Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thảo luận Lịch sử bảo vệ Tổ quốc => Kiến thức quốc phòng => Tác giả chủ đề:: en_bac trong 26 Tháng Chín, 2011, 10:58:22 pm



Tiêu đề: Một chút về hàng không vũ trụ của Liên Xô
Gửi bởi: en_bac trong 26 Tháng Chín, 2011, 10:58:22 pm
Thấy các bác tập trung về vũ khí nhiều quá em mạo muội làm cái topic này nói chút về quá trình phát triển và các thành tựu của Liên Xô trong việc tiến vào khoảng không vũ trụ. Xin mở đầu bằng loạt bài về chương trình khám phá mặt trăng Luna. Mong các bác bổ sung thêm!

Luna 1!
(http://www.vokrugsveta.ru/img/cmn/2006/08/14/008.jpg)

Vào những năm 60 của thế kỷ XX chúng ta đã chứng kiến những bước nhảy thần kỳ trong công cuộc khám phá khoảng không vũ trụ của con người. Chỉ trong những khoảng thời gian rất ngắn từ việc phóng thành công vệ tinh đầu tiên của loài người (Спутник-1)  vào ngày 4/10/1957 và chỉ 1 tháng ngắn ngủi sau đó là sinh vật đầu tiên bay vào vũ trụ (Лайка) vào ngày 3/11/1957. Và để biết thêm về những dự án khám phá không gian vào giai đoạn này chúng ta hãy cùng đến với dự án Luna (Луна).

Luna là một trong hai dự án của Liên Xô nhằm nghiên cứu Mặt Trăng và còn nhiều nhiệm vụ khác. Đây là một chương trình rất lâu dài bắt đầu từ năm 1958 cho tới năm 1976. Tất cả đều được thực hiện tại sân bay vũ trụ  Baikonur ( Байконур), với tổng cộng 33 lần phóng (25 lần thành công và 8 lần thất bại).

Sau thành công của tên lửa đẩy R7 đã thúc đẩy Liên Xô có một bước tiến mới hơn trong con đường chinh phục không gian của mình. Vào ngày 23/09/1958 với tên lửa đẩy  R7-8k72 ( thêm một tầng thứ 3 so với tên lửa R7) và luna 1A được phóng với nhiệm vụ tiếp cận bề mặt của Mặt Trăng, tuy nhiên phi vụ này đã thất bại bởi tên lửa phát nổ ngay khi phóng. Phi vụ phóng ngày 11/10/1958 và 4/12/1958 với luna 1B và luna 1C cũng cho kết quả tương tự. Tuy nhiên điều này đã không làm nản lòng các kỹ sư Liên Xô mà chỉ làm cho họ có quyết tâm hoàn thiện hơn nữa những cải tiến của mình.

(http://blogasarea.files.wordpress.com/2011/01/luna-1-launch.jpg)
[COLOR="Red"]Luna 1 và tên lửa đẩy R7 8k72 tại sân bay vũ trụ Baikonur ngày 2/1/1959[/COLOR]

Ngày  2/1/1959 đã đánh dấu bước thành công của họ sau bao ngày chờ đợi Luna 1 đã được phóng thành công.
(http://t1.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcQNXqHGUOhWBf0vfDbcXbufUv3VeKWqF0mEzB3JwXu44AKsPnDe)
[COLOR="Red"]Luna 1. Khối lượng 361kg[/COLOR]

Luna 1 được thiết kế với dạng hình cầu với 5 anten thò ra ở một nửa hình cầu và nửa dưới là các cơ cấu để đáp.  Luna 1 được phóng đi bởi tên lửa đẩy R7 và để đạt được vận tốc vũ trụ cấp 2 tên lửa R7 đã được tăng cường thêm một tầng nữa với động cơ RD0105 . Với thiết kế như trên Luna 1 đã được thiết kế để đổ bộ lên mặt trăng tuy nhiên bởi đây là thời kỳ đầu các tàu luna không có động cơ mà sử dụng động cơ là tầng thứ 3 của tên lửa đẩy, và việc điều kiển động cơ này được thự hiện bởi mặt đất. Cho nên bởi việc trễ tín hiệu truyền nên việc tắt động cơ đã chậm vì vậy thay vì đổ bộ xuống mặt trăng thì luna 1 lại bay lướt qua nó ở khoảng cách 5.995km.

(http://www.mentallandscape.com/L_Diagram2.jpg)
[COLOR="Red"]Cấu tạo của Luna 1
1: Magnetometer                                     5:Ventilator Fan
2:183.6 MHz Antenna                               6:Spacecraft Shell
3:Micrometeorite Counter                          7:Ion Traps
4:Batteries & Electronics                           8:Ribbon Antenna for 19.993 MHz
[/COLOR]

Tuy Luna 1 không thực hiện được nhiệm vụ thiết kế ban đầu  nhưng nó cũng đã thu được một số thành tựu đáng kể:
Ngày 2/1/1959 khi đạt  vận tốc thoát thì luna và tầng thứ 3 của tên lửa đẩy tách ra và bắt đầu hành trình độc lập. Hệ thống nặng 650kg và khi nạp đầy nhiên liệu là 1427kg. Ngày 3/1/1959 khi cách trái đất 113.000 km hệ thống này đã phun ra một khối khí lớn và tạo thành một vệt sáng màu da cam vậy nên luna 1 được coi là sao chổi nhân tạo đầu tiên của loài người. Dải mây này có độ sáng bằng một ngôi sao cấp 6 và có thể thấy được tại trái đất

(http://www.mentallandscape.com/L_BlockELuna1.jpg)
[COLOR="Red"]Luna 1 và tầng 3 của tên lửa đẩy[/COLOR]

Với các thiết bị mang theo luna 1 đã lần đầu tiên thực hiên các phép đo bên ngoài vành đai bức xạ của trái đất
Bằng cách sử dụng bẫy ion và đếm tự động các hạt bức xạ này Luna 1 đã lần đầu tiên thực hiện đo trực tiếp gió mặt trời
Luna 1 phát hiện ra rằng Mặt trăng không có từ trường và vành đai bức xạ đây là 1 phát hiện quan trọng trong việc thiết kế tính toán để cho phép con người đổ bộ lên Mặt Trăng sau này.

Luna 1 cũng là vật thể nhân tạo đầu tiên đạt vận tốc vũ trụ cấp  2. Ngày 4/1/1959 sau 34 giờ bay Luna 1 đã đi vào quỹ đạo và quay xung quanh mặt trời ở khoảng giữa Trái Đất và Hỏa Tinh và trở thành vệ tinh nhân tạo đầu tiên của Mặt Trời.

(Còn tiếp)

En_bac tổng hợp và biên soạn

Tài liệu tham khảo: http://stp.cosmos.ru/index.php (http://stp.cosmos.ru/index.php)
                          http://www.lpi.usra.edu/expmoon/luna/luna.html (http://www.lpi.usra.edu/expmoon/luna/luna.html)


Tiêu đề: Re: Một chút về hàng không vũ trụ của Liên Xô
Gửi bởi: en_bac trong 27 Tháng Chín, 2011, 10:40:51 am
Chúng ta lại tiếp tục với Luna 2 nhé
(http://selena-luna.ru/wp-content/uploads/116.jpg)


Với việc phóng thành công Luna 1 khẳng định tên lửa đẩy R7-8K72 hoàn toàn có khả năng mang khoang tàu Luna đổ bộ lên mặt trăng đã khích lệ các nhà khoa học Liên Xô tiếp tục công việc của mình. Tuy Luna 1 đã phóng thành công, tuy nhiên nếu đánh giá đúng thì so với nhiệm vụ ban đầu Luna 1 đã thất bại với mục tiêu đổ bộ lên Mặt Trăng của mình. Thất bại trong việc đổ bộ của Luna 1 là bởi sự trễ tín hiệu điều kiển từ trái đất. Sau thời gian làm việc và khắc phục lỗi trễ tín hiệu nói trên Liên Xô lại tiếp tục phóng Luna 2. Về cơ bản thì tàu Luna 2 là bản sao hoàn toàn của Luna 1 về hình dáng cũng như một số thiết bị để thực hiện các phép đo đặc. Luna 1 sử dụng các bẫy Ion để đo gió mặt trời đạng 2 mặt thì trên Luna 2 sử dụng 4 mặt dạng tứ diện để tăng cường khả năng đo đạc này.
(http://solarsystem.nasa.gov/multimedia/gallery/luna_2-browse.jpg)
[COLOR="Red"]Luna 2[/COLOR]
Và vào 6h39’ ngày 12/9/1959 tại sân bay vũ trụ Baikonur, Luna 2 đã được phóng lên mang theo niềm tự hào và niềm tin của toàn thể nhân dân Xô Viết vào nền khoa học của mình. Khi đạt được vận tốc thoát Luna 2 và tầng 3 của tên lửa đẩy đã tách ra ( cho tới lúc này thì các tàu Luna vẫn chưa có động cơ riêng. Hic hi sinh tàu luôn 1 đi không trở lại ^^) và tiếp tục cuộc hành trình của mình. Ngày 13/9 Luna 2 phóng ra một khối khí nhằm hỗ trợ cho việc theo dõi hành trình của tàu, đồng thời cũng là 1 cuộc thử nghiệm về hoạt động của khí trong không gian. Khi đi vào quỹ đạo của mặt Trăng luna 2 và tầng 3 của tên lửa tách ra cả 2 cùng tiến vào Mặt Trăng.
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/2/2b/Russia-Moscow-VDNH-Rocket_R-7-1.jpg/240px-Russia-Moscow-VDNH-Rocket_R-7-1.jpg)
[COLOR="Red"]Tên lửa đẩy R7-8k72[/COLOR]
Vào lúc 0h02’24” ngày 14/9 sau 33,5 giờ bay các tín hiệu vô tuyến từ Luna 2 bị ngắt chứng tỏ Luna 2 đã tiếp cận thành công mặt Trăng, trong sự vui mừng của tất cả mọi người. Luna2 đã hoàn thành nhiệm vụ mà “ người tiền nhiệm” của nó “ Luna 1” đã thất bại.
Luna 2 đã tiếp cận mặt trăng ở khu vực Palus Putredinis, khoảng kinh độ 0 và 29,1 vĩ độ bắc phía đông của Mare Serenitatis gần các miệng hố Aristides, Archimedes, Autolycus.
(http://www.lethist.lautre.net/luna-2_crash_carte.gif)
[COLOR="Red"]Vị trí đổ bộ của Luna 2[/COLOR]
Khoảng 30 phút sau thì tầng 3 của tên lửa cũng đổ bộ lên Mặt Trăng và mang theo quốc huy của Liên bang Xô Viết . Nó là 1 tấm hợp kim không rỉ khắc quốc huy của Liên Xô.  Mang dòng chữ CCCP (  СОЮЗ СОВЕТСКИХ СОЦИАЛИСТИЧЕСКИХ РЕСПУБЛИК) CEТЯБРЬ 1959 ( tháng 9 năm 1959)
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/en/8/8c/Luna_2_Pennants.jpg)

Luna 2 đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình, trở thành vật thể nhân tạo đầu tiên đổ bộ thành công lên Mặt Trăng
Khẳng định một lần nữa các phép đo của Luna 1 về gió mặt trời, mặt trăng không có từ trường và vành đai bức xạ…
Mang Quốc Huy của Liên Xô lên Mặt Trăng và 1 lần nữa khẳng định Liên Xô luôn đi đầu trong công cuộc khám phá vũ trụ ( hí cái này tự sướng)


Tiêu đề: Re: Một chút về hàng không vũ trụ của Liên Xô
Gửi bởi: en_bac trong 27 Tháng Chín, 2011, 05:03:40 pm
Luna 3! Tàu vũ trụ đầu tiên chụp ảnh phần che khuất của Mặt Trăng

(http://visualrian.ru/ru/images/zooms/RIAN_516101.jpg)

Trăng là người bạn là nguồn cảm hứng của bao đời từ ngàn xưa. Vẻ đẹp của Trăng làm xiêu lòng bao thi nhân mặc khách. Nhưng Trăng vẫn mãi là điều bí ẩn. Bởi đặc điểm của nó ( thời gian tự quay quanh trục bằng thời gian quay quanh trái đất) thế nên Trăng chỉ cho chúng ta biết một mặt của nó, và mặt bên kia của mặt trăng vẫn là một dấu hỏi. Với những thành công của mình nhiệm vụ đặt ra cho các nhà khoa học Liên Xô lúc này là phải làm thế nào để chụp được ảnh phía bên kia của Mặt Trăng. Để thực hiện được việc này cần cải tiến phương pháp dẫn cho tàu vũ trụ. Làm sao để đưa tàu vào chính xác quỹ đạo và vị trí thuận lợi? Làm cách nào để khi chụp được ảnh thì có thể truyền tín hiệu hình ảnh trên về trái đất?
(http://selena.sai.msu.ru/Home/Spacecrafts/Luna-3/Luna%203.jpg)
[COLOR="Red"]
Luna 3
[/COLOR]

Nhiệm vụ thiết kế một hệ thống điều khiển vệ tinh trong không gian và đặc biệt là một hệ thống định hướng mới được giao cho nhóm nhiên cứu dưới sự lãnh đạo của viện sỹ Бориса Викторовича Раушенбаха ( Boris Viktorovich Rauschenbusch). Ông cũng chính là người đã đưa ra hệ thống định hướng Фототелеметрической (phototelemettricheskoy) ( định hướng tương đối với việc so sánh vị trí của mặt trời và mặt trăng).
(http://www.kiam1.rssi.ru/PHOBOS/sc/luna3.jpg)
[COLOR="red"]Cấu tạo bên ngoài của Luna 3[/COLOR]
Tàu Luna 3 là một kết cấu hình trụ với 1 đầu hình bán nguyệt và 1 mặt bích rộng ở gần đỉnh. Toàn bộ tàu dài 130cm với đường kính mặt bích là 120cm và đường kính của phần trụ là 95cm. Toàn bộ tàu là 1 khoang kín với áp suất bên trong là 0.23 atm. Các tế bào năng lượng mặt trời ( Solar cell) được gắn xung quanh tàu nhằm cung cấp năng lượng cho việc hoạt động các hệ thống điện tử trong tàu. Đồng thời có những cửa bố trí dọc theo tàu sẽ mở ra để các tấm bức xạ nhiệt tỏa nhiệt khi nhiệt độ bên trong tàu vượt quá 25 độ C. Đồng thời bên ngoài cũng có các thiết bị thăm dò (cảm biến) điều khiển vệc kích hoạt các máy ảnh. Có 4 anten  ở bên ngoài tàu và 2 anten ngầm phía trong. Một số thiết bị nhằm đo đạc các tia vũ trụ… được đặt bên ngoài. Bên dưới tàu còn có 1 hệ thống phun khí (máy phản lực nhỏ) thiết bị này được điều khiển bởi các tế bào quang điện ( photoelectric cell ) dựa vào vị trí của Mặt Trời và mặt trăng nhằm hiệu chuẩn lại hướng cho tàu. Bên trong Luna 3 chứa các thiết bị điện tử như hệ thống phát sóng, máy ảnh, thiết bị xử lý phim, kiểm soát nhiệt độ… Tàu Luna 3 không có động cơ để hiệu chỉnh đường bay cho riêng nó việc vào quỹ đạo của mặt trăng được điều khiển hoàn toàn bằng sóng radio (RC) từ trái đất
Hệ thống chụp ảnh và xử lý phim của luna 3 bao gồm 1 hệ  máy ảnh với 2 lens,1 máy xử lý phim tự động và 1 máy scanner. 2 ống kính máy ảnh gồm 1 lens 200mm f/5.6 và 1 lens 500mm f/9.5. Với lens 200mm nó có thể chụp khá đầy đủ bề mặt của mặt trăng và 500mm chụp 1 phần mặt trăng. 1 tế bào quang được sử dụng để phát hiện ra bề mặt mặt trăng và lúc này máy ảnh bắt đầu làm việc. Phim được máy xử lý phim xử  lý khô sau đó đưa qua máy quét để chuyển thành dạng tín hiệu điện và truyền về trái đất. Thiết bị truyền hình ảnh này được phát triển bởi viện truyền hình của Học Viện Leningrad và được đặt tên là “ Енисей” ( Enhisei)
(http://visualrian.ru/ru/images/zooms/RIAN_499562.jpg)
[COLOR="red"]Quá trình chụp ảnh của Luna 3[/COLOR]
Tất nhiên chất lượng những tấm ảnh này rất tệ, các tín hiệu truyền về trái đất được đưa vào màn hình “Skiatron” ghi vào băng từ và xuất ra các giấy nhiệt. Các băng từ thì không thể sao chép lại. Chất lượng hình ảnh trên giấy nhiệt và Skiatron chỉ là các vùng đậm nhạt khác nhau. Tín hiệu truyền về tạp nhiễu rất lớn nên việc xử lý khó khăn. Sự khử các tín hiệu tạp nhiễu đã được tính tới tuy nhiên việc thực hiện lại không thành công. Tuy nhiên cùng với việc xử lý của máy tính một bản đồ dự kiến của bề mặt bên kia của Mặt Trăng đã được tạo ra. Tấm bản đồ đầu tiên này cho thấy một địa hình núi non khác xa so với mặt nhìn thấy từ trái đất của Mặt Trăng và chỉ có 2 vùng được đặt tên đó là Mare Moscovare và Mare Desiderii.
(http://galspace.spb.ru/index30.file/obr.jpg)
[COLOR="Red"]Tấm ảnh về bề mặt Mặt Trăng được Luna 3 gửi về[/COLOR][COLOR="red"][/COLOR]
Vào ngày 4/10/1959 tàu Luna 3 đã được tên lửa đẩy R7-8K72 phóng vào vũ trụ tại sân bay vũ trụ Baikonur. Khi bay trên bắc cực của trái đất  thì block E được tách bỏ bởi lệnh điều khiển ở mặt đất, khi mà vận tốc đã đạt để đưa Luna 3 đến mặt trăng. Việc liên lạc ban đầu giữa mặt đất và tàu thì cường độ tín hiệu nhận được từ tàu chỉ đạt một nửa so với tính toán ban đầu. Nhiệt độ trong tàu tăng cao tới khoảng 40 độ C khiến các tấm tản nhiệt phải làm việc và đưa tàu về còn khoảng 30 độ C. Khi cách mặt trăng khoảng từ 60.000km đến 70.000km hệ thống định hướng của tàu được bật lên để dừng việc tự quay của tàu ( việc sử dụng hệ thống định hướng mặt trời tàu xoay liên tục khi chưa định hướng được)
Tàu  Luna tiếp cận mặt trăng ở gần cực Nam của nó với khoảng cách gần nhất với mặt trăng là 6200km vào ngày 06/10/1959 lúc 14h16’ UT. Ngày 07/20/1959 ccacs tế bào quang đã phát hiện ra bề mặt phần khuất cảu Mặt trăng và hệ thống máy ảnh bắt đầu hoạt động. Việc chụp ảnh bắt đầu khoảng 03h30’ UT tại khoảng cách 63.500km và kéo dài khoảng 40 phút lúc này tàu ở khoảng cách 66.700km. Có tất cả khoảng 29 tấm ảnh được chụp với khoảng 70% mặt khuất của mặt trăng. Ngày 8/10/1959 Luna 3 truyền những hình ảnh trên về trái đất tuy nhiên việc truyền này không thành công. Đến 18/10/1959 Luna 3 truyền thành công hình ảnh về trái đất ( chỉ ruyền được khoảng 17 tấm). Và lần đầu tiên con người đã được diện kiến phí khuất trên khuôn mặt của nữ thần mặt trăng “ Luna” .
Ngày 22/10/1959 Luna 3 mất liên lạc với trái đất và được cho rằng đã bị đốt cháy trong khí quyển của trái đất vào khoảng tháng 3 – tháng 4 năm 1960. Tuy nhiên có thể Luna 3 vẫn còn đâu đó trong quỹ đạo và tồn tại cho tới sau năm 1962


Tiêu đề: Re: Một chút về hàng không vũ trụ của Liên Xô
Gửi bởi: Triumf trong 28 Tháng Chín, 2011, 09:53:51 am
Cảm ơn những bài viết rất hữu ích của đ/c en_bac. Tuy nhiên, đ/c lưu ý cách trình bày một chút: hết đoạn xuống dòng nên cách dòng trông nó mới "đẹp", sử dụng "bôi đậm", "màu chữ" cho phù hợp hơn. Chúc đ/c có thêm nhiều bài viết hay.


Tiêu đề: Re: Một chút về hàng không vũ trụ của Liên Xô
Gửi bởi: en_bac trong 28 Tháng Chín, 2011, 03:26:02 pm
Vâng cám ơn bác chẳng hiểu sao màu chữ em chỉnh toàn bị lỗi haizz

Chúng ta lại tiếp tục nhé

(http://selena-luna.ru/wp-content/uploads/4.jpg)

Luna 2 đã thực hiện thành công việc hạ cánh trên Mặt Trăng tuy nhiên đây chỉ là một cuộc hạ cánh cứng. Khi tiếp đất con tàu bị phá hủy hoàn toàn không thể thực hiện được các nhiệm vụ nghiên cứu bề mặt Mặt Trăng.
Vì thế các nhà khoa học Xô Viết bắt tay vào việc thiết kế một thế hệ tàu thăm dò mới nhằm thực hiện các nhiệm vụ chụp ảnh, nghiên cứu và đặc biệt là thực hiện một cuộc đổ bộ “mềm” lên Mặt Trăng.

Luna 4 là con tàu đầu tiên có thiết kế thuộc lớp E-6 (ký hiệu thế hệ tàu). Các tàu thuộc lớp này, việc kích hoạt động cơ hãm được điều khiển từ Trái Đất dựa vào khoảng cách của tàu so với Mặt Trăng.
Luna 4 được phóng vào ngày 02/04/1964. Luna 4 đã thoát khỏi quỹ đạo Trái Đất thành công và bắt đầu tiến về Mặt Trăng. Tuy nhiên 1 sự cố đã xảy ra vào ngày 05/04 khi tàu còn cách Mặt Trăng khoảng 8000km. Có lẽ bởi thất bại nên thông tin về nhiệm vụ của Luna 4 rất ít, có lẽ nhiệm vụ chính của nó là chụp ảnh Mặt Trăng.

Sau thất bại của Luna 4. Đã có một số sửa đổi nhằm tránh lặp lại những lỗi không đáng có, tuy nhiên Luna 5 cũng gần giống hệt Luna 4 về thiết kế.
Luna 5 được phóng vào ngày 09/05/1965 và đã thành công trong việc chuyển hướng bay đến Mặt Trăng (sửa quỹ đạo). Tuy nhiên vào ngày 12/05/1965 Luna 5 đã hạ cánh không thành công bởi lý do động cơ hãm đã không được kích hoạt đúng thời điểm. Thay vì một cuộc đổ bộ mềm thì Luna 5 đã bị “ném” xuống Mặt Trăng ở khoảng vĩ độ 31 nam và kinh độ 8 tây.

Luna 6 được phóng vào ngày 08/06/1965, tuy nhiên cũng như Luna 4 việc điều chỉnh quỹ đạo của Luna 6 đã không được thực hiện.

Luna 7 được phóng vào ngày 4/10/1965 và cũng rất tiếc vào ngày 7/10/1965 động cơ hãm của Luna 7 đã làm việc quá trễ và vận tốc tiếp đất của Luna 7 quá lớn kiến Luna 7 cũng thất bại trong việc đổ bộ.

Luna 8 là thử nghiệm cuối cùng của thế hệ tàu kiểu này và Luna 8 đã sắp thành công trong việc tiếp đất nhưng đáng tiếc lỗi lại xảy ra vào giai đoạn cuối cùng. 1 xi lanh giảm chấn của Luna 8 đã bị hỏng khiến Luna 8 vẫn không thể đổ bộ mềm.

Tuy thất bại nhưng đây là quá trình nghiên cứu rút kinh nghiệm để đi tới thành công của Luna 9


Tiêu đề: Re: Một chút về hàng không vũ trụ của Liên Xô
Gửi bởi: huyphongssi trong 28 Tháng Chín, 2011, 09:19:17 pm
Oen căm tồng chí Én. Tồng chí cứ bình tĩnh viết bài nhá ;D


Tiêu đề: Re: Một chút về hàng không vũ trụ của Liên Xô
Gửi bởi: en_bac trong 29 Tháng Chín, 2011, 04:49:32 pm
Luna 9 - Tàu vũ trụ đầu tiên đổ bộ mềm lên Mặt Trăng

(http://static.howstuffworks.com/gif/moon-2.jpg)
Trong chương trình thám hiểm Mặt Trăng (chương trình Luna), sau các thành công của Luna 2 -  vật thể đầu tiên va chạm lên bề mặt MT và Luna 3 – lần đầu tiên con người chụp được ảnh phần khuất của MT, Liên Xô muốn có những hình ảnh cận cảnh địa hình bề mặt MT để phục vụ cho những chuyến đổ bộ của tàu có người lái sắp tới, nên đã tiếp tục phóng các tàu Luna tới MT. Để bảo vệ các thiết bị bên trong khoang đổ bộ, tàu vũ trụ phải thực hiện một cuộc đổ bộ “mềm”.

Sau thành công của Luna 3 (04/10/1959), LX đã liên tiếp phóng các tàu Luna 4, Luna 5, Luna 6, Luna 7, Luna 8 với nỗ lực thực hiện một cuộc đổ bộ mềm, nhưng đều thất bại.
   
  Như ta đã biết, thành công của cuộc đổ bộ mềm phụ thuộc chính vào vai trò của tên lửa hãm (retro-rocket). Khi con tàu đang bay trên quỹ đạo mà muốn quay lại bầu khí quyển Trái Đất hoặc đi vào bề mặt MT, thì trước tiên các tên lửa điều chỉnh hướng sẽ hoạt động để xoay con tàu theo hướng ngược lại với chiều chuyển động, 1 tên lửa hãm sẽ kích hoạt làm giảm vận tốc của con tàu, khi đó con tàu mất lực ly tâm và lực hấp dẫn sẽ hút con tàu vào Trái Đất (hay Mặt Trăng), thời điểm kích hoạt tên lửa hãm phải chính xác đến từng giây, chỉ cần sai lệch một vài giây là khoang đổ bộ sẽ cách vị trí dự tính hàng ngàn km (như trường hợp của tàu Voskhod-2).
 
  Command module của tàu Soyuz (và tàu Apollo) khi đi vào bầu khí quyển TĐ, để giảm tốc độ rơi thì không dùng tên lửa hãm mà dùng dù, tuy nhiên điều này là không thể với việc đổ bộ lên MT vì không có khí quyển, chỉ có thể sử dụng tên lửa hãm, và cũng tương tự như khi quay lại bầu khí quyển, thời điểm kích hoạt tên lửa hãm để giảm tốc độ rơi cũng rất quan trọng, nếu chậm quá hoặc sớm quá thì sẽ không thể đổ bộ “mềm” mà lại thành một vụ va chạm “cứng”, khi đó khoang đổ bộ sẽ bị phá hủy. 
   
  Nguyên nhân chính dẫn đến thất bại của các Luna 4 cho đến Luna 8 là do các tên lửa hãm ở thế hệ tàu Luna này được thiết kế để hoạt động theo tín hiệu điều khiển kích hoạt từ Trái Đất. Thời điểm kích hoạt sẽ được tính theo khoảng cách từ bề mặt MT tới khoang đổ bộ và khoảng cách này xác định nhờ thiết bị định vị độ cao gắn trên tàu Luna. Việc chọn thời điểm kích hoạt vô cùng khó khăn vì quá trình truyền tín hiệu từ Luna trên MT về TĐ rồi lại từ trạm điều khiển ở TĐ lên MT sẽ có sai số. Do đó, thiết kế Luna 9 được thay đổi là tàu sẽ tự động kích hoạt tên lửa hãm khi tới độ cao thích hợp - đây là một thành công xuất sắc trong chương trình Luna, thiết kế này được áp dụng cho các tàu thăm dò sau này của LX và cả NASA. 

Ngày phóng: 31-01-1966 (sân bay vũ trụ Baikonur)
    Tên lửa đẩy: Molniya 8K78M (Phiên bản R-7 với 4 tầng)
  Khối lượng: 1580 kg (84 kg thiết bị đổ bộ)
  Chiều dài: 2.5m
  Đường kính max: 1.0 m

Luna 9 là thành công đầu tiên trong chuỗi các phi vụ thám hiểm MT thuộc chương trình Luna cho nhiệm vụ cả trên quỹ đạo MT lẫn đổ bộ.
 
 Cấu tạo

 
(http://antwrp.gsfc.nasa.gov/apod/image/luna_9_unk_big.jpg)
   
Phần thân tàu của Luna 9 có cấu tạo gồm thiết bị thu phát sóng radio, đo thời gian chương trình, hệ thống dẫn đường, thiết bị kiểm soát nhiệt độ.
   
  Sau khi đi vào quỹ đạo thấp của TĐ (LEO: 167 x 219 km), tầng cuối của tên lửa R7 đã kích hoạt và đưa Luna 9 bay tới MT, sau chuyến du hành 2 ngày tới quỹ đạo MT, bộ thiết bị thu phát sóng radio từ Luna 9 đo khoảng cách tới bề mặt MT và chọn thời điểm kích hoạt tên lửa hãm một cách chính xác nhất. Các thiết bị phụ trợ đồng thời được tách bỏ ngay sau khi tên lửa hãm kích hoạt nhằm giảm khối lượng module đổ bộ.
   
    Module đổ bộ có dạng hình cầu được trang bị máy truyền hình và pin hóa học, được bao bọc bởi một túi bơm đầy khí, mục đích nhằm giảm rung động cho cú va chạm. Phần cuối của tên lửa hãm có 2 cần kim loại thò dài xuống, khi tiếp đất, 2 cần này va chạm đầu tiên làm module đổ bộ nảy lên, giảm tốc độ rơi thêm một lần nữa và vào 18h 44’ ngày 03/02/1966, Luna 9 đã đổ bộ thành công trên vùng biển Procellarum của MT.
 
  Cơ cấu lệch tâm khiến module đổ bộ xoay tròn và 4 cánh của module bật mở, các cánh này giữ cố định module. Các cần ăng ten truyền ảnh về TĐ sử dụng chính bề mặt trong của các cánh làm gương phản xạ. Luna 9 có một vài tấm pin Mặt Trời nhưng nguồn năng lượng chính là pin, được sạc lại chậm từ pin Mặt Trời.
   
Truyền ảnh
 
  Seri ảnh đầu tiên được Luna 9 truyền về TĐ vào 1h 50’ ngày 04/02/1966 trong khoảng thời gian 107’, sau khi ghép nối được ảnh toàn cảnh về vị trí đổ bộ. 

  Trong thời gian 3 ngày trên MT, Luna 9 đã truyền về TĐ tổng cộng 3 seri ảnh bề mặt MT. Nó đã liên lạc radio về với TĐ trong tổng thời gian 8h 5’ và truyền về 27 hình ảnh, đây là những hình ảnh cận cảnh đầu tiên về bề mặt MT mà con người có được, nguồn pin cạn kiệt và Luna 9 thực hiện liên lạc cuối cùng về TĐ vào 22h 55’ ngày 05/02/1966.
 
 Video mô phỏng chuyến bay của Luna 9
http://www.youtube.com/watch?v=8CRmqm4JjCo
Cái này thì không phải En viết mà của thằng bạn viết cùng trong kế hoạch viết lại đầy đủ và chính xác nhất chương trình Luna!^^


Tiêu đề: Re: Một chút về hàng không vũ trụ của Liên Xô
Gửi bởi: en_bac trong 29 Tháng Chín, 2011, 05:01:47 pm
Luna 10 ! Vệ tinh nhân tạo đầu tiên của Mặt Trăng
(http://t3.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcReEZPNCO2NGQRMo2biryrBtc-0DgOCVqvdH2audnkBGGXXLkA-)

Thế giới vẫn chưa hết kinh ngạc trước thành công của Luna 9 thì chưa đầy 2 tháng sau các nhà khoa học thuộc ban kỹ thuật của nhà máy Lavochkin lại làm cho báo chí thế giới phải tốn không biết bao trang viết về Luna 10 một thành công vượt bậc nữa của Xô Viết. Thành công này một lần nữa chứng minh nền khoa học vũ trụ của Liên Bang Xô Viết là 1 bức tường thành cao vợi mà người Mỹ mãi không thể vươn tới.
Vào 13h46’59” GMT ngày 31/3/1966 Luna 10 đã được phóng vào vũ trụ với tên lửa đẩy R7/SS6 với nhiệm vụ đi vào quỹ đạo của Mặt Trăng và trở thành vệ tinh nhân tạo của nó
(http://t2.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcRBGFEJb9bYB0dNhjMgCfRHEDrJwuomsBJX7rFLIm5WC5aomOvV8G4c5yM)

Luna 10 được thiết kế khá giống với Luna 9 tuy nhiên các thiết bị dùng cho việc hạ cánh  luna 9 được thay thế bằng một vệ tinh và các công cụ dùng để giảm tốc khi đi vào quỹ đạo Mặt Trăng
Tàu luna 10 bao gồm 2 phần. 1 tên lửa mang với khối lượng 1330kg ( đã nạp đầy nhiên liệu) và khoang thăm dò có khối lượng 245kg . Chiều dài toàn bộ tàu là 2,7m và đường kính lớn nhất là 1m
(http://t3.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcTepVV9qQfHU5fMfCGs3DHeOGhbFDjW8w-SfzHPgroV2MC_-8R-)

Khoang thăm dò của luna 10 được trang bị một quang phổ kế tia gamma với các mức năng lượng khác nhau từ 0,2-3 MeV ngằm nghiên cứu các thành phần quang phổ của bức xạ gama trên bề mặt mặt trăng.
Một từ kế ba trục để nghiên cứu về giới hạn từ trường có thể có của Mặt Trăng , một thiết bị để thăm dò các micrometeoroid (thiên thạch nhỏ ) kiểu điện áp (piezoelectric micrometeoroid detector) (giống như những tấm gắn ngoài thiết bị để gi nhận các va đập của các thiên thạch rất nhỏ . Khi các va chạm xảy ra thì điệp áp trên tấm thay đổi và được ghi nhận lại) Luna 10 đã gi nhận được khoảng 198 va đập. Có thể tìm hiểu thêm về micrometeoroid  và tác động của nó tại đây http://en.wikipedia.org/wiki/Micrometeoroid (http://en.wikipedia.org/wiki/Micrometeoroid)
Và một các thiết bị đo gió mặt trời, đo bức xạ hồng ngoại từ Mặt Trăng phục vụ việc nghiên cứu nhiệt độ bề mặt của Mặt Trăng, một máy đo tia X mức thấp.
Ngoài ra Luna 10 còn được trang bị một hệ thống máy phát vô tuyến ngằm thăm dò lực hấp dẫn của Mặt Trăng và phát đi bài “ Quốc Tế Ca” tại đại hội đảng toàn Liên Xô lần thứ 23 . Luna 10 truyền tín hiệu trên hai băng tần 183 MHz và 922 MHz
Sau khi đưa Luna 10 vào quỹ đạo quay 200 x 250 km và ngiêng 52 độ. Luna 10 đã được gia tốc và hướng về mặt trăng. Vào ngày 1/4 có một sự điều chỉnh quỹ đạo nhỏ giữa quá trình và khi còn cách mặt trăng 8000km tên lửa hãm của Luna 10 được kích hoạt làm nó giảm tốc độ còn khoảng 0,64km/s . Vào lúc 18h44’ UT ngày 03/04/1966 Luna 10 đã đi vào quỹ đạo của Mặt Trăng và sau đó khoảng 20s khoang thăm dò được tách ra và hoạt động độc lập. Khoang thăm dò quay ở quỹ đạo 349 x 1015km và nghiêng khoảng 71,9 độ và thời gian quay 1 vòng khoảng 2h58’ . Luna 10 đã hoàn thành quỹ đạo đầu tiên của nó vào ngày 04/04.
Trong 56 ngày hoạt động trên quỹ đạo của Mặt Trăng Luna 10 đã thực hiện được 460 vòng quay và thực hiện 219 lần truyền tín hiệu về trái đất
Từ các dữ liệu được truyền về cho thấy mặt trăng không tồn tại từ trường, các bức xạ vũ trụ khoảng 5 paraticles/cm2/s, có 198 va chạm của các “ tiểu thiên thạch” (micrometeoroid) được ghi nhận, không có bầu khí quyển và trường hấp dẫn bị biến dạng mạnh có thể dự đoán là do khối lượng phân bố không đều. Quang phổ kế tia gama cũng cho thấy rằng cấu tạo của bề mặt Mặt Trăng tương tự như bazan trên Mặt Đất.
Luna 10 đã ngưng truyền tin vào ngày 30/05/1966 khi mà pin của nó bị cạn kiệt. Và rõ ràng luna 10 không được thiết kế để hoạt động lâu dài nên nó không được trang bị pin mặt trời
Với nhưng thành công đạt được Luna 10 xứng đáng có một vị trí quan trọng trong lịch sử hàng không vũ trụ thế giới.


Tiêu đề: Re: Một chút về hàng không vũ trụ của Liên Xô
Gửi bởi: en_bac trong 30 Tháng Chín, 2011, 09:18:59 pm
EM đổi chủ đề đi ngược về quá khứ một chút nhé

Lịch sử ngành hàng không và hàng không vũ trụ
[/b]
I. Con người và những ước mơ bay:
Từ ngàn xưa khi ngắm nhìn những con chim bay lượn trên bầu trời con người đã mang trong mình ước mơ được bay trên bầu trời . Và hẳn chắc cũng không ít lần các nhà thiên văn cổ đại cũng luôn mơ ước được bay đến những vì sao để thỏa ước mơ về bầu trời. Và khả năng bay lượn được thể hiên bởi sự cao thượng và uy quyền . Hình ảnh về cái cánh đầu tiên trong thần thoại là đôi cánh bằng sáp và lông vũ của Daedalus và con trai icarus dùng để trốn khỏi đảo Crete. Nhưng icarus quá hứng chí chàng bay quá cao nên sức nóng mặt trời làm chảy sáp trên cánh, chàng rơi xuống biển Aege và chết đuối

II.Diều và tàu lượn:
Diều là khí cụ bay đầu tiên tiền thân cho máy bay ngày nay đã được người trung hoa sử dụng từ hơn 2000 năm trước và theo thời gian được sử dụng đưa người lên cao và do thám tiếp tế, thong tin thời tiết v…v… Và hiều đã trở thành cảm hứng cho nhà phát minh người anh George Cayley trong thiết kế mô hình tàu lượn đầu tiên trên thế giới. Những nhà hàng không đầu tiên như Percy Pilcher (Anh), Otto Lilienthanl(Đức) dùng diều để triển khai các tàu lượn của họ. Otto Lilienthanl được coi như một nhà hang không thực sự đầu tiên trên thế giới. Ông bay lên bằng các tàu lượn tự tạo. Ông bay lên bằng các tàu lượn tự tạo, và thực hiện hơn 2500 chuyến bay trên nhiều tàu lượn. Năm 1896 khi bay trên một tàu lượn, một cơn gió đột ngột khiến cho tàu lượn mất điều khiển và đâm xuống đất làm cho ông thiệt mạng.[/FONT]
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/3/3e/Lilienthal_in_flight.jpg)
III.Khí cầu:
Ngày 15-6-1783 hai anh em người Pháp Joseph và Etienne Montogofier chế tạo khí cầu bằng giấy và vải, hai ông thả nó bay bằng cách đốt nóng đóng lửa để làm nóng không khí bên trong. Sau đó họ trình bày cho vua và hoàng hậu nước pháp xem. Lần này khí cầu mang theo ba con vật : Cừu, vịt và gà trống sau chuyến bay ngắn họ hạ xuống đất an toàn. Chuyến bay này là niền tin để ngày 21-11-1783, Francois de Rozier và hầu tước d’Arlandes đã dũng cảm bước lên khí cầu của anh em nhà Montgolfier, và họ đã trở thành nhà du hành đường không đầu tiên trên thế giới. Và chẳng bao lâu sau khí cầu dùng khí nóng và nạp khí trở nên phổ biến.

Những sự kiện đáng chú ý về khí cầu:

Năm 1853 kỹ sư người Pháp Henri Giffard chế tạo máy bay khí cầu đầu tiên có hình điếu xì gà. Khí cầu của ông bay được 27km. Nhưng không đủ công suất để bay ngược gió. Năm 1900, bá tước Ferdinand von zeppelin người Đức chế tạo máy bay khí cầu có khung cứng đầu tiên chúng bao gồm một bộ khung nhẹ và mang các túi lớn chứa đầy hidro. Trong những năm 1910 và 1913 khí cầu Zeppelin chở hơn 30.000 hành khác trên các chuyến bay vòng quanh nước Đức.

Hai chiếc Graf Zeppelin và Hindenburg dành cho giới thượng lưu là hai khí cầu lớn nhất chở hang vạn hành khách vượt đại tây dương

Một số khí cầu tiêu biểu

-USS Macon: chế tạo năm 1933 được Hải quân Mỹ sử dụng như máy bay tuần dương
(http://www.history.navy.mil/photos/images/g440000/g441983.jpg)

-Graf Zeppelin bay lần đầu tiên vào năm 1928 có sức chở 20 người

-R34 chế tạo năm 1919 là khí cầu đầu tiên vượt Đại Tây Dương

-Ngày 3/5/1937 khí cầu Hindenburg khởi hành từ Frankfurt (Đức) và đến Lakehurst (Mỹ) vào ngày 6/5 trong lúc tiếp cận tháp buộc neo đãng bốc cháy khiến 35 trong số 97 người đi trên khí cầu thiệt mạng. Vụ tai nạn này đã làm kết thúc đột ngột thời đại của việc chở khách bằng khí cầu.
(http://www.nlhs.com/images/hindenburg/big_hindenburg_explodes_over_lakehurst.jpg)

IV. Máy bay

Những ý tưởng ban đầu:

Có rất nhiều ý tưởng cho nghững chiếc máy bay nhưng đa số đều không thể thành công tuy nhiên những thiết kế ấy đã đóng góp rất nhiều cho các nhà hàng không sau này tiếp bước. Sự ra đời động cơ  hơi nước vào thế kỉ 19 đã đưa tới những dự định nghiêm túc về việc chế tạo máy bay.

Các Mốc thời gian

-Năm 1842 William Henson chế tạo một mô hình máy bay có gắn một động cơ hơi nước nhỏ làm quay cánh quạt. Tuy chỉ là mô hình nhưng nhiều nét trong thiết kế của ông vẫn còn được sử dụng trong  thiết kế máy bay hiện nay.


-Năm 1894 Hiram Maxim chế tạo một máy bay 3 tầng cánh và trang bị hai động cơ hơi nước nhưng cỗ máy này chỉ nâng những người đứng trên nó khỏi đường ray
(http://www.ctie.monash.edu.au/hargrave/images/maxim_08_500.jpg)

-Bằng cứ chắc chắn đầu tiên về máy bay xuất phát từ ghi chép của nhà danh hoạ kiêm nhà toán học nổi tiếng Leonardo de Vinci. Thời gian từ 1486 .. 1490 ông đã mô tả các phương tiện bay bằng sức người, với bản hơn 35000 từ và 500 bản vẽ kèm theo. Hầu hết, đó là các bộ cánh đập mô phỏng các bộ cánh bay của chim- điều mà cho tới nay vẫn chưa thực hiện được.
 
-Năm 1783, khí cầu bơm bằng khí nóng đầu tiên ra đời. Mặc dù không phải là máy bay song nó cũng cho phép con người lần đầu tiên bay lên không trung. Đột phá căn bản trong thiết kế máy bay diều ra đời vào năm 1799 với mẫu của Cayley. Từ đó, lực nâng và lực đẩy được tách biệt hoàn toàn. Lực đẩy do một cơ cấu động lực riêng. Năm 1804 xuất hiện may bay cánh cố định. Thực chất đó là một tàu lượn không người lái được phóng bằng tay được làm bằng gỗ hoặc giấy. Tàu lượn này dài một mét có một cánh nâng cố định, thân và đuôi,với các cánh đuôi thẳng đứng và nằm ngang như những máy bay ngày nay.

-Song phải đến năm 1891 mới ra đời tàu lượn có người lái đầu tiên trong lịch sử. Do Goliliwtal người Đức thiết kế và bay thử thành công . Rồi sau một loạt thử ngiệm với hầm gió, năm 1902 hai anh em nhà Wright người chế tạo và cho bay thử thành công một tàu lượn. Ngày 17-12-1903 họ đã thực hiện chuyến bay nặng hơn không khí có động lực và có người điều khiển. Đặc biệt họ đã sáng tạo ra hệ thống điều khiển với các dây cáp cần lái, bàn đạp thay cho các cánh điều khiển băng thay đổi tư thế trọng tâm người lái như với tàu lượn trước đây.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/8/86/First_flight2.jpg/800px-First_flight2.jpg)
Mô hình máy bay của anh em nhà Wright

-Những máy bay đầu tiên của anh em nhà Wright thuộc loại máy bay cánh kép cho phép tạo lực nâng lớn ở vận tốc thấp. Nhưng phải dùng một hệ thống cọc chống và dây chằng để cố định hai cánh ,mặt khác do dùng cánh lớn ,nên các loại máy bay này chịu lực cản lớn vì vậy loại máy bay này bay rất chậm. Nhưng so với khí cầu loại máy bay này tỏ ra ưu việt hơn, vì khí cầu máy quá cồng kềnh, chậm chạp. Nhất là dùng khí cầu trong trinh sát, liên lạc, ném bom thì rất bất lợi.

-Sau đó máy bay được cải tiến dần. Ở cuối chiến trang thế giới I máy bay đã được thiết kế một cách hợp lý hơn và từ đó máy bay đã được sử dụng trong các trận đánh lớn.

Những thành tựu:

-Năm 1909 Louis Bleriot bay vượt biển Manche chứng tỏ vùng nước mênh mông không còn là cách trở nữa.
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/a/a6/Avion_Bleriot_XI_1909.jpg/800px-Avion_Bleriot_XI_1909.jpg)

Chiếc máy bay đã cùng Louis Bleriot bay vượt biển Manche

-Theo thời gian công nghệ tiến bộ những khoảng cách về địa lý càng được rút ngắn thời lượng bay. Năm 1947 Chuck Yeager vượt hàng rào âm thanh trên máy bay động cơ tên lửa Bell X-1.
(http://aviationblog.dallasnews.com/Chuck%20Yeager%20and%20X-1.jpg)

Hình ảnh chiếc máy bay vượt bức tường âm thanh của Chuck Yeager, Bell X-1
V. Công nghệ vũ trụ

-Năm 1903 Konstantin Tsiolkovsky đưa ra cách sử dụng tên lửa đốt bằng nhiên liệu lỏng để du hành không gian. Năm 1926 Robert Goddard phóng thành công tên lửa nhiên liệu lỏng đầu tiên. Và năm 1942 tên lửa V-2 của Đức đã phóng thành công đạt độ cao 85km mở ra kỷ nguyên mới về công nghệ không gian.

Giấc mơ bay vào vũ trụ

-Vào năm 1883, lần đầu tiên, một giáo viên người Nga tên là Konstantin Eduardovich Tsiolkovsky (1857-1935) đã nghiêm túc bàn về bay vào vũ trụ.
Năm thập kỷ sau đó, ông đã công bố hàng loạt nghiên cứu chi tiết về các nguyên lý khoa học cơ bản. Rồi những năm tiếp theo, các bài viết của Tsiolkovsky đã trở thành niềm cảm hứng cho một thế hệ kỹ sư Nga nghị lực và tài năng đến không ngờ. Họ bắt đầu một nhiệm vụ vô cùng khó khăn là nghiên cứu triển khai những kỹ thuật cần thiết để biến giấc mơ bay vào vũ trụ trở thành sự thật.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/b/be/Sputnik_asm.jpg/732px-Sputnik_asm.jpg)
Vệ tinh Sputnik 1, Vệ tinh nhân tạo đầu tiên của loài người rất thô sơ, có hình dáng như một quả bóng rổ bằng kim loại với 4 cần ăn-ten

-Vệ tinh nhân tạo đầu tiên của loài người rất thô sơ, có hình dáng như một quả bóng rổ bằng kim loại với 4 cần ăng-ten.

-Sau cuộc chiến tranh Thế giới II, với công nghệ sẵn có của tên lửa German V-2, không chỉ các nhà khoa học và kỹ sư Nga mà người Mỹ và châu Âu sớm nhận ra rằng bước đầu tiên để đi vào không gian - một vệ tinh bay theo quỹ đạo Trái đất - sớm đã đạt thành.

-8/1946, Sergei Pavlovich Korolev (1907-1966) trở thành Thiết kế trưởng cho OKB-1 (viết tắt tiếng Nga, có nghĩa là Văn phòng Thiết kế Đặc biệt số 1 - Special Design Bureau 1). OKB-1 là một phần của NII-88 (Viện Nghiên cứu Khoa học 88 - Scientific Research Institute 88).

-Dưới thời của Korolev, OKB-1 đã thành công trong việc sao chép V-2 thành tên lửa đặc biệt R-1. Không lâu sau đó, hiết kế của tên lửa được cách tân để mở rộng khả năng của tên lửa. Trong khi cấp trên của Korolev chỉ quan tâm các ứng dụng quân sự của công nghệ mới, Korolev và các đồng nghiệp thân cận của ông luôn luôn tâm niệm về giấc mơ bay vào không gian.

-Vào tháng 10/1951, một cấp phó của Korolev, Mikhail Klavdievich Tikhonravov (1900-1974), đã trình bày một dự án khả thi về một vệ tinh quỹ đạo trái đất.

-Những nỗ lực để phóng một vệ tinh vẫn còn xếp sau nhu cầu phát triển các loại vũ khí mới mãi đến năm 1954 khi những kế hoạch cho Năm Địa Vật lý Thế giới (International Geophysical Year - IGY) bắt đầu.
IGY hướng tới sự hợp tác chưa từng có tiền lệ giữa các nhà khoa học quốc tế để thu thập các dữ liệu về tầng cao khí quyển trái đất và các phản ứng của nó với các chu kỳ mặt trời tiếp theo giữa 7/1957 và 12/1958.

-Được khích lệ, Korolev đã viết một bài báo trên tạp chí khoa học vệ tinh "Earth Satellites" vào năm 1954. Ngày 9/1/1955, một nhóm khoa học Nga đã tới gặp ông và ủng hộ kế hoạch vệ tinh của ông.

-Vào ngày 19/7/1955, người Mỹ tuyên bố họ cũng sẽ phóng một vệ tinh như một hợp phần của sự đóng góp của Mỹ trong IGY. Ba ngày sau đó, người Nga cũng đã ra một tuyên bố tương tự. Và dường như cả hai hoàn toàn phớt lờ các nước phương Tây.

Và cũng sau lời tuyên bố đó, ngay tích tắc, Korolev chính thức đệ trình kế hoạch về vệ tinh của mình cho các nhà lãnh đạo Nga vào ngày 29/8/1955.

Sputnik: Gọi tên giấc mơ

-Vệ tinh nhân tạo đầu tiên của loài người, Sputnik đã được người Nga phóng lên quỹ đạo trái đất vào ngày 4/10/1957. Sputnik là một quả cầu kim loại có kích thước 58cm, và nặng khoảng 83,6kg. Mặc dù đó là một thành tựu đáng ghi nhớ, nhưng Sputnik dường như rất nghèo nàn so với các tiêu chuẩn ngày nay. Bao gồm một nhiệt kế, pin, máy phát tín hiệu radio, bình đựng khí ga nitơ để điều áp bên trong vệ tinh. Bên ngoài của Sputnik được trang bị 4 cần ăn-ten để truyền tín hiệu với tần sóng ngắn - 27MHz

Korolev giao cho nhóm của Tikhonravov thiết kế một loại vệ tinh hạng nặng mang tên " Object D".

-Object D, nặng khoảng 1 - 1,4 tấn và có thể mang được từ 200 - 300kg các thiết bị đo đạc phục vụ cho ngành địa vật lý. Object D sẽ được phóng vào quỹ đạo bằng một loại tên lửa đặc biệt R-7. 7 tên lửa loại này đã được thiết kế nhằm phục vụ cho việc phóng vệ tinh của Korolev.

Thế nhưng suốt một thời gian sau đó, việc thử tên lửa đẩy R-7 thất bại. Điều đó trở thành tồi tệ với Korolev. Với hàng loạt thất bại của R-7, sự ủng hộ của chính phủ đối với ông bắt đầu chao đảo.

Thời điểm đó, thậm chí ông cũng mất đi một người ủng hộ trung thành nhất từ một thành viên chính phủ cao cấp, Thủ tướng Nikita Krushchev. Dưới sức ép của Kremlin, Krushchev yêu cầu đóng cửa OKB-1.

Korolev đã bướng bỉnh chống lại mệnh lệnh và tiếp tục công việc nghiên cứu R-7. May mắn thay, vào ngày 21/8/1957, vận mệnh của Korolev đã thay đổi khi tên lửa đẩy R-7 số hiệu M1-8 đã thành công.

Tên lửa đã gửi một đầu tên lửa giả tới mục tiêu trên bán đảo Kamchatka, cách trung tâm thử tên lửa "Tashkent 50" - Kazakhstan 6.500 km. Trong khi đầu tên lửa giả này tách ra khỏi tên lửa ở độ cao cách mặt nước biển 10km, R-7 đã được chứng minh và OKB-1 tiếp tục hoạt động.

-Đầu tháng 9/1957, Krushchev phê chuẩn việc phóng vệ tinh, một phần của vì lý do chính trị riêng. Do đó, Korolev phải trình bày kế hoạch phóng vệ tinh càng sớm càng tốt.

-Vào ngày 18/9, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Tsiolkovsky, Đài phát thanh Mátxcơva thông báo một cuộc phóng vệ tinh sẽ sớm diễn ra.

Suốt ngày 4/10, rất nhiều nỗ lực đã được thực hiện để phóng tên lửa R-7, nhưng trì hoãn liên tiếp xảy ra vì hàng loạt lỗi kỹ thuật do thiết bị vận hành không đều.

Khi đêm xuống, Korolev đã quyết định thử lại một lần nữa. Khi bản thân ông đếm ngược đến những giây cuối cùng của lệnh phóng, từ cái bệ phóng tên lửa có kích thước 100m, một tiếng rít ngắn ngủi vang lên trên tấm bê tông sau đó kéo theo là một loạt dài như tiếng kèn trumpet.

Cuối cùng, vào lúc 10:28:04 tối, giờ Mátxcơva, 20 động cơ bốc cháy đẩy mạnh tên lửa R-7, mang theo vệ tinh Sputnik bắt đầu phóng vào không gian và nhanh chóng biến mất trong màn đêm tối tăm theo hướng đông bắc.
Một giờ rưỡi sau đó, Sputnik bắt đầu truyền những tín hiệu radio về mặt đất, vang dội qua khắp các loa của trạm phóng tên lửa.

Không còn nghi ngờ gì nữa, cuộc phóng vệ tinh đã thành công. Sputnik nặng 83,6kg đã nằm đúng vào quỹ đạo ở mặt phẳng nghiêng 65,1độ, bay quanh xích đạo hết một khoảng thời gian là 96,17 phút.

Korolev cho rằng cuộc chinh phục không gian đã bắt đầu. Ngày 4/10, họ cùng chứng kiến một giấc mơ được nhiều thiên tài ấp ủ biến thành sự thật.

Nhà khoa học nổi tiếng của Nga Tsiolkovsky đã tiên đoán con người không chỉ dừng lại ở trái đất. Sputnik là lời khẳng định đầu tiên đáng tự hào.

Tuy nhiên một phần thế giới lo ngại rằng, Nga có khả năng phóng vệ tinh thì cũng sẽ có thể phóng các tên lửa đạn đạo mang vũ khí hạt nhân đi từ châu Âu sang Mỹ.

Sau đó, một lần nữa, Nga lại làm thế giới giật mình khi phóng vệ tinh Sputnik II vào ngày 3/11/1957. Lần này, vệ tinh mang sức tải nặng hơn và cả một chú chó tên Laika.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/a/ab/Sputnik2_vsm.jpg)

Vệ tinh Sputnik 2

Các cuộc phóng vệ tinh Sputnik thành công của Nga đã trở thành nguyên nhân trực tiếp cho việc thành lập Cơ quan Quản lý Hàng không và Không gian Mỹ (National Aeronautics and Space Administration - NASA).

Tháng 7/1958, Quốc hội Mỹ đã thông qua kế hoạch Hành động Không gian và Vũ trũ Quốc gia (National Aeronautics and Space Act - thường gọi là "Space Act"). NASA thành lập vào 1/10/1958

Còn tiếp….
En_bac: tổng hợp và biên soạn


Tiêu đề: Re: Một chút về hàng không vũ trụ của Liên Xô
Gửi bởi: doiviendukichmat trong 06 Tháng Mười, 2012, 03:07:24 pm
Rất lâu rồi không thấy bác en_bac viết bài tiếp nhỉ, có gì khó khăn à?  :)


Tiêu đề: Re: Một chút về hàng không vũ trụ của Liên Xô
Gửi bởi: Trần Anh trong 15 Tháng Mười, 2012, 09:22:29 pm
.....
-Ngày 3/5/1937 khí cầu Hindenburg khởi hành từ Frankfurt (Đức) và đến Lakehurst (Mỹ) vào ngày 6/5 trong lúc tiếp cận tháp buộc neo đãng bốc cháy khiến 35 trong số 97 người đi trên khí cầu thiệt mạng. Vụ tai nạn này đã làm kết thúc đột ngột thời đại của việc chở khách bằng khí cầu.
(http://www.nlhs.com/images/hindenburg/big_hindenburg_explodes_over_lakehurst.jpg)

....
En_bac: tổng hợp và biên soạn

Xin phép bác En_bac cùng các bác được nói thêm về thảm họa Hindenburg:

(http://i1161.photobucket.com/albums/q508/anhvidai/15102012459.jpg?t=1350307877)
Hindenburg bùng cháy ngay trên sân bay của Hải quân Mĩ

  Niềm tự hào của nước Đức và cũng là một điều kì diệu ở thời kì đó là khí cầu (zepơlin) Hindenburg có chiều dài gần bằng ba lần sân bóng, một khí cụ bay lớn nhất chưa từng được chế tạo. Tuy được giữ ở trên cao nhờ 16 ô chứa khí hidro dễ cháy nguy hiểm, nó đã thực hiện nhiều chuyến bay vượt Đại Tây Dương một cách an toàn. Trên thực tế, các khinh khí cầu của Đức, tất cả đều dùng hidro và chưa bao giờ bị tai nạn bởi khí hidro. Nhưng vào ngày mùng 6, tháng 5 năm 1937 sau 7 giờ 21 phút tối, khi chiếc Hindenburg đã sắn sàng hạ cánh xuống sân bay của Hải quân Hoa Kì ở Lakehurst, bang New Jersey, khinh khí cầu đã bùng cháy. Đội bay của nó đã chờ đến khi cơn mưa dời một phần khỏi khu vực và các dây neo vừa được ném xuống cho một đội của Hải quân ở dưới thì đã thấy lớp vải ngoài của con tàu bị gấp sóng, khoảng 1/3 tính từ đuôi tàu. Một vài giây sau ngọn lửa bùng ra từ chỗ đó và ánh sáng phát đỏ rực phía trong của con tàu. Trong vòng 32 giây con tàu đang cháy rơi xuống đất, giết chết 36 người và làm bỏng nhiều người khác một cách khủng khiếp. Tại sao, sau rất nhiều chuyến bay an toàn khí cầu dùng khí hidro lần này đã bùng cháy ?

  Cách giải thích trên góc độ Vật lý:
Khí cầu Hindenburg đã sắn sàng để hạ xuống đất và sau khi các dây neo được thả xuống cho một đội dươí mặt đất, các dây trở nên ẩm ( và do đó có thể dẫn điện) do mưa. Chúng “nối đất” khung kim loại của khí cầu (các dây được buộc vào khung) : nghĩa là, chúng tạo nên một đường dẫn điện giữa khung và mặt đất, làm cho điện thế cảu khung và của mặt đất như nhau. Đáng lý ra lớp vải của khinh khí cầu cũng sẽ được nối đất. Nhưng Hindenburg là khinh khí cầu đầu tiên có vải bọc được sơn bằng một chất có điện trở suất lớn. Như vậy, với Hindenburg lớp vải vẫn giữ điện thế của khí quyển ở độ cao của khí cầu, khoảng 43m. Do có mưa dông, điện thế đó lớn hơn so với mặt đất.

 Việc dùng các dây rõ ràng đã làm rách một trong các buồng chứa hidro và làm thoát hidro giữa buồng và vải bọc ngoài của khí cầu, gây nên sự gợn sóng của lớp vải bọc như đã mô tả. Khi đó đã xảy ra một tình huống nguy hiểm: Lớp vải ướt nước mưa dẫn điện và  ở một điện thế rất khác với điện thế của khung. Rõ ràng là điện tích đã chạy dọc theo lớp vải ướt và đánh tia lửa điện qua hidro bị dò ra đến khung kim loại và đốt cháy hidro trong quá trình đó. Khi đó sự cháy đã nhanh chóng làm bốc lửa các buồng chwuas khí hidro trong khí cầu và làm rơi nó. Nếu lớp xi ở vải bọc ngoài của Hindenburg có điện trở suất nhỏ hơn (giống như cấc khí cầu trước và sau nó), thì thảm hoạ Hindenburg chắc đã không xảy ra.

Theo_Fundamentals of Physics


Tiêu đề: Re: Một chút về hàng không vũ trụ của Liên Xô
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Sáu, 2015, 09:37:58 am
Xin giới thiệu bài viết của tieungoclang - 1 thành viên của VMH. Bài gốc ở https://tieungoclang.wordpress.com/2014/06/30/viet-tiep-nhan-ky-niem-45-nam-ngay-con-nguoi-dat-chan-len-mat-trang-vi-sao-nga-that-bai/#more-699


Viết tiếp nhân kỷ niệm 45 năm ngày con người đặt chân lên Mặt trăng – Vì sao Nga thất bại

Vì sao người Nga thất bại trong cuộc đua lên mặt trăng

Trong công cụôc chinh phục vũ trụ, người Nga đã luôn là người dẫn đầu cho đến tận cuộc đua đưa người lên mặt trăng. Họ đã từng đi trước với Sputnik, với Laika, Luna và Gagarin, thế mà trên đường lên cung trăng, họ đã thua đau đớn, họ thậm chí chưa từng đưa được người lên đó, dù muộn hơn Mỹ. Và tại sao?

Thật ra chương trình không gian của Nga đã thể hiện tham vọng đưa người lên mặt trăng từ rất sớm với nghị quyết của quốc gia về chương trình không gian ký ngày 31 tháng 1 năm 1956 với các nội dung:

–         Đưa vào quỹ đạo các vệ tinh có trọng lượng 1,8-2,5 tấn trong năm 1958 (đây cũng là năm NASA ra đời)

–         Đưa phi thuyền có người lái sống trên quỹ đạo 1 tuần vào năm 1964

–         Vệ tinh do thám không người lái vào năm 1970

–         Tên lửa có khả năng mang theo 12 tấn tải trọng vượt qua quỹ đạo trái đất vào năm 1970

–         Tên lửa có khả năng mang theo 100 tấn tải trọng lên quỹ đạo thấp của trái đất và đưa 2-3 người lên mặt trăng (không xác định rõ thời hạn)

Chương trình này được chia cho ba tổng công trình sư nổi tiếng triển khai đó là S.P. Korolev, V.Glushko và V. Chemolei. Và ba ông, về mặt nguyên tắc, là không ưa nhau và không hợp tác với nhau. Khác với Mỹ, Von Braun là người đứng đầu tuyệt đối trong chương trình không gian, còn ở Nga Korolev luôn bị cạnh tranh bởi hai vị kia.

Đến tháng 1 năm 1960, không hài lòng với những mục tiêu đó, ngoài ra, trứơc sự áp sát nhanh chóng của người Mỹ, Korolev đã trình lên Bộ chính trị Liên Xô bảng kế họach mới đầy tham vọng với các mục tiêu kinh khủng:

–         Từ năm 1960 – 1963: phát triển hệ thống tên lửa N-1 với tải trọng 40 đến 50 tấn

–         Từ năm 1963-1965: phát triển hệ thống N-2 với tải trọng 60 đến 80 tấn

Và với những tên lửa này sẽ triển khai:

–         Phóng 3 đến 6 vệ tinh liên lạc địa tĩnh, nặng 2-3 tấn phục vụ công tác thông tin liên lạc tòan cầu

–         Trạm không gian trên quỹ đạo 350-400km của trái đất với 3-5 phi hành gia thường trực. Các trạm này có trọng lượng 30-50 tấn

–         Phóng tàu chứa 2-3 phi hành gia đến mặt trăng và trở về trái đất, trọng lượng tàu lên mặt trăng từ 10-12 tấn, khoang trở về nặng 2-3 tấn, dùng hệ thống tên lửa N-1

–         Dùng N-2 để đưa các tàu liên hành tinh có người lái lên sao Hỏa, sao Kim, tên lửa dự kiến đủ đưa tàu vượt tốc độ vũ trụ 1 (11,2 km/s)…

–         Phát triển thành hệ thống tên lửa liên lục địa có tầm bắn từ 3000-12000 km đủ bắn đến mọi điểm trên trái đất và mang theo đầu đạn các loại có trọng lượng 40-100 tấn

–         Hình thành lá chắn không gian từ đó có thể chặn, diệt bất kỳ vệ tinh, tên lửa nào phóng đến lãnh thổ Liên Xô

–         …

Ông còn đề nghị đựơc thành lập Học viện Nghiên cứu Liên hành tinh trong đề án kể trên. Khi đề án đựơc trình lên Khrushev và Bộ Chính trị LX vào ngày 03/03/1960, dù Khrushev là người hết sức ủng hộ cho các chương trình vũ trụ, nhưng trước một đề án quá tham vọng cùng với việc các nhà khoa học, các tổng công trình sư khác không đồng tình, nên đề án của Korolev đã bị bác. Rút kinh nghiệm từ thất bại này, Korolev đã phải bàn bạc, chia phần và thống nhất với các địch thủ: Chemolei , Glushko và Yangel để cùng xây dựng một đề án mới, và may mắn thay, đề án này đựơc thông qua với cái tên  nghị quyết 715-296 ký vào ngày 23/06/1960 v/v ” Sản xuất các hệ thống phóng, phi thuyền cho lực lượng quân sự không gian trong giai đọan 1960-1967″ . Kết quả của nghị quyết này là những sản phẩm mà đến nay vẫn còn sử dụng như hệ thống Vostok (và hậu nhận là Soyuz), Proton.. Và quan trọng nhất, là theo nghị quyết đó, dự án N-1 dành phóng lên mặt trăng đã đựơc thông qua bước đầu (bài sau sẽ viết chi tiết hơn về các hạng mục trong nghị quyết này). Vạn sự khởi đầu nan….

Nhưng mọi rắc rối với chương trình N-1 chưa dừng lại ở đó. Ngay từ đầu nó đã gặp phải vấn đề với việc thiết kế động cơ, phần này lúc đầu đựơc chia cho Glushko làm, bên cạnh mâu thuẩn cá nhân giữa Glushko và Korolev (do Glushko mà Korolev từng bị Stalin cho đi tù) thì còn do Glushko không hòan thành đựơc yêu cầu của Korolev với các dòng động cơ do ông phát triển như RD-108, RD250. Từ đó dẫn đến việc Korolev phải quay sang làm việc với phòng thiết kế của Kuznetsov, hai ông này thì quan hệ với nhau tốt hơn. Ngoài ra, Korolev cũng đụng chạm với Chemolei và tìm mọi cách để đưa mẫu động cơ NK-9 vào thay cho UR500 của Chemolei nhưng không thành công. Dù sao đi nữa thì sau hai năm vận động, nghiên cứu và chiến đấu ác liệt Korolev cũng đã thành công khi Khrushev và chính phủ LX đã ra một nghị quyết cho việc chế tạo  vào ngày 24 tháng 9 năm 1962 và qui định chuyến bay đầu tiên sẽ diễn ra trong năm 1965. Sau cùng thì Korolev cũng có được trong tay quyền thực hiện. Nhưng bấy nhiêu chưa đủ, bởi lẽ ông có đựơc quyền chế tạo rocket nhưng lại không có hỗ trợ nào từ phía quân đội cho một thứ gì để chứa lên roket đó phóng đi. Barmin’s GSKB SpetsMash là đơn vị được trao nhiệm vụ thiết kế và xây dựng bệ phóng N-1. Vào tháng 3 năm 1963, công việc thiết kế hệ thống phóng N1đã hoàn tất. Một lễ động thổ đã được tổ chức một năm sau đó và bệ phóng N1 cùng các công trình liên hợp đã đựơc tiến hành xây dựng… (còn tiếp…)


Tiêu đề: Re: Một chút về hàng không vũ trụ của Liên Xô
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Sáu, 2015, 09:40:38 am

Chương trình du hành mặt trăng N-1 (tiếp theo)


Thật ra trong nghị quyết ra hồi tháng 9 năm 1962, hệ thống tên lửa N1 đưa ra như là một phần trong chương trình tên lửa dành cho lực lượng quân sự. Còn quyết định cho cuộc chạy đua lên mặt trăng lại đến khá muộn. Sau nhiều thay đổi thiết kế, và sau nhiều lần vận động không mệt mỏi và quyết liệt, cuối cùng, ngày 03 tháng 08 năm 1964, Chỉ thị số 655-268 của Trung Ương Đảng cũng đã ra đời. Chỉ thị nêu rõ nhiệm vụ của OKB-1 (phòng thiết kế Korolev) là phải hòan thành việc đưa một người đến mặt trăng và quay về trước người Mỹ. Và, chỉ thị này đã ra đời sau một quyết định tương tự của phía Mỹ tới gần 3 năm (Chương trình Apollo của Mỹ được quyết định thực hiện từ tháng 04/1961). Khỏan cách 03 năm là một khỏan thời gian không dễ kéo gần được.

Ban đầu, kế hoạch được vạch ra là sẽ phóng thử N1 lần đầu tiên vào quý 1 năm 1966, còn chuyến đổ bộ mặt trăng sẽ được thực hiện trong năm 1967 hoặc 1968, và như vậy vẫn nhanh hơn kế họach của người Mỹ từ 1 đến 2 năm. Nhưng, một sự kiện lớn đã xảy ra. Tháng 10 năm 1964, Khrushchev bị rời khỏi vị trí lãnh đạo, Brezhnev lên thay. Mọi việc lại một phen xáo trộn, may mắn thay, Korolev vẫn duy trì được ảnh hưởng của mình lên người đứng đầu Bộ Chính Trị Liên Xô, thậm chí còn nhiều hơn triều đại trước. Ông phần nào đã đẩy đựơc đối thủ Chemolei ra khỏi một số dự án lớn. Ngày 26/01/1965, một quyết định đã đựơc thông qua về việc sản xuất 16 hệ thống N1. Sau khi có được các loại quyết định và ngân sách, phòng nghiên cứu OKB-1 của Korolev đã đẩy mạnh công tác thiết kế và đã trình lên đựơc 4 phiên bản mẫu. Nhưng niềm vui ngắn chẳng tày gang, ngày 14/01/1966 Korolev chết trong cuộc phẫu thuật ung thư ruột. Ông đã dấu bệnh với các đồng sự, vì vậy, cái chết của ông ở tuổi 56 – độ tuổi chín của một nhà khoa học, đã làm lung lay mạnh mẽ các chương trình nghiên cứu của OKB-1. Có thể nói cái chết của ông đã góp phần vào sự sụp đổ của chương trình N1. Mishin, cấp phó của Korolev lên thay, nhưng Mishin không thể nào thay thế nổi Korolev về mặt khoa học lẫn uy tín với các nhà lãnh đạo Đảng.

Dù sao thì trái đất vẫn cứ quay, và Mishin lại tiếp tục với N1. Cũng cần ghi nhận rằng sau khi Korolev chết, các đối thủ của ông: Glushko, Chemolei và  Yangel đã vận động để chia sẽ bớt phần kinh phí cho các dự án của họ như hệ phóng UR-700, R-56 thay vì tập trung toàn bộ cho N1 như trước. Lúc này, chính phủ lại ra nghị quyết dời thời hạn phóng đầu tiên của N1 sang năm 1968, chậm hai năm so với kế họach ban đầu, và nếu đúng hạn thì vẫn sớm trứơc người Mỹ một năm.

Ngày 10/02/1967, tàu Cosmo 146 đựơc phóng lên, đây chính là mẫu thử cho block số 4 và cụm phi thuyền đáp xuống mặt trăng- trở về trái đất. Cosmo 146 đã họat động đúng đắn đến tận giai đọan bay đến mặt trăng. Nhưng phi thuyền đã thất bại trong việc hạ cánh xuống bề mặt mặt trăng và cũng không thể trở về. Mẫu thử kế tiếp Cosmo 154 thì còn tệ hơn, block số 4 không thể phát hỏa để đưa phi thuyền đến mặt trăng sau khi lên quỹ đạo, và nó đã bị cháy trong khí quyển 2 ngày sau đó.

Đến năm 1968, các hệ thống N1 đã hòan thành được 16 bộ. Tháng 9/1968, một hệ thống phóng N1 và phi thuyền mặt trăng 7K-L1S đã đựơc đưa vào bệ phóng, nó đựơc đánh mã N1-4L, nhưng rồi người ta phát hiện ra bồn chứa nhiên liệu ở tầng 1 bị rò rỉ do quá trình thử nghiệm mặt đất. Thế là N1 đựơc rã ra, mang về xưởng để sửa chữa. Còn phi thuyền thì lắp sang bộ N1-3L để phi hành đòan tổ chức huấn luyện. (Cũng xin nói thêm về một điềm báo nữa cho chương trình N-1: danh sách phi hành gia dự kiến bay lên mặt trăng có Komarov là ứng viên số 1, Gagarin số 2 và Leonov thứ ba. Nhưng cuối năm 1967 Komarov tử nạn trong chuyến bay Soyuz 1, rồi ngay sau đó năm 1968 đến lượt Gagarin tử nạn với một chuyến bay thử máy bay Mig15).

Tháng Giêng năm 1969, N1-3L và phi thuyền được đưa vào bệ phóng. Mishin cùng 2300 nhân viên cật lực làm việc, 50 chiếc xe nhiên liệu được mang đến để bơm vào tàu. Ngày phóng ban đầu là 20/2/1969 nhưng vì thời tiết xấu nên dời sang ngày 21/02/1969. Thế rồi cuối cùng chiếc tàu cũng đựơc phóng lên, mọi người chuẩn bị ăn mừng, thì đến thời điểm 68,7 giây sau khi phóng, tòan bộ các động cơ bị đóng lại, và 1,3 giây sau đó, tên lửa đã tự hủy theo lập trình ở khỏan cách an toàn. Khi điều tra sự việc, người ta nhận ra có một chi tiết cơ khí nhỏ ở tua bin khí động cơ số hai bị lỗi, dẫn đến việc tăng áp lực và làm động cơ khép cửa xả lại. Do vậy lực đẩy của động cơ giảm đi và gây cháy ở đuôi tên lửa. Nếu mọi việc dừng ở đây thì cũng không phải là vấn đề quá lớn, nhưng tại thời điểm đó hệ thống KORD BKS dùng để kiểm sóat tự động hành trình đã phát hiện cháy và nó gửi đi một tín hiệu sai. KORD gửi tín hiệu ngưng họat động đến tòan bộ các động cơ !!! Chỉ có một điểm sáng ở lần thử này, đó là việc hệ thống SAS đã họat động đúng đắn, nó đã thực hiện đúng tính năng đựơc thiết kế và cứu đựơc phi thuyền 7K-L1S gắn trên N1 (bộ phận SAS là bộ phận gắn ở đầu chóp trên cùng, nó sẽ khai hỏa và mang phi thuyền – gắn ngay bên dưới nó – bay thoát ra an tòan khi các tên lửa đẩy bên dưới gặp sự cố). Thêm một điểm đáng lưu ý khác là cơ quan thám sát của Anh ghi nhận đựơc sự kiện, nhưng phía Mỹ thì hình như không biết, không rõ vì sao.

Sau khi cú phóng 3L thất bại, Liên Xô nhận đựơc tin báo thành công liên tiếp từ chương trình Apollo của Mỹ, họ cuống lên. Họ biết, đã không còn có thể thắng Mỹ trong cụôc đua đưa người lên mặt trăng. Vì vậy, họ có một điều chỉnh trong phương án: sẽ cố gắng phóng một tàu không người lái lên mặt trăng chụp hình và quay về trước khi người Mỹ đi lên. Và như thế sẽ chia sẽ bớt hào quang của người Mỹ. Theo quan điểm đó, bảng N1-5L đựơc thiết kế lại đôi chút và gấp rút đưa lên bệ phóng.

Ngày 03/07/1969, trước ngày Apollo 11 phóng 2 tuần, N1-5L đã sẵn sàng, và được bấm nút. Đó là một thảm họa. 5L nổ tung chỉ sau 0,25 giây. Vòi bơm chất oxi hóa ở động cơ số 8 bị gãy, gây nổ. Hệ thống KORD làm ngưng các động cơ, N1 rơi ngược lại bệ phóng theo một góc nghiên 45 độ và gây ra một vụ nổ mang tầm cỡ một quả bom nguyên tử loại nhỏ. Tòan bộ cấu trúc bệ phóng bị hủy diệt, không rõ số người thiệt mạng trong thảm họa đó. N1 chính thức đầu hàng Apollo!


Tiêu đề: Re: Một chút về hàng không vũ trụ của Liên Xô
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Sáu, 2015, 09:47:33 am

N-1: những ngày tháng sau cùng (tiếp theo và hết)


Thảm họa đợt phóng 5L đã làm chương trình N1 bị chậm lại gần 2 năm để phục vụ công tác điều tra, phân tích. Một trong các kết luận quan trọng được đưa ra là cần nâng cấp hệ thống máy tính điều khiển hành trình KORD. Một kết luận khác là cần phải nâng cấp động cơ, và thế là các hồ sơ cũ do Korolev ký trước khi chết được lục lại. Trong các tài liệu đó Korolev đã nói về việc sử dụng oxy/hydro cho động cơ tên lửa.

Tháng 7/1970 phòng OKB-276 của Kuznetsov, một đồng minh cũ của Korolev, được giao nhiệm vụ thiết kế lại động cơ. Thật ra Kuznetsov đã quan tâm nghiên cứu động cơ oxy/hydro lỏng từ năm 1965 nhưng chưa thật sự thành công. Ở thời điểm năm 1970, Kuznetsov cùng các đồng sự đã thành công với một loạt động cơ mang mã NK-31, NK-33, NK-39, NK-43 thay cho các động cơ cũ.

Tháng 6 năm 1971, N1-6L được đưa vào bệ phóng 110L (bệ phóng 110R bị phá hủy sau vụ nổ lần phóng 5L vẫn chưa xây dựng lại xong).  N1-6L vẫn chưa được sử dụng các động cơ mới mà vẫn sử dụng động cơ cũ với phần nâng cấp lưới lọc để tránh trường hợp tạp chất rơi vào buồng đốt như 5L. Lần phóng này 6L không mang theo phi thuyền, đây chỉ là một lần thử nghiệm cho hệ thống tên lửa đẩy. Ngày 23/06 là ngày dự kiến phóng 6L, nhưng vì trời mưa nặng hạt nên dời lại. Ngày 27/06/1971, trời quang. N1-6L được lệnh phóng. Khi rời bệ phóng tên lửa bổng nhiên tự xoay quanh trục, có lẽ do cộng hưởng của luồng hơi phụt của động cơ và gió. Đến giây 50.2 sau khi phóng, tên lửa đã quay với tốc độ không thể kiểm sóat được và gãy gục. Một giây sau 6L được lệnh tự hủy ở khoản cách an toàn. Điểm đáng ghi nhận ở lần thất bại thứ ba này là các động cơ hoạt động tốt, ổn định cho đến khi tên lửa bị hủy. Các chuyên gia lại vào cuộc, tìm hiểu nguyên nhân…

Một năm nữa trôi qua, lúc này ở Mỹ, chương trình Apollo đã đi tới đoạn cuối con đường, còn N1 thì lại bắt đầu cho lần phóng N1-7L. Trong lần thử này, 7L vẫn chưa đựơc trang bị các dòng động cơ mới mà vẫn dùng động cơ NK-15 cũ. Ngày 23/11/1972, N1-7L đựơc lệnh rời bệ phóng. Phút đầu tiên trôi qua bình thường, mọi thứ có vẻ diễn ra đúng kế họach. Nhưng rồi đến giây thứ 107, chỉ 7 giây trước khi kết thúc nhiệm vụ của tầng 1, sự cố đã xảy ra. Nguyên nhân chưa bao giờ được xác định chính xác, Mishin đổ lỗi cho các nhà thiết kế động cơ; còn Kutznetsov thì cho rằng do ngưng động cơ trung tâm quá sớm dẫn đến áp lực làm gãy và nổ ở động cơ số 4. Và dù sao, họ cũng thống nhất đựơc một điểm, rằng chỉ cần tầng 1 được kết thúc bình thường thì chuyến bay đã thành công.

Sau 4 lần thất bại, Mishin phải mời những kẻ thù cũ đến để cùng nghiên cứu: Glushko và Kosberg. Hai ông này thì đưa ra giải pháp là dùng các loại động cơ do OKB của họ nghiên cứu, những thứ mà Korolev đã gạt từ lúc đầu. Về phía Kuznetsov, các khó khăn càng chồng chất khi kinh phí cấp giảm dần đều. May cho ông, các động cơ mới đã kịp thử nghiệm mặt đất thành công. Hai bảng 8L và 9L bắt đầu trang bị động cơ mới của Kuznetsov và dự kiến sẽ phóng liên tục trong năm 1974. Lòng tin vào sự thành công lúc này lên rất cao vì hầu hết các tồn tại trong các lần phóng trước đã đựơc nghiên cứu và xây dựng giải pháp. Mọi thứ hẳn đã rất sẵn sàng!

Ngày 18 tháng 5 năm 1974, Afanasyev đến OKB-1 triệu tập họp. Chỉ bằng vài câu, ông báo với OKB-1 rằng Bộ Chính trị đã quyết định miễn nhiệm Mishin, và bổ nhiệm Glushko-kẻ thù của Korolev- thay thế. Đồng thời sáp nhập cả hai OKB đó vào một thực thể mới được mang tên NPO Energia. Sau vài câu chúc tụng sáo rỗng, Afanasyev rời phòng. N1 kết thúc!

Kết toán:

    Trong chặng đường của mình, N1 đã thực hiện đựơc 4 lần phóng và thất bại cả 4 lần
    Nếu tính luôn hai bảng 8L, 9L và 4 bộ khác đang được sản xuất gần xong, xí nghiệp Kozlov ở Samara đã sản xuất được 10 con tàu xấu số cùng 2 tàu mô hình.
    Tổng ngân quỹ được dành cho chương trình là 3,6 tỷ rúp. Trong đó có 2,4 tỷ trực tiếp dùng cho việc phát triển N1 (chương trình Apollo của Mỹ ngốn đến 25,4 tỷ đô)

N1 đã thất bại thảm hại trước Apollo. Với một chút nuối tiếc, phải chi cho N1 thêm chút thời gian, dù có thua thì Liên Xô cũng có được một hệ thống phóng hạng nặng. Nhưng mọi thứ đã kết thúc. Khi sáp nhập hai OKB thành một, Glushko thậm chí còn ra lệnh hủy số động cơ NK-33, NK-39, NK-43 đã thử nghiệm và sản xuất xong. May thay Kutznetsov đã kịp mang đi. Và như phượng hoàng bất tử, dù N1 không tồn tại, nhưng một số bộ phận của nó vẫn có cơ hội bay lên bầu trời. Số động cơ nói trên, sau này được bay với hệ thống Atlas III của Mỹ và với K-1 của công ty Kistler Aerospace(*) 22 năm sau đó. Hay như thiết kế 11D56 cho động cơ của phi thuyền L3M cũng được bán cho Ấn Độ để thành hệ thống phóng GSLV của nước này. Tàn tích cuối cùng của N1 giờ chỉ còn là dãy nhà xưởng đổ nát ở Samara như hoài niệm một thời oanh liệt ….

Hết

(*) Kistler Aerospace được NASA chọn thuê làm dịch vụ tải hàng và người lên trạm ISS, nhưng Kistler đã bị phá sản vào 2010 vì những lý do tài chính.