|
Tiêu đề: Cuộc chiến tranh xâm lược của NATO chống Liên bang Nam Tư Gửi bởi: duongthanhvan trong 24 Tháng Mười, 2011, 09:01:26 am NỘI DUNG 1. Lực lượng và phương tiện vũ khí tham chiến của mỗi bên 2. Biên chế và tổ chức của lực lượng Phòng không và Không quân (PK-KQ) Nam Tư 3. Bố trí và biên chế lực lượng tập kích đường không (TKĐK) của Mỹ 4. Lực lượng KQ của các nước NATO tham gia vào chiến dịch chống Nam Tư 5. Các mục tiêu quân sự của chiến dịch chống LB Nam Tư của NATO 6. Tác chiến của mỗi bên trong đợt tấn công lần thứ nhất 7. Đánh giá hiệu quả giai đoạn đầu chiến dịch không kích (CDKK) của NATO 8. Phân tích mở rộng giai đoạn đầu CDKK của NATO 9. Hoạt động của các máy bay chiến đấu (MBCĐ) F-16AM ở Nam Tư 10. NATO sử dụng bom không điều khiển (BKĐK) trong TKĐK ở Nam Tư 11. Hiệu quả sử dụng hệ thống phòng không (HTPK) và (KQ) của Nam Tư chống lại KQ NATO 12. Hậu quả của sáu tuần ném bom Nam Tư 13 Hậu quả của 55 ngày ném bom Nam Tư 14. Thất bại của KQ NATO trong sử dụng các phương tiện tác chiến điện tử (TCĐT) 15. Chiến thuật mới của không quân bay biển (KQBB) NATO 16. Tổng hợp tình hình sử dụng KQ NATO trong chiến dịch chống Nam Tư 17. Kết quả ứng dụng chiến đấu của máy bay tàng hình (MBTH) B-2 18. Vai trò của KQ trong chiến dịch chống Nam Tư (đánh giá của NATO) 19. Những tồn tại trong phối hợp tác chiến của quân đội hỗn hợp NATO. Thông tin tổng hợp từ các báo và tạp chí Tiêu đề: Re: CUỘC CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC CỦA NATO CHỐNG LIÊN BANG NAM TƯ Gửi bởi: duongthanhvan trong 24 Tháng Mười, 2011, 09:07:44 am 1. CÁC LỰC LƯỢNG VÀ PHƯƠNG TIỆN VŨ KHÍ
THAM CHIẾN CỦA MỖI BÊN A. Lực lượng lien quân Mỹ và các nước NATO. Chiến dịch “Sức mạnh đồng minh” bắt đầu lúc 20h45’ ngày 25 tháng 3 (theo giờ Belograd). Các hoạt động quân sự không diễn ra như kịch bản đã thực hiện ở I-Rắc (1991). Tại I-rắc (1991) đợt tấn công đầu tiên đã diễn ra rất ồ ạt, còn ở Nam Tư đợt không kích đầu tiên lại diễn ra với quy mô hạn chế, với số lượng mục tiêu cũng hạn chế. NATO tham gia cuộc chiến với lực lượng rất hùng hậu và có khả năng tăng cường không hạn chế. Lực lượng tham gia cơ bản là Không quân (KQ) và hải quân (HQ)của Mỹ, Anh, Pháp và Đức. Ngoài ra, còn có sự tham gia của quân đội 10 nước thành viên NATO là: Bỉ, Ca-Na-Đa, Đan Mạch, Hy Lạp, Ý, Hà Lan, Na Uy, Bồ Đào Nha, Tây Ba Nha và Thổ Nhĩ Kỳ. Theo ước tính KQ của Liên quân tham gia vào cuộc chiến gồm khoảng 400 máy bay (trong đó 250 là của Mỹ). Trong số đó có 07 máy bay ném bom (MBNB) chiến lược B-52H với trang bị tên lửa hành trình (TLHT) AGM-86C; 12 máy bay tang hình (MBTH) F-117A; gần 110 náy bay chiến đấu (MBCĐ) F-15, F-16 và A-10. KQ các nước đồng minh đưa vào tham chiến gồm các loại MBCĐ “TONARDO”, “MIRAGE” và “JAGUAR”. Biên chế lực lượng đảm bảo và hỗ trợ gồm có 3 máy bay phát hiện đài ra-đa từ xa (PHĐRĐTX) E-3, hàng chục máy bay tác chiến điện tử (TCĐT) EA-6B, máy bay do thám (MBDT) và máy bay tiếp dầu trên không (MBTD) và cuối cùng là lực lượng đổ bộ đường không (ĐBĐK). Mỹ có thể sẵn sàng tăng cường cho chiến dịch thêm nhiều MBCĐ chủ yếu là các máy bay ném bom (MBNB). Trong cuộc chiến này, Mỹ đã sử dụng MBNB chiến lược tàng hình mới nhất để tấn công LB Nam Tư. Và đây là lần đầu tiên máy bay B-2A được đưa vào sử dụng. (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/c/c3/Boeing_B-52_dropping_bombs.jpg/320px-Boeing_B-52_dropping_bombs.jpg)(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/a/a1/F-117_Nighthawk_Front.jpg/300px-F-117_Nighthawk_Front.jpg)(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/c/c3/B2_spirit.jpg/320px-B2_spirit.jpg) Lực lượng hải quân của NATO được triển khai ở biển Baltic. Lực lượng này chủ yếu làm phục vụ cho vận tải đường không (VTĐK), máy bay vận tải được sử dụng nhiều nhất là máy bay “FO3H” của Pháp. Đây là lần đầu tiên mà các máy bay vận tải của Mỹ không được đưa vào tham gia một chiến dịch tương tự như vậy. Lực lượng tấn công chủ yếu bao gồm: 03 tàu khu trục (2 của Mỹ và 1 của Anh), 01 tàu tên lửa và 02 tàu phóng lôi của HQ Mỹ. Tổng số các trang bị và vũ khí có trên những chiến hạm này gồm 334 dàn phóng TLHT “TomaHawk”. Lực lượng của NATO ở biển Ban tích có sự liên hệ chặt chẽ, thường xuyên với 08 tàu phá mìn và tàu khu trục nhỏ. Ngoài lực lượng TKĐK c, ở Địa Trung Hải Mỹ còn bố trí 03 tàu đổ bộ với hàng nghìn lính thuỷ đánh bộ. Mặc dù Lầu năm góc cho biết rằng họ không có ý định triển khai bộ binh trên Kosovo. Nhưng trên đất Macedonia, lực lượng Liên quân vẫn bố trí 10-12 nghìn quân. Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh xâm lược của NATO chống Liên bang Nam Tư Gửi bởi: duongthanhvan trong 24 Tháng Mười, 2011, 09:50:14 am Bộ Trưởng Quốc phòng Mỹ William Cowell tuyên bố các mục đích quân sự của chiến dịch là:
1) Ngăn chặn người Serbia tấn công người thiểu số Albania ở Kosovo; 2) Làm giảm khả năng tác chiến của lực lượng quân đội LB Nam Tư; 3) Tiêu diệt các hệ thống phòng không (HTPK)của LB Nam Tư. Lực lượng không quân (LLKQ) và không quan hải quân (KQHQ) của Mỹ và NATO có khả năng tiến hành chiến dịch TKĐK với thời gian dài. Vũ khí chính của lực lượng này là các TLHT phóng từ các căn cứ HQ và từ MB; các MBTH F-117A trang bị bom có điều khiển (BCĐK) dẫn đường laze; các loại tên lửa chiến thuật không đối đất có thể được phóng từ cự ly ngoài tầm kiểm soát của HTPK (đó là các Tên lửa AGM-84E). Ngoài ra, trong các đội hình tấn công còn có sự tham gia các MBCĐ F-15E và F/A –18, các tên lửa chống radar “HARM”. Các máy bay TCĐT EA-6B đảm nhiệm là chế áp các đài ra-đa của LLPK Nam Tư. Trong thành phần lực lượng NATO, HQ Mỹ chiếm hơn 30% tàu chiến và 90% tên lửa hành trình phóng từ biển Tomahawk. (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/5/55/Tomahawk_Block_IV_cruise_missile.jpg/320px-Tomahawk_Block_IV_cruise_missile.jpg) Trước khi tiến hành chiến dịch, NATO đã trinh sát kỹ lưỡng vị trí các mục tiêu. Các lực lượng trinh sát với sự hỗ trợ của các thiết bị vệ tinh “NAVSTAR” đã xác định được một cách chính xác toạ độcác mục tiêu quan trọng nhất của Nam Tư. Các thông tin này sau đó đều đã được nạp vào bộ nhớ chương trình của các TLHT. Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh xâm lược của NATO chống Liên bang Nam Tư Gửi bởi: duongthanhvan trong 24 Tháng Mười, 2011, 09:55:02 am B. Lực lượng tham chiến của LB Nam Tư.
Lực lượng của quân đội LB Nam Tư bao gồm 114 nghìn quân chính quy và 400 nghìn quân dự bị. Số lượng xe tăng gồm 234 chiếc kiểu M-84 (theo kiểu T-72 của Nga), 65 chiếc T-72, 785 chiếc T-55, 181 chiếc T-34 và 893 xe bọc thép các kiểu. Lực lượng pháo phòng không của LB Nam Tư gồm 1850 khẩu, một nghìn bệ phóng “SAM” và hai nghìn dàn phóng tên lửa chiến thuật khác. LLKQ của Nam Tư có 15 Mig-29, 17 Mig-21-IU, 47 Mig-21-F và 18 Mig-21-C. Lực lượng HQ gồm có 4 tàu ngầm và 4 tàu khu trục nhỏ có trang bị các loại tên lửa “hạm đối Không” và “hạm đối hạm”. Trong giai đoạn đầu của chiến dịch thì các lực lượng NATO chủ yếu tác chiến với HTPK của LB Nam Tư. Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh xâm lược của NATO chống Liên bang Nam Tư Gửi bởi: duongthanhvan trong 24 Tháng Mười, 2011, 10:08:17 am 2. BIÊN CHẾ VÀ TỔ CHỨC CỦA LỰC LƯỢNG PK-KQ NAM TƯ Lực lượng PK-KQ của Nam Tư là một bộ phận độc lập chịu sự chỉ huy trực tiếp từ Bộ Tổng tham mưu quân đội Nam Tư. Lực lượng chiến đấu của PK-KQ là một quân đoàn KQ và một quân đoàn Phòng không. Bao gồm: 3 lữ đoàn KQ, 3 trung đoàn KQ tiêm kích, một trung đoàn KQ trực thăng, 2 lữ đoàn tên lửa phòng không (TLPK), 6 trung đoàn TLPK. Có tổng cộng tất cả 16 phi đội MBCĐ, trong đó gồm 4 phi đội tiêm -cường kích, 2 phi đội trinh sát, 6 phi đội tiêm kích, 4 phi đội huấn luyện chiến đấu, 4 phi đội máy bay yểm trợ và 7 phi đội trực thăng. Dưới sự chỉ huy tác chiến của lực lượng PK-KQ còn có lữ đoàn đổ bộ thuộc biên chế tổ chức của quân đoàn lực lượng đặc biệt. Trang bị vũ khí của lực lượng PK- KQ: gồm 207 MBCĐ, 176 dàn phóng TLPK tầm trung, 47 máy bay yểm trợ và 62 máy bay trực thăng. Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh xâm lược của NATO chống Liên bang Nam Tư Gửi bởi: duongthanhvan trong 24 Tháng Mười, 2011, 10:10:06 am Biên chế của quân đoàn KQ “Belograd” gồm:
• Lữ đoàn KQ số 96 gồm phi đội KQ tiêm kích số 1,3,4, phi đội KQ trinh sát số 2 gồm 22 máy bay Mig –21, 18 máy bay “Super Galeb”, 17 máy bay “Galeb” và 12 máy bay “Orao-1”. • Lữ đoàn KQ số 172 –phi đội bay huấn luyện chiến đấu số 1,4, phi đội bay số 2,3 gồm 11 máy bay “Galeb”, 05 máy bay Mi –8, 03 máy bay Mi-4, 02 máy bay Ka-28, 06 máy bay “Gazen” và 10 máy bay “UTVA-75”. • Trung đoàn KQ tiêm kích số 117 (trung đoàn tiêm kích số 1, trung đoàn tiêm cường kích số 2) gồm 07 máy bay Mig-21, 11 máy bay “ORAO-1” và 02 máy bay “ORAO-1R”. • Trung đoàn KQ số 119 (phi đội KQ số 1,2,3) gồm 10 máy bay Mi-8, 09 máy bay Mi-8 và 09 máy bay “Galeb”. Biên chế quân đoàn phòng không “Belograd”: • Trung đoàn KQ tiêm kích số 83 (phi đội tiêm kích số 1,2,3) gồm 30 máy bay Mig-1, 06 máy bay Mig-21U. • Trung đoàn KQ tiêm kích số 205 (phi đội tiêm kích) gồm: 12 máy bay Mig –29, 02 máy bay Mig-29U, 13 máy bay Mig-21, 03 máy bay Mig –21U. • Lữ đoàn TLPK số 126 (Belograd): đại đội TLMĐ số 1,2,3,4 “CUB” (20 bệ), sư đoàn TLPK số 6 “DVINA” (06 bệ). Sư đoàn TLPK số 7 “S-125” (04 bệ). • Lữ đoàn TLPK số 250 (BATAINHIXA): đại đội 1,2 “CUB” (8 bệ); Sư đoàn 3 “DVINA” (6 bệ); Sư đoàn 4,5 “S125” (8 bệ). • Trung đoàn TLPK (CRALEVO): Sư đoàn 1 “DVINA” (06 bệ); Sư đoàn 2,3 “S-125” (08 bệ). • Trung đoàn hỗn hợp số 60 (ĐANHILÔGRAD): Sư đoàn 1 “ĐVINA” (06 bệ); Sư đoàn 2,3 “S -125” (8 bệ); đại đội 4,5 “CUB” (8 bệ). • Trung đoàn hỗ hợp số 230 (NHISƠ): Sư đoàn 1 “ĐVINA” (06 bệ). Sư đoàn 2,3 “S1Z25” (08 bệ); đại đội 4,5 “CUB” (08 bệ). • Trung đoàn hỗn hợp số 240 (NOVY SAD): Sư đoàn 1 “ĐVINA” (8 bệ). Sư đoàn 2,3 “S125” (8 bệ); đại đội 4,5 “CUB” (8 bệ). • Trung đoàn hỗn hợp số 310 (CRAGUEVAXƠ); Sư đoàn số 1 “DVINA” (06 bệ). Sư đoàn số 2,3 “S-125 ” (08 bệ), đại đội 4,5 “CUB” (08 bệ). • Trung đoàn hỗn hợp số 311 (PRISTINA); Sư đoàn 1 “DVINA” (06 bệ). Sư đoàn số 2,3 “S-125 ” (08 bệ), đại đội số 4,5 “CUB” (08 bệ). • Lữ đoàn KQ huấn luyện số 18 (BATAINHIXA): phi đội số 1 (06 máy bay AN-26, 02 máy bay JAK -40) phi đội số 2 (06AN26, 4JAK-40) và phi đội trực thăng số 3 (09 máy bay Mig-8). • Phi đội trinh sát đường không số 352 (BATAINHIXA): 16 máy bay Mig-21, 02 máy bay Mig-21U Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh xâm lược của NATO chống Liên bang Nam Tư Gửi bởi: duongthanhvan trong 24 Tháng Mười, 2011, 10:13:50 am Trung tâm đào tạo (PÔ-GÔ-RI-XA): Phi đội bay huấn luyện ném bom số 1 (08 máy bay Mig-21U), phi đội bay huấn luyện ném bom số 2 (03 máy bay “SUPER GALEB” và 08 máy bay “GALEB”), phi đội bay huấn luyện ném bom số 3 (07 máy bay “ORAO-1”) và 06 máy bay “ORAO-1R”) phi đội trực thăng số 4 (07 trực thăng Mi-8 và 02 trực thăng “GADEN”) và phi đội bay huấn luyện số 4 (19 máy bay “UTVA-75”) .
Tổng cộng: 70 máy bay Mig-21 (trong đó 52 chiến đấu và 18 trinh sát); 14 máy bay Mig-29; 16 đại đội tên lửa mặt đất “CUB” (68 bệ phóng), 15 tiểu đoàn “S-125” (60 bệ) và 8 tiểu đoàn “DVINA” (60 bệ). Do không có đủ kinh phí tài chính và khí tài thay thế nên khả năng sẵn sàng chiến đấu của quân đội Nam Tư được đánh giá là thấp. Quá trình cải tổ quân đội đang diễn ra. Tất cả máy bay dự phòng đều bị tháo rời và bọc dầu theo hiệp ước về kiểm soát vũ khí tiểu khu vực từ cuộc xung đột Nam Tư. Các phương tiện PK được trang bị cho bộ binh gồm có 44 lữ đoàn xe quân sự, xe tăng các lữ đoàn dù và các lữ đoàn đặc nhiệm. Lữ đoàn tổ hợp TLPKTT 846 “Strela-2M” Trung đoàn PK hỗn hợp số 401: 12 bệ phóng “Strela-1M2”, 3 bệ phóng “Strela-10”, 6 bệ “ZSU 57-2” và 18 bệ “ZSU –30-2”. Trung đoàn PK hỗn hợp số 12: 24 bệ phóng TLMĐ “Strela1M”, 06 bệ phóng TLMĐ “Strela-10”, 6 bệ “ZSU-57-2” và 24 bệ “ZSU-30-2”. Lữ đoàn PK hỗn hợp số 279 gồm 24 bệ phóng “Strela1M”, 9 bệ “ZSU-572” và 24 bệ “ZSU-30-2”. Lữ đoàn TLMĐ số 83 gồm 12 bệ phóng “Strela1M”, 8 bệ “Strela -10M”, 9 bệ “ZSU-57-2” và 36 bệ “ZSU-30-2”. Trung đoàn PK hỗn hợp số 261 gồm 12 bệ phóng TLMĐ “Strela -1M”, 09 bệ “ZSU-57-2” và 12 bệ “ZSU-30-2”. Lữ đoàn PK hỗn hợp số 159 gồm 8 bệ “Strela1M”, 9 bệ “ZSU-57-2” và 36 bệ “ZSU-30-2”. Trung đoàn PK hỗn hợp số 52 gồm 12 bệ “Strela -1M”, 6 bệ “ZSU-57-2” và 86 bệ “ZSU-30-2”. Lữ đoàn PK hỗn hợp số 1 (điều hành trung tâm) gồm 9 bệ phóng “Strela - 1M”, 30 bệ “ZSU-57-2” và 30 bệ “ZSU-30-2”. Tổng cộng tất cả gồm: 846 bệ “Strela -1M”, 113 bệ “Strela -1M”, 17 bệ “Strela -10”, 54 bệ “ZSU-57-2” và 266 bệ “ZSU-30-2” (không tính ra-đa). Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh xâm lược của NATO chống Liên bang Nam Tư Gửi bởi: duongthanhvan trong 24 Tháng Mười, 2011, 10:17:24 am 3. BỐ TRÍ VÀ BIÊN CHẾ LỰC LƯỢNG TKĐK CỦA MỸ
[/table] Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh xâm lược của NATO chống Liên bang Nam Tư Gửi bởi: bmtthaoanh trong 24 Tháng Mười, 2011, 10:52:08 am Coi chừng lặp lại: http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,6745.0.html
Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh xâm lược của NATO chống Liên bang Nam Tư Gửi bởi: halosun trong 24 Tháng Mười, 2011, 01:44:43 pm Em thấy khác nhau mà bác, xin mời bác duongthanhvan post bài nhanh nhanh tay 1 chút. Nếu được xin bác nói kỹ về các hoạt động của tàu ngầm Nam Tư trong thời gian này! ;D. Trong tương lai nếu ta phải đương đầu với cường quốc thì các đòn đánh của tàu ngầm sẽ được mong chờ rất nhiều!
Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh xâm lược của NATO chống Liên bang Nam Tư Gửi bởi: daibangden trong 24 Tháng Mười, 2011, 02:45:58 pm Hai chủ đề khác nhau, không trùng lặp ;).
Bạn duongthanhvan cứ tiếp tục đi ;) Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh xâm lược của NATO chống Liên bang Nam Tư Gửi bởi: duongthanhvan trong 24 Tháng Mười, 2011, 04:11:42 pm 4. LỰC LƯỢNG KQ CỦA CÁC NƯỚC THÀNH VIÊN NATO THAM GIA VÀO CHIẾN DỊCH CHỐNG NAM TƯ
Chi tiết các bác tham khảo tại topic "Kosovo-10 năm nhìn lại" của thủ trưởng dongadoan. http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,6745.0.html (http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,6745.0.html) Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh xâm lược của NATO chống Liên bang Nam Tư Gửi bởi: truongsa_vn trong 24 Tháng Mười, 2011, 04:38:15 pm Bác có tài liệu thì nói thêm về mực độ thiệt hại của đôi bên và đánh giá sức kháng cự của LB Nam Tư luôn đi. Mà cho em hỏi tý luôn nhé (tại chiến sự này lâu quá nên không rõ mấy) lý do tại sao LB Nam Tư bị Nato đánh vậy?
Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh xâm lược của NATO chống Liên bang Nam Tư Gửi bởi: su22 m4 trong 24 Tháng Mười, 2011, 05:34:23 pm Bác có tài liệu thì nói thêm về mực độ thiệt hại của đôi bên và đánh giá sức kháng cự của LB Nam Tư luôn đi. Mà cho em hỏi tý luôn nhé (tại chiến sự này lâu quá nên không rõ mấy) lý do tại sao LB Nam Tư bị Nato đánh vậy? Nato tấn công Nam Tư dưới danh nghĩa bảo vệ người thiểu số Anbani tại Kotsovo khỏi sự đàn áp của người Secbi bạn ạ, hậu quả trực tiếp là Tổng thống Milosevic bị bắt giữ, các cơ sở hạ tầng quan trọng của Nam Tư bị tàn phá gần như hoàn toàn. Và nghiêm trọng hơn cả là một vùng đất li khai dưới sự "bảo kê" của một số các cường quốc đã tuyên bố độc lập và được công nhận, việc này mở ra tiền lệ xâu cho các vùng đất li khai khác trên thế giới noi gương và Nam Otisia mới đây là một ví dụ điển hình. PS: Bác duongthanhvan! Cố gắng hạn chế viết tắt trong bài viết đi ạ, với cả trong phần liệt kê khí tài tham chiến của Mỹ bác bỏ quên mất máy bay F - 14 đây gần như là cuộc chiến lớn cuối cùng của nó bác ạ. Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh xâm lược của NATO chống Liên bang Nam Tư Gửi bởi: duongthanhvan trong 24 Tháng Mười, 2011, 08:08:16 pm (tiếp)
5. CÁC MỤC TIÊU QUÂN SỰ CỦA CHIẾN DỊCH CHỐNG LIÊN BANG NAM TƯ CỦA NATO Chiến dịch TKĐK của NATO nhằm vào Nam Tư “Đòn quyết định” gồm các giai đoạn sau: - Giai đoạn 1: Tiêu diệt các mục tiêu quân sự ở Cô-Xô-Vô cũng như toàn bộ LLPK của LB Nam Tư. - Giai đoạn 2: tiêu diệt các mục tiêu quân sự chủ yếu phía Nam vĩ tuyến 44 - Giai đoạn 3: tiêu diệt các mục tiêu quan trọng trong phía Bắc vĩ tuyến 44 Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh xâm lược của NATO chống Liên bang Nam Tư Gửi bởi: duongthanhvan trong 24 Tháng Mười, 2011, 08:58:03 pm 6. TÁC CHIẾN CỦA CÁC BÊN TRONG ĐỢT TẤN CÔNG THỨ NHẤT Trong ngày đầu tiên của chiến dịch 24 tháng 3 năm 1999 lực lượng phòng không của Liên Bang Nam Tư đã bắn hạ được được một số tên lửa hành trình của Mỹ và 2 máy bay chiến đâu, ném bom của không quân NATO là “TORNADO” và “Luctraffe”. Các máy bay này bị bắn hạ trong khi tiến hành ném bom năm sân bay quân sự của Nam Tư. Phá huỷ các đường băng cất – hạ cánh của các sân bay Nam Tư là một trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu của không quân NATO nhằm mục tiêu loại trừ khả năng đánh trả của không quân Nam Tư. Để đạt được mục đích này các bom mẹ đặc biệt với các bom con là bom cháy. Trong đợt tấn công đầu tiên có hơn 20 mục tiêu của Nam Tư bị ném bom. Thủ đô Belograd không trực tiếp bị ném bom, nhưng tất cả các mục tiêu ở ngoại ô thành phố đều bị tấn công và kết quả là rất nhiều dân thường đã bị chết. Đợt tấn công này chủ yếu tập trung vào Chernogori, nơi có 1 trong 5 sân bay quân sự bị tấn công. Trong đợt tấn công đầu tiên NATO đã sử dụng không dưới 70 quả tên lửa hành trình . Sau đó vào đêm ngày 24, rạng sáng ngày 25 tháng 3 chỉ với tổ hợp tên lửa phòng không Pechora ( Mỹ và NATO định danh là SA-3) Nam Tư đã hạ được tiếp 3 tên lửa hành trình “TomaHawk” và tổ hợp Kvadrat (SA-6) đã hạ được máy bay “Tornado” cũng trong điều kiện ban đêm. Ngày hôm đó cũng nhờ tổ hợp này Nam Tư đã hạ được máy bay F-16 của không quân Mỹ. Các tổ hợp tên lửa Pechora và Kradrat được trang bị trong biên chế của lực lượng phòng không Nam Tư được sản xuất tại Nga vào những năm 60, nó thuộc lớp vũ khí trang bị thế hệ II. Các phương tiện và vũ khí tham chiến của Mỹ và NATO hầu hết đều được sản xuất sau những năm 80 và là vũ khí thuộc thế hệ thứ 4. Bất kể sự chênh lệch về kỹ thuật khí tài và điều kiện bị gây nhiều vô tuyến mạnh từ mọi hướng cũng như việc bi oanh tạc dữ dội của Không quân NATO, các tổ hợp tên lửa Pechora và Kvadrat đã bắn hạ được 2 máy bay và 3 tên lửa hành trình của Mỹ và NATO. Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh xâm lược của NATO chống Liên bang Nam Tư Gửi bởi: duongthanhvan trong 24 Tháng Mười, 2011, 09:13:34 pm 7. ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA GIAI ĐOẠN ĐẦU CHIẾN DỊCH KHÔNG KÍCH CỦA MỸ VÀ NATO Trong vòng 2 ngày tấn công Lực lượng không quân của Mỹ và NATO đã phá huỷ 45 công trình quân sự và công nghiệp, làm chết 120 người và làm bị thương 350 người chủ yếu là dân thường. Lực lượng lien quân đã phóng 216 quả tên lửa hành trình vào lãnh thổ của LB Nam Tư. Có hơn 300 máy bay đã tham gia đợt không kích này, tên lửa hành trình được phóng đi từ 10 tàu chiến và tàu ngầm của Liên quân. Song, Mỹ và NATO đã không thu được kết quả mong muốn. Trong 2 ngày họ dự tính tiêu diệt hoặc loại khỏi vòng chiến đấu hơn 100 mục tiêu là các công trình quân sự và công nghiệp. Nhưng chiến dịch đã không diễn ra theo kịch bản mà họ mong muốn. Theo lời của quan chức đại diện Lầu năm góc, ngày ném bom thứ hai dữ dội hơn với số lần tấn công nhiều hơn so với ngày đầu tiên. Với hơn 60 máy bay chiến đấu-ném bom, kể cả máy bay tang hình F-117 Night Hawk chủ yếu cất cánh từ căn cứ không quân ở Aviano của Italia đã tham gia chiến đấu. Và hơn 20 tên lửa hành trình “Tomahowk” đã được phóng đi từ các tàu chiến của Mỹ ở biển Ban tích. Theo hãng thông tấn TANHIUG của Nam Tư thì trong lần tấn công thứ hai họ đã hạ được 2 máy bay của NATO ở phía Bắc của Belograd, nhưng không nêu chính xác loại máy bay nào bị bắn rơi và của nước thành viên nào. Ngoài ra còn có một máy bay và 15 tên lửa hành trình bị bắn hạ trên bầu trời Cô-xô-vô bởi Lực lượng phòng không Nam Tư. Đánh giá về hiệu quả của các đợt không kích, tham mưu trưởng quân đội Hoàng gia Anh Charles Gatery đã tuyên bố rằng, các máy bay chiến đấu “Harrier” của Anh trong quá trình tham gia chiến dịch ngày 25 tháng 3 đã không thể tiêu diệt được mục tiêu nào trong những mục tiêu trong kế hoạch ở vùng ngoại ô của Pri-stina. Theo lời ông ta thì khói bom của hai ngày tấn công trước đó đã gây nhiều khó khăn cho việc xác định các mục tiêu của các quả bom 400 kg dẫn bằng Laze. Máy bay “Harrier” thứ nhất đã không bổ nhào xuống đúng mục tiêu cũng do khói bao tròm, năm chiếc “Harrier” còn lại đã trở về căn cứ với cơ số bom và vũ khí còn nguyên vẹn. Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh xâm lược của NATO chống Liên bang Nam Tư Gửi bởi: duongthanhvan trong 24 Tháng Mười, 2011, 11:55:40 pm 8. PHÂN TÍCH MỞ RỘNG VỀ GIAI ĐOẠN ĐẦU CDKK CỦA NATO Trong đêm 24 tháng 3 lực lượng Liên quân đã tiến hành tấn công hơn 40 mục tiêu là các công trình quân sự và công nghiệp trên toàn lãnh thổ của Liên Nam Tư. Trong ngày đầu tiên tham gia chiến dịch, 2 máy bay ném bom B-2 của không quân Mỹ đã hoàn thành những chuyến bay đầu tiên của mình và đã tiến hành ném bom vào các mục tiêu cố định trên lãnh thổ Nam Tư từ độ cao lớn nhờ sử dụng dữ liệu của hệ dẫn đường vệ tinh toàn cầu GPS. Hai máy bay này đã cất cánh từ CCKQ Mỹ Whiteman ở Missury và tiến hành chuyến bay kéo dài nhờ hệ thống tiếp dầu trên không đã và quay trở lại căn cứ sau 30 giờ bay liên tục. Trong đợt không kích đầu tiên cũng đã có sự tham gia của các tên lửa hành trình “Tomahowk”. Chúng được phóng từ các tàu ngầm Splended tại căn cứ Hải quân Anh. Cách đó không lâu Quân đội Anh đã tiết lộ rằng, họ đã trang bị tên lửa hành trình với khối lượng phần chiến đấu là 450 kg. Trong ngày đầu tiên của chiến dịch thì mục tiêu chính của các tên lửa hành trình được phóng từ các tàu ngầm này là các hệ thống phòng không của Nam tư ở Pristina, phía Nam Cô-xô-vô. Trong chiến dịch tấn công Nam Tư, tàu ngầm “Splended” của Anh cùng với các tàu chiến và tàu ngầm của hải quân Mỹ có mặt ở biển Ban tích chủ yếu sử dụng tên lửa hành trình vào việc tiêu diệt và phá huỷ các hệ thống phòng không của LB Nam Tư, nhằm tạo ra một hành lang an toàn cho máy bay chiến đấu các loại bay vào Nam Tư, trong đó có cả B-2. Riêng tàu ngầm “Splended” đã phóng đi tổng cộng 20 tên lửa “Tomahowk”. Trong đợt không kích đầu tiên nhằm vào 35 mục tiêu trên lãnh thổ LB Nam Tư đã có sự tham gia của các máy bay ném bom B-52 của không quân Mỹ (bố trí tại căn cứ Firefort của Anh) và chúng đã thực hiện phóng các tên lửa hành trình với đầu đạn thông thường CALM (Conventional Air Launched Cruise Missile) có trọng lượng trên 1360 kg vào lãnh thổ Nam Tư. Trong ngày đầu tiêu với hơn 150 lần cất cánh máy bay B-52 đã phóng hơn 60 tên lửa hành trình vào các mục tiêu đã định. Các máy bay của không quân Mỹ F117, F-15E, F-16 và A-10 đóng tại căn cứ không quân Aviano của Italia đã thực hiện nhiều đợt tấn công theo các mục têu khác nhau; trong các đợt ném bom đó cũng đã có sự tham gia của các máy bay từ Canađa, Pháp, Italia và Anh. Trong những đợt tấn công đầu tiêu cũng đã có sự tham gia của 4 máy bay , “Tornado” của không quân Đức đóng tại căn cứ không quân Piachenxa của Italia. Kể cả việc trực tiếp tham chiến cũng như việc thực hiện các nhiệm vụ bảo đảm khác thì trong đợt tấn công đầu tiên này có sự tham gia của không quan 8 nước NATO. Sáu trong số tám máy bay tấn công “Harrier” GR7 cất cánh từ một căn cứ tại miền Nam Italia đã tiến hành tấn công vào các kho vũ khí ở vùng ngoại ô Pristina. Hai máy bay được trang bị thiết bị chỉ thị mục tiêu laze tạo ảnh hồng ngoại (Thermal Imaging Airborne Laser Designator) để chỉ thị mục tiêu cho 4 máy bay “Harrier” khác với mỗi chiếc mang 02 quả bom có điều khiển dẫn đường laze “Pavey-2” trọng lượng mỗi quả 450kg. Tuy nhiên chiêc “Harrier” đầu tiên đã không thể ngắm được mục tiêu và đã cắt bom không ngắm. Những chiếc “Hurrier” còn lại thì đã huỷ bỏ đợt không kích và quay trở về căn cứ với nguyên vẹn cơ số bom đạn . Các đợt tấn công bằng bom và tên lửa của lien quân Mỹ và NATO đều nhắm vào các mục tiêu quân sự trên lãnh thổ Nam Tư, đó là các phương tiện trang bị của hệ thống phòng không, các trung tâm điều hành tác chiến, các công trình kiên cố và các cơ sở hạ tầng khác. Trong thời gian của đợt không kích thứ nhất lực lượng liên quân đã bắn hạ được 3 máy bay Mig-29, trong đó 2 chiếc do máy bay F-15 không quân Mỹ bắn hạ và một do F-16 của không quân Đan Mạch. Ngoài ra, Nam Tư còn bị tổn thất 1 máy bay Mig-21, như tin đã đưa, là do bị trục trặc kỹ thuật khi hạ cánh. Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh xâm lược của NATO chống Liên bang Nam Tư Gửi bởi: duongthanhvan trong 24 Tháng Mười, 2011, 11:58:17 pm Trong đợt không kích thứ hai tên lửa phòng không của Nam Tư không tham chiến, chính điều này đã đặt ra một câu hỏi đối với các quan chức đại diện của Lầu Năm góc rằng biết liệu đó có phải là một chiến thuật đặc biệt của LLPK Nam tư hay là sau các đợt không kích của NATO mà LLPK cùng như các hệ thống chỉ huy - điều hành và thông tin liên lạc của Nam tư đã bị hư hỏng nặng.
Trước chiến dịch không kích NATO đã bố trí hơn 400 máy bay thuộc 13 nước thành viên chủ yếu tại các căn cứ không quân tại Italia. Không quân Mỹ tham chiến gồm các máy bay chiến đấu: A-10, F-15, F-16, F-14, F-117… và các máy bay đảm bảo kỹ thuật các loại. Các nước thành viên của NATO cũng huy động số lượng máy bay tương tự như vậy, trong đó gồm F-16 từ Bỉ, Đức, Hà Lan, NaUy, Bồ Đào Nha và Thổ Nhĩ Kỳ. Pháp tham chiến bằng máy bay “Mirage 2000” và máy bay “Super Thunder” được bố trí trên tàu sân bay ở biển Baltic.Hungary là nước thành viên mới của NATO, tuy không trực tiếp tham chiến nhưng cũng đóng góp vào chiếm dịch bằng các sân bay của mình. Cũng như Hungary, Cộng hoà Séc và Ba Lan đều không tham gia các hoạt động quân sự trong chiến dịch không kích Nam Tư. Trong đợt tập kích thứ nhất, các máy bay B-2 đã cắt bom từ độ cao hơn 12 km, loai bom được sử dụng là bom có điều khiển JDAM (Joint Direct attack Munition) trọng lượng 907 kg dẫn bằng vệ tinh đến mục tiêu qua hệ GPS. Mỗi chiếc B-2 mang được 16 quả bom loại này. Độ chính xác: Bom được dẫn đến mục tiêu bằng hệ thống định vị toàn cầu GPS có độ chính xác tiêu diệt mục tiêu là 13m. Tuy nhiên, do sử dụng hệ thống chỉ thị mục tiêu bổ trợ GPS- ATS (Aided Targeting System) đặt ngay trên khoang của máy bay B-2, nên độ lệch mục tiêu được giảm xuống đáng kể, vì nó giảm sai số khi xác định vị trí mục tiêu và nó bảo đảm cho việc cắt bom chính xác hơn vào mục tiêu. Chuyến bay của tám chiếc MBNB B-52 (trong đó có 2 chiếc dự phòng) tham gia vào các đợt oanh tạc cất cánh từ căn cứ Firefort có thời gian kéo dài 13 giờ. Mỗi chiếc B-52 mang theo 8 tên lửa hành trình CALM, nhưng mỗi chiếc mới chỉ phóng đi có 6 quả. Việc sử dụng các loại bom được dẫn bằng hệ thống GPS trong các đợt oanh kích là rất có ý nghĩa đối với lực lượng liên quân, bởi vì khói sương và mây mù cục bộ tại Nam Tư không cho phép sử dụng các loại bom được dẫn bằng la de có độ chính xác cao hơn. Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh xâm lược của NATO chống Liên bang Nam Tư Gửi bởi: duongthanhvan trong 25 Tháng Mười, 2011, 12:12:50 am 9. HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC MÁY BAY F-16AM Ở NAM TƯ Trong giai đoạn đầu của chiến dịch không kích lực lượng Liên quân NATO chống Nam Tư thì trọng trách chủ yếu thuộc về các máy bay chiến đấu F-16AM. Đây là loại máy bay được đánh giá là triển vọng nhất trong tất cả các phiên bản nâng cấp của máy bay F-16A/B. Bốn chiếc F-16AM của không quân Hà Lan nằm trong số những chiếc máy bay đầu tiên của NATO đột nhập vào bầu trời Nam Tư trong đêm 24 tháng 3 năm 1999. Như tin đã đưa trên tạp chí tuần quốc phòng phố Wall “Walls Defence Weekly” thì chỉ trong vòng vài phút giao chiến máy bay Hà Lan đã bắn hạ được một Mig-29 của Nam Tư. Việc tiến hành nâng cấp lên chuẩn F-16AM đã được áp dụng với hơn 360 chiếc F-16 nằm trong biên chế của không quân các nước Bỉ, Đức, Hà Lan và Na Uy. Mới đây, Bồ Đào Nha cũng đã xin đặt hàng để đặt nâng cấp cho 20 chiếc F-16 của mình. Khi hiện đại hoá, các máy bay này được lắp đặt ra-đa AN/APG-66 (v)2 của hãng “Northrop - Gruman” để đảm bảo tính toán thời gian thực theo cự ly và thời gian xử lý tin tức khi phát hiện khả năng phóng và theo chế độ “trên không- mặt đất” cũng như đảm bảo nhiệm vụ tác chiến điện tử. Đài ra-đa này bảo đảm cho máy bay cùng một lúc có thể phát hiện, bắt bám nhiều mục tiêu. Hệ thống nhận dạng AN/APX-113 (v) của hãng “Horision” cho phép các phi công F-16AM nhận dạng các máy bay ở cự ly hơn 100km. Đường truyền dữ liệu cho phép truyền phát thông tin cùng lúc đến 4 máy bay F-16AM hoặc F-16BM. Trong biên chế của Liên quân NATO có 10 chiếc F-16AM thuộc lực lượng tác chiến trên không DATF (Deployed Air Task Force) của Bỉ – Hà Lan đậu tại căn cứ Amendola của Italia và 16 chiếc F-16A chưa được hiện đại hoá. Khi thực hành nhiệm vụ chế áp lực lượng phòng không của Nam Tư thì mỗi chiếc F-16AM cất cánh từ sân bay ở Amendola mang 4 quả tên lửa có điều khiển AMRAM, 02 thùng nhiên liệu phụ và một thùng chứa thiết bị tác chiến điện tử ALQ–131 của hãng “Nothrop - Gruman”. Ngài ra, trên mỗi chiếc còn có lắp 02 quả tên lửa không đối đất kiểu AGM-65G “Maverick” của hãng “Ration”. Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh xâm lược của NATO chống Liên bang Nam Tư Gửi bởi: duongthanhvan trong 25 Tháng Mười, 2011, 09:40:06 am 10. NATO SỬ DỤNG BKĐK TRONG CHIẾN DỊCH KHÔNG KÍCH NAM TƯ. Bộ chỉ huy NATO đã tiến hành các thử nghiệm nhiều phương án sử dụng vũ khí và chiến thuật nhằm giúp cho không quân của Liên quân có thể thực hiện các đợt tấn công các lực lượng Séc-bi ở Cô-xô-vô trong các điều kiện thời tiết không thuận lợi. Điều đó đã đem lại một số kết quả nhất định. Ngày 11 tháng 4 năm 1999 các máy bay “Harrier” GR7 của không quân Hoàng gia Anh đã tìm ra cách thức tiến hành tác chiến trong điều kiện mây mù. Trong thời gian đầu của chiến dịch với những lý do chính trị và nhân đạo (trong việc tránh tổn thất ở trong khu dân cư) các máy bay của không quân Hoàng gia Anh chỉ có thể sử dụng các vũ khí chính xác cao và chủ yếu là các loại bom được dẫn bằng laze. Tuy nhiên, thời tiết mây mù dày đặc ở vùng Ban căng đã cản trở việc sử dụng các loại bom này. Theo lời của quan chức đứng đầu Liên quân NATO, tướng Wesli Clerk thì điều kiện thời tiết xấu đã cản trở công việc của các phi hành đoàn. Vì trong các điều kiện mây mù dày đặc và thấp thì các phi công không thể nhìn thấy mục tiêu. Trong 21 ngày của chiến dịch thì chỉ có 7 ngày là thời tiết thuận lợi. Và trong số 21 ngày thì có đến 10 ngày phải hủy bỏ một nửa số lần tấn công. Theo các nguồn tin từ bộ quốc phòng Anh thì không quân Hoàng Gia Anh đã nghiên cứu các khả năng chấp hành nhanh các mệnh lệnh của bộ chỉ huy trên không (Staft Target (Air) 1248) đưa vào sử dụng các loại bom với đầu dẫn laze có khả năng dẫn đến mục tiêu theo tín hiệu của hệ thống dẫn đường “NAVSTAR” kể cả trong điều kiện mất tín hiệu chỉ thị mục tiêu bằng la de do điều kiện thời tiết mây mù hoặc có khói ở khu vực mục tiêu. Các loại vũ khí như vậy chưa thể đưa vào được các đơn vị tiền tiêu sớm hơn 18 tháng trước đó khi Mỹ thông báo về việc tăng cường vũ khí cho các máy bay dẫn đường của không Mỹ từ căn cứ không quân Hill ở tiểu bang Youth. Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh xâm lược của NATO chống Liên bang Nam Tư Gửi bởi: duongthanhvan trong 25 Tháng Mười, 2011, 09:40:44 am Các loại bom GBU–29/30 với hệ thống dẫn đường quán tính–vệ tinh không có đủ số lượng để lắp cho các máy bay tham gia khi thay đổi kế hoạch tấn công Cô-xô-vô, vì nhiệm vụ lúc này của không quân NATO là tìm và tiêu diệt các đội hình cơ động của quân đội Nam Tư. Vì lí do đó, không quân Hoàng gia Anh đã đưa ra quyết định lựa chọn các loại bom chùm R, đặc biệt là loại R-BL 755 do hãng “Hunting Engeneering” phát triển để tiêu diệt các mục tiêu.
Tin xác nhận: Trong các loại bom chùm R-BL755 có lắp các đầu nổ khác kiểu với các đầu nổ cơ bản (lắp cho các loại bom độ cao thấp) để cho phép cắt bom ở độ cao lớn hơn (trên 3300m), vì ở độ cao đó mối đe doạ từ phía các tổ hợp tên lửa vác vai với đầu dẫn hồng ngoại cũng như pháo phòng không mặt đất được giảm xuống đáng kể. Tuy nhiên, số lượng bom loại này cũng chỉ có hạn cỡ vài trăm quả. Việc cho phép các phi công của máy bay “Harrier” GR7 ném bom trong các điều kiện mây mù, lần đầu tiên đã mở ra khả năng sử dụng các loại bom không điều khiển trong chiến dịch này. Theo nguồn tin nhận được ngày 14 tháng 4, thì 12 máy bay chiến đấu CF-18 của Ca-na-đa cũng đã bắt đầu sử dụng bom không điều khiển MK-82 có trọng lượng 250 kg để phá huỷ các mục tiêu mặt đất ở Cô- xô vô. Số lượng các vũ khí không điều khiển được không quân NATO sử dụng trong chiến tranh Nam Tư ở quãng thời gian sau đó ngày càng gia tăng so với 3 tuần đầu tiên của chiến dịch quân sự. Khi đó vũ khí chính xác cao được sử dụng chủ yếu trên 90%. So với cuộc chiến vùng Vịnh Péc Xích thì chúng chỉ được sử dụng vẻn vẹn có 10%. Từ những tuyên bố của những người cầm đầu NATO có thể cho thấy rằng, khi tiến hành không kích vào Cô-xô-vô bằng BKĐK thì vai trò tiền tiêu phải do các đội trinh sát đặc nhiệm đảm nhận. Đội tiền tiêu đặc nhiệm của KQ Hoàng gia Anh được trang bị các bộ chỉ thị mục tiêu bằng la de có khả năng sử dụng các thiết bị quang của Mỹ để có thể truyền các thông tin toạ độ mục tiêu của Séc-bi nhờ hệ thống dẫn đường vệ tinh NAVSTAR trực tiếp vào thiết bị đặc biệt trên boong các máy bay chiến đấu F-16. Mặc dù hoạt động của các máy bay dẫn đường tiền tiêu đảm bảo nâng cao độ chính xác sử dụng các loại BKĐK, nhưng các chuyên gia lưu ý về xu hướng tăng sai số giữa các dữ liệu nhận được từ các máy bay do thám bám theo các mục tiêu cơ động ở Cô-xô-vô và các dữ liệu nhận được từ các máy bay tấn công thực hiện các nhiệm vụ tác chiến trên không. Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh xâm lược của NATO chống Liên bang Nam Tư Gửi bởi: duongthanhvan trong 25 Tháng Mười, 2011, 09:57:13 am 11. HIỆU QUẢ CHIẾN ĐẤU CỦA HTPK VÀ KQ NAM TƯ TRONG CUỘC CHIẾN ĐẤU CHỐNG LẠI KQ CỦA NATO. Theo các số liệu của chỉ huy Lực lượng phòng không-không quân Nam Tư, Đại tướng Spasôi Smilanich đăng trên báo quân đội “ARMIA” theo tình hình ngày 25 tháng 4 năm 1999 thì Lực lượng không quân NATO đã tiến hành 6000 chuyến bay tấn công Nam Tư, phóng hơn 600 quả tên lửa hành trình vào lãnh thổ Nam Tư. Lượng thuốc nổ tổng cộng của các loại vũ khí ném xuống lãnh thổ LB Nam Tư là hơn 11 nghìn tấn, nghĩa là hơn 1 kg trên mỗi người dân trong đó kể cả những đứa trẻ sơ sinh. Tại 100 mục tiêu của Lực lượng phòng không và không quân Nam Tư thì NATO đã thực thiện tổng cộng hơn 220 đợt không kích và đã ném xuống hơn 5 nghìn tấn bom đạn. Mặc dù đã sử dụng lượng vũ khí khổng lồ như vậy nhưng Liên quân đã không đạt được kết quả như mong muốn. Các khí tài của các đơn vị phòng không và các đơn vị không quân của quân đội Nam Tư đã chứng minh hiệu quả chiến đấu cao trong việc chống trả các đợt không kích của NATO và dưới sự chỉ huy của tướng Smilanich thì quân đội Nam Tư vẫn là một trong các mục tiêu chính của NATO. Đánh giá kết quả của cuộc chiến, tổng tham mưu trưởng lực lượng vũ trang Nam Tư xác nhận rằng, trong thời gian không kích của quân đồng minh khối Bắc đại Tây Dương NATO, Nam Tư bị thiệt hại 46 máy bay chiến đấu và 6 trực thăng. Lực lượng phòng không Nam Tư cũng đã hạ được 8 máy bay và 182 tên lửa hành trình của đối phương. Trong kỳ họp trước đó của Nghị viện đồng minh Châu Âu tại Strattburg chủ tịch Uỷ ban đối ngoại Vêchia Seupsin cũng đã tuyên bố rằng tổn thất của không quân NATO lớn hơn những gì mà Liên quân đã thừa nhận. Thực tế là có nhiều phi công, sỹ quan và binh sỹ của NATO bị bắt làm tù binh, bị thương và bị chết, nhưng NATO đã không yêu cầu trao đổi những tù binh này. Theo ý kiến của những chuyên gia độc lập của Mỹ thì LB Nam Tư còn khả năng phòng thủ của lâu dài và do vậy kết quả các đợt không kích của NATO được cho là rất hạn chế. Tổng hợp tất cả những tin tức thu được về quá trình cuộc chiến quanh Cô-xô-vô, theo các quan chức quốc phòng Mỹ và các nước phương Tây thì sau 5 tuần không kích của Mỹ vào ngoại ô Belograd, Nam Tư vẫn bảo tồn được 80-90% số xe tăng; 75% số tên lửa phong không hiện đại nhất và 60% số máy bay chiến đấu Mig của mình. Còn số lượng bộ binh tập trung bảo vệ Cô-xô-vô đầu chiến dịch là 40 nghìn quân sau cuộc chiến không bị giảm đi mà còn có thể đã tăng lên. Theo số liệu của thời báo Los-Angles, thì các máy bay của NATO được trang bị các vũ khí chính xác cao trong thời gian diễn ra cuộc chiến đã không thể tiêu diệt 80% các kho vũ khí đạn dược và các công trình quân sự của Nam Tư. Chính chỉ huy tối cao lực lượng Liên quân NATO ở Châu Âu tướng Wesli Clerk thừa nhận rằng số lượng trang thiết bị, nhiên liệu còn lại sau cuộc chiến của Nam Tư vẫn còn khoảng 2/3.Mặc dù tướng Clerk gọi hệ thống phòng không tích hợp của LB Nam Tư là “không hiệu quả” nhưng theo tờ báo này nhấn mạnh thì đây là “hệ thống phòng không đặc biệt nguy hiểm”. Đặc biệt vì nó mà các máy bay của NATO chỉ có thể ném bom từ độ cao không dưới 4,5 km, và từ độ cao này thì hiếm có máy bay nào có thể ném bom trúng đích. “Theo các báo cáo của quân đội Mỹ- được chỉ ra trong tài liệu phân tích, thì lực lượng phòng không Nam Tư hoàn toàn không bỏ chạy như tuyên bố của người Mỹ, mà họ đã đưa các phi công của NATO vào các bẫy chiến thuật của tên lửa phòng không và pháo cao xạ”. Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh xâm lược của NATO chống Liên bang Nam Tư Gửi bởi: maxttien trong 25 Tháng Mười, 2011, 10:52:30 am Cảm ơn bác đã góp cho mọi người một bài viết hay, nhưng em cũng xin góp ý thế này, theo như em biết thì pk-kq Nam tu chỉ có khoảng 60 bệ phóng SA-3 và một số ít SA-6 khó có thể có đến 1000 bệ phóng như đầu bài viết đưa được, theo em nghĩ con số 1000 là số đạn tên lửa thì hợp lí hơn.
Bác cũng có thể cho mọi người xem link gốc được không. Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh xâm lược của NATO chống Liên bang Nam Tư Gửi bởi: duongthanhvan trong 25 Tháng Mười, 2011, 05:28:45 pm Cảm ơn bác đã góp cho mọi người một bài viết hay, nhưng em cũng xin góp ý thế này, theo như em biết thì pk-kq Nam tu chỉ có khoảng 60 bệ phóng SA-3 và một số ít SA-6 khó có thể có đến 1000 bệ phóng như đầu bài viết đưa được, theo em nghĩ con số 1000 là số đạn tên lửa thì hợp lí hơn. Rất xin lỗi bác, đây là một bài phân tích tổng hợp từ nhiều thông tin từ các trang web của tác giả. Và bây giờ việc kiểm định các thông tin này cũng khá khó khăn vì tác giả không dẫn đường link tham khảo thông tin trực tiếp mà chỉ nhớ tên các tạp chí chứa các thông tin đó. Các bác thông cảm, và khi em kết thúc loạt bài này rất mong các bác đóng góp ý kiến về các những vấn đề còn gây nhiều thắc mắc. Cảm ơn các bác.! Bác cũng có thể cho mọi người xem link gốc được không. Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh xâm lược của NATO chống Liên bang Nam Tư Gửi bởi: duongthanhvan trong 26 Tháng Mười, 2011, 10:52:03 pm 12. HẬU QUẢ CỦA SÁU TUẦN NÉM BOM NAM TƯ Bộ chỉ huy quân đội NATO đã tuyên bố rằng, trong sáu tuần ném bom Nam Tư, không quân đồng minh đã thực hiện tổng cộng 17 nghìn lượt cất cánh và đã vô hiệu hoá 20 % vũ khí hiện đại hạng nặng của quân đội Nam Tư. Theo lời giải thích thiếu tướng Tư lệnh Liên quân Walter Arce thì chiến lược của NATO là “khống chế, cô lập và tiêu diệt” lực lượng quân đội của Nam Tư và đã kết luận rằng “chúng ta mới chỉ hoàn toàn khống chế và cô lập được quân đội Nam Tư ”. Theo số liệu công bố vào ngày 6 tháng 5 tại cuộc họp báo của bộ chỉ huy NATO thì trong quá trình của cả chiến dịch không kích của Liên quân khối Bắc Đại Tây Dương mới chỉ phá hủy được hơn nửa số vũ khí phương tiện kỹ thuật của quân đội và cảnh sát đặc nhiệm Nam Tư. Theo lời của tướng Arce thì các trận bom của NATO càng làm tăng thêm tinh thần chiến đấu của quân đội Nam Tư. Theo các đánh giá của NATO thì tại Cô-xô-vô và vùng lân cận đã có khoảng 40 nghìn quân và hơn 300 xe tăng. Tướng Arce xác nhận rằng, trong 2-3 tuần cuối cùng của chiến dịch không kích, NATO đã phá huỷ được gần 300 xe quân sự của Nam Tư, trong đó có các xe tăng, súng pháo, xe bọc thép và các xe vận tải, 8 trung tâm điều hành. Và gần như toàn bộ số cầu bắc qua sông Đa-nuýp (chỉ còn lại 2 trong tổng số 29 cầu bắc Đa-nuýp). Phá huỷ hai đường sắt quan trọng và hai xa lộ chạy từ Séc-bi tới Cô-xô-vô, thiêu cháy gần 70% lượng nhiên liệu dự trữ của Nam Tư. NATO có ý định tiếp tục duy trì các đợt không kích để buộc Belograd chấp nhận yêu cầu hoà bình mà trong đó các điều khoản có lợi cho Phương Tây. Cũng trong thời gian đó Nhà trắng đã soạn thảo một “Hiệp định khung” về kiểm soát hoà bình ở Cô-xô-vô để tranh thủ thời gian nghỉ giữa các đợt ném bom và đồng thời để đưa vào Cô-xô-vô hơn 60 nghìn quân của lực lượng giữ gìn hoà bình. Cùng lúc đó thì những người đứng đầu của Mỹ đã đưa ra viễn cảnh về việc thiết lập hoà bình ở Cô-xô-vô “sau một vài tuần”. Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh xâm lược của NATO chống Liên bang Nam Tư Gửi bởi: duongthanhvan trong 26 Tháng Mười, 2011, 11:07:46 pm 13. HẬU QUẢ SAU 55 NGÀY NÉM BOM NAM TƯ Người đứng đầu Bộ chỉ huy quân đội đồng minh, thiếu tướng Walter Arce xác nhận rằng, trong vòng 55 ngày chiến dịch KQ của Liên quân đã loại khỏi vòng chiến đấu 1/3 số xe tăng của Nam tư ở gần Cô-xô-vô, các trọng pháo hạng nặng và nhiều máy bay. Và từ đó đưa ra kết luận rằng: chiến dịch đã diễn ra rất hiệu quả và các kết quả đó đã dẫn đến một sự thay đổi về chất. Theo tính toán của NATO ở Cô-xô-vô có 556 đơn vị quân đội và cảnh sát đặc nhiệm với trang bị vũ khí được coi là “trọng yếu” và NATO đã loại khỏi vòng chiến đấu được 312 đơn vị. Theo phân loại của NATO thì vũ khí “trọng yếu” ở đây gồm xe tăng, pháo hạng nặng và xe bọc thép. NATO đã xác nhận rằng, không quân của họ đã tiêu diệt được 69% số máy bay hiện đại Mig-29 có trong trang bị của Nam Tư và 24% số máy bay Mig-21, 33% số máy bay “Super Haleb” do Nam tư sản xuất và 46% số máy bay “Haleb”. Theo số liệu mà Tướng Arce đã đưa ra thì khoảng 75% số bệ phóng TLPK cố định và 12% số bệ phóng tên lửa cơ động của lực lượng phòng không Nam Tư đã bị tiêu diệt. NATO đã tính toán rằng, có 11 trung tâm chỉ huy của quân đội Nam Tư ở Cô-xô-vô bị loại khỏi vòng chiến đấu và không thể hoạt động được. Họ cũng công bố rằng, phần lớn thông tin liên lạc dọc đường quốc lộ chủ yếu của Cô-xô-vô và tất cả các cầu chính bắc qua sông Đa-nuýp đều bị phá huỷ. Theo các đánh giá của Viện nghiên cứu chiến lược quốc tế ở Luân Đôn, thì trước cuộc chiến Nam Tư có 79 máy bay chiến đấu Mig gồm: 47 Mig–21F, 17 Mig–21U và 15 Mig–29 và 8 đại đội TLPK bố trí ở 8 khu vực và trong kho vũ khí dự trữ có tối thiểu hàng trăm tên lửa SA-6, SA-3 và SA-2 có tầm bắn đến 16 km. Trong biên chế pháo phòng không có khoảng 2000 khẩu. Theo như tuyên bố của Viện dầu lửa Mỹ thì trong thời gian diễn ra chiến dịch không kích chống Nam Tư, không quân NATO đã tiêu tốn số nhiên liệu hàng không tương đương với 5% mức tiêu thụ dạng nhiên liệu này của thế giới . Theo các đánh giá của các chuyên gia của tổ chức nghiên cứu này trong những đợt ném bom các mục tiêu và công trình quân sự của Nam Tư, các máy bay NATO mỗi ngày tiêu tốn khoảng 24 nghìn thùng nhiên liệu (gồm xăng hàng không và các loại nhiên liệu khác) gấp 3 lần nhu cầu nhiên liệu của cả LB Nam Tư trước thời điểm xảy ra cuộc chiến. Ngay sau khi bắt đầu cuộc không kích vào Nam Tư thì giá xăng hàng không đã tăng thêm 30% so với trước đó. Cũng trong thời gian đó thì Bộ quốc phòng Mỹ đã tăng lượng xăng hàng không mua vào để cấp cho lực lượng không quân bố trí ở Châu Âu. Họ đã dự tính rằng nhu cầu về xăng hàng không từ phía NATO sẽ còn tăng. Bằng chứng về điều đó là Bộ Trưởng quốc phòng Mỹ William Cowell đã tuyên bố rằng NATO đang có ý đồ tăng cường các đợt không kích. Ngoài ra, ngày 18 tháng 5 năm 1999, các đại diện của NATO đã tiết lộ rằng, Liên quân sẽ bổ xung 90 máy bay ở Thổ Nhĩ Kỳ và Italia để tham gia chiến dịch quân sự tấn công Nam Tư. Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh xâm lược của NATO chống Liên bang Nam Tư Gửi bởi: chấm hỏi trong 26 Tháng Mười, 2011, 11:15:52 pm Các bác, các bạn cho em hỏi: Tại sao trong cuộc chiến này, chỉ duy nhất đại sứ quán TQ bị trúng bom nhỉ? Hay nó ném bom bị...trượt tọa độ nhỉ?
Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh xâm lược của NATO chống Liên bang Nam Tư Gửi bởi: duongthanhvan trong 27 Tháng Mười, 2011, 12:16:49 am 14. NHỮNG THẤT BẠI CỦA KQ NATO TRONG Các chuyên gia trong tác chiến điện tử rất không hài lòng về tổn thất của hai máy bay tàng hình của Mỹ và sự hư hỏng nặng của chiếc tàng hình thứ ba vì chúng có những đặc điểm dễ bị tiêu diệtSỬ DỤNG CÁC PHƯƠNG TIỆN TÁC CHIẾN ĐIỆN TỬ. Máy bay tang hình F-117 đã bị bắn hạ bởi tổ hợp phòng không SA-3 vào đêm thứ tư của chiến dịch không kích của NATO vào LB Nam Tư. Bốn mươi ngày sau cũng chính tên lửa SA-3 cũng đã bắn hạ máy bay F-16CG và làm hư hỏng thêm một chiếc F-117 khác. Tất cả phi công của 3 máy bay trên đều may mắn sống sót. Các nhân viên kỹ thuật đã ghi nhận rằng, tổn thất các máy bay đó là nhỏ hơn rất nhiều so với dự kiến của họ. Trong quá trình không kích có khoảng 10 tham số không phản ánh đúng thực tế. Tuy nhiên, về cơ bản chủ yếu là sự chuẩn bị chưa đầy đủ trong tiến hành chiến dịch về mặt TCĐT. Vấn đề nghiệm trọng nhất là ở chỗ, để xác định vị trí các đài rađa điều khiển hoả lực của lực lượng phòng không Nam Tư và trong việc truyền thong tin đến các phi công trên các máy bay đang thực hiện nhiệm vụ ném bom “phải cần tới vài ngày”, nghĩa là cần nhiều thời gian hơn để xử lý tin so với những gì đã diễn ra trong cuộc chiến tranh vùng Vịnh. Điều mong muốn là sau khoảng 20 giây bắt được tín hiệu của đài ra-đa thì bom đã phải bay đến tổ hợp TLPK. Muốn vậy, cần phải kiểm tra một loạt các quy trình. Các câu hỏi được đặt ra là: Xử lý các dữ liệu trinh sat điện tử như thế nào? Nếu phát hiện nguồn chiếu xạ, thì ai sẽ chịu trách nhiệm thu các dữ liệu theo nguồn chiếu xạ đó? Và làm gì với những thông tin như vậy sau khi nhận được? Các chuyên gia khẳng định rằng, việc bỏ các bộ phận chuyên về TCĐT trong chiến dịch là do việc xây dựng kế hoạch tác chiến không đúng và việc loại các nhân viên chuyên về gây nhiễu và nghi binh ra khỏi biên chế của lực lượng không quân tham gia chiến dịch. Bình luận về tình hình phức tạp ở Nam Tư, một nhân vật cao cấp của KQ Mỹ, một cựu chiến binh ở chiến tranh vùng Vịnh đã nói rằng, vào năm 1990 thì vấn đề đó không xảy ra. Thông thường, trong bộ chỉ huy không quân có một bộ phận chuyên trách các vấn đề về TCĐT thế mà bộ phận này lại không được tổ chức trong chiến dịch tấn công Nam Tư. Trước đó các công tác tiến hành lập trình lại các thùng thiết bị TCĐT thường được tiến hành định kỳ theo quy định, còn bây giờ hầu hết công việc đó không được tiến hành. Một đại diện chính thức của không quân Mỹ cho biết rằng: “tháng 8 tháng 9 năm 1991, khi họ được mời tham dự chiến dịch “Lá chắn xa mạc” thì đã phát hiện sự cần thiết phải hiệu chỉnh hoặc phải tháo gỡ khoảng một nửa các phương tiện TCĐT vì chúng không hoạt động bình thường. Trong tháng 10 năm đó thì ngay trước khi bắt đầu chiến dịch không kích các hệ thống TCĐT vẫn trong tình trạng hỏng hóc”. Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh xâm lược của NATO chống Liên bang Nam Tư Gửi bởi: duongthanhvan trong 27 Tháng Mười, 2011, 12:18:12 am Theo một ý kiến khác của các quan chưc cao cấp trong không quân Mỹ thì các nguyên nhân dẫn đến việc máy bay F-117 bị bắn hạ bởi tên lửa phòng không của Nam Tư trong tuần đầu tiên của chiến dịch đó là:
- Không loại khỏi vòng chiến đấu được 3 đài Ra-đa tầm thấp của Nam Tư, mà đây có thể chính là những đài Ra-đa đã phát hiện ra các máy bay tàng hình. Giả thiết được đưa ra là các máy bay của lực lượng NATO đã không thực hiện tấn công đúng mục tiêu đã định là các tổ hợp đài Ra-đa. - Máy bay thực hiện nhiệm vụ TCĐT RC-135 “Revert Joint”, về khả năng có thể cảnh báo cho F-117 biết về các dàn tên lửa được nguỵ trang nhưng đã không thông báo kịp thời. Máy bay RC-135 thông thường có thể cung cấp những thông tin cần thiết. Nguyên nhân được đưa ra để lý giải cho sự “ không kịp thời” đó là” “Trong trường hợp nêu trên máy bay này đang tiếp dầu trên không và không ở trong vùng đã định” . - Các máy bay F-16CJ làm nhiệm vụ chế áp các đài Ra-đa về lý thuyết có thể gây nhiễu đối với các phân đội tên lửa SA-3 đang di chuyển theo đường rút của F-117. Nhưng những máy bay này (F-16CJ) lúc ấy cũng không ở trong vùng đã định: “các máy bay F-16CJ bị gọi về không rõ lý do”. Ngoài ra, theo tiết lộ của những nhân viên cao cấp của Lầu năm góc thì họ đã phát hiện sự tăng sai sót trong hướng dẫn tác chiến. - Khi ra khỏi vùng mục tiêu thì cách máy bay F-117 trong cả 4 đêm đều theo một quỹ đạo. Đại diện Uỷ ban liên hợp các chỉ huy, tướng Mỹ Hill Chalton tiết lộ tại cuộc họp báo rằng, máy bay F-117 không thoát ra theo cùng một quỹ mà có thể đã bay lệch ra khỏi quỹ đạo vài độ. - Các máy bay TCĐT EA-6B hoạt động quá xa các máy bay F-117, nên có thể đã không hướng vào các đài Ra-đa và không thể chế áp hoàn toàn được chúng. Theo quan điểm của 1 lãnh đạo cao cấp, người đã xây dựng kế hoạch chiến dịch “Bão táp xa mạc” thì “Người Séc-bi nắm chắc bài toán phòng không hơn Người I-rắc. Tuy nhiên, họ hoàn toàn vẫn chưa phải là những người đã biết đầy đủ về những điều kiện để bắn hạ F-117. Nếu như những yếu tố tồn tại trên đây được giải quyết thì có thể những máy bay tàng đã có thể không bị bắn hạ”. Những quan chức khác lại cho rằng, hoạt động quân sự đã diễn ra với nhịp độ chậm hơn so với chiến dịch “Bão táp xa mạc”. Cựu Tư lệnh KQ Mỹ tướng Meril Markpic nói rằng: “số lần cất cánh mỗi ngày quá ít không đủ để đánh lạc hướng Người Séc-bi theo nhịp độ tác chiến của Liên quân”. Cựu Tham mưu trưởng KQ Mỹ tướng Mike Law giả thiết rằng, đã không triệt để rút bài học kinh nghiệm từ chiến dịch “Bão táp xa mạc”. Theo quan điểm của tướng Law “không biết liệu đó có phải là do tính toán của NATO hay không, nhưng trong mọi trường hợp muốn nhanh chóng đạt được kết quả mong muốn thì cần phải tạp trung sức mạnh trên không vào hai trung tâm tác chiến : trung tâm tác chiến chiến lược ở Séc-bi và trung tâm tác chiến chiến dịch ở Cô-xô-vô”. Tuy nhiên, lực lượng NATO không hiểu được điều này. Theo thừa nhận của tướng Law thì các phi công Mỹ ở Cô-xô-vô đã nhận được những nhiệm vụ mà họ chưa được chuẩn bị. Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh xâm lược của NATO chống Liên bang Nam Tư Gửi bởi: duongthanhvan trong 28 Tháng Mười, 2011, 01:05:32 am 15. CHIẾN THUẬT MỚI CỦA KQBB NATO Các đợt không kích vào Nam Tư được tiến hành từ tàu sân bay “Teodor Roosevell” với nhịp độ vừa phải nhưng đã không cho phép KQBB của Mỹ thực hiện một số phương pháp tác chiến mới, tạp chí “Tuần hàng không và công nghệ vũ trụ” (“Aviation Week and Space Technology”) đã đưa tin như vậy. Không quan tâm đến những tuyên bố của NATO về khả năng tăng cường lâu dài chiến dịch không kích với số lần cất cánh mỗi ngày hơn 600 lượt, nhiều phương tiện sát thương hàng không vẫn chưa sử dụng hết công suất tối đa của chúng. Ví dụ, những kế hoạch viên tác chiến trong trung tâm phối hợp không kích ở Viachenza (Italia) chỉ đặt ra cho tầu sân bay “Teodor Roosevelt” nhiệm vu chiến đấu thực hiện mỗi ngày khoảng 10-14 giờ tham gia không kích; Mỗi ngày như vậy chỉ thực hiện khoảng 70 lần cất cánh kể cả một số lần cất cánh huấn luyện để duy trì trình độ các tổ bay của các máy bay F-14 và F/A –18 để đáp ứng các yêu cầu tác chiến. Chỉ huy tàu sân bay, thuyền Trưởng David Brain nói về nhịp độ chiến đấu: “Đây không phải cuộc chạy đua tốc độ mà chỉ là cuộc đi bộ ma-ra-tông”. Để duy trì khả năng cất cánh chiến đấu liên tục không quân hải quân Mỹ đã quyết định bổ xung cho tàu sân bay ngoài 4 máy bay TCĐT EA-6B “Prayer” thêm 1 chiếc nữa để tăng tổng số máy bay trên tàu lên 72 chiếc. Theo những nhân viên vận hành trên EA-6B, máy bay “Prayer”cần phải đảm bảo ở tình trạng kỹ thuật sao cho tối thiểu có bốn chiếc cần phải ở trạng thái thường xuyên sẵn sàng chiến đấu để duy trì chiến dịch tấn công kể cả trong trường hợp có một chiếc trong số đó đi vào bảo dưỡng. Các máy bay EA-6B đậu trên tàu sân bay đã sử dụng chiến thuật tác chiến hơi khác so với chiến thuật mà chúng sử dụng khi đậu mặt đất ở căn cứ không quân Aviano của Italia. Các máy bay EA-6B tại các căn cứ mặt đất thường xuyên liên lạc trực tiếp với các nhóm máy bay cùng loại tham gia đợt không kích, trong khi đó thì các máy bay EA–6B đậu trên biển thì lại có nhiệm vụ chủ yếu gây nhiễu tại vùng có các loại máy bay tấn công khác nhau hoạt động. Các máy bay này phần lớn thực hiện những nhiệm vụ duy trì đường bay an toàn cho các máy bay chiến đấu F-14 và F/A-18. Một trong các phi công máy bay EA-6B đậu trên tàu sân bay tiết lộ rằng, phần lớn các tổ bay đều e ngại về hệ thống tên lửa SA-N-4 trên tàu của Nam tư hơn là đối với các hệ thống phòng không trên mặt đất. Tên lửa SA-N-4 có tầm bắn trên 16 cây số và tốc độ tương đương là 2.5 M. Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh xâm lược của NATO chống Liên bang Nam Tư Gửi bởi: duongthanhvan trong 28 Tháng Mười, 2011, 01:05:55 am Trong chiến dịch của Liên quân NATO thì mục tiêu chính đối với các máy bay “Prayer” là các tổ hợp phóng tên lửa SA-3 và SA-6. Trong phần lớn các trường hợp thì các máy bay “Prayer” cất cánh từ tàu sân bay thường mang 02 quả tên lửa diệt ra-đa HARM, còn các máy bay cất cánh từ căn cứ Aviano cần phải bay dến các mục tiêu với quãng đường dài hơn do tiết kiệm nhiên liệu nên chỉ mang được một quả HAMR.
Đối với tàu sân bay “Teodor Roosevell” thì chiến dịch chống Nam Tư là lần ứng dụng chiến đấu đầu tiên kể từ năm 1981. Không quân hải quân của Mỹ đã tháo vũ khí khỏi máy bay thu thập thông tin trinh sát ES-3 “Shadow”. Theo lời của những quan chức đại diện của không quân hải quân thì sự vắng mặt của loại máy bay này không gây ra vấn đề gì cả. Chuy tàu sân bay số 8 Thuyền trưởng Jean Line nói rằng: “Trên chiến trường bây giờ có nhiều phương tiện vũ khí cùng thực hiện một nhiệm vụ”. Trong số đó có các máy bay do thám RC–135 của không quân hải quân Mỹ. Tuy nhiên, Ông ta thừa nhận rằng: “Sự vắng mặt của ES-3 không nghi ngờ gì, sẽ dẫn đến sự thiếu hụt một số khả năng nhất định, có thể trở thành vấn đề nghiêm trọng trong các tình huống chiến đấu khác” . Một điểm bất bình thường trong chiến dịch không kích là việc sử dụng máy bay chiến đấu F-14 với vai trò tiền tiêu trên không để dẫn đường cho các máy bay khác. Máy bay hai người lái F-14 đảm nhiệm vai trò chủ yếu này để dẫn các máy bay F-14 khác và máy bay đa nhiệm một chỗ ngồi F/A-18. Tất cả các máy bay F-14 được trang bị các hệ thống ngắm–dẫn đường hồng ngoại trên khoang cho tác chiến ở độ cao thấp, bay đêm LANTIRN cho phép các máy bay này làm nhiệm vụ tiền tiêu dẫn đường. Một điểm nữa trong chiến dịch chống Nam Tư là việc sử dụng máy bay phát hiện rada từ xa E-2C trong vai trò hệ thống điều hành tác chiến trên không. Các máy bay F/A-18 mang thiết bị chỉ thị mục tiêu “Night Hook” với trọng lượng nhỏ hơn. Theo tiết lộ của một phi công máy báy F/A-18 thì lúc bắt đầu cuộc không kích, các nhóm máy bay tấn công của không quân hải quân Mỹ sẽ tiến hành nhiệm vụ chiến đấu về cơ bản không có sự hỗ trợ bên ngoài, nhưng sau đó một số trong những máy bay trên được hợp lại thành những nhóm lớn hơn. Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh xâm lược của NATO chống Liên bang Nam Tư Gửi bởi: duongthanhvan trong 28 Tháng Mười, 2011, 01:06:14 am Phần lớn các mục tiêu đã bị tấn công bởi các loại bom có điều khiển dẫn bằng laze. Tuy nhiên, theo lời của Tướng Briant thì “vẫn còn một số mục tiêu được đánh dấu để phá huỷ bằng các loại bom thông thường không có hệ dẫn đường chính xác”. không quân hải quân Mỹ cũng đã sử dụng các loại bom có điều khiên với bán kính sát thương lớn AGM–154JSOW. Các vũ khí này chỉ được đưa lên tàu sân bay “Teodor Roosevell” sau khi chúng có lệnh chuyển hướng về biển Ban tích. Các vũ khí này được lấy từ các kho vũ khí nằm ở Mỹ và trên tàu sân bay “Enterprize”. Trước khi triển khai những loại bom này, các phi công phải tham gia khoá huấn luyện về sử dụng chúng. Ngoài ra, các đợt không kích cũng đã sử dụng cả tên lửa chiến thuật điều khiển “Maverick” mà phần lớn đều có lắp đầu tự dẫn laze.
Các tên lửa chống ra-đa HARM được phóng đi từ khoang các máy bay với số lượng lớn vừa nhằm tiêu diệt các đài Ra-đa đang hoạt động vừa ngăn chặn hoạt động của các lực lượng phòng không Nam Tư thông qua việc buộc các đài Ra-đa phải ngưng phát sóng. Do vậy, tàu sân bay “Teodor Roosevell” cần phải nạp dự trữ một số loại vũ khí lớn trong đó kể cả tên lửa chống đài Ra-đa HARM. Một số vũ khí huấn luyện sử dụng trong quá trình huấn luyện phải chuyển xuống để có chỗ cho các loại vũ khí phục vụ chiến đấu. Có hai loại vũ khí không được đưa vào sử dụng trong chiến dịch chống Nam tư là tên lửa có điều khiển “không - đất” tầm xa SLAMER và mục tiêu giả chiến thuật trên không TALD (Tactical Air Launched Decoy). Theo lời của người đại diện không quân hải quân Mỹ thì đối với các máy bay Liên quân không cần sử dụng những vũ khí trên. Bởi vì, về thực tế bom có điều khiển với đầu dẫn laze hoặc các loại vũ khí khác có thể tiêu diệt các mục tiêu mặt đất, còn đối với mục tiêu giả TALD được sử dụng để đánh lừa lực lượng phòng không thì lại có hiệu quả sử dụng thấp. Vì theo thừa nhận của đại diện chính thức của không quân hải quân Mỹ thì các lực lượng phòng không Nam Tư đã có thể phát hiện ra được bia giả TALD. Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh xâm lược của NATO chống Liên bang Nam Tư Gửi bởi: duongthanhvan trong 28 Tháng Mười, 2011, 01:08:54 am 16. TỔNG HỢP TÌNH HÌNH SỬ DỤNG KQ NATO TRONG CHIẾN DỊCH CHỐNG NAM TƯ Ngày 31 tháng 5 bộ chỉ huy NATO công bố kết quả tổng hợp sử dụng KQ Liên quân trong chiến dịch chống Nam Tư từ ngày 24 tháng 3 đến 31 tháng 5 năm 1999. Số liệu được thống kê trong bảng sau : (http://i1211.photobucket.com/albums/cc431/ktkt2000/bang.jpg) Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh xâm lược của NATO chống Liên bang Nam Tư Gửi bởi: duongthanhvan trong 31 Tháng Mười, 2011, 08:59:12 am 17. KẾT QUẢ ỨNG DỤNG CHIẾN ĐẤU CỦA MÁY BAY TÀNG HÌNH B-2 Máy bay ném bom tàng hình B-2 được thiết kế có sử dụng công nghệ “STELS” đã chứng tỏ vị thế của mình trong thời gian NATO tiến hành chiến dịch chống Nam Tư. Ý kiến đó đã được quan chức cao cấp Lầu năm góc tang hình đưa ra trong cuộc điều trần tại Thượng viện Mỹ ngay sau khi các chuyên gia đã đưa ra những đánh gía chỉ trích về máy bay . “Máy bay B-2 đã đáp lại sự chờ đợi của chúng ta về độ bền, độ tin cậy và những tham số khác”, chỉ huy tàu sân bay số 509 của những chiếc máy bay này tại CCKQ Mỹ Whiteman ở tiểu bang Merryland, Thiếu tướng Leroy Bernage đã tiết lộ như vậy tại cuộc họp của Tiểu ban đảm bảo trang bị khi bàn về các vấn đề quân sư. Ông đã tuyên bố rằng trong chiến dịch tấn công Nam Tư mới chỉ có 6 trong số 20 máy bay B-2 của không quân Mỹ tham chiến. Trong quá trình tập kích chống Nam Tư, máy bay B-2 đã thực hiện 30 giờ bay liên tục từ căn cứ không quân Whiteman đến lãnh thổ Nam Tư và trở về. Tướng Bernage nhấn mạnh, mặc dù những chiếc máy bay này chỉ thực hiện 50 chuyến bay chiếm 1% trong tổng số 34 nghìn chuyến bay của cả chiến dịch NATO, nhưng chúng đã ném xuống Nam Tư 11% tổng số lượng bom đã sử dụng trong chiến dịch không kích. Ông ta nói rằng có một số máy bay B-2 saukhi cắt bom trở về đã không cần phải thực hiện bất kỳ một nội dụng bảo dưỡng kỹ thuật nào mà chỉ cần nạp dầu và lắp vũ khí rồi bay tiếp. Mười ngày trước khi các chuyên gia của Thượng viện cho xuất bản tài liệu trong đó khẳng định rằng, máy bay B-2 có những khiếm khuyết kỹ thuật và “đỏng đảnh” trong bảo dưỡng kỹ thuật. Chúng thường đối mặt với những nghi ngờ về vấn đề ăn mòn các vật liệu đặc biệt được dùng để làm cho thiết bị bay, để đảm bảo khả năng tàng hình đối với Ra-đa của đối phương. Hệ thống xây dựng kế hoạch tác chiến sử dụng B-2 cũng tỏ ra không đủ hiệu quả vì những máy bay này chỉ được bố trí cố định tại căn cứ không quân Whiteman. Chính phủ Bill Clinton đã phản đối kế hoạch tiếp tục cung cấp tài chính của chương trình để tăng số máy bay này lên 21 chiếc với giá mỗi chiếc là 2 tỷ đô la Mỹ. Cùng với chính sách này của Nhà trắng họ ưu tiên tận dụng tối đa số máy bay ném bom chiến lược B-52 cho đến khi thời gian hoạt động của chúng đạt được thời gian 80 năm và sau đó sẽ thay thế bằng những máy bay thế hệ mới. Chiếc máy bay B-52 cuối cùng đã được sản xuất tại Mỹ trong những năm 1960. Các máy bay B-52 đã được sử dụng phổ biến ở chiến tranh Nam Tư, sau khi liên quân đã làm suy yếu được hệ thống phòng không của người Séc Bi. Máy bay B-2 đã tham gia chiến dịch không kích cùng sự hỗ trợ của một số máy bay bổ trợ khác và cũng chỉ tham gia khi hệ thống phòng không Nam Tư đã bị chế áp điện tử. Tư lệnh KQ Mỹ tướng Marvin Esmont lý giải rằng rằng, quyết định như vậy là do muốn dảm bảo an toàn tối đa cho các máy bay này, mặc dù trong những hoàn cảnh nhất định thì những máy bay B-2 vẫn có thể “tác chiến độc lập” được. Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh xâm lược của NATO chống Liên bang Nam Tư Gửi bởi: duongthanhvan trong 31 Tháng Mười, 2011, 10:06:34 am 18. VAI TRÒ CỦA KQ TRONG CHIẾN DỊCH NATO CHỐNG NAM TƯ (THEO ĐÁNH GIÁ CỦA NATO) Cuộc xung đột ở Kosovo là đầu tiên trong lịch sử chiến tranh khi chiến thắng đạt được hoàn toàn là nhờ KQ và cũng là lần đầu tiên khi Liên quân, mặc dù vượt trội về sức mạnh kỹ thuật và quân sự nhưng trong một số trường hợp đã không thể tiến hành ném bom trong điều kiện mây mù vì không bắt được mục tiêu và vì không thể nào phát hiện được đối phương trong trận địa ngụy trang. Một trong những kết quả quan trọng nhất của cuộc chiến là NATO đã chiến thắng mà không bị mất một người lính nào. Với Mỹ thì điều đó tạo ra sự khích lệ cũng như mối lo ngại. Vì hiện nay khả năng chiến thắng một cuộc chiến mà không bị tổn hao về con người sẽ được tính đến trong các cuộc xung đột quân sự trong tương lai. Xong giới quân sự Mỹ cũng đã không ài lòng trước một thực tế là NATO đã chỉ có thể chiến thắng ngay chính tại Trung tâm Châu Âu khi nhờ vào kỹ thuật công nghệ và sức mạnh của không quân Mỹ. Theo ý kiến của một nhân vật cao cấp Mỹ, chiến thắng ở Kosovo có được chỉ là sự kết hợp ngẫu nhiên của hoàn cảnh “Không quân của Liên quân đã thành công trong việc buộc người Séc-bi quay trở về đất của họ mà chỉ mất có hai máy bay (2 phi công kịp nhảy dù và không bị thương). Điều gì sẽ xảy ra nếu người Séc-bi quay súng lại và làm cho Liên quân tổn thất nhiều hơn? Liệu Mỹ có thể duy trì được bao lâu trong trường hợp đó? Chắc chắn sẽ rất nhanh, không lâu được. Và một mình Châu Âu liệu sẽ làm được gì?”. Những ý kiến tương tự, chủ yếu là từ các quan chức quân sự Mỹ cũng xác nhận rằng thế trận hoàn toàn có thể đảo ngược nếu Tổng Thống Nam Tư Slobodan Milošević quyết định dứt khoát hơn. Cuộc không kích diễn ra với những quy định chặt chẽ của NATO. Tuy nhiên, một số quy định lại không hoàn toàn phù hợp, theo như thiếu tướng KQ Mỹ Hurry Wellger thì thời gian NATO cần để phi công nhận lệnh công kích vào mục tiêu trong không chiến là “hoàn toàn chấp nhận được” và phù hợp với các khả năng của không quân Liên quân. Nhưng nếu số lượng máy bay tham chiến của Nam Tư lớn hơn thì quy định đó sẽ có thể làm hạn chế các hành động của phi công chiến đấu rất nhiều. Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh xâm lược của NATO chống Liên bang Nam Tư Gửi bởi: duongthanhvan trong 31 Tháng Mười, 2011, 10:07:12 am Một thực tế là trong quá trình tiến hành các hoạt động quân sự đã không ghi lại được một trương hợp tham gia tấn công nào của lực lượng bộ binh NATO. Điều đó đã khẳng định tính đúng đắn của chiến thuật tiến hành chiến dịch không kích do NATO lựa chọn. Tuy nhiên, khi công kích các mục tiêu mặt đất từ trên không thì thời gian từ khi phát hiện mục tiêu đến thơì điểm công kích lớn hơn so với thời gian cho phép. Theo các nguồn tin khác thì thời gian phản ứng của các phương tiện tấn công có duy trì liên lạc với trung tâm điều hành trên không của NATO ở Viachenza thông qua máy bay chỉ huy, điều khiển và liên lạc trên không E-130 ABCCC dao động trong khoảng vài phút đến 2 giờ đồng hồ. Để rút ngắn thời gian này thì một trong những phương pháp được các chuyên gia đưa ra là, tăng cường trang bị phương tiện tấn công có các hệ thống truyền dữ liệu. Cũng còn có cách thứ hai là dưa vào quá trình quyết định công kích nhiều mức. Theo các chuyên gia, sự cần thiết đảm bảo truyền dữ liệu là bài học chính được rút ra từ cuộc chiến tranh vùng Vịnh năm 1991. Do vậy, nếu không tính rằng, tàu sân bay của các máy bay F-16C/D đậu ở Aviano và giữa những năm 90 đã được hiện đại hoá và các máy bay Châu Âu khác cũng được trang bị như vậy, thì các trang bị truyền tin của KQ Liên quân là không đáp ứng được yêu cầu của cuộc chiến.
Bước quan trọng nhất trong việc giải quyết vấn đề này là tiến hành hiện đại hoá hàng loạt máy bay theo hướng đảm bảo sự trùng khớp của các kính quang học nhìn đêm, hệ thống ngắm bắn–dẫn đường cả ngày lẫn đêm “LUNTERN” và các thùng vũ khí treo ngoài để cho phép thực hiện các chuyến bay huấn luyện và ứng dụng chiến đấu trong mọi thời tiết. Ngay từ đầu chiến dịch chống Nam Tư các chiến lược quân sự được xây dựng trong khuôn khổ chặt chẽ của các giải pháp chính trị của NATO. Trở ngại lớn nhất đối với họ là xuất hiện ý định không cho bộ binh tham chiến ngăn chặn đội quân tiến vào Cô-xô-vô. Theo ý kiến của nhiều chuyên gia, điếu đó có thể được đánh giá như lời tuyến bố chính thức đối với Tổng thống Milôsevich hãy ngồi yên trong công sự và chờ đợi cho đến khi NATO thay đổi quan điểm. Quyết định không cho bộ binh Liên quân tham chiến ngay từ đầu chiến dịch và số lần cất cánh chiến đấu của KQ Liên quân chỉ tăng dần dần cũng bị phê phán. Điều này hoàn toàn trái ngược với chiến lược tiến hành chiến tranh ở vùng Vịnh vì ở đó nhịp độ tấn công đã được đẩy lên cao ngay từ những giờ đầu tiên. Theo thống kê của NATO trong vòng từ 24 tháng 3 đến 10 tháng 6 KQ Liên quân đã thực hiện 37465 chuyên bay tương ứng với tỷ lệ 486 chuyến/ ngày. Trong số đó có 14006 chuyến bay có tiến hành không kích và chế áp LLPK Nam Tư, trong đó có 10808 chuyến thực hiện công kích. Trong những ngày đầu của CDKK của KQ Liên quân mỗi ngày NATO thực hiện 150 chuyến bay. So sánh có thể thấy: trong vòng 43 ngày chiến tranh vùng Vịnh có 109876 lượt cất cánh với tỷ lệ 2555 lượt/ ngày và trong số đó một nửa là tham gia chiến đấu trung bình 1600 lượt / ngày. Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh xâm lược của NATO chống Liên bang Nam Tư Gửi bởi: duongthanhvan trong 31 Tháng Mười, 2011, 10:07:51 am Quyết đinh về hạn chế độ cao tối thiểu của các máy bay ở 15000 feet (4575m) trong suốt của cuộc chiến cũng gây ra nhiều tranh cãi. Mặc dù chính nhờ điều này mà các phi công NATO ở Kosovo có thể an toàn khi ở ngoài tầm bắn của tên lửa vác vai và pháo cao xạ của lực lượng phòng không Nam Tư. Nhiều người cho rằng, giới hạn này trong chừng mực đáng kể đã mang tính nghệ thuật và ngăn cản việc triển khai toàn bộ các phương tiện của hệ thống phòng không Nam Tư. Tuy nhiên cũng đã xuất hiện rất nhiều sai xót trong chỉ thị mục tiêu. Sai xót nghiêm trọng nhất là vào trung tuần tháng 4 khi các phi công từ độ cao lớn đã tấn công vào các máy cày và các phương tiện vận tải dân sự đang chở những người An-ba-ni trở về quê hương.
Theo con số của Bộ chỉ huy tối cao lực lượng Liên quân NATO ở Châu Âu thu được ở tuần cuối của chiến dịch thì không quân NATO đã loại ra khỏi vòng chiến đấu hơn 30% xe bọc thép của Séc-bi bố trí quanh Kosovo. Đến cuối giai đoạn cuộc chiến theo những đánh giá không chính thức thì Liên quân đã tiêu diệt hơn 400 giàn pháo phòng không của Nam Tư, khoảng 270 xe bọc thép, 150 xe tăng và hơn 100 máy bay và loại khỏi vòng chiến đấu từ 5 đến 10 nghìn quân. Tuy nhiên, theo những nhân chứng sống ở Kosovo thì kết quả thực tế thấp hơn rất nhiều, vì quân đội Séc bi đã sử dụng một số lượng lớn những phương tiện ngụy trang và các mục tiêu giả. Sau đó, NATO đã phải tiến hành đánh giá lại các khả năng của các hệ thống trinh sát và chỉ thị mục tiêu. Trong số những hệ thống đó có cả hệ thống trinh sát điện tử “Tristars” đặt trên máy bay E-8, đài Ra-đa quan sát phụ được hiện đại hoá ASARS-2 với thiết bị tổng hợp đặt trên máy bay U-2 và một loạt các thiết bị bay không người lái được sử dụng chủ yếu bởi Mỹ, Pháp và Đức. Các máy bay không người lái đặc biệt hiệu quả trong việc thu thập tin ảnh từ các độ cao thấp và vừa. Tổng cộng Liên quân đã mất hơn 20 máy bay không người lái do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có hơn 10 chiếc bị bắn hạ bởi pháo phòng không và tên lửa vác vai. “Bây giờ thì khó có thể nói được thực chất không quân các nước phương Tây sẽ tập trung tài nguyên của mình vào đâu khi xét đến các bài học kinh nghiệm được rút ra và các khả năng mua sắm vũ khí với số lượng cần thiết sau chiến dịch không kích”, một quan chức quân sự đã tiết lộ như vậy. “Các phương án có thể khác nhau từ việc tăng cường các phương tiện tự bảo vệ cho các máy bay chiến đấu đến chuyển các máy bay không người lái thành máy bay chến đấu”. Theo các chuyên gia thì các quốc gia phương Tây phải sẵn sàng xác định với các vấn đề tổn thất bên trong. Nếu đặt mục tiêu mức tổn thất người tối thiểu (thậm chí không có tổn thất) trong các cuộc không chiến tương lai thì cần phải nhanh chóng mua sắm nhiều vũ khí mới thậm chí cho cả các máy bay không người lái. Một phương án duy nhất đối với những nhà quân sự là thuyết phục những quan chức chính phủ chấp nhận điều đó và đồng thời tăng cường ký kết mua công nghệ và kỹ thuật quân sự mới nhằm đảm bảo duy trì các phương tiện bay để duy trì và tác chiến không quân trực tiếp cô lập vùng hoạt động quân sự từ độ cao thấp và độ cao lớn hơn. Ví dụ, có thể trang bị máy bay NATO các hệ thống cảnh báo về sự tấn công của tên lửa mặt đất được dẫn bằng hồng ngoại có kích thước nhỏ khó phân biệt. Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh xâm lược của NATO chống Liên bang Nam Tư Gửi bởi: duongthanhvan trong 31 Tháng Mười, 2011, 10:08:17 am Mây mù dày đặc bao phủ phần lớn lãnh thổ Cô-Xô-Vô trong những ngày đầu chiến dịch không kích đã cản trở việc tiến hành tấn công có sử dụng các vũ khí dẫn bằng laze. Trong số 21 ngày xung đột thì chỉ có 8 ngày được coi là “thời tiết thuận lợi” cho các nhiệm vụ chiến đấu còn trong 10 ngày chỉ thực hiện được 50% các chuyến bay chiến đấu. Đến ngày 11 tháng 4 năm 1999 thì các máy bay “Harrier” GR7 của không quân Hoàng Gia Anh lần đầu tiên đã cắt bom trong điều kiện mây mù. Từ thời điểm đó bắt đầu phải tính đến việc sử dụng các vũ khí không điều khiển trong cuộc xung đột ở Kosovo.
Việc huỷ bỏ số lượng lớn các chuyến bay vì lý do thời tiết đã buộc không quân Mỹ đẩy nhanh chương trình sử dụng liên lạc vệ tinh để dẫn các loại vũ khí và thậm chí còn đặt các máy thu vệ tinh “NAVSTAR” lên một vài loại vũ khí có điều khiển thuộc biên chế thường trực. Thường thì việc lắp đặt máy thu như vậy được thực hiện với bom có điều khiển “Pavey III” (được hiện đại hoá bởi hãng “Ration”) và phiên hiệu của không quân Mỹ có tên là “Modern Pavey” trong trường hợp mất chỉ thị mục tiêu bằng laze đảm bảo xác suất sai số trúng mục tiêu trong phạm vi 13 m. Chương trình thứ hai có xét đến việc lắp các tổ hợp đang phát triển với các máy thu của hệ “NAVSTAR” lên bom hàng không GBU-15 dẫn bằng hồng ngoại hoặc truyền hình trong kế hoạch sản xuất. Trên cơ sở kinh nghiệm thu được ở Nam Tư, không quân Mỹ đang lập kế hoạch hiện đại một loạt vũ khí khác để bổ xung cho chúng khả năng dẫn theo các tín hiệu hệ “NAVSTAR”. Hiệu quả của hệ thống dẫn như vậy trong cuộc xung đột biểu hiện rõ rệt nhất khi sử dụng bom JDAM của hãng “Boeing” mà lần đầu tiên được thử nghiệm ở Nam Tư trong điều kiện chiến đấu thực tế. Tổ hợp JDAM đang phát triển cho các loại bom rơi tự do trọng lượng từ 227 đến 908 kg ước chừng trị giá 20 đến 25 nghìn USD. Bởi vì Irắc và Séc-bi đã học được cách khống chế được các loại BCĐK sử dụng hệ dẫn bằng la de bằng cách tạo các đám khói trên các mục tiêu có thể bị tấn công. Người ta tính toán rằng hệ thống dẫn vệ tinh có thể sẽ chống lại được những phương tiện đơn giản như vậy. Một chuyên gia về các vũ khí điều khiển đã nhấn mạnh: “Bây giờ tất cả bắt đầu tìm kiếm các khả năng tạo nhiều đối với hệ thống “NAVSTAR” sao cho không quá đắt và dễ dàng sử dụng. Không quân hải quân Mỹ đang lập kế hoạch mở rộng các tính năng của vũ khí JDAM bằng cách tăng cự ly hoạt động của nó và lắp đầu tự dẫn để dẫn theo các mục tiêu điểm ở cuối quỹ đạo bay. Với kết quả trợ giúp của tổ hợp JDAM đang phát triển giá thành hạ thì có thể biến các lọai bom không điều thành các loại vũ khí chính xác cao. Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh xâm lược của NATO chống Liên bang Nam Tư Gửi bởi: duongthanhvan trong 31 Tháng Mười, 2011, 10:14:11 pm Khi nhìn thấy những ưu thế của các vũ khí hàng không được dẫn tín hiệu vệ tinh hệ “NAVSTAR”, một số nước thành viên Châu Âu đã đặt hàng mua các vũ khí như vậy. Các điều kiện thời tiết không thuận lợi ở Nam Tư đã làm tăng vai trò của các vũ khí JDAM trong các hoạt động quân sự ở Kosovo lên đáng kể. Ở thời gian đầu của chiến dịch không kích, tại Mỹ mỗi tháng sản xuất 200 tổ hợp JDAM. Vào giữa chiến dịch việc cung cấp loại vũ khí này đột ngột dừng lại để mở rộng cơ sở nhằm tăng công suất sản xuất. Đến tháng 8 thì họ đã đạt được công suất 500 tổ hợp mỗi tháng và trong các giai đoạn tiếp theo cần phải nâng lên 700 tổ hợp/tháng.
Còn một loại vũ khí nữa mà sự thiếu hụt cũng trở nên trầm trọng là tên lửa hành trình AGDM - 86 C (CALCM) do hãng “Boeng” sản xuất. Liên quan đến vấn đề này các nhà quân sự và những người đại diện cho nền công nghiệp đã phải cùng nhau họp bàn để tìm đáp án cho câu hỏilà câu hỏi làm thế nào để giải quyết vấn đề bảo đảm cho quân dội đủ số lượng vũ khí và đạn dược trong các cuộc chiến tương lai. Theo lời của người đại diện hãng “Boeng” thì: “Trong 10 năm gần đây (tính tại thời điểm cuộc chiến) các chuyên gia vũ khí chú ý nhiều đến các phương tiện hỗ trợ, vì thiếu chúng thì không thể sử dụng vũ khí được. Các chuyên gia cũng đưa ra ngân sách cần thiết. Nhưng nếu nhịp độ sử dụng vũ khí tăng gấp 3 lần so với kế hoạch thì các kho dự trữ sẽ rỗng hết” . Vấn đề là ở chỗ, làm thế nào để chất đầy các kho dự trữ này: tích góp thêm nhiều vũ khí hay hiện đại hoá hạ tầng công nghiệp để mở rộng sản xuất khi cần thiết. Hãng "boeng" đã chọn giải pháp thứ hai. Với giải pháp này, hãng này đã có thể nhân đôi công suất sản xuất tổ hợp JDAM mỗi tháng bằng cách bổ xung thêm vào dây truyền sản xuất chỉ vẻn vẹn có 4 công nhân. Một trong những quan chức Mỹ đã không hài lòng về sự phụ thuộc của Châu Âu vào Mỹ trong các vấn đề đảm bảo các phương tiện tấn công và các phương tiện đảm bảo (chủ yếu liên quan đến các thiết bị phục vụ tác chiến điện tử, chỉ huy, truyền lệnh, trinh sát và tiếp dầu) đã tiết lộ rằng: "Châu Âu cần phải tăng cường kho dự trữ vũ khí của mình. Trong thời gian cuộc chiến, những nước không có đủ các loại vũ khí điều khiển đã thúc giục yêu cầu đặt hàng. May mắn là nước Mỹ có đủ khả năng mở rộng sản xuất để đáp ứng yêu cầu đó. Nhưng khả năng của chúng ta sẽ trở về con số không vì các cuộc xung đột tương lai sẽ chộp lấy chúng ta bất cứ lúc nào. Nếu không chuẩn bị ngay từ bây giờ, thì các bạn đừng tham chiến”. Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh xâm lược của NATO chống Liên bang Nam Tư Gửi bởi: duongthanhvan trong 31 Tháng Mười, 2011, 10:14:54 pm Trung tướng Goerge Muller đáng giá cao hiệu quả sử dụng vũ khí JDAM với máy bay tang hình B-2A "Spirit" của hãng "Northrop - Gruman". Theo ý kiến của ông thì giá trị chiến lược của máy bay B-2 trong cuộc xung đột ở Kosovo được giải thích bởi những nguyên nhân sau:
• Do có khả năng "tàng hình" nên B-2A không cần sử dụng các phương tiện tạo nhiễu, do vậy nó giảm được số lần nạp dầu so với các máy bay thông thường (không "tàng hình") và các MBCĐ đa năng. • Mỗi một quả JDAM trong số 16 quả mà B-2A mang được có thể tự bay đến mục tiêu. Kết quả là hiệu quả chiến đấu của B-2 có được là cao hơn rất nhiều so với giải thiết trước lúc bắt đầu cuộc chiến khi tính đến giá thành cao của loại MBNB này. "Trong tương lai việc lực lượng máy bay ném bom sẽ đóng vai trò then chốt".Tướng Muller tiết lộ như vậy trên tuần báo quốc phòng "Janes Defense Weekly". Quan điểm của tướng Muller về việc máy bay ném bom B-2 và vũ khí JDAM đã tạo ra một sự kết hợp khá hoàn hảo. Điều này cũng được các quan chức khác của Mỹ đồng tình, với điều kiện cần phải đảm bảo cho lực lượng ném bom có đầy đủ các thông tin về mục tiêu. Ví dụ minh hoạ về điều này là thảm hoạ của Đại sứ quán Trung quốc ở Belgeat khi bị B-2 ném bom và phóng tên lửa "nhầm" khi chúng được dẫn bằng vệ tinh. Việc ném bom “nhầm” vào Đại sứ quán trung quốc, mà đáng lẽ phải là một trong những sở chỉ huy của quân đội Nam tư ở bên cạnh, được NATO giải thích là do công tác trinh sát kém và bản đồ cũ. Không xét đến sự nhầm lẫn khủng khiếp đó nhìn từ góc độ chiến lược thì chiến dịch không kích ở Nam Tư đã được coi là thành công. Như một quan chức cao cấp của không quân Hoàng Gia Anh thừa nhận: “Rất có thể yếu tố quyết định ngăn chặn tổng thống Milošević là những thiệt hại và tổn thất nhanh chóng về chính trị và kinh tế do những đợt ném bom NATO gây ra”. Thậm chí là nếu quân đội Nam Tư muốn kéo dài cuộc chiến đến cùng thì chính tổng thống Milošević cũng chưa sẵn sàng, quan chức Anh này bổ xung thêm. Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh xâm lược của NATO chống Liên bang Nam Tư Gửi bởi: duongthanhvan trong 31 Tháng Mười, 2011, 10:16:25 pm Ngay từ khi bắt đầu chiến dịch quân sự thì một trong những nhiệm vụ chính của không quân NATO là chế áp hệ thống phòng không của Nam Tư. Thực tế, theo nguồn tin đáng tin cậy, hệ thống phòng không Nam Tư, chỉ có thể bắn hạ được một máy bay của NATO, đã chứng minh về hiệu quả hoạt động của không quân Liên quân. Đến cuối cuộc xung đột thì mọi việc đã trở nên rõ ràng rằng, NATO hoàn toàn có thể thực hiện tấn công vào bất kỳ mục tiêu nào với một mạo hiểm được minh chứng bằng các kết quả “nổi bật” của những đợt ném bom. Quan chức đại diện chỉ huy NATO thiếu tướng Valter Aerts tiết lộ rằng, chiến thuật của NATO chủ yếu là làm phá huỷ tổ chức chỉ huy-điều hành của lực lượng phòng không Nam Tư, các đài ra đa phát hiện từ xa và các vị trí TLPK. Mặc dù TLPK của Nam Tư như SA-2, SA-3 và SA- 6 vẫn còn tồn tại đến cuối cuộc chiến (theo xác nhận của NATO thì Liên quân đã phá huỷ được 2/3 các đại đội SA-2, SA-3 và một số lượng đáng kể đại đội cơ động SA- 6), nhưng do không có hệ thống chỉ huy điều hành hiệu quả nên PK Nam Tư đã trở thành những phương tiện rời rạc và bị cô lập.
Để bổ xung vào hoạt động tác chiến điện tử, ngoài các máy bay EA- 6B và các máy bay không người lái khác thì không quân Mỹ cũng đã sử dụng công nghệ tin học để loại khỏi vòng chiến các máy tính của hệ thống phòng không Nam Tư. Việc “đột nhập” vào các máy tính của hệ thống phòng không Nam Tư đã trở thành một chiến thuật tác chiến hiệu quả nhất trong điều kiện đối Nam Tư dừng không sử dụng các trang bị phòng không vì sợ rằng sẽ bị phát hiện và bị tiêu diệt. Một thành công về chiến lược nữa của quân đồng minh ở Nam Tư là đã phá huỷ được các trung tâm công nghiệp lọc đầu tại chỗ và thiêu huỷ hơn nửa số kho xăng dầu quân sự và dân sự của Nam Tư. Để giải quyết bài toán này- đặc biệt trong điều kiện có hệ thống phòng không dày đặc của Nam Tư - NATO đã sử dụng các loại tên lửa hành trình phóng từ trên không (CALCM từ máy bay B-52) và từ biển vào (TOMAHAWK từ các tàu ngầm). Một trong những vấn đề quan trọng xuất hiện trong qúa trình diễn ra cuộc chiến là vấn đề vận chuyển quân đội và kỹ thuật bằng đường không. Cũng như trong những trường hợp khác Mỹ đảm nhiệm phần lớn công việc này, và các quốc gia châu Âu cũng đã nhận thức ra sự cần thiết phải nhanh chóng mua sắm đưa vào trang bị những máy bay vận tải chiến lược và chiến thuật. Đầu năm 2000, có 7 nước phương Tây đã phải tự lựa chọn cho mình những máy bay vận tải quân sự, 4 ứng cử viên là sáng giá nhất là: C-17 của hãng “Boeng”, A400M của “Airbus Industry”, C- 1309 của “Lookheed Martin” và AN-70 của Nga. Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh xâm lược của NATO chống Liên bang Nam Tư Gửi bởi: duongthanhvan trong 08 Tháng Mười Một, 2011, 06:47:52 pm 19. NHỮNG TỒN TẠI TRONG PHỐI HỢP TÁC CHIẾN CỦA QUÂN ĐỘI HỖN HỢP NATO Chiến dịch không kích chống LB Nam tư đã chứng tỏ hiệu quả của hệ thống mới và vũ khí thế hệ mới. Tuy nhiên cũng đã bộc lộ thiếu xót nghiêm trọng trong phối hợp tác chiến và sự chênh lệch công nghệ ngày càng lớn giữa Mỹ và các đồng minh NATO . Trong Hội nghị đánh giá về vấn đề phối hợp tác chiến tổ chức ở Luân Đôn trong thời gian triển lãm kỹ thuật hàng không quân sự quốc tế (Royal Internatiolnal Air Tattoo), các quan chức cao cấp chỉ huy quân sự đều đi đến thống nhất rằng, chiến dịch Kosovo đã củng cố quan điểm hiện nay là: “Tất cả những cuộc xung đột tương lai sẽ là những hoạt động phối hợp tác chiến của các lực lượng hỗn hợp”. Một câu hỏi đã được đặt ra cho các nhà quân sự là xác định liệu các lực lượng hỗn hợp của họ sẽ đáp ứng các điều kiện phối hợp tác chiến tương lai như thế nào và xác định xem cái gì là yếu tố chính tạo ra khả năng tham gia phối hợp tác chiến của họ với các bộ phận liên hợp khác. Bình luận về các vấn đề trên, quan chức cao cấp chỉ huy không quân Hoàng Gia Anh nói rằng: "phối hợp tác chiến ở đây là khả năng năng tham gia phối hợp với Mỹ”. Một quan chức khác trong bộ chỉ huy không quân NATO tiết lộ rằng "càng chú trọng trang bị các hệ thống công nghệ cao thì càng tăng hy vọng đối với các nước đang có nguyện vọng mua sắm các hệ thống và phương tiện đảm bảo đưa chúng đến đúng mục tiêu đã lựa chọn. Theo nghĩa rộng thì phối hợp tác chiến chính là cơ sở thành công cuả NATO trong chiến dịch của Liên quân chống lại Nam tư. Các máy bay của 14 nước hoạt động từ 47 căn cứ đã thực hiện thành công chiến dịch không kích trong vòng 78 ngày đêm mà chỉ có 02 chiếc máy bay bị bắn rơi bởi lực lượng phòng không – không quân Nam tư. Tuy nhiên, theo lời các nhà quân sự thì cuộc thử nghiệm Kosovo cũng bộc lộ một loạt các vấn đề tồn tại. Một chỉ huy không quân Mỹ đã đưa ra một số tồn tại, đó là: 1- Sự không thống nhất của các hệ thống vô tuyến trong nhiều trường hợp đã buộc các lực lượng Liên quân phải trao đổi dữ liệu về mục tiêu và vị trí máy bay qua hệ truyền tin hở và chính điều này đã tạo điều kiện cho Nam tư thu được các thông tin này. 2- Thiếu các hệ thống nhận dạng rõ ràng và chính xác cao, điều này đã gây ra nhiều khó khăn cho phi khi bắt, khóa các mục tiêu trên không. 3- Do thiếu các hệ thống cảnh báo đáng tin cậy cho phi công về các mối đe doạ của lực lượng phòng không Nam Tư nên họ không xác định được rằng họ đang bị loại trang bị phòng không nào ngắm – bám. 4- Chỉ có một số ít máy bay của lực lượng không quân NATO được trang bị và đảm bảo khả năng chỉ thị mục tiêu cho các loại bom có điều khiển dẫn bằng laze. Muốn khắc phục trở ngại này thì cần phải sử dụng thêm hệ thống liên kết nội bộ cho các máy bay tham chiến, song điều này lại làm phức tạp thêm cho việc xây dựng kế hoạch tác chiến. Tiêu đề: Re: Cuộc chiến tranh xâm lược của NATO chống Liên bang Nam Tư Gửi bởi: duongthanhvan trong 08 Tháng Mười Một, 2011, 06:49:05 pm Nói về vấn đề trục trặc trong việc tiếp dầu trên không, đại diện chỉ huy không quân Mỹ nói rằng, những tồn tại này là do thiếu sự chuẩn bị và không được huấn luyện kỹ của các phi công theo những quy trình nạp dầu nhất định.
Tướng Clause Nauman cựu giám đốc Ủy ban quân sự NATO sau khi kết thúc chiến dịch không kích chống Nam tư đã tiết lộ rằng: công tác huấn luyện bay mà các nước thành viên mới của NATO đang tiến hành( tại thời điểm năm 1999), vẫn còn có khoảng cách rất xa mới theo kịp các thành viên cũ trong khối. Vấn đề vẫn còn tồn tại ở đây là một số sỹ quan NATO không thể nói được tiếng Anh. Bên trong khối liên minh cũng vẫn còn tồn tại một vấn đề nữa là việc chấp hành các quy định của NATO. Theo lời của Clause Nauman thì các tồn tại gia tăng cũng xuất hiện cả trong lĩnh vực điều hành, chỉ huy và liên lạc, khi Liên quân đưa vào quân đội những trang bị làm cản trở việc phối hợp tác chiến. Tướng Clause nói rằng: "hiện nay trong lĩnh vực này có các thiết bị ở cả 3 thế hệ ". Trong một số trường hợp thì một số sự chênh lệch về công nghệ có thể bỏ qua được, xong trong các trường hợp khác thì điều đó không thể bảo đảm được sự phối hợp giữa chúng. Ông ta nhấn mạnh rằng cần phải khẩn trương khắc phục tình trạng này vì nó trực tiếp ảnh hưởng đến khả năng tác chiến cũng như hoạt động của cả khối. Nauman cũng chỉ ra rằng, những tồn tại trong các lĩnh vực vận tải đường không, các máy bay tiếp dầu, các máy bay tác chiến điện tử. Tướng Nauman và các nhân vật cao cấp khác của các nước đồng minh lưu ý về sự cách biệt gia tăng trong lĩnh vực công nghệ giữa Mỹ và các nước thành viên khác của NATO. Như một chỉ huy quân đội NATO đã nói rằng, tổng chi phí của các nước Châu Âu dùng để mua các TLCC chỉ bằng 1/3 chi phí mà Mỹ đã mua loại vũ khí này. Tướng Nauman nhấn mạnh, khó mà có thể hình dung về sự tiến bộ nhanh chóng trong hiệp đông tác chiến khi chịu chi phối bởi ảnh hưởng của công nghệ. Theo tiết lộ của Nauman thì ưu thế hiện nay đang thuộc về Mỹ. Lúc này, có thể hoặc là duy trì phương án thúc dục các nước Châu Âu mua các hệ thống quân sự của Mỹ hoặc là hợp tác với Châu Âu và "chia sẻ" công nghệ với họ, để đảm bảo hiệp đồng tác chiến "hiệu quả". Theo lời của ông ta thì theo các chuyên gia Mỹ phương án đầu tiên sẽ không thành công, vì khi triển khai nó thì nền công nghiệp Châu Âu hoặc là bị đóng cửa hoặc sẽ chỉ đóng vai trò không đáng kể so với nền công nghiệp Mỹ. Phương án hai sẽ đánh dấu sự hợp tác của Mỹ và Châu Âu trong các lĩnh vực công nghệ then chốt. Bước đi đầu tiên trên con đường này có thể là việc cấp phép sản xuất các trang thiết bị theo công nghệ Mỹ cho các nước thành viên NATO. Clause Nauman cảnh báo rằng nếu không xúc tiến những việc làm phù hợp, thì sự cách biệt về công nghệ sẽ ngày càng gia tăng. |