manh của mình ra sao. Tin vợ hay không là một quyết định không dễ đối với người lính đã nhiều năm xa nhà...

Đêm ấy, cả làng Yên Hạ không ngủ. Trăng sáng lắm. Gió núi thổi về mát rười rượi. Bọn choai choai rủ nhau đi hóng trăng dọc đường làng. Ngoài sông Hoàng Long, đèn sáng đỏ, tiếng gõ cắc... cắc... vào mạn thuyền thúng đánh cá đêm vọng về. Đêm chồng vợ, chúng tôi quấn vào nhau như đôi thuồng luồng quần nhau trong hang nước.

Sáng hôm sau.

Mẹ chồng tôi dậy thật sớm, ngồi ở thềm hè chải tóc, chốc chốc ngóng vào cửa buồng con dâu. Anh Lãng bước ra, se sẽ ngồi bên mẹ:

- Hôm qua, con không kìm lòng thì gây án mạng với thằng Tào đào ngũ rồi, bu ạ. May nhà con nhẫn nhịn. Suýt nữa tan đàn sẻ nghé.

- Anh nói thế nghĩa là làm sao?

- Bu không nhớ a? Ngày trước, con gần gũi nhà con chỉ một đêm rồi đi vào Nam đánh giặc. Cái đêm tân hôn ấy, nhà con đúng kỳ kinh nguyệt. Vợ chồng con chỉ nằm ôm nhau, rồi khóc...

- Anh nói thế nghĩa là đến đêm qua, vợ anh vẫn còn trinh nguyên?

- Vâng! Vẫn là con gái. Vợ con thì con biết chứ.

Mẹ chồng tôi sững sờ, chẳng nói thêm được câu gì. Bà không ngờ con trai và con dâu ở hoàn cảnh oái oăm ấy. Tôi nằm ì trong buồng lúc đó mới ra. Hai tay vấn tóc. Mắt ngời ngời hạnh phúc. Tôi dụt dè ngồi bên mẹ chồng. Lúc đó, bà lại lên tiếng:

- Bu cũng không muốn tin. Nhưng chuyện con dạo ấy thì tình ngay lý gian. Con bỏ qua đừng giận bu, nhá.

- Con không giận ai cả. Con không sợ gì sất. Con chỉ sợ anh Lãng đi đánh giặc không về. Con vừa mất chồng lại chẳng có người minh oan cho con.
7.

Tôi sinh nở lần thứ ba, thứ tư vẫn ra cục thịt đỏ hon hỏn. Mẹ chồng tôi đau buồn, và sợ hãi quá, suốt ngày niệm Phật và đi chùa. Phật vẫn cứ ở đâu đó chưa hiện về phù hộ chúng tôi. Người ta bảo: Trăm cái phúc nhà vợ không bằng cái nợ nhà chồng. Đời đời gia đình chồng tôi ở hiền, nhưng tôi phải gánh nợ. Vậy cái nợ này ở đâu giáng xuống?

Tôi sinh nở lần thứ năm lại là một bọc có nhiều cục thịt đỏ, như thuồng luồng đẻ bọc trứng non. Chúng Nó không phải kiếp người, cũng chẳng phải kiếp ngợm. Nhưng là các hình hài tôi mang nặng, tôi dứt ruột đẻ ra. Đến lúc này, dân làng có người ghẻ lạnh, xa lánh tôi. Tôi mụ mị dở tỉnh dở điên.

Chồng tôi kể lại: Có lần tôi bỏ nhà đi lang thang ra bờ sông Hoàng Long. Rồi nhảy xuống bến nước vớt những đám lục bình hoa tím nổi nênh đênh. Vớt đặt lên bờ rồi lại vớt, chẳng biết để làm gì... Tôi cũng chợt nhớ lần đi ra gò Mã Giáng. Gò vắng lạnh. Dứa dại viền quanh tốt bời bời. Chó hoang chạy lông nhông kiếm ăn, cắn oăng oẳng. Mèo dại mắt xanh lét, lông xơ xác, gừ gừ. Tôi đến góc gò phía Bắc, nơi chôn trẻ con yểu mệnh. Những nấm đất sè sè, nhỏ nhoi. Chẳng biết nấm mộ nào có liễn sành màu da lươn.

Tôi ngẩn ngơ đến vãn chiều.
8.
Đêm nước ròng.

Vợ chồng tôi ra vó bè kéo tôm. Đèn ló sáng lấp loáng. Mắt tôm bắt đèn ánh lên các chấm li ti đỏ đòng đọc. Kéo một lúc được lưng lưng giỏ. Mệt, tôi để cho chồng kéo rồi xách chiếu manh vào lều cỏ. Anh Lãng làm cái lều dưới chân gò Thuồng Luồng để coi vó. Lúc mệt hoặc tôm cá không đi thì gác vó, lên lều đánh một giấc đến tận rạng đông, nghe tiếng láo pháo của người đi chợ sớm mới dậy. Chẳng biết từ bao giờ, người đi chợ, đi kéo vó, mò tôm... qua đây, ai cũng nhón một hòn đất bỏ lên gò. Bao nhiêu đời rồi, gò cứ rộng ra và cao lên như quả đồi con.

 Gió nồm hiu hiu. Bốn gọng vó thỉnh thoảng thả chọp... chọp... xuống bến. Mắt tôi díp lại, mơ màng... Nửa đêm về sáng, tôi giật mình bởi tiếng đàn bà gọi:

- Đò ơi....ơi! Cho mẹ con tôi sang sông vớ....i.

Tiếng gọi đò rõ mồn một. Rồi lại tiếng kêu:

- Trả con cho tôi. Trả con cho tôi đâ... ây...

 Tiếng gọi, tiếng hời vọng vào đêm khuya vắng lặng. Bỗng dưng, một người đàn bà bước đi nhẹ như gió thoảng từ đỉnh gò xuống.

- Người ta bắt con tôi đem trôi sông. Làm ơn cứu con tôi với.

Tôi nhận ra người quen:

- Chị Sao này mê rồi. Chưa bao giờ chị có con. Tỉnh lại đi.

- Các con tôi đang trôi dưới bến nước kìa. Làm ơn vớt chúng nó lên với.

Tôi nhìn xuống bến. Một màu trăng bàng bạc. Sương giăng mờ ảo. Tôi bàng hoàng không tin ở mắt mình: Anh Tào đào ngũ! Thật rồi, anh Tào đang đặt những hài nhi đỏ hon hỏn lên mấy cái bè chuối và dùng tay đẩy ra xa bờ. Các bè chuối quay tròn, nhẩn nha trôi... Rồi chị Sao nhảy ùm xuống nước, chìm ngỉm. Khi các vòng sóng lặng, bất chợt Thuồng Luồng nhô lên, tóc dài đen, vai vú con gái, nhưng mình rắn. Nó đột ngột quẫy lộn đầu xuống, hai bàn chân nhái có màng giơ khỏi mặt nước. Lại ngoi lên. Con Thuồng Luồng bơi, đẩy bè chuối vào bờ...

Hoảng quá, tôi căng mắt nhìn, không thấy anh Tào nữa. Mấy cái bè chuối cũng biến mất. Chỉ thấy đàn vịt trời lông trắng bay vọt lên, kêu váng mặt sông.

- Sao ơi! Sao ơi! - Anh Lãng vỗ bồm bộp vào vai tôi. - Hết cả hồn. Em mơ à?

Mặt mũi toát mồ hôi. Tôi nhìn xuống bến nước. Vó bè nằm im đổ bóng bốn gọng xuống sông. Trăng sáng vẫn bàng bạc.

- Rõ ràng chị Sao gọi đò, rồi nhảy xuống sông biến thành con Thuồng Luồng.

- Thần hồn nát thần tính, điên à? Em là Sao, là vợ anh chứ còn chị Sao nào nữa. Thôi, nửa đêm về sáng rồi, xuống kéo vó với anh.

 Tôi ngồi thừ ra, không biết đâu là thực đâu là mơ. Vợ chồng tôi kéo vó đến tận sáng chẳng được con tôm nào. Chỉ toàn củi mục với rều rác.

Tôi đi chợ bán tôm, nửa đường gặp anh Tào đánh xe trâu chở chã đất và liễn sành màu da lươn.

- Khiếp quá! Từ mai, anh đừng chở thuê những thứ này nữa.

- Thì thôi vậy. Vài năm nay người ta dùng liễn sành nhiều quá, Sao ạ.

Tôi kể chuyện giấc mơ, rồi bảo:

- Anh Tào còn nhớ dạo đi điền dã, anh chôn cái nộm rơm ở gò Thuồng Luồng không? Em  với anh chuyện cũ qua lâu rồi...

Anh Tào cười giả lả, cắt lời tôi:

- Anh nhớ ra rồi. Đấy là chuyện tầm phào láo toét. Nh­ưng chuyện này là có thật này:

Cô Sao không biết là: Ngày xưa, quân Chiêm Thành thường đi biển ra cướp phá nước Đại Việt ta. Thời Trần Nghệ Tông, có một cánh thuỷ chiến Chiêm Thành đi theo cửa biển vào sông Hoàng Long. Chúng đi đến đâu là đầu rơi máu chảy, lửa cháy ngút trời, nhưng đến địa phận làng ta thì tịnh như không. Khi thượng tướng Trần Khát Chân đại thắng Chế Bồng Nga thì quân Chiêm Thành rút chạy. Cánh thuỷ chiến này cũng giong buồm chuồn ra biển. Lúc chúng đến làng ta thế nào, lúc đi cũng vậy. Làng ta bình yên trong chiến tranh. Nhưng ba tháng sau xảy ra chuyện lạ: Vài chục con gái, đàn bà không chồng mà chửa. Chẳng binh đao mà làng loạn. Làng đau thương còn hơn làng khác bị nạn “nước lửa và ống đồng” tàn phá. Lệ làng rất hà khắc. Vài chục người đàn bà ấy bị gọt trọc đầu bôi vôi, rồi đóng bè chuối đem ra bến nước trôi sông. Có điều lạ: Buổi sáng thả trôi về phía biển thì đến la lá tối lại thấy các bè chuối đậu ở bến nước. Hoá ra, theo nước thuỷ triều lên, tôm, cá, cua, rắn nước, rùa, giải, thuồng luồng, ba ba,... bơi quanh đẩy, kéo các bè chuối trôi về bến. Cứ vậy, thả rồi lại trôi về. Làng chịu bất lực trước các loài thuỷ tộc và thuỷ triều, đành cho số đàn bà khốn khổ khốn nạn ấy lên bờ. Đủ ngày đủ tháng, họ sinh ra những đứa bé tóc xoăn, da ngăm ngăm, mắt hoang dã, không mang huyết thống các dòng họ ở làng. Chuyện còn lạ nữa: Trong số đàn bà ấy, có một người đẻ ra cục thịt đỏ lòm, có cái miệng tròn như đồng sèng, cứ kêu: khẹc... khẹc. Người mẹ trẻ sợ quá ngất luôn. Dân làng cho là quỷ quái, lại đóng bè chuối trôi sông. Người mẹ trẻ hoá điên, luôn miệng kêu: “Trả con đây... Trả con cho tôi...” Đang đêm, tóc tai rũ rượi, chạy bịch bịch ra sông Hoàng Long, nhảy xuống nước cuống cuồng bơi, ngụp lặn vớt con mình. Khốn nạn quá! Gái đẻ ngâm nước lạnh, chết, biến thành xác con Thuồng Luồng trôi dạt vào bến nước. Tiền đồng, xương trâu, mo rùa, hình nộm con gái,... được chôn theo. Cái gò con Thuồng Luồng cũng chính là mộ người mẹ trẻ ấy. Người ta ồn: hồn người đàn bà lang thang ở hang nước, mặt sông, thấy người chết đuối là hoá thành con Thuồng Luồng bơi đến cứu...

Thế đêm hôm qua cô Sao có bỏ hòn đất nào lên gò không?

- Không! Anh Lãng em chắc cũng không nốt.

- Giời ạ! Thảo nào giỏ tôm của vợ chồng Sao chẳng đầy thêm là phải. Nhặt ngay một hòn đất chạy đến đó mà thả. Đoảng quá. 
9.
Vợ chồng tôi dắt díu nhau đi bộ mười hai cây số xuống bệnh viện thị xã khám. Thầy thuốc bảo: Anh chị sinh lý bình thường, sức khoẻ tốt... Hiện thời chưa tìm ra nguyên nhân. Chúng tôi giới thiệu lên một Quân y viện ở Hà Nội, nhưng tốn kém và xa lắm, anh chị đi được không? Đi chứ. Trường Sơn, Tây Nguyên, Nam Bộ đi được thì Hà Nội sao lại không. Anh Lãng bảo tôi về bán con bò. Mẹ anh cho đôi khuyên tai. Mẹ tôi cho tạ thóc. Em gái anh lấy chồng ở làng bên cho đôi lợn giống. Đôi khuyên tai giữ lại còn bán sạch lấy tiền chữa bệnh. Người còn là của còn.

Chúng tôi được khám, làm hơn một chục xét nghiệm. Ông bác sỹ quân y kết luận: Sức khoẻ tốt. Sinh lý bình thường... Ông bảo tôi ra ngoài chờ, ông có chuyện nói riêng với chồng tôi. Hoá ra, ông dẫn chồng tôi đến một phòng trắng lạnh lưu giữ vài trăm cái bình thuỷ tinh đựng các quái thai và xác hài nhi dị dạng để nghiên cứu. Ông cho xem ảnh, giảng giải và chỉ vào một cái bình, bảo: Đây là trường hợp cha bị nhiễm chất độc màu da cam vẫn đẻ con lành lặn, bình thường; nhưng đến khi đứa con gái lấy chồng thì lại sinh ra một chùm cục thịt như chùm vải chín đỏ. Cái hậu quả này nặng nề lắm, chẳng bao giờ mới hết. Ông căn dặn, an ủi, động viên đến khi chồng tôi hoa mắt, ù tai và không chịu được mùi phoóc môn, hai người mới ra.

Về nhà, chồng tôi nằm lì ba ngày không dậy. Ngày thứ tư, anh gọi tôi vào. Anh già thêm đến chục tuổi. Thương vô cùng. Tôi nằm gối đầu tay chồng, anh nói:

- Bây giờ, anh không giấu em nữa. Bác sỹ bảo anh bị nhiễm chất độc màu da cam. Chửa đẻ trăm lần thì cũng trăm lần quái thai, dị dạng.


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 22 Tháng Tư, 2011, 10:44:19 am
                                 Tiếp theo :
Anh tưởng tôi sẽ bàng hoàng đau đớn, vật vã. Nhưng mắt tôi ráo hoảnh. Còn nước mắt đâu nữa mà khóc. Dù anh bị nhiễm chất độc màu da cam hay tôi đẻ quái thai bẩm sinh thì nỗi đau nào cũng như nhau cả thôi.
- Nhiễm chất độc da cam lúc nào? Anh phải biết chứ!
- Lúc đó làm sao biết được. Nghe ông bác sỹ giải thích, rồi mấy ngày nằm nhớ lại: Có lẽ do hành quân qua những cánh rừng trụi lá. Bọn anh uống nước suối ở đó lúc khát, còn múc đầy bi đông mang theo. Lại có lần, đơn vị đóng quân trong rừng già, thấy những chiếc máy bay Mỹ bay rất chậm phun ra chất gì đó như sương mù trắng đục. Vài ngày, lá ngả màu đồng loạt, gió rất nhẹ lá cũng rụng lả tả. Cây trụi lá chỉ còn trơ thân cành. Cả cánh rừng một màu chết chóc. Đi đường thỉnh thoảng thấy những vỏ thùng sắt hoặc thùng nhựa, có đai xung quanh nằm lăn lóc trong rừng. Có đứa ở tiểu đội ước ao mang về quê làm thùng đựng nước ăn cho mẹ. Thì ra là thùng đựng chất diệt cỏ máy bay Mỹ ném xuống mà đến bây giờ có người còn không hề biết.
Tôi vùi đầu vào ngực chồng. Chưa bao giờ tôi thương anh như lúc này. Nhưng quả thật trong lòng rất đau đớn, chán chường.
 10.
 Chồng tôi nhận được thư anh Hà Văn Nênh, đồng đội cũ báo tin vợ mới đẻ con trai. Chồng tôi bảo chọn chục trứng gà, năm ống gạo nếp đi thăm.
 Nhà sàn chon von một mình trên quả đồi nhỏ thấp tè. Cửa man khép hờ, trẻ con oe oe khóc. Tã lót phơi trắng bờ rào. Dưới gầm sàn, có con bé cởi chuồng, đầu tròn ủng không sợi tóc, không có tay, hàm hô răng lợi nhe như khỉ. Tôi nem nép sát hông chồng, sợ nó cắn. Lại thấy con trăn hai đầu nằm cuộn như khoanh chão bên chân cột nhà...
 Chồng tôi và anh Hà Văn Nênh ngỡ ngàng một lát rồi nhận ra nhau. Anh Nênh gọi vợ bế con ra chào khách quý. Tôi đón thằng bé, khen vợ anh Nênh trẻ. Anh bảo: Con vợ trước đẻ ba lần đều quái thai, dị dạng; sợ quá nó bỏ tôi, bỏ cả cái đứa không thành người đang ngồi ở gầm sàn kia đi rồi. Đây là cô vợ mới.
 Chuyện đang say, bỗng dưng chồng tôi tái mét mặt. Anh kéo anh Nênh, chỉ mấy thùng đựng nước ăn:
 - Mày lấy ở đâu?
 - Giải phóng xong, đi quy tập mộ liệt sỹ em nhặt được ở rừng. Lúc ra quân, quẳng nhờ lên xe tải đơn vị về Bắc. Tiện thể rủ mấy thằng lính “rửa tay gác kiếm” cùng đợt về nhà chơi, nhờ chúng nó gùi luôn về. Anh chị cõng được, lấy một cái về nhà mà đựng nước ăn.
 Chồng tôi kêu giời kêu đất. Điếc không sợ súng, bạn anh mang cái chết về nhà. Đấy là những thùng đựng thuốc diệt cỏ, thuốc phát quang. Con bé dị dạng kia là hậu quả chất độc màu da cam nhiễm người cha hay từ những thùng này? Bấy giờ mặt anh Nênh dúm dó lại, sợ hãi thực sự.
 11.
 Từ hôm ở nhà anh Hà Văn Nênh về, nói chuyện với mẹ, chồng tôi thường khen bạn mình tốt số gặp may. Sau nhiều ngày đắn đo, anh quyết định nói với tôi rằng anh muốn “giải phóng” cho tôi. Anh mong tôi tìm hạnh phúc mới và đẻ những đứa con lành lặn. Tôi ra đi như con thuyền rời bến cũ, có phúc sẽ có phần, biết đâu gặp bến mới thì cắm sào đậu. Cho là rổ dá cạp lại, tôi cũng có chốn ấm mà nương thân... Quả thật, có lúc tôi nghĩ đến điều này. Nhưng khi đó, tôi choáng váng, cảm thấy bị bỏ rơi. Tôi lại hiểu: thấy vợ hai anh Hà Văn Nênh sinh đẻ mẹ tròn con vuông nên anh đang hi vọng vào cuộc hôn nhân mới. Tôi tủi thân. Anh không biết rằng tôi đã tắt kinh hơn một năm. Tắt kinh vì sợ hãi, vì sức lực kiệt quệ. Những lần phơi xô màn trắng dây phơi chỉ để nhắc mình không phải đàn ông, mà là đàn bà đang độ tuổi ba mươi; để chồng tôi đã chán chường rồi đừng ê chề thêm. Tôi giận anh vô cùng.
 Một hôm, anh Lãng đi vắng, mẹ chồng tôi gạn hỏi:
- Từ hôm vợ chồng đi thăm bạn về, con tính sao?
- Chả tính sao.
Tôi giận, nói nhát gừng, chỏng lỏn, dù là biết vô lễ. Nhưng bà vẫn nhẫn nhịn:
- Sao ơi! Không phải mẹ bảo thằng Lãng bỏ con lấy vợ mới đâu. Mẹ nghĩ kỹ rồi: Con thương con, thương thằng Lãng, con thương dòng họ nhà chồng thì con...
- Thì con bỏ anh Lãng chứ gì? - Tôi khóc bù lu bù loa. Bao nhiêu đau khổ, giận dỗi kìm nén bùng lên. - Thôi mẹ chồng ơi, xin mẹ chồng đừng nói nữa. Mẹ chồng có chắc chồng con cưới vợ mới sẽ đẻ ra đứa con bụ bẫm lành lặn như vợ hai anh Nênh không?
Bất ngờ, mẹ chồng tôi quỳ hẳn trước mặt con dâu:
- Bu lạy con. Bu lạy con... Con ơi! Con nghĩ được vậy là cả nhà ta ơn con trời biển. Nhưng con chưa hiểu hết ý bu. Con cũng cần có đứa con do mình dứt ruột đẻ ra. Nhà ta không thể bắt con làm người ở con hầu trong nhà suốt đời được. Tội lắm.
- Thôi, bu không phải nói nữa! Con sẽ làm ngay... Con làm ngay theo ý chồng con và bu...
 Lúc đó, không một lời nói chân tình nào lọt tai tôi cả. Và tôi âm thầm chuẩn bị một kế hoạch của riêng mình...
 12.
Tôi li hôn như chạy trốn khỏi chồng. Mẹ tôi buồn, thương con gái chỉ thầm thũi khóc. Khi mọi việc đã như ý định, lại thấy mình là con ngốc. Nửa năm rồi, tôi cố quên đi đoạn đời đau khổ đã trải qua, nhưng chẳng thể nào quên được. Càng cố quên, các hình ảnh, kỷ niệm xưa cũ càng hiện về: Những đêm vò võ chờ chồng đi xa. Mẹ chồng con dâu chấy rận cho nhau như ruột thịt. Mùi mồ hôi chua chua trên áo và khuôn mặt sạm nắng của chồng. Đêm vợ chồng đi cất vó tôm. Năm lần sinh đẻ không ra hình người. Mụ mị cứ nghĩ mình là con Thuồng Luồng... Tất cả đều như vừa mới hôm qua.
 Tôi thường ra bờ sông nhìn về phía nhà chồng cũ, khói chiều đang bay trên mái dạ. Tôi đoán, con bạn tôi hôm nay cho anh ăn cái gì? Đêm qua, nằm bên vợ mới anh có chợt nhớ tôi không? Người ta bảo: đàn bà đã trao thân cho người đàn ông nào là suốt đời sống chết với người đó. Sao tôi không sống chết với chồng tôi?
 Tôi đã biết mình khổ vì đâu. Nhưng cái bùa anh Tào yểm ngày xưa vẫn ám ảnh không dứt. Tôi sang sông, vác cuốc xẻng đến gò Thuồng Luồng đào. Tôi quyết phá tan cái bùa nộm rơm hồn con Thuồng Luồng cốt con gái để lòng tôi thanh thản. Tôi đào cuốc như con dở hơi.
 Trời xui đất khiến anh Tào đánh xe trâu đi qua đúng lúc tôi lôi lên một bộ xương, chẳng biết xương gì. Tôi khóc hu hu.
- Tôi biến thành con Thuồng Luồng rồi! Anh Tào ơi...ời!
- Em dại dột quá, Sao ạ. Ai lại tin lời nói vu vơ của anh cái thời nông nổi ấy.
- Thế thì... bộ xương... nào... đây?
- Có dễ xương... con Thuồng Luồng.
Tôi sây sẩm mặt mày:
- Tôi với anh duyên phận đâu vào đấy rồi. Sao anh cứ ám tôi mãi thế?
Vẫn chân thọt chân lành tập tễnh, nhìn anh Tào vừa giận vừa thương. Không đáp lại lời tôi trách móc, anh ngần ngừ một lát rồi nói:

- Sao này. Vợ mới của anh Lãng vừa sảo non ra một bọc, bà đỡ đếm được mười một cục thịt đỏ lòm. Cứ như Thuồng Luồng đẻ trứng ấy. Sao ạ...
 Tôi rùng mình. Hai tai ong ong như có ngàn vạn tiếng chuông dồn dập dội vào.
 Anh Lãng và tôi, không biết ai khổ hơn ai?
13.
 Tôi lại sang sông.
Con bạn tôi yếu đuối quá, không gánh nổi “cái nợ” nhà chồng. Cô ấy đã bỏ anh Lãng đi thật rồi. Anh Lãng đang âm thầm, lạnh tanh chịu đựng. Mẹ anh ốm rất nặng, có dễ không qua khỏi. Bà và anh Lãng đang cần tôi. Thực ra, lúc này chúng tôi rất cần nhau. Đã đến nước này thì... tôi phải gắng qua nốt bến nước thứ mười ba thôi.
 Tôi chọn lúc la lá tối sang sông. Đò đi chuyến cuối ngày. Sương mù đã bay đầy trên mặt nước. Một cái thuyền buôn đỏ lửa nấu ăn tối, đậu dềnh dàng sát bờ. Tôi nhận ra rất nhiều chã đất nung và liễn sành màu da lươn xếp đầy khoang thuyền buôn. Tôi bủn rủn chân tay. Khiếp quá! Mấy năm nay người ta dùng những thứ ấy nhiều quá. Ra đến giữa sông, đò chạm phải những cái bè chuối. Cô lái đò bảo: “Chị chịu khó ngồi, em chở! Từ chiều đến giờ, bè chuối ở đâu đó trôi về bến đông lắm.” Tôi nghi có thuồng luồng, ba ba, rùa, giải bơi theo đẩy; liền lấy sào khua dưới nưới thì không thấy vướng. Đò cố lách bè chuối lướt nhẹ. Vào gần bến, không tài nào đi được nữa. Bè chuối san sát chặn đằng trước đằng sau, vây chung quanh. Cô lái đò bỏ chèo, lấy sào đẩy bè chuối này ra, bè khác lại trôi áp vào: “Không cập bến này được đâu! Quay lại thôi. Hay là cập bến khác, chị nhá.” “Cô gái ơi! Bến này đã chót sang thì sang đến cùng.” Tôi cúi thò tay đẩy các bè chuối ra. Bè tản dần xa. Đò cập bến. Thật lạ kỳ! Tôi không cắt nghĩa được chuyện gì vừa xảy ra.
 Lần sang sông này vất vả quá. Tôi lên hẳn bờ, không thấy cái bè chuối nào dưới sông nữa. Đò và cô lái đã chui vào mù sương bến nước.
 Trên thuyền buôn chở chã đất nung và liễn sành màu da lươn, lửa vẫn lập loè sáng đỏ.

Trại sáng tác Đại Lải, tháng 8.2004

S.N.M


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 22 Tháng Tư, 2011, 10:46:32 am
                                    Con chị Lộc
                                    Tác giả:Anh Đức

Trời đang có mưa.
Những người tù biết trời mưa khi họ vừa bị lùa ra khỏi khám. Họ đón lấy giọt mưa với nỗi sung sướng thầm lặng. Ngót một năm rồi họ bị nhốt kín. Sống với roi vọt và bóng tối, họ thèm ánh mặt trời, thèm mưa, thèm cỏ cây. Họ khao khát mọi thứ tầm thường nhất mà xưa nay thiên nhiên vẫn rộng lòng ban phát cho mọi người.
Quả là ai cũng muốn bước thật chậm. Người nào cũng muốn đặt bàn chân lâu lâu trên đất. Bởi vì họ hiểu rằng chẳng mấy chốc nữa họ sẽ xa đất rất lâu. Và có thể là sẽ xa đất mãi mãi.
Côn Đảo với họ ngày nào còn là một hòn đảo ghê rợn trong tưởng tượng thì bây giờ tất cả mọi hiện thực ghê rợn về hòn đảo ấy đã gần gũi lắm.
Nhưng cái khoảng cách giữa cổng khám và những chiếc xe đợi chờ họ đi đâu có xa. Nên dẫu họ có đi chậm mấy, dẫu họ có nuối tiếc, cuối cùng rồi cũng không thể giữ được mãi hơi hướng của đất dưới đôi bàn chân.
Người tù lê bước đi sau hết là một phụ nữ có mang. Trong bóng tôi, chị thu hai cánh tay bị còng lên ngực, ngửa mặt đón lấy hạt mưa. Một người đi trước ý chừng sợ chị té, quay lại hỏi:
- Chị Lộc, chị đâu rồi?
- Tôi đây!
Chị đáp, và đi tới ánh sáng của một chiếc đèn "pin" chiếu thẳng vào mặt chị. Tên lính vừa bấm đèn đó quát:
- Sao đi chậm vậy, hả?
Dĩ nhiên là tên lính ấy không hiểu lý do về sự đi chậm của chị. Hắn đâu hiểu nỗi mừng rỡ của chị khi bắt gặp những giọt mưa rơi xuống. ánh đèn pin vẫn chưa tắt trên khuôn mặt người phụ nữ. Trông chị chưa quá hăm tám. Khuôn mặt trái xoan thon thả và xanh xao kia, cái đôi mắt sáng không chớp kia có cái gì rất đỗi trang nghiêm, vượt lên trên số phận tù tội của chị. Dường như chị không thấy có tên lính cùng tiếng quát của hắn. Tên lính thì lại nhận ra đó là một thái độ bướng bỉnh. Hắn vung khẩu tômxơn lên. Nhưng có tiếng người nói sau lưng:
- Đừng, chị ấy có thai!
Cũng chẳng rõ ai nói. Một người tù nào đó. Sau câu nói, mọi người đinh ninh một trận đòn sẽ xảy ra. Nhưng không, tên lính không đánh ai cả.
- Chị Lộc, chị mệt lắm không?
- Không sao. Giờ tôi thấy dễ chịu hơn. Mưa mát quá!
Xe hơi chở họ chạy đi. Mưa rơi lộp độp trên mui xe phủ vải bạt. Trận mưa đêm gợi cho người đi đày nhiều nỗi nhớ. Người nào cũng im lặng nghĩ đến vợ, đến con, nghĩ đến những người đồng chí thương mến đã cùng sống với mình qua những phút gian lao.
Chị phụ nữ mang thai ngồi bẹp dưới sàn xe. Hai tay chị đặt nơi bụng. Chị nghe tiếng mưa rơi rõ hơn tiếng ù ù của xe chạy. Từng giọt mưa cứ thấm vào lòng chị nỗi lo âu lạnh giá. Chị đang nghĩ đến đứa con. Đêm nay lại bắt đầu những thử thách mới, gian khổ khôn lường. Một câu hỏi luôn luôn ám ảnh chị: "Liệu con mình còn sống được không? Liệu mình còn gìn giữ được nguồn hy vọng tươi sáng mà bấy lâu mình mong đợi không?
Thật mong manh quá.
Sự sống của người đi đày vốn đã mỏng manh rồi, nói chi đến sự sống của đứa bé phải ra đời trong cảnh đi đầy. Cách đây mươi bữa, cơn phong ba ở Phú Lợi đã thổi qua đầu chị. Nay sẽ là biển cả nổi sóng, là hòn đảo chết cứ mỗi lúc một hiện ra, đen sạm. Nay không những chị phải vượt biển mà chị còn phải vượt cạn, vượt qua tất cả những gì tàn bạo nhất của kẻ thù dành cho chị và đứa con của chị. Đứa con! Ôi hai tiếng ấy có những mãnh lực gì, hai tiếng ấy có những tình yêu và hy vọng gì mà tự thuở còn con gái chị đã nghe nó từ xa. Có chồng rồi, chị Lộc nghe tiếng ấy gọi dậy trong lòng. Có lẽ như hầu hết những người con gái Việt Nam khác, trời đã phú sẵn cho chị tấm lòng của người mẹ ngay từ lúc chị chưa biết tình yêu. Chị không thể hiểu được khi nghe nói có những người đàn bà thành phố không muốn đẻ con, nuôi con. Họ chỉ thích kéo dài cuộc sống son rỗi, nhàn hạ. Chị không hẳn là những người phụ nữ thành thị, cũng không hẳn là người phụ nữ nông thôn. Chị có sống ở cả hai nơi. Nhưng bất kỳ ở đâu, sao chị cũng ham bế đứa con trẻ trên tay. Với chị, tiếng khóc của đứa trẻ nào mới sinh chị nghe cũng nô nức. Chị có chồng hơi muộn. Hứa hẹn với nhau thì lâu, nhưng làm lễ cưới chậm. Có chồng được vài tháng, trong một đêm vợ chồng nằm áp mặt vào nhau, chị thủ thỉ bảo chồng rằng: "Anh ơi, nếu có đẻ con nhiều thì hai đứa mình rán nuôi nghe, đừng để sơ sẩy đứa nào nghe!" Anh Lý, chồng chị, chẳng nói sao cả. Nhưng chị biết, dù đêm tối, chị biết anh ấy cười. Người tỉnh ủy viên đó hay có cái nụ cười tủm tỉm như thế. Bây giờ anh ấy ở đâu? Chị cũng không rõ. Đời cách mạng, chồng một nơi, vợ một nẻo. Lúc thụ thai được một tháng chị bị bắt. Trước những miếng đòn khảo tra của bọn công an, chị cố tìm cách tránh né sao cho đừng trúng bụng. Có hai cái chị gìn giữ cẩn thận nhất. Đó là những bí mật của Đảng và đứa con. Nhưng bí mật của Đảng thì chắc chắn giữ được, chớ miếng đòn kẻ địch đánh lên thân thể thì không sao tránh xiết được.
Sau những lần bị tra tấn, chị thường soát lại coi mình có nói câu gì có hại cho đoàn thể không. Rồi chị bình tĩnh để ý nghe coi cái thai có bị hề hấn gì không.
Độ này đứa bé chòi đạp mạnh khiến chị đau lói, choáng váng. Tính ra thì cũng đã gần ngày. Đứa bé đi vào nhà tù khi nó chớm tượng hình người. Thế là những dự định nho nhỏ của chị cũng không thể có được nữa rồi. Một chiếc nôi đan bằng mây, một cái mũ len xanh da trời nếu chị sanh con gái. Cái mũ sẽ đỏ tươi nếu chị đẻ con trai. Làm sao có thể có được trong cái cảnh đi đày này những tấm tã trắng, chùm vải ngũ sắc treo trên nôi, nhịp võng đưa nghe kẽo kẹt, và nhất là nụ cười của chồng khi anh ấy cúi xuống bên con...


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 22 Tháng Tư, 2011, 10:48:45 am
                              Tiếp theo :
 Ngồi trên xe dẫn ra cái bến biển đày ải, chị Lộc chụm hai khuỷu tay bị còng lại đặt lên bụng, như giữ lấy đứa con cho nó khỏi bị xốc.
Cơn mưa mỗi lúc một to. Trong xe tối quá, ngột ngạt quá. Chị Lộc ước: "- Phải chi tấm vải bạt kia trụt hở ra một chút thì thật là sướng". Chị muốn thở một cái. Nhưng biết làm sao. Tấm vải bạt nọ móc vào mui xe bởi những chiếc móc sắt rất khít khao. Mà tay người nào cũng bị xiềng cả. Có muốn mở cũng không được.
Lát sau chị Lộc chợt thấy có tay ai quờ quạng chạm lên tay mình. Tiếp theo đó là một giọng nói khàn khàn.
- Con có mệt lắm không?
Chị Lộc nhận ra ngay ông Sáu, người tù cao niên nhất đã ở tù chung với chị tại Phú Lợi. Chị đáp:
- Con hơi ngột... Bác Sáu có ngột không?
Ông già an ủi:
- Rán một chút nữa cháu. Gần tới rồi!
- Tới đâu?
- Chắc là nó đưa mình tới bên Ba Son.
Ông già trả lời. Mấy ngón tay gầy của ông đưa đi đưa lại vuốt vuốt bàn tay Lộc. Một nỗi xúc động kỳ lạ dâng lên trong người chị. Khi những ngón tay gầy guộc khô chai đó rờ rẫm tay chị, và cái còng nơi cổ tay ông già chạm phải cái còng trên cổ tay chị bật lên một tiếng kêu.
Còng số tám U.S.A. Cái nào cũng hệt như nhau. Nhưng hai bàn tay thì thuộc hai thế hệ khác.
"Đứa con trong bụng mình lại là một lớp người sau nữa". Chị Lộc nghĩ.
Trong một chuyến đi đày mà có tới ba lớp người đẻ trước sinh sau. Chị tự hỏi: "Liệu cái còng trên tay mình và tay bác Sáu sau này có còn siết lấy cổ tay con mình nữa không?" Trả lời câu hỏi đó của chị là tiếng xe hãm rít ở phía trước. Rồi chiếc xe chở chị cũng đột ngột dừng lại. Mọi người bị ngã quỵ vào nhau. Có tiếng giày đinh từ trên xe nhảy xuống, giẫm lạo xạo trên đá sỏi.
Tên lính đi ra sau xe mở tầm vải bạt. Mọi người trong xe nhỏm dậy. Tên lính gầm gừ:
- Chưa xuống đâu, đợi đó!
Chị Lộc đã thở được một hơi. Chị thấy trong người dễ chịu hơn. Ông Sáu kêu:
- Đúng là bến Ba Son rồi!
Dưới ánh sáng của những bóng điện mắc trên lưới thép gai giăng quanh, chị Lộc thấy những tên lính gác cắp súng đứng liền nhau. Sóng sông Sài Gòn vỗ ì oạp vào bờ đá. Hai chiếc tàu sắt đậu lù lù dưới bến, mõm há ra. Những xe trước rú lên, ghé đít vào sát bửng sắt của con tàu bây giờ biến thành cái cầu.
Những người tù nhảy xuống, hai tay bị còng cứ thu thu nơi ngực. Chiếc tàu nuốt lấy hết người này đến người khác. Cái mõm tham lam ấy chứa đến bảy tám xe người mà vẫn chưa chịu đóng lại.
Chiếc xe chị Lộc quay đầu, chạy lùi về mõm tàu. Tên lính thét:
- Xuống!
Mọi người đều nhảy, trừ chị Lộc. Chị không dám nhảy. Có hai anh ghé vào đỡ chị xuống. Tên lính liền thúc báng súng vào lưng họ, khiến họ ngã chúi. Họ coi đó là sự thường, lồm cồm ngồi dậy.
Đám người bị lùa xuống tàu sau những họng súng garăng lắp lê sáng loáng. Chị Lộc lần đầu bước lên tàu há mồm. Chạy trên tấm sắt dày, chị nghe lạnh ngắt bàn chân. Xuống đây đèn bật sáng lên, tù được tháo còng, để rồi liền đó họ bị cùm chân vào những thanh sắt dài thượt sơn đen đặt trên sàn tàu. Đó là những thanh quyện văn minh nhất mà người Mỹ đã chế tạo.
Chị Lộc đút chân vào cái quyện sắt ấy rồi, bỗng thấy trong người bần thần khó chịu. Chị khẽ tựa vào lưng một người ở phía sau.
Hầm tàu quả là một cái dạ dày háu đói đến tàn nhẫn. Nó cứ nuốt lấy những người tù bị lùa chạy qua tấm sắt. Đến lúc nó không thể nào chứa thêm được nữa thì hai sợi dây lòi tói lớn bằng bắp tay từ từ móc lôi tấm bửng sắt lên. Mõm tàu khép lại. Tiếng lòi tói, tiếng sắt khua động rền rĩ. Đó là tiếng còi chào giã bến của những tàu loại này.
Đèn trong hầm tàu cũng tắt nốt.
Tàu xình xình lướt đi trên mặt sông Sài Gòn. Chị Lộc cắn chặt môi giữ cho mình khỏi khóc. Bị tra tấn chị chẳng hề ứa một giọt nước mắt. Vậy mà bây giờ chị muốn khóc làm sao. Chị rưng rưng nhớ tuổi nhỏ, nhớ má chị, nhớ tình yêu hé ra trong những ngày đen tối. Giây phút ấy chị thấy lại cái bến sông mà chị thường giặt giũ gội tóc. Chị cảm thấy tay mình như còn ấm nóng cái bàn tay âu yếm vụng về của anh Lý, mới ngày nào vừa cầm dắt chị đi qua một cánh đồng. Chị còn nhớ gió chiều thổi lật những gốc rạ, và phía chân đồng như hãy còn ầm ĩ vọng lại bên tai chị tiếng sấm báo hiệu trời sắp sa mưa.
Con tàu sình sình trườn đi trong đêm tối. Tiếng ồn ào của thành phố im dần. Cuối cùng Sài Gòn chỉ còn dậy lên rào rào như một tổ ong. Sóng nước vã lách chách vào mạn tàu. Cứ mỗi lúc chị Lộc nghe tiếng sóng vỗ mạnh hơn. Tàu bắt đầu bị nhồi lắc.
- Biển rồi!
Một người trong hầm tàu kêu lên.
Tiếng kêu như một lần nữa báo cho những người đi đày biết rằng cái gì ở lại sau lưng đều đã ở lại. Gió lùa qua các cửa sổ tròn. Chị Lộc sợ nhận lầm, nên chị nhổm lên nhìn. Sau cửa, chỉ có đêm đen, với những lượn sóng bổ nhào, đầm đìa ánh sáng.
"Ra tới biển thật rồi!". Chị tự nhủ và ngồi xuống. Nhưng bấy giờ chị thấy bụng hơi đau. Rồi cơn đau bất ngờ oằn lên khiến chị lặng người đi. Hai tay chị bíu lấy thanh sắt quyện chân, mồ hôi vã ra hai bên thái dương. Trạng thái cơ thể báo cho chị biết rằng đây không phải là một cơn đau bụng thường. Chị gắng chịu cho tới lúc không dám im chịu nữa. Chị phều phào gọi:
- Mấy anh ơi!
- Gì đó?
- Tôi đau quá!
- Ai? Chị Lộc hả, sao?
Những đôi bàn chân đưa tới, sờ soạng trong bóng tối tìm chị.


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 22 Tháng Tư, 2011, 10:50:27 am
                                    Tiếp theo :
 Những đôi bàn chân đưa tới, sờ soạng trong bóng tối tìm chị. Tiếng ông Sáu hỏi:
- Con Lộc hả? Sao đó con?
- Dạ, con đau bụng quá. Có lẽ...
Ông già không đợi Lộc nói nữa, quát luôn:
- Ai ở gần cửa đập cửa kêu tụi nó coi! Nói có người chuyển bụng đẻ...
Tấm cửa sắt ngăn hầm tàu và những căn phòng ở phía trước bị gót chân người giậm rầm rầm. Người giậm cửa có lẽ mỏi cả chân rồi mà cánh cửa vẫn không động đậy.
- Chắc tụi nó ngủ. Đạp mạnh nữa đi!
Tấm cửa sắt lại bị những người gần đấy đạp dữ dội. Lát sau cánh cửa kêu rít lên. Đèn trong hầm tàu bật sáng. Tên lính thò đầu qua khe cửa mở hé, hỏi:
- Làm cái gì om sòm vậy?
- Có một người phụ nữ chuyển bụng đẻ.
Tên lính trố mắt:
- Đẻ hả! Ai đó?
- 1090
- Thiệt là rắc rối quá. Thôi để tôi báo trung úy. Tên lính rụt đầu vào. Những người trong hầm tàu sốt ruột chờ hắn trở lại. Chị Lộc bây giờ đã nằm xuống hầm tàu. Mà chân trái chị vẫn bị giữ trong quyện sắt.
Tên lính đã trở lại. Lần này có cả tên trung úy đi theo. Hai tên lách mình qua cửa. Tên trung úy quay sang nói gì với tên lính. Tên lính liền móc xâu thìa khóa cúi xuống ở thanh cùm bên phía chị Lộc và hất hàm:
- Số 1090, rút chân ra nghe!
Chị Lộc từ từ rút chân mình ra.
Thanh cùm lại đóng khép những bàn chân kia lại. Tên trung úy nói:
- Trên tàu không lo được chuyện chửa đẻ!
- Y tá của các ông đâu?
- Không có y tá!
Giữa đám đông người bỗng có một cánh tay giơ lên:
- Tôi làm việc đó được. Mở cùm cho tôi!
Người vừa nói ngồi tận trong xó tàu. Sự lên tiếng của anh ta đem lại hy vọng cho cả hầm tàu. Tên trung úy ngó lơ chỗ khác một lúc rồi day lại hỏi:
- Thằng nào mới nói đó?
- Tôi, 1212!
- Mày biết làm cái nghề đó à?
- Biết.
Tên trung úy đứng lưỡng lự một chốc rồi bảo tên lính:
- Mở cho nó ra!
Chùm chìa khóa lại khua lên. Tên lính mở thanh cùm sắt trong vách tàu cho người tù số 1212 rút chân ra.
- Chúng tôi xin đi thêm hai người nữa!
Hai anh ngồi cạnh anh 1212 vừa nói vừa rút chân ra luôn. Tên trung úy thét:
- Không, không được!
Tên lính nói nhỏ vào tai tên trung úy:
- Thưa trung úy, cứ cho tụi nó đi. Hai thằng đó có thể nấu nước.
Mọi người lao xao:


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 22 Tháng Tư, 2011, 10:54:45 am
                                       Tiếp theo :
Mọi người lao xao:
- Ông không có y tá thì để chúng tôi giúp đỡ nhau.
Tên trung úy cười gằn:
- Mấy người giỏi gánh vác cho nhau lắm... Thì cứ đi theo mà gánh vác. Nhưng tôi cho hay phải lo chỗ nằm cho chị ta đó.Ở trên đẻ thì được chớ không nằm được đâu!
Ba người tù bước ra. Họ tiến đến chỗ chị Lộc, đỡ chị dậy, dìu đi. Sóng biển bây giờ xô mạnh hơn. Con tàu chao lắc quá, nên bước đi của họ cũng rõ là vất vả hơn. Họ miết ngón chân xuống sàn tàu, người nghiêng nghiêng.
Cánh cửa sắt khép lại.
Khi bốn người đã đi, không khí trong hầm tàu có cái gì không giống trước. Đành là tên lính không tắt đèn. Do đó mà hầm tàu có ánh sáng. Nhưng cái khác trước đây là mọi người đều ngồi dậy cả. Những tiếng nói lào xào:
- Cho hai người đi thêm là rất hay!
- Phải rồi, tin tụi nó đâu được.
- Quân khốn nạn quá. Chị em có chửa xin hõan lại đẻ cũng không được. Thằng Diệm mà chết thì mả của nó rồi cũng bị trời đánh tét hai như mả ông già nó thôi!
- Tôi sợ thằng nhỏ khó sống. Cô ta bị nó đánh cũng nhiều...
- Trời ơi... Mong sao mẹ tròn con vuông. Ra đảo rồi thì tụi mình cố mà đùm bọc cho hai mẹ con...
Mọi người nguyền rủa, bàn bạc lo lắng. Ngót ba trăm con người ấy đang hồi hộp đón đợi sự ra đời của một con người. Họ chờ cánh cửa nhích ra. Khi mà biển cả trong đêm thâu vẫn gào lên. Và gió rú dữ dội. Gió xát vào mạn tàu, thổi hù hù qua các cửa sắt. Những người đi đày chợt quên khuấy cái hòn đảo khủng khiếp mà con tàu sẽ đưa họ đến trong ngày mai. Bây giờ hầu như không ai nghĩ tới hòn đảo chết chóc ấy nữa. Cả hầm tàu nghĩ tới đứa bé, và người mẹ của nó. Họ hy vọng và họ ngờ vực. Đêm đi đày không im lìm tăm tối nữa. Hình như đêm bị đánh thức, sáng lòa từ lúc ông già Sáu thét người đạp cửa, anh 1212 lên tiếng - "Tôi làm việc đó được!" và hai anh khác tự động rút phắt chân ra khỏi cùm, đứng dậy.
Một người ở cạnh chỗ chị Lộc nằm ban nãy nói:
- Giờ phải sửa soạn chỗ nằm cho hai mẹ con chớ!
Người đó nói đoạn liền cởi áo của mình ra, lặng lẽ trải lên khoang tàu.
Người thứ hai bên cạnh cũng làm y như vậy. Người thứ ba, rồi người thứ tư cởi áo mình chuyền lại. Cứ thế, loáng sau chỗ đó đã lợp thành nệm. Một cái nệm tạo nên bằng những tấm áo tù có in ba chữ tắt C.T.P. Đến lúc người tù trải áo kêu lên: "Thôi, thôi, nhiều quá rồi!" Thì những tấm áo vẫn còn chuyền tới trên tay. Và người ta vẫn còn cởi áo.
Những ai sau khi đã cởi áo của mình ra quả là họ thấy có lạnh hơn, nhưng lại thấy yên lòng hơn lúc còn mặc áo.
Không biết con tàu đã vượt thêm bao nhiêu dặm biển nữa rồi. Thời gian có vẻ đi chậm lại. Ai cũng bồn chồn tự hỏi:
- Sao lâu quá chẳng biết có chuyện gì xảy ra không?
Mọi người nôn nao muốn chạy lại kéo cửa mà tìm tới chỗ chị Lộc. Nhưng thanh quyện sắt giữ chặt chân họ. Làm sao mà chạy đi cho được.
Bọn người ở Bắc Mỹ chế cây cùm phải nói là khéo. Chỉ vài thanh sắt thôi mà giữ được cả trăm con người.
Nhưng những con người ở đây không chạy được thì họ cũng chẳng chịu yên. Họ dùng một chân còn lại đạp cửa. Cánh cửa sắt lại tung lên rầm rầm. Nhưng nó vẫn không mở ra.
Thình lình giữa lúc ấy có tiếng thét từ bên cửa vọng lại. Rồi có ai ngã dúi vào cửa. Mọi người trong hầm tàu đều nhổm lên. Bên kia cửa hình như có tiếng giày đinh nện xuống sàn tàu lốp cốp, tiếng đấm đá huỳnh huỵch, tiếng giằng xé, la lối, gầm ghè. Đột nhiên, cánh cửa mở xịch ra. Người mở cửa không phải tên lính mà là một trong số hai người tù ban nãy. Anh ta rán sức kéo cánh cửa. Còn tên trung úy và mấy tên lính thì đang cố ghì lại. Thừa cơ hội đó, anh tù 1212 bế đứa bé đỏ hỏn chun lòn qua cửa. Anh ta chạy bổ vào giữa đám người trong hầm tàu. Tên trung úy và mấy tên lính lảo đảo rượt theo. Nhưng mọi người đã cản chúng lại. Anh tù 1212 nói qua hơi thở hổn hển:
- Nó... nó tính liệng thằng nhỏ xuống biển.
- Trời...
Cả hầm tàu gầm lên. Tức khắc tên trung úy và mấy tên lính bị lôi té sấp xuống. Chúng bị những người tù đè chặt. Tên trung úy bị một bàn tay siết lấy cổ họng. Hắn kêu ằng ặc. Khi ông già Sáu quay lại thì thấy đôi mắt tên trung úy đã trợn ngược. Ông nói:
- Buông nó ra!
Bàn tay đang bóp cổ tên trung úy từ từ nới nhẹ. Tên trung úy nghẽo vật cổ, lưỡi thè lè trông rất ghê sợ.
Hắn đã tắt thở.
Chiếc tàu đó không bao giờ đi tới Côn Đảo. Cơn phẫn nộ đã đẩy những người tù tới hành động mà họ không tính trước. Sau khi chuồi cái xác tên trung úy qua cửa sổ, những người tù bắt tên lính mở cùm. Họ trèo ra khỏi hầm tàu, bắt hết bọn lính trói lại, rồi kề súng buộc tên cầm lái chạy về hướng mũi Cà Mau.
Đến trưa hôm sau, chiếc tàu rướn vào bãi cạn Viên An, mỏm đất chót vót của Cà Mau. Những người tù đổ xăng đốt chiếc tàu. Họ lùa bọn lính lên bãi đước mới mọc, và bồng theo cả đứa bé oa oa khóc.
- Cho đến bây giờ, đứa bé cũng hãy còn. Nó đã lên bảy, mập mạnh và rất nghịch ngợm. Giá như mẹ nó không nói thì tôi cũng chẳng biết nó được sinh ra trong cái đêm dữ dội ấy đâu.

1964
Anh Đức


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 23 Tháng Tư, 2011, 12:41:21 pm
                                                   Lính CKC    
                                                   Tác giả :Trần đức Tĩnh . 

Nếu ai có hỏi, anh làm nghề gì thì tôi sẵn sàng nói một câu ngắn gọn “lính”. Tôi không biết cái từ “lính” bắt nguồn từ đâu, nhưng chắc chắn nó có xuất xứ từ rất lâu rồi, và đến bây giờ nó đã trở thành một từ nghe khá thân thuộc đối với tất cả mọi người. Dù anh có là một vị tướng hay một cậu chiến sĩ trẻ đều có thể dùng cái từ đó để chỉ về nghề nghiệp của mình một cách giản dị và dễ hiểu.

Tôi rất tự hào vì mình đã từng là một người lính của Binh đoàn Hương Giang. Cái tên Hương Giang là tên của một dòng sông, nghe dịu dàng nhưng mạnh mẽ làm sao! Với truyền thống “Thần tốc - Táo bạo - Quyết thắng” đủ biết bước đi của binh đoàn có sức mạnh bạt sông xẻ núi như thế nào! Tôi không bao giờ quên những kỷ niệm của mình gắn bó với Trung đoàn Lê Trực suốt một thời trai trẻ. Thời gian bảy năm chưa phải là dài nhưng cũng không quá ngắn ngủi, nó đủ nuôi dưỡng tâm hồn và rèn luyện ý chí cho một con người như tôi. Có thể nói tôi đã khôn lớn trưởng thành là nhờ công lao dạy dỗ của Binh đoàn. Sau mỗi mùa huấn luyện là diễn tập dài ngày, hành quân mang vác nặng, vượt qua cái loại địa hình. Nếu bạn chưa bao giờ được đi trong hàng ngũ của những cuộc hành quân lớn thì nên đăng ký nhập ngũ để được chứng kiến, những bước chân rầm rập ngày đêm khiến núi rừng ngả nghiêng. Đoàn quân đi như một cơn lốc, cát bụi mù mịt, cỏ cây tan tác dưới gót giầy.

Và tôi đã quay trở lại hòa mình cùng những người lính ở đơn vị cũ vào một ngày cuối năm.

Mùa này không gian ở núi rừng Lục Ngạn đẹp lắm, đứng trên đỉnh núi nhìn xuống những vườn vải thiều đang chờ đến vụ ra hoa lốm đốm như những chấm màu tối làm dịu bớt độ chói lóa của không gian, dịch lên một tí nữa là những cánh rừng dẻ đang trổ hoa trắng, xen lẫn vào đó là những bông hoa chàm thơm ngát, trên cao là những trảng đồi cỏ tranh vàng rực trong cái nắng mùa đông.

Thật tình cờ trên chuyến xe từ Hà Nội ngược lên phố Chũ tôi quen một cậu chiến sĩ trẻ. Chúng tôi ngồi cùng một hàng ghế. Cậu chiến sĩ trẻ ấy tên là Trần Văn Chiến, cấp bậc trung sĩ, quê ở Cổ Nhuế - Từ Liêm - Hà Nội. Tuy nước da có phần hơi đen nhưng Chiến mặc bộ quân phục màu xanh đeo quân hàm trên ve áo trông rất chững chạc. Lên xe Chiến bắt chuyện với tôi trước vì lý do chiếc ba lô quá cồng kềnh:

- Làm ơn, anh có thể dịch bớt cái chân sang một bên cho em để nhờ ba lô được không?

- Ồ! Không có gì, anh rất sẵn sàng. Em ở đơn vị nào?

- Trung đoàn M8? Thế anh làm nghề gì?

- Lính.

- Ơ! Thế anh cũng là bộ đội, nhưng sao em trông chả thấy giống chút nào! Anh đeo kính trắng, mặc dân sự, em đoán anh chỉ có thể là một cán bộ công chức ở một cơ quan nào đó.

- Em nhầm to rồi đấy, chẳng lẽ cứ nước da đen, mặc quân phục mới là lính à?

- Không phải thế, trông anh…

Chúng tôi quen nhau bắt đầu bằng những câu đối đáp sôi nổi như vậy. Khi tôi móc túi áo lấy chứng minh sĩ quan đưa cho Chiến, cậu ta không giấu được vui mừng:

- Trước đây anh cũng ở Trung đoàn à?

- Chính xác.

- Thế anh ở tiểu đoàn nào?

- Tiểu đoàn 9.

- Ơ! Thế đúng là tiểu đoàn em rồi. Anh lên đơn vị cũ chơi à?

- Cậu chỉ được cái nói đúng.

- Em mới về phép. Hôm nay hết thời hạn.

- Không có bạn gái đưa tiễn à?
- Chưa! Em làm gì có, mà yêu sớm làm gì cho mệt. Sau này ra quân về kiếm công việc làm ổn định rồi hãy tính.

- Năm nay em bao nhiêu tuổi rồi?

- Em sinh năm 1987.

Câu chuyện giữa hai chúng tôi dần chuyển sang lịch sử ra đời và trưởng thành của đơn vị. Được thành lập ngày 12 tháng 9 năm 1945 tại huyện Tuyên Hóa tỉnh Quảng Bình, Trung đoàn M8 mang tên của một vị sĩ phu yêu nước - người anh hùng Lê Trực - mãi mãi ăn sâu vào tâm khảm của nhiều thế hệ cán bộ chiến sĩ. Bước chân của những người lính trung đoàn đã trải qua khắp các chiến trường và cả trên nước bạn Lào. Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước những người lính trung đoàn đã từng được mệnh danh là chiến sĩ “thép gang” đánh thắng đội quân “gang thép” tại Đà Nẵng. Ngày 17 tháng 5 năm 1974 Binh đoàn Hương Giang được thành lập, Trung đoàn M8 nằm trong đội hình chiến đấu của Sư đoàn B25, là một đội quân chủ lực tham gia cuộc hành quân thần tốc vào giải phóng Sài Gòn. Sau giải phóng miền Nam thống nhất đất nước những người lính trung đoàn vẫn tiếp tục tham gia nhiều trận chiến đấu khác tại biên giới Tây Nam, Tây Bắc. Sau khi tình hình biên giới ổn định trung đoàn về đứng chân tại mảnh đất Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang.

Quãng đường từ Hà Nội lên thị trấn Chũ huyện Lục Ngạn dài hơn một trăm km nhưng vì mải nói chuyện với Chiến nên chẳng mấy chốc đã đến nơi. Cuộc vui nào cũng sẽ phải đến lúc tàn, con người nào cũng phải lớn lên trưởng thành rồi bay đi tìm những khát vọng cho riêng mình. Tôi chia tay đồng đội đã hơn ba năm nhưng không lúc nguôi nỗi nhớ đơn vị. Tôi nhớ những buổi thao trường nắng như đổ lửa, nhớ con đường đất đỏ bụi mù, những cuộc hành quân rừng mưa lép nhép, nhớ những lần ngồi trên đỉnh núi chia nhau nắm cơm vắt trộn lẫn nước mưa. Ôi! Vất vả mãi rồi đến khi nhàn hạ, ít việc lại cảm thấy bứt rứt khó chịu.

Tôi đặt chân đến Tiểu đoàn 9 đúng vào lúc đơn vị đang tiến hành huấn luyện chiến sĩ tân binh. Mới có ba năm nhưng cơ sở vật chất đã có nhiều thay đổi, những dãy nhà xây kiên cố lợp mái tôn xen kẽ vườn hoa cây cảnh, giống như một khu du lịch sinh thái. Không khí huấn luyện lúc nào cũng nhộn nhịp khẩn trương. Hôm nay đại đội 10 tiến hành đại hội chi đoàn, các cô giáo trẻ ở trường PTCS xã Giáp Sơn cũng đến giao lưu kết nghĩa cùng những đoàn viên thanh niên trong tiểu đoàn. Ở trung đoàn đã có nhiều cán bộ sĩ quan “nên duyên” cùng những cô giáo dạy học gần đơn vị. Về đến sân tiểu đoàn Chiến bảo tôi lên nhà chỉ huy gặp Thiếu tá Xuân Thịnh - Chính trị viên tiểu đoàn. Trước kia anh Thịnh là chính trị viên đại đội của Trung đoàn M01, được bổ nhiệm lên tiểu đoàn làm chính trị viên phó rồi mới lên chính trị viên. Bạn bè cũ của tôi đã nhiều người chuyển đi nơi khác nhận nhiệm vụ mới, lớp người cũ chuyển đi, lớp mới lại kế cận vào đó. Hệ thống nhà ở của cán bộ chiễn sĩ tiểu đoàn được bố trí khép kín, nhà chỉ huy tiểu đoàn nằm giữa trung tâm có thể bao quát toàn bộ hoạt động dưới các đại đội.Tôi ngồi uống nước trên tiền sảnh thỉnh thoảng lại nhìn thấy những đồng đội thân quen đi qua sân. Lúc tạm biệt tôi, Chiến bảo: “Em ở đại đội 12, lúc nào anh xuống chỗ chúng em chơi, em là tiểu đội trưởng anh cứ hỏi Chiến a trưởng là mọi người biết ngay”.

Bất chợt có tiếng còi toét lên ở khoảng giữa sân bóng tiểu đoàn. Tiếp theo là một tràng khẩu lệnh: “Đại đội - Thành đội hình hàng ngang, trung đội ba hàng dọc - Tập hợp”. Khi khẩu lệnh vừa dứt thì chiến sĩ từ trong dãy nhà của đại đội 9 chạy ùa ra đứng thành hàng ngũ ngay ngắn. “Nghiêm - Nhìn bên phải thẳng”. “Thôi - Chỉnh đốn trang phục. Nghỉ”. Anh Thịnh bảo tôi đấy là Thượng úy Lê Đức Dục cũng mới chuyển từ Trung đoàn M01 về làm đại đội trưởng, đợt vừa rồi tham gia bắn thử nghiệm vũ khí mới, Dục được cấp trên đánh giá cao. Ngồi trên nhà chỉ huy tiểu đoàn nhìn những chiến sĩ đang tập đội ngũ ngoài sân khiến chất lính trong tôi bắt đầu bừng bừng cháy, tôi lại muốn được hòa mình vào trong số những chiến sĩ trẻ kia. Tôi xin phép anh Thịnh xuống các đại đội thăm anh em. Anh Thịnh mỉm cười, gật đầu đồng ý.  Tôi đang định xuống đại đội 12 thì nhìn thấy Chiến đi ngang qua sân nhà chỉ huy tiểu đoàn. Chiến bảo: “Em cầm gói quà sang đại đội 10 cho thằng bạn, chị gái nó gửi. Anh cứ xuống chỗ anh Tùng, đại đội trưởng ngồi chơi, lát nữa em về”.

Nói xong Chiến đi ngay, còn tôi thong thả bước xuống khu vườn cây có hàng ghế đá vì nhìn thấy một tốp cán bộ đang ngồi giải lao ở đó. Vừa mới ló mặt qua bảng tin thi đua của đại đội tôi đã giật mình vì tiếng chào phát ra từ nhóm cán bộ trẻ: “Chào đại ca! Hôm nay về thăm đơn vị à?”. Tôi nhận ra Tùng và vui vẻ đáp lại: “Đúng rồi. Các chú đang tranh luận đề tài gì đấy?”. “Báo cáo đại ca! Bọn nó đang tập trung mũi nhọn công kích em về chủ đề lấy vợ”. À ra thế. Đúng là phải thông cảm cho Tùng nhiều lắm. Làm cán bộ quản lý quân số lấy đâu ra thời gian mà đi tán gái. Quê Tùng lại ở mãi Nghệ An, một năm nghỉ phép về thăm nhà một đến hai lần. Những người ngoài ba mươi chưa lấy vợ như Tùng ở trong đơn vị không phải là hiếm. Quản lý quân số lúc nào cũng lo ngay ngáy sợ đơn vị xảy ra vụ việc là cán bộ phải liên đới trách nhiệm, đi chơi với bạn gái mà trong lòng mang tâm trạng không thoải mái thì rất khó thành công. Chưa kể, lính tráng nhà ta quen tiếp xúc với điều lệnh nên nói năng cứng nhắc khó thuyết phục các cô nàng ưa dịu dàng trìu mến. Tùng cũng không hơn gì trong cái khoản “ăn nói” này. Đang ngồi nói chuyện bỗng Tùng sực nhớ ra điều gì đó, vội lấy điện thoại xem giờ:

- Trực ban! Thổi còi cho bộ đội chuyển nội dung, gọi quân khí mở tủ lấy vũ khí trang bị ra thao trường.

Đơn vị huấn luyện sẵn sàng chiến đấu là luôn thực hiện mười một chế độ trong ngày. Cũng từ những chế độ được duy trì chặt chẽ, kín mít như vậy nên người lính tự đặt ra cho mình cái danh hiệu “Lính CKC”. Chế độ bắt đầu của một ngày là thức dậy, trực ban phải thổi còi rồi đôn đốc các bộ phận khẩn trương ra sân tập thể dục. Đến giờ hành chính thì kẻng của tiểu đoàn gõ báo hiệu cho các đại đội thực hiện theo kế hoạch huấn luyện trong ngày. Và một chế độ trong ngày quan trọng nhất nữa là ăn cơm, khi đến giờ cơm tất cả chiến sĩ xếp hàng xuống nhà ăn theo đúng vị trí quy định. Cái từ CKC được những người lính ở tiểu đoàn 9 gọi có nghĩa là; “Còi”, “Kẻng”, “Cơm”.


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 23 Tháng Tư, 2011, 12:43:30 pm
                               Tiếp theo :
  Tùng vừa mới dứt lời thì chiến sĩ trực ban đại đội đã tuýt một hồi còi rồi hô:

- Chuyển nội dung huấn luyện, các bộ phận vào lấy vũ khí trang bị.

Trực ban vừa phát khẩu lệnh xong tôi đã thấy Chiến có mặt trước cửa tủ súng rồi. Chiến nhìn tôi bằng ánh mắt thân thiện ngầm ý nói, em phải đi huấn luyện mất rồi, anh thông cảm, lính “CKC” mà anh.

Buổi chiều tôi đi đến đại đội nào cũng thấy cán bộ chiến sĩ đang tham gia huấn luyện. Tiếng hô khẩu lệnh vang rền như sấm trên nhịp bước dồn dập xung phong của những chiến sĩ trẻ. Chỉ còn hai ngày nữa thôi những chiến sĩ tân binh sẽ tuyên thệ dưới lá cờ thêu dòng chữ vàng “Quyết thắng”. Thật tự hào khi những tiếng “xin thề” đồng loạt vang lên từ dưới hàng quân. Chỉ có ở những đơn vị chủ lực khí thế của cán bộ chiến sĩ mới hừng hực được như thế, đoàn quân đi như thác đổ, dù có gập ghềnh khó khăn nhưng chỉ cần một nhịp hô đồng lòng là sẽ vượt qua tất cả. Tôi lại gặp Chiến trong trường hợp như thế. Lúc đấy tôi đang đứng ở ngoài bãi vật cản của tiểu đoàn thì thấy Chiến đang chỉ huy tiểu đội luyện tập các tư thế vận động trên chiến trường. Chiến làm động tác mẫu cho anh em quan sát. Bóng của Chiến ẩn hiện thoăn thoắt lẫn trong cái nắng vàng của mùa đông. Bất ngờ ba hồi còi vang lên kèm theo khẩu lệnh: Thôi tập - Giá súng - Nghỉ giải lao. Biết tôi đang có ý định viết một bài bút ký về đời sống của các chiến sĩ trẻ nên lúc giải lao anh em quây đến hỏi chuyện. Hầm bà làng những chuyện tầm phào. Câu chuyện của anh em chúng tôi nói hoài không hết. Tôi nghĩ vì cán bộ nể mình nên mới để cho thời gian nghỉ lâu quá. Ngày mai sư đoàn sẽ đi kiểm tra các nội dung huấn luyện dưới đơn vị, tôi tự thấy mình là người vi phạm điều lệnh vì đã làm ảnh hưởng đến thời gian biểu. Thôi! Chào các chiến sĩ trẻ nhá, chúc các chiến sĩ luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình.

Hết giờ huấn luyện tiểu đoàn có kế hoạch cho tất cả cán bộ chiến sĩ tham gia chơi các môn thể thao theo sở thích. Thật khó mà phân biệt được đâu là cán bộ và đâu là chiến sĩ! Có một người tôi không thể nhầm lẫn được đó là Chiến. Chiến mặc quần đùi, đá bóng giữa sân. Giờ này mà ở nhà thì chắc Chiến đang chúi mắt vào màn hình máy tính “game, chat”. Con người vốn là sản phẩm của tự nhiên, nếu không có môi trường hoạt động sẽ gây hậu quả cho sự phát triển tư duy và thể chất. Nhiều cu cậu quá say sưa với đời sống ảo trên mạng nên ngoài đời sống ngu ngơ như gà công nghiệp. Vào quân đội đúng là vào một trường rèn luyện lớn. Nhiều thanh niên lúc mới nhập ngũ còn lơ ngơ nhưng khi kết thúc nghĩa vụ đã nhanh chóng hòa nhập với đời sống một cách chủ động hơn. Tôi nhớ lúc ngồi trên xe từ Hà Nội về đơn vị Chiến bảo: “Hết nghĩa vụ em sẽ đăng ký đi học nghề Điện tử - Điện lạnh. Ở Hà Nội cái nghề đấy cũng dễ kiếm ăn lắm anh ạ”. Nghĩ như Chiến cũng phải, sống trên đời này bắt buộc mỗi con người phải chọn cho mình một cái nghề để tồn tại. Nhưng trước mắt Chiến phải hoàn thành xong nghĩa vụ của một công dân đã. Cả tiểu đoàn chỉ có một cái sân bóng lớn nằm giữa trung tâm, ngoài ra còn có thêm một sân bóng chuyền và nhiều bàn bóng bàn nữa. Chỗ nào có khoảng trống là có thể tạo thành sân thể thao cho anh em cán bộ chiến sĩ, những ai không chơi bóng thì tụ tập thành từng nhóm đẩy tạ dưới gốc cây. Tôi đang ngồi ở chiếc ghế đá xem trận bóng đá không trọng tài thì Chiến chạy đến nói thầm vào tai: “Tối nay sau giờ sinh hoạt mời anh xuống chỗ em chơi nhá”. Chiến mới về quê lên đơn vị nên có mấy món quà mời anh em liên hoan. Ôi! Thật là vui, tôi lại cảm thấy tiếc thời trẻ trung của mình. Sao mà mọi thứ trôi qua nhanh thế, mới ngày nào tôi còn là một cậu binh nhì! Tôi  cũng hay “tùm la tùm lum” với đám bạn cùng tiểu đội. Thời ấy đời sống lính tráng chưa được như bây giờ, có hôm tôi được về tranh thủ mang lên đơn vị một bao tải sắn khiến cả tiểu đội xì sục ăn uống, suýt phải tập trung báo động ra sân sinh hoạt. Thật ra chẳng mấy khi con người ta quên được những kỷ niệm của đời lính. Mỗi người lính gắn với đơn vị thường có một biệt danh để nhớ. Tôi hỏi một chiến sĩ trẻ ngồi ngay bên cạnh mình xem lính đặt biệt danh cho Đại đội trưởng Tùng là gì? Cậu ấy nhìn tôi cười không dám nói nhưng có một chiến sĩ khác ngồi ngay bên cạnh nhanh mồm đáp: “Chúng em vẫn gọi anh ấy là Tùng Pheng”. Tôi hỏi rõ lai lịch cái từ “Pheng” ở đâu ra thì vẫn chiến sĩ đó nói: “Anh Tùng nói xong là “pheng” ngay, tác phong làm việc rất dứt khoát, ăn nói phải tròn vành rõ chữ, lập luận phải bảo đảm một cách vuông góc, léng phéng là anh ấy “pheng” ngay cho một quyết định kỷ luật, bọn em vừa mới định lộn xộn nghe thấy tiếng anh ấy ho một cái là xẹp ngay. Anh ấy còn bảo chúng em phải thực hiện nghiêm túc chế độ CKC, mới đầu em tưởng là súng tiểu liên CKC nhưng được anh em chiến sĩ cũ bảo khi nghe thấy hiệu lệnh Còi - Kẻng - Cơm phải nhanh, cái từ CKC cũng chính từ anh Tùng đặt ra cho chúng em thực hiện”.

  Trận bóng trên sân được kết thúc bằng một hồi còi, không có khẩu lệnh nào phát ra nhưng tất cả các cầu thủ đều giải tán, đi thẳng ra khu bể nước tắm của các đại đội. Trước lúc ra đi tắm Chiến còn quay lại chỗ tôi ngồi dặn thêm một lần nữa. “Anh nhớ nhá”. Nói xong Chiến chạy nhanh rồi mất hút phía sau nhà.

Bữa cơm tối tôi ăn cùng ban chỉ huy tiểu đoàn. Cán bộ tiểu đoàn không phải xếp hàng xuống nhà ăn, nhưng không thể ăn cơm trước chiến sĩ vì phải kiểm tra xem chế độ của anh em có được bảo đảm không? Đợi những tốp chiến sĩ từ nhà ăn lác đác về đại đội bữa cơm của chúng tôi mới bắt đầu. Cơm tập trung không thật ngon nhưng mà vui, làm việc khẩn trương rồi đến ăn cũng “tốc hành”. Sau bữa cơm mỗi người lại tập trung vào một việc.

Tôi sinh ra từ một vùng quê nghèo ở Tuyên Quang, được đào tạo trong môi trường quân ngũ từ ngày mới học hết phổ thông, đã quá quen với những khoảnh khắc sinh hoạt đời lính. Nhớ lời mời của Chiến, sau giờ sinh hoạt đại đội tôi xuống phòng chơi cùng anh em chiến sĩ đại đội 12. Đời lính đúng thật là đáng nhớ bởi món quà mang hương vị quê nhà. Chiến ở Hà Nội nên những cây nhà lá vườn chủ yếu thu hoạch trong siêu thị, nào là bánh kem, xúc xích cùng những món mà tôi cũng chưa một lần được biết. Tôi ấn tượng nhất là cà phê tan pha trong cốc nhựa, dùng bàn chải đánh răng làm que ngoáy. Lính tráng lấy đâu ra đầy đủ cốc, chén mà pha cho đủ từng ấy người. Gọi là bữa cỗ cho lịch sự, chừng ấy bánh kẹo cũng vừa đủ cho mỗi người nhóp một lần là hết, nhưng dư âm phía sau còn phảng phất mãi trong lòng mỗi chàng trai trẻ…

Lâu lắm rồi tôi mới có dịp được dạo dưới con đường tràn đầy ánh trăng của đơn vị. Trăng mỗi nơi có một kiểu đẹp khác nhau. Ở đơn vị chủ lực ban ngày nhộn nhịp náo nhiệt là thế nhưng đến tối lại chìm sâu vào một thế giới khác. Những khuôn mặt, những giọng điệu ẩn sâu dưới nhiều đường nét riêng tư. Dưới ánh trăng mờ mờ ảo ảo, con đường bê tông chạy dọc trước các dãy nhà như nổi bật, dâng lên cao, lớp mái tôn lấp lánh trong sương lại chìm sâu như tấm chăn bao bọc cho chiến sĩ trong giấc ngủ bình yên. Đứng từ xa tôi nhìn thấy bóng một chiến sĩ đang “mang súng” đứng gác. Đêm hôm nay làm sao tôi có thể ngủ được! Tôi tiến thêm mấy bước nữa thì người chiến sĩ gác quay phắt lại:

- Hà Nội?

- Bắc Giang.

Đi lại trong khu doanh trại vào ban đêm phải nắm chắc mật khẩu. Biết tôi là người trong đơn vị nên chiến sĩ gác không hỏi nữa. Vì không ngủ được, đi lại nhiều trong doanh trại đã là vi phạm quy định rồi nên tôi không dám bắt chuyện. Tôi ngồi một mình trên chiếc ghế đá trước nhà đại đội, lặng im ngắm nhìn đơn vị chìm trong màn đêm. Ngồi ở đấy một lúc thì chiến sĩ gác đổi ca. Chỉ còn tối nay nữa thôi, ngày mai tôi phải về Hà Nội nhận nhiệm vụ khác. Liệu đến bao giờ tôi mới lại có dịp trở lại cái không gian tươi đẹp, đầy xao xuyến này…?

  Không ngờ chiến sĩ ra đổi gác lại là Chiến. Chiến nhận ra tôi và đến gần hỏi chuyện:

- Mai anh về Hà Nội à?

- Có gì gửi gắm về gia đình không?

- Cái gì mà gửi gắm nhiều thế anh. Em vừa mới lên phép xong! Với lại cũng chỉ còn mấy tháng nữa là em ra quân rồi.

- Bao giờ về Hà Nội thì vào chỗ anh chơi nhá?

- Nhất định là anh em mình phải gặp nhau chứ.

Tôi ngồi gác cùng Chiến cho hết ca thì đêm cũng đã cạn. Bình minh le lói phía chân trời…

Tiểu đoàn 9, mùa huấn luyện 2010
TRẦN ĐỨC TĨNH


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 23 Tháng Tư, 2011, 12:47:17 pm
                                 Tâm sự người chiến sĩ quản tượng    
                                  Tác giả : Xuân Thiều

Anh Kiên thân mến!

Thế là Pắc Chăn của chúng ta chết mất rồi!

Nó chết vào trưa ngày 27 tháng 12, ngày mà tổ chúng tôi vừa kết thúc đợt vận chuyển đột xuất. Ôi, con voi đáng thương! Ngày nào anh thường bảo bọn lính trẻ chúng tôi "Phàm con vật gì có chút ít trí khôn, ta thương yêu nó, nó khắc biết thương yêu ta". Có phải vì thế mà Pắc Chăn - cho đến cái chết - nó cũng biết chết đúng lúc.

- Giá nó không thương chúng ta, lăn đùng ra chết trước đó dăm bảy hôm, thì chúng ta không biết sẽ xoay xỏa ra làm sao để "lo liệu" cho nó.

Cậu Xuyển thường nghĩ đến lòng tốt của Pắc Chăn như vậy. Anh lạ gì tính cậu Xuyển. Nó vẫn thế, vẫn hay tư lự và mau mủi lòng. Tuy nhiên nó nói đúng. Những ngày trước đó, lúc anh em ở các binh trạm khác phải vớt nòng nọc đi, chắt từng ca nước trong các hốc đá của cánh rừng mùa khô, thì ở đây nước suối Nậm Bu bò lên gần đến chân sàn, chỗ chúng tôi gác bành tre. Gió mưa sùi sụt. Rừng lúc nào cũng gào thét như điên như dại. Đám đất trước lán đầy lá vàng, lá xanh và cành khô gãy, nom chẳng còn dáng dấp cái sân tí nào nữa. Mà đâu còn thì giờ để dọn dẹp, chúng tôi đi suốt ngày. Áo quần ướt giăng đầy vách. Cả tuyến đường vận chuyển bị nghẽn suối lũ chỉ trông cậy vào mấy tổ quản tượng chúng tôi. Xe thồ đành bó tay. Cầu qua suối trôi gần hết, chỉ còn cái cầu mây vắt qua hai ngọn dẻ chỗ Đá Đen là còn đứng vững - cái cầu mây mà mỗi lần chúng ta đi qua, cậu Kên thường dạng chân ra nhún nhảy đánh võng làm cho cậu Xuyển cứ ngồi xuống mà kêu như bò chọc tiết. Nhưng riêng chiếc cầu mây Đá Đen còn đứng vững cũng bằng thừa. Thanh niên xung phong phải gác xe, xoay ra vận tải bộ, nhưng vượt suối lũ cũng không phải chuyện dễ dàng và chóng vánh. Họ cử đến mấy người phụ việc với chúng tôi, phục vụ cái ăn cái uống cho voi. Trong thời gian vận chuyển đột xuất ấy, voi được ăn theo tiêu chuẩn bồi dưỡng, có thêm cơm, đường, mía và nõn chuối loại hảo hạng. Cung đường đi hàng xa gấp đôi ngày thường, và yêu cầu trọng tải cho từng con có tăng thêm. Mờ đất ra đi, tối mịt mới về. Mấy con voi, chừng như cũng biết nhiệm vụ chở hàng ra tiền tuyến lúc này thật khẩn trương, chúng tôi đều bận rộn vất vả, nên chúng trở nên ngoan nết hơn. Con Pắc Chét khảnh ăn và lười biếng nhất đàn, đã mang được bốn tạ hàng - điều mà từ trước nó không sao kham nổi. Chú voi không ngà nổi tiếng tham ăn, mồm miệng lúc nào cũng chóp chép - chú Pắc Mạy ấy, dạo này không tùy tiện dừng lại quờ cái ăn lúc trên đường đi hàng nữa. Còn chú Pắc Đo một ngà - ra vẻ voi đầu đàn ngay sau khi Pắc Chăn ốm. Nó không hay bông phèng như mọi dạo, nét mặt nghiêm trang, chỉ phải cái tội đâm ra làm dáng. Nó bắt chước Pắc Chăn - mỗi khi nghe tiếng động lạ, hai tai đang phe phẩy bỗng dừng phắt lại, căng ra như hai chiếc buồm đón gió. Nó nghe ngóng, bước rất khẽ và có lúc dừng lại đột ngột. Chú chàng biết tỏng mấy hôm nay trời mưa gió, rất ít tiếng máy bay địch nhưng vẫn tỏ ra quan tâm tới đàn em, nghe ngóng xem sao. Cậu Kên chăm chú nhìn Pắc Đo rồi nháy mắt với tôi. Tôi chưa kịp ngăn Kên, hẵng để mặc kệ chú chàng, thì Kên đã nện cho chú một búa, quát:

- Ê, đừng có làm phách nữa ông nội! Pa…ay(1)!

Cái tiếng "pay" Kên rít lên như còi. Tôi bực Kên lắm. Tuy Pắc Đo có điệu một tí thật, nhưng nó chở hàng nặng nhất đàn, lại không hay phun nước vào anh em thanh niên xung phong hoặc khoèo chân Pắc Chét như mọi dạo. Dù sao cái cách làm dáng của Pắc Đo cũng có chỗ đáng yêu. Nó biết trách nhiệm đầu đàn của nó, hoặc nó tưởng rằng đã là voi đầu đàn thì phải có cái lối nghe ngóng động tĩnh nhạy bén như Pắc Chăn mới được. Khi bị Kên mắng, Pắc Đo vẫn im lặng đi. Tôi tưởng chú sẽ dở chứng tự ái, bước đi khệnh khạng, vòi lủng lẳng đung đưa bên này sang bên nọ. Nhưng không phải. Pắc Đo biết mình sai hoặc là biết nín nhịn. Chính vì thế mà Kên hối hận. Không đợi chúng tôi phê bình, anh đã thú nhận rằng mình nóng nảy, ngứa mắt vặt vãnh, không hiểu tâm lý chú Pắc Đo. Khi đến chỗ trả hàng, Kên chạy ù vô rừng chặt cho Pắc Đo một cây chuối non tước vỏ trắng lốp, và vuốt ve nó ra ý xin lỗi.

Suốt mười lăm ngày mưa gió, cả voi lẫn người tuy vất vả bận rộn, nhưng không khí làm việc vui như nhà có đám. Chỉ khổ thân cho Pắc Chăn. Nó ốm. Nó buồn. Nó không ngủ được nên cũng cùng đàn dậy sớm. Cả đàn thích thú ngoạm từng nắm cơm nóng to bằng cái mũ cứng, rồi xúm lại quanh đống lá tươi cao như cồn rơm. Tiếng vòi đập lá giũ kiến, rồi tiếng nhai rau ráu, Pắc Chăn nhìn chúng bạn ăn uống ngon lành mà thèm, nhưng nó không ăn được. Khi chúng tôi xếp hàng hóa lên bành và các chú voi thích thú rung rinh làm các kiện hàng khẽ va vào nhau lắc cắc, thì Pắc Chăn nghiêng người đi, đôi mắt khép hờ, mệt mỏi. Hình như nó không dám nhìn cái cảnh lên đường đi hàng của chúng bạn, chỉ sợ mình ứa nước mắt ra. Mà nó ứa nước mắt ra thật, nó khóc thầm. Ấy là lúc chúng bạn đã ra đi. Ấy là lúc tiếng hú dài của cậu Phờng vang lên đầu suối, rồi vọng mãi trong các cánh rừng. Phờng là một thanh niên người Thượng miền Tây Quảng Bình mới bổ sung về tổ chúng tôi - một thanh niên tóc dày và quăn, đôi mắt to, có cái nhìn thật dữ dội. Không ai có bộ ngực đồng hun như Phờng, và trong tổ, mặc dầu đa số là anh em dân tộc ít người, cũng không ai thổi khèn bè hay như cậu ta. Phờng có thói quen, là lúc ra búa cho voi đi, cậu ta thường hú lên. Rồi hát:

"Voi ơi voi! Ta cùng voi ra đi

Chở hàng ra chiến trường

Nơi nhiều ngọn núi của ông bà

Nơi lắm khúc sông của mẹ cha…"

Bài hát do Phờng tự đặt ra, không có làn điệu nhất định, hát rất tùy tiện. Tuy vậy tiếng hát dường như từ trái tim sôi nổi của cậu ta bay ra làm tâm hồn chúng tôi cũng trở nên phấn chấn, chúng tôi cảm thấy càng thêm yêu nghề nghiệp. Còn tiếng hú của cậu thì thật tuyệt diệu. Nó là tiếng vang của bộ ngực đồng hun, là tiếng của rừng núi. Bao giờ cũng thế, nghe tiếng hú của Phờng cất lên, đàn voi được kích thích. Chúng rảo bước, vòi giương cao, mắt nhìn ra xa y như chúng đang nhớ lại thời kỳ sống hoang trong rừng sâu, phóng khoáng và hung dữ. Và cũng khi tiếng hú của Phờng cất lên, thì chú Pắc Chăn đau khổ rên một tiếng khô khan và ngắn ngủi, rồi tựa cái hông gầy nhom vào thân cây lim tróc vỏ, vòi thõng xuống rũ rượi. Cứ thế, hai hàng nước mắt trào ra. Chao ôi, lòng tôi đau như xé. Trong đời tôi, tôi chỉ mới thấy Pắc Chăn khóc vài lần, nhưng lần này chính tôi cũng không cầm được nước mắt. Có lẽ hôm nào nghe tiếng hú của Phờng nó cũng khóc như thế. Hôm đó, nếu như tôi không có ý định ở nhà để săn sóc Pắc Chăn và luôn thể có tí việc với trạm giao liên, thì không làm sao biết được. Nó khóc vì tủi thân và bất lực. Tôi chạy lại vuốt ve an ủi nó. Nó vờ làm ra vẻ vui cho tôi yên lòng. Tấm mía tôi róc vỏ sạch sẽ đưa cho, nó quờ lấy nhanh chóng, nhưng chỉ gặm một tí rồi nhè ra. Nó không muốn ăn nữa.

Anh Kiên thân mến!

Đã đành là Pắc Chăn biết nó không sống nổi nữa, nhưng như cậu Xuyển nói, nếu nó không thương chúng tôi, lăn đùng ra chết giữa những ngày rối bận, thì thật chúng tôi không biết sẽ xoay xỏa ra làm sao, vừa bảo đảm công tác vừa phải lo chôn cất nó. Pắc Chăn đã biết chết đúng lúc - khi mưa rừng tạnh được vài hôm và chúng tôi đã "liên hoan" một nồi chè nếp mừng công hoàn thành vượt mức kế hoạch vận chuyển đột xuất do binh trạm đề ra. Bấy giờ, cầu đã sửa xong, các cô các cậu thanh niên xung phong lại kìn kịt thồ hàng đi. Nắng lên ấm áp. Nước suối Nậm Bu đã rút xuống, để lại hai ngấn nước bạc phếch hai bên bờ - trên những dãy dứa dại và tầm xuân rừng. Qua dòng nước trong vắt như trước, người ta thấy rõ những rọ đá xếp kè chắn ngang suối làm lối đi bị xộc xệch; có nhiều rọ bị cuốn trôi đâu mất để lại những hố nước xoáy sâu hoắm. Cái sân rác rưởi trước lán được quét dọn quang quẻ bốc lên một làn hơi mỏng mảnh khi nắng lên. Nền trời không còn vương vấn những đám mây xám, trở lại xanh mịn màng - một màu xanh nhìn lâu chói mắt. Những ngày đó, không phải chúng tôi rỗi rãi, nhưng đỡ bận rộn hơn trước. Và Pắc Chăn đã chết một cách thảnh thơi, y như là nó tự nguyện chết vậy.

Giờ đây, chúng tôi đã chôn Pắc Chăn sau khu rừng nứa. Bộ ngà đẹp đẽ đã gửi về binh trạm. Quả thật Pắc Chăn chết đi, để lại trong lòng chúng tôi một nỗi nhớ nhung dường như trong đời sống của chúng tôi, thiếu mất một cái gì thân thiết quá. Cậu Phờng thường nhìn về cuối cánh rừng nứa một cái nhìn dữ dội, và thổ những bài khèn bè nghe như có tiếng suối róc rách, tiếng lá thì thào, tiếng chim từ quy khắc khoải. Phờng lại đặt ra một bài hát:

"Pắc Chăn ơi, mày đã chết rồi

Không còn cùng bạn bè chở hàng đánh thằng Mỹ

Mày để lại cái bành tre

Và đôi ngà quý…"

Kê lấy dao khắc lên cây lim tróc vỏ ngày chết của Pắc Chăn. Kên nói:

- Chúng ta dốt. Nếu có đủ trình độ như bác sĩ thú y, thì chúng ta khắc biết cách chữa bệnh cho nó.

Anh chàng người Tày này tuy tính hay đùa và nóng nảy nhưng lại thẳng thắn, xông xáo và biết nhìn xa. Anh đề nghị, nếu binh trạm không bổ sung thú y sĩ về, thì anh em trong tổ nên cử người đi học lấy dăm bảy tháng, ít ra cũng còn biết cách xem bệnh và bốc thuốc cho voi. Voi đối với mình như là chiếc ô tô của anh lái xe, mà mình không biết gì về thú y, nhiều khi bí lắm. Kên có lý. Bởi vì điều làm chúng tôi băn khoăn là: suốt một tháng Pắc Chăn ốm cho đến lúc chết, chúng tôi không hiểu được nó mắc bệnh gì.

Hôm ấy, nó vẫn đi hàng như thường lệ. Nó vẫn xứng đáng là voi đầu đàn, mang năm tạ hàng, đi đứng nghiêm trang, oai vệ. Khi trở về chỗ cây lim tróc vỏ, Pắc Chăn vẫn tỏ ra vui, miệng thổi ù ù. Sau đó, Kên cho nó đi tắm. Nó hút nước phun như vòi rồng, rồi nằm dưới nước, kêu cóc cóc. Rõ ràng chú rất khoái chí. Buổi tối nó có vẻ buồn, kém ăn. Sáng hôm sau, tôi dậy sớm khi chưa mờ đất. Tôi ra bãi voi, đứng đằng xa định gọi cả đàn dậy, thì thấy Pắc Chăn đã dậy từ lúc nào. Thần sắc nó bắt đầu khác đi, mắt hơi lờ đờ, miệng há ra và ở đó có một thứ nước dãi nhơn nhớt, màu trắng đục chảy lòng thòng. Tôi quyết định cho nó nghỉ. Cậu Kên bảo:

- Chà, chú chàng lại dở chứng làm nũng đấy! Đừng chiều nó vớ vẩn.

Xem ra Pắc Chăn cũng không muốn nghỉ. Ừ, cứ để cho nó đi! Mọi bận, Pắc Chăn rất giỏi, cứ xếp lên bành đủ năm tạ hàng, nó mới chịu đi. Chưa đủ trọng tải là nó cứ ì ra đấy. Hôm nay, mới xếp ba tạ rưỡi, nó đã vùng vằng muốn bước. Thôi, thế đã là cố gắng lắm rồi. Nhưng đi được nửa đường, nó bước uể oải. Đến một cái ngã ba, hình như nó hoa mắt lên nên bước nhầm đường. Tôi hô:

- Liềng phay!(1)

Pắc Chăn mới giật mình, biết mình nhầm đường, nhưng không đi sang trái như tôi hô, nó dừng lại luôn. Miệng nó càng há to, và lúc này chảy ra một thứ nước xanh đục. Chúng tôi dỡ hàng xuống và cho nó quay về không. Tôi róc một ôm mía thật ngon để trước mặt nó. Tuy nó có vẻ nể chủ, nhưng chỉ bóp mãi một khâu mía mà thôi. Thế là nó ốm thật rồi. Khi binh trạm cho người về đồng bằng mời được ông thú y sĩ lên, thì người nó đã gày đi, giơ xương sườn ra. Nó bỏ ăn, chỉ uống vài chậu nước đường và ít bột sắn. Ông thú y đã có tuổi, đeo kính cận, chỉ quen bệnh trâu bò, lợn gà, chưa bao giờ chữa bệnh cho voi. Ngay cả đến gần nó, ông còn có vẻ sợ, mà ông không dám đứng ở bãi voi lâu, chân lúc nào cũng xê dịch, chỉ lo vắt bám. Cái vẻ thiếu tự tin lộ ra trong giọng nói lúc ông chẩn đoán con bệnh:

- Chà, cũng gay đây. Có lẽ nó bị một cái nhọt trong cổ họng, hoặc là nó bị nhiễm lạnh sưng phổi trầm trọng gì đó…

Ông bảo chúng tôi cho Pắc Chăn uống "xuyn-pha-mít". Và ông tiêm cho nó một thứ thuốc gì rất khó gọi tên. Ông vội vã về xuôi để lại cho chúng tôi một nỗi lo lắng: bệnh tình của Pắc Chăn không thuyên giảm, mà trái lại. Chúng tôi đều ngẩn mặt ra nhìn nhau. Làm thế nào bây giờ? Giống như đứng trước một đứa bé chưa biết nói bị ốm, chúng tôi đều ước ao một cách mơ mộng rằng, giá có phép gì làm cho Pắc Chăn nói được nó đau ốm ra làm sao thì nhất định chúng tôi chẳng đời nào chịu bó tay. Phờng nói, giọng chắc nịch:

- Tui nghe ông bà miềng bảo con vật trên rừng trên rú sống dài lắm. Nó ốm, nó tự biết kiếm cái lá mà ăn cho khỏi bệnh. Cái lá đó miềng không biết được. Tui đề nghị thả cho Pắc Chăn đi vô rừng…

Ý kiến của Phờng làm cả tổ vui mừng và hy vọng. Nhưng liền sau đó, chúng tôi cảm thấy mình đối với Pắc Chăn nhẫn tâm quá. "Con lành con ở cùng bà, vang mình sốt mẩy con ra ngoài đường", lúc Pắc Chăn khỏe mạnh sung sức thì nó phục vụ cho mình, nay nó ốm lại đuổi nó ra rừng. Pắc Chăn đã sống với bộ đội lâu rồi, dễ có đến ngót hai chục năm. Đã tham gia kháng chiến chống Pháp, nay lại đến kháng chiến chống Mỹ. Trong chiến dịch Thượng Lào, là kiện tướng vận tải được tặng Huân chương Chiến công. Thực tình, anh em chúng tôi đều kính nể và quý trọng Pắc Chăn bởi những cống hiến của nó. Tuy Pắc Chăn có những lần phạm sai lầm và những nhược điểm nhất định, nhưng nó là con vật đã nặng tình nặng nghĩa với chiến sĩ vận tải. Chúng tôi bàn với nhau và quyết định phải giả vờ làm mặt giận mới đuổi được nó đi. Chỉ có cậu Xuyền là không chịu được thái độ đó. Lúc chúng tôi phải nén lòng lại, vác gậy gộc xua Pắc Chăn vô rừng, thì Xuyền lánh mặt. Quả thật, lúc đầu Pắc Chăn hơi ngờ ngợ, dường như nó không hiểu vì sao nó bị hắt hủi. Cứ đi một thôi, nó lại ủ rũ quay đầu, nhìn chúng tôi như van lơn, cầu khẩn. Giá như chúng tôi đều mau mủi lòng như cậu Xuyền cả, thì công việc sẽ hỏng ngay lập tức. Tối hôm ấy, không thấy Pắc Chăn về nữa, tâm trạng chúng tôi thật phức tạp, vừa thương nhớ nó, vừa vui mừng vì đã đạt được ý định. Phờng là người cả quyết tin rằng chỉ vài mươi hôm nữa Pắc Chăn sẽ trở về khỏe mạnh và béo tốt như xưa. Vắng Pắc Chăn, đàn voi có vẻ nhớ. Chúng thường lấy vòi sờ mó lên cây lim tróc vỏ - nơi chúng tôi vẫn thường xích Pắc Chăn vào đấy - như thể muốn tìm bóng dáng của chú voi đầu đàn.


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 23 Tháng Tư, 2011, 12:52:08 pm
                                      Tiếp :
Chúng tôi bắt tay vào kế hoạch vận chuyển đột xuất khi mưa lũ đổ về. Thiếu Pắc Chăn - con voi nòng cốt nhất của cả đàn lúc này thật tai hại. Đêm về, thay xong quần áo, chúng tôi xúm nhau ngồi hơ tay trên đống lửa, nhắc Pắc Chăn như nhắc một người thân đi xa. Thường thì cậu Xuyền mở đầu bằng một lời xuýt xoa:

- Hôm nay nữa là ngày thứ ba…

- Vị chi Pắc Chăn đi đã được năm ngày…

Tiếp theo, Kên bèn tưởng tượng ra cái cảnh Pắc Chăn đi hết rừng này sang rừng khác kiếm lá trị bệnh y như Đường Tăng đi thỉnh kinh. Niềm hy vọng của chúng tôi đã biểu lộ trong lúc bàn luận với nhau chuẩn bị kiếm cái gì liên hoan đón Pắc Chăn "ra viện".

Đêm thứ tám, kể từ ngày Pắc Chăn đi, chúng tôi đang ngủ say, chợt giật mình tỉnh dậy vì có tiếng vòi voi quờ quạng ngoài liếp cửa. Điều này thật lạ lùng. Xưa nay voi đi làm hoặc đi ăn về đều ở ngoài bãi, có con nào dám mon men vào tận lán ở của tổ quản tượng đâu. Chúng tôi xách đèn bão ra. Pắc Chăn đã về đứng sừng sững giữa sân, đầu gồ ghề, xương sườn hằn lên trên lớp da xám mốc, miệng vẫn há ra và chảy rớt. Chao ôi, trông nó tội nghiệp quá! Nó nhìn chúng tôi một cái nhìn bất lực và đau đớn. Và từ hai hốc mắt sâu hoắm, hai dòng nước mắt trào ra. Pắc Chăn khóc làm chúng tôi lạnh cả người vì xúc động. Cậu Xuyền sụt sịt rồi cáu với chúng tôi bằng cái giọng vỡ tiếng:

- Các anh xử tệ với nó quá! Ai lại nỡ đuổi nó đi, để bây giờ nó mang cái thân tàn ma dại trở về cầu xin chúng ta cứu nó. - Và anh lại vỗ vỗ lên cái vòi vuốt ve nó:

- Thôi, mày chẳng phải đi đâu nữa cả. Sống chết cứ ở đây. Rồi chúng tao sẽ liệu...

Nhưng chúng tôi còn biết liệu thế nào. Rõ ràng là Pắc Chăn không tự chữa nổi bệnh, mới trở về như thế. Thú y sĩ cũng đã chịu. Chỉ còn một cách là đi hỏi dân bản. Tôi và Phờng tìm đến bọ Hồ Lay - một ông già Vân Kiều quen thân với tổ chúng tôi lúc chúng tôi còn công tác dưới kho AI. Bọ Hồ Lay nói:

- Nó đã không kiếm được cái lá mà ăn cho khỏi bệnh, là nó chết.

Chúng tôi nài nỉ mãi rằng "còn nước còn tát", nên bọ cũng kiếm cho chúng tôi một ôm lá. Chúng tôi đem giã lá ra, gạn lấy nước hoa với đường. Pắc Chăn chỉ tợp một ngụm rồi thôi. Nó không muốn uống thuốc, cũng không muốn ăn. Đường trắng, đường đỏ, bột sắn, cháo đậu xanh, Pắc Chăn đều chỉ nếm một tí gọi là. Trong lúc đó, chú Pắc Mạy háu ăn không giấu được nỗi thèm thuồng, mắt lấm la lấm lét, chỉ chực chờ chiến sĩ quản tượng sơ ý một tí là xông đến ăn hôi.

Hôm nắng ấm, thấy Pắc Chăn cứ quay đầu ra ngoài suối, Kên đề nghị với tôi cho Pắc Chăn đi tắm. Cái giống voi rất thích nước, biết đâu được tắm táp mát mẻ, bệnh nó lại thuyên giảm cũng nên. Pắc Chăn hăm hở ào xuống suối. Và trở nên hoạt bát vui vẻ, nó lại vục vòi phun nước nghịch ngợm như ngày nó còn khoẻ mạnh. Chơi chán, nó lần đến chỗ vũng sâu, đằm mình, miệng kêu cóc cóc ra vẻ khoái chí. Chỗ ấy có một cái xoáy nước ngầm sâu lắm, càng sát bờ bên kia càng hẳm. Vắt vẻo ngồi trên một cành vả bên bờ suối, Kên hoàn toàn không chú ý đến Pắc Chăn mỗi lúc một đi xuống vũng sâu. Cho đến khi trên mặt nước chỉ nổi lên chiếc vòi phun nước phè phè, Kên vẫn tưởng nó đùa. Anh không ngờ chỉ vài giây sau đó Pắc Chăn chìm hẳn. Nhìn dòng nước xanh leo xanh lẻo soi rõ từng đàn cá niên bơi lượn, người ta khó biết được dưới đáy suối có xoáy nước ngầm chảy xiết...

Thôi thế là Pắc Chăn đã chết, y như nó muốn tự tự vậy. Bốn chiếc ô-tô và một trung đội công binh đã kéo xác nó lên bờ. Quả thật chúng tôi đều không có trình độ chuyên môn về thú y, nên khi anh em công binh phanh phui mổ xẻ thân thể nó ra, chúng tôi vẫn không thể hiểu được nó chết về bệnh gì. Có điều này đáng chú ý: chúng tôi nhặt được bốn cái đầu đạn súng trung liên trong người nó, có một viên chui vào chính giữa phổi. Đấy là những vết thương cũ của nó trong kháng chiến chống Pháp. Không biết nó chết vì những vết thương cũ tấy lên hoặc do một bệnh hiểm nghèo nào khác?

*
*   *

Anh Kiên thân mến!

Đã đành là Pắc Chăn chết cũng như Pắc Vê chết năm xưa, nó ốm thì nó chết. Dẫu chúng ta hết lòng thương yêu nó, thì nó vẫn là thân phận con vật. Nhưng dường như chỉ sau cái chết của Pắc Chăn, tôi mới có dịp ôn lại quãng đời làm chiến sĩ quản tượng để tâm sự với anh.

Tôi vẫn còn nhớ cái ngày tôi được điều động về tổ quản tượng do anh phụ trách. Tôi giãy lên như đỉa phải vôi, rằng xin chịu thôi, nào tôi có hề biết voi ngựa bao giờ đâu. Anh bảo:

- Cậu là người dân tộc Thái Kỳ Sơn, chẳng lẽ cậu chưa hề biết con voi như thế nào ư?

Tôi thú thật là trong bản tôi cũng có một vài con voi của những nhà giàu có. Người ta dùng để kéo gỗ và chở hàng sang tận bên Lào. Ấy là chỉ mới biết thế thôi, chứ chưa hề giữ nó. Mà giữ làm sao được. Những người giàu trong bản tôi nuôi voi có những tay quản tượng nhà nghề. Đấy là những người đã lớn tuổi, có ria mép, răng vàng, mắt lúc nào cũng đăm đăm, tẩu thuốc lá bốc khói dường như không mấy khi rời khỏi miệng. Bố tôi bảo, họ từ đâu đến không ai biết, không có vợ con; người quản tượng không được lấy vợ, phải sống trong sạch như người nhà trời mới điều khiển nổi voi. Lũ trẻ con chúng tôi gặp các bố quản tượng đều phải vòng tay lại cúi đầu chào "Lạy ông ạ". Đấy, sự hiểu biết của tôi về người quản tượng là những những xa lạ đầy bí mật như thế, nên tôi tìm mọi cách từ chối. Đến bây giờ tôi vẫn còn xấu hổ khi nghĩ lại thái độ vụng về lúng túng của tôi lúc đó. Tôi đã đỏ mặt lên và một hồi lâu mới đánh bạo nói rằng, tôi đã trót cưới vợ rồi.

Anh vỗ vai tôi cười vang. Anh không chế giễu tôi, mà nói về anh:

- Mình cũng có vợ và hai con đang ở trong Nam. Cậu đã thấy biển bao giờ chưa? Chưa à? Mình là dân biển. Quanh năm suốt tháng chỉ lăn lưng ra trên những đồng muối trống trải. Quen nắng, quen hơi nước mặn và gió biển chứ có quen rừng như cậu đâu. Thế mà hồi lên Tây Nguyên cấp trên giao cho giữ voi cũng làm xong tất. Bây giờ hóa ra đã quen nghề…

Hôm ra bãi voi, anh đưa tôi đến làm quen với Pắc Chăn. Tôi đâm ngạc nhiên vì anh có một thứ ngôn ngữ riêng với nó hay do tôi cảm thấy thế, mà nó biết anh muốn giao cho tôi phụ trách nó. Pắc Chăn phe phẩy hai tai, giương cặp mắt ti hí nhìn tôi. Tròng mắt nó đảo đi đảo lại mấy lần như dọa dẫm, muốn bắt nạt tôi. Chắc anh biết, nhưng giấu không muốn nói, sợ tôi chùn bước. Anh chỉ nói rằng, nó là con voi rất tinh khôn, làm việc rất giỏi, nhưng phải cái hơi bướng, quản tượng lơ mơ là cu cậu đâm ra tự do vô kỷ luật ngay.

- Đối với nó, cậu phải đàng hoàng. Đừng rụt rè mà nó coi khinh.

Tôi cũng tự nhủ mình như thế. Hôm sau, anh bảo tôi trèo lên lưng Pắc Chăn. Thú thật, tôi cũng hơi lo lo. Anh hô:

"Xông!"(1).

Nó co chân lại và tôi đang ì ạch trèo lên, thì Pắc Chăn đã đưa cái vòi ram ráp khoèo chân tôi lôi tuột xuống. Tôi hoảng quá. Nhưng anh vẫn động viên:

- Cậu phải lên thật nhanh thật gọn! Nó là chúa ghét cái tính lề mề chậm chạp.

Lần thứ hai, tôi cũng bị nó khoèo chân, nhưng lần này có vẻ tàn nhẫn hơn, gần như là nó vất tôi xuống. Tôi tưởng anh sẽ đánh mắng nó, nhưng anh vẫn thản nhiên. Như để giải thích rằng, chính là do lỗi ở tôi rụt rè, chậm chạp, anh biểu diễn động tác lên voi cho tôi xem. Quả nhiên lên mới đẹp, mới dứt khoát làm sao!

- Thôi để hôm khác. Hẵng từ từ!

Anh bảo thế, nhưng tôi vẫn coi như buổi tập đầu tiên thất bại. Tôi theo dõi công việc điều khiển voi của anh mà thèm. Đối với anh, Pắc Chăn ngoan ngoãn và thùy mị như con mèo con chứ không còn là chú voi hung dữ bướng bỉnh nữa. Với tính hiếu thắng nông nổi của mình, tôi không chịu được thất bại, tôi chỉ muốn chinh phục Pắc Chăn một cách mau chóng. Và tôi say sưa thực hiện một kế hoạch dại dột và quá ư trẻ con. Tôi trèo lên cây đa đầu ngã ba đường, nơi Pắc Chăn thường đi làm về qua. Chọn một cành thuận lợi nhất, tôi ngồi giấu mình đợi ở đấy, định bụng lúc Pắc Chăn vừa vặn đi tới, tôi chỉ cần bước khẽ một bước, là coi như mình đã chễm chệ ngồi trên lưng chú chàng rồi. Hình như Pắc Chăn phát hiện ra tôi từ đàng xa, và con vật khôn ngoan ấy cũng đoán được ý định của tôi. Nó giả tảng lờ đi, vừa bước khoan thai vừa cho vòi vào miệng hút đầy nước. Mắt không hề ngó ngàng gì đến tôi, nó ung dung đi, tấm lưng màu mốc cọ vào các cành đa thấp, làm những tùm lá rung rinh lào xào. Tôi đang nín thở, chuẩn bị tư thế thì Pắc Chăn bất chợt quặt vòi lên nhằm đúng tôi, phun một vòi nước. Tôi chỉ kịp ôm chặt lấy cành đa, mặc cho mặt mũi áo quần ướt mèm, và cái mùi vừa hoi vừa nồng của nước miếng voi làm tôi phát buồn nôn. Câu chuyện dại dột đó sẽ làm trò đùa cho anh em trong đơn vị; nếu như anh không thương tôi, lại đem chuyện ra mà chế giễu. Anh đã phạt Pắc Chăn, nện cho chú chàng một búa nên thân về cái tội xấu chơi ấy. Tất nhiên không phải vì bị phạt mà Pắc Chăn khuất phục tôi, chính là tôi đã làm theo lời anh dặn: "Đối với nó mình phải đàng hoàng. Đừng để nó coi khinh". Tôi ra bãi thể thao, tập leo xà. Tôi không tập theo bài quy định, mà cứ tập đu người lên xà kép làm sao cho thật nhanh, thật gọn. Hôm sau, với một niềm tự tin mạnh mẽ, tôi đến trước Pắc Chăn vỗ về làm thân với nó như một tay quản tượng thực thụ. Tôi hô:

- Xông!

Pắc Chăn co chân lên, và thoắt một cái tôi đã ngồi ngất nghểu trên lưng chú chàng rồi. Đứng đằng xa, anh đã reo lên:

- Hoan hô! Nhọt khá lắm!

Từ đó, đưa voi lên công trường kéo gỗ hoặc chở thực phẩm cho bộ đội biên phòng, anh đều dẫn tôi đi cùng. Pắc Chăn bây giờ đã thuộc tôi điều khiển. Anh còn phải lo chung cho cả tổ và phụ trách riêng Pắc Vê, con voi đầu đàn già tuổi và ngoan nết. Tôi cũng nhanh chóng phát hiện ra Pắc Chăn làm việc khỏe và có ý tứ. Đường lên đèo Pa Nguột có đoạn trơn như thế mà nó chẳng khi nào trượt chân. Những lúc kéo gỗ xuống dốc, Pắc Chăn biết lái cho cây gỗ chạy trên những chỗ đất gồ ghề để tăng thêm lực ma sát. Chứ không đểnh đoảng và khờ khạo như chú Pắc Chét, cứ để gỗ lao theo vệt mòn, chạy cuống cà kê lên mà có hôm vẫn bị gỗ thúc vào chân. Tuy nhiên Pắc Chăn cũng có nhiều tật xấu. Tôi ghét nhất là cái lối chơi trội và hay ghen tị của nó. Bao giờ nó cũng chọn những cây gỗ mà Pắc Vê - con voi đầu đàn đã lấy vòi nhấc thử không nổi. Tuy phải ráng sức mới kéo được những cây gỗ ấy, nhưng Pắc Chăn tỏ vẻ hãnh diện lắm. Ai chả biết nó trẻ và khỏe hơn Pắc Vê, nhưng không vì thế mà uy tín của nó đối với cả đàn lại trội hơn Pắc Vê được. Có hôm gặp một cây kiền kiền khoát cỡ sáu người ôm, loại gỗ cần dứt khúc xẻ thành phiến, tuy biết là chẳng con voi nào kéo nổi tôi vẫn bảo tay Xuyền cho Pắc Vê vào nhấc thử. Pắc Vê bỏ ra. Được tính hiếu thắng kích thích, Pắc Chăn hăm hở xô vào. Chú chàng gò lưng lại lấy vòi quặp gỗ, nhưng quặp không khẳm, chưa nói đến nhấc. Tôi giữ một nét mặt thật nghiêm, cứ thúc. Chú chàng bèn lấy chân hất. Cây gỗ lớn cứ nằm ì ra không nhúc nhích. Tôi càng thúc, chú chàng càng cố sức thử. Cho đến lúc Pắc Chăn lùi ra, lúc lắc đầu, tôi chỉ muốn mắng cho mấy câu, nhưng thấy tội nghiệp, chú chàng có vẻ cũng biết tôi muốn trị cái bệnh thích chơi trội của chú.

Pắc Chăn dần dần bớt được cái tính coi khinh tôi. Tuy nhiên nó cũng không tỏ ra kính trọng quý mến như đối với anh. Đi với anh thì chẳng làm sao cả, nom bộ ngoan ra phết. Nhưng đi với tôi, thỉnh thoảng nó lại dở chứng. Hôm lên đồn biên phòng, chú chàng tự tiện bẻ luôn mấy cây mía hiếm hoi của đồn, làm tôi giận quá, nện cho mấy búa. Thế là chú chàng nổi tự ái, bỏ trốn đi dạo chơi trong rừng làm tôi suýt phát khóc lên. Tôi giận Pắc Chăn, đồng thời cũng tự giận mình. Bản lĩnh mình còn non nớt quá, nên nó mới nhờn mặt. Tôi bấm chí học anh cho bằng được. Anh bảo, những tay dạy thú làm xiếc thường lập luận rằng, phàm con vật gì cũng lấy miếng ăn làm đầu, phải biết dùng miếng ăn mà dạy dỗ nó. Nó tập tốt, cho ăn ngon, nó tập tồi, phạt nhịn hoặc cho ăn xoàng. Tay này cầm miếng thịt nướng, tay kia cầm roi, thì dù con hổ dữ là vậy cũng vào khuôn phép như con mèo. Anh chê lập luận đó phiến diện hoặc chỉ thích ứng với những con vật làm xiếc, hành động máy móc - mà ngay nó cũng không hiểu hành động đó để làm gì. Còn con voi của chúng ta là công cụ làm việc, y như con trâu của người nông dân. Số phận của nó gắn liền với số phận chiến sĩ vận tải - phải hiểu như thế thì mình mới hết lòng chăm sóc dạy dỗ nó. Phải xuất phát từ tình yêu nghề nghiệp của mình mà thành thực yêu thương nó.

Không phải chúng ta ở trong nghề với nhau mà nói ngoa: quả thật giống voi là giống vật rất khôn ngoan và giàu tình cảm. Khi tôi chăm sóc nó từng cái ăn cái uống đến việc gìn giữ trau chuốt cái bành cho nó êm lưng lúc đi chở hàng, Pắc Chăn tỏ ra quyến luyến tôi. Nghe tiếng tôi từ đàng xa, chú chàng đã vểnh tay lên nghe ngóng, rồi mon men lại gần.

Dù sao, tôi vẫn cảm thấy mình còn một điều gì đó chưa làm cho Pắc Chăn hoàn toàn kính phục. Có thể do tôi còn ít tuổi hoặc chưa có cái phong thái vừa nghiêm khắc vừa bao dung như anh chăng? Nhưng không phải. Điều đó đã xảy ra lúc trên đường hành quân vào trong tuyến đường này nhận nhiệm vụ mới. Qua phà L. anh dẫn Pắc Vê qua chuyến trước. Đến lượt tôi dẫn Pắc Chăn qua thì chú chàng lừng khừng trước cầu phà không chịu lên. Tôi giục. Chú chàng uể oải dùng vòi ấn thử cầu phà xem có đủ sức chịu đựng cho nó bước lên không. Tôi thầm nghĩ: "Ái chà, cậu cả này lại "điệu" rồi. Pắc Vê qua được là cậu qua được thôi. Cậu cũng chả to xác hơn Pắc Vê bao nhiêu đâu". Nghĩ vậy, nhưng tôi cứ mặc cho Pắc Chăn ấn thử. Âu cũng là thói quen của giống voi. "Ắc" - nó ấn một cái, tấm ván gãy đôi. Anh em công nhân lái phà lật đậy chạy đi kiếm tấm ván khác thay thế. Trong lúc đó, Pắc Chăn lơ đễnh ngắm nhìn dòng sông rộng rãi và những chiếc thuyền buồm đang lộng gió chạy xuôi. Thay xong tấm ván, Pắc Chăn lại rán sức ấn một tấm khác gãy nốt. Anh em công nhân phà kêu toáng lên rằng, thế này thì chịu thôi, chú voi này không qua nổi phà, phải cho nó bơi sông. Tôi đâm ra lúng túng. Một mặt, tôi cố nằn nì anh em công nhân thay thêm tấm nữa, bởi vì đấy là tấm ván mục, trước sau rồi cũng phải thay. Mặt khác, tôi nghĩ đến trường hợp phải dìu Pắc Chăn lội sông. Quả thật, tôi chưa hiểu Pắc Chăn có bơi được qua con sông rộng lớn này không. Một bác công nhân già, trong lúc gỡ tấm ván gãy, phân vân:

- Chà, nó cứ nhè chính giữa tấm ván mà bẻ, thì chả có tấm nào chịu nổi sức voi đâu.

Câu nói của bác công nhân như một tia chớp loé lên trong đầu óc tôi soi rõ những nét khờ khạo của mình. Té ra chú Pắc Chăn này khoảnh thật, định chơi khăm mình đây. Tại sao nó không ấn thử vào chỗ có những dầm dọc hoặc chỗ tiếp giáp giữa hai tấm ván? Bàn chân nó to như cái rổ có bao giờ đặt gọn được trên một tấm ván ngang của cầu phà đâu.

Lần này, tôi đứng trước mặt Pắc Chăn nghiêm khắc ra lệnh cho nó phải làm theo ý định của tôi. Quả nhiên, Pắc Chăn chỉ ấn thử qua loa, rồi bước gọn gàng lên phà trong tiếng nước dềnh lên, táp vào mạn phà lép bép.


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 23 Tháng Tư, 2011, 12:54:50 pm
                              Tiếp :
Bây giờ thì tôi hiểu, điều mà từ trước tới nay nó chưa phục tôi là vì mình còn thiếu kinh nghiệm điều khiển nó. Tôi không giận Pắc Chăn mà lại có ý thầm phục. "Được, cho mày cứ thử sức ông, càng thế ông càng chóng tích luỹ được kinh nghiệm". Giữa tôi và nó dường như có một cuộc chạy đua thân thiện. Thỉnh thoảng nó lại giở những trò vớ vẩn: dọa trẻ con, xua đàn trâu hợp tác, nhấc đít ô tô lên, khi gặp những cậu lái xe hay bóp còi thúc sau lưng. Dường như nó giở những trò ấy để bắt tôi phải xử trí. Và suốt cuộc hành quân đường dài ấy là một trường học đối với tôi. Sự tự tin vào khả năng của mình mỗi ngày một tăng, khi Pắc Chăn cũng càng ngày càng mến phục tôi hơn.

Có lẽ vì thế - mà sau khi vào đây - cấp trên đã giao cho tôi thay anh phụ trách tổ quản tượng. Bây giờ Pắc Vê đã chết, nó chết về bệnh thối phổi, chết nhanh chóng và không đau đớn mấy. Tất nhiên Pắc Chăn được chọn là voi đầu đàn. Cũng dịp đó, tôi được đề bạt lên thượng sĩ. Chẳng vì được cất nhắc, mà tôi muốn xa anh. Có điều là chẳng thể để một thiếu uý lâu năm như anh phụ trách mấy con voi vận tải. Anh được giao làm chính trị viên một đại đội vận tải thuyền.

- Loanh quanh một chầu, bây giờ mình lại được trở về với sông nước…

Anh nói với tôi như thế, lúc hai đứa mình trầm ngâm ngồi bên suối từ giã nhau. Anh là người kín đáo, thật khó mà đoán được tâm trạng lúc ấy. Nhưng nếu tôi không nhầm, ra đi anh vẫn quyến luyến anh em trong tổ và mấy con voi hết sức. Anh khêu gợi với tôi cách giúp đỡ anh em trong tổ, đặc biệt chú ý đến Kên và Xuyền - những người mà anh đã nhằm có thể thay tôi khi cần thiết, tuy anh không nói ra. Còn mấy con voi, từ lai lịch, tính nết, cách điều khiển nó ra làm sao, anh đều nói cho tôi biết chi tiết. Như muốn trao cho tôi cả cái vốn liếng nghề nghiệp trong gần chục năm làm quản tượng của mình.

Bây giờ anh đã trở về với sông nước quen thuộc từ tấm bé. Đại đội thuyền của anh chở hàng ra tiền tuyến trên một con sông lắm thác nhiều ghềnh hung dữ, con sông lúc nào cũng như mang trong lòng một nỗi tấm tức, muốn phá băng rừng núi để oà ra biển. Nơi cửa sông ấy có những cánh đồng muối trống trải, nắng và gió đều mặn mùi nước biển. Nơi ấy là quê anh.

Còn tôi, tôi vẫn chưa được thấy biển. Tôi chỉ gặp biển trong màn ảnh, với những con sóng lừng lững ào tới tưởng chừng sắp ập lên đầu mình. Biển chỉ khêu gợi tính tò mò của tôi, chứ chưa có gì hấp dẫn bằng rừng. Đối với tôi, rừng là tuổi trẻ, là kỷ niệm và cả ước mơ nữa. Tôi ở lại với rừng, với anh em trong tổ và đàn voi thân thuộc. Nhưng làm sao tôi không lo lắng được, khi tôi phải đảm đương mọi công việc trong tổ. Bây giờ không còn kéo gỗ về xây dựng doanh trại hoặc chở từ rượu mùi, thuốc lá đến những cuộn chỉ đỏ chỉ xanh lên đồn biên phòng như hồi trước nữa. Bây giờ thằng Mỹ đã đem chiến tranh đến tận đây. Voi ta chở vũ khí đạn dược ra chiến trường đánh Mỹ. Say sưa trong công việc khó khăn, bao giờ ta cũng tìm ra hứng thú. Hình như chúng ta đều nhận thấy nhiệm vụ chiến sĩ vận tải giờ đây có ý nghĩa hơn. Chính vì thế, mặc dù anh đi rồi, chúng tôi vẫn đoàn kết với nhau và công việc binh trạm giao cho đều làm trôi chảy. Và Pắc Chăn từ khi lên làm voi đầu đàn cũng tỏ ra mẫn cán gương mẫu hơn. Pắc Chăn dậy sớm, chở nặng hơn cả đàn, còn cách ăn uống thì không chê vào đâu được: không tham ăn nhưng tạp ăn, thức gì đối với nó cũng có thể ngon miệng được cả. Chúng tôi đang mừng thầm, Pắc Chăn ngày một ngoan nết, thì chú chàng lại đổ đốn, chơi chúng tôi một vố. Thoạt tiên, nhân lúc đi ăn, chú chàng đã kéo cả đàn xuống vầy nát gần một nửa rẫy sắn của đồng bào bản Tà Nọi. Bọ Hồ Lay lật đật chạy đi gọi chúng tôi. Tất nhiên chúng tôi phải bồi thường cho đồng bào. Anh em ai cũng phiền lòng và giận đàn voi hết sức. Trước tiên là giận Pắc Chăn, chú voi đầu đàn. Cậu Kên nện cho chú mấy búa, chỉ cho nửa suất cơm và xích chân thật chặt vào cây lim tróc vỏ.

Dạo ấy đang mùa xuân. Hoa móng ngựa nở trắng trên sườn núi cao và hoa mai dệt vàng hai bên bờ suối. Những buổi sớm se lạnh, sương giăng mờ mờ trong rừng gợi lên một sự tĩnh mịch đến dễ chịu. Qua màn sương, ánh lửa cũng nhoè đi, những trái núi trở nên đồ sộ hơn tưởng chừng không thể hiểu được chiều cao của chúng. Những buổi sáng như thế, trước khi đi hàng, chúng tôi ngồi hơ tay bên bếp, uống nước chè nóng và thường nhắc đến hoa đào, đến ngày hội tung còn và những chiếc áo màu. Bao giờ cậu Phờng cũng đứng dậy một cách đột ngột, vớ chiếc khèn bè và nghiêng đầu, cong lưng lại thổi một làn điệu dịu dàng. Chúng tôi lim dim mắt lắng nghe, và ngoài rừng, thỉnh thoảng những giọt sương rơi tí tách.

Những buổi sáng như thế, đàn voi đến mùa động tình cũng trở nên mơ mộng hơn. Chúng giương những cặp mắt tư lự nhìn qua màn sương và đôi tai ngừng phe phẩy lắng nghe tiếng gầm xa xa của voi rừng. Dạo ấy, chúng tôi vừa nghe bà con bản Tà Nọi báo là có một đàn voi rừng đông lắm đang kéo nhau về phía rừng Hốc Trăn. Chúng tôi không thả cho voi nhà đi ăn nữa, sợ chúng đánh nhau với voi rừng. Xích chân chúng lại, chịu khó kiếm thức ăn cho chúng mà mình lại yên tâm hơn. Bỗng dưng, một buổi sáng sớm, Pắc Chăn bứt xích bỏ đi mất. Kên bực mình trách Xuyền, tại sao lại xích chân nó bằng xích bé, nếu dùng loại xích sắt Trung Quốc mười hai mi-li-mét thì bố nó cũng không bứt nổi. Đây không phải là chuyện xích lớn xích bé, mà là chuyện Pắc Chăn đã dở chứng. Tôi giao công việc ở nhà cho Xuyền, rồi cùng Kên và Phờng mang gạo và thức ăn đủ một tuần, xách súng đi tìm. Chúng tôi đề ra mấy dự kiến: nếu Pắc Chăn bỏ đi lang thang đâu đó thì gọi nó về không khó khăn lắm, còn như chú chàng theo đàn voi rừng thì thật gay go. Một là có thể bị voi rừng đánh chết, hai là khuất phục đi theo chúng thì Pắc Chăn sẽ trở lại hung dữ như bất kỳ con voi rừng nào.

Chúng tôi về bản Tà Nọi hỏi thăm đường lên rừng Hốc Trăn. Bọ Hồ Lay bảo:

- Hắn ở với miềng lâu rồi, hắn không theo voi rừng mô. Hắn không chịu được cái mùi voi rừng nữa. Có lẽ hắn đi tìm voi cái. Mùa xuân đến, vẫn có những con voi cái đi lẻ chịu đực. Nhưng phải cẩn thận đó, hắn đang say cái là hay nổi khùng.

Bọ Hồ Lay nói đúng. Đi đến ngày thứ ba, chúng tôi tìm ra dấu chân Pắc Chăn, nhờ cái mẩu xích sắt còn dính ở chân sau kéo thành vệt trên đất ẩm. Xem dấu chân thì biết Pắc Chăn đang đi theo một ả voi cái. Buổi chiều hôm ấy, chúng tôi đã đuổi kịp và bắt gặp cả đôi đang vờn nhau trên một đám cỏ giữa thung lũng. Pắc Chăn da màu mốc, có vẻ gầy đi đang đưa vòi bện lấy vòi con voi cái, nô giỡn. Ả voi cái bé hơn nhưng nom đẹp làm sao, da đen nhánh, béo lẳn. Chúng tôi nấp sau những gốc cây, chuẩn bị tư thế thuận lợi khi cần thiết phải nổ súng.

- Hú… u… ú…

Tiếng hú của Phờng vang lên dội vào thung lũng, tưởng như có nhiều tiếng hú lần lượt đáp lại. Pắc Chăn buông bạn tình, ngẩng đầu lên. Nhận ra tiếng hú, nó có vẻ bâng khuâng. Tôi biết lúc này mình cần phải lên tiếng. Nó thuộc tiếng tôi như thuộc đường đi lối về của nó. Tôi bắc tay làm loa gọi:

- Pắc… Chă… ăn! Pắc Chă… ăn!…

Pắc Chăn sửng sốt. Y như người phạm tội bị bắt quả tang, vòi thõng xuống, hai tai cụp, nó đứng im như con voi xây trước đình làng. Rõ ràng tiếng gọi của chúng tôi đã thức tỉnh nó, lòng nó đang mềm lại, phân vân, lưỡng lự. Giữa lúc ấy thì ả voi cái hoảng hốt, kêu lên những tiếng khó hiểu và vụt bỏ chạy. Không cưỡng nổi trước tiếng gọi thiết tha của bạn tình, Pắc Chăn chỉ ngần ngừ một lát, rồi cũng bỏ chạy theo. Thế là hỏng. Cả ba chúng tôi đuổi riết. Phờng đòi nổ súng, nhưng tôi ngăn lại. Đôi voi chạy ào ào. Phía trước, cành cây gãy răng rắc. Còn chúng tôi cũng chạy đứt hơi, tay chân mặt mũi xước ra vì gai cào. Sương chiều như từ mặt đất bốc lên toả khắp rừng và hoàng hôn đổ xuống nhanh chóng. Chúng tôi đã mất hút dấu chân chúng, đành dừng lại thổi cơm ăn, mắc võng ngủ. Phờng nói:

- Tui đề nghị bắn chết con voi cái. Còn con voi cái thì Pắc Chăn không chịu về.


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 23 Tháng Tư, 2011, 12:56:52 pm
                                  Tiếp theo :
Chúng tôi bàn bạc hồi lâu và nhất trí nhận định rằng, Pắc Chăn vẫn còn khả năng trở về, nếu dứt được con voi cái ra. Nhưng chuyện đó không phải dễ. Bắn chết con voi cái là thúc bách Pắc Chăn đến bước đường cùng. Dẫu Pắc Chăn không hung hãn phản chủ, thì cũng trở nên ngơ ngẩn thương nhớ bạn tình và chẳng mấy chốc mà thể chất và cả tinh thần nó sa sút. Cần phải tỏ ra độ lượng với Pắc Chăn, dùng tình cảm mà kêu gọi nó trở về. Đồng thời phải nghiêm khắc với con voi cái, rõ ràng con voi rừng này đang muốn quyến rũ Pắc Chăn trở lại lối sống hoang dã. Cần thiết phải nổ súng, nhưng cốt để xua nó đi và tỏ cho Pắc Chăn biết thái độ dứt khoát của chúng tôi, không cho phép Pắc Chăn được đeo đuổi con voi cái nữa.

Sáng hôm sau, chúng tôi chén mỗi người một bụng thật no, rồi theo dấu chân của chúng, lần đi. Mãi đến đứng bóng, chúng tôi lại gặp chúng đang vờn nhau cạnh một con suối. Chúng tôi chưa hành động vội, im lặng ngồi chờ. Chúng đùa chán, rồi hai con bỏ ra hai chỗ quờ cá kiếm ăn. Thời cơ thuận lợi đã tới. Chúng tôi đi rón rén mười đầu ngón chân, lợi dụng từng gốc cây, nhằm vào khoảng cách giữa đôi voi, đi tới. Đã đến gần chúng vài ba chục mét, mà chúng vẫn chưa hay biết. Theo kế hoạch đã định, tôi cất tiếng gọi để báo Pắc Chăn biết là người nhà:

- Pắc - Chă… ă…n!

Chú voi nhà si tình ngẩng đầu lên. Cùng một lúc, súng của Kê và Phờng đều nổ, hai viên đạn bay vèo qua đầu ả voi cái. Con voi rừng hoảng hốt bỏ chạy, Kê và Phờng lao theo bắn xua thêm hai phát đạn nữa. Trong lúc đó, tôi khoác súng đi thẳng tới chỗ Pắc Chăn - lúc này nó cũng đang nhìn thẳng vào tôi. Ánh nắng lấp lánh trong đôi mắt nó khiến cái nhìn trở nên dữ dội căng thẳng.

- Pắc Chăn!

Tôi gọi nó một cách dịu dàng. Kên và Phờng đã quay lại, súng cầm tay, đạn lên nòng, hồi hộp theo dõi sự thể sẽ xảy ra thế nào, trong lòng không khỏi nghĩ tới trường hợp xấu nhất, Pắc Chăn sẽ liều lĩnh lao vào quật tôi. Thực tình, tôi không hề nghĩ tới điều đó. Ngay từ lúc nom thấy nó, lòng tôi đã bồi hồi như thể được gặp lại người thân. Không, nó giống như tình cảm của bậc làm cha làm mẹ khi tìm gặp được đứa con lêu lổng bỏ nhà ra đi, tình yêu thương sẽ bao trùm lên cả sự giận dỗi. Về phía nó, tôi vẫn tin rằng, nó không thể quên tình nghĩa đối với chúng tôi một cách mau chóng, khi chúng tôi đã sống với nhau hàng bảy tám năm.

Quả thật, Kên và Phờng quá lo xa. Tôi tới gần, Pắc Chăn hổ thẹn tránh cặp mắt của tôi. Và khi tôi vuốt ve lên cái vòi ram ráp thì hai hàng nước mắt nó ứa ra - những giọt nước mắt hối hận đậu trên lớp lông má rồi rơi xuống vai tôi. Bây giờ nom nó ủ rũ, thiểu não quá.

- Pay!

Pắc Chăn ngoan ngoãn đi về, sau khi cả ba chúng tôi đã trèo lên lưng nó. Phờng lại cất một tiếng hú dài. Dường như tiếng hú gợi lại những ngày cùng cả đàn đi tải hàng, Pắc Chăn chợt vươn cao vòi, mắt nhìn xa, bước những bước dài.

Anh Kiên thân mến!

Đấy là câu chuyện mà sau khi Pắc Chăn chết, Xuyền cứ cho là nó tự tử vì buồn nhớ con voi rừng. Có lẽ nào như thế được. Chẳng có dấu hiệu gì tỏ ra Pắc Chăn trở nên rầu rĩ uể oải sau những ngày mùa xuân ấy. Trái lại, để chuộc những lỡ lầm nông nổi của mình, Pắc Chăn đã làm việc rất tốt và mỗi ngày một thuần thục hơn. Thường nó chở năm tạ hàng. Những ngày sau khi trở về, chúng tôi chất lên bành đủ trọng tải rồi mà Pắc Chăn vẫn chưa chịu đi. Phải thêm năm mươi cân nữa. Hối hận làm cho Pắc Chăn cố gắng. Ngay cả Kên cũng không giận Pắc Chăn được lâu.

Máy bay địch ngày càng hoạt động ráo riết trên đường vận chuyển. Mặc dù đường rừng rất kín đáo, nhưng L.19 thỉnh thoảng vẫn rà xuống thấp soi mói. Phản lực đã đến giội bom, bắn rốc-két nhiều lần ở những đoạn đường thồ của thanh niên xung phong mà chúng phát hiện được.

Đi hàng bây giờ không còn ung dung như trước. Voi và hàng cũng phải ngụy trang. Chúng tôi đã xoi thêm nhiều đoạn đường rừng tránh những chỗ nguy hiểm. Trong không khí căng thẳng như thế, Pắc Chăn đã xứng đáng là voi đầu đàn. Nó có đôi tai tuyệt vời, đôi tai có thể phát hiện được mọi tiếng động từ bé đến lớn trước chúng tôi rất nhiều. Nó không bao giờ nhầm lẫn giữa tiếng máy bay địch và tiếng ô tô hoặc máy nổ của ta. Cách xử trí của nó lúc gặp máy bay địch cũng khôn ngoan linh hoạt, không đợi chúng tôi ra lệnh. Có tiếng vè vè của loại bà già, lập tức Pắc Chăn đứng lại nép vào cây. Còn nếu là tiếng gầm rít của phản lực liệng vòng thì nó nhanh chóng tạt xuống khe, xuống hốc trũng. Cứ thế, cả đàn voi răm rắp theo Pắc Chăn. Nhờ vậy, nên hồi tháng sáu, máy bay địch đánh trúng đội hình hành quân của chúng tôi - mà người, voi và hàng hóa đều an toàn.

Điều này anh sẽ phải ngạc nhiên về sự táo bạo và sáng suốt của cậu Kên. Hồi năm nào, chúng ta đi hàng về gặp một đoàn các cháu nhỏ con gia đình liệt sĩ miền Nam đi ra, anh còn nhớ chứ? Chúng ta cho các cháu trèo lên voi để đỡ mỏi chân một đoạn đường. Nhưng chẳng con voi nào chịu chở các cháu gái. Hễ thấy cháu gái nào đến gần là nó huơ vòi lên dọa. Anh cũng đành lắc đầu, bảo cái giống voi không chịu được mùi tóc đàn bà con gái. Bây giờ nghĩ lại, cậu Kên cho là vô lý:

- Thế tại sao ngày xưa bà Trưng, bà Triệu cưỡi được voi đi đánh giặc? Hóa ra voi bây giờ xoàng hơn voi thời trước ư? Tôi cho là tại ta không luyện nó thôi.

Chúng tôi đều ngẫm nghĩ ý kiến của Kên và cảm thấy Kên nói có phần đúng. Nhân lúc Pắc Chăn đang muốn lập công chuộc tội, Kên đã thử cho chở hai cô thanh niên xung phong. Quả thật, lúc đầu Pắc Chăn cũng vùng vằng dọa dẫm, nhưng khi cậu Kên quát lên, thì chú chàng im lặng, và cuối cùng phải khuất phục. Từ đấy, Pắc Chăn không ngại chở đàn bà nữa. Tuy nhiên, cả đàn voi vẫn không chịu học Pắc Chăn điểm ấy.

- Không sao - Kên quyết đoán - Pắc Chăn đã chịu, thì cả đoàn cũng sẽ vào khuôn phép hết.

Bước sang mùa mưa, sức khỏe Pắc Chăn có sút đi. Nó ăn nhỏ nhẻ hơn trước. Chúng tôi chỉ để Pắc Chăn chở năm tạ và thỉnh thoảng cho ăn bồi dưỡng. Tuy nhiên nó vẫn cố gắng, không bỏ một buổi đi hàng nào. Đấy là quãng đời cuối cùng tốt đẹp của Pắc Chăn.

Có lẽ vì thế mà suốt những ngày nó ốm cho đến lúc chết, chúng tôi đã quên hết những nết xấu của nó trước kia, chỉ còn lại trong lòng chúng tôi hình ảnh một chú voi ngoan nết, chăm chỉ và giàu tình cảm.

Bây giờ, Pắc Chăn đã chết rồi. Đàn voi lại vắng thêm một con nữa. Cây lim tróc vỏ - chỗ chúng tôi thường xích Pắc Chăn - vẫn xanh tốt như xưa. Chúng tôi chưa cho phép con voi nào được đến thay thế ở đấy. Pắc Đo đã thành voi đầu đàn, nhưng tất cả chúng tôi đều nghĩ rằng, cần phải dốc sức dạy dỗ Pắc Đo, chờ khi nào Pắc Đo thật ngoan nết, thật xứng đáng, chúng tôi mới đưa Pắc Đo đến cây lim tróc vỏ.

*
*   *

Anh Kiên thân mến!

Anh em trong tổ thường nghĩ những điều tốt lành cho con voi vừa chết. Chắc anh cũng thế. Riêng tôi, còn hơn thế nữa - tôi nghĩ những điều tốt lành cho Pắc Chăn như nghĩ những điều tốt lành cho mình, cho anh em trong tổ và cho cả đàn voi - mặc dù mỗi con một tính một nết khác nhau. Bởi vì, bây giờ giá cấp trên hỏi ý kiến tôi, có thích về đoàn xe ô tô, đoàn ca nô hoặc đoàn thuyền như anh, thì tôi thành thật trả lời rằng không. Đã đành phương tiện vận tải gì dù hiện đại hoặc thô sơ - cũng để chở hàng ra tiền tuyến, nhưng phương tiện của chúng tôi là phương tiện có sự sống, có tình cảm. Anh Kiên thân mến, đấy là tâm sự riêng của tôi. Chắc anh sẽ vui vẻ phân tích rằng dù ô tô, ca nô hoặc thuyền… - phương tiện vận tải nào mà chả có sự sống, chả có tình cảm. Anh là người biết nhìn xa, có nhiều suy nghĩ sâu sắc. Với tâm hồn nồng nhiệt trong công tác, với đầu óc giàu tưởng tượng như anh - chiếc thuyền bằng gỗ ngày ngày lên thác xuống ghềnh cũng trở nên biết vui biết buồn, biết yêu thương và căm thù, dường như chính nó cũng có trái tim.

 Xuân Thiều


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 28 Tháng Tư, 2011, 09:24:00 am
                       Thần thoại x.D    
                       Tác giả :Vũ Trường Giang   


Kí giả Haviton đến Sài Gòn vào những ngày xảy ra nhiều biến cố đặc biệt của cuộc chiến tại miền Nam Việt Nam. Bài báo đầu tiên ông ta viết có tựa đề: “Tố Cộng - thủ đoạn của những tên đồ tể vô tri”. Haviton ngửi thấy mùi xú uế, những nhớp nhơ tội nghiệp trong luận điệu gây chiến của cỗ máy chiến tranh Mỹ đang từng giờ, từng ngày cổ súy, ủng hộ cho những chính khách mặt sắt được hậu thuẫn bởi một vị thần chết cách một bờ Thái Bình Dương.

Ông ta định đến tỉnh Kiến Hòa(1) và làm tiếp những phóng sự chết người trước khi MAAG(2) buộc ông ta phải xuất cảnh sớm. Sau khi viết bài phóng sự trên, Haviton đã lấy chiếc khăn tay thêu cờ Mỹ được ông mua tại một xưởng thêu ở Sài Gòn để lau nước mũi đang ri rỉ chảy ra. Một hành trình công lí đang bắt đầu để có thể chứng kiến sự kì ảo của cuộc chiến.
Tháng 1 năm1960, cờ đỏ phất lên…
Súng nổ chát chúa, xác chết rải đầy trên cánh đồng vừa mới gặt. Mùi tanh nồng và hương lúa thơm quyện làm một, xoắn như cái chết và sự sống siết lấy nhau trong tột cùng của bất hạnh. Cái mũi Bảy quăn sục lên vị căm căm đến ngạt thở. Bảy quăn, một thanh niên mới vào đời, chưa quen chiến trận, khiếp hãi trước cảnh đồng đội hy sinh quá nửa bởi pháo kích, bom, mìn và đạn. Không nên gặp chết chóc và lãng mạn cùng một lúc, chính chúng sẽ đầu độc tâm hồn ta, chỉ còn lại nỗi sợ và hận thù len lỏi trong từng mạch máu! Bảy quăn chạy một mạch vào rừng dừa trước mặt, nhanh như con cá loòng toong quẫy đuôi xuống nước. Bảy chạy được một đoạn thì bị một tiếng gọi run run giật lại. “Đừng có… dzọt như dzậy!”, lại tiếp:  “Cứu… tui với!”.
Bảy quay lui, nhìn thấy một khuôn mặt bê bết bùn đất đang loạy quạy bên bụi điên điển trọc hoa. Bảy nhận ra anh Năm trụi bị thương nặng ở chân, máu rướm ra bệt với bùn, với cỏ. Tiếng súng ngoài kia vẫn nổ. Bọn thủy quân lục chiến lăm lăm tiến tới. Trên đường, tụi bảo an cũng tấp cập yểm hộ. Đơn vị tản mát, mỗi người mỗi ngả chỉ có Bảy là ở gần anh Năm nhất. Bảy quên hết sợ, cúi xuống vác tay anh Năm lên cổ, hai người cùng chạy. Phía sau súng bắn lia lịa, rát bỏng.
Bảy quăn thấy Năm trụi chạy không nổi liền xốc Năm lên lưng lủi vào rừng dừa nước san sát. Bảy bì bõm lội một mạch không dứt hơi, dừng lại lúc này là chỉ có chết. Tụi thủy quân lục chiến cơ động không chịu để yên, bám gót như đi săn. Bảy thấy trước mặt một con lạch nhỏ độ bốn sải tay, dưới lạch gốc bần còn xum xúp. Cạn. Bên kia là một rừng dừa xiêm trĩu trái, cây lá dưới gốc quây quần xanh um. Bảy lội xuống con lạch. Năm Trụi chớp mắt hỏi: “Đi đâu dzậy?”. Bảy quăn trả lời: “Tìm chỗ trú!”.
Hai người qua lạch an toàn, không cá sấu, không lội sâu, không bùn lún. Nhưng lại bị súng ria sát sườn. Địch đã đuổi gần đến nơi. Bảy không thấy mệt nữa, cố gắng vận hết trí lực ra để đối chọi với hiểm nguy. Bảy xốc anh Năm lên, chạy vào rừng dừa cổ thụ. Tụi thủy quân lục chiến định lội qua lạch nhưng sợ đành xúi bọn bảo an lội xuống. Lạ thay thằng nào xuống cũng ngụp đầu, bùn sánh tràn vào miệng. Mấy tên chết ngạt. Thằng chỉ huy hãi quá liền mở đại miệng treo giải: “Bắn bỏ… bắn bỏ được thằng nào… tao thưởng!”. Lính thủy quân lục chiến nghe thế trổ tài bơi lội nhảy ào xuống. Thằng nào thằng nấy cố bơi như đua giành cúp nhà binh. Chúng càng bơi càng thấy rừng dừa bên kia xa vời vợi, cảm giác như cái rừng dừa bên đó đang trôi. Bùn lại sánh. Cái giải thằng chỉ huy treo chẳng thằng nào lấy được.
Bảy và Năm dừng lại trước một gốc dừa xiêm xù xì, đầy rêu mốc. Bảy đứng thở. Năm ngồi bệt hai chân ra trước, cũng thở. Hít một hơi đủ không khí và sức lực, Bảy mới bắt đầu quan sát. “Chao ui, đang ở đâu dzậy!”.
Một rừng dừa san sát cây nọ xọ cây kia, cây trên cây dưới trung trúc như những ngọn núi. Dừa ở dây lạ thiệt, to bự chảng, thân không bạc mà xanh, màu xanh của thân cổ thụ rêu. Bảy tới gần một thân cây, dang tay ôm lấy nó, ôm mãi cũng chỉ đến một nửa tấm thân. Bảy quăn gán ngay cho chúng là rừng dừa đại thụ. Gió ở đây mát, mát đến lạnh gáy. Những lá dừa reo vi vút như tiếng ai hò man mát. Bảy thoáng rùng mình, ngó xuống đất…
Năm trụi nãy giờ cũng nhòm tới ngó lui đến mệt lử. Anh không còn nói được nữa mà thở, thở hồng hộc. Bảy tá hỏa. “Gì kỳ thế hả anh Năm?”. Năm chỉ xuống chân, máu ứa ra một vạt rễ dừa. Bảy xốc anh Năm lên. “Được rồi, chịu khó tí nữa để tui tìm nhà mấy má coi”.
Bảy lại cõng Năm chạy. Trời chạng vạng, bóng tối lan đến nhanh. Đang chạy, Bảy vấp chân, té cái thụp. Bảy và Năm có cảm giác đang rơi hẩng hơ. Ôi thôi, phen này chắc rụng xương mất.
Lạ thay hai người té êm như té xuống cái nệm. Bảy không dám mở mắt, sợ mở ra chỉ thấy toàn bóng tối và chết chóc. Anh Năm thì thở, rên rên “Nước, nước! Bảy ơi!”. Bảy hoàn hồn “Em đây”. Bảy mò bi đông, rớt đâu mất. Bảy mò tới anh Năm trụi. Rờ trúng cái chân, máu ướt cả bàn tay nhoèn nhoẹt. Bảy quớ quýt hỏi, “Bịch nước anh đâu?”. Năm chỉ vào sườn, nhưng chẳng thấy. Anh lại tiếp tục rên khát nước tiếp. Đầu Bảy quăn như có tổ ong, mật ứa ra làm đặc sệt cả ý nghĩ. “Hộp quẹt”. “Đây, ở túi dưới”.
Bảy định thần, lấy tay đánh quẹt. Lửa sáng lên xanh xanh. Điều đầu tiên anh thấy là một nơi lạnh lẽo, ẩm ướt và đặc biệt… thơm, thơm kì lạ. Bảy đứng dậy và không tin cả thân mình không một vết xước, không một vết đau. Anh sờ thấy nước và đoán có mạch ngầm đâu đây. Bảy xỏ túi lấy khăn định tẩm nước thấm miệng anh Năm. Que diêm sắp tàn. Bảy đi mấy bước đến góc hầm có thứ ánh sáng loa lóa nhờ que diêm phản chiếu. Que diêm tàn anh định đốt que khác. Có giọt nước rơi trên đầu Bảy. Bảy ngó lên, nước lại dột. Đầu anh như chạm vào thứ gì đó mềm mềm, nong nóng đến khó chịu.
Bảy đốt tiếp que diêm khác, đưa lên trên cao. Một màu đỏ rười rượi hiện ra, anh nhận thấy một sự khang khác đến kì ảo. “Gì lạ dzậy?”. Bảy đụng vào một bóng nước đo đỏ. Nó mềm mềm, nong nóng y như đụng vào một trái tim. Diêm lại tắt. Lần này Bảy lấy một tờ giấy loại trong bọc ra đốt. Ánh sáng tỏa ra, anh dụi mắt trước một khung cảnh rờn rợn.
Trên trần, lúc lỉu những quả đo đỏ như những trái dừa con. Anh với tay đụng vào lần nữa. Sự sống hiện lên, luồn vào vào từng mạch máu trên tay anh.
Năm trụi nằm dưới đất lại kêu khát. Bảy sực tỉnh người. Như có ai mách bảo, anh hái một trái lạ màu đỏ xuống, đoạn bổ ra, đưa vào miệng anh Năm. Lửa tắt. Bảy chỉ còn nghe thấy tiếng anh Năm uống soàm soạp, háo hức như người chưa hề bị thương. Tay Bảy bê bết nước sệt mà thơm từ thứ trái lạ đó. Anh đỡ cho đến khi Năm trụi uống hết nước trái lạ. Bảy lại lò dò tìm hộp quẹt. Tìm không có, Bảy nằm lăn ra mệt lử, hỏi Năm: “Sao rồi, đỡ khát chưa?”.
Năm trụi hỏi lại: “Mày cho tao ăn thứ gì dzậy?”. Bảy hốt hoảng: “Sao hả anh Năm, khó nuốt lắm à? Anh cảm thấy sao rồi?”. “Ngon quá chừng à, như ăn tiết canh vịt má tao làm dzậy! Tao khỏe re rùi à!”. Bảy quăn ngạc nhiên “Là sao anh???”. Năm trụi nói bô bô “Đã quá chớ sao!”. Bảy ngạc nhiên “Em coi lại vết thương cho anh!”. “Thôi, khỏi. Tao ngon lành rồi. Mày ngủ tí đi!”
Bảy quăn định nói gì thêm nhưng cơn buồn ngủ kéo đến quá nhanh khiến Năm trụi phút chốc thở phì phò. Bảy ngồi một lúc rồi cởi áo ra đắp cho Năm, xong cũng nằm lăn ra đánh một giấc.
Sáng ra, Bảy mở mắt đầu tiên. Ánh nắng đồng bằng chắt chiu rọi vào lỗ hổng của cái hầm sau một mùa mưa ướt át. Bảy dụi mắt, ngồi dậy. Anh Năm còn nằm chợp giấc, dáng ngủ thấy thương, queo quắt như một đứa trẻ mắc bệnh. Bảy nhìn khắp căn hầm. Nói hầm thì không phải lắm, đó là một hang động. Mà hang động cũng không phải, hang động gì mà toàn rễ cây. Bảy đi về phía đám rễ cây. Kinh nghiệm của đứa con hơn hai mươi năm sống ở xứ này cho Bảy biết chắc rằng đó là rễ dừa. Rễ dừa bò tứ tung, không có màu nâu sẫm, nâu lợt lạt, màu ngó sen mà toàn một màu trắng, trắng như gạo. Cái rễ nhòm đúng thiệt là ngon con mắt. Bảy lại ngó lên trần. Những trái đo đỏ có nắng chiếu vào đẹp mê hồn. Những trái dừa mọng nước đỏ, đỏ đến thèm thuồng. Bảy nhòm xuống tay, tay sền sệt thứ nước đỏ hôm qua, y màu máu. Bảy thấy đói, anh đứng dậy hái một trái ăn thử. Trái mọc ra từ những rễ cây, treo tòn ten. Bảy véo mạnh, trái dừa đỏ nằm gọn trong tay. Đưa lên miệng ăn thử. Má ơi! Chết mất thôi, ngon như ăn đào của Vương Mẫu nương nương, ngọt, thanh, mát và… đã. Người anh lâng lâng như ăn phải thuốc tiên, người nhẹ hều, thanh thoát, bụng dạ mát rượi, đói bay đi đâu mất. Bảy ăn thêm trái nữa thì anh Năm thức giấc.
Năm hỏi: “Ở đâu đây mày?”. “Dưới động dừa, dậy ăn tiếp dừa huyết nghen anh Năm”. Năm luớ quớ: “Gì hả Bảy, dừa huyết là cái cóc gì?”. Bảy trơ ra, không hiểu sao mình lại nói đến thứ dừa lạ đó. Mà thật ra đâu có lạ, nó là thứ dừa máu, gọi là huyết cũng đâu có sai. “Chính nó cứu anh hôm qua đó. Hôm nay, nó lại cứu tôi khỏi đói, ăn tiếp nè”. Năm ngớ người ra: “Ừ. Đúng à hen! Cho tao trái nữa đi Bảy!”.
“Chân anh sao rồi?”. “Cũng đỡ đỡ rồi”. “Máu còn chảy nữa không?”. Bảy đưa chân anh Năm lên, máu vẫn còn rướm rướm. Bảy lẹ làng cởi cái quần đen ra, xăm soi vết thương. “Má ơi, đạn xoáy nguyên một lỗ to bằng trái bòn bon, thịt toe toét”. Như có ai mách bảo, Bảy quăn đứng dậy, đi tới động dừa bứt mấy cái rễ trắng. Anh nhai ra thành một thứ bã như cơm nếp giã nhuyễn rồi đắp vào chân Năm trụi. Năm rên hừ hừ một chốc rồi nói như hét: “Tao lại khỏe re rồi mày ơi, thuốc gì kì dzậy?”. Lại một lần nữa Bảy phát ngôn đến khó hiểu “Rễ tiên”.
Bảy để Năm nằm nghỉ trong động. Anh đu mình leo lên trên mặt đất. Anh quay lại nhìn cái động thì tá hỏa. Té ra là đêm qua hai anh em ở trong một cái hốc dừa, một cái hốc to chưa từng thấy, to gấp đôi miệng giếng. Bảy liền loanh quanh khám phá cái rừng dừa này. Trời ơi, ở đây có đủ loại dừa luôn. Dừa xiêm, dừa lửa, dừa dứa, dừa dâu… đều có hết. Dừa không cao lắm nhưng thân to quá cỡ, gốc lại đặc biệt lớn. Xem bộ dừa ở đây giống như cây nọc bình hơn. Trái dừa thì lủng lẳng treo đầy buồng. Đi độ vài vòng quanh rừng Bảy nhận ra đây là một cù lao nhỏ, bốn mặt đều có nước. Ước lượng bước chân to cỡ sân bóng. Bảy leo lên một cây dừa cao để quan sát thì quả đúng thế thật. Anh hái mấy trái dừa rồi tụt xuống. Trời bắt đầu ru gió. Lòng Bảy phơi phới một mùi vị xa xăm khó tả.
Cùng lúc đó, Haviton sắp có chuyến đi khảo sát về tỉnh Kiến Hòa. Ông ta được các cố vấn quân sự Mỹ giới thiệu tới các đơn vị hành quân, nơi có thể cung cấp cho kí giả những trang viết thực tế chiến trường. Tuy nhiên, trước khi đi, Haviton muốn nghe một vài lời từ lương tâm nước Mỹ.
Cuộc đối thoại thứ nhất: giữa Haviton và cố vấn quân sự Richard Hoon.
Kí giả Haviton: Chào ngài cố vấn, ngài đã đến Việt Nam lâu chưa?
Cố vấn Richard Hoon: Từ ngày gia tộc họ Ngô được tâng bốc để nắm quyền đến giờ.
Kí giả Haviton: 1955? Ngài có thấy chúng ta đang phiêu lưu ở một vị trí chiến lược hết sức nhạy cảm này?
Cố vấn Richard Hoon: Vâng, Tổng thống Aixenhao đã lấp chỗ trống. Tổng thống Kenedy đang cân bằng cuộc đối thoại không lời trong Chiến tranh Lạnh. Nếu gọi đó là phiêu lưu thì chúng ta đang dạo một khúc đàn êm tai cho ván cờ ở Đông Nam Á. Domino sẽ bị chặn đứng bởi một cường quốc văn minh nhất thế giới.
Kí giả Haviton: Các ngài có cảm thấy có tội với dân tộc này?
Cố vấn Richard Hoon: Không. Tôi chỉ hướng đạo cho họ.
Kí giả Haviton: Cám ơn câu trả lời của ngài. Chúc ngài sớm có một viễn cảnh tốt đẹp. Chào ngài!
…Tư xồm và Sáu trọc theo chân giao liên đi từ Tân Phú lên thị xã. Tư xồm dáng người to con mà ăn nói thì cộc lốc dù rằng đã ba mươi lăm lẻ. Sáu trọc mới ba ba tuổi mà tóc chẳng còn mọc nổi, y chang đứa bé mới lọt lòng. Hai người đi bám chân giao liên, cùng luồn qua những hàng rào, lần mò qua từng thân dừa. “Nói là lên phố chớ thật ra là lên ngang ngoại thành gặp mặt anh em lấy hàng rồi dzọt dzề liền”. Đang đêm Tư xồm oang oang “Con mẹ mấy thằng bảo an, giờ này mà còn thắp đuốc đi lui đi tới. Tui mà có B40 tui phụt cho chúng nó một trái rồi!”. Sáu trọc chen ngang “Tội quá ông ơi. Mẹ cha gì ở đây. Đi nhanh mà còn về! Ít bữa rồi xả láng. Bọn nó kìm kẹp mình quá đáng, có chỉ thị là xông lên liền”.
Tư xồm chịu nghe nhưng mặt mày cay cú: “Giáo với mác thì làm ăn gì với tụi nó”. “Dzậy mới tài!”. Sáu cười khà khà. “Ông lãnh binh Thăng lấy trái mù u mà còn dập cho tụi Pháp chạy tóe khói. Tụi mình ít ra cũng có vài khẩu, mai phục cho ổn thì dư sức hạ tụi nó”. “Ừ, hén. Mà…”.
Tư xồm chưa dứt lời thì anh giao liên đi đầu ngã cái rập. Một ánh lửa tóe lên, hai người đi sau chạy tản ra, hét lớn: “Phục kích”. Một tràng trung liên nổ giòn giã, vai Tư xồm dính đạn. Sáu trọc nhảy bừa vào một bụi cây. Tư xồm chửi “Con mẹ mày, bắn vai ông chảy máu!”. Trung liên vẫn bắn rát, quật tung cành lá. Hai người còn lại chạy được một đoạn thì nghe tiếng “A!” thất thanh. Sáu trọc nói loáng thoáng “Mày còn lựu đạn không, ném mẹ tụi nó đi”. Tư xồm dù đau điếng người vẫn lấy mò thắt lưng lấy một quả, giật chốt, ném cái vèo. Lựu đạn nổ, trung liên câm họng. Tư giật thêm quả nữa rồi bò qua đường, gặp Sáu trọc, Tư mừng quýnh “Cứu tao với mày ơi, vai tao toác rồi!”. Hai người lủi theo đường cũ ra sông, gặp cái xuồng của một má đi chợ sớm. “Má ơi, cứu tụi con dzới!”. Má chèo lại “Tao nghe súng nổ, biết là có phục kích rồi, tụi bây lên đây để tao chống đi. Khốn nạn mấy thằng trâu chó!”
Má bơi xuồng qua sông, trời hừng hửng sáng. Tư xồm mất máu nhiều quá, bất tỉnh. Má tấp xuồng lại một rừng dừa lớn. “Tụi bay lên đây trốn tạm, trưa tao ghé đưa đồ”. Sáu trọc lúi húi “Cám ơn má”. Má quở “Cha bây, đi nhanh kẻo lộ!”. Sáu bế Tư, lủi vào rừng dừa san sát trước mặt. Trời sáng. Sáu há hốc trước cảnh tượng chứng kiến. Thiên đường hay chốn ma quái nào đây? Sáu đặt Tư xuống một gốc dừa rồi đi tìm lá đắp tạm. Đang định đứng dậy thì một khẩu súng dí vào gáy. “Đứng yên”. Sáu rụng tim “Dzậy là hết!”. Trước khi chết, Sáu quay lại nhìn kẻ bắn mình như những bậc quân tử ngày xưa từng làm, xem cái “thằng Trịnh Hâm” nó thế nào. Sáu quay mặt lại, đôi mắt kia nhìn chằm chằm… thân ái. “Anh thuộc đơn vị nào?” “thằng Trịnh Hâm” hỏi. “Đơn vị C.264”, Sáu trả lời, nói tiếp “Tụi tui bị phục kích, chết hết, anh Tư đây bị thương”. “Thằng Trịnh Hâm” thôi không dí súng: “Đỡ anh Tư dậy, vào đây tui trị vết thương cho”. Đoạn tiếp lời “Tui là Bảy quăn, đơn vị C.269, đồng chí cùng với tôi đỡ anh Tư nào”. Sáu trụi hớn hở. Bảy quăn nói vọng: “Anh Năm ơi, có thương binh, chuẩn bị giường chiếu”.


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 28 Tháng Tư, 2011, 09:26:01 am
                                    Tiếp theo :

Sáu trọc cùng Bảy quăn dìu Tư xồm vào động dừa. Sáu kinh ngạc trước những thứ lạ kì chưa từng thấy. Bảy nhỏ từng giọt dừa huyết cho Tư ăn, anh Năm nhai rễ tiên rịt vào vai Tư. Độ tàn điếu thuốc, Tư xồm cựa mình, mặt tỉnh như sáo. Sáu trọc phục lăn.
Bảy quăn rôm rôm: “Đây là một cái cù lao”. Sáu trọc: “thiệt hả?”. “Ừ, em đặt tên cho nó rồi, vì nó cứu anh em mình nên đặt là cù lao Rùa. Trên này không có người, nhìn hoang sơ lắm. Mà lạ à nghen, hình như nó đang trôi lên Trúc Giang(3#) đó”. Tư xồm: “Tụi tui cũng định lên đó. Cù lao mà trôi à. Ngộ quá ta!”. Năm trụi cười ha hả: “Anh em bị thương cứ ở đây mà dưỡng thương, khi nào lành hẳn bắt liên lạc với đơn vị sau. Ít bữa lại ra phá bót tiếp. Giờ anh Sáu theo tui đi bắt cá lóc dzề nướng nhậu chơi đi”. Sáu trụi ngớ người: “Rượu đâu hả anh Năm?”. “Đó là cái tài của tao mừ, khà khà!!!”.
Haviton đến Kiến Hòa. Ông ta có những cuộc gặp mặt thú vị.
Đáng kể là cuộc đối thoại giữa Haviton và Tham mưu trưởng lực Lượng quân sự tỉnh Kiến Hòa:
Kí giả Haviton: Ngài thấy chính sách của Ngô Tổng thống và MAACS thế nào?
Tham mưu trưởng: Chỉ có những bộ óc siêu việt nhất mới nghĩ được như mấy ổng.
Kí giả Haviton: Ngài có tin rằng các ngài sẽ thắng với các chính sách đầy lửa đạn… và quân đội các ngài tiếp quản được Bắc Việt?
Tham mưu trưởng: Việc tiếp quản được hay không là vấn đề thời gian. Tôi tin chắc rằng với sự lãnh đạo tài ba của Ngô Tổng thống và sự hậu thuẫn nhiệt tình của đất nước các ngài thì chúng tôi sẽ chiến thắng.
Kí giả Haviton: Có lẽ ngài nên đảm đương chức vụ này thêm ba năm nữa. Chào ngài!
…Chú Hai muối tiêu là cán bộ tăng cường từ miền Đông vào. Đêm tháng 2, chú định vượt sông Hàm Luông về Định Thủy. Ba hói đi theo bảo vệ. Hai người lên xuồng vượt sông. Ai dè, qua tới giữa dòng thì đụng tàu chiến địch đi tuần. Thấy xuồng là chúng nã đạn xuống nước. Cả hai vội nhảy khỏi xuồng, lẩn vào đám lục bình. Chiếc xuồng bị bắn tan hoang. Cả hai người dù lặn trong lục bình vẫn bị đạn bắn trúng. Chú Hai muối tiêu bị đạn xuyên qua cánh tay, cố nhịn đau, bơi chừng khó khăn lắm. Chú Ba hói thì bị đạn sượt qua đầu, ăn mất mảng thịt, rát buốt. Hai người đợi tàu đi xa mới trồi lên, gắng sức bơi qua bờ. Bơi mãi, bơi đến khi chạm rễ dừa thì xỉu luôn. Đến khi mở mắt dậy, chú Hai muối tiêu đã thấy mình ở trong một căn hầm, bên cạnh có mấy anh em đang chăm sóc, lau rửa vết thương. “Ở đâu đây hả mấy anh? Mà mấy anh là ai vậy?”. “Tụi cháu là du kích ở vùng này. Chú cứ nằm nghỉ đi, vết thương sẽ chóng khỏi thôi”. Chú Hai muối tiêu không thấy đau như hôm qua nữa. Ba hói cũng đã ngồi dậy, đầu rịt một thứ trăng trắng, nhêu nhễu. Rồi họ lại nghe Bảy quăn, Năm trụi, Sáu trọc, Tư xồm kể về cái cù lao lạ nhất nước Việt Nam này, về trái dừa huyết, rễ tiên và cù lao Nhà Thương. Chú Hai và chú Ba nghe xong mặt mày ngơ ngác như ở cung trăng xuống. Rồi già trẻ lớn bé hàn huyên tâm sự. Cù lao vui hẳn lên.
Cuộc đối thoại thứ ba giữa Haviton và quận trưởng Mỏ Cày sau khi ông ta đi thực tế ở trung tâm Đồng Khởi diễn ra như sau:
Kí giả Haviton: Các ông có cho rằng cuộc chiến mà các ông tiến hành đang chà đạp lên chính nhân phẩm các ông?
Quận trưởng Mỏ Cày: Thiệt là oan cho chúng tôi quá. Ngô Tổng thống và mấy ổng ở trển bảo sao thì tụi tui nghe dzậy, làm dzậy à!
Kí giả Haviton: Quân đội các ông đã giết oan nhiều người? Ông có xem đó là một tội lỗi?
Quận trưởng Mỏ Cày: Không oan đâu. Giết lầm còn hơn bỏ sót.
Kí giả Haviton: Ngài rất xuất sắc với tư cách là một viên quận trưởng. Chào ngài!
Cù lao Nhà Thương dần dần trở thành một trạm y tế dã chiến, thi thoảng đón cán bộ, chiến sĩ bị thương dạt về điều dưỡng. Dừa huyết thay máu, rễ tiên làm thuốc, ai tới chữa đều lành, độ dăm bữa nửa tháng lại cầm súng chiến đấu ngon lành. Phần lớn thương binh ghé cù lao đều chiến đấu trên mặt trận Mỏ Cày, Giồng Trôm. Họ ở lại trị thương dần dà nhiều đến độ biên chế thành một trung đội thiếu do chú Hai muối tiêu chỉ huy. Trong những ngày tháng Đồng khởi, địch đổ quân mạnh, dùng chiến thuật “quả trám” để bao vây tiêu diệt, riêng cù lao Nhà Thương im lìm tiếng súng, chẳng có quân nào đổ vào. Trung đội nhờ đó có cơ hội thao luyện. Dưới sự chỉ dẫn tận tình của cán bộ Miền như chú Hai, chẳng mấy chốc, kĩ năng tác chiến của anh em được nâng cao. Chừng ấy người đều có sức chiến đấu tốt. Họ lấy tên là trung đội Tri Nghĩa. Mọi người ai bị bệnh bị thương thì được ăn trái huyết, còn lại ăn dừa và uống nước dừa để sống y như ông Đạo Dừa đã từng làm. Ăn dừa thế cơm mãi cũng thấy quen, nhịn một bữa là lại cồn cào.
Một hôm, Bảy quăn lang thang một mình, phát hiện ra có chiếc hầm ở ngay cây dừa sát mé nước. Bảy tìm ra một hầm vũ khí lạ. Đó là những khẩu súng bằng gỗ dừa đen thui và những viên đạn đá. Bảy đem lên bỏ đạn vào thử, bóp cò, viên đá bay cái vèo đục thủng lỗ một cây dừa. Bảy khiếp hãi, chạy về báo cho toàn đơn vị biết. Mọi người được phát vũ khí, mỗi người một cây, nhìn ai cũng oai vệ, ra dáng lính chiến lắm. Tư xồm vênh vênh: “Súng này oai hơn súng cà mèn và ngựa trời nhìu ha!”. Cả đội cười tít mắt, vỗ tay rào rào.
Chú Hai muối tiêu huấn luyện cách bắn. Trong đầu chú đặt câu hỏi lớn: “Mình đang ở đâu đây? Toàn những điều quái lạ!”.
Kí giả Haviton đến quận Mỏ Cày để làm một loạt phóng sự về Đồng Khởi. Ông ta tiếp xúc với nhiều lính Việt Nam Cộng hòa. Dưới đây là cuộc đối thoại giữa Haviton và anh lính thủy quân lục chiến.
Haviton: Chào anh, vì sao anh lại phải vào quân đội? Không còn việc gì phù hợp hơn với anh ư?
Anh lính: Tui bị bắt quân dịch.
Haviton: Anh từng giết người chưa?
Anh lính: Chắc là có. Tui hay lia đạn lung tung, sau mỗi đợt lia, có nhiều tiếng la hét.
Haviton:  Anh có muốn lấy một người vợ?
Anh lính: Chắc là không rồi. Thời thế này mà lấy vợ thì vợ thành góa phụ mất.
Haviton: Anh có muốn chiến tranh kết thúc?
Anh lính: Dĩ nhiên. Tui ngán bắn giết lắm rồi. Đã năm năm nay tôi làm việc đó.
Haviton: Cám ơn anh. Anh đúng là một người lính tốt.
Cuối tháng 3 năm 1960, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đổ quân vào đàn áp phong trào Đồng khởi. Hơn 10.000 quân tràn vào 3 xã Phước Hiệp, Định Thủy, Bình Khánh của huyện Mỏ Cày. Tình hình rất nguy ngập. Ngày ngày tiếng súng vang lên cùng những đợt càn quét, bao vây. Sống trên cù lao Nhà Thương mãi cũng ngán, lại nghe súng nổ thấy bồn chồn. Chú hai muối tiêu họp anh em trong trung đội Tri Nghĩa lại.
“Súng nổ bên Mỏ Cày như dzậy, tui e là có chuyện không hay với phong trào Đồng khởi của chúng ta rồi. Ngồi yên đợi giặc không bằng ta đánh chúng trước. Anh em ta đã khỏe lại sau những ngày ở trên cù lao Nhà Thương, súng ống, đạn dược cũng đã có rồi. Chúng ta quyết sống mái với quân thù!”
Anh em trung đội Tri Nghĩa nghe vậy hào hứng hô vang: “Sống mái với quân thù! Sống mái với quân thù!”
Bảy quăn đứng lên, giương súng bắn chỉ thiên nghe đoàng một tiếng oai dũng. Ai ngờ phát súng trúng quả dừa làm nước phun xuống cả tóc Tư xồm đang ngồi dưới gốc. Tư phát cáu, rượt Bảy chạy khắp cù lao.
Chiến cuộc Đồng Khởi sôi động bởi phong trào chính trị. Trong đấu tranh chính trị các chị, các má luôn đi đầu. Haviton không tìm được người du kích nào để phỏng vấn. Ông ta liền xuống Mỏ Cày phỏng vấn các má đang biểu tình.
Dưới đây là cuộc đối thoại giữa Haviton và các bà má Mỏ Cày.
Haviton: Bà có con theo Cộng sản không?
Má Sáu: Ông mắt xanh mũi lõ dzậy mà tui khai dzới ông à!
Haviton: Tại sao bà lại đứng đây cả ngày để biểu tình, bà không thấy mệt sao so với cái tuổi của bà?
Má Sáu: Bộ ông không mệt sao khi hỏi tui câu đó. Tui thế này làm sao mệt bằng anh em chiến sĩ phơi mình trần ngoài bùn, ngoài nắng để đánh lại lũ ác ôn các ông.
Haviton: Bà có phân biệt đối xử với những gia đình có người tham gia quân đội quốc gia?
Má Sáu: Tui không phân biệt gì hết. Tui đi biểu tình là cốt để lôi cổ tụi nó dzề. Tụi nó cũng là con cháu tui. Hôm nay tui đi cùng bà Tám là mẹ của thằng Ba lèo bị bắt dịch đây. Tui thương tụi nó.
Haviton (hỏi má Tám): Tại sao bà lại đi gọi con về?
Má Tám: Tui không muốn con tui làm thằng bất nghĩa. Đi vào đó rồi cũng trở thành ác ôn cả thôi, không sớm thì muộn rồi tui cũng phải đi nhặt xác nó về. Khổ lắm ông nhà báo à?


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 28 Tháng Tư, 2011, 09:27:59 am
                                 Tiếp theo :

Haviton: Bà cần gì nhất lúc này?
Má Tám: Hòa bình được lập lại, con tui lại về nhà trèo dừa cho tui bán. Tui chỉ ước chừng đó à!
Haviton (hỏi má Sáu): Bà có tin là cách mạng sẽ chiến thắng?
Má Sáu: Tin chớ, sao không tin. Cụ Đồ Chiểu nói rồi chính nghĩa thắng gian tà mà. Bộ chưa đọc Lục Vân Tiên sao? Khùng!
Haviton: Má đọc cho tôi một đoạn được không?
Má Sáu: Muốn biết thì tự đọc hay hơn. Tui phải đi biểu tình. Lên nào các bà ơi! Kêu cái thằng quận trưởng ra đây đối chất? Mày ăn cơm đất này sao lại kêu giặc về giày mả tổ hả thằng bất lương, bất nghĩa?
Haviton:???
Haviton nhận được điện thoại của MAAG buộc phải quay trở về Mỹ. MAAG không muốn ông ta có thêm bất kì một phóng sự nào về Đồng Khởi. Haviton lặng lẽ bước đi. Chợt ông nghe tiếng súng nổ liên hồi. Có kịch chiến! Haviton ôm máy ảnh lao ra để chụp chân dung những người lính cách mạng.
Đội quân chừng mười mấy người mặc toàn đồ ba ba đen, đầu chịt khăn rằn đang nổ súng đọ với một tiểu đoàn thủy quân lục chiến nơi bờ sông. Những viên đạn lạ bay vèo vèo, đụng chỗ nào là vỡ chỗ đó. Mấy cái bót mới đánh hiệp đầu đã thành cái tổ ong. Tàu đậu trên sông cũng chịu chung số phận. Lính Cộng hòa tử thương quá nhiều. Lại có lính tăng viện. Quân du kích chừng thấy địch nhiều quá liền mở đường máu để rút. Haviton thấy những chiến sĩ cách mạng lao băng băng, trên tay cầm khẩu súng màu đà đà kỳ lạ nhất trong lịch sử các loại vũ khí hiện đại. Haviton chụp liên hồi. Quân Cộng hòa ùa lên lớp lớp. Trung đội Tri Nghĩa vừa đánh vừa dạt vào rừng. Nhiều người đã ngã xuống vẫn kiên hùng bắn những phát đạn cuối cùng. Trận đánh dứt.
Haviton chạy lại chỗ một chiến sĩ du kích vẫn còn thoi thóp, cái khăn rằn trên đầu ngập một nửa trong bùn, chỗ lộ ra le the những sợi xoăn xoăn. Haviton cố lấy giọng Việt thật chuẩn để hỏi:
- Anh có ổn không? Anh tên gì?
- Lấy giùm tôi trái huyết trong túi.
Haviton làm theo. Anh ta ăn trái huyết, một chốc nói giọng tỉnh hơn:
- Sao ông không giết tui?
- Tôi là kí giả, không phải lính.
- Dzậy à, tui là Bảy quăn. Ông hãy nói với lính Mỹ là hãy cút về sớm đi, bằng không thì các ông chết mất xác ở xứ tôi đó.
- Cách mạng sẽ chiến thắng? - Haviton hỏi lại.
- Phải, không sớm thì muộn cũng thắng...
Bảy quăn dứt lời lại rên lên. Viên đạn cắm vào ngực anh quá sâu. Bảy tắt thở. Trái huyết chảy xèo xèo. Haviton thấy trên tay anh ta còn mảnh giấy bê bết máu. Trong đó chép một bài thơ. Haviton đọc được những câu như thế này:
“…Chí dân đoàn kết một nhà
xứ Dừa đồng khởi nhất tề xông pha
tiến lên cứu nước cứu nhà
dù trai hay gái cũng là chiến binh

Quyết…
đập cho Mỹ - Ngụy liêu xiêu
tan ấp chiến lược hết kiêu Cộng hòa
Mỏ Cày đốt bốt làm quà
dâng lên Tổ quốc nhà nhà noi gương”
x.D
28/3/1960
Ở dưới kí tên: Bảy quăn.
Cuộc đối thoại thứ sáu kết thúc bằng cái chết của một người lính. Bình minh của chiến tranh bắt đầu le lói. Haviton lên thủy phi cơ, bay theo dòng sông để ra tàu tuần dương về Mỹ. Đến cửa Hàm Luông, ông ta thấy một cù lao xanh mướt màu dừa đang trôi nhanh ra biển. Ở trên đó có cắm một lá cờ đỏ sao vàng đang bay phấp phới. Haviton nhìn cù lao lạ kì, lấy máy ảnh chụp liên hồi. Chụp mãi tự dưng thấy cù lao phụt lửa lên xanh lét rồi nhanh chóng biến mất trước mắt ông như có phép màu. Haviton kinh hãi. Ông lật lại mảnh giấy bê bết máu của người du kích kia. Haviton trầm ngâm trước hai chữ: x.D.
Ông ta lập tức lấy bút ra viết bài phóng sự mang tên: Thần thoại x.D

Trại sáng tác Bến Tre, tháng 7/2010
VŨ TRƯỜNG GIANG


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 28 Tháng Tư, 2011, 09:32:00 am
                                           Người đàn bà của đêm    
                                           Tác giả :Nguyễn Mỹ Nữ

Đã gần hai tuần nay, tôi ở đây.
Tôi lang thang dọc bờ sông nhìn những cái ghe chở dừa, ngắm rặng bần trên nước, trú mưa nơi vòm cổng ở một khách sạn rất hiện đại… và tự hỏi, chị giờ nơi đâu? Người phụ nữ mà do thời cuộc đã dạt xô tới phố biển ngoài kia của tôi. Người đàn bà Nam bộ hiếm hoi mà tôi có thiện cảm trong muôn vàn những người đàn bà con gái nói tiếng miền trong. Vì sao ư? Vì hầu hết trong số họ, nhởn nhơ làm thứ công việc mà tôi không thể nào chấp nhận được trong đó là khoảng thời gian Mỹ quân sự, dân sự rồi là lính Đại Hàn tràn ngập thành phố của chúng tôi kéo theo sự hỗn tạp, xô bồ và quá nhiều tệ nạn.
Nhà tôi ngày ấy bán tạp hóa ở phía trước và có dãy phòng cho thuê ở phía sau, cả dưới tầng trệt lẫn trên lầu. Chồng chị thuê một phòng của nhà. Hôm đến anh đã chẳng trả treo giá cả gì hết mà còn xuề xòa tâm sự ngay với mẹ dù mới gặp lần đầu: “Má biết hôn? Có cái này đỡ lắm! Đặng hồi rảnh về thành phố có chỗ ăn nghỉ với lại… con sắp có vợ rồi. Lo mướn nhà trước đặng dẫn ra ở nữa chứ!”. Và, cái người anh dẫn ra sau đúng bốn tháng mướn phòng của nhà tôi không ai khác, chính là chị. Chỉ có bốn tháng, lại đi về không thường xuyên, nhưng anh Phước đã khiến cho mọi người trong gia đình tôi quý mến bởi tính anh quá hiền và rất tội. Anh, là sĩ quan thám báo thuộc Trung đoàn 41, Sư đoàn 22 bộ binh. Anh có trồng một cái răng vàng ở hàm dưới và chị em tôi hay hát mấy câu này để ghẹo: “Cười lên đi cho răng vàng sáng chói. Hát lên đi để cho đời le lói…”.
Bữa chị ra, anh lấy chiếc Jeep lên phi trường đón. Tới nhà, vừa mở cửa xe đã rống giọng kêu inh ỏi: “Mấy em ơi! Ra mà đón chị bay nè. Má ơi! Vợ con nè!...”. Mọi người đổ ra, dòm ngó săm soi khiến chị lúng túng. Thấy thương sao! Chị chẳng có gì nổi bật. Không cao không thấp không đẹp không xấu, da không trắng cũng chẳng đen. Người không quê nhưng cũng chẳng đô thị chút nào. Vậy mà vừa thấy là tôi mến ngay. Một tình cảm hết sức mơ hồ mà mạnh mẽ xâm chiếm toàn vẹn con người tôi. Thứ tình cảm ấy như chỉ rõ cho tôi, là tôi sẽ còn thương quí quyến luyến mãi với người phụ nữ này. Mãi mãi.
Người đàn bà ở xứ đạo An Hiệp.
Người đàn bà có quê quán ở Châu Thành, Bến Tre.

*
*     *
Chị không dám ngủ một mình mà anh thì có tuần ghé về được một hai bữa, có tuần không. Anh cười giơ cả răng vàng giơ cả lợi, nói: “Má coi cho em nào lên ngủ với vợ con giùm”. Mẹ tôi chẳng chỉ định rõ ai, mặc cho hai chị em tôi giành qua, giành lại. Giành bắt chán chê vẫn bất phân thắng bại nên sau rốt phải giải quyết bằng cách đánh tù tì vì cả hai đều rất thích được lên ngủ với chị chỉ bởi một lý do duy nhất, là được coi ti vi cho nó đã đời. Chỉ có vậy! Chẳng là ngày ấy đâu phải nhà nào cũng sắm được cái vô tuyến truyền hình. Cả xóm đâu có chừng hai cái và từ đàn ông cho tới đàn bà, người lớn cho tới con nít đều ngồi xếp hàng xếp lớp ở nhà người ta để theo dõi kịch Kim Cương, Túy Hồng…; để coi chương trình ca nhạc “Tiếng tơ đồng”, “Jomarcel”… Bà chị kề tôi có vẻ quyết tâm dữ lắm! Quyết ăn thua đủ khi lao vô trò đánh tù tì với tôi, một cách thô bạo. Vậy mà sau hai lần huề, xui rủi sao lần thứ ba chị ra “tờ giấy” tôi lại ra “cái kéo”. Nhìn mặt chị méo xệch, tôi chọc: Vậy nghe! Kéo này sắc dữ lắm! Cắt roẹt, roẹt… Chị tôi nhỏ nhen để bụng, tối tối, hành hạ em bằng cách bắt làm đủ thứ việc linh tinh rồi lại còn xúi ông anh kiểm tra bài vở hết sức gắt gao, mới cho tôi được đi… ngủ lang.
Vợ anh Phước ban ngày thấy tươi tỉnh, mau mắn, nhưng ngó bộ rất buồn vào ban đêm. Có khi, tôi còn thấy chị khóc. Căn phòng có lúc không bật đèn, ti vi có khi không chịu mở. Chị đứng trước cửa im sững, mái tóc rũ qua một bên. Bóng người nhỏ bé và chênh chao trong thứ ánh sáng nhợt vàng lắt lay từ phòng kề bên hắt lên khoảnh tường đối diện. Nhiều năm sau, chiếc bóng lẻ loi và thứ ánh sáng chập chờn nhiều ma mị giấc khuya ấy còn ám ảnh tôi. Năm đó tôi mười bảy và chị hai ba. Tôi tên một loại hoa hết sức thông thường - Cúc. Chắc không phải cúc trắng vì da tôi đâu có được vậy. Vàng, càng không. Và chẳng lẽ có một loại cúc đen cho phù hợp với tôi. “Đứa con gái miền biển da nâu giòn, săn chắc”, chị hay gọi tôi bông lơn vậy cho vui chứ đâu có mấy hồi kêu Cúc. Trong giao tiếp hàng ngày chị một điều cưng hai điều cưng, giọng nũng nịu mè nheo. Đáng yêu và êm tai hết sức. Còn tên chị? Không thuộc về ngày. Không ánh mặt trời, không sáng lóa, không bừng tỏa. Là Đêm. Tôi cau mặt: “Tên gì kỳ cục! Tên nghe núp lén, bí mật quá chừng. Chị thêm: Bí ẩn và trắc ẩn nữa chứ. Tôi hiểu loáng thoáng hai từ đầu và rất lâu về sau này mới hiểu hết được hai từ sau. Hiểu và buồn lặng.
Cứ nghĩ được đi ngủ lang. Được lên phòng chị để coi ti vi ai dè, toàn là chóc mỏ nghe chị kể chuyện. Chẳng chuyện của ai. Chỉ chuyện của chị. Chuyện về cái xứ đạo có tên An Hiệp. Về Châu Thành. Về quê nhà mênh mang dạt dào sông nước của chị. Lần đầu, tôi biết đến cái tên Kiến Hòa và qua chị thấy gần chứ hồi giờ cứ nghĩ, ở đâu đó xa lăng lắc. Một cái tỉnh nằm tút tận miền tây mà mình không cách gì hình dung ra được. Chị Đêm nói, chị ưng anh Phước vì ba chị ép. Ba chị với ba anh Phước là bạn. Nhà ở khác huyện nhưng cùng đi học trên tỉnh. Ở trọ chung một nhà học chung một lớp. Thân thiết lắm! Hai người hứa làm sui với nhau từ hồi chị mới qua cấp hai chứ mấy. Ba anh Phước làm vườn, trồng cây cảnh để sinh sống và hiền khô. Còn ba chị là sĩ quan thuộc chi khu Kiến Hòa, dữ hết biết! Trước khi có chồng, chị đã thương một người học trên Sài Gòn, học trường bảnh dữ lắm! Học bên Phú Thọ ra làm tới kỹ sư đó cưng, nhưng ảnh có tham gia phong trào đấu tranh của sinh viên học sinh. Ba chị biết, đùng đùng nổi giận. Xách súng ra phía trước bắn chỉ thiên đúng ba phát rồi ông xách súng vô nhà kê ngay màng tang, (chị nói thêm: màng tang chị chứ không phải màng tang ổng) gằn giọng: “Mày bỏ nghen con. Không, tao làm một phát khỏi ân hận vì lỡ sinh ra đứa con gái mê Việt Cộng”.
Chị chưa kịp bỏ, người đó đã bị bắt và bị đày ra Côn Đảo.
Người đó đi ở tù và chị đi lấy chồng.
Chị kể chuyện tình mình bằng giọng rười rượi buồn. Và chỉ vậy. Không chút ghét bỏ, phẫn nộ… dẫu là một câu chuyện có tiếng súng, sự nổi giận và nhà tù. Phải là tôi, một cô gái miền Trung nhiều cá tính luôn biểu lộ mình, hết sức mãnh liệt, thì không bao giờ là vậy. Không những nói, khi kể chị còn cười được, mới thật tài! Mới thật ngộ! Những câu chuyện chị cuốn hút tôi từng đêm, từng đêm. Giọng Nam Bộ đẽo đợt kéo dài, như phỉnh dụ tôi theo chị miết miết. Theo chị về một giáo đường, vào đêm Giáng sinh vào mùa chay. Chị nói chị ở xứ đạo An Hiệp bên Châu Thành nhưng hai dịp lễ lớn trong năm của người Ki tô giáo, luôn theo gia đình qua bên Chợ Lách để tham dự thánh lễ và các nghi thức ở nhà thờ Cái Mơn. Đó, cũng là quê anh Phước. Giọng chị rập rình kể về con nước xuống, lên sớm chiều về cây bình bát về cụm dừa nước. Ghe thong thả lướt tràn mặt sông và con rạch nhỏ um xanh những rặng bần. Tôi nhắm mắt, nằm im, thiu thiu giấc ngủ chưa kịp tới và vui thích theo chị trong mùa thu hoạch cây trái vườn nhà. Chiếc võng, tiếng ve rộ mùa hè và sắc đỏ nơi từng chùm chôm chôm…
Sát bên phòng chị là phòng của một thằng Mỹ lai đen. Làm việc ở hãng R.M.K*. Đó là thằng Mỹ dễ thương nhất mà tôi được biết. Thằng này rất khôn. Chỉ đen sơ sơ ở màu da còn hết thảy mọi thứ trên khuôn mặt nó đều nhỏ nhắn, xinh xắn lạ lùng. Nó cũng không cao. Mỹ mà chỉ chừng một thước sáu lăm, sáu bảy. Nó cười có duyên chết được và tuổi chắc chưa tới ba mươi. Cái thằng này cà lác bắt sợ. Ai đời có mỗi cái tuổi cái tên mà hỏi, hồi khai tuổi này, hồi nói tên khác. Tuổi, không cần nhưng tên phải có để mà kêu chứ! Thế là chị đặt tên nó là Babyson. Chị nói, nhìn nó tự nhiên nghĩ tới một bản nhạc Pháp. Bản “Tous les garçon et les filles”**. Thằng Babyson có vẻ khoái chí với cái tên này lắm. Cứ câng câng cái bộ mặt dễ thương của nó lên, trả lời khi nghe ai đó hỏi: “What is your name?”. Có điều rất ngộ, nói theo cách của chị là dù đã đặt tên cho Babyson nhưng mọi người mặc sức kêu còn chị cứ Nhỏ mà réo. Như đã luôn réo tôi là cưng vậy. Càng ngộ thêm là mỗi lần nghe chị kêu mình, Babyson luôn hỏi lại bằng tiếng Việt đớ đớ là: “Đêm kêu Nhỏ hả?”. Từ ngày có thằng Mỹ lai mướn sát bên, những buổi tối, tôi thấy chị ít đứng một mình. Khoảnh tường đối diện chập choạng lắt lay bỗng nhiên rỡ ràng hằn soi hai bóng người đứng cận kề nhau, im sững.
Có khuya, tôi nín thở lặng ngắm họ. Cảm nhận trong nỗi hoang mang hãi sợ hết sức vô cớ của mình là vô vàn những ngọt ngào, ấm áp.
Những câu chuyện kể đêm đêm của chị, ngay sau đó, vẫn bảng lảng sông nước quê nhà. Vẫn mênh mang vẫn rười rượi điệu sầu muôn thủa đất phương Nam nhưng đã thêm vào rất nhiều chuyện của Babyson. Về cộng đồng da đen nhiều hẩm hiu của nó bên kia đại dương, về khu Harlem cùng khổ ở New York, về cái thằng chủ da trắng với cái tính phân biệt chủng tộc chết người ở hãng R.M.K và về âm nhạc. Chị nói chị và Babyson đều rất thích nhạc đồng quê và Thánh ca. Đó là những đêm cuối năm và rất lạnh. Giáng sinh cận kề, chị lo mua bánh trái, quà cáp để cùng anh Phước về quê. Anh Phước, gần như vắng nhà thường xuyên nhưng nghe nói hai người có hẹn là anh cũng nói, chừng Giáng sinh sẽ đưa nhau về Kiến Hòa ăn mừng Chúa ra đời. Tưởng chị vui, nhưng nghe ra trong những chuẩn bị của chị là bao nấn ná rất nhiều đắn đo. Khuya, thường thấy chị trở dậy ngồi sát mép giường, dáng bất động và khuya, tiếng harmonica của Babyson thổi từ phòng bên vọng sang, buồn hiu hắt.
Anh Phước báo về là phải tham dự một cuộc hành quân lớn và nói chị ráng vui trong một mùa Giáng sinh xa quê. Tin đưa về vào chiều 22 và rất lạ, thấy chị không một mảy may buồn. Rồi liền hai ngày sau đó thấy chị và Babyson lăng xăng túi bụi với những thứ gì đâu đâu. Hỏi, chị ra dấu bí mật. Cả hai muốn dành cho tôi những bất ngờ. Mà thật vậy, tôi đã trố mắt to, ngạc nhiên hết cỡ khi đứng giữa căn phòng thường ngày, vốn rất lộn xộn và vắng ngắt của Babyson. Không thể nào tin nổi căn phòng đó có thể đẹp sáng và ấm cúng đến dường ấy! Nhạc Giáng sinh đổ tràn. Ở góc phòng là một cái hang đá rất nhỏ và thật đơn sơ. Điều này khiến tôi thấy thích. Có vẻ, người làm ra hang đá này đã nắm rõ được tinh thần khó nghèo của Chúa và sự ra đời hết sức đặc biệt của Người. Đối nghịch với hang đá, ở góc phòng đối diện là một cây thông giăng đầy bóng điện đủ các sắc màu và liên hồi nhấp nháy. Trên những nhánh thông treo mấy gói quà và những cái thiệp xinh xinh. Giữa phòng là một bàn tiệc nhỏ dành cho đúng ba người đã cắm sẵn nến và bày sẵn ly uống rượu.
Đó là một Giáng sinh nhiều xúc động nhất mà tôi được biết. Một Giáng sinh có chị, có thằng bạn được gọi là Nhỏ của Đêm rồi còn có cả Cưng của chị nữa. Trước khi ăn Réveillon, cả chị và Babyson đều có quà cho tôi. Và sau đó, cả hai người cùng hát “Silent night” bằng cả tiếng Anh lẫn tiếng Việt. Giọng Babyson ngô nghê mà cảm động lạ lùng: “Đêm Thánh vô cùng. Giây phút tưng bừng. Đất với trời se chữ đồng. Đêm nay Chúa con thần thánh tôn thờ…”. Khi tôi hát “Jinger Bell” thì Babyson thổi harmonnica và chị nhảy. Mắt khép, tóc xõa bời bời, khuôn mặt đầy đắm mê… Là chị Đêm của tôi, trong một Giáng sinh đầy huyền ảo.
Mấy ly rượu vang khiến tôi buồn ngủ và trong cơn chập chờn, thấy có một ai đó bế chị lên, quay vòng và tung lên, bay bổng. Ở trạng thái thức ngủ nhập nhoàng tôi nhận ra đêm đang vút bay. Đêm níu cả chị Đêm cùng bay, rồi một ai đó nữa bay, hang đá bay, những ngọn nến bay và âm nhạc bay bay. Bay rất nhẹ và xa. Thật xa. Ngay trong đêm đó, lúc gần sáng tôi chợt thức dậy và giật mình, khi sờ bên cạnh mình không thấy chị đâu. Rồi thêm mấy đêm sau nữa cũng vậy. Vài tuần sau nữa thì chuyện của chị và Babyson vỡ lở. Trong mấy phòng trọ ở dãy nhà cho thuê của gia đình tôi, mọi người xúm lại xì xầm. Những cái liếc xéo đầy ghét bỏ, những cái nguýnh nguẩy nhiều rẻ khinh, những câu nói hằn xóc… bay vèo vèo. Cũng là bay đó thôi nhưng, không phải bay rất nhẹ và thật đẹp như âm nhạc và những giấc mơ mà bay bạo liệt về phía chị. Mẹ tôi không cho tôi lên ngủ với chị nữa và một bữa, anh Phước về thình lình và bắt gặp chị với Babyson đang đứng ở khoảng cuối của dãy hành lang, ôm nhau. Sau này nghe chị kể lại tôi mới hay còn giữa khi đó, tôi có giáp mặt với anh Phước ở đường luồn và thấy anh rất bình thường. Anh Phước vẫn cười với cái miệng mở rộng hết cỡ. Chiếc răng vàng lấp lánh khiến tôi đã muốn vọt miệng hát lên mấy câu trêu ghẹo nhưng anh lao ra đường, leo vội lên chiếc Jeep và phóng đi.


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 28 Tháng Tư, 2011, 09:33:44 am
                                            Tiếp theo :

Suốt khoảng thời gian đó, chị điềm tĩnh đến kinh ngạc! Tôi lén mẹ lên ngủ với chị được vài đêm. Lòng xao xác bởi rõ đó là những đêm cuối với nhau. Chị cười mà nước mắt ứa kể về tình yêu của chị với chàng trai Mỹ lai đen Babyson. Về Nhỏ. Chị nói cưng biết không, bọn chị tìm tới nhau vì đều đau đáu nỗi tha hương. Đều yêu quê đều rất nhớ nhà dẫu đó có là một khu phố nhộn nhạo bất ổn của dân da đen ở New York hay là sự thanh bình yên ả ở xứ đạo An Hiệp, Kiến Hoà. Rồi là âm nhạc. Những bài Thánh ca du dương, thứ nhạc đồng quê đằm sâu mà mộc mạc… Rồi là sự lẻ loi nơi mỗi người, những ngác ngơ trong cuộc sống, nỗi mệt mỏi trong tình ái. Với Babyson là sự chung đụng đến nhàm chán với mấy cô gái điếm. Với chị là cuộc hôn nhân gượng gạo với anh Phước. Bọn chị khát khao những sẻ chia nhỏ nhặt mỗi ngày. Cần thiết những hỏi han, chăm chút cho nhau khi mưa khi nắng, lúc khỏe hồi đau. Cứ ngỡ chỉ vậy. Chỉ nghĩ đó là một tình bạn trong trẻo mà cả hai đã bắt gặp được ở đây trong chuỗi ngày sống côi cút. Đâu ngờ… Thôi thì! Đã vậy, chị phó mặc… Tôi ngập ngừng:
- Rủi anh Phước…?
- Chĩa súng ngay màng tang chị và bắn một phát chứ gì?
- ….
Anh Phước đã không làm vậy. Một lần, về thành phố anh không thèm ghé về nhà với chị Đêm. Anh rủ cả đám bạn vô một quán rượu, uống say mèm rồi một hai đòi về đơn vị dù mọi người cản ngăn. Anh đón một chiếc xe nhà binh chở lính đi ra Quảng Ngãi. Xe quá chật nên anh và hai người bạn phải đứng. Bạn anh đứng hai bên còn có chỗ vịn tay. Anh ở giữa đâu biết bấu víu nơi nào ngoài vai bạn. Tựa giữ lỏng lẻo kiểu đó nên khi xe thắng tay anh rớt ra liền. Tay rớt và anh rớt. Rớt xuống lòng đường gặp ngay lúc một chiếc Jeep phía sau trờ tới và cả người anh nát nhừ. Chị nhận hung tin, đờ người ra rất lâu rồi quỵ xuống, sóng soài. Không riêng chị, cả gia đình tôi và mọi người ở trọ đều chết điếng cả hồn lẫn vía. Cái chết tức tưởi và thảm thiết của anh trùm lên hết ngôi nhà của chúng tôi một không gian u xám và ảm đạm. Có cảm giác luồng ám khí từ nơi anh nằm xuống đang bốc lên nghi ngút và theo gió, dạt bay về phía chị và Babyson khiến khuôn mặt chị dại ngây như không còn sự sống và đôi mắt Babyson đỏ quành quạch một màu chết chóc dị thường.
Chị bỏ chúng tôi mà đi, từ ngày hôm đó.
Babyson đóng chặt cửa phòng và ngập ngụa mình trong rượu, từ ngày hôm đó.
Thi thoảng, đêm, trong những giấc ngủ đầy mộng mị của mình, tôi thấy chị Đêm về. Tôi thấy chị xõa tóc dài ngồi nơi bến nước quê mình trong Châu Thành, một mình. Bóng chị khi ẩn lúc hiện nơi những rặng bần cụm dừa nước… Rồi tôi thấy chị áo dài trắng voan trắng đứng chơ vơ một mình, nơi tháp chuông nhà thờ Cái Mơn trong lễ cưới… Lạ, trong những giấc mơ tôi không hề thấy anh Phước. Cũng không có Babyson. Chỉ có tiếng harmonica da diết và bi thiết. Chỉ có chiếc răng vàng trên khuôn mặt nhòa nhệch của ai đó bật sáng rồi tắt lịm. Chỉ có giọng nói của ai đó, thắt thẻo và rập rình: “Đêm kêu Nhỏ hả?” rồi bặt im.

*
*      *
Đã gần hai tuần nay, tôi ở đây.
Bữa về Châu Thành, thót lòng… Sao tôi có thể quên đây là quê nhà của một người phụ nữ có tên là Đêm. Một cái tên kỳ cục. Một cái tên nhiều bí ẩn và nhiều trắc ẩn. Sông mưa và con phà lướt tới. Sông đẫm buồn trong cái màu bạc đục lênh lang mấy cụm lục bình trôi. Sông trôi và đêm trôi. Dạt xô những tận đâu đâu, hỡi người đàn bà của tuổi mười bảy tôi, ngời ngợi… Tôi đã bần thần suốt một ngày, ở chính cái nơi chị đã sinh ra, đã lớn lên, đã ra đi và không biết còn có thể trở về? Sáng đó, khi lững thững đi dạo quanh mấy cái nhà vườn, tôi đã đứng chôn chân phía trước một ngôi nhà mà dường như ký ức cho tôi hay đó là ngôi nhà chị. Phải không? Cái cổng này sao rất quen. Phải không? Bức tường rào sơ sài? Phải không? Khung cảnh này sao quá lắm gần gụi? Không đừng được, tôi bước vô. Và cứ thế một mình ngẩn người nơi hàng hiên, nơi gian nhà ngoài với những chiếc ghế làm bằng thân dừa thật khéo. Vắt ngang chiếc tủ thờ rất xưa là câu này: “Học, học nữa, học mãi…” viết bằng nét chữ nguệch ngoạc. Một câu của ai đó, chị Đêm ưa đem ra trích dẫn mỗi khi hai chị em nói chuyện với nhau về đề tài học. Giờ, ong ong bên tai mình bằng một giọng Nam bộ đẽo đợt uể oải khiến tôi phải giật mình. Là câu chị dùng là giọng chị nói. Không trật. Vậy chị phải ở ngay đây. Ở trong chính cái ngôi nhà này. Không thể trật được.
Vừa nghĩ tới đó, tôi bỗng thấy mình nghẹt thở và phải lấy hơi hít sâu mấy ngụm khí trời để bớt hồi hộp trước khi hăm hở đi thẳng xuống nhà sau. Chị sẽ như thế nào đây, sau ngần ấy năm xa cách? Chị đang ở với ai? Cũng có thể chị lập gia đình với người tình thủa học trò, cái ông rất bảnh học trường Phú Thọ chừng tốt nghiệp làm kỹ sư đó! Phải rồi, sau giải phóng anh sẽ ở Côn Đảo về. Sẽ gặp lại sẽ sum họp và sao không thể cùng về chung sống với nhau, sau ngần ấy trắc trở gập ghềnh?
Tiếp tôi không phải chị, mà cũng không phải một cô gái một chàng trai nào đó hơi hơi giống chị. Một bà già Nam bộ rất hiếu khách, hỏi thăm tôi đủ thứ và mời tôi ăn quá trời là trái cây. Ăn đã đời còn cho thêm một bịch chôm chôm và một trái mít tố nữ. Bà già cũng cho tôi biết thêm là nhà không có con cháu, em út gì tên Đêm hết! Nói rồi cười xuề xòa: “Trời ơi! Khùng ha! Đặt tên gì kỳ! Đặt tên vậy cho đời tối thui sao!”. Ngồi lại thêm buồn, tôi chào tạm biệt. Đã đứng ở cổng vẫn còn chưa chịu đi. Tôi cố tình nấn ná chỉ để hỏi một câu:
- Vậy, ai viết cái câu dán trên tủ thờ vậy, bác? Mà sao viết vậy?
- Thằng chồng tui viết chứ ai. Tự ổng đĩ ngựa ổng viết vậy đó!
Bước chân lâng châng tôi quay lại với đám bạn, uống liền mấy ly Phú Lễ ngâm chuối hột. Rượu xộc cay và nỗi nhớ xộc cay. Nhớ chị, nhớ thứ ánh sáng nhợt vàng từ phòng trong hắt ra khoảng tường đối diện. Là đêm đêm của chị Đêm tôi. Đêm, chiếc bóng chị đứng lẻ loi. Đêm, sát mép giường chị ngồi lẻ loi. Chập chờn và bất động…
Tôi còn thêm mấy lần lầm tưởng là đã được gặp lại chị ở tại cái nơi này. Là buổi sáng đi lễ ở một giáo đường gần bờ sông và lòng bật vui khi thấy lại một dáng quen đứng trước hang đá Đức Mẹ. Để rồi khi sáp lại gần, hụt hẫng. Là giữa phố với người đàn bà bán sinh tố mình ghé lại uống trái dừa lạnh. Trời ơi! Sao mà giống… Cũng đôi mắt ấy cũng sống mũi ấy khi tôi nghiêng người nhìn lén rất lâu. Là khi dạo chợ và giật mình bởi tiếng Nhỏ, rất trìu mến được nghe cùng với cả chuỗi cười. Chuỗi cười nào giống chuỗi cười từ đôi môi đỏ mọng chúm chím của chị và tiếng gọi “Nhỏ ơi! Nhỏ ơi!” sao có thể nguôi quên? Tiếng gọi tiếng cười ngỡ đã lẫn chìm tận đâu sao khiến tôi ngơ ngác quá giữa chốn này. Nhiều năm tháng đã đi qua. Vẫn như ngày xưa, tôi không một lần hé môi phán xét chị. Tôi không một câu lên án dẫu không hề quên những lỡ lầm, những sai phạm tột cùng của chị… Tôi, không thể dẫu một tích tắc đời mình chối bỏ chị ngừng yêu thương chị.
Mấy ngày cuối ở nơi này, lòng tôi đã bớt thấp thỏm. Tôi nhận ra người đàn bà tên Đêm đó đã thuộc về đêm. Là đêm. Đêm, cho chị lút sâu mình ẩn náu. Đêm dang tay chở che chị. Tôi thôi háo hức săn tìm bởi nhận ra người đàn bà tên Đêm đó là của đêm. Chị rộng lòng như đêm mông muội như đêm ẩn trắc như đêm.
Khuya, tôi một mình đi bộ ra con sông gần chỗ ở. Sông lênh láng và sông yên ả. Tôi một mình giữa đêm. Đêm hoang hoải và đêm hung hiểm. Tôi một mình và tôi nhớ chị. Những nỗi nhớ trườn mình trên mặt sông loang loáng...
Trại viết Bến Tre tháng 7-2010
 NGUYỄN MỸ NỮ


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 28 Tháng Tư, 2011, 09:40:55 am
                                           Giữa mênh mang biển đảo    
                                           Tác giả : Sương Nguyệt Minh   

 Nước Việt Nam ta có 3.260 km bờ biển, hơn 3000 hòn đảo lớn nhỏ, vùng biển rộng trên 1 triệu km2, tiếp giáp với 8 quốc gia trong khu vực biển Đông. Nguồn nhân lực dồi dào ven biển khoảng 27 triệu người (chiếm 32% số dân cả nước) trong đó có 18 triệu lao động thuộc 8 bộ, ngành và 28 tỉnh, thành ven biển. Đó là tiềm năng vô cùng to lớn phát triển kinh tế biển; đồng thời cũng là động lực tạo cơ sở hạ tầng, là nguồn nhân lực phục vụ nhiệm vụ Quốc phòng - An ninh bảo vệ chủ quyền biển, đảo.
(http://i1221.photobucket.com/albums/dd461/vannghequandoi/truongsatutrencao.jpg)
Để vùng biển đảo, thềm lục địa bình yên, để các tiềm năng và động lực to lớn ấy biến thành sức mạnh tinh thần và vật chất trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thì những người lính hải quân luôn luôn đứng ở nơi “đầu sóng ngón gió”. Và tất nhiên, những người lính Tài chính và các cơ quan đảm bảo luôn kề vai sát cánh trong nhiệm vụ bảo vệ biển đảo.

1.   

 Trong bài tùy bút “Người Việt Nam trước biển”, tôi có viết đại ý rằng: Người Việt Nam “mặn rừng, nhạt biển”, thậm chí sợ hãi, hoang mang, rợn ngợp trước biển mênh mông kì bí, đầy tai ương bất trắc, khó lường. Tôi có đặt câu hỏi: Vì sao Lạc Long Quân dẫn 50 người con xuống biển, nhưng đến vùng đất trũng châu thổ, cửa sông Hồng thì dừng lại chứ không đi tới biển và chinh phục biển?

Tôi có đọc các tài liệu về biển, đáng quan tâm nhất là ý kiến của giáo sư Trần Quốc Vượng, ông đưa ra khái niệm Cảng Chiêm, và ông đánh giá nghề đi biển của người Chàm (Chiêm Thành) là một dân tộc bầu ghe giỏi giang, đóng thuyền lầu là chiến thuyền và thương thuyền cao 2-3 trượng (6m) dài 20 trượng (60m), chở được 600-700 người, hàng vạn hộc sản vật. Kỹ thuật đi biển của người Chàm sánh ngang với Trung hoa, Ấn độ, Ba Tư. Vàng, bạc, kỳ nam, gốm Chăm… là vật ngang giá thay cho tiền trong các thương vụ với người ngoại quốc.

Lịch sử chinh phục biển của người Việt đã từng có Trần Khánh Dư trấn giữ Vân Đồn đánh tan đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ, máu quân Nguyên nhuộm đỏ dòng sông Mang trong xanh chảy xuyên đảo Quan Lạn. Bùi Viện người có công lập cảng Hải Phòng, thành lập Tuần dương quân (Hải quân thường trực) với 200 chiến thuyền và 2000 thủy quân, ông đã 2 lần đi thuyền vượt biển sang Hoa Kỳ gặp Tổng thống Ulysses Grant cầu giúp Việt Nam đánh Pháp.

Các thương cảng: Vân Đồn, Phố Hiến (cảng sông), Hội An, Thị Nại, Bến Nghé…vv đã từng tồn tại một thời buôn bán sầm uất. Tàu thuyền các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Malaixia, Hà Lan, Bồ Đào Nha vượt đại dương cập bến, giao thương với Việt Nam… Các loại tiền: Kiến Trung thông bảo, Nguyên Phong thông bảo, Khai Thái nguyên bảo, Thiệu Bình thông bảo hay Minh Mạng thông bảo… đúc bằng đồng, kẽm hình tròn lỗ vuông dường như chỉ có giá trị quốc nội, không thể làm chức năng tiền tệ quốc tế, cho nên trao đổi lúc bấy giờ lại là ngà voi, gốm sứ, tơ lụa, đồi mồi và vàng bạc… Bùi Viện hai lần xuất dương sang Mỹ đều được triều đình cấp vàng thỏi, bạc nén mang theo, cập bến cảng nào thì đổi lấy lương thực, thực phẩm và nước uống, ròng rã hàng năm đi về trên biển thẳm nơi xứ lạ v.v…

Rõ ràng, ông cha ta cũng đã nỗ lực vươn ra biển. Vậy mà, cho đến nay, Việt Nam mình chưa bao giờ được gọi là cường quốc hàng hải!

 

2.
Đi về phía biển, đến với những người lính hải quân trong những ngày giá rét thì niềm tin người Việt chinh phục biển trong lòng tôi cứ ấm nóng dần lên. Là bởi, họ đang làm nhiệm vụ đặc biệt canh giữ vùng biển đảo, thềm lục địa của Tổ quốc, trong đó có nhiệm vụ chống phá, ngăn cản các tàu lạ của nước ngoài xâm nhập trái phép.

 Những người lính hải quân Vùng 1 mỗi chuyến đi thường kéo dài 40-45 ngày trên biển. Họ phải chịu sóng lớn va đập vào tàu khiến độ rung lắc, cùng với xung chấn phát ra từ âm động cơ thủy khiến các tế bào, mạch máu, các nơron thần kinh lúc nào cũng trong trạng thái rằn, rung, không được nghỉ ngơi. Cũng như, làm nhiệm vụ tuần tra cản phá tàu lạ xâm nhập luôn trong trạng thái trực chiến 24/24 giờ trong ngày. Thế nên, tất cả cán bộ, thủy thủ trên tàu đều được hưởng chế độ ăn đêm. Ăn đêm, và ăn ngày luôn phải đủ lượng calo và thay nhau ngủ để lấy sức, đó là yêu cầu và cũng là nhiệm vụ.

Biển Đông thuộc chủ quyền Việt Nam mênh mông, nhiều tàu thuyền nước ngoài cố tình đến đánh bắt hải sản, thậm chí còn ngang nhiên khai thác nguồn tài nguyên, điển hình là họ đưa dàn khoan Kan Tan – O3 tìm kiếm dầu khí trên vùng biển nước ta. Có lệnh là đi, những người lính thủy tàu Vạn Hoa 791 của Vùng 1 Hải quân đã vượt sóng lớn, mù sương, bão giông, thiếu nước ngọt, nhưng vẫn bám sát mục tiêu, thực hiện đúng đối sách, đúng chủ trương đấu tranh, vượt qua thử thách, hiểm nguy, suốt 29 ngày vật lộn với sóng gió ngăn cản, xua đuổi, cuối cùng đã buộc Dàn khoan Kan Tan – 03 phải rút khỏi vùng biển nước ta.

Có thời gian diễn biến trên biển rất phức tạp, nạn buôn lậu triền miên, đổ hàng, sang hàng, tàu lạ nước ngoài xâm nhập thường xuyên đánh bắt hải sản lấn sâu vào vùng biển Việt Nam, Vùng 1 Hải quân đã phải cử 10 biên đội tàu K62, K206, mỗi biên đội 2 tàu rời bến, bám biển hàng tháng trời xua đuổi hàng trăm tàu thuyền nước ngoài, bắt 20 tàu đánh cá nước ngoài hoạt động trái phép.

cgLịch sử Hải quân Vùng 1 đã ghi: Biên đội HQ 201, HQ 210 của Lữ 170 kết hợp với tàu HQ 635 của Hải đội 4 tuần tiễu kết hợp với trinh sát biển, xua đuổi tàu nước ngoài. Hai tàu chiến nước ngoài mang số hiệu 675 và 724 đã uy hiếp các tàu HQ của ta bằng cách chạy xung quanh bao vây, ngăn cản, có lúc chỉ cách tàu HQ 201 hơn 100m. Không sợ hãi, chấp nhận hi sinh, biên đội tàu HQ của ta đã khôn khéo, thực hiện đúng đối sách, giải thích, thuyết phục và tỏ thái độ cứng rắn trong bảo vệ chủ quyền. Sau 5 giờ đồng hồ quần đảo trên sóng nước biển Đông, các biên đội tàu của hải quân ta đã buộc 2 tàu chiến nước ngoài và các tàu bổ trợ phải lùi về phía Đông đường phân định…

Chiến công, thành tích bao giờ cũng là kết quả tổng hợp của nhiều bộ phận, của cả người đi biển và cả người ở đất liền, bảo đảm cho con tàu và người lính trên đó hoàn thành nhiệm vụ. “Có thực mới vực được đạo”, không thể thiếu cái ăn đồ uống khi đi biển dài ngày.

Người Việt Nam, bữa ăn luôn có chất diệp lục, bữa ăn thiếu rau xanh là tôi có cảm giác lả đi. Thực sự lo lắng cho những người lính biển, tôi hỏi trung tá Bùi Sĩ Giới – Trưởng ban Tài chính Vùng 1 Hải quân:

- Rau xanh chỉ để được hai, ba ngày, sang ngày thứ 4 là lũa vàng ra, thối đi. Các anh sẽ khắc phục thế nào? Thủy thủ ăn cơm với thịt hộp suốt tháng, khổ lắm.

Bùi Sĩ Giới cười, cái cười độ lượng cảm thông với sự ngù ngờ của tôi về đi biển, rồi nói nhỏ nhẹ:

- Người làm tài chính và hậu cần chúng tôi đã phải nghĩ đến chuyện ấy, chứ không để cho chỉ huy lãnh đạo nhắc nhở, lại càng không để cho nhà báo đến hôm nay phải lo lắng. Thưa với anh! Những anh nuôi của các tàu trước khi rời bến sẽ lấy tiền từ tài chính và mua bí ngô, bí xanh, su su…, những thứ củ, quả có thể để lâu không bị héo úa hết đợt đi dài trên biển vẫn vô tư.

Tôi mới vỡ lẽ ra cái điều phấp phỏng âu lo ấy bằng thừa. Câu chuyện kéo dài đến các chi tiết mua chó, gà, ngan ngỗng… đưa lên tàu nuôi ở các lồng. Có cô gà mái hoa mơ còn đẻ sòn sòn mỗi ngày một quả trứng trên tàu, đến nỗi anh em lính thủy không nỡ giết. Và, có chuyện thật thú vị, có một con chó chửa trước khi lên tàu mà không biết, sau 1 tháng lênh đênh trên sóng nước thì nó cũng sinh hạ được 5 con cún. Tất nhiên, lính hải quân lại phải nuôi tiếp trên tàu.

Kể như thế, để bạn đọc yên tâm rằng: Những người lính hải quân đi biển làm nhiệm vụ được bảo đảm rất tốt thực phẩm tươi sống. Viết đến đây, tôi lại nhớ 8 năm trước đi Trường Sa, suốt đợt đi hơn nửa tháng được ba lần xơi thịt chó, lá mơ chấm với… mắm tôm. Hóa ra, anh nuôi đã mua cả chục con chó làm sẵn và tống vào trong hầm đá dự trữ ăn dần. Tuy nhiên, không thể nói lính thủy sống trong điều kiện đầy đủ, đi biển muốn gì mua nấy, ăn nấy tươi sống như trên đất liền.

Chúng tôi có một buổi làm việc với đại tá Mai Thế Hoạt - Phó Chính ủy Vùng 1. Anh Hoạt nói nhiều đến gian lao người lính biển, đến sự quan tâm chăm sóc đời sống tinh thần, vật chất cho cán bộ chiến sĩ trên tàu. Mỗi chuyến đi làm nhiệm vụ cản phá xua đuổi tàu lạ nước ngoài thường là 1 tháng đến 45 ngày. Bộ Chỉ huy Vùng 1 mua cho mỗi tàu 1 chiếc tủ bảo quản đồ ăn giá tiền khoảng 12 triệu đồng. Khi đi biển anh em được bù ăn thêm 6.500 đồng/người/ngày so với mức ăn tàu loại hai tại bến là 41.000 đồng/người/ngày. Vùng trích từ quỹ tăng gia sản xuất để hỗ trợ bù ăn thêm 4.500 đồng/người/ngày cho anh em đi công tác xa đất liền.

 Nhiệm vụ đặc biệt đi cản phá tàu lạ luôn ở trong tình thế bí mật, bất ngờ. Thường là biên đội tàu chỉ được báo trước 24 giờ, thậm chí trong tình huống khẩn cấp chỉ có 12 tiếng đồng hồ làm công tác bảo đảm. Thời gian gấp gáp như thế, làm gì để bảo đảm tài chính, hậu cần cho anh em đi biển thật nhanh?

Trung tá Bùi Sĩ Giới giải thích rằng: “Trước khi tàu đi làm nhiệm vụ bao giờ cũng có kế hoạch tác chiến, kế hoạch bảo đảm chuyên môn kỹ thuật, tài chính – hậu cần. Chúng tôi đều đã hợp đồng trước với một số nhà cung cấp rau, thực phẩm, hàng khô. Chỉ cần đặt vấn đề, họ chuyển hàng cho, sau đó thanh toán tiền sau”. Như hợp đồng tác chiến quân dân một ý chí, chỉ có thế mới đáp ứng được yêu cầu khẩn trương cho chân vịt cuộn sóng đưa tàu ra khơi, chứ đi mua gom từng bó rau, quả bí, từng gói mì tôm… ở chợ thì biết đến bao giờ mới đủ.
(http://i1221.photobucket.com/albums/dd461/vannghequandoi/binovitnam.jpg)

Vùng 1 thành lập tổ giá. Nhiệm vụ của tổ này là khảo giá để mua được mức rẻ nhất rồi giao hàng tay 3 tại bến cảng. Công tác bảo đảm cho tàu đi làm nhiệm vụ rất quan trọng là mua sắm các phương tiện cản phá. Mua phao xốp. Mua lưới. Mua giây thép gai… Tàu lạ xâm nhập vào vùng biển của ta, hoặc dàn khoan nước ngoài vào thăm dò trái phép sẽ bị các vật cản gây nhiễu kỹ thuật, không hoạt động được. Có ai ngờ những phương tiện đơn sơ, thô giản như vậy mà lại chống được kỹ thuật hiện đại, tối tân của nước ngoài.
 


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 28 Tháng Tư, 2011, 09:44:21 am
                                    Tiếp theo :
Nói đến Vùng 1 Hải quân không thể nói đến những người lính ra đa – những con mắt thần canh giữ bầu trời, biển đảo Tổ quốc. Phó Chính ủy Mai Thế Hoạt nói rằng: Trong các trạm ra đa của Vùng 1 thì trạm đảo Trà Bản, đảo Trần là khó khăn nhất. Đảo Trà Bản – Quảng Ninh có dân sinh sống, rau xanh trồng được, nuôi lợn ngan chó mèo được, nhưng nước thì hiếm.

Mùa khô, lính ra đa xuống chân núi cõng từng can nước ngọt. Đường lên Trạm vòng vèo, ngược dốc mấy cây số, người rèn luyện kém chỉ leo đến nửa đường đã lăn quay ra nằm thở hồng hộc, mồ hôi túa ra, mắt mờ đi. Mấy năm trước, Tư lệnh, Chính ủy Quân chủng Hải quân ra thăm đảo thương lính quá đã quyết cho xây bể xi măng. Lính ta lại gùi từng cân xi măng, từng viên gạch, xẻng cát, lại gùi từng can nước lên đỉnh đồi xây bể.

Chúng tôi có một buổi trưa đi thong dong trong khuôn viên Sở Chỉ huy Bộ Tư lệnh Vùng 1. Một tòa nhà cao đẹp, thanh thoát, hàng dây dài gắn cờ các nước có biển, gắn các loại cờ kỹ thuật hàng hải rực rỡ sắc mầu bay trong gió lạnh. Một khuôn viên xanh, rộng rãi có cây cảnh, vườn hoa, hồ nước, cầu cong, sân ten nít… Ba tỷ đồng được chi ra để xây dựng, cải tạo vùng đất cằn khô thành môi trường xanh sạch đẹp. Số tiền này hoàn toàn từ công sức tăng gia sản xuất, làm kinh tế của cán bộ chiến sĩ.

Nuôi tu hài là một thu nhập đáng kể. Các đơn vị tự nuôi, vì tu hài chỉ cần sắm lồng, thức ăn không phải bỏ ra, thả vào lồng tự nó kiếm thức ăn từ các sinh vật phù du trong nước biển. Trung tá Mai Hồng Thân – Trợ lý phòng Tài chính, đại úy chuyên nghiệp Đoàn Minh Chuyên – Trợ lý tài chính Vùng 1 đều là những người thợ đã từng thay nhau đi nuôi tu hài. Người người sản xuất, nhà nhà tăng gia mà. Chính Quyên và anh em trong Ban Tài chính cùng với các cơ quan Vùng 1 đã từng đào ao, khiêng đất, kè đá, xây bờ… làm nên một cái hồ trong xanh, vườn hoa, cây cảnh, sân ten nít khang trang. Doanh trại quân đội ở đây thực sự hòa mình vào thiên nhiên thanh sạch, tạo thành một cái đẹp vừa cứng cáp, vững chãi vừa trữ tình, lãng mạn.

 
3.

 Một chiều đông sửng nắng, chúng tôi có mặt ở cảng 128 giữa bạt ngàn contennơ hàng giữa khu vực Đình Vũ của Hải Phòng đang sôi động, nhộn nhịp. Con đường trước cổng Công ty toàn xe tải hạng nặng 12 bánh 18 bánh theo nhau vào chở hàng. Rộn ràng. Tấp nập. Đã ra dáng là một thương cảng lớn. Mớn nước cho tàu 2000 tấn có thể cập, tương lai sẽ cho tàu 1 vạn tấn cập bến ngang với cảng Chùa Vẽ. Tàu thủy các nơi chuyển tải cập bến. Cái cảng này mới thành lập có cổ đông Tân Cảng góp vốn.

Năm 2010 vừa qua, Cảng 128 doanh thu 40 tỷ đồng, trong đó lợi nhuận 8 tỷ đồng. Đúng là siêu lãi. Và hàng chục con tàu đang lênh đênh làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo, kết hợp xây dựng kinh tế. Vậy mà, ít người biết được Hải đoàn 128 còn gọi là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 128 trước đây chỉ là 1 Phòng đánh cá của Bộ Tư lệnh Hải quân, bây giờ là một hải đoàn mạnh làm nhiệm vụ quốc phòng trên biển và trực tiếp thực hiện các hoạt động sản xuất - kinh doanh đa ngành nghề: dịch vụ trên biển; sửa chữa tàu biển phương tiện thủy; dịch vụ vận tải biển; khai thác, nuôi trồng, chế biến thủy hải sản; dịch vụ cảng biển, lưu kho, lưu bãi...

dkĐể hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, những năm qua, Đảng ủy, Ban Giám đốc Công ty luôn chủ động đề xuất với các cơ quan chức năng cấp trên về phương án đầu tư để nâng cao năng lực tàu thuyền, trang thiết bị đánh bắt cá xa bờ... Thấy rõ tính chất, nhiệm vụ đặc biệt của công ty 128, ngay sau khi nhận được dự án đầu tư nâng cấp trang bị tàu thuyền tuần tra, đánh bắt hải sản của công ty, cơ quan tài chính quân chủng và Cục Tài chính - Bộ Quốc phòng đã cân đối, tạo điều kiện đáp ứng đủ nhu cầu cần thiết của Công ty.

Đến nay, các đội tàu thuyền của công ty đã có trang thiết bị đánh bắt hiện đại như máy tầm ngư, máy định vị, máy dò ngang... Ngoài ra, mỗi tàu còn được mua sắm, trang bi một số thiết bị sơ chế, bảo quản sản phẩm hải sản ngay trên biển, góp phần tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng bảo quản hải sản sau đánh bắt và giảm chi phí giá thành do tăng thời gian mỗi chuyến đi biển. Nhờ đó, doanh thu, lợi nhuận của Công ty năm sau cao hơn năm trước, nguồn vốn được bảo toàn và phát triển. Năm 2010 tổng giá trị sản xuất của Công ty là 254,6 tỷ đồng; doanh thu hơn 203 tỷ đồng, tăng 29,5% so với 2009.

Thượng tá Lê Văn Hiến – Trưởng ban Tài chính Hải đoàn 128 khoát một vòng tay trên bản đồ, anh chỉ cho chúng tôi xem địa bàn hoạt động suốt từ Quảng Ninh đến Bà Rịa - Vũng Tàu. Khó khăn nhất là địa bàn bảo vệ kinh tế biển quá rộng, tàu thuyền có mặt khắp biển Đông, biển Tây Nam Tổ quốc. Có lẽ hấp dẫn nhất là chuyện bảo vệ kinh tế biển và làm kinh tế biển. Đỉnh cao của hành trình đi dài ngày trên biển đã thuộc về tàu Vạn Hoa 737 do Vũ Tôn Quyền làm thuyền trưởng.

Lúc đầu kế hoạch đi biển 3 tháng, nhưng do yêu cầu nhiệm vụ đặc biệt, chuyến đi của các anh đã kéo dài hành trình đến 164 ngày. Có thể nói, quen sóng gió tầm tã, được rèn luyện thường xuyên nhất phải nói đến lính biển 128. Những con tàu chạy trên biển Đông 100 ngày là chuyện bình thường. Và tất nhiên lương cũng cao ngất ngưởng, gấp đôi lương quốc phòng, người đi biển bình quân 12-13 triệu đồng/tháng. Nhưng, họ cũng phải chịu nhiều nỗi gian nan, cực nhọc. Lênh đênh mấy tháng trời trên biển vắng, không nhìn thấy cái nón trắng, không được nắm bàn tay con gái, chỉ có trời với nước mênh mông. Món tiền chục triệu đồng/tháng và nỗi cô đơn, xa gia đình… cái nào nặng hơn?

Mục tiêu kinh tế cần bảo vệ của họ là các mỏ dầu khí của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam từ Bình Thuận đến Bà Rịa – Vũng Tàu. Ở đó là các khu mỏ có diện tích rộng, có các công trình kỹ thuật, trang thiết bị công nghệ hiện đại. Các nhà địa lý học đã chỉ ra rằng: Vùng biển này độ sâu trung bình vừa phải từ 40-60m, dòng chảy ổn định, địa chất đáy tương đối bằng phẳng, nhiều phù du sinh vật, ít đá ngầm, bãi cạn, chướng ngại vật.

Tôi đã có dịp đi Trường Sa và leo lên các Nhà dàn DK, và cũng may mắn ngồi máy bay trực thăng ra dàn khoan. Chao ơi! Khi màn đêm buông dần, ánh sáng đèn thắp lên tỏa sáng xuống biển mặn thì vô số cá mú từ đâu đó bơi đến quần tụ, tôi có cảm nhận cứ quăng lưới xuống kéo lưới lên thì nặng trĩu cá, có thể phải dùng cần trục mới trục được hàng tấn cá lên. Khu vực biển có những nhà dàn DK của lính hải quân đồn trú bảo vệ biển, và vùng biển có dàn khoan trở thành nơi cư trú, sinh sống nhiều loại hải sản, đương nhiên tàu thuyền đánh cá không bỏ sót cơ hội và ngư trường dồi dào hải sản này.
(http://i1221.photobucket.com/albums/dd461/vannghequandoi/bien.jpg)


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 28 Tháng Tư, 2011, 09:46:25 am
                                        Tiếp theo :
 Ngư dân thấy lợi là nhao đến, họ lao tàu thuyền vào đánh cá, có thể làm hư hỏng dàn khoan. Tàu của Hải quân phải làm nhiệm vụ ngăn chặn, tuyên truyền, lai dắt tàu cá của dân ra, không cho tiếp cận các mục tiêu kinh tế, quân sự trên biển. Tổng kết năm 2010, các tàu của Hải đoàn 128 đã phát hiện ngăn chặn, tuyên truyền đưa ra khỏi khu vực cần bảo vệ 211 tàu đánh cá của ngư dân.

Viết đến đây tôi lại nhớ đến Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn có chép Trường Sa rất nhiều ốc nón vàng, đồi mồi… Một đoạn thư tịch cũ còn chép về các đội binh thuyền Hoàng Sa, Trường Sa do vua Minh Mạng lập ra. Hàng năm đến mùa biển lặng, các binh thuyền ra Trường Sa, Hoàng Sa khai thác sản vật ốc nón, đồi mồi, lấy các đồ trang sức, vàng bạc, binh khí, tên đồng, gươm cổ… ở các tàu ngoại quốc đắm. Như vậy, người lính hải quân Công ty 128 đang đi theo con đường thủy binh cha ông đã đã từng đi.

Tuần tra trên biển và làm kinh tế biển luôn là nhiệm vụ cơ bản của các tàu của Hải đoàn 128. Có những con tàu được trang bị lưới câu dài 100km (một trăm cây số), thả đã hết 1 ngày 1 đêm, thu lại hết 1 ngày 1 đêm nữa. Đó là loại lưới câu cá ngừ đại dương của Nhật Bản. Mồi là cá mực. Cá trúng câu ở phao nào thì cái phao ấy báo tín hiệu về trung tâm. Tôi không hình dung nổi, bộ đội làm kinh tế biển mà đã được trang bị những phương tiện đánh bắt hiện đại như thế. Thượng tá Lê Văn Hiến bảo: Tàu câu cá ngừ đại dương của Nhật Bản còn hiện đại hơn, con tàu neo đậu ở một nơi mà cá mắc ở phao còn hiện rõ lên màn hình trung tâm.

Càng nói chuyện về những con tàu của Hải đoàn lênh đênh thả lưới dài cả trăm cây số, tôi càng đâm ra lo lắng:

- Đã có bao giờ tàu nước ngoài đi mắc lưới của mình không, anh?

Anh Hiến bảo:

- Không. Hiện nay thì chưa. Vả lại biển Đông mênh mông như thế, 100km thì đã là gì.

Tàu Hải đoàn đi biển dài ngày rất khó khăn về ăn uống sinh hoạt. Cái khó ló cái khôn. Tàu Vạn Hoa 737 của Xí nghiệp đánh cá công ích thuộc Hải đoàn 28 có sáng kiến trồng rau tươi theo công nghệ sinh học. Thuyền trưởng học được kỹ thuật này từ tài liệu của Trung tâm giống cây trồng thành phố Hồ Chí Minh trong tủ sách Hồ Chí Minh trên tàu. Anh và các thủy thủ gieo rau mầm trên đất tự nhiên trộn với phân vi sinh trong các khay tự tạo. Hạt giống rau được ủ và gieo với ánh sáng mặt trời tự nhiên. Chỉ sau 10 ngày là cán bộ, chiến sỹ trên tàu có một bữa rau xanh.

Dân sự hóa huyện đảo Trường Sa thực sự là một chủ trương đúng của nhà nước ta. Công ty 128 được giao nhiệm vụ xây dựng âu tàu ở đảo Song Tử Tây. Tàu thuyền của ngư dân có thể cập bến tránh bão giông. Công ty 128 có thể mua cá, tiêu thụ sản phẩm, cung ứng xăng dầu, sửa chữa kỹ thuật tàu thuyền cho ngư dân. Mấy năm nay, dân đã yên tâm sinh sống, lập nghiệp nơi đảo xa. Ở đảo Song Tử Tây đã có 21 hộ dân, có trường học, cư dân rất trẻ, đã có những cư dân mới sinh ở Trường Sa.

Nhưng, dân ở Trường Sa phải làm gì nuôi trồng cái gì để sinh sống? Vẫn đang là câu hỏi khó trả lời mà những người lính Công ty 128 đang băn khăn tìm hướng lập nghiệp giúp họ. Bởi dân ra đảo phải tự mình sinh sống mới có cuộc sống vững chắc bền lâu. Những đội tàu của Hải đoàn 128 thường đánh cá ở vùng biển rất xa đất liền, ra tận Trường Sa, thực ra là kéo ngư dân đi đánh cá xa bờ. Bảo vệ dân, cho dân yên tâm vì lúc nào cũng có bộ đội ở bên cạnh cả những lúc trời yên biển lặng đến những khi vòi rồng chạy trên biển và giông tố mù khơi.

Một tín hiệu tốt lành đã đến với người lính biển, với ngư dân: Gần 1000 tàu thuyền của ngư dân ta ra đánh bắt hải sản ở khu vực biển Trường Sa và hơn 200 tàu thuyền cá của ngư dân đã vào âu tàu tránh gió bão, hưởng thụ các dịch vụ do Công ty 128 cung cấp.

Hải đoàn – Công ty 128 còn có những đơn vị nuôi trồng hải sản ở Quảng Ninh, Cam Ranh.... Có một đội nuôi trồng thuỷ hải sản nằm trong vịnh Tùng Gấu thuộc khu sinh quyển Cát Bà, xung quanh bốn bề núi đá bao bọc. Nước xanh thẳm, yên tĩnh và thanh sạch. Quả thật là một vùng nước đắc dụng cho nghề nuôi cá lồng bè trên biển.

Quy mô nuôi trồng thuỷ hải sản ở vịnh Tùng Gấu khá hiện đại có hơn 100 lồng cá. Các lồng cá được đóng bằng các thanh gỗ tốt, hình thành các ô cá rộng 50m2, theo kiểu chia ô bàn cờ. Tất nhiên, dưới đáy mỗi ô đều lót lưới. Bạn cứ hãy tưởng tượng: Một đêm trăng rằm như dát vàng, cá quẫy tung mình lên hớp trăng, vảy bạc lấp lánh. Người lính thủy ngồi trên bè lồng giữa trùng trùng ngọn núi giữa biển xanh. Có khung cảnh hữu tình, nên thơ nào hơn thế?

Tháng 1-2011

 
SƯƠNG NGUYỆT MINH


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 28 Tháng Tư, 2011, 09:53:57 am
                              Khuất sau thời gian
                              Tác giả :Nguyễn Đức Thiện

(http://i1221.photobucket.com/albums/dd461/vannghequandoi/tson1.jpg)

  Đoàn người dựng trại ở sát mí rừng. Đó là một khoảng đất trống của rẫy trồng mì đã được thu hoạch. Vào vụ nắng, đất khô xác, cỏ héo quắt, còi cọc bò lưa thưa. Chỉ có những bụi le là vẫn xanh. Những cây le le nhỏ, không đủ sức vươn cao, bị gió thổi dạt ngang, dạt ngửa xen vào với nhau như đan vách bồ. Cả một vạt rừng le chạy hút mắt. Xa hơn một chút mới là rừng. Còn nguyên những cây cổ thụ xòe tán che cho tầng tầng, lớp lớp cây con đang tiếp tục lớn lên. Người ta gọi đây là rừng lịch sử.

Giải phóng đã ngần ấy năm vẫn chưa làm sao xóa hết được dấu tích của cuộc chiến tranh xưa. Thời gian chưa xóa lấp hết được dấu tích của một thời.

Hai chiếc lều bạt được dựng lên. Xã đội đã lo chu đáo cho chuyến đi này nên lều của họ là lều mượn được của Hội chữ thập đỏ. Bên ngoài là bạt, bên trong là lớp mùng tuyl. Mỗi lều có thể ở được đến chục người. Mọi người thu xếp chỗ ở rất nhanh. Mỗi người có một cái bồng đựng quần áo, đồ dùng cá nhân. Cả đoàn có 3 chiếc nồi, ít gạo mang theo trước, thiếu, mai mốt xã đội tiếp tế lên thêm... Mấy cây cuốc, cây vá là cồng kềnh thì mang dựa vào gốc cây ngoài trời cũng được.

Chỉ có một việc phải suy nghĩ, đó là: Giữa một đoàn toàn những thanh niên trai tráng lại có một cô gái. Đến cả Huỳnh, đoàn trưởng cũng bị bất ngờ khi thấy trong danh sách có tên cô. Đâu có phải một cuộc đi du lịch hay thám hiểm mà tùy hứng. Những người trong cuộc ra đi này lãnh một trách nhiệm nặng nề: tìm những ngôi mộ trong rừng; bốc cốt xác liệt sĩ đưa về xã.

Công việc này đâu có hợp với mộ cô gái. Huỳnh đã từ chối không nhận cô vào đoàn. Nhưng đến lúc ra đi, cô ta vẫn có mặt, và mặc cho ai nói sao, cô vẫn cứ đi. Để bây giờ, khi xếp chỗ nghỉ cho cô, mọi người mới lúng túng. Đã có người nêu ý kiến: gởi cô ở chòi bác Tư  Đôn ngoài mí sông Vàm. Nhưng mới nghe đến đấy, cô đã giãy nảy lên:

- Không! Bộ các anh cho tôi lên đây để đi chơi hả? Cứ để tôi ở đây. Xếp cho tôi ở góc đó. Các anh phân bì nam nữ dữ vậy.

Cuối cùng, trong một chiếc lều, người ta quây riêng cho cô một chỗ ở bằng những tấm mủ.

Còn một người thứ hai cũng làm cho mọi người băn khoăn khi anh ta nằng nặc không chịu ở trong lều mà nhất định treo võng ở gốc cây vên vên ngoài trời. Trường hợp này cũng là đặc biệt. Khi đoàn người tề tựu đông đủ chuẩn bị lên đường thì anh ta cõng bồng tới. Anh ta nói với Huỳnh gọn lỏn :

- Cho tôi đi chú Huỳnh.

Đối với một công việc thế này, từ chối đề nghị của anh em sao tiện. Vậy là anh ta trở thành quân số của chuyến đi.

Anh con trai đó tên là Sơn.

Còn cô con gái là Yến.

Là người cùng một xã, mọi người trong đoàn không lạ gì Sơn và Yến. Nhưng sự có mặt của họ trong chuyến đi này lại là một điều hết sức lạ.

 

***

Ngay ngày hôm sau, cả đoàn tập trung lại, ngồi sát vào nhau im lặng. Huỳnh đứng trước đoàn quân. Anh muốn nói với anh em đôi câu. Chắc vì quá xúc động, anh lúng túng một lúc sau mới thốt lên được. Lẽ ra phải động viên mọi người thì anh thủ thỉ như tâm sự:

- Hồi đó, mỗi lần vào trận anh em chúng tôi thường nhắc nhau: mang tăng và võng đi chưa? Biết sao không? Mang võng đi, rủi có bị thương còn có cái mà khiêng nhau về. Còn tăng, rủi hy sinh còn có cái mà bó xác... Bạn bè, đồng đội nằm xuống trong những tấm tăng. Không có bia mộ gì đâu. Vạc cây mà đánh dấu. Tên tuổi, quê quán, ngày hy sinh... gói vào bọc mũ, nhét trong chai “pi”·, chôn xuống đất...

Có tiếng nấc lên, Yến khóc.

Tiếng khóc của Yến như len lách vào giữa những khoảng trống im lặng của mọi người. Ngực ai cũng nghẹn cứng. Mắt ai cũng nặng trịch. Tiếng Huỳnh như rót vào tai mọi người:

- Ta đi, các đồng chí.

Huỳnh đi ở đầu hàng. Bóng anh lúc ẩn lúc hiện giữa hàng le. Tất cả theo sau anh. Những vạt cỏ dạt ra nhường lối. Ngay sau lưng Huỳnh là Yến.

Người đi sau cùng là Sơn.

Với đoàn người hôm nay, chỉ có một người biết Sơn khá rành rẽ, đó là Huỳnh.

Sơn vốn không phải là người Ninh Điền. Sau ngày ở trại cải tạo về, Sơn về Ninh Điền sống với bà dì. Bà dì bao cho Sơn sống. Sáng rượu, trưa rượu, tối rượu. Sơn ở lỳ trong nhà với những đợt say chếch choáng, liên miên. Cho tới một hôm, cánh cửa buồng Sơn xịch mở. Dù ngất ngưởng say, Sơn vẫn nhận ra đó là ông phó chỉ huy xã đội, kiêm trưởng công an xã Võ Huỳnh. Sơn hằn học nhìn Huỳnh.

Trước mặt Huỳnh, những con rồng xăm trên người Sơn thật quái dị. Đuôi rồng chẻ hai cuốn từ dườm chân lên bắp vế. Đầu rồng cũng chẻ ra làm hai, vươn cổ, nhe răng, đấu vào nhau, giành đớp lấy quả tim đang rỏ máu. Dưới ánh đèn bàng bạc của ngọn đèn sài bình, thân hình Sơn lồ lộ như bức tượng quái vật. Huỳnh nhếch mép cười. Thật điên rồ!

Sơn điên rồ từ năm mười lăm tuổi, lúc chĩa vài chục đồng bạc để được nhìn hau háu vào mũi kim lục tìm máu, để hứng đón chút xíu cái thứ thuốc kỳ lạ, và sau đó là xỉu đi, tê tê, giần giật, đê mê. Để rồi, ở bất cứ góc phố nào ở Thị xã Tây Ninh cũng có người gặp Sơn là đòi nợ. Sơn đi lính phứt, có tiền, hết nợ và lại được chích. Lúc đó, Sơn mới mười bảy tuổi.

Chưa phải đi cuộc càn nào, chưa bắn vào ai thì Sơn đã phải quăng súng chạy dài trước cơn lốc tấn công của quân giải phóng. Trình diện xong, Sơn coi đời mình như đã hết. Sơn say và trần truồng trước người thợ xăm. Những giọt máu ứa ra, như mang cả hơi rượu nồng nặc. Không còn một đồng, một cắc dính túi, mà Sơn lại cần say cho quên.

Móc được một khẩu AR 15 trong bụi cỏ hôi, Sơn ra đường. Súng nổ. Chiếc xe quân sự của bộ đội chúi đầu xuống ruộng nước. Những cánh tay ghì lấy Sơn. Người chỉ huy căm giận giáng vào mặt Sơn hai cái tát. Sơn đinh ninh mình sẽ bị giết ngay tại chỗ. Đâu ngờ, sau đó là sáu năm đi làm rẫy ở trại cải tạo Cây Cầy. Ngày được tha, Sơn chỉ có một cái giỏ cói, một bộ đồ, đầu cạo trọc. Về Thị xã, không còn ai thân thích. Chợt nhớ bà dì ở Ninh Điền, Sơn tìm lên. Gần hai tháng trời, Sơn chúi nhủi bên bà dì sống độc thân và ít lời.

Hôm nay, Huỳnh tới:

- Anh Sơn, vẫn mạnh đó chớ? - Huỳnh cười.

- Chào... - Sơn đáp.

- Chắc anh còn nhớ tôi chớ?

- Sao quên?

Sơn nhìn xói vào Huỳnh. Ở vào cái thế của Sơn lúc đó thật kẹt. Trước mặt mọi người Sơn vẫn chỉ là một người đáng bị thải bỏ. Vậy mà sao Huỳnh vẫn cười:

- Tôi có công chuyện muốn nói với anh.

- Tôi?   

- Đúng, anh!

Sơn nhỏm dậy, anh vơ đại chiếc áo khoác lên người. Bàn tay Sơn vụng về, gài lộn nút dưới lên nút trên. Huỳnh xán lại, xốc lại áo, cài lại nút giúp Sơn: “Tôi muốn bàn với anh chút công chuyện. Từ bữa về đây anh vẫn rầu lắm, phải hôn. Ở vầy đâu có được. Tính coi, làm cái chi đi chớ?”

Sơn lặng người. Ra vậy! Họ vẫn theo dõi, vẫn nhòm ngó đến Sơn. Ôi da! Lại đi cải tạo nữa sao? Cũng được, vô đó còn có việc mà làm, chớ còn ở đây, không nhậu là hết chuyện. Sơn hằn học gạt mớ đồ ngổn ngang trên giường sang một bên, nói như trút hơi giận:

- Tôi đó. Các ông muốn làm gì thì làm. Tôi hết số rồi. Tới đâu hay đó...

- Trật rồi đó, Sơn - Huỳnh vẫn chậm rãi - Tụi này tính cấp cho anh ít đất ven vùng Gò Nổi. Ra đó mà làm ăn tụi này giúp cho. Chớ trẻ trung mà sống bám, sống chỉa vầy, coi bộ hổng được, Sơn !

Sơn há hốc miệng và không còn tin vào tai mình nữa. Sơn lắp bắp:

- Chớ tôi... đồ bỏ... mà...

Huỳnh cướp lời:

- Sao lại bỏ! Nghĩ kỹ đi nghen? Chịu, mai tôi tới rồi trả lời hén?

Bóng Huỳnh khuất vào rặng tầm vông ngoài cổng.

Người ta không phỉnh Sơn. Miếng đất người ta cấp cho Sơn nằm ngay sát mí sông Vàm Cỏ Đông, phía cuối của xóm Gò Nổi. Sơn cất lên ở đó một cái chòi. Hai vụ trồng mì, Sơn có được chút ít đồng vốn để làm lúa. Sơn đón bà dì ra ở đó, nấu cơm và coi nhà. Suốt ngày Sơn ở ngoài rẫy. Hình con rồng xăm ở trên người lẫn với lớp da trên lưng Sơn, đen bóng.


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 28 Tháng Tư, 2011, 09:55:22 am
                            Tiếp :
Từ bữa đó, Sơn có cảm giác mình lại mắc nợ. Nợ trước Sơn bán mình cho lính là trả đủ. Còn cuộc nợ này, biết làm sao trả. Từ hai bàn tay trắng, như cái đầu bị cạo trọc, nay lần lần mọc tóc. Bỗng chốc ở đâu mà có? Từ chối mọi cuộc sinh hoạt, Sơn sống bó mình lại với ruộng, với rẫy, chờ có dịp tìm cách trả nợ. Bữa đó, bà dì Sơn ra chợ về. Mỗi khi về tới chòi là bà im lặng vô bếp chụm lửa, nấu cơm. Hôm đó, Sơn ngồi lặng lẽ chuốt mấy sợi mây, bà dì chép miệng:

- Tội nghiệp quá, con!

Sơn ngạc nhiên nhìn bà dì:

- Chi vậy, dì.

Lúi húi sắp xếp rau, dưa ra cái rổ lớn, bà dì nói vọng ra:

- Mấy ông hy sinh từ hồi kháng chiến, bây giờ xã mới kiếm đưa về... không biết rồi có thấy hết người ta không?

Sơn hỏi cho có chuyện:

- Ai kiếm, mà kiếm ở đâu, dì?

- Người xã mình kiếm chớ ai? Mai mấy chú du kích lên rừng. Nghe đâu xa lắm, mãi trong rừng lịch sử đó...

Vì thế, đi trong hàng quân hôm nay, có Huỳnh ở phía trước là người hiểu Sơn vì sao có mặt.

***

Càng vào sâu rừng càng rậm. Dây leo chằng chịt cản hết lối đi. Tuy vậy, vẫn thấy được dấu tích của đường giao thông hào thuở trước. Những chiếc hầm thùng bị mưa sạt lở vẫn lộ rõ khuôn hình. Những cái bếp dã chiến cỏ đè phủ kín nhưng vẫn còn vệt cháy đen. Mối đùn lên các căn hầm chữ A. Đoàn người im lặng bước đi. Chỉ còn nghe thấy tiếng gạt cỏ cây, mở lối, tiếng lá khô rào rạt dưới mỗi bước chân. Rừng sau gần một chục năm đã được trả về cái hoang sơ, bầy khỉ đuổi nhau kêu chí choé, văng vẳng tiếng con khướu hót, tiếng chim sáo ríu rít, tiếng gõ kiến tông tốc, con “bắt cô trói cột” kêu cụt lủn và con bắt tép kho cà giọng khàn đục khô khan. Rừng đã huyền bí, lại mang dấu vết xưa càng thêm huyền bí, như chất chứa ở trong đó một kho tàng truyện cổ tích chưa có ai viết hết, kể hết.

Huỳnh dừng lại. Đoàn người dồn lên. Huỳnh trải ra trên khoảng cỏ một tấm sơ đồ. Anh đặt lên đó một chiếc địa bàn. Xoay xoay một lát, anh nói với mọi người:

- Sơ đồ là vậy đây, các đồng chí. Nhưng cũng không thật chính xác đâu. Đánh dấu bằng mấy cây cổ thụ, nhưng thời gian cũng quật ngã hết rồi. Bây giờ chúng ta ráng kiếm vậy. Mong các đồng chí đừng nản. Có thể chúng ta bị lầm vì những đống mối đó...

Đoàn người được chia nhỏ ra. Cứ hai người một nhóm. Huỳnh giao Yến cho Sơn không có một lời dặn dò. Sơn nhìn Yến như dò xét, xem thử sức lực của cô này tới đâu. Không được đẹp lắm. Đầm người, tay chân thô đúng với dáng vóc của một người quen việc ruộng đồng. Nước da nâu đỏ. Ngược lại, gương mặt lại khá nhẹ nhõm với một cái miệng nhỏ, hai mắt sáng và một đường chân mày không cần xén tỉa vẫn gọn gàng, mảnh và sẫm đen. Yến không một lời phản đối và đưa mắt như  muốn nói với Sơn: “Đi! ”.

Suốt buổi, cả hai không nói với nhau được bao nhiêu. Sơn, vốn lầm lì. Yến không phải là người sôi nổi. Lúc nào cô cũng vương vấn một nỗi buồn nào đó. Khi Sơn cầm cuốc thì Yến cầm vá. Nhát cuốc của Yến không thua gì Sơn, và mỗi vá đất  của Sơn cũng không đầy hơn của Yến là bao nhiêu. Mồ hôi đẫm ướt lưng hai người. Mùi đất và mùi cây dập nát át đi mùi hôi nồng nồng. Đến tận trưa, họ vẫn chưa đào đúng được ngôi mộ nào. Những ổ mối quá nhiều nổi lùm lên, giống hệt những ngôi mộ. Mỗi người một góc với nắm cơm và chiếc bi đông nước của mình. Giấc nghỉ trưa im lặng trong tiếng chim và gió rừng xào xạc. Mỗi toán một góc rừng, cũng chẳng ai tìm ai mà trò chuyện.

Buổi chiều, cuốc và vá của hai người gặp được ngôi mộ đầu tiên. Ngôi mộ! Đơn giản thôi, nơi ấy chôn một người vĩnh viễn không biết mình còn buồn, vui, sướng, khổ, chẳng cần biết đến những day dứt của cuộc đời, chẳng nợ ai và chẳng ai nợ mình. Thanh thản và vô tư  như đất. Đưa về nghĩa trang liệt sĩ, công việc này nó chỉ có ý nghĩa với người đang còn sống, những người có liên quan đến cái chết của người nằm dưới đó. Còn với Sơn, phải chăng, anh chỉ là người ngoài cuộc. Nếu như trước đó, có một lần anh bắn vào ai... có thể anh còn day dứt. Đằng này không. Anh chưa làm cho ai phải chết. Anh vẫn hất mạnh lưỡi vá. Đột nhiên, Yến giật lấy vá từ tay anh:

- Đưa tôi.

Khuôn mặt của Yến lúc này tái đi. Mồ hôi tuôn ra làm bết dính mớ tóc mai vào má. Chiếc áo bà ba đen chật dính vào người. Bỗng nhiên, Sơn như bị thừa ra. Anh hết đứng lại ngồi, không còn biết làm gì nữa. Yến thở rất mạnh. cả khuôn ngực cô vồng lên mỗi lúc hất mạnh chiếc vá xuống lòng đất. Mấy lần Sơn đưa tay đón chiếc vá, Yến đều lẳng lặng gạt đi.

Lộ ra một lớp tăng mủ đã khô, giòn và mún lại như đất.

Lộ ra lớp vải đã mục nát, chỉ còn hình thù những sợi mỏng manh.

Lộ ra những cái xương trắng toát.

Sơn gai người. Một mùi đất mục, ải, bốc lên. Anh ngồi chết lặng đi. Yến nói như quát:

- Trải tấm mủ ra...

Như một cái máy, Sơn làm theo lệnh Yến. Anh đón từ tay Yến từng lóng xương một. Đến cái cuối cùng. Vậy mà Yến vẫn còn soi tìm cái gì ở dưới đó. Một lúc lâu sau, Yến đứng thẳng lên, trên tay một cái chai thủy tinh nhỏ. Cô leo lên bờ và ngồi ngay lên đống đất vừa hất lên, bên cạnh tấm mủ có để những lóng xương khô.

Bàn tay lấm đất của Yến run lên. Cô thận trọng gỡ những hạt đất dính trên cái chai thủy tinh. Cọng nịt cột trên cổ chai đã mục sờ đến là đứt tung. Miếng mủ bịt trên đó rơi ra. Cái nút cao su bật mở. Lại thêm một lượt bọc mủ nữa. Vẫn bàn tay Yến run run lật ra một mảnh giấy nhỏ. Mảnh giấy tuy bọc kỹ nhưng nằm quá lâu dưới đất vẫn bị ố vàng. Nét chữ trên tờ giấy không được đẹp lắm. Chắc trước khi chôn xuống đất người ta viết quá vội, dòng chữ cũng không được ngay ngắn. Qua vai Yến, Sơn đọc được:

“Nguyễn Minh Khởi

Sinh tại… Phó Đức Chính Hà Nội

Ngày… tháng... năm

Hy sinh tại căn cứ…  Tây Ninh

Ngày… tháng… năm 1966”.

Yến nấc lên. Đôi vai đầy đặn của cô run bần bật. Sơn ngạc nhiên. Bỗng đâu đi khóc người dưng. Sơn bật ra một câu vô thưởng vô phạt:

- Khóc! Sao khóc. Bộ cô có khóc hết được những ngôi mộ trong rừng này không?

Yến đứng vụt dậy. Cặp mắt ướt đẫm nhìn sói vào mặt Sơn, căm phẫn:

- Cút, anh cút ngay...

Tay cô cặp cây vá. Cây vá vung lên. May sao lại có một cây rừng. Cán vá phang phải cây, rắc một cái, cây rời ra. Sơn khẽ chao mình, né. Nhìn Yến một chút bằng cặp mắt thảng thốt, anh lẳng lặng quay đi. Nhưng chỉ được vài bước, anh quay lại, gom tấm mủ gói lại những lóng xương và khoác lên vai. Yến đăm đăm nhìn theo Sơn. Nước mắt vẫn chảy dài trên má. Cô gấp lại mảnh giấy, để lại trong chiếc chai, lượm lấy lưỡi vá, vác cây cuốc lên vai, đi theo bóng Sơn thấp thoáng trong lớp cây rừng.

Mọi người đốt lên một đống lửa. Giữa một khoảng trống không thanh vắng, ánh lửa bập bùng sáng lên ấm cúng. Gần như mọi người đều quây quần bên đống lửa đó. Chỉ thiếu có ba người. Huỳnh ngồi riêng lại với Yến trong lều. Sơn ra nằm trên cái võng của mình. Không hiểu sao gương mặt giận dữ của Yến cứ hiện ra lồ lộ trước mặt anh. Anh không lý giải được vì đâu Yến lại như vậy. Có tiếng bàn chân bước nhẹ. Sơn quay mặt lại. Ai như Yến. Yến đang đi lại phía anh. Bóng cô đổ dài xuống mặt cỏ. Sơn lúng túng ngồi dậy:

- Cô Yến!

Yến tới. Sơn đứng dậy nhường chiếc võng và mời Yến ngồi. Anh ghé ngồi xuống chạc rễ cây, ngay sát đầu võng. Yến ngồi đó, không chào, không hỏi, không nói năng chi. Đêm như  thanh vắng hơn.

Phải thật lâu sau, như đã suy nghĩ cho thật kỹ, Yến mới nói :

- Khi tối, chú Huỳnh có gặp tôi... Hồi chiều anh Sơn buồn tôi lắm phải không?

Sơn nhếch miệng cười khẽ:

- Đâu có chi, cô Yến!

- Anh đừng giấu... Tôi biết quá đi chớ. Anh thông cảm cho... Yến nhen! Anh chưa hiểu hết Yến ... Chiều nay về, Yến đã mở mười cái chai như anh Sơn thấy đó... không thấy...
Sơn giật mình, hỏi gấp gáp:

- Thấy ai, cô Yến?

- Ba tôi...

- Trời đất, thiệt vậy sao cô Yến?

Yến im lặng không nói gì nữa. Sơn có cảm giác nước mắt Yến đã tuôn tràn trên má. Mà sao không nghe tiếng nấc? Sơn muốn nói một cái gì đó để phá tan không khí yên lặng nặng nề. Nhưng rồi anh vẫn ngồi yên tay bứt mấy tàu lá xé tơi ra, vo lại và ném vào ánh trăng nhạt nhòa trước mắt.



Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 28 Tháng Tư, 2011, 09:57:11 am
                                           Tiếp :

(http://i1221.photobucket.com/albums/dd461/vannghequandoi/Truong-son1.jpg)
Cách đây hơn một tuần, sau buổi chiều, ông Ba - ba của Yến - đi họp trên xã về. Ở đó ông là bí thư chi bộ. Buổi cơm chiều đó diễn ra thật khác thường. Má Yến không rầy la sắp nhỏ nhiều như mọi ngày. Bà lặng lẽ gắp thức ăn cho chồng và... cho Yến. Hai mắt bà nặng trĩu luôn tránh nhìn Yến và chồng. Chưa xong bữa cơm bà đã vô gian trong lên giường nằm. Yến hỏi vọng vào:

- Má bịnh sao đó má?

Ba Yến đáp thay:

- Để má con nghỉ, Yến!

Ông ngồi trầm mặc bên cái chén cơm không. Ly rượu đã vơi đi một nửa. Chưa hôm nào Yến thấy ba uống rượu một mình. Gương mặt ốm và đen đúa của ông đượm một vẻ buồn sâu sắc. Yến không dám nói lớn.

Lũ em của Yến mọi ngày nhao nhao, nghịch ngợm, hôm nay lặng lẽ ngồi ăn rồi tự đưa nhau đi rửa ráy và đi ngủ sớm. Chỉ còn ba của Yến ngồi bên mâm lặng lẽ. Ông bảo Yến:

- Con dọn mâm rồi lại đây ba nói chuyện.

Yến lo lắng. Phải chăng Yến có gì đó làm phật lòng ba? Hay ngoài xã hội nói với ba cái gì đó không hay về Yến? Vừa rửa chén Yến vừa xem xét lại mình.

Khi Yến ngồi vào bàn ba Yến mới chậm rãi nói:

- Con năm nay nhiêu tuổi rồi Yến?

- Dạ! Con…

- Mấy bữa nay xã tổ chức đi lấy cốt liệt sĩ trong rừng lịch sử về, con có biết không?

- Dạ biết.

- Ba muốn nhờ con một việc. Đúng ra ba phải đi nhưng con coi, cái chân giả của ba… Hồi đó ba có một người bạn. Thân lắm, ảnh ở tận ngoài Hà Nội lận. Ảnh là một trong những người vào Nam chiến đấu rất sớm. Hồi đó những người như ảnh trút bỏ bộ đồ bộ đội, khoác bộ bà ba làm du kích địa phương ở Tây Ninh này nhiều lắm. Ba gặp ảnh ở dưới Trảng Bàng. Ba không muốn kể cho con nghe ba và ảnh kết thân với nhau ra sao. Chỉ biết ba không thể tìm được người thứ hai thân như thế. Hoạt động ở dưới đó một thời gian khá dài, ảnh lấy vợ cũng là một cô du kích. Do yêu cầu công tác, ba và ảnh đều được điều động lên căn cứ làm bảo vệ. Trận càn của bọn Mỹ vào căn cứ năm đó… Ảnh bị thương. Đang chiến đấu căng thẳng ba và anh em không sao đưa ảnh về phía sau được, đành để ảnh nằm lại trong một căn hầm. Chiều, Mỹ rút. Ba và anh em quay lại tìm ảnh. Căn hầm ấy không còn nữa. Những trận bom, trận pháo đã xoá nhòa hết mọi thứ trên mảnh đất ấy. Cây cối đổ ngổn ngang, dập nát. Hố bom chằng chịt. Anh em có người bảo ba: “Thôi anh Ba, cảnh này sao tìm được… mình chia tay ảnh, cầu cho hương hồn ảnh…”. Ba không chịu. Ba đạp đi đến toé máu chân. Bàn tay ba rớm máu, vì cứ thấy chỗ nào nghi nghi là ba bươi, móc. Ba thầm gọi tên ảnh. Phải đến xẩm tối, ba và anh em mới gặp lại căn hầm đó. Nó bị cả một vạt đất của hố bom ùn lên lấp lại. Khi kéo được ảnh lên thì cả cơ thể anh ấy đã tấy lên. Không biết bằng cách nào mà ba đã làm cho ảnh tỉnh lại. Chỉ biết lúc đó ba quát anh em cởi quần áo ra cho ảnh, xem lại vết thương nơi bụng, thấy vẫn còn máu. Nghe ngực vẫn còn thấy nóng… Ba xoay vần ảnh, xoa ngực, xoa trán và luôn miệng gọi ảnh. Rồi ba nghe thấy ảnh nấc nhẹ như thở ra hắt ra. Ba mừng quá, gọi tên ảnh nhiều hơn. Đặt ảnh lên võng, ba và anh em cáng ảnh về hậu cứ. Suốt đêm ấy ba thức bên ảnh trong căn hầm cấp cứu. Gần sáng, bỗng thấy ảnh cố cất đầu lên. Hai mắt ảnh dài dại tìm kiếm Ba vội đến bên ảnh. Phải định thần một lúc, ảnh mới nhận ra ba. Ảnh thều thào:

- Anh Ba đó à?

Ba gật đầu, không dám nói to:

- Dạ, tôi nè!

Ảnh cố đưa tay đặt lên tay ba, nói đứt đoạn:

- Có lẽ… tôi… đi mất.

Ba gạt đi:

- Không sao đâu. Mai mốt là anh khỏi thôi! Ráng lên…

Anh lắc đầu:

- Tôi… mệt lắm rồi. Anh về dưới Trảng Bàng… Chăm sóc dùm cô ấy. Lúc anh em mình đi… hình như cô ấy… có thai…
Ba nhớ, lúc đó ảnh đã ráng mỉm cười. Nói đến thì ảnh xỉu đi. Ba chỉ còn biết nắm chặt tay ảnh và thét gọi bác sĩ đến cấp cứu.

Sáng ra, Mỹ lại càn vào cứ. Cuộc chiến đấu sau hôm đó ít hôm, ba mất cái chân này đây.
Ông ngừng lại, đưa ly rượu lên. Ông chậm rãi nhấm dần, nhấm dần cho đến hết ly rượu trong ly và nuốt đi cả tiếng nghẹn ngào muốn bật ra khỏi miệng. Còn Yến, cô ngồi nghe và nước mắt chảy vòng quanh. Như để định thần, ông Ba xoa mạnh tay lên mặt mình rồi bật ra:

- Người đó… là ba con đó…

- Ba! - Yến nghẹn ngào - Ba ơi!

Yến ôm chầm lấy ông, không nén được, cô tức tửi khóc. Ông Ba đưa bàn tay sần sùi chai xoa xoa lên lưng Yến, mong bằng sự vỗ về đó làm cho Yến vơi đi nỗi đau chợt đến đột ngột:
- Từ bấy đến nay… thấy con đã khôn lớn, ba mới quyết định cho con biết chuyện này.

- Ba! ba ơi! - Yến đeo chặt vào người ông.

Trong tiếng gọi không nhận ra được cô đang gọi ai, người đã mất hay người đã ôm ấp nuôi dưỡng cô mấy chục năm trời qua.

Tiếng khóc của Yến dịu bớt. Ông Ba mới tiếp tục:

- Ba về Trảng Bàng, đón má con đi, lúc đó con đã được gần một năm. Bây giờ có cơ hội, mấy bữa nữa con ráng đi với anh em cho biết rõ trong trỏng. Rồi ba ghi tên tuổi của ba con cho con tìm… Tìm được, ba con mình sẽ ra ngoài đó, để quê nội ngoài đó nhận con…

Yến đã kể lại chuyện ấy cho Sơn nghe. Sơn hiểu, chiều nay anh đã làm một việc thật dại dột là động đến nỗi đau lớn lao trong lòng Yến. Nhưng Yến không biết rằng câu chuyện đã làm cho Sơn đau xót vô cùng.

Một tháng qua đi, hơn một trăm ngôi mộ liệt sĩ đã được đưa về chôn cất tại nghĩa trang của xã. Không thể ở lâu được. Đã đến mùa làm thủy lợi, xã quyết định rút quân về.

Suốt một tháng trời, Sơn và Yến vẫn làm việc bên nhau. Những ngày đầu vẫn là Yến tranh phần việc hốt cốt đưa lên cho Sơn xếp gọn vào những tấm mủ… Nhất là tranh mở chiếc lọ thủy tinh, bao giờ cũng vẫn là Yến. Sự hồi hộp lan dần sang Sơn. Mỗi lần Yến run run mở nút chai là mỗi lần Sơn nghẹt thở.

Chiều đến, về nơi tập trung, anh cùng với Yến, ngồi đọc lại những mảnh giấy để tìm trong đó cái tên người mà cả Sơn nữa như đã thuộc như chôn vào ruột. Anh mong sao, một trong những tờ giấy ở trong những cái chai kia là của Yến. Mong mỏi của Yến cứ dầy lên theo. Sơn biết, tìm một người trong ngàn người đã nằm xuống dưới đất kia có khác nào tìm kim dưới bể. Vậy mà sao, Sơn cứ đinh ninh rằng anh và Yến cũng sẽ tìm được. Miễn sao có được thời gian. Sơn quên mất rằng hồi đầu anh xin đi chỉ vì nghĩ: đi để trả nợ!

Đêm cuối cùng ở rừng lịch sử. Yến là người đi nghỉ sớm nhất. Anh em cũng đã lo xong mọi việc cho ngày mai rút quân và lần lượt về chỗ của mình. Sơn tìm đến Huỳnh.

Đêm xuống, yên lặng, thần bí. Rừng trong đêm càng yên lặng và thần bí. Thời gian sẽ cho phép con người khai thác và mở ra tất cả những yên lặng và thần bí của đêm rừng.

Nhưng dẫu sao đêm cũng vẫn cứ là thực, khuất sau đêm là thời gian. Thời gian có thể nối lại những giãn cách giữa hôm qua và hôm nay, giữa người chết và người sống. Nhưng có thể nối  lại khoảng cách giữa hai con tim? Bóng dáng Yến cứ chập chờn ẩn hiện trong suy nghĩ của Sơn. Sơn muốn hỏi Huỳnh một điều gì đó, song lại thôi…

 

NGUYỄN ĐỨC THIỆN


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 05 Tháng Năm, 2011, 11:16:35 pm
                         Xóm sở Mỹ    
                         Tác giả : Thu Trân

   Lần này Smith vào nhà, chị Trửng không đóng kín cửa mà để he hé. Cô bé Bạch ngập ngừng, lớ ngớ đứng trước hàng hiên. Tiếng má gọi cô rát rạt cách một con đường đất đỏ và hai hàng dâm bụt đầy hoa:
- Bạch… về! Đứng đó coi Mỹ nó ở truồng phải không?
Mỹ nó ở truồng? Mấy lần chị Trửng đóng kín cửa thì Bạch không biết nhưng lần này, Bạch biết. Qua khe cửa, Bạch thấy Smith nép đầu vào ngực chị Trửng, nó khóc như mưa. Tiếng người lớn, mà lại là người lớn Mỹ khóc nghe mới lạ làm sao! Làm sao Smith khóc vậy? Chị Trửng đang xoa đầu nó như xoa đầu một đứa trẻ rồi xí xô xí xào cái gì đấy. Một lần nữa, Bạch nghển cổ nhìn vào khe cửa… Tiếng roi rít dữ dằn trên lưng cô bé:
- Đồ con ngựa! Muốn làm sở Mỹ phải không, về!
Người mẹ đã đánh tan sự tò mò của con bé bảy tuổi bằng chiếc roi mây dài hơn người nó.
Ngồi trước hiên nhà, Bạch thấy hai đôi mắt, hai cái lưỡi le dài qua khe hở hàng rào dâm bụt phía bên kia:
- Ê, lêu lêu cái đứa đi coi Mỹ ở truồng bị má đánh, lêu lêu…
Bạch cũng không vừa, cô bé phun nước bọt về phía thằng Lì và con Anh:
- Kệ cha tao! Mỹ nó ở truồng hồi nào mà bây biết, tụi bây muốn coi thì có…
Hai đôi mắt, hai cái lưỡi le dài còn nhí nhố thêm một chút nữa nhưng Bạch không thèm quan tâm. Cô bé vẫn còn nghĩ đến Smith, không biết giờ này nó thôi khóc chưa. Không, anh ấy thôi khóc chưa. Tại sao mọi người ở cái xóm sở Mỹ này không cho con nít gọi mấy người lính Mỹ là anh, ông hoặc chú, bác gì đó. Một lần nói chuyện với thằng Lì, Bạch bảo “anh Mít”. Bác Tám xe lam đang lui cui lau xe gần đó bảo, tụi bây không được kêu đám lính Mỹ bằng anh, mà cứ “nó” mà kêu. Chị Trửng mặc áo xệ nửa ngực đứng bên kia hàng rào hong tóc cười ha há: “Kêu gì cũng được, you you hết á mà!”. Ừ, thì you cho dễ chịu. Smith you, Tom you, John you, Henry you. Nhưng Bạch thích Smith you hơn cả. Smith dễ thương nhất. Anh ấy… Bạch lại nhìn quanh, ừ, mình nghĩ trong đầu, có ai nghe đâu mà sợ bị người lớn la. Anh ấy có nụ cười đẹp và thích công kênh thằng cu Tẹo con cô Xí quét rác trên vai. Anh ấy có mái tóc vàng và đôi mắt xanh màu nước biển. Anh ấy hay xoa đầu Bạch và cho Bạch sô-cô-la. Chị Trửng bảo, Smith cũng có một cô em gái bằng tuổi Bạch ở bên kia nước Mỹ… Bạch lại dõi mắt qua bên phòng chị Trửng. Smith đẩy cửa bước ra. Ô, sao anh ấy về nhanh thế. À, tại vì hôm nay anh ấy khóc chứ không vui vẻ như mọi hôm. Smith đi lướt qua con đường đất đỏ thân quen trước mặt Bạch. Cô bé nhìn trước ngó sau rồi phóng tọt theo:
- Mít, ê lô, nô can đu!
Bạch cũng không biết mình nói gì nhưng Smith hiểu đó là sự sẻ chia của cô bạn nhỏ, anh đưa tay xoa đầu cô bé rồi bye bye. Quay lại ngồi trước hiên nhà, nhìn qua bên kia, Bạch thấy chị Trửng vừa phơi quần áo vừa trả lời với ai đó:
- Ừ, Smith về sớm tại nó buồn, hôm qua nó có thằng bạn thân chết trận.
Rồi chị cúi xuống nhặt áo phơi tiếp. Bạch lại nghe tiếng chị Trửng:
- Nhìn gì nhìn dữ vậy cha nội, đi chỗ khác chơi dùm con, vú con cũng như vú vợ cha thôi mà!
Cha ba Gà dê nhất xóm cười hề hề bỏ đi. Chị Trửng lại vừa phơi đồ vừa hát. Hẹn chiều nay mà sao không thấy anh. Gió hiu hiu lòng bỗng nghe lạnh thêm. Chiều mù sương hay mù khói thuốc anh. Anh không lại anh nhủ lòng sao anh. Anh cứ hẹn chiều nay rồi lại không thấy anh. Áo ai xanh hờ hững đi vào đêm… Bạch chống tay lên cằm thở dài, chị Trửng hát sao nghe buồn quá, còn Smith thì lại vừa có người bạn bị chết, hèn gì lần này anh ấy quên không mang kẹo cho cô…

Xóm của Bạch bị gọi là xóm sở Mỹ vì có nhiều người ngăn nhà làm phòng cho mấy cô, mấy chị làm sở Mỹ thuê. “Sở Mỹ” lớn nhất gần xóm Bạch là sân bay Biên Hòa. Lính Mỹ trong sân bay cần người lau dọn, giặt giũ, đấm bóp chi chi đó thì đã có những cô gái Việt thất nghiệp tuổi mười tám, đôi mươi. Sau này lớn lên, Bạch biết còn có những người vào sở Mỹ làm văn phòng, phiên dịch. Còn các cô, các chị làm sở Mỹ thuê nhà trong xóm Bạch toàn những người dọn phòng cho lính Mỹ. Ngoài chị Trửng, còn có chị Xuân, chị Hồng, chị Tuyết… Hết giờ vào sở Mỹ lau dọn, mỗi chị mang về một ông Mỹ. Họ vi vu với nhau vài giờ trong căn phòng kín mít của mỗi người. Sau đó mấy ông Mỹ lên xe jeep phóng ào về sân bay. Đám gái làm sở Mỹ bắt đầu trửng giởn với nhau hoặc hè ra tắm giặt. Những người ở xóm sở Mỹ ghét lính Mỹ, khinh gái làm sở Mỹ nhưng không thể không sống nhờ vào những dịch vụ từ họ. Có ít nhất năm nhà trong xóm sống bằng tiền cho họ thuê nhà. Bà năm Bồng nấu cơm tháng cho đám chị Trửng. Họ đóng tiền sòng phẳng cả tháng nhưng bữa ăn bữa bỏ nên không thừa đầu này cũng thừa đầu kia. Chị Xí quét rác được Smith đưa vào sở Mỹ nhặt rác. Từ rác, chị nhặt ra nào bánh kẹo, đồ hộp, sách báo… bán lại cũng đủ tiền nuôi thằng cu Tẹo không cha. Ông Tám xe lam ghét lính Mỹ nhất xóm nhưng cũng không thể bỏ được mối đưa đón các cô, các chị đi làm sở Mỹ…
Xóm sở Mỹ có trăm ngàn cách ghét lính Mỹ và khinh gái sở Mỹ. Mỗi lần đám lính Mỹ đến tìm các cô, các chị thì y như rằng, họ phải nghe những lời chửi đổng của mấy ông bà già xuyên suốt hai bờ rào dâm bụt. Mẹ cha nó, đất nước mình nó xâm chiếm, còn có sẵn gái cho nó nữa chớ. Ông bà nó, thứ Mỹ gì mà hôi như cú, đi qua tám chục thước còn nghe mùi. Nhưng đám lính Mỹ vẫn nhe răng cười, có hiểu gì đâu mà không cười. Biết dân xóm bực dọc mình một điều gì đó nhưng chắc là không đáng kể nên cứ cười cho xong. Mấy đứa con nít thì cứ rồng rắn theo sau. Ê, hé lô, Tôm, no can đu. Thế là có kẹo ăn. Đến đám gái làm sở Mỹ như đám chị Trửng mới thật khốn nạn cuộc đời. Mỗi lần các chị đi làm về, đường vào nhà trọ chỉ vài chục mét thôi, mà mỗi chị đều bị “lãnh đạn” vào mông hoặc ngực. “Đạn” là những bì giấy cuộn tròn bằng ngón tay út xếp đôi, được bắn từ những chiếc giàn thun tự chế của đám mấy thằng phá như quỉ núp trên những chạc cây hai bên đường. Người lớn biết chuyện mất dạy này của đám nhỏ nhưng không la rầy gì hết, bởi theo lời bà hai Đảnh bán thuốc lá đầu xóm: “Kệ mẹ nó, cho mấy con quỉ bớt đú đởn với Mỹ!”. Có lần chị Xí dặn lại: “Không có mấy bả đú đởn với Mỹ lấy ai cho bà bán thuốc lá?”. Thế là hai bà quần nhau đến rách mặt, tét tai. Nhưng đáng gờm nhất với đám lính Mỹ vẫn là bọn con trai xóm sở Mỹ. Dân hiền lành có cắp sách đến trường như anh Tòng, anh Tâm… thì không nói. Sợ nhất là mấy ông nghỉ học giữa chừng, trốn lính hay dân vệ. Chiều nào mấy ổng tụ tập lại nhậu nhẹt, gõ nồi gõ mâm hát nhạc lính chiến thì y như rằng sau đó có khiêu khích, ấu đả với đám lính Mỹ. Chỉ mỗi cái tội mà ông Tính dân vệ tuyên bố không đội trời chung với lính Mỹ là tội “xốp” đàn bà, con gái Việt Nam. Có lần Tom và John, bạn của chị Hồng - chị Tuyết bị mấy ổng “bề hội đồng” úp bao bố rồi đổ nước mắm tôm pha loãng lên đầu. Sau đó đám bề hội đồng phải trốn biệt vì Tom và John quay trở lại hằn thù với hai súng hai tay. Cũng may mà không lâu sau đó, Tom và John ra trận. Chị Hồng, chị Tuyết lại cặp bồ với mấy ông lính Mỹ mới. Cũng vì cái tội “xốp” đàn bà, con gái Việt Nam mà có lần Smith bị đám nhậu bắt trói vào nọc trầu đầy kiến lửa của nhà bà hai Đảnh. Tim Bạch đập thùng thùng, cô bé hớt hải chạy đi báo chị Trửng. Chị Trửng không có nhà. Chết, không có chị Trửng ở nhà thì Smith mò vào xóm làm gì. Bạch chạy quýnh quáng như con kiến bò trong chảo nóng. Có ai, có ai không, cứu giùm Smith. Anh ấy không thể chết vì đám nhậu. Anh ấy dễ thương như thế. Mới hôm qua, anh ấy còn cho bà Sáu già cuối xóm tiền đi khám bệnh. Mới hôm kia, anh ấy còn khóc khi đưa tang anh lính tên Hòa chết trận. Ba Bạch bảo, Smith được, Smith dễ thương nhất trong số những người bạn Mỹ của các me Mỹ trong xóm. Đang rối bời lên như thế thì Bạch gặp anh cu Kiệt bước qua cầu chiếc cầu mỏng mảnh được bắc qua hai bờ rạch bằng một tấm vỉ sắt rỉ sét. Chiếc cầu nối những khu nhà trong xóm và đường ray xe lửa cùng những cánh đồng mênh mông bát ngát bên kia. Bên kia những cánh đồng không có người ở. Chỉ có những túp lều của người chăn vịt. Anh cu Kiệt ăn, ngủ và ở luôn tại một trong những túp lều đó. Từ ngày nhận biết được bà con chòm xóm, Bạch thấy anh cu Kiệt chỉ có một mình, không cha mẹ, anh em, bà con thân thích. Anh đang quảy trên vai một chiếc túi lòng thòng, chắc là mang mớ ếch vừa soi được qua xóm bán.
- Anh cu Kiệt!
- Gì đó nhỏ?
- Đi cứu Smith đi!
- Cứu Mỹ hả? Mày thương Mỹ lắm sao?
Nước mắt Bạch ứa ra. Cô bé không nghĩ mình thương Mỹ mà chỉ thấy Smith hiền, không đáng tội chết vì kiến lửa. Nói vậy nhưng anh cu Kiệt bước lại xoa đầu Bạch:
- Được rồi, sao mít ướt vậy, đám nhậu đang hành hình Smith ở đâu?
Anh cu Kiệt khoảng mười tám, mười chín tuổi thôi nhưng có uy với đám nhậu trong xóm vì nói được lời hay, uống rượu giỏi và hay cung cấp “mồi” cho họ. Anh làm chuyện gì cũng dứt khoát, có hiệu quả. Người anh cao nghều, ốm nhom ốm nhách, đen thủi đen thui, quanh năm suốt tháng mặc áo quần bà ba đen, đội nón lá rách te tua, quần thảo suốt ngày ngoài đồng, hết soi ếch lại câu cá. Người trong xóm nói anh là Việt cộng nằm vùng, phải tránh xa, nếu không sẽ bị vạ lây bởi sự săn lùng của đám cảnh sát quốc gia. Cũng như chuyện gắn bó với Smith, ai nói gì anh cu Kiệt mặc tình, Bạch thấy anh dễ thương là được. Có lúc đi soi ếch về muộn, cu Kiệt ra quán đầu xóm mua mì gói nấu ăn, mì hết, anh cầm tô kêu Bạch về xin má cơm nguội. Má rít chặt hai hàm răng: “Gan quá ha, biết nó là gì không mà tiếp tế cơm nguội?”. Lúc nào ba cũng đứng phía sau Bạch: “Bà sao hay quá! Quan trọng làm gì với con trẻ chuyện hàng xóm khi tắt lửa tối đèn”. Vậy là ba múc cho anh một tô cơm đầy tú hụ, có cả khứa cá lóc kho tiêu láng váng mỡ hành… Như người chết đuối vớ được cọc, Bạch đưa tay áo chùi nước mắt, nắm tay anh cu Kiệt lôi đi băng băng… Anh chạng chân, chống nạnh giữa đám nhậu ồn ào:
- Đứa nào trói thằng Mít vô cột vậy bây?
Có tiếng đằng hắng:
- Mắc gì hỏi? Bộ Mỹ là ông nội mày hay sao?
- Không phải là ông nội nhưng nó cũng là giống người.
Đám đông lè nhè, nhao nhao:
- Nhà tụi bây có trồng cây mít không? Vậy sao nó tên Mít?
- Nó đi đám ma thằng Hòa chết trận khóc tu tu?
- Xời, nói vậy cũng nói, nó nghĩ đến thân nó nay mai gì cũng chết trận cà!
- Còn hơn có đứa hèn trốn quân dịch!
Có tiếng xô bàn:
- Mẹ, mày nói gì?
Anh cu Kiệt không nao núng:
- Tao nói tụi bây thả thằng Mít ra, đừng để tụi M.P mò tới thì tụi bây khốn!
- Cảnh sát Mỹ hả? Tụi tao chấp mười cái đầu thằng cảnh sát Mỹ, mày đi báo đi! Xời, tưởng gì, Việt cộng nằm vùng mà bênh Mỹ ta ơi!
- Không có Việt cộng nằm vùng hay Mỹ gì ở đây, thời buổi chiến chinh, là đàn ông con trai, có ngon, tụi bây ra mặt trận, đừng có hằn thù lặt vặt thấy buồn cười quá!
Trống ngực Bạch lại đánh thình thình khi anh cu Kiệt quay ra. Vậy là sao. Vậy là không ai cứu được Smith. Cô bé chạy theo níu tay anh cu Kiệt:
- Anh ơi, còn Mít…
Một cánh tay dài hơn tay Bạch níu lấy vai áo anh cu Kiệt:
- Ê, nói vậy mà bỏ đi thiệt sao, có gì chuộc thằng Mỹ không?
Anh cu Kiệt đưa ra cái túi lùng nhùng:
- Cá đây, ếch đây, tụi bây nhậu cho hết rồi đừng có làm trò hù dọa Mỹ lung tung nữa nghe chưa! Muốn cái gì thì phải rõ ràng, xứng đáng!
- Mày nhậu với tụi tao chớ!
- Không, tao về!


Rồi Tom, John không một lần quay lại xóm sở Mỹ. Bạch nghe chị Trửng nói dường như hai người đó bị thương rồi được cho về nước. Chị Hồng, chị Tuyết thay bồ như thay áo. Nhưng hai bà lúc nào cũng xuất hiện xập xệ trước mắt mọi người. Mặt mũi thất thần, quần áo thì nhếch nha nhếch nhác. Có lần mấy bà đang ngồi xúm xít ăn bún riêu ở hàng của chị Bông cuối xóm, chị Trửng phải la lên:
- Áo ngực đâu sao không mặc, đàn bà con gái mà để vú mớm lòng thòng thấy ớn!
Chị Tuyết gắp một miếng đậu hũ chấm mắm tôm rồi cười, nụ cười vừa nhạt vừa hôi mùi rượu:
- Mỹ sắp về nước hết rồi, tụi nó thua trận liên tục, mày không nghe đài báo tin chiến sự sao?
Chị Trửng vừa tròn mắt ngạc nhiên, vừa gắp thêm cho Bạch đang ngồi bên cạnh một miếng chạo cua:
- Ủa, Mỹ rút thì kệ nó, ăn thua gì tụi bây?
- Ừa, mày được thằng Mít thương đàng hoàng nên thấy không ăn thua, nó lại làm lính văn phòng, đời nào biết lo nỗi lo chết trận như mấy thằng bồ của tụi tao.
- Nói sàm! Mỹ rút thì tính đường làm ăn đàng hoàng để làm lại cuộc đời chớ!
Chị Hồng nhún vai:
- Làm lại cuộc đời? Mày không thấy trong xóm này, ai cũng khinh mình như chó sao?
Chị Xuân ngồi ăn bánh cuốn cách đó mấy hàng thở ra dài thườn thượt:
- Thôi đừng cãi cọ nữa, mấy người ở lại vui vẻ, mai tui về quê.
Chị Tuyết quay sang:
- Về quê làm gì?               


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 05 Tháng Năm, 2011, 11:18:33 pm
                         Tiếp :

Giọng chị Xuân có nước mắt:
- Chẳng biết làm gì nhưng Henry không còn…
Chị Trửng đá chân chị Tuyết:
- Đừng hỏi lôi thôi nữa, thằng Henry thương con Xuân thật lòng, chiều qua mới có tin báo Henry chết trận.
Bạch nghe mấy chị làm sở Mỹ nói lùng bùng hai cái lỗ tai. Cái gì chiến sự, rồi chết trận, bị thương, cô bé không hiểu gì cả. Chỉ biết một điều, xóm sở Mỹ không còn nhiều Mỹ đến chơi như xưa. Các cô, các chị làm sở Mỹ lần lượt trả nhà thuê. Ông Tám xe lam mất mối chở khách, sáng sáng mắc võng, nằm giữa hai đầu cột nhà hát Dạ cổ hoài lang. Bà năm Bồng không còn mối nấu cơm tháng, phải sắm một xe bánh mì bán đầu ngõ. Chị Xí đưa thằng cu Tẹo về quê, rồi hai mẹ con ở lại luôn đó, nghe nói làm ruộng với ông bà ngoại.


Xóm sở Mỹ chỉ còn mỗi chị Trửng thuê nhà. Chị nghỉ làm sở Mỹ, chờ ngày theo Smith về nước. Thấy chị và Smith yêu thương nhau thật lòng nên mấy bà già thôi lầm bầm chửi Mỹ khi mỗi chiều Smith đạp xe ra xóm chơi. Có một chiều, sau cơn mưa thật to, người dân xóm sở Mỹ lại nghe tiếng súng ì đùng phía trại giam bên kia suối. Chuyện thường như cơm bữa, ông Tám xe lam bảo, điệu này chắc mấy cha lính gác lô-cốt quanh trại giam lại ngủ gục để mấy ông Việt cộng đột nhập tháo súng hay lựu đạn gì rồi. Rồi sẽ có màn dân xóm sở Mỹ bị xét Tờ khai gia đình, đám đàn ông trai tráng trong xóm sẽ bị truy hỏi rát ràn rạt. Anh cu Kiệt sẽ bị mọi người nghi ngờ vì tội làm xáo trộn cuộc sống chung. Dẫu vậy, sau mấy lần nghe chửi đổng, anh vẫn cười hề hề: “Thì lâu lâu cũng phải cho mấy thằng lính gác trại giam có việc làm, chớ để tụi nó ngủ gục mà ăn lương quốc gia à?”. Mọi người chửi đổng vậy thôi chứ cũng không có chứng cứ buộc anh là người cướp vũ khí… Tiếng súng ngơi đi một lúc, dân xóm sở Mỹ lại nghe tiếng kêu cứu người chết đuối. Con suối chảy ngoằn ngoèo dọc theo xóm là miệng thủy thần hung hãn sau những trận mưa to. Ở xóm sở Mỹ, năm nào cũng có số người chết đuối gần bằng số người chết vì súng đạn. Mọi người lại ùn ùn đổ ra bờ suối, có cả Smith. Bạch vừa nhón chân, kịp thấy cái chấm đen đang hụt hẫng giữa dòng thì nhanh như cắt, Smith đã phóng ào xuống. Năm phút, mười phút, mười lăm phút trôi qua. Cuối cùng, tay bơi cừ khôi Smith cũng lôi được người chết đuối vào bờ. Mọi người ồ lên khi thấy người được cứu là anh cu Kiệt. Lại có tiếng lao xao. Ủa, cu Kiệt bơi giỏi lắm mà sao đuối vậy. Chắc là bị chuột rút. Smith cùng chị Trửng và mọi người xúm lại làm hô hấp nhân tạo cho anh cu Kiệt… Nạn nhân vừa bắt đầu thở lại yếu ớt, mọi người chưa kịp mừng vui, đã nghe tiếng còi cảnh sát. Theo yêu cầu, tất cả phải dạt ra để cảnh sát khám xét anh cu Kiệt. Ngồi tuốt trên chạc ba cây ổi ven bờ suối với đám thằng Lì, con Anh; Bạch thấy cảnh sát lật tới lật lui anh cu Kiệt như lật một cái bánh tráng đang nướng. Rốt cuộc cũng chẳng có gì đáng ngờ, đám cảnh sát phóng xe đi, để lại những đụn khói trắng mờ mịt hơi xăng. Bà năm Bồng tức mình chửi đổng: “Mẹ cha nó, làm ăn như hạch mà đi tới đâu cũng xe pháo rầm rầm, rồ rộ!”. Trên bờ cát chằng chịt những vết giày đinh, anh cu Kiệt nằm rũ ra như người chết đuối lần thứ hai, chị Trửng và Smith nhóm cho anh một đống lửa…
Hơn ba mươi năm sau, Smith và chị Trửng mới quay về Việt Nam, họ vẫn là một đôi hạnh phúc và tuổi đều đã xấp xỉ lục tuần. Cả hai tìm đến xóm sở Mỹ để thăm cô bé Bạch của ngày xưa. Bạch vẫn ở trên nền nhà cũ của ba má nhưng mái nhà ngói đơn sơ đã được thay bằng ngôi nhà lầu ba tầng. Không riêng gì nhà Bạch, trong xóm cũng có nhiều nhà khang trang hơn xưa. Cuộc sống đã tiến bộ nhiều. Xóm sở Mỹ đổi thành khu phố Hưng Phú.
Vẫn như xưa, Smith ôm choàng lấy vai Bạch khi nhận ra nụ cười thân quen của cô bé có chiếc răng khểnh:
- Chào Bạch, em có khỏe không?
Bạch tròn mắt ngạc nhiên, Smith đã nói được tiếng Việt. Chị Trửng giải thích, Smith cũng là học trò của chị trong những giờ chị dạy tiếng Việt cho hai con. Ra vậy, họ đã có với nhau hai người con, chiến tranh đưa đẩy thật diệu kỳ. Sau những thăm hỏi ban đầu, Smith nhắc đến anh cu Kiệt. Anh cu Kiệt bây giờ làm to lắm, nói cho Smith dễ hiểu, Bạch bảo, đấy là một trong những ông quan cấp tỉnh. Smith hỏi làm cách nào để gặp được Kiệt. Bạch hứa sẽ liên hệ giúp Smith. Chị Trửng đưa Smith đi thăm lại bà con khắp xóm. Họ được bà năm Bồng mời một bữa cơm và ở lại hàn huyên với bà chủ nhà trọ năm xưa suốt buổi chiều.

Anh cu Kiệt mời cơm Bạch và vợ chồng Smith tại một nhà hàng. Kiệt vẫn nói cười sảng khoái như xưa và tỏ ra đặc biệt thích thú khi được nói chuyện với Smith bằng tiếng Việt. Bắt đầu bữa ăn, Kiệt xin phép hai người phụ nữ rót ra hai ly rượu đầy:
- Smith, đây là ly rượu tôi đợi chờ anh hơn ba mươi năm qua gọi là cảm ơn.
Smith nghiêng đầu dí dỏm:
- Tôi phải là người cảm ơn cu Kiệt mới đúng!
- Vì sao anh phải cảm ơn tôi?
- Nếu không có anh và Bạch thì hôm đó tôi đã chết với bầy kiến lửa rồi.
Kiệt cười rung cả hai vai:
- Xin lỗi, ngày ấy tôi cứu anh vì bất bình với bọn đàn ông vặt vãnh đấy thôi. Chứ… xin lỗi, bà con xóm sở Mỹ ngờ vực không sai, tôi là Việt cộng nằm vùng thật đấy. Thuở ấy, tôi là giao liên của một đơn vị nội tuyến, tôi làm việc có tổ chức. Rất may là Smith và các ông Mỹ của các me Mỹ ở cái xóm sở Mỹ không nằm trong tầm ngắm của đơn vị tôi.
Smith cũng cười khà khà:
- Có như vậy mới là chiến tranh chứ! Còn anh thì cũng không phải cảm ơn tôi đâu, lúc tôi nhảy xuống dòng suối cuồn cuộn nước cũng không biết là đang được cứu ông quan lớn cu Kiệt bây giờ…
Chị Trửng nâng ly:
- Hai chị em tôi xin hưởng ứng, chúc mừng sự hội ngộ của hai người đàn ông “giữa đường thấy chuyện bất bình chẳng tha”!
Bữa cơm thân mật kéo dài hơn hai giờ. Mọi người thi nhau nhắc chuyện cũ. Ngồi với những người là người lớn so với mình bé bỏng ngày xưa, Bạch thấy vô cùng hạnh phúc. Dù bây giờ đã là một cô giáo và đã có hai con, Bạch thấy mình vẫn được quyền dựa vai chị Trửng để nghe tóc chị thơm thơm mùi bồ kết. Người lớn nói gì đấy mà Bạch không quan tâm, tựa đầu vào vai chị Trửng, Bạch nhắm mắt lại tưởng đến giấc mơ trước ngày Smith về nước. Đêm ấy, sau khi khóc chia tay với chị Trửng và Smith, Bạch về thao thức mãi không thôi, chỉ thương người đi xa biết đến bao giờ mới trở lại. Đến gần sáng thì cô bé mới chợp mắt được một chút. Cô mơ thấy mình được Smith và anh cu Kiệt nhấc bổng lên giữa hai đường ray phía sau nhà. Còn hai người thì lướt như bay trên hai thanh sắt. Cả ba đi về phía một đoàn tàu đang tăng tốc, hai người đàn ông vẫn cười, còn cô bé sợ quá khóc thét lên trong mơ… Sáng thức dậy, Bạch bước sang bên nhà tìm, chị Trửng và Smith đã ra sân bay tự bao giờ. Sự trống rỗng tạo ra cảm giác sợ phải một mình, cô bé chạy qua cây cầu rỉ sét, lao như bay đến chiếc lều vịt của anh cu Kiệt, chiếc lều trống huơ trống hoác… Chẳng biết anh cu Kiệt đi đâu mà ngày mấy chú bộ đội cụ Hồ tiến vào giải phóng thành phố, Bạch thấy anh ngồi dẫn đường trên một chiếc xe tăng…
…Cuộc hội ngộ không thể nấn ná thêm phút nào nữa, xe đón vợ chồng Smith ra sân bay về Mỹ đã bóp còi liên tục ngoài cổng nhà hàng. Đã hẹn gặp lại rồi mà ai cũng không muốn rời nhau. Cuối cùng, chị Trửng phải kéo Smith đứng lên trước:
- Thôi, không bịn rịn nữa, Smith! You trả đồ cho anh cu Kiệt đi!
Anh cu Kiệt ngớ ra:
- Trả cái gì?
Smith hạ giọng:
- Vậy mà vợ chồng tôi có nợ anh đấy! Xin anh cầm cho. Đây là số vũ khí tôi phát hiện được chúng trong túi áo anh khi anh đang chìm dần vào lòng suối. Tôi biết, nếu để chúng trong người anh sẽ không có lợi cho anh. Mà quả tình tôi đoán không sai, sau đó cảnh sát đã ập đến…
Giọng anh cu Kiệt ngỡ ngàng:
- Ôi… Vậy là Smith đã giữ nó trong bao nhiêu năm…
- Không, tôi cũng chẳng dại gì giữ nó trong người rồi lại nhiêu khê lén mang nó qua mấy ông hải quan của cả hai nước. Cách đây mấy hôm, chúng tôi đã quay lại nhà bà năm Bồng, bà chủ cho các me Mỹ thuê nhà đấy, anh còn nhớ không? Chúng tôi đã đào nó lên từ dưới gốc một cây si già phía sau dãy nhà cho thuê ngày ấy. Rất may là người ta chưa chặt cây và cất nhà lên đó. Đây anh xem, hơn ba mươi năm rồi, chúng rỉ sét như chiếc cầu bắc qua cánh đồng của anh ngày xưa…
Anh cu Kiệt run run đón hai khẩu súng ngắn từ tay Smith. Xúc động quá, anh cũng không thể nói một lời từ biệt hay cảm ơn người lính Mỹ năm xưa. Vợ chồng Smith vội vã ra xe. Xe phóng ào đi trong cơn nắng trưa rát rạt mặt người… Bạch ngồi xuống cạnh cu Kiệt, rót cho anh một ly nước. Mãi một lúc sau anh mới cười xòa, xoa xoa tóc Bạch như ngày xưa:
- Mẹ cha thằng Mỹ, đào chôn súng dưới gốc cây mà nó không nói tao tiếng nào. Báo hại hôm sau, chờ nước ròng, tao mò mẫm dưới suối rộp cả hai tay, hai chân!
- Buổi chiều hôm ấy, anh là người đi cướp súng ở trại tù phải không?
- Chớ ai trồng khoai đất này! Mà xui thiệt, hôm đó nước chảy xiết quá, lính bắn theo, đạn bay chiu chíu trên đầu. Đúng là họa vô đơn chí, lúc đó, tao lại bị chuột rút mới chết chớ…
- Anh đi cướp súng bao nhiêu lần như vậy?
- Biết bao nhiêu mà kể! Tao nói bà con xóm sở Mỹ nghi ngờ không sai mà! Bạch, bây giờ em uống với anh ly rượu há?
- Vì cái gì?
- Vì chuyện mày biết tao với thằng Smith có ân oán với nhau!
Bạch nâng ly rượu uống cạn, chị không uống vì anh cu Kiệt và Smith có ân oán với nhau mà vì chị rất tin rằng, dù trong hoàn cảnh nào, mỗi người đều có một ngóc ngách trong trẻo để soi rọi vì nhau…

Thu Trân


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 05 Tháng Năm, 2011, 11:26:36 pm
                                HOA NƯỚC    
                                Tác giả : Trần Chiến

Đang đêm Chim sâu tỉnh dậy vì chuỗi âm thanh vừa quen vừa lạ, nó làm bạn với lão từ vài chục năm nay. Khi réo rắt vẫy gọi, nó thúc đẩy lão làm những chuyện mà đận bình thường lão không bao giờ dám nghĩ đến. Tỉ như cãi lại vợ hoặc trái lời ai đó. Tỉ như đái xuống cửa cống thuỷ lợi đầu thôn. Nhưng thường khi “Uầy ù” mang tới nỗi sợ bí ẩn, càng chẳng có căn nguyên nào càng đáng sợ, càng giải thích càng tịt ngòi. Giả như nó bắt lão im mồm không cho nói ra ý mình trước đám đông, cụp mắt lại khi thấy đàn bà xắn quần cao quá...

Chưa đến mùa gió Lào mà thị xã mới lên thành phố ở mỏm Tây Bắc đã ngột ngạt. Những con đường khuất nẻo rợp bóng long não nhường chỗ cho nhà lô khung nhốm kính mái ốt nam thời thượng. Những nếp nhà sàn mộc mạc lùi mãi ra xa, bé nhỏ bên trại ấp của đám công chức cao cấp. Và người. 50 năm trước ở đây có trận đánh lớn, người Pháp thua to quân tướng Giáp. Dịp này kỷ niệm long trời lở đất, cả nước như chỉ nói đến Điện Biên, người đổ về đến là lắm.

Đoàn xe chở cựu chiến binh huyện Gia Kiên đổ quân xuống khách sạn Mường Thanh. Hai mươi ba chiến sĩ má hồng xếp hàng đôi, đúng đội hình hành quân tiến vào khoảnh sân đã chật kín xe. Má hồng là đận năm mươi năm trước thôi, chứ giờ thì đã xũng xịu, túi da chẩy xuống rồi. Anh huyện đội, quân phục dạ tá dù trời ngoài ba mươi độ, hối hả hò lễ tân xếp phòng cho các cụ. Ngủ nhà sàn, trải chiếu, tất nhiên có chăn màn để muỗi khỏi khiêng. Bốn cụ một gian khá chật chội, nhưng tiền huyện chi chỉ đủ vậy. Được cái hút thuốc lào thoả thích. Cô lễ tân bảo phải kê đủ tên người ngủ mỗi gian, dù là các cụ. Anh trưởng đoàn bèn xướng danh: “Bác Đỗ Văn Tơ, bác Trần Đình Chiểu, bác Nguyễn Quang Tỵ này... “Rồi ngoái cổ xuống dưới hàng gọi: “Ông “Chim sâu”! Ơi ông “Chim sâu...”

Từ hàng cuối, ông lão bé nhỏ cứ “hở hở” mãi mới tập tễnh bước lên. Quả đúng là “chim sâu” thật, nghĩa là một tay xách nặng. Đầu ông lão hút trong chiếc mũ lưỡi trai vàng choé, trông chỉ thấy bộ răng tranh nhau làm tổ trưởng. Chim sâu nhưng lại đột lốt đại bàng, vì bộ quân phục ông mặc quá oách, dài rộng đều quá khổ, quần ống cao ống thấp. Vẻ vội vã như của một anh chàng mới nhập ngũ làm ai cũng buồn cười.

- Cụ đi thay ông Bính Phùng ở Nỗ Xá phải không? Cháu chưa biết tên cụ đấy.

Trường đoàn hỏi sau khi đã “chấn chỉnh trang phục” cho Chim sâu.

- Tôi Đoàn Văn Vững

- Ôi giời ơi. Bố thế này mà “vững”. Bà lão vẫn chê bố loẻo khoẻo lắm kia mà.

- Loẻo khoẻo đâu. Thế có gì?

- Là bố vào ngủ với bố Tơ bố Chiểu. Không được ngủ với vợ đâu. Mà tối đánh răng cho con nhờ. Đái ỉa đừng ngồi xổ lên bệ ‘toa lét” đấy nhá.

Chim sâu luýnh quýnh xách túi bước lên ngôi nhà sàn rộng thênh thang, mỗi gian ngăn lại bằng vách gỗ lửng. Nhận chỗ xong thì đến phần tự giới thiệu. Ông Tơ hay nói chuyện cơ quan đoàn thể ở xã Hồng Nộn. Ông Chiểu ở Cái Bơn đọc nhiều báo, dọc đường toàn kể vụ án này nọ. Ông Tỵ ở Đông Lương con cái rất mực trưởng thành. Thì ra họ xếp bốn cựu chiến binh chống Pháp ở chung. Không phải vì oách đâu, chắc thế. Mà vì các cụ khó ngủ, đêm đi tiểu xoành xoạch. Thôi thế cũng tiện...

Vừa nằm xuống, ông Tỵ đã ngủ khì khì. Ông Chiểu ngó sang chỗ xông hơi mát xa bên kia sân khách sạn bảo báo Tiền Phong vừa đăng mấy kỳ về các “điểm dịch vụ” kiểu này, chắc hẳn bên ấy tối “dậy mùi mắm tôm chanh” ra gì. Ông Tơ giở miếng giò lụa vợ gói cho, chia cho mỗi người một khoanh. Họ đều có vẻ khoẻ cả, cứ như chỉ mình mình biết đau lưng. Chim sâu nghĩ.

Từ trẻ, ông Vững đã có tật hay nghĩ ngợi. Sao con chim lại hót? Sao con vịt đi đủng đỉnh giống bà chánh tổng? Ngọn gió lay cái cây, chúng nó nói gì với nhau nhỉ? Toàn chuyện tầm phào chả ai để ý, thành thử nói ra chả ai nghe. Có người nghe ông giải thích gió rủ cây ra bãi sông chơi cho mát đấy thì cười sắc sụa, lần sau hỏi ông “vẫn vớ vỉn vậy à?”. Mấy chục năm ông cứ nghĩ mãi về những vớ vỉn ấy, dốt chặt chúng trong lòng vì mỗi lần nói ra lại bị ỏng eo. Vậy nên phải có lúc mình nói cho mình nghe, không trao đổi hoạ có phát rồ. Nhưng cũng có lần, có chuyện không nói không được. Tỷ như cần lấy vợ, ông ỉ eo thế nào mà cô Phin xóm Tám đồng ý về ở cùng. Lại có chuyện nói lại hay không nói lại thì cũng ra một kết cục cả. Say tết Quý Tỵ 1953, chính quyền kháng chiến xã chấm Đoàn Văn Vững đi bộ đội. Cô Phin đã lùm lùm, không muốn xa chồng. Phần ông thế nào cũng được, không thể trái lời xã cũng như vợ, nên chỉ mỗi câu: Tôi “ấy” cũng được”. Tất nhiên chính quyền quyết định hộ, Vững lên đường không biết dặn Phin câu “ở nhà gắng tăng gia sản xuất mạnh để tôi lên đường giành lại non sông’. Đoàn thể biết chuyện, người bảo ông không hăng hái, người bảo chẳng sao đâu, tại hắn cầm tinh củ khoai thôi. Tóm lại là củ mỉ cù mì thò đằng nào cũng không quyết được phận mình, nói ra lị bị phê bình, chọc ghẹo hay thế nào đấy, Vững nghĩ thế và tiếp tục sự nghiệp nghĩ ngợi. Tất nhiên ông biết cái điều nói ra hay không nói đằng nào cũng có phần hay dở riêng, và mình làm thì mình sẽ chịu khổ hay được hưởng, nên cứ thế lích chích một mình.

Ông Tơ đánh xong khoanh giò ngồi xấp bằng tròn ngó quanh. Phố xá vui gớm nhỉ. Nghe nói đã lên thành phố cấp hai ba gì đấy, vui hơn cái làng Hông Nọn mình nhiều. Ông Tỵ đã nhỏm dậy, vuốt cho phẳng bộ quân phục còn mùi hồ, nghiêng ngó kiếm điếu cày. Ông Chiểu đi về bảo ban ngày chỉ có mát xa chứ không xông hơi, báo Thanh niên vừa có bài về mát xa ở Pleiku kinh lắm. Lại nghe nói quan viên tỉnh này giàu có, san đồi làm trại, ủi ao nuôi cá, có người nhà mặt phố cho thuê, bỗng dưng được chục triệu mỗi tháng. Rồi các ông đều thấy tiếc là tuy đều là cựu chiến binh cùng huyện nhưng mấy khi được họp hành giáp mặt, nhất là giờ kinh tế thị trường càng mỗi anh mỗi phận, nên có phần tự giới thiệu về mình. Đúng là toàn những tướng oách: ông Tơ suýt bắt sống tướng Đờ Cát, ông Tỵ bắn cao xạ rơi “bê vanh xít” ở cứ điểm Độc Lập. Ông Chiểu là cán bộ chính trị, đã đi giảng bài cho học sinh các trường học trong huyện,rất tư liệu, bảo ai lại nói lên “hàng chục” bao giờ, cùng lắm là một tá hay chỉ một chục thôi. Ông Tỵ chịu là phải, nhưng khoe sang thằng cháu học giỏi, lên tận tỉnh thi văn. Nói tóm lại là ai cũng công trạng đầy mình, về làng mũ áo chói lọi, tham gia chính quyền ba bốn khoá, già rồi mới chuyển sang mặt trận tổ quốc, giờ thì cựu chiến binh.

- Lúc tôi về ngành giao thông là quân hàm trung tá. Ông giám đốc sở mới bảo: “Biết xếp cho anh chân gì bây giờ...”

Ông Tơ chưa dứt lời, ông Tỵ đã kể sang đoạn chỉ đạo chiến sĩ bò ra thu cái hòm dù có tấm bản đồ chiến trường của địch “còn quý hơn vàng’. Trong khi đó, ông Chiểu cho sống lại cuộc duyệt binh năm năm lăm ở Hà Nội, đích thân tướng B. chọn ông cùng năm chiến sĩ Điện Biên khác dẫn đầu khối lục quân. “Ai cũng cao to đen, dân thủ đô nhìn lác xệch, phải đi chữa mắt rất nhiều”. Ông Tỵ thủng thẳng: “Không có cánh tớ thì các cậu bị nó quần cho nát đít rồi. Hồi đánh Nà Sản, bê vanh xít chả tương các bố vãi ra quần phải rút đấy à... Năm năm ba tớ ở Trung Quốc hành quân về bằng xe kéo pháo, lính diện mũ sắt, ca men Việt Trung Xô, giầy vải cao cổ, khăn mùi xoa trắng, các ông chẳng thèm giỏ dãi a...”

Những câu chuyện bển Mển, bản Kéo cứ dài mãi ra. Không khí lính tráng hơi hơi suồng sã đã thay thế thứ bậc tôn ti hàng ngày. Ai cũng say sưa “hát” khiến ông cựu trung tá tức quá không thèm nói chuyện nữa. Thấy ông Vững đang khiếp vía vì những chiến công của đồng đội, ông cho phép mình nói bằng cái giọng bông phèng, có chút chút bề trên:

- Thế còn Chim sâu, làm sao mà ông cứ im như cót thóc vậy?

- Tôi chả có gì...

- Có gì mà không kể được - ông Tơ cao giọng – chín năm kháng chiên bắt được thằng Tây mù, thành tích quá còn gì. Ông cứ khiếm tốn quá hoá tự kiêu. Hà haaa...

Cả phòng cười theo khiến Chim sâu bắt đầu bối rối, bèn phân bua: “Tôi nhập ngũ năm ba, làm sao tính được “chín năm kháng chiến”...

- Lại khiêm tốn nữa rồi. Có thật ông đi bảo vệ cụ Hồ hay làm toàn việc cơ mật mà không thể nói?

- Ông ấy quản một lũ lính gái đấy. Nhỏ nhắn mà oách ra phết. Tẩn được mấy cô rồi? Khai ra ngay.

- Tôi chỉ làm mỗi việc củi lửa - ông Vững lúng túng – cầm cái đùa cả nhỏ hơn mái chèo một tỵ, quấy quấy. Vậy thôi. bao giờ chín cơm nắm lại, gói thêm mắm kem trong lá, xếp vào thúng gánh cho anh em ăn.

- Nghĩa là bố làm anh nuôi chứ gì? Có thế mà lúng búng mãi. Anh nuôi tha hồ sờ tí chị nuội, còn bộ đội đói ngẳng cổ - Ông Chiểu mủm mỉm.

- Làm gì ra có chị nuôi. Đơn vị toàn đực. Có hôm... có hôm... Chim sâu ngập ngừng rồi phăng ra - Đận đi khỏi Pha Đin, ra cái suối gì ở Tuần Giáo, cả tiểu đội nhìn thấy đàn bà Thái tắm, trắng ơi là trắng... Rức cả mắt!

- Nói khoác Tướng ông hủ hoá được với vợ đã là giỏi. Cứ làm như đã biết thêm cái khác rồi...

Vững nói câu nào bị độp ngay câu ấy, biết mình không cãi lại nổi bèn ngồi em. “Im mồm” chứ còn làm gì được nữa. Các lão còn lắm mồm hơn con ngan già nhà mình... Ây à... tưởng mụ Phin coi mình không bằng cái đinh mục, ai ngờ báu đáo báu để, cái cuộc này...

Chuyến đi với Chim sâu đúng là từ trên trời rơi xuống, dù lão là chiến sĩ Điện Biên đích thị, lại còn đi trước ngày mở màn chiến dịch đến chín tháng.

Quãng thời gian Đoàn Văn Vững làm phó thường dân, sau đó là phó trưởng gia đình dài quá, đến nỗi ở xã không ai nhớ đến thuở oai hùng nọ của lão. Thương binh chả phải, chỉ dính mảnh đạn lúc gánh cơm trong chiến hào đầy bùn và vác xác đồng đội. Vững chỉ được hưởng chế độ bệnh binh, không có xuất nước chè, bánh kẹo ngoài uỷ ban xã ngày 27 tháng 7. Mồm lão ngậm thóc, suốt ngày thủ thỉ với đàn vịt, đêm cọt kẹt lều vó, ai người chọn đi kể chuyện đó cho các thiếu nhi dịp thành lập Quân đội. Biết một thì cũng phải thêm dấm ớt cho thành mười mới kể được chứ. Nhất là tại mụ La Sát ở nhà, thấy ai đến hỏi han lịch sử chiến đấu lại quàng quạc: “Lão chăn vịt nhà tôi thì biết cái gì mà kể chuyện anh hùng”. Người ta quên tịt đoạn Vững đã ra ngồi trụ sở, đại diện cho thế lực một họ để công tác, quên béng cả việc đã đùn đẩy lão những trọng trách ra sao. Thành thử trong cuốn “Lịch sử Đảng bộ xã Nỗ Xá”, Đoàn Văn Vững không được kể tên, chỉ tính là một trong năm ba người kể cả bộ đội, dân công hoả tuyến và thanh niên xung phong đã thoát ly, đóng góp trong kháng chiến chống Pháp. Cuốn sử ấy tuyên huấn huyện về lấy tư liệu rồi soạn, nghĩa là “khách quan” lắm rồi, vậy mà còn có người kiện. Rằng nhiệm kỳ tôi làm sao không kể cái ấy cái nọ vào. Rằng hồi ông N. đương chức có mấy vụ thối hơn đũng quần đàn bà ngày “hành quân” sao tít tìn tịt lờ đi. Kiện là việc của người khác, Chim sâu có mồm đâu mà mở ra.

Dịp kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên, sau khi những huyện uỷ, uỷ ban thanh niên, phụ nữ... hành hương về rồi, thì có phổ biến Nỗ Xá được hóp ba người trong đoàn cựu chiến binh huyện lên đất xưa anh hùng. Ông Bính Phùng, một biểu tượng của truyền thống, vì từng suýt anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, dĩ nhiên là người đầu tiên. Ông thứ hai là một thiếu tá thời chống Mỹ. Anh xã đội trưởng lính thời chiến tranh biên giới là thứ ba. Ba người đã lên huyện đội lĩnh quần áo sĩ quan, mũ lưỡi trai, huy hiệu, cả giầy tất, tiền bồi dưỡng. Huân chương ai có gì đeo nấy. Ông Bính Phùng ngực nặng nhất, chói lọi cả đằng trước lẫn trên vai. Khiêm nhường như xã đội trưởng Toại cũng đại uý, cấp phó tiểu đoàn rồi. Hôm họp đoàn xong, xe huyện trả bộ ba về nhà oai phong quá, cả xã xôn xao đến mấy hôm.


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 05 Tháng Năm, 2011, 11:31:21 pm
                                Tiếp :
Đùng cái ông Bính Phùng bảo không đi được. Thứ nhất đăng ký xin xỏ mãi mới xin được chân đại lý điện thoại, triển khai chậm một tuần bưu điện họ cắt mất. Thứ nhì, ông thiếu tướng trung đoàn trưởng cũ hẹn có chuyến đi riêng. Thứ ba, muốn dành vinh dự này cho người chưa được hưởng bao giờ. Và đề cử Đoàn Văn Vững đi thay. “Ông ấy cũng chiến sĩ Điện Biên, tuy không công trạng gì những cũng là có đóng góp”. Bộ tứ và các đoàn thể đều nghi hoặc, sau đó đi ‘xác minh” thấy đúng thì chuyển sang do dự. Bính Phùng bèn giở dỗi ra: “Người ta hiền lành, bao nhiêu năm không kể công, đi là đúng rồi. Không chọn thì tôi khêu chuyện các anh tư túi tiền công đức đình làng ra đấy. Nới lại chuyến đi miền Nam “học tập phương pháp làm ăn hiện đại, xây dựng nền sản xuất hàng hoá”, ông Kiền không phải anh vợ chủ tịch xã mà đi nổi à? Các ông có muốn nghe dân chửi không?”. Ông Bính cùn rồi, nên hương chức xã phải nghe.

Xã đội trưởng đến nhà lúc Chim sâu đang say thuốc lào, ngã bổ ngửa vào chiếc mong ngả mốc tương. Toại nâng lão dậy, phảy tàn đóm bám râu thưa, ghé tai hét: “Ông có tỉnh không đấy? Chuẩn bị lên Điện Biên! Đi với con. Xin phép bà lão đi!”. Nhìn cái va li con bóng loáng trong tay Toại, Chim sâu tỉnh hẳn, nhưng giọng còn hốt: “Tôi đi ... là thế nào/ Tôi “ấy” thế nào được”. Lại một chầu giải thích pha ra lệnh. Rằng ông là chiên sĩ Điện Biên chính thị rồi còn gì. Hay là khai man lý lịch? Rằng cựu chiến bình, dù là cựu chiến binh chống Pháp cũng phải nghe lời xã đội, nếu không sẽ bị khai trừ khỏi đoàn thể. Rằng đây là vinh dự lớn, hơn mấy con vịt nhiều, không đi tức là từ bỏ truyền thống đấy. Chim sâu không nhớ mình đã khai lý lịch bao giờ, khai những quái gì, càng ú ớ. Thực là lão muốn đi lắm, chả mất tiền lại được lên chốn xưa. Người ra thế là trọng vọng chứ lị, mình vinh sự chứ lị! Nhưng ý bà lão ra sao thì còn chưa được lĩnh. Đành đánh bài lưỡng lự.Thì xã đội triệu ngay mũ La Sát đang chổng đít thổi lửa dưới bếp lên giao nhiệm vụ. Mụ đồng ý tắp lự. “Thế ra xã cũng có lúc nhớ đến lão điếc đấy!” Lại còn trách mát tới táo gan chứ. Mụ sang ngay ông Bính Phùng cảm ơn và hỏi rõ cách thức. “Thì cứ đi chứ còn cách thức gì nữa”, Bính Phùng bảo. “Người ta bảo lên xe thì đừng xuống, bảo chụp ảnh thì đừng nháy mắt. Nhưng đừng ăn nhiều thức lạ, giữa đường đòi đi ỉa đái, lái xe nó mắng cho. Thế thôi. Kể ra sắm sanh được cho ông ấy cái máy điếc, đỡ “hở hở’ thì tốt, không thôi cũng được...” Mụ La Sát lại cảm ơn, về gọi con cái tối họp gia đình.

Chim sâu đẻ ba con một bề, tức thị ba con vịt giời. Được cái chúng không bay đâu xa mà chỉ lấy chồng quanh quẩn trong xã, ngày nào cũng mò về cùng mẹ quàng quạc. Phải nói là cả nhà sướng ngay vụ bố được chấm đợt này. Anh rể là hiệu phó tiểu học trân trọng mở đầu:

Cần xác định đây là vinh dự lớn bố ạ. Vinh dự lắm. Tiếc là chúng con là rể, chứ không đã mở mặt nữa với cả làng rồi. Bố phải quán triệt hết ý nghĩa của sự kiện trọng đại này. Nhà mình có người tham gia vào chiến công vĩ đại nhất thế giới thứ ba... Chà chà...Lớn lắm! Chậc...

Anh rể thứ chủ lò gạch không nói nhiều, biếu bố hai trăm nghìn uống nước khiến cô vợ sướng quá rưng rưng nước mắt. Anh rể út tháo chiếc nhẫn,, rằng con chả có gì, bố nhỡ độ đường thì tiêu, không lại đem về. Con cái người thì lọ dầu, ngưởi củ sâm, dặn dò những là ăn uống điều độ, nói 9dối) với người phụ trách mình say xe để ngồi ghế trên, qua những dốc đèo đừng nhìn xuống kẻo chóng mặt. Có điều ai cũng nhất trí bố phải tắm thật kỹ cho hết mùi vịt, chúng con sẽ mua xà phòng. Cả thuốc đánh răng, bàn chải. A mà nhớ cắt móng chân đừng để những “củ cải” đen đủi quá. Mấy con vịt bố không phải lo, các cháu cắt nhau ra trông không suy xuyển đâu mà sợ. Riêng mụ La Sát ít nói lắm.

Tối ấy Chim sâu vẫn ra lều vịt, bảo thế quen rồi. Bà lão ở nhà trằn trọc, sáng ra dậy rất sớm, nhỏ cả sào xu hào con tươi nõn tươi nàng đem đi chợ huyện. Tất cả các khoản được triệu hai, cho vào tủi vải đeo trong áo kẻo kẻ cắp rạch mất.

Dặn đi dặn lại những câu cũ rích. Thế mà hôm xuất quân lên huyện, mụ không ra xã tiễn, sợ lại khóc như vợ chồng trẻ người dưng họ cười cho.

Sáng sớm, xe ôm sẵn sàng chở ba đại biểu lên huyện nhập đoàn. Đảng uỷ, uỷ ban cũng ra theo chúc mừng, căn dặn các vị. Đột nhiên có người phát hiện Chim sâu không đeo quân hàm. Lão bảo về năm năm lăm mới có chiến sĩ, mà năm năm tám mới phong quân hàm,đeo thế nào được cái trung uý xã đội đưa. Xã đội giải thích lão còn ở quân đội đến giờ hẳn phải lên cấp tướng rồi, đeo trung uý là còn khiêm tốn lắm. Vậy là đoàn xe ôm rầm rầm qua nhà Chim sâu. Chạy vào lấy cái một vạch hai sao vàng choé, lão thấy mụ La Sát đang khóc thin thít.

Diện bộ vào oách hẳn lên. Nào có ai nhận ra lão chăn vịt. Lại thơm mùi dầu gội đầu trị gàu “Xăn xiu”. Những cái gì cũng quá khổ. Quần không xắn hai gấu lau hết mặt đường. đôi giầy như hai chiếc tàu thuỷ vượt đại dương, Chim sâu còn chưa biết mình còn phải khổ với chúng đến thế nào...

 Rời khỏi đồng bằng, đường đổi hướng liên tục vì đèo dốc. Tấy Bắc chập chùng, những bài hát cũng chập chùng như con đường. Ký ức cũng vậy, tóm được hết sức khó khăn, nhưng đấy lại là cả một thời trai, cứ mỗi lúc mỗi trỗi dậy trong mái đầu già nua. Sao mà quen quen, sao mà không như xưa? Chim sâu thở hổn hển, lầu bầu mỗi lần “bắt” được một hình ảnh cũ.

“Có mà mát khối ra đấy. Sạt đường, hỏng ăn, nhịn đói là cái chắc.”

Lão nói vậy, một mình, lúc có ai bảo nóng quá, giá mưa cho thì tốt. Khi một người kêu: “Núi đâu lắm thế...”, lão đốp lại: “Chuyện, ngày ấy đi bộ cả tháng, tịt mấy lứa đẻ ấy chứ. Thế mà đám dân công vẫn “quai” nhau chỗ dốc Mạ...” Dù chỉ là “nói” hay “đốp lại” hẳn hoi cũng chả ai nghe thấy, vì lão có ra lời đâu. Cùng lắm lf lí nhí, nên chả lần nào Chim sâu bị ai cười mũi hay làm hề hấn gì.

Thế mà khi tấm bảng ven đường vụt hiện lên rõ mấy chữ “ Cầu Suối Tấc”, Chim sâu “ối” lên rất to khiến xung quanh tưởng lão đụng đầu vào trần xe. Chim sâu quay đi quay lại ra điều hối lỗi đã làm đứt tiếng ngáy của đồng đội rồi co ro, người dúm lại vì kỷ niệm xưa.

Suối Tấc ngày ấy rậm rạp chứ đâu có phơi mình ra quang quẻ như bây giờ. Dù bị bom chùm, bom phá, bươm bướm, khai quang thả tơi bời, rừng vẫn ngun ngút, phải ngẩng lên mới thấy được trời xanh. Chàng thanh niên mười tám tuổi Đoàn Văn Vững gánh rau ra suối Tấc rửa. Xong xuôi, cậu em út của tổ anh nuôi chưa muốn về, ngồi ngắm nghía lũ sỏi đen trắng bóng líu dưới chân. Thoáng một cái, cái chấm xanh biếc vùng qua. Con chim bói cá chuyền dọc suối dẫn Vững tới một vầng trắng loá mắt. Năm cô gái Thái đi nương về ào xuống tắm líu ta líu tíu như bầy chim. Những áo cóm cúc bướm, váy thêu, khăn piêu phơi ríu ran trên tảng đá to.

Chưa hay cái lẽ nếp trẻ trên đời, chẳng biết ngượng ngập, Vững bước hẳn lên tảng đá, ngây ra. Đám tiên nữ mới đầu ré lên, trầm mình xuống nước. Rồi tĩnh trí, bạo dạn trở lại, có lẽ vì cái nhìn của chàng trại quá trong trẻo. Chúng mình là hoa để họ ngắm chứ. Ngắm cơ mà.

Bộ đội có tắm với các chị không?

Một cô có búi tóc nặng trên đầu, chừng ba mươi bập bẹ, rồi nhỏm hẳn người dậy té nước vào Vững. Cậu em miền xuôi xinh xắn như con chim nhập bầy nhập nhoạng bước xuống suối. Xung quanh cậu đàn bướm vàng bay lượn ríu ran. Những nhũ hoa lúc đen, lúc hồng. Những tóc mây mượt mềm còn hơn nước, còn nước thì óng ánh đủ bảy mầu cầu vồng. Chẳng ai nói sõi tiếng Kinh, nhưng thế là đủ lắm rồi. Vững bị té nước cho đến lúc ngã ngồi xuống suối, mãi mới dậy nổi, chạy chí chết qua bãi đá không thấy gai cào, không hay rêu trơn trượt sấp mặt.

Và tối đến, bị kỷ luật vì để trôi suối nửa gánh râu, cũng chả buồn tiếc. Cài vùng thịt da trắng sáng đẹp đẽ, thơm lành quá, trong giấc ngủ cậu còn mỉm cười. Như là mẹ, là chị, lại như là hoa của đất trời, những núm vú với những nụ ấy, ám ảnh Vững không thôi.

Mãi sau này, khi đã tỏ lẽ đực cái, sự sinh nở bất diệt của đời, Vững vẫn không thể quên sự khám phá, cái cảm giác tinh khôi ấy. Mỗi lần oà mặt vào ngực vợ, hoa nước suối Tấc lại hiện ra khiến lão mủm mỉm cười, ngay cả khi đã móm mém.

Thung lũng sáng ra đã nóng. Nắng non bò qua cửa sổ nhà sàn ngoáy vào mũi, nửa “tiểu đội” hắt hơi liên tục. Chim sâu nhớ đến mặt nước ao bèo, không biết cu Hiền có dong nổi đàn vịt... Lão mệnh mộc, hợp với nước, nên hơi tí đã nhớ nước. Gỗ cứ lềnh phềnh chứ bao giờ mà chìm được. Ngày nọ ông thầy xem bảo: “Văn nhân nhìn xuống, hào kiệt nhìn lên”, lão như văn nhân, phần âm rất mạnh, cả đời như người đàn bà rặt sinh con đẻ cái, chăm chỉ những cái vặt vãnh. Vặt vãnh nhưng làm nền cho những anh hùng dương tráng trí bay lên lo việc lớn, tỉ như đánh giặc, trở nên biểu tượng đất nước. Mệnh ấy có đi bộ đội, làm đến tổ trưởng anh nuôi là hết.

Phụ trách tuyên huấn hội cựu chiến binh huyện là một trung tá, cán bộ chính trị về hưu. Trong đoàn hành hương, Khắc Liên thực chất là người lãnh đạo, anh huyện đội lứa sau chỉ điều hành, thực hiện theo ý ông. Trạc tuổi chiến sĩ Điện Biên cả, mà trông ông vững vàng, giọng nói có uy lực khiến cánh “ba linh thôn” sớm nhất loạt gọi “thủ trưởng”. Khắc Liên tập họp đoàn phổ biến sáng thăm hầm Đờ Cát và đồi A1, nghĩa trang liệt sĩ, chiều nắng đi bảo tàng. Chương trình giao lưu tối có đại biểu huyện hội phụ nữ Tuần Giáo, các đồng chí chuẩn bị hát hò, đọc thơ, kể chuyện xứng với truyền thống quân dân cá nước. Chim sâu nghĩ giá là hội phụ nữ suối Tấc thì hơn. Biết đâu...


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 05 Tháng Năm, 2011, 11:34:24 pm
                                       Tiếp :
Hầm Đờ Cát thì Chim sâu đã biết quá rõ. Hết chiến dịch lão bị ôm không về Hà Nội duyệt binh mà ở lại thu dọn lòng chảo. Lão bé như kẹo, giá về cấp trên chắc không biết xếp vào hàng nào. Nghĩ lại mà kinh. Mìn, bom nổ chậm khắp nơi, lơ mơ là tan xác. Có anh bom đạn không sao, giờ chết mới vô lý. Được cái đồ hộp chén thoải mái, thấy mình thật chúa sau ba tháng giời cơm nắm mắm kem. Lão giấu trong đáy ba lô tấm dù trắng đêm về tặng vợ, dặn đừng phô với ai. Hồi kỷ niệm 40 năm chiến dịch, chẳng biết ai lộ, bảo tàng tỉnh về xin đem trưng bầy. Hú vía. Họ không phê bình lão tham ô chiến lợi phẩm, lại còn cảm ơn. Nhìn căn hầm thép sừng sững Chim sâu phục quân ta quá, thằng Tây lông lá to lớn thế mà dám xông vào “hô lê manh”.

Bước đến chân đồi A1 là Chim sâu sụt sịt. Đại đội lão mỗi đêm rơi vài mạng, có tiểu đội về mỗi một anh. Những cậu Thanh Hoá, những đứa Nghệ An, Thái Bình, ai cũng lừng lững đẹp đẽ. Nhớ nhất là đại đội trưởng Vang Lừng râu quai nón nói được tiếng Tây, đã biểu dương đồng chí Đoàn Văn Vững tuy đái ra quần nhưng vẫn mang được cơm lên cho tổ bắn tỉa. Chiến hào đầy bùn với máu. Vững đang lò dò thì moóc chê câu đến, gánh cơm văng tung toé. Đếm thấy chân tay mình mẩy còn đủ cả, Vững nhặt cơm dồn lại. Anh em bắn tỉa cạo bùn bên ngoài, chỗ cơm ăn được chỉ bẳng quả trứng. Ăn thế mà nhắm trúng Tây mới kinh. So với lính chiến đấu, vững thấy mình chỉ là con kiến bé nhỏ. Vậy mà cũng được biểu dương. Ngày chiến thắng, cả thung lũng dậy tiếng reo, quân ta ôm nhau bảo: “Sống rồi”. Vang Lừng bỏ giày đi chân không, dẫm phải mẩu thép gai rỉ. Nhìn đại đội trưởng lên cơn sài rung cả giường, quai hàm trẹo đo, cả đại đội khóc. Tất nhiên là chỉ còn bốn chục mống khóc được, những đứa khác thì còn biết cái quái gì nữa. Mà cái giống chết mới lạ, không sống lại được, không ai thay được là sao?

Sau Vững đem ảnh đại đội trưởng về thờ, Vang Lừng hơn lão chín tuổi, chưa lấy vợ.

Đang sụt sùi thì có người dúi vào tay miếng giấy ăn, bảo lau mặt đi rồi ra trả lời phỏng vấn. Hai phóng viên Pháp gặp đoàn cựu chiến binh mừng quýnh, hỏi có ai trực tiếp đánh đây ngày xưa không. Đoàn có mỗi lão dự A1, còn ông Tỵ, ông Tơ, ông Chiểu “chơi” những Him Lam, Bản Kéo, Độc Lập, không phát biểu được. Chim sâu lập tức dúm lại. Biết gì mà trả lời. Nhưng Khắc Liên giao đây là nhiệm vụ tuyên truyền, phải cho cả thế giới biết chiến công của chúng ta vĩ đại thế nào, nhắc nhở thế hệ trẻ đừng quên truyền thống. Hai người Pháp ân cần bảo Chim sâu cứ điềm tĩnh, có gì kể nấy. Lão đứng nhìn lên chỉ thấy lỗ mũi rậm rịt lông xoăn, hệt đám tù binh thuở nào.

- Tôi chỉ nấu cơm đưa lên cho anh em, xong lại về nấu cơm tiếp.

Chim sâu lầu bầi, nghĩ bụng hai người một nam một nữ cùng sàng đây công tác, thể nào mà chả đực cái với nhau. Chuyện mình làm có gì oai mà phải kể. Nhưng họ lại hỏi cặn kẽ cơm nấu ở đâu, làm sao để giấu khói, gánh cơm trong hào ra sao. Những chuyện ấy dễ quá. Chim sâu tuôn rào rào, lời dịch lại được ghi lia lịa.

- Bây giờ thăm lại chiến trường xưa, ông có cảm tưởng gì?

Câu hỏi làm Chim sâu nhớ đến đại đội trưởng Vang Lừng, cậu Mui trung liên, anh Toàn tổ trưởng tổ nuôi quân. Lão ở cách trận địa hai cây số, làm luôn công tác tử sĩ, cứ đem phên cuốn xác đặt xuống đất, vạt gốc cây khắc chữ sơ sài đánh dấu. Rồi đơn vị khác, người khác lên sau thu dọn hài cốt, chẳng biết có gom được hết, gom được liệu còn miếng gỗ ngày nọ... Chắc rồi gia đình họ phải thờ chung cả... Mà ai cũng trẻ mới thương chứ. Nỗi lòng làm Chim sâu không thể trả lời. Khắc Liên hết khuyên nhủ đến nhắc nhở không xong, đành bảo lão lau nước mắt nước mũi đi, nhoè nhoẹt thế kia bọn mũi lõ chụp ảnh rồi đem phản tuyên truyền khắp thế giới xấu hổ quân đội ta, đất nước ta lắm. Rồi phân bua với hai nhà báo:

- Ông ấy vậy thôi, mà bắt được lính nhẩy dù xuống giao thông hào bằng đòn gánh gánh cơm. Là vì đang thương nhớ đồng đội nên mới khóc. Trong số chúng tôi, những người bắt được tù bình thu súng hoặc gọi hàng lính Tây nhiều lắm, tính không xuể.

- Ông giải ngũ năm 1955 à? Theo chỗ tôi biết, quân đội Việt Nam năm 1958 mới phong quân hàm cơ mà...

Chim sâu cứng người vì bị vặn. May sao Khắc Liên đỡ lời: Khi giải ngũ ông ấy là đại đội phó, tương đương trung uý. Đoàn cựu chiến binh chúng tôi ai chưa có quân hàm cứ phiên chức vụ tương đương khi giải ngũ mà đeo. Nếu đúng tuổi mới về hưu, bây giờ đeo đại tá cũng là vừa.

Nhân lúc Khắc Liên và hai nhà báo bận đối đáp, Chim sâu linh ra chỗ cái hố to tổ bố, dấu vết quả bộc phá nghìn cân thuở nào. Đầu lão ong ong, vừa xấu hổ, ấm ức với mình, vừa trách tổ chức đẩy mình ra. Lão là bậc phó chiến sĩ, về nhà là phó thường dân, khi lấy vợ là phó chủ gia đình. Ăn không nên đọi, nói năng ấp úng. Cái gì cũng ây ấy vầy vậy, thế thôi. Có gì mà phát ngôn phát biểu được. Cả đời lão nói về mình còn chả nên lời, cơn cớ gì mà nói hộ người khác được.

Gớm quá. Chim sâu miên man trong ấm ức, đến lúc có người nắm tay kéo giật lại: “Cụ ơi, không nhảy qua giao thông hào được đâu. Chân cẳng chấm phẩy vậy mà đòi nhẩy như ngày xưa, chúng cháu không khiêng cụ về với cụ bà được...”

Cuộc giao lưu ở sân khách sạn Mường Thanh đã không diễn ra được như trong chương trình của ban tổ chức. Không phải đổ bể vì có mưa hay ai đó bị nạn, mà mặc nhiên, tất cả những nhân vật chính đã đẩy nó sớm lên một tiếng. “Kịch bản” thì bị sửa hoàn toàn. Duyên do, như sau này một người trong ban lãnh đạo đoàn Gia Kiên “phối đúc kết” lại, tất cả là ở rượu và đàn bà.

Bữa tối là tiệc lớn, có mời hội cựu chiến binh sở tại. Hai đồng đội xưa tìm được nhau khóc rưng rức, cười móm mém. Vài ông Hải Dương định cư Điện Biên được phong bánh cáy cũng sụt sùi. Những ông cao xạ, những ông pháo mặt đất, ông ôm bộc phá công kiên, ông chỉ lẳng lặng xe thồ tranh nhau nói. Hai mươi hai đại biểu phụ nữ Tuần Giáo trẻ trung, sồn sồn hy móm mém đều có cả. Trong số đó lại mười lăm người áo cóm cúc bạc rực rỡ, váy nhung the dập dờn, tằng cẩu hay chưa tằng cẩu đều uống rượu như uống nước lã. Đã quen công tác giao lưu lắm họ nên mỗi mâm chúc rượu ép đủ mỗi ông hai chén Sông Mã cay nghẹt mũi. Riêng các cụ, tức cánh Điện Biên xưa, phải thêm một, “không thì chị em chúng em đứng đợi mỏi chân lắm rồi”. Đi đủ mười hai mâm, mỗi cô ít nhất hai chục chén cứ như không. Mà mắt cứ long lanh, mà cứ hồng lên, áo cóm lại phập phồng mới tệ.
“Dzô!”
Cánh chống Mỹ học mốt uống mới, nhất loạt hô khi cạn chén. Cánh đánh nhau ở biên giới phía Bắc còn trẻ, “sành điệu” hơn, vòng chéo tay uống với chị em bên hội, nhất là cô xinh xắn làm tài chính huyện. Và hô “Ra!”. Các cụ chống Pháp biết thân chèn bụng dạ bằng cơm và thật nhiều nước canh béo ngậy. Vậy mà vãn ngây ngây, đang vòng tay chúc tụng mà tiền liệt tuyến nổi chứng, quần như sắp ướt đến nơi.

Và hát ngay. Đọc thơ tại trận. Đợi theo chương trình thì rượu hả mất. Phí phạm. Sáu chục cái miệng đồng thanh “Hò kéo pháo” với “Giải phóng Điện Biên” mãi lại vòng vèo về “Em bé Mường La” và “Đồn Him Lam ta xuất kích”. Một trăm hai mươi bàn tay vỗ đỏ lừ. Hát mãi mà chiêng trống mà nhạc điện tử chưa đến phục vụ họ.

Đang vật nhau với năm chén rượu nhảy múa trong người, Chim sâu thấy mình bị đẩy ra giữa hội. Khắc Liên cầm tay ông giơ cao, mặt mũi tưng bừng: “Các đồng chí xem đây. Ông Chim sâu bé nhỏ này đã nấu cơm tiếp đạn tận đồi A1, góp phần nhổ cứ điểm rắn nhất trong chiến dịch. Thế mà đồng chí ấy rất khiêm tốn, sáng nay trả lời phóng viên ngoại quốc là chẳng làm gì cả. Một biểu tượng anh hùng của người Việt Nam ta đấy. Thật đáng tự hào!”

- Thật tình... thật tình là tôi... – Chim sâu lắp bắp.

- Thế mới vĩ đại! Đồng chí phải hát mới được!

- Thủ trưởng ơi tôi say lắm rồi. Con mụ La Sát ở nhà mà biết...

- Ở đây ai cũng say cả. Vứt mẹ nó mấy con mẹ La Sát đi! - Khắc Liên ghé tai Chim sâu - đây là kỷ luật dân vận đấy bố ạ. Đang giao lưu với địa phương, không hát đồng chí sẽ bị kỷ luật.

Lòng dũng cảm ở đâu bò ra làm Chim sâu, sau một hồi ngậm hạt thì, nổi máu phê phán anh em đã hát sai bài “Giải phóng Điện Biên’. “Chỗ ấy đáng ra phải là “một đồng chí đứng lên nói rằng một tay tôi cầm súng, tay này bóp... thằng Tây mới phải”. Lão chợt câm bặt khi thấy Khắc Liên nhăn mặt. Xung quanh là sự im lặng khủng khiếp. Rồi trận bão cười phá ra. Chim sâu bị nhấc bổng lên. Những cái hôn làm nhoè nhoẹt mặt lão.


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 05 Tháng Năm, 2011, 11:38:28 pm
                                 Tiếp theo :
- Hát thế mới là hát chứ!

- Hoan hô bố già. Thế mà cứ bảo ít mồm.

- Tôi đề nghị giao lưu ngay thôi. Đang sướng. Sướng thế này chết cũng được. Để tý ra ngoài kia rượu nó nhạt mất.

“Đề xuất” của một chiến sĩ “ba linh thôn” được hưởng ứng nhiệt liệt. Ban tổ chức nhăn nhó chiều lòng “quần chúng manh động”. Đây là một khuyết điểm sau này phải ghi vào nghị sự tổng kết chuyến đi. Nhưng bây giờ nó làm cho ai nấy phát rồ.

Mấy cô Tuần Giáo nghe giải thích câu hát của Chim sâu, người thì cười rũ ra, chẩy cả nước mắt, người cứ ngổi tủm tỉm, mặt đỏ như có ai phát.

Thế là bài “Chiến thắng Điện Biên” của Đỗ Nhuận được vặn vẹo thành đủ kiểu, những câu người ta hát khi cận kề cái chết. Lính chống Mỹ hát “lắc la lắc lư đoàn quân ra Bắc, đồng bào thắc sao các anh trở về – Sốt rét chúng ông mới về, ốm gần chết chúng ông mới về...” Người trở lại Điện Biên sau chiến thắng chả kém: “Muốn kin mắn co (ăn sắn) thì lên Tây Bắc, đồng bào thắc mắc thì ra Sìn Hồ’. Rồi là ghế bàn dẹp lại. Chai rượu lăn ra đến mép bàn được một cựu dũng sĩ diệt Mỹ cứu nguy, “Phan Đình Giót” tiếp. Đội văn nghệ đến kịp thời. Cái khoảng sàn bé tí giữa nhà ăn thành nơi múa sạp. Những cặp chân già lão, những váy Thái duyên dáng dập đồn theo nhịp gậy tre lên xuống. “Sòn sòn sòn đô sòn”, người ta tranh nhau vào “xới”, vòng đi vòng lại không biết chán.

Chim sâu ngồi cù rù, mắt long lanh sướng mà bụng e ngại, nghĩ đến gương mặt nhăn nhoe của Khắc Liên. Bụng dưới lão căng phồng vì nước tiểu. Mặc lòng, lão say quá rồi. Cơn mưa hoa nước suối Tấc lại hiện về.

Lão chẳng phải đợi lâu. Cuộc vui cạn độ mươi phút, Khắc Kiên bước vào nhà sàn với vẻ mặt hết sức bất bình. Nhưng giọng nói không đến nỗi nóng nẩy quá, dù sao phòng toàn chiến sĩ Điện Biên thứ thiệt:

- Đoàn thấy không hài lòng về buổi giao lưu tối nay. Thứ nhất, bác Vững hát rất... gì. Có mặt phụ nữ, hội cựu chiến binh bạn, chúng ta rất nhiều phương diện, không phải sướng gì cũng bạ ra. Ai lại hát tục tĩu thế bao giờ. May là ông không huỵch toẹt ra là “tay này bóp cu thằng Tây” đấy.

- Nhưng hồi ấy tiểu đội tôi hát thế thật – Chim sâu lí nhí.

- Đồng chí vẫn còn chưa nhận ra khuyết điểm a? Quân đối với dân thế còn không đáng xấu hổ? Thứ nhì, tôi thật sự thất vọng về các bác – Giọng Khắc Liên dồn nén hết sức – Ai lại già lão thế mà nghịch quá trẻ con. Không làm gương cho anh em đi sau còn gì thể thống chiến sĩ Điện Bên nữa. Chương trình giao lưu tính làm ngoài sân rộng rãi, trang trọng, có diễn văn, thì xảy ra ngay tại nhà ăn. Các bác có thấy cánh truyền hình lắc đầu không thể quay nổi vì bát đĩa rếch rác, rượu chè lổng chổng không? Hiệu quả tuyên truyền thế là hỏng hết. Các anh ở tỉnh sẽ nghĩ gì về ta? Thứ ba là...

Khắc Liên dừng lời, phần vì nản quá, phần sợ các cụ “ba linh thôn” bị phê nặng lại dỗi, hỏng hết các chương trình sau này. Mà các cụ đã có vẻ biết sợ. Ông Vững đã khóc rồi kìa...

“Uầy ùùù”. “Uầy ùùù”.

Đang đêm Chim sâu tỉnh dậy vì chuỗi âm thanh vừa quen vừa lạ, nó làm bạn với lão từ vài chục năm nay. Khi réo rắt vẫy gọi, nó thúc đẩy lão làm những chuyện mà đận bình thường lão không bao giờ dám nghĩ đến. Tỉ như cãi lại vợ hoặc trái lời ai đó. Tỉ như đái xuống cửa cống thuỷ lợi đầu thôn. Nhưng thường khi “Uầy ù” mang tới nỗi sợ bí ẩn, càng chẳng có căn nguyên nào càng đáng sợ, càng giải thích càng tịt ngòi. Giả như nó bắt lão im mồm không cho nói ra ý mình trước đám đông, cụp mắt lại khi thấy đàn bà xắn quần cao quá. Lúc nào cũng lo bị vặn, bị mắng. Tệ hơn là bị giễu. Rất đau. Nên Chim sâu hay thủ thỉ cùng mấy con mụ vịt bầu vậy. Nhìn lão cầm sào đi theo lũ vịt thấy thơ thới lắm. Đằng trước lạch bạch, cạc cạc như bà mệnh phụ, đằng sau rì rầm, ầm ậm như kẻ hầu người hạ. “Chủ tớ” hợp nhau mới lạ, đến nỗi không bao giờ “tớ” dám xơi món tiết canh chúa sừng chui ra từ cổ “chủ”.

“Uầy ùùù”....

Nằm giữa tiếng kéo bễ, Chim sâu giận mình, giận “người ấy”, tức thủ trưởng. Sao ta không cãi nổi một câu là mình hát đúng như tiểu đội hát ngày nào, không hề có chuyện xuyên tạc bịa đặt?... Đúng là chúng nó đã hát “một tay tôi cầm súng, tay này bóp tay thằng Tây”. Mà giời đất ạ, mình cũng ngu thật. Gần dặm chục năm qua hát vậy, thấy nó vô lý mà không suy nổi là lính ta “đặt đểu”, càng vô lý lại càng nghĩ mới ấm ớ chứ. Lính không đùa thì sao làm lính mà vượt qua được chết chóc gian khổ được. Cũng như ông Ba Càng chú mình đi làm cán bộ vài năm về nhà toàn nói “triển khai bón phân”, “cơ cấu sáu cụ một mâm” vợ con chạy hết. Còn thằng Sum chạy công nông không nói được câu nào nghiêm chỉnh, thì sao đến lắm người thích nghe. Tóm lại là quan hay lính, đại tá hay phó thường dân đều mỗi người một giọng, chỉ mình ta không “hát” được. Không nên lời được thì đành phận là phải. Không biết lúc tối ta say, ta có cãi lại thủ trưởng câu nào bố láo? Huân chương đầy ngực như thế, chắc ông ấy nói câu nào phải đúng câu ấy...

Mà chả biết mấy tay cùng phòng quán triệt ý Khắc Liên ra sao? Điều này thì Chim sâu có lay tất cả mọi người dậy để hỏi thì cũng chả ai trả lời nổi. Lúc đó Khắc Kiên nổi nóng thế mà ai nấy căng da bụng chùng da mắt tuốt lượt luôn, không kịp bàn thảo gì đã ngáy o o quên hút thuốc lào. Vậy nên nửa đêm thức dậy, những mối lo chẳng cơn cớ quái gì mới bò đến, dù lão toàn lo bò trắng răng.

Năm 1955, Đoàn Văn Vững, tổ trưởng tổ nuôi quân của đại đội 12, thuộc trung đoàn X, sư đoàn bộ binh Y về phục viên. Một cuộc sống mới bắt đầu, cấy cày củ mỉ như không có cái đoạn binh lửa vừa rồi. Chỉ thêm ba sào ruộng được chia từ tay địa chủ, có vợ, cô gái gầy yếu tựa gió thổi bay. Và mất mẹ, người luôn lo cho thằng con lành như đất. Dù sao chiến tranh cũng để lại di chứng trên người Vững: bàn chan phải dính mảnh đạn thành tật, những con sốt rét nẩy người, và chút húng hắng ho vì phải hơi bom. Vững đẻ một mạch ba con vịt giời, khuôn đất đốt gạch xây nhà, cho đến lúc ông trưởng họ gọi đến giao nhiệm vụ: “Việc gia đình thế là đủ. Chú phải tham chính thôi. Họ Chụ, họ Nguyễn nó mình mẩy ghê quá”. Vững chối đây đẩy, viện trình độ kém, sức chưa lại, nói năng đâu biết gì. “Cả họ bây giờ trông vào mình chú. Người ta chỉ biết chú đã đi bộ đội tức là đã được sinh hoạt có tổ chức, ai biết mình nấu cơm. Tôi không ra được vì hồi cải cách đấu hăng quá, bây giờ sửa sai thành có khuyết điểm. A à chú còn khoẻ hơn tôi chứ lị” ông trưởng khẳng định, về hò cả họ dồn phiếu cho Vững. Anh trúng chân nông hội vận động thành lập tổ đổi công, tiến lên hợp tác hoá, làm nghĩa vụ thuế xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa và giải phóng miền Nam. Thằng lười mượn có ốm, Vững đi đắp đê thay nó. Có đứa phá bờ tháo nước trộm, anh lặng lẳng đắp lại. Củ khoai đặc không đúng chỗ chẳng phát huy được thế mạnh họ trông chờ, rút cục anh về ngồi chân văn phòng uỷ ban xã, thực chất là thằng để người họ khác nó sai vặt. Ai đời làm văn phòng mà không định đoạt được gì. Công văn chỉ thị về thì đem đến trình chủ tịch họ Nguyễn, bí thư họ Chu xin ý kiến, chạy đi triển khai mệnh lệnh của “chúng nó”. Ngồi họp giữa các luồng ý kiến khác nhau, Vững không “ừ” thì gật, bị dồn quá thời nấp vào cơn buồn ngủ. Rút cục thì ở cuối nhiệm kỳ, anh chỉ đắc dụng ở chân chẻ đóm đun nước. Văn phòng uỷ ban lúc nào cũng tinh tươm, nước sôi đầy phích, ấm chén bóng líu. Những thanh đóm Vững chẻ từ tre ngâm mỏng tang, hút ngon lành đến độ chủ tịch huyện xin về một nắm. Ngoài ra là vô tích sự hoàn toàn, lại còn phải lo ngay ngáy đón ý ông này, ông nọ, chỉ sợ những ông ý không bằng lòng.

Trước ngày bầu cử chính quyền đợt kế tiếp, Vững đến nhà trưởng họ nhăn nhó: “Bác cho em nghỉ không ứng cử nữa. Văn dốt võ dát không múa được. Với lại ra uỷ ban suốt ngày việc nhà hỏng cả...”

Ơ, chú làm họ không được nhờ. Cũng may là còn không đến nỗi gửi trứng cho ác...

Trưởng họ còn chưa nghĩ được nên đề đạt ai thuộc “đằng mình” ra ứng cử thì Vững đã ù té quyền về nhà báo tin “phục viên” cho vợ. Phin lúc này đã xòe ra như cái cót thóc chứ không còn giống cây tre cho gió nó đu nữa, cắt luôn cho chồng chân chăn vịt. “Nhà cứ lo đằng ngoài lều, để lũ vịt ở nhà với các việc khác cho em”. Nói thế chứ Vững trôn sao nổi những việc nặng: cày bừa, đắp đê, đi “hai linh hai”... Thôi uỷ ban thì phải vậy, còn hơn lúc nào cũng lo không phải đầu thì phải tai. Làm chỗ chính quyền trách nhiệm nặng nề phải thông tỏ mọi nhẽ, không thì quả tạ rơi xuống đầu chẳng tránh được, dù chỉ là chân chẻ đóm đun nước.


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 05 Tháng Năm, 2011, 11:42:35 pm
                                        Tiếp :
Cuộc đời đến là lạ, cứ như cái sàng, lắc một hồi là gạo ra gạo, trấu ra trấu, hột to hột nhỏ đằng nào đi đằng ấy. Đã không còn “tham chính” mà Vững còn phải tiếp tục chịu những “thử thách’, lần này từ vợ. Phin có bà bác nằm liệt giường đã chín năm, ụ ị như bao bột. Con cái chăm sóc hiếu đễ đủ đường, mà cũng mệt mỏi. Ngày cụ đi, Phin bảo chồng mang nải chuối sang thắp hương. Đám tang rất ít nước mắt, các thủ tục chỉ làm đủ cho phải phép. Sự ra đi giải phóng người sống, đem lại thanh thản cho người chết. Chính bà cụ, khi còn tỉnh, cũng một mực: “cho tôi một liều thuốc đi cho nhanh. Không biết kiếp trước tội nơ gì mà bắt sống lay lắt thế này...” Nghĩ thế nào nói thế đấy, Vững đặt nải chuối lên ban thờ, thắp hương vái rồi “chia sẻ” một câu chết người: “Thôi cũng mừng cho các bác. Cụ nằm lâu quá rồi, thế này đỡ mệt”. Lời “phản ánh” lại của tang quyến cũng nhẹ nhàng, ra ý Vững thật thà quá đỗi, nhưng làm Phin tức uất người. “Ít ra phải chia buồn, nói câu người ta hiếu đễ chứ”, vợ anh ghét quá chỉ bảo được vậy. Từ đó, Vững không còn gánh vác một việc ngoại giao nào nữa, yên tâm “chuyên sâu” vào nghiệp chăn vịt.

Mà lão hợp việc thật.Cái lều ngoài bờ mương lè tè, xung quanh quây dậu nứa thưa thật đúng là đại bản doanh của ông tướng. Ông ngủ luôn ngoài ấy, đỡ nghe eo xoè của lũ vịt ở nhà, đêm đêm cùng con Đốm xách đèn ra soát sét. Là đếm gọi là thôi, cho đỡ nhớ chúng, chứ quê này đâu có giống ăn trộm. Lão đào giun, ngăn máng tát nước bắt lưa thưa mài mại, lũ vịt lúc nào cũng đầy diều lớn mau như thổi. Lão thơ thới lắm, mình mình lo, mình mình quyết, không phải quán triệt, bàn bạc lĩnh ý ai. Con nào bỏ ăn, phân xanh nhoét mà không thối là bỏ thẳng cẳng. Con đực nào oai hùng ra dáng thủ lĩnh, lão phong ngay chân tiểu đội trưởng phụ trách đàn vịt đẻ, đi đâu cũng dẫn rượu một đám “cung tần mỹ nữ”: Oách hơn vua chứ lị.

Cạc cạc cạc... “Triều đình” gồm “vua”, “quan” cùng lũ vợ đủng đỉnh đi trước, lông lá mượt như được chùi. vít vít vít... Lũ tí nhau mà chạy, chen chúc ngã cắm đầu. Sau rốt là ông “đại tướng’ đội nón mê tay cầm sào buộc lá chuối, tay xách bình tích, lưng lủng lẳng điếu cày. Cái hình ảnh ấy quen thuộc với dân Kiên Xá từ ba mươi năm nay. Tên đặt “Chim sâu” bắt đầu từ đấy.

Có người bắt gặp lão, bỡn cợt: “Chào tướng quân. Tình hình chiến sĩ thế nào?”. Vững cười hi hi, ngây ngây nhìn đại đội hành tiến. Rồi ra thế nào mà đêm lại bật ra những câu:

  Nửa đêm lão bắc bếp rán lũ rô con uống rượu, ngâm đi ngâm lại. Lão khoái mấy câu thơ đến nỗi không về nhà bốn ngày liền. Để mụ La Sát cười cho à, lão chả dại. Làm bà Phin phải ngoi ra lều, miệng bảo sốt ruột, nhưng nửa đêm lại róc tuỷ lão ra giữa xung quanh nồng nàn cứt vịt.

 Đôi giày da không phải cỡ hại Chim sâu. Một ngày lội bộ qua các di tích, thăm bảo tàng, chẳng là mấy nả với vụ dong lũ vịt ngoài đồng, mà làm lão khốn khổ. Sáng ra nhìn những chỗ bị da cứa đứt mời phù nề hoặc đã rớm máu, cánh lính già đều ngại ngùng.

- Hay là ông ở nhà. Chân cẳng thế này còn tham quan gì nữa.

- Tôi đổi đôi dép vậy. Chim sâu nhăn nhó.

- Bốn túi phải đi với chân chì - Ông Tơ thành thạo - đeo huân chương với cả trung uý mà dận dép còn gì thớ cựu chiến binh.

- Nhưng ngại thủ trưởng phê bình...

Nhắc đến thủ trưởng ai nấy đều ngại. Lại quay ra trách lão: “Mà ông cũng “ấy” lắm cơ. Lúc có phóng viên nước ngoài, cần mạnh bạo thì nín thít. Lúc giao lưu với phụ nữ và các cháu thanh niên lại rửng mỡ làm hỏng cả chương trình. Mà thủ trưởng cũng nóng quá. Lính tráng đang vui... Hôm qua tôi buồn ngủ đấy, không cũng cự lại vài câu...”

Ông Tơ im bặt vì Khắc Liên bước vào. “Vấn đề” được giải quyết chóng vánh khi ông nhìn thấy đôi chân rách nát. Lão được phép ở nhà, lai còn có y tế đến băng chân, phải cái chết ngượng vì mùi vịt nấp trong các khe kẽ.

Nắng hè, dù là nắng non, ngốt ơi là ngốt. Nhà sàn trồng sữa sân bê tông bí bức. Chim sâu hết nằm lại ngồi. Có hai người gõ cửa, một cô chào mua bảo hiểm, một anh mời hàng thổ cẩm với những huy hiệu, huy chương “xu vơ nia” kỷ niệm. Chim sâu chọn chiếc khăn piêu cho vợ, mấy chiếc khánh “đồng hạng” cho lũ cháu, lấy làm ưng ý lắm. Lão xìu xuống khi nghĩ đến đoạn mụ La Sát nhăn nhó: “Tôi đội khăn này vào dịp nào được?”. Liền ve vẩy ra khỏi khách sạn. Cứ để những ‘nỗi niềm” đấy đã, ta đi xem thành phố hiện đại thế nào. Quả là mấy hôm nay lão chỉ toàn “sống với không khí lịch sử”, mấy chục năm nay chỉ biết quanh quanh từ làng đến huyện là cùng.

Chợ Điện Biên không làm Chim sâu thích thú mấy. Của cải miền núi chẳng thấy đâu, mà cứ sáng choang hàng Tầu như chợ xuôi. Được cái có những cô người Thái bán măng đắng, củ mài, và lũ rau má cằn nhưng chắc chắn là đậm vị. Chim sâu ngần ngừ rồi rẽ vào hàng ăn, gọi đĩa xách xào còn đen kịt và chén rượu. Kể cũng sốt ruột khi nghĩ đến lứa xu hào vợ nhổ non đem bán, nhưng lão phải tiêu tiền chứ. Dù là tiêu cho riêng mình, dù mình chỉ là “Chim sâu” , thì sao lại phải không? Đây là chuyến đi trót đời kia mà.

Rượu vào hăng lên, Chim sâu gọi xe ôm đi chơi phố.Tấp nập thật. Nhà cửa san sát phủ chót Ốt Nam hơn hẳn phố huyện ở quê. Gì thì gì đây cũng là thành phố, dù ở mãi biên cương. Nhưng trở thành người phố, người ta xoay xở ra sao trong những ngôi nhà xây không được bóng cây che chở đây? Lão hứng khởi đôi chút khi ngắm nghía pho tượng đàu khổng lồ đang dựng trên ngọn đồi D1 cũ. Những toà công sở ngất ngưởng thì chỉ nghé qua quýt. Giá mấy ông thắt cà vạt trong ấy có ra mời Chim sau cũng chả vào. Vì không đẹp, và cũng sờ sợ thế nào...

Anh xe ôm đầu đinh mũ cối, sau một hồi giới thiệu “đặc sản” cà phê vườn có các em Thái sẵn sàng “tới bến” không đắt, để mặc “bố già” ù ì sau lưng. Anh ngạc nhiên thấy bố bảo đưa tuốt đến cuối lòng chảo, nơi núi non dẫn sàng Lào bắt đầu trùng điệp, càng ngạc nhiên thấy ông lão bỏ xe máy bước xuống bãi đá ven suối Nậm.

Ngồi thừ giữa nắng, Chim sâu thấy mình bắt đầu nghĩ ngợi. Toàn chuyện không đâu. Câu phê bình của thủ trưởng. Lời vợ dặn. Những ký ức này nọ. Rồi lão nhập bọn với lũ trẻ quăng thia lia ngoài suối. Đám đàn bà đi nương về cởi áo cóm trầm mình ngoài kia mới trắng chứ, như lũ vịt của lão. Mà chắc là thơm, theo lối quả vườn tươi tự nhiên chứ không ướp thuốc, bắt cho chín ép như những chị tỉnh thành. Tay ấy chân ấy làm lụng chắc cứng cáp lắm. Ô, lại nghĩ đến suối Tấc rồi. Suối Tấc đã lấp lánh suốt cuộc đời lão, hà cứ gì cứ thấy chờn chợn khi muốn phô ra với người khác nỗi niềm rất đỗi dễ thương ấy? Chim sâu nhắm mắt tưởng tượng mình bước ra giữa Nậm Rốn, trâm mình cạnh những suối tóc, những thịt da trắng ngần...

 Bỏ cậu xe ôm chỗ cây cầu dẫn vào thành phố, vượt qua cái máy xúc bẩn thỉu, Chim sâu rẽ vào con dốc nhỏ. Đã đến lúc kiến bò bụng, mà lão không muốn về khách sạn với ăn xuất tiêu chuẩn, trên bàn phủ khăn có bia, phục vụ chạy ra chạy vào. Vẳng bên tai những tiếng mời chào, nào tiết canh dê, nào măng đắng chấm chẩm chéo. Có một cô, trông ra dáng mợ rồi, có cái ánh mắt thế nào đó, chẳng mở mồm mà khiến lão bước vào. Đến lúc nhận ra xung quanh thơm ơi là thơn, những lọ xếp hàng trên giá gương sặc sỡ như hàng cờ phướn, thì đã muộn.

- Bác cứ tự nhiên. Không cần phải cởi. Em không làm ướt áo bác đâu.

Cô gội đầu nói sau khi dắt lão ra đằng sau tấm bình phong ngăn cách hẳn với phố bụi. Không hẳn muốn từ chối, Chim sau cứ nhắm mắt đưa chân, trèo lên chiếc ghế bọc vải sơn mầu đỏ. Không khí dịu dàng lan toả căn quán, lão nhắm mắt lại, khoan khoái tận hưởng.

- Bác chắc ở xa lên đây?

- Đi chơi mà. Trời nóng quá nhỉ...

- Bác cứ nằm yên, nước vào cổ bây giờ.

- Vâng

Chim sâu thấy giọng mình khản đặc. Thật khó mà không động đậy. Lão nhìn theo lúc cô ta đi lấy nước lạnh. Những ngón tay cào cào trên da đầu khiến Chim sâu cảm thấy dễ chịu. Công cuộc làm đẹp cuối cùng cũng kết thúc. Nửa giờ đồng hồ làm Chim sâu phấn chấn. Lão đưa cô chủ quán tờ năm chục không lấy lại tiền thừa. Và nghe rủ rỉ:

Rằng bác là cựu chiến binh lên thăm chiến trường xưa chứ gì, mấy hôm nay em gội cho các bác nhiều. Em cũng gốc xuôi, bố mẹ đi công tác, sinh trên này, phải anh chồng nghiện giờ nuôi con một mình. Rằng bác dễ thương, thật thà nhỉ, phải người có mùi gì hoi lắm. Ban nãy bác ngáy một tý đấy. Em cứ để yên. Bác đã có tuổi, ít đi chơi, đừng ham vui kẻo nhỡ làm sao bà lão biết tính thế nào. Mai bác về a, ... Rằng...

Mãi về sau, khi đã yên ổn trong lều vịt ở quê. Hương vị Tây Bắc, những kỷ niệm có mùi thơm, mềm mại và ấm áp khiến lão mơ màng như tương tư. Gần sáng dậy đếm vịt lại nhớ tới giọng nói dịu dàng, cái nhìn buồn buồn của cô chủ quán gội đầu. Sao mình không thể quên những chuyện toàn là vụn vặt ấy? Ô, làm sao mà phải quên? Nếu như vậy thì để cái lều này toàn mùi vịt a...

Những điều không thể tỏ cùng ai ấy sẽ theo Chim sâu xuống đất đen. Còn bây giờ, lão vẫn túc tắc rong chơi trên đồng, chấp chới cây nứa buộc lá chuối. Vít vít... Cạc cac... Lũ vịt mông nặng đi trước như đoàn mệnh phụ, ai nói nấy nghe...

Ông nông dân chăn nuôi bảy mươi ba con vịt

Suốt ngày nghe chúng nó khụt khịt

Nghe đi nghe lại mãi không hiểu

“Ông ơi bụi lúa đằng kia có quả trứng”

   TC


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 05 Tháng Năm, 2011, 11:50:07 pm
                       Chuyện thời con gái    
                       Tác giả : Nguyễn Thị Như Trang

  Bà mẹ ân cần rót một bát nước còn bốc khói, niềm nở đặt vào tận tay chị:
- Chị uống tạm. Ở nhà quê chỉ có nước chè tươi.
Khách mỉm cười:
- Cháu xin bác. Trời nóng quá. Cháu cũng rất thích chè tươi ạ

Rồi chị khẽ thổi, ghé môi uống từng ngụm nhỏ ngon lành, trong lúc bà mẹ cầm quạt ngồi bên, vừa phe phẩy quạt cho chị, vừa ngắm vầng trán thanh khiết rịn mồ hôi của người khách lạ. Một người đàn bà thành phố đã đứng tuổi, ăn vận giản dị, tấm áo sơ mi xám nhạt rất hợp với đôi mắt to phảng phất buồn. Khuôn mặt tao nhã tuy không còn những nét trẻ trung, nhưng sự điềm tĩnh toát ra từ cái nhìn đằm thắm lại có một sức hút kỳ lạ.
- Vậy ra chị là…
Bà mẹ buông lời thăm dò. Thực ra, bà cũng chưa biết người khách lạ này là ai? Vì việc gì chị ghé vào căn nhà đơn chiếc vốn chỉ có tiếng nói cười, những lời chào hỏi vồn vã vào những dịp lễ tết, khi các đoàn thể, chính quyền địa phương đến chúc tụng những gia đình có người hy sinh vì cách mạng. Ngoài những phút vui hiếm hoi ấy thì chỉ có mình bà lão vào ra thầm lặng. Bà chỉ biết rằng, từ lúc khách bước qua rặng cúc tần ngoài ngõ và ngồi xuống bên bà, thì tất cả những đồ vật quen thuộc đến tẻ ngắt ở đây bỗng như có một sức sống mới, từ bức tranh mẹ con gà đã ố vàng dán trên tường, cái chum sành đựng nước mưa dưới gốc cây cau già trước mảnh sân đất nện, đến những cái chén cũ sạch bóng nhưng lạnh lẽo vì ít khi có bàn tay người động đến… Tất cả đều có vẻ niềm nở, sống động khác thường. Căn nhà nhỏ bé của bà mẹ dường như ấm cúng hẳn lên.
- Dạ, cháu làm việc trên tờ báo tỉnh. Nhân hôm nay về xã có chút việc, cháu rẽ vào thăm bác.
- Quý hoá quá.
- Nhà ta cũng vắng vẻ nhỉ, thưa bác?
- Chẳng giấu gì chị - bà mẹ thực thà kể lể - ông lão hy sinh từ ngày đánh Pháp, tôi chỉ được hai em. Con chị lấy chồng bên kia sông, chỉ những ngày giỗ tết mẹ con nó mới bồng bế nhau về thăm bên ngoại. Còn thằng em, nó thuộc diện con một, lại là con liệt sĩ được xã miễn trừ nghĩa vụ. Nhưng nó nhập ngũ ở trường học. Vào bộ đội rồi nó mới biên thư về nhà. Đấy, em nó đấy.
Bà mẹ nói và chỉ tay lên kệ thờ. Trên ấy, tấm ảnh Đạt trẻ măng, tóc rẽ lệch, vẫn cái nhìn hồn nhiên có phần nghịch ngợm như ngày nào nhìn chị thân thiết quá khiến chị chỉ muốn khóc. Bao nhiêu kỷ niệm tưởng như đã quên lãng chợt xô về: những bông hoa trinh nữ tím biếc khẽ đung đưa; cơn gió phóng khoáng trên triền đồi nóng như hun một ngày hè, và những tàu cọ xanh nõn bình yên chở che trên đầu hai người… Khung cảnh thật bình yên, thơ thới, nếu dưới kia, không xa, những chiếc Míc sơn màu nguỵ trang không là lời cảnh báo nhọn hoắt về những bất trắc có thể xảy ra bất kỳ lúc nào…
Chị nuốt thầm nước mắt, cố xua đi những hoài niệm dai dẳng, nắm lấy bàn tay khô gày của bà mẹ, giọng ngàn ngạt:
- Bác ạ, trước đây con là… là… bạn học của anh Đạt.
- Trời đất! - Bà mẹ kêu lên thảng thốt. Chiếc quạt đột nhiên tuột khỏi tay. Bà ôm lấy đôi vai chị, lắp bắp. - Sao con không nói ngay. Thế thì… con phải ở đây ăn cơm với bác. Chị mà từ chối là tôi giận đấy. Ăn cơm với bác, nghe không?
Nỗi vui đột ngột làm bà mẹ cứ cuống lên, chẳng biết xưng hô thế nào cho phải.
Khách mỉm cười, nói giản dị:
- Vâng, con sẽ ngủ lại đây với bác đêm nay. Con xin ăn cơm nhưng có gì ăn nấy, đừng mua bán phiền phức, bác ạ.
- Được rồi. Được rồi. Có gì ăn nấy. Chị đi rửa mặt cho mát, nước mưa đầy chum kia, rồi ngồi nghỉ. Bác chỉ làm một loáng là có cơm nóng ăn ngay.
*
* *
Bà mẹ xách rổ tất tả đi ra ngõ, niềm vui khiến cho tấm lưng còng như thẳng lên, dáng nhanh nhẹn hẳn. Bây giờ trong nhà chỉ còn lại mình Hạnh. Chị đứng lên, đầu óc bỗng chao đảo như say sóng. Chị vội vịn vào tường, khẽ nhắm mắt. Khi trống ngực đã bớt đập thảng thốt, chị đến bên kệ thờ, châm ba nén hương, mắt như mờ đi, chị nhìn chăm chú bức ảnh của Đạt chắc là chụp từ ngày anh mới nhập ngũ, lòng thổn thức: Anh ơi, em đây, Hạnh đây. Hôm nay em mới về thăm mẹ được. Em có lỗi. Mong anh hãy thay lỗi cho em. Thế mà đã hơn hai mươi năm rồi! Khói nhang bốc mờ mờ. Mùi trầm xa vắng. Tấm ảnh Đạt trên kệ thờ khi tỏ khi nhạt. Cái nhìn thân thiết của anh khiến vết xước găm vào tim chị, từ lâu, bỗng nhói đau. Hình ảnh của anh những ngày đầu hai người mới quen biết chợt buốt giá một vùng nhớ. Một cơn lạnh chạy dọc sống lưng, Hạnh rùng mình.
Ngày ấy, chị, một sinh viên khoa văn mới ra trường. Chiến tranh. Bom đạn và những lần đi công tác đạp xe suốt đêm cũng chẳng là gì đối với tuổi trẻ. Ở toà soạn báo nơi chị về thực tập, khi được hỏi nguyện vọng, chị xin viết về đề tài chiến tranh. Lúc ấy, trưởng ban biên tập, cặp mắt kính trễ trên sống mũi không giấu nổi cái nhìn ái ngại: đúng là ngựa non thì háu đá. Hoặc là cô ta còn non nớt quá! Đấy là một đề tài hóc búa nhất, hơn nữa, để có tài liệu mà viết phải có những chuyến đi vất vả, hiểm nguy nữa. Hạnh cảm thấy nóng mặt nhưng vẫn giữ ý mình. Chị biết rằng, ngòi bút chỉ có cảm hứng khi viết về những gì ta căm ghét nhất, hoặc ngược lại, yêu thương đến ngạt thở. Chị khâm phục sự chịu đựng gian khổ của những người lính, nhất là những giây phút họ dũng cảm ngẩng mặt đối diện với cái chết. Từ ngày còn là học sinh phổ thông Hạnh đã yêu thích môn văn, vì văn học chính là sự giãi bày tấm lòng mình, đồng thời là sự lý giải những hiện tượng, những số phận con người ở xung quanh ta bằng những cảm nhận tinh tế nhất - Hạnh nghĩ thế. Và chị khát khao lý giải một cách thấu đáo hành động quên mình của các chiến sĩ.
Năm 1972. Hà Nội là trọng điểm oanh tạc của bọn phi công Mỹ. Những lần chúng lẻn vào đánh phá Thủ đô, những chiếc Míc bé nhỏ lại lập công xuất sắc. Sau lần phi công ta bắn rơi chiếc "Thần Sấm" xuống Ngọc Hà, tấm ảnh chụp cô gái làng hoa bình thản cầm bình nước tưới cho những bông hoa tươi rói bên cạnh cái xác chết kềnh càng của "Thần Sấm" Mỹ làm Hạnh xúc động. Chị quyết định phải gặp gỡ các chàng trai điều khiển những chiếc Míc dũng cảm để viết bài về họ.
Sân bay quân sự là một thung lũng nằm lọt giữa những nếp đồi cọ rất nên thơ ở phía Bắc Hà Nội. Rõ ràng không khí thời chiến, tiếng động cơ máy bay đinh tai nhức óc mỗi khi khởi động không ảnh hưởng đến quy luật sinh tồn của thiên nhiên. Những thân cọ sù sì trên những sườn đồi vẫn đều đặn mỗi mùa trăng lại nảy sinh một phiến lá xanh - một màu xanh non trẻ đến ngỡ ngàng. Hạnh đạp xe lên vùng đồi cọ vào tầm chiều. Đồng chí chính uỷ đoàn bay Lam Sơn thay mặt đơn vị tiếp nhà báo trẻ. Anh nhìn chiếc xe đạp dầu dãi trát kín bụi đỏ của Hạnh, cười điềm đạm:
- Nhà báo lên tận đây vất vả quá. Mời chị vào sở chỉ huy ta làm việc.
Hạnh hơi đỏ mặt vì tiếng "chị" được thốt ra một cách trân trọng ở người chỉ huy dày dạn này, cả cái từ "sở chỉ huy" là lạ đối với một phóng viên quèn khiến chị ngượng ngập. Chị nói nhẹ nhàng:
- Em là Hạnh. Xin anh cứ gọi em là cô cho tiện. Em có một đề nghị là xin được gặp đồng chí phi công nào vừa bắn rơi máy bay địch mới đây.
Chính uỷ đoàn bay tỏ ý ngần ngại:
- Cậu ấy đang ở ca trực ngoài sân bay. Sau giờ trực chiến thì phải ngủ và nghỉ ngơi, đó cũng là kỷ luật. Thời chiến, anh em lái bọn tôi rất ít khi được rảnh rỗi cô Hạnh ạ.
Hạnh cố nài:
- Cái nghề làm báo… Anh thông cảm, trăm điều nghe không bằng một thấy. Hay là… em xin ra chỗ anh ấy đang trực. Em sẽ không làm mất nhiều thì giờ của các anh đâu. Được không ạ?
Hạnh được ra sân bay trên chiếc commăngca dã chiến. Từ sở chỉ huy ra đấy họ phải đi theo con đường đất đỏ ngoằn ngoèo dưới chân đồi. Đây là lần đầu tiên Hạnh được nhìn thấy những chiếc Míc gần đến thế. Đậu trên sân bay dưới những tấm bạt nguỵ trang, ngoan ngoãn để cho những người thợ máy lau chùi, chăm sóc, những chiếc máy bay từng vào sinh ra tử nom vẻ rất đỗi hiền lành, thân thiết. Chị thú vị thầm nghĩ.
Những phi công của ca trực đang có mặt trong căn hầm rộng đào ngoàm vào sườn đồi. Trần hầm căng dù hoa, bên dưới là những giường cá nhân có trải nệm tinh tươm nhưng không có ai nằm trên đấy cả. Anh em đang túm tụm chơi bài tú lơ khơ trong những bộ đồ bay có nhiều khóa thép, nút thắt rối rắm và những ống bơm cao áp gắn bên sườn, nom họ có vẻ kềnh càng, di chuyển chậm chạp tựa những người trên hành tinh khác trong tờ báo nước ngoài có lần Hạnh đã nhìn thấy. Khi đồng chí chính uỷ đoàn bay giới thiệu nữ nhà báo trẻ, các phi công nhìn chị, mỉm cười thân thiện. Đồng chí biên đội trưởng, người đã lập công trong trận không chiến bảo vệ thủ đô mới đây đến gần bắt tay Hạnh. Anh có vẻ là người vui tính:
- Tôi là Độ, quê ở Thanh Chương, đã một vợ, gần hai con. Về mặt này tôi tự nhận là cựu binh. Ở đây anh em nhiều người chưa vợ, chưa cả người yêu cô Hạnh ạ.
Hạnh bật cười, chị thấy có cảm tình ngay với người đàn ông vạm vỡ nói giọng xứ Nghệ đặc sệt này:
- Người Hà Nội rất hả dạ được tận mắt thấy máy bay Mỹ rơi ngay trên đất Thủ đô. Em muốn biết những chi biết khi anh bắn hạ chiếc "Thần Sấm" ấy.
Độ hấp háy mắt nhìn lên vòm hầm căng dù hoa:
- Biết nói thế nào nhỉ. Có lẽ các nhà văn, nhà báo có óc tưởng tượng phong phú nên nghĩ ra nhiều chuyện đấy thôi. Thật ra, với bọn tôi thì khá đơn giản. Điều cốt yếu là phải có một tập thể hiệp đồng chặt chẽ, ăn ý. Tôi nói thật chứ không khiêm tốn vờ đâu. Cô Hạnh biết không? Phải có rađa mặt đất phát hiện mục tiêu chính xác, rồi đài chỉ huy hướng dẫn đường bay tỉnh táo. Việc còn lại là… là bọn tôi phải bám sát mục tiêu, khi nào chúng nó lọt vào vòng ngắm thì phải nhả đạn lập tức, không được chậm trễ. Có vậy thôi.
Hạnh xịu mặt nói như hờn dỗi:
- Anh kể đơn giản thế thì em đến thất nghiệp mất.
Biên đội trưởng cười hiền lành:
- Đúng thế. Tôi có bịa đâu. À, có chuyện này.
- Sao ạ?
- Hôm ấy tôi suýt nguy nếu cậu Đạt, số 2 của kíp bay không nhanh mắt phát hiện một máy bay địch từ tầng cao bổ nhào vào tôi. May thật.
Anh nói đến đây thì một liên lạc chạy đến, mời biên đội trưởng đi hội ý. Độ xin lỗi, đứng lên, rồi ngoái lại phía sau, gọi:
- Đạt ơi, lại đây nào - và anh mỉm cười - có lẽ cậu sinh viên Hà Nội này hợp chuyện với nhà báo hơn.
Đấy là lần đầu hai người gặp nhau, rất tình cờ, nhưng định mệnh hình như đã sắp đặt cho cuộc đời Hạnh có những vết khắc rớm máu trong tim. Nhưng lúc ấy chị hoàn toàn không dự cảm được điều ấy, chỉ biết rằng khi anh rời các bạn, cười ngượng ngập bước đến gần, chị nhận ra người sinh viên Hà Nội này cao hơn mình hẳn nửa cái đầu và khá điển trai. Đạt vui vẻ nói trước:
- Nhà báo gặp may đấy. Chiều nay không hiểu sao chỉ có một lần báo động, chứ mọi ngày bọn tôi chẳng được ngồi yên đâu.
Hạnh nói:
- Anh Đạt, em muốn hỏi chuyện bắn máy bay mà anh Độ không chịu kể.
- Đồng chí biên đội trưởng của chúng tôi đấy ư? Một người tuyệt vời đấy.
- Vậy theo anh, thế nào là một người tuyệt vời?
- À, trong hoàn cảnh cụ thể hiện nay thì đơn giản là thế này, anh ấy mà xuất kích thì bọn địch hãy liệu hồn! Bọn tôi thường nói vụng với nhau: Biên đội trưởng say đánh địch hơn là mình say người yêu.
Đến lượt Hạnh bật cười. Không hiểu sao chị cảm thấy nói chuyện với anh thật dễ chịu. Có lẽ anh chỉ hơn Hạnh vài ba tuổi. Nhưng rõ ràng nếp sống quân ngũ, sự luyện tập khắc nghiệt và những lần đối mặt với nguy hiểm đã giúp anh bớt đi sự phù phiếm và những non nớt trong ứng xử. Không hề kiểu cách, Đạt rất cởi mở và anh biết cách diễn đạt ý mình một cách độc đáo. Bất giác, chị bỗng nảy ra ý muốn trêu chọc người đối diện:
- Nói như vậy tức là… là anh Đạt đã có người để say mê rồi?
Câu hỏi vừa buột ra Hạnh bỗng thấy mình sao ngốc quá. Một câu hỏi thật vô ý. Và chị đỏ mặt nhìn nhanh Đạt. Ánh mắt họ gặp nhau. Rồi cả hai cùng nhìn lảng đi, ngượng ngập. Câu hỏi không có lời giải đáp. Vừa lúc ấy chiếc kẻng treo trên cành bạch đàn cụt ngọn ngoài cửa hầm bỗng khua dồn dập. Đạt vội đứng lên, anh nói nhanh: "Hẹn gặp Hạnh sau vậy nhé!".
Những phi công vội vã rời cửa hầm. Hạnh nhìn thấy Đạt chạy trong tốp đầu tiên, anh vừa sải bước vừa sửa lại chiếc mũ bay nặng trịch trên đầu. Rồi chị nhận ra cái dáng vạm vỡ của Độ từ đài chỉ huy bước vội xuống những bậc tam cấp. Chị hiểu rằng đồng chí biên đội trưởng đã không chịu bỏ lỡ trận chiến. Những người thợ máy đã nhanh chóng có mặt dưới chân thang máy bay. Một người đỡ khoang buồng lái. Đạt trèo lên khoang máy, ngồi xuống. Tiếng động cơ lập tức gầm lên khởi động. Không khí nóng ngột như rung lên. Bạt ngàn cỏ dại bên đường băng thi nhau ngả rạp xuống. Kể từ giây phút ấy mặc nắng nóng và gió quật vào tóc rối bời, Hạnh không sao rời mắt khỏi những con chim sắt giờ đây đã trở nên rất thân thiết đối với tâm hồn chị. Chiếc Míc đầu tiên do Độ lái đã rời đường băng. Liền sau đó, máy bay của Đạt lăn bánh trên nền xi măng đẫm nắng. Hạnh để hết tâm trí mình dõi theo những chuyển biến mau lẹ trước mắt. Rồi chị sửng sốt nhận thấy, trong một tích tắc trước lúc rời đường băng, hình như Đạt còn quay lại, thoáng giơ một bàn tay vẫy về phía chị. Rồi những cánh bay nhanh chóng xa dần, mất hút vào vòm trời xanh nhức mắt. Đồng chí chính uỷ đoàn bay đứng sau Hạnh chợt nói: "Địch vào hai tốp, tám chiếc. Chúng định giở trò gì đây?". Trái tim Hạnh bỗng thắt lại vì lo sợ: Phía quân mình chỉ có bốn máy bay xuất kích, lực lượng chênh lệch quá. Lạy trời cầu mong cho các anh ấy an toàn trở về!
*


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 05 Tháng Năm, 2011, 11:51:53 pm
                                 Tiếp :
  Khó có thể nói rằng, đấy là chuyến đi thực tế thành công hay thất bại đối với Hạnh. Tuy nhiên, nếu hiểu một cách đơn giản, là năng lực của nhà báo phải căn cứ vào số lượng bài in ra, thì cuộc gặp gỡ các phi công lần ấy với chị không có được kết quả cụ thể. Chị không thể chỉ viết bằng những khái niệm mơ hồ hoặc sự bịa đặt sống sượng. Nhưng trong sâu thẳm lòng mình, Hạnh hiểu rằng từ nay, tâm hồn chị sẽ giầu có hơn vì sự quen biết một vùng đất mới có rất nhiều những phiến lá cọ bình thản đón nắng, và những người bạn mới đáng yêu. Và chính vì những tình cảm chưa chuyển tải được lên trang viết lại khiến tâm trí Hạnh luôn hướng về nơi đó như một món nợ chưa trả xong.
Khi chị lên sân bay lần thứ hai, không quên mang theo dăm số báo mới nhất và mấy cuốn sách văn nghệ tặng thư viện đoàn Lam Sơn, thì mọi người ở đây đối với nhà báo trẻ đã trở nên rất thân thiết. Hôm ấy, những phi công chị đã quen trong giờ nghỉ. Họ ở trong doanh trại - những căn nhà cấp 4 nằm sơ tán dưới chân đồi cọ. Anh em đang xúm quanh bàn bóng. Tiếng cầu nhựa đập trên sàn gỗ và tiếng cười trẻ trung, sôi nổi. Hạnh đến, họ vui vẻ kéo chị cùng tham gia cuộc vui. Và làm như vô tình mọi người ghép Hạnh và Đạt là một đôi nam nữ phối hợp trong cuộc thi đấu. Hình như sự có mặt một cô gái đẹp từ Hà Nội đến khiến cho không khí thêm hào hứng. Các phi công trổ hết tài năng. Họ thực sự là những cây vợt đáng nể. Nhưng Hạnh cũng từng là cây vợt không thuộc loại xoàng của toà soạn. Kết cục là hai người giành phần thắng. Chính uỷ đoàn bay vui vẻ bắt tay Hạnh và trao phần thưởng cho họ: một hộp kẹo ngon mà ngày ấy, chỉ những phi công được hưởng chế độ ưu đãi đặc biệt mới có. Một rắc rối nho nhỏ đã nảy sinh: Họ có chung quyền sử dụng chiến lợi phẩm. Hạnh muốn cùng mọi người chia xẻ nhưng Đạt ngăn lại, anh tuyên bố tất cả phần thưởng là của Hạnh và chị phải mang nó về Hà Nội làm quà. Mọi người xung quanh rào rào vỗ tay khiến Hạnh thật khó từ chối. Chị cười, đôi mắt đẹp nhìn Đạt cảm kích. Nhưng các chàng trai trong phút vui cuồng nhiệt lại không hài lòng với cử chỉ rụt rè ấy của chị. Họ đều đã được huấn luyện lái máy bay chiến đấu ở một xứ sở có nhiều tuyết rơi về mùa đông. Ở đấy, con trai con gái gặp nhau dạn dĩ hơn, phóng khoáng hơn. Và họ đồng thanh hét lên: "Hôn đi! Hôn đi!" Hạnh lúng túng thật sự, chị đỏ mặt. Nhưng mọi người vẫn không tha. "Hôn đi! Hôn đi!". Họ giục giã. Và chị cảm thấy đôi môi Đạt lướt qua má mình.
Sau đấy, hai người ngồi bên nhau trên sườn đồi. Xung quanh họ, những cụm cỏ trinh nữ đầy gai nhọn có những bông tím khẽ đu đưa mỗi khi một cơn gió thổi tới. Mùi hoa chè thơm thoảng đâu đây. Mặt trời đã lặn bên kia đồi. Những tia nắng cuối cùng của ngày hè tưới đẫm lên những tàu cọ non, biến chúng thành màu vàng chanh lộng lẫy. Hạnh thích thú ngắm nhìn những sắc màu biến đổi nhanh chóng trước mặt. Chị nói mơ màng:
- Khi anh bay trên ấy nhìn xuống hẳn là thú vị lắm?
Đạt cười:
- Không hẳn thế đâu. Khi ngồi vào buồng lái bọn anh thậm chí không có thì giờ để cảm nhận trời đẹp hay xấu, vì còn phải theo dõi những đồng hồ bay để kiểm tra máy móc, xăng dầu và tốc độ bay, rồi còn phải giữ liên lạc với mặt đất nữa.
- Em cũng muốn biết…
Đạt nheo mắt:
- À, cuộc phỏng vấn bắt đầu?
Hạnh cũng cười:
- Không, không phải phỏng vấn. Em chỉ muốn biết cảm giác khi anh rời mặt đất.
Đạt nói nhẹ nhàng:
- Với người khác thế nào không rõ. Còn với anh, ngay sau khi người thợ máy đóng nắp cabin buồng lái, bước xuống đất, ở vào khoảnh khắc ấy, với anh, tất cả những gì thân thiết đã ở phía sau rồi, trước mắt người lái chỉ còn bầu trời rộng khôn cùng với vô vàn những bất trắc có thể xảy ra trong một cái chớp mắt… Đạt ngừng lời, hình như anh đang chọn từ ngữ để diễn đạt cho chính xác những ý nghĩ của mình.
- Anh nói đi.
- Nói thật nhà báo đừng cười. Lúc ấy tôi thấy rất rõ cảm giác cô đơn. Cô đơn đến thắt lòng. Rất may cảm giác hẫng hụt ấy qua đi mau. Ngay sau lúc hệ thống máy móc bắt đầu hoạt động thì tâm trí người lái lập tức bị hút vào công việc: phải bảo vệ đồng đội và tuyệt đối tuân theo sự chỉ huy của biên đội trưởng bay phía trước.
Hạnh bỗng sực nhớ:
- À, cả buổi chiều nay em không thấy anh Độ?
- Anh ấy đi công tác - Đạt trả lời và cảm thấy đôi mắt đen lo lắng nhìn anh chăm chú, lặng câm trong một câu hỏi bồn chồn, thôi thúc. Không thể đừng, anh ghé tai chị nói nhỏ điều gì.
- Thế thì tốt quá! - Hạnh thở ra nhẹ nhõm, nhưng thực tình chị cũng chẳng rõ mình vui sướng vì sao. Vì anh đã tin cậy thổ lộ với chị những ý nghĩ và công việc của một phi công trong chiến trận? Vì một kiểu máy bay mới họ sắp được trang bị để đối phó hiệu quả hơn với bọn kẻ cướp nhà giàu? Vì không phải Độ đã gặp chuyện chẳng lành như chị đã hoang tưởng? Hay vì chị đang được ngồi cạnh Đạt trong một buổi chiều hiếm hoi tuyệt đẹp này? Hạnh không rõ, chỉ biết rằng, những điều chị đã cảm nhận thật cần thiết cho công việc và cho cuộc đời chị.
Đạt quay sang Hạnh. Khi nhìn nghiêng, khuôn mặt chị thật dịu dàng, sống mũi nhỏ, cái nhìn đầm ấm và vầng trán cao thanh khiết. Một người thông minh và tốt bụng, anh nghĩ thế và mạnh dạn nắm lấy bàn tay rám nắng, trên cườm tay có đeo một chiếc lắc nhỏ bằng bạc của chị. Anh nói ngập ngừng:
- Lần trước Hạnh về rồi anh Độ cứ nhắc mãi. Còn anh thì tin rằng nhất định em sẽ lên.
- Điều gì làm anh tin như vậy? Giọng chị hơi run, tim đập thảng thốt, nhưng Hạnh không tìm cách rút tay về.
- Linh tính.
- Vậy, giả dụ em không lên?
- Thì có dịp, anh sẽ về Hà Nội tìm em.
Hạnh bối rối im lặng. Đạt nhìn vào mắt Hạnh, nói thêm:
- Nhưng điều ấy đối với bọn anh lúc này hơi khó, em hiểu không?
Chị ngoan ngoãn gật đầu, lại chợt nhớ đến điều anh ấy vừa nói về cái cảm giác cô đơn khi người phi công rời mặt đất, Hạnh bỗng thấy một niềm xót thương lẫn sự trìu mến tràn ngập khiến ngực chị đau nhói. Cần phải nói một câu gì, hay làm một điều gì để anh ấy luôn cảm thấy rằng, trên ấy và dưới này luôn là sự ràng buộc chặt chẽ, rằng tất thảy mọi người và cả chị nữa, luôn luôn ở bên anh ấy, rằng anh ấy phải chiến thắng trở về… Hạnh nghĩ thế, nhưng tất cả những điều đang diễn ra trong lòng chị thật khó nói nên lời, vì thế, chị chỉ khẽ rút chiếc lắc bạc trên cườm tay trao cho anh và nói ngập ngừng:
- Anh giữ lấy. Và hãy… nhớ em luôn.
Điều kỳ lạ là dường như anh đã hiểu tất cả những điều chị chưa kịp nói. Anh trân trọng đón tặng vật và bỏ nó vào túi áo bên trái tim mình:
- Nó sẽ ở đây, mãi mãi, kể cả lúc anh phải quần nhau với chúng nó. Hạnh ơi, từ nay anh đã có nơi để mà mong nhớ, phải không em?
Hạnh không trả lời, chỉ ngước nhìn anh bằng ánh mắt tràn ngập sung sướng. Và đấy là lần đầu tiên trong đời con gái, chị run rẩy đón nhận nụ hôn bỡ ngỡ của mối tình đầu trong trắng, để sau này những kỷ niệm về nó trở thành vết xước trong trái tim chị. Thời gian có thể làm lành vết thương, nhưng vết sẹo thì vẫn còn đó, mãi mãi ghi dấu vào cuộc đời người đàn bà.
Cuối năm 1972. Bầu trời Hà Nội luôn bị xé nát bởi những luồng đạn phòng không và tiếng rú đột ngột của còi báo động. Những pháo đài bay B.52 đã cắt bom rải thảm xuống cả bệnh viện và những khu phố đông dân. Công việc của một phóng viên chiến tranh ngày càng vất vả hơn. Ban đêm Hạnh cặm cụi viết bài. Ban ngày chị đội mũ rơm đến các cụm pháo bảo vệ cầu Long Biên. Có lần chị xông vào tận Hoả Lò gặp những giặc lái Mỹ vừa bị bắn hạ, nghe chúng kể: "Những chiếc Míc bé nhỏ thật đáng sợ. Họ dám lao đến gần vùng điểm nổ mới ấn nút phóng tên lửa. Theo lý thuyết thì không được phép làm như thế. Ở vùng điểm nổ, nếu tên lửa trúng đích, máy bay đối phương bốc cháy có thể gây sát thương cả cho mình. Chúng tôi bị bất ngờ. Hoàn toàn bất ngờ". Hôm sau ở toà soạn Hạnh nhận được bức thư của Đạt chỉ vẻn vẹn một câu ngắn ngủi: "Anh mãi yêu em. Bên dưới là chữ ký rắn rỏi quen thuộc. Hạnh khóc. Nước mắt chị thấm ướt những nét chữ phóng khoáng của người yêu. Lâu nay hai người vẫn trao đổi những bức thư đắm say. Rồi qua những dòng chữ nhiều hoặc ít của anh, chị thầm đoán định mức độ ác liệt của những cuộc không chiến. Bức thư gần đây anh viết: "Thật kỳ lạ, từ khi có em, anh thấy dường như cái chấm xanh lung linh dưới chân Tháp Rùa, mỗi khung cửa sổ sáng đèn trong đêm Hà Nội, cả những lối mòn ven đê như gắn bó máu thịt với mình hơn. Vì ở đó có em - cái dáng bé nhỏ vô cùng thương mến trong tấm áo màu cỏ mải miết đạp xe đi về, cặm cụi làm việc và lo lắng cho anh… Còn bây giờ, chị hiểu rằng anh không có nhiều thì giờ dành cho tình yêu.
Khoảng hơn tháng sau, vào một ngày vùng trời Hà Nội chẳng mấy lúc được yên tĩnh, toà soạn nhận tin có một máy bay rơi xuống vùng ngoại ô. Khi Hạnh đến nơi thì đám ruộng nước ở ven đê đã có đông bà con tụ tập. Mọi người ra sức đào bới. Gần một tiếng sau thì những mảng kim loại cháy đen đã bị biến dạng khi va chạm mạnh lúc rơi xuống đất, nhưng vẫn có thể nhận ra đấy là cái bộ phận buồng lái được đưa lên khỏi mặt ruộng vũng vĩnh bùn. Một cán bộ huyện đội, sau khi xem xét kỹ đã xác định đấy là máy bay ta. Có người còn cam đoan rằng đã nhìn rõ mảnh vỡ này bốc lửa ở trên cao nhưng không thấy dù bật ra. Hạnh hồi hộp chen trong đám đông cố đến gần khoang lái với chiếc máy ảnh trong tay. Mọi người không ai nghĩ đến việc can ngăn cô phóng viên khi chị loay hoay chui đầu vào khoang lái. Ở đấy, Hạnh cố sức quan sát, lục lọi, mong tìm thấy những dấu vết còn lại của người chiến sĩ đã hy sinh. Rồi chị run bắn người lên khi chợt nhận ra, trong đống tàn tro và những thanh sắt cong queo có một vật sáng lấp lánh. Hạnh nhặt lên và nhận ra chiếc lắc bạc quen thuộc của chính mình. Chiếc máy ảnh tuột khỏi tay Hạnh. Mặt trời, ruộng lúa và những đám mây quay tròn, quay tròn, Hạnh gục xuống ngất đi…
Ít lâu sau Hạnh nhận được một bức thư đóng dấu bưu điện từ sân bay vùng đồi cọ. Đó là thư của đồng chí biên đội trưởng.


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 05 Tháng Năm, 2011, 11:55:47 pm
                              Tiếp :       
  Trong thư Độ viết:
  Em Hạnh thân mến!
Cho phép tôi coi em như người thân thiết trong gia đình phi công. Bởi vì trước đây, có lần Đạt đã tâm sự với tôi về tình yêu của hai người. Biết được tin ấy cả đơn vị chúng tôi vui mừng lắm. Thú thật, tôi còn chút thầm ghen tị với hạnh phúc của các bạn đấy. Thật là một lứa đôi lý tưởng. Và tôi tin chắc rằng tình yêu của các em sẽ mãi mãi bền vững. Vậy nên lúc này tôi đã đắn đo rất nhiều khi cầm bút viết thư này cho em, nhưng tôi tự thấy mình không được quyền giấu em cái tin Đạt đã hy sinh trong một trận không chiến ở vùng trời Hà Nội. Tôi thông cảm nỗi đau đớn này của em, nhưng nếu có chút nào an ủi được em thì đấy là một trường hợp hy sinh rất dũng cảm, là cái chết của một người anh hùng. Em biết không? Hôm ấy, bọn B.52 chúng nó vào Hà Nội nhiều đợt. Anh em chúng tôi phải xuất kích nhiều phen. Cũng như những lần trước đây, tôi rất yên tâm mỗi khi có Đạt là số hai yểm trợ phía sau. Chúng tôi đã cùng bay đôi nhiều lần. Cậu ấy không bao giờ để tôi bị hở sườn hoặc để chúng nó bám đuôi mình. Và lần ấy, cả hai chúng tôi đều đã lập công. Đạt phóng hai quả tên lửa làm tan xác một "Con ma", còn tôi thì bắn hạ một B.52. Sau đấy chúng tôi đã hết đạn, đang trên đường quay về lại nghe tin có thêm Pháo đài bay chúng nó đang vào không phận Hà Nội. Và những chiếc tiêm kích đi kèm yểm trợ B.52 đã rất xảo quyệt xông vào công kích bọn tôi. Tôi ra lệnh cho Đạt phải cố tránh cuộc giao chiến không cân sức, trở về sân bay an toàn. Hạnh biết đấy, mỗi chiếc Míc với đất nước còn nghèo khó của chúng ta là cả một tài sản khổng lồ. Trong hoàn cảnh ấy tôi cho rằng, đưa được máy bay an toàn trở về là một nhiệm vụ không dễ dàng. Và chỉ còn khoảng 3 phút bay nữa chúng tôi đã về đến vùng đồi cọ. Đúng lúc ấy, tôi nhận thấy bọn B.52 đã cắt bom rải thảm xuống Hà Nội do những đợt sóng xung kích va đập trên không trung. Rồi tôi thấy mình bỗng mất liên lạc với Đạt. Thoạt đầu tôi ngờ cậu ấy bị bọn tiêm kích bắn hạ, bèn cố sức quan sát xung quanh, nhưng tôi đã không hề nhận thấy có dấu hiệu xấu, chỉ đơn giản là Đạt không trả lời những mệnh lệnh của tôi. Lúc ấy tôi không khỏi bực bội trong lòng. Đấy là lần đầu số 2 có hành động vô kỷ luật trong chiến đấu. Tôi đâu biết rằng, Đạt đã lẳng lặng cho máy bay vòng trở lại, vừa cố tránh bọn tiêm kích, cậu ấy vừa tìm cách tiếp cận pháo Pháo đài bay. Vì Đạt đã quyết định sẽ dùng chính máy bay của mình làm quả đạn thứ ba. Tăng hết tốc lực, cậu ấy cho chiếc Míc đâm thẳng vào chiếc B.52 gần nhất. Một đám cháy khổng lồ đã thiêu rụi chiếc Pháo đài bay khốn kiếp. Nhưng Hạnh ơi, người yêu của em thì không trở về nữa. Sau đấy, kỳ tích của người anh hùng của chúng ta đã được cả quân chủng chúng tôi học tập, noi theo…
*
* *
Hai người đàn bà đã dùng xong bữa. Hạnh thấy ngon miệng với bát canh hoa lý nấu trứng tôm ăn với cà muối xổi và món cá rô ron rán vàng chấm với nước mắm chanh ớt. Quả thật những món ăn không chút cầu kỳ này chị thích hơn nhiều những lần dự tiệc tùng trong đời làm báo. Hạnh thành thật nói ra điều ấy khiến bà mẹ rất vui:
- Tưởng chị ưa ăn các thứ cao sang gì, chứ thích những món nhà quê ấy thì cứ ở lại đây với bác một tháng.
- Con cũng muốn thế, nhưng còn công việc và các cháu.
- À, bác sơ ý thật. Anh chị được mấy cháu rồi?
- Dạ hai. Cháu lớn năm nay đã vào đại học.
- Quý hoá quá. Anh ấy chắc cũng làm việc trên tỉnh?
- Vâng - Khách đáp gọn rồi ánh mắt chị ngó mung ra mảnh vườn nhỏ. Ngoài ấy, chút ráng đỏ cuối ngày còn ửng lên chiếc đọt cau mềm lả. Những nụ hoa trinh bạch lấm tấm rơi quanh chum nước. Không khí yên tĩnh thoảng mùi hoa cau thơm ngọt. Xa xa vẳng tới tiếng vạc gọi đàn. Đã lâu lắm, lâu lắm Hạnh mới có một buổi chiều tĩnh lặng, không có tiếng động cơ rú nhức óc, không bụi bậm phù du chốn thị thành, không cả mùi thuốc lá ám ảnh trong căn hộ tập thể trên tầng bốn có chiếc cầu thang tôi tối lúc nào cũng thoảng mùi khai để nghe lòng mình lắng lại với những kỷ niệm của thời con gái. Không thấy chị nói gì thêm, lúc sau bà mẹ ngước nhìn lên và nhận ra nét buồn đang đọng trên gương mặt thiếu phụ. Chị ấy không nói gì về chồng. Lạ nhỉ. Nếu được sung sướng người đàn bà nào cũng muốn san sẻ niềm vui. Nhưng không lẽ người đẹp như thế mà không có hạnh phúc? Bà mẹ băn khoăn.
Và bà mẹ đã đoán không sai. Niềm vui thì khó giấu, còn nỗi buồn chỉ muốn nén chặt trong tim. Sau ngày mất Đạt, Hạnh buồn đến ngơ ngẩn. Chị không còn chú ý gì đến xung quanh. Nhiều đồng nghiệp săn đón cô phóng viên trẻ đẹp chỉ được đáp lại bằng thái độ lạnh lẽo. Tám năm sau, Hạnh đồng ý lấy một người bạn học cũ. Người ta bảo Quý là một kiến trúc sư có tài. Có thể đúng vậy. Những bản vẽ thiết kế của anh về các biệt thự, nhà cao tầng và công sở bao giờ cũng được cơ quan đánh giá cao. Nhưng Quý bĩu môi: "Đồng lương rẻ mạt, còn thù lao chẳng ra quái gì. Giá làm cho nước ngoài hay các liên doanh mạnh, bản thiết kế của anh phải được trả 7, 8 ngàn đô". Hạnh nói nhỏ: "Đòi hỏi thì vô cùng, nhà mình còn thiếu gì đâu". Quý cười khẩy: "Em lạ thật. Tự bằng lòng với cái lồng nhỏ này thì còn gì là ý chí vươn lên nữa. Làm thằng đàn ông cho ra thằng đàn ông phải có một gia đình sung túc! Rồi anh sẽ kiếm đủ tiền cho em được nghỉ ngơi". Hạnh hiểu, hai chữ "nghỉ ngơi" theo cách của Quý nghĩa là chị sẽ hoàn toàn phụ thuộc vào chồng. Hàng tháng anh sẽ chi cho vợ một món tiền chợ dư dả gộp cả tiền mua son phấn, giầy dép và quà bánh hàng năm đôi lần chị về thăm bên ngoại. Rồi hàng ngày chị lo thay đổi món ăn và các thứ tráng miệng sao cho hợp khẩu vị của chồng. Tối đến thì nằm dài trên đi văng coi ti vi và dũa móng tay móng chân… Tóm lại, một kiếp sống của loài tầm gửi. Thế thôi. Hạnh không tưởng tượng nổi mình sẽ biến thành một mệnh phụ ăn nói kiểu cách như thế nào. Chị yêu công việc của mình và cố không động đến những món thu nhập thêm của chồng. Đêm đêm nằm bên Quý nghe anh tính toán về cuộc sống tương lai sung túc, tự nhiên chị lại nhớ Đạt. Anh ấy nhập ngũ khi học năm cuối cùng đại học ngoại ngữ. Chưa bao giờ anh ấy nghĩ đến việc làm cho người nước ngoài chỉ vì mục đích kiếm tiền. Anh ấy yêu Hà Nội… Nước mắt ứa ra, chị lặng lẽ cố nhích xa cái bụng đã bắt đầu xệ vì bia bọt của Quý. Với chồng, Hạnh chưa bao giờ tìm thấy sự đồng điệu về tâm hồn.
- Bác ơi, ngày ấy… người ta báo tử về trường hợp hy sinh của anh Đạt vào thời gian nào?
- Tháng 4 năm 1973, chị ạ.
- Từ dạo ấy đơn vị có cử người về thăm gia đình ta không ạ?
Bà mẹ ngừng nhai trầu:
- Có đấy. Năm nào đơn vị cũng cho người về. Mới đây có một anh cao to nói giọng xứ Nghệ, bảo là bạn chiến đấu của em nó. Bác cũng giữ lại ăn cơm. Anh ấy ở chơi cả buổi sáng.
- Anh ấy có nói gì không ạ?
- Kể nhiều chuyện từ ngày em nó còn, hai anh em lúc nào cũng ở bên nhau. Có điều…
- Sao ạ?
Bà mẹ kéo vạt áo, chấm mắt:
- Bác có nhờ anh ấy đề nghị giúp với đơn vị: em nó đã hy sinh vì nước cũng là vinh dự cho gia đình. Giờ bác chỉ có một ước nguyện được đưa em nó về cho có mẹ có con. Anh ấy đã hứa sẽ báo cáo lại với cấp trên. Nhưng bác chờ đã lâu không thấy đơn vị hồi âm. Mà bác thì mỗi tuổi một yếu.
- Mẹ ơi! Chị buột gọi mẹ một tiếng rồi thốt im bặt, ngực lại nhói đau. Có lẽ hơn ai hết, chỉ mình chị biết được điều này, rằng hôm ấy anh đã chấp nhận hy sinh cùng cánh bay yêu quý với cả thể xác và linh hồn mình cho tình yêu Hà Nội, bởi vậy, phần mộ của anh hiện giờ ở nghĩa trang đơn vị chỉ đơn thuần là sự tưởng nhớ công lao của người anh hùng, là sự tiếc thương của những tấm lòng đồng đội với người bạn chiến đấu không còn nữa. Nhưng chuyện ấy làm sao có thể nói với mẹ? Và chính điều đó cũng là nỗi khổ tâm của Độ, anh đã không thể đáp ứng yêu cầu của mẹ. Chị xích ngồi gần lại, lặng lẽ ôm lấy đôi vai gày của mẹ và nhận ra rằng mình đã đến đây hôm nay thật đúng lúc, vì chỉ có chị, với những vật chứng quý giá mới có thể an ủi tuổi già của mẹ.
Hạnh lặng lẽ mở túi xách lấy ra một tấm ảnh khổ lớn đưa cho mẹ. Bà mẹ ngỡ ngàng giơ tay đón lấy tấm ảnh chụp một ngôi mộ kiểu dáng đẹp, khá bề thế. Các em thiếu nhi và những quân nhân mũ nâng ngang ngực đứng trang nghiêm trước bó hương đang nghi ngút toả khói. Bà lập cập đeo kính và nhẩm đánh vần những hàng chữ trên tấm bia đen: Liệt sĩ Phan Hữu Đạt. Sinh 15-1-1950. Quê thôn Hạ, xã Ngọc Châu…
Khi bà mẹ sững sờ ngẩng lên, đôi mắt bà ràn rụa ướt:
- Thế ra con đã…
Chị ngẹn ngào:
- Vâng. Con đã đến với anh ấy - Ngừng một lát, chị nói thêm. - Mẹ ơi, vong hồn anh ấy sẽ về đây, ở bên mẹ. Còn phần mộ ở đơn vị đã có đồng đội anh ấy chăm lo. Mẹ cứ yên tâm. Mẹ đã già yếu. Đường sá cách trở. Con xin mẹ nghe con.
Bà mẹ nấc khe khẽ. Cả chị nữa, chị cũng không cầm được nước mắt. Đã bao năm nay chị mới được thoả lòng khóc nhớ anh ở chính căn nhà đã bao lần chị muốn đến mà chưa được thoả nguyện. Lâu sau chị ngẩng lên lau nước mắt:
- Mẹ à, còn cái này. Đây là di vật…
Hạnh tháo chiếc lắc bạc từ ngày ấy vẫn không rời tay chị, trao cho mẹ. Cầm chiếc vòng bạc, bà mẹ khóc oà. Bà vẫn không quên, lần ấy anh về phép đã vui vẻ khoe với mẹ vật này đây. Anh còn đoan chắc rằng sẽ đưa cô gái của chiếc vòng bạc này về với mẹ. Bà đã chờ đợi, và hy vọng rất nhiều. Nhưng con của mẹ đã không trở về, giờ chỉ còn chiếc vòng bạc này trong tay mẹ…
Hạnh nhẹ đỡ mái đầu bạc của mẹ để tựa vào vai mình. Nước mắt bà thấm ướt áo chị. Khi nỗi đau theo nước mắt đã nguôi ngoai, bà mẹ bỗng lờ mờ cảm thấy rằng, người có chiếc vòng bạc mà con trai mẹ nặng lòng yêu chính là thiếu phụ này. Chính là chị - mối tình đầu trong sáng, niềm say mê bền bỉ đã tạo nên niềm vui rạng ngời trên nét mặt anh cả trong những tháng ngày chiến đấu gian nan là người đàn bà này. Bà tin chắc vào điều đó, bằng trái tim đau khổ và mẫn cảm của người mẹ, rằng chính nỗi đau của tình yêu đã để lại nét buồn thẳm sâu trên gương mặt khả ái của chị. Vẫn gục đầu trên vai Hạnh, bà mẹ nghẹn ngào thì thầm gọi: "Con ơi!". Và tiếng gọi thân thiết xiết bao mong ước ấy khiến nỗi đau của mẹ như đã được chia sẻ. Còn Hạnh, chị biết rằng mình đã nói với mẹ những điều chỉ xuất phát từ tấm lòng chị. Nhưng chuyện ấy thực sự không quan trọng, miễn là mẹ được thanh thản sống vui những ngày cuối đời.
Ngoài kia, bóng tối đã choàng lên mảnh vườn nhỏ. Sương đã xuống trong gió đêm lành lạnh. Nhưng cái lạnh đêm nay với hai người đàn bà đã trải qua nỗi đau mất mát chỉ càng làm họ gần gũi, thân thiết nhau hơn.

Nguyễn Thị Như Trang


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 07 Tháng Năm, 2011, 10:25:24 pm
                                 Tản mạn lính thông tin    
                                  Tác giả : Nguyễn mạnh Hùng

Tôi đã mủm mỉm cười với ý nghĩ hóm hỉnh: “Ôi! Một nàng thơ thích… uống nước mơ”, khi nhận được câu trả lời của một “cô lính” Đoàn M34 – Bộ Tư lệnh Thông tin rằng “đặc sản” của “nhà em” là “trên đỉnh gió”. Quả thực, ý nghĩ ấy sẽ vẫn nguyên nếu tôi không được lên trạm V65 (trạm Vi ba của Đoàn M34) đang đóng ở một trong ba đỉnh cao nhất của Ba Vì (biểu tượng thiên nhiên núi Tản – sông Đà của Hà Tây cũ), hít căng lồng ngực gió, quan sát các chiến sĩ đưa cánh sóng lên không trung. Và tôi chợt nhận ra câu trả lời kia của “cô lính” không phải là không có cơ sở.
Để lên V65, bắt đầu là một chặng gần hai chục km từ cửa rừng ngược dốc khiến chiếc xe dã chiến luôn phải “căng máy” ra. Động tác đầu tiên của cậu lái xe đã từng cả chục năm lặn lội leo đèo dốc ở Tây Nguyên, Tây Bắc là vội vàng ra phía trước chống nắp ca-pô lên để hóng cơn gió đang thổi ào ào làm dịu đi lốc máy nóng như rang. “Đồ đạc cá nhân để trên xe liệu có an toàn không?”. Anh Thẩm - Phó phòng tuyên huấn Bộ Tư lệnh thông tin đi cùng quay qua anh Quang trạm trưởng V65, một người có dáng dong dỏng, gương mặt hơi xương xương, vóc của người giỏi đi bộ, leo đèo, vừa xuống đón, giọng nghi ngại. “Trăm phần trăm an toàn! Trước kia chưa làm nhà để xe ở đoạn trên, xe đạp, xe máy bọn em vứt cả tuần ở đây mà chẳng bao giờ mất, anh xem, đoạn này có mấy người qua lại đâu?”. Đường lên núi, các bậc đá tương đối cao nhưng lại hẹp, bước rất tốn sức và chóng mệt. Trên các bậc đá, những quả dẻ màu nâu yên bình nằm trên đám rêu bạc phếch  tạo cảm giác như nó đã vốn như thế từ đời nảo đời nào. Một thân cây to cỡ gần hai người ôm đã khô bật trơ gốc khẳng khơ đám rễ trắng đổ chắn ngang lối đi. Vừa trèo qua thân cây, tôi vừa quay qua trạm trưởng Quang:
- Đường thì xa, đi lại khó khăn, khung cảnh luôn tìm cách níu người, mười bốn năm ở trên này, không biết đã bao giờ anh ngại sự xuống núi hòa nhịp với cuộc sống thường chưa?
- Phải nói rằng rất may là tôi đã lấy vợ và có con trước khi lên đây, gia đình thì cũng không xa lắm, ngay ở ngoài thị xã Sơn Tây, chứ không thì cũng… không biết thế nào! À mà cũng có một cậu đấy…
Đó là binh nhì mới nhập ngũ năm vừa rồi. Huấn luyện tân binh xong, cậu được điều lên làm chiến sĩ trực tổng đài Vi Ba. Hôm đầu tiên khoác ba lô lên trạm, cậu nằm vật ra thở, nói không ra hơi: Em xin ở luôn trên này đến khi nào ra quân thì xuống chứ thế này thì chết mất! Ấy thế mà một tuần sau cậu đã phải cuốc bộ xuống để ra ngoài phố mua thực phẩm mang lên. Một tháng sau cậu vác cả bao xi măng leo dốc để xây công trình phụ. Ở trạm, mỗi cậu  ấy là chưa vợ, “Chưa nắm tay một người con gái… Bước lên đỉnh núi vẫn con trai”. Vì thế, các anh ở trạm mới tạo điều kiện tuần hoặc nửa tháng, cậu sẽ cùng “hạ sơn” xuống phố mua thực phẩm kết hợp “giải thiêng”, để tạo sự cân bằng nhịp sinh học giữa nơi “Đỉnh gió, đỉnh mây” và nơi “Đáy ồn, đáy bụi”. Vì thế, cậu mới hay được nghe những câu chuyện tếu táo của các anh mỗi buổi chiều nhằm “tích lũy kiến thức lý thuyết” để nếu xảy ra tình huống, sẽ có thể độc lập “tác chiến” được ngay. “Luyện quân cả năm, sử dụng một giờ”, cuối cùng thì “giờ G ngày N” cũng tới. Đó là dịp giao lưu với chi đoàn địa phương của xã Thanh Mỹ - Sơn Tây nhân ngày thành lập Đoàn 26 tháng 3. Một cuộc giao lưu mà như đã được thông báo trước là đa số “nữ tú” tham gia, trong đó rất nhiều người chưa có người yêu và tất nhiên, giữa một đội hình toàn “đồng chí già có vợ cả” bỗng có một chàng lính trẻ “đồng trạng thái” làm đối trọng, không khí của buổi giao lưu chắc chắn sẽ trẻ trung và sôi động lên rất nhiều.
Tin tưởng ở những buổi “huấn luyện lí thuyết ngoại khóa” nên đương nhiên mọi người không bắt cậu phải làm gì trước giờ đi mà tạo điều kiện cho cậu vừa chỉn chu quân phục vừa chuẩn bị tinh thần làm “chim mồi” cho buổi giao lưu. Đúng giờ, trực ban toét còi tập hợp để xuất phát. Tá hỏa khi không thấy chàng lính trẻ đâu, mọi người nháo nhác bổ đi tìm. Gọi điện thoại thì không có tín hiệu. Chẳng nhẽ cậu đào ngũ? Điều này rất khó xảy ra vì từ trước tới giờ cậu luôn là một chiến sĩ chấp hành nghiêm kỉ luật, chưa bao giờ có dấu hiệu thoái thác nhiệm vụ. Với lại “Bốn chàng Ngự sơn” ở trạm V65 này luôn coi nhau như ruột thịt, những khúc mắc tình cảm riêng tư đều tâm sự với nhau hết sức chân thành nên có thể loại trừ trường hợp gia đình có việc đột xuất… Vậy thì cậu ta tại sao lại biến mất một cách kì lạ đúng vào giờ G như vậy? Thôi đành, không có cậu đoàn vẫn phải xuất phát ngay nếu không muộn giờ mất. Khi mọi người đã ngồi yên vị ở hội trường xã cùng đơn vị kết nghĩa, máy của trạm trưởng Quang bỗng rung bần bật: “Em… ngại đi vì sợ các cô ấy trêu lắm. Con gái thị xã là chúa bạo mà! Em ở nhà trực phòng máy ca này và trực luôn ca ngày mai bù vào cái tội… ngại đi giao lưu vậy”.
Chúng tôi bật cười trước câu chuyện của cậu chiến sĩ cũng là khi đặt chân lên bậc đá cuối cùng. Ai cũng thở phào vì đã hết một chặng đường bốn trăm hai mươi bậc vất vả. Vậy mà khi hỏi trạm trưởng Phạm Phi Quang về số lần lên xuống trong một tuần, anh cười: “Hồi chúng tôi xây bể nước ăn kia, có cậu cõng cả bao xi, bao cát làm một hơi lên tới đỉnh! Một buổi sáng có khi vài chuyến như thế! Còn như bây giờ, tuần một đôi lần xuống ra ngoài chợ mua thực phẩm rồi trữ trong tủ lạnh. Chúng tôi không ngại leo núi mà ngại… không có nước thôi! Hồi chưa có bể, sinh hoạt khổ lắm. Cả tuần mới tắm một lần. Còn bây giờ cũng phải hết sức dè xẻn. Để mang được một can nước từ ngoài thị xã lên trên này cũng phải mất ngót ngét nửa ngày”.
Tôi rất ngạc nhiên khi nước luôn thiếu thốn, vậy mà phía bên sườn trái, một vườn đậu ván xanh mướt cùng mấy luống bắp cải non mơn mởn và một giàn su su ngọn nào ngọn nấy vươn ra to như đầu ngón tay rất mỡ màng. Hỏi ra mới biết, ở trên này rất nhiều sương. Những hôm ẩm giời một chút, sương bay từng đám mù mịt vào nhà cho đến gần trưa. Anh em có sáng kiến tối hôm trước dùng các cành cây nhiều lá để hứng sương rồi sáng hôm sau mang sương bám ở đó rũ vào xô, chậu, để lấy nước chiều tưới rau. Rau được nuốt sương buổi sớm, buổi chiều nên rất tốt và mỡ màng. Ăn rất mềm và ngọt. Cơ bản mùa nào thức ấy, vấn đề rau xanh có thể bảo đảm tự cấp tự túc tại chỗ.
Ngay trước trạm V65 là nơi thờ công chúa Ngọc Hoa - con gái vua Hùng Vương trong truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh. Không biết có sự liên quan gì về tâm linh mối tình chung thủy của vị Thánh Tản Viên Sơn và công chúa Ngọc Hoa với những người lính ở đây không mà sao tình yêu của họ lại tuyệt vời đến vậy. Phạm Ngọc Thuấn bắt đầu yêu vợ mình bây giờ khi Thuấn đang còn học tại trường sĩ quan thông tin ở Nha Trang. Hồi ấy, vợ Thuấn đang còn là cô thợ may đầy mộng mơ ở tuổi đôi mươi. Công việc của Thuấn sau khi ra trường là quản lí tuyến cáp quang Bắc – Nam nên thường xuyên phải đi tuần, đi sửa chữa có khi cả tháng. Trong túi lúc nào cũng thủ vài chục cái túi bóng và mì tôm cùng bật lửa. Bất cứ chỗ nào, chỉ cần gom ít lá, ít củi để đun sôi nước trong… túi bóng sau đó bẻ mì tôm cho vào là xong bữa. Việc của người yêu thì bấp bênh, thu nhập của cả hai đều thấp, lại thường xuyên xa nhau, để giải quyết những khó khăn đó, Thuấn động viên người yêu đi học trung cấp y để có một cái nghề ổn định hơn cho cuộc sống gia đình sau này. Ròng rã chín năm yêu nhau cũng là chín năm không ít lần gia đình hai bên rồi bạn bè, người thân ngăn trở… Năm thứ mười, người yêu Thuấn ra trường cũng là khi họ cưới nhau. Bây giờ thì vợ Thuấn về công tác ở bệnh viện Bạch Mai. Nhớ lại những ngày ấy, Thuấn cười, ánh mắt lóng lánh hạnh phúc: “Cái mạch nguồn của tình yêu cũng hệt như huyết mạch thông tin. Tín hiệu liên tục được kết nối, được thông suốt thì ngại chi khoảng cách, thời gian. Chín năm chứ… chín mươi năm thì bọn em vẫn thành vợ thành chồng như thường anh a”.
Tạm biệt những người lính thông tin nơi đỉnh gió Ba Vì, quà xuống núi là một can nước để làm mát cho xe. Dù biết để có can nước ấy, anh em phải mất rất nhiều công sức nhưng anh lái xe không thể không nhận bởi phía trước còn một chặng dài ra cửa rừng xuống dốc. Mà xuống dốc máy gằn cũng không kém gì khi lên cả.
Giống như V65, trạm V71 của Đoàn thông tin M34 cũng nằm ở Đọi Nhất - một trong ba đỉnh cao nhất núi Đọi Sơn – biểu tượng thiên nhiên “Sông Châu - Núi Đọi” của tỉnh Hà Nam với tháp Sùng Diện Thiên Linh xây dựng thời Lý, dưới triều Lý Nhân Tông và lễ hội Tịch Điền đầu xuân dưới chân mà năm vừa rồi đích thân chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết về cày khai hội. Nếu như lên V65 được đi trên những bậc đá giữa nơi không khí gần như “vô trùng” để nhìn những dải mây trắng lững thững trên triền thì ở đây hoàn toàn ngược lại. Đường lên Đọi Nhất chỉ có đoạn dưới chân và trên đỉnh có thể gọi là đường mòn, còn cơ bản phải lựa lách theo các bậc chè hoặc bám vào những phiến đá để đu lên. Đỉnh Đọi Nhất thấp hơn hai đỉnh kia, gió bị chắn nên không khí rất oi bức. Nước ở đây cũng khó khăn, thường phải xuống tắm nhờ nhà dân dưới chân núi. Cái sự tắm nhờ vào mùa đông còn đỡ, chứ vào mùa hè xuống rồi leo lên mồ hôi ra cũng như không nên anh em nghĩ ra làm đôi thùng và móc xích, xuống tắm xong, khi lên gánh theo đôi thùng nước để vừa dội lại người, vừa lấy nước dùng. Móc xích ở V71 được làm khá đặc biệt. Chiếc phía trước được làm khá ngắn để có thể dễ dàng đặt lên bậc khi leo dốc. Chiếc phía sau được làm dài hơn giúp cho giảm bớt độ lắc của thùng. Mỗi lần gánh đôi thùng ấy xuống, các cô gái của xóm lại nhìn theo bụm miệng cười khúc khích. Ấy thế mà các cô lại nhớ. Có anh lính mới đến trạm cũng mang đôi thùng đó đi gánh. Khi lên tới đoạn có những phiến đá rất to chắn đường, không biết có phải chưa quen hay vì có mấy cô gái xinh xắn đang hái chè gần đó nên líu tíu, chiếc thùng phía trước va vào một tảng đá, nước đổ òa lênh láng cả rãnh chè mới trồng. Các cô thấy vậy cười râm ran rồi cất giọng trêu “Anh bộ đội không biết gánh nước lên đồi thì ra hái chè đổi công để em gánh cho”. Xấu hổ vì bị trêu, để chữa thẹn, anh cầm thùng nước còn lại phăm phăm tưới nốt luôn rồi điềm nhiên đi về phía cô gái vừa trêu mình đòi chè của cô vì anh chủ làm thế để tưới nước cho cây đổi chè chứ không phải do gánh nước bị đổ! Hôm đó, anh được hai thùng chè đầy mang về uống. Từ đó, mỗi lần hai chi đoàn kết nghĩa giao lưu, bao giờ chủ đề đôi móc xích gánh nước lên núi cũng được “bàn bạc” rôm rả nhất.


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 07 Tháng Năm, 2011, 10:28:00 pm
                                        Tiếp theo :
Ở trạm không thể không nhắc đến hai thứ nữa đó là sét và rắn. Trạm trưởng, thiếu tá Phạm Hồng Lưu, người gắn bó với V71 năm nay là năm thứ mười ba kể, hầu như năm nào cũng có sét. Không đánh cột điện, cây cổ thụ thì sẽ là người ở khu vực này. Những hôm mưa to gió lớn, mỗi khi có tiếng sét, cảm giác như ngôi nhà rung lên bần bật. Năm ngoái sét đánh khiến cho rất nhiều đồ điện của các gia đình xung quanh chân núi bị cháy, trạm cũng bị cháy mất chiếc ti vi. Chiếc tổ hợp ở trong phòng trực mặc dù đã có cột thu lôi vẫn bị dẫn điện rung lên lăn cồng cộc xuống đất. Còn rắn ở đây thì khá nhiều. Hồi trước trạm cũng nuôi mấy chục con gà, cứ tưởng đó sẽ là quà tết cho anh em nhưng cuối cùng bị lũ diều hâu và lũ rắn “xơi” hết!
*
 Xóm Phùng Thượng thuộc xã Kì Phú - Nho Quan - Ninh Bình là nơi đóng quân của đại đội 2 tiểu đoàn 82 thuộc Đoàn thông tin M34 đang làm nhiệm vụ bảo vệ tuyến cáp quang và thông tin liên lạc các tuyến nhánh của khu vực Ninh Bình, Nam Định, Quân Đoàn Quyết Thắng. Không ở nơi đỉnh gió như những người lính trạm V65 nhưng câu chuyện của họ thì vẫn vẹn nguyên sự mộc mạc, nguyên sơ và cũng không kém phần ào ạt như ngọn gió nơi đỉnh trời.
Chàng trai Dương Hồng Thắng – Trạm trưởng  X81 cùng đại đội về tiếp quản cơ ngơi doanh trại khi nó chỉ là hai dãy nhà trơ trọi, xung quanh cỏ gianh mọc lút đầu. Đặt ba lô xuống, ý nghĩ đầu tiên xuất hiện trong đầu chàng trạm trưởng là phải cải tạo lại toàn bộ khu vực xung quanh. Ý nghĩ ấy phù hợp với chủ trương của ban chỉ huy đại đội nên những đề xuất được ủng hộ tuyệt đối. Người ta thì “hết nạc vạc đến xương” còn Thắng thì “cái xương”, cái khó nhằn trước. Nhìn khoảng đất trơ sỏi ở dọc khu vực hàng rào của đơn vị, trong đầu Thắng lóe lên suy nghĩ: Tại sao lại không kết hợp “vài trong… một”, ra mắt kết nghĩa giữa chi đoàn của đại đội 2 và chi đoàn Phùng Thượng thông qua một buổi trồng cây đầu xuân. Một vài năm sau, sẽ có một vườn cây vừa lấy bóng mát cho anh em khi huấn luyện, vừa tạo cảnh quan, và có thể khai thác để xây dựng đơn vị, đồng thời, cũng là một “biểu tượng” của sự gắn bó kết nghĩa tình quân dân? Vậy là vào đúng vào bữa “mưa xuân phơi phới bay”, những người lính đại đội 2 và các chàng trai, cô gái xóm Phùng Thượng cùng nhau ghi nhớ kết nghĩa giữa hai chi đoàn bằng việc trồng vườn bạch đàn. Hơi mưa rắc nhẹ những lớp phấn xuân, phấn tình… Câu chuyện nổ như pháo tết. Trong số các đoàn viên của chi đoàn kết nghĩa tham gia trồng cây hôm đó, có một cô gái cả buổi chỉ lặng lẽ làm, rất ít tham gia những câu chuyện rôm rả, tếu táo của mọi người. Nhưng nếu để ý một chút thì sẽ thấy “Hình như hai má cô ửng đỏ, hình như đôi mắt cô long lanh”. Thi thoảng, cô ngẩng lên khẽ thấm chút mồ hôi vừa rịn bằng chiếc khăn mùi xoa rồi mỉm cười mơ màng. Khi ấy, nhìn cô “sao mà yêu đến thế”. Chàng cán bộ đoàn đại đội 2 Dương Hồng Thắng không để sót một cử chỉ nào của cô. Thế rồi mưa xuân cũng hết phơi phới bay. Nhà cô ở gần đơn vị nên anh cán bộ đoàn đại đội 2 chiều nào cũng ra mượn đôi thùng để gánh nước tưới cây và lần nào, anh cũng vẫn thấy “hình như đôi má cô bừng đỏ”. Thương bộ đội vất vả, thương bạch đàn khô hạn, cô thường giúp anh lấy nước để tưới cây. Bạch đàn đã bén rễ, đã vươn cao xanh tốt nhưng người ta vẫn thấy anh ra “mượn thùng” ở nhà cô. Còn cô, dù biết bạch đàn không phải tưới nữa, và anh có thể tự mình ra ao lấy nước nhưng vẫn vui vẻ đặt vào tay anh đôi thùng rồi dẫn anh ra ao phía sau nhà để… giúp anh múc nước. Tròn một năm, rồi cũng vào một ngày “mưa xuân phơi phới bay”, không chỉ có mình anh mà còn cả bố mẹ, họ hàng và đại diện đơn vị ra nhà cô gái. Họ không phải ra để mượn thùng mà là để... “xin” cô về làm dâu gia đình, làm dâu đơn vị. Dưới hàng bạch đàn ấy một đám cưới giản dị, ấm áp được tổ chức. Bây giờ thì họ đã có với nhau một đứa con. Thoảng mỗi buổi chiều, những người lính ở đại đội 2 lại thấy họ đi dưới hàng bạch đàn đang tỏa bóng mát. Khi ấy, họ vẫn thấy hình như “Hai má cô vẫn còn đang ửng đỏ”…
Dưới hàng bạch đàn nên duyên nên tình ấy, một câu hỏi được đặt ra: Trong các sắc lính, lính của binh chủng nào là lãng mạn nhất? Người thì cho rằng Không quân suốt ngày được ngắm bầu trời, bay lượn giữa không trung nên tâm hồn dễ thăng hoa, bay bổng. Người thì khẳng định phải là lính Hải quân! Bồng bềnh trên sóng nước, bờ bãi, hải âu dập dờn nên họ bồng bềnh, ướt át. Phải là Thông tin chứ! Vi vu cùng sóng điện thoại trên đỉnh gió tha hồ mà tưởng tượng ở nơi đầu nguồn, chốn cuối sông… Cuộc tranh luận thật khó đến hồi kết, riêng tôi thì hoàn toàn ủng hộ quan điểm cho là lính thông tin lãng mạn nhất. Không phải tôi “cơ hội” vì đang đi cùng họ mà cái chính là “trăm nghe không bằng một thấy”. Ngay tại đại đội 2 này, có một chàng thanh niên nhà con một ở thành phố Hà Nội, gia đình chú bác bên nội, bên ngoại cơ bản ở nước ngoài. Từ khi còn đang học lớp 12, cậu đã được hứa hẹn đưa sang nước này nước nọ để du học. Thế rồi mọi người ngỡ ngàng khi biết tin cậu viết đơn tình nguyện nhập ngũ, vào binh chủng thông tin! Hỏi thì cậu chỉ cười: Người ta bảo vào bộ đội rèn luyện vất vả đến sắt cả người. Trai Hà Nội quen được chăm chút trơn lông đỏ da, chịu sao nổi! Tình nguyện đi để khẳng định mình có thể vượt qua được mọi thử thách! Mà nghe nói bộ đội thông tin là những người… lãng mạn lắm. Tính cậu cũng hơi lãng mạn. Vậy thì đúng là cái duyên rồi còn gì! Quyết tâm ấy biến cậu ngay từ đầu thành một người lính rất chững chạc. Vào quân đội cậu mới thấy hết cái nghĩa đồng đội, những người ăn chung cơm ở một chảo, uống chung nước ở một nồi, gác chung ở một vọng, thực hiện chung một chế độ… Nó trái ngược hẳn với cuộc sống ở phố, suốt ngày tụ tập chơi bời vô nghĩa, ít niềm tin, lúc nào cũng lơ lửng trên miệng vực. Sau một năm nhập ngũ, trong một lần về phép, cậu quyết định tỏ tình với cô bạn gái đang học ở trường Đại học Ngoại ngữ. Bữa ấy là chiều thứ bảy, sau một hồi suy nghĩ, cậu quyết định mặc quân phục cầu vai quân phục chỉnh tề rồi mượn chiếc xe đạp đưa thư của một anh bạn ở đơn vị thông tin gần nhà (phương tiện ở đơn vị đi làm nhiệm vụ mà cậu hay kể cho cô bạn nghe trong các lá thư ấm áp tình cảm) phóng đến cổng trường, chống một chân xuống đất, chân kia đặt lên bàn đạp khoanh tay đứng chờ để chở cô bạn về. Rất nhiều ánh mắt ngạc nhiên nhìn cậu. Có một ánh mắt vô cùng lấp lánh, ngỡ ngàng, sung sướng khi nhìn thấy trên ve áo cậu đôi quân hàm đỏ với những đường cánh sóng bồng bềnh. Cô ngồi phía sau gác ba ga xe đạp, tin cậy tựa đầu vào chiếc áo quân phục thơm mùi vải mới. Tất nhiên, lời tỏ tình của người lính được đáp lại bằng một nụ hôn dài hun hút như… cánh sóng thông tin. Khi kể lại chuyện của mình, cậu cười bẽn lẽn thú nhận mình viết đơn tình nguyện nhập ngũ cũng có một chút động cơ để… tỏ tình với cô bạn mà bây giờ đã là người yêu vì cô ấy rất yêu màu xanh áo lính, đặc biệt là lính thông tin! Người lính trong câu truyện trên là trung sĩ Nguyễn Châu Linh, nhập ngũ tháng 9 năm 2008, nhà ở phường Quang Trung, Hà Đông. Năm nay Linh sẽ ra quân và vẫn giữ nguyên quyết định không ra nước ngoài mặc dù các chú, các bác vẫn gợi ý. Linh sẽ đi học thêm về một chuyên môn nào đó rồi sẽ kinh doanh. Linh luôn cảm thấy hài lòng với quyết định đã viết đơn tình nguyện đi bộ đội của mình. Những năm tháng được chui rèn ở trong quân đội sẽ là bước đà quan trọng để tạo một bản lĩnh vững vàng cho Linh trong chặng đường của cuộc đời mình ở phía trước.
Ở đại đội 2 còn có một trường hợp khác cũng tương tự như của Nguyễn Châu Linh đó là chiến sĩ cáp quang Trần Công Duẩn quê  Thanh Tân, Kiến Xương, Thái Bình. Duẩn có ông nội hiện đang sống bên Mĩ sẵn sàng bảo lãnh cho cháu sang làm ăn bên đó. Giống như Linh, Duẩn quyết định không bước chân lên máy bay để sang trời Tây mà khoác ba lô lên vai để trở thành anh lính thông tin. Bảy năm yêu nhau, người yêu của Duẩn là Phạm Thị Kim Hoàn hiện đang là sinh viên trường cao đẳng phát thanh truyền hình trung ương là người rất hiểu Duẩn và hết sức ủng hộ quyết định của Duẩn! Duẩn tin bản lĩnh của người lính được trui rèn trong những ngày tháng ở quân ngũ sẽ giúp mình vượt qua những thử thách của cuộc đời.

*
*    *
Cuối buổi chiều, khi vừa chia tay thì chuông điện thoại rung. Một giọng nữ trong trẻo kèm theo tiếng cười khúc khích vang trong máy: “Alô, anh thấy những người lính thông tin thế nào? Câu trả lời khi sáng của em có làm anh thỏa mãn không?”. Những người lính thông tin thế nào ư? Khó có thể gói gọn trong một câu trả lời cho em được. Họ thật tuyệt. Giản dị, chân thành, chung thủy… và tất nhiên, không thể thiếu sự lãng mạn. Còn câu trả lời của em có làm anh thỏa mãn không ư? Rất cảm ơn em. Trong đầu anh giờ đây, vẫn còn nguyên nụ cười tươi lấp lóa của bốn chàng lính V65 trên đỉnh Ba Vì ngun ngút mây gió. Vẫn còn nguyên hình ảnh mồ hôi ròng ròng chảy trên những gương mặt ở V71 Đọi Sơn. Vẫn còn nguyên những gương mặt rạng rỡ của Linh, Thắng, Duẩn đại đội 2 ở Phùng Thượng - Ninh Bình. Vẫn còn nguyên những câu chuyện thật giản dị nhưng chỉ có thể có ở “nơi đỉnh gió” chứ  không dễ gì tìm thấy ở trong cuộc sống này. Và vào tháng tám này, khi trạm HUB vệ tinh Vinasat - một công nghệ hiện đại trong truyền tín hiệu thông tin qua vệ tinh hoàn thành, những cánh sóng của Đoàn thông tin M34 sẽ còn bay cao hơn nữa, cao hơn cả đỉnh gió, tỏa đi muôn nơi đưa thông tin kịp thời, chính xác, đáp ứng mọi nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó

Bút ký . NGUYỄN MẠNH HÙNG



Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 07 Tháng Năm, 2011, 10:34:21 pm
                              Chị dâu    
                              Tác giả : Hoàng Tuấn

Chị đã mất - chú về ngay". Sau chuyến đi công tác ở thành phố Sài Gòn về, bức điện của ông anh trai như một cú sét làm tôi bàng hoàng...
 Là con trai út trong một gia đình đông anh em, sự ra đi mãi mãi của những người trên là lẽ tự nhiên. Nhưng cái tin về người chị dâu cả mất đi là điều tôi không bao giờ ngờ tới. Không ai có thể quen được với sự vắng bóng của những người thân yêu. Với tôi, từ khi còn thuở ấu thơ, chị là người chị gái, người mẹ, là cô tiên dịu hiền với những khả năng vô biên, là người không thể vắng bóng trong cuộc đời...

 Tôi vội vã lên chiếc xe sớm nhất về quê. Chiếc xe khách ì ạch đỗ tại chợ huyện, tôi quầy quả xách túi, thả bộ trên con đường về làng. Quê tôi nghèo, nằm ven sông Hồng, lại là vùng đất giữa, mỗi lần đi chợ phải dậy từ tờ mờ sớm. Tôi bồi hồi đếm từng bước chân. Nhớ đến ngày nào vẫn hay theo chị đi chợ. Mẹ tôi bảo: "Mày theo chị làm gì cho quẩn chân?". Tôi thì cứ nhõng nhẽo đòi theo. Còn chị thì cưng chiều tôi nhất nhà, sẵn sàng đáp ứng những đòi hỏi rất trẻ con của tôi. Chị gánh trên vai một gánh khoai nặng mà vẫn đi nhẹ nhàng, miệng nhai trầu bỏm bẻm. ở quê tôi, các cô gái đã có chồng rồi đều ăn trầu. Có lần đi chợ sớm, tôi gà gật, lẽo đẽo chạy theo chị. Tới lúc tôi mỏi chân theo không kịp, chị cõng tôi trên vai và tôi thì ngả đầu trên bờ vai chị, ngủ ngon lành cho tới chợ.

  Sau này lớn lên, dù đã đi dọc ngang đất nước, mỗi khi bước chân trên con đường đê về làng, lòng tôi vẫn hối hả, gấp gáp, tưởng như mình bé lại. Với tôi, làng quê gắn bó với những kỷ niệm thuở ấu thơ, gắn bó với hình ảnh chị. Người phụ nữ mảnh mai luôn nhai trầu tươi rói, có sức mạnh dẻo dai đến kỳ lạ và tấm lòng mộc mạc thơm thảo như khoai, sắn. ít ai thấy người phụ nữ tần tảo ấy ngơi tay từ sáng cho đến tối khuya. Không, tôi không tin. Những người như chị không thể mất. Chỉ chút nữa thôi khi về đến nhà, tôi sẽ gặp lại chị đứng ở đầu ngõ với câu hỏi muôn thuở: "Chú đã về đấy ư". Câu hỏi quen thuộc thay cho lời chào của chị không tỏ ra vồn vã, không khách sáo nhưng âm điệu của giọng nói bao giờ cũng làm khóe mắt tôi cay cay. Tôi biết, từ trong nhà chị đã nhìn thấy tôi từ xa, chị ra đón tôi ở cổng để tỏ nỗi vui mừng bằng một câu hỏi rất mộc mạc. "Khoai luộc và mật ong phần chú trong chạn ấy". Lần nào cũng vậy chưa cần hỏi thăm, chị đã có một thứ gì đó phần tôi. Khoai lang là đặc sản vùng quê tôi, củ lớn, vỏ đỏ au, khoai luộc lên, bẻ ra bở tơi, hạt lấm tấm mịn màng như hạt phù sa, ăn vào ngon ngọt như tấm lòng thơm thảo của người dân quê. Tuy đã được nếm nhiều món cao lương mỹ vị ở đời nhưng bao giờ tôi cũng ăn không biết chán món khoai lang chấm mật ong chị dành phần tôi.

 Với chị, tôi luôn luôn vẫn là đứa em bé bỏng ngày nào. "ăn xong đi tắm đi, quần áo để đấy chị giặt cho". Câu nói ấy sao giống của mẹ tôi thế. Mẹ tôi và chị, hai người phụ nữ gắn bó với nhau, giống nhau kỳ lạ.

 Cây đa đầu làng như một già làng với bộ râu tua tủa quanh thân đã chờ đón tôi từ đằng xa. Bóng đa mát rợp một khoảng đất rộng lớn, chồm ra cả những thửa ruộng mới cấy. Cây đa cổ kính khiến mỗi lần tôi đi qua phải dừng lại một phút như để trút hết bụi trần trước khi trở lại là đứa con của dân làng. "Chú đã về đấy ư?" Tiếng gió thoảng qua như tiếng chị khiến lưng tôi ớn lạnh. Ngôi mộ của ai nằm kia mà còn nguyên mầu đất, vòng hoa chưa kịp héo. Không lẽ chị tôi nằm đấy ư? Không, tôi không tin, chỉ ít phút nữa về đến nhà chị sẽ đón tôi ở cổng như những ngày nào. Tôi tập tễnh bước lòng thầm mong bức điện kia chỉ là sự lầm lẫn.

 "Chú về đấy ư?". Lòng tôi run lên, chân tôi muốn khụy xuống khi đón tôi không phải là chị mà là anh trai. Như một sự vô tình anh lặp lại câu hỏi của chị mỗi khi tôi về. Hay giờ đây anh thay chị thể hiện tình cảm mộc mạc với đứa em trai? Tội nghiệp, mới đó mà anh tôi đã già xọp, lưng còng xuống, đôi mắt ngơ ngác như gà lạc mẹ. Anh vẫn chưa quên với sự thiếu vắng bóng hình chị.

 Anh nắm lấy tay tôi, mái tóc bạc trắng rung rung "Chị mất rồi em ơi, khổ anh quá".

 Ngày ấy, tôi còn nhỏ xíu, tôi ngạc nhiên thấy hôm ấy nhà tôi ai cũng bận rộn, vui vẻ, tôi nhõng nhẽo bám theo anh trai, khuôn mặt tươi rói trong bộ quân phục mới. Mấy hôm trước nghe anh nói sắp vào nam chiến đấu, mẹ đã khóc suốt. Vậy mà, sao hôm nay cả nhà vui thế?

  Anh cười dí tay vào trán tôi: "Em sắp có chị dâu". Tôi nhăn mặt. Tôi không thích chị dâu. Trong ý nghĩ tôi, hình ảnh mụ dì ghẻ độc ác, người con dâu nanh nọc trong các câu chuyện kể còn vương vấn. Vả lại không có chị dâu thì tôi đã có khối anh chị rồi. Khác với trí tưởng tượng của tôi. Chị dâu tôi như một cô bé mới trưởng thành. Dường như chị mới bỏ chơi chuyền, chơi ô ăn quan để đi lấy chồng. Ngày ấy anh tôi 22, còn chị tôi 18 tuổi, ngay ngày đầu chị đã là cái cớ để chúng tôi trêu trọc. Buổi sáng đầu tiên ở nhà chồng, từ trong buồng bước ra, nhìn thấy ba mẹ tôi ngồi ở bàn uống nước, chị nhanh nhảu:

 "Cháu chào hai bác, hai bác mới sang chơi ạ". Rồi sực nhớ ra, chị mắc cỡ chạy vụt vào bếp. Ba tôi thì cười, còn mẹ tôi thì lắc đầu: "Con gái gì mà vô ý", chỉ có vậy mà chị ngồi dưới bếp khóc suốt. Sau đó ba ngày, anh tôi đi biền biệt. Trong nhà, ba tôi là người hay bênh vực chị nhất. Còn mẹ tôi thì vẫn hay xét nét những ngày đầu như những bà mẹ chồng nhà quê.

 Tôi ngồi xuống bậc cửa, lòng thổn thức. Mới đấy mà đã hơn 30 năm, chị gắn bó với gia đình tôi, đồng cam cộng khổ. Quê tôi đồng đất ít, gặt được đấu thóc phải đổi cả đấu mồ hôi. Ba mẹ tôi ngày càng già yếu, đông con. Chị là lao động chính, suốt ngày quần quật ngoài đồng. Chiều về lại túi bụi việc nhà. Riêng việc quét dọn và chăm sóc lũ em chồng là chúng tôi cũng khiến chị mệt nhoài. Chúng tôi sắp hàng chờ chị dội từng gáo nước, tắm cho từng đứa, dỗ dành lúc đi ngủ, lúc giành ăn. Tới bữa cơm, sáu đứa tuổi ăn tuổi lớn cứ rào rào như tằm ăn rỗi. Chị ngồi ở đầu nồi xới cơm, chúng tôi cứ nhấm nháy nhau, thi nhau ăn cho thật nhanh để chìa bát cho chị xới. Đến khi chúng tôi đã ăn no thì chị chưa xong một bát và nồi cơm đã cạn đáy. Có lần tôi phát hiện trong túi áo chị có một cục cơm cháy. Tôi dọa chị sẽ mét mẹ. Chị đã ôm lấy tôi và... khóc. Sau này tôi mới hiểu, mỗi bữa cơm chị chỉ kịp ăn xong một bát thì cả nhà đã ăn xong, không dám ngồi đến cuối bữa, chị phải cất cơm cháy vào túi để ăn dần.

 Tôi cũng có biết đâu rằng bao đêm, chị khóc âm thầm trong cảnh chồng xa vắng, chịu những lời trách móc, những quan hệ họ hàng phức tạp. Con dâu trưởng họ, với làng xóm đó là một "chức danh" chỉ có trách nhiệm nặng nề. Từ giỗ chạp, đình đám cho đến chăm sóc gia đình nhà chồng, mọi việc đều do tay chị lo liệu với một sự hy sinh âm thầm vô bờ bến. Chúng tôi lớn lên, dựng vợ, gả chồng, cũng có chị. Cha mẹ tôi già yếu mất đi cũng chị lo toan. Dường như những biến cố lớn lao trong gia đình tôi, những lúc khó khăn nhất, bao giờ chị cũng là người đứng ra đương đầu với một thái độ tự tin, bình thản. Coi như đó là trách nhiệm chính của chị. Trong bức tranh toàn cảnh của gia đình tôi nếu không có chị, chắc hẳn bức tranh ấy sẽ mờ nhạt lắm.

 Một lần, hồi cha tôi đã mất, tôi về thăm quê giữa lúc làng tôi đang mất mùa. Mẹ tôi đã hơn 70 tuổi. Thấy tôi về, chị mừng rỡ mổ một con gà, một con gà duy nhất còn đang đẻ. Mâm cơm chỉ có ba người, nồi cơm phía trên độn toàn là khoai. Chị xới hai bát cơm cho tôi và mẹ, giành cho mình toàn khoai. Tôi ngạc nhiên: "Các cháu đâu hết rồi?" "Ôi chúng nó ăn no đi học hết rồi". Khi chị đi xuống bếp, mẹ tôi mới nói: "Tội nghiệp con mẹ cả. Suốt một tháng nay có bữa nào nên mâm, nên bát đâu. Cả nhà chỉ có mỗi mình mẹ là được ăn cơm, còn mẹ con nó toàn ăn khoai, ăn ngô. Mẹ bảo nó: "Ráng mà ăn uống có sức khỏe còn nuôi con. Mẹ già rồi, ăn uống thế nào cũng được, chết cũng chả sao. Nó bảo: Bà chỉ nói linh tinh. Bà còn sống ngày nào, chúng con còn nhờ ngày ấy. Nó nói vậy, chứ mẹ có giúp gì được cho nó nữa đâu...". Nói rồi bà khóc. Miếng cơm nghẹn đắng trong cổ tôi. Tôi đã nghe chuyện xưa có người con dâu cắt thịt mình nuôi mẹ chồng. Nhưng đó chỉ là truyền thuyết. Còn chị dâu tôi...

 Khi mẹ tôi sắp mất, con cháu về đông đủ cả. Chúng tôi xúm quanh giường, chờ xem bà có trối trăn điều gì. Mẹ tôi nhìn qua con cháu một lượt rồi hỏi: "Mẹ cả đâu?". Đợi cho chị tất tả từ dưới bếp chạy lên, bà mới nói: "Các con phải thương yêu nhau, nghe lời chị cả. Nó thay mẹ". Rồi bà xòe bàn tay nhăn nheo ra bảo chị: "Con nhổ một miếng nước bọt vào tay mẹ đi, mẹ đỡ nhớ con". Một giọt nước mắt lăn trên thái dương, rồi mẹ tôi nhắm mắt.

 Cho dù ba tôi trước kia hay trách mẹ tôi xét nét con dâu nhưng cho đến lúc chết bà vẫn là người thương chị nhất. Phải chăng sự đồng cảm phận làm dâu của người phụ nữ suốt đời hy sinh vì chồng con khiến bà hiểu và thương chị nhưng không nói ra?

 



Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 07 Tháng Năm, 2011, 10:38:52 pm
                      Tiếp :

- "Chị chú bị u ác tính, đau có ba ngày rồi mất!".
 Tối đó dưới ánh đèn hiu hắt, anh tôi kể, khuôn mặt của ông đại tá già suốt bao năm vào sống ra chết vẫn chưa hết nỗi bàng hoàng trước sự ra đi mãi mãi của vợ.

 - Tôi nghĩ lại mà ân hận quá chú ạ. Suốt hơn ba mươi năm tôi chỉ quen với sự hy sinh âm thầm của cô ấy. Tới lúc chị chú đau tôi vẫn chủ quan bởi trong ý thức tôi, chưa bao giờ nghĩ rằng cô ấy có thể ốm. Cho tới lúc bệnh viện họ trả về, tôi mới cuống lên, chả biết làm gì nữa. Trước lúc mất cô ấy tỉnh táo lắm gọi tôi ra giường bảo: "Mình nằm xuống đây với em, có chuyện này, em muốn nói với mình".

 Tôi chiều ý nằm xuống cạnh cô ấy. Vợ chồng già, con cái lớn hết rồi, còn âu yếm gì nữa. Nhưng cô ấy cứ ôm chặt lấy tôi hồi lâu rồi nói: "Mình à, suốt chừng ấy năm là vợ chồng, mình có giận em điều gì không?". Tôi lắc đầu mà trong lòng chỉ muốn khóc thật to. Làm sao tôi có thể giận cô ấy trong khi cô ấy đã thay tôi gánh vác mọi việc lớn nhỏ trong nhà từng ấy năm. "Em không qua khỏi được đâu. Em chỉ ân hận không chăm sóc được mình lúc tuổi già. Em có mong ước cuối cùng này, nhưng nói ra mình đừng cười em nhé".

 Thề có trời đất, lúc ấy tôi sẵn sàng làm bất cứ việc gì để đáp ứng được mong ước cuối cùng của cô ấy... Tôi đã vào sống, ra chết, đã có quyền cao chức trọng, đã ra nhiều mệnh lệnh... làm sao lại không thực hiện được ước nguyện cuối cùng của vợ? Vậy mà tôi đã xụm xuống, tưởng như chết giấc khi nghe cô ấy nói: "Em chưa bao giờ được nghe mình nói "Anh yêu em" cả". "Nhưng lúc nào tôi cũng yêu mình. Tôi có điều gì không phải với mình đâu?". Tôi lắp bắp. "Em biết mình thương em, mọi người thương em. Trước kia còn trẻ, mình đi biền biệt, đến khi về thì đã già rồi. Nhưng em vẫn muốn nghe một lần mình nói câu ấy". Nói rồi cô ấy ngượng ngùng áp mặt vào vai tôi khóc. Còn tôi, tôi không thể khóc được nữa. Lòng tôi tê tái đau đớn. Tôi lấy chị chú chưa kịp yêu đương, chỉ vài lần biết mặt. Đang ở trong quân ngũ lại chiến tranh ác liệt. Trước khi đi nam gia đình bảo lấy vợ cho cha mẹ yên tâm. Mình hồi ấy còn trẻ thấy nói lấy vợ cũng thinh thích. Thấy cô ấy cũng hay hay con mắt. Thế là cưới. Về sống với nhau mới nảy sinh tình cảm, mới yêu thương. Nhưng tôi đi suốt năm, suốt tháng, mỗi lần về phép vợ chồng lại thấy ngượng ngùng như lần đầu mới gặp. Đến khi vợ chồng mới quen hơi, bén tiếng thì lại hết phép. Khi về hưu được ở gần nhau thì đã thành bà, thành ông rồi. Còn âu yếm, anh em như lúc trẻ thế nào được nữa. Vả lại tôi quen tác phong quân sự rồi cứ nghĩ vợ chồng sống có nhân, có nghĩa là đủ. Cần gì lời nói. Tôi đã làm chính trị trong quân đội ba mươi năm trời, đã làm đến chức đại tá, tưởng đã hiểu về con người. Vậy mà cuối cùng vẫn chỉ là một lão già đầu trọc, chả hiểu gì về phụ nữ, về vợ mình cả. Hơn ba mươi năm chị chú mòn mỏi chờ chồng, vất vả hy sinh âm thầm chỉ mong ước nghe một câu dịu dàng khen ngợi của chồng. Và suốt đêm đó tôi cứ ôm lấy cô ấy mà thì thầm mãi câu: "Anh yêu em". Lần đầu tiên trong đời tôi mới nói được câu ấy và cũng là lần đầu tiên tôi mới hiểu thế nào là tình yêu, tình chồng vợ.

 Tôi cứ ôm lấy cô ấy mà kể lan man. Những điều mà lẽ ra tôi phải nói ra ba mươi năm trước. Sáng ra tôi mới nhận thấy thân thể cô ấy đã cứng lạnh, đôi môi phảng phất một nụ cười, bàn tay nắm chặt chiếc lược đã mòn vẹt. Chiếc lược làm bằng xác máy bay tôi tặng cô ấy ngày cưới. Và đấy cũng là món quà duy nhất trong đời tôi tặng vợ...

 Anh tôi khóc, nước mắt ràn rụa trên khuôn mặt héo hắt, mái tóc bạc trắng rung bần bật. Không có gì khổ não hơn trước cảnh một ông già khóc vợ. Khóc khi hiểu ra giá trị thực của tình yêu, khi nó không còn nữa. Khóc cho nỗi ân hận xót xa trước những lỗi lầm mà mãi mãi không lấy lại được. Tôi lập cập thắp nén nhang trên bàn thờ chị, đứng tựa lưng vào tường. Nhưng đâu phải chỉ mình anh tôi có lỗi. Sự xa cách, cuộc chiến tranh đã cuốn hút tâm trí con người. Nó bắt buộc người ta phải dồn nén tình cảm cá nhân, tạm gác một bên những mong ước đời thường. Cuộc chiến tranh đã làm bao người ngã xuống, để lại bao nỗi đau và cuộc chiến ấy cũng tạo nên biết bao những anh hùng. Nhưng phía sau những anh hùng ấy là những người phụ nữ như chị dâu tôi. Họ yêu thương, mòn mỏi trông chờ, hy sinh tất cả. Họ không cần đến những tấm huân chương, những chức vị mà chỉ ước ao một câu nói dịu dàng của người chồng...

 Hoàng Tuấn


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 07 Tháng Năm, 2011, 10:44:22 pm
                                           HAI NGƯỜI TRỞ LẠI TRUNG ĐOÀN    
                                           Tác giả : Thái Bá Lợi

Làm cách sao anh biết em ở đây mà tìm đến, anh?

Không biết đây là lần thứ mấy Mây đã hỏi Thanh câu ấy từ lúc anh đặt chân đến trạm an dưỡng này. Mây cũng không giấu nổi sự ngạc nhiên của cô sau mỗi lần hỏi anh. Đôi mắt long lanh nhìn anh của Mây làm mặt Thanh đỏ bừng. Nhiều lần anh không dám nhìn thẳng vào đôi mắt ngạc nhiên chân thành ấy. Cho đến bây giờ, sau một ngày ở đây, Thanh vẫn chưa dám hỏi đến đứa con của Mây, đứa bé mà trước khi anh đi phép ở trung đoàn ai cũng nhắc đến trong các câu chuyện hàng ngày của chiến sĩ. Đã mấy lần Thanh định hỏi, nhưng anh không biết nên hỏi như thế nào. Chưa bao giờ anh thấy mình ngượng ngùng như thế này. Và cũng đến bây giờ, anh vẫn chưa cắt nghĩa được vì lẽ gì anh đã đi hai trăm cây số và bỏ ra những ngày phép ngắn ngủi sau mười năm xa gia đình để đến đây....

- Từ chỗ anh lên đây xa lắm mà - Mây nói, giọng cô không được tự nhiên lắm - Từ hồi thủ trưởng Thạch vô lại chiến trường, em mù tịt tình hình trung đoàn mình, chỉ mong gặp được một người cũ dể hỏi thăm tin tức thôi anh à. Khi nào em cũng cảm thấy như mình bị bỏ rơi. Ra đây hơn hai năm rồi mà em vẫn chưa quen được cảnh sống xa trung đoàn - Mây nói suông sẻ, mắt vẫn nhìn thẳng vào Thanh. Thanh nghĩ chắc những điều đó đã nung nấu trong lòng cô ấy suốt hai năm nay.

- Trong đó anh em vẫn nhắc Mây luôn đấy!

- Mấy anh nghĩ về em xấu hay tốt anh? Anh nói thiệt em nghe đi.

- Sao Mây lại hỏi thế?

- Từ hôm rời trung đoàn em vẫn nghĩ mãi về điều đó. Em có lỗi với trung đoàn, phụ lòng mấy anh.

- Nhưng anh em không ai nghĩ vậy đâu, Mây ạ.

Cô gái mở to mắt nhìn Thanh. Cái nhìn như muốn hỏi: "Thiệt vậy, hả anh?". Trong khoảnh khắc Mây thật là gần gũi và cởi mở đối với anh. Thanh như thấy lại những buổi xuống đồng bằng ngày trước với Mây, những đêm hai người lội ruộng bám địch, những lúc vượt sông đưa bộ đội xuống vùng sâu. Đó là những tháng ngày trung đoàn quá thân thuộc với cả hai người. Thanh không còn thấy có gì ngượng ngùng nữa. Ngày trước khi sắp đi một chuyến trinh sát khó khăn, Mây cũng thường nhìn anh em trong tổ trinh sát như thế này. Anh cảm thấy nhẹ nhõm như vừa vất được một cái gì chấn trước ngực sau gần một ngày ở đây.

- Mây, đứa con của Mây đâu? - Thanh hỏi nhỏ, giọng còn rụt rè.

Mây hơi cúi đầu xuống, nhưng cô lại ngẩng lên nhìn anh, ngỡ ngàng.

- Đợt điều trị này em gửi cháu cho một bà cô ra đây từ năm 1954. Chủ nhật cô em mới đưa cháu đến thăm được.

- Trí có hay đến thăm không?

- Có đến hai lần anh à. Nhưng sau lần thứ hai em không cho anh ấy đến đây nữa. Em cũng không cho anh ấy đến thăm con em.

- Vì sao vậy?

Mây gục mặt vào hai lòng bàn tay cô. Thanh giật mình lùi lại một tí. Anh tưởng như Mây sẽ oà lên khóc. Nhưng khi Mây ngẩng lên, anh gặp đôi mắt cô long lanh nhìn anh, không hề có một giọt nước nào trên khóe mắt.

- Em cũng không biết vì sao nữa. Nhưng anh Thanh à, anh thứ lỗi cho em, em không thể trả lời anh hết mọi câu hỏi được. Em muốn anh và các đồng chí cũ tự hiểu cho em.

Hai người im lặng nhìn xuống thị xã đang sống những phút cuối cùng ban ngày. Đèn điện trong các phố đã lần lượt sáng, nhưng trên đỉnh cao nhất của ống khói nhà máy nhiệt điện vừa xây dựng xong, một vầng sáng màu da cam của hoàng hôn vẫn còn bịn rịn đọng lại, chưa muốn tắt ngay. Gió từ cánh đồng có những thửa ruộng vuông vắn thổi vào mát rượi. Thanh thấy mặt mình nóng bừng. Có thể mình không hiểu cô ấy. Mình đến đây cũng vì không hiểu cô ấy. Thật là ngố - anh tự xỉ vả mình để lấy lại bình tĩnh. Nhưng điều đó anh không làm được. Những ngón tay của Thanh cứ vân vê hoài miếng vải dù chiến lợi phẩm không biết anh đã đút vào túi quần từ lúc nào. Thế mà mình còn định mang miếng vải dù để tặng cô ấy. Thật là ngố - anh lại tự xỉ vả mình, nhưng mỗi lúc anh lại thấy mình càng lúng túng hơn. Lẽ nào cô ấy mới xa trung đoàn có hai năm mà mình không hiểu nổi cô ấy, Thanh nghĩ và nhìn Mây một cách rụt rè.

 Đó là một buổi chiều tháng 9 năm 1975, sau lễ Quốc khánh lần thứ 30 mấy ngày. Nhưng câu chuyện tôi kể lại bắt đầu từ sáu năm trước. Vào một đêm tháng Tư, tổ trinh sát trở về sở chỉ huy trung đoàn ở cửa rừng khi vừa dứt loạt pháo bầy thứ hai trong đêm. Trung đoàn trưởng Thạch đón họ ở cửa hầm, ông hỏi:

- Thế nào?

Tổ trưởng Trí báo cáo:

- Hai đường trục xuống thôn Một đều có địch chốt. Chúng nó phục trong các bụi cây. Báo cáo thủ trưởng, chỉ rặt bọn Mỹ. Muỗi như trấu mà chúng nó ngồi im thin thít. Còn con đường theo suối cạn có ghi trong bản đồ chúng tôi không tìm ra. Dọc suối là bãi tranh, du kích đã gài mìn. Có lẽ lâu lắm người ta không còn đi đường này nữa.

Thạc rọi đèn pin vào tấm bản đồ, ánh sáng hắt lên khuôn mặt hằn những nếp nhăn to của ông.

- à ra thế! - Thạch nhắc lại - Nhưng Trí này cậu còn nhớ năm ngoái chỉ có chín tay trinh sát các cậu và tôi mà vẫn đưa trung đoàn vào Huế được đấy! - Trung đoàn trưởng khẽ cười. Trí biết cái cười đó còn nặng nề hơn khi ông ra một mệnh lệnh rành mạch.

- Báo cáo thủ trưởng, cho phép chúng tôi một giờ nữa. - Trí dẫn tổ trinh sát trở ra.

Anh em ngồi nghỉ ở cạnh hầm chủ nhiệm trinh sát. Một vài người đã tranh thủ ngả lưng vào vách giao thông hào cũ bắt đầu ngủ. Trí định chui vào hầm chủ nhiệm thì có tiếng gọi:

- Anh Trí ơi!

- Ai đấy?

- Thanh đây.

- Có gì mới không?

- Xã đội vừa điều sang một đồng chí du kích rất thuộc đường vùng này. Ta phải đi ngay không sáng mất anh ạ.

- Đồng chí ấy ở đâu?

- Đang ở đằng hầm thông tin - Thanh nói nhỏ lại - Con gái đấy nhé?

- à, lại một nhân tố mới - Một chiến sĩ đứng cạnh Trí nói.

Người con gái du kích đó là Mây.

Mười phút sau, họ lên đường. Trăng đã nhô lên khỏi cái gò đất trước mặt, nhưng không ai còn chú ý đến điều đó nữa. Bốn phía trời những quả pháo sáng được thay nhau bắn lên không lúc nào dứt. Thạch đi ngay sau Mây, ông có thói quen không bao giờ để những người trinh sát bỏ mình quá xa. Đoàn người đi dần đến cái gò đất giữa cánh đồng đã bị bỏ hoang hoá từ lâu không cày cấy.

- Báo cáo thủ trưởng ta đi đường trong làng cho gần - Trí nói.

- Ai biết đường đó?

- Cô du kích.

- Có an toàn không?

- Theo cô Mây nói thì không có đường nào an toàn cả.

Thạch lặng lẽ nhìn lên bầu trời. Ông thường nhìn lên như vậy mỗi khi cần quyết định một điều gì.

- Đi theo đường trong làng - Thạch nói.

Con đường trong làng thực ra nó là một bãi pháo dài, nham nhở những bụi tre trốc gốc. Người đi cảm được mình đang qua làng nhờ những đống gạch nát cạnh đường, một vài cái cối giã gạo cháy xém và những bụi chuối nửa tươi nửa héo lờ mờ dưới ánh trăng pha trộn với ánh pháo sáng chập chờn. Đến đầu một cái gò, trung đoàn trưởng thấy Trí đang đi đầu bỗng quay lại.

- Báo cáo chủ trưởng phía trước có địch.

Mây và một chiến sĩ trinh sát nữa cũng chạy đến.

- Bây giờ có thể đi được đường nào? - Thạch hỏi.

- Mấy anh à, tụi nó chốt hết cả hai đường rồi - Mây nói, tay cô xách khẩu AK mà Trí đưa cho lúc ra đi.

- Có đường nào đi qua được không?

- Chỉ có cách lách qua hai hai chốt địch. Mình đi thiệt êm thì lọt.

- Cô có bảm đảm lọt không? - Thạch rút súng ngắn ra khỏi bao.

- Như du kích tụi em đi thì lọt.

- Chúng tôi cũng sẽ đi êm được. Nhưng nếu cô dẫn chúng tôi vào địch, tôi sẽ bắn cô đấy, hiểu không?

Im lặng. Những người lính trinh sát thấy mắt cô gái sáng lên, ngơ ngác. Nhưng chỉ một lúc sau, nét mặt cô đanh lại, cô bước thêm một bước ngắn về phía trung đoàn trưởng.

- Mấy anh theo em, nhất định lọt.

Trong nửa giờ sau đó, họ đi qua mũi hai cái chốt giặc, một ngụy, một Mỹ. Những người lính trinh sát ở trung đoàn này chưa bao giờ dám đưa thủ trưởng của mình đi chuẩn bị bằng một con đường mạo hiểm như vậy. Họ thở phào nhẹ nhõm khi về đến cửa rừng.


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 07 Tháng Năm, 2011, 10:46:37 pm
                                        Tiếp theo :
Khu rừng giáp ranh yên tĩnh trong ánh sáng lờ mờ của bình minh. Vào giờ này các loại tiếng nổ thường thưa hơn bất cứ giờ nào trong ngày. Tiếng chim - điều xưa nay ở đây ít ai chú ý đến sáng nay tự dưng nổi lên làm thứ tiếng động chính của rừng. Tổ trinh sát nằm quay đầu vào với nhau. Họ mắc võng vào các thân cây mua bằng cổ chân. nhiều người đã thức nhưng vẫn nằm yên trên võng. Nếu như những lần trước thì bây giờ họ đang ngủ say sau một đêm vất vả. Sáng nay, không một tiếng gọi nhưng chẳng ai dậy muộn. Trí đi ra suối rửa mặt. Anh dừng lại trên bờ đá một lúc để nhìn cái võng ni lông, có bọc bằng dù pháo sáng nhuộm xanh của Mây mắc sát suối. Cái bọc kiểu này bây giờ anh mới thấy lần đầu. Cả trung đoàn anh từ lúc vào chiến dịch vẫn nằm võng và mắc màn, chưa biết kiểu bọc võng tiện lợi như ở đây. Cái bọc võng động đậy. Khuôn mặt Mây đột ngột hiện ra trắng trẻo. Trí vội quay mặt đi. Anh nhìn xuống những hòn sỏi trắng muốt lóng lánh dưới lòng suối. Nhưng anh vẫn hình dung được rõ ràng Mây đang ngồi dậy, cô lấy tay vuốt nhẹ những sợi tóc trước trán. Cô lại nằm xuống võng, lấy hai cánh bọc võng che kín người, chỉ để lộ ra khuôn mặt. Trí rụt rè ngước nhìn về chỗ Mây. Đó là một khuôn mặt tròn, cặp môi mỏng và đôi mắt thì như đang cười. Sao người ta nói con gái Quảng Đà không đẹp nhỉ? - ý nghĩ ấy vụt đến với Trí rồi cũng vụt biến đi. Anh quay về võng của mình.

- Mấy anh đã dậy chưa? - Mây nói, mọi người đều quay về phía cô - Chủ lực mấy anh nhiều cái khác quá mà. Thứ nhất mấy anh đào hầm chữ A ngon lắm. Đào vậy gỗ chặt sao thấu. Tụi em trong này chỉ làm hầm bò, vừa rộng vừa thoáng. Bom mà đánh đáo trúng thì hầm chi cũng sập. Sao mấy anh giăng võng lại mắc mùng? Nằm vậy muỗi nó khiêng xuống suối mất. Tối có đi, mình lượm ba bốn cái dù sáng về em may bọc võng cho. Một cái dù may được hai bọc võng. May mau lắm, chỉ tốn mỗi cái ba thước dùn. Mấy anh chưa có tiền trong này hỉ? Để chiều em gửi người đi chợ Phú Thuận mua dùn. Mình có mấy người… Cô nhổm dậy đếm võng - Mấy anh bận quần áo xanh vầy, xuống đồng bằng tàu rà nó phát hiện ngay. Chủ lực sư 2 trong ni mấy ảnh cũng bận bà ba.

Những người lính trinh sát đã ngồi dậy. Ai cũng như đang ngờ ngợ cô gái nói chuyện sôi nổi này có phải là người đã đưa họ vượt qua trước mũi hai cái chốt địch đêm qua không? Bây giờ trông Mây khác hẳn đi. Cô có vẻ hiền và cởi mở hơn nhiều. Họ đang nhớ tới đêm qua, nhiều lúc Mây đã nói như ra lệnh cho mọi người phải bò, phải đi thật nhẹ, phải nằm xuống hoặc phải chạy.

Thanh dậy sớm hơn mọi người nên anh đã cuốn võng bỏ vào ba-lô. Ngay chỗ anh ngồi, bếp lửa đã đỏ, ngọn khói mỏng tanh đang bay lên. Gô nước sủi bọt lăn tăn. Thanh rút điếu thuốc Tam Đảo trong bao thuốc cuối cùng ra hút. Ngọn khói từ miệng anh còn xanh hơn ngọn khói ở bếp lửa. Lính trinh sát ai cũng phục Thanh về tài nhóm lửa. Có lần chỉ cách địch hơn trăm thước, Thanh vẫn tìm được củi tốt thổi cơm vào giữa trưa đứng gió trước một đại đội Mỹ vừa đổ xuống đang ngả cây ầm ầm để làm trận địa pháo.

- Cô Mây có hút thuốc không? - Thanh vừa hỏi vừa mỉm cười.

- Em không hút thuốc. Chắc anh vừa nghe được câu ca: "Tiếng đồn con gái Quảng Đà, mất một vụ thuốc chết ba vạn người", phải không? Mấy chị ở trung đội du kích em ai cũng hút thuốc.

- Thật à?

- Em đâu có nói giỡn.

Từ phía đồng bằng dội về những tiếng nổ hỗn loạn. Có tiếng súng con và có cả tiếng trái pháo. Vạt rừng nhỏ xôn xao hẳn lên.

- Đánh rồi, đánh rồi đấy!

- Súng nổ rộ lắm, không biết K8 làm có gọn không?

- Đánh cái chốt hồi hôm mình qua đó hả mấy anh? - Mây hỏi.

- Đánh hai chốt đó và đánh cả dưới chợ Phú Thuận.

- Vậy thì đã quá. Bữa kia tụi Mỹ lên chợ Phú Thuận bắn cô em bị thương đó.

Từ lúc dưới suối về, Trí vẫn ngồi nguyên trên võng nghe câu chuyện của mọi người. Anh nói về phía Mây:

- Cô Mây có muốn ở bộ đội luôn không?

- Muốn lắm chớ. Mấy lần em xin đi mà xã có cho đi mô. Anh cứ nói với xã đội, em ở đây luôn cũng được.

"Để nhờ ông Thạch viết cho xã đội mấy dòng" - Trí nghĩ đến trung đoàn trưởng bây giờ đang căng thẳng chỉ huy trận đánh dưới kia.

Từ hôm đó, Mây trở thành chiến sĩ của tổ trinh sát gọn gàng này.

 - Mi đi theo bộ đội thiệt hả Mây? - Tiếng một người con gái hỏi Mây khi cô vừa đi qua trại của trung đội du kích. Mây nhìn vào trại, đỏ mặt mỉm cười rồi tiếp tục đi, bàn tay đang nắm quai súng AK giơ lên rồi bỏ xuống. Mây thấy thương cái trại của cô quá chừng. Mây không ngờ rằng mình đã xa nó. Cái trại nhỏ vậy đó mà có thật lắm chuyện buồn vui. Buổi tối năm ngoái đi phục kích, không gặp địch về qua thôn Hai lại gặp mít chín. Tháng trước bám đường sang sông vào khu đồn, khi về gặp địch không kịp rút lựu đạn, ném gói kẹo dân cho mà tụi nó cũng chạy. Anh Bốn Hương hy sinh ngay trên hầm vì pháo. Chị Hai Vinh bị thương khi xuống sông vo gạo. Trận chống càn đầu năm hết gạo phải bám vồ đào củ ngải tây ăn. Một anh đặc công đi đánh cầu về, lạc đường vô trại, anh Tám Quý tưởng địch vào bắn một loạt AR15, may đạn vọt qua đầu… Ôi, sao mà lắm chuyện quá đi mất. Mà cái trại sát bờ sông có chi đâu. Một cây mù u bị bom phạt mất ngọn, một dãy kèo quá đầu người, hai cái hầm bò, một cái lán lợp tranh nắng mưa đều dột. Vậy mà bây giờ thương nó quá. Lòng không muốn đi mà chân vẫn cứ bước. Muốn dừng lại với nó một tí nhưng trời tối mất rồi, phải đưa mấy anh qua sông. Mây vừa đi vừa nghĩ về cái trại nhỏ đó. Cô không để ý đến Trí đang đi trước cô, lâu lâu lại ngoảnh về phía sau, vừa như nhìn cô, vừa như kiểm tra anh em có bám được nhau không. Vậy là mình đã đi bộ đội từ đêm đó. Cái đêm anh Tám Quý, xã đội phó nói giữa cuộc họp du kích: "Có một đơn vị chủ lực mới về, mấy anh không thuộc đường, ai xung phong đưa bộ đội lội khắp vùng B đêm nay?". Nhiều người giơ tay. Mây ngồi sau cùng, cô dướn người lên cho anh Hai trông thấy tay mình. Anh Hai cười nhìn Mây. Vậy là Mây đi. Mình đi bộ đội vào cái đêm thủ trưởng Thạch rút súng dọa bắn nếu mình đưa bộ đội vào địch. Bữa đó mình cứng thiệt. Mây nghĩ, mình không sợ chi cả, mà cứ tin đi lọt.

Tổ trinh sát đến bờ sông, Trí hỏi:

- Cô Mây có thạo đường bên kia sông không?

- Không rành lắm, nhưng em cũng biết. Hồi nhỏ hay sang bên ấy chơi mà.

- Cô đi với đồng chí Thanh sang bên đó. Đến chợ Mỹ Lược thì dừng lại chờ đoàn cán bộ mặt trận. Khoảng mười hai giờ họ từ vùng ven lên. Gặp họ đưa về chỗ trung đoàn. Đường từ Mỹ Lược sang Giảng Hòa nghe nói có địch. Khi về nhớ bám đường thật kỹ. Sáng mai tôi chờ ở trại du kích - Trí quay lại với Thanh - Chú ý mìn đấy Thanh nhé!

Mây và Thanh bắt đầu vượt sông. Mùa khô đoạn sông này có thể lội qua được. Nhưng đêm nay nước chảy hơi mạnh, có lẽ đầu nguồn có mưa to. Thanh lội trước, một tay giơ khẩu AK lên cao, một tay nắm lấy tay Mây. Những viên sỏi dưới chân họ trôi nhanh, muốn đưa theo những bàn chân đang đè chúng xuống. Nước sông lành lạnh. Mây cố sức giữ cho khẩu AK khỏi nhúng xuống nước. Bàn tay trái cô nắm chặt vào tay Thanh. Giữa cái ướt át mênh mông của sông nước, từ bàn tay của Thanh hơi ấm đang chuyền sang cho cô. Mây ngoảnh lại bờ. Trí vẫn đứng nhìn theo hai người. Bóng anh đen sẫm trên bãi cát sáng. Lúc này cô mới biết là trăng đã lên. Lội vào đến bờ, Mây nói với Thanh:

- Anh chờ em một tí.

Mây chui vào một bụi bói sát mép nước. Một lúc sau cô quay ra. Cô đã mặc vào người bộ quần áo khô màu xám. Mây vừa giặt bộ quần áo ướt, vừa nói:

- Trời có trăng, mặc áo đen dễ lộ anh à.

Bộ quần áo được vắt kiệt nước. Mây lấy giấy bóng ra quấn lại cho vào gùi. Hai người đi xuôi sông. Sau họ bốn dấu chân để lại trên bãi cát phẳng sau cơn mưa đêm qua. Gió thổi từ mặt sông lên. Thoang thoảng có mùi thuốc bom không biết từ đâu bay đến. Có thể biết được bọn Mỹ từ căn cứ An Hòa nống ra bao nhiêu điểm qua các cụm pháo sáng đang bắn lên. Phía núi Bàn Cờ, nhiều chớp lửa lóe sáng. Sau đó mấy giây mới nghe được những tiếng nổ rền như tiếng trống. Trung đoàn mới đánh mạnh nên địch tăng cường đánh B.52 vào các hậu cứ phía sau.


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 07 Tháng Năm, 2011, 10:50:21 pm
                                         Tiếp :
Đến gần chợ Mỹ Lược, Mây dừng lại. Cô nói với Thanh:

- Ta dừng lại đây coi động tĩnh chi không. Trong chợ địch hay phục lắm.

Họ ngồi xuống bậc đất sau một ngôi nhà đổ. Cạnh đó, một cái hầm đã sập nửa trong, nhưng có thể tránh được mảnh pháo. Những lần sang phối hợp hoạt động với du kích bên này. Mây thường qua đây nên cô đã chú ý đến cái hầm này. Hai người lặng lẽ nhìn vào chợ. Không một tiếng động lớn nào, chỉ có tiếng nổ lốp đốp của ngôi nhà đang cháy phía bên kia chợ.

- Mấy anh vô đây chắc cực lắm hỉ - Mây hỏi nhỏ. Hình như Thanh không nghe, anh vẫn ngồi im, mắt nhìn về phía trước.

- Ngày trước chúng nó tàn sát đồng bào chỗ nào hả cô Mây?

Lần này thì Mây lại không nghe vì Thanh cũng nói nhỏ trong lúc gió thổi mỗi lúc một mạnh hơn. Hai người im lặng theo đuổi những ý nghĩ riêng của mình.

Khoảng mười phút sau, Mây xịch gần lại chỗ Thanh, cô nói:

- Có lẽ êm rồi anh à. Ta vô chợ đi.

Mây đi trước. Họ men theo một rặng tre xác xơ vì mảnh trái phá. Khu chợ bây giờ chỉ là một bãi đất hoang, không một căn lều, không một bóng người. Họ đi qua chợ thận trọng từng bước. Ra khỏi chợ một đoạn, Mây dừng lại. Phía trước có tiếng chân người đang đi đến. Hai bóng người cầm súng đi qua trước mặt Thanh. Anh hỏi người thứ ba:

- Các anh có phải đoàn 70 không?

Người ấy giật mình:

- Ai đấy?

- Chúng tôi ở 18 đây.

- Đồng chí đi đón hả? Đây về Giảng Hòa còn xa không?

- Báo cáo còn hơn một tiếng nữa và phải qua sông.

- Ta đi luôn.

Nhưng phải hai giờ sau Thanh và Mây mới đưa được đoàn cán bộ về đến trung đoàn. Đường không có địch nhưng phải vừa đi vừa dò mìn. Đoạn sông dưới này không lội được mà đoàn 70 lại có hai cô biệt động từ Đà Nẵng lên không biết bơi, phải làm bè chuối vượt sông.

Sang sông, Thanh đã thấy Trí đứng chờ trên bãi ngô đang trổ cờ. Khi Thanh đưa đoàn 70 về sở chỉ huy trung đoàn còn lại Trí và Mây dưới mép nước, anh hỏi:

- Đường đi có chuyện gì không?

- Êm thôi anh à. Anh biểu chờ tụi em ở trại du kích mà.

- ừ, định chờ ở đó, nhưng tôi có việc phải ra đây - Từ khi về đội trinh sát, bây giờ Mây mới nghe Trí nói không được lưu loát lắm.

Hai người đi lên bãi. Trước khi rời mép nước, Mây đá mạnh cho một vệt nước toé lên, lấp lánh dưới trăng.

Còn Thanh, khi về đến sở chỉ huy trung đoàn, anh vẫn ngờ ngợ nghĩ rằng chẳng lẽ mình đã đi qua sông Thu Bồn, con sông đến với anh từ lâu qua những trang sách lại như thế ư?

 Vào một buổi chiều, trước khi tổ trinh sát lên đường, Trí hỏi Thanh:

- Cậu thấy cô Mây thế nào?

Thanh cho thêm củi vào bếp, trả lời:

- Cô ấy tốt anh ạ. Dũng cảm và linh lợi lắm.

- Mình muốn nói về những điểm khác, những điểm của một cô gái.

Thanh mở to mắt nhìn Trí. Trí thấy có cái gì như là một tia lửa trong đôi mắt Thanh. Nhưng anh lại nghĩ có lẽ ngọn lửa đang cháy trên bếp chiếu vào đôi mắt đó.

- Thế những điểm ấy không phải là của cô gái hả anh? Về tính tình có thể cô ấy không được tế nhị như các cô gái ngoài mình, nhưng mà có sao. Theo tôi, những điều đáng quý cho công việc bây giờ cô ấy đều có cả.

- Cậu nói thật đấy chứ?

- ờ, cái anh này, sao tôi lại nói dối anh về một chuyện như vậy.

Có tiếng chân người đi đến. Cả hai người quay lại. Mây đang từ trên dốc đi xuống, tay cầm một nắm rau.

- Rau ranh mấy anh à - Cô nói và giơ nắm rau lên, miệng nở một nụ cười. Khuôn mặt Mây lấm tấm những giọt mồ hôi long lanh nhờ ánh sáng từ mặt suối hắt lên. Vùng này không có rau ranh đâu. Vậy mà em gặp cả một đám to bằng cái sân trên đỉnh dốc đó.

Mây đến và ngồi bên bếp. Cô bỏ nắm rau ranh vào cái nắp gô Trung Quốc. Củi nổ lép bép bắn tung lên những tia lửa nhỏ. Những làn gió nhẹ lào xào trên ngọn cây, tiếng hót cao xa xa của một giống chim lạ, mặt suối đang bốc lên một làn hơi nước mờ mờ làm cho buổi chiều của rừng thật là dễ chịu.

- Sao chiều nay chúng chưa bắn pháo nhỉ? - Trí nói, không biết để hỏi ai.

- Vào giờ này hồi trước tụi em đi hái chè bắt đầu xuống đồi. Cái đồi chè hôm qua mình qua đó, hai anh nhớ không? Mây chỉ về phía bên trái, nhưng Thanh và Trí đều không thể hình dung được đồi chè đó như thế nào vì đêm qua họ chỉ đi dưới chân nó, còn bây giờ chỗ Mây chỉ là một dòng suối lấp lánh những viên sỏi trắng - Khắp xứ này ai cũng biểu con gái Lộc Sơn tụi em đen vì ngày phơi nắng trên đồi, tối về lại uống nước chè đặc mà.

- Bây giờ chè còn lá không?

- Còn chớ! Nó đánh bom cháy nơi nào thì cháy nơi ấy, nơi nào không trúng bom chè tốt lắm. Chừ ít người hái nên như đồi chè hoang. Mấy anh đi đồng bằng hay bẻ chè để ngụy trang, xuống dưới sâu cho lại dân. Mà hai anh chưa biết nhà em hỉ? Nhà em ở ngay dưới đồi chè. Bữa mô đi qua, em đưa vô. Vườn có buồng chuối sắp chín rồi. Quanh nhà du kích gài mìn hết trọi, nhưng em có đường vô an toàn lắm, không hề chi.

Gô nước sôi. Mây rót vào bi-đông một nửa, rồi cô đổ hai lon gạo đã đãi kỹ vào gô. Bếp lửa lại cháy. Mây chọn những thanh củi khô nhất cho vào bếp. Một làn khói xanh lơ lửng trên đầu ba người. Mây vừa coi lửa vừa kể chuyện. Cô kể về cái thôn "nhất cận thủy, nhì cận sơn" của cô. Năm 1963, trong thôn có mười hai người đi củi vào khu rừng này, không thấy ai về. Đến năm 1964 họ thành quân giải phóng. Mây kể về cái chết của cha cô. Một đồng chí bộ đội sơ suất để quên quả đạn B.40 trong hầm. Bọn Mỹ lên càn lục được. Chúng bắt ông già đưa lên đồi chè rồi bắn ở trên đó. Nhiều chuyện nhất là về trung đội du kích của cô. Mây kể sôi nổi và vội vàng. Hình như nếu không kể như vậy thì không tài nào kể hết được.

Thanh ngồi nghe, lâu lâu anh lại nhìn thẳng vào mắt Mây. Mây thấy đôi mắt to của anh trố lên. Cô cảm thấy như anh đang muốn hỏi: "Có chuyện như vậy sao? Lạ quá nhỉ?". Tự nhiên Mây thấy ngượng. Cô vừa kể vừa nhìn vào gô cơm đang cạn nước dần. Còn Trí, anh vừa nghe chuyện vừa nhặt những hòn sỏi ném xuống suối. Nước bắn lên đến tận bàn chân anh. Lâu lâu anh cũng liếc nhìn Mây. "Cô ấy lôi đâu ra mà lắm chuyện thế. Sao cái thằng Thanh nó cứ nhìn như muốn nuốt người ta thế kia". Anh lặng lẽ đến võng nằm. Bữa cơm chiều, Trí chỉ ăn có lưng bát. Anh uể oải ra bờ suối ngồi.

Và đến chập tối, khi tổ trinh sát lên đường, Trí nói với Thanh:

- Cô Mây có cảm tình riêng với cậu lắm đấy!

Thanh ngạc nhiên chưa hiểu đầu đuôi ra sao thì Trí đã vượt lên đầu đội hình. Đêm nay, họ đi trinh sát một điểm bọn Mỹ vừa nống ra trên cái gò phía tây bắc chợ Phú Thuận.

 Mùa hè trôi qua một cách nhanh chóng. Những gì lạ lẫm của chiến trường mới mẻ này rồi cũng quen thuộc dần. Những trận đánh với một trung đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ đứng đối mặt kéo dài từ ngày này sang ngày khác. Kết quả của những trận đánh đó khó mà đánh giá cho thật chính xác. Số địch bị diệt, số vũ khí thu được không phải là kém cỏi so với những trận đánh hồi ở chiến trường phía ngoài. Điều đáng chú ý là từ khi vào đây, trung đoàn chưa đánh được một trận tiêu diệt nào đúng với nghĩa của nó. Thương vong của bộ đội cao dần lên phần nhiều do những trận địch tập kích pháo và do bị phục khi đi lấy gạo vì không quen đường. Đến đầu mùa mưa, địch bắt đầu dùng cái chiến thuật "Mỹ lết" rất khó chịu. Những chuyến B.52, B.57 đánh trúng vào các tọa độ đóng quân của trung đoàn. Pháo địch nhằm các trục đường bắn chặn bất cứ lúc nào khi chúng cần bắn. Các cửa ranh xuống đồng bằng có khi bị bịt bốn năm ngày. Việc lấy gạo trở nên căng thẳng. Năm ngoái ở chiến trường ngoài gạo từ phía sau đến với bộ đội. ở đây gạo lại từ phía trước, phía địch. Bộ đội coi việc đi lấy gạo còn nặng nề hơn cả việc đi chiến đấu.

Trong những ngày đó, Mây và tổ trinh sát của cô ở ngay tại cửa ranh, trong hai cái hầm khoét vào chân đồi. Mây đưa hết đơn vị này đến đơn vị khác bằng những con đường chỉ có mình cô mới đi nổi để tới các nguồn gạo. Trung đoàn còn giao cho Mây nhiệm vụ phải chỉ đường cặn kẽ cho các trinh sát tiểu đoàn. Những tốp "Mỹ lết" mỗi ngày một đông hơn. Các đơn vị đi lấy gạo chỉ thật yên tâm khi thấy cái dáng người thon thon, nhanh nhẹn của Mây khoác AK đi đầu đội hình. Những người lính của trung đoàn, với sức vóc khỏe khoắn, với sự từng trải từ những ngày đầu chiến tranh đều cảm phục người con gái ấy. Nhiều người đã nói ra miệng: "Không có cô ấy thì mình gay go chứ tưởng đùa". Riêng Mây, cô ý thức được lòng tin đó của trung đoàn. Nhiều đêm, sau khi chỉ đường cặn kẽ, bộ đội đã đi khuất sau gò đất trước mặt, Mây lại khoác súng đuổi theo - Lỡ đến thôn Một có địch, mấy anh không biết đường lối khe sang Phú Xuân - Cô nghĩ vậy khi chạy theo đoàn người. Những ngày này không ai nghĩ rằng trong trung đoàn lại thiếu người con gái ấy. Và cũng không ai nghĩ rằng Mây sẽ là của riêng một người nào trong dòng người đổ xuống các cửa ranh làm những việc khác nhau cho các trận đánh ở đây.

Tổ trinh sát mỗi ngày một ít người đi. Trong các trận phục kích lộp chộp của địch, những người đi đầu bao giờ cũng là mục tiêu của chúng. Đến giữa mùa mưa, Trí chỉ còn trong tay mình sáu người kể cả Mây. Bây giờ mỗi lần cử người đi, Trí phải cân nhắc kỹ càng hơn. Anh biết rằng mất thêm một người trong số sáu con người này thật khó mà thay thế nổi dù có xin thêm được người. Mỗi người ra đi anh đều thấp thỏm cho đến lúc rạng sáng khi có những bước chân rậm rịch ngoài cửa hầm và tiếng cười nói quen thuộc vang lên.

Đêm nay Trí lại không tài nào ngủ được. Từ lúc Mây đi, cái búi tóc to tướng sau gáy, khẩu AK xách ở tay cô cứ ám ảnh anh mãi. Không biết vì sao ngay từ chập tối chúng lại bắn nhiều pháo thế? Nhưng những loạt súng con ở xa kia mới làm anh không yên tâm. Đêm qua, tiểu đoàn 4 đi đã bị phục, may không ai việc gì. Đêm nay Mây đi không biết có bị phục không? Mà cô ấy nhiều lúc liều lắm, biết nó phục nhưng vẫn cứ lách đường đi cho được, đã phê bình nhưng nào có chịu nghe. Trí lại trở mình. Một vệt sáng của trăng chiếu ngay vào chỗ anh nằm.

- Cậu vẫn còn thức đó hả Thanh? - Trí hỏi.

- Còn thức anh ạ, không hiểu sao đêm nay khó ngủ quá.

- Cậu có nghe súng con nổ không?

- Có. Nhưng ở phía Xuyên Phú, không phải hướng của đoàn lấy gạo.

- Mình cũng nghĩ vậy. Nhưng vẫn thấy lo lo cậu ạ. Mây mà có việc gì thì gay go đấy! Mà Thanh này, Mây nó hay nói về cậu với mình lắm.

- Thật hả anh? - Thanh hỏi lại. Cả hai người im lặng một lúc lâu. Thanh nhổm dậy châm lửa hút thuốc, mới rít được hơi đầu tiên anh lại nói - Cũng có thể cô ấy thích một số tính tình của tôi. Nhưng tôi hỏi thật anh Trí nhé! Anh yêu cô ấy phải không?

Thanh hỏi xong, anh cảm ngay được cái giật mình của Trí. Trí đã ngồi dậy, hai tay nắm lấy thành võng. Anh nói, giọng vội vàng:

- Cậu đừng nói thế. Nói thế ảnh hưởng đến anh em, mình lại là người phụ trách.

- Có gì đâu mà ảnh hưởng anh. Nếu quả anh yêu cô ấy thì việc gì phải giấu… - Nhưng cảm thấy mình đã đi quá xa, Thanh nằm im.

Câu chuyện trong đêm dừng lại ở đó. Hai người không ai nói gì thêm. Mỗi người quay về với những ý nghĩ riêng của mình. Pháo địch bắn dữ dội hơn vào dọc bờ sông. Đêm nay là một đêm bọn Mỹ bắn pháo nhiều. Chắc chúng có mưu đồ gì cho ngày mai đây?

 Ba giờ sáng Mây đã đưa được đoàn lấy gạo về. Lần này họ đến được nguồn gạo, mới khui lên ba hầm mà đã mang không hết. Mây vui. Mờ sáng cô đánh thức mọi người dậy và ríu rít kể chuyện. Mây dẫn bộ đội đi lạc đường mà không dám nói, cứ thẳng hướng bươn qua đồng cho đến khi gặp lại đường cũ. Đồng chí chỉ huy đi sau Mây tỏ vẻ nghi ngờ nhưng thấy Mây đi quả quyết quá cũng phải tin là đúng đường. Mây đưa đoàn đến được nguồn gạo trước giờ quy định. Nhưng trên đường về, anh ta hiểu ra, vừa cười vừa nói với Mây: "Cô lanh thật".

Thanh đứng với Mây ở cửa hầm. Anh chăm chú nghe chuyện của cô, thỉnh thoảng lại liếc vào hầm nhìn Trí đang sửa soạn cái gì trong đó. Mây kể say sưa. Hai ống quần cô vẫn còn xắn gần tới đầu gối. Trên quần áo và cả trên tóc Mây có những vết bùn. Thanh nói:

- Mây đi rửa kẻo tí nữa suối đông người.

- Ôi, em buồn cười thiệt. - Cô giật vội cái khăn lau trên dây, ôm gói quần áo đi xuống dốc. Đi được một đoạn, Mây quay lại - Anh giăng hộ em cái võng. Tắm xong em về là ngủ ngay đó nghe!

Mây đi được một lúc Trí mới ra khỏi hầm. Anh lững thững đi về phía đại đội vận tải, ở ngay sau hầm tổ trinh sát. Khi qua mặt Thanh, Trí nhìn anh. Cái nhìn đó làm Thanh ngơ ngác một lúc. Phải đến lúc Trí đi rồi, Thanh mới nhận ra cái nhìn đó có gì vừa xa lạ lại vừa khó chịu. Xưa nay chưa bao giờ Trí lại thất thường như thế. Thanh chui ngay vào hầm. Anh leo lên võng nằm. Một nỗi buồn man mác đang từ từ đến với anh. Trước khi Mây đến đây hai người sống với nhau còn hơn anh em. Họ thân nhau từ hồi còn ở mặt trận đường 9. Hồi ấy tuổi trẻ trong sáng đã đưa hai người đến với nhau. Chiến dịch Cù Đinh - Ba De, địch đổ quân khắp rừng. Cùng với đổ quân chúng đổ đồ hộp. Thanh và Trí đã bê vào hầm mình nửa hầm đồ hộp Mỹ, đủ ăn một tháng không phải nhận tiêu chuẩn của trên. Rồi một tháng ròng hai người nằm sát hàng rào Cồn Tiên cùng với trinh sát pháo binh chỉnh từng quả pháo không cho bọn Mỹ trong đồn ngóc đầu lên. Trận B.52 ở bờ sông Bến Hải, hai người đều bị sức ép, phải đi bệnh xá. Khi trung đoàn rút ra khỏi Huế, hai người xa nhau vì Trí ở lại với một tiểu đoàn hoạt động nghi binh. Hồi đó, Thanh thấp thỏm lo cho Trí từng ngày, vì cứ qua mỗi ngày, từ đài quan sát, Thanh nhìn thấy vòng vây của địch càng khép chặt vào tiểu đoàn. Trí cùng với một bộ phận của tiểu đoàn phá được vòng vây. Hai người lại về ở với nhau cho đến khi vào chiến trường này. Trước kia tất cả đều quá đẹp, Thanh nghĩ. Chỉ tại sự xuất hiện của người con gái ấy ở đây. Thanh biết Trí đã có những tình cảm khác thường đối với Mây. Đáng ra anh phải giữ kín điều đó, nhưng anh lại nói ra một cách quá minh bạch đêm qua. Trong tổ, Mây lại thường đối xử với Thanh cởi mở và có phần quan tâm hơn những người khác. Nhưng Thanh nghĩ nếu Trí yêu Mây thật, thì những chuyện ấy có gì là quan trọng. Thanh cảm thấy một sự mất mát đang đến với quan hệ giữa hai người. Anh đứng dậy ra khỏi hầm, hít thật căng cái không khí buổi sáng trong trẻo của rừng.

Mây từ dưới chân dốc đi lên, tay cô nặng trĩu gói quần áo. Mây dừng lại giữa dốc, dựa lưng vào một gốc cây, thở. Cô nói với lên:

- Anh Thanh đã mắc võng cho em chưa?

Thanh cười ngượng nghịu. Anh đã quên mất chuyện mắc võng cho Mây, Thanh chui vào hầm, cởi cái gùi nhỏ nhất đội trinh sát ra, lấy võng mắc vào góc hầm phía trong, nơi nóc hầm được đắp đất dày nhất. Ngoài hầm, Mây vừa phơi quần áo vừa hát một bài dân ca miền Bắc không biết cô học được của ai mà hát sai nhiều chỗ. Thanh nghĩ: cô ấy còn hồn nhiên và vô tư quá.

 


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 07 Tháng Năm, 2011, 10:54:42 pm
                            Tiếp :
Đối với Mây, tổ trinh sát này là một cái gì đó vừa vất vả lại vừa thú vị. Mỗi chuyến đi đều đem lại cho cô một niềm vui có khi rất nhỏ như Mây nhớ ra được một con đường hồi trước hay đi bây giờ bị bom lấp mất. Sau một chuyến đi trót lọt cô đều nhận được những lời khen, những cái nhìn, những nụ cười khuyến khích. Chưa lần nào Mây để bộ đội quay về nếu địch chưa bịt kín hết các con đường. Những người sống trong hai căn hầm này đối với Mây ai cũng tốt cả. Họ chu đáo với cô đến từng việc nhỏ, có khi hơi chiều chuộng cô một tí. Cũng có người nặng lời với cô, thường là phê bình cô sau một chuyện liều. Mây nhận thấy rằng trong những con người đó, cô mến Thanh hơn cả. Với anh cô có thể kể tất cả những chuyện riêng của mình một cách không ngượng ngùng, và bao giờ anh cũng nghe cô một cách chăm chú. Nhưng Mây cũng hiểu rằng cô không phải chỉ có một mình Thanh. Cô có cả tổ trinh sát này. Những con người này đối với Mây cũng gần gũi và quý mến như những người du kích cùng làng của cô vậy.

Mây sẽ sống trong không khí vất vả và thú vị ấy, cô sẽ quý mến mọi người mãi mãi một cách đơn giản như chuyện cô đi bộ đội ấy, nếu như không có chuyện xảy ra vào một đêm mưa tháng mười, cả hai căn hầm của tổ trinh sát nước chảy tong tong như ngoài trời.

Từ chiều, Trí nhận được điện cử một đồng chí trinh sát dũng cảm và tin cậy nhất đưa trung đoàn phó xuống kiểm tra các nguồn gạo. Anh cử Thanh đi. Cậu ấy mà đi thì nhất định sẽ đến nơi, Trí nghĩ vậy.

Chập tối đoàn người lên đường. Họ là những trợ lý quân nhu, những đại đội phó, những quản lý và hơn trăm chiến sĩ đi theo nếu có gạo là mang về ngay. Mảnh phiếu xuất kho của hậu cần mặt trận đã nằm trong túi ngực trung đoàn phó.

Vượt qua hai cái gò, lách qua một cụm chốt của địch, đoàn người đã đến bãi cát Giảng Hòa giữa cơn mưa. Thanh tìm được hầm của người phát gạo mặt trận nhờ đã đến đây nhiều lần. Trong hầm một người ngái ngủ ló đầu ra, giương mắt nhìn trung đoàn phó. Anh ta cầm lấy mảnh phiếu thụt vào hầm bấm đèn pin. Những người đứng ngoài hồi hộp chờ đợi. Nếu ở đây có gạo, một giờ sáng có thể về đến cửa ranh. Và ai cũng hiểu rằng ngủ được một giấc trong đêm còn quý hơn ngủ cả ngày hôm sau. Được như vậy thật là một dịp may hiếm có. Cái đầu người phát gạo lại ló ra hỏi hầm, anh ta gọi:

- Đồng chí nào phụ trách đoàn này?

- Tôi - Trung đoàn phó trả lời.

- Đồng chí đưa bộ đội sang Vinh Cường gặp anh Vượng lấy gạo. ở đây không còn gạo nữa. Cho anh em đi ngay, chỗ này pháo nó hay bắn lắm.

- Có đò không đồng chí?

- Đò các anh phải tìm lấy chứ. Tôi phát gạo chứ có phải phát đò đâu - Nói xong anh ta chui vào hầm. ánh đèn pin vụt tắt. Có tiếng nói trong hàng quân:

- Rúc hầm giỏi thế. Cho xuống đơn vị đi chiến đấu.

Nhưng Thanh đã nhìn thấy anh ta chui ra cửa hầm phía sau đi vào một nhà dân.

Trung đoàn phó hỏi:

- Bến đò trung đoàn ở đâu?

- Báo cáo thủ trưởng đêm nay ta không chở đò, chỉ có đò của 577 thôi.

- Đưa tôi xuống bến đò. Các đơn vị cho bộ đội tản thưa ra.

Phải tìm nửa giờ mới thấy hai chiếc đò của 577, một tiểu đoàn thường hiệp đồng với trung đoàn trong các trận đánh. Những người chở đò đã nghỉ từ lâu. Trung đoàn phó thuyết phục một lúc họ mới đồng ý đưa bộ đội qua sông. Thanh sang chuyến đầu tiên để liên lạc với du kích. Đồng chí xã đội trưởng cho biết có hai con đường đến được Vinh Cường. Một đường theo dãy đồi trước mặt, hai bên du kích đã gài mìn. Đường thứ hai theo con đường công hương cũ, đường này du kích cũng không biết địch đã rút chưa? Thanh quyết định đưa bộ đội theo con đường công hương, vì đi đông người trong bãi mìn thật là nguy hiểm. Đến gần cầu gãy Thanh dừng lại. Anh ngửi được trong gió có mùi thuốc lá thơm. Anh nói với người cần vụ của trung đoàn phó quay lại cho bộ đội tạm dừng. Thanh bò theo mép đường. Anh thấy có những đốm lửa nhỏ trong các bụi cây. Nghe được khá rõ cả những tiếng đập muỗi. Thanh cũng ngửi được cái mùi hăng hắc gần như mùi nhựa cháy mà chỉ có chỗ bọn Mỹ đóng quân mới có. Anh nhẹ nhàng quay lại.

- Sao? - Trung đoàn phó hỏi khi vừa gặp Thanh.

- Báo cáo thủ trưởng bọn Mỹ bít mất đường.

- Có đường nào khác không?

- Để tôi tìm thêm.

Thanh tạt sang phải đường. Anh cố tìm một con đường dưới chân gò để tránh mìn. Nhưng dưới đó là bãi lầy, không thể cho bộ đội qua được. Thanh trèo lên gò. Những bụi cỏ may cọ vào quần anh lẹt xẹt. Không biết mìn ở những chỗ nào? Trong tất cả những cái chết của chiến tranh, chết vì mìn bao giờ cũng bất ngờ. Thanh dừng lại.

- Sao không đi nữa? - Trung đoàn phó đã lên sát anh.

- Báo cáo thủ trưởng, đường có mìn.

- Thế thì việc gì mà không đi. Đồng chí cứ đi trước, tôi sẽ đi ngay sau đồng chí.

Thanh choáng váng như người say thuốc. Từ lúc làm lính trinh sát cho tới giờ chưa bao giờ anh phải chịu đựng một câu nói như vậy. Anh quay lại nhìn trung đoàn phó, ông ta vẫn đứng ngay sau anh, nét mặt đanh lại. Thanh bước lên. Cả đoàn người phía sau theo anh. Có lúc Thanh nghĩ một cách liều lĩnh sao mình lại không vấp một quả mìn. Nhưng rồi anh vẫn đưa được đoàn đến Vinh Cường. ở đây người phát gạo nói với trung đoàn phó:

- Anh để lại năm mươi người lấy gạo còn tất cả trở lại Giảng Hòa lấy bắp.

- Chúng tôi vừa ở bên đó sang. Đồng chí bên đó nói không có gì để phát cả.

- Nó nói láo đấy! Tôi viết giấy sang bắt nó phải phát.

Trung đoàn phó bĩu môi nhưng không nói gì. Đoàn lấy gạo sau khi để lại năm mươi người lại trở về theo con đường cũ.

Người phát gạo bên này sông cầm lấy tờ giấy từ tay trung đoàn phó đọc. Lúc này đã gần ba giờ sáng và mưa đã tạnh. Anh ta lầm bầm:

- ồ, lệnh với lạt. Thằng ấy thì có hơn gì tôi. Phát thì phát.

Khi bộ đội đóng bắp vào gùi xong, trung đoàn phó nói với người phát gạo:

- Rất may cho anh là anh không phải lính của tôi.

Người ấy mà nổi giận thì bất chấp tất cả. ở trung đoàn này ai cũng biết điều đó.

Đi qua hầm của tổ trinh sát, trung đoàn phó nói với Trí:

- Cậu đừng có ngủ say trong cái tổ trinh sát tuyệt vời của cậu. Phải xem lại ý chí của thằng Thanh đấy!

Và khi Thanh ngủ dậy, anh nghe có nhiều tiếng người đang nói gì về anh ở cửa hầm. Lúc anh ra khỏi hầm mọi người tản dần đi, chỉ còn một mình Mây ngồi lại. Cô lạ lùng nhìn anh rồi quay mặt đi. Một lúc sau Mây nói, như không phải nói với Thanh:

- Con trai mà cũng sợ chết.

Lúc đầu Thanh không hoàn toàn chú ý đến câu nói đó. Nhưng nhớ lại cái nhìn của Mây vừa rồi, anh hiểu ra cô đang nói về anh. Mãi lâu lắm về sau này, Thanh vẫn còn nhớ cái nhìn và câu nói bâng quơ đó. Nó như một nỗi đau, một sự trừng phạt, gần như một lần thua trận của đời anh.

 Những trận mưa liên miên ngày này sang ngày khác đã làm ngập hết các bãi cát giấu bắp, giấu gạo dọc bờ sông. Khi nước rút, người ta đào lên thì lương thực đã có mùi, một thứ mùi rất khó ngửi. Các đơn vị vẫn phải mang số gạo, bắp đó về ăn vì không còn chỗ nào có thể cung cấp được lương thực sau trận lụt. Trong trận lụt, tổ trinh sát vẫn ở lại cửa rừng. Nước trắng băng dưới những cánh đồng nhưng chưa tới được chân đồi của họ. Nước rút đến đâu, bọn Mỹ đổ quân bít đường đến đó.

Trí và Mây đang ngồi trong ngôi nhà cũ của Mây, ngôi nhà bị pháo bắn sạt đi một nửa, nhưng vẫn còn một gian nguyên vẹn. Đội du kích xã cũng hay về đây trong những lúc tình hình thư thái. Từ hồi vào bộ đội, chiều nay Mây mới có dịp về lại nhà. Trí tranh thủ tát cho khô nước cái hầm giữa nhà, đề phòng có pháo. Còn Mây, cô ra vườn hái ngọn lang để khuya mang về tổ trinh sát. Lần này không phải họ dẫn đường cho các đơn vị xuống lấy gạo mà họ đi mang gạo cho mình. Hai hôm nay tổ trinh sát phải đi vay gạo của đội phẫu thuật trung đoàn đóng bên cạnh.

Mặt trời lặn, hai người ngồi trên cái bậc cửa của gian nhà còn lại chờ đêm xuống. ở đây có thể nhìn ra được những cánh đồng sát bờ sông. Những vũng nước đọng lại trong các hố bom lấp lánh một màu sáng bàng bạc. Chân trời phía đông vẫn còn nặng nề những đám mây màu khói. Trời chưa tối hẳn nhưng trên đỉnh Chóp Nón bọn Mỹ đã bắn pháo sáng.

- Anh Trí nè, Mây nói, em cứ tưởng anh Thanh dũng cảm lắm mà?

- Trước đây cậu ấy khá nhất tổ đấy! ở đời lúc ác liệt mới ra chuyện. Trung đoàn mình cũng có những người khi nói không ai bằng, nhưng khi gặp tình huống khó khăn thì lại khác. Trí kịp dừng lại, anh ân hận. Thanh không phải con người như thế, anh biết rõ Thanh hơn ai hết. Mặt Trí bầm tối và anh im lặng.

Nghe Trí nói, Mây sững sờ một lúc. Cô tin lời Trí và do đó cô đã lầm lẫn một con người.

- Ta đi anh, trời tối rồi.

Hai người đi ra đường. Con đường ngày trước Mây thường đi xuống thôn Ba, nơi có cái quán của má. Con đường đó được phủ kín bởi những hàng mù u, những hàng mít. Hồi ấy đi trên đường không ai đội nón. Bây giờ con đường trắng băng, chỉ lác đác còn lại những bụi chuối vô chủ. Cái quán của má cũng không còn. Nó trúng pháo mười ba lần. Lần thứ mười bốn pháo không trúng quán nhưng một mảnh đạn đã làm Mây mất mẹ. Cô khóc sưng hai con mắt, nhưng cô quyết ở lại với mấy anh chị du kích trong trận càn đó. Mỗi lần đi trên con đường này, dù gấp gáp đến đâu, Mây cũng dừng lại nhìn cái nền đất bên đường và sâu vào phía trong vài chục thước là ngôi mộ của người mẹ.

- Anh Trí, ta đi lẹ tí nữa, xuống còn phải bám địch. Mây nói về phía sau.

Trí theo sát sau Mây. Anh không còn phải nhìn gì chung quanh. Anh cứ thẳng đường mà đi, phía trước là búi tóc của Mây đung đưa và đôi chân quần xắn tới gối của cô thoăn thoắt những bước nhanh và ngắn. Trí lại nghĩ đến những điều anh vừa nói với Mây về Thanh, nhưng anh lại quên đi ngay. Từ ngày về tổ trinh sát đây là lần đầu tiên Mây đi riêng với anh. Trí cảm thấy có điều gì đó mới mẻ đang đến, vui vui.

Họ đến bờ sông thì gặp một tốp trinh sát mặt trận đang đứng rải rác trên cồn cát vừa nhô lên khi nước rút. Một người đến nhìn sát vào mặt Trí và Mây. Anh ta nói:

- Hai vị này thì có đâu mà không tới được. Nhưng xin các vị quay về thôi. Nước sông còn to, chưa ai dám chèo đò. Bên Thu Bồn, Mỹ phục nhiều lắm.

Đó là những người quen biết Trí và Mây trong lần đi trinh sát chung. Đứng nói chuyện với họ một lúc, hai người quay về. Những người trinh sát mặt trận lại đi ra mép nước, hình như họ đang chờ đợi một điều gì đó.

Lần về, Mây không đi theo con đường trong làng. Cô đưa Trí vượt qua mấy gò đất cao sát khe Đá Mài. Khi đến lưng chừng gò Tập Phước, Mây bỗng đứng khựng lại. Một loạt AR.15 xẹt qua đầu Trí. Anh lăn ngay xuống cái hố bom gần đó. Đạn nổ như xé vải trên mặt đất. AR.15 rồi M.79, rồi đại liên và M.72. Bọn địch bắn như điên về hướng hai người vừa đi tới. Trí nghe có tiếng xì xồ trong tiếng súng. Anh biết bọn Mỹ chốt trên gò và anh đã đến rất gần chúng. Trí không nhìn thấy Mây đâu cả. Anh bò quanh hố bom để tìm cô. Nỗi lo cho Mây làm anh quên hết nguy hiểm. Có thể Mây bị ngay từ loạt đạn đầu. Trí lợi dụng những vệt sáng của đạn địch để quan sát. Dưới chân anh lổm nhổm những hộp sắt. Bọn Mỹ đổ đồ hộp xuống cả hố bom. Chúng định nằm lì ở đây chăng? Trí muốn gọi Mây một tiếng, nhưng anh sực nhớ ra bọn Mỹ đang nằm trên gò, có thể ào xuống bắt sống anh ngay. Trí lại bò lên mép hố bom. Nỗi lo của anh mỗi lúc một tăng. Chẳng lẽ cô ấy bị ngay loạt đạn đầu?


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 07 Tháng Năm, 2011, 10:56:20 pm
                                  Tiếp :
Một quả pháo sáng vọt lên. Hố bom choàng sáng ra, đỏ cạch. Những giây đầu Trí chưa kịp nhìn thấy gì. Nhưng sau đó anh thấy trước mặt mình là những nhà bạt của bọn Mỹ. Vỏ đạn M.79, vỏ đồ hộp vất bừa bãi khắp nơi. Trí nhìn thấy Mây nằm ngay dưới mép hố bom. Anh bò đến, nắm chân Mây kéo xuống. Trí đã chuẩn bị cho mình tình thế có thể cái chân đó không động đậy. Nhưng Mây lại tụt xuống đáy hố bom trước cả anh. Cô ghé miệng sát vào tai Trí:

- Mỹ cả anh à. Bắn một loạt thì ngon lắm.

- Không được. Bọn chúng đông. Hình như dưới chân gò bên trái cũng có chúng.

Hai người im lặng. Họ thở đều và nhanh. Mây nói:

- Chừ ta lách sát chân gò về nhà anh ạ. Tụi nó sắp bắn pháo đó. Mình đi sát gò, ít pháo.

Trí gật đầu. Quả pháo sáng rơi đến gần mặt đất rồi vụt tắt. Hố bom tối sầm lại.

- Lấy mỗi người một gùi hộp. Bất ngờ Trí nói.

Họ mở gùi ra, nhẹ nhàng nhét những hộp thức ăn Mỹ vào gùi. Mây hình dung Trí đang mỉm cười trong bóng tối. Cô cũng mỉm cười theo. Ngộ thiệt, cô nghĩ và cột gùi lại.

Họ đi theo sát chân gò, cách chỗ bọn Mỹ đóng khoảng một trăm thước. Đúng như Mây nói, pháo địch bắt đầu bắn, quả đạn nổ gần nhất cũng cách họ vài trăm thước. Quá nửa đêm hai người về đến nhà Mây.

Mây chỉ cho Trí cái giếng khuất sau một bụi chuối để anh rửa người. Cô quay vào che kín một góc hầm nhóm lửa. Khi rửa người xong, Trí đã thấy một ánh lửa ấm áp từ trong hầm hắt ra.

- Nhóm lửa làm gì đó Mây? - Anh hỏi.

- Em nấu tí nước. Anh có đói không?

- Đói lắm.

- Mình luộc rau lang ăn với đồ hộp Mỹ vậy - Mây nói và cô cười to.

Trí bấm đèn pin tìm cái khóa mở hộp. Mươi phút sau Mây đã luộc xong rau. Cô ra giếng rửa người rồi vào nấu thêm nước. Họ ăn rau lang với những hộp giò, hộp bún, hộp thịt ba lát Mỹ. Trí nhìn Mây ăn, anh cúi xuống mỉm cười.

Căn nhà lâu không có người ở đã lên mùi mốc, nhưng đối với Mây nó vẫn là nhà của cô. Ăn xong, Mây ra ngồi ở bậc cửa nhìn xuống cánh đồng. Trăng đã mọc. Vẫn vầng trăng nhô lên sau cái gò Dài từ bé cô đã ngồi đây chờ nó. Vậy mà bây giờ trong căn nhà Mây không biết nó có từ bao giờ này, nó với cô như cùng sinh ra một ngày chỉ còn lại một mình Mây. Ba má không còn, các chị lấy chồng xa mỗi người một nơi không biết đã xiêu bạt đến tận đâu. Người anh đầu của Mây chiến đấu trong Quảng Ngãi hai năm nay không có một lá thư về Mây cứ ngồi im cho những kỷ niệm cũ của ngôi nhà đến với mình. Giá như bây giờ có một người nào của ngôi nhà này, một người thôi đến đây với Mây, chắc cô sẽ hét thật to, nhảy đến với người ấy, mặc cho pháo có nổ bên cạnh. Nghĩ đến đó nước mắt Mây trào ra.

Có tiếng chân người sau lưng. Mây ngoảnh lại. Trí đã đứng bên cô. Anh nói nhỏ:

- Mây nghĩ gì đấy?

- Em nhìn đồng anh à. Anh vào hầm nghỉ một tí cho khỏe.

Trí ngồi xuống bậc cửa. Mây nghe rõ hơi thở của anh. Hai người ngồi im một lúc lâu. Rồi đột ngột Trí nắm lấy tay Mây, anh nói:

- Mây!

Mây giật mình ngoảnh lại:

- Sao anh? - Cô nhẹ nhàng gỡ tay Trí ra.

- Mây nói chuyện đi.

- Nói chuyện chi được anh?

- Chuyện gì cũng được. Anh muốn nghe em nói chuyện - Lần đầu Trí xưng hô với Mây như vậy và cô thấy mặt mình nóng bừng.

Trí đặt lên lòng bàn tay Mây một mảnh giấy và anh nắm chặt lấy tay cô. Hai người ngồi im như vậy cho đến lúc họ trở về hai căn hầm của những người trinh sát trước khi trời sáng. Mây đi tụt lại sau Trí vài chục thước. Cô muốn đi một mình. Mảnh giấy của Trí vẫn nằm gọn trong lòng bàn tay cô. Chưa có lúc nào đọc được nhưng Mây cũng đã mường tượng những điều Trí sẽ nói với cô trong mảnh giấy đó.

Dọc đường về, Mây đã khóc.

  Từ hôm nhận được mảnh giấy của Trí, mảnh giấy mà trong đó Trí đã tỏ tình với cô một cách quá ư thẳng thắn làm cô có lúc thấy lo lo, Mây ít gặp được Thanh. Một phần vì Thanh phải đi với trinh sát tiểu đoàn 5, chuẩn bị cho một trận tập kích mở thông đường giao liên xuống vùng sâu, nhưng Mây cảm thấy phần lớn có lẽ do Thanh muốn tránh mặt cô. Mấy lần đang đi trên đường, nhìn thấy Mây phía trước, Thanh đã rẽ đi lối khác. Mây nghĩ có lẽ Thanh giận vì câu nói của cô hôm Thanh đưa trung đoàn phó đi lấy gạo. Một lần Mây định sang hầm của Thanh nói chuyện, nhưng đi đến cửa không hiểu sao cô lại quay về.

Bốn hôm nay rồi, dù đang nghĩ gì Mây cũng quay về với Trí. Cô vẫn còn thấy đột ngột về những điều mà mảnh giấy đó nói với cô. Nhiều lần Mây cứ tự hỏi không biết anh ấy có thương mình thật không? Ai lại nghĩ đến chuyện đó trong khi đang ác liệt thế này. Tự nhiên Mây thấy xấu hổ với chính mình. Mãi đến hôm nay, Mây vẫn chưa nói chuyện được với Trí. Mỗi lần nhìn anh mặt cô lại đỏ lên. Nhưng từ khuôn mặt của cô đang toát ra một cái gì đó không hoàn toàn là một niềm vui, cũng không hoàn toàn là một tình thương. Có lẽ đó là niềm rung động mới mẻ đang hấp dẫn cô một cách lạ lùng. Mình thương ảnh thiệt sao?

Và đêm nay, Mây lại không ngủ được. Trí đi với tham mưu trưởng xuống vùng sâu đáng lẽ phải về từ chập tối, nhưng khi Mây tan họp lúc mười một giờ đêm anh vẫn chưa về. Cô thấy lo cho anh. Trước đây, mỗi lần trong tổ có người về không đúng hẹn cô đều lo. Nhưng chưa lần nào Mây thấy trong người bồn chồn như lần này. Mấy lần Mây xuống võng đi ra ngoài. Cô nhìn xuống con đường lờ mờ chạy ra bờ sông, vểnh tai chờ những bước chân từ dưới chân dốc lên. Mấy đêm trước những tiếng bước chân, những tiếng người từ dưới đó lên có bao giờ Mây để ý. Mỗi lần có tiếng động, cô nghĩ đó là một đoàn người từ dưới đồng bằng lên, thế thôi. Nhưng bây giờ Mây lại mong những tiếng động đó đến nỗi một con sóc nhảy qua cũng làm cô nhổm dậy, nhìn xuống đường.

Trong đêm có hai lần Mây mừng hụt. Đó là hai lần đi về của đồng chí thông tin đi nối dây. Cho mãi đến sáng, Trí vẫn chưa về. Nỗi lo của Mây lại tăng thêm. Cô chạy sang hầm của Thanh quên hết những mặc cảm với anh mấy hôm nay.

- Anh Thanh dậy chưa? - và khi thấy Thanh đang ngồi ghi chép gì đó trong hầm, cô nói luôn - Anh Trí chưa về anh Thanh ạ.

- Yên tâm. Anh Trí vừa gọi điện về đang dự họp dưới tiểu đoàn 5, trưa mới về.

Mây thở phào một cái. Bây giờ Thanh mới nhìn rõ được Mây. Khuôn mặt của cô hốc hác sau mấy đêm thức trắng trong trận lụt. Cái dáng điệu hấp tấp của Mây khi chạy sang đây vẫn như còn đọng trên người cô, từ tư thế ngồi đến cánh tay vịn vào cửa hầm. Chính những điều đó làm cho nét mặt Thanh thay đổi. ánh sáng từ ngoài dọi vào hầm làm Mây nhìn rõ đôi mắt Thanh. Đôi mắt đọng trong đó cái buồn rụt rè. Thanh vội cúi mặt xuống khi thấy Mây cứ nhìn chằm chằm vào mình. Mãi đến sau này, khi Mây xa trung đoàn, nhiều lúc Mây vẫn còn thấy lại đôi mắt buồn thâm trầm của Thanh buổi sáng này. Mây đứng dậy đi về hầm mình. Mây không ngờ rằng đó là buổi sáng cuối cùng của Thanh ở tổ trinh sát. Đến trưa khi Trí gợi ý cần một người xuống tiểu đoàn 4 thay đồng chí tiểu đội trưởng trinh sát vừa hy sinh, Thanh xung phong ngay. Anh ra đi vào buổi chiều. Lúc ra đi anh không hiểu vì sao mình lại xa cái tổ trinh sát gọn gàng mà trước đây anh đã nghĩ mình sẽ không bao giờ xa nó được.

*


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 07 Tháng Năm, 2011, 10:58:09 pm
                                                 Tiếp :
- Bữa anh đi vùng sâu em mong anh suốt đêm đó. Mây nói với Trí lúc hai người bắt đầu leo dốc.

- Hôm ấy anh có gọi điện về, Thanh không nói à?

- Có, nhưng sáng ngày em sang ảnh mới nói.

- Việc gì mà mong. Ai chết ngay được đâu mà lo. Mà có chết thì việc gì đến ai.

Mây nhìn anh cười:

- Chết thì thôi chớ sao.

Hai người tiếp tục đi. Con đường rừng chiều nay lạ hẳn đi sau loạt B.52 buổi trưa. Bom trúng ngay giữa trục đường, cây đổ lấp hẳn mất lối đi, Trí phải đạp đường dọc theo suối. Sáng nay, trên đường trinh sát về, Trí tưởng sẽ được nghỉ một buổi chiều để tắm giặt và ngủ một giấc. Nhưng chưa về đến nhà anh đã nhận được lệnh viết trên giấy của chủ nhiệm trinh sát. Chiều nay Trí phải có mặt ở trạm khách mặt trận để sáng mai về trường quân chính quân khu dự một lớp đào tạo cán bộ ngắn hạn. Trí không kịp chuẩn bị gì. Buổi trưa Mây ngồi khâu lại cho anh cái ba-lô rách vì mảnh pháo. Cô đổ vào ruột tượng của anh sáu lon gạo. Tổ trinh sát làm một bữa cơm chia tay với Trí. Anh em còn kịp rán cá chuối mò được dưới hồ sen vì một quả pháo 175 ly rớt trúng đêm qua. Nhưng đến khi Trí lên đường thì tổ trinh sát không còn ai, trừ Mây. Vừa ăn cơm xong, họ phải đi với trung đoàn trưởng xuống thôn Một để chuẩn bị vượt sông vào chập tối. Lúc Trí khoác gùi lên vai, Mây nói:

- Em đi với anh một đoạn.

- Em ở nhà, anh đi một mình cũng được.

- Không, em đi với anh lên chân dốc 530 rồi em quay về.

Trí nhìn đôi mắt sáng và ướt của Mây, anh không nói gì thêm. Hai người lên đường vào lúc nắng đã xiên qua căn lán đến với họ. Dọc đường Mây gần như im lặng. Cô đi sát Trí và nhìn theo những bước chân của anh. Cô đang ngạc nhiên với cả chính mình và cũng không hiểu nổi mình. Mới có mấy ngày mà cô thấy mình thay đổi nhiều quá. Trước cái đêm bị Mỹ phục lăn xuống hố bom đó cô vẫn còn tự nói với mình: mi hãy làm một cô gái vô tư đi, đừng thương riêng ai cả mà thương lấy tất cả. Mi còn trẻ quá, đừng dính dáng vào những chuyện lộn xộn đó. Mi hãy sống như hồi ở trại du kích, đừng để mấy đứa nhỏ bạn nói đến mình. Cô đã tự dặn mình vậy. Nhưng con người đang im lặng đi trước cô, con người đó đã đến. Anh ấy sống dũng cảm và sôi nổi. Anh ấy không có gì đặc biệt hơn hàng ngàn người lính trong trung đoàn nhưng đối với cô, con người ấy thật là hấp dẫn. Có lẽ quan trọng hơn là anh ấy đã đến với cô. Chỉ chừng ấy thôi cũng đã làm cho cô khác trước đi bao nhiêu rồi. Anh thương mình thật. Ngoài điều đó ra, hiểu thêm được gì ở con người ấy thì Mây cũng không cần biết. Cô đã bàng hoàng từ lúc cầm lấy mảnh giấy của anh và bây giờ thì làm sao cô có thể dứt ra khỏi con người đó được. Thỉnh thoảng Mây cũng nhớ đến Thanh, nhớ đến những tình cảm mà cô cho là vô tư của anh. Nhưng chỉ thỉnh thoảng thôi và cô lại quên đi ngay. Sau này, khi những năm tháng làm cô bình tĩnh trở lại, cô mới thấy rõ rệt dần cái cảm giác gì đó không đúng trong những lời nhận xét của Trí về Thanh trước mặt cô. Nhưng đó là về sau này.

Đến bãi nghỉ dưới chân dốc 530, hai người dừng lại. Trí nói:

- Em quay về nhé! - Im lặng một lúc - Học xong không chắc được về lại đơn vị Mây ạ - Anh nắm lấy tay cô - Em quên anh đi, được không?

Mây ngước lên nhìn anh. Có một cây chò cao còn lại trên lưng chừng đồi in vào đôi mắt của Mây. Trí lắc mạnh bàn tay cô:

- Nói đi chứ! Sao em không nói gì?

Mây vẫn nhìn anh. Rồi cô cúi xuống gục đầu vào ngực anh. Trí nghe rõ tiếng thở thổn thức của cô.

- Anh! Em không thề thốt chi đâu nghe! Anh cứ đi đi, khi mô về anh sẽ hiểu em. Anh tin em không? - Rồi đột ngột cô buông Trí ra - Anh đi nghe! Đi đi…

Mây đưa vội cái bọc nhỏ tang đó có mấy gói kẹo và mấy gói bột cam cho Trí. Cô quay trở lại nhanh chóng đến nỗi khi Trí hiểu ra thì không còn thấy Mây nữa. Cô đã khuất vào những bụi cây héo che mất con đường rừng dày những hố bom, hố pháo. Trí cũng đi như chạy lên dốc. Anh không dám dừng lại lâu ở cái nơi mà mới đây thôi. Mây còn nói với anh, còn nắm chặt tay anh. Trí cảm thấy như mình vừa qua một giấc mơ. Anh đi, chân vấp liên tục vào những cây ngã chắn ngang đường.

 Năm 1969, năm ác liệt nhất của cuộc chiến tranh ở đây nặng nề trôi qua. Càng cuối năm địch càng ra sức đánh phá vào những vùng giải phóng hai bên sông Thu Bồn. Các con đường lấy gạo hầu như bị bít kín. Trung đoàn với số thương vong cao và không được bổ sung quân số không đánh được trận nào đạt yêu cầu. Sau mùa mưa các đơn vị chưa biết cách nào để có đủ gạo nuôi sống bộ đội. Tổng trung đoàn không có nơi nào mỗi người một ngày ăn được một lon gạo. Tiểu đoàn 6 đóng ở vùng Dù Chiêng theo báo cáo thì đã hết gạo mười ngày nay rồi. ở bệnh xá trung đoàn, nhiều trường hợp cấp cứu được cứu chữa một cách đơn giản: tiêm gluco vào tĩnh mạch, cho uống nước đường, cho ăn sữa, cho ăn cháo, cho ăn cơm, giữ lại uống hết liều thuốc sốt rét rồi ra viện. Trong những ngày vất vả ấy, cả trung đoàn ai cũng nhắc đến Mây. Người ta không hiểu cô gái lấy đâu ra sức lực để làm việc trong những ngày ấy. Hầu như đêm nào Mây cũng đi. Không đi với đơn vị này thì đi với đơn vị khác. Người ta ngạc nhiên không hiểu vì sao trong các chuyến đi nguy hiểm Mây lại không bị một mảnh đạn nào (vì bao giờ cô cũng đi đầu). Cả trung đoàn quý mến người con gái đó. Người ta cũng biết quan hệ giữa Mây và Trí. Nếu như ở những người khác, câu chuyện tình của họ có thể bị lính ta tán ra nhiều vẻ. Nhưng đối với Mây, người ta chỉ thích nói về các chiến công của cô. Không ai nói ra nhưng những người lính ở đây thầm biết ơn cô.

Sang đầu năm 1970, trung đoàn không còn đứng được ở đồng bằng, cũng không đứng được ở những vùng giáp ranh. Gạo - điều đó đã làm trung đoàn phải bật lên các huyện miền tây để gần gũi hơn với các tuyến vận tải chiến lược. Trong những tháng trung đoàn đi xa, Mây vẫn bám chặt vùng đồi chè quê cô, cùng với những người được phân công ở lại làm nhiệm vụ chuẩn bị chiến trường, chờ trung đoàn về.

Buổi sáng mồng hai Tết, trên đường trở lại hậu cứ của đội trinh sát vừa bị địch đốt trước Tết, Mây gặp một đoàn người đang đi về phía cô. Mây nhận ra dáng người tầm thước, lưng hơi gù của Thanh đi giữa đoàn. Thanh đi lầm lũi, hình như không chú ý gì đến chung quanh, mắt nhìn xuống con đường gồ ghề những rễ cây. Nắng dìu dịu trên khắp bãi bom B.52 phủ lấy đoàn người. Qua khỏi bãi bom họ bắt đầu dừng lại bên những mô đá cạnh đường. Mây cũng nhận ra dáng người cao lớn của trung đoàn phó đi ngay sau Thanh.

- Anh Thanh - Mây gọi khi Thanh đã bỏ gùi ra khỏi vai.


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 07 Tháng Năm, 2011, 10:59:59 pm
                              Tiếp :
Thanh đứng thẳng người lên, đôi mắt sáng của anh ngơ ngác. Phải một lúc sau Thanh mới nói được, giọng vẫn bình tĩnh tuy có hơi nhỏ:

- Mây đi đâu đấy? Tết có vui không? Chúc năm mới nhé!

- Em qua chỗ hậu cứ. Anh xuống rồi à?

Thanh chưa kịp trả lời thì trung đoàn phó đã đi đến.

- Chào đồng chí Mây! Lâu quá rồi nhỉ? Có khỏe không?

- Báo cáo thủ trưởng vẫn thường ạ.

- Anh em ở lại có chuyện gì vui không?

Mây cười:

- Dạ, cũng được được ạ.

- Được được là thế nào? Cô lại học được cách nói của mấy ông đại khái rồi. Cái gì cũng phải tỉ mỉ và chu đáp. Phải học cậu Thanh về điểm này - Trung đoàn phó nhìn sang Thanh. Mây thấy tai anh đỏ dần lên - Cậu ấy bao giờ cũng thận trọng và chu đáo. Bây giờ cô kể tỉ mỉ tình hình dưới này cho tôi nghe đi.

Mây kể những việc đã làm của những người ở lại từ khi trung đoàn lên miền tây đến giờ. Trung đoàn phó nghe xong, ông ngồi im một lúc lâu rồi mới thốt ra một câu ngắn:

- Chỉ có sáu người bám lại cửa ranh thôi à?

Mây nhận ra được trong lời nói và trên nét mặt của ông sự xúc động mỗi lúc một tăng thêm. Trông ông bây giờ khác hẳn đi. Con người mà cả trung đoàn ai cũng biết về sự nghiêm khắc và tự tin này, qua những tháng gian nan nhất của trung đoàn đã trở thành một người dễ xúc động. Nghe nói dạo này ông rất mến và tin Thanh. Điều đó làm cô nhớ đến cái đêm Thanh đưa ông đi lấy gạo. Không hiểu sao nhớ đến điều đó Mây thấy tai mình nóng bừng lên.

Trung đoàn phó ra lệnh tiếp tục đi. Đoàn người lần lượt bắt tay chào Mây. Thanh đi sau cùng. Khi anh khoác gùi lên vai thì anh em bỏ anh khá xa. Anh nắm lấy tay Mây.

- Cho tôi gửi lời thăm anh em quen. Phải đi đây Mây ạ, đang vội mà.

Nói xong, Thanh xốc vùi chạy theo đoàn người. Mây ngẩn người như vừa bước hẫng một bước. Bây giờ Mây mới hiểu ra, trong giọng nói bình thường của Thanh, có một điều gì đó mà anh cố giấu đi. Mây cũng hiểu ra lúc nãy vì sao Thanh lại cứ nhìn xuống mặt đường đầy những rễ cây. Có lẽ anh đã nhìn thấy Mây trước. Cô đứng nhìn theo bóng Thanh. Anh đang đi nhanh xuống dốc. Trên đầu anh, dãy núi Bàn Cờ xanh một cách kỳ lạ. Chưa bao giờ Mây nhìn thấy một dãy núi lại xanh đến như vậy.

Từ hôm đó cho đến năm năm sau, Mây không có dịp nào nói chuyện với Thanh nữa. Cái dáng đi hấp tấp và dãy núi màu lam ấy là điều Mây nghĩ đến đầu tiên hôm Thanh lên thăm cô ở trạm an dưỡng.

Cuối năm, Trí trở về trung đoàn. Anh xuống chỉ huy đại đội bộ binh được một năm lại trở về tiểu ban trinh sát. Mây cũng được điều về ban hậu cần, làm việc ở tiểu ban quân nhu. Tiếng là về phía sau, nhưng Mây vẫn bám đồng bằng, bám từng chuyến đò qua sông, từng hầm gạo trên các bãi cát. Tuy ở cùng trung đoàn, nhưng Mây và Trí ít có dịp gần nhau. Họ lo lắng cho nhau trong mỗi trận đánh, mỗi đợt công tác, mỗi chiến dịch. ở đây những năm 1970, 1971 kẻ thù đã tỏ ra không hề tiếc bom đạn để hòng đẩy các lực lượng của ta ra xa các căn cứ của chúng. Dù có chu đáo đến đâu, cũng không ai có thể lường hết được mọi sự bất trắc. Trong những năm đó, trung đoàn vượt qua hết thử thách này đến thử thách khác để đến với các chiến dịch, Mây và Trí hai con người trong khối người đó cũng vui mừng, đau đớn, gian lao với trung đoàn. Thời gian họ dành cho nhau rất ít ỏi. Đó là sau các chiến dịch ở những cuộc hội nghị mà hai người cùng dự và hai lần Trí bị sốt rét phải nằm bệnh xá. Mây nghĩ như vậy cũng đã quá đầy đủ so với những hy sinh mà hàng ngày cô thấy ở đây.

Đến giữa năm 1973, trung đoàn quyết định Mây phải ra miền Bắc để vừa an dưỡng điều trị bệnh vừa học thêm văn hóa. Mây chần chừ không muốn ra đi. Cô nghĩ sao mình lại ra đi khi trung đoàn còn vất vả đánh địch đang lấn chiếm vùng giải phóng quê hương cô. Nhưng chính uỷ đã gọi cô lên và buộc cô phải đi vì ai cũng thấy Mây yếu đi nhiều so với hồi mới đến trung đoàn.

Buổi chiều trước hôm lên đường, Mây đi một vòng khắp các nhà của cơ quan trung đoàn và các đơn vị trực thuộc để chào mọi người. ở đâu người ta cũng gặp cô cười nói vui vẻ. Một đồng chí cán bộ lớn tuổi nói với Mây: "Lần này thì vui vẻ nhé. Ra đó được về thăm nhà thằng Trí rồi".

Nhưng đêm ấy Mây thức trắng đêm. Cô khóc. Chưa bao giờ Mây lại khóc nhiều như vậy kể cả lần má chết. Cô cứ để cho nước mắt mình thấm ướt cả khăn bông, thấm ướt cả một vạt võng. Ba giờ sáng Mây ra đi. Mây không muốn bất cứ một người nào trong trung đoàn trông thấy cô lúc lên đường. Lần này Trí cũng không tiễn cô được vì anh đang đi chuẩn bị chiến trường ở xa.

 

III

Câu chuyện sẽ không có gì phải kể thêm nếu như không có những thay đổi trong lúc Mây về hậu phương. Đến trạm đón tiếp đầu tiên, người ta đưa Mây về một bệnh viện phía tây Thủ đô để điều trị sốt rét. Sau hai tháng với một giấy ra viện, Mây được chuyển đến một trạm an dưỡng phía nam. Trước khi nhập trạm, Mây được nghỉ bốn ngày. Cô dự định sẽ về nhà Trí cả bốn ngày đó. Mây cũng có một bà cô ra đây từ năm 1954, đang công tác trong Hà Tĩnh phải mất hai ngày xe mới tới. Mây đã viết thư cho bà nhưng chưa nhận được thư trả lời. Còn nhà Trí chỉ cách bệnh viện có hai chục cây số. Cô quyết định đến đó.

Mây đi vào một buổi sáng trời trong. Sau đợt mưa bốn ngày liền vừa mới dứt hôm qua, mọi vật như đang tỉnh lại. Nền trời xanh thẳm không một gợn mây. Mây cảm thấy một niềm vui không rõ ràng đang đến với mình.

Đến đầu làng, Mây vẫn không hỏi đường. Cô muốn tự tìm đến ngôi nhà mà Trí đã kể cho cô nghe nhiều lần. Nhưng qua cái sân kho hợp tác, Mây thấy ở đây khác với điều cô hình dung trong đầu. Không có con đường vòng quanh ao. Cũng không thấy cái cổng xây. Cạnh bờ ao là một con đường thẳng tắp ra cánh đồng, hai bên xà cừ đã tỏa bóng mát. ở đây không giống một tí nào trong câu chuyện dự tính của Trí khi đưa Mây về nhà. ảnh xa nhà gần mười năm rồi còn gì, Mây nghĩ. Cô dừng lại hỏi một đứa bé khoảng mười tuổi vừa đi tới đang tò mò nhìn cô:

- Nhà anh Trí chỗ nào, cháu?

Đứa bé vẫn nhìn Mây, một lúc sau nó mới trả lời:

- Đi thẳng vào ngõ này, cô ạ.

Mây đi vào cái ngõ theo tay chỉ của nó. Trong sân, một cô gái đang quét rác. Thấy có người lạ, cô dừng chổi lại. Mây hỏi trước:

- Dạ, đây là nhà anh Trí?

- Vâng, chị hỏi gì ạ?

- Tôi cùng đơn vị với ảnh, ở trong Nam ra cô à.

Cô gái đánh rơi cái chổi xuống sân, chạy ngay vào nhà trong bỏ khách đứng một mình. Mây nghe tiếng cô ta rối rít:

- Mẹ ơi, có người trong đơn vị anh Trí ra đây này.

Một người đàn bà, ba bốn đứa nhỏ và hai người đàn ông chạy ra. Họ đứng sững lại một tí, chừng như ngạc nhiên vì sao người cùng đơn vị với Trí lại là một cô gái. Người mẹ - Mây nhận ra ở người đàn bà đang nắm lấy tay cô - nói:

- Mời cô vào nhà. Chúng bay đâu, lấy nước mời khách chứ!

Sau những phút mời mọc khách sáo, người ta tranh nhau hỏi chuyện về Trí. Mây phải mỉm cười xin lỗi nhiều lần vì cô không biết trả lời ai trước. Người mẹ khi nghe Mây kể một phần nhỏ về những năm gian khổ ở chiến trường, mắt rơm rớm nước:

- Tội cho em nó. Ngày trước ở nhà nó sướng lắm cô ạ. Việc gì cũng có anh có chị làm cho. Vào đấy chịu khổ sao nổi. Em nó có gầy lắm không cô?

- Dạ, ảnh cũng có gầy, nhưng là người khỏe của đơn vị bác à. Một năm chỉ sốt vài lần thôi.

Người mẹ lau nước mắt mỉm cười. Bà nhìn thẳng vào mắt Mây như muốn dò hỏi một điều gì đó. Mặt Mây đỏ dần lên. Trong cái không khí nhộn nhịp xa lạ ở đây, Mây có được sự yên tĩnh trong lòng mình là nhờ cái nhìn của người mẹ.

- Chắc trong đó em nó chưa xây dựng gia đình với ai?

Bà hỏi.

Mặt Mây càng đỏ thêm, cô ấp úng:

- Dạ.

- Ngoài này cũng có mấy đám. Nhưng phải chờ em nó về. Cô nghỉ được có lâu không? ở đây chơi với gia đình mấy ngày. Em nó xa nhà mười năm nay, có cô về gia đình cũng coi như em nó về vậy.

- Dạ, thưa bác, cháu phải vào trạm an dưỡng, chiều nay phải đi rồi bác ạ - Mây cũng không hiểu vì sao cô lại nói ra câu ấy mặc dù trước khi đến đây cô đã định ở lại đây suốt bốn ngày nghỉ của mình.

Từ đó cho đến chiều, căn nhà mỗi lúc một đông thêm. Mây lại tiếp tục kể những câu chuyện của Trí cho cả nhà nghe. Trong câu chuyện cô không hề nhắc đến quan hệ giữa cô và Trí. Những người trong nhà tuy còn dè dặt, nhưng đã coi cô như một người thân của gia đình. Chỉ có cô em gái Trí, vẫn nhìn Mây bằng cặp mắt vừa dò hỏi vừa như đề phòng một cái gì cho anh cô.

Khi ra đi, Mây không ngờ cô lại bịn rịn với ngôi nhà mà lúc mới đến cô còn thấy xa lạ này. Người mẹ tiễn cô ra đường cái, bà nói:

- Khi nào rỗi, cô về thăm cho cả nhà vui.

Mây thấy nước mắt bà đang trào ra.

Trên đường về, lần đầu tiên Mây thấy một cái gì đó đang cựa quậy trong bụng mình. Cô muốn gọi to: "Anh Trí". Nước mắt Mây trào ra. Mây không cần hiểu niềm vui gì đang đến với mình, cô thấy nhớ Trí và muốn nhớ tới anh. Cô cũng thấy nhớ những ngày tháng chiến trường và nhớ cả ngôi nhà cô vừa đến sáng nay, ngôi nhà mà cô ở đó chưa được một ngày.


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 07 Tháng Năm, 2011, 11:01:43 pm
                                               Tiếp theo :
Một chiếc xe con đột ngột dừng lại cạnh đường. Có tiếng gọi từ trong xe:

- Có phải Mây đó không?

- Thủ trưởng! - Mây reo lên khi nhìn thấy cái đầu đã bạc một nửa của Thạch thò ra khỏi xe.

- Cô đi đâu đấy?

- Dạ, em về trạm an dưỡng.

- Lên xe vào chỗ tôi chơi một hôm. Trong đó có mấy anh em trung đoàn mình. Mấy cậu ấy cũng về an dưỡng đấy!

Một anh lính trẻ lùi ra phía sau nhường chỗ cho Mây. Chiếc xe lại lao đi.

Gần tối, Mây về đến trạm trú cán bộ, nơi Thạch nghỉ tạm mấy hôm trước khi vào dự một lớp tập huấn quân sự của cán bộ trung cao cấp.

Từ khi Thạch về chỉ huy sư đoàn cách đây ba năm, bây giờ Mây mới gặp ông. Ông không già đi mấy nhưng không được khỏe bằng ngày còn ở trung đoàn. Cơm xong, ông gọi Mây lên hỏi chuyện. Mây không ngờ rằng tuy ông không ở gần, nhưng ông vẫn quan tâm đến sự tiến bộ của cô. Ông nhìn Mây một lúc lâu, như sực nhớ ra điều gì, ông nói:

- Trí sắp ra đấy, biết chưa?

- Dạ, chưa.

- Nó ra học thêm bên học viện quân sự. Có lẽ cuối tháng này đến nơi được.

- Vậy hả thủ trưởng? - Mây mở to mắt nhìn ông.

Tối hôm đó, sau những câu chuyện vui vẻ với những người cùng trung đoàn và sau khi mọi người đã ra về, Mây nán lại phòng Thạch. Trong câu chuyện với người thủ trưởng cũ, Mây không giấu ông một điều gì. Cô nói cho ông cả chuyện cô đang mang một cái thai.

- Em có lỗi với mọi người, phải không thủ trưởng? - Mây nói xong cô oà lên khóc.

Người lính đã gần năm mươi tuổi ấy nắm lấy tay cô. Cô nhìn ông trong làn nước mắt. Chính con người trong đêm đầu tiên gặp Mây đã dọa sẽ bắn cô nếu cô đưa ông vào địch bây giờ đang nhìn Mây như một người cha nhìn đứa con mình. Đôi mày ông chau lại, hình như ông đang suy nghĩ một điều gì đó thật khó hiểu đối với Mây. Nhưng Mây lại cảm thấy an tâm khi có ông ở đây. Cô ngước mắt lên nhìn ông:

- Bây giờ em cũng chưa biết làm thế nào đây.

- Đáng ra cô cậu phải nói với trung đoàn một tiếng - ông nói - Bây giờ lỡ rồi biết làm sao. Chờ Trí nó ra đây tôi sẽ tổ chức cưới cho. Nhưng cô cậu phải hứa với tôi sống cho thật tốt, phải thương yêu nhau suốt đời.

Mây lau nước mắt. Cô rót nước cho ông. Rồi tự nhiên cô đem hết những chuyện về mối tình của cô với Trí kể cho ông nghe. Cô kể chân thành đến nỗi nhiều lúc người lính già ấy cảm thấy ngượng. Những điều Mây kể không còn thích hợp với lứa tuổi ông nữa. Nhưng ông cũng vui lây với câu chuyện của cô gái.

*

*   *

Con đường Trí đang đi là một bờ mương dài đến mút tầm mắt. Ngày Trí ở nhà chưa có con mương này. Trong lòng mương, dòng nước đục lờ đờ chảy cùng hướng anh đi. Cô Thái, em gái Trí theo tiễn lâu lâu phải dừng lại chờ anh. Trí đi chậm, anh muốn nhìn thật kỹ cảnh sắc quê hương sau mười năm xa nó. Con đường làng chui giữa hai hàng cây, cái giếng có cây gạo to bị bom phạt đi mất ngọn, ngôi trường học cũ, cái bến nước đầy rêu xanh. Tất cả những cái thân thuộc đó, bây giờ lại như rất mới mẻ đối với Trí. Anh không ngờ rằng mình lại có thể về thăm nhà nhanh đến như vậy. Trên đường về hậu phương, nhiều lúc Trí cứ tự hỏi vậy là mình về thăm nhà thật à? Thấm thoắt đã mười năm trôi qua. ở chiến trường, công việc bề bộn, mùa này nối mùa khác, chiến dịch này nối chiến dịch khác, trận đánh này sang trận đánh khác, thời gian trôi đi vụt vụt. Bây giờ Trí cảm thấy như ngày mình xa quê đi bộ đội đâu mới như một hai năm nay thôi.

Trí ra đến học viện thì chỉ còn hai ngày nữa khóa học sẽ bắt đầu. Anh tranh thủ hai ngày đó về thăm nhà. Hai ngày ở nhà nhưng Trí chỉ ăn cơm với mẹ được một bữa. Bà con họ hàng kéo đến chật nhà suốt cả hai ngày. Người ta hỏi thăm chuyện ngoài mặt trận, hỏi thăm tin tức những người thân vào chiến trường từ những năm trước. Trí ngồi tiếp chuyện hết người này sang người khác và đến bữa ăn người ta tranh nhau lôi anh đi. Hai ngày sống trong tình thương của gia đình, làng xóm, Trí càng nhớ tới những người còn ở chiến trường, nhớ tới những người đã hy sinh.

Nhưng có một điều Trí cũng không cắt nghĩa nổi cho mình là từ hôm ra đây anh rất ít khi nghĩ đến Mây. Anh không hiểu vì sao lại như vậy? Khi bước những bước đầu tiên khỏi trung đoàn anh đã nghĩ rằng mảnh đất này, những con người ở đây sẽ đi với anh suốt cuộc đời sau này. Và lúc vội vã chuẩn bị để ra đi anh cũng nghĩ rằng, ra đây anh sẽ đến thăm Mây ngay. Thế mà từ lúc đến ngoài này. Trí lại thấy điều đó như là một điều gì hơi mơ hồ, mặc dù về đến nhà anh đã nghe mẹ anh kể lại chuyện Mây đã đến thăm. Qua câu chuyện Trí biết cả nhà đều cảm tình với cô, tuy không ai biết về quan hệ giữa hai người. "ừ, rồi sẽ sắp xếp lên thăm cô ấy một buổi" - Có lần Trí đã nghĩ chỉ có vậy.

Đến cái cầu xi-măng bắc qua con mương, Thái đi chậm lại. Cô chờ cho Trí lên kịp mình rồi nói:

- Anh Trí, bây giờ anh tính chuyện vợ con sao chứ? Mẹ định hỏi anh mà hai ngày vừa rồi chưa hỏi được đấy!

- ý em thế nào?

- Việc đó thì tùy anh thôi. Nhưng em nghĩ anh ra đây học một vài năm lại vào chiến trường, anh nên tranh thủ xây dựng đi cho yên một bề. Mà anh cũng đã gần ba mươi rồi. Nếu anh quyết thì không khó lắm đâu. Anh có nhớ chị Tịnh không? Tuy chưa ai nói gì, nhưng mấy năm nay chị ấy có ý chờ anh đấy. Em nói chắc anh không tin đâu, nhưng mà thật như vậy. Mà mẹ thì thương chị ấy lắm. Chị Tịnh tốt nghiệp bác sĩ năm ngoái, đang công tác trên tỉnh, lần nào về cũng đến nhà ta cả… - Thái nói, lâu lâu lại ngoảnh sang nhìn Trí. Cô thấy nét mặt Trí không có gì thay đổi, cô bèn im lặng đi bên anh.

Còn Trí, anh đang cố nhớ lại hình dáng cô Tịnh cách đây mười năm. Đó là cô bé học trò lớp bảy có khuôn mặt tròn và đôi mắt rất to. Trí không hiểu vì sao cô bé ấy bây giờ trở thành một bác sĩ. Nhưng vì sao cô ấy lại chờ mình? ý nghĩ ấy đầu tiên làm cho Trí cảm thấy buồn cười. Nhưng nhớ lại một thời đi học, nhớ con đường đến trường quen đến từng mô đất, anh lại thấy có điều gì đó vui vui. Hồi ấy, ngày hai lần đi về Trí đều qua nhà Tịnh. Cái hàng rào mạn hảo hồi ấy sáng nay anh đi qua vẫn còn nguyên. Trí cũng đã đến thăm gia đình Tịnh sáng qua, nhưng anh nào ngờ đến chuyện này. ờ, lại có chuyện ấy sao? - Trí nhận ra có điều gì đó, thật là đột ngột đang đến với anh. - Lại có những người như vậy sao?

- Anh Trí này - Thái hỏi cắt đứt dòng suy nghĩ của anh - cái chị Mây hôm trước đến nhà mình với anh là thế nào đấy? Em hơi nghi đấy nhé! - Thái cười - Anh nói thật đi. Không ai lại tự dưng lặn lội đến nhà con trai thế đâu.

Trí nhìn em, anh nói, giọng hơi vội:

- Không, không có gì đâu. Người cùng đơn vị thôi mà.

Hai anh em tiếp tục đi trên bờ con mương mỗi lúc như một dài ra. Trí ngạc nhiên không hiểu vì sao anh lại nói với em mình như vậy. Anh nhớ hồi còn ở trung đoàn, anh đã nghĩ và hình như cũng đã nói với Mây, khi ra đây, anh sẽ nói với gia đình biết chuyện của hai người mà người đầu tiên anh sẽ nói là cô em gái đang đi cạnh anh đây. Trước kia trong chiến trường gian khổ ác liệt khác, bây giờ ra đây mọi thứ đều có hoàn cảnh của nó, tình cảm con người nó cũng phải khác đi chứ! - Trí tự chống chế cho mình như vậy.

Và Trí cũng nhận ra rằng đối với Mây, anh cảm thấy có điều gì đó, như là một sự ràng buộc, một mối liên hệ không còn phù hợp với anh nữa. Đầu óc anh như mụ đi, như có gì vướng víu mỗi khi nghĩ đến chuyện đó.

Trí lên trạm an dưỡng thăm Mây một buổi sáng. Mây tiếp anh ngay ở trong phòng mình. Những người bạn gái mới, ở nhiều chiến trường ra đây an dưỡng đã lặng lẽ ra ngoài để căn phòng rộng chỉ còn lại hai người.

- Mây ra đây có khỏe không? - Trí hỏi, mắt anh không rời khỏi khuôn mặt Mây. Mới xa anh bốn tháng mà trông Mây lạ hẳn đi. Khuôn mặt cô trắng ra, có phần hơi xanh. Trong đôi mắt lanh lợi của Mây đã xen vào những nét chậm chạp mà Trí không ngờ.

- Em vẫn khỏe anh à. Từ bữa ra đến giờ chỉ sốt một lần thôi. So với mấy chị phòng này em vào loại khá hơn cả đó. Anh ở đây có được lâu không?

Trí vẫn ngồi im lặng nhìn ra những khóm hoa mười giờ phía ngoài cửa sổ. Mây cảm thấy hình như anh không nghe rõ câu hỏi của cô.

- Được một buổi thôi Mây ạ. - Trí nói chầm chậm, giọng không ra vẻ vui mà cũng không ra vẻ buồn - Trường không cho đi nhiều.

Mây nhìn vào miệng Trí. Một thoáng buồn hiện lên trên mặt cô. Bữa nay là chủ nhật - Mây nghĩ - có lẽ anh đang bận việc gì đây. Lần đầu Mây nhận ra trong câu nói của Trí có điều gì đó không còn như trước nữa. Ngày xưa ảnh nói chi mình cũng tin ngay mà, Mây lại nghĩ.

Trí kể cho Mây nghe những chuyện ở trong đó từ ngày cô đi. Giọng anh cứ ngắt quãng như mắc một cái gì trong miệng Mây không ngờ rằng một người xốc vác nhanh nhẹn như Trí lại có thể nói năng một cách mệt mỏi như vậy. Tự nhiên Mây rùng mình như có một hơi lạnh tràn vào căn phòng.

- Ngày trước ở trong chiến trường mọi điều đều đơn giản, bây giờ ra đây thấy khác quá Mây ạ - Trí nói, vẫn cái giọng ngắt quãng kia.

- Vì sao vậy anh? - Mây hỏi và nhìn thẳng vào mắt Trí.

- Cũng không hiểu vì sao nữa, nhưng có điều là bây giờ hoàn cảnh có khác trước.

Nếu như trước kia thì Mây đã hỏi dồn Trí một câu nữa. Nhưng bây giờ nhìn đôi mắt của Trí, đôi mắt như đang cố tránh một điều gì đó Mây lại thôi. Mây bỏ tay từ trên bàn xuống đầu gối mình, mắt nhìn ra xa, lúc này cô không còn nghĩ ngợi điều gì nữa cả.

- Mây ở đây có khó khăn gì không?

Mây giật mình ngoảnh lại nhìn Trí, cô nhếch mép cười:

- Không có khó khăn gì đâu anh à. Anh chị em ở đây sống được, em cũng sống được.

- Sắp tới học căng lắm, chắc không xuống thăm luôn được.

- Tuỳ anh thôi. Mà đường cũng xa anh Trí à. Em ra đây sống một mình cũng quen rồi - Mây nói đến đó, nước mắt cô muốn trào ra. Hai tay Mây giữ chặt lấy mép bàn.

- Em lấy nước anh uống - Mây đứng dậy đi sang phòng bên cạnh. Cô gạt nhanh những giọt nước mắt trên má. Cô đứng một lúc rồi mới xách cái phích nước và bộ chén sứ về phòng mình.

Đến hết buổi Trí và Mây vẫn nói với nhau những câu chuyện về trung đoàn, nhưng càng về sau càng rời rạc. Khi tiễn Trí về rồi, Mây lại thấy ngỡ ngàng về buổi gặp này và Mây cũng không còn nhớ trong cả buổi Trí đã nói với cô những chuyện gì. Mây chỉ biết là cô chưa nói với Trí cái điều hệ trọng, điều mà cô nghĩ sẽ nói trước với anh khi gặp anh ở đây. Đó là cái thai đang cựa quậy trong bụng cô. Mây cũng không hiểu vì sao khi nhìn Trí đạp xe khuất vào những lùm cây bên đường cô lại nghĩ mình không nói thế mà lại hơn.

Ba hôm sau, Mây nhận được một lá thư của Trí.

Đó là một lá thư ngắn, không phải để hỏi thăm mà để nói cho Mây rõ những suy nghĩ của Trí. Anh nói bây giờ mỗi người phải lo chữa bệnh và học tập thật tốt, phải bình tĩnh nhìn lại những tình cảm bồng bột của mình hồi ở chiến trường. Trí muốn Mây nói cho anh rõ ý kiến của Mây. Đọc xong lá thư, Mây tự hỏi tại sao lại như vậy? Nhiều lúc cô có cảm giác như đang tự đánh lừa mình. Mây biết mình phải làm vậy vì đứa con đang đạp lúc mạnh, lúc nhẹ trong bụng cô.

Nhưng Mây không viết thư trả lời Trí.

Gần ngày sinh, Mây lại nhận được một lá thư của Trí. Lá thư này do người cần vụ của Thạch mang đến. Mây để thư vào cặp, cô chưa vội đọc. Cô ngồi nghe người mang thư kể những chuyện ở trường. Qua câu chuyện, Mây biết học xong Trí lại vào chiến trường ngay và hình như Thạch có gọi Trí lên nói chuyện một buổi. Mây hiểu rằng như vậy Trí đã biết hết mọi chuyện. Mây thấy như mình nhẹ nhõm được một phần. Nhưng khi người cần vụ về được một lúc, những người trực ở bệnh viện, nơi Mây vào nằm chờ ngày sinh đã chạy đến buồng cô. Mây đã ngất đi trên tay còn cầm lá thư của Trí. Người ta phải tiêm thuốc trợ tim cho cô. Khi tỉnh lại, căn buồng chỉ còn lại bà bác sĩ già, người đã theo dõi sức khỏe cho Mây từ hôm cô vào đây. Bà ta nói với Mây:

- Em đừng buồn nữa, em phải nghĩ đến đứa con mình.


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 07 Tháng Năm, 2011, 11:04:53 pm
                                     Tiếp :
Mây ôm lấy bà như ôm lấy người mẹ:

- ảnh muốn cháu khổ để không sinh được con phải không bác - Rồi cô khóc nấc lên trong lòng người thầy thuốc già.

Nhưng rồi Mây cũng sinh đứa con trai mẹ tròn con vuông vào một ngày đầu năm. Cả bệnh viện ai cũng mừng cho cô. Người ta nói nếu không phải người can đảm thì sinh nở sẽ khó khăn hơn nhiều.

 Mây sinh con đầy tháng được hai ngày thì vào một buổi trưa, một chiếc com-măng-ca đến đỗ trước cổng bệnh viện. Chị hộ lý báo cho Mây biết có người đến thăm cô. Cô vội ủ con xuống giường đi ra phòng trực của bệnh viện. Mây thấy Thạch và Trí đã ngồi chờ sẵn trong phòng. Thạch lơ đãng nhìn ra cửa sổ, nét mặt ông trông hiền và lạ. Cạnh ông, Trí ngồi đầu hơi cúi xuống, anh đang nhìn vào đôi dép dưới chân mình. Hai người cùng ngoảnh ra khi Mây bước vào. Thạch nhìn cô một lúc lâu. Chắc là sau khi sinh, người Mây gầy và xanh hơn đã làm ông chú ý. Trong khi đó Trí lúng túng không biết làm gì, anh cứ lật lật hoài cuốn sổ đang cầm trên tay.

- Mây ngồi xuống - Thạch nói - Bây giờ chúng ta nói chuyện nghiêm chỉnh. Tôi không có nhiều thì giờ, ngày mai tôi vào lại chiến trường rồi. Tuy không còn là thủ trưởng của các bạn nữa, nhưng tôi vẫn thấy mình có trách nhiệm với các bạn. Anh Trí như vậy là có lỗi, có lỗi to với cô Mây rồi đấy! Bây giờ anh nói đi, anh nói cho cô ấy nghe như anh đã nói với tôi ấy.

Từ lúc bước vào phòng, tuy đã cố trấn tĩnh nhưng Mây vẫn còn như bàng hoàng với chính mình. Trí đang ngồi trước mặt cô. Con người mà cô đã từng yêu thương, hy vọng, giận hờn, mong đợi đó lúc này trông khác đi nhiều. Anh đang ấp úng chưa biết bắt đầu câu chuyện như thế nào. Khuôn mặt Trí đang đờ ra vì hối hận. Ngày trước chưa bao giờ Mây thấy Trí có khuôn mặt đó. Tình thương trào lên trong lòng cô. Có lẽ vì mình mà anh, con người đã vượt qua được bao nhiêu thử thách ở chiến trường, con người có những ngày sống đẹp đẽ ấy lại có bộ mặt đau đớn như vậy sao? Mây thấy mắt mình cay cay.

Trí bắt đầu nói. Giọng anh chẳng khác gì ngày trước. Đầu tiên Trí xin lỗi Mây về những lá thư anh gửi cho cô. Trí nói rằng khi anh về nhà, gia đình không đồng ý với việc anh sẽ lấy một người vợ xa xôi như vậy (Mây sực nhớ tới gương mặt, giọng nói, cử chỉ của người mẹ Trí. Tự nhiên cô không tin vào những điều Trí nói về gia đình anh). Trí nói rằng trong lúc anh xa nhà, một người con gái đã im lặng chờ đợi anh và vẫn còn chờ quyết định của anh. Người con gái ấy đã được cả nhà anh quý mến, coi như một đứa con trong nhà. Chính trong hoàn cảnh mới như vậy làm anh có những điều không phải với Mây. Khi gặp Thạch, nghe ông nói về Mây, anh thấy mình có lỗi và anh đã ân hận. Trí nói rằng bây giờ anh hiểu không có gì đổi được những kỷ niệm của hai người ở chiến trường. Sở dĩ sau ngày sinh anh không đến thăm Mây được sớm vì anh không có đủ can đảm một mình đến đây, phải chờ thủ trưởng có dịp rảnh mới cùng ông đến được. Anh muốn Mây bỏ qua cho anh mọi việc vừa rồi. Anh sẵn sàng nghe mọi quyết định của Mây. Anh hy vọng hai người sẽ sống với nhau đẹp đẽ hơn.

Trí nói xong, Mây thấy những giọt mồ hôi lấm tấm trên trán anh. Rõ ràng tuy đã có chuẩn bị nhưng Trí vẫn rất vất vả mới nói hết được mọi chuyện. Căn phòng im lặng đến ngột ngạt. Thạch lâu lâu lại liếc sang phía Mây, dường như ông đang chờ đợi một lời trách móc Mây sẽ nói ra, rồi sau đó Mây sẽ chấp nhận những điều Trí vừa nói. Ông cảm thấy sự có mặt của ông sẽ làm Mây dễ dàng tha thứ cho Trí mọi điều, hai người lại trở về với nhau, sống với nhau tốt đẹp hơn. Và ông nghĩ mình quan tâm đến họ như vậy là quá chu đáo. Nhưng Mây vẫn im lặng. Sự im lặng kéo dài đó của Mây làm ông bắt đầu nghi ngờ vào những dự tính của mình.

- Anh Trí ạ - Giọng Mây nhỏ và rất trong đến nỗi cả ba người đều cảm thấy căn phòng như hẹp lại - Mọi điều đều muộn cả rồi. Em không thể làm theo anh được. Chúng ta không thể sống với nhau như trước được nữa đâu. Em nói thiệt đó, không được nữa anh à. Anh hãy bỏ qua cho em những điều em không phải với anh.

Mây nói gọn và chắc một cách bất ngờ.

Trí không dám ngẩng lên nhìn Mây khi cô nói những điều đó. Còn Thạch, ông mở to mắt nhìn vào miệng cô. Ông không ngờ rằng cái miệng nhỏ, có hàm răng đều đó lại nói ra những điều quyết liệt như vậy, trái với mọi dự tính của ông trước khi đến đây. Nhưng nét mặt Mây (ông sực nhớ tới nét mặt cô trong đêm đầu tiên gặp ông mà cô quả quyết sẽ đưa ông qua hai chốt địch an toàn) đã làm cho ông hiểu những điều cô nói. Ông biết những điều đó không thể thay đổi được vì một lời khuyên nào, cho dù đó là lời khuyên của ông. Ông buột miệng nói: "à ra thế".

Căn phòng im lặng như vậy rất lâu cho đến khi người lái xe vào báo cho Thạch và Trí biết đã đến giờ ông phải về doanh trại. Và khi trở về phòng mình, Mây nằm vật xuống giường, hai tay ôm lấy mặt, cô không để bật ra tiếng nấc để khỏi làm con thức dậy. Mây nằm như vậy suốt cả buổi chiều, sang cả đêm. Nhưng sáng hôm sau cô lại dậy sớm đi tắm và tỉnh táo ngồi vào bàn viết thư cho Trí.

"Anh Trí,

Em không ngờ rằng trưa hôm qua em lại đối xử với anh như vậy. Bây giờ khi có đủ bình tĩnh để nhìn lại mọi điều em cũng xin nói với anh rằng, em không thể nào làm khác được. Anh đừng giận em, vì cho đến bây giờ nhiều lúc em vẫn tự hỏi: Tại sao em lại không yêu anh? Bây giờ chúng ta hãy tỉnh táo nhìn lại những năm tháng vừa qua. Từ khi ba má em mất, em sống trong tình thương yêu của đồng đội, trước là trung đội du kích, sau này khi vào bộ đội là tổ trinh sát của chúng ta. Hồi đó, trong những ngày đẹp nhất của đời em, tuy em vẫn răn mình phải sống thật vô tư, có hai người đã làm em chú ý. Hai người đó là anh và anh Thanh. Anh Thanh qua lần đưa trung đoàn phó đi lấy gạo và qua những nhận xét của anh về anh ấy đã làm em mất lòng tin. Giữa thời cơ đó anh đã đến với em. Thử hỏi một người con gái sống một mình như em làm sao mà không tin những lời của anh, một người từng trải như thế. Em đã yêu anh một cách chân thành. Đến bây giờ em vẫn không có gì hối hận về những điều em đã nói với anh ngày ấy. Chúng ta sống với nhau êm đẹp trong những năm quyết liệt ở chiến trường. Từ khi em xa trung đoàn, nhất là từ khi anh ra ngoài này, quan hệ của chúng ta có những thay đổi. Tất nhiên trách nhiệm có phần nhiều thuộc về anh. Tuy không nói với em, nhưng anh đã nói với người khác rằng lấy em anh sẽ không có hạnh phúc vì tính tình của em không hợp với cách sống của gia đình anh, vì hiểu biết của em còn ít ỏi quá, vì anh còn bạn bè, vân vân. Khi em sắp sinh con, anh đã nói với người thủ trưởng cũ của chúng ta là chắc gì đứa con đó là của anh. Chính ra em không đủ nghị lực để nói lại với anh điều đó đâu, nhưng khi nói với nhau lần cuối cùng, người ta có thể nói được tất cả mọi chuyện. Trong khi em đang mang con trong bụng, anh thử hình dung xem em đau đớn biết chừng nào. Lẽ nào em lại bỏ qua cho anh về câu nói đó được. Nhưng vì sao anh trở lại với em trưa hôm qua? Có lẽ khi thấy lương tâm mình có lỗi, anh đã gặp thủ trưởng Thạch, anh mong rằng có con người ấy em sẽ bỏ qua cho anh mọi chuyện, như thế anh sẽ tránh được mọi tai tiếng, không có lợi cho anh khi sắp đảm nhiệm một chức vụ cao hơn. Không phải bỗng chốc em quên hết những kỷ niệm của chúng ta. Anh Trí ơi, đến bây giờ em vẫn yêu anh, hay nói đúng hơn em vẫn giữ tình yêu của anh. Nhưng em không thể quay trở lại với anh được, lý do vì sao thì chắc rồi anh sẽ hiểu cho em…".

Viết đến đây, Mây thấy người mình mệt rã rời. Cô nằm xuống giường, tay đặt lên trán đứa con nhỏ. Mãi đến hai hôm sau cô mới viết xong lá thư cho Trí.

*

*   *

Sau thời gian sinh nở và trải qua những biến động trong quan hệ giữa cô và Trí, người Mây gầy rạc đi. Các bác sĩ đã xếp cô vào loại những người được nuôi dưỡng đặc biệt. Nhưng tuổi trẻ đã giúp Mây vươn dậy, trở về với những dự tính của mình. Khi con biết bò và tìm được người cô tập kết, Mây quyết định thu xếp để vào trường học thêm văn hóa. Nhiều người có ý lo lắng cho hoàn cảnh của cô. Có người chưa hiểu đầu đuôi câu chuyện đã coi cô như một người bị ruồng bỏ. Mây vẫn sống dũng cảm, vượt qua mọi điều lo lắng, mọi hiểu lầm của người khác về cô.

Trước khi vào lại chiến trường, Trí có đến thăm Mây. Lần đó Mây đã trốn anh vì cô nghĩ tình cảm có thể trỗi dậy và vì thế mà Trí có thể hiểu sai đi. Nhưng khi Trí về rồi, cô lại thấy bâng khuâng như vừa bỏ rơi mất một vật gì.

Càng ngày, Mây càng thấy nhớ những ngày còn ở trung đoàn, nhớ quê hương cô. Từ ngày Thạch và Trí vào lại chiến trường, Mây không gặp một người nào cùng trung đoàn nữa. Sau chiến dịch Hồ Chí Minh, Mây được tin Trí mới được đề bạt trung đoàn phó. Cô nhận tin đó với một tâm trạng lạ lùng: vừa vui mừng, vừa chua xót và có cả phần tự hào.


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 07 Tháng Năm, 2011, 11:07:53 pm
                            Tiếp :
Rồi đến buổi chiều tháng chín, Thanh đột ngột đến trạm an dưỡng, nơi Mây phải vào để điều trị bệnh sốt rét vừa mới tái phát. Sau buổi chiều đó, mấy đêm liền Mây không ngủ được. Cô thấy nhớ trung đoàn da diết.

Lần thứ hai Thanh lên, hai người nói chuyện với nhau thoải mái hơn. Thanh kể cho Mây nghe những chuyện ở trung đoàn từ hồi cô ra đi. Càng nghe Mây càng hiểu rằng mình đã mất đi bao nhiêu thứ trong thời gian hai năm xa trung đoàn. Trong câu chuyện, Thanh tránh nhắc đến những điều có liên quan đến Mây và Trí, đến chuyện riêng của họ mà ở trung đoàn đang xôn xao.

- Em hỏi thiệt nghe! ở trung đoàn mấy anh có nói chuyện chi em không?

- Anh em vẫn nhắc Mây đấy! Họ nghĩ về Mây tốt thôi. Thanh ngừng lại một lúc - Nhưng chuyện đối với Trí, ở trung đoàn không hiểu vì sao Mây lại làm quá như vậy.

- Trong ấy biết được hả anh?

- Thủ trưởng Thạch có ghé qua trung đoàn nói chuyện. Ông ấy bảo tôi bị bất ngờ, nhưng nghĩ cho kỹ thì Mây nó lớn ra nhiều… Thủ trưởng nói vậy, nhưng nhiều người cũng chưa hiểu lắm đâu.

- Rồi mấy anh sẽ hiểu thôi anh Thanh à. Mây ngừng một lúc. Hình như cô không muốn nhắc đến chuyện đó nữa, cô chuyển sang chuyện khác - Từ bữa anh ra em rất vui vì biết được tình hình trung đoàn. Nhưng từ chỗ anh lên đây xa quá mà. Có điều kiện thuận lợi hãy lên anh Thanh à.

Nét mặt Thanh đang vui tự nhiên xịu xuống. Mây đã nhìn thấy điều đó. Thanh gượng cười, nhưng khi nói giọng anh vẫn buồn buồn:

- Đến hay không là do tôi quyết định chứ, phải không Mây? Nhưng nếu Mây không muốn có tôi ở đây thì tôi sẽ không bao giờ lên nữa.

Mây nhìn thẳng vào mắt Thanh. Cái nhìn như muốn nói: "Không phải vậy đâu, có anh lên đây em vui lắm".

*

*   *

Lần thứ ba Thanh lên trạm an dưỡng thì Mây đã chuyển sang điều trị ở một khoa khác. Theo như người ta nói cô đang kiểm tra sức khỏe lần cuối cùng trước khi ra trạm. Cô y tá lần đầu đưa anh vào cổng gặp Mây nói với anh:

- Chị Mây đang ở cái nhà cạnh giếng ấy. Buồng số 3, giường 40 anh ạ.

Thanh đi về phía giếng. Lần này anh đã bình tĩnh hơn nhiều. Lần đầu đến đây Thanh đã ngập ngừng mấy lần mới dám vào buồng bệnh của Mây.

Anh đến giường số 40. Mây đang đi đâu vắng. Tự nhiên một cảm giác vừa bâng khuâng vừa trống trải đang thấm dần vào người anh. Bây giờ Thanh mới nhận ra cái trạm an dưỡng này cũng gắn bó với anh từ khi anh đến đây lần đầu, trong những ngày ở quê và ngay cả bây giờ.

Mây từ cửa bước vào. Mặt cô đỏ bừng, mồ hôi lấm tấm trên trán. Mây lau mặt xong, đôi mắt của cô vốn sáng lại sáng thêm.

- Anh Thanh, may quá. Em chờ anh suốt buổi sáng đó.

- Có việc gì đấy, Mây?

- Có chút việc anh à. Ta ra ngoài này nói chuyện.

Hai người đi dọc theo con đường mới của trạm an dưỡng. Những viên sỏi lạo xạo dưới chân họ. Đến một cái ghế đá còn mùi xi-măng họ dừng lại. Mây nói, khi cô ngồi xuống trước:

- Đến giờ em vẫn còn ngượng về hôm em liều lĩnh đến thăm nhà anh Trí. Lần đó ảnh chưa ra. Em không nói gì về quan hệ giữa em với ảnh. Như vậy mà may. Em cứ buồn cười khi nghĩ đến có lần ảnh nói trong thư sự rạn nứt tình cảm giữa hai người một phần vì em đã đến thăm nhà ảnh.

- Thủ trưởng Thạch nói bao giờ Mây cũng giữ lập trường vững vàng lắm mà.

Mây mỉm cười:

- Thủ trưởng là người rất tốt. Nhưng thủ trưởng không biết rằng em và anh Trí, cả hai người đều không hiểu nhau chu đáo.

- Bệnh tật của Mây bây giờ thế nào rồi? - Thanh hỏi sau một lúc im lặng.

- Chưa thật ổn lắm, nhưng em thấy trong người cũng đã khỏe rồi anh ạ. Em cũng ớn cái cảnh lê la hết bệnh viện này sang trạm an dưỡng khác. Em mong rằng anh đừng bao giờ phải vô bệnh viện.

- Còn công tác, Mây định sao?

- Đó là chuyện chiều nay em nói với anh đây. Mấy anh nói ở lại ngoài này học tập thêm chút ít nữa. Nhưng em nghĩ tình hình bây giờ khác trước rồi, quê hương hoàn toàn giải phóng, em muốn trở về anh à. Dù em không được trở lại trung đoàn thì cũng góp được một phần vào công việc trong đó. Anh nghĩ thế nào? ở đây em không còn ai để hỏi ý kiến ngoài anh đâu. Anh hãy khuyên em một lời đi.

Mây vẫn nhìn vào Thanh chờ đợi. Hình như đêm đầu tiên cùng Mây vượt sông Thu Bồn có lúc Thanh đã gặp cái nhìn ấy. Anh suy nghĩ một lúc.

- Cái đó do Mây quyết định. Nhưng theo ý tôi Mây nên vào. Phải lắm, Mây nên vào…

Đôi mắt Mây nhấp nháy, cả khuôn mặt cô dịu lại. Cô đã nhận được sự ủng hộ, một niềm an ủi mà cô đang chờ. Nhưng chỉ một lúc sau, Mây đăm chiêu nhìn thẳng về phía trước, nơi có một chị hộ lý đang vun lại những khóm hoa mới trồng trong những vạt cỏ hình thoi được xén cẩn thận. Cô không rời mắt khỏi chị hộ lý, nhưng hình như tất cả tâm trí cô đang nghĩ về những chuyện khác không liên quan gì đến những khóm hoa, vạt cỏ và chị hộ lý kia.

- Anh Thanh này - Mây nói - nói thiệt với em nghe! Hồi đó anh có giận em không?

- Hồi nào?

- Hồi anh đi với trung đoàn phó. Nói chung hồi ở trung đoàn.

- Mây ạ - Giọng Thanh trầm xuống và chậm lại - Hồi ấy tôi không giận Mây đâu. Chỉ buồn là Mây không hiểu tôi, không hiểu tí nào hết.

- Sao anh vẫn không quên em? - Mây hỏi anh sau một lúc ngập ngừng.

Gương mặt Thanh tái đi một lúc rồi bỗng từ từ đỏ lên. Ngay đến cả anh cũng hình dung ra mặt mình đỏ như thế nào. Anh như nghe được tiếng tim của Mây đang đập mạnh, hồi hộp chờ đợi câu trả lời của anh. Thanh biết đó là một câu trả lời nghiêm trọng đối với cả hai người. Một lúc lâu anh mới ấp úng nói:

- Mây biết không, trung đoàn mình vừa được tuyên dương Anh hùng đấy!

Mây quay người về phía anh. Dường như cô không chú ý đến câu nói của Thanh mà cô đang theo dõi từng thay đổi nhỏ trên nét mặt anh. Rồi như nhận được trên nét mặt đó những điều cô hỏi đã được trả lời, Mây mới sực nhớ lại câu nói vừa rồi của anh. Cảm giác bàng hoàng đang xâm chiếm tâm hồn cô. Cô không nhìn rõ Thanh đang ngồi bên cạnh. Khuôn mặt anh lúc xa lúc gần. Cùng với những hình ảnh ngày nào ở trung đoàn. Con người ấy đã đưa đến cho cô điều mà cô không nghĩ đến và không ngờ nó lại lớn lao đến thế. Hai giọt nước mắt từ từ lăn trên má Mây. Sao mình lại hỏi vì sao anh không quên mình? Sao mình lại mong một câu trả lời từ con người riêng của anh? Anh đến đây với mình đâu phải vì điều đó. Đến bây giờ nỗi bàng hoàng của Mây đã thành một niềm vui, niềm tự hào và một khát khao làm việc mới. Phải xứng đáng hơn nữa chớ. Tí nữa thì Mây nói ra lời.

- Mây vào trong ấy còn con thì sao? - Thanh hỏi.

- Điều đó em cũng đã tính rồi anh à. Em sẽ mang con về luôn. Cũng có một số khó khăn, nhưng sẽ lo liệu được thôi. Ngày mốt em đi. Đã quyết rồi thì không chần chờ nữa phải không anh? Thôi ta về đi, em còn phải chuẩn bị.

Hai người trở về theo con đường cũ. Những viên sỏi lại lạo xạo dưới chân họ. Bây giờ Thanh mới nhớ ra còn năm ngày nữa thôi anh cũng lại vào trong đó, vào cái nơi có những kỷ niệm những vui buồn hàng chục năm nay của anh ở trung đoàn.

- Em đối với anh Trí như vậy có tàn nhẫn không anh? - Mây đột ngột hỏi.

Thanh đi chậm lại. Mọt thoáng buồn hiện trên mặt anh. Cô ấy vẫn đang nghĩ về Trí, anh nghĩ. Nhưng không chờ Thanh trả lời, Mây nói luôn:

- Em không thể nào làm khác được anh à. Em tuy còn non nớt, nhưng em hiểu rằng, em không thể trở lại với anh Trí chỉ vì sự hối hận về lương tâm của anh ấy. Em muốn có một tình yêu thật sự. Một tình yêu thật sự phải không anh?

Thanh cảm thấy người mình đang nóng ran lên. Cô gái này thật lạ lùng, anh nghĩ. Mình đã có mấy năm sống gần Mây vậy mà vẫn không hiểu hết cô ấy. Mây đang quyết định theo cách sống mà cô đã chọn. Điều mình cho là nỗi đau khổ của cô ấy bây giờ là cái gì? Thanh tự hỏi mình. Và anh hiểu rằng tìm một lời để an ủi Mây, thậm chí nói một điều gì đó chỉ để yên lòng cô cũng không nên. Mây có hạnh phúc mà cô sẽ tự tìm ra.

Hai người lặng lẽ đi hết con đường mới của trạm an dưỡng. Những viên sỏi vẫn lạo xạo dưới chân họ. Mây nghĩ anh ấy vào sau mấy ngày chắc còn phải lo những chuyện riêng mà mình đừng nên hỏi. Còn Thanh, anh đang tính xem có nên thu xếp vào cùng Mây được không? Anh không hề nghĩ rằng Mây cần anh cùng đi trong chuyến trở về này. Cô không phải là người để anh nghĩ như vậy. Nhưng nếu vào được sớm, anh còn kịp đi đón đoàn tân binh sẽ đến trung đoàn vào đầu tháng sau.

 TH B L .


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 10 Tháng Năm, 2011, 09:45:05 pm
                                             Đôi bạn
                                             Tác giả :Nguyễn Thi    
 

      Đèn trên phố huyện tắt đã lâu. Con đường cái dẫn tới nhà ga tối nhờ nhờ như chiêm bao. Dẫy đồi im lìm, giống khuôn ngực của các bà mẹ đang nằm yên ngủ. Mây trắng như dòng sữa thừa thãi đang chảy trên ngọn những quả đồi ấy. Nền trời mầu tím xanh. Một mầu xanh ban đêm của trời miền biển, khó mà nhận ra nơi đây lại là miền trung du.

Nhà ga làm giữa đồng. Đã vắng lại càng vắng. Đó là một ga xép mới làm. Nó ra đời bởi con đường sắt vừa được nối liền giữa thủ đô và khu gang thép. ở đấy, chỉ có hơi gió thỉnh thoảng phả vào cửa kính, còn thì mọi vật đều yên giấc. Chẳng nghe ra một cái gì; không một ánh đèn; nổi bật lên một cách duy nhất trong cảm giác con người là mùi nồng nồng của tường vôi mới quét.

Vòng ra sau ga, chỗ có hàng hiên khuất gió, nghe có tiếng ngáp và tiếng chuyện rì rầm của vài người khách chờ tầu. Họ là những người nhà ở xa, đến ga trước từ chập tối. Cứ thế, những phút chờ đợi rạo rực kéo dài cho tới bốn giờ sáng, khi nghe tiếng còi tầu nổi lên từ sau dẫy đồi kia, họ mới choàng dậy chuẩn bị lên tầu. Lúc ấy những lồng đèn xanh đỏ của nhà ga sẽ rộn rịp vui mắt. Con tầu sẽ buông ra một tiếng còi như một lời chào thân ái, rồi đưa họ về xuôi.

Phút vui vẻ ấy chưa đến. Bây giờ chưa nửa đêm, còn là giây phút của câu chuyện xa gần. Bên cạnh cái bồn hoa dưới bực cửa có một đôi bạn đang trò chuyện. Chỗ ấy vừa có vẻ công khai, vì là bực cửa, lại vừa kín đáo, vì những rỏ hoa to tướng che khuất đến đầu người. Đôi bạn ấy gồm một trai một gái. Nhời nói với nhau rất mực bạn bè. Cách họ vài đòn gánh có một nhóm người nằm ngả nghiêng, thỉnh thoảng lửa thuốc lào lóe lên, nhấp nháy thấy mấy chồng quang gánh đặt bề bộn.

Từ chiều, lúc những đám mây đỏ ối còn đọng trên những ngọn đồi nhấp nhô, người ta đã thấy đôi bạn nam nữ ấy. Hai cái chấm nhỏ như hai cánh chim, từ sau một ngọn đồi xa tít tắp của một công trường nào đấy, đi đến. Cái miền trung du khoảng khoát này, đồi núi trọc lốc, tầm mắt con người nhìn xa lắc xa lơ. Trông thấy họ có dễ ăn xong một bữa cơm mà họ vẫn chưa đến nơi. Họ xuống dốc này lại lên dốc khác, chỗ rẽ này quanh ngã ba khác, theo dõi bóng họ tưởng như đôi chim đang lượn vòng.

Chẳng hiểu họ ăn mặc ra sao, bao nhiêu tuổi, họ đến ga lúc mọi vật đều tối đen. Nơi ấy được chọn làm chỗ ngồi: một bực cửa công khai, một bồn hoa kín đáo. Biết bao câu chuyện họ đã nói với nhau. Rất nhiều lần người con gái nói với người con trai câu sau đây:

- Ừ, chúc bạn đi cho khỏe mạnh và tích cực công tác. Bây giờ khỏe mạnh và tích cực là phải đi đôi…

Lần nào cũng thế, người con gái chưa nói câu nào hết, người con trai đã chúc lại:

- Ừ, Tỵ cũng ở lại công tác. Khi nào rỗi rãi Tỵ về dưới ấy chơi. Tỵ cố học chị em, rồi lại gương mẫu để chị em học lại mình.

Sau đó, người con gái lại nói:

- Này, chúng ta ra đây muộn quá…

Người con trai lại cướp lời:

- Không sao, cũng như Tỵ đi tiễn tôi là một người bạn thôi.

Có một lần, người con gái nói hết được ý mình, đó là câu:

- Chúng ta ra đây muộn quá. Cửa hàng hợp tác đóng cửa mất rồi, mình chẳng mua được áo bông. Chỉ sợ có ai họ lại ngỡ chúng mình là…

Lần ấy người con trai ân cần:

- Có sao. Cũng như bây giờ Tỵ đi tiễn mình, tháng sau mình trở lên mình sẽ mua áo mang lên cho Tỵ. Bách hóa dưới ấy thiếu gì áo bông.

Như ngần ngại, người con gái chuyển câu chuyện của mình sang công việc của một công trường làm đường sắt. Nhóm bên kia, chỗ đông người nằm ngổn ngang, có một giọng nghẹn khói thuốc lào hỏi vọng sang:

- Tôi hỏi khí không phải, anh chị là người làm đường tàu, vậy anh chị có biết tối thứ bảy này đã có tàu chạy buổi đêm chưa nhỉ?

Người con gái cười mũi một tiếng đến nghịch:

- Chuyến tàu hạnh phúc ấy à? Có đấy bác ạ! Chúng cháu làm đường cho tàu chạy chứ để dành làm gì?

Đôi bạn nam nữ cười ròn hơn tất cả. Tiếng người con trai:

- Chừng nào đặt xong đường tàu vào Nam, mỗi tuần mình mời bạn về nhà mình chơi một lần.

Người con gái:

- Có đường tàu chạy về Thái Bình thì mỗi năm nghỉ phép mình cũng sẽ mời bạn về quê mình chơi.

Người con trai:

- Tết này bạn mời mình về nhà ăn Tết chứ?

Người con gái cười, tiếng cười thân ái nhưng bộc lộ sự không đồng ý. Cô bảo rằng chỉ muốn mời người bạn trai kia về ngày thường thôi. Người con trai hỏi mãi tại sao. Người con gái không nói. Giọng khói thuốc lào nghẹn khói ở bên kia lại nói chen sang, bảo người bạn gái nên mời người bạn trai kia về ăn bánh chưng miền Bắc, vì lẽ người bạn trai kia Tết này còn xa nhà.

Người con gái nói khẽ, chỉ để đủ người bạn trai nghe:

- Mà bạn có nhất định về thật không? ừ, Tết này tôi xin mời bạn. Mẹ tôi già mà vui lắm. Mình định mua áo bông nhờ bạn xuôi dưới ấy gửi hộ về cho mẹ mình đấy. Nhưng mà thôi, chúc bạn đi cho khoẻ mạnh và tích cực công tác, giữ gìn sức khoẻ và…

Người con trai không chúc lại người con gái nữa. Anh ta im lặng như nghĩ ngợi rồi đánh diêm châm thuốc. Mắt anh lóe lên một tí rồi tắt. Tiếng người con gái thoảng trong khói thuốc của anh:

- Ừ, Tết này mình sẽ làm bánh đa khoai cho bạn ăn với mật. Quà quê mình chẳng ra gì. Ôi, bà cụ lẩn thẩn lắm kia! Tết nào cũng cứ bắt mình phải về. Một về, hai về! Bây giờ bạn cũng bắt tôi về nữa thì tôi biết chối làm sao.

Khói thuốc người con trai phả lên từng vệt trắng. Anh bộc lộ vài câu ngỡ ngàng về lời kể lể của người bạn gái, rồi ngồi im như lắng nghe. Trong phút lặng lẽ, cánh cửa kính gặp hơi gió thoáng rung lên nghe như một lũ mèo con gầm gừ trong tro ấm, như một lời đùa có cấu có bẹo đâu đó chen vào. Một lúc lâu lắm, không biết người con gái đã kể câu chuyện của mình đến đâu. Về cái quê hương của chị ta. Về một cái cầu ngói già nghiêng nghiêng trên đầu chợ. Dưới cái bến sông ấy, có cả lứa con gái sắp đến tuổi tập ăn giầu và những trẻ con trai già hơn cái tuổi đánh vòng còn thích tắm chung nhau. Cái đám trẻ con ấy, đến lạ, hình như chúng ăn chung một dòng nước sông, uống chung với nhau cây vối ở đầu làng, lớn lên khối đứa nặng tình với nhau. ở đấy cũng có một đứa con gái - chính cái cô đang kể chuyện đây - tắm chung với một người con trai. Họ ném bùn vào đầu nhau, lôi chân nhau dìm xuống nước. Và, lớn lên, biết làm sao được, khi họ cũng ăn chung dòng nước của một con sông và uống chung cây vối ở đầu làng. Mẹ già thương cả hai đứa, mẹ già cho lấy nhau.

Cho đến bây giờ, ở cái làng quê nhỏ nhắn ấy, bà mẹ già đến là lẩn thẩn. Đêm đêm, mùa đông cũng như mùa hè, cái chăn che kín lấy người mẹ. Ban ngày, mẹ cũng chẳng thấy gì rộng rãi hơn ngoài mấy gian cầu ngói thu lấy bóng mẹ hôm sớm ra đồng. Cho nên, anh ấy mất từ năm nào rồi mà mẹ còn hay nhắc. Đến là khoẻ nhắc! Mẹ bảo rằng mẹ hay nằm mơ. Làm như mẹ sống bằng mơ nhiều hơn bằng thực trên cõi đời này. Nói ra thì mẹ lại chửi. Một người con giai, đã dám cầm súng đi đánh giặc, ai còn sợ gì cái nghĩa hy sinh? Anh ấy hy sinh như trăm nghìn các anh khác đã hy sinh. Có thế thôi! Mẹ lại bảo nó mất vào ngày Tết nên tao mới nhắc. Dễ thường nhắc mà ngồi dậy được chắc? Eo ôi, nếu thế thì ai chả mong ngày nào cũng Tết để lôi anh ấy trở về.

Câu chuyện nhẹ nhàng như nước con sông đào chảy thầm thì về đến quê hương cô. ở đấy hiện ra bóng một con đò vừa cập bến và bàn chân cô gái đặt nhẹ nhàng lên bậc bến tắm. Những tảng đá xanh vẫn nhẵn nhụi như ngày xưa đón lấy gót chân quen thuộc. Cái bóng trẻ thơ quần xễ quá rốn vẫn nằm như in trong bóng nước. Cô gái chào dòng sông, chào bóng mình, chào mọi người thân thuộc, nghe thấy một hạt bụi mỏng gió vương vào mắt. Đấy là một ngày cô về phép. Mẹ già bỏ vội bát cơm đang ăn cho mèo rồi ôm vội lấy con gái. Mẹ bỏ làm một buổi để ôm lấy con gái. Mẹ bảo: Sao mày đi lâu vậy hử con? Cô gái nói: Lâu gì mà lâu, một năm giời là mấy! Đến tối, mẹ nằm mân tóc cô gái, nắn nắn lên đôi vai chắc chắn và nong nóng của cô, mẹ hỏi: Sao mà mày ăn nhiều thế hử con? Một tháng hết những hăm mốt đồng bạc! Cô gái nói: U ạ, sang năm con sẽ gửi tiền về cho u. Mẹ lại nói: Tao xem da thịt mày có đẫy hơn hồi ở nhà. Cô gái nói: U thì chỉ thích béo, béo nó nặng người ra, đi làm leo dốc làm sao được? Rồi cô gái mơ màng. Giấc ngủ ru cô về những công trường nhấp nhô, tiếng máy xúc máy đào bây giờ nghe vo ve như tiếng muỗi, tiếng cười của những người con trai nghe lơ lửng như tiếng lá chuối vỗ vào nhau ngoài hiên. Cô ngủ say sưa sau một ngày đò xe mệt nhọc. Mẹ già không ngủ. Nửa đêm nghe chuột rúc, mẹ nói: Tỵ à, Tết này về sớm sớm con nhá! Cô gái không trả lời. Gà gáy lần thứ ba, mẹ lại nói: Con ạ, đến hăm ba thì nhớ mà về! Cô gái chỉ cựa mình, u ơ, cô đang hát trong giấc mộng. Canh tư, mẹ kéo chăn cho cô rồi nói một mình: Tết này mày chẳng về thì còn ra cái nông nỗi gì hử con? Cho đến tinh mơ, lúc cô gái vừa ngồi đun bếp vừa chải đầu, mẹ già chăm chắm nhìn mặt cô, ánh lửa soi trên má cô một lần nắng mỏng, mấy cọng rạ đánh đu trên mái tóc dài loà xoà, mẹ hỏi: Nghe nói mày tìm được cái thằng nào đâu hở con? Cô gái mỉm cười: Tìm hiểu chứ lại tìm! Mẹ nói: ừ thì tìm hiểu, nó là người ở đâu, ra làm sao? Cô gái vẫn cười: Con chỉ tìm được cái đầu tầu hỏa thôi, to lắm, nó lại cứ hay phụt khói. Mẹ chẳng cười, mẹ nói: Thôi thì bây giờ đời mới, mẹ mặc chúng mày, xem ra phải ý với nhau thì hẵng gật. Giữ ý giữ tứ con ạ, kẻo cái kẻ đàn ông nó khinh cho. Mày mà lấy chồng xa thì lại mẹ khuất con, con khuất mẹ. Lần ấy cô gái cười lăn cười lộn. Cô nhủ rằng cô vẫn nhớ người chồng cũ, vẫn thương mẹ, cô đi tu, cô chẳng bao giờ lấy chồng. Mẹ già móm mém vui với cô. Mẹ lại nhìn má cô, nhìn tóc cô.


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 10 Tháng Năm, 2011, 09:47:32 pm
                                          Tiếp :

Còn một đêm nữa là sáng mai cô ngược sớm. Mẹ già lui cui nấu cơm nếp. Cô gái cũng không ngủ. Cô ngồi ôm lấy đầu gối mẹ. Mẹ bảo: Mày có còn thích uống nước vối thì mang đi một nắm con ạ. Cô gái nói: Đâu đâu, ở công trường uống mãi chè tươi xót cả ruột. Mẹ lại nói: Đấy, thích uống nước vối mà lại chẳng ở nhà, làm giai đi đông đi tây đã đành. Cô gái ậm ừ: Người ta muốn bay nhảy chả được mẹ lại cứ níu chân chim… Và cô không nói nữa.

Buộc làn xong, cô gái chưa muốn đi. Cô nhìn mẹ từ đầu đến chân, rồi cứ cười. Lát sau, cô kéo mẹ ngồi thụp xuống hè, ngẫm nghĩ sao cô lại cười tít với mẹ. Xong, cô nói: U này, bây giờ con mới nói thật với u nhá. U cứ ở hợp tác yên chí mà làm nhá. Lúc nào buồn thì u sang ở với các anh các chị ấy mà vui với cháu. Chừng nào đường tầu bắc xong đến mỏ sắt thì con về. Con đi công trường chứ chẳng phải đi lấy chồng đâu - Mẹ nói: Tao có biết mỏ chim mỏ gà nào, nhưng mà Tết thì phải về con ạ. Về với nó một tí, chẳng linh sao gọi là chết trận. Tao nằm chiêm bao thấy nó về nó bắt đền tao rằng… U phải bảo nhà con, nó cứ ương không chịu về thì con về con ăn Tết một mình à! Cô gái nói: Anh ấy nói điêu đấy, con ở đâu thì anh ấy mò đến đấy chứ, cứ gì Tết. Eo ôi, cứ thấy anh ấy về anh ấy bẹo con - Rồi cô cười, sưởi ấm vào tai mẹ.

Cô gái đưa tiền cho mẹ tiêu Tết rồi đi. Mẹ già đưa cô ra tận cầu ngói. Hình ảnh người chồng cũ đưa cô về tận công trường. Ngày ngày cô gái làm trên đồi cao, mang bao tay, đi giầy ủng, lưỡi xẻng của cô cắm dần xuống đồi đất sỏi; dưới chân cô, tít tắp ở dưới kia, con đường sắt chạy dài, có những chuyến xe qua lại: trong những toa xe xinh xắn ấy, hình như cũng có một bàn tay đang vẫy vẫy của chồng cô. à thì ra thế! Tết đến người ta đi đông đi tây, cô gái lại trở về quê hương mình. Mẹ già vui quá, tưởng như mình nằm trong cảnh chết, tiêu điều mà gặp con. Một cái Tết thật linh đình. Đầy nhà những người thân thuộc. Trong lúc mọi người đang vui vẻ, mẹ già kéo cô xuống một góc bếp thầm thì: Mày có thấy nó về nó bảo gì không hở Tỵ? Đã bảo mày tối hôm qua giỗ nó thì mày phải nằm riêng ra, mày lại cứ leo sang nằm chung với u. Nó về nó giận mày đấy! - Cô gái cười ngặt nghẽo. Mẹ lại nói: Chẳng linh sao gọi là chết trận? Vợ chồng thì phải thế chứ, sao mà ương vậy hử con? Cô gái chí vào đầu gối mẹ, bịt mồm cười, tóc tai rũ rượi.

Cô gái hay cãi lại mẹ, nhưng tối hôm ấy cô nằm một mình thật. Một tối của đêm mùng một Tết không khí hoàn toàn trong trẻo. Giấc mơ trắng muốt đầy những cánh hoa nhài bay la đà đến cửa một vuông màn mới cưới… Có cái áo cánh phin nhuộm được nắng còn thơm thơm mùi nâu non… Có anh bộ đội nào bơi mãi trên dòng sông trong veo trong vẻo… Sáng hôm sau, hiên nhà hé nắng, cô gái mới choàng tỉnh dậy. Mẹ già đã ngồi chờ dưới chân. Đôi mắt nhăn nheo của mẹ có một niềm vui vô hạn. Mẹ cười với cô rất lâu. Lát sau, cô nói: U này - cô lại cười - anh ấy bảo với con thế này nhá, nhà mày phải tích cực công tác, xã đã cử nhà mày đi làm đường tầu thì nhà mày phải làm cho nhiều, nếu bỏ về thì anh sẽ đét vào đít cho ba roi! - Mẹ già chẳng tin. Cô gái lại cười. Mãi đến lúc từ giã mẹ, cô gái mới nói lại rằng: U ạ, anh ấy bảo trước đây u thương anh ấy mồ côi, đã cho con gái lại cho ở rể, u quý như con trai trong nhà, nghĩa của u anh ấy xin nhớ mãi. Anh ấy bảo rằng anh ấy chết theo đời sống mới, con mà lấy chồng thì anh ấy càng thương con hơn, chẳng giận đâu. Này, anh ấy còn bảo Tết sau u đừng làm cỗ nữa, anh ấy chẳng về nữa đâu. Anh ấy lại biết cả u đang ao ước cái áo bông, dặn con phải cố dành dụm mua cho u một cái để u mặc dối già. U thích nhá! Có đúng không nào?

Mẹ già nửa tin nửa ngờ. Cô gái lại ra đi.

*
*   *

- Chừng nào bạn ngược qua đây bạn nhớ mua hộ mình cái áo ấy nhá!

Người con gái nói thế rồi chúc thêm người con trai đi cho có sức khỏe và tích cực công tác.

Lần này người con trai không chúc lại. Một vệt sao rơi xuống đầu đường sắt. Có lẽ anh bạn miền Nam ấy còn đang bị bơi trên dòng sông trong veo trong vẻo kia; chung quanh anh đang hiện ra những cánh đồng mầu xứ Thái xanh mướt những luống khoai, củ khoai đo đỏ màu da cháy nắng và những liễn mật ong mầu hoa cải - ừ, cô bạn gái của anh sẽ lấy chồng. Một người chồng độ lượng và hay khuyến khích những gì tốt đẹp trong con người vợ. Anh nghĩ như thế. Chẳng hiểu sao anh lại buột miệng nói ra với cô bạn gái.

Nghe nói, người con gái cười khúc khích. Tiếng cười mang một niềm vui rất thực thà. Đúng ra, cô gái còn giấu người bạn trai câu chuyện sau đây:

Tháng vừa rồi mẹ già nhờ ông anh rể đánh giấy lên. Mẹ nói rằng: "ớ cái con Tỵ! Mẹ nghe nói mày đã lấy chồng thật rồi ư con? Sao mà mày chẳng đánh giấy về để cho mẹ làm mâm cúng nó…". Cô gái liền viết thư về: "U ơi, Tết này hai vợ chồng con sẽ về chơi với u. U ra cầu ngói đón chúng con nhá! U này, anh chàng này trước cũng là bộ đội đấy. Bao nhiêu là râu! Quê anh ấy ở xa xa là. Anh ấy cũng về ở rể u ạ! Cái nón u cho con đấy, mưa rào hai vợ chồng đội chung. Nhà con biết thương u lắm. Thích uống nước vối nữa. Thương con rõ nhiều là thương…". Mẹ già nhận được thư cô liền đi báo tin cho các anh các chị cô biết. Rồi cả làng đều hay. Mẹ kỳ cọm lên thăm cô vào một ngày mưa tầm tã, lôi theo một cái nón mới và một hai nải chuối tây. Cô gái đang xông xáo ở công trường. Các bạn của cô cho mẹ già biết cô vẫn là một người con gái rất tốt, thế thôi, ngoài ra chẳng thấy chồng con đâu cả. Chiều, cô gái của mẹ dẫn xác về. Mẹ giận nó, mẹ nhìn tóc tai nó ướt đẫm, vai áo nó bốc hơi, bùn ngập trên đầu gối nó như cái cách đi cấy chiêm, đôi môi nó mím mím bắt chước cái thằng chồng cũ của nó, mẹ lại thương quá! Đứa con gái út của mẹ, nó ăn mặc những cái gì thế kia, lỉnh kỉnh những cái gì thế kia.

Đêm ấy mẹ kể với cô gái rằng có một đôi chào mào đến lót ổ trên cây khế ở nhà, mẹ lại ngờ rằng cô đã chửa con so.

Những ngày mẹ ở công trường, cô dặn mẹ chớ nói chuyện cũ của cô cho ai biết. Cũng đừng nhắc đến bức thư của cô gửi về. Lâu nay cô đã giữ kín. Thế mà bây giờ, đêm nay…

Cô gái có một niềm vui tự ngày xửa ngày xưa trở dậy. Cô kể chuyện, nghe thấy cả lòng cô trong suốt và đầy tự hào. Mấy ngôi sao xanh ở chân trời nhấp nháy nhìn trộm cô như một lũ trẻ con tinh nghịch. Đêm nay, bỗng dưng cô thấy mến một đám trẻ nào đó quá. Đám trẻ có mang bóng dáng của cô trong thời thơ ấu, đầy hãnh diện, nồng nỗng tắm chung một dòng sông.

Cô gái kể xong câu chuyện về mình rồi nói với người bạn trai:

- Quê mình nghèo lắm. Mẹ mình già mà vui lắm. Bạn có ưng ăn bánh đa khoai chấm mật thì Tết này mời bạn về.

Điếu thuốc người con trai lập loè. Chưa thấy anh trả lời lại người bạn gái.

 Khi chuyến tầu xuôi rời khỏi cái ga bé nhỏ này thì trời bắt đầu hửng sáng. Trong đám người lộn xộn chen lên toa tầu không thấy người con trai ấy. Qua khung cửa toa xe ấy, tít tắp ở đằng xa, người ta bỗng nhận ra đôi bạn ấy đang đi bên nhau. Hai cái chấm nhỏ như hai cánh chim đang bay chon von trên một đỉnh đồi, ở đây nắng sớm vừa hé lên, khuôn ngực của các bà mẹ lại được thay yếm mới. Một người bảo: Anh chàng tạm trở lại vì chẳng lẽ để cho một cô gái như thế đi tiễn chân mình! - Một người nữa bảo: Họ yêu nhau! - Người thứ ba, ông có giọng nghẹn khói thuốc lào, nói rằng: Anh ấy chưa đi vội là phải. Tết này anh ấy còn phải về. Về để cho cô gái từ nay sẽ không bao giờ còn phải nói dối mẹ, cho mẹ già đêm nằm yên giấc không còn gặp chiêm bao. Và cái cô gái yêu đời ấy, không khéo Tết này còn dám đánh đu chung cả với chồng, tay đu đưa cao tít đánh lộn vòng cả trời xanh xuống dưới, rồi đêm nằm nhìn đình màn mới lại ngỡ đấy là nền trời đầy trăng sao.

 Nguyễn Thi


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 10 Tháng Năm, 2011, 09:50:32 pm
                                    Đêm nguyệt thực
                                     Tác giả : Trung Trung Đỉnh

- Tóc vợ trước của tôi dày và đẹp lắm. Mỗi lần chải cô ấy phải đứng trên giường mà buông xuống. Vợ tôi đẹp nhất vùng, tôi dám nói như thế. Cô ấy là kế toán hợp tác. Hôm về phép lần cuối cùng trước khi đi B, vừa xuống xe ngang đường thì tôi gặp cô ấy
Cách đây vài tháng, tôi được cơ quan cử về làng Plei-o-k công tác. Làng nằm dưới thung lũng, xung quanh toàn đồng cỏ. Cách đó không xa là nông trường chăn nuôi của huyện.

Từ huyện lỵ tới làng phải đi bộ mất hơn một tiếng.

Lúc ấy đã hơn sáu giờ tối. Hơn sáu giờ tối trong thung lũng trời chuyển hẳn sang không khí ban đêm. Gió se se lạnh. Tít xa chỉ thấy những mảng đồi với những đường viền lấp lánh. Khói lượn vòng do lửa cháy rải rác trong các khe núi hắt ra chuyển động dưới bầu trời sao chi chít. Tôi háo hức bước. Phía trước dậy lên tiếng reo hò huyên náo và tiếng chinh chiêng. Mới đầu tôi đoán làng đang có hội hè hoặc cuộc vui nào đó. Nhưng càng tới gần càng cảm thấy không phải. Chẳng có cuộc vui nào lại nhiều tiếng gõ, tiếng hú, tiếng hò la đến vậy. Tôi bước vào sân làng. Những bó đuốc sáng rực chạy vội vã từ nhà này sang nhà khác. Những tiếng hú nối nhau thảng thốt. Tôi chột dạ lo ngại. Không phải làng đang vui mà rõ ràng đang có sự cố gì.

Vài người thấy tôi, ghé sát mặt nhìn. Tôi chào bằng tiếng Gia Rai. Nhưng họ lặng lẽ bỏ chạy, tiếp tục la hét và gõ vào những đồ dùng đang cầm sẵn trên tay. Có một người cầm đuốc huơ huơ mấy cái. Nhiều người cùng cầm đuốc xúm lại. Tôi thấy cái bóng cao to khập khiễng trao cây đuốc cho một chú bé rồi bắc loa tay, hú lên một tiếng rõ dài. Mọi người im phắc. Người đó đứng giữa vòng, chỉ lên trời, nói rất to bằng tiếng Gia Rai. Anh ta giải thích hiện tượng nguyệt thực chẳng qua do mặt trời, trái đất, mặt trăng quay đến một chỗ thẳng hàng nhau. Rằng ánh sáng của mặt trời tỏa ra khuất bóng trái đất, nên ta chỉ thấy mặt trăng có chút xíu thế kia. Sau đó anh bắt ba em nhỏ xếp thẳng hàng, đứa đầu cầm đuốc, hai đứa sau đứng nghiêm. Nhưng anh không nhớ, cả vòng người hầu như ai cũng có đuốc. Và vì thế, ba cái bóng nhỏ nhoi của ba chú bé ngả nghiêng, chĩa ra nhiều phía. Dân làng ồ lên rồi lại tỏa ra hò hét, la ó. Tiếng chinh chiêng càng dồn dập hơn. Tiếng hú càng dài hơn. Tôi bất giác nhìn lên khoảng trời trước mặt. Một quầng sáng đen kịt như đang rung chuyển. Cái quầng đen phát sáng ấy gây cho ta cảm giác rùng rợn. Phía sau quầng đen, những ngôi sao sâu hút, le lói. Một mảnh ánh sáng sắc lẹm, hơi cong, chập chờn hiện lên như là rất rõ, lại cũng như là không thấy gì. Khiến ta tưởng như đang loạn thị vậy. Tôi dụi mắt, nhắm lại một lúc. Khi mở ra, cảnh tượng vẫn y như cũ. Đây là lần đầu tôi thấy nguyệt thực trên cao nguyên.

Tôi quay ra tìm người cao to vừa giải thích hiện tượng nguyệt thực. Nhưng dân làng đã vắng hoe. Tôi đang phân vân không biết chọn nhà nào để lên thì thấy nhiều người ùa ra.  Cái bóng cao to khi nãy bây giờ tập tễnh đi trước. Tới giữa sân anh lại hú, lại huơ đuốc. Một đám đông xúm quanh. Anh hô to, bảo mọi người tắt đuốc. Đêm trở nên huyền ảo với những bóng người và tiếng bàn tán xì xầm. Người ta bê tới cho anh một cái cối gỗ để làm bệ đứng. Anh đặt chân bị thương lên, đứng nghiêng người, châm một cây đuốc, dõng dạc gọi tên ba em nhỏ. Ba chú bé tranh nhau đứng trước. Nhưng chỉ cần một cái khoát tay của anh, chúng rất nhanh về đúng vị trí của mình. Dân làng kéo lại chờ đợi. Dường như anh đang dồn hết tâm lực, cố dùng những lời ngắn gọn, dễ hiểu nhất để giải thích một hiện tượng thiên nhiên, không phải dễ gì người ta chấp nhận ngay được. Anh mặc quần đùi, áo lót. Loại áo do các thiếu nữ  Gia Rai dệt tặng các chàng trai dũng cảm. Lẽ ra áo ấy phải mặc đồng bộ với chiếc khố có nhiều tua, nhiều đường hoa văn sặc sỡ. Chợt anh hú lên một tiếng ngắn gọn. Chú bé cầm đuốc vung mạnh rồi hạ xuống ngang người. Nó đứng trang nghiêm hô to bằng tiếng Gia Rai: “Tôi là mặt trời”. Lập tức hai em đứng sau lần lượt hô: “Tôi là trái đất!” - “Tôi là mặt trăng!”.

Ánh đuốc hắt ba cái bóng dài chập vào nhau. Dân làng xúm lại chỉ trỏ, cười nói. Anh lại hú giật lên một tiếng ngắn gọn nữa.

Mọi người im lặng. Cái nín lặng đột ngột khiến tôi cảm thấy như có sức mạnh của uy quyền. Một sức mạnh mà dù muốn, dù không ta vẫn phải làm theo.

Anh lại bắt đầu giải thích. Tôi thấy lần này lời giải thích của anh có hiệu nghiệm hơn. Ba em nhỏ vẫn luôn miệng hô: “Tôi là mặt trời!” - “Tôi là trái đất!” - “Tôi là mặt trăng!”.

Đứng ở vòng ngoài, tôi chờ dân làng tản ra sẽ bám theo anh. Nhưng chỉ loáng một cái, sau khi hỏi người đứng cạnh, biết anh là cán bộ văn hóa xã thì anh đã không còn trên sân làng nữa.

Người ta chỉ cho tôi nhà anh, một ngôi nhà không làm sàn duy nhất trong làng.

Trăng sáng trở lại, nhưng phía chân trời xa còn vương một đám mây đỏ thẫm.  Mọi người đã ai về nhà nấy. Đâu đó có tiếng chinh chiêng và tiếng hát trầm. Nếu ta chú ý lắng nghe, có thể nghe rõ lời bài hát.

* * *

Anh đang nằm trên chiếc giường tre nhỏ kê sát cửa, nghe tiếng động liền vùng dậy:

- Anh đấy? Anh hỏi bằng tiếng Kinh.

- Tôi anh ạ. Tôi là... nhà báo...

Anh vội vã ngồi dậy, bỏ vào nhà trong, một lúc sau cầm đèn dầu ra, có vẻ lúng túng. Tôi đặt ba lô lên thềm và nói:

- Lúc nãy anh giải thích hiện tượng nguyệt thực hay quá. Tôi nói tiếng Gia Rai, và hy vọng được anh đón tiếp vui vẻ.

Chợt anh đánh rớt chiếc đèn xuống nền nhà, vỡ tan. Tôi vội bấm đèn pin, giúp anh thu lượm mảnh. Anh ngồi xuống có vẻ khó khăn vì một bên chân không co duỗi được bình thường. Bàn tay phải của anh chỉ còn ngón trỏ và ngón út. Một bên má đen sạm, bên kia tấy lên có những chấm trắng. Chắc anh là thương binh, tôi nghĩ. Anh lầu bầu câu gì đó không rõ. Tôi thoáng nghe mùi rượu. Từ lúc vào tới giờ anh chưa hề nói với tôi lời nào, ngoài câu “Ai đấy” bằng tiếng Kinh. Chắc anh ta thạo tiếng phổ thông, tôi nghĩ. Liệu tôi đến có làm anh khó chịu? Anh ném mảnh đèn vào góc nhà, kéo xê chiếc giường con ra hiên, nói:

 - Đồng chí chờ tôi một tẹo. Anh lại nói tiếng Kinh, giọng miền Bắc. Tôi chưa hề thấy ai là người Gia Rai nói tiếng Kinh sõi hơn thế. Cái từ “một tẹo” anh dùng, phải người thạo ngôn ngữ đồng bằng Bắc bộ lắm. Nhưng tôi lại nghĩ: chắc anh làcán bộ tập kết về. Điều ấy cũng có thể đúng.

- Chắc anh đã ở nhiều miền Bắc. Tôi vẫn hỏi bằng tiếng Gia Rai. Anh lặng lẽ đặt chai rượu trên giường và hai cái ly nhựa. Anh rót đầy hai ly, không trả lời mà nhận xét:

- Đồng chí nói tiếng quê tôi thạo đấy. Chắc đã từng công tác ở đây?

Tôi khoe với anh là tôi đã ở vùng này hồi đánh Mỹ. Rằng có thời gian tôi đã được cử xuống làm cán bộ du kích.

- Anh ở đơn vị nào? Anh vẫn hỏi bằng tiếng Kinh.

- Trước tôi ở huyện đội này.

- Ủa, anh reo lên. Thế những năm nào?

-Dạ, từ sáu tám.

- Từ sáu tám, anh tiếp. Còn tôi là lính K5. Nhưng trước đó kia. Mà thôi, nào, xin mời! Chúng mình coi như anh em bạn cũ gặp nhau. Trăm phần trăm nhá!


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 10 Tháng Năm, 2011, 09:56:48 pm
                                            Tiếp :
   
Tôi cầm ly rượu ráng uống hết. Anh cũng làm một hơi. Tôi lấy mấy cái bánh mỳ mang theo ra mời anh. Anh ngồi ngây ra một lúc rồi bỗng đứng dậy, vào nhà. Tôi nhìn theo. Anh ăn ở chu đáo gọn ghẽ. Chợt có tiếng trẻ khóc và tiếng phụ nữ nựng con bằng tiếng Gia Rai. Anh trở ra nói:

- Cán bộ xã đi họp trên huyện cả. Chỉ còn mình tôi ở nhà, vì vợ tôi mới sinh cháu trai khi sớm.

- Thế ạ! Xin chúc mừng anh chị, tôi nói. Tôi hỏi thật. Hình như anh là người Kinh?

-Vâng, anh nghiêng người đứng dậy. Tôi là dân Bắc chính cống đấy anh ạ. Hôm nay tôi lên chức bố, lại là bố thằng cu. Mừng quá hóa ngớ ngẩn từ sáng tới giờ. Anh đến gặp dịp vui của tôi, cứ tự nhiên nhá.

Anh cười cởi mở rồi xoa xoa tay, bước vào nhà trong với cái dáng tất bật đầy vui sướng. Tôi thấy miệng anh bị lệch, hàm răng trên không còn cái nào, nhưng giọng vẫn bình thường. Anh vừa bước ra đã nghe tiếng chị với gọi theo. Chị nói với anh bằng tiếng Gia Rai. “Ơ kìa, con gà đang muốn theo nước sôi nhẩy ra khỏi nồi rồi”. Và chị bảo anh rút bớt củi trong bếp, lấy thêm rượu mời khách. Anh bảo để chúng tôi uống rượu cần, nhưng chị ngại người khách lạ cười. Anh lại quay vào. Có tiếng chị mắng yêu anh và tiếng cháu bé khóc.

Rồi lại im lặng.

Tôi cảm tháy lâng lâng phần vì ly rượu vừa uống, phần vì lây cái vui của anh chị. Trăng giữa tháng sáng tới mức ta có cảm giác không giang rộng hẳn ra. Tôi rút cây kèn ắc mô ni ca ra thổi. Tôi thích thổi những bài dân ca Gia Rai. Những bản tình ca của người đi săn. Những khúc hát đối nhau của các chàng trai và các cô gái trong dịp hội hè. Những điệu nhẩy mừng ngày mùa thắng lợi. Rồi tôi bỏ kèn, nghiêng người tựa vào thành giường hát. Chợt có bàn tay đặt lên vai tôi. Tôi ngừng lời. Anh bắt tay tôi bằng bàn tay lành và khen tôi hát tiếng Gia Rai khá chuẩn.

Tôi hát phần vì tôi hay hát. Phần nữa vì tôi biết người Gia Rai rất ưa âm nhạc. Tôi thường làm quen với bà con bắt đầu bằng giọng hát của tôi. Những chuyến đi lẻ thế này, có cây kèn ắc mô ni ca trong túi là tôi hoàn toàn yên tâm.

Anh đặt ghè rượu sát cửa lấy lá ủ và cắm cần. Chị bê tới một cái rá con bốc khói. Thì ra nãy giờ anh chị luộc gà. Tôi chào chị. Chị bẽn lẽn gật đầu. Anh lấy thêm đĩa rau thơm và muối ớt. Chị nắm tay tôi, bảo tôi ngồi xuống chiếu hoa - loại chiếu chỉ những nhà giàu xưa mới có. Anh nói:

- Cả ngày nay bà con mừng tôi hơn chục con gà, ba ghè rượu thơm, một gùi gạo nếp. Năm nay, chúng tôi được mùa cả lúa ruộng lẫn lúa nương anh ạ.

Chị vít cần rượu cho tôi, mỉm cười coi tôi và anh uống chung một cang1. Rồi chị vào nhà trong với cháu. Tôi nghe rõ tiếng rượu chuyển trong ghè. Bỗng anh buông cần nói với vào nhà trong bằng tiếng Gia Rai:

- Ơ em. Tôi muốn say rồi! Ngày vui uống chút cho say, được. Ngày thường uống say, không phải người Gia Rai xã hội chủ nghĩa đâu cán bộ phụ nữ nhỉ?

Chị cười rũ.

Anh lại vào buồng rồi trở ra với một quả bầu đựng nước. Chúng tôi chế thêm nước vào ghè rồi đặt cang. Anh bảo tôi uống hết.

- Hồi tôi vào huyện đội này thì K5 các anh chuyển đi đâu nhỉ? Tôi hỏi.

- Bọn tôi vào trong nước La Pà.

- Từ ấy anh có gặp ai bạn bè cũ không?

- Không. Mà gặp làm gì?

- Sao vậy anh?

- Chẳng sao cả. Nhưng tôi thích thế. Mỗi người có một hoàn cảnh.

- Anh đã về quê lần nào chưa? Tôi hỏi.

Anh lặng đi một lúc lâu mới nói:

- Chưa. Mà mình không về nữa. Mình ở đây suốt đời.

Anh lặng lẽ rút tẩu thuốc rồi vào nhà lấy nháy củi đang cháy. Anh bập thuốc có vẻ khó khăn, nhưng đúng kiểu của người Gia Rai. Tôi cũng xin anh một ít thuốc, dùng giấy pơ luya quấn hút. Chúng tôi bắt đầu chuyển sang một không khí mới. Anh ngồi xích gần, bảo tôi đổ thêm nước từ quả bầu vào ghè. Rồi anh vít cần cho tôi, nói:

- Anh nên nhớ rằng, anh là người Kinh đầu tiên tôi tiếp từ khi bị thương đến giờ.

- Vậy ra anh...

- Chẳng sao cả, anh ạ. Tôi vào Nam, đánh đấm được mươi trận, đã ba lần được bằng dũng sĩ diệt Mỹ, Một lần dũng sĩ diệt cơ giới. Hai năm liền chiến sĩ thi đua cấp quân khu. Từ tổ trưởng nhẩy thẳng lên trung đội phó. Từ trung đội phó nhẩy thẳng lên chính trị viên đại đội. Tất cả những cái đó đều đáng nói, nhưng cũng đều không cần thiết nói phải không anh?

Chợt anh nhìn tôi như người lạ:

- Giải phóng rồi, anh được xuống đồng bằng, anh được ra miền Bắc với vợ con, với người thân của anh. Anh... hơn tôi nhiều!

Mắt anh, qua ánh đèn sắp đỏ sọc lên, rồi mờ dần. Anh khóc. Tôi lúng túng không biết xử sự thế nào. Bỗng anh giụi mắt rồi nhìn tôi chằm chặp. Môi anh mấp máy như định nói nhưng lại thôi. Hai chúng tôi ngồi lặng thinh. Cái lặng thinh như có một lỗ thủng. Trăng sáng ngằn ngặt. Có tiếng chị cựa mình và tiếng cháu bé khóc. Rồi thật bất ngờ, chị cất tiếng ru. Mà chị ru tiếng Kinh, theo đúng điệu của các bà mẹ miền Bắc:

A... a... à... ơi... i...i...

Em xinh... cái dáng a... á-à-à- cũng à... à... à... xinh... i-i...

Em giòn... cái tỉnh a... á... a... tình tinh... a... cũng... à... giòn... á-à-à-ơi...


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 10 Tháng Năm, 2011, 10:01:53 pm
                                tiếp :Tôi sững sờ. Chị đang ru con hay chị đang nhắc nhở chúng tôi. Chị đang ru con hay chị muốn góp điều gì cho vui câu chuyện. Anh bật cười to và sau đó trở lại trạng thái tỉnh táo hoàn toàn. Những người say rượu, thường thế, tôi nghĩ. Thường có những phút tỉnh táo hoàn toàn. Anh tiếp:

- Vợ tôi người Gia Rai, con gái làng Plei-o-k này. Trước công tác ở tỉnh, sau về huyện. Bây giờ thì về xã. Chúng tôi cứ rút dần vào cái tổ của mình anh ạ?

Anh cười rất hồn nhiên. Tôi hỏi:

- Anh dạy chị điệu ru con Bắc Bộ đấy à?

- Nhà tôi thích hát ru lắm. Tôi còn dạy chèo cho đội văn nghệ xã nữa. Bà con Tây Nguyên nói chung rất thích hát chèo. Đội văn nghệ xã tôi quyết đoạt giải hội diễn sắp tới đấy!

Anh ấn tay tôi vào cần rượu, hỏi:

- Thế trước đây anh đã đánh đấm trận nào chưa?

- Dạ, cũng có, nhnưg chỉ đánh kiểu du kích. K5 các anh đánh thì khiếp lắm.

- Ôi dào, anh ngả người ra sau. Trước tôi là chính trị viên đại đội. Bây giờ là “chính trị viên làng”.

Ngừng một lát, anh tiếp: Hồi ấy đơn vị tôi được trên giao là phải “hốt” ba cái đồn dân vệ trên trục đường quốc lộ và hai kho đạn địch gần thị xã. Nhiệm vụ nhiều, lại phân tán mục tiêu. Đại đội tôi, thực ra chỉ còn hơn chục tay súng. Giờ nổ hiệp đồng với mặt trận không được cách nhau quá năm phút. Tôi chỉ huy mũi chủ công, trực tiếp nắm tổ điểm hỏa diệt kho đạn địch. Chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc, có thể nói như thế. Nhưng khi rút về gần tới khu tập kết thì chẳng may, mũi tôi lọt vào ổ phục của địch. Tôi không hiểu vì sao lại bật tít vào bụi. Hình như chúng tôi bị mìn và cả ĐK nữa. Tôi bị ngất khá lâu, rờ lên mặt chỉ thấy máu! Bàn tay phải bị mất mấy ngón. Một mảnh đạn cứa đứt gần trên gót phải. Tóc và mặt tôi bị cháy sém vì luồng lửa ĐK xoẹt qua. Vâng, chả hiểu sao lúc ấy tôi khỏe thế. Tôi kéo lê khẩu súng bên tay trái, bò quanh tìm anh em. Nhưng không thấy ai cả. Có thể anh em đã bị thương và bị địch bắt. Cũng có thể hy sinh và địch lấy mất xác. Tôi bò quanh quẩn mãi. Thực ra chỉ sờ mò thôi chứ mắt có thấy gì nữa đâu. Rồi cũng đến lúc phải tính anh ạ. Tôi bò theo linh cảm vào rừng. Không biết bao lâu. Đến khi mở được mắt đã thấy mình được nằm bên đống lửa. Chỉ có một khuôn mặt xương xẩu, râu tóc xồm xoàm cúi xuống. Người ấy dùng thuốc rễ cây tưới lên những chỗ bỏng và các vết thương cho tôi. Đấy, ông già vợ tôi bây giờ đấy. Hôm đó ông đi săn, gặp tôi và cõng tôi về cứu chữa, ông già chỉ sống có một mình. Hai người con trai là du kích đã hy sinh, chỉ còn một cô út đi công tác xa. Bà lão mới mất trước khi có mặt tôi vài tháng. Ông sống lầm lì, suốt ngày chỉ nói vài câu cần thiết. Tôi khỏi rồi, ở lại với ông, với dân làng. Tôi học tiếng Gia Rai, học việc của một người đàn ông Gia Rai. Tôi không về đơn vị nữa. Tôi về làm gì khi bàn tay không còn cầm nổi súng, chân tôi cứ phải kéo lê thế này? Đơn vị tôi lại đang lúc khó khăn. Gạo tính bằng lẻ tay, muối thì đong bằng hộp cù là. Mà nhiệm vụ chiến đấu thì cứ liên miên. Là cán bộ, tôi biết. Một đại đội độc lập kiểu đơn vị tôi, lo chu đáo được cho một thương binh, khốn khổ lắm, căng thẳng lắm. Tôi về anh em lại phải nai lưng ra gánh vác cho tôi. Mà cái chính là cầm súng thì tôi không còn làm gì được nữa. Tôi về chỉ để anh em biết là mình còn sống không thôi ư? Và nếu chỉ có vậy thì tôi không về nữa. Đồng đội hãy tha thứ cho tôi! Lúc ấy tôi nghĩ thế và tôi đã làm đúng theo ý nghĩ của tôi...

Chợt có tiếng chị gọi. Anh tất tưởi trở vào, một lúc sau quay ra, nét mặt có vẻ rạng rỡ hơn. Anh nắm tay tôi:

- Anh ạ, chúng tôi mới sinh cháu trai. Tôi vừa bảo nhà tôi sẽ đặt tên cháu là Thực. Rơ Lan Thực. Mẹ cháu họ Rơ Lan, lại sinh đúng bữa nay có nguyệt thực. Đặt thế để nhớ ngày hôm nay, được không anh?

Chúng tôi đổ thêm nước vào ghè và đặt cang uống chung. Tôi thấy anh có vẻ mệt nên bảo anh đi nghỉ. Anh cười:

- Lo gì tôi. Tôi đã trót nói với anh rồi. Tôi ở lại đây và thành người Gia Rai. Tôi không về quê nữa. Nhưng anh ạ, hồi còn chiến tranh mù mịt tin tức còn có lý. Giải phóng rồi mà tôi không về, mà tôi nỡ bỏ vợ, bỏ quê hương - Điều này lúc nào cũng dằn vặt tôi.

Đột nhiên anh ngừng lời. Một lúc sau, như sực nhớ điều gì, anh tiếp:

- Tóc vợ trước của tôi dày và đẹp lắm. Mỗi lần chải cô ấy phải đứng trên giường mà buông xuống. Vợ tôi đẹp nhất vùng, tôi dám nói như thế. Cô ấy là kế toán hợp tác. Hôm về phép lần cuối cùng trước khi đi B, vừa xuống xe ngang đường thì tôi gặp cô ấy. Cô ấy lên huyện có việc gì đó về, lốp xe đạp bị xịt. Thấy có người dắt xe, tôi nhờ đặt ba lô lên poóc-ba-ga. Đi được một đoạn mới có hiệu sửa, tôi bảo vào vá xăm. Cô ấy cứ lúng ta lúng túng. Thì ra cô nàng hết tiền anh ơi. Tôi nhận trả cho. Sửa xong, tôi đèo cô ấy về. Đến gần làng thì gặp nguyệt thực. Tôi dừng xe đứng xem. Tiếng gõ nong nia, thúng mủng từ trong làng vọng ra nghe mà rùng rợn. Cô ấy nép sát vào tôi, thì thầm: “Gấu ăn mặt trăng!”. Hơi ấm từ người cô ấy lan sang khiến tôi ngơ ngẩn. Vâng, tôi đã nắm tay cô ấy từ lúc nào. Đến lúc trăng sáng lại, chúng tôi sực nhớ là mặc dù cùng quê nhưng mới quen nhau được vài chục phút.

Hôm sau cô ấy đem tiền trả tôi. Làm sao có thể nhận trong trường hợp như vậy phải không anh? Nhưng kể cũng hay. Cứ đưa đẩy mãi hóa ra tình cảm. Rồi chúng tôi yêu nhau, cưới nhau. Cứ như tôi về phép chỉ để gặp cô ấy, để cưới cô ấy. Xưa nay, ba anh em tôi đi đâu về cũng ở nhà ông chú. Bố mẹ tôi mất sớm vì nạn lụt.Chú tôi trông nom chúng tôi thay cha. Hồi ấy thằng em tôi đã đi học nước ngoài. Cô út cũng đã lấy chồng, dạy học tận một tỉnh sát biên giới phía bắc. Tôi định về nhà với chú thím chục ngày rồi ngược thăm em gái. Nhưng tình yêu đã níu chân tôi lại. Tôi cưới vợ, khoác ba lô về nhà vợ ở, điện cho em gái về chơi. Tháng rưỡi phép cứ như trong mơ. Thời gian đối với tôi chưa bao giờ vụt nhanh đến thế. Khi khoác ba lô lên vai, chia tay vợ, chia tay làng xóm, lên xe rồi mà tôi vẫn thấy ngỡ ngàng...

- Từ đó anh chị bặt tin nhau luôn? - Tôi hỏi.

- Không. Tôi là thằng chịu khó viết thư nhất đơn vị. Hành quân Trường Sơn vất vả là thế mà tôi vẫn gửi về đều đặn mỗi tuần một lá. Sau này vì quá căng thẳng, tôi gửi thưa dần, chỉ khi nào có dịp thuận tiện. Tôi cũng nhận được hai thư của nhà tôi. Thế nhưng, từ ngày bị thương, từ ngày tôi quyết ở lại đây thì không còn thư gì nữa! Tôi đã thành người Gia Rai, thành người làng Plei-o-k này rồi. Mà đã thế thì thôi, thì còn thư từ mà làm gì. Tôi chỉ muốn ngoài bà con Plei-o-k ra, không ai nghĩ rằng còn có tôi trên đời này nữa. Hãy để cho vợ tôi, em tôi, chú thím và bà con dân làng coi tôi là liệt sĩ. Có lẽ như thế tốt hơn. Tôi không có ý định lộ mặt ra, mặc dù nhiều lần không chịu nổi. Ngoài nông trường chăn nuôi của huyện kia, khối anh em miền Bắc. Nhất là mấy sư đoàn bộ đội làm kinh tế gần đây lại càng đông.  Đã vài lần tôi ra nông trường chơi, tới chỗ anh em bộ đội chơi - họ không nhận ra tôi là người Kinh. Tôi lân la hỏi thăm. Cũng gặp vài anh em cùng huyện. Có hai cậu cùng xã. Nhưng anh em còn ít tuổi quá. Hồi tôi đi B, chúng nói mới sáu bẩy tuổi. Tôi hỏi chuyện làng xóm, rồi chuyện gia đình. Nhưng hai cậu đồng hương ấy chẳng biết gì thật rõ ràng cả. Họ hỏi tôi sao biết quê họ và quen nhiều người thế. Tôi bảo tôi có được ra Bắc học và sơ tán về quê họ mấy tháng. Và thế là các đồng hương của tôi tin ngay! Một cậu bảo có biết “chị ấy” - tức là vợ tôi. Và thậm chí biết cả “anh chồng chị ấy” - tức là tôi. Một cậu thì nói rằng “anh ấy” đã hy sinh ở chiến trường, còn chị ấy, hình như vẫn ở vậy. Nhưng cậu kia lại bảo hình như “chị ấy” đã có con với ai đó - Trời đất, cái gì cũng hình như, hình như. Tôi không thể chịu được. Nhưng mà trách ai? Anh em người ta có việc của người ta. Mà dẫu tôi có hy sinh hay còn thì đối với mọi người có lẽ cũng thế thôi. Tôi đã mời được hai cậu đồng hương ấy về nhà chơi. Tôi cư xử với anh em theo đúng kiểu người Gia Rai. Lúc gặp anh em, tôi đóng kịch không đến nỗi kém. Vậy mà sau đó, chỉ có một mình với những kỷ niệm cũ, tôi không tài nào chịu nổi. Tôi như thằng tâm thần. Tôi nói dối ông già là được trên cử đi học hai tháng. Ông già bán con heo nái đang nuôi lấy tiền cho tôi, không hề nói gì. Thậm chí ông còn tỏ ra vui hơn thường ngày. Sau này tôi mới biết. Ông bảo lúc ấy ông đếm được trong đầu tôi nghĩ những mưu mẹo gì! Tôi chỉ nghĩ là đi chừng hai tháng. Tôi thèm biết tình hình vợ và hai em tôi, thèm được đi trên cánh đồng làng trong cảnh thanh bình quá! Rồi tôi vào, nhất định thế. Tôi không bỏ ông già và dân làng Plei-o-k của tôi được. Có lẽ như thế tôi sẽ yên tâm hơn phải không anh? Hôm ấy tôi đi sớm. Ra khỏi làng trời còn mù sương, ngoái lại chỉ thấy những đốm lửa nhập nhòe. Tôi vừa đi được một đoạn thì gặp mấy người xe bò đi bán củi - Tôi ngồi nhờ lên tới bến xe thì sáng. Tôi chỉ mặc độc một bộ đồ bộ đội. Rủi cho tôi mà cũng thật may cho tôi. Tôi lao vào xếp hàng mua vé. Chỉ còn hai người nữa đến lượt tôi thì cửa bán vé sập xuống. Hai chữ Hết Vé đập vào mặt tôi như một cái tát! Tôi bấm lòng chờ mua chuyến trưa. Tôi xếp đầu tiên và cố không nghĩ ngợi gì. Thời gian căng thẳng ấy rồi cũng qua. Cửa bán vé vừa mở tôi đã thọc tay, đưa tiền vào. Cô bán vé định bán thì một người nào đó, cũng từ phía trong phòng hỏi giấy. Tôi không có giấy tờ. Không có gì cả! Tôi bảo tôi là thương binh.Người ta hỏi: “Thế thẻ thương binh của bác đâu?”. Tôi đấm ngực: “Thẻ à? Tôi thế này mà cũng phải thẻ à?”. Người ta vẫn nhẹ nhàng: “Vâng, đã là thương binh thì phải có thẻ thương binh, bác ạ”. Tôi nuốt nỗi cay cực xuống ngực và cắm đầu quay ra đường. Tôi nằm vật trong một bụi cây. Ông già cõng tôi trở về. Thì ra ông đã đi theo tôi từ lúc nào không biết. Ông bảo tôi đi lọt thì cho đi, nhưng nếu không lọt nhất định có chuyện xấu! Ông già đắp lá rừng mát cho tôi. Có đến vài tháng tôi không được khỏe lắm, đêm nào cũng nằm mơ. Thậm chí cả lúc thức, cả ban ngày, ban mặt nữa! Khi thì thấy thằng em tôi vào. Rõ ràng nó đang đứng ngoài cửa xách cái cặp sách ngày xưa nó vẫn đi học. Tôi chạy ra thì nó biến đâu mất. Tôi quay vào chỗ cũ lại thấy nó xuất hiện. Tôi ngồi im nhìn và nó cũng đứng ngoài cửa nhìn tôi. Tôi quát lên: “Sao chú lại cứ đứng đó?”. “Em vào tìm anh”, nó nói nhẹ nhàng. “Không!”. Tôi bảo nó: “Chú về đi! Về lo công chuyện của chú đi. Anh không còn nữa đâu” - “Anh nói gì lạ vậy?”, nó nói “Anh vẫn còn sống. Hôm trước anh đã định về với chúng em kia mà”. “Không”, tôi bảo nó. “Chú nằm mơ đấy!” - “Chính anh đang tự dối mình”. Nó dám bảo tôi thế. “Anh không biết anh đang làm khổ chúng tôi, làm khổ chị ấy và chính bản thân anh nữa sao?” - “Trời ơi”, tôi bảo nó: “Chú được học rộng biết nhiều mà hiểu về anh hạn hẹp quá. Sao chú nỡ mắng anh như vậy? Nhưng anh hiểu, người ta có nhiều cách biểu hiện lòng thương yêu. Khóc là một kiểu và chú mắng anh cũng là một kiểu. Tuy vậy chú ạ, cứ coi như anh đã hy sinh rồi” - “Không được!”. Nó lạnh lùng đáp. “Anh còn sống, em biết. Và chính vì thế, anh đã làm khổ bao nhiêu người thân. Anh cứ tưởng lánh mặt đi như thế này họ sẽ được tự do sung sướng? Không! Anh phải nghĩ lại. Đất nước hòa bình thống nhất rồi. Và anh đã góp một phần xương máu vào sự nghiệp chung. Anh có điều kiện hưởng hạnh phúc. Anh cứ về với bọn em đi! Anh về với chị dâu của chúng em đi! “Này”, tôi  cũng phải ra vẻ cứng với nó. “Chú đừng nghĩ chú được học rộng biết nhiều mà hiểu thấu mọi nhẽ. Chú đừng mong tôi phải ân hận, phải nghĩ lại gì cả. Tôi đã làm đúng với ý nghĩ của tôi - mỗi con người được sinh ra, nếu chúng ta muốn thành người tốt, thì trước nhất, chú ạ, phải làm tròn bổn phận của mình. Và cũng không chỉ có thế. Chúng ta còn phải có trách nhiệm với người thân của mình nữa...”.


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 10 Tháng Năm, 2011, 10:12:33 pm
                                             Tiếp :
Anh buông tay tôi, ngả người ra sau, tiếp:

- Tôi nói nhiều quá phải không anh. Có lẽ tôi say rồi. Cũng có lẽ quá lâu chưa có dịp uống rượu. Hôm nay vui quá. Thằng con tôi ra đời. Tôi đặt tên cháu là Rơ Lan Thực. Lúc anh vào tôi đang nằm nhớ cái đêm nguyệt thực gặp nhà tôi. Với lại tôi phải nghĩ cách giải thích thêm cho bà con hiểu. Xưa nay, mỗi lần nguyệt thực là dân làng phải dời đi nơi khác. Phong tục thế biết làm thế nào được? Nhưng từ khi tôi về, bà con đã nghe tôi và ở lại.

-  Có bao giờ anh kể chuyện ngoài Bắc cho chị nghe chưa? Tôi ngắt lời anh, hỏi:

- Có chứ! Lúc chưa cưới, tôi đã kể hết. Cô ấy khóc. Sau này thì thôi. Nói làm gì nữa? Chúng tôi đều là những người muốn có hạnh phúc. Nhiều lúc tôi cứ lẩn thẩn nhớ lại từng khuôn mặt những anh em đã hy sinh từ khi tôi vào tới lúc tôi bị thương. Rồi, có khi tôi mơ thấy anh em tụ họp về nhà tôi nghe tin tức trên đài, giống như hồi còn chiến tranh ấy. Bây giờ cái làm tôi sợ nhất là chiêm bao, mấy lần tôi thấy em gái tôi vào. Nó dẫn theo cả một đoàn cháu gái. Tôi mừng quá, reo lên. Nó thì đẩy vai tôi ra, nói: “Lúc nào anh cũng bảo anh đã hy sinh, đã là liệt sĩ! Thôi thì em tin. Nhưng sao anh là liệt sĩ mà chẳng phù hội em. Cháu của bác đây, bác xem lại đi, toàn cháu gái cả! Em sinh đến đứa thứ năm rồi mà vẫn con gái. Các chị nhắc em phải kế hoạch. Nhưng vợ chồng em muốn có một cháu trai quá, sao bác chả phù hộ vợ chồng em?”. Rồi lại cả vợ tôi nữa. Cô ấy cứ buông tóc xuống đất cho các cháu gái tha hồ mà chải. Tôi thu lại thì cô ấy bảo: “Sao cả tháng giời ăn ở với em, em muốn có con, anh lại gạt đi? Anh bảo anh không muốn em vất vả mang thai, sinh con khi vắng mặt anh. Bây giờ anh là liệt sĩ, anh có biết em sống vò võ một mình thế nào không? Anh bảo em đẹp ư? Trời đất, đẹp mà làm gì khi không có anh trên đời này nữa...”. Tôi nhìn vào mắt vợ tôi và cô ấy cũng nhìn tôi chằm chặp. Tôi bảo: Em hãy nhìn vào mắt anh đây. Hãy nhìn vào chân tay anh đây. Bàn tay anh không còn luồn vào tóc em được nữa. Môi anh cũng không còn bình thường để đặt lên đôi má lúc nào cũng như rắc phấn của em đượcnữa. Có thể anh nghĩ thế nào thì làm như thế. Tổ quốc đối với anh là em, là bà con xóm làng mình. Nhưng lại không phải chỉ có thế. Tổ quốc còn là ông già  Gia Rai đã cứu sống anh. Còn là bà con dân làng Plei-o-k này nữa”.

Bỗng anh sực ngửng lên, nhìn tôi:

- Tôi đang nói chuyện gì với anh? Có lẽ thần kinh tôi yếu rồi. Lắm lúc tôi cứ phải hoặc cắn vào cánh tay mình một cái rõ đau. Hoặc đá vào cái gì đó để biết mình đang tỉnh hay nằm mê. Thế đấy. Nhưng với anh là đồng đội, chúng mình đã hiểu nhau. Anh ạ, thoạt đầu, khi quyết định ở lại đây, tôi không hề có ý định lấy vợ nữa. Tôi ở với ông già cả chục năm. Tôi cùng đội du kích chế mìn đánh  giặc được dăm trận. Ông già là người lính già nhất trong đội du kích xã. Năm kia ông ốm nặng qua đời. Cô út về chăm sóc và chịu tang. Chúng tôi lo cho cụ chu đáo đúng theo phong tục của người Gia Rai. Sau đó tôi mới biết cô ấy cũng đã có chồng và chồng cô cũng là liệt sĩ. Vâng, thế rồi như định mệnh, chúng tôi yêu nhau. Dân làng hết lòng vun quén cho chúng tôi. Rồi tôi được vào Đảng. Đúng hơn, tôi được chi bộ và Đảng ủy xét duyệt cho sinh hoạt lại. Cũng may cho tôi. Đồng chí bí thư đảng ủy xã biết rõ tôi là chính trị viên đại đội. Hồi ấy đơn vị tôi đánh hợp đồng với du kích luôn. Trường hợp bị thương của tôi đồng chí ấy biết. Bây giờ tôi phụ trách công tác thông tin văn hóa xã.

Anh ngả hẳn người vào vai tôi ngước nhìn trăng rồi lại thì thầm:

- Vừa rồi tôi đã nói những gì với anh, tôi không nhớ nữa. Có lẽ tôi say. Nhưng đêm nay vui quá. Suốt cả ngày dân làng tới mừng vợ chồng tôi. Thằng con tôi sẽ xóa đi mọi cực nhọc cho tôi: Anh nên nhớ rằng, tôi không có ý định thay đổi lại cuộc sống. Chỉ có một điều, anh có điều kiện khi nào về quê tôi chơi, thăm dò giúp tình hình vợ và hai em tôi. Nhưng bằng cách nào cũng không được để lộ ra là tôi còn sống. Tất nhiên, tôi tin anh. Chúng mình sẽ thư từ cho nhau. Để mai tôi ghi địa chỉ cho anh.

Và anh nằm gối đầu lên bậc thềm ngủ. Anh ngủ ngon lành như không phải vừa rồi đã nói ra những điều sâu kín của đời mình.

* * *

Sau chuyến công tác ấy, tôi thu xếp xuống miền quê anh ngay. Lân la trò chuyện với bà con xã viên, tôi được biết chị vợ anh, năm 1970 đã nhận được tin chồng hy sinh. Người ta kể rằng, chi đã gần như chết đi sống lại nhiều lần. Nhưng cũng như nhiều chị em cùng hoàn cảnh khác, chị đã vượt qua. Sau đó chị được trên cử đi học đại học nông nghiệp tại chức. Năm 1975 tốt nghiệp, chị nhận công tác trên phòng nông nghiệp huyện. Năm 1977, chị “đi bước nữa”. Chồng chị cũng là bộ đội chuyển ngành. Họ đã có một cháu trai. Người ta cho biết, anh là một người rất hiền lành, rất chu đáo với vợ con. Họ sống khá yên ổn. Nhưng với người chồng cũ của chị, mỗi lần xóm làng nhắc tới anh đề tỏ lòng vô cùng yêu mến và thương tiếc. Tôi còn biết thêm em trai của anh đi học ở nước ngoài đã về nước. Hiện nay anh là cán bộ trong một viện nghiên cứu khoa học nào đó ở Hà Nội. Còn cô em gái anh cũng có ba cháu, hai trai, một gái.

Sau khi rời quê anh, tôi ghé vào phòng nông nghiệp huyện, cố tìm gặp được chị. Nhưng anh chị đã lại đang nghỉ phép về quê nội. Tôi áy náy mãi. Nhưng dẫu sau điều gì cần biết về chị tôi đã biết rồi. Và tôi đã viết thư cho anh. Tôi chân thành nói với anh rằng: Quyết định của anh để sống mãi ở cái làng Plây-o-K, thật ra, tôi vẫn chưa thấy đó là một điều thật đúng. Nhưng dẫu sao tôi đã ghi nhận được ở anh một điều gì đó thật sâu xa, thật cao đẹp của người chiến sĩ.

1981

T.T. Đ


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 10 Tháng Năm, 2011, 10:26:01 pm
                                 Một quãng đời và cả cuộc đời    
                                 Tác giả : Phạm Duy Tương

Thế là xong! Ký xoẹt một cái, tôi quẳng chiếc bút xuống mặt bàn. Ðứng dậy, nhìn bản như nhìn một công trình khó nhọc, bám riết lấy tôi, hút máu thịt tôi, nay đã được hoàn thành, đã ra khỏi cơ thể của mình. Nó không thuộc về tôi nữa.
Cũng như người đàn bà nhỏ bé đang run rẩy như chiếc bút tôi vừa bỏ xuống, bây giờ đã trở thành người dưng nước lã. Tôi hơi buồn cười với ý nghĩ chua chát nảy lên trong đầu: cô nàng xanh xao kia mới đây là của tôi đấy nhỉ?

Bà thẩm phán dán mắt vào bàn tay lóng ngóng của cô ta, mãi không cầm được cây bút cho vừa ý, chợt dịu giọng hỏi:

- Cô có điều gì băn khoăn nữa không?

- Dạ... không ạ - Cô ta khẽ lắc đầu.

- Cô hoàn toàn đồng ý cho đứa con về sống với ba nó chứ?

- Dạ... - Cô ta thoáng giật mình, khuôn mặt gầy gò biến sắc, tái mét và run bắn lên. Ngòi bút vừa chạm tờ giấy vội rụt lại.

Bà thẩm phán đặt tay lên một góc tờ giấy. Bà ta làm gì thế nhỉ? Tôi nhăn mặt, sốt ruột. Hai ngày qua, chúng tôi đã trả lời cả một loạt câu hỏi rồi. Chúng tôi không thể sống với nhau bởi giữa chúng tôi không còn tình yêu. Cô ta đã phản bội tôi. Hai năm qua tôi ở chiến trường, cô ta đã to bụng với một tay lái máy cày nào đó. Tôi cũng chưa biết mặt. Cái thai đã bị sẩy, lạy trời! Trước khi lấy nhau chúng tôi đã giao ước với nhau về trường hợp này. Tôi không còn muốn nhìn thấy cô ta, nghe thấy cô ta, thậm chí cảm thấy cô ta ở bên cạnh. Vậy sống với nhau thế nào được! Nghe nói cái anh lái máy cày kia, đến làng tôi làm và xin nghỉ trong một gian xép của nhà trường, nơi vợ tôi dạy học và vợ tôi đã chung chạ với anh ta...

Tôi với anh trai cô ta ở chung một đơn vị gắn bó với nhau mười mấy năm trời và chính anh đã giới thiệu em gái cho tôi. Hôm tôi về phép nhằm bữa đơn vị báo động luyện tập phương án chiến đấu, anh kéo tôi ra một đoạn vắng, dựa súng vào vách hào nói chuyện. Trước sự việc tệ hại, anh và tôi đều cảm thấy khó xử. Dù biết không hề có lỗi, thâm tâm chúng tôi vẫn trách móc lẫn nhau.

Anh nhấc hai khẩu súng dằn mạnh sang bên, khẽ chạm vào tay tôi, nói:

- Tôi biết chú sẽ giải quyết như thế nào rồi. Tôi hoàn toàn đồng ý.

- Mong anh hiểu cho - Tôi nặng nề nói, tôi có tính xấu là cố chấp. Bởi cố chấp nên đã muộn vợ và có lẽ suốt đời phải chịu cô đơn.

- Cố chấp chưa hẳn là xấu - Anh tiếp lời ngay, người lính không thể cúi đầu chịu đựng tất cả mọi thứ rác rưởi của xã hội. Tiền tuyến không phải là cái bãi phế thải của hậu phương - Giọng anh gay gắt bất ngờ rồi dường như nhớ đang đứng ở đâu, nét mặt giãn ra cởi mở - Dù thế nào cũng đến thăm mẹ tôi chốc lát nhé.

Ðến lượt tôi cảm thấy bối rối. Anh vừa vượt qua cương vị người anh vợ thẳng thắn trở về người đồng đội. Tôi xúc động hứa với anh là sẽ tới.

Ðêm tháng năm, chẳng mấy chốc đã sang canh, bà con anh em vê từ lâu tôi vẫn ngồi bên bàn. Sờ ấm nước thấy hết, tôi bấm đèn pin xuống bếp, bắt gặp cô ta ngồi thu lu trong ngách nhà. Cô ta nhìn tôi rất nhanh, hoảng hốt co chân về tránh đường cho tôi và cúi gằm mặt giấu vào hai đầu gối. Múc xong bát nước, tôi đã toan bước đi nhưng nghĩ sao lại dừng lại. Cô ta ngửng lên lí nhí hỏi:

- Anh sẽ bỏ em phải không?

Câu hỏi thật thẳng thừng và nếu không thẳng thừng như thế chắc tôi sẽ không trả lời.

- Chính Lệ cũng biết cần phải như thế nào rồi đấy!

- Anh ngồi xuống đây - Cô ta cất giọng nhẹ nhàng. Trong ánh đèn sáng rực, tôi thấy cô ta gầy đi rất nhiều. Khuôn mặt dịu dàng, đằm thắm giờ đọng đầy vẻ thảng thốt, dằn vặt. Tôi cảm thấy ghê tởm nhưng vẫn ngồi xuống với tay tắt đèn.

Cô ta trao cho tôi chiếc ghế con. Tôi chạm phải một bàn tay giá lạnh và tiếng nói trong hơi thở hổn hển. - Em muốn xin anh đừng bỏ em.

Tôi nhăn mặt phản đối nhưng nhận ra bóng đêm đang trùm kín, bèn giương mắt nhìn thẳng ra phía trước với thâm ý tò mò độc ác.

Khuôn mặt nhờ nhờ trắng đang dịch lại gần tôi, một bàn tay mềm nhũn chạm vào đầu gối. Tôi hất ngay xuống, hình như có một tiếng kêu cố nén lại:

- Anh cứ khinh bỉ em, nhưng xin anh nghĩ coi, suốt bốn năm lấy nhau anh ỏ với em được mấy ngày - Cô ta đã lùi ra xa, không còn nhìn thấy cái vệt trắng nhờ nhờ trước mặt, chỉ nghe tiếng nói thảng thốt như hơi thở hấp hối của bóng đêm sâu thẳm. Tiếng rên rỉ ngắt quãng nhưng vẫn khá mượt mà - Em biết anh rất kiên quyết, khó lòng lay chuyển nhưng vẫn cầu xin theo sự thôi thúc của trái tim. Nếu anh không chấp thuận lời cầu xin của em thì cũng mong anh hiểu cho dù hư hỏng, dù đáng tội nhưng trái tim em luôn luôn hướng về anh. Cả khi, cả khi... thể xác em phản bội anh - Cô ta nói nhanh và bỗng bật khóc. Tiếng khóc cố nén nghe tức tưởi - Em khổ sở nhục nhã lắm anh ơi. Lúc em không giữ gìn được là lúc em không thể nào giữ được, cho nên em nhận thức đầy đủ sự nhục nhã ê chề của nó. Mà anh, sao anh chẳng đoái hoài giúp đỡ em một chút gọi là... - Tiếng khóc làm cho lời nói trở thành rên rỉ nghẹn lại.

Tôi bắc chân lên ghế:

- Ở chiến trường tôi cũng chỉ biết ôm lấy khẩu súng mà nhớ tới cô, xây đắp hạnh phúc bằng tưởng tượng.

- Em biết - Sợi dây đàn ngỡ đã đứt rồi lại rung lên não nề - Anh là đàn ông, anh có biết bao nhiêu chuyện vui để khuây khỏa. Anh còn có đông đúc bạn bè, được ngẩng đầu lên kiêu hãnh. Còn em, thui thủi như một cái bóng. Hàng ngày đâu có dám nhìn ai. Ði trên đường gặp ánh mắt bất ngờ đều phải cúi xuống, lẩn tránh cả ánh mắt của người thân. Xây đắp hạnh phúc bằng niềm hy vọng chờ đợi mỏng manh đôi lúc tưởng như hão huyền. Và đứa con...

Tôi thở hắt ra, lạnh lùng cắt ngang:

- Ðứa con là của tôi, không còn của cô.

Hai bàn tay gầy giá lạnh chộp lấy đầy gối của tôi, run lên bần bật. Tôi hất mạnh đầu gối, đứng dậy. Tôi ngửa cổ uống một hơi cạn sạch bát nước còn nguyên trên tay và thô bạo hắt chút cặn cuối cùng vào bóng đêm ngoài cửa.

- Cô cứ vào giường mà ngủ. Ðứa con của tôi để nó ngủ với bà - Tôi nói vọng lại khoảng tối đen, trống rỗng sau lưng, kiên quyết bước tới bên bàn.

Một lúc mẹ tôi bế đứa cháu ra rồi ngồi đối diện với tôi, chếch bên tay trái. Im lặng hồi lâu, mẹ rụt rè nhìn tôi, hỏi:

- Con định thế nào?

Tôi cúi xuống bối rối không tìm được câu trả lời. Mẹ nhấc bàn tay rơi thõng của đứa cháu xếp vào lòng.

- Chuyện của con tùy con - Giọng mẹ buồn rầu nhưng rất bình tĩnh, riết róng của một cuộc đời nhiều vất vả, khổ đau: Chồng mất sớm, một mình nuôi dạy ba đứa con. Họ hàng anh em thì cũng người nói thế này, người nói thế khác. Riêng mẹ không chấp nhận thứ gái lăng loàn.

Tôi ngước lên, lén nhìn khuôn mặt khô héo nhưng cương nghị của mẹ. Ðôi mắt mẹ đang nhìn vào cõi tâm tưởng thăm thẳm trong cuộc đời đầy khúc khuỷu của mình. Khi mẹ dùng hai tiếng lăng loàn đúng như ý nghĩ của tôi lúc nãy, lòng tôi dâng lên một niềm vui chua xót.

- Vợ của con lăng chứ không loàn.

Như thể đọc được ý nghĩ của tôi, mẹ cắt ngang - Nó ăn ở biết điều. bà con xóm giềng có công việc gì đều chạy đi chạy về, chân tay nhanh nhẹn, nói năng dễ nghe, ai cũng quý - Mẹ quay lại nhổ nước trầu vào chân phên - Dạo đầu năm, mẹ ốm phải nằm bệnh viện hơn tháng, nhờ tay nó cơm nước, thuốc men mới khỏi đấy chứ. Nhiều đêm thức trắng ngồi quạt cho mẹ. Không có nó mẹ khó lòng qua khỏi...

Lờ mờ đoán ra mục đích của mẹ, tôi vội chen ngang.

- Cô ta si mê máy cày thì phải để cô ta đi theo máy cày mẹ ạ.

- Nói dại! Nó si mê nhưng đâu có ham muốn gì thằng đó?

- Mẹ mà lại nói như thế - Tôi vùng vằng xoay người chống tay lên bàn. Cảm thấy nặng nề trước ánh mắt đau đớn, bất lực của mẹ, lòng căm giận trong tôi bùng lên - Con còn phải đi xa, hạnh phúc không thể bảo đảm với một người vợ như thế.

Mẹ trở tay ủ đứa cháu đang ngủ say. Giọng vẫn bình tĩnh thủ thỉ:

- Con phải nghĩ đến em con nữa chứ. Anh mà bỏ vợ thì con gái trong làng đứa nào dám lấy em của con.

- Không phải. Con phải ly dị với cô ta thì hàng xóm mới hiểu và tôn trọng anh em chúng con.

- Tùy con - Mẹ thở dài.

Tôi cố mỉm cười;

- Con sẽ kiếm cho mẹ một đứa con dâu hiền thảo, nết na hơn hẳn cô ta. Ðất mình có thiếu gì người tốt hở mẹ?

Mẹ tôi lại thở dài.

Ðêm ấy, tôi không ngủ. Sáng sớm, tôi đến thăm mẹ cô ta, lòng trĩu nặng u buồn, ngượng ngùng như kẻ có lỗi. Mới hai năm mà bà cụ già yếu rất nhiều. Ði đã phải chống gậy. Lập cập cố bước nhanh, bà nắm chặt lấy cánh tay tôi và cứ đứng im giữa sân, mãi không nói được một lời nào. Rồi như chợt tỉnh, bà cuống quít hỏi thăm sức khỏe của tôi, của con trai, chuyện đi đường. Tôi cũng vội vã trả lời, còn kể lể hơn những gì bà cụ hỏi. Thỉnh thoảng còn cố cười lên, cố tình quên đi một người con gái ở giữa chúng tôi. Nhưng càng nói cười, lòng tôi càng tan nát và thấy rõ bà cụ còn đau đớn hơn. Cuối cùng không chịu nổi tôi đứng dậy xin phép ra về. Bấy giờ bà cụ chợt òa lên khóc nức nở!

- Mẹ có lỗi với anh - Bà cụ mếu máo - Anh tha lỗi cho mẹ.

Tim tôi run lên. Trong một thoáng, tôi đã định nắm lấy bàn tay nhăn nheo đang tựa trên đầu gậy mà nói: 'Ðừng gọi con bằng anh, con vẫn là con của mẹ' nhưng cổ họng tôi ứ nghẹn.

- Trưa nay anh ở đây ăn cơm với mẹ nhé - Bà cụ run run hỏi.

- Xin mẹ để hôm khác - Nói rồi tôi quả quyết bước nhanh ra cửa.

Từ hôm tôi về, những bữa ăn ở gia đình tôi rất nặng nề. Hoặc ăn trước, hoặc đi chơi cho quá bữa, tôi không chịu ngồi ăn chung mâm cơm với cô ta. Nếu ăn trước, tôi thấy mẹ để dành cơm cho cô ta trong một chiếc liễn sứ khá đẹp, thức ăn có phần tươi. Tôi không nói gì càng thêm kiên quyết ý định đẩy nhanh cô ta ra khỏi nhà.

Tôi tìm mua một cuốn luật hôn nhân và gia đình rồi cắm cúi viết đơn ly dị.

Tôi đưa lá đơn cho cô ta. Cô ta đọc lại nhiều lần, không nhìn tôi, khàn giọng hỏi:

- Con để cho anh à? - Rồi nói tiếp - Anh ở nhà ít bữa lại ra đi. Hay là... để con cho em nuôi?

- Không được... - Tôi lạnh lùng gạt đi, cắm đầu bút chì vào tờ giấy - về tài sản tôi còn để trống. Cô muốn lấy gì ở ngôi nhà này thì cứ ghi vào.

Cô ta mắm môi ký phăng một nhát, đẩy sang cho tôi, không viết thêm chữ nào. Từ hôm ấy cô ta xin về ở bên nhà mẹ đẻ.

Cô ta rất muốn đứa con, tôi biết thế, nên kiên quyết giữ lấy. Bà thẩm phán rõ cũng muốn bênh vực cô ta nhưng làm thế nào được, pháp luật đứng về phía tôi. Bởi vậy, khi cô ta đặt bút xuống tờ giấy, bà ta còn hỏi về đứa con, làm chiếc bút nảy lên, tôi mới bực mình.


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 10 Tháng Năm, 2011, 10:45:53 pm
                                       Tiếp :

- Ký đi, còn đợi gì nữa - Tôi tàn nhẫn nói.

Cô ta từ từ hạ bút nắn nót một dòng đầy đủ họ tên và đệm. Cái vẻ tỉ mỉ của kẻ vô công rồi nghề ngồi giết thời gian!

Nhưng rồi cũng xong. Bà thẩm phán đống sập ngăn kéo. Chà! Từ nay hai ta là người dưng nước lã nhé! Có một chút tiêng tiếc nhưng tôi gạt ngay, cúi chào bà thẩm phán và bước đến quán phở gần đó.

Từ quán phở quay ra thì trời đã gần trưa. Nắng như thiêu như đốt. Mùa hè, ở quê tôi, cây cối đều khô héo. Ðứng trên đường, nhìn bốn xung quanh, hút tầm mắt nhức nhối một màu bạc phếch, nghèo đói. Nghĩ đến hơn chục cây số trong quang cảnh trơ trụi giữa nắng trưa tôi thây ngao ngán, ước có một chỗ quen biết để trú chân đợi chiều xuống. Nhưng không có. Tôi sinh ra ở quê mình lớn lên ở quê người, ngoài cái làng chôn rau cắt rốn tôi là người xa lạ, lạc lõng. Cô ta có mấy nhà bà con quanh đây thì từ nay đâu còn bà con của tôi!

Ra khỏi thị trấn chừng hai cây số. Tôi chợt thấy bên vệ đường, cô ta đang cúi đầu bước lủi thủi. Chiếc nón lá che sụp nửa mặt. Lưng áo gầy sọp, nhưng vẫn còn rõ những đường nét thanh tú, duyên dáng. Hồi sáng, cô ta đi lên thị trấn bằng cách nào nhỉ? Tôi chợt cảm thấy ngỡ ngàng trước sự vô tâm, xa cách của mình. Có lẽ nên cho cô ta đi nhờ một đoạn. ý nghĩ tinh nghịch của lòng trắc ẩn vụt đến. Tôi phanh kít chiếc xe đạp sát bên cô ta, mỉm cười:

-Cô đi nhờ không?

Cô ta giật bắn người, hai nét lông mày đậm cau lại rất nhanh. Nhận ra tôi, cô ta không nói gì, lẳng lặng lách người, định bước tiếp.

-Cô lên xe. Tôi đèo giúp nào! -Thấy cô ta chần chừ, tôi hạ giọng - Nắng nôi thế này gặp người cả đời không quen biết cũng cho đi huống hồ chúng ta là người lạ đã quen mặt.

Một cái cười khô héo trên khuôn mặt nhợt nhạt:

-Vâng. Cảm ơn anh!

Tôi bất ngờ nhận thấy cô ta nhẹ xọp đi nhiều quá, khác hẳn ngày trước.

Sau một hồi im lặng, Lệ hỏi nhỏ:

-Bao giờ anh đi?

-Một tháng nữa.

-Chắc... Tiếng nói vừa bật ra lập tức bị bóp nghẹt lại. Tôi hiểu Lệ định nói gì.

-Không! - Tôi cố giữ vẻ thản nhiên cất tiếng cười giòn giã, biết rằng mỗi tiếng cười sẽ là một mũi kim ngập sâu vào trái tim đang rớm máu của cô ta - Vừa bỏ người này làm sao đã có thể lấy ngay người khác!

Tôi vừa dứt lời nói độc địa, cảm thấy có bàn tay định bấu vào lưng áo nhưng rụt lại. Chiếc xe chợt chao nghiêng và cô ta ngã chúi xuống nền đường. Tôi kịp chống hai chân, ngoảnh nhìn... Cô ta lồm cồm bò dậy, người không việc gì, chỉ ngón chân cái bị toé máu. Cô luống cuống nhìn quanh, nét mặt thoáng đanh lại, hai bàn tay thoăn thoắt mở chiếc quai nón buộc vết thương. Tôi nhớ đúng đoạn đường này, có một lần cô ta cũng vấp phải một hòn đá. Tôi đã xé áo lót buộc cho cô. Sự phản bội tàn phá đi tất cả rồi. Nó đã tiêu diêt hết mọi lòng tốt, làm chai sạn cảm giác thương xót đối với cô ta mà hình như có tồn tại trong lương tâm tôi. Tôi thờ ơ đứng dạng hai chân giữ chiếc xe đạp. Cô ta lúc ấy đã đầm đìa mồ hôi, thậm chí tôi đã định nhấn bàn đạp bỏ mặc cô ta ở lại một mình với vết thương.

Ðến lối rẽ vào nhà cô ta, từ đấy về nhà tôi còn hơn hai cây số nữa. Tôi đạp chậm, cô ta nhảy xuống thảng thốt, nói với theo:

-Cảm ơn anh!

Tội không trả lời, không ngoảnh lại, rướn người trên xe. Chợt có tiếng đổ uỵch phía sau, tôi liếc thấy cô ta ngồi bệt xuống bên đường, úp mặt vào nón khóc hu hu. Tiếng khóc ấm ức, tủi thẹn, bị kìm nén bao lâu, nay phá lồng ngực ùa ra như lũ vỡ đê quét phăng sự yên tĩnh. Ðó là tiếng kêu gào của tình thế tuyệt vọng. Buổi trưa hè ngột ngạt, lờ đờ bị xáo trộn lên, réo sôi trong tiếng khóc xé lóng ấy. Ði một quãng xa, vì chiều gió hay vì tâm tưởng, tôi vẫn nghe tiếng khóc văng vẳng bên tai như tiếng kêu gọi, níu kéo.

Sau này nhiều người hỏi, lúc ấy trong lòng tôi xảy ra điều gì? Sự mềm yếu hay dằn vặt, luyến tiếc hay run sợ, anh hùng, hèn nhát, nghĩ đến mẹ hay nghĩ đến con, thương cô ta hay thương mình? Không có điều gì xảy ra nhưng cũng có thể đã xảy ra tất cả những điều đó. Tâm linh hay một cái gì na ná như thế đã thôi thúc tôi quay xe trở lại. Tôi dừng trước mặt Lệ, hắng giọng mấy lần, tiếng nói nghe vẫn lạc đi.

- Sao lại ngồi giữa đường. Về nhà đi.

Khuôn mặt chan hòa nước mắt trắng bệch ra ngửng lên, cặp lông mày xanh đậm rung rung. Ðôi mắt mở to ngơ ngác. Ðôi mắt chớp mạnh. Cô nhón chân xoay lưng lại phía tôi. Ðôi vai nhỏ rung lên từng hồi. Tôi chợt nhận ra cô đang mặc chiếc áo xanh Sĩ Lâm. Tấm vải tôi gửi cho Lệ nhân dịp sinh con. áo may đã lâu nhưng chỉ những dịp đặc biệt đi với tôi, Lệ mới mặc nên trông còn như mới. Tôi đứng thừ người hồi lâu. Nhìn ngược, nhìn xuôi, hai phía con đường đều vắng ngắt. Trên cánh đồng cằn cỗi không một sinh linh, đất trời bao la và quạnh quẽ quá. Bất giác tôi thở dài:

- Thôi lên xe, ta về!

Chợt hiểu mình vừa thốt ra một lời ghê gớm như thế nào, tôi định bỏ chạy thì Lệ đã vùng dậy đứng chắn trước bánh xe. Mái tóc xù ra, đôi môi mím chặt, chiếc nón che kín ngực. Cô ngửng cao đầu phóng thẳng vào tôi luồng mắt căm thù, cay cú điên dại. ánh mắt gườm gườm với một vành trắng dưới hàng mi vẻ khiêu khích, tàn nhẫn, nghiệt ngã. Cô thở hổn hển, chiếc nón trên ngực phập phồng nặng nề. Cơn giận dữ chất chứa của một trái tim mạnh mẽ lâm vào cảnh cùng quẫn, một tâm hồn đầy kiêu hãnh đòi hỏi sự đối xử công bằng, cơn giận dữ bột phát bùng lên ở thời điểm tận cùng tuyệt vọng. Cô biến đổi hẳn đi. Như một người khi quyết định bước vào cửa tử, cái chết cũng coi thường nên không còn có gì để sợ. Khuôn mặt nhỏ nhắn ngời sáng một tình yêu mãnh liệt trần trụi, không che giấu đang đốt cháy đỏ rực đôi má vẻ trinh nguyên. Vầng trán phẳng sau mái tóc xõa xuống trông như cẩm thạch và đôi môi đang mím chặt cay nghiệt vẫn tươi rói nỗi khát khao cuộc sống bình yên. Ðôi môi đau đớn cong lên và quả quyết:

- Anh cần gì ở tôi nữa. Ðến thế này anh vẫn chưa thỏa lòng hay sao? Anh độc ác lắm. Anh về phép mà chỉ lao theo trả thù cho hả dạ! Vậy thì nếu muốn anh cứ giết tôi đi. Ðừng cho tôi nhìn thấy anh, nghe thấy anh, đừng cho tôi thầm thì nhắc tên anh trong những đêm hoang vắng. Anh cứ dày xéo lên tôi, nhưng cầu xin anh đừng nhạo báng, giễu cợt thân phận đau khổ này. Cứ nguyền rủa nhưng xin đừng bóp nghẹt trái tim tội lỗi vì cô đơn. Dù sao, tôi cũng không xa lạ với anh cơ mà!

Tôi hạ chân xe về phía trước. Lẳng lặng cầm lấy chiếc nón không còn quai trong tay Lệ và nhoáng cái bóp nát, vò thành một cục vung cánh ném ra xa. Lệ đứng im không nhúc nhích, đôi vai buông xuôi. Trong tư thế đó có cái gì thách thức, liều lĩnh. Ðột ngột, cô dang hai tay lao đến vòng lấy cổ tôi, toàn thân đổ xuống mềm nhũn, nóng bỏng. Tôi hoang mang chưa kịp phản ứng thì Lệ đã lại vùng ra, trân trân nhìn tôi. ánh mắt ráo hoảnh có chiều sợ hãi. Nụ cười ngập ngừng và hai cánh mũi phập phồng. Dường như Lệ định nói một câu gì đó hoặc bỏ chạy nhưng không đủ sức.

Tôi đưa tay nắm bàn tay Lệ. Cô run bắn lên. Ðôi mắt mệt mỏi khép lại và hai bên khóe mắt từ từ ứa ra hai giọt nước long lanh, chói lóe ánh nắng. Tôi kéo cô lại gần.

Lệ dụi đầu vào ngực tôi thổn thức.

Tôi vuốt nhẹ mái tóc Lệ, muốn an ủi, dỗ dành. Thôi! Lệ đừng khóc nữa! Chúng ta đã tìm thấy nhau rồi mà. Trong đám sương mù dày đặc trên cõi đời này, nhấn chìm biết bao kiếp người nhỏ bé, đơn côi. Tôi và Lệ đã lạc nhau và phải chăng đã lại tìm thấy nhau, tìm được số phận của chính mình? Chao ôi, mất mát thiệt thòi đâu phải là cái chết. Quên lãng, chia lìa mới là cái chết. Trong khoảng khắc, tôi nhìn thấy những khuôn mặt thân thương: Hai bà mẹ, người anh và đứa con, những cuộc đời cực khổ, đói nghèo không còn ly tán vì tôi.

Một làn mây trôi ngang, lơ lửng giữa bầu trời. Không gian chợt mát dịu. Chặng đường trước mặt trải rộng ra, hun hút xanh.

Phạm Duy Tương


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 14 Tháng Năm, 2011, 10:17:53 pm
                          LỜI CHÀO QUÁ KHỨ
                          Tác giả : Trung Trung Đỉnh

LỜI TÁC GIẢ:Cái ngày đầu tiên tôi được làm bố quả có nhiều điều kỳ diệu, nhất lại là đúng lúc giao thừa của năm Giáp Tý, khi pháo nổ đón năm mới vừa đồng loạt vang lên thì cũng là lúc con gái tôi cất tiếng khóc chào đời và tôi sung sướng đến quáng quàng. Tôi nhớ tôi đạp chiếc xe đạp đã xịt lốp từ Bệnh viện 108 về đến nhà cứ như đang bay trên không trung!...

Phút giây hạnh phúc nhất đời ấy được những ly rượu thơm bạn bè cùng khu tập thể đến mừng đã kích thích tôi và tôi đã nằm phủ phục trên giường viết thiên truyện ngắn này. Một thiên truyện ngắn cũng có nhiều điều kỳ diệu bởi chính nó đã giúp tôi vượt ra khỏi những ám ảnh nặng nề của những ngày sau chiến tranh. Tôi luôn luôn có ý nghĩ mình được hưởng niềm hạnh phúc quá lớn trong khi đó, đồng đội mình, nhiều người cứ gặp hết bất trắc này đến tai ương kia. Tôi nhớ đến các chị các anh ở đơn vị cũ và tôi viết như viết  trong trạng thái say ký ức.  Tôi không tự chủ được ngòi bút của mình. Thiên truyện tự nó được viết ra như nó đã có sẵn trong tôi từ hồi nào, giờ đây chỉ việc trào ra...
                                                                                  Trung Trung đỉnh

Thực ra câu chuyện không phức tạp như những lời đồn đại mà nó giản đơn tới mức không ngờ. Người đời chẳng còn bày vẽ gì được hơn, khi mà trong thực tế cũng chỉ tưởng tượng được tới mức đó. Chị nói với tôi. Một khi có chuyện gì xảy ra, người ta kháo nhau. Lúc đầu cố gắng sao cho đúng với sự thật, nhưng phải có chút ly kỳ, nghĩa là sao cho hấp dẫn. Và thế là người ta bắt đầu thêm thắt! Cuối cùng sự thật chẳng còn là sự thật, đến nỗi chính người trong cuộc cũng không nhận ra…
Chị, người mà tôi được nghe tên, nghe tiếng cả những điều hay lẫn không hay từ hồi trong rừng Tây Nguyên đánh Mỹ. Rồi tên chị, những tai tiếng về chị dần dần được lãng quên có tới hơn chục năm nay. Thời gian sau giải phóng, qua nhiều đợt công tác trở lại đơn vị, tôi luôn hỏi thăm nhưng cũng chỉ được nghe, hoặc, ừ nhỉ, không hiểu rồi người ta có biết trường hợp ấy thế nào? Hoặc, chắc là không phải như dư luận. Nhưng bây giờ làm sao biết được cụ thể kia chứ. Nói chung những câu hỏi lại chỉ được trả lời bằng những câu hỏi…
Thế mà, bỗng dưng đêm nay, đúng lúc giao thừa, cái thời khắc chuyển giao độc đáo của thời gian ấy, giữa lúc cháu gái, con đầu của tôi ra đời, tôi không hề nghĩ tới chị thì lại được gặp. Cũng thật độc đáo, chính chị đuổi tôi, bảo tôi vô duyên. Rằng đàn ông đàn ang gì mà không biết mắc cỡ. Rằng cái nhà anh này sao cứ để nhắc miết miết.
Quả tôi có lì, không chịu nghe lời nhắc của chị sau lúc dìu nhà tôi từ trên xích lô vào phòng đẻ. Tôi cứ muốn đứng ngay bên bàn đẻ để cùng chịu cái đau đớn của nhà tôi, cũng như mọi người chồng khác khi vợ mình mới sinh con đầu lòng. Tôi cho rằng việc chị mắng tôi không phải vì thái độ phục vụ kém. Đến lúc không thể nói nhỏ với nhau được thì phải hét lên. Thế thôi. Còn cái sự lì lợm của tôi cũng tự nhiên thế. Chẳng lẽ chị lại mắng tôi thật? Và chẳng lẽ tôi lại thiếu tự trọng tới mức ấy? Thế nhưng, sau khi nghe tiếng cháu khóc trong buồng đẻ và tiếng nựng cháu của chị, tôi không thể tự kiềm chế mình. Cứ muốn reo to. Cứ muốn đi lại. Cứ muốn phóng ngay về nhà báo tin cho mọi người. Cứ muốn nhào vô buồng đẻ ôm ghì lấy mẹ cháu, ôm ghì lấy chị. Gặp ai đi qua hành lang bệnh viện tôi cũng toét miệng ra cười. Tôi không còn chú ý gì nữa ngoài tiếng khóc oa oa thiêng liêng ấy. Tôi dán mắt, dán tai vào kẽ hở trên cánh cửa ra vào buồng đẻ, nghe trộm, nhìn trộm. Tôi nghe rõ tiếng reo nhỏ của chị: “A, cái mũ giải phóng con đã ra đây rồi!”. Chắc chị này có ở Tây Nguyên? Rõ ràng khi nãy chị mắng tôi: “Sao cứ để nhắc miết miết?”. Những câu ấy chỉ cánh lính Tây Nguyên chúng tôi hay nói. Và chính những lời ấy khiến tôi nhận được tín hiệu và tôi nơm nớp mong chị làm xong công việc. Mong chị bước ra để hỏi “cái mũ giải phóng của tôi là gái hay trai?”.
Chị ôm cháu khẽ nghiêng người lách khỏi cửa. Tôi xáp lại:
- Cháu trai hay gái, chị?
- Gái. Mà anh vẫn đứng đây à?
Tôi cười trừ:
- Vâng ạ. Cám ơn chị.
Chị bước nhanh trên hành lang. Tôi xoải cẳng bước theo, cố nhìn cho được mặt cháu. Hình như chị bước nhanh hơn.
- Anh về đi!
Tôi rụt rè “vâng” và thẫn thờ dừng lại. Phải mười phút sau chị mới ra khỏi phòng trẻ sơ sinh. Tôi mạnh dạn tới bên:
- Chúc chị…năm mới….,
Chị bật cười nhỏ:
- Thôi, chú về đi. Mọi việc êm thấm rồi.
- Nhưng….tôi muốn hỏi thăm chị…
- Ủa - chị vẫn nghiêm khắc - Cái nhà anh này! Tôi đã nói là cháu gái…
- Không chị ạ - Tôi mạnh bạo - Có đúng chị là chị Thản?
- Sao chú biết tôi? - Chị sững người.
- Đích là chị rồi - Tôi reo lên - Em là Thiêm, y tá K10 đây.
Chị vẫn đứng nhìn tôi. Tôi thấy mắt chị có vẻ như không trông thấy gì. Chị đang cố rọi sâu về quá hứ.
- Có phải chú là nhà báo, bạn anh Quảng ở bên ban quân y không?
- Đúng.
Chúng tôi nhận ra nhau. Tôi kể lược qua những cuộc thuyên chuyển của mình và báo cho chị biết, ở Hà Nội này, chị cũng sẽ có những “đồng hương Tây Nguyên” và tôi mời chị, đúng mùng năm tết tới nhà tôi chơi. Gặp các “đồng hương” hẳn chị sẽ vui hơn.
*
*     *
Hội “đồng hương Tây Nguyên” của chúng tôi gồm có năm người. Anh Thảo, trước ở trên cơ quan mặt trận, bây giờ là nhà nghiên cứu lịch sử quân sự. Anh có cái dáng trịnh trọng, lúc nào cũng cầm quyển sách. Anh là người đề xướng lập hội: “Để anh em có dịp mà tề tựu”. Đối với chúng tôi, anh là “pho từ điển sống” về những sự kiện diễn ra ở Tây Nguyên. Anh có trí nhớ thật kỳ lạ. Nếu bỗng dưng ai đó hỏi: “Thằng Mỹ bị ta bắt đầu tiên ở Tây Nguyên tên là gì? Anh trả lời ngay và còn kể thêm những chi tiết quanh chuyện đó. Anh Thuỷ trước là chiến sĩ dưới sư đoàn 2, bây giờ là nhà văn, đang công tác ở một toà báo trung ương. Anh Thuỷ bao giờ cũng tất bật và hóm. Gần như chuyện gì anh cũng có thể tham gia. Anh Thực là bác sĩ, một con người có bàn tay vàng, chúng tôi thường nói với nhau thế. Thực có dáng người bé nhỏ, lúc nào cũng trấn tĩnh và thư thái. Chưa bao giờ thấy anh vội. Đối với anh, mọi việc đều phải cân nhắc, tính toán trước. Bác Thiềng, trước là trợ lý tác chiến một huyện đội, bây giờ đã về hưu. Bác về hưu nhưng lúc nào cũng quân phục chỉnh tề, trừ khi ở nhà với nghề thợ mộc làm thêm của bác. Và tôi, trước là phóng viên của báo mặt trận.
Tôi thông báo sự kiện sinh cháu đúng lúc giao thừa và mới “sưu tầm” thêm được một “đồng hương” mới, chị Thản. Có thể nói ai cũng phấn khởi và ngạc nhiên khi biết chị Thản còn. Hơn thế chiều mùng năm chị sẽ lại chơi.
Anh Thuỷ và anh Thảo kéo đến sớm. Các anh mang theo một ghè rượu cần loại nhỏ, mấy cái cần hút rượu và hai quả bầu đựng nước đen bóng. Anh Thực và bác Thiềng tới sau một chút, nhưng cũng là tới sớm hơn hẹn.
- Nhà cháu chật - Tôi vui vẻ nói - xin mời các bác cứ tự nhiên cho.
- Ái chà - Bác Thiềng nói - Bố Kẹo Chanh ra dáng đáo để.
Anh Thuỷ bê tô canh từ bếp lên, nói:
- Hay! Ta đặt tên cháu là Kẹo Chanh được đấy anh Thiêm ạ.
Mọi người cùng cười vui. Bác Thiêng nhất thiết đề nghị dọn bàn, để hết xôi thịt lên cúng cụ.
- Con cháu ở đâu, ông bà cha mẹ theo đó. Bác nói.
Chúng tôi đồng ý ngay.
Anh Thảo và anh Thực nãy giờ đứng hai bên giá sách lục. Rồi anh Thảo cầm quyển sổ ghi chép của tôi mấy năm trước đã rách hết bìa, nói:
- Có phải chú ghi chép nhiều xung quanh sự kiện cô Thản lắm phải không?
- Có tới vài chục trang, trong quyển ấy đấy - Tôi nói.
Anh Thuỷ chạy ra:
- Thế nào rồi tôi cũng phải viết một cái truyện về chị Thản. Anh Thảo thử đọc to, nghe chung xem cậu Thiêm ghi chép được những gì nào.
Anh Thực rời giá sách, lại bên anh Thảo, nói:
- Có lẽ trong lúc chờ chị Thản, anh Thảo đọc nghe một vài chỗ.
- Này - Bác Thiềng góp - Cô ấy ra ngoài này hồi nào nhỉ.
- Chuyện ấy chỉ cô Thản biết - Anh Thảo nói.
- Thật là không bình thường.
- Sự không bình thường trong chiến tranh, âu cũng là chuyện thường tình vậy. Anh Thuỷ triết lý.
Anh Thảo ngả người vào thành giường, mở cửa sổ, hắng giọng và đọc:
“Chấm chấm chấm, - Cái tay Thiêm này tỉ mẩn thật - Anh bình luận rồi mới đọc tiếp - Ngày hai, tháng bảy, sáu sáu. Giữa mùa mưa lũ Tây Nguyên, những trận đánh Mỹ vẫn tiếp diễn quyết liệt. Ấy vậy mà trong hậu cứ có tin cô Thản, y sĩ của ban quân y bị mất tích. Lúc ấy chừng giữa trưa, người ta đồn: Cô Thản đi lĩnh thuốc ngoài quân khu về, tới suối Đắc Kơ Piar thì bị người rừng Kơn Hà Nừng bắt. Anh Bươm, chiến sĩ trinh sát, người Bahnar còn kể là, chính anh đã từng gặp người rừng, khi ấy anh là liên lạc cho huyện đội K10, đang trên đường đưa công văn về. Trời mưa, anh trùm ni lon kín, ngược dốc La Pà. Anh đang cắm cúi đi thì bỗng gặp một người rừng chạy ngang. Người rừng ngã sóng soài trước mặt anh. Mấy người rừng khác xúm lại, lôi cái người rừng ngã vào bụi. Tiếng hú, tiếng la ré hoảng loạn khiến anh Bươm mất hết bình tĩnh. Anh quăng luôn cả đồ đạc, chạy tháo thân.


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 14 Tháng Năm, 2011, 10:26:39 pm
                                      Tiếp theo :
 Theo anh Bươm kể thì người rừng cao to hơn anh, nhưng gày lắm. Rằng cẳng chân người rừng nhỏ và dài, đầu người rừng to bằng cái gùi! Rằng người rừng không phải có nhiều long như xưa nay ta tưởng. Và rằng, tiếng hú của người rừng thì thật là ghê. Nó cứ choi chói, khàn khàn giống như tiếng rít của đài mười lăm oát. Anh Bươm nhất quyết nói người rừng còn nhiều và mặt người rừng thì thật là dài. Anh bảo hôm ấy anh chạy xé rừng, xé núi. Chạy như chưa bao giờ anh có thể chạy được như thế. Khi tới làng Đê Tung Chà thì trời vừa tối và anh ngất lịm. Dân làng đã cứu anh và anh bị đau một tháng, rụng tóc. Anh Bươm còn nói đi nói lại là, nếu chị Thản về một mình chỗ suối Đăk Kơ Piar thì đúng là bị người rừng bắt thật rồi. Rằng dân làng Đê Tung Chà cũng nói khu rừng ấy có người rừng thiệt. Các thợ săn người Bahnar trong vùng ấy cay cú vì gặp người rừng mấy lần đều không kịp tổ chức bắt thì đã mất hút. Chấm chấm chấm chấm.
Anh Thảo trở nghiêng người, lấy kính ra đeo và tiếp tục đọc:
“Ngày, tháng, năm….Người ta đồn là cô Thản không phải bị người rừng bắt mà bị người cọp vồ. Người cọp là gì, chưa xác minh được. Mặt trận Dân tộc giải phóng tỉnh có ra thông báo về vấn đề này. Rằng người cọp là do bọn biệt kích đội lốt. Rằng chúng làm như vậy cốt gây rối vùng căn cứ ta. Nhưng dân các làng trong vùng đồn là người cọp có thật. Rằng người cọp chính là Ma Lai, thứ ma biến bóng tối thành ánh sáng và ngược lại. Ma Lai có thể bắt hết dân làng, lần lượt từng người một. Và rằng, không phải bây giờ người cọp mới xuất hiện. Nó đã có từ xa xưa lắm rồi. Vân vân.
Tối ngày ba tháng mười, đoàn văn công tỉnh uỷ đi phục vụ bộ đội phía trước về, có ba cô gái đi sau bị người cọp nhảy ra vồ sểnh - người ta đồn - có hai cô bị lạc ba ngày sau mới tìm thấy. Chính cái cô đi sau cùng trong số ba cô về được trong đêm đã kể là, cô bị người cọp đẩy ngã, khẩu các bin co đeo bị giộng xuống cướp cò. Súng nổ, người cọp hoảng quá bỏ chạy,
Làng Dê Bơ Ngăn bị người cọp phục lúc dân làng đi gùi đạn về. Người ta đã quả quyết là người cọp lông xám, vện trắng, mặt cọp, mình người. Chấm chấm chấm chấm.”
Anh Thảo sang trang, đọc tiếp:
“Ngày…tháng….năm sáu bảy. Bộ đội trinh sát F10 - B3 bắt được một người rừng trong hang đá. Cũng là những lời đồn. Người ta kể rằng, bộ phận chỉ huy mặt trận đã phái một B trinh sát vừa bám địch, bảo vệ vùng căn cứ, vừa bám vào rừng sâu tìm dấu vết và theo dõi những hoạt động của “người rừng”. Sau hơn hai tháng bộ đội ta đã tìm được một hang đá tít trên đỉnh núi KK, nơi mà gần như xưa nay chưa có dấu chân người. Nhưng rất tiếc ai cũng chỉ mới bắt được một “con người rừng” chứ không bắt được “mẹ người rừng”. Người ta kể là, sau đó các chiến sĩ trinh sát đã vây rất chặt đỉnh núi, khép dần vòng vây cho tới khi chỉ còn cái hang đá trên cao ấy. Rốt cuộc, “mẹ người rừng” vẫn trốn biệt tích.
“Mẹ người rừng” rất khôn - người ta đồn - Không thể bao vây được. Bộ đội ta đã nuôi đứa bé bằng mọi cách trên bệnh viện, nhưng các bác sĩ đã phải chịu bó tay, nhận thấy không cách chi nuôi đuợc, ngoài mẹ nó. Đành phải đem “trả” con người rừng cho mẹ nó nuôi. Người ta trả bằng cách nào nhỉ?”

“Ngày…tháng, năm sáu bảy - Anh Thảo đọc tiếp - Người ta đồn là cô y sĩ Thản được điều về cơ quan thủ trưởng. Rằng cô ta đã “tụt tụt” với tham mưu trưởng Q trong khi đang yêu và sắp cưới anh L, phó ban quân y. Rằng anh L đã không những thông cảm cho thủ trưởng Q và người yêu của mình, mà còn tỏ ra như không hay biết chuyện đã xảy ra. Anh L làm như thế để bảo vệ uy tín cho thủ trưởng Q, hơn thế, anh sẽ khỏi phải điều tra phía trước. Anh L còn lên thêm một “hạt” và chức trưởng ban sẽ ở trong tầm tay.”
“Tuy nhiên - vẫn là những lời đồn - cô Thản đã không chịu đựng nổi dư luận, nhân đi lấy thuốc quân khu về đã trốn vào một làng Bahnar sống. Hiện nay dân làng đã chấp nhận cô ta như là một thành viên của mình. Chấm chấm chấm chấm.”
“Ngày, tháng, năm một chín sáu tám. Người ta đã thôi không đồn về cô quân y Thản. Nhưng bây giờ lại rộ lên. Rằng cô Thản không bị người rừng, người cọp vồ cũng không phải cô ta chạy trốn dư luận bỏ vào làng mà đích thị cô ta đã đi chiêu hồi. Có lời đồn cô Thản là tình báo của ta. Đảng “tổ chức” cho cô ta đóng vai chiêu hồi như vậy, sau đó sẽ hoạt động mật trong lòng địch.”
“Người ta kháo nhau là, thủ trưởng Q, sau khi nghe tin cô Thản mất tích đã cầm súng ngắn, vào rừng, bắn lên trời ba phát, không nói nửa lời. Đó là câu chào hay một lời thề? Còn anh L thì ngay lập tức xin chuyển xuống đơn vị chiến đấu!”
“Ngày, tháng năm sáu tám. Rõ ràng là cô Thản đi chiêu hồi! - Người ta đồn - Rằng cơ sở ta đã báo ra, hiện cô Thản đang làm y sĩ trong trung tâm chiêu hồi P. Rằng cô ta đã trực tiếp ngồi trên máy bay Mỹ thả loa kêu gọi các “Binh sĩ cộng quân Bắc Việt, hãy trở về với chính nghĩa quốc gia!”.
“Và bây giờ thì không còn nghi ngờ gì nữa. Truyền đơn của chúng đã in ảnh cô Thản và những lời kêu gọi của cô ta. Người ta lại đồn là, hồi cô Thản còn ở ban quân y, cứ cô ta vừa rời khỏi đâu thì y rằng, B52 địch giội nát khu rừng cô ta vừa ở. Vân vân.”
Anh Thảo bỏ quyển sổ xuống giường, gỡ kính, xoa xoa tay lên mặt, một lúc sau, nói:
- Còn một đoạn nữa. Đọc hết nhé?
Mọi người không ai xê dịch, cũng không ai nói gì. Anh Thảo đeo kính, đọc tiếp:
“Ngày, tháng, năm sáu tám. Thế là không còn gì để cho mọi người đồn đại nữa. Người ta coi như sự đã hai năm rõ mười. Trong chiến tranh, bản chất của mỗi con người được phô bày. Có người dũng, cũng có kẻ hèn nhát. Có người trung thành, cũng có kẻ phản bội. Nếu không bình tĩnh ta sẽ luôn luôn bị bất ngờ và những bất ngờ đó thật là nguy hại.”
*
*    *
Chúng tôi, từ khi nào đã đứng vây quanh anh Thảo. Chợt anh Thực, nãy giờ tựa lưng vào giá sách kêu lên:
- Ồ chị Thản! Mời chị vào.
Tôi giật mình. Thoáng một cái, bên cánh cửa sổ khép hờ, tôi nhận rõ khuôn mặt phúc hậu của chị cúi xuống đầm đìa nước mắt. Tôi bật cửa định ra kéo chị vào. Nhưng chị đã kịp nhảy lên xe, phóng lẫn vào dòng người trên phố.
Tôi trở vào. Mọi người đều ngơ ngác như vừa ra khỏi một giấc mơ, bây giờ là khoảnh khắc bừng tỉnh. Chị đến trong lúc chúng tôi mải mê lục lại quá khứ của chị chưa được xác minh. Họa chăng, cái sự thực ấy chỉ có chị và một vài người biết. Nhưng mỗi người cũng chỉ biết một đoạn, như chúng tôi chỉ biết đoạn đầu đến khi có tin chị mất tích. Các “đồng hương” của tôi đều sững sờ nhận ra vừa rồi mình quá vô tâm. Chị Thản đã nghe được những bàn luận và những dòng ghi chép qua dư luận hồi chiến tranh về chị. Chị phóng về, để lại cho chúng tôi một câu trả lời, rằng quá khứ của chị không phải là cái gì đấy vui vẻ mà chúng tôi hùa vào thưởng thức; Rằng sự thực bao giờ cũng có một khoảng trống kích thích ta tìm tòi và chính cái khoảng trống ấy đã gây nên không biết bao nhiêu ảo giác. Chúng tôi vô tình, chưa kịp tìm hiểu chị Thản hôm nay, mà chỉ lục tìm chị Thản của quá khứ, chị Thản trong ảo giác. Trời mùng năm tết năm nay vẫn còn rét dữ. Tiếng khóc oa oa bất chợt của con tôi như tiếng chuông thức tỉnh mọi người. Tiếng khóc vô ý thức của một sinh linh mới ra đời có một sức mạnh tiềm àng khiến ta không kìm giữ nổi lòng mình…
- Ngày mai mỗi người lại phải chạy theo công việc của mình - Anh Thực nói - Biết làm thế nào được?
- Mai chú Thiêm đến thay mặt anh em xin lỗi chị ấy - bác Thiềng nói.
- Nói chung là không nên để chị ấy hiểu lầm chúng ta - Anh Thủy lên tiếng, - Và chúng ta không được phép để chị ấy cô đơn.
- Tất nhiên - Anh Thảo nói - Chúng ta phải tới chị ấy.
Và thế là ngay tối hôm ấy, tôi đạp xe tới bệnh viện tìm chị. Chị phải trực thay một chị bạn về quê và chị hẹn tôi thế nào mai cũng tới.
*
*    *
Ba giờ chiều mùng sáu tết chị Thản đến nhà tôi thật. Chị đem theo cháu Nghĩa, con trai chị. Cháu Nghĩa mới mười sáu tuổi nhưng dáng cao và chắc. Cháu có cái vẻ trầm tĩnh đến gan lì. Chị bảo cháu ra vườn hoa gần nhà tôi chơi. Tôi mừng thấy chị vẫn giữ nguyên trạng thái điềm đạm, gần như không có ấn tượng gì đáng kể về cuộc gặp mặt không bình thường với các “đồng hương” hôm qua. Tôi thay mặt anh em xin lỗi chị, chị cười:
- Thực ra chẳng ai trong chúng ta có lỗi cả.
Tôi đặt ca rượu cần hôm qua anh Thủy hút ra để phần chị, nói:
- Chị uống đi, tiêu chuẩn của chị đấy!
Chị nhìn tôi rồi cầm ca rượu, uống một hơi cạn.
- Thú thực với chú - chị nói - Rượu cần chỉ có hút trực tiếp bằng cần mới ngon. Rút ra ngoài thế này, uống gờn gợn thế nào ấy.
Tôi rót thêm ly rượu quê, cũng là phần của chị, chị gạt đi:
- Chú đừng nghĩ tôi hay rượu, mắc cỡ lắm.
Chị tự rót trà vào ly, nói:
- Chú nghĩ về tôi thế nào?
Tôi lúng túng:
- Em rất phục chị - Tôi nói:
- Đó không phải là điều tôi muốn biết. Chắc chú nghĩ là tôi không còn?
- Cũng gần như thế.
- Bây giờ thì mọi sự đã qua. Nhưng cái dư vị của nó còn đắng mãi suốt cuộc đời tôi.
- Dù sao chị cũng không nên có mặc cảm quá khứ như vậy - Tôi nói.
- Thực lòng tôi không thể không có mặc cảm. Chị nói - Kể ra thì ngượng, mà để mãi trong lòng tôi đâu có bình tâm được, chú.
- Lẽ ra chị không nên im lặng lâu thế.
- Có muốn im lặng tôi cũng không im lặng được - chị nói. Thời gian đã lùi xa, những quan niệm ngày ấy coi là nghiêm trọng, bây giờ chúng ta nhìn nhận khác, phải không chú? Nhưng tôi vẫn không hiểu sao đời mình lại long đong thế. Nhắc lại thật rùng mình. Tôi không thể lường trước được các bước ngoặt khiến mọi sự diễn ra sau đó lại trở nên những sự kiện thật phiền hà! Tuy nhiên bây giờ, ở bệnh viện tôi, người ta chỉ biết tôi là một quân y sĩ hoàn thành nhiệm vụ ở chiến trường ra. Rằng chồng tôi là anh A, anh B nào đó đã hy sinh. Rằng cháu Nghĩa là câu trả lời là sự chứng giám, bảo lãnh cho tôi. “Mẹ ơi, bố con hồi trước có hay đánh bóng chuyền không?”. Cháu nó mê bóng chuyền nên cứ hỏi tôi thế. Rồi có hôm cháu bỗng hỏi tôi: “Mẹ ơi, con muốn có tấm ảnh của bố quá”. Tôi phải phân giải cho cháu hiểu thế nào là chiến tranh. Chúng ta có thể giấu được mọi điều bí mật và cả thế giới, nhưng với con thì không. Tôi đã kể rõ ngọn ngành với cháu khi đêm, sau lúc nghe các chú bàn luận ở đây về. Tôi thành thực cảm ơn các chú. Cảm ơn những đồng đội đã không lúc nào quên nhau.


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 14 Tháng Năm, 2011, 10:30:16 pm
                                  Tiếp theo :
Chị Thản lau nước mắt, một lúc sau, tiếp:
- Hồi ấy chuyện người rừng, theo tôi có thể có thật. Nhưng người cọp thì hoàn toàn không. Đó là do bọn loạn rừng làm lốt hù dọa nhân dân. Bọn chiến tranh tâm lý của địch không từ bỏ thủ đoạn nào. Trường hợp của tôi chẳng dính dáng gì tới chuyện người cọp với người rừng cả. Truyền đơn chúng tung ra, in ảnh tôi, tôi biết. Có lẽ ảnh của tôi chúng lấy được vì một lần tôi và anh L qua sông B, mất chiếc ba lô của anh, trong đó có tập ảnh của tôi. Nước sông Ba đã cuốn cái ba lô của tôi xuống vùng địch. Mà tập ảnh tôi dán kỹ bằng túi ni lông chú ạ. Cả lý lịch của tôi nữa. Thời gian ấy tôi đã ăn ở với anh L như là tình cảm chúng tôi đã được công bố. Tôi có chiều thủ trưởng Q một lần hồi chiến dịch đang mở. Thủ trưởng làm việc quần quật suốt ngày đêm, đến ăn cũng không biết là mình đang nhai thứ gì. Tôi là quân y sĩ phục vụ thủ trưởng. Nhiều lúc phải ra lệnh bắt thủ trưởng nghỉ ngơi. Một con người không hề nghĩ chút xíu nào cho bản thân mình. Đã ngoài năm mươi tuổi, đã hai thứ tóc mà không hề thấy thủ trưởng tỏ ra có ý định xây dựng gia đình. Có những đêm đang ngủ, tôi bỗng thấy thủ trưởng tung bọc võng dậy, gọi điện thoại nơi này, nơi nọ, rồi thì bấm đèn pin, gạch gạch xóa xóa trên bản đồ. Tôi nấu cháo cho thủ trưởng. Thủ trưởng húp một hơi cạn, không khen chê lấy nửa lời. Nhiều lần như thế, tôi bực quá. Nhưng cứ nhìn thủ trưởng húp cháo tôi lại không dám nói gì. Một lần, không hiểu sao, bỗng tôi nắm chặt cánh tay thủ trưởng kéo xuống nhà hầm, ấn vai thủ trưởng xuống sạp. Tôi định nói thẳng những ý nghĩ của tôi. Nhưng thủ trưởng lại ngồi thừ nhìn tôi như một người mất hồn. Thương thủ trưởng quá, tôi dụi đầu vào ngực thủ trưởng khóc. Thủ trưởng đã quên mất mình là thủ trưởng. Và tôi cứ nghĩ quẩn mãi, lỡ thủ trưởng chết, thủ trưởng chưa biết gì về phụ nữ!…Nhưng thật không may, cậu công vụ đã biết rõ chuyện ấy…- Tôi đã thú nhận tội lỗi của mình với anh L. Bên ngoài anh tỏ ra thông cảm cho tôi và thủ trưởng Q. Nhưng thâm tâm anh, tôi biết, anh rất đau đớn và hết tin tôi. Biết làm sao được? Tôi không thanh minh vì tôi nghĩ, sự việc tự nó chỉ nói lên điều bất chính. Tôi chắc thủ tưởng Q cũng có thể hiểu lầm tôi. Cậu công vụ trước nay đối xử với tôi rất tốt, nhưng sau đó, chú ấy không thèm nói với tôi nửa lời. Tôi cảm ơn chú ấy đã không nói lộ ra để ảnh hưởng tới thủ trưởng. Nhưng rồi sự việc vẫn cứ tự nó mọc thêm lông cánh bay đi khắp chốn! May trong dịp ấy có điện quân khu báo ban quân y cho người ra lĩnh thuốc bổ sung. Tôi xung phong ngay và được chấp thuận. - Hồi ấy là mùa mưa. Thân gái một mình lẽo đẽo đi bộ cả tháng trời. Tôi nhập vào các đoàn khách hành quân. Tôi cố quên những sự kiện bất thường do mình gây nên. Nhưng không tài nào nguôi được. Hai lăm cân thuốc, mười cân gạo và đồ đạc lỉnh kỉnh trĩu vai tôi. Đôi mắt to, nâu của thủ trưởng Q mở trừng trừng nhìn tôi thảng thốt. Đôi mắt hiền lành của anh L chau lại như cố rọi sâu vào tận cùng của sự thật để trách cứ, để lảng tránh và tha thứ cho tôi… Nỗi niềm riêng không ai san sẻ khiến tôi gan lỳ, nhiều hôm có bom pháo tôi không hề né tránh. Những đoạn đường giao liên thông báo có nguy hiểm, tôi vẫn không dừng lại! Tôi đi như máy. Nghỉ ngơi chỉ làm tôi chán nản, đau buồn. Rồi một hôm ở bình trạm II, tôi gặp anh Kơ Tít người Bahnar. Anh nói trước anh ở vận tải quân khu sau được ra Bắc học, nay trở vào và được về phép. Chúng tôi đi cùng đường với nhau. Vốn là lính vận tải nên đi nhẹ anh không thích, anh bảo tôi thế. Tôi san hàng, nhờ anh mang giúp. Anh Tít rất thạo tiếng phổ thông và hát rất hay. Những ngày đầu mới quen nhau, anh kể chuyện miền Bắc cho tôi nghe. Anh nhắc tới những tên phố mà tuổi thơ tôi từng gắn bó làm tôi khóc được. Nhiều lúc nghe chuyện anh, tôi không hề có cảm giác anh là người thiểu số. Tình thế là như vậy. Hai chúng tôi đi trong rừng vắng. Chiến tranh như là cái cớ cho hai người gặp nhau. Những chiều dừng chân, anh vào rừng săn bắn, kiếm con chim, con cá, tôi lo rau canh, cơm nước. Mưa, hai võng mắc song song chung một mái tăng. Khô ráo, hai võng mắc chụm đầu, phía dưới chân đốt đống lửa. Chúng tôi nói chuyện linh tinh, tới khi mệt thì ngủ. Rồi chặng đường cũng tới ngày kết thúc. Chúng tôi đến chỗ đường rẽ vào làng anh. Tít bảo tôi vào nghỉ chân vài ngày, sau đó anh sẽ giúp tôi hoặc nói với du kích làng anh giúp tôi đưa thuốc về đơn vị. Tôi nghe theo. Đó là một chiều mưa tầm tã. Tại nhà rông của làng, đội du kích đang chỉnh huấn chính trị. Thấy chúng tôi bước lên, mọi người nhìn ra nhưng rồi không ai chú ý. Họ rất nhanh quay vào bàn luận chuyện gì hung lắm. Tít bảo tôi dựa bao hàng vào vách nhà rồi ngồi nghe chơi. Tôi cũng biết kha khá tiếng Bahnar nên cũng thích nghe bà con tranh luận. Tôi thấy trên cột nhà có treo tấm bảng đen nham nhở. Một anh cán bộ du kích đang ra sức giải thích thế tiến lên của cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới. Anh cầm một viên phấn, vạch một vạch chéo, vẽ mũi tên đang bay lên và nhắc đi nhắc lại: “Cách mạng ta tiến lên không ngừng…”. Bỗng một ông già quắc thước lừ lừ đi lên tay cầm con rựa, tới bên anh nhìn vào mắt anh dữ tợn:
- Tầm bậy! Mày nói tầm bậy rồi!


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 14 Tháng Năm, 2011, 10:32:43 pm
                                         Tiếp theo :
Rồi ông cầm viên phấn, vạch mũi tên ngược lại, cãi:
- Cách mạng đi lên dốc à? Lên dốc mệt sức hung, không tốt đâu con ạ. Cách mạng mình xuống dốc có nhanh hơn, ít mệt hơn mới trúng chớ.
Mọi người lặng phắc. Tít tự tin đứng lên, đi lại phía ông già và anh cán bộ:
- Không ai nhận ra tui là Kơ Tít đây à?
Mọi người ồ lên, xúm quanh anh:
- A tốt quá rồi! Kơ Tít đem vợ miền Bắc về đây rồi. Khác quá!
- Cách mạng đi lên hay đi xuống, Tít?
Tít cầm cây ná của người đứng cạnh, dương lên nói:
- Cách mạng là mũi tên bắn thằng Mỹ. Thằng Mỹ ở trên trời, mũi tên bay lên trời. Thằng Mỹ ở dưới hố, mũi tên cách mạng bay xuống hố. Cách mạng là mũi tên còn người bắn mũi tên ấy là Đảng mình, là đồng bào mình.
Mọi người nghe trúng quá, cùng cười vui. Tít giới thiệu tôi là y sĩ trên đường về đơn vị, ghé thăm chơi làng, không phải là vợ Tít. Nhưng không ai tin cả. Cả làng kéo tới nhà rông đón Tít. Tít chỉ còn một người em ruột, bố mẹ mất cả rồi. Người em ruột của Tít tên là Bờ Tàu. Bờ Tàu cao hơn anh, nhưng có vẻ trầm tĩnh hơn…
Chị Thản chợt giật mình khi thấy cánh cửa bị bật ra vì gió. Tôi gài cửa lại. Chị vân vê mấy cái giấy kẹo trong tay, nói:
- Số phận cố tình đẩy tôi tới những bước ngoặt mà chính tôi không thể hình dung được. Thời gian đầu ở lại làng, bà con đem cho tôi trứng, gạo, thịt để nấu ăn chung với nhà Kơ Tít. Không ai tin tôi và Kơ Tít là bạn bè. Tôi thấy Kơ Tít cũng không có ý định giải thích thêm. Chú em Kơ Tít bỏ ra chòi rẫy ở. Được ba ngày sau, tôi đòi về Kơ Tít cứ lần lữa, không muốn. Rồi cuối cùng anh đã tỏ tình với tôi. Tôi hoảng quá nhưng không có cách nào xử lý khác. Kơ Tít bị tôi đẩy ra. Anh buồn rũ, không nói, cũng không cưỡng bức tôi. Tôi đòi về. Anh nhìn tôi thảng thốt và sau cùng anh lắp bắp: “Đường hành lang bị kẹt rồi, không về được đâu” - “Kẹt tôi cũng phải về Kơ Tít ạ” - “Em sợ tôi à? Dân làng đang có bệnh dịch, hôm qua chết hai người, em có ưng ở lại giúp đồng bào không? - “Anh không được nói dối tôi đấy!” - “Tôi nói dối em làm gì. Em không ưng tôi, được. Nhưng em không thương đồng bào là sai đấy”. Tôi và Kơ Tít tới những gia đình có người ốm thăm hỏi. Quả làng đang mắc bệnh đi lỏng hàng lọat thật. Có thuốc trong tay, có nghề trong tay, gặp bệnh không cứu chữa, tôi không đành. Tôi và Kơ Tít cùng nhau xoay xở, cứu chữa bà con. Dân làng càng thương quý chúng tôi, càng tin tôi là vợ Kơ Tít thật. Nhiều người nhắc Kơ Tít phải tổ chức uống rượu mừng. Kơ Tít và chú Bờ Tàu, em trai Kơ Tít đã lo được rượu, heo cho anh. Dân làng tới ăn mừng gọi tôi là de cà dầng nhâng Tít - tức là vợ anh Tít. Sự thật là như thế, không thể đảo ngược. Tôi không tính cách nào khác được, đành phải chấp nhận. Kơ Tít quá sung sướng. Còn tôi thì thú thực với chú, không cách nào nguôi ngoai vì những vết thương do chính tôi tự đánh vào đời mình. Tôi kể thật hết những gì đã xảy ra ở đơn vị trong vòng hơn một tháng nay. Kơ Tít cứ ngửa cổ lên hát và đánh đàn goong. Tôi nén lòng cố không nghĩ ngợi nữa. Thế là hết cả đường đi lẫn lối về…Tôi biết tôi đang mang thai. Nhưng tôi không thể nghĩ đó là con ai khác ngoài con Kơ Tít. Dù vậy, nhiều lúc tôi đã cầm thuốc ngủ liều cao trong tay, định uống cho xong hết mọi sự đời. Nhưng nghĩ tới đứa con trong bụng mà dừng lại. Ngày tháng cứ trôi qua. Những công việc thuốc men, rẫy nương với bà con tôi cũng quen dần. Tôi không còn nghĩ điều gì khác nữa ngoài việc chuẩn bị cho con tôi ra đời. Kơ Tít khuyên tôi khỏi lo gì, ở đơn vị cũng đánh Mỹ, ở đây với dân làng cũng đánh Mỹ được, cũng làm cách mạng được. Anh trở thành cán bộ du kích. Tôi trở thành cán bộ phụ nữ. Làng có việc gì chúng tôi cũng tích cực tham gia. Thế là mình đã lẩn được mặt - tôi nghĩ. Rồi thời gian sẽ ủng hộ mình. Những gì là sai lầm, là hèn kém ta sẽ cố sửa chữa, sẽ chuộc lại bằng việc làm thiết thực. Tôi trồng thuốc Nam, tìm cây thuốc Nam trong rừng về chữa chạy cho bà con. Kơ Tít chỉ huy du kích đánh địch càn, làm nương rẫy khá giỏi. Từ khi có chúng tôi, dân làng yên tâm hơn. Mọi sinh họat của làng thay đổi theo chiều hướng tốt. Không ai còn ăn bốc, uống nước lã nữa…Hạnh phúc của tôi là thế. Rồi tôi sinh cháu. Tôi nâng con trên tay, nhiều lúc cứ thần người. Kơ Tít thì rối lên mừng rỡ. Anh đã tạo cho tôi một chỗ dựa khá vững chắc. Anh hết lòng chăm sóc vợ con. Tôi đã tự thề với lòng mình xin vĩnh biệt quá khứ. Xin chào vĩnh viễn những gì đã tạo nên sự trắc trở cho cuộc đời nhỏ mọn của tôi. Nhưng rồi tôi đã lại phải chịu đựng thêm một trắc trở khủng khiếp nữa! Tôi kinh hoàng khi biết tin Kơ Tít bị cây đổ trong khi làm rẫy, không tránh kịp. Chú Bờ Tàu đã bế xác anh về chòi rẫy, và dân làng dìu tôi ra. Tôi ngất đi và sau đó tôi trở nên chai lỳ. Nhìn vật gì cũng chỉ thấy màu đen hãi hùng. Tôi là kẻ bất hạnh nhất trong số những người bất hạnh trên thế gian này. Nhưng tôi không thể chết. Tôi còn phải sống để nuôi con. Chỗ dự cuối cùng của tôi là cháu. Cháu như là được sinh ra để cứu vớt mẹ nó. Tôi ẵm con trở lại đơn vị ư? Đã nhiều lần tôi định thế, nhưng vẫn không đủ can đảm bước ra khỏi làng. Chú Bờ Tàu mất anh, vốn đã ít nói bây giờ sống như cái bóng. Sớm xách súng, cầm rựa ra mương, chiều về. Ngoài bữa ăn ra là chú ấy hút thuốc. Cái tẩu thuốc lúc nào cũng gắn chắc trên môi. Và thật khủng khiếp cho tôi, sau hơn một năm, dân làng làm lễ bỏ mả cho Kơ Tít rất linh đình. Rồi người ta tuyên bố De than bơm ca dâng de Bờ Tàu (Người Thản làm vợ người Bờ Tàu!). Người ta giải thích đó là do phong tục. Cái phong tục gì mà khiếp vậy hả trời! Tôi thành vợ của em chồng tôi ư? Không thể chấp nhận được! Nhưng phong tục là phong tục, còn tôi và Bờ Tàu có chấp thuận hay không là chuyện khác. Tôi van xin Bờ Tàu đừng nghe theo lời người ta. Bờ Tàu không nói gì, chỉ hút thuốc và hút thuốc. Mấy lần tôi ẵm con, định trốn khỏi làng, nhưng Bờ Tàu bắt được và chú ấy đẩy tôi lên sàn. Hai chị em sống với nhau như vậy suốt cả gần một năm trời. Bờ Tàu không động chạm gì đến người tôi. Chú ấy cố tránh cái nhìn van xin của tôi và thực ra, qua thái độ chú ấy, tôi cũng dần dần bình tâm lại. Rồi một đêm mưa, Bờ Tàu bỗng vùng dậy - Tôi luôn theo dõi chú ấy - Tôi thấy chú ấy thu dọn rất nhanh đồ đạc, nhét vào một cái ba lô cũ rồi tới gọi tôi dậy:
- Tôi đi bộ đội - Chú ấy nói - Tôi theo bộ đội ngoài hành lang không về nữa đâu!
Tôi níu tay chú ấy khóc. Chú Bờ Tàu đẩy vai tôi ra rồi nhảy xuống sàn cửa. Biến vào trong đêm. Tôi ôm con đứng nhìn căng mắt, chỉ nghe có tiếng chân người, tiếng súng va chạm lích kích ngoài đường cái. Tôi gào giật lên trong mưa. Một vài người trong làng đốt đuốc tới. Họ biết Bờ Tàu đã bỏ nhà theo bộ đội, nhưng không ai nói gì. Tôi nằm ôm con nuốt nỗi cay cực của mình mà thầm thề rằng quá khứ hãy cút khỏi nơi đây. Rằng đời tôi không phải là cái túi chứa đựng những bất hạnh. Chú Bờ Tàu hãy tha thứ cho chị. Mọi người hãy đừng nghĩ về tôi như trước nay người ta đã hiểu lầm…
Chị Thản dừng lại thở gấp. Mặt chị tái nhợt. Tôi rót ly nước lọc mời chị. Chị tiếp:
- Tôi sống với dân làng, nương tựa vào dân làng bằng nghề nghiệp của tôi đến ngày giải phóng. Vâng, bà con đã đưa tôi ra trạm thu dung. Lúc ấy tôi đã nghĩ ra một cái lý lịch hoàn toàn khác. Rằng tôi là y sĩ của K55. Rằng tôi được cử ở lại phía sau trồng thuốc Nam, chế biến thuốc Nam, dựa vào dân làng. Rằng chồng tôi tên là Nguyễn Thành Trung, anh ấy đã hy sinh. Con tôi là Nguyễn Trung Nghĩa. Các chú ở trạm đã giúp tôi lập lại hồ sơ - vì toàn bộ giấy tờ của tôi bị bom, tôi khai thế và các chú rất tin tôi. Trường hợp như vậy thiếu gì phải không, chú? Thế là mẹ con tôi được chuyển ra Bắc công tác…
Chị Thản ngừng để uống nước. Tôi lấy bánh chưng bóc mời chị. Đúng lúc ấy cháu Nghĩa về. Chúng tôi cùng ăn bánh. Tôi lấy mấy cuốn sách mới mua hồi trước tết ra mừng tuổi cháu. Cháu Nghĩa cám ơn tôi rất từ tốn.
- Từ nay chị và cháu cứ đi lại đây với vợ chồng em - Tôi nói - Coi như chị em trong nhà.
Chị Thản ôm đầu cháu Nghĩa, bứt rứt những mẩu bụi ra, nói:
- Con muốn biết thêm gì về mẹ, từ nay cứ hỏi chú Thiêm, nghe.
- Vâng ạ.
- Thôi chào cô chú, mẹ con tôi về kẻo tối.
                                                                                        Hà Nội, tháng Giêng Giáp Tý - 1984
                                                                                                            T.T.Đ
 


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 14 Tháng Năm, 2011, 10:44:09 pm
                               Nước mắt ngày về    
                               Tác Giả :Nguyễn Quốc Việt
1  : Ngày về

Đó là ngày 15 tháng 2 năm 1973.

Mờ sáng, khu A trại giam tù binh ở Hố Nai - Biên Hòa đã nhộn nhạo hẳn lên bởi tiếng loa quân cảnh thúc giục tất cả tù nhân ra sân tập hợp. Mấy ngày trước, Ủy ban Liên hợp Quân sự bốn bên đã đến trại tù thông báo về Hiệp định Pa-ri và cuộc trao đổi tù binh sắp sửa diễn ra

Vì thế đa số anh em không lấy gì làm ngạc nhiên, tuy trong lòng vẫn dội lên một cảm xúc lâng lâng khó tả? Không biết đây là cuộc trở về với Nhân dân, Tổ quốc và những người thân thích, hay là bị địch hốt đem đổ xuống biển khơi như một số tin đồn.

Điểm danh xong, địch gọi một danh sách rồi chia cứ 25 người ngồi thành một cụm. Được khoảng5 cụm như thế thì chúng bắt đầu mở cổng, dẫn ra từng tốp. Khoảng 50 phóng viên báo chí cả tây lẫn ta, máy ảnh, máy quay phim lăm lăm trong tay chực sẵn bên con đường dẫn ra cổng ngoài, xô đến. Quân cảnh, súng dựng ngược trên tay xông xáo, xô gạt, có phóng viên bị ngã dúi xuống hào. Tiếng la ó phản đối dậy lên khắp chốn. Sau cùng, quân cảnh đành khoác súng vào vai, dăng tay nhau thành một vòng người bao quanh tốp tù nhân, cứ thế mà đi ra cổng ngoài, có đến ba, bốn lớp rào gai cự mã.

 Địch dồn tù nhân lên các xe vận tải có mui, mỗi xe có 4, 5 lính quân cảnh cầm súng canh, lại còn xe Jeep gắn đại liên mở đường, khóa đuôi, hụ còi liên tục trên đường tới sân bay Biên Hòa. Chúng tôi bị dồn lên một trong hai chiếc máy bay quân sự sơn màu xanh vàng loang lổ. Lần này thì không còn bị còng tay, bịt mắt như những lần di chuyển trước.

Khoảng nửa buổi sáng thì máy bay đổ xuống sân bay Phú Bài - Huế. Sân bay trơ trụi hoang tàn, lổn nhổn đất đá bạc phếch dưới bầu trời u ám. Dưới mấy chòi canh cao cao còn sót lại, chỉ có mấy xe tải và lính canh chờ sẵn. Tù nhân lại đỡ nhau lên xe, đi chừng một giờ trên một con đường trơ trụi và xóc kinh người. Hai bên đường chỉ thấy những đồng bưng hoang hóa, cỏ xơ xác loe hoe trên cát, phơ phất những cụm cây chồi cằn cỗi. Nhiều nhất chỉ thấy cờ ba que vàng chói với 3 sọc đỏ. Cờ cắm tứ tung trên đồng hoang, trên gò mả hay trên cồn cát bạc màu. Căng mắt nhìn về phía trước, mãi không thấy gì khác, cho đến khi tất cả gần như một lúc bật reo lên: “Cờ ta kìa”. Chỉ là những chấm nhỏ màu xanh đỏ điểm vàng mà trong mắt chúng tôi đã lồng lộng một bóng cờ nửa xanh, nửa đỏ với ngôi sao vàng rực rỡ cứ vẫy vùng trong gió trong buổi lễ xuất quân cách đây đã 5 năm. Thế rồi, những điểm sáng ấy cứ lớn dần lên, đã thành những lá cờ nguyên vẹn, đã thành cả một rừng cờ cách mạng bay rợp bên kia sông Thạch Hãn. Lẫn vào trong gió là âm điệu hùng tráng của bản nhạc “Giải phóng Điện Biên”. Những người tù nhìn nhau nước mắt vòng quanh mà không thể thốt nên lời.

 Xe dừng. Bên này sông lố nhố hàng trăm lính ngụy mặc quần áo rằn ri, súng chống vào bẹ sườn đứng dọc bờ sông. Nhìn sang bên kia, bộ đội ta cũng dàn quân đứng xanh bờ Bắc. Phía sau cờ và biểu ngữ, còn có những chiếc lều bạt, thấp thoáng bóng nhiều người mặc áo blu trắng ra vào. Sau một vài thủ tục trước sự chứng kiến của phái đoàn Liên hợp Quân sự, trong đó nổi bật những bộ quân phục quân đội ta ngời sáng, lấp lánh quân hiệu trên mũ kê-pi, chúng tôi được dẫn xuống những chiếc xuồng con, mỗi chiếc bảy, tám người. Quần áo tù binh dù chỉ mang trên người một bộ cũ nát nhất, nhưng đa số anh em cũng cởi ra, vất lại bờ. Xuồng chạy quá giữa sông, một số anh moi từ ống chân giả hoặc tháo những dải băng quấn tay, quấn chân lấy ra những khẩu hiệu, cờ đỏ hoặc xanh đỏ, có sao vàng đồng loạt phất lên, hướng về phía bờ sông phía Bắc. Những khẩu hiệu có nội dung hoan hô chiến thắng vĩ đại của dân tộc; hoan hô sự lãnh đạo của Đảng, của Bác Hồ; Hoan hô Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam và Đảng Nhân dân cách mạng... Những khẩu hiệu này chúng tôi đã chắp lại từ băng cuộn và vải vụn. Màu viết và vẽ có được nhờ đem những bộ đồ nâu địch mới phát đem nấu rồi lấy nước ấy cô đặc lại, hoặc dành dụm các viên thuốc có màu chế màu vàng đỏ. Những bộ đồ còn lại cũng đã đem đốt ngay giữa sân tù vào mấy ngày trước đó, sau khi nghe tin chính thức về cuộc trao trả sau Hiệp định Pa-ri.

Xuồng cách bờ chừng hai mươi thước. Đã nhìn rõ mặt từng đồng chí thân yêu trong bộ quân phục ga-ba-đin xanh quen thuộc. Bộ đội trên bờ ào xuống nước, ghé vai vào từng xuồng cõng từng người chúng tôi lên. Vang vang bên tai tôi là những tiếng đồng thanh hô khẩu hiệu: “Nhiệt liệt chào mừng các chiến sĩ chiến thắng trở về. . .”. Bỗng nhiên nước mắt lại chảy thấm xuống vai người đồng đội. Vậy ra, Đảng, Nhà nước và Quân đội đã không chỉ coi chúng tôi là những tù binh. Chúng tôi còn được gọi là những chiến sĩ đã chiến thắng trở về, góp phần vào chiến thắng vĩ đại của dân tộc sau 20 năm chiến đấu.

 Trong những lều bạt vừa dựng mới tinh còn thơm mùi vải mới, lần đầu tiên sau hơn năm năm, tôi lại được uống chén trà Ba Đình pha từ ấm chén sứ Hải Dương do các cô y tá và du kích Quảng Trị trao cho. Sau đấy là diện ngay quân phục mới, có cả mũ tai bèo và ba lô, dép đúc. Trong túi quần xúng xính, lại còn có hai bao thuốc lá giấy bạc nhãn Tam Đảo và Điện Biên vừa mới được phát cho.

 Chiều hôm ấy, chúng tôi được đoàn xe đến chở về ăn nghỉ tại Đông Hà và sáng hôm sau lại đi tiếp về miền Bắc. Một ấn tượng sâu đậm là ở cầu Hiền Lương, cây cầu suốt hai mươi năm chia đôi đất nước. Xe vừa qua cầu thì được đón về một bãi rộng, nơi đã có sẵn một sân khấu của đoàn văn công Tổng cục Chính trị đón chờ. Bộ đội và nhân dân đông chặt trên sân. Các cô gái Vĩnh Linh bê các đĩa kẹo và thuốc lá, xách theo những ấm nước chè xanh nóng đi mời bộ đội. Trên sân khấu, tiếng đàn, lời ca bay bổng làm xao động tất cả nỗi lòng của người lính trở về và cả bà con Vĩnh Linh, vùng đất lửa. Đoàn văn công mời các chiến sĩ lên giao lưu. Người ngâm thơ, người hát. Tất cả đều là những bài được sáng tác trong nhà tù đế quốc. Tôi còn nhớ có một bài thơ viết ở Phú Quốc được một chiến sĩ ngâm. Cô gái đàn tranh của đoàn vừa cố gắng đệm đàn theo, vừa khóc. Những bài ca bài thơ ấy từng được chắt ra từ tim óc máu xương tù nhân trong những ngày khốc liệt của lao tù.

 Biểu diễn chưa xong, đã có lệnh lên đường. Xe chạy tiếp trên con đường ổ gà lổn nhổn, hai bên chi chit hố bom mà cỏ mới vừa mọc lại. Đằng xa, mé đông là ngổn ngang những cồn cát trắng. Lòng người bỗng ngân lên câu hát “Quảng Bình quê ta ơi...”. Khoảng ba, bốn giờ chiều thì đoàn xe lại được lệnh ngừng ngay bên quốc lộ. Phía Tây là sông nước mênh mang, cặp bờ ngay gần quốc lộ đã thấy bà con đứng chờ đông lắm. Họ xoay trở những chiếc thuyền con cho người trên bờ dễ xuống. Chúng tôi được hướng dẫn xuống thuyền, lúc đó đã được trải chiếu mới tinh trên lòng thuyền. Đoàn thuyền lướt đi trên dòng sông đôi bờ vẫn còn những cây dương nổi tiếng vút cao như chưa hề qua trận mạc. Hỏi ra, đây là con sông Kiến Giang và chúng tôi đang được đưa về nghỉ ở xã Phong Thủy, huyện Lệ Thủy, Quảng Bình. Lý do: - để cho sức khỏe mọi người khá lên trước khi lên đường ra Bắc.

 


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 14 Tháng Năm, 2011, 10:47:24 pm
                                        Tiếp :
Xâm xẩm chiều, đoàn thuyền cập vào các bến sông. Các gia đình đã chờ sẵn để đưa bộ đội về nhà mình chăm sóc. Mỗi nhà có từ hai đến bốn chiến sĩ. Tôi cùng hai anh khác được về nhà Mẹ Xoa ở Đội Cá cách bờ sông chỉ vài chục mét. Vừa mới thả ba lô xuống chiếc giường to gia đình giành cho, đã thấy tiếng lao xao ngoài đường thôn nghe như một vụ cãi nhau. Ra xem thì mới biết nhiều gia đình đang thắc mắc tại sao nhà mình không được nhận bộ đội về ở, hay là mình bị coi là “Việt gian, phản động”. Cán bộ xã, thôn cũng phải giải đáp mỏi miệng rồi mọi người mới chịu ra về.

 Chồng mẹ Xoa đã mất, nhà chỉ có sáu mẹ con. Cậu lớn nhất đi trọ học cấp III trên phố huyện. Tiếp theo là hai chị em gái Thủy và Lan, sau nữa là hai cậu con trai tên Sơn và Hải. Năm ấy Thủy mới 16 tuổi tuy chỉ học lớp 7, là con lớn nhất ở nhà, một lao động chính cùng mẹ làm lụng để nuôi sống gia đình nên trông đã ra dáng một thiếu nữ. Mẹ Xoa thật giỏi giang. Một mình nuôi năm con, nhưng nhà cửa cũng khá khang trang, tuy vẫn mái tranh nền đất nhưng luôn gọn gàng, sạch sẽ. Các con của Mẹ đều ngoan, dù bé như Sơn, Hải cũng biết chia việc để làm ruộng và kiếm cá. Khi chúng tôi đến, Mẹ phải dậy sớm lo cơm sáng và trưa, chiều cũng về sớm hơn để nấu bữa cơm ngon hơn hẳn mỗi ngày thường. Hóa ra, xã Phong Thủy chính là nơi có hợp tác xã Đại Phong nổi tiếng trên miền Bắc giữa những năm 1960 với khẩu hiệu: “Sóng Duyên Hải, gió Đại Phong, cờ Ba Nhất”. Bà con địa phương kể: “Đây là lần đầu tiên Đại Phong được đón tiếp và nuôi bộ đội. Đây còn là một nhiệm vụ hết sức vinh dự do đích thân nhà thơ Tố Hữu, thay mặt Trung ương Đảng giao cho Đại Phong”. Hàng ngày, các tốp thiếu nhi chia nhau đi từng nhà có bộ đội để ca múa cho các chiến sĩ xem, nghe. Các em đều khoảng 11, 12 tuổi cả trai và gái rất hồn nhiên và ngoan ngoãn, lại múa giỏi và hát thật hay, cho gì cũng không dám nhận dù chỉ là viên kẹo hay tấm bánh quy. Dù là nơi có phong trào hợp tác hóa nổi tiếng nhưng các gia đình nông dân Đại Phong vẫn rất nghèo. Dân Đội Cá vẫn đi đánh cá về đổi gạo từng ngày. Nhiều bữa, gạo tiêu chuẩn bộ đội chưa phát kịp, bà con lại đi vay về nấu cơm cho bộ đội.

Hàng xóm với nhà Mẹ Xoa cũng có ba anh bộ đội trong đó có anh Dương quê Nghệ An mù cả hai mắt. Bù lại, anh nói chuyện rất hay và thổi sáo cũng rất cừ. Mới ở có mấy ngày, gia đình bên ấy đã nhấm nháy gả cô con gái lớn cho anh. Cô ấy xem chừng cũng ưng ý nên suốt ngày chăm sóc anh Dương. Nhiều lúc sang, tôi thấy cô ngồi bên anh nghe chuyện, sụt sùi nước mắt. Nghe nói sau này họ đã thành gia thất. Thủy vẫn gọi chúng tôi bằng chú, dù năm ấy tôi mới 22 tuổi. Thủy cùng cô bạn học là Tuyết Bông cao hơn và khá xinh hay đến thăm tôi, hỏi bài vở. Cũng may, tôi còn chút ít kiến thức về toán cấp III học được trong tù nên cũng giải đáp được vài ba chỗ về Toán mà các em đang học. Cứ như thế, 6 ngày trôi qua lúc nào không hay. Chiều hôm ấy, chúng tôi được phổ biến sáng hôm sau sẽ tiếp tục lên đường. Đêm đó, các nhà có bộ đội ở hầu như thức trắng. Các bà mẹ thì lo giết gà, thổi xôi để bộ đội ăn sáng và gói mang theo. Các ông bố thì bên gói thuốc rê hay chiếc điếu cày, nói chuyện thâu đêm. Các cháu thiếu nhi đi hát từ nhà này qua nhà khác.

 Về khuya, hai anh ở cùng đã đi ngủ, tôi và Thủy ngồi đối diện nhau bên chiếc bàn với ngọn đèn dầu nhỏ gọn. Không nói được gì nhiều. Em cắm cúi viết rồi đưa cho tôi mảnh giấy ghi những dòng lưu niệm, nhắc nhở đừng quên con người và mảnh đất quê em. Tôi cũng viết những dòng kỷ niệm vào cuốn sổ em đưa. Mãi sau, em mới bật tiếng gọi tôi bằng anh, dặn tôi đi đâu, làm gì cũng phải viết thư vào. Tôi hứa! Đêm tàn lúc nào không hay. Dưới bếp, Mẹ Xoa đang chặt thịt gà và gói xôi vào lá chuối. Lệnh hành quân không cần phát mà cả xóm làng lao xao từ 4 giờ sáng. Trên bến sông có một cảnh tượng không thể nào quên. Bộ đội vừa bước xuống thuyền bà con trên bờ đã bật lên những tiếng khóc, làm hầu hết anh em bộ đội cũng sụt sùi nước mắt. Một số thanh niên nam nữ và cả các ông bố, bà mẹ cũng lên những chiếc thuyền, chiếc nống (một loại xuồng nhỏ và dài) đi theo ra đến tận đường. Khi chúng tôi lên xe, bà con và các em không thể đi theo nữa thì tất cả dân và bộ đội đều òa lên khóc, khóc thật to, nước mắt chan hòa. Đấy là một buổi chia tay xúc động tột cùng mà với tôi, trước đó cũng như sau này, không bao giờ có nữa.

 2: Những cánh chim tự do 

Trở về từ nhà tù Phú Quốc, ở huyện Xuân Trường (Nam Định) ngoài tôi ra còn hai anh nữa. Một anh cụt chân cao gần hết cả đùi, hai tay chống nạng. Một anh mù, dò dẫm gậy, tay vịn vào ba lô của bạn. Còn tôi bề ngoài thì lành lặn nhưng bên trong gãy quai xanh, xương sườn và thêm một vài mảnh đạn nhỏ nằm trong phổi trái.

 Bến xe chỉ cách nhà tôi non cây số. Tôi dẫn hai anh bạn tù về nhà, rồi sau tìm cách chở các anh về quê ở cách đấy không xa. Đặng Văn Đoài, ở xã Xuân Đài. Còn Nguyễn Xuân Trưởng thì quê ở cạnh làng tôi:- Xuân Thượng. Hai dãy phố nhỏ của làng tôi đây rồi! Ở giữa là sông, thời còn bé chúng tôi hay đi câu cá mương và cá rô gion trên từng bến đá. Hai bên sông, thì bên Ngọc Cục là đường đá, bên Hành Thiện là đường gạch lát nghiêng.

Người trên phố tò mò ngắm ba anh bộ đội dắt nhau đi. Một vài gương mặt thấy quen, nhưng tôi chưa nhận ra ai. Ngược lại, cũng có người nhận ra tôi rồi thốt kêu lên: “Ơ kìa, con ông Hài! … Ối giời ôi, còn sống về rồi hả cháu”. Thế rồi người nọ kể với người kia, rồi bỏ việc đi theo, lúc chúng tôi về đến nhà thì đã có một đám đông người trước cửa. Cha tôi từ trong nhà đi ra, thốt sững lại, tý nữa thì làm rơi cái điếu bát đang cầm. Dù lúc này, người đã biết rằng tôi còn sống trở về, nhưng bây giờ mới là lúc gặp lại sau hơn năm năm biệt vô âm tín. Xúc động, còn vì đa số anh em tù binh, kể cả tôi đã có giấy báo tử.

Hàn huyên, cơm nước xong xuôi. Cho tới chiều thì anh em tôi mượn thêm xe đạp chở các anh Đoài, Trưởng về làng. Lại tiếp tục những niềm xúc động, vui mừng chan cùng nước mắt. Cả ba anh em may sao là còn đầy đủ cả mẹ, cha và anh chị em. Niềm vui nhờ thế mà nhân lên gấp bội phần. Chuyến ấy, cấp trên cho về phép một tháng, sau đó trở lại đoàn an dưỡng ở Thọ Xuân, Thanh Hoá để chuẩn bị chia tay nhau nhận nhiệm vụ mới. Hai anh về Đoàn an dưỡng thương binh nặng ở tỉnh. Còn tôi được điều về tiểu đoàn Xuân Thuỷ đóng quân ở vùng biển huyện nhà. Xếp hạng thương binh tôi nhẹ nhất. Sau đó chúng tôi ít gặp nhau, chỉ còn liên hệ qua những lá thư.

 Tôi vừa công tác vừa âm thầm dò tìm những bạn tù xưa xem ai còn, ai mất, ai đã được giải quyết chế độ, ai về quê hoặc chuyển đi đâu? Tôi đã rất hạnh phúc khi tìm lại được người thầy giáo trong tù mà tất cả anh em trong trại đều vô cùng kính trọng và quý mến. Đó là anh Lê Hồng Thu, tên thật là Nguyễn Văn Chiển. Trước khi đi “B” năm 1966, anh Chiển là Hiệu trưởng trường cấp III Lê Hồng Phong ở Thành phố Nam Định. Ở trại nào anh cũng gây dựng được các lớp học văn hoá trong tù. Anh bị bắt năm 1967, và tôi đã gặp anh tại khu B - trại Hố Nai Biên Hoà từ tháng 5 năm 1970. Tại đây anh đã mở lớp dạy cấp III cho một nhóm tù binh hơn một chục người. Nhóm này sau đó lại trở về mở lớp tại các phòng giam của mình. Tôi ở phòng giam số 6, ngay sau phòng số 3 nhốt riêng các sĩ quan, nên được Đảng ủy bí mật trong tù phân công dạy cho lớp sĩ quan phòng số 3. Đến giờ quy định là các vị thiếu tá và đại uý quân ta chống nạng ra đứng vịn hàng rào. Phía bên này, tôi tự tưới nước rồi xoa mịn một khoảng sân cát bằng chiếc chiếu đôi để viết bài giảng lên trên. Bên kia các “thủ trưởng học trò” cũng cắm cúi ghi chép trên những tấm bảng con con tự tạo. Người học giỏi và chăm chỉ nhất của lớp ấy chính là “Thiếu tá Sang” theo cách gọi vừa kính nể vừa tôn phục của cả hai phía ta và địch. Bởi thiếu tá từng được mệnh danh là “hùm xám miền Đông”, từng bị địch cưa cụt chân đi cho “bõ ghét” vì kiên quyết không khai, không khuất phục khi sa vào tay giặc. (Sau này ông trở về sống ở quê là thành phố Huế).


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 14 Tháng Năm, 2011, 10:56:45 pm
                                       Tiếp :
Tháng 5.1971, địch có đợt chuyển tù từ Biên Hoà ra đảo Phú Quốc, tôi mới phải xa thầy giáo Lê Hồng Thu. Tấm bảng số logarit do thầy tự lập lại ở Biên Hoà làm công cụ học tập, mà tôi chép trên một mảnh bìa giấu kỹ đem theo, vẫn bị quân cảnh Phú Quốc tìm ra và tịch thu kèm theo một trận đòn “thừa sống thiếu chết” vì bị chúng nghi là “mật mã”. Nhưng chỉ vài tháng sau, tôi đã nhận được tin thầy qua một bài thơ được vo tròn nhét vào đầu chiếc đòn gánh khiêng thùng do anh em trại C4 đem tới quăng cho. Bài thơ nguyên văn như sau: Xa mặt nhưng lòng không cách xa
       Vẫn nhớ Biên Hoà nhớ bạn xưa
       Lớp học mở đều trên sân cát
       Mụn áo làm nên sách giáo khoa
       Tinh thần hiếu học biết bao nhiêu
       Mài miệt nắng mưa những sớm chiều
       Ai đã cho tôi niềm vinh dự
       Làm người thầy giáo ở trong lao
       Tôi muốn như con tằm nhả tơ
       Sợi vàng óng ánh dệt ước mơ
       Của người nuôi dạy tôi khôn lớn
       Ban cuộc đời tôi một ý thơ
       Hẹn ngày toàn thắng ta gặp nhau
       Lầu cao cửa kính ngói tươi màu
       Thơm mùi giấy mới trang sách mới
       Tự hào ôn lại những buổi gian lao.
   Tin qua, tin lại mấy lần, rồi thầy cũng gửi cho tôi bảng số logarit thầy mới lập lại chủ yếu bằng trí nhớ. Tôi cẩn thận chép sang một miếng “pông xô” (lớp nhựa phủ ngoài áo mưa quân đội bị rách, nên địch bỏ đi). Vào ngày trao trả, tôi đã giấu đem theo và còn giữ được đến tận ngày nay. Phong trào học tập văn hoá trong trại D9- Phú Quốc của tôi lại được phục hồi với tấm bảng số logarit của thầy Thu ấy.

 Chính là nhờ những bài học trên cát mà trong kỳ thi đại học tôi được 16 điểm trong khi điểm đậu của trường Đại học Xây Dựng năm 1974 chỉ là 13,5. Vào trường nhập học, tôi lại đăng ký thi vẽ, và đậu vào khoa Kiến trúc. Tốt nghiệp năm 1980, tôi được giữ lại trường làm cán bộ giảng dạy.

Những năm tôi học Đại học Xây Dựng ở nơi trường sơ tán là huyện Bình Xuyên (ga Hương Canh), cũng là khi anh Nguyễn Văn Chiển được Bộ Giáo dục bổ nhiệm về làm Hiệu trưởng trường Bổ túc Công nông ở Giáp Bát, Hà Nội. Sau đó anh lại được điều về làm hiệu trưởng trường đảng Lê Hồng Phong của Thành ủy. Anh em, thầy trò tôi vì thế mà thường được gặp nhau, tha hồ mà “ôn lại chuyện gian lao”. Những năm học ấy, Thương binh còn được hưởng chế độ miễn vé tàu nên tôi cũng chăm chỉ đi về tuyến Hương Canh, Hà Nội. Đôi khi cũng gặp một vài bạn tù vất vả, bám theo tàu đi buôn xa…

 Còn hai anh bạn tù quê cùng huyện với tôi thì sao? Ở Xuân Trường quê tôi ngày ấy, thương binh càng nặng thì càng dễ lấy vợ. Truyền thống này, có lẽ bắt đầu từ khi có thương binh, bộ đội miền Nam ra tập kết sau năm 1954. Thoạt đầu là anh Đoài “mù”. Anh được ngay một cô gái quê cục mịch, nhưng đằm thắm hồn hậu “xin chết”. Sau đó là anh Trưởng. Đám cưới nào cũng được tổ chức rình rang với rất đông bạn đồng ngũ, bạn tù. Vợ anh Trưởng còn rất giỏi giang, tháo vát. Cả hai anh bạn này đều khá đông con: Anh chị Trưởng bốn, Anh chị Đoài năm đứa. Chỉ vợ chồng anh Đoài yên chí lập nghiệp ở quê, nơi có gạo tám nổi tiếng Xuân Đoài, được chính quyền xã ưu tiên cấp đất mặt đường xây nhà dựng cửa. Anh chị Trưởng sau một hồi đi buôn chè cũng chán, chị được bè bạn rủ đi Hà Nội gia nhập đội quân gom nhặt ve chai. Lần hồi, họ mua được miếng đất xấu ven đường Đại Cồ Việt làm bãi chứa, bản thân cũng lên đời “chủ bãi”. Giờ thì đã phất lên lắm. Mỗi đứa con lớn lên được cha mẹ cho nhà, cho bãi, đứa Hà Nội, đứa Hải Phòng. Mới rồi anh chị Trưởng thấy sự nghiệp “tất cả vì tương lai con em” đã hoàn thành, năm 2008 liền trở lại quê Xuân Thượng xây trên nền đất cũ một ngôi nhà hết gần 1 tỷ. Hai vợ chồng  vào độ tuổi gần 60 mới coi như được “vui thú điền viên”.

 Từ hai anh Trưởng, Đoài, tôi cũng đã tìm đến vài anh em khác cùng cảnh ngộ. Nhờ chính sách thương binh liệt sĩ, lại thêm các phong trào “uống nước nhớ nguồn”, “đền ơn đáp nghĩa” ở nhiều địa phương mà đa số các anh em cựu tù binh có cuộc sống chẳng đến nỗi nào. Phần đông trong họ có gia đình nhà cửa êm ấm, con cái làm ăn hoặc học hành thành đạt nhờ năng lực biết tự thân vận động để đi lên. Cũng đã có vài trường hợp bệnh tật phát sinh nên mất sớm. Nhưng đáng thương nhất là một anh ở xã Xuân Tân, tên là Đinh Xuân Hoà (tên trong tù là Bồng). Anh là một tù binh trẻ nhất trong số những anh em tôi biết, bị cụt tay và thêm vết thương sọ não, an dưỡng xong được xếp thương tật hạng 1/4. Tay thì đã đành chẳng mọc lại được, nhưng vết sọ não đã làm anh càng ngày càng chìm sâu vào thế giới của riêng mình. Hoà không lấy vợ, sống cùng gia đình người em ruột. Tháng 4.2009 cùng anh Đoài đến thăm, tôi chỉ thấy một người quắt queo tóc râu bơ phờ nằm thu lu trên võng. Gọi không nói, hỏi không thưa, dắt tay lên thì đi lại lờ vờ như cái xác không hồn. Tôi tự hỏi: Có bác sĩ giỏi nào có thể giúp được anh không? Để anh biết mình đã là một cánh chim tự do về giữa quê hương.
Gần đây nhất tôi có nhờ anh Chiển ráp nối để gặp lại mấy anh bạn tù xưa, quê Hà Nội. Cũng dễ thôi! Bởi anh Chiển đã về hưu, hiện làm Phó Ban liên lạc hội người tù kháng chiến Hà Nội. Bữa ấy đúng ngày 15 tháng 2 năm 2009, sau 36 năm chúng tôi ra tù. Người đầu tiên mà tôi muốn nhắc tới là anh Tống Trần Hội, một người thương tật đầy mình nhưng vô cùng dũng cảm năm xưa, nay cùng vợ con sống ở huyện Sóc Sơn. Hội cũng là một học trò của lớp sư phạm trên cát tại nhà lao Biên Hoà của thầy giáo Lê Hồng Thu năm 1970. Đi lại hết sức khó khăn, lại ở xa nên Hội đã không thể về tái ngộ. Người thứ hai là anh Nguyễn Hữu Triệu, sống ở phường Kim Mã. Anh Triệu cũng là một tù binh “gan cùng mình” ở khu A Biên Hoà. Cũng chỉ còn một chân như anh Trưởng, nhưng Triệu luôn luôn chống nạng dẫn đầu đoàn đại biểu tù nhân ra trực tiếp đấu tranh với giám thị các trại tù, cả ở Biên Hoà hay Phú Quốc. Triệu là một trong số rất ít người được Đảng uỷ nhà lao Hố Nai quyết định kết nạp Đảng ngay trong tù. Lễ kết nạp lại càng đặc biệt. Đấy là ở gầm sàn của một buồng giam. Ván sàn cách đất 50cm. Dưới gầm ván đã được vẽ sẵn một lá cờ búa liềm. Vài anh canh gác bên trên. Bốn người khác chui vào nằm ngửa, chụm đầu lại gần nhau. Người giới thiệu lần lượt nói lời giới thiệu; Bí thư đọc (miệng) quyết định của cấp uỷ nhà lao. Còn Nguyễn Hữu Triệu - đảng viên mới đọc lời tuyên thệ, cũng theo đúng bốn điều của nhiệm vụ Đảng viên, tuy không được chính xác từng câu chữ. Vậy là xong, chẳng có biên bản hay giấy tờ nào ghi nhận làm bằng cớ. Ấy thế mà sau khi ra tù, câu chuyện này được xác minh, thì Đảng bộ Đoàn an dưỡng đã làm một lễ riêng công nhận tư cách đảng viên cho Nguyễn Hữu Triệu. Sau khi an dưỡng, anh đã được cơ quan cũ - Ngân hàng Nhà nước Hà Nội đón về, giao cho chức Trưởng phòng Tổ chức cán bộ. Đến năm 2008 thì vừa đủ tuổi về hưu.

Như thế đấy, cuộc trở về đầy nước mắt của chúng tôi, những tù binh từ trại giam Biên Hòa, Phú Quốc đã lùi xa ba mươi sáu năm. Chúng tôi đã trở về trong vòng tay bao dung nhân ái của Đảng, Quân đội và Nhân dân. Quan trọng hơn, chúng tôi được coi là những chiến sĩ vẫn tiếp tục cuộc chiến đấu giữa những lớp rào gai, dưới muôn vàn lớp đòn thù tàn bạo để giữ tròn khí tiết và phẩm giá người chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam. Những dòng cuối cùng của bài viết này cho tôi được nhắc đến những người dân niền Trung, những người đầu tiên đã đón chúng tôi trở về. Mẹ Xoa ơi! Thủy ơi, Lan ơi - những em bé của Đại Phong ơi! Tôi vẫn còn mắc nợ với các em, với Mẹ. Sau khi vào Đại học, tôi chỉ thư từ được khoảng ba năm rồi thôi, bởi những kiến thức và cuộc sống nhọc nhằn đã hút tôi về phía trước. Nhưng trong tôi, luôn có một vầng bóng mát nơi quê hương gió lào cát trắng của Mẹ và các em.

 Nguyễn Quốc Việt


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 21 Tháng Năm, 2011, 11:51:58 pm
                          Mất bò được vợ
                          Tác giả : Khuất Quang Thụy

Đó là một trong những cuộc tình kỳ lạ nhất mà tôi được chứng kiến trong cuộc đời làm lính của mình. Ngay cả khi đã trở thành nhà văn, đã biết tới phép màu kỳ diệu của sự “hư cấu” tôi cũng chưa bao giờ có đủ sự dũng cảm để bịa ra một câu chuyện như vậy. Tôi cũng đã tự nhủ, đến một lúc nào đó, nó sẽ thành những nhân vật của một cuốn tiểu thuyết. Nhưng tôi vẫn chưa có dịp thích hợp để làm điều đó.

                                                                                   Khuất Quang Thụy

Đó là một trong những cuộc tình kỳ lạ nhất mà tôi được chứng kiến trong cuộc đời làm lính của mình. Ngay cả khi đã trở thành nhà văn, đã biết tới phép màu kỳ diệu của sự “hư cấu” tôi cũng chưa bao giờ có đủ sự dũng cảm để bịa ra một câu chuyện như vậy. Tôi cũng đã tự nhủ, đến một lúc nào đó, nó sẽ thành những nhân vật của một cuốn tiểu thuyết. Nhưng tôi vẫn chưa có dịp thích hợp để làm điều đó. Đến khi ấn phẩm mới của Văn nghệ quân đội mở mục “Chuyện tình dưới đáy ba lô”, và cái chuyên mục này lại được giao cho một nhà văn cựu sĩ quan đặc công canh giữ. Với sự đốc thúc ngày đêm của anh, tôi đành phải dốc từ dưới “đáy ba lô” của mình ra chút vốn liếng này để “bán lúa non” vậy.

Chuyện thế này:
Năm 1967, chúng tôi vừa vào lính thì được biên chế ngay vào một đơn vị chủ lực để luyện tập gấp rút, chuẩn bị vào chiến trường. Tiểu đội tôi toàn là lính mới coong, chỉ có anh tiểu đội trưởng, hạ sĩ Khởi, là lính cựu. Anh được phân biệt với cánh lính mới chúng tôi không chỉ bằng quân hàm hạ sĩ mà bằng một bộ quân phục đã bạc trắng. Sau này, chúng tôi mới biết các bậc đàn anh đã có cách làm cho quân phục của mình bạc đi một cách nghệ thuật. Anh đã hai mươi sáu tuổi, khá điển trai, nhưng vẫn chưa vợ. Có lẽ anh kén, hay là duyên số chưa tới, tôi cũng chẳng biết. Nhưng mà cái ý chí quyết tâm tìm người yêu của anh thì rất cao. Và, đó cũng là nỗi gian truân của cánh lính mới chúng tôi. Bởi vì, hễ có bóng chị em là lập tức anh tìm cách chứng tỏ vai trò của mình. Thế nào cũng có anh bị anh quát đứng nghiêm để “xác định thái độ”. Buổi chiều đi tập về, tiểu đội tôi bao giờ cũng phải về muộn nhất, bởi vì lúc đó sân kho hợp tác mới đông chị em. Hôm nào về tới đó, anh cũng cho tiểu đội dừng lại, tập hợp thành hàng ngang, đứng nghiêm để nghe anh dõng dạc nhận xét kết quả học tập trong ngày. Nhưng cực khổ nhất cho chúng tôi là vào chiều thứ bảy, khi cả đơn vị dọn vệ sinh đường làng ngõ xóm nơi đóng quân, xóm chúng tôi đóng quân lại có quá nhiều các cô thiếu nữ xinh đẹp nên thì giờ dành cho công việc này bao giờ cũng nhiều hơn các tiểu đội khác. Chủ nhật thường chỉ được nghỉ một buổi nhưng nếu hôm nào đó có nhà em nào trong ngõ tát ao hoặc vượt thổ thì coi như đi đứt!

Anh Khởi của chúng tôi làm rất nhiều động tác ga - lăng như vậy, nhưng không hiểu sao, các cô lại không thích anh. Thậm chí, có nàng còn ác khẩu, gọi anh là “Anh Khởi hâm”. Đã vậy, trong tiểu đội tôi có cậu Mai, thợ cắt tóc ở phố huyện, người lử khử lừ khừ nhưng lại rất “sát gái”. Hễ anh ta đứng đâu, ngồi đâu là chỉ một lát sau đã có dăm ba cô bu lại, hay nhờ vẽ chim, vẽ cò vào những cuốn sổ tay. Tiểu đội trưởng Khởi dứt khoát không chấp nhận được cảnh “ngang trái” đó, cho nên Mai bao giờ cũng là tay khốn khổ nhất trên bãi tập. Cho đến khi anh ta bắn được ba điểm 10 và sát hạch các môn chiến thuật đều đạt loại khá, giỏi, tiểu đọi trưởng Khởi mới đành phải để anh ta yên. Đến khi chúng tôi rút quân khỏi làng, lên Hoà Bình diễn tập thì phần thắng đã rõ ràng thuộc về anh thợ cắt tóc. Anh có tới ba nàng tiễn đưa, khóc lóc, trao quà lưu niệm. Còn anh Khởi của chúng tôi thì chỉ nhận được quà của bà Hội trưởng phụ nữ thôn đã luống tuổi nhưng góa chồng!

Lên Hòa Bình, chúng tôi đóng quân trong rừng, hàng ngày rèn luyện hàng quân xa, mang vác nặng. Trong rừng, dân ít, nên anh Khởi của chúng tôi tỏ ra đáng yêu hơn. Cánh lính trẻ chúng tôi dường như cũng dễ thở hơn.

Nhưng rồi, điều kỳ diệu đã bất ngờ xảy ra. Số là, để chuẩn bị ăn bồi dưỡng để đi B, tiểu đội của chúng tôi được cử ba người xuống tận Kim Bôi bắt bò. Tôi, cậu Nghĩa được anh Khởi để mắt tới, có lẽ vì ngoan ngoãn nhất, nên được anh cho đi cùng. Từ nơi nhận bò về đơn vị phải đi bộ hai ngày đường nên ngày thứ nhất chúng tôi phải ngủ lại dọc đường. Đêm đó ngủ nhờ một nhà dân trong một bản Mường, bò buộc dưới sàn, người ngồi trò chuyện thâu đêm bên đống lửa. Không có gì đáng nói nữa.

Sáng ra, bước xuống sàn, mới biết đêm qua một con bò đã tuột dây xổng đâu mất! Anh tiểu đội trưởng của chúng tôi sợ tái mặt. “Mất bò chứ đâu phải chuyện đùa!”. Thế là, ba anh em toả đi ba hướng, quyết tâm tìm bằng được chú bò lạc mới trở về.

Suốt một ngày, tôi và Nghĩa đi rã cả hai cẳng vẫn không thấy tăm hơi chú bò tai quái kia đâu. Gần ba giờ chiều, hai đứa thất thểu trở về, gặp nhau ở con suối đầu bản, Nghĩa nhăn nhó lắc đầu:
- Không thấy, có lẽ nó đã biến thành những món tái lăn, tái nạm ở đâu đó rồi.
Tôi rũ ra như mớ rau héo:
- Phen này mình cũng sẽ bị ông Khởi xơi tái thôi. Con bò ấy… Chiều qua do mình buộc mà.
Như hai kẻ thất trận, chúng tôi thất thểu trở về. Nhưng vừa tới chân cầu thang, đã thấy tiểu đội trưởng Khởi đứng đó, đầu chải bóng mượt, bộ quần áo bạc phẳng phiu, thẳng thớm.
- Hai quân nhân kia! Đứng nghiêm!
Chúng tôi giật bắn người và làm theo. Như một tư lệnh thực thụ, tiểu đội trưởng Khởi chắp tay sai lưng và bắt đầu oang oang huấn thị. Tôi nháy cậu Nghĩa “Có chuyện rồi! Bệnh cũ tái phát”, Nghĩa lè lưỡi gật đầu. Và ngay lập tức tôi hiểu ra mọi chuyện khi ngước nhìn lên. Phía bên trên cầu thang ở lối nghỉ trước nhà, một nàng khá trắng trẻo mập mạp đang che miệng cười.
- Báo cáo thủ trưởng! - Tôi lập tức biết phải làm gì để giải nguy - Chúng tôi đã nhận rõ khuyết điểm. Xin hứa lần sau nếu được đi nhận bò sẽ…
- Đây không phải là chuyện bò bê! Hiểu không? Đây là nhiệm vụ cách mạng. Đảng và nhân dân quan tâm đến sức khoẻ của chúng ta, tạo điều kiện cho chúng ta ăn no để đánh giặc giỏi. Vậy mà các đồng chí đã làm gì? Đã làm gì, hả?
- Thôi đi anh Khởi - Giọng oanh vàng đã cất lên - Dù sao cũng đã tìm được bò rồi mà.

Thủ trưởng của chúng tôi lập tức hạ gam. Chúng tôi đã thoát hiểm và trở về đơn vị với ba con bò và… một cô gái. Thì ra cái con bò ranh mãnh ấy đã lên nông trường cam và bị cô nàng xinh đẹp này bắt làm tù binh. Làm cách nào mà anh tiểu đội trưởng của chúng tôi vừa xin được bò vừa tán được cả người (mà lại không hề phải dùng đến cánh lính trẻ chúng tôi làm “quân xanh” để giải quyết khâu oai). Tôi xin được giữ bí mật để sau này dùng cho một chương tiểu thuyết. Chỉ biết rằng, sau đợt huấn luyện đó, đơn vị chúng tôi được nghỉ hai mươi ngày phép để chuẩn bị ra trận. Và, trong hai mươi ngày đó, anh tiểu đội trưởng của chúng tôi đã hoàn thành công việc hệ trọng nhất của một đời: thành gia lập thất.

Năm 1971, trong một trận đánh ác liệt ở đường 9 Nam Lào, anh Khởi đã bị thương, được chuyển về tuyến sau và trở về hậu phương. Năm năm trước, trong một chuyến đi công tác ở Hòa Bình, tình cờ tôi đã gặp lại anh. Đến tận lúc đó tôi mới biết gia đình anh hiện sống ở nông trường Sông Bôi, nơi năm xưa anh đi tìm bò mà lại gặp được bạn tình. Tôi đã tới thăm gia đình anh, được anh cho đi thăm vườn trại và hoàn toàn không ngạc nhiên khi gặp trong vườn rừng của anh một đàn hơn chục con bò. Có lẽ, đó là con “vật thiêng” mà anh tiểu đội trưởng của tôi suốt đời phải chịu ơn.

 Kh Q TH.


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 21 Tháng Năm, 2011, 11:56:25 pm
                                      Hổ cốt du ký
                                      Tác giả : Vũ Bảo

Đội tuyển thành phố Hồ Chí Minh đang vẫy hãm khung thành đội tuyển Hà Nội, thấy thằng bạn đang nhảy như choi choi, hò hét như hóa dại cổ vũ cho đội Thành phố Hồ Chí Minh, Đức vội máy nó chuồn ra cổng.
20 giờ 15, hai đứa đã đến địa điểm đóng quân. Thằng bạn quay xe ngay về Hà Nội. Chỉ còn 45 phút nữa là đến buổi phát thanh Quân đội nhân dân, đừng có đứa nào dại đến quấy rầy đại đội trưởng vào giờ ấy. Tranh thủ giây phút vàng ngọc này, Đức xộc thẳng đến buồng đại đội trưởng.

Đức gõ cửa.

Tiếng đại đội trưởng vọng ra:

- Ai?

Đức trả lời khe khẽ:

- Báo cáo đại đội trưởng, em ạ, Đức đây ạ.

Nghe tiếng đàn ông đại đội trưởng ra mở cửa. Anh không tiếp con gái vào ban đêm, rách việc!

Đức vừa vào đến nhà vội rút chai rượu trong túi xách đặt lên bàn:

- Báo cáo đại đội trưởng, thầy mẹ em có chai rượu hổ cốt, sai em đem lên biếu đại đội trưởng ạ.

Ở ngoài hiên có bóng người thấp thoáng bên khuôn cửa. Anh lính nào đấy vừa lên trả phép có tí quà định đến biếu đại đội trưởng, nhưng thấy bị “đội bạn” chen ngang, nên vội lủi ra gốc cây đứng chờ.

Trong nhà, hai thầy trò mải vui quên cả điều lệnh, đại đội trưởng vỗ vai Đức đến “bộp” một cái rồi cười to:

- Cậu cho mình gửi lời cám ơn các cụ. Còn cậu, mình phê bình cậu...

Đức giật mình đến thót một cái, rút túi lấy bao Bông Sen run run xé mép giấy thiếc:

- Mời đại đội trưởng xơi thuốc.

Đại đội trưởng vừa rút điếu thuốc vừa nói tiếp:

- Cậu là quân nhân cách mạng, cậu lại quên là Bộ Quốc phòng đã có lệnh cấm uống rượu à?

- Báo cáo đại đội trưởng, đây là thuốc ạ. Đau khớp, nhức xương, đại đội trưởng uống một chén là kiến hiệu lắm ạ. Đây là xê ri cao hổ cốt nấu phục vụ cán bộ cao cấp, thầy mẹ em mới nhờ mua được một chai.

Bây giờ đại đội trưởng mới nhìn đến nhãn hiệu dán ở vỏ chai in hình đầu hổ và dòng chữ:

TIGER’S BONES  - BEST QUALITY

(Rượu hổ cốt - chất lượng tốt nhất)

THAI BìNH DƯƠNG FACTORY

MADE IN RS VIÊT NAM

Đại đội trưởng thầm nghĩ: tên rượu viết bằng chữ nước ngoài, bét ra cũng là loại xuất biên chứ khônng phải tồng tộc bán ở cửa hàng dược phẩm theo giấy giới thiệu đơn vị.

Đức xòe bật lửa mời thuốc cho đại đội trưởng xong mới vừa gãi đầu gãi tai nói nhỏ nhẹ:

- Báo cáo đại đội trưởng, gia đình em có việc đột xuất, em phải đưa thầy em vào viện nên đến chậm.

Đại đội trưởng rút vội điếu thuốc ra khỏi môi:

- Cụ nhà làm sao?

- Báo cáo đại đội trưởng, thầy em tự dưng khó thở, may sao em xin được xe của ông thứ trưởng ở cùng khu tập thể, đưa ngay thầy em vào bệnh viện.

- Tình hình sức khỏe cụ nhà bây giờ thế nào?

- Báo cáo đại đội trưởng, thầy em vẫn thở bằng bình ô xy ạ.

- Gay nhỉ.

- Chủ nhật này, em xin phép đại đội trưởng đi tranh thủ vào viện thăm thầy em, sáng thứ hai em lên ngay.

Một đại đội trưởng vốn giàu lòng thương lính nỡ nào từ chối đề nghị thiết tha của người con hiếu thảo thế này được?

Đức vừa đẩy cửa bước ra, Hoàng đang nấp ở gốc cây chạy chạy vội vào. Phúc cho cậu ta, bây giờ mới 8 giờ 40, còn 20 phút nữa mới đến chương trình phát thanh Quân đội nhân dân. Lộc ôm một gói nặng đang đứng thập thò sau bể nước vội chạy vụt lên, nấp sau gốc cây Hoàng vừa đứng chờ ban nãy. Thọ lẻn đến nấp sau bể nước chờ Hoàng vào.

Từng anh lính trả phép chậm lần lượt bước vào biếu quà, và trình bày lý do “có chuyện đột xuất” trong gia đình nên mới về chậm. Từng người con hiếu thảo ấy lại năn nỉ đại đội trưởng chủ nhật này cho phép họ về Hà Nội vào viện thăm bố, thăm mẹ lần nữa.

Cầu được ước thấy, tối thứ bảy, Đức, Hoàng, Thọ, Lộc lại được tranh thủ về để thăm bố mẹ “đang nằm viện” cho nó tròn chữ hiếu.

Đại đội trưởng có biết đâu bệnh viện ấy là sân vận động Hàng Đẫy, còn bố mẹ của các “con trời” là 22 cầu thủ mặc quần đùi lồng như ngựa trên bãi suốt 90 phút giao tranh trong trận đội tuyển Thành phố Hồ Chí Minh gặp đội tuyển miền Duyên Hải giành cúp đội tuyển 1987. Chuyện ấy thôi không nói nữa.

Lại nói về đại đội trưởng.

Từ lâu, anh đã muốn xin chuyển vùng về Ban chỉ huy quân sự huyện nhà cho gần vợ con. Anh đã một lần tâm sự với tiểu đoàn trưởng và nhờ tiểu đoàn trưởng trình bày với cấp trên. Đôi ba lần anh định lên gặp tiểu đoàn trưởng, nhưng thời buổi này, nhờ vả ai việc gì, lên tay không nó chống chếnh thế nào ấy. Đến nay có số quà của anh em vừa biếu, đại đội trưởng quyết định lên thăm tiểu đoàn trưởng, nghe ngóng binh tình thế nào.

Tiểu đoàn trưởng thích xem ti vi. Anh ngồi lì trước màn ảnh nhỏ từ Bông hoa nhỏ đến tận Chương trình truyền hình đêm nay của chúng tôi đến là hết. Thân ái chào các bạn. Những lúc ấy đừng ai hòng kéo anh ra khỏi máy thu hình. Chẳng may, trên trung đoàn có điện xuống anh hất hàm cho trợ lý thông tin chạy sang nghe rồi về báo cáo lại với anh. Cũng may anh lại bị “dị ứng sách báo”. Đọc sách là buồn ngủ, đọc báo là ngáp ngắn ngáp dài. Vì thế đại đội trưởng bấm giờ lên thăm tiểu đoàn trưởng tốt nhất là sau bữa cơm chiều cho đến trước khi tiểu đoàn trưởng cắm phích ti vi vào ổ điện.

Y như rằng đại đội trưởng đến vào lúc tiểu đoàn trưởng đang thấy lâng lâng trong lòng, ngong ngóng chờ người bạn nào đó đến lấp chỗ trống.

Tiểu đoàn trưởng dội nước sôi tráng ấm chén, vừa với tay lấy hộp chè, đại đội  đã trưởng đã moi ngay trong túi một bịch chè cầm hai tay đặt lên bàn:

- Đại úy thưởng thức món chè Thái này xem thế nào?

Tiểu đoàn trưởng gật gù:

- Tay này dạo này xài sang đấy.

- Báo cáo đại úy, tôi có ông anh dưới quê lên chơi cho ít quà. Lộc bất khả hưởng tận, gọi là có chút tình cảm lên thăm đại úy.

- Hừ, cái cậu này chỉ vẽ vời.

- Đây hoàn toàn là chuyện tình cảm, đại úy.

 


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 21 Tháng Năm, 2011, 11:58:26 pm
                                          Tiếp :

Miệng nói, tay đại đội trưởng lần lượt bày các thứ lên bàn. Toàn những các ông đa phúc bà mít: nửa cân mứt hạt sen, nửa cân cà phê Buôn Ma Thuột, một hộp đường viên Tiệp Khắc, chai rượu Hổ cốt.

Tiểu đoàn trưởng mỉm cười:

- Bánh đa bẻ nửa, anh em ta chia đôi.

Đại đội trưởng vội thanh minh hoạt cái cười của cấp trên cùng một tiết tấu, cùng một âm sắc:

- Thế là đại úy không tình cảm với tôi rồi.

- Thật lòng nhé, mình có uống rượu bao giờ đâu. Mình bị huyết áp cao, bác sĩ cấm rượu. Đành kiêng vậy.

- Đại úy cho phép tôi gửi về biếu các cụ ở nhà. Đây là rượu hổ cốt thứ thiệt, phục vụ các đồng chí lãnh đạo cao cấp, ông anh tôi có tay trong xin duyệt được một chai. Đau khớp, nhức xương, uống vào kiến hiệu lắm.

- Các cụ tôi quy tiên cả rồi.

- Anh không cho phép thằng em biếu bà chị món quà nhỏ này hay sao?

- Bà ấy đã là sư tử Hà Đông, cậu lại tăng cường cho bà ấy một con hổ nữa, sức mấy tôi chịu đựng nổi. Cậu bày vẽ quá làm mình khó nghĩ.

Miệng nói thế nhưng tiểu đoàn trưởng hơi nghiêng người nhìn vào hình đầu con hổ và dòng chữ tiếng Anh trên nhãn hiệu chai rượu.

Đại đội trưởng thấy thế đưa đẩy nhẹ chai rượu về phía tiểu đoàn trưởng:

- Đại úy thông cảm, cái tình với nhau mới là quý. Vật chất chỉ là cái hương hoa làm sao xứng đáng với sự quan tâm của đại úy với gia đình chúng tôi.

Nghe đến câu “sự quan tâm của đại úy với gia đình chúng tôi” tiểu đoàn trưởng sực nhớ công việc trọng đại mình đang mắc nợ đại đội trưởng, anh nhoai người vỗ vai đại đội trưởng:

- Yên trí, mình đã nói với trung đoàn trưởng rồi.

- Đại úy xem ý tứ trung đoàn trưởng thế nào?

- Mình là Kít xinh giơ của ông ấy. Xuôi. Nhất định xuôi.

Vừa lúc ấy, ở phòng bên, nhạc hiệu của Đài Truyền hình trung ương bắt đầu vọng sang - đại đội trưởng biết ý, xin cáo lui.

Tiểu đoàn trưởng cất từng thứ một vào trong tủ. Khi cầm đến chai rượu hổ cốt, anh ghé nhãn hiệu vào gần ánh đèn. Anh không biết tiếng Anh nhưng lại tin rằng, cái gì các đồng chí lãnh đạo cao cấp đã dùng tất nhiên phải tốt hơn các loại rượu thông thường đang bán cho dân chúng.

Tiểu đoàn trưởng có thằng con trai đầu lòng thi trượt vào trường đại học lâm nghiệp, cho cháu học thêm một năm nữa thì vừa tốn kém, vừa chưa chắc cậu cả năm tới thi có đủ điểm hay không, chi bằng làm cái đạo chắc, cứ xin cho cháu vào làm công nhân ở nhà máy dệt vợ anh đang làm, chờ có chuyến nhà máy tuyển công nhân đi học nghề ở Tiệp Khắc, hai vợ chồng sẽ nhờ trưởng phòng tổ chức cài ngay cậu cả vào danh sách. Thế là gọn.

Nhà trưởng phòng tổ chức ở mãi tầng năm khu tập thể Lò Lợn. Tiểu đoàn trưởng gỡ chiếc túi ra khỏi ghi đông, đưa cho vợ rồi cố đẩy chiếc xe lên năm tầng gác, vượt một bà xách cái làn nặng đang hỏi thăm lên tầng 5.

Vừa mở cửa thấy vợ chồng tiểu đoàn trưởng, trưởng phòng tổ chức đã ớn lên đến sống lưng. Đợt này, nhà máy chỉ tuyển có 50 cháu vào học nghề, các ông ở thành, các ông ở quận, các ông ở Sở lao động, ở Sở công nghiệp, ở Ngân hàng đã gửi gắm 15 suất rồi, ông giám đốc xí phần 5 suất nữa, thế mà trong hồ sơ tuyển sinh, trưởng phòng tổ chức đã nhận được 125 đơn của cán bộ công nhân nhà máy. Lại cái đơn thứ 126...

Tiểu đoàn trưởng vừa cười khà khà vừa chìa tay bắt tay trưởng phòng tổ chức, như đang gặp một chiến hữu xa nhau lâu ngày.

- Hôm nay đi họp, tôi về thăm các đồng chí.

Không chờ trưởng phòng tổ chức mào đầu, tiểu đoàn trưởng kéo phéc mơ tuya túi du lịch bày các thứ của ông đa phúc bà mít lên bàn:

- Anh chị thông cảm, con nhà lính cứ một là một, hai là hai, hôm nay đến thăm anh chị có chút cây nhà lá vườn. Các đồng chí ở Hà Nội cứ chê anh em bộ đội không biết làm kinh tế. Mời anh chị thưởng thức gạo nếp hoa vàng chúng tôi cấy, cà phê chúng tôi trồng, đường chúng tôi ép mía, mật ong chúng tôi nuôi.

Tiểu đoàn trưởng đặt tiếp chai rượu Hổ cốt lên mặt bàn:

- Còn chai rượu này, tôi gửi biếu cụ. Xê ri này nấu phục vụ các đồng chí lãnh đạo cao cấp, khi về thăm tiểu đoàn, Trung tướng tư lệnh tặng tôi. Kiến hiệu lắm, lúc trở trời, cụ nhà đau xương, nhức khớp, mỏi gối làm một chén, cơn đau tụ ở đâu là tan ngay đấy, như quân ta truy kích quân ngụy năm 1975 vậy.

Lúc tiễn vợ chồng tiểu đoàn trưởng ra cửa, trưởng phòng tổ chức bắt tay tiểu đoàn trưởng thật chặt:

- Anh là lính, tôi cũng là lính. Anh bày vẽ quá đấy. Anh chị làm tôi khó nghĩ.

Tiểu đoàn trưởng cười khà khà:

- Tôi nay đây mai đó, việc nhà có bà ấy đảm đang. Còn thằng con trai, tôi xin bàn giao cho anh quản. Cứ tác phong quân sự như anh rèn cháu, tôi mới yên tâm.

Vợ chồng tiểu đoàn trưởng vừa bước ra hành lang, một người bê một bọc nặng đã chạy tọt vào nhà trưởng phòng tổ chức, một người khác chậm hơn, đành đứng chờ ở cửa nhà bên. Một người nữa đứng thập thò ở đầu cầu thang, mắt gườm gườm nhìn người đứng ở hành lang, hai chân đứng trong tư thế xuất phát, nhăm nhắm chờ cánh cửa bật ra là “thứ nhất cự lý, thứ nhì tốc độ”, chạy tọt vào nhà trưởng phòng tổ chức. Chuyện này lại thôi không nói nữa.

Nói tiếp về trưởng phòng tổ chức.

Ông ta có cậu con trai tối dạ y như bố mẹ vậy. Tổng kết học kỳ một điểm trung bình môn toán 4,5, môn văn 4, môn sử 5, môn địa 5, ngoại ngữ 2. Cứ đà này thì cậu cả mang dòng máu truyền thống của ông bố tối dạ được ở lại lớp cũ, làm nòng cốt cho năm học sau đến nơi rồi! Đúng mồng một tết, hai vợ chồng trưởng phòng tổ chức xách một làn nặng đến chúc tết cô giáo chủ nhiệm, vật đầu vật tai xin cô giáo quan tâm đến cháu, gia đình không quên ơn cô giáo.

Khách về rồi, cô giáo xách chai rượu Hổ cốt vào khoe với chồng:

- Anh xem loại rượu Hổ cốt này sang lắm, chỉ cung cấp cho cán bộ cao cấp. Thế là ông ấy quý trọng nhà ta lắm.

Ông chồng cầm chai rượu vừa nhìn nhãn hiệu, vừa gật gù:

- BEST QUALITY là thượng hảo hạng. TIGER’S BONES là xương hổ. Đúng là rượu Hổ cốt thứ thiệt rồi!

Nghe đến hai chữ Hổ cốt, Đức đang ngồi nghe chương trình ca nhạc mừng xuân, cũng phải chạy bổ ra:

- Bố mẹ mừng tuổi chai rượu cho con! Đại đội trưởng khen rượu hổ cốt này chữa đau khớp nhức xương kiến hiệu lắm. Từ ngày uống chai rượu của nhà ta đem biếu đến giờ, cụ ông trong quê hương không bị đau khớp, nhức xương mỏi lưng nữa.

Sẵn chai rượu Hổ cốt trong tay, Đức “được nằm” ở Hà Nội hai ngày nữa, để dự trận đấu mở màn Giải bóng đá A1 toàn quốc. Thế là chai rượu Hổ Cốt đã đi chu du được một vòng. Không biết chai rượu Hổ cốt chạy vòng thứ hai được đến cung đoạn nào. Biết rằng: báo Sức Trẻ số đầu Xuân có một bài của Hoàng Sơn:

HỔ ĂN CỎ, HỔ ĂN CÁM

Thời gian vừa qua, nhà máy cơ khí Thái Bình Dương liên kết với nhà máy xi măng Sông Hồng sản xuất loại rượu Hổ cốt. Loại rượu này đang được khách hàng ưa chuộng.

Theo điều tra của chúng tôi, loại cao hổ cốt này chế bằng xương lợn và xương bò. Hai tấm ảnh các bạn xem dưới đây là hố đầu bò, sừng bò và hố móng lợn đầu lợn do chúng tôi chụp được tại chân núi Ta Vũ cách nhà máy xi măng Sông Hồng 2 ki lô mét.

Phải chăng cuộc liên kết kinh tế này đã lai tạo được một giống hổ ăn cỏ và một giống hổ ăn cám để nấu cao, chế biến rượu Hổ cốt đánh lừa đồng bào...

..Đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng, trưởng phòng tổ chức rồi cả đến vợ chồng cô giáo chủ nhiệm  cùng sung sướng thở phào. Tí nữa thì mình uống phải “thứ rượu thổ tả” đó.

V.B - 1987


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 22 Tháng Năm, 2011, 12:03:30 am
                                        Chuyện cũ kể lại
                                         Tác giả :Phan Viết Dũng

“Đó là mối tình đầu của mình”, ông trầm giọng, “và cho đến bây giờ, đã mấy chục năm qua rồi, mình vẫn không thể nào quên được”…

 Ông ngồi đấy, mái tóc điểm bạc, giọng cứ rủ rỉ. Ông kể:

Như phần đông trong đơn vị, mình nhập ngũ vào những ngày đầu tiên khi chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ đánh phá miền Bắc. Vừa tốt nghiệp cấp ba, bọn con trai hăng hái viết đơn tình nguyện ra mặt trận. Có đơn được viết bằng máu. Tuổi học trò thời ấy thật vô tư trong sáng.

Trong ba lô, mình vẫn mang theo tập lưu bút của lớp 10c. Nguệch ngoạc là chữ bọn con trai, nắn nót tròn trĩnh là chữ bọn con gái. Có những dòng lưu bút viết bằng mực tím, bên cạnh là một cánh phượng lấy từ sân trường, được ép khô và tấm hình của người bạn gái. Những ngày ở đơn vị huấn luyện là những ngày  vất vả. Nhưng tất cả rồi cũng đi qua. “Một hòn gạch là một thằng giặc”, mấy cái ba lô đan bằng tre ngày một to ra bởi số lượng gạch trong bao ngày càng nhiều hơn và sức chịu đựng của mình ngày càng tăng theo những cuộc hành quân dã ngoại. Đầu tiên là những ngày leo trèo trên những dãy núi đá vôi Vĩnh Lộc. Hai đôi giày cao cổ rách mướp đá vì tai mèo. Tiếp đến là những ngày chạy bở hơi tai, khói ra lỗ mũi dưới cái nắng tháng tám hun hút gió Lào trên đồi trập trùng ở vùng Minh Sơn - Đô Lương. Sau sáu tháng huấn luyện, đôi phù hiệu binh nhì được gắn thêm một ngôi sao để trở thành binh nhất. Ấy cũng là lúc cất sao, gửi tư trang lại hậu cứ, nhận quân phục mới vào chiến trường.

 Ông dừng lại, như suy ngẫm về những người lính thời ấy. Thỉnh thoảng, một cơn gió ào qua trên tán cây rừng. Có tiếng vượn hú, xa lắm những nghe rõ cũng tiếng chim, tiếng gió như hoà tấu theo câu chuyện kể:

Trên đường vào Nam, đơn vị dừng chân ở một làng nhỏ ven sông. Con sông chảy qua trước làng nước ngọt và xanh đến nao lòng. Phía sau là những dãy núi điệp trùng, nhấp nhô, xanh đậm trong ráng chiều. Tên rất đẹp: Lệ Sơn. Cái tên đó có thể có nghĩa là “núi đẹp”, hay có nghĩa là “giọt nước mắt của núi”. Sau những ngày bom đạn đầu năm 1965, đây là khoảnh khắc bình yên ở làng quê hẻo lánh này. Đêm qua, khi đơn vị vừa đến làng bọn mình được phân công về nghỉ tại nhà dân. Các chị, các mẹ, các em vui vẻ đưa anh em về từng nhà một. Mình cùng thằng Luy, thằng Bao trong tổ ba người đi theo một cô gái. Không nhìn rõ mặt, chỉ thấy trên tấm lưng thon thả là mái tóc đen dày, mượt óng ả, thỉnh thoảng lại lấp lánh dưới ánh trăng. Ông bà chủ nhà đang thức đợi bọn mình. Trên tấm phản đặt giữa sân là một rổ khoai mới luộc còn bốc hơi và một ấm nước chè xanh hãm với gừng. Ông chủ nhà bảo: “Đưa các anh ra bến tắm rửa, Hiếu”. Hiếu đưa bọn mình xuống bến sông trước nhà. Nước sông mát lạnh, lấm tấm sao trời. Rửa chân tay xong, mình thấy tỉnh táo lạ thường, một ngày hành quân vác nặng biến mất. Chén hết rổ khoai luộc, ba thằng đánh một giấc tới sáng.

 Một buổi sáng thật bình yên. Tia nắng đầu tiên chiếu qua những tàu cọ, mang theo màu xanh của lá và tiếng chim cu gay sớm với mình vừa xa lạ, vừa thân quen đến thế. Ông bà chủ nhà và Hiếu ra đồng, Tuấn, em trai Hiếu chuẩn bị đến trường.Ăn sáng xong có lệnh triệu tập cán bộ tiểu đội lên đại đội họp. Lúc này mình đã là tiểu đội trưởng

Nội dung cuộc họp thật ngắn gọn. Bình thường, như những trạm dừng chân khác, đơn vị chỉ nghỉ lại một ngày, chiều lại tiếp tục hành quân. Nhưng ở đây đơn vị sẽ nghỉ lại một thời gian, chờ lệnh mới. Hai ngày đầu tiên được nghỉ ngơi, ngày thứ ba bắt đầu có việc. Đại đội giúp dân đào giao thông hào, làm hầm chữ A, lại có thêm mấy ngày thu hoạch mùa nữa. Công việc khá bận nhưng mà vui. Mình còn vui hơn vì được tất bật bên người con gái mà ngay từ cái nhìn ban đầu đã có nhiều cảm mến. Em không đẹp rạng rỡ, không mạnh mẽ đến táo tợn như những cô gái mà mình gặp ở những vùng quê khác. Hiếu hiền thục, chăm chỉ, duy chỉ có một điều… em ít nói, không một thằng nào trong tiểu đội, kể cả những thằng đẹp trai chai mặt tiếp cận được. Ngoài công việc chung của đơn vị, riêng mình có một công việc khá lý thú là giúp cậu Tuấn ôn thi tốt nghiệp cấp hai. Lúc đầu chỉ một mình Tuấn, sau đó thêm hai đứa bạn cùng lớp. Mình giúp Tuấn những lúc rỗi. Thường là những buổi chiều cơm nước xong, có khi là buổi đêm bên ngọn đèn phòng không đã được che bớt ánh sáng. Những lúc đó mình thấy Hiếu ngoài sân, luôn tay luôn chân. Lúc thì hái rau, lúc thì xay, giã, giần, sàng. Thỉnh thoảng Hiếu lại liếc nhìn vào trong nhà. Bất chợt mình bắt gặp đôi mắt em mở to, trong sáng lạ thường. Cánh áo nâu lúc nào cũng ướt đẫm mồ hôi bó chặt lấy tấm thân chắc lẳn của người con gái đang thì. Những lúc đó, lòng mình xao xuyến lạ. Mấy cái hằng đẳng thức đáng nhớ của lớp bảy dễ thế mà cứ quên ngược, quên xuôi. Phải mở sách ra xem lại mới giảng giải được cho mấy cậu học trò nhỏ. Kể ra, từ ngày đến đây Hiếu đối xử với mình chẳng có gì đặc biệt, cũng giống như thằng Luy, thằng Bao ở cùng nhà. Ông bà, Hiếu và cả cậu Tuấn nữa coi bọn mình như những đứa con trong nhà. Mấy ngày đầu, lấy cơm từ bếp đại đội về bọn mình ăn riêng. Cơm lính, tháng hai mươi bốn cân có phần dư dả. Thức ăn thì lúc nào cũng thịt hộp, bột trứng, ngán đến tận cổ. Biết ý, hôm thì Hiếu cho bọn mình cơm hến nấu với rau mùng tơi. Hôm thì bát canh rau tập tàng nấu với cua đồng, ba đứa tranh nhau không thừa cặn. Canh rau với cà ghém, với quả trám chần qua nước sôi, có ít rau thơm lùa với cơm, bát mắm. Một lần mình đề xuất, buổi sáng cả nhà bận công việc đồng áng không theo giờ giấc của bộ đội được, còn buổi chiều anh em xin được ăn chung với gia đình. Ông bà, đặc biệt là Hiếu không chịu nhưng bọn mình bê cơm về cứ đợi gia đình cùng ăn luôn thể. Vui nhất là Tuấn, lúc đầu cậu còn sợ chị Hiếu, sau được bọn mình động viên, có vẻ hợp với mấy món cơm hộp của các anh. Nhìn rá khoai cõng cơm của gia đình mình thấy thương quá. Lúc đầu hơi ngại, nhưng sau đó cứ mỗi lần nhận được cơm về mình lại vội vàng trộn lẫn cơm bộ đội vào rá cơm gia đình với lý do là thực hiện khẩu lệnh “cùng ăn, cùng ở, cùng làm” Hiếu mới chịu. Em nguýt mình một cái rõ dài. Mà cơm độn khoai cũng có hương vị của nó. Vừa ngọt, vừa bùi, chén mãi không biết no. Ăn quen đâm nghiện, mình cứ nhặt những lát khoai nhấm nháp với cà ghém cũng phải được mấy lần xới. Mê nhất là món khoai xéo mỗi sáng. Lát khoai thái mỏng, phơi được nắng, trắng thơm, nấu với ít đỗ đen, ăn với vừng không biết no. Biết ý, sáng nào Hiếu cũng dành phần cho mình một bát cái hương vị làng quê ấy.

 Giặc Mỹ bắt đầu đánh mạnh miền Bắc, chiến trường miền Nam quân ta đang đánh lớn. Lính ta bắt đầu sốt ruột. Kể ra chờ đợi lâu cũng chán, nhưng đợi đơn vị phải thay đổi nhiệm vụ. Mỗi ngày, bọn mình phải lên lớp  một buổi về phong tục, tập quán và học cả tiếng nước bạn Lào. Lính tráng bắt đầu tập tọng đánh vần những con chữ loằng ngoằng, lạ lẫm. Lính ta nhanh lắm, nhác thấy các em trong làng đã xổ ra hàng tràng. Nào là noong ngăm lai (em đẹp lắm, nào là noong hắc ái bò (em yêu anh không). Chị em trong làng chỉ biết cúi mặt, đấm vào lưng nhau thùm thụp rồi té chạy xuống bến nước, thùng xô va nhau loảng xoảng. Biết ngày sắp lên đường, nhưng chưa một dịp nào được nói chuyện với Hiếu lâu một chút. May quá, sáng đó đơn vị được nghỉ, Hiếu rủ:

- Các anh đi bẻ bắp với em đi.

Thằng Luy, nháy mắt về phía thằng Bao:

- Anh với anh Bao phải viết cho xong báo tường. Em đi với tiểu đội trưởng đi.

Lý do chính đáng gớm, nhưng mình cũng thầm cám ơn hắn cho mình có dịp được gần Hiếu. Băng qua đường tàu sau làng là một con đường mòn dẫn vào một thung lũng giữa những dãy núi đá vôi điệp trùng. Vừa đi em vừa kể:

- Lệ Sơn có tới 99 ngọn núi. Ông bà kể rằng, xưa có 100 con phượng bay đi vào đất kế đô. Tiếc là chỉ thiếu một ngọn núi, một con không có chỗ đậu, cả đàn phải bay đi. Nếu không làng này là đất đế đô đó anh.


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 22 Tháng Năm, 2011, 12:06:03 am
                                       Tiếp theo :

- Sao gọi là Lệ Sơn?

- Em nỏ biết. Nghe nói xưa làng trồng vải để tiến vua, trong núi còn nhiều gốc vải to lắm.

- Đúng rồi, lệ chi là cây vải. Người ta gọi quả vải là giọt nước mắt của cây. Chắc vậy mới có tên là Lệ Sơn.

- Thiệt hả anh? - Em lắng lại, nhìn xa xăm lên những chóp núi. Mặt trời lên rực rỡ nhưng nét mặt em thoáng buồn. Tự nhiên mình cũng thấy nao lòng, buột miệng hỏi:

- Sao em không học tiếp?

- Học răng được anh. Hết lớp bảy là gắng lắm rồi. Cả nhà chỉ mong cho cu Tuấn học đến nơi đến chốn. Còn em… con gái mà.

Đến rẫy, em thoăn thoắt bẻ những bắp ngô chắc hạt. Chỉ một loáng đã đủ gùi của em và của tôi. Trên đường về, em vui trở lại:

- Anh còn trở lại, khi nào em đưa anh đi thăm động Chân Linh, thiêng lắm. Tục truyền trong động có cái tráp bằng vàng của tiên nữ bị chìm xuống đáy nước. Một vị đạo sĩ muốn cướp lấy, vì vậy đã xảy ra một cuộc quyết chiến. Dấu tích còn lại là những vết chém dưới Lèn đứt chân và trên núi vẫn còn hình của nàng tiên và vị đạo sĩ hóa đá. Trong động có đủ hoa thơm cỏ lạ đẹp lắm. Nhưng người ta bảo vô nó phải là người có thiện tâm. Bởi vậy có mấy câu thơ truyền khẩu: “Động môn vô tỏa thược/ Tục khách bất tằng lai”. Cha em giảng, có nghĩa là: “Cửa động không then khóa. Tục khách chẳng dễ qua”, đúng không anh?

- Đúng vậy - Mình trả lời em.

 Về đến nhà, câu chuyện của Hiếu cứ ám ảnh. Mình liên tưởng đến nàng tiên nữ Chân Linh với người con gái của cái làng Lệ Sơn ấy. Rồi tự hỏi, có phải lòng em cũng không cửa khóa, mong sao anh không phải là tục khách. Nhiều lần mình mỉm cười với cái ý nghĩ vớ vẩn ấy làm cho hai thằng cứ cật vấn mãi về cái buổi sáng đi bẻ bắp trên rẫy ấy.

Tháng Chạp, không khí những ngày giáp tết đến gần, cũng là lúc đơn vị được lệnh lên đường. Sáng sớm, đại đội thông báo nhận quân trang, lương thực, vũ khí. Để lại những bộ quần áo đi B, chiếc mũ tai bèo của bọn mình được thay bằng bộ quân phục Pa-thét Lào với chiếc mũ lưỡi trai lạ mặt. Chiến trường C đang vào mùa khô, đơn vị phải lên đường gấp. Bộ đội khẩn trương, cả làng cũng nhộn nhịp. Hiếu ra đồng từ sớm, nửa buổi cày đã thấy em về, thì thụp giã cối gạo mới. Cậu Tuấn định bỏ buổi học, nói mãi mới cắp sách đến trường. Được hai tiết học thấy cu cậu có mặt ở nhà, hăng hái đi bẻ lá nguỵ trang cho bọn mình. Mình xoa đầu cu Tuấn:

- Phải thi cho đỗ Tuấn nhé.

- Nhất định em sẽ lên đại học - Tuấn trả lời mình rồi hắn quay về phía Hiếu - Phải không chị Hiếu?

Hiếu vẫn lúi thúi trong bếp. Mình tần ngần trước cửa bếp, rồi mạnh dạn nói với vào:

- Anh đi nghe Hiếu.

- Dạ - Em ngước nhìn, đôi mắt đỏ hoe. Không biết vì khói bếp hay là vì em đã khóc.

Nơi tập kết là sân kho hợp tác. Bộ đội, dân làng bịn rịn chia tay. Những gói cơm mới được bọc lá chuối tươi từ tay các cô gái làng cứ dúi vội vào tay những chàng lính trẻ. Mình cố ý đợi, rồi cuối cùng Hiếu cũng đến. Em ngơ ngác, dõi tìm từng hàng quân. Em chạy đến chỗ bọn mình. Hiếu trao cho Bao và Luy hai đứa hai gói mo cau. Mình chỉ nghe loáng thoáng: “Hai anh đi mạnh khỏe”. Còn mình đứng đầu tiểu đội, em cúi đầu chạy lướt qua, không một lời tạm biệt. Mình buột miệng gọi:

- Hiếu!

Em vẫn không quay đầu lại. Bóng em lúi chúi, hấp tấp trên con đường làng và xa dần… Đi một quãng, mình ngoái lại, Lệ Sơn lặng im trong chiều tím. Có lẽ mình sẽ không bao giờ trở về cái làng quê ấy nữa.

 Mười lăm phút nghỉ tại chỗ. Đơn vị tản ra hai bên đường. Hương rừng đặc quánh sương đêm. Mình tựa lưng vào một ổ mối, chẳng buồn cởi ba lô, súng đạn.

- Tiểu đội trưởng ăn cơm với chúng tôi. - Một giọng ai đó mời chào.

- Cơm nếp của chị Hiếu, ngon lắm - Giọng thằng Bao lém lỉnh.

- Cám ơn, tôi không đói, các cậu cứ tự nhiên.

Mà có đói làm sao mình nuốt nổi, thật ê chề, buồn chán. Mình biết đó là mo cơm được nấu bằng hạt lúa nương. Tháng mười đói nước, no nắng, hạt lúa sắt lại được em tuốt bằng tay rồi xay, giã dần sáng, cơm dẻo và thơm lắm. Giá như mình cũng có được một mo cơm em trao, tối nay mình cũng sẽ không ăn, chỉ ngửi thôi. Ngửi đến no mùi hương của em. Mùi sương, mùi của nắng, của cả hương bồ kết mỗi tối em trải trước sân, rồi quay quay mái tóc hong gió. Nhưng mình đâu được diễm phúc đó…

 Nửa đêm, đến trạm nghỉ ngơi. Đơn vị rời khỏi đường lớn đi vào một nhánh đường mòn. Qua một sườn đồi thoai thoải, trạm giao liên đóng bên bờ một con suối cạn trong cánh rừng già. Đội hình tản ra, phát cây, căng võng. Mình mở ba lô… Trời ơi, cái gì thế này? Một chiếc mo cau căng tròn còn hơi ấm. Mình nâng lên áp vào mặt, vào má, vào môi. Không phải cơm nếp. Một mo khoai xéo, thơm bùi, thứ mà mình thích nhất trên đời. Một phong thư rơi trên cỏ, mình nhặt lên. Móc vội tăng võng, mình chui vào chăn bấm đèn pin lần mở phong thư. Một lọn tóc nho nhỏ, đen huyền, quấn gọn như một chiếc vòng tay. Một trang giấy học trò chỉ vỏn vẹn có mấy chữ: “Em chờ anh! Hiếu”. Mình áp phong thư vào ngực rồi  mở ra mở lại, đọc đi đọc lại. Chỉ có mấy chữ đó thôi. Nét chữ của em như hạt lúa nương mẩy tròn.

Mùa mưa năm bảy hai đơn vị về hậu cứ an dưỡng, chuẩn bị nhận nhiệm vụ mới. Dừng chân ở một làng cách Lệ Sơn không xa mình hăm hở trở lại tìm em. Thằng Tuấn đã vào đại học. Cha mẹ Hiếu đón mình giàn giụa nước mắt. Còn em, từ tấm hình trên bàn thờ nhìn mình như ngày nào, không nói, e ấp và thoáng buồn. Bà mẹ kể, mấy tháng sau khi bọn mình đi, Hiếu vào thanh niên xung phong. Một năm sau gia đình nhận được giấy báo tử. Em nằm lại dưới chân núi Phu-la-nhích ầm ào bom dội. Mình thắp nén hương, nhắn gọi: “Hiếu ơi, anh đã về”. Rồi mở túi áo ngực, mình đặt lên bàn thờ vòng tóc nhỏ, một phần máu thịt của em…

 Ông kể chuyện này vào một buổi chiều cuối năm, trong một lần chúng tôi có mặt trên trọng điểm ATP, gần nơi Hiếu ngã xuống. Đó là một ngày đã đóng cửa rừng. Tết đến, rừng cô quạnh lắm. Biết là chuyện cũ nhưng cứ mạn phép ông mà chép lại như thắp một nén hương cho những mối tình mãi còn với người còn sống.

 Phan Viết Dũng


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 31 Tháng Năm, 2011, 08:30:02 pm
                                  Trò đùa của tạo hóa
                                  Tác giả : Nguyễn Hoa
    Tôi viết truyện này vì dường như cuộc đời, rất nhiều việc, như là tạo hóa đùa giỡn con người.

     Nhà văn PHẠM HOA


Quê hương tôi, từ xưa thường có câu: Trai núi Để, gái làng Đông.Văn vẻ thế nhưng các cụ chỉ nói vắn tắt: Con gái ở đó đĩ thõa. Tôi không đồng tình với cái nhìn dân dã đó. Thực chất là nhựa sống tràn trề trong cơ thể các thiếu nữ. Bản năng sinh tồn dư dật của họ. Ở cái làng thật lạ. Cô gái nào cũng xinh đẹp, đẫy đà, hấp dẫn một cách gợi tình.

 Tôi có quen Loan, một cô gái làng Đông điển hình. Từ những ngày còn nhỏ, cô đã trội hẳn so với bọn con gái cùng lứa tuổi. Hình hài cân đối, trắng trẻo, cô còn hơn đứt bạn ở đôi mắt xanh nhìn mãi không tới đáy! Con bé sẽ sung sướng. Nhiều người nghĩ vậy. Cũng không ít người ngờ vực. Hình như cái gì “quá” cũng hỏng! Mặc cho mọi lời bàn bạc, Loan vẫn lớn lên xinh đẹp, tự nhiên, mà nghi ngại. Con bé nó làm sao ấy! Có lần nó ra thị xã, bà còn lấy than bôi vào mặt. Cô Loan cười rất tươi, nhưng trong bụng thì chê mẹ lẩm cẩm. Ai lại thế! Nhưng bà cương quyết hơn trong việc bắt con bé mặc áo vá khi đi làm dân công đắp đê.

Con sẽ sung sướng cho mẹ xem! Loan đinh ninh như vậy. Cô xinh đẹp mới là một điều kiện. Cô còn cảm thấy như vậy nữa. Chắc chắn là khác! Bao nhiêu lần chơi trò công chúa, vô tình nhưng cô đều bắt thăm được cả. Vận may có dành cho đứa nào trong đám đông ấy đâu. Và ngay lúc này thôi. Loan đã hoàn toàn là một thiếu nữ, cô đang đi trên đường cái. Trước mặt cô là bóng người không rõ đàn ông hay đàn bà. Cô mỉm cười và chơi trò may rủi. “Lạy vua Từ Hải, lạy vãi Giác Duyên, lạy tiên Thúy Kiều...” bài lạy khá quen thuộc của cô. Cô nguyện thầm: Nếu người đang đi về phía ta là đàn ông, thì các đấng thần linh trên cao xa hãy chứng giám cho con được sung sướng... Con cũng đoán cái bóng đang đi là đàn ông. Sau đó cô choàng mở to mắt. Bóng người mà cô đoán đã tới gần. Nhưng sao thế này: Con người đi qua mặt cô có nét của đàn bà trên mặt. Nhưng chân tay và dáng đi thì không! Chợt cô hoang mang... Đây là một người đàn ông! Tóc, gò má, dáng đi rắn rỏi. Nhưng ngực ông ta lại lùm lùm thế kia? Loan ngoái lại, cứ cố khẳng định mình đúng.

Càng ngày, càng có người xí phần Loan cho con em mình. Họ vào tận nhà làm quen. Họ đánh tiếng...

 
 Trong số những kẻ đánh tiếng dành Loan cho con mình có bà Thuận, vợ đại tá Lý, liệt sĩ. Nói đến bà Thuận vùng tôi ai cũng biết. Đó là người đàn bà đẫy đà, da dẻ tươi tốt, tính tình xởi lởi. Bà nổi tiếng bởi đẹp, bởi là vợ đại tá. Ngày đó vùng tôi chỉ mỗi ông Lý là cán bộ cấp cao quân đội. Bà còn có tiếng bởi sự gia giáo, thủ tiết thờ chồng, dạy thằng Tuấn trưởng thành, thằng Tuấn, con trai của bà và ông Lý đẹp như cái mầm cây. Tuổi con nít, Tuấn vừa có dấu hiệu lêu lổng, bà đã phải nhờ ông chú đánh cho nó một trận. Trận đòn quá tay, hơn với sự hình dung của bà Thuận. Thành thử thằng bé chết khiếp. Bà Thuận giận ông chú, nhưng bấm bụng chịu. Cứ thế, Tuấn lớn lên rồi vào đại học. Cha là liệt sĩ, Tuấn được miễn giảm nghĩa vụ. Bà Thuận đánh tiếng là đánh tiếng cho Tuấn. Một thanh niên đẹp trai, cao lớn lại xuất thân từ gia đình có nguồn gốc chính trị và kinh tế vững chắc như thế thì cả vùng ai còn bì kịp.

 Bà Thuận cũng tin như vậy. Do đó, bà tìm hiểu tính tình con bé. Biết nó tốt bụng, dễ tính cũng là được. Ngủ dậy muộn thì chả lo. Miễn có người con gái khỏe, tốt tính, về nhà, bà rèn sau. Một hôm bất ngờ bà gặp Loan đi cùng đường. Bà biết nó, chứ nó đâu biết bà. Bà chủ động lùi lại phía sau để xem người của con bé. Bà nhìn kỹ vai, hông, chân con Loan. Dáng đi của con bé thật mềm mại, uyển chuyển. Eo thắt lại, nhưng đến mông thì phình ra, tròn trịa gọn gàng. Với con mắt thật tinh đời, bà biết đây là con mái tốt. Da dẻ mát mẻ, trắng trẻo, không vướng víu, gò bó thì có lợi cho việc sinh nở.

Nhưng tận sâu trong cảm giác, bà Thuận vẫn còn lấn cấn. Có một cái gì đó chưa được rõ, chưa chắc chắn. Là người đàn bà sắc sảo, giỏi giang, tự tin vào hiểu biết của mình, bà cả Thuận nhận ra rằng, chưa nên vội vàng kết luận.

Thiên hạ đồn đại không sai: Bà Thuận quả là đáo để. Bà vừa có một quyết định táo bạo: Phải xem lại người con bé một lần nữa. Xem trong tư thế con bé trần truồng: Chủ yếu là muốn xem ngực nó. Đối với bà, ngực chứa toàn bộ cái tốt xấu hay dở của một đứa con gái. Nếu ở ngực khoảng cách hai vú hẹp thì người đó sức khỏe yếu. Khoảng cách giữa hai vú rộng, đầu vú vểnh ngang thì cô gái ấy khó dạy như con ngựa bất kham. Còn nếu hai đầu vú nằm ngay ngắn chĩa thẳng vào mắt ta - cô gái ấy là vàng. Người như vậy sẽ trung thực, ngay ngắn, không biết làm điều xấu, điều ác. Ấy là chưa kể đầu vú to hay nhỏ, đỏ hay đen, tròn hay méo. Đầu vú nhỏ, tròn, màu hồng, cô gái ấy dẻo người, mềm tính, nuôi con khéo léo. Vô phúc cô nào đầu vú đã đen lại to, lại méo, tính tình vụng về, đụng đâu vỡ đấy, làm gì hỏng việc ấy, nuôi con không sài đẹn cũng chậm lớn. Cô gái nào như vậy, mặt có đẹp như vầng trăng cũng xin vái chịu! Bà Thuận đinh ninh điều mình nghĩ là có thật. Hình như bà ngoại dạy bà thế, vì bà cũng chiêm nghiệm như thế. Rồi bà xuống làng Đông gặp bà bạn. Bà này là dì của Loan. Vừa nghe xong, người bạn của bà Thuận trố mắt ngạc nhiên. Nhưng bị nài, bị ép, lại nể bạn, dì của Loan cũng thuận lòng.

 Hôm ấy, Loan sang nhà dì giúp sửa lại chuồng lợn. Gần trưa, nhỡ tay dì làm đổ cái vại đựng nước tiểu. Cô bé kêu rú lên! Nước tiểu bắn tung tóe vào cả người dì và cháu, Loan vẩy tay, ái ngại nhưng cười rất vui. Nghe lời dì, cô xăm xắn đi ra ao để tắm gội.

Vườn vắng lặng. Ao nước trong vắt. Chỉ có con chim vàng anh nhảy nhót trên cành xoan. Loa chợt mỉm cười khi thấy khuôn mặt mình in trên mặt gương sáng loáng. Cô đưa mắt nhìn quanh trước khi lội xuống nước. Một thoáng nghi ngại lẫn thích thú. Ùm! Nước bắn lên tung tóe.

Từ sâu trong bụi mía, tim bà Thuận đập thổn thức. Mặt bà có vẻ đăm chiêu. Bà đã thấy được tất cả những gì cần thấy. Con bé có đủ ba cái đen và cả ba cái đỏ. Các cụ bảo như vậy thì tốt lắm. Bà thấy yên tâm về Loan. Nó cũng chỉ như bà ngày xưa là cùng! Có khi còn thua kém. Và hình như bà Thuận thấy nao nao. Bà thấy mệt mỏi và buồn xỉu. Từ sâu trong cõi vô thức bà chợt thấy mênh mang... mênh mang...

 Đại tá Lý từng là người đàn ông mẫu mực về mọi phương diện. Thân thể ông cũng cường tráng khó ai bì. Và như thế ông cũng mới lấy được chị Thuận đẹp có tiếng, hai người từng có trên mười bảy năm đầy đặn, hạnh phúc không chê vào đâu được. Sau khi chồng hy sinh, có đau đớn, có tự hào, nhưng bà Thuận gầy rộc đi. Phải mất một năm, bà mới gượng dậy được. Giống cái cây bị bão quật, bà mọc lại cành, trổ hoa, tươi xanh. Thời gian ngắn, bà lại lấy lại phong độ cũ: đẫy đà, hồng mượt, ung dung, đĩnh đạc. Bà lại đẹp vẻ đẹp riêng: hấp dẫn và bề thế. Phảng phất nét quý phái. Nhưng đây là bề ngoài. Số phận lại đặt cược để trêu chọc. Bốn mươi tuổi, bà Thuận đang bước vào độ tái xuân. Toàn bộ sinh lực được huy động, được sử dụng. Thành thử thân thể bà càng đẹp ra, hai mắt long lanh. Nói theo lối nói của nhà sinh học thì đó là tiếng hót của con gà mái, tín hiệu phát ra để đi tìm tín hiệu!

 Ngoại tình thì không bao giờ. Dứt khoát là như vậy. Nhưng bà vẫn mơ ông Lý về. Bà lại ôm chầm lấy ông bằng cảm giác da thịt thật sự. Cả khối người, hai vòng tay, đùi ngực va chạm, xoắn xiết lấy nhau. Bà tận hưởng cái tuyệt diệu của tạo hóa: cứng và mềm, rắn và nhũn, tung và hứng, trên và dưới, tấn công và bị động. Nhiều lúc người đàn bà hổn hển, mồ hôi đầm đìa với cuộc tình mà tạo hóa nào đã buông tha! Có sự tính toán nào cân đong nổi được sự mất mát này chăng? Và bao giờ cũng vậy, tưởng hết tột đỉnh sự mãn nguyện, số phận lại thức tỉnh bà. Có lẽ phải nửa phút gì đó, bà Thuận mới ngơ ngác nhận ra mình vừa qua giấc ngủ. Bà giật thót tim khi thấy bóng người đàn ông lù lù tiến tới. Những bốn người. Thì ra họ có mặt trong nhà từ lúc nào đó. Bốn bóng đen im lặng từ từ tiến lại. Đồ đểu! Đồ ăn cắp. A...! Bà kêu lên khiếp đảm. Nhưng ngay lúc đó, bà biết mình nhầm. Không có ai khác ngoài bà. Bốn cây cột nhà lặng lẽ, vô tri vô giác được rọi qua ánh trăng xanh lét mồn một.

Đó là đêm! Còn ngày, bà lại nghiêm ngắn chững chạc, bề thế. Đố thiên hạ bắt gặp bà có ánh mắt lẳng lơ, đa tình hay một câu đùa sàm sỡ. Trừ một lần. Tất nhiên là không ai biết. Đêm trăng vằng vặc! Ôi những đêm trăng chết tiệt bao giờ cũng gợi tình, hướng người ta, bao che và dụ dỗ người ta vào chuyện nhố nhăng. Thoạt đầu tiếng sáo trúc thoang thoảng. Thật chỉ nghe không rõ, tiếng sáo lại chìm đi. Hình như theo gió, tiếng sáo lại hiện lên hết sức vu vơ. Bà thừa biết tiếng sáo ấy của ai! Lão Hoành thợ đấu. Một gã tay vo miệng lốm, dỡ nhà để ăn. Nhưng người lão đậm chắc như được làm bằng lim bằng sến. Có lần nào đó, bà Thuận trông thấy hai chân lão đen dài, chắc nịch, đánh đều đều trên đường. Đúng như vậy, có một lần! Lão Hoành ở một mình, không có vợ, nhưng đã nằm với khối đứa con gái dễ dãi đĩ thõa trong làng. Cũng là một thằng mất dạy! Tiếng sáo lại hiện lên hết sức vu vơ.

 


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 31 Tháng Năm, 2011, 08:32:56 pm
                                Tiếp :

Mặt lão Hoành thì xấu, đầu óc lại đần độn. Nghe đâu đi lính, tập bắn súng mãi không thuộc, phải loại về. Đúng là thứ đầu óc ngu si tứ chi phát triển. Cái khoản kia hắn lại vung vãi cho thiên hạ. Gió chợt đưa tiếng sáo dội lên vu vơ nhưng da diết một cách kỳ lạ. Thậm chí có thể tưởng tiếng sáo được thổi ngay ở đầu ngõ. Ngọn cau chợt tung đành đạch. Trăng vẫn xanh lét. Bà Thuận nhổm dậy. Bà đi ra ngõ. Tất nhiên vẫn đàng hoàng, chững chạc. Có lẽ phải nhờ cái lão này sửa lại cho góc nhà bị dột! Nhưng sao lại đi đêm hôm? Ban ngày gặp hắn làm sao được? Bà Thuận vững dạ hơn khi tìm được cái lý để đàng hoàng.

 Bà đã đi vào sân nhà lão, mạnh dạn và dứt khoát, bà đến để có việc thuê lão Hoành. Bà đã thấy lão. Cái khối đen chắc dài ở chiếu. Bà đã chạm phải cái mùi đàn ông, quen thuộc, nhưng hơi gắt, đậm, của lão. Có gì không chị? Tôi nhờ anh sửa cho cái mái nhà bị dột. Lão Hoành cười, hàm răng trắng nhởn, đần độn. Mùi đàn ông trong cơ thể sến lim của lão Hoành lại bốc lên. Một phút bối rối. Nhưng bản lĩnh và đức hạnh của bà Thuận chợt lên tiếng. Thỏa thuận xong với lão, bà Thuận bước từng bước dứt khoát ra ngõ. Đi như trôi về nhà, tiếng sáo của lão Hoành lại vu vơ đến phát điên lên được. Sao đàn ông mùi mồ hôi giống nhau thế? Từng có lúc bà úp mặt vào ngực ông Lý. Cái mùi nồng nồng quen quen thấm sâu vào bà, có lúc khó chịu, nhưng bây giờ, bà đang nhớ, thậm chí đang khổ sở vì nó.

  Sáng hôm sau, lão Hoành đến. Bà Thuận vẻ mặt lạnh tanh kẻ cả. Bà mở cửa cho gã đàn ông vào. Bà đang cố chống lại chính mình. Nhưng cái mùi ấy “mùi” con đực chính cống lại phảng phất ngay sát bên cạnh. Trái tim bà như bị vực dậy, được khởi động. Thân thể bà nóng dần lên. Bà cầm lấy tay lão tự nhiên đến vô ý thức. Chỗ này này. Rồi bà kéo lão vào sâu nữa gian trong. Nơi tối tăm và sực mùi ẩm mốc, mùi gỗ mục. Vai bà chạm phải lão. Sự đụng chạm ít ỏi ấy khiến bà thở dốc! Cái mùi đàn ông đậm một cách gay gắt. Vú bà chợt quệt vào cùi tay lão Hoành. Cái cùi tay rắn như sắt ấy tạo một sự dễ chịu. Bà muốn buông thả theo dòng nước. Tạo hóa vẫn không tha, vẫn nhử mồi vờn bà, giễu cợt và hành hạ con người. Tim bà đập mạnh. Hơi thở ngợp trong lồng ngực. Hình như lão Hoành ngửi thấy cái mùi ấy. Mùi con mồi chín nẫu. Lão quay lại cười nhăn nhở: cho rờ cái! Lão nói rồi cầm ngay lấy tay bà Thuận. Lập tức bà Thuận tỉnh như sáo: Ấy chết... đừng có vớ vẩn....

Chính đêm đó, không kìm được, bà Thuận ôm gốc cột khóc vật vã. Chính nó tiễn đưa bà êm đẹp không tai tiếng gì qua tuổi tái xuân rực rỡ, cháy đỏ.

Thêm hai tuổi, bà Thuận chợt thấy nực cười! Bà đã qua hẳn dòng sông dục tình cuồn cuộn tạo hóa bày đặt để đùa giỡn với con người. Kể từ đó, bà thấy thanh thản, nhẹ nhõm. Bà tự hào về mình. Trong vùng người ta đua nhau ngợi khen bà trong sạch thủ tiết với chồng. Bà mỉm cười thừa nhận sự danh giá đó. Bà vẫn giữ phong độ ung dung thư thái.

Và lúc này, bà đang kén vợ cho thằng Tuấn.

 Nghỉ hè, Tuấn đang giội ào ào nước lên đầu, mẹ đủng đỉnh bảo:

- Tối nay con có việc đi với mẹ đấy. Không nói nhiều và không phải bàn. Bà ra lệnh để Tuấn biết thu xếp. Anh chàng sinh viên đẹp trai ấy ngớ ra.

- Đi đâu hả mẹ?

Đủng đỉnh nhưng vẫn tươi tắn, bà mẹ nhắc lại.

- Đi có việc.

Bỏ mẹ! Tuấn thầm chột dạ. Tối nay anh đã  có hẹn. Nói dối mẹ chăng? Không được! Có trời cũng không lừa được bà. Rồi anh tự thu xếp: Đầu tối đi với mẹ. Sau một lát ở đó, anh sẽ đến gặp người bạn tình của mình. Người bạn tình anh vừa biết tên. Số phận run rủi cô đến với anh. Tuy mới gặp nhưng hai cái nhìn đã nóng bỏng như có lửa. Cô thổn thức, nhưng đầy sự e ngại. Đấy mới là cuộc gặp chủ yếu của đợt nghỉ hè này. Niềm vui, sự hy vọng của anh. Còn mẹ! Chiều bà thôi, ta sẽ thu xếp sau.

Hôm qua, đang trên đường về nhà, tự nhiên nghe đánh đoàng một cái. Quay lại Tuấn đã gặp cô thiếu nữ ấy cúi xuống bên lốp xe bị nổ. Anh sửng sốt: Quê anh sao lại có người hoàn hảo như vậy! Gương mặt trái xoan, mái tóc mềm bay lõa xõa. Vẻ đẹp trẻ trung và hoàn hảo. Một thoáng lưỡng lự, Tuấn xuống xe để giúp đỡ cô bé. Cái nhìn đầu tiên khiến Tuấn không thể nào bình thường được. Có thể vì cái nhìn mạnh như một tia chớp, gây sự bùng nổ khác thường trong anh. Cái nhìn ấy sáng lóe lên, e lệ, có chứa cả thiện ý lẫn sự rụt rè bối rối. Sau đó Tuấn đã vận động cô gái ngồi lên sau xe. Anh đã làm công việc cồng kềnh phức tạp chưa ai dám. Vừa dắt xe, vừa đi xe, vừa lai cô gái. Hai người đã “chết” vì nhau từ phút đầu tiên. Tình yêu của tuổi trẻ là như vậy. Nó bốc cháy tự nhiên và được thừa nhận từ phút đầu. Tên em là gì? Tuấn hỏi cô gái. Thanh! Cũng rụt rè, nhỏ nhẹ cô bé đáp. Hình như cô vẫn giữ lại một sự phòng thủ hờ hững. Em ở làng nào? Làng Xuân. Cô gái đã nói dối Tuấn. Khi đưa tới làng Đông thấy cô dắt xe vào ngõ có cây gạo, Tuấn mới mỉm cười nhận ra sự nói dối của cô gái. Tuy thế, cô vẫn lặng lẽ gật đầu, hai mắt long lanh đồng ý cho anh chàng tới chơi. Suốt một ngày đêm, Tuấn hồi hộp chờ đợi cuộc gặp lại với Thanh.

Bà Thuận cũng đưa Tuấn xuống làng Đông. Khi bà rẽ vào ngõ có cây gạo anh đã chột dạ. Không có lẽ cô Loan mẹ giới thiệu lại cùng nhà với Thanh? Trớ trêu thay, tạo hóa lại một lần nữa tạo nên sự trùng hợp ngẫu nhiên đến lạ lùng. Khi bà mẹ trong nhà gọi Loan bê nước cho khách thì tim Tuấn như ngừng đập. Cô gái sẽ xuất hiện trước hai mẹ con Tuấn là ai đây? Loan hay Thanh? Rồi cô gái từ từ đi ra. Chính là Loan. Bối rối, nhưng sung sướng chan chứa trong ánh nhìn, cô bé lướt mắt qua Tuấn lễ phép chào mẹ anh, khoảng một phút gì đó, lui vào nhà. Thì ra Loan nói dối Tuấn. Tên cô không phải là Thanh.

Sau này khi thuộc về nhau, Loan nói: Em yêu anh ngay từ lần gặp đầu tiên. Tuấn đáp: Anh cũng thế. Họ vùi vào nhau. Tuấn tận hưởng sự thơm tho tuyệt vời của trái đời dành cho anh. Hôn lên mặt, lên mắt, lên tóc, vào gáy, vào ngực. Tuấn vẫn thấy khao khát, chưa thỏa. Anh ôm riết lấy Loan vào lòng. Hình như anh cảm thấy sẽ có một lực lượng nào đó sẽ cướp mất Loan của anh. Vì thế, phần nhiều thời gian anh dành cho Loan.

Anh còn có ý tranh thủ, gấp gáp tận hưởng sự ngọt ngào có được từ Loan.

Mặc Tuấn vòi vĩnh được thỏa mãn cái việc ấy. Loan cốc vào đầu giễu cợt, cảnh cáo. Anh vẫn như con thú say máu đến ngơ ngác. Lần đầu tiên bà Thuận cãi với Tuấn:

- Con phải sống cho điều hòa đúng đắn. Dạo này mẹ thấy con có vẻ buông thả!

Bà Thuận gay gắt cảnh cáo Tuấn. Yêu con, bà lo cho nó thật sự. Thân thể thằng bé hao đi đến một nửa. Bà xót xa chăm sóc Tuấn. Có đêm bà còn lặng lẽ ngồi bên đứa con trai, dùng khăn chấm từng giọt mồ hôi cho nó. Chợt bà nhận ra một điều: Sự hấp dẫn chết người của con Loan làm hao kiệt Tuấn chứ ai? Mặc cho việc chuẩn bị đám cưới vẫn tiến hành, trong sâu xa, bà Thuận chợt thấy con Loan như mụ phù thủy vậy. Chính nó, cái con bé bà đã lựa chọn ấy, hãm hại thằng Tuấn chứ ai!

 Đám cưới khá to.

Người giúp việc cuối cùng ra khỏi nhà trả lại sự vắng lặng vốn có. Tuấn rửa mặt mũi, chân tay sắp sửa đi ngủ. Bên trong cánh cửa buồng kia Loan đang chờ anh. Giới hạn cuối cùng bao nhiêu lần định phá mà không phá được đang chờ anh. Sự nguyên vẹn trinh trắng của người vợ yêu quý đang chờ đợi. Giây phút đẹp nhất trong đời một con người đang đến từ từ trong đêm nay. Loan sẽ không cốc vào đầu, hoặc không cưỡng được nữa. Hai người chỉ chờ đợi đến nín thở giấy phút này thôi.

Phơi khăn mặt, giục mẹ đi ngủ, Tuấn vừa bước vào hướng buồng thì có tiếng gọi:

- Tuấn.

- Dạ.

- Lại đây.

Tiếng gọi nghiêm trang dứt khoát của bà mẹ khiến Tuấn như sực tỉnh.

- Có gì à mẹ.

- Có.

Mẹ anh vẫn ung dung thư thái ngồi trên sập gụ. Bà chưa có ý gì đi ngủ. Tư thế của bà chuẩn bị cho cuộc nói chuyện dài. Tuấn có vẻ sốt ruột.

- Ngồi xuống đây.

Mẹ anh nói bình tĩnh, đầy quyền uy. Bà vừa nhai trầu, vừa ngẫm nghĩ. Vẻ mặt của bà sâu xa, nghiêm khắc, âm thầm và rõ ràng không nhiều niềm vui như ngày trước. Anh vội, còn bà thì thong thả, đĩnh đạc.

- Có gì không hở mẹ?

- Có.

Bà vẫn không thèm nói ngay. Đó cũng là cung cách giao tiếp của bà. Không bao giờ vội. Bà để cho người được giao tiếp phải chờ đợi, mệt mỏi, thậm chí bẳn cáu. Bà không thèm quan tâm. Cuối cùng bà Thuận lên tiếng.

- Mẹ có chuyện với anh thế này. Hạnh phúc là về lâu về dài. Mẹ muốn anh phải giữ gìn, đừng có dốc, đừng có cố quá. Các cụ đã dạy đa dâm thì bại thận! Con phải coi chừng! Yêu ai cũng vậy, phải có liều, có độ. Phải biết chăm đến mình. Có còn cái thân mình thì mới còn sự sống, còn vui còn buồn, còn mẹ còn con. Mẹ khuyên con chỉ một lần thôi đấy. Quá đi là không có được.

- Vâng ạ.


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 31 Tháng Năm, 2011, 08:36:24 pm
                                          Tiếp :

Tuấn trở vào buồng. Bà Thuận nhìn theo, ánh mắt long lanh là lạ. Một lát sau, bà tắt đèn đi nằm. Nhưng bà đâu có chợp mắt được. Hình như bà bắt đầu mất thằng Tuấn. Bà đã chuyền nó qua tay con Loan. Đứa con gái hoàn hảo bà đã tìm kiếm, lựa chọn, ngắm nghía và xem xét kỹ như ông nông dân tính toán trước khi mua một con giống. Vậy mà chính nó lại gây nên sự mất mát này. Bất chợt, như có những ngọn gió lộng réo xiết trong lòng bà đến buốt nhói. Đi đâu về là nó nhào xuống làng Đông. Bà không còn được vuốt má, vuốt  đầu con. Và thằng Tuấn cũng không có bụng dạ nào nhổ tóc sâu cho mẹ. Nó cũng không còn thì giờ để nói chuyện hoặc nhìn thẳng vào mắt mẹ âu yếm, tươi cười lấy một lần. Bà Thuận càng nghĩ càng ngấm ngầm bực bội. Lại còn con bé kia nữa. Nó lễ phép với mình, nó vâng vâng dạ dạ cho qua chuyện rồi vội vã cuốn xéo đi với nhau.

 Vẫn không ngủ được. Trái lại, hai mắt của bà mở trừng trừng. Nó cứ sáng dần lên, rồi từ từ cháy đỏ như hai ngọn đèn quá điện. Màn đêm huyền diệu, bí ẩn, hấp dẫn, đồng nghĩa với sự sinh sôi và tang tóc, êm dịu và ma quái. Trong cái mịt mùng tứ bề ấy hai mắt bà Thuận cháy rực hẳn lên. Nội lực nào khiến mắt bà sáng hết cỡ. Chợt bức tường chắn căn buồng đôi vợ chồng trẻ trở nên mỏng tang như được thưng bằng vải mỏng. Bà Thuận nhìn thấy tất cả, rõ mồn một. Những hình ảnh đang diễn ra trong cửa buồng kia hiện lên không thiếu một cử chỉ, động tác. Chúng xoắn lấy nhau, chúng vật lộn, cấu xé. Những âm thanh không kém phần kích động. Tiếng vật mình, tiếng hổn hển. Tiếng quậy chân thình thịch. Tiếng thở khác thường. Bà Thuận thấy rõ thằng Tuấn (da thịt của bà, hòn máu của bà, hình ảnh còn lại của ông Lý) đang phớt bà đi. Nó đâu có thèm lưu ý đến sự chỉ bảo của mẹ. Láo thật. Hết lần này đến lần khác, thằng bé đang dốc hết sức mình cho con bé. Sự tham lam của con Loan không thể chấp nhận được. Không những thế, nó còn dang vòng tay chờ đón, nồng nhiệt. Bà Thuận thấy rõ như vậy. Ôi cái lỗ thủng không đáy ấy sẽ giết chết con trai bà mất.

Hết đêm bà Thuận không nhắm mắt, và hết đêm, đôi trai gái đắm say trong những cuộc lăn lộn như vậy. Sáng ra, dường như cả ba người đều kiệt sức. Tuấn và Loan vui vẻ, nhưng xơ xác sau đêm tân hôn. Thân thể họ vơi đi đến một nửa. Loan vốn thanh mảnh nhưng béo ngầm như vậy, mà đi đứng trở nên nhẹ bẫng, hẫng hụt. Tốc độ hao hụt của Tuấn rõ rệt hơn. Vẫn cao lớn, khôi ngô nhưng sự nây nẩy của bắp thịt cứ biến dần đi. Bà Thuận sút hơn tất cả. Béo đẫy như vậy nhưng bà bây giờ nằm xẹp trên giường như một con bé. Một con bé về kích thước, nhưng lại có mái tóc điểm bạc, nét mặt nhăn nheo. Bà nằm lỳ không dậy. Do mệt một phần, nhưng do ý bà muốn một phần. Để xem chúng nó có nhìn đến bà không. Để xem thằng Tuấn có tíu tít như trước nữa không. Phép thử này sẽ giúp bà đánh giá rõ sự thật. Rồi thằng Tuấn có đến thật. Cả con Loan. Sờ trán xuýt xoa an ủi sáo rỗng. Tếch một cái, chúng đã vào buồng hoặc xuống bếp, quấn lấy nhau, vồ vập, cấu véo. Và chỉ cần bước qua cánh cửa kia, chúng đã tụt quần áo, lõa lồ bên nhau, hú hý, thỏa thuê. Mặc cho bà ngóng trông vô vọng, mòn mỏi xơ xác. Mặc cho cái thân cái kiếp bà một thời bú mớm nâng niu chồng nó yếu ốm, tan rữa trong cảnh cô đơn. Quân mất dạy. Chợt bà lại nghe những tiếng động khả nghi. Và bà thấy thằng Tuấn trong cảnh cố gắng đến tuyệt vọng vắt kiệt sức mình cho con bé đang chờ đón.

 

Đêm nào cũng vậy. Cả ba người đều thức chong chong. Bà Thuận càng trở nên gầy nhỏ, khẳng khiu. Tỷ lệ nghịch với sự hao hụt ấy, lòng đố kỵ của bà mẹ cứ tăng dần lên. Đôi mắt của bà đêm đêm vẫn cháy đỏ một cách ma quái. Và lạ thay nước da trắng nõn của bà, một tháng đã trở nên đen đủi, dễ sợ. Điều này hẳn các nhà y học sẽ hết sức kinh ngạc. Da trắng, liên quan  đến bí mật các ẩn số về gien di truyền. Vậy mà sự bùng nổ tâm lý đã tác động mạnh đến cấu trúc vĩ mô trong các tế bào. Nó phủ định cái cũ, tạo nên cái mới. Việc bà Thuận trở nên gầy guộc đen đủi là có thật. Càng về sau này, đôi mắt bà càng trở nên ma quái. Nó không còn khả năng bộc lộ sự vui tươi, thiện ý.

Đã đến tận cùng giới hạn của sức chịu đựng. Một hôm bà Thuận gọi phắt thằng Tuấn ra. Không dạy bảo gì hết. Bà cấm! Tuấn im lặng không nói gì. Thâm tâm anh không đồng ý với mẹ. Bà gọi Loan tới. Con bé nen nét sợ hãi. Bà mắng té tát. Láo. Mày đừng có mà giết thằng Tuấn. Không nghe, bà tống ra khỏi nhà. Loan khóc như mưa. Nhưng tạnh nước mắt, trong lòng con bé chợt nổi chông gai chĩa về phía bà mẹ. Một thế trận đã bày để chuẩn bị nghênh chiến. Tuấn là con bà, nhưng anh ấy là chồng tôi. Chả ai dễ gì lùi bước. Rồi bất chấp chúng lại yêu nhau như điên dại. Dường như trong thái độ của Loan có cái gì đó giống như sự thách thức. Cô công khai thúc đẩy tình yêu. Trước mắt bà Thuận, cô ép mình vào anh, nhặt sợi tóc rơi trên trán . Con người thù địch có sẵn trong mỗi nàng dâu ở Loan bắt đầu hiện diện. Nó đang chờ đợi và sẵn sàng đối mặt với bà Thuận. Hơn thế, cô còn có ý quyết đánh bại người mẹ trong cuộc giành giật sở hữu này.

 Đêm đêm, các cuộc lõa lồ, cô chẳng cần giữ gìn ý tứ gì nữa, cô còn để mặc cho âm thanh phát ra một cách tự do. Tận cùng sự chịu đựng, bà Thuận đập mạnh xuống giường.

- Thằng Tuấn, mày ra đây.

- Anh không phải đi đâu hết.

- Có ra không?

- Không!

Sầm. Cánh cửa buồng bật gẫy tung. Tuấn luống cuống quỳ xuống chân mẹ. Loan đứng dậy trong tư thế hoàn toàn trần truồng. Cô kiêu hãnh, ngang nhiên bước xuống từng bước bên Tuấn. Cô ôm lấy vai anh giục đứng dậy. Cô còn có ý xác định sở hữu một cách công khai, nguy hiểm. Ung dung, tự tại nhưng lòng cô đang có những sụt lở, tổn thất ghê gớm. Sau cái vẻ thật tự nhiên đàng hoàng kia là một thái độ cứng rắn quyết liệt, sẵn sàng giằng xé và chấp nhận cả cái chết.

- Cút! Đồ đĩ - Bà Thuận nghiến răng thét lên - Mày giết con tao. Mày hãm hại đời nó.

Loan càng vuốt ve Tuấn. Chồng cô khóc rưng rức. “Mẹ ơi! Con lạy mẹ”. “Cút ngay!”. Soạt. Bà Thuận rút con dao. Cuộc đấu đã lên đến tột đỉnh.

 Muôn đời như vậy. Mẹ chồng nàng dâu, cuộc đùa dai của tạo hóa, cuộc đấu vĩ đại. Lúc vờ vịt, giả dối, lúc bùng nổ như bom, như đạn bắn. Cuộc giành giật ấy muôn năm không có thắng  và không có bại. May thay, hóa ra Tuấn lại tỉnh táo hơn cả. Anh cướp tay Loan kéo chạy. Dùng dằng, Loan muốn chết ngay tại cửa buồng của vợ chồng mình. Nhưng Tuấn khỏe hơn đã kéo cô ào ra giữa đồng. Thiên nhiên được mát mẻ, rộng lượng, thiện ý, cưu mang họ.

Hôm sau, và hôm sau nữa, Tuấn về để điều đình với mẹ. Nghe lời chồng, Loan đồng ý chấp nhận về xin lỗi bà Thuận. Nhưng không xong. Niềm tự ái của bà Thuận vẫn đang ở vị trí tột đỉnh. Hoặc mình Tuấn về, hoặc xéo cả.

Khôn ngoan, Tuấn kéo cả Loan về sụp lạy dưới chân bà. Không nhúc nhích. Ý muốn của bà mẹ rắn lại như đá. Hàng xóm cũng mặc. Ông nào, bà nào cũng chỉ như nước đổ lá khoai. Mẹ Tuấn vẫn ngồi im phăng phắc. Mắt bà như nhìn vào chỗ không người. Bà không thèm biết tới sự có mặt của Loan. Bà có một điều kiện và chỉ cần nói một lần: Hoặc Tuấn về, hoặc xéo tất cả.

Tuấn cảm giác rõ sự hết lời của mình. Giới hạn cuối cùng mềm yếu và dễ dãi. Anh không thể chặt ba xác Loan ra được. Anh bỗng thấy lạnh run người. Anh im lặng đứng dậy, nước mắt cũng thôi chảy. Vừa đi ra ngõ, anh vừa thấy loáng thoáng ý nghĩ. Thôi mẹ muốn thế nào cũng được. Anh sẽ ra đi vậy. Để cho các người ở lại giành giật, cấu xé lẫn nhau. Một khi đến yêu mà không biết yêu thì tồn tại sao nổi. Chính lúc đó, trong anh diễn ra cuộc biến đổi dữ dội. Anh cảm thấy cô đơn lạnh vắng, như đang lững thững bước trên miền đất nào đó rất xa lạ. Ở đó cái gì cũng chập chờn, mênh mông, nhấp nhô như gò đống. Chân trời xa lúc ấy có màu hoàng hôn. Cái gì anh cũng hư hư thực thực, xa vời. Loan gọi, nhưng anh không tỉnh. Vẫn câm lặng, ngơ ngác. Giữa đêm, anh tỉnh dậy và đi đâu mất tăm.

Hôm đó, tôi có việc leo lên hòn núi Để cao ngất. Từ trên cao, tôi chợt thấy nhà cửa, đất đai, và cả con người mới nhỏ bé làm sao. Giống như những con kiến. Họ đi lại, vui chơi, cày ruộng cấy lúa, yêu nhau rồi ghét bỏ nhau. Ấn tượng đó bây giờ tôi vẫn không quên.

 PH H


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 31 Tháng Năm, 2011, 08:41:07 pm
                                       Thời gian lặng lẽ
                                       Tác giả : Dương Tử Giang

Khoảng 10 giờ sáng ngày mồng 4 Tết âm lịch năm 1972 Cả khu vực xóm Trại, nơi đóng quân của đại đội 4, tiểu đoàn 10 râm ran chuyện không hay; một cô gái đến chơi với người của đơn vị, đã bỏ đi để lại một đứa bé còn đỏ hỏn, dễ chừng mới được vài tháng tuổi... Cả đại đội rối tinh rối xòe..
Cái vẻ đẹp trai thong dong thường ngày như biến đâu mất. Mái tóc đen mượt rối bời, mướt mồ hôi trán, trông bơ phờ mệt mỏi mà vẫn còn ngơ ngác, kể chuyện mà vẫn không hiểu sự tình nó là thế nào. Câu chuyện được kể lại lỗm bỗm, không biết đâu là đầu đâu là cuối. Đại để như Phú nói: Cô ta là bạn học từ hồi phổ thông, cũng có quan hệ với nhau từ hồi nghỉ hè. Bẵng đi thế rồi sáng nay cô ta bế đứa bé đến, cứ khăng khăng nói là con anh. Em cứ tưởng nói đùa, đang ngồi nói chuyện bình thường thấy cô ta đặt đứa bé ra phản, nói là để cho nó ngủ yên rồi bảo ra ngoài xem cảnh núi đồi, cũng chủ quan không tìm ngay...

Khuôn mặt rầu rĩ, giọng nói của Phú khổ sở quá: "Các thủ trưởng bảo em phải làm gì bây giờ?".

Kế hoạch lùng sục, tìm kiếm cô gái được triển khai tắp lự. Những là ra ga gần nhất, rồi hai ga trên và dưới. Những là đường cô ta quay lại, thậm chí cả lối đi xuôi nếu cô ta nghi binh. Những là vào từng nhà dân, chú ý cả những ao hồ, hàng quán ven đường.

Bữa cơm trưa được ăn vội vàng, toàn bộ trung đội 2 được huy động. Từng tốp 3 người được quán triệt, dặn dò kỹ càng. Lúc đi căng thẳng, hăm hở bao nhiêu, vài tiếng sau khi trở về thì đều rã rời, chán trường bấy nhiêu. Ai cũng thuộc lòng hình dáng, khuôn mặt, trang phục, thậm chí kiểu dép cô ta đi, thế mà tất thảy đều chịu thất bại, không hoàn thành nhiệm vụ. Lúc 3 giờ 15, thấy toán cuối cùng về cũng lắc đầu, đại đội trưởng dậm chân bành bạch rồi nghiến răng ken két:

- Không lẽ cô ta độn thổ?

Từ lúc cô gái bỏ đi , việc bế ẵm đứa bé được giao cho binh nhì Nguyễn Thị Hạnh, chiến sĩ gái tiểu đội nuôi quân. Đứa bé khóc ngặt nghẽo, không biết nó muốn gì, đòi gì. Chỉ thấy binh nhì Hạnh vã mồ hôi, bơ phờ không kém binh nhất Phú.

Đến 4 giờ 5 phút chiều, sau khi bàn bạc hội ý mãi, chỉ huy đại đội thấy chỉ còn mỗi cách là bế đứa bé lên tiểu đoàn, xin hướng giải quyết. Mệnh lệnh lập tức được thi hành, chính trị viên đại đội cùng Phú và Hạnh bế đứa bé lốc thốc lên đường. Tình huống hi hữu này cũng làm cho chỉ huy tiểu đoàn lúng túng không kém, chắc trong đời binh nghiệp của các anh chưa bao giờ gặp phải. Vấn đề xem chừng khó giải quyết.

Tiểu đoàn trưởng đỏ mặt tía tai khi nhìn qua đứa bé:

- Lính với tráng, tí tuổi đầu đã nhăng nhít. Cậu phải tìm bằng được và trao trả đứa bé này cho cô ta rõ chưa!

Chính trị viên tiểu đoàn thì ôn tồn:

- Em có biết nhà cô ta chứ gì? Được rồi, vấn đề là phải làm tốt công tác tư tưởng, phải quán triệt cho gia đình cũng như cô ta hiểu rõ tình hình. Chúng ta còn rất nhiều việc hệ trọng phải làm, chúng tôi cũng tin là gia đình và cô ta sẽ thấy được vấn đề để nhận lại cháu bé. Liên quan của em đến đâu và mức độ ra sao thì sẽ giải quyết từng bước.

Còn tham mưu trưởng lại trầm ngâm:

- Nhưng nếu như tìm đến nhà mà họ không nhận và cũng giả định là cô gái không có ở đấy, chưa về hoặc đã bỏ đi chỗ khác thì sao đây?

Mọi vấn đề được lật đi lật lại, các tình huống được giả định và các phương án khắc phục được nêu ra. Cuộc hội ý rồi cũng đi đến hồi kết thúc. Văn thư tiểu đoàn khua máy chữ rào rào, văn bản đưa ra tới tấp, riêng Hạnh được nhận hai tờ giấy có cùng nội dung được đóng dấu đỏ chói:

Đơn vị M ngày... tháng 2 năm 1972

Kính gửi: ủy ban hành chính xã Bạch Đằng

Cháu bé đây không phải là con của quân nhân Nguyễn Thị Hạnh. Do những khó khăn mà đơn vị chưa thể khắc phục được, nếu gia đình đồng chí Hạnh rộng lượng, vui lòng tiếp nhận và nuôi dưỡng cháu thì đơn vị hết sức hoan nghênh và cũng mong ủy ban hành chính xã tạo mọi điều kiện cho gia đình trong việc nuôi dưỡng chăm sóc cháu.

Đơn vị xin biết ơn gia đình, ủy ban hành chính xã và xin gửi lời chào quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

 T/M. Đơn vị, Tiểu đoàn trưởng: Thượng úy Đỗ Văn Huynh

Những người chờ và đi trên chuyến tàu chợ lúc 7 giờ 45 phút tối hôm 4 tết năm ấy từ Thanh Hóa ra Hà Nội hẳn chưa quên cảnh một đôi trai gái mặc quân phục nhưng mặt mũi còn non choẹt, bế theo một đứa bé, tất tưởi chen lên tàu. Anh chàng trông cao ráo lắm, đẹp giai nhưng thái độ gượng gạo, có vẻ thất thế, đeo hai ba lô cái trước cái sau, đi trước mở lối. Cô gái không đẹp, dáng người đẫy đà, bộ quân phục có vẻ hơi chật so với vóc dáng tràn đầy sinh lực của cô. Nét mặt hiền lành, thái độ bình tĩnh, cô gái chậm rãi đặt từng bước chân. Có vẻ như cô vừa sợ ngã, cũng như sợ ai đó vô tình bất cẩn, động vào đứa bé.

Cả hai không ai nói với ai câu nào, và từ lúc ở sân ga cũng như khi lên tàu, đôi trai gái nhẫn nhịn, chịu đựng những cái nhìn đầy ẩn ý của mọi người.

Tàu chạy được một đoạn, đứa bé ậm ẹo khóc. Rồi nó khóc to hơn. Bà khách sồn sồn ngồi dựa lưng vào ghế của đôi trai gái nói vọng sang:

- Nó đói đấy.

Anh chàng lóng cóng lôi ra cái bát sắt quân dụng, rồi bi đông nước, rồi đường, rồi sữa, rồi lập cập pha pha quấy quấy.

Thằng bé vẫn nhắm nghiền mắt, chóp chép uống được vài thìa, rồi nó nghẹo đầu ngủ. Im lặng chỉ được mươi phút. Thằng bé lại khóc và lần này thì nó khóc to hơn, lâu hơn. Nghe mà sốt ruột quá.

Bà khách sồn sồn nghển cả người lên thành ghế, càu cạu nhìn cô gái rồi càu nhàu:

- Rõ chẳng ai như nhà chị này, con khóc như thế mà cấm chịu vạch áo cho nó bú. Không có sữa thì cứ cho nó ngậm. Tí tởn lắm vào, giờ còn xấu hổ nỗi gì.

Cô gái thở dài, bặm môi quay mặt đi.

Cô gái ấy chính là Hạnh. Hạnh chẳng hé răng đến nửa lời, cô chỉ thấy mệt và đói, đúng rồi, suốt từ trưa đến giờ, Hạnh đã ăn uống gì đâu.

Khi trưa, nghe chị em kháo nhau, thế là cô chạy sang. Khi thấy thằng bé nằm chỏng chơ ở phản, khóc oe oe, chủ nhà cũng không có ai, thế là cô bế thằng bé lên. Lúc đầu thì cô cũng thấy ngột và khó chịu lắm vì thằng bé cứ rúc đầu vào ngực cô. Sau cô cũng thấy bình thường, quen quen đi rồi chỉ thấy thương nó. Da nó đỏ hồng, những mạch máu li ti, mầu xanh, mỏng manh và yếu ớt. Môi nó bé xíu, nhỏ như hai cánh hoa hồng. Hai mắt nhắm nghiền, trông nó tội nghiệp, giống như con chuột đồng mới đẻ: Người ta bảo những đứa bé trông đỏ đắn như thế này, khi lớn lên sẽ trắng trẻo xinh xắn lắm, chẳng biết có đúng thế không. Mà sao mẹ nó bạc ác, nhẫn tâm đến thế. Những ý nghĩ ấy cứ miên man, lộn xộn trong đầu Hạnh.

Cho đến khi bảo là phải bế nó lên tiểu đoàn, Hạnh có ý nghĩ là muốn bế nó thêm một lúc nữa. Thế là Hạnh xung phong. Lên đến Tiểu đoàn, khi chờ các thủ trưởng hội ý, rồi lại nghe nói phải bế thằng bé đi tàu ra Hà Nội, tự dưng Hạnh lại thấy ái ngại thay cho Phú. Chứ còn sao nữa, cả một đoạn đường trường như thế, anh ta sẽ xoay xở ra làm sao. Hơn nữa cô cũng lờ mờ cảm thấy là thằng bé có vẻ bén hơi cô. Thế là Hạnh lại xung phong.

Bây giờ, khi đã ở trên tàu, Hạnh không hề ân hận một tí nào về việc đã bế thằng bé. Cô chỉ thấy mệt và đói.

Tàu chợ, ì ạch như rùa leo dốc, lại người lên người xuống, í ới gọi nhau, ồn ào chen lấn. Hơi người nồng nặc, ngột ngạt quá. Thằng bé ngủ không yên, nó cứ giật mình thon thót và khóc liên tục. Có lúc tiếng khóc của nó như tắc đi, nghẹn lại, nó nấc từng hồi, còn mắt thì vẫn nhắm nghiền.

Hạnh thấy xót xa trong lòng, đã mấy lần cô trào nước mắt nhưng vì tối quá nên không ai nhận thấy. Bụng dạ Hạnh rối bời. Lúc thì cô muốn tàu chạy nhanh, về là tìm được và trao ngay thằng bé cho mẹ nó, để nó khỏi mệt. Nhưng chỉ lát sau thì cô lại mong ngược lại, rằng tàu chạy thế này cũng chẳng sao, cứ như thế này mãi cũng được. Đấy, nó đã im và ngủ ngon lành rồi còn gì. Hạnh chẳng muốn xa thằng bé tí nào. Vừa chớm hình dung ra việc phải trao thằng bé cho mẹ nó, cô tự đập vào tay mình một cái, dứt khoát không nghĩ nữa. Và Hạnh ôm chặt thằng bé vào lòng.

Bên cạnh anh chàng Phú đã say sưa ngủ từ lúc nào.

Tang tảng sáng, tàu đến ga Hàng Cỏ. Phú đeo ba lô đi trước dẫn lối, còn Hạnh bế thằng bé, lếch thếch theo sau. Vòng vèo mấy dãy phố thì đến nhà cô gái, linh tính báo cho Hạnh biết là cô gái không có ở đây, điều đó cứ làm cô băn khoăn, không biết nên vui hay nên buồn. Phú luồn tay qua cái lỗ nhỏ sát tường của cái cổng sắt đã bắt đầu xệp xệ, thấy vang lên hai tiếng leng reng ngắn, rồi lại thấy Phú cúi xuống, di di mũi giày. Có tiếng loẹt xoẹt, rồi một người đàn bà gày gò mà Hạnh có cảm giác là ở bà ta cái gì cũng nhòn nhọn, bà ta cau có rút cái chốt then cổng. Khi nhận ra Phú, ánh mắt sắc lẹm của bà ta cụp xuống rất nhanh, bà ta cất giọng vồn vã nhưng nhạt thênh thếch:

- Ô cậu Phú! Cái gì thế?

- Cháu muốn hỏi: Tuyết có nhà không ạ?

- Sao, anh vẫn còn hỏi nó cơ à? Nó không có ở đây.

Hạnh thấy rõ ràng là bà ta sững người khi trông thấy cô bế thằng bé. Rồi bà ta nhẹ giọng:

- Chào cô, là cũng mong cô thông cảm giúp. Bất tiện quá nhưng tôi cũng đã đến giờ đi làm.

Mặt Phú tái đi, Phú ngắc ngứ bảo:

- Cô ạ chuyện là thế này: Hôm qua Tuyết có vào đơn vị cháu...

Mắt bà ta long lên, bà ta xoe xóe:

- Nó cũng đến chỗ anh cơ à, thế thì con này hư thân mất nết quá rồi, vào đấy làm gì cho anh mất thì giờ. Mà này, nói thật cho anh biết nhé, gia đình tôi từ nó đã từ lâu rồi!

Bỏ mặc Phú và Hạnh đứng ở chỗ nửa đường nửa sân như thế, bà ta ngoảnh người bước vội vào trong nhà, lại còn đóng mạnh cửa ra vào đánh rầm một cái, làm thằng bé giật nảy người.

Một vài ánh mắt của những người chung quanh, rồi cũng cái nhìn na ná như thế của những người qua đường tò mò nhìn Hạnh và Phú, Hạnh thấy bối rối khó nghĩ quá. Rồi Hạnh lại thấy Phú cũng quay ngoắt người, lùi lùi bước. Thái độ yếm thế ấy của Phú làm Hạnh bực mình, Hạnh lật đật bước theo và hỏi khẽ:

- Thế nào, đi đâu bây giờ?

- Tôi phải quay lại nhà cô ta, tìm gặp bằng được mẹ cô ta rồi muốn ra sao thì ra. Thật là nhẫn tâm, thật là vô nhân đạo!


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 31 Tháng Năm, 2011, 08:43:14 pm
                                            Tiếp :

Tất cả những điều được chứng kiến từ sáng làm cho Hạnh thấy buồn nản, Hạnh mệt mỏi bảo với Phú:

- Vô ích thôi, anh không tìm thấy cô ta thì cãi vã với bà ấy phỏng có ích gì, bà ấy cố tình ruồng bỏ thằng bé rồi, anh có thấy như thế không?

Trong lúc thay tã cho thằng bé, chợt nhớ đến hy vọng cuối cùng, Hạnh nói:

- Anh thu xếp đi, về nhà tôi. Chị gái tôi cũng mới sinh cháu, may ra...

Về đến làng vào lúc non trưa, vừa ở trên xe bước xuống, Hạnh đã xăm xăm rảo bước đi trước làm Phú cứ như phải chạy gằn theo sau.

Trong lòng Hạnh vừa xốn xang, vừa rối bời. Đã ngót năm nay cô chưa được về làng, những cảnh vật quen thuộc loang loáng trước mặt, một vài người í éo gọi cô chỉ trỏ điều gì đó. Hạnh cứ gật đầu bừa mà xăm xăm bước vội. Thực tình thì Hạnh có nóng ruột, không biết chuyện này rồi được thu xếp thế nào. Tâm trí cô dồn hết vào thằng bé và cô thấy trách nhiệm đặt hết lên vai mình, thôi thì hãy biết thế đã. Thằng bé sắp được bú, đúng rồi thằng bé sắp được bú sữa của chị cô, điều ấy như thúc giục, làm cô bước nhanh hơn.

Khỏi phải nói gia đình Hạnh ngạc nhiên đến mức nào và băn khoăn ra sao khi thấy Hạnh nói ra dự định của mình. Cô như đọc ra được những ánh mắt của mọi người và thấy lo lo, chột dạ khi chờ thầy mình xem giấy tờ. Mân mê mãi tờ giấy, lại mân mê đến cặp kính lão, rồi thầy Hạnh cũng nói khẽ khàng:

- Dù sao cũng là việc phúc đến nhà. Cũng là vất vả lắm đấy, thôi thì cũng tùy ở mẹ Tâm cả thôi!

Hạnh muốn nhảy lên khi nghe thấy bố nói ra điều ấy, cô cũng cảm thấy chị Tâm cũng thích thích thằng bé.

Cơm nước xong xuôi thì họ lại lếch thếch kéo nhau lên ủy ban. Ông phó chủ tịch xã chậm rãi đọc tờ công văn của đơn vị rồi đưa mấy tờ giấy khai sinh cho Phú. Ông hỏi như bâng quơ:

- Đặt tên nó là gì đấy.

Nghĩ đến câu nói của bố lúc trưa, lại chưa thấy Phú nói gì, Hạnh lanh chanh:

- Phúc ạ, Nguyễn Hồng Phúc, bác ạ.

- Mắt anh tinh, anh viết đi rồi tôi ký.

Khi Phú viết xong, vừa liếc qua ông đã xổ ra một tràng:

- Chữ anh này đẹp ghê, đại học hả? Nhưng không được, không được rồi. Thằng bé phải có mẹ chứ?

Phú tần ngần:

- Bác ạ, cháu không muốn ghi tên người đàn bà bạc bẽo ấy vào đây một tí nào.

Ông phó chủ tịch lắc đầu quầy quậy:

- Không được. Tôi cũng không hiểu anh đại học ở cái chỗ nào. Tôi hỏi anh nhé: Anh đẻ ra nó bằng đường nào, bằng nách à?

Mặt Phú như dài thuỗn ra, Phú chẳng nói được câu gì. Im lặng dễ đến hàng phút. Một ý nghĩ chợt đến, thế là Hạnh nói luôn:

- Hay đề tên cháu hở bác? Phải rồi, anh đề tên tôi vào cũng được!

Nói dứt lời, Hạnh lại đỏ mặt tưng bừng. Ông phó chủ tịch trân trân nhìn Hạnh. Rồi ông ngả người, cười khà khà:

- Thôi thì tùy nhé! Mà này, bút sa gà chết đấy con ạ. Gà con thì sống, còn chẳng biết gà mẹ sau này đào bới ra sao?

Lúc ấy, Hạnh chẳng bận tâm tý nào về ý tứ câu nói ấy của ông phó chủ tịch. Nhìn nét mặt như nhẹ đi của Phú, cô cúi xuống nhìn thằng Phúc đang hé mắt hấp háy, hình như là nó đang cười với cô. Còn Hạnh, cô chỉ nghĩ:

- Gớm, anh tí con ạ, được bú đẫy có khác.

Tối hôm ấy, Hạnh và Phú lại xuống ga, lên tàu quay trở về đơn vị.

Cái ánh đèn bão lúc lắc, lúc lắc ở cuối đoàn tàu xa dần rồi mất hẳn. Hạnh nhìn ra ngoài: tối như mực. Con tàu lao vun vút trong đêm.

Hạnh thấy mình lâng lâng, như nhẹ bỗng, nhưng rồi lại nặng trình trịch. Cô nhớ thằng Phúc, cô ứa nước mắt, buột miệng gọi: con ơi. Chừng như nhớ ra, cô giật mình quay sang: bên cạnh anh chàng Phú ôm ba lô, đã ngủ, say sưa từ lúc nào.

Sẩm tối ngày 26-3-1972, lúc đại đội đi hội trại hết trên tiểu đoàn thì Hạnh nhận được thư chị Tâm. Chị Tâm viết:

... Mọi việc ở nhà vẫn bình thường. Còn thằng Phúc, lạy trời nói trộm vía thì nó cũng dễ nuôi đấy. Nó đã biết lẫy. Dưng mà, cả đường và sữa gửi về nhà nhiều quá. ăn thì lâu hết mà bán đi thì bất tiện. Mà các em cũng phải giữ lại để bồi dưỡng sức khỏe chứ. Còn việc này thì chị muốn nói riêng với dì là hôm đi, dì có đưa cho 12 đồng, mấy hôm sau lại thấy những 35 đồng trong giấy khai sinh của thằng Phúc. Thế là của Phú rồi. Hôm nọ lại gửi về 7 đồng nữa, cho nên là lúc nào, dì cũng phải lựa lời mà nói với chú ấy. Chị cứ nghĩ nếu như chị đẻ sinh đôi, thêm thằng Phúc thì cũng đến vậy mà thôi...

Nói vào lúc nào nhỉ, mà lựa lời là thế nào? Hạnh thấy bí quá và băn khoăn cho đến tận lúc ngủ.

Thời gian lặng lẽ trôi đi...

Ngày 2-9-1975, trung sĩ quân y Nguyễn Thị Hạnh được Bệnh viện huyện tiếp nhận vào làm việc.

Vai đeo ba lô, tay xách hai con búp bê có những cái mắt nhấp nháy, khi vừa xuống tàu và đặt bước chân đầu tiên xuống sân ga, Hạnh khẽ reo lên: thế là xong. Trong lòng cô, đâu đó như có tiếng hát ngân nga. Cô sắp được gặp lại cha mình, gặp lại chị, gặp lại quê hương. Cô không đi đâu xa nữa, cô luôn được ở gần họ và một điều làm Hạnh thích thú lắm, ấy là được gặp lại thằng Phúc. Chắc nó cũng lớn chứ nhỉ, đã gần bốn năm rồi còn gì.

Bước chân vào cổng, Hạnh thấy chị Tâm đang sàng gạo, còn hai đứa bé đang chơi đùa gì đó. Hạnh nhận ngay ra thằng Phúc, nó e dè nhìn Hạnh. Chị Tâm cười cười:

- Các con chào dì đi. à, Phúc thì phải chào mẹ, mẹ Hạnh vẫn viết thư về cho con đấy. ôi chào, búp bê đẹp chưa này. Chào mẹ đi.

Thằng Phúc vẫn ngập ngừng, nói ấp úng câu gì đó rồi lảng ra sau lưng chị Tâm. Hạnh buông ba lô, cô bước lại rồi xoa đầu nó:

- Ừ, dì cũng được. Hôm nay thì tha, nhưng mai phải gọi là mẹ. Dì mới thực là mẹ, mẹ đẻ ra con đấy.

Rồi Hạnh bật cười rũ rượi, chị Tâm nắc nẻ cười theo làm hai đứa trẻ cứ ngơ ngác mãi.

Đêm hôm ấy, Hạnh thấy khó ngủ quá. Lẽ ra phải ngược lại mới đúng chứ. Cô nhủ thầm như thế rồi tự đoán, chắc là vì lạ nhà, hoặc lúc tối phải uống một hai chén trà đặc khi tiếp mọi người đến chơi.

Lúc sắp đi ngủ, Hạnh phải dỗ dành mãi, rồi chị Tâm cũng phải quát lên nữa, thằng Phúc mới phụng phịu, lên chõng nằm cạnh Hạnh.

Thấy nó cứ vật vã, sì sục Hạnh nghĩ là có thể nó lạ nên phải vỗ về nó mãi. Rồi cô nghĩ đến việc những người mẹ hay ru con. Thế là cô cũng đọc lên khe khẽ những bài hát, câu ca từ đời nảo đời nào, mãi như thế thành thử Hạnh lại thiu thiu ngủ trước.

Giấc ngủ có vẻ êm đềm, đang đến một cách chậm chạp khó khăn, bỗng Hạnh giật bắn người, có cái gì đó lờ quờ, mơn man trên ngực cô. Hiểu ra là tay thằng Phúc, Hạnh thở phào. Cô kéo lại áo rồi mắng nó:

- Làm thế là xấu, ngủ đi.

Thằng Phúc không chịu, có lẽ nó cũng mới gà gà ngủ. Rồi nó nhì nhèo bật khóc ti tỉ, đòi vào với mẹ Tâm. Đêm đã khuya lắm, Hạnh phải nghiêm giọng:

- Nín ngay, mẹ đánh đòn bây giờ.

Lời dọa của Hạnh chẳng có tí hiệu lực nào, thằng Phúc cứ nhì nhèo, ghét thế không biết. Gian bên, chị Tâm cũng đã tỉnh giấc. Vừa nghe giọng chị Tâm, thằng Phúc đã lồm cồm ngồi dậy, dỏng tai chờ đợi. Thấy chị Tâm bảo:

- Xin lỗi mẹ đi.

Nhưng chỉ đợi có thế, thằng Phúc ngắc ngứ câu gì, rồi vén màn chạy tót đi làm Hạnh cứ buồn cười mãi.

Nghỉ ở nhà nửa tháng thì Hạnh đi nhận việc. Cô được bố trí một phòng riêng 15 m2 trong khu tập thể của bệnh viện. Trong phòng có một cái giường cá nhân bằng sắt sơn xanh hòa bình đã chớm rỉ , một cái tủ gỗ mỏng dính, quét sơn mầu trắng nham nhở, có chiều cao bằng chiều rộng của cái giường.

Không sao, thế là quá hạnh phúc, quá thừa thãi so với khi nằm võng ở rừng. Hạnh nghĩ thế lúc kê lại cái tủ đã ọc ạch, có tiếng mọt cọt kẹt đâu đó.

Những ngày này với Hạnh mới dễ chịu làm sao. Nắng như không gay gắt mấy còn mưa dầm gió bấc hình như cũng ít hơn thì phải.


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 31 Tháng Năm, 2011, 08:45:38 pm
                                        Tiếp :

Đi đâu cũng ríu rít hai mẹ con, đồng nghiệp hàng xóm thì quen rồi, chứ bạn bè xưa ít gặp thì chắc lạ lẫm và ngạc nhiên lắm. Hạnh luôn nhớ đến ơn của bố cô, đến công sức quá vất vả của chị Tâm. Này nhé, Hạnh không phải mang nặng đẻ đau, không phải gánh một tí điều tiếng gì, không bú mớm nâng giấc, thuốc thang sài đẹn cũng không nốt, ấy vậy mà bây giờ, cái thằng Phúc trông như trong tranh, lúc nào cũng bi bô gọi cô là mẹ. Còn muốn đòi gì và còn gì hơn thế nữa.

Cô ngồi trông nó xúc cơm ngon lành thì chỉ muốn nó ăn thêm bát nữa. Với Hạnh thế nào cũng xong, bo bo, bột mỳ hay ngô tẻ già luộc thì cũng như nhau cả thôi, mà cô còn nhịn ăn, có lúc bỏ bữa đấy. Hình như Hạnh có béo lên, quần áo cứ chật dần. Cũng chẳng sao, miễn là đừng ốm đau, mệt mỏi gì là được. Nhưng Phú chẳng có tin tức thư từ gì cả. Sao thế nhỉ, hòa bình đã mấy năm rồi, bao nhiêu người đã nườm nượp trở về, chí ít thì tin tức cũng đã rõ ràng. Hay là anh ta đã, không, chắc không việc gì đâu, mình thật vớ vẩn.

Chỉ cần Phú đã trở về, nhớ đến Hạnh hay không thì tùy, miễn là trông thấy thằng Phúc là được, trông nó, Phú phải thích lắm nhỉ? Đôi lúc Hạnh cứ nghĩ miên man, vẩn vơ như thế và cô cũng phải tự thú nhận là hồi này cô hay nghĩ và nhớ đến Phú rất nhiều. Có lần, đã lâu lắm, cô mơ thấy Phú nhưng máu me đầy mình và có mùi hôi khó chịu lắm, nhưng chỉ thoảng qua thôi và cô tỉnh ngay được. Còn lần sau, đấy là một trưa chủ nhật, cả hai mẹ con cùng đi ngủ. Giấc ngủ êm đềm đến thật nhẹ nhàng. Hạnh thấy mình đang đi lên một quả đồi, chung quanh toàn hoa sim, mát mẻ và vắng lặng lắm. Bất ngờ, Phú ở trên đồi chạy xuống quần áo mới tinh, hàm răng trắng bóng. Phú ôm chầm lấy Hạnh nhấc bổng cô lên rồi lại đặt cô xuống. Hạnh như lịm đi, cô kêu lên: "Ôi, anh ơi!", nhưng cô lại cuống quít, hình như không phải Phú, đấy là khuôn mặt của ông bảo vệ bệnh viện... Không được, cứu, cứu tôi với, mà sao vắng lặng thế này.

Tiếng kẹt cửa làm Hạnh tỉnh giấc. Hạnh dụi mắt và tự cấu vào mình, thì ra là Hạnh vừa mơ. Nhưng máu vẫn rần rật và người cô vẫn còn bừng bừng.

Thằng Phúc hỏi:

- Mẹ gọi gì đấy.

Hiểu ra thằng Phúc đã không ngủ, trốn mẹ đi chơi, Hạnh thấy tức nó. Cô mắng nó xơi xơi:

- Gọi gì à, làm sao mà không ngủ. Đi đâu về nhễ nhại thế này. Quần áo nữa kìa, bẩn quá đi thôi. Phúc, tự úp mặt vào tường đi.

Thằng Phúc nhích nhắc đi vào tường, len lét quay đầu nhìn mẹ. Chắc nó cũng ngạc nhiên lắm khi nhìn thấy mẹ nó. Người đang ngồi trên giường kia, tóc tai rã rợi, mặt mũi sưng sỉa đỏ như phát ban, lại đang gầm gừ quát tháo, có lẽ không phải mẹ nó.

Chừng như Hạnh cũng nhận ra một điều gì quá đáng ở mình. Cô im bặt và lặng lẽ soi gương. Cô giật mình khi thấy mình lạ đến thế. Gớm ghiếc làm sao. Rồi Hạnh cũng tĩnh trí lại được. Cô ôm chầm thằng Phúc vào lòng, nhẹ nhàng xoa đầu nó và không nói một câu nào nữa.

Nhưng suốt cả chiều hôm ấy, Hạnh như người khác. Người cô cứ nóng ran,mụ mị và mê muội đi. Trong cơn mộng du và nỗi thèm khát dai dẳng, Hạnh tự hành hạ mình, với một cái cuốc và một đôi quang gánh, cô thay toàn bộ lớp đất trên mặt của 12 m2 đất được chia để trồng rau. Chẳng nhớ là bao nhiêu gánh, gánh đất cũ đi và gánh đất mới về. Ai hỏi, Hạnh bảo đất này bạc màu rồi.

Đêm về, nỗi ám ánh ấy vẫn không buông tha cho Hạnh. Cô không tài nào ngủ được. Hạnh giở thư của Phú, chỉ có hai lá thôi mà cũ lắm rồi, cô đã thuộc lòng.

Hạnh thoáng thấy lo lo khi mân mê cái khăn mặt mà Phú quàng lên cổ cô hôm nào. Rồi Hạnh lấy diêm và một tờ báo. Hạnh đốt tờ báo và hơ cái khăn lên đó. Tờ báo cháy lem lém. Người ta bảo làm như thế này là người đi xa phải nóng ruột. Chẳng biết có đúng không?

Ngày 15-8-1978. Hạnh đi xin cho thằng Phúc vào học lớp 1, trường của thị trấn. Người ta yêu cầu phải có giấy khai sinh và hộ khẩu, kèo nèo mãi thì người ta cũng nhận. Lý do phải nói khó là vì thằng Phúc chưa có hộ khẩu ở thị trấn. Người ta trách cô, sao mà bất cẩn quá, sao mà không nhập hộ khẩu cho thằng Phúc. Hạnh cũng không ngờ cái chuyện giấy tờ hành chính lại lôi thôi, nhiêu khê đến thế. Cũng không nên trách cô, thực ra Hạnh đã chủ tâm bởi cô tính rằng cứ để việc thằng Phúc đấy, đợi Phú về hãy hay.

Cô chẳng muốn nói ra vì chính cô cũng thiệt thòi nhiều khi mấy năm không làm hộ khẩu cho thằng Phúc theo mình. Đã mấy lần có mấy người nhắc, cô chỉ ậm ừ. Là bởi vì cô đã tính thế. Nhưng đến nước này thì không thể được nữa rồi, phải làm hộ khẩu cho thằng Phúc thôi. Biết khi nào Phú mới về.

Nộp đơn và giấy khai sinh hôm trước thì chiều hôm sau Hạnh được mời lên phòng tổ chức hành chính để làm việc.

Bình thản ngồi xuống ghế, Hạnh lặng lẽ nhìn người cán bộ phụ trách việc quản lý theo dõi hồ sơ. Có lẽ anh ta chưa đến 40 tuổi, quần áo phẳng phiu, da trắng bệch, cặp mắt bé tí như hai vết rạch tiểu phẫu trên khuôn mặt bèn bẹt. Tóc lưa thưa, mươi sợi dài thõng thượt, cố che lấy cái trán đã hói trơn lên tận đỉnh.

Hôm nay, Hạnh mới nhìn rõ mặt anh ta, chẳng biết ai rỗi hơi nói là anh ta mê Hạnh. Mình thì có đẹp gì nhưng anh ta thì rõ là đồ trai hoi. Nghe nói con gái anh ta cũng đã lớn lắm và anh ta đang chê vợ già, quê đâu xã dưới thì phải. Hạnh chẳng thấy ưa anh ta tí nào.

Anh ta rót nước, cất giọng điệu đà và mềm như bún:

- Uống nước đi em, thế bao giờ cho các anh ăn cỗ đấy nhỉ?

- Chưa, có lẽ cũng còn lâu đấy - Hạnh đáp qua loa cho xong chuyện.

Cái giọng mềm oặt ấy vẫn không tha, hình như nghe lại thẽ thọt hơn:

- Lâu là đến bao giờ, anh ấy đang làm gì, chức vụ thế nào, công tác ở đâu?

Hạnh xẵng giọng:

- Làm gì, ở đâu, dễ thường tôi phải khai với anh à?

Im lặng. Khuôn mặt bèn bẹt ấy không hề biến sắc. Anh ta nhếch một cái cười, tợp một ngụm nước. Rồi anh ta rướn người, nghiêm mặt:

- Xin lỗi, có những việc tổ chức phải được biết và nắm rõ. Đồng chí Hạnh chưa lập gia đình có đúng không?

- Anh xem lý lịch thì rõ.

- Có nghĩa là chưa kết hôn. Vậy cháu Phúc là con ngoài giá thú?

Hạnh ớ người, cô chẳng biết trả lời thế nào. Anh ta lại dồn tiếp:

- Tại sao đồng chí không ghi vào lý lịch.

Anh ta đắc thắng, kẻ cả chìa mấy bản lý lịch mới toanh:

- Yêu cầu đồng chí ghi rõ và bổ sung lý lịch. Ngày hôm nay là...

Chẳng phải nghĩ ngợi gì, Hạnh ngoáy ngoáy trên mấy tờ lý lịch ấy. Mà việc gì phải nghĩ ngợi, việc làm rõ như ban ngày, trước chưa khai thì bây giờ khai, đã sao đâu nào.

- Hết rồi à.

Hạnh chẳng buồn đáp, buông cái bút đánh cạch xuống bàn.

- Chiến tranh, thời chiến mà? Biết vậy, cũng không ngờ nhỉ - Cái giọng mềm oặt ấy lại nhẽo nhợt.

Hạnh thấy bừng bừng trong người, cô đứng phắt dậy:

- Anh không được nhắc đến thời chiến, biết vậy thì anh làm gì nào. Này, nói cho anh biết nhé: Anh có mắt cũng như không.

Cái mặt mỏng dính ấy càng bẹt thêm ra, anh ta cũng chồm lên rồi the thé:

- Cô nói bé thôi, quát ai đấy. Tôi cảnh cáo cô về hai tội: thiếu trung thực với Đảng và lăng mạ cán bộ. Làm gì à, rồi cô khắc biết. Hừ, trông thế mà lẳng lơ!

Hạnh đập bàn đánh rầm:

- Lẳng lơ à, thì đã sao? Còn hơn khối kẻ rúc nách vợ!

Đùng đùng bỏ ra ngoài, Hạnh vẫn còn thấy gai cả người. Cô chẳng sợ gì cả, nhưng cô thấy buồn quá. Buồn cho chính mình, mà hôm nay làm sao mình lại ngoa ngoắt như thế. Buồn cho sự đời nhiêu khê và phức tạp, chuyện của cô đơn giản, khác nào một cộng một bằng hai, vậy mà nhiều người vẫn chẳng tìm hiểu cho ra ngọn ngành, đưa cô vào thế bí, lại còn buộc tội cô nữa.

Cả chiều hôm ấy, Hạnh thấy chán ngơ chán ngắt, cô chẳng tập trung đầu óc tí nào. Đã vậy, chiều tối về nhà, thầy Hạnh lại nhắc đến chuyện riêng của cô làm cô càng sốt ruột. Cô ngồi đầu hè tựa lưng vào cột, lặng lẽ nhìn bầu trời cao rộng mà thấy rối bời.

Trăng chưa lên. Bầu trời chi chít những sao là sao, lặng lẽ và nhấp nháy. To rộng thế nhưng xem ra lại mạch lạc chứ không lộn xộn, rối mù như trong đầu cô. Thực ra Hạnh cũng thấy núng thế lắm rồi. Cô cũng biết mình rõ lắm chứ! Bao nhiêu gương mặt của những người đàn ông như chập chờn trước mặt. Anh Tứ thầy giáo cấp 3 nhé, anh Vân công an huyện. Rồi cả anh Bảo mới lên phó chủ tịch huyện phụ trách nông nghiệp nữa chứ. Toàn là những người đàng hoàng cả và họ cũng đều thực lòng với cô đấy thôi.

Nhưng cứ nghĩ đến chuyện phải yêu ai thôi là cô lại thấy ngài ngại. Cô nghĩ đến hình ảnh thằng Phúc nằm chỏng trơ ở phản năm nào. Có khác nào cô là người bỏ rơi nó. Rồi với Phú nữa, nghĩ đến người khác tức là không chung thủy với Phú. Nhưng đã có gì với nhau đâu. Mà như thế thì đáng gọi là gì nhỉ?

Phải, hôm ấy, trời cũng đầy sao thế này, có điều oi bức hơn thôi.

Suốt từ trưa, cả tiểu đội Hạnh quần quật với những chuyện chia bôi gạo, cá khô, mắm ruốc. Rồi còn nắm cơm cho hơn trăm con người. Lúc sẩm tối, Phú có đến tìm thì Hạnh vẫn nói tưng tửng:

- Vâng! Thế anh đi mạnh khỏe nhé. Rồi Hạnh lại cắm cúi với công việc.

Thấy Phú cứ loanh quanh rồi lật đật chạy đi, Hạnh bỗng thấy bứt rứt: Dù sao thì anh ta cũng sắp đi xa, vào nơi hòn tên mũi đạn chứ có phải chuyện chơi, lành dữ đã biết thế nào, rồi cô lại nhớ đến thằng Phúc. Thôi thế là bố nó phải đi xa thật rồi. Chẳng gì thì cũng có chuyện liên quan đến thằng bé...

Hạnh chưa biết làm gì thì tiếng còi tập trung đã cất lên lanh lảnh, nghe đanh từng hồi dài.

Trong bóng tối oi bức của một ngày đầu hè, những ánh đèn pin loang loáng, những tiếng gọi í ới, thúc giục, nhắc nhở nhau. Rồi chỉ loáng sau, từ các ngõ xóm, hơn trăm con người, lặc lè ba lô, lỉnh kỉnh súng ống, lầm lũi trong bóng tối, nối nhau ra tập trung ở sân kho, trước cửa bếp nuôi quân của Hạnh.

Vịn tay vào cây cột, Hạnh căng mắt. Là Hạnh có ý tìm Phú, nhưng trông ai cũng giống nhau quá, mũ cối sùm sụp thế này. A, nhưng tiểu đội trưởng thì thường đi đầu đấy. Mới được có ba hàng, Phú đâu nhỉ?

Hạnh đang căng mắt thì Phú lại đến ngay cạnh làm cô kêu ớ lên một tiếng. Dưới vành mũ cối, Hạnh thấy hàm răng Phú trắng lấp lóa:

- Tôi đi đây, chào Hạnh lần nữa nhé!

Hạnh thấy mình run run. Cô đang cố tự chủ, định nói câu gì cho thật tình cảm nhưng đúng mực. Nhưng lạ quá, đầu óc như biến đâu mất cả mà khuôn mặt với hàm răng trắng lóa của Phú cũng như mờ đi. Ô hay, mình khóc à.

Hạnh thấy tay Phú cũng run run khi nắm tay cô. Khuôn mặt hai người gần nhau lắm. Đột ngột, Phú kéo khuôn mặt cô rồi hôn lên tới tấp. Hạnh thấy rụng rời cả chân tay, cô chưa biết phản ứng thế nào thì bàn tay Phú đã xoa rất dịu dàng lên khuôn mặt cô, rồi lại ở phía sau trên thắt lưng.

Hạnh chẳng biết làm gì cả, cô không kịp kêu. Hình như Hạnh có dướn người lên. Việc ấy chỉ xảy ra trong mươi giây, Phú nói nghẹn ngào quá:

- Anh đi, em ở lại nhớ giữ gìn sức khỏe. Nhất định anh sẽ về với em, với con.

Người Hạnh run như phải cảm. Cô không nói được câu gì rành rẽ.

Nước mắt khiến cô tắc nghẹn. Phú cởi khăn của mình lau cho cô rồi quàng lên cổ Hạnh.

Tiếng chỉ huy dõng dạc: Đại đội tập hợp.

Tất cả chỉ có vậy, thế là Phú đi, đi mãi.

Nhớ tới chuyện cũ hôm nào, Hạnh thấy trong người bừng bừng. Cô chạy ra giếng, rồi cứ nguyên cả quần áo như thế múc nước dội ào ào. Tiếng thùng va vào thành giếng loảng xoảng trong đêm khuya.

Lời bàn của những người ngoài cuộc.

Tôi, phó ban bảo vệ một công trường trọng điểm biết được câu chuyện trên một cách hết sức tình cờ.

Cậu nhân viên dưới quyền đưa cho tôi một quyển sổ bìa bọc nhựa đen đã cong queo, một cái gương soi bé xíu đã mờ và một khăn mặt mầu cỏ úa đã cứng quèo. Cậu ấy nói nhặt được mấy thứ trên tại bãi cỏ hoang, cạnh hàng rào của công trường mà chúng tôi đang thi công.

Cậu ấy phán đoán: có thể những thứ này là vật chứng còn lại của một vụ trộm nào đó mà bọn bất lương đã bỏ lại.

Bởi ban bảo vệ chúng tôi đang giữ những thứ ấy nên tôi đã thông báo, ai là chủ nhân của chúng xin liên hệ theo số máy:

- Trong giờ: 04. 864196.

Hoặc ngoài giờ: 04.862.408.

Sở dĩ tôi phải nói vậy là vì trong cuốn sổ ấy không thấy đề quê hương địa chỉ gì cả. Trang đầu chỉ ghi Nguyễn Thị Hạnh, hòm thư 705161 JC..., mấy số sau ở sát mép trang bị quăn, số lại mờ nên không đọc được. Trang tiếp theo chép những câu danh ngôn, chẳng hạn câu đầu tiên là:

"Thép đã tôi trong lửa đỏ và nước lạnh. Lúc đó, thép trở nên cứng rắn và không hề biết sợ".

- Những trang tiếp theo chép những bài hát, được ưa thích một thời như: Đường cày đảm đang, Tiếng hát trên Đường 9 chiến thắng, Câu hò trên bến Hiền Lương... Có cả bài Ru con Nam Bộ.

Rồi lẫn lộn vào đấy là những câu thơ, có những câu chẳng rõ đọc được ở đâu. Ví như:

- Nước còn giặc ta đi đánh giặc.

Sức trẻ lên đường, Đất nước chuyển rung.

Để trống năm trang thì đến những dòng nhật ký. Ngày bắt đầu là 31-12-1971, ghi lại những cảm xúc đầu tiên khi xa nhà, nỗi nhớ gia đình, quê hương. Những ngày tiếp theo nói về cuộc sống quân ngũ, những chuyện phấn đấu, riêng tư và dừng lại ở đoạn cuối cùng như tôi vừa kể trên thì còn một tí nữa là hết giấy.

Đọc những dòng nhật ký ấy, tôi thấy rất ấn tượng. Nét chữ mềm mại ngay thẳng, câu cú rành mạch, thú thực là tôi đã chép nguyên văn những ngày, những đoạn có liên quan đến câu chuyện này, chỉ có một mạo muội duy nhất là đã thay đổi đại từ nhân xưng cho tiện kể hơn mà thôi.

Nhưng cái đoạn dừng lại như thế làm tôi băn khoăn quá. Chẳng hiểu rồi cuộc đời và số phận của những con người ấy sẽ ra làm sao, chuyện riêng tư của họ sẽ được thu xếp như thế nào.

Tôi nghĩ là anh đã bình an vô sự trở về, anh sẽ gặp lại chị và họ sẽ lấy nhau. May mắn có thể đến với họ như thế lắm chứ, nhưng biết đâu có thể còn khối điều bất hạnh đã đến với họ thì sao? Chịu, tôi không thể nào đoán được.

Nhưng dù có thể gì gì đi chăng nữa thì tôi vẫn tin tưởng ở nơi chị bởi tôi láng máng nhận ra rằng, tình yêu của chị dành cho anh luôn nguyên vẹn, mãi mãi là những điều mới mẻ, tinh khôi. Còn nghĩa cử và tấm lòng của chị dành cho thằng Phúc thì như nước của sông dài biển rộng, dẫu có qua ba vạn sáu ngàn ngày chắc cũng chẳng thể nào vơi cạn được.

Chưa rõ kết cục câu chuyện thế nào, nhưng chẳng hiểu sao tôi cứ đinh ninh như thế.

DTG


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 31 Tháng Năm, 2011, 08:50:54 pm
                                           Sợi tóc
                                           Tác giả : Nguyễn Thanh

Doanh trại im lìm khuất sâu trong thung lũng. Phía tả là dòng sông Lục Nam, nước xanh biếc hờ hững trôi xuôi. Giữa dòng ngào ngạt hoa rừng, hoa từ thượng nguồn tung tẩy trên sông lấp lánh nắng chiều. Phía hữu non cao lấp ló trong mây trắng bồng bềnh in xuống những vạt rừng xanh thẫm.

Hết mùa huấn luyện, đơn vị trầm u trở lại với núi rừng. Là anh lính vệ binh bồng súng huýt sáo suốt ngày, chán lại nghêu ngao nhạc vàng, nhạc đỏ, nhạc xanh, ca trù cũng i í được vài câu, ngày tân binh huấn luyện ở đây, đông đúc nhộn nhịp, tôi thường ra oai chấn chỉnh mấy chàng lính “cậu” ra vào qua cổng. Giờ mong họ lượn cho vui mắt cũng chẳng có.

Ở đơn vị, tôi được mệnh danh là ông cụ non. Cái danh ấy có nhiều lẽ. Đầu tiên, bất kỳ chuyện gì tôi đã “xuất khẩu”, y như rằng có lớp, có lang, và nữa, dù là lính gác cổng nhưng nhiều khi cũng lên mặt lý sự ra phết. Vô luận đồng chí là cấp nào ra vào cổng không đúng tác phong, lập tức tiếng còi “toét” lên veo véo. Còn nhớ cách đây mấy tháng, có một thủ trưởng mang quân hàm thượng tá ngang nhiên phóng xe qua cổng, cứ như đơn vị là nhà riêng của mình. Toét một tiếng chẳng dừng, tôi buộc phải phải toét liên hồi báo động. Tiếng còi liên thanh khiến vị thủ trưởng giật mình phanh “két” xe trừng mắt nhìn tôi. Sau lần đó tôi được tặng giấy khen và quân hàm cũng được nâng lên một cấp, từ binh nhì lên binh nhất, oai ra phết. Nhưng cái danh ông cụ non ở trung đội cảnh vệ khó xoá đi được bởi một lý do nữa là tôi nghiện thuốc lào, nghiện từ khi học phổ thông. Ngày rời ghế nhà trường cũng là lúc biết đến thứ tiêu khiển quê mạc này. Lần đầu tiên bập vào lõ điếu, ho sặc sụa, dãi bắn tứ tung, nước mắt xối ra đỏ ngầu, đầu óc bung biêng xáo trộn. Thế mà đến ngày vào lính thì tôi đã trở thành dân chơi thuốc lào sành điệu. Cái điếu cày của tôi thường xuyên được thay nước, thông nõ bằng lông gà hàng ngày, đến nỗi cánh lính vệ binh biến thể câu “Súng là vợ…” thành ra “Điếu là vợ…” tặng tôi. Cái điếu cũng lạ, cũng biết giương oai diễu võ, mỗi lần bắn cứ tanh tách tanh tách như AR15 bật nấc liên thanh.

Bạn thân nhất của tôi trong trung đội là một đồng hương, tuổi quân tuổi đời đều hơn tôi, đã có vợ. Những đêm tôi gác, lão không ngủ được, hay mò ra than thở:

- Vợ tớ đẻ kém quá, hai lần đều “vịt giời!”

- Nên động đến sách báo một chút, mẹo vặt đầy ở trong đó chứ ở đâu. Tôi động viên bạn. Kỳ thực lão thèm thuốc ê a câu chuyện làm quà, lão “rít” đỏ nõ không ngớt, chán rồi mới lần về chỗ ngủ.

 

Có lần đứng gác, đúng lúc tôi đang nâng khẩu AR15 lên “bắn”, cũng là lúc các thủ trưởng qua cổng. Dí dỏm nhất là trung đoàn trưởng Ngô. Thấy tôi líu ríu từ trạm gác bước ra trong màn khói, chuyệc choạng chân nọ đá chân kia, trung đoàn trưởng mỉm miệng cười: “Đồng chí nên bỏ thuốc, tớ có một đứa con gái mới thi đỗ đại học, nó đang khao khát một tình yêu với lính. Nếu cậu bỏ thuốc, tớ sẽ “xin nhau” cho”. Tôi cảm ơn nhưng trong bụng thầm nghĩ, trung đoàn trưởng ở tận xứ Thanh, sức đâu mình yêu xa thế.

Cho đến một hôm.

Trời chiều, nắng vàng hoe dội xuống sông Lục Nam. Còn vài giờ nữa hết ca gác, thường ca gác này rất nhiều cậu hoảng. Thứ nhất, nắng ấm dễ ngủ gật. Thứ hai, cũng là lúc các thủ trưởng ở thao trường về. Nhưng với tôi lại khá an toàn, hễ hai mí mắt đè díp xuống liền đưa tay vón ngay điếu thuốc bắn một phát là hết ngái ngủ. Đang ngồi rung đùi ngâm mấy câu Kiều bỗng một chiếc xe SUZUKI như từ trên giời rơi xuống xịch đỗ ngay trước mặt. Người đàn ông cầm lái từ từ nhấc chiếc mũ bảo hiểm ra. Ngồi sau là một cô gái mặt hoa da phấn khẽ cúi đầu chào. Tôi đang ngỡ ngàng, tâm trí đang dồn cả vào cô gái thì người đàn ông lên tiếng quát:

- Đồng chí Thanh, nghiêm!

Tôi giật bắn người nhìn sang. Ôi! Thủ trưởng Ngô.

- Dạ… Dạ… Em chào thủ trưởng! Vừa nói tôi vừa chạy lại gỡ tấm ba-ri-e.

- Dạ, thủ trưởng đội mũ bảo hiểm kín quá lại quần áo dân sự nên…

- Tớ đùa cậu tí thôi - Giọng nhỏ nhẹ, vừa nói Trung đoàn trưởng vừa rút trong cốp xe ra một cái bọc được gói bằng giấy báo, tươi cười dúi vào tay tôi:

- Này, quà của cậu đây!

- Dạ… Tôi tròn mắt - Thủ trưởng mua quà cho em?

- Lần này ở quê ra, duy nhất tớ chỉ mang quà cho cậu. Còn nữa, tối nay mời cậu lên phòng.

Tôi ngây người, ngoái nhìn cô gái e thẹn ngồi sau xe, thầm nghĩ - Trung đoàn trưởng tâm lý ra phết - rồi thủng thẳng trở vào trạm gác. Lúc này, tôi mới bóc gói quà Trung đoàn trưởng vừa tặng mình. Hả? Thuốc lào! Khà… Khà… đúng thuốc lào Thanh Hoá. Thuốc lào Thanh Hoá có một ưu điểm rất đặc biệt, sợi nhỏ li ti, óng vàng, hút vào “phê” chết thôi luôn, không loại thuốc nào “nhái” được. Tôi lôi điếu ra hút thử luôn.

 Khoái chí “bắn” luôn mấy điếu. Khói chưa kịp chui ra hết khỏi miệng, hai mắt tối sầm ngã chúi về phía trước. Trời ơi! Thuốc ngon quá! Tỉnh dậy, miệng đắng ngắt. Thấp thoáng có bóng người vào ra qua cổng, mặc. Nhưng dù thuốc có ngon đến mấy vẫn không khoả lấp được hình ảnh xinh tươi của cô bé đi cùng Trung đoàn trưởng ban chiều.

Cơm tối xong, tôi thay đồ, quần đen áo trắng, tóc chải rẽ ngôi rất phong lưu lững thững lên phòng thủ trưởng. Tới cửa phòng, tôi khựng lại, chút suy tư hiện trong đầu. Đích thị là con gái của thủ trưởng rồi. Mình đến một mình thế này mọi người cho là đánh quả lẻ. Nghĩ vậy, tôi liền quay về gọi thêm lão đồng hương. Lỡ xảy ra chuyện gì sẽ có đồng hương cùng gánh đỡ.

Cửa phòng mở. Ánh điện từ trong hắt ra kẻ một đường sáng chạy xuống chân đồi. Thấy hai chúng tôi xuất hiện, Trung đoàn trưởng vẫy tay mời vào.

- Chào các cậu, các cậu thấy đặc sản quê hương tớ thế nào?

Chúng tôi khép nép ngồi vào ghế đối diện. Mắt sáng lên khi thấy cái điếu cày tre nhẵn thín nạm inox bóng loáng dựng ngay đầu bàn. Tôi nghĩ bụng, thủ trưởng đúng là một tay thuốc lào có hạng, lại cho lính cả bánh thuốc đủ thấy quý lính đến mức nào. Thấy hai chúng tôi ngắm nghía cái điếu, Trung đoàn trưởng Ngô khẽ mỉm cười.

- Đồ xịn đấy! Mời các cậu!

- Dạ! Chúng em dùng rồi, ngon lắm thủ trưởng ạ!

- Tớ nói là nói cái điếu của tớ kia! Đồ gia bảo đấy.

Vừa lúc ấy, từ phòng trong bước ra cô gái. Thấy tôi lúng túng, Trung đoàn trưởng nói ngay:

- Con gái tớ! Ra chào các anh đi con, lính của cha đấy.

Cô gái nhè nhẹ đi qua chỗ chúng tôi, hương thơm thoang thoảng, không phải hương quế cũng chẳng phải hương trầm mà là hương của hoa rừng ngất ngây lăn rơi trên da mặt đờ đẫn của tôi. Ôi! Em xinh quá, tôi khẽ thốt thầm nhìn vào ánh mắt nàng. Nàng cũng bạo dạn nhìn tôi, đôi mắt long lanh như chú nai ngơ ngác bên dòng sông Lục.

 


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 31 Tháng Năm, 2011, 08:52:10 pm
                                          Tiếp :

Bỗng có tiếng điếu cày rít lên, tôi sực trấn tĩnh. Đó là thuốc mà Trung đoàn trưởng mời bạn tôi hút thử. Bạn tôi là người nghiền nặng nên một phát không đủ đô, phát thứ hai lại bắn tiếp. Trung đoàn trưởng phá lên cười, hai tay vỗ vào nhau bồm bộp. Tôi rất thèm nhưng đành phải ngồi im chấp nhận, vì cái nhìn sắc lạnh của nàng đang chĩa vào anh bạn đồng hương. Vốn dĩ anh đã có vợ nên không phải ý tứ hãi sợ gì nữa. Đang khi tôi ớ người ra đờ đẫn vì khói thuốc quện vào mắt, vào mũi, đánh thức các tri giác của tôi thì nàng đứng dậy xin phép ra ngoài. Tôi nhìn theo nàng thầm rủa ông bạn đồng hương vô ý cố đấm ăn xôi giải tỏa cơn nghiền. Khói thuốc đã khiến nàng không thể ngồi lâu thêm được nữa? Tôi như kẻ mất hồn khi nàng khuất sau cửa phòng khách.

Nhưng cơ hội đã đến, nhân lúc vắng nàng, Trung đoàn trưởng ra hiệu và tôi hiểu ý ngay, liền véo một điếu rõ to thả vào nõ. Ngọn lửa bập bùng liếm từng sợi thuốc vàng ươm. Bỗng cổ họng tôi rát bỏng, có cái gì rất lạ xộc vào tim óc, khói quặn lên yết hầu khiến cuống họng như bị một vật cứng nhọn chẹn lại. Tôi vội buông điếu, chân tay đờ đẫn, mắt tối sầm, máu trong huyết quản sôi lên òng ọc và ngã vật xuống.

Tôi cố vươn cái cổ ngẳng ra để thở, nước từ hai hố mắt trào ra, chập chờn phía trước là sếp và anh bạn chả hiểu gì đang huơ chân huơ tay cổ vũ cho một cầu thủ thuốc lào nghiệp dư tội nghiệp đo ván trên sân. Một lát sau lập cập bò dậy tôi khó nhọc nói:

- Đặc sản của thủ trưởng có lẫn tóc. Em vừa phát hiện ra thì khói đã xộc vào rồi.

Rồi chúng tôi uể oải xin phép ra về. Ngoài trời đen thui, cơ ngực vẫn co thắt dồn dập. Không biết từ đâu, nàng xuất hiện từ khoảng sáng bước đến. Nàng cười, ngước nhìn tôi, phía sau là những vạt rừng tối sẫm. Đứng bên nàng, chân tay tôi lóng ngóng, lại vẫn như còn mùi khét của khói thuốc lẫn tóc chết tiệt đang phả ra. Nàng thỏ thẻ:

- Em sơ ý để rơi tóc vào thuốc. Em xin lỗi.

Tôi ấp úng:

- Không phải lỗi tại em. Có lẽ là tóc của người hái thuốc trên đồng.

- Không! Nàng phụng phịu- Đó là tóc của em. Em không muốn bố em cũng như các anh hút thuốc. Em ghét mọi người hút thuốc…  Với cả, bộ đội các anh… ai cũng thế… khờ lắm!

Nói xong người con gái òa khóc chạy hút vào bóng đêm.

Tôi nén tiếng thở dài, vậy là mình phải chia tay với thuốc?… Gói thuốc thủ trưởng tặng tôi gửi cho người bạn đồng hương. Cậu ấy là vầng trăng đã có nơi có chốn chẳng sợ mây sợ gió, còn tôi thân phận binh nhất phòng không phải nâng niu dù là đám mây thoảng qua.

Nhưng sự đời thật quá đỗi bất ngờ.

Không một ai ngờ được sau cú ấy, tôi trở thành con rể của thủ trưởng thật. Không biết do trời xui đất khiến thế nào lại bén duyên cầm sắt. Nàng thử thách tôi cũng kỳ lạ. Nếu thi đỗ sĩ quan thì cho bắn thuốc lào và yêu thoải mái. Ái chà chà! Đố nhà giầu húp tương. Bây giờ, mỗi khi lễ tết ngồi với bố vợ nay đã là đại tá sư đoàn trưởng, hai bố con vừa khề khà nhả khói bên cái điếu gia truyền vừa ôn lại câu chuyện sợi tóc duyên nghiệp và binh nghiệp.

Chợt làn gió ở đâu thổi đến mang mùi hương hoa rừng đặc biệt chỉ tôi mới nhận ra. Và, một sợi tóc khe khẽ đậu xuống những ngôi sao trên đôi cầu vai thượng úy…

 

Nguyên Thanh


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 08 Tháng Bảy, 2011, 10:01:33 pm
                               Ba người bạn đường
                                   Tác giả :Phan Viết Dũng

 “Để mình kể các cậu nghe chuyện này”, ông với tay lấy gói thuốc trên bàn, rút một điếu, đặt lên môi, châm lửa rồi hít thật sâu.

Không khí bàn nhậu lắng xuống, chúng tôi im lặng chờ đợi. Biết ông là người ít nói, nghe là chính, ít khi góp chuyện. Cánh báo chí, văn nghệ mỗi khi ngồi lại, thôi thì đủ chuyện. Sôi nổi nhất là chuyện chính sự, chuyện tham nhũng, nhưng cũng có những lúc say sưa với những câu chuyện tình. Như hôm nay chẳng hạn, đề tài tình yêu thời “a còng” đang được bàn đến. Chuyện sống thử của sinh viên, những mối tình không kể tuổi tác và cả chuyện tình tay ba thời hiện đại cũng được bàn sôi nổi. Ông ngồi đó, vẻ chăm chú lắng nghe nhưng ánh mắt tư lự đang dõi nơi đâu. Biết ông là người từng trải, có học, làm quan nhưng có máu nghệ sĩ nên được anh em quý mến, coi như người bạn cao niên...

 
     PHAN VIẾT DŨNG

“Đó là một buổi chiều, biển lặng, trời quang mây như chiều nay…”. Ông chậm rãi, lại rít một hơi thuốc - “Thôi, để mình kể cho có đầu có đuôi”. Dụi tàn thuốc lá vào chiếc gạt tàn, làm cạn một cốc rượu đế, lúc này câu chuyện mới thực sự hanh thông.

- Bọn mình có ba người. Trước hết kể về mình. Hồi mới nhập ngũ, lính trong đội gọi là Vinh bột, để phân biệt với thằng cha quản lý có nước da đen cháy là Vinh sắt. Cái tên Vinh bột được gắn với nước da trắng trẻo, có nguồn gốc thị thành nhưng còn có nghĩa là mỉa mai công tử bột. Đó cái mũ thường được chụp cho bọn học trò “dài lưng tốn vải” mới rời ghế nhà trường vào lính. Ba năm ở chiến trường C, nước da không còn “bột” như trước nữa mà tai tái bởi những trận sốt rừng. Đánh đấm nhì nhằng những dẫu sao cũng là lính cựu nên được đi học Trường quân chính Quân khu. Thông thường, đã được đi đào tạo ít thằng được trở về đơn vị cũ mà phải bổ sung về đơn vị mới. Chiến trường đánh lớn, bọn mình như muối bỏ biển, nhất là cánh bộ binh. Về Trạm 50 mình nhận quyết định đến một đơn vị mới thành lập ở Quảng Bình. Mình biết đó là một sư đoàn chủ lực chuẩn bị tăng viện cho chiến trường miền Nam. Lần này chắc sẽ đánh đấm ra trò. Có điều này nói trước để các cậu thông cảm, vì liên quan đến chuyện sau này. Lúc đó mình chưa vợ, tất nhiên, có mà tảo hôn. 18 tuổi đã đi bộ đội, ở rừng miết, những đau khổ còn hơn là chẳng có người con gái mà để thương, để nhớ. Lính ở chiến trường C quanh năm chui lủi trong rừng mấy khi được gặp các cô gái mở đường đông đúc như hội ở bên này nên khát khao tình cảm lắm. Buồn cười, hồi còn ở bên đó, mỗi lần nhận lương thực, quân trang, nhu yếu phẩm ở các binh trạm gần biên giới thằng nào cũng hăng hái xung phong. Hàng chục cây số luồn rừng, bom tọa độ, lại bọn phỉ hay rình rập thế, đổi lại chỉ được thấy các em quân nhu, tán gẫu một hồi rồi quay về cũng sướng lắm rồi. Quan điểm của mình khi vào lính là không mối tình vắt vai càng nhẹ gánh. Lần này, trước khi vào đơn vị mới mình sẽ ghé thăm nhà. Nghe đâu, ở nhà bà cụ đã ngắm một đám. Thương cụ quá, thư nào cụ cũng giục mong có cháu bế. Bố mất sớm, nhà có ba anh em, chỉ có mình là con trai. Trận mạc bom rơi lạc, nói dại, không may mất gáo, không có cháu đích tôn thì tuyệt tự. Nói thế, nhưng để có người mình thương và người thương mình cũng khó lắm.

Ông dừng lại, biết ý, tôi châm cho ông điếu thuốc và nôn nóng hỏi:

“Còn người thứ hai? Có phải bà chị bây giờ không?”.

- Không phải, bà chị bây giờ thì nói làm gì - ông cười, rồi nâng chén - Nào dô! Chúng tôi cụng cốc, nghe đã lâng lâng, không biết do rượu hay bắt đầu háo hức bởi câu chuyện.

- Người thứ hai tên là Dương, gì Dương không nhớ, không phải Thuỳ Dương hay Bạch Dương đâu, con gái bấy giờ Dương là dương liễu ấy, mình đoán thế vì quê của mình ở vùng cát Lệ Thủy. Dương vừa tốt nghiệp lớp quân y sĩ ở Quân y viện 4 và  được phân về Đội phẫu thuật tiền phương đóng ở gần quê mình. Gặp mừng khôn tả: “Trời ơi, đồng hương. Anh Vinh phải không. Anh còn nhớ Dương không?”. Làm sao mình quên được. Dương là mẫu người con gái mà gặp một lần người ta khó quên bởi cái mặn mà, cái duyên thầm và đặc biệt là cái tươi trẻ cuốn hút. Ban đầu mình hơi ngờ ngợ bởi nàng gầy đi nhiều và ba năm rồi trông có vẻ chững chạc hơn. Mình biết Dương hồi còn làm y tá ở Đội điều trị 46 đóng ở Hương Khê, Hà Tĩnh. Thương, bệnh binh ở mạn Trung Lào những năm ấy thường được đưa về đây điều trị. Cánh lính trẻ quê ở Quảng Bình khi nằm viện 46 về thường nhắc đến cô y tá đồng hương có mái tóc dài và đặc biệt đôi mắt đen tròn “thương thương quá đi thôi” như một câu thơ nào đó mà lính hay thuộc. Nghe thì biết vậy, chứ chưa biết mặt. Ấy thế mà cũng đến lượt mình. Số là mùa mưa năm đó đơn vị được về an dưỡng ở Hương Khê. Mấy năm ở chiến trường không sao, chỉ sốt qua loa, vài viên ký ninh hoặc cùng lắm một liều quynatrin là dứt. Không hiểu sao được bồi dưỡng theo tiêu chuẩn tiểu táo, lúc nào cũng có thịt cá, lại không phải luồn rừng cắm chốt, ấy thế mà lính ta cứ quay ra sốt ly bì. Quân y nói do ngã nước, quen khổ rồi, giờ sướng quá, sinh chứng. Cơn sốt rét ác tính đã quật ngã mình. Sốt 39, 40 độ mà người cứ rét run cầm cập, bao nhiêu chăn cũng không đủ. Mà sốt ác tính thì kinh lắm, có thằng hôn mê rồi đi luôn. Lần đó, mình bị sốt li bì suốt ba, bốn ngày, đơn vị phải cáng đi viện. Tỉnh dậy, thấy đầu giường một cô y tá đúng như cánh lính trẻ thường nhắc tới. Mắt đen, tóc dài, có điều này chúng nó không nói đến là nước da không được trắng. Lúc đầu, thú thật mình thấy cũng thường thôi nhưng nhìn kỹ mới thấy nàng đẹp. Nói đẹp thì chưa hẳn đúng, bây giờ người đẹp phải là “nhất dáng nhì da”, hồi đó cũng vậy thôi, những cái đẹp lộng lẫy kiêu sa thì đào đâu ra nơi bom đạn. Cái đẹp mà mình cảm nhận là sự trẻ trung nhưng duyên dáng của nàng và… mình bắt đầu yêu. Những ngày còn sốt cao, Dương thường đến bên mình bón từng thìa cháo, ép mình uống từng viên thuốc và động viên, dỗ dành khi phóng mũi kim tiêm bơm liều thuốc sốt rét lên cái mông trai lì của thằng lính chiến. Những lúc đó, nàng thường long lanh đôi mắt, có lúc ngấn lệ nhưng nụ cười vẫn nở trên môi trông thật tội. Bình thường không thấy cái lúm đồng tiền nhưng khi nàng cười hiện rõ trên khuôn mặt trái xoan trông càng duyên. Dương chỉ phục vụ ở lán sốt rét ác tính, vì vậy khi đỡ sốt mình phải chuyển xuống lán khác lên không còn được người đẹp chăm sóc. Lúc đó mới thấy nhớ, cứ mong đến ca trực của nàng. Trong ca trực, nàng mặc áo Blu trắng lướt nhẹ qua các lán, rồi lúc nào cũng vậy, Dương ngồi với mình hơi lâu một tý. Không biết chúng mình đã nói với nhau những gì chắc là chuyện anh em, đồng hương chứ không dám nói đến yêu đương gì đâu. Trước khi vào lính, mình cũng đã có người bạn gái thân, nhưng đó chỉ là tình cảm của tuổi học trò và chỉ còn trong kỷ niệm. Mấy năm ở chiến trường tưởng trái tim đã chai sạn, nào ngờ giờ lại thổn thức với người con gái mới quen. Mình thật sự sống tâm trạng của kẻ đang yêu. Mỗi lần Dương nghỉ trực, chỉ một buổi thôi, mình lại thấy thiếu vắng cái gì đó, mơ hồ. Có lúc mình ghen, cũng không hẳn là ghen những buồn khi thấy Dương quan tâm đến người khác, mặc dù người đó đang sốt cao và chăm sóc là bổn phận của nàng. Hai tuần điều trị, thời gian lặng lẽ trôi qua. Bao lần dự định muốn nói với nàng một điều những không sao mở miệng được. Biết là vạn sự khởi đầu nan nhưng mình là kẻ vụng nói. Lại nghĩ nhỡ nàng đã có người thương rồi thì sao, thật bẽ bàng. Có lẽ mình đã ngộ nhận, sự quan tâm của nàng đối với mình cũng như đối với mọi người, lương y như người mẹ hiền mà. Lại nghĩ, mình là thằng lính quèn, xung quanh nàng biết bao anh chàng đẹp trai, tài giỏi, các bác sĩ, y sĩ trong viện, lại thêm các chàng sĩ quan “bốn túi” dân Hà Nội hẳn hoi vào điều trị, thiếu gì… Cứ lại nghĩ, đủ mọi lý do, rồi mình lặng lẽ mang ba lô xuất viện không một lời tạm biệt. Các cậu xem mình đụt không?

Trời bắt đầu có gió, gió nồm nam thổi lao xao trên ngọn phi lao, tôi thoáng thấy trên mặt ông nhiều nếp nhăn ưu tư. Tôi hỏi: “Thế còn người thứ ba”. Nhấp một hớp rượu, lần này không đốt thước, ông vui vẻ: “Từ từ, đâu có đó, người thứ ba rồi sẽ tới”. Ông kể tiếp:

- Gặp lại Dương ở T 50, các cậu xem có phải duyên kỳ ngộ không. Vui nhất là khi mình thăm dò các em cùng lớp học quân y sĩ biết nàng chưa có ai, chúng còn bảo: “Nàng đang đợi đồng hương đó”. Thế mới hy vọng chứ. Biết mình nhận công tác ở Quảng Bình, Dương vui lắm vì có bạn đường. Còn mình thì khỏi phải nói. Tự mình phác họa một kế hoạch thật chu đáo. Trên đường vào đơn vị, trước tiên mời nàng ghé nhà mình, vì muốn hay không đường đến đơn vị mới của mình và Dương đều qua nhà mình trước. Mình hình dung, tự nhiên thấy bọn mình cùng về chắc bà cụ vui lắm. Cụ sẽ tưởng con dâu tương lai, rồi lại sẽ mắng mỏ: “cái thằng tẩm ngẩm tầm ngầm, rứa mà mẹ cứ lo không có cháu bế”. Con dâu như Dương người mẹ nào chẳng ưng ý. Sau đó, nếu thuận tiện mình sẽ ghé thăm nhà Dương, ngỏ lời với nàng, không do dự như lần trước nữa. Mình đã chững chạc, tự tin hơn ba năm trước. Phương châm của mình lúc nay là đánh chắc, tiến chắc.


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 08 Tháng Bảy, 2011, 10:03:40 pm
                             Tiếp :
  Đang mùa khô, xe binh trạm chạy tuyến miền Tây, không có xe vào phía Nam. Đợi ngày nào chậm được ghé thăm nhà ngày ấy, nóng ruột, mình và Dương quyết định cuốc bộ. Đáng lẽ chúng mình lên đường từ mấy hôm trước nhưng chỉ vì mấy cân gạo và ít thức ăn đi đường lên phải chậm mất một ngày. Chậm một ngày mới sinh chuyện, mới có người thứ ba xuất hiện.

Hắn sà vào bàn ăn bọn mình, tự nhiên như người Hà Nội:

- Chào hai đồng hương.

Giọng Bắc ngọt xớt, đích thị lính Khu Ba thế mà vẫn nhận đồng hương mới lém. Cao to, đẹp trai, đặc biệt hắn có đôi mắt nheo cười, con gái chỉ có chết. Tên hắn là Tuấn, sinh viên Bách khoa năm thứ nhất, nhập ngũ được ba năm vừa tốt nghiệp lớp Bổ túc sĩ quan Phòng không được điều về F 375 đang đóng quân ở nam Quảng Bình.

- Nghe nói hai đồng chí đi vào tớ đến xin nhập đoàn - hắn thay đổi cách xưng hô, nghe còn được. Tất nhiên là không vui vẻ gì khi đón vị khách không mời, nhưng làm sao từ chối được. Còn Dương thì reo lên: “Vui quá, lại có thêm bạn đường”.

Sáng hôm sau chúng mình lên đường sớm, vẫn theo tuyến giao liên của các đơn vị hành quân vào Nam nhưng khác với đơn vị chủ lực ngày nghỉ đêm đi, bọn mình chỉ có ba người, gọn nhẹ nên ngày đi đêm nghỉ. Để rút bớt thời gian chúng mình quyết định không nghỉ tại các trạm mà tuỳ nghi, ngủ nhờ nhà dân để đi được nhiều đường đất. Tuyến đường này chủ yếu đi giữa đồng bằng, không trèo đèo lội suối nên đối với mình khá nhàn, lính bộ binh cuốc bộ quen rồi. Tội nhất là hắn, lính phòng không chỉ có lên xe xuống pháo, giờ mới biết “Hành quân xa biết bao điều gian khổ”. Hắn cứ ì à ì ạch, chậm như rùa làm cho mình phải vừa đi vừa đợi, tức anh ách. Mà cũng tại thằng cha điệu bộ, ai đời đi đường trường mà hắn nện đôi giầy da coóc-sa-ghin như đi duyệt binh. Lại thêm bộ tô châu bốn túi mới tinh cứ sột soạt nghe đến chướng tai. Phải hy sinh cho hắn mượn đôi giày cao cổ còn mới mà cứ tiếc đứt ruột. Thấy hắn vất vả quá, mình đưa chiếc ba lô lép kẹp của mình cho hắn và khoác lên vai chiếc ba lô cóc to đùng của hắn. Khiếp, gì mà nặng thế, lại cứ lục cục sau lưng. Hỏi ra mới biết toàn đường, sữa, thịt hộp, đêm qua các cô ả quân nhu ở T50 cố nhét khi không còn chỗ mới thôi. Số cái thằng sướng thật, chẳng bù với mình, 5 lạng cá khô còn kì kèo vi phạm tiêu chuẩn. Ngày đầu tiên  nghỉ sớm. Đôi chân hắn sưng vù. Dương giúp hắn tháo giày, ngâm chân vào nước ấm, có pha thêm chút muối. Nhìn Dương bóp chân cho hắn mà mình tức đến lộn ruột, đúng là lính cậu. Dương nhờ mình lo cơm nước. Gì chứ khoản đó thì thằng lính bộ binh nào cũng thành thạo. Thấy mình lui cui với mớ rau tập tàng hái dọc đường, hắn mở ba lô quẳng ra hộp thịt bảo giải quyết cho nhẹ vai. Trong bữa ăn, Tuấn kể hắn đã từng ở Quảng Bình. Hai năm đầu của cuộc chiến tranh phá hoại, trung đoàn của hắn rải quân từ Hạ Cờ đến Đèo Ngang bảo vệ các trục đường giao thông, bến phà, kho tàng quan trọng. Hắn đã đánh nhau với lũ giặc trời ở Mỹ Đức, Thác Cóc, Long Đại không biết bao nhiêu trận. Hắn nói, bài báo “Khẩu đội bay” mà báo Quân đội Nhân dân đăng chính là khẩu đội của hắn. Bài báo kể, một loạt bom nổ sát hầm pháo, hất tung cả khẩu đội lên trời thế mà pháo thủ còn kịp đạp một loạt điểm xạ dài bắn rơi một thần sấm (F 105) trước khi hạ cánh xuống đất an toàn. Kể ra thằng cha nhà báo viết hơi bốc - hắn nói - cả khẩu đội tung lên rồi hạ cánh an toàn thì có. Mà không hiểu sao không thằng nào sứt mẻ gì mới lạ, nhưng có đạp được một loạt đạn hay không thì có trời mà biết. Còn chiếc thần sấm là công của cả trận địa, biết khẩu đội nào bắn trúng mà vơ vào. Hắn còn kể, hắn bị thương ở trận địa bảo vệ phà Long Đại, làn đó hắn đã “long đầu” nhưng chỉ sướt da, chưa vỡ gáo nên vào viện mấy ngày lại ra quần nhau tiếp. Hắn vừa đi tập huấn một lớp bắn loại pháo lớn bằng khí tài. Vừa nói chuyện hắn vừa lùa cơm, nhìn hắn ăn ngon lành mà mình phát thèm. Bốn bát B52 đầy có ngọn, hắn đánh nhanh gọn, hèn gì hắn to con đến thế. Hắn không quên cảm ơn hai  đồng hương đã giúp hắn một ngày vất vả. Nghe hắn kể mình nghĩ thằng cha phốc phét. Nhìn mặt mà bắt hình dong, ngữ ấy thì đánh đấm gì, trên đời này thiếu gì thằng vơ trời một nắm. Nhưng phải công nhận hắn có khoa nói, nghe có lý và đầy thuyết phục. Thôi thì cứ nghe, bom đạn có mắt, phét lác lắm rồi có ngày con ạ. Còn Dương, vừa nghe vừa lo xới cơm cho mình và hắn, suốt buổi ăn chưa xong một bát nhỏ. Không hiểu Dương đang nghĩ gì mà mình có cảm giác nàng thật sự tin hắn, không những tin mà phục vụ. Mấy lần nhìn trộm, mình thấy mắt hắn đong đưa nhìn Dương và Dương, nói sao nhỉ, cũng long lanh lắm. Cái dũng khí, cái quyết tâm ban đầu của mình trong chuyến đi này dần dần nguội lạnh. Không biết còn có cơ hội nào không để được nói với nàng điều mình ấp ủ bấy lâu nay.

Ngày thứ tư, thứ năm gì đó, lỡ độ đường nên phải nghỉ sớm. Chúng mình vào một nhà dân ven đường. Bếp lạnh ngắt, chắc chủ nhà đã đi sơ tán lâu ngày. Nhà chỉ có một gian, một chái bếp. Cạnh bếp có một hầm chữ A đắp nổi, tre còn tươi, có vẻ vững chãi. Chúng mình sửa soạn bữa tối. Vẫn thịt hộp xào với nắm rau lang hái ngoài vườn. Bữa nay có thêm món bột trứng tráng do Dương đạo diễn. Cũng phải nói, nhờ cái kho thực phẩm trong ba lô của hắn mà chúng mình luôn được bồi dưỡng nên không xuống sức mấy. Tuấn có vẻ khá hơn, chân đỡ sưng, mặt mày tươi tỉnh, hắn càng nổ dữ. Hắn bốc trời về những trận đánh dọc đường 15, ở bến phà Gianh có sự phối hợp của các khẩu đội trực chiến 12 ly 7 của dân quân gái. “Phải nói con gái quê mình đánh trận gan cóc tía, nhưng tình củm lắm” - hắn nói và không quên đánh mắt đưa tình về phía Dương. Các cậu xem hắn tán có bài bản không. Thấy mình có vẻ hững hờ với những câu chuyện kể, hắn quay sang hỏi mình đánh đấm ra sao. Có gì mà kể, nếu có, thú thực cũng không thể kể có đầu đuôi, lớp lang như hắn được. Mấy năm ở Lào chỉ có vài ba tận tập kích lẻ tẻ, luồn rừng, cắm chốt bảo vệ hành lang phía Tây của tuyến vận tải chiến lược, có đánh đấm gì ra trò đâu. Mà kể làm gì.

Đêm đó, Dương móc võng ngủ trong hầm, nhỡ có máy bay đỡ phải chạy, còn mình và hắn móc võng ngủ ở nhà trên. Vừa đưa võng hắn huyên thuyên đủ mọi chuyện trên đời. Còn mình thì cứ nghĩ lung tung, không đầu cua tai nheo gì cả. Trong suốt cả quãng đường hắn biết mình không thích hắn, có chút ghen ghét ra mặt nhưng sao hắn cứ vô tư, thân thiện. Xem ra cái lợi thế đồng hương không ăn nhằm gì trước một đối thủ tự tin, đầy bản lĩnh lại tài hoa, đẹp trai như hắn.

- Cậu có người yêu chưa? - Hắn hỏi.

- Có thì sao mà chưa có thì sao. - Mình trả lời nhấm nhẳng.

- Chưa thì về quê tớ, tớ làm mai cho. Mà không đi đâu xa, mấy cô em tớ, bảo đảm cậu không chê vào đâu được. Gái Thuỷ Nguyên trắng hơn gái Quảng Bình là cái chắc - hắn tự độc thoại một mình.

Kệ hắn… Trằn trọc mãi rồi mình cũng thiếp đi được một lúc. Gần sáng, có tiếng máy bay, mình tỉnh dậy thấy võng hắn trống không. Nghe tiếng nói chuyện rì rầm đâu đó. Nhìn ra vườn, ánh trăng hạ tuần chiếu sáng bàng bạc. Dưới bụi chuối góc vườn mình thấy hắn và Dương bên nhau, nàng nép vào hắn tin cậy. Các cậu nghĩ có đau không. Thế là cơ hội để đến với nàng đã khép lại. Điều mình định nói với Dương chắc hắn đã nói.

Ông dừng lại, rít một hơi thuốc thật sâu rồi uống cạn rượu trong cốc. Ông đưa tay xoa ngực, như có một cơn co thắt nhẹ trong tim. Chuyện đã qua mấy chục năm rồi mà ông như vẫn còn day dứt lắm. Tôi nghĩ, cũng tội cho ông, nếu chỉ có thế thì cuộc đời này khối thằng đàn ông đau khổ hơn. Tôi định nói đôi lời an ủi nhưng chưa kịp thì ông kể tiếp:

- Quãng đường còn lại với mình thật nặng nề, may mà không còn bao lâu nữa. Mình vượt lên trước bỏ mặc hắn và nàng vừa đi vừa tâm sự. Hết đất Kỳ Anh bọn mình quyết định vượt Đèo Ngang chứ không đi lên đường 21. Dạo này xe pháo không chạy qua đèo, máy bay địch cũng ít đánh phá. Qua đèo an toàn, rút ngắn được hơn một ngày đường. Thế là thoát, mình tính  sẽ đi suốt đêm, đến sáng chắc về tới nhà. Mỗi đứa mỗi ngả, rồi tất cả sẽ qua, quan trọng là mình trút được gánh nặng của mối tình đơn phương, một ảo ảnh. Xuống đèo, bọn mình men theo con đường cát nhỏ cách đường quốc lộ không xa. Nồm nam mát rượi, mặt biển bình yên, xanh mướt, thật là một buổi chiều hiếm có trong chiến tranh. Bỗng có tiếng máy bay nghe xa lắm, nhưng Tuấn phát hiện ngay: “Mẹ, thằng OV10, có chuyện đây”. Đúng là có hai chiếc OV10 đang bay dọc bờ biển. Đột nhiên, chúng vòng ra xa và phóng liền hai loạt đạn khói vào trận địa phòng không cách chỗ bọn mình vài trăm mét. Lập tức, từng tốp máy bay phản lực từ đâu bu tới, bổ nhào đánh vào trận địa. Bọn mình nằm xuống mấy hố cát nông choèn giữa một rừng dương cụt ngọn đã bị đánh phá trước đó. Những quả bom đen trũi xé gió nghe rin rít trên đầu. Trận địa đồng loạt nổ súng.

Tiếng khẩu lệnh từ một khẩu đội gần chỗ bọn mình nghe rõ mồn một. Từng loạt đạn cao xạ 37 vây lấy đội hình tốp giặc lái. Nằm bên mình, nhìn lên trời Tuấn càu nhàu: “Đánh dở bỏ mẹ”. Rồi hắn hét to: “Bỏ tốp đầu, bắt tốp thứ hai. Ngu thế”. Đúng như hắn nói, tốp đầu làm động tác giả cho tốp sau đánh vào trận địa. Khói bom đạn mịt mù. Bỗng hắn nhỏm dậy: - Tớ đến giúp bọn nó một tay đây. Bọn mình chưa kịp ngăn, hắn đã lao về phía trận địa. Mình và Dương không biết gì cũng vội lao theo. Một khẩu đội trưởng bị thương, hắn lao tới, quát to: - Để tôi. Hắn nhảy lên bệ chỉ huy.

- Hướng 34 bắt đầu, điểm xạ dài. Bắn! - Hắn vừa hô vừa phất cờ lệnh. Loạt đạn chụp gọn mục tiêu, một chiếc thần sấm trúng đạn bốc cháy như một bó đuốc khổng lồ rơi xuống biển. Dính đạn, đội hình địch loãng ra xa. Lúc mình chỉ biết xoay hoay giúp pháo thủ số 6 tiếp đạn, còn Dương đang băng bó thương binh ở khẩu đội bên cạnh. Hắn lừng lững trên vị trí chỉ huy, cao lớn, trên tay là ngọn cờ như ngọn lửa nhỏ bập bùng in tạc vào ráng chiều.

Củng cố đội hình xong, bọn địch tiếp tục đánh vào trận địa. Lần này chúng đánh từ hai hướng. Lợi dụng ánh nắng chiều, bọn F4H cắt bom từ phía tây, bọn F100 và 105 phóng rốc két từ phía biển vào. Bom phá, bom sát thương, bom bi nổ ran trận địa. Lưới lửa hất chúng lên cao. Pháo bắn đỏ nòng. Thêm một chiếc con ma F4 rơi cách trận địa không xa. Thua đau, bọn giặc trời càng hăng máu, như lũ thiêu thân điên đảo lao vào trận địa. Chiều tím dần. Đợt oanh kích cuối cùng chúng rút hết số đạn bom còn lại trước khi bay ra biển. Một loạt rốc két phóng trúng bệ chỉ huy hất Tuấn từ trên cao xuống. Một mảnh đạn phá toang lồng ngực rộng, máu nhuộm đỏ bộ tô châu còn thơm mùi vải mới. Mình và Dương cùng chạy đến. Dương lau máu, khói đạn trên người hắn, rồi ôm vào lòng khóc nức nở. Những người lính trong khẩu đội lặng người trước vị chỉ huy không quen biết. Mình thấy có lỗi trước linh hồn của hắn. Mình đã nghĩ sai về hắn, ghen ghét hắn. Mới biết bên hắn mình chỉ là cái bóng mờ nhạt. Hắn mạnh mẽ quá, phải không các cậu. Đã yêu là yêu bằng được, đã đánh thì đánh ra trò. Tình yêu cũng vậy, phải thuộc về kẻ mạnh. Đêm đó, đơn vị cùng bà con địa phương khâm liệm Tuấn và các chiến sĩ hy sinh. Họ đưa các anh ra an nghỉ trong một rừng dương sát biển. Trong khi chính trị viên đơn vị nói lời tiễn biệt, Dương lặng lẽ lấy cuộn băng cá nhân quấn lên đầu một vành khăn trắng.

Ông ngừng kể, quay mặt đi, cố giấu những giọt nước mắt. Rồi không nói thêm một lời nào, ông đứng dậy, dốc cạn ly rượu, lặng lẽ đi xuống bãi biển. Như sực nhớ ra điều gì, chúng tôi bàng hoàng đứng dậy nhìn theo ông. Gió nồm nhẹ thổi, mơn man cùng sóng vỗ. Ông đứng lặng bên mép nước nhìn trời sao, xa xa có một ngôi sao nhấp nháy…

                                       Hết
 


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 08 Tháng Bảy, 2011, 10:10:20 pm
                                               Bến đàn bà
                                                Tác giả :Nguyễn Mạnh Hùng

  Có một đêm, họ cười và bảo với chị rằng: Ba đứa chúng tao đã hy sinh hết rồi. Chỉ còn mày! Phải cố mà sống. Sống để mai sau còn đẻ hộ chúng tao mỗi đứa một đứa con nhé!

Nhóm tứ quý giờ chỉ còn lại Đông. Chỉ còn lại một mùa đông cô đơn,  lạnh giá.

  Khi chị đến bến sông thì trời đã về đêm. Lưỡng lự một chút, chị đứng lại xác định phương hướng. Bóng tối, thời gian làm cho cảnh sắc xoay vần khiến chị không đủ tự tin để tiếp tục cuộc hành trình như ý định. “Giờ thì phải kiếm một chỗ ngủ, sáng mai sẽ tiếp tục tìm”. Bao bọc không gian là đêm tối hoang mang. Ở giữa một nơi vắng vẻ thế này, hy vọng kiếm một nhà trọ chắc chắn là không được. Nén tiếng thở dài, chị đặt túi xách xuống và vặn lưng mấy cái cho đỡ mỏi rồi đưa mắt nhìn quanh. Hướng về phía có ánh sáng đèn, chị rảo bước. Hóa ra, đó là một chiếc lều vó bên sông với bà cụ già khoảng bảy mươi tuổi đang ngồi đan nan. Sau lời ngỏ ý muốn xin nghỉ lại của chị, bà cụ nhìn chị một lượt từ đầu tới chân rồi gật đầu. Sau vài câu xã giao, hai mắt chị đã ríu lại, chực sụp xuống. Chị đưa tay khẽ đấm đấm cái lưng đau như dần vì suốt một ngày, một đêm chen chúc trên xe khách chật như nêm và xin phép bà cụ đi ngủ trước. Bà cụ kéo tấm liếp. Những chấm sáng của chiếc đèn bão lọt qua khe in lên vách lều lấm tấm hệt những chấm hoa. Chị nhắm mắt lại và thiếp đi…

 
 Không rõ chị đã ngủ được bao lâu, chỉ biết rằng khi chị thức giấc thì vẫn thấy những chấm hoa hoa in trên vách lều. Không thấy bà cụ đâu, kéo tấm liếp, chị bước ra ngoài. Ánh đèn hoi hóp rãi bóng chị dập dềnh trên mặt sông, với tay lấy cái thời đang đan dở, chị cầm nắm nan giộng giộng xuống đất và bắt đầu tỉ mẩn gài từng chiếc một…

  “Ũm”. Chiếc thời tuột khỏi tay rồi từ từ lăn xuống nước khe khẽ vọng trong đêm. Chị đứng dậy cố nén một tiếng thở dài. Tiếng nước tóc tóc chảy khan qua mắt vó dội vào đêm buồn thấu ruột.  Một con cá chưa xuống lách ngược trên miệng đam nghe lạch xạch.

 Đêm quánh lại. Tiếng côn trùng đột nhiên nín lặng rồi từ từ ri rỉ và rộ lên. Đầu chị lại ong ong. Chị bước xuống thuyền. Cảm giác lành lạnh từ mặt sông khiến chị lịm dần... Ơ kìa! Xuân, Hạ…  Lũ quỷ sứ! Hi. Hi. Đông! Qua bên này kì lưng cho tao với. Da tao mịn như da trẻ con í chứ con Thu ấy à? Mới chưa đến mười tám tuổi mà lưng gì toàn mụn như bà già tám mươi! Á a! Chị Xuân dám nói xấu em hả? Em thì em lột xác chị đấy! Thôi thôi cho tôi xin, đừng có mà nói đến trẻ con mà làm tôi thèm rỏ rãi đây này. Bằng tuổi tôi á, ở nhà ối đứa chồng con đề huề rồi. Ừ, chẳng biết bao giờ mới hết chiến tranh để còn về lo chuyện chồng con nhỉ? Hưm… Nếu mai sau hòa bình, cả bốn đứa mà còn sống, bọn mình sẽ đẻ một lũ con rồi thông gia với nhau nhé! Khi ấy, con cháu chúng ta sẽ là con chung và “Tứ Quý - Tứ Quỷ” vẫn tụ với nhau như thế này thì thích nhỉ! Con Thu mông to thế kia, chắc đẻ con gái rồi, con Hạ ngực săn lắm, chắc đẻ con trai. Còn con Xuân, tao cho mày chọn đấy! Em không đẻ con gái - con Thu hét toáng lên. Con gái như u em í, vất vả lắm! Lúc nào cũng thấy mang nặng đẻ đau, chăm bẵm con cái, làm lụng cáng đáng tất công việc nhà chồng! Đẻ con trai, như bố em sướng hơn. Cứ biền biệt, mỗi lần về gửi lại mẹ em một đứa rồi lại đi! Thôi thôi! Cho mày đẻ con trai – Con Hạ cười – Báu ngọc gì, chỉ tổ nghịch như quỷ sứ! Suốt ngày rát cổ bỏng họng! Con gái xinh đẹp, hiền, ngoan… ! Nhìn cái mặt con Hạ đang ngất ngây kìa! Ha! Ha! Ha! Mày cứ ngất ngây đi! Rồi mai sau mày sẽ đẻ một lũ một lĩ con gái khiến cho lão chồng mày phải đi kiếm một thằng quý tử để nối dõi, khi ấy mày mới sáng mắt ra chứ cứ ở đó mà mơ màng xinh đẹp hiền ngoan à! Ôi dào, tao cho thoải mái! Cá vào ao nhà ai, người ấy được. Càng đỡ phải mang nặng đẻ đau. Xí! Mày cứ ở đấy mà to mồm “Cá vào ao nhà ai người ấy được!”, chả không lồng thách lên ấy à. Ha. Ha. Thôi! Thôi! Con xin các mẹ! Tắm nhanh lên rồi còn về máy bay nó mà ập xuống đây thì cứ đứng đấy mà đẻ với đái…

 Oẵng...Oẵng... Tiếng con cá vật đẻ phía đám trà làm chị chợt tỉnh. Giật mình ngơ ngác, hóa ra, chị vẫn đang ngồi ở dưới thuyền. Những hình ảnh vừa rồi chỉ là những kí ức gặp không gian và tâm trạng thì ùa ra vây bủa mà thôi. Dạo này, những hình ảnh như thế xuất hiện thường xuyên trong cái bộ óc vốn đã u u, mê mê của chị...

 
Chị vừa bơi, vừa thò cả bàn tay đang cầm dầm xuống nước.

Br...r...rừ...Gao!...Gao! Tiếng gao vọng từ con đường dẫn vào làng. Đêm tình yêu của hai con mèo đã kết thúc. Mấy giờ đêm? Chị không rõ. Từ ngày nghỉ làm ở bệnh viện phụ sản đến giờ, hầu như chị ít để ý đến thời gian. Thời gian của chị bây giờ là thời gian quay ngược… Quay về phà Gù của bốn cô gái thanh niên xung phong Xuân, Hạ, Thu, Đông - Bốn cô gái nổi tiếng xinh đẹp mang cái tên của bốn mùa ngẫu nhiên ở với nhau nên cánh lái xe vẫn gọi là Tứ Quý. Quay về với hài nhi không rõ hình hài… Quay về với nỗi ám ảnh của thai nhi bầm nát...

 Khi người hộ lý ngập ngừng bế đứa con đến trước mặt, chị không dám tin vào mắt mình. Chị đã nhéo vào đùi mình đến thâm tím để mong đó chỉ là một ảo giác. Không phải một thằng bé kháu khỉnh nghịch như quỷ sứ. Không phải một đứa con gái xinh đẹp, hiền ngoan. Trước mắt, chỉ là một khối thịt đỏ hỏn. Con trai. Cái chi thứ năm, chính là dấu hiệu con trai của nó! Mặc cho chị chăm bẵm, mặc chị cưng nựng, hài nhi, cái khối thịt đỏ ấy cuối cùng cũng bỏ ra đi… Những ngày sau đó, sữa ở hai bầu vú lúc nào cũng căng tức, chảy tràn. Nó tiết ra nhưng không biết để làm gì, không còn biết chảy vào đâu. Nó làm cho nỗi đau trong lòng chị càng thêm nhói buốt. Chưa hết thời gian nghỉ theo chế độ, chị đã xin đi làm sớm mong công việc sẽ giúp vợi quên nỗi đau trong lòng. Thật trớ trêu, ca trực hôm đầu tiên đi làm ấy lại là một ca hút thai. Chị đã định xin bác sĩ thay người nhưng hôm ấy y sĩ trực chỉ còn mỗi chị. Người mẹ thai nhi ấy, chỉ mới khoảng mười bảy, mười tám tuổi, nét mặt ngây thơ, ngơ ngác. Nó nhìn quanh sợ sệt, nem nép tựa vào tường. “Qua bên kia!” - Tiếng quát của cô y tá khiến đôi chân nó ríu lại chỉ chực sụm xuống. Con bé líu ríu vòng sang phía bên kia bàn, đôi mắt cụp xuống, hai tay luống cuống không biết để vào đâu, chân di di trên nền nhà. “Không biết lối mà trèo lên bàn à!”. Bây giờ thì con bé hoảng thật sự, nó lập cập trèo lên rồi nằm xuống, hai bàn tay đan chéo vào nhau, mắt nhắm nghiền lại. “Dạng chân ra! Cái lúc ấy, ai bảo đâu sao mà dạng nhanh thế!”. Trong phòng chỉ còn thi thoảng là tiếng gắt gỏng của y tá, tiếng lách cách chuẩn bị dụng cụ và tiếng u u của máy điều hòa nhiệt độ. “Thai mấy tuần?”. Nó giật mình mở choàng mắt vì câu hỏi bất ngờ của bác sĩ. “Dạ... Cháu… Cháu… Cháu  không biết…”. “Sao lại không biết! Nếu không biết thì về! Thế có biết tắt kinh từ khi nào không?”. Con bé sợ hãi, nước mắt chực sẵn ở mí mắt: “Hình như ba bốn tháng gì đấy ạ…”. Chị khẽ thở dài, trên màn hình chiếu, thai nhi nằm ngủ một cách bình yên trong tư thế của một thiên thần. Không biết có phải ảo giác không, nhưng trong một tích tắc, chị nhìn thấy hình như thai nhi kia chớp mắt rồi nhoẻn miệng cười với chị. Hạ ơi! Đó là một thai nhi gái! Một thai nhi gái lành lặn, xinh đẹp, hiền ngoan… Con bé nằm trên bàn bỗng liếc nhanh một lượt như muốn tìm kiếm người thân, như muốn bấu víu vào một ánh nhìn an ủi. Ánh mắt của nó dừng lại trên khuôn mặt chị. Con bé bỗng òa khóc, nó bíu lấy tay chị nức nở: Hu. Hu. Mẹ ơi! Con sợ lắm! Con sợ lắm! Nhìn đôi mắt ngơ ngác thất thần giàn giụa nước mắt của đứa con gái, lòng chị thắt quặn. Hạ ơi! Con gái xinh đẹp, hiền ngoan. Trong đầu chị bỗng lóe lên một ý nghĩ. Chị vuốt tóc nó khẽ nựng nựng vỗ về: “Con gái ơi… Hay là đừng phá nữa… Cứ để lại, nếu con không muốn, đẻ xong cô sẽ nuôi cho…”. “Không!” Đứa con gái thét lên sợ hãi. “Cháu van bác sĩ! cháu xin bác sĩ…”.  “Bây giờ thì nó chỉ muốn tống khứ cái của nợ ấy ra ngoài càng nhanh càng tốt để rồi còn tiếp tục lại đú đởn nữa chứ!” Ông bác sĩ khẽ lầm bầm rồi lại gắt lên: “Há mồm ra mà thở cho đều. Lúc sướng thì sao không thấy kêu với khóc”.

 “Lấy cho tôi iốt”. Sau tiếng nhắc của ông bác sĩ, như linh cảm thấy điều chẳng lành, thai nhi khẽ rúc cái đầu vào hai cánh tay nhỏ bé yếu ớt của mình. Đó cũng là hình ảnh cuối cùng của thai nhi trên màn hình mà chị bắt gặp. “Nào! Ráng chịu nhé em ơi!”. Chị đã thì thầm những tiếng như thế vào tai con bé trước khi sự tước đoạt mầm sống kia sắp sửa bắt đầu. Con bé đã nhoẻn miệng cười đầy vẻ hàm ơn. Ngày xưa, khi Thu đang cong mình chịu đựng những cơn đau dữ dội của mảnh bom nằm trong ổ bụng trên chiếc giường tạm của bệnh xá dã chiến để cho bác sĩ chuẩn bị mổ, chị cũng đã ghé vào tai Thu thì thầm như thế. “Nào, ráng chịu nhé em ơi!”. Hôm ấy, Thu đã nắm chặt lấy tay chị, gương mặt nhợt nhạt cố chịu đựng sự đau đớn, nhoẻn cười. Nụ cười nhợt nhạt ấy biết rằng mình chỉ có một phần trăm sự sống nhưng vẫn lóe lên tia hy vọng, lóe lên khao khát về một sự thần kì. Trong cái nhoẻn cười ấy, Thu đã gửi gắm bao điều nhắn nhủ. Và chị, cứ đinh ninh rằng, trong đó có một lời nhắn nhủ về một đứa con. Con bé nằm trên chiếc bàn kia cũng nhoẻn miệng cười, một nụ cười cầu thị. “Cô ơi, cháu sợ lắm! Cô làm nhanh nhanh cho cháu với!”. “Hay là thôi…?”. Cái ý định ban đầu mong cứu vớt thai nhi kia lại trở lại trong chị khi bắt gặp cái cười ngơ ngác của con bé. Lướt qua trong đầu chị là một đứa trẻ bụ bẫm chập chững cười toe toét rồi bập bẹ: Mẹ, mẹ … “Cháu sẽ về ở với cô đến khi nào sinh xong thì để đứa bé lại cho cô nuôi rồi cháu trở về với bố mẹ? Cô sẽ đến nói chuyện với bố mẹ cháu và giữ kín chuyện này cho”. Chị ngập ngừng nhắc lại ý muốn lúc nãy cố vớt vát tia hy vọng mong manh. “Không! Không! Cháu van cô. Hãy giúp cháu ngay bây giờ! Hãy giúp cháu ngay đi!”

...Những que inox tiệt trùng lạnh tanh bắt đầu được ấn vào để nong rộng cổ tử cung. Con bé đau quá. Nó gồng mình, ưỡn mông nhưng không dám hét. Gương mặt con bé nhợt nhạt, trắng bệch ra, miệng xệch xạc. Ngày xưa, trên chiếc bàn mổ dã chiến, Thu cũng trẻ như thế. Cũng mười tám tuổi, cũng cong người chịu đựng đau đớn khi chiếc dao mổ bằng kim loại lạnh tanh chạm vào da thịt mình. Gương mặt Thu cũng trắng bệch ra, nhợt nhạt, cố gắng chịu đựng để tống khứ mảnh bom tử thần đang trú ngụ trong ổ bụng mình mong tìm đến một sự sống mỏng manh. Bây giờ, con bé kia cũng đang đau đớn như thế, cũng muốn tống khứ một vật trong ổ bụng mình ra như thế. Nhưng cái sự tống khứ kia là sự tống khứ sự sống, tống khứ một sinh linh bé bỏng. Nỗi buốt xót bỗng dội ngược lên đỉnh đầu. Nước mắt chị ứa ra…

 


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 08 Tháng Bảy, 2011, 10:13:48 pm
                                 Tiếp theo :

 “Bật công tắc máy lên Đông ơi!”. Tiếng ông bác sĩ khẽ gằn. Hoảng hốt. Tai chị ù đặc. Đôi tay trở nên luống cuống, vụng về. Thay vì đưa tay bật công tắc điện ở chiếc máy ngay trước mặt, chị lại quơ quơ lên bàn khiến mấy chiếc banh, kéo, kìm rơi xuống đất kêu loảng xoảng. Ông bác sĩ nổi tiếng nóng tính ở bệnh viện trừng mắt định gắt câu gì đó nhưng kịp dừng lại. Ánh mắt dịu xuống, không nói gì, ông lặng lẽ nhoài người với tay ấn vào công tắc. Tiếng máy hút thai nổ sình sịch. Tất cả trước mắt bỗng tối sầm. Sình sịch. Sình sịch. Âm thanh kia không phải là tiếng động cơ nổ trong phòng máy lạnh im ắng mà là tiếng nổ của chiếc ca nô cao tốc ở phà Gù gió phần phật thổi. Nước sông đỏ sậm bởi ráng chiều tà đang tắt dần hắt lên từ phía đằng Tây, người Hạ và Xuân cũng nhuốm sậm một màu đồng hun như thế. Cả đại đội lặng đi trong giây phút truy điệu sống cho đội cảm tử trước khi họ bước xuống chiếc ca nô cao tốc để phóng hết tốc lực phá những quả thủy lôi đang nằm im dưới lòng sông, đảm bảo an toàn cho một đoàn gần ba mươi cháu nhỏ chuẩn bị qua phà gấp.  Không ai khóc. Lá cờ đỏ sao vàng bay phần phật. Bài Quốc ca trầm lan trên những cuộn nước…

 

“Ối! Chết mất mẹ ơi!”. Tiếng rên đau đớn của con bé làm chị sực tỉnh. Sình sịch… Trước mặt chị, chiếc máy hút thai vẫn đang làm việc. Tràn ngập căn phòng là cảm giác lạnh lẽo. Sình sịch… Rùng mình. Cảm giác ớn lạnh chạy dọc xương sống. Trước mắt chị, từng mảnh thân thể đỏ hồng của thai nhi đang trôi trôi trong ống hút. Chị loạng choạng bíu vội lấy cạnh bàn. Tất cả bỗng tối sầm. Chị hét lên một tiếng rồi đổ ập xuống bất tỉnh…

 

    Chiếc dầm bơi cứng ngắc trong tay, thuyền từ từ dừng lại rồi bắt đầu xoay tròn. Đêm cuối tháng, trăng mờ mờ phía đằng Tây như một mảnh sành vỡ. Chân trời xuất hiện những đụn mây hình người quấn xiết lấy nhau. Cái miệng con Hạ kìa! Cười mới xinh làm sao khi cùng Xuân bước xuống ca nô máy để phá thủy lôi. Tao cao số lắm! Không chết được đâu. Mà giả dụ tao có chết, đứa nào còn sống thì cho tao gửi một đứa để mai sau nó nhang khói cho tao nhé! Đừng có mà gở cái mồm! Về mà đẻ chứ ai hộ mày được hử! Chị đã quát lên với nó như thế rồi ba đứa ôm chặt lấy nhau. Hôm ấy, chị đã phải cố ghìm những giọt nước mắt cứ trực trào ra. Ngồi vào khoang lái, như sực nhớ ra, Xuân vội vã tháo chiếc cặp tóc có hình những chấm hoa trắng trên nền đen rất đẹp mà người yêu mới tặng xoay đi xoay lại ngắm nghía rồi đưa cho chị, nháy mắt: “Nói dại nếu tao có làm sao, mày mà đẻ con gái hãy đưa cho nó cái này. Coi như tín ước nhận nó làm con của tao nhé”.

  Chiếc ca nô từ từ tăng tốc lao vùn vụt trên sông. Uỳnh! Uỳnh!... Từng cột nước đỏ ngầu lẫn cả bùn đất đuổi theo sau đuôi chiếc ca nô đang phóng hết tốc lực. Vòng thứ nhất. Vòng thứ hai… Uỳnh! Uỳnh!... Đôi bàn tay của tử thần với những cú chụp giật sống sít như đã bắt đầu thấm mệt, đã bắt đầu rã rời, đã bắt đầu chán nản. Trên mặt sông, không còn những tiếng nổ, không còn những cột nước đục ngầu bùn đất. Những cuộn sóng tung bọt trắng bắt đầu đuổi nhau phía sau ca nô. Trên bờ đã có vài tiếng thở phào. Cố lên Xuân ơi! Hạ ơi! Vòng cuối rồi! Ba mươi mét… Hai mươi lăm… Hai mươi… Chị đã nhắm mắt cầu trời khấn phật. Nhưng rồi một tiếng nổ kinh hoàng. Một cột nước đỏ ngầu cuộn trùm nuốt chửng lấy chiếc ca nô, hất tung nó lên cao khi nó chỉ còn cách bờ chưa đến mười lăm mét. Tất cả lặng đi đau đớn. Mấy ngày sau, đồng đội và bà con hai bên bờ sông mới tìm được xác của hai người trôi dạt cách bến phà hai cây số. Chị đã khóc rất nhiều. Hồi ấy, đêm nào chị cũng thấy họ hiện về trò chuyện cùng chị. Có một đêm, họ cười và bảo với chị rằng: Ba đứa chúng tao đã hy sinh hết rồi. Chỉ còn mày! Phải cố mà sống. Sống để mai sau còn đẻ hộ chúng tao mỗi đứa một đứa con nhé!

Nhóm tứ quý giờ chỉ còn lại Đông. Chỉ còn lại một mùa đông cô đơn,  lạnh giá.

  Cơn gió mồ côi trong đêm vuốt nhẹ theo sống lưng, chị bỗng thấy lành lạnh. Hóa ra, người chị đã đẫm mồ hôi từ lúc nào mà không hề biết. Cái cảm giác lành lạnh ấy, chính là do cơn gió đang lau khô dần giúp chị. Con thuyền bấp bênh nhẹ trôi trên dòng. Không có sự điều khiển, nó quay dần mũi theo quỹ đạo tròn. Kịch… Những gợn sóng lăn tăn do thuyền vừa va phải làm gọng vó duềnh chúi xuống ánh lên màu bạc xỉn. Kịch. Kịch… Hai cú va liên tiếp. Nhưng lần này là cái đầu của chị va phải tóp vó. Những đàn đom đóm thi nhau túa ra nhảy múa. Nước từ ngoài sông ào vào thuyền lênh láng. Gập thấp người, chị vội vã quạt nước bơi ra xa bởi sau cú nẩy ra, thuyền sẽ trôi lại và cái tóp vó sẽ tiếp tục nện vào gáy chị những cú chí tử khác. Cầm lấy chiếc bát tát nước, chị cúi xuống lòng thuyền. Trong ánh trăng mờ mờ, bóng chị nhệch nhạc dưới đáy thuyền lênh loang rồi vỡ vụn. Trong đầu chị lại hiện lên hình ảnh thai nhi tan vụn trôi trôi… Suốt một thời gian dài, chỉ cần bắt gặp mùi hăng hắc của cồn hay nhìn thấy chiếc áo blu trắng, chiếc bàn mổ, panh, gạc, xi lanh, cái hình ảnh ấy lại trở về hành hạ chị một cách dữ dội. Chị đã phải xin nghỉ hưu sớm và trở về quê với mong muốn sự yên bình của kí ức tuổi thơ sẽ làm dịu đi những ám ảnh ấy.

 

Chợt nhớ đến những tiếng kẹt kẹt của cây vó, chị bơi lại dùng tay té té nước lên nạnh. Tóc... tóc... rào. Tóc... tóc… rào. Những giọt nước nhỏ li ti rơi xuống tạo một màn mỏng trắng mờ mềm như bông. Trong những giấc mơ, chị cũng hay bắt gặp trong cái màn mỏng mờ ấy hai đóa sen. Hai ấu hồn nhẹ như sương khói. Chị tắm cho chúng bằng hương của những loài hoa dại, cho chúng ăn những giọt sương tinh khôi đọng trên cành lá. Chúng nhảy nhót, vui đùa. Chúng hát. Chúng gọi chị là mẹ và kể chuyện cho chị nghe, hỏi chị những câu làm lòng chị như quặn lại. Mẹ ơi! Sao chúng con lại không có hình hài con người hả mẹ? Ôi! Những ấu hồn đáng thương! Chị biết trả lời chúng ra sao bây giờ?

  Phía bờ bên kia, những lùm cây in vào màn đêm tạo nên vô vàn những hình thù bất động như đám người đang lô nhô đứng ngồi. “Đông ơi!”, tiếng gọi cất lên nghe nhẹ như tiếng chiếc dầm trong một  khoảnh khắc ngắn ngủi khẽ va nhẹ xuống mặt nước. Thuyền vẫn dập dềnh. Đêm lễnh loãng trôi. “Đông ơi!”. Nước lóc bóc. Những bóng trắng chênh chao. Tròng trành. Nghiêng ngả. Hơi thở con gái hầm hập. “Đông ơi! Sao bây giờ mày mới đến thăm chúng tao?” “Thì tao bận quá!”. Câu trả lời của chị như một hạt nước đọng ở mũi thuyền rơi xuống mặt sông. Chị bỗng cảm thấy ân hận bởi câu trả lời vừa buột ra của mình. Câu trả lời biện minh thói quen vô cảm, bàng quan với mọi sự ở đời mà lâu nay chị vẫn quen dùng. “Bận. Bây giờ có ai mà không bận. Nếu mày bận thì chúng tao đi đây”. “Kìa! Xuân ơi! Hạ ơi! Thu ơi! Tao xin lỗi!Tại tao quen mồm! Ở lại với tao đã chứ!”. “Bận…Bọn tao cũng bận”. Chị đưa tay chới với, những bóng trắng cứ mờ dần cho đến khi chỉ còn lại những hình ảnh mơ hồ, chập chờn trong ánh sáng liêu trai…

 
 “Bà ơi! Hôm nay có cá ngon không vậy?”. “Có mớ cá trong giỏ ấy, đổ ra xem có lấy được không, tôi bán cho”. “Trông thì ngon thật đấy, nhưng mà toàn cá có trứng thế này, gầy giơ xương khó bán lắm! - Ba chục nhé!”. “Trả thêm cho tôi năm nghìn nữa. Được thì lấy”. Thoảng qua tiếng của người mua cá và bà lão kéo vó bè vọng vào lều. Hóa ra, những gì mà chị đã trải qua chỉ là một giấc mơ. Một giấc mơ pha trộn rất nhiều những hình ảnh thật và những điều tưởng tượng của quá khứ, hiện tại. “Bận. Tao bận quá!”. Chị vẫn còn nhớ câu nói ấy trong giấc mơ. Cái sự bận ấy của chị đã diễn ra mấy chục năm nay, và  nếu những cú sốc kia không giáng xuống cuộc đời chị, thì đến khi nào, cái sự bận kia mới hết để chị có thể nằm ở đây, ở cái lều vó này của bà cụ già - chỗ mà ngày xưa, rất gần nơi bốn chị em đã từng sống để mơ về những người đồng đội cũ?

Chị nằm im, nhìn trân trân lên khoảng không mờ trên nóc lều như muốn tìm ở đó sự giải thoát cho nỗi đau đang dội ngược. Chẳng có sự giải thoát nào ở trên đấy cả. Trái lại, cái khoảng không mờ mờ ấy càng dẫn chị đi xa hơn trong cái thế giới u u, mê mê mà chị đang phải chịu đựng. Cái thế giới nhờ nhờ tối ấy đè cứng lấy chị, làm chị không thể nào cựa quậy, không thể nào vùng vẫy. Có ai không? Hãy động vào tôi đi! Hãy gọi tôi một tiếng! Có ai không? Chị muốn hét thật to lên, kêu toáng lên nhưng kết quả chỉ là những tiếng ú ớ không sao thoát ra khỏi lồng ngực…

 Có tiếng hắng giọng. Rồi tiếng chuông ngân và vang xa. Chậm rãi và thật nhẹ, chị thấy gương mặt phúc hậu của bà cụ đang ghé sát mặt mình. Đôi bàn tay nhăn nheo lay nhẹ người chị. “Dậy… Dậy cô ơi!”. Chị chồm dậy. Ôi may quá. Dậy được rồi. Chị ngượng ngịu dụi mắt cười. “Tối hôm qua cô sảng ghê quá! Cả đêm cứ ú ớ suốt. Gần sáng lại bị bóng đè nữa”. “Vâng. Cảm ơn bà. Hôm qua con đi đường xa mệt nên đặt lưng xuống là ngủ như chết… Bà ơi! Bà kéo vó ở đây đã được lâu chưa ạ?”. “Dễ cũng có đến hơn chục năm rồi. Thì tôi cũng là ở đây vừa làm cái vó này, vừa nhang khói cho đền thờ Hai Cô”. “Đền Hai Cô?”. Câu hỏi của chị thốt ra hầu như đồng thời với câu trả lời vừa rồi của bà cụ. Chị bỗng nhớ đến tiếng chuông mơ hồ khi sáng và những gì mình đã trải qua trong giấc mơ. Bà cụ đưa tay lên bắt dây vó không nhìn chị. “Là hai cô gái thanh niên xung phong đã hy sinh khi phá thủy lôi trên sông”. Bà cụ ngừng lại một chút rồi tiếp: “Hồi còn chiến tranh, có một cái phà ở chỗ dưới kia, nhưng rồi hòa bình, nó cũ nát, người ta không sử dụng nữa. Bến phà bị bỏ hoang, một thời gian sau người dân ở đây xây dựng đền Hai Cô. Bữa tối, khi cô đến, tôi đã thấy gương mặt cô rất nặng âm khí. Đêm cô lại mê sảng dữ quá nên tờ mờ sáng tôi ra đền thỉnh chuông kêu cầu Hai Cô phù hộ”. “Dạ con cảm ơn bà. Trước đây, con cũng đã từng chiến đấu ở đây”. “Ở cái bến sông này hả? Ừ. Tôi cũng đoán là cô có liên hệ gì đó với cái bến sông này”. “Đền Hai Cô có gần đây không hả bà?” “Mai là ngày rằm. Tôi đã mua hương hoa để sẵn trong thúng, chiều tối tôi xuống đó quét dọn và đón khách đến dâng hương hoa. Cô có đi cùng không?”.

  Chị gật đầu.

Và bỗng thấy trong lòng nhẹ nhõm đến kỳ lạ

           Nguyễn Mạnh Hùng


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 08 Tháng Bảy, 2011, 10:18:36 pm
                                     Cà na đắng
                                     Tác giả :Nhất Phượng

 Năm tôi lên tám thì anh hai tôi hy sinh. Ngày được tin báo tử, mẹ tôi vật vã đến lịm người. Ba tôi lúc nào cũng kề một bên. Ông van nài: “Thôi mẹ nó! Phải sao chịu vậy. Âu cũng là...” Lâu lâu, ông quay mặt đi, lén chùi nước mắt...

 
  Mấy tuần liền nhà buồn như nấm mộ. Đi học về, tôi lủi thủi ăn cơm một mình rồi chui vào xó nhà buồn thỉu buồn thiu. Ba tôi kịp lấy đâu ra tấm hình của anh hai tôi đặt lên chiếc bàn nhỏ phủ khăn trắng, cạnh bàn thờ dì tôi. Từ nay, nhà có hai liệt sĩ - đều chết trẻ. Dì tôi, lúc hy sinh nghe nói cũng chỉ quá hai mươi.

Luôn một tháng, ba tôi không về Phước Chỉ. Ông tự tay lo cơm nước cho mẹ tôi. Việc này trước kia ông vẫn thường làm, kể cả khi còn là một cán bộ đương chức. Đáp lại sự vỗ về của ba tôi, mẹ tôi chỉ khóc. Hoặc ngồi thẫn thờ. Một đêm, tôi tỉnh giấc. Nghe khát nước nhưng không dám gọi mẹ, tôi đành rón rén rời giường mò ra phòng ngoài. Tôi giật thót mình khi nhác thấy một bóng đèn trước bàn thờ anh hai tôi. Trong ánh sáng tù mù của ngọn đèn dầu nhỏ và mấy nén nhang lập loè tôi định thần nhìn kỹ. Hoá ra là ba tôi. Ông lầm thầm khấn vái gì đó rất lâu, rồi đứng lim dim, đầu cúi gục. Hôm sau, tôi thì thào với mẹ: “Mẹ ơi! Ba cũng thương anh hai dữ lắm hả mẹ?” Mẹ tôi hơi sửng sốt. Bà nhìn tôi hồi lâu: “Sao con hỏi vậy”. Im lặng một lúc, bà thở dài: “Con ruột sao không thương? Rất đỗi là...” Thấy mẹ tỏ vẻ không muốn tiếp tục câu chuyện tôi đành im, dù lòng đầy thắc mắc.

  Rồi mẹ cũng nguôi, thôi không vật vã nữa. Sáng hôm ấy, bà dậy sớm lặng lẽ chuẩn bị các thứ cho ba tôi về Phước Chỉ. Vài ký đường, ít hộp sữa, rồi xà bông, thuốc cảm... Ba tôi đeo cái túi đầy ứ lên vai, ngập ngừng: “Mẹ nó ở nhà rán giữ sức. Thông cảm cho tôi...” Ông hấp tấp quay đi sau khi vỗ nhẹ vào đầu tôi: “Ba đi nghe Thảo”. Tôi không dạ, lòng bỗng trào lên nỗi tức giận. Trước đó, tôi cứ nghĩ ba tôi sẽ không đi đâu nữa sau cái biến cố đau buồn ấy. Từ khi có chút trí khôn đủ biết lưu ý những điều bất thường quanh mình, tôi đã lờ mờ cảm thấy gia đình tôi hình như không giống nhiều gia đình khác. Ba mẹ tôi chưa từng to tiếng với nhau bao giờ. Người này luôn tìm cách làm vừa lòng người kia từ những việc nhỏ nhất. Vậy mà vẫn có gì không ổn. ẩn náu bên trong cái hạnh phúc dịu ngọt êm đềm, có những khoảng tối mơ hồ, âm thầm và dai dẳng. Tôi không tự giải thích được điều gì, chỉ miết một cách mang máng rằng: ngoài cái gia đình nhỏ bé, trong đó có tôi, ba tôi còn có một gia đình khác ở Phước Chỉ – với một người đàn bà không phải mẹ tôi.

 
 Mấy năm sau, ba tôi vẫn giữ thói quen mỗi tháng về nhà một lần, mỗi lần năm ba bữa. Lần nào về, ông cũng rất chăm đốt nhang cho hai bàn thờ vẫn đề liền nhau. Bàn thờ dì không có ảnh. Có khi ba tôi lại đờ đẫn ngó bức di ảnh của anh hai tôi cả giờ, rồi lại lầm thầm khấn vái chi đó. Những lúc ấy, tôi cứ thắc mắc. Không biết ở cái cõi riêng của mình, anh hai tôi có nghe được lời nào không. Cũng chẳng biết vong hồn anh có về nhà được chưa, khi mà hai cốt vẫn còn đâu đó tận chiến trường. Mẹ tôi ngày càng ít nói. Bà vẫn chăm sóc cha tôi rất chu đáo, chu đáo đến từng bữa ăn, từng ký đường, hộp sữa mỗi khi ba tôi chuẩn bị rời nhà. Một hôm, mẹ tôi nói: “Thảo sửa soạn về Phước Chỉ với ba, thăm dì Lành”. Giờ, thì tôi đã biết tên người đàn bà từng chung sống với ba tôi bấy lâu. Chuyện thăm nom với tôi ăn nhằm gì. Điều làm tôi, con bé suốt mười mấy năm lớn lên ở đất thị xã quen thuộc, cảm thấy hứng thú là sẽ được quen với một vùng quê lạ, được lênh đênh trên sông nước như ba tôi thường kể.

Ngồi trên chiếc xuồng máy lướt băng băng trên con rạch Vàm, tôi như bay bổng. Cảnh vật mở ra trước mắt, tựa hồ trong một câu chuyện thần tiên nào. Những tàu môn nước lắt lay. Những giỏ lục bình nở bông tím ngắt, bập bềnh theo sóng nước. Cái gì cũng đều có vẻ kỳ diệu với tôi. Ba tôi ngồi gần đằng mũi, tay chỉ chỏ lên bờ, kể những kỷ niệm thời trai trẻ, hoạt động cách mạng vùng này. Tôi lơ đễnh nghe, mắt chỉ chăm chăm dõi theo tiếng con chim gì ánh ỏi trên đọt cà na. Lần đầu tiên, tôi biết cây cà na. Chúng mọc khá nhiều, xùm xoà theo bờ rạch, trái lít chít trên cành lá.

Nhà dì Lành nằm ở một góc ngã ba, nơi con rạch Vàm đổ hoà ra sông lớn. Ngôi nhà tranh có vẻ quạnh hiu bên cạnh cái mênh mông của trời nước. Làng xóm ở đây còn thưa thớt lắm. Nhà này cách nhà kia rất xa. Buổi trưa thật vắng vẻ, yên tĩnh ngoại trừ mấy tiếng gà xao xác gáy và tiếng mái chèo khua nước ì oạp trên sông. Tôi theo ba tôi, bước lên bờ, ngần ngại bước vào nhà dì Lành. Trong nhà mọi thứ đều sơ sài, cũ kỹ. Một người đàn bà xanh xao đang ngồi bệt dưới đất, tay bắt mấy cái nan rổ. Đó là dì Lành. Dì nhìn tôi sững sờ rồi cuống quýt chụp lấy cây nạng bên cạnh, lập cập đứng dậy, kêu lên: “Trời ơi! Thảo đây hả con?” Ba tôi đỡ nhẹ lấy lưng dì, dìu đến bên chiếc chõng tre. Dì đập đập tay xuống mặt chõng, hối hả nói: “Ngồi đây! Ngồi đây đi con! Ngồi đây, cháu!”. Ngây người nhìn tôi từ đầu đến chân, dì tiếp giọng vấp váp: “Trời ơi! Con mau lớn quá. Hồi mới giải phóng, dì có lên Tây Ninh thăm con. Lúc đó con còn chưa biết nói. Mới đó mà hơn chục năm...”

Gần như suốt cả ngày, dì Lành quấn lấy tôi. Nhưng cái chân teo tóp bất thường và cây nạng tre của dì cứ làm tôi rờn rợn. Tôi hay kiếm cớ chuồn khỏi nhà, theo ba tôi đi xúc tép hoặc vớt cá con. Ba tôi xúc thật giỏi. Chẳng mấy chốc, cái rá to đầy nhóc lũ tép mòng. Chúng nhảy rào rào chen chúc với đám rô non, bù niễng. Buổi chiều, khi ba tôi quẩy đôi thùng ra bờ rạch, tôi lẽo đẽo theo sau. Trong lúc ông lúi húi bên cây cầu ván, tôi đứng trên bờ tò mò nhìn mấy đứa trẻ trạc tuổi đang hụp lặn dưới nước. Chúng ném những trái cà na vào nhau, vừa la hét vừa cười rầm rĩ. Những tấm lưng trần đen nhẻm, bóng lên dưới nắng chiều trông cứ như được trát một lớp bùn mịn. Tám chán, chúng tồng ngồng kéo nhau lên bờ, mặc quần áo. Xong, chạy đến moi từ một bụi rậm mấy cái giàn thun cất giấu tự lúc nào chẳng biết. Rồi mặc cho đầu cổ tai lòng ròng những nước, chung đi dọc theo bờ rạch, vừa đi vừa nghiêng ngó theo tiếng chim trên cành cao.

Trưa hôm sau, ba tôi đi lấy thuốc cho dì Lành. Dì Lành nói dì uống thuốc nam đã ba bốn năm nay, chẳng biết phải uống đến bao giờ mới thôi. Tôi lại trốn ra hè nhà, thơ thẩn bên những cây cà na. Không rõ chúng được dì Lành trồng hay tự mọc? Chắc đang mùa nên trái nhiều lăm. Tôi lượm cành củi khô, với người lên quất. “Lấy sào mới thọc được con à”. Dì Lành đứng ở chái bếp nói vọng ra, rồi lọc cọc nạng tre bước đến bên vách nhà, rút cây sào trúc dài, đầu có móc lẽm đưa cho tôi. Tôi mải mê lần hết cây này qua cây khác. Dì Lành tay cầm bọc nilông, khập khểnh chống nạng theo sau, kiên nhẫn lượm từng trái một. Khi cái bọc căng phồng tôi cũng mỏi nhừ cổ. Dì Lành ngồi bệt xuống đất, tây lần bóp ống chân, vừa cười vừa thở gấp: “Để dì lấy muối ớt cho con chấm ăn mới ngon”. Nhưng tôi chỉ thích thọc chơi chứ không thấy khoái khẩu cái thứ này. Những trái cà na xanh xanh, mũm mĩm nhìn thấy hay hay ngồ ngộ nhưng cắn vào chát xít lại đắng và chua. Thấy tôi lè ra, nhăn mặt dì Lành cười: “Mai mốt khoe khoẻ, dì làm cà nà muối cam thảo gởi lên cho mẹ với Thảo ăn, ngon hơn”.

Ở Phước Chỉ thêm vài ngày, tôi theo ba tôi về thị xã. Dì Lành gửi biếu mẹ tôi mấy hũ mắm tép và một ít khoai môn. Dì lọc cọc nạng tre đưa cha con tôi ra bờ rạch. Tôi xách bọc cà na - đêm về chơi rải ruộng ngồi thảm xuống lòng xuồng. Dì Lành nước mắt giàn giụa, cố nói với theo: “Mai mốt rảnh, con về chơi. Dì trông nghe Thảo.”

*
     Tôi đỗ vào đại học. Mẹ tôi nói: “Con cứ đi. Mẹ còn khoẻ lắm. Ở nhà có cậu con tới lui thăm chừng, không sao đâu”. Thế là tôi xuống thành phố, lòng không mấy yên. Một hôm, nhà điên xuống: “Có việc cần. Về gấp”. Không kịp phép tắc gì, tôi lao ra bến xe.

Ào vô nhà, tôi gần nghẹn thở vì mừng khi thấy mẹ tôi ngồi trên bệ ván. Ơn trời, mẹ vẫn yên lành nhìn tôi một lúc, mẹ tôi buồn rầu báo tin: “Dì Lành sắp chết”. Tôi hơi sững người. Một chút xao xuyến thoáng gợn lên trong lòng. Đã lâu lắm gần một chục năm ròng tôi không gặp lại dì Lành. Gần chục năm tôi chưa một lần trở lại Phước Chỉ. Dì Lành đã năm lần nảy lượt nhắn gọi, tôi chẳng hề để tâm. Còn ba tôi, cứ mỗi bận quẩy túi rời nhà, ông lại cố hỏi tôi thêm lần chót: “Thảo không về dì Lành chơi thật à con?” Thấy tôi lắc đầu quầy quậy, ông thở dài quay đi. Cái làng quê sông nước nghèo nàn hiu quạnh ấy không đủ sức lôi cuốn tôi lần thứ hai. Những chú tép nhả lao xao trong chiếc rá tre cũ kỹ, những đứa trẻ đen cháy trần truồng bên sông, những trái cà na đắng nghét với người đàn bà tật nguyền xanh xao chỉ còn thấp thoáng trong ký ức xa xôi mờ nhạt. Ba năm qua, cứ lâu lâu dì Lành lại gửi lên cho tôi vài hũ cà na muối. Những trái cà na muối ngả màu vàng vàng, ăn nghe mằn mặn, chua chua, ngọt ngọt khá hấp dẫn. Thứ quà đồng quê là lạ ấy khiến cho lũ bạn cùng lứa tôi vô cùng thú vị. Tôi hào phóng chiêu đãi chúng trong niềm hãnh diện của kẻ có trong tay thứ vật quý không ai có được. Đó là tất cả những gì còn lại rõ nét nhất trong tôi về một vùng quê xa thẳm.


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 08 Tháng Bảy, 2011, 10:21:16 pm
                                     Tiếp theo :

      Mẹ tôi nhìn tôi nói rõ ràng từng tiếng một: “Con thu xếp về dưới ấy ngay, kẻo không còn kịp”. Trước ánh mắt ngơ ngác của tôi, ba quay đi, nói như người sắp hụt hơi: “Cũng đã đến lúc con cần phải biết hết mọi chuyện”.

 
    Tôi về đến nơi, tất cả đã muộn màng.

Ba tôi cắm thêm mấy nén nhang trước phần mộ mới đắp nằm trên một gò cao. Từ đây nhìn hút ra xa kia, vẫn có thể thấy được mặt sông loang loáng nắng, thấp thoáng hàng cây rậm ven bờ. Ba tôi cúi mặt, hai tay thu vào lòng. Ông già đi cả chục tuổi. “... Hồi đó, khi ba được điều về công tác bí mật vùng này thì bà ngoại con đang sống cảnh mẹ goá con côi. Ba ẩn náu nhà ngoại non sáu tháng thì bị lộ, do bọn chiêu hồi chỉ điểm. Đêm ấy, ba vừa từ ngoài lọt vào thì bọn lính ập tới. Không còn con đường nào khác, ba tông vách lá bay ra ngoài. Bà ngoại với má con liều chết xông vào giằng kéo chúng để cản đầu súng. Ba lao xuống sông thoát được, nhưng bà ngoại bị chúng bắn chết tại chỗ. Má con thì bị lôi về đồn, bị tra tấn đến liệt cả hai chân. năm đó má con mới vừa mười bảy...”

Mấy làn khói mong manh, run rẩy vờn lên quanh bia mộ. Không có một tấm ảnh nào lưu lại để tôi có thể hình dung cô gái tên Lành mười bảy tuổi năm xưa – ngây thơ và quyết liệt. Ba tôi đốt thêm một nén nhang trao cho tôi rồi vòng tay sau gối, mắt dõi ra sông, lặng lẹ. Ôi! Không biết trong hơn bốn mươi lăm năm qua, đã bao lần người cán bộ binh vận trẻ trai ngày nào từng ngồi như thế, một mình với những hồi ức âm thầm và day dứt?

... Năm 1965, khi bọn lính nguỵ ở đồn Rạch Tràm rút chạy, người cán bộ binh vận có dịp quay lại Phước Chỉ. Anh tìm Lành, cô bé của sáu năm về trước. Chân Lành, sau những trận đòn thù hồi ấy, không còn bình thường nữa. Lâu lâu, cô vẫn bị những cơn đau nhức hành hạ. Mặc dù vậy, Lành vẫn nhất quyết tham gia công tác bí mật. Lúc chia tay cô gái côi cút, anh cán bộ trẻ ngậm ngùi tặng cô chiếc khăn rằn làm kỷ niệm. Anh không hề ngờ rằng món quà đơn giản ấy đã để lại sau nó cả quãng đời thanh xuân tươi trẻ của Lành. Năm sau, từ vùng địch anh về quê ở Đôn Thuận. Ở đó, có bà má nuôi và cô em kết nghĩa đang cưu mang đứa con trai mồ côi của anh, như đã từng cưu mang nó suốt tám năm qua kể từ khi người vợ trẻ của anh ngã xuống trong một trận đánh quyết liệt ở Bồi Lời. Gặp lại con anh mừng thấy nó khoẻ mạnh, khô ngô. Nhìn thằng bé quân quít bên “bà nội” và âu yếm gọi cô gái bằng mẹ, anh hiểu ra rằng cuộc đời của nó, và cả của anh nữa từ nay không thể tách rời cái tổ ấm thân yêu này. Đám cưới, chỉ một mâm cơm cúng ông bà và vài bà con cùng xóm. Được mấy ngày thôi, anh lại đi. Năm 1972, khi phong trào diệt ác phá kìm ở Phước Chỉ lên cao, anh được điều về lần nữa. Anh gặp lại Lành, bàng hoàng hiểu ra từng ấy năm ròng, cô chờ đợi... Hay tin anh đã có vợ, cô gái – nay đã luống tuổi – lặng người đi. Rồi cô xót xa nói với ah – tuổi xuân của cô đã qua. Chẳng còn gì để mà chờ nữa. Giờ cô chỉ mong có một đứa con. Anh đã khóc khi ôm cô vào lòng.

Nhưng đứa con của niềm mong đợi cũng không ở lâu được với Lành. Nó lên một tuổi rưỡi thì Lành bị thương nặng trong một trận công đồn. Cô bị địch bắt. Đứa bé được tìm cách đưa đến cha nó. Rồi lại đưa về Đôn Thuận. Người vợ hiền dịu của anh cán bộ binh vận, suốt bao năm đằng đẵng chờ chồng đã phải ngậm ngùi, chua xót nhận thêm một đứa con không phải do chính máu thịt của mình...

Ba tôi ngừng kể. Ông thoáng nhìn tôi, vẻ bối rối, e ngại. Tôi cúi mặt không rõ mình đau xót cho ai. Cho chính tôi - đứa con gái hai mươi tuổi đầu mới rõ cội nguồn. Cho anh hai tôi đến ngày nằm xuống cũng không hề biết người dì chết trẻ vẫn thờ trong nhà bấy lâu mới là người đã rứt ruột đẻ ra anh? Hay cho cả hai người mẹ cả đời mất mát của tôi? Ba tôi nói như van xin: “Thảo ơi! Suốt đời ba cứ ăn năn. Ba đã làm cho cả hai người đàn bà yêu thương ba đều khổ. Mẹ con trên ấy là người mẹ tốt nhất trên đời. Ba yêu quý và biết ơn mẹ con. Nhưng má Lành con cũng là người đáng thương, đáng trọng. Bao nhiêu năm ba về đây cũng vì muốn đỡ đần, bù đắp phần nào cho người đã rứt ruột đẻ ra con. Bà ấy chẳng còn ai bên cạnh. Bấy lâu, ba mẹ giấu kín mọi chuyện vì sợ các con buồn rầu, nghĩ ngợi. Má Lành cũng không muốn làm xáo trộn cuộc sống êm ấm của con. Bà ấy tự biết mình không thể lo cho con được đầy đủ như mẹ con, và cũng không sống được bao lâu...” Tôi nắm bàn tay xương xẩu của ba tôi, lắng nghe từng nhịp run rẩy của nỗi dằn vặt suốt những tháng năm dài dồn nén lại. Ba tôi đã già rồi!

 
  Tôi ở lại Phước Chỉ hơn một tuần, rồi trở về thị xã. Mẹ tôi chắc đang đứng ngồi không yên. Ba tôi đòi đưa tôi ra tận ngoài bến đò, nhưng tôi không chịu. Ông đành đứng trên bờ rạch nhìn theo, dặn với: “Nói với mẹ, vài hôm nữa ba về”.

Xuồng rời khỏi ngã ba sông. Tôi còn thấy cái dáng khòm khòm, nhẫn nại thấp thoáng sau vòm lá. Khách, trên xuồng khá đông, phần lớn là người đi chợ Trảng. Hình như ai cũng quen nhau. Tiếng cười nói râm ran, ồn ã. Thỉnh thoảng có một vài chiếc ghe đi ngược chiều. Tiếng kêu gọi í ới lại nổi lên nhộn nhịp. Xuồng lướt mỗi lúc một nhanh. Hàng cây bên bờ nối nhau chạy lùi lại phía su. Những cây cà na, chắc không phải mùa nên không thấy trái. Nắng sớm trong veo, óng ánh trên mặt nước không ngừng chao động. Ngồi co gối, ôm cái túi xách nhỏ, trong có lọ cà na muối vào lòng, lắng nghe tiếng gió vun vút bên tai, tôi khép mắt lại... “Năm nào, đến mùa cà na rộ, má con cũng muối sẵn để dành. Đợi hoài không thấy con về, má con cứ bắt ba phải mang về trển cho được...” Tôi vừa thấy ba tôi quay mặt giấu đi một giọt nước mắt vừa ứa ra, chưa kịp rơi xuống. Tôi lại thấy những trái cà na xanh đầy nhựa, đắng đắng, chua chua và con bé con mười hai tuổi tay cầm cây sào trúc, thẩn thơ hết cây này sang cây khác. Theo sau, là tiếng nạng tre lọc cọc, những ánh mắt âu yếm dịu dàng... “Cà xa xanh hơi đắng, nhưng muối kỹ với đường ăn cũng được lắm, con à! Để khi nào dì khoẻ khoẻ...” Ôi! Tất cả đều đã xa xăm... Úp mặt vào tay mình, tôi khóc...

 Nhất Phượng


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 08 Tháng Bảy, 2011, 10:27:45 pm
                              Chuyện nhỏ bên cung đường trường sơn
                              Tác giả : Nguyễn Đức Thiện

        Ông Kim về đơn vị xe máy chúng tôi mới được một thời gian ngắn nhưng sự xuất hiện của ông làm xôn xao dư luận đơn vị. Ông lì xì ít nói, không oang gào quát nạt như mấy vị chỉ huy đội xe mà ta thường gặp.

Người ta đồn rằng ông từng là lính lái xe Trường Sơn. Người ta còn bảo, ông đã lái chiếc Gin- khơ chạy xuyên Việt một mạch vào Sài Gòn, kịp ngày giải phóng miền Nam trong đội hình của đoàn 559 lừng danh. Đồn thì đồn vậy, chứ ai biết thực hư ra sao. Chỉ biết ông đang là thủ trưởng của tụi tôi. Một ông thủ trưởng lạnh lùng, khó gần.

Từ ngày ông về, nếp làm việc có thay đổi chút ít. Mỗi tuần, ông họp với các đội xe, đội máy xúc, đội xe gạt… một lần. Mỗi lần không quá một tiếng đồng hồ. Giao việc mới, nhận xét việc cũ, giải quyết việc mới phát sinh. Hết. Ai vào việc nấy. Các ngày trong tuần có việc gì đã có các đầu mối giải quyết. Thỉnh thoảng ông xuống các đội, ghi chép công việc vào cuốn sổ tay nhỏ vừa bằng chiếc túi áo bộ đội bạc màu của ông. Cán bộ thế cũng thích, ít nói, làm… vừa đủ sức.

Nhưng nói thực, chúng tôi hơi có ý coi thường.

 Như tôi chẳng hạn.

Tôi là anh lái đại xa từ lâu đã nổi tiếng là anh “đại phớt” ở xí nghiệp xe máy này. Với vóc dáng cao lớn, với khuôn mặt to bè và cặp mày rậm đặt ngang trên đôi mắt lúc nào cũng lạnh lùng càng tôn thêm vẻ lì lợm. Tôi mà đã ngồi lên xe thì một lèo, đi, đến, và chúa ghét chuyện tạt ngang tạt ngửa giữa đường. Anh em cùng lứa khen tôi là biết “chí thú làm ăn”. Chẳng biết có đúng thế không vì đấy là lúc xe tôi hoàn toàn tốt… Còn lúc xe hỏng thì sau khi hết phận sự của một anh lái xe, tôi phó mặc chuyện sửa chữa cho mấy cậu thợ. Đến bao giờ sửa xong là chạy. Những lúc đó tôi tranh thủ ngủ, ngủ tới phị mắt ra thì thôi. Được cái cánh lính thợ sửa chữa ở chỗ tôi cũng khá, nên chẳng mấy lúc tôi được ngủ quá hai ngày. Từ ngày về đây, tôi cứ thế mà sống và làm việc. Thủ trưởng nào thì cũng vậy thôi.

Tất nhiên, nếu chỉ có thế thì chẳng có việc gì phải kể về tôi và ông Kim làm gì. Chuyện giữa tôi và ông đã xảy ra.

Hôm ấy, tôi đưa xe về bãi sau một chặng đường khá vất vả. Trăm sự vì cái ống dẫn đầu. Nó vỡ. Dọc đường, tôi phát bẳn lên vì chốc chốc tôi phải dừng lại tìm cách bịt chỗ vỡ cho xe ậm à ậm ạch chạy về. Tới bãi, để mặc chiếc xe đấy, tôi chạy ào vào gặp tổ trưởng sữa chữa:

- Này, xe tớ bị hỏng cái ống dẫn đầu, mai cho sửa, hả?

Chẳng biết cậu ta có nhận lời không, tôi về. Sáng hôm sau, tôi ngủ một giấc đẫy. Gần trưa, bỗng có người nắm chân tôi, lắc:

- Dậy, Tấn! Xe cộ thế nào mà nằm đây hả?

Tôi ậm ừ và mở mắt. Ông Kim đang đứng bên giường tôi. Dáng lủn củn của ông không cao quá cái dây căng màn. Tôi đáp gọn:

- Xe hỏng!

- Hỏng gì?

- Ống dẫn dầu. Tôi báo sữa chữa rồi mà.

Tôi uể oải dậy. Ông vẫn chưa chịu buông tha:

- Dẫn tôi ra xem sao, đi!

Đành phải đi. Tôi dẫn ông ra xe và chỉ cho ông xem cái ống dẫn dầu đã bị tôi “băng bó” ngày hôm qua. Ông bảo tôi:

- Tháo ra, cậu!

Tôi cười nhạt. Thì tháo.  Loại ống dẫn chuyên dụng này trong kho làm gì có. Phải thay toàn bộ hệ thống ống dẫn dầu, phải vẽ, phải đặt hàng, phải tiện mới… bao nhiêu cái “phải” nữa, còn khướt cái xe này mới chạy nổi. Tôi điềm nhiên tháo ra và đặt cả cụm dẫn dầu vào một cái khay. Chỉ chờ có thế ông bê lấy cái khay. Tôi trố mắt nhìn theo, và càng ngạc nhiên hơn khi thấy ông bê tuột xuống nhà bếp. Tôi vội chạy theo ông.

Ông làm thì nhanh lắm. Vài phút là xong. Quay lại thấy tôi, ông thủng thẳng:

- Mang ra, lắp vào xem sao.

Tôi chẳng mấy phục, bê ngay lấy cái khay. Bỗng nghe ông giật giọng:

- Khoan đã…

Tôi dừng lại. Ông bảo:

- Nhặt cái bu loong và con ốc kia cất đi.

- Cái thứ bỏ đi…

Tôi chưa dứt lời thì ông đã át đi:

- Tôi bảo cậu nhặt thì nhặt lên. Bỏ nó vào thùng phụ tùng ấy… Thế nào cũng có lúc dùng đến đấy…

Mươi phút sau, chiếc xe của tôi nổ giòn. Ông đứng bên cửa chiếc xe, tay chắp sau lưng, nghe tiếng máy nổ. Tôi bức bối và ngứa ran khắp người. Không chịu được, tôi cài số, toan cho xe đi. Ông kêu lên:

- Khoan! Khoan đã…

Tưởng có chuyện gì, tôi phanh xe lại, chờ ông ném cho tôi chiếc áo bộ đội lúc nãy tôi vắt ở chiếc cọc rào cạnh đó.

Tôi khoác chiếc áo vào vai, ấm ức, khó chịu. Nhưng thôi, mặc, đi đã. Hôm ấy tôi quên cả bữa ăn sáng.

    Đơn vị chúng tôi nhận nhiệm vụ hành quân lên công trường làm đường Hồ Chí Minh. Nghe được lên Trường Sơn cánh lính xế chúng tôi xem ra phấn khởi lắm. Chuyện đường mòn Hồ Chí Minh nghe mãi rồi, nghe như chuyện cổ tích, bây giờ được đến tận nơi nhìn tận mắt ai mà không thích. Chúng tôi hăm hở lên đường.

 Ông Kim lại chính là người chỉ huy đoàn xe chúng tôi.

Cuộc hành quân chấm dứt khi chúng tôi đến một vùng rừng núi hoang vu của Trường Sơn. Tách khỏi những con đường nhựa phẳng phiu, đoàn xe len lách trên những con đường chỉ còn mờ mờ dấu vết cũ. Chắc là đường của những cuộc hành quân ngày xưa. Là chúng tôi đoán như vậy. Cỏ dại đã mọc ken dày. Đã có những cây con mọc lên. Nhưng giữa mênh mông rừng già vẫn cứ nên hình, nên dáng con đường. Trong khung cảnh ấy, tôi bỗng như cũng thấy có cái gì đó náo nức. Bỗng: Cùng mắc võng trên rừng Trường Sơn... Bỗng: Xe không kính không phải vì xe không có kính… Bỗng: Hết rau rồi em có lấy măng không… Những câu thơ, những câu hát như thế vang lên cùng với những cái đánh tay bẻ lái của chúng tôi khi tiến vào những con đường ngoằn nghoèo xưa.

Ngày khởi công, đoàn xe chúng tôi xếp hàng giữa một cánh rừng, giống y như những đoàn xe được chiếu trên phim về chiến tranh trước đây. Ông Kim có một bài diễn văn thật hay:

- Thưa các đồng chí. Hôm nay chúng ta trở lại con đường xưa mà cha anh chúng ta đã đi. Con đường đã làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc. Con đường Hồ Chí Minh. Con đường xưa ác liệt và đẫm máu của đồng đội chúng ta. Còn con đường hôm nay, con đường đưa đất nước đi tới ấm no, giầu mạnh…

Tôi không mấy cảm tình với ông, nhưng khi ông kết thúc bài diễn văn, tôi cũng vỗ tay đến rát bỏng.

Chỉ có một ngày vui, còn sau đó công việc bắt đầu. Rừng rộn lên những tiếng xe gầm rú và cả tiếng mìn nổ phá đá. Chúng tôi bắt đầu vào guồng quay của ông Kim.

Chẳng hiểu ông ta tổ chức thế nào mà cánh lái xe chúng tôi cứ thúc vào đuôi nhau mà chạy. Chạy liên hồi, tay quay vô lăng rã rời. Chả thế mà có cậu đạt năng suất gấp đôi định mức. Tôi cũng bị cuốn vào cơn lốc chạy xe ấy. Tôi đóng chốt trên ghế xe. Mấy ngày liền tôi có tên trên bảng tên thi đua và là một trong những lái xe được khen thưởng nhiều lần. Kể cũng thích. Nhưng vốn tính cũ, tôi vẫn tỏ thái độ thờ ơ, nhất là đối với ông Kim mỗi lần thấy ông ra hiện trường, gặp xe tôi, ông giơ tay vẫy vẫy, tôi vẫn phớt.

 
                                   


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 08 Tháng Bảy, 2011, 10:29:44 pm
                       Tiếp :

  Sau cái vụ “ống dẫn dầu”, tôi mới biết rằng, khối cậu đồng nghiệp với tôi đã bị những cú như thế. Đứa thì cái gioăng, đứa cái phớt. Đứa thì chiếc bu-lông, chiếc ê-cu. Chẳng hiểu sao, cứ đến lúc có chuyện gì ở xe, bất cứ xe nào, thế là ông ta có mặt. Từ đó, cánh lái xe đành phải tự lo lấy mọi thứ: bảo dưỡng lấy xe, lo lấy xăng dầu, tự tìm giẻ lau… “Xem ra ông Kim là tay thợ khá đấy!”, có người đã nhận xét như thế. Tôi thì tôi chẳng tin chút nào, vài cái trò lặt vặt, xá gì. Theo tôi, là chỉ huy trưởng thì phải khác kìa. Khác thế nào, tôi không hình dung được nhưng nhất định là không phải cái trò vặt đó.

Như tôi đã giới thiệu, tôi vốn là một lái xe lì lợm. Xe đã chạy là chạy, đã đỗ là đỗ. Đỗ rồi thì đừng có bảo tôi nhúc nhích làm gì cho mệt. Cho nên hôm đó, lùi xe vào vị trí chờ đổ đất xong, tôi ngồi trong cabin và chờ. Mãi không thấy đất đổ xuống. Tôi ngó đầu ra khỏi cửa xe, bấy giờ mới thấy cậu Vĩnh lái máy xúc vẫy tôi rối rít, ra hiệu cho tôi lùi lại chút nữa. Cái thằng lười biếng, vươn tay gầu ra một tý thì sao. Tôi nghĩ thế và lại thụt đầu vào cabin. Mặc hắn, sốt ruột hắn khắc phải vươn gầu ra, hơi đâu. Lại mấy phút nữa trôi qua vẫn không thấy đất đổ xuống thùng xe. Bỗng có tiếng đập cửa xe ầm ầm. Tôi thò đầu ra. Ông Kim đứng cạnh cửa và trừng trừng nhìn tôi. Ông nói khẽ mà như quát:

- Xuống!

Thì xuống. Tôi mở cửa xe và nhảy đại xuống. Chân tôi vừa bén đất, ông Kim đã chui vào xe tôi. Chiếc xe cựa mình lùi lại. Đang bực nhưng tôi cũng bị bất ngờ vì  cú lùi tuyệt diệu của ông. Chẳng cần nhớm nhứ gì, cứ như được tính toán rất kỹ lưỡng, chiếc xe nằm chết ngay ở vị trí thuận lợi nhất cho đất từ  gầu xúc trút xuống thùng xe. Gầu thứ ba vừa đổ xong, chiếc xe lao đi, không một hòn đất nào văng ra ngoài. Tôi trở thành người thừa. Buộc lòng tôi phải ngồi buồn thiu bên thùng nước hiện trường mà ngắm chiếc xe của tôi đi đi, về về ngay trước mắt. Tới chuyến thứ năm, ông nhảy xuống, lại bên tôi và bảo:

- Lên xe đi. Công trường không chờ cậu đâu…

Tôi vội vã lên xe. Mặt tôi nóng rát. Ngượng có, mà bực cũng có.

 
   Bữa đó, chẳng hiểu thế nào mà suốt từ sáng sớm ông Kim cứ xoắn xuýt bên chiếc xe của tôi. Bằng kinh nghiệm mà xét thì chắc là xe tôi có vấn đề. Cứ nhìn cung cách của ông thì rõ. Ông hết leo lên thùng xe, lại chui vào buồng lái của xe, tay vặn vặn, gõ gõ chỗ này, chỗ khác. Nhìn ông mà tôi trờn trợn. Lúc tôi bật cửa xe leo lên, ông mới khẽ khàng bảo tôi:

- Xe vừa bảo dưỡng xong, lái chú ý nhé! Có gì thì báo ngay cho tôi biết.

Lần này, tôi khẽ vâng một  tiếng thay cho cái  gật đầu và đôi mắt nhìn lừ lừ thường thấy ở tôi. Tuy thế, nhưng khi đã nhấn ga, mùi dầu hăng hắc quen thuộc  bốc lên rồi, thì máu tôi cũng như sôi lên theo. Tôi lách xe vượt luôn mấy chú xe ben “châu chấu” trên con đường dốc hiện trường. Đánh tay lái, đi một đường cua gọn gàng rẽ vào chỗ chiếc máy xúc làm việc, tôi trở thành người xếp hàng đầu tiên, đằng sau chiếc “W 1001” của Vĩnh. Vĩnh giơ tay vẫy tôi và gào lên chào:

- Ê, Tấn “Von-vo phớt” bắt đầu rồi hả?

Bắt đầu rồi. Cánh tay gầu khoa một vòng rất đẹp sau khi vục một gầu đất đầy ắp. Xe tôi rung lên. Một, hai, ba… lên đường. Chẳng hiểu sao, hôm nay tôi vui đến thế. Vui đến nỗi tay tôi cài số, chân tôi nhả côn, nhấn ga đều uyển chuyển như múa vậy. Mọi người xung quanh tôi hôm nay bỗng đẹp hẳn lên. Hình như ai cũng đang nhìn tôi và cười. Qua mỗi chiếc xe, bạn bè lại bấm còi chào tôi, những tiếng còi đến là nghịch. Hai tiếng một. Ba tiếng một. Tiếng ngắn, tiếng dài,… tùy tính mỗi đứa mà nhấn nhả khác nhau. Xe tôi lăn bánh trong cảm giác vui vui. Khi lên đến mặt đường, thấy ông Kim đang lúi húi ở đó tôi bấm còi chào ông. Tiếng còi của tôi bao giờ cũng thế, ngân một hồi dài, ai không quen nghe thấy dài đến sốt ruột. Ông Kim mỉm cười nhìn tôi, tay chỉ chỉ vào xe. Chắc là ông nhắc tôi. Chà, ông ta cẩn thận thật.

Xe tôi yên lành chạy hết đựơc hết ca sáng. Bữa cơm giữa ca xong, tôi leo lên ca - bin  ngồi chờ đến giờ làm việc buổi chiều. Trong tôi vẫn giữ cảm giác khi sáng và vì thế mà tôi sốt ruột chờ cậu Vĩnh.

 Nhưng có lẽ cái đường làm ăn của tôi nó có sự trắc trở thế nào ấy. Đựơc một ngày làm việc đầy khí thế thì lại không trọn vẹn. Chuyến thứ nhất của ca chiều hôm nay sự chẳng lành đã xảy ra. Tôi vẫn hăm hở đưa xe ra mặt đường, lùi sát tận chỗ đổ đất thì cho xe dừng lại. Quen như mọi khi, chiếc xe vừa chớm đỗ tôi đã cho dốc ben. Ngay lập tức tôi nhận thấy xe rùng mình một cái rất mạnh. Tôi vội dừng lại, ngó về phía sau chiếc ben đã nghiêng đi chút ít, nhưng vẫn an toàn. Tiếp tục. Bỗng tôi nhận ra ông Kim đang hớt hải chạy lại phía tôi, hai tay xua rối rít. Chắc ông lại muốn nhắc tôi phải cẩn thận! Tôi mỉm cười và cho chiếc ben dốc ngược dần lên. Bất ngờ xe tôi lắc một cái rất mạnh, rồi như bị ai vặn chéo đầu xe đi. Cả chiếc xe bềnh lên… Không kịp nhận ra trời đất gì nữa tôi vụt ra khỏi cửa xe. Tôi to lớn là vậy mà lách gọn ra được cái khuôn cửa kính, lăn trên đất mấy vòng, lúc ngồi dậy được thì chiếc xe đã lật nghiêng, hai bánh nằm ngang trước mắt tôi, khe khẽ quay. Tôi ngồi bệt ở dưới đất, nhìn vào bụng chiếc xe. Những cầu, những bánh, những ốc… như chọc vào mắt. Mắt tôi không làm sao chớp được. Ông Kim đứng bên tôi từ lúc nào. Ông cũng im lặng như tôi… Tôi chán nản đứng dậy lách qua mấy cậu lái xe đứng quanh từ lúc chiếc xe bị đổ, lẳng lặng về lán ở. Tôi ngồi bó gối trên chiếc giường xếp suốt buổi chiều, cơm cũng chẳng thiết đi ăn nữa. Miệng tôi đắng chát, nuốt làm sao được.

 Tối.

Tôi đứng dậy ra đường. Đôi chân lững thững bước. Tôi đi mà chẳng định đến đâu. Trong đầu tôi hàng mớ suy nghĩ bộn bề. Thế là hết. Từ biệt những con đường. Từ biệt mùi dầu thơm thơm hăng hắc. Từ biệt vành tay lái nhẵn bóng, từ biệt những luồng gió mát rượi mỗi lúc xe lao vun vút về phía trước… Từ biệt! Rồi đây sẽ bắt đầu từ cái gì? Chẳng hiểu sao tôi lại đi về chiếc nhà bạt dành cho ban chỉ huy công trường làm việc. Mãi tới tận cửa nhà, tôi mới nhận ra và vội vã dừng lại. Trong nhà ánh điện hắt ra từ chiếc bóng đèn tròn sáng trưng. Ở đây không có điện, buổi tối, máy nổ chạy lình kình một chốc để mở máy phóng thanh cho anh em nghe đài. Hết câu chuyện đêm khuya hay tiếng thơ của Đài Tiếng nói Việt Nam là nghỉ. Tôi biết ở trong nhà bạt  ấy có tờ biên bản tai nạn xe đang chờ tôi ký vào, để rồi sau đó… Tôi không muốn nghĩ nữa và toan quay đi. Bỗng tiếng anh đội trưởng đội xe của tôi vang lên, làm tôi giật mình:

- Anh Kim ạ! Trường hợp cậu Tấn, tôi đề nghị chuyển việc khác và chờ kỷ luật.

Im lặng. Gió từ những cánh rừng lùa về lành lạnh. Sương đêm rơi lộp độp trên mái nhà bạt, nghe như tiếng mưa. Tiếng loa phóng thanh đều đều từ trong những lán công trường vẳng về, xa lắc. Nghe đâu đó có tiếng cười của anh em trong đơn vị. Một lát sau mới có tiếng ông Kim:

- Đành rằng cậu ta có lỗi là không kiểm tra xe kỹ trước khi làm việc. Nhưng chúng ta cũng có lỗi. Hôm trước khi nhận xe về có phải cậu và tôi đều nhận thấy vết rạn ở chốt ngang của thùng xe không? Tại sao ta vẫn cứ nhận xe về. Lúc chiếc xe lật, tôi đã xem lại, cái chốt rạn đến một nửa. Nhưng vì bụi bám vào, không thấy rõ. Mình không kỹ lưỡng khi nhận bàn giao xe. Xe nó chịu được gần hai mươi chuyến đất buổi sáng là quá lắm rồi… Theo tôi thì thế này. Hiện còn chiếc xe ben nhỏ của cậu Bản bên trung đội ba đó. Cậu ấy bị sốt rét chắc phải vài tuần nữa mới hồi sức được. Giao chiếc xe ben nhỏ ấy cho cậu Tấn. Kỷ  luật vẫn phải kỷ luật, nhưng… dù sao cậu ta vẫn là người tốt, có năng lực. Chỉ phải cái…

Tôi biết ông nhắc đến sự  lì lợm và đại phớt” của tôi. Ông nhắc nhiều. Hình như chưa bao giờ ông nói nhiều như thế, lại nói về tôi. Tôi im lặng đứng nghe, nghe đến mức ông dừng lại từ bao giờ mà tôi không biết. Đầu tôi cúi gầm xuống.

- Tấn à?

Tôi giật mình choàng tỉnh. Ông Kim đang đứng trước mặt tôi. Ông thấp hơn tôi đến nửa cái đầu. Bóng đêm không cho tôi nhận ra gương mặt ông lúc này. Không biết ông có còn nét buồn cố hữu trên mặt không? Nhưng cứ nghe tiếng ông gọi thì thấy ông đang rất buồn. Một cái xe phải rời hiện trường, một lái xe bị loại khỏi vòng chiến đấu, không buồn sao được. Tôi khẽ nói:

- Báo cáo thủ trưởng…

Ông Kim đã khoác ngay lấy cánh tay tôi như kiểu rủ tôi đi dạo.

Con đường trong đêm như một vệt sáng. Trời không trăng mà vẫn thấy rõ bóng dáng con đường. Chân tôi lựng khựng bước trên mặt đường mới đổ đất và mới được xe lu cán sơ sài. Còn phải mấy lớp đá nữa rồi mới đến chuyện đổ bê tông nhựa. Còn lâu lắm. Tất cả mới chỉ bắt đầu, tất cả vẫn chỉ là thô nhám. Bao giờ mới là con đường thực sự, chưa biết. Có khi nó thực sự thành con đường thì chúng tôi lại đến tận đâu đó để nối dài những cung đường mới. Công việc của chúng tôi là thế.

Tôi không chịu đựng được cảnh cứ lững thững đi dọc con đường mà bên cạnh, ông Kim không nói lời nào. Tôi lại lên tiếng trước:

- Thưa thủ trưởng…

Ông Kim ngắt lời:

- Cậu Tấn này, cậu có thấy đất dưới chân mình còn mềm lắm không? Mềm hả? Phải thôi, còn mới mà. Sẽ đến một ngày nào đó, dất dưới chân mình sắt cứng lại. Thế mới thành đường được chứ. Phải không?

Quả thực tôi không biết có phải ông Kim đang cho tôi một bài học hay không nữa. Nhưng tôi cứ thấy nó thấm vào người nghe xốn xang lạ lùng. Ông Kim vẫn như đang trong mạch chuyện của mình:

- Hồi sắp kết thúc chiến tranh ấy mà, tớ cũng là một lái xe, nhưng trẻ hơn cậu bây giờ nhiều. Khi được biên chế vào đội hình binh đàn 559, mình sướng muốn phát điên. Nhưng cậu có biết không, hồi đó bọn tớ được gọi là lính nhặt ống bơ! Biết sao không? Lúc chiến dịch vào những ngày cuối, tớ chở lính mới chạy tuốt vào đến Sài Gòn, chẳng phải đánh nhau trận nào. Thế nên anh em mới gọi tụi mình vào Sài Gòn để nhặt ống bơ, cậu hiểu chưa. Đời lái xe của tớ cay cú nhất là cái đận đó. Là anh lính lái xe ngày ấy mà không biết đường Trường Sơn thì không phải là lính lái xe. Hơn thế nữa, tiếng là ra mặt trận mà chẳng được ngửi mùi thuốc súng. Tức chết được. Các cậu bây giờ có thể cho là tụi tớ cứ làm cho lớn chuyện lên, quan trọng hoá vấn đề. Nhưng thực đấy. Hôm nay được đi trên đường Trường Sơn xưa, được mở lại đường Trường Sơn xưa, chà thích thật… Cậu có nghe tiếng con chim rừng nó đang hót không? Đêm còn nghe chim hót. Chim từ quy đó. Tiếng xa, tiếng gần. Cậu có thấy không? Chúng đang gọi nhau. Du dương và sâu lắng quá phải không?

Tôi không còn biết lúc đó thủ trưởng của tôi là anh lính lái xe, là ông chỉ huy, hay là nhà thơ nữa… Ông chẳng còn nhắc gì đến chuyện tôi. Còn tôi cũng bỗng quên hết mọi chuyện buồn rầu vì cái xe bị hỏng, lẳng lặng bước bên cạnh ông Kim, nghe ông nói và tự cho phép mình hít căng vào lồng ngực mùi thơm đất mới, hương rừng ban đêm và tưởng tượng về con đường Trường Sơn huyền thoại xưa. Tiếng rừng đang xào xạc, gió reo, lá rơi, chim đêm gọi bạn… Và tiếng bước chân hai chúng tôi.

Rừng đêm hình như không hề ngủ.

 
Nguyễn Đức Thiện


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 08 Tháng Bảy, 2011, 10:35:43 pm
                                            Chốt gió
                                            Tác giả : Trần Mạnh Hà

 Chiếc lưỡi gió thè ra trượt dài theo từng hẻm đá sâu hun hút rồi phả thốc lên đồi. Gió rú rít, gầm gè, xoáy cuộn tưởng có thể hất tung cái chòi gác nhỏ bé, chơ vơ... Bỗng bất thần hiện ra một bàn tay khổng lồ vô hình chặn giữ, chiếc lưỡi gió rụt dần, co lại, tan loãng ra... Chỉ còn tiếng vi vu nhè nhẹ…

Thế mà đã ba năm. Ba năm kể từ ngày tôi vác ba lô ngược dốc. Con đường mòn vắt vẻo như sợi dây thừng. Tiếng gió thổi âm âm. Ba năm. Một khoảng thời gian không dài nhưng ăm ắp kỷ niệm. Nó tựa cuộn phim câm chập chờn trong ký ức...

 
Buổi chiều tôi đưa anh Hải xuống núi. Bây giờ trời đang chớm đông. Những vạt rừng co ro trong cái lạnh leo heo. Anh Hải chậm rãi bước, bờ vai trĩu xuống. Tôi lóng ngóng đi bên cạnh. Chiếc ba lô bạc phếch nhàu nhĩ bám đầy bụi. Con Jôn lúp cúp chạy theo, đôi mắt chớp buồn. Nó đã bao lần phải chứng kiến cảnh ra đi của những người thân. Hai bên đường, đôi vạt sim mua ngả màu tím tái. Lơ thơ những chiếc lá bạc phơ, se quắt. Dưới khe sâu, vọng lên thứ âm thanh trầm trầm của nước. Sau những trận mưa dầm, nước từ muôn con lạch nhỏ trào tuôn không ngớt. Phía xa xa, đối diện hút tầm mắt là những vạt rừng dẻ xanh lịm. Thấp thoáng ẩn chìm đâu đó vài nóc nhà tí xíu tựa hồ như thứ đồ chơi trẻ con.

Xuống hết con dốc thứ nhất, anh Hải vẫy tôi dừng lại nghỉ. Chúng tôi ngồi bệt xuống vạt cỏ may bông đâm tua tủa. Con Jôn rúc vào giữa hai người, giương đôi mắt đen láy chờ đợi. Anh Hải xoa đầu nó, khẽ khàng: “Jôn ở lại ngoan, ít lâu nữa tao trở lại. Đừng buồn, còn có mọi người mà…”. Rồi ngoảnh sang tôi, anh cười, nụ cười hơi gượng gạo: “Thôi em ở lại, hãy cố gắng lên. Cuộc đời không phụ mình đâu. Anh tin em sẽ làm tốt công việc…”. Tôi cúi đầu: “Dạ, anh đừng lo, em sẽ cố gắng. Chỉ mong anh…”. Tôi bỏ lửng câu nói, lòng dâng lên một nỗi nghẹn ứ. Im lặng. Thời gian ngưng lại trong buổi chiều vàng vọt. Tôi chợt thấy hồn mình hoang mang, trống trải…

 
Sau ba tháng huấn luyện thao trường Sơn Tây, vào một buổi sáng, tôi cùng ba mươi hai chiến sĩ hăm hở leo lên chiếc xe ca quân sự lên đường nhận nhiệm vụ mới. Nơi đến thì chưa rõ chỉ thấy kháo nhau là vào một đơn vị miền Trung. Tôi cũng dân miền Trung, nơi mấy thằng bạn tân binh đặt cho cái biệt danh là dân “cá gỗ”. Nhưng cũng chẳng lấy làm phiền hà vì điều ấy. Lính cứ tếu táo cho vui, chết ai đâu mà sợ, vả lại quê nào mà chẳng có những giai thoại. Xã tôi có năm thằng cùng nhập ngũ thì phân đi ba đơn vị. May mắn, tôi và Dũng, hai thằng cùng làng được về một nơi.

  Quê tôi bên một dòng sông nhỏ. Mùa nắng, nước lững lờ xanh ngăn ngắt. Mùa mưa, nước cuộn lên đỏ quạch phù sa. Ở đó, trên cái rẻo đất nhô ra chỏn vỏn mấy nóc nhà. Trước đây, gia đình tôi nằm trong làng. Tôi lọt lòng và được quây bọc giữa vòng tay hai người phụ nữ. Bà nội và mẹ. Ông nội mất lúc cha tôi còn là một gã trai làng lệch nghệch.

Tôi mồ côi mẹ từ nhỏ, quãng lên năm. Bóng dáng mẹ như một vệt mờ trong ký ức. Nó hiện hữu bằng bức ảnh trắng đen ngả màu trên bàn thờ. Hồi đó, cha tôi còn chiến trận bên đất Campuchia. Vào cữ giữa thu, trời làm mưa dầm dề không ngớt. Nước sông dâng lên tràn bờ. Tôi bị sốt nặng. Mẹ tất tả đạp xe mấy chục cây số để bốc thuốc. Khi về, chắc trời lạnh, đường trơn, lại nhịn đói từ sáng sớm nên lúc chỉ còn cách làng một quãng ngắn thì bị trượt xuống sông. Dòng nước xiết lạnh đã cướp đi mạng sống của mẹ. Mãi tận xế chiều mọi người mới vớt được xác trôi xuống tận làng bên dưới…

Mấy năm sau thì cha tôi về. Một buổi sớm mùa đông ảm đạm. Dáng người gầy gò trong bộ quân phục bạc màu. Gương mặt xanh xao, đôi mắt sâu mệt mỏi. Cha tôi vẫn thường xuyên bị những cơn sốt rét hành hạ. Năm tôi mười ba tuổi thì bà mất sau một trận ốm thập tử nhất sinh. Căn nhà nhỏ cha làm nơi thờ tự hương khói. Cha vào xã xin được mảnh đất hoang ngoài bờ sông cất một căn lều nhỏ. Cha đưa tôi ra đấy, lâu lâu mới trở vào làng. Người vốn dĩ ít nói nay gần như câm lặng. Chiều chiều, cha lặng lẽ ra bờ sông ngồi, dáng khắc khổ cô đơn nhìn vệt nước buồn chảy. Có vẻ như bao nỗi khổ đau, cay đắng, người thầm gửi cho dòng sông trôi xuôi…

 
  Ngày thứ năm sau khi đến đơn vị mới, tôi được điều về làm công vụ cho thủ trưởng Tài. Vác ba lô lên, trong lòng hồi hộp lắm. Mới tò te làm lính, cứ bảo gặp thủ trưởng là lại thấy sờ sợ. Cũng chỉ cảm giác vậy thôi chứ việc gì đâu mà sợ. Thủ trưởng Tài vóc người đậm, chắc như cây gỗ nghiến. Gương mặt thoạt nhìn rất nghiêm khắc. Cặp môi hơi nhợt mà sau này tôi biết là do có thời gian dài thủ trưởng công tác ở một đơn vị đóng quân vùng rừng thiêng nước độc nên bị nhiễm phải căn bệnh gì đó. Căn bệnh khá lạ, nó ngủ lim dim trong cơ thể, lâu lâu lại thức dậy hành hạ ông. Thủ trưởng hỏi tôi về gia cảnh, nghe xong ông trầm ngâm một chút rồi nhỏ nhẹ: “Cứ yên tâm công tác, còn gì khó khăn, khúc mắc thì đề đạt lên nghe chưa. Đừng làm gì để cha ở nhà buồn.”.

 

Công việc của một anh lính công vụ nhàn nhạt, đơn điệu. Cũng chỉ loanh quanh, luẩn quẩn khu vực nhà các thủ trưởng. Thằng Dũng về đội bảo vệ. Thỉnh thoảng gặp, nó cười khì khì: “Răng rồi ông bạn, về với các thủ trưởng sướng chớ! Học được chi hay không? Số cậu là may mắn đó!”. Tôi gãi đầu, gãi tai: “Ờ…ờ..thì cũng rứa mà. Mà mi nhiều chuyện vui thì kể nghe coi. Tau thấy mi mặt hí hửng gớm!”. Dũng gặc gặc cái đầu tóc rễ tre lởm chởm: “Vui lắm! Hì.. hì..Bọn tau đi tuần đêm tuần ngày vất vả chớ, nhưng mà vui. Hôm nào rảnh, tau kể cho mi nghe…”. Tôi thấy nó nói mà lòng băn khoăn. Ai cũng bảo tôi được các thủ trưởng ưu ái. Thế nhưng tôi thì lại ước ao được như bọn nó. Nghe nói vác súng đi tuần cũng nhiều điều thú vị. Đơn vị trải rộng trên diện tích mấy chục cây số vuông, rải rác dọc theo những trảng đồi cao và vách đá dựng đứng. Các đại đội bảo vệ nằm xen kẽ ở từng khu vực. Cây rừng trùng điệp, bạt ngàn xanh. Hồi mới đến, tôi choáng ngợp trước vẻ hùng vĩ và thơ mộng của những cánh rừng. Tôi thường hay tưởng tượng tới những điều kỳ thú khi khám phá sự bí mật ở thiên nhiên. Tơ mơ sáng, cả đơn vị bỗng bừng tỉnh bởi tiếng hót của vô số loài chim rừng. Chúng sà xuống, thậm chí nhảy cả vào lan can từng phòng vểnh những con mắt nhìn ngờ nghệch. Ở quê tôi khác, cây cối ít nên chim chóc cũng ít. Tôi chỉ biết làm bạn với lũ trẻ chăn trâu suốt ngày lao tùm tũm dưới bến

Tôi viết thư về cho cha, nửa tháng sau thì nhận được hồi âm. Trong thư cha nhắc nhở đủ điều. Cuối thư, cha bảo cô Liễu gửi lời hỏi thăm. Cô Liễu là hàng xóm nhà tôi. Sau ngày cha làm nhà ngoài bờ sông được vài năm thì gia đình cô Liễu cũng xin miếng đất ra ở riêng gần đó. Lúc ấy, chồng cô Liễu đang ngồi tù. Chồng cô mang án mười hai năm, đã thụ được ba năm. Chồng cô đi tù vì tội buôn bán thuốc phiện. Cô Liễu da trắng, tóc dài, người mây mẩy. Hình như cái nắng không đủ sức làm da cô sạm đen hay tại đêm đêm cô thường xuống sông tắm, dòng nước gột rửa, kỳ cọ cô đến trắng ngần như củ sắn mới bóc vỏ. Đến mùa, cha tôi cày giúp nhà cô. Nửa buổi, cô xách ấm chè đặc cùng mớ khoai, rá lạc ra đồng. Cô giục cha con tôi nghỉ. Hai má đỏ chín vì nắng, cô ngồi bên ve vẩy quạt cho chúng tôi, miệng cười tủm tỉm khi nhìn những bắp chân, bắp tay cuồn cuộn lấm bùn của cha…

Nhà có hai mẹ con, cái Hạnh ít hơn tôi hai tuổi, người kẹp nhép lại dài như cây sậy. Nó thường hay sang nhờ tôi giải hộ toán. Tuy không được giỏi nhưng tôi cũng võ vẽ bày cho nó được. Vả lại, hơn những hai lớp mà không bày được thì nó cười cho ê mặt.

 

Ở gần sông lại trống trải bốn bề nên sợ nhất là mùa bão. Gió ngoài sông quật ngược lên làm kèo cột, cửa giả rung bần bật. Mỗi lần bão đến cha tôi lại chong đèn thức suốt đêm. Cha nhìn ngọn đèn trầm tĩnh, chờ đợi. Cái đài radiô nhỏ chốc chốc kêu rèn rẹn thông báo bản tin thời tiết. Tiếng mưa sầm sập lẫn tiếng sét nổ xé trời làm tôi giật nẩy mình chồm dậy.

Có lần, bão đổ bộ vào ban ngày. Gió mưa gào rú mờ mịt từ sáng sớm. Đến trưa thì bắt đầu ngớt. Đây chính là lúc tâm bão đi qua. Gió rít mạnh khủng khiếp. Cột kèo rung lên kèn kẹt. Mái tranh thốc ngược bay phấp phới. Cha đi đi lại lại như sắp sửa bước vào trận đấu. Bỗng nghe tiếng cô Liễu kêu thất thanh từ bên vườn vọng sang. Cha dặn tôi trông chừng rồi phóng ra ngoài trời…

Một lúc lâu, gió bắt đầu giảm. Chắc bão đã dần qua. Đợi mãi không thấy bóng dáng cha, tôi đứng ngồi phấp phỏng. Thế là tôi đội mưa vọt sang. Cửa nhà trên mở toang.

Tôi lủi xuống bếp. Chái bếp nhỏ làm bằng tre bị gió cuộn lên lắc lư, chao đảo. Cha đây rồi. Cả cô Liễu nữa. Hai người đang gò lưng kéo sợi dây chão buộc ốp vào xà nhà. Cha dùng chân trụ, tay ghìm dây xiết chặt vào cọc tre đóng ngập trong đất. Cô Liễu vít xuống, người cô nhấp nhổm đè ập vào lưng cha tôi. Toàn thân cô ướt nhèm, da thịt tròn căng, lồ lộ. Sợ cha quát, tôi nép vào cánh cửa nhìn he hé. Buộc xong nút dây cuối cùng, cha xoay người đứng dậy. Bất ngờ, cô Liễu ôm chầm lấy cha. Cha bối rối, ngượng ngập. Tôi nghe rõ được cả tiếng nói lào phào của cô: “Anh… anh ơi… Mẹ con em mang ơn anh nhiều lắm. Em... Mà… mà em cũng thương anh…”. Cha tôi thở mạnh. Đôi mắt cha không dám nhìn cô Liễu, mà cúi gằm. Rồi cha nắm lấy vai cô ẩy nhẹ ra. Cô Liễu ngồi thụp xuống bưng mặt khóc. Cha nhẹ nhàng: “Thôi đừng khóc Liễu ạ. Anh hiểu được tình cảm của em. Nhưng mà… Rồi còn chồng em, còn các con…”. Cô Liễu không nói gì, cúi đầu thút thít…

                                                                   *

   Buổi sáng, thủ trưởng Tài gọi tôi lên phòng. Chắc có việc gì đó. Hoá ra là bảo tôi mang chú chó nhỏ ba tháng tuổi lên chốt. “Anh em trên ấy cũng muốn nuôi một con chó cho vui cửa vui nhà. Cậu mang lên, chọn con đẹp nhất ấy. Đến chiều thì về. Cứ theo đường tuần vòng ngoài mà đi một mạch. Khi nào đến nơi hẵng biết!”. Nói rồi thủ trưởng nháy mắt cười.

Cún nhỏ mà tôi có nhiệm vụ mang đi là lứa con đầu tiên của Mích mẹ. Mích mẹ rất đẹp. Lông nó màu mun, ức nở, đùi thon, thế ngồi như sư tử cái, nhưng rất hiền lành. Từ ngày lên làm công vụ, tôi kiêm luôn việc chăm sóc nó.

Ba chú cún mũm mĩm, tôi chọn lấy một con đẹp nhất có bộ lông màu đen tuyền. Cún con này tôi đặt tên là Jôn.

Chốt là dãy nhà cấp bốn đóng chênh vênh trên đỉnh một ngọn đồi. Ở đó, có một tiểu đội làm nhiệm vụ chốt giữ, tuần tra vòng ngoài trên quãng đường biên giáp ranh giữa đơn vị và nhân dân địa phương. Tuyến đường dài khoảng năm kilômét. Từ dưới chân dốc nhìn lên, chốt trông như một cái chuồng chim bồ câu. Tôi thắt chặt giày, xốc quân phục, vai đeo sọt đựng cún con và bắt đầu ngược dốc. Thỉnh thoảng cún lại kêu ăng ẳng. Chắc nó nhớ mẹ. Cũng có thể nó nhìn thấy cảnh sắc hai bên đường lạ lẫm quá. Hơn một tiếng vừa leo vừa nghỉ, thở ra cả bằng mũi, mồm và…hai tai thì tôi mới lên tới đỉnh.

Thực ra ngôi nhà khá lớn chứ không phải như tôi nghĩ. Nó được xây kiên cố, vững chãi và rộng đến năm gian. Cổng làm bằng những thanh gỗ tròn đóng rất đẹp. Bên trong, thấp thoáng một vườn rau xanh tốt. Mấy con gà chạy loăng quăng. Có cả tiếng hót lảnh lót của chú chim khướu bên hè nhà.

Tôi đang đứng lơ ngơ thì bỗng có tiếng ai đó làm tôi giật mình: “Lính mới à? Làm chi mà ngẩn tò te rứa. Chắc mê rồi đúng không? Vào nhà đi em!”. Hoá ra có người đứng sau lưng tự lúc nào mà tôi không biết. Người đó cỡ tuổi xấp xỉ ba mươi, mặc quân phục, vai đeo quân hàm trung uý. Tôi lúng túng: “Dạ, em từ dưới ban chỉ huy lên. Thủ trưởng Tài bảo mang cho các anh…”. Tôi đang lựa lời nói sao cho văn vẻ, chẳng lẽ lại bảo là mang cho các anh con chó. Anh trung uý đã cười khà khà: “Biết rồi! Vô nhà đi, thủ trưởng Tài có điện cho anh hồi sáng. Anh là Hải! Hải tiểu đội trưởng! Em chắc mệt, chưa leo dốc khi mô đúng không? Lính mới thế là khá đấy!”.

Hôm đó, mãi nhập nhoạng tôi mới xuống núi.

 
  Cái lý do để tôi xin lên chốt cũng có một phần tham dự của con Jôn. Tuy nhiên, thần tượng của tôi lại là anh Hải. Đã không dưới vài lần tôi được nghe kể về anh. Anh từng vô số lần lập thành tích, được tặng nhiều bằng khen, giấy khen. Ví dụ như anh đã ba lần phục bắt được những tay săn thú đột nhập vào khu vực rừng cấm của đơn vị. Rồi việc anh băng xuống khe nước chảy xiết để cứu một đứa trẻ tìm trâu đi lạc vào rừng. Một lần, anh Hải có việc xuống ban chỉ huy, gặp tôi trước sân, anh vồn vã: “Con Jôn lớn lắm rồi. Nó nhớ cậu đó, khi mô rảnh, xin thủ trưởng lên chốt chơi nha”. Tối về phòng nằm gác tay lên trán, tôi nghĩ lung lắm. Thằng Dũng đã chuyển ra đại đội cảnh vệ. Nó sướng thật, mới gần một năm mà đã biết hết nơi này nơi nọ. Tôi thì cứ quanh quẩn mãi ở cái chân công vụ. Viết thư cho bạn bè không biết kể thế nào. Ai lại bảo là đun nước, rửa ấm… chán chết đi được! Mấy lần thủ trưởng Tài gặp có hỏi: “Đã chán làm lính công vụ chưa. Có muốn về đâu thì cứ nói, đừng ngại gì cả.”. Hình như thủ trưởng cũng đoán được phần nào cái ý nghĩ trong tôi. Đêm ấy, tôi tự hỏi sao mình không xin lên chốt nhỉ. Lần trước, tôi đã cảm thấy khoan khoái vì bị hớp hồn bởi không gian trong suốt thanh sạch cùng vẻ đẹp hùng vĩ của núi đồi. Tôi mê mẩn đến nỗi mà anh Hải giục mấy lần tôi mới chịu về. Vả lại, người ta nói đi lính là để thử sức trai. Sợ khó khăn, gian khổ thì đâu phải là người lính. Phải lên trên đó để biết sức mình tận đâu. Phải phấn đấu để được như anh Hải, để được mọi người nhìn mình bằng ánh mắt tin yêu, cảm phục. Trước hết là để thằng Dũng nó lác mắt lên cái đã! 

Mấy hôm sau tôi háo hức vác ba lô ngược dốc. Thủ trưởng Tài sau khi nghe đề đạt nguyện vọng của tôi thì vỗ vai thân mật: “Được đấy, trên đó cũng đang thiếu người. Cậu Hải có xin bổ sung nhưng chưa điều động kịp. Lên đó, nhớ giữ gìn sức khoẻ, trên cao, gió máy thất thường, lại phải đi tuần đêm…”. Tôi chợt hiểu, thủ trưởng lo lắng, dặn dò tôi như với một người con. Mười mấy năm gắn bó cùng mảnh đất này, đơn vị là tổ ấm, là quê hương thứ hai của ông vậy.


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 08 Tháng Bảy, 2011, 10:38:18 pm
                             Tiếp :

  Vào những mùa đông, cả một vùng đồi núi bao la mù mịt một màu sương xám lạnh. Buổi sáng, đến tám chín giờ mà chưa rõ mặt người. Xế chiều, độ ba bốn giờ, ánh ngày đã chìm khuất sau lớp sương núi. Giá lạnh theo gió từ trong các hẻm sâu ùa lên, quấn chặt, hú dài, rỉ riết…

Cơm sáng xong, anh Hải rủ tôi xuống thăm bác Vương. Từ chốt trượt xuống dốc về phía tây khoảng hai cây số thì đến. Bác Vương lên đây lập trại độ chừng dăm năm. Bác là cựu chiến binh. Nói là trại cho oách chứ thực ra chỉ là cái chòi nhỏ nép cạnh một cửa hang lớn. Hang này gọi là hang “chỉ huy”. Ngày trước, hồi chống Mỹ, khoảng năm bảy mốt, bảy hai có một đại đội thông tin về đây. Họ lấy hang đá này làm trung tâm chỉ huy cho các bộ phận lẻ nằm rải rác quanh vùng. Phải nói cái hang có một vị trí đắc địa. Nếu đứng ở cửa hang nhìn ra thì bên phải là dãy núi đá cao sừng sững, trước mặt là những triền đồi nhấp nhô xanh ngút cây rừng, bên trái, ngay gần hang là con suối nhỏ trong vắt rì rầm chảy.     

Bác Vương rót cho chúng tôi mỗi người một chén rượu thuốc bắc nhỏ xíu, khẽ khàng: “Rượu tốt thì phải uống ít thôi. Như rứa thì nó mới ngấm dần vô cơ thể, có tác dụng các chú ạ.”. Anh Hải cười nhỏ nhẹ: “Bữa mô, bác phải để cho cháu một chai bác nhé. Bác có loại nào hay hay không…”- Anh Hải chợt thoáng đỏ mặt: “Cái loại bồi bổ ấy đấy. Cháu lấy vợ ba năm rồi mà chưa có con. Không biết có phải do ít về nhà hay tại cái khoản ấy…”. Anh Hải bỏ lửng câu nói, vẻ mặt anh hơi trầm xuống, buồn buồn. Bác Vương tư lự: “Ờ…cũng phải phấn đấu có đứa con cho nó vui. Đàn bà xa chồng mà không có con thì buồn lắm. Để rồi khi mô về phép bác cho bài thuốc dùng thử…”

Buổi tối hôm ấy, Lúc tôi đi tuần ca 21 giờ về thì thấy anh Hải ngồi như bức tượng đá phía sau chốt. Sương khuya từng lớp mù mịt phủ xuống đôi vai mảnh khảnh của anh. Hình như anh không quan tâm đến mọi sự. Cái dáng mờ mờ tạc vào đêm một dấu chấm than cô lẻ. Tôi định hỏi điều gì đó nhưng thấy mình vô duyên lại thôi. Chắc anh đang có tâm sự. Đúng vậy! Khi tôi khẽ khàng nằm xuống bên cạnh Ngọc, thằng bạn lính cùng nhập ngũ, quê ngoài bắc, bỗng dưng nó nhỏm dậy rồi ghé sát vào tai tôi: “Anh Hải đang có chuyện buồn gia đình.” - “Sao? Chuyện buồn chi, mi nói tao nghe coi?”- “Tao cũng chỉ láng máng. Lúc chập tối, tao đang dọn đồ trong bếp thì có điện của anh Hải. Tao không nghe trộm nhưng rõ là tiếng anh trả lời giận dữ lắm. Hình như có chuyện gì đó ở quê. Lúc sau lên, tao thấy vẻ mặt anh tái nhợt, đôi mắt vằn đỏ. Tao không dám hỏi, rồi anh ra ngồi ngoài sương từ đó…”.

Chuyện buồn này mấy ngày sau anh mới kể cho tôi nghe.

 
  Anh Hải nhắc: “Đêm nay cậu đi tuần ca 23 giờ với mình.”. Tính anh vui vẻ, xởi lởi nhưng mấy hôm nay anh bỗng trầm hẳn xuống. Tôi lặng lẽ nhìn anh gật đầu. Chúng tôi ra khỏi chốt xuống theo con dốc phía ngoài. Đường tuần dài ba kilômét. Trời hanh khô. Không gian mù mịt sương bao phủ. Đang giữa mùa trăng nhưng chỉ thấy nhờ nhợ một khoảnh đùng đục trên cao. Ở đây, những ngày quang đãng, nhất là vào mùa hè, ánh trăng trông tuyệt đẹp. Nó toả ra một lớp sáng kiêu sa, lộng lẫy, dát xuống những khoảng rừng, bờ cỏ, bụi cây, thứ sợi tơ ảo mờ nhóng nhánh. Khắp đất trời lạc vào một cõi tiên. Thi thoảng, đâu đó vọng lại tiếng con mang lạc mẹ toác trong đêm sâu khắc khoải, mơ hồ...

Xuống chân dốc, chúng tôi dừng lại. Đường tuần phía này đến đây là hết. Từ đó trở về phía dưới kia là một cung đường khác, do bộ phận khác đảm nhiệm. Chúng tôi ngồi nghỉ trên một tảng đá lớn. Và ở đó, anh Hải đã kể về nỗi đau mà anh đang nén chặt trong lòng…

…Thằng đồ tể chết tiệt chợ quê làm cái việc đốn mạt đó. Ở góc làng quạnh quẽ bé như bàn tay thì không người nào lạ gì hắn. Mặt dày, mày rậm, môi trề như môi cá chép. Hắn là một tay nổi tiếng về chim gái. Không biết bao cô có chồng cũng như chưa chồng từng rơi vào vòng tay khăm khẳm mùi phân lợn. Tất cả mọi người trong nhà hắn xem như con ở, kể cả mẹ đẻ. Cũng bởi hắn lắm tiền, nhiều của, tính tình lại gian ngoan, độc địa. Mỗi ngày hắn xả thịt ba con lợn. Trừ ăn uống phả phê cũng lời lãi, dư dôi mấy trăm nghìn. Ở làng số tiền như thế là to lắm. Kế sách mà hắn thường dùng là đánh vào tâm lý chung của những người phụ nữ. Lúc đầu, hắn mồi chài, ve vãn họ bằng việc bán rẻ hơn chút ít mỗi khi ghé vào phản thịt nhà hắn. Cũng dễ hiểu thôi. Có thể người ta chê bai, dè bỉu sau lưng nhưng khi được bán rẻ rồi hứa hẹn tặng vài thứ đồ lặt vặt là mấy cô nàng lại bỗng chốc xiêu lòng.Thế rồi từ đó hắn lặng lẽ nhích dần tới đích. Khi đã ngã ngửa ra thì mới hay mình dại dột, mình bị lừa. Hối không kịp. Có cô hắn cho ễnh bụng nhưng rồi làm gì được đâu. Vác con đến đòi trả ư? Không chứng cứ, hắn đuổi thẳng cẳng khỏi cửa. Đòi hắn tiền nuôi con ư? Hắn cười khì khì bảo cứ ngồi đó mà đợi. Có mấy cô gái trẻ bị lừa phải lang bạt vào nam để may ra còn tìm được tấm chồng. Vợ anh Hải không nằm ngoài lệ đó. Mà nàng thuộc loại khá xinh mới chết, đôi mắt lá răm nhìn ai cũng như đong đưa, lúng liếng. Thế là từ quen lần lần, hắn đâm ra dạn dĩ. Nhiều lúc hắn nửa nạc, nữa mỡ. Cô nàng càng tránh thì hắn càng xáp lại. Nhìn con mồi béo bở nhởn nhơ, lượn lờ trước mắt mà không làm ăn được thì ức lắm. Ngày đêm hắn tính kế, lập mưu. Cơ hội đến. Một lần có đám cưới ở làng. Bữa ấy, hắn cùng mấy thằng đệ tử ngon ngọt ép được nàng uống liền mấy chén rượu. Trong trạng thái lơ mơ, hắn rủ rê nàng đi chơi thị trấn huyện. Chẳng hiểu mọi thứ tiếp diễn ra sao ở ngoài đó…

Chuyện đồn đại như những ngọn gió nồm len lỏi đêm đêm. Đất lề quê thói. Cái tội gian dâm nặng lắm, đáng chém chớ chẳng vừa. Thằng con ông chú hậm hực: “Anh Hải, anh về mà coi. Gia đình ta ê cả mặt !”. Gọi điện cho vợ, chỉ nghe thấy tiếng khóc tức tưởi… Cô ta đã phản bội anh? Người ta bảo đàn bà nông nổi, nhẹ dạ, dễ bị mờ mắt trước vật chất phù phiếm. Hay còn vì những điều khác nữa? Trong lòng anh tràn ngập những nghi ngờ. Vài ba tháng anh mới có dịp về, anh biết cái khao khát của đàn bà dữ dội lắm…??

Từ ấy, anh Hải dường như thay đổi hẳn. Bản tính năng nổ nhiệt huyết ở anh bỗng dưng biến mất. Anh lầm lũi làm việc, sinh hoạt như kẻ mất hồn. Nhiều đêm anh ngồi chết lặng trong màn sương buốt lạnh. Có lần, trong giấc ngủ, bỗng anh chồm dậy thét lên kinh hoàng: “Gi…ết…giết tất cả. Đồ…ồ…phản…bội…”. Tôi hoảng quá nhao đến ôm chặt lấy anh. Người anh đầm đìa mồ hôi, đôi mắt trắng dã trừng trừng…

Tôi thay anh cắt đặt việc tuần gác của tiểu đội. Được cái mấy anh em cũng tín nhiệm và ai làm việc nấy một cách tự giác. Tôi cũng lựa lúc khi chỉ còn hai anh em để an ủi anh. Nhưng việc làm của tôi hơi thừa. Có lẽ, anh nghĩ tôi là một thằng thanh niên mặt còn búng ra sữa thì làm sao có thể đi phân tích, khuyên nhủ, nói chuyện gia đình. Tôi  thấy mình bất lực. Tôi linh tính một điều gì đó không hay.

Đêm, lúc tôi gác ca 3 giờ sáng về đến lưng chừng núi thì bỗng phát hiện một bóng đen đang trượt xuôi xuống dốc. Trời sáng lờ mờ. Trên tay hắn hình như còn cả một cái túi xách nhỏ. Đường biên quãng này được ngăn cách bằng lớp dây thép gai nên kẻ gian đôi lúc vẫn liều lĩnh vượt vào. Không chừng hôm nay tôi tóm được con mồi lớn. Lập công này, chắc chắn sẽ được tuyên dương trước đơn vị và sau đó là 10 ngày phép. Tôi xiết chặt báng súng, tay phải sờ vào cò, chờ đợi…

“Đứng lại! giơ tay lên! Không được động đậy…!” - “Anh…anh đây! … Hải… đây… mà…”

Tôi đứng sững như trời trồng: “Anh đi đâu vậy?” - “Ờ… ờ… anh... đi... kiểm… tra…” - “Nhưng mà…?” - Tôi đã nhận ra là anh nói dối. Trên tay anh vẫn cầm chiếc túi xách. Và tôi thầm hiểu, anh đang xuống núi, anh bỏ về nhà…

Sau lần ngăn được anh Hải, tôi phải nhờ thêm sự giúp đỡ của bác Vương. Tôi nghĩ rằng người như  bác nói thì anh sẽ nghe ra? Tôi sợ anh làm những điều dại dột. Dầu sao thì anh vẫn là một người còn trẻ. Sự nghiệp còn dài. Một phút nóng giận, một lúc không làm chủ được mình sẽ huỷ hoại cả cuộc đời.

Bác Vương làm được điều đó. Sự từng trải, hiểu đời của bác đã xoa dịu trong anh những đổ vỡ, tuyệt vọng. Bác chỉ cho anh nhìn nhận mọi việc một cách thấu đáo hơn, khoan dung hơn.

Anh xuống ban chỉ huy xin nghỉ phép. Anh muốn giải quyết ổn thoả mọi chuyện. Trước mỗi người, đang còn một khoảng dài tương lai... Nếu ngã thì phải biết đứng dậy mà đi…

Một tuần sau tôi tiễn anh Hải xuống núi…

                                                                                   
Tôi nhận được thư Hạnh báo tin em đỗ vào trường cao đẳng sư phạm tỉnh. Trong thư còn có cả tấm hình em chụp trước cổng trường. Trông em chẳng còn giống cô bé gầy nhom hồi nào. Mái tóc dài buông bờ vai thanh tú. Khuôn mặt bầu bĩnh cùng đôi mắt trong veo. Ồ… cô bé trông cũng dễ thương đáo để. Em hỏi tôi đã có người yêu chưa, nếu chưa thì để em làm mối. Lại nhờ tôi giới thiệu cho một người lính. Em bảo rất có cảm tình với lính và muốn dịp nào đó được lên thăm tôi. Tôi bất chợt cười thầm. Sao mình khù khờ quá vậy. Em bật đèn xanh cho tôi rồi đó... Em bảo cả hai nhà đều khoẻ. Cha em sẽ ra trại đợt đặc xá năm nay. Lại bảo tôi sao không thuyết phục cha lấy vợ để có bầu có bạn lúc tuổi già. Việc này thì đành chịu. Đã mấy lần tôi viết thư có xa gần nhắc đến. Rồi dịp ông lặn lội lên đơn vị thăm tôi. Nhưng cha chỉ cười nhẹ, đôi mắt ngước nhìn khoảng trời xa vắng…

Tôi thương cha ở trong căn nhà cô đơn, quạnh quẽ. Nơi đó, cha phải vượt qua những mùa mưa bão gầm rú, những mùa đông lê thê buốt lạnh. Cha bảo tôi không nên bận tâm nhiều. Cha hiểu và muốn sống theo cách của ông. Tôi chạnh buồn nghĩ, dòng sông chảy qua nhà cứ trẻ mãi còn ông thì mái tóc ngày càng bạc thêm, thưa đi và bóng dáng se dần còm cõi…

Một buổi sáng tôi nhận được hai cú điện vui. Thằng Dũng báo tin nó sắp cưới vợ. Mới tháng trước còn kêu chán vì tìm không ra người yêu vậy mà. Nó bảo vợ tương lai chính là cô giáo Phương nó quen lần giao lưu văn nghệ giữa đơn vị và mấy xã lân cận. À…tôi nhớ ra rồi, cô giáo Phương có dáng người mảnh mai, lại hát hay, múa dẻo. Cái thằng lờ ngờ, lộc ngộc thế mà đào hoa. Ai bảo đẹp trai gái mới yêu là sai toét.  Thằng này tài thật! Nghe nói lâu nay cũng có khối anh lao vào tán tỉnh nhưng cô giáo chưa ưng ý anh nào. Cũng mừng cho nó. Hai vợ chồng được sống gần nhau thì còn gì bằng.

Còn anh Hải báo tin vợ vừa sinh một đứa con gái kháu khỉnh giống anh như lột. Câu chuyện của anh hoá ra không phức tạp như lâu nay tôi vẫn nghĩ. Cái gã đồ tể dâm ô đó chưa làm gì được nàng. Hôm đó, hắn có chở nàng ra thị trấn thật. Khi hắn sắp sửa đưa con mồi vào nhà nghỉ thì cũng là lúc nàng bừng tỉnh, hiểu ra cơ sự nên vội vàng xuống xe và nhất quyết về. Lúc ấy, có mấy người làng đi chợ gặp hai người đang giằng co và câu chuyện được thêu dệt. Chuyện bé xé ra to là việc thường tình. Anh đã ra thị trấn, đến nhà nghỉ đó điều tra hư thực. Cuối cùng thì cái án oan treo lơ lửng trên đầu vợ cũng được xoá.

Anh bảo lúc nào rảnh rỗi xuống dưới này thì ghé chơi. Anh chuyển qua đội bảo vệ vòng trong sau khi tôi đi học ít tháng. Tôi thấy mừng cho anh. Thế là anh đã tìm lại được hạnh phúc của mình.

Trong một lần lên kiểm tra chốt thủ trưởng Tài, vỗ vai tôi ôn tồn: “Tốt lắm! Tôi nghe nhiều người khen về cậu. Thật không phụ là con một người lính. Sắp tới, đơn vị gửi một số anh em đi đào tạo lớp trung đội trưởng, nếu có nguyện vọng phục vụ lâu dài thì làm đơn nhé!”. Tôi mừng nhưng có chút phân vân giữa việc ở lại hay về. Tôi viết thư cho cha, người bảo tuỳ tôi lựa chọn. Lại bảo là rất vui nếu như tôi tự xác định tương lai của mình. Tôi hiểu hàm ý mà cha muốn nói. Thế là tôi bàn với thằng Dũng cùng làm đơn. Mấy tháng sau thì chúng tôi được lệnh đi học và hơn một năm nữa mới quay trở lại đơn vị.

*
…Những buổi chiều đẹp trời là khoảnh khắc tuyệt vời nhất trong ngày. Trên chốt nhìn xuống thấy cả một vùng đất mênh mang, rộng lớn. Từ đây, ta mới hiểu hết ý nghĩa tầm cao… Những quả đồi bát úp nhấp nhô trải dài ngút ngát. Những xóm nhỏ yên bình lơ thơ đôi ngọn khói mong manh. Những mảng xanh trùng điệp vẽ nên bức tranh dung dị. Xanh thẫm của rừng, xanh nhạt của ngô, khoai và xanh mờ của lúa vừa bám rễ…Rồi những ngọn gió hào phóng… Những ngọn gió từ thăm thẳm trời cao chẳng bao giờ ngơi ngớt thổi. Tiếng gió lúc thâm trầm, khi rạo rực, lúc lơi lả, ngả nghiêng….Tiếng gió mà mỗi bận đi xa, tôi lại thấy nhớ nôn nao, da diết…

Chợt có tiếng đàn Gita bập bùng trong khu nhà chốt vọng ra. Bóng con Jôn sủa ung oăng đuổi đàn chim rừng đâu đó…

 Trần Mạnh Hà


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 25 Tháng Mười Hai, 2011, 09:45:27 pm
                                     
                                   NGƯỜI Ở BẾN PHÙ VÂN
                                       Tác giả : Khuất Quang Thụy

  Chúng tôi đi men theo triền đồi phía sau sở chỉ huy trung đoàn, ngược theo một vạt nương rồi tới bên một tảng đá lớn có hình thù hết sức kỳ dị. Trung đoàn trưởng Sinh dừng lại rồi bảo tôi:

- Ta ngồi đây một lúc cho mát - Rồi anh chỉ về phía trước - Anh xem, toàn cảnh thung lũng Phò Nghi đang ở phía trước mặt ta đó.

Tôi nhìn theo bàn tay anh chỉ và ghẽ reo lên, trước một phong cảnh tuyệt vời hiện ra trước mắt. Nắng chiều chưa tắt hẳn, những luồng sáng mặt trời dọi xuống triền ruộng bậc thang, lúa đang bắt đầu hoe chín, một con suối trong vắt chảy uốn lượn hờ hững trong thung lũng. Những bản làng ẩn hiện bên những triền đồi xanh tươi... tất cả mọi đường nét đều hài hòa như trong một bức tranh sơn mài của một nghệ sĩ tài hoa. Tôi thầm khen Sinh khéo chọn nơi này để cho chúng tôi được yên tĩnh vài giờ sau mấy ngày lăn lội vất vả trên tuyến đường bảo vệ biên giới của trung đoàn anh. Ngày mai tôi phải xa các anh rồi, vậy mà tôi chưa hiểu biết được bao nhiêu về các chiến sĩ của đơn vị anh, một lớp chiến sĩ thuộc thế hệ “sau bảy lăm” có bao nhiêu điều mới mẻ mà không phải chỉ sống với họ vài ba ngày đã hiểu được. Hôm qua, Sinh kể cho tôi nghe về một trường hợp đảo ngũ khá kỳ lạ, một cậu chiến sĩ quê Hà Nội đột ngột bỏ đơn vị về Hà Nội một tuần lễ liền, truy hỏi mãi thì ra cậu ta nghe tin nghệ sĩ Đặng Thái Sơn đã về nước và sẽ biểu diễn báo cáo tại Nhà hát lớn trong dịp đó. Sinh kể rằng, sau khi hiểu lý do, anh đã không nỡ thi hành kỷ luật anh lính trẻ yêu nghệ thuật ấy. Tôi hiểu rằng sở dĩ anh dám hành động như vậy chính anh cũng còn trẻ, anh có thể hiểu và thông cảm được với những đam mê thái quá đó của tuổi trẻ, và thêm nữa, anh có lòng tin yêu con người. Một cán bộ trẻ như anh, thật đáng quý. Có lẽ chính vì vậy mà tôi thêm yêu anh, quyến luyến anh khi chúng tôi sắp phải xa nhau.

- Hồi vợ tôi lên chơi, nếu hôm nào không có công việc hay họp hành gì chúng tôi cũng thường lên đây ngồi cho tới lúc trăng lên mới trở về - Sinh tâm sự và khẽ mỉm cười mơ hồ - Cô vợ tôi cũng say mê văn học nghệ thuật lắm. Là kỹ sư nông nghiệp nhưng tủ sách của cô ấy một nửa già là sách văn nghệ. Tiếc quá, giá dịp ấy anh lên, được gặp các anh hẳn nhà tôi thích lắm.

Tôi cười:

- Thời buổi còn đầy rẫy những khó khăn về đời sống vật chất thế này những người thực yêu văn học nghệ thuật không nhiều đâu.

- Không - Sinh hăng hái tranh luận - Nếu anh nói vậy thì... có lẽ không đúng lắm đâu. Anh em chúng tôi chẳng hạn, đời sống vật chất thì cực kỳ thiếu thốn, anh em họ khao khát được đọc, được nghe, được xem biểu diễn nghệ thuật lắm. Chẳng lẽ lên với chúng tôi bấy nhiêu ngày, anh không hiểu điều đó hay sao?

Tôi cười trừ vì đuối lý và để “đánh trống lảng” tôi hỏi sang chuyện khác.

- Hình như có lần anh nói chị ấy có làm cả thơ nữa phải không?

- Nếu nói là làm thơ thì có vẻ cao xa quá... Nhưng... - lại một lần nữa Sinh cười rất hồn nhiên - cô ấy có một câu thơ mà tôi nhớ suốt đời. Như cô ấy nói đó là một câu “thần chú”. Chính nhờ câu “thần chú” ấy mà chúng tôi tìm thấy nhau. Nhưng thôi, để tôi đọc cho anh nghe nhé, anh hãy nhớ lấy rồi biết đâu chẳng có dịp anh lên sông Đà, anh sẽ cứ lần theo câu “thần chú” này là có thể tìm ra cô ấy.

Sinh dừng lại một lát như để nén bớt xúc động rồi chậm dãi đọc:

Nhà Vân bên bến Phù Vân

Thương nhau xa cũng nên gần, hỡi ai.

- Chà, hay quá! - Tôi thích thú khẽ reo lên - một câu thôi, đồng thời là một địa chỉ. Bến Phù Vân thì tôi biết rồi, đó là một bến đò rất nên thơ trên sông Đà, phải không anh?

- Vâng, đúng đấy. Anh biết rồi thì tiện quá. Khi nào đi qua anh ghé thăm Vân nhé. Tuy cưới nhau đã ba năm nay rồi nhưng nhà tôi vẫn son rỗi. Anh tính, sống với nhau có được bao nhiêu ngày đâu? Lấy chồng bộ đội kể cũng thiệt thòi, anh nhỉ. Ở nhà hiện nay vẫn chỉ còn bà mẹ vợ tôi và Vân, ông anh trai cô ấy đã xây nhà ở nông trường rồi. Nhà tôi ở ngay bên sông Đà, thoáng mát, anh về đấy nghỉ ngơi mà viết lách thì tuyệt lắm.


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 25 Tháng Mười Hai, 2011, 09:50:33 pm
                                    Tiếp :
 - Nếu có dịp tôi sẽ ghé thăm cô gái Phù Vân của anh. Nhưng... anh có thể kể qua cho tôi nghe vì sao mà nhờ câu “thần chú” kia, anh tìm được Vân không?

Nghe tôi gợi ý như vậy Sinh bỗng bật cười lớn.

- À, ông này lại giở “thủ đoạn nghề nghiệp” ra rồi. Anh nói vậy rồi im lặng. Một khoảng im lặng lạ lùng mà tôi biết sẽ làm nền cho người ta chuẩn bị dốc bầu tâm sự. Tôi kiên nhẫn chờ đợi.

Nắng đã tắt, nhưng vầng trăng đầu tháng đã lên kia rồi. Ánh trăng kia đang khơi dậy bao kỷ niệm trong anh.

Và cuối cùng anh kể. Là nhà văn, trí tưởng tượng của tôi lập tức hoạt động và tôi đã dần dần hình dung được mối tình của họ. Vợ anh yêu văn chương, phải vậy không? Vậy thì tôi xin chép câu chuyện tình yêu của anh chị dưới dạng một truyện ngắn để dành tặng hai người. Có thể rồi để anh chị sẽ được đọc và có thể không đồng ý với tôi về một vài tình tiết nào đó. Nhưng, tôi tin rằng tấm lòng thành thực, chân tình của người viết thì anh chị có thể nhận thấy qua từng dòng, từng chữ.

II

Đó là một buổi chiều mùa thu êm ả. Vừa qua mấy trận mưa lớn, khí trời thoáng đãng và nhẹ lâng. Ven dê, lúa đang thì con gái xanh mỡ màng. Nước lũ đang về, sông Đà đỏ ngầu phù sa, cuồn cuộn chảy ngược về phương Bắc. Ai đến con sông này cũng phải ngạc nhiên trước dòng chảy lạ lùng của nó. Mọi con sông trên đất nước này đều chảy về hướng Đông, riêng sông Đà chảy về hướng Bắc. Nhưng rồi nó cũng nhập với sông Hồng, làm thành một dòng sông lớn để tiếp tục cuộc hành trình đi tới biển.

Sinh đạp xe dọc theo bờ đê. Lòng anh cũng nhẹ lâng, gió thổi mát lộng. Xe bon vun vút, ngỡ tưởng cứ ngồi trên xe đạp thế này cũng có thể đi cùng trời cuối đất mà không biết tới mệt mỏi. Trung đoàn vừa hoàn thành cuộc diễn tập thực binh, cuộc diễn tập đạt kết quả tốt, được trên khen ngợi. Kết thúc cuộc diễn tập, lại một tin vui nữa đến với Sinh, anh vừa nhận được quyết định đề bạt trung đoàn trưởng thay cho trung đoàn trưởng Hán về nghỉ hưu. Thế là từ nay anh sẽ là trung đoàn trưởng của một trung đoàn anh hùng, một trung đoàn trưởng trẻ nhất trong số các trung đoàn trưởng của sư đoàn. Năm nay anh mới ba mươi hai tuổi, mười hai năm tuổi quân nhưng đã trải qua hàng tram trận đánh lớn nhỏ và đã bốn lần được tặng thưởng huân chương chiến công; ba lần bị thương nhẹ để đủ “làm nũng các má” và các cô y tá phục vụ các bệnh viện ở mặt trận. Ở đơn vị anh có uy tín rất cao, được cán bộ cấp trên và anh em chiến sĩ cấp dưới tin cậy, yêu mến. Tóm lại, anh sẽ hoàn toàn là người thành đạt hạnh phúc nếu như không có một chút trắc trở về đường riêng tư . Phía sau anh, quá khứ của anh là như vậy. Còn phía trước hẳn sẽ còn nhiều khó khăn, gian khổ đang chờ anh. Nhưng anh còn trẻ, còn tràn đầy sức lực, anh còn có thể vươn lên không ngừng trong cuộc sống.

Vì thế mà anh yêu đời, yêu cuộc sống. Anh đang vui, đang có cảm tình với tất cả, từ ngọn gió, dòng sông đến những hạt cát trên đường. Chặng đường hơn hai chục cây số qua nhanh như chớp mắt. Vượt qua sông, đạp ba chục cây số nữa là tới quê anh. Ba chục cây số nữa, anh coi thường. Sớm muộn thì tối nay anh cũng có mặt ở nhà, cơm nước, tắm gặt xong là anh có thể đàn đúm với bạn bè được rồi, gần một năm nay anh lại trở thành trai không vợ, chẳng có gì bận bịu, mắc míu nữa.

Năm bảy mươi lăm giải phóng Miền Nam xong, anh được phép về thăm gia đình một tháng. Vui bè, vui bạn rồi mạnh ở gia đình, và hai cô em gái thúc giục, mưu mô, anh quyết định lấy vợ. Đối với anh lúc bấy giờ, cuộc đời chẳng có gì đáng phải băn khoăn, tính toán. Anh đã đi qua cuộc chiến tranh dằng dặc, gian khổ là thế còn vượt qua được nữa là những khó khăn vặt vãnh của đời thường. Như nhiều người lính ở chiến trường về, anh đã từng nhìn đời bằng con mắt giản đơn như thế. Và, cố nhiên, như tất cả mọi người đơn giản và chủ quan khác, anh đã vấp váp.

Cưới vợ xong, vào đơn vị được hai tháng thì đột nhiên có giấy gọi anh về gặp tòa án nhân dân huyện để giải quyết về việc anh đã “kết hôn bất hợp pháp với cô Nguyễn Thị Ánh Tuyết”. Anh đờ cả người ra vì ngạc nhiên và khó hiểu. Từ hồi vào đơn vị đến nay anh không nhận được thư từ của ai trong gia đình ngoài vợ anh, nên cũng chẳng còn biết đầu đuôi xuôi ngược làm sao mà lại ra cái cơ sự ấy. Trung đoàn lại phải cho anh đi phép để “ra tòa”. Trước khi anh về, trung đoàn trưởng Hán, với tư cách của một người từng trải đã thành thực khuyên anh phải thận trọng, không nên “đánh bạc với đời” nhưng anh vẫn tặc lưỡi “Anh yên trí! Có lẽ... có sự lầm lẫn nào đó thôi”.

Về tới nhà anh mới vẽ lẽ rằng cái điều rắc rối ấy là có thực. Vợ anh đã có chồng. Hồi còn là công nhân ngoài Hải Phòng, vì lầm lỡ cô ta đã buộc phải lấy chồng mà không hề xin phép gia đình vì sợ ông bố rất nghiêm khắc của mình. Nhưng chỉ hai tháng sau “đức ông chồng” quý hóa đã đánh cô trụy thai. Cay đắng trước số phận của mình, cô không hề kiện cáo mà lẳng lặng xách va li về khu tập thể nữ công nhân, cương quyết không về với hắn nữa, cô đã tưởng như thế là đã dứt khoát được với nhau, chẳng cần phải ra tòa làm chi cho bẽ bàng. Rồi để chốn tránh cho quãng đời tủi nhục của mình, cô xin về quê, dồn tất cả vốn liếng góp nhặt được mua một chiếc máy khâu, vùng quê Sinh chưa có thợ cắt may nay bỗng có một cô thợ khéo, ai cũng thích. Hợp tác xã cũng ủng hộ cô, cho cô mở hiệu may ngay trong xã lấy tiền mua công điểm, thế là cô trở thành “cô thợ may hàng xã”, được bà con rất quý mến, vì nể.

Giữa lúc đó thì Sinh về. Ngay từ những lần gặp gỡ đầu tiên cô đã mến Sinh bởi cái dáng vóc lực sĩ, trẻ trung, bởi tính tình chân thực và... bởi cả đôi quân hàm đại úy gắn hờ hững trên ve áo của anh nữa. Không phải chỉ riêng cô mà nhiều cô gái trong làng, ngoài xã cũng nhìn Sinh với con mắt đầy thiện cảm và chờ đợi. Nhưng được sự chi viện đắc lực của hai cô em gái đang ở cái tuổi thích trưng diện của Sinh, cô đã thắng cuộc. Vào một buổi chiều mưa, ngay trong căn nhà vắng vẻ của gia đình mình, như một lời đùa giỡn, Sinh tỏ tình. Không ngờ cô ta ưng thuận ngay. Rồi như tất cả mọi anh bộ đội về phép “tranh thủ” khác, Sinh vội vã chuẩn bị lễ cưới, tiếp đó là những ngày hạnh phúc đầu tiên. Tuy đôi lúc trong lòng Sinh, cũng gợi lên một thoáng nghi ngờ trước sự “từng trải” trong sinh hoạt vợ chồng của vợ mình, nhưng cô ta khéo chiều chuộng vuốt ve nên những bóng mây nghi ngờ ấy lại được xua tan nhanh chóng.

Nhưng... nào có ai học được chữ ngờ! Anh vừa đi được gần một tháng thì có đơn từ Hải Phòng gửi về tòa án huyện kiện anh về việc “lấy tranh vợ người khác”. Đơn kiện có kèm theo cả bản chụp giấy đăng ký kết hôn trong đó có tên và chữ ký của vợ anh. Tòa án buộc phải “sờ” đến anh.

Trước tòa cả anh và vợ anh đều là người đuối lý. Anh buộc phải “trả lại” vợ cho người ta và phải bồi thường một khoản tiền “danh dự” cho bên nguyên! Vợ anh rũ ra như một con chim lại vừa bị người ta bắt nhốt vào lồng. Cô chỉ biết níu lấy anh khóc và than thở “Anh Sinh ơi! Em không định lừa gạt anh đâu. Em khổ lắm”.

Anh tin ở nỗi khổ của cô và tin rằng vì yêu mình mà cô buộc phải lừa dối. Vì thế anh đã chia tay cô không một lời oán trách.

     Anh lại ra đi. Nhưng lần này không còn thanh thản như lần trước. Anh cảm thấy mình thiếu trách nhiệm với chính cuộc đời mình, do đó thiếu trách nhiệm cả với gia đình với những người khác. Nhưng, những đức tính của người lính đã giúp anh nhanh chóng vượt qua những ngày buồn chán, tiếp tục nuôi dưỡng cho anh lòng tin yêu cuộc sống. Anh tự dặn mình nếu có lấy vợ một lần nữa thì phải thận trọng hơn, phải “dò đến tận ngọn nguồn lạch sông” và phải bắt đầu từ tình yêu chứ không liều lĩnh như chơi một cuộc sổ số cầu may.

Nghĩ là vậy, tính toán là vậy, nhưng cuộc đời còn biết bao điều bất ngờ. Ai mà lường trước được.

*

* *

Bến đò buổi chiều khá đông người. Một phường thợ sơn tràng vừa làm ăn trên mạn ngược về lỉnh kỉnh cưa đục, một tốp nữ sinh của một trường sư phạm nào đó đi thực tập, mấy bà buôn chè, vài ba anh bộ đội... Sinh tựa xe vào một gốc cây đứng đợi đò. Thuận miệng, anh hỏi một bà hàng chè.

- Thưa bác, bến này gọi là bến gì ạ?

- Bến Phù Vân, chú ạ - Bà trả lời - Người ta vẫn gọi thế, nhưng Phù Vân là cái làng bên kia kìa. Còn bên này gọi là xóm Mọc.

- Bác nói... Bến Phù Vân ạ? Sinh hỏi lại.

- Ờ. Phù Vân, ấy là cái tên các cụ đặt cho từ hồi xửa hồi xưa kia. Còn bây giờ người ta gọi là quyết tiến quyết lùi gì ấy? Nghe cứ chối cả cái lỗ tai!

Phù Vân! Cái tên có âm hưởng êm dịu ấy có sức gợi cảm đến lạ lùng. Bất chợt, từ trong tiềm thức sâu thăm của Sinh hiện ra gương mặt một người con gái. Một gương mặt mà anh đã gặp trên đường đời. Một gương mặt mà Sinh cứ ngờ rằng đã bị vùi sâu trong quá khứ, không ngờ hôm nay bỗng hiện về đầy đủ mọi đường nét trong tâm trí anh. Giọng nói dịu dàng của người con gái ấy cũng như đang vang bên tai anh.

- Nhà em ở ngay trên bến Phù Vân, anh Sinh ạ. Mai này trở về, nếu anh còn nhớ em, đi tìm em thì cứ đi dọc đê sông Đà về phía Sơn Tây hỏi đến bến Phù Vân, tới Phù Vân anh hỏi tên em hoặc hỏi nhà bà Vụ ươm tơ thì ai cũng biết cả.

Rồi đột nhiên cô cất tiếng cười, một tiếng cười trong trẻo, hồn nhiên và hơi tinh nghịch - Để khỏi quên, anh hãy đọc thuộc câu “thần chú” này nhé.

Ngước nhìn anh bằng đôi mắt long lanh, cô mỉm cười khẽ đọc:

Nhà Vân, bên bến Phù Vân

Thương nhau xa cũng nên gần, hỡi ai

Anh lẩm nhẩm đọc theo và chỉ hai ba lần đã thuộc. Nhưng hình như ở đời cái gì mau nhớ thì cũng mau quên. Chẳng bao lâu anh đã quên câu thơ ấy. Cho đến tận ngày hôm nay...

- Đò sang rồi, ta xuống thuyền đi chứ.

Bà hàng chè ban nãy nhắc anh rồi te tái quẩy hàng chè xanh xuống bến. Sinh như chợt bừng tỉnh, vội vã dắt xe theo mọi người xuống thuyền. Hai tiếng Phù Vân như ám ảnh anh, khiến lòng anh đột nhiên xao động lạ thường. Đứng trên thuyền mắt anh đăm đắm nhìn về bên kia như dõi tìm một bóng dáng xa xăm. Tiếng sóng vỗ vào mạn thuyền ì oạp. Gió thổi mạnh, con thuyền phải bơi ngược nước, ngược gió một đoạn rồi mới có thể thanh thản thả trôi xuống dòng nước mà cập bến. lòng Sinh cũng đang bồng bềnh như con thuyền. Trong tiếng sóng, tiếng gió anh lại như nghe văng vẳng từ xa xăm tiếng người con gái tình cờ anh gặp trên chặng đường đi đến chiến đấu rồi anh đã yêu, đã hò hẹn và đã lãng quên.

Nhà Vân, bên bến Phù Vân

Bến Phù vân đã ở trước mặt kia rồi. Nhưng còn người ấy?



Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 25 Tháng Mười Hai, 2011, 09:54:09 pm
                                       Tiếp :
 
  Vào cuối mùa xuân năm 1971, sau chiến dịch Nam Lào, Sinh bị thương phải đi viện điều trị hơn một tháng, vết thương của anh kể ra cũng không đáng phải nằm viện lâu đến thế. Nhưng hồi ấy người ta đang cưng các dũng sĩ đường 9 - Nam Lào nên các bác sĩ nhất định chuyển anh sang đội an dưỡng sau khi đã chữa lành vết thương cho anh. Đơn vị anh vừa hoàn thành nhiệm vụ chiến dịch cũng đang nghỉ ngơi, củng cố nên Sinh cũng yên tâm nán lại củng cố sức khỏe của mình.

Một buổi sáng đẹp trời anh được ra viện. Khoác ba lô trên vai, anh thấy mình vui vẻ lạ thường. Sau hơn một tháng “ăn không ngồi rồi” sức lực đã hồi phục, anh béo khỏe và trắng trẻo hơn một chút. Tóm lại, anh thấy hài lòng vềmình. Báo quân đội vừa đăng bài về gương chiến đấu của anh kèm theo cả ảnh. Cả bệnh viện đã biết anh và khâm phục anh, nhất là mấy cô y tá, hình như họ đều yêu anh cả. Vì thế, anh chẳng biết nên có cảm tình với cô nào hơn cả. Nói cho đúng ra, trong đám đông các cô y tá, y sĩ, hộ lý ở viện anh có cảm tình hơn cả với một cô vốn là thanh niên xung phong được tăng cường vào làm hộ lý cho bệnh viện phục vụ chiến dịch. Cô gái có đôi mắt đen láy với đôi hàng mi cong vút như mi mắt giả của các nữ tài tử điện ảnh mà anh thường được xem ảnh in trong các tờ tạp chí hay trên bìa lịch. Cô vui vẻ nhẹ nhõm nhưng đậm đà kín đáo chứ không xô bồ táo tợn như mấy cô “chị nuôi” và một số cô y tá khá bạo dạn vì tiếp xúc nhiều với con trai. Cô chăm sóc anh tận tình, kín đáo và luôn phải tỏ ra “nhường nhịn” mỗi khi các bậc “đàn chị” khác kéo đến tán tỉnh anh. Có lẽ anh chú ý đến cô trước hết bởi đức tính khiêm nhường ấy. Đôi lúc anh cũng bắt gặp cô kín đáo ngắm nhìn mình rồi lặng lẽ chạy đi khẽ buông tiếng thở dài nhưng anh chỉ tặc lưỡi - “Thì cũng như tất cả mọi người, họ đang yêu ta!” Anh vui vẻ về điều ấy và chắc hẳn hồi đó anh tỏ ra “cao ngạo” lắm! Anh cho rằng mình hoàn toàn xứng đáng, hoàn toàn có quyền được hưởng sự yêu thương của mọi người. Anh là dũng sĩ, mà lại là một dũng sĩ nổi tiếng trong một chiến dịch nổi tiếng, chấn động cả năm châu bốn bể kia mà.

Cuộc chia tay trong bệnh viện diễn ra thật đầm ấm. Các cô gái viết lưu niệm tràng giang đại hải theo cùng một lối văn bay bướm kiểu học trò xen lẫn đôi câu thơ không hiểu của nhà thơ nào hay do các cô bịa ra và đã thuộc nằm lòng để dùng cho tất cả cuộc trường hợp tương tự. Riêng Vân - Cô gái khiêm nhường ấy - không viết một chữ nào vào cuốn sổ của anh. Kể ra cũng hơi tiếc, nhưng lúc đó anh làm gì có thời gian “duyệt” lại tất cả để biết rằng cuốn sổ của mình còn một “lỗ hổng” đáng tiếc như vậy?

Ra khỏi bệnh viện lòng anh nhẹ lâng, tràn trề sức lực và niềm yêu cuộc sống. Anh muốn chạy, nhảy, hay làm bất cứ việc gì, nhấc bổng trái núi trước mặt kia lên chẳng hạn để biểu hiện sức mạnh của mình. Nhưng anh chưa kịp làm bất cứ một điều gì thì “sứ giả” của sự hủy diệt đột ngột ập đến phô trương sức mạnh ghê gớm của nó. Một loạt bom B52 nổ trùm trước mặt anh. Rồi lọat thứ hai, thứ ba... Anh năm lăn bên vệ đường, tối tăm mặt mũi. Cây cối đổ rầm rầm . Đất đá bay loạn xạ. Thoắt cái, mặt đất đã hoàn toàn biến dạng.

Nhưng anh còn sống, sau khi sờ quanh mình không thấy có vết thương nào, anh mới tìn rằng mình không bị quay lại bệnh viện. Vì lần này mà quay lại, dù vẫn là thương binh, chắc cũng không còn được “oai” như lần trước.

Phải vất vả lắm anh mới tìm ra dấu vết của con đường cũ. Bọn “pháo đài bay” Mỹ lại đấm vào không khí. Đường vắng ngắt. Hay bọn phi công Mỹ chỉ chọn một mình anh làm mục tiêu tấn công? Vậy thì chúng lỗ to rồi! Một quả bom chưa nổ bị vùi sâu trong lòng đất chỉ nhô lên cái đầu đen trũi, tựa hồ như hắn vừa ở dưới đất chui lên chứ không phải ở trên trời rơi xuống. Sinh nhổ toẹt một cái vào cái đầu đen ấy rồi ngang nhiên bước qua. Chắc nó sẽ nổ vào một lúc nào đó, mặc mẹ nó, nghĩa lý quái gì?

Sinh đang lần mò tìm đường xuyên qua bãi bom thì bỗng có tiếng gọi vang phía sau lưng.

- Anh Sinh! Anh Sinh ơi!

Anh giật mình quay lại và nhận ra người vừa gọi mình chính là Vân. Cô bươn bả chạy trên miệng hố bom, quần áo vương đầy bụi đất.

- Đi đâu mà chạy khiếp thế cô Vân?

- Anh!...

Cô dựng lại, ngước mắt nhìn anh đăm đăm và thở:

- Em... cứ tưởng... nghe bom nổ ở hướng này... em sợ anh... thế nào...

- A - Sinh cất tiếng cười lớn - cô tưởng thăng Nich - xơn nó quật đổ tôi rồi phải không? Còn lâu! Nhưng kể cũng tiếc thật. Giá tôi bị vài vết thương có phải lại được...

- Anh... cứ đùa mãi. Em... lo quá...

Vân nghẹ ngào rồi đột nhiên ngồi thụp xuống khóc nức nở. Sinh bỗng lúng túng, hoang mang. Sao nhỉ? Bao nhiêu người, bao nhiêu cô gái... mà sao chỉ có Vân lo lắng thực sự cho số phận của ta? Rồi đi tìm. Đuổi theo. Hoảng sợ. Rồi... khóc thế kia? Hay là...

Sinh bỗng thấy lòng mình dao động. Một tình cảm mới lạ chưa từng thấy dấy lên trong lòng anh. Anh lặng đặt ba lô lên một thân cây đổ rồi cúi xuống đặt tay lên vai Vân.

- Sao thế Vân?

- Không... không sao. Anh... mặc... mặc kệ em...

Trong tiếng khóc tức tưởi của Vân có cái gì như hờn dỗi, như oán trách. Phải, có lẽ anh vô tình quá. Vân yêu anh, có đúng như vậy không? Xúc động choáng váng trước điều kỳ diệu vừa nhận ra, anh lặng lẽ cúi xuống, nâng Vân dậy và nhẹ nhàng vuốt ve mái tóc mịn như nhung của cô. Giọng anh tự nhiên cũng nghẹn ngào.

- Vân!... Anh... anh hiểu... Anh hiểu rồi...

Vân ngước đôi mắt vẫn còn đẫm lệ nhìn anh, miệng hé nở một nụ cười.

- Em.. sợ quá! Nhưng... anh không... việc gì chứ?

- Không. Anh không việc gì... không sao cả đâu.

- Áo anh đầy bụi đất rồi này!

Rất tự nhiên, cô lần khắp chân tay rồi lần lên ngực anh và e thẹn áp mái tóc đầu của mình vào đó.

- Anh đừng... cười em nhé!

- Vân!

Anh ghì chặt cô gái vào lòng. Họ hôn nhau. Những chiếc hôn cháy bỏng, đầy khát khao của tuổi trẻ. Một tiếng bom nổ. Có lẽ thằng “đầu đen” như chui từ âm ty lên nổ rồi.Kệ nó! Bây giờ họ chẳng sợ gì cả. Bất chấp tất cả. Họ vẫn ôm ghì lấy nhau bên hố bom như một mầm cây khỏe mạnh, tràn trề nhựa sống thách thức mọi sự hủy diệt. Mùi thuốc thơm khét nồng không át nổi hương thơm tỏa ra từ mái tóc, từ lồng ngực trẻ trung của Vân. Trong giây phút diệu kỳ ấy Sinh bỗng hiểu rằng cuộc chiến đấu của mình còn có một ý nghĩa thật lớn lao, một mục đích thật cao thượng, đó là cuộc chiến đấu vì sự sống, vì sự ngự trị vĩnh viễn của tình yêu trên trái đất này.

Nhưng rồi cũng đến lúc họ bừng tỉnh. Dù sao thì cũng phải chia tay. Vân líu ríu nói bao nhiêu điều, kể bao nhiêu điều, anh chỉ nghe loáng thoáng. Hình như cô đòi ghi hòm thư của anh và xin anh một tấm ảnh. Ảnh thì anh chưa chụp bao giờ. À mà có, chỉ có tấm ảnh in trên báo, anh đã cắt lấy và cất đi làm kỷ niệm. Anh mở ví, lấy ra tấm ảnh ấy trao cho Vân. Cô sung sướng reo lên. rồi cô lại ôm ghì lấy anh, hôn anh rối rít.

- Còn em.. Em không mang ảnh đi. Em để ở ba lô rồi. Biết làm sao?

- Không có cũng chẳng sao - Sinh an ủi - Tấm ảnh đẹp nhất là tấm ảnh in trong trái tim mình - giọng anh như hát, hình như trong một cuốn sách nào đó khi kể về một cuộc chia tay đã viết như vậy. Có quan trọng quái gì một tấm ảnh mà Vân có vẻ buồn. Rồi họ sẽ gặp lại nhau và có thể sẽ lấy nhau kia mà. Trái đất suy cho cùng, cũng có rộng lắm đâu?

Anh ghi số hòm thư của mình vào lòng bàn tay xinh đẹp của Vân. Vân đột nhiên nắm chặt bàn tay ấy lại, như sợ con số kia sẽ bay vù đi mất. Rồi cô cũng ghi số hòm thư của mình lên vành mũ của chàng dũng sĩ. Chưa yên tâm, cô dặn thêm.

- Sau này nếu lạc nhau, không viết thư được cho em nữa thì anh về Phù Vân tìm em, anh nhé.

- Anh sẽ tìm - nhất định anh sẽ tìm em - Anh lên Sơn Tây, đi ngược đê sông Đà, hỏi thăm bến đò Phù Vân - Phù Vân, hay nhỉ! Cứ như tên con gái ấy. Tán dóc, nhớ đã này. Anh đến Phù Vân hỏi tên em, hay hỏi tên bà Vụ ươm tơ, là mẹ em thì ai cũng biết. Mà thôi, để em đọc cho anh nghe câu “thần chú” này, anh sẽ không thể nào quên được - Em nói sao? “Thần chú” cơ à, em có là phù thủy đâu? Nhưng được rồi em đọc câu “thần chú” của em đi, anh nghe đây - Anh nhắm mắt lại cơ. Thế.. em đọc này. “Nhà Vân bên bến Phù Vân. Thương nhau xa cũng nên gần, hỡi ai”. Hay quá! Một câu thơ, em sáng tác đấy à? Em bịa ra để bạn bè nhớ dễ tìm. Nào, anh đọc lại đi. Đọc cho thuộc vào. Em kiểm tra, thuộc em mới cho đi cơ!

Anh đã học thuộc câu thơ ấy. Nhưng rồi năm tháng chiến tranh với hàng ngàn sự việc phải nhớ, phải quên. Và, vì điều quan trọng nhất là tình yêu trong anh chưa đủ mạnh, đủ sâu sắc, để găm câu thơ ấy trong lòng. Nó đã bỏ rơi anh, như bỏ rơi bất kỳ một con người nào hờ hững với kỷ niệm, đùa rỡn với tình yêu. Hôm nay nó chợt hiện về với tất cả âm hưởng tươi mát và trong sáng lồng lộng như một tấm gương để anh nhìn vào đó, tự hỏi lòng mình.

Thuyền đã cập bến rồi. Làng Phù Vân của em đang ở trước mặt anh rồi đó Nhưng, anh có nên tìm em không? Tìm để làm gì nhỉ? Có lẽ, cũng như anh, em không còn giữ mảy may một hình ảnh nào của cái buổi sáng tuyệt vời trên bãi bom B52 ấy? Làm sao em lại dám treo lơ lửng cuộc đời mình lên một sợi tơ nhện, dù đó là một sợi tơ do một con nhện vàng nhả ra óng ánh trên đoạn đường đời em chợt gặp. Chẳng có lý do gì để em đợi chờ vì sau đó hình như chúng mình chỉ thư từ qua lại được hai ba lần rồi bặt tin nhau. Anh vào sâu trong chiến trường miền Nam, đi xa xa mãi. Bấy nhiêu năm không một tin tức vân mòng?

Bây giờ làm sao đây? Anh có nên… có nên tìm em không nhỉ.

Nhà Vân bên bến Phù Vân…


Tiêu đề: Re: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội
Gửi bởi: vmt trong 25 Tháng Mười Hai, 2011, 09:58:43 pm
                                      Tiếp :

 Chú bé sung sướng vì được vì được chọn làm người dẫn đường, săng xái chạy trước. Sinh ngập ngừng dắt xe đạp theo sau. Đã hỏi thăm rồi, chẳng lẽ không vào. Thôi, thì cứ thử gặp nhau một lần xem sao?

Chú bé dừng lại trước mặt lối ngõ có hàng duối cắt xén rất tỷ mỷ và được uốn vòng cung thành một cái cổng “chào” rất khéo và trang nhã.

- Bà Vụ ơi! Bà Vụ! – Chú bé lớn tiếng gọi.

- Ai hỏi gì đới? – Tiếng bà cụ từ trong bếp vọng ra.

- Có khách của cô Vân đây này – chú bé trả lời rồi quay lại giục Sinh – Bà cụ có nhà đấy, chú vào đi. Nhà không có chó đâu. Cô Vân cũng sắp về rồi đấy.

Sinh cảm ơn chú bé rồi mạnh dạn dắt xe vào. Bà cụ cũng vừa từ trong bếp chạy ra.

- Con chào cụ.

- Chào bác. Xin lỗi nhà cháu đang dở nồi cám lợn. Mời bác vào chơi nhà.

Một ngôi nhà bốn gian, có lẽ mới được xây lại cách đây hai ba năm, gồm một buồng ngủ và ba gian nhà ngoài. Gian giữa là bàn thờ tổ tiên bày biện giản dị nhưng trang nghiêm, liền đó là bộ bàn ghế tiếp khách. Gian bên phải kê một chiếc giường tre kiểu rất cũ nhẵn bóng và mát mẻ; gian bên trái là một giá sách và một bàn nhỏ, có lẽ là nơi làm việc của Vân. Trên bàn có một chồng sách khoa học đang đọc dở, một bức tượng thiếu nữ đọc sách bằng thạch cao là một lọ cắm hoa gắn liền với ống đựng bút. Trên tường treo la liệt những sơ đồ, những hình vẽ, tằm, kén… và những loại sơ đồ bản vẽ khác liên quan tới nghề trồng dâu nuôi tằm. Bất chợt mắt Sinh dừng lại trước nột khung ảnh nhỏ trên giá sách. Trong khung chỉ có hai tấm ảnh. Một tấm ảnh Vân chụp nửa người mặc quân phục và một tấm ảnh của anh. Đó là tấm ảnh dũng sĩ Nguyễn Trường Sinh cắt trên báo mà anh đã trao cho Vân từ ngày ấy. Nhìn thấy tấm ảnh anh bỗng lạnh người và vụt hiểu ra một điều mà anh không thể ngờ – Vân vẫn chưa lấy chồng, vẫn chờ anh!

- Mời anh lại xơi nước – tiếng bà cụ vang lên khiến anh giật mình.

- Dạ, xin lỗi cụ…

Thấy anh đứng tần ngần bên tấm ảnh có lẽ bà cụ đã ngờ ngợ. Anh ngồi xuống ghế đón chén trà của bà cụ trao cho, mặt thoáng nóng bừng lên, mồ hôi ướt đẫm trên trán. Bà cụ ngắm anh một lát rồi mạnh dạn hỏi:

- Tôi hỏi khí không phải chứ… Anh có phải là anh Sinh không?

- Dạ… - Sinh lúng túng đáp – Cháu… cháu đúng là Sinh đấy ạ.

- Thảo nào – Bà cụ thở phào – Lúc anh mới bước vào ngõ tôi đã ngờ ngợ… Anh chẳng khác cái ảnh kia mấy tý, chỉ già dặn hơn đôi chút thôi. Con Vân nhà tôi nó cứ nhắc đến anh luôn. Tôi bảo, giải phóng đã hai năm nay rồi, nếu còn sống thì anh ấy đã về. Mày cứ nhắc thế… lỡ rủi anh ấy chết rồi thì có phải tội không con?

- Dạ… con – Sinh không biết ăn nói thế nào nên càng lúng túng hơn – con… đáng lẽ con… chết rồi cơ ạ.

- Phúc đức quá! Nơi hòn tên mũi đạn là thế, nắm đất ném bụi tre, chẳng trúng cây nọ thì cũng vào cây kia… còn sống mà về là phúc to lắm đây. Anh xơi nước đi. Mà kìa, con bé nó về rồi kia kìa.

Vân! Vâng, đúng là cô gái ấy. Nếu có gặp ngoài đường có lẽ anh cũng nhận ra. Bây giờ anh biết trốn vào đâu?

-Nhà có khách hả mẹ?

Vân dựng xe lên hè bếp va cất tiếng hỏi mẹ. Bà cụ mỉm cười nhìn con gái rồi chỉ lên nhà trên:

- Có khách đấy. Con lên nhà xem ai nào?

- Vân.

- Trời ơi!... Anh Sinh!

Vân lao lên thoảng thốt rồi lao vội lên hè. Khi chỉ còn cách anh chừng vài chục phân cô dừng sững lại, mở to mắt, miệng mấp máy gọi tên anh và chỉ một thoáng, đôi mắt đen láy của Vân đã đầy ắp nước mắt.

- Anh về… lúc nào ạ?

- Vân… vào nhà đi đã.

Cô gần như tựa hẳn vào anh, lê từng bước vào nhà. Họ ngồi yên lặng bên nhau trên chiếc giường tre, không ai nói được một lời nào cho đến lúc tiếng mẹ Vân vang lên dưới bếp.

- Vân ơi, xuống đây mẹ bảo cái này đã.

Vân vẫn nhìn anh đăm đắm, nói như gió thoảng:

- Anh nghỉ đi… nếu có muốn tắm thì có nhà tắm ở đầu nhà ấy. Nước ở trong ang, đừng ngại. Em gánh một lúc lại đầy ắp ngay ấy mà. Để em xuống xem mẹ bảo gì… Có lẽ… mẹ bảo bắt gà làm thịt cho anh ăn đấy. Tối nay bọn bạn em chúng nó sẽ kéo đến đấy… Anh phải chuẩn bị kể chuyện chiến đấu cho chúng nó nghe nhé…

Nói rồi Vân vội vã xuống bếp. Cô tíu tít giục mẹ điều gì đó. Cô chạy ra, chạy vào, cười nói ríu rít. Rồi… cô đánh đổ một cái gì đó và bị bà cụ rầy la. “Cô ấy đang vui. Cô ấy đã chờ đợi bao nhiêu. Hy vọng bao nhiêu? Vậy mà mình… - Anh tự vấn lòng mình – Mình không xứng đáng một chút nào. Mình là thằng tồi! Thôi, hãy đứng dậy, bước ra khỏi ngôi nhà này ngay và đừng bao giờ trở lại ngôi nhà này nữa”.

Sinh tự xỉ vả mình. Nhưng anh không còn đủ can đảm để đứng dậy, để nói bất cứ điều gì nữa. Đến tận lúc này anh mới hiểu rằng mình đã đánh mất một cài gì đó vô cùng quý giá. Nhưng bây giờ biết làm sao đây? Nói thật ra rằng anh đã quên Vân từ lâu, đã lấy vợ và cũng chỉ tình cờ mà qua đây thôi ư? Thế thì tàn ác quá, dù đó là sự thật. Không! Không nên như vậy. Đến giờ thì anh hiểu rằng anh yêu Vân, tình yêu ấy đến lúc này mới thực sự chín muồi trong anh và anh run lên khi nghĩ rằng nó sẽ tuột khỏi tay mình. Anh không thể để mất nó một lần nữa. Phải giữ lấy bằng mọi cách, kể cả sự dối trá! Sau đó ta sẽ yêu Vân thật nhiều để bù đắp lại những điều mà Vân đã thiệt thòi. Anh tự nhủ như vậy: Anh lại cảm thấy mình có sức mạnh. Không, anh không có quyền lùi bước nữa rồi. Anh sẽ chỉ… nói dối một lần này thôi. Rồi khi đã lấy nhau rồi, anh sẽ nói thật hết, sẽ xin lỗi Vân và mọi việc sẽ lại tốt đẹp…

Quyết định rồi. Nhưng bây giờ phải tính toán sao cho mọi chi tiết đều “khớp”. Hai năm qua anh ở đâu, làm gì? Cái đó không khó. Anh vẫn tại ngũ, đơm vị tiếp tục làm nhiệm vụ truy quét bọn Fulrô ở Tây Nguyên. Rồi tình hình biên giới Tây Nam căng thẳng vân vân… Điều may mắn là từ lâu họ không còn liên lạc được với nhau, không có địa chỉ để viết thư cho nhau, để hò hẹn. Muốn đi tìm nhau thì phải có thời gian chứ? Anh đã là trung đoàn trưởng rồi, trách nhiệm cũng nặng nề hơn. Đến tận hôm nay cấp trên mới cho anh nghỉ… thí dụ thế. Đấy là một phương án. Còn phải trả lời xem có phải tình cờ mà anh ghé bến Phù Vân không? Không! Anh đã chuẩn bị từ lâu cho cuộc đi tìm người mà anh yêu. Bằng chứng là… là… à! Đây rồi. Có mấy mét vải hoa rất đẹp anh vừa mua được định đem về cho hai cô em gái. Thôi xin lỗi hai em, anh dành cho Vân như một món quà tặng để Vân tin rằng anh đã chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ này. Ngoài ra lại còn có cả một cân len miền Nam màu cà vàng đơn vị vừa phân phối cho. Tuyệt ở chỗ nó lại là hàng miền Nam. Đó là thứ quà phổ thông của bất kỳ một anh bộ đội nào sau giải phóng về thăm quê. Ổn lắm: Tất cả đều có vẻ hoàn chỉnh… trừ lương tâm! Ôi, nếu có thể đánh đổi bất cứ thứ gì có thể trung thực thì anh cũng sẵn sàng. Nhưng, lúc này không có gì có thể đánh đổi được, trừ tình yêu, mà cái đó thì anh không muốn đánh đổi.

Bữa cơm sum họp đã diễn ra vô cùng đầm ấm. Có lẽ đúng như Vân đã từng xây đắp trong mộng tưởng từ bấy lâu nay. Bà Vụ đã qua những bỡ ngỡ ban đầu và đã coi anh như người nhà. Có lẽ hai năm nay bà cụ cũng mong anh về không kém gì con gái. Thêm một lý do để anh không ân hận vì đã nói dối. Anh không có quyền đập tan cả niềm hy vọng trong lòng người mẹ cao cả và độ lượng kia nữa.

Buổi tối, các bạn Vân kéo đến đầy nhà. Hầu hết họ là công nhân trong các đội ươm tơ hay trồng dâu nuôi tằm của nông trường. Họ nói cười ầm ĩ, trêu chọc Vân đủ điều và các cô đã bắt đầu phác họa sơ sơ những dự kiến cho đám cưới của Vân. Rôi, không hiểu bằng cách nào những “quà tặng” của anh cũng bị moi ra. Các cô gái xúm lại xem vải, xem len và tấm tắc khen anh Sinh khéo chọn màu, chọn hoa, một cô to béo cứ ướm hoài tấm vải lên người Vân, và hét lên.

- Hay quá! Đủ may một cái áo dài cho cô dâu!

- Mày rõ thật! – Một cô gái nguýt dài – áo cô dâu phải may vải trắng chứ ai lại may vải hoa.

- Thì chẳng may được áo dài thì may áo ngắn chứ sao? Chị Vân gan thật đấy. Phải em á…? Giải phóng hai năm rồi mà không thư từ gì về cho em thì em đi lấy chồng “xừ’ nó rồi.

Đêm hôm ấy họ gần như thức trắng bên nhau: Sinh đã nghe Vân kẻ về những ngày xa cách, về những năm cô rời thanh niên xung phong về học đại học, về bao nhiêu nỗi niềm thương nhớ của mình. Sinh cũng kể về anh, nhưng có bao nhiêu điều anh còn phải giấu, phải bịa đặt. Lúc đầu anh thấy ngượng, nhưng sau quen dần anh nói trôi chảy tất cả mọi chuyện. Vân tin tất cả, không nghi ngờ gì cả. Vì cô yêu, khi đang yêu, người ta thường dễ tin như vậy.

Rồi họ nói đến tương lai, họ bàn đến cả lễ cưới và thậm chí, trong lúc say sưa Vân đã ngượng nghịu nói đến một đứa con. Theo cô, bây giờ chẳng còn gì ngăn cách họ, chẳng còn gì cản trở hạnh phúc của họ nữa. Sinh ngồi nghe Vân nói mà lòng nhói đau, xót xa cho Vân, thương Vân quá, và cũng chính vì thế, anh cũng nhận ra chân dung hạnh phúc của mình.

Sáng hôm sau, lấy cớ là phải về để báo tin cho gia đình biết là đã tìm thấy Vân, Sinh xin phép được đi sớm. Anh không còn đủ can đảm để ở thêm một ngày bên Vân nữa. Anh muốn có thời gian để bình tĩnh lại và suy nghĩ cho thật chín chắn trước khi phải quyết định một điều hết sức hệ trọng của cuộc dời mình.

Vân tiễn chân anh ra tận bờ đê. Trời hãy còn sớm, sương giăng đầy mặt sông. Tiếng sóng vỗ nghe mong manh, xa vời như từ đâu đó vọng lại. Bất giác, anh khẽ cất tiếng đọc.

Nhà Vân, bên bến Phù Vân.

Thương nhau xa cũng nên gần, hỡi ai.

Vân vui sướng reo lên

- Anh vẫn còn nhớ

- Không nhớ câu “thần chú” ấy thì sao anh tìm được Vân.

- Ừ nhỉ! Vậy mà… Chính em thì… Đến khi anh đọc em mới chợt nhớ ra. Lâu nhỉ? Vậy mà… Anh vẫn còn đi tìm em – Giọng Vân bỗng lắng xuống – Em cứ tưởng… Anh quên em rồi.

- Không! Không!... Sinh đáp vội vàng – Anh không bao giờ quên em.

Họ đi bên nhau thêm một quãng nữa rồi Vân dừng lại.

Thôi, anh về đi. Nhớ.. trở lại ngay kẻo em mong.

Anh sẽ trở lại…

Cho em gởi lời thăm… ư… thầy mẹ với lại… các em…

Anh lên xe. Vân vẫn đứng đó trông theo, trông theo mãi cho đến khi anh khuất hẳn sau ngôi nhà của những người canh đê mới quay trở lại. Sinh đạp xe chậm lại và bỗng thấy buồn vô cùng. Vậy ra, cho đến tận phút này trong anh vẫn chưa có gì cả. Tình yêu của Vân cũng chỉ là cái gì mong manh, lờ lờ như đám sương mờ kia. Nó sẽ tan ngay khi ánh sáng chói lòa của sự thật rọi vào. Một người con gái biết yêu như Vân không thể chấp nhận được sự thật ấy. Vân sẽ đau khổ biết bao, sẽ oán giận anh biết bao? Liệu anh sẽ kéo dài sự lừa dối ấy được bao lâu nữa? Đến lúc này khi đã ra khỏi cơn say choáng váng của tình yêu, anh bỗng hiểu ra rằng mình lại tính lầm một lần nữa. Đúng lý anh phải nói thật hết với Vân từ đêm qua. Là một cô gái thông minh, đầy mẫn cảm và biết yêu say đắm, rất có thể Vân sẽ hiểu anh, tha thứ cho anh và biết đâu có thể, vì thế mà cứu vãn được mối tình. Trong hoàn cảnh này chỉ có sự thật mới có thể cứu vãn được tình yêu. Anh có thể đi đến nấc chót của sự dối lừa cho đến khi cưới Vân. Nhưng… sau đó, liệu Vân còn yêu anh, tin anh, kính trọng anh nữa không khi tất cả sự thật về cuộc đời anh được phơi bày? Không! Anh không thể hèn hạ đến mức ấy:

Một ý nghĩ quyết liệt loé lên trong đầu anh – “Phải quay trở lại khi còn chưa muộn. Hỡi chàng dũng sĩ, hãy chấp nhận cuộc chiến đấu này để bảo vệ danh dự của anh. Ở đây, không đơn thuần chỉ là chuyện tình yêu. Đây là chuyện làm người. Vậy nên, hãy chọn lấy cách làm con người một cách cao đẹp nhất”.

Đã quyết định rồi. Anh thận trọng quay xe trở lại và đạp vun vút. Gió ngược. Nhưng lòng anh thanh thản hơn bao giờ hết.

 

III

Như tất cả các tác giả biết tôn trọng người đọc, tôi kết thúc chuyện về họ ở đó. Mỗi độc giả, bằng trí tưởng tượng phong phú của mình, đều có thể thành lập được đoạn kết.

Ở đây tôi chỉ kể thêm rằng mấy tháng sau lần gặp Sinh ở biên giới tôi cũng có may mắn có dịp ghé qua bến Phù Vân. Nhớ câu “thần chú” kể trên, tôi đã tìm đến người vợ thủy chung của anh. Đó là một ngày chị cũng đang trải qua một cơn sóng gió. Biết tôi là người được Sinh tin cậy, chị đã kể cho tôi nghe tất cả những điều xung quanh một vụ bê bối ở cơ quan mà chị đang phải tham gia giải quyết. Qua lời kể của chị tôi biết chị đang phải chiến đấu vất vả, căng thẳng để bảo vệ sự thật, chống lại những kẻ lợi dụng chức quyền để chèn ép kẻ khác, tham ô móc ngoặc, ăn hối lộ. Để có đủ sức mạnh, chị cần đến sự “chi viện” của anh, chị đã đưa cho tôi đọc bức thư của anh mới gửi về. Tôi xin mạn phép anh chị trích ra một đoạn vì tôi nghĩ nó có ích cho tất cả chúng ta trong cuộc sống hôm nay.

Em thân yêu!

Có những lúc cuộc sống đặt chúng ta vào một rnah giới quyết liệt, buộc chúng ta phải có một thái độ dứt khoát, phải chọn một phương pháp hành động để giữ được phẩm cách con người của mình. Cách lựa chọn ấy nhiều khi đau đớn, bởi vì để đến được với sự thật, nhiều khi người ta phải trả một giá đắt. Trường hợp của em cũng vậy. Đã đến lúc em phải lựa chọn dứt khoát giữa một bên là tình cảm anh em ruột thịt và một bên là chân lý, lẽ phải. Em nói thái độ của em lúc này có ý nghĩa quyết định đến uy tín phẩm chất và cả cương vị công tác của anh trai em và đồng thời cũng có ý nghĩa quyết định đến từng ấy thứ của một vài cán bộ khác trong cơ quan. Phải nói thêm, thái độ của em còn có ý nghĩa quyết định đối với phẩm cách con người của em nữa. Vậy em hãy suy nghĩ và tự quyết định lấy. Em hỏi ý kiến của anh ư?Anh đồng ý với cách xử lý mà nhất định em sẽ chọn. Đó chẳng phải chính là cách mà anh chọn để đến được với tình yêu của em đó sao?

Mấy hôm nay địch quấy nhiễu quá. Trong ba ngày trung đoàn anh phải đánh năm trận nhỏ. Pháo chúng bắn suốt ngày. Anh không có thời gian để bình tĩnh mà viết cho em nhiều hơn. Nhưng đó là những suy nghĩ cơ bản của anh. Với tư cách là người chiến sĩ, anh chỉ khuyên em một điều - Hãy dũng cảm và trung thực.

Họ đã viết cho nhau như vậy đấy, các bạn ạ. Nhưng tôi xin phép được dừng ở đây. Bởi vì, nếu kể nữa, e lại thành một câu chuyện khác.

 
 Hà Nội, 1981

 K.Q.T