Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tự dịch => Tác giả chủ đề:: tieungoclang trong 02 Tháng Mười Một, 2011, 04:43:42 pm



Tiêu đề: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: tieungoclang trong 02 Tháng Mười Một, 2011, 04:43:42 pm
COLDEST WINTER – MÙA ĐÔNG LẠNH NHẤT
Cuộc chiến Mỹ - Triều
David Halberstam
[/b]

Vài dòng về tác giả, tác phẩm
David Halberstam sinh ngày 10 tháng 4 năm 1934, mất ngày 23 tháng 4 năm 2007. Ông là một nhà báo từng đoạt giải Pulitzer và là một tác giả nổi danh với các tác phẩm lịch sử, nhất là chiến tranh Việt Nam. Ông chết trong một tai nạn giao thông ở tuổi 73. Tác phẩm sau cùng của ông chính là Coldest Winter, tập sách này chỉ được phát hành sau khi ông chết vào tháng 9 năm 2007.

Lời phi lộ
Ngày 25 tháng 6 năm 1950, gần bảy sư đoàn các lực lượng tinh nhuệ của Bắc Triều Tiên, mà nhiều trong số họ đã từng chiến đấu trong hàng ngũ +S của cuộc nội chiến Trung Hoa, vượt qua biên giới tiến vào Nam Hàn, với ý định sẽ chiếm được phần phía Nam đó trong vòng ba tuần. Chừng sáu tháng trước đó, Ngoại trưởng Mỹ Dean Acheson, trong một sai lầm nghiêm trọng, đã không chú ý đến việc ghép Nam Hàn vào vành đai phòng thủ Châu Á của Hoa Kỳ, và chỉ để một lực lượng Mỹ ở nước này trong một nhiệm vụ cố vấn nhỏ nhoi, hoàn toàn không sẵn sàng để đối đầu với một cuộc tấn công. Trong những tuần xâm lăng đầu tiên, phía +S tấn công đã có được những thành quả tuyệt vời. Mọi mẩu tin tức từ chiến trường đều bị cấm đoán. Tổng thống Harry Truman và các cố vấn cao cấp của ông tranh luận về ý định của quân thù. Điều họ lo sợ nhất, có phải đây là một trận tấn công được người Nga sắp đặt? Phải chăng Bắc Triều tiên không là gì cả mà chỉ là một con tốt của Moscow? Hay đây chỉ là một đòn nhử, một cú đầu tiên trong một xê-ri những đòn khiêu khích của cánh +S trên toàn thế giới? Rồi họ nhanh chóng quyết định Hoa Kỳ, trong danh nghĩa Liên Hợp Quốc, dùng sức để định ra một tuyến chống lại cuộc xâm lăng của phía +S ở Korea.
Cuộc chiến Triều Tiên kéo dài ba năm chứ không phải ba tuần, và là một cuộc chiến đau đớn nhất, ở đó các lực lượng Mỹ và  LHQ với quân số ít hơn đã cầm hòa được đối phương có quân số áp đảo bằng cách sử dụng các phương tiện kỹ thuật quân sự tối tân. Đó là một cuộc chiến diễn ra trên địa hình rất đa dạng và thường trong thời tiết tồi tệ, nhất là trong mùa đông rét buốt vốn được quân Mỹ xem còn đáng sợ hơn cả quân Bắc Triều lẫn quân Trung Quốc. Nhà sử học quân sự S.L.A. Marshall đã gọi đó là “Cuộc chiến khu vực kinh tởm nhất thế kỷ”. Quân Mỹ và đồng minh LHQ đối mặt với những địa hình núi non hiểm trở, chúng làm giảm ưu thế của thiết bị kỹ thuật, đặc biệt với thiết giáp, và còn cung cấp hang hốc và những dạng trú ẩn khác cho quân thù. “Những đầu óc sắc sảo nhất trên thế giới nếu muốn tìm cho chúng tôi một địa điểm tệ hại nhất có thể để dùng cho cuộc chiến quân sự - chính trị đáng nguyền rủa này, thì tất cả đều đồng ý với sự chọn lựa là Triều Tiên” Ngoại trưởng Mỹ Acheson đã phát biểu vài năm sau khi cuộc chiến kết thúc. Ngài Averell Harriman, bạn của Acheson cũng nói “Một cuộc chiến tồi tệ”.
Một bộ phận của nước Mỹ gọi nó là một cuộc chiến tranh không mong muốn chỉ để nói nhẹ bớt đi nhiều. Ngay cả tổng thống, người hạ lệnh của quân đội Mỹ bước vào trận chiến cũng không hạ cố gọi đó là chiến tranh. Ngay từ đầu, Harry Truman đã cẩn trọng gián cấp tính chất của cuộc xung đột bởi ông có ý định hạn chế gia tăng căng thẳng với Liên Xô. Một trong những cách ông cố làm là sử dụng các thuật ngữ. Cuối buổi chiều ngày 29 tháng 6, bốn ngày sau khi Bắc Triều Tiên vượt biên giới, và khi ông đã đưa các lực lượng Hoa Kỳ vào cuộc chiến, Truman gặp phóng viên báo chí ở Nhà Trắng. Một trong những nhà báo hỏi ông rằng phải chăng nước Mỹ đã thật sự trong tình trạng chiến tranh. Truman đã trả lời phủ định, dù sự thật là đúng thế. Rồi một phóng viên khác hỏi: “Vậy liệu có thể gọi đó là một hành động cảnh sát dưới lá cờ LHQ không?” Truman trả lời “Đúng. Đó là điều chính xác xảy ra”. Việc hàm ý rằng quân Mỹ ở Triều Tiên đóng vai trò một lực lượng cảnh sát hơn là quân sự, là nguồn gốc của sự cay đắng lớn lao với nhiều binh sỹ đã đến đó. (Một thể thức tương tự nhưng tao nhã cũng được đưa ra lúc bốn tháng sau bởi nhà lãnh đạo Trung Quốc Mao Trạch Đông, khi ông lịnh cho hàng trăm nghìn lính Trung Quốc tham chiến, và quyết định, với lí do có phần nào là để tương đương với Truman, đã gọi họ là Chí nguyện quân)
Nên, sau câu hỏi bất thường và câu trả lời còn bất thường hơn, thì đó là những chính sách và cuộc chiến đã được xác lập. Nhà tu từ học Truman đã làm cho cái ngày ấy trở nên cam chịu. Phía Triều Tiên không thể đưa nó thành một cuộc chiến toàn quốc với mục đích duy nhất là thống nhất như trong Thế Chiến II, hoặc cũng không như ở Việt Nam sau này, quốc gia bị chia cắt, ám ảnh. Nó chỉ là một cuộc xung đột đầy bối rối, xám xịt và rất xa xăm, một cuộc chiến cứ tiếp diễn mãi mãi, dường như không có hi vọng hay giải pháp, với phần lớn người Mỹ, việc cứu những binh sỹ đang ở đó và gia đình họ, biết càng ít càng tốt. Gần ba mươi năm sau ngày chiến cục kết thúc, John Prine đã thể hiện chính xác cái tâm lý đó trong bài hát “Chào nơi ấy”, một bài hát hùng hồn về cái chết bi kịch của một thanh niên tên Davy, anh đã hi sinh mà không vì một mục đích tốt đẹp. Hơn một nửa thế kỷ sau, cuộc chiến vẫn để lại những hậu quả to lớn về chính trị và văn hóa của Mỹ. Cuộc chiến lãng quên là cái tên thích hợp cho một trong những cuốn sách hay nhất về nó. Triều Tiên là cuộc chiến mà đôi khi có cảm tưởng như là một đứa con rơi của lịch sử.
Nhiều binh sỹ ở Triều Tiên che giấu sự oán hận của cá nhân họ khi bị đưa đến đó; nhiều người đã từng phục vụ trong quân ngũ, trong thế chiến II, giờ trong ngạch dự bị, đã bị gọi lại từ những công việc dân sự một cách bất đắc dĩ và phải tham gia một cuộc chiến bên ngoài nước lần thứ hai trong vòng mười năm. Những người khác cũng từng phục vụ trong Thế Chiến II và quyết định ở lại trong quân ngũ bực tức vì tình cảnh thảm hại của các lực lượng Mỹ khi quân Bắc tấn công. Các đơn vị Mỹ huấn luyện kém, thiếu quân số, với trang bị lạc hậu, hư hỏng cùng sự lãnh đạo thiếu chiều sâu một cách đáng ngạc nhiên, là cả một sự xấu hổ. Sự sa sút sức mạnh của cái quân đội mà họ biết ở đỉnh cao trong thế chiến II, chuyên nghiệp tuyệt đối cùng sức vóc kinh người, với sự bạc nhược của các lực lượng Mỹ vào đầu cuộc chiến Triều Tiên đã không gì hơn là làm họ sốc. Kinh nghiệm nhiều bao nhiêu, thì chán nản bấy nhiêu và họ cũng hoảng sợ trước những điều kiện họ phải chiến đấu.
Mặt tệ hại nhất của cuộc chiến Triều Tiên, như trung tá George Russell một tiểu đoàn trưởng thuộc trung đoàn 23 của sư đoàn bộ binh số 2 viết “chính là Triều Tiên”. Với một quân đội rất phụ thuộc vào sản phẩm kỹ nghệ và thiết bị quân sự, đặc biệt là xe tăng, thì đây là một địa hình tệ hại nhất. Các quốc gia như Tây Ban Nha, Thụy Điển cũng có những chặng núi, nhưng qua khỏi đó là vùng đồng bằng bằng phẳng mà những cường quốc công nghệ có thể đưa xe tăng vào. Còn trong con mắt người Mỹ, như Russell mô tả, ở Triều Tiên “ở bên kia mỗi ngọn đồi, là một ngọn đồi khác”. Nếu có một màu sắc để mô tả cho Triều Tiên, thì theo Russell, “tất cả trong bóng nâu” – và nếu có dải băng công trạng cho những ai phục vụ ở đó, ông thêm vào, thì tất cả lính viễn chinh sẽ cược vào màu nâu.
Không như Việt Nam, chiến cuộc Triều Tiên diễn ra trước thời đại truyền hình và Hoa Kỳ trở thành một xã hội thông tin. Lúc ấy, tin tức trên truyền hình chỉ là những đoạn ngắn, nhợt nhạt và thường chẳng mấy tác dụng – mười lăm phút mỗi đêm. Vì điều kiện kỹ thuật, những cảnh tượng ở Triều Tiên, thường theo mạng lưới tin tức đến Nữu Ước sau vài ngày, và hiếm khi đến được với công chúng. Đó vẫn là một cuộc chiến trên báo in, các bài tường thuật trên báo trắng đen, và nó cũng để lại những hệ quả trắng đen trong lòng đất nước. Năm 2004, khi thực hiện quyển sách này, tôi có cơ hội đến thư viện Key West, Florida: trên các kệ sách có chừng 88 quyển nói về Chiến tranh Việt Nam nhưng chỉ có 4 cuốn về Triều Tiên, điều này ít nhiều cho thấy số phận của cuộc chiến này trong ký ức người Mỹ. Arden Rowley, một kỹ sư trẻ thuộc sư đoàn bộ binh số 2, người làm tù binh chiến tranh gần hai năm rưỡi trong trại tù của Trung Quốc, ghi nhận với ít nhiều chua xót rằng, từ năm 2001 đến 2002, những năm kỷ niệm lần thứ 50 các trận đánh chính yếu ở Triều Tiên, có ba cuốn phim chiến tranh lớn được làm ở Mỹ - đó là Trân Châu Cảng (Pearl Harbor), Người đọc mã (Windtalker) và Chúng tôi là lính (We were Soldiers) – hai cuốn đầu là về Thế Chiến II, còn cuốn thứ ba là về Việt Nam; và nếu tính thêm cả Giải cứu binh nhì Ryan (Saving Private Ryan) sản xuất vào năm 1998 là bốn. Không phim nào nói về Triều Tiên. Cuốn phim nổi tiếng nhất có liên quan đến Korea là làm vào năm 1962 Ứng cử viên Mãn Châu (The Manchurian Candidate), kể về chuyện một tù binh Mỹ được cải tạo trong trại tù Trung Quốc và trở thành một tay thích khách của +S nhằm vào ứng cử viên tổng thống Mỹ.
Đến mức Cuộc chiến Triều Tiên có được một góc nhỏ trong văn hóa cộng đồng là nhờ vào phim phản chiến của Robert Altman M*A*S*H, phim về hoạt động trong chiến tranh của một trạm phẫu di động. Bề ngoài là về Triều Tiên, nhưng thực chất đây là một phim về Việt Nam, ra đời năm 1970, lúc việc phản đối cuộc chiến ở đó lên mức cao. Lúc ấy, các nhà điều hành Hollywood vẫn còn e ngại về việc làm phim phản chiến Việt Nam. Vì vậy nên bối cảnh Triều Tiên được thay trên phim về Việt Nam; đạo diễn Altman và biên kịch Ring Lardner, Jr. tập trung vào Việt Nam nhưng cho rằng đề tài quá nhạy cảm và sẽ bị đối đãi không phù hợp. Đáng lưu ý là trong phim, binh lính, sỹ quan để đầu tóc bù xù kiểu ở Việt Nam trong những năm đó chứ không phải là kiểu trong thời chiến tranh Triều Tiên.
Và vì thế nên sự thật tàn nhẫn của cuộc chiến không bao giờ thâm nhập được vào ý thức người Mỹ. Ước lượng có chừng 33,000 người Mỹ chết ở đó cùng 105,000 thương binh. Phía Nam Hàn có 415,000 lính chết cùng 429,000 thương binh. Cả Bắc Triều Tiên lẫn Trung quốc đều dấu kín mức thương vong của họ, nhưng phía Mỹ đưa ra số thiệt hại của họ là vào khoản 1,5 triệu lính chết. Cuộc chiến Triều Tiên, ngay tức khắc làm tăng nhiệt Chiến tranh Lạnh, tôn thêm tình trạng căng thẳng to lớn giữa Hoa Kỳ và thế giới +S, và đào sâu hơn hố ngăn giữa Hoa Kỳ và các lực lượng +S xác lập ở Châu Á. Sự căng thẳng và ngăn cách giữa hai bên cực đấu tranh còn gia tăng nghiêm trọng hơn sau khi những tính toán sai của người Mỹ đã mang Trung Quốc vào cuộc chiến. Khi cuộc chiến kết thúc và một thỏa ước ngừng bắn được đưa ra, cả hai bên đều tuyên bố chiến thắng, dù rằng đường giới tuyến phân chia quốc gia chẳng có chút khác biệt nào so với lúc cuộc chiến bắt đầu. Nhưng với Hoa Kỳ thì không như vậy: tầm nhìn chiến lược ở Châu Á thay đổi, và phương trình chính sách nội địa cũng biến đổi lớn.
Những người Mỹ tham chiến tại Triều Tiên thường cảm thấy bị chia cắt khỏi nhân dân mình, sự hi sinh của họ không được đánh giá đúng, cuộc chiến xa nhà của họ không được coi trọng mấy trong mắt người đương thời. Không có sự vinh quang cũng như tính chính danh như trong Thế Chiến II, nên một kết luận mới đây rằng, cả quốc gia cùng chia sẽ một mục tiêu lớn lao chung, mỗi người lính được nhìn nhận như một người truyền bá tinh thần dân chủ cùng những giá trị tốt nhất của nó, như vậy là quá vinh dự rồi. Cuộc chiến Triều Tiên là một cuộc chiến giới hạn, thê thảm. Không điều gì là quá tốt, đất nước nhanh chóng quyết định, sẽ thoát khỏi nó. Khi một người lính trở về nhà, họ nhận thấy đa số hàng xóm chẳng thích thú với những gì họ đã thấy, đã làm. Chủ đề chiến tranh nhanh chóng bị bỏ qua trong các cuộc nói chuyện. Những vấn đề trước mặt như quan chức thăng cấp, mua xe, mua nhà còn hấp dẫn hơn. Một phần là bởi tin tức từ Triều Tiên hầu như luôn quá ác liệt. Ngay cả khi cuộc chiến tốt hơn, nhưng rõ ràng là không quá tốt; thì khả năng của một cuộc tấn công lớn hơn hiếm hoi dường như đến gần, ít nhiều điều gì đó đến gần thắng lợi; đặc biệt một khi người Trung Quốc tham chiến vào cuối tháng 11 năm 1950. Nhanh sau đó, thành ngữ nhạo bám cho thế bế tắt là “die for a tie” ở nên yêu thích trong quân đội.
Có sự mất liên kết lớn lao giữa những ai chiến đấu và những người ở quê nhà, nên cảm giác rằng bất kể họ đã dũng cảm thế nào, hoặc có lý do vững chắc, thì những người lính ở Triều Tiên vẫn bị xếp vào hạng hai khi so với những ai tham gia trong các cuộc chiến trước đó, điều này dẫn đến việc im lặng – và nhẫn nại – chua cay.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: tieungoclang trong 02 Tháng Mười Một, 2011, 04:44:46 pm
PHẦN I
LỜI CẢNH BÁO Ở USAN
Chương 1

Đó là một phát súng cảnh báo mà tư lệnh Mỹ vùng Viễn Đông, Douglas MacArthur, không thèm để ý, phát súng đã làm một cuộc chiến tranh nhỏ trở thành cuộc chiến lớn.
Ngày 20 tháng 10 năm 1950, quân của sư đoàn Kỵ binh số 1 Hoa Kỳ tiến vào Bình Nhưỡng, thủ đô Bắc Triều Tiên. Sau này, có vài cuộc tranh cãi về việc ai là người đầu tiên tiến vào, các đơn vị thuộc Trung đoàn 5 lính kỵ binh hay quân của Sư đoàn Nam Triều Tiên số 1. Sự thật là lính kỵ binh đã bị chậm bởi tất cả cầu bắc qua sông Taedong trong vùng của họ đã bị nổ mìn, vậy nên các đơn vị Nam Hàn, hay còn gọi là ROK (Cộng hòa Hàn Quốc - Republic of Korea) đã tiến vào thành phổ đổ nát. Điều này không làm giảm bớt sự vui mừng của họ. Bởi với họ, chiếm được thành phố nghĩa là chiến tranh kết thúc. Nhằm để chắc ăn với những ai biết về các đơn vị Mỹ ở nước này, rằng lính Kỵ binh đến đầu tiên, vài người lính có sơn và cọ, đã vẽ logo của quân kỵ binh khắp thành phố.
Nhiều cuộc ăn mừng nhỏ riêng lẻ đã được tổ chức khắp Bình Nhưỡng. Trung úy Phil Peterson, điểm chỉ viên pháo binh thuộc tiểu đoàn dã pháo số 99, cùng người bạn thân nhất, trung úy Walt Mayo tòng sự trong tiểu đoàn 3, trung đoàn 8 kỵ binh, cũng có một buổi ăn mừng riêng giữa hai người. Họ không gần gũi kiểu bạn bè cũ, mà là cùng trải qua quá nhiều thứ. Peterson nghĩ đó là một dạng tình bạn bất thường, chỉ có thể có được trong lò rèn quân đội. Walt Mayo là một người thông minh, sành điệu đến từ trường Boston College, ở đó cha anh dạy nhạc, trong khi Peterson là sản phẩm của trường Học sinh sỹ quan, tốt nghiệp ở Morris, Minessota, khóa 9 chỉ bởi họ trả lương 5 $ một ngày cho ai phục vụ ở chiến trường. Tại Bình Nhưỡng, trung úy Mayo xoay sở kiếm được một chai sâm banh Nga từ một quầy hàng rượu lớn được giải phóng từ Sứ quán Nga, họ chia cho nhau, uống cái loại sâm banh giả cầy đó bằng cốc thiếc trong bộ gà mên của họ, vị thô của nó làm bạn phát ọe. Tởm, nhưng tốt, họ cho là vậy.
Trung sỹ Nhất Bill Richardson trong đại đội L, tiểu đoàn 3 cảm thấy một làn sóng khuây khỏa tràn lên người anh tại Bình Nhưỡng. Cuộc chiến hầu như kết thúc, và lính kỵ có thể sẽ được đưa ra khỏi Triều Tiên. Anh biết điều này, không chỉ bởi vì những tin đồn, mà còn vì chỉ huy đại đội đã gọi tất cả những ai có kinh nghiệm đi tàu (thủy) để xác định người giỏi hơn. Đó là chỉ dấu chắc chắn cho thấy rằng họ sẽ được tàu thủy chuyển ra. Một dấu hiệu khác cho thấy những ngày chiến đấu ác liệt đã kết thúc khi họ được yêu cầu nộp lại phần lớn đạn dược. Những tin đồn khác rò rỉ từ các sở chỉ huy khác cũng cho thấy sự thật.
Trong tâm trí, Richardson cho mình là một tay lính già của đơn vị: hầu hết những người khác trong trung đội anh giờ dường như là lính mới. Anh luôn nghĩ về những người mà anh đã bắt đầu đi cùng ở ba tháng trước đó, một giai đoạn mà dường như còn dài hơn cả 21 năm vừa qua của cuộc đời anh. Nhiều người tử trận, nhiều người bị thương, và nhiều người mất tích. Chỉ còn một người khác cùng trung đội của Richardson ngay từ đầu là anh bạn thượng sỹ Jim Walsh, anh tìm thấy anh ta. “Chúa ơi, chúng ta đã làm được rồi, anh bạn, chúng ta đã làm điều này cả chặng” anh nói, họ chúc mừng nhau, và không tin nổi vào vận may của mình. Những cuộc ăn mừng kiểu đó diễn vào một trong những ngày sau chót của tháng Mười. Những ngày ngay sau, họ được phát lại đạn dược và tiến lên phía bắc để cứu viện những đơn vị Nam Hàn bị vây đánh.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: tieungoclang trong 02 Tháng Mười Một, 2011, 04:45:42 pm
Nhưng, vẫn có tin rằng: sẽ có diễu binh mừng chiến thắng ở Tokyo, và lính kỵ binh, bởi đã chiến đấu rất dũng cảm trong một thời gian dài trên chiến trường Triều Tiên, và cũng vì là đơn vị con cưng của Douglas MacArthur, tướng tổng tư lệnh, nên sẽ được đi đầu. Họ còn được cho là sẽ được quàng khăn kỵ binh màu vàng của mình trong đợt diễu binh, và có tin xuống là phải chuẩn bị cho chỉn chu, không thể dùng đồ trận loang lổ: sau tất cả mọi thứ, bạn không thể diễu qua khu Ginza trong quân phục và nón trận bẩn thỉu. Quân kỵ binh còn định sẽ khệnh khạng một chút khi đi ngang sở chỉ huy của MacArthur tại tòa nhà Dai Ichi. Họ xứng đáng được khệnh khạng một chút.
Tinh thần của quân Mỹ ở Bình Nhưỡng nhìn chung là pha trộn giữa lạc quan và kiệt sức, cả về thể chất lẫn cảm xúc. Họ đậu tiền lại để mở sòng một khi được tàu chở ra. Với vài người mới nhất, những người đến thay thế, vốn chỉ nghe chuyện về cuộc chiến đấu gian khổ từ vòng cung Pusan đến Bình Nhưỡng, thì tin rằng những điều tồi tệ nhất đã là quá khứ. Một trung úy trẻ tên Ben Boyd quê ở Claremore, Oklahoma, vừa gia nhập sư Kỵ binh ở ngay Bình Nhưỡng, và được giao cho một trung đội thuộc Đại đội Baker, tiểu đoàn 1. Boyd, tốt nghiệp ở trường West Point chỉ bốn năm trước đó, rất muốn vị trí chỉ huy này, nhưng anh bị lo lắng về lịch sử mới đây của trung đội. “Này trung úy, cậu biết phải thế nào với trung đội này không?” một sỹ quan cao cấp hỏi. Thưa không, Boyd trả lời. “Được, trung úy, cậu đừng quá vênh váo nhé, bởi cậu là trung đội trưởng thứ mười ba của đơn vị này kể từ khi nó ở Triều Tiên”. Boyd đột nhiên biết rằng anh sẽ không cảm thấy vênh váo nữa.
Một trong những ngày chót ở Bình Nhưỡng cho thấy một dấu hiệu chắc chắn khác. Bob Hope tổ chức một sô diễn cho binh sỹ ở đó. Đó thật sự là một chuyện quan trọng: diễn viên hài nổi tiếng, từng diễn hàng loạt sô cho quân đội trong Thế Chiến II, diễu hề tại thủ đô Bắc Triều Tiên. Đêm ấy, phần lớn lính kỵ binh đến xem Hope, và rồi, sáng hôm sau, với các cơ số đạn được giao lại, họ lên đường đến một vùng phía bắc gọi là Unsan, nhằm bảo vệ cho một đơn vị ROK đang bị đánh. Rõ ràng, tất cả những gì phải làm có lẽ là dọn dẹp một đống lộn xộn nhỏ, mà họ tin là lính Nam Hàn luôn đâm đầu vào.
Khi họ tiến lên, họ không được chuẩn bị chu đáo. Vâng, họ đã được nhận lại đạn dược, nhưng còn đó câu hỏi về quân phục. Họ nên chọn quân phục dự định sẽ mặc đi diễu binh ở Tokyo hay đồ mùa đông? Không hiểu sao, bộ diêm dúa được chọn, ngay cả khi mùa đông Triều Tiên – đó là mùa đông lạnh nhất trong vòng 100 năm – đến rất nhanh. Tâm trạng ở cả một bộ phận sỹ quan lẫn binh lính, ngay cả khi họ tiến thẳng đến những khu vực hiểm nghèo cạnh sông Áp Lục, biên giới Triều Tiên và Mãn Châu Lý Trung Hoa, rằng họ không còn gặp nguy hiểm nữa. Đa số họ biết chút ít về một cuộc họp lớn vừa tổ chức hai tuần trước ở hồ Wake giữa Harry Truman và Douglas MacArthur, tin lọt ra rằng MacArthur hứa sẽ trả lại Washington một sư đoàn quân Mỹ đã dùng ở Triều Tiên nhằm gửi sang châu Âu.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: tieungoclang trong 02 Tháng Mười Một, 2011, 04:46:28 pm
Bản thân MacArthur cũng hiện diện ở Bình Nhưỡng ngay sau khi quân kỵ binh đến đó. “Không có tổ chức chào mừng tôi gì à?” ông hỏi khi bước ra khỏi phi cơ. “Cái tay chơi Kim Răng Thỏ đâu nhỉ?” ông đùa, nhạo tên Kim Il Sung, lãnh đạo của nước +S Bắc Triều Tiên dường như đã bị đánh bại này. Rồi ông hỏi xem những ai là lính kỵ binh tham gia ngay từ đầu đến giờ. Có chừng 200 người tập hợp lại, bốn người đi khập khiễng; họ bị thương ở đâu đó. Rồi MacArthur lên phi cơ bay về Tokyo. Ông không ở đêm nào ở Triều Tiên; sự thật là ông không hề ngủ đêm nào ở đó trong suốt thời gian ông nắm quyền chỉ huy.
Khi MacArthur trở về Tokyo, nhiều chính khách ở Washington hiểu rõ hơn rằng ông ta có kế hoạch đưa quân lính tiến xa hơn lên phía bắc. Ông xác quyết rằng phía Trung Hoa sẽ không tham chiến. Quân của ông gặp ít kháng cự vào lúc ấy, quân Bắc Triều đang bỏ trốn, nên ông mở rộng mệnh lệnh mà trong trường hợp này những mệnh lệnh ấy thiếu rõ ràng hơn vốn có. Hiển nhiên là ông có ý định tiến đến sông Áp Lục, đến biên giới Trung Hoa, chạm vào giới hạn từng bước một mà Washington nghĩ phải áp đặt nhưng rõ ràng sợ bị áp đặt. Chính lệnh cấm của Hội đồng liên quân không cho quân Mỹ tiến vào bất kỳ tỉnh biên giới nào của Trung Quốc dường như cũng không làm MacArthur chùn tay. Điều này không có chút ngạc nhiên nào cả: những mệnh lệnh mà Douglas MacArthur tuân theo, được tin là, của chính ông ta. Sự đoan chắc của ông ta về cái quân đội Trung Hoa khổng lồ mà mọi người đều biết là đang đợi ngay bên kia sông Áp Lúc có hoặc không đi xa hơn nhóm chính khách hàng đầu trong chính quyền Truman. Lúc ở hồ Wake, ông đã nói với tổng thống rằng người Trung Hoa sẽ không tham chiến. Bên cạnh đó, nếu họ làm vậy, thì ông ta khoát lác rằng sẽ làm cho sự hiện diện của họ trở thành một thảm họa quân sự lớn nhất trong lịch sử. Với MacArthur và các sỹ quan tham mưu của mình, hoàn toàn xa rời  cái vùng đất hoang tàn này của thế giới - nơi có nhiệt độ và địa hình như Alaska, thì có lẽ thời khắc sau cùng của cuộc hành binh thắng lợi rực rỡ lên phía bắc vốn bắt đầu từ trận đổ bộ đường thủy lên Inchon sau tuyến quân Bắc Triều Tiên đã điểm. Đó là một thành công vượt bậc, có lẽ là chiến thắng vĩ đại nhất trong binh nghiệp, hơn tất cả bởi vị tướng đã vượt qua mọi sự chống đối của đa số ở Washington. Trở lại Washington, hầu hết những quan chức cao cấp, cả dân sự lẫn quân sự, trở nên lo lắng hơn khi MacArthur tiến lên phía bắc. Họ gần như không chắc chắn như vị tướng ấy về ý định của người Trung Hoa (hay cả người Nga), và họ cũng lo lắng về những điểm yếu to lớn của các lực lượng Liên Hiệp Quốc. Nhưng họ cũng biết rằng họ chẳng điều khiển được tướng MacArthur mấy – họ dường như sợ ông ta, nhiều bằng những gì họ hi vọng ở ông.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: tieungoclang trong 03 Tháng Mười Một, 2011, 11:07:00 am
Lúc này thì sự cân bằng làm hài lòng LHQ, trong khi giai đoạn đầu của cuộc chiến, lúc quân Bắc Triều Tiên vượt vĩ tuyến 38 vào cuối tháng 6, thì rõ ràng làm hài lòng phía +S. Họ có được hết chiến thắng này đến chiến thắng khác trước các lực lượng yếu kém, thiếu chuẩn bị của Mỹ và Nam Hàn. Nhưng rồi khi những đơn vị tốt hơn, nhiều hơn của Mỹ đến, cùng với cuộc đột kích thông minh của MacArthur lên Inchon, đổ bộ vào hậu phương quân Bắc. Các đơn vị Bắc Triều Tiên bị cắt rời, đến khi Seoul được tái chiếm sau vài trận đánh đẫm máu, thì kháng cự của quân Bắc hoàn toàn tan vỡ. Nhưng ở Washington, đa số các nhân vật hạng nhất, dù hài lòng với trận Inchon, vẫn khá lo lắng trước tác dụng đòn bẩy với MacArthur. Người Trung Hoa cảnh cáo rằng họ sẽ tham chiến, nhưng MacArthur, trong tình huống tột đỉnh đó, chẳng chịu nghe lời, bởi trở thành một dạng á-thánh sau trận Inchon.  Ông ta bảo rằng người Trung Quốc sẽ không phản ứng, và có lẽ ông tưởng mình là chuyên gia trong lĩnh vực mà ông gọi là đầu óc Phương đông. Nhưng trước đó ông đã sai, hoàn toàn sai, với ý định và khả năng của người Nhật trước thế chiến II. Sau này, nhiều nhân vật cao cấp ở Washington đã xem thời điểm và quân LHQ tiến vào Bình Nhưỡng nhưng trước khi đến Unsan là cơ hội sau chót để giữ cho cuộc chiến không leo thang lên một nấc lớn hơn nhiều, cuộc chiến với Trung Quốc.

Không ít lo lắng với nhiều sỹ quan và binh lính tiến lên phía bắc. Chuyến hành quân khó nhọc, nhiệt độ hạ thấp đáng báo động, địa hình ngày càng nhiều núi non chập chùng, với các sỹ quan có kinh nghiệm thì đây là một cuộc tiến công với điều kiện kỳ lạ. Nhiều năm sau, tướng Paik Sun Yup, tư lệnh sư đoàn Nam Hàn số 1 (và theo người Mỹ ông là viên tư lệnh giỏi nhất Hàn Quốc), nhớ lại cảm giác lo lắng của mình khi họ tiến lên mà không gặp chút kháng cự nào. Đó là một cảm giác hầu như bị cách ly, như thể họ chỉ có một mình. Tướng Paik, vị sỹ quan cựu binh đã từng chiến đấu với quân Nhật, đầu tiên không thể định vị được điều gì làm ông lo ngại. Rồi ông chợt nhận ra: hoàn toàn vắng bóng con người, sự yên lặng tuyệt đối bao trùm lên toàn đơn vị. Trong khi lúc trước, luôn có hàng đoàn người tỵ nạn lũ lượt kéo về phía nam. Giờ đây con đường vắng ngắt, như thể có điều gì đó quan trọng đang đến, nhưng ngoài tầm nhìn, tầm hiểu biết của ông. Ngoài ra, trời bắt đầu lạnh hơn. Mỗi ngày nhiệt độ giảm xuống vài độ.

Những sỹ quan tình báo chủ chốt cũng lo lắng. Họ thu thập được chút ít thông tin, từ các nguồn khác nhau, họ tin rằng quân Trung Quốc sẽ tiến vào địa phận Bắc Triều Tiên trong cuối tháng Mười với sức mạnh đầy đủ. Đại tá Percy Thompson, sỹ quan G-2 (tình báo) của quân đoàn 1, sư kỵ binh thuộc đơn vị này, được xem là một trong những sỹ quan tình báo có khả năng nhất ở Triều Tiên, rất bi quan. Ông khá chắc chắn về sự có mặt của người Trung Quốc và cố cảnh báo lên thượng cấp. Nhưng ông nhận ra mình phải chiến đấu với cảm giác phởn phơ đang tràn lan trong các sỹ quan kỵ binh cao cấp và bắt nguồn từ Tokyo. Thompson cảnh báo trực tiếp với đại tá Hal Edson, trung đoàn trưởng trung đoàn 8, sư kỵ binh số 1, rằng ông tin chắc là có một lực lượng đáng gờm quân Trung Quốc trong vùng, nhưng Edson và những sỹ quan khác đã xem cảnh báo của ông, như được ông ghi nhận lại là “không tin tưởng và thờ ơ”. Trong những ngày sau, con gái ông Barbara Thompson Eishenhower (cưới John con trai của Dwight Eishenhower) nhớ lại sự thay đổi giọng điệu đầy kịch tính của ông trong  các lá thư gửi về từ Triều Tiên. Trông như ông viết lời vĩnh biệt. “Ông hoàn toàn chắc chắn rằng họ sẽ bị tràn ngập và ông sẽ bị giết” cô nhớ lại.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: tieungoclang trong 03 Tháng Mười Một, 2011, 11:10:33 am
Thompson có lý do đúng để lo lắng. Những nguồn tin tình báo trước đó của ông khá chính xác: Người Trung Quốc đã sẵn sàng trong nước họ, kiên nhẫn chờ đợi quân Nam Hàn (ROK) và có lẽ những đơn vị LHQ khác vượt qua đường giới tuyến ngoằn nghèo lên phía bắc, trên những ngọn núi Bắc Triều Tiên. Họ không có ý định tấn công một đơn vị Mỹ nào sớm trong chiến dịch này. Họ muốn người Mỹ duỗi xa hơn lên phía bắc rồi họ mới đánh; họ biết sự khó khăn của cuộc hành quân lên phía bắc sẽ làm công việc của họ dễ dàng hơn. “Đến sông Áp Lục” quân sỹ của tướng Paik hô vang lúc cuối tháng Mười, “đến sông Áp Lục”. Nhưng đến ngày 25 tháng Mười, quân Trung Quốc tổng tấn công. Như việc đột nhiên húc vào một bức tường gạch, Paik sau này viết lại. Đầu tiên, các chỉ huy quân Nam Hàn không biết việc gì xảy ra. Trung đoàn 15 dưới quyền của Paik bị chặn đứng hoàn toàn bởi một trận cối dữ dội, sau đó cánh trái của trung đoàn 12 bị đánh bại, còn trung đoàn 11, lực lượng dự bị của sư đoàn bị đánh ở cả hai cánh và từ phía sau. Quân địch chiến đấu rõ ràng là có trình độ cao. Paik nghĩ đó phải là quân Trung Quốc. Ông phản ứng theo phản xạ và nhờ vậy gần như cứu được hầu hết quân của mình. Ngay lập tức ông đưa sư đoàn lui về làng Unsan. Sau này ông kể lại, lúc đó trông giống như một cảnh ở miền Viễn tây Mỹ, khi người da trắng bị người da đỏ với số lượng vượt trội tấn công, đã phòng thủ vòng tròn sau những thùng xe. Sư đoàn của ông đã lọt vào một trận phục kích khổng lồ của quân Trung Quốc. Nhiều đơn vị Nam Hàn khác không được may mắn hoặc không được lãnh đạo tốt như thế.

Tướng Paik nhanh chóng xác định đó là quân Trung Quốc. Ngay ngày đầu của trận đánh, vài binh sỹ thuộc trung đoàn 15 mang đến một tù binh. Đích thân Paik thẩm vấn. Người tù tầm 35 tuổi và mặc quân phục mùa đông dày, may chần, hai mặt, một mặt màu khaki, mặt kia màu trắng. Paik viết, nó “thật đơn giản nhưng hữu hiệu cho việc ngụy trang trên tuyết”. Người tù đội một chiếc mũ dày và nặng, với dải che tai mà rồi họ sẽ rất quen thuộc, cùng với giày cao su đế mềm. Anh ta không quá sôi nổi nhưng đáng ngạc nhiên là rất hợp tác khi thẩm vấn: anh là một lính thường trong quân đội +S Trung Quốc, người Quảng Đông. Anh ta ngẫu nhiên bảo Paik rằng có hàng vạn lính Trung Quốc trên các ngọn núi bên cạnh. Sư đoàn 1 Nam Hàn có thể đã rơi vào bẫy.

Ngay lập tức Paik gọi cho tư lệnh quân đoàn, thiếu tướng Frank (Shrimp) Milburn, và giải người tù lên sở chỉ huy của Milburn. Lúc này thì Milburn thẩm vấn còn Paik làm phiên dịch. Sau này, ông ghi nhận lại, cuộc thẩm vấn như sau:
-   “Anh đến từ đâu?”
-   “Tôi từ Nam Trung Hoa”
-   “Đơn vị anh là gì?”
-   “Tập đoàn quân số 39”
-   “Anh từng chiến đấu ở đâu?”
-   “Tôi từng chiến đấu trong trận chiến đảo Hải Nam [trong nội chiến Trung Quốc]”
-   “Anh là người Triều Tiên sống ở Trung Quốc à?”
-   “Không, tôi là người Trung Quốc”

Paik tin chắc là người tù nói thật. Anh ta không khoe khoan cũng không lảng tránh. Tính chất nghiêm trọng của đơn vị ông cũng có thể nhận thấy rõ. Từ lâu đã biết được rằng phía Trung Quốc có ít nhất ba trăm nghìn quân túc trực ở sông Áp Lục, sẵn sàng tiến lên khi họ muốn. Câu hỏi duy nhất là Bắc Kinh có chơi thấu cáy không khi cảnh báo cả thế giới về ý định đưa quân Trung Quốc tham chiến. Ngay lập tức Milburn báo tin này cho sở chỉ huy tập đoàn quân 8. Từ đó, nó được chuyển tiếp tới thiếu tướng Charles Willoughby, trưởng ban tình báo của Douglas MacArthur, ông này là người khai mào cho tuyên bố rằng không có quân Trung Quốc ở Triều Tiên, và họ sẽ không đến, hay ít nhất cũng không đủ số lượng để làm nên chuyện. Và đó cũng là điều mà chỉ huy của ông, MacArthur tin, ở sở chỉ huy của MacArthur thì vấn đề đầu tiên, tiên khởi của đội G-2 (tình báo) là phải tin rằng chỉ huy mình luôn luôn đúng. Tiến lên phía bắc đến sông Áp Lục, số lượng hữu hạn các đơn vị Mỹ, Hàn và LHQ vươn ra quá xa và dàn mỏng trên một địa hình đồi núi to lớn, đây là tiền đề cho ý tưởng về sự nhẫn nhịn của người Trung Hoa. Nếu giờ sở chỉ huy của MacArthur đột nhiên báo cáo rằng có dấu hiệu của lực lượng quân sự Trung Quốc, thì Washington, vốn vẫn đang quan sát có phần thụ động từ bên ngoài, sẽ chớp thời cơ để vùng lên và yêu cầu có một vai trò chủ đạo trong cuộc chiến, lúc ấy sở chỉ huy Tokyo sẽ mất quyền điều khiển kế hoạch của mình và không thể đi đến được sông Áp Lục. Đó rõ ràng là điều MacArthur không muốn xảy ra, cái mà ông muốn là thứ Willoughby luôn làm đúng trong các báo cáo ước lượng tình báo. Khi những tin tức đầu tiên về quân lực Trung Quốc tập trung ở phía bắc sông Áp Lục, Willoughby tùy tiện nhận định. “Có khả năng đây là một dạng tống tiền ngoại giao”. Còn giờ, khi người tù binh Trung Quốc đầu tiên bị bắt, một người nói nhiều bất thường, thì tuyên bố từ chỗ Willoughby nhanh chóng đưa ra: tù binh là người Triều Tiên cư trú ở Trung Quốc, tình nguyện chiến đấu. Kết luận thật kỳ quái, và có tính toán nhắm vào việc giảm thiểu tầm quan trọng của người tù binh; nó có nghĩa là người tù không biết mình là ai; quốc tịch gì; thuộc đơn vị nào và có bao nhiêu binh sỹ đồng đội đến cùng anh ta. Đó là một phán quyết làm hài lòng các chỉ huy cao cấp phía Trung Quốc – bởi đó chính xác là điều họ muốn người Mỹ nghĩ. Càng có nhiều kẻ phù phiếm như vậy trong quân Mỹ thì thắng lợi của người Trung Quốc thu được sẽ càng lớn một khi họ khép được cái bẫy.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: tieungoclang trong 08 Tháng Mười Một, 2011, 02:35:21 pm
Trong những tuần tiếp, quân Mỹ và Hàn liên tục đưa về tù binh Trung Quốc, những người này xác nhận đơn vị, xác nhận họ đã vượt sông Áp Lục cùng với số lượng đồng bào khổng lồ. Nhưng lần này sang lần khác, Willoughby coi nhẹ những tin tình báo chiến trường. Mà dẫu ở cấp sư đoàn, quân đoàn, tập đoàn quân hay bộ chỉ huy Viễn Đông có tranh biện với nhau về việc những tù binh Trung Quốc có là người Trung Quốc thật không, rằng họ thuộc một sư, một tập đoàn quân hay cụm tập đoàn quân nào và rằng những điều đó có ý nghĩa lớn với các đơn vị cực kỳ dễ tổn thương của lực lượng LHQ, thì cũng chẳng có mấy chút tin tức xuống được đến chính các đơn vị đó. Điển hình như quân của trung đoàn kỵ binh số 8, khi hành quân từ Bình Nhưỡng lên Unsan, họ tin rằng họ đang truy kích tàn quân Bắc Triều Tiên rồi sẽ nhanh chóng đến được sông Áp Lục, và nếu có thể, đái một bãi ở đó để ghi lại một dấu ấn chiến thắng cá nhân.
Cái trạng thái phởn phơ rất nguy hiểm đó lan khắp các cấp cao nhất của tập đoàn quân 8, và không ai phản chiếu điều này nhiều hơn MacArthur. Ông, viên sỹ quan giàu kinh nghiệm nhất trong quân đội Hoa Kỳ, tràn đầy niềm tin vào chặng đường phía trước, cũng như những ai dưới quyền, kể cả đa số các quân nhân cao cấp trong các quân đoàn, sư đoàn. Giữ vị trí càng cao trong các sở chỉ huy, đặc biệt là ở Tokyo thì càng có cảm giác mạnh mẽ hơn về việc chiến tranh đang sắp kết thúc, công việc duy nhất còn lại đơn thuần chỉ là vài cuộc càn quét tảo thanh. Có nhiều dấu hiệu cho thấy điều cả tin ấy. Ngày 22 tháng Mười, ba hôm trước ngày bắt được người tù binh Trung Quốc đầu tiên, trung tướng Walton Walker, tư lệnh tập đoàn quân 8, xin lệnh của MacArthur để chuyển hướng tất cả những chuyến tầu chở đạn dược từ Triều Tiên sang Nhật Bản. MacArthur đồng ý và còn ra lệnh cho 6 chiếc tàu chở đạn đại bác 105 ly, 155 ly chuyển hướng đến Hawaii. Một tập đoàn quân dùng rất nhiều đạn và luôn bị thiếu trong bốn tháng trước giờ cảm thấy quá dư.

Cũng trong tập đoàn quân 8, thiếu tướng Laurence (Dutch) Keiser, sư đoàn trưởng sư đoàn bộ binh số 2 danh tiếng, cho triệu tập tất cả các sỹ quan tham dự một buổi họp đặc biệt trong ngày 25 tháng Mười. Trung úy Ralph Hockley, một sỹ quan quan trắc trẻ thuộc tiểu đoàn dã pháo 37, nhớ rất rõ những lời nói trong ngày ấy. Sư đoàn 2, vì đã trải qua hầu hết những trận đánh dữ dội nhất, nên sẽ được rời khỏi Triều Tiên, Keiser nói. Ông đang trong một tâm trạng tuyệt vời “Chúng ta sẽ về nhà, và chúng ta sẽ sớm về nhà – trước Giáng sinh”, ông nói với các sỹ quan của mình. “Chúng ta đã có lệnh”. Một trong số các sỹ quan hỏi họ sẽ chuyển đi đâu. Keiser trả lời rằng ông chưa thể nói cho họ biết, nhưng đó sẽ là một nơi họ sẽ thích. Thế là sự đoán mò bắt đầu: Tokyo, Hawaii, cũng có thể là Hoa Kỳ và cả vài điểm ở Châu Âu.

Quân trung đoàn 8 thuộc sư 1 kỵ binh đến được Unsan chẳng mấy khó khăn. Trung sỹ Herbert (Pappy) Miller nhận được tin rằng họ phải rời Bình Nhưỡng đến Unsan là để làm vững tinh thần quân Nam Hàn. Miller là trung sỹ trợ tá trung đội thuộc Đại đội Love, tiểu đoàn 3, trung đoàn 8 kỵ binh. Anh thích thêm vài ngày ở Bình Nhưỡng, nhưng có lệnh và đó là công việc họ phải làm, bịt lỗ. Anh không bao giờ hiểu nổi tại sao có những kẻ ngốc nghĩ được rằng quân Nam Hàn có thể đi tiên phong tiến lên phía bắc.  Miller không hề lo sợ về việc quân Trung Quốc sẽ đến. Cái làm anh lo là cái lạnh, bởi họ vẫn còn đang mặc quân phục mùa hè. Trở lại lúc ở Bình Nhưỡng, họ được bảo rằng quân phục mùa đông đang đến, đã chất lên xe và sẽ đến trong nay mai. Họ nghe câu đó trong vài ngày, nhưng rồi chẳng có quân phục mùa đông nào đến cả. Trung đoàn của Miller đã tham chiến khá lâu, nên quân phục xanh của tháng Bảy, tháng Tám đã mòn vẹt cả và được thay bằng đồ của xanh của tháng Mười. Anh và người bạn thân Richard Hettinger, đến từ Joplin, Missouri, một cựu binh Thế chiến II khác, cùng hứa sẽ để mắt đến nhau. Lúc bấy giờ có rất nhiều cuộc nói chuyện về việc trở về nhà lúc Giáng sinh, nhưng Miller có góc nhìn có phần thành kiến hơn, anh ta bảo khi nào đến được tới nhà thì hẵng nói là về nhà.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: tieungoclang trong 08 Tháng Mười Một, 2011, 02:36:48 pm
Pappy Miller là dân một thị trấn nhỏ Pulaski, New York. Anh tòng sự ở sư đoàn 42 trong thế chiến II, rồi trở về Pulaski tìm sống bằng một công việc kha khá, nhưng rồi lại quay lại quân ngũ vào năm 1947. Anh thuộc trung đoàn 7, sư đoàn bộ binh số 3, rồi đơn vị này được ghép vào thành sư đoàn kị binh số 1, lúc điều đến Triều Tiên vào tháng 7 năm 1950 anh chỉ còn 6 tháng trong số ba năm tòng quân.  Trong Thế Chiến II, anh nghĩ mọi điều luôn luôn đúng, còn ở Triều Tiên, thì mẹ kiếp gần như mọi thứ đều sai lầm. Anh cùng đại đội của mình đến quốc gia này trong một buổi sáng giữa tháng 7, và vội vã đến chiến tuyến gần khu làng chiến lược Taejon, rồi được ném vào tiền tuyến ngay trong ngày đầu. Kể từ đó, anh trải qua mọi điều, bởi vậy nên lính của anh gọi anh là Pappy dù anh mới chỉ 24 tuổi.

Có rất nhiều người làm ra vẻ hiên ngang trên đường đến tuyến Taejon ở ngày đầu tiên, các tay lính trẻ chỉ biết chiến tranh qua những bộ phim chiến tranh khoát lác rằng họ sẽ đá vào mông bọn Triều Tiên. Miller chỉ im lặng khi họ khoe khoang: cảm nhận sẽ tốt hơn sau trận đánh hơn là biết trước khi nó bắt đầu. Nhưng không có lúc nào để bảo họ rằng – có nhiều thứ phải tự học. Và trận đầu thật tệ hại; họ chuẩn bị không tốt còn quân Bắc Triều Tiên thì rất kinh nghiệm, hiệu quả. Ngày hôm sau, trung đội chỉ còn 39 người từ con số 160 “Chúng tôi gần như bị hủy diệt ngay trong đêm đầu tiên đó” Miller nói. Sau lần ấy chẳng còn mấy câu chuyện nói về việc đá đít bọn Triều Tiên.

Không phải những cậu trai ấy chiến đấu tệ. Chẳng qua là họ chưa sẵn sàng, chưa đúng lúc và quân Bắc Triều Tiên quá đông. Bất kể bạn chiến đấu tốt thế nào, thì luôn luôn có người tốt hơn. Luôn luôn. Họ có thể lẩn ra phía sau bạn, cắt tuyến rút và rồi tấn công vào sườn. Họ rất xuất sắc như thế, Miller nghĩ. Đợt thứ nhất và thứ hai tiến lên với súng trường, rồi ngay phía sau là những người lính khác, tay không, sẵn sàng nhặt vũ khí của những ai ngã xuống và tiếp tục xông lên. Chống lại một quân đội đông đảo như thế, ai, anh nghĩ, cũng cần vũ khí tự động. Nhưng trang bị quân Mỹ thì quá tệ. Với bộ binh cơ bản là đồ cũ. Ở trại huấn luyện  Fort Devens, họ được dạy bằng súng trường cũ tệ, bảo quản kém, chẳng có giá trị, điều này dường như bộc lộ cho thấy cái cách quốc gia nghĩ về quân đội thời bình của nó.
Khi họ đến Triều Tiên, không bao giờ đạn được cung cấp đủ. Miller nhớ lại một trận chiến cay đắng lúc đầu cuộc chiến, khi ấy mọi người phải tự mang theo một hộp đạn rời. Họ phải tự lắp vào băng. Anh tự hỏi không biết cái kiểu quân đội gì mà lại đưa đạn rời cho một khối lượng lớn bộ binh, sẽ đi đến kết cục thế nào. Đó là giai đoạn hết sức nghiệp dư, anh nghĩ. Quân Bắc Triều có những chiếc xe tăng tốt, loại T-34 của Nga, mà những khẩu bazooka khá cũ kiểu thế chiến II của quân Mỹ không thể xuyên thủng được. Trong Thế chiến, bạn luôn biết được mục tiêu của bạn ở đâu và ai đang chiến đấu bên phải bên trái mình. Còn ở Triều Tiên, thì luôn phải chiến đầu trong trạng thái mờ và không bao giờ chắc được bên sườn mình có ổn không, bởi quân Nam Hàn ở đó có như không.

Ngày họ đến Unsan, Miller làm một chuyến tuần tra chừng năm dặm lên phía bắc so với căn cứ, họ bắt gặp một nông dân già, ông báo cho biết rằng có hàng nghìn lính Trung Quốc trong khu vực, đa số đến bằng ngựa. Sự mộc mạc và chắc chắn của ông lão làm Miller gần như tin rằng ông đã nói thật. Nên anh đưa ông lão cùng về sở chỉ huy. Nhưng không ai trong sở chỉ huy tiểu đoàn quan tâm. Quân Trung Quốc hả? Hàng ngàn, hàng ngàn quân Trung Quốc hả? Chẳng ai thấy một người Trung Quốc nào cả? Cưỡi ngựa hả? Thật ngớ ngẩn. Nên chẳng có gì cả. Miller nghĩ, ổn thôi, họ là những chuyên gia tình báo. Họ phải biết.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: tieungoclang trong 17 Tháng Mười, 2012, 04:40:52 pm
Mình lười post ở hai ba chỗ quá, do vậy, các bác, các anh chị nào thích theo dõi tiếp truyện này, mời sang blog của mình: http://tieungoclang.wordpress.com để theo dõi tiếp. Cũng xin nhờ bạn nào rảnh rỗi giúp tớ mang bản dịch từ blog sang đây nhé, để phục vụ cho những ai không thích vào blog của mình.
Xin lỗi các bác, các anh chị, các bạn vì sự bất tiện này.
TNL


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười, 2013, 09:48:26 am
Mình lười post ở hai ba chỗ quá, do vậy, các bác, các anh chị nào thích theo dõi tiếp truyện này, mời sang blog của mình: http://tieungoclang.wordpress.com để theo dõi tiếp. Cũng xin nhờ bạn nào rảnh rỗi giúp tớ mang bản dịch từ blog sang đây nhé, để phục vụ cho những ai không thích vào blog của mình.
TNL

Thôi để tôi vậy!

Tài liệu về Triều Tiên hình như trên VMH rất ít. Ngoài 1 số bài về phi công Triều Tiên trong chiên tranh Việt Nam ra hinh như chưa có tài liệu về Chiến tranh Triều Tiên 1950 - 1953 cả. Thực ra tài liệu về Chiến tranh Triều Tiên 1950 - 1953 trong thực tế cũng khá hiếm. Cách đây vài chục năm mới có 1 cuốn bằng tiễng Việt viết về diễn biến của cuộc chiến đó theo góc nhìn của người bắc Triều Tiên, sau đó thì tôi không gặp một tài liệu nào nữa.

Nhân dịp có bác tieungoclang dịch, tôi xin thay bác đưa nó về trang nhà. Mặc dù chỉ là tiểu thuyết nhưng tôi nghĩ nó cũng có thể cung cấp nhiều thông tin về cuộc chiến này. Nội dung sẽ được chuyển về nguyên dạng (kể cả các lỗi - nếu có).    


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười, 2013, 12:53:12 pm
Trong trung đoàn 8, một hạ sỹ trẻ tên Lester Urban thuộc đại đội Item, tiểu đoàn 3, là một trong những người đầu tiên cảm nhận được mối nguy. Anh là liên lạc viên phái xuống ban chỉ huy Đại đội, điều này có nghĩa là anh ở quanh quẩn sở chỉ huy tiểu đoàn nhiều và nghe ngóng những gì các sỹ quan nói. Urban mới 17 tuổi, chừng 48 cân, quá nhỏ con để được vào đội bóng đá trường Trung học của mình tại một thị trấn nhỏ tên Delbarton, West Virginia. Biệt danh của anh trong lính Kỵ là Đậu phộng (peanut), nhưng anh dai sức và nhanh nhẹn, và cũng vì vậy nên được chọn làm liên lạc. Bởi tình trạng đáng tiếc của các thiết bị liên lạc vô tuyến và hữu tuyến của quân Mỹ ở Triều Tiên – chúng chẳng mấy khi hoạt động hữu hiệu – nên công việc của anh ta là truyền thông điệp bằng miệng hay viết trên giấy từ tiểu đoàn xuống đại đội. Đây là một nhiệm vụ cực kỳ nguy hiểm. Urban tự hào với sự thật rằng anh biết làm điều đó như thế nào và sống sót được. Nếu anh phải đi bốn, năm chuyến đến cùng một địa điểm trong ngày, thì anh luôn thay đổi lộ trình và không bao giờ cẩu thả.

Urban có cảm giác lo lắng, bởi không có đơn vị Mỹ nào ở hai bên sườn họ, do vậy họ rất sơ hở. Nhưng họ đang tiến nhanh và không có kháng cự mấy trong những tuần qua nên anh cũng không quá lo lắng, ít ra là đến khi họ đến Unsan. Tại Unsan, trung đoàn nằm thò ra, theo cách nói của anh, không giống cái gì nhiều hơn là một ngón tay bị đau, và nếu bạn nghĩ về điều đó, thì bạn hiểu rằng ba tiểu đoàn của họ chọn ở vị trí kém trong một không gian bất tiện. Khoảng trống giữa họ, trông chút xíu trên bản đồ, lại rộng đáng ngạc nhiên nếu bạn phải chạy từ đơn vị này sang đơn vị khác, như anh ta đã làm.

Urban ở cạnh sở chỉ huy tiểu đoàn trong ngày 31 tháng Mười, lúc trung tá Harold (Johnny) Johnson, tuần trước còn là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 3, trung đoàn 8 – 3/8- vừa được thăng lên chức trung đoàn trưởng trung đoàn kỵ binh 5 (cũng thuộc sư kỵ binh 1), đến kiểm tra đơn vị cũ của mình. Một trong những điều sau cùng mà Johnson đã làm trước khi họ rời Bình Nhưỡng là tổ chức một buổi lễ tưởng niệm cho những ai thuộc tiểu đoàn 3 đã hi sinh từ lúc cuộc chiến bắt đầu – chừng bốn trăm người cả thảy. Ông tham gia buổi lễ cùng những lính có mặt ngay từ lúc bắt đầu, “một nhóm nhỏ đáng thương những người còn lại” như ông nói.

Johnny Johnson còn hơn cả sự ca tụng, ông được hầu hết lính trong đơn vị cũ yêu mến. Ông đã ở cùng với họ từ ngày họ đến đất nước này, và họ cảm thấy ông luôn ra những quyết định đúng đắn trong chiến đấu. Ông có cảm giác khác thường về lòng trung thành của binh lính dưới quyền, một kiểu mà lính trơn chú ý và đánh giá cao khi xếp loại sỹ quan – và họ luôn xếp loại các sỹ quan, bởi cuộc sống của họ phụ thuộc vào điều đó. Họ biết Johnson đã từ chối cơ hội làm trung đoàn trưởng ngay từ lúc đầu cuộc chiến để ở lại với tiểu đoàn khi nó mới chân ướt chân ráo bước vào chiến đấu, bởi ông cảm thấy ràng buộc với binh sỹ mà ông đưa đến.

Ông là một người từng trải qua địa ngục trần gian. Bị bắt bởi quân Nhật ở Bataan lúc bắt đầu Thế Chiến II, ông xoay sở để sống sót qua Cuộc hành quân Tử thần Bataan và hơn ba năm sau đó với tư cách tù binh. Nói chung, là tù binh chiến tranh không giúp ích gì cho binh nghiệp một sỹ quan – điều này đặc biệt đúng ở Triều Tiên, ở đây việc đối xử của những người cộng sản với tù binh Mỹ tàn bạo một cách bất bình thường và, bởi vì bị tẩy não nên nhiều người bị tổn hại – nhưng rốt cuộc Johnson cũng kết thúc sự nghiệp ở vị trí tham mưu trưởng Lục quân. “Ông ấy là số một” Lester Urban nói trong vài năm sau “ vài người sinh ra để làm lãnh đạo. Tôi nghĩ ông luôn suy tính về những gì tốt đẹp cho chúng tôi. Chứ không phải cho ông”.

Kinh nghiệm ở Bataan đã làm Johnson thiếu tin tưởng vào sự khôn ngoan thông thường, và ông biết hậu quả của chủ nghĩa lạc quan thái quá hơn hầu hết các sỹ quan khác. Lúc đó, trung đoàn kỵ binh 5 của ông giữ vị trí là lực lượng dự bị đóng ngay sau đơn vị cũ của mình chừng vài dặm về hướng nam, nhưng ông lo lắng, bởi nghe thấy nhiều lời nói về một lực lượng địch lớn di chuyển trong khu vực, và có thể cắt đường, cô lập trung đoàn 8 với phần còn lại của sư đoàn. Nên ông tự đi lên phía bắc để kiểm tra tình huống. Trên đường đi, sự tĩnh mịch đã làm tướng Paik lo ngại, mà thật không có gì chuyển động cả, cũng làm Johnson bồn chồn. Như sau này ông nói, những kiểu như là có gai đâm vào sau cổ. Rốt cuộc ông cũng đến tiểu đoàn cũ của mình, ông không thích những gì đang thấy. Người thay thế ông, Robert Ormond, khá mới mẻ với công việc này, nên trong mắt Johnson, đã phân bố tiểu đoàn không tốt. Hầu hết quân đóng trên một khu vực bằng phẳng và không đào hầm hào đúng đắn.

Nhìn cảnh hai viên sỹ quan gặp nhau, Urban cảm thấy Johnson đau khổ. Như Urban nhận biết, Johnson không phải là kiểu người chèn ép sỹ quan khác, nhưng những gì ông nói với Ormond trông có vẻ cứng rắn một cách đáng ngạc nhiên: “Anh phải đưa lính ra khỏi thung lũng và chuyển lên vùng cao ngay! Ở đây họ quá dễ bị tấn công! Anh sẽ không phòng thủ nổi một khi bị đánh đâu!” (vài năm sau Urban kể lại “Tôi nghĩ ông ta sẽ đập Ormond ngay tại chỗ”). Johnson cho rằng Ormond nghe theo những gì ông nói, nhưng rồi ông kinh hoảng khi sau này phát hiện ra rằng lời khuyên của ông bị bỏ ngoài tai. Không chỉ tiểu đoàn 3 chọn vị trí đóng quân tồi. Sau khi bi kịch đã kết thúc, thì nhiều sỹ quan cao cấp thú nhận rằng cách bố phòng của trung đoàn 8 rất tồi. Binh lính được sắp xếp như thể họ không có kẻ thù nào để lo.

Trung úy Hewlett (Reb) Rainer tham gia trung đoàn ngay sau trận chiến Unsan, và một điều anh quyết định phải làm là ráp nối lại trong đầu những gì đã xảy ra. Anh sốc trước cách chọn vị trí đóng quân của trung đoàn: “Điều đầu tiên là các tiểu đoàn không thể hỗ trợ cho nhau. Họ không liên kết được với nhau. Vấn đề thứ hai là bạn có thể đưa cả một thậm chí hai sư đoàn lính Trung Quốc xuyên qua họ trong đêm mà chẳng ai có thể hay biết. Và đó chính là cách quân địch làm – họ đến, đi dọc theo hai cánh, rồi vây lại, ép chặt quân ta.” Rainer nói “Tôi biết là trung đoàn chẳng nhận được thông tin nào từ thượng cấp về việc có quân Trung Quốc, nhưng, họ đang ở rất xa về phía bắc; đang trong đất địch; không hiểu nổi tại sao lại thiết lập vị trí như thể đang ở Hoa Kỳ trong một kiểu đánh trận trò chơi. Nói là bất cẩn – thì cũng vẫn còn là nhẹ nhàng”.

Trung sỹ Bill Richardson, tiểu đội trưởng tiểu đội súng không giật thuộc trung đội hỏa lực, đại đội Love, tiểu đoàn 3, nhớ lại khá tốt ngày 31 tháng Mười ấy. Tiểu đội anh ở phía cực nam nơi đóng quân của tiểu đoàn 3, cạnh một nơi gọi là Cung Đầu Lạc Đà, là một phần của đơn vị bảo vệ cây cầu nhỏ bắc qua sông Nammyon. Ngày hôm trước, cuối cùng họ cũng nhận được lô hàng mà cánh hậu cần tuyên bố là quần áo mùa đông: vài chiếc áo khoát dã chiến, vớ sạch và không còn gì hơn. Anh bảo một lính dưới quyền phát áo khoát tốt nhất có thể và bỏ qua các trung sỹ bởi không có đủ cho tất cả. Vài năm sau, anh nổi điên khi đọc được rằng quân trong đại đội anh ngủ quên trong các túi ngủ. Cái cách mà họ bị tấn công đúng là tệ thật, nhưng họ khẳng định là chẳng có cái tiết mục túi ngủ chó chết, bởi họ không hề có chiếc nào. Họ phải tự tạo túi ngủ bằng cách quấn những chiếc chăn lại và cùng nhau rúc vào.

Ngày ấy, lúc Richardson thi hành nhiệm vụ chỗ chiếc cầu thì trung tá Johnson dừng chân lại ở đó, khi ông đang trên đường trở về từ sở chỉ huy tiểu đoàn (3/8). Johnson muốn nói chuyện, nhưng ông cũng có phần cẩn thận. Ông nói “Này, chúng tôi có tin về vài điểm chốt nhỏ trong vùng. Chúng tôi nghĩ đó là tàn dư của quân Bắc Triều Tiên, họ có thể đi dọc theo bờ sông, hướng thẳng tới chỗ cậu rồi ngoặc lên phía bắc”. Richardson không lo lắng chút nào về tin đó. Anh nói với Johnson (“những lời nổi tiếng sau cùng của tôi”) “Thưa trung tá, nếu chúng đến theo hướng bờ sông, chúng sẽ lãnh đủ”. Rồi Johnson cảnh báo anh nên cẩn thận, họ bắt tay nhau. Johnson chúc anh may mắn và Richardson tự nghĩ – bởi Johnson đi xe qua một vùng quê gần như trơ trọi – nên thưa trung tá, chính ngài mới là người cần phải có may mắn.

Họ đã biết nhau từ lúc huấn luyện ở Fort Devens bang Massachusett. Richardson phục vụ ở Châu Âu vào giai đoạn sau chót của Thế Chiến II, đã quá muộn để biết mùi chiến trận mà chỉ thấy được sự tàn phá của nó. Nhưng ở Triều Tiên, anh thực thụ trải qua những trận đánh vượt quá những điều lệ, những trận đánh khá khăn và nguy hiểm mà bất kỳ đơn vị Mỹ nào cũng phải kinh qua. Anh lớn lên ở Philendaphia, bố mẹ anh làm trong lĩnh vực nghệ thuật. Còn lâu anh mới là một học sinh siêng năng. Học hết lớp chín (???), anh đăng lính và nhận ra rằng mình thích. Anh được huấn luyện bởi những người chuyên nghiệp, họ đã trải qua những điều tệ hại nhất trong thế chiến II, vượt qua được lằn ranh bé xíu để giữ được mạng sống. Đến đầu mùa xuân 1950, Richardson đã ở trong quân ngũ được ba kỳ quân dịch rồi và đó là giai đoạn giảm quân hậu-thế-chiến, nên quân đội đang muốn đẩy anh xuất ngũ. Nhưng rồi quân Bắc Triều nam tiến, nên quân đội quyết định là họ giữ anh lại.

Nên thay vì được xuất ngũ ở Fort Devens vào cuối tháng Sáu, anh lại trở thành một thành viên của tiểu đoàn 3/8. Richardson nhớ lại, ngay sau trận xâm lăng của Bắc Triều Tiên, trong ngày 26 hoặc 27 tháng Sáu, Johnny Johnson tập trung cả tiểu đoàn đến nhà chiếu phim, lúc đó đơn vị rất ít người chỉ đứng đầy hai hoặc ba hàng. Họ được xem một bộ phim tuyên truyền cho lính bộ binh, với kết thúc là nhiều người lính được thưởng Ngôi Sao Bạc hoặc Ngôi Sao Đồng. Johnson nói với họ “Anh em, chỉ trong vài tuần nữa thôi, nhiều người ở đây sẽ không còn  đeo được những cái thứ đó nữa đâu”. Lúc ấy Richardson nghĩ ông ta thật điên. Trong vài ngày sau lính bổ sung đến với đủ sắc quân, MP (quân cảnh), hậu cần, anh nuôi, và cả bộ binh, đủ để lèn chặt rạp phim. Rồi họ được đưa lên tàu thủy.

Sau này, sau khi bị quân Trung Quốc đánh, Richardson tin rằng Johnson đã cố cảnh báo anh lưu ý đến quân Trung Quốc trong vùng và hướng tiến để mở của chúng tới trung đoàn 8. Có lẽ đó là lối cảnh báo tốt nhất có thể đưa ra vào thời điểm mà việc thốt ra một từ đầy chất ma thuật “quân Trung Quốc” với một tay NCO có thể làm khởi động tiến trình hoảng loạn. Nếu Johnson vẫn còn là tiểu đoàn trưởng của họ, Richardson đoan chắc, là ông sẽ củng cố cái vị trí đóng quân, chuyển đến vùng đất cao hơn, và đảm bảo hỏa lực của họ có thể hỗ trợ qua lại, tập trung hơn. Ormond có thể sẽ là một sỹ quan tốt vào một ngày nào đó, Richardson nghĩ, nhưng không có thời gian lẫn không gian cho lần ra mắt chiến đấu đầu tiên.

Thiếu tá Filmore McAbee, sỹ quan S-3, sỹ quan tác chiến, của tiểu đoàn 3, cũng như Johnson, thấy lo lắng về cái cách phân tán của trung đoàn, nhưng rồi ông sẽ không có cơ hội để thảo luận về việc đó với Johnson trong một thời gian dài, bởi ông mất tới hai năm rưỡi trong trại tù binh. McAbee là một sỹ quan có kinh nghiệm từ Thế Chiến II, và là một đại đội trưởng trong sư kỵ binh 1 lúc bắt đầu đến đất nước này. Ông được xem là một sỹ quan chỉ huy tuyệt vời, nhưng ở thời điểm quân Trung Quốc tấn công ông bị vô hiệu hóa. Cả Ormond và người phó của mình, thiếu tá Veale Moriarty, đều rất mới với nhiệm vụ chỉ huy, kinh nghiệm của họ, như McAbee có thể nói, chủ yếu là ở cương vị sỹ quan tham mưu cấp trung đoàn. Họ biết rõ nhau và cùng xa cách với McAbee, một sỹ quan tác chiến có kinh nghiệm hơn, làm anh cảm thấy đứng ngoài cuộc. “Tôi là người lo lắng, nhưng cũng là người ngoài cuộc”, sau này ông nói. Ông cố cảnh báo Ormond về vị trí đóng quân tồi của tiểu đoàn, nhưng không ích gì. Ông không thích tâm trạng khi đó của đơn vị, và ông cũng đổ lỗi cho các sỹ quan cao cấp: nhiều người trở nên quá bất cẩn, quá tự mãn. Có quá nhiều cuộc nói chuyện về việc sẽ làm gì sau Triều Tiên. Mọi người đều nói về hai điểm dừng sau chót: sông Áp Lục và về nhà. Sau này, khi ông phát hiện ra có nhiều tù binh Trung Quốc bị bắt nhưng dù thế chẳng có đơn vị nào, cũng như đơn vị ông, được cảnh báo, ông cho rằng quyết định của thượng cấp là dấu diếm, nếu không nói là cấm, thông tin này là một trong những hành động đáng kinh ngạc nhất mà ông từng nghe – là một kiểu chối bỏ trách nhiệm quân sự. Sau khi ông nghiên cứu thêm được nhiều về chiến thuật quân sự Trung Quốc, ông giật mình vì trung đoàn ông, trải dài ra, đã lộ thành một mục tiêu đầy cám dỗ.

Không ai trong số họ, kể cả Ormond, biết rằng trước khi quân Trung Quốc đánh, đã có tranh luận ở các cấp chỉ huy cao hơn. Trung đoàn trưởng trung đoàn 8 Kỵ binh, trung tá Hal Edson, muốn đưa quân mình quay lại. Đơn vị của ông phơi ra quá nhiều, ông tin vậy – và lúc đó đã có quá nhiều cảnh báo để lưu tâm. Ngày 1 tháng Mười một, khi thức giấc, ông thấy bầu trời dày đặc khói từ những đám cháy rừng. Edson và những người khác ngờ rằng là do quân địch đốt để che dấu việc chuyển quân khỏi không thám của Mỹ. Thiếu tướng Hap Gay, sư trưởng sư đoàn 1 Kỵ binh, người nhìn nhận những báo cáo về quân Trung Quốc trong vùng nghiêm túc hơn thượng cấp của ông, cũng bắt đầu lo ngại hơn theo từng giờ. Trong ngày đầu tiên của tháng Mười Một này, ông thiết lập trạm chỉ huy ở Yongsan-dong, phía nam Unsan. Nhiều lúc tướng Gay bị phiền nhiễu bởi việc sư đoàn ông bị xé lẻ ra, với những tiểu đoàn khác nhau được gửi đi đến khác sư đoàn khác, tùy theo ý thích của những nhân vật trên quân đoàn, và không màng đến tính toàn vẹn của sư đoàn. Ông đặc biệt không thích việc trung đoàn 8 nằm thò ra hoàn toàn trống trải, phơi mình từ mọi phía cho kẻ thù


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười, 2013, 01:01:26 pm
Sỹ quan tùy viên của ông, trung úy William West, cho rằng Gay đã âm ỉ bực tức toàn bộ cái cách quân đội đang điều hành cuộc chiến Triều Tiên. Gay là tham mưu trưởng của tướng Geogre Paton trong Thế Chiến II, ông tin rằng mình được dạy để làm thế nào cho đúng và không làm sai, nhưng còn ở Triều Tiên thì họ đã làm nhiều điều sai ngay từ đầu. Ông bị sốc bởi tình trạng tệ hại của quân đội lúc bắt đầu cuộc chiến, và cũng phiền lòng vì sai lầm ban đầu của MacArthur trong việc lượng giá khả năng của quân địch; ông này tin rằng có thể “xử” Bắc Triều được, như theo cách nói của ông là: “chấp một tay cột sau lưng”. Gay hình như cho rằng các thượng cấp ở Tokyo chẳng biết mấy về quân thù, về địa hình và đáng ngạc nhiên là không muốn biết về cả hai điều đó. “Những tay chó chết ấy chẳng bao giờ bước chân đến thực địa – họ đang sống trong một thế giới mơ mộng chết tiệt” ông nói với West như thế ngay sau khi rời sở chỉ huy của MacArthur. Tuy vậy, không điều gì làm ông nổi giận hơn việc những sỹ quan tài giỏi nhất dường như luôn bị lén lút chuyển về làm công tác tham mưu ở sở chỉ huy của MacArthur. Ông kinh hoàng nhận ra sở chỉ huy quá lớn khi so với những sở khác trong cuộc chiến trước đó. Ông càu nhàu rằng sở chỉ huy tập đoàn quân 3 vào năm 1945 chỉ có vài trăm sỹ quan để điều hành hàng nghìn quân binh trên chiến trường, còn giờ ở Tokyo với cuộc chiến này, thì hàng nghìn người tập trung ở sở chỉ huy để hỗ trợ cho vài trăm quân thực chiến. Có một sỹ quan mà công việc chính của ông này, hình như chỉ là bay định kỳ từ Tokyo đến chỗ của Gay để hỏi xem ông cần gì. Một hôm nào đó, Gay đưa ông ta một danh sách các sỹ quan từ Thế Chiến II để chuyển cho Tokyo rằng ông cần họ để chỉ huy các đơn vị. Khi viên sỹ quan ấy trở lại trong chuyến sau, Gay hỏi những tiểu đoàn trưởng kỳ vọng của ông đâu. “Tướng MacArthur bảo rằng họ rất có ích nên không chuyển xuống được” viên sỹ quan trả lời.

“Chúa Jesus lòng lành, có việc chó gì có ích hơn việc những sỹ quan đã kinh qua chiến trận được chỉ huy các đơn vị Mỹ tham chiến?” Gay cằn nhằn.

Ông cũng phiền lòng với những cuộc nói chuyện về việc được về nhà lúc Giáng Sinh. “Giáng sinh nào – năm nay hay năm sau?” ông nói “Cuộc nói chuyện thật ngớ ngẩn. Tất cả chỉ làm quân sỹ có hứng thú với việc được về nhà và họ sẽ bất cẩn”. Lúc này, lo sợ về khả năng rằng một trong các trung đoàn của mình có thể bị hợp vây, ông ráng đẩy nhanh việc rút các đơn vị ấy lui về và củng cố sư đoàn. Nhưng cấp trên của ông, tư lệnh quân đoàn 1 tướng Frank Milburn, không sẵn lòng cho việc đó. Quân đội không thích dùng từ “rút lui” nếu không bị bắt buộc; cụm từ đúng là “di tản chiến thuật” – và Milburn không muốn thực hiện di tản chiến thuật, không muốn sau sáu tuần tiến vững vàng, và trên hết, vì nó không hợp lý với áp lực từ sở chỉ huy; MacArthur muốn phải đến sông Áp Lục càng sớm càng tốt. Cả Gay và West biết, và càng thêm lo sợ hơn về việc có thể mất cả một trung đoàn vào tay quân địch mà Tokyo vốn vẫn khăng khăng là không tồn tại. Trong cuộc chiến này có một lằn ranh đúng-sai. Một bên là thực tế chiến trường và những mối hiểm nguy các đơn vị phải đối mặt, còn bên kia là thế giới ảo tưởng hiện hữu ở Tokyo mà ở đó tất cả những mệnh lệnh phởn phơ tỏa ra. Lằn ranh đó cũng thường rơi giữa cấp quân đoàn và cấp sư đoàn – quân đoàn thì chịu nhiệt từ tổng chỉ huy ở Tokyo, còn sư đoàn thì lo lắng bởi tình trạng sơ hở của các đơn vị ở cấp dưới. Có nhiều hơn một cơ hội đủ thời gian rút trung đoàn 8 về, nhưng Milburn từ chối ra lệnh đó.

Chiều ngày 1 tháng 11, tướng Hay Gap ở trạm chỉ huy cùng với thiếu tướng Charles Palmer tư lệnh pháo binh của ông, lúc đó vô tuyến điện báo từ một quan sát viên trên một chiếc phi cơ tuần thám L-5 làm họ lưu tâm: “Đây là dấu hiệu lạ lùng nhất mà tôi từng thấy. Có hai hàng bộ binh địch rất đông đang di chuyển về hướng đông nam theo lối gần làng Myongdang-dong và Yonghung-dong. Pháo của chúng ta rơi đúng hàng quân  nhưng chúng vẫn tiếp tục đi”. Đó là hai ngôi làng bé tý cách Unsan năm hoặc sáu dặm theo đường chim bay. Palmer ngay lập tức lệnh cho các đơn vị pháo binh trực thuộc bắt đầu bắn, còn Gap lo lắng gọi lên quân đoàn, một lần nữa xin phép được đưa trung đoàn 8 kỵ binh chuyển về phía nam Unsan vài dặm. Nhưng yêu cầu này một lần nữa bị từ chối.

Thế là cơ hội sau cùng để cứu trung đoàn 8 kỵ binh và nhất là tiểu đoàn 3 của nó đã bị bỏ mất. Nói cách khác, thì trận chiến này đã kết thúc trước khi nó bắt đầu. Hai sư đoàn chính qui tinh nhuệ của cộng sản Trung Hoa với những binh sỹ thiện chiến nhất, tấn công vào các đơn vị của một sư đoàn “anh cả” của Hoa Kỳ, nhưng sư đoàn này thiếu chuẩn bị và chọn vị trí kém cho một cuộc xung đột, đồng thời được chỉ huy bởi rất nhiều người tin rằng cuộc chiến Triều Tiên về cơ bản đã kết thúc.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười, 2013, 01:02:59 pm

(http://tieungoclang.files.wordpress.com/2012/10/map_unsan.gif)
Bản đồ trận Unsan ngày 1-2/11/1950


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười, 2013, 01:07:49 pm
Các đơn vị thuộc trung đoàn 5 kỵ binh dưới quyền Johnny Johnson hành quân lên phía bắc hướng đến Unsan trong một nhiệm vụ giải cứu, nhưng nhanh chóng bị quân Trung Quốc cắt đường. Họ không chỉ không thể giúp trung đoàn 8 kỵ binh, mà còn phải tự tìm cách thoát khỏi một trận chiến dữ dội mà không bị tiêu diệt. Theo Roy Appleman, một nhà sử học đặc biệt cẩn trọng của chiến tranh Triều Tiên, thì lúc sẩm tối ngày 1 tháng Mười Một, trung đoàn 8 kỵ binh bị quân Trung quốc vây ba mặt. Ở mặt đông của trung đoàn, nếu như trung đoàn 15 của Nam Hàn ở lại tại chỗ và chiến đấu thì có thể sẽ được che chắn một phần.

Trung úy Ben Boyd là một trung đội trưởng mới trong đại đội Baker, tiểu đoàn 1, trung đoàn 8 kỵ binh. Tiểu đoàn 1 – với đơn vị pháo binh, xe tăng phối thuộc, thực chất là một tiểu đoàn đặc nhiệm – bị phơi ra nguy hiểm nhất trong số ba tiểu đoàn của trung đoàn 8, họ đóng quân ở cách chừng 400 thước về phía bắc thị trấn Unsan. Tiểu đoàn trưởng của Boyd, Jack Millikin, Jr., là một sỹ quan chiến thuật học ở West Point, Boyd nghĩ anh ta tốt và vững vàng. Như Boyd biết, tiểu đoàn của họ lên đó một mình – họ là đơn vị đầu tiên trong ba tiểu đoàn rời Bình Nhưỡng và anh không biết những bộ phận khác của trung đoàn có theo không. Ở buổi chiều đầu tiên, ngay sau khi đến, họ đã bố trí trận địa cối hướng vào các mục tiêu chung quanh, và có cả hướng dẫn phản pháo quân địch, nhưng hoạt động này khá nhẹ và mọi người cho rằng là nhằm vào những tay súng Bắc Triều Tiên thất thần. Tuy vậy, đêm đó, Boyd được đại đội trưởng gọi lên, anh này vừa được tiểu đoàn thông báo tình hình. Những gì Boyd nghe là: “Có hai mươi ngàn thợ giặt trong vùng”. Boyd hiểu ý nghĩa nó là gì – hai mươi ngàn quân Trung Quốc ở gần họ.

Rồi họ nghe thấy tiếng nhạc, như tiếng kèn túi Á châu kỳ lạ. Vài sỹ quan trong một thoáng nghĩ rằng đó là một lữ đoàn quân Anh đến giúp họ. Nhưng đó không phải là kèn túi, mà là một âm thanh rất lạ, kỳ quái, có lẽ là tù và với sáo, loại âm thanh mà họ nhớ cho đến cuối cuộc đời. Đó là âm thanh để họ đi đến kết luận rằng quân Trung Quốc bắt đầu tham chiến, gửi tín hiệu bằng âm thanh cho các đơn vị cho biết đang làm gì; đồng thời thận trọng đưa nỗi sợ vào lòng đối phương. Boyd tin quân của anh đã chiếm lĩnh các vị trí tốt, dù họ không là một trung đội hoàn hảo như trong tưởng tượng của anh. Một nửa số lính trong trung đội là KATUSA – Lính Hàn Quốc bổ túc vào quân đội Mỹ (Korean Augmentation To US Army), các sỹ quan cho rằng những quân nhân Hàn quốc này, trình độ huấn luyện kém phối thuộc vào các đơn vị, sẽ không đáng tin cậy khi gặp trận đánh khó khăn. Họ hiện diện nhằm tăng cường cho các đơn vị Mỹ, làm chúng trông ổn hơn trên giấy tờ; nhưng không phải trên trận đánh. Đó là một trải nghiệm mà không ai thích, không một đại đội trưởng, một đơn vị Mỹ nào – từng chiến đấu bên cạnh người Hàn Quốc mà không thể giao tiếp được với họ – thích, mà tất nhiên bản thân lính KATUSA cũng vậy.

(http://tieungoclang.files.wordpress.com/2012/10/24t.jpg)
Một lính Mỹ và lính Hàn ở Triều Tiên, 1950


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười, 2013, 01:13:01 pm

(http://tieungoclang.files.wordpress.com/2012/10/8t1.jpg)
Địa hình vùng Unsan

Đâu đó lúc 10h30 tối, quân Trung Quốc tấn công. Boyd nghĩ mọi thứ có thể sụp đổ. Các đơn vị Hoa Kỳ ở những vị trí quá mỏng đến nỗi quân Trung Quốc dường như phóng vèo qua tuyến phòng thủ yếu ớt của họ, vài người sau này đã nói vậy. Ngay cả một nơi được tổ chức tốt như sở chỉ huy tiểu đoàn cũng nhanh chóng bị tràn ngập. Vài người sống sót từ các trung đội khác nhau cố thiết lập một vành đai phòng thủ ứng biến ở những phút sau cùng, nhưng họ cũng nhanh chóng bị áp đảo. Thương binh nằm la liệt khắp nơi. Milikin đang xử lý cái cuộc hỗn loạn đang lớn nhanh này một cách tốt nhất có thể, Boyd nghĩ, anh ta cố lập một đoàn vận chuyển với chừng mười chiếc xe tải và đưa càng nhiều thương binh lên càng tốt. Lúc đó, Boyd chạy đến chỗ đại úy Emil Kapaun, một cha tuyên úy, ông đang chăm sóc cho một số thương binh. Boyd muốn phân cha đến một trong những chiếc xe tải, nhưng ông từ chối. Ông ở lại với những thương binh không thể tự di chuyển được. Họ sẽ bị bao vây, ông ta chắc chắn biết, nhưng ông sẽ làm tất cả những gì có thể để các thương binh có được vài sự bảo vệ giản dị.

Tiểu đoàn có hai chiếc xe tăng, và khi đoàn xe vận tải khởi hành, Millikin lên chiếc xe tăng đi trước cùng chiếc xe còn lại chạy về hậu phương, trên nóc chiếc đó là Boyd. Cách phía nam Unsan chừng một dặm, con đường chia ra, một nhánh đi theo hướng đông nam, còn nhánh kia là tây nam xuyên qua góc đóng quân của tiểu đoàn 3, băng trên chiếc cầu mà Bill Richardson và tiểu đội hỏa lực của anh đang bảo vệ. Millikin đưa đại mọi người theo con đường phía đông nam.

Quân Trung Quốc đã bố trí một lực lượng đáng kể phục kích bên hai bên đường. Thật khó để xác định khoản cách cũng như thời điểm quân địch tiến đánh với lực lượng đó, nhưng Boyd cho rằng lúc ấy đoàn công voa của anh đã đi được chừng năm sáu trăm thước trước khi quân Trung Quốc khai hỏa. Hỏa lực của họ bị áp đảo, và đoàn vận tải, với nhiều thương binh, không có nhiều cơ hội đánh trả. Trong sự hỗn loạn đó – tất cả xe đều tắt đèn – anh lính lái tăng chở Boyd kinh hoảng và bắt đầu quay tháp pháo như điên. Chừng một tá lính hoặc hơn đang ngồi trên đó bị bật tung ra, còn Boyd nhận ra mình đang nằm sóng xoài trong một con mương. Sau này anh xác quyết rằng mình sống sót là nhờ ân huệ của Chúa.

Anh nghe thấy tiếng quân Trung Quốc tiến đến. Anh chỉ có một cơ hội duy nhất là giả chết. Ngay sau đó, họ bắt đầu dộng vào người anh bằng báng súng và đá đá. May cho anh là không ai dùng lê. Cuối cùng, họ lục soát các túi của anh, lấy đồng hồ, nhẫn rồi bỏ đi. Anh nằm đợi một thời gian tưởng chừng như vô tận, ít ra cũng hằng giờ, sau đó bắt đầu bò đi, hoàn toàn mất phương hướng bởi chấn động và những vết thương khác. Khi được một quảng, anh nghe thấy tiếng đại bác gầm, rồi cho rằng đó là quân Mỹ, anh đi về hướng đó. Anh lê lết qua một con suối, có lẽ là suối Nammyon, và nhận ra chân trái mình đau dữ dội. Anh cho là mình bị bỏng nặng có lẽ do đạn phốt pho trắng của Trung Quốc.

Boyd di chuyển thận trọng trong những ngày kế tiếp, vào ban đêm, dấu mình cẩn thận lúc ban ngày. Anh ra khỏi đó ít nhất là sau một tuần, có lẽ là chục ngày, cố đi đến được tuyến quân Mỹ, bất chấp cái đói kinh khủng và những cơn đau dai dẳng. Anh được một người nông dân Triều Tiên cứu giúp, cho ăn, rồi ra hiệu chỉ đường cho anh về phía quân Mỹ. Anh chắc là mình không thể làm được điều này mà không có sự giúp đỡ của người nông dân ấy. Đến ngày 15 tháng 11, sau chuyến đi vất vả gần hai tuần, Boyd gặp được một đơn vị Hoa Kỳ. Ngay lập anh được chuyển đến một loạt bệnh viện, các vết bỏng của anh khá nghiêm trọng. Chiến tranh Triều Tiên với anh, thế là kết thúc. Dẫu sao anh cũng là một người may mắn. Anh không biết có bao nhiêu người trong trung đội của mình chết, chỉ biết là đại đội trưởng đã hi sinh. Anh cũng không bao giờ thấy lại ai lần nữa.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười, 2013, 01:17:40 pm
Ở tuyến phòng thủ phía nam của trung đoàn 8, ngay trước lúc quân Trung Quốc tấn công, Bill Richardson thuộc đại đội Love vẫn đang gác chiếc cầu bê tông, chiếc cầu nhỏ một nhịp chừng 90 thước bắc qua cái được gọi là con sông, nhưng thật ra không hơn gì một con lạch nhỏ khô cạn. Tiểu đội của anh đóng trên một khu đất bằng phía bắc cầu, và về mặt kỹ thuật là vị trí cực nam của trung đoàn. Sở chỉ huy tiểu đoàn cách đó chừng 500 thước về hướng bắc, phần còn lại của đại đội Love thì cách 350 thước về phía tây. Khi nghe thấy những tiếng động từ một ngọn đồi ngay dưới hướng nam, Richardson hỏi người bạn Jim Walsh, một người lính nhiều kinh nghiệm như anh trong đội “Cậu có nghe thấy những gì tớ nghe không?”. Richardson biết có điều gì đó đang xảy ra ngoài kia, nhưng anh không thể đưa ra bốn hoặc năm người để trinh sát. Vậy nên anh gọi phôn về đại đội để được giúp. Phải mất ba lần gọi mới được đại đội trả lời máy. Anh rất điên tiết – sao mà mọi người có thể vô tâm đến vậy? Sau đó đại đội gọi cho tiểu đoàn, rốt cuộc tiểu đoàn cũng gửi một anh lính thuộc tiểu đội tình báo và trinh sát xuống. Anh ta thong thả đi xuống dọc theo con đường mà không có chút cảm giác nào về việc khẩn cấp. Richardson giải thích nhiệm vụ, và người lính đó lặn mất, rồi chỉ xuất hiện trở lại sau một  lúc cùng với một tổ bốn người, họ đi lên ngọn đồi đã phát ra những tiếng ồn, mà Richardson nghĩ, có cả một sư đoàn.

Khi tổ trinh sát quay về, người lính cầm đầu nói : “Chẳng có ma nào trên đó”. Nhưng một người trong tổ có mang theo về một dụng cụ đào hầm và một đôi găng tay độn bông, thứ này hoàn toàn khác với những đôi găng tay mà Richardson từng thấy trước đây. Quan trọng hơn, chúng khô trong điều kiện sương, tuyết, điều này có nghĩa là chúng vừa được bỏ lại. Cuối cùng người lính đó cũng thừa nhận rằng “À, thì có vài cái hang chó, nhưng rõ là chúng có từ lâu rồi”. Richardson giận điên người. Quan trọng là đôi găng tay khô là một bằng chứng để giúp mọi người hiểu ngay vấn đề, cả khi không thuộc phòng S-2 hay bộ phận tình báo tiểu đoàn. Anh cố nài người lính kia mang đôi găng và cái dụng cụ đó lên trình sếp và nói cho ông ấy biết những gì có thể diễn ra. Rõ ràng bị chọc giận, anh chàng đó bảo: “ Này, nếu anh không thích những gì chúng tôi đã làm, thì anh cứ tự lê mông lên đó coi đi”.

Tất cả điều này làm Richardson bực bội một lúc. Đâu đó chừng sau mười giờ đêm, anh nhận một cuộc gọi bảo gửi một nhóm về tiểu đoàn để đi trinh sát. Đây là việc quá sức với anh. Bởi anh chỉ có chừng mười lăm người, mà trong đó có tới 5 lính Nam Hàn, không ai trong số họ biết tiếng Anh. Richardson quyết định giữ số lính đó lại, và cử Walsh, tay cừ nhất của anh đi lên đó với ba lính Mỹ khác. Sau này, Richardson được biết, nhóm lính đó khi tới tiểu đoàn thì được lệnh đào mấy cái hầm trú ẩn và nghỉ ngơi. Trong khu vực của Richardson vẫn yên tĩnh, nhưng lúc đó cả tiểu đoàn I và II đều đã bị băm nát.

Rồi, lúc chừng 1h30 sáng ngày 2 tháng Mười Một, việc đó xảy ra. Quân Trung Quốc tấn công vào tiểu đoàn 3, trung đoàn 8 kỵ binh. Nhiều năm sau, Richardson đọc được rằng quân Trung Quốc đã lẻn vào khu vực trong trang phục lính Nam Hàn, nhưng anh không tin rằng điều đó có thật. Không cần phải cải trang. Họ chỉ tràn xuống từ phía đông, hướng đó hoàn toàn mở rộng. Chỉ giây lát, sở chỉ huy tiểu đoàn là trung tâm chiến sự của phía quân Mỹ, và sau đó hoàn toàn bị lính Trung Quốc tràn ngập. Cùng lúc, cách cánh trái Richardson 350 thước, quân Trung Quốc cũng tấn công và tràn ngập đại đội Love. Như vậy là bốn khẩu đại liên của quân Tàu quét cả từ trước ra sau vị trí của Richardson và xé ra từng mảnh.

Từ phía nam, một trung úy trẻ tên Robert Kies, một trung đội trưởng thuộc đại đội Love, tiểu đoàn ba, một tay mới đến đơn vị, cùng anh bạn Pappy Miller của Richards – trung sỹ trợ tá trung đội, người đã cảnh báo về quân Tàu ngay khi vừa đến Unsan – đã rút về từ một vị trí nằm ở phía đông nam của Richardson chừng hai, ba ngọn đồi, một nơi có tên đồi 904. Richardson không biết mấy về Kies, anh này vội vã dùng đường dây hữu tuyến của Richardson để tìm hiểu xem việc gì tiếp sau. Bởi tình trạng tệ hại của thiết bị liên lạc của mình, nên Kies và quân mình hoàn toàn bị cắt đứt. Rồi khi đường dây của Richardson cũng bị đứt – Kies cho rằng quân Trung Quốc đã cắt dây. Anh quyết định đưa lính của mình lên đường về với tiểu đoàn. Miller bắt tay và chúc Richardson may mắn. (“Lần kế sau tôi gặp lại anh ấy là 52 năm sau khi quân kỵ binh họp mặt” Miller nói). Lúc ấy Richardson cũng không thể liên lạc với đại đội của mình. Anh cho một người lính vượt quảng đường 350 thước để về đại đội Love, nhưng anh ta bị bắn và không thể tiếp tục. Anh ta bò ngược lại về chỗ Richardson, và lia lịa xin lỗi khi đến gần: “Tôi xin lỗi, tôi xin lỗi, tôi không thể làm được”. Lúc Richardson chạm tới anh ta, và mở chiếc áo khoác ra, áo ngập đầy máu; người lính đó chết trên tay anh. Và lúc đó, điều tệ hại nhất, như Richardson hồi tưởng, là anh không thể nhớ nổi tên của người lính đó.

Cây cầu họ bảo vệ giờ đây hoàn toàn rộng mở cho quân Trung Quốc. Richardson đưa hai hoặc ba người lính còn lại trong đội đi lên phía bắc về hướng tiểu đoàn. Khi chạy trong con mương cạnh đường, anh gặp hai người lính từ hướng khác cũng vừa chạy đến, họ thuộc đội mà anh đã gửi đi cùng Walsh trước đó. “Cả đội chết cả rồi. Walsh cũng chết rồi” một tay nói. Nhân cơ hội, anh ta kể thêm rằng anh thoát ra được chỉ ngay trước khi quân Trung quốc chọc đến và bắn chết những người còn lại khi họ chỉ đứng đợi. Chỉ vài ngày trước, Richardson và Walsh, một người bạn cũ, tiến vào Bình Nhưỡng, họ chúc mừng nhau rằng đã cùng đi đến xa như vậy. Thế mà giờ đây Walsh đã chết, và trung đoàn thì bị hủy diệt.

(http://tieungoclang.files.wordpress.com/2012/10/ccfprisoners7thmarines.jpg?w=290)
Chí nguyện quân Trung Hoa tại Triều Tiên trong trang phục mùa đông


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười, 2013, 01:23:48 pm
Với thiếu tá Filmore McAbee, phòng S-3 của tiểu đoàn, điều tệ nhất là sự hỗn loạn và rối tung. Họ không biết ai đã tấn công họ và lực lượng thế nào. “Mười nghìn, một trăm hay một nghìn? Là quân Trung quốc hay quân Triều Tiên?”. Và ngay sau đó là hai câu hỏi chính yếu khác: Ai chịu trách nhiệm chỉ huy các đơn vị Mỹ và mệnh lệnh thế nào? Ormond, tiểu đoàn trưởng, cố đi lên phía bắc đến làng Unsan để kiểm tra các vị trí của đơn vị, anh đã bị thương nặng, và đang chết hoặc đã chết. McAbee không còn bao giờ gặp lại anh ta nữa. Veale Moriaty, phó thứ nhất cũng đi nắm tình hình và McAbee cũng không bao giờ nhìn thấy anh nữa. Nhiều năm sau này, anh vẫn thấy tiếc cho sự biến mất của Moriaty – viên chỉ huy này đã quyết đi, nhưng McAbee tin rằng nhiệm vụ của anh ta phải ở ở lại để tổ chức tiểu đoàn.

McAbee xuống phía nam để nắm tình hình. Dọc đường, anh bất ngờ chạm trán với ba tên lính Trung quốc, anh nhận ra ngay bởi những chiếc áo khoác độn bông và mũ chụp tai. Họ cũng lúng túng khi vấp phải anh ta và chính anh cũng vậy. Họ giương súng trường lên chỉ vào anh. Việc giao tiếp là không thể, nên anh chỉ biết chạy ù lên con đường và đáng ngạc nhiên là họ chỉ ngăn chặn nhưng không bắn anh. Thế rồi vận may của anh cũng bắt đầu bỏ đi. Anh bị dính hai phát đạn, có lẽ từ những lính Trung quốc ở cách con đường một quảng, mà anh không thấy họ. Phát thứ nhất cắm vào một bên đầu. Rồi viên còn lại bắn vỡ xương bả vai, anh cảm thấy mọi thứ kết thúc: anh bị mất máu nặng từ vết thương ở đầu và yếu đi từng phút. Anh biết cái lạnh kinh hoàng đang chống lại anh, và anh chắc là mình sẽ chết ở đó, khi ấy có một người lính Mỹ thấy anh, bằng một cách nào đó đã đưa anh về được sở chỉ huy tiểu đoàn.

Trung úy Kies, cũng bị mất liên lạc từ lúc anh chia tay Richardson ở cây cầu, đang đưa trung đội của mình đi về phía sở chỉ huy tiểu đoàn, lúc đó quân Trung quốc bắt đầu bắn cối và đại liên. Anh ráng đưa trung đội xuống một con mương chạy dọc đường, nhưng rồi họ bị kẹt giữa quân Trung quốc và quân Mỹ nên mất khá nhiều người. “Trung úy, tôi nghĩ là bọn da vàng vây quanh ta rồi”, trung sỹ Luther Wise, một tiểu đội trưởng, nói. Ngay sau đó một quả đạn cối đáp xuống giết chết Wise và làm Kies bị thương. Viên trung úy nhận ra mình không thể nhấc nổi một bên cánh tay. Nhưng anh vẫn thúc những ai còn sống của trung đội chạy về phía tiểu đoàn. Trong sự hỗn loạn, tý nữa là anh đã đâm sầm vào một sỹ quan Trung quốc, nhưng anh nhận ra trước và nhanh chóng lùi quân mình lại, rốt cuộc anh cũng đưa họ được về đến sở chỉ huy mới, nơi lúc trước là trạm phẫu tiểu đoàn. Có một khẩu đại liên quân Trung quốc kiểm soát khá tốt lối đến tiểu đoàn của họ, nhưng Kies nhận ra lối bắn của quân địch – dừng một lát, bắn một tràn, dừng – một loạt, gia số chính xác với mỗi lần bắn – và như thể phá mã khóa vậy. Anh đếm thời gian mỗi loạt bắn và đưa quân của mình di chuyển theo từng nhóm nhỏ trong những đoạn dừng. Kies nghĩ họ có được chút đỉnh sự ngăn trở khẩu đại liên của quân địch, vì lúc đó xác quân Tàu bắt đầu chất đống và làm giảm tầm nhìn của xạ thủ. Lúc họ đến được trạm phẫu, Kies ước tính rằng họ chỉ còn tầm mười hai người trong số hai mươi tám lính lúc trước. Ngay từ đầu họ đã không đầy đủ sức mạnh do thiếu quân bổ sung; và giờ thì họ chỉ còn tương đương một tiểu đội. Khi anh đang cố giúp bác sỹ Clarence Anderson, bác sỹ tiểu đoàn, thì một quả lựu đạn đáp xuống gần chân anh, thế là một lần nữa anh bị thương, lần này thì một chân bị gãy bốn chỗ cùng những vết thương ở chỗ khác. Ngay lúc lựu đạn nổ, một quả cối cũng giết chết năm lính còn chiến đấu được trong trung đội của Kies. Anh biết chắc rằng sẽ không còn mấy người thoát ra được – anh rõ ràng là không thể bởi anh không đụng đậy nổi một chân.

(http://tieungoclang.files.wordpress.com/2012/10/korea-311.jpg)
Xe tăng Mỹ bị hạ ở Triều Tiên


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười, 2013, 03:23:21 pm
Chỗ sở chỉ huy tiểu đoàn thật thảm hại.  Binh lính mụ mẫn, bị thương và hoàn toàn tê liệt trước các diễn biến, đang đi lạc lung tung giữa những vị trí. Khi Bill Richardson đến nơi, anh sốc trước sự hỗn loạn mà anh thấy. Quân Mỹ lẫn lộn với quân Tàu – phía địch, họ dường như chưa thể nhận thức thấu đáo được chiến thắng của mình, có lẽ thành công vượt quá mức mong đợi của họ. Bây giờ chiếm được sở chỉ huy rồi, họ dường như không biết làm gì tiếp. Bạn có thể đi ngang qua mặt một tay lính Tàu ở trước sở chỉ huy và anh ta chẳng làm gì cả. Một anh lính cứu thương bảo Richardson rằng họ thiết lập được một vị trí nhỏ ngay gần đó để bảo vệ chừng 40 thương binh. Bác sỹ Anderson cũng ở đó cùng với cha Kapaun. Nhưng có một câu hỏi quan trọng, ai là chỉ huy. Cả Ormond cùng McAbee đều bị thương nặng, và không ai biết giờ Moriarty ở đâu. Richardson nghĩ cần phải có lãnh đạo để đối mặt với hiện tại.

Anh quyết định quay lại đại đội Love để xem còn có ai cần giúp không. Anh trở lui lại con đường cũ và la to tên mình lên nhằm tránh bị quân của anh bắn. Anh tìm thấy trung úy Paul Bromser, đại đội trưởng đại đội Love bị trúng đạn rất nặng, còn viên phó phụ trách, trung úy Frederick Giroux, dù cũng bị thương, nhưng vẫn hoạt động được. Thật tồi tệ, Giroux nói. Quân Trung quốc đã quét qua họ. Có lẽ chỉ còn lại 25 binh sỹ trong số 180 người lúc đầu.  “Anh có thể đưa họ thoát ra không?” Giroux hỏi và Richardson đáp rằng “Được, nhưng không phải đi qua cầu”. Anh phải vạch tuyến thoát khác, đi vòng vèo tới lui. Trên đường anh lọt vào giữa hai người lính Tàu với những túi lựu đạn, anh hạ một tên. Một trái lựu đạn rơi xuống, và đại liên địch bắn ngay làm nhiều lính của Richardson hoảng sợ. Khi họ đến gần tuyến phòng vệ lâm thời của tiểu đoàn, họ trông thấy hai chiếc tăng và, theo bản năng, một số leo lên ngay – quân Mỹ luôn nhảy lên xe, Richardson nghĩ, như thể xe cộ có thể cứu họ được. Anh chắc chắn rằng quân Trung Quốc tập trung chú ý xe tăng. Nên anh và Giroux bảo phần lớn quân mình leo xuống.

Tuyến phòng vệ lâm thời mà họ lập, có đường kính tầm hai trăm thước, giáp với sở chỉ huy cũ của tiểu đoàn. Họ nhanh chóng đào hầm trên lớp đất mềm do con sông để lại, cùng với ba chiếc xe tăng bên trong thế là có được thêm chút đỉnh hỏa lực cùng với hệ thống thông tin liên lạc yếu ớt với các đơn vị khác. (Khi đó chỉ có hệ thống radio của xe tăng còn hoạt động). Họ chiến đấu xuốt cả đêm đầu, nhưng kỳ diệu thay, quân Trung Quốc dường như có đủ sức mạnh để dứt điểm họ bất kỳ lúc nào, lại không đánh một cú kết thúc. Richardson nghĩ, có thể chính quân địch cũng lúng túng như quân Mỹ trong đêm đầu đó, nhưng sự lúng túng đó, anh nhớ lại, không còn tồn tại ở ngày thứ hai. Lúc bình minh lên, quân Mỹ được thư giãn chút đỉnh. Họ đã tồn tại được qua trận tấn công đầu tiên. Quân địch trong cuộc chiến này hiếm khi tấn công vào ban ngày, và ngay cả đây là trận chạm súng đầu tiên với quân Tàu, họ ngờ rằng rất khác với quân Triều Tiên. Vẫn còn chút ít hi vọng. Một trong những thông điệp vô tuyến sau cùng mà họ nhận được nói rằng quân cứu viện đang trên đường. Ở một vị trí, cha tuyên úy Kapaun – người được nhớ đến bởi sự dũng cảm và lòng vị tha vượt bậc – hỏi Richardson làm thế nào. Cha tuyên úy hỏi: “Con có biết hôm nay là ngày gì không?”. Richard trả lời rằng không biết.

“Hôm nay là ngày lễ các linh hồn” * (lễ mồng 2 tháng 11)

“Thưa cha” Richardson đáp “mọi người tốt hơn là nên trông coi cẩn thận phần hồn của mình bởi chúng ta thật sự đang cần nó lúc này”

“Đúng, nên thế, nên thế” cha tuyên úy nói.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười, 2013, 03:27:16 pm
Trung úy Phil Peterson, người đã cùng chia chai sâm banh của cộng sản với Walt Mayo ở Bình Nhưỡng, là một quan sát viên pháo binh của đại đội C tiểu đoàn pháo binh dã chiến số 99, hỗ trợ cho tiểu đoàn 3 trung đoàn 8 và được phối thuộc vào đại đội King, nằm gần sở chỉ huy tiểu đoàn. Năm mươi năm sau, ông tin rằng mình vẫn có thể trích ra hầu hết những lời mà người ở tiểu đoàn đã giải thích cho sự hiện diện của quân Trung Quốc trong vùng chỉ trước khi quân địch tiến công vài giờ “Có lẽ quân Trung Quốc ở đây là để bảo vệ các tổ máy phát điện của Triều Tiên [dọc sông Áp Lục], và các anh không được bắn nếu họ không bắn vào các anh. Không quan sát viên pháo binh nào được gọi pháo bắn vào nhà máy điện”.

Chỉ sau quân Trung Quốc tiến công, Peterson mới biết được sự khốn nạn của chỉ huy cấp trên khi cho họ biết về mức độ nguy hiểm. “Thứ mà họ cho chúng tôi” sau ngần ấy năm ông vẫn giận dữ nói “là một câu chuyện bịa đặt”. Đêm đó, lúc 9 giờ tối, chỉ một chút trước giờ đại bác nổ, vài lính từ một điểm gác của đại đội King giải đến một tù binh, mặt áo chần. Lính Hàn Quốc trong đại đội King không thể nói chuyện được với anh ta. Peterson xác định ngay rằng anh đã chạm mặt với người lính Trung Quốc đầu tiên. Họ được lệnh bỏ các vị trí ở trên đồi và dịch chuyển về tiểu đoàn; việc bố trí lực lượng trong đêm thật lộn xộn; và đại đội bị chia nhỏ thành nhiều nhóm có tầm một tá lính. Khi trận chiến nổ ra, nhóm của Peterson lọt trong một con mương dọc ruộng lúa, đại liên Trung Quốc khóa chặt hai đầu mương. Anh thụp xuống cùng một hạ sĩ trẻ, anh này bị thương vào mông và gần như vui mừng vì điều đó. Anh bảo Peterson “Này trung úy, tôi có một vết thương đáng tiền” – người ta sẽ cho anh ta về nhà. Quê nhà lúc này dường như không xa.

Khi Peterson bị khốn trong con mương, những người khác thuộc đại đội cố đưa khẩu đội gồm sáu khẩu lựu pháo 105mm ra. Lối thoát của họ bị quân thù nhanh chóng khép kín. Khi họ quyết được tuyến rút và tập hợp đoàn công voa nhỏ bé của mình (chừng sáu chiếc xe – xe tải kéo pháo và xe jeep mang lính, lương thực), thì đã quá muộn. Họ không biết rằng quân Trung Quốc đã cắt đường ở phía nam và phục hai bên lộ. Phần lớn quân địch được trang bị tiểu liên Thompson, thứ vũ khí không còn được quân Mỹ ưa thích, nhưng hàng nghìn khẩu được cướp hoặc mua từ chính kẻ thù của họ – quân đội Quốc gia Trung Hoa (quân Tưởng Giới Thạch – ND) trong cuộc nội chiến vừa qua, và trong thời khắc này là một thứ vũ khí hiệu quả.

Hỏa lực khóa chặt con đường thật đáng sợ. Trung úy Hank Pedicone, một trong số những sỹ quan tốt nhất trong đơn vị, người đã nhận Ngôi sao Bạc trong thế chiến II, có mặt trong đoàn công-voa đêm ấy, và cũng là một trong số ít người còn sống sót qua trận đó. Sau này, ông kể với Peterson rằng họ không có lấy một mẩu cơ hội, thật là khủng khiếp khi chứng kiến cả một đại đội hiện hữu bị xóa sổ. Ngay trước đêm ấy, Pedicone đã nài nỉ cấp trên cho bắt đầu di tản, nhưng họ trả lời ông ta rằng cần phải có lệnh. “Chúng ta không thể nhận được lệnh” Pedicone nói “bởi chúng ta không có phương tiện liên lạc. Chúng ta phải tự hành động thôi”. Một vài người, như khẩu đội trưởng – đại úy Jack Bolt, đi đầu trên một chiếc Jeep, xoay sở làm điều đó, bởi quân Trung Quốc dừng bắn – có lẽ để chờ vô hiệu hóa thiết bị kéo pháo, không chỉ bởi nó có giá trị lớn mà còn vì có thể khóa chặt được tuyến đường. Nhưng trong số 180 lính thuộc đại đội, có rất ít người sống sót. Đó là đoàn công voa cuối cùng cố chạy khỏi khu vực Unsan. Trong khi đó, Peterson và nhóm của ông chậm chạm rút về phía sở chỉ huy tiểu đoàn và đợi buổi sáng đến. Lúc bình minh, họ đến được một điểm bằng phẳng cách tiểu đoàn chừng 200 thước và rồi từng nhóm nhỏ chạy ù vào trong tuyến phòng thủ.

(http://tieungoclang.files.wordpress.com/2012/10/korean-map-chinese-offensive_10_1_19501.jpg)
Một bản đồ khác của trận chiến đầu tiên với quân Trung Quốc


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười, 2013, 06:52:07 pm
Đêm ngày 1 tháng 11, Pappy Miller, chiến hữu Richard Hettinger và trung đội của họ nằm cách tiểu đoàn chừng một dặm thì nhận được điện gọi về. Tiểu đoàn, mà thực chất là cả trung đoàn đã được gọi quay lại, dù với họ, tin tức đến hơi chậm một chút. Khi vừa vượt qua một trạm gác gần cầu, thì họ nghe thấy những tràng súng liên thanh đầu tiên, và rồi quân thù vây quanh họ, Milller xô trung đội xuống dưới cầu và vượt sông – thật ra nó chỉ là một lạch nước nhỏ. Đạn chỉ đường sáng rực trong vùng. Khi hầu hết lính đã qua bờ bên kia thì vài mảnh lựu đạn bắn trúng tay Miller. Những gì anh nhớ được là sự mất tổ chức tuyệt đối, mọi thứ – còn quân Trung Quốc thì ở mọi nơi, dường như từ mọi hướng, không có tuyến rõ ràng cho quân Mỹ lui về. Ông có cảm giác rằng quân thù ở ngay cạnh và rồi đột nhiên hiện ra ngay trên đầu ông và lính của mình. Khi ấy, quân của ông đã đến được con mương dọc đường, và họ nhào xuống đó. Hầu hết họ, như Miller nhớ, là lính mới, vừa đến bổ sung, và không ai trong số đó đã từng thấy một trận chiến như thế. Họ lầm rằng con mương có thể che được họ, trong khi nó không, và nghĩ rằng họ được an toàn trong khi hoàn toàn không có. Không nơi nào là tuyệt đối an toàn, dù là ở điểm cao hay ở sở chỉ huy tiểu đoàn, nhưng Miller hiểu rằng nơi ít an toàn nhất so với tất cả ở đây, chính là con mương, nơi ba mươi lăm quân sỹ, một số thuộc trung đội của ông và số khác ở các đơn vị khác, đang trú. Ông hét gọi bạn “Này, đi tiếp thôi trước khi chúng ta bị giết sạch” và họ bắt đầu ép mọi người thoát ra. Lúc đó là chừng 3 giờ sáng ngày 2 tháng Mười một. Khi ông gần dọn được đám dưới mương, thì một quả lựu đạn Trung Quốc đã xé tét chân ông, băm nát cơ thịt và làm gãy xương bàn chân. Ông không thể di chuyển được nữa.

Ông nằm đó, đợi trời sáng, đợi cái chết. Ông biết, ở đây không có ai có thể đưa ông đi. CƠ hội duy nhất là bò được đến trạm phẫu tiểu đoàn mà ông nghĩ là ở đâu gần đó, nhưng có lẽ trạm phẫu đó cũng đã bị tràn ngập rồi. Trời rất lạnh, hơi thở của ông ngưng tụ đậm đặc, và ông sợ rằng quân Trung Quốc, khi kiểm xác sẽ biết được ông còn sống bởi làn hơi. Ông cố núp dưới những xác địch. Lúc chừng 2 giờ chiều ngày 2 tháng Mười một, năm hay sáu lính Trung Quốc, đi trên bãi chiến, kiểm tra một cách có phương pháp xác quân Mỹ và quân Trung Quốc, đã tìm ra ông. Một người chỉa khẩu súng trường vào đầu ông. Rồi, ông nghĩ, mình cuối cùng cũng đi đứt. Ngay lúc đó, cha tuyên úy Kapaun xô tới, đẩy người lính Trung Hoa sang một bên, và cứu mạng ông. Miller đợi anh lính Tàu bắn chết cả ông lẫn cha Kapaun, nhưng cha tuyên úy đã rất táo bạo đến nỗi tay lính đó dường như sợ ông ta. Phớt lờ quân địch, cha Kapaun lôi Miller lên và nhấc lên lưng: có lẽ cả hai sẽ là tù binh, nhưng ông sẽ mang Miller đi xa hết mức có thể.

(http://tieungoclang.files.wordpress.com/2012/10/pic3.jpg)
Lính Mỹ bắn bazooka

Trận tấn công của quân Trung Quốc diễn ra là một sự kinh ngạc hoàn toàn với quân lính trong tiểu đoàn 1 – trung đoàn 8. Thật ra, trước đó họ đã đánh một trận chiến ngắn gọn mà không biết đó là quân Trung Quốc. Với Ray Davis, một hạ sĩ mười-chín-tuổi thuộc đại đội Dog, tiểu đoàn 1, một đại đội hỏa lực, thì đó một trận tao ngộ chiến, thuộc loại có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Họ đến Unsan vào ngày 31 tháng Mười, anh nằm trong một lực lượng cỡ đại đội hành quân qua một cánh đồng lúa, và rồi họ bắt đầu bị bắn từ  vài ngọn đồi gần đó. Davis nhớ rằng anh và người của anh khá bất cẩn khi bị bắn. Hầu hết đều không đội nón trận. Rồi cả hai bên cùng lùi. Trận đánh thật sự đến sau đó một ngày rưỡi.

Davis thuộc một tổ đại liên chốt ở một cao điểm khống chế trên một ngọn đồi phía nam con đường lượn quanh theo hướng đông – tây. Con đường rất hẹp, chỉ đủ cho một chiếc xe bò đi một chiều, và lúc đó đầy những xe cộ của trung đoàn kỵ binh 8 nối đuôi nhau, một sự phản ánh trung thực của quân đội Hoa Kỳ vốn chỉ biết di chuyển hoàn toàn dựa vào cơ giới, và nó là một yếu điểm bất bình thường với kẻ thù mới. Quân Trung Hoa, di chuyển bằng chân, luôn dễ dàng tiếp cận vùng đất cao, trong khi quân Mỹ luôn dính liền một cách định mệnh với xe cộ và đường xá, thứ này hầu hết lại luôn ở dưới thung lũng.

Sau nửa đêm một chút, quân Trung Quốc toàn lực tấn công. Đa phần trong bốn tháng Davis ở chiến trường, thì quân địch luôn có ưu thế tuyệt đối về quân số, và vấn đề lớn với đội của anh – cũng như phần lớn các lính đại liên khác – là cách chăm sóc khẩu súng của họ trước việc sử dụng quá mức. Davis hiểu điều này quá rõ. Bởi anh đi từ chân tiếp đạn khi mới đến xứ sở này, rồi trở thành pháo thủ thứ hai, pháo thủ thứ nhất cho loại vũ khí hai người điều khiển này, anh cũng đã qua tay ba hay bốn khẩu đại liên rồi. Họ luôn cần hỏa lực áp chế nhiều, bởi số lượng vượt trội của quân địch. Các vũ khí bộ binh cơ bản – súng trường M-1, súng carbin và cả súng liên thanh – không được thiết kế cho mức sử dụng mà họ đang dùng. Trung tá Bob Kane, tiểu đoàn trưởng, đã có lần bảo Davis rằng vấn đề chính của cuộc chiến này là anh phải hạ được một trăm tên địch để có thể về nhà. Mỗi người phải hạ một trăm, vấn đề là vậy. Nhưng tại sao là một trăm thì Kane không bao giờ giải thích đúng đắn.

Davis chưa bao giờ trông thấy điều gì giống thế này. Khi quân Mỹ bắn pháo sáng lên, Davis, người lớn lên trong một nông trại ngoại ô New York, thấy hằng hà sa số quân địch trông như đám lúa mỳ rập rình ở cánh đồng sau nhà. Đó là một cảnh tượng kinh khủng, hàng ngàn, hàng vạn người, lúc ấy, như muốn xông cả vào anh. Nếu hạ một tên, sẽ có một tên khác; nếu hạ một trăm ắt cũng sẽ có một trăm tên khác ngay phía sau. Câu đùa của Kane mang dư vị cay đắng. Rồi Davis thấy một tên ngồi trên ngựa, có vẻ như điều khiển hướng cho những tên khác. Chúng mang theo kèn, mỗi khi thổi lên, quân địch đôi khi lại chuyển hướng công kích.

Davis hiểu nhúm người quanh anh có số đạn hạn chế và cũng chỉ còn một thời gian hạn chế. Quân Mỹ bắn, rồi bắn, ở cự ly gần. Họ còn, như Davis ước tính sau này, một khá nhất là hai giờ trước khi cạn kiệt đạn, hoặc súng quá nóng. Chừng hai giờ sáng, viên thượng sỹ trung đội đến gặp anh. Davis phá hủy khẩu đại liên của mình bằng quả lựu đạn lửa sau cùng, cả hai ráng đến một vị trí mà những khẩu cối của họ, đang bắn đạn nổ chống lại quân Trung Quốc, có thể bảo vệ chút ít. Và rồi cũng qua được đêm. Khi bình minh lên, họ tái tập hợp, vài người ngạc nhiên nhận ra nhau còn sống. Nhưng họ đã bị bao vây.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười, 2013, 06:55:20 pm
Lúc cập rập thiết lập tuyến phòng vệ cạnh sở chỉ huy tiểu đoàn, dù bị thương nặng nhưng trung úy Giroux, về mặt thực tế, là lãnh đạo của những người bị vây. Anh là một cựu binh thế chiến II, một sỹ quan bộ binh đầy kinh nghiệm, và dường như anh có giác quan để nhận biết khả năng hạn chế của họ – và cách hành động tốt nhất trong khi vẫn còn thời gian và chút cơ hội. Cùng cộng tác với anh là trung úy Peterson và người bạn chiến đấu Walt Mayo, anh vốn không phải là sỹ quan, nhưng đã trở thành như vậy trên chặng đường chiến đấu gian khổ lên phía bắc từ những ngày đầu tiên của cuộc chiến, một NCO rất nhiều kinh nghiệm. Ngay từ lần tấn công đầu, họ biết đó là quân Trung Quốc, và rằng trung đoàn của họ chính là đơn vị “điểm” mà cuộc chiến mới bắt đầu. Quân binh cùng nhau sát cánh trong tuyến phòng thủ, vượt qua đêm đầu tiên, nhưng trông rất trống trải. Lực lượng hỗ trợ đang đến, như lời cấp trên vẫn nói, nhưng vẫn chưa thấy dấu hiệu gì. HÔm đó, có một chiếc trực thăng cố đáp để bốc một số thương binh, nhưng hỏa lực của quân Tàu quá rát, nên nó phải bay đi sau khi thả được chút đỉnh đồ y tế, hầu hết là băng gạc nhỏ.

Quân lính tuyệt vọng trong vòng phòng thủ giờ đối mặt với thế lưỡng nan: làm thế nào để thoát ra và làm thế nào với những thương binh hiện có. Họ cũng nguy ngập với tình hình cạn đạn dược. Thêm vào đó, vũ khí cũng không đủ, nhưng một ước đoán lạnh lùng làm họ biết rằng có khả năng đó là vấn đề nhỏ nhít nhất. Bởi số người bị giết sẽ làm cho vũ khí có đủ cho tất cả. Vòng phòng thủ bé xíu của họ cách chừng bảy mươi thước – bảy mươi thước địa hình bằng phẳng và rất trống trải – tính từ sở chỉ huy tiểu đoàn (CP), nơi hầu hết thương binh được đưa về đó. Trưa ngày 3 tháng Mười một, Peterson, Mayo, Richardson và Giroux đi về CP để họp cho ngày phán xét sau cùng. Vì Richardson không phải là sỹ quan nên anh không dự, nhưng anh biết đó là về việc gì. Tất cả các sỹ quan, phần lớn cũng bị thương, đang nói về một chủ đề cấm kị – cách giải quyết bài toán thương binh trong thời khắc kinh khủng cuối cùng, mà họ biết nó đang đến gần. Những sỹ quan bị thương đã phải quyết định về việc họ sẽ ở lại đó, chờ vào lòng khoan dung, nếu có, của quân thù. Bromser và Mayo đến chỗ trung úy Kies và báo rằng họ sẽ cố phá vây ra. Họ hỏi ông có thể tham gia không, và Kies trả lời không, họ phải quên ông đi, bởi ông không thể di chuyển được và không muốn mọi người bị chậm vì mình.

Cái quyết định xé lòng đó của những người lính trẻ, đã làm Richardson ray rứt từ lúc đó và mãi cho tới nửa thế kỷ sau. Anh tình nguyện lãnh vài người, ở lại, và bảo vệ boong-ke cùng thương binh đến phút chót, nhưng đề nghị đó bị các sỹ quan bị thương bác bỏ. Những ai còn di chuyển được, những ai có thể có khả năng lãnh đạo, không thể hi sinh lãng phí để bảo vệ thương binh. Tất cả họ đều hiểu thời gian còn rất ít và đợt tấn công sắp tới sẽ rất ác liệt. Họ có thể nghe thấy quân Trung quốc đang đào hào từ phía lòng sông thẳng vào vòng phòng thủ, để có thể tấn công vào ngay giữa quân Mỹ trước khi chúng thành đích ngắm. Richardson đi quanh để gom lựu đạn và đưa cho viên hạ sỹ, rồi bảo anh ta rằng nhiệm vụ là ngăn quân Trung Quốc đào hào. Viên hạ sỹ bò ra – đó là một màn trình diễn dũng cảm chết tiệt, Richardson nghĩ, một hành động trông chừng chỉ có trên phim ảnh hơn là trong cuộc sống – anh ta làm chậm tiến độ đào hào lại.

Nhưng chiếc thòng lọng vẫn đang thít chặt lại, và câu chuyện về lực lượng giải vây chết dần. Họ có được một cuộc không kích bằng những chiếc B-26 của quân Úc trong ngày hôm đó, nhưng thời gian đang chống lại họ. Và cũng có một nỗ lực tiếp vận; một chiếc phi tuần nhỏ thả xuống một đôi túi rơi cách vòng phòng thủ chừng 150 thước. Richardson  bò ra lấy được, nhưng bên trong không nhiều nhặn gì, và cũng không phải thứ mà họ đang cần: đạn và morphin.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười, 2013, 06:58:06 pm
Lực lượng giải vây sẽ không đến. Hap Gay, sư trưởng, người đã tranh luận cho việc rút lui của cả trung đoàn vài hôm trước, gửi quân lên phía bắc để giải vây, nhưng họ bị quân Trung quốc nghiền nát, vì phía đối phương đã chọn được những vị trí phục kích gần như hoàn hảo để chặn đánh các nỗ lực giải vây vốn thường thấy – đó là một bài cơ bản của quân Trung Quốc, đả viện. Các lực lượng giải tỏa không có nhiều pháo và không quân chi viện, đây là hai thứ có thể cho họ ưu thế để tấn công các vị trí quân Trung Quốc. Một trong các đơn vị cố đột kích lên là trung đoàn 5 kỵ binh của trung tá Johnny Johnson, và mỗi tiểu đoàn của ông hứng chịu tới 250 ca thương vong. Ngày 3 tháng Mười một, biết là vô vọng, Gay, theo lệnh từ Milburn ở quân đoàn, phải cho sư đoàn rút lui, đã ra một quyết định mà sau này ông nói là khó khăn nhất trong sự nghiệp của mình. Ông dừng các nỗ lực giải vây và để quân mình ở đó, đơn độc.

Cuối ngày hôm đó, một chiếc máy bay trinh sát khác thả xuống một thông điệp báo cho những người bị vây nên cố đột phá ra. Đó thật sự là một thông điệp không dễ chịu gì, nhưng Richardson cùng đa phần anh em vốn đã hiểu họ phải tự thân vận động. Và khi đêm xuống, quân Trung Quốc tấn công lại với lực lượng mạnh. Quân Mỹ bị vây bắn đạn bazooka vào xe cộ của họ bị kẹt dọc theo con đường hướng nam và tây nam, chúng bốc cháy. Việc này như kiểu tự tạo ra một thứ hỏa châu cháy lâu của riêng họ, và giúp nhiều cho công cuộc phòng thủ. Mỗi khi một chiếc xe bốc cháy, nó cháy rất lâu. Tuy vậy, số người còn trụ được trong chốt giảm nhanh trong đêm. Bắt đầu với không quá một trăm người, và giờ chỉ còn vài mống cùng rất ít đạn. Qua ngày 4 tháng Mười một, Richardson ước tính rằng có tới một phần tư số lính Mỹ chiến đấu bằng vũ khí Trung Quốc lấy từ các xác chết. Đêm khổ chiến thứ hai là một sự kinh hoàng khác. Đêm ấy chiếc xe tăng cuối cùng rời đi – vài người bảo có lệnh điều ra, nhưng nhiều người khác tin rằng nó bỏ chạy – và cùng với chiếc tăng, mọi liên lạc vô tuyến với bên ngoài kết thúc. Và theo một nghĩa nào đó kinh khủng: đó biểu trưng cho việc họ bị bỏ rơi. Một điều khắc sâu Richardson vào trí nhớ của ông đến tận mãi hiện nay, đó là cảnh xác lính Mỹ chất đống quanh khẩu đại liên, nơi quân Trung Quốc tập trung hỏa lực của họ vào.

Sáng sớm ngày thứ tư, Richardson, Peterson, Mayo và một người lính khác được chọn đi trinh sát xem có lối thoát nào không. Cấp bậc không quá quan trọng. Mayo và Peterson là sỹ quan, nhưng họ thuộc pháo binh, trinh sát pháo, còn Richardson – như Giroux đã lưu ý – dù chỉ là một NCO, nhưng anh có lẽ có kinh nghiệm tác chiến bộ binh nhất và tin vào bản năng anh. Peterson nhớ mãi cái khoản khắc kinh khủng trước khi họ đi. Lúc anh bò qua máy truyền tin, có một người đang nằm đó, bị thương nặng, anh lính đó hỏi: “trung úy Peterson, ông thầy đi đâu đó?”. Peterson trả lời rằng anh đang tìm lối thoát, để có tiếp viện. Người lính bắt đầu nài nỉ: “Trung úy, đừng bỏ tôi lại đây! Xin đừng bỏ tôi ! Ông thầy đừng bỏ tôi đây cho chúng nó”. Liếc nhanh qua Peterson đã biết chỉ đôi giờ nữa là anh ta sẽ chết. “Tôi xin lỗi. Tôi rất tiếc, nhưng chúng tôi phải đi để tìm trợ giúp” anh nói rồi bò ra nhập với tổ tìm kiếm.

Richardson tin chắc rằng có một lối thoát ở phía đông bởi các đợt tấn công của quân Trung Quốc đến từ ba hướng khác; và, chầm chậm di chuyển, họ tìm ra một lòng sông phủ đầy thương binh địch, và họ hiểu anh em mình, đặc biệt là thương binh, đã rất gần với việc bị bắt làm tù binh, Richard bảo anh em: đừng có chỉa vũ khí vào họ chứ đừng nói tới việc bắn hạ một ai. Đừng nghĩ về việc ấy. Họ dừng lại ở một ngôi nhà mà cánh hậu cần Mỹ đã dùng là kho chứa trong một thời gian ngắn. Giờ nó chứa đầy thương binh Trung Quốc. Thương binh địch trong nhà liên tục rên rỉ những âm thanh kỳ quái nghe như “shwee, shwee”. Sau này Richard được giải thích là tiếng shui, nghĩa là nước trong ngôn ngữ của họ. Cuối cùng họ cũng đến lòng sông, và chỉ thấy có nhiều lính Tàu hơn, có lẽ bốn hoặc năm trăm nạn nhân của pháo kích, hầu hết đã chết nhưng vẫn có một ít còn sống, ngắc ngoải, cầm ca và vang nài xin nước. Lúc đó, quân Mỹ đã khẳng định được rằng họ có thể thoát ra theo hướng đông, rồi họ trườn lui về trở lại với anh em trong vòng phòng thủ.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười, 2013, 07:00:44 pm
Với Bill Richardson, cái quyết định được đưa ra sau khi họ quay về là thứ đau khổ nhất mà anh từng trải qua. Không có thứ gì trong vài ngày sau đó, hay trong cả cuộc đời còn lại của anh có thể so sánh được. Có chừng 150 thương binh ở đó, và không có cách nào họ chịu nổi một chuyến đi nguy hiểm trong đêm dưới làn đạn địch trong vùng đồi núi. Tất cả thương binh đều hiểu điều đó. Không ai muốn nằm lại trong tay quân Tàu. Ngay sau khi anh quay về, vài người còn nhúc nhắc đi lại được, đến gặp Richardson, khóc lóc, nói anh đừng bỏ rơi họ, làm ơn, chúa ơi, đừng bỏ rơi họ, đừng để cho bọn Tàu, mà hãy để Chúa dẫn dắt họ, đừng bỏ rơi họ ở đó đến chết. Anh tự hỏi, liệu có thể thực thi nhiệm vụ, theo thượng cấp, mệnh lệnh phải tuân thủ đến phút cuối, rằng đưa càng nhiều người thoát ra càng tốt, với việc tự vấn mình ở góc độ một con người? Có thể nào tự tha thứ cho bản thân vì những gì mình đã làm trong đời? Đó là câu hỏi mà anh dằn vặt mình suốt trong cả  nửa thế kỷ sau đó.

Giroux vẫn ổn trong vài ngày đầu tiên, anh điều hành, và chăm sóc những thương binh nặng, nhưng anh chết trong trại tù binh. Kies thì cùng với các thương binh khác đợi quân Tàu đến, chắc chắn rằng sẽ vậy. Và rốt cuộc quân Tàu cũng đến, một trong số chúng yêu cầu anh đứng dậy, anh cố và ngã gục xuống. Đôi chân anh bất khả dụng. Anh đã cắt bỏ đôi ủng trận bởi vết thương sưng phồng lên rất tệ. Anh nhớ rằng quân Tàu tách tù binh ra, những người như tiến sỹ Anderson và cha tuyên úy Kapaun, những ai tự di chuyển được, thành một nhóm và những người khác, như anh, không thể đi và cần được cáng – anh đoán khoản 30 người – đưa lên cáng. Năm người trong số họ chết vì vết thương trong đêm đầu tiên. Trong vài tuần kế tiếp họ đi theo nhóm từ nhà này sang nhà khác. Gần như không có gì để ăn và họ còn phải ăn trộm nước – nhờ một người còn đủ sức bò đi, rồi mang về một ít nước tanh tưởi chứa trong nón trận. Họ không được chăm sóc y tế, ngay cả băng gạc hay i-ốt cũng không. Điều đó kéo dài trong mười sáu ngày, Kies nhớ, cho dù tính cả những thứ chăm sóc cơ bản nhất. Họ di chuyển chậm chạm vào ban đêm. Anh nhớ rằng quân Trung Quốc đưa họ lên hướng bắc trong hai tuần, và anh tin đã nghe thấy tiếng chảy của một con sông sau thời gian đó, chắc là sông Áp Lục. Rồi đến một đêm, anh ngạc nhiên thấy họ quay về hướng nam thẳng đến tuyến quân Mỹ. Sau này anh cho rằng chắc là quân TQ mệt mỏi với việc phải mang theo tù binh. Đến cuối tháng Mười một, họ (quân TQ) bỏ lại tù binh vào một căn nhà cách các vị trí của quân Mỹ vài dặm về hướng bắc, một người trong nhóm của Kies, còn di chuyển được, cố xoay sở đi về hướng nam và liên lạc với quân Mỹ, sau cùng họ gửi xe đến để đón tù binh về. Như đã kể, Kies chỉ làm tù binh trong khoản dưới một tháng. Anh biết anh là một người may mắn. Với nhóm tự đi lại được (như kể trên) phải sống phần thời gian còn lại của mình ở Triều Tiên, hơn hai năm, trong điều kiện giam cầm tồi tệ và đa số họ đã chết. Kies cho rằng nhóm của anh nguyên có ba mươi người thì chỉ còn lại tám trước khi họ được cứu thoát. Chân anh bị gãy bốn chỗ và có tới 52 mảnh cối găm quanh eo. Một người lính trong đội giải cứu đã nói “Trông anh như một đống rác”. Nhưng rồi anh được gửi đi khắp các loại bệnh viện quân đội và hồi phục lại phần lớn sức lực, thậm chí anh còn đủ sức để có hai năm công tác với tư cách cố vấn (quân sự) ở Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười, 2013, 09:31:06 pm
Trở lại với vòng phòng thủ bé tẹo của quân Mỹ, trước 5 giờ chiều họ cố phá vây và di chuyển được một chút. Có chừng cả thảy sáu mươi người, họ đến lòng sông trước khi cắt đường về phương nam, nhưng di chuyển thật khó khăn. Lúc này họ đang ở hậu tuyến quân Trung Quốc, và với kích cỡ của nhóm, họ rất dễ bị phát hiện. Khi đến được con lộ lớn, MSR, đường tiếp vận chính (Main Supply Route), họ phải băng qua nhanh chóng. Richardson dàn đội hình hàng ngang để tất cả vượt lộ cùng lúc. Tại một điểm nghỉ chân, một trung sỹ thuộc phòng tình báo trườn đến và thì thầm với Richardson, rằng nếu hai ta lẻn đi riêng thì chắc chắn sẽ thoát được đến tuyến quân mình, bởi cả hai là dân chuyên nghiệp và không bị chậm lại bởi tất cả những người khác, những tay mơ trong chuyện di chuyển lặng lẽ này. Anh ta nói đúng, và có lẽ một sỹ quan khác sẽ đồng ý, nhưng Richarson thì không, anh biết đã quá muộn và rằng anh không thể bỏ rơi đồng đội, tại lúc này, ngay cả phải trả giá bằng tính mạng của mình.

Sáng ngày 5 tháng Mười một, họ vấp phải một trạm gác quân Tàu và hai bên nổ súng. Thế là quân địch đã biết họ ở đâu, sau cùng họ tan tác. Richradson là người duy nhất trong nhóm nhỏ của anh có một vũ khí, một khẩu burp gun (*). Anh bảo những người khác tháo ra, và khi anh nghĩ anh đã lẻn trốn được thì quân địch tìm thấy và bắt anh làm tù binh. Thay cho việc được về nhà  vào ngày Giáng sinh như Tokyo đã hứa, anh đã mất hai năm rưỡi lê la khắp các trại tù tồi tệ – Phil Peterson cũng có một số phận tương tự.

Trung đoàn 8 kỵ binh – khi điểm lại, có đến chừng 800 ca thương vong trong số khoản 2,400 quân trong đơn vị; riêng cái tiểu đoàn 3 bất hạnh, đầu trận chiến có 800 lính khỏe mạnh thì chỉ chừng 200 thoát ra được. Đến lúc đó, thì đây là thất bại tệ hại nhất trong cuộc chiến Triều Tiên, đau gấp bội là bởi nó diễn ra sau bốn tháng chiến đấu mà dường như chiến thắng đã trong tầm tay, và nhằm vào một đơn vị hạng nhất của quân đội Hoa Kỳ. Quân cộng sản Trung Quốc đột ngột xuất hiện khắp nơi với sức mạnh, và đập tan một trung đoàn thiện chiến hàng đầu trong một sư đoàn danh tiếng. Trung đoàn 8 kỵ binh mất phân nửa phương tiện cơ giới ở Unsan, cùng với các vũ khí đi kèm, gồm mười hai khẩu lựu pháo 105mm, 9 xe tăng, 125 xe tải và một tá súng không giật. Phát ngôn viên trung đoàn, trong lần trả lời báo chí sau cuộc tấn công hai ngày đã bàng hoàng nói: “Chúng tôi không biết đó có phải là biểu trưng của chính quyền Trung Cộng không” nhưng đó là “ một cuộc thảm sát kiểu dân da đỏ, như hệt như trận tướng Custer ở Little Big Horn” (**).

Pappy Miller thì bị thương, bị bắt rồi được cha tuyên úy vác đi, trong một nhóm nhỏ tù binh bị giải đi xa lên phía bắc hằng đêm. Trong chuyến đi vất vả đến trại tù, họ đến một căn cứ tạm của quân Trung quốc, ở đó, họ thấy hàng ngàn lính Tàu, có lẽ đến hai mươi hoặc ba mươi ngàn lính. Nó như một thành phố bí mật giữa lòng Bắc Triều Tiên và không chứa gì ngoài lính Tàu. Với cảnh tượng hoàng tráng này, anh biết cuộc chiến đã thay đổi hoàn toàn, nhưng không có ai hữu trách để anh có thể nói cho biết. Anh đang trên chặng đường dài hơn hai năm trong trại tù binh chiến tranh, nơi anh thường xuyên bị đánh đập, bị từ chối được chăm sóc y tế và với khẩu phần thức ăn ít ỏi.

(*) Burp gun có lẽ là tên lóng của khẩu PPSh-41 trong chiến tranh Triều Tiên

(**) Trận Little Big Horn là một trận đánh nổi tiếng trong lịch sử chiến tranh da đỏ, trong đó tướng Custer cùng trung đoàn 7 kỵ binh với 700 quân bị tàn sát.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười, 2013, 09:39:54 pm
Lực lượng LHQ, dù họ có muốn rút chạy hay không, cũng phải nhanh chóng lùi về các vị trí bên kia sông Thanh Xuyên (Chongchon). Ở đó họ chờ đón đòn tấn công kế tiếp của quân Trung Hoa. Nhưng quân Trung quốc biến mất, cũng bí ẩn như lúc xuất hiện. Không ai biết quân địch đi đâu. Chúng lặng lẽ rời chiến trường và một lần nữa vô tung vô ảnh. Nhưng rõ là chúng không rời đất nước này, dù vài người ở Tokyo muốn tin là vậy. Chỉ đơn giản là quân địch lui về các vị trí trú ẩn ở đâu đó xa trên hướng bắc. Ở đó chúng kiên nhẫn đợi quân Mỹ đi vào một cái bẫy lớn hơn, và xa hơn căn cứ chính. Sự kiện Unsan chỉ là sự khởi đầu. Cuộc tấn công thực sự đến từ điểm xa hơn ở hướng bắc trong tiết trời lạnh lẽo hơn, ba tuần sau đó.

Trận Unsan là một lời cảnh báo, nhưng nó không được chú ý. Ở Washington, tổng thống và các cố vấn của ngài, vốn đã băn khoăn hàng tuần liền về ý định của người Trung Hoa, càng trở nên lo lắng hơn. Tổng tham mưu trưởng liên quân, trước sự lo ngại của Tổng thống Harry Truman, đã đánh điện cho tướng MacArthur và yêu cầu trả lời về “ sự can thiệp công khai vào Triều Tiên của lực lượng Cộng sản Trung Quốc”. Những sự kiện diễn tiến trong vài ngày sau đó phản ánh sự khác biệt lớn lao giữa những gì MacArthur muốn làm – đó là tiến đến sông Áp Lục và thống nhất toàn bộ Triều Tiên – và điều mà Washington muốn – tránh một cuộc chiến tổng lực với Trung Hoa.

Vấn đề trọng tâm trong câu hỏi của Washington là người Trung Hoa muốn gì, và một lần nữa MacArthur quyết định điều khiển việc ra quyết sách bằng cách tác động vào hệ thống tình báo. Và một lần nữa, thiếu tướng Charles Willoughby là người chính yếu. Ông ta thận trọng giảm nhẹ cả số lượng và lẫn ý định của quân Trung quốc. Ngày 3 tháng Mười một, ông báo số lượng quân Trung quốc ở Triều Tiên là từ tối thiểu 16,500 đến tối đa 34,500. (Trong khi đã có chừng 2 vạn quân hoặc hai sư đoàn đầy đủ, tấn công quân Mỹ ở Unsan, và gần như cùng lúc một lượng quân tương đương đánh vào một tiểu đoàn Thủy quân Lục chiến ở bờ đông bán đảo và gây ra thương vong khá nặng). Sự thật là có đến 30 vạn quân, hay 30 sư đoàn, đã hiện hữu trên đất nước này. MacArthur, vốn từng bị trận tấn công gây chấn động, giờ lại làm giảm nhẹ việc đó, và câu trả lời qua điện văn JCS áp theo thông tin của Willoughby. Quân Trung quốc, ông ta điện, ở đó để giúp quân Bắc Triều “giữ chút địa vị danh nghĩa ở Bắc Triều Tiên” và để chúng “cứu được chút đỉnh từ sự sụp đổ”.

Nếu như ông ta có chao đảo vì trận tấn công vào lúc ban đầu, thì giờ dường như cảm giác đó đã biến sạch, và lần nữa MacArthur lại trở nên liều lĩnh hơn. Tướng Walton Walker, tư lệnh tập đoàn quân 8, trong thành phần có đơn vị bị tấn công ở Unsan, đã gửi điện về Tokyo sau khi bị đánh rằng: “BỊ PHỤC KÍCH VÀ TẤN CÔNG BẤT NGỜ BỞI CÁC LỰC LƯỢNG ĐƯỢC HUẤN LUYỆN VÀ TỔ CHỨC TỐT, MỘT SỐ LÀ QUÂN CỘNG SẢN TRUNG QUỐC”. Hoàn toàn bộc trực. Nhưng cái thông điệp thẳng thắn của Walker không làm sở chỉ huy của MacArthur hài lòng. Vị thống soái muốn Walker giảm nhẹ mối nguy từ người Trung Quốc và tiếp tục duỗi lên hướng bắc – như bình thường. MacArthur còn mắng Walker nặng hơn, khi ông này thêm lo ngại về việc bắc tiến và ông cũng như Tham mưu trưởng ở Washington, muốn thiết lập một tuyến phòng thủ ở eo bán đảo. MacArthur chất vấn Walker tại sao tập đoàn quân 8 mất dấu quân địch sau trận Unsan và lại rút lui về sau sông Thanh Xuyên trước áp lực của – cái mà ông ta gọi là một vài lính “tình nguyện” Trung Hoa? Rõ ràng là Walker phải tiếp tục tiến lên hướng bắc, áp lực lên ông còn tăng nhanh hơn quân Trung Hoa đang ẩn nấp và đợi.

Ngày 6 tháng Mười một, từ Tokyo, MacArthur ra một thông cáo rằng chiến cuộc Triều Tiên trên thực tế đã đi vào giai đoạn kết thúc bằng việc khép chặt vòng vây ở phía bắc Bình Nhưỡng. Không một ai khác có sự tự tin như vậy. Với đa số sỹ quan thuộc tập đoàn quân 8 – từ thực tế sự kiện Unsan – thì nhận ra rằng đó chỉ mới là một chút nóng từ lò lửa Trung Hoa.

Còn có nhiều lý do hơn nữa để Washington lo lắng. Như trung tướng Matthew B. Ridgway ghi nhận lại, khi trận tấn công đầu tiên của Trung Quốc diễn ra, MacArthur xem nó như là một tai họa và gửi điện về cho Washington phản đối việc giới hạn ném bom vào các cầu trên sông Áp Lục. Khả năng quân Trung Quốc vượt sông bằng cầu, như ông ta nói “sẽ đe dọa hủy diệt các lực lượng dưới quyền của tôi”. Điện văn trả lời từ Washington chỉ ra dấu hiệu can thiệp công khai của Trung Quốc, như theo cách hành văn của Ridgway “là một sự thật rõ ràng”, và mang ý nghĩa đánh giá lại một cách tiêu cực các hoạt động của LHQ ở hướng bắc. Thế là MacArthur gửi lại một bức điện khác, hoàn toàn trái ngược với cái trước trong nỗ lực làm Washington không lo lắng, rằng không lực có thể bảo vệ các lực lượng trên bộ và rằng quân địch sẽ bị quét sạch. Cuộc tiến quân lên phía bắc vẫn tiếp tục. Đó là thời khắc định mệnh của cuộc chiến Triều Tiên: giằng xé giữa giấc mơ “hoàng tráng” của mình về việc hoàn toàn chinh phục đất nước này với việc các đơn vị dưới quyền gặp nguy bởi một kẻ thù mới  mạnh mẽ, MacArthur đã chọn giấc mơ!!!

Tại Washington, những vị tai to mặt lớn vẫn lặng im. Quyền điều khiển cuộc chiến, như Dean Acheson – ngoại trưởng Hoa Kỳ sau này viết, đầu tiên thuộc về người Trung Quốc và sau đó là MacArthur – mà Washington không có chút ảnh hưởng nào với đối tượng đầu tiên và cũng chỉ có chút tác động ngoại vi tới đối tượng thứ hai. “Tướng MacArthur, trước mắt chúng tôi, cao cao tại thượng sau cuộc đổ bộ tuyệt vời” Acheson viết. Thời điểm đó thật nghiêm trọng: các lực lượng mạnh mẽ của một kẻ thù mới tinh vừa có màn ra mắt ấn tượng trên chiến trường, chiến đấu tốt và rồi dường như “biến mất khỏi trái đất”. Ông thêm vào “Cảnh báo sơ đẳng nhất là họ dường như có thể, và rõ ràng là hoàn toàn có thể: đột ngột xuất hiện lần nữa và gây tác hại như họ đã từng làm”.

Ở Sudong, bên kia bán đảo, lính Thủy quân lục chiến thuộc thành phần của quân đoàn 10 bị đánh dữ dội trong một trận chiến xảy ra cùng lúc từ  ngày 2 đến ngày 4 tháng 11, mất 44 người cùng với 162 thương binh. Họ xác quyết rằng trận tấn công đó đã được tính toán kỹ lưỡng, như thể quân Trung Quốc chăng sẵn một cái bẫy, và chúng không thể chờ họ duỗi xa hơn phía bắc, vào sâu hơn trong bẫy. Bằng chứng ở Sudong cùng những sự kiện ở Unsan là nghiêm trọng và không tách biệt. Đó là cơ hội cuối cùng cho việc dừng tiến sâu lên hướng bắc, quay lui và tránh một cuộc chiến lớn với Trung Hoa. Nhưng Washington không làm gì cả. Acheson ghi lại trong hồi ký “Chúng tôi ở đó, như những chú thỏ đờ đẫn trong khi MacArthur mang đến cơn ác mộng”.

(http://tieungoclang.files.wordpress.com/2012/10/dead-11501.jpg)
Xác thủy quân lục chiến Mỹ sau trận Chosin 11/1950

(Hết chương 1)


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười, 2013, 09:50:43 pm
PHẦN II

NHỮNG THÁNG NGÀY ẢM ĐẠM: INMIN-GUN NAM TIẾN

(*)  Inmin-gun: Quân đội nhân dân Triều Tiên (Bộ đội Bắc Triều)

Chương 2

Không đầy năm tháng trước, khoản ngày 15 tháng Sáu năm 1950, chừng sáu sư đoàn Bắc Triều Tiên lặng lẽ chuyển quân đến các vị trí gần biên giới với Nam Triều Tiên, hội sư cùng vài đơn vị đã đóng ở đó. Họ huấn luyện nghiêm khắc, nhưng tất cả trạm truyền tin vô tuyến đều im tiếng. Phía công binh, lặng lẽ và bí mật, thiết lập thêm một số cầu đơn giản trên con đường huyết mạch xuống phía nam, và gia cố để đủ chịu đựng sức nặng của những chiếc xe tăng T-34 do Nga sản xuất. Cùng lúc, công nhân cộng sản cũng làm việc hết mình để sửa chữa đường xe lửa, vốn do chính người miền bắc đã phá hủy khi đất nước chia cắt sau thế chiến II, đó là tuyến đường chạy theo trục bắc-nam. Đêm 24, mưa đổ, và tiếp tục rơi trong sáng hôm sau, có chừng 9 vạn quân, hơn bảy sư đoàn bộ binh và một lữ đoàn thiết giáp quân đội Nhân dân Triều Tiên, hoặc được biết với tên Inmin-Gun, băng qua vĩ tuyến 38 và trực chỉ phương nam. Một trận tấn công đa hướng được lên kế hoạch hoàn hảo. Quân miền Bắc dùng xa lộ và hệ thống đường sắt để tiến hành chuyển quân,  rất nhiều minh chứng cho thấy họ đã di chuyển tuyệt đối nhanh, tuyệt đối thành công để hợp vây các đơn vị Nam Hàn đang hoang mang trước khi kịp nhận ra việc gì đang diễn ra. Sau ngày đầu tiên, một cố vấn Liên Xô đã khen: tốc độ tiến còn nhanh hơn quân Nga.

Ngay từ khi được đặt vào Bình Nhưỡng bởi Liên Xô vào năm 1945, Kim Nhật Thành, lãnh đạo Bắc Triều Tiên, luôn ám ảnh với việc tấn công xuống phía nam và thống nhất tổ quốc. Ông chuyên tâm vào chủ đề đó, liên tục đạo đạt đến người có thể cho phép ông, nhà độc tài Soviet – Joseph Stalin. Ông muốn, ông trao đổi với Stalin trong cuộc gặp vào cuối năm 1949 rằng sẽ “đến phương Nam trên đầu mũi lê”.

(http://tieungoclang.files.wordpress.com/2012/10/539w.jpg)
Cụ Stalin

Kim Nhật Thành càng áp lực lên Stalin khi Mao Trạch Đông gần thống nhất được toàn bộ Trung Hoa dưới ngọn cờ cách mạng. Thành công của Mao Trạch Đông dường như làm Kim Nhật Thành thêm thất vọng. Mao nổi lên như một tay chơi có cỡ mới trên trường quốc tế còn Kim thì vẫn chết cứng ở Bình Nhưỡng, không thể đưa quân Nam tiến mà không có sự cho phép của Liên Xô. Ông là một nhà độc tài không hoàn chỉnh, chỉ làm chủ nửa nước. Nên ông ép và ép Stalin hơn. Những gì ông đưa ra rất đơn giản và dễ dàng: một cuộc tấn công của miền bắc xuống phương nam và một chiến thắng nhanh chóng. Kim tin rằng nếu ông tiến quân theo chiến thuật blitzkrieg với lực lượng thiết giáp, nhân dân miền nam sẽ nổi dậy, chào đón ông và cuộc chiến sẽ kết thúc trong vài ngày.

Trong quá khứ Stalin rất cẩn trọng khi hồi đáp những lời khẩn nài của Kim Nhật Thành. Quân Mỹ vẫn còn đang ở phía Nam, ngay cả khi nếu họ chỉ ở mức độ cố vấn, thì Stalin vẫn thận trọng trước việc trực tiếp thách thức họ. Trong khi đó, Kim Nhật Thành – ông này tin luôn vào hệ thống tuyên truyền của chính mình,  khinh bỉ chính quyền Lý Thừa Vãn được Mỹ ủng hộ ở phương Nam – tỏ ra không nao núng. Ông ta là một dạng người cực kỳ nguy hiểm, loại người hoàn toàn tin và sự đúng đắn của bản thân mình. Nếu Liên xô không cản đường ông nam tiến, thì ông có thể chiếm vùng đó không mấy tốn thời gian, ông tin vậy, cũng như Lý Thừa Vãn tin rằng chỉ cần người Mỹ, với sự kiềm chế đáng ghét, không chắn lối thì ông cũng dễ dàng chiếm được miền Bắc.

Stalin không hài lòng với mức độ hiện tại của vấn đề căng thẳng quân sự giữa hai miền Triều Tiên, không gì quá lớn, nhưng đủ để mỗi bên cân bằng. Có lần ông đã khích lệ Kim Nhật Thành tiếp tục tấn công chế độ Lý Thừa Vãng. “Mọi việc thế nào hả đồng chí Kim?” ông hỏi trong một cuộc gặp mùa xuân năm 1949. Kim Nhật Thành giải thích rằng, phía miền Nam gây nhiều vấn đề khó khăn. Có nhiều trận đụng độ dọc giới tuyến. “Đồng chí đang nói gì vậy?” Stalin hỏi “Chẳng nhẽ đồng chí thiếu vũ khí? Đồng chí phải vả vào mặt bọn miền Nam”. Ông cân nhắc một lúc, rồi nói thêm “tấn công chúng, tấn công chúng”.

(http://tieungoclang.files.wordpress.com/2012/10/images397517_kimjong.jpg)
Cụ Kim và bác Kim :)


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười, 2013, 10:00:52 pm
Nhưng việc “bật đèn xanh” cho cuộc xâm lăng còn có một vấn đề hoàn toàn khác. Nhà lãnh đạo Liên Xô không vội vàng trong việc mở ra một cuộc xung đột. Nhưng rồi một số sự kiện bên ngoài đã làm thay đổi quan điểm của Stalin, ít ra trong đó có bài phát biểu của Ngoại trưởng Dean Acheson vào ngày 12 tháng Giêng ở câu lạc bộ Báo chí Quốc gia tại Washington, trong đó dường như có đưa ra tín hiệu rằng Triều Tiên không nằm trong vành đai phòng thủ Mỹ ở châu Á và điều này được Moscow hiểu như một ngụ ý rằng Hoa Kỳ sẽ đứng ngoài bất kỳ cuộc xung đột nào ở Triều Tiên. Bài phát biểu đó là một sai lầm góp phần đáng kể trong một chính sách ngoại giao mệt mỏi nhất thế kỷ, bởi nó tác động tiêu cực lên các quyết định của phía cộng sản. Với việc Trung Hoa rơi vào tay những người cộng sản, Acheson cố giải thích chính sách của Hoa Kỳ ở Á Châu và ông kết thúc bằng việc đưa ra một tín hiệu rất nguy hiểm cho thế giới cộng sản. “Tôi e là chính Acheson đã thổi bùng nó lên”, Averell Harriman, bạn hữu của ông ta nói, sau đó vài năm.

Trong cuối năm 1949 và đầu năm 1950, Kim Nhật Thành thực hiện nhiều chuyến đi bí mật tới Moscow để xin được đồng ý, song song với việc tăng cường lực lượng quân đội của mình. Người Nga, trong những tháng đó lạnh lùng xem xét việc dính líu nếu Kim Nhật Thành nam tiến, và rồi họ nhận định người Mỹ sẽ không nhảy vào. Do vậy, theo yêu cầu của Stalin, Mao Trạch Đông hội đàm với Kim Nhật Thành, với câu hỏi rằng người Mỹ sẽ làm gì, tất cả đồng tình rằng Hoa kỳ sẽ không tham chiến chỉ để cứu “một mảnh đất bé tẹo”. Lúc đó chỉ có yêu cầu giúp đỡ chút đỉnh từ người Trung Quốc. Nhưng trong trường hợp người Nhật, vẫn là một con ngáo ộp trong vùng, tham chiến, Mao Trạch Đông hứa sẽ hỗ trợ người và trang bị.

Những sự kiện ở Trung quốc cũng tác động lên Stalin trong quyết sách Triều Tiên. Bởi người Mỹ đã không can thiệp quân sự để cứu đồng minh to lớn của họ, nhà lãnh đạo Trung Hoa Dân Quốc – Tưởng Giới Thạch mà họ hình như đã có cam kết sắt đá với nhau – khi Trung Hoa đại lục lâm nguy. Nếu trong cuộc chiến của Mao Trạch Đông – phát triển nhanh lẹ nhờ nông dân ủng hộ – và đã rất thành công, thì lẽ nào nông dân Nam Triều Tiên lại không ủng hộ Kim Nhật Thành dưới cùng ngọn cờ? Không phải đã có tiền lệ à? Thế là kế hoạch của Kim Nhật Thành dần dần được gia tăng mức ủng hộ ở Moscow. Và khi Mao Trạch Đông gặp Stalin lần đầu tiên vào cuối năm 1949 tại Moscow, họ đã bàn thảo về kế hoạch chiến tranh của Kim Nhật Thành. Stalin khuyến nghị nên chuyển 14 ngàn lính người Triều Tiên đang phục vụ trong màu áo quân đội nhân dân Trung Hoa về lại cho Bắc Triều Tiên, Mao Trạch Đông đồng ý. Theo nhà sử học Sergei Goncharov, John Lewis và Litai Xue trong đề tài nghiên cứu “Cộng sự không kiên định: Stalin, Mao và cuộc chiến Triều Tiên”, đã cho thấy có yêu cầu là: “Stalin hỗ trợ cho sự nghiệp Triều Tiên nhưng giữ khoản cách để không có dính líu trực tiếp”. Stalin chơi một ván bài tinh vi, nửa bật đèn xanh, nửa ngần ngừ cho cuộc xâm lăng. Nhưng không chắn chắn rằng mọi việc triển khai tốt như Kim Nhật Thành tiên đoán, nên ông ta (Stalin) không muốn nhận lãnh phần hậu quả nào của một cuộc phiêu lưu đầy tốn kém và khó khăn đó; và cũng không muốn có thấy bàn tay của mình trên đó.

Thắng lợi chung cuộc của Mao Trạch Đông trong cuộc nội chiến vào tháng Mười năm 1949  chỉ làm cho ham muốn của Kim Nhật Thành tăng lên dữ dội. Ông ta cảm thấy đã đến lượt mình. Tháng Giêng năm 1950, trong một buổi tiệc trưa nhằm tiễn tân đại sứ Bắc Triều Tiên sang Bắc Kinh, Kim Nhật Thành một lần nữa lại ca “bài ca” của mình trước vài quan chức cao cấp của sứ quán Liên Xô. “Trung Hoa giờ đã hoàn toàn giải phóng” ông nói “giờ đến lúc phải giải phóng người dân Triều Tiên ở miền Nam”. Ông thêm vào rằng mình mất ngủ hằng đêm do ráng nghĩ phương án cho bài toán thống nhất tổ quốc. Rồi ông đến bên cạnh tướng Terenti Shtylov, trên thực tế là thái thú Nga ở Triều Tiên, đề nghị ông này sắp xếp cho một cuộc gặp khác với Stalin và sau đó là với Mao. Ngày 30 tháng Giêng, năm 1950, mười tám ngày sau bài diễn văn của Acheson, Stalin điện cho Shtylov để báo với Kim Nhật Thành rằng: “Tôi đã sẵn sàng giúp cho việc này”. Shtylov chuyển ngay thông điệp đó cho Kim Nhật Thành, ông này bảo đang sướng mê.

(http://tieungoclang.files.wordpress.com/2012/10/nork-propaganda-1.jpg)
Tranh tuyên truyền của Triều Tiên: Bác Kim và các cháu nhi đồng,


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười, 2013, 10:06:03 pm
Tháng Tư năm 1950, Kim Nhật Thành lại đến Moscow nhằm giải tỏa những lo ngại còn lại của Stalin. Ông đi cùng với Phác Hiến Vĩnh (Pak Hon Yong), bí thư xứ ủy miền Nam, ông này hứa với nhà độc tài rằng nhân dân miền Nam nhất tề vùng lên “ngay tín hiệu đầu tiên từ miền Bắc” (Rốt cuộc là ông Phác đã trả giá cho sự lạc quan về một cuộc đồng khởi không bao giờ có. Chừng ba năm sau khi chiến cuộc kết thúc, ông bị lặng lẽ hạ bệ và tử hình). Trong quảng thời gian 15 ngày từ ngày 10 đến ngày 25 tháng Tư, Kim Nhật Thành và Phác Hiến Vĩnh có ba phiên làm việc với Stalin. Kim hoàn toàn đoan chắc về chiến thắng. Nói cho cùng, ông ta (Kim Nhật Thành) bị những người chung quanh tung hô rằng ông rất được lòng dân còn Lý Thừa Vãn thì mất lòng, nhân dân miền Nam ước mong ông ta giải phóng v.v…– chỉ là chung quanh Lý Thừa Vãn cũng đầy người như vậy nhưng theo chiều ngược lại. Cả hai chế độ đều nắm chính quyền được năm năm, với dân miền Nam, bất kể họ có kêu ca về Lý Thừa Vãn thì cũng biết được sự ngột ngạt dưới chế độ Bình Nhưỡng. Đó là vài điều Kim không nghĩ tới, ông hoàn toàn tin tưởng như mọi người cộng sản rằng chế độ của mình không chút áp bức. Ông tin rằng một Triều Tiên mới, phát triển ở miền Bắc chính là một đất nước dân chủ, thật sự dân chủ.

Hoa Kỳ sẽ không can thiệp, Kim Nhật Thành nói chắc với Stalin, bởi người Mỹ không muốn rủi ro có một cuộc chiến với cả Nga và Tàu. Còn với Mao Trạch Đông, nhà lãnh đạo Trung quốc sẽ luôn ủng hộ công cuộc giải phóng Triều Tiên, ngay cả việc góp quân, dù Kim Nhật Thành cho là sẽ không cần. Đúng lúc đó, Stalin nói: ông đứng về phía Kim Nhật Thành nhưng ông không thể giúp được nhiều, bởi ông có những ưu tiên khác – đặc biệt là ở Châu Âu. Nếu quân Mỹ vào, Kim Nhật Thành đừng mong người Nga sẽ gửi quân đến. “Nếu anh bị tán vào mặt, thì tôi cũng sẽ không thể nhấc cho dù chỉ một ngón tay. Anh phải nhờ Mao Trạch Đông giúp thôi”. Đó là phần việc của Kim Nhật Thành, Stalin nói và chuyển hướng sang Mao Trạch Đông, do ông này “có kiến thức sâu sắc các vấn đề phương Đông” để có các hỗ trợ hữu hình.

Đó là một nước cờ kinh điển của Stalin. Ông đổi vai, tối thiểu hóa mức đóng góp và chuyển vấn đề sang cho một chính phủ cộng sản mới (tức TQ), điều này làm ông tốn ít sức nhưng lại được mang ơn. Ông biết mình ở thế thượng phong so với Mao Trạch Đông, ông này thì muốn thống nhất cả nước, nhưng bị Mỹ chặn trước Đài Loan, và vì vậy Mao Trạch Đông cần Liên Xô giúp một khi phải đánh nơi đồn trú cuối cùng của những người theo Quốc gia. Trên thực tế thì Mao Trạch Đông hiện rất bận rộn với việc thương thảo cùng Nga về những thứ cần thiết cho không quân và hải quân. Kim Nhật Thành đến gặp Mao Trạch Đông tại Bắc Kinh trong một chuyến đi bí mật vào ngày 13 tháng 5 năm 1950.  Sự càn rỡ của Kim làm nhà lãnh đạo Trung Quốc có phần bất ngờ dù rằng đã thấu rõ tính xấc láo của ông này. Ngày hôm sau, Mao Trạch Đông nhận được điện văn từ Stalin xác nhận rằng phía Nga chỉ hỗ trợ cuộc chiến của Kim Nhật Thành có mức độ. Căn cứ vào đó, Mao Trạch Đông hứa phần hỗ trợ của ông và bảo khi nào Kim Nhật Thành muốn thì Trung Quốc sẽ gửi quân đến biên giới Triều Tiên trong trường hợp quân Mỹ nhảy vào.  Nhưng Kim Nhật Thành khẳng định sẽ không cần. Ông ta trả lời “một cách ngạo mạn”, như Mao sau này nói với Shi Zhe, phiên dịch viên của mình. Phía Trung Hoa có chút phát cáu với cái thái độ của ông ta. Họ nghĩ ông ta phải đến với họ một cách khiêm tốn hơn – một người Triều Tiên, đại diện cho một quốc gia bé nhỏ đến làm việc với các lãnh đạo của một Trung Hoa hùng cường, những người vừa chiến thắng trong một cuộc chiến vĩ đại – và họ (người Trung Hoa) phải đứng ở vị trí cao trong một cuộc giao dịch rộng lượng với một đối tác cấp thấp. Thay vì vậy, Kim Nhật Thành lại cư xử, theo họ nghĩ, thiếu tôn kính, như thể ông ta chỉ đến đây cho đủ lễ như đã hứa với Stalin. Rõ là Kim Nhật Thành chỉ muốn người Trung Hoa nhúng tay vào cuộc phiêu lưu to tát của ông ta càng ít càng tốt. Ông ta tin chắc rằng mọi thứ sẽ kết thúc rất nhanh – không đầy một tháng – và người Mỹ sẽ không thể triển khai quân kịp, dù họ có muốn. Mao Trạch Đông khuyến nghị rằng: bởi người Mỹ đang chống lưng cho chế độ Lý Thừa Vãng và Nhật có ảnh hưởng tới chính sách của Mỹ ở Bắc Á, nên vấn đề người Mỹ vào cuộc là không nên loại trừ. Nhưng Kim Nhật Thành bỏ qua lời khuyên đó. Còn với vấn đề trợ giúp, ông ta đã có đủ từ nguồn Liên Xô. Điều này thì đúng; dòng trang bị quân sự từ Nga đã trút qua các tuyến hậu cần ùn ùn vào  Bình Nhưỡng (vào thời điểm trước trận đánh, trang bị quân sự của phía Kim Nhật Thành tốt hơn nhiều không chỉ so với quân Lý Thừa Vãn mà còn hơn phần lớn các đơn vị quân đội nhân dân Trung Hoa – vốn vẫn còn dùng vũ khí cũ thu được từ quân Nhật hay quân Trung Hoa Dân quốc)


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười, 2013, 10:09:52 pm
Mao Trạch Đông cũng khuyên Kim nên đánh theo cách – mà nhà văn Shen Zhihua gọi là “đánh nhanh, thắng nhanh” – tạt sườn các thành phố, tránh các trận đánh nội thị mà thay vào đó công kích vào các vị trí quân sự mạnh của Lý Thừa Vãn. Tốc độ là điều cốt yếu. Và nếu quân Mỹ tham chiến, Mao Trạch Đông hứa lời hứa định mệnh: Trung Quốc sẽ gửi quân sang. Phía Triều Tiên thì không nghĩ điều này cần thiết. Khi kết thúc phiên họp với Mao Trạch Đông, Kim Nhật Thành nói với đại sứ Liên Xô tại Trung Quốc N.V.Roshchin trước sự hiện diện của Mao Trạch Đông rằng hai bên đã hoàn toàn nhất trí chiến dịch sắp tới của ông ta. Điều này không hẳn chính xác, và Mao không chút hài lòng với cái gã trẻ con, quá tự tin, thành tích quân sự thì có hạn lại cư xử với ông theo kiểu cậy quyền, cậy thế và còn dám tuyên bố thay cho ông.

Thời kỳ đầu, Triều Tiên lệ thuộc nhiều vào Liên Xô, và người Nga triển khai các nỗ lực thận trọng nhằm giảm thiểu ảnh hưởng của Trung Hoa. Những cố vấn hàng đầu của Kim Nhật Thành trước ngày nổ súng toàn là tướng Nga, và họ dần dần tiếp quản kế hoạch chiến tranh. Họ cho rằng kế hoạch của Kim Nhật Thành là nghiệp dư, nên được vẽ lại theo các tiêu chí của họ. Những thành viên thân-Tàu trong chính quyền dân sự lẫn quân sự của Triều Tiên đều không tiếp cận được những phần kế hoạch quan trọng. Vài nhóm vũ khí hạng nặng còn được chuyển vận bằng đường biển thay vì đường sắt để không phải đi qua lãnh thổ Trung quốc. Hiển nhiên là cả Nga lẫn Triều Tiên đều muốn hạn chế vai trò của Trung Quốc. Kim Nhật Thành đề nghị cuộc chiến nên bắt đầu vào khoản nửa sau tháng Sáu trước khi mùa mưa đến. Rốt cuộc Stalin cũng đồng ý với thời điểm cuối tháng Sáu. Và chuyến hàng quân sự sau chót từ Liên Xô phải đến sớm hơn tháng đó. Càng đến gần ngày tấn công, càng hiện rõ bàn tay can dự của người Nga. Kim Nhật Thành thậm chí còn không buồn báo cho nhà cầm quyền Trung Quốc về cuộc xâm lăng mãi cho đến ngày 27 tháng Sáu, sau khi quân của ông ta vượt vĩ tuyến 38 hai ngày. Cho đến lúc đó, phía Trung Quốc chỉ biết tin tức qua đài. Rốt cuộc, lúc Kim Nhật Thành báo với đại sứ Trung Quốc, ông ta vẫn khăng khăng là do phía Nam Hàn tấn công trước, điều này thì Trung Quốc biết chắc là dối trá. Những điều thú vị trong tổng thể các vấn đề ở vài tuần trước cuộc chiến cùng với dự báo về một chiến thắng dễ dàng, là sự kèm cựa, ganh đua quyết liệt trong quan hệ giữa ba quốc gia cùng các nguồn gốc lịch sử sâu thẳm – và mức độ tin cậy trong quan hệ là mỏng manh một cách đáng ngạc nhiên.

Với Mỹ và các nước phương Tây, đó không phải là một cuộc nội chiến, mà là một cuộc vượt biên giới, xâm lăng một quốc gia khác và điều này làm nhớ lại việc phương Tây đã thất bại trong việc ngăn Hitler gây hấn và dẫn đến thế chiến II. Với Tàu, Nga và Triều Tiên đó chính là quan điểm gây ngạc nhiên. Theo quan điểm của họ thì vĩ tuyến 38, vốn được Nga và Mỹ vạch ra hồi năm 1945 làm giới tuyến phân đôi Triều Tiên, không phải là biên giới. (Nhưng rồi quan điểm này thay đổi sau đó vài tháng, lúc quân Mỹ và LHQ tiến qua giới tuyến và hướng lên phía bắc). Điều họ làm trong ngày 25 tháng Sáu, theo quan điểm của họ, chỉ là một hành động thêm nữa trong cuộc đấu tranh trường kỳ của nhân dân Triều Tiên, là một phần của cuộc nội chiến vốn chưa kết thúc cũng tương tự như thứ sắp diễn ra ở Đông Dương và vừa kết thúc ở Trung Quốc.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười, 2013, 10:14:41 pm
Có nhiều dấu hiệu của việc tăng cường lực lượng trong những tuần trước trận tấn công, nhưng trong các báo cáo tình báo hằng ngày của người Mỹ, các dấu hiệu này bị vỡ vụn, vùi lấp giữa hàng đống các sự kiện đụng độ, căng thẳng, phản đối …gây ra từ đường biên giới đầy tranh cãi giữa hai đối thủ hung hăng không đội trời chung. Nhưng, nếu họ chịu khó để tâm, thì nhà cầm quyền Mỹ vẫn có thể nhận ra những điểm đáng quan ngại đang bắt đầu diễn ra. Một sỹ quan tình báo Mỹ trẻ tên Jack Singlaub, đã từng phục vụ trong đội OSS ở Trung Quốc, và giờ thành CIA, huấn luyện cho một nhóm điệp viên Triều Tiên có nhiệm vụ tìm hiểu những dấu hiệu điều Bình Nhưỡng đang định làm hơn là các trận đột kích du kích kiểu đánh-và-chạy thông thường. Rồi anh ta sớm gửi họ qua bờ bắc biên giới. Họ hoàn toàn mới mẻ trong cái nhiệm vụ này, dù được huấn luyện nghiêm túc, nhưng họ được yêu cầu xác định những vấn đề cực kỳ đơn giản: thứ đầu tiên và quan trọng nhất: những gia đình dân Triều Tiên ở khu vực biên giới phải rời đi hoặc thay thế, một dấu hiệu cho thấy sự chuẩn bị đang diễn ra; thứ nhì tải trọng và độ rộng của những chiếc cầu nhỏ; thứ ba bất kỳ hoạt động nào có liên quan đến việc mở lại tuyến đường sắt bắc-nam.

Các điệp viên của Singlaub khá trẻ, nhưng anh cho là một số họ xuất sắc một cách đáng ngạc nhiên. Cuối mùa xuân, anh đã nhận được nhiều báo cáo rất có giá rằng Bắc Triều Tiên đang đưa các đơn vị chủ lực đến biên giới và dân thường rời đi. Thêm vào đó anh được cho biết nhiều hoạt động ở các cây cầu; và vài tuyến đường sắt gần biên giới đang được sửa chữa, thường vào ban đêm.  Singlaub chắc chắn rằng, giữa hàng đống tin tình báo vụn vặt về các đụng độ liên miên ở biên giới, thì đang có điều gì đó nghiêm trọng sắp diễn ra.

Singlaub làm việc trong một điều kiện giới hạn nghiệp vụ đáng kể. Bởi anh là một điệp viên CIA-cựu-OSS. Anh thậm chí không được hoạt động công khai ở Triều Tiên, bởi Douglas MacArthur cũng như chỉ huy tình báo của ông ta, tướng Charles Willoughby, ghét OSS. Họ loại đội đó ra khỏi các chiến dịch của mình trong Thế chiến II; và giờ họ cũng định làm như thế với CIA. Sự căm ghét ấy một số đến từ việc MacArthur nổi tiếng là người bài Anh, và ông ghét Eastern Establishment (*) có ảnh hưởng trong OSS mà trên thực tế là chi phối nó; nhưng thật ra cũng có lý do lớn khác. Nếu ban G-2 của ông ta khống chế được tin tình báo từ các sự kiện quân sự thì ông khống chế được việc ra quyết sách cho sự kiện đó. Ông và Willoughby muốn các hoạt động của tổng thống Truman và Lầu Năm góc phụ thuộc vào nguồn thông tin từ họ, bất kỳ loại tin tức gì đến từ địa bàn của họ ở Á Châu – và không có tin ngược chiều nào để giới hạn quyền của ông ta. Nắm được tình báo là nắm được quyết sách.

(*) Cụm từ này tôi không tìm ra được cách dịch rõ nghĩa, thường Eastern Establishment dùng để chỉ các trường đại học, học viện tài chính hàng đầu ở vùng đông bắc Mỹ (và dĩ nhiên là chỉ những người xuất thân từ đó). Những người này có ảnh hưởng lớn trong nền chính trị Mỹ,có thể hiểu như  kiểu Ivy League. Theo tôi hiểu là vậy, bạn nào có kiến giải tốt hơn thì giúp mình


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười, 2013, 10:21:33 pm
Việc sở chỉ huy Tokyo không chịu điều chỉnh với những gì đang diễn ra không làm George Kennan ngạc nhiên, ông này vừa rời Tokyo sau một chuyến làm việc ngay trước đó, ông rất nghi ngờ chất lượng và năng lực của ban tham mưu MacArthur, đặc biệt là khối tình báo, mà ông cho là vênh vang, quá ý thức hệ và quá tự tin một cách đáng nguy hiểm. Khi ông lưu ý một sỹ quan Không lực cao cấp về điểm yếu địa-chính trị của Triều Tiên một khi các lực lượng trên bộ của Mỹ rút ra, thì viên sỹ quan bảo rằng không cần lực lượng đó bởi máy bay ném bom chiến thuật từ Okinawa sẽ đảm nhiệm được bất kỳ kẻ thù tiềm tàn nào. Kennan đã từng theo dõi người Trung quốc chiến đấu trong cuộc nội chiến, họ dường như trơ trơ trước không lực quân thù, nên không dám khẳng định về việc đó. Trong tháng Năm và tháng Sáu năm 1950, vài người thuộc cục Kế hoạch Chính sách Liên bang của ông, đã bắt đầu nghe phong thanh rằng có điều gì đó rất lớn đang diễn ra trong thế giới cộng sản và rằng một lực lượng quân sự lớn sẽ hành động sớm. Với điểm này, các điệp viên Mỹ cài trong thế giới cộng sản đã xem xét kỹ lưỡng và thống nhất rằng điều đó không phải ở Nga hay các nước chư hầu Đông Âu. Kennan nghĩ, có lẽ, đó là Triều Tiên. Còn giới quân sự thì bảo rằng một cuộc tấn công của cộng sản sẽ “thực nghiệm cho câu hỏi: Lực lượng quân sự Nam Hàn được trang bị và huấn luyện rõ ràng vượt trội so với quân Bắc”.

Khi tin tức từ cụm tình báo Singlaub được tập hợp đưa lên cấp cao hơn, thì nó đã qua bàn tay nhào nặn của Willoughby với nhãn F-6 – các điệp viên không được tin cậy hoàn toàn, và các báo cáo không chắc đúng – tức là mức khả tín thấp nhất. Và rồi khi bộ đội Bắc Triều Tiên (Inmin-gun) tấn công sáng ngày 25 tháng Sáu, họ đã làm cho quân miền Nam và cố vấn Mỹ hoàn toàn bất ngờ. Đó không phải là trận chiến công bằng. Bộ đội Bắc Triều Tiên rất giỏi và trang bị tốt. Nhiều minh chứng cho thấy vũ khí của họ là thứ mới tinh sản xuất ở Nga và được gởi qua chỉ để phục vụ cho trận đánh này. Bộ đội được huấn luyện tốt và vượt trội quân Nam về số lượng, có lẽ là gần 2 trên 1. Đến phân nửa trong số đó đã kinh qua chiến đấu, có khoản 45 ngàn người (đoạn trước  nói 14 k chẳng biết tin vào đâu) Triều Tiên từng tham chiến ở Trung Quốc được chuyển dần từ quân đội nhân dân Trung Hoa về bộ đội Triều Tiên theo sự đồng ý của Mao Trạch Đông. Có nhiều người đã từng chiến đấu hơn một thập kỷ và đã sống sót trong một cuộc chiến mà phía quân thù luôn có vũ khí tối tân hơn. Bộ đội Triều Tiên phản ánh chính xác một ngoại lệ của một xã hội độc tài ở miền bắc: một quân đội kỷ luật, tự chủ, cực kỳ tôn ti trật tự, được tuyên truyền tốt – họ chiến đấu cho một chính quyền có kỷ luật, trật tự và tôn ti cao. Binh lính phần lớn có gốc nông dân và sự bất bình của họ rất thực tế: họ căm thù chống lại cảnh nghèo, chống lại người Nhật đã thống trị họ một cách tàn bạo, chống lại tầng lớp quý tộc Triều Tiên đã hợp tác với người Nhật;  giờ họ được tuyên truyền là chống lại người Mỹ, theo ý họ, vào thay chân người Nhật ở miền Nam.

Tại Seoul, những người Mỹ thuộc các phái bộ chính trị hay cố vấn quân sự có vẻ phản ứng rất chậm, và cũng chậm hiểu sự kiện đang diễn ra rằng đang có hàng trăm ngàn bộ đội Bắc Triều Tiên đang hành động. Cuộc tấn công của quân Bắc bắt đầu lúc 4 giờ sáng ngày Chủ Nhật theo giờ địa phương hay 3 giờ chiều thứ Bảy theo giờ Washington. John Mucio, đại sứ Hoa Kỳ tại Nam Hàn – một cán bộ Bộ Ngoại giao xem ra thật khác thường, nghe về điều đó sau bốn tiếng đồng hồ, lúc đó ông nhận được một cuộc gọi từ một trong những phụ tá cao cấp của mình. Everett Drumwight, tham tán đại sứ nói với Mucio “Xin ngài đừng sốc, quân cộng sản đã tấn công trên toàn tuyến”. Còn Lý Thừa Vãn thì nghe tin đó lúc 6h30, điều này có nghĩa là trong suốt 1 tiếng 30 phút ông ta không chịu báo động với người Mỹ. Sau khi Mucio nói chuyện với Drumwight xong, họ quyết định gặp nhau ở tòa đại sứ. Trên đường đến đó, Mucio gặp Jack James, một phóng viên từ United Press, anh này định làm vài thứ cho xong trước khi đi picnic. Mucio bảo James rằng ông đang kiểm tra lại báo cáo rằng quân miền Bắc tấn công trên toàn biên giới. Khi James đến tòa đại sứ, anh chạy ngay đến gặp một người bạn làm trong bộ phận tình báo quân đội.

- “Cậu có nghe tin gì ở biên giới không?” viên sỹ quan hỏi James

-  “Ơ, chẳng có mấy” James trả lời “Thế cậu nghe được gì?”

-  “Mẹ kiếp, chúng vượt biên giới ở khắp nơi trừ khu vực sư đoàn 8” viên sỹ quan trả lời.

(http://tieungoclang.files.wordpress.com/2012/10/phase-1-november.jpg)
Bản đồ cuộc Nam tiến của bộ đội Inmin-gun 11/1950


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười, 2013, 10:27:58 pm
Nghe vậy, James chạy tới một máy điện thoại và điên cuồng gọi và cố ghép các mảnh tin rời rạc lại với nhau. Sau đó một chút, khoản 8h45 sáng, giờ Seoul, một lính thủy cảnh vệ, trung sỹ Paul Dupras hỏi anh việc gì đang sảy ra vậy.

-          “Quân bắc vượt biên giới” anh trả lời.

-          “À, có gì đâu – chuyện thường xuyên mà” Dupras nói.

-          “Đúng, nhưng lần này chúng nó có xe tăng” James trả lời.

James cố thu thập nhiều tin tức hơn, và đến 9h50 sáng, anh gửi đi bảng tin đầu tiên. Anh đã chạy giáp vòng thành phố, khi trở lại tòa đại sứ và nghe một trong các anh bạn ở bộ phận tình báo nói vài điều phải cho Washington biết, anh nghĩ rằng nếu thông tin chừng đó là đủ với họ thì cũng đã đủ với anh. Sau này, anh nói, là anh đã thận trọng, không cường điệu lên, bởi đó là một câu hỏi về chiến tranh và không cần làm nó quá sự thật vốn có, rằng chắc chắn sẽ có nhiều thứ được chi tiết hơn trong vài giờ, vài ngày sau. Dù UP nổi tiếng là kẹt sỉ, nhưng anh vẫn quyết định gửi bản tin theo kiểu điện khẩn. Vì anh nhanh nhạy nhất và bài của anh là bài duy nhất gửi về Mỹ để có trên số báo sáng Chủ Nhật. Nó bắt đầu theo kiểu điện tín thông thường: “UNGENT UNPRESS NEWYORK 25095 JAMES FRAGMENTARY REPORTS EXTHIRTY EIGHT PARALLEL INDICATED NORTH KOREANS LAUNCHED SUNDAY MORNING ATTACKS…”

Tại Washington, có mỗi lúc càng nhiều hơn các báo cáo rời rạc gửi về từ tòa đại sứ. Nhưng chính bản tin của James trên báo United Press đã báo động cho mọi người. Như ở tòa soạn báo UP và rất nhanh là các tòa soạn báo khác, họ bắt đầu gọi lên các quan chức cao cấp để xác nhận thông tin, và rồi những vị đứng đầu chính phủ được cảnh báo một sự thật rằng một cuộc chiến mới và rất không mong đợi đã bắt đầu ở bán đảo Triều Tiên.

 

Khi quân Bắc tấn công, Douglas MacArthur, rất ngạc nhiên là chậm chạp phản ứng. Ông dường như lãnh đạm trước những tin tức đầu tiên của cuộc xâm lược đến nỗi cán bộ quanh ông lấy làm lo. Cũng không có các nhân chứng xác minh tự do, nhóm người này ông xem là kẻ thù bất cộng đái thiên chuyên ngấm ngầm chơi sau lưng ông vì những lý do chính trị cục bộ; trong nhóm đó có cả John Foster Dulles, một nhân vật bảo thủ hạng nhất có liên quan đến bộ máy an ninh quốc gia Hoa Kỳ, một tay Cộng hòa trong ngành ngoại giao, hiện đang làm việc với tư cách cố vấn ở Bộ Ngoại giao; và John Allison một nhân viên cứng rắn của Bộ Ngoại giao, ông này thì đang làm trợ tá cho Dulles trong chuyến công tác đến Seoul và Tokyo

Ngay lúc Dulles và Allison đến Tokyo nhằm thảo luận về vấn đề ký hiệp định hòa bình để chấm dứt sự chiếm đóng của Mỹ tại Nhật Bản, thì miền Bắc (Triều Tiên) tấn công. Chỉ vài hôm trước trận đánh, cả hai ông đó đã đến thăm một boongke của lính miền Nam gần vĩ tuyến 38. Họ còn chụp hình với một đám lính Nam Hàn. Lúc đó Dulles, đội cái mũ mềm trứ danh, trông như kiểu ông đang trên đường tới một buổi họp với các chủ nhà băng ở phố Wall. “Foster leo lên chốt với chiếc mũ mềm trên đầu – đó thật là một bức ảnh rất buồn cười” bộ trưởng ngoại giao Dean Acheson nói, ông này không ưa Dulles vì đã nhăm nhe vị trí của mình hồi mười tám tháng trước, lúc Tom Dewey tham gia chạy đua vào nhà Trắng. Hôm sau, Dulles đã phát biểu trước Quốc Hội Nam Hàn rằng: “Các ngài không đơn độc. Các ngài sẽ không bao giờ đơn độc miễn là các ngài tiếp tục góp phần đáng trọng của mình vào sự nghiệp tự do của nhân loại”. Những dòng trên được viết riêng cho Dulles và cả cho chuyến trở về Washington bởi một người mà vài tháng sắp tới sẽ rất nổi bật như là một nhân vật cứng rắn hàng đầu: Dean Rusk, tân trợ lý ngoại trưởng đặc trách Viễn Đông và Paul Nitze cục trưởng cục Hoạch định Chính sách. Những xúc cảm từ bài hùng biện của Dulles vẫn còn nguyên vẹn đó, nên chẳng có lý do gì để ngờ rằng Nam Hàn trong cơn nguy biến. Chỉ vài hôm trước, Dulles và Allison còn được tướng Willoughby báo cáo, chủ đề là khả năng tấn công từ Bắc Triều Tiên là không bao giờ có.

Lúc Bắc Triều Tiên tiến đánh, Dulles và Allison có cái nhìn cực kỳ thiện cảm về hoạt động của sở chỉ huy MacArthur, một cái nhìn đồng cảm về ý thức hệ, nhưng không là thành viên trong bộ sậu của MacArthur. Lúc đầu, tin tức báo về rất tệ, nhưng MacArthur và bộ tham mưu của mình dường như hờ hững một cách lạ kỳ về nó. Có tin rằng trong đêm Chủ Nhật đầu tiên, ngày 25 tháng 6, MacArthur trông có vẻ rất thoải mái. Những báo cáo đầu tiên, ông nói với Dulles và Allison rất lửng lơ: “Có lẽ đó chỉ là một lực lượng trinh sát. Chỉ cần Washington sẽ không ràng buộc tôi, tôi có thể giải quyết gọn, chấp chúng một tay”. Rồi ông thêm rằng Tổng Thống Lý Thừa Vãn có yêu cầu vài chiếc chiến đấu cơ, và dù ông nghĩ quân Nam Hàn sẽ chẳng sử dụng hợp lý thì ông cũng định gửi cho một ít, để hỗ trợ về mặt tinh thần.

Dulles và Allison nghĩ, dù có vẻ yên tâm bởi sự tự tin toát ra từ MacArthur, thì cũng nên gửi điện cho Acheson và Rusk để trợ giúp khẩn cấp cho Nam Hàn. Dulles và Allison càng nói chuyện với những người ngoài-hệ-thống MacArthur càng nhiều thì họ càng thấy không ổn. Lúc tối muộn của ngày đầu tiên, Allison đi ăn với trung tướng Crump Garvin, tư lệnh cảng Yokohama. Garvin làm ông giật mình khi nói rằng có những báo cáo rất nghiêm trọng từ phòng tình báo tập đoàn quân 8 cho biết dân thường ở gần giới tuyến miền bắc đã bị di dời đi từ hai ba tuần nay, và rằng Bắc Triều Tiên tập trung một số lượng lớn quân ngay trên đường biên. “Ai đọc được những báo cáo này thì cũng hiểu được việc gì sẽ xảy ra, sớm xảy ra. Nhưng tui không hiểu bọn G-2 (*) ở Tokyo đang làm cái giống gì” Garvin nói.

(*)G-2: ban/phòng tình báo.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười, 2013, 10:36:22 pm
Sang ngày thứ Hai, khoản cách giữa thực tế chiến trường và thứ mà sở chỉ huy MacArthur nghĩ dường như rộng thêm ra. Đại sứ Muccio, đại diện cao cấp của bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tại Nam Hàn, đã lệnh di tản khẩn cấp phụ nữ và trẻ em Mỹ ra khỏi đất nước này. MacArthur vẫn còn mông muội, cho rằng việc đó là quá sớm. Ông còn khăng khăng bảo: “không có lý do gì làm hoang mang Nam Hàn”. Nhưng tin tức đưa về đều xấu giống nhau. Tối đó, hai vị khách cao cấp đi riêng nhau, Allison thì ăn tối với vài quan chức cao cấp ở Tokyo còn Dulles thì dùng bữa riêng với MacArthur. Bữa tiệc của Allison liên tục bị gián đoạn bởi dòng các phóng viên hạng nhất và các nhà ngoại giao, tất cả đến chỉ để phối kiểm với các nguồn tin mà họ có, với những báo cáo càng lúc càng ảm đạm – rằng Nam Hàn đang bị tràn ngập. Cuối buổi tối, Allison quyết định xác minh lại với Dulles, chắc là ông ta biết nhiều hơn tý từ bữa ăn tối. “Tôi tin là ông nghe được tin xấu từ Triều Tiên”, Allison bắt đầu. Nhưng Dulles chẳng nghe được gì. “Không phải ông ăn tối với tướng quân à?”. Đúng rồi, Dulles trả lời, chỉ hai người, nhưng sau bữa ăn họ đi coi phim, món giải trí ưa thích của vị tướng. Và không ai làm gián đoạn cả buổi tối. Ngay sau đó Dulles lập tức gọi dây nói cho MacArthur và báo lại những thứ nghe được về sự sụp đổ của Nam Hàn.   Viên tướng bảo ông sẽ nghiên cứu. “Đây có lẽ là một trong rất hiếm trường hợp của lịch sử Hoa Kỳ: đại diện Ngoại giao phải báo cho tư lệnh quân sự cao cấp của Mỹ về những gì đang diễn ra trong khu vực sân nhà của ông ta”, sau ngày Allison viết lại như vậy.

Ngày kế tiếp mang lại nhiều dấu hiệu hơn nữa về một thảm họa đang dần mở ra trước mắt họ. Đại sứ Muccio báo cáo rằng Seoul đang di tản, ông ta và Lý Thừa Vãn đang lui về hướng Nam, đến Taejon, bên kia sông Hàn. Ngày hôm đó, theo lịch Allison và Dulles lên máy bay về lại Mỹ. Lúc đang đợi ở phi trường Haneda, một MacArthur hoàn toàn biến đổi gặp họ. Allison sốc trước sự thay đổi này. Con người tự tin tự mãn của hai ngày trước khi nói về một lực lượng trinh sát, rơi đâu mất. Giờ ông ta hoàn toàn thoái chí, như thể đang liệm trong tấm màng đen. MacArthur thông báo “Hàn Quốc thất thủ. Giờ điều duy nhất ta có thể làm là đưa người mình ra khỏi nước đó an toàn.” Sau này Allison viết lại rằng “Tôi chưa bao giờ thấy ai chán nản, tuyệt vọng như tướng MacArthur trong sáng thứ Ba, ngày 27 tháng Sáu năm 1950 đó”.

Hành vi của MacArthur cũng xáo trộn thể hiện trong thời gian delay của chuyến bay vì lý do kỹ thuật. Buổi lễ tiễn cứ phải kéo mãi, kéo mãi, ngay cả khi có tin báo rằng bộ trưởng Quốc Phòng muốn điện đàm với viên tướng lúc 1 giờ chiều, giờ Tokyo. Vào cái thời sơ khai của viễn thông đó, cách thức điện đàm giống như kiểu nói chuyện điện thoại nhưng thông qua một điện báo viên, gõ thông điệp và truyền đi qua lại. Cả Dulles và Allison đều nhận thức được rằng đó là một yêu cầu gặp ngoại lệ và quan trọng, Washington rất cần trao đổi với tư lệnh chiến trường để biết được phương án giải quyết một vấn đề khủng hoảng nghiêm trọng. Để tham gia cuộc điện đàm đó thì MacArthur phải rời phi trường Haneda ngay lập tức. Nhưng trước sự ngạc nhiên của họ, MacArthur khá hời hợt khi nói với sỹ quan trợ tá rằng ông bận tiễn Dulles và Allison, nên Washington có thể trao đổi với tham mưu trưởng của ông. Dulles thất kinh, và ông dùng mánh khóe để MacArthur trở về với công việc: vờ gọi loa thông báo lên máy bay. Chỉ việc này mới khiến MacArthur quay về sở chỉ huy. Ngay sau đó Dulles và đoàn tùy tùng lại quay về lại phòng VIP và đợi thêm vài tiếng. Như sau này Allison được biết, thì trong cuộc điện đàm đó, chính quyền Truman đã quyết định điều động hải quân và không quân đến Triều Tiên. Đó không phải là một sự khởi đầu an ủi.

Với nhiều người, điều này làm nhớ lại sự thiếu chuẩn bị của lực lượng dưới quyền Douglas MacArthur trước cuộc chiến với Nhật Bản, ông đánh giá không đúng mức một cách có hệ thống khả năng của người Nhật trong việc tấn công vào các vị trí của Mỹ ở Thái Bình Dương, và rồi, bởi sự bố trí quân quá thiếu chuẩn bị nên các máy bay ném bom dưới quyền ông ở đảo Wake bị máy bay Nhật hủy diệt ngay trên mặt đất, lúc đó là sau trận Trân Châu Cảng cả chín tiếng đồng hồ. “Không mấy sĩ quan ở quốc gia nào hứng chịu trách nhiệm lớn về sự sụp đổ của quân đội Hoa Kỳ ở Philippin trong năm 1941-1942 mà thoát ra được” sử gia người Anh Max Hasting viết “Và còn ít hơn chối bỏ được sự chỉ huy tồi tệ ở Bataan,  thoát khỏi tòa binh một cách an toàn, mà còn được tuyên rằng  giá trị của ông ta với đất nước mình còn cao hơn biểu tượng hi sinh của những người lính”. Luật lệ áp dụng cho những người khác không bao giờ áp dụng cho DouglasMacArthur.

Hết chương 2


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2013, 02:14:01 pm
Chương 3

Khi quân Bắc tổng tấn công qua vĩ tuyến 38, đại tướng Douglas MacArthur đang dồn hết tâm trí vào việc phát triển hệ thống chính trị Nhật Bản, ông đang làm một công việc khác thường nhằm cố gầy dựng một quốc gia chiến bại trở thành một xã hội dân chủ, công bình hơn. Quay trở lại lúc bắt đầu Thế Chiến II, Nhật Bản là một quốc gia pha trộn một cách dị thường giữa nền kinh tế – quân sự hiện đại với thể chế chính trị – xã hội phong kiến. MacArthur đã nỗ lực và có thành tựu lớn lao trong việc tạo lập thế lực cân bằng, cải cách ruộng đất, lập nghiệp đoàn công nhân và quyền bầu cử cho phụ nữ.  Ông ta ban phát cơ hội một cách hoàn hảo – Nhật Bản sau chiến bại ở Thái Bình Dương là một quốc gia dường như Chúa đã từ bỏ, nhưng giờ đã tìm được một vị Chúa mới, một vị Chúa thế tục: MacArthur; người không có gì khác là luôn muốn được thần tượng hóa, và giờ đây ông đã kiếm được một quốc gia hiện hữu sẵn sàng xem ông như một dạng thần linh. Với một người rất vị kỷ và độc đoán từ trong máu, thì sự giao thiệp của ông ta với một quốc gia chiến bại mềm dẻo một cách đáng ngạc nhiên. Ông khôn ngoan chỉ đạo thông qua Nhật hoàng, và như vậy làm gia tăng quyền lực của cả hai. Dù bản chất của ông thuộc nhóm thủ cựu hơn là tự do, ở Mỹ ông nằm trong nhóm những phần tử chính trị thủ cựu nhất, nhưng tại Nhật, đáng ngạc nhiên ông lại là một vị thánh người Mỹ hiện đại, tự do. Trong nước, ông đã và tiếp tục là một nhà chỉ trích cay độc chính sách Kinh tế mới (New Deal) (*), nhưng ở Nhật ông nồng nhiệt tham gia nhóm những nhân vật trẻ, tự do, ủng hộ Kinh tế mới, mang cho họ nền tự do đáng ngạc nhiên trên đất nước chiến bại tan hoang. Họ có được quyền tự do ấy, lãnh tụ của họ Charles Kades (*) tin tưởng như thế, bởi phần nhỏ là vì đó là điều đúng đắn để làm và để tạo dựng một xã hội tốt hơn, ngoài ra phần lớn là bởi nếu nước Nhật được dựng từ một quốc gia cũ kỹ thành một quốc gia hiện đại bao nhiêu thì vai trò của MacArthur trong vai nhà kiến tạo còn lớn bấy nhiêu.

(*) New Deal: Chính sách kinh tế mới dưới thời F.D. Roosevelt, là một tổ hợp các đạo luật kinh tế – xã hội nhằm đưa nước Mỹ thoát khỏi cuộc đại khủng hoảng 1929-1933

(*) Charles Kades là một trong những trợ tá thân cận nhất của MacArthur.


Những đổi thay ở Nhật Bản và bản Hiệp ước Hòa Bình Nhật đã lấy hầu hết thời gian làm việc của MacArthur. Ông chỉ còn để ý tí chút tới những đơn vị Mỹ dưới quyền mình – các lực lượng chiếm đóng – lúc đó lực lượng ấy chỉ còn là cái bóng mờ của đội quân oai hùng  đã chiến thắng quân Nhật trên mặt trận Thái Bình Dương. Họ thiếu sức chiến đấu, trang bị kém và huấn luyện kém, nhưng ông không hề bận tâm. Ông còn ít để tâm hơn với Nam Hàn, vùng đất phía nam của phân nửa cái nước cựu thuộc địa của Nhật Bản, được quân Mỹ và Liên Xô giải phóng và chia cắt từ năm 1945. Người Mỹ xác lập ảnh hưởng lên miền Nam và Liên Xô cũng vậy ở miền Bắc. Nam Hàn không mấy làm ông hứng thú, và ông chỉ đến đó mỗi một lần – rất ngắn- từ khi lập quốc. Ông bỏ qua lời khẩn nài liên tục của tướng John Hodge, tư lệnh quân Mỹ ở Nam Hàn, ông này muốn tổng tư lệnh quân đồng minh (SCAP) – danh xưng chính thức của MacArthur – dành nhiều quan tâm hơn đến đất nước này. Thay vì vậy, MacArthur lệnh cho viên tướng này phải tự quyết nhiều hơn. “Tôi không đủ thông số với những vấn đề địa phương để khuyến nghị anh làm gì, nhưng tôi sẽ ủng hộ mọi quyết sách của anh” MacArthur trả lời như vậy cho một trong số các điện yêu cầu.

Rõ ràng là MacArthur không muốn để ý chút nào đến Triều Tiên trong giai đoạn 1945 – 1950. Có hàng đống điện văn đến bàn làm việc của ông từ tướng Hodge, van xin ông giúp hoặc có chỉ đạo: “Tôi khẩn khoản đề nghị ngài tham gia tích cực vào tình hình khó khăn …”. Faubion Bowers, một sỹ quan phụ tá quan trọng của MacArthur trong giai đoạn đó bởi anh biết tiếng Nhật, nhớ lại rằng tướng Hodge đã tự quyết định bay về Tokyo để gặp MacArthur, ông này phải đợi hàng giờ để gặp, và chỉ được lời khuyên là hãy tự lo. “Tôi sẽ không đặt chân đến Triều Tiên. Đó là việc của Bộ Ngoại Giao”, MacArthur nói với Bowers lúc trên xe trở về nhà. “Họ đã muốn và đã làm điều đó. Họ có quyền. Tôi thì không. Tôi sẽ không dính vào đó. Cái đám ngoại giao khốn nạn đã gây chiến và chúng ta chiến thắng. Tại sao tôi lại nể mặt họ? Tôi sẽ không giúp Hodge. Hãy để chúng tự giúp nhau”. Chuyến thăm duy nhất của ông đến Nam Hàn nhân dịp lễ nhậm chức của tân tổng thống Lý Thừa Vãn, lúc đó ông khá ngẫu nhiên bảo với Lý Thừa Vãn – dù ông chưa có tham khảo ý ai ở Washington về lời hứa này – rằng Hoa Kỳ sẽ bảo vệ Nam Hàn một khi bị tấn công “như thể điều chúng tôi sẽ làm với California”


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2013, 02:18:50 pm
Những fan hâm mộ và cán bộ thuộc quyền ông đều đồng lòng mô tả ông là một người cường tráng đầy năng lượng hiếm có ở tuổi bảy mươi. Nhưng với những ai không thuộc nhóm đó thì đều lo ngại về vấn đề tuổi tác và sức khỏe của ông. Từ lúc Nhật Bản thua trận, năm 1945, thì các sỹ quan cao cấp bắt đầu lo lắng về ông.  Tướng Joseph Stilwell, quan sát viên của lễ chấp nhận Nhật Bản đầu hàng trên tàu Missouri trong vịnh Tokyo, tháng 9 – 1945, đã bất ngờ nhận ra từ cú bắt tay tệ hại của MacArthur. Đầu tiên Stilwell nghĩ là do thần kinh kích động, nhưng tướng Walter Krueger, một trong các sỹ quan cao cấp của MacArthur đã xác nhận đó là do bệnh Parkison. Stilwell nghĩ: tệ thật. Còn có những dấu hiệu khác về việc sức khỏe ông  suy giảm. Khả năng chú ý của ông bị hạn chế và thỉnh thoảng lẩn thẩn, ông chậm hiểu ra tính nghiêm trọng của những thách thức mới. Ông cũng bị lãng tai, và một số sỹ quan phụ tá am tường cho rằng ông không muốn họp hành bởi lý do đó. Một số khác thì tin rằng đó là lý do mà khách khứa thường phải chịu nghe ông độc thoại bởi ông không thể nghe người khác nói gì và không bắt kịp những cuộc nói chuyện tay đôi. Dù có già hay không, dù có đủ đáp ứng yêu cầu công việc ở cấp tư lệnh chiến trường hay không, thì ông vẫn là một biểu tượng, một phần thế lực chính trị to lớn. Có nhiều thăng trầm trong cuộc đời binh nghiệp lâu dài và nổi bật của ông, có lúc cực kỳ thông thái, nhưng cũng có lúc tệ hại, rất tự phụ nhưng cũng rất dễ dãi, có nhiều người phải trả giá cho những sai lầm của ông, nhưng riêng cá nhân ông thì đến năm 1950 vẫn là một hình tượng tuyệt vời, một tư lệnh nổi tiếng táo bạo trong thế chiến thứ nhất, một lãnh đạo quân sự tinh khôn trong cuộc chiến với quân Nhật ở Thái Bình Dương trong suốt thế chiến thứ hai với việc sử dụng thận trọng các lực lượng có giới hạn. Và trong thời điểm nổ ra chiến tranh Triều Tiên, là người thi hành một công việc đáng khâm phục : hiện đại hóa nước Nhật.

(http://tieungoclang.files.wordpress.com/2012/11/generaldouglasmacarthursm.jpg)
Tướng Douglas MacArthur

MacArthur không để tâm đến Triều Tiên, thái độ với đất nước bất hạnh kia cũng tiêu biểu cho các đồng chí khác của ông trong nước. Triều Tiên không có bất cứ mối quan hệ nào với tiến trình chính trị lẫn tinh thần người Mỹ. Trong khi Trung quốc có sự quyết rũ lâu dài với người Mỹ, họ tò mò, họ cảm thấy sự thâm sâu của chủ nghĩa gia trưởng trong quan hệ với cái đói cái nghèo của người Trung Hoa. Với Nhật Bản thì khâm phục xen lẫn sợ hãi. Còn Triều Tiên, thì trái lại, không có chút hứng thú hoặc tý quan tâm nào, với người Mỹ. Một nhà truyền giáo tên là Homer Hulbert đã viết về người Triều Tiên như sau vào năm 1906: “dân đó thường dè bỉu nhau và không có mấy hấp dẫn. Họ không so được với người Hoa về số lượng, không bằng được người Nhật về tính dí dỏm. Họ cũng không phải là những thương nhân giỏi, và cũng không là chiến binh tài. Và sắc dân đó còn lâu mới là sắc dân thân thiện nhất ở phương Đông để cùng sống. Nhược điểm của họ trải dài cùng sự dốt nát khắp mọi nơi, và cơ hội cải tiến sẽ mang lại sự thay đổi hoàn cảnh nhanh chóng.” Bốn thập kỷ tiếp theo, sự quan tâm của người Mỹ cũng chẳng tăng được mấy. Người Nga tham chiến ở Thái Bình Dương muộn màng, và khi chiến sự đột ngột chấm dứt sau những tiếng nổ bom nguyên tử, Triều Tiên bị chia đôi ở vĩ tuyến 38, gần như là một việc đã rồi, sự phân chia này gần như rất ngẫu nhiên với lầu Năm góc. Các chỉ huy quân quản đầu tiên của Mỹ đến Triều Tiên tuyệt nhiên không biết chút gì về sự khó chịu của người dân với các ông chủ Nhật, không biết chút gì về sự chiếm đóng tàn bạo của người Nhật ở đây, và lúc đầu còn muốn dùng các lực lượng hiến binh Nhật để giữ trật tự cho người Triều Tiên. Với tướng Hodge, tư lệnh quân quản Mỹ đầu tiên sau chiến tranh, một quân nhân lỗ mãng, chẳng ưa cả người Nhật lẫn người Hàn, với ông thì “chúng tương tự cùng giống mèo như lũ Nhật”. Người Mỹ bắt đầu hiện diện ở Triều Tiên như vậy đó, rất ngẫu hứng và thực vậy bất cẩn; nhưng sự kiện này cũng mang đến một tay chơi mới điều khiển quỹ đạo của một đất nước có vị trí địa chính trị trọng yếu hơn là tài nguyên thiên nhiên vốn bị các cường quốc lân bang nhòm ngó từ nhiều năm nay. Như nhà sử học Bruce Cuming đã chỉ ra rằng: đó là vấn đề mới trong sự cân bằng vốn có, đó là sự xuất hiện của một thế lực mới, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Đó không phải là một vấn đề nhỏ ở những năm sau năm 1945 bởi người Nga đã có mặt, và rồi rất nhanh,  bởi an ninh quốc phòng Nam Hàn dính liền với an ninh quốc phòng Nhật Bản.

Cuộc hôn phối giữa Triều Tiên, mà nói cho chính xác là Nam Hàn với Hoa Kỳ bắt đầu từ năm 1945 dù không mấy quan trọng nhưng là một sản phẩm của Chiến tranh lạnh nên không phải là một chuyện dễ dàng. Nó mang đến một quốc gia phụ thuộc đầy giận dữ với niềm đau còn sót lại sau giai đoạn đô hộ mới vừa kết thúc và đắng cay với việc bị chia đôi bởi tay siêu cường mới nổi mà siêu cường này không chắc muốn làm vai trò của một đế chế. Với người Triều Tiên, việc kết thúc Thế chiến hai và chế độ thực dân Nhật đã không mang lại hơi thở của tự do và cơ hội xây dựng lại đất nước theo ý chí chính trị của họ, dù đây là hi vọng của phần lớn người dân. Việc từ một quốc gia duy nhất trở thành hai nước là một sự bất công, đau buồn trong mắt họ; hơn thế nữa khả năng phát triển đất nước theo  định hướng riêng, theo cách riêng cũng không được chủ động mà một lần nữa rơi vào quyền điều khiển của quốc gia khác. Điều trước tiên người dân miền Nam nghĩ là đất nước họ, hay chính xác hơn là nửa phần đất nước họ hiện bị điều khiển bởi những con người xa lạ sống cách xa hàng ngàn cây số, ở bên kia bờ đại dương rộng lớn và hầu như không quan tâm, không hiểu biết gì cái đất nước mà họ định đoạt số mệnh. Mối quan hệ bắt đầu với sự căng thẳng và thiếu hiểu biết lẫn nhau như vậy đó. Chỉ khi Chiến tranh lạnh gia tăng mức độ mãnh liệt thì mối quan hệ đó mới trở nên chân thật, có giá trị và quan tâm nhau. Nếu không có sự đe dọa của Quốc tế CS, thì nước Mỹ chẳng quan tâm gì đến Triều Tiên; bởi vì mối nguy đó mà người Mỹ sẽ chiến đấu và sẽ chết.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2013, 02:25:58 pm
Triều Tiên là đất nước nhỏ bé, kiêu hãnh nhưng bất phước lại nằm cạnh ba cường quốc, lớn, mạnh và rất tham vọng: Trung Quốc, Nhật Bản và Nga. Mỗi quốc gia đó điều muốn dùng Triều tiên như một bàn đạp để tấn công hai nước kia khi cần hoặc làm tuyến phòng thủ từ xa trước cuộc tấn công của hai nước còn lại (nếu có). Rất lâu từ trước năm 1950, các láng giềng ghê gớm của Triều Tiên luôn xâm lược nước này mỗi khi họ tin đó là một biện pháp phòng vệ – một bước đi trước – chống lại các địch thủ kia. Vị trí địa – chính trị bất hạnh này chẳng khác gì vị trí của Ba Lan trong lòng châu Âu, giữa Đức và Nga, vị trí địa lý này góp phần không nhỏ trong số phận đất nước Triều Tiên. Như Lý Thừa Vãn – tổng thống Nam Hàn – luôn thích trích dẫn một câu ngạn ngữ cổ Triều Tiên là : “Một con tôm bị nghiến giữa cuộc chiến của những con cá voi”.

Trong phần lớn giai đoạn lịch sử Triều Tiên, Trung Quốc luôn ảnh hưởng lên nước này nhiều nhất, hơn hẳn các quốc gia thù địch còn lại, nhưng kể từ cuộc chiến Nhật – Trung 1894-1895 Nhật trèo lên thay Trung Quốc, nước Nhật lúc này vừa trải qua công cuộc công nghiệp hóa nhanh chóng kết hợp cùng chủ nghĩa quân phiệt, họ bắt đầu nổi lên thành một thế lực thống trị trong vùng – nỗ lực thành lập một đế quốc Nhật bản mới. Năm 1896, nước Nga – trong cố gắn che đậy sự thối rữa về chính trị – xã hội và kinh tế của mình – đã ký hiệp ước với một Nhật Bản hung hăng hơn về việc phân chia vùng ảnh hưởng ở Triều Tiên (trớ trêu thay) theo vĩ tuyến 38. Nếu Nga lúc đó là một quốc gia bề ngoài trông mạnh hơn thực tế, thì Nhật lại ngược lại. Do đó, hiệp ước đó chỉ là một giải pháp tình thế.

Tháng Hai năm 1904, Nhật tấn công hạm đội Nga, và trên thực tế là đã hủy diệt hạm đội này sau trận eo Đối Mã; trận này diễn ra sau khi Nhật nện những đòn mãnh liệt lên quân Nga ở Thái Bình Dương và vùng Mãn Châu Lý. Người Nhật sau đó biện minh cho việc tấn công các lực lượng Nga ở Viễn Đông là do mối nguy từ vùng Triều Tiên do Nga kiểm soát gây ra.  Rikitaro Fujisawa, một chính trị gia nổi bật của Nhật nói rằng: Nhật phải tấn công Nga bởi: “Vị trí Triều Tiên là một con dao găm, trỏ thẳng vào trái tim Nhật”, câu này cũng được lập lại gần nửa thế kỷ sau bởi hầu hết các quan chức an ninh quốc gia cao cấp Mỹ. Rikitaro còn thêm rằng: “Triều Tiên trong vòng kiềm tỏa của Nga, hoặc chỉ cần Triều Tiên yếu kém thì sẽ thành một miếng mồi ngon cho con đại bàng Nga thì lúc đó số phận của Nhật Bản sẽ nằm trong tay “Gã khổng lồ phương Bắc” vô đạo đức. Nhật Bản không thể chấp nhận số phận đó. Cuộc chiến Nga – Nhật không chỉ là một chiến phòng vệ mà sự đấu tranh của Nhật còn là vì sự tồn tại và độc lập của đất nước. Điều này quá rõ ràng không cần minh xác hay giải thích”. Đó là cách hay nhất để thanh minh cho một cuộc chiến gây hấn – người Triều Tiên, chứ không phải quỷ dữ, buộc họ làm điều đó.

Dường như một phần trong định mệnh quốc gia Triều Tiên là việc không được nói nhiều về tương lai của chính mình. Trung gian hòa giải cho cuộc chiến Nga – Nhật không phải là người Triều Tiên mà chính là tổng thống Mỹ, Theodore Roosevelt, và ông đã có được giải Nobel hòa bình vì nỗ lực này, nhưng nỗ lực này chẳng có tý gì tốt đẹp cho người Triều Tiên. Roosevelt đại biểu cho một nước Mỹ mới, mạnh mẽ hơn và bắt đầu chứng tỏ mình là một xung lực đế quốc tiềm ẩn. Ông là người ủng hộ nhiệt tình của cuộc chiến Mỹ – Tây Ban Nha 1898 mà kết quả là Philippines thành thuộc địa Mỹ. Ông là người đàn ông đích thực trong thời đại đó: ông tin tưởng và thực tế đã phổ cập quan điểm rằng trách nhiệm của người da trắng, mạnh mẽ, tin cậy và xứng đáng cai trị thế giới không-phải-da-trắng không đáng tin và ít phẩm giá. Song song với đó, nghĩa vụ của phần thế giới không-da-trắng là phải chịu sự cai trị. Một quốc gia mà ông miễn trừ trong góc nhìn của mình với các nước châu Á và các dân tộc bản chất thấp kém hơn, đó chính là nước Nhật. “Người Nhật hấp dẫn tôi và tôi thích họ” ông viết cho bạn mình như vậy. Nhìn chung, trừ màu da, thể hình và kiểu mắt thì họ nguy hiểm như người Anglo-Saxon – chăm làm việc, kỷ luật, có tổ chức, mạnh mẽ theo cách của họ và xốc vác.

Một vài hình ảnh Triều Tiên đầu thế kỷ 20 (xem chú thích bằng tiếng Anh trực tiếp trên ảnh)

(http://tieungoclang.files.wordpress.com/2012/11/img_4567.jpg?w=625)

(http://tieungoclang.files.wordpress.com/2012/11/img_45541.jpg?w=625)

(http://tieungoclang.files.wordpress.com/2012/11/img_45551.jpg)

(http://tieungoclang.files.wordpress.com/2012/11/img_45611.jpg)


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2013, 02:32:37 pm
Roosevelt ấn tượng tốt với Nhật vì đó là một quốc gia năng động mà ông hâm mộ “có quyền đứng hoàn toàn ngang hàng với tất cả các dân tộc khác của thế giới văn minh”. Tất cả những điều này đưa Triều Tiên, như theo cách nói của Robert Myers – một nhà văn cựu sỹ quan tình báo rất thành thạo Triều Tiên, là: “ở vị trí không khác gì một con bê mới sinh, bất khả tự vệ trước con sói đế quốc Nhật”. Quốc gia duy nhất có thể tạo nên sự khác biệt đó là Mỹ thì ở rất xa. Thực tế là từ năm 1882 vương quốc Triều Tiên đã ký hiệp ước với Hoa Kỳ (và vài quốc gia Âu Châu khác) về việc hỗ trợ bảo vệ Triều Tiên khi bị tấn công. Vấn đề trợ giúp này hoàn toàn mang tính lý thuyết: Triều tiên ở quá xa; còn hải quân Mỹ trong giai đoạn chiến tranh Nga – Nhật thì nhỏ bé một cách đáng buồn; và dù sao đi nữa thì Teddy Roosevelt cũng có các ưu tiên khác ở Á Châu hơn, Triều Tiên không nằm trong số đó. Hoa Kỳ không lưu tâm đến việc giúp Triều Tiên mà dành điều đó cho Phillipines thuộc địa mới của mình. Và với việc lờ đi hiệp ước của người Mỹ, Nhật bản được phép điều khiển Triều Tiên chặt chẽ hơn dưới danh hiệu “chính phủ bảo hộ” sau cuộc chiến Nga – Nhật, rồi đến năm 1910, sáp nhập một cách trơ tráo, công khai thành một thuộc địa hoàn toàn của Nhật.

Bởi tiếng Anh lưu loát, nên thanh niên Lý Thừa Vãn được chọn trong số các đồng bào tham gia chuyến viếng thăm Theodore Roosevelt vào mùa hè 1905, khi vị tổng thống này đang làm nhiệm vụ trung gian cho hòa ước Nga – Nhật. Họ Lý xin Roosevelt giúp để Nhật bản không đô hộ nước ông. Theo nhà báo – sử gia Joseph Goulden, thì Roosevelt đã nói với họ Lý theo kiểu: “lịch thiệp nhưng rõ ràng nước đôi”. Roosevelt thừa hiểu các thành phần ủng hộ Nhật bản trong sứ quán Triều Tiên tại Washington cũng sẽ không giúp gì cho họ Lý; và ông cũng không thèm báo, ngay trong khi họ đang trao đổi, thì Ngoại trưởng Mỹ William Howard Taft trên đường tới Tokyo để thống nhất một hiệp định bí mật dành quyền cho người Nhật ở Mãn Châu Lý và Triều Tiên, đổi lại người Nhật sẽ để Mỹ hoàn toàn tự do ở Phillipines. Không có gì ngạc nhiên khi Lý Thừa Vãn trở nên quá kích động và hay ngờ vực, trong mắt những đồng minh người Mỹ của ông. Nước Mỹ đã phản bội ông nhiều hơn một lần và dối ông một cách có hệ thống. Rốt cuộc thì người Nhật – đổi tên Korea thành Chosen (*) – cũng bắt đầu một giai đoạn thực dân đô hộ tàn bạo gần bốn mươi năm. Còn Hoa kỳ, theo hồi ký của Roosevelt, không thể làm gì “cho người Triều Tiên thứ mà họ hoàn toàn không thể tự làm”. Chế độ thực dân Nhật ở Triều Tiên là một trong các chế độ tàn bạo một cách bất thường, nhưng nó không được mấy chú ý bên ngoài biên giới nước này.

(http://tieungoclang.files.wordpress.com/2012/11/rhee.jpg)
Cụ Lý Thừa Vãn

(http://tieungoclang.files.wordpress.com/2012/11/woodrow-wilson-008.jpg)
Cụ Woodrow Wilson

Bản thân Lý Thừa Vãn sống ở Mỹ, và có được sự giáo dục rất tốt so với người Triều Tiên cùng thế hệ, ông có nằm trong nhóm người Triều Tiên được tin cậy và có một số quan hệ với vài nhân vật ở Mỹ, những nhân vật này có mối liên quan thông qua tôn giáo, để từ đó tiếp cận đến các chính khách có ảnh hưởng. Những mối quan hệ này giúp Lý Thừa Vãn có cơ hội gặp gỡ và đưa ra vấn đề độc lập cho nước ông, nhưng ông vẫn luôn cảm thấy ảnh hưởng thực tế là không cao. Ông tốt nghiệp trường Princeton, bằng tiến sỹ khoa học chính trị và được ngài Woodrow Wilson yêu quí (**). Họ Lý là một thành viên có mặt thường xuyên trong các buổi tụ tập thân mật do nhà Wilson tổ chức, họ vây quanh gia đình Wilson, đánh piano và hát hò. Lý Thừa Vãn không hát, nhưng ông thích cái không khí ấm áp không nghi thức của buổi ăn tối kiểu Mỹ, còn ngài Wilson thì vừa thích vừa khen họ Lý và giới thiệu ông với những người chưa quen với tư cách là “nhân vật cứu rỗi cho nền độc lập Triều tiên trong tương lai”

Nhưng một Wilson chủ tịch trường Princeton và một Wilson tổng thống Mỹ vài năm sau đó, người trên thực tế đưa Hoa Kỳ tham chiến ở Thế Chiến thứ nhất, là hai người rất khác nhau. Trong hội nghị hòa bình hậu chiến ở Paris , nơi ngài Wilson đã hi vọng tạo lập một trật tự thế giới mới, các nước bàn về vài vấn đề trong đó có quyền tự quyết cho các quốc gia bị đô hộ. Không ai quan tâm đến vấn đề này hơn kẻ được bảo trợ, người bạn nhỏ của Wilson: Lý Thừa Vãn, cơ hội tốt nhất cho việc đòi lại tự do của tổ quốc được nằm trong tay của người thầy thông thái, người dường như đã ngầm phong cho ông là lãnh tụ của một Triều Tiên mới, một Triều Tiên độc lập. Với họ Lý đây là thời khắc mà ông mong đợi. Ông mong được rời Mỹ để đến Paris, để thay mặt cho nhân dân cả nước đến vận động người bạn vĩ đại nhất, trước mắt là nới lỏng bớt vòng kim cô của người Nhật. Nhưng Wilson không hề muốn ông ta có mặt ở Paris. Vị Tổng thống, thật vậy , cần  Nhật Bản ở vai trò cường quốc khu vực châu Á, ngoài ra, người Nhật cũng đã chọn đúng phe trong suốt Thế Chiến, và giờ đây cũng là một quốc gia thắng trận trong khối đồng minh, đang sẵn sàng cho việc thừa kế các quyền lợi của nước Đức ở Trung Quốc. Lúc đó Lý Thừa Vãn đã học được điều luật đầu tiên của thế chiến: các nước phe thắng trận sẽ giữ lại các thuộc địa. Và BỘ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã không cấp chiếu khán (passport) cho Lý Thừa Vãn.

(*) Chosen là cách phát âm theo tiếng Nhật của Joseon (âm Hán – Việt là Triều Tiên mà tôi sử dụng dịch thống nhất cho từ Korea trong loạt bài này), còn tại thời điểm bị Nhật đổi tên, thì danh xưng chính thức là Daehan Jeguk – Đại Hàn Đế quốc – do vua Gojong (Cao Tông) đặt từ 1897. Nhìn chung trong lịch sử Korea có 3 tên chủ yếu là: Joseon (Triều Tiên) được dùng dài nhất , rồi đến Goryo (Cao Ly) và Deahan (Đại Hàn) hay Hanguk (Hàn quốc do viết tắt từ Daehan minguk – Đại Hàn Dân quốc)

(**) Woodrow Wilson là tổng thống thứ 28 của Hoa Kỳ và là cựu chủ tịch trường Princeton

Lưu ý: các giải thích (*) là do người dịch tự chú giải, không phải nguyên bản trong sách, nếu có sai sót xin các bạn hiệu đính.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2013, 02:36:46 pm
Nhưng tại thời điểm tháng 6 năm 1950, thực tế trớ trêu là Mỹ khi ấy lại sẵn sàng chiến đấu và hi sinh vì Triều Tiên. Với Hoa Kỳ, Triều Tiên có giá không vì tự thân nước này như thế, mà bởi Hoa Kỳ lo lắng cho quốc gia láng giềng – kẻ đàn áp Triều Tiên một thời gian dài: Nhật Bản – nếu Mỹ không can thiệp và đáp trả sự khiêu khích từ phe cộng sản. Những khúc quanh của chặng đường lịch sử thật quái dị, Nhật giờ lại hóa ra là bạn hữu, còn Trung Hoa – một đồng minh dũng cảm lại đang trở thành kẻ thù.

Thời kỳ thực dân lâu dài của Nhật Bản đã mang lại hậu quả nặng nề với người Triều Tiên. Nó hủy diệt khả năng tiến hóa của nền chính trị xã hội cũng như công cuộc hiện đại hóa ở đất nước này – không chỉ bởi sự tàn bạo và áp bức tuyệt đối của cảnh binh Nhật mà còn bởi thực tế là phần lớn những chính trị gia tài năng đã bị bắt, bị giết; trong khi những người khác như Lý Thừa Vãn và đối thủ tương lai Kim Nhật Thành phải đi sống lưu vong. Một số người miền Nam còn bị tha hóa bởi việc hợp tác với kẻ địch Nhật Bản. Trong suốt thế chiến 2, như Robert Myers đã chỉ ra, nhân dân các quốc gia tạm chiến ở châu Âu luôn hi vọng rằng sẽ sớm có trợ giúp, rằng các quốc gia đồng minh hùng cường rồi cũng sẽ tập hợp lại với nhau để đánh đuổi và kết thúc sự chiếm đóng của Đức trên quê hương mình. Còn với người Triều Tiên thì không hề có hi vọng như thế. Mười năm, hai mươi năm, hai nhăm năm trôi qua, nhưng không hề có một lực lượng từ quốc gia nào đến để cứu dân tộc Triều Tiên khốn khó, nô dịch, để đuổi quân Nhật ra khỏi đất đai của họ.

(http://tieungoclang.files.wordpress.com/2012/11/img_4570.jpg)
Hình cụ và hình phạt thời kỳ đầu thế kỷ XX ở Triều Tiên

(http://tieungoclang.files.wordpress.com/2012/11/img_6226.jpg)

Chỉ đến tháng Mười hai năm 1941, khi Nhật Bản mưu mẹo tấn công các vị trí của Mỹ, Anh,  Hà Lan ở khu vực Nam Á và Đông Nam Á thì mới có hi vọng le lói nhưng mỏng manh, bởi lúc đầu người Nhật chiến thắng phần lớn trận đánh trong chiến cuộc Thái Bình Dương còn khi ngọn triều đổi hướng thì chẳng có mấy chút thông tin lọt qua lưới kiểm duyệt đến với người dân Triều Tiên. Đồng minh phương Tây đến, nếu không vì Triều Tiên thì cũng vì lý do riêng, và thành công của họ báo hiệu cho sự sụp đổ của Nhật Bản. Nhưng vào năm 1945, chủ nghĩa yếm thế – sản phẩm của thời kỳ chiếm đóng – bộc lộ ra: nhiều người ở tầng lớp trung lưu và thượng lưu lại thích nghi theo các mức độ khác nhau với bọn thực dân, chấp nhận luật lệ của người Nhật và trở thành một phần trong cấu trúc quyền lực của Nhật Bản dù không có mấy quyền hành và thỏa hiệp hoàn toàn. Một số người Triều Tiên còn bắt đầu trông mong vào Nhật Bản, dù có bất nhẫn, thì đó cũng là dân Châu Á đầu tiên đánh bại được những ông chủ da trắng trên hầu hết đất Châu Á.

Năm 1945, Triều Tiên hầu như là một quốc gia không có thể chế chính trị, và không có lãnh đạo bản địa. Miền Bắc, khi Hồng quân Liên Xô quét vào, thì các cơ quan nhà nước từ cao tới thấp ngay lập tức được người Nga áp vào ngay cùng với một nhà lãnh đạo mới: Kim Nhật Thành. Còn miền Nam, Lý Thừa Vãn, người phần lớn cuộc đời sống lưu vong ngoài nước, là ứng viên của người Mỹ, dù có thích hay không. Lúc đó ông ta đã bảy mươi tuổi, khắc nghiệt, tự kỷ, không kiên định, cực kỳ yêu nước, cực kỳ chống cộng và không thiếu tính độc đoán; ông là một người dân chủ cực kỳ tới mức ông hoàn toàn điều khiển toàn bộ thể chế dân chủ của đất nước mà không ai khác được phép thách thức ý định của mình J. Ông thật sự là thứ được Nhật và Mỹ nhào nặn ra qua những lần bị phản bội, tù đày, lưu vong chính trị, vì những lần thất hứa, những thay đổi nhẫn tâm. Ông là một hình mẫu do một giai đoạn lịch sử khắc nghiệt của đất nước ông tạo ra, còn chính trị gia trẻ đầy tham vọng Kim Nhật Thành cũng là sản phẩm tương tự của bi kịch đó, chẳng qua là theo một lối rất khác.

Lý Thừa Vãn là một tù nhân chính trị khi còn rất trẻ và vừa may thoát án tử hình; thực tế là ông có bằng đại học Harvard và bằng tiến sỹ Princeton, nhưng cuộc đời ông đầy gian khổ và thất vọng tương đồng với những gian khổ và thất vọng của đất nước ông. Tình trạng vô năng của ông lúc lưu vong chẳng khác gì của đất nước, một quốc gia mồ côi trong mắt các cường quốc. Sau khi nhận bằng tiến sỹ, ông trở về Triều Tiên trong một thời gian ngắn, rồi quay lại Hoa Kỳ sống tiếp 35 năm nữa. Ông trở thành một người chuyên đi van xin trong tình trạng không khả quan mấy, ông liên tục vận động cho một Triều Tiên tự do thoát khỏi cảnh lệ thuộc thực dân do chính ông đứng đầu. Nếu ông là một kiểu người theo chủ nghĩa dân tộc nồng nhiệt nhất, thì chính ông cũng là một nhà tổ chức khắc nghiệt nhất: khi lấy được quyền lực, thành công của ông xác nhận cho sự độc tưởng.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2013, 02:40:43 pm
Khi chiến tranh Thái Bình Dương kết thúc trong năm 1945, Lý Thừa Vãn có trong tay con bài tẩy để chơi, ông đã đợi điều này trong ba thập kỷ ròng – đó chính là sự hỗ trợ của Hoa Kỳ. Với một số người Mỹ chịu trách nhiệm tính toán cho Triều Tiên thời hậu chiến mà không có hiểu nhiều về tình trạng của nước đó, thì Lý Thừa Vãn, với thời gian dài lâu sống ở Mỹ và nhiều năm vận động, nổi lên thành ứng cử viên Triều Tiên duy nhất trong lòng người Mỹ. Ngoài ra, ông được ủng hộ bởi có mối liên hệ lâu dài với những người quốc gia Trung quốc (Trung Hoa dân quốc) vốn có quan hệ tốt một cách khác thường với Washington. Ở Triều Tiên, cũng như Trung Quốc, người được [Mỹ] chọn cho vị trí lãnh đạo phải vừa là người theo chủ nghĩa quốc gia và vừa là người Thiên chúa; điều này hợp với các tiêu chuẩn tôn giáo và chính trị của phương Tây.

Có Tưởng Giới Thạch chống lưng thì cũng giống như có hộ chiếu bước vào vòng ảnh hưởng của Washington. Thực tế là Lý Thừa Vãn trở nên hữu danh, dù tốt hay xấu, cả từ  những người ngưỡng mộ họ Tưởng lẫn những người ghét ông, như Tưởng thiếu gia. Không như Tưởng Giới Thạch, ông là một người Thiên Chúa mộ đạo. Trên một đất nước đa số không theo Công giáo, ông là một người Thiên chúa giáo, tín ngưỡng này mang lại nhiều cơ hội cho ông. Với những người Mỹ ủng hộ ông từ những năm đầu, thì niềm tin tôn giáo này rất phù hợp. Trong những năm trước chiến tranh Triều Tiên, khi có một nhà ngoại giao Mỹ nhận xét không tốt về Tưởng Giới Thạch lẫn Lý Thừa Vãn, thì nhân vật đầy ảnh hưởng John Foster Dulles, sau này là ngoại trưởng dưới thời Dwight D. Eisenhower đã trả lời rằng: “Tôi nói cho anh điều này. Bất kể anh nói gì về họ, thì hai ông đó trong thời buổi này có giá trị tương đương với những người sáng lập nhà thờ. Họ là những quý ông giáo dân hiến mình cho đức tin”.

Chính Tưởng Giới Thạch đã lưu ý với Lý Thừa Vãn về Douglas MacArthur, nên khi họ Lý quay về Hàn quốc để nắm quyền tổng thống, ông đã đi bằng máy bay của MacArthur, mà đây chính là một thông điệp chính trị. Dường như người Mỹ đã có người của họ, hay có lẽ chính xác hơn là người của họ đã có được người Mỹ. Roger Makim một nhà ngoại giao cao cấp Anh quen thuộc Mỹ, tin rằng trong giai đoạn đó, Mỹ cho thấy hình ảnh một quốc gia biệt lập giờ lại bung ra một cách không sẵn sàng trong vai trò mới, một cường quốc, một cực của thế giới, luôn thể hiện xu hướng mời gọi một cá nhân – một vài người họ cảm thấy phù hợp”. Chọn họ Lý, Makim tin rằng, phản ánh một sự thật là: “Người Mỹ luôn thích ý tưởng làm việc với một nhà lãnh đạo nước ngoài được xác định là người-phe-mình. Họ không thấy thoải mái với việc vận động”. Tuy vậy, sự thoải mái đó không có được với Lý Thừa Vãn bởi những người Mỹ ở Triều Tiên, những người thực tế giao dịch công việc hằng ngày với ông ta, họ ghê tởm ông. Tướng John Hodge, tư lệnh quân Mỹ ở Hàn quốc, một quân nhân cục súc và không biết ngoại giao, ghét Lý Thừa Vãn. Theo nhà sử học quân sự Clay Blair thì ông nghĩ về họ Lý là “xảo quyệt, không kiên định, tàn ác, tham nhũng và hoang dại không lường trước được”.

Hết chương 3


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2013, 04:36:20 pm
Chương 4

Ở miền Bắc, Kim Nhật Thành được đưa lên trong trạng thái tốt hơn và có tầm nhìn xa hơn của Liên Xô, họ vốn đã để ý đến Triều Tiên một thời gian dài hơn. Ông về nước lúc cuối thế chiến hai theo mệnh lệnh của Stalin, cùng với sức mạnh tuyệt đối của Hồng quân vào chiếm đóng. Bởi vậy, nên ngay từ đầu ông đã triển khai theo hệ thống cứng rắn của Liên Xô, và quanh ông là các chuyên gia, cố vấn Nga. Đến mùa xuân 1950, Kim Nhật Thành đã nắm quyền lực được 5 năm, và, ít ra trong số hai kẻ đối địch, thì ông được thúc đẩy nhiều hơn trong việc có được quyền xâm lược miền Nam. Ông ta hứa với người Nga rằng, cuộc tiến công sẽ được hỗ trợ vì nhân dân miền Nam sẽ đồng khởi. Hai trăm ngàn đảng viên Cộng sản miền Nam cùng những người yêu nước sẽ đồng thời cầm vũ khí chống lại Lý Thừa Vãn, ông này theo cách gọi của phía cộng sản trong thời đó, là chó săn đế quốc Mỹ.  Tuy vậy, chỉ có duy nhất một người có thể bật đèn xanh cho cuộc xâm lược – đó chính là Stalin.

(http://tieungoclang.files.wordpress.com/2012/11/539w.jpg)

Trong ba nhân vật chính của chiến tranh Triều Tiên bên phía cộng sản, thì Kim Nhật Thành là người ít có tính chính danh nhất. Với Stalin, dù ông không là kiến trúc sư chính cho Cách Mạng Nga, thì ít ra ông cũng tham gia ngay từ đầu, ông là một nhà điều hành cứng rắn, từng bước có hệ thống thu tóm quyền lực của những người xung quanh, và đến thời điểm hậu chiến thì ông cũng đã lãnh đạo toàn trị Liên Xô được gần một phần tư thế kỷ. Cùng với chiến thắng của quân đội Nga trước nước Đức Hitler, hình ảnh của Stalin được nâng cao rất nhiều, bất kể ông đã sai nghiêm trọng trong việc định lượng quyết tâm của  Hitler và tệ hơn ông đã gần như hủy hoại Hồng quân bằng việc thanh trừng từ thượng tầng chỉ huy cho đến các sỹ quan cấp quân đoàn chỉ trong vài tháng trước khi Hitler phát động cuộc xâm lăng. Nhưng bất kể sai lầm, Stalin vẫn là nhà lãnh đạo biểu tượng của cuộc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại. Những sai lầm kể trên đã giúp cho quân Đức tiến rất gần đến việc đánh bại nước Nga, và trớ trêu thay, cũng đủ khiến cho ông trở thành người hùng trong mắt dân Nga, do đó tăng mạnh hình ảnh cá nhân trong việc bảo vệ đất nước và ghép chung huyền thoại về tinh thần quốc gia với huyền thoại về tài lãnh đạo của ông. Ông trở thành hiện thân, không phải ở những thất bại ban đầu của nước Nga, mà ở trận chiến Stalingrad bất tử và ở chiến thắng sau cùng của Hồng quân ở Berlin. Riêng chiến thắng này đã xác lập vị trí vĩ đại của ông với người dân Nga, khiến ông trở thành một hiện thân thời hiện đại của các Sa hoàng huyền thoại, và – dù tốt hay chủ yếu là tệ hơn – vẫn là biểu tượng chính của nước Nga trong thế kỷ hai mươi.

(http://tieungoclang.files.wordpress.com/2012/11/mao.jpg)

Còn Mao Trạch Đông, năm 1950, là lãnh đạo của chính phủ cách mạng Trung quốc vừa chiếm được chính quyền sau nhiều năm bị đàn áp, đấu tranh và sau cuộc nội chiến; có lẽ nhìn toàn cảnh lịch sử ông còn là một biểu tượng to lớn hơn. Ông là kiến trúc sư trưởng của cách mạng Trung Hoa và đã lãnh đạo cách mạng vượt qua một chặng đường trường chinh gian khó, thường phải chống trả lực lượng kết hợp giữa Tưởng Giới Thạch và các lãnh chúa địa phương. Ông là nhà chiến lược cả về chính trị và quân sự trong nội chiến Quốc – Cộng Trung Hoa và cũng là nhà sáng lập ra trường phái chiến tranh mới trong đó chính trị và chiến tranh gắn kết chặt chẽ, hòa lẫn vào nhau; và quân sự luôn chỉ là một công cụ của cánh chính trị. Sự vận dụng sáng tạo đường lối chủ nghĩa Mác với giai cấp nông dân cùng lý thuyết cách mạng của ông còn vang dội trên trường quốc tế trong nửa sau thế kỷ hai mươi hơn cả những gì Stalin đã làm được. Vào thập niên 1960, khi tội ác của Stalin chống lại dân trong nước và các nước Đông Âu được phơi bày, thì biểu tượng lý tưởng – trong sáng của các chính trị gia cánh tả ở phương Tây có ít nhiều rạn vỡ, ngượng ngùng; còn với thế giới thứ ba, họ tránh nói tới nhà lãnh đạo được yêu thích này người cho thấy sức mạnh thì ít mà hung ác thì nhiều. Mao Trạch Đông thì ngược lại, trong một thời gian dài – mãi đến khi mặt tối đời sống cá nhân và sự tàn bạo ông phủ lên người dân của mình được biết nhiều hơn – ông là một hình tượng lãng mạn; kiểu như một hiện thân của cách mạng. Trong những năm ấy, ông, vượt hơn cả Stalin, được xem như là nhà lãnh đạo của thế giới vô sản chống lại thế giới tư sản.

(http://tieungoclang.files.wordpress.com/2012/11/kim-il-sung_1670436c.jpg)

Kim Nhật Thành thì khác hẳn, một nhà ái quốc nhiệt thành được một thế lực đế quốc – Liên Xô, dựng lên. Ông là một người nhiệt tình với chủ nghĩa dân tộc bởi sự đô hộ của Nhật Bản và cũng chính bởi thời kỳ thực dân này, mà ông trở thành một người Cộng sản chân chính, một chiến binh du kích kiên cường và gần như ngay từ đầu ông đã hoàn toàn là một công cụ có trách nhiệm của chính sách Sô viết. Người ngoài nhìn vào thì không thấy ông mấy mà thay vào đó là bàn tay của Liên Xô; còn ông, ông tự nhìn mình và thấy mình là một người hiện thân chân chính nhất cho chủ nghĩa dân tộc Triều Tiên. Thật ra, chính thời kỳ ông trưởng thành đã gọt đẽo nên con người ông. Với Kim Nhật Thành, không có gì mâu thuẫn giữa việc là một người Triều Tiên yêu nước, với một nhà cộng sản chân chính và một phương tiện của người Nga.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2013, 04:37:38 pm
Cả Triều Tiên là một vùng đất màu mỡ cho việc nổi dậy, bởi người Nhật. Khi sự chiếm đóng mở rộng, thuyết định mệnh bén rễ trong đa số trí thức trung lưu, còn phần lớn tầng lớp thượng lưu thì miễn cưỡng hòa hoãn với người Nhật và tiếp tục làm giàu nhờ sự cộng tác đó. Một số lớn trong đó lại nổi lên thời hậu chiến như là những nhân vật có ảnh hưởng ở Nam Hàn. Trong khi hầu hết người dân Triều Tiên có nguồn gốc nông dân, họ ghét người Nhật và không có lý do kinh tế để thỏa hiệp, bị lôi kéo về phía cực tả. Bằng sự nô dịch đầy khắc nghiệt, người Nhật khiến họ cảm thấy xa lánh. Trong mắt người Nhật, người Triều Tiên thuộc chủng tộc thấp kém hơn, và phàm những ai ở đẳng cấp thấp cũng dễ dàng bị chinh phục.

Bởi lý tưởng đế quốc và vì sự lớn mạnh  của đất nước, người Nhật phải hủy diệt vết tích độc lập của Triều Tiên. Cái họ muốn không gì khác là xóa mờ văn hóa Triều Tiên, bắt đầu từ ngôn ngữ. Ngôn ngữ chính thức ở Triều Tiên được tuyên bố là tiếng Nhật; trong trường, bài giảng được thực hiện bằng tiếng Nhật. Sách giáo khoa tiếng Nhật được mang tên Văn tuyển quốc ngữ (Mother tongue reader). Người Triều Tiên lấy tên Nhật. Tiếng Hàn giờ thành một thứ tiếng địa phương, không gì hơn. Giống như các nước thực dân khác, thứ người Nhật muốn là sự giáo dục, dĩ nhiên, một khi cần có điều gì đó có giá trị với một dân tộc bị chinh phục, cần, nhưng phải có hạn chế. Chỉ làm những điều thông thường – lịch sử, ngôn ngữ, tôn giáo địa phương, những thứ dễ dàng đạt được – có ý nghĩa thực sự. Sự phân hóa do chế độ thực dân Nhật bản gây nên rất sâu sắc trong xã hội hơn xa những gì đa số người nước ngoài nghĩ tới. Đất nước không chỉ đơn thuần chia cắt ở vĩ tuyến 38, mà còn chia rẽ trong lòng dân tộc – nó tác động đến định hướng của người Triều Tiên dù ở phe nào trong thời điểm đau lòng đó. Nó gây ra những phân hóa trong nội bộ dân tộc, và các cánh đó xung đột nhau trong suốt chiến cuộc Triều Tiên. Đây không chỉ là một cuộc xâm lăng – vượt biên giới, miền Bắc chiếm miền Nam – mà còn là nhiều điều hơn thế nữa, trong đó có nỗi ám ảnh của thời kỳ thực dân vừa trôi qua, có sự đấu tranh chính trị dai dẳng hàng thập kỷ. Cả hai bên đều có lý lẽ của riêng mình, dù với phương thức và khẩu hiệu khác nhau, vẫn còn đó sau gần nửa thế kỷ. Cả hai bên đều có lý lẽ của riêng mình, dù với phương thức và khẩu hiệu khác nhau, vẫn còn đó sau gần nửa thế kỷ. Sự khắc nghiệt ghê gớm của luật lệ Nhật hiển nhiên đã khiến cho những người theo chủ nghĩa dân tộc khó tồn tại nổi trên mảnh đất khô cằn này. Do vậy, hầu hết những câu chuyện của Triều Tiên thời đó đều theo một sự thật là: – những người yêu nước ở lại tổ quốc trước sau gì cũng bị tha hóa bằng cách này hay cách khác của việc hợp tác với người Nhật; – còn những ai sống lưu vong thì cũng sẽ như thế; hoặc ít nhất là bị ảnh hưởng nặng, bởi việc cộng tác với các siêu cường: Nga, Trung, Mỹ – những nước đã cưu mang họ

Bởi đất nước bị chiếm đóng, bị đô hộ, nghèo đói và vô vọng đã đưa Lý Thừa Vãn vào hành trình lưu vong xin xỏ trên đất Mỹ, và cũng sản sinh ra Kim Nhật Thành nhưng theo một lối đi khác hẳng, ông này thì gia đình đã bị tác động của việc mất cân bằng kinh tế từ rất sớm. Ngay từ khi còn nhỏ ông đã tham gia các hoạt động chính trị, và đã lưu vong từ tuổi vị thành niên, ông đã dùng cả thời trai trẻ để đấu tranh chống lại người Nhật. Ông thể hiện theo cách riêng mình cho một thời kỳ lịch sử cận đại của đất nước đầy đau thương và hận thù.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2013, 04:53:37 pm
Ông chào đời với tên khai sinh là Kim Thành Trụ vào ngày 15 tháng tư năm 1912 ở làng Nam-ri, chỉ hai năm sau khi người Nhật bắt đầu thời kỳ thực dân ở Triều Tiên. Thử nghĩ với góc độ một đứa trẻ châu Âu hiện đại, lớn lên ở Hà Lan hoặc Pháp dưới sự chiếm đóng của phát xít nhưng trong cả ba mươi ba năm đầu đời, thì sẽ dễ hiểu hơn cho sự giận dữ và cứng rắn của ông. Quê nội của ông ở làng Vạn Cảnh Đài (Mangeyondai) nơi sau này được xem là quê nhà của ông. Kim Nhật Thành bảo rằng ông cố của ông là một trong những chỉ huy của cuộc tấn công vào thương thuyền có vũ trang mang tên Tướng Sherman của Mỹ, chiếc tàu này vốn nhỡ đi lạc lên quá xa trên sông Đại Đồng và rồi lại tiếp tục một sai lầm nữa là bị mắc cạn, thế là dân địa phương người Triều Tiên đã xông lên chiếm tàu và chém chết người ngoại quốc. Việc họ tộc nhà Kim Nhật Thành có thực sự tham gia vụ việc trên hay không là một câu hỏi, còn với ông, việc tô vẽ cho tự truyện của mình là việc được làm rất nghiêm túc.

(http://tieungoclang.files.wordpress.com/2012/11/img_6229.jpg)
Kim Nhật Thành năm 1926

Cha ông, Kim Hanh Tắc (Kim Hyong Jik), thuộc giai cấp nông dân, nhưng lưu ý là có học trung học – dù chưa tốt nghiệp. Ở tuổi mười lăm, ông Kim Hanh Tắc cưới con gái của một hiệu trưởng trường làng, sau đó ông làm giáo viên tiểu học, làm lương y và có lúc làm quản trang (gác nghĩa địa, nghĩa trang). Vợ ông, Kang Ban-sok, khi ấy mười bảy tuổi, lớn hơn ông ta hai tuổi. Bà cũng được học hành đàng hoàng. Phía gia đình bà có nhiều người làm giáo viên, làm mục sư Tin lành.  Đám cưới của hai người ít được phía vợ hoan nghênh bởi địa vị bên họ nhà trai (họ Kim) thấp kém hơn và chỉ có hai mẫu ruộng làm vốn. Khi Kim Nhật Thành ra đời, cha ông cũng chỉ mới mười bảy tuổi và vẫn phải sống cùng bố mẹ. Chính hội truyền giáo Tin lành đã kết nối hai bên gia đình nhà Kim, dù rằng trong lý lịch được “trong sạch hóa” sau này của mình, Kim Nhật Thành ghi là gia đình ông vô thần, và rằng cha ông đi nhà thờ chỉ bởi giáo hội Trưởng lão mở trường dòng cho học. “Nếu có tin vào một ai, thì hãy tin vào thánh thần Triều Tiên”, sau này Kim Nhật Thành bảo cha ông đã dặn như vậy. Chưa tính tới chuyện thật giả ở đây, thì rõ ràng có một sự thật là ở đa số các khu vực kém phát triển trên thế giới sự quyến rũ của hội truyền giáo nằm ở việc họ cung cấp cơ hội được học hành tốt hơn và cơ hội phát triển kinh tế. Một sự thật khác cũng không phải bàn cãi là gia đình Kim Nhật Thành có dính líu đến chính trị, bởi cha ông và hai người chú phải vào tù vì các hoạt động đòi độc lập. Năm 1919, khi Kim Nhật Thành lên bảy, gia đình ông, cũng như hàng ngàn người Triều Tiên có tinh thần dân tộc cao, cùng nhau di cư qua biên giới phía bắc vào vùng Mãn Châu để thoát khỏi những luật lệ của người Nhật. Họ ngụ tại thị trấn Giang Đạo (*), nơi có một cộng đồng lớn người Triều Tiên sống, và cậu bé Kim Nhật Thành đến trường người Hoa, học ngôn ngữ.

(http://tieungoclang.files.wordpress.com/2012/11/img_6223.jpg)
Kim Hanh Tắc

Khi ông lên mười một, cha gửi ông về lại Triều Tiên, để ông cảm nhận được quê hương và tiếng mẹ đẻ tốt hơn ngay cả khi thứ tiếng đó không được nói công khai. Ông sống với ông bà ngoại một thời gian trước khi quay lại Mãn Châu và ghi danh vào một học viện quân sự được lập bởi những người Triều Tiên yêu nước. Sau này ông nói rằng ông rất quyết liệt ở trường nên đã rời đó sau sáu tháng. Dù gì đi nữa thì ông cũng sớm chuyển đến Cát Lâm, nơi có rất nhiều người Triều Tiên lưu vong – và cũng như nhiều điệp viên siêu hạng người Nhật. Đây là thời điểm nảy nở các nhà cách mạng. Như Kim Nhật Thành sau này kể lại, ông và bạn bè luôn tranh luận với nhau nên làm việc nào trước: một cuộc cách mạng chấm dứt tình trạng kinh tế nặng nề, hay một cuộc cách mạng nhằm kết thúc sự chiếm đóng của người Nhật. Họ cũng tranh luận với nhau về việc cách mạng nên nổ ra trước tiên ở Triều Tiên hay nên chờ đến khi nước Nhật bị chính những lực lượng cộng sản nổi lên nắm quyền. Cũng như đa số người Triều Tiên cùng thế hệ, ông trở nên cấp tiến hơn, cực đoan hơn khi thời gian trôi đi và những tổn thương nặng nề do người Nhật gây ra càng thường xuyên hơn. Cha ông mất trong những năm tháng ấy, còn mẹ ông bắt đầu làm thợ may. Bản thân Kim Nhật Thành thì theo học ở một trường trung học của người Hoa, nơi ông gặp gỡ Shang Yue (**), một nhà giáo Đảng viên CS quan tâm tới ông và cho phép cậu trai trẻ dùng thư viện của mình (Shang sớm bị tử hình bởi tư tưởng cực đoan và trên thực tế trở thành một trong các sử gia hàng đầu của CS Trung Hoa)

(*) Nguyên văn là Jiandao

(**) Không rõ tên theo phiên âm Hán Việt, Trương Duệ ???


(http://tieungoclang.files.wordpress.com/2012/11/img_6230.jpg)
Kim Nhật Thành năm 1927


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2013, 05:04:24 pm
Lúc này Kim Nhật Thành đã ngả hẳn sang cánh tả, và trở thành một thành viên sáng lập trẻ tuổi của một hội thanh niên cộng sản. Mùa thu 1929, ở tuổi mười bảy, ông bị nhà cầm quyền Mãn Châu Lý bắt và tống giam. Theo nhà viết tiểu sử Bradley Martin, ông ta khá may mắn đã không bị giao cho người Nhật. Sáu tháng sau, Kim Nhật Thành được phóng thích, rồi năm sau ông gia nhập Đảng Cộng Sản – Đảng Cộng Sản Trung Hoa. Người ta tin rằng đâu đó trong thời gian này ông lấy tên hoạt động là Kim Nhật Thành. Những người chỉ trích ông cho rằng ông cướp tên của một nhà ái quốc Triều Tiên nổi danh khác – một chiến sỹ du kích lừng lẫy; nhằm hưởng cái danh của một Robin Hood Triều Tiên. Bởi luận cứ này, những kẻ phỉ báng ông tin rằng thời kỳ hoạt động du kích của ông ở Mãn Châu là giả mạo. Đây không phải là vấn đề, dù rằng khi nắm quyền ông đã thổi phồng vai trò lãnh đạo du kích của mình, nhưng rõ ràng kể từ năm 1931, Kim Nhật Thành đã trở thành một kẻ thù nghiêm trọng của người Nhật, từ đó ông đã phải sống một cuộc sống gian khổ, đầy nguy hiểm của một lãnh đạo du kích trước họng súng quân Nhật.

(http://tieungoclang.files.wordpress.com/2012/11/koreajapancomfortwomen.jpg)
Ở một đội du kích Triều Tiên

Như vậy, từ năm hai mươi tuổi ông đã cầm vũ khí đánh Nhật, và đến mùa xuân 1932 ông đã có một đội quân du kích riêng của mình. Ông và những người như ông là thành viên của một tổ chức mang tên nhóm Kapsan (Thất Sơn???) theo tên của dãy núi Kapsan của Mãn Châu, nơi ông và những người Cộng sản Triều tiên khác cư ngụ sau khi chạy thoát khỏi tổ quốc. Người Nhật, khi tham vọng chiếm vùng Đông Á đã thành công, liền mở rộng chế độ thực dân ủy trị lên vùng Mãn Châu và đặt cho nó một cái tên rặt Nhật Manchukuo. Đội du kích của Kim Nhật Thành là một trong nhiều nhóm chiến đấu chống Nhật, một số là người Triều, một số là người Hoa. Cuộc đấu tranh du kích chống Nhật kéo dài hơn một thập kỷ, một cuộc chiến mà phía du kích không mấy khi dành được chiến thắng. Bởi người Nhật có nhiều lính hơn, có vũ khí tốt hơn và có hậu cần cung cấp đạn dược không giới hạn – so với phía quân Triều Tiên gần như bị bao vây. Phía Nhật còn có khả năng đưa ra cho nông dân địa phương một lựa chọn đau khổ: quà thưởng hậu hĩ nếu cung cấp thông tin du kích – những người đôi khi là bạn, đồng hương với họ – hoặc nếu không hợp tác, là cái chết.

(http://tieungoclang.files.wordpress.com/2012/11/img_6789.jpg)
Kim Nhật Thành – 1932

Trong khoản từ năm 1934 đến 1940, phía Nhật đưa sang một lực lượng lớn hơn vào khu vực và sử dụng các biện pháp cứng rắn hơn để thuyết phục dân địa phương. Cuối cùng họ cũng phá được quân du kích và dồn họ về vùng đất phía đông Liên Xô. Trong giai đoạn này, đội quân của Kim Nhật thành sáp nhập vào cái gọi là Liên quân Kháng Nhật Đông Bắc, tư lệnh là một tướng Trung Quốc: Yang Jingyu. Nhiệm vụ của quân du kích không phải là cố thắng quân Nhật mà quấy rầy chúng, làm cho mỗi chuyến đi đến Trung Quốc có thêm phần khó khăn. Hầu hết quân của Kim Nhật Thành là người Triều, nhưng rõ ràng là ông hành động theo sự đỡ đầu của cộng sản Trung Hoa.

Dĩ nhiên là tầm quan trọng của Kim Nhật Thành trong vai trò lãnh đạo du kích ở giai đoạn này không có gì bàn cãi. Chức vụ của ông to dần từ tiểu đoàn trưởng rồi sau đó lên sư đoàn trưởng, dù thực tế dưới quyền ông chưa bao giờ có quá 300 quân. Ông nổi tiếng lên. Phía cộng sản thì ngày càng đánh giá cao ông ở góc độ một lãnh tụ du kích trung kiên, đáng tin cậy và quan trọng; còn với người Nhật thì ông là một trong những thủ lãnh du kích cần truy nã gắt gao nhất trong thời kỳ đó; năm 1935, phía Nhật treo giá cho đầu ông; và ông tiếp tục ẩn tránh. Với thượng cấp, trước là người Hoa sau là người Nga, thì ông là một người cứng rắn, thực dụng, hoàn toàn đáng tin cậy. Trong đó ý cuối cùng rất quan trọng, dù rằng có ràng buộc ý thức hệ mạnh mẽ giữa ông và thượng cấp, nhưng vẫn còn có các quốc gia khác đáng lo, và như vậy sự hoài nghi là không tránh khỏi.

Khi tướng Yang Jingyu bị bắt và bị người Nhật giết vào năm 1940, lúc ấy Kim Nhật Thành trở thành người du kích bị tầm nã nhất trong vùng, giá treo cho đầu ông lúc cao nhất là 200,000 yen. Rồi quân Nhật ngày càng mạnh, mạnh hơn, quân du kích phải triệt thoái. Đâu đó trong giai đoạn này, có lẽ trong năm 1940, rốt cuộc Kim Nhật Thành bắt đầu làm việc dưới sự chỉ đạo và bảo hộ của người Nga. Năm 1942, ông gia nhập Hồng quân và được gửi đi huấn luyện tại một quân trường gần làng Voroshilov ở miền đông Liên Xô. Ông nhanh chóng trở thành chiến sỹ một tiểu đoàn bí mật của Hồng quân, thuộc lữ đoàn lính bắn tỉa độc lập đặc biệt số 88, nhiệm vụ chính là trinh sát các hoạt động của quân Nhật trên lãnh thổ Liên Xô (dù Liên Xô và Nhật khi ấy chưa tuyên chiến với nhau). Lúc đầu ông là một đại úy và sau này là một tiểu đoàn trưởng trong lữ đoàn kể trên. Bởi sự chuyên chính trong quân đội, nên ông ta hoàn toàn là một người lính Liên Xô và trên thực tế là một công dân Liên Xô. Cũng có chừng 200 người trong đơn vị ông là người gốc Triều Tiên, hầu hết lớn lên trong vòng tay người Nga. Tất cả đều được giác ngộ chính trị, bởi việc học chính trị cũng quan trọng với người Nga như các bài tập chiến thuật quân sự – hồng hơn chuyên. Thỉnh thoảng trong thời kỳ thế chiến II, hình như Kim Nhật Thành có đến Moscow. Phía Liên Xô xem tiểu đoàn của ông ta không phải là một đơn vị dùng để đối đầu với quân Nhật mà để dành cho các vai trò có ích khác một khi chiến tranh sắp kết thúc và lực lượng Liên Xô sẽ đông tiến.

(http://tieungoclang.files.wordpress.com/2012/11/yang_jingyu-1.jpg)
Tướng Yang Jingyu

(http://tieungoclang.files.wordpress.com/2012/11/img_6217.jpg)
Một nhân vật khác trong đội du kích kháng Nhật, nhìn rất quen !!!


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2013, 05:09:35 pm
Như mọi người Triều Tiên cùng thế hệ, Kim Nhật Thành hiểu rằng để giải phóng đất nước khỏi người Nhật, không thể thiếu được trợ giúp từ bên ngoài. Với ông – hiện đang khoác trên người bộ quân phục sỹ quan Liên Xô – thì Nga là một nhà tài trợ lớn cho Trung Quốc, mà người Hoa thì đã nhúng tay vào lịch sử Triều Tiên nhiều hơn Nga, và Moscow thì xa hơn Bắc Kinh. Bên cạnh đó, từ năm 1944, Nga đã nắm chắc chiến thắng và thành một thế lực chính thời hậu chiến, trong khi cuộc cách mạng của Mao Trạch Đông vẫn còn giới hạn trong khu vực nghèo khổ miền tây bắc Trung Hoa. Hơn nữa, mô hình Liên Xô hình như có sức hấp dẫn đặc biệt với các vị sắp-làm-lãnh-tụ cộng sản ở các nước kém phát triển, bởi người Nga đã thực sự triển khai, đã hoàn thành cuộc cách mạng, đã chiến thắng kẻ thù và còn xoay sở để hiện đại hóa một quốc gia lạc hậu. Vì vậy nên Kim Nhật Thành trở thành một dạng thức mới mẻ, một người yêu nước Triều Tiên và đồng thời cũng là một người trung thành, tận tụy với học thuyết Sô viết. Những người khác có thể thấy tương phản giữa việc là một người theo chủ nghĩa dân tộc với một người theo chủ nghĩa độc đoán Sô viết, nhưng Kim Nhật Thành thì không. Ngay từ đầu cả hai thứ với ông là như nhau: những gì tốt cho Liên Xô thì cũng tốt cho ông – và cho đất-nước-Triều-Tiên-của-ông.

Kết thúc nhanh chóng của cuộc chiến làm hầu hết mọi người ngạc nhiên, cả người Nga lẫn người Mỹ. Triều Tiên ngay lập tức bị chia đôi theo vĩ tuyến 38. Hồng quân tiến vào – không phải do lữ đoàn đặc biệt 88 dẫn đầu – chiếm lấy danh tiếng giải phóng cho người Nga chứ không phải cho người Triều Tiên. Cánh quân người Triều Tiên thuộc Hồng quân chỉ được phép vào sau đó vài tuần. Ngay từ đầu, Kim Nhật Thành cơ bản là phải phụ thuộc. Ông không có tư cách để làm lãnh đạo hơn người Nga, đó là cách Stalin muốn triển khai trong thế giới cộng sản, Stalin hiểu rằng một người được lên thông qua các cuộc bầu cử chính trị thật sự sẽ trở nên khó điều khiển và họ sẽ suy nghĩ theo cách thực sự độc lập. Tốt nhất là tìm một ai đó phù hợp với yêu cầu, rồi thông báo rằng đó chính là một anh hùng, dựng lên một huyền thoại, nếu cần là tiểu sử giả và rồi đưa người đó lên nắm quyền.

Đó chính là cách họ làm với Kim Nhật Thành. Ông ta không cần phải có uy tín, và ông chắc chắn là không. Đảng không cần những người có uy tín ở các nước phụ dung. Josip Bros Tito của Nam Tư và Mao Trạch Đông – hai người này Stalin không tin cậy bởi những thành tích đáng phục của họ – rốt cuộc cũng cho thấy nguy hiểm thế nào với những người là tượng đài quyền lực ở các nước đó. Không có vấn đề gì về ý thức hệ với Kim Nhật Thành: họ đã nhào nặn ông trong nhiều năm, ông cũng đã vượt qua hàng lô các loại bài kiểm tra bí mật, và ông thực sự là một tín đồ. Những gì Liên Xô nói về phương Tây, về chủ nghĩa tư bản, về Triều Tiên đều khớp với nhau, và Kim Nhật Thành cũng nhận ra được từ kinh nghiệm cá nhân. Nhiều năm sau này, sau khi Stalin chết khá lâu, sau những phe phái khác nhau nối tiếp chia rẽ thế giới CS, Kim Nhật Thành vẫn là người theo chủ nghĩa Stalin vĩ đại đến cùng: cứng rắn, giáo điều, không nhân nhượng, ông tin vào tất cả những sự thật xưa cũ cho dù đa số trong đó đã cho thấy là sai. Ít nhất ở Triều Tiên, chúng cũng không phải là những lời dối trá, bởi Kim Nhật Thành, với quyền lực của một nhà độc tài, đã làm chúng thành đúng. Sau rốt, ông cố để tạo lập nên một xã hội bị quản lý chặt chẽ nhất, lâu bền và hà khắc nhất – một xã hội Stalinist thật sự nhất trên toàn thế giới. Nếu Joseph Stalin được sinh ra ở Triều Tiên và nắm quyền trong cùng thời kỳ, thì ông cũng sẽ điều hành chính xác như những gì Kim Nhật Thành đã làm, sẽ sống như Kim đã sống cho đến tận khi cái chết làm nốt phần việc của mình.

Bắc Triều Tiên chắn chắn trở thành một thiên đường cho người viết tiểu sử các vị thánh, và Kim Nhật Thành là một truyền thuyết thời hiện đại ở đó. Hẳn sẽ không có lời nịnh hót quá trơ tráo nào được dùng để miêu tả sự nghiệp anh hùng của Người trong thời chiến tranh, không có một trở ngại nào mà Người không thể vượt qua dù chỉ một thân một mình, không tiểu đoàn quân Nhật nào mà Người không hủy diệt, không một chiến binh du kích nào khác có chiến tích xứng đáng được kể lại chi tiết, và mặt trời không thể mọc trên đất nước này nếu không có sự hỗ trợ của Người!!!. Ở Bắc Triều Tiên, có một cuộc cách mạng, nhưng đó là cuộc cách mạng bị áp đặt cho nhân dân. Không giống như ở Trung Hoa (và ngay sau đó là Đông Dương), quyền lực đất nước Triều Tiên chuyển vào tay CS không phải từ một ý tưởng cách mạng được thi hành khéo léo, khắc khổ để chống lại chủ nghĩa thực dân cũ và mới trong một cuộc đấu tranh trường trì gian khó vốn cần phải có dự hỗ trợ to lớn từ người dân. Thay vào đó, nó đến từ quyền lực thô bạo của HỒng quân, và mọi quyết định được quyết ở Moscow, Kim Nhật Thành chỉ là vừa đúng phù hợp với yêu cầu của người bảo trợ. Ông trẻ, dũng cảm; và thấm nhuần tư tưởng. Ông không có kẻ bảo trợ nào khác; nói thẳng tưng là ông nợ họ nhiều thứ. Đặc biệt là ông không có nhiều quá khứ chính trị – không có gì để tháo gỡ và cũng không có lực lượng nào của riêng mình. Có vẻ như ông được nhào nặn từ đầu và sẽ thành bất cứ gì mà Liên Xô muốn. Rốt cuộc kiểu người mà ông trở thành là gần như duy nhất trên toàn cầu, nó phản ánh thời trai trẻ khắc nghiệt của một người Triều Tiên, phản ánh chế độ thực dân tàn ác của Nhật, phản ánh sự cô lập và tính đa nghi làm khổ sở phần lớn người Triều Tiên cùng thế hệ: một người yêu nước nhưng bài ngoại, theo chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, và cũng là người mà ở thời điểm ông chết, đã không còn quan hệ với gần như tất cả lãnh đạo các nước khác trên toàn thế giới, để cả những nước thuộc thế giới CS.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2013, 05:13:49 pm
Những nhân vật khác có khả năng làm ứng cứ viên cho vị trí lãnh đạo Bắc Triều Tiên, ít nhất là không thích hợp với phương pháp điều hành kiểu Stalin, đều bị tự động loại trừ do việc quá độc lập của họ. Vài người Triều Tiên chiến đấu trong quân đội của Mao Trạch Đông một thời gian dài, bất kể có thành tích gì trong thời chiến, cũng bị cho là có vết do họ quá gần gũi với Trung Quốc. Những người khác thì bị nhận định là có ý tưởng và mơ ước quá khác với các nhân vật trong điện Cẩm Linh. Hyon Chun Hyok, một thành viên nổi bật của Đảng CS Triều Tiên, nhanh chóng bị phán là quá độc lập và bị ám sát bí mật vào cuối tháng 9 năm 1945. Ông ở trong xe, cạnh Cho Man Sik, ông này cũng nổi tiếng, khi bị kẻ ám sát bắn. Rõ ràng là một chính trị gia Triều Tiên bị loại khỏi cuộc chơi và một người khác thì bị cảnh cáo. Cuộc ám sát xảy ra hầu như cùng thời điểm Kim Nhật Thành xuất hiện lần đầu ở Bình Nhưỡng, trong quân phục của một thiếu tá Liên Xô.

Kim Nhật Thành có thể là người của họ (Liên Xô), nhưng ông là một chính trị gia không hoàn chỉnh, và ông sẽ gây thất vọng cho người Triều Tiên vốn mong mỏi có một ai đó có năng lực tốt lãnh đạo họ, và không muốn một thế lực ngoại bang nào – cho dù thế lực đó lúc đầu đã được hoan nghênh khi vào giải giáp quân Nhật -  đặt một nhà lãnh đạo lên họ. Người Nga hình như đưa Kim Nhật Thành ra công khai lần đầu là trong một buổi tiệc tối nhỏ tổ chức ở một khách sạn Bình Nhưỡng vào đầu tháng Mười 1945. Một viên tướng Nga đã nói với mọi người rằng Kim Nhật Thành là một nhà ái quốc Triều Tiên vĩ đại, rằng ông này đã dũng cảm chiến đấu với quân Nhật. Trong số những người tham dự, có Cho Man Sik, một người nổi tiếng hơn nhiều, một nhà đấu tranh bất bạo động, được biết như là Gandhi của Triều Tiên. Biết tình hình hiểm nghèo của mình, nhà đấu tranh này đã đi những bước chính trị hết sức khéo léo, bởi một lần nữa người Triều tiên không nắm được quyền điều khiển. Ông xuất hiện ở bữa tiệc nhằm cho thấy sự thích nghi với người Nga. Và một phần công việc là phải chào mừng Kim Nhật Thành. Dù Cho Man Sik là một người rất được người dân ủng hộ, nhưng trong mắt người Nga, ông có quá nhiều quá khứ và không được tin cậy về mặt ý thức hệ. Người Nga xếp ông vào nhóm tư bản yêu nước và đó không phải là một phân loại được chuộng. MỘt nhà tư bản yêu nước thì sẽ không hiểu hết những quyết định quan trọng được ra từ Moscow!!! Nếu ông đóng vai trò một cách đúng đắn và hoàn toàn phụ thuộc thì Cho Man Sik có thể sẽ có giá trị ở góc độ một nhà lãnh đạo bù nhìn, nơi giữ quyền lực thực sự đã cẩn thận phân tích như vậy. Nhưng là một nhà chính trị độc lập, ông không có cơ hội. Tướng Terenti Shtykov – người của Stalin tại chỗ, một Sa hoàng của Triều Tiên như ở Bình Nhưỡng hiểu – nghĩ rằng Cho Man Sik quá chống Liên XÔ và chống Stalin, và đã báo cáo như vậy về Moscow.

Bữa tiệc tối đầu tháng Mười đó không mấy thành công. Những nhà chính trị người Triều Tiên khác có mặt ở đó không ấn tượng gì với một Kim Nhật Thành trẻ tuổi và thiếu thanh nhã. Một phiên giới thiệu chính thức, quan trọng hơn, rộng rãi hơn, đến vào giữa tháng Mười  tại một cuộc mít tinh đông người ở thủ đô miền Bắc, ngày hôm ấy đã cho thấy sự thất vọng của đông đảo quần chúng mong chờ một nhân vật Triều Tiên yêu nước quan trọng ra mắt. Hình như người dân mong được nghe, được thấy một nhà lãnh đạo đáng trọng, người đã phục vụ cho đại nghĩa của họ trong nhiều năm qua, và là người sẽ phản ánh khát vọng của họ về một tổ quốc giờ được công bố chính thức là đã tự do khỏi ách đô hộ nước ngoài. Nhưng đây chỉ là một màn trình diễn của người Nga. Kim Nhật Thành đã phát biểu thẳng tưng, bằng một giọng đều đều, những từ do người Nga viết ra, và thứ đám đông nghe thấy là một chính trị gia trẻ măng, không mấy hoạt ngôn với một “giọng đều đều như vịt đực”. Một nhân chứng đã nói rằng bộ vét của Kim Nhật Thành quá chật và ông ta hớt tóc quá cao như “một bồi bàn người Hoa”. Nhưng thứ thật sự làm buồn lòng đa số quần chúng là sự nịnh hót của ông ta với Liên Xô và Stalin. Tất cả chỉ để tán dương Hồng Quân huyền thoại. Quần chúng ở đó rõ ràng mong chờ những câu về nước Triều Tiên tự do, nhưng những thứ Kim Nhật Thành nói cho thấy một dạng tuân phục chính trị mới, những từ ngữ Triều Tiên theo nhu cầu của người Nga, quá nhiều “những thứ tái diễn đều đều vốn đã chia rẽ nhân dân”. Có hai tấm ảnh rất khác nhau, mỗi cái đều nói lên sự thật theo cách riêng về sự kiện trên. Tấm thứ nhất, Kim trông trẻ và đầy lo âu, hai bên có ít nhất ba viên tướng Nga cao cấp; tấm thứ hai – bảng chỉnh sửa được làm sau này lúc Kim Nhật Thành “cải tiến” câu chuyện huyền thoại về mình theo hướng độc lập, tự chủ hơn, trong tấm thứ hai ông vẫn trên bục, với góc máy chỉ khác tý ty, nhưng ba viên tướng Nga biến mất một cách bí ẩn. Thời gian của Cho Man Sik giờ chỉ còn tính bằng ngày. Đầu năm 1946, ông bất đồng với người Nga về một số điều quan trọng với tư cách một người Triều Tiên yêu nước, và như vậy, trong mắt họ, ông trở thành một kẻ phản động hạng nặng. Tướng Shtylov đã cố gắng và đã được Stalin cho phép thanh trừng ông ta. Nên ngay sau đó, ông (Cho Man Sik) bị giam tại một khách sạn ở Bình Nhưỡng. Không ai được phép gặp ông. Và trên thực tế không ai còn thấy được ông lần nữa.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2013, 05:18:37 pm
Rốt cuộc thì Kim Nhật Thành cũng nắm được quyền lực ở nửa nước, nhưng còn lâu ông mới là một nhân vật có hạng trên trường quốc tế, ngay cả khi chỉ tính trong thế giới cộng sản. Ông thiếu tính hợp pháp rộng lớn như Mao Trạch Đông, người đã vươn lên nắm quyền lực mà không cần nhiều giúp đỡ từ Liên Xô, hoặc như so với Hồ Chí Minh, lãnh tụ Cộng sản Đông Dương, người đã lãnh đạo cuộc chiến chống thực dân Pháp, là hiện thân của chủ nghĩa dân tộc Việt Nam. Thay vào đó, sau gần một thập kỷ độc lập của Triều Tiên, Kim Nhật Thành – như Bradley Martin đã viết – “đóng vai một cộng sự trung thành với các cố vấn Nga, xu nịnh và thực hiện các chỉ thị của họ, họ thưởng ông bằng cách gia tăng quyền lực và quyền tự quản”. Kim Nhật Thành nhanh chóng hiểu và dùng quyền lực của một quốc gia toàn trị hiện đại, cùng với chế độ cảnh sát và nỗi sợ hãi. Như Stalin, ông biết cách chia để trị, cách tiêu diệt đối thủ và ông cũng hiểu sự thật lớn nhất của Stalin: không ai dù trông trung thành thế nào đi nữa được tin cậy hoàn toàn.

Kim Nhật Thanh nhanh chóng hiểu ra, như Stalin và Mao Trạch Đông đã làm trước ông, cần thiết có sự sùng bái cá nhân trên toàn quốc, gần như một dạng kính Chúa, và ngay sau đó ông đã cạnh tranh được với hai nhân vật kể trên trong lãnh vực này. Đầu tiên là tiểu sử, xuất bản năm 1948, đã nâng tầm ông lên đứng trên toàn bộ những lãnh tụ du kích Triều Tiên chống Nhật. Ông là “Anh hùng yêu nước vĩ đại nhất của đất nước ta, mặt trời hi vọng của nhân dân ta”. Tiểu sử còn nói thêm rằng đế quốc Nhật Bản “căm ghét tướng quân Kim Nhật Thành nhất trong toàn bộ ba mươi triệu người Triều”. Không đầy một năm kể từ khi ông trở về Triều Tiên, bài thơ “Tướng quân Kim Ca” đã xuất bản có đoạn: “Gió tuyết Mãn Châu

Đêm sâu rừng rậm

Ai du kích trường kỳ

Ai yêu nước vô song

Ai một lòng vị quốc ?

Mặt trời vĩ đại tân Triều Tiên
»

Đầu năm 1950, ông đã thu tóm tất cả các loại quyền lực một cách có hệ thống. Lúc này trong tâm trí ông, vấn đề lớn nhất là việc chỉ điều khiển có nửa nước. Trên tất cả, ông nóng lòng bung cái quân đội mạnh mẽ được trang bị vũ khí Liên Xô, được Liên Xô huấn luyện và kỷ luật cao để xâm lược, mà theo ý ông là giải phóng, miền Nam, nơi có hàng trăm ngàn người đang chờ đợi. Ông muốn hai miền Triều Tiên thành một. Khi quân miền Bắc tiến xuống trong ngày 25 tháng Sáu, những thắng lợi ban đầu dường như khẳng định lời tiên đoán của ông. Bởi họ đã khởi đầu rất tốt, nên Kim Nhật Thành và đồng sự tiếp tục đối đãi với đại diện của CS Trung Hoa không mấy tôn trọng, gần như là khinh rẻ. Ngày 5 tháng Bảy, Stalin đề nghị Trung Quốc nên gửi 9 sư đoàn đến bờ sông Áp Lục phía Tàu để phòng khi hữu sự. Phía Trung Quốc cũng nghĩ tương tự, họ gần như không được tự tin như Kim Nhật Thành khi nghĩ về hành động của phía Mỹ. Thực tế là vài ngày trước, Chu Ân Lai đã chỉ định Zhai Junwu – một người ông tin cậy nhất – sang Bình Nhưỡng để tăng cường quan hệ giữa Trung Quốc và Triều Tiên. Ông Zhai đến nơi vào ngày 10 tháng Bảy và gặp ngay Kim Nhật Thành và Kim nói rằng : « Nếu đồng chí cần gì thì cứ tìm tôi bất kể lúc nào ». Rồi ông ủy quyền một trong các quan chức của mình báo cáo tình hình ngắn gọn hằng ngày cho Zhai, với cách này thì Bắc Triều Tiên loại Zhai ra khỏi mạch chiến cuộc. Bởi những bảng tin này hoàn toàn vô dụng, thứ mà người ta có thể có được từ các hãng tin ngoại quốc tại chỗ. Một bộ phận lãnh đạo Trung Hoa yêu cầu gửi một nhóm sỹ quan cao cấp qua để nghiên cứu tình hình mặt trận cũng bị từ chối. Kim Nhật Thành chắc ăn là không cần người Hoa giúp. Mọi thứ đã tiến triển tốt

(Hết chương 4)


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2013, 05:21:22 pm
Chương 5

Quân Nam Hàn hầu như không được huấn luyện cũng như sẵn sàng chiến đấu. Một ngày nào đó Nam Hàn sẽ là một xã hội năng động, mạnh mẽ hơn nhiều, nhưng trong những năm đầu tiên, đó là một quốc gia tổ chức kém, lộn xộn và quân đội phản ánh đúng tình hình của chính phủ. Các sỹ quan cấp cao thì tham nhũng. Binh sỹ Nam Hàn (ROK) thì thiếu cơ động và trang bị chủ yếu bằng vũ khí cũ, thải ra từ thế chiến II. Họ có rất ít pháo binh, gần như không có thiết giáp, và cũng không có chiến đấu cơ, bởi Washington sợ rằng một khi Lý Thừa Vãn có được những vũ khí trong danh sách mong ước, ông ta sẽ Bắc tiến ngay ngày hôm sau. Những điều này phản ánh sự rất không thoải mái tồn tại giữa Lý Thừa Vãn – một tay nóng nảy, cà khịa và độc lập trong khi là bù nhìn hoàn toàn phụ thuộc – với những người tự cho mình là người bảo trợ của ông ta. Chống Cộng gần như bệnh hoạn, Lý Thừa Vãn muốn đánh nhau với miền Bắc hơn mọi thứ trên đời (hoặc, có lẽ tốt hơn đứng yên, là chọc nước Mỹ giàu, mạnh hơn chiến đấu cho ông ta). Mục đích của ông cũng giống như Kim Nhật Thành nhưng đảo ngược : một nước Triều Tiên không CS, thống nhất, độc lập do ông ta đứng đầu. Đây là một phiên bản khác của bài học lặp đi lặp lại đầy khổ ải mà nước Mỹ được học ở Á Châu, trong đó bài đầu tiên là với Tưởng Giới Thạch : một nhà lãnh đạo châu Á được người Mỹ giúp lấy vị trí trong thời kỳ hậu thực dân mới, nhưng khi ông càng phụ thuộc Mỹ thì mối quan hệ càng khó khăn như trên, bởi khi càng phụ thuộc ông ta càng khát khao triển khai những hành động thể hiện sự tự chủ của mình và không bằng lòng với những thứ được cho là phía Mỹ điều khiển.

Thứ bậc tôn ti và tính độc đoán của bộ đội miền Bắc phản ánh hình ảnh của Bắc Triều Tiên ở năm 1950, còn lính Nam Hàn là bóng dáng của một quốc gia đầy lộn xộn mà họ đại diện – một xã hội nửa phong kiến, nô dịch vẫn còn phải đấu tranh với tàn dư thực dân phong kiến của quá khứ, rất lúng túng, chậm chạp và dường như còn kém hơn cả lúc xưa, dưới sự lãnh đạo độc tài, thiếu kiên định của một người tự tin rằng mình rất dân chủ. Tiến trình hiện đại hóa Triều Tiên đang đến, lúc đầu nó diễn ra rất chậm ở miền Nam, trong khi miền Bắc nhanh hơn nhưng đó là một kiểu hiện đại hóa vô hồn, giả dối, đặt gánh nặng lên vai nhân dân từ trên xuống, một nhà nước chính trị, kinh tế và bộ máy an ninh kiểu Sô viết. Ở miền Nam, đó là một tiến trình vô vàng khó khăn đầy rắc rối. Thực tế là chính cuộc xâm lăng đã giúp cho miền Nam tìm ra được cả phương thức phát triển lẫn mục đích của mình. Năm mươi năm sau, miền Nam đã có một xã hội đáng ngưỡng mộ, đầy năng động, công nghệ cao và dân chủ hơn, trong khi miền Bắc vẫn chìm trong khô cằn, độc tài kiểu Sô viết, đáng ngạc nhiên là giống hệt như thứ đã tồn tại từ trước khi chiến cuộc xảy ra.

Hồi tháng 6 năm 1950, ở Miền Nam thì đó là một quân đội hạng bét nhất chiến đấu bảo vệ cho một thứ quốc gia cũng có hạng không kém, một quốc gia chưa thật sự tồn tại. Lính Nam Hàn là những cậu bé dốt nát, thô kệch thường bị lôi một cách không tự nguyện khỏi đường phố và ruộng vườn và tống vào lính. Đa số bước vào chiến đấu mà hầu như chưa qua huấn luyện. Mức đào ngũ trong năm chiến tranh đầu tiên thật choáng váng – khi một trận đánh nổ ra, thì lập tức có một lượng lớn lính Nam Hàn tự nhiên biến mất, có lẽ bị giết hoặc bị thất lạc nhưng rồi vài tuần hoặc vài tháng sau lại tái suất, thường là không còn vũ khí trong tay. Cấp sỹ quan thì cũng có vài người trẻ dũng cảm đáng lưu ý, nhưng cũng – như Clay Blair viết – « là nơi trú ẩn cho quá nhiều kẻ cơ hội tham nhũng, những kẻ đã dùng quyền lực để phục vụ cho nhu cầu cá nhân. Trong đám này, mua chuộc, hối lộ, chơi xấu nhau, đánh lén v.v… là chuyện thường ngày ở huyện ». Để thành một quân đội hiện đại, quân Nam Hàn cũng như quốc gia này, còn phải trải qua một chặng đường dài kể từ tháng 6 ấy.

Nhưng vào tháng 6 năm 1950 thì không nhân vật hữu trách nào của quân đội Nam Hàn nói về sự khốn nạn ấy. Rất tương phản. Đáng ngạc nhiên là mức độ tự dối mình về chất lượng của đội quân này cũng rất cao trong nhóm cố vấn Mỹ và các viên chức cao cấp trong Phái bộ Cố vấn quân sự Triều Tiên (Phái bộ cố vấn này có tên viết tắt chính thức là KMAG – Korean Military Advisory Group – nhưng với các đơn vị chiến đấu Hoa Kỳ, những người cùng sát cánh chiến đấu với lính Nam Hàn, đã nhạo báng nói trại ra thành Kiss My Ass Goodbye). Một thập kỷ sau, sự tự dối đó cũng lặp lại tương tự nhưng sốc hơn ở Việt Nam – bởi các sỹ quan cao cấp Mỹ khi đó đã có kiến thức tốt hơn, công khai tuyên bố cái quân đội bản xứ ấy là hạng nhứt châu Á. Cả ở Triều và Việt, người Mỹ đều sợ trong rất nhiều trường hợp, một khi họ nói lên sự thật – rằng họ là cố vấn cho cái quân đội thiếu huấn luyện và khả năng chiến đấu cực kỳ mơ hồ – thì họ sẽ không được thăng tiến.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2013, 05:31:56 pm
Tướng William Lynn Roberts, người vừa kết thúc nhiệm kỳ công tác ở vị trí trưởng phái bộ KMAG chỉ vài tuần trước cuộc chiến, là một ngoại lệ hiếm hoi, ông đã viết một lá thư dài tới 2300 chữ cho thượng cấp, trung tướng Charles Bolte trong bộ Tổng Tham mưu Liên Quân, vào tháng 3 năm 1949, trong đó mô tả chính xác tình hình u ám của quân đội Nam Hàn hiện hữu. Nhưng lúc đó Hoa Kỳ đang rút các đơn vị chiến đấu của mình ra khỏi Triều Tiên bởi các lý do ngân sách, nên cáo bạch công khai lại rất khác rằng : quân Nam Hàn đã qua khỏi thời kỳ khó khăn và binh sỹ được trang bị tốt hơn bộ đội Bắc Triều Tiên. Chính Bolte đã phát biểu như vậy trong phiên điều trần trước tiểu ban hạ viện trong tháng 6 năm 1949. Ông còn thêm rằng đây là thời điểm để xúc tiến việc rút quân Mỹ ra khỏi đó an toàn. Gần như không ai có liên quan đến việc huấn luyện quân Nam Hàn tin vậy.  Trong những tuần trước khi hồi hương, tháng 6 năm 1950, tới lượt chính tướng Roberts cũng đã nhắm mắt cúi đầu vì một vị trí mới trong lầu Năm góc, nên ông bắt đầu chiến dịch quảng cáo rằng quân đội Nam Hàn rất thiện chiến. Các thuộc cấp của ông ở phái bộ KMAG đều biết, rất đáng buồn, điều đó không đúng sự thật. Một báo cáo của KMAG gửi về lầu Năm góc ngày 15 tháng 6 năm 1950, mười ngày trước cuộc chiến, đã chỉ ra rằng quân Nam Hàn đang trong tình trạng khá khó khăn. Hầu hết cơ giới và phần lớn vũ khí và bất khả dụng. Họ chỉ có thể tự vệ tối đa trong mười lăm ngày. « Hàn Quốc bị đe dọa sẽ có một thảm kịch tương tự như ở Trung Quốc », bảng báo cáo kết luận. Tình hình tồi tệ tới mức nào, đó không hẳn là một bí mật trong giới quân sự nên thiếu tướng Frank Keating, người được lầu Năm góc bổ nhiệm thay tướng Roberts đến đó để chờ về hưu chứ không phải để tìm kiếm một cơ hội thăng tiến.

Tướng Roberts đặc biệt lo ngại trước việc không quân Bắc Triều Tiên có hơn một trăm phi cơ Nga. Nhưng đáng ngạc nhiên, với tư cách một cựu tư lệnh xe tăng, ông không lo chút gì về các lực lượng xe tăng địch cũng có nhiều không kém, ông lập luận rằng xe tăng không quan trọng ở một quốc gia quá rõ là không thích hợp với một trận chiến xe tăng. Ông đúng, đó là một quốc gia không thích hợp cho xe tăng – và các nhà chế tạo xe tăng cũng như các chuyên gia đánh tăng, sau cuộc chiến, đã không dám khẳng định như vậy ở bất kỳ nơi nào khác. Bởi ngay lập tức thực tế đã chứng minh ông ta sai, xe tăng Bắc Triều Tiên, chứ không phải không quân, chính là vũ khí quyết định trong các tuần chiến đấu đầu tiên, đặc biệt khi đánh nhau với một lực lượng không có xe tăng và được trang bị súng không giật lỗi thời, yếu ớt. Với bộ binh thông thường, bất kể được huấn luyện tốt tới đâu, thì không gì đáng sợ hơn việc đối đầu với xe tăng mà không có thứ tương tự bên phe mình hoặc vũ khí chống tăng thích hợp. Trong hoàn cảnh đó, không phải chính xe tăng mà chỉ cần những câu rằng xe tăng địch tới đã gieo rắc sợ hãi trong các đơn vị Nam Hàn ở những tuần khủng hoảng ban đầu ấy. « Với một sỹ quan xe tăng đầy kinh nghiệm như Roberts,  người biết rõ sự kinh hoàng mà xe tăng Đức đã gây ra với bộ binh không xe tăng trong trận Bulge, thì việc không quan tâm đến lực lượng xe tăng quân đội nhân dân Bắc Triều Tiên là không thể giải thích nổi ». Clay Blair viết.

(http://tieungoclang.files.wordpress.com/2012/11/t34_immingun.jpg)
T-34 của bộ đội Triều Tiên

Lúc đó T-34 không còn là xe tăng hiện đại nhất trong quân đội Nga, bởi họ đã thay bằng IS-3, nhưng dù sao đó cũng là những cổ máy đáng sợ, và Bắc Triều Tiên có tới 150 chiếc. Trong vài tuần đầu tiên, T-34 có khả năng kết thúc bất kỳ trận đánh nào mỗi khi xuất hiện. Chừng mười năm trước, tăng T-34 đóng vai trò chính trong việc phòng vệ Moscow trước quân phát xít. Tướng Heinz Guderian, tư lệnh các sư đoàn tăng Đức, người đã dễ dàng băng qua Ba Lan vào năm 1939, gọi chúng là « xe tăng tốt nhất trên thế giới ». Khi xuất hiện lần đầu trên chiến trường Nga trong năm 1942(*), phía Nga rốt cuộc cũng bắt đầu cân bằng được với Đức. Xe nầy có thiết kế mặt cắt nghiên thấp tác động làm trệch hướng đạn pháo địch, xe bền và chạy rất nhanh, tốc độ tối đa đến 32 dặm/giờ (khoản 52km/h). T-34 cũng có trục xe rộng bất thường để giữ nó khỏi sa lầy trên tuyết và bùn, đồng thời cũng có thùng xăng lớn chứa tới 100 ga-lông, cho phép nó chạy xa đến 150 dặm mà không cần tiếp liệu. Xe nặng ba mươi hai tấn, với một khẩu pháo 85 ly, hai khẩu súng máy 7,62 ly cùng vỏ thép dày. Đối diện với T-34, phía Nam Hàn và Mỹ chỉ có những dàn rocket 2.36 inch vốn không mấy tốt từ hồi thế chiến II. Chuẩn tướng Jim Gavin cho rằng những dàn rocket đơn giản hồi đó của Đức còn tốt hơn. Và giờ, năm năm sau, những quả đạn không giật 2.36 inch ấy không làm trầy nổi da của những chiếc T-34 Bắc Triều Tiên, ngoài ra đôi khi lại không nổ. Không nghi ngờ gì, trong những ngày đầu, T-34 đã đánh gãy mọi kháng cự phía Nam Hàn. May sao Mỹ cũng đã chế tạo được loại rocket hữu năng hơn, loại 3,5 inch. Đạn của loại này  được đưa vào sản xuất hồi ngày 10 tháng 6 năm 1950. Đến 12 tháng 7, những khẩu không giật mới này cùng những nhà chuyên môn đã đến huấn luyện các lực lượng sẽ triển khai đến Triều Tiên. Và một khi thứ này ra mắt, lợi thế cực lớn của bộ đội miền Bắc không còn nữa.

(http://tieungoclang.files.wordpress.com/2012/11/bazooka.gif)
Khẩu rocket 2.36 inches

(http://tieungoclang.files.wordpress.com/2012/11/pic3.jpg)
Rocket cải tiến 3,5 inches

Bộ đội Triều Tiên đã tấn công vào vị trí yếu nhất trong vành đai phòng thủ từ xa của một siêu cường mới, mà quốc gia này vốn vẫn chưa xác định được trách nhiệm an ninh quốc gia thật sự sẽ như thế nào. Nên không ngạc nhiên là phía Nam Hàn không giữ được nhiều vị trí sau trận công kích dữ dội của cánh CS. Nam Hàn sụp đổ nhanh chóng : bộ đội Triều Tiên chiếm Seoul, thủ đô Nam Hàn, cách vĩ tuyến 38 khoản 60 dặm vào ngày 27 tháng 6, chỉ hai ngày sau khi chiến cuộc bắt đầu. Và quân Nam Hàn vội rút chạy đến nổi không kịp các cây cầu bắc qua không Hàn để cho chính họ có chút thời gian để thở.

(*) Có lẽ tác giả muốn nói tới dòng T-34-85, còn T-34 nguyên thủy đã được trang bị cho Hồng quân từ đầu năm 1941

Hết chương 5


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2013, 05:37:26 pm
PHẦN 3 WASHINGTON THAM CHIẾN

Chương 6


Khi thông tin Bắc Triều Tiên xâm lược đến Washington, đó là tối thứ bảy, chính phủ Mỹ không làm việc mười tám giờ một ngày, và bảy ngày một tuần , nên đang phân tán khắp cả. Tổng thống, vốn rất thích du lịch bằng xe lửa, đi khánh thành một sân bay mới – Baltimore Friendship – vào ngày thứ bảy, rồi sau đó bay về quê ở Independence, Missouri. Dean Acheson, ngoại trưởng, đang ở nông trại của mình tại Maryland, còn những nhân vật quan trọng khác trong chính phủ thì đang làm những việc vô bổ của một ngày cuối tuần thông thường. Các thuộc cấp báo tin cho Acheson về việc Bắc Triều Tiên tấn công, sau khi kiểm tra cẩn thận, ông báo động cho Truman (« Ngài Tổng Thống, tôi có một tin rất nghiêm trọng, Bắc Triều Tiên xâm chiếm Nam Hàn »). Truman những muốn về ngay Washington, nhưng Acheson gàn lại – bởi thông tin nhận được không đủ. Bên cạnh đó, một chuyến bay muộn trong đêm về Washington sẽ mang theo cảm giác khẩn cấp và có thể sẽ báo động đến các nước khác, Acheson cho rằng vậy. Bên cạnh đó, Acheson nhấn mạnh rằng đằng sau sự kiện này cảm giác là có chuyện lớn.

Trong ba mươi sáu giờ kế tiếp, tin tức từ Triều Tiên dồn dập về Washington. Có lẽ tín hiệu quan trọng sớm nhất về sự kiện đã rất nghiêm trọng đến từ John Foster Dulles  và John Allison, hai ông này đánh điện cho Truman và Acheson vào sáng Chủ Nhật từ Tokyo, bảo rằng nếu Nam Hàn không trụ nổi thì Mỹ cần phải can thiệp. « Ngồi yên trong khi Hàn Quốc bị tràn ngập bởi một cuộc tấn công quân sự vô cớ có thể sẽ châm ngòi cho một chuỗi bất hạnh của các sự kiện có thể dẫn đến chiến tranh thế giới ».  Được thự danh của Dulles, bức điện còn là một cách để nhắc nhở rằng luôn phải có sự cân nhắc về mặt chính trị với các vấn đề này – không phải Truman cần bất kỳ kiểu áp lực chính trị nào về việc trên, nhưng phản ứng của ông là bản năng, gần như là nguyên thủy và chính trị dường như lúc đầu chẳng tác động gì vào.

Ngay lúc Truman biết tin về cuộc xâm lăng, ông đã bắt đầu sửa soạn cho việc quay về Washington. Nhưng ông vẫn cẩn thận không làm xáo trộn lịch trình. Sáng Chủ Nhật đó, ông vẫn đến thăm trang trại của người anh em Vivian như theo kế hoạch ban đầu. Rồi đến giữa buổi chiều , ông bay về để họp phiên đầu tiên trong danh sách họp dài lòng thòng với các cố vấn quân sự và dân sự hàng đầu của mình. Quyết sách đầu tiên – dùng hải lực, không lực Mỹ ở Triều Tiên để bảo vệ người Mỹ – và nếu như quân Bắc tiếp tục nam tiến với tốc độ nhanh hơn còn quân Nam sụp đổ thì điểm tột đỉnh trong quyết định định mệnh trong tuần là gửi quân bộ vào.

Tổng thống Harry Truman là một kiểu người khá liều lĩnh. Ông không còn ở dưới cái bóng của Franklin Roosevelt, và ông cũng đã tự chứng minh mình trước nhân dân Mỹ trong một cuộc đấu vĩ đại, cuộc bầu cử tổng thống và đã chiến thắng vang dội. Ông càng thêm tự tin vào khả năng ra quyết định, cùng với những người quanh ông – George Catlett Marshall, Dean Acheson, Omar Bradley, và Averell Harriman người đã triển khai công việc thay ông ở Châu Âu nhưng nhanh chóng trở thành người chuyên giải quyết sự cố với một sự ủy quyền rộng lớn, một nhân vật có giá trị ngoại cỡ. Ông cũng thêm phần thân cận với Acheson, ngoại trưởng của mình, họ nhanh chóng có một mối quan hệ thống nhất khắng khít hàng đầu trong biên niên sử chính trị hiện đại. Ông không có lo lắng gì trong công tác. Không có gánh nặng quá khứ, không các thế lực trong nước quấy rầy, thứ mà Franklin Roosevelt phải lo. Với Harry Truman, không có gì phải quay lại nhìn phía sau lưng.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2013, 05:43:00 pm
Và vì thế,các quyết sách chính về vấn đề Triều Tiên đã được định ra trước khi máy bay của Truman hạ cánh. Hầu hết cố vấn hàng đầu của ông đã xác lập phương án họ sẽ làm, Truman cũng vậy. Với các nhân vật đứng đầu của Hội đồng An Ninh Quốc gia Mỹ, thì hành vi của Bắc Triều Tiên vượt biên giới được xem là vi phạm nghiêm trọng tới lợi ích của Hoa Kỳ. Một quốc gia xâm lược một nước khác, và nếu các nhà lãnh đạo Cộng sản của phần kia thế giới nghĩ điều này được nhìn nhận ở Washington tương tự như cách diễn tiến của nội chiến Trung Hoa, thì họ đã lầm to. Thay vì phản ứng như những người cùng thế hệ vốn xem an ninh quốc gia dưới lăng kính Thế Chiến II, hành vi của Bắc Triều Tiên làm sới lên ký ức về thời điểm khởi đầu của một cuộc chiến, một cuộc chiến mà cánh dân chủ đã để cho một thế lực vượt biên giới và thất bại trong hành động. Trong vô số những tính toán sai của cả hai phía trong chiến tranh Triều Tiên, có lẽ vấn đề lớn nhất chính là phía cộng sản đã tính sai về cánh dân chủ Tây phương do Mỹ lãnh đạo sẽ phản ứng thế nào trước việc miền Bắc xâm chiếm miền Nam Triều Tiên, bởi nó được nhìn qua lăng kính của sự kiện Munich. Trên chuyến bay về Washington, Truman đã hồi tưởng lại việc thế giới tự do đã bỏ mất cơ hội cuối cùng để chặn Mussolini tiến vào Ethopia, chặn Nhật vào Mãn Châu, và việc Anh-Pháp lẽ ra đã có thể dễ dàng ngăn Hitler tiến vào Áo, Tiệp Khắc. Trong đầu ông, chính Liên Xô đã ép – và thậm chí là ra lệnh – cho Bắc Triều Tiên vượt giới tuyến, và ông cho rằng thứ ngôn ngữ duy nhất mà người Nga có thể hiểu là sức mạnh quân sự. Sau này ông viết lại : »Chúng tôi phải gặp họ ở điểm cơ bản đó ». Vấn đề không phải họ cho Triều Tiên quá quan trọng – mà đó là vấn đề Mỹ phải hồi đáp thế nào trước sự khiêu khích của Cộng sản. Uy tín của Mỹ đang bị đe dọa lúc cuộc xâm lăng nổ ra, mà uy tín, như Acheson nói khi nghe tin quân Bắc vượt biên giới « đi liền với quyền lực, rất quan trọng »

(http://tieungoclang.files.wordpress.com/2012/11/110104_truman_thisday_ap_605.jpg)

Truman là một con người kiên định. Quảng thời gian năm năm sau Thế Chiến II là một giai đoạn khó khăn, hai quốc gia hùng mạnh và đầy lo toan đã đối mặt với nhau, mỗi bên đều không thoải mái với vai trò mới: siêu cường; mỗi bên đều có đường lối chính trị và hệ thống kinh tế khác biệt khiến hai bên nhìn nhau như kẻ thù không đội trời chung, mỗi bên đều có thị kiến khải huyền với bên kia như một thứ dã thú ghê gớm là nguyên nhân hủy diệt họ, cả hai đều lo âu khắc khoải với vị trí mới của mình trong kỷ nguyên hạt nhân kinh khủng này. Cả hai nước đều có những nỗi niềm riêng, và thực vậy – đều hoang tưởng. Một Truman đầy sôi nổi và vênh váo một cách đáng ngạc nhiên đã phần nào đánh giá sai Stalin khi họ gặp nhau lần đầu ở hội nghị Postdam tại Đức vào cuối tháng Bảy năm 1945, sau khi Đồng Minh chiến thắng ở châu Âu, và cũng lượng định không đúng những mặt còn đen tối hơn của ông ta. Truman hiểu được một góc cảm quan chính trị của Stalin (sau cuộc gặp ông nói : « Stalin khá giống với Tom Pendergast », sếp sòng thành phố Kansas – người đã tạo dựng bước đầu sự nghiệp của Truman) nhưng đã tỉnh ngộ về ý tưởng có thể thương lượng được với Stalin. Sau này ông nói : «Và tôi trông như một thằng nhóc lạc loài». Tại Postdam, Truman hi vọng sẽ có một sự thẳng thắn, kiểu mọi người đều ngửa bài ra, để có thể đưa đến vài điểm thỏa hiệp có chừng mực và chấp nhận được cho thời kỳ hậu chiến, hoặc ngay cả là kiểu quan hệ trong thời chiến. Nhưng những bước đi đầu tiên này không có hiệu lực với Stalin, ông ta không bao giờ đưa bất kỳ một quân bài nào lên bàn, gần như là nhất định không với vị tổng thống của cái quốc gia tư bản to nhất trên thế giới này. (Tính thẳng thẳn của Truman thật ra không nhiều như ông nghĩ ; lúc ở Postdam, cuộc thử nguyên tử đầu tiên đã thành công, có vài thứ ông không thèm hạ cố nhắc đến, nhưng Stalin, qua các điệp viên Liên Xô, đã biết tới lá bài tẩy này rồi)


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2013, 05:47:01 pm
Stalin là một dạng Sa hoàng mới, một Sa-hoàng-nhân-dân, và còn bị tác động của chứng hoang tưởng tuổi già trong điều đình với phương Tây, một con người chẳng mấy hấp dẫn hoặc đáng tin trong số những đồng minh thời hậu chiến. Đến năm 1950, nhân vật Harry Truman vốn lúc đầu rất cảm thông với Stalin đã trôi về quá khứ rất xa. Mà thay vào đấy là một vị tổng thống đầy nghi ngờ và thẳng tưng, chính ông cũng cảm thấy tay Truman trước kia, Truman trong vụ Postdam là một «kẻ mơ mộng ngây thơ ». Về phần Stalin, ông cũng nhận định sai về Truman như Truman đã từng. Sau cuộc gặp Postdam, cũng như các chính trị gia thủ cựu Mỹ khác, Stalin đã đánh giá sai, một cách rất nguy hiểm, vị tổng thống mới của Hoa Kỳ, ông nói với Nikita Khrushchev – lúc này là một ngôi sao đang lên trong bộ máy chính quyền Liên Xô – rằng Truman là kẻ vô dụng. Một ván cờ siêu cường diễn ra ngay sau kết thúc cuộc chiến, ắc hẳn, sẽ đưa thế lực đó vươn ra toàn thế giới với sự sụp đổ của Anh, Pháp, Đức và Nhật, cùng sự tan rã của các đế chế đó. Lúc Bắc Triều Tiên xâm lăng, thì Chiến tranh lạnh cũng đạt tới mức căng thẳng cao nhất của nó, cùng cỡ với cuộc khủng hoảng hạt nhân khi hai cường quốc đối đầu với nhau qua sự kiện tên lửa ở Cuba diễn ra đúng một giáp sau. Cuộc chiến ngày 25 tháng Sáu diễn ra sau bốn năm kể từ khi Churchill có bài phát biểu về bức màn sắt và hai năm kể từ ngày Liên Xô phong tỏa Berlin,  Mỹ lập cầu hàng không tiếp vận cho thành phố ấy. Vào năm 1950, đồng minh phương Tây đang trên đường hoàn thành tốt kế hoạch Marshall, và Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương NATO đã sớm được thành lập – đây là điều mà Hoa Kỳ xem như để tăng cường sức mạnh của các quốc gia Châu Âu yếu ớt vẫn bị chiến tranh tàn phá, nhưng phía Cộng Sản thì lại xem đó như là một phần của nỗ lực tạo dựng vòng vây lớn bằng những quốc gia thù địch quanh họ, và được trang bị vũ khí hạt nhân.

(http://tieungoclang.files.wordpress.com/2012/11/539w1.jpg)

Khi các viên chức hàng đầu của Truman họp với nhau trong ngày 25 tháng Sáu, họ cố xác định ý nghĩa thực sự của cuộc xâm lăng này, đó không chỉ là việc một nửa nước Triều Tiên tấn công nửa kia, họ cố săm soi vào góc khuất, vào bản chất của vấn đề. Vào những ngày ấy, mọi thứ về Liên Xô được bao phủ trong màn bí mật dày đặc, ngay cả danh bạ điện thoại ở Moscow còn được xem như một loại tài liệu. Nên ngay tức khắc mọi nhân vật quanh tổng thống ở Washington đều tin rằng cuộc xâm lăng là một nước cờ trực tiếp của Moscow, Stalin ra lịnh và những kẻ thụ ủy ở Bắc Triều Tiên tuân hành. Thật ra điều này không đúng, nhiều năm sau mọi thứ sáng tỏ từ những tư liệu giải mật ở Moscow, chính nhân vật trẻ tuổi quá tự tin Kim Chính Nhật đã đưa các lực lượng quân sự vào cuộc xâm lăng, ngay cả một Stalin đầy thận trọng cũng bất đắt dĩ bị cuốn theo. Lúc đó, những chuyên viên quản trị Liên Xô nghĩ rằng Bắc Triều Tiên đơn giản chỉ là một phiên thuộc của mình, hoàn toàn dưới tay của Kremlin, nhưng rõ ràng trong tình huống này Stalin chỉ là tòng phạm hơn là chủ mưu. Câu hỏi chính yếu nhất mà Washington quan tâm đó là : Phải chăng cuộc xâm lăng chỉ là đòn nghi binh, một diễn tiến đầu tiên trong một kế hoạch xâm lược lớn hơn của người Nga ? Và nếu như vậy, đòn kế tiếp của Stalin là gì ? Phải chăng Stalin bí mật để mắt vào châu Âu hay mục tiêu là Trung Đông ? Acheson cho rằng cuộc xâm lăng chỉ là đòn nghi binh và kế tiếp sẽ là người Trung quốc – được Liên Xô hỗ trợ – tấn công Tưởng Giới Thạch ở Đài Loan hoặc, có lẽ cũng nguy hiểm tương đương, một cuộc tổng phản công của Cộng Sản sau khi Tưởng khiêu khích.

Ngược lại, Truman thì cho rằng mục tiêu kế tiếp sẽ là Iran. Douglas MacArthur, người hiếm khi đồng ý với ông trong bất kỳ vấn đề gì, cũng cho là vậy. Vào ngày 26 tháng Sáu, Truman, trong cuộc gặp với một số rất ít người thân cận, đã bước tới một quả địa cầu, quay nó đến khu Trung Đông và chỉ vào Iran. « Đây là nơi họ sẽ gây rối nếu ta bất cẩn. Triều Tiên là một kiểu Hi Lạp ở vùng Viễn Đông. Nếu giờ chúng ta đủ cứng rắn, nếu chúng ta ủng hộ họ như ở Hi Lạp ba năm trước, chúng sẽ không triển khai bước kế tiếp nào. Nhưng nếu chúng ta chững lại, chúng sẽ tiến vào Iran và như thế sẽ làm chủ vùng Trung Đông. Không thể nói trước chúng sẽ làm gì nếu bây giờ chúng ta không tham  chiến »


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2013, 05:53:21 pm
Khi tổng thống về lại Washington vào đầu buổi tối ngày 25, đón tại phi trường là Acheson, bộ trưởng Bộ Quốc Phòng Louis Johnson và thứ trưởng Bộ Ngoại giao James Webb. Lúc đó cả ba cùng vào chiếc limo của Truman, không có chút hồ nghi nào về cách thức mọi việc sẽ diễn tiến. « Lạy Chúa,  tôi sẽ cho chúng biết tay! » Truman nói. Johnson nhanh chóng trả lời rằng ông ủng hộ. Web thì nói đơn giản rằng Truman nên tham khảo thêm những người khác trong chính phủ. Họ có nhiều đề xuất phức tạp về các hành động đáp trả dựa vào tin tức rời rạc đến từ Triều tiên – mà tất cả đều rất xấu: họ muốn tổng thống cho phép tướng MacArthur cung cấp cho Nam Hàn những vũ khí cần thiết, dùng không lực – hải lực Mỹ để bảo vệ công cuộc di tản và giữ các cảng Nam Hàn để chúng không bị rơi vào tay quân Bắc. Đồng thời, căn cứ vào dự kiến của tổng thống, họ đề nghị Hội đồng Tham mưu Liên quân thảo luận về các biện pháp quân sự để ngăn chặn quân Bắc Triều Tiên. Yêu cầu hạm đội Bảy đi chuyển đến eo biển Đài Loan để khóa chặn  cuộc tấn công (nếu có) của quân Cộng sản Trung Hoa lên Đài Loan (và cũng để ngăn ngừa Tưởng Giới Thạch có hành động khiêu khích với tân chính quyền ở Đại lục). Thêm vào đó, họ cho rằng Hoa Kỳ đồng thời nên bắt đầu chương trình hỗ trợ quân sự cho quân Pháp ở Đông Dương, cho Burma ở Thái Lan. Khi chiếc limo đến nhà khách chính phủ Blair House, Webb – lúc đó đang một mình cùng Truman, đưa ra một đề nghị nữa: nên tách biệt các vấn đề Triều Tiên và Đài Loan ra, nhất là một khi Washington định đưa trường hợp Bắc Triều Tiên xâm lược lên Liên Hiệp Quốc.

Nếu giới tuyến không bị tấn công trong ngày ấy, thì chắc mọi thứ đều sẽ mù mờ, và không nhất thiết chỉ ở Triều Tiên. Trong những năm ngay sau thế chiến II, có hai vấn đề chính mà các nhà hoạch định chính sách ở Washington phải đương đầu đồng thời với việc tìm cách giải quyết bài toán trật tự thế giới cũ đã bị hủy hoại và những tàn tích khác do cuộc chiến gây ra. Vấn đề đầu tiên, rành mạch nhất, cấp bách nhất là cần vạch ra một tuyến chống lại chủ nghĩa bành trướng của Liên Xô tại châu Âu. Điều này được giải quyết với một kỹ thuật và viễn kiến tuyệt vời, nhưng phần đáng tiếc nằm ở sự trả giá cho vấn đề lớn còn lại của thời đại, vấn đề này dường như ít cấp bách và đầy tính ngoại vi của bài toán quyền lực: phương thức cho việc kết thúc thời kỳ thực dân, việc này đang diễn ra ở  các quốc gia đồng minh lớn nhất khi họ đang chịu sự phản đối bằng chính trị, đôi khi bằng cả quân sự từ những vùng đất cựu – thuộc – địa của họ. Trước những đòi hỏi đúng đắn của các lực lượng ái quốc dân tộc chủ nghĩa từ những nước chưa phát triển, dù đôi khi dưới bóng chủ nghĩa cộng sản, thì ghi nhận từ Washington là không đồng đều. Thực tế là có hai bộ mặt hoàn toàn khác biệt của chủ nghĩa Cộng sản ở hai trường hợp: một chủ nghĩa cộng sản Liên Xô khắc nghiệt ào qua châu Âu dưới gót Hồng quân, và một chủ nghĩa cộng sản đã biểu lộ ở thế giới thứ ba, nơi nó trở thành kim chỉ nam cho các lực lượng chống thực dân, họ đã quay sang Moscow (như trường hợp Đông Dương) để xin giúp đỡ sau khi đã bị Washington từ chối. Dù có nói như thế nào thì cuộc tấn công của Bắc Triều Tiên cũng là một cuộc xâm lược kiểu cũ, nhưng còn với Đông Dương, nơi Hoa Kỳ cũng bắt đầu cột chặt mình vào đó như ở Triều Tiên và phần lớn châu Âu; thì đó vẫn là một cuộc chiến tranh thực dân thuần túy.

Đêm ấy, những nhân vật dân sự và quân sự hàng đầu ăn tối tại nhà khách Blair. Sau bữa tối họ quay lại với chủ đề cuộc xâm lăng. Vài điểm đã trở nên rõ ràng: dù chưa ai biết chắc mũi tấn công Bắc Triều Tiên sâu tới đâu, nhưng rõ ràng đây là một cuộc xâm lăng và lực lượng Nam Hàn đã không chiến đấu tốt. Họ không thể tự đứng vững. Sau bữa tối, tướng Omar Bradley, chủ tịch hội đồng tham mưu liên quân, người đã rất hân hoan khi rút các đơn vị thực binh của Mỹ ra khỏi Triều tiên hồi năm trước bởi đó là nơi rất tệ cho việc chiến đấu và cũng bởi thấy rằng không có mấy giá trị chiến thuật, là người phát biểu đầu tiên. Ông nói, trên tuyến chống cộng đã được vẽ, Triều Tiên là một tiền đồn như bao nơi khác. Nhưng giá trị của nó đã thay đổi trong đêm. Truman ngắt lời ông ta và nói rằng ông hoàn toàn nhất trí. Tại thời khắc đó, bút sa gà chết. Bradley tiếp tục, rằng dựa vào quy mô của cuộc tấn công, hẳn phải có Liên Xô đứng đằng sau. Rồi đô đốc Forrest Sherman, tham mưu trưởng Hải quân Mỹ, tướng Hoyt Vandenberg, tham mưu trưởng Không quân, cũng phát biểu. Cả hai đều phản ánh cho thấy sự lạc quan – và tin tưởng – mà người Mỹ cảm nhận về sự vượt trội của không lực, hải lực của mình, cũng như mỗi ông đều tin rằng lực lượng của mình là vô song. Không một ai lưu tâm đến khả năng chiến đấu của bộ đội Bắc Triều Tiên. Cả hai đều cho rằng không lực và hải lực có thể bắt quân Bắc quay lui. Nhưng Joe Collins, tham mưu trưởng lục quân, nói rằng: dựa trên những báo cáo mà ông có, dường như cần phải có lục quân. Việc dùng các lực lượng bộ chiến là vấn đề rất khác biệt – nghiêm trọng hơn nhiều. Collins, Bradley và Frank Pace, bộ trưởng lục quân, tất cả đều khăng khăng đòi không ra quyết định đó. Tuy nhiên, rất nhanh sau đó, Bradley ghi lại rằng ông đã dự báo không đúng về khả năng của bộ đội Bắc Triều tiên. “Không ai tin rằng quân Bắc Triều tiên lại mạnh như chúng thể hiện” sau này ông bộc lộ.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Một, 2013, 01:21:40 pm
Rồi ý chí chung cũng từng bước được thống nhất: Không lực phải dùng ngay để chậm bước tiến bộ đội Bắc Triều, và vấn đề Triều Tiên sẽ phải đưa lên Liên Hiệp Quốc để có sự hỗ trợ, dù, nếu cần, Hoa Kỳ sẽ đơn phương triển khai các hành động để dừng cuộc xâm lăng. Gần cuối buổi họp, Web có đề nghị Truman thảo luận về khía cạnh chính trị của vấn đề. “Chúng ta sẽ không nói gì về chính trị” Truman mạnh mẽ nói “Tôi sẽ xử lý các vấn đề chính trị”. Rồi Truman ra lịnh cho không quân tiến hành công tác bảo vệ cuộc di tản những gì liên quan đến người Mỹ và giao tranh với Bắc Triều Tiên trên không phận miền Nam. Ông cũng bảo Pace yêu cầu MacArthur gửi một đội đến Hàn quốc để tìm hiểu xem họ cần gì về mặt quân sự, và, oan nghiệt thay, ông lệnh cho Sherman đưa hạm đội Bảy từ Philippine về eo biển ngăn cách giữa Đài Loan và đại lục, giờ nằm trong tay của những người Cộng Sản. Nhưng ông nói ông muốn không có thông báo gì cả cho đến khi hạm đội đã đến được vị trí.

Quyết định đối với các đơn vị bộ chiến vẫn treo lại, lơ lửng như đám mây bão đen ngòm trên đầu. Không ai trong số các cố vấn của Tổng thống có chút niềm tin vào khả năng quân đội Nam Hàn chống đỡ được. Ngày hôm sau, Truman viết thư cho vợ, Bess (vẫn ở Independence), rằng đây là một chuyến đi gay cấn ngay từ lúc còn trên không. Cuộc họp ở nhà khách Blair rất thành công, nhưng vấn đề Triều Tiên vẫn là thứ rất khó nhằn. “Đã không có sự lộn xộn nào kể từ khi Hi Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ rơi vào quỹ đạo của chúng ta. Hãy vững tin…”. Cái ý tưởng rằng Stalin chỉ ngầm đồng thuận và không chỉ đạo trực tiếp cuộc xâm lăng nghe thật không quen. Mà gì đi nữa thì cũng vậy thôi. “Người Nga nói sẽ xâm chiếm; xe tăng Đỏ tiến vào Seoul” là những tít bài được ưa dùng trên tờ New York Herald Tribune.

Với những nhân vật hàng đầu của giới an ninh quốc gia, như Acheson, tin tức, tuy bực bội, nhưng không bất ngờ khi có hiển hiện mối nguy, bởi họ đã rất muốn gia tăng mạnh ngân sách quốc phòng nhưng không có cớ. Trong thực tế họ đã đợi những sự kiện như vậy nổ ra, lo sợ, nhưng cũng biết chắc điều đó sẽ đến, và rằng một khi đã sảy ra thì nó có thể đánh thức được một quốc gia trước những thách thức mới.

George Kennam, một chuyên gia hàng đầu trong nước về Liên Xô, đã cực kỳ thất vọng khi không được dự buổi họp ở nhà khách quốc gia Blair. (“bữa tối đó có tác dụng xác định ra cái nhóm chịu trách nhiệm triển khai các quyết sách của nhà nước trong những ngày kế tiếp” sau này ông viết). Còn ông, theo ngôn từ của ông, thì đứng bên lề. Ông đã không còn là Vụ trưởng Vụ kế hoạch chính sách, thực chất là đã rời chính phủ để đến trường đại học Princeton, để suy ngẫm về quá khứ thay vì hiện tại hoặc tương lai. Bởi vẫn còn lo rằng vụ Triều Tiên chỉ là một đòn nghi binh nhỏ, nên vài ngày sau Acheson đã hỏi Kennam một cách cẩn thận, rằng người Nga sẽ làm gì tiếp sau. Kennan thì không cho rằng cuộc tấn công này đại diện cho bất kỳ điều gì lớn lao hơn. Ông đã viết thư cho Acheson rằng phía Liên Xô không tìm kiếm một cuộc chiến lớn hơn với Hoa Kỳ, nhưng có lẽ họ sẽ thích thú một khi thấy Hợp Chủng quốc bị sa lầy “ trong một cuộc chiến tai tiếng và không ích lợi” hoặc đứng bên lề mà không làm điều gì (và như vậy cũng bị mang tiếng trong khu vực) một khi Bắc Hàn chiếm được toàn thể bán đảo. Hiểm họa lớn nằm ở chỗ việc Hoa Kỳ định vị ra điểm phản hồi như thế nào, ông khuyến cáo, không nên ở châu Âu mà là  Á châu. Ở nơi đó, người Nga có lẽ đang bận rộn với người Trung quốc. Có nghĩa là Kennam không trông thấy có triển vọng của một cuộc chiến lớn hơn và chúng ta lẽ ra nên cẩn thận đặt giới hạn của nó. Điều này cho thấy đó lời khuyên mang tính tiên tri và chín chắn từ một nhà Nga học hàng đầu của quốc gia.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Một, 2013, 01:35:17 pm
Khi các chính khách gặp nhau lần nữa ở nhà khách Blair trong ngày kế tiếp, Acheson,  nhân vật quan trọng nhất trong vấn đề Triều Tiên sau tổng thống, thông báo rằng hạm đội Bảy đã sẵn sàng và như vậy đây là lúc để ra lệnh cho hạm đội bảo vệ Đài Loan. Cùng lúc, ông báo thêm rằng Tưởng Giới Thạch đã được yêu cầu một cách thẳng thừng là ngưng mọi chiến dịch chống lại Đại lục. Các sỹ quan Hạm đội Bảy sẽ đảm bảo việc ông ta tuân thủ yêu cầu. Rồi Acheson phác ra những đề xuất của mình không chỉ cho Triều Tiên mà cả khu vực châu Á. Hoa Kỳ cần tăng cường hỗ trợ Philippin, hiện đang bị lôi vào một cuộc chiến du kích với phía du kích thân cộng Huk, và cho Pháp, hiện cũng đang đánh nhau với những người Cộng sản – dân tộc chủ nghĩa Việt Minh trong cuộc chiến thực dân ở Đông Dương. Với Đông Dương đó là một sự leo thang nghiêm trọng: nguyên ủy Hoa Kỳ phản đối việc Pháp quay lại chiếm quyền thực dân ở đó, nhưng rồi lại miễn cưỡng thay đổi dưới áp lực của Paris, sau bốn năm chiến tranh, chính quyền Pháp bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu chia rẽ, và Hoa Kỳ sửa soạn cho việc gánh lấy phần lớn gánh nặng tài chính cho cuộc chiến đó. Rất nhanh người Mỹ trở thành nơi chống lưng chính và là nhà cung cấp tài chính cho người Pháp. Gửi một sứ mệnh quân sự đến Đông Dương đồng nghĩa với việc người Mỹ đã nhúng chân mình vào vùng nước mới, một cuộc chiến thực dân cay đắng, mà không ai tưởng tượng ra, hoặc chú ý đến những hậu quả đầy đủ. Không tốn thời gian cho việc đó. Ngày 29 tháng Sáu, chỉ bốn ngày sau khi quân Bắc Hàn vượt biên, tám chiếc phi cơ vận tải C-47 bay qua Thái Bình Dương mang theo những khí tài đến cho quân Pháp, bắt đầu của đợt viện trợ quân sự to lớn và rồi một ngày kia lại dính vào sâu hơn, thậm chí đã trở thành một cuộc phiêu lưu đầy u uất của nước Mỹ.

Trong buổi họp tối thứ Hai, những nhà hoạch định chính sách của Washington cũng bàn về khả năng sử dụng quân Tưởng Giới Thạch ở Triều Tiên. Vị tổng tư lệnh đó xung phong cung cấp những đoàn quân tinh nhuệ nhất của mình. Truman đã được vận động ngầm bởi phía ấy và lúc đầu đã định chấp thuận. Nhưng Acheson mạnh mẽ khuyến nghị không thuận. Ngay khi cuộc khủng hoảng Triều Tiên bắt đầu, ông đã suy nghĩ và đã xem xét các vấn đề của Tưởng giới Thạch, nên ông không hề ngạc nhiên trước đề xuất của họ Tưởng. Ông hiểu rằng thứ Tưởng muốn (một cuộc chiến mở rộng và bằng cách nào đó sẽ kéo những người Cộng sản Trung quốc nhúng vào) và thứ Mỹ muốn (một cuộc chiến giới hạn và Trung quốc đứng ngoài) là hai điều không thể song hành. Hai quốc gia vẫn là đồng minh, nhưng những điều họ muốn hoàn toàn cách biệt nhau. Acheson chắn chắn rằng ông đúng trong trường hợp này. Ngoài ra, ông cũng đã thấy hết biểu hiện của quân đội Tưởng Giới Thạch trong cuộc chiến ở đại lục và biết rằng mình không nên phụ thuộc vào quân đội đó trong cuộc chiến này, đặc biệt khi đánh nhau với các lực lượng thông minh vừa đánh bại họ. Có một số người cánh hữu, trong đó có MacArthur, bị quyến rũ bởi ý tưởng dùng quân đội của họ Tưởng – nhưng Acheson không nằm trong số đó, phần còn lại của Hội đồng tham mưu liên quân cũng vậy,với họ thì bởi hoàn toàn thận trọng về mặt quân sự.

Nhưng các chính khách đối lập trong chính quyền lại muốn sử dụng chúng và thấy rằng cuộc chiến Triều Tiên nổ ra như là một đòn đánh vào tổng thống và ngoại trưởng của ông ta, và cột chặt Triều Tiên vào cái sự kiện mà họ vốn dùng để đánh Truman: sự thất bại ở Trung Quốc. Phản ứng của họ là tức thời và hoàn toàn bản năng. Ngày 26, thượng nghị sỹ Styles Bridges, một nhân vật ngoại hạng trong cái gọi là Nhóm vận động Trung Hoa, đứng lên chất vấn tại Thượng viện: “Chúng ta sẽ lại nhượng bộ sao? Chúng ta lại sẽ chờ “bụi lắng”? [một cách chơi lại Acheson, vì trước đó ông đã dùng cụm từ này trong vấn đề Trung quốc với hi vọng rằng rốt cuộc cũng sẽ có cơ hội chia rẽ Nga và Tàu]. Giờ là lúc phải định ra giới tuyến”. Bill Knowland đại diện bang California, cũng là một nhân vật rất gần gũi với Nhóm vận động Trung Hoa và ông này còn có danh hiệu là Thượng nghị sỹ Formosa (Đài Loan), thêm vào: “Nếu quốc gia này phải chịu thua, chấp nhận một cuộc xâm lăng công khai như kiểu này, thì không có mấy cơ hội để ngăn chặn Cộng sản ở bất cứ nơi nào trên lục địa Á Châu”. Và cuối cùng Thượng nghị sỹ Geogre (Molly) Malone của bang Nevada còn gắn tình hình hiện nay vào vụ Hiss, một quan chức ngoại giao – Alger Hiss, bị buộc tội là phản bội và hoạt động gián điệp cho Liên Xô. Những gì xảy ra ở Trung Hoa giờ lại diễn ra tại Triều Tiên, Malone nói, và điều này là do các cố vấn cánh tả ở Bộ Ngoại Giao.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Một, 2013, 08:22:08 pm
Trong lúc những phản ứng cá nhân Truman với sự kiện Bắc Hàn xâm lăng là hoàn toàn tự động và phi chính trị, thì rõ ràng là sự cạnh tranh giữa hai đảng chính trị cũng được triển khai ngay từ đầu. Có một thực tế là vài bộ phận ngay trong chính phủ của ông đối với vấn đề Tưởng Giới Thạch đang tính toán đến việc bảo vệ nên Tưởng và đảo Đài Loan hay bỏ rơi. Việc tiếp tục hỗ trợ Tưởng Giới Thạch được xem là một thứ ung nhọt không chỉ là chủ đề chính của những kẻ thù địch nhất với chính phủ mà ngay cả trong nội bộ chính quyền. Acheson cho rằng Tưởng là một trường hợp thất bại, theo nghĩa đen, và việc hỗ trợ ông ta là một chính sách đáng ngờ vực, đây sẽ là điều khó tiêu với Hoa Kỳ một khi diễn ra dài hơi, và làm cho bộ mặt chính trị ở Châu Á thay đổi. Nhưng đa số ở Bộ Quốc Phòng không đồng ý với Acheson, còn bộ trưởng Louis Johnson, người hi vọng sẽ kế vị Truman ở vị trí ứng viên tranh cử Tổng thống của đảng Dân chủ cũng rõ ràng là ủng hộ Tưởng giới Thạch. Trong suy nghĩ của nhiều thành viên nhóm cận thần của Truman, ông ta (Johnson) rõ là một thành viên nhóm vận động Trung Hoa, người ta đã hứa với tay chân Tưởng Giới Thạch trong tòa đại sứ ở Washington rằng Johnson sẽ không chỉ làm vô hiệu Acheson mà còn đưa ông này ra khỏi chính phủ (trợ lý hàng đầu của ông, Paul Griffith rất thân thiết với Wellington Koo, đại sứ của Dân quốc  và là nhân vật chính của nhóm vận động Trung hoa, chừng chín tháng trước chính Koo đã sắp xếp cho bà Tưởng gặp ăn tối với Johnson tại Riverdale, New York). Mối quan hệ của Johnson với phe Dân quốc (Trung hoa Dân quốc) là có thật trong chính quyền, điều này đồng nghĩa với những chỉ trích thường xuyên của cánh Cộng hòa với các chính sách Trung Hoa của chính phủ cũng được nghe y như trong nhà, và những gì trao đổi trong các cuộc họp cấp cao nhất cũng ngay lập tức được truyền ra cho bên Dân quốc.

Điều thích hợp cho một cuộc chiến không mấy vui vẻ trong nhà, thứ luôn lơ lửng trên đầu chính phủ trong những ngày đầu chiến tranh Triều Tiên, là vấn đề Trung Hoa, chính nó luôn hiện diện trong mỗi quyết sách. Đây không là một trận đánh mà Johnson có thể thắng. Bởi trong giới hạn chính trị thì Truman gần với Acheson hơn; vị tổng thống khâm phục và tin cậy ông ta cùng những ý kiến về chính trị của ông và sau chót, đó là sự thận trọng trước bất cứ điều gì có thể làm cuộc chiến lan rộng. Nhưng đồng thời Truman cũng mang ân nghĩa của Johnson, người gần như duy nhất trong số những nhân vật có quan hệ với giới tài chính đã đứng cạnh ông trong những ngày tồi tệ sau hội nghị chính trị 1948, lúc đó không ai nghĩ rằng Truman có thể đắc cử tổng thống. Johnson là người gây quỹ chính cho Truman lúc két bạc của đảng Dân chủ đang rỗng tuếch, và như là một phần thưởng, ông ta có được Bộ Quốc Phòng.

Ngay từ lúc Truman triệu tập nội các đến nhà khách Blair, thì đã có sự bất đồng rõ ràng giữa Acheson với Johnson trong vấn đề Đài Loan, chủ đề mà Johnson đang phát động. Mọi người khác trong buổi họp muốn tập trung vào Triều Tiên, nhưng Johnson, cố chống lại mong muốn của tổng thống và Acheson để đưa Đài Loan vào vành đai phòng thủ của Hoa Kỳ ở Á Châu, lại đặt vấn đề đó ra lần nữa. An ninh Hoa Kỳ, ông ta nói, bị tác động bởi Đài Loan nhiều hơn là Hàn Quốc. Acheson cố lái chủ đề quay lại Triều Tiên. Sau rốt, Truman phải cắt ngang và bảo rằng họ phải ăn tối. Sau bữa tối, Johnson lại cố gắng tiếp tục đưa ra câu hỏi về Đài Loan, và một lần nữa Truman lại cắt ngang.

Trong buổi trao đổi tại nhà khách Blair, vấn đề quân đội của Tưởng Giới Thạch nhanh chóng bị bỏ lại đằng sau một sự việc nghiêm trọng hơn đó là tình hình trên chiến trường. Joe Collin chỉ ra rằng quân Nam Hàn (ROK) đã tan tác. Tham mưu trưởng ROK, theo như cách nói của Collin là “không còn lính bên cạnh”. Tất cả họ đều biết việc này mang ý nghĩa gì: cần phải có lực lượng chiến đấu Mỹ. Nhưng ngay từ thế chiến II, có một chính sách của Mỹ là tránh đưa lực lượng chiến đấu vào lục địa châu Á. Omar Bradley đề nghị tổng thống nên thư thả theo dõi vài ngày trước khi đưa ra một quyết định nghiêm trọng. Thế rồi Truman yêu cầu vị Tham mưu trưởng liên quân cân nhắc vấn đề đó. Lúc đó, như phản ánh lại giây phút long trọng, Truman nhìn mọi người với vẻ nghiêm trang và nói: “Tôi không muốn tham chiến”. Nhưng ông cũng biết rằng ông đang tiến đến gần, rất gần một quyết định sau cùng.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Một, 2013, 08:26:37 pm
Sáng ngày 27 tháng 6, tổng thống cùng Acheson gặp các lãnh đạo lưỡng viện để xem xét quyết định của ông. Phản ứng của nghị viện nhìn chung là rất thuận lợi. Lúc đó, Alexander Smith, một thượng nghị sỹ đảng Cộng hòa của bang New Jersey hỏi rằng phải chăng Truman đang đề nghị lưỡng viện thông qua một nghị quyết chung cho các hành động quân sự ở Triều Tiên. Đó là một câu hỏi hay, một câu hỏi đủ rõ rệt, hai ngày qua dày đặt các cuộc họp nhưng không ai trong chính phủ đã thực sự cân nhắc kỹ. Chính trị, họ tin, phải được gác sang một bên, hay ít nhất chính họ phải gạt ra. Truman bảo Smith rằng họ sẽ làm điều đó sau khi nghe các khuyến nghị. Đến cuối ngày, Truman trao đổi với cả Acheson và Averell Harriman – ông này đã trở thành một cố vấn cao cấp đặc biệt chỉ ngay vài giờ sau khi cuộc xâm lăng diễn ra. Dù không như Acheson  đến từ một gia tộc giàu có, Harriman luôn sắc sảo với chính trị Hoa Kỳ. Ông mạnh mẽ đề nghị Truman nên tìm kiếm giải pháp ở nghị viện. Acheson thì phản đối; vấn đề, như ông nói, cần tốc độ. Truman có khuynh hướng đồng ý với Acheson, dù rằng Lưỡng viện chắc chắn sẽ giận dữ trước việc một tổng thống vượt qua đầu trong vấn đề chiến tranh và hòa bình. Truman không muốn bị chậm trễ, và những tranh cãi liên miên giữa ông với lưỡng viện trong vấn đề Trung Hoa và Tưởng Giới Thạch đã khiến ông đề phòng những kẻ thù ở Thượng viện. Ba ngày sau, sáng ngày 30 tháng Sáu, Truman lại gặp lãnh đạo Lưỡng viện. Lúc này, Thượng nghị sỹ Kenneth Wherry thuộc bang Nebraska, một nhân vật mà chính phủ không mấy thích, hỏi thẳng tưng về việc thông qua lưỡng viện. (Trước đó, nghe đồn rằng Acheson đã định đấm vào mũi ông ta, và phải được các cố vấn cản lại; chính Truman thì gọi Wherry là “đồ dân nhà đòn đầu đất Nebraska”). Truman cố gạt ông ta ra “Nếu có cần hoạt động gì từ lưỡng viện, tôi sẽ đến nhờ. Nhưng tôi hi vọng rằng chúng tôi có thể giải quyết bọn Triều Tiên mà không cần tới điều đó”.

Đó là thời điểm lý tưởng để đưa ra một nghị quyết, nhưng rồi thời điểm đó trôi qua rất nhanh, sự nhất trí về chính trị hiện hữu ở những giờ phút đầu cuộc xâm lăng đã tan mất. Khi cuộc chiến trở nên gay go hơn những tưởng tượng ban đầu, thì chính trị cũng trở nên khó khăn theo, và sự hỗ trợ bắt đầu tan rã. Bởi Truman cố không dùng các hỗ trợ từ lưỡng viện, nên các địch thủ đã hết gặp trở ngại về mặt nhận trách nhiệm với các phản ứng của Hoa Kỳ. Lúc bộ trưởng lục quân (*Secretary of the Army: chức danh này hơi lạ với cơ cấu VN, gọi là bộ trưởng nhưng dưới cấp nội các ) Frank Pace đề nghị họ cần có nghị quyết (của lưỡng viện), thì Truman trả lời: “Frank, không cần đâu. Tất cả họ nhất trí với tôi”. Pace trả lời: “Vâng, thưa ngài tổng thống, nhưng chúng ta không chắc rằng họ sẽ nhất trí với chúng ta sau một thời gian nữa”. Lúc đó, dường như mọi người đều chung xuồng. Khi tin đến với lưỡng viện rằng tổng thống đã quyết định gửi quân đến Nam Hàn, hầu như cả nghị trường đã đứng dậy chúc mừng. Joseph Harsch, một phóng viên kỳ cựu và tốt nhất ở Washington, thuộc báo The Christian Science Monitor đã viết: “Trước giờ tôi chưa bao giờ thấy cái cảm giác tin cậy và thống nhất như thế trên toàn thủ đô”.

Trong tuần ấy, tất cả những cố vấn của tổng thống đều hiểu rằng họ đang tiến đến rất, rất gần với việc sử dụng quân bộ trên lục địa châu Á, thứ sau chót mà bất kỳ ai, dù quân hay dân sự, muốn làm, và nó đè nặng lên họ qua từng ngày. Không quân và hải quân sẽ không thể hoàn thành nổi. MacArthur được lệnh – nếu ông ý có thể gọi đó là lệnh – đến Triều Tiên và báo cáo lại những gì cần để giữ vững được phòng tuyến. Lúc đó, là sáng sớm ngày 30 tháng Sáu, điện từ Tokio đang đến và tất cả họ đều hiểu, sẽ không có gì tốt. Lúc chừng 1h30 sáng, giờ Washington, John Muccio báo Acheson rằng MacArthur sẽ yêu cầu lực lượng lớn hơn. Tình hình ở bán đảo Triều Tiên là tuyệt vọng, Muccio nói. Chuẩn bị cho việc MacArthur điện về xin quân.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Một, 2013, 08:30:09 pm
Chừng một giờ rưỡi sau, MacArthur, vừa trở về từ Triều Tiên, báo cáo với Tham mưu trưởng liên quân rằng cần tăng quân nhiều. Nguyên văn của ông ta là: “Chỉ có thể chắc chắc giữ được tuyến hiện nay và lấy lại những vùng đã bị mất nếu có sự hiện diện của lục quân Mỹ trên chiến trường Triều Tiên. Chỉ dùng hải lực và không lực mà không có lục quân thì không thể giải quyết được”. MacArthur nói, ông muốn đưa một đơn vị cấp trung đoàn vào chiến đấu ngay ở vài khu vực đang giao tranh, và rồi sẽ nhanh chóng bố trí khoản 2 sư đoàn trong lực lượng của ông ở Nhật đảm trách nhiệm vụ phản công. Nếu không làm vậy, ông nói: “khá nhất là sẽ phải tổn phí vô ích tiền bạc, sinh mệnh và uy tín, còn tệ nhất là đổ vỡ, thất bại”.

Ở Washington, Dean Rusk, trợ lý ngoại trưởng đặc trách vùng Viễn Đông và Joe Collin, tham mưu trưởng lục quân, làm việc với nhau để giải quyết cuộc điện đàm, lúc ấy đâu đó khoản từ 3 đến 4 giờ sáng. Nhưng bởi vì họ, nói một cách tương đối, là các cán bộ cấp không cao, và lúc đó mới chỉ mờ sáng, nên tiến trình xử lý bị chậm và lóng ngóng. Cần phải có cấp thẩm quyền cao hơn. Đây không là một vấn đề nhỏ như góc nhìn ở Tokio: bởi đó chính là chiến tranh hay hòa bình. Câu trả lời không nhanh chóng có được. Mọi việc phải chậm rãi và không làm MacArthur vui: “Thiệt là tệ hại! Khi tôi còn là tham mưu trưởng, cỡ Herbert Hoover (*) tôi còn lôi ra để trao đổi! Nhưng giờ đấy, không chỉ tham mưu trưởng lục quân trễ nãi, mà cả bộ trưởng Lục quân, bộ trưởng Quốc phòng. Lắm thầy nhiều ma”.

(* Herbert Hoover là tổng thống Hoa kỳ thứ 31 từ 1929 – 1933)


Đến khoản 4h30 sáng, giờ Washington, MacArthur xác nhận lại yêu cầu về lực lượng bộ chiến với Collins, rồi Collins gọi Pace, ông này lại gọi cho Truman. Truman luôn thức dậy sớm. Cái đồng hồ sinh học của một cậu trai nông dân trong ông không bao giờ mất đi. Ông đang cạo râu lúc Pace gọi. Và ngay trước 5h sáng ngày 30 tháng Sáu năm 1950, ông chuẩn y cho việc sử dụng bộ binh ở Triều Tiên. Và thế là bút sa… Ngay từ lúc mới bắt đầu MacArthur đã bảo rằng ông có thể dễ dàng khống chế được cuộc xâm lăng chỉ cần Washington để ông tự lo. Giờ ông bảo cần hai sư đoàn. Và lần này, ông lại tiếp tục đánh giá thấp kẻ thù trong khi định giá quá cao các lực lượng dưới quyền ông, tất nhiên định giá đó bao gồm cả quân Mỹ.

Truman vẫn còn băn khoăn về vụ quân Tưởng Giới Thạch. Ông gọi Acheson, Harriman, Johnson và tham mưu trưởng liên quân để họp lần chót về việc có dùng quân Tưởng không. Với việc quân Nam Hàn sụp đổ từng phần thì đề nghị của Tưởng vẫn làm cho tổng thống có cảm giác thấy đó là một giải pháp lấp chỗ trống. Nhưng Acheson vẫn chắc chắn rằng việc này sẽ đưa nước Trung hoa Cộng sản vào cuộc chiến. Và tham mưu trưởng liên quân cũng không muốn.

Giữa cảnh u ám đó, có một tia sáng, đó là quân Mỹ sẽ chiến đấu dưới ngọn cờ Liên Hiệp quốc. Trước khi Truman chấp thuận việc dùng quân bộ Hoa Kỳ, thì ông cũng đã có được sự chuẩn y của Liên Hiệp Quốc – dễ dàng hơn nhiều so với các thập niên sau. Liên Hiệp Quốc của năm 1950 vẫn chủ yếu phản ánh quyền lợi của Mỹ và các nước Tây Âu, bất đồng duy nhất đáng kể đến từ Liên Xô và chư hầu. Trong chừng mực nào đó có thể nói đây đây là tàn tích sau chót của thế giới da trắng. Trong cái Hội đồng Bảo An để biểu quyết việc dùng vũ lực ở Triều Tiên, chỉ có hai phiếu trắng từ các nước-không-da-trắng Ấn độ và Ai Cập. Bắt đầu từ cuối thập niên 1950s và gia tốc mạnh hơn trong thập niên 60, sự kết thúc của thời đại thực dân, cùng với những quốc gia vừa được độc lập ở châu Phi châu Á và Trung Đông đã làm thay đổi bộ mặt Liên Hiệp Quốc một cách đầy kịch tính, giảm bớt đi rất nhiều ảnh hưởng của phương Tây và trở thành một tổ chức bị các phái chính trị bảo thủ ở Hoa Kỳ và Phương Tây cực kỳ khinh bỉ. Người Nga đã rất ngu khi tẩy chay phiên họp của Hội Đồng Bảo An về vấn đề Triều Tiên (trớ trêu thay nguyên nhân sự thể đó là bởi họ chống lại việc Trung Hoa Dân quốc – Đài Loan vẫn giữ ghế trong hội đồng), và không có sự phủ quyết của họ, người Mỹ đã có được nghị quyết họ muốn vào ngày Thứ ba, 27 tháng Sáu, rốt cuộc cũng đưa các lực lượng chủ yếu là quân Mỹ tham chiến dưới ngọn cờ Liên Hiệp Quốc.

  (Hết chương 6)


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Một, 2013, 08:35:42 pm
Chương 7

Thế là Hoa Kỳ tham chiến tại Triều Tiên, và Harry Truman khá bất đắt dĩ làm một vị Tổng tư lệnh trong một cuộc chiến mà ông không muốn, ở một vùng đất trên thế giới mà người của ông không cho là quan trọng, và ngay từ đầu phải tin cậy vào viên tư lệnh chiến trường mà ông không ưa, người đó ngược lại cũng không tôn trọng ông. Những ngôi sao không xếp đúng đắn ngay từ đầu. Ba ngày sau khi chiến cuộc nổ ra, Dwight Eisenhower, khi đó là chủ tịch trường đại học Columbia, tạt vào lầu Năm góc và trao đổi về tình huống Triều Tiên với trung tướng Matt Ridgway, lúc ấy là phó tham mưu trưởng lục quân, nhưng cũng là người được nể trọng nhất trong thế hệ tướng lĩnh cao cấp mới và vì vậy được phần lớn các sỹ quan cao cấp cho là ứng viên lý tưởng cho vị trí tư lệnh chiến trường Triều Tiên dưới quyền MacArthur. Rất ít người hiểu rõ hơn Eisenhower về cách MacArthur khiển quân. Ông là trợ tá của MacArthur cả lúc ở Washington lẫn thời Manila, nên hiểu khá rõ về cái cách MacArthur khôn ngoan “điều chế” sự thật trong báo cáo gửi về giới dân-quân sự ở Washington. Eisenhower bảo Ridgway rằng rất cần một tướng lãnh trẻ hơn ở đó, ông nói thêm “một người với những hành động anh không đoán trước được, một con người luôn tự quyết định những thứ tin tức gì ông ấy muốn Washington biết và những gì bị giấu đi”. Sau này Eisenhower viết lại, rằng có một giới tuyến rõ ràng giữa các vấn đề quân sự với chính trị mà hầu hết các quan chức cao cấp đều thận trọng tuân theo “nhưng nếu tướng MacArthur có nhận ra tuyến đó tồn tại, thì thường ông chọn cách lờ nó đi”. Như MaxHasting có lần viết: trong cả cuộc đời, MacArthur hành động “với giả định rằng luật lệ được dựng ra dùng những kẻ kém cỏi và không liên quan gì tới ông ta”.

Biểu hiện đáng lo của MacArthur trong vài ngày đầu tiên khi quân Bắc Triều Tiên tấn công, mà Dulles và Allison chứng kiến, người dân Mỹ không bao giờ được thấy. Thay vào đó là một MacArthur đầy huyền bí với công chúng, hoàn toàn không chút tỳ vết giữa những nhân vật truyền thông cao cấp; đặc biệt với giới chủ báo và phóng viên, ông có tầm quyến rũ hàng đầu, rất mạnh. Điển hình, bốn ngày sau cuộc xâm lăng nổ ra tờ NewYork Times chạy một bài xã luận sôi nổi rằng vận nước hưng thịnh bởi có MacArthur nơi tuyến đầu: “Không dễ chọn đâu có một nhân vật tốt hơn để làm tư lệnh xứng đáng với lòng tin vô hạn của nhân dân nước ta. Đây là một nhà chiến lược siêu hạng và là một nhà lãnh đạo đầy nghị lực; chí bền tâm định trước những áp lực kẻ thù, một con người cân bằng giữa dũng cảm và quả quyết”

Ông đã bảy mươi tuổi, một tướng lãnh cao cấp của quân đội Mỹ – chỉ có Chúa, mới cao hơn MacArthur, một tài năng trẻ đã về già của West Point (nguyên văn: the aging wunderkind of West Point). Khi còn trẻ, ông đã bắt đầu quân nghiệp với số điểm cao nhất ở đó, 98.14 trong 4 năm, và ông còn làm được nhiều hơn những điểm số đó hứa hẹn. Ông luôn là sỹ quan trẻ nhất ở bất kỳ vị trí nào ông đạt tới – không chỉ là sư đoàn trưởng trẻ nhất đóng ở Pháp trong thế chiến thứ nhất mà còn là Viện trưởng trẻ nhất của West Point, tham mưu trưởng lục quân trẻ nhất, thiếu tướng trẻ nhất, và là người đạt quân hàm cấp tướng cao nhất trẻ nhất (* thống tướng năm sao). Hào quang của ông không đến một cách ngẫu nhiên: không chỉ bởi một sự nghiệp vĩ đại và có chiều sâu; mà nó còn là kết quả của những nổ lực to lớn trong việc xây dựng hình ảnh cá nhân; vì rằng ông ta luôn nhận được danh tiếng cực đại cho mỗi chiến thắng trong khi thuộc cấp của mình lại nhận ít vinh dự nhất trong khả năng. Ông là một kịch sỹ hạng nhất, luôn bận rộn không đơn thuần bởi công việc một viên tướng mà còn vì làm mọi việc theo cách kịch nhất có thể, MacArthur-vĩ-đại không làm thứ gì thấp hơn sân khấu lịch sử – như thể cuộc đời này luôn là một sàn diễn và cả thế giới là khán giả của ông.

(* Nhận xét riêng của người dịch: có vẻ Halberstam rất có ác cảm với MacArthur – và phần lớn người theo đảng Dân chủ cũng vậy. Thực ra, sự nghiệp của MacArthur được nhìn nhận rất khác nhau, tùy theo góc nhìn của từng người. Đến giờ vẫn còn nhiều tranh luận về vị thống tướng này: một tướng lãnh siêu tài năng, hay một con người vô kỷ luật bất tài.)


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Một, 2013, 08:43:34 pm
Dù sao thì tờ Times, trong trang xã luận nồng nàn lòng tôn kính với MacArthur, cũng không quá nịnh như tạp chí Time với những lời tán dương viên tướng này. Henry Luce, sáng lập viên, biên tập viên của Time, yêu Trung Hoa và Tưởng Giới Thạch, nên tờ tạp chí này có mối quan hệ rất gần gũi với nhóm Vận động Trung Hoa; những người Mỹ này xem Trung Hoa đồng nghĩa với Tưởng Giới Thạch, và tin rằng chính phủ đã không hỗ trợ đầy đủ cho Tưởng. Là tạp chí có sức ảnh hưởng rất cao đến chính trị và xã hội (Mỹ) trong cuối thập niên 1940 và thập niên 1950, Time luôn quan tâm đến châu Á hơn bất kỳ ấn bản nào ở Hoa Kỳ trong cùng thời, trong đó có phần không nhỏ bởi Luce là con một nhà truyền giáo làm việc ở Trung Hoa. Có lẽ Tưởng Giới Thạch là một nhà lãnh đạo mà Luce ưu thích khác bên cạnh Winston Churchill; trong khi Douglas MacArthur rõ ràng là viên tướng được ông mến mộ; bởi họ cũng chia sẽ niềm tin về địa vị hàng đầu của châu Á và đồng cảm với nhau về việc quốc tế quá ít chú ý đến khu vực đó. Khi tạp chí Time đưa MacArthur lên trang bìa số ra ngày 10 tháng Bảy 1950, ngay sau lúc Bắc Triều Tiên tấn công – xuất hiện trên bìa tạp chí này là cực kỳ quan trọng trong những năm đó – thì đó là lần lên bìa thứ bảy của ông, bằng với Tưởng Giới Thạch. Một đoạn trong bài báo này đã đưa ra tiêu chuẩn mới cho việc thánh hóa một vị tướng ưu thích trên mặt báo: “Trong tòa nhà Dai Ichi, nơi từng là trung tâm đế chế bảo hiểm Nhật, một sỹ quan tham mưu mắt đã mờ, nhìn xuống từ chồng hồ sơ giấy tờ, thầm thì đầy tự hào ‘Chúa ơi, ông ấy thật vĩ đại’. Tướng Almond, tham mưu trưởng, nói thẳng: ‘Ông ấy là nhân vật vĩ đại nhất còn sống’. Còn viên tướng không quân tôn kính George Stratemeyer thì còn mạnh mẽ hơn … ‘Ông ấy là người vĩ đại nhất trong lịch sử’ “

Không phải ai ai cũng đồng ý, dĩ nhiên thế. Nếu ông ta đã thành công trong việc quyến rũ các chủ bút, chủ biên; thì các ký giả tác nghiệp lại thường xuyên bị hoãn hẹn bởi tính huênh hoang, tự đắc của MacArthur, và đa số họ chuyển sang khinh thường cái môi trường bợ đỡ trong ban tham mưu của ông. Một cuộc gặp với ông ta không đơn giản là trao đổi mà giống như một buổi biểu diễn; quan trọng hóa mọi thứ với người tham gia. Vấn đề của MacArthur, như theo lời tướng Joseph Stilwell khi nói với Frank Dorn, một trong những trợ tá hàng đầu của ông, là ông ta (MacArthur) đã “làm tướng quá lâu”. Stilwell nói điều này vào năm 1944, trước khi MacArthur trở thành một-hoàng-đế-do-Mỹ-bổ-nhiệm tại quốc gia bị chiếm đóng Nhật Bản. “Ông ấy nhận ngôi sao cấp tướng đầu tiên vào năm 1918 và điều này có nghĩa là ổng đã có gần ba mươi năm ở vị trí tướng quân” Stilwell nói, “ba mươi năm để mọi người làm việc cho ổng, bợ đít ổng và làm những gì ổng muốn. Điều này hổng tốt cho bất kỳ một ai”.

Vào năm 1950 MacArthur là một nhân vật lớn nên mọi người phải chơi theo luật của ông. Thực tế mà nói ông không chỉ lập nên một quân đội của riêng mình trong lòng quân đội lớn – nơi chỉ có ông được quyền ra lịnh, mà còn lập cả một tiểu thế giới ở đó ông tự cai trị. Các hướng dẫn, mệnh lệnh hay cả khuyến nghị do Washington phát tới thường bị lờ đi, kể cả khi được đưa ra từ các tướng lĩnh là cấp trên danh nghĩa của MacArthur, những người này, theo góc nhìn tôn ti thứ bậc của ông, không là thượng cấp của mình và như vậy không có quyền hạch hỏi hay ra lịnh cho ông. Ông dựng nên một tiểu thế giới tự cách biệt một cách đáng nguy hiểm, một thế giới tổng hợp cả xã hội, chính trị và quân sự từ mọi người, mọi vật – ở đó không ai dám đối lập. Mọi người quanh ông đều kính sợ ông; ai không thế đều không ở được lâu trong sở chỉ huy của ông. Khách đến sở chỉ huy của ông trong tòa nhà Dai Ichi, và được cho là xứng đáng gặp ông thì luôn sẽ được thấy một Sô Diễn. Trong sô diễn – mà ông thường thực hành mỗi sáng trước gương trong bộ áo choàng tắm – ông nói với vẻ đầy tin tưởng, dứt khoát về những sự việc tương lai mà hầu hết mọi người, bất kể có am tường không, tiếp cận ở mức độ thận trọng, hiểu biết  những chiêu trò của lịch sử (câu này không rõ nghĩa, xin lỗi bạn đọc – TNL ). Những khán giả thường khá hoa mắt và được nghe đi nghe lại nhiều lần nhưng lại tin rằng đó là một bài nói ứng khẩu. Ông ta là một người cực kỳ có năng khiếu trong kịch độc thoại. Nhưng trên tất cả là thiếu thứ không khí có chất. Mọi thứ được điều khiển quá tốt, tính toán quá cẩn thận và phối âm tuyệt hảo trong một thế giới mà mọi thứ không bao giờ được điều khiển hay dàn xếp, một nơi mà nhiều lực lượng mới, thù ghét nhau rất khác với cái cách đã diễn ra ở thế kỷ trước.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Một, 2013, 04:48:19 pm
Harry Truman làm tổng thống một cách bất ngờ (*), nhưng Douglas MacArthur làm tướng thì không. Khác xa với hầu hết mọi người, Douglas MacArthur là kết quả những gì ông nỗ lực vươn tới. Bắt từ đầu người cha, Arthur MacArthur, một con người kinh khủng, một sỹ quan anh hùng của quân đội phe Liên bang trong nội chiến và sau này là một nhân vật chính trong cuộc khởi nghĩa Philippin. Quan trọng hơn, cụ MacArthur còn là một hình ảnh thần thoại trên cao trong mắt cậu con trai – huyền thoại ấy được tạo ra và phối khí một cách khôn ngoan, liên tục bởi Pinky MacArthur; vợ của Arthur và là mẹ của Douglas. Sau cái chết của chồng bà cùng sự đắng cay cái cách kết thúc sự nghiệp ông ấy, bà là kiến trúc sư chính cho con đường sự nghiệp của người con, của sự lập dị cùng tham vọng kiên định cũng như việc tính vị kỷ của Douglas.

(*) Ông này lên kế nhiệm tổng thống khi tổng thống đương nhiệm, Roosevelt đột tử

Dù đa phần những biểu hiện của Douglas MacArthur rõ ràng là ảnh hưởng từ bà mẹ, nhưng chính bản thân Arthur MacArthur, cha ông, cũng không phải là một con người khiêm tốn, rụt rè. Theo góc nhìn của mình, ông cho rằng mình hầu như đã không được dùng đúng chỗ không chỉ với khả năng quân sự mà còn cả những ý kiến chính trị. Như đại tá Enoch Crowder, trợ tá của Arthur MacArthur nói: “ổng là một tay khoa trương, tự cao tự đại nhất mà tui từng gặp, cho tới khi tui thấy thằng con”. Sự nghiệp của ông có cả những lúc chói sáng cũng như những thời điểm cực kỳ khó khăn; có cả những khi thành công nhanh chóng và cũng có lúc lụi tàn. Lúc ông hồi hưu, gần như chưa có vị trí quan trọng nào trong quân đội mà ông chưa từng kinh qua, chưa có cấp bậc nào chưa đạt, không có huân chương nào của quốc gia chưa từng được nhận. Ông kết thúc binh nghiệp với hàm tướng ba sao – cấp hàm cao nhất có thể khi đó – được tưởng thưởng Huân chương Vinh dự (Congressional Medal of Honor); nhưng ông cực kỳ thất vọng với sự nghiệp của mình, với quân đội và với cấu trúc chính trị mà ông đã đấu tranh chống lại trong nhiều năm. Đúng lý ra ông được tiêu chuẩn chôn trong nghĩa trang quốc gia Arlington, nhưng ông cay đắng và xa lánh những người cầm quyền đất nước vào lúc cuối đời, nên ông từ chối được chôn ở đó.

(http://tieungoclang.files.wordpress.com/2012/11/general-arthur-mac-arthur.jpg)
tướng MacArthur cha


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Một, 2013, 04:50:14 pm
Cuối đời, Arthur MacArthur từ một người Mỹ yêu nước vĩ đại, theo một cách lắt léo kỳ lạ, đã trở thành một người chống Mỹ. Như thể có những khoảng đen trong tâm hồn ông, những điều gì đó quá xa xăm để tụ hội lại trong chức nghiệp vốn cần có sự hi sinh và những rủi ro quá lớn song hành cùng lý tưởng. Dù gặt hái được rất nhiều thành công và vinh dự, nhưng không bao giờ đủ; và ông chỉ nhớ tới những gì mình không giành được. Với người con, cũng vậy, nhiều thứ tương tự để có thể nói rằng: nếu có điều gì mà ông không điều khiển được, không dành được trên đường đời, thì lúc kết thúc giấc mơ, ông sẽ hủy hoại nó. Nhiều sỹ quan quân sự cao cấp làm việc trong các điều kiện khó khăn với nhà cầm quyền dân sự cũng trở nên căm ghét hoặc ít nhất là mất lòng tin vào giới chính trị gia – hai giai tầng văn hóa có quá nhiều điều khác biệt, và thường thì những sỹ quan tốt nhất luôn không như các chính trị gia, bẻ cong các sự việc.Tuy vậy, trong trường hợp Arthur MacArthur thì vượt xa kiểu thận trọng hay mất lòng tin bình thường – mà đến mức bệnh hoạn. Bất kể cánh dân sự muốn gì hay họ là ai, thì Arthur MacArthur dường như đều kháng cự. Vào những năm cuối đời, ông nói liên tục về những chính trị gia ác quỷ, và quan điểm đó truyền lại sang người con.

Với Douglas MacArthur, ngay khi bắt đầu sự nghiệp đã phải đứng trước thử thách gấp đôi: không chỉ phải bắt kịp thành tích đáng nể của người cha mà còn phải cố báo thù cho những bất mãn trong cuộc đời ông ấy, hay ít ra cũng phải ngang bằng với những ai đã làm tổn thương hoặc coi thường ông cụ. Và như vậy đúng là có quá nhiều yêu cầu với bất kỳ một ai. Cuộc đời và sự nghiệp của hai cha con nhà MacArthur trải dài qua hơn một thế kỷ lịch sử nước Mỹ, mà đó là một giai đoạn then chốt khi đất nước này tăng trưởng về  kích thước cũng như quân sự, kinh tế và cả sức mạnh chính trị theo cấp số nhân. Arthur MacArthur sinh năm 1845 và thành danh anh hùng ở tuổi 18 trong cuộc nội chiến Hoa Kỳ; Douglas thì sinh năm 1880 và là một tư lịnh tại ngũ trong cả ba cuộc chiến tranh lớn ở thế kỷ kế tiếp: Thế chiến lần thứ nhất, Thế chiến lần hai và Chiến tranh Triều Tiên, ông ta chết năm 1964, đúng một thế kỷ sau của thời điểm người cha làm nên hành động anh hùng đầu tiên. Cả hai đều có cách kết thúc sự nghiệp một cách kịch tính như nhau: Arthur MacArthur, khi đó là tướng hai sao, bị triệu về từ Phillipin dù ông đã chỉ huy quân đội khá thành công nhưng lại có rắc rối không cần thiết với giới cầm quyền dân sự; nửa thế kỷ sau, và chừng 105 năm kể từ ngày sinh của ông, Douglas MacArthur cũng bị bãi nhiệm khỏi vị trí chỉ huy trong chiến tranh Triều Tiên bởi Tổng Thống Mỹ, vì đã thường xuyên vượt quá giới hạn quân sự và can dự quá nhiều vào chính trị.

Arthur MacArthur là con trai của một vị thẩm phán đầy tham vọng và lỗi lạc ở Milwaukee. Khi nội chiến nổ ra, viên thẩm phán đã cố đưa con mình vào viện West Point. Thậm chí ông còn nhờ cả một thượng nghị sỹ bang Wisconsin đưa cậu con đến gặp Abraham Lincoln. Nhưng không còn chỗ trong trường, và vì vậy, viên thẩm phán, bằng các quan hệ riêng trong chính giới, đã đưa cậu con vào vị trí sỹ quan quản trị trung đoàn Wisconsin thứ 24. Ở tuổi 18, Arthur MacArthur đã là một sỹ quan, dù rằng lúc đầu chẳng ai trong trung đoàn đó lấy làm xúc động trước việc có một sỹ quan quản trị nhóc con. Lần nổi danh đầu tiên của ông trước công chúng là vào tháng 11 năm 1863 ở trận Missionary Ridge, gần Chattanooga. Lúc ấy quân Liên minh chiếm được cao điểm ở đó và bắt đầu nghiền nát một lực lượng cánh Liên bang đang tập hợp gần cạnh. Theo lịnh của các sỹ quan Liên bang, một mũi tấn công vu hồi được tổ chức, nhưng thương vong còn nặng nề hơn, cho đến khi như thể phản ứng giận dữ trước những thiệt hại không thể nói nổi của họ, quân Liên bang táo bạo ào lên đỉnh đồi, ngay trước công sự được chuẩn bị kỹ của quân miền Nam và đánh đuổi được chúng.

(http://tieungoclang.files.wordpress.com/2012/11/missionary-ridge1.jpg)


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Một, 2013, 04:54:18 pm
Chính trung đoàn Wisconsin 24 đã dẫn đầu và một người lính – hoặc đúng hơn là một cậu trai – đã mang lá cờ trung đoàn cắm lên đỉnh đồi, có lẽ đã có đến ba hoặc bốn chiến sỹ  thay phiên nhau mang cờ sau khi người trước bị hạ cho đến lượt Arthur MacArthur. Tướng Phil Sheridan, tư lệnh phía Liên bang, xúc động trước chiến thắng bất ngờ, đã nói rằng mọi người nên coi trọng cái gã cầm cờ bởi gã ấy đã được tặng Huân chương Vinh dự – dù, trên thực tế, Arthur không có Huân chương ấy cho đến tận 27 năm sau. Ông đã trải qua mười ba trận đánh khác nhau trong cuộc hành binh Sherman xuyên qua bang Georgia và bị thương bốn lần. Ông chiến đấu xuất sắc, và được phong cấp đại tá năm mười chín tuổi, một chiến binh trẻ nhất quân đội Liên bang đạt cấp hàm ấy và trở nên nổi tiếng dưới cái tên “đại tá thanh niên” trong cuộc Nội chiến. Ông dũng cảm, thông minh và có bản năng chiến binh trong người. Sau chiến cuộc, ông rời quân ngũ, nhưng cuộc sống dân sự làm ông phát ngán nên đã quay lại quân đội, dù ông phải rời bỏ cấp hàm có trong thời chiến.

Ông nhanh chóng được phong đại úy, và rồi đứng yên không tiến triển trong hai mươi ba năm tiếp theo. Những năm đó thật khó khăn với chút ít khen thưởng ngoại lệ có lẽ chỉ đủ để cứu vãn. Khi ấy đất nước trong quá trình tây tiến, và ông thường xuyên nằm ở tuyến đầu. Tình thế lúc đó rất nguyên thủy, ông hành động ở những vùng đất hầu như chưa có luật pháp, hoặc có lẽ nói chính xác hơn thì luật chính là ông ấy. Những chính trị gia dân sự hiện diện ở đó thường đứng ngoài lề, và chẳng mấy chút gây trở ngại cho các vị tư lệnh. Sự cản trở, nếu có, lên cánh quân nhân chỉ đến từ trên cao, từ những chính trị gia ở Washington, mà những người đó thì không chỉ xa cách về không gian địa lý mà còn được xem là vô tội trong thế giới thực mà ở đó, quân đội phải thực thi những nhiệm vụ bẩn thỉu của mình. Với quân nhân, cánh chính trị gia làm việc với kiểu thỏa hiệp hoặc bị thỏa hiệp.

Arthur MacArthur đặc biệt thành công ở tiền tuyến và được tin cậy trong việc chỉ huy quân ở chiến trường. Dù ông không được học chính quy nhiều về mặt quân sự, nhưng ông có kỹ năng và trí tuệ thật đáng kinh ngạc. Tài năng đó lại được vận hành trong điều kiện không bị cánh dân sự cản trở trong những năm ấy nên chỉ càng tăng thêm tính ngạo mạn của ông, làm cho ông, như nhà viết tiểu sử của con ông William Manchester ghi nhận, cực kỳ kinh miệt nhà cầm quyền dân sự – thái độ đó làm ông gặp rắc rối ở Philippine và thừa kế từ cha sang con, làm cả gia đình MacArthur từ cha mẹ đến con càng thêm phần thù địch với hầu hết các chính trị gia và còn, theo một cách kỳ dị cay đắng gần như theo cách vô thức, với cả chính quyền.

Năm 1889, rốt cuộc Arthur cũng nhận hàm thiếu tá và về Washington với vị trí trợ lý quản trị cao cấp. Năm 1897, ngay đêm trước của cuộc chiến Mỹ – Tây Ban Nha, ông lên trung tá. Khi cuộc chiến nổ ra vào năm 1898, ông hi vọng sẽ được thăng đại tá, và sẽ được chỉ huy quân đánh nhau với Tây Ban Nha ở Cuba, nơi được xem là trọng điểm của cuộc đối đầu giữa Hoa Kỳ – nước bắt đầu nhận thấy mình tràn đầy sức lực kinh tế, dẫn đầu sức mạnh công nghệ trên thế giới – và Tây Ban Nha một đế quốc đang suy tàn hơn cả thế kỷ. Thay vì được thăng đại tá, Arthur lại được thăng vượt hai cấp lên thẳng thiếu tướng; nhưng thay vì lãnh quân ở Cuba thì ông lại bị gửi đến Philippine.

William McKinley, một đảng viên Cộng hòa ở Ohio với những cảm nhận xung đột phức tạp về vai trò mới đang lên của Mỹ là một đế chế trên Thái Bình Dương, được bầu làm tổng thống. Cũng ngạc nhiên như mọi người, ông nhận ra không chỉ thành công dễ dàng trong việc xử lý đàn áp người Cuba khởi nghĩa mà còn đưa Hoa Kỳ đến một bước tiến lớn hơn ở Thái Bình Dương và cũng phức tạp hơn nhiều. Ông nhận ra mình đối diện với một nhiệm vụ khó khăn hơn rất nhiều: đưa hình ảnh hùng mạnh của Mỹ vươn lên ở Á châu. Nơi đó các nhà lãnh đạo bản địa muốn một thứ – đế chế Tây Ban Nha hãy biến đi. Đầu tiên họ chào mừng sự giúp đỡ của Mỹ, và rồi họ nhận thấy – như là một phần của thời đại – rằng Hoa Kỳ định làm những gì tốt cho Mỹ và chỉ Mỹ, với họ thì cũng ổn, đó là tạo một lối chính trị mới cho họ, dù dưới luật lệ của Hoa Kỳ nhưng vẫn có chủ quyền (Damn, cả đoạn này mình dịch lủng củng và không rõ nghĩa lắm, sẽ cố hiệu chỉnh lại sau :(  )


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Một, 2013, 04:57:57 pm
Đây là kinh nghiệm thực dân thực thụ đầu tiên của Hoa Kỳ, và điều này không hẳn là hạnh phúc. Phát súng đầu tiên giữa quân Mỹ và quân nổi dậy Philippin nổ ra vào tháng Hai năm 1899, mười một tháng trước thềm thế kỷ mới, nhưng về mặt sức mạnh và tham vọng, chiến dịch tàn bạo chống nổi dậy của Hoa Kỳ ở Philippin đã báo trước những gì còn hơn thế sẽ diễn ra ở thế kỷ sau. Người Mỹ tiến vào quần đảo này gần như tình cờ, như là một sản phẩm phái sinh của sự kiện Cuba. Khi chiến cuộc ở Cuba diễn ra, đô đốc George Dewey, tư lệnh hạm đội Thái Bình Dương đưa hạm đội đến vịnh Manila để tiêu diệt hạm đội Tây Ban Nha cũ kỹ. Và ông nhận ra, đó chỉ còn là một bóng mờ yếu ớt của đế quốc Tây Ban Nha khi trước. Thuộc địa Tây Ban Nha ở Philippin rõ là chẳng khó để lấy và Hoa Kỳ đã chiếm được.

Thật ra tổng thống McKinley không thật muốn có quần đảo này. Ông không muốn, ông nói với một người bạn “chẳng biết cái quần đảo chết dẫm đó ở đâu đó trong phạm vi hai ngàn dặm”. Nhưng dưới áp lực ở Hoa Kỳ cần phải mở rộng ra theo cách nào đó, do sự kéo dài của chiều hướng trong thế kỷ mười chín về Thuyết Bành trướng do định mệnh của Hoa Kỳ (American Manifest Destiny), và nhu cầu cần biểu hiện ra cho phần còn lại của thế giới biết đến sức mạnh kinh tế Mỹ, nên động lực cho việc này đã có đủ. Nếu Hoa Kỳ cần có vài chứng cớ để chứng minh cho sức mạnh trong những năm ấy, thì đó phải là từ hành vi thực dân. Hai động cơ chính ở Mỹ – một từ sự tự chủ chính trị và quân sự, và một tàn bạo và hám lợi hơn, không phải ngay từ đầu, mà xung đột, và động cơ diều hâu hơn dường như đã thắng. Như tờ Washington Post ghi nhận: “Một ý thức mới dường như đang đến với chúng ta – ý thức về sức mạnh – và với điều ấy một khát khao mới tràn lên … tham vọng, thích thú, giá trị, niềm vui chiến đấu, và gì gì đi nữa, thì chúng ta cũng bừng bừng sinh khí vì cảm xúc mới…Cảm giác của một đế quốc tràn lên trên môi mỗi người như thể mùi máu trong rừng sâu. Điều này có nghĩa là chính sách đế quốc.”

Mỹ bắt đầu cuộc phiêu lưu ở Philippine với tư cách đồng minh – quả thực là gần như là một đối tác – của những người nổi dậy, họ chống lại chế độ thực dân Tây Ban Nha và chiến đấu vì nền độc lập của mình. Hoa Kỳ đảm bảo với họ ngay từ đầu rằng Mỹ không là thực dân. Rốt cuộc rồi họ cũng phải đánh nhau trong cuộc chiến đàn áp tàn bạo. Một lần nữa hai bản năng mạnh mẽ của người Mỹ lộ rõ – cánh truyền giáo, với tư cách là trách nhiệm của người Công giáo da trắng, thì đòi hỏi Hoa Kỳ nắm quyền thực dân trên toàn quần đảo để khai hóa dân bản địa, trong khi những kẻ theo chủ nghĩa phân biệt chủng tộc hạng nặng thì gọi quân du kích là “mọi nâu” hay “gugus” (hoặc goo-goos). Cái tên thứ hai có nguồn gốc từ vỏ một loại cây bản địa mà phụ nữ thường dùng để gội đầu. Rốt cuộc từ này được biến thể thành một từ chỉ nhiều thứ thuộc về người châu Á, gooks, trong Thế Chiến II, lính Mỹ dùng từ này để gọi người Châu Á, điều này kéo dài đến tận chiến tranh Triều Tiên và chiến tranh Việt Nam.

McKinley phải vật lộn với vấn đề có đưa quân vào đóng hay không, quanh ông là các nhóm quyền lực mạnh, mạnh hơn ông tưởng. Ông tự thấy mình không được thuyết phục mạnh mẽ trong vấn đề này. Rốt cuộc, ông nói với nhóm truyền giáo rằng với sự cộng hưởng lớn của xung đột tương lai, ông phải đưa quân đến bởi ông không có lựa chọn hợp lý nào khác. Đó là một quyết định cực kỳ khó khăn, ông nói, còn thêm rằng ông đã quỳ trong Nhà Trắng để cầu xin “Chúa toàn năng soi sáng và dẫn dắt”. Và sau cùng, ông bảo ông không thể để quần đảo rơi trở lại tay người Tây Ban Nha. Trông có vẻ hèn hạ, đê tiện. Ông cũng không để mở cho hai tay thực dân hạng nặng khác là Pháp và Đức vào. Và ông đã thực sự không để người Philippin ngây thơ được tự cai trị mình. Vậy là sự lựa chọn duy nhất của ông đã đem họ đến với người Mỹ để người Mỹ có thể: “dạy dỗ người Philippin, khai sáng, Gia tô hóa họ, và theo ý Chúa, làm những gì tốt nhất cho họ để xứng danh cho nhân loại mà Chúa đã hiến mình”.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Một, 2013, 05:05:04 pm
Cuộc chiến rất gay go ngay từ những từ ngữ vị tha ấy. Người Philippin dường như không có ý thức mấy trước những ân huệ mà Hoa Kỳ định áp lên. Quân Mỹ lúc đầu đánh giá không đúng công cuộc khởi nghĩa của người Philippin, họ biết đất nước này rõ hơn người Mỹ nhiều và còn được đông đảo nhân dân ủng hộ, họ đã cầm vũ khí chiến đấu chống quân ngoại bang theo cách du kích – và đã chiến đấu tốt một cách đáng ngạc nhiên.  Quân Mỹ thì có ưu thế hơn một chút về vũ khí, công thuộc về loại súng trường mới của Na uy có tên là Krag-Jorgensen với các tiến bộ về băng đạn 5 viên và dùng thuốc súng không khói. Nghĩa là khi bắn sẽ không phun ra một cụm khói nhỏ và vì vậy địch sẽ khó hơn trong việc xác định vị trí bắn. “Dưới lá cờ sao/Krag giáo hóa chúng” là một trong những bài hát được quân Mỹ thường hát. Những gì đang diễn ra báo trước cho vô vàn các trận chiến ở châu Á sau này: lúc đầu người Mỹ hay coi khinh đối phương bởi họ không phải là da trắng, nhưng rồi sẽ rất ngạc nhiên và đau đớn trước mức độ chống cự của họ. Ngay sau lượt nổ súng đầu tiên, một thiếu ta Mỹ đã gọi cho thượng cấp, đại tá Frederick Funston: “Đến đây, ngài đại tá. Cuộc khiêu vũ bắt đầu rồi”. Những cuộc khiêu vũ!!! Cuộc chiến trở nên khốc liệt hơn mọi người mong đợi. Cũng như Arthur MacArthur, quân Mỹ đi ra từ tuyến đầu của cuộc chiến chống dân da đỏ: cũng như ở đó lòng căm ghét quân địch là sự pha trộn giữa nỗi sợ mang tính chủng tộc và lòng căm thù. “Quốc gia này sẽ không thanh bình cho đến khi bọn mọi nâu bị tận diệt như bọn da đỏ vậy” một tên lính nói với phóng viên. “Một thằng Philippin tốt là một thằng đã chết” một tên lính khác nói. Nhiều sỹ quan Mỹ rất cáu bởi kẻ địch hiếm khi chịu chiến đấu trong không gian mở hoặc ban ngày để quân Mỹ có thể thấy, và con cháu họ sáu mươi năm sau cũng như thế, ở Việt Nam. Quân địch ranh mãnh. Họ chiến đấu ban đêm và hay tiến hành phục kích. Bởi quân nổi dậy ẩn náu trong các cộng đồng dân cư bản địa nên quân Mỹ trở nên bạo lực hơn với dân cư ở đó, không có  dân trung lập trong cuộc chiến. Điều này nhanh chóng lan tràn. Trước lúc kết thúc, có tới 112,000 quân Mỹ, trong đó gồm 62,000 lính chính quy và 50,000 lính tình nguyện được đưa tới Philippine.

(http://tieungoclang.files.wordpress.com/2012/12/krag_rifle_1886.jpg?w=625)
khẩu Krag
Bạo lực không những leo thang mà ngày càng trở nên đầy tội ác. Một thiếu tướng Mỹ, Jacob Smith đã bảo thuộc cấp: “Tôi không muốn có tù binh. Tôi mong các anh giết và đốt, giết càng nhiều, đốt càng nhiều tôi càng hài lòng. Tôi muốn tất cả tù binh phải chết, những ai có thể cầm vũ khí thi hành các hành động thù địch chống lại Hoa Kỳ”. Một trong các thuộc cấp hỏi lại Smith về độ tuổi giới hạn. Smith bảo: “Mười tuổi”. Người ấy lặp lại: “Mười tuổi? Con nít lên mười có thể cầm vũ khí đánh Mỹ hả?”. “Đúng” Smith nói. Cuộc chiến kéo dài ba năm rưỡi và không mấy được biết đến ở Mỹ, kết thúc bằng trận càn táo bạo và bắt sống Aguinaldo, lãnh đạo quân nổi dậy, do tướng Funston tổ chức vào năm 1901. Sau cùng, 4200 lính Mỹ chết và 2800 bị thương ở Philippin. Có lẽ có chừng 20,000 quân Philippin chết trong rừng và hơn, rất nhiều, 250,000 dân thường chung số phận. “Giá mà đô đốc Dewey rời đi sau khi đánh bại hạm đội Tây Ban Nha thì ông đã giúp chúng ta tránh được bao nhiêu là rắc rối” McKinley nói với một người bạn như thế.

Tướng Arthur MacArthur làm tư lệnh quân Mỹ ở Philippin vào tháng 5 năm 1900, thay cho tướng Elwell Otis, một người ông hoàn toàn xem thường. “Một chiếc đầu máy lật ngửa trên ray với các bánh xe quay tít” ông mô tả Otis như vậy. Ông năng động hơn Otis và ông cũng ráng tổ chức lại chính quyền [Philippin], ông cũng sẽ sử dụng lực lượng quân sự vượt trội để tiêu diệt quân du kích. Có những ràng buộc căn thẳng giữa ông và chính quyền Washington, làm ông biết chính xác trong đầu những gì cần phải thực hiện, cùng với đó là sự yêu ghét lẫn lộn của Washington. Tổng thống McKinley không muốn bị làm nhục bởi một cuộc chiến không có điểm kết thúc, kiệt quệ. Nhưng ông cũng không muốn đặt mọi thứ ở đó vào tay cánh quân nhân. Thay vì vậy ông tìm kiếm một giải pháp chính trị. Năm 1901, rốt cuộc tổng thống cũng đưa một phái đoàn năm người đến quần đảo để dàn xếp một phương án chính trị, và ông chọn người bạn, William Howard Taft, một luật sư, một thẩm phán ngoại hạng người Ohio, làm lãnh đạo nhóm. Ông Taft không muốn Philippin chút nào. Cái ghế mà ông thèm là ở tòa Thượng thẩm. Tuy nhiên, nếu ông gạt bỏ không chấp nhận vị trí thứ nhất thì có vẻ như cái thứ hai sẽ không bao giờ đến với ông. Là người to bự, hơn 150 cân trọng lượng, Taft không thể nào say mê Manila được. “Nhưng thưa ngài Tổng thống” ông nói lúc họ gặp nhau “tôi xin lỗi, chúng ta có được Philippin. Nhưng tôi không muốn chúng tí nào, và tôi nghĩ ngài nên tìm những ai có sự đồng cảm với tình hình này” “Tôi cũng chẳng ưa hơn anh tí nào” McKinley đáp, đồng tình với Taft, nhưng vị tổng thống cố nài, rằng cái ông cần là một người mà ông có thể tin cậy để đại diện ông ở đó.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Một, 2013, 05:13:37 pm
MacArthur, khi đó đứng đầu chính quyền quân quản ở quần đảo, ông giận dữ trước khả năng có thể thách thức quyền lực tuyệt đối của mình, nên ông không để Taft có một cơ hội nào. Thay vì gặp Taft và đoàn công tác khi họ mới đến Manila như theo nghi thức lễ tân, thì ông chỉ gửi một người phó đến đón; và, để làm mọi thứ tồi tệ thêm, như nhà ngoại giao sử gia Warren Zimmermann viết: “ông cố làm nhục phái đoàn bằng cách để họ đợi cả ngày trong cái nóng gay gắt, và rồi đón nhận họ theo kiểu một hoàng đế phương Đông”. Ngay cả lúc gặp thì cũng là một sự bẽ mặt. Cả Taft lẫn MacArthur đều chẳng có một công việc dễ dàng – và sự phân chia cầm quyền giữa cánh dân sự và quân sự cũng không bao giờ rõ ràng – nhưng MacArthur còn làm điều này thêm tệ bởi ông không tôn trọng Taft, ông này rõ ràng là người công bằng. Dường như MacArthur không mấy lo lắng khi đối xử một cách khinh rẻ Taft cũng như với Tổng thống. Cuộc chiến của MacArthur là thắng lợi của bản ngã, của cái tôi trước ý thức thông thường: chính ông ta sẽ tự đưa mình, chứ không Taft, vào thế ngã thật đau. Nhiệm vụ của Taft mang tính chính trị – tất cả mọi thứ nhằm bảo vệ cho quyền lợi tương lai của người Mỹ và là bà đỡ cho một thể thức độc lập chưa mấy rõ ràng cho người Philippin. Thỉnh thoảng ông dùng những cụm từ kiểu: “Philippin của người Philippin” hoặc có lúc, như theo cách thức của thời kỳ đó, gọi những người Philippin là “những người anh em da màu bé nhỏ”. Nhưng lính chiến dưới quyền MacArthur thì không nghĩ rằng đối phương có thể là anh em trong nhà. Họ đặt ra bài hát rằng: ”Nó có thể là anh em của William Howard Taft/nhưng nó chẳng là anh em của ta”. Chẳng mấy khi có tiếp xúc thân mật giữa vị tướng và trưởng phái đoàn; để giao tiếp với MacArthur, Taft phải viết thư. Giao du với nhiều nhân vật trong chính trường Mỹ lâu năm, Taft vẫn không gây được ấn tượng với Arthur MacArthur bởi cái tôi cao ngạo của ông này; Taft đã viết thư về nước cho những người thực tế như Bộ trưởng Bộ Chiến tranh Elihu Root trong số hàng ngũ tướng lĩnh rằng ông không phục; điều này đã lặp lại một cách kỳ lạ vào nửa thế kỷ sau. Arthur MacArthur không biết hài hước “nhìn chung là khá sâu sắc với tâm lý người dân; nhưng thiếu lịch thiệp, thiếu để ý đến quan điểm bất kỳ ai với điều kiện thực tế dù đó là thường dân và chỉ ở đó trong một thời gian ngắn”. Ông ta là một người, như Taft nghĩ, nhanh chóng đưa ra một bài thuyết nhưng ít chịu lắng nghe. Bởi Taft không chỉ là người được Tổng thống Hoa Kỳ bổ nhiệm mà còn là bạn bè thân cận của ngài, nên thái độ quá nóng nảy của MacArthur thật quả là có tầm nhìn ngắn và tự hủy hoại mình. Trong quá trình cự nhau với Taft – người thực sự quan trọng trong cuộc chiến dành quyền lực giữa hai nhân vật quân sự, dân sự, MacArthur đã khá vô cớ đụng chạm với bốn tên tuổi lừng lẫy của đảng Cộng hòa trong thời kỳ ấy: McKinley, Root, Teddy Roosevelt – ông này liên doanh tranh cử với McKinley trong năm 1900 (và sau này kế vị khi McKinley bị ám sát), và chính Taft – toàn quyền Philippin năm 1902, sau này là bộ trưởng Bộ chiến tranh trước khi thành tổng thống vào năm 1908. MacArthur dai dẳng chống đối Taft trong 13 tháng trước khi ông này được gọi về nước. Công việc ở Manila chính là phép thử cho vị trí cao nhất trong sự nghiệp của ông. Tám năm sau ngày được gọi về, ông thắng cử tổng thống, và khi ấy, MacArthur nhanh chóng mất vị trí. Nhưng vẫn chưa hết. Dù được phong trung tướng, hàm cao nhất trong lục quân thời bấy giờ, nhưng MacArthur không bao giờ được giữ chức tham mưu trưởng Lục quân, vị trí mà ông muốn hơn tất cả mọi thứ. Dù có thành tích cực kỳ ấn tượng, Arthur MacArthur phải kết thúc sự nghiệp và sống trong niềm chua xót, sự giận dữ dai dẳng đã thành một thứ vi trùng hủy hoại ông. Trong những năm ấy, như William Manchester viết, ông đã gieo một hạt giống kinh khủng về xung đột giữa nhà cầm quyền dân sự và cánh quân nhân vào trong đầu chính con ông: “hạt giống ấy cần thời gian rất dài để nở hoa – nửa thế kỷ – nhưng rốt cuộc quả của nó thật là khác thường”. Những ai sau này có biết về câu chuyện của Arthur MacArthur và cách đối xử tệ của ông với Taft (sau này là Tổng thống) thì sẽ biết được hiểu nhiều về cuộc xung đột giữa Douglas MacArthur với tổng thống của ông, Harry Truman, một thứ chú thích lạ kỳ cho sự kiện trong tương lại – lịch sử không mấy khi lặp lại những gì đã qua. Arthur MacArthur chỉ sống thêm ba năm sau khi ông bị truất quyền vào năm 1909. Người thực sự giữ lửa, giữ cho huyền thoại về ông sống mãi, chính là bà góa phụ Pinky MacArthur. Ngọn lửa trong bà phải được truyền cho người con, cậu trai Douglas, để rửa thù cho danh dự gia đình. “Con phải lớn lên thành một người vĩ đại” bà thường bảo con “như cha con” hoặc nói thêm “như Robert E.Lee”. Điều này khiến cho sự nghiệp của Douglas không chỉ phải ngang bằng với người cha còn phải có thành tích vượt bậc, làm cho bà trở thành một người mẹ thành công. Rốt cuộc khi ông ta được làm tham mưu trưởng lục quân, vị trí mà cha ông đã không đạt được, bà nói: “ Giá mà cha con còn sống để thấy con như bây giờ! Douglas, con là tất cả những gì ông ấy muốn”.

Hết chương 7


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Một, 2013, 05:19:31 pm
Chương 8

Thật lạ kỳ khi một phụ nữ sinh ra ở thế kỷ trước, 98 năm trước khi cuộc chiến Triều Tiên bắt đầu, và đã chết cách một thập kỷ rưỡi trước năm 1950 lại có ảnh hưởng sâu sắc đến một cuộc chiến diễn ra vào giữa thế kỷ hai mươi. Không thể hiểu được Douglas MacArthur nếu không hiểu không chỉ cha ông mà còn cả mẹ ông nữa. Hơn bất kỳ nhân vật nào cùng thời, kể cả Franklin Roosevelt, ông này cũng có một bà mẹ độc đoán, Douglas MacArthur thật sự là một đứa con ngoan của mẹ. Dù có vinh danh với Huân chương Danh dự vì đã dũng cảm đối mặt với lửa đạn quân thù, hay dù cận kề với thất bại, thì rốt cuộc Douglas MacArthur vẫn là một cậu con ngoan. Không có mấy anh hùng trong quân đội Hoa Kỳ khi rời nhà đến học West Point thì mẹ họ phải cùng ly hương để đến sống trong thị trấn nhỏ Hudson. Bà Pinky MacArthur thuê một phòng ở khách sạn địa phương tốt nhất, khách sạn Craney, để trông chừng Douglas trong suốt bốn năm ở học viện quân sự, vì sợ ông quên mất kỳ vọng của bà và rơi xuống cấp người thường. West Point là học viện nghiêm khắc bậc nhất Mỹ, nhưng bà Pinky MacArthur vẫn ở đó phòng khi nhỡ những giáo viên đương thời ở học viện bỏ qua chút tý hoặc không nhận định đúng  về cậu thanh niên tuyệt vời mà bà đã mang đến cho họ.

(http://tieungoclang.files.wordpress.com/2012/12/macarthurandmom.jpg?w=625)
Bà Pinky MacArthur và con: Douglas MacArthur

Pinky MacArthur không chỉ là kiến trúc sư chính cho sự nghiệp của Douglas MacArthur mà còn quan trọng hơn, tác động lên tinh thần ông, tạo dựng nên một con người vị kỷ vô song mà điều này đã làm lu mờ và có khi hạ thấp mất phẩm chất thông minh tột đỉnh của ông. Những gì bà đã làm tạo ra một con người tài năng, tận tụy để chiến đấu, để chống đối trong suốt bốn thập kỷ. Theo ngôn ngữ đương thời thì bà là một stage-mother (* mẹ của diễn viên), một phụ nữ đầy nghị lực và tham vọng, vì thiếu chỗ bộc phát nên đã truyền nó cho người con và tham vọng ấy sống bằng những thành công của cậu con. Sự nghiệp của bà, một người thích địa vị đẳng cấp thế giới, chính là cậu con. MacArthur thăng tiến là bà thăng tiến, ông chinh phục những thử thách khó khăn, chính là bà chinh phục, ông được vinh danh cũng chính bà được vinh dự. Ông ta phải vươn đến không chỉ thành công mà còn phải là thành công vượt hơn mọi người khác. Để thành công đơn giản là bạn không thể theo suy nghĩ của ai khác, nếu bạn thế, bạn có thể bị họ kéo xuống.

Bằng cách đó, mẹ ông ta đã làm ông trở thành một người vị kỷ nhất và như vậy, tự cách ly mọi người. Ngay từ đầu Douglas là một thanh niên xa cách với các mối quan hệ đồng tuế. Với học viên West Point, cưới hỏi là dịp để gần gũi nhau nhất, để thể hiện mối quan hệ bền chắc giữa chú rể và bạn học – nhưng đám cưới của Douglas với vợ đầu thì lại nổi tiếng ở điểm thiếu bạn bè và đồng nghiệp. Chỉ duy nhất một người bạn đúng nghĩa có mặt. Nhiều năm sau, khi kết thúc sự nghiệp, ông cũng rất xa cách với các sỹ quan khác, trừ ban tham mưu của ông – mà ai cũng biết là nịnh hót. Ông là người không thể có tình bạn đồng tuế chân thật, bởi một phần không nhỏ là do ngay trong suy nghĩ, ông không có ai ngang hàng mình.

Pinky MacArthur khá thận trọng khi đưa Douglas đi báo thù không chỉ cho những điều  sai trái cha mình phải gánh mà còn với những ai đã cạnh tranh với ông ta. Bà đã dựng lên một con người thông minh, một tài năng vượt trội mọi người khác – một loại thiên tài quân sự hoặc là quái vật dưới lốt người, một người không bao giờ sai lầm. Không bao giờ. Ông không bao giờ được sai lầm, được thất bại. Ông là một tài năng siêu phàm, nhưng, theo một cách kinh khủng, không hoàn chỉnh. Có lẽ trận chiến lớn nhất, lúc chiến tranh Triều Tiên nổ ra, không phải là MacArthur chống Truman hay MacArthur đánh Trung quốc mà chính là MacArthur chống MacArthur – phần nào bên trong ông mạnh hơn, phần thông thái, năng động và táo bạo hay phần tự phụ, ích kỷ và kiêu căng. Cây bút Cole Kingseed, giáo sư lịch sử quân sự West Point, trong một bài viết về Oliver Cromwell – vị tướng Thanh giáo thế kỷ 17, đã cho rằng MacArthur ngang bằng với Cromwell, không rõ đó là một người tốt hay một quái vật lốt người: là một “kẻ xấu vĩ đại”.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Một, 2013, 05:32:04 pm
Còn nhiều thứ khác do bà Pinky mang lại. Từ bà, Douglas đã học được sự cần thiết phải hoàn hảo hoặc dường như hoàn hảo, để che đậy bất kỳ dấu hiệu nào của sự nhu nhược, yếu đuối. Có lẽ hơn hết thảy, bà không cho ông ấy chấp nhận sai sót. Từ sự cần thiết phải hoàn hảo chắc chắn sẽ đi đến hoang tưởng, đa nghi. Nhân dân, theo như ông nghĩ, luôn muốn có ông. Họ có thể làm điều này với ông bằng cách nào – luôn là từ “họ”, kể từ thời trai trẻ ở sở chỉ huy tại Pháp đến khi là nhân vật cao cấp tại Washington. Ông sống trong một thế giới chỉ có một ký ức, thế giới của riêng ông và các cận thần, thế giới của thành công cá nhân, của những việc làm hoàn hảo. Nếu có gì sai thì là do ai đó, chắc là kẻ thù, chứ không phải từ thiếu sót của ông. Về việc thiếu chuẩn bị của những đơn vị Mỹ đầu tiên tham chiến ở Triều Tiên, sau này ông viết rằng: “Tôi đã tự hỏi mình sao Hoa Kỳ lại có thể để cho tình trạng đáng trách đó xảy ra? Tôi nhớ lại lúc ấy, chỉ trước một thời gian ngắn thôi, quốc gia của chúng ta đã có năng lực quân sự mạnh mẽ hơn bất kỳ nước nào trên thế giới. Nhưng chỉ ngắn ngủi sau năm năm, năng lực đó lại bị mất đi sự lãnh đạo dũng cảm, vững vàng với các vấn đề ở phương xa”. Dĩ nhiên, ông không hề nhắc gì tới việc chính ông là người giúp đẩy nhanh công tác giải ngũ quân nhân bằng thông báo của riêng mình rằng ông cần không tới một nửa số quân dưới quyền tại Nhật; ông cũng không đá động tới việc những người lính đầu tiên đưa đến Triều Tiên trong nhiệm vụ đồn trú đã được chuẩn bị rất tệ và trực tiếp dưới quyền ông; rằng ông chẳng mấy khi quan tâm đến họ ngoại trừ trong các trận đấu bóng quân đội; rằng; cũng như đất nước, ông về bản chất đang sống trong thời bình.

Trở lại quá khứ, Marry Pinckney Hardy là một người đẹp phương Nam. Con gái của một nhà buôn vải bông ở Norfolk, Vigirnia, bà gặp Arthur MacArthur ở New Orleans trong lễ Mardi Gras (*) và họ cưới nhau vào năm 1873, chỉ tám năm sau ngày kết thúc cuộc nội chiến Mỹ đẫm máu, khi cảm xúc và thiên kiến về nó vẫn còn rất cao. Hai người anh của bà vốn chiến đấu cho phe miền Nam đã từ chối dự lễ cưới. Cuộc sống hôn nhân của bà thật không dễ dàng. Bà sinh ra trong nhung lụa, nhưng rồi cô gái vừa bước vào đời ấy, không biết là tốt hay xấu, phải sống một cuộc sống khắc nghiệt, luôn phải di chuyển từ căn cứ này sang căn cứ khác, trở thành một nữ công binh một cách vô thức, thường ở những vùng hoang vu thuộc miền Tây và Tây Nam với những tiện nghi tối thiểu. Với gia cảnh giàu có thì những gì bà đang trải qua thật khó tưởng tượng. William Manchester gọi đó là “một cống phẩm cho sự dũng cảm của bà và có lẽ cho sức mạnh của kỷ luật xã hội”

(*) Lễ Mardi Gras tạm dịch là lễ thứ ba béo theo lịch phụng vụ của Giáo Hội Công Giáo, Mùa Chay Thánh bắt đầu bằng THỨ TƯ LỄ TRO, ngày khởi đầu cho Mùa Chay kéo dài 40 ngày tính đến ngày Thứ Tư Tuần Thánh. Ngày “Mardi gras” tuyệt nhiên không phải là một ngày lễ của Giáo Hội Công Giáo, mà chỉ do truyền thống lâu đời xuất phát từ các nước phương Tây theo đạo Thiên Chúa Giáo. Đa số người Âu Mỹ thường có lệ tích trữ lương thực thực phẩm trong gia đình để dùng nhiều ngày, nên thường mang tất cả các loại thực phẩm này ra dùng trong ngày Thứ Ba, ngay trước ngày Thứ Tư Lễ Tro, nên thường được gọi là “MARDI GRAS hay THỨ BA BÉO”. Dần dần sau này, “MARDI GRAS” biến thái theo thời gian tùy theo phong tục địa phương để trở thành Lễ hội với những cuộc diễu hành rầm rộ linh đình, tiệc tùng vui chơi. Riêng Tiểu bang New Orleans của Mỹ, Lễ hội MARDI GRAS được tiếp tục tổ chức hằng năm rất lớn  với nhiều hoạt động như âm nhạc, diễu hành v.v…. và được xếp là một lễ lớn ở New Orleans


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Một, 2013, 05:36:09 pm
Người con trai cả của bà, Arthur MacArthur III, vào lính Hải quân và chết trẻ vào năm 1923; người kế tiếp Malcolm chết vì bệnh sởi lúc lên năm. Douglas sinh vào năm 1880 ở Fort Dodge, Arkansas sau này là Little Rock. Không rõ là cái chết của người con thứ hai đã ảnh hưởng mạnh mẽ lên tình cảm của Pinky MacArthur dành cho người con thứ ba, cũng là con út đến mức nào, không ai biết được; nhưng chắc chắn là không nhỏ; và bà đã dành nghị lực phi thường cho cậu út, ông là niềm hi vọng cuối cùng. Nếu người cha, vị anh hùng quốc gia mười bảy năm trước khi Douglas ra đời, là một thần tượng lý tưởng để ông noi theo, một huyền thoại sống, thì mẹ ông chính là một huấn luyện viên nghiêm khắc, luôn nhắc ông về những thành tích của cha để ông hướng đến. Vào cái ngày Quốc Hội Nhật thông qua đạo luật cải cách trong thời kỳ ông là nhà-cai-trị-không-chính-thống ở đó, ông ngồi chìm sâu vào trong ghế như thể hướng về thiên cung, nhưng thực chất là nhìn lên bức ảnh cha mình, và nói : “Con sẽ phải làm gì đây, hả Bố?”, cha ông, đã không thành công trong việc cải cách đất nước Philippin.

Pinky MacArthur muốn ông vào trường West Point, rất đáng ngạc nhiên rằng dù gia đình có những mối quan hệ chính trị nhưng ông rất khó khăn để được vào. Rốt cuộc, bà phải đưa cả nhà đến một Hạt mà nghị viên ở đó là bạn của ông nội Douglas. Nhưng các khó khăn vẫn tiếp diễn: ông không qua được kỳ kiểm tra thể chất bởi bệnh vẹo cột sống; mẹ ông phải tìm một bác sỹ để chữa. Rồi ngài nghị viên cũng bị áp đảo bởi những người nộp đơn với các mối quan hệ lớn, ông tổ chức một kỳ thi đặc biệt, ngay lập tức bà Arthur thuê một thầy hiệu trưởng trường cấp ba dạy kèm cho cậu trai Douglas. Đêm trước ngày thi, Douglas bồn chồn lo lắng, hầu như không ngủ được. Lựa lúc, người mẹ đã động viên con: “Doug à, con sẽ thắng nếu con đừng có lo lắng quá. Con phải tự tin, con trai của mẹ, nếu không thì chẳng còn ai tin con nữa. Hãy tự tin, vững vàng và dù có không như vậy con cũng sẽ làm tốt nhất những gì con có thể. Làm đi con”. Có mười ba cậu trai dự thi. MacArthur đạt điểm 99,3; người hạng nhì chỉ có 77,9 điểm.

Ông học xuất sắc ở West Point. Đứng đầu lớp, dĩ nhiên, đúng như mong đợi. Trong lịch sử trường, kết quả học tập của ông nằm trong top ba người cao nhất được ghi nhận, và hai người đứng trên có một người là người hùng của Pinky, tướng Robert E. Lee (*). Douglas đã hoàn thành tốt nhiệm vụ trong thế chiến I, được cấp trên ghi nhận (bảy huy chương Sao bạc, và chắc sẽ được Huân chương Vinh dự), và được thừa nhận khả năng chỉ huy xuất sắc ở sư đoàn 42 hay còn gọi là sư đoàn Cầu vồng, nơi ông sau rốt cũng nắm quyền chỉ huy, sư đoàn trưởng trẻ nhất trong thế chiến I, một sự nghiệp thành công mau lẹ, nhưng không bao giờ là đủ. Bà Pinky MacArthur luôn nhắc ông rằng còn nhiều điều để chinh phục, và nhỡ có ai khác không nhận thức được về khả năng siêu hạng của ông thì vẫn còn bà sẽ quảng bá ra. Thư bà viết cho các thượng cấp của Douglas đầy bẽn lẽn nhưng lôi cuốn, cũng đầy tâng bốc người nhận, nhắc với họ không chỉ những thành tích của con mình ở Pháp mà còn, dĩ nhiên, kết quả học tập lúc ở West Point, vết tích làm việc của người đẹp phương Nam. Trong suốt thế chiến I, bà cho là Douglas ở quân hàm đại tá quá lâu, nên bà đã viết thư cho Bộ trưởng bộ Chiến Tranh Newton Baker để đề xuất thăng tướng cho con: “Sỹ quan này sẽ là một công cụ trong tay ngài để làm những việc lớn nếu ngài dùng …. Cháu là một sỹ quan tận tụy và trung thành và tôi giới thiệu cháu với sự cân nhắc kỹ lưỡng, tôi tin cháu sẽ còn tiến bộ trong công tác – không chỉ vì lợi ích cá nhân cháu – mà còn trong một khung cảnh rộng hơn, vì quyền lợi của tổ quốc của chúng ta trong những thời điểm thử thách”. Baker không trả lời thư, nhưng bà Pinky không thoái chí. Tám tháng sau, bà lại viết thư cho ông nữa: “Tôi mạn phép tiếp tục gửi thêm ngài vài dòng, xin gửi đến ngài vài tâm tình nhỏ từ California và có liên quan đến con tôi, Douglas, ước ao lớn nhất trong tôi là mong ngài có thể tặng cho cháu một ngôi sao cấp tướng…. Xét đến thực tế công việc mà cháu đã hoàn tất với nhiệt tình, phẩm giá, và sự nổi bật trong hoạt động chiến đấu của mình, tôi tin rằng trong quân đội hiện nay, với chút ít biệt lệ, sẽ ủng hộ ngài chọn cháu làm một trong các tướng quân của ngài”

(*)Robert E. Lee là một vị tướng tài, tổng tư lệnh quân đội miền Nam thời nội chiến


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Một, 2013, 05:41:04 pm
Baker nhanh chóng chuyền bóng sang tướng John J. (Black Jack) Pershing. Giờ bà ta có Pershing trong tầm ngắm – vị này trước là một đại úy trẻ ở Philippin lúc Arthur MacArthur – một thiếu tướng – làm bạn với ông. Ngay lập tức Pershing nhận được ngay thứ bà ta gọi là “một bức tâm thư nhỏ, bạo gan gửi đến ngài bởi nhớ đến tình bạn cũ với ngài và người chồng quá cố rất ngưỡng mộ ngài… Tôi và ngài Bộ trưởng Bộ Chiến tranh cùng gia đình ngài khá thân thiết, ngài bộ trưởng cũng rất gắn bó và hiểu đại tá Douglas khá rõ”. Dĩ nhiên là thư từ không kết thúc khi MacArthur rốt cuộc cũng được thăng tướng vào năm 1917. Người mẹ lại tăng áp lực làm việc trong tiến trình đó, bởi ông dừng ở vị trí thiếu tướng năm năm – theo góc nhìn của bà mẹ thì quá lâu – bà bắt đầu một chiến dịch mới để ông con có ngôi sao cấp tướng thứ hai, lần chiến dịch này có thêm Loius – vợ đầu của ông ta – cùng tham gia. Louis MacArthur thuê một cựu sỹ quan của sư đoàn Cầu vồng, lúc này ông ta là một luật sư có nhiều mối quan hệ ở Washington, để vận động. (“Tôi không quan tâm tới chi phí. Hãy làm đi và gửi hóa đơn cho riêng tôi. Đừng nói với Douglas”). Cánh vận động đã sắp xếp cho một nhóm các đại tá thuộc sư đoàn của MacArthur đến gặp bộ trưởng bộ Chiến tranh, John Weeks, ông này bảo họ là MacArthur còn quá trẻ. Lúc nghe lại những gì Weeks nói, MacArthur càu nhàu rằng quá trẻ ư, vậy sao Thành Cát Tư Hãn lại lãnh đạo bộ tộc lúc mười ba tuổi, còn Napoleon nắm quân đội năm hai mươi sáu tuổi.

Khi ông về quản lý học viện West Point, thì mẹ ông làm gia chủ của ông. Với lần cưới vợ đầu – một phụ nữ li dị chồng hấp dẫn – mẹ ông không chấp nhận, một tín hiệu cảnh báo rằng ông nên chú ý đến mẹ trước rồi mới đến vợ. Đó là một động thái bà sẽ làm và làm lại mỗi khi thấy con mình có dấu hiệu tuột khỏi tầm kiểm soát. Lẽ dĩ nhiên là bà không tham dự lễ cưới. Và cũng không ai ngạc nhiên khi cuộc hôn nhân đầu không dài lâu, khi ông lên làm Tham mưu trưởng lục quân, mẹ ông, một lần nữa, trở lại vị trí nữ chủ nhân gia đình, và ông, mỗi ngày đều về nhà ăn tối. Cuộc hôn nhân thứ hai, ổn thỏa, bởi chính Pinky MacArthur đã tự tay chọn Jean Faircloth cho con, và cũng bởi bà MacArthur đệ nhị này là một người đẹp miền Nam, sùng kính, thần tượng ông, chịu đóng vai trò của một tướng quân phu nhân, lúc ở ngoài thì gọi ông là “tướng quân” còn chốn riêng tư thì là “Ông chủ”.

Bà Pinky MacArthur dạy rằng tầm quan trọng của thành công vượt trên tất cả mọi thứ khác, là thừa nhận tất cả những hi sinh khác, đặc biệt nhất là của bà, và rằng thành công ở mức độ cá nhân luôn có thể được xem là tốt cho tổ quốc – đó là một phần trong câu thần chú của bà, trong tất cả những lá thư xu nịnh gửi cho thượng cấp: điều tốt đẹp cho Douglas macArthur và cho đất nước là một là đồng nhất. Vì vậy tạo vật của bà, Douglas, ông khác với những vị tướng cùng thời, kể cả những người vị kỷ nhất như George Patton. Ngoài ra, quân đội, dù có khó khăn trong thời bình hay thời chiến, cũng là nơi tạo ra những mối quan hệ chiến hữu bền chắc khác thường giữa những con người bên nhau từ lúc trẻ và cùng nhau vượt qua những quảng đường sự nghiệp khó khăn, lâu dài, đôi khi vô vị. Nhưng MacArthur không có những mối quan hệ đó, không có tình bạn cả đời. Ông trải qua một sự nghiệp sáng chói, nhưng không có ai là bạn thực thụ. Trong quân đội luôn cần phải có sự cân bằng giữa nghĩa vụ, lòng trung thành, tôn trọng tổ chức với sự cần thiết tuân thủ mệnh lệnh. Lòng trung thành có hai nghĩa; nó không chỉ nằm ở dưới sự tuân phục mệnh lệnh mà còn là việc nhớ ơn thượng cấp. Nhưng ở đây Douglas MacArthur, cũng như cha ông trước kia, không qua được bài thử quan trọng này.

(hết chương 8 )


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Một, 2013, 05:47:50 pm
Chương 9

Lúc bắt đầu cuộc chiến Triều Tiên, MacArthur vẫn là một tượng đài cao ngất trong nước cả về mặt quân sự lẫn chính trị, ông cũng là một biểu tượng của quốc gia, dù Washington có thích hay không, là mối liên kết cuối cùng còn sót của hai cuộc thế chiến. Biểu hiện cầm quân của ông ở Thái Bình Dương trong thế chiến II cũng được đánh giá là rất tài giỏi. Dù giai đoạn đầu của cuộc chiến, ông có vẻ như ở khúc quanh của sự nghiệp, điều này liên quan tới việc đánh giá thấp những khả năng của hàng không mẫu hạm và sức chiến đấu của lính Nhật (cũng như phi công Nhật). Khi máy bay Nhật đánh rất thành công vào không quân của ông trong những ngày đầu chiến cuộc, ông được thuyết phục – và điều ngày phản ánh cho chủ nghĩa phân biệt chủng tộc của cả cá nhân ông lẫn quốc gia – rằng những phi công địch hẳn phải là người da trắng !!! Ở giai đoạn trước ngày 7 tháng Mười hai đó, ông còn tuyên bố một cách tự tin rằng quân Nhật chẳng làm nên cơm cháo gì. Ví dụ, ông nói với John Hersey, khi đó là một phóng viên trẻ thông minh của tạp chí Time, rằng giả như Nhật tham chiến, thì quân Anh, Hà Lan, và Mỹ sẽ chặn đứng họ chỉ bằng một nửa số lực lượng hiện có ở Thái Bình Dương, và hạm đội Nhật sẽ bị kiềm chế một cách dễ dàng.

Nhưng rồi ông hiểu ra, tương đối sớm, một trong những sự thật chính về người Nhật kể cả về văn hóa lẫn quân lực – rằng một khi họ đã lên lịch, đã ra lệnh thì mọi thứ sẽ răm rắp theo kế hoạch, họ rất kinh khủng và cấu trúc chỉ huy của họ rất kín kẽ, gần như không thể đánh bại. Mọi thứ dường như làm y theo kế hoạch, mọi người tuân thủ mệnh lệnh một cách chính xác tuyệt đối; không cho phép sai sót. Nhưng nếu ngọn triều chiến cuộc đổi hướng; nếu người Nhật không còn sáng kiến, thì chính những sức mạnh đó sẽ chống lại họ. Họ trở nên cứng nhắc một cách đáng ngạc nhiên, họ tác chiến với quân thù theo cách như thể quân thù đó có cách hành động như quân Nhật. Bởi người Nhật quá tuân thủ tôn ti thứ bậc và xã hội quá độc đoán, nên có rất ít không gian cho phát kiến cá nhân, quân đội gần như hùng mạnh, nhưng lại thiếu một yếu tố quan trọng cần thiết cho cuộc chiến, đó là khả năng phản ứng lại những gì chưa được biết trước đó. Và như thế, họ nhanh chóng trở thành một thứ quân đội vai u thịt bắp “Đừng bao giờ để bọn Nhật tấn công ta. Khi quân Nhật có kế hoạch hợp kích, chúng sẽ làm rất tốt” MacArthur bảo sỹ quan của mình. Nhưng ông nói thêm: “khi chúng bị tấn công – thì chúng không biết điều gì đang xảy ra – không giống nhau”.

Ông khá nhanh chóng tương thích với hình thái chiến tranh mới. Nếu ông đã không hiểu được khả năng của không quân trong chiến tranh hiện đại, đã để máy bay của mình bị diệt ngay trên mặt đất ở Clark Field trong ngày 8 tháng Mười hai, thì ông cũng đã nhanh chóng học được và uốn nắn vấn đề. Một sỹ quan không quân trẻ trực tính, giỏi, tên George Kenney đã đứng cạnh ông cùng viên tham mưu trưởng hống hách Richard Sutherland, họ đã giúp ông nhận ra không quân có thể làm gì trên cái khu chiến rộng lớn này – đó là một vùng đại dương rộng lớn có dân cư ở những đảo rời rạc, và trong đó có một số cứ điểm mạnh của quân Nhật. Cùng kiến thức thực tế khá tốt của George Kenney về không quân là những ý tưởng sáng tạo độc đáo của Douglas, họ cùng nhau tạo ra một kế hoạch chiến tranh vắt cạn dần sức mạnh của quân Nhật. Lúc đầu tình thế tiến thoái lưỡng nan của MacArthur rất rõ ràng: lực lượng bộ chiến trong tay ông khá hạn chế, trong khi quân Nhật có khả năng chiến đấu tốt trong việc phòng thủ các đảo san hô; những nơi mà thế mạnh kỹ thuật của người Mỹ khó có thể áp dụng. Đáp án khôn ngoan cho tình thế lưỡng nan này là  tránh đối đầu ở những nơi quân Nhật mạnh, tập trung đánh những điểm đảo yếu nhất của họ ngay sau đó thiết lập các phi trường trên các đảo san hô để từ đó cho phép tấn công sâu vào vùng đất Nhật khống chế, chậm nhưng chắc chắn từng bước cắt đứt tuyến liên lạc và tiếp vận của quân địch.  Họ không mấy khi tấn công các cứ điểm mạnh của quân địch mà chỉ bỏ qua hoặc cô lập chúng. Khi Nhật có hơn một trăm nghìn quân ở Rabaul thuộc quần đảo Solomon, MacArthur đơn giản là tránh xa ra. “Bỏ đói Rabaul! Rừng hoang và đói khát! Chúng là bạn ta”. Đó là một cuộc chạy đua của các bên. John Gunther, một trong các nhà báo nổi tiếng nhất thời đó, người có vấn đề với mặt đen tối của MacArthur, cũng phải viết về ông trong chiến dịch đó rằng ”MacArthur chiếm được nhiều đất mà chỉ trả giá bằng rất ít sinh mạng hơn bất kỳ một vị tướng nào kể từ thời Darius Đại đế”


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Một, 2013, 05:55:17 pm
Nhưng đồng thời cũng có mặt khác trong con người MacArthur kém hấp dẫn hơn nhiều. Ngay cả từ thời Thế chiến I đã có những dấu hiệu nguy hiểm về cái tôi quá lớn của ông. Nhưng khi đó ông còn trẻ và còn phải thăng tiến, nên ông đủ khôn ngoan để che dấu điều đó trong hầu hết các cơ hội, chúng bị che sau đặc tính táo bạo trong chỉ huy và tốt bụng với binh lính. Thế nhưng đến Thế chiến II thì khác. Lúc này ông đã nổi tiếng; chính trị hóa và cái tôi của ông thường xuyên xung đột với các vấn đề quân sự thuần túy. Lúc này có nhiều kẻ thù hơn và chúng không nhất thiết là quân xâm lược trên chiến trường mà còn là những nhà hoạt động quân sự, dân sự ở Washington; và thêm vào đó, thực vậy, với sự nổi tiếng, cần phải có sự tin cậy nhiều hơn. Ngoài ra ông còn ít kiềm chế. Đến cuối Thế chiến II, phần giỏi giang trong ông không tăng nhiều để cân bằng với phần tiêu cực.

Ông là một con người đòi hỏi kẻ dưới quyền phải trung thành tuyệt đối, nhưng lại không chia sẽ sự tin cậy với ai. Ông không như Eisenhower-người thường cho sỹ quan dưới quyền được hưởng chút vinh quang. Tất cả thông điệp phát ra từ sở chỉ huy đều thự danh ông, và như vậy mọi câu chuyện, sự kiện từ Thái Bình Dương luôn có phần dưới thiệu là “Sở chỉ huy MacArthur”, ngụ ý rằng thông tin phát ra từ một sở chỉ huy chiến trường mà ở đó chỉ có một người đưa ra các quyết định thực chiến. Tất cả các thông báo chiến thắng ở Thái Bình Dương trong cả cuộc chiến đều mang tên ông. Như William Manchester đã nghiên cứu và nhận ra trong tất cả các thông tin phát ra từ khu chiến ở ba tháng đầu, có tới 109 trên 144 thông cáo báo chí không có nói đến tên một sỹ quan nào khác. Tướng Robert Eichelberger, một trong những sỹ quan cao cấp của MacArthur, có lần nói với viên sỹ quan phụ trách thông tin đối ngoại rằng cơ hội thấy một con rắn đuôi chuông nhỏ chui trong túi ông còn lớn hơn là thấy tên mình trong một thông cáo. Khi Eichelberger, một sỹ quan cực kỳ năng nổ và thông minh trong tập đoàn quân Tám của MacArthur, viết bài cho tạp chí The Saturday Evening Post và tạp chí Life, thời đó hai tạp chí này rất quan trọng, MacArthur đã không hài lòng. Ông gọi Eichelberger đến và bảo: “Anh có tin là trong nội nhật ngày mai tôi sẽ giáng anh xuống cấp đại tá và đưa về nước không hử?”. Lòng trung thành với ông ta chỉ có một chiều, và ông có thể rất bất trung với mọi tổng thống mà ông phục vụ, cả với các sỹ quan quân đội cao cấp ở Washington. Ngày qua ngày ông càng lún sâu vào chính trị, thường xuyên liên hệ làm việc với đảng Cộng Hòa (*). Ngay vào giữa lúc thế chiến đang ác liệt năm 1944, một MacArthur đầy tham vọng và căm ghét Franklin Roosevelt đã dường như xác định ông và tổng thống là kẻ thù chính trị không đội chung trời. Năm 1948, ông tham gia vào nỗ lực chiếm ghế tổng thống cho đảng Cộng hòa, nhưng thất bại thảm hại, rồi năm 1950, ông đang chỉ huy quân ở Triều Tiên lúc giữa chiến cuộc, ông vẫn nóng lòng trông về cuộc đua tranh cử tổng thống vào năm 1952, mà ông sẽ là một trong số các ứng viên của đảng Cộng hòa.

Cánh bảo thủ trong đảng Cộng Hòa nghĩ rằng ông thuộc cánh họ, rằng xu hướng chính trị của ông là bảo thủ, và rõ ràng không có gì đúng hơn; dù rằng ông đã dựng lên một chính quyền tự do một cách đáng ngạc nhiên ở Nhật. Theo thang đo chính trị Mỹ thời giữa thế kỷ XX thì ông bảo thủ hơn là tự do, thiên hướng chính trị và quan điểm của ông được nhìn nhận theo từng thời kỳ khác nhau. Nhưng với những ai biết rõ ông thì cho rằng hệ tư tưởng chính trị chỉ xếp hạng nhì trong ông, bởi, hơn tất cả mọi điều, ông sống trong vương quốc của riêng mình và vì vậy xu hướng chính trị của ông là chỉ là chính trị của chính ông.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Một, 2013, 05:59:40 pm
Minh chứng rõ ràng nhất cho việc ông đã nhúng sâu vào chính trị, cũng như thèm muốn có vị trí ở tầm quốc gia, chính là vai trò của ông trong công cuộc triệt hạ phong trào Bonus Army (tạm dịch là Bảo tức Quân) ở đầu thập kỷ 1930. Cuộc Đại Suy thoái đã thể hiện sự cách biệt sâu thẳm trong xã hội Mỹ, và sự xa lánh xã hội, kinh tế, chính trị lên ngôi (??? câu này không rõ nghĩa lắm :( , có thể dịch sai). Lúc này MacArthur là tham mưu trưởng Lục quân Mỹ, và ông đã ủng hộ nồng nhiệt không chỉ chính quyền Hoover mà còn với các chỉ thị kinh tế – chính trị, và thách thức mãnh liệt ở nhiều mặt trận. Không có gì ngạc nhiên khi ông chọn vị trí bên phía chính quyền và có lẽ là đó là điều không thể tránh được. Nhưng cái cách ông tự dấn mình vào tâm chấn vượt quá xa yêu cầu với vị trí công việc hiện tại; đã phản ánh cho thấy nhu cầu được vinh danh, được nổi tiếng của ông. Phong trào Bảo tức quân đến Washington, đó là một nhóm các cựu binh Thế chiến I nghèo túng, liều mạng tìm kiếm vài sự trợ giúp, tưởng thưởng cho họ vì đã phục vụ trong chiến tranh. Đó là năm 1932, lúc cuộc Đại Suy thoái đạt đỉnh. Và đây là thời điểm rất hạn chế về mặt chính trị của MacArthur; bất kể ông nổi tiếng hay được tôn vinh như thế nào ở vị trí tướng lãnh trong thế chiến II, thì vết nhơ về việc ông đã làm không bao giờ phai nhạt trong tâm trí của nhiều người dân Mỹ; những người lớn lên trong thời kỳ ấy.

Khi đó hàng triệu người Mỹ thất nghiệp và Bảo tức quân, hoặc Lực lượng viễn chinh bảo tức, như cách họ gọi phong trào của mình, là nhóm các cựu binh khố rách áo ôm được hạ nghị sỹ Wright Patman của bang Texas bảo trợ, mùa xuân năm ấy họ hi vọng sẽ vận động được một khoản trợ cấp. Khoản trợ cấp này chừng 1000 $ cho từng người như là một thứ bảo tức, vào thời ấy thì đó là một con số rất lớn. Nếu phục vụ trong thế chiến I sẽ được hỗ trợ, thưởng lợi tức với mức còn hơn tiền tử tuất của lính vào năm 1945 – hai mươi bảy năm sau khi kết thúc thế chiến I. Dự luật Patman được xây dựng để giải quyết vấn đề.

Có lẽ có chừng 30,000 người, đa số là cựu binh nhưng cũng có cả vợ và con họ, đã lập một làng tạm bất hợp pháp, một khu trại nhỏ thảm hại với lều, lán cạc tông ngay tại thủ đô, đa số nằm ở một khu gọi là Ancostia Flats ngay bên kia sông Ancostia, phía nam thành phố. Chỉ một số ít trong đó là các phần tử cực đoan, mà cho dù có kha khá cực đoan đi nữa thì cũng chẳng mấy ngạc nhiên vào thời ấy bởi ngày càng nhiều dân thường mất lòng tin vào chủ nghĩa tư bản kiểu truyền thống. Courtney Whitney, một trong các trợ tá thân cận của MacArthur, một phát ngôn viên của ông, sau này đã viết rằng cuộc tuần hành Bảo tức có “phần lớn là tội phạm, những người từng bị tống tù với hồ sơ tội phạm như giết người, ngộ sát, hiếp dâm, cướp giật, trộm cắp, tống tiền và ám sát” . Với MacArthur, họ không là gì cả nhưng lại là đám tiện dân chống Mỹ nguy hiểm. Trong khi Hội Cựu chiến binh, tổ chức có lưu trữ gần chính xác nhất, sau này thông báo rằng có 94% trong số họ thực sự là cựu binh, 67% từng phục vụ viễn chinh cho Hoa Kỳ. Với Dwight Eisenhower, khi đó là thiếu tá, một trợ tá trẻ tài năng của MacArthur, thì dù cuộc tuần hành là một nỗ lực sai lầm, nhưng ông cảm thấy họ cùng các yêu sách đều thật đáng thương tâm – “Họ rách rưới, đói ăn và tự cảm thấy bị đối xử tàn tệ”.

Rồi cuộc chiến chính trị ở hạ viện với dự luật của Patman nóng lên, con số của phong trào Bảo tức quân tiếp tục tăng vọt. Đến mùa hè, cảnh sát địa phương gặp vấn đề với khả năng có thể khống chế họ. Hoover, ông này bị đờ đẫn nặng bởi cuộc suy thoái, và trong thời kỳ mất ủng hộ từ người dân, đã bắt đầu lo lắng hơn với sự đe dọa từ yêu sách của cuộc tuần hành. Mùa hè năm ấy, dự luật Patman được Hạ viện thông qua, nhưng không vượt được Thượng viện. Đồng thời, có vài cuộc đụng độ nhỏ giữa các thành viên Bảo tức quân  và cảnh binh địa phương. Hoover cảm thấy đây là lúc để quét các cựu binh ra khỏi thành đô và muốn quân đội Mỹ làm việc đó. Trong cuộc gặp với các quan chức dân sự, quân sự cao cấp nhất, có cả MacArthur, các lãnh đạo của Bảo tức quân đề nghị cho phép họ hành quân rút đi theo đội hình thích hợp và với vài nghi thức phẩm giá, khi quân đội vào tiếp quản khu trại. MacArthur trả lời: “Ồ, dĩ nhiên rồi các bạn”.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Một, 2013, 06:09:10 pm
Đến ngày 28 tháng 7, tình huống trở nên căng thẳng khi có vài cuộc hỗn chiến với những người tuần hành. Hoover tự tay ra lịnh phải dẹp cuộc kháng nghị. Khi đó Eisehower, vì không muốn quân đội quá liên đới tới sự kiện tồi tệ chắc chắn sẽ xảy ra, ngay cả khi được điều khiển thận trọng, một sự kiện chính trị tởm lợm, nên cố giữ MacArthur tránh ra xa. Một thiếu tướng, tên Perry Miles, một sỹ quan rất có năng lực, lãnh quân. Và thiếu tá thiết giáp trẻ George Patton Jr. chịu tránh nhiệm phụ trách xe tăng, một hình thức cảnh cáo với Bảo tức quân nếu họ có ý định kháng cự. Eisenhower thất kinh khi biết MacArthur định có mặt tại chỗ để tự thân chỉ huy các lực lượng đàn áp. Sáng đó cả ông và MacArthur đến văn phòng trong bộ thường phục. MacArthur bảo Eisenhower quay về nhà để mặc quân phục và đồng thời lịnh cho người chuẩn bị quân phục cho cả ông ta – với đầy đủ huân huy chương. Eisenhower dũng cảm tranh luận rằng đây là một sai lầm, một thứ sẽ bốc mùi thối inh, và thậm chí có thể làm tổn hại đến quân đội (“tôi nói thật là điên khùng và ông ta không có việc gì phải ra chỗ đó. Tôi nói ổng là không cần một tham mưu trưởng lục quân cho việc ấy” sau này Eisenhower kể lại). Vị tham mưu trưởng lục quân, người thường tự nói về mình ở ngôi thứ ba, trả lời “MacArthur quyết định sẽ đến vị trí chỉ huy thực địa”. Rồi ông nói thêm “Có hơi hớm của một cuộc nổi loạn”. Eisenhower đề nghị rằng hay là họ chỉ nên đến xem thôi và ít ra là không cần đóng quân phục, nhưng MacArthur bác bỏ đề nghị này.

(http://tieungoclang.files.wordpress.com/2012/12/bonusarmycamp.jpg?w=625&h=503)
Khu trại của phong trào Bảo tức quân

(http://tieungoclang.files.wordpress.com/2012/12/bonusarmyvspolice.jpg?w=625)
Bảo tức quân đụng độ với cảnh sát

Thế rồi họ mặc quân phục nghiêm chỉnh đến gặp Bảo tức quân. Lệnh từ Bộ trưởng Bộ Lục quân khá rõ ràng. Hoover muốn những người tuần hành phải được chế ngự, nhưng không muốn có sự hỗn loạn. Việc đàn áp những người kháng nghị càng thận trọng càng tốt. Quân đội không được vượt qua sông hoặc đến sát trại lớn nhất của cánh cựu binh vốn ở bên kia sông. Sau này Eisenhower thuật lại rằng ông có báo cho MacArthur biết là có một liên lạc viên mang theo lệnh từ tổng thống. MacArthur trả lời “Tôi không muốn nghe, không muốn thấy. Đưa người ấy đi chỗ khác”. Ông ta quyết định không nhận thông điệp, như vậy không cần phải tuân thủ lệnh và rồi sẽ không có giới hạn cho hành động của ông. Phải vượt sông và phá hủy khu trại.

(http://tieungoclang.files.wordpress.com/2012/12/tanks-and-calvary-prepare-to-attack-bonus-army.jpg?w=625)
Kỵ binh và xe tăng chuẩn bị tấn công Bảo tức quân

Khung cảnh quanh họ nhanh chóng trở nên tệ hại. Những căn lán nhỏ tồi tàn của các cựu binh bốc cháy. Eisenhower biết đây có thể là một hình ảnh truyền thông đầy cảm xúc nên cố đưa MacArthur ra xa. Ông tin rằng, đây là một vấn đề dân sự và cần cách giải quyết dân sự; hãy để cho cánh dân sự lãnh trách nhiệm và chịu nhiệt. Nhưng Eisenhower có lẽ gặp phải một con thiêu thân muốn ở quanh ngọn lửa. Như thể MacArthur cần phải ở trung tâm của sự kiện. Ông ta thận trọng tổ chức một cuộc họp báo vào tối muộn hôm ấy, và ở đó, dù đã vượt quá giới hạn lệnh của Hoover (và tạo ra một cuộc khủng hoảng chính trị, góp phần rất lớn giúp cho ứng viên đảng Dân chủ Franklin Roosevelt thắng trong cuộc bầu cử sắp đến), ông vẫn tán dương Hoover đã rất kiên định: “Nếu ông ấy chỉ chậm thêm một tuần nữa thôi thì tôi tin rằng thể chế của chính phủ chúng ta sẽ bị đe dọa”. Đó là cách MacArthur đưa Hoover vào thế việc đã rồi. Vị tổng thống không thể tỏ ý kiến bất đồng trước một việc mà dường như đã được làm theo lịnh của mình. Đó là khoản khắc phá hoại sự nghiệp chính trị của Hoover. Không ai nhận biết rõ điều đó hơn Franklin Roosevelt, ông tin chắc việc này sẽ định đoạt kết quả bầu cử.

(http://tieungoclang.files.wordpress.com/2012/12/bonusarmymeeting.jpg?w=625)

Với hàng triệu thường dân Mỹ đồng cảm với cuộc tuần hành, thì đó là một thời khắc định mệnh, MacArthur đã vĩnh viễn tồn tại trong tâm trí họ với góc độ một quân nhân đã sỉ nhục quyền của thường dân, một người sẽ không bao giờ được tin cậy về mặt chính trị và rất quân phiệt. Tuy vậy, bằng cách đó, ông ta đã có được thứ mình muốn, những hành động trong ngày ấy đã giúp ông kết nối chặt chẽ hơn với cánh hữu – vốn xem phong trào Bảo tức quân như là một mối đe dọa lớn với chủ nghĩa tư bản. Ông biến mình thành một nhân vật được ưa thích với các nhóm cử tri bực bội với các phát kiến được đưa ra trong chính sách kinh tế mới (New Deal). Ông đã chính trị hóa mình hơn bất kỳ vị tướng nào có thể, ông tách khỏi cánh chính trị gia đang lên và cột chặt mình vào nhóm đang suy sụp.

Khung cảnh chung quanh của sự kiện hôm đó giúp hiểu biết thêm về hai sỹ quan Lục quân, những người đóng vai trò trung tâm của nước Mỹ trong tương lai: một Eisenhower với cảm xúc mềm dẻo về các hệ quả chính trị, có kỹ xảo chính trị bẩm sinh và đồng cảm với các khó khăn của thường dân; và một MacArthur với tuyên bố rằng đó là thời khắc cốt lõi đe dọa nền kinh tế mệnh lệnh hiện tại, và quan trọng hơn, là nhu cầu được đứng giữa trung tâm sân khấu, trang hoàng với quân phục nghiêm chỉnh đầy đủ huân chương, và nhận sự chú ý hết mực của toàn thể giới báo chí.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Một, 2013, 06:17:44 pm
Cảm nhận của cá nhân MacArthur về đất nước dường như thường bị thiên lệch nặng, đặc biệt khi ông già đi, còn đất nước theo đà tiến vũ bão của kỹ thuật, đã thay đổi rất nhanh. Về bản chất, ông là một con người của thế kỷ mười chín, ông thích hợp với những thứ của thế kỷ cũ mang sang hơn những điều mới lạ của một thời kỳ được cấu thành từ các lực lượng chính trị mới, biến đổi và dân chủ hóa bởi sự thay đổi kịch tính của nền kinh tế và các phương thức truyền thông. Không ngạc nhiên khi ông bất đồng ý kiến với đa số những thay đổi chính trị ở Washington. Nhưng với ông, mọi thứ còn mang màu sắc cá nhân; những ai đến cùng chính sách Kinh tế mới (New Deal) không chỉ khác với những người tiền nhiệm, mà còn là kẻ thù, là những kẻ tiếm quyền; có một phần không nhỏ là do ảnh hưởng của ông lên họ không còn được như với những người tiền nhiệm. Ông nhìn nhận hai vị Tổng thống của đảng Dân chủ mà ông phục vụ dưới quyền, không gì khác hơn là độc dược. Điều này đặc biệt đúng với Roosevelt, một con người thông minh và xảo quyệt, ông này đã xoay sở dùng vị tướng ấy với một kỹ thuật khác thường, rất kích thích – thứ kích thích của một tay chơi cổ điển cuối cùng phải mắc mưu người còn giỏi hơn. (Roosevelt xem MacArthur như một tay khuyển nho độc nhất vô nhị. Ông dùng nhưng không tin. Có lần vị tổng thống nói với trợ lý của ông – Rexford Tugwell, rằng Huey Long là một trong hai con người nguy hiểm nhất đất nước. Ai là người còn lại, Tugwell hỏi, là Cha Coughlin, một thầy tu bốc hỏa? “Ồ không” Roosevelt trả lời “người kia chính là Douglas MacArthur”).

Trong suốt Thế chiến II, ông và Roosevelt đã chơi những trò phức tạp nhất, một chính trị gia có năng khiếu tột bậc đấu với một tướng quân cũng xuất sắc cực kỳ nhưng đối nghịch. Có lần Roosevelt đã nói với viên tướng – đây là vài điều mà MacArthur thích nhắc lại như thể để cho thấy ông không có tham vọng chính trị – “Douglas, tôi nghĩ anh là vị tướng giỏi nhất của chúng tôi, nhưng tôi tin anh sẽ là một chính trị gia tồi nhất”. Roosevelt, một con người quý phái nhưng cực kỳ ranh ma, xem MacArthur như một con diều hâu. Roosevelt hiểu ông ta (và tham vọng cháy bỏng làm tổng thống của ông) nhiều hơn MacArthur hiểu về Roosevelt. Vị tổng thống không bao giờ nghĩ viên tướng ấy là một mối đe dọa chính trị nghiêm trọng – ông ta không có mấy quan hệ với cử tri thông thường – nhưng trong mọi trường hợp, ông vẫn lưu trữ một báo cáo của MacArthur trước khi thế chiến II nổ ra rằng ông ta khăng khăng có thể giữ được Philippine và những cứ điểm quan trọng trên Thái Bình Dương bởi “quân địch không có khả năng tấn công bằng không quân đến các đảo của chúng ta” ngoài ra còn có tài liệu về cách điều quân rối mù của MacArthur ở Philippine trong đó có việc để máy bay ngay ngoài trời ở căn cứ Clark cả 9 giờ sau khi sở chỉ huy của ông đã biết được tin quân Nhật tấn công Trân Châu Cảng, và như vậy làm thành mồi ngon cho máy bay Nhật.

Khó có sự tin cậy lẫn nhau trong mối quan hệ này. MacArthur, người luôn nắm giữ các kỷ lục, cảm giác rằng ông đang gặp đúng đối thủ nên rất bực bội, chua chát. Tháng 4 năm 1945, Roosevelt đột tử trong văn phòng ngay trước thềm chiến thắng châu Âu, nhiều quốc gia thương tiếc ông, nhưng Douglas MacArthur rất rõ ràng là không. Khi nghe tin, ông quay sang Bonnie Fellers, một sỹ quan tham mưu, và nói: “vậy là Roosevelt chết rồi: một tay không bao giờ nói thật thì cũng chỉ cần một lời dối trá để dùng”. Người ngoài sốc khi nghe ông ta nói vậy; thật là khó tưởng tượng nổi ở bất kỳ sở chỉ huy nào, khi một viên tư lệnh nói như vậy về thượng cấp vừa mới chết của mình.

(http://tieungoclang.files.wordpress.com/2012/12/rooseveltinwheelchair.jpg?w=625&h=641)
Roosevelt – Tổng thống Mỹ thứ 32

Ký ức trong MacArthur về quan hệ công việc của mình với Roosevelt đều luôn tiêu cực: bất bình, không thành công, từ cái cách Roosevelt ra lịnh giải cứu ông lúc đầu năm 1942 khi ông dường như bị rơi vào bẫy ở Philippine và quân Nhật đã bắt được phần lớn quân của ông, cho đến việc vị tổng thống đã đứng về phía MacArthur trong cuộc tranh luận chính với Hải quân về phương thức tiến hành chiến tranh ở Thái Bình Dương và tiếp cận các đảo chính của Nhật. Điều quan trọng không phải là những gì Roosevelt đã làm cho ông mà  chính là những gì tổng thống đã không làm vì ông!!! Không có điều gì trong đống huyền thoại của ông nổi hơn vụ đào thoát khỏi Philippine. Đó là một cú PR thành công cho cả ông và cả tổ quốc. Khi đến được Úc, ông đã nói câu nói nổi tiếng: “Tôi sẽ trở lại”. Washington đã muốn đổi câu đó thành “Chúng tôi sẽ trở lại” nhưng vị tướng không làm: câu nói đó trở thành một thứ nhiệm vụ, cam kết cá nhân; và nó sẽ xảy ra như ông ta đã quyết. Trong những giờ phú đen tối, luôn cần phải có gương anh hùng, nên MacArthur được tôn xưng với cuộc đào thoát đó, và chính phủ đã giữ một vai trò tích cực trong công cuộc tôn vinh đó. Những tính toán sai lầm lớn của ông lúc đầu cuộc chiến, thứ lỗi có thể kết thúc sự nghiệp một vị tướng kém hơn, đã được che đậy và thay vào đó là một câu chuyện về người anh hùng được dựng lên, rằng MacArthur vẫn còn sống và chiến đấu vào một ngày tới . Không ai rõ điều này hơn William (Wild Bill) Donovan, một con người có tầm ảnh hưởng khổng lồ trong những ngày ấy, một luật sư đầy tham vọng ở phố Wall, lúc đó ông lãnh đạo OSS, đơn vị tiền thân của CIA. Ông nói “Tướng MacArthur là một biểu tượng của nước ta chiến đấu vì tự do – dù ngoài kia, trên biển, trên không quanh ông, địch có nhiều súng, nhiều quân”. Lời nịnh hót này chẳng được gì; MacArthur không cho cả OSS lẫn CIA vào trong vùng điều hành của ông trong cả thế chiến II lẫn ở Triều Tiên.

(http://tieungoclang.files.wordpress.com/2012/12/donovan.jpg?w=625)
Donovan (Wild Bill)


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Một, 2013, 06:22:44 pm
Ở châu Âu, trong suốt thế chiến II, nhiều sỹ quan trẻ tài năng đã đến dưới trướng của Eisenhower và thành danh, cả sỹ quan tham mưu lẫn sỹ quan chiến đấu, nhưng dưới quyền của MacArthur ở Thái Bình Dương thì không, không một sỹ quan nào được phép tự tạo dựng tên tuổi và cũng không có mấy thay đổi nhân sự trong ban tham mưu của ông ta kể từ lúc bắt đầu cuộc chiến cho đến khi ông rời khỏi Tokyo. Tháng mười năm 1950 John Gunther viết “Cần phải có những dòng máu trẻ trung hơn quanh MacArthur, nhưng ông ta sẽ không cho bất kỳ ai cạnh ông quá nổi. Tôi nghe nói rằng ‘Người của MacArthur không  có ai dám liều đứng đầu’”.

Họ được gọi là hội Bataan. Ngay cái tên cũng phản ánh cho thấy một dạng kiểm tra trung thành. Bạn ở đâu lúc ông đang ở điểm đáy sự nghiệp – lúc ở Philipin với quân Nhật đang đến gần, ông ta buộc phải chạy đến Úc? Trừ Ned Almond, tham mưu trưởng của ông trong thời Tokyo, là một ngoại lệ hiếm – không mấy ai có thể trở thành một thành viên trong nhóm cận thần của ông nếu họ không thuộc thời kỳ Bataan ấy. Lúc bắt đầu cuộc chiến Triều Tiên, những sỹ quan hàng đầu của ông đã theo ông từ hồi cuối thập niên 1930, một con số không cân đối. Robert Sherwood, một kịch tác gia, một tác giả nổi bật, là đại diện không chính quy của Roosevelt trong suốt cuộc chiến, ông thất kinh trước sự thù địch mà ông phải đối diện ở sở chỉ huy (MacArthur), và sự thịnh nộ trước tất cả các loại văn kiện và các thông tin mặt trận khác. Sherwood đến đó vào năm 1944 và mang theo tin quân Đồng Minh đã vượt cầu Remagen – một thời khắc vĩ đại của chiến dịch đánh Đức. Nhưng khi ông nói với Charles Willoughby tin đó, Willoughby đã nạt ông “Bọn tôi mặc kệ bất cứ thứ gì ở châu Âu”. Thế là Sherwood viết thư về cho tổng thống rằng “có bằng chứng xác đáng về sự ngược đãi hoàn toàn trong công việc. Khi nghe các sỹ quan tham mưu ở đây nói, người ta có thể nghĩ rằng Bộ Chiến tranh, bộ Ngoại giao – và có thể cả Nhà trắng nữa – đã bị ‘cộng sản và đế quốc Anh’ thống trị”.

Roosevelt luôn tin rằng MacArthur hoàn toàn cách biệt với chính trị nội địa Mỹ, ông ta là tù nhân của chính giấc mơ của mình hơn là do những thay đổi chính trị trong nước, hay các thực tại kinh tế. Quay lại năm 1936, MacArthur tin rằng Alf Landon sẽ đánh bại Roosevelt, nên ông đã nổi giận với tham mưu trưởng của mình, Eisenhower – cũng là một người Kansas như Landon – vì Eisenhower tin chắc rằng Landon không có cơ hội. Eisenhower cho MacArthur xem một bức thư từ một người bạn ở Abilene, rằng Landon còn thậm chí không thắng nổi ở bang nhà. MacArthur đưa vào sổ đen ngay Eisenhower và một sỹ quan tham mưu khác do ông này cũng lo cho việc nhỡ Landon thắng bởi đó là “một người tư tưởng nhỏ hẹp, đáng ngại, một thứ người sợ không dám đưa ra phán quyết dù có bằng cớ rõ ràng trong tay”. Rốt cuột Landon chỉ thắng ở hai bang trong số 46 bang, thua ở cả Kansas.

Năm 1944, giữa cuộc chiến Thái Bình Dương, đã có tin nói rằng MacArthur bắt đầu chống lại Roosevelt. Vài nhân vật ghét Roosevelt nhất trong đảng Cộng hòa thúc đẩy ông ta quyết tâm tham gia cuộc đua. Một trong số họ là hạ nghị sỹ bang Nebraska thuộc đảng Cộng hòa A.L.Miller, ông thấy MacArthur là một ứng viên hi vọng duy nhất cho việc cứu lấy đất nước, và đã viết thư: “Tôi nhận ra rằng nếu chính sách Kinh tế mới không được dừng lại thì đời sống của dân Mỹ chúng ta sẽ vĩnh viễn sụp đổ”. Hàng đống thứ trong thư của Miller, mà có khá nhiều thư, rõ ràng là nhằm công kích vào các nhân vật chính trị hoặc quân sự đương thời, một kiểu làm của một tay lý luận gia phù phiếm, một con người không có dũng khí. Tuy vậy, MacArthur lại bắt đầu trao đổi với Miller: “Tôi hoàn toàn nhất trí với các nhận định rất thông thái và đầy tính khoa học quản lý nhà nước của ngài”, ông ta viết cho viên nghị sỹ khi nói về tình trạng đen tối của “tấn bi kịch tai hại trong thời kỳ hỗn loạn hiện nay của chúng ta”. Ngẫu nhiên sự kiện này diễn ra trong thời khắc đất nước đang gồng mình phục vụ cho chiến tranh, khi thường dân ở mọi lứa tuổi cống hiến sức mình cho cuộc chiến một cách thiện chí và tràn đầy quyết tâm!!!


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Một, 2013, 06:30:26 pm
Điều này không làm luồng thư qua, tin lại giữa Miller – MacArthur chấm dứt. Tay nghị viên này viết: “cái kiểu chế độ quân chủ  đang được thiết lập ở Mỹ sẽ hủy hoại quyền của dân lành”. MacArthur viết lại: “mô tả của ngài về tình hình ở Hoa Kỳ quả thực là rất tỉnh táo, và nó sẽ đánh động mọi nhà ái quốc chân chính suy xét thật cẩn trọng”. Thứ làm tổn hại ông ta chính là sự xu nịnh, và bởi chính mong muốn được sùng kính quá lớn nên ông khó lòng kháng cự nổi. Đó là nhược điểm trên lớp vỏ giáp của ông và ông lại rúc vào đó. Miller, do sợ rằng có một nhà yêu nước vĩ đại dường như đã thấy được chính xác cái cách hắn làm, nên rốt cuộc đã đưa các lá thư này ra công chúng giữa lúc chiến cuộc, làm cho MacArthur lúng túng nhiều. Khi ấy vị tướng nói rằng các lá thư đó hoàn toàn mang tính riêng tư, điều này thì đúng sự thật, và rằng nó không nhằm vào mục đích chỉ trích bất cứ chính trị gia hay nhà lý luận nào, điều này, dĩ nhiên là không thật. Nhưng họ đã bị tổn thương. Trong buổi họp báo do một người bạn, cũng là người ủng hộ ông, thượng nghị sỹ Arthur Vandenberg tổ chức, MacArthur thông báo rằng ông không muốn thấy tên mình được đưa ra tranh cử trong hội nghị hiệp thương của đảng Cộng hòa. Vandenberg ý thức rằng nếu tên của vị tướng được đưa ra bầu thì kết quả sẽ rất bẻ mặt. Tiếc là có một đại biểu lọt ra khỏi lưới, và Tom Dewey có 1056 phiếu, MacArthur có một. Rất chắc chắn, năm 1944 không là một năm tốt với sự nghiệp chính trị của MacArthur; nhưng cũng rõ ràng là khao khát tham gia cuộc đua (tổng thống) vẫn còn đó.

Tháng 5 năm 1946, Eisenhower, khi đó là tham mưu trưởng Lục quân, đến thăm vị tướng ở Tokyo và họ trao đổi với nhau về cuộc bầu cử tổng thống. MacArthur thúc Eisenhower tham gia, còn Ike cũng rất xứng đôi khi đề nghị MacArthur tranh cử. Lúc ấy MacArthur tự nhận là mình quá già để tranh cử tổng thống, nhưng Eisenhower hiểu quá rõ tham vọng quái dị và sự hão huyền của MacArthur hơn chính MacArthur, ông này về Washington và cảnh báo Truman rằng ông ta có thể phải đối đầu với MacArthur trong năm bầu cử 1948. Thực vậy, với việc chiến tranh kết thúc và công cuộc dân chủ hóa Nhật bản thành công ngoài mong đợi, vị tướng đã gửi thông điệp đến những người mến mộ ông, vào năm 1947, rằng dù ông không tìm kiếm một vị trí ứng cử của đảng Cộng hòa nhưng ông sẽ chấp nhận một yêu cầu ứng cử độc lập, nếu có. Ông quả quyết với họ rằng đó sẽ như là một bổn phận của mình. Sự thật là ông kỳ vọng cao một cách đáng ngạc nhiên cho cuộc chạy đua năm 1948. Nhưng ông không có mấy liên kết với tổ quốc – ông đã đi xa hơn một thập kỷ rồi, và ông là một kiểu người mà dù cho ông không đi quá bờ lục địa thì ông vẫn cứ không có liên kết được với những công dân ủng hộ ông.

Việc hàng triệu người Mỹ đặt chân vào tầng lớp trung lưu đã sớm có tác động quan trọng đến cả hai đảng, ví dụ như những người trước kia bầu cho đảng Dân chủ giờ họ trở nên giàu hơn và bắt đầu suy nghĩ một cách độc lập và bỏ phiếu bảo thủ hơn; nhưng tại thời điểm kế hoạch Kinh tế mới đang diễn ra thì việc bỏ phiếu trong cuộc bầu cử toàn quốc vẫn dựa trên cơ sở khác biệt kinh tế của các thành phần dân cư. Những người thúc đẩy MacArthur ra tranh cử, tin rằng kế hoạch Kinh tế mới đơn thuần là một bước đi đầu tiên của một hành trình dài, nguy hiểm dẫn đến chủ nghĩa Cộng sản. Ủng hộ viên của ông mạnh nhất là ở vùng Trung Tây, đặc biệt là khu vực dưới ảnh hưởng của đại tá Robert McCormick, chủ nhân ông tờ Chicago Tribune và là thủ lãnh của những người theo chủ nghĩa biệt lập thời ấy. Những người say mê vị tướng nhất là những người theo chủ nghĩa biệt lập, chủ nghĩa dân bản địa, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa chống Xê mít, và ghét dân lao động – dù MacArthur không như vậy nhưng ông vẫn sẵn lòng nhảy múa cùng họ. Họ hoàn toàn tin rằng họ chính là những đại diện chân chính của cái họ gọi là chủ nghĩa Mỹ. Thiếu tướng George Van Horn Moseley, bạn thân của MacArthur, ông này phản ánh cho quan điểm trên, đã viết cho MacArthurn ngay trước chiến dịch (tranh cử) năm 1948 rằng “Có một lượng lớn kẻ thù ngay trong cửa nhà chúng ta và những kẻ… sợ anh … chúng là thành viên của CIO, là Cộng sản, là Do Thái, hoặc những kẻ đê tiện như Walter Winchell [một tay nửa tầm phào, nửa cộng sản], và Drew Pearson [một người cộng sản tự do, từng rắc rối với MacArthur trước đó]”. Trong quyển America Mercury, nhà viết tiểu luận nổi tiếng thời đó John Carten đã ghi: “Có thể đó không phải là lỗi của ông ta, nhưng chắc chắn điều bất hạnh của ông chính là việc những phần tử xấu nhất của cánh Hữu, bao gồm cả đám cực đoan, quá khích nhất, đã hoan nghênh MacArthur”. Được họ ủng hộ đưa ra tranh cử năm 1948, MacArthur đã trả lời theo cách chán ngắt đặc trưng: “tôi sẽ nói, với tất cả sự khiêm nhường, rằng sẽ là bội phản các khái niệm về tư cách công dân gương mẫu tôi đã đề ra nếu tôi lùi bước vì sợ rủi ro và trách nhiệm khi nhận bất kỳ nhiệm vụ nào người dân Mỹ đã giao” . Không ai có thể quý phái hơn!!!


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Một, 2013, 06:33:11 pm
Những người thúc đẩy ông tham gia cuộc tranh cử 1948 là những tay chính trị gà mờ, mang đầy cảm giác chính trực lẫn giận dữ. Mọi người họ biết đều đồng ý với với chính kiến của họ; thế giới của họ cả ở văn phòng lẫn câu lạc bộ, không có nhiều tiếng nói bất đồng. Họ hầu như chẳng biết mấy về cấu trúc chính trị địa phương. Một bài thử cho cuộc đua của MacArthur là ngay tại Wincosin, nơi ông đã sống một thời gian hồi còn nhỏ, và cũng là quê cha đất tổ của gia đình ông cũng như nhiều gia đình quân nhân. Đó là một bang giữa khu Trung Tây, và an toàn trong phạm vi ảnh hưởng của tờ Chicago Tribune. Robert Wood, một người bạn cũ và cũng là một đầu não ngoại hạng của tổ chức theo chủ nghĩa biệt lập American First, chính là người hỗ trợ và đại diện của ông ta. Wood chắc ăn rằng MacArthur sẽ chiến thắng với ít phất 20 trong số 27 phiếu cử tri của bang Wisconsin. Bởi ông ta là một ứng viên nhưng không có mặt, nên họ hi vọng sẽ đưa ra thông điệp rằng người anh hùng yêu nước của họ vì quá bận rộn phục vụ tổ quốc nên ông phải được đối xử xứng đáng. Họ tin rằng ông sẽ thắng ở Wisconsin bởi vì ông không thể có mặt trong chiến dịch tranh cử ở đó. Nhưng mọi thứ không ổn – ngay với cả những cựu binh. MacArthur chưa bao giờ được biết như là một người-lính-cấp-tướng, và ngay cả là cựu binh, cuộc bầu cho thấy như vậy.

Wisconsin được chọn làm nơi khởi động tranh cử, nhưng nó kết thúc một cách đầy thực tế. Harold Stassen, cựu thống đống bang láng giềng Minnesota, chiến thắng cực nhọc với 40% phiếu bầu và 19 phiếu đại cử tri; Thomas Dewey, người sẽ chiến thắng ở vị trí đại diện đảng ra tranh cử được 24% và không phiếu đại cử tri; MacArthur, ở nơi xem là đất phát của mình, chỉ được 36% và 8 phiếu đại cử tri. Ngày hôm sau, đại sứ William Sebald, một nhà ngoại giao cao cấp Mỹ ở Tokyo, đến tòa nhà Dai Ichi để bàn việc. Thiếu tướng Paul Mueller, tham mưu trưởng của MacArthur giơ tay ra chặn ông lại. “Tướng quân đang như cái mền rách và rất ảo não” ông nói với Sebald như vậy, và ông này quyết định sẽ đến thử lần khác. Nhưng ngay cả việc thất bại thảm hại trong cuộc chạy đua dành vị trí ứng viên năm 1948 cũng cho thấy rõ ràng một điều, rằng dù đã đến cuối sự nghiệp, Douglas MacArthur vẫn mơ màng về vị trí tổng thống.

Mối quan hệ giữa vị tổng thống và viên tướng ngay từ lúc đầu đã là thảm họa. Viên tướng thì không tôn trọng tổng thống, và ngược lại đến phiên mình, thì tổng thống ngay trong bản năng đã không thích và không tin viên tướng. Trong năm 1945, vị tân tổng thống đã ghi trong nhật ký “có thể làm gì với ngài tướng mũ nồi xanh, Prima Donna, năm sao MacArthur bây giờ. Lão còn tệ hơn cả nhà Cabots lẫn nhà Lodges – họ ít ra còn nói với một ai khác trước khi tâu lên Chúa việc phải làm. Còn Mac thì bảo thẳng với Chúa trời luôn. Thật là rất đáng tiếc khi chúng ta cố nhét những chiếc áo dơ dáy đó vào các vị trí quan trọng. Tôi không hiểu tại sao Roosevelt đã không lịnh cho Wainwright về nước [từ Corregidor (*) hồi năm 1942] và để cho MacArthur làm một kẻ tử đạo…. Nếu là Wainwright, chúng ta đã có một vị tướng thực thụ, một chiến binh thay vì một tay diễn viên, một tay bợm mà ta có hiện nay. Không thể hiểu nổi sao một quốc gia có thể sản sinh ra những con người như Robert E.Lee, John J.Pershing, Eisenhower và Bardley thì cùng đồng thời đẻ ra những kẻ như Custers, Pattons và MacArthur”

(*) Corregidor là một cuộc chiến quan trọng được xem như là trận Gibraltar ở Thái Bình Dương, Corregidor là một cứ điểm phòng thủ mạnh, được chuẩn bị kỹ ở Philippine, quân Nhật không thể không chiếm nếu muốn sử dụng vịnh Manila. Trận chiến bắt đầu 29/12/1941 đến ngày 6/5/1942 thì quân Mỹ – Phi đầu hàng. Tướng Wainwright là tư lịnh ở đó cũng đầu hàng quân Nhật


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Một, 2013, 06:36:52 pm
Trong mắt MacArthur, thành tích, phẩm chất của Truman thì còn lâu mới gây được ấn tượng. Truman hành nghề chính trị, đã đủ tệ rồi, thế mà còn là đảng viên Đảng Dân chủ, một tay dân  chủ cánh tự do nữa chứ, ngoài ra ông ta còn được chỉ định thừa kế Franklin Roosevelt què quặt. Một con người như vậy, một đại úy Vệ binh quốc gia con con trong thời Thế Chiến I, và rồi thành một chính trị gia không mấy thành tích, rõ ràng là tự thấy thấp bé hơn, bây giờ lại đứng được trên MacArthur trong hệ thống chỉ huy sao? Trong trí óc của MacArthur, đó là một câu hỏi không thể trả lời. Trong đầu mỗi người, kẻ kia đều là quái dị, họ có bối phận hoàn toàn khác nhau, ý niệm về lòng trung thành và bổn phận cũng rất cách biệt nhau. Ngày từ thời điểm tháng 4 năm 1945, lúc Truman lên làm tổng thống, thì đã có vấn đề giữa hai con người này. Thượng nghị sỹ  Tom Connally của bang Texas, trưởng ban Quan hệ quốc tế Thượng viện, cũng đã cảnh báo Truman, phản đối việc để MacArthur tiếp nhận Nhật Bản đầu hàng. Truman viết trong nhật ký: “[Connally] bảo rằng Doug sẽ tham gia tranh cử chống lại tôi vào năm 48 nếu tôi lăng xê ông ta. Tôi nói Tom rằng tôi không muốn tranh cử vào năm 48 và rằng Doug cũng không thể làm phiền tôi bằng cách đó”

Tổng thống và những cán bộ quân sự cao cấp của ông hiểu rằng MacArthur sẽ bắt đầu có hành vi không tốt ngay khi chiến sự Thái Bình Dương chấm dứt. Vấn đề gây chia rẽ đầu tiên giữa họ là vấn đề binh sỹ. Trong 5 tháng hòa bình đầu tiên, tổng thống và các quan chức hàng đầu ráng làm chậm bớt việc giảm quân số quân đội Mỹ thời hậu chiến, cố gắng chống lại ước muốn gấp gáp một cách bản năng của các gia đình Mỹ mong con mình trở về, rời xa sắc áo lính. Và MacArthur, với vấn đề này ông diễn ngay, trong ngày 17 tháng 9 năm 1945, từ Tokyo ông thông báo rằng bởi việc chiếm đóng Nhật đang diễn tiến tốt đẹp, nên ông chỉ cần 200,000 quân trong số nửa triệu lính nguyên ủy. Vụ này được dùng làm quân bài trong tay những kẻ chỉ trích chính quyền trong nước, và làm những người ở Washington tin rằng đó là một thủ đoạn được sắp xếp cẩn thận, lúc này họ bị vây bởi áp lực ngày càng tăng cao của việc phục viên.

Trong mắt của Bradley và Eisenhower, đó là một ví dụ cho sự tệ hại tuyệt đối của vị tướng, không thèm kiểm chứng, không hiểu biết chính trị, và đặt cá nhân cùng ý thích riêng của mình lên trên các vấn đề nghiêm trọng của an ninh quốc gia. Bất kỳ sỹ quan cao cấp nào làm vậy cũng sẽ bị bay chức hay ít ra cũng có vài lời trách mắng. Nhưng không ai được phép làm gì chống lại MacArthur. Ông luôn được đối đãi một cách khác biệt. Ngay cả trong thời chiến tranh, những kế hoạch hoàn chỉnh ở Washington  sẽ được gửi đến tất cả các sở chỉ huy dưới dạng mệnh lệnh, chỉ riêng ở chỗ MacArthur thì chỉ là khuyến nghị. Từ xưa giờ không ai muốn bị ông giận. Nhưng Truman bắt đầu điên tiết và ông làm vụ giải ngũ cứng rắn hơn đồng thời ngẫm nghĩ nghiêm túc đến việc hất cẳng MacArthur. Eben Ayers, một trong các trợ lý tổng thống, viết trong nhật ký: “Tổng thống quát ầm lên về Mac và bảo rằng ông phải ‘làm gì đó với thằng cha này’, chính chả đã làm rối tung mọi thứ. Tổng thống bảo ông mệt mỏi vì cái kiểu điên khùng này”. Tuy vậy, nếu làm thế thì hậu quả của cuộc đối đầu này sẽ rất nghiêm trọng. Và, đây vẫn chỉ là dấu hiệu đầu tiên của điều nhanh chóng trở thành cuộc xung đột giữa hai con người. Rốt cuộc, theo yêu cầu của Truman, George Marshall chỉ khẽ khàng phát vào tay MacArthur, ông gửi điện thư đến Douglas bảo rằng phát biểu của ông ta gây khó cho việc duy trì chế độ quân dịch trong thời bình và cũng như vậy với lực lượng Mỹ ở nước ngoài. Trong tương lai, Marshall viết, bất kỳ phát ngôn nào như vậy cũng nên được phối hợp trước với Bộ Chiến Tranh


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Một, 2013, 06:47:21 pm
Nhưng vụ rắc rối này giúp gây ra một loạt lời mời lặp đi lặp lại từ Truman đến MacArthur trong tháng 9 rồi lần nữa vào tháng 10 năm 1945, gọi ông ta về nước, làm cố vấn tổng thống, được nhà nước vinh danh, có lẽ là còn được thêm một huân chương Phục vụ xuất sắc (Distinguished Service Cross), và một vị trí trong nghị viện. Đề nghị của Tổng tư lệnh, một người vừa được đưa lên vị trí tổng thống sau một tình huống bi kịch trong thời chiến, thực tế không phải là một đề nghị dù được núp dưới hình thức ấy, về mặt bản chất đó là lệnh. Rõ ràng MacArthur không chỉ được đối xử như vậy rồi thôi, mà còn gấp đôi. Ông có thể là một viên tướng bốn sao, ông có thể là một sỹ quan cao cấp, và có một điều một sỹ quan phải làm: nếu tống thống triệu tập, anh phải tuân hành. Nhưng ông ta coi thường Truman ngay từ đầu, và hành xử như thể hai bên ngang hàng và không có thứ tự chỉ huy ở đây. Ông bảo ông bận việc ở Tokyo, và rời khỏi đó thì rất nguy hiểm bởi: “tình hình cực kỳ nguy cấp và vốn dễ bốc hỏa đang tồn tại nơi đây”. Truman giận tím gan – bởi thông điệp trên lại đưa đến từ một người cách đó không lâu còn bảo là chỉ cần phân nửa số quân hiện dịch do mọi việc đang tốt lên. MacArthur hiểu rất rõ điều ông đang làm. Ông nói với một người trợ lý “Tôi định là người đầu tiên trong lịch sử nước ta từ chối [việc về nước theo yêu cầu của tổng thống]. Tôi sẽ nói với bọn ấy là tôi có việc phải làm và không có rảnh”. Những điều MacArthur nói riêng với người của ông còn phô trương hơn nữa. Ông tuyên bố, nếu ông rời Nhật ngay thì nước này và cả một phần châu Á sẽ chấn động, bởi bản thân họ tin rằng họ đã bị bỏ rơi. MacArthur cũng nói với một số trợ tá của mình rằng ông chỉ sẽ về nước với những điều kiện, yêu cầu của riêng ông và chúng phải được thỏa mãn. Đó có lẽ là một chuyến trở về đầy cảm xúc gắn chặt với một hội nghị của đảng Cộng hòa (????). Khi một người bạn khuyên MacArthur rằng giờ là lúc nên đi, tất cả giận dữ và đa nghi tuôn trào: “Đừng nghĩ đến việc tôi sẽ đi ngay bây giờ. Một lúc nào đó, tôi sẽ đi, nhưng hiện nay cả tổng thống, bộ ngoại giao và Marshall đang tấn công tôi. Họ có thể thắng cũng được, nhưng bọn Đỏ sẽ ra mặt chống lại tôi và bọn Cộng sản sẽ chế giễu tôi và đưa tôi lên đoạn đầu đài. Cảm ơn Liên Xô, tôi ở trên đỉnh. Tôi muốn gắn một tấm huy chương lên chúng a—-“.

Hai con người: tổng thống và viên tướng không thể vênh nhau hơn về sự nghiệp. MacArthur đã là một anh hùng vĩ đại của đất nước ngay từ giai đoạn khó khăn đầu thế chiến II, khi ấy Truman vẫn còn đi từ thất bại này đến thất bại khác; đầu thập niên 1930; khi MacArthur vượt lệnh và đánh Bảo tức quân, thì dù có óc tưởng tượng xa tới mấy cũng không thể hình dung ra được Harry Truman – lúc đó ở vị trí rất thấp trong sự nghiệp – lại có thể đứng ngang hàng. Đến thời điểm ấy điểm nổi nhất trong sự nghiệp của Truman là vị trí đại úy vệ binh quốc gia bang Missouri tòng sự trong lực lượng viễn chinh Mỹ ở Pháp trong thế chiến I, thật khó so sánh nổi với thành tích tuyệt hảo của MacArthur cũng ở trong cùng cuộc chiến. Và cũng rất khó với sự kiện của năm 1945: một người thành tổng thống và người kia là tướng.

Ngay từ đầu, Truman không thích thú gì với việc có một tư lệnh đứng ngoài tầm kiểm soát. Rõ là ông luôn nghĩ cách hạ bệ MacArthur. Nhưng khi có ai đó khuyến nghị Truman, sau lúc MacArthur tuyên bố không cần số quân được giao, rằng có lẽ đây là lúc để hạ ông ta, thì vị tổng thống đã trả lời: “Hợm đã, hợm đã”. MacArthur có quân bài chủ trong tay, và rõ là hậu quả chính trị của việc hạ bệ ông ta sẽ rất lớn bởi ông có một lực lượng cử tri chính trị mạnh mẽ, cần suy sét cẩn trọng.

Khi John Foster Dulles trở về Washington sau cuộc gặp với MacArthur trong những ngày đầu khốn nạn của cuộc chiến Triều Tiên, hội ý với Truman, ông đề nghị nên thay tư lệnh. Ông nói, dường như MacArthur quá già và đang bấn loạn. Nhưng Truman đang bị khóa chặt. Ông bảo Dulles rằng ông bị khóa tay bởi MacArthur đã hoạt động chính trị trong nước quá lâu và được để ý như là một ứng viên tổng thống tiềm năng của đảng Cộng hòa. Truman nói thêm, rằng ông ta không thể bị gọi về nếu “không có gây ra một sự việc gì kinh khủng với đất nước” bởi MacArthur đã “dựng thành  một hình tượng anh hùng”. Một sự thú nhận đáng lưu tâm: tổng thống Hoa Kỳ bước vào một cuộc chiến ở đất nước xa xôi mà tư lệnh các lực lượng của ông là một viên tướng không những ông không thích, mà quan trọng hơn, còn không tin, nhưng ông ngại thay thế vì những lý do chính trị.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Một, 2013, 07:53:33 pm
MacArthur tự thấy mình là người vĩ đại đương thời khi so sánh với những vĩ nhân Mỹ trong quá khứ, chỉ Washington và Lincoln là ngang bằng ông (“Những vị cố vấn chính của tôi hiện nay, một người đã khai sinh nước Mỹ, còn người kia thì đã bảo vệ nó. Nếu bạn quay lại nhìn vào cuộc đời của họ, bạn có thể tìm thấy mọi câu trả lời” ông ta đã có lần nói). Khi ông nhận chức tổng tư lệnh Thái Bình Dương, một trong những việc đầu tiên ông làm là treo bức chân dung của Washington sau bàn làm việc, và khi chiến tranh kết thúc, theo Sidny Mashbir, một sỹ quan tình báo, ông đã đứng chào bức chân dung Washington và nói “Thưa ngài, chúng không còn mặc áo đỏ, nhưng chúng tôi cũng đã đánh đuổi chúng như xưa”. Lòng căm thù của ông với điện Capitol và những ai làm chủ ở đó trong những năm ấy là rất rõ ràng. Faubion Bowers, trợ tá quân sự ở Tokyo và cũng là người chia sẽ những vấn đề riêng tư của ông ta qua những bài độc thoại liên miên khi đi xe cùng, đã nghĩ rằng MacArthur ghét toàn bộ các tổng thống. Với ông, Roosevelt là Rosenfeld, và Truman thì ông kêu là “thằng Do thái ở Nhà trắng” . Có lần Bowers lúng túng hỏi lại “ Do thái nào ở Nhà trắng?” “Thì là Truman”, MacArthur trả lời “Cậu có thể thấy điều đó qua cái tên. Hoặc nhìn vào mặt nó á”. Và rồi một ngày nọ MacArthur làm Bowers tỉnh ngộ về quan điểm cho rằng ông không thích mọi tổng thống. Ông nói: “(TT) Hoover á, ổng không tệ”.

MacArthur nghi ngờ tùm lum, và như mọi bệnh nhân hoang tưởng khác, ông nhanh chóng tạo ra nhiều kẻ thù. Mùa xuân năm 1949, cả bộ Ngoại Giao và bộ Quốc phòng cùng nhau lên kế hoạch để hủy bỏ quyền lực của ông ta ở Nhật. Dean Acheson có thể sẽ là một lực lượng dẫn hướng phía sau kế hoạch. Ý tưởng là phân rã các công việc chính trị và quân sự ở Tokyo ra. MacArthur sẽ được đưa về nước và được tung hô, đồng thời sẽ có người – dù không có nổi bật bằng – thay thế vào hai vị trí công việc đó, với Maxell Taylor, một ngôi sao đang lên trong quân đội ở Thế Chiến 2, được đề cử vào nắm mảng quân sự. Tuy nhiên, MacArthur nghe ngóng được tình hình, liền liên lạc với các thân hữu đầy quyền lực ở Washington, và mang kế hoạch đến gửi cho Omar Bradley, chủ tịch hội đồng tham mưu liên quân, thứ sau này được gọi là “một sự công kích thô bạo, thứ mà tôi hiếm khi đọc”. Giọng điệu trong đó làm Bradley ngạc nhiên, ông này ghi nhận rằng ông không thể tin được “sự không tin tưởng lớn lao trong cái cách Tướng MacArthur nhìn nhận Bộ Ngoại giao nói chung và cá nhân Dean Acheson nói riêng”. Thực vậy, như Bradley ghi nhận, MacArthur xem ông như một kẻ phản bội cũng như đã chuyển cho bộ Ngoại giao thứ kể trên.

Chẳng có điều gì tốt đẹp. Truman và MacArthur không bao giờ chung một con đường, một chí hướng. Họ nhìn cuộc chiến mà họ phải tham gia trong những ngữ cảnh hoàn toàn khác biệt; và ngược lại, họ cũng có những quan điểm khá khác biệt nhau về những gì cần có để tạo thành một chiến thắng chấp nhận được cũng như số lượng tài nguyên mà đất nước phải bỏ ra để dành được chiến thắng đó. Và như thế, bắt đầu từ ngày 25 tháng 6 năm 1950, cuộc sống của họ lại sóng đôi với nhau trong một hình thái hiếm có trong lịch sự nước Mỹ. Truman thì thấy sự tổn hại nghiêm trọng với hình tượng tổng thống của mình bởi việc không điều khiển nổi MacArthur, còn phía ông tướng thì thấy vị trí của mình trong lịch sử bị xâm hại nặng bởi sự thất bại của ông trong việc tôn trọng và đánh giá đầy đủ từ tổng thống.

(Hết chương 9)


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Một, 2013, 07:57:05 pm
Chương 10

Hoa Kỳ tham chiến trong tình trạng hoàn toàn không chuẩn bị. Những đơn vị Mỹ đầu tiên được đưa vào chiến trường với trang bị kém, yếu ớt, và quan trọng là được lãnh đạo rất tệ. Một quân đội tuyệt vời đã từng dành chiến thắng ở hai đại chiến trường Âu Á năm năm trước giờ chỉ còn lại cái vỏ ngoài. Cái kiểu quân sự mà nước Mỹ muốn có với giá rẻ, đã được trình diễn ở Triều Tiên ngay lập tức. Trách nhiệm của tình trạng kém cỏi trong quân đội được chia đều cho mọi người – từ tổng thống, ông này muốn giảm thuế, trả tiền vay hồi chiến tranh, và giữ ngân sách quốc phòng ở mức cơ bản nhất; rồi đến nghị viện, nơi này thì muốn giảm mọi thứ ngân sách còn nhiều hơn nữa; cho đến tư lịnh khu chiến MacArthur, ông này thì có đội lính bảo hộ (Triều Tiên) được huấn luyện kém và cũng là người năm năm trước đã nói ông không cần nhiều lính như Washington đã cho ông. Nhưng chịu trách nhiệm lớn nhất phải là Truman – tổng thống phải chịu toàn bộ trách nhiệm cho những sự việc như vậy: một quốc gia cực kỳ thịnh vượng, giàu có trong một thế giới vẫn còn nghèo đói  và chiến tranh tàn phá lại có một quân đội xác xơ. Khẩu phần ăn uống nghèo nàn, thiếu thốn về tài chính; pháo binh không thể tập luyện đàng hoàng vì không có đạn dược; thiết giáp huấn luyện qua loa bởi thiếu dầu cho các cuộc diễn tập thực địa và quân lính ở những căn cứ nổi danh như Fort Lewis được lịnh chỉ được phép dùng 2 tờ giấy vệ sinh cho mỗi lần đi ị. Có rất ít phụ tùng dự phòng cho xe cộ, mà những phụ tùng đó cũng được lấy từ các trang bị dư thừa do cuộc chiến trước để lại với giá rẻ bèo. Nếu có bất kỳ sự nâng cấp vũ khí nào, thì đó chỉ là biệt lệ dành cho máy bay và các loại vũ khí của Không quân, không có tý gì cho cánh Lục quân.

Thế Chiến 2 đã đưa một quốc gia ngái ngủ, theo chủ nghĩa biệt lập thành một siêu cường. Ngoài tầm bom đạn của quân thù, Hoa Kỳ trở thành một công xưởng vĩ đại của nền dân chủ. Những công xưởng xuất sắc của Mỹ mà sự hiện đại của chúng làm cả thế giới thèm thuồng, đã sản xuất ra những vũ khí hàng đầu với tốc độ chóng mặt. Nhiều nhà phê bình vào thời gian đầu thế chiến II tỏ ra e ngại rằng người Mỹ sẽ không thể là các chiến binh tốt vì đã lớn lên trong một đất nước no đủ. Còn tệ hơn là nghi vấn về khả năng người dân (Mỹ) – bởi vì đất nước quá dân chủ – liệu họ có thể đứng lên đăng lính như ở các quốc gia độc tài toàn trị như Đức, Nhật. Nhưng rồi lính Mỹ cho thấy họ là những chiến binh hạng nhất, và đất nước đã sản sinh ra được một quân đội đáng ganh tị từ một xã hội dân chủ, đã gầy dựng nên một đội ngũ hạ sỹ quan cứng rắn, thông minh và có kỹ năng, một quân đội phản ánh được tiến bộ của nền dân chủ, trong đó khả năng suy nghĩ độc lập và dám nhận trách nhiệm là những tài sản có giá trị trị nhất. Ở chiến trường châu Âu, quân đội hùng mạnh của đế chế Đức đã gặp phải đối thủ ngang tài đó là những cậu trai bình thường đến từ các gia đình bình dân Mỹ với các tiến bộ kỹ thuật Hoa Kỳ; chính những con người ấy cùng Hồng quân hung tợn tấn công quân Đức từ mặt trận phía đông đã làm Đế chế Đức diệt vong. Ở Thái Bình Dương, quân Nhật ngoan cường chiến đấu, nhưng trước sự kết hợp giữa sức mạnh, kỹ thuật vượt trội của Mỹ cùng chiến lược khôn ngoan của MacArthur: cô lập thay vì đánh vỗ mặt các vị trí mạnh nhất của quân địch, cuối cùng quân Nhật với các nguồn lực hữu hạng đã phải sụp đổ.

Nhưng lúc này, hầu như hằng ngày, những câu chuyện kể trên về quân Mỹ đã chạy mất trước đà tiến của bộ đội Bắc Triều. Phải chăng người Mỹ trong thời kỳ hậu chiến mới mẻ này đã ước lượng quá sai về khả năng của quân Mỹ? Phải chăng họ cho rằng cái lực lượng chiến đấu Hoa Kỳ sản sinh ra trong đầu năm 1944 đại loại là luôn vĩnh cữu trong tình trạng đó, rằng nước Mỹ tự thân hai chữ “siêu cường” sẽ luôn sản xuất ra được những vũ khí tốt hơn và những quân nhân giỏi hơn? Rằng nước Mỹ tin rằng các quốc gia khác dù đã biết điều đó vẫn sẽ luôn giữ khoản cách? Thật sự đó là những cảm giác trong thời kỳ đầu cuộc chiến Triều Tiên, ngay cả trong các cán bộ quân sự cao cấp những người biết rõ quân đội (Mỹ) hiện quá nhỏ và không trong tình trạng tốt. Nước Mỹ đã mong đợi quân đội chiến đấu vượt quá khả năng của họ. Người Mỹ hi vọng – bất kể nó sai bét – rằng một khi quân Bắc Triều vượt biên giới, thì cũng chẳng mấy chốc cuộc xâm nhập đó sẽ bị chặn đứng. Rằng ngay khi địch biết họ đang phải đánh nhau với người Mỹ thì chiến sự sẽ xoay dòng, tin tốt sẽ thay cho tin xấu trên chiến trường. Không chỉ Douglas MacArthur nghĩ rằng ông có thể chiến đấu với quân Bắc Triều Tiên với một lượng quân hữu hạng, mà  nhiều các nhân vật quân sự – dân sự hàng đầu cũng nghĩ vậy, và rất đáng tiếc  nhiều lính tráng cũng thế.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Một, 2013, 08:00:34 pm
Phần lớn trong đó cho thấy một dạng thức phân biệt chủng tộc đang hiện hữu, một niềm tin về sự vượt trội trên chiến trường của người da trắng đối với người châu Á. Việc rút kinh nghiệm từ  các chiến thắng của người Nhật lúc đầu thế chiến II bị bỏ qua, trong óc người Mỹ các chiến thắng đó được lý giải là vì họ cuồng tín chứ không phải vì họ là người châu Á. Tuy vậy, ở đây, chỉ là người Triều Tiên. Làm thế nào mà người Triều Tiên đánh bại được người Mỹ? Câu trả lời từ một số tư lệnh trong những ngày đầu ấy rất lộn xộn. Cuối tháng 7, thiếu tướng Bill Dean được báo lên là mất tích; thực tế đã bị quân Bắc Triều Tiên bắt sống lúc đang lãnh đạo việc phòng thủ Taejon. Nhưng chỉ vài ngày trước khi ông bị bắt, Keyes Beech của tờ Chicago Daily News đã ngẫu nhiên gặp Dean trên một phi đạo nhỏ, ông bảo Beech: “Hãy đối diện với điều này: quân địch có những thứ mà quân ta không có, đó là sự sẵn sàng hi sinh”. Và Beech đồng ý với ông. Vốn là một cựu thủy quân lục chiến trong thế chiến II, sau này Beech đã viết về những binh sỹ Mỹ đầu tiên được đưa tới Triều Tiên là: “cả tâm lý, tinh thần, và thể chất đều chưa sẵn sàng cho cuộc chiến”. Những  binh sỹ đó được lôi ra từ nếp sống hòa bình ấm êm ở Tokyo, nhiều người trong số họ lúc ở nhà là những đứa trẻ nghèo nàn sống chung với đầy tớ và chỉ trải qua một kỳ huấn luyện ở mức tối thiểu nhất, rồi họ bị ném vào trận chiến với những lời huênh hoang về một thứ rất dễ ăn và họ sẽ về lại Nhật rất nhanh. Rồi hầu như sau một đêm, mọi thứ trở thành một cơn khủng hoảng trọng đại nhất. Các lực lượng Mỹ không thể giữ nổi đất. Các đơn vị xung kích Bắc Triều Tiên chiến đấu rất giỏi và được trang bị tốt hơn quân Mỹ. Quân Mỹ lần lượt bại lui. Đến cuối tháng 7, cuộc chiến đã trở thành một thảm họa, đến mức Hoa Kỳ phải hết sức tăng tốc gầy dựng các đơn vị mới dành cho Triều Tiên, đồng thời tăng tốc cung ứng các loại máy bay, xe tăng và súng không giật có thể chống lại được xe tăng T-34.

Với Triều Tiên, việc bộ đội Bắc Triều chiến đấu hiệu quả trong những ngày đầu là một ngạc nhiên lớn nhất, điều thứ nhì đó chính là sự tệ hại của lính Nam Hàn. Họ hoàn toàn sụp đổ ở hầu hết các mặt trận. Điều ngạc nhiên kế tiếp – với người Mỹ – là sự kém cỏi của các đơn vị Mỹ đầu tiên gửi đến Triều Tiên trong công tác chuẩn bị chiến đấu. Còn hơn cả sự ngạc nhiên, mà đó còn là một cú sốc. Kế hoạch hành binh đầu tiên của quân Mỹ, mang tên chiến dịch Trái tim xanh (BlueHeart), do chính thiếu tướng Nel Almond, tham mưu trưởng và cũng là trợ tá gần gũi nhất của MacArthur soạn thảo; kế hoạch này cho thấy cái nhìn quá mức lạc quan về khả năng tác chiến của quân Mỹ. Nét chính của kế hoạch chính là một cuộc tấn công đổ bộ đường thủy nhanh chóng như theo sở trường của MacArthur vào phía sau tuyến quân Bắc Triều, lên một địa danh có tên là Inchon, kế hoạch được vạch ra như thể cuộc tấn công Bắc Triều Tiên không gì hơn là một bầy muỗi và có thể dễ dàng đập tan. Trận đổ bộ  dự kiến triển khai vào ngày 16 tháng 7, vừa tròn hai tuần kể từ khi đơn vị đầu tiên của Mỹ lóng ngóng, vụng về đặt chân lên đất Triều Tiên. Với tình trạng thảm hại của quân Mỹ đồn trú tại Nhật, thì đây là một nhiệm vụ bất khả thi tại thời điểm đó, khi ráng sống sót là điều còn đáng quan tâm hơn nhiều. Nhưng bảng kế hoạch đó cho thấy sự tự mãn to lớn ở bộ chỉ huy Tokyo trong việc cho rằng bất kỳ đơn vị Mỹ nào cũng có thể đánh bại quân Triều Tiên.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Một, 2013, 08:06:03 pm
Chiến dịch Trái tim xanh nhanh chóng bị xếp xó, các đơn vị cần cho một nhiệm vụ cấp thiết hơn: ráng giữ không cho bộ đội miền Bắc đuổi hết quân Mỹ ra khỏi bán đảo Triều Tiên. Điều này phản ánh cho thấy tình trạng ít để tâm của bộ tư lệnh với các lực lượng có ở hai miền Triều Tiên; và cũng cho thấy không có các kế hoạch dự phòng nào ở Tokyo. Nhiều quyết định được đưa ra trong những ngày ấy cho thấy tính  phân biệt chủng tộc. Bất kỳ một sỹ quan có kinh nghiệm nào điều biết rằng yếu tố tâm lý là cực kỳ quan trọng với những đơn vị Mỹ đầu tiên được đưa ra chuẩn bị chiến đấu với quân Bắc Triều Tiên, để họ có thế chiến đấu tốt từ những vị trí vững vàng, và để phát huy tối đa ưu thế vũ khí. Nhưng lúc đó khi việc lập kế hoạch đang khủng hoảng, nó cho thấy không chỉ là bất cẩn mà còn mất phương hướng. Sở chỉ huy đã đưa sư đoàn số 24, vốn được hợp nhất từ bốn sư đoàn yếu nhất, trang bị tệ nhất ở Nhật, đến Triều tiên, trước hết là bởi vì sư đoàn đó đóng quân ở Kyushu, chỗ này gần bán đảo Triều Tiên nhất. Và cũng bởi ở nơi xa Tokyo nhất, trên đảo cực nam Nhật Bản, nên sư đoàn 24 là nơi sau cùng được nhận đồ của tổ quốc – từ sỹ quan, binh lính cho đến trang bị. Các sỹ quan cấp trung đoàn và tiểu đoàn của đơn vị  – và đây cũng là vấn đề chính yếu đối với tất cả các đơn vị trong những tháng đầu của cuộc chiến – hầu hết là sĩ quan hạng xoàng hoặc thậm chí hạng kém. Như một trung đội trưởng trong sư đoàn 24 đã phát biểu: “đúng theo nghĩa đen là ở cuối tuyến tiếp vận”. Trang bị của đơn vị, theo một sỹ quan hành quân của trung đoàn 34 rằng “là thứ quốc gia thất sủng”. Đạn dược cho pháo cối không hoàn hảo. Súng đại liên cỡ 30 thì mòn hỏng và rất không chính xác. Họ cũng có những khẩu không giật loại cũ cỡ nòng 2.36. Sau này một trong các sỹ quan của sư đoàn đã viết rằng “rất buồn là hầu hết các đơn vị không đủ sức mạnh, trang bị kém và huấn luyện tồi lại được lịnh”

Những cựu binh thời thế chiến II đã xuất ngũ. Họ được thay bằng những binh lính, như T.R. Fehrenbach, một đại đội trưởng ở Triều tiên ghi nhận: tham gia một cuộc chiến mà họ không hiểu được. Họ không biết cả đâu là bạn đâu là địch, và họ ghét cái đất nước bị đưa đến. Những người tình nguyện tham gia quân đội trong giai đoạn sau thế chiến II và đã nhập ngũ, như theo lời Fehrenbach là: “tìm mọi lý do để tránh chiến đấu”. Quân Mỹ đến Triều Tiên trong những ngày đầu đó, theo như Ned Almond nghĩ, chỉ có chừng 40% khả năng chiến đấu. Ước lượng đó, Clay Blair ghi nhận, là vẫn quá lạc quan. Như mọi đơn vị Mỹ khác ở Tokyo, thay vì mỗi trung đoàn có ba tiểu đoàn, sư đoàn 24 chỉ có hai. Tệ hại hơn, sư đoàn trưởng, vì thiếu tôn trọng quân địch, lúc đầu chỉ đưa 2 trung đoàn, và cả hai đều không đủ quân số – trung đoàn thứ ba thì đang thao diễn đâu đó ở Nhật – và thay vì đưa toàn bộ quân vào một khu vực để có thể tập trung quân số cũng như hỏa lực áp chế, thì ông ta lại chia thành 3 cánh quân nhỏ và đưa đến những nơi mà sau đó họ ngay lập tức bị đối phương bao vây dễ dàng với quân số vượt trội, và rồi không thể trụ nổi trước các đợt xung phong của bộ đội Bắc Triều Tiên. Đối diện với quân thù mạnh, ngoại trừ vài thời khắc anh dũng hiếm hoi, họ đã bại, mà còn bại một cách nhanh chóng; các trận đánh của họ thường chỉ theo một cách – tăng nhuệ khí quân Bắc Triều và làm nản lòng các đơn vị Mỹ vừa đến.

Không có gì là ngẫu nhiên. Mà đó là kết quả trực tiếp của chiến thắng lẫy lừng năm năm về trước kết hợp với ước muốn giải trừ quân bị nhanh chóng. Khi Bob Eichelberger giao tập đoàn quân 8 vào tay Walton Walker, ông hoàn toàn nhận thức được tình trạng yếu kém của nó – “thật ra cũng không có gì nhưng chỉ là tổ chức tiếp vận lại không có  binh sỹ thực chiến mà toàn là cán bộ”.  Sự tôn trọng trong chiến đấu dành cho quân đội châu Á có được trong thời đánh nhau với quân Nhật suốt thế chiến II giờ đã biến mất. Tòng sự tại Tokyo được cho là một công việc rất tốt với tất cả những tiện nghi của người chiến thắng và sinh hoạt khá một cách biệt lệ trong một quốc gia châu Á rất nghèo, mà không có nhiều nhiệm vụ chiến đấu. Những tay lính mới, từ Hoa Kỳ đưa sang được chào mừng và được chia sẽ rằng Nhật Bản là một đất nước tuyệt hảo, rằng nếu biết cách mồi chài thì có ngay một “em gái” một cách dễ dàng và ít tốn, còn có cơ hội kiếm chác chút đỉnh ở chợ đen nữa. Mỗi lính GI Mỹ sống ở đây đều tốt hơn hoàn cảnh lúc ở nhà. Nhất là ở khoản có một “vợ nhặt” (shack girl) theo phương ngữ thời đó. Ở nước Nhật bị đốt trụi, tàn phá và bần cùng này, ngay cả một binh nhì bét dem dường như cũng có thể thuê được người giặt ủi quân phục, đánh giày cho mình. Trong một nước Nhật bị mất cân đối nhân lực, với một binh nhì hoặc hạ sỹ Mỹ đột nhiên giàu có (hoặc ít nhất thì cũng giàu hơn so với hồi người đó ở Ohio hay Tennesse) sống giữa đám người Nhật rền rĩ van xin, thì điều này càng làm cho chủ nghĩa phân biệt chủng tộc bẩm sinh của người Mỹ tăng lên và cho thấy thế giới da trắng dù gì cũng ưu việt hơn trên mọi lĩnh vực.  Lính da trắng chiến thắng; người da màu phải đánh giày cho họ, phụ nữ da màu làm bạn tình cho họ. Trong cái quân đội chiếm đóng dễ dãi này, quân sỹ không cần hiện diện trong giờ điểm danh sáng thứ Hai, và trách nhiệm thường xuyên của các thư ký đại đội là làm nên kỳ công để khẳng định rằng cái đơn vị ấy vẫn xuất hiện trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Một, 2013, 08:09:01 pm
Vấn đề binh sỹ không sẵn sàng cho chiến đấu không phải là một bí mật lớn. Thiếu tướng Tony McAuliffe, tư lệnh Bastogne trong trận Bulge hồi năm 1945, được bổ nhiệm chỉ huy các lực lượng miền Nam Nhật Bản vào năm 1948 và ông ghét từng phút giây ở vị trí đó. Keyes Beech đến thăm ông và hỏi rằng ông có thích công tác này không. McAuliffe trả lời ông khá thích “nhưng họ [quân lính] không thích tôi. Thực sự với họ, tôi là một kiểu chó chết nhất. Lý do để quân đội tồn tại trong cả hòa bình lẫn chiến tranh, là nó sẵn sàng cho việc chiến đấu. Nhưng cái thứ quân ở đây thì thiệt tệ hại… Tôi sẽ đảo ngược cái xứ này lên và muốn thấy tất cả binh lính ra thao trường diễn tập. Tôi muốn họ ngủ trên nền đất, muốn họ nhúng ướt chân”. Nhưng hành trình của ông không kéo dài, và tinh thần của ông, như Beech thêm vào, là không dễ lan ra.

Vậy mà những quân lính đó, những đơn vị đầu tiên đến Triều Tiên, lại chắc ăn rằng họ sẽ dễ dàng đánh bại bộ đội miền Bắc. Đại tá Jon (Mike) Michaelis, trung đoàn trưởng có chất lượng chỉ huy khá ổn đầu tiên, đã thất kinh trước sự thể hiện tồi tệ của hầu hết binh sỹ trong những tháng đầu. Ông bảo Robert (Pepper) Martin của tờ Saturday Evening Post hồi đầu tháng Mười rằng: “Khi ra trận, lính còn không biết bắn. Họ không có hiểu biết  về vũ khí của mình. Họ còn không được huấn luyện đàng hoàng với súng trường kiểu cũ nữa là. Thời gian được tiêu tốn nhiều cho việc thuyết giảng sự khác biệt giữa chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa Mỹ, và lính không còn đủ giờ để bò trườn trong các cuộc thao diễn với đạn thật rít qua đầu.  Họ đã được chăm bẵm cưng chiều, được dặn lái xe cẩn thận, nhắc mua trái phiếu chiến tranh, được tặng thưởng huân chương chữ thập, tránh VD, nhớ viết thư về cho mẹ – trong khi vấn đề là cần phải dạy cho họ biết cách thông nòng súng khi bị kẹt đạn”. Ông nói thêm, họ còn xa cách đường đất tới nỗi gần như quên mất cách dùng chân “được lịnh đi tuần, trinh sát, thì lính leo lên một chiếc xe tải ba tấn rưỡi, rồi đánh vút ra xa lộ”.

Nếu quân Mỹ thể hiện rất chính xác thái độ ở nước mình, thì phía bộ đội Bắc Triều Tiên, họ cũng phản ánh đất nước họ – cố thay đổi thật nhanh từ một xã hội bị thực dân và đàn áp sang ngay thời hiện đại bằng cách áp dụng nguyên bản mô hình Liên Xô. Họ là những chiến sỹ xuất sắc, cứng rắn, giận dữ và đánh trận giỏi. Họ ăn ý với nhau trong từng chi tiết nhỏ, họ có thể chất còn tốt hơn cả quân Mỹ, và có thể sống sót ở xa hậu cứ hơn so với đối thủ người Mỹ. Theo Roy Appleman, một sử gia thận trọng Mỹ, ước lượng có gần 1/3 số binh sỹ, và gần như là hầu hết sỹ quan, hạ sỹ quan Bắc Triều Tiên – đã chiến đấu trong hàng ngũ Cộng sản Trung Quốc trong các trận chiến gian khổ với quân Quốc gia (Tưởng Giới Thạch). Trong đầu họ, cuộc chiến này chỉ là một phần mở rộng của cuộc chiến mà họ đã tham gia trước đó, cuộc kháng chiến chống Nhật. Họ thấm nhuần tư tưởng – thật sự là rất thấm nhuần; họ gần như tin tưởng một cách máy móc vào con đường phía trước, khi bị bắt, họ vẫn nói về niềm tin chính trị của mình, còn hơn cả những người đồng chí cộng sản Trung Hoa, ngay cả với những người Trung Hoa cuồng tín nhất.

Xuất thân từ nông dân, họ căm ghét sự đô hộ của người Nhật với nước mình, và tin rằng người Mỹ cùng chế độ bù nhìn Seoul là kế thừa quá khứ đó, không có tương lai, người Mỹ giờ lại là đồng minh của  người Nhật cũng như tầng lớp cai trị cũ của Triều Tiên, do vậy, đây chỉ là sự nối tiếp cuộc đấu tranh vốn đã khiến họ lìa xa quê hương trong những năm trước. Trong suy nghĩ của họ, giới  chỉ huy quân đội Nam Hàn chính là hậu duệ của những người Triều Tiên đã theo phe Nhật; thật ra, điều này đúng với lớp sỹ quan cao cấp. Bộ đội Bắt Triều Tiên được huấn luyện nghiêm túc, cực kỳ kỷ luật và năng động. Họ ngụy trang giỏi một cách đáng ngạc nhiên, không sử dụng đường sá và thường vượt qua những vùng đất khắc nghiệt bằng chân, quân Mỹ thì không thể. Giống như những người Cộng sản Trung Hoa đã huấn luyện và chiến đấu cùng, họ có khuynh hướng tránh các trận đánh vỗ mặt. Thay vào đó là tiếp cận sớm và lách sang sườn đối phương, rồi tấn công quân Nam Hàn, quân Mỹ từ phía sau hay cạnh sườn. Họ cũng thường phái các nhóm nhỏ lên phía trước, cải trang thành nông dân, để trinh sát các vị trí quân Mỹ và gọi pháo bắn chính xác.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Một, 2013, 08:12:19 pm
Ngay từ đầu họ đã xác định rõ ràng về đối thủ và lý do chiến đấu. Họ đánh nhau với người ngoại quốc da trắng, với chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa tư bản, những đứa con của phố Wall, và dĩ nhiên với bọn bù nhìn đồng minh Seoul. Còn quân Mỹ thì không chắc chắn lắm, dù vẫn có những bài giảng thường kỳ thóa mạ lũ quỷ Cộng sản:  địch thủ họ phải đánh nhau, và lý do tại sao họ phải chiến đấu. Họ là lính đồn trú ở Nhật, và không mong đợi chiến đấu ở một nơi gọi là Triều Tiên gì đó. Một hạ sỹ tên Larry Barnett thuộc trung đoàn bộ binh số 34 nói “Chúng tôi nhận được tin vào ngày Chủ nhật, và phản ứng trong đại đội tôi là câu hỏi: ‘Triều Tiên ở chỗ nào vậy?’”. Ông nói thêm, và câu kế tiếp là: “Hãy để bọn mọi vàng giết lẫn nhau đi”. Thật tệ, bởi trung đoàn 34 và trung đoàn chị em của nó, trung đoàn 21 được lệnh là những đơn vị đầu tiên chiến đấu ở Triều Tiên. Cả hai đều trong thành phần của sư đoàn 24 yếu kém. Sư đoàn 24 được lệnh nhanh chóng đến Triều Tiên rồi di chuyển theo hướng tây của bán đảo, cho đến khi chạm súng với quân địch đang tiến xuống.  Điều này diễn ra ở một nơi gần làng Suwon, ngay phía nam Seoul. Nhưng khi đó sư đoàn trưởng sư đoàn 24, thiếu tướng William Dean, đã mắc phải một sai lầm nghiêm trọng, thay vì việc tập trung số quân hạn chế của mình lại trong một vị trí mạnh và như vậy có thể có được hỏa lực tối đa, thì ông lại thiếu khôn ngoan khi chia nhỏ các đơn vị ra. Điều này, một lần nữa cách điều quân cho thấy quan điểm phóng túng của các tư lệnh Mỹ trước kẻ thù mới. Đơn vị đầu tiên rời Nhật đến tham chiến tại Triều Tiên là lực lượng đặc nhiệm Smith, do trung tá Brad Smith chỉ huy. Phi cơ vận tải đưa họ đến Pusan, một hải cảng nằm ở phía đông nam, cuối đất nước. Bởi vì thời tiết xấu và lượng máy bay có hạn nên cuộc không vận phải tốn đến hai ngày. Những người lính cuối cùng của Smith hạ cánh xuống Pusan vào sáng ngày 2 tháng Bảy. Ngay trong đêm ngày 2 tháng Bảy, quân của lực lượng đặc nhiệm Smith lên tàu, đến Taejon, hơn nửa đường một tý giữa Pusan và nơi mà họ tin là chiến tuyến, vào sáng ngày 3 tháng Bảy. Ở Taejon, trung tá Smith gặp chuẩn tướng John Church. Church là một sỹ quan già thiếu sức sống được MacArthur gửi đến Triều Tiên chịu trách nhiệm khảo sát để xác định rằng cần gì, ở đâu.

Trinh sát của Church không có kết quả mấy khi đối diện với cuộc tấn công chặt chẽ, kín kẽ của Bắc Triều Tiên cùng với sự rút lui hỗn loạn điên cuồng của quân Nam Hàn. Nhưng ngay cả việc chính ông lập tức dời sở chỉ huy của mình từ Suwon về Taejon, cách đó chừng 90 dặm, bởi bộ đội miền Bắc đã đánh bại ông, cũng không làm tiêu tan tính tự phụ của ông. Church bảo Smith rằng, tất cả những gì họ cần, là vài tay lính GI không sợ xe tăng, trụ vững. Và điều này sẽ làm quân Nam Hàn vững tâm. Ông chỉ vào bản đồ và bảo Smith lập chốt ở gần Osan, phía nam Suwon. Thế là Smith đưa quân lên phía bắc bằng tàu hỏa, hướng về Ansong. Ở ga Ansong, họ được người Hàn Quốc reo mừng, lúc đó họ thấy rất tự hào, bởi cho thấy họ là những người tốt, những anh hùng đến cứu vớt một dân tộc hoang mang. Nhưng sau này một sỹ quan, trung úy William Wyrick, cho rằng người Hàn – có tới hàng ngàn, hàng ngàn chạy loạn xuống phía nam – không phải chào mừng sự xuất hiện của lính Mỹ, mà vì tàu đến, và như vậy họ có thể nhanh chóng có được chuyến tàu chạy về phía nam, đến Pusan.

Gần như cùng lúc, thiếu tướng Dean đến Taejon và nhận quyền chỉ huy các đơn vị Mỹ ở Triều Tiên từ Church. Ngay sau đó ông chỉ đạo trung đoàn 34 đến Pyongtaek, ngay ở phía tây nam Osan, trên đường xa lộ Seoul-Pusan. Và như thế, trung đoàn 34 với sức mạnh có hạn, đã bị tách rời với trung đoàn 21, chừng 10 dặm. Vài người cho rằng nên để các đơn vị Mỹ tập trung lại với nhau, xa về phía nam chừng 40 dặm, và dùng chướng ngại vật thiên nhiên là sông Kum sẽ ổn hơn. Nhưng Dean cho rằng sứ mệnh của mình, theo cách nói của ông, là “ngắn và dễ dàng”; và rằng quân Bắc Triều Tiên sẽ không muốn đánh nhau với quân Mỹ. Và vì thế ông đã chia quân của mình ra làm ba, một sai lầm định mệnh.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Một, 2013, 08:20:56 pm
Trở lại lúc ở Nhật, khi lính của trung đoàn 34 lên tàu đến Triều Tiên, họ được lệnh  đóng gói quân phục hè – sẽ dùng cho diễu hành chiến thắng rất nhanh sau đó ở Seoul. Trung tá Harold (Red) Ayres, một tiểu đoàn trưởng trong trung đoàn bộ binh 34, đã nói với lính: “Lính Bắc Triều Tiên ở phía bắc chúng ta. Bọn chúng chẳng được huấn luyện mấy. Và chỉ phân nữa có vũ khí và chúng ta sẽ không mấy khó khăn để chặn chúng.”. Cánh lính tráng cũng vênh váo không kém: họ trên đường đánh vài tên mọi vàng, theo cách nói thời đó, dạy chúng một hoặc hai bài học; và trở lại với cuộc sống tươi đẹp ở Tokyo. Một lần nữa, đại úy Fred Ladd – sỹ quan tùy tùng của thiếu tướng Ned Almond – nghĩ: chủ nghĩa phân biệt chủng tộc thấm sâu và lan rộng khắp quân đội Mỹ “tin rằng đám mọi vàng đó không thể đứng vững trước người Mỹ”. Anh thêm “thật khó để nói rằng điều này có thể đảo lộn từ chót lên đầu hoặc từ đầu xuống chót hoặc cả hai” (anh ghi rằng, anh có thể thấy gần như chính xác điều này lần nữa khi anh làm cố vấn sư đoàn ở Việt Nam mười ba năm sau). Khi trung đoàn 34 tiến đến vị trí ở Pyongtaek, họ đi qua một nhóm công binh Nam Hàn đang phá cầu; quân Mỹ đã rầy la lính ROK  vì thiếu tinh thần và ném chất nổ đi.

(http://tieungoclang.files.wordpress.com/2013/01/smithtaskforcearrive.jpg?w=625)
Lực lượng đặc nhiệm Smith khi vừa xuống tàu.

Điều bộc lộ ra tại thời điểm quân Mỹ và bộ đội Bắc Triều Tiên đụng độ nhau lần đầu, đó là một  thảm họa với quân Mỹ trong một hoạt cảnh rộng đầu tiên, một ví dụ thành sách của thứ xảy ra với một quốc gia đang kiêu căng với sức mạnh của mình phải đối diện với thực tại mới. Ngày 4 tháng 7, Smith mang theo 540 quân, một tiểu đoàn thiếu – hay hai đại đội cứng – lên phía bắc Osan vài dặm. Hầu hết pháo binh hỗ trợ của họ vẫn ở Pusan. Họ đến vị trí vào lúc 3h sáng ngày 5 tháng 7. Trời mưa, lính mệt mỏi, lạnh cóng. Cũng sáng đó, muộn hơn một chút, trung sỹ Loren Chamber, một trợ lý trung đội trưởng, phát hiện ra có 8 chiếc tăng T-34 chạy xuống từ Suwon. Trung đội trưởng, trung úy Philip Day hỏi cái gì đấy. Anh trả lời : “Xe tăng T-34, thưa ngài, và tôi không nghĩ chúng thân thiện với ta đâu”.

Hàng xe tăng tiếp tục tiến – sau đó là một dãy dài bộ binh và rồi, kinh khủng hơn, là một đoàn 24 chiếc tăng Bắc Triều Tiên khác. Khi mũi nhọn của hàng quân, sau này được ước lượng là dài đến 6 dặm, còn cách họ dưới một dặm, quân Mỹ bắt đầu bắn cối. Có vài viên trúng, nhưng đoàn tăng vẫn tiến. Quân Mỹ chờ đến khi đoàn tăng chỉ còn cách 700 thước, họ bắn đạn không giật, cũng có vài viên trúng, nhưng một lần nữa, không hề hấn gì, đoàn xe tăng vẫn tiến. Súng không giật không có tác dụng. Lúc đó trung sỹ Chamber gọi điện cho cối 60mm bắn. Họ trả lời là không đủ tầm. “Thế còn cối 81?” anh hỏi. “Bọn họ không đi cùng chúng ta” đó là câu trả lời. Tiếp đó anh hỏi cối 4.2. Rồi anh được trả lời là họ không thể bắn. Anh hỏi tiếp: “Còn pháo binh đâu?”. Không có liên lạc với pháo. “Không quân thì sao?”. Không quân không biết lực lượng đặc nhiệm đang nằm chỗ nào. Rốt cuộc Chamber nói, rồi, thế phải có một cái máy chụp hình để ít nhất anh có thể chụp được một bức ảnh của vụ này chứ? Anh cảnh báo rằng họ đang trong tình trạng tối nguy hiểm, bị bao vây. Thế là quân Mỹ bắt đầu trở lui nhanh nhất có thể, đa số đơn giản là tháo chạy, một số ném bỏ vũ khí, một số thì thậm chí còn tháo cả giày trận để có thể di chuyển được nhanh hơn trên các cánh đồng lúa với chân trần.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Một, 2013, 09:11:48 pm
Sở chỉ huy trung đoàn 34 cách không xa đơn vị phía trước của Smith. Và giờ bộ đội Bắc Triều Tiên hướng đến họ. Denis Warner, thông tín viên người Úc của hai tờ London Telegraph và Melbourne Herald, đã xoay sở tháp tùng theo tiểu đoàn một của trung đoàn 34 đóng gần Pyongtaek, tiểu đoàn trưởng là Red Ayres. Sáng ngày 5 tháng Bảy, ông ở đó với Red Ayres lúc chuẩn tướng George Barth, sỹ quan pháo binh sư đoàn đến. Họ không có pháo binh ở tuyến đầu, nên Dean đưa ông ta đến chịu trách nhiệm ở khu vực tiền duyên. Warner nhìn thấy Barth bước xuống từ chiếc xe jeep, quay về cánh phóng viên tụ tập ở đó, ông nói: “Này các cậu, tới rồi đây. Tôi sẽ bắn phát đạn đầu tiên vinh danh tướng quân MacArthur”. Barth  nói ông đã lịnh khai hỏa một khi quân Bắc Triều Tiên đến trong tầm 1500 thước. Các sỹ quan Mỹ, như Warner nhớ lại, đều cực kỳ lạc quan về việc sắp xảy ra. “Đám cộng sản khốn khiếp đó sẽ quay đầu và cút thẳng một khi chúng nhận ra phải đụng nhau với lính ta”Ayres nói “Chúng ta sẽ trở lại Seoul vào cuối tuần này”. Như đại đa số các phóng viên chiến tranh khác trong tình thế này, Warner băn khoăn tự hỏi liệu có nên ở lại đây để coi chiến trận thế nào hay nên trở lùi và rồi chế tác ra một câu chuyện về quân Mỹ đang giao chiến với quân Bắc Triều Tiên.

Anh quyết định ở lại trong chiến trường. Anh trông thấy một cảnh thương tâm, một dấu hiệu cảnh báo cổ điển: một đoàn dài vô tận nông dân chạy về phía nam trên con đường tắc nghẹn, những người tị nạn chạy tránh bộ đội Bắc Triều Tiên. Hình ảnh người dân chạy loạn lộ ra vấn đề với những ai từng có biết ít nhiều về chiến tranh, như kiểu một sợi rơm bay tung trong gió. Điều làm Warner lo ngại hơn, là sự kiện có rất nhiều lính Nam Hàn cũng tháo chạy, còn nhiều hơn thường dân. Anh bắt đầu đi lên hướng bắc với một số phóng viên khác, nhưng họ ngay lập tức chạm mặt với một tay lính kỵ Nam Hàn đang cưỡi trên lưng một thứ trông như giống ngựa lùn Shetland, hắn kêu ầm lên bằng tiếng Hàn: “Tanku, tanku”. Và Warner trông thấy chiếc xe tăng địch đầu tiên “đều đều và đường bệ tiến lên”. Anh ngay lập tức quay đầu chạy về sở chỉ huy của Ayres. Nhưng dường như Ayres không hiểu được thứ mà Warner vừa trông thấy tận mắt. Ông ta nói: “Chúng ta không có xe tăng”

“Tôi không nói chúng ta, mà là địch” Warner trả lời

“Những cây cầu quanh đây không đủ trọng tải cho xe tăng qua đâu” Ayres khăng khăng.

Thế là Warner lại trở lại chỗ cũ với một đội súng không giật do Ayres cử đi (“có lẽ để làm chiều lòng tôi”). Nhưng rất nhanh, hai chiếc tăng Bắc Triều Tiên hiện ra. Lính bazooka Mỹ chờ chúng tiến đến đủ gần và bắn, nhưng cũng chỉ để thấy đạn của họ bật nảy ra khỏi những chiếc tăng.

Lúc đó, tin về việc lực lượng đặc nhiệm Smith bị tiêu diệt vẫn chưa đến được sở chỉ huy của Ayres. Mãi đến khi có vài người sống sót lạc đơn vị chạy đến và báo cáo rằng hầu hết tiểu đoàn đã mất. Warner ghi lại: “Rất nhanh sau đó, Ayres cùng quân của mình tháo chạy. Sở chỉ huy của Barth cũng tan hàng trong đêm, chỉ ít phút trước khi xe tăng địch ủi đến. Đến bình minh ngày 6 tháng 7, xe tăng địch đã ở Pyongtaek, cách năm dặm đường. Lúc ăn sáng họ còn ở Songwan, và trước khi ngày kết thúc, họ đã tiến tới Chonan, 36 dặm trong 36 giờ”. Cuối ngày kế tiếp, với việc quân Mỹ vẫn tiếp tục sụp đổ, tướng Dean đã cách chức tư lệnh tiền phương của Barth cùng với một trong số các trung đoàn trưởng của ông.

Đó là một sự khởi đầu cực kỳ tồi tệ. Những cánh quân cực kỳ thiếu chuẩn bị được bố trí rất kém đã chẳng làm chậm được mấy bước tiến hung bạo của đoàn quân miền Bắc xuôi Nam –  họ đạt tốc độ tốt nhất trong vài ngày đó. Trong tuần chiến đấu đầu tiên, bộ đội Bắc Triều Tiên đã gần như diệt gọn được hai trung đoàn Mỹ; với chừng 3000 lính chết, bị thương hoặc mất tích; và toàn bộ vũ khí thu được đủ để trang bị từ một đến hai trung đoàn Bắc Triều Tiên.

(http://tieungoclang.files.wordpress.com/2012/10/phase-1-november.jpg?w=625)
Toàn cảnh giai đoạn 1 của cuộc chiến Triều Tiên, quân Bắc xuôi Nam


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Một, 2013, 09:21:12 pm
Đó là những ngày kinh hoàng. Tâm trạng ở cả Washington lẫn Tokyo đều rất nặng nề. Nỗi lo sợ rằng quân Mỹ không thể trụ nổi trong một cuộc chiến tranh hạn chế tăng lên và áp lực cho việc dùng vũ khí nguyên tử cũng dần tăng. Một bài xã luận lên tờ NewYork Times ngày 16 tháng 7 đã khéo léo đề cập: “Cảm xúc của chúng ta, khi thấy các chiến sỹ ở Triều Tiên bị địch vượt trội về số lượng, về vũ khí, là sự trộn lẫn giữa tiếc nuối, hối hận và khâm phục. Đây là sự hi sinh mà chúng ta đòi hỏi ở họ, và điều này chỉ được thanh minh bằng hi vọng việc họ đang làm sẽ giữ cho cuộc chiến là một cuộc xung đột nhỏ, và rằng cái chết của một số ít người sẽ ngăn chặn sự tàn sát hàng triệu người. Đây là một lựa chọn kinh khủng. Chúng ta không thể reo vui, hoặc thậm chí im lặng vì điều đó. Nhưng chúng ta không cần quá kích động. Chúng ta không cần một cuộc chiến lớn hơn và làm sụp đổ nền văn minh”.

Nhiều ảo tưởng Mỹ đã sụp đổ trong các tuần đầu chiến tranh Triều Tiên, có lẽ điều quan trọng nhất là niềm tin về bom nguyên tử như một vũ khí tối thượng, thứ vũ khí duy nhất cần thiết. Đó là một ý tưởng nghiêm túc trong suy nghĩ về an ninh quốc gia có ngay từ hồi sau Thế Chiến II, phần bởi vì đó thật sự là một thứ vũ khí ghê gớm và phần vì nó đồng nghĩa với chi phí quốc phòng giá rẻ. Chỉ một năm trước, Omar Bradley, một con người suy nghĩ rất thực tế, đã báo cáo trước nghị viện rằng thời kỳ của các cuộc đổ bộ đường thủy về cơ bản đã chấm dứt. “Nói thẳng tưng, bom nguyên tử một khi được dùng thích đáng thì gần như sẽ làm cho điều đó [việc đổ bộ tấn công đường thủy] không còn khả năng” ông nói. Sau những thất bại đau thương, đất nước nhận ra rằng hệ thống phòng thủ hiện hữu chỉ là một ảo ảnh, rằng bom [nguyên tử] là một thứ vũ khí hạn chế nhất trong bất kỳ loại chiến tranh cục bộ nào, và rằng sự bế tắc với người Nga có thể tạo ra tình trạng căng thẳng khó kiểm soát nổi trong phạm vi ảnh hưởng của hai siêu cường. Cũng có một sự thật mới: vũ khí nguyên tử là cực kỳ mạnh mẽ, một thứ vũ khí kinh hoàng nhưng trong nhiều trường hợp là ghê tởm về mặt đạo đức. Đây là một thứ vũ khí gần như bất khả dụng nhất. Có một sự phòng ngừa tối thượng, thật sự tối thượng, không một quốc gia nào khinh suất tấn công một thành viên của câu lạc bộ nguyên tử mà không có suy xét cẩn thận. Nhưng trước kia, khi Mỹ còn độc quyền với thứ vũ khí này, thì rất nhanh, ngay lập tức, nó dường như đã làm cuộc chiến Thái Bình Dương kết thúc, và tạo nên một ảo tưởng về chi phí quốc phòng Mỹ: chỉ cần phát triển một xí nghiệp pháo binh rẻ tiền, và chỉ cần một vũ khí trong đó. Nếu những quả bom nguyên tử thả xuống Hiroshima và Nagasaki dường như đã mở đầu cho một chương mới tinh trong lịch sử vũ khí chiến tranh, giả định là làm cho tất cả các vũ khí thành lạc hậu và tạo nên một thế giới mới, ở đó sức mạnh quân sự chỉ tồn tại với những quốc gia tiên tiến, kỹ thuật cao và giàu có nhất, thì những thất bại trên chiến trường Triều Tiên đầu năm 1950 đã đập nát niềm tin đó. Thế giới quân sự dường như đã thay đổi hoàn toàn hồi tháng 8 năm 1945; nhưng giờ đây rõ là chẳng có mấy chút thay đổi. Bởi đất nước hiểu rõ được hạn chế của vũ khí nguyên tử, nên sự ủng hộ dành cho chính quyền Truman cũng như chiến tranh Triều Tiên bắt đầu suy giảm rõ ràng. Có lẽ không phải vì đa số người dân muốn đổi thành một điều gì đó mới mẻ, cũng không phải vì chủ nghĩa quốc tế thay cho chủ nghĩa biệt lập kiểu cũ, nhưng cũng không có nghĩa là họ thích một thứ đại loại vô chính phủ ở Washington. Nếu đó là thiên mệnh mới trên trường quốc tế của nước Mỹ và họ phải đối mặt, thì đó khó có thể là một định mệnh mà họ chọn.

Tháng 7 năm 1950 là một trong những tháng tồi tệ nhất trong lịch sử quân sự Mỹ: một cuộc rút lui dài nhục nhã kèm với những trận giao tranh nhỏ nhưng kinh hoàng và vài thời khắc dũng cảm rời rạc của các đơn vị Mỹ yếu về số lượng, kém về vũ khí bị áp đảo bởi các lực lượng xung kích lớn, khéo léo của Bắc Triều Tiên. Quân Mỹ luôn bố phòng một cách mỏng manh ở các hành lang xung yếu; rồi với số lính hữu hạn, cố làm chậm bước tiến của quân Bắc Triều Tiên cho đến khi các đơn vị khác được tập trung ở Mỹ lên tàu đến được Hàn Quốc; đó là một quân đội cố mua lấy thời gian quý giá chính bằng một thứ tiền còn quý giá hơn: mạng sống của thanh niên nước mình. Còn ở chính quốc, thì hiện chỉ mới bắt đầu động viên cho cuộc chiến mới nhất. Tình hình nhân lực ở Nhật ngay trước cuộc chiến là quá tuyệt vọng đến mức khi cuộc chiến nổ ra các binh sỹ bị kết án tội nặng và đang còng tay đưa về Mỹ để giam, thì được cho lựa chọn đi đánh nhau ở Triều Tiên và hồ sơ sẽ được xóa. Trung úy William Best một tùy tùng của thiếu tướng Hap Gay – tư lệnh sư kỵ binh số 1 – nói: Nếu bạn là một sỹ quan trong một sư đoàn Mỹ ở Tokyo trong những ngày trước khi cuộc chiến Triều Tiên nổ ra, thì bạn sẽ tiêu tốn một tỷ lệ khổng lồ thời giờ cho việc sắp xếp cho một lượng lớn lính của bạn sẵn sàng trước tòa án binh.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Một, 2013, 09:26:17 pm
Đầu tháng 7, MacArthur báo với hội đồng tham mưu liên quân rằng ông cần 11 tiểu đoàn để giữ vững trận tuyến. Đó đích xác là một sự tuyệt vọng theo cái cách mà yêu cầu đó được diễn dịch ở Mỹ: Chú Sam cần bạn, bây giờ (hoặc hôm qua) cho cuộc chiến Triều Tiên [Uncle Sam wants you, now (or yesterday) for the Korean War]. Những thủy quân lục chiến đã từng tham gia thế chiến II và đã vui vẻ phục viên về với đời sống dân sự, nhận ra rằng họ cực kỳ khó chịu về điều đó, họ không tình nguyện vào đội dự bị thủy quân lục chiến và tự cho mình là thường dân, dù sao họ vẫn phải sẵn sàng cho quân ngũ, dựa trên giao ước cũ giữa họ và chú Sam. Chỉ trong vòng không đầy một thập kỷ, họ bị khuấy động khỏi kiếp thường dân của mình những hai lần. Trong lúc ấy, số thanh niên đến các trung tâm tuyển quân không mấy đông đảo như hồi tháng 12/1941, sau trận Trân Châu Cảng, dù đã có tiến hành việc gọi quân dịch. Lính hiện dịch được dồn vào các đơn vị chiến đấu và đưa ngay đến Triều Tiên mà không qua huấn luyện. Khi quân Bắc Triều Tiên tấn công, như theo ghi chép của một sỹ quan, đại úy Frank Munoz, một đại đội trưởng hồi đầu cuộc chiến: “Chúng tôi bật máy hút bụi lên. Và hút lính từ mọi nơi, từ sau bàn giấy, trong bệnh viện, từ nơi tuyển mộ. Chúng tôi nhanh chóng đủ người”. Lúc đầu bảo rằng sẽ có 6 tuần huấn luyện chiến đấu trước khi lên tàu, nhưng thật ra không có thời gian cho việc đó; và rồi sao đó lại nói là sẽ có 10 ngày huấn luyện khi họ đến Triều Tiên; điều này cũng trôi sông trôi biển; cuối cùng có tin là sẽ có 3 ngày huấn luyện đặc biệt một khi họ đến Pusan; và rồi cũng không có thời gian cho ngay điều này, bởi người Bắc Triều Tiến đã tiến gần và còn gần hơn nữa. Thế là quân lính trực tiếp từ Hoa Kỳ, lên tàu, và thường ngay lập được đổ vào các vị trí chiến đấu, dù đa số chưa từng ngắm thử qua súng trường của họ, kiểm tra bắn thử súng cối; và đại liên cỡ .50 chẳng mấy khi được lau chùi.

Ở Lầu Năm góc, lo ngại dần tăng cao về vấn đề năng lực lãnh đạo; đặc biệt với trung tướng Walton Walker, tư lệnh tập đoàn quân 8, thời đó đồng nghĩa với tư lệnh tất cả quân Mỹ (và ngay sau đó là tất cả các lực lượng trên bộ của Liên Hợp Quốc) ở Triều Tiên. Và vì thế nên trong những ngày tệ hại đầu tháng Tám, lục quân đã gửi ngôi sao đang lên của mình, trung tướng Matthew Bunker Ridgway, trong một tổ đặc biệt cao cấp ba người, đến gặp MacArthur, để lắng nghe ông, để xem xét yêu cầu của ông, đồng thời xác định các lo ngại của Washington đặc biệt về quan hệ giữa MacArthur và Tưởng Giới Thạch.

Trong khi Averell Harriman, tổ trưởng của tổ đó, bận rộn với việc lượng giá MacArthur và cố giảm khoản cách giữa ông ta và chính phủ trong vấn đề Trung Hoa và Tưởng Giới Thạch, thì công việc quan trọng nhất của Ridgway là thanh tra Walton Walker và bộ tư lệnh của ông ta ở Triều Tiên. Rigdway đã từng công tác ở một sở chỉ huy trong những ngày dữ dội sau cùng của thế chiến II, chỉ huy quân dù, quân chủng đỉnh của đỉnh, bởi vậy nên ông thất kinh trước những gì ông thấy ở Triều Tiên. Ông tin là hầu hết những sỹ quan chính yếu của Walker không hoàn thành tốt công việc trong cuộc chiến này và các sỹ quan đó đang ở trong cơ hội công tác cuối cùng ngõ hầu có thể về hưu với cấp hàm cùng lương hưu kha khá. Như thể những người có trách nhiệm ở Washington và Tokyo đã cấp vé cho họ vì những quan hệ xưa cũ, hơn là việc gửi hoặc đề nghị một lứa sỹ quan mới, tốt nhất. Walker không thể đồng ý hơn và rất lo ngại về chất lượng của những người ông phải nhận, sự thật là có rất nhiều sỹ quan tốt dường như đã bị hút mất một khi đến Á châu, để phục vụ trong tổng hành dinh Tokyo thay vì chỉ huy thực binh trên chiến trường. Ridgway cho rằng Walker là một sỹ quan đứng đắn, giỏi giang; nếu cho ông ta một đơn vị xe tăng và những mệnh lệnh đặc thù, sẽ không ai có thể làm tốt hơn. Nhưng dù sao Ridgway cũng cho rằng Walker quá tầm trong vị trí này, và hệ thống tham mưu của tập đoàn quân 8 quanh ông ta thực sự yếu, tổ chức kém. Sự thụ động của viên tham mưu trưởng của Walker làm ông sốc. Nhiều trung đoàn trưởng lại già và thiếu kinh nghiệm chiến đấu. Ông báo cáo về rằng: với tư cách lính chiến, họ không bao giờ với tới tiêu chuẩn của những người tiền nhiệm trong thế chiến II.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Một, 2013, 09:34:11 pm
Gần như mọi thứ trong báo cáo của ông đều tiêu cực. Lính thì thường thiếu bộ binh và không năng động. Họ trở thành tù nhân của máy móc, đặc biệt là xe cộ, trong khi hệ thống đường xá ở Triều Tiên thì ít ỏi và nghèo nàn. Họ không biết phản công, họ không đào hầm hào đúng cách, chẳng chịu cố gắng ngụy trang, sắp xếp cụm hỏa lực và liên lạc giữa các đơn vị kém. Ridgway rất sốc – nơi đây, nước Mỹ đã đưa thanh niên của mình ra chiến đấu trong cái cách cực kỳ nguy hiểm. Cũng ở đó, ông đã vi phạm nguyên lý cơ bản trong tín điều của một tư lệnh bộ binh. Ông mạnh mẽ tin rằng cần phải huyền chức Walker, bởi ông ước lượng rằng Walker thiếu các kỹ năng chỉ huy ở mức độ cao và thiếu tầm nhìn cần có để thay đổi mọi điều. Tuy vậy, Ridgway đã rất thận trọng lúc xây dựng các đề xuất quá mạnh này. Đương nhiên không dễ dàng trong việc huyền chức một tư lệnh đang trên một chiến trường nguy cấp, nơi quân binh đang bị đe dọa sẽ bị hất xuống biển. Hành động như vậy liệu rằng có làm suy sụp tinh thần vốn đã mong manh của binh sỹ? Ridgway tự hỏi. Liệu ông giống như một tay cơ hội, chỉ trích Walker bởi muốn có vị trí chỉ huy cho chính mình. Vì không biết sự khác biệt trong quan điểm giữa MacArthur và Walker là rất lớn, nên ông e ngại phản ứng của MacArthur một khi đề xuất thôi chức Walker. Liệu rằng MacArthur, một người luôn nhạy cảm với Washington, sẽ xem ông là một phần tử xung kích của Truman hay một tay cơ hội chủ nghĩa không? Ông quyết định trao đổi thêm với Harriman, ông này vốn cũng đã kinh qua một nhiệm vụ cao cấp, đầy khó khăn và nghi ngờ hồi thập niên 1930. Trong những cuộc trao đổi quyết định, cũng như tướng Lauris Norstad – một sỹ quan không quân, thành viên thứ ba trong tổ công tác – Harriman tin rằng Walker nên ra đi, nhưng cần phải thực hiện cẩn trọng trong thời điểm này, hoặc phải do chính MacArthur đưa chủ đề đó ra, như Norstad tin, bất kỳ thảo luận nào phải được đề xuất từ viên chỉ huy. Họ không muốn bị xem là do Washington gửi đến để công kích quyền chỉ huy của ông ta.

(http://tieungoclang.files.wordpress.com/2013/01/matthew_b-_ridgway.jpg?w=625)
Trung trướng Matthew Rigdway

Harriman đề nghị, tốt hơn là Ridgway nên thảo luận vấn đề Walker với các quan chức cao cấp ở Washington, trong đó có cả chính tổng thống, và rồi đưa ra khuyến nghị theo các kênh thích hợp. Trớ trêu thay, như Clay Blair sau này đã chỉ ra, chính MacArthur cũng đã mất tin tưởng vào Walker và đang suy nghĩ việc thay thế ông ta, MacArthur cũng tin rằng Ridgway là ứng viên tốt nhất cho vị trí đó. Giả mà Ridgway thực sự thay cho Walker vào lúc này thì, Blair viết, “các sự kiện ở Triều Tiên sẽ diễn biến khác đi và thuận lợi hơn cho quân đội Mỹ”. Vì Ridgway có thể vững vàng trước MacArthur còn Walker thì không, vì Ridgway có thể độc lập với Tokyo hơn Walker, có mối quan hệ với Washington tốt hơn; và gần như chắc chắn rằng sẽ thận trọng hơn trong việc bắc tiến sau khi vượt qua vĩ tuyến 38.

Trên đường về Washington, Larry Norstand thúc Ridgway về vấn đề nắm quyền ở tập đoàn quân 8. “Tôi nghĩ anh nên làm tư lệnh đơn vị đó”. Nhưng Ridgway, cực kỳ nhạy cảm với ý tưởng rằng ông dựa vào vị trí cao và đòn bẩy mạnh của Lầu Năm Góc để tiếm quyền chỉ huy của một người khác, nên đã cưỡng lại. “Làm ơn đừng nhắc tới việc đó. Làm như tui đến đây để kiếm việc, tui không phải vậy”. Còn có một vấn đề khác mà Ridgway ghi nhận lại, nhưng miễn cưỡng đề cập. Là ông rất hồi hộp trước thông tin của MacArthur về kế hoạch đổ bộ đường thủy lên sau tuyến quân địch vào một nơi có tên là Inchon – Ridgway là một sỹ quan dù và ông thích cái ý tưởng về cuộc tấn công bất ngờ cách xa nơi quân địch mạnh – nhưng ông lo ngại những khó khăn gặp phải đi làm việc với một sỹ quan quá cao cấp như MacArthur, mà ông này thì về mặt vật lý cách rất xa cái chiến trường xa lạ, hung tợn và đau khổ đó.

Trên thực tế là quyền chỉ huy [tập đoàn quân 8] gần như đã chuyển cho Ridgway tại lúc đó. Harriman đã thúc rất mạnh cho việc này. Đề nghị của ông đã tiếp cận đến Truman, Louis Johnson – bộ trưởng quốc phòng; Omar Bradley – chủ tịch hội đồng tham mưu liên quân; và Joe Collin – tham mưu trưởng lục quân. Mọi người đều đồng ý với nước cờ đó, bởi vì nó sẽ đưa một tư lệnh trẻ xuất sắc nhất Hoa Kỳ vào cuộc và một lợi điểm khác – dù không ai thực sự nói ra miệng – là giảm bớt khả năng MacArthur tự tung tự tác. Ridgway là một sỹ quan mạnh mẽ tới mức ngay cả những người kiêu ngạo như Douglas MacArthur cũng sẽ thấy khó khăn hơn trong việc vượt mặt ông ta. Nhưng Joe Collin đã đưa Ridgway danh sách cán bộ nguồn cho vị trí phó tham mưu trưởng vào năm 1951 và lo rằng ở Triều tiên thì “cậu có thể bị mắc míu vào đó và tôi không thể lôi cậu ra được”. Đó là một góc nhìn kỳ lạ với vị trí tư lệnh ở duy nhất một cuộc chiến mà nước Mỹ dính vào, rõ ràng nó phản ánh niềm tin sâu xa ở Washington rằng đó vẫn có thể là vòng sơ loại, còn đòn tấn công lớn thật sự của kẻ thù sẽ nhanh chóng nổ ra ở châu Âu. Trong số những người nghĩ rằng điều này là sự thực, có Rigdway, chính ông.

(hết chương 10)


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Một, 2013, 09:46:11 pm
Chương 11

Và thế là Walker không bị thay thế vào thời điểm đó, dù rằng ông không có người đỡ lưng quan trọng ở Washington hay Tokyo, với địa phương thứ hai này thì ông thường bị bật bãi khỏi những quyết định cầm quân quan trọng và nơi đó, chính người của MacArthur sẽ họp riêng và làm thay ông. Như viên phi công cũng là bạn tâm tình thân thiết nhất của ông – Mike Lynch – nhận xét: Walker đang chiến đấu trên hai mặt trận – chống lại quân Bắc Triều Tiên và lệnh từ cấp trên ở Tokyo. Walton (Johnie) Walker biết việc gì đang diễn ra và hiểu rằng ông rất gần với hiểm họa bị huyền chức. Nhưng có một phẩm chất ngoại hạng mà Ridgway cũng nhận thấy ở ông, thứ mà Ridgway đồng thời cho là hạn chế của Walker, đó chính là sự gan lỳ cóc tía. Hai viên tướng hội đàm với nhau lúc quân của Walker bị đẩy lùi một cách có hệ thống về sau sông Naktong. Câu hỏi lớn trong những ngày u ám đó là liệu rằng họ có thể giữ vững vành đai Pusan không, hay đơn giản là cùng nhau bị đẩy bật khỏi bán đảo này. Trong buổi làm việc Ridgway hỏi Walker rằng ông ta có thể làm gì nếu phải lùi hơn nữa. Walker trả lời rằng ông không thể lùi tý nào nữa. Ridgway nói: “Ừ, thì đó là điều anh nói với binh sỹ, nhưng anh thực sự sẽ làm gì nếu anh lùi khỏi tuyến Naktong?” . Walker bướng bỉnh trả lời: “Tướng quân, tôi sẽ không lùi khỏi tuyến Naktong”.

(http://tieungoclang.files.wordpress.com/2013/01/walker.jpg?w=625)
Trung tướng Walker

Ít nhất cũng có một điều may mắn với Walter – ông không có thời gian để lo lắng về việc Washington hay Tokyo nghĩ gì về ông. Ông quá bận rộn trong những ngày đó bởi phải liều mạng di chuyển các đơn vị để cố chặn các cuộc tấn công mới nhất của quân Bắc. Và vì vậy chẳng còn mấy thời gian để ông tự thương thân mình. Khủng hoảng nối tiếp khủng hoảng. Mỗi sư đoàn trưởng, trung đoàn trưởng, ngay đến đại đội trưởng đều thiếu lính. Trong những đêm tháng 7, bộ đội Bắc Triều Tiên dường như lúc nào cũng sẵn sàng chọc thủng tuyến quân Mỹ ở bốn, năm vị trí. Việc của Walker luôn là bít lỗ thủng kế tiếp – cố xác định xem những vị trí nào là quan trọng nhất. Hiếm có viên tư lệnh Mỹ nào đối diện với tình hình xấu như vậy. Việc lính của ông chuẩn bị kém phần nào có lỗi của ông, vì ông là một trong những vị chỉ huy ở Tokyo từ trước thời 25 tháng Sáu, nhưng rõ là trong những ngày đầu họ bị quân thù vượt trội về quân số và còn yếu tố sân nhà. Tuyến tiếp vận của Walker kéo dài một cách tuyệt vọng đến tận California. Thiếu đủ thứ: lính, sỹ quan, và thỉnh thoảng là thứ quan trọng nhất: đạn dược. Ông đang ở đất địch, một sỹ quan thiết giáp ở một đất nước núi non chiếm phần lớn, mà nếu nói về xe tăng, thì đối phương có loại xe tốt hơn, nhiều hơn ông có. Nhưng tệ nhất, là cả trong việc chỉ huy ông cũng ở vị trí khiêm tốn so với những người bên ngoài: MacArthur và tay tham mưu trưởng còn quyền lực hơn của ông ta, Ned Almond, họ nhìn ông với vẻ hạ cố, nếu không nói là khinh miệt rõ rệt. Đôi khi Walker còn có cảm giác rằng ông là người Mỹ cuối cùng ở vùng Viễn Đông được nghe những quyết định sống còn. Ban tham mưu dưới quyền MacArthur và Almond biết được cái nhìn không mấy tôn trọng của hai vị thượng cấp với ông ta nên thường bắt chước cái thái độ ấy.

Walker còn không có được các sỹ quan chiến đấu mà ông muốn. Những người ở Washington, và cả Ridgway khi kết thúc chuyến công tác, đều phàn nàn về chất lượng tệ hại của ban tham mưu Walker, nhưng cứ mỗi khi có một chuyến tàu chở quân cập cảng Yokohama, Nhật Bản, trước khi các sỹ quan lên bờ, thành tích của họ đều được bộ chỉ huy Viễn Đông sàng lọc. Những sỹ quan tốt nhất sẽ bị hớt về sở chỉ huy của MacArthur, những ai còn lại thì mới được đưa về Tập đoàn quân số 8. Đó là một cách làm chắc ăn nhưng tồi bại, với cách này những tài năng bị đưa đi sai chỗ. Về bản chất Walker không phải là người thích phàn nàn. Ông luôn chấp nhận những quyết định kỳ quái trong quân đội, nhưng rồi sau đó là càm ràm với những người thân thích về việc sở chỉ huy luôn  nhạo báng chất lượng sỹ quan chỉ huy và tham mưu của ông, trong khi lại từ chối gửi cho ông những vị xuất sắc mà ông yêu cầu. Ông muốn có Slim Jim Gavin, một chỉ huy quân dù nổi danh từ Thế Chiến II, một trong những sỹ quan trẻ giỏi nhất, có uy tín nhất trong quân đội, và đã rất giận dữ khi biết ông không thể có người này. Trong suốt Thế Chiến II, George Marshall làm mọi người hoảng vì vấn đề tuổi tác của đa số các trung đoàn trưởng của mình, ông đề nghị các sỹ quan trẻ hơn, sôi nổi hơn; ông không muốn có trung đoàn trưởng nào quá 45 tuổi. Nhưng ở Triều Tiên, nơi đòi hỏi cố gắng khác thường về mặt thể chất bởi thời tiết khắc nghiệt và vì bản chất của cuộc chiến; thì cũng lại giống câu chuyện cũ. Ngay trước chiến tranh, chỉ một trong số chín trung đoàn trưởng là Mike Michaelis 37 tuổi hợp cách của Marshall: còn những người khác thì một 55 tuổi, một 50, bốn người 49 và hai người 47. Michaelis là viên trung đoàn trưởng xuất sắc nhất thời đầu cuộc chiến Triều Tiên, và trung đoàn số 27 Wolfhounds của anh được dùng trong hầu hết những tình huống nguy cấp nhất, kiểu như đoàn cứu hỏa. Trong những ngày đầu ấy, khi những đơn vị Mỹ bị quân Bắc Triều Tiên hợp vây, thì Michaelis là thành công nhất (những người đương thời với anh nghĩ vậy), bởi anh là một sỹ quan dù, mà lính dù thì được dạy để không lo lắng nếu họ thấy mình bị bao vây. Đó là một thói quen cơ bản và họ luôn mong đợi được tiếp vận đường không. Trong khi các sỹ quan ở các đơn vị khác, khi bị hợp vây và cắt rời khỏi đại quân, thường có xu hướng hoảng loạn và nhanh chóng rút lui, kỷ luật đội ngũ bị tan vỡ khi rút lui và thường rơi vào phục kích của quân Bắc Triều Tiên đã chuẩn bị kỹ.  Thứ mà Michaelis và quân của anh lo đầu tiên, trước hết đó là sự toàn vẹn của đơn vị. Lính của anh phải bảo vệ được lẫn nhau và dùng vũ khí để dựng lên một vùng hỏa lực phòng thủ, điều này được xem quan trọng hơn việc họ có đang bị hợp vây hay không.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Một, 2013, 09:49:43 pm
Với Walker, cuộc chiến đang trở thành một đỉnh cao cay đắng trong quân nghiệp phong phú một cách đáng ngạc nhiên, ở đó, như các sỹ quan có năng khiếu khác, ông đã bất chấp nền tảng học vấn và thứ hạng trong lớp của mình. Ông lớn lên ở Belton, miền trung Texas, như một số thiếu niên trong thời đó, vốn không có quá nhiều lựa chọn, đã theo con đường binh nghiệp để có thể rời khỏi thị trấn nhỏ và có một cuộc sống với nhiều ý nghĩa hơn. Ông vào một trường quân sự địa phương, khi tốt nghiệp ông muốn theo học ở West Point. Nhưng vì còn quá nhỏ, 15 tuổi, nên thay vì WP ông vào VMI. Khó mà nói ông học giỏi ở đó – hạng thứ 52 trong lớp có sĩ số 92 – nhưng vào tháng 6 năm 1907 ông xoay sở để có giấy của nghị viện cử vào West Point học, và ông theo học ở học viện đó niên khóa 1911. Nhưng thời kỳ ấy ở Texas rất khó khăn; cha ông viết thư cho ông và kêu về nhà để hỗ trợ công việc tiệm đồ khô của nhà. Tháng 10, ông rời West Point, và rồi trở lại nhập học theo khóa 1912. Một lần nữa ông lấy cần cù bù thông minh; ông tốt nghiệp hạng 71 trong lớp có 96 người, và tham gia vào một quân đội bé tý trước khi lớn mạnh hơn bởi Thế Chiến I.  Trong những năm ngay trước thế chiến, ông tòng sự trong trung đoàn 19, đơn vị này có một công việc tốt trong thời đó là đánh nhau với Pancho Villa trong một chuỗi các cuộc xung đột nhỏ dọc biên giới Mexico.

Trong Thế chiến I, là một đại úy trẻ, Walker chỉ huy một đại đội súng máy đánh nhau với quân Đức và kiếm được hai huy chương Sao bạc (Silver Star) trong trận Meuse-Argonne. Đó là sự kiện bản lề cho một sự nghiệp khá bình thường cho đến lúc ấy. Walker là một sỹ quan mạnh mẽ, hung hăng. Thượng cấp của ông thấy rất ấn tượng; họ nghĩ ông là một người lính không bao giờ lùi bước, không thông minh nhưng là một người tốt chết tiệt, một người có thể luôn tin vào được. Có thể xây dựng nên một quân đội mạnh với những người lính như ông ta. Ở West Point, thứ hạng trong lớp dường như là quan trọng, nhưng trên chiến trường nó không có tác dụng nhiều, ở đó tất những gì cần là bản năng, lòng dũng cảm và ý thức trách nhiệm. Ông chơi tốt với anh em đồng tuế, một trong số họ là Leonard (Gee) Gerow, ông này là bạn thân nhất của ngôi sao trẻ đang lên trong thời đó: Dwight Eisenhower.  Năm 1925, Walker được chọn tham gia vào trường Sỹ quan tham mưu và chỉ huy ở Fort Leavenworth, trường này được lập sau thế chiến để giúp quân đội chọn ra những sỹ quan mai kia sẽ thành tướng; và nếu cần sẽ giúp quân đội giải quyết công việc. Trong thời ấy, không ai nói về những thứ kiểu như lối đi nhanh nhất, nhưng nếu có một trường nào nổi trội trong số những viện quân sự trong thời bình – vốn có tốc độ thăng tiến sự nghiệp kiểu rùa bò – thì nên bắt đầu ở Leavenworth. Cùng học với ông ở Leavenworth là Gee Gerow và Eisenhower – ông này thì hạng nhất trong lớp 245 người và chỉ mới bắt đầu bứt lên dẫn đầu đàn. Walker xếp thứ 117, nhưng nhận được một nhiệm vụ tốt. Ông được nhận vào Học viện Chiến tranh lục quân. Tốt nghiệp năm 1936, ông nhận một vị trí dường như rất bình thường, sỹ quan quản trị của Lữ đoàn bộ binh số 5 ở Vancouver Barrack bang Washington. Trên thực tế là ông may mắn, bởi viên tư lệnh là một lữ đoàn trưởng trẻ tên George Catlett Marshall. Marshall khắc khổ và hoạt động trí não, vẻ ngoài là một sỹ quan tham mưu tinh túy, nhưng thực chất cũng là một sỹ quan chiến đấu dũng mãnh – không ai biết vì ông đã không cho ai cơ hội, Marshall dường như đã nhận ra một Walker mạnh mẽ, hung hăng và rõ ràng là can đảm. Từ đó xây dựng nên một tình bạn chân thật, năm 1939 Marshall lúc ấy nổi lên như một sỹ quan độc thân quan trọng nhất trong lục quân, ông đến Washington để nhận công việc trưởng ban tác chiến, ông đã sống với gia đình Walker một thời gian. Điều này có cả điểm cộng lẫn điểm trừ, điểm cộng cho sự nghiệp của Walker bởi ông là người của Marshall, nhưng sau này là điểm trừ khi ông đến Nhật và Hàn quốc, bởi cảm giác lo ngại phi lý của MacArthur với Marshall vốn có từ Thế Chiến II.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Một, 2013, 09:54:39 pm
Mà dù Johnie Walker thế nào đi nữa thì ông cũng không có uy tín. Ông chừng 5-5, lùn và mập. “Lão ta là một tay mập bé nhỏ phải không?” vài người có lần hỏi George Patton, người Walker đã phục vụ vẻ vang dưới quyền trong thế chiến II. Patton trả lời: “Đúng tay đó, lão là một tay chiến binh chó chết nhỏ bé”. Cằm ông tròn nhẵn, mặt mũi và thân hình không có cách nào tả. Ông luôn quá cân một chút, 82 ký cho một cơ thể lùn. Như một cây bút người Anh ghi nhận, ông trông rất giống một nhân vật trong quảng cáo của hãng lốp Michelin. Nếu Hollywood có casting thì phải thêm vào vài phân chiều cao cho ông hoặc phải mỏng người bớt và vai rộng ra. Trong lục quân, đều nhìn nhận và thích các vị tướng phải cao ráo, và tin rằng điều này sẽ giúp cho công tác chỉ huy, rằng càng cao càng tốt, nhưng nếu không thì, các vị tướng ít nhất cũng phải nên hung hăng như gà chọi, ngay cả với những người mập hơn, cao hơn. Trong bộ đồ trận, Walker trông không giống một viên tư lệnh, mà trông giống như một người vừa bị lôi ra khỏi cuộc sống dân sự và đưa vào một đại đội không hợp lý.

Điều làm cho sự nghiệp của ông còn khó khăn hơn đó là ông sợ cánh báo chí, không tin tưởng và cảnh giác, ngay cả đối với những phóng viên thích ông, hiểu ông đang hoạt động trong những hoàn cảnh khó khăn bất thường. Khi có dịp với một phóng viên ông tin cậy, như Frank Gibney của tờ Time, Walker nói về những khó khăn và chất lượng tồi của lính mình – “đó là thứ họ cho tôi để chiến đấu”. Còn lại ông giữ kín sự giận dữ và thất vọng của mình. Ông hoàn toàn điều khiển được bản ngã của mình, con trai ông – Sam Wilson Walker (anh cũng nhận được một huy chương Sao bạc ở Triều Tiên khi còn là một sỹ quan trẻ), có lần ghi nhận: “là một điểm tốt chết tiệt – bởi ông phục vụ dưới quyền hai tay ích kỷ nhất mà quân đội Mỹ từng sản sinh ra, George Patton và Douglas MacArthur”. Ông chấp nhận quyền hành ông được giao, chiến trường như nó đã tồn tại. Ông không phàn nàn. Trong Thế chiến II, lúc đầu ông là sư đoàn trưởng và rồi quân đoàn trưởng trong tập đoàn quân số 3 dưới quyền Patton – “Georgie” – như trong những thư ông gửi về cho vợ, lúc duy nhất mà ông dám nhạo báng về vị thượng cấp nổi danh. Thực tế  cái vị trí sỹ quan cao cấp dưới quyền Patton nguyên là thứ Eisenhower muốn có, nhưng khi Eisenhower – thông minh, tài năng và có sức hút – được lôi vào guồng máy tham mưu, lập kế hoạch của Marshall, thì Walker được hưởng cái phần thưởng đó trong ngành thiết giáp.

Ông rất được Patton ưa thích, có phần không nhỏ bởi sự hùng hổ của mình. “Trong tất cả các quân đoàn dưới quyền tôi, quân đoàn của cậu luôn là đơn vị hăm hở tấn công nhất”. Patton, người không bao giờ biết khen ai quá mức, đã có lần viết cho Walker như vậy. Ông nghiêm khắc và không biết sợ trong việc khiển quân, chiến thuật của ông cũng táo bạo như của vị thượng cấp, nhưng không cắt quá rộng hoặc cũng không cố dựng lên một phương pháp riêng. Ông đủ thông minh để biết rằng chỉ có chỗ cho một ngôi sao duy nhất trong thế giới của George Smith Patton, Jr. Khi giới báo chí muốn thổi, xem ông như một tiểu Patton, ông phủi họ đi. Dù sao thì Eisenhower cũng đánh giá ông gần ngang mức với Matt Ridgway hay Joe Collin “sấm sét” trong cuộc chiến, và khi thế chiến kết thúc, ông trên đường nhận một vị trí chỉ huy trọng yếu ở vùng Thái Bình Dương. Ông không ảo tưởng về mình; ông là một người lính tốt với công việc của mình, và ông sẽ thể hiện nổi trội khi được dưới quyền một sỹ quan tài năng thực thụ.

Hàn Quốc thời hậu chiến, nguyên được giao cho John Hodge, nhưng ông này đã mang nó cho Lý Thừa Vãn và những người Hàn khác mà ông gần như không có tý giác quan chính trị nào về các điều kiện của họ cũng như sự chiếm đóng của Nhật Bản. Thay vào đó Walker đến Tokyo ở cương vị tư lệnh tập đoàn quân 8 vào tháng Chín năm 1948. Ngay cả trước khi chiến tranh Triều Tiên nổ ra, ông tồn tại ở Tokyo trong dạng bất đắc dĩ. Bởi MacArthur và những người quanh ông, xem những viên tướng từng chiến đấu ở châu Âu là thù địch (MacArthur và đồng sự tin rằng họ đã chiếm lượng quân và khí tài lí ra sẽ chuyển cho khu vực Thái Bình Dương), Walker đến đó với những dấu hiệu vô hình làm băng đảng Battan chống lại ông. Trước hết, ông không phải là người của MacArthur. Rồi ông đã chiến đấu ở sai chiến trường. Và ông có bạn bè không hợp lý, Marshall đỡ đầu, Gerow và Eisenhower là chiến hữu. Ông là một trong số ít người trong quân đội được mời dự đám cưới của John – con trai Eisenhower vào năm 1947.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 01:34:21 am
Ở Tokyo, ông không tương thích nổi và cũng không được chấp nhận. Những con người cũ kỹ của hệ thống hiểu rằng họ không nhất thiết phải có ông. Và điều này đặc biệt đúng với tham mưu trưởng mới của MacArthur, thiếu tướng Edward Almond, ông này vừa trải qua Thế chiến II đầy thất vọng, và rõ ràng đây là lần bổ nhiệm quan trọng sau cùng của ông, Almond là tay chơi chính trong cuộc chiến Triều Tiên và sự kình địch bất hạnh giữa ông ta và Walker là một dấu vết không thể xóa mờ lưu lại trên những gì đã diễn ra ở đó. Almond cũng không phải là người của MacArthur;  chính ra ông gần gũi với Marshall hơn; nhưng vào cuối sự nghiệp vì cố để được đề bạt vào vị trí tư lệnh Thái Bình Dương, nên ông trở thành một tôi trung tột bực của MacArthur, điều này giống như việc cải đạo theo Thiên Chúa Giáo và cố thể hiện rằng ông ta còn mộ đạo hơn cả Giáo hoàng. Thêm vào đó Almond còn cố làm màu cho giai đoạn thất bát – mà ông đã trải qua, theo cái cách giới quân sự gọi là: một cuộc chiến tệ hại ở Châu Âu. Vì trong thế chiến II, ông chỉ huy sư đoàn 92, một đơn vị toàn da đen trong một quân đội vẫn còn phân biệt chủng tộc, tất cả các sỹ quan ở đó đều là người da trắng miền Nam (bởi họ được tin là biết cách – theo kiểu nói của dân miền Nam – điều khiển được bọn đen). Đó rõ ràng là một trong những thể hiện lớn sau cùng trong quân đội với quan hệ phong kiến, cổ hủ và đối lập với sự hiện đại, quân bình và thể chế dân chủ. Trong lục quân, lính thuộc sư đoàn ông ta bị gọi mỉa mai là: Lính Eleanor Roosevelt, sau khi đệ nhất phu nhân thể hiện sự quan tâm đặc biệt tới sức khỏe và biểu hiện của họ. Bị thường xuyên đối xử là công dân hạng hai bởi các sỹ quan – những người họ xem là nguyên nhân của cuộc sống khó khăn ở quê nhà – nên họ thường chiến đấu theo kiểu lính – hạng –hai.

Almond, một người miền Nam sinh vào tháng 12 năm 1892 với tất cả những định kiến truyền thống của vùng miền và thời kỳ đó, ông đã kết thúc chiến tranh với việc phân biệt chủng tộc còn cao hơn lúc ông bắt đầu. Sự chỉ huy của ông ở Triều Tiên sau này được đánh dấu với tất cả những trường hợp phân biệt chủng tộc vô cớ của cá nhân ông, như thể ông là một dạng khủng long chính trị trong một quân đội dù gì cũng vừa bắt đầu hòa nhập. Trước khi Thế Chiến 2 nổ ra, ông đủ sắt máu để Marshall cho ông vào danh sách lựa chọn, và vị trí tư lệnh sư đoàn 92 đã phản ánh niềm tin của Marshall với ông – nếu như có ai nhận cái bổ nhiệm khó khăn đó và làm được việc, thì chỉ có thể là Ned Almond. Ông bắt đầu tham chiến với địa vị – ít nhất là trong suy nghĩ của ông ta – ngang hàng với Bradley, Collins, Patton và Ridgway nhưng ông rất đau khổ với định mệnh của mình khi cuộc chiến kết thúc, lá thăm của thần may mắn đã hủy hoại ông.

Cái tôi của Almond cũng cực kỳ lớn, như bạn bè nghĩ, là cũng cỡ Patton. Thực tế là ông không bao giờ cho rằng có ai đó có thể chỉ huy giỏi hơn (ông). Một khi tin rằng mình là đỉnh của đỉnh, và rồi khi gặp phải vấn đề lớn ở một thời khắc quan trọng thì đó là một sự thất vọng tột cùng,  và ông tin chắc rằng ông bị chơi xấu. Như có lần ông nói với MacArthur rằng: bất kể thứ gì xảy ra ở Tokyo hay Triều Tiên cũng sẽ không làm ông rầu, bởi ông đã từng ở trong tình trạng tồi tệ nhất so với tất cả những tư lệnh trong quân đội từng có – ông đã chỉ huy sư đoàn 92. Những quân nhân đầy tham vọng trong quân đội, tốt nghiệp West Point, hoặc trong trường hợp của Almond – VMI, luôn so sánh họ với những người cùng thời bằng cách: ai được phong đại tá đầu tiên, ai chỉ huy tiểu đoàn trước nhất, ai có được ngôi sao tướng sớm nhất, và dĩ nhiên, ai làm tư lệnh sư đoàn trước nhất. Những người đồng tuế với ông, đã thành danh trong cuộc chiến anh hùng, họ có vị trí chỉ huy cao cấp, thể hiện được lòng mong mỏi của nhân dân, và trở thành một phần trong lịch sử đáng tự hào của đất nước, trong khi ông phải chỉ huy một đơn vị mang tính thử nghiệm xã hội, và đã thất bại thảm hại, nên ông rất đau lòng. Ông không thấy phần trách nhiệm của mình với đơn vị ông chỉ huy – trong suy nghĩ của mình, những lỗi lầm, sai sót hoàn toàn là do họ.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 01:36:52 am
Almond là một con người khắc kỷ, cực kỳ tự tin, và hoàn toàn không biết sợ, một con người dường như không sợ cả thần chết, thực sự là nhiều quân nhân đã phục vụ ở Triều Tiên nghĩ rằng ông mong gặp thần chết. Bạn ông tin rằng lúc ông đến sở chỉ huy Tokyo thật sự rất thê thảm. Điều này không chỉ bởi hi vọng to lớn làm một vị chỉ huy quan trọng trong thế chiến II của ông đã tan tàn bởi bản chất của cái đơn vị ông được giao; mà còn bởi những thứ còn đau khổ hơn chôn sâu trong tâm hồn ông. Đó là những cái giá kinh khủng mà cá nhân ông phải trả trong thế chiến II. Một ngày u ám năm 1944, ông nhận được thư từ vợ, báo tin rằng con trai và con rể đã hi sinh. Ned-con, lớp 43 West Point đã hi sinh khi tòng sự trong sư đoàn 45 tại thung lũng Po ở Ý, và Thomas Galloway, lớp 42 West Point, một phi công chiến đấu, cưới người con gái duy nhất của Almond, đã mất tích ở Normandy trong cuộc tấn công, và đã có thư xác nhận rằng chết. Thông tin này đặc biệt đau lòng với Almond, bởi ông luôn ép con mình rất dữ, đầu tiên là học ở West Point và rồi phải vào bộ binh. Khi Ned-con đến chiến trường, chính Almond đã viết thư cho chỉ huy con mình, bảo không cho cậu con làm sỹ quan tham mưu và hãy giao cậu ấy một đại đội súng trường.

Vào đêm nhận được thư, Bill McCaffrey, một trong những sỹ quan tham mưu thân cận của Almond hỏi ông có cần thuốc an thần. McCaffrey đã có kinh nghiệm với một trường hợp tương tự trước đó, khi Townsend Crittenberger, con của quân đoàn trưởng, trung tướng Willis Crittenberger, hi sinh khi vượt sông Rhine. Crittenberger tự nhốt mình trong phòng hai ngày liền và để cấp dưới chỉ huy đơn vị. McCaffrey nghĩ, có lẽ Ned Almond sẽ cần nghỉ ngơi tương tự và có lẽ cần có gì đó để ông có thể ngủ. Nhưng Almond trả lời: “Không, không cần thuốc an thần. Và này, Bill, ngày mai tôi vẫn chỉ huy sư đoàn”. Và chẳng có hậu quả gì để McCaffrey phải báo với quân đoàn về vấn đề vừa xảy ra. Almond không muốn ai táy máy với sư đoàn của ông và cũng không cần ai cảm thông với ông.

Kết thúc cuộc chiến, Ned Almond có được hai ngôi sao tướng, trong khi bạn bè đồng tuế có đến ba hoặc bốn sao. Mà dù ở điểm thấp nhất trong sự nghiệp, thì không ai từng làm việc với ông dám đánh giá thấp ông. Ông, đầy sức mạnh. Mọi thứ ông làm, phải được hoàn thành nhanh chóng và hoàn hảo. Với những quân nhân làm việc dưới quyền ông, luôn có hơn một mệnh lệnh để tuân theo, một tổ phải di chuyển, một mẩu giấy phải được đánh máy, và đánh hoàn hảo, hoặc không thì phải làm lại. Mỗi người lính trong mỗi tiểu đội phải được đặt đúng chỗ một cách hoàn hảo, và mỗi viên chỉ huy phải biết tên từng người lính, bất kể là người đó mới tới. Nhưng rồi năm 1945 cách làm việc và tham vọng đó dường như vô dụng.  Cuộc chiến đã kết thúc, quân đội thu hẹp lại; số tư lệnh còn lại khá ít, và nếu có kẻ thù nào có thể đe dọa nước Mỹ, thì đó luôn là bom nguyên tử. Thế thì cần gì phải dùng một viên tướng hai sao, người vốn đã có một cơ hội to lớn? Bởi vậy nên dù là một quân nhân ở châu Âu, nhưng năm 1946, ông lại xin bổ nhiệm về sở chỉ huy của MacArthur thay vì làm tùy viên quân sự ở Moscow, vốn ít hấp dẫn hơn với ông. Vị trí ở Tokyo là G-1, sếp nhân sự, không phải là vị trí quyền lực lắm, nhưng trong cái sở chỉ huy yếu kém thảm hại đó, ông sẽ thể hiện được sự nổi bật ngay lúc vừa đến, một người có năng lực khác thường trong một ban tham mưu hạng hai. Không cần quá nhiều thời gian để MacArthur hiểu Almond, một “dân” châu Âu hay không, người của Marshall hay không, và điều có tác động hơn mọi thứ khác, đó là việc ông nóng lòng cho cú hích cuối cùng trong sự nghiệp. MacArthur tin rằng Almond là người cần có, dù không phải thuộc “băng” Bataan, trở thành người của MacArthur. Đầu năm 1949, khi tham mưu trưởng của MacArthur, tướng Paul Mueller về nước, Almond – vốn đã cho thấy ông là vô giá với sếp, được nhận vị trí này. Tư lệnh thì chưa thể, nhưng rồi sẽ đến một ngày.  Công việc thực sự của một tham mưu trưởng trong lục quân thường là một tay chó chết của tư lệnh. Mọi người nên quên đi cái cảm giác rằng tư lệnh là một người tốt, người luôn đưa ra các quyết định công bằng (và thuận lợi) cho cả những việc mang tính vĩ mô lẫn vi mô, nếu chỉ mình ông ta làm việc đó. Như vậy, một tham mưu trưởng giỏi sẽ nói không với những yêu cầu mà MacArthur không muốn làm không muốn liên đới, và làm cho mọi người cảm thấy MacArthur ôn hòa hơn để có thể chấp nhận họ, chỉ nếu họ có thể hiểu được quá khứ của con quái vật Almond.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 01:39:52 am
Almond trở thành một nhân vật quan trọng trong những tháng sắp tới. Sách lược chiến đấu rất quan trọng, nó tới tác động cuộc chiến và chiến lược sắp đến, không chỉ Tokyo chống lại Washington, mà ngay trong lòng Tokyo cũng rất dã man, tranh chấp liên miên để thành một trợ tá ưu thích; và Almond tỏ ra là một tay chơi đẳng cấp lớn ở sở chỉ huy hơn là Walker. Cuộc chiến không ngừng nghỉ giữa Almond và Walker là một mẫu hình thu nhỏ của cuộc chiến lớn hơn cũng đang diễn ra: cuộc chiến của quân đội Hoa Kỳ chống lại quân đội Douglas MacArthur. Trong số những biệt danh của Almond (A-Bự, Ned-kinh-hoàng), có lẽ cái quan trọng nhất với các sỹ quan cao cấp ở Tokyo là Ned-xức-dầu-thánh, cái tên này mang ý nghĩa rằng tay của MacArthur luôn trên vai ông và ông là người ủy nhiệm của MacArthur, không bao giờ được thách thức, và ông cũng không bao giờ thách thức thượng cấp của mình. Phải thừa nhận rằng ông luôn luôn phát ngôn cho MacArthur – hoặc ít nhất ông phát ngôn thay đủ thường xuyên để bạn không muốn là người phát hiện ra khi nào ông không nói thay cho MacArthur. Thời đó Almond trở thành một MacArthur của MacArthur, người dẫn dắt góc nhìn của MacArthur với những gì tin rằng sẽ diễn ra, và mang nó thẳng tới Triều Tiên, nơi ông sẽ triển khai, bất kể có phù hợp với tình hình thực tế của người Triều Tiên hay không.

Almond cực kỳ khôn ngoan và rõ ràng có ý thức chính trị hơn hẳn Walton Walker. Walker là một đại diện của quân đội Mỹ, chỉ huy bởi Bradley ở Washington, còn Almond ở Tokyo, rất khéo léo trở thành nhân vật số hai trong một quân đội Mỹ khác – một quân đội ít nhiều tự trị và do Douglas MacArthur điều khiển. Ngay từ đầu ông đã hiểu giữa đám tham mưu cao cấp nhưng thiếu tài năng (mà phần còn lại của lục quân Mỹ gọi là bọn ngố Humpty-Dumpty), MacArthur cần ít nhất một dân chuyên nghiệp đẳng cấp cao để sở chỉ huy còn chạy việc. Sở chỉ huy là một thứ nhà kính nuôi trồng đám bạn bè nối khố và bọn ăn bám bợ đỡ, và trung tâm của đám đó chính là vị tướng. Nhiều sỹ quan tham mưu cao cấp có quan hệ với nhau, đã dùng theo đúng với nghĩa đen của cụm từ “Close to the Throne” để nói đến một ai ở cạnh vị tướng. Trong vòng một năm sau khi tới Tokyo, Almond đã là người cận kề quyền lực nhất.

Almond đủ thông minh để không bao giờ tham gia bất kỳ một phe nhóm nào hoặc cũng không đứng về một bên nào để chống lại bên khác. Quan trọng hơn cả, ông tin rằng mối quan hệ chân thật với MacArthur chỉ có thể giành được bằng sự nhất mực tận tâm, trung thành và vâng lời. Kẻ thù của MacArthur sẽ là kẻ thù của ông. Không có biệt lệ. Không điều gì. Và mọi hành vi phải là thứ đúng đắn. Với ông, sự cao quý của MacArthur rõ ràng là không cần phải xem xét. Ông phải thành một MacArthur-mở-rộng còn hơn chính bản thân MacArthur. Ông đã sẵn sàng cho cuộc kiểm tra. J.D. Coleman – một sử gia và cũng là một sỹ quan dưới quyền – đã viết: “Ông rất có bản năng về việc lấy lòng (người khác)”. Coleman ý muốn nói rằng bên cạnh việc rỉ vào tai thượng cấp những gì người đó muốn nghe, ông ta có khả năng cực kỳ thông minh để dự đoán trước được những gì MacArthur muốn ngay cả trước khi chính vị tướng hiểu ra mình muốn gì.

Một trong những điều mà Bill McCaffrey thích ở Almond trong số những phẩm chất trước kia đó chính là sự tự tại, không biết tôn kính ai, nhưng trước MacArthur ông đã vứt bỏ nó đi. Trong thế chiến II, có lần ông đã từng nói kiểu toạc móng heo với Willis Crittenberger, quân đoàn trưởng của họ ngay trên điện thoại, làm McCaffrey hết sức lo ngại cho số phận của Almond. Gần như McCaffrey phải giật điện thoại khỏi tay Almond, bởi đơn giản là không nên nói với thượng cấp theo cách như vậy. Nhưng với điều này, một Almond mới, đã có được sự mến mộ từ ông. Và nếu có điều gì làm buồn lòng thuộc cấp của Almond trong thời gian ở Tokyo và Triều Tiên sau này, đó chính là sự quỵ lụy hoàn toàn của ông trước MacArthur, cùng với cách giả ngu, hạ mình trước bạn đồng tuế và thô bạo với anh em dưới quyền – ngoại trừ một nhúm đàn em thân cận, cũng như chính ông là đàn em của MacArthur.  Ngay cả những đàn em – mà không ai hưởng lợi từ tình cảm đó nhiều hơn Jack Chiles, được đưa từ ban S-3 sang làm tư lệnh trung đoàn dưới quyền ông – cũng biết là rất khó khăn và dễ bùng phát. “Ông ấy có thể lao vào một cơn khủng hoảng trong một đảo hoang không người xung quanh” có lần Chiles nói vậy. Khá ít nhà quan sát trung lập thích ông. “Tay đó thường thường, không khoan dung và không quá thông minh – một trong những tay khốn nạn nhất mà tôi từng gặp, kể cả trong và ngoài quân đội”, Keys Beech nói – ông là người đã thắng giải Pulitzer với bài báo về chiến tranh Triều Tiên và là một phóng viên được nhiều quân nhân thích.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 01:42:50 am
Vấn đề của việc sống với MacArthur là được tất hay mất tất khi ở trong đội của ông. Rất nhanh, Almond nhận thấy mình đã gác lại nhiều quan điểm riêng, đơn giản là để hòa hợp với băng Bataan. Trong những năm trước Thế chiến II, ông thường phàn nàn với McCaffrey  về một sỹ quan làm tùy viên quân sự ở châu Mỹ la tinh tên là Charles Willoughby, ông coi khinh ông này. Ông thường nói đó là tay đại ngôn tự cao ngốc nghếch, và mọi thứ trong báo cáo của tay đó đều sai bét, một kết luận được nhiều sỹ quan chuyên nghiệp khác đồng tình. Nhưng rồi đến nay, Almond lại bắt đầu bảo vệ Willoughby trước những người khác. McCaffrey nhìn thấy cái tiến trình phục hồi ấy và chỉ biết lắc đầu.

Hiểu rõ những điểm yếu của Walker, Almond đã sắp đặt để thu nhỏ ảnh hưởng của ông ta ở Tokyo. Dù Almond chỉ là tướng hai sao, nhưng ông đã khéo léo ngụ ý với Waker – một viên tướng ba sao – rằng trên thực tế ông là năm sao, phát ngôn cho MacArthur chứ không phải của cá nhân ông. Phôn reo ở sở chỉ huy của Walker và đó là Almond đang cao giọng chỉ đạo. Walker đã cố hết sức để giữ bình tĩnh và thỉnh thoảng lại nói: “Đây là Almond nói hay Almond nói thay cho MacArthur?”. Nhưng đó là một nỗ lực thất bại. Walker chẳng có mấy chút thời gian riêng với MacArthur. Ông luôn phải thông qua Almond. Walker hiểu rằng không điều gì có thể làm mà chưa có sự chuẩn thuận của MacArthur, và ông đã cố ôm lấy sự thất vọng này. Ông không bao giờ thách thức Almond, không bao giờ yêu cầu được lắng nghe với thiện ý hơn những ý tưởng của mình, và cũng không bao giờ phàn nàn qua các kênh bạn bè chống lưng ở Washington về tình hình khó khăn của ông.

Trong từng ngày như thế, Joe Tyner – trợ tá của Walker – tin rằng Ned Almond cố làm cho cuộc sống của Walton Walker như trong địa ngục. Đa số là Walker chịu đựng, nhưng cũng có một ít lần Walker nổi giận trước cách đối đãi đó. Tyner nhớ lại có một lần Walker đã bùng giận. Đó là một năm trước khi cuộc chiến diễn ra. Có một bữa tiệc tối ở nhà Almond. Ngay trước bữa tối, Walker nhìn liếc qua bàn tiệc và phát hiện ra cách sắp xếp chỗ ngồi mang tính nhục mạ. Theo nguyên tắc trong quân đội vị trí ngồi của Walker phải là vị trí danh dự. Nhưng thay vì thế, Almond đã xếp chỗ đó cho huân tước Alvary Gascoigne, đại sứ Anh tại Nhật, và ông này dường như được MacArthur mến. Walker nhanh chóng giật tay Tyner bảo: “Đi lấy xe đi. Chúng ta rời khỏi đây”.  Tyner hiểu rằng vị tướng của anh đang rất giận và rằng có khả năng nổ ra lớn chuyện nếu không có cách hàn gắn, cần phải có chút thời gian. Thế là anh trả lời: “Tướng quân, tôi vừa mới bảo lái xe chạy mất rồi”. Và rồi anh nhanh chóng tìm một trợ tá của Almond. Anh giải thích vấn đề với cách xếp chỗ ngồi và báo người đó biết rằng ông tướng của anh, một ông tướng đang cực kỳ giận, muốn bỏ bữa tiệc. Thế là chỗ ngồi được sắp xếp lại ngay; Walker ở lại; ông đã thắng một trận bé tý, dẫu thua một cuộc chiến.

Đó là những gì diễn ra trong thời gian mà nước Mỹ đang tăng tốc xây dựng lực lượng trong nội địa, còn Walker thì chỉ huy các đơn vị yếu ớt cố chống cự làm chậm bước tiến của một kẻ thù hùng mạnh. Lúc tháng Bảy nhảy sang tháng Tám, chiến trường đã bắt đầu chuyển biến theo hướng có lợi cho Walker. Bộ đội Bắc Triều Tiên đã dồn quân Mỹ và đồng minh Nam Hàn của họ vào một góc bé tý của quốc gia đó, và với lượng đất đai nhỏ xíu cần phòng thủ, tuyến liên lạc và tiếp vận của họ đã bắt đầu trở nên ổn định. Bằng các chiến thắng, Bắc Triều Tiên đã cho Walker một chiến trường chặt chẽ hơn, nơi ông có thể tập trung binh lực dễ dàng hơn, đồng thời phát huy được hỏa lực cũng như khả năng tình báo vượt trội của quân Mỹ. Cùng lúc đó, tuyến liên lạc và tiếp vận của Bắc Triều Tiên vì được mở rộng quá mức mong đợi, nên đã lộ ra  thêm khả năng bị không tập; đồng thời người Mỹ cũng đổ thêm chiến đấu cơ vào trận đánh. Hỏa lực không quân Mỹ trút xuống như mưa đã gây ra thiệt hại lớn. Những lính cộng sản bị bắt đã khai ra tình trạng thiếu hụt vũ khí, đạn dược, thiết bị y tế và cả quân có kinh nghiệm. Quân xanh (green troops???) được đưa vào làm đầy những vị trí mà không lâu trước đây do các cựu binh giữ trong những đơn vị ưu tú của Bắc Triều Tiên. Ngày qua ngày, Cộng sản vẫn tiến, nhưng mỗi chiến thắng lúc này dường như đều phải trả giá đắt


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 08:29:36 am
Nhiều đơn vị hàng đầu của Mỹ và Liên Hợp quốc đang trên đường đến một nơi mà giờ đây được gọi là vòng cung Pusan. Lần đầu tiên, nếu quân Mỹ trụ được, họ có thể biết được những đơn vị nào ở bên các cánh của mình. Trận đánh thực sự, như Johnie Walker đã nói với các sỹ quan và quân binh của mình trong những ngày đen tối đó, là việc mua thời gian, hi vọng làm chậm bước tiến bộ đội Bắc Triều Tiên cho đến khi thêm quân Mỹ, quân đồng minh đổ bộ đến. Câu hỏi duy nhất là: liệu cái đội quân dao động, yếu ớt và mệt mỏi của ông có trụ nổi đủ lâu ở cái chiến trường mới, hẹp bớt này để quân sinh lực Mỹ từ các đơn vị ưu tú đến, và đủ lâu – dù ông không bao giờ nói ra điều này – để đến ngày MacArthur triển khai trận công kích táo bạo, canh bạc vĩ đại của ông ta lên Inchon, mà theo lịch là vào ngày 15 tháng Chín không? Hồi cuối tháng Bảy, khi những đơn vị sau chót của ông vượt sông Naktong và thiết lập các vị trí ở đó, Walker đã nói với một số họ: “Không có rút lui, rút chạy hay điều chính tuyến phòng thủ hay cái quái gì mà các cậu gọi. Không còn tuyến nào phía sau để chúng ta rút cả. Sẽ không là một Dunkirk hay Bataan ở đây. Chạy về Pusan sẽ là một trong những cuộc tàn sát lớn nhất trong lịch sử. Chúng ta sẽ chiến đấu đến cùng. Chúng ta phải chiến đấu như một đội. Nếu có ai đó chết, thì chúng ta sẽ chết khi chiến đấu cùng nhau”.

Bản thân Walker thì chống lại việc chọn Inchon là điểm đổ bộ: ông nghĩ nó là một canh bạc quá lớn và sẽ làm kiệt quệ quá nhiều binh sỹ từ những đơn vị phòng thủ yếu ớt của ông. Sự phản đối của ông theo cách nào đó đã trói chặt số phận của ông với thượng cấp -  việc công khai chống Inchon được xem như là bất trung với MacArthur, và thêm vào là sự coi thường trước đó với Walker. Có hàng đống thứ khác làm Walker lo lắng: trong sáu tuần quyết định đó, chiến dịch [Inchon] phải rút bớt hai sư đoàn mạnh từ lực lượng đã kiệt quệ của ông vốn đã phải nỗ lực không bị bức khỏi bán đảo, thêm vào đó là rất nhiều không lực hỗ trợ cũng như hải lực. Không may cho Walker, chiến dịch Inchon không chỉ đơn thuần là một kế hoạch đổ bộ đường thủy ngoạn mục, mà nó còn là bài kiểm tra cho lòng trung thành mà những ai phục vụ dưới quyền MacArthur phải trải qua. Không có vùng đất trung lập. Vị trí của Walker – ông thì thích một cuộc đổ bộ đường thủy ở một nơi không quá xa trên bờ biển Triều Tiên – không đủ tốt. Sự bất đồng quan điểm của ông đã làm mạnh thêm ghế của Ned Almond. Almond trở thành lực lượng dẫn đầu trong việc tổ chức và chỉ huy kế hoạch Inchon, đánh bại cả việc cần những sỹ quan hải quân cao cấp, kể cả những chuyên gia trong lĩnh vực đổ bộ đường thủy – những người này cũng rất lo lắng về cuộc đổ bộ quá nguy hiểm ở một vị trí cực kỳ khó khăn.

Rất ít người qua được bài kiểm tra trung thành của MacArthur với sắc màu rực rỡ như Almond, hoặc thất bại hoàn toàn như Walton Walker. Với kế hoạch Inchon, Almond trở nên còn gần gũi hơn với MacArthur, và trên thực tế, đã làm hội đồng tham mưu liên quân ngạc nhiên (và giận dữ) khi được giao những thứ mà gần như chưa từng được nghe trong quân đội: chỉ huy lực lượng đổ bộ đường thủy lên Inchon, thứ này cho ông ta mang được hai chức – tư lệnh quân đoàn 10, lực lượng đổ bộ lên Inchon, và tham mưu trưởng của bộ tư lệnh Viễn đông. Còn Walker, bị chia bớt quyền chỉ huy mà phần lớn trong đó đã được đưa cho một kẻ thù truyền kiếp, ông hiểu rằng mình đã thất bại trong con mắt tư lệnh. Ông nói: “Tôi chỉ là một viên tướng Liên minh ly khai”.

Khi kế hoạch Inchon còn đang luống cuống ở Tokyo, thì chiến trường vòng cung Pusan cho thấy đây là một trong những chiến trường đẫm máu nhất ở Triều Tiên hay ở bất kỳ cuộc chiến nào quân Mỹ từng tham gia.  Nó cỡ ngang với những trận chiến tệ nhất trong nội chiến và chiến dịch chiếm đảo nhảy cóc trên Thái Bình Dương. Đầu tháng Tám, áp lực chiến thắng đè nặng lên cả hai phía; quân Mỹ tung những đơn vị mới vào trận giao tranh, còn Bắc Triều Tiên hiểu rằng họ đã không, như Kim Nhật Thành đã hứa với Stalin, quét sạch Pusan trong vòng ba tuần, và cảm thấy áp lực đè nặng phải đạt chiến thắng sau cùng của họ, trước khi công cuộc chuẩn bị của người Mỹ có được đầy đủ hiệu lực. Việc người Mỹ tham chiến đã làm Kim Nhật Thành kinh ngạc, nhưng ông ta vẫn tiếp tục đánh giá quá cao khả năng của quân mình trong khi lượng giá quá thấp những tiến bộ vượt trội của vũ khí người Mỹ sớm hay muộn đưa vào, và thử thách cam go đã giáng xuống quân đội của ông. Những khẩu hiện trên chiến trường do lãnh đạo Bắc Triều Tiên đưa ra cho các tư lệnh của mình đã phản ánh góc nhìn của Kim Nhật Thành với cuộc chiến và thời điểm quyết định. “Giải quyết vấn đế trước tháng Tám” và “Tháng Tám là tháng của chiến thắng” trở thành những khẩu hiệu chính trị mới nhất, chúng cũng phản ánh cho thấy nỗi sợ đang tăng lên rằng cuộc chiến sẽ trở nên bế tắc hoặc thất bại. Nhưng Kim Nhật Thành vẫn còn lạc quan. Tuy nhiên những nhân vật đồng cấp Trung Hoa lo lắng hơn nhiều. Trong mắt họ, cuộc nam tiến của bộ đội Bắc Triều Tiên sẽ kết thúc trong thất bại và ngọn triều chiến cuộc đã đổi hướng. Kim Nhật Thành vẫn tin là sẽ chiến thắng – trong khi người Trung Hoa thêm phần chắc chắn rằng ông ta sẽ bị đánh bại. Họ thạo đời với những thứ đó hơn nhiều và hoài nghi sự lãnh đạo của Kim Nhật Thành ngay từ đầu. Trong đầu họ, không chỉ việc quân Bắc Triều Tiên đã bị chặn đứng, mà còn việc quân Mỹ mạnh lên, tấn công nhiều hơn và những đơn vị tốt hơn cũng đã đổ bộ vào quốc gia này cũng với lượng quân khí nhiều hơn. Họ gần như đã triển khai thế công. Và một khi điều đó xảy ra, và người Trung Hoa chắc chắn nó sẽ xảy ra, thì sẽ mắc míu tới họ theo cách nào đó.

(Hết chương 11)


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 08:31:37 am
PHẦN BỐN: CHÍNH TRỊ Ở HAI LỤC ĐỊA

Chương 12


Ngay cả trước khi cuộc chiến Triều Tiên nổ ra, chính quyền Truman đã phải hoạt động trong tình trạng khủng hoảng với hai vấn đề chính. Vấn đề đầu tiên và ít có khả năng bùng nổ về chính trị đó là việc một số lớn các quan chức cao cấp của chính quyền tin rằng ngân sách quốc phòng hiện rất không thỏa đáng, cho rằng những trách nhiệm quốc tế gần đây nước Mỹ phải gánh đã lớn hơn nhiều so với những gì đất nước sẵn lòng chi trả, và rằng cần phải tăng gấp đôi ngân sách – đó là tối thiểu – rất có khả năng là tăng gấp ba. Trong khi, tổng thống, một viên chức công khố thủ cựu, chống lại việc tăng trưởng đó. Vấn đề thứ hai, và bất ổn hơn, đó là sự sụp đổ của liên minh chính trị lưỡng đảng trong thời chiến, đi cùng với sự suy tàn của Tưởng Giới Thạch ở Trung Quốc và câu hỏi trong thời đó với bất kỳ ai, theo cách được dùng là: ráng mất Trung quốc nếu một quốc gia có thể mất. Vấn đề Trung Hoa – dù do đảng Dân chủ làm mất hay không – kéo dài không chỉ với chính quyền Truman mà còn hai đời chính trị kế tiếp của đảng Dân chủ. 

Đó là một trong những huyền thoại trường kỳ của chính trị Mỹ trong thập niên 1950 và  1960, thứ chính trị dừng bên mép nước, như thể chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ là một vùng đất bất khả xâm phạm, nó tách biệt và được đặt lên trên mọi thứ vô nghĩa thông thường và xung đột quyền lợi của cử tri trong nước cũng như những cảm xúc mà chúng gây ra. Không quá khác xa sự thật. Đã có sự hợp tác tuyệt vời (hoặc đôi khi cũng có thể nói là miễn cưỡng) của lưỡng đảng trong những năm chiến tranh, một hợp tác theo cách nào đó là vô tình được tạo ra bởi mối đe dọa cực kỳ nghiêm trọng từ Đức và Nhật, nhưng rồi nhanh chóng tan vỡ gần như ngay khi chiến tranh kết thúc. Có lẽ là sự dồn nén hết mức trong thời chiến của một đảng, họ bị rời khỏi quyền lực cả một thế hệ, cảm thấy không có tiếng nói lẫn sức mạnh, nên đã tạo một lực lượng chính trị của mình và rốt cuộc cũng đã vươn lên dẫn đầu, dù muộn, phản ứng dữ dội lại đảng kia vốn đã nắm quyền quá lâu. Không có cách nào hiểu nổi đợt sóng mới vừa bắt đầu với chính trị Mỹ, thứ đã tạo nên cơ sở của khủng hoảng chính trị trong chiến tranh Triều Tiên – cánh đối lập đã buộc tội những kiến trúc sư chính của cả chiến thắng trong thế chiến lẫn chính sách ngoại giao hậu chiến  đối với các cựu thù – mà không thèm hiểu đến tổng thể mà Franklin Roosevelt đã làm để biến đổi toàn cảnh chính trị trong suốt bốn nhiệm kỳ tổng thống liên tục của mình, và đồng thời sự phát triển kinh tế, xã hội cũng đã làm biến đổi đất nước và, ít nhất thấy ngay dù không quan trọng, là biến đổi đảng Cộng hòa.

Thứ đã quét những người Cộng hòa ra khỏi vị trí của một đảng quan trọng chính là uy tín tuyệt đối của Roosevelt cùng với khả năng ngoại hạng của ông, hơn rất xa những chính khách lớn khác trong nước trong việc khai thác một phương tiện kỹ thuật mới nhất của thời đại đó: radio. Ông làm chủ được hệ thống phát thanh, ông có khả năng dùng nó làm phương tiện chính yếu nhất để tiếp cận với cử tri, đó chính là những hành trang chính trị tuyệt vời. Với radio, ông đã biến chuyển rất sâu sắc nhiệm kỳ tổng thống bằng cách tạo ra mối liên hệ trực tiếp đầy cảm xúc và chưa từng được biết trước đó với công chúng. Tổng thống không còn là một nhân vật đầy xa cách, trang trọng và không thể tiếp cận được, một con người cứng nhắc và không mấy thoải mái trong một bô ảnh hiếm hoi trên báo ngày; giờ đây có một cách thức thân tình mới mẻ; hiện thân mới của ông là bạn bè của dân thường, một nhân vật chính trị tình cảm và chu đáo, tiếp cận đến từng nhà qua làn sóng, hệt như bác sỹ gia đình chăm sóc những nỗi lo, những nhu cầu của từng người Mỹ. Nó cho thấy ông không cần cả diễn văn, mà chỉ theo cách dân gọi những bài nói chuyện của tổng thống là: tán gẫu (chat). Các bạn của tôi, là cách ông bắt đầu bài nói trên đài, và khi ông làm vậy, ông đã tạo ra một cách kết nối mới mẻ với hàng triệu người đi bầu. Về bản chất, ông là vị tổng thống truyền thông đại chúng đầu tiên, người sáng tạo ra thứ bắt đầu được biết đến với cụm từ “truyền thông chính trị”, và thứ này chừng vài ba chục năm sau lại tạo ra tổng thống truyền hình.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 08:32:24 am
Hiệu ứng tích lũy của ông – từ giọng nói, từ kỹ năng chính trị vô song, từ cuộc Đại khủng hoảng đã đẩy rất nhiều người dân Mỹ vào cảnh đói nghèo và đưa ông vào vị trí, từ kế hoạch kinh tế chính trị Kinh tế mới (New Deal) mang tính cách mạng của ông, và dĩ nhiên phải kể đến ảnh hưởng kích động của Thế chiến hai -  đơn giản đã làm áp đảo cánh Cộng Hòa vốn có liên quan đến các thế lực siêu giàu trong một thời đại kinh tế thê thảm. Không có bất kỳ tổng thống Mỹ nào phục vụ quá hai nhiệm kỳ, nhưng Franklin Roosevelt, đặc biệt vì có thể tập hợp được rất nhiều lực lượng khác nhau, nên đã có tới bốn nhiệm kỳ và chiến thắng. Luật  Kinh tế mới của ông đã trao quyền thêm nữa cho các hội đoàn và việc lập công đoàn dễ dàng hơn ở nơi làm việc. Với điều này ông trở thành lãnh đạo của một đảng chính trị biết đồng cảm với nhu cầu và quyền của người lao động trong một nền kinh tế vẫn còn chủ yếu là áo cổ xanh (công nhân). Ông trụ vững trong nước nhờ vào đòn bẩy chính trị của thế chiến trong suốt chiến dịch tranh cử năm 1940, đó là nhiệm kỳ thứ ba, và đến năm 1944, là một tổng thống thời chiến, ông lại tiếp tục thắng cử, dù rằng sức khỏe rất suy sụp, tình hình thể chất tàn tạ của ông được che đậy rất cẩn thận trước người dân. Sự kết hợp của hai sự kiện khổng lồ – đại suy thoái và đại chiến – mang ý nghĩ rằng ông có thể giữ sự thống trị đáng kể trong khung cảnh chính trị, kéo dài sau thời điểm mà nếu trong thời kỳ chính trị thông thường, thì vận hạn của ông chắc chắn phải thoái trào. Với những người Cộng hòa trong năm 1944, dường như ông là một tổng thống vĩnh viễn và rất có thể là tổng thống vĩnh viễn thật! Lúc nhiệm kỳ ba, một cuộc đại chiến đang đến gần không chỉ gây hại rất xấu với đảng đối lập mà còn khiến nó thành một kiểu tâm thần phân liệt. Sau rốt, Roosevelt là một người theo chủ nghĩa quốc tế, dần chuẩn bị cho đất nước bước vào một cuộc xung đột toàn cầu khốc liệt, và nhất định sẽ ở bên phía trận tuyến cùng người Anh, quốc gia đồng minh gần gụi nhất.

Trong hoàn cảnh như vậy, đảng Cộng hòa lại đang bị phân rã tệ hại, chia cắt sâu sắc nghiêm trọng về mặt địa lý. Một bộ phận lãnh đạo đảng đại diện cho cánh thượng lưu theo chủ nghĩa quốc tế truyền thống, phản ánh quan điểm của những nhà tài chính phố Wall, những người bên kia bờ Đại Tây Dương. Họ tin rằng, dù muốn hay không, nước Mỹ không thể nào đứng ngoài cuộc chiến đó, rằng cần phải chọn – và phải chọn bên phía những người dân chủ phương Tây. Việc này đã đưa nhiều nhà lãnh đạo đảng Cộng hòa đứng về vị trí đồng thuận với chủ nghĩa quốc tế của Roosevel hoặc ủng hộ nhiều hơn một tý so với bản chất thủ cựu, mà dường như trong nhiều vấn đề lớn của thời đại đã phát biểu rất giống như chính thân tổng thống. Nhưng cánh khác của đảng Cộng hòa thì rất khác: bản chất dân dã hơn; phản ánh chủ nghĩa biệt lập kiểu thị tứ cũ Mỹ, sợ bị lôi vào những cuộc cãi vã và chiến tranh liên miên của châu Âu tham nhũng; và tệ hơn là làm việc đó vì nước Anh. Những cảm giác này bắt nguồn ở vùng Trung Tây, nơi những lãnh đạo của nhiều thành phố, thị trấn nhỏ ghét cay đắng hầu hết những gì Roosevelt làm trong nước với chương trình Kinh tế mới, thứ được những nhà chỉ trích nhiệt thành tin là – theo từ họ thích dùng – đặc trưng chủ nghĩa xã hội. Trong đảng, cánh theo chủ nghĩa biệt lập này có lẽ chiếm đa số hơn so với cánh chủ nghĩa quốc tế, điều này rõ ràng có ảnh hưởng lớn ở tầm mức địa phương, nhưng đã thất bại trước giới thượng lưu miền Đông, trước cánh chủ nghĩa quốc tế trong đại hội 1940, nguyên nhân chính là bởi sự trỗi dậy của Hitler. Wendell Willkie, luật gia chân trần của phố Wall, như ông được gọi, được chính thức đề nghị bổ nhiệm tranh cử, một chiến thắng quan trọng của cánh chủ nghĩa quốc tế. Nhưng cũng chưa hết tệ với cánh thị tứ Trung tây, những người được hiểu là những tay Cộng hòa chân chính và rằng đảng là họ; rằng giá trị của họ là thứ đích thực bởi họ Mỹ hơn, họ đã thất bại lần nữa ở đại hội đảng năm 1944, lần này là bởi Tom Dewey thị trưởng New York, cũng chính Dewey thắng lần nữa ở kỳ 1948. Hạch tâm của lớp lãnh đạo đảng Cộng hòa trong đất nước, tiếng nói của các ứng viên tổng thổng của họ trong các cuộc bầu giờ nghe rất giống với những người khó có khả năng chia cách họ với cánh Dân chủ, một tiếng vọng trước là từ Roosevelt sau là Truman. “Nếu bạn có đọc tờ ChicagoTribune, bạn phải biết tôi là dòng dõi trực hệ của FDR” Dewey đã có lần nói về tờ báo vốn là công cụ truyền thông chính, phát ngôn của cánh biệt lập.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 08:33:58 am
Trong khi cuộc vận động tranh cử tuyệt vời của Roosevelt diễn ra, cánh hữu đảng Cộng hòa tức giận một cách bất lực. Càng thất bại, càng cay cú. Cứ mỗi lần các đại diện của cánh tham gia đại hội toàn quốc để khẳng định chân lý lớn của họ, thì chỉ để thấy vị trí bổ nhiệm tranh cử bị chiếm bởi một tay thượng lưu thuộc các bang công nghiệp lớn vốn được vài tay truyền thông đầy quyền lực theo chủ nghĩa quốc tế hỗ trợ, nổi tiếng nhất là Herry Luce, thủ trưởng của tờ Time và tờ Life, ông, lúc ấy đang ở vị trí tối thượng trong giới truyền thông. Dư vị cay đắng trong các kỳ đại hội đảng 1940 và 1944 là rất thật; và khó để nói cánh hữu ghét ai hơn: FDR và đảng Dân chủ hay cánh quốc tế trong đảng của chính mình. Với họ, những tay theo chủ nghĩa quốc tế là những người Cộng hòa giả hiệu, những tay hợm mình miền Đông, những kẻ có đủ cách để cướp vị trí bổ nhiệm tranh cử nhưng không bao giờ đủ để thắng trong cuộc bầu cử.

Thế chiến II kết thúc và Roosevelt chết, thế là cánh hữu tin rằng đã đến lúc lấy lại quyền lực cả trong đảng lẫn trong nước. Cuộc bầu cử của năm 1946 thất bát đã cho những người cánh hữu cơ hội phản công đầu tiên. Động cơ của họ, như họ tự thấy, không gì khác hơn là chủ nghĩa Mỹ, hoặc là bảo vệ những giá trị xưa cũ của Mỹ – thứ đã sản sinh ra những con người giống hệt họ, chống lại một nước Mỹ của kẻ thù – cũng là chỗ sản sinh ra những người mà họ xem như là theo chủ nghĩa xã hội hoặc chủ nghĩa cộng sản, hoặc theo ý họ, những người sống  quá phụ thuộc vào trợ cấp của chính phủ. “Sự lựa chọn khó khăn của người Mỹ trong năm nay chính là giữa chủ nghĩa Cộng Sản và chủ nghĩa Cộng hòa” B. Caroll Reece nói, ông là nghị viên bang Tennesse và cũng là chủ tịch đảng Cộng hòa ngay trước kỳ bầu cử. Thượng nghị sỹ bang Nebraska Kenneth Wherry thêm vào: “Chiến dịch tranh cử sắp tới không chỉ là một cuộc bầu cử. Mà nào còn là một cuộc thập tự chinh”. Và theo một cách nào đó, và ở vài nơi nào đó trong nước, không có gì kém mấy.

Harry Truman, vị tổng thống bất ngờ, người thừa kế không mong đợi của tổng thống vĩ đại Roosevelt, hầu như may mắn do năm 1946 đó không là năm bầu cử tổng thống, nổi buồn lan khắp cả nước và nỗi lo âu nằm dưới mỗi khuôn mặt. Không như đồng minh (và kẻ thù) vẫn còn nằm trong đống đổ nát, Hoa Kỳ vươn lên sau thế chiến thành một quyền lực kinh tế độc tôn toàn cầu, một quốc gia giàu có trong một thế giới nghèo khổ, đồng minh và cả kẻ thù đều như nhau đo ván sau hai cuộc chiến mang tính tự sát trong vòng 25 năm. Nước Mỹ, thời ấy được bảo vệ bởi hai đại dương mênh mông, bom đạn kẻ thù không chạm tới được, nên đã vươn lên mạnh mẽ, vạm vỡ hơn khi chiến tranh chấm dứt; đất nước đã được những thế lực bên ngoài kéo, đá, gào thét để đạt tới đỉnh quyền lực. Nhưng rất ngạc nhiên là có sự lo âu cũng như oán hận tích tụ ngay dưới bề mặt, đáng chú ý nhất là những khó khăn khi Hoa Kỳ thừa kế, chấp nhận một bước nhảy vĩ đại với trách nhiệm quốc tế đến cùng lúc với hòa bình. Sự đe dọa mới của Liên Xô cộng sản – một đồng minh bất ngờ trở thành kẻ thù – vừa bắt đầu phủ bóng xuống nền chính trị Mỹ. Với những ai ở xa quyền lực sẽ thấy chút ít bất ngờ với các điểm: – Đứng đầu là việc Liên Xô là đồng minh, chiến tranh đã là một sai lầm ngay từ đầu với một số họ; và chúng ta phải chiến đấu một lần nữa để cứu nước Anh. Khi chiến tranh kết thúc, không phải đa số người Mỹ hăm hở với việc nhận những trách nhiệm quốc tế lớn lao đó – và những rủi ro – kéo đến khi trở thành một siêu cường và thay cho đế quốc Anh ở vị trí lãnh đạo đồng minh phương Tây, cũng không nhiều người muốn những mối nguy tất yếu kéo đến, như các kiến trúc sư của chính sách ngoại giao ở Washington dường như được yêu cầu: một phần của cuộc tranh đấu chính trị – quân sự không ngớt ở châu Âu dài kỳ. Đa số người muốn, không phải là nhiều hơn, mà là bớt đi, mối quan hệ với cánh dân chủ châu Âu.

(Lại một đoạn trúc trắc khó dịch, tin rằng có dịch sai nghĩa ở vài điểm, sẽ xem lại và hiệu chỉnh sau)


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 08:37:43 am
Và như thế, đảng Cộng hòa đã làm rất tốt trong cuộc bầu cử nghị viện năm 1946. Áp lực thời chiến đã ủng hộ cho người giữ chức vụ tổng thống – không thay ngựa giữa dòng – là một câu khẩu hiệu rất thành công của đảng Dân chủ, nhưng giờ điều ấy đã hết. Những người Cộng hòa, theo đuổi chương trình cắt giảm biểu thuế 20%, đã giành thêm 11 ghế tại thượng viện và 54 ghế ở Hạ viện. Liên minh của Roosevelt giữa những liên đoàn lao động miền Bắc và các thành phố công nghiệp lớn kết hợp với những đầu sỏ thủ cựu phương Nam dường như bắt đầu phân rã và thay thế bởi thứ mà cánh Cộng hòa hi vọng là sự trở lại của tiêu chuẩn Mỹ xưa kia. “Hoa kỳ giờ là một quốc gia Cộng hòa” thượng nghị sỹ Styles Bridges của bang New Hamsphire nói, ông nhanh chóng trở thành nhân vật chính của cái được gọi là Ban vận động Trung Hoa. Một số cuộc bầu cử mới, đảng Cộng hòa không quá chống lại đảng Dân chủ  như chống Cộng sản và phá hoại. Cuộc bầu cử đã thêm vào hàng ngũ thượng nghị sỹ những Joseph McCarthy của bang Wisconsin, Bill Jenner của bang Indiana, John Bricker của Ohio, Harry Cain của Washington, James Kem của Missouri. Một số họ, tham gia vào nhóm thủ cựu ở thượng viện, như Kenneth Wherry, họ chuyển sang bị ám ảnh với chủ đề Cộng sản và phá hoại trong chính quyền, một vấn đề mới tuyệt hảo để trung hòa những mối nguy trong lĩnh vực kinh tế. “Hãy cúi đầu hỡi công chúng, chủ nghĩa thủ cựu đã đánh nước Mỹ. Cả thế giới đi về phía tả, riêng Mỹ đang đi sang hữu” T.R.B viết sau cuộc bầu cử trên tờ The New Republic, lúc đó là một tạp chí tự do truyền thống.

Trong ván cờ không gì khác hơn là vấn đề vai trò của Mỹ trong thế giới hậu chiến. Phải chăng nên chấp nhận vai trò lãnh đạo thế giới dân chủ phương Tây? Và phải tốn bao nhiêu tiền tươi – hay thuế – cho vụ này? Trong vấn đề này, lãnh đạo ở cả hai đảng đều không chắc. Không đảng nào dám có hành động trong việc đề nghị mức giá nền kinh tế phải trả để lãnh đạo phương Tây. Đảng Cộng hòa, chống Cộng ác liệt hơn, với yêu cầu giải trừ quân bị mạnh mẽ hơn, đã hi vọng nhiều vào độc quyền vũ khí hạt nhân của quốc gia, và cảnh giác hơn với việc chấp nhận vai trò tái thiết châu Âu bị tàn phá nghiêm trọng, một điểm yếu nguy hiểm, như cách họ tin, do cộng sản phá hoại ngầm bên trong. Sự thật là ngay trước chiến tranh Triều Tiên, tình hình quốc phòng Mỹ thật là lóng ngóng. Ngân quỹ quốc phòng bị xẻ nát; quân đội thì quá bé; và vũ khí quân dụng – mới năm năm trước đây còn tiến bộ nhất thế giới – nhanh chóng xuống cấp. Những nhân vật cao cấp trong cái được gọi là hội đồng an ninh quốc gia thì chia rẽ nghiêm trọng trong vấn đề bao nhiêu (tiền) là đủ. Tại thời điểm quân Bắc Triều Tiên vượt vĩ tuyến 38, ngoại trưởng Dean Acheson đang dưới sự công kích ác liệt của cánh hữu đảng Cộng hòa vốn bảo rằng ông mềm mỏng với chủ nghĩa Cộng sản, trong khi ông phải đang khéo léo hết mức để vận động cho một dự luật chi tiêu quốc phòng mới trước đám quan liêu. Dù Acheson là một thành viên có ảnh hưởng lớn nhất trong hội đồng an ninh quốc gia của tổng thống, thì cũng không có nghĩa là nỗ lực này sẽ chắc chắn thành công.

Một phần nguyên do là ở chính chỗ Truman. Nếu Truman là một kẻ hiếu chiến trong hầu hết các vấn đề chiến tranh lạnh, thì ông cũng là một người kiên định trong vấn đề ngân quỹ, ông ghét thiếu hụt chi tiêu. “Một người cắc rắc tiền bạc mà tôi từng thấy” James Forrestal, một tay thủ cựu phố Wall, một tay diều hâu, đã có lần nói về Truman “đáng tin như tôi, rằng chúng ta không thể làm hỏng nền kinh tế của mình trong tiến trình chiến đấu cuộc ‘chiến tranh lạnh’”. Về bản chất Truman là một người theo chủ nghĩa dân túy Trung tây, hoài nghi bẩm sinh, cảnh giác với những người hô khẩu hiệu, chém gió mà ông xác quyết rằng rất nhiều sỹ quan cao cấp làm vậy. Ông luôn tin rằng giới quân nhân cực kỳ tiêu phí tiền thuế của người dân. Kinh nghiệm cá nhân ông trong cương vị một đại úy pháo binh trong thế chiến I đã làm ông cảnh giác với tiền bạc, đặc biệt với “dân” West Point, những người mà trong suy nghĩ của ông là tự coi mình quá nghiêm trọng. Là dân tiểu đô thị, trưởng thành trong thời kỳ kinh tế khắc nghiệt, điều này đã khiến ông rất thủ cựu về mặt tài chính – không chi tiêu nếu không thực sự cần thiết. Quan điểm của ông  cứng rắn trong quá trình ở vị trí thượng nghị sỹ, lãnh đạo ủy ban Truman, ban này vốn tập trung vào sự quản lý tồi của bên quân đội lúc bắt đầu thế chiến II: “Không quân nhân nào biết chút gì về tiền. Tất cả những gì họ biết là cách tiêu tiền, họ không thèm để ý chút nào đến việc dùng tiền đó có giá trị hay không” có lần Truman đã phát biểu. Dù lúc này ông đã trở nên rất gần gũi với một ít sỹ quan cao cấp, như Omar Bradley, nhưng quan điểm tổng quát của ông là không bao giờ thay đổi. Như ông đã từng nói với cây bút Merle Miller: “Hầu hết bọn họ như những con ngựa với tấm bịt mắt. Họ không nhìn thấy được quá xa chót mũi của mình”..


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 08:38:34 am
ới cảm giác rất cá nhân, Harry Truman ghét mang nợ. Hồi còn ở Independence, Missouri, gia đình ông đã phải mang cái gánh nặng đó, và còn làm mất đi cái trang trại gia đình của họ. Vì vậy nên những gì ông muốn làm lúc cuộc chiến vừa kết thúc là bắt đầu giải quyết vấn đề khổng lồ – ít nhất là theo thời điểm đó – 250 tỷ $ tiền nợ quốc gia phải gánh của bốn năm vừa qua. Ngay khi chiến tranh vừa chấm dứt, ông đã cắt giảm ngân sách quốc phòng từ 91 tỷ $ xuống còn giữa 10 và 11 tỷ $ một năm, ông hi vọng là sẽ sớm hạ thấp hơn nữa, khoản 6 hay 7 tỷ $ mỗi năm. Nói cách khác là Truman sẽ phải cần được thuyết phục rất nhiều nếu một khi muốn tăng ngân sách quân sự để phục vụ cho vai trò mới của đất nước mà những cán bộ an ninh quốc gia hàng đầu muốn. Rõ ràng là Marshall và Acheson cần có ngân sách quân sự lớn hơn. Thường thì bộ trưởng Bộ quốc phòng trong trường hợp như thế này sẽ là đồng minh của những người như Acheson, nhưng ở đây, bộ trưởng quốc phòng Louis Johnson là một ngoại lệ, ông này thay cho James Forrestal bởi sức khỏe của Forrestal suy sụp. Ông tỏ rõ là một tử thù của Acheson kể cả trong công việc lẫn cá nhân, vì ganh tức trước quyền lực và ảnh hưởng với Truman nên ông quyết hủy diệt sinh mạng chính trị của Acheson cho dù phải trả giá bằng ngân sách của bên ông cạn kiệt. Vấn đề chính của Louis Johnson ở đây chính là tham vọng chính trị của mình. Ông mơ màng việc kế vị Truman làm đại diện đảng Dân chủ ra tranh cử tổng thống nhiệm kỳ 1952, và ông tính làm việc này bằng cách bội phản lại chính mình trong cương vị bộ trưởng Bộ Quốc phòng, giảm chi tiêu quân sự. Điều này có nghĩa là khi mùa đông 1950 kết thúc, Acheson trở thành cây đinh trong việc tăng ngân sách quốc phòng, và những người chỉ trích ông trong đảng kia (Cộng hòa), những người rất thích thú với việc công kích chính phủ vì những thất bại trong chính sách ngoại giao đặc biệt là ở Trung quốc, bất chiến tự nhiên thành. Hoa Kỳ được mong là sẽ cứng rắn hơn trong thương thuyết với kẻ thù trên thế giới, nhưng lại không chịu xung phong thảo luận việc phải trả giá thế nào cho điều này.

Những điều này đã đặt Acheson vào một vị trí hiếm có: bị công kích vì đã mềm mỏng với Cộng sản, đồng thời cũng kết liễu cái ý định tiêu tiền mà ông tin là cần phải tiêu để ngăn chặn mối đe dọa Cộng sản ở châu Âu và những nơi khác. Bởi việc tăng chi tiêu quân sự là một bãi mìn chính trị – vì nó chắc chắc sẽ cần tăng thuế – nên ông đeo đuổi với sự thận trọng. Trợ lý chính của ông là một thanh niên tên Paul Nitze, anh vừa mới tham gia vào giới an ninh quốc gia trong một nỗ lực thay thế George Kennan ở vị trí cục trưởng Cục kế hoạch chính sách, một bộ phận think tank, với Acheson dường như anh cứng rắn hơn Kennan và như vậy sẽ gần với chính sách của Acheson hơn. (Nitze thực thụ giữ vị trí ở Cục kế hoạch chính sách thay cho Kennan từ tháng 1 năm 1950, nhưng trên thực chất đã lãnh đạo cục này từ vài tháng trước). Acheson và Nitze thận trọng đi từng bước một qua các cơ cấu hành chính với kế hoạch của họ nhằm kiểm tra hoàn chỉnh các chính sách quốc phòng – một tài liệu sau này được biết dưới cái tên Tài liệu Hội đồng An ninh quốc gia số 68, hoặc NSC 68, một luận cương mang tính hạt giống cho những nhu cầu quốc phòng Mỹ được định nghĩa lại một cách tổng quát, hoàn thiện. Họ cố giữ sự thay đổi trọng đại đang được lên kế hoạch này, bí mật với Johnson và những đồng minh dự kiến của ông ta một cách lâu nhất có thể, đặc biệt là mức chi dự kiến. Acheson muốn thu thập được càng nhiều càng tốt những ủng hộ chính yếu của ủy ban quốc phòng mở rộng đến từ các cơ quan hành chính cấp cao trước khi có ai đó mở miệng lên tiếng về chi phí; và ông không muốn họp với Louis Johnson trước khi ông đã sẵn sàng. Và như vậy, ông sẽ chơi sau lưng. Trớ trêu thay, Acheson, một ngoại trưởng, lại gần như là hỗ trợ chính của Hội đồng Tham mưu Liên quân trong nỗ lực tăng ngân sách cho quân sự, họ vốn đã không ngừng nghỉ tranh đấu cho ngân sách thiết yếu đó trong năm năm qua. Gốc gác của vấn đề quốc phòng giá rẻ là dựa trên niềm tin về sự  độc quyền vũ khí hạt nhân của Mỹ sẽ cho phép cắt giảm các góc khác trong ngân sách. Và khi sự độc quyền hạt nhân của Mỹ đã chấm dứt vào mùa thu năm 1949, vấn đề (ngân sách) này vốn đã bị trì hoãn khá lâu lại được đặt lên bàn.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 08:43:09 am
Cuộc chiến giữa giới dân sự và quân sự về ngân sách đã bắt đầu từ hồi 1945. Khi ấy trong nước, cả hai đảng chính trị đều nóng lòng tham gia đẩy nhanh lộ trình cắt giảm quân bị lúc thế chiến II kết thúc. Mọi nhân vật trong chính giới, cả cánh tả lẫn cánh hữu, đều muốn việc giải ngũ làm xong từ hôm qua hơn là để đến ngày mai. Quốc gia trong thời chiến, gần như qua một đêm đã trở thành một binh xưởng hùng mạnh nhất trong lịch sử nhân loại, phản ánh một nước Mỹ; giải trừ quân bị lại phản ánh một mặt khác – ngoại trừ việc rằng họ là một, là cùng một quốc gia. Vấn đề với nền dân chủ vĩ đại như Hoa Kỳ, George Kennan có lần viết, là luôn như một gã khổng lồ ngủ say, không phản ứng với những gì xung quanh cho đến khi bị đánh thức đột ngột và muộn màng, và tên khổng lồ đó sẽ giận dữ khi biết ra mọi thứ và bắt đầu đánh đấm loạn.

Năm 1946, Dwright Eisenhower, lúc đó là Tham mưu trưởng Lục quân, được mời đến điện Capitol để gặp J. Parnell Thomas, một nghị sỹ ma mãnh hàng đầu thời đó, và lúc ấy đang là chủ tịch ủy ban quân sự hạ viện. Thomas là một đảng viên Cộng hòa đến từ ban New Jersey, một sự phản chiếu hấp dẫn của thời đại, một tay chống Cộng hiểm ác luôn nói về Roosevelt và Chính sách Kinh tế mới là sự phá hoại hệ thống tư bản. Là lãnh đạo Ủy ban Các hoạt động Chống Mỹ của Hạ Viện ( the House Un-American Activities Committee), rốt cuộc ông cũng giành được nhiều danh tiếng về việc săn Cộng sản ở Hollywood, nhưng cũng rất nhanh ông phải ngồi tù Danbury, Connecticut bởi đã cấy nhân viên ma vào danh sách lĩnh lương của văn phòng ông ta và chiếm đoạt số tiền lương đó cho chính mình. (Trong vụ đó, cùng vào tù với ông còn có hai chiến hữu là kịch tác gia Hollywood vì đã không chịu khai trước ủy ban về vụ ông ta). Lúc sửa soạn để gặp Thomas, Eisenhower tin rằng sẽ là một cuộc thảo luận nghiêm túc với một nghị sỹ quan trọng của Hạ viện về việc bằng cách nào để giảm mức quân Mỹ với tổn hại tối thiểu cho đất nước. Nhưng thay vì vậy ông lọt vào một trận phục kích ngoại hạng. Ở đó là Thomas và xung quanh là một nhóm những thiếu phụ trẻ hấp dẫn – vợ của những quân nhân đang nóng lòng mong chồng được đưa lên tàu về nước – và trên một chiếc bàn là một đống giày trẻ con. Một tay chụp ảnh nhanh chóng xuất hiện, và một tấm ảnh về những người vợ với đống giày em bé, nụ cười của Thomas cùng một Eisenhower đang điên tiết, rất nhanh được phát tán ầm ĩ trên hệ thống truyền thông.

Lúc cuối Thế chiến, Hoa Kỳ có 12 triệu quân nhân nam nữ. Mức độ giải trì quân bị thật quá mạnh; mười lăm nghìn (15,000) quân nhân được xuất ngũ mỗi ngày. Và nếu có vấn đề liên quan tới hậu cần của việc đưa quân từ nước ngoài về, thì đó chính là khẩu hiệu phản đối mới: “không thuyền, không phiếu”. Đến đầu năm 1947, lượng quân hiện dịch xuống còn 1,5 triệu, và ngân sách quân sự hằng năm từ mức cao trong thời chiến là 90,9 tỷ đô lao thẳng xuống còn 10,3 tỷ. Thêm vào đó các khí tài đáng sợ trong thế chiến II không được hiện đại hóa lên. Sau chừng ấy năm, phần lớn đã lỗi thời, và một số còn vô dụng. Tại thời điểm những sư đoàn Bắc Triều Tiên đầu tiên nam chinh, như các nghiên cứu ở Mỹ sau này chỉ ra rằng: 43% quân nhân thuộc bộ tư lệnh Viễn đông xếp vào nhóm IV hoặc nhóm V, hai mức thấp nhất trong thang kiểm tra phân hạng của lục quân. Trong con mắt của những quân nhân cao cấp, đó là một đất nước đơn giản là quay bước từ bỏ trách nhiệm. “Nước Mỹ chiến đấu [trong Thế chiến II] như kiểu chơi một trận banh, người thắng cuộc rời sân bãi và ăn mừng”, tướng Albert Wedemeyer nói, khi ông quan sát việc giải trừ quân bị chóng vánh. Còn George Marshall thì bình luận: “Đó không phải là việc giải trừ quân bị, mà đó là một cuộc tháo chạy”. Lục quân thì, tướng Omar Bradley nói: “chỉ còn một sư đoàn – Sư đoàn dù 82 – còn có thể mơ hồ xem là sẵn sàng chiến đấu”. Trong những năm ấy, sau cuộc giảm lực lượng cực nhanh và ngay trước vụ Triều Tiên, nước Mỹ, theo như cách nói của Bradley, có một quân đội lúc bắt đầu cuộc chiến Triều Tiên là “không thể đánh thủng nổi một cái bịch giấy”.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 08:50:04 am
Ngân sách quân sự giờ bắt đầu tăng với hàng đống giấy tờ. Những thứ bị cắt giảm, theo Cabell Phillips một thông tín viên về an ninh quốc phòng của tờ NewYork Times ghi nhận: là không rộng nhưng tác hại tới sức mạnh và cốt lõi. Cuối năm 1948, để chuẩn bị cho ngân sách tài khóa 1950, ba lực lượng (Hải – Lục – Không quân) trình ngân sách dự trù. Tổng cộng là 30 tỷ đô. Sau khi cật lực làm việc, James Forrestal, bộ trưởng Quốc phòng, đã gọt nó xuống còn 17 tỷ. Nhưng đến Harry Truman, ông quan tâm tới kinh tế nội địa hơn chi tiêu quân sự (bởi rất hiểu những hậu quả chính trị khôn lường khi tăng thuế), quyết rằng không được quá 15 tỷ (* Damn: dịch tới dòng này lại liên tưởng tới anh A # nhà ta hiện nay, chỉ biết tăng thuế phí và không hề nghĩ tới hậu quả!!! DM). Cuối cùng con số là 14,2 tỷ. Ba lực lượng phải tranh nhau dữ dội cái khoản ngân quỹ hạn chế ấy. Vai trò của thủy quân lục chiến rõ ràng phải cắt bớt; những quân nhân như Bradley phát biểu rằng không có nhu cầu trong tương lai với các trận đổ bộ đường thủy, và điều này cũng làm giới hạn vai trò của Hải quân. Nếu có bộ phận nào trong ba lực lượng cảm thấy ổn thì đó chính là Không quân với bom hạt nhân trong tay. Có vài vấn đề dường như là bệnh đặc hữu của cái xã hội dân chủ đặc biệt này, một trong số đó là điều cắm rễ trong tâm tưởng rằng họ được bảo vệ bởi hai đại dương rộng lớn. Ngay cả trong cuộc chiến Triều Tiên, George Marshall nhân vật quan trọng nhất trong việc đưa đất nước sẵn sàng lúc bắt đầu Thế chiến II, cũng tin rằng nước Mỹ vẫn chưa thuộc bài học. Khi Truman gặp MacArthur tại đảo Wake vào giữa tháng Mười năm 1950, Marshall không tham gia đoàn, nhưng ông sốc trước trạng thái phởn phơ dường như đang lan tỏa khắp trong buổi liên hoan trở về. Frank Pace, bộ trưởng Lục quân, đầy cảm xúc nói với ông về phát biểu lạc quan của MacArthur rằng cuộc chiến đã hầu như kết thúc và binh sỹ sẽ sớm trở về. “Thưa tướng Marshall” ông nói “Tướng MacArthur bảo rằng cuộc chiến sẽ kết thúc vào dịp Lễ tạ ơn và quân sĩ sẽ về nước lúc Giáng sinh”.

Trong sự ngạc nhiên của Pace, Marshall dường như không vui: “Này Pace, còn vất vả lắm”.

Pace nghĩ rằng Marshall không hiểu, nên ông lặp lại tin tức tốt lành về việc chiến tranh kết thúc trong tầm tay. Marshall nói: “Tôi nghe cậu nói rồi, nhưng quá hấp tấp bảo chiến tranh kết thúc sẽ không cho phép chúng ta hiểu hết mọi vấn đề mà chúng ta phải đối diện”. Vẫn còn thấy khó hiểu, nên Pace hỏi lại phải chăng Marshall muốn nói rằng người Mỹ cần phải hiểu tốt hơn về sự dính líu rộng khắp của Chiến tranh lạnh. Marshall nói, đó là thứ chính xác ông muốn nhắc. “Thưa tướng quân Marshall, đây là một cuộc chiến rất khó khăn và phạm vi rất rộng đối với góc nhìn của người dân Mỹ”, Pace nói. Nhưng Marshall thì không. Ông đã nghĩ xuyên xuốt về nó ngay từ trước khi kết thúc Thế chiến II; rồi đến lúc nó chấm dứt; xe tăng mục nát trên Thái bình dương, khi các cậu trai về nhà quay lại với công việc dân sự, khi sức mạnh quân đội đã được dựng lên và rồi để – như theo lời ông “yếu đi”.

Nhưng đó là quá khứ còn bây giờ là hiện tại, Pace cãi, và “bao nhiêu con nước đã trôi qua cầu kể từ thời đó. Phải chăng ngài cho rằng tôi ngây thơ khi tôi nói rằng người Mỹ đã học được bài học?”

“Không, Pace à, tôi không nói cậu ngây thơ. Tôi chỉ nói rằng cậu ngây thơ kinh khủng” Marshall trả lời.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 08:50:54 am
Trong hệ thống hành chính cấp cao, người đã thúc đẩy mạnh mẽ nhất cho việc điều chỉnh các yêu cầu thời đầu Chiến tranh lạnh chính là Forrestal, dưới áp lực của sự cắt giảm ngân sách, của sự cảnh giác cá nhân ông trước Liên Xô và rõ ràng là với sự rối loạn vài bộ phận trong cơ thể, đã làm trí tuệ ông giảm sút nghiêm trọng. Ông là người làm việc điên cuồng, chết bỏ, như Eisenhower nói “đủ giết chết một con ngựa”. Lúc đầu Forrestal rất cứng rắn trong việc điều đình với Liên Xô, và ông còn đưa ra một câu hỏi, một câu hỏi rất khó phổ biến hồi tháng 7 năm 1945 rằng Hoa Kỳ nên chiến thắng Nhật đến mức nào. Ông sợ rằng nếu một chiến thắng quá hoàn toàn xảy ra, nếu một nước Nhật còn lại quá nhỏ yếu sẽ tạo ra một khoảng không chính trị ở vùng Đông Bắc Á và khoảng trống này có thể sẽ bị lấp đầy rất nhanh, không chỉ bởi Liên Xô mà có lẽ bởi lực lượng đang trỗi dậy Cộng sản Trung Hoa, phía ông tin chắc là sẽ chiến thắng trong cuộc nội chiến. Chúng ta có nhất thiết muốn phá hủy cơ sở công nghệ Nhật như phần lớn các nhà chiến lược hàng đầu của chúng ta muốn? ông băn khoăn. Forrestal ngày càng ưu tư nhiều hơn với vấn đề ông tin rằng ngân sách quốc phòng của chúng ta không sánh nổi với hiện thực của người Nga, hoặc chuyện đó theo cách nói tu từ của chúng ta rằng: nói to quá khả năng quân sự. Nỗi ưu tư chính trị của ông càng gấp bội khi sức khỏe ông suy sụp, đến cuối năm 1948 những bạn bè thân thiết bắt đầu lo lắng hơn về ông. Ông ngày càng hoang tưởng, hốc hác và ám ảnh. Cổ áo sơ mi ngày càng như rộng thêm. Ông không thể ngủ nổi, mặt mũi xám ngắt. Ông chắc ăn rằng người Nga nghe trộm điện thoại của ông. Trong những tuần tại vị cuối cùng, ông gọi quấy rầy Truman vài lần một ngày chỉ với một chủ đề. Rõ ràng là ông đang trong giữa giai đoạn lẫn. Chính Forrestal cũng cảm thấy một phần. Đầu tháng Hai năm 1949, ông nói với Truman rằng ông sẽ rời vị trí vào ngày 1 tháng Sáu. Nhưng Truman biết rằng sẽ trụ không lâu tới như vậy. Ngày 1 tháng Ba năm 1949, ông gọi Forrestal yêu cầu từ chức. Bốn tuần sau, Louis Johnson, người rất hữu ích ở cương vị vận động quỹ tranh cử cho Truman năm 1948, thay thế cho Forrestal, còn Forrestal thì nhập viện. Cuối tháng Năm, ông tự tước đi đời mình, nhảy ra từ cửa sổ lầu 16 bệnh viện Bethesda Naval, một trong những nạn nhân sớm nhất, trong số những nạn nhân khác, của áp lực Chiến tranh lạnh. Việc bổ nhiệm Louis Johnson là một trong những quyết định chính trị tệ hại nhất của Truman. Johnson là một tay nóng nảy, bắt nạt người, lối sống của ông cứng cỏi và để cảm xúc lấn át còn nhiều hơn cả Forrestal. Ông đã nhận được sự căm ghét vĩnh viễn của những quân nhân cao cấp, không chỉ bởi ông đã ác liệt giữ mức ngân sách của họ mà còn bởi cách ông đối xử với họ quá thô lỗ cùng với sự thiếu tôn trọng một cách bất thường.

Mọi thứ trở nên rõ ràng hơn khi hồi tưởng lại về những năm tháng mà Truman và chính phủ của ông quay cuồng trong một thời điểm khủng hoảng của lịch sử Mỹ. Dù muốn dù không, nước Mỹ phải thay đổi, từ một nước Mỹ mạnh mẽ nhưng không tự biết về điều đó và lưỡng lự sử dụng khả năng công nghệ hàng đầu thế giới, sang một nước Mỹ biết rõ là Mỹ siêu cường. Những tranh luận triền miên về tương lai, trận chiến trong lòng chính phủ về NSC 68, và hay thậm chí cả thời kỳ McCarthy quái gở chính là quá trình biểu lộ cho sự thay đổi kịch tính đó. Đó là những thứ do sự phát triển đau đớn gây ra. Franklin Roosevelt là tổng thống trong quá trình vươn tới sức mạnh, và ông đã chết ở thời điểm cuối cùng, chiến thắng nước Đức. Còn thời Truman, là những xung đột về việc chi tiêu quốc phòng, trong đó ban đầu chỉ là nhóm tầng lớp thượng lưu tương đối nhỏ thúc đẩy một dạng đồng minh chính trị – quân sự kiểu mới với cánh dân chủ phương Tây ở châu Âu, và rồi một làn sóng nghịch lưu còn mạnh hơn trào lên chống lại chủ nghĩa quốc tế đó, đấy là những thứ phải đấu tranh trong thời kỳ này. Truman là vị tổng thống đầu tiên phải đối diện với những hệ quả, những mâu thuẩn từ  chiến thắng vĩ đại trong thế chiến II, và quyền lực (đi kèm với trách nhiệm) để lại cho đất nước ông. Ông không chỉ là chủ soái của hệ thống lãnh đạo phía sau hình thức chủ nghĩa quốc tế mới mà còn phải đối phó với những phản ứng của giới chính trị nội địa vốn không kiên định, đôi lúc còn thù địch, khi quốc gia bắt đầu chậm chạp chấp nhận trách nhiệm mới của nó. Sự lựa chọn là một thứ rất cơ bản, đó là chọn giữa chủ nghĩa quốc tế to lớn hơn hay tiếp tục tự cô lập – và, có lẽ một điều cũng quan trọng như vậy: đất nước này sẽ phải tốn bao nhiêu. Niềm tin của Truman về sự ưu việt của một châu Âu dân chủ mạnh mẽ đồng minh với Hoa Kỳ, và rằng sự sụp đổ của Trung Hoa cùng sự trỗi dậy của Mao Trạch Đông, thời kỳ chiến tranh Triều Tiên  và những lực lượng chính trị tấn công trong nước sẽ phải được xem xét.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 08:53:02 am
Dean Acheson là nhân vật quan trọng nhất trong tranh luận NSC 68, nhân vật trung tâm. Đây không phải là một cuộc tranh luận đúng nghĩa tranh luận, với nhiều cảm xúc chính trị lớn lao hơn, nó gần như là một cuộc chiến của những lực lượng khác nhau xung đột trong hệ thống hành chính với câu hỏi rằng nước Mỹ nên làm gì với vai trò thời hậu chiến của mình – quyền lực lớn bao nhiêu là đủ và sẽ lấy bớt bao nhiêu phần vai trò lãnh đạo phương Tây theo truyền thống vốn thuộc nước Anh. Ngay cả trước khi làm Ngoại trưởng, Acheson đã tham gia công tác để từ đó trở thành một nhân vật an ninh quốc gia quan trọng nhất thời kỳ, có lẽ trong vòng 50 năm tiếp, và là một kiến trúc sư quan trọng nhất của chính sách trở thành trung tâm của sự lãnh đạo Mỹ ở phương Tây, cũng như chính sách ngăn chặn và cùng tồn tại với Liên Xô. Chừng bốn thập niên sau, khi Liên Xô sụp đổ, bởi do chính sức ỳ của nó cùng với những sai lầm kinh tế trong hoàn cảnh hiện đại, thế là giới truyền thông ngay lập tức đưa phần lớn thành tích đó cho Ronald Regan, người đã giúp thúc đẩy một phần sự phá sản của đối thủ và đưa đến sụp đổ kinh tế. Nhưng đáng lý ra phần thành tích đó thuộc về các chính sách phương Tây cùng một dọc dài những lãnh đạo chính trị Mỹ, những người đã giúp ngăn chặn bước tiến của Liên Xô ở châu Âu, đặc biệt trong số đó là Acheson.

Thời kỳ ông phục vụ là những năm quan trọng và khủng hoảng nhất của Chiến tranh lạnh, khi khối đồng minh chính yếu thời hậu chiến của Mỹ được thành lập và dẫn dắt bởi một yêu cầu mới, to lớn: an ninh tập thể. Có thể dễ dàng và không cường điệu gọi đó là Kỷ Acheson (Age of Acheson). Không có nhân vật phi-tổng-thống nào chi phối việc ra quyết định các chính sách ngoại giao Mỹ như thời kỳ ông. George Marshall đã cống hiến những năm tháng vĩ đại nhất trong thời kỳ vốn kết thúc với thế chiến II, và trong những năm tiếp theo ông đã rất mỏi mệt, sức khỏe ông cũng bắt đầu sa sút. Sau cái chết của Forrestal, không ai từ bộ Quốc phòng có ảnh hưởng lớn lên khung cảnh chung. Acheson, hơn tất cả những người khác những chính sách hậu chiến thời Thế chiến I thất bại còn nguyên trong tâm trí ông, nên ông thấy được sự sống còn trong việc tạo lập một liên minh kinh tế quân sự bền chắc của phương Tây, liên kết chặt Hoa Kỳ với châu Âu chưa từng thấy trước đây. Không phải ngẫu nhiên, có phần nào khiếm nhã, khi tiêu đề của hồi ký của ông là Present at the Creation.

Và như vậy chính sách Mỹ phải được phất lên khi ngọn cờ nước Anh đang bị hạ thấp, chắc chắn Acheson có cái nhìn rõ ràng nhất. Ông là một người ủng hộ châu Âu tột bực. Bởi vậy nên ông cũng là cái đích ngắm chính của những ai theo các lối khác nhau nhưng đều không vui với diễn biến này, cả bởi họ ghét chính sách Kinh tế mới, hoặc không thích nước Anh, hoặc theo chủ nghĩa biệt lập, hoặc là người ủng hộ châu Á (hoặc Trung Hoa). Ông là một nhà cai trị hàng đầu, không chút hồ nghi về quyền của mình khi vẽ nên biểu đồ công việc (hoặc đó đúng là một quyền). Nhưng cái viễn cảnh vốn rất rõ ràng với ông và những người như ông thì lại không được chấp nhận bởi số đông trong đất nước, bởi hàng triệu người Mỹ vẫn hi vọng vào tiêu chuẩn cũ. Điều này đã tạo nên một mâu thuẫn to lớn trong quan điểm người Mỹ về phần còn lại của thế giới. Chính sách ngoại giao Hoa Kỳ trong những năm ngay sau chiến tranh, như Dean Acheson ghi nhận lại là: “có thể tóm gọn trong ba câu: 1. Đưa thanh niên về nhà; 2. Không làm ông già Noel; 3. Không bị đe dọa, bị chơi”.

Ông làm việc, ngay từ lúc bắt đầu, trong một chiến trường chính trị. Acheson làm Ngoại trưởng từ ngày 21 tháng Giêng năm 1949, sau ngày Truman nhậm chức. Ngay cả trước khi ông được biết đến là ngoại trưởng, ông đã là đích ngắm của cánh Cộng hòa. Việc phê chuẩn hồi ông làm thứ trưởng bộ Ngoại giao đã khó khăn một cách bất thường và gây nhiều tranh cãi, gần như là một bẫy rập làm cho sự đối đầu giữa chính phủ và cánh hữu Cộng hòa leo thang. Với những người ủng hộ Trung Hoa, họ luôn có cảm giác rằng Acheson là tử thù của họ, và như thế MacArthur cũng vậy, rằng Acheson đã xén cánh của vị tướng – điều này thì rất đúng (Khi MacArthur tuyên bố rằng ông có quá nhiều quân hơn nhu cầu, thì chính Acheson đã làm ông choáng váng khi nói rằng các bộ phận chiếm đóng không phải là kiến trúc sư của chính sách mà chỉ là “công cụ của điều đó”, một phát biểu làm MacArthur bực điên người). Bởi vậy nên có một lượng lớn đáng ngạc nhiên những cảm giác xấu trong trận chiến bổ nhiệm đầu tiên này. Một số lớn đảng viên Cộng hòa thủ cựu chống lại việc bổ nhiệm Acheson ở cương vị thứ trưởng bởi ông, như thượng nghị sỹ Kenneth Wherry buộc tội là: “làm xấu đi tên tuổi MacArthur”. Có mười hai thượng nghị sỹ ủng hộ cho đề nghị của Wherry về việc xem xét lại bổ nhiệm, nhưng nó nhanh chóng bị đánh bại và Acheson được chấp thuận 69-1. Sau này Acheson có nói rằng trung tâm sự oán hận chính là quan hệ giữa Truman và MacArthur. “Nếu chúng tôi có thể trông thấy trước được tương lai” 24 năm sau Acheson viết “chúng tôi sẽ nhận định được cuộc giao tranh nhỏ này chính là khởi đầu của cuộc chiến đưa đến sự huyền chức của MacArthur vào ngày 11 tháng Tư năm 1951”.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 08:55:05 am
Trong thời đại mới, lắm phe cánh này, Acheson trở thành một đích ngắm hoàn hảo cho những tay chỉ trích chính phủ bảo thủ nhất. Việc ông bị công kích từ những người chỉ trích với lý do là một người cánh tả thật đáng mỉa mai và phản ánh nhiều điều của thời kỳ đó. “Chỉ với cái nhìn méo mó trong chiến tranh lạnh thì Acheson mới được nhìn nhận khác hẳn với bản chất của mình: một “tay bảo thủ ngộ đạo” một cụm từ kẻ cả và tàn bạo” I.F.Stone ghi nhận, ông là một cây viết cánh tả. “Người McCarthy nhớ nhất trong những ngày ấy chính là Acheson, trong lần xuất hiện đầu tiên tại Washington ở Bộ Tài chính và đã được tố giác bởi những người ủng hộ Kinh tế mới là con ngựa thành Troa của phố Wall, là một kẻ leo cao luồn sâu theo lịnh của các chủ nhà băng”.

Acheson có một trí tuệ tuyệt hảo, ông cũng tự biết điều đó, cùng với cảm giác chính trực mạnh mẽ tương tự, điều này thì có lúc mang lại cho ông rắc rối đáng kể. Là con của Edward Campion Acheson, một mục sư Tân giáo và trước đó từng tòng quân, di cư sang Canada, chiến đấu với người da đỏ ở Manitoba trước khi trở về với mục sư đoàn và đến Hoa Kỳ. Sự công bằng chính trực và sự tự nguyện chiến đấu rõ ràng hòa lẫn nhau trong gia đình Acheson. Khi còn ở Canada, Edward Acheson cưới Eleanor Gooderham, con gái một nhà chưng cất rượu whiskey, một chủ tịch nhà băng thành đạt, và sau đó ông tìm đến Middletown, Connecticut làm một mục sư địa phương, và rồi thành giám mục của Connecticut. Dean Gooderham Acheson sinh năm 1893 trong một gia đình rất truyền thống và khá bảo thủ trong vấn đề thân Anh. Một gia đình thành công vừa phải, có quan hệ rất khá nhưng không giàu có. Rồi chàng thanh niên Dean đến Groton, Yale, ở đó như mọi sinh viên bình thường khác, rồi sau đó đến trường Luật Harvard, ở đây, lần đầu tiên ông tự mình bước vào giới trí thức. Ông được bảo trợ bởi vị giáo sư luật vĩ đại mà sau này làm tòa thượng thẩm Felix Frankfurter và có lúc làm thư ký riêng của thẩm phán tòa thượng thẩm Loius Brandeis. Chính Frankfurker, một kiểu người như ngân hàng hối đoái và một người xây dựng mạng lưới tài năng cho chính sách Kinh tế mới, đã giúp giới thiệu Acheson, khi đó là một luật sư thành công tại Washington, với Roosevelt, bổ nhiệm làm thứ trưởng bộ tài chính vào năm 1933. Frankfurker đã giúp quan hệ, nhưng chính bản thân ông ta mới khiến Roosevelt quyết như vậy.

Acheson cực kỳ có giáo dục, ăn mặc và tư thế rất đẹp dù không giàu, và ông cũng không e ngại thể hiện ra điệu bộ hiển nhiên vượt trội cả về trí tuệ lẫn con người, thường chọc tức những kẻ ông cho là kém cỏi. Đúng hơn, ông là một người tin vào việc chỉ cần gặp làm việc với đúng người, đúng mục đích là đủ, là cao quý và chắc chắn là vượt trên chính trị, nhưng với những người đối lập kiểu làm như vậy thì cho thấy thiếu phẩm giá và cá tính cũng như họ trong mắt ông là những kẻ có động cơ đáng ngờ. Với rất nhiều thành viên nghị viện, ông đơn giản là có quan hệ rất tồi như thể bản thân tiến trình chính trị đã làm họ bại hoại. Ông hay nói với xuống họ, rất giống kiểu giáo viên giảng bài trước đám đông học sinh lớp 6 ngỗ nghịch. Ông đối xử với họ, như Walter Judd nói, ông này là một hạ nghị sỹ đảng Cộng hòa từ ban Minnesote, nguyên là một nhà truyền giáo ở Trung Hoa và một trong những thành viên chủ chốt của hội vận động Trung Hoa, rằng: “rõ ràng là kiểu hạ mình, như kiểu lão ta thấy rất làm tiếc với những kẻ quê mùa cục mịch chúng tôi, rằng ông đang vãi ngọc trước mặt heo”. Với những người chỉ trích ông, với cái bộ dáng trưởng giả của ông, trang phục kiểu Anh, và bộ ria kiểu cận vệ, thì ông chính là hiện thân rất rõ ràng của thứ họ bực mình ở Washington: chính phủ và Kinh tế mới. “Tôi nhìn cái bản mặt ngạo mạn của lão, với quần áo Anh quốc và cái chủ nghĩa Kinh tế mới ấy … tôi những muốn hét lên “Biến đi,biến đi, mày chính là mọi thứ sai lầm của Mỹ trong những năm qua”” thượng nghị sỹ Hugh Butter thuộc bang Nebraska nói. Bộ ria dường như là một thứ gì đó không thông được. Bạn thân của Acheson, ông Averell Harriman đã khuyên ông cạo đi bởi nó gây thêm sự oán ghét – “Cậu nợ Truman việc này” ông đã nói thế.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 08:58:01 am
Acheson còn hơn là một người Đại Tây Dương. Ông là một người theo chủ nghĩa can thiệp nồng nhiệt từ rất sớm, hồi thế chiến II, ông đã theo Roosevelt từ hồi 1940 khi ấy đa số người cùng thời cho rằng nhiệm kỳ thứ 3 (của FRD) về bản chất là không dân chủ. Có lẽ không có nhân vật cao cấp nào thuộc chính phủ đã dễ dàng thích nghi trong thời kỳ quá độ từ Roosevelt sang Truman hơn Acheson; ông trở thành thứ trưởng bộ Ngoại giao từ năm 1945; và gần như ngay lập được được tân tổng thống ưa thích. Ngay từ đầu, như một số ít người khác, Acheson đã cảm nhận được sức mạnh, cá tính, quyết tâm của Truman, và nếu cần thiết còn tính không biết sợ. Về bản chất, thứ Truman muốn ở châu Âu – một kiểu ổn định mà những người chiến thắng đã thất bại để có sau thế chiến I – cũng chính xác là điều Acheson muốn. Dĩ nhiên là điều này giúp cho Truman, vốn chưa kinh qua chính sách ngoại giao, cần có Acheson khác với cách Roosevelt cần ông; ngược lại Acheson cũng thích cái kiểu thẳng thắn của Truman, một sự thay thế sau hình dáng lôi cuốn to lớn của Roosevelt.  Có lần Acheson nói với John Carter Vincent, một trong những chuyên gia Trung Hoa hàng đầu ở bộ Ngoại giao rằng: “John Carter này, chiến hữu nhỏ bé vượt đường đó quan trọng với ông ta nhiều hơn cậu nghĩ đấy”. Câu nói này có lẽ còn hơn cả một sự hạ mình nhỏ bé, bởi ông đã nói với hàm ý rằng một chiến hữu nhỏ bé đó dù sao cũng xứng đáng làm việc với họ, dĩ nhiên là nếu không công kích ông. Đáng ngạc nhiên là quan hệ cá nhân của Truman và Acheson dễ chịu và đáng ngưỡng mộ, một hình mẫu cho một cặp tổng thống – ngoại trưởng.

Nếu đó là Kỷ Acheson (the Age of Acheson), thì thời đại đó phản ảnh lại những khuyết điểm cũng như sức mạnh của ông. Vì vậy những điều mà ông hiểu nhất – nhu cầu cần ổn định ở các nước dân chủ Châu Âu và thiết lập một thế giới kinh tế mạnh mẽ ở châu Âu đủ sức đứng vững trước chủ nghĩa bành trướng Sô viết – rõ ràng là Hoa Kỳ đã thành công. Với những khu vực còn lại trên thế giới mà ông kém quan tâm hoặc không hiểu biết nhiều – và với câu hỏi về việc thời đại chống thực dân có nghĩa gì với phương Tây – thì chính sách ngoại giao của Mỹ không có mấy thành công. Ông thực sự là một nhân vật bảo thủ, bảo thủ trong cảm giác xưa cũ về thế giới. Ông cũng là người rất ít quan tâm tới thách thức sâu sắc với trật tự  cũ vừa bắt đầu khởi lên từ thế giới kém phát triển, một thách thức ở hình thái khác hẳn, với một lực lượng mạnh lên, có thể làm điêu đứng những hậu duệ trực tiếp của ông trong hơn 30 năm tới.

Một trong những vấn để của Acheson khi làm việc với thế giới kém phát triển đó là không có nhân vật nào dễ dàng cho ông thương thuyết, một người phải giống ông, theo cách người Anh hoặc ít ra cũng ở mức người Pháp và giờ là người Đức. Không có một Anthony Edens hay Jean Monnet hay Konrad Adenauers; không cách nào để ông nhìn nhận Hồ Chí Minh ngang vai với họ. Ví dụ, năm 1952, khi các nỗ lực của Pháp ở Đông Dương bắt đầu thất bại bởi kỹ năng chính trị và quân sự của Việt Minh, thì Acheson vẫn trì độn một cách lạ kỳ. Người Pháp khi ấy tuyệt vọng, liều lĩnh, và họ ráng yểm trợ cho một lãnh tụ bản địa hợp pháp, một kẻ quý tộc dân chơi phù phiếm tên là Bảo Đại. Thật đáng tiếc cho sự nghiệp của người Pháp, bởi ông này dành phần nhiều cho việc hưởng thụ lạc thú ở miền Nam nước Pháp hơn là đi dạo với người dân của ông trên những ruộng lúa của nước mình, và người Việt Nam, lúc ấy được thu hút bởi cuộc chiến cách mạng nên, như đã dự đoán được, không có mấy hứng thú được ông ta lãnh đạo. Tại thời điểm đó, như David McLellan, một trong những người viết tiểu sử của Acheson ghi nhận, vị ngoại trưởng đã xác quyết rằng lỗi lầm nằm ở chỗ chính bản thân dân Việt. “Họ dường như theo thuyết định mệnh phương Đông điển hình, thiếu hứng thú với hỗ trợ công cộng” ông ta nhận xét “Như chúng ta đã thấy, nước Pháp đã cho họ nhiều quyền tự trị hơn mức họ có thể sử dụng”. Nhưng thứ đã dẫn dắt phong trào Việt Minh hoàn toàn ngược lại – không gì khác hơn là giải phóng nước họ khỏi quyền lực thực dân – và những chỉ huy quân sự Pháp trên chiến trường không bao giờ nói về thuyết định mệnh thụ động của đối phương, thay vài đó, là họ dùng từ chủ nghĩa cuồng tín.

Một số trong đó hoàn toàn là do tính thời đại. Acheson là một con người của thời đại ông ta sống, một thanh niên có giáo dục xuất thân từ những trường đại học nổi tiếng nhất nước, được dạy những tri thức có nền móng từ thời thực dân, do những giáo sư  – vốn luôn nhấn mạnh vào sự ưu việt của người Anglo-Saxon và sự yếu kém của các đối thủ không da trắng – giảng. Những bài học cơ bản nhất là thế giới được cai trị bởi những ai xứng đáng cai trị. Trường Havard và Yale không là những đại học mà giáo sư các khoa dạy về việc mong mỏi tự do cho thuộc địa. Đúng hơn, sinh viên ở đó học về sự khoan dung, rộng lượng bẩm sinh mà chủ nghĩa thực dân có thể cung cấp để những thuộc địa có vận hạn tốt. Những khóa khoa học giả mạo thường ghi nhận rằng não của dân không-da-trắng bé hơn người gốc Cáp ca (người da trắng). Trong thế hệ của ông và trong những lớp đó, những ai mạnh mẽ tin vào khả năng thuộc địa chống lại được thực dân thì khó mà tồn tại nổi, quả thực vậy, và Dean Acheson không nằm trong số này


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 09:01:48 am
Ông tự thấy mình là một con người thực dụng. Với ông, theo óc thực tế, thì Trung Hoa của Tưởng Giới Thạch coi như kết thúc rồi, tiêu rồi. Khi Mao Trạch Đông và những người Cộng sản xuất hiện và chiếm lấy đại lục, Acheson là người đầu tiên dường như  chấp nhận Mao và đồng sự không phải là bù nhìn của Liên Xô, rằng một ngày nào đó Hoa Kỳ có thể thương thảo, làm việc với họ. Tháng Hai năm 1949, ông cảm nhận thấy cuộc nội chiến (Trung Hoa) đã tới hồi kết thúc và bất kỳ hỗ trợ thêm nào cho Tưởng Giới Thạch có thể sẽ làm “củng cố thêm quyết tâm cho người dân Trung Hoa ủng hộ Cộng sản và kéo dài ảo tưởng rằng quyền lợi Trung Hoa sẽ đi cùng Liên bang Sô Viết”. Quan điểm này được sự quan tâm của hầu hết những người kiểm soát Trung Hoa cũ và những người như George Kennan. Nhưng chính trị của thời đại đã thay đổi. Gần như cùng lúc, thượng nghị sỹ Vandenberg đến nhà Trắng và cảnh báo chống lại bất kỳ sự đình chỉ viện trợ Trung Hoa nào. Vài ngày sau, 51 nghị viên Hạ viện đã yêu cầu xem xét lại chính sách Trung Hoa của Hoa Kỳ. Cuối tháng Hai, Acheson gặp các lãnh đạo Hạ viện về vấn đề Trung Hoa, cố mua thêm thời gian và tìm cách linh hoạt hơn. Ông phát biểu về những hiểm họa nếu tiếp tục ủng hộ Tưởng giới Thạch và rơi vào đám bùng nhùng của ông ta. Ngày kế tiếp Pat McCarran từ bang Nevada, một đảng viên Dân chủ nhưng lại là một trong những lãnh đạo của Hội vận động Trung Hoa, biết rằng Acheson đã bị trói buộc, nên đã kêu gọi ngay một gói viện trợ 1,5 tỷ đô la cho Trung Hoa.

Thời điểm Acheson tham chính là một giai đoạn dữ dội mà bất kỳ một ngoại trưởng nào từng trải qua, có lẽ là quảng thời gian 4 năm khó khăn nhất trong lịch sử của đất nước trong lĩnh vực chính sách ngoại giao. Ngay khi Acheson đang tiếp nhận văn phòng (ngoại trưởng), thì chính phủ Tưởng Giới Thạch đang sụp đổ ở đại lục, và vị Thống chế bỏ chạy sang Đài Loan. (Acheson đã tuyên thệ trong cái ngày Tưởng rời Trung Hoa đến hòn đảo quê nhà mới. “Chúng ta đã vượt qua, tôi đang đến, Tưởng chạy đi” sau này Acheson viết một cách châm biếm, hóm hỉnh). Mọi thứ còn tệ hơn vụ sụp đổ đó. Chỉ trong khoản vài tuần ấy, Liên Xô lần đầu tiên thử vũ khí hạt nhân và Cộng sản Trung Hoa tiến vào Bắc Kinh, thông báo thành lập chính quyền mới của họ,  những điều mà một phần lớn công chúng Mỹ nguyền rủa. Cả hai sự kiện này không chỉ là dấu hiệu cho thấy cân bằng an ninh toàn cầu đã biến đổi mà còn là đưa đến một làn sóng sốc tâm lý trong hệ thống chính trị Mỹ. Hoa kỳ không còn là thành viên duy nhất của câu lạc bộ hạt nhân, và gần như cùng lúc, Trung Hoa, một quốc gia được hàng triệu người Mỹ yêu quý bởi các chương trình truyền giáo mở rộng ở đấy – một quốc gia được trông đợi là một đồng minh lớn của chúng ta ở Á châu, đã thành Cộng sản.

Không gì làm thay đổi tầm nhìn hiện hữu của người Mỹ trong vấn đề quốc phòng như vụ thử hạt nhân đầu tiên của người Nga. Ngày 3 tháng Chín năm 1949, một phi cơ trinh thám tầm xa Mỹ vốn đều đặn được gửi đi để kiểm tra tầng bình lưu nhằm xác định bất kỳ bằng chứng hoạt động nguyên tử nào của Liên Xô, đã mang về một báo cáo rằng có mức phóng xạ cao bất thường. Máy đo trên phi cơ đã ghi nhận 85 phóng xạ trên phút. Trong khi mức thông thường là chừng 50. Còn máy đo thứ hai lại cho thấy tới 153/phút. Hai ngày sau một phi cơ khác, bay từ Guam đến Nhật Bản, ghi nhận một mức đếm đến hơn 1,000. Các chuyên gia hạt nhân Mỹ kết luận rằng người Nga đã bí mật thử nghiệm vũ khí hạt nhân, có thể đoán chừng đâu đó trong khoản giữa 26 – 29 tháng Tám, tại một nơi thuộc phần đất châu Á của Liên Xô. Quả bom ngay lập tức được gán cho cái tên Joe One để vinh danh Joseph Stalin. Vì đồng bảng Anh mất giá và Truman sợ rằng hai vấn đề mới này có thể làm hoang mang thị trường tài chính thế giới nên thông báo về cuộc thử nghiệm hạt nhân được lùi lại đến tận ngày 23 tháng Chín. Truman rất thận trọng khi nói rằng đó là một cuộc thử nghiệm thay vì nói là một quả bom, nhưng sự chấn động đến ngay lập tức và đó là một cơn ớn lạnh chính trị. Khi J. Robert Oppenheimer, cha đẻ của bom hạt nhân Mỹ, điều trần trước Quốc hội ngay sau đó, thượng nghị sỹ Arthur Vandenberg đã rất lo lắng hỏi: “Tiến sỹ, chúng ta sẽ phải làm gì bây giờ?””Vững vàng và kiên trì cùng bạn bè” Oppenheimer trả lời. Nhưng bản thân Oppenheimer lúc này là một người rõ ràng là:  ông có thể bị ngả nghiêng bởi một loại các kỳ kiểm tra an ninh thường xuyên trong xuốt quá trình lỗi lạc của mình ở cương vị chủ nhiệm đề án Manhattan, ông cũng bị mâu thuẫn trong tư tưởng về thứ ông đã tạo ra với hậu quả lên loài người qua hai quả bom ở Hirosima và Nagasaki, và sự cảnh giác của mình với dự án bom khinh khí đang diễn ra trước mắt, thứ này nhanh chóng sẽ làm ông mất quyền an ninh (*)

(*) Quyền an ninh – security clearance là quyền được biết nhiều bí mật quốc gia.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 09:10:08 am
Nếu sự kiện thử quả bom Joe One và cuộc tháo chạy của Tưởng ra khỏi đại lục chưa đủ tệ, thì vào cuối tháng Giêng năm 1950 Acheson tự làm khó mình thêm một cách đáng kể  bằng việc nhấn mạnh tới tình bạn và lòng trung thành của Alger Hiss, một cựu nhân viên bộ Ngoại giao người vừa bị xét xử lần hai vì tội khai man – dựa trên căn cứ còn nghiêm trọng hơn đó là nghi vấn làm gián điệp Liên Xô trong thế chiến II. Tại thời điểm ấy, điều này bộc lộ phần ngạo mạn trong con người Acheson, một phát biểu hoàn toàn vô cớ nhân danh một người đang bị kết tội là tội phạm nghiêm trọng, và đó là một sự phá hoại về mặt chính trị, không chỉ với cá nhân ông mà cũng tác hại tương tự cho chính phủ ông đang tòng sự. Vụ án Hiss là tâm điểm của cả quốc gia trong vòng gần hai năm khi đó. Sau này vụ án được cho là phản ánh tất cả những bất đồng của một thế hệ, khi một số thuộc cánh tả tự do đã mất niềm tin vào hệ thống tư bản bởi cuộc Đại khủng hoảng và sự trỗi dậy của chủ nghĩa phát xít, họ trở thành đảng viên Cộng sản hoặc ít nhất cũng là ủng hộ viên. Đó rõ ràng là một sự cường điệu to lớn: bất kể nền dân chủ có những sai lầm trong thời kỳ này, thì đa số những người thuộc cánh tả tự do vẫn là những công dân trung thành và đã không gia nhập đảng Cộng sản hoặc làm điệp viên cho Cộng sản. Lúc ban đầu đa số quần chúng dường như ủng hộ Alger Hiss hơn là Whittaker Chambers – công tố viên buộc tội của Hiss, một cựu đảng viên Cộng sản và là một tay viết cao cấp của tạp chí Time – trong trận-chiến-hai-người đó, thứ nhất là vì dường như Hiss là một nhân vật hấp dẫn hơn nhiều trong hai người, và cũng bởi do có sự không thích chớm nở với việc truy nã những người cộng sản bắt đầu tăng nhanh ở nhiều nơi trong nước. Hiss, như Alistart Cooke viết – đây là một nhà báo Anh hiểu rất sâu sắc Mỹ – “là một chủ đề cho Henry James; một sản phẩm của cung cách lịch sự Tân Thế giới, với một niềm tin lịch lãm về cách cư xử, một con người nhiệt tình, sáng sủa, chất phác thanh nhã hơn kiểu sắc sảo, mệt mỏi, tin cậy và trần tục của người Anh”.

Lúc đầu, trên mặt báo, Alger Hiss được đặt cửa tốt hơn, một khuôn mẫu rất điển hình của dân Eastern Establishment (*) với tác phong và tư thế hoàn hảo, chỉ một chút khắc khổ. Dường như ông đi theo một sự nghiệp tốt với dân Eastern Establishment ngay từ đầu: trường luật Harvard, thư ký của Oliver Wendell Holmes do Felix Frankfurter sắp xếp, giữ vị trí thích hợp nếu không nói là một công việc quan trọng trong chính phủ ở thời Kinh tế mới; gần như chắc chắn, như chứng cứ dần hàm ý ra, ông là gián điệp Cộng sản bắt đầu từ những năm 1930 và kéo dài đến Thế chiến II. Vẻ ngoài của Hiss dường như tất cả đều thanh nhã, trong khi Chambers thì ngược lại – ủ ê, tối tăm, rối nùi và hoang tưởng. Ông đã sống sót sau một thời niên thiếu và thời trưởng thành kinh khủng – người cha nát rượu đã bỏ nhà đi theo người tình đồng giới ngay từ khi ông còn bé. Ông là một con người độc đoán, một tín đồ thực thụ khi ở trong đảng (Cộng sản) và có lẽ còn tin hơn khi ông rời đảng với sự vỡ mộng cay đắng. Khi còn thanh niên, ông tin rằng tất cả sự thật lớn lao trên thế giới này đã được Đảng giải đáp; lúc ông trưởng thành hơn và vỡ mộng, thì ông trở nên tin rằng tất cả những sự dối trá vĩ đại nhất trên thế giới này cũng do chính đảng đó thuyết pháp.

Là một phóng viên cao cấp của tờ Time, ông được nhìn nhận là vừa thông minh và vừa là một đồng nghiệp khó gần nhất. Vì có đảng tịch nên ông thăng bằng trong thời chiến, rồi khi ông bỏ đảng, ông vẫn cảm thấy mọi người khác nên ở cùng sự thăng bằng đó và rằng tất cả các thông tín viên của Time trên chiến trường đã không chia sẽ được cảm giác linh tính về điểm gở rất rõ ràng ở ông – hay nói cách khác sự phán quyết cuối cùng – về cuộc chiến toàn cầu sẽ diễn ra, bạn đồng hành của những người Cộng sản. Ông là một cây bút hoàn hảo cho một tạp chí có phần u ám vốn thích đưa ra những cảnh báo mang tính định kỳ về sự suy tàn của phương Tây. Nhà văn tiểu luận Murray Kempton, người theo dõi thời kỳ đó và vụ án Hiss với góc nhìn độc đáo đã có lần ghi nhận: “Không có ai có thể khua vang chuông cảnh báo về nền văn minh phương Tây đang bên bờ vực như Chambers”.

(*) Eastern Establishment: là cụm từ chỉ các trường/viện đại học tài chính nổi danh hàng đầu nước Mỹ ở miền Đông, có nghĩa gần tương tự với cụm từ Ivy League 


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 09:12:33 am
Chambers tuyên bố rằng ông biết Hiss rõ khi cả hai còn trong đảng. Hiss phủ nhận. Nhưng nhanh chóng những tuyên bố trái ngược và những phần sự thật trong câu chuyện của Hiss dần sáng tỏ, và được đưa ra bởi một hạ nghị sỹ trẻ đến từ California tên là Richard Nixon, anh này được giúp một phần bởi giám đốc FBI, J. Edgar Hoover. Homer Bigart của tờ New York Herald Tribune ghi nhận là có quá nhiều uẩn khúc trong câu chuyện của Hiss, có quá nhiều điều chưa được đưa vào. Hội thẩm đoàn cố xác quyết xem Hiss có khai man không và chia thành 8 – 4 chống lại ông ta. Lúc đó, Acheson là ngoại trưởng được một năm rồi. Trong quá khứ, có mối liên hệ giữa Hiss và Acheson, chủ yếu là qua người anh của Hiss, Donald, và cũng đã có những cảnh báo về anh em nhà Hiss từ hơn một thập niên trước do Adolf Berle – trưởng ban An ninh Bộ ngoại giao – đưa ra. Năm 1939 Chambers nói cho Berle biết là cả Alger Hiss và anh trai ông, Donald, đều là Cộng sản. Alger làm việc trong bộ Ngoại giao trong suốt thế chiến II với tư cách là giám đốc  Văn phòng Các vấn đề chính trị đặc biệt, chủ yếu là giải quyết các vấn đề với Liên hiệp quốc ; còn Donald Hiss là trợ lý của Acheson trong cả cuộc chiến và sau đó là một đối tác luật. Khi quan ngại về anh em nhà Hiss được đặt ra, như sau này Berle ghi nhận, Acheson đã trả lời rằng: “ông đã quen nhà đó từ khi hai cậu ấy còn nhỏ và có thể xác nhận hoàn toàn về họ”. Sau này, sau chiến tranh, khi Hiss và Chambers tiến hành cuộc tranh cãi đầu tiên, Acheson ngầm giúp Hiss chuẩn bị một bảng tuyên bố công khai  để dùng trước Ủy ban các hoạt động chống Mỹ của Hạ viện. Nhưng điều này không được biết vào lúc đó. Khi Acheson được bổ nhiệm làm Ngoại trưởng, rồi trước khi trở nên hữu hảo với Ủy Ban quan hệ ngoại giao Thượng viện, đã có chút phiền muộn vì chính mối quan hệ với nhà Hiss. Một số thành viên của ủy ban thậm chí đề nghị và giúp đỡ soạn ra một thông cáo để Acheson có thể đọc và phản ánh quan điểm chống Cộng của ông. Một số đảng viên Cộng hòa trong hội đồng có lẽ không quá thân thiện bởi họ biết ông đã tư vấn cho Hiss trước đó.

Thứ ba, ngày 25 tháng Giêng, ba ngày sau phiên toà thứ hai luận tội Hiss, Acheson lên lịch tổ chức một buổi họp báo. Rốt cuộc thứ sẽ diễn ra không cách nào khác là một cuộc phục kích của báo giới. Acheson biết chính xác điều gì sẽ đến. Sáng đó, ông nói với vợ, Alice, rằng ông chắc chắn sẽ bị hỏi về Hiss, và rằng ông dự kiến sẽ nói rằng ông sẽ không bỏ rơi anh ta. “Anh còn định nói gì khác không?” bà hỏi. “Đừng nghĩ đó là một vấn đề nhẹ nhàng” ông trả lời “Điều này có thể là một cơn bão và đưa anh vào vòng rắc rối”. Sau đó Alice Acheson hỏi rằng ông có chắc đó là điều đúng phải làm. Ông trả lời: “Đó đúng là thứ anh phải làm”. Nhân viên của ông cũng đã sẵn sàng. Trợ lý riêng của ông, Louis Battle, và Paul Nitze, lúc đó là đồng minh thân cận nhất trong bộ Ngoại giao, cả hai cùng biện hộ với ông đỡ gạt các câu hỏi về Hiss. Battle rất lo tính bướng bỉnh của Acheson – nổi cơn giận mà bất chấp những tổn thất chính trị – kết hợp với tính công minh vô nghĩa của ông, có thể đưa ông vào một hành động sai lầm khinh suất. Acheson bảo Battle và Nitze rằng ông có thể học được từ Bài giảng trên núi (*). Rằng không cần phải tiên đoán trước. Vài năm sau Battle nói, cảm giác như thể Acheson đang chực hăm hở đánh nhau. Trong buổi họp nội bộ sáng đó, James Webb, thứ trưởng bộ ngoại giao, đề nghị Acheson để ông nói và khuyên Acheson thận trọng. Acheson lặp lại chương 25 trong Phúc âm thánh Matthew, đoạn thơ 36. Carlise Hummelsince, một cán bộ Ngoại giao cao cấp khác, đã khuyên ông rằng những câu chữ đó có nghĩa khác nhau với những con người khác nhau.

(*) Sermon on the Mount: bài giảng trên núi, chương 5 Phúc âm Matthew


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 09:18:17 am
Câu hỏi của Homer Bigart báo Herald Tribune là: “Thưa ngài Ngoại trưởng, ngài có nhận xét gì về Alger Hiss?”. Acheson lúc đầu trả lời rằng trường hợp này vẫn còn ở trước tòa, và như vậy không thích hợp để nhận xét. Khi đó, đồng nghiệp của ông có chút khuây khỏa, ông đã làm được. Nhưng rồi Acheson đi xa hơn. “Tôi hiểu mục đích câu hỏi của anh là muốn có vài thứ khác hơn từ tôi” ông nói “tôi muốn nó rõ ràng với anh, cho dù điều gì sẽ sảy ra với anh Hiss và các luật sư của anh ấy trong phiên tòa, thì tôi cũng sẽ không quay lưng lại với Hiss”. Vậy đó, ông sẽ không quay lưng lại với Hiss, lúc này Hiss được đa số trong nước nhìn nhận không phải ở góc độ khai man mà là điệp viên. Với một chính trị gia khi dưới sự công kích hỏi về những ai mà ông ấy không chắc chắn nhiều, những ai bị kết tội là khai man để hoạt động gián điệp, thì câu trả lời này là ngạo mạn tột bực. Thế rồi ông nói các phóng viên đọc kinh thánh đi, Matthew 25:36, đoạn Đức Christ kêu gọi những người theo Ngài hiểu rằng bất cứ người nào quay lưng lại với bất kỳ ai trong cơn hoạn nạn thì cũng sẽ quay lưng lại với Ngài:

“…Trần truồng và ngươi mặc áo cho ta;

Ta bệnh và ngươi thăm ta;

Ta trong tù và ngươi đến với ta…”

Ngay cả khi Acheson làm thông cáo, thì Thượng viện cũng trong phiên họp, và Karl Mundt, một đảng viên Cộng hòa bảo thủ đến từ bang Nam Dakota, đang nói về việc Hiss và đám người Harvard của ông ta đã đưa đến sự sụp đổ của Trung Hoa (một chính sách mà thực ra Hiss chẳng có chút quan hệ gì). Và rồi Joe McCarthy vọt lên ngắt lời Mundt. Ông hỏi: “Tôi không rõ là thượng nghị sỹ có biết đến một bảng thông cáo dị thường nhất của Ngoại trưởng vưà đưa ra chỉ vài phút trước không”. Bạn thân của Acheson, James (Scotty) Reston, chuyên trách Washington của tờ New York Times, bị choáng váng bởi sự ngớ ngẩn của nó  – tất cả những gì ông phải nói, Reston tin, là ông không thể đá một người đã gục xuống. Những người Mỹ trung bình đều có thể hiểu điều này. Nhà sử học Eric Goldman đã viết: “một món quà khủng khiếp và hoàn toàn không cần thiết cho những ai đòi hỏi rằng chính sách đối ngoại của chính phủ Truman phải được định hướng bởi những ai dễ dàng với Chủ nghĩa Cộng sản”

Câu trả lời của Acheson có lẽ là dũng cảm, nhưng đó cũng là sự ngạo mạng đáng kinh ngạc, một thảm họa chính trị với chính quyền Truman. Bản thân Truman nghĩ Hiss có tội. Khi phiên tòa thứ hai mở ra, Truman đã nói với viên mật vụ thân cận nhất, Harry Nicholson: “Acheson thân mến nói với tôi rằng Alger Hiss vô tội. Nhưng sau khi đọc các hồ sơ bằng chứng tôi nghĩ tên chó chết ấy có tội và tôi mong họ sẽ treo hắn”. Các vấn đề an ninh khi đó trở nên chính trị hóa hơn, và tăng số người ủng hộ tranh luận, điều được cánh hữu Cộng hòa công kích ồn ào hơn rằng Dân chủ là đảng phản quốc. Và giờ Acheson lại đưa ra một trường hợp gián điệp rất công khai trong nước có quan hệ với bản thân ông cũng như trung tâm chính quyền Mỹ. Thật không biết có món quà chính trị nào lớn hơn cho những người Cộng hòa. Rất điển hình, Richard Nixon ngay sau đó đã có một bài phát biểu rằng: “Những kẻ phản bội trong các hội đồng cao cấp của chính phủ chúng ta đã khẳng định rằng ván bài là gian lận ở phía Sô viết trên bài cờ ngoại giao”. Trong cuộc tranh luận chính trị trước đó, một phóng viên đã hỏi Truman rằng ông có nghĩ vụ án Hiss là một dạng red herring (*) không? Ông đã trả lời khẳng định. Nhưng giờ, Robert Donovan viết: “dù bản thân ông không nói từ nào rằng ông có liên đới tới họ” nhưng bởi câu trả lời thiếu cẩn trọng của Acheson nên “ông vẫn có một con mèo chết đeo bên hông”

Với như thế, thứ mà sẽ được biết đến dưới cái tên chủ nghĩa McCarthy, một thứ virus chính trị mới mạnh mẽ, bắt đầu được sản sinh ra. Ngày 9 tháng Hai, năm 1950, mười lăm ngày sau khi Acheson họp báo, và chừng năm tháng trước cuộc xâm lăng của Bắc Triều Tiên, Joseph McCarthy, một thượng nghị sỹ cấp thấp từ bang Wisconsin, người đang tìm kiếm một vấn đề và được khuyên rằng cộng sản trong chính phủ có thể là một điểm nóng, ông nổi lên từ buổi nói chuyện ở Wheeling, Tây Virginia. Ở đó ông tuyên bố rằng có trong tay danh sách 205 cái tên là đảng viên Cộng sản đang làm việc trong bộ Ngoại giao. Dù bộ đã được cảnh báo, McCarthy nói, nhưng không chịu làm gì cả. Ông còn chi tiết thêm rằng đã có bao nhiêu người dân phải sống dưới ách cộng sản trong 6 năm qua, phần lớn là bởi sự sụp đổ của Trung Hoa. Và rồi ông liên kết đến vấn đề Hiss và Acheson: “Như các bạn biết, rất gần đây thôi, Ngoại trưởng xác quyết lòng trung thành của ông với một người mang thứ tội mà luôn được cho là kinh tởm nhất trong các loại tội phạm – một kẻ phản bội nhân dân đã tin cậy giao cho hắn với niềm tin lớn lao – sự phản quốc”. NHững lời buộc tội, thứ sau này thành chủ nghĩa McCarthy cùng với những thứ tạm nham khác được sử dụng trong vài năm: rằng Trung Hoa thất bại không phải bởi những lực lượng lịch sử mạnh mẽ mà chúng ta đã không đủ sức lật lại, mà bởi sự phá hoại đến từ tầng cao cấp nhất ở Washington, điều này có thể lần theo vết được qua sự bất trung (hoặc khờ dại vô vọng) trong Bộ Ngoại giao, thường được kết nối với Alger Hiss

(*) red herring nghĩa đen là cá mòi muối khô, nhưng cũng là một thành ngữ mang hàm ý kết luận sai, hoặc không rõ ràng   

 (hết chương 12)


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 09:19:55 am
Sự mâu thuẫn nội bộ của Hoa Kỳ trong việc nước này miễn cưỡng chuyển mình từ một cường quốc biệt lập thành một siêu cường quốc tế thể hiệu nhiều nhất qua cuộc chiến gần như liều lĩnh của Dean Acheson với vấn đề tăng ngân sách quốc phòng trong khung cảnh đầy kịch tính khi ông trở thành bia ngắm chính cho sự giận dữ đang tăng cao của cánh hữu. Đầu năm 1950 Acheson đã chỉ định Paul Nitze xây dựng những tài liệu khung chính, những tài liệu sau này được biết dưới cái tên NSC 68, và đưa nó thông qua các cơ cấu hành chính. Lựa chọn này thì không có gì ngạc nhiên. Ngôi sao Nitze vẫn đi lên và anh rất giống một phiên bản mở rộng của chính Acheson – suy nghĩ của anh song hành với vị ngoại trưởng.

Nguyên ủy Nitze là người của Forrestal. Một trong những người bảo trợ quan trọng nhất ban đầu là George Kennan, trí tuệ của Nitze hấp dẫn ông, và Kennan muốn đưa anh vào làm cấp phó cho mình ở Cục Kế hoạch Chính sách, cơ quan think-tank đặc biệt của Bộ Ngoại Giao, nơi ông làm lãnh đạo. Cục Kế hoạch chính sách rất có ảnh hưởng thời ấy.  Đó là nơi những bộ óc hạng nhất cân nhắc về hệ quả các sự kiện, lúc đó hệ quả các sự kiện vẫn được cho là quan trọng, và suy nghĩ trong tầm nhìn dài hạn về các vấn đề có áp lực trực tiếp đủ nhanh. Nhưng Acheson phủ quyết đề xuất này, vì nghĩ rằng Nitze quá gần gũi với các nhà điều hành phố Wall bởi anh (như Forrestal) nguyên làm cho Dillion Read, một trong những nhà đầu tư hàng đầu ở phố Wall. Rồi rốt cuộc Acheson cũng thay đổi quan điểm của mình, và mùa hè năm 1949, khi Kennan lần nữa đề xuất Nitze, Acheson đã đồng ý. Acheson và Nitze trở nên gần gũi nhau hơn trong cả công việc và quan hệ cá nhân, dù Kennan đã rơi vào tình trạng bị ghét.

Chỉ bốn năm trước, Kennan là một siêu sao trong bộ Ngoại giao với những phân tích sớm sủa và cực kỳ thông minh của ông về ý định của Liên Xô, nhưng giờ khi Chiến tranh lạnh sâu rộng thêm, và ranh giới giữa chính trị nội địa và quốc tế phân biệt hơn, ông trở nên bị trật nhịp với bộ, ảnh hưởng của ông gần như không còn. Ông không còn là một tay chơi chính trong những cuộc tranh luận, mà những tranh luận đó cũng đã thay đổi, Acheson cũng không còn hứng thú nghe những phản biện rắc rối của ông, hay những suy nghĩ chín chắn và xứng đáng của ông dù chúng có thể như vậy, và rằng chính phủ, dù muốn dù không cũng bị cuốn theo dòng các sự kiện, phải vượt qua những điểm thành – bại mà còn không kịp hiểu rõ về nó. Khi quyền lực chính trị cánh hữu tăng lên, còn chính phủ thì bị những bao vây bởi những chỉ trích, thì giá trị của Kennan nhanh chóng bị đánh giá thấp đi. Mùa thu năm 1949, ông được yêu cầu báo cáo cho một trong những trợ lý bộ trưởng thay vì trực tiếp với Acheson. Điều này có nghĩa là sự gần gũi của ông với Ngoại trưởng đã bị cắt đứt, và mọi người trong Cục đều hiểu về điều đó; một khi mối quan hệ bị cắt thì quyền lực và ảnh hưởng cũng bị mất theo. Một vài tuần sau ông đề nghị Acheson cho ông thôi chức vụ ở Cục kế hoạch chính sách  nhanh nhất có thể và cũng yêu cầu được ra đi không ràng buộc.

Kennan chính thức được Nitze thay vào tháng Giêng năm 1950, dù trên thực tế Nitze đã làm công việc này từ tháng Mười một năm trước.  Nitze còn kiên quyết trong hầu hết những vấn đề hơn Kennan, ảnh hưởng của Kennan ngày càng ít đi, trừ biệt lệ đặc thù trong trường hợp Triều tiên, cả hai đều phản đối quyết định của MacArthur tiến lên miền bắc, vượt vĩ tuyến 38 hồi tháng Mười năm 1950, bởi hai ông tin rằng có quá nhiều rủi ro trong khi lợi ích thì không đáng kể. Mặc khác Nitze luôn được lòng Acheson, và trong những thập niên sau đó, anh dường như là môn đồ trung kiên nhất của những gì Acheson tin vào. Với vấn đề cơ bản của NSC 68 – nỗ lực tăng gấp ba ngân sách quốc phòng, điều Acheson muốn – Nitze đã hỗ trợ vị Ngoại trưởng, trong khi Kennan chua chát chống lại nó, ông cho rằng việc này phản ánh sự diễn dịch hoàn toàn sai lầm ý định của Liên Xô và làm quân sự hóa chính sách ngoại giao Hoa Kỳ đồng thời mang lại một cuộc chạy đua vũ trang leo thang không ngưng nghỉ giữa hai cường quốc.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 09:21:19 am
Tất cả những điều này đã làm Kennan thêm u sầu, vốn là một con người không mấy khi bi quan nên ông càng nóng lòng rời Washington để về trường Princeton, nơi thành tựu trí tuệ được đối đãi đúng đắn và cũng là nơi ông có thể làm công tác viết lách. Và như vậy ông cũng hết sức chống lại  sự sụp đổ những giá trị theo quan điểm của mình, và thứ mà ông cho là quyết định của cấp trên đã chọn sai tiến trình chính trị – đã chọn theo hướng mà ông cho là quá đơn giản trong góc nhìn kẻ địch, một góc nhìn đã đặt cả thế giới Cộng sản hiện hữu vào trong vòng điều khiển của riêng mình Moscow, hơn là nhìn nhận nó như một vũ trụ phức tạp có đầy những thành tố kinh khủng, mà những điểm tách biệt đó, ông tin chắc, rốt cuộc cũng sẽ tự phát lộ, và tất cả đều dựa trên cơ sở chủ nghĩa quốc gia. Lý luận này của ông là ý kiến tranh luận chính chống lại quan điểm chủ nghĩa Cộng sản đơn cực trong thời gì đó, và trong góc nhìn tối tăm của mình, không ai chịu lắng nghe. Hồi mùa hè năm 1949, ông đã tự nhận xét một cách châm biếm về mình là : « Một gã hề trong cung đình, mong có cuộc thảo luận sôi nổi, vinh dự để nói những điều kích động, có giá trị như một chú mòng biển thông minh tìm chỗ trú trong những đồng bạn thấp kém hơn, nhưng không được nghiêm túc nhìn nhận khi cần phải ra quyết định sau cùng về chính sách ».

Không ai trong chính phủ có thể làm việc với George Frost Kennan dù ông là một người rất dễ cộng tác. Ông rắc rối và khó khăn, vài người nóng lòng có được ảnh hưởng, nhưng khi có rồi thì lại không thoải mái với gánh nặng đồng hành. Ông nhút nhát và kín đáo, có tính cách của một sử gia hơn một nhà ngoại giao, và gần như là một người quá cá tính để làm việc trong một cơ quan như Bộ ngoại giao, nơi mà các quyết định thường dựa trên sự phản ứng tức thì. Ông cố tìm kiếm một dạng chính trị hoàn hảo trong một thế giới mà các quyết định thường được đưa ra dưới tình trạng bị căng thẳng kinh khủng, và như vậy là thường không hoàn hảo. Ở một cương vị công việc đặc thù, với tư cách của một trong những bộ óc hàng đầu của Mỹ, ông dường như luôn mang theo hàng loạt những tranh cãi phức tạp không chỉ với những đồng nghiệp và thượng cấp trong cái phức hợp an ninh quốc gia, với những nhân vật diều hâu hơn ông hoặc những ai xem ông là đối thủ, mà còn với chính bản thân ông. Như thể sắc thái và sự nhập nhằng trong chính sách là quá tinh vi ngay cả với ông, và mỗi điểm bất đồng ý kiến do ông đưa ra phải được bù bởi một đối âm. Nếu có dịp được lắng nghe ông cảm thấy một chút không thoải mái, thì lúc không được lắng nghe ông hoàn toàn không vui. Hơn bất kỳ nhân vật chính nào trong thời của ông, hơn cả Acheson, ông dường như bị nản lòng bởi sự thô bạo trong tranh luận chính sách của nền dân chủ Mỹ, ông lo rằng việc xây dựng được một chính sách ngoại giao khôn ngoan, thận trọng cho một nền dân chủ quá rộng lớn và phóng túng là một nhiệm vụ vô vọng, rằng văn hóa đơn giản tới mức quá thô, và nền chính trị quá nguyên thủy.

Bởi vậy nên sau này ông trở thành một trong những người chủ chốt chống chiến tranh Việt Nam, cũng như mười lăm năm trước đó ông đã lo ngại về việc vượt vĩ tuyến 38 ở Triều Tiên và bắc tiến, ngay cả trong bộ phận những người hâm mộ ông, cũng có cảm giác rằng ông không chỉ theo cánh bồ câu mà còn mềm mỏng một cách thái quá trong các chính sách ngoại giao. Nhưng như vậy là quá dễ dãi trong việc đánh giá một tình huống hấp dẫn hơn nhiều, ở chính tình huống này cho thấy ông là một nhân vật thực dụng siêu hạng : ông không muốn dùng thực binh Mỹ ở Việt Nam không phải vì ông cảm thấy có bất cứ sự cảm thông nào với các lực lượng bản địa đang thách thức chính sách Hoa Kỳ trên chiến trường trong thời đại chống thực dân, mà thay vì đó là bởi ông không nghĩ họ (hoặc đất nước của họ) đủ quan trọng trong kế hoạch tổng thể để nước Mỹ phải tiêu tốn tài chính và sinh mạng, đặc biệt trong những cuộc chiến gần như chắc chắn sẽ thất bại.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 09:24:42 am
Ông tin rằng những điều tệ hại sẽ diễn ra nếu chúng ta cố áp đặt quyền lực lên những nơi dường như không thích hợp. Những nơi như Việt Nam và Trung Hoa là quá tầm với (và cả sự quan tâm) của chúng ta, trong khi những đất nước khác, gần hơn, thân thiện hơn với chúng ta, đồng thời cũng quá tầm tay của Liên Xô. Thực tế là ông tin rằng đã có sự cân bằng quyền lực thiết lập một cách không chủ tâm trên thế giới bất chấp lối nói tu từ hoa mỹ của hai siêu cường – và về lâu dài điều này có lợi cho Hoa Kỳ. Khái niệm quyền lực với ông (trớ trêu là Joseph Stalin cũng thế) là khả năng của ngành công nghiệp trong yêu cầu nhanh chóng chuyển sang phục vụ quân sự. Thế giới duy nhất chúng ta cần quan tâm nhiều đó chính là sức mạnh kỹ nghệ – và dĩ nhiên, thứ này chủ yếu nằm ở phương bắc, của người da trắng, và Nhật Bản gần như là quốc gia quan trọng duy nhất ở châu Á. Kennan đã hứng thú phản ứng tới cuộc xâm lăng của Bắc Triều Tiên chỉ bởi tầm quan trọng mà ông gán cho Nhật Bản trong khung cảnh tổng thể lớn hơn, và niềm tin của ông rằng một nước Triều Tiên Cộng sản thống nhất, nếu nước Mỹ không thèm bảo vệ, có thể làm suy yếu người Nhật. Hai ngày sau khi quân Bắc Triều Tiên vượt biên giới, ông nói với đại sứ Anh ở Washington  rằng, trong khi Triều Tiên không có ý nghĩa mang tính chiến lược thì « mục tiêu quan trọng cần phải bảo vệ tốt, đặc biệt là ở Nhật Bản ». Trên thực tế, George Kennan là một người cực kỳ không ủy mị, ông xem xét thế giới cũng trong những cung cách không ủy mị nhất.

Ông là một người trầm ngâm, nhiều khi bi quan về những sự kiện chính trị, và thường, với một số người là rất thông minh và khôn ngoan, nhưng vô ý một cách đáng ngạc nhiên với tâm trạng và cảm giác của những người khác quanh ông. Khi quyết cưới một phụ nữ Na Uy trẻ, ông đã viết thư cho cha, một trong những nốt lặng nhất của mọi thời khi miêu tả về cơn bốc đồng lãng mạng tuổi trẻ : « Nàng là một người Scandinavy đơn giản thực sự và không lãng phí nhiều lời. Nàng có khả năng hiếm có trong việc giữ im lặng một cách yêu kiều.Con chưa bao giờ thấy tâm trạng nàng xao động dù có bất kỳ điều gì, và ngay cả con cũng không làm nàng lo lắng ». Không như những nhà hoạch định chính sách cao cấp khác cùng thời, hầu hết họ xuất thân từ một gia đình quý tộc nổi danh Mỹ, ông là sản phẩm của một gia đình trung lưu điển hình nhất ở Trung Mỹ, con của một luật sư thuế ở Milwaukee. Nhưng theo cách của riêng mình, ông là một tay hợm mình đáng kể, kiên quyết bất tiện với những gì mà ông cho là người Mỹ cùng khổ, những người theo góc nhìn của ông có lẽ gây trở ngại cho khả năng của những người quý tộc khi đưa ra các quyết định trong một nền dân chủ.

Ngay cả những bạn bè lâu năm như nhà Sô viết học tiêu biểu Chip Bohlen, một con người cực kỳ nhạy cảm với tâm trạng của Kennan, cũng không thấy mình dễ dàng ăn ý. Cuối cùng, khi Kennan rời bộ Ngoại Giao sau 27 năm làm việc, ông ngạc nhiên khi nhận ra không có ai để nói lời tạm biệt. Ông gần như không có bạn, để chia sẽ những suy nghĩ cá nhân, không bao giờ cho những người cùng công tác biết sở thích của mình. Nhưng, sự độc đáo của ông với tư cách của một nhà phân tích chính sách ngoại giao là không thể bàn cãi. Bởi lịch sử đã xác thực giác quan của ông, ông phục vụ để thấy một thế giới theo chiều sâu của lịch sử, trong suy nghĩ của ông, tạo lập một quốc gia mang đặc tính gần như vượt quá ý thức của những người hiện đang điều hành đất nước, như thể những lực đẩy mang tính lịch sử này còn hơn là một bộ phận của họ mà họ biết, một sự phản xạ DNA thực sự của đất nước. Với ông Liên Xô thực ra là nước Nga, và những người cai trị mới của họ chỉ là hiện thân thời hiện đại của Sa hoàng che phủ dưới những từ hoa mỹ bình dân hơn, nhưng về bản chất là phản ánh lại những nỗi sợ hãi, hoang tưởng, và sự cô lập từ những láng giềng vốn là một phần lớn trong quá khứ của đất nước đó. Ông tin rằng điều quan trọng khi xem xét những gì sảy ra sau Thế Chiến II là truyền thống xung lực người Nga, nó đáng sợ hơn tham vọng quốc tế của một quốc gia Mác-xít hung hăng quá mức.

Ngay khi còn thanh niên trong cuối thập niên 1930, ông đã mô tả tính cách người Nga là như được tạo thành bởi « nỗi sợ hãi thường xuyên bị nước ngoài xâm lăng, [và] cuồng loạn nghi ngờ các nước khác ». Ảnh hưởng của nhà thờ Thiên chúa giáo phương Đông cũng không bị đánh giá thấp « với tính không khoan dung, hấp dẫn, và hệ thống chính trị chuyên chế của nó ». Năm 1943, khi hầu hết giới viên chức Washington vẫn nuôi dưỡng trong đầu một ý tưởng tốt đẹp theo chủ nghĩa lạc quan về khả năng Hoa Kỳ đồng hành với Liên Xô sau chiến tranh, Kennan đã cãi ngược lại với quan điểm hiện hữu của đa số các thượng cấp, rằng thời gian khó khăn ở phía trước và rằng Liên Xô, vì các lý do lịch sử, sẽ rất khó khăn để cộng tác khi chiến tranh kết thúc.  Nhưng trong giữa cuộc Thế chiến II, gần như không ai, có lẽ trừ Averell Harriman, muốn nghe ông. Harriman, thiếu gia của một gia đình kinh doanh xe lửa vĩ đại, một nhà phê bình chính trị quốc tế trong thập niên 1940, phái viên đặc biệt của Roosevelt với cả Churchill và Stalin. Bản thân ông thì không quá thông thái, nhưng ông là một người biết lắng nghe vĩ đại đồng thời là một người có thể lặp lại ý tưởng của người khác một cách siêu hạng, và một người đáng tranh cãi trong số hai hoặc ba nhân vật công chúng tài năng nhất trong một giai đoạn kéo dài, như trong trường hợp của ông, dài đến bốn thập niên. Harryman rất ấn tượng với Kennan dù lúc đó ông là một nhân vật bé nhỏ trong tòa đại sứ Moscow. Năm 1946, Kennan gửi về Washington bức điện tín dài nổi tiếng của ông, một bức điện phân tích tuyệt vời dài 8000 chữ, một phân tích hấp dẫn về sự khó khăn khi làm việc với Liên Xô, trích dẫn các tiền lệ người Nga của họ, và lịch sử hung bạo của đất nước họ. Ông đã điện về những thông tin hợp lý vào đúng thời điểm, dường như đã giải thích được cho Washington rất nhiều về việc tại sao hợp tác với Moscow gia tăng khó khăn, và trùng khớp với bài phát biểu của Winston Churchill ở Fulton, Missouri, trong đó ông tuyên bố rằng Bức Màn Sắt đã buông xuống phân nửa châu Âu. Kennan đã chỉ ra điều mà nhanh chóng được biết dưới cái tên Chính sách Ngăn chặn trong việc hợp tác với Liên Xô.  Phần này được đăng trên tờ báo uy tín Foreign Affairs, tác giả được ghi chỉ là «Ngài X. » – và nó gây xúc động mạnh đầu tiên với Washington, sau đó là cả nước. Ông đột nhiên thành một ngôi sao. Sau này ông viết : « Danh tiếng của tôi được tạo ra. Lời nói của tôi giờ đây có trọng lượng ». Lý thuyết Chính sách Ngăn chặn của ông trở thành cơ sở cho chính sách của Washington với Moscow thời đó, và bức điện của ông đã ghi dấu cho việc chấm dứt thời gian tồn tại của chủ nghĩa lý tưởng về tương lai của hai nước đồng minh thời chiến tranh.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 09:41:26 am
Thời ông là ngôi sao không kéo dài ; vì ông suy nghĩ quá độc lập và quá tách biệt với sự thay đổi ngọn triều chính trị. Năm 1948, vì ông thấy chính sách ngoại giao căng thẳng với Nga và ông đã truy nguyên theo nguồn gốc lịch sử của họ, Kennan nghĩ rằng phản ứng của Washington với Liên Xô đã đi quá xa, bởi Hồng Quân, dù hùng mạnh, sẽ không xâm lược một ai. Stalin đã làm điều đó một lần rồi, với Phần Lan vào năm 1939, và đó là hành động đốt tay mình. Kennan cũng đã viễn kiến được sự căng thẳng không thể tránh được giữa người Nga và người Trung Hoa, nguyên gốc là từ những khác biệt to lớn trong lịch sử của họ. Ông chắc chắn rằng một Trung Hoa mới kiêu hãnh, dù theo chính quyền Cộng sản hay không, một Trung Hoa chiến thắng trong cuộc cách mạng của chính họ, sẽ không muốn làm đàn em cho Liên Xô lâu. Trong vấn đề này ông được các chuyên gia thuộc Bộ Ngoại giao ủng hộ, như John Davies, người quan sát Trung Hoa nhiều như Kennan quan sát Nga.  Nếu Stalin, trên thực tế là một Sa hoàng, có những cảm giác lo sợ và tham vọng của một Sa hoàng, thì Mao Trạch Đông cũng vậy;  là người sau rốt trong chuỗi các hoàng đế Trung Hoa, cũng có những nỗi sợ và tham vọng của một hoàng đế. Sa hoàng Nga và hoàng đế Trung Hoa, Kennan chắc chắn rằng, sẽ không thể hợp ý với nhau. Năm 1947, Kennan viết : « Người của điện Kremlin đột nhiên nhận ra sự hay thay đổi này và sự vận động tinh tế của người phương Đông; thứ mà họ nghĩ họ giữ trong lòng bàn tay mình sẽ nhanh chóng rỉ qua kẽ tay và không gì còn sót lại trừ cái chào nghi lễ của người Trung Hoa và nụ cười lịch sự ».

Chính phủ không nghe theo cái đúng quá nhanh, đặc biệt nếu bạn bị cho là ở cánh quá bồ câu. Kennan đã tiên tri, và ông đã đúng, sau một thời gian ngắn đáng ngạc nhiên, tình trạng căng thẳng giữa hai quốc gia leo thang vào đầu thập niên 1960 và có những cuộc giao tranh nhỏ thường xuyên giữa hai thế lực Cộng sản to lớn dọc theo biên giới Nga – Trung. Nhưng trong năm 1949 – 1950, trong một chính phủ đang dưới sự công kích gia tăng, cùng với những tin tức kinh hoàng về Joe One (bomb hạt nhân Nga), sự tháo chạy của Tưởng Giới Thạch khỏi đại lục, thì suy nghĩ của ông  về tình hình căng thẳng sẽ đến giữa Nga và Trung Hoa không chính xác là thứ Acheson muốn nghe. Năm 1949, David Bruce, một nhân vật đang lên khác ở Bộ Ngoại giao, ghi nhận rằng bạn ông, Acheson, không còn muốn đọc điện thư của Kennan nữa, bởi cho rằng chúng quá dài và ba hoa, cuối cùng là quá văn chương. Thời điểm này không còn tốt như hồi ông gửi bức điện thư dài nổi tiếng. Nhưng không điều gì nói lên việc Cuộc chiến tranh lạnh leo thang nhanh ra sao, và việc trong nước chống lại các chính sách của chính phủ gia tăng như thế nào hơn cái sự thật là Kennan đã rơi từ vị trí siêu sao tới mức ra rìa chỉ trong vòng ba năm. Vấn đề ông làm Acheson bối rối không chỉ đơn thuần do ông dài dòng và hay tranh luận ; gần như mọi điều ông nói là đúng, các chính sách các điều kiện chính trị khác nhau đã định sẵn để Acheson vui vẻ làm theo; nhưng điều này không kéo dài có lẽ bởi sự thay đổi chính trị của thời đại. Acheson quá kiêu ngạo để thừa nhận dù là vào ngay lúc đó hay sau này trong hồi ký, rằng Kennan có ý kiến bất đồng, rằng ông miễn cưỡng thích nghi với việc thay đổi các lực lượng chính trị, rằng có vài điểm trách cứ lẽ ra không nên được nói ra với vị ngoại trưởng – một người không thích bị khiển trách, hoặc thừa nhận là ông đã bị ép bẻ cong bất kỳ chính sách nào của mình.

Ông bất đồng quan điểm không chỉ trong vấn đề Liên Xô và Trung Hoa. Trong số những vấn đề khác mà Acheson và Kennan chia rẽ quan điểm là câu hỏi liệu có nên tiếp tục triển khai bom khinh khí – hoặc được biết dưới cái tên the Super -  thứ vũ khí đang được Edward Teller đẩy mạnh, ông này  là một cựu khoa học gia dự án Manhattan và ghét Robert Oppenheimer. Lúc Truman muốn có một ủy ban đặc biệt để nghiên cứu vấn đề dự án the Super, Acheson đã chọn Nitze, một người ủng hộ Teller làm lãnh đạo ủy ban, điều này đồng nghĩa với việc ủy ban đặc biệt gần như sẽ rất ủng hộ dự án tiếp tục. Với Nitze, quan điểm về dự án the Super là rất thực dụng  – liệu quả bom có hoạt động (tốt) không? Teller đã thuyết phục được anh ta rằng nó sẽ ổn. Với Kennan, giờ đây gần gũi Oppenheimer – ông này đau khổ với những gì thứ vũ khí của mình đã gây ra ở Hiroshima và Nagasaki, đây không đơn giản là một câu hỏi khoa học hay thực nghiệm mà còn là một vấn đề về mặt đạo đức.  Ông cho rằng dự án the Super không gì khác hơn là một tai họa đạo đức tiềm tàng. Những gì mà cả Oppenheimer và Kennan tin là, với quyết định phát triển bom H, một cuộc đua vũ khí siêu năng lực không có giới hạn và không thể chiến thắng sẽ được triển khai, và nó sẽ, rốt cuộc, làm gia tăng hiểm họa toàn cầu trong khi không thêm được chút gì cho an ninh quốc gia.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 09:45:15 am
Khi ủy ban của Nitze báo cáo, như đã dự báo được, rằng Hoa Kỳ phải tiếp tục dự án the Super, ủy ban cũng gợi ý rằng chính yếu là cần xem xét lại dưới góc độ bức tranh an ninh quốc gia tổng thể. Bàn tay của Acheson rất thành công trong trường hợp này – đây là một vấn đề ông muốn có nhằm khởi động cho kế hoạch đại tu dài hơi các chính sách an ninh quốc gia. Nitze có thể dẫn dắt điều này. Ngày 31 tháng Giêng năm 1950, sáu ngày sau khi Acheson có lời bình về Hiss, Truman đã cho lệnh tiếp tục việc xem xét toàn diện này.

Với việc Kennan cho rằng nước Nga của Stalin tập trung chủ yếu vào việc phòng thủ trong chính sách của họ dù quốc gia đó mang đầy tính hoang tưởng thâm căn cố đế, thì Nitze lại đưa ra một góc nhìn rất khác. Lúc đó anh viết «Tựu trung lại, những hành động gần đây của Liên Xô đã cho thấy không chỉ là sự tăng cường sức chiến đấu mà còn gợi ý cho thấy một sự liều lĩnh về cơ bản là mới – và gần như khinh suất ». Thực ra mà nói, anh bảo rằng Hoa Kỳ với tư cách là một siêu cường không thể xây dựng các chính sách dựa trên cơ sở giải quyết của Kennan về một nước Nga Sa hoàng, bất kể là tác giả thông minh tới mức nào. Ngộ nhỡ Kennan sai thì sao? Tóm lại Kennan là một nhà ngoại giao và là một sử gia, ông không là một cán bộ tình báo, và nếu quan điểm của ông về nước Nga là sai lầm, còn Hoa Kỳ chọn tiền đề cho tư thế an ninh dựa trên cơ sở giả định sự thật lịch sử đó, thì có thể kết thúc với việc dễ bị tấn công một cách không tả xiết.

Với Acheson và các đồng minh, tài liệu NSC của Nitze rốt cuộc có thể khởi động cho tiến trình làm sức mạnh quân sự Mỹ tương xứng với lời nói và viễn cảnh của họ về vai trò của Mỹ thời hậu chiến: Hoa Kỳ sẽ tiếp tục nói to, nhưng sẽ đi kèm đó còn là hơn một cây gậy lớn – một vũ khí nguyên tử không thích hợp; giờ đây nước Mỹ có nhiều cách phản ứng quân sự linh động khác. Với Kennan, về mặt khác, điều mà Nitze (và Acheson) đang đề xuất chính là việc quân sự hóa chính sách Mỹ – thực ra mà nói, việc xây dựng hệ thống an ninh quốc gia sẽ tiêu tốn rất nhiều tài chính của đất nước và chắc chắn sẽ làm cho phía đối phương – Liên Xô – cũng sẽ xây dựng hệ thống quốc phòng tương ứng. Vũ khí hạt nhân của Liên Xô, ông viết, không làm thay đổi cân bằng sức mạnh : «trong chừng mực nào đó, chúng ta tự thấy mình trong tình huống rắc rối cao ở thời điểm hiện tại, cảm giác này chủ yếu là do chúng ta tự tạo ra. »

Điều chủ yếu trong các cơ quan hành chính là tranh luận về bản chất nghiêm trọng nhất, khó với tới nhất của vấn đề. Acheson và Nitze tiến hành bí mật nhất có thể. Nhân vật chính cần phải cách ly khỏi những nổ lực của họ chính là Louis Johnson, bộ trưởng Bộ Quốc Phòng. Hội đồng tham mưu liên quân cũng lặng lẽ cung cấp cho Nitze những tham số họ cần. Nhiều năm sau, Omar Bradley ghi nhận rằng xung đột giữa Acheson và Johnson đã tạo nên « một tình trạng hiếm có, bất tiện và mỉa mai mà ở đó ba vị tham mưu trưởng của ba quân chủng và chủ tịch hội đồng tham mưu liên quân lại gần gũi với quan điểm của Ngoại trưởng hơn là Bộ trưởng bộ Quốc phòng ». Acheson – và Nitze – rất đồng cảm với các vấn đề của họ hơn Johnson, vị chủ tịch hội đồng tham mưu liên quân tin vậy. Nitze nghĩ, mức giá tối thiểu để nâng hệ thống quốc phòng Hoa Kỳ lên tới mức cần thiết phải đâu đó quanh con số 40 đến 50 tỷ $ hằng năm. Nói cách khác, anh và những người ủng hộ tin rằng hiện Hoa Kỳ không thể thực thi nổi các chính sách quân sự và quốc phòng của mình, và Liên Xô có thể xâm chiếm thế giới.

Khi Acheson nghe được con số ước lượng, chừng 50 tỷ, ông đã bảo Nitze « Paul, đừng có đưa thứ đó vào báo cáo. Cậu đúng khi báo cho tôi, và tôi sẽ nói với Tổng thống, nhưng đừng có đưa vào báo cáo nhé ». Cuối cùng, ngày 22 tháng Ba năm 1950, họ gặp Johnson và Chủ tịch hội đồng tham mưu liên quân tại văn phòng của Nitze để duyệt qua tài liệu phác thảo. Buổi họp bắt đầu với vẻ yên ả. Johnson đề nghị Acheson cho đọc phác thảo. Acheson có. Còn Johnson dĩ nhiên là không có. Thực tế là ông chỉ mới nghe về nó hồi sáng nay. Đột nhiên, ông hiểu rõ là mình hoàn toàn bị đứng ngoài cuộc chơi và bị phục kích toàn phần. Hiển nhiên là Acheson và lính của ông ta, Nitze, chịu trách nhiệm, và rõ ràng là đã có liên lạc chặt chẽ với Hội đồng tham mưu liên quân, và nhận rõ ý định cung cấp cho quân đội thường trực không chỉ những thứ mà ông đã cắt khỏi ngân sách mà còn những thứ mà ông chưa từng tưởng tượng ra. Ông tin rằng mình hoàn toàn bị cô lập. Như sau này Acheson viết lại, bất thình lình : « ông ta nhào tới, đá ngã ghế ra sàn, đấm lên bàn, làm tôi sợ sút quần ».

Ông gào lên rằng Acheson và Nitze đã cố bịt mắt ông và ông sẽ không dung thứ cho điều này – ông sẽ không bị khuất phục trước sự làm nhục như thế này. «Đây là một âm mưu chơi sau lưng tôi nhằm phá vỡ những chính sách của tôi. Tôi và chủ tịch hội đồng tham mưu liên quân sẽ rời khỏi đây ngay bây giờ », ông nói. Rất nhanh sau đó, Johnson đến văn phòng của Acheson cãi nhau lần nữa và bắt đầu hét lên rằng ông bị xúc phạm. Acheson vẫy ông ra, rồi có những ai đó gọi Truman để kể ông ta nghe về những gì sảy ra. Một giờ sau, Truman gọi lại và bảo Acheson cứ tiến hành tài liệu. Tổng thống vẫn chưa chấp thuật NSC 68 – những sự kiện ở Triều Tiên sẽ làm việc này – nhưng Acheson và Nitze vẫn chịu trách nhiệm cho vụ này. Sáu tháng sau Truman sa thải Johnson và thay ông ta bằng George Marshall. Acheson được thuyết phục rằng Johnson đã không tự chủ được lúc ấy.

NSC 68 là một tài liệu hạn chế. Nó xác nhận phản ứng của người Mỹ với sự khắc nghiệt của Chiến tranh lạnh, sự mất niềm tin của Mỹ với Liên Xô song hành với sự mất niềm tin của Liên Xô vào Mỹ, tạo nên một vòng lẩn quẩn mất niềm tin càng lúc càng mở rộng và làm cả hai phía tiêu tốn cho quốc phòng nhiều hơn. Nó vạch rõ xung đột toàn cầu trong giới hạn gần như hoàn toàn là ý thức hệ, đặc biệt ấn tượng trong một tài liệu cực kỳ bí mật mà chỉ có nhưng quan chức cao cấp nhất được xem. “Liên Xô – không như những trường hợp muốn làm bá chủ trước đó- được cổ vũ bởi niềm tin cuồng tín, đối lập với chúng ta, tìm đường áp đặt quyền thế độc đoán lên phần còn lại của thế giới”. Lúc đầu, Truman vẫn còn chưa dứt khoát với NSC68 và rất băn khoăn với mức chi phí. Nhưng rồi khi chiến tranh Triều Tiên nổ ra và Chiến tranh lạnh leo thang thành một cuộc chiến nóng, sức ép của các sự kiện và nhu cầu tài chính trở nên cấp bách. Tranh luận về NSC68 trở nên không thực tế, các sự kiện đã lấn át vấn đề. Ngân sách, vốn được NSC68 đề nghị tăng gấp ba, giờ thực tế đã tăng gấp ba bởi chiến tranh. Bản thân Truman không cần phải ra quyết định cho NSC68. Thực tế là vào cuối mùa thu 1951, khi ngân sách tài chính cho Lầu Năm Góc được chuẩn bị, nó gấp bốn từ con số 13 tỷ đô trước chiến tranh Triều Tiên lên thành 55 tỷ. Nhiều năm sau Acheson lưu ý trong một buổi seminar ở trường Princeton: “Triều Tiên đã cứu chúng ta”

(hết chương 13)


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 09:47:21 am
Chương 14

Harry Truman, dù gì đi nữa, vẫn là một con người kiên quyết. Ngay cả với phần lớn người của Roosevelt – những người vẫn kẻ cả nhìn những ngày đầu nhiệm kỳ tổng thống của ông, dường như đây là một người không mấy đặc sắc đã thế chỗ lãnh tụ kính yêu của họ – giờ đã hiểu được. Vài tay chân của Roosevelt đã rời vị trí ngay tức khắc, bởi tin rằng họ không thể mang lòng trung thành của mình đến với Truman; những người khác thì  tôn trọng ông và hiểu rằng sự tận tâm của họ là với văn phòng chứ không phải với một con người, và rằng Truman theo cách của riêng ông là một người khác thường. Dù Truman là vị tổng thống Mỹ sau chót không kinh qua trường đại học, nhưng ông là một người rất ham đọc sách từ khi còn nhỏ, đọc rất tốt, và là một sử gia tự học nghiêm túc. Có lẽ quan trọng hơn hết thảy là ông không bao giờ hồ nghi về mình một khi ông làm việc. Có lẽ ông không cố kiếm một nhiệm kỳ tổng thống và nó lại đến với ông theo cách không mong đợi nhất, nhưng ông sẽ phục vụ và ra các quyết định tốt nhất có thể. Ngay cả trước khi ông được bầu lại trong nhiệm kỳ II vào năm 1948, ông cũng không khúm núm trước quyền quản trị, như thể ông chưa xứng đáng với vị trí và có lẽ hợp với làm việc bí mật trong một văn phòng nhỏ nơi họ vẫn để cho vị trí phó tổng thống. Đất nước xứng đáng hơn thế. Bên cạnh đó, hiểu rằng nếu ông cai trị như vậy, một kiểu đóng vai phụ cho một người vĩ đại, thì ông sẽ bị kẻ thù nhai xương, vài người trong số họ là kẻ thù về mặt tổ chức của tổng thống, một số là kẻ thù về mặt ý thức hệ, và một số là cả hai thứ đó. Ông không định để bị nuốt chửng; lịch sử phán xét kẻ bị thua rất nghiêm khắc. Quá trình làm việc với dân thường, cả lúc tốt lẫn lúc xấu – và chắc chắn là rất phong phú – đã làm ông tin vào kỹ năng đọc và đánh giá người khác, cảm nhận được ai có thể tin và ai thì không. Nó cũng dạy cho ông cách chọn ra những người tốt nhất, tập hợp những thông tin tốt nhất có thể và hỏi những câu được suy nghĩ tốt nhất, ước lượng được những hậu quả và rồi ra quyết định, thi hành. Ông cũng biết, như lúc ông bay về Washington trong buổi sáng sau khi Bắc Triều Tiên tấn công, rằng quyết định của ông trong những ngày đó sẽ là vấn đề chiến tranh hay hòa bình. Triều Tiên rõ ràng, theo nhận xét của ông, là chuyện khó khăn nhất trong nhiệm kỳ tổng thống.

Tháng Sáu năm 1950, ông đã ở cương vị tổng thống được năm năm, và đã ghi được hai chiến thắng cá nhân, những thứ làm tăng mạnh niềm tin của ông. Dù có cảm giác hai thứ đó bện vào nhau làm một, cái thứ nhất – chiến thắng tuyệt vời của ông trước Tom Dewey trong cuộc bầu cử 1948 – thì dễ nhận thấy hơn. Và việc thắng cử đã giúp dọn quang con đường đến thành tựu to lớn khác của ông – chiến thắng hình tượng vẫn đầy quyền lực của Franklin Roosevelt, thứ rốt cuộc cũng mang cho ông một nhiệm kỳ tổng thống của riêng mình (và làm tăng sự tôn kính từ những chính trị gia khác, giới báo chí, sử gia và những ai hay đánh giá nhiệm kỳ tổng thống). Thoát ra khỏi gánh nặng người kế nhiệm Roosevelt, người có được vị trí gần như nhờ vào một việc bất đắc dĩ, là một thành công quá dễ để đánh giá thấp. Thực tế là ông không bao giờ để gánh nặng của người tiền nhiệm vĩ đại đè quá mức lên mình, dù là một người có ít quan hệ trong Thượng viện và gần như là một phó tổng thống vô hình. Ngược lại, Lyndon Johnson, vị phó tổng thống kế tiếp được kế vị do tổng thống hiện tại bị chết, đã là một nhân vật có tiếng ở Thượng viện trước khi thay cho John F. Kennedy (ông này chỉ công tác được ba năm, ngược lại Roosevelt là 12 năm); nhưng cũng ngược lại ông không bao giờ thoát nổi gánh nặng tâm lý và cảm xúc khi so sánh với người tiền nhiệm, và với cái cách ông làm ở nhiệm kỳ tổng thống đầu.

Truman là một người dễ bị đánh giá thấp. Ông thiếu một trong những sức mạnh vĩ đại trong cá tính Roosevelt; với một quốc gia quen với giọng của tổng thống phải trầm ấm, đáng tin, quý phái và quyết rũ, thì giọng của Truman thiệt tình đáng thất vọng, nhạt nhẽo và rin rít với rất ít cảm xúc thân thiết.  Những bài phát biểu của ông không gây xúc động – lỗ mãng, kỳ cục không sắc thái. Vài cố vấn đã đề nghị Truman nên cố nói giống như Roosevelt, và bài phát biểu nên theo cách thường đàm hơn, nhưng ông đủ thông minh để hiểu đó là một con đường sai lầm, rằng ông không thể cạnh tranh với một siêu sư phụ. Tất cả những gì ông có thể làm là chính mình và hi vọng rằng người dân Mỹ sẽ không phán xét ông vì những gì ông không thể. Ông hiểu rằng so sánh với Roosevelt là không có triển vọng, và đúng như vậy. Ngay từ đầu, ông là một cái bia dễ dàng cho các trò đùa chính trị, và thường có những miệng lưỡi độc ác. “Để sai lầm là Truman” Martha Taft lưỡi-a-xít nói, bà là vợ của Robert Taft, một thượng nghị sỹ Cộng hòa quan trọng. ”Tôi chỉ nhẹ nhàng về Harry” một người khác nói. Một câu được ưa thích thời đó, do cây bút Doris Fleeson viết là “Tôi thắc mắc Truman có thể làm gì nếu ông ấy còn sống” “Harry Truman tội nghiệp. Và nhân dân tội nghiệp của Hoa kỳ” Richard Strout viết trên tờ The New Republic.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 09:50:01 am
Truman làm tổng thống khi ông đã sáu mươi tuổi. Ông thành đạt chậm nhưng không có tham vọng quá cao. Dân của ông là nông dân và ông cũng đã làm nông khi nhỏ, và năm 1948 ông làm quần chúng vùng trung tây thích mê – sự ủng hộ này là một trong những  chìa khóa cho chiến thắng của ông – bởi đã nói với họ rằng ông có thể gieo được 160 mẫu Anh lúa mỳ “mà không bỏ sót tý gì”.  Ông cày theo cách cũ, ông thêm – bốn con la Missouri, không dùng máy cày. Lúc ông học những năm cuối cấp ba, dù không phải do lỗi của họ, trang trại của gia đình Truman thất bại và cơ hội học đại học của ông tan biến. Ông cố xin vào West Point, đây là ý định đầu tiên của ông để được học tập miễn phí, nhưng thất bại vì ông nhìn kém (ông bị quáng gà, như sau này ông ghi lại). Ông lại nỗ lực làm chủ, dựng một cửa hàng bán đồ lót đàn ông, nhưng chỉ được ba năm và kết thúc trong thất bại. Ông cũng mất nhiều thời gian để chứng tỏ với mẹ vợ ông, một người thuộc những gia tộc đầu tiên ở Independence, rằng ông xứng đáng với con gái bà, rằng Bess Wallace không cưới phải “Chử Đồng Tử” (nguyên văn là married down: chỉ việc cưới một người ít tiền hơn). Ở đây thành công lãng tránh ông; trong tình huống này cho thấy  ông chứng tỏ giá trị bản thân mình trước hàng triệu người Mỹ tốt hơn với bà Madge Gates Wallace (* mẹ vợ ông). Ông vào Thượng viện năm 1934 ở tuổi 50, tương đối muộn, với tư cách là đại diện thành thật, sắc sảo của cỗ máy chính trị tham nhũng cực kỳ của “Ông chủ” Tom Pendergast. Như thể vị trí đặc biệt của ông trong bộ máy Tom Pendergast luôn để mang đến cho nó một vài điểm danh dự và hợp pháp. Ông là dân thị tứ nhỏ với đức hạnh của thị tứ nhỏ. Phần lớn trong quảng đời của mình, ông đeo một cái nhẫn vàng ba sọc của Mason và một nút nhỏ trên ve áo để cho biết ông đã phục vụ trong Thế Chiến I. Ông thấy dễ chịu trong thế giới dân thị tứ, và là thành viên của Lê Dương Mỹ, cựu binh của các cuộc chiến ngoài nước, hội Nai sừng tấm (???)

Nhưng một cuộc đời trộn lẫn giữa những thất vọng và vài thành công tương đối (ít nhất với góc nhìn của đa số những ai từng giành được vị trí tổng thống) đã tạo nên sức mạnh của cuộc đời đó. ”Tôi thích những thì tôi thấy. Ông ấy thẳng thắn, khiêm tốn, suy nghĩ rõ ràng và mạnh mẽ” tướng Omar Braddley viết sau lần gặp đầu tiên. Ông không quá tự dối mình và ít dùng thủ đoạn. Ông làm việc cật lực, và luôn chuẩn bị kỹ. Ông không làm mất thì giờ của người khác, và ông cũng không muốn họ làm mất thì giờ của ông. Trái ngược với Roosevelt (ông này thích mánh khóe với mọi người ngay cả khi không cần thiết phải thế), Truman tỏ ra khá đơn giản và thiếu hấp dẫn. Những gì bạn thấy, là những gì bạn có. George Marshall luôn không thoải mái với Roosevelt và những mánh lới mà ông chơi với các cố vấn hàng đầu của ông. Đã có một khoảng thời gian bất hạnh khi tổng thống cố nói chuyện thân mật với Marshall, ông này thì nghĩ rất nguyên tắc về quan hệ với một chính trị gia, một người thích thẳng thắn. Ngay lập tức ông hiểu ra ông đã sai lầm với vẻ mặt lạnh lùng phát ra. Roosevelt gọi ông bằng tên riêng, bước đầu tiên trong việc rõ ràng là một tiến trình cám dỗ. Trước đó là Tướng quân, hoặc Tướng quân Marshall, chứ không là George. Vì lý do đó mà rõ ràng là Marshall thích Truman hơn. Không có nhiều bãi mìn chính trị giăng quanh.

Lúc ở Thượng viện, Truman quá hiểu những hạn chế của chính mình. Đại đa số đồng nghiệp ở đó được đào tạo bài bản hơn, giàu có hơn và thành công hơn; họ biết cái thế giới đặc quyền và sự tinh vi, những thứ ông chỉ có thể đoán chừng thôi. Một trong những bạn học cấp ba của ông, Charlie Ross, sau này là một bình luận viên ngôi sao của tờ St. Louis Post Dispatch và rồi thành trợ lý báo chí của ông đã nói: “Ông vào Thượng viện với mặc cảm tự ti rõ ràng, tôi tin là vậy. Ông là một người giỏi hơn ông tự nghĩ”. Nước Mỹ, tại thời điểm ông được thừa nhận là tổng thống, đang thay đổi rất nhanh, trở nên trọng dụng nhân tài hơn, được lèo lái bởi những lực lượng theo chủ nghĩa bình dân mạnh mẽ, đã nới lỏng trong thế chiến II và những quyền lợi chính trị mới đi cùng với họ, như dự luật GI (lính Mỹ) cho phép bất kỳ ai đã ở trong quân đội được vào đại học. Truman, ngược lại, là một sản phẩm của một nước Mỹ còn kém quân bình vốn vẫn tồn tại lúc chuyển giao thế kỷ, lúc đó những nam nữ công dân tài năng không phải luôn luôn giành được những công việc phản ánh đúng năng lực và tham vọng của họ.

Ông là một người cực kỳ trong thời đại của mình. ”Ông chỉ cần mở miệng là biết ngay lai lịch của ông” người viết tiểu sử của ông, David McCullough viết. “Đó không phải vì ông xuất thân từ một khu vực đặc thù của đất nước, mà là từ một thời kỳ đặc biệt của nước Mỹ trải qua, một người đi tiên phong đích thực và một vị trí đặc biệt trong trí tưởng tượng của người Mỹ. Missouri của ông, nhưng ông thích nhấn mạnh, là Missouri của thời Mark Twain và Jesse James”. Nếu Franklin Roosevelt dường như bước ra từ trang sách của một tiểu thuyết Editt Wharton thì Herry Truman cũng đến từ những trang của Sinclair Lewies.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 09:54:06 am
Không mấy ai hiểu con người ông, ngay cả với những ai đã đặt ông vào chiếc vé của đảng Dân chủ năm 1944. Không phải là họ rất cần ông cũng như họ không thích những ứng viên phó tổng thống tiềm tàng khác, đặc biệt là Herry Wallace, phó tổng thống lúc ấy.  Như Jonathan Daniels, một phóng viên miền Nam ghi rằng, họ “biết thứ họ muốn, nhưng không hiểu thứ họ lấy”. Có lẽ ông hợp với suy nghĩ của dân thường trong một đất nước muốn có tổng thống của thời hiện đại. “Ôi một bài kiểm tra dân chủ nếu nó thực có!” Roy Roberts, phóng viên tờ Kansas City Star và một thành viên bên trong giới quyền lực đảng Cộng Hòa đã đau đớn viết trong những ngày đầu nhiệm kỳ tổng thống của Truman. Đó chính xác là những gì xảy ra, một bài kiểm tra của nền dân chủ. Ông cũng là một nhà chính trị làm việc rất tốt, với cảm giác nhạy bén với những suy nghĩ của dân thường, những nhu cầu, những nỗi lo của họ, bởi gốc gác của chính ông cũng rất bình dân và bởi phần lớn trong đời, ông đã sống như họ.

Lúc đầu khi ông được phóng lên ghế tổng thống, ông phàn nàn thường xuyên với bạn bè rằng ông không thích nó – cái nhà tù vĩ đại Nhà Trắng, như ông gọi – và dường như có lúc ông sẵn sàng ủng hộ Dwright Eisenhower cho cuộc đua năm 1948 nếu ông ta chuyển về đảng Dân chủ. Dần dần ông thay đổi quan điểm. Vị trí tổng thống đã câu thúc cách sống riêng của ông và chia cách ông với gia đình – Bess và con gái của họ, Margaret, dường như luôn muốn về Independence và ông mong ở cạnh họ – nhưng ông không bao giờ là người từ bỏ việc khó, và khi ông nhìn những người mà họ nghĩ rằng họ sẽ thay thế ông thì ông càng tin thêm rằng đất nước sẽ tốt hơn nếu còn ông phục vụ trong Nhà Trắng. Nếu ông cần thanh minh cho các chính sách của mình bằng việc tham gia chạy đua tranh cử năm 1948, thì ông sẽ làm – đó là không là một sự hi sinh sao. Rõ ràng trong ông có tính vênh vang của một chú gà trống. Ông sẽ không hạ đài, và lúc đó, người Mỹ cảm nhận ra điều đó và đã cho ông phần thưởng vì điều đó.

Nguồn gốc dân thị tứ của ông không khác mấy với đa số đảng viên Cộng hòa, những kẻ thù chính trị cay đắng nhất của ông, nhưng cuộc phiêu lưu của cá nhân ông thường không quá khó khăn như họ, và ông nghiêm túc quan ngại tới những sự thật ở thị tứ mà họ quá mù quáng tin. Chính trị Mỹ trong thời đó, người dân vẫn bầu cho túi tiền của họ, và đảng Dân chủ, vì chính sách Kinh tế mới, vẫn giữ ngọn roi kinh tế trong tay, ngay cả với những thứ được cho trung tâm. Mỗi thị tứ nhỏ trong số 8000 thị tứ có lẽ có chừng một ngàn công nhân áo xanh trong nhà máy, hầu hết họ theo đảng Dân chủ,  chỉ có một nhúm dân thành thị – chủ xí nghiệp, quản lý và những đồng minh địa phương phụ thuộc như chủ nhà băng, luật sư, và bác sỹ – là người hầu hết dồn phiếu cho đảng Cộng hòa. Đa số thường dân Mỹ tin rằng họ đang sống tốt hơn hồi trước. Họ không tin những gì họ nhận được – như đảng Cộng hòa dường như ám chỉ – là thuộc chủ nghĩa xã hội. Rất ít công nhân  cảm  thấy họ thích hợp với một chính phủ Cộng hòa. “Công nhân làm việc mỗi ngày / Đến chỗ làm trên xe hai cửa mới / Đừng để chúng lấy mất đi” đây là lời bài hát của Đảng Dân chủ thời đó. Những vấn đề văn hóa, bắt đầu từ giữa thập niên 1960, dần khoét sâu vào liên minh đảng Dân chủ với công nhân áo xanh, với thế hệ con cái của làn sóng đại di cư từ châu Âu, người da đen, và những chính trị gia da trắng của miền nam. Người lao động có tổ chức công đoàn mới, vẫn rất mạnh mẽ, và dễ chịu với những thành tựu kinh tế gần đây.

Khi ông chuẩn bị cho cuộc chạy đua bầu cử tổng thống của riêng ông vào năm 1948, Truman đã không tin vào cơ sở kinh tế chính trị và thay đổi rất nhiều. Dù gì, ông là một nhà tài chính thủ cựu và rất cẩn trọng trong ba năm đầu, ông tối thiểu hóa mọi khả năng tăng thuế. Thêm vào đó ông có giác quan thứ sáu trong việc phát hiện ra những sai sót của đảng Cộng Hòa: sự khác biệt giữa những gì họ nói và chính sách của họ; khi còn ở trong hội nghị toàn quốc thì rất cảm động với thính giả cả nước đến những cách biệt rất xa khi họ (Cộng hòa) làm lãnh đạo bảo thủ ở Hạ viện. Ông nhận xét rằng những người Cộng hòa ở Hạ viện là một đảng ngoài tầm với của người Mỹ trung lưu ở thành phố và tăng ảnh hưởng với các khu vực ngoại ô ở các bang lớn.  Họ diệt bất cứ vấn đề tự do nào ông đề xuất trong chuyện nhà ở, hỗ trợ giáo dục, chăm sóc y tế, và những thứ đưa đến hội nghị để đề nghị họ thông qua. Được, ông lên kế hoạch rọi đèn vào sự phân hóa tính cánh đó; như vậy, khi được chọn tranh cử năm 1948, ông ngay lập tức tuyên bố rằng ông sẽ gọi Hạ viện họp lại – để thông qua các vấn đề đảng Cộng hòa hỗ trợ trong cương lĩnh của họ. Đó là một nước cờ bậc thầy và tỏ ra là một quyết định đúng đắn. Phía CỘng hòa không vui vẻ khi được triệu tập – “chàng Ajax dỗi hờn của vùng Ozark(*) ”, thượng nghị sỹ Styles Bridges gọi Truman như vậy

(* Ozark là một vùng cao nguyên ở trung Mỹ, nằm phía nam bang Missouri)


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 09:56:56 am
Lúc cuộc vận động tranh cử đầu tiên trong năm 1948 bắt đầu, nhiệm vụ trước mặt ông dường như vô vọng. Ngay cả những ông chủ các thành phố lớn cũng chống lại ông. Khi nghe tin rằng Dwright Eisenhower không muốn đại diện tranh cử cho đảng Dân chủ, Frank Hague, ông chủ New Jersey nói: “Truman, Harry Truman. Ôi Chúa ơi”. Mọi thứ xếp hàng để chống lại ông: trong mắt của đa số, cả về mặt chính trị lẫn con người, ông dường như co ro trong cái không gian rộng lớn do người tiềm nhiệm để lại, và rằng đảng Dân Chủ đã nắm quyền quá lâu rồi. Có những vụ bê bối không tránh được. Vài người bạn thân, tin tưởng nhất của ông đã ăn quá nhiều. Những vụ bê bối, dù chúng không dính tới cá nhân Truman, cũng được đánh hơi bởi bộ máy của Pendergast. Cánh tự do trong đảng của chính ông, do Jimmy Roosevelt, người con tự do nhất của tổng thống quá cố, đã rất liều mạng thu phục Dwight Eisenhower,  dù rằng hầu hết mọi người tin rằng Ike không có ý tưởng trần tục về chính trị và dù Eisenhowe đã rất rõ ràng từ chối cuộc tranh cử. Không ai  dường như muốn nắm tấm vé. “Chúng tôi không muốn một cuộc vận động tranh cử với một con lừa chết Misouri” thống đốc bang Arkansas Ben Laney nói.

Cuộc bầu cử năm 1948 có kết cục theo cái cách không ai hiểu nổi được vào lúc ấy, và cũng rất đau lòng bởi sự cay đắng của một đảng bị thất bại thẳng cánh lần thứ năm liên tiếp. Đảng Cộng hòa đã không được ưa thích. Clare Boothe Luce, vợ của một nhà xuất bản quyền lực nhất đất nước, trong hội nghị đảng Cộng Hòa lúc họ chào mừng một chiến thắng ngay cả khi mùa hè chưa kết thúc, nói Truman là  “một tay khờ hết thời”. MỌi chuyên gia chính trị có kiến thức thừa nhận cuộc bầu cử rất có lợi với Tom Dewey, một người được cho là tuyệt vời, nếu không nói là đáng yêu. Lúc đầu cuộc vận động tranh cử, thượng cấp đảng Cộng hòa thậm chí đã quyết định là không cần phải tốn tiền của đảng cho việc thăm dò ý kiến, bởi suy luận logic cho thấy rất chắc ăn. Elmo Roper, một người thăm dò ý kiến (cử tri) chính, lúc đầu tháng Chín đã thông báo rằng ông có thể dừng thăm dò bởi cuộc bầu cử có một kết luận biết trước được: “Thomas E. Dewey gần như chắc được bầu… Đó là đều chắc chắn, tôi nghĩ không có gì khờ hơn hoặc thông thái hơn khi hành động giống một bình luận viên thể thao cảm thấy anh ta phải giả vờ đang theo dõi một cuộc đua vai kề vai”.   Tất cả những điều này có ảnh hưởng đáng kể lên chính Tom Dewey. Khi một đảng viên Cộng hòa khác đến thăm Dewey tại nông trại của ông ở Pawling, New York, Dewey cho ông xem câu nói của Roper và bảo: “Công việc của tôi là ngăn chặn bất điều gì không mong muốn”. Rõ ràng là mục tiêu chính của cuộc tranh cử không cần phải định vị nhiều và rằng chiến thắng giữa thế kỷ của đảng Cộng hòa có nghĩa là tránh gây ra những sai sót. Dĩ nhiều, điều này sai lầm kinh khủng, dù đảng Dân chủ dường như đang phân rã trầm trọng. Đảng chia làm ba cánh, và ít nhất trên giấy tờ là dường như cực kỳ dễ bị tổn thương: cánh cực tả của Henry Wallace; trong khi những đảng viên Dân chủ miền Nam – hay còn gọi là Dixiecrats – thì theo Storm Thurmond của bang Nam Carolina. Nhưng không có cánh nào làm Truman lo lắng nhiều. Dĩ nhiên điều này làm mọi thứ khó khăn hơn, dù rằng những nhân vật biểu tượng của đảng phân rã kịch thích hơn nhiều so với sự phân rã của đảng. (Trong tiệc tối kỷ niệm ngày Jefferson – Jackson ở Washington, tháng Hai năm 1948, thượng nghị sỹ Olin Johnston, một đảng viên Dân chủ từ bang Nam Carolina, mua cả một bàn lớn được đặt ngay trước bục, bởi vợ ông trong ủy ban hòa giải. Và vì buổi tiệc tối không phân biệt nên nhà Johnston đã giữ chiếc bàn đó nhưng đảm bảo không ai có mặt – một sự lăng mạ có chủ đích với sự hiện diện của  tổng thống. “Chúng tôi chi 1,100 $ để giữ chiếc bàn này bỏ trống” một trong những bạn bè của họ nói).

Điều làm cho Truman lo lắng khi chiến dịch tranh cử diễn ra là đảng Dân chủ, dù đã giữ chính quyền trong 16 năm qua, hoàn toàn không còn tiền, và không ai sẵn lòng ngồi vào ghế trưởng ban tài chính. Thêm một điều khó khăn cho cơ hội mong manh của đảng Dân chủ. Ngày 1 tháng Chín năm 1948, chiến dịch tranh cử đã diễn ra được hai tuần, Truman triệu tập 80 người có ảnh hưởng lớn trong đảng – những người có khả năng tiếp cận tiền bạc – tới Nhà Trắng để bàn về vấn đề tài chính của họ.  Chỉ có 50 người có mặt. Lúc ấy, tổng thống đề nghị một người nào đó tình nguyện phụ trách ban tài chính. Không một ai đứng lên. Ngày hôm sau Truman gọi cho Louis Johnson và nài xin ông làm việc này. Johnson đồng ý. Ông là một ví dụ cổ điển cho kiểu Washington, một tay khéo léo mặc cả bất lương, một tay tự lập với cảm giác phóng đại về khả năng chính trị của mình. Bởi ông không thấy có hạn chế với khả năng của mình, nên Johnson hay xông xáo nhảy vào bất kỳ khoảng trống quyền lực nào ông tìm thấy. Ông định khi nhiệm kỳ tổng thống của Truman kết thúc thì ông sẽ ra tranh cử tổng thống. Cơ sở chính trị của ông dựa trên mối liên hệ với hội Lê dương Mỹ, những quan chức cao cấp mà ông và họ cùng chia sẽ quan điểm ngoại giao. “Ông ấy là một tay cờ bạc” Jean Kearney nói, người này làm việc cho Ủy ban Quốc gia đảng Dân chủ trong mùa hè năm ấy. Bà ấy nói thêm: ông ta nhận công tác kiếm tiền cho Truman “với một cung cách toan tính máu lạnh – ông cược rằng Truman sẽ thắng, và nếu ông kiếm được tiền cho ông ta, thì điều này sẽ làm vị trí ông thăng tiến ở Washington với tư cách một luật sư và là một nhân vật lớn của đất nước”.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 10:01:09 am
Tại thời điểm Truman đang có vị trí cực thấp trên biểu đồ, và đảng Dân chủ không còn tiền, nặng gánh nợ nần. Johnson đã đến và ký ngay một biên nhận cá nhân trị giá 100,000$, thứ này cho phép đảng hết nợ và giúp đoàn tàu Truman, theo lịch sẽ rời ga Union trong hành trình vận động bầu cử trong cả nước vào ngày 17 tháng Chín, khởi hành đúng giờ, và còn đi xa hơn Pennsylvania, lúc đó dường như là điểm dừng cuối. Johnson đã làm xuất sắc công việc trưởng ban tài chính, và kiếm được hơn 2 triệu $ trong hai tháng. Khi chiến dịch kết thúc, Truman mang ơn rất sâu nặng, vì vậy nên khi James Forrestal có vấn đề về trí tuệ, Johnson được ngay chức bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

Việc thiếu tiền lúc bắt đầu chiến dịch tranh cử năm 1948 nghiêm trọng hơn việc chia rẽ lý tưởng trong nội bộ đảng. Chiến dịch của cánh Wallace, cánh tả, trên thực tế đã cho Truman lớp bảo vệ để chống những lời buộc tội rằng ông có thể quá thiên tả, từ khi đó không ai tấn công ác liệt hơn những người Cộng sản và các ủng hộ viên của họ. Với cánh Dixiecrats (cánh Dân chủ miền Nam), họ chỉ giữ 4 bang miền Nam với tổng cộng 39 phiếu đại cử tri. Sức mạnh đặc biệt của Truman trong năm ấy chính là việc ông không bao giờ mất niềm tin vào bản thân mình và vào nhân dân Mỹ. Ông đã quyết liệt vận động với phong cách thẳng thắn và giản dị. Các vấn đề kinh tế vẫn là yếu tố chính. Trước khi Truman bắt đầu chiến dịch, phó tổng thống Alben Barkley đã nói với ông: “Hãy đi ra kia và hạ chúng thôi”. “Tôi sẽ hạ chúng, Alben” như theo tường thuật, Truman đã trả lời “và tôi sẽ đá đít bọn chúng”. Không biết làm sao phần này – về việc đá đít – bị lọt ra ngoài và đám đông thích nó. Luôn có nhiều người ở mỗi điểm vận động hò hét “Đá đít chúng đi, Harry” , và ông đã làm điều đó, và người dân Mỹ nồng nhiệt đáp ứng. Nếu ông không thể là Roosevelt thì ông cũng đã tìm được vai trò hoàn hảo, một người bề dưới nhỏ bé vênh váo, tựa lưng vào tường đánh lại những đứa to bự. Ông không chính xác mưu toan hình ảnh đó,  nhưng vai trò đó phù hợp với cả ông và thời đại một cách hoàn hảo.

Mọi người đều chắc rằng ông hết thời rồi, ngoại trừ chính bản thân ông, người ứng cử. Trong chiến dịch 1948 ông xoay sở để định vị chính ông trong mắt những công dân ủng hộ mình theo các cách ông đã không thể làm trong ba năm rưỡi qua. Đây là một trong những chiến dịch chính trị sau cùng được thực hiện từ xe lửa, một chuyến đi vận động thăm viếng người dân Mỹ, thường ở các thị tứ nhỏ, những nơi Truman cảm thấy có quan hệ thân thuộc dễ dàng với đám đông tụ tập quanh toa tàu. Một hiện thân rất thoải mái và cực kỳ tin cậy. ”Ông rất ổn khi ở trên tàu” cộng sự Sam Rayburn của đảng Dân chủ, người phát ngôn Hạ viện đã có lần ghi “bởi ông thân thuộc. Ông cười như không với họ”.

Chiến dịch trần trụi và gan góc của ông đến gần với cử tri đã không bắt mắt giới truyền thông và những nhân vật cấp cao của đảng Cộng hòa (cũng như nhiều người trong đảng của ông). Đảng Cộng hòa đã quá cả tin, dựa vào sự thể hiện kém cỏi của đảng Dân chủ trong đợt bầu cử giữa kỳ năm 1946, và họ tin vào huyền thoại Truman bất tài. Dewey tổ chức một chiến dịch tranh cử bất hạnh. Như Clarence Buddington Kelland, một ủy viên trung ương đảng Cộng hòa người bang Arizona nói: “Chiến dịch của Dewey đỏm dáng, ngạo mạn và khinh khỉnh”. Dewey thực hiện chiến dịch như thể ông đương nhiệm, còn Truman là người thách đấu và đảng Dân chủ là một  đảng thiểu số. Những bài diễn thuyết của ông chán ngắt và đầy chủ nghĩa tự tin. Vài trợ lý, như Herbert Brownell, đổ lỗi cho vợ ông bởi bà không muốn Dewey chiến đấu dưới tư cách một đảng công kích mà muốn ông càng giống tổng thống càng tốt bất kể cơ sở chính trị. Nếu đây là sự thật thì đó cũng không phải là lần đầu tiên bà là nhân tố quyết định trong việc xây dựng hình ảnh của ông ta. Những trợ lý khác cũng thuyết phục nhiều năm rằng ông nên cạo bộ ria trứ danh đi – một thứ có giá lúc ông là một viên chưởng lý cứng rắn ở quận, nhưng ở vị trí ứng cử viên tổng thống nó làm ông khó chịu và lạnh lùng. “Mặt ông quá nhỏ và bộ ria lại quá to” Brownell vài năm sau than vãn. Nhưng bà Dewey thích bộ ria, và thế là nó vẫn tồn tại.

Thực ra Dewey là một người cực kỳ có khả năng, được chuẩn bị tốt cho vị trí tổng thống sau sáu năm làm thị trưởng New York – vị trí ông được bầu những ba kỳ liền – về bản chất giống như những bậc thang chính trị mà Roosevelt đã đi đến vị trí quan chức cao cấp nhất của đất nước. Ở tuổi 46 ông trẻ trung và dường như hiện đại – ứng cứ viên tổng thống đầu tiên sinh trong thế kỷ 20.  Ông khởi nghiệp với tư cách Ngài Trong sạch –  một công tố viên dốc lòng vì nhân dân New York, và có lẽ, như vài nhà chỉ trích nghĩ, đó là vấn đề. Đó là một vai trò cần bề ngoài thực sự lạnh lùng, một dáng điệu vô giá với một công tố viên trước tòa, nhưng nó lại không hấp dẫn ở vị trí một ứng cử viên tổng thống vốn cần có bản chất rất người. Alice Roosevelt Longworth gay gắt nhận xét rằng, ông như “một hình nhân bé nhỏ trên bánh cưới”. Và như một người cộng tác lâu năm nói: ông “lạnh lùng. Lạnh lùng như cột băng tháng Hai”. Ngay cả trên chuyến tàu vận động tranh cử, chung quanh là các chính trị gia đảng Cộng hòa, ông vẫn ứng xử như mình là trung tâm và ông ăn trưa một mình. “ Cười đi, ngài thị trưởng” một nhiếp ảnh gia gọi ông trong chuyến tranh cử. Ông trả lời: “Tôi cho là tôi đã cười rồi”.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 10:03:58 am
Không chỉ bộ dạng cá nhân là vấn đề duy nhất của ông. Mà còn vấn đề mâu thuẩn kinh khủng trong nội bộ đảng Cộng hòa. Với những người theo chủ nghĩa biệt lập, ông là bằng chứng sống của mọi điều sai lầm trong đảng. Đại tá Robert McCormick của tờ Chicago Tribune ghét ông vì cái chủ nghĩa quốc tế của ông và vì ông đã thất bại trong cuộc bầu cử năm 1944, và luôn coi thường ông. Quyết định bị chỉ trích nhất của chiến dịch tranh cử là ông không chịu theo chủ đề có thể làm họ hào hứng: chủ đề thoái hóa biến chất của chính phủ, và từ chối biến nó thành trung tâm của chiến dịch. Thực vậy, ở thời điểm mấu chốt trong một cuộc tranh luận với Harold Stassen trong trận chiến chính ở Oregon, ông đã phản đối việc đặt đảng Cộng sản ra ngoài vòng pháp luật. Ông nói – và ông là một con người của luật lệ – rằng điều này chỉ tổ làm cho những người Cộng sản (chuyển sang) hoạt động bí mật. Những nhân vật lớn khác của đảng Cộng hòa bắt đầu ngửi thấy mùi máu trong nước, và hiểu họ đang gặp rắc rối với các vấn đề kinh tế, nên đã ép ông dùng tới việc cáo buộc Cộng sản – ở – Washington. William Loeb, một nhà xuất bản ở New Hampshire theo cánh hữu và thượng nghị sỹ Styles Bridges, người của Loeb ở Thượng viện cũng như các lãnh đạo chiến dịch tranh cử toàn quốc của đảng Cộng hòa đã nài nỉ Dewey sử dụng vấn đề thoái hóa biến chất này để chống lại Truman và đảng Dân chủ. Ông lắng nghe họ cẩn thận và rồi , theo như cách dùng từ của một trong những trợ lý tranh cử của ông, Hugh Scott, bảo rằng ông “điểm tới điều này một cách nhẹ nhàng”.Thay vì vậy ông nghĩ rằng nó làm mất giá trị và buộc tội tổng thống Hoa Kỳ đã mềm mỏng với Cộng Sản. Ông đã không, như ông nói với thượng nghị sỹ Styles Bridge, là sẽ không đi quanh và “nhìn xuống dưới gầm giường”.

Chiến dịch tranh cử của ông nhạt nhẽo vô song. Ngay cả khi Truman đang lôi cuốn những đám đông lớn hơn, thì Dewey vẫn cứ tiếp tục thể hiện những bài diễn thuyết lạnh nhạt, vô trùng một cách đáng ngạc nhiên. Tờ Courrier Journal của Loiusville, Kentucky viết rằng chiến dịch tranh cử của ông có thể “tóm tắt lại trong bốn câu nổi tiếng lịch sử: Nông nghiệp là quan trọng. Những con sông của ta đầy cá. Bạn không thể có quyền tự do nếu không có nền tự do. Tương lai nằm phía trước”. Dường như, chiến thắng vẫn là điều chắc chắn. Truyền thông, trong thời đại trước khi có truyền hình, vẫn là các tập đoàn báo chí, đã giúp tạo nên chiến thắng của Truman trong sự ngạc nhiên to lớn bởi những thành viên của giới báo chí đã tiêu tốn nhiều thời gian phỏng vấn một thứ khác và bỏ qua những gì đang diễn ra ngay trước mặt. Ví dụ, giữa tháng Chín, Joseph Alsop, khi ấy là một phóng viên quan trọng thuộc tờ báo nhiều ảnh hưởng New York Herald Tribune, đã chứng kiến hai sự kiện: Truman diễn thuyết ở cuộc thi cày quốc gia ở Iowa trước 75,000 thính giả nhiệt tình – một tổng thống sắc sảo, tập trung và tấn công mạnh mẽ – và rất nhanh sau đó, một buổi diễn thuyết của Dewey cũng được  diễn ra trước một đám đông nhỏ một cách đáng thất vọng, 8000 người ở đại học Drake cũng tại Iowa. Một phóng viên mẫn cảm với sắc thái chính trị có lẽ sẽ cảm thấy được vài điều sắp đến, nhưng Alsop thì không “Có vài điều đáng buồn về sự trái ngược giữa lần xuất hiện đầu đáng mong đợi trước công chúng trong chiến dịch tranh cử ở đây, Iowa” ông viết “Buổi trình diễn của Truman thì sáo mòn cũ rích và hiển nhiên là không thành công – còn của Dewey thì phong phú. Được tổ chức đến từng thiết bị âm thanh sau chót. Nó cũng cho thấy sự tin cậy. Cuộc chiến thực sự rất không cân sức. Sau rốt điều còn đọng lại là sự đồng cảm rõ ràng với một tổng thống ngoan cố ra sức”.

Đến giữa tháng Mười, tờ Newsweek tiến hành khảo sát với 50 cây bút nội chính trong khắp cả nước. Mọi người đều dự đoán Dewey thắng. Người của Truman dù biết báo sẽ ra, nhưng cái tựa đề “Năm mươi chuyên gia chính trị dự báo Dewey thắng”  dù sao cũng làm họ nhụt chí. Chỉ có một người không thấy bị điều này làm phiền, đó chính là bản thân vị ứng cử viên. “Ồ những cái đám theo đuôi chết thiệt này, dù gì bọn chúng cũng luôn sai lầm” ông nói “Quên nó đi, các cậu, hãy tiếp tục công việc nào”. Ngay đêm trước ngày bầu cử, giới báo chí vẫn tiếp tục sai lầm. Alistar Cooker, tờ Manchester Guardian, đã đặt tựa cho bài viết cuối cùng trước bầu cử “Harry Truman – Học thất bại”, và rồi người ta cũng xuất bản trên tờ báo rất có ảnh hưởng Kiplinger bài viết tiền-bầu-cử  “Dewey sẽ làm gì”.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 10:07:20 am
Cuối cùng Truman đã chiến thắng khá thuận lợi: 24,1 triệu phiếu bầu so với 21,9 triệu phiếu của Dewey, ông cũng thắng được ở 28 bang với 303 phiếu đại cử tri, so với Dewey thắng 16 bang và 189 phiếu đại cử tri, và ông đã có thể có cả bang nhà New York của Dewey nếu Wallace không chuyển phiếu cánh tả. Đây là một trong những cuộc lật đổ ngoạn mục nhất trong lịch sử chính trị Mỹ. Vị tổng thống vừa tái cử ăn mừng chiến thắng một cách nổi tiếng bằng việc để nhiếp ảnh gia chụp bức hình đang cầm trong tay tờ Chicago Tribune với dòng tiêu đề “Dewey đả bại Truman”. Các nhà hài hước có một ngày tưng bừng. “Hiện nay, cách duy nhất để đảng Cộng hòa có thể vào Nhà Trắng là cưới Margaret Truman” Groucho Marx nói.

Với những người Cộng hòa, đó là sự khải huyền. Roosevelt đã đi rồi, nhưng đảng Dân chủ, dẫn dắt bởi một nhà buôn đồ lót đàn ông nhỏ bé, một người họ hoàn toàn coi rẻ, vẫn chiến thắng. Thêm vào đó, đảng Dân chủ kiếm thêm được 9 ghế ở Thượng viện. Họ đã ghi được một chiến thắng phi thường, nhưng cũng có một cái giá lớn phải trả, chính sách ngoại giao – hoặc chính xác hơn, lòng trung thành và an ninh tác động chính sách ngoại giao – có thể nằm trong số chi phí sắp đến, một lãnh địa phì nhiêu cho đảng Cộng hòa

Kỹ năng thực thụ của Truman, một chính trị gia thượng thặng, trong việc ông xoay sở khéo léo với hầu hết những nhóm truyền thống trong đảng Dân chủ, đồng thời chọc thủng sự kháng cự của đảng Cộng hòa ở các bang, đã không lộ ra với đa số địch thủ trong một thời gian dài – ông rời Nhà trắng trước khi đa số họ hiểu được rằng ông thực sự tài tình tới mức nào. “Tôi không quan tâm đến việc giải thích như thế nào. Nó thách thức mọi nhận thức thông thường để đưa tay chính trị gia vô lại đó trở lại Nhà trắng” Bob Taft nói, những từ này đã giúp giải thích vì sao Truman thắng. Walter Lipmann, một nhà báo nội chính ghi nhận, dù Truman không có tinh thần, tâm lý hay niềm tin của một người ủng hộ Kinh tế mới thực thụ, nhưng ông vẫn khôn ngoan giữ liên minh chính trị của Roosevelt lại. Với những nhà bảo thủ đảng Cộng hòa, ý tưởng rằng ông ấy có thể chiến thắng, trong khi rõ ràng là đến lượt họ, là thứ không thể tưởng tượng ra nổi (Một trong những quyển sách hay nhất viết về cuộc bầu cử đó có cái tựa là Chiến thắng trượt khỏi miệng). Sau đó, họ trách Dewey và cánh tự do trong đảng đã triển khai một lần nữa cuộc tranh cử như cũ, nhưng nếu mà Truman có cạnh tranh với Robert Taft, người họ ưa thích, thì có lẽ chênh lệnh sẽ còn lớn hơn nữa.

Hồi tưởng lại quá khứ, không thể nào ước lượng thấp ảnh hưởng to lớn của chiến thắng Truman lên đảng Cộng hòa – điều này và nhu cầu tuyệt vọng tìm cho ra được một vấn đề mới, đã tạo ra và quyết định đó là vấn đề Trung Hoa sụp đổ, trong một cảm giác rộng lớn hơn đó là sự thoái hóa biến chất của Washington. Giả sử Dewey thắng điều gì có thể sảy ra, phải chăng quan hệ lưỡng đảng vốn đã tồn tại gần một thập kỷ qua vẫn có thể tiếp tục với những điều chỉnh không đáng kể, phải chăng những lời buộc tội cay đắng với tội phản quốc lên những cán bộ cao cấp sẽ có thể điềm tĩnh hơn, những điều này vẫn là một câu hỏi hấp dẫn. Nếu Dewey là tổng thống và John Foster Dulles làm ngoại trưởng trong chính quyền ông ta, thì liệu cánh hữu đảng Cộng hòa có “truy sát” họ ở mọi nơi như đã làm với Truman và Acheson? Liệu rằng đất nước có thể thoát khỏi những lời buộc tội huynh đệ tương tàn ghê tởm như trong thời McCarthy, và suy rộng hơn họ sẽ có gì hơn những vấn đề do tay thượng nghị sỹ Wisconsin ấy đưa ra? Và giả như Dewey là tổng tư lệnh trong những năm ấy thì liệu có phóng tay làm việc (và nếu cần thì huyền chức) một Douglas MacArthur cứng đầu, một người hùng Cộng hòa? Hoặc phải chăng MacArthur, hiểu rằng ông có vị trí chính trị thấp dưới Dewey hơn là Truman, nên sẽ hoạt động với sự tôn trọng hơn với thượng cấp?

Lúc những người Dân chủ ăn mừng chiến thắng của Truman, một số ít người lo lắng khi nghĩ về việc thất bại trong một dọc 5 kỳ bầu cử nghĩa là sẽ đưa đến một đảng thiểu số, thì một số lớn những nhân vật quan trọng nhất lại buồn rầu rằng họ có thể là thành phần của một đảng thiểu số vĩnh viễn. Với những đảng viên Cộng hòa, thất bại đồng nghĩa với việc không còn là ngài Dễ thương nữa. Nếu về mặt chính trị họ bị chặn đường bởi thế lực công nhân áo xanh cùng với sự trỗi dậy và trưởng thành chính trị của các nghiệp đoàn, thì họ sẽ không còn nhẹ nhàng với vấn đề biến chất của chính quyền nữa. Lòng trung thành và chống chủ nghĩa cộng sản là khẩu hiệu mới của họ, câu thần chú tấn công chính trong những chiến dịch của họ. Và họ còn được giúp đỡ rất nhiều bởi các thế lực ngoài tầm kiểm soát của bất cứ ai, đặc biệt nhất trong đó là chính phủ Tưởng Giới Thạch, cũng chính chỗ này rốt cuộc cũng cho họ một vấn đề mang tính định hướng. Chính trị trong nước ngày càng phát triển theo hướng cay đắng hơn với lời buộc tội chống lại đảng Dân chủ rằng đã phản quốc trong hai mươi năm.

(Hết chương 14)


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 10:47:38 am
Chương 15

Sự trỗi dậy của Trung Hoa ở góc độ một vấn đề chính trị nội địa lớn, sự gia tăng xung đột về chính sách đối ngoại Mỹ, và việc chính phủ Dân chủ dù theo các nhà chỉ trích cánh tả là quá cứng rắn, nhưng lại bị buộc tội là nhún nhường – tất cả những điều này có nghĩa là cuộc chiến Triều Tiên không bao giờ được xem xét một cách biệt lập như là một cuộc chiến nhỏ ở một đất nước nhỏ; nó không bao giờ chỉ gói gọn ở Triều Tiên. Nó luôn được gắn liền với những thứ to lớn hơn: Trung Hoa, một quốc gia gây ra cảm giác chua cay nhất trong tranh cãi chính trị nội địa. Lúc chính phủ Truman gửi quân đến Triều Tiên, luôn có một câu hỏi đen tối to lớn mà chưa có câu trả lời ám ảnh họ, đó là mối đe dọa của việc quân Trung Hoa Cộng sản tham chiến, điều tổng thống và đa số những người xung quanh lo sợ nhất, trong khi đó là điều vị tướng tư lệnh chiến trường và vài người ủng hộ ông dường như sẵn sàng đón chào. Và như thế vị tổng thống đã đưa quốc gia vào một cuộc chiến khó khăn với tay bị cột chặt. Và ông cũng, dù không ai muốn thừa nhận điều này, làm chính trị theo kiểu phòng thủ, và đó là tại sao ông không có lựa chọn nào khác với vị tướng tư lệnh chiến trường.

Ngay cả bên trong nội bộ chính phủ của ông cũng cãi nhau ầm ĩ thường xuyên về vấn đề Trung Hoa từ khi Loius Johnson tham chính và bắt đầu đụng độ với Acheson. Hai người này bắt đầu cãi nhau về việc viện trợ cho Đài Loan ngay khi Johnson vừa nhậm chức. Chỉ bốn ngày sau khi Bắc Triều Tiên vượt qua biên giới, thượng nghị sỹ Robert Taft, lãnh đạo đảng Cộng hòa, đã có một bài diễn thuyết đầy cảm xúc ở thượng viện, công kích Truman đã không tìm kiếm sự chấp thuận của nghị viện khi tiến hành tham chiến. Taft cũng nói rằng cuộc xâm lăng của Bắc Triều Tiên cho thấy chính sách của Acheson ở châu Á là cực kỳ thiếu sót, rằng chính phủ đã quá nương tay với chủ nghĩa cộng sản, và rồi kêu gọi Acheson hãy từ chức. Vài giờ sau bài phát biểu của Taft, Averell Hariman, ông vừa được Truman triệu hồi từ châu Âu về để giúp Acheson, tình cờ có mặt trong văn phòng của Johnson. Điện thoại reo và Johnson bắt máy – Bob Taft gọi. Johnson tán dương bài phát biểu vung vít (đặc biệt với đoạn Acheson nên từ chức). “Có vài điều cần phải được nói ra” ông bảo Taft. Harriman hoàn toàn bị sốc – trông giống đang ở sau chiến tuyến và nghe lãnh đạo quân thù nói chuyện. Ông còn choáng váng hơn khi Johnson đề nghị Harriman cùng tham gia với ông ta và sẽ được giúp làm Ngoại trưởng. Ngay lập tức Harriman báo với Truman về sự việc, và đó là bắt đầu cho việc kết thúc chiếc ghế Bộ trưởng Bộ quốc phòng của Johnson.

Johnson, một kẻ ủng hộ Tưởng giới Thạch và thù địch với các nội hàm chính sách của Truman, họ có thể dễ dàng khống chế. Ông tự đánh giá quá cao khả năng chính trị của mình, còn các cán bộ quân đội cao cấp khinh miệt ông ta. Nhưng MacArthur, tư lệnh chiến trường của họ, thì lại là vấn đề khác. Ông dường như là những gì cần có để đối đầu với chính phủ. Một trong những cuộc đụng độ sớm giữa ông và Truman diễn ra trước chiến tranh Triều Tiên, cuối tháng Mười hai năm 1948, tạp chí Life, một tuần báo đầy quyền lực của Herry Luce, một người ủng hộ Trung Hòa và là nhà chỉ trích quan trọng  các chính sách Trung Hoa của chính phủ, đã chạy một tít khổng lồ: “MACARTHUR NÓI SỰ SỤP ĐỔ CỦA TRUNG HÒA LÀM HOA KỲ GẶP NGUY HIỂM”. Tờ Life cũng nói rằng MacArthur đã gửi một điện thư dài 16 trang cho chủ tịch hội đồng tham mưu liên quân, thứ đã “cho các cán bộ quân sự cao cấp của chúng ta một cú sốc lịch sử”.  Còn Liên Xô, theo như ông báo cáo, giờ ở trong vị trí để chiếm Nhật Bản. “Khi đối diện với các sự thật dường như quá rõ ràng, vậy sao Washington còn có thể quá tự mãn với những hậu quả của chiến thắng Cộng sản ở Trung Hoa?”. Đây là một bài báo hấp dẫn – lãnh đạo quân sự của chính phủ ở châu Á đã xếp hàng theo những kẻ thù cực đoan của chính phủ trong vấn đề chính trị nhạy cảm nhất. Đó không phải là một điềm báo tốt đẹp cho tương lai.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 10:51:01 am
Trận chiến kế tiếp diễn ra vào cuối tháng Bảy năm 1950. Có một cuộc cãi vã ít nhiều cay đắng về Đài Loan trong nội bộ chính phủ, với việc hội đồng tham mưu liên quân bắt đầu rút lại ý kiến của họ về giá trị của hòn đảo đó – đảo này có điểm gần nhất là cách bờ biển Trung Hoa tầm 85 dặm – và nay cuộc chiến Triều Tiên đã bắt đầu. Thông tin từ các nguồn tình báo – sau này đã được cho thấy là hoàn toàn sai lầm – rằng một hạm đội khổng lồ của Cộng sản Trung Hoa với chừng 4,000 ngàn hải thuyền đang được tập hợp trong đại lục, có thể là một phần của các công tác chuẩn bị tấn công Đài Loan. Điều này gây ra một mối quan ngại còn lớn hơn. Acheson thì lo rằng bất kỳ hành động nào cũng có thể liên kết các nỗ lực của Hoa Kỳ ở Triều Tiên với họ Tưởng và có thể làm cuộc chiến mở rộng, và ông vẫn chống lại việc viện trợ cho Tưởng. Trong suy nghĩ của mình, ông cho rằng bất kỳ sự trợ giúp nào cho Đài Loan cũng sẽ đồng nghĩa với giúp cho Tưởng Giới Thạch và đó sẽ là một chính sách định mệnh của Mỹ. Tuy vậy, Truman bắt đầu đưa ra các điều chỉnh chính trị của riêng ông. Tổng thống yêu cầu gửi một đội nghiên cứu  đến đánh giá các nhu cầu cần thiết để phòng vệ cho Đài Loan. Sau đó hội đồng tham mưu liên quân chuyển yêu cầu đó cho MacArthur, ông này quyết định là ông sẽ lãnh đạo đội nghiên cứu đó. Lúc này Hội đồng liên quân bắt đầu có chút lo ngại và đề nghị rằng ông nên gửi ai đó khác trong chuyến tiền trạm này – có thể là một sỹ quan cao cấp – và bộ Ngoại giao cũng bộ quốc phòng vẫn còn ở đó sẽ điều khiển đội. Hay nói cách khác, nó sẽ trông giống như một dạng viếng thăm của chính phủ hơn là một nỗ lực đánh giá các nhu cầu quân sự.

Nhưng MacArthur không có ý định chờ đợi cũng như không có ý để bộ Ngoại giao đóng vai trò chính. Ông gần như bay đi ngay lập tức, bỏ lại đại diện chính của bộ Ngoại giao, Bill Sebald ở lại Tokyo, và mang theo một đội lớn các sỹ quan cao cấp của ông, nhiều tới mức phải dùng đến hai chiếc C-54 khổng lồ. Trên đường, MacArthur gọi báo cho lầu Năm góc rằng nếu như Trung Hoa triển khai xâm lăng, ông sẽ dùng ba phi đoàn F-80 để đẩy lùi chúng. Việc này làm căng thêm tình hình ở Washington, đặc biệt nhất là với Acheson, ông tin rằng viên tướng đã chuyển ba phi đoàn đó tới Đài Loan, và như vậy đã vi phạm quá mức giới hạn quyền chỉ huy của ông ta. Acheson còn chọc tức thêm, nhưng cũng là nhắc nhở Hội đồng tham mưu liên quân rằng không nên hướng sự quan tâm đến Tưởng Giới Thạch mà nên là Đài Loan, và rằng họ đã không điều khiển nổi MacArthur trong khi có thể điều khiển được các tư lệnh chiến trường khác. Sẽ là tốt hơn nếu chính Truman lịnh cho MacArthur tạm dừng chuyến đi, sau này Omar Bradley viết lại.

MacArthur hạ cánh xuống Đài Loan vào ngày 29 tháng Bảy, sau một tháng một tuần trong cuộc chiến (Triều Tiên) nổ ra. Người của Tưởng chấn động. Ông được chào đón với nghi thức không thua lãnh đạo nhà nước, và cả ông cùng Tưởng Giới Thạch đã thực thi với tất cả nghi thức phẩm giá. Ông ga lăng hôn tay Tưởng phu nhân và gọi Tưởng giới Thạch là “cựu chiến hữu”, dù họ chưa từng gặp nhau trước đó. Quan trọng nhất, dù về mặt kỹ thuật không có thay đổi nào trong chính sách, nhưng chuyến đi này đã đưa ra một dấu hiệu  thay đổi chính sách, hoặc ít nhất cũng thể hiện một chính sách riêng biệt. Đây là một ân hệ lớn cho guồng máy PR của Tưởng. Tưởng giới Thạch phát biểu rằng Hoa Kỳ và Trung Hoa đang có những “lý do chung” để cùng nhau chống lại kẻ thù chung của họ. “Cạm bẫy tác động trong tuyên truyền của Trung Hoa Dân quốc là đã đưa ra cảm tưởng rằng Hoa Kỳ đã, hoặc sẽ tiếp tục là đồng minh thân cận nhất của Tưởng trong cuộc chiến chống lại chủ nghĩa Cộng sản ở Viễn Đông, và ngay cả việc chúng ta có thể vũ trang cho ông ấy trong công cuộc “trở lại đại lục”” Omar Bradley đã viết vậy.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 10:53:26 am
Có thể đoán biết được là cả Truman và Acheson vô cùng điên tiết. Đây là một dấu hiệu, đầu tiên trong nhiều cái sắp đến, rằng Douglas MacArthur không chỉ đang đưa ra chính sách mà còn cho quyền, ít nhất trong suy nghĩ của ông ta, thực thi nó, rằng ông ta luôn có chương trình nghị sự riêng và chương trình đó không nhất thiết phải giống như của tổng thống. Tổng thống chắc chắn rằng viên tướng đã dùng chuyến đi đó để khích lệ Nhóm vận động Trung Hoa và để tăng cường ảnh hưởng của ông lên cánh hữu. Khi nghe được tổng thống đang rất giận, và như để phản ứng việc chuyến đi của ông gắn liền với cánh báo chí, MacArthur còn chọc tức thêm khi nói rằng chuyến thăm của ông:  “bị xuyên tạc một cách ác ý đến công chúng bởi những người trong quá khứ lúc nào cũng tuyên truyền một chính sách của chủ nghĩa thất bại và chủ nghĩa nhượng bộ ở Thái Bình Dương”. Đây là một cái tát khác dành cho Acheson.

Sự việc vừa  xảy ra có vị trí quan trọng với Washington, Truman ngay lập tức đưa một đội ba người đến Tokyo và Triều Tiên để chắc chắn rằng sự kiện đó không xảy ra lần nữa, và đồng thời để tìm hiểu xem cuộc chiến sẽ như thế nào và bao nhiêu mệnh lệnh cần phải có. Đó chính là đội mà Matt Ridgway là thành viên lúc ông đánh giá Walton Walker. Nhưng nhân vật chính lại là Averell Harriman, khi ấy là một nhà giải quyết sự cố hàng đầu của Truman. Nhiệm vụ cơ bản của ông là làm tăng cường mối quan hệ giữa Washington và MacArthur, tìm hiểu xem những gì ông ta cần về lính và quân trang, đồng thời chuyển đến hai thông điệp từ tổng thống, như sau này Harriman ghi lại, cái đầu là: “Tôi sẽ làm mọi thứ có thể để cho ông ta những gì ông ta muốn hỗ trợ; và thứ nhì là tôi muốn anh nói với ông ta rằng tôi không muốn ông ta đưa chúng ta vào cuộc chiến với những người Cộng sản Trung Hoa”. Ngoài ra ông cũng gắng tìm hiểu xem MacArthur đã hứa gì với Tưởng Giới Thạch, và cảnh báo ông ta nên giữ khoản cách với Tưởng. Nhưng ngay cả khi Harriman đang trên đường bay đến Tokyo thì đã có một tường thuật phát ra từ sở chỉ huy của viên tướng, trích dẫn từ một một nguồn tin đáng tin cậy rằng MacArthur định nói với Harriman rằng cuộc chiến Triều Tiên sẽ tỏ ra vô dụng nếu Hoa Kỳ không chiến đấu với chủ nghĩa Cộng Sản mọi nơi nó thò đầu ra ở châu Á.

Những cuộc trao đổi giữa Harriman – MacArthur dường như thành công rất hạn chế. Sau này Harriman báo cáo với tổng thống rằng, những chỉ thị của tổng thống sẽ có thể được MacArthur tuân thủ, nhưng sự thiếu nhiệt tình là rất đáng kể. Là một người lính, ông có thể sẽ tuân lệnh, Harriman báo cáo “nhưng không hoàn toàn tin chắc”. Sự thông minh sắc sảo của Harriman không phải là một dấu hiệu tốt. Hay theo một cách nào đó ông là một con người xuất chúng như MacArthur, ông là một nhân vật quan trọng cũng rất lâu và không thể nào bị vị tướng đe dọa. Lúc đến nơi, khi MacArthur gọi ông bằng tên riêng – “Averel, mừng gặp lại ông” – thì ông cũng gọi lại ngay viên tướng bằng tên riêng; nếu đã là Averell thì có Douglas lại ngay.

Harriman biết rõ là MacArthur nghĩ bất kỳ hình thức thỏa hiệp nào với Mao Trạch Đông và nước Trung Hoa của ông ta là một chính sách nhân nhượng, dù ông không nói rõ ra vậy. Điều này sẽ đến sau. Ông ta cũng nói với Harriman rằng ông nghĩ Hoa Kỳ đã quá cứng rắn với Tưởng Giới Thạch  - họ nên “chấm dứt việc đối xử thô bạo với ông ta”. Nhưng dù ông không đánh giá cao quân đội Tưởng – không có sự bất đồng ý kiến nào với vấn đề này – thì về bản chất ông đã đứng về một phía trong vấn đề Trung Hoa, bên phía bắt đầu ám ảnh chính trị Washington. “Vì nhiều nguyên nhân khá khó để giải thích”  Harriman báo cáo với Truman khi ông quay về “Tôi không có cảm giác rằng chúng tôi đã đồng ý hoàn toàn với nhau về cái cách mà chúng tôi tin là có thể xử lý được Đài Loan và vị Thống chế. Ông ta chấp nhận cương vị tổng thống và sẽ phối hợp hành động, nhưng không hoàn toàn tin chắc. Ông có ý tưởng lạ lùng rằng chúng ta nên chống lưng cho bất cứ ai sẽ chiến đấu chống cộng sản, dù rằng ông không nói với tôi một luận cứ nào về việc tại sao vấn đề chống cộng của viên Thống chế có thể là góp phần ảnh hưởng lên việc điều đình với cộng sản ở Trung Hoa”


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 11:00:20 am
Buổi họp sau cùng giữa MacArthur và đội từ Washington diễn ra vào ngày 8 tháng Tám lúc cuộc chiến Triều Tiên còn đang trong giai đoạn khó khăn. Quân Bắc đang ép mạnh lên vòng cung Pusan. Trong buổi họp, MacArthur với sự vui vẻ đáng ngạc nhiên, tiết lộ kế hoạch một cuộc đổ bộ bất ngờ lên phía sau tuyến quân Bắc Triều Tiên ở một cảng tên là Inchon, ở tận xa trên bờ biển phía tây Triều Tiên. Đó nguyên là kế hoạch chiến dịch Trái Tim xanh mà MacArthur đã ủng hộ trong những ngày đầu tiên của cuộc chiến, giờ được mở rộng và nâng cấp rất nhiều. Cuộc đổ bộ lên Inchon, ông lên lịch là vào ngày 15 tháng Chín, không là một kế hoạch chuẩn bị chiến đấu ám ảnh quá nhiều. Gần như ngay từ thời điểm quân Bắc Triều Tiên vượt biên giới và nam tiến, ông ta đã nghĩ về nó. Trong một cuộc họp ban tham mưu hồi đầu tháng Bảy, một số cán bộ của ông đã được yêu cầu  nghĩ về hình thái của một cuộc đổ bộ đường thủy và đưa ra các đề xuất. Nhiều vị trí đã được đưa ra: một sỹ quan tham mưu chọn một cảng ngay sau tuyến quân Bắc Triều Tiên, người kế tiếp thì chỉ ra một nơi cách 10 kilomet về hướng bắc vẫn trong tầm pháo binh Mỹ. Một sỹ quan thứ ba, một thiếu tá trẻ tên là Ed Rowny, người dũng cảm nhất, thì đề nghị một nơi cách chừng 25 km trên bờ biển phía đông. MacArthur không ấn tượng. “Tất cả các anh thiệt là nhát gan”  ông nói. Rồi ông tiến đến bảng đen và viết bằng tiếng Pháp – Rowny nhớ rất rõ sau nhiều năm bởi đó là MacArthur vĩ đại và một cuộc thể hiện vĩ đại, và còn làm điều đó tốt hơn bởi đã bất ngờ sử dụng tiếng Pháp – “De Qui Objet?”. Mục đích là gì? Và rồi ông lấy một cây bút chì mỡ khổng lồ khoan tròn Inchon, một cảng của Seoul, hoàn toàn vượt qua những gì ai khác có thể đề nghị. ”Đó là nơi chúng ta nên đổ bộ, Inchon – thẳng vào yết hầu”. Một sỹ quan trẻ hơn nói về những khó khăn về thủy triều và sợ rằng cảng đã bị gài mìn, nhưng MacArthur quẳng những thứ đó sang một bên. “Đừng đưa những nỗi sợ của các cậu ra – đây chỉ đơn giản là vấn đề về quyết tâm và dũng cảm”. RỒi ông bảo họ xây dựng ra phương án đổ bộ lên Inchon.

Và giờ đây, với Harriman và Ridgway, ông đẩy mạnh cuộc đổ bộ. Như thường lệ ông cần 4 sư đoàn cho chiến dịch, nhưng quân lực Mỹ đang bị ảnh hưởng bởi việc giải trừ quân bị thời hậu chiến, nên ông sẽ làm với hai sư đoàn, sư bảy bộ binh và sư Thủy quân lục chiến số một. Ridgway nghĩ đó là một phần giới thiệu rất hay của một chiến lược cao cấp độc đáo, ông ủng hộ một cách nhiệt tình, và là người đầu tiên trong tổ an ninh quốc gia ở Washington tham gia vào nhóm ủng hộ viên của kế hoạch Inchon. Ridgway cũng rất ấn tượng với sự quan tâm của MacArthur với những thử thách gay go của binh sỹ khi mùa đông Triều Tiên sắp đến, một mùa đông kinh khủng, ông chắc chắn vậy, hơn bất kỳ những gì họ đã trải qua ở Đức. MacArthur bảo họ tấn công vào Inchon càng sớm càng tốt. Một khi mùa đông đến, MacArthur lưu ý thêm, sẽ rất khắc nghiệt, có thể những thương vong không phải do chiến đấu còn vượt quá những thương vong trong chiến đấu. Mỉa mai thay những lý luận đó của ông đã thành hiện thực vào cuối tháng Mười Một, khi MacArthur đã không do dự đưa tập đoàn quân 8 và quân đoàn 10 tiến lên phía bắc đến tận sông Áp Lục trong thời tiết lạnh chết người, và thường cũng chỉ với quân phục hè, cả Harriman và Ridgway không thể quên. Họ phán định rằng, MacArthur có thể tranh luận mạnh mẽ ở bất kỳ góc nào của vấn đề – dựa trên mục tiêu là nó có phù hợp với dự định hiện tại của ông hay không.

Với  Harriman, sự độc đáo của kế hoạch đổ bộ Inchon làm lúng túng những lãnh đạo dân sự, MacArthur một người có hai cái tôi – một vị tướng tài năng, giàu sức tưởng tượng, nhưng cũng rất khó cho những vị sếp bên dân sự của ông để làm việc cùng, một sỹ quan gần như thường xuyên không chịu phục tùng, với một chương trình nghị sự luôn khác biệt với các thượng cấp của mình. Họ đều hiểu rằng điều này như một hành động phản xạ với ông để chống lại những thông tin chỉ trích. Làm thế nào để lấy ra được những gì tốt nhất từ một người dường như thường xuyên tạo những làn sóng chính trị ngược, đơn thuần là không làm theo luật lệ dùng cho các cán bộ quân sự cao cấp khác, và không bao giờ gần gũi, thẳng thắng với bạn? Cách nào để bạn giao việc và điều khiển được ông ta? Liệu rằng một con người thông minh như ông ta có thể thực sự thuộc đội của bạn? Chuyến công tác của Harriman và Ridgway nhấn mạnh vào nan đề hoàn hảo của MacArthur: tình hình lộn xộn do ông tạo ra với họ Tưởng, và sự thông minh sáng chói của kế hoạch Inchon. Trong một nhận định bất thường về tình trạng tiến thoái lưỡng nan mà MacArthur luôn gây ra cho các thượng cấp dân sự, Harriman đã nói với Ridgway rằng chủ yếu “là do sự cân nhắc về mặt chính trị lẫn cá nhân bị gác sang một bên và chính phủ của chúng ta làm việc với tướng MacArthur cao ngạo bởi ông là vốn quý của quốc gia”. Nhưng cho dù buổi họp của họ diễn tiến theo hướng tích cực, thì những dấu hiệu rầy rà trong tương lai vẫn đầy dẫy. Nếu mối quan hệ giữa Moscow và Bắc Kinh, vốn được xếp vào dạng đồng minh thân thiết trong khối Cộng sản, nhanh chóng cho thấy khó khăn một cách bất thường thì nó cũng được cân bằng bởi mối quan hệ gai góc giữa sở chỉ huy quân Mỹ tại Tokyo với các thượng cấp quân – dân sự ở Washington.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 11:04:58 am
Cánh dân sự hiểu rằng luôn sẽ có một rắc rối kế tiếp với MacArthur. Với việc này họ không phải đợi quá lâu. Không tới ba tuần. Đó là một bài phát biểu ở VFW.  Vị tướng được đề nghị phát biểu, hoặc ít ra gửi về một bài nói để đọc trước hội nghị thường niên của Hội cựu binh các cuộc chiến ngoài nước, một dạng lính Lê dương Mỹ và không là nhóm cử tri bồ câu. Một lần nữa, bài phát biểu nhắc đến Đài Loan. Ông ta nói rằng giá trị quân sự của nó là không nên bị đánh giá thấp. Từ Đài Loan, Hoa Kỳ “có thể khống chế bằng không lực mọi cảng biển ở châu Á từ Vladivostok đến Singapore và ngăn chặn bất kỳ hoạt động thù địch nào vào Thái Bình Dương”. Thật là lạ lùng như thể ông mang đạn dược đến tặng cho các quốc gia đối thủ với việc nói ra rất công khai chủ đề cực kỳ tế nhị này. Chủ đề này – rằng Đài Loan là một căn cứ quân sự to lớn cho người Mỹ – chính xác là vị trí cho người Nga, cả với danh nghĩa của chính họ hay nhân danh cho cho người Trung Quốc, đang cố khai thác ở Liên Hiệp Quốc, và đồng thời cũng là điểm mà Washington muốn tối thiểu hóa để giới hạn viễn cảnh của cuộc chiến Triều Tiên. Thế rồi MacArthur còn đi xa hơn, một lần nữa vặn sườn chính phủ với một phát biểu dường như là của một nhà chỉ trích chính trị hơn là một chiến tướng. “Không gì có thể sai lầm hơn những lý lẽ cũ rích  đưa ra bởi những kẻ tán thành chính sách nhượng bộ và chủ nghĩa thất bại ở Thái Bình Dương rằng nếu chúng ta bảo vệ Đài Loan thì lục địa châu Á sẽ xa lánh chúng ta… Những kẻ nói như vậy chẳng hiểu gì về phương Đông. Chúng không chấp nhận rằng khuôn mẫu tâm lý phương Đông là tôn trọng và theo sự lãnh đạo xông xáo, cương quyết và năng động”. Nếu đây không là một đợt công kích vào bản thân Truman thì nó hiển nhiên là một cú đấm vào mặt Acheson.

Một lần nữa Truman tức điên. Dù bài nói đã được công khai và truyền trên hệ thống truyền thông, nhưng nó vẫn chưa được đọc trong hội nghị VFW. Truman gọi các cán bộ hàng đầu và bảo Louis Johnson, ông này đồng tình với MacArthur trong chủ đề này, kêu MacArthur rút lại bài nói – và đó là một mệnh lệnh của tổng thống. “Anh có hiểu không?” ông hỏi. “Vâng thưa ngài, tôi sẽ làm” Johnson trả lời. “Hãy đi làm ngay đi” tổng thống nói (ông cũng giận Johnson và có cảm giác rằng ông ta là một kẻ đồng âm mưu trong vấn đề này). Nhưng Johnson trở về văn phong mình và dao động, và không thích ý tưởng rằng kêu MacArthur tự tiêu bài nói đi. Ông gọi Acheson và đề nghị các phương án để làm uyển chuyển bớt lịnh của Truman – đại loại rằng thứ mà MacArthur nói chỉ là ý kiến cá nhân của một người và rằng mọi người đều có quyền có quan điểm riêng. Acheson lưu ý ông rằng đây là lệnh của Truman. Cả ngày đó điện thoại qua lại liên tục giữa các nhân vật hàng đầu, chỉ trừ Truman. Cuối cùng, đến giữa giờ chiều, Truman gọi cho Johnson và đọc tùng chữ thông điệp gửi cho MacArthur: “Tổng thống Hoa Kỳ trực tiếp yêu cầu ngài rút lại phát biểu ở Hội nghị Cựu Binh Viễn chinh quốc gia, bởi nhiều chi tiết trong đó xung đột với chính sách của Hoa Kỳ và vị trí của đất nước ở Liên Hiệp Quốc”. Cuối cùng bài nói cũng được rút lại – và giờ tới lượt MacArthur nổi giận. Nhưng vì bài phát biểu đã được đưa ra công khai rồi lại rút đi, nên rắc rối này dù kết thúc nhưng không kết liễu được. Sau này, sau khi MacArthur và Truman đụng độ nhau lần cuối và tổng thống bãi nhiệm ông ta, Truman đôi khi càu nhàu rằng ông nên làm điều này từ sớm hơn, từ hồi có vụ phát biểu VFW.

Đây cũng là hồi chuông báo tử cho Louis Johnson, tổng thống đã lịnh cho ông từ chức chừng hai tuần sau đó. Johnson đã bật khóc khi Truman liên tục bảo ông ký tên vào thư từ biệt. David McCoullough người viết tiểu sử của Truman đã ghi rằng Johnson “có lẽ là vị trí bổ nhiệm tệ hại nhất mà Truman từng mắc phải”. “Một gã lập dị” Acheson nói như vậy về Johnson. Trong cả quá trình ngắn ngủi tại chức Johnson đã làm bực mình hầu hết mọi người trong chính phủ, trong đó có cả tổng thống, ngoại trưởng, toàn thể nội các, và gần như toàn bộ các sỹ quan cao cấp. Những sỹ quan cao cấp thường cay đắng cãi nhau về vai trò của người kia thời hậu chiến, đã thống nhất được với nhau ở một điểm – tất cả họ đều ghét Louis Johnson. Với họ, ông dường như là một bức biếm họa ác mộng tệ hại nhất của họ về một chính trị gia dân sự.  Ông thường chê bai những kỹ năng của họ. Với bom hạt nhân trong đầu, ông đã viết cho một một đô đốc vào tháng Mười Hai năm 1949 (dùng thứ mà nhà văn Robert Heinl gọi là “sự tế nhị tiêu biểu” của ông ta): “Ngài đô đốc, Hải quân trên đường tàn lụi… Không có lý do nào để tồn tại Hải quân và Thủy quân lục chiến. Tướng Bradley nói với tôi rằng các cuộc đổ bộ đường thủy giờ đã là quá khứ. Chúng ta sẽ không bao giờ có một cuộc đổ bộ đường thủy nào nữa. Thứ này ra đi cùng Thủy quân lục chiến. Và ngày nay, không lực có thể làm mọi thứ mà Hải quân có thể, và như vậy Hải quân cũng ra đi”. Ông bị các tướng lĩnh lục quân ghét  bởi áp lực ông đặt vào việc thu nhỏ nhanh chóng lục quân Mỹ vốn đã nhỏ bé đi rồi. Lúc ông bị sa thải vào tháng Chín năm 1950, lúc chiến tranh Triều Tiên đã được ba tháng, có một câu chuyện cười chua cay lan truyền trong lầu Năm góc rằng: Hội đồng tham mưu Liên quân thông báo cho Johnson là ông rốt cuộc đã có thể dừng cái yêu cầu giảm quân nghiêm khắc của mình – bởi số lính bị giết hằng ngày ở Triều Tiên đã đưa sức mạnh của Mỹ về đến mức mong đợi rồi. Ông cũng bị hầu hết những người từng làm việc với ông coi thường. “Truman không ý thức được rằng ông đã thay một ca tâm thần bằng một ca tâm thần khác” Omar Bradley sau này viết trong hồi ký, khi liên hệ tới Forrestal.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 11:08:13 am
Nhưng trên thực tế, dù đã xúc tiến cho việc ra đi của Johnson thì đó cũng là phần ít quan trọng nhất của cú nhấn hụt VFW-MacArthur. Nó làm trầm trọng thêm mối quan hệ giữa tổng thống và vị tướng, ông này bị buộc phải lui lại và tôn trọng lịnh của tổng thống, một tiến trình rất không vui và xa lạ với ông, và làm vết thương thêm mưng mủ. Đó cũng là một lời cảnh báo rõ ràng cho Nhà Trắng, như chuyến thăm đến Đài Loan, rằng MacArthur là một người bất đồng quan điểm, cả về thứ bậc lẫn chính sách. Nó cho thấy ông không có chút nào đồng tình với chính sách của họ ở Á châu, bao gồm cả mục tiêu khả dĩ của cuộc chiến mà họ đang chiến đấu, và rằng ông còn gần như là một nhà đối lập nghiêm trọng trong vấn đề đang ám ảnh họ – Trung Hoa. Đó không là một khuyết điểm nhỏ: tổng thống và ngoại trưởng muốn, nếu có khả năng, thì tách biệt Triều Tiên với vấn đề lớn hơn: Trung Hoa; nhưng còn vị tướng thì không, không chỉ muốn kết nối hai vấn đề mà ông còn muốn nhiều hơn như ông đã nói: rằng ông quỳ gối và cầu nguyện mỗi đêm cho Trung Hoa tham chiến – rõ ràng là không lấy làm lo với viễn cảnh Trung Hoa canh thiệp.

Để thay thế Johnson, Truman đã tiếp xúc với George Marshall, ông này thì đã mệt mỏi bởi những nhiệm sở trước đó và sức khỏe cũng đã suy giảm, và ông cũng chỉ cách sinh nhật tuổi bảy mươi vài tháng nữa. Ông cũng đang mong đợi một cương vị danh dự khi hồi hưu là làm chủ tịch hội Chữ thập đỏ. Truman, đã ý thức được với trường hợp Johnson, nên đã thăm dò xem Marshall có chịu ra công tác lần nữa không. Marshall trả lời rằng ông có thể công tác, nhưng chỉ 6 tháng thôi với Bob Lovett, một cán bộ triển vọng nhất trong hệ thống an ninh quốc gia,  sẽ đứng vị trí số hai và sau này thay ông. Ngài có chắc là muốn tôi làm không? Marshall hỏi lại vị tổng thống. Tổng thống có thể muốn cân nhắc thêm, ông bảo “thực tế là việc bổ nhiệm tôi có thể gây tác dụng xấu đến ngài và chính phủ của ngài. Bởi họ vẫn buộc tôi với việc sụp đổ của chính quyền Tưởng giới Thạch ở Trung Hoa. Tôi muốn giúp ngài, chứ không phải làm tổn thương ngài”. Sau này khi kể lại cuộc trao đổi đó qua thư từ với vợ, Truman viết rằng: “Em nghĩ rằng có thể có ai khác nói được như vậy không? Như anh, anh không thể và ông ấy là một trong những vĩ nhân”.

Ngay cả khi chiến tranh Triều Tiên nổ ra, thì cái chết của một nước Trung Hoa cùng với sự ra đời của một nước Trung Hoa khác vẫn treo lơ lửng trên đầu chính phủ – đây là một vấn đề làm chính phủ bắt đầu mất máu. Nếu trong năm 1948 đảng Cộng hòa vẫn tìm kiếm một vấn đề để công kích thì đến năm 1949 lời cầu nguyện của họ đã được đáp ứng. Sự sụp đổ của chế độ Tưởng Giới Thạch là một bước quan trọng đầu tiên cho điều sau này sẽ thành một cuộc đụng độ kinh khủng giữa Hoa Kỳ và Trung Hoa trên chiến trường ở chừng 20 tháng sau. Ngày 3 tháng Mười Một năm 1948, ngay trước ngày bầu cử tổng thống Mỹ, quân đội Trung Hoa Dân quốc triệt thoái khỏi Shenyang (Thẩm Dương???), thành phố lớn nhất Mãn Châu Lý, lần đầu tiên bỏ một thành phố quan trọng (và quyền điều khiển của hầu hết các vùng đất chung quanh) cho lính Hồng quân Trung Hoa của Mao Trạch Đông. Đường đã mở. Quân đội Tưởng Giới Thạch trong tiến trình sụp đổ choáng váng, cứ mỗi thất bại mới dường như khẳng định thất bại kế tiếp sẽ còn lớn hơn và xảy ra nhanh hơn. Đôi khi cả hàng sư đoàn Quốc dân Đảng bị bao vây và ngay lập tức gia nhập vào quân đội của Mao. Những sư đoàn khác đơn giản là biến mất và để lại phía sau cho phía Cộng sản thù địch hàng triệu đô là tài sản thiết bị quân sự của Mỹ.

Kể từ đó, Hoa Kỳ và một Trung Hoa mới, cách mạng, đôi khi dường như điếc, như câm trước những xung động chính trị – quân sự của nhau, ngần ngại trong một điệu vũ vụng về chậm chạp hướng đến một cuộc đụng độ vũ trang không mong muốn. Có hàng đống dấu hiệu suy tàn của Tưởng Giới Thạch từ bốn năm trước, nhưng bởi thông tin tuyên truyền của rất nhiều nhà báo ưa thích chế độ này, nên khi quyền lực của Tưởng kết thúc, tin này vẫn gây choáng váng cho hàng triệu người dân Mỹ. Một Trung Hoa yêu dấu đột nhiên thành cộng sản, một đất nước trong suốt thế chiến II họ được bảo là cần cù siêng năng, ngoan ngoãn, đáng tin cậy, những người châu Á tốt (trong khi mới gần đây Nhật Bản còn được cho là xảo trá, thậm thụt, không đáng tin, và là những người châu Á xấu). Đầu tiên là nước Nga, một đồng minh trong suốt thế chiến II, đã thành thù; và giờ đây, có lẽ còn choáng váng hơn, Trung Hoa cũng thành thù và thành một đồng minh của Liên Xô.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 11:09:56 am
Với hàng triệu người dân Mỹ điều này cảm giác như là một sự phản bội, một tai họa bởi khi một nước Trung Hoa với lãnh thổ rộng lớn và dân số đông đúc cộng thêm vào với diện tích bao la cùng dân số của ngước Nga, thì thế giới này trông nguy hiểm hơn.  Hai quốc gia đó nhuộm đỏ cả một vùng địa lý rộng lớn trên bản đồ thế giới, như vậy với các lý do chính trị, giờ họ thường thấy cái bản đồ đó đầy những dấu hiệu báo điềm gở. Bởi những tình cảm với Trung Hoa gieo trong lòng hàng triệu người Mỹ lớn hơn bất kỳ quốc gia nào khác, và bởi đảng Dân chủ đã thắng liền một dọc 5 cuộc bầu cử và đảng Cộng Hòa đang tìm kiếm một vấn đề mới, nóng, nên sự phân rã chính trị trong vấn đề Trung Hoa sụp đổ thể hiện rất đáng kinh ngạc. Một câu hỏi đặt ra khi ấy – một câu hỏi có tính phe phái rất lớn – là: Ai làm mất Trung Hoa? Cùng với đó là những giả định còn nghiêm trọng hơn – và quan niệm lịch sử sai lầm một cách khổng lồ – rằng Trung Hoa là chúng ta; và hơn nữa: là chúng ta thất bại. Sự sụp đổ của Trung Hoa Tưởng Giới Thạch, dù rất ít người hiểu về điều đó – hoặc muốn hiểu về nó, thời ấy – là một phần của cái giá phải trả trong tấn bi kịch biến đổi cấu trúc quyền lực thế giới vốn đã diễn ra trong sáu năm chiến tranh tổng lực. Thế Chiến II bên cạnh là một cuộc chiến thảm khốc giữa hai bên: phe Trục và phe Đồng Minh, cũng như thế Chiến I, đã để lại những hậu quả về sau trên toàn thế giới.

Trung Hoa trong trí óc của hàng triệu người Mỹ là một quốc gia huyền ảo nhất, với đầy những nông dân có trách nhiệm, ngoan ngoãn những người yêu và thích người Mỹ, những người không có gì khác hơn là thích họ. Đó là một quốc gia nơi những người nông dân bình thường được cho là mong thành người Thiên chúa giáo và thiết tha, dù có những trở ngại đáng kể trên con đường của họ, vươn lên khỏi cái quá khứ mà người Mỹ cho là ngoại đạo. Hàng triệu người Mỹ tin rằng không chỉ họ yêu (và hiểu) Trung Hoa cùng người Trung Quốc, mà còn cho rằng nghĩa vụ của họ là Mỹ hóa người Trung Hoa. “Với sự giúp đỡ của Chúa, chúng ta sẽ nâng Thượng Hải lên, ngay cả đến khi nó ngang bằng với Kansas” thượng nghị sỹ Kenneth Wherry của bang Nebraska nói, ông là một trong những nhân vật Cộng hòa chỉ trích chính phủ cay độc nhất trong các chính sách Trung Hoa (và cũng là người thích gọi Đông Dương của người Pháp là Trung Hoa lai – chỗ này chơi chữ nguyên văn là French Indochina và Indigo-China)

Rất lâu trước khi Tưởng chạy sang Đài Loan, và thiết lập một Trung Hoa của cá nhân ông tại đó, thì đã tồn tại hai Trung Hoa. Một Trung Hoa trong trí tưởng tượng của công chúng Mỹ, một Trung Hoa mà người Mỹ muốn nó phải như thế, và một Trung Hoa khác, một Trung Hoa thực, với thực tế đáng buồn hằng ngày với những người Mỹ ở đó. Một Trung Hoa huyền ảo là một đồng minh anh hùng, cai trị bởi một Tưởng Giới Thạch dũng cảm, cần cù, theo Công Giáo và theo Mỹ; cùng với người vợ xinh đẹp Tống Mỹ Linh, thành viên của một gia tộc giàu có nhất Trung Hoa và có mối quan hệ rất rộng, chính bà cũng theo Công giáo và được giáo dục tại Mỹ, và là một người dường như được sắp đặt trực tiếp từ trung tâm Casting để phục vụ cho một chiến dịch PR quan trọng. Mục tiêu của vị Thống chế và phu nhân của ông, luôn dường như chính xác là mục tiêu của nước Mỹ, giá trị với họ cũng bằng với chúng ta. Nhưng thực tế thì dĩ nhiên là khác hoàn toàn. Và theo cách đó, những gì diễn ra sau thế chiến II là những trò đùa ác nghiệt nhất: ảnh hưởng của hàng ngàn nhà truyền giáo Mỹ tận tụy đến Trung Hoa hơn một thế kỷ qua lớn hơn các quan điểm chính trị của quốc gia ở Trung Hoa, đất nước họ hi vọng sẽ thay đổi. Hàng triệu, hàng triệu trẻ em Mỹ, như John Melby, một trong những thành viên thông thái của sứ quán Mỹ ở thủ đô thời chiến của Trung Hoa – Chongqing – sau này viết lại, đã thành thật mang những đồng xu của họ đến trường học Chủ Nhật để tặng cho Trung Hoa nghèo khổ, bẩn thỉu. Cha mẹ họ nghe theo những nhà truyền giáo, khi trở về nước, đã giảng ở các nhà thờ và gợi lên không chỉ đất nước và con người Trung Hoa kỳ diệu, mà còn những thách thức to lớn luôn tồn tại trước mặt những người mong ước làm công việc của Chúa.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 11:10:51 am
Trong thực tế, Trung Hoa là một quốc gia phong kiến bị chia rẽ nghiêm trọng về mặt chính trị và địa lý, một quốc gia nghèo khổ tận cùng và thường bị cai trị bởi các lãnh chúa địa phương cực kỳ tàn bạo. Đó là một quốc gia với chừng 500 triệu dân được điều hành bởi một chính phủ yếu ớt, tham nhũng, đục khoét lợi tức ngoại quốc, với một lượng vô số các lãnh chúa và một tập đoàn đầu sỏ chính trị bé xíu trong một chính quyền song trùng. Một dạng lãnh đạo mà phương Tây, vốn tìm kiếm những lợi ích thương mại bền vững, thì một Trung Hoa yếu kém và đầy khuyết điểm là một nơi như vậy. Nội chiến Trung Hoa chính là một nỗ lực lịch sử của một bộ phận trong nước nhằm tái khẳng định tư cách một quốc gia, một quốc gia thống nhất thực thụ, có lẽ sẽ mạnh mẽ hơn, và không còn nhạt nhòa dưới quyền lực của phương Tây ngoài xa cũng như các lãnh chúa địa phương trong nước. Quốc gia này bị xé nát bởi cuộc nội chiến đánh-rồi-ngưng-rồi-đánh trong suốt hai thập niên và cũng bởi công cuộc kháng chiến đẫm máu của người dân trước sự chiếm đóng của Nhật Bản. Đó là gánh nặng trên vai Trung Hoa, và giờ đây khi thế chiến II đã kết thúc, cùng với sự lãnh đạo sai lầm nghiêm trọng của Tưởng Giới Thạch, thì khó mà cân bằng nổi trước những thách thức phi thường của các vấn đề khó khăn cả trong lẫn ngoài nước. Theo cách nói lịch sử: thời cơ đã chín muồi.

Dĩ nhiên là có rất nhiều cảnh báo về việc Tưởng Giới Thạch sẽ sụp đổ. Ngay cả trong thế chiến II, bên cạnh cuộc chiến chính cùng nhau chống lại người Nhật, thì vẫn có trận đánh phụ giữa hai phe Quốc gia của Tưởng Giới Thạch và Cộng sản của Mao Trạch Đông. Các báo cáo nối tiếp nhau được gửi về từ chiến địa, cả bởi những cán bộ quân sự lẫn dân sự, cả từ những người lý tưởng hóa Tưởng Giới Thạch lẫn những ai kinh hoảng ông ta, và đều phản ánh quan điểm rằng phe Cộng sản được lãnh đạo tốt hơn trong quân sự lẫn chính trị, và có tính hợp pháp chính trị lớn hơn nhiều. Ngay cả khi Thế chiến II dần tới hồi chót, rất ít người có mặt tại chỗ và biết rõ những sự kiện quân sự đã diễn ra, nghĩ rằng Tưởng có thể làm được. Nhiều người trong hệ thống an ninh quốc gia, như James Forrestal, cho rằng cơ hội thắng của Tưởng Giới Thạch mong manh tới nổi Hoa Kỳ phải thận trọng không nên để cho Nhật Bản quá yếu đi tới mức không còn có thể dùng như một con đê chắn ngọn sóng cộng sản ở Bắc Á. Rồi thế chiến II thực sự kết thúc, cuộc nội chiến bắt đầu nóng lại, các báo cáo từ thực địa trở nên u ám hơn. Phe Tưởng Giới Thạch thu liễm lại, căn cơ của ông nhỏ hẹp hơn trong khi chính sách cai trị lại hà khắc hơn. Ngay cả một nhân vật rất đồng cảm với Tưởng là thiếu tướng Claire Chennault – chỉ huy của các phi đoàn Phi Hổ Mỹ đã chiến đấu ở Trung Hoa trong suốt thế chiến – và là một nhà ủng hộ nhiệt tình lâu năm của viên Thống chế, lúc gần cuối thế chiến đã viết thư về cho Roosevelt rằng nếu nội chiến có diễn ra thì có vẻ như “chính quyền Diên An [tức phía Cộng sản] có cơ hội vượt trội để chiến thắng dù có hay không sự hỗ trợ của người Nga”.

Có lẽ một ngày hợp lý như bất kỳ ngày nào cho cột mốc bắt đầu thế chiến II là tháng Bảy năm 1937, khi quân Trung Hoa xung đột với lính xâm lược Nhật gần Bắc Kinh, sát biên giới Trung Hoa – Mãn Châu. Nếu không có gì khác, thì đó chắc chắn là sự kết thúc mọi hi vọng về việc vươn lên của một nước Trung Hoa hiện đại, bán dân chủ dưới chính quyền Quốc gia của Tưởng Giới Thạch và Quốc dân đảng, một kiểu Trung Hoa mà nhiều người Mỹ đã hi vọng, một giấc mơ dài lâu trước khi nó trở thành một điều vô vọng nhất. Trung Hoa khi ấy, dưới hai áp lực quá mạnh mẽ: sự xâm lược của người Nhật và cuộc nội chiến ngấm ngầm liên miên, đã biến đổi hoàn toàn nền chính trị, kinh tế và xã hội như thế giới hiện đại đã chứng kiến. Đó là một cơn đại hồng thủy trước hết được đưa tới bởi những thách thức bên ngoài, dù không hoàn toàn. Bên cạnh đó là một thách thức đến từ một Trung Hoa dù chưa ra đời nhưng nguy hiểm tiềm tàng bởi những quy phạm và lòng căm thù với một Trung Hoa khác, yếu kém, tàn bạo và man rợ theo cách riêng của nó: một thách thức giữa một nhóm người chuyên quyền, hung dữ với một nhóm khác cũng chuyên quyền và tàn nhẫn vốn đã cai trị một cách tệ hại và cực kỳ tàn bạo trong một thời gian dài. Đó là một hệ thống áp bức hơn là một chính quyền được áp đặt lên thường dân Trung Hoa với sự hung bạo và tham tàn vô song. Chỉ một số ít người có lợi ích (trong hệ thống đó) là giàu có và đầy quyền lực, họ sống trên pháp luật, mà thứ này trong những trường hợp khác, được thiết lập bằng vũ lực. Trong khi đa số dân sống vô vọng trong nghèo đói dường như vĩnh viễn. Mỗi thể hiện không chịu đựng nổi trong cuộc sống thường nhật của họ mang đầy những dạng thức bất công và thiếu phẩm giá. Trung Hoa này có lẽ đang chết dần ngay cả trước khi những quân lính đầu tiên của Nhật hành quân vào Mãn Châu.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 11:12:32 am
Quá trình vươn lên của Tưởng Giới Thạch cũng phản ánh cho thấy sự phân rã của trật tự cũ. Ông không phải là một nhà lãnh đạo tầm cỡ như được tô vẽ bởi giới truyền thông Mỹ: như một người mạnh mẽ sống sót, tồn tại bằng cách cân bằng những xung đột lợi ích. Barbara Tuchman đã chỉ ra trong quyển sách của bà về sự sụp đổ của Trung Hoa, với những người phương Tây, nickname của Tưởng Giới Thạch là “Billiken”, theo tên một con búp bê mập mạp và không thể bị đánh ngã. Ông gia tăng các mối quan hệ chính trị của mình vào năm 1927 khi thông qua hôn nhân bước vào gia tộc họ Tống, một gia tộc Trung Hoa có ảnh hưởng mạnh nhất về tài sản và quan hệ với các quyền lực tài chính phương Tây. Tống Mỹ Linh, con út gia đình đó, một giáo dân Công giáo, học ở Wellesley và có tham vọng chính trị. Trước đó, Tưởng đã cố cưới người chị của bà, nguyên là vợ góa của tổng thống đầu tiên của Trung Hoa: Tôn Dật Tiên, nhưng bị từ chối. Để cưới bà Mỹ Linh, ông phải tống khứ đi hai bà vợ khác và cải đạo sang Công giáo, những điều này thì ông sẵn lòng làm. Đến lúc đó thì Tưởng Giới Thạch được người dân Mỹ biết đến dưới cái tên ngài Thống chế  hay gọi tắt là Gimo, và bà ta, không luôn trìu mến, là Missimo. Cuộc hôn nhân đã làm quan hệ chính trị của ông với Hoa Kỳ mạnh lên rất nhiều, và với cả những ai mong mỏi những điều phi hiện thực nhất, một nhà lãnh đạo Trung Hoa quốc gia vừa theo Công giáo và vừa là một nhà tư bản.

Cuộc chiến vĩ đại của Tưởng trong những năm đó là với những người Cộng sản, họ có vận hội tốt để thách thức một chính quyền nhưng không phải cai trị. Tất cả những gì họ phải làm là khai thác hàng đống những mối bất bình và những sự khổ sở trong nước. Họ đã làm điều này với một kỹ năng đáng nể, điều chỉnh một cách thông minh những mối bất bình của người nông dân hướng vào Tưởng và những lãnh chúa có liên hệ với ông ta. Trung Hoa của Tưởng dần dần tích lại những ngòi nổ trong lòng – bất kể khối lượng viện trợ quân sự to lớn của Mỹ và cố vấn, bất kể những loại cảnh báo từ giới báo chí, ngoại giao, quân sự  rằng ông cần thay đổi và điều chỉnh chính phủ của mình. Hàng loạt những cố vấn quân sự và chính trị Mỹ, những người đã khẩn nài ông sử dụng các nguồn lực của mình một cách khéo léo, đã thất bại một cách sầu thảm. Lợi ích của họ và lợi ích của ông ta hiếm khi trùng khớp – họ muốn ông đưa ra một hình thái lãnh đạo đặc kiểu Mỹ, còn ông thì muốn tồn tại thêm một ngày nữa; cấu trúc chính trị quân sự tham nhũng mà người Mỹ muốn ông xóa bỏ lại không gì khác hơn là chìa khóa cho sự tồn tại chính trị của ông. Rốt cuộc, nếu có một điều gì thông minh ở ông, đó chính là dáng vẻ đồng ý với các cố vấn Mỹ – hơn hết, ông không muốn làm tổn thương các cảm nhận của họ – và rồi không để tâm gì đến bất cứ thứ gì từ đó, vẫn tiếp tục làm chính xác những gì ông vẫn luôn làm.

Rồi đến khi chính phủ sụp đổ vào năm 1949, thì không có chút ngạc nhiên nào cả. Tướng Joseph (Vinegar Joe) Stilwel, cố vấn quân sự Mỹ chính, được chỉ định làm việc với Tưởng trong suốt Thế Chiến II, ngay từ rất sớm hồi 1942 đã xác quyết rằng Tưởng Giới Thạch là hoàn toàn vô dụng, miễn cưỡng, nếu không nói là không có khả năng sử dụng quân đội của ông chống lại người Nhật. Stilwel hẳn không cô độc giữa những người Mỹ ở đó trong việc không ưa Tưởng Giới Thạch. Cái biệt danh của vị Thống chế trong đa số lính Mỹ phục vụ ở Trung Hoa phản ánh cho thấy sự thất vọng của họ với ông ta; Chancre Jack,  họ gọi ông như vậy. Stilwel phục vụ đến 3 nhiệm kỳ ở Trung Hoa và có thể nói tiếng Hoa thông thạo, nhưng ông chẳng thể là một đại diện lý tưởng của Mỹ để làm việc với một nhà cầm quyền quá kém và một vị lãnh đạo quá yếu. Ông có quá ít tính ngoại giao, cáu kỉnh, trực tính, thích tranh cãi, và báng bổ; theo như nhà viết tiểu sử của ông Barbara Tuchaman – một người hâm mộ ông – viết rằng ông có lẽ là “thô lỗ hoặc cay độc hoặc đôi khi lỗ mãng hoặc cục mịch một cách có chủ tâm”. Ông nói ra những gì ông nghĩ mà không có tế nhị mấy. Không có gì khác biệt giữa góc nhìn riêng của ông về vị lãnh đạo Trung Hoa và những gì ông nói với bất kỳ ai đang nghe ông nói. Ông sớm xác quyết rằng Tưởng Giới Thạch hầu như vô dụng dưới góc độ là một công cụ của chính sách Mỹ. Có một lần, phóng viên trẻ của tờ Time – Teddy White – hỏi Stilwel để giải thích cho việc thất bại của quân Trung Hoa trong một trận đánh, và ông trả lời: “Chúng ta đang liên minh với một thằng nông dân chó đẻ, ngu dốt, thất học tên là Tưởng Giới Thạch”. Một mô tả chính xác hơn có lẽ là Hoa Kỳ đã thất bại bởi đã cố tạo một Trung Hoa theo hình ảnh Mỹ sau một đêm, thay vào đó là  một thứ gì đó không giống như vậy. Bất kỳ vị lãnh đạo nào Hoa Kỹ chọn cũng sẽ kết thúc thất bại trước người dân của ông ta hoặc Mỹ hoặc, trong trường hợp này, là cả hai. Thực tế thất bại bởi giấc mơ này đã khả thi ngay từ đầu.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 11:14:33 am
Stilwel thường xuyên báo cáo về Washington rằng Tưởng Giới Thạch hoàn toàn vô vọng ở góc độ là một đồng minh quân sự, không thể hoặc miễn cưỡng triển khai bất kỳ bước cần thiết nào để đưa quân đội của ông ta giao chiến với quân Nhật. Nhưng ở Washington, báo cáo của Stilwel không được để tâm mấy. Dù rằng, thời đó, tham mưu trưởng lục quân là George Marshall, người bảo trợ cá nhân của Stilwel, ở phía bên ông ta, nhưng Tưởng Giới Thạch luôn có một bàn tay mạnh hơn. Phía bên Tưởng chính là nhân vật quan trọng nhất, Franklin Roosevelt, ông này thì sợ rằng nếu ép Tưởng quá, thì Tưởng có thể sẽ ký một hòa ước riêng lẻ với người Nhật, và như thế sẽ cho phép Nhật đưa những tập đoàn quân vốn đang bị sa lầy lâu dài trên đất Trung Hoa đến các khu vực châu Á khác. Khi chiến tranh kéo dài, quan điểm của Tưởng Giới Thạch và người quanh ông hướng về đồng minh phương Tây của họ, đặc biệt nhất là với người Mỹ, sa vào chủ nghĩa hoài nghi  tuyệt đối. Như sau này Barbara Tuchman viết về chính sách của ông là “việc sử dụng những kẻ man rợ để đánh nhau với những kẻ man rợ khác là một nghệ thuật chính trị quan trọng mang tính truyền thống  của người Trung Hoa, giờ xuất hiện còn nhiều hơn không chỉ để thích hợp mà còn để bào chữa. Dư luận Trung Hoa, theo một người nước ngoài cư trú tại đó, tin để không chỉ bào chữa cho việc Trung Hoa vẫn thụ động sau cả 5 năm kháng cự, ‘đó là quyền của nước này để thoát khỏi  đồng minh càng nhiều càng tốt khi họ chiến đấu’. Việc sử dụng quyền này, cô ta ghi nhận, trở thành nỗi lực chiến tranh của lãnh đạo chính phủ”

Quân đội của Tưởng Giới Thạch rất hùng mạnh, trên giấy tờ. Còn trong thực tế, đó là một sự vờ vịt. Ông ta cho rằng đang chỉ huy ba trăm sư đoàn, nhưng Stilwel tin rằng, trung bình, ít nhất có đến 40 phần trăm không đủ lực lượng, và đầy lính ma để các chỉ huy của họ có thể rút tiền lương ra bỏ vào túi riêng. Rất sớm trong Thế Chiến II, khi Trung Hoa tuyên bố chiến đấu cho chính mình, các cố vấn Mỹ đơn giản là thất kinh bởi việc bắt lính. Một sỹ quan cao cấp Mỹ trong ban tham mưu của Stilwel, đại tá Dave Barrett, viết về việc tuyển mộ: “Quân lính chỉ có những trang bị nghèo nàn nhất. Không có chăm sóc y tế. Không phương tiện vận chuyển. Nhiều người ốm. Phần lớn lính tuyển vào là cưỡng bức, trói mang đến. Việc bắt lính là một chuyện bê bối. Chỉ những ai thiếu may mắn, không tiền, không quan hệ mới bị bắt vô”. Một con số khổng lồ những sư đoàn thiếu khả năng đã không tồn tại bởi tình huống ngẫu nhiên; đó là cách Tưởng Giới Thạch mua lấy uy thế trong một thế giới phong kiến, tham nhũng đang đổ sụp quanh ông. Nếu ông làm theo cách người Mỹ muốn, ông hiểu rõ hơn họ nhiều, thì ông có lẽ sẽ nhanh chóng rơi khỏi quyền lực.

Cuộc chiến cay đắng, lâu dài và chia rẽ giữa Stilwel và Tưởng Giới Thạch chỉ có thể có một kết quả: mùa thu năm 1944, Stilwel, người kể quá nhiều sự thật không mong muốn, và như vậy trở thành một vị khách không được chào đón nhất, đã bị gọi về nước. Roosevelt chọn đồng hành với Tưởng, cho dù ông ta một công cụ hư hỏng, vô vọng của chính sách Mỹ. Có hai lý do: một là điều này sẽ giữ Trung Hoa tham chiến; và thứ hai là, Roosevelt có cái nhìn lãng mạn vô vọng về Trung Hoa, và dường như tin rằng nếu chúng ta đối đãi Tưởng Giới Thạch với tư cách một lãnh đạo vĩ đại của một quốc gia vĩ đại, mang cho ông ta vị trí lãnh đạo tầm cao trong những cuộc hội đàm của lãnh đạo thế giới, thì khi đó ông ta sẽ có hình dạng theo thứ mà tổng thống muốn.

Nếu Tưởng Giới Thạch thành công về mặt chính trị trong cuộc đấu hai người với Stilwel thì cũng không làm những lời tiên tri của viên tướng Mỹ kém đi. Mọi điều ông nói đều trở thành sự thật; ngay cả việc xuống dốc nghiêm trọng của chính quyền Tưởng Giới Thạch cũng không gì khác hơn làm một tiến trình lịch sử uyên thâm, sự sụp đổ của một quốc gia là nằm ngoài tầm khống chế của bất kỳ người ngoại quốc nào, bất kể đất nước của họ giàu hay mạnh tới mức nào. Không một quân nhân nào trong thời chiến có được nhiều thành công trong đủ loại công việc mệt nhọc như George Marshall, nhưng khi được gửi đến Trung Hoa vào cuối năm 1945 trong một nhiệm vụ trung gian hòa giải cho cuộc chiến Quốc – Cộng, ông đã học được một thất bại trọn vẹn – và hiểu rõ một sự thật, ông quá thông minh để không hiểu rằng không bên nào sẽ nghe ông, và rằng những lực lượng mà ông làm việc không thể hòa hợp nhau được. Lúc đó Marshall đã 65 tuổi và vừa ra khỏi quân đội, thể chất mệt mỏi và không muốn gì hơn là trở thành một điền chủ ở Leesburg, Virginia. Nhưng Harry Truman, bị rung động mạnh bởi những sự kiện ở Trung Hoa và sợ rằng vấn đề Trung Hoa có thể sẽ  tác động đến trong nước nếu vấn đề đó không được cải thiện nên đã gọi cho ông: “Tướng quân, tôi cần anh đến Trung Hoa, vì tôi”. Và như vậy chỉ ngay trước ngày Giáng Sinh năm 1945, John Carter Vincent, vụ trưởng vụ Viễn đông của bộ Ngoại Giao, nhìn thấy Marshall bay đi. Ông xoay đầu cậu con trai mười tuổi lúc máy bay cất cánh và nói: “Con à, đấy là người đàn ông dũng cảm nhất thế giới. Ông sẽ cố gắng thống nhất Trung Hoa”.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 11:18:17 am
Chuyến đi là một thảm họa và Marshall dường như đã già đi một cách rõ ràng trước những trợ tá của ông. John Melby, phiên dịch viên cho ông, viết trong nhật ký rằng ông dường như quá mệt mỏi, buồn bã và trông rất bệnh. Như thể ông trông thấy sự thất bại đang đến với Trung Hoa và độc tố từ đó sẽ tạo ra trong hệ thống chính trị Mỹ. Vào một thời điểm trong tháng Năm năm 1946, ông chạy đến gặp Dwight Eisenhower khi đó cũng ở Trung Hoa. Theo yêu cầu của Truman, Eisenhower thông báo cho ông về việc về thay Jimmy Byrnes ở cương vị Ngoại trưởng, một trách nhiệm to lớn với một người đã mệt mỏi vì  phục vụ đã quá lâu. “Thật tốt quá, Eisenhower, tôi sẽ nhận bất kỳ công việc nào trên thế giới để thoát khỏi nơi này!” Marshall nhanh chóng trả lời. Khi nghe được về nhiệm vụ thất bại của Marshall, Joe Stilwel nói “ Nhưng họ trông đợi cái giống gì nhỉ? Dù là George Marshall thì cũng chẳng thể đi bộ được trên mặt nước” . Với Marshall, Trung Hoa là vô vọng. Có một điều ông muốn làm hơn bất kỳ điều gì khác là ngăn chặn các lực lượng chiến đấu Mỹ gửi đến để hỗ trợ cho Tưởng Giới Thạch như những lãnh đạo Dân quốc muốn. Như lúc ông nói hồi năm 1947 với Walton Butterworth, ông này là vụ trưởng vụ Viễn đông của bộ Ngoại giao thời ấy, “Butterworth, chúng ta không nên chui vào rắc rối đó. Tôi sẽ phải cần đến 500,000 lính lúc khởi đầu và đó chỉ là khởi đầu thôi nhé”. Rồi ông dừng lại một lát và nói thêm: “Và tôi gỡ ra thế nào đây?”

Với những ai hiểu biết về Trung Hoa, tình hình ở đây bắt đầu xấu đi khi thế chiến II kết thúc, thì những người ngoài cuộc có thể được thứ lỗi cho việc nghĩ rằng vị trí của Tưởng Giới Thạch dường như vẫn đáng thèm muốn. Ông vẫn có được sự ủng hộ của chính phủ mới ở Mỹ dù rằng những thành viên có ảnh hưởng nhất trong chính phủ đó lo ngại về khả năng tồn tại của ông. Ông được nhìn nhận là một nhà lãnh đạo thế giới, và hình tượng của ông trong lòng người dân Mỹ, cảm ơn những nỗ lực của bộ máy tuyên truyền thông minh, vẫn là một nhà lãnh đạo châu Á vĩ đại và đồng cảm. Mùa thu năm 1945, quân đội của ông và đảng của ông: Quốc dân đảng, khống chế tất cả những thành phố chính của Trung Hoa và các cơ sở công nghiệp hiện có, và hơn ba phần tư tổng dân số, khi đó được ước lượng đâu đó khoản từ 450 đến 500 triệu người. Ông cũng có hơn 2,5 triệu lính chính quy dưới tay, và đội quân đó được trang bị tương đối hiện đại do Hoa Kỳ cung cấp.

Phía Cộng sản không có tới một nửa số quân đó dưới quyền và chỉ cai trị vùng nông thôn cùng khổ ở tây bắc Trung Hoa. Thế nhưng với tất cả các loại quan sát viên ngoại quốc hay nội địa, quân sự cũng như dân sự, đều tin rằng sức mạnh của Tưởng GIới Thạch hoàn toàn chỉ là ảo ảnh và chính quyền đó đang trên bờ sụp đổ. Tài chính của quốc gia là một trò đùa. Nằm trong tay một nhóm rất nhỏ – một dạng máng vàng – hầu hết dòng tiền chảy vào quốc gia này được khống chế bởi một số rất rất ít người Trung Hoa. Rõ ràng là tình hình đất nước này không còn dài vậy nên đây là thời điểm để ai kiếm được nhiều tiền càng nhanh càng tốt. Những nhà chỉ trích chính phủ nói công khai rằng các quan chức lớn tích trữ vàng thỏi để dự phòng cho tương lai của họ. Marshall cảnh báo Tưởng Giới Thạch rất nhiều về ngân sách quốc gia đã chi quá nhiều – từ 80 đến 90 phần trăm – cho quân sự, và rằng tài chính sẽ sụp đổ trước khi có được một chiến thắng quân sự.  Ông cũng nói với vài bộ trưởng của Tưởng rằng nếu chính quyền Trung Hoa nghĩ người đóng thuế Mỹ sẽ “bước vào vùng chân không do điều này tạo ra, thì các ngài có thể đi chết đi”. Và khi điều này trở nên rõ ràng hơn, phản ứng duy nhất của chính quyền Tưởng là in thêm tiền – “xưởng in tiền” .

Nhưng Tưởng có rất ít cảm giác về những điểm yếu của ông. Giờ đây, với việc người Nhật đã bại trận, ông vẫn tin rằng ông giữ được ngọn roi với người Mỹ bởi ông phải đánh nhau với kẻ thù mới nhất của đất nước, những người cộng sản. Điển hình như Tống Tử Văn (*), có lẽ là người quyền lực nhất (và giàu nhất) trong chính phủ, ông công khai khinh khỉnh người Mỹ. Ông đi khắp Nam Kinh và nói với bạn đồng sự rằng không phải lo gì về họ (người Mỹ) “Tôi có thể quản cái đám khờ đó” ông nói. Tất nhiên, người Mỹ dường như sẵn sàng làm phần việc của họ như Tưởng đã dựng lên kịch bản. Ngay cả khi quân Nhật chuẩn bị đầu hàng, Hoa Kỳ đã ráng chuyển các lực lượng của mình sang trạng thái “cảnh binh” tạm thời, ở yên vị trí, với vũ khí trong tay, cho đến khi quân Dân quốc, chứ không phải Hồng quân, tiến đến chấp nhận sự đầu hàng. Rồi quân Mỹ còn giúp không vận hoặc hải vận hơn năm trăm ngàn lính Dân quốc từ miền tây nam Trung Hoa đến các vị trí quan trọng trên khắp cả nước. (“không thể nghi ngờ, đây là đợt chuyển quân lớn nhất bằng không lực trong lịch sử thế giới”, tướng Albert Wedemeyer kiêu hãnh nói, ông là người trực tiếp làm công tác này với tư cách quan chức quân sự cao cấp của Mỹ trong khu vực ở thời kỳ hậu Stilwel). Với nhiều địa điểm ở khu đông bắc Trung Quốc, Hoa Kỳ đã gửi những biệt đội thủy quân lục chiến của mình, có lẽ phải tới 50 ngàn lính đến giữ vị trí cho đến khi lính Dân quốc tới được. Và như vậy, với sự trợ giúp của Hoa Kỳ, các lực lượng của Tưởng Giới Thạch mới có khả năng tiếp nhận sự đầu hàng của chừng 1,2 triệu lính Nhật cùng với trang bị vũ khí, thứ mà những người Cộng sản cực kỳ thèm muốn.

(*) Em út trong nhà họ Tống, em của Tống Ái Linh, Tống Khánh Linh, Tống Mỹ Linh


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 11:19:33 am
Ngay cả khi cuộc nội chiến nhìn bề ngoài có vẻ như ổn, thì sự thật cũng rất khác biệt. Không ai hiểu điều này hơn cựu tham mưu trưởng lục quân Mỹ. Tháng Mười năm 1946, lúc gần kết thúc nhiệm kỳ làm đại diện đặc biệt của Truman, George Marshall lặp đi lặp lại cảnh báo với Tưởng rằng không nên chăm chăm tìm diệt quân Cộng sản ở những căn cứ của họ thuộc khu  bắc và tây bắc. Tưởng Giới Thạch đang ôm đồm quá nhiều, dàn mỏng quân và rơi vào kế của Mao Trạch Đông, Marshall biện luận. Thêm vào đó, với cảm quan về phương thức chiến đấu của quân Cộng sản, ông đã cố đưa ra vấn đề mấu chốt với vị Thống chế. Hồng quân Trung quốc có thể đang rút lui, nhưng họ không đầu hàng. Điều này mang hàm ý rõ ràng: rằng một khi lính Dân quốc ở xa căn cứ và tuyến tiếp vận, thì lúc đó, và chỉ lúc đó các đơn vị cộng sản sẽ tấn công. Dĩ nhiên là Tưởng Giới Thạch không nghe theo. Ông không bao giờ nghe theo. Ông tự mãn với các chiến thắng dù đó không phải là chiến thắng, mà việc các đơn vị HỒng quân rời các chiến trường là một phần của chiến lược lớn hơn bên phía cộng sản. Tưởng hứa với Marshall rằng ông sẽ hủy diệt Hồng quân trong vòng 8 đến 10 tháng, và rồi bỏ qua tất cả những khuyến nghị của Marshall, ông đề nghị Marshall, một người Mỹ xuất chúng nhất trong thế hệ của ông cả về quân sự lẫn dân sự, một con người đã mệt mỏi và mong được hồi hưu, ở lại làm cố vấn quân sự riêng cho ông ta. Marshall rất dứt khoát trả lời là KHÔNG – một khi ông không tác động nổi tới Tưởng với tư cách là đại diện của tổng thống Hoa Kỳ, thì ông hiểu cơ hội nào cho mình lúc nằm trong danh sách trả lương của Tưởng (“Lòng tin vào tôi của Tưởng có lẽ là vô cùng, nhưng điều này cũng không ngăn ông bỏ ngoài tai những lời tư vấn của tôi”, vài này sau Marshall chua chát nói).

Trước các sức mạnh bề nổi của Tưởng Giới Thạch, lúc đó phía Cộng sản có thể không tin chắc nhiều. Họ lui về những hang động vùng Diên An nghèo khó, nhưng họ đã bất ngờ thành công trong những trận tấn công kiểu du kích vào quân Nhật, và còn thành công hơn trong nỗ lực xây dựng quan hệ có chiều sâu với phần lớn quần chúng nông dân Trung Hoa. Hiểu rõ những vấn đề của Dân quốc, họ hoàn toàn tin tưởng vào mục tiêu và chiến thắng chắc chắn của mình, chỉ là sớm hay muộn. Ở Mỹ, các lãnh tụ tôn giáo đầy quyền lực, tràn đầy đức tin, bị tổn thương bởi khả năng chiến thắng của họ, nhưng trong con đường rất khác thường của họ – những người Cộng sản – lại là những người của đức tin, của chính trị và chiến tranh những thứ đó bện vào nhau trong một thứ giống như một sự nhiệt tình tôn giáo, một niềm tin trong họ rằng họ chính là lực lượng mang đến vận mệnh. Với Mao Trạch Đông và các cộng sự, họ xây dựng một hình thái chiến tranh mới vào thời điểm đó, dựa trên cơ sở ban đầu là không tập trung nhiều vào lực lượng vũ trang mà thay vào đó là tăng cường sự ủng hộ của nhân dân

(Hết chương 15)


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 01:20:40 pm
Chương 16

Tưởng giới Thạch chỉ đợi thế chiến kết thúc là triển khai tấn công cánh Cộng sản ngõ hầu thay chân họ và mở rộng tuyến liên lạc, bên phía Cộng sản họ cũng mong ông làm đúng điều đó. Viện trợ Mỹ tiếp tục đổ vào. Như thể ông đang theo một lịch trình mà phía Cộng sản dựng sẵn cho ông. “Hoa Kỳ trang bị vũ khí cho Quốc dân đảng thì tốt thôi, bởi ngay sau khi chúng nhận được thì cũng ta cũng sẽ lấy vũ khí đó từ chúng” một đại diện Cộng sản khi đó nói. Như đã biết, Hoa Kỳ đã chuyển 2,5 tỷ đô viện trợ cho Trung Quốc trong thời gian cuối thế chiến II đến năm 1949, lúc Tưởng chạy sang Đài Loan. Thực vậy, phần lớn viện trợ quân sự đã bị lãng phí và bị ăn cắp trong suốt cuộc chiến điều mà các phi công Mỹ vận tải thiết bị vượt qua cái Bướu – nghĩa là dãy Himalaya – từ hướng Ấn độ, một nhiệm vụ tiếp vận cực kỳ nguy hiểm với phi cơ thời đó, giễu cợt nói: “Uncle Chump from over the Hump”

Trên giấy tờ, Hồng quân lúc đầu rất bé nhỏ và trang bị tồi tàn, nhưng họ có sự lãnh đạo tốt, có kỷ luật và bất bình với xã hội. Họ có kỹ năng chiến đấu và một chiến lược khắc khổ. Đầu tiên là cuộc Vạn lý trường chinh dài 6000 dặm (gần 12000 km), một chuyến đi dài 370 ngày từ miền nam Trung Hoa đến Diên An bắt đầu từ tháng Mười năm 1934, và giữa những điều khác thì điểm chú ý là sự vươn lên nắm quyền của Mao Trạch Đông trong Đảng trong cuộc hành quân. Rồi kế tiếp là sự thử thách lâu dài  trong đấu tranh dành sự sống chống lại quân Nhật trong suốt những năm chiến tranh, thời kỳ này đã giúp họ thiết lập hình thái chiến tranh phù hợp với tiềm lực và tối thiểu hóa những khuyết điểm của họ. Họ đã chiến đấu chống quân Nhật với kỹ năng tuyệt vời, sử dụng các đơn vị du kích nhỏ cơ động, chỉ tấn công khi họ vượt trội về quân lực và biến mất khi các đơn vị địch quân lớn hơn, mạnh hơn. Và giờ đây, bị truy đuổi bởi các lực lượng Dân quốc đông hơn, trang bị tốt hơn, họ lại điều chỉnh hợp lý nhằm thay đổi chiến trường, những chiến trường phù hợp với mục tiêu của họ hơn là quân địch. Họ không cố giữ các thành phố, và không chiến đấu một trận chiến cố định; họ vận hành ngoài các căn cứ và ở khoản cách quá xa đến mức hầu như các lực lượng qui ước không thể tiếp cận được. Lúc ban đầu họ kiếm được nhiều thứ hơn đơn giản bằng cách cướp vũ khí của lính Dân quốc. Sáu mươi năm sau, khi các lực lượng Mỹ chiến đấu ở Iraq đánh với các du kích trong thành phố, thì có một cái tên mới cho hình thái chiến tranh đó – chiến tranh bất đối xứng.

Năm 1945, dù các vị trí của họ dễ bị nguy hiểm nhưng tinh thần của những người Cộng Sản rất cao. Không bao lâu, cảm nhận về động lực thay đổi cán cân quân sự đã rõ ràng trước mắt các nhà quan sát ngoại quốc. John Melby, một trong những quan chức trẻ của bộ Ngoại giao ngay từ tháng Mười Hai năm 1945 đã ghi trong nhật ký: “Một trong những bí ẩn to lớn với tôi là tại sao một nhóm người vẫn còn niềm tin, trong khi một nhóm lớn khác có cùng nguồn gốc và kinh nghiệm lại đánh mất nó. Qua nhiều năm những người Cộng sản đã chịu đựng những sự trừng phạt khổng lồ, chịu tội cho những hành động tàn bạo mà vẫn giữ được toàn vẹn niềm tin vào con đường của họ, và sẽ thắng thế. Trái ngược với Quốc Dân đảng, thể hiện qua những khổ não dị thường, dù được thừa mứa, và sống sót qua một cuộc chiến lớn với thanh thế không thể tin nổi, giờ đây lại ném mọi thứ đi với mức độ kinh hoàng, bởi niềm tin cách mạng đã đi mất và thay thế vào đó là dấu hiệu tham nhũng và sụp đổ”   

Gần như ngay từ đầu chiến thuật của phía Cộng sản đã thành công, trong khi phía Dân quốc thì thất bại. Mùa thu năm 1946, lúc cuộc nội chiến ác liệt, các cố vấn Mỹ của Tưởng giới Thạch bi quan, nhưng là các quân nhân truyền thống, họ đánh giá quá cao mức giá trị của những thiết bị quân sự Mỹ trong cuộc chiến này đồng thời lại đánh giá quá thấp những thành công giản dị mà phía cộng sản đã áp lên cuộc chiến. Họ cho rằng quân Tưởng giới Thạch rốt cuộc sẽ sa lầy vào trong một cuộc chiến dài hơi khác, ngay cả đi đến một tình trạng bế tắt, có lẽ sẽ đến việc phân cắt đất nước, phía Cộng sản sẽ lấy miền bắc còn phía Dân quốc chiếm miền nam. Họ không hiểu được động lực ghê gớm của một cuộc chiến tranh chính trị, rằng quân lực và sự cân bằng sẽ không ở trạng thái tĩnh. Một khi phía Dân quốc vẫn không hiểu về động năng đó – và tốc độ đáng kinh ngạc của đó – thì nó còn làm cho phía Cộng sản đẩy nhanh nhịp đi hơn. “không ai lường trước được tốc độ và kỹ năng mà những người Cộng sản Trung Hoa có thể làm để chuyển ngay chiến dịch du kích chống Nhật của họ sang các chiến dịch chiến tranh cơ động” John Fairbank và Albert Feuerwerker viết trong quyển Cambrige Lịch sử Trung Hoa.

Thực ra, có một người hiểu. Trong những ngày mà Tưởng ở điểm mạnh nhất và giành được vài thành công ban đầu, Mao Trạch Đông vẫn không mất đi đức tin, cũng như lòng tin cốt yếu của mình rằng các lực lượng của ông đã gần nông dân hơn rất nhiều so với Tưởng Giới Thạch. Mùa hè năm 1946, khi ấy có một lần hưu chiến ngắn, Robert Payne, một nhà sử học lỗi lạc người Anh đã đến thăm Mao Trạch Đông tại vị trí cố thủ ở Diên An. Lúc gần kết thúc cuộc phóng vấn dài hơn dự kiến, Mao rõ ràng thấm mệt, hỏi rằng liệu có còn thêm câu hỏi nào nữa không. Payne trả lời “Thêm một câu nữa thôi, sau bao lâu nữa Cộng sản Trung Hoa sẽ chiếm được Trung Hoa nếu cuộc hưu chiến này đổ vỡ?” “Một năm rưỡi” Mao trả lời. Payne ghi nhận điều này được nói ra một cách chậm rãi và đầy chắc chắn, và nó chính xác một cách đáng ngạc nhiên. Đến giữa năm 1948, cuộc chiến gần kết thúc và quân Tưởng Giới Thạch gần như chỉ biết tháo lui. Nhưng đó cũng là lúc dường như sự kiêu hãnh là dữ dội nhất.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 02:06:04 pm
Lúc ban đầu, ít nhất là ngoài bề mặt, thì phía Dân quốc đang thắng; vài thành thị được chiếm lại từ tay Hồng quân. Nhưng dù họ có chiến thắng hay không thì vẫn luôn có một câu hỏi – có phải họ là một phần trong chiến lược lớn của phía Cộng sản: nhử mồi và đợi. Phía Dân quốc chiếm thành phố và rồi bất động, phía cộng sản phải di chuyển liên miên và cơ động cao. Những người Cộng sản học mau lẹ cách di chuyển nhanh chóng trong đêm. Họ hoàn thiện nghệ thuật phục kích. Họ dùng chiến thuật: “nghi binh và lừa địch mọi lúc mọi nơi”  như một sử gia Mỹ ghi nhận. Thường họ nghi binh bằng một trận tấn công vỗ mặt vào một đơn vị Dân quốc trong khi vẫn giữ lực lượng chính ở phía sau trong các trận địa được chuẩn bị kỹ, để sẵn sàng công kích ác liệt khi lính Dân quốc rút lui và gây kinh hoàng (một chiến thuật họ triển khai lần nữa với ít nhiều thành công khi đánh nhau với người Mỹ trong những ngày đầu chiến tranh Triều Tiên). Họ thường tấn công vào ban đêm lúc bên Dân quốc ít chuẩn bị nhất. Bởi họ có mối quan hệ với nông dân và bởi họ thường thâm nhập vào các đơn vị Tưởng, nên tình báo của họ rất xuất sắc. Họ dường như biết trước mọi hành động mà phía Dân quốc sẽ làm. Khi phía CỘng sản mất người trong chiến đấu, thì bởi các kỹ năng chính trị vượt trội, họ có thể tuyển được nhiều quân hơn cả mong đợi từ những căn cứ nông dân địa phương dồi dào.

Đến tháng  Năm 1947, việc tấn công trên bộ của Tưởng phải dừng lại. Vì sự chỉ huy quân đội yếu kém, trải ra quá mỏng và tuyến tiếp vận mở quá rộng nên họ bị vây khốn trong các thành thị, tinh thần xuống thấp mỗi ngày. Họ chùng nhụt và yếu đuối trước khi những viên chỉ huy nhận biết được điều đó. Cuối mùa hè năm 1947, Mao trạch Đông và người của ông ước lượng rằng trong số 248 lữ đoàn, Tưởng Giới Thạch đã dùng 218 lữ vào cuộc tấn công và đã bị mất 97 lữ, hoặc gần 800,000 lính. Vài người Mỹ, cả ở Hoa Kỳ bắt đầu vỡ mộng về Tưởng Giới Thạch. “Tại sao chứ, nếu tay ấy là một thống chế, sao ổng không có (góc nhìn)  tổng quát?” thượng nghị sỹ Tom Connally giận dữ hỏi, ông là một đảng viên Dân chủ, chủ tịch Ủy ban Quan hệ quốc tế của Thượng viện.

Những người Cộng sản nhận được rất ít viện trợ từ người Nga – một nguồn gốc cho sự căng thẳng sau này giữa Mao và Stalin. Ngược lại, phía Dân quốc trở nên càng phụ thuộc vào người Mỹ. Những vũ khí Mỹ họ mất vào tay quân địch mà người Mỹ nghĩ rằng ở mức đáng báo động cũng không làm họ lo – giải pháp là hỏi xin thêm. Hồi giữa năm 1947, Wellington Koo, một người quan hệ rộng, một đại sứ hết sức mềm dẻo của Dân quốc tại Washington, chạy đến gặp George Marshall, lúc đó làm Ngoại trưởng. Một Marshall vỡ mộng, chán ngấy trước thể hiện của quân đội Tưởng trên chiến trường cũng như những vấn đề chính trị do những người như Koo gây ra cho chính phủ Washington, ông nói với Koo rằng Tưởng Giới Thạch là “một viên tư lệnh quân đội tệ hại nhất trong lịch sử”. Nhưng điều này cũng không làm Koo chấm dứt việc xin thêm vũ khí. “Ông ấy đã mất đến 40% lượng tiếp vận cho quân thù” Marshall nói với Koo và mỉa mai nói thêm: “Nếu tỷ lệ mà lên tới 50% thì ông ấy sẽ phải quyết định xem là có khôn ngoan không khi tiếp tục tiếp vận cho quân ông ấy”. Sau này Mao nhận xét vắn tắt rằng Tưởng Giới Thạch là “sĩ quan tiếp vận của chúng tôi”. Khi Lạc Dương và Tế Nam thất thủ vào năm 1948, David Barr, cố vấn quân sự Mỹ cuối cùng của quân đội Tưởng Giới Thạch đã nói thêm: “Quân cộng sản có nhiều vũ khí của ta (Mỹ) hơn quân Dân quốc có”.

Cuối tháng Mười năm 1948, thành phố Shenyang của Mãn Châu thất thủ, đại tá Dave Barret, trợ tá tùy viên quân sự, và John Melby đến phi trường của thủ đô Nam Kinh, muốn tìm một chuyến bay lên phía bắc để khảo sát tình hình trong khu vực giao tranh. Nhưng không có chuyến bay nào lên phía bắc cả. Tất cả phi cơ được trưng dụng để chở các vị tướng  Dân quốc, cùng bạn gái và tài sản cá nhân của họ. Barrett quay sang nói với Melby: “John à, tôi đã thấy được mọi thứ cần thấy. Khi tướng tá bắt đầu chuyển vàng, cùng thê thiếp đi, thì  kết cục đã gần tới rồi”. Sự sụp đổ của một chế độ đang đến và nó gây ra một tình huống chính trị rất nguy hiểm và dễ bùng nổ ở Mỹ, thật rõ ràng và đáng buồn bởi tất cả những người có ảnh hưởng lớn vì nhiều lý do chính trị và lòng trung thành đã từ chối nói lên sự thật khi họ trở về Mỹ hoặc bởi những ai viết giảm nhẹ trong các báo cáo của họ để làm sự kiện dường như là do Mỹ đã làm Tưởng Giới Thạch bại trận hơn là Tưởng đã làm chính ông, cùng dân của mình và đồng minh bại trận. Điều đã làm John Melby và nhiều người khác đã cố báo cáo trung thật về sự sụp đổ của Tưởng tức điên lên đó là tính lá mặt lá trái của nhiều nhân vật Mỹ, khi ở Trung Hoa thì họ nói về Tưởng và tại sao ông ta sẽ bại trận, nhưng về lại Mỹ, trước áp lực ủng hộ Tưởng trong giới chính trị nội địa, họ đã đổi phe, từ chối vạch ra những sai lầm của ông ta mà còn là những tiếng nói nặng cân trong ban vận động Trung Hoa, họ đổ lỗi cho những sai lầm của Tưởng là do chính phủ và chính sách Trung Hoa của bộ Ngoại giao, những ai đã cảnh báo về các sai lầm của Tưởng và thắng lợi tương lai của Cộng sản. Như thể có một sự thật để bạn nói ra khi ở Trung Hoa với những người Hoa, người Mỹ chung quanh biết rõ tình trạng thảm bại của quân Tưởng, và một sự thật khác khi bạn trở về Hoa Kỳ, vây quanh là những bạn bè thủ cực, những người muốn sự thật của họ được gia cố thêm.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 02:10:00 pm
Một biểu tượng của việc này, như theo góc nhìn của Melby, chính là thể hiện của tướng Albert Wedemeyer. Vào mùa hè năm 1947, George Marshall, vui vẻ rời Trung Hoa và đã gửi Wedemeyer, một người bạn cũ của Tưởng giới Thạch, đến trong một nhiệm vụ tìm kiếm sự thật. Được nhìn nhận là một sỹ quan tham mưu rất có năng lực, Wedemeyer còn là một người chống Cộng sắt máu, và đó là một toan tính mạo hiểm của chính Marshall, nó phản ánh lại niềm tin của ông rằng ý thức hệ của Wedemeyer sẽ ở vị trí thấp hơn là cảm nhận về sự thật. Chuyến đi của Wedemeyer cũng cho thấy một hi vọng lớn của Marshall mong rằng phản ứng của những người bảo thủ là ủng hộ. Ngỡ như Wedemeyer sau khi đối diện với sự thật kinh khủng ngay tại thực địa Trung Hoa có thể sẽ giúp giảm bớt áp lực  của cánh hữu lên chính phủ. Sự thật là chuyến công tác của Wedemeyer có hiệu quả trong tầm ngắn hạn, nhưng lại bất lợi trong tầm dài hạn. Chỉ vài ngày sau khi đến, Wedemeyer đã điện về cho Marshall rằng phía Dân quốc bị “đổ vỡ về mặt tinh thần”. Người dân mất tin tưởng vào lãnh đạo. Ngược lại, ông ghi, phía Cộng sản thì có “tinh thần cực kỳ, gần như là một sự nhiệt tình cuồng tín”. Ông xác định chính quyền (Tưởng) thì “tham nhũng, phản động và thiếu hiệu năng”. Sau này, lúc được hỏi trong trường hợp của Tưởng thì điều sai lầm nằm ở đâu, Wedemeyer nói rằng: “Thiếu tinh thần, đặc biệt là thiếu tinh thần. Họ không thiếu vũ khí trang bị. Theo ý tôi, họ có thể phòng thủ được (sông) Dương Tử chỉ cần với cán chổi, nếu họ có ý chí làm việc đó”.

Ngày 22 tháng Tám năm 1947, chỉ ngay trước lúc Wedemeyer về nước, ông có bài phát biểu trước một cuộc họp các bộ trưởng Dân quốc. Và ông được khuyến nghị bởi người bạn cũ – Tưởng Giới Thạch, dù đần độn nhưng vẫn là Thống chế, ông này chơi trò hai mặt như ông ta vẫn thường thế – rằng nên gọi cho John Leighton Stuart, đại sứ Mỹ và rằng Wedemeyer nên nói một cách thận trọng và không quá chỉ trích quân đội Dân quốc. Tuy vậy, Stuart, lại bảo Wedemeyer rằng thời gian đang cạn dần đi và không cần phải tỏ ra dễ thương nữa. Và vì thế Wedemeyer đã nói thẳng tưng một cách độc ác. Ông nói chính phủ có rất ít sự ủng hộ từ người dân; và thất bại này giúp cho phía Cộng sản đi tới thành công; còn tinh thần thì đổ vỡ. Đó là một thời khắc tàn phá. Một vị quan chức cao cấp đã khóc công khai. Đêm tiếp theo là tiệc tối chia tay đã được lên kế hoạch tại nhà của Stuart. Nhưng đến phút cuối, vị Thống chế hủy dự vì lý do bịnh. Nhưng Thống chế phu nhân sẽ tới. Wedemeyer không cần điều này, nên ông cũng hủy buổi tiệc tối luôn.

Nhưng rất nhanh, khi trở về lại Mỹ, nhân vật chống Cộng tận tụy Wedemeyer tái xuất, từ ban vận động Trung Hoa ông thúc dục rằng Tưởng giới Thạch bị thất thế bởi thiếu viện trợ và bởi sự bội bạc trong lòng Mỹ. Tháng Mười hai năm 1947, ông đến trước Ủy ban Phân bổ ngân sách Thượng viện, lúc đó chủ tịch ủy ban là Style Bridge, một nhân tố chính trong ban vận động Trung Hoa, hỏi ông về Tưởng Giới Thạch. Ông trả lời rằng vị Thống chế là “một người tốt và quý ngài trong ủy ban này có thể tin cậy và trông đợi vào ông ta”. Bridges nhấn mạnh thêm rằng có thật khẩn cấp trong việc gửi thêm viện trợ quân sự cho ông ta không? Wedemeyer, chỉ mới đây khi còn ở Trung Hoa đã nói rằng không cần thêm viện trợ, đã trả lời đồng tình. Và Wedemeyre nghĩ Hoa Kỳ đã giữ đúng lời hứa của mình với Tưởng qua chừng ấy năm không? “Không thưa ngài, tôi nghĩ là không”. Sự thật và chính trị ở Trung Hoa rõ ràng là khác nhau với sự thật và chính trị ở Washington.

Kết cục của Trung Hoa đến nhanh một cách bất ngờ. Ngày 5 tháng Mười một năm 1948, chỉ ba ngày sau chiến thắng bất giờ của Harry Truman trong cuộc bầu cử tổng thống, đại sứ Mỹ ở Nam Kinh đã khuyến nghị mọi người Mỹ ở Trung Hoa nên ra đi. Và gần như cùng lúc Mao Trạch Đông nhận được cảnh báo từ Anastas Mikoyan sứ giả đặc biệt của một Joseph Stalin còn lo lắng hơn, rằng không nên để các tập đoàn quân của ông vượt sông Dương tử và vội vàng nam tiến, vì sợ sẽ chọc tức người Mỹ can thiệp vào nội chiến Trung Hoa. Ngày 21 tháng Giêng 1949, Tưởng chỉ còn điều khiển chính phủ Dân quốc trên danh nghĩa thông qua ủy nhiệm và chuyển vàng dự trữ của ông sang Đài Loan, và tự biến ông trở thành, như thông cáo của bộ Ngoại giao viết, “một người tị nạn trên một hòn đảo nhỏ bé ngoài bờ biển Trung Hoa” và đã vứt bỏ đi “một sức mạnh quân sự lớn hơn bất kỳ nhà cai trị nào từng có trong lịch sử Trung Hoa”. Ngày 21 tháng Tư năm 1949, quân của Mao Trạch Đông vượt sông Dương Tử. Ba ngày sau, họ chiếm Nam Kinh, thủ đô của Dân quốc. Kết cục đã trong tầm mắt.

Truman, Acheson và Marshall đã hiểu rõ từ năm 1947 về những gì họ muốn ở Trung Hoa, đó là một sự rút lui-giải thoát có hệ thống, với việc can dự vào cuộc nội chiến đang diễn ra càng ít càng tốt, và dĩ nhiên với tác động chính trị nội địa càng nhỏ càng tốt. Cũng như sự sụp đổ của chế độ Sa hoàng trong thế chiến I, sự sụp đổ của Tưởng Giới Thạch là do những lực lượng mang tính lịch sử mạnh mẽ vượt quá ảnh hưởng của chính sách Mỹ: một quốc gia đã mục nát và hiếm khi đoàn kết, bị tiêu diệt bởi sức mạnh cộng hưởng từ một kỳ đại hồng thủy thế chiến. Tuy nhiên, có sự khác nhau cơ bản giữa sự sụp đổ của Sa Hoàng với chế độ Dân quốc. Đó là chưa từng bao giờ có một hội vận động Nga mạnh mẽ ở Mỹ để động viên ý chí của người Mỹ trong những năm sau khi nhà Romanov bị sụp đổ. Nhà thờ Thiên chúa giáo phương đông của Nga dù cũng có hiện diện tại Hoa Kỳ nhưng không có mối quan hệ với thường dân Mỹ như các nhà thờ Tin Lành và hội truyền giáo Thiên chúa giáo đã có.  Nước Nga chưa bao giờ được cân nhắc ở Mỹ và như vậy không thể nói là bị mất do Mỹ, nhưng với Trung Hoa thì có.

Và như vậy sự sụp đổ của Tưởng đã để lại một vết rách lớn trên tấm áo chính trị Mỹ. Trong mặt trận chính trị nội địa, không ai hứng thú nói về bi kịch đó. Đôi khi những gì chính phủ muốn là đến một thời điểm nào đó Truman có thể đàm phán với những nhà lãnh đạo Trung Hoa mới và liệu xem họ có thể ít ra là phân hóa chút đỉnh với Moscow. Ngoài ra có thể có một chính sách mới ngay cả đi đến việc công nhận Trung Hoa của Mao, những điều mà bị nhìn nhận một cách sai lầm là Mao và những đồng sự của ông trong chính phủ rất muốn. Đã không như vậy.

(hết chương 16)


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 02:11:48 pm
Chương 17

Sự sụp đổ của Trung Hoa – Tưởng Giới Thạch nhanh chóng trở thành một vấn đề chính trị Mỹ. Thường thì sự thất bại của một chế độ nào đó kiểu như vậy chỉ tạo nên một đóm sáng nhỏ trên màn hình ra đa chính trị Mỹ. Nhưng đây là một thời điểm khác hẳn. Sau khi Tưởng thất bại năm 1949, đã có rất nhiều bài viết về việc Hoa Kỳ đã phản bội ông như thế nào. Báo cáo về sự sụp đổ đang diễn ra khá bất nhất và ít nhất là có thiên vị chính trị: Tưởng có nhiều chiến hữu rất quyền lực trong giới báo chí Mỹ, như Harry Luce, và Roy Howard của hệ thống Scripps Howard – những người kiểm duyệt trên thực tế những tin tức phóng viên đưa về.

Chuyện này là hoàn hảo với đảng Cộng hòa. Việc Tưởng thất bại là một biểu thị rõ ràng của vấn đề thoái hóa biến chất (của chính phủ) mà họ đã quyết dùng sau thất bại tranh cử của Dewey. Việc Tưởng đã thực sự chấm dứt ở Đài Loan tạo ra một vấn đề không bao giờ thoát khỏi được. Mỉa mai thay, những ai đã cảnh báo đúng đắn rằng Tưởng sẽ không làm được gì, chợt nhận ra họ phải ở trong thế phòng thủ, bị buộc tội rằng đã chơi xấu ông ta bởi thuộc cánh tả. Tổ Trung Hoa trong bộ Ngoại Giao chạy tán loạn và ẩn nấp càng xa càng tốt, vì sợ rằng sự nghiệp của họ sẽ bị tổn hại nghiêm trọng bởi đã có những báo cáo chính xác. Một quân nhân quan trọng trong vấn đề Tưởng thất bại là Joe Stilwel, thì ông đã chết vào tháng Mười năm 1946. Chính phủ nhận ra họ bị kẹt trong một tình thế rất khó khăn: những nhà chỉ trích thuộc đảng Cộng hòa đã khôn ngoan liên kết chuyện của Tưởng với vấn đề quan trọng nhất của Truman và Acheson – vấn đề an ninh tập thể của châu Âu. Truman và Acheson không thể đạt được thứ mình muốn cho kế hoạch Marshall nhằm tái thiết một Tây Âu điêu tàn nếu không thỏa hiệp với vấn đề Trung Hoa, chính sách của họ ở châu Âu là một con tin hữu hiệu cho việc (phải) tán thành chính sách của kẻ thù về Trung Hoa.

Chính phủ nhanh chóng thất thế trong trận chiến tuyên truyền cũng như trận chiến chính trị. Năm 1949, Acheson cho phép Bộ Ngoại giao tổ hợp thông tin và xuất bản công khai Sách Trắng Trung Hoa, một tài liệu lịch sử về vấn đề tại sao Tưởng thất bại dù có viện trợ rất lớn từ Mỹ và đây là một thất bại cho cả hai phía trên Thái Bình Dương. Ở Mỹ, đây được xem là một trong những cú đá sau cùng với một chế độ đang nao núng và làm hội vận động Trung hoa điên tiết; ở Trung Hoa, Mao chộp lấy điều này như là một bằng chứng không thể chối cãi – do chính Mỹ đưa ra nhé – rằng Mỹ thường xuyên hoạt động chống lại Trung Hoa của ông. Đó là một bằng chứng rõ ràng rằng người Mỹ là kẻ thù của Trung Hoa.

Và như thế chính phủ đã chơi một ván bài, bằng những đề nghị viện trợ Tưởng, dù hiểu rõ rằng sẽ không có khả năng tốt đẹp nào sẽ đến, mà chỉ để không có dấu tay của Hoa Kỳ trên thất bại hiển nhiên sẽ đến. Đây là một sự thật không chỉ với những người Dân chủ mà còn với nhiều người Cộng Hòa. Năm 1948, khi Bourke Hickenlooper, một thượng nghị sỹ bảo thủ bang Iowa, đến gặp Arthur Vandenberg, lãnh đạo chính trị của ông, để hỏi rằng liệu 570 triệu $ viện trợ cho Trung Hoa có thể làm được điều gì không, Vandenberg trả lời, như Thomas Christence ghi lại là: “Ít nhất là việc Trung hoa sụp đổ sẽ không đặt lên vai của chính phủ Mỹ”. Vấn đề quan trọng ở đây, Vandenberg nói, chính là quan điểm của công chúng, vốn rất ủng hộ việc viện trợ cho dù là cho một Trung Hoa đang chết đi – “Chúng ta đang đảm trách việc chống lại sự xâm lấn của Cộng sản, và chúng ta đang hoàn toàn lờ đi một khu vực và để nó hoàn toàn tan rã mà chẳng có tới một cử chỉ hỗ trợ nào”

Ván bài kết thúc, nhưng kết thúc vẫn chưa hẳn là kết thúc, trong khung cảnh chính trị. Hoa Kỳ không thể rút ra khỏi thứ họ muốn, bởi hậu quả chính trị của Tưởng ở Mỹ còn trở nên mạnh mẽ hơn nhiều. Hoa Kỳ và Trung Hoa của Mao, cả hai đều không hiểu ra rằng đang bắt đầu những bước đi gần như không lay chuyển được hướng đến một cuộc xung đột quân sự.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 02:13:44 pm
Nếu ở trong nước chính phủ bị công kích vì đã làm quá ít, thì ở Bắc Kinh, trong nước Trung Hoa mới, thì bị tố giác là đã trợ giúp cho Tưởng quá nhiều. Trong mắt Mao Trạch Đông và đồng sự, những hành vi của Mỹ không thể vô tội. Trong góc nhìn của họ, dấu vết của Hoa Kỳ có ở mọi nơi trong cuộc nội chiến. Người Mỹ đã hỗ trợ tài chính cho Tưởng từ năm 1941 đến 1949. Phi cơ và phương tiện vận tải hàng hải của Hoa Kỳ đã đưa quân Tưởng lên phía bắc Trung Hoa để tiếp nhận quân Nhật đầu hàng. Các quan sát viên trung lập sẽ không làm như vậy. Trong suy nghĩ của người Mỹ, đó chỉ là một sự giúp đỡ nhỏ nhoi mà Hoa Kỳ tối thiểu có thể làm – nhưng với Mao và các cán bộ cao cấp của ông thì đó là một sự can thiệp thái quá vào đất nước và cuộc chiến của họ. Với họ, Mỹ đã hành động chính xác theo cái cách một nước tư bản giàu có muốn làm.

Ngoài ra điều này cũng đưa đến một lực lượng mới bạo dạn trong nền chính trị Mỹ: hội vận động Trung Hoa. Đó là một liên minh lỏng lẻo của những người với những mục đích khác nhau. Được kết nối với nhau bởi những thành viên giàu có, quyền lực của chính gia đình Tưởng, thường làm việc ở Washington hoặc những nơi đặc biệt nào đó, với các chính trị gia bảo thủ có ảnh hưởng ở Mỹ, và các đồng minh trong giới báo chí cùng thân hữu. Đó là một liên minh bất định hình, nhưng lại rất thật và tập trung cao. Đó là một liên minh có ảnh hưởng bởi có số lượng cao, dù rằng có nhiều mục tiêu. Đó là một tổ chức vận động mạnh mẽ nhất trong thời kỳ ấy ngay cả khi hoạt động vì một quyền lực nước ngoài tại Washington. Điều cơ bản liên minh ấy muốn rất đơn giản: viện trợ ồ ạt cho Tưởng càng lâu càng tốt. Cuối thập niên 1940, ngay cả khi cánh Cộng sản đã chiến thắng, hội vận động này vẫn muốn Hoa Kỳ tiếp tục xem chế độ Tưởng đại diện cho Trung Hoa, và khóa chặt mọi sự thừa nhận ở Washington với chính quyền Mao Trạch Đông, đồng thời giữ Trung Hoa mới bên ngoài Liên Hợp Quốc và cuối cùng là duy trì viện trợ cho Tưởng ở Đài Loan. Những gì hội vận động này muốn, dù cho đến nay Tưởng đã thua trong cuộc chiến, là Hoa Kỳ phải hành động như thể ông ta đã thực sự chiến thắng trong cuộc chiến. Điều họ thực sự hi vọng là một biến động chính trị lớn không chắc xảy ra, thứ sẽ đưa các lực lượng của Tưởng chiến thắng trở về đại lục dưới lá cờ người Mỹ; những điều có thể nói là giống như một cuộc chiến tranh giữa Hoa Kỳ và Trung Hoa.

Những người đến với hội vận động Trung Hoa có một số là yêu Trung Hoa chân thật – ít nhất trong tưởng tượng của họ – với một niềm tin rằng Tưởng dù cho có vô số khuyết điểm thì vẫn là nhà lãnh đạo duy nhất có khả năng ở Trung Hoa để chống lại Cộng sản. Với những người khác, lý do ủng hộ vị Thống chế là ty tiện và cực kỳ ích kỷ, đôi khi còn kém cả việc rằng làm cho Trung Hoa Dân quốc thường được trả kha khá. Với đa số người vấn đề này là cơ hội để làm điều gì đó đối với một giai đoạn nắm quyền quá dài của đảng Dân chủ. Vài người, như hạ nghị sỹ Walter Judd – ông khi còn trẻ là một nhà truyền giáo, hoặc như Henry Luce – con một nhà truyền giáo, họ không chỉ yêu Trung Hoa mà còn yêu Tưởng, họ tin như tin vào thánh tích rằng sự thật vĩ đại nhất của cuộc chiến này chính là Tưởng và Trung Hoa là một là đồng nghĩa với nhau. Đa số họ không có tình cảm với những chính sách thân châu Âu, điều đã chi phối chính sách ngoại giao Mỹ quá lâu, và họ đang tìm cách hướng sự tập trung chống cộng của Mỹ vào khu vực Thái Bình Dương, vùng đất họ cho rằng tương lai sẽ ở đó.

Với những người thân-Trung-Hoa, những người đã trải qua thời niên thiếu là con các nhà truyền giáo ở Trung Hoa, thì sức hút của quốc gia đó rất sâu và không khoan nhượng; Trung Hoa theo cách nào đó cũng như là nhà, là tổ quốc của họ như Hoa Kỳ vậy. Thêm vào đó, khi nói rằng Tưởng đã thất bại thì cũng như nói cha mẹ họ, những người đã cống hiến cuộc đời họ để mang Thiên chúa giáo đến cho Trung Hoa, đã thất bại (thực vậy, ít nhất trong cảm nhận hẹp về công việc của họ, họ đã thất bại). Hồi mùa thu năm 1946, một trong những lần tới Trung Hoa, Luce đã đấu tranh với John Melby – ông này gợi ý rằng cam kết cá nhân với Tưởng, hay đúng hơn với Trung Hoa, là sai lầm. Luce ngay lập tức bác bỏ ý kiến của Melby với một câu trả lời bộc trực ngoại lệ. “Anh nên nhớ rằng chúng ta sinh ra ở đây. Đây là tất cả những gì ta cần biết. Chúng ta đã cam kết dùng cả cuộc đời để đưa giáo lý Cơ đốc đến Trung Hoa. Và giờ anh công kích chúng ta vì điều đó. Anh đòi hỏi chúng tôi phát biểu rằng cuộc đời chúng ta đã lãng phí; là vô ích. Là không vì điều gì cả. Đó là một điều rất khó để hỏi với bất kỳ ai, phải không?” Luce trả lời. Melby đồng ý, nhưng rằng điều đó đã qua rồi bởi thế giới và Trung Hoa đã thay đổi, và bởi Trung Hoa mà họ biết, đang chết đi.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 02:14:32 pm
Nhưng đó chính dạng cảm xúc mãnh liệt đó – và lòng hoài cổ – đã góp phần không nhỏ cho sự thành công của hội vận động Trung Hoa. Phần lớn hoạt động chính trị khởi đầu trực tiếp từ đại sứ quán Trung Hoa ở Washington và, ở thời điểm gần cuối năm 1948, khi bà Tưởng đến quốc gia này và lưu lại khá dài, thì đến từ nhà anh rể của bà ở Riverdale, New York. Tưởng giới Thạch có hai người anh em đằng vợ là Tống Tử Văn và Khổng Tường Hy (cùng với đại sứ Trung Hoa tại Mỹ Wellington Koo) đã làm rất tốt việc của mình. Tống Tử Văn đã có lần cảnh báo John Paton Davies, một quan chức ngoại giao thông minh, và là một trong những người có năng lực nhất trong tổ chính sách Trung Hoa rằng không có bất kỳ thư tín nào của Bộ Ngoại giao gửi từ Trung Hoa về mà ông không có được trong vòng 2 đến 3 ngày. Những lãnh đạo cao cấp của Dân quốc đôi khi dường như hiểu rõ Washington làm việc như thế nào hơn là phía Mỹ hiểu họ, và họ có đồng minh trong khắp chính phủ, một lượng lớn các thượng nghị sỹ Cộng hòa đầy quyền lực và ngay cả một số ít các thượng nghị sỹ Dân chủ phản bội như Pat McCarran của bang Nevada. Tuy nhiên, đồng minh vĩ đại nhất của họ, nhân vật vận động quan trọng nhất, người đã đưa một nhóm người lọt vào thay vì đứng bên lề chính trị và cho họ những nguyên nhân pháp lý vững vàng hơn, đó không phải là một chính trị gia, mà chính là nhà truyền thông quan trọng nhất thời đại, Henry Luce.

Không ai có tầm quan trọng với liên minh ủng hộ Tưởng hơn Luce – ông cho liên minh đó tiếng nói trên toàn quốc được nhìn dưới góc độ trung tâm chính trị hơn là thiên hữu, và ông cũng cật lực làm việc để triệt tiêu các quan điểm đối lập ông. Vì ông là một người thiên lệch ghê gớm và là một đảng viên Cộng hòa nhiệt tâm – “nhà thờ thứ hai của tôi” như cách ông gọi đảng của mình, nên cả những người Dân chủ tự do cũng luôn trong tình trạng phòng ngự trong thế giới của ông. Một số người thân-Trung-Hoa khác có khá ít sự đáng trọng về chính trị, nhưng Luce có thể xoay sở để thay đổi cân bằng chính trị  và phát ra sự hồ nghi với những người chủ trương ôn hòa – những người có cái nhìn thực tế về các sự kiện đang diễn ra ở Trung Hoa mà ông căm ghét. Một số ít người khác trong hội vận động Trung Hoa là đồng minh chính trị bình thường của ông; một số lớn hơn khác thì không – bởi họ là những người theo chủ nghĩa biệt lập – còn ông thì lại thuộc nhóm lãnh đạo cánh theo chủ nghĩa quốc tế của Đảng Cộng Hòa thời đó, và như vậy là kẻ thù bất cộng đái thiên của họ trong các kỳ đại hội đảng Cộng Hòa năm 1940, 1944, 1948 và thời điểm 1952. Nhưng ông ve vãn được bất kỳ ai định chống ông trong vấn đề Trung Hoa với sự mạnh mẽ, đập tan mọi do dự của bất cứ ai theo cách của ông. Ông công kích mạnh mẽ mọi đối tượng nghề nghiệp – chính trị gia, nhà ngoại giao, hay nhà báo – bất chấp mọi nỗi thống khổ hay luân lý thông thường hoặc đạo đức nghề báo. Những ai bị ảnh hưởng do những gì các tờ báo của ông viết, thì cũng đáng kiếp, ông tin vậy, bởi họ đã lung lạc niềm tin vào chân lý của ông, không đồng ý với ông hoặc chen ngang đường ông.

Là con của một cặp vợ chồng nhà truyền giáo ở Trung Hoa, ông là một người thông minh, vụng về một cách khác thường trong đời sống xã hội, với một trí tuệ hoang sơ to lớn và một bản tính hiếu động tò mò. Ở trường Hotchkiss, trường trung học của ông, và sau đó là đại học Yale, ông là một cậu trai nghèo, khác biệt với mọi người, và luôn quá hăm hở, bố mẹ ông không có quan hệ với phụ huynh khác của các bạn học quý tộc. Ông luôn mặc những bộ quần áo sai mốt, lỗi thời theo kiểu Mỹ thời xa lắc, sao chép một các trung thực bằng chất liệu vải nặng dày bởi các thợ may Trung Hoa. Biệt danh của ông là “Chink Luce”, một cái tên không mong đợi nhất. Có lần ông nói với tiểu thuyết gia Pearl Buck rằng ông cực kỳ căm ghét trường trung học và đại học, bởi ông thấy mình quá khác biệt và quá nghèo.  Và khi trở thành chủ báo cực kỳ thành công, ông trở nên càng kiên định hơn với niềm tin của mình, quan trọng nhất trong đó là góc nhìn của ông về nước Mỹ có thể và sẽ thành thế nào  trong thế kỷ hai mươi, nhà sáng tạo ra khái niệm gần như hung hăng về một Thế Kỷ Mỹ. Ông là sự pha trộn lạ kỳ giữa những thứ dường như không ăn khớp hoàn hảo vào nhau: một người theo thuyết Calvin đồng thời là nhà báo; và rồi một khi có ai chống đối ý tưởng của ông, ông hành động như  lãnh chúa tàn ác Trung Quốc – không chấp nhận tù binh. Lúc bắt đầu sự nghiệp phóng viên, dường như ông không mấy hứng thú khơi lại mối quan hệ của ông với Trung Hoa; bởi đó là một quá khứ đau đớn và ông đã vất vả lột nó ra, ông trở thành Mỹ hơn cả những cậu trai bản địa mà ông đã không làm thân thành công hồi còn đi học. Nhưng đến năm 1932, ở tuổi 34, và đã thành công cực kỳ trong tư cách biên tập viên cũng như chủ báo, ông đi thăm lại Trung Hoa và mối quan hệ bỗng tươi mới lại. Gia đình họ Tống, người giàu nhất Trung Hoa (và có lẽ nhanh sau đó là ở tầm thế giới, nhờ vào viện trợ Mỹ), đã vờn ông một cách khéo léo, họ rất khôn ngoan trong việc lôi kéo những người phương Tây quyền lực, nói toàn những điều hay và làm những gì họ muốn, và như vậy những người phương Tây đó rơi vào vòng của họ. Trong những ngày định mệnh đó, Luce đã xác quyết rằng toàn thể Trung Hoa sẽ nên trở thành một quốc gia với những con người như cái gia đình đặc biệt đó: thời thượng, theo đạo Thiên Chúa, là dân tư bản, dường như biết ơn – và rằng nhiệm vụ đưa Trung Hoa đến cái hiện thân mới hoàng tráng này từ một quá khứ hung bạo, ngoại đạo, giờ đây  không gì khác chính là nhiệm vụ  của nước Mỹ trong Thế Kỷ Mỹ. Ông rời Trung Hoa sau chuyến thăm đó với một đại nghiệp lớn nhất của mình.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 02:16:38 pm
Không chủ đề nào có thể làm ông ám ảnh, ủng hộ hơn. Khi Luce và vợ, một cây bút cũng là một chính trị gia Clare Boothe Luce, đến thăm viên Thống chế và Thống chế phu  nhân vào năm 1941, khi về ông viết ngay rằng: ”đã làm quen với hai người, một nam và một nữ, so với những người cùng thời, họ sẽ được nhớ đến qua hàng nhiều thế kỷ nữa”. Hơn bất cứ người Mỹ nào, Luce đã lãng mạn hóa (và đại chúng hóa) cái chủ nghĩa tân thời mà Tưởng được cho là hiện thân. Không một người Mỹ nào khác có ảnh hưởng đến việc  tạo ra ảo tưởng rằng một Trung Hoa dưới quyền Tưởng muốn thành giống như nước Mỹ. Nếu chính quyền Tưởng chỉ có được một chút thành công, một chút hiệu quả và một chút đáng trọng như trên các báo của Luce rêu rao, giá mà Tưởng chỉ có một phần nhỏ của trí thông minh mà Luce gán cho ông ta, thì có lẽ đã không có cuộc khủng hoảng Trung Hoa, và những người cộng sản đã có thể bị đánh bại dễ dàng.

Không gì can gián được ông trong ý tưởng rằng đích đến của Trung Hoa chính là nguyên mẫu nước Mỹ mà còn trong quan điểm rằng chính Tưởng và gia đình ông là những người dẫn dắt lộ trình. Bất kỳ nhân vật chính trị Mỹ nào chen vào đường ông đi sẽ bị hủy diệt; bất kỳ mẫu thông tin nào mà các phóng viên có nghề của tờ Life and Time gửi về từ thực địa có nói đến việc thất bại một cách có hệ thống của Tưởng cũng như sự vươn lên mạnh mẽ của những người Cộng sản sẽ chắc chắn bị kiểm duyệt. Không một chứng cứ nào về lý do Tưởng thất bại có thể thay đổi suy nghĩ của ông – thay vào đó ông còn thêm phần độc địa với những ai sưu tập chứng cứ đó. Trong một thời gian dài, ông hi vọng cuộc chiến Triều Tiên có thể mang đến con đường giúp Tưởng trở lại đại lục. Có lần em của ông, Elisabeth Moore, nói với Alan Brinkley – người viết tiểu sử của ông rằng: “Harry luôn tìm cơ hội để lật đổ chế độ Cộng sản ở Trung Hoa. Anh ấy hiểu rằng Hoa Kỳ không thể đơn giản tuyên chiến với những người cộng sản, nhưng anh ấy nghĩ các cuộc chiến với phía Cộng sản có thể cho chúng ta cơ hội tiến vào Trung hoa. Về phía mình ông thực sự muốn cuộc chiến Triều Tiên trở thành cuộc chiến Mỹ – Trung, và ông cũng nói như vậy về cuộc chiến Việt Nam hồi đầu thập niên 1950”.

Liệu rằng ông có phải là một thành viên hội vận động Trung Hoa thực thụ không là một câu hỏi hấp dẫn. Dĩ nhiên trong cái vấn đề hấp dẫn nhất này có một sự thống nhất ngay lập tức, ông dù sao cũng là một nhân vật quan trọng nhất trên mặt trận Trung Hoa. Nhưng ở trong đa số việc, ông cùng những thành viên khác của hội vận động Trung Hoa là những bạn đồng sàn lạ lùng.  Brinkley viết: “Ông còn năng nổ hơn một thành viên thực thụ. Ông là một người theo chủ nghĩa quốc tế chính cống và còn họ trong phần lớn các vấn đề là những người theo chủ nghĩa biệt lập”. Đa số họ về mặt bản chất thì giống với đại tá Robert McCormick, và McCormick, lãnh đạo của những người theo chủ nghĩa biệt lập thời đó, một kẻ thù chính trị và thường xuyên bị chế nhạo trên báo của Luce. Với McConrmick, Luce cũng đơn giản là kẻ thù, bởi là người đã giúp giữ vị trí ứng viên đại diện đảng Cộng hòa tranh cử tổng thống cho Wendell Willkie, rồi Tom Dewey (hai lần), và cuối cùng Dwight Eisenhower. Dù sao thì điều đã ghép họ ăn ở tạm thời với nhau chính là Trung Hoa.

Sự căm ghét của Luce với Acheson khởi nguyên từ việc Trung Hoa đã trở thành một thứ gần như là bệnh lý. Lúc riêng tư ông thích gọi Acheson là  “thằng con hoang đó”. Khi quân Bắc Triều vượt vĩ tuyến 38, ông cảm thấy mình được minh oan, và lệnh cho những cây bút xã luận của mình viết bài, như theo John Shaw Billings – biên tập viên hạng nhất của tờ Life và trong hơn hai thập niên ông là một cây bút viết xã luận hàng đầu trong đế chế của Luce – ghi nhận : “ Hãy tự tìm cách viết bài xã luận mà tôi đã nói với các anh, trong việc lật ngược các chính sách của Truman với Trung Hoa”. Ngay tại thời khắc cuộc chiến Triều Tiên bắt đầu, tờ Time đã đưa Acheson vào tâm ngắm, và trong tháng Giêng năm 1951 đã viết về ông ta “ Những gì người ta nghĩ về Dean Gooderham Acheson trải dài từ một kẻ theo đuôi, hoặc một tay não ngắn, hay một tên kém hiểu biết cực kỳ, cho đến một người hiếu chiến đã đưa Hoa Kỳ vào một cuộc chiến tranh thế giới, để cảnh cáo, nếu không nghe rõ được lời bênh vực rằng hắn là một Ngoại trưởng vĩ đại”.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 02:18:13 pm
Cả tờ Life và tờ Time, dù tinh vi hơn hầu hết những đầu báo đối thủ, nhưng khi thực sự cần thiết – ví dụ như trong kỳ bầu cử tổng thống, vẫn trở thành những công cụ trần trụi phục vụ cho ý chí của chủ báo.  HIếm khi thành kiến chính trị trên các tờ báo của Luce lộ quá rõ như trong trường hợp đưa tin về Trung Hoa. Luce đã làm phần việc của mình dành cho Trung Hoa, bên cạnh những việc khác: đó là kiểm duyệt, cắt xén những bài viết gửi về từ Trung Hoa bởi một phóng viên vĩ đại nhất của ông trong thời đó, Theodore White. Luce không thể biến đêm thành ngày, nhưng chắc chắn rằng ông có thể biến những thông tin của White gửi từ thực địa mô tả từ thất bại này đến thất bại khác thành những báo cáo thắng lợi nối thắng lợi. BỞi vậy nên White cũng quen với việc tác phẩm của ông bị viết lại hoàn toàn. Có lần ông dán lên cửa phòng ông dòng chữ: “Bất cứ sự trùng hợp nào giữa những gì được viết ra nơi đây và thứ được in trên tạp chí Time là hoàn toàn ngẫu nhiên”.   Giữa họ có một cuộc chiến dai dẳng – cả hai cùng yêu Trung Hoa, nhưng White nghĩ rằng Tưởng là một thất bại toàn phần, và tin rằng Trung Hoa phải tự tìm cho mình một đại diện mới. Mùa thu năm 1944, khi cuộc đụng độ giữa Tưởng và Stilwel lên tới đỉnh cao  và Roosevelt quyết định cho Stilwel thôi chức, vị tướng đã gọi hai phóng viên có nhiều ảnh hưởng mà ông tin cậy đến gặp, là White và Brooks Atkinson của tờ NewYork Times, để làm một cuộc phỏng vấn dài về lý do ông bị gọi về và tại sao vấn đề Trung Hoa là tuyệt vọng. Với cả White và Atkinson đó là một khoản khắc nghề báo tuyệt vời: “Thằng chó đẻ ngu dốt đó không bao giờ muốn đánh nhau với quân Nhật …. Mọi sai lầm chính yếu của cuộc chiến này có thể tìm thấy nguồn gốc là từ Tưởng Giới Thạch”. Câu chuyện này quá lớn đến nổi Atkinson đã chọn bay về cùng với Stilwel vài ngày sau đó trên chính chiếc phi cơ của vị tướng để chắc chắn tránh được việc kiểm duyệt; và kiếm được giải Pulitzer từ bài báo này; còn bài viết dài 13 trang của White thì lại bị đảo ngược hoàn toàn và trở thành thứ mà như theo lời ông là : ”cực kỳ đồng bóng, cực kỳ ủng hộ Tưởng làm sai lệch quan điểm dân Mỹ – đây chính là nhiệm vụ của Luce và tôi thì phải luôn cảnh giác chống lại”

Chính phủ trong tình thế phòng thủ với vấn đề Trung Hoa và vấn đề thoái hóa biến chất gần như ngay từ hồi Thế Chiến II vừa kết thúc. Trong nước, Truman dưới áp lực của cánh hữu, đã tôi luyện cho lòng trung thành của chính phủ và quen với các thủ tục an ninh. Trong các nỗ lực ngoại giao, tổ Trung Hoa giờ phải chịu trách nhiệm tới mọi sự kiện mà họ cảnh báo sẽ xảy ra. Nghiên cứu lại thời đó, họ được nhìn nhận là một trong những nhóm cán bộ ngoại giao tài giỏi, thông minh nhất mà Bộ Ngoại giao đã cử làm. Nhưng bắt đầu vào khoản giữa thập niên 40, họ bị tống đi khắp từ Liverpool, Dublin, Thụy Điển cho đến Peru, Comlumbia hay Nauy, Tân Tây Lan. Ray Ludden, một trong những người tài năng trong số đó, đi lòng vòng trong các nhiệm kỳ ngắn hạn ở Dublin, đến Brussel, đến Paris, đến Stockholm – bất cứ đâu trừ châu Á. “Từ năm 1949 tôi mới có được thì giờ” có lần ông nói “tôi không thể nhận một công việc như một tay bắt chó”. Thời đó, bi kịch cá nhân của họ trở thành bi kịch của quốc gia, bởi chính phủ tự làm mình mù lòa ở một vùng đất sẽ trở nên rất quan trọng – và là một ổ chỉ trích quan trọng, bởi những lực lượng tham gia cuộc chơi rất hay thay đổi và cách mạng, để chia cách những gì bạn không thích khỏi những gì đe dọa bạn. Không ai trong tổ Trung Hoa có vai trò trong tháng Mười năm 1950 khi quân Mỹ vượt biên giới 38 bắc tiến, và cũng không ai có vai trò trong các quyết định quan trọng về Việt Nam 15 năm sau đó


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 02:20:10 pm
Lúc đầu, cuộc thanh trừng chính trị chỉ nhằm vào lớp cán bộ cấp thấp và cấp trung, nhưng đến năm 1948, người của hội vận động Trung Hoa liều lĩnh, sẵn sàng và mong muốn một ván bài lớn hơn. Và có lẽ cách tốt nhất để hiểu về một giai đoạn đấu tranh chính trị gay gắt và xấu xí là xem xét việc lãnh đạo hội vận động Trung Hoa kế đó chuyển mũi nhọn vào chống George Catlett Marshall. Ông là bạn hữu của Trung Hoa, hồi thanh niên ông phục vụ ở đó lúc còn là một sỹ quan trẻ, và luôn giữ lại trong mình tình cảm chân thành, bởi vậy khi bà Tưởng đến Hoa Kỳ vào cuối năm 1948 nhằm biện hộ cho trường hợp của bà trước Washington và công chúng Mỹ, bà đã ở với gia đình Marshall tại Virginia. Marshall đã miễn cưỡng quay lưng với Tưởng, không phải vì hờn dỗi cá nhân mà bởi đã thấy quá rõ rằng Trung Hoa của ông ta đang chết đi, không thể cứu tỉnh lại được và còn vì Marshall đặt lợi ích của Hoa Kỳ lên trên lợi ích của Tưởng. Ông hiểu rằng đó là những quyết định khó khăn và nguy hiểm nhất – bỏ rơi một đồng minh và chấp nhận kẻ chiến thắng trong nội chiến Trung Hoa là những người xa lạ, thù địch, điều này trông như làm cho thế giới khó khăn và nguy hiểm hơn. Cái chủ nghĩa yêu nước đó của ông giờ bị công kích với sự sụp đổ của Tưởng bởi nói nhiều về thời đại hơn là về bản thân Marshall.

Năm 1945, khi Thế Chiến II chấm dứt, nếu có một người Mỹ dường như đứng ngoài mọi phe cánh và có được lòng biết ơn của cả nước thì đó chính là George Marshall, con người vị tha nhất, ít theo ý thức hệ nhất, “một con người vĩ đại” như Truman thán phục nói. Lúc ấy, ông là kiến trúc sư chính của công cuộc động viên nhanh chóng đáng kinh ngạc của nước Mỹ trong thế chiến II. Ông đã đưa một quân đội nhỏ bé thảm hại, yếu ớt và trang bị kém  phản ánh cho một nước Mỹ ngây thơ và theo chủ nghĩa biệt lập trong năm 1941 thành một lực lượng hùng mạnh vượt qua eo biển Anh chỉ hai năm rưỡi sau đó. Đa số thường dân Mỹ đồng ý với cảm nhận của vị tổng thống về Marshall, tại thời điểm chiến tranh kết thúc; một người Mỹ vĩ đại nhất còn sống; nhiều quân nhân, như Matt Ridgway, cho rằng ông là quân nhân Mỹ vĩ đại nhất kể từ sau George Washington. Phản ánh lại sự chia rẻ lớn lao về vấn đề Trung Hoa trong nền chính trị Mỹ; chỉ năm năm sau, là người nắm quyền quyết định về viện trợ cho Tưởng, ngay cả Marshall cũng lộ ra nhược điểm, không chỉ các phán quyết mà cả lòng yêu nước của ông cũng bị đặt dấu hỏi.

Trong suốt thế chiến II, tờ Time luôn hào phóng ca tụng Marshall. Nên giờ chống lại thì cần có sự giải thích từ phía các kẻ thù của ông, rằng tại sao ông chuyển sang chống lại Tưởng Thống chế. Câu trả lời, đầu tiên được phát ra rõ ràng từ một Wellington Koo khéo léo, đại sứ tại Washington, rất đơn giản: rằng Marshall trở nên cay đắng và tan ảo mộng bởi ông đã thất bại quá rầu rĩ trong nhiệm kỳ công tác tại Trung Hoa. Đó là một câu trả lời nghèo nàn chứa không ít mỉa mai, ngay cả đó là với một công bộc biết tách biệt giữa công việc và cái tôi, đừng nói đến ở đây là Marshall. Nhưng ngay cả vậy cũng không đủ. Tháng Ba năm 1947, trang bìa Tờ Time của Luce đã cho ông biết ông đang phải chịu một hình thức soi mói mới. Nếu ông tiếp tục sẵn lòng viện trợ cho Trung Hoa, có một lượng không giới hạn các tính từ để mô tả ông – một người Spartan, lạnh lùng, cương quyết, am hiểu sẵn sàng làm những công việc thời bình một cách tài giỏi như đã làm trong thời chiến. Thay vì thế, tờ Time đã đặt một câu hỏi đơn giản nhưng đáng ngại: “Marshall có đủ lớn cho những trách nhiệm khổng lồ trước mặt ông?” . Đó là một phát súng cảnh cáo: cùng lên tàu, hoặc chúng tôi sẽ đá anh ra. Hơn thế nữa, đó là một thông điệp cực kỳ quan trọng đính kèm: nếu Luce và hội vận động Trung Hoa có thể làm tổn thương một nhân vật danh tiếng hoặc ít nhất với những người trung hòa và có cỡ như Marshall, thì có thể triển khai điều này với bất kỳ một ai.

Giữa tháng Năm 1947, Luce gặp Wellington Koo, phần lớn cuộc trao đổi của họ là nói về Marshall. Lúc đó Koo biết – từ những cuộc trao đổi riêng của ông với Marshall vài ngày trước – vị ngoại trưởng lo sợ rằng Dân quốc đã là một trường hợp thất bại. Thực ra mà nói, Koo xác quyết rằng họ gặp vấn đề với Marshall. Luce thì lạc quan hơn, bởi Marshall là đồng minh trong nhiều cuộc chiến khác. Ông bảo Koo rằng, ông chắc chắn Marshall trong số những người hiểu rõ mối đe dọa của chủ nghĩa Cộng sản mà những người khác trong chính phủ Truman không biết. Luce cũng chắc ăn rằng: Marshall hiểu rõ điều mà Luce gọi là “mâu thuẫn vĩ đại giữa chính sách Trung Hoa của ông ta và chính sách toàn cầu hiện tại của Hoa Kỳ”. Koo nói rằng Luce đã bảo ông ta: “Hoặc là ông ta [Marshall] sẽ thay đổi chính sách Trung Hoa bằng cách đưa nó trung hòa với chính sách toàn cầu của Hoa Kỳ hoặc là ông ta sẽ bị mất thể diện”. Koo nói thêm: “Nếu ông ta không thay đổi điều đó, ngài Luce bảo tôi rằng tờ Time, do ngài điều khiển, sẽ chỉ ra những mâu thuẩn. Nhưng Luce tin rằng George Marshall sẽ thay đổi chính sách, rằng ông ấy quá thông minh để không làm điều đó”.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 02:22:48 pm
Khi Marshall không khuất phục trước ước vọng của hội vận động Trung Hoa và những yêu cầu của đế chế Luce, chiến tuyến bắt đầu vạch ra rằng ông không thuộc cánh tả hay Cộng sản, nhưng ông đã bao che cho những người khác ở bộ Ngoại giao. Tệ nhất là ông nhận thông tin – bài học của ông ở Trung Hoa – từ những người không đúng. Hoặc như theo thượng nghị sĩ William Jenner của bang Indiana, một tiểu-McCarthy đưa ra: “Tướng Marshall không chỉ sẵn lòng, mà còn nóng lòng đóng vai trò quân xung kích cho bọn phản bội. Sự thật đây là một vai trò không mới cho ông, cho tướng George C. Marshall, một sự dối trá sinh động”. Rốt cuộc khi có ai đó lưu ý rằng Jenner công kích ông, Marshall trả lời: “Jenner? Jenner nào nhỉ? Tôi không nghĩ là tôi biết tay đó”

Nếu việc làm mất thể diện những ai được nhìn nhận làm mất mặt Tưởng giới Thạch là một mảng trong nỗ lực của Luce nhằm giữ cho chế độ của ông ta tồn tại trong nền chính trị Mỹ, thì mảng khác cũng có mục tiêu không kém nhức nhối. Ý tưởng một lần nữa nguyên ủy xuất phát từ Wellington Koo. Người của tòa đại sứ Trung Hoa hiểu rằng không chỉ họ đang tăng dần sự xa cách với chính phủ Truman mà  việc hỗ trợ ít ỏi của chính phủ Mỹ với vấn đề này là do chính phủ tập trung vào một chính sách ngoại giao khôn ngoan khác : tăng cường an ninh ở châu Âu. Các quan chức chính phủ thống nhất với dự định làm ổn định nền kinh tế bị chiến tranh tàn phá ở châu Âu thông qua kế hoạch Marshall, cùng Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ trong cái được biết dưới tên Học thuyết Truman, tất cả tạo thành một con đê chống lại chủ nghĩa bành trướng tiềm tàng của Liên Xô. Ý tưởng của Koo là buộc chặt việc viện trợ cho Trung Hoa với những chi tiêu cho các chính sách ngoại giao khác. Kể từ đó, không thể có viện trợ cho Hy Lạp, Thổ Nhỉ Kỳ, không có tiền cho việc phục hồi châu Âu, nếu đồng thời không có một cục viện trợ đẩy sang Trung Hoa. “Phải chăng người ở châu Âu, còn chuột bọ thì ở châu Á?”   thượng nghị sỹ Styles Bridges của bang New Hampshire, một trong những người mạnh mẽ nhất, hỏi trong một buổi điều trần ở Thượng viện, và đó là một mô tả hoàn hảo của vị trí mới cho những người ủng hộ châu Á. Với chính phủ Truman, họ bị vây hãm hơn và thiếu sự ủng hộ rộng rãi trong nước cho các gói viện trợ ngoại quốc, đó là một kiểu tống tiền chính trị. 

Trung Hoa là một chủ đề đặc biệt được dùng để chống Truman, nhưng cuộc tấn công còn rộng hơn. Phần lớn những người giận dữ đến từ vùng Trung Tây, từ những người theo bản năng, quả thực vậy – cực kỳ ghét người Anh và những người đã cảm thấy rằng trong cả thế chiến người Mỹ bị đưa vào một đống lộn xộn, và rằng tất cả những nổ lực sau này của Hoa Kỳ nhằm dựng lại một châu Âu hậu chiến kiệt quệ không gì khác hơn là nước Mỹ đang cố làm phần việc lý ra là của nước Anh. Những người bảo thủ Trung Tây này không nhìn thấy việc khôi phục châu Âu là một phần của sự tư lợi mới trong một thế giới mà giờ đây vì những vũ khí hiện đại, Đại Tây Dương đã thu hẹp lại. Họ, như theo Thomas Christensen, một giáo sư đại học Princeton, gọi là: người theo chủ nghĩa biệt lập châu Á (Asialationists). Như thể mỗi đảng có một đại dương riêng. Thái Bình Dương, như theo Richard Rovere và Arthur Schlesinger viết hồi năm 1951, là đại dương của đảng Cộng Hòa; còn Đại Tây Dương là đại dương của đảng Dân chủ. Ngay cả Bob Taft, vốn thường cảnh giác trước bất kỳ rối rắm ngoại giao nào, dường như cũng thích Thái bình Dương hơn. “Tôi tin rất mạnh mẽ rằng vùng Viễn Đông rốt cuộc sẽ đóng vai trò quan trọng hơn cho nền hòa bình tương lai của chúng ta hơn là châu Âu”. Những người Cộng hòa thách thức chính quyền trong vấn đề Trung Hoa  có ít đóng góp với những chính sách Hoa Kỳ trong những năm gần đây. Như JohnSpanier một nhà khoa học chính trị nổi bật, đã sắc sảo chỉ ra, những người Dân chủ không bao giờ dính líu tới bất kỳ nghị sỹ Cộng hòa đầu đàn nào trong việc ra chính sách của họ với Trung Hoa. Khi các lực lượng của Tưởng bắt đầu sụp đổ, thượng nghị sỹ Brien McMahon, đảng viên Dân chủ bang Connecticut và thành viên Ủy Ban Quan hệ quốc tế Thượng Viện, quyết định kiểm tra xem liệu có sự bất đồng ý kiến nào của các thượng nghị sỹ Cộng Hòa trong các chính sách chính thức trong những năm cốt tử 1947 – 1949 không. Ông nhận thấy không có một đề xuất nào cho việc thay đổi chính sách Trung Hoa từ bất cứ thành viên nào; cũng không có đảng viên Cộng hòa nào lên tiếng ở Hạ viện hoặc Thượng viện để ủng hộ cho việc gửi lính chiến đấu Mỹ sang đó hỗ trợ Tưởng Giới Thạch. Họ cũng không có câu trả lời cho câu hỏi mà thượng nghị sỹ Tom Connally của bang Texas, một trong những người bảo vệ Truman, hỏi vị đồng nghiệp đảng Cộng hòa Arthur Vandenberg: “Liệu anh có đưa những đứa con trai của anh sang chiến đấu trong nội chiến Trung Hoa không?”

Câu hỏi đó là một điều mà Vandenberg, một nhân vật chỉ trích lưỡng đảng trong thời ấy, đang vật lộn khi đảng của ông bắt đầu phân rã. Ông là một trong những đảng viên CỘng hòa ôn hòa, trở nên rất lo lắng về việc khai thác quá mức vấn đề Trung Hoa ngay cả khi Tưởng tiếp tục sụp đổ. Vandenberg cảnh báo cho vài đồng nghiệp của mình, rằng có thể sẽ trở thành con dao hai lưỡi nếu GOP nắm quyền. Và như thế, tháng Chín năm 1948, Vandenberg, một ngoại trưởng dự kiến nếu đảng Cộng Hòa thắng cử, viết thư cho thượng nghị sỹ Bill Knowland, một trong những người ủng hộ Trung Hoa, cảnh báo ông ta, chống lại việc thúc đẩy vấn đề Trung Hoa quá rát, vì sợ rằng đảng CỘng Hòa sẽ chóng nhận thừa kế điều đó. Ông viết “Rất dễ cảm thông với Tưởng giới Thạch như tôi luôn đã và vẫn đang làm. Nhưng cũng có một vấn đề khác là kế hoạch sử dụng viện trợ có hiệu quả trừ phi viện trợ Mỹ đi cùng thực binh Mỹ  khi mà thực tế cho thấy dù với huấn luyện theo chuẩn Mỹ của chúng ta và trang bị Mỹ thì các sư đoàn đã đầu hàng mà không bắn một phát súng”.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 02:26:11 pm
Như vậy sự thất bại của Trung Hoa chỉ là phần nổi của núi băng, chủ đề này có lẽ giúp họ lấy lại quyền điều hành đất nước, làm đất nước một lần nữa trở thành một nước Mỹ của họ. Nước Mỹ của họ là một nước Mỹ của thế kỷ đã qua, một nước Mỹ với cách kinh doanh và đức hạnh kiểu cũ, hình mẫu của họ. Họ không nợ tiền và không phụ thuộc vào chính phủ thuê làm việc. Họ là những lãnh đạo các thị trấn trong một thời đại mà lãnh đạo gần như độc quyền của người da trắng, đàn ông, và theo Tin lành, và họ phần lớn là dân chuyên nghiệp, trong một thời đại mà giới trung lưu còn rất nhỏ bé. Họ thuộc về những câu lạc bộ thị dân nơi hầu như mọi người cũng cảm thấy như họ là đất nước đang trôi khỏi những gì họ cho là chủ nghĩa Mỹ. Chính sách Kinh tế mới – và những lực lượng mở cửa cho nó – là kẻ thù. Hoặc, như thượng nghị sỹ Hugh Butker của bang Nebraska đã nói trước cuộc bầu cử 1946: “Nếu chính sách Kinh tế mới vẫn tiếp tục điều khiển Hạ viện sau kỳ bầu cử, nó sẽ là nguồn cơn cho Đảng Cộng sản điều khiển đất nước này”. Những người này theo thuyết nổi trội bản địa một cách bản năng, tin rằng đó là sức mạnh chứ không phải là một điểm yếu. Họ không tin hoặc thích nước Mỹ đã bầu cho Franklin Roosevelt và Harry Truman, nước Mỹ của các siêu đô thị của người Thiên Chúa giáo, Do Thái, da đen và công đoàn. Họ không tin tưởng bất kỳ điều gì hay bất kỳ ai khác biệt; và giờ là lúc còn hơn nữa. Nước Mỹ của Roosevelt là chúng nó và xấu xa, và chúng nó đã điều khiển nước này gần hai mươi năm.

Cả Truman và Acheson đều hiểu ván bàn chính trị đang chơi, và họ khinh bỉ những ai lãnh đạo lực lượng đang tập hợp đó. Acheson gọi họ là: “Bọn người nguyên thủy”.  Còn Truman nói là: “Đám súc vật”. Ngay từ đầu Truman đã biết rằng Trung Hoa là một thất bại cả trong chính trị nội địa lẫn chính sách ngoại giao. Trong một cuộc họp nội các tháng Ba năm 1947, tổng thống đã phàn nàn chua chát về những đồng minh Trung Hoa của họ. Như ông viết trong nhật ký “Tưởng giới Thạch sẽ không đánh thắng. Những người Cộng sản sẽ đánh thắng – họ cuồng tín. Sẽ là đổ tiền [viện trợ thêm] vào một cái hang chuột trong tình hình hiện tại”. Thực tế là tổng thống đã bực bội Tưởng và chính phủ của ông ta ngay từ hồi ông vừa nhận chức. Trong suy nghĩ của mình, ông đang bị dẫn dắt bởi một chính sách sai lầm và một đồng minh bất tín, bất lương. Đã có một số cuộc điều tra mật cấp quốc gia về dòng tiền viện trợ chảy đi đâu, và đã ghi nhận thấy một số lượng tiền  khổng lồ được tích trữ một cách đáng ngờ bởi thành viên gia đình họ Tưởng. Những người thuộc Quốc dân Đảng, như Truman nói, không gì khác hơn là “những kẻ lừa đảo, những kẻ nhận hối lộ. Tôi sẽ cá với anh rằng một tỷ đô [viện trợ] hiện đang ở trong các nhà băng New York”, trong một lần nói chuyện với David Lilienthal, một nhà Kinh tế mới và là một người ủng hộ mạnh mẽ.

Điều làm Truman giận run – giận là một từ thích đáng – là những áp lực gay gắt về mặt chính trị của cánh Dân quốc đã không được đền đáp xứng đáng bằng những thể hiện về mặt quân sự ở phía họ. Nó chống lại mọi thứ ông tin tưởng – một chính phủ không biết chiến đấu, nhưng lại công kích ông về mặt chính trị và thường xuyên yêu cầu được có thêm vũ khí, trong khi quân lính của họ không thèm dùng. Có một cuộc họp rất đáng quan tâm, đó là cuộc họp giữa Truman và đại sứ Koo vào ngày 24 tháng Mười một năm 1948, nó phản ánh (trong một lối diễn đạt sẽ thành phổ biến trong một cuộc chiến tương lai) sự khủng hoảng lòng tin to lớn mà phía Dân quốc hiện đang gặp phải. Truman cũng hiểu rất rõ rằng khi ông và Koo ngồi với nhau thì ông không chỉ trao đổi  với đại diện của một nước ngoài đang gặp khó khăn mà còn là thương thuyết với một kẻ thù chính trị quan trọng; chính Koo, dù cực kỳ thân thiện, trên thực tế là lãnh đạo của một nhóm lớn chính trị gia đối lập và tòa đại sứ (Trung Hoa) cực kỳ gần gũi với Tom Dewey, người vừa bị Truman đánh bại.

Sự lựa chọn thời điểm của Koo không thể tệ hơn và sự hạ mình của ông trước tổng thống Mỹ là rõ ràng: “Tôi nói tiếng Mỹ, thay vì tiếng Anh, và chúng tôi xoay sở hoàn hảo trong cuộc nói chuyện” Koo sau này viết lại. Đó không phải là một thời điểm lý tưởng cho vị đại diện của một chế độ đang chết hỏi xin thêm quân viện. Truman dường như không dễ tiếp thu mọi điều. Vị tổng thống hỏi rằng Koo có biết là ông vừa nhận được thông tin rằng 32 sư đoàn Trung Hoa Dân quốc đã đầu hàng phía Cộng sản đâu đó quanh Từ Châu? Và họ đã nộp toàn bộ quân trang, quân bị của mình cho phía Cộng sản? Sự thật là Koo thú nhận không biết về việc đó. Với vấn đề viện trợ, Truman nói với Koo, ông biết thách thức to lớn mà nhân dân Trung Hoa đang đối mặt và ông sẽ trao đổi thêm với Marshall, nhưng đó là tất cả những gì ông sẵn sàng làm. Không dễ dàng gì khi nói ra có 32 sư đoàn, đồng nghĩa với 250,000 đến 300,000 quân bị mất đi cùng với một khối lượng trang bị to lớn, và đó không phải là một rắc rối biệt lập. Ngay khi Koo rời Nhà Trắng, ông đã phối kiểm thông tin với một người bạn, George Yeh, vụ phó Vụ ngoại giao. Cuộc chiến Từ Châu đã diễn ra thế nào? Yeh trả lời là không quá tệ. Nhưng tổng thống Truman vừa mới nói với ông là có tới 32 sư đoàn đầu hàng ở đó. Điều này có đúng không? Yeh thừa nhận là đúng. Sự thật là vậy, thực tế là trong những ngày đó quân đội Dân quốc đang tan chảy.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 02:26:53 pm
Trong những tháng cuối cùng trước khi phía Cộng sản toàn thắng, thiếu tướng David Barr, trưởng phái bộ cố vấn quân sự Hoa Kỳ, trên thực tế đã cùng làm công tác kế hoạch với ban tham mưu cao cấp của Tưởng Giới Thạch như thể ông là một viên tướng Trung Hoa (trong số đó có việc đề nghị phá hủy xe cộ trước khi họ rút lui để chúng không bị quân Cộng sản lấy được, và đây cũng chỉ là một trong số nhiều đề xuất mà không một ai chịu lắng nghe). Viên đại sứ Mỹ cuối cùng ở Trung Hoa, John Leighton Stuart đã không được phép gặp gỡ các lãnh đạo cao cấp phía Cộng sản Trung Hoa bởi sợ sẽ kích động các nhà chỉ trích trong nước.

Thế nên dù cho Tưởng có mất Trung Hoa, thì ông lại được, nếu không với toàn thể Washington thì cũng đủ hỗ trợ chính trị để giữ ông nắm quyền ở Đài Loan. Năm 1952, chỉ ngay sau cuộc bầu cử Dwight Eisenhower làm tổng thống, đã có một buổi tiệc tối lớn tổ chức bởi Wellington Koo, khi đó vẫn là đại sứ của Tưởng, với sự hiện diện của vài người ủng hộ Trung Hoa quyền lực nhất – Herry Luce, thượng nghị sỹ William Knowland, Pat McCarran và Joe McCarthy, cùng với hạ nghị sỹ Walter Judd. Lúc gần cuối đêm tất cả họ giơ tay nâng cốc chúc mừng Tưởng với câu thét xung trận ưa thích: “Trở lại đại lục”.

(Hết chương 17 – Hết phần 4)


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 02:31:47 pm
PHẦN NĂM

Canh bạc cuối cùng: Quân Bắc đánh Pusan

Chương 18


Ở Triều Tiên trận đấu cuối cùng đã điểm. Những ngày đầu tháng Tám năm 1950, các lực lượng miền Bắc sẵn sàng cho trận công kích cuối cùng trước các đơn vị Liên Hiệp Quốc mất sức tập trung phía bên kia bờ sông Naktong. Nhưng thế tấn công của bộ đội miền Bắc bị chậm một cách đáng lưu tâm. Chỉ huy quân LHQ quyết định rằng sông Naktong là một phòng tuyến tốt nhất để quân của họ có thể thở nổi, ngay cả với các đơn vị mới toan vừa đến đất nước này từ Hoa Kỳ. Roy Appleman, một sử gia quân đội, đã miêu tả sông Naktong như là một hào thành khổng lồ bảo vệ đến ba phần tư vòng phòng thủ Pusan. Vòng phòng thủ Pusan không nhỏ, và là nơi nổ ra trong vài tuần kế tiếp hàng trăm kiểu trận đánh be bé cùng với một ít trận lớn hơn. Appleman miêu tả vòng cung phòng thủ Pusan là một hình chữ nhật, có chiều dài chừng 100 dặm từ bắc xuống nam và 50 dặm từ tây sang đông, tiếp giáp với biển Nhật Bản ở phía đông và eo biển Triều Tiên ở phía nam, chính con sông Naktong giữ phần lớn biên giới phía tây. Bản thân sông Naktong là một con sông đục ngầu và chảy chậm chạm, nó sâu không quá 6 feet ở điểm sâu nhất và rộng từ ¼ đến ½ dặm. (“Rộng bằng sông Missouri” binh nhất Charles [Butch] Hammel thuộc sư đoàn công binh số 2 nói, anh lớn lên ở một nơi cách sông Missouri 50 dặm và cũng là người đã giúp dựng một cây cầu bắt qua sông Naktong đúng ngay vào thời điểm tấn công mạnh sau cuối của quân Bắc Triều Tiên, bởi vậy nên chính quân Bắc chứ không không quân Mỹ là người dùng cây cầu đó đầu tiên). Nếu không có chướng ngại vật tự nhiên do sông Naktong cung cấp, có lẽ các lực lượng Mỹ đã không thể trụ nổi. Với họ, con sông còn hơn là một chướng ngại vật, nó còn là nơi Walker tập trung quân binh, và lần đầu tiên có thể bảo vệ được các cánh.

Bên trong vòng cung phòng thủ, mọi thứ tốt dần lên. Với điều kiện đường bộ cũng như đường sắt, lần đầu tiên, cơ hội đưa các đơn vị dự bị đến và tham gia nhanh chóng vào các hoạt động quân sự một cách có hiệu quả. Và như thế, việc bịt các lỗ thủng trên chiến tuyến của Walker trở nên dễ dàng hơn. Thêm nữa, từ giữa tháng Bảy, những đơn vị đầu tiên của sư đoàn bộ binh số 2 đã lên tàu từ Hoa Kỳ tới Triều Tiên, và gần như cùng lúc vài bộ phận của Lữ đoàn Thủy quân lục chiến số 1 cũng đã đến, đây là đơn vị sau này thành Sư đoàn TQLC số 1 và là mũi xung kích của trận đổ bộ Inchon. Tất cả những điều này đã đưa đến cơ hội cân bằng lực lượng: khả năng chiến đấu về phía quân Mỹ đã tăng lên rất nhiều, trong khi đó khả năng của quân Bắc Triều Tiên lại bắt đầu suy yếu. Đến cuối tháng Tám, mọi chỉ huy quân Mỹ đều biết rằng một trận tấn công lớn của Bắc Triều Tiên sắp sửa nổ ra. Các đơn vị quân Bắc chuẩn bị cho việc tấn công từ phía bắc và phía tây sông Naktong vẫn còn rất mạnh mẽ, có chừng 13 sư đoàn bộ binh, trung bình có 7500 quân cho mỗi sư, thêm vào đó là một sư đoàn thiết giáp với chừng 1000 lính và hai lữ thiết giáp với 500 quân cho mỗi lữ. Dù đó vẫn là một quân đội được huấn luyện kỹ, nhưng những gì đạt được khá dễ dàng với quân Bắc chỉ vài tuần trước giờ đã khó khăn hơn nhiều. Không lực LHQ ngay tức khắc đã tăng số phi vụ hỗ trợ quân bộ trong tháng Tám gấp đôi so với hồi tháng Bảy, kìm quân Bắc xuống, đồng thời phá hủy lương thực, đạn dược cũng như tuyến hậu cần. Đến cuối tháng Tám, khi những trận đánh quyết định trên dòng Naktong bắt đầu, những ngày huy hoàng nhất của bộ đội Bắc Triều Tiên đã hoàn toàn rơi lại phía sau rồi, dù vẫn còn một số ít người ở cả hai phía vẫn còn tin vào điều đó. Như theo cách viết của T.R. Fehrenbach, chỉ huy một đơn vị bộ binh ở đó thì đã: “chảy máu tới chết”. Như Yoo Sung Chul, một tướng Bắc Triều Tiên hồi hưu, vài năm sau đó nói rằng: “Cuộc chiến Triều Tiên đã được lên kế hoạch đến cuối chỉ trừ vài ngày mà chúng tôi đã không lên kế hoạch bất cứ thứ gì trong trường hợp những điều đó có thể sai lạc. Nếu bạn chiến đấu trong một cuộc chiến mà không có kế hoạch cho những thất bại, thì bạn đang chuốc lấy muộn phiền”.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 02:34:52 pm
Lúc Kim Nhật Thành ném 13 sư đoàn của ông vào trận đánh cuối cùng trên sông Naktong vào ngày 31 tháng Tám thì lực lượng của hai bên đã đột nhiên cân bằng, và những đơn vị ưu tú quân Mỹ vẫn đang tiếp tục đổ đến nước này. Ví dụ như phần còn lại của ba trung đoàn thuộc sư đoàn bộ binh số 2 đang đến, trung đoàn 38 tới Pusan vào ngày 19 tháng Tám. Điều này có nghĩa là với chừng 100,000 quân Bắc Triều Tiên sẵn sàng cho việc mà họ hi vọng sẽ là cuộc chiến cuối cùng và trận tấn công của họ sẽ đến tận cảng Pusan, thì cũng đã có tới 80,000 lính Mỹ thuộc tập đoàn quân Tám cũng đã sẵn sàng phòng thủ vòng cung Pusan.

Việc tập đoàn quân Tám có khả năng trụ được trong hai tháng trước đó thể hiện thành tích cá nhân to lớn của tướng Johnie Walker. Dù cả Tokyo và Washington đều thiếu tôn trọng ông, thì người lính tăng ở trên cái chiến trường không-phù-hợp-xe-tăng này, một tư lệnh đã chiến đấu cùng một lực lượng rõ ràng là yếu kém hơn những gì ông đã chỉ huy dạo ở Pháp và Đức, trong cả 6 hoặc 7 tuần từ cuối tháng Bảy đến giữa tháng Chín, cho thấy ông không gì khác hơn là một chỉ huy xuất sắc và không biết sợ, ông đã làm hầu như mọi điều đúng đắn. Nếu lịch sử quân sự Mỹ có lừa bịp bất cứ điều gì về các cuộc chiến của đất nước này trong thế kỷ trước, thì đó là cuộc chiến Triều Tiên, và nếu bất kỳ thể hiện nào của cuộc chiến đó bị bỏ sót, thì đó chính là chuỗi những trận đánh nhỏ dọc sông Naktong trong tháng Bảy, tháng Tám và tháng Chín năm 1950, và nếu có một vị tư lệnh nào đã không được nhận sự tán thưởng mà ông xứng đáng có, thì đó chắc chắn là Walton Walker với những trận đánh đó. Viên phi công Mike Lynch có lần nói: “Ông là một vị tư lệnh bị lãng quên trong một cuộc chiến bị lãng quên”.

Cuộc chiến Triều Tiên không bao giờ ghi được ấn tượng trong lòng công chúng Mỹ, các trận chiến trên mấu lồi sông Naktong và dọc vòng phòng thủ Pusan cũng hoàn toàn bị che mờ bởi các trận đánh lớn hơn sẽ đến; và trong thời kỳ kinh khủng đó, rõ ràng Walton Walker là một vị tư lệnh vĩ đại. Với sự chuẩn bị nghèo nàn, trang bị thiếu thốn, quân lính dưới sức, ông đã xoay sở để ngăn chặn đà tiến của một kẻ thù ghê gớm, tài ba ngay cả trong điều kiện cái quốc gia mà ông làm đại diện vẫn còn rất chậm chạm bắt đầu chấp nhận trách nhiệm của mình. Khi ông lệnh cho quân binh tử thủ, ông hiểu không còn gì để mất và ông cột chính mình vào trong sắc lệnh đó. Nếu cần thiết, ông sẽ là người Mỹ cuối cùng trụ lại một khi quân Bắc Triều Tiên tiến vào Pusan. Một ngày đầu tháng Chín, ông là Lynch – người bạn đồng hành thường xuyên của mình – ở Teagu, một thị trấn chẳng có chút nào quan trọng trên thế giới hồi trước chiến tranh, nhưng giờ đây với họ đó là một điểm đầu mối then chốt. Nếu Bắc Triều Tiên chiếm được Teagu, thì sẽ mở toang cánh cửa cho quân bắc tấn công vào Pusan, chỉ cách đó không đầy 45 dặm về phía nam. Walker quay lại nhìn Lynch và nói: “Anh và tôi có thể sẽ kết thúc trên những con phố Teagu chiến đấu cùng với những chàng trai đó. Kế hoạch của tôi là nếu địch đột phá được, anh sẽ ở đây cùng với tôi. Và chúng ta sẽ cùng ở đây đến giây phút cuối cùng”.

Walker là một người không biết chán nản và sợ hãi, bay trên chiếc phi tuần nhỏ xíu của mình, đôi khi chỉ cách mặt đất vài trăm thước, bất chấp đạn súng máy quân địch có thể quật ông xuống. Có lúc ông còn cúi mình qua cửa sổ, hét to với lính qua chiếc loa pin. Nếu ông cho rằng họ đang rút lui hay đang kinh hoảng, ông sẽ hét lên với họ để củng cố chiến tuyến và chiến đấu, chúa ơi! Họ bay thấp đến nỗi Lynch đôi khi phải tháo khỏi vỏ máy bay ba ngôi sao chỉ dấu rằng đây là máy bay riêng của một trung tướng. Khi lịch sử cuộc chiến Triều Tiên dần mở ra, như mọi vị tư lệnh khác, nhất là với Matt Ridgway, giữ địa vị lãnh đạo, thì Johnie Walker chìm dần vào hậu đài. Thứ có khuynh hướng được nhớ tới đó là việc ông là một trong những người bị khiển trách sau cuộc phục kích mang tính hủy diệt to lớn của quân Trung Hoa dọc tuyến sông Chongchon vào cuối tháng Mười Một đầu tháng Mười hai, một điều đáng nực cười đã làm tổn hại nghiêm trọng danh tiếng của Walker, bởi về cơ bản sự kiện đó diễn ra mà không có sự đồng thuận của ông.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 02:39:23 pm
Thật không công bằng, bởi trong trận chiến Naktong ông đã điều khiển các đơn vị với một kỹ năng khéo léo, lấy một tiểu đoàn từ trung đoàn này rồi cho ghép vào một trung đoàn khác, dùng thủy quân lục chiến và trung đoàn Wolfhound số 27 như đoàn cứu hỏa để khống chế việc quân Bắc Triều Tiên chọc thủng phòng tuyến. Ông đã áp được những lợi thế hiện có lên quân thù khá ổn – hệ thống đường bộ, đường sắt đơn giản nhưng giá trị. Ở đây quân Bắc Triều Tiên bị hụt vốn – họ không thể di chuyển lực lượng đủ nhanh để khai thác được các điểm đột phá. Phần lớn những sai lầm của họ trong thời kỳ này phản ánh lại việc lập kế hoạch tác chiến yếu kém, sai lầm trong việc tập trung lực lượng và sai sót trong việc liên lạc hữu hiệu nhằm điều quân đủ nhanh theo yêu cầu chiến trường. Tốc độ chiến đấu với một quân đội có kỹ thuật vượt trội như Mỹ đã leo thang từng giờ – nhiều trang bị đưa đến đất nước này càng làm cho tốc độ đó còn nhanh hơn nữa. Người Mỹ nghĩ, sự hạn chế của quân Bắc không chỉ là phương tiện liên lạc yếu kém mà còn là sự yếu kém cơ bản do cấu trúc một quân đội quá tôn ti thứ bậc. Với nhiều chỉ huy trong tập đoàn quân 8, Walker dường như là một pháp sư hơn là một tư lệnh, bởi giác quan cực nhạy của ông về nơi tiếp theo quân Bắc Triều Tiên sẽ tấn công. Rõ ông không phải là pháp sư, nhưng  ông là người rất biết lắng nghe: quân Bắc Triều Tiên đang sử dụng hệ thống mã truyền tin rất thô sơ và họ không thay đổi tần số thường xuyên, nên quân Mỹ đã phá được mã. Và thường Walker biết được trước một cách chính xác nơi nào bộ đội miền Bắc lên kế hoạch tấn công. Đó là một nguồn thông tin rất có giá trị. Nguồn khác là do chính ông quan sát bằng mắt thường. Ông và Lynch bay trên các vị trí của bộ độ Bắc Triều Tiên rất thường xuyên và rất thấp đến nỗi ông có được những ý niệm rất chính xác về việc di chuyển vị trí của quân địch và mức độ thay đổi của họ hằng ngày.

Tuy vậy, nếu có một từ để miêu tả tình trạng của ông, Walker nghĩ rằng đó là từ “tuyệt vọng”. Ông luôn thiếu lính và bị đe dọa thường xuyên bởi việc quân Cộng sản đột phá. Hằng ngày ông bắt đầu với việc quay sang đại tá Eugene Landrum, tham mưu trưởng của ông, và hỏi: “Landrum, hôm nay cậu kiếm được cho tôi bao nhiêu quân dự bị nhỉ?” Đó là thứ họ cần – thêm quân; luôn luôn; gọi xin thêm quân. Bởi khả năng quân Bắc Triều Tiên thọc ra tới biển là một điều rất thật. Có một nơi cho thấy Walker đã đánh giá thấp khả năng bộ đội Bắc Triều Tiên là ở một khu vực có tên Mấu lồi Naktong, đó là nơi con sông uốn nhẹ sang phía tây trước khi ngoặc lại về phía đông. Nó tạo nên một mấu lồi nhỏ chạy dọc khoản năm dặm theo hướng bắc – nam và rộng bốn dặm theo hướng đông – tây. Lúc đó, nơi này là khung cảnh cho những trận đánh đẫm máu nhất trong cuộc chiến. Bởi phía Mỹ biết sư đoàn 4 Bắc Triều Tiên ở đó và nhận được tin tình báo khá tốt từ tù binh rằng sư đoàn đó đã bị tổn thất nghiêm trọng, họ cũng nhận định khả năng tấn công của quân Bắc là hạn chế ở vùng này. Điều mà họ không được biết là lực lượng quân địch ở mấu lồi không chỉ là những đơn vị thuộc sư đoàn 4 mà còn của hai sư đoàn khác, sư đoàn 2 và sư đoàn 9.

Và thế là Walker bố trí hai trong số ba tiểu đoàn của trung đoàn 23 thuộc sư đoàn 2 bộ binh đến đó, tiểu đoàn thứ ba của trung đoàn đang được Sư kỵ binh 1 mượn. Nếu nói rằng họ đang bị dàn mỏng cực kỳ thì đó cũng là một cách nói giảm nhẹ. Thượng sỹ Harold Graham lúc đó đang là một trung đội trưởng tạm quyền trong đại đội Charley tiểu đoàn 1 trung đoàn 23 sư đoàn bộ binh số 2 Hoa Kỳ. Anh nhận được nhiệm vụ chiến đấu và đợi đến giờ thực hiện, nhưng nhiệm vụ đó đã bị kết thúc với thương vong rất nặng nề ngay trong đêm đầu bởi cuộc tấn công lớn của phía miền Bắc ở mấu lồi Naktong, về cơ bản binh nghiệp của anh xem như cũng kết thúc. Graham ước lượng rằng sư đoàn của anh, vốn bị mất sức chiến đấu do những trận đánh trước đó, giờ chỉ bằng một trung đoàn, tổng cộng với chừng 9000 quân thay vì 18,000 như thông thường. Sư đoàn này phải phòng thủ trên một mặt trận dài gần 40 dặm, tiểu đoàn 1 trung đoàn 23, với chừng 4-500 lính phải chịu trách nhiệm một khu vực 3-4 dặm. ”Tôi không chắc là chúng ta có thể dàn mỏng hơn nữa không trước khi một trận tấn công lớn xảy ra”, Joe Stryker, một trung đội trưởng thuộc đại đội Charley, anh vừa mới được điều về làm sỹ quan liên lạc trung đoàn chỉ vài ngày trước và bởi vậy nên là một trong số rất ít người hiểu rõ điều gì trong những ngày ấy (và biến anh thành một chuyên gia về điều đó). “Đó là một sợi dây thép, tôi đồ chừng, nhưng là một sợi dây mảnh nhứt, mỏng nhứt mà bạn có thể tưởng tượng ra” anh nói. Có những hình ảnh lạ lùng, những mô tả nghe như không phải chính xác cho một vị trí phòng thủ mà như là một cái sàn khổng lồ đầy lổ thủng. Nếu mỗi người lính trong tiểu đoàn có một chiếc trực thăng riêng, thì điều này có thể làm được – nhưng thực tế thì đây là một nhiệm vụ vô vọng. Stryker nhớ lại điều xảy ra ngay từ lúc họ vừa đặt chân lên đất nước này. Khi vừa đến nơi, anh nhận một vị trí chiến đấu đầu tiên cạnh chiến tuyến, anh đã làm một việc mà bạn luôn làm trong chiến đấu – xác minh những đơn vị bạn bên cạnh và đặt liên lạc với họ. Trong trường hợp này, anh nhảy lên chiếc Jeep của mình và phóng đi, phóng đi và phóng đi – tất cả phải chừng 5 dặm. Cuối cùng anh nhìn thấy 2 tay GI (lính Mỹ). Họ thuộc sư đoàn 24 bên cạnh và dường như hoảng sợ khi thấy anh – họ chào anh với tư cách đại diện của sư 2 vừa đến Triều Tiên. Anh chỉ có thể nói với họ rằng vị trí của anh cách đây 5 dặm.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 02:42:20 pm
Lúc lính của trung đoàn 23 nằm đợi cuộc tấn công, cảm giác bị cô lập thật sự sâu sắc hơn bình thường rất nhiều. Sau này đại tá Paul Freeman, trung đoàn trưởng, phản ánh rằng dù tin tình báo của Walker thường chính xác một cách kỳ lạ, nhưng tại địa phương này vào thời điểm này thì Walker đã sai hoàn toàn. Lúc tháng Tám trôi dần về cuối, lính trong tiểu đoàn 1 trung đoàn 23 đều hiểu rằng có điều gì đó to lớn đang đến. Họ chỉ tốn hai ngày bên bờ đông sông Naktong khi quân bắc triển khai trận công kích chính. Tiểu đoàn 2 cũng đã di chuyển lên ngay sau lưng họ, đầu tiên là đến làng Miryang, một cứ điểm tạm của tuyến phòng thủ Naktong, rồi sau đó đến một làng tên là Changnyong, gần con sông hơn. Đêm ngày 31, họ nhận được nhiều thông tin rằng quân Bắc Triều Tiên gia tăng vận động ở bờ kia con sông và cả tuyến phòng thủ chờ đợi một trận tấn công có lẽ ngay trong đêm hoặc trong ngày kế.

Đôi khi định mệnh của một đơn vị nằm trên đường đi của những điều rất lớn lao trong lịch sử. Đó là điều đã xảy ra với đại đội Charley trong đêm ấy. Họ đối mặt với một cuộc tấn công lớn cuối cùng của một lực lượng khổng lồ quân đội nhân dân Bắc Triều Tiên. Nếu rằng nhiều đơn vị Mỹ được bố trí dọc khúc cong sông Naktong khá mỏng, thì không có đơn vị nào mỏng hơn và nguy hiểm hơn trung đoàn 23, và không đơn vị nào của trung đoàn 23 chịu nguy hiểm hơn lính đại đội Charley, nhúm người còn sống sót của đơn vị này sau những ngày ấy thích gọi đơn vị của họ là “đại đội C. cũ”. Dù đã từng ấy năm trôi qua, trung úy Joe Stryker vẫn không thể tin nỗi sự mất cân bằng giữa hai bên ở lần chạm trán đầu tiên trên mấu lồi sông Naktong. Anh nghĩ cả hai sư đoàn quân Bắc Triều Tiên, có lẽ có chừng 15 đến 20 ngàn lính đã đổ lên khắp khu vực mà đại đội Charley trấn giữ, và có đến 8 hay 10 ngàn quân đến đúng vị trí phòng thủ của họ. Stryker ghi chú rằng thông thường một đại đội với quân số khoản 200 lính sẽ chịu trách nhiệm cho một khu vực chừng 1200 thước. Nhưng tiểu đoàn 1, đơn vị cha của đại đội Charley, lại có một tuyến trận địa kéo dài đến 16 ngàn thước, điều này có nghĩa là mỗi đại đội trong số ba đại đội thuộc quyền, mà không có đại đội nào có đầy đủ quân số, phải chịu trách nhiệm cho một địa đoạn dài từ 5 đến 6 ngàn thước. Nó cũng có nghĩa là một trung đội trong tình trạng tốt nhất có khoản 70 lính sẽ phải phòng thủ cho 2000 thước, và một tiểu đội từ 20 đến 25 người sẽ chịu 700 thước, hay nói cách khác là 7 cái sân bóng đá.

Ước lượng của Stryker phù hợp với hồi ức của thượng sỹ Graham – trung đội trưởng trung đội 2 thuộc đại đội Charley, anh có trong tay một phân đội cối một phân đội súng không giật; và của thượng sỹ Erwin Ehler, trung đội trưởng trung đội 4, trung đội vũ khí hạng nặng. Trung đội của Graham nằm ở giữa đội hình đại đội Charley. Cánh trái là Ehler và trung đội 4; cánh phải là đại đội B của tiểu đoàn. Bên trái Ehler và trung đội của mình là con đường dẫn đến Chanyong , rồi đến quân của trung đoàn bộ binh 9, cũng thuộc sư đoàn 2. Khoảng trống trên tuyến phòng thủ thật kinh khủng. “Chúng tôi cách rất xa các đơn vị khác đến nỗi chúng tôi không biết những người khác ở cái xó nào cả” Ehler nhớ lại, anh đã bị thương nặng vào đêm đó. Còn trung đội của Graham thì nhô lên phía trước chừng 2000 thước. Sườn phải của Graham là một khoảng trống dài chừng 2000 thước , và sau đó là vị trí đại đội B cũng thuộc tiểu đoàn 1. Sau này thượng sỹ Graham viết lại “Chúng tôi có thể khép được khoảng trống [giữa chúng tôi] bằng hỏa lực suốt cả ngày, nhưng ban đêm thì không thể”.

Họ đã bị dàn mỏng một cách thảm hại trên toàn tuyến, không ai biết điều này hơn đại úy Cyril Bartholdi, đại đội trưởng đại đội Charley. Anh là một sỹ quan giàu kinh nghiệm và có họ xa với người anh hùng biểu tượng của Tự do; anh đã chỉ huy từ hồi thế chiến II và hiểu rất rõ những điểm yếu của quân mình ở đây, rằng không có cách nào để họ có thể ngăn được cuộc tấn công của quân Bắc Triều Tiên mà mọi người đang chờ. Anh hiểu họ là một phần của một sợi dây thép mỏng manh, chủ yếu là để giúp cảnh báo cho phần còn lại của tập đoàn quân 8. Nhiệm vụ của họ là đánh tín hiệu về cuộc tấn công của quân Bắc, làm chậm nó chút đỉnh bằng hết khả năng, báo cáo về độ lớn của chúng, và hi vọng rằng những người ở các sở chỉ huy phía xa rốt cuộc có thể đưa đến đủ quân, đủ súng để chống lại cuộc tấn công. Điểm tàn bạo của nhiệm vụ này, anh hiểu, mang nghĩa là tất cả họ có thể sẽ chết ở đây.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 02:45:40 pm
Chiều ngày 31 tháng Tám, quân binh trong các đơn vị của trung đoàn 23, trong đó có đại đội Charley, đã chú ý đến sự tập hợp của quân địch bên bờ kia sông Naktong, vài chỗ còn đang kết bè nữa. Chắc chắn là trận tấn công đã gần xảy ra – trên thực tế, theo như cái cách đang thể hiện ra, họ nghĩ, việc đó rõ ràng đang triển khai. Sông Naktong có thể là một tuyến phòng thủ có giá trị, nhưng cũng là một tuyến không hoàn hảo. Phía Bắc Triều Tiên biết cách lẻn qua trong đêm và tạo dựng những cây cầu ngầm dưới nước bằng những bao cát, những cây cầu này vô hình dưới mắt thường bởi dòng nước đục ngầu. Và rồi khi trận đánh bắt đầu, lính và phương tiện của địch vượt sông dễ dàng, trong quân Mỹ có một số người sợ hãi khi họ chờ đợi trận tấn công.

Đòn đánh đầu tiên của bộ đội miền Bắc là nhằm vào đại đội Baker. Lúc 8h30 tối, trung úy William Glasgow của đại đội Baker báo cáo có một dấu hiệu lạ, có vẻ như có một số lượng quân địch không đếm được đang mang theo đuốc và di chuyển về phía sông, anh báo cáo rằng những ngọn đuốc đó được viết thành hai chữ V và O. Không ai diễn giải ra được những chữ đó nghĩa là gì (nếu chúng thực sự là những chữ cái) – có lẽ đó là những dấu hiệu chỉ đường cổ xưa nhằm hướng dẫn các đơn vị khác nhau đi đến đúng vị trí. Cả những tù binh Bắc Triều Tiên cũng được quân Mỹ dẫn ra để khai thác chút đỉnh về việc này. Rốt cuộc thì thứ người Mỹ đa số nhận được từ họ là quân Bắc, vẫn rất tin chắc, sẽ tới Pusan trong ba ngày.

Rồi pháo binh phía Cộng sản bắt đầu gầm vang. Đột nhiên, quân Mỹ nhận thấy một hình ảnh khủng khiếp, lính Bắc Triều Tiên trùng trùng điệp điệp vượt sông. Trong vòng 15 phút đầu, quan sát viên đại đội Charley ước lượng có ít nhất 1300 lính miền Bắc đã vượt được sông Naktong. Còn trong địa đoạn đại đội Baker, như các ước lượng sau này, có bốn đợt vượt sông, mỗi đợt chừng một tiểu đoàn, và tổng cộng là gần một sư đoàn.

Có một cuộc đột kích ghê gớm trong khu vực đại đội Charley. “Trông như hàng triệu con kiến vượt sông và hướng về phía chúng tôi khi chúng tôi nhìn thấy lần đầu”, Terry McDaniel, một hạ sỹ hậu cần đã có mặt trong đêm đó nói. Với người Mỹ, bị cô lập, bị biển người, họ chờ đợi định mệnh đến với họ, đó là một cảnh tượng kinh khủng, một lực lượng chiến đấu mà họ rất kính nể, đang tràn đến với số lượng khổng lồ. Đợt sóng đầu tiên quân Bắc Triều Tiên nhận những thương vong kinh hoàng. Rusty Davidson, một thư ký đại đội, anh cũng ra chiến hào bởi mọi người đều phải thế, nhớ lại: “Lúc đầu chúng là những mục tiêu ngắm bắn cực đã, và anh em trong trung đội tôi hét lên với nhau y như đang bắn gà tây, nhưng bọn chúng quá đông, và chúng tôi quá ít, nên nhanh sau đó chúng tôi nhận ra rằng chúng tôi mới chính là gà tây”.

Với chỉ huy tiểu đoàn họ cũng đợi cuộc tấn công, nhưng không phải quá ghê gớm như thế này  hoặc ở một chiến địa mà không ai trong số họ muốn chọn. Bất hạnh thay, đó không phải là thứ có thể chọn lựa. Nếu có thứ gì để họ lựa chọn, thì họ muốn có thêm vài sư đoàn khác cùng phòng thủ chiến địa này; có máy bay của không quân lượn trên đầu để đón chào quân Bắc từ trên cao; và có sự phối hợp tốt với pháo binh Mỹ sẵn sàng nhắm bắn vào các hàng quân. Họ có quá ít pháo binh, và hầu như không có không quân hỗ trợ. Cơ bản là bộ binh tẩn nhau. Chiến thuật, ở mức gọi là có – hầu như đó là bản năng – là cố giữ được những con đường đi từ phía đông mấu lòi sông Naktong hướng về Pusan, cố mua lấy thời gian để các đơn vị Mỹ và LHQ tập hợp tới được. Nhưng gì thì gì, họ cũng tự thân mình ngoài đó. “Chúng tôi thực sự mỏng”, George Russell, ở sở chỉ huy tiểu đoàn nhớ lại, nhưng anh cười ngay cả khi anh dùng cái từ đó. Có một từ diễn tả tốt hơn, anh nói và rồi thêm vào “Mỏng ở như một dấu chấm không thấy được”. Đến nửa đêm đại đội Baker dưới quyền Glasgow rút lui, trong khi đại đội Charley hoàn toàn bị bao vây và bị đánh bầm dập, họ bị cô lập và yếu đến nỗi nhiều đơn vị Bắc Triều Tiên nhanh chóng bỏ vượt qua họ và thẳng tiến đến sở chỉ huy tiểu đoàn, nơi họ sẽ đến lúc sáng sớm ngày 1 tháng Chín. Chúng nhanh chóng ngoặc vào sau lưng họ, cắt rời họ; và họ còn bị cắt rời cả ba ngày kế tiếp


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 02:48:49 pm
Ngay khi có báo cáo về cuộc đột kích với đuốc, đại tá Paul Freeman, trung đoàn trưởng trung đoàn 23 đã lịnh cho pháo binh bắn. Hỏa lực rất chính xác – chắc chắn là những ngọn đuốc đã giúp cho điều đó – và nó tức thời làm chậm bước tiến của bộ đội Bắc Triều Tiên, nhưng cuối cùng thì ngay cả hỏa lực pháo binh chính xác cũng không làm được gì nhiều. Trở lại với tiểu đoàn, họ bị giằng xé giữa hai yêu cầu xung đột nhau – là giữ các vị trí của các đại đội càng lâu càng tốt và đưa lính thoát ra càng nhiều càng tốt để mai kia còn quay lại chiến đấu. Hiểu rằng vị trí các tiểu đoàn và trung đoàn của ông đang bị đe dọa, và rằng con đường dẫn đến Pusan có giá trị rất lớn, nên Freeman đã ngay lập tức tổ chức một lực lượng khóa chặn, đồng thời ra tín hiệu cho các đơn vị đóng phía trước giữ vị trí lâu nhất có thể. Ông đưa lực lượng dự bị của trung đoàn ra ngay lập lực, đại đội Fox, và đặt nó dưới quyền thiếu tá Lloyd Jenson, sỹ quan chỉ huy tiểu đoàn 2. Nhiệm vụ của họ là cố đánh thông đến chỗ trung tá Claire Hutchin của tiểu đoàn 1 bằng tất cả khả năng. Nếu không được, và họ nhanh chóng thất bại thật, họ phải cố thiết lập một vị trí khóa chặt lối từ sông Naktong xuống con lộ Changnyong.

Freeman đang ở tình cảnh rõ ràng không ai muốn. Ông bắt đầu một trận đánh chống lại một lực lượng to lớn hơn rất nhiều mà trong tay chỉ có hai thay vì ba tiểu đoàn như thông thường. Một tiểu đoàn đã hoàn toàn bị cắt rời – thiệt hại rõ ràng là sẽ rất ghê gớm – và các bộ phận của tiểu đoàn còn lại thì không thể đánh thông tới được. Bởi thời tiết xấu, nên không quân không giúp được gì, còn pháo binh của Freeman thì thiếu đạn dược. Để cố khóa con đường chính xuống Changnyong, vị trí của Jenson ngay lập tức trở thành vị trí phòng thủ chính của trung đoàn, và một trận đánh dữ dội nổ ra quanh nó trong suốt hai tuần tiếp theo. George Russell, một chiến binh dữ dội, từng đánh nhau ác liệt trong thế chiến II với quân Nhật ở Thái Bình Dương, cho rằng ông chưa bao giờ thấy một trận đánh nào đau đớn, tàn nhẫn và thô bạo như vậy. Một hình thái chiến đấu nguyên thủy nhất. Quân Mỹ đã chiến đấu ác liệt bởi sợ họ có thể bị đẩy ra khỏi bán đảo, còn quân Bắc cũng không kém phần dữ dội bởi họ biết rằng nếu thất trận ở đây thì đó có thể là trận tấn công lớn sau cùng và họ có thể bị đuổi về phương bắc.

Paul Freeman chỉ định đại đội George thiết lập một vị trí chốt chặn ngõ hầu cho phép tiểu đoàn 1 lui về vào ngày 3 tháng Chín và tập hợp lại ở một nơi họ gọi là Switch (bởi nó gần trung tâm liên lạc tiểu đoàn cũ được biết dưới cái tên Switchboard). Như vậy là vị trí của quân Mỹ được yêu cầu phải trụ vững trong vòng 48 giờ sau trận tấn công đầu tiên. Đến ngày 3 tháng Chín, mọi thứ bắt đầu rõ là sư đoàn 2 Bắc Triều Tiên tập trung vào con lộ chính, và Freeman đang dùng hầu như tất cả binh lính của ông để khóa con đường thẳng về Pusan. Như sau này Freeman ghi lại, những quyết định mà ông đã ra tức thời trong vài giờ đầu trận đánh là những quyết định tàn nhẫn nhất mà ông từng làm dưới tư cách một tư lệnh. Ông hiểu là ông phải hi sinh những đơn vị đó nhằm mua thời gian, ngay cả sở chỉ huy trung đoàn của ông cũng bị tràn ngập hồi ngày 1 tháng Chín, và ông chỉ có thể di chuyển từ đó về phía sau chừng 600 thước.

Trở lại tuyến phòng thủ cạnh sông Naktong, kết cục đến rất nhanh. Quân Bắc nhanh chóng bao vây đại đội Charley và bắt đầu nghiền, ép họ. Với quân Mỹ phòng thủ ở những vị trí tiền tiêu bé tý trong đêm đầu tiên đó, giống như thấy dây thừng quân thù quành quanh cổ họ và nhanh chóng thít chặt. Đến nửa đêm gần như đại đội Charley không còn gì. Hạ sỹ Berry Rhoden chỉ huy một khẩu đội súng không giật 7 người trong đêm đó. Anh đâu đó 18 tuổi, một tiểu đội trưởng mới toanh đến từ vùng nông thôn Florida trước đó còn làm nghề nấu rượu lậu. Còn đêm ấy, anh ở vị trí để nhìn thấy một đại đội bộ binh bị hủy diệt. Bởi không có đủ dây tín hiệu nối thẳng từ sở chỉ huy tiểu đoàn 1 của trung tá Hutchin đến trạm chỉ huy đại đội Bartholdi, nên họ mắc tạm một tuyến dây đến vị trí của Rhoden, từ nơi nay vốn đã có một tuyến liên lạc về chỗ của Bartholdi, cách đó 700 thước. Và như vậy Rhoden cơ bản trở thành một trạm liên lạc trung gian và có thể nghe được những tiếng la hét đau khổ cuối cùng của binh lính đơn vị tiền tuyến đang bị tràn ngập, và câu trả lời cũng đau đớn từ sở chỉ huy bởi bất lực không thể làm gì để giúp. Thật là đau khổ, bởi chính vị trí của anh cũng sẽ chịu số phận không kém.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 02:53:33 pm
Anh nghe đại úy Bartholdi xin tiểu đoàn cho phép lính của anh đào thoát: “Chúng tôi không thể trụ nổi! Xin nhắc lại chúng tôi không thể trụ nổi! Cơ hội duy nhất của chúng tôi là tan hàng và để mọi người tự đào thoát” Rhoden chuyển tiếp thông điệp Bartholdi, và tự hỏi rằng họ có thể làm điều gì, ví như gửi một tiểu đoàn khác đến cứu viện hoặc không quân có thể bay vài tác vụ phụ trội ở những phút sau cùng. Anh nhớ những kiểu đó có trên phim ảnh. Nhưng đêm đó thì không, ở bờ đông sông Naktong thì không. Anh và binh sỹ của mình đã chiến đấu rất quả cảm, nhưng họ bắt đầu cạn đạn dược chỉ sau 45 phút chiến đấu, và khi Bartholdi nói những lời cuối đó, xin được quyền đào thoát, thì anh cũng đã nói cho tiểu đội của Rhoden. Và thông điệp đáp từ tiểu đoàn là: “Hãy giữ vững vị trí của các anh bằng mọi giá! Không được tan hàng. Xin nhắc lại yêu cầu giữ vị trí của các anh bằng mọi giá! Không được tan hàng”. Rhoden đã chuyển thông điệp đó cho đại úy Bartholdi, và nhận được thông điệp cuối cùng từ Bartholdi yêu cầu hỏa lực pháo binh hoặc ít nhất là bắn pháo sáng. Nhưng cũng không có thứ gì. Rồi cả hai đầu dây câm bặt. Rõ ràng là quân Bắc Triều Tiên đã cắt dây. Rất nhanh Rhoden nghe thấy cả hai đầu dây bắt đầu sột soạt, anh biết quân Bắc đang kéo dây và cố tìm ra vị trí của Rhoden. Thế nên anh cắt đầu dây phía mình. Và để cho bọn chó đó kéo một sợi dây chẳng dẫn tới đâu cả. Đó cũng là lúc Rhoden quyết định đưa cả tiểu đội mình thoát ra.

Thượng sỹ Graham, trung đội trưởng trung đội 1 đại đội Charley, nghĩ điều tốt nhất phải làm là thu lính của mình về một vị trí càng chặt chẽ càng tốt và như vậy sẽ tối đa hóa được việc tập trung hỏa lực. Anh biết rằng cơ hội để thoát ra đã giảm từ mức mỏng manh tới mức nhỏ xíu. Graham được anh em binh lính nhìn nhận là một NCO (hạ sỹ quan) hạng cừ. Anh là một người chung thân không chịu lấy vợ, như thể phản ánh cho một lề lối cũ của đa số các NCO: nếu quân đội muốn bạn có một người vợ, thì họ sẽ phát cho anh một cô. Anh cũng được biết đến với biệt danh Bò Đực, một thứ biệt danh chung được gán cho các hạ sỹ quan cứng rắn. Trong quá khứ, anh luôn nén lại việc quan hệ cá nhân với lính tráng của mình. Anh không có ý định là một trong các NCO vừa cứng rắn nhưng cũng dễ mến – với anh cứng rắn là đủ. Nhiều năm sau, anh mới có thể nói với vài người trong số họ biết rằng anh đã phải luôn cố làm ra vẻ cứng rắn bởi anh sợ những cảm xúc song hành trong trường hợp anh mất họ trên chiến trường – điều này không giúp được một ai và còn có thể làm giới hạn sự tự do của trong việc ra quyết định của anh. Thật là tệ khi vài người lính của bạn bị giết – nhưng còn tệ hơn nếu bạn của bạn bị giết. Binh sỹ dưới quyền anh tin rằng, anh chính là dạng hạ sĩ quan nòng cốt cho sức mạnh của quân đội. Nếu có ai đó có thể đưa mọi người ra khỏi một điểm vô vọng, thì đó chính là anh. Graham Bò Đực là một quân nhân đủ giỏi mà họ muốn tìm thấy. anh luôn có khả năng bố trí hỏa lực vượt trội, không biết sợ hãi và không bao giờ đặt cá nhân anh lên hàng đầu.

Bản chất của trận đánh này, Graham nhanh chóng nhận ra, ít dựa vào lòng dũng cảm hơn là đạn được: đạn dược là thời gian. Graham đã luyện được giác quan cảm nhận âm thanh của trận đánh, đến một lúc anh có thể nhận ra, khi vị trí của trung đội trung úy Tom Wilson bên cạnh im lặng, rằng quân Bắc Triều Tiên đã tràn ngập bên đó. Điều đó có nghĩa là áp lực lên người của Graham sẽ tăng lên. Thế là anh quyết định cố gắng đưa quân thoát ra. Bất kể sở chỉ huy tiểu đoàn muốn gì, thì họ cũng không thể kìm chân quân địch được nữa; họ thiếu đạn dược để làm việc đó. Họ chỉ còn một băng đạn cho đại liên, vài khẩu súng trường tự động đã hoàn toàn cạn đạn, và một số lính thì đang hét xin vài viên đạn cho khẩu M-1 của mình. Chẳng còn lại gì nhiều trừ lưỡi lê. (Anh cũng có lưỡi lê nhưng nó vừa cùn hoặc vừa bị tháo khỏi súng, anh không chắc nữa). Lưỡi lê sẽ chẳng làm được điều gì, không thể dùng để chống lại những quân sỹ giỏi có súng tự động.

Thế là anh tập hợp binh sỹ. Anh mất chừng 12 người lúc ở trên đồi. Có lẽ 15, ai có thể nói chính xác được trong cơn điên loạn của trận đánh? Anh không bao giờ biết chính xác là bao nhiêu, bởi vài người cho là bị giết những rồi lại trở về sau vài ngày. Chỉ khi mọi thứ kết thúc, thì có một điều anh tự hào là chốt của họ đã không bị tràn ngập. Họ quay về chốt chỉ huy đại đội Charley, ở đó họ tìm thấy đại úy Bartholdi, trung úy Wilson, và có lẽ bảy binh sỹ thuộc trung đội của Wilson, và cố gắng củng cố lực lượng. Thứ họ cần nhất, nếu họ muốn đánh tháo ra, đó là đạn. Họ ráng moi đạn từ những người chết, nhưng cũng không có nhiều – có lẽ những ai đó đã làm trước rồi. Lúc bấy giờ, tại chốt chỉ huy đại đội, thời gian cạn dần. Họ tập hợp được một khẩu 50mm bốn nòng – đó là bốn khẩu đại liên nòng 50 ghép lại với nhau, gắn lên một chiếc half-track – và một khẩu 40 hai nòng, một vũ khí phòng không (khẩu 40mm hai nòng cũng được gắn lên một cơ cấu xe half-track). Nó sẽ kháng cự hữu hiệu với quân thù một thời gian, nhưng vấn đề chỉ mang tính thời đoạn. Kết cục đã hiển hiện.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 02:58:55 pm
Hỏa lực quân thù mỗi lúc càng mạnh, họ chỉ có thể xoay sở để đưa vài thương binh thoát ra trên một chiếc jeep tiếp vận. Thế rồi trước khi trời sáng, quân Triều Tiên đã đoạt được khẩu 4 nòng, khẩu 2 nòng 40mm  và quay nó hướng vào vị trí quân Mỹ ở cự ly rất gần. Vậy nên khi họ cố đào thoát, đạn và pháo bắn tung bụi quanh người họ. Bằng cách nào đó Graham cùng vài người còn sống sót chạy sang được đỉnh quả đồi lân cận, và rồi chỉ để nhận ra quân Bắc Triều Tiên đã ở sẵn trên một ngọn cao hơn cạnh đó và bắn xuống họ. Đó là lúc Graham bị thương lần thứ nhất, ngay vào mông. Nhưng bằng cách nào đó họ xoay sở chạy tiếp được. Lúc này không còn mấy người trong nhóm, có lẽ 25 người kể cả đại úy Bartholdi, trung úy Wilson, trung sỹ Robert Agnew, hạ sỹ Jessie Wallace, binh nhất David Ormand và binh nhất Arnold Lobo, lính cứu thương. Ormand vừa chết hụt, nhiều người nghĩ. Anh là lính truyền tin của đại úy, và trước đó máy truyền tin của anh bị bắn bay khỏi lưng. Barthodi đã phải bò xuống vào kéo Ormand ra khỏi nguy hiểm, đưa anh tới chỗ an toàn.

Graham nhớ rằng họ ráng thoát khỏi quả đồi, rồi rốt cuộc xuống được một con mương trú ẩn, viên đại úy cố mò khắp túi để tìm vài băng đạn cuối cùng. Rồi Graham bị bắn trúng lần nữa – cùng chỗ nhưng từ hướng khác. Anh chảy máu nhiều như một con lợn bị cắt tiết, anh nghĩ vậy. Anh mất cảm giác chân mình ngay tức khắc. Anh lấy quần lót ra, Ormand gập lại và dùng chúng để cầm máu, nửa trong nửa ngoài thắt lưng – một kiểu băng dã chiến trên chiến trường, điều bạn có thế làm tốt nhất có thể trong tình trạng như thế này. Lúc đó hỏa lực quân thù rất ác liệt. Graham có thể nói, mọi người điều bị trúng đạn cả. Chỉ một số ít trong đó là vẫn còn khả năng vận động. Có lẽ 20 lính Mỹ đang nằm chết trong con mương cạnh anh – anh chỉ có thể nói chẳng có gì khác nhau giữa những người còn sống và đã chết. Vài người vẫn còn nhúc nhích được hỏi anh rằng họ nên là gì – chạy trốn, chiến đấu hay đầu hàng? Trong một cuộc chiến khác đầu hàng có lẽ là một giải pháp chấp nhận được, nhưng tất cả họ đều được nghe những câu chuyện – những câu chuyện có thể, rằng – tù binh Mỹ được tìm thấy với tay bị trói ra sau, bị bắn vào đầu và vùi trong các hố nông choèn. Nhưng họ chiến đấu thế nào đây, khi không còn một băng đạn nào, anh nghĩ?

Graham trả lời rằng anh đang chết à không thể nói cho họ biết phải làm gì. Họ nên tự quyết. Lần sau chót anh nhìn thấy họ là khi họ đi ra ngoài để đầu hàng. Anh lắng nghe cẩn thận và nhận ra không còn nhiều tiếng súng, không có âm thanh đạn rít, anh tin rằng ít nhất họ không bị tử  hình ngay lập tức. Sau này anh biết được Wilson và Lobo bị giết; Wallace, Ormand và Agnew rốt cuộc cũng được quân Mỹ cướp lại. Graham nằm đó, máy chảy nhiều, đợi chờ cái chết. Anh nghĩ, bọn mọi vàng bắt được mình. Hai nhóm lính Bắc Triều Tiên đầu tiên đến đã bỏ anh nằm đó chờ chết. Nhóm thứ 3 thì nhận ra anh vẫn còn sống và lột mọi thứ đồ của anh – giày, vớ, bật lửa, đồng hồ và cả sổ đen nhỏ mà anh ghi những thứ linh tinh trong đại đội, những người làm anh bực mình và những công kích tầm thường họ dành cho nhau. Mà cũng không cần lo gì; hầu hết những cái tên đó cũng đã chết rồi, và anh cũng sắp đi theo họ. Một tên lính miền Bắc hỏi: “Mày sỹ quan?”. Anh trả lời: “Không, tôi lính”. Nhưng rồi may mắn nhỏ nhoi của anh dường như cũng chạy mất. Trong nhóm có một tên mà anh gọi là Smart John, một sỹ quan coi bộ thông minh và bần tiện hơn đám còn lại. Hắn gõ vào giữa hai mắt anh bằng báng súng và cố bảo anh đứng dậy. Graham ráng ra hiệu rằng anh không thể bởi vì cái chân. Tên Triều Tiên rút lê ra và khinh bỉ dí vào hạ bộ Graham. Graham gật đầu – không thể đứng dậy, anh ra điệu bộ lần nữa. Quân phục của Graham ướt đẫm máu dưới hông. Tên sỹ quan để anh lại một lúc và kiểm tra những thi thể quân Mỹ khác. Vài tay lính Bắc Triều Tiên quấy rầy anh bằng những câu tiếng Anh thô sơ rằng anh bao tuổi và anh có khát không. Anh cố xin ít nước, nhưng chúng từ chối, dù rằng dường như chúng thân thiện hơn tên sỹ quan. Rồi Smart John quay trở lại. Graham nghĩ, thế đấy, đây là thời khắc vĩnh biệt. Nhưng tên Triều Tiên, rõ ràng cho rằng Graham chẳng còn gì để quấy quả, nên chỉ giật thẻ lính của anh và rời đi.

Kỳ diệu thay, chừng 12 giờ sau, Graham cảm thấy mình đủ sức để bắt đầu bò đi. Trong mười hai giờ đêm kế tiếp anh bò và khập khiểng hướng về nơi anh nghĩ là chốt quân Mỹ, ban ngày thì ẩn nấp, anh di chuyển một cách chậm chạm, đau đớn và thận trọng vào ban đêm. Trong 24 giờ đầu tiên, anh tính ra chỉ bò được chừng 100 thước. Rốt cuộc anh cũng tìm thấy được một cái que và dùng nó làm nạng chống. Anh uống nước ở những nơi có thể tìm thấy – ngay cả liếm sương trên cỏ. Lúc về được tới sở chỉ huy tiểu đoàn, anh có một bộ râu nặng nề, anh thề là ria của anh dài tới mức nó uốn cong ở đoạn cuối. Anh trông thê thảm cực kỳ, và ốm mất chừng 25 ký. Với nhóm nhỏ các sỹ quan ngồi đó khi anh bò vào, trong đó có cả trung tá Clare Hutchin, thì y như kiểu ma hiện hình. Thiếu tá Butch Barberis vừa mở một chai bia. Ông nhìn cái thây ma đó, lấy chai bia và đưa cho. “Thứ ngon nhất là tôi từng được nếm” Graham nói với Barberis. Chiến tranh Triều Tiên với anh thế là kết thúc. Dĩ nhiên, đại đội Charley bị xóa sổ. Có lẽ chừng 15 hay 20 người trong số họ trở về được sở chỉ huy. Một đại đội trong tình huống như vậy thông thường có 6 sỹ quan, nhưng đại đội Charley chỉ có 3, và 2 trong số họ chết trong 24 giờ đầu tiên.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 03:04:13 pm
Nhằm lập thành tích chào mừng 60 năm ngày Chiến Thắng Triều Tiên 27-7 :) , ráng post nhanh cho hết. Mời bà con ghé coi. Đã dịch xong toàn bộ.

Đại úy Bartholdi thì không được may như vậy. Cuối cùng, anh cùng với một nhóm quân cũng bị phía Bắc Triều Tiên bắt làm tù binh. Họ phải di chuyển vào ban đêm trong vòng hai tuần, tù binh bị trói lại với nhau bằng dây thép, và đi khoản đôi dặm một đêm. Phía Bắc Triều Tiên cố phân biệt cấp bậc tù binh Mỹ, dĩ nhiên là sẽ cứng rắn hơn với các sỹ quan, mà họ tin là những đại diện đích thực của giai cấp tư bản. Cả ban ngày, khi chờ đợi, chúng thường làm các cuộc thẩm vấn: Nhà mày giàu hay nghèo? Chúng hỏi như vậy. Nếu bạn trả lời là giàu, chúng sẽ bắn bạn, nên rất nhanh mọi người đều trả lời nhà nghèo. Mày có thích MacArthur không? Chúng hỏi. Không, cánh tù binh trả lời. Mày có thích Truman không? Không, họ cũng trả lời như thế. Quân lính thường gọi Bartholdi là Đại úy Bart, và giờ để bảo vệ anh, họ chỉ gọi anh là Bart, rốt cuộc sau chừng hai tuần bị bắt, lính Bắc Triều Tiên đe dọa sẽ giết tất cả mọi người nếu sỹ quan của họ không chịu bước ra. Bartholdi đã làm điều đó, chúng đánh anh rất dữ trong những ngày kế tiếp, và rồi cuối cùng đã sát hại anh, thảy xác anh vào một ngôi mộ tập thể cùng với xác của rất nhiều người Triều Tiên địa phương. Đa số những tù binh Mỹ khác được giải cứu sau đó bởi một đơn vị xe tăng Mỹ. Bartholdi được truy tặng Huân chương Sao bạc.

Đại đội Charley đã hứng toàn bộ sức tấn công của phía Bắc Triều Tiên trong những ngày đó nên tất nhiên chịu thiệt hại nghiêm trọng. Dù đại đội đã được tái lập, nhưng dường như nó luôn có chút kém may mắn hơn những đại đội khác, và thương vong luôn cao hơn. Vậy nên rất nhanh sau đó, những sỹ quan trung đoàn muốn dọa ai thì sẽ nói: “Làm sai ở đây là đi xuống đại đội Charley nghen mậy”.

Tuy vậy, trong cuộc chiến dữ dội đó, họ cũng đã làm chậm được quân Bắc, phía địch đã đột phá qua được nhưng hoàn toàn thất bại trong việc khuyếch trương chiến quả. Cả một sư đoàn dự bị Bắc Triều Tiên đợi cạnh mấu lồi Naktong và, không thể giải thích nổi, tại sao nó không được đưa vào trận đánh. Thay vào đó, họ chỉ dừng lại, tập trung, và như thế có đủ thì giờ để cho quân của Walker có thêm một cơ hội. Trong đêm đó có rất nhiều đại đội như đại đội Charley dọc dòng sông Naktong. Không ai biết hơn Walker việc ông có rất ít viện binh, và phải mất bao lâu để ngay cả một đơn vị giỏi nhất vừa đến đất nước này phải tốn để thích nghi với điều kiện chiến đấu. Một đơn vị tinh nhuệ, sư đoàn 2, với một lịch sử cực kỳ tự hào, vẫn không là một đơn vị giỏi đã kinh-qua-chiến-đấu ở Triều Tiên, cho đến khi nó đã phục vụ nhiều lần trên chiến tuyến. Với các sỹ quan đến đất nước này làm trung đội trưởng hay đại đội trưởng, thật không thể biết trước được ai đủ thông minh hoặc có bản năng chiến đấu cho đến khi họ ở dưới làn đạn, và điều đó không thể dạy được, không thể với cả học viện West Point, VMI hoặc ROTC. Hầu như đó là bản năng, và đó là những thứ chỉ có thể học bằng thực tế.  Chỉ sớm hay muộn thì những sư đoàn mới cũng sẽ chiến đấu tốt, Walker không có lo, nhưng vấn đề là thời gian, mà thời gian là thứ ông có ít. Mike Lynch nói, ông ta như một người bận rộn luôn tay, và không bao giờ có đủ tay để làm.

Sau này, những nhà phê bình quân sự chỉ ra rằng các tư lệnh bộ đội Bắc Triều Tiên đã thất bại trong cuộc tấn công lớn sau chót vào vòng cung phòng thủ Pusan phần lớn bởi họ đã sử dụng các đơn vị một cách tệ hại. Nếu họ tập trung lực lượng và tấn công với quân số áp đảo ở vài vị trí thôi, có lẽ họ đã thành công hơn. (Dĩ nhiên, nếu làm thế, họ có thể thành những mục tiêu tốt hơn cho pháo binh và không lực Mỹ). Nhưng những phê bình đưa ra sau này chẳng làm Walker thỏa mãn mấy, tại thời điểm đó, ông cảm thấy vô vọng và bị áp đảo bởi cuộc tấn công của quân Bắc. Ngày 1 tháng Chín, Mike Lynch được triệu tập, một trong những ngày tồi tệ nhất.  Họ bay thấp trên những khu vực do trung đoàn 9 (thuộc sư đoàn 2) phụ trách, và nhìn thấy một đại đội quân Mỹ đang tháo lui dọc một con rạch, cho dù chẳng có địch quân nào gây áp lực. Theo ý Walker, thật tệ, bởi họ bỏ qua những vị trí phòng thủ hoàn hảo mà ở đó họ có thể kìm chân quân Bắc Triều Tiên. Thế là ông bảo Lynch hạ thấp độ cao hết cỡ. Lynch đưa phi cơ xuống tầm 300 thước, rồi cắt ga và lượn xuống mức 50 thước trên đầu quân Mỹ (và hi vọng động cơ luôn có thể khởi động lại). Và thế là vị tướng ba sao tư lệnh tập đoàn quân 8 chồm hẳn ra ngoài cửa, gần như ông không còn trong máy bay, hét toán lên qua chiếc loa tay. “Dừng lại, quay lại đi, bọn chó chết! Chúng mày không bị tấn công mà! Quay lại đi, có vị trí chốt tốt”. Nhưng quân binh không thèm để ý, để Walker lại trong cơn điên giận. Đó là một trong số những cuộc rút lui ở thời khắc cốt tử, và lại là quân của một sư đoàn được cho là tinh nhuệ vừa đến từ Hoa Kỳ. Ông bảo Lynch quay về lại sở chỉ huy của thiếu tướng Laurence (Dutch) Keiser, sư trưởng sư đoàn hai. Dựa trên quan sát của chính mình ở độ cao tầm ngọn cây và những mẩu tin tức tình báo rải rác, ông xác định rằng quân Cộng sản tấn công vào sư đoàn 2 và xuyên thủng một lỗ vào hay giữa đội hình của nó – chừng sáu dặm chiều ngang và tám dặm chiều sâu. Lúc đó, ông tin rằng sư đoàn 2 rất gần mới nguy cơ bị cắt làm đôi.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 03:10:24 pm
Như những người đồng cấp khác, ông cũng có những lo ngại đáng kể về Dutch Keiser, lúc đó 55 tuổi, hơi già với vị trí chỉ huy sư đoàn. Những cảm nhận cuộc chiến này đến với ông ta khá muộn. Ông (Keiser) dường như khá miễn cưỡng khi rời sở chỉ huy sư đoàn, phụ thuộc nhiều vào các thuộc cấp của mình để nắm thông tin. Ông trong những giờ phút gay go đó lại, như Clay Blair sắc sảo nhận định: “điều binh khiển tướng từ sở chỉ huy được canh phòng cẩn mật”. Đôi khi một người cực kỳ dũng cảm trong chiến đấu hồi còn trẻ, lại không còn tố chất người lính khi có tuổi. Đó chính là trường hợp Keiser. Ông học West Point khóa 1917, chỉ huy một tiểu đoàn và được tặng một huân chương Sao bạc trong thế chiến I, ở đó mọi thứ tốt đẹp với ông và ông còn trẻ, dũng cảm. Nhưng rồi chắc chắn 33 năm đã làm thay đổi một sỹ quan. Ông đã không đứng trên chiến trường hơn ba thập kỷ – do không chỉ huy thực chiến trong thế chiến II. Mùa thu năm 1947, ông tham gia sư đoàn 2 ở cương vị sư đoàn phó, và đến tháng Hai năm 1948 ông nhận được ngôi sao cấp tướng thứ hai (thiếu tướng) và thăng tư lệnh sư đoàn, mọi người rõ rằng ông được giúp đỡ bởi người bạn thân và cũng là bạn học cùng lớp, Joe Collins, tham mưu trưởng Lục quân. Mike Lynch nói thẳng toẹt suy nghĩ riêng của Walker, rằng ông ta tin Keiser trở thành một thằng hèn khi có tuổi, rằng việc chỉ huy trong trận chiến này là quá cỡ cho ông ta. Buổi sáng đó Keiser gần như hoàn toàn bị rối loạn bởi các tình huống. Việc Walker hấp tấp đến sở chỉ huy của Keiser là một cảnh tượng cục súc, chỉ có thể diễn ra trong một thời khắc chiến tranh tệ hại, khi hai con người bị đặt bên vực thẳm, và không có chỗ cho thất bại. Walker đang giận bừng bừng khi ông bước vào sở chỉ huy, và rồi ông nhìn thấy bản đồ hiện trạng của Keiser – tấm bản đồ của một người hão huyền, một tấm bản đồ cho thấy không có việc gì để phải làm, với một mặt trận đang bị sụp đổ mà Walker vừa mới bay ngang qua.  Một vị tướng của một sư đoàn đang bị địch tràn ngập, mà ông ta dường như chẳng biết gì.

Câu đầu tiên Walker hỏi: “Dutch, sư đoàn của anh ở đâu? Lực lượng dự bị ở đâu? Anh đang tái bố trí lực lượng dự bị thế nào? Anh phải giữ cho được Yongsan! Nếu không làm được ta sẽ mất Miryang, mà mất Miryang là ta có thể mất Pusan. Anh đang ở trung tâm sự kiện mà anh chẳng biết gì cả” Keiser biểu lộ rằng ông vẫn đang đợi các sỹ quan liên lạc trở về và báo cho ông biết vị trí các đơn vị biến đổi ra sao, và phàn nàn rằng các con đường kẹt cứng binh lính, và như vậy làm người của ông về chậm. Dĩ nhiên, đường kẹt đầy lính, Lynch nghĩ. Vấn để ở chỗ lính đó là đám lính chó chết của ông đang tháo chạy.

Keiser cố báo cáo với Walker về vị trí của sư đoàn hiện tại, nhưng không điều gì ông nói giống với những gì Walker vừa tận mắt thấy. Walker ngắt lời ông ta “Điều này chẳng có đúng gì cả, tôi mới bay ngang trên mặt trận của anh”. Ngay lúc đó, một liên lạc viên của Keiser vừa về tới, xin lỗi về chậm bởi bị một viên đại tá nào đó đang đứng giữa các ngã đường và lịnh mọi người dừng việc rút lui. “Không một thằng chó chết nào có thể chiến đấu để vượt qua tuyến này”  vị đại tá nói. “Đúng rồi” Walker bảo “Tôi biết tay đại tá đó – đó là trợ lý G-3 của tôi”.

Thế là Walker hạ lịnh: “Anh phải điều khiển được sư đoàn, hoặc là tôi sẽ lấy quyền điều khiển nó, và tôi sẽ đưa anh ra khỏi tập đoàn quân! Tôi không thể thất bại trong trận này được”. Rồi ông giải thích cho Keiser chính xác nơi nào ông muốn binh sỹ sẽ trụ lại. Rồi, khi ông rời đi, Keiser cũng theo ông ra ngồi phía sau trên máy bay, nhưng Walker đuổi ông ta xuống: “Anh có nhiều việc ở đây. Tôi cũng không cần ai đi cùng tôi trên phi cơ của tôi”. Trong máy bay, thay vì bay về, Walker ngồi lặng một lúc, rõ ràng là để lấy lại bình tĩnh. Lynch cho rằng ông muốn có phút giây yên tĩnh cho đến khi Lynch liếc qua và thấy Walker đang chảy nước mắt. “Tôi không thể để tập đoàn quân này bị hủy diệt, nhưng tôi đang làm mất cả tập đoàn quân và tôi không biết làm thế nào để ngăn lại việc này” . Lynch nghĩ, ông đang hoàn toàn kiệt sức. Không nản chí, không thất chí, không sụp đổ, chỉ là kiệt sức, và hoàn toàn chấn động. Lynch tự hỏi liệu tập đoàn quân có thể đưa một người như thế này vượt qua được trước khi ông sụp đổ không.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 03:16:19 pm
Walker cần những đơn vị mới để nút lại lỗ hổng, nhưng ông đã mất họ cho trận tấn công Inchon sắp đến. Đa số lính mới từ Hoa Kỳ đến dường như được phân bổ vào sư đoàn Bảy, một bộ phận trong lực lượng đổ bộ lên Inchon của MacArthur. Thêm vào đó, ông cũng không còn thủy quân lục chiến, bởi đó sẽ là quân chủ lực của cuộc đổ bộ Inchon. Ông đã tranh luận nhiều ngày với Tokyo, cố giữ lại trung đoàn thủy quân lục chiến số Năm (thuộc sư Một TQLC). Ông đã đạt được một thỏa thuận hàng hai rằng ông giữ họ lại được – nhưng chỉ đến ngày 4 tháng Chín, và chỉ với điều kiện ông phải làm tất cả để không dùng họ vào việc phòng thủ Pusan. Và trên tất cả, trận đổ bộ Inchon, lên lịch vào ngày 15 tháng Chín, là một sự kiện chính và chỉ còn có hai tuần nữa thôi. MacArthur muốn các đơn vị phải khỏe khắn cho trận tấn công cực kỳ nguy hiểm đó. Và như thế, thỏa thuận với Walker mang tính lý thuyết hơn là thực tế. Nhưng nếu có lúc nào ông cảm thấy mình đứng ngay trên đỉnh của việc thất bại, thì đây là lúc đó. Sau khi xem xét tình huống của các đơn vị bị đánh bầm dập thuộc sư Hai, ông gọi cho chuẩn tướng Eddie Craig, tư lệnh thủy quân lục chiến, và bảo rằng ông cần TQLC bảo vệ tuyến đường đến Miryang, và họ phải bắt đầu di chuyển ngay từ bây giờ. Ông cũng gọi về sở chỉ huy của MacArthur và nói chuyện với thiếu tướng Doyle Hickey, phó tham mưu trưởng, phụ trách ban G-3 (sỹ quan hành quân), còn Almond thì đang bị hút vào chiến dịch Inchon. Walker đưa ra đề nghị hết sức động lòng về việc được quyền dùng TQLC – về bản chất đây cũng là một tối hậu thư cho MacArthur nổi danh. Ông nói với Hickey, ông này được người ngoài xem là có đầu óc rất công bằng  “Nếu tôi không có TQLC, tôi sẽ không chịu trách nhiệm về sự an toàn của mặt trận”.  Những câu từ này làm các sỹ quan ở bất kỳ cấp cao hơn nào cũng đều ớn lạnh. Thế là câu trả lời từ Hickey rằng MacArthur đã chấp thuận dùng họ (TQLC) ở Pusan và rằng Walker sẽ điều khiển họ, nếu cần thiết, thì cả sau ngày 4 tháng Chín.

Trong quân đội, bất kể nhỏ hay lớn, cán cân việc thắng hay thua phụ thuộc nhiều nhất là vào tài chỉ huy của các sỹ quan cấp thấp. Một trong nhiều sỹ quan cấp thấp đã cứu Walker và tập đoàn quân Tám trong những ngày tệ hại đó, là một trung úy thuộc tiểu đoàn Công binh số hai thuộc sư đoàn Hai tên Lee Beahler. Với lính công binh của mình, anh đã khéo léo thiết lập một lực lượng phòng thủ tuy nhỏ nhưng hiệu quả, và kỳ diệu thay, đã chặn được quân Bắc Triều Tiên ở Yongsan khi dường như đã bị chúng tràn qua được. Đến cuối ngày 1 tháng Chín, hầu như không còn cơ hội để giữ Yongsan. Nhưng Beahler và lính công binh, lúc đó có thêm những đơn vị Mỹ khác và TQLC cùng tham gia, đã cố làm được điều này. Cuộc chiến Yongsan kéo dài tới hai tuần, liên miên và ác liệt, những người đã chiến đấu ở đây không bao giờ quên được, Yongsan là một cuộc chiến trong một cuộc chiến, và một cuộc chiến không có kết thúc. Với lính bộ binh Mỹ và TQLC, họ nghe đi nghe lại rằng Yongsan quan trọng thế nào, thì ngôi làng, mỗi khi được tái chiếm, là một sự thất vọng não nề: chỉ có hai đường, một theo hướng đông – tây, một theo hướng bắc – nam, và chúng cắt với nhau. Chẳng có gì hơn. Giả mà đó là một thị trấn ở Hoa Kỳ, như một lính công binh nói, thì đều đầu tiên bạn muốn làm là kệ mẹ nó. Khi rốt cuộc họ cũng vượt qua được Yongsan, thì có một cảm giác hầu như là kinh ngạc – đã có quá nhiều máu, của người Triều Tiên, người Mỹ đã đổ xuống cho những thứ dường như là không có giá trị. Người ta đã chiến đấu và hi sinh vì Paris, vì Rome – hoặc như người Nga đã mất hơn 300,000 người trong trận chiến sau cùng chiếm Berlin – nhưng chiến đấu nhiều ngày cho một nơi nào đó hầu như trống rỗng làm người Mỹ kinh ngạc, và dường như nhấn mạnh thêm cho sự điên khùng đặc biệt của cuộc chiến này. Nhưng Yongsan thực sự quan trọng , vì con đường từ đó có thể dẫn đến Miryang, cách chừng 12 dặm, và từ Miryang lại dẫn đến Pusan, và sau Pusan là một cuộc chiến thất bại.

Bị Walker thúc nên Keiser đã dùng tiểu đoàn Công binh chiến đấu số Hai, đơn vị này xem ra thích hợp với nhiệm vụ, hầu như tất cả là bộ binh và điều họ đến phối thuộc vào trung đoàn Chín đang bị bầm dập. Lee Beahler chỉ huy đại đội Dog công binh. Cuộc phiêu lưu đã đưa anh lại Triều Tiên không tháng 7 năm 1950 không phải là một chuyến đi hạnh phúc. Anh đã phục vụ trong quân ngũ hồi Thế Chiến II, sau về trường Mỏ Texas. Và, trong sự ngạc nhiên của chính mình, anh thấy nhớ tình bạn và mục đích sống mà anh đã có trong quân đội, thế là năm 1946 anh quyết định trở lại quân ngũ. Và theo một cách bí ẩn nào đó trong hoạt động quân đội Mỹ, anh nhận cơ hội công tác ngoài nước, và anh nghĩ, có cơ hội chọn lựa địa điểm thích hợp. Anh phát biểu ý kiến rằng rất thích Châu Âu, nhưng dĩ nhiên là bị đưa đến Triều Tiên, một xứ sở anh nhanh chóng không ưa, một phần không nhỏ bởi cái mùi lan tràn khắp nơi – những gì con người thải ra được chuyển thành phân bón, một thứ mùi làm nhiều người Mỹ khác cũng không ưa. Anh cũng không chiến đấu vì sự đồng cảm đặc biệt với người Triều Tiên, họ căm giận vì nhiều năm dưới ách thực dân và không chắc người Mỹ sẽ  làm gì trong tương lai của họ. Trong khi những lính Mỹ khác nói với anh rất nhiều về sự dễ thương của nước Nhật và sự thân thiện của người Nhật, giờ người Nhật bị đánh bại và hăm hở bắt chước theo những người chinh phục họ. Rõ ràng là có sự thiếu công bằng ở đây: một dân tộc gây ra chế độ thực dân tàn ác lên đất nước kia giờ, sau khi thế chiến kết thúc, được yêu thích hơn nạn nhân của họ trong mắt nhiều người Mỹ.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 03:20:10 pm
Không có điều gì trong hai năm công tác ở Triều Tiên làm anh hài lòng, và khi hết nhiệm kỳ anh nóng lòng được về nước. Nhưng rồi tháng 6 năm 1950, anh vừa lập gia đình, vợ anh mang thai, anh lại có lệnh trở lại Triều Tiên với vị trí công binh chiến đấu trong một cuộc chiến chẳng có cảm tình mấy. Anh buồn lòng khi trở lại Triều Tiên, và điều kiện của các đơn vị Mỹ, anh nói thêm, anh cảm thấy nó còn tệ hơn hồi trước lúc anh ở đây. Ngay khi họ xuống tàu, thượng cấp anh cho mở cửa trại giam với lời hứa chiến-đấu-ở-Triều-Tiên (để xóa án) – hoặc-ra-tòa-ở Mỹ, và rốt cuộc anh lấy được một số lính mang tội nặng. Và như thế, đại đội anh khi di chuyển đến Yongsan cũng có chừng 2/3 sức mạnh, chỉ 150 người trong đội hình (Có một thời điểm khi chiến đấu ác liệt ở Yongsan, một binh nhì trẻ, mệt mỏi, đầy cáu ghét đã chiến đấu xuất sắc với quân Triều tiên, đã cảm ơn Beahler vì đưa anh ta ra khỏi trại giam. Beahler nghĩ thật là một cuộc phiêu lưu hoàn hảo của chiến binh thời đại).

Trung đoàn Chín, đơn vị được giao giữ Yongsan, lúc ấy trong tình trạng tệ hại. Một số quân của trung đoàn, theo lịnh từ thượng cấp đã triển khai một cuộc tấn công thăm dò tệ hại về phía quân Bắc Triều Tiên ngay lúc lực lượng khổng lồ của Cộng sản bắt đầu vượt sông Naktong. Cái nhiệm vụ đó, hay chiến dịch Mãn Châu – trung đoàn Chín được biết dưới cái tên trung đoàn Mãn Châu – yêu cầu họ vượt sông và quấy rối quân Cộng sản, rõ ràng nhiệm vụ này được gửi xuống từ sở chỉ huy của Keiser. Sau này, đa số quan quân trong sư đoàn cho rằng chiến dịch đó là một mệnh lệnh điên khùng của một sỹ quan cố làm ra vẻ năng động dưới áp lực của cấp trên. Rốt cuộc, những báo cáo tình báo sớm khẳng định về độ lớn ghê gớm của lực lượng Bắc Triều Tiên. Các khuyết điểm của quân Mỹ bị phơi ra hết cỡ – vì không gì khó hơn việc vượt sông – và họ hoàn toàn ở bên ngoài các điểm bảo vệ khi quân Bắc Triều Tiên vượt sông trước. Thay vì được đánh nhau trong các cứ điểm phòng thủ mạnh mẽ, nhiều lính tiền phương của trung đoàn Chín lại phơi mình ra ngoài, và những đơn vị thuộc trung đoàn Chín dọc sông Naktong khá nhỏ bé và phân bố rải rác – y như kiểu trung đoàn 23.

Ngay từ đầu Lee Beahler đã thận trọng với chiến dịch Mãn Châu. Từ hồi Thế chiến II anh đã hiểu được sự khó khăn  khi vượt bất kỳ con sông nào. Việc làm lần này chỉ để khẳng định thêm vài điều mà anh đã hoài nghi hầu như từ lúc anh đến đất nước này: rằng anh đang công tác với những thượng cấp ở quá xa và không hiểu biết mấy về tình hình chiến trận. Khi chiến dịch được đưa ra thảo luận lần đầu, Lee đã hỏi trung đoàn trưởng, đại tá John G. Hill rằng lính của ông có được huấn luyện vượt sông chưa. Hill trả lời rằng không cần huấn luyện đặc biệt. Beahler cố nài cần phải làm việc này; bởi anh kinh nghiệm qua việc sư đoàn 36 cố vượt sông Rapido ở Ý, một trong những thảm họa lớn nhất trong thế chiến, sông Rapido chảy nhanh vào bờ dốc cao, còn quân Đức đã đào sẵn hầm hào ở bờ bên kia. Hill gạt ý kiến phản hồi của Beahler sang một bên. Ông ta chẳng có chút ý niệm nào về sự khó khăn khi vượt sông, về sự dễ bị tổn hại khi binh lính ở trên thuyền, đặc biệt nếu họ không triển khai một cuộc tấn công hợp lý. Beahler cho rằng dường như Hill nghĩ vượt sông cũng giống như việc gọi một cuốc taxi. Khi nghe thấy Hill bỏ qua cảnh báo của anh, một cảnh báo rất chính yếu của việc đảm bảo an toàn cho quân binh, sự tôn trọng của Beahler với ông ta cũng ra đi. Và đây không phải là lần đầu tiên khi anh tự hỏi tại sao có một số chỉ huy, mà vị trí này cần phải có sự hiểu biết rộng, lại hiểu biết rất ít và còn không bao giờ chịu lắng nghe những người có kiến thức khá hơn. Thế quân Bắc Triều Tiên chộp được trung đoàn Chín phơi ra, hoặc trên dòng nước hoặc bên bờ sông. Nhiều sỹ quan tham mưu trung đoàn Hill, trong đó có ban S-3 (hành quân), gần như hi sinh ngay tức khắc, và trợ tá của Keiser: Tom Lombardo, một vận động viên túc cầu nổi tiếng ở West Point cũng vậy. 54 năm sau, Lee Beahler có thể nói cái thời điểm anh nhìn thấy những ngọn đuốc trên tay quân Bắc ào xuống và chuẩn bị vượt sông rằng: “Khi ấy tôi bắt đầu cảm thấy cực kỳ run sợ về những gì sẽ sảy ra, và các đơn vị của chúng tôi sẽ tổn thương như thế nào – tôi vẫn còn nguyên cảm giác rung sợ đó, mãi cho đến hôm nay khi tôi hồi tưởng lại những ngày đó”. Khi ấy Beahler ngay lập tức đưa hầu hết lính của mình về lại sở chỉ huy tiểu đoàn nhằm tránh cho họ bị tràn ngập ở bờ sông. Tối hôm ấy và sáng hôm sau, sự kinh hoàng thường trực trong không khí.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 03:25:57 pm
Qua ngày thứ hai, Beahler làm nhân chứng bất đắc dĩ trước việc mất tinh thần của sỹ quan cao cấp nhất trong một đơn vị Mỹ lớn, giàu kinh nghiệm. Beahler không hay biết về sự giận dữ xảy ra giữa Walton Walker và Dutch Keiser, thay vào đó, sáng ngày 2 tháng Chín, anh chứng kiến sự việc với Hill, trung đoàn trưởng. Lúc ấy chuẩn tướng Sladen Bradley, phó sư đoàn trưởng, ông này đi tìm hiểu ngoài thực địa chiến trường xa hơn nhiều so với Keiser vốn chỉ hiện diện ở sở chỉ huy. Rõ ràng Bradley nổi khùng với sự mất kiểm soát ở Hill. “Ngài đại tá, tiểu đoàn 1 của ngài ở đâu?” ông hỏi. Hill trả lời là ông không biết, rằng không chẳng nghe tin tức gì của tiểu đoàn đó từ hồi giữa khuya.

“Rồi, thế tiểu đoàn 2 của ngài ở đâu hả đại tá Hill?”

Hill cũng chẳng có tin tức từ tiểu đoàn 2. Bradley lạnh lùng, nghiêm khắc nhìn ông ta,và nói “ Đại tá, vì tình huống hoàn toàn mất kiểm soát, nên tôi sẽ lấy lại quyền chỉ huy trung đoàn này”. Vài phút sau Bradley quay sang Beahler và lịnh cho anh rằng đại đội công binh của anh giờ phải chiến đấu như bộ binh và chỉ định họ di chuyển lên Yongsan ngay lập tức. Và nhiệm vụ của tiểu đoàn 2 công binh là giữ Yongsan trong 24 tiếng đồng hồ, ông nói, cho đến khi TQLC đến và bàn giao. Trong khi triển khai, Beahler cũng được biết anh có tiểu đoàn trưởng mới, thiếu tá Charley Fry, bởi tiểu đoàn trưởng cũ, trung tá Joe McEachern, cũng như đại tá Hill, không có hiểu được tình hình mong manh như thế nào. Trong Thế chiến II, McEachern công tác với tư cách kỹ sư trong đoàn Pan American Highway, và đó là một đơn vị không – tác – chiến. Ông vẫn nghĩ rằng ông ở đây để xây dường xá, chứ không phải để bắn vào những người cộng sản Bắc Triều Tiên. Ông đã sai lầm khi cãi nhau với Bradley với mục đích nhằm thay đổi mệnh lệnh, rằng quân của ông phải cầm cự và hi sinh nếu cần để chặn đường tiến của quân Bắc Triều Tiên. “Nhưng, thưa ngài, những quân nhân này là các chuyên viên” McEachern phản đối “họ không phải là bộ binh. Ngài phải hiểu rằng họ là các kỹ thuật viên”.

“Trung tá, anh không hiểu tôi nói gì à? Tôi không phải đã rất rõ sao? Tôi nói chiến đấu và hi sinh thì có nghĩa là chiến đấu và chết, và họ sẽ chiến đấu như bộ binh
”. Bradley trả lời, và nhằm để không có một sĩ quan nào khác không hiểu được tình hình nguy khốn cực kỳ, cùng với những do dự riêng của họ, ông đã huyền chức McEachern ngay tại chỗ, và dùng tiểu đoàn phó để thay ông ta. “Thiếu tá Fry, anh có hiểu mệnh lệnh không?” Bradley hỏi. “Có, thưa ngài” Fry ngay lập tức trả lời. Rồi chuẩn tướng Bradley cũng đưa đại tá Hill mới bị cách chức đến giúp Beahler thiết lập phòng ngự ở Yongsan. Ở đó, Beahler xác định rằng Hill vẫn không phải là người có ích nhiều. Viên trung đoàn trưởng Hill vừa bị tước ngai, nhưng ông vẫn là một đại tá và là một lính bộ binh, còn Beahler là một trung úy và là một công binh, điều này làm quan hệ rất bấp bênh. Nhưng Beahler là một sỹ quan có kinh nghiệm thực chiến hơn; đơn vị do anh lãnh đạo đã đổ bộ lên Salerno ở Ý, điều này đồng nghĩa với việc anh đã tham dự một trong những trận đánh đẫm máu nhất Thế chiến II. Chiến dịch Italia là một chiến dịch khó khăn và không phải trận nào quân Mỹ cũng chiến thắng vinh quang. Có những thất bại, và anh tin, thất bại sẽ thường làm tăng thêm sự từng trải; Beahler học được rằng một trong những chìa khóa cho việc lãnh đạo thắng lợi là hiểu rõ sức mạnh của kẻ thù cũng như điểm yếu của mình. Sự từng trải đã giúp anh, chỉ cần vài tuần chiến đấu ngắn ngủi cùng nhau ở Triều Tiên, đã có được sự nể trọng của quân binh. “Tại sao có những sỹ quan giỏi hơn những người khác?” một trong các tiểu đội trưởng của anh, trung sỹ Gino Piazza có lần đã thắc mắc. “À, họ có giác quan, họ liệu trước được và họ phản ứng tốt. Họ thấy được những nguy hiểm trước khi nó xảy ra, và họ tốt với anh em binh sỹ. Rằng họ không chỉ biết cho chính họ, cho việc thăng chức, thưởng huân chương của mình và còn phải biết cho binh sỹ dưới quyền. Và như vậy,  đó sẽ là một trong những sỹ quan tốt nhất. Một trong những sỹ quan siêu tốt.Chúng ta rất may mắn để có được người ấy”.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 03:59:59 pm
Ngay lập tức đại tá Hill muốn thiết lập một tuyến phòng thủ ở trên cánh đồng bằng phẳng trước Yongsan. Beahler hiểu rõ những hạn chế của mình – anh có thể là một sỹ quan công binh giỏi, nhưng khó là một chuyên gia trong lĩnh vực chiến đấu của bộ binh. Tuy vậy, anh cũng tức khắc hiểu rằng kế hoạch của Hill là con đường dẫn đến thảm họa, và cái giá phải trả có thể là cả đại đội của anh. Anh không biết ai đã dạy chiến thuật bộ binh cho John Hill, nhưng chiến đấu trên một cánh đồng lúa trống trải, không có các chướng ngại vật tự nhiên để hỗ trợ cho các vị trí phòng thủ cá nhân, thì thật là điên rồ. Còn tồi tệ hơn khi thực tế là cả bên cánh trái lẫn cánh phải của anh trống trơn không có ai, trong khi kẻ thù có chiến thuật ưa thích là bọc sang cánh và rồi hợp vây vị trí phòng thủ. ”Nếu anh muốn lấy một vị trí hoàn hảo để quân Bắc Triều Tiên tàn sát chúng tôi, thì đúng là ở đây” trung sỹ Piazza nói.

Beahler mạnh mẽ phản đối Hill. Anh muốn dẫn quân leo lên đồi đằng sau cái ngôi làng nhỏ về phía bên kia, hoặc ở mặt nam con đường dẫn về Pusan, một vị trí cực kỳ cho việc phòng thủ chống lại một khối lượng quân địch vượt trội. Giữ Yongsan chẳng có ý nghĩa gì, ở đó chỉ có 5 – 6 túp lều – nhưng con đường chạy ra từ đó mới là tụ bài, và ngọn đồi khóa được con đường chạy ra khỏi Yongsan. Khi đối đầu với Hill, anh chợt nghĩ về tướng Custer và trận Little Big Horn (*Một trận quân da đỏ tiêu diệt toàn quân tướng Custer trong chiến tranh da đỏ). Có ai đã phản đối Custer về những thứ điên khùng ông ta làm không? Có người lính nào biết chỉ huy của họ bị khùng và đưa họ vào vòng nguy hiểm không? Có cấp chỉ huy nào hiểu rằng tính tự đắc của họ làm suy yếu cơ hội sống sót của họ không? Lúc đó, Beahler chẳng biết gì về những gì đang diễn ra quanh anh cũng như là chiến lược lớn. Chỉ có một thứ anh biết; đó là anh sẽ không để quân mình ở một vị trí trống trải trên mặt ruộng, trần trụi trước pháo cối và xe tăng của quân Bắc Triều Tiên, cũng trước lượng quân số vượt trội của bộ đội miền Bắc. Nhưng chính Hill, một đại tá, bảo anh phải chiến đấu trên đất bằng. Và chỉ khi quân Bắc Triều Tiên đánh mạnh tới mức có thể chọc thủng phòng tuyến thì hãy rút về ngọn đồi, anh được bảo thế. Hoàn toàn điên khùng, Beahler nghĩ. Quân Bắc luôn tấn công vào ban đêm, và thoát khỏi một quân địch giỏi như vậy giữa trận đánh, ngay cả vào ban ngày, cũng là một vấn đề quân sự hết sức khó khăn. Làm vào ban đêm thì còn tệ dữ hơn. 

Sự sống của toàn bộ binh lính được đặt cược. Và việc gì sẽ xảy ra nếu Beahler sống soát và phải đối mặt với tòa án binh bởi anh đã chống lại một quyết định mà cái giá là cả đại đội của mình? Anh quyết định là không còn thời gian để tốn hao vào việc tranh luận. Anh sẽ tự quyết và tự chịu trách nhiệm. Bên cạnh đó, đại tá Hill chỉ cần tha thứ cho anh. “Thượng sỹ Nations!” anh hét với viên thượng sỹ của anh, Kenneth Nations. “Chúng ta vừa bị tấn công! Hãy đưa toàn đại đội lên đồi”. Đại tá Hill không nói gì cả.

Một lát sau chính tướng Bradley đến. Ông hỏi: “Đơn vị nào ở đây?”

“Đại đội Dog, tiểu đoàn công binh số 2” Nations trả lời.

“Tôi nghĩ các anh nên ra phía trước làng” Bradley nói

“Không thưa ngài, đại đội trưởng bảo đưa họ lên đồi – đó là vị trí tốt, tốt hơn nhiều, ngài có thể tự xem, thưa tướng quân”

“Được rồi thượng sỹ, cứ làm đi
” Bradley trả lời

Và thế là họ dùng các chướng ngại tự nhiên trên ngọn đồi và tạo thành một tuyến phòng thủ hình móng ngựa hữu hiệu đối diện với con đường. Khi binh lính đào xong hố cá nhân, thượng sỹ Nations đến, xem, và bảo họ đào sâu thêm. “Lúc đó chúng tôi càu nhàu kinh lắm, nhưng chỉ một lát sau tôi muốn hôn mông anh ta vì đã ép chúng tôi làm như vậy” Butch Hammel, một binh nhất trong đại đội Beahler nhớ lại. Bên kia con đường là đại đội Able của tiểu đoàn 2 công binh, và họ trong cả ngày qua đã có những binh sỹ lạc ngũ các đại đội khác gia nhập vào, tuy vậy, cũng như đại đội Dog, họ vẫn thiếu quân nghiêm trọng.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 04:05:47 pm
Đó là một đêm sương mù dày đặc, và rất dài, trước khi họ thấy quân Bắc Triều Tiên, họ nghe thấy tiếng còi, nghe tiếng nói của quân địch, mọi khẩu lệnh như được tăng âm trong đêm đen, nghe khó chịu, và rồi họ nghe thấy tiếng xủng xoảng kinh hoàng của xe tăng địch. Ngay trước khi trận đánh bắt đầu, trung úy Beahler xuống và cảnh báo họ không bắn cho đến khi họ thực sự trông thấy quân Triều Tiên; nếu không thì có thể bắn nhầm vào đồng đội. Trung đội Một, đơn vị gần làng Yongsan nhất, bị đánh đầu tiên. Lính trong trung đội Hammel đã nghe âm thanh chiến trận khá lâu trước khi họ khai hỏa. Đến một lúc màn sương nhấc lên, và họ có thể khai hỏa, làm quân Bắc Triều Tiên bất ngờ. Thế rồi trận đánh trùm lên các vị trí của Hammel. Hammel tin rằng nếu có một sự thật lớn lao trong một trận đánh như thế này, đó là nỗi sợ dai dẳng – ai nói rằng họ không biết sợ khi chiến đấu thì đó là một kẻ nói dối. Ngay cả những người lính trong một tình trạng kiểu như  đối mặt với một lựa chọn kinh khủng. bạn không muốn gì hơn là được sống, không gì hơn là được thoát ra, nhưng bạn cũng không muốn chiến hữu xem mình là một thằng hèn. Chỉ có sự hổ thẹn nếu bỏ chạy, để cho đồng đội ngã xuống, mới giữ bạn ráng không bỏ chạy – anh nghĩ, vì điều đó, và chỉ vì điều đó, bạn mới ở lại và chiến đấu. Tất cả những thứ họ dạy bạn, về việc chiến đấu cho đất nước và chống lại Cộng sản, biến mất sạch trong những thời khắc đầu của trận đánh.

Hammel nhớ một trung sỹ của anh bị thương vào cổ trong đêm đấy. Đó không phải là một vết thương nghiêm trọng, nhưng viên trung sỹ kinh hoảng và bắt đầu tháo chạy khỏi vị trí. Vài người trong các hố cá nhân bên cạnh bắn vào anh ta, và họ phải hét to với đồng đội. “Phe ta, phe ta”. Viên trung sỹ may mắn, anh ta sống sót. Tất cả cũng đều khá may mắn, Hammel nghĩ, bởi họ đã xoay sở trụ được trước quân Bắc Triều Tiên. À, mà không phải tất cả đều may mắn – có 12 người chết và 18 bị thương. Anh nghĩ, có lẽ với ba giờ chiến đấu ác liệt thì cái giá như vậy là rất cao. Nhưng trung úy Beahler đã phân bố nhân lực rất hoàn hảo, và không bao giờ anh ẩn nấp trong suốt trận đánh. Trung  úy đã lặng lẽ di chuyển từ chốt này sang chốt khác, để chắc chắn rằng  mọi người đều ổn và đạn dược có đủ. “Tôi chưa bao giờ thấy một người nào dũng cảm hơn trong đời; tôi chưa bao giờ thấy một ai mạnh mẽ như vậy dưới làn đạn” hơn 50 năm sau Hammel nói.

Lúc đầu, khi họ chiếm vị trí trên đồi trong đêm đấy, có vài dân công Triều Tiên giúp họ thiết lập chốt, và Gino Piazza lo ngại về điều đó. Khi ấy anh đã 23 tuổi, dù rằng lúc đi học anh không có giỏi giang, nhưng anh cũng khôn ngoan với vài thứ – đặc biệt trong chuyện không thể có việc gì là không công trên chiến trường cả. Anh không tin những người Triều Tiên trong tình huống như thế này bởi không có ai thực sự xác minh họ cả. Theo anh thì lính Mỹ có thể tự mang những thứ quân trang quân bị chó chết của họ lên đồi. Đã có quá nhiều ví dụ được viết về việc bộ đội Bắc Triều đã cài người của họ vào sau tuyến quân Mỹ, cải trang thành thường dân. Và rất dễ dàng để biến họ thành dân công để rồi lén trốn qua lại giới tuyến cùng với tọa độ chính xác các vị trí của quân Mỹ. Piazza đã to tiếng với một sỹ quan cấp thấp, anh bảo với họ đưa đám Triều Tiên chó đẻ ấy đi chỗ khác, còn viên sỹ quan thì nói rằng đám đó ổn, là người tốt, là bạn bè. Bạn bè cái mông tôi á, Piazza nghĩ.  Anh chẳng hiểu gì về chúng cả, chẳng hiểu gì! Nếu một trong số chúng cười với anh và nói đôi từ tiếng Anh, và vác đồ giúp anh thế là anh nghĩ hắn là người tốt. Mẹ kiếp tay Mỹ ngây thơ đã ném đời mình đi chỉ vì muốn ai đó giúp mang đồ nặng cho họ. Piazza đuổi một số chúng đi, nhưng qua ngày hôm sau, dù trời có sương mù dày đặc nhất mà Piazza từng thấy ở Triều Tiên, quân địch vẫn rót cối chính xác một cách đáng ngạc nhiên vào vị trí của họ. Piazza điên tiết nhận định rằng chính cái đám dân công Triều Tiên vui vẻ giúp việc kia đã chỉ điểm cho quân địch, mẹ kiếp cái đám thông thái kia, 5 lính trong số 12 lính thuộc tiểu đội anh chết.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 04:10:00 pm
Cuộc chiến rất gay go với trung đội, và Piazza chiến đấu trong cơn thịnh nộ, như thể muốn báo thù cho những binh sỹ của anh đã chết vì đạn cối quân Bắc Triều Tiên. Có một thanh niên tên Ronnie Taylor, khoản 18 tuổi, đăng lính từ Oakland bang Missisippi, người mà Piazza có cảm giác rằng bảo vệ cho cậu ta là trách nhiệm của anh vì cậu ấy còn quá trẻ, giờ đây cậu trai đó có một vết thương hở toác trên sườn, cậu cầu xin Piazza “Đừng để em chết! Đừng để em chết! Anh đưa em ra khỏi đây”. Piazza thuyết phục cậu rằng anh sẽ cố nhưng anh hiểu là không ai đi xuống đồi lúc đang đánh nhau, và rồi Piazza bắn, bắn liên tục trong khi bế Taylor trên tay và nghe những giây phút cuối đời của cậu. Anh cầm khẩu M-1 bắn xuống những tên lính Bắc Triều tiến lên, và hét lên tên của từng người đã hi sinh trong tiểu đội theo từng phát súng. Cái cách quân binh – trong đó có anh – hành động trong chiến đấu như vậy, đồng thời cũng có vài người bị áp đảo và vài người có thể khống chế được cục diện, đã mê hoặc anh. Có một cậu lính của anh bị một vết thương mà theo con mắt của Piazza dường như chỉ là một vết thương nhẹ, một vết thương phần mềm, nhưng cậu ta đã tã ra và khăng khăng rằng: “tôi sẽ chết mất” – và cậu ấy chết thật. Piazza nghĩ đó là một kiểu sốc tâm lý trong chiến tranh. Người lính đó đã tự đưa mình vào cái chết.

Thật là may mắn khi họ ở vị trí cao, nơi Beahler đã chọn, bởi có ít nhất hai tiểu đoàn Cộng sản đã triển khai 3 lượt tấn công vào họ từ rất sớm và tiếp tục trong buổi sáng. “Chúng đến, chúng đến, rồi chúng lại đến nữa. Chúng tôi rải đạn xuống chúng. Mưa đạn” hạ sỹ Jesse Haskins nói “Chúng tôi giết chúng và tôi bắt đầu tự hỏi rằng chúng tôi đã giết chúng đủ nhanh chưa. Dường như địch có rất nhiều và chúng tiếp tục đến, không gì có thể ngăn chúng, và luôn có thêm địch, như thể chúng tôi không có mặt ở đây và những gì chúng tôi đã làm là chẳng ảnh hưởng gì”. Nếu lính công bình không có được vị trí chốt hoàn hảo, thì tất cả họ đã chết rồi, Haskins khẳng định như thế.

Có một thời điểm đạn dược gần cạn, lúc ấy họ nghĩ mình sẽ bị tràn ngập. Nhưng có một cậu trai từ trung đội láng giềng đã chạy tới được với một hộp lựu đạn, một thứ vũ khí hoàn hảo để ném xuống từ trên đồi.  Quân Mỹ, không có pháo hay cối, đã dùng những khẩu không giật bắn như kiểu rocket và dựa vào hỏa lực đại liên cũng như những khẩu phòng không 50mm bốn nòng, thứ vũ khí tỏ ra hữu hiệu nhất trong cuộc chiến. Về nguyên tắc đó là súng phòng không, nhưng có hỏa lực chết người, và nó được dùng trong cuộc chiến nhằm cân bằng với biển người quân địch; nó không chỉ giết địch mà còn dọa địch. Kẻ băm thịt, lính Mỹ gọi thứ vũ khí này với cái tên đó. Sau này, khi trận đánh đã kết thúc, ngọn đồi vươn đầy xác lính Bắc Triều Tiên, Beahler nghĩ chính những khẩu bốn nòng này đã làm trận đánh ngả về phía anh. Họ đã rất may mắn khi có thứ vũ khí này, bởi họ đã chẳng có pháo binh chi viện từ sở chỉ huy. Có một thời điểm Beahler gọi xin pháo yểm trợ, và chỉ có một phát đạn được bắn đến, rất xa mục tiêu. Beahler ráng gọi điện lần nữa để chỉnh tầm, nhưng được trả lời rằng lính pháo binh quá non và vẫn chưa thạo hệ thống chỉnh tầm.

Trong số những người thuộc đại đội làm Beahler hài lòng là một thư ký đại đội trẻ tên là Vaugh West, anh vừa được ấn xuống làm lính bộ chiến trong đêm đó. West đã đào chiếc hầm cá nhân đầu tiên của anh, và khá lấy làm hài lòng vì đã đào rất cực nhọc vào lòng đồi rắn chắc. Nhưng rồi một trung sỹ đến vào bảo anh vào đào sâu hơn nhiều nữa (Và sau đêm đó, anh không bao giờ bị yêu cầu đào hầm sâu hơn lần nào nữa). Anh nghĩ anh là người bắn giỏi nhất trong đại đội, anh đã từng thắng một phiếu đi nghỉ cuối tuần trong cuộc thi bắn súng trường. Cứ có dịp là Beahler cá độ trong câu lạc bộ sỹ quan rằng viên thư ký đại đội của anh sẽ bắn hơn bất kỳ tay súng giỏi của đại đội nào. Và West dường như luôn thắng trong các trận cá của Beahler. Những gì đọng lại trong West về cái đêm đó là những tiếng gào kinh hoàng. Có một cậu lính trẻ nhô cao lên một tý và bị bắn ngay vào mặt. Giữa trận đánh, West nghe cậu ta gào lên, và rồi trong ánh sáng hỏa châu, anh thấy cậu ta, gương mặt bị bắn nát, bò, và khóc gào gọi mẹ. West hiểu ngay tức thì rằng không có cách nào để cứu được cậu ấy nữa.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 04:15:31 pm
Thương vong của họ cao, rõ ràng là tệ hại. Sau này có người nói với Vaugh West rằng khi Beahler đọc danh sách tử sỹ, anh đã nhỏ nước mắt, và vài tay ở tiểu đoàn bộ với cái vẻ trượng phu ngu ngốc đã bình phẩm về nhân vật đại đội trưởng suy sụp khóc lóc, nhưng West cho rằng khi mất quân trong chiến đấu, thì có lẽ cũng nên khóc. Lính của đại đội Dog tiểu đoàn công binh số hai, đã lui khỏi ngọn đồi vào cuối buổi sáng, họ có được chút nghỉ ngơi ngắn ngủi, và rồi được lệnh trở lại làm đội dự bị trong đêm thứ hai. Beahler chẳng chút vui vẻ về việc này, nhưng mệnh lệnh là mệnh lệnh. Lính của anh mệt bã cả rồi. Không ai được ngủ trong những ngày qua – hoặc ít nhất có vẻ như vậy. Nhưng nếu ngọn đồi là quan trọng trong đêm thứ nhất, thì rõ ràng nó cũng quan trọng như vậy trong đêm thứ hai Beahler suy tính, và rồi có tin rằng TQLC trên đường đến.  Dù sao thì lúc quay lại ngọn đồi họ cũng đi lề mề chút đỉnh. Thế rồi một chiếc xe tăng của TQLC trờ đến, bốn tay lính trên xe trông rất tươi tỉnh. Trái ngược với dáng vẻ của cánh công binh, Piazza nhớ lại, đang trông như những tay lính già không còn đánh trận nổi, và chắc cánh TQLC cũng nghĩ như vậy. Một trung úy TQLC trẻ, rõ ràng không hài lòng với kiểu vận động luộm thuộm của lính công binh, đã hét lên “Mẹ kiếp, đàng hoàng một tý đi! Làm ra vẻ con nhà lính chút đi”. Và như thể để họ xấu hổ, viên trung úy nói tiếp: “Các anh có biết ai đã giữ ngọn đồi này và chặn được bọn Bắc Triều Tiên sáng nay hông? Lính công binh đó!”. Piazza nhìn anh chàng thật sâu và nói: “Thế cậu nghĩ bọn tớ là ai hử? Bọn tớ chính là cái đám đã làm được việc cậu vừa nói đấy”. Và rồi họ cũng chỉnh đốn một chút, lấy lại phong độ, leo lên đồi.

Thật may cho họ là quân Bắc Triều Tiên không tấn công trong đêm thứ hai, và rồi với việc TQLC và các đơn vị khác phản công, họ được đưa về phía sau. Tuy vậy, đại tá Hill vẫn còn tức tối với Beahler vì đã không nghe lệnh ông nên ráng tìm cách đưa anh ra tòa án binh. Nhưng thay vì thế, anh lại được thưởng Huân Chương Phục vụ Xuất Sắc (Distinguished Service Cross – huân chương danh giá thứ hai trong quân đội Mỹ). Khi nghe rằng Hill vẫn còn muốn tiến hành vụ Beahler, tướng Bradley đã bảo ông ta bỏ ý định đi, đưa ra tòa án binh một người vừa cứu được phần lớn đại đội của mình và được thưởng huân chương DSC là việc ngu ngốc. Beahler không bao giờ quá tự hào về tấm huân chương của anh, có phần bởi việc họ cũng thưởng cho Sladen Bradley một DSC vì đêm đó, và trong phần tuyên dương công trạng của ông ta đã nêu rằng ông đã lấy một đơn vị công binh hỗn độn cực kỳ, tổ chức lại nó và đưa đơn vị đó lên đóng trên đồi. Beahler xác quyết rằng những người tặng huân chương thường dối trá.

Chừng năm ngày sau trận đánh, Lee Beahler bị muỗi chích dẫn đến viêm não Nhật Bản type B. Anh được đưa đến một bệnh viện ở Nhật, ở đó cân nặng của anh giảm xuống còn 44 ký. Và ba tháng sau, khi anh vẫn còn đang trong giai đoạn điều dưỡng thì tiểu đoàn công binh số Hai bị đánh ở một địa phương nằm xa về phía bắc Triều Tiên tên là Kunuri. Tin tức về sự kiện ở Kunuri làm viên trung úy cực kỳ đau lòng; nhiều bạn bè đã bị giết hoặc mất tích. Anh tin rằng, chính con muỗi, đã cứu sống anh.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 04:22:55 pm
Vào ngày thứ hai cuộc tấn công của quân Bắc Triều Tiên dọc tuyến sông Naktong, Paul Freeman đã triệu tập các sỹ quan cao cấp của ông đến dự một buổi họp tại tiểu đoàn bộ tiểu đoàn Hai. Thiếu tá George Russell, sỹ quan hành quân của tiểu đoàn Một, nhớ lại rằng chỗ họ họp chính là một cống nước chạy dưới lòng đường, và nước lấp xấp ngang gối mọi người bởi hôm đó có một trận mưa nặng hạt nhất mà họ từng thấy. Đại tá Freeman vừa bị kích động vừa bị kiệt sức. Tất cả họ đều mệt mỏi. Không ai ngủ được trong những ngày đó. Freeman nói về những khó khăn đang gặp phải, về việc không có không quân yểm trợ và bọn mọi rợ châu Á bất ngờ tấn công họ. Bọn mọi rợ châu Á, Russell nghĩ đến cụm từ này và anh bật cười. Mọi người luôn nói về bọn mọi rợ châu Á. “Có gì mắc cười vậy?” Freeman cáu kỉnh hỏi. Russell nói: “Không thể tệ như thế”. Nhưng sau này anh nghĩ, nó tệ thật, đúng là tệ.

Sự kiệt sức là rõ ràng. Đến ngày 3 tháng Chín, Freeman và cái trung đoàn dưới sức của mình đã phải chiến đấu với một trận tấn công của nhiều sư đoàn trong ba ngày đêm – và họ vốn cũng đã đủ mệt mỏi trước khi trận tấn công xảy ra. Họ luôn ở tiền duyên ngay từ lúc họ đến cái đất nước này hồi  đầu tháng Tám. Với Freeman, ông không có cơ hội chiến đấu trên chiến trường Thế Chiến II và luôn mong có một cơ hội thứ hai, những ngày như thế này cho thấy còn hơn cả cơ hội mà ông từng mong có. Hồi năm 1949, Paul Freeman lo lắng cho sự nghiệp của mình và khả năng lớn có thể xảy ra là thượng cấp của ông đang trong lộ trình xác định ông là một sỹ quan tham mưu hơn là một sỹ quan chiến đấu. Thế rồi chiến tranh nổ ra. Thời điểm đó ông là một chuyên gia kế hoạch được cấp trên ở Washington khen ngợi, nhưng trong những năm ngay sau Thế chiến, sự nghiệp của ông dường như khá lúng túng. Bởi sự giảm trừ quân bị nhanh chóng nên có rất ít cơ hội có vị trí chỉ huy trung đoàn, vị trí chỉ huy mà ông muốn, và số ít cơ hội đó dường như đã trao cho các sỹ quan từng có kinh nghiệm chỉ huy trung đoàn.

Lúc chiến tranh Triều Tiên bắt đầu, Freeman đã 43 tuổi và có nguy cơ rất rõ bị gạt sang một bên bởi những sỹ quan khác có tên tuổi hơn trong chiến đấu từ hồi thế chiến II. Ông chín chắn, thông minh và cẩn thận, nhưng lại không có uy tín. Ông cũng không cao hoặc có sức mạnh thể chất hay có bề ngoài dữ dội như những người tư lệnh khác. Đúng ra là ông điểm trai, và còn đẹp hơn khi có tuổi và mái tóc bờm của ông chuyển sang bạc hoàn toàn. Việc ông dành được sự kính trọng và sự yêu mến từ quân của mình, đó là một chiến thắng khó khăn. Phong cách và những bi kịch tự tạo không làm ra điều đó ở ông. “Ông ấy rõ là một sỹ quan ngoại cỡ, ” người đồng nghiệp trẻ, đại úy Hal Moore nói (anh sau này cũng là một tư lệnh xuất sắc trong trận đánh ở thung lũng Ia Drang thời chiến tranh Việt Nam và kết thúc sự nghiệp với ba ngôi sao tướng) “và sức mạnh to lớn nhất của ông nằm ở trí thông minh, nằm ở sự quan tâm của ông tới người khác, đặc biệt là với những người dưới quyền, và ông cực kỳ cẩn thận. Lính dưới quyền ông hiểu rằng ông luôn cẩn trọng và sáng suốt trong những vấn đề mạo hiểm với sinh mạng của lính. Không có vấn đề nào là nhỏ cả. Ông là người rất biết lắng nghe, quan tâm tới mọi điều chung quanh, và không làm tốn thời gian hay sức lực của một ai. Nếu bạn là một sỹ quan trẻ giữ vị trí chỉ huy ở Việt Nam, bạn nên trở lại xem những trận đánh dưới sự chỉ đạo của ông ở Triều Tiên và bạn có thể thấy được ông đã làm đúng mọi thứ”.

Freeman là con nhà nòi, cha ông tốt nghiệp khóa đầu của trường Quân Y, hồi năm 1904, và là một bác sỹ trạm phẩu trung đoàn. Năm 1907, Paul Freeman chào đời, lúc đó Freeman-cha đóng quân ở Philippine, mỗi khi ông đi đâu với các đơn vị kỵ binh, ông đơn giản là lèn chặt những dụng cụ nghề nghiệp của mình vào túi. Cậu bé Paul Freeman lớn lên trong các điểm đóng quân từ châu Á đến Hoa Kỳ, trở nên yêu cuộc đời binh ngũ và chẳng thèm quan tâm tới nghề nghiệp nào khác nữa. Ông muốn vào học West Point, nhưng phải làm được điều đó bằng điểm ở trung học. Gia đình Freeman, sau chừng đó năm phục vụ ngoài nước, không có quan hệ nhiều với chính giới, và vì vậy một xuất học theo đường cử tuyển dường như không chắc chắn lắm. Vậy nên ông đã cố học nhồi nhét, học cật lực, nhưng rồi cũng đã không qua nổi xuất tuyển chính – lấy mười hai suất trong số 200 người, ông đứng thứ 13. Lúc này cha ông đang đóng quân ở đảo Governor cảng New York. Cha ông gọi khắp lượt các nghị viên New York xem có ai còn xuất không, và cuối cùng cũng tìm được một vị đại diện một quận toàn di dân mới, chủ yếu là người Do Thái Đông Âu – nói tiếng Do Thái đến từ các làng do thái Đông Âu. Hầu hết họ có nỗi sợ mang tính lịch sử với giới quân sự, từ những thế kỷ trước giới này dường như chỉ đại diện cho việc tàn sát người Do Thái trong những ngôi làng bé nhỏ của họ. Vì vậy nên không có động lực lớn để đưa con em họ vào West Point và gia nhập vào một thứ như kiểu quân Cossack-tân-thế-giới. Và thế là xuất cử tuyển từ nghị viên có được dễ dàng một cách bất ngờ.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 04:25:15 pm
Freeman là một học sinh không xuất sắc ở West Point, ông đứng ở nửa sau của lớp và cũng không có năng khiếu thể thao. Ông tốt nghiệp năm 1929, giai đoạn khó khăn trong quân đội. Đất nước đang loạn, phố Wall gần như sụp đổ. Sự thăng chức, vốn đã chậm, giờ còn chậm hơn; Freeman mất tới 5 năm 4 tháng để leo từ thiếu úy lên trung úy. Nếu không có tài sản thừa kế, hoặc là con gái của gia đình giàu có vốn luôn khoái các anh sỹ quan trẻ đẹp trai – các gia đình lính sống trong tình cảnh eo hẹp tài chính và trở nên chi tiêu cắc rắc. Khi Franklin Roosevelt lên làm tổng thống vào năm 1933, một trong những mục tiêu đầu tiên và dễ dàng nhất của ông là giảm bớt chi tiêu quân sự, trước mắt là giảm 10% trên toàn bộ, điều này có nghĩa là cặp vợ chồng mới cưới Paul và Mary Anne Fishburn Freeman bị cắt giảm tiền lương hằng tháng từ 125$ còn 112,5$. Nhưng đây là khó khăn chung; mọi người khác cùng thời trong quân ngũ cũng đều sống tương tự; cứ phục vụ đã, cũng như mọi điều khác trong quân đội, gắn chặt với trái phiếu công.

(http://tieungoclang.files.wordpress.com/2013/07/200px-freeman_cam_ranh_bay_depot.png?w=625)
Paul Freeman (thứ hai từ trái sang) , hình chụp ở Cam Ranh – Việt Nam, khi là đại tướng (bốn sao)

Bất kể điểm số trong West Point, Freeman ngay từ đầu tỏ ra sáng dạ và gây ấn tượng với cấp trên, trong đó có sư đoàn trưởng tương lai của ông ở Triều Tiên, sỹ quan trẻ Laurence Keiser, ông này vốn là sỹ quan chiến thuật của Freeman ở trường và là đại đội trưởng đầu tiên của Freeman khi thuộc trung đoàn 9, sư đoàn bộ binh số 2, tại căn cứ Fort Sam Houston, Texas hồi mới tốt nghiệp. Freeman ráng xin vào lực lượng Không quân mới (thật ra lực lượng này chỉ thực sự thành một quân chủng riêng sau Thế chiến II). Với các sỹ quan trẻ hiện đại, đây là lời kêu gọi của một binh chủng mới hay ho trong tương lai. Nhưng Freeman đã rớt sau cuộc kiểm tra thị lực – mắt phải không đủ 20/20. Việc này cũng đưa lại một câu hỏi cực kỳ quan trọng về nghề nghiệp với một sỹ quan trẻ sáng sủa, người đang muốn làm mình bật lên trong thời bình: kế tiếp mình phải nên thử làm gì? Thế là anh tình nguyện xin công tác ở Trung Hoa trong thành phần trung đoàn bộ binh 15, một đơn vị truyền thuyết trong thời kỳ nửa-thực-dân, lúc những cường quốc phương Tây vẫn còn ảnh hưởng, chia cắt đất nước Trung Hoa và đưa quân đóng ở đó. Đó là một đơn vị mà nhiều sỹ quan nổi tiếng Mỹ đã phục vụ, như George Marshall hay Joseph Stilwell. Freeman bị lôi cuốn bởi cảm giác thích phiêu lưu của thanh niên cùng với những ký ức tuổi thơ với cha mẹ ở Philippine  lúc bàn về chuyến đi thần tiên của họ đến xứ Trung Hoa kỳ ảo. Ông đến Trung Hoa vào tháng Chín năm 1933, lúc những rắc rối đầu tiên sẽ dẫn đến cuộc đại chiến thế giới bắt đầu xảy ra. Một Nhật Bản hung hăng đang trong tiến trình chiếm 5 tỉnh miền bắc Trung Hoa – miền Mãn Châu – và đổi đó thành tên Manchukuo dưới sự bảo hộ của người Nhật. Và đây cũng khởi đầu cho một mảng nghiên cứu mới, mê hoặc Freeman: quan sát một quốc gia đã từng vĩ đại, thực dân và phong kiến hơn phần lớn người Mỹ nghĩ, bị áp lực cả từ bên ngoài lẫn bên trong, và rốt cuộc là sẽ sụp đổ không xa. Dù ông trở thành một sinh viên tiếng Trung (và vẫn đủ nói thạo để thẩm vấn tù binh Trung quốc trong chiến tranh Triều Tiên), Freeman rất hiểu rằng ông không bao giờ hiểu được Trung Hoa. Sau này ông cho biết, ông đã ở đó trong những ngày cuối cùng của đế chế, và những người Trung Hoa mà ông biết chỉ là những người rất giàu có, họ đến cùng một câu lạc bộ và cùng thích những môn thể thao giống nhau – mã cầu và đua ngựa – như những người phương Tây. Vài câu lạc bộ còn không cho phép người Trung Hoa tham gia. Nên ông hiểu rằng ông không có chút cảm giác nào về cuộc sống khó khăn của phần lớn người dân.

Phần lớn thế chiến II, Freeman hoạt động trong mảng châu Á. Người vợ của ông mang bầu được đưa về nước hồi mùa thu năm 1940 lúc căng thẳng lên cao và lục quân Nhật dường như đang tự tin để đánh sâu vào châu Á (Ông đã không gặp con gái mình, Sewell, cho đến khi em được 3 tuổi rưỡi). Sau trận Trân Châu Cảnh, ông làm công tác phối hợp hành động giữa các bộ phận khác nhau trong con quái vật nhiều đầu trên chiến trường Trung – Miến – Ấn: một sở chỉ huy đầy sai sót, người Anh và người Mỹ không quan tâm lẫn nhau, và hai vị sỹ quan chính của Mỹ: Joe Stilwell và Claire Chennault cũng chẳng ưa nhau mấy, cùng với những đại diện của các khu vực địa lý khác nhau cố đưa tầm quan trọng địa phương của mình lên. Ông cũng kinh hoảng trước thành công của bộ máy tuyên truyền Trung Hoa Dân quốc, như sau này ông kể rằng: “mọi người Trung Hoa đều trần ngực ra và chiến đấu ác liệt chống quân Nhật. Điều này không đúng đâu…. Cứ mỗi khi chúng ta tham chiến là họ quyết định không đánh chác gì cả” Ông cũng có thể quan sát chiến thắng của Tưởng Giới Thạch trước Stilwell ở cự ly gần – “Ông ấy [Stilwell] biết quá nhiều về Trung Hoa nên thế”, Freeman sau này viết lại.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 04:28:51 pm
Rồi ông được đưa về lại Washington, và là một trong những trợ lý cao cấp cho Marshall trong việc lập kế hoạch cho chiến trường Thái Bình Dương, một vị trí cực kỳ thuận lợi – như sau này ông viết lại – cho việc quan sát Douglas MacArthur tranh cãi với các sỹ quan hàng đầu Hải quân  về những nguy hiểm của việc chia sẽ quyền chỉ huy trong chiến đấu. MacArthur đã phát biểu rất hay để chống lại điều đó – trớ trêu thay Freeman cũng không thoát khỏi việc này, ông cũng là một nạn nhân khi MacArthur đã làm điều không thể tưởng tượng đó khi chia quyền chỉ huy của tập đoàn quân Tám ở Triều Tiên. Ráng hết sức để thoát những công việc bàn giấy ở Washington, cuối cùng ông cũng có được vị trí chỉ huy thực chiến, tháng 11 năm 1944, khá muộn trong thế chiến, Freeman được đưa đến Philippine trong cương vị tham mưu trưởng sư đoàn 77, và cũng chỉ để bị gọi trở về lại Washington trong cuối năm đó để tham gia lên kế hoạch chiếm đóng Nhật Bản.

(http://tieungoclang.files.wordpress.com/2013/07/220px-paul_l_freeman.jpg?w=625)
Paul Freeman trong quả ảnh thờ :)

Paul Freeman là một nhà lập kế hoạch thạo việc và có giá trị trong Thế chiến, nhưng ông cũng không có chút thời gian thực chiến nào, trong những năm ngay sau Thế chiến, sự nghiệp của ông dường như khá loạng choạng. Vào thời đó, lục quân sử dụng một hệ thống xét duyệt tên là Case Board để định lượng giá trị từng sỹ quan trong thế chiến II và cơ hội bổ nhiệm, thăng chức của người đó trong tương lai. Nhìn chung là chỉ huy thực chiến sẽ mang lại điểm cao nhất, trong khi công tác PX ở căn cứ nội địa là thấp nhất. Với hệ thống CaseBoard, Freeman có kết quả thật nghèo nàn. “Một sỹ quan không mấy xuất sắc” ông nghĩ, khi lạnh nhạt tính toán vị trí của mình như thể ông là một thành viên trong đội tính toán. Năm 1949, ông càng thêm lo lắng cho hướng đi binh nghiệp của mình khi Freeman đến gặp một đồng sự, một nhà quản trị binh nghiệp, ông ta giảng giải rằng tình trạng lưỡng nan của Freeman là một trường hợp Catch-22 hoàn hảo. Freeman là một đại tá với vài năm kinh nghiệm, muốn có vị trí là trung đoàn trưởng và tham gia học Viện Quân sự quốc gia. Tuy vậy, trong trường hợp Catch-22: bởi sự giảm trừ quân bị, nên không còn nhiều vị trí trung đoàn trưởng, và các sư đoàn trưởng muốn điền vào đó những sỹ quan có kinh nghiệm chỉ huy trong thời chiến cho các trung đoàn, và có khá đủ. Còn với Viện quân sự, con đường cũng đóng, bởi chỉ những sỹ quan ưu tú trong cương vị trung đoàn trưởng mới được tham dự. Xem ra Freeman có lẽ sẽ kết thúc cuộc đời binh nghiệp với cương vị tùy viên quân sự ở Chile.

Nhưng Freeman không phải là không có bạn bè quyền lực; trên hết, ông đã từng làm việc nhiều trong thời chiến với một nhân vật cấp cao là George Marshall. Một năm sau, khi đến gặp cố vấn nghề nghiệp, mọi thứ xoay chuyển một cách thần kỳ. “Ồ, anh may mắn lắm đó” , vị cố vấn, Pic Dillard, ghi nhận có phần nhạo báng ở lần gặp thứ hai. Freeman được nhận một lúc hai điều: chỉ huy một trung đoàn và vào Viện quân sự. Từ đó ông có một ngôi nhà ở Washington và Viện quân sự ở đó, ông thích đi học trước, nhưng Lục quân có quan điểm khác, và thế là Freeman được yêu cầu đóng gói đồ đạc và đến nhận trung đoàn. Nguồn lực tài chính của quân nhân chuyên nghiệp luôn mỏng manh, nên ông bán nhà đi – việc đó xong vào ngày 25 tháng 6, 1950 – trước khi ông đến Fort Lewis để nhận trung đoàn 23 thuộc sư đoàn 2 bộ binh. Freeman gần như đến đơn vị ngay lúc nó được đưa lên tàu chuyển đến Triều Tiên. Dưới sự chỉ huy của ông, trung đoàn 23 (cũng như cả sư đoàn) đã tham gia vào và rồi còn xuất sắc hơn trong những trận đánh đẫm máu nhất cuộc chiến tranh Triều tiên.

Ngay từ đầu, có phần không nhỏ bởi kiến thức của mình về Trung Hoa và những gì đã diễn ra từ năm 1945, Freeman có góc nhìn riêng về cuộc chiến với vẻ u sầu – từ chính xác mà ông đã dùng trong những lá thư gửi về cho vợ. Ông tuyệt đối lưu ý bà không nói cho ai khác biết suy nghĩ của ông (“Vì Chúa, đừng cho cho ai biết điều này – chỉ riêng cho em và bạn thân nhất”). Ông sợ rằng dù đó là suy nghĩ, lo ngại riêng tư thì vẫn là một kiểu thái độ không chấp nhận được với một tư lệnh. Ông kể cho vợ nghe những khó khăn trong chiến đấu và những phiền muộn của mình. Sự thận trọng của ông với những gì quân Mỹ đang giao chiến chẳng khác mấy với đa số những sỹ quan trong chỉ huy ở Triều Tiên. Những thực tế của cuộc chiến dường như làm mất chất nhiều sức mạnh quân sự của Mỹ. Trong những lá thư ông đã có một khái niệm mơ hồ của thứ mà sau này được đặt tên là Never Again Club, những quân nhân từng phục vụ ở Triều Tiên và rời đó với niềm tin vững chắc rằng các lực lượng bộ chiến của Mỹ không nên tham chiến lần nữa trên lục địa châu Á, có phần bởi những khó khăn kinh khủng của công tác hậu cần, nhưng phần lớn là bởi sự thiếu hụt rõ ràng về nhân lực. Cũng cần ghi nhận rằng cảm nhận của ông là trước khi người Trung Hoa tham chiến, và ông thường xuyên lo lắng trong những bức thư của mình rằng sớm hay muộn gì họ cũng sẽ nhảy vào. Ông bị ám ảnh bởi cảm giác sự cân xứng trong cuộc chiến này là không hợp lý, rằng phía bên kia có thể sẽ có đầu tư thêm để cân xứng với những gì Hoa Kỳ có thể làm – trong một cuộc chiến hiển nhiên là ngoại vi với lợi ích an ninh quốc gia Mỹ.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 04:33:43 pm
Ngày 9 tháng tám, ông viết ngay khi vừa đến: “Triều Tiên là một trong những điểm khó khăn nhất mà quân ta từng đi đánh và chúng ta [đã đưa đến] khá ít và khá muộn. Không ai trong số chúng tôi hiểu nổi sự lạc quan và tự mãn của sở chỉ huy. Quân địch không có thấy bất kỳ dấu hiệu yếu ớt nào”. Địa hình và thời tiết thì kinh khủng. “Với tôi trong vị trí trung đoàn trưởng, tôi là một kiểu người lạc quan và hăng hái. Tôi sẽ làm tốt nhất với cương vị một quân nhân chuyên nhiệp”. Hai tuần rưỡi sau, chỉ ngay trước trận tấn công cuối cùng của quân Bắc Triều Tiên vào vòng phòng thủ Pusan, ông viết: “Chúng tôi đào hầm vào sườn đồi như một bầy chuột chũi. Ruồi và muỗi thật kinh hoàng và những xác chết không thể chôn bắt đầu bốc mùi. Chúng tôi không bao giờ biết tới việc cởi giầy. Nước thì khan hiếm và thức ăn thì đưa đến từ 10 dặm ở phía sau”.

Ông thư về nhà rằng mọi người luôn kiệt sức. Không có thời gian ngưng nghỉ, không có chỗ nào để ngủ để nghỉ, cũng không có chỗ để ăn. Quân Mỹ chọn đánh nhau ban ngày; còn quân Bắc Triều Tiên, vì không có không lực, chọn ban đêm. Điều này có nghĩa là người Mỹ sẽ không bao giờ có được đêm yên tĩnh. Ngay cả trong những thời khắc thái bình hiếm hoi họ cũng phải cảnh giác, tự hỏi rằng trận tấn công kế tiếp bao giờ sẽ đến. Ai mà ngủ một cách đàng hoàng thì sẽ không đánh thức nổi. Trong trận Naktong, cho dù quân Mỹ đã chặn được mũi đột phá chính của quân Bắc Triều Tiên trong 48 giờ đầu và dần dần gia cố các vị trí phòng thủ của họ, nhưng trận đánh không hề dịu bớt đi, mãi cho đến ngày 16 tháng Chín, ngày bắt đầu cuộc đại phản công của quân Mỹ trong vùng Naktong, phối hợp với trận đổ bộ Inchon của MacArthur trong ngày hôm trước.

(http://tieungoclang.files.wordpress.com/2013/07/naktong_defense.jpg?w=625)

Có lẽ ngày 8 tháng Chín bộ đội miền Bắc gần như đã xuyên thủng được tuyến trung đoàn 23, tấn công sở chỉ huy trung đoàn từ phía sau và gần như xuyên qua vị trí mỏng nhất của đại đội Fox, đơn vị bảo vệ trung đoàn bộ. Đó là một đêm kinh hoàng, trời mưa như trút, như giúp cho quân Bắc Triều Tiên. Trung úy Ralph Robinson – trên danh nghĩa là trợ lý tiểu đoàn nhưng vừa mới được thăng làm đại đội trưởng bởi trong tuần trước đại đội Fox đã mất toàn bộ sỹ quan của mình – đã phản ứng rất thông minh. Dù quân Bắc Triều Tiên đã khoét rất sâu vào đội hình đại đội, Robinson vẫn cố xoay sở để thoát qua đội hình của chúng dưới hỏa lực dày đặc trong cơn mưa ướt sũng, anh đến được đại đội Able, lấy trung đội dự bị của đại đội này và dẫn về. Anh đã dùng đại đội Able để vá víu hệ thống phòng thủ đã sụp đổ và đuổi được quân Bắc Triều Tiên đi. Đó là một việc rất đáng kinh ngạc, sau này thượng cấp anh nhận định.

Sau khi các trận đánh trên sông Naktong kết thúc, các trợ lý trung đoàn ước tính rằng từ giữa ngày 2 tháng Chín đến ngày 15 tháng Chín, có ít nhất 17 cuộc tấn công lớn từ phía cộng sản, tất cả đều nhằm vào vị trí trọng tâm của trung đoàn. Trong một bức thư Freeman viết cho vợ, mười ngày sau trận đánh Naktong, ông ghi: “Trời mưa suốt trong ba ngày cuối. Bọn anh không có không quân yểm trợ. (Dù trong thực tế nó cũng có chút xíu khi thời tiết tốt). Phóng pháo cơ không lên được, và thế là bọn anh mù. Bọn anh chỉ ngồi đây, đợi. Bọn anh cũng đã đẩy lùi được 13 trận tấn công – 10 trong số đó vào ban đêm. Những đêm đó thật là tệ hại. Bọn mọi châu Á tràn lên, và bọn anh tiếp tục tàn sát chúng. Phần thời gian còn lại bọn anh tiếp tục nằm dưới hỏa lực. Tất cả bọn anh ghét cái bọn không quân nhà mình. Thiệt hại của anh là kinh khủng. Anh chỉ còn ít hơn 40% quân số anh có hồi ngày 31 tháng Tám khi trận này bắt đầu. Gần như tất cả các sỹ quan cấp đại đội của anh đã hi sinh hết… Bọn anh rất đau lòng về những việc này. Bọn anh đã chiến đấu ác liệt với tất cả phẩm giá; không chỉ bởi bọn anh tin rằng đường lối của chúng ta là đúng mà còn vì sự sống còn của chính bọn anh. Nhưng tất cả dường như vô nghĩa và điên khùng. Để ‘giải phóng’ Nam Hàn bọn anh đang hủy diệt nó cùng với dân của nó. Tất cả người Triều Tiên đều ghét chúng ta. Mọi người ở đây đều là quân thù. Bọn anh không thể tin một ai cả”.

Ông thêm: “Và anh ngày càng tin rằng chúng ta bị kẹt vào một cái bẫy đẹp đẽ với những bầy mọi cuồng tín châu Á. Dường như toàn bộ quân chính quy của chúng ta tham chiến và bị nghiền dần. Anh không thấy lối ra cho việc này hoặc cách kết thúc nó. Bọn anh không thể áp đặt một thất bại quân sự lên những kẻ cuồng tín phương Đông này. Chúng chỉ đơn giản là xông đến. Cuộc đời rẻ mạt. Chúng không lệ thuộc vào hậu cần hay phương tiện liên lạc như chúng ta. Anh có cảm giác ngày càng lớn rằng chúng ta đã có một sai lầm to lớn khi đưa quân tham chiến trong cái hố không đáy này”. Đó là những lời của một sỹ quan Mỹ, người đã không có một đêm nghỉ ngơi đúng nghĩa trong nhiều tuần qua. Mọi tờ thư ông viết, ông ghi chú rằng, đều ướt đẫm nước mưa.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 04:37:53 pm
Cuối cùng, ông tin rằng trận đánh bên sông Naktong là xứng đáng với những khó khăn và những thiệt hại họ đã phải chịu. Họ cũng đã may mắn một cách lạ lùng. Quân Bắc Triều Tiên không cảm giác được rằng những vị trí quân Mỹ rất mỏng mảnh. Họ cũng không có máy bay trinh sát để biết rằng còn rất ít lực lượng chặn giữa họ và Pusan. Tuy vậy, thiệt hại phía Mỹ cũng rất kinh khủng. Chỉ tính riêng tiểu đoàn 1 và tiểu đoàn 2 của trung đoàn 23, theo ghi nhận trên trung đoàn bộ, đã có hơn 50% thương vong. Trong hai tuần này tất cả đại đội trưởng bộ binh của hai tiểu đoàn kể trên đều hi sinh. Với một số đại đội, theo các báo cáo chính thức, đã phải thay chỉ huy ba đến năm lần. Paul Freeman sẽ không bao giờ quên được những ngày tháng kinh hoàng ở bờ sông Naktong và những lựa chọn tàn nhẫn mà ông buộc phải làm, hi sinh một số thanh niên để những người khác có thể sống sót. Chừng 17 năm sau, lúc này đã là đại tướng (bốn sao), khi thực hiện chuyến thăm cuối cùng đến Fort Benning trước khi về hưu, ông nhận ra hạ sỹ Berry Rhoden, cựu binh sỹ đại đội Charley, lúc này là một thượng sỹ tóc đã hoa râm, vẫn còn trong quân ngũ ở đây. Freeman luôn giữ lại sự gần gũi với những binh sỹ đã từng phục vụ dưới quyền trong trung đoàn 23 ở Triều Tiên, và ông vẫn tìm đến Rhoden vài lần, chỉ để nói chuyện. Giờ đây, trong ngày nghi lễ cuối cùng này, ông bảo Rhoden tháp tùng chuyến đi của mình. Có một vị tướng nữa đi cùng đó trong ngày đó, một thiếu tướng hai sao, Rhoden hứng thú đóng vai phụ giữa họ, một đại tướng và một thiếu tướng, làm nhân chứng cho cuộc nói chuyện tinh tế. Tại một thời điểm Freeman quay sang người đồng nghiệp “Tôi muốn giới thiệu với anh một quân nhân dưới quyền của anh, thượng sỹ Berry Rhoden. Cậu này là một đồng đội cũ của tôi. Berry đã sống sót trong một thời điểm kinh hoàng, khi tôi phải đưa ra quyết định khó khăn nhất mà tôi từng ra trong cuộc đời làm sỹ quan quân đội. Tôi phải hi sinh đại đội của cậu ấy để trung đoàn và những đơn vị khác ở vòng phòng thủ Pusan có điều kiện tốt hơn. Tôi phải mua thời gian để những đơn vị khác tập trung thành một lực lượng khóa chặn. Và họ đã mang lại thời gian chúng tôi cần. Thật là khủng khiếp, một thời điểm khủng khiếp và một quyết định nhẫn tâm. Đó là quyết định khó khăn nhất tôi từng ra. Gần như không có ai trong đơn vị cậu ấy sống sót. Nghe này, anh phải chăm sóc tốt cậu ấy”. Điều này một lần nữa nhắc cho Rhoden rằng không ai trong số họ có thể quên được thời điểm đó.

Việc tiểu đoàn công binh số 2 trụ vững được và rồi TQLC đã kịp đến giúp khóa những con đường đi đến Miryang không làm trận đánh Naktong-Pusan chấm dứt. Nó chỉ dịu bớt đi khi trận Inchon nổ ra – và ngay khi đối diện với nguy cơ bị hợp vây hoàn toàn, nhiều đơn vị Bắc Triều Tiên vẫn chiến đấu với sự ngoan cường hiếm thấy, điều này gợi lại ký ức các cựu binh những trận đánh chiếm đảo với quân Nhật lúc gần kết thúc Thế Chiến 2. Những cụm kháng cự đơn độc của quân Bắc Triều Tiên bám chặt vào những ngọn đồi hiểm trở hoặc các ngọn núi trụ được trong nhiều ngày. “Chúng tôi tấn công đồi 610 rất khó, đó là trận sau trận đánh chiếm được đồi 609” Lee Beahler nói.

Walton Walker là một trong những người đầu tiên cảm nhận được sự đổi thay trong trận chiến Naktong. Trong những ngày tệ hại nhất hồi đầu tháng Chín, ông thường xuyên lo lắng nghĩ đến thời điểm nào phải hoàn toàn rút bỏ phòng tuyến Naktong và lui về một nơi được sở chỉ huy gọi là tuyến Davidson, một tuyến phòng thủ được vạch ra ba tuần trước theo yêu cầu của tướng MacArthur dành cho trường hợp tập đoàn quân 8 không trụ nổi được. Tuyến này nhỏ hơn, chặt chẽ hơn và dễ phòng thủ hơn tuyến Naktong, và cũng gần Pusan hơn. Đêm ngày 4 tháng Chín, Walker và Gene Landrum, tham mưu trưởng của ông, đã chuẩn bị nhật lệnh cho tất cả các đơn vị lui về tuyến Davidson. Ngày hôm sau, ông bảo Mike Lynch chở ông bay trên chiến trường, và mọi nơi, khi thấy ba ngôi sao sơn trên chiếc phi cơ, đều vẫy tay chào. Walker rất ấn tượng, tinh thần quân của ông vẫn còn cao và trên cơ sở cảm nhận đó, ông cho rằng họ vẫn có thể cố trụ lại Naktong.

Quân Bắc Triều Tiên không sụp đổ. Nhưng trận đại công kích đã thất bại, lực lượng của họ giờ trải rộng quá mức, tạo ra những lổ hổng chiến thuật, tuyến tiếp vận của họ quá dài và các đơn vị giỏi của họ cũng bị đã mất sức trầm trọng sau hai tháng chiến đấu rất gian khổ với một địch thủ dần dần gia tăng sự vượt trội về trang bị, xe tăng, pháo binh, không quân; đồng thời cũng bổ sung thêm quân số theo từng ngày, đưa lính, quân bị đến tiền tuyến. Giấc mơ chiếm Pusan sau ba tuần đã hoàn toàn chết đi cùng với giấc mơ hai trăm ngàn người Cộng sản miền Nam đứng lên tham gia chiến đấu. Phía cộng sản đã chơi ván bài cuối vào ngày 31 tháng Tám để dành chiến thắng cuối cùng nhưng không đạt. Và dù chậm chạp, họ bị đổi chiều – điều là lúc đầu không ai tin được – sang trạng thái phòng thủ. Đột nhiên, họ trở thành phía chỉ phòng thủ trong cuộc chiến.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 04:42:57 pm
Murphy cho rằng trận Naktong là một trận đánh ác liệt nhất, kiểu chết bất đắc kỳ tử trong một trận đánh giằng co. Với các chiến sỹ, mỗi ngày đều có thể là chiến thắng – hoặc thảm họa – bởi dường như lối nào cũng có thể: binh lính mỏi mệt của cả hai bên loạng choạng xông vào nhau và thường kết thúc với lưỡi lê làm quan tòa cho bên chiến thắng. Chiến thắng gì đi nữa thì cũng rõ ràng và quan trọng. Và sống sót là quan trọng nhất. Vấn đề khi chiếm xong một ngọn đồi nhỏ là, sớm hay muộn, sỹ quan các cấp sẽ tìm ra một ngọn đồi nhỏ khác để bạn chiếm tiếp. Mà ngọn đồi mới đó cũng chẳng ai thèm quan tâm ngoại trừ việc nó nhìn xuống con đường nhỏ bé dơ bẩn nào đó mà cũng chẳng ai muốn biết, nhưng nó có thể dẫn phía cộng sản, một khi không được bảo vệ hoặc khống chế, đến một thành phố cảng nhỏ bé tên là Pusan, một thành phố không ai ở ngoài Triều Tiên nghe thấy tên cho đến ngày 25 tháng 6 năm 1950, và thành phố này hầu hết người Mỹ cũng không thèm quan tâm – nếu, dĩ nhiên, không vì để quân cộng sản tiến vào.

(http://tieungoclang.files.wordpress.com/2013/07/naktong_defense2.jpg?w=625)
Bản đồ trận mấu lồi Naktong

Trận Naktong bao gồm cả ngàn trận đánh nhỏ, nhiều trong số đó rất ác liệt, như theo cách nói của George Russell là có rất nhiều trận Bulge thu nhỏ, chứa trong đó đầy đủ các chất liệu chính của trận đánh nổi danh kia, mọi thứ, chỉ trừ kích cỡ, tầm cỡ và vị trí trong lịch sử. Mà cho dù những trận đánh này thiếu tầm cỡ có giá trị với một sử gia vĩ đại thì nó cũng có đủ yếu tố lịch sử cho phần còn lại cuộc đời của người lính và ám ảnh họ thường xuyên với những ký ức dữ dội.

Murphy ở tiền tuyến được chừng 2 tuần rồi anh chuyển từ một trung đội thuộc đại đội George sang chỉ huy đại đội Fox, đại đội này đã mất hết các sỹ quan của nó. Đó không là một bước thăng tiến anh nóng lòng muốn có. Anh thích lính của mình, những cậu trai của anh, trong hai tuần khó khăn dài dằng dặc đó. Quan hệ từ chỗ không có gì đã được vun đắp mỗi ngày qua từng trận đánh, và trở nên cực kỳ bền chặt, như thể họ sinh ra cùng ngày cùng bệnh viện, cùng quê quán, và đã biết nhau cả đời, như chưa từng có bạn bè nào khác. Nhưng Murphy không có lựa chọn khác – thượng cấp muốn anh chỉ huy đại đội Fox, và anh phải chỉ huy. Theo cách nào đó anh cảm nhận được có điều gì to lớn đang đến bên phía quân LHQ. Chẳng ai ở cùng cấp với anh, đang chiến đấu trên chiến trường, có thể biết chút gì về chiến dịch Inchon sắp diễn ra, nhưng đã có tin chắc chắn rằng sẽ có gì đó rất lớn sẽ xảy ra. Đâu đó quanh ngày 13, 14 tháng Chín, không chắc, Murphy được lệnh trở lại Naktong và chiếm một ngọn đồi lớn cách con sông 2 dặm, nơi quân Bắc Triều Tiên đặt súng. Bất cứ khi nào quân Mỹ đến gần ngọn đồi, thì sẽ có một cơn mưa hỏa lực cối trút xuống. Đại đội Fox đã sớm mất chỉ huy khi đánh nhau ở đây, và vì vậy mà Murphy, 24 tuổi, trở thành đại đội trưởng. Đó không phải là một trận tấn công mà anh mong có – ngọn đồi đầy những chỗ lởm chởm đá hiểm trở, quân Bắc Triều Tiên có thể chốt và bắn.

Murphy lo lắng ngay từ khi bắt đầu tấn công, anh tin chắc rằng cối địch sẽ xé nát đại đội. Nhưng họ tiến lên, băng qua một vùng khá trống mà không có gì xảy ra. Sao cái chiến trường ác liệt lại im lặng thế. Anh tự hỏi phải chăng quân Bắc Triều Tiên chờ lính anh đến đủ gần hơn mới khai hỏa. Nhưng không có sự kháng cự nào khi quân của anh bắt đầu leo lên đồi. Họ lên được tới đỉnh vô sự, Murphy nhìn xuống cái hướng mà anh vừa đi và nhận ra nó cực kỳ nguy hiểm với anh và người của mình, khi anh nhìn xuống hướng kia và nhận ra nguyên nhân của sự tĩnh lặng: quân Bắc Triều Tiên tháo lui, hướng đại bác theo góc khác, xoay chúng đi. Vốn chờ đợi một trận đánh tệ hại trong binh nghiệp non trẻ của mình – xông lên một ngọn đồi dưới hỏa lực vũ khí hạng nặng – với Murphy thì đây như là một phép màu, không gì khác hơn là quà tặng cuộc đời. Thế rồi anh gọi cho cấp trên báo bởi đang có điều gì đó xảy ra. Điều gì đó, anh nhanh chóng biết được, chính là trận Inchon.

(http://tieungoclang.files.wordpress.com/2012/10/phase-1-november.jpg?w=625)
Bản đồ toàn cảnh lần Nam chinh của bộ đội Bắc Triều Tiên từ 25/06/1950 – 15/09/1950

Khi bộ đội Bắc Triều Tiên vỡ trận, họ chiến đấu khá tệ, như mọi quân đội thông thường khác. Họ dường như không lão luyện như Việt Minh trong tình huống tương tự lúc chiến đấu với người Pháp ở Đông Dương, Việt Minh cũng phải chiến đấu lâu dài với quân thù phương Tây vượt trội về không lực và hỏa lực. Như Murphy hiểu, quân Việt Minh là bậc thầy trong việc biến mất khỏi chiến trường mà họ không còn hứng thú, nếu là họ thì họ có thể ngay lập tức phân rã thành nhiều đơn vị siêu nhỏ ở sông Naktong và trườn ra khỏi các ngọn đồi, di chuyển đi đa số trong đêm. Nhưng bộ đội Bắc Triều Tiên thì đầu tiên là dũi ra đường và trong một hoặc hai ngày đó tha hồ cho không quân Mỹ bắn phá. Khi đại đội Fox bắt đầu di xuống, Murphy nhìn thấy một cảnh tượng chưa bao giờ được thấy – những thi thể đen thui cùng những xe cộ cháy xám dọc con đường.

(Hết chương 18- hết phần Năm)


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 04:48:05 pm
PHẦN 6: MACARTHUR THAY ĐỔI NGỌN TRIỀU – CHIẾN DỊCH ĐỔ BỘ NHÂN XUYÊN (INCHON)

Chương 19


Trận Inchon là thắng lợi vĩ đại sau cùng của Douglas MacArthur, của riêng ông. Đó là một ván bài thông minh và liều lĩnh. Rõ ràng hàng ngàn sinh mạng lính Mỹ đã được cứu như ông tiên đoán. Gần như ông đã một mình chiến đấu chống lại những nhà kế hoạch hàng đầu của Hải quân, cũng như chống lại những mong muốn của hội đồng liên quân. Chiến dịch Inchon là đỉnh cao của Douglas MacArthur: táo bạo, độc đáo, không lường trước được, suy nghĩ vượt khỏi lối thường, và dĩ nhiên nó cũng cho thấy khá là may mắn. Bởi vậy nên cả hai đời tổng thống phải chịu đựng ông. “Có một ngày trong đời của MacArthur, ngày ông là một thiên tài quân sự: ngày 15 tháng Chín năm 1950” nhà viết tiểu sử của ông Geoffrey Perret viết “Trong đời của mỗi thiên tài quân sự đều có một trận đánh đứng trên mọi trận còn lại, một bài kiểm tra tối cao cho khả năng lãnh đạo để đưa người đó vào hàng ngũ những nhà quân sự bất hủ. Với MacArthur đó chính là trận Inchon”

Ngay từ đầu ông đã nhận ra giá trị của Inchon, đó là phương thức tốt nhất để tận dụng khả năng kỹ thuật vượt trội của Mỹ, khi quân của ông vẫn còn rất thiếu và bị đe dọa đánh bật ra khỏi bán đảo. Cũng ngay từ đầu ông đã xác định tránh dùng chiến thuật bộ binh truyền thống để đánh nhau với một quân địch vượt trội về số lượng trên một địa hình phức tạp. Rốt cuộc rồi ông cũng thành công, và lúc kết thúc mọi thứ đều đã thực hiện như ông đã hứa. Bởi ông rất muốn chiếm Seoul – một chiến thắng có thể làm PR ầm ĩ – nên ông và các sỹ quan dưới quyền đã không bung ra tấm lưới cực tốt để chặn đường các đơn vị Bắc Triều Tiên đang tháo lui, phần nào làm giảm bớt giá trị của trận tấn công của ông. Nếu có một sai sót nào đó nghiêm trọng trong kế hoạch của ông, thì đó chính là sự thành công to lớn của ông, điều này làm ông bẩy Washington và hội đồng tham mưu liên quân mạnh hơn. Bởi ông đã phải bảo vệ chiến dịch này chống lại mọi người khác, nên những vấn đề về sau khó chống lại được ông.  Ông đã đúng với chiến dịch Inchon và những ai nghi ngại về ông đã sai, nên giờ những ủng hộ viên của ông tranh cãi ngay khi những người hồ nghi kia lại lên tiếng lúc ông đưa quân đến gần sông Áp Lục. Ông chơi liều lần nữa với lợi thế lớn, và khó để ngăn ông lại khi ông đã đẩy thành một thứ còn lớn hơn nữa.

Douglas MacArthur đã sai trong việc ước lượng thấp khả năng của quân Bắc Triều Tiên trong những ngày đầu cuộc chiến (Ông đã từng phát biểu về điều gì sẽ sảy ra nếu ông có thể đưa chỉ một sư đoàn, sư kỵ binh Một, vào Triều tiên – “Rồi bạn sẽ thấy chúng bị quét sạch đến tận biên giới Mãn Châu rất nhanh, bạn sẽ không còn thấy chúng đâu nữa”) . Nhưng ông nhanh chóng nhận ra rằng ông đang phải chiến đấu với một quân đội hung tợn, kiên cường, được chỉ huy tốt và dũng cảm “có khả năng chiến đấu và mạnh mẽ”  như ông đã nói với Averell Harriman trong một cuộc họp ở Tokyo, cũng như với mọi người lính mà ông bắt gặp. Cách đánh giá tức thì đó ảnh hưởng lên cảm nhận chiến lược của ông. Bởi vậy nên ngay cả trước khi quân Mỹ bị ép lùi về vòng cung Pusan (trong tình trạng hiểm nghèo “như một miếng thịt bò trong lò mổ”, MacArthur sau này nói), ông đã hướng tới một trận đổ bộ đường thủy, điều có thể đưa những kỹ thuật vượt trội của Mỹ có hiệu quả trong một phương thức có thể xoay chuyển cục diện chiến tranh chỉ với một trận tấn công mang tính quyết định.

Những bài học trong Thế Chiến I luôn ghi nhớ trong ông. Ông tin các tướng Anh, Pháp và Đức đã phản bội lính của họ nhiều lần bởi việc đưa lính vào những trận đánh vô vọng trước họng súng máy và đại bác của quân thù. Đó là cuộc chiến của những người lính có trái tim quả cảm, nhưng bị chỉ huy bởi những viên tướng có óc heo. Bất kể những thương vong ghê gớm được ghi nhận, hầu như không thể nói được ai là người thắng, người thua trong những trận đánh riêng lẻ trên chiến trường Tây Âu. Việc MacArthur tin rằng châu Âu là nơi suy đồi, không quan trọng bằng châu Á trong tương lai người Mỹ, có nguồn gốc từ những gì ông đã nhìn thấy trong Thế chiến I. Những tướng tá bên phía thắng trận cũng không mấy để tâm tới lính họ, điều này làm ông tin rằng họ đại diện cho một thời đại cũ kỹ. Thế chiến I đã dạy ông những hiểm nguy thách thức nơi tiền tuyến. Trong chiến dịch khéo léo của ông trên Thái Bình Dương, nhảy cóc qua vô số đảo cách biệt nhau với thương vong tối thiểu, ông thường tấn công ở những đảo không có quân Nhật phòng thủ mạnh, một chiến lược có tiền đề từ những gì ông học được trong thế Chiến I. Đây là phần rất phức tạp trong con người ông, theo kiểu những vần thơ của Kipling mà ông nằm lòng, giống như một chiến binh khát máu luôn yêu thích cảm xúc chiến tranh đến tận cùng, nhưng khi lên kế hoạch cho một trận đánh thực thụ lại thận trọng một cách đáng ngạc nhiên với sinh mạng của lính.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Một, 2013, 12:54:01 am
Ông đã dùng hải quân và không quân tấn công những điểm quân Nhật ít mong đợi nhất, cô lập và thít chặng vòng vây ngăn cách địch với dân và những cứ điểm mạnh nhất hơn là giao tranh trực tiếp với địch, và nay ông cũng định làm y hệt như vậy ở Triều Tiên. Từ ngày 4 tháng Bảy, ông đã suy nghĩ về trận đổ bộ lên sau tuyến bộ đội Triều Tiên. Ông không có cảm giác nhiều về việc đợt quân đầu tiên ông phái đến Triều Tiên được huấn luyện rất kém, trang bị tệ và lãnh đạo tồi. Họ không cách nào sẵn sàng cho một chiến dịch đổ bộ đường thủy phức tạp. Lúc đầu, chiến dịch mang tên là Trái tim xanh và dự kiến triển khai vào ngày 22 tháng bảy. Nhưng đó là một lịch trình không tưởng. Thế là chiến dịch Trái Tim xanh bị vứt đi, nhưng ý tưởng về cuộc đổ bộ đường thủy thì không. Ngày 10 tháng Bảy, trung tướng Lem Shepherd, tư lệnh thủy quân lục chiến ở Thái Bình Dương, đến thăm Tokyo, MacArthur buồn bã nói rằng ông ước chi có một sư TQLC trong tay, và nếu ông có, ông sẽ đổ nó lên sau tuyến quân Bắc. Tay ông dịch chuyển trên bản đồ Triều Tiên. “Tôi sẽ đổ bộ lên đây … lên Inchon”. Thời điểm Shepherd ám chỉ rằng MacArthur hỏi xin một sư TQLC – nói cho cùng, phục vụ cho mục đích của cả hai người. MacArthur cần quân, còn TQLC thì cực kỳ cần có vai trò và nhiệm vụ. Áp lực cắt giảm ngân sách quốc phòng đã làm tương lai của TQLC lung lay, và giờ đây họ dường như không có sự ủng hộ chính trị thích đáng nào cả. Cả lục quân lẫn không quân đều hăm hở cho thấy muốn chiếm vai trò truyền thống của TQLC. MacArthur tất nhiên là hiểu rất rõ điểm yếu của TQLC: ông chắc chắn rằng Shepherd sẽ nhảy ngay vào đề nghị của ông, và ông ta đã làm như thế. Shepherd hứa với MacArthur rằng TQLC có thể cho một sư đoàn đó vào ngày 1 tháng Chín.

MacArthur càng nghĩ về trận đổ bộ đường thủy, thì ông càng chọn Inchon. Cách Pusan 150 dặm về phía tây bắc, bên bờ biển phía tây, và ngay sau tuyến quân Bắc Triều Tiên. Đó là một cảng chính của Seoul, cách thành phố chừng 20 dặm tùy theo hướng đường, và còn gần Kimpo hơn, phi trường chính của nước này. Inchon cũng có thể là một thảm họa khi chọn là điểm hành động. Bất kỳ cuộc đổ bộ đường thủy nào cũng đầy nguy hiểm, nhưng Inchon dường như còn tệ hơn bất kỳ nơi nào khác. “Chúng tôi vạch ra danh sách tất cả những điểm bất lợi về tự nhiên và địa hình – và Inchon có đủ tất cả những điểm đó” thiếu tá hải quân Arlie Capps, một thành viên trong tổ của đô đốc James Doyle, nhà kế hoạch đổ bộ đầu ngành của Hải quân.  Hầu hết mọi người đều đồng ý rằng Inchon là một nơi do những ác quỷ ghét giới Hải quân tạo ra. Inchon không có bãi biển chỉ có đập chắn sóng và cầu tàu. Có một đảo nhỏ tên là Wolmi-do, nằm ngay giữa cảng, bảo vệ cảng hữu hiệu và chia vùng đổ bộ làm đôi. Luồng nước thì nhanh khét tiếng và khó định hướng – nhưng không điều nào kể được tính là nguy hiểm nhất, ở Inchon, nguy hiểm thực thụ chính là thủy triều. Một vịnh Fundy khác, có thể là nơi cao nhất trên thế giới, đỉnh thủy triều lên đến 32 feet (10m). Và lúc triều xuống, như Robert Heinl viết trong Chiến thắng với triều cường (Victory at High Tide), bất kỳ ai cố đổ bộ xuống phải vượt qua ít nhất 1000 thước, và có nơi còn lên đến 4500 thước, trên bãi bùn dính nhớp nháp “như kẹo sô cô la mềm”. Đó không giống như một bãi biển mà trông như một chiến trường giết chóc. Nếu ai đó nghĩ đến việc cài mìn lên cảng này, và vài cảng ở Triều Tiên đã thực sự được cài mìn dưới sự trợ giúp của Liên Xô, thì đây có thể là một thảm họa tuyệt đối. “Inchon chính là nơi lý tưởng cho việc cài mìn” đô đốc Arthur Struble – một sỹ quan hải quân cao cấp ở Thái Bình Dương – nói. Như thế chưa đủ tồi tệ, bởi cơ hội cho chiến dịch này thực hiện là một khe cực kỳ hẹp. Chỉ có hai ngày trong khoản thời gian sắp tới có triều cường đủ cao để tàu đổ bộ có thể tiếp cận đập chắn sóng và cầu tàu: ngày 15 tháng Chín khi đỉnh triều cường đạt 31,2 feet và ngày 11 tháng Mười, khi đỉnh triều cường là 30 feet. Còn thêm một vấn đề nữa – đỉnh triều cường buổi sáng ngày 15 tháng Chín là vào lúc 6:59, chỉ 45 phút sau khi mặt trời mọc; đỉnh triều thứ hai là vào 7:19 tối, 37 phút sau khi trời lặn. Chẳng có thời điểm nào là lý tưởng cho một cuộc đổ bộ đường thủy phức tạp. Cái điểm tháng Mười không hấp dẫn: MacArthur không có tâm trạng để đợi thêm một tháng nữa với quân của ông bị nhốt ở vòng cung Pusan, trong khi lại có thêm thời gian cho cánh Cộng sản cài mìn Inchon. Sáng ngày 15 tháng Chín, phải là thời điểm đó. Với MacArthur, được tất hoặc mất tất.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Một, 2013, 01:00:15 am
Hầu hết mọi người đều thất kinh, đặc biệt là cánh Hải quân được chỉ định tham gia vào chiến dịch và thực thi công tác đổ bộ. Washington và hội đồng tham mưu liên quân cũng thận trọng, MacArthur hiểu rất rõ điều này. Về mặt kỹ thuật, họ là cấp trên, nhưng ông xem họ là những tay quan chức bàn giấy dái nhỏ, những tay kiếm được quyền lực bằng cách thỏa mãn cho những chính trị gia mà ông khinh miệt. Ông biết, nếu ông muốn thành công với kế hoạch Inchon, thì có đến hai trận đánh phải làm, trận đầu là với họ. Ông luôn mong hội đồng tham mưu liên quân chống đối lại cuộc đổ bộ. Phần thì do tính đa nghi hoang tưởng của ông, nhưng cũng có phần là sự thật. Ông không ưa và cũng không đánh giá cao Omar Bradley, chủ tịch hội đồng, bởi Bradley xem ra là bạn thân của Eisenhower (một khuyết điểm), một người được Marshall bảo trợ (một khuyết điểm nữa), một người theo cách nhìn của ông, đã chiến đâu không có giỏi giang hay táo bạo ở châu Âu (khuyết điểm thứ ba) và có nhiều quân hơn xa so với MacArthur ở Thái Bình Dương (khuyết điểm thứ tư) và giờ lại gần gụi với Truman (khuyết điểm tối thượng).

Nếu quan hệ của họ là khủng khiếp thì đa phần tình trạng thù địch, như thường lệ, xuất phát từ phía MacArthur. Mỗi người đều đã chọn hành trang cho mình qua từng đó năm. MacArthur chắc chắn rằng Bradley ghét ông bởi ông đã phủ quyết quyền chỉ huy của Bradley trong kế hoạch chiếm đóng Nhật. Không có chứng cứ cho việc này, nhưng lại có bằng cớ rõ ràng rằng Bradley, cũng như các nhân vật lớn khác trong thế giới an ninh quốc gia thời hậu chiến, đã không mấy thoải mái với việc có một người quan trọng tới mức ngoài tầm kiểm soát của mình. MacArthur tin (với lý do đúng đắn) rằng từ năm 1949 Bradley đã đồng mưu Dean Acheson nhằm giảm quyền và phân bớt quyền lực của ông ở Nhật Bản. MacArthur đánh hơi được việc này và rất giận. Sau này, đô đốc James Doyle, người đóng góp nhiều nhất cho kế hoạch đổ bộ Inchon, đã ghi nhận rằng MacArthur và Bradley đã không mấy nồng ấm khi họ gặp nhau ở Tokyo. “Bradley là một thằng nông dân”, MacArthur nói với Doyle.

Hội đồng tham mưu liên quân khá lo lắng, phần không nhỏ bởi tính rủi ro trong phương án           , và quá  nguy hiểm của một việc dùng quá nhiều lính hiện dịch. (Chính MacArthur cũng nói rằng chiến dịch Inchon cần 5000 lính cho một lần đổ bộ). Nhưng cũng có nhiều phần lo lắng của họ có nguồn gốc từ sự kình địch nội bộ.  Với rất nhiều lý do đa dạng, nhiều lý do cao quý và cũng nhiều lý do tầm thường, hầu như mọi người đều chống lại kế hoạch chiến dịch. Trong số những ngoại lệ có Averell Hariman, Matt Ridgway, và trong thời điểm này, lại có chính Truman. Lãnh đạo của đội lập kế hoạch chiến dịch, đô đốc Doyle, cá nhân ông cũng có sự hồ nghi đáng kể; và cũng như đa số những người khác, ông phải làm việc với Ned Almond, chỉ huy MacArthur chọn cho trận Inchon, và Doyle nhanh chóng không ưa Ned vì cái tính võ đoán, ép buộc người khác cùng với khuynh hướng ngăn không cho MacArthur những điều ông cần biết. Doyle thì tin rằng nếu họ muốn đi tiếp thì phải cho MacArthur biết tất cả những rủi ro kinh khủng có thể xảy ra, và ông nói với Almond như thế. “Tướng quân không quan tâm nhiều đến chi tiết” Almond trả lời, nhưng Doyle cáu kỉnh không chịu bỏ qua. “Ông ấy phải biết được những chi tiết”, vị đô đốc khăng khăng. Và ông thắng trong trường hợp này, chắc chắn MacArthur phải biết những chi tiết đó, những chi tiết về các mối nguy.

Trông như thể Almond cố ngăn Doyle làm việc của mình, bởi MacArthur luôn là MacArthur vĩ đại, một người đứng trên mọi chi tiết trần tục. Những chi tiết ít quan trọng – bất kể là kế hoạch có thực hiện không – phải được làm bởi những tư lệnh cấp dưới, những người ít quan trọng hơn. Sự cao quý đó ẩn trong cái cách MacArthur làm việc với mọi người, trong mọi điều. Và giờ đây ông chuẩn bị cho cuộc trình diễn lớn nhất đời ông – làm cho phía Hải quân và những ai lo ngại khác bị thuyết phục bởi kế hoạch Inchon. Một cuộc trình diễn vĩ đại cần thiết được những đại diện của Hải quân và hội đồng tham mưu liên quân, một cuộc trình diễn vĩ đại mà ông có thể làm.

MacArthur  vẫn là một người phô trương nhất hạng. Trong Thế chiến I, ông mặc quần túm kỵ binh với áo lót chui đầu cổ cao và quàng khăn trận – “chiến binh ăn diện”, lính ông gọi ông như thế. Ông không chỉ tìm kiếm vẻ hào nhoáng kiểu sân khấu, mà ông còn nghiện nó. Ông biết rõ các vị trí camera, và luôn chắc chắn rằng cái cằm nổi danh của mình rơi đúng góc tốt của bức ảnh. Thực vậy, khi ông già hơn, lính của ông không chỉ kiểm duyệt mọi bức ảnh mới để chắc ăn rằng không có thứ gì thiếu tính anh hùng bị lọt ra, mà còn cố áp đặt những luật lệ riêng về góc máy ảnh.  Không chỉ để ông ta được chụp đúng góc độ, mà các nhiếp ảnh gia của tờ Sao và gạch (Stars and stripes) được lệnh khi chụp vị tướng phải khụy chân, nhằm làm ông ta trông có vẻ đường bệ hơn. Ông luôn đội chiếc nón trận cũ. Đó là thương hiệu của ông, và không nhiếp ảnh gia được phép cho thấy ông hói. Ông phải đeo kính trong văn phòng nhưng không thích bị thấy là đeo kính, và tất nhiên là sẽ không được phép chụp ảnh. Mọi điều luôn là dành cho việc trình diễn. “Tôi chưa từng bao giờ gặp một người nào quá quyến rũ, quá sống động như vậy” nhà văn nổi tiếng đến từ Emporia, tiểu bang Kansas, William Allen White viết sau khi gặp MacArthur trong thế chiến I, ông nói thêm MacArthur “là tất cả những gì Barrymore và John Drew có thể mong được vậy”. Còn Bob Eichelberger, một sỹ quan cao cấp của MacArthur trong thế chiến II, bởi lý do kiểm duyệt trong thời chiến, đã phải mã cái tên của MacArthur trong thư gửi về cho vợ. Và trong các thư đó, MacArthur luôn được gọi là Sarah – tức là Sarah Bernhardt, nữ siêu sao thời đó. Có lần một phụ nữ hỏi Eisenhower: “Ngài có biết tướng quân MacArthur chứ?” Eisenhower trả lời: “Tôi học được kịch nghệ dưới quyền ông ấy trong năm năm tại Washington và bốn năm ở Philippine”.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Một, 2013, 01:05:12 am
MacArthur tin rằng: thần thoại – dù là thần thoại thời hiện đại và không có tính bất tử – là sức mạnh, nên ông rất cẩn thận với nó. Không người ngoài nào có thể tiếp cận được ông nhiều; chắn chắn, cho đến khi ông sẵn sàng trình diễn. Những gì ông muốn thể hiện ra trước công chúng được tính toán kỹ. Mỗi từ mô tả về ông, nếu có thể, sẽ được lựa chọn cẩn thận. Hồi thế chiến II, có một tiểu sử sơ lược của ông được viết, trong đó mô tả ông là một người xa cách, ông đã cố thông qua kiểm duyệt để đổi nó thành khắc khổ. Cấp dưới không được phép thân mật. Ông đứng trên mọi tướng lĩnh khác. Khi là một trợ tá cao cấp của ông ta trong những năm 1930, Eisenhower đã giật mình khi thấy đôi lúc MacArthur tự nói về mình ở ngôi thứ ba, đại loại như: “Thế là MacArthur đến trước thượng nghị sỹ…”. Trong những năm đó, ông nhìn chính mình – và tự đóng vai chính mình – như là hiện thân lịch sử sống của đất nước, một con người lịch sử. Thật là vinh dự nếu được ông nhận, và nếu bạn đến, đó chính là ngưỡng mộ ông ta như một biểu tượng, một tượng đài sống. Có những lễ nghi hằng ngày và được tuân thủ; ví dụ như trong các bữa trưa ở Tokyo, vốn được tổ chức đều đặn cho các VIP đến thăm, bà MacArthur chào đón khách đến, dĩ nhiên là khách đến trước MacArthur, thế rồi cuối cùng ông mới đến và lúc đó bà ta nói với cung cách khá tôn kính rằng: “Và giờ, tướng quân đã đến”. Thế rồi ông ta chào mừng lại bà, mà như một người từng chứng kiến nói: “như thể ổng không gặp bả đã mấy năm rồi”.

Và chính vị tư lệnh thông thái, cực kỳ độc đáo và cũng thất thường này, đã chi phối  những chỉ dẫn quan trọng nhất cho chiến dịch Inchon vào ngày 23 tháng Tám, gần hai tháng sau khi quân Bắc Triều Tiên tấn công. Việc này diễn ra ở sở chỉ huy MacArthur tại Tokyo. Joe Collins, tham mưu trưởng Lục quân, Forrest Sherman, chỉ huy hành quân Hải quân, và trung tướng Idwal Edward, phó tư lệnh Không quân bay đến từ Washington. Hoyt Vandenberg, tư lệnh Không quân không có mặt. Có tin rằng do những vấn đề tế nhị về vai trò của từng bên trong chiến dịch nên ông ta không muốn hợp pháp hóa một chiến dịch mà về bản chất thuộc TQLC và Hải quân. Còn TQLC, lãnh nhiệm vụ dẫn đầu cuộc đổ bộ Inchon thì lại không được mời họp, những câu hỏi của quân chủng đó cùng với những lo lắng của họ không bao giờ được đưa ra, việc sau này sẽ trở thành một điểm nhức nhối. Trong cuộc họp, đô đốc Doyle và người của ông đã trình bày chi tiết trong gần một tiếng rưỡi đồng hồ. Lần lượt các sỹ quan trong ban tham mưu của Doyle đứng lên và nói về từng vấn đề kỹ thuật, quân sự riêng lẽ của trận đổ bộ. Và rồi đến lượt chính Doyle cũng đứng lên. Ông nói: “ Thưa tướng quân, tôi không được hỏi, và tôi cũng không tình nguyện đưa ý kiến về chiến dịch đổ bộ này. Nhưng nếu tôi có được hỏi, thì điều tốt nhất tôi có thể nói là chiến dịch Inchon không phải là không thể”. Thế rồi ông ngồi xuống.

Joe Collins đề nghị lại lần nữa rằng họ nghĩ Kunsan hoặc Posung-Myon, nằm ở phía nam Inchon, cả hai nơi đó sẽ là những địa điểm đổ bộ ít rủi ro hơn. Sự thận trọng của ông ta không làm MacArthur ngạc nhiên – ông đã dự đoán trước được. Thế rồi MacArthur nói. Ông đã chuẩn bị đi, chuẩn bị lại cho giây phút này trong đầu. Ông biết sự dè dặt của mọi người trong phòng họp, và mục tiêu chính của ông là Sherman, lãnh đạo Hải quân, ông này thì không tỏ ra dấu hiệu rằng ông ta cảm nhận thế nào. Mà nếu không có sự chuẩn thuận của Sherman, không có sự hợp tác của Hải quân, thì sẽ không có chiến dịch Inchon. Joe Collins có thể rất dè dặt, nhưng Lục quân ở Washington không thể bác bỏ tư lệnh lục quân tại chiến trường. MacArthur đã làm tốt nhất trong ngày hôm ấy, ông đã làm cả phòng họp đầy sỹ quan cao cấp vốn chống lại ông, đã phải tin ông. Sau này ông viết lại, rằng khi ông bắt đầu ông như nghe thấy giọng nói của cha mình “Doug, các hội đồng chiến tranh gây ra sự nhút nhát và chủ nghĩa thất bại”. Thế là MacArthur phát biểu, ông nói không hứng thú một trận đổ bộ sâu về phía nam. Vì chẳng có lợi ích gì lớn cả. “Đổ bộ đường thủy là công cụ mạnh mẽ nhất chúng ta có. Để triển khai nó hợp lý, chúng ta phải tấn công mạnh và sâu!”. Những khó khăn ở Inchon là có thật nhưng không phải là không thể khắc phục được. Chính những lý lẽ được nghe thấy về việc  chống lại cuộc đổ bộ, ông nói, cũng chính là những lý do thực tế nhất cho thành công của chiến dịch. Đó là một cơ hội lớn thực thụ bởi quân thù sẽ hoàn toàn bất ngờ. “Chỉ huy phía địch có lý do để tin rằng không có ai quá láo để có thể triển khai một nỗ lực như vậy”. MacArthur nói mình giống như James Wolfe ở Quebec năm 1759. Bởi bờ của con sông St. Lawrence ở mặt nam Quebec quá dốc, nên hầu tước De Montcalm, chỉ huy phòng thủ thành phố, đã đưa hầu hết lính của mình qua mặt bắc. Tuy nhiên, Wolfe cùng một lực lượng nhỏ, và trèo lên từ hướng nam, vượt qua các điểm cao và làm quân của Montcalm hoàn toàn bất giờ. Đó là một chiến thắng vĩ đại, một chiến thắng gần như kết thúc cuộc chiến thực dân Anh – Pháp ở Bắc Mỹ. “Như Montcalm, Bắc Triều Tiên có thể cho rằng một cuộc đổ bộ vào Inchon là vô vọng. Và như Wolfe, tôi có thể làm chúng bất ngờ”.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Một, 2013, 01:10:28 am
Ông nói ông có niềm tin mãnh liệt vào Hải quân, ngay lập tức bỏ qua quá khứ xung đột ý chí trong thời chiến dịch Thái bình Dương. Ông nhấn mạnh “Ông có lẽ tin tưởng vào Hải quân hơn chính Hải quân”. Và Hải quân – điều này được nói như thể chỉ có mình Sherman trong phòng họp – “đã không bỏ rơi tôi trong quá khứ, và sẽ không bỏ tôi trong thời điểm này”. Ông bình luận về Kunsan, được biết như là địa điểm đổ bộ được Joe Collin và Johnie Walker ủng hộ “ có thể là một nỗ lực được dấu nhưng nó không được bí mật”. Bởi có thể dễ dàng liên hệ tới tập đoàn quân 8 – và nó có thể chỉ làm tốn thêm lính trong một thứ vòng cung Pusan lớn hơn thôi, nơi ông tin là cực kỳ yếu. “Và ai sẽ chịu trách nhiệm cho bi kịch như vậy? Tất nhiên không phải là tôi”. Ông thề là ông sẽ chịu trách nhiệm toàn bộ cho chiến dịch Inchon nếu bị thất bại. (“Tôi không cho rằng đây là một lời hứa nghiêm trọng mấy”, Bill McCaffrey, một thành viên trong ban tham mưu của Almond sau này ghi lại “Và trên hết, ông ấy nói người Trung Hoa sẽ không tham chiến, rồi khi họ nhảy vào, cho thấy ông ấy đã sai nặng, chúng ta đang bị đánh bầm dập, ông ấy vẫn không bị trách nhiệm gì cả, mà ông còn quy trách nhiệm cho mọi người, trừ ông”). MacArthur nói với những thính giả trong phòng, rằng nếu ông sai về chiến dịch đổ bộ, ông sẽ ra trận và chỉ huy tại chỗ. “Nếu chúng tôi nhận thấy rằng không thể thực hiện được, chúng tôi sẽ rút lui”. Lúc này thì Doyle phản đối: “Không, thưa tướng quân. Chúng ta không biết cách làm như vậy. Một khi chúng ta đã lên bờ, chúng ta sẽ tiếp tục”

Thế rồi MacArthur hướng ánh nhìn về Sherman và nói về tình cảm của ông với Hải quân. Ông nói, hồi trước, trong những thời khắc đen tối nhất của cuộc chiến kia,  Hải quân đã đến Corregidor và đưa ông thoát ra an toàn và từ đó ông có thể tiếp tục điều khiển các lực lượng Đồng Minh chiến đấu với Nhật. Rồi từng bước, Hải quân đã mang ông đến chiến thắng trong cuộc chiến Thái Bình Dương. “Giờ đây, khi binh nghiệp tôi sắp về chiều, lẽ nào Hải quân lại bảo tôi rằng sẽ không đưa tôi đến Inchon và điều này sẽ hạ gục tôi?”. Trong góc tối của phòng họp, một sỹ quan lục quân trẻ, trợ tá của Ned Almond, tên là Fred Ladd. Anh cười với mình khi MacArthur tung ra cú đòn chót – Ladd nghĩ, giờ ông ấy thuyết được họ rồi. Không một sỹ quan cao cấp nào có thể kháng cự nổi một thách thức cá nhân lớn như vậy. Lúc này đô đốc Sherman mới mở miệng lần đầu: “Tướng quân, Hải quân sẽ đưa ngài vào”. MacArthur đã thắng. Ông đáp lời “Ngài nói y như Farragut (*)”, và hiểu rằng ông đã tác động được. (Khi ông ta nói thế, đô đốc Doyle giận dữ với cái cách gạt sang một bên những phản đối nghiêm trọng của ông, đã lầm bầm một mình: “Nói như John Wayne **thì có”). Và rồi vẫn kịch như mọi khi, MacArthur thấp giọng, khiến mọi người phải căng thẳng nghe từng từ: “Tôi có thể gần như nghe thấy được tiếng tíc tắc của kim giây chiếc đồng hồ số phận. Chúng ta sẽ hành động ngay bây giờ hoặc chúng ta sẽ chết…. Inchon sẽ thành công. Và chiến dịch này sẽ cứu sống hàng trăm nghìn sinh mạng.” . Ông đã thắng trong ngày hôm nay, ông hiểu điều đó. Sherman nói:  “Xin cảm ơn. Một tiếng nói vĩ đại trong một tình huống vĩ đại.”

(*)Farragut là một sỹ quan hải quân giỏi trong nội chiến Hoa Kỳ, câu nói nổi danh của ông là: Kệ mẹ ngư lôi, cứ phóng hết ga – “Damn the torpedoes, full speed ahead!”  (ND)

(**) John Wayne: một diễn viên phim cao bồi nổi tiếng.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Một, 2013, 01:15:34 am
Sau này đô đốc Doyle nói: “Giả mà MacArthur tham gia vào giới diễn viên, thì chúng ta sẽ không bao giờ biết tới tên Barrymorre”. Sherman thì lên thớt rồi, dù qua ngày hôm sau, sau khi thoát được ảnh hưởng phần thuyết trình của MacArthur và những thách thức một-một, ông thấy những lo ngại của mình trở lại. “Tôi ước gì tôi là con người lạc quan đó” , ông nói với một người bạn. Collins cũng vẫn còn cảm thấy không dễ chịu, mà cho dù không dễ chịu hay không, thì hội đồng tham mưu liên quân cũng đã chịu rồi, và năm ngày sau họ đánh điện chấp thuận cho MacArthur. (Sau này Mike Lynch hỏi Walker, rằng tại sao MacArthur chiến thắng được những lo ngại của hội đồng tham mưu liên quân? “Vì MacArthur đã khiến mọi người nghĩ rằng Triều Tiên là một hòn đảo, và Seoul là mục tiêu quyết định. MỘt khi Seoul bị chiếm thì chiến tranh kết thúc”, Walker trả lời). Dù sao đi nữa, thì ngày 28 tháng Tám, Hội đồng tham mưu Liên quân ở Washington vẫn tiếp tục lo lắng – nguồn lực hữu hạn của họ đã phải tiêu tốn rất nhiều cho một kế hoạch mà có quá nhiều điểm có thể dẫn tới sai lầm – và họ gửi một thông điệp chót đến MacArthur, đề nghị chọn Kunsan. Cái cách cư xử với thông điệp đó là một chiêu MacArthur cổ điển. Ông xem như không có nhận được hoặc từng có thông điệp đó tồn tại. Ông tiếp tục triển khai, dù có kín đáo hơn, và đảm bảo rằng kế hoạch chính xác của chiến dịch Inchon không đến được Washington cho tới khi nó đã thực sự diễn ra. Ông cân nhắc việc này rất kỹ, không nói cho Washington biết cho đến khi đã quá trễ để bắt ông dừng. Những gì ông làm, như theo cách nói của Clay Blair là “một ca mánh khóe, mưu mẹo lạ thường”. Ông đợi và đợi, mãi đến ngày 8 tháng Chín mới gửi vài tập tài liệu khổng lồ trong đó chứa kế hoạch sau rốt của ông về Washington, một trung tá tham mưu trẻ chịu trách nhiệm, trung tá Lynn Smith, và bảo Smith không cần làm gì quá nhanh.. Smith tuân lệnh: Hội đồng tham mưu Liên quân mong gặp một sỹ quan cao cấp nhưng thay vào đó chỉ là một trung tá nhỏ bé mà gần như là vào phút chót nữa chứ. Smith ngay lập tức được đưa vào phòng với Hội đồng tham mưu Liên quân và bắt đầu phần báo cáo. “Đây là ngày D-day phải không trung tá?”, Joe Collins hỏi. Smith trả lời xác nhận. Collins lại hỏi khi nào trận tấn công bắt đầu. “Cuộc đổ bộ vào đảo Wolmi-do sẽ bắt đầu vào 6h20 phút – tức vào 17:30 ở đây” anh trả lời. “Cảm ơn” Joe Collins nói “tốt nhất là anh tiếp tục báo cáo”. Xét về dài hạn, những gì MacArthur làm ở thời điểm đó đã tổn hại đến quan hệ giữa ông là Hội đồng tham mưu Liên quân. Ông không phải chơi trò với nhà cầm quyền dân sự (với những giới hạn nào đó) là chấp nhận được, nhưng đây là với người cùng địa vị, những tướng bốn sao, những người có cảm giác về trách nhiệm với sinh mạng thanh niên dưới quyền như ông và cũng mong chiến dịch thành công. Với văn hóa trong quân đội, thì điều này không thể tha thứ được. Tám tháng sau, khi Truman sa thải MacArthur, thì, như Joseph Goulden chỉ ra, một trong những nguyên nhân chính là tổng thống có được sự đồng lòng hỗ trợ từ Hội đồng tham mưu Liên quân. Đó là cái cách họ đáp trả việc MacArthur đã qua mặt họ trong chiến dịch Inchon.

Thông thường, trong một trận đổ bộ đường thủy, yếu tố bất ngờ là quan trọng, nhưng lạ kỳ thay với trường hợp này, điều này dường như bị bỏ mất. Mọi người ở Tokyo cho thấy đều biết về việc gì sắp xảy ra và nơi nào sẽ diễn ra điều đó. Trong câu lạc bộ báo chí Tokyo, trung tâm tin đồn chính của cuộc chiến, chiến dịch này còn được mang nhãn là Chiến dịch ai-cũng-biết. Câu hỏi rằng ai sẽ chỉ huy chiến dịch Inchon cũng có đáp án gần như ngay từ lúc có chuẩn thuận của Washington về chiến dịch. Hầu hết các sỹ quan cao cấp ở Washington và một số ở Tokyo đều mong rằng quyền chỉ huy – ở đây là cả một quân đoàn – về tay trung tướng Lem Shepherd, một tư lệnh TQLC có kinh nghiệm. Dù gì thì MacArthur cũng mang ơn Shepherd vì đã hỗ trợ rất nhiều trong việc cho ông một sư đoàn TQLC, và Shepherd là một tay TQLC sành sỏi việc đổ bộ đường thủy. Nhưng rồi mọi người té ngửa. Tư lệnh là thiếu tướng Ned Almond, ông này kể từ đây mang hai chức. Lúc mới nghe tin này, Joe Collins, tham mưu trưởng lục quân choáng và giận: ông nhỏm người khỏi ghế và la lên: “Cái gì?”, theo như lời John Chiles, một thành viên trong ban tham mưu của Almond. Collins không ưa Almond, và ông cũng không thích cái ý tưởng rằng MacArthur không chỉ cắt quyền chỉ huy trận Inchon ra khỏi tập đoàn quân 8, mà còn trao quyền đó cho Almond, một người của ông ta, mà không thèm tham khảo với Hội đồng tham mưu Liên quân. (Trong những sỹ quan ở Triều Tiên lẫn ở Washington, sau này gọi đó là chiến dịch Ba-sao, bởi nó cho thấy bên cạnh những việc khác, thì đó là một nỗ lực rành rành để lấy cho Almond ngôi sao tướng thứ ba).


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Một, 2013, 01:20:10 am
MacArthur thực tế là không chỉ đang đánh giá thấp Johnie Walker, Hội đồng tham mưu Liên quân dần dần nhận ra rằng, ông còn đang đánh giá thấp cả họ  nữa. Không một viên tướng nào khác dám làm vậy mà không có ý kiến từ họ; đó là một ví dụ cổ điển về việc MacArthur là MacArthur, hành động ngoài tầm với cũng như chấp thuận của thượng cấp, hứng thú với việc chọc tay ông vào mắt họ. Đó cũng là một chiêu hết sức chính trị, vì điều đó sẽ đặt hầu hết quyền chỉ huy ở Triều Tiên vào tay những người hoàn toàn trung thành với ông, và ngoài tầm với của hội đồng tham mưu liên quân. Shepherd là một tướng lĩnh tốt, một quân nhân kiểu cũ với lòng trung thành kiểu cũ; đó là vấn đề; ông ta có thể trung thành với MacArthur, nhưng ông cũng trung thành với Hội đồng tham mưu Liên quân và TQLC nữa. Điều này khiến ông trong góc nhìn của MacArthur là có lòng trung bị chia sẽ, như vậy thì không chấp nhận được trong trường hợp này.

Không ai ở Lầu Năm góc vui vẻ với bước đi này, còn TQLC xem đó là một thảm họa. Họ vốn lo ngại về Almond, bởi ông đã khóa được cả Shepherd, tư lệnh chiến trường của TQLC, lẫn thiếu tướng O.P. Smith, sư trưởng sư đoàn TQLC số Một, đơn vị được lệnh đổ bộ sau cuộc họp kế hoạch quan trọng hồi cuối tháng Tám. Thêm vào đó, có sự giận dữ cá nhân trong TQLC vì cái cách Almond đối xử với Smith, một tướng lĩnh rất được kính trọng trong buổi họp đầu tiên. Khi đó Smith nghĩ rằng ông sẽ tự báo cáo với MacArthur, nhưng khi ông đến tòa nhà Dai Ichi, ông nhận ra mình chủ yếu là gặp Almond, và phải chờ tới một tiếng rưỡi. Rõ ràng đây là bài học đầu tiên cho Smith để hiểu cấu trúc chỉ huy thực thụ. Tệ hơn, lúc đó Almond còn chọc tức vị sỹ quan TQLC kỳ cựu bằng cách gọi ông là  “con trai”, một kiểu kẻ cả lạ kỳ, đặc biệt với một tướng TQLC 56 tuổi, mà ông còn dường như chiến đấu nhiều hơn Almond và chỉ thua tám tháng tuổi. Lúc Smith cố đưa ra tình huống về những khó khăn lúc đổ bộ có thể xảy ra, Almond vẩy ra – cái việc này, Almond trả lời, là “ hoàn toàn mang tính máy móc thôi mà”. Bên cạnh đó, theo như nhật ký của Smith, Almond còn bảo không có tổ chức địch trong vùng. Một tay khinh khỉnh, Smith nghĩ, và dù ông rất giận Almond nhưng ông cố giữ trong lòng, vì lo nếu ông nói ra, thì có thể sẽ làm chia rẽ công tác chỉ huy giữa Lục quân và TQLC. Nhiều sỹ quan khác dưới quyền Smith nổi giận. Người kết án nhẹ nhàng nhất là đại tá Alpha Bowser, sỹ quan hành quân của Smith, anh gọi Almond là: “đồ đồng bóng điếm đàng”. 

Inchon là một canh bạc lớn: quân thù phải là mơ ngủ khi nó diễn ra, bởi lối vào cảng rất hẹp. Nhưng MacArthur tin, tướng lớn là chơi bạc bự. Ngay trước ngày D-day, ông triệu tập vài phóng viên chiến trường ở Tokyo và mời họ đi cùng trận tấn công, đi trên chiến hạm Mount McKinley, soái hạm của ông. (Tất nhiên là phần giới thiệu bài báo của họ sẽ ghi tên ông vào đó kiểu “Từ sở chỉ huy của MacArthur…”). Và ngay trước lúc chiến hạm rời cảng Sasebo trực chỉ Inchon, có một buổi họp khác, với sự góp mặt của đô đốc Doyle. MacArthur đang trong trạng thái tâm lý khá cởi mở. Ông dự định sẽ cắt đứt tuyến hậu cần của Bắc Triều Tiên. Ông nói, trong chín phần mười các cuộc chiến trong lịch sử chiến tranh, một bên thất bại bởi vì đường tiếp vận bị cắt. Một phóng viên hỏi ông có sợ người Trung Hoa can thiệp vào không. Ý kiến này dường như chẳng làm ông bận tâm mấy, và câu trả lời của ông cũng như câu ông nói với Harry Truman lúc gặp ở đảo Wake một tháng sau: ông nói ông hiểu rất rõ về sự khác biệt to lớn trong vấn đề nhân khẩu, rằng nếu “chúng ta đưa vào150 triệu người Mỹ thì họ vẫn có thể đưa ra bốn người châu Á cho một người Mỹ”. Bởi vậy nên ông sẽ không thách thức họ ở nơi họ mạnh. Nhưng dù sao ông cũng có một kế hoạch dùng không quân để cân bằng với họ, phải dựa vào thế mạnh của chúng ta và tránh xa nơi họ mạnh để vô hiệu lợi thế số lượng của họ. “Nếu người Trung Hoa can thiệp, không lực của chúng ta sẽ biến sông Áp Lục thành dòng nước đẫm máu nhất trong tất cả lịch sử”. Giá mà MacArthur hoặc những người quanh ông, những người đã xây dựng kế hoạch của ông, hiểu được cách người Trung Hoa chiến đấu và chiến thuật của họ nhằm giảm thiểu ảnh hưởng của không lực. Khi người Trung Hoa rốt cuộc rồi cũng tấn công, họ đã làm MacArthur bất ngờ; không quân của ông có tác dụng trực tiếp khá nhỏ, và hầu như chẳng có máu người Trung Quốc đổ trên sông Áp Lục, bởi, họ đã vượt sông từ trước, và, không bị phát hiện ra.

(hết chương 19)


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Một, 2013, 01:23:57 am
Chương 20

Ở Inchon, MacArthur gặp may, có phần không nhỏ bởi Kim Nhật Thành là một đối thủ không quá linh lợi. Chẳng biết vì sao mà Kim Nhật Thành không chịu thừa nhận khả năng có một cuộc đổ bộ đường thủy vào sau chiến tuyến quân của ông. Trong khi đó, người Trung Hoa biết rất rõ rằng có một lực lượng quân Mỹ lớn đang được tổ chức ở Tokyo vài tuần trước khi xảy ra trận Inchon. Nước Nhật trong những năm cuối thập niên 1940 đầu thập niên 1950 do thám rất dễ lọt vào, bởi an ninh ở các cảng Nhật Bản không được chú trọng nhiều, và bởi nhiều người Nhật làm ở cảng là những đảng viên Cộng sản trung kiên, người Hoa rất biết đa phần các thiết bị được mang vào là những thứ được dùng cho một cuộc đổ bộ đường thủy. Đầu tháng Tám, Mao Trạch Đông cực kỳ quan ngại khi nghe về đợt tấn công mới của Bắc Triều Tiên. Một chiến thắng chóng vánh ở miền nam mà Kim Nhật Thành hứa đã không thành hiện thực. Người  Mỹ, Mao hiểu, đang củng cố việc phòng thủ ở Pusan vào cuối tháng Tám và đầu tháng Chín, nhưng họ đồng thời lại giữ hai sư đoàn mạnh nhất của họ ở Nhật Bản. Trận đổ bộ đường thủy đang được triển khai. Rõ ràng mọi thứ như vậy. Mao Trạch Đông đã có cả đời chinh chiến với các địch thủ không chỉ mạnh hơn về người mà còn vượt trội về vũ khí, và tình báo quân sự luôn quan trọng trong thành công của ông – người Trung Hoa học được cách tránh kẻ thù khi chúng mạnh, chỉ tấn công khi chúng yếu, một khi yếu thế trên chiến trường họ cũng luôn sẵn sàng thoát ra để còn mai kia còn chiến đấu. Mao Trạch Đông thấy được những gì đang diễn ra – và ông cảm giác được những gì diễn ra đó – là cực kỳ nghiêm trọng.

Vậy nên đầu tháng Tám, ông đã chỉ đạo Lei Yingfu, một trong những sỹ quan tham mưu có nghề nhất của mình, thư ký quân sự của Chu Ân Lai, xác định xem người Mỹ sẽ làm gì và nơi nào họ có thể tấn công. Đó là một nhiệm vụ tình báo rõ ràng nhất. Mọi thứ hiện hữu rất rõ với quân báo Trung Hoa. Thêm vào đó, có nhiều đơn vị Mỹ đang tập luyện đổ bộ đường thủy, các hải cảng Nhật thì ken đầy tàu đủ các kích cỡ của quân Mỹ và đồng minh trên khắp thế giới. Hơn nữa, tư lệnh Mỹ, MacArthur, vốn trong cuộc chiến Thái Bình Dương, rất thiện nghệ đổ bộ đường thủy. Lei nghiên cứu tất cả các nguồn tin tinh bào và khẳng định rằng quân Mỹ đang chuẩn bị một cái bẫy lớn dành cho Bắc Triều Tiên, và họ sẽ bất ngờ đổ bộ vào một khu vực cách tuyến bộ đội Bắc Triều khá xa. Ông tin rằng người Mỹ không chỉ có ý định chọc thủng vòng vây quanh Pusan, mà với trận đổ bộ họ mong sẽ bắt được nhiều quân Bắc Triều Tiên hơn cùng lúc. Lei nghiên cứu bản đồ, cố suy nghĩ như một người Mỹ, và xác định rằng cuộc tấn công đổ bộ có thể diễn ra ở một trong sáu hải cảng, và bởi đó là MacArthur, với bản năng hùng hổ của cá nhân ông ta, có lẽ sẽ thích chọn nhất là cảng Inchon. Ngày 23 tháng Tám, một tuần trước cuộc tấn công cuối cùng của phía Cộng sản dọc phòng tuyến Naktong bắt đầu (và cũng là ngày mà MacArthur đã diễn kịch trước Hội đồng tham mưu Liên quân trong phòng họp chiến tranh ở tòa nhà Dai Ichi), Lei mang kết quả nghiên cứu lên báo Chu Ân Lai, ông này cực kỳ ấn tượng và chuyển ngay nó cho Mao Trạch Đông. Mao Trạch Đông triệu tập Lei lên, ông này đã báo cáo rất hay, đồng thời cũng gửi ba trang ghi nhớ về MacArthur và các chiến thuật của ông ta, cách suy nghĩ và các thói quen của cá nhân MacArthur. Mao Trạch Đông bảo Chu Ân Lai gửi ngay các đánh giá đó cho Kim Nhật Thành. Những cố vấn Nga của Kim Nhật Thành cũng đưa ra các đề xuất tương tự, nhưng dường như không có gì lay chuyển được Kim Nhật Thành. Điều này thật khó mà bất ngờ. Bởi, trên hết, ông ta không đến với quyền lực bằng sự thông minh trên chiến trường, mà bằng vào sự xoay sở để sống sót trong một thời kỳ chính trị tàn khốc, và rồi về cơ bản là bởi sự dễ bảo về mặt ý thức hệ. Kim Nhật Thành nắm được quyền lực to nhờ vào sự bố thí của Hồng quân. Ông không có những bài học kinh nghiệm trên con đường đi đến quyền lực như cách Mao Trạch Đông hay Hồ Chí Minh đã có.

Dựa trên những dự đoán của mình, Mao Trạch Đông khẳng định rằng vai trò của Trung Hoa trong cuộc chiến này đã bắt đầu thay đổi. Lúc giữa tháng Tám, ông tin rằng quân Bắc Triều Tiên đã tới giới hạn thành công ở miền Nam. Vào ngày 19 và ngày 23 tháng Tám, ông gặp Pavel Yudin, một cố vấn cao cấp Liên Xô. Trong các cuộc gặp này, ông nói với Yudin rằng nếu Hoa Kỳ tiếp tục đưa quân đến Triều Tiên, thì bộ đội miền bắc sẽ không thể trụ nổi và cần có sự hỗ trợ trực tiếp từ Trung Hoa. Trong tháng Tám và đầu tháng Chín, Mao Trạch Đông gặp Lee Sang Cho, đại diện của Bắc Triều Tiên ở Trung Quốc. Trong những cuộc gặp này, ông tự cho phép mình – một cơ hội nhỏ để đáp trả người Bắc Triều Tiên vốn đã đối xử với ông một cách hạ cố lúc bắt đầu cuộc chiến – chỉ ra những sai lầm quân sự của Bắc Triều Tiên: những sai lầm của họ, về cơ bản, nhằm tìm kiếm thêm nhiều lời khuyên từ ông. Họ đã không chuẩn bị đầy đủ cho quân dự bị, ngay cả khi họ tấn công trên một chiến trường quá rộng. Họ đã nỗ lực quá nhiều vào việc chiếm đất hơn là việc tiêu diệt địch. Rồi ông lưu ý những điểm yếu hiện nay như phi trường Kimpo và đề nghị rằng Bắc Triều Tiên nên xem xét việc rút lui và củng cố phòng thủ những nơi đặc biệt dễ tổn thương. Ông thậm chí chỉ trên bản đồ và đặc biệt đề cập đến Inchon như là một mục tiêu rõ nhất. Nhưng Kim Nhật Thành, trong sự ngạc nhiên của người Trung Hoa, đã không làm gì cả, ngay cả việc cài mìn cảng Inchon.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Một, 2013, 01:30:06 am
Người Trung Hoa hiểu rõ những gì xảy ra trên chiến trường; còn lãnh đạo Bắc Triều Tiên thì không. Một trong những vấn đề trong các hệ thống độc tài toàn trị như Bắc Triều Tiên là những tin xấu sẽ không được đưa chính xác từ chiến trường đến chỉ huy cấp cao. Trong các xã hội dân chủ điều này cũng có thể đúng, nhưng nó còn đúng hơn trong một hệ thống tôn ti thứ bậc như ở Bắc Triều Tiên. Thay vì đó tin tức được giảm nhẹ bớt theo từng nấc đi lên. Ngày 4 tháng Chín, đặc sứ của Mao Trạch Đông, Zhai Junwu nói với Kim Nhật Thành rằng cuộc chiến đã bị khóa vào thế bế tắc trong khu vực Pusan, nhà lãnh đạo Triều Tiên không tin. Ông bảo với đại diện Trung Hoa rằng cuộc đại công kích của ông mới vừa bắt đầu và đó sẽ nhanh chóng phá vỡ thế bế tắc. Rồi khi Zhai lưu ý về khả năng có một đòn đột kích của Hoa Kỳ lên phía sau tuyến quân Bắc, Kim trả lời rằng: “Chúng tôi ước lượng rằng hiện nay một cuộc phản công phía Hoa Kỳ là không thể thực hiện; chúng không có đủ quân hỗ trợ và bởi vậy một cuộc đổ bộ lên các cảng phía sau của chúng tôi là rất khó”. Choáng váng trước câu trả lời, Zhai quay về Bắc Kinh vào ngày 10 tháng Chín, năm ngày trước trận đổ bộ Inchon, và rồi quay lại Bình Nhưỡng lần nữa. Ông mang theo lời đề nghị khẩn thiết từ Chu Ân Lai, rằng Kim Nhật Thành triển khai một cuộc rút lui chiến lược. Kim đáp lời: “Tôi không bao giờ xem xét việc rút lui”. Zhai rất bực bội với câu trả lời, và rồi ngày 18 tháng Chín, ba ngày sau trận đổ bộ Inchon diễn ra hầu như không có sự đánh trả, ông gặp một đại diện cao cấp của Liên Xô và đề nghị lần nữa, rằng quân Bắc Triều Tiên nên lui về, tái lập đội ngũ ở miền bắc, và làm cho phương Tây sợ rằng người Hoa hoặc người Nga có thể tham chiến.

(http://tieungoclang.files.wordpress.com/2013/07/invasion_route.jpg?w=625)
Bản đồ hành quân đường thủy trận đổ bộ Nhân Xuyên

Bản thân trận đổ bộ – 13,000 quân đánh vào con đê biển và cầu tàu – rồi tiến nhanh về Seoul sau đó, không chỉ là thứ MacArthur đã lên kế hoạch mà là cả trong giấc mơ của ông. Những điều kiện thực tế cho thấy tốt hơn mong đợi, những kháng cự ban đầu là khá yếu ớt; kế hoạch do Doyle lập rất có nghề và rất chi tiết, đồng thời các vị thần chiến tranh đã ưu ái họ theo một cách rất định mệnh: họ cho xuống một vị chỉ huy quân địch cẩu thả: Kim Nhật Thành. Cảng Inchon thọc ra ngoài vịnh như một ngón tay cụt. Cách mười dặm về phía đông là phi cảng Kimpo, và thêm năm đến sáu dặm về phía đông, tùy theo đường đi, chính là Seoul. Hai trung đoàn TQLC, trung đoàn Một và trung đoàn Bảy, đã chiếm Inchon, sau đó là Kimpo và rồi vượt sông Hàn qua phía đông, tiến chiếm Seoul. Rất nhanh sau đó, họ liên lạc được với tập đoàn quân Tám của Walker, lúc này có lẽ đã đột phá được từ những vị trí bên sông Naktong và nhanh chóng bắc tiến với một tốc độ còn cao hơn.

(http://tieungoclang.files.wordpress.com/2013/07/inchon_landing_map.jpg?w=625&h=411)

Lúc đầu, thiệt hại của TQLC là rất nhẹ: không ai bị chết khi tấn công đảo Wolmi-do, nơi mở ra lối vào cảng, và tính hết ngày thứ nhất chỉ có 20 lính Mỹ chết. Dần dần, khi quân LHQ tiến về Seoul, sức kháng cự tăng lên. Và khi điều này xảy ra, sự căng thẳng giữa Almond, tư lệnh quân đoàn 10, và O.P.Smith sư đoàn trưởng sư đoàn Một TQLC, một đơn vị trong quân đoàn, thêm phần sâu sắc. Almond bắt đầu yêu cầu những thắng lợi nhanh chóng, trong khi Smith thì lại cố hoàn thành những nhiệm vụ có độ khó ngày càng tăng mà không phải hi sinh sinh mệnh lính tráng một cách không cần thiết, Smith cho rằng yêu cầu của Almond là phi thực tế. Smith (và hầu hết các sỹ quan TQLC cao cấp khác) bắt đầu cho rằng Almond là một viên chỉ huy không thực tế, một tay chỉ biết nghe theo cấp trên và bất cẩn với lệnh lạc của mình, vô tình với sinh mạng lính dưới quyền, mà lại, rất, rất quan tâm tới việc PR. Những mầm mống của sự chia rẽ đã có từ trước lâu. Ngay hồi đầu, những sỹ quan hàng đầu của TQLC đã cảm nhận rằng Almond, vốn chưa từng tham gia một trận đổ bộ đường thủy nào trong đời, đã tối thiểu hóa những nguy hiểm và khó khăn, không hiểu đúng những nhu cầu của họ, và không chịu lắng nghe bất cứ ai dưới quyền. Hai sỹ quan đó còn có nhiều khác biệt. Almond là một gã càn rỡ có chủ đích; còn Smith, người ít có uy tín nhất trong các tư lệnh TQLC, thì không quá sôi nổi và chuyên nghiệp. (Thực vậy, tên lóng của ông, mà hông ai dám dùng trước mặt ông là: Giáo sư). Trong sự căng thẳng đó cũng có phần do những khác biệt về mặt bản chất của việc chỉ huy Lục quân và chỉ huy TQLC. Lục quân thì rất lớn, và quan hệ giữa các tư lệnh với lính tráng thường không nhiều tình cảm riêng tư; còn TQLC là một quân chủng nhỏ, nên quan hệ giữa sếp và lính mật thiết hơn, thật vậy rất mật thiết. Bên cạnh đó, O.P. Smith còn là một người cẩn thận hơn so với trung bình các sỹ quan TQLC khác. Ông đã là phó sư đoàn trưởng sư đoàn TQLC số Một từ tháng Mười năm 1944, lúc họ đổ bộ lên đảo Peleliu. Đó là một trong những trận đánh ác liệt nhất, thương vong nhiều nhất trong cuộc chiến Thái Bình Dương. Đó cũng là một lần tình báo tính sai nghiêm trọng, và TQLC, sau khi đổ bộ lên, nhận ra họ đối mặt với chừng 9000 quân Nhật trong hầm hào được chuẩn bị cực kỳ cẩn thận. Cái kinh nghiệm đó tác động lên ông mãi mãi.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Một, 2013, 01:34:30 am
Nếu quan hệ giữa các chỉ huy bắt đầu xấu, thì nó sẽ tan đi một khi trận đánh bắt đầu. Thật vậy, mối cừu hận, như theo cách dùng từ của nhà sử học TQLC Edwin Simmons, rốt cuộc đã trở thành “chất liệu huyền thoại”. Simmons đã từng chiến đấu ở trận Inchon và trận hồ Chosin khi còn là một sỹ quan TQLC trẻ, cho rằng một phần không nhỏ của sự căng thẳng có nguồn gốc từ hồi Thế Chiến II, do sự khác biệt trong chiến đấu ở hai chiến trường rất khác nhau. Những người thuộc Lục quân chiến đấu với quân Đức ở châu Âu thường đi cùng hỏa lực áp chế vượt trội, và một khi một đơn vị Đức bị đánh gục, một số lớn sẽ đầu hàng và nhóm còn lại sẽ nhanh chóng tháo lui, điều này cho phép quân Đồng Minh tiến nhanh lên phía trước để phát huy chiến quả. Còn với chiến trường Thái Bình Dương, TQLC và Lục quân, lại phải chiến đấu nghèo nàn hơn nhiều, và một khi quân Nhật rút, họ cũng thực hiện việc đó rất chậm, tốc độ tiến của quân Đồng Minh dường như được tính từng thước, trong khi chỉ có rất ít quân Nhật đầu hàng.

Smith cảm báo cho Almond đừng có để cảm giác dễ dàng của trận đổ bộ Inchon đánh lừa, rằng họ chỉ áp đảo những đơn vị bé nhỏ quân hạng kém, nhưng còn chiếm Seoul là một vấn đề khác hẳn. Ông nói, dựa trên những kết quả trinh sát sơ bộ, có chứng cớ cho thấy thành phố được phòng thủ mạnh bởi hằng ngàn lính tinh nhuệ Bắc Triều Tiên. Smith đã dự đoán chính xác. Nguyên ủy ban G-2 của MacArthur ước lượng có chừng 6 đến 7000 lính địch trong vùng Inchon-Seoul, nhưng lúc quân LHQ tấn công Inchon, Kim Nhật Thành đưa chừng đến thêm khoản 20,000 quân, một sư đoàn đủ cùng với 3 trung đoàn độc lập, đến vùng Seoul. Cuối cùng lên đến 35 – 40,000 quân phòng thủ cho thủ đô của miền Nam, một số là lính mới, nhưng họ chiến đấu rất hăng. Con đường dẫn đến Seoul, như Smith sau này ghi lại vắn tắt là “một trong những chiến dịch hành tiến, trong tin tức thì dễ dàng hơn thực tế nhiều”. Phía Mỹ chỉ vượt trội chút ít về quân số. Nhưng họ hơn hẳn về vũ khí trang bị và hỏa lực. Phía Bắc Triều Tiên thì có điểm lợi là chiến đấu phòng ngự. Trong thành phố, phải chiến đấu trên các đường phố, đó là một lợi điểm không nhỏ. Điều này có nghĩa là cuộc chiến đấu sẽ khó khăn và tổn thất nhiều, và bởi quân Mỹ dựa nhiều vào các loại vũ khí hạng nặng, nên phần lớn thành phố chắc chắn sẽ thành đống gạch vụn. Nhưng khi cuộc công kích chậm lại, cứ mỗi trăm thước đất lại phải trả giá đắt hơn, áp lực lên Smith tăng lên, và Almond trở nên gay gắt hơn, phản ánh lại áp lực từ MacArthur. Almond không hài lòng với tốc độ tiến của Smith, và ông bắt đầu – việc này còn lặp lại trong vài trận đánh khác về sau – làm như một sư đoàn trưởng, ông bay khắp nơi trên chiếc phi tuần nhỏ, ra lịnh trực tiếp đến từng trung đoàn, tiểu đoàn, thậm chí cả từng đại đội trưởng của Smith mà không thèm thông qua sư đoàn bộ. Ông muốn thể hiện rằng ông là một sỹ quan chiến thuật tài ba, và ông bay trên chiến trường, gọi điện xuống chỉ đạo bất kỳ đơn vị nào ông phát hiện ra dưới cánh bay. Smith giận dữ phản đối việc Almond xâm phạm vào quyền chỉ huy của ông. “Nếu ngài ra lệnh cho tôi, tôi sẽ cho thực hiện”, có lúc ông nói với Almond, nhưng không có gì khác xảy ra. Almond vẫn tiếp tục chỉ đạo quân của Smith. Tên mã của Almond là Fitzgerald, và cuối cùng Smith phải lịnh cho đại tá Alpha Bowser, trưởng phòng G-3 của ông, rằng ông không chấp nhận bất kỳ mệnh lệnh nào trong chiến đấu từ Fitzgerald mà không thông qua sư đoàn bộ.

Điều làm cho hai vị tướng căng thẳng với nhau nhất chính là việc Smith tin rằng áp lực đấy là sai lầm, rằng nó không phản ánh nhu cầu cho một chiến thắng nhanh chóng trên chiến trường theo cái nghĩa cắt đứt quân Bắc Triều Tiên, mà thay vào đó là một trận vu hồi, cho thấy sự ám ảnh của việc PR, một yêu cầu bất biến của sở chỉ huy MacArthur về danh tiếng. Ở đây sự chỉ huy của Tokyo và của Washington bị chia rẻ nghiêm trọng: Smith, Walker và Hội đồng tham mưu Liên quân nhìn từ xa từ Washington, tin rằng sẽ là khôn ngoan nếu bỏ qua Seoul, chỉ cô lập nó, và nhanh chóng tiến về phía đông để hội quân với các lực lượng của Walker đang tiến lên phía bắc.  Với việc này, họ hi vọng có thể sẽ không chỉ có một chiến thắng lớn mà còn có thể vây được rất nhiều quân Bắc Triều Tiên. Việc đánh bại Seoul như là mục tiêu tối thượng của trận đổ bộ, theo họ chỉ là nỗi ám ảnh của MacArthur và Almond, bởi việc này sẽ cho phép nhiều quân Bắc Triều Tiên thoát ra được. Nhưng họ biết rằng MacArthur muốn chiếm Seoul trong hoặc trước cái ngày rất có tính biểu tượng, ngày 25 tháng Chín, tròn ba tháng tính từ ngày quân Bắc đầu tiên vượt qua vĩ tuyến 38. Nguyên MacArthur muốn ngày 20 tháng Chín là ngày Seoul được giải phóng, nhưng Almond báo với ông phải ngoài ngày đó. Với Smith, Almond đã mạo hiểm đơn vị TQLC của ông một cách không cần thiết chỉ vì đôi dòng tin thêm trên báo ở quê nhà bởi thượng cấp của ông ta muốn thế. Ông không ấn tượng. Với ông, đó là một thứ mánh quảng cáo, không hơn.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Một, 2013, 01:39:31 am
Trong lúc đó, sở chỉ huy MacArthur đang thêm phần thất vọng về Johnie Walker và tập đoàn quân Tám, đơn vị này gặp những vấn đề ban đầu khi phá vây từ các vị trí của họ ở trên tuyến Naktong. Nhưng sự thất vọng của họ chẳng là gì so với những cảm giác của Walker. Khi Walker nhận được những báo cáo đầu tiên về trận Inchon vào ngày 17 tháng Chín, ông nhận ra việc phòng thủ bị xem nhẹ thế nào, và ông nổi giận. “Họ cấp đạn dược để giết một nhúm tân binh ở Wolmi-do và Inchon nhiều hơn những gì tôi được cấp để đánh bại tới 90% lượng quân Bắc Triều Tiên”, Walker nói với một người bạn sau khi nhận báo cáo. Ông cũng biết ở nhiều nơi lính ông đã gặp khó khăn khi phá vây dọc tuyến Naktong. Ông tin là con sông, đã phục vụ cho quân ông như là một chướng ngại vật phòng thủ to lớn để chống lại quân Bắc Triều Tiên tấn công, nhưng nếu nó đã bảo vệ cho lính ông trước bộ đội miền Bắc bao nhiêu thì giờ nó cũng làm cho họ chậm chạm bấy nhiêu khi đuổi theo quân Bắc. Điều làm ông giận dữ là áp lực từ thượng cấp lên ông, và sự thiếu thốn quân bị của ông, đặc biệt là thiết bị bắt cầu. Ưu tiên một là cấp cho quân đoàn 10 để vượt sông Hàn, ở đó toàn bộ cầu đã bị nổ bay hết. Điều làm Walker điên máu là những quyết sách này, về cơ bản do tham mưu trưởng Almond đề ra từ sở chỉ huy của Almond-tư-lệnh-quân-đoàn, vậy đó, ông cảm thấy đây là một cuộc chơi triển khai đế chống lại ông.

MacArthur và ban tham mưu của ông không có những thứ này trong báo cáo. Ở một cuộc họp tham mưu tổ chức trên boong chiến hạm Mount McKinley ngày 19 tháng Chín, với sự hiện diện của nhiều chỉ huy cao cấp Hải quân và TQLC (“gần như là một cuộc họp công cộng” Clay Blair ghi nhận), MacArthur đã nói khá công khai và trong cái cách rất cá nhân về sự thất vọng của ông với Walker và rằng sẽ thay ông ta bằng một ai đó mạnh mẽ hơn. Với Walker, điều này cho thấy một sự xúc phạm phẩm giá quá lớn. Ông gọi Doyle Hickey, tham mưu trưởng tạm quyền, và ráng giải thích tại sao quân ông tiến chậm là có lý do: “Gần đây chúng tôi như là con rơi” ông nói với Hickey “khi thiết bị công binh của chúng tôi còn chưa được quan tâm thì chúng tôi còn trong tình trạng tệ hại”. Rồi ông nói thêm: “Tôi không muốn anh nghĩ là tôi đang lề mề lê gót, nhưng tôi có một con sông chắn trên toàn tuyến mặt trận, và chỉ có hai cây cầu, tôi không có nhiều hơn”.

Nhưng ngay cả khi MacArthur phàn nàn về Walker thì TQLC cũng bắt đầu tiến chậm lại bởi họ đối diện với sức kháng cự mạnh hơn mức Tokyo đã dự báo. Almond muốn một sự đảm bảo chính thức từ Smith rằng TQLC có thể chiếm được Seoul đúng kỳ hạn. “Tôi nói [với Almond] rằng tôi không thể đảm bảo gì hết. Điều đó phụ thuộc vào quân địch. Tôi sẽ làm mọi thứ tốt nhất có thể và sẽ tiến nhanh nhất có thể” sau này Smith nói. Và đó không là một câu trả lời Smith muốn có. Giả mà Smith là một sỹ quan lục quân, chắc ông đã bị thay ngay tại chỗ. Rất nhanh sau đó, Almond đưa ra một bản kế hoạch tác chiến của ông nhằm đẩy nhanh tốc độ, nhưng kế hoạch đó, theo nhận định của Smith là nguy hiểm bởi đã tách các lực lượng Mỹ ra thành nhiều đơn vị nhỏ hơn là tận dụng tối đa khả năng hỏa lực vượt trội của họ. Một khía cạnh của kế hoạch Almond làm Smith đặc biệt lo – là rất có thể rằng lính Mỹ tấn công từ nhiều hướng đối diện của thành phố và khi kết thúc, giữa chiến trường lộn xộn, họ có thể bắn nhầm vào nhau. Ông hầu như bác bỏ kế hoạch của Almond – một kế hoạch ông tin là hoàn toàn nghiệp dư. Đây là một sự bất đồng quan điểm nghiêm trọng – một sư đoàn trưởng bác kế hoạch tác chiến của quân đoàn trưởng –  ông đến rất gần mức không phục tùng thượng cấp.

Một số TQLC đã đến được vùng ngoại ô của thủ đô vào ngày 25 tháng Chín, và như vậy Almond có thể cho đội ngũ tuyên truyền của mình hô lên rằng thành phố đã bị chiếm. Điều này cách khá xa sự thật với những quân binh vẫn còn chiến đấu nơi đây. Một phóng viên hãng Associated Press nêu trong bản tin ngày hôm sau rằng: “Nếu thành phố đã được giải phóng, thì những tay lính Bắc Triều Tiên còn ở đây vẫn không biết về điều đó”.Thực tế là cuộc chiến đấu ác liệt vẫn tiếp tục mãi đến ngày 29 tháng Chín. Cuối cùng người Mỹ đã chiến thắng bởi hỏa lực kinh khủng, nhưng họ cũng đã phá nát cả thành phố trong quá trình đó. Thành phố Seoul được chiếm, như phóng viên người Anh Reginald Thompson viết rằng nó là “một cảnh tượng kinh khủng của sự hỗn loạn và tàn phá với tiếng bom chát chúa trên đầu, với ánh chớp tím bầm của pháo xe tăng, tiếng vỡ vụn của những ngôi nhà gỗ cháy rực, máy điện báo, cột ăn ten cao tần gãy gục trong mớ bùng nhùng dây nhợ…chẳng mấy nhăm người cho rằng sự kinh hoàng này là giải phóng”


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Một, 2013, 01:48:56 am
Trận chiến dữ dội, đầy thiệt hại diễn ra trong khi mối quan hệ giữa Almond và TQLC có vấn đề đã đưa lại những hậu quả nghiêm trọng. Almond muốn có Seoul cho MacArthur đúng hạn. Như Clay Blair viết, ông đã thể hiện như những gì ông đã từng trong Thế Chiến II. “Đòi hỏi khắt khe, ngạo mạn và thiếu kiên nhẫn”, ông có khuynh hướng chia nhỏ các đơn vị của mình ra, và đưa lên phía trước mà không có dự bị thích hợp hoặc quan tâm nhiều đến việc có ai, nếu giả sử rằng có, ở hai bên cánh. Sau này Blair viết, ông ta “can đảm tới mức thiếu thận trọng, và muốn mọi người cũng thế. Nhưng quan điểm này được diễn giải bởi nhiều sỹ quan dưới quyền ở góc độ là nhẫn tâm với thương vong và an nguy của binh lính”. Ông cũng “đặt tầm quan trọng của việc chiếm nhanh chóng Seoul vì yếu tố tâm lý hoặc PR hơn việc tạo ra một phòng tuyến mạnh (như một cái đe) để ngăn chặn việc đào thoát về phương bắc của lính Bắc Triều Tiên”. Với nhiều nhà phê bình, những gì ông đã làm sau thắng lợi ban đầu của trận Inchon là vấn đề nghiêm trọng nhất. Bởi do điều đó mà rất nhiều quân địch đã xoay sở để thoát ra hỏi cái bẫy lẽ ra nên chăng ra. Johnie Walker phẫn nộ gọi lén quân đoàn X là “lữ đoàn PR”. Nhưng cho dù đó không là một thành công chiến thuật mỹ mãn như nó có thể, thì trận Inchon vẫn là một chiến thắng ngoạn mục và là một chiến thắng mang dấu ấn cá nhân của MacArthur, một điểm cao trong binh nghiệp của ông. Nó làm đổ vỡ tinh thần của quân đội Bắc Triều Tiên và mở toan toàn bộ Nam Hàn cho các đơn vị của ông.

Bởi trận Inchon quá thành công nên nó thay đổi bản chất mệnh lệnh của MacArthur. Trước hết là có những kỷ lục được xác lập. Đó là số người được tặng thưởng vì trận Inchon, và số người từng nghi vấn về nó giờ phải trả giá cho việc thiếu niềm tin. Ngay sau khi Seoul được giải phóng, phi công của Walker, Mike Lynch, nhìn với sự hoài nghi vào MacArthur khi ông này bước xuống từ máy bay ở phi trường Kimpo vừa được giải phóng, MacArthur bước vượt qua Walton Walker, vị tướng ba sao đã quả cảm cùng các đơn vị của mình giữ Pusan (sau những trận đánh nguy hiểm nhất từng có trong tất cả những cuộc xung đột), làm Walker mất mặt, và chỉ nồng nhiệt chào Almond. Ông nói: “Ôi Ned, con trai tôi”. Sự hắt hủi này rõ ràng là một trừng phạt cho việc Walker đã ở cùng phe với Joe Collins và những vị khác trong Hội đồng tham mưu Liên quân khi cho ý kiến về chiến dịch Inchon, nhưng còn có một điều tệ hơn sẽ đến, một hành động mang lại những hậu quả nghiêm trọng cho tất cả các lực lượng của LHQ. Walker cho rằng sau trận Inchon, quân đoàn 10, vốn được cho mượn, sẽ trả về cho ông, nằm trong đội hình tập đoàn quân Tám. Nhưng giờ đây ông nhận thấy việc này sẽ không xảy ra. Almond vẫn sẽ làm tư lệnh chiến trường của quân đoàn 10 đồng thời với  cương vị tham mưu trưởng BTL Viễn đông. MacArthur đang lên kế hoạch để chia bớt quyền chỉ huy của ông khi họ bắc tiến.

Nguyên thủy cái quyết định giao quân đoàn 10 cho Almond cũng đã làm rất nhiều tướng lĩnh cao cấp ở cả Washington và Tokyo quan ngại, lúc đầu nó được xem như là một bước tạm thời, phù hợp cho tình huống bất thường tại thời điểm đó. Bởi đơn giản là Walker đã bị ngập vào trong công việc phòng thủ Pusan, và sở chỉ huy của MacArthur thì chẳng có mấy người giỏi. Còn giờ đây, Almond vẫn tiếp tục giữ vững quyền chỉ huy quân đoàn 10, một đơn vị độc lập và không trở về lại với Walker. Nếu có điều gì, thì đó chính là việc lúc này Walker lại phải đua tranh với đơn vị của Almond trong cuộc đua lên phương bắc – và một trận đổ bộ đường thủy kế tiếp hiện đang được lên kế hoạch cho quân đoàn 10, lần này là vào Wonsan, phía bắc vĩ tuyến 38 bên bờ biển phía đông. Và trong cơn phấn kích sớm của một dấu hiệu chiến thắng, MacArthur càng giữ được nhiều quyền chỉ huy hơn. Cùng lúc đó, theo một cách định mệnh, những thứ sai lầm bắt đầu xảy ra. Trong thời điểm quyết định này, thay vì dùng cảng Inchon mới chiếm được để chuyển đồ tiếp vận vào thì họ lại dùng để đưa quân và trang bị ra. Thay vì từ Seoul tiến ra phía đông và tạo một gọng kềm khổng lồ vây những đơn vị Bắc Triều Tiên đang rút chạy, các lực lượng của MacArthur lại sử dụng cái thời điểm then chốt này để đủng đỉnh, vụng về chuẩn bị cho quân đoàn 10 trận đổ bộ kế tiếp, lúc này họ đang lên tàu ở Pusan và trực chỉ đến Wonsan. Có nhiều đơn vị Bắc Triều Tiên ráng trốn về phương bắc trước sự truy kích của quân Walker, nhưng rồi lại quân Walker lại vướng phải sư đoàn Bảy – một bộ phận của quân đoàn 10 – đang xuôi nam về Pusan để tham gia trận tấn công đường thủy kế tiếp, sư Bảy được quyền ưu tiên dùng đường. Thế là trên con đường tiếp vận chính bé xíu đó, bất kỳ đoàn xe nào tiến lên phía bắc cũng phải nhường đường cho sư đoàn Bảy đang di chuyển xuống phía nam, và như thế vi phạm nguyên tắc cơ bản của lục quân: không bao giờ để mất dấu kẻ địch.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Một, 2013, 01:52:59 am
Trên thực tế, trận Wonsan là một thảm họa ngay từ khi mới bắt đầu. Phía Hải quân kinh hoảng với ý tưởng đó. Đô đốc Turner Joy, người chịu trách nhiệm, không muốn tham gia vào đó, bởi sợ, mà sợ đúng, rằng cảng Wonsan đã bị gài đầy mìn. Ông ráng xin gặp MacArthur ở Tokyo để phản đối, nhưng không được cho gặp. Nhìn góc nào đi nữa thì trận tấn công đổ bộ đường thủy ở Wonsan cũng như một trò đùa. Nhiệm vụ này có thể hoàn thành dễ dàng và nhanh chóng hơn nhiều, bằng cách dùng một trong các đơn vị của Walker đơn giản thọc lên phía bắc theo cách thông thường.  Thay vào đó mọi thứ đều sai lầm. Các nhà lập kế hoạch không kịp tiến độ, chậm trễ nối tiếp chậm trễ. Các đơn vị bạn đến được Wosan trước. Còn nhục nhã hơn, những đơn vị Nam Hàn thuộc sư đoàn Ba và sư đoàn Thủ đô đã đến đó hồi ngày 10 tháng 10 mà hầu như không gặp kháng cự. Ngày kế đó, Walker bay đến thành phố cảng cùng với thiếu tướng Earl Patridge, tư lệnh không quân trên chiến trường. Nhận thấy phi trường đã được giải tỏa, Partridge bắt đầu dùng phi cơ vận tải để tải hàng hậu cần cho quân Nam Hàn. Cuối cùng đến tận ngày 19 tháng Mười, tàu quân sự mới mang được TQLC đến cảng Wonsan. Nhưng đô đốc Joy vẫn đúng, lúc này phía Cộng sản đã cài chừng 200 quả thủy lôi ở cảng, mà hải quân chỉ có 12 chiếc tàu rà mìn trong tay. Thế là TQLC ở lại trên tàu và chờ tàu phá mìn chậm chạp làm sạch luồng cảng. Rất nhanh, vì chờ quá lâu, nên nhiều lính TQLC bị say sóng. Rồi một làn sóng bệnh lỵ quét đến. Trong một chiếc tàu vận tải khổng lồ, 750 lính TQLC nằm dài ra đó. Khi lính TQLC biết được lính Nam Hàn đã chiếm cảng rồi, họ gọi chiến dịch đổ bộ của họ là “chiến dịch Yo-Yo”. Lời sỉ nhục cuối cùng cho những đơn vị kiêu hãnh đó đến từ Bob Hope, một kịch gia nổi tiếng thường đi giải trí cho binh sỹ ở chiến trường, ông đến Wonsan và diễn một sô USO dự kiến dành cho TQLC, nhưng họ vẫn còn ở ngoài cảng, trên các chiến hạm. Ở đó, trên một sân khấu dựng tạm trong một nhà kho cảng Wonsan, Bob Hope diễu hề rằng đây là lần đầu tiên ông đánh bại TQLC trên bờ. “Thật tuyệt khi gặp các bạn ở đây”, ông nói với một nhóm nhỏ khán giả gồm các đội bảo trì, lính Nam Hàn, và vài lính hạm tàu. “Chúng tôi sẽ mời bạn đến chỗ đổ bộ của chúng tôi”. Chỉ đến ngày 25 tháng Mười, hai tuần sau khi lính Nam Hàn đến, TQLC mới được lên bờ.

Nhưng mối nguy thực sự – hầu như mọi người ở Washington và Tokyo đều biết – đó không phải là trận đổ bộ Wonsan mà là sự phân rã quyền chỉ huy. Trong tất cả luật bất thành văn của học thuyết lục quân Mỹ, điều này có lẽ là bất khả xâm phạm. Đó là điều không được làm. Một khi quân nhân Mỹ nghĩ đến việc chia rẽ quyền chỉ huy, họ nghĩ ngay đến sự hủy diệt của quân George Armstrong Custer trong trận Litter Big Horn. Trong tương lai, cùng với Custer, họ sẽ còn có thêm cái tên Douglas MacArthur và Ned Almond trong suy nghĩ cùng với những bi kịch ở dọc sông Chongchon và sông Áp Lục. Kể từ đây Douglas MacArthur đưa quân của mình vào một vùng đất thù địch, nguy hiểm và khó khăn không nói hết bằng lời (như điều kiện thời tiết mà ông ta đã có lần nêu lên, bắt đầu chống lại họ), và ông cũng rõ ràng là tạo ra gấp đôi khả năng dễ tổn thương của mỗi bộ phận trong lực lượng của ông. Điều này cho thấy rất nhiều mặt thiếu giỏi giang của Douglas MacArthur, nhưng còn tệ hơn, nó phản ánh cho thấy sự thiếu tôn trọng của ông với một kẻ địch tiềm tàng: người Trung Hoa. Mà kẻ địch đó đã nghiên cứu về ông rất kỹ càng, nhưng ở phía ngược lại ông không chịu hạ cố làm, thế là quân binh dưới quyền chỉ huy của ông phải hứng chịu những bất cẩn của ông một cách cay đắng.

Và còn một điều cũng không phải là một vấn đề kỹ thuật nhỏ có thể bỏ qua. Đó là khi MacArthur cho phép Almond một lúc giữ hai chức, không ai có thể tin nổi ông ấy đang làm gì. Theo cách nói của Jack Murphy, thời đó là một trung úy trẻ, rồi sau này là một nhà nghiên cứu chiến tranh nghiêm túc, thì đó: “Có lẽ là sự xung đột lợi ích lớn nhất nằm ở cao tầng quân đội Mỹ mà tôi từng biết”.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Một, 2013, 01:57:42 am
Những mối quan ngại về cấu trúc chỉ huy đó treo lơ lửng trên đầu quân Mỹ đang bắc tiến. Hơn nữa, rất nhiều người vơ vẫn trong các loại sở chỉ huy và nhìn những tấm bản đồ có đánh dấu các đơn vị Trung Hoa đang đợi ngay trên sông Áp Lục. Lúc giữa trận Naktong, Murphy được gọi về sở chỉ huy Tập đoàn quân Tám. Anh nhìn thấy một tấm bản đồ khổng lồ và mắt anh hút về ba cái hình chữ nhật được bôi đỏ, ngay dọc sông Áp Lục. Rồi ai đó nói cho anh rằng mỗi cái hình chữ nhật đó đại diện cho một đơn vị cộng sản Trung Hoa. Murphy nghĩ rằng điều này có nghĩa là có ba sư đoàn Trung quốc ở đó, một con số đáng kể theo anh, cho đến khi anh biết rằng mỗi cái dấu hiệu đó không phải đại diện cho một sư đoàn, cũng không phải cho một quân đoàn hay một tập đoàn quân (ba sư đoàn thành một quân đoàn, ba quân đoàn thành một tập đoàn quân, và ba tập đoàn quân là một phương diện quân), mà chính là đại diện cho một phương diện quân Trung Hoa, hoặc như cánh tình báo đã cho biết, khoản chừng tổng cộng hai mươi bảy sư đoàn, hay tính vo, là khoản 250,000 đến 300,000 lính. Dù rằng nỗi lo sợ về trận Naktong vẫn còn đó, nhưng chỉ với một cái nhìn vào bản đồ, anh nghĩ, càng lo hơn.

Tại sao MacArthur lại chia quân ra và rồi điều đi theo các cánh khác nhau một cách tự tin đến một khu vực vốn được la lối là cực kỳ đáng quan ngại, không ai có thể hiểu nổi. Về sau ông cũng không nói hay làm điều gì để giải thích thỏa đáng về quyết sách này; cũng không một ai trong ban tham mưu của ông hay các nhà báo đồng cảm với ông viết ra điều gì. Với Matt Ridgway, một khi một quyết định được đưa ra mà không có giác quan quân sự, thì nó phải có một cách giải thích khác, đặc biệt với quyết định của MacArthur, một người không làm việc gì một cách ngẫu nhiên và bởi những hành vi của ông ta luôn mang yếu tố chính trị song hành với quân sự. Bốn mươi năm sau Ridgway đưa ra giả thuyết rằng đó là một dấu hiệu cho thấy MacArthur, sau trận Inchon, nhận ra giờ đây ông ở mức cao như thế nào, nên ông nỗ lực tạo ra một quyền chỉ huy riêng trong một quân đội riêng, ngoài tầm với của Washington và hội đồng tham mưu liên quân, và cả Johnie Walker. Ông đang làm giảm vai trò cũng như sự độc lập của tư lệnh tập đoàn quân Tám mà họ đã giao cho Walker, từ đó tạo dựng ra một hệ thống của riêng ông, một hệ thống mà ông có thể có nhiều quyền điều khiển hơn. Almond chỉ là một công cụ – một con tốt thực thụ – cho việc đó, việc chiếm quyền của hội đồng tham mưu liên quan và của Washington, Ridgway tin vậy, và họ bắt đầu hiểu ra điều ông ấy đang làm quá chậm và quá trễ. Việc chia quyền chỉ huy đã cho ông giữ vị trí cao – còn Washington thì thấp hơn nhiều – với quân đội trên chiến trường. Almond sẽ làm bất cứ thứ gì MacArthur muốn mà ngay cả hỏi lại cũng không. Giả mà cần có những mệnh lệnh, MacArthur muốn được tuân thủ với lòng trung thành mù quáng, thì Almond sẽ làm. Còn Walker là chuyện khác, bởi Walker không là người của MacArthur. Chính chiến dịch Inchon đã phơi bày sự độc lập từ phía Walker. Ridgway tin rằng, việc chia quyền chỉ huy là một toan tính thận trọng nhằm thu bớt sự độc lập của Walker và như vậy sẽ giới hạn ảnh hưởng của Washington lên bán đảo Triều Tiên. Điều này có nghĩa là Walker không còn là một tư lệnh lục quân đơn độc dưới quyền MacArthur, và rằng cánh của ông bị cắt đáng kể; giờ đây MacArthur có một trong hai viên tư lệnh, trên thực tế mà nói dù là tư lệnh quân đoàn nổi danh cũng phải thông qua Almond, với cương vị tham mưu trưởng trong bất kỳ vấn đề nào. Thêm vào đó, bởi Walker bị buộc phải cạnh tranh với Almond trong cuộc đua đến sông Áp Lục; ông có thể sẽ có những mệnh lệnh khó khăn về mặt thời gian khi ép ông tiến xa lên phía bắc; ông có thể sẽ phải phòng vệ trước thượng cấp, giải thích tại sao quân của ông không tiến nhanh bằng Almond.  Ridgway nghĩ, về mặt chính trị, về mặt điều khiển và giữ thêm nhiều quyền lực cho Tokyo, thì đây là một bước đi nguy hiểm, hách dịch và một chiến thắng quyết định trên chiến trường là thứ MacArthur luôn đánh cuộc – một thứ để chống lại Washington. Hội đồng tham mưu liên quân, Ridgway tin, đã thức tỉnh trước sự hàm ý này quá muộn.

(hết chương 20)


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Một, 2013, 02:01:11 am
Chương 21

Mùa thu năm 1950, giấc mơ trở lại đại lục của Tưởng Giới Thạch đã thành vô vọng, đặc biệt khi không có bên nào trong Thượng – Hạ viện, kể cả những người ủng hộ Tưởng điên cuồng nhất, muốn lãnh trách nhiệm về việc đưa con em người Mỹ, mà con số có thể đến hàng triệu, đến chiến đấu ở Trung Quốc. Nhưng giấc mơ về cuộc tái hồi đại lục vẫn là một chủ đề chính trị rất tốt, nó cấp cho kẻ thù của Nhà Trắng một chủ đề công kích tự do không có điểm chót. Đồng minh của họ ở tòa đại sứ Trung hoa Dân quốc tại Washington cổ vũ họ, dù rằng nếu những cán bộ cao cấp trong tòa đại sứ có tin tức hoặc tình báo về những gì có thể gây rắc rối với Hoa Kỳ, họ cũng không luôn nói cho những người bạn Mỹ của mình.

Trong những tuần trước khi người Trung Hoa tham chiến, có hàng loạt sự di chuyển của quân Cộng sản hướng về biên giới Trung – Triều. Những quan chức Dân quốc cao cấp ở Đài Loan cũng như ở tòa đại sứ Washington có những nguồn tin tình báo cực kỳ tốt về sự di chuyển đó, còn quan trọng hơn, gần như nhận biết được khá đúng những gì chính quyền cộng sản dự định sẽ làm. Họ hiểu chính quyền Cộng sản sẽ phản ứng thế nào trước tình trạng sụp đổ ở Triều Tiên, với việc quân đội Mỹ cùng Nam Hàn tiến nhanh đến biên giới Trung Hoa, bởi vì đó cũng chính là điều họ sẽ làm trong tình huống ấy. Trên thực tế tin tình báo của họ còn dựa trên những điểm còn căn bản hơn. Một số cựu đồng nghiệp của họ trong nội chiến bị buộc phải gia nhập quân đội Cộng sản khi các sư đoàn của họ đầu hàng, vẫn có thể chuyển qua vô tuyến những gì họ biết về kế hoạch của các tư lệnh cộng sản của mình. Và các cán bộ Trung Hoa Dân quốc cao cấp cũng có những nguồn tin tình báo cực tốt – từ những cựu quan chức Dân quốc giờ nằm trong các tập đoàn quân Cộng sản và từ những công nhân có cảm tình trong hệ thống đường sắt Trung Hoa cũng như các phần tử khác từ cơ cấu chính quyền cũ. Họ có cảm nhận mạnh mẽ về cuộc xung đột sẽ xảy ra, ngay từ ngày các lực lượng Hoa Kỳ vượt vỹ tuyến 38, và mỗi mẩu nhỏ tin tình báo họ nhận được đều xác nhận cho điều đó. (Chúng ta biết việc này một phần, bởi một số điện tín của họ về việc này cuối cùng cũng bị đưa ra công khai do một người phản tỉnh trong tòa đại sứ ở Washington). Việc Trung Hoa Cộng sản bước vào cuộc chiến Triều Tiên hứa hiện một cuộc xung đột mà phía Dân quốc cực kỳ muốn – vì bất kỳ hi vọng một cuộc trở lại đại lục nào cũng dựa trên giả thuyết về một cuộc chiến với Trung Hoa mới. Đó là hi vọng có khả năng duy nhất của họ cho một chuyến trở về.  Do đó họ không vội vàng báo động cho đồng minh Mỹ về điều sắp sửa xảy ra vì như thế sẽ cho phép tránh hậu quả của một cuộc đụng độ như vậy. Bởi những người ở tòa đại sứ Washington ngụy biện trong những vấn đề Mỹ hơn phía đối tác của họ ở Đài Loan, nên họ đã đau khổ bảo phía người ở Đài Loan giữ im lặng và không chia sẽ những thông tin này với người Mỹ.

Sự quan trọng của tòa đại sứ Dân quốc ở Washington không thể đánh giá thấp đựơc, một phần không nhỏ bởi những nhân vật tuyệt đối giỏi giang ở đó, và một phần bởi đây là một phe cánh quan trọng của cánh hữu chính trị Mỹ, cánh này muốn thổi phồng quan điểm Trung Hoa Dân Quốc. Từ năm 1948, vận động cho việc chấp nhận chính phủ Trung Hoa Dân quốc vẫn tồn tại bất kể mọi tình huống, điều này được triển khai ở Washington nhiều hơn là ở Đài Loan, và những người được ủy nhiệm chính là các chính trị gia Mỹ và báo giới chứ không phải thường dân Trung Hoa. Ở tòa đại sứ Washington, có các đại diện thông minh nhất, những người như Tống Tử Văn, Wellington Koo, họ đã hoạt động với những kỹ năng tuyệt vời. Tháng 5 năm 1949, Eirc Sevareid của đài CBS, ông đã quan sát Trung Hoa từ thế chiến II, tường thuật rằng “chính phủ Dân quốc có tất cả nhưng đã bị phân hủy. Cơ quan đầu não của nó, nếu có, thì nằm chính ở nơi đây, Washington, nơi những nhà vận động và những ủng hộ viên người Mỹ đang cực kỳ bận rộn để cố gắng có được một chương trình viện trợ mới, lớn của Mỹ dành cho Trung Hoa”.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Một, 2013, 02:05:23 am
Những lực lượng dẫn đến cuộc xung đột giữa Hoa Kỳ và Trung quốc mạnh mẽ hơn bất cứ phe nào ở Thái Bình Dương nhận thức được – và Đài Loan, gần như không được người Mỹ biết tới, trở thành một điểm tắc nghẽn lớn từ khi Tưởng Giới Thạch sang cư trú ở đó. Và khi Mao Trạch Đông chiếm được chính quyền, nước Mỹ đã bắt đầu tự tách mình ra khỏi bất kỳ khả năng nào để đàm phán với ông ta. Hoa Kỳ kìm lại việc công nhận chính quyền của Mao, trong khi các đồng minh quan trọng của Hoa Kỳ, trong đó có cả nước Anh, đã nhanh chân đi trước, như vậy là nước Mỹ bị cô lập chứ không phải người Trung Hoa bị, đồng thời rõ ràng đã đẩy họ thêm sâu vào vòng tay của Stalin. Thêm vào đó, việc này với Tưởng có ý nghĩa là phòng thủ và bảo vệ ông ta, cũng đồng nghĩa phòng thủ và bảo vệ đảo Đài Loan. Mà chính đảo này, trong những năm trước khi sự thể kết cục ở đại lục, Hội đồng tham mưu Liên quân đã không thấy đảo có chút ý nghĩa quan trọng nào với an ninh quốc gia Mỹ. Hồi tháng Ba  năm 1949, không ít các nhân vật như Douglas MacArthur đã từng nói: “Không có lý do quân sự nào cho việc chúng ta sẽ cần Đài Loan với tư cách là một căn cứ”, một tuyên bố thận trọng được bộ Ngoại giao đưa ra công khai (mà việc này không phải là do sự quý mến của Dean Acheson dành cho viên tư lệnh Thái Bình Dương). Chính sách chiến lược có thể thay đổi, dĩ nhiên là vậy. Giờ đây Đài Loan dĩ nhiên có giá trị cao hơn trước. Nhưng sự đảo ngược chính sách đó, quyết định bảo vệ Tưởng và Đài Loan, mang lại những hậu quả cay đắng. Nó có thể được nhìn nhận như là một sự điều chỉnh tương đối thứ yếu của chính phủ trước những yêu cầu lớn lao khác của người châu Á, nhưng với Mao Trạch Đông và các đồng sự điều này không được nhìn nhận như vậy. Với họ, đó là một sự sỉ nhục lớn. Hoa Kỳ đã chen vào giữa họ và việc hoàn thành công cuộc cách mạng, đặc biệt vào thời điểm người Mỹ cắt đứt mọi kênh liên lạc có thể với họ.  Điều này đồng nghĩa với việc không còn chỗ để đu đưa cho cả hai phía. Ở Washington, chính phủ Truman đã phản ứng lại một cách hết sức bản năng và đưa ra điều mà họ nghĩ là một điều chỉnh địa chính trị thứ yếu; với những người chiến thắng ở đại lục, những gì Washington đang làm đã khiến cho việc giải phóng toàn bộ Trung Hoa trở nên bất khả. Trong mắt họ, đây không gì khác hơn là hành vi của một kẻ địch không đội trời chung.

Từ lúc Tưởng giới Thạch rời đại lục, vấn đề tòa đại sứ Trung Hoa Dân quốc và hội vận động Trung Hoa quan tâm hơn hết là việc giữ Hoa Kỳ không công nhận nước Trung Hoa Cộng Sản. Họ đã rất thành công khi việc công nhận Trung Hoa trở thành một vấn đề chính trị nội địa kéo dài, một vấn đề mà đảng Dân chủ sợ đụng vào trong cả hơn hai thập niên sau đó. Tổng thống Richard Nixon – khi còn là một chính trị gia trẻ ông đã đưa ra quan điểm rằng đảng Dân chủ đã yếu ớt bắt tay với những người Cộng sản tiếm quyền, bởi vậy nên ông ta đã được miễn trừ khỏi chiến dịch truy nã cộng sản – ông phá băng mối quan hệ bằng chuyến thăm Trung Quốc hồi tháng Hai năm 1972, một chuyến đi mà không chính trị gia Dân chủ nào, cho dù tới lúc này có thể đảm nhận mà không bị quy chụp cộng sản, trừ Richard Nixon và một vài người khác. Trong lúc đó có một câu hỏi lạ kỳ mà người Mỹ phải quyết định: Quốc gia nào là Trung Hoa? Phải chăng đó là quốc gia có dân số đông đúc 500, rồi sau này là 600 và nhanh chóng là 700 triệu người, hay là cái đảo nhỏ xíu ngoài khơi cái nước kia với chừng 8 triệu dân, trong đó có 6 triệu là người Đài Loan bản địa và ước chừng 2 triệu người mới từ đại lục chạy qua? Đó là một câu hỏi mà trong một thời gian dài người Mỹ không thể có câu trả lời đúng.

Những câu hỏi về chính sách là nghiêm trọng nhất: phải chăng Đài Loan và Tưởng quan trọng, nếu tiếp tục hành động theo kiểu ăn nằm với họ có thể sẽ đưa đến một chương mới, nguy hiểm hơn trong mối quan hệ của chúng ta với một quốc gia rất quan trọng, vừa mới ra đời với tư cách to lớn ở châu Á? Phải chăng chúng ta còn nợ gì với một nhà lãnh đạo thất bại, người vừa thất bại một cách có hệ thống trước nhân dân của ông ta, người đã coi khinh sự cố vấn của người Mỹ trong lĩnh vực quân sự, chính trị và cả kinh tế, và cũng là người đã phục vụ với tư cách là nguồn cung cấp vũ khí chính cho kẻ thù truyền kiếp của ông ta? Liệu có đáng khi đẩy một quốc gia tuyệt vời, rõ ràng là một thế lực đang lên và tiềm tàng nguy hiểm, mà chắc chắn một ngày nào đó sẽ là siêu cường vào vòng tay của kẻ thù bất cộng đái thiên? Liệu có đáng khi gia cố thêm cho niềm tin của Mao Trạch Đông rằng Hoa Kỳ là một đế quốc mới muốn áp đặt lên nước ông?  Có phải chúng ta đang làm đúng chính xác những gì Mao muốn, trong cơn hoang tưởng của ông về Hoa Kỳ và giúp củng cố quan điểm của ông cũng như các chính sách của ông chống lại chúng ta? Lúc này đó là những câu hỏi rất thực tế, và câu trả lời gần như là không chắc chắn. Nhưng đó cũng là những câu hỏi về an ninh quốc gia bị bóp nghẹt trong thời đó, bị những lực lượng chính trị nội địa cùng với những xúc cảm đè bẹp. Rốt cuộc, chính sách của chúng ta là tiếp tục hỗ trợ cho một chính phủ, đã chết.

 

Không ai cảm nhận được về cuộc xung đột trong tương lai rõ ràng hơn John Melby, một cán bộ trẻ trong tổ Trung Hoa, một con người cực kỳ khôn ngoan với những thứ ông chứng kiến trong cuộc xụp đổ của Trung Hoa Dân quốc. Melby là một con người rất hấp dẫn; năm 1945, ông được gửi đến Trung Hoa từ tòa đại sứ Mỹ ở Moscow theo một đề nghị đặc biệt do Avarell Harriman, khi đó là đại sứ Liên xô đưa ra, nhằm quan sát xem người Nga làm gì ở cái đất nước đó. Melby nhanh chóng trở thành một người trong đại sứ quán thất vọng nhất và cũng là tiếng nói chống Tưởng mãnh liệt nhất. Anh nhanh chóng hiểu rằng sự yêu mến và thành công của những người cộng sản không có gì là của người Nga, mà đó chỉ là khả năng của phía Cộng sản Trung Hoa trong việc đáp ứng những mối bất bình trong nước cùng chủ nghĩa dân tộc tiềm tàng, những thứ này đã làm cho họ trở nên cực kỳ mạnh mẽ. Anh không bao giờ quá quan ngại về mối quan hệ cực kỳ khó khăn giữa Hoa Kỳ và Trung Hoa của Mao, nhưng anh cũng không lo rằng đó là một cố gắng nghiêm túc đáng giá. Hồi tháng sáu năm 1948, một năm trước khi chế độ Tưởng sụp đổ, anh đã tiên tri khi ghi vào nhật ký: “Tất cả sức mạnh của Hoa Kỳ cũng sẽ không thể ngăn được ngọn triều ở châu Á, nhưng nếu sáng suốt chúng ta có thể hình dung được cách làm những ngọn triều đó  thêm phần thân cận với chúng ta hơn là tình hình hiện giờ”.

Cái quyết định tức khắc trong những ngày sau khi quân Bắc Triều Tiên nam chinh: đưa Hạm đội Bảy đến eo biển Đài Loan, là một quyết định định mệnh nhiều hơn phía Hoa Kỳ nhìn nhận. Mao Trạch Đông hiểu ông không thể mạnh hơn quân Mỹ trên biển và trên không, nên khi ông chọn đối đầu với Hoa Kỳ, thì đó là ở Triều Tiên, nơi có thể sử dụng một lượng quân bộ lớn. Quân của ông ta có thể vượt sông Áp Lục bằng chân nhưng không thể bơi qua eo biển Đài Loan. Nếu Hoa Kỳ đã định ra những tuyến trên các eo biển như vậy, thì Triều Tiên cũng chính là địa phương thích hợp cho Mao vạch ra tuyến của ông ta

(hết chương 21, phần 6)


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Một, 2013, 02:10:15 am
PHẦN 7

VƯỢT QUA GIỚI TUYẾN VÀ BẮC TIẾN

Chương 22


Ở bên phía Mỹ, quyết định vượt vỹ tuyến 38 và bắc tiến là một quyết định vừa đánh vừa quyết. Đó là một quyết định mà các quan chức dân sự cao cấp nghĩ rằng họ có thể điều khiển được khi họ phải đối mặt, nhưng rốt cuộc thì lại bị điều khiển ngược lại. Lúc quân Bắc Triều Tiên xâm lăng, Truman, Acheson và những cán bộ của Acheson ở bộ Ngoại Giao chẳng có nghĩ gì nhiều đến việc sẽ làm gì một khi ngọn triều đổi hướng và các lực lượng quân Bắc Triều Tiên bị tan vỡ. Thực tế trong hai tháng đầu của chính phủ thời chiến chủ yếu là nghĩ đến việc làm sao sống sót. Rất ít suy nghĩ hướng về việc lúc đó hầu như mang tính lý thuyết rằng sẽ làm gì nếu một khi con đường lên phương bắc đột nhiên rộng mở. Giờ đây, sau trận Inchon, câu hỏi đó đột nhiên trở nên quan trọng. Khao khát có một chiến thắng lớn hơn bỗng nhiên được kích thích mạnh. Những người vốn đã rất thận trọng trong việc khống chế các quyết định ra hồi cuối tháng Sáu tại nhà khách chính phủ Blair House, giờ đây lại thiếu kiềm chế khi thấy một chiến thắng lớn lao hơn gần như ở trước mặt. Những khác biệt cốt yếu giữa các quan chức dân sự cao cấp với các cán bộ quân sự cao cấp  và MacArthur bao gồm mọi thứ vấn đề và quan điểm về Trung Hoa, những điều này vốn bị che lấp khi bộ đội Bắc Triều Tiên đang đe dọa chiếm toàn bộ nước này, giờ thì phải đối diện lại. Bởi bên phía Cộng sản đã bắt đầu cuộc chiến bằng việc vượt qua thứ mà người Mỹ xác quyết rằng đó là biên giới, bởi nhiều người Mỹ đã chết ở Triều Tiên, và bởi vị tư lệnh chiến trường luôn muốn bắc tiến, nên về cơ bản là quyết định đã được định từ trước. Hoa Kỳ càng thành công ở miền Nam, thì càng khó để giới hạn việc tiến lên phương Bắc.

Bất kỳ ai cố giới hạn cuộc tấn công lên phía Bắc có thể sẽ bị gán cho cái mũ là bè lũ nhượng bộ. Trên thực tế, Bill Knowland của bang California, một trong những tiếng nói thế lực nhất của hội vận động Trung Hoa ở Thượng viện, đã sử dụng ngôn từ mạnh nhất. Sức mạnh dồn nén của lối tu từ trong Cuộc Chiến tranh Lạnh căng thẳng qua nhiều năm, những từ ngữ gợi ra một thế giới được chia giữa hai thái cực tinh thần trắng và đen, ủng hộ cho việc tiến lên phía bắc, ngay cả những vấn đề đang nghiêm trọng yêu cầu mọi người suy nghĩ theo cực xám (câu này dịch mà không hiểu nói gì cả L ). Rất khó hài lòng với việc thành công một phần trong cái tình trạng luôn không thỏa mãn trước giờ. Phần năng động thuộc về cánh quân sự. Thật là khó để bào chữa cho việc dừng ở vĩ tuyến 38 và đợi bên kia xây dựng lại lực lượng và tấn công lần nữa. Một ý kiến mang tính logic hơn của cánh quân sự, ý kiến này thì Hội đồng tham mưu Liên quân ủng hộ, là tiến qua vỹ tuyến 38 một khoản giới hạn, xây dựng một lực lượng không quân Mỹ đáng kể, và tìm một vị trí thích hợp để pháo binh có thể bảo vệ hữu hiệu, thiết lập công sự, triển khai những biện pháp đủ sức đẩy lùi mọi cuộc tấn công, và rồi tìm kiếm một thỏa thuận ngừng bắn. Nhưng điều này cũng đồng nghĩa với việc chấp nhận khái niệm một chiến thắng hạn chế trong một cuộc chiến hạn chế, và đàm phán với phe mà những người Mỹ khác từ chối nói chuyện. Không chỉ là MacArthur – ông vốn luôn muốn tiến xa lên phía bắc – dù có những vị tư lệnh cao cấp khác thấy khó làm việc với ông, nhưng trong vấn đề này, ít nhất ý định của họ cũng khá thống nhất – rõ ràng đây là một cơ hội phát sinh trong giới quân sự khi họ thấy có cơ hội đánh thắng được, và họ muốn tiến lên phía trước.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Một, 2013, 12:27:11 pm
Quyết định bắc tiến thể hiện cho thấy một cuộc tranh luận không bao giờ được tranh luận đúng nghĩa; bởi các áp lực tiến qua vĩ tuyến 38 quá mạnh mẽ. Ở trong nước sự thay đổi quan trọng nhất xảy ra ở Bộ Ngoại giao, dù chậm chạm nhưng xói mòn một cách có hệ thống ảnh hưởng của George Kennan. Đến khi họ đối diện với quyết định vượt vĩ tuyến 38 thì ông ta không còn một người chịu trách nhiệm chính nữa. Kennan tin rằng nguy cơ cả Liên Xô và Trung quốc tham chiến là cực kỳ to lớn nếu chúng ta quyết thống nhất Triều Tiên. Paul Nitze, trong vấn đề này anh chịu ảnh hưởng rất nhiều từ Kennan, cũng đồng ý như thế. Kennan khẳng định rằng chúng ta đang tiến đến một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng, rằng Washington không điều khiển được MacArthur, và rằng những điều kinh khủng sắp sửa xảy ra. Đó là một cơn ác mộng chính sách: ông cảm thấy Hoa Kỳ đang đẩy mảng quân sự đi quá xa một cách không cần thiết mà không làm tăng được địa vị địa-chính-trị của đất nước – và đang làm điều này với một rủi ro rất khủng khiếp. Nhưng lúc này ông chỉ là một nhà quan sát đứng ngoài cuộc.

Kennan rất đơn độc bên ngoài. Acheson đang tự quyết những điều chỉnh chính trị của mình và đè những gì trong khu vực Viễn đông xuống kể từ khi ông nắm bộ Ngoại Giao. Hầu hết những nhân viên trong tổ Trung Quốc, hoặc những ai chịu trách nhiệm về nước đó, được chuyển đi – dù Acheson không muốn thừa nhận điều này. Acheson quá kiêu hãnh để chấp nhận việc cho mọi người biết rằng ông phải lùi bước trước một vấn đề chính trị nào. Ông kiệt sức trước những lực lượng chính trị chống lại ông trong vấn đề này, của việc cố tạo một trường hợp khá lý thuyết là chủ nghĩa Cộng Sản ở Trung Hoa và chủ nghĩa Cộng Sản Nga có lẽ khác biệt nhau (Lúc đó ông bộc lộ sự thất vọng của mình trong cuộc nói chuyện với Clement Attlee, thủ tướng Anh. Ông nói với Attlee rằng, ông “có lẽ đầy máu me … hơn bất kỳ ai” trong việc ráng phân biệt Liên Xô và Trung Quốc, và ông nghĩ có lẽ trong tương lai không xa sẽ có sự chia rẽ cơ bản giữa hai quốc gia cộng sản này).

Lúc Acheson chuyển những người thuộc tổ Trung Hoa đi thì lại có nhiều tay bảo thủ về. Ở bộ Ngoại Giao, Vụ chuyên trách Châu Á, bị thay đổi nhanh chóng mặt. Dean Rusk, một tay bảo thủ ôn hòa, trầm tĩnh, một con người rất công chức, trở thành nhân vật chính của chính phủ về vấn đề châu Á. Rusk thì lại đối lập với Kennan, ông này thì mang những kiến thức tuyệt vời về Nga và Trung quốc lên bàn nhưng lại khá vô tâm với những áp lực còn mạnh hơn trong thực tế chính trị nội địa Mỹ. Ông rất hòa hợp với những tân nhân vật và ít có cảm giác (hoặc hứng thú) với người cựu trào. Ông chính xác là những gì Acheson muốn trong thời điểm này, lúc sự nhượng bộ là cần thiết. Rusk tình nguyện nhận giáng xuống từ chức phó Ngoại trưởng thành trợ lý ngoại trưởng trong vấn đề Viễn Đông. Lúc đó Acheson nói với ông rằng: “Anh phải có huy chương Purple Heart và Huân chương Danh dự cho việc này”.

Rusk cho thấy là một người cực kỳ theo quy ước trong suy nghĩ về Trung Hoa. Sau này, trong thời kỳ Việt Nam, ông cũng được biết đến như là một tay khét tiếng xấu xa trong giới cộng sản châu Á.  Ngay từ mùa hè năm 1950, Rusk đã bắt đầu nổi lên như một nhân vật kiên định trong Vụ, một góc độ nhìn nhận giúp ông không bị những vấn đề chính trị đương thời, ông tin rằng sự trỗi dậy của Mao Trạch Đông cho thấy một sự thay đổi của lịch sử “sự thay đổi cán cân quyền lực theo hướng có lợi cho nước Nga Sô viết và không hay ho gì với Hoa Kỳ”. Không như Kennan, Rusk nhìn thế giới Cộng sản dưới góc độ là một thực thể thống nhất, bền chắc. Ông là một trong số những nhân vật cao cấp đầu tiên đề xuất về việc đưa John Forter Dulles vào Bộ Ngoại Giao, và khi việc đó diễn ra, ông và Dulles nhanh chóng trở thành đồng minh trong vấn đề quan trọng: phòng thủ Đài Loan.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Một, 2013, 12:30:31 pm
Ngày 18 tháng Năm, 1950, Dulles xây dựng một bảng dự thảo chính sách đề nghị rằng Đài Loan là một vị trí tốt để thiết lập tuyến (phòng vệ); 12 ngày sau Rusk cũng làm tương tự. Họ cùng nhau vẽ lên một hòn đảo dưới góc độ là một vị trí cố thủ hấp dẫn bởi Hoa Kỳ có thể vận dụng được sức mạnh không quân tầm xa cũng như hải quân ở đó, và Liên Xô (và Trung Hoa) không thể dùng quân bộ của họ có hiệu quả.

Việc Dulles quay lại Vụ là một vấn đề gây tranh cãi, chính việc này phản ảnh lại sự thật rằng Truman và Acheson đang trong tình trạng mệt mỏi phòng vệ trước sự chống đối lên cao của cánh Cộng hòa. Dulles chính là bộ trưởng ngoại giao dự kiến (nếu Dewey thắng cử tổng thống) của đảng Cộng Hòa và là cố vấn trưởng về chính sách ngoại giao cho Dewey, một con người có góc nhìn gắn kết với các lực lượng chính trị theo chủ nghĩa quốc tế phương Đông. Sự thất bại năm 1948 của Dewey là một nỗi thất vọng cay đắng với ông. Lúc đó ông được bổ nhiệm vào một ghế Thượng viện còn trống ở New York với yêu cầu rằng ông không tham gia tranh cử, nhưng rồi ông quyết định tranh cử, và trong một cuộc bầu cử đặt biệt, ông đã bị đánh bại bởi Herbert Lehman, một cựu thống đốc bang nổi danh với gần 200,000 phiếu trong gần 5 triệu phiếu phát ra. Vì thế, đồng thời với việc Dulles muốn trở lại làm việc trong thế giới chính sách công (với một tầm nhìn tốt hơn) ông cũng hiểu rằng sẽ còn nhiều cuộc bầu cử tổng thống khác sẽ đến, nên ông bắt đầu thương lượng với cánh Dân chủ về một vai trò nào đó trong bộ Ngoại giao. Ông nói với các quan chức chính phủ rằng ông có thể giúp kiềm chế vài người trong cánh hữu đảng Cộng hòa như thượng nghị sỹ Styles Bridges và Robert Taft, nhưng chỉ với điều kiện là  “Truman cho phép [ông] lên kế hoạch hành động quả quyết nhằm chống lại ‘mối đe dọa cộng sản’”. Không phải ai cũng muốn Dulles về đó – dù ông nổi danh là công bằng và rộng rãi – nhưng Acheson, vốn là một người rất mếm mộ Dulles, dần đi đến một quyết định rằng về mặt chiến thuật đó là một việc làm thông minh. Ở lần đầu khi Acheson đả động tới vụ này với Truman, tổng thống bác bỏ. Dulles đã phát biểu rất nhiều điều cay nghiệt về chính sách nội địa của Truman trong đợt chiến dịch bầu cử 1948. Nhưng rồi Acheson dưới sự thúc dục của Arthur Vandenberg, nhân danh Dulles, ông này là lãnh đạo cánh quốc tế của đảng Cộng hòa, Acheson chờ một cơ hội tốt, đạo đạt lần nữa vụ việc với Truman, và rốt cuộc Dulles cũng được bổ nhiệm vào công tác trong bộ phận triển khai Hiệp ước Hòa Bình Nhật bản. John Allison cũng được bổ nhiệm làm việc cùng ông. Allison đã từng công tác ở Nhật khi còn là một quan chức ngoại giao trẻ, và đã bị nhốt một thời gian ngắn ở Nhật sau trận Trân Châu Cảng, và trở thành lãnh đạo văn phòng Bắc Á – một vị trí tốt số, vì điều này có nghĩa là ông không bị kẹt giữa những làn đạn chính trị trong vấn đề Trung Hoa

Việc Dulles tham gia công tác có ngay tác động trong các cuộc họp cấp cao. Theo góc nhìn của George Kennan, Dulles chỉ nên hiện diện ở các cuộc họp có liên quan đến hiệp ước Nhật Bản. Kennan tin rằng, sự tham dự của ông ta – có ảnh hưởng lớn một cách đáng ngạc nhiên trong các tình huống- cho thấy sự thay đổi trong chính trị nội địa, và làm nghiên cán cân tranh luận khá nhiều, điều này phản ánh việc gia tăng áp lực từ cánh hữu, và mang cái áp lực đó vào tận phòng họp. Từ đầu tháng Bảy, Kennan bắt đầu cảm thấy rằng những sự kiến đó đang tuột khỏi tầm khống chế của chính phủ. Ngày 10 tháng Bảy, người Mỹ nhận được thông điệp từ Ấn Độ, họ đến với một đề xuất hòa bình cho Triều Tiên, và đó cũng là đề xuất mà người Trung Hoa quan tâm. Theo đề xuất này thì mọi hoạt động thù địch phải chấm dứt, cả hai phía quay trở lại vĩ tuyến 38, và nước Trung Hoa Cộng sản trở thành thành viên Liên Hiệp Quốc. Xem ra người Trung Hoa đồng tình, nhưng Liên Xô, không mấy ngạc nhiên, rõ ràng là không vui. Với Kennan, đề xuất này rất xuất sắc. Ông cho rằng tư cách thành viên cho Trung Hoa ở LHQ là chẳng có mấy quan trọng với an ninh quốc gia (Mỹ) một khi Liên Xô vẫn còn ở đó và có quyền phủ quyết; hơn nữa, đề xuất này còn mang lại ích lợi vì có thể làm chia rẽ người Trung Hoa với người Nga. Ông kể là ông nhanh chóng bị chửi trong cuộc họp – chủ yếu bởi Dulles – theo Dulles và các nhà phê bình khác phe ông ta tuyên bố đề xuất này là phần thưởng cho cuộc xâm lăng. Dulles nói rằng đề xuất đó “từ góc nhìn công chúng, xem ra chúng ta bị bịp phải từ bỏ vài thứ mà không vì gì cả”. Với Kennan, những lý do chính trị cho việc bác bỏ đề xuất của Ấn Độ là rất rõ ràng, và ngày 17 tháng Bảy, ông viết trong nhật ký “Tôi hi vọng rằng ngày nào đó lịch sử sẽ ghi nhận điều này như là một minh chứng cho thiệt hại lên chính sách ngoại giao của chúng ta bởi sự mù quáng và thiếu tinh thần trách nhiệm của hội vận động Trung Hoa và bạn bè của chúng gây ra ở Nghị viện”.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Một, 2013, 12:32:05 pm
Từ  tháng Bảy 1950, Rusk, Dulles và Allison hình thành một nhóm ba người, và cả ba bắt đầu tranh luận việc vượt qua vĩ tuyến 38, từ lúc mà hầu như không quan chức nào nghĩ về chủ đề này. Trong hồi ký những năm công tác Ngoại giao của mình (Đại sứ từ thảo nguyên: hay, Allison ở xứ sở thần tiên – Ambassador from the Prairie: or, Allison in Wonderland) Allison đã chối bỏ bất kỳ vai trò nào trong việc gây ảnh hưởng lên quyết định vượt giới tuyến. Với cái thời kỳ quan trọng này ông viết rất lộn xộn, quả thực là khá cảm xúc, đầy tính văn bản giải trình, dù rõ ràng là đóng vai trò thủ lĩnh với cả Dulles và Rusk. Hồi ức của họ dường như thường hướng vào những tài liệu ôn hòa nhưng bị mang tai tiếng của Cục kế hoạch chính sách Bộ Ngoại giao, đơn vị dưới quyền của Paul Nitze cùng hầu hết những cán bộ cao cấp luôn lo ngại về ý định của Nga và Trung Quốc. Rất sớm, hồi ngày 1 tháng Bảy, trong chuyến trở về từ Tokyo, Allison nói với Rusk trong một văn bản rằng các lực lượng Mỹ không chỉ nên vượt vĩ tuyến 38 mà còn “tiếp tục tiến đến biên giới Mãn Châu và Siberia, và cũng phải hoàn thành cái việc gọi là giám sát bầu cử của LHQ ở Triều Tiên”. Dĩ nhiên, vào thời điểm đó, việc ráng không bị đánh bật ra khỏi bán đảo Triều Tiên dường như là một vấn đề quan trọng hơn là chuyện chinh phục cả nước này. Ngày 13 tháng Bảy, Allison viết một bảng ghi đầy cảm xúc khác cho Rusk, vụ này nguyên ủy là do có một quan chức quân đội Mỹ ngẫu nhiên nói với các phóng viên rằng các lực lượng Mỹ cuối cùng chỉ muốn tiến đến vĩ tuyến 38 và dừng lại ở đó. Điều này làm Allison phát cáu. “Nếu tôi là một người lính Nam Hàn và nghe được thông báo này từ phát ngôn viên quân đội Mỹ, tôi sẽ rất muốn bỏ vũ khí xuống và trở về làm ruộng”.  Một ngày sau, Foster Dulles tiếp bước Allison với một tuyên bố còn mạnh mẽ hơn với Nitze. Vĩ tuyến 38 “không bao giờ là một điểm đến dự kiến và không bao giờ là một tuyến chính trị”, ông nhấn mạnh. Để làm cho danh giá, ông viết rằng việc này sẽ cung cấp “nơi ẩn nấp cho kẻ xâm lược [và bị] trói vào những va chạm không ngớt; ngay cả nguy cơ xuất hiện một cuộc chiến mới”. Nếu vấn đề này có thể triệt tiêu được, thì tất cả sẽ tốt hơn “vì lợi ích ‘hòa bình và an ninh’ khu vực” Dulles viết.

Trong vấn đề này Rusk là một nhân vật quan trọng, cả ở góc độ tham gia lẫn việc thử phản ứng, một người kiên định thực sự đầu tiên ở tầm chính sách với châu Á trong chính phủ đảng Dân chủ, và cũng là một nhân vật quan trọng làm thay đổi cách thức của Bộ Ngoại Giao, và như vậy là Acheson, nhìn vào các sự kiện hiện đang lộ ra. Tổ Trung Hoa cũ có lẽ lo lắng rất nhiều về mọi thứ có thể kích động Trung Hoa tham chiến, nhưng họ đã bị giải tán rồi, còn Rusk thì chẳng mấy e ngại tới việc bắc tiến. Sau này, khi quân Trung Hoa tấn công các lực lượng Mỹ ở cực bắc Triều Tiên, Rusk nói với các đồng nghiệp cao cấp của ông rằng cuộc tấn công “không nên làm vươn vấn lương tâm chúng ta, bởi những sự kiện này không chỉ là kết quả của những kế hoạch được lập kỹ lưỡng mà còn không phải do các hành động của chúng ta khiêu khích [họ]”.  Còn nhà sử học Rosemary Foot thì ghi rằng, điều này là “một sự giải thích hết sức quái dị, có lẽ với ý đồ nhằm mang lại chút ít an ủi với chính phủ trong một giai đoạn não nề”.

Khi hồi tưởng lại, dường như khá rõ rằng tất cả được chỉnh lại theo cách nào đó, và rằng những tay diều hâu nặng như Rusk muốn chiếm vai trò của Cục kế hoạch chính sách.v Kennan và những người trong Cục kế hoạch chính sách gần gũi với ông cho rằng việc bắc tiến là một sai lầm bi thảm. Ông tin rằng đánh nhau ở Triều Tiên, chỉ tính thuần túy các điều kiện ở đó thì cũng là một sai lầm, bởi những khó khăn đủ kiểu trong công tác hậu cần, và như thế không tốt; nhưng bởi có những áp lực khác, trong số đó có sự ổn định Nhật Bản; một cái giá phải trả – thì đây là một sai lầm cần thiết, nếu sẵn lòng. Nhưng khi các lực lượng LHQ tiến xa lên phía bắc, theo cách nói của ông, những nguy cơ kẻ thù ẩn nấp ở đó, người Trung Hoa hoặc người Nga, tăng thêm, và “càng không tốt ở góc độ quân sự” bởi cái cách rải quân ra như hình cây nấm và bởi sự gia tăng các vấn đề hậu cần với các đơn vị của chúng ta cũng như khả năng tập hợp lực lượng. Cái ý kiến tiến lên phía Bắc liều lĩnh đã làm ông kinh hoảng. Nhưng cuộc chơi vẫn tiếp tục theo hướng khác. Ngày 15 tháng Bảy, trong một ghi nhớ gửi cho Rusk, Allison đã “cực liệt phản đối” một tài liệu do Herbert Feis, một đồng minh của Kennan ở Cục kế hoạch chính sách, ông cho rằng có nguy cơ rõ ràng về việc Liên Xô hoặc Trung Hoa tham chiến nếu Hoa Kỳ tiến lên phía bắc vượt giới tuyến. Vĩ tuyến 38 là một luôn là một giới tuyến tùy hứng, Allison viết. Chỉ có sự không khoan nhượng rành mạch của Liên Xô mới duy trì được nó; Allison bàn Hoa Kỳ nên thích ứng “bằng quyết tâm rằng những kẻ xâm lăng không thể không bị trừng phạt và sự lãnh đạo mạnh mẽ, quả cảm của Hoa Kỳ rồi cũng sẽ có tác dụng tốt với những khu vực nhạy cảm khác trên thế giới. Khi nhận thấy những gì sẽ xảy ra với kẻ xâm lược ở bất kỳ đâu, tương tự như bọn cắn trộm Triều Tiên, chúng sẽ không thể lao vào một hành động xâm lăng nếu không có đảm bảo rằng chỉ chịu những rủi ro hạn chế – kiểu như chỉ bị đuổi về lại tuyến mà từ đó cuộc tấn công đã bắt đầu”. Những ngôn từ rất mạnh mẽ. Một tuần sau, một bản phác thảo tài liệu kế hoạch chính sách lần này tác giả là George Butler, một đồng minh khác của Kennan, cũng lại chỉ ra nguy cơ người Nga hoặc người Trung Hoa tham chiến. Butler ghi, phía Cộng sản không thể cho phép một quốc gia theo phương Tây tồn tại quá gần với biên giới nước Nga và Trung Quốc. Tài liệu này đã đưa đến một lá thư nhiều cảm xúc và đầy tính chiến đấu nhất của  Allison, lá thư đề ngày 24 tháng Bảy, gửi cho Nitze. Đầu tiên, Allison nói về sự thổ thẹn sẽ đến nếu như Hoa Kỳ dừng bước trước vĩ tuyến 38; hình ảnh của nước Mỹ sẽ bị mất đi trong mắt người dân Triều Tiên nếu chúng ta chấp nhận tình trạng chi cắt thời hậu chiến y như trước khi đánh nhau. Và nếu điều đó xảy ra, thì “người dân Triều Tiên sẽ không còn tý niềm tin nào vào sự thông minh, quả cảm và đạo nghĩa của Hoa Kỳ. Và chính tôi cũng sẽ trong số những người không dám trách họ”.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Một, 2013, 12:40:35 pm
Thế rồi sự kiện trở nên tồi tệ. Allison đã dùng những ngôn từ cảm xúc nhất, mạnh mẽ nhất trong thời đó, những từ đã le lửng đe dọa tất cả những cuộc họp An ninh Quốc Gia từ thế chiến II. Trong nỗ lực ghìm cánh của Kennan ở Cục Kế Hoạch Chính sách, ông đã nói: “tài liệu [của Butler] cho rằng chúng ta có thể mua thêm thời gian bằng chính sách nhượng bộ – đó chính là thứ mà tài liệu này đề xuất – một chính sách nhút nhát được thiết kế nhằm không khiêu khích Liên Xô tham chiến. Chúng tôi hiểu rằng có nguy cơ ghê gớm về việc xung đột với Liên Xô và Trung Hoa Cộng sản bất kể những gì chúng ta làm từ bây giờ – nhưng tôi không thấy chúng ta được lợi gì bằng việc thỏa hiệp với những nguyên tắc đạo đức cơ bản và né tránh trách nhiệm của chúng ta phải làm mọi thứ rõ ràng và trên tất cả là cuộc xâm lăng đó không phải trả giá – chúng đã vi phạm những quan điểm tử tế của nhân loại nên chúng phải nhận những hậu quả, chơi dao thì phải chết vì dao”. Một lập luận rất mạnh mẽ. Điều này có thể làm kích động ra một cuộc chiến tranh còn lớn hơn cũng không làm Allison lo lắng. “Điều này có thể mang ý nghĩa rằng chiến tranh ở tầm thế giới là có thật – người dân Mỹ cần được báo cho biết và biết là tại sao nó có nghĩa với họ. Khi cả về công lý lẫn luân lý đều thuộc về chúng ta thì tại sao chúng ta phải do dự?”. Thịt đã nằm trên bếp. Những gì Allison đang nói là sự đồng bộ hoàn hảo với những lời chỉ trích mà cánh hữu đang nói nhằm vào chính phủ. Những gì nó thể hiện chính là tình hình chính trị nội địa thay đổi, giờ đây nhiều nhà chỉ trích chính phủ vào làm việc ngay trong ruột chính phủ. Dần dần, con đường mà vị ngoại trưởng muốn chơi trở nên rõ ràng, sự đối lập trong Cục Kế Hoạch Chính sách mềm đi. Chỉ vài ngày sau bức thư đầy cảm xúc của Allison, cục Kế hoạch Chính sách đưa ra một đề xuất êm dịu hơn, một đề xuất tán thành cho ý tưởng một Triều Tiên thống nhất, độc lập. Mọi người đều đã sẵn sàng.

Tất cả những trao đổi kể trên vẫn còn diễn ở lớp thấp hơn nhóm qua quyết định cao nhất. Vì chính thân cuộc chiến vẫn còn đang rất khốc liệt trong thời điểm họ suy nghĩ về vấn đề đó. Ngay sau khi Bắc Triều Tiên xâm lăng, Acheson dường như nói về vấn đề này trong một ngữ cảnh khá mơ hồ. Ông nói, Hoa Kỳ muốn khôi phục miền Nam [Triều Tiên] về đường biên giới trước kia. Nhưng đến tháng Bảy, ông bắt đầu dùng một câu khác: Quân đội có thể sẽ không loại trừ việc “hành quân qua đường biên và dừng lại”. Từ tháng Bảy đến tháng Tám, có một thỏa thuận rằng không được nói về vấn đề này một cách công khai. Nếu Truman hoặc Acheson bị hỏi về việc gì sẽ diễn ra khi quân của họ đến được vĩ tuyến 38, họ đều lãng tránh câu hỏi đó. Nhưng ở nghị viện, vốn luôn hòa mình vào cảm xúc của người dân Mỹ và ít chịu trách nhiệm trực tiếp từ các sự kiện, tỏ ra diều hâu hơn. Vài hạ nghị sỹ có những phát ngôn đáng chú ý trong thời điểm đó về việc nhượng bộ, gần như là nhiếc mắng chính phủ. GIờ đây vài người trong số họ còn kêu rằng quyết định không  vượt qua vĩ tuyến 38 đã được ra. “Hội những kẻ như Hiss trong bộ Ngoại giao giờ đây đeo lên mình tấm huy chương chữ thập Yalta và đang chờ hạ nghị viện tan họp trước khi họ vén lên bức màn về hồi kế kiếp trong vở bi kịch nhượng bộ quân Đỏ”, Hugh Scott đại diện của bang Pennsylvania nói, gần một tuần sau chiến dịch đổ bộ Inchon. Bill Knowland đồng ý, không vượt vĩ tuyến rõ ràng là một trường hợp nhượng bộ.

Dường như mọi người, gồm cả công chúng Mỹ, muốn có một chiến thắng lớn hơn. Một cuộc thăm dò dư luận của Gallup hồi giữa tháng Mười cho thấy có 64 phần trăm dân Mỹ muốn truy kích quân Bắc Triều Tiên qua đường giới tuyến. Thăm dò dư luận trong những trường hợp như thế này, sau này Việt Nam cũng thế, là một thủ đoạn khét tiếng; bởi tất cả các dạng dân chúng đều thích những chính sách hùng hổ miễn là họ không biết về hậu quả. Liệu rằng 64 % dân Mỹ  – nếu họ được hỏi – có muốn một cuộc chiến trực diện với Trung Hoa không là một chuyện khác. Nếu Acheson ráng ngăn việc bắc tiến hay chỉ cần làm chậm việc này lại, thì ông có thể bị sa vào một trận chiến lớn ở cấp cao nhất trong chính quyền và ông cũng phải chiến đấu với bất lợi cực lớn, trong một lĩnh vực mà trên danh nghĩa là thuộc về giới quân sự. Với Hội đồng tham mưu liên quân, họ cũng muốn tiến lên, hoặc ít ra là cũng tiến lên một tý, cho đến khi quân của MacArthur húc vào lính Nga hoặc Tàu. Với các cán bộ quân sự cao cấp thì ít nhất là lúc bắt đầu, lúc vượt giới tuyến, họ trong một cơn bốc đồng không cản được: khi thấy được chiến thắng trong tầm tay, cần tiến lên, hoặc ít nhất là tiến lên cho đến khi quân binh gặp phải một kẻ địch khác, lớn hơn và nguy hiểm hơn. Với họ, thời khắc này ở Triều Tiên là cực kỳ ngọt ngào bởi trước đây họ đã bị sỉ nhục ghê gớm, vì thế nên nó còn hơn là một chiến thắng, mà đây còn là việc trả được một món nợ. Hãy để cho các chính trị gia gấu ó với nhau, lính thì quan tâm đến chiến trường thôi. Và đó là điều mà cánh quân nhân đã làm; họ tiến công. Mãi về sau Omar Bradley mới đọc lại lần thứ hai bản đề nghị kế hoạch chính sách của George Butler về cảnh báo Nga và Tàu can thiệp, ông nói “Đọc và hồi tưởng lại – chừng ba mươi năm sau – mới thấy tài liệu này cảm nhận thật tốt” . Một trong những vấn đề của tài liệu này, làm giới hạn ảnh hưởng của nó, Bradley ghi nhận, với một nhát đâm sắc bén vào các đồng nghiệp dân sự của ông ta, là “Dean Acheson và các cố vấn trưởng khu vực Viễn Đông, Dean Rusk, John Allison, đã chấp nhận lập trường cánh diều hâu trong việc vượt vĩ tuyến 38”.     


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Một, 2013, 12:54:45 pm
Nhưng lúc đó, thì đấy là một khác biệt chủ chốt. Chiến thắng là hữu hình; còn những lý do để phía quân sự nên chậm lại và việc đánh giá cao một quân đội không thể hiện được trên chiến trường là không thực tế. Có lẽ khi đến gần biên giới Trung Hoa, họ sẽ có cái nhìn khác, một số cán bộ quân sự cao cấp nghĩ vậy. Với vị tổng thống, những sự lựa chọn chính trị thật là kinh khủng. Ông biết quân Trung Hoa đang sẵn sàng ở biên giới, và quân địch Bắc Triều Tiên không phải là bị thủ tiêu mà chúng chỉ chạy khỏi chiến trường thôi. Thất bại trong việc truy kích với chính phủ vốn bị buộc tội là quá mềm mỏng ở châu Á, sẽ mang đến những tác động ngược gay gắt về mặt chính trị. Thay vì bỏ rơi Tưởng giới Thạch, một cuộc chiến dư luận mới  có thể còn nhức óc và mạnh mẽ về mặt chính trị hơn: bỏ rơi Douglas MacArthur. Cuộc bầu cử giữa kỳ chỉ còn cách một tháng nữa. 25 năm sau những sự kiện này, John Snyder, thống đốc ngân khố thời ấy, viết một là thư cho James Webb, thứ trưởng bộ Ngoại giao, một người có ảnh hưởng đứng hàng thứ nhì. Snyder nói “Tôi nhớ lại rằng tổng thống Truman có sự lựa chọn rất hẹp khi ông phải ra quyết định tiến qua vĩ tuyến 38. Quyết định này là sự phê chuẩn cho các hành động thực tế đã diễn ra”.

Trên thực tế, mệnh lệnh của Washington cho MacArthur nhập nhằng một cách đáng ngạc nhiên. Ông phải vượt vĩ tuyến 38, nhưng cần tránh bất kỳ hành động nào có thể gây ra giao tranh giữa Hoa Kỳ và LHQ trong một cuộc chiến lớn hơn với cả Liên Xô hay Trung Hoa. Ông phải ngưng ngay việc tiếp cận nếu quân của ông gặp phải lính Nga hay Tàu. Lúc đến gần biên giới Trung Hoa, ông chỉ được dùng quân Nam Hàn; lính của ông không được đến bất cứ tỉnh Triều Tiên nào tiếp giáp với biên giới Nga hay Trung Quốc. Dĩ nhiên, đây chỉ là những thứ trên giấy tờ, và cũng không phải là những điều khoản văn bản tốt. Charles Burton Marshall, một trong những cán bộ lãnh đạo cục Kế hoạch chính sách là người đã giúp soạn bản thảo mệnh lệnh này, sau này nói “Tôi rất hiểu rằng chúng ta đang tự đùa với chính mình với những câu từ khéo léo đó”. Nhiều năm sau, Acheson viết trong hồi ký rằng giá mà họ chỉ cần hiểu được suy nghĩ của MacArthur lúc ông ta đưa quân vượt vĩ tuyến, thì chắc họ đã thận trọng hơn. Nhưng điều này xem ra Acheson không thật thà. Họ đã biết trước rằng MacArthur luôn hành động tự chủ, như theo cách nói của Acheson, và rằng ông ta thích thú với những kiểu mệnh lệnh mơ hồ như vậy. Họ cũng cảm nhận được rất rõ rằng mục đích của ông ta ở Triều Tiên lớn hơn nhiều so với họ. Nhưng họ cuốn theo xu thế của những sự kiện và tình hình tuyệt vời sau chiến dịch Inchon, cùng với sự thay đổi thời tiết chính trị do lúc này những địch thủ trong nước mạnh hơn mọi khi. MacArthur không chỉ là lãnh đạo cánh quân sự đối lập mà còn là một nhà chính trị giả định. Rằng họ luôn lo ngại về ông ta hơn thừa nhận, một bí mật to lớn của cuộc chiến Triều Tiên. Họ lo sợ nếu ông thất bại, và còn lo hơn nếu ông chiến thắng.

Ngày 27 tháng chín, cuối cùng họ ra quyết định chính thức về việc tiến lên và vượt qua vĩ tuyến, Lucious Battle một trợ lý trẻ của Acheson mang lệnh từ lầu Năm góc cho Acheson ký. Với sự liều lĩnh của tuổi thanh niên, Battle nhận xét rằng mệnh lệnh này quá mơ hồ với những người như MacArthur. Acheson đơn giản là nổi giận – sau này Battle ghi lại rằng anh chưa bao giờ thấy ông ta giận dữ như vậy – “Lạy Chúa, cậu bao nhiêu tuổi rồi hả Battle?” 32, Battle trả lời. “Và cậu sẵn sàng đảm nhận cả việc của Hội đồng tham mưu liên quân hiện nay, hử?”. Thế rồi Acheson ký lệnh. Battle nghĩ đó là một thời điểm hiếm có, khi vị Ngoại trưởng biểu lộ ra rằng ông chỉ là tù nhân của những sự kiện. Nhiều năm sau, Averell Harriman tổng kết lại thế này: “Phải cực kỳ siêu phàm mới dám nói KHÔNG. Về mặt tâm lý học, điều này là không thể làm nổi”. Cũng như nhiều quan chức dân sự quan trọng khác, Harriman hiểu trận Inchon là một chiến thắng kép cho MacArthur, không chỉ là chiến thắng trước quân Bắc Triều Tiên mà còn là chiến thắng những đối thủ của ông ta ở Washington. “Hiện nay không thể ngăn MacArthur được” Acheson nói với Harriman ngay sau trận Inchon. Một phóng viên chiến trường trẻ của tờ Time, Frank Gibney nói: “Trận Inchon là một chiến thắng đắt nhất mà chúng ta từng có bởi nó đã dẫn tới sự phong thánh hoàn toàn cho MacArthur cũng như các thất bại thê thảm, thê thảm sảy ra về sau”. “Thầy phù thủy Inchon” sau này Acheson gọi ông ta như vậy.

Trong những ngày đó dường như không gì cản đường MacArthur. Điều gì đã khiến họ vội vàng thông báo đã tái chiếm Seoul ngay cả khi trận chiến vẫn còn đang diễn ra trên các con phố? Rồi khi MacArthur giao lại quyền quản lý thủ đô cho Lý Thừa Vãn, họ Lý nói: “Chúng tôi ngưỡng mộ ngài. Chúng tôi yêu kính ngài như là vị cứu tinh của dân tộc chúng tôi”. Ông là một người chiến thắng và cũng là một nhà tiên tri. Giờ đây còn có thêm một Tô-tem cho MacArthur: một Triều tiên thống nhất, không cộng sản. Đó chính là mục tiêu tối thượng của ông. Ông cũng không thấy có mối đe dọa lớn nào tới các lực lượng của mình. Ông chắn mẩm khống chế được cả Triều Tiên trong tay. Joseph Alsop, một nhà báo diều hâu, đã ở cùng ông ta ngay sau trận Inchon và cảm thấy MacArthur đang trong một trạng thái cao ngạo và gạt sang một bên bất kỳ nhận xét nào về việc người Trung Hoa có thể tham chiến. MacArthur nói với anh: “Alsop này, theo tình hình thực tế, nếu cậu ở chỗ này, cậu sẽ tốn mất thời gian quí giá của cậu đó”. Cũng như Matt Ridgway sau này viết lại: “Một chiến thắng trọn vẹn giờ đây dường như được nhìn nhận – một quả táo vàng biểu tượng hoàn hảo  cho một sự nghiệp quân sự chói sáng. Và một khi để đạt đến ước vọng này, MacArthur sẽ không cho phép ông bị chậm trễ hay được khuyên răn. Thay về thế, ông lao lên phía bắc truy kích quân thù đang tan rã, và rồi thay đổi kế hoạch của ông hằng tuần để thích hợp với đà tiến quân mà không nhận thấy những dấu hiệu đen tối của một thảm họa có thể sảy ra”. Ridgway nói, sau trận Inchon, giả mà MacArthur có bảo một tiểu đoàn nào đó tập kết vào vị trí bằng cách đi bộ trên mặt nước thì “Chắc cũng sẽ có người sẵn sàng thử làm”.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Một, 2013, 01:23:07 pm
Điều này cũng không có nghĩa là ai ai cũng như vậy. Sự băn khoăn sớm tăng lên ở Washington, trước trong cánh dân sự rồi sau đó tới lượt giới quân sự khi MacArthur bắt đầu mở rộng mệnh lệnh và khi cuộc hành quân lên phương bắc cho thấy những nguy cơ đầu tiên từ người Trung Hoa rằng họ sẽ tham chiến, và khi thấy xuất hiện lính Trung quốc. Người ở Washington cũng lo lắng về tình hình thể chất cũng như tâm lý của MacArthur khi triển khai một cuộc chiến toàn diện như vậy. Thường xuyên có những báo cáo về Washington rằng ông thiếu sức khỏe để làm công tác chỉ huy, việc này giải thích tại sao ông không có nhiều thời gian ở trên đất nước đó (một yêu cầu cơ bản với một tư lệnh quan trọng). Nhiều sỹ quan ở lầu Năm Góc nghe tin từ bạn đồng khóa đang trên chiến trường nói rằng ông ta ở rất xa Triều Tiên. Họ cũng lo lắng về những diễn biến tâm thần của ông, và họ cũng hết sức phiền muộn bởi cái cách ông chia quyền chỉ huy và bởi sự lộn xộn của cuộc đổ bộ đường thủy Wonsan.

Có thể có những ngày ông trông rất tuyệt, nhưng cũng có những lúc khác ông trông mệt mỏi và dường như kiệt quệ. Ban tham mưu của ông, những báo cáo đó nêu, đã phải gia cố rất nhiều để trông ông có vẻ có sức sống hơn thực tế. Trong hầu hết các bức ảnh ông vẫn trông như một người trẻ hơn tuổi một cách đặc biệt, nhưng đôi khi thực sự già cỗi, ở những lúc ông không thể khống chế nổi và việc thể hiện đó bị loạng choạng. Reginald Thompson, một nhà báo Anh, nhớ lại lúc gặp MacArthur ở buổi lễ mừng giải phóng Seoul, khi MacArthur buộc phải bỏ nón ra một lát theo nghi thức, và anh thấy “một người già cả cực kỳ  và đáng thương khi không có chiếc nón”. Và như thế mọi việc cứ tiếp diễn. Clayton James, nhà viết tiểu sử của ông đã viết “Napoleon Bonaparte mà có kiểm tra nghiệp vụ của MacArthur cho đến trước cuộc chiến Triều Tiên, thì ông chắn chắn sẽ kết luận rằng ông ta đã vượt qua bài kiểm thứ nhất và cũng là cao nhất với một viên tư lệnh: ông ta may mắn”. Sau trận Inchon, cuối cùng thì sự may mắn cũng không còn nữa.

(hết chương 22)


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Một, 2013, 01:24:55 pm
Chương 23

Có lẽ đó là thời khắc của những tín hiệu được gửi nhưng không được nhận. Những cảnh báo người Trung Hoa sẽ tham chiến không được nhìn nhận, một phần bởi không ai thực sự muốn thấy, một phần bởi những người nhẽ ra có thể hiểu được những gì người Trung Hoa đang nói lại bị văng ra khỏi những vị trí có tầm ảnh hưởng, và cũng có phần bởi trong thời điểm nghiêm trọng đó phía Trung Hoa đã chọn sai người đưa tin. Người mà phía Trung Hoa chọn làm kênh truyền dẫn đến phương Tây là K.M. Panikkar, đại sứ Ấn độ tại Bắc Kinh. Panikkar là một nhà ngoại giao giàu kinh nghiệm, và là một đại biểu cho trí tuệ to lớn, nhưng ông cũng không là kiểu nhà ngoại giao mà Washington muốn làm việc. Chính phủ Truman xem ông quá thiên tả đến mức không chấp nhận được, và những thông điệp của ông phản ánh thiên kiến chính trị của mình, không thực tế. Panikkar là một nhà văn nghiêm túc, tác giả của vài cuốn sách, trong đó có quyển Asia and Western Dominance, quyển được nhà sử học Anh B.H. Liddell Hart tán dương. Nhưng dù sao ông cũng khá mới trong thế giới ngoại giao, đại diện của một đất nước châu Á mới độc lập, đất nước vừa mới dành được độc lập từ ông chủ thực dân của họ. Đây cũng là lăng kính ông nhìn về sự phát triển ở châu Á, một lăng kính khá khác biệt với những đồng nghiệp theo lối cũ. Không như Trung Hoa của Mao Trạch Đông, Ấn Độ là một nước dân chủ, nhưng không phải da trắng, và cực kỳ nhạy cảm với bất kỳ dấu hiệu xâm phạm hậu-thực-dân từ phương Tây. Panikkar không bị ám ảnh và tác động mạnh bởi Chiến tranh lạnh như các nhà ngoại giao từ các quốc gia Châu Âu; thay vào đó ông lo ngại về những gì ông cảm thấy, rằng một cuộc chiến lớn hơn sẽ xảy ra, giữa những kẻ thực dân và những người bị thực dân, giữa thế giới thứ Nhất và thế giới thứ Ba. Với những nhà ngoại giao truyền thống của phương Tây, Chiến tranh lạnh là vấn đề lịch sử lớn nhất của thời đại, việc đưa những dân tộc không-da-trắng kết thúc chế độ thực dân chỉ là hoạt động thứ yếu; còn những người như Panikkar, thì lại khác, thời khắc vĩ đại của lịch sử lại là việc cáo chung của chế độ thực dân, và Chiến tranh lạnh là thứ yếu. Panikkar nhìn nhận chiến thắng của Mao Trạch Đông ở Trung Hoa đại lục như là một phần của cuộc cách mạng chống thực dân toàn cầu, một góc nhìn triệt để khác biệt với Washington.

Panikkar đến Trung Hoa vào tháng Tư năm 1948, đúng lúc để làm nhân chứng  cho những tháng sau cùng của chế độ Tưởng giới Thạch và hoảng kinh trước sự thối nát. Ông ghi rằng vì tình trạng lạm phát không kiểm soát nổi, cần đến cả va ly tiền Trung quốc cho một chuyến đi chợ thông thường. Ông cũng có sự đồng cảm nào đó với Tưởng giới Thạch, người ông xem là có suy nghĩ thời Trung cổ, hay theo cách nói của ông là “một người vĩ đại sinh ra trong một thế kỷ quá muộn màng”, nhưng lại ít có sự quý mến dành cho bà Tưởng “một người có ý thức về ưu thế của mình … [người] đang đi theo cách cư xử của một nữ hoàng”. Dù Trung Hoa của Tưởng giới Thạch hoàn toàn lệ thuộc vào viện trợ Hoa Kỳ, Panikkar bị hấp dẫn bởi quan điểm “hạ mình của kẻ bề trên” của những quan chức cao cấp nhất của Tưởng đối với người Mỹ. Với các lãnh đạo Quốc dân đảng “Nước Mỹ không gì khác hơn là một nước man di to lớn mà [Trung Hoa] đang cần ngay tiền và trang bị của chúng, nhưng với văn hóa, thì Trung Hoa chẳng thấy có chút hấp dẫn nào” 

Panikkar là một hình mẫu đậm đặc của giới trí thức Ấn Độ trong thời đó, học tập ở Ấn độ và Oxford; ông nguyên là một nhà báo và giờ đây trở thành một sử gia nghiêm túc. Ông là bạn thân của Jawaharlal Neru, thủ tướng đầu tiên của Ấn Độ, cùng những mối quan hệ quyền lực được trui rèn trong những cuộc chiến giành độc lập. Cả ông lẫn Neru đều không thấy dễ chịu với quan điểm quyết liệt của Mao Trạch Đông. Mao nhìn nhận Neru là một nhân vật quá thỏa hiệp so với một cuộc cách mạng chính cống, ngược lại phía Neru lại lo về điều mà ông cho là Mao quá nhẫn tâm với sinh mệnh. Sau rốt, Panikkar viết trong hồi ký của mình, rằng bản thân ông không đồng cảm với chủ nghĩa Cộng sản, vì ông ghét sự thiếu tôn trọng quyền cá nhân trong xã hội. Nhưng ông cảm thấy ông hiểu được những sức mạnh dẫn dắt cuộc cách mạng Trung Hoa, và ông không thích những lực lượng mà ông nhìn nhận là đang cố cản trở [cách mạng]. Cuối tháng Bảy năm 1950, trong lần nói chuyện đầu tiên giữa Panikka và thủ tướng Chu Ân Lai về Triều Tiên, vị thủ tướng quả quyết với ông rằng Trung Quốc không muốn bước vào cuộc chiến Triều Tiên. Nhưng đến cuối tháng Tám, và một lần nữa sau trận Inchon, giọng điệu phía Bắc Kinh bắt đầu thay đổi, và nhiều quan chức Trung Hoa bắt đầu nói với Panikkar hàng loạt những cảnh báo với điềm xấu gia tăng. Trong mắt họ, hậu-Inchon, nhìn nhận nguy cơ từ Mỹ đang biến đổi, thế nên địa vị bàng quang của họ cũng phải biến đổi. Có lẽ Panikkar không phải là một người đưa tin mà Washington muốn chọn, nhưng thế giới đang thay đổi, và khi thay đổi, thì người đưa tin cũng thế.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Một, 2013, 01:27:50 pm
Washington không tin cậy Panikkar, nghĩ ông ta theo cánh tả. Ngay từ ngày 23 tháng Chín, một tuần sau trận Inchon, Nieh Yenrong (Nhiếp Vĩnh Trăn ?) quyền tổng tham mưu trưởng, nói với Panikkar rằng Trung Hoa sẽ không ngồi ngây ngốc đợi và để quân Mỹ tiến đến biên giới của họ. Panikkar hỏi lại: Liệu rằng ông có hiểu rõ những gì ông ngụ ý không? “Chúng tôi đều biết chúng tôi sẽ bước vào việc gì, nhưng bằng mọi giá cuộc xâm lăng của Mỹ phải bị chặn đứng. Người Mỹ có thể bỏ bom chúng tôi, họ có thể phá hủy nền công nghiệp của chúng tôi, nhưng chúng không để đánh bại chúng tôi trên bộ”, Nhiếp trả lời. Panikkar gợi ý rằng với sức mạnh quân sự của họ, người Mỹ có thể đưa Trung Hoa quay lại nửa thế kỷ. Nhiếp trả lời “Chúng tôi đã tính cả rồi. Ngay cả việc họ có thể thả bom nguyên tử lên chúng tôi. Thế rồi sao? Họ có thể giết vài triệu người. Nhưng không có hi sinh thì không thể giữ được độc lập đất nước”. Nhiếp nói thêm, vấn đề với người Mỹ, là hầu hết người Trung Hoa sống ở nông thôn. Vì thế, ông nói: “bom nguyên tử làm được gì ở đó?”. Bằng cách này, Nhiếp đã cho Panikkar thấy một quan điểm chính xác đến ngạc nhiên của chính Mao đang nghĩ. Cùng thời gian đó, khi nói chuyện với các tùy viên quân sự các nước phương Tây khác ở Bắc Kinh, Panikkar nghe được báo cáo về những chuyến tàu chở đầy lính trực chỉ lên phía bắc. Báo cáo của ông, dù rằng phương Tây hoài nghi, tỏ ra rất chính xác.

Nhưng lần cảnh báo thực thụ là vào lúc nửa đêm ngày 2 tháng Mười. Panikkar đã ngủ được chừng một tiếng rưỡi, ông bị đánh thức và báo rằng Cục trưởng cục Á châu của bộ Ngoại giao Trung Quốc đang ở dưới cầu thang. Ông chạy xuống cầu thang, và chỉ để được nghe lời mời đến họp với chính Chu Ân Lai. Ông đề nghị có mười phút để sửa soạn, lúc đó ông băn khoăn tự hỏi phải chăng ông bị bắt và bị trục xuất. Lúc 12:20 nửa đêm, một giờ rất bất bình thường để thiết lập một buổi họp quan trọng, Panikkar rời nhà. Rồi khi mặt đối mặt với vị thủ tướng, ông thấy họ Chu cực kỳ u sầu. Cuộc họp là vì việc công, thông điệp đưa ra rất ngắn gọn và thô bạo. Nếu quân Mỹ vượt vĩ tuyến 38, ông nói với Panikkar, Trung Hoa buộc phải can thiệp. Panikkar hỏi Chu Ân Lai giả như ông đã biết tin tức về việc vượt giới tuyến thì sao. Vị thủ tướng tỏ ra rằng ông biết, dù không biết chính xác nó diễn ra ở đâu. Nếu việc vượt giới tuyến do quân Nam Hàn thực hiện, Chu nói, thì không thành vấn đề. Chỉ quân Mỹ ông mới quan tâm. Và với điều này, cuộc họp kết thúc. Panikkar về đến nhà lúc 12:30 và ngay lập tức làm một báo cáo hoàn chỉnh về những gì đang diễn ra, gửi về thượng cấp ở New Dehli, đến lượt nơi này thông báo cho phần còn lại của thế giới ngoại giao biết. Ngày 8 tháng Mười, ông nghe tin trên đài rằng LHQ cấp lệnh cho MacArthur bắc tiến. Đêm ấy, Panikkar viết vào nhật ký: “Thế là nước Mỹ đã chủ ý quyết định chiến tranh, với nước Anh đi cùng. Thực vậy đó là một quyết định bi kịch với người Mỹ và người Anh bởi đều biết rõ rằng những dàn xếp quân sự trong vấn đề Triều Tiên là sẽ bị người Trung Hoa chống lại và rằng những tập đoàn quân hiện đang tập trung ở sông Áp Lục sẽ dứt khoát can thiệp vào cuộc chiến. Có lẽ đó là thứ người Mỹ, ít nhất là với một số người Mỹ, muốn. Có lẽ họ cảm thấy đây là một cơ hội để giải quyết tranh chấp với Trung Hoa, trong bất kỳ tình huống nào thì giấc mơ của MacArthur cũng đã thành sự thật. Tôi chỉ hi vọng rằng điều này sẽ không trở thành một cơn ác mộng”.

Edmund Clubb, một cựu nhân viên tổ Trung Hoa, một người cực kỳ bảo thủ, là giám đốc Văn phòng Trung Hoa của bộ Ngoại Giao. Ông nghĩ tuyên bố của Chu Ân Lai nói với Panikkar, thông tin này đến với ông qua ngã Anh, nên được nhìn nhận một cách cực kỳ nghiêm túc, đó không phải là một đòn bịp. Nhưng có cảm giác chung trong những thượng cấp của ông rằng Clubb đã là người quá hoang mang trong quá khứ và không mấy cần thiết phải lắng nghe ông trong lúc này. Chính phủ cũng có một nỗ lực để nói chuyện với người Trung Hoa. Họ cố sắp xếp một mối liên hệ cấp thấp giữa Loy Henderson, đại sứ Mỹ ở Ấn Độ và đại sứ Trung Hoa ở đó, nhưng phía Trung Hoa không muốn và từ chối đề xướng này.

Panikkar là như vậy. Rõ ràng rốt cuộc người Anh cũng xem những cảnh báo của ông là khá nghiêm trọng, nhưng nhìn chung giới ngoại giao Phương Tây khá thận trọng với ông. Đại sứ Mỹ gửi điện cho Washington và chuyển kèm ý kiến đánh giá thấp của Hà Lan về Panikkar – Hà Lan là một cựu thế lực thực dân khác, giờ đây miễn cưỡng phải rút lui khỏi Indonesia, thuộc địa của họ. Người Hà Lan tường thuật rằng chính ông ta (Panikkar) đã mạnh mẽ tham mưu cho thủ tướng Ấn độ Neru phản đối tuyên bố ban đầu của LHQ gán cho Bắc Triều Tiên là kẻ xâm lược trong cuộc chiến. CIA tin rằng Panikkar vô tình làm công cụ của người Trung Hoa, nhưng bản thân những lời đe dọa của phía Trung Hoa là không nghiêm trọng. Acheson chẳng có mấy cảm xúc. Với ông, Panikkar chỉ là một cái loa của Bắc Kinh và không là một nhà ngoại giao nghiêm túc. Những lời cảnh báo như trên “chỉ là chuyện tầm phào của một Panikkar yếu bóng vía”. Với Acheson, ý tưởng rằng người Trung Hoa sẽ thực sự muốn đánh nhau với người Mỹ và LHQ dường như ở rất xa. Đó là điều “tuyệt đối điên rồ” với họ nếu bước vào cuộc chiến trong khi vấn đề thực sự của họ chính là đường biên giới dài ngoằn với Liên Xô, và họ đang rất thèm muốn có được chiếc ghế  trong Hội đồng Bảo an LHQ. Khá ít người đương thời có lối suy nghĩ lô-gic và mạnh mẽ hơn Acheson, những kỹ năng của một luật sư lớn.  Ông khẳng định  ông hiểu những gì là tốt với người Trung Hoa, và trong thời điểm này của lịch sử đất nước họ, ông chắc chắn rằng, một cuộc chiến với người Mỹ là không có ý nghĩa gì cả. Nhưng trong tất cả những kỹ năng của ông, không có cái nào giúp ông suy nghĩ như một nhà cách mạng Trung Hoa.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Một, 2013, 01:30:20 pm
Cuối tháng Chín, sau khi bộ đội Triều Tiên bắt đầu cuộc thoát lui hoảng loạn về miền bắc, người Trung Hoa bắt đầu gần hơn với một cuộc can thiệp. Những gì họ sẽ làm về sau – tham chiến, nhận thương vong kinh hoàng, nhưng làm lộ trình của Mỹ và LHQ bế tắc – họ làm cho những mục tiêu riêng của họ, chứ không phải vì tình yêu vĩ đại dành cho Bắc Triều Tiên. Tại thời điểm đó, sự thật là họ chẳng mấy tôn trọng Triều Tiên và Kim Nhật Thành. Họ thấy người Triều Tiên có được đất nước quá dễ dàng: trong khi người Trung Hoa, làm được điều này, bằng chiến thắng vĩ đại, đánh nhau với một kẻ thù vượt trội về kỹ thuật cũng như quân số trong hàng thập kỷ. Thêm vào đó, Mao Trạch Đông và những người khác vẫn còn cáu bởi sự ngạo mạng và xấc láo của Kim Nhật Thành.

Những nhà lãnh đạo Trung Hoa thất kinh trước việc họ Kim thiếu phản ứng trước những cảnh báo của họ về cuộc đổ bộ đường thủy vào Inchon. Bất kỳ viên chỉ huy nào của Trung Hoa mà bất cẩn trước nguồn tin tình báo mạnh mẽ như vậy thì ắt đã bị huyền chức. Đầu tháng Tám, lúc các lực lượng Trung Hoa bắt đầu tập hợp ở bờ bắc sông Áp Lục, họ gửi một trong những quân đoàn trưởng cao cấp, Đặng Hoa, đến gặp các đồng nghiệp quân sự phía Triều Tiên. Tướng Đặng vượt sông Áp Lục và đến thị trấn biên giới An Đông, và nhận thấy đây là nơi xa nhất mà ông có thể đến. Phía Triều Tiên không cho phép ông đến bất cứ đâu gần chiến trường.

Người Trung Hoa quyết đưa quân đến Triều Tiên bởi Mao Trạch Đông tin rằng việc này tốt cho một đất nước Trung Hoa mới và cần thiết cho tương lai của cách mạng, cả trên phạm vi quốc gia lẫn quốc tế. Ông cũng sợ rằng việc can thiệp thất bại đồng nghĩa với – Trung quốc của ông, cho dù có hùng biện tới đâu, cũng chẳng khác gì với Trung Quốc xưa, một người khổng lồ chân đất sét khi đối mặt với quân đội của những kẻ áp bức phương Tây. Và như thế, gần như cùng thời điểm với việc thấy rõ rằng cuộc tấn công của Kim Nhật Thành đã sụp đổ, Mao Trạch Đông bắt đầu lên kế hoạch cho việc sử dụng quân Trung Hoa ở Triều Tiên. Ngay từ tháng Bảy, khi quân của Kim vẫn còn có được những thành công rực rỡ trên chiến trường, thì Mao cũng đã ra lệnh thành lập cái gọi là Tập đoàn quân Phòng thủ biên giới Đông Bắc, NEBDA, bố trí dọc biên giới với Triều Tiên. Đơn vị này có hơn 3 binh đoàn từ Tập đoàn quân Dã chiến số 4, những đơn vị mạnh nhất Trung Hoa. RỐt cuộc tập đoàn quân đó cũng đạt tới con số 36 sư đoàn, hay tính tròn (kể cả các bộ phận hỗ trợ, hậu cần) là chừng 700,000 quân. Bảy sư đoàn pháo binh và nhiều đơn vị phòng không cũng được phối thuộc vào.

Mao Trạch Đông cảm thấy việc Trung Hoa bị cuốn vào cuộc chiến là không thể tránh khỏi, nên ông muốn đo lường một cách thực tế nhất có thể cái giá mà Trung Hoa phải trả. Ngày 31 tháng Tám, Chu Ân Lai chủ trì một cuộc họp với các cán bộ cấp cao, trong cuộc họp đó họ trao đổi không chỉ những gì họ cần mà còn về những thiệt hại có thể sảy ra trong năm đầu của cuộc chiến với người Mỹ. Họ chỉ ra câu trả lời, là chừng 60,000 chết cùng với 140,000 bị thương.

Những quyết sách của Trung Hoa trong những tuần sau trận Inchon cơ bản thuộc về một nhân vật: Mao Trạch Đông. Ông là một điển hình kinh điển của một nhà cách mạng với một niềm tin thực thụ. Bắt đầu rất khiêm tốn, ông đã dành được thành công dị thường trong những năm dài của cuộc nội chiến – hầu hết những phán xét của ông, dù khó khăn và sắt máu, đều tỏ ra đúng đắn. Ông rõ ràng là hiểu dân thường Trung Hoa – những người nông dân – hơn bất kỳ ai khác. Ông tin rằng Trung Hoa sẽ lại là cường quốc; rằng nguồn gốc của sức mạnh đất nước chính là cuộc cách mạng của ông; và rằng cuộc cách mạng thành công bởi nó đã gợi lên sự thuần khiết của giai cấp nông dân Trung Hoa và biến lực lượng chính trị mang tính lịch sử đó thành sức mạnh quân sự. Người của ông là những binh sỹ giỏi hơn phía đối thủ Quốc Dân Đảng – vốn được trang bị tốt hơn – vì họ có niềm tin. Là kiến trúc sư chính của một Trung Hoa mới, trong suy nghĩ của mình, giờ ông đặt chính ông vào nhiệm vụ giữ cho cuộc cách mạng đi đúng hướng như vốn có. Cái kiểu niềm tin về một lối đi riêng của lịch sử và chính mình là tác nhân chính – một nhân vật lịch sử – là một chất liệu mạnh mẽ; nó có cả điểm mạnh lẫn điểm yếu.

Với những gì ông có kiến thức – đó là các vấn đề của nông dân Trung Hoa trong sự cai trị tàn ác của chế độ cũ – thì hiểu biết của ông rất sâu sắc, nhưng với những gì ông không có kiến thức thì ông không biết gì cả và thường là cũng không có khả năng học hỏi. Cái kiểu thành công của ông có cơ hội gây ra một dạng thức hoang tưởng kinh khủng. Sự nghiệp cách mạng vẻ vang đòi hỏi phải có một ai đó quyền lực tối cao, bản năng vô địch và niềm tin vào cái giá những người khác phải trả cho những gì tốt đẹp trong tương lai; điều này giúp cho những người như Mao Trạch Đông hay Stalin giải thích, hợp lý hóa cho những thiệt hại to lớn rằng chúng vì những mục đích tốt đẹp. Nhưng cũng những con người đó do không có ranh giới, không có ràng buộc, và tầm nhìn bị ám ảnh; nên cũng trở thành những cơn ác mộng to lớn; và khi đó những hành vi tàn ác không chỉ giáng vào những kẻ thù ngoại quốc của Trung Hoa hay những người bất đồng trong nước mà còn với những công dân trung thành của đất nước bao gồm rất nhiều người đã phục vụ Mao một cách trung thành trong nhiều năm nội chiến và rồi trong chiến tranh Triều Tiên. Nhưng để hiểu hành động của Mao trong giai đoạn chuyển tiếp quan trọng này, cần phải nghĩ về ông luôn không chỉ là kiến trúc sư của cuộc cách mạng mà còn là người bảo vệ cuộc cách mạng đó, những ai được cho là kẻ thù của ông – có rất nhiều cả trong và ngoài nước – luôn muốn phá hủy cuộc cách mạng của ông; và rằng ông sẽ hành động chống lại những kẻ thù đó trước khi chúng có hành động chống lại ông.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Một, 2013, 01:31:41 pm
Ngày 7 tháng Chín, một tuần trước trận Inchon, Zhai Chengwen, cố vấn chính trị Trung Quốc ở Bình Nhưỡng, được bộ Ngoại giao gọi về. Và ở đó ông được Chu Ân Lai hỏi: nếu Trung Hoa quyết định gửi quân sang Triều Tiên, thì họ có thể vấp phải những khó khăn gì? Zhai trả lời chủ yếu liên quan tới công tác hậu cần. Trên hết là phải giải quyết bài toán vận tải từ các vùng khác nhau của Trung Hoa đến căn cứ Áp Lục, rồi từ căn cứ đó mới đến chiến trường. Khi ông rời Bắc Kinh, Zhai tin rằng ban lãnh đạo đã sẵn sàng trong suy nghĩ cho chuyện can thiệp quân sự. Ông đã đúng, nhưng đó không hẳn là ban lãnh đạo, mà là Mao Trạch Đông. Chủ yếu trong tháng Chín là dành cho hai công việc chính: tập trung quân đến Mãn Châu và đưa quan điểm của Mao về việc cần phải tham chiến đến tới những nhà lãnh đạo còn lại. Nếu có ý kiến phản đối, thì chủ yếu là từ quân đội, nhưng cho dù có, thì vì quân đội là phục vụ cho nhu cầu chính trị của đảng, nên những ý kiến đó cũng sẽ bị bóp nghẹt. Lâm Bưu, một chiến tướng lẫy lừng, hầu hết người trong và ngoài nước đều mong ông sẽ chỉ huy quân Trung Hoa khi họ tham chiến. Và trong suốt thời gian dài đánh nhau, bởi việc giữ bí mật của Cộng Sản Trung Hoa được tuân thủ nghiêm túc và cũng bởi tình báo LHQ cực kỳ thiếu sót, nên các quan chức cao cấp Mỹ vẫn tin rằng họ đang chiến đấu với các lực lượng do Lâm Bưu chỉ huy. Nhưng thật ra họ Lâm có sự dè dặt riêng. Việc quân của ông sẽ bị phô ra trước hỏa lực mạnh của quân Mỹ làm ông cực kỳ lo lắng. Tại một lúc nào đó, họ Lâm có hỏi Zhai rằng liệu Bắc Triều Tiên có đủ sức và sẵn lòng cho một cuộc chiến tranh du kích dài hơi chống lại kẻ thù của họ, câu hỏi ngụ ý cho thấy sự thận trọng của ông trước việc quân Trung Hoa đánh trực diện với quân Mỹ. Những lo lắng của ông được các cán bộ quân sự khác chia sẽ, và cả một số bên cánh dân sự nữa dù có im ắng hơn. Việc phản đối của ông càng lớn khi ông biết rằng sẽ không có cam kết rằng không quân Liên Xô sẽ yểm trợ quân của ông. Suốt trong ba tháng ròng từ đầu tháng Bảy đến cuối tháng Chín, Mao Trạch Đông và những người khác nói đi nói lại với Lâm Bưu về việc chỉ huy quân Trung Hoa chiến đấu ở Triều Tiên. Và mỗi khi gặp chủ đề này, họ Lâm lại nói về các vấn đề sức khỏe cá nhân. Điều này được diễn dịch ra bởi nhiều người rằng ông không hứng thú tham gia trong cuộc can thiệp quân sự mà ông vốn cực kỳ dè dặt.

Đầu tháng Chín, Mao Trạch Đông có bài phát biểu trong một kỳ họp quan trọng của đảng, bài nói cho thấy quyết định can thiệp vào Triều Tiên của ông. Ông tin rằng Hoa Kỳ sẽ tỏ ra yếu ớt hơn mọi người nghĩ. Đó là một cuộc chiến xâm lược không được chính danh, và điều này sẽ tổn hại đến tinh thần cũng như thể hiện trên chiến trường của binh sỹ Mỹ. Ông nói, nước Mỹ cực kỳ chia rẽ về chính trị cũng như kinh tế trong nội địa; nước này cũng cô lập với các nước khác và đầy nguy cơ trong dư luận quốc tế. Vâng, chúng có thể sản xuất ra rất nhiều thép và vũ khí, nhưng chừng đó là không đủ. Tuyến tiếp vận của chúng mở ra quá rộng, từ Berlin đến Triều Tiên, cho thấy một sự thật rằng vòng cung địa chính trị phải căng ra trên hai đại dương bao la. Ông nhìn nhận nước Mỹ chủ yếu thông qua thành kiến chính trị của mình. Các thanh niên Mỹ đã chiến đấu tệ hại trong những ngày đầu ở Triều Tiên, ông tin, không phải vì một siêu cường bom nguyên tử lại để sơ suất trong cuộc chiến phi nguyên tử, mà bởi đó là những cậu trai con giai cấp lao động đang phải đánh nhau cho giai cấp tư bản mà họ không tin tưởng, và như thế sẽ thiếu quyết tâm và thiếu động cơ hơn những người lính Trung Hoa. Khả năng chiến đấu của chúng trong những ngày đầu cuộc chiến Triều Tiên, như ông nói, là dưới tầm “của quân Đức, quân Nhật trong Thế Chiến II”. Ông cũng không sợ bom nguyên tử Mỹ, nếu chúng dùng, ông nói: “thì tôi sẽ trả lời bằng lựu đạn”.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Một, 2013, 01:33:09 pm
Quyết định của ông rằng Trung Hoa cần tham chiến không phải là một quyết định dễ dàng. Ông đã mất ngủ. Ông thường ngồi một mình trong những giờ trời mờ sáng, rít thuốc liên miên, chăm chắm nhìn vào bản đồ Triều Tiên và Trung Hoa, như thể đợi chờ một dạng sự thật tối thượng nào đó hiển hiện ra. Nhưng quyết định định mệnh luôn rõ ràng. Trung Hoa phải tham chiến. Đài Loan rất quan trọng trong mọi toan tính của ông. Với Mao Trạch Đông và đồng sự trong ban lãnh đạo Trung Hoa, Đài Loan là một phần của Trung Hoa. Giờ đây MacArthur lại ví Đài Loan như là một hàng không mẫu hạm bất khả chìm, và điều này đã làm Đài Loan trên thực tế là thành đất Mỹ. Với Mao, điều này có nghĩa là phần đất hợp pháp của Trung Hoa đã bị kẻ tử thù của ông nhìn nhận là một một vũ khí chỉa vào đất nước ông. Với ông, điều này mang ý nghĩa là cuộc chiến cuối cùng của nội chiến Trung Hoa vẫn chưa diễn ra – một điều mà rất ít các nhân vật nắm quyền ở Mỹ hiểu. Một cuộc đổ bộ đường thủy đánh vào một hòn đảo được phòng thủ kỹ – được hạm đội Bảy mạnh mẽ bảo vệ – xem ra gần như là không thể tưởng tượng được với một quân đội còn rất thô sơ. Đã có một cuộc đổ bộ đánh vào đảo tiền tiêu nhưng kết quả thảm hại, bởi phía Cộng sản thiếu không lực và hải lực; trận đánh này diễn ra khi gần cuối cuộc nội chiến và là một trong những thất bại tệ hại nhất của phía Cộng sản trong cuộc chiến đó. Mao Trạch Đông đã giục người Nga cung cấp máy bay cùng huấn luyện viên để xây dựng Không quân của ông càng nhanh càng tốt, nhưng tại thời điểm này, ông không thể đánh nhau với Đài Loan.

Những điều đó làm Triều Tiên hấp dẫn hơn. Ở đây cuộc đối đầu về hậu cần có lợi cho người Trung Hoa. Dù rằng quân Mỹ có căn cứ ở Nhật, nhưng khi tiến lên phía bắc họ sẽ bị kéo dài ra, cực kỳ khó khăn cho việc tiếp vận, và rất nguy hiểm bởi điều kiện tự nhiên cũng như khí hậu. Phía Trung Hoa thì có ưu thế cực lớn về nhân lực; Mao có thể dễ dàng đưa một đội quân lớn gấp bốn lần phía Mỹ, và ông tin chắc quân mình sẽ chiến đấu dũng cảm với kỷ luật thép. Ông không xem trọng lính Nam Hàn (ROK) với tư cách một lực lượng chiến đấu. Đánh nhau với người Mỹ ông mong sẽ tránh đối đầu trực diện khi địch đang tìm đánh; ông thích tấn công khi lính Mỹ bị phơi trần nhất và nhiều yếu nhất. Ông tin rằng khi việc đối đầu với Hoa Kỳ là rõ ràng, thì ông muốn được chọn địa điểm. Thêm vào đó, những toan tính chính trị của cá nhân ông cũng rất quan trọng trong việc ra quyết định. Nếu ông đánh bại người Mỹ ở Triều Tiên, mà ông chắc là ông có thể, thì việc này sẽ gia cố mạnh mẽ quyền lực chính trị của ông trên khắp Trung Hoa sau một cuộc nội chiến gian khổ và kéo dài. Nhiều quan chức Trung Hoa nghĩ đây thực sự không phải là thời điểm tốt để tham chiến, bởi đất nước đang kiệt sức và vẫn còn bị chia cắt, tình hình tài chính bi đát, kinh tế lụn bại. Cuộc chiến với một quốc gia giàu có, mạnh mẽ như Hoa Kỳ chỉ có thể là lợi cho kẻ thù trong nước. Và như thế bất kỳ chiến dịch tham vọng nào cũng nên được dời lại. Rõ ràng, đây là những gì các quan chức tình báo phương Tây, bao gồm cả những cán bộ hàng đầu ở CIA, nghĩ rằng người Trung Hoa nên suy ngẫm; và đó là cách họ nghĩ nếu họ là người Trung Hoa.

Ở đây, sự chi phối của Mao trong hệ thống nhà nước là rất lớn. Những thành viên khác dường như ngang hàng, nhưng ông là số một, không ngang hàng. Ông chính là hiện thân của lãnh đạo Trung Hoa mới, và họ biết và chiều theo ông. Họ tin, ông là người sáng suốt nhất cả về chiến tranh lẫn chính trị; rằng ông có khả năng nhìn trước một bước; hoặc như nhà sử học tài năng trẻ Chen Jian ở đại học Virginia có lần nói rằng, ông ta như một kỳ thủ vĩ đại khi so với những người khác, họ chỉ có thể hiểu được những nước đi của ông sau một hai nước. Sau quyết định này, ông còn thành một nhà lãnh đạo vĩ đại hơn, một người mà những cán bộ lãnh đạo nhà nước nhìn như là một người nhìn xa trông rộng, bởi họ tin rằng ông hiểu quần chúng nhân dân hơn họ. Khi cân nhắc chính xác những gì cần làm với Triều Tiên, ông chậm rãi nhìn cuộc chiến như một tài sản tiềm năng, một cách để cho người Trung Hoa thấy rằng Trung Quốc quả thực là một quyền lực cách mạng mới trên tầm thế giới, đây cũng là cách để mở rộng quyền hành của đảng trong nước. Và trong việc này, rốt cuộc ông cũng đã đúng. Cho dù cái giá phải trả là kinh khủng, cả về nhân mạng lẫn tài chánh, nhưng quyết định bước vào cuộc chiến Triều Tiên trước sự sửng sốt của các nhà phân tích phương Tây, đã làm Mao Trạch Đông trở thành một nhà lãnh đạo có tầm nhìn xa vĩ đại, một người vượt cao trên mọi người khác, chính xác như những gì ông mường tượng về chính mình sẽ trở thành. Ông định cho thường dân Trung Hoa thấy rằng người Mỹ luôn là kẻ thù của họ và rằng không có vùng trung gian. Những người Trung Hoa nào gần gũi nhất với người Mỹ và những người nước ngoài khác, là những người giàu nhất trên đất nước này, là những kẻ thù nội địa của ông; một cuộc chiến với Mỹ, ông tin, sẽ giúp cô lập họ. Thêm vào đó, cuộc chiến cũng là cách để người dân Trung Quốc đoàn kết quanh ông hơn. Điều này sẽ giúp ông chính trị hóa quần chúng nhân dân. Sau này ông nói đùa rằng chỉ có một người rưỡi là muốn tiến hành – nửa người, ông nói nhún nhường, chính là Chu Ân Lai.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Một, 2013, 01:35:41 pm
Cũng có những lí do khác để tiến lên. Việc tham chiến là một bằng chứng rằng Trung Hoa mới không còn bị khai thác, bị lợi dụng bởi các thế lực nước ngoài. Tung quan điểm này cho phần lớn người dân Trung Hoa là không mấy khó khăn, Mao khẳng định; ông rất hiểu cảm giác về sự căm ghét cực kỳ của họ với việc người nước ngoài đã bóc lột đất nước họ trong quá khứ. Trên thực tế, công tác tuyên truyền cho cuộc chiến của ông đã bắt đầu. Bộ Ngoại Giao Mỹ xuất bản quyển sách trắng về Trung Hoa vào tháng Tám năm 1949. Quyển sách trắng này được thiết kế với mục tiêu làm giảm áp lực trong nước, và thể hiện ra rằng chính phủ đã làm mọi điều có thể để giúp cho chính quyền Dân quốc không bị tự hủy diệt, và rằng sự sụp đổ của Tưởng giới Thạch là do chính những sai lầm của ông ta. Nhưng tài liệu này quá dài và quá phức tạp cho thường dân đọc, và nó chỉ được cái là làm các nhà chỉ trích nổi giận, họ xem như đây là việc đá người (Tưởng giới Thạch) đã thất thế. Gần như ngay sau khi tài liệu được ban hành, Styles Bridges, Bill Knowland, Pat McCarran và Kenneth Wherry  đưa ra một tuyên bố gọi đó là “một tài liệu dài 1504 trang nhằm thanh minh cho một chính sách không-làm-gì-cả”. Còn ở Trung Quốc, Mao cũng hiểu ngay giá trị tuyên truyền của tài liệu này. Với ông việc Acheson và các tác giả tài liệu đã viết ra – rằng Hoa Kỳ đã làm rất nhiều điều cho Tưởng giới Thạch – chính là thứ ông cũng muốn. Đó là một món quà của thượng đế , một chứng cứ bằng văn bản hoàn hảo chứng minh cho việc người Mỹ đã âm thầm thao túng và khai thác chính quyền Tưởng phục vụ cho lợi ích của Hoa Kỳ. Người Mỹ, trong tuyến của ông, không bao giờ là bạn hữu – và ông triển khai một chiến dịch truyền thông mạnh mẽ trong khắp cả nước, chiến dịch này làm Washington sững sờ, một báo hiệu cho sự thật rằng nước Trung Hoa mới không có nóng lòng làm bạn bè với người khổng lồ phương Tây. Mao Trạch Đông chính thân viết năm bài báo công kích sách trắng và tự bố trí chiến dịch khắp nước chống lại tài liệu đó, và thời đó trở thành một dạng Madison Avenue của nước Trung Hoa.

Mao khẳng định – còn hơn cả khẳng định, mà cho thấy – rằng lính của ông có thể đánh bại ưu thế kỹ thuật của Mỹ. Không có gì là giả bộ và không có hoài nghi điều này. Đây không chỉ là những gì ông nói mà là những gì ông thực sự tin, và ông không bao giờ thay đổi quan điểm này trong việc đối đầu sắp đến với người Mỹ, dù vào giữa tháng Mười có một cuộc tranh luận dữ dội với sự lo ngại cao trong chính quyền về câu hỏi này. Việc đó xảy ra khi thấy rõ là Stalin sẽ bội ước lời hứa sẽ cung cấp hỗ trợ không quân cho lính Trung Hoa. Hồi tháng Chín, người Trung Hoa đã chơi một ván bài dài đầy kỹ thuật với người Nga để biết được người Nga sẽ giúp được bao nhiêu. Stalin cho thấy ông lo ngại về việc sẽ rơi vào một cuộc đối đầu lớn hơn với người Mỹ. Ông ta đã bị bất ngờ trước phản ứng nhanh chóng của Mỹ trước cuộc xâm lăng của Kim Nhật Thành, và điều này làm ông cảnh giác hơn bình thường. Cũng như Trung Hoa, người Nga đã cảnh báo Kim Nhật Thành về khả năng của một cuộc đổ bộ lên Inchon. Ý tưởng về một quân đội được Mỹ tài trợ đóng ngay trên biên giới Mãn Châu còn hơn là một cơn ác mộng với Stalin, dù việc này giống rõ là cách mà cuộc chiến có thể chấm dứt.

Giờ đây, khi bộ đội Bắc Triều sụp đổ, Kim Nhật Thành bắt đầu tăng áp lực lên Stalin để cứu quân đội và cứu đất nước ông ta, dù rằng người Nga, ngay từ đầu đã bảo Triều Tiên, họ sẽ không gửi quân chiến đấu đến. Nhưng có lẽ, Stalin bảo họ, Trung Quốc có thể. Ngày 21 tháng Chín, một tuần sau trận Inchon, đại diện cá nhân của Stalin tại Bình Nhưỡng, tướng Matvei Zakharov, thúc dục Kim Nhật Thành xin Trung Hoa giúp. Lãnh đạo Bắc Triều Tiên vì để phía Trung Hoa đứng ngoài cuộc khi làm vụ này, giờ lúc tình hình chiến trường xấu đi, rõ là lo (họ) không chấp nhận làm kẻ thế vai. Một tuần sau, chính quyền Bắc Triều Tiên rốt cuộc cũng phải tổ chức bàn thảo khẩn, họ nhất trí rằng nếu Seoul thất thủ thì không cách nào chặn được quân LHQ tràn qua vĩ tuyến, và rằng Bắc Triều Tiên cần có sự giúp đỡ. Sau đó, Kim Nhật Thành đến gặp Terenti Shtylov, đại sứ Liên Xô, và đề nghị ông đạo đạt vấn đề gửi quân Nga đến với Stalin. Shtylov từ chối câu hỏi này, và trong theo cách dùng từ của ông là một Kim Nhật Thành cùng bộ trưởng Bộ ngoại giao của ông ta, Pak Hon Yong trông “lúng túng, thê thảm, tuyệt vọng và liều mạng”, thế rồi họ tự gửi thư đến cho Stalin. Ngày 1 tháng Mười, Stalin trả lời rằng hi vọng lớn nhất của họ là thuyết phục người Trung Hoa can thiệp. Đêm ấy, Kim Nhật Thành nói chuyện với đại sứ Trung Hoa và hỏi xin quân Trung Hoa. Đồng thời ông cũng muốn biết, nhỡ khi trường hợp xấu nhất xảy ra, thì liệu Trung Hoa có cho phép Triều Tiên thiết lập một chính phủ tị nạn trên vùng đất đông bắc của họ không.

Đó là một ván bài rất tinh tế giữa ba chính phủ cộng sản. Bắc Triều Tiên, vốn đã từng làm mất mặt Trung Hoa, giờ phải cầu xin sự giúp đỡ. Còn Trung Hoa, nhờ vào niềm tin chính trị của Mao Trạch Đông, đã quyết định tham chiến, nhưng không muốn chìa tay ra, bởi họ muốn bẩy mạnh hết cỡ người Nga, đặc biệt trong vấn đề yểm trợ không lực. Đến cuối tháng Chín, Liên Xô, theo vẻ ngoài đã đồng ý yểm trợ không quân cho Trung Hoa. Thế là các sức mạnh để dẫn đến cuộc đụng độ tệ hại giữa Hoa Kỳ và Trung Hoa giờ đã tích đủ động năng. Ngày 30 tháng Chín, hai tuần sau trận Inchon, sư đoàn Hai Nam Hàn vượt vĩ tuyến 38, và một tuần sau, ngày 7 tháng Mười, quân của sư đoàn kỵ binh số Một Mỹ cũng vượt vĩ tuyến,  trên đường đánh chiếm Bình Nhưỡng, và ngay sau đó, một cách không tình nguyện, là cuộc gặp không vui đầu tiên của họ, vào đầu tháng Mười Một, với quân Trung Hoa ở Unsan.

(hết chương 23)


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Một, 2013, 01:04:59 am
Chương 24

Trong những sự kiện diễn ra tiếp theo có một việc đặc biệt trớ trêu. Đó chính là sự giống nhau vô cùng trong mối quan ngại của tổ Trung Hoa thuộc bộ Ngoại giao Mỹ  và Joseph Stalin. Quan ngại đó được phản ánh trong báo cáo của tổ Trung Hoa (tài liệu này làm Hội vận động Trung Hoa nổi giận) – họ không chỉ khẳng định Tưởng giới Thạch đang thất bại, mà họ còn e ngại về sự trung thành trong tầm dài hạn của Mao với người Nga – điều này được Joseph Stalin chia sẽ hơn bất kỳ điều gì khác. Stalin, nhân vật quan trọng nhất bên phía Cộng sản, ngay từ hồi Tưởng thất bại cho đến khi bắt đầu chiến tranh Triều Tiên, một con người thao túng hết sức khéo léo những yêu cầu và những nỗi sợ của hai nước đồng minh cộng sản kia, trên thực tế không tin tưởng Mao Trạch Đông. Ông thích một nước Triều Tiên thống nhất theo cộng sản, một đất nước mang ơn ông, và cực kỳ lệ thuộc vào ông, hơn là một đất nước bị chia đôi. Ông cũng muốn một nước Triều Tiên đủ mạnh để đối trọng với người Nhật – một đất nước mà người Nga có nỗi sợ mang tính lịch sử và ông chắc chắn rằng người Mỹ giờ đây đang tìm kiếm cách tái vũ trang cho Nhật. Bởi ông không tin Mao Trạch Đông, ông cũng muốn tối đa hết mức sự căng thẳng giữa Hoa Kỳ và Trung Hoa, cùng một cuộc chiến mà ở đó họ đối địch nhau, điều mang lại lợi ích cho ông.

Ở năm 1949, Joseph Stalin là nhân vật chi phối trong thế giới cộng sản. Ông đã điều hành nước Nga hơn một phần tư thế kỷ. Trong số những kiến trúc sư trưởng của cuộc cách mạng Nga, ông là người duy nhất tồn tại. Những người khác có thể thông minh hơn, có sức lôi cuốn hơn, có tài hùng biện hơn, có tài chiến lược hơn, nhưng ông là nhân vật lãnh đạo vĩ đại nhất trong số họ, một người dường như hiểu nhất về một sự thật đơn giản nhưng vĩnh viễn của cuộc cách mạng đó: khi đến lúc củng cố quyền lực – duy trì quyền lực, thì phải chắc chắn rằng không ai làm gì được với bạn như cái cách bạn vừa làm với kẻ thù của mình – ý kiến ý cò chẳng tác dụng mấy, nhưng sức mạnh cảnh sát thì có. Trong thế giới Stalin hiểu, bạn là người đi săn hoặc bị săn.

Ông tồn tại và thành công bởi ông là một người ít ảo tưởng nhất (và có lẽ cũng là người hoang tưởng nhất), một người hiểu rõ nhất khi nào giai đoạn một của cuộc cách mạng kết thúc và giai đoạn hai – giai đoạn củng cố quyền lực – bắt đầu.  Ông là người đã phá vỡ hệ thống với một chân lý cơ bản nhất: kẻ thù ở mọi nơi, và bạn phải xóa sạch chúng không chỉ trước khi chúng công kích bạn, mà còn trước cả khi chúng có thể nhận ra chúng là kẻ thù của bạn. Đó là sức mạnh lớn nhất của ông, là phần đen tối nhất trong tâm hồn ông, ông hiểu điều này nhanh hơn những người khác, và làm theo với máu lạnh, với rất ít sự câu thúc.

Rõ ràng có sự ảm đạm tồn tại giữa hai siêu cường trong những năm ngay sau thế chiến II – hai quốc gia về bản chất là biệt lập nhảy lên vị trí siêu cường một cách không sẵn sàng, cùng với hai hệ thống kinh tế – chính trị khác biệt nhau, một nước trong tình trạng căng thẳng hoang tưởng mang tính lịch sử và một nước khác sống trong thế giới hạt nhân. Nhưng có một phần không nhỏ thêm vào tình trạng căng thẳng đó là việc Liên Xô được lãnh đạo bởi Stalin, và chính ông đã làm mọi thứ trong Chiến Tranh lạnh dường như nguy hiểm hơn và đe dọa hơn, ông là người có ít nhân tính, và là người cực kỳ hung bạo. Những gì ông điều hành là một cỗ máy khủng bố. Bất kể bạn có phạm tội không, thì cũng có một tội phù hợp nào đó luôn tìm thấy cho bạn. Bất kể bạn có là một người cộng sản hoàn toàn trung kiên và là người cực kỳ tin vào Stalin, tôn sùng cá nhân ông ta. Thì cũng có ai đó luôn nghe ngóng và sẵn sàng phản bội, nếu để cứu mạng anh ta. Đó là một chính quyền điều hành bằng sự sợ hãi, và điên rồ. Hồi cuối thập niên 1930, khi chủ nghĩa bài Xla-vơ của Hitler dâng lên, Stalin lại thanh trừng và gần như đã hủy diệt giới sỹ quan cùng hệ thống lãnh đạo của Hồng quân, tống khứ 3 trong số 5 nguyên soái, 15 trong số 16 tư lệnh tập đoàn quân, 60 trong số 67 tư lệnh quân đoàn, 136 trong 199 tư lệnh sư đoàn. Về cơ bản là ông đã lột trần hệ thống phòng vệ của đất nước và dọn đường cho cuộc xâm lược của quân Đức vào năm 1941.Tội ác của ông chống lại nhân dân ông quá lớn và cơ bản là không đo đếm nổi. Thực sự có bao nhiêu người bị giết? Đó chỉ là một triệu, hay 10 triệu, hay có lẽ là 40 triệu? “Ông ta là một trong những người giáo điều kinh khủng hiếm có, có khả năng hủy diệt chín phần mười nhân loại để ‘làm vui’ cho một phần mười còn lại” Milovan Djilas viết, ông làm cựu đảng viên Cộng sản, phó tổng thống Nam Tư, là người kế nhiệm Tito, đã bỏ cộng sản, bị nhốt tù, và rốt cuộc viết ra một trong những chân dung sắc sảo sớm nhất của Stalin. Djilas xem ông ta như là một tội phạm vĩ đại nhất mọi thời: “ Với Stalin mọi tội ác đều có thể,  không có gì mà ông ta không phạm. Bất kể tiêu chuẩn nào chúng ta dùng để đo lường ông … thì ông ta cũng sẽ vinh danh như là tên tội phạm vĩ đại nhất trong lịch sử.  Ông ta là sự kết hợp của một Caliluga lạnh lùng với tội ác, cùng với sự tinh tế của một Borgia, và sự tàn bạo của Sa hoàng Ivan Hung đế”.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Một, 2013, 01:06:42 am
Mối quan hệ giữa Stalin và Mao Trạch Đông, trở lại những ngày đầu của nội chiến Trung Hoa, cũng đã hầu như hoàn toàn không tin tưởng và vĩnh viễn nghi ngờ nhau. Cả hai con người này được nhìn nhận nằm trong số những tay giết người hàng loạt hàng đầu gây ra bởi một hệ thống tàn bạo trong một thời kỳ bạo lực bất thường. Bởi vậy nên việc họ không ưa nhau, không tin tưởng nhau thì chẳng có gì đáng ngạc nhiên. Với Stalin, có thể nói rằng ông là một ví dụ tối thượng cho sự đen tối trong tâm hồn của một con người có thể có được. Còn Mao, có thể nói rằng việc ông lãnh đạo một phe phái yếu ớt trong thập niên 1920, và dường như bị kẻ thù mạnh hơn nhiều hủy diệt, nhưng rồi ông lại đưa nó đến với quyền lực, đó là một trong những thành tựu chính trị đáng nể nhất trong thế kỷ 20. Nhưng kỹ năng lãnh đạo của ông trong con đường đi lên đó luôn có quá nhiều sự khắc nghiệt, tàn nhẫn, và cuối cùng, càng tăng thêm sự điên rồ mà ông đã thể hiện trong những năm nắm quyền. “Cách mạng không là một bữa tiệc tối” ông có lần nói. Ông luôn thể hiện ra bằng chứng phong phú cho việc đó và của sự đồi trụy cá nhân, cũng như sự lộn xộn đi cùng với sự toàn trị.

Mỗi nhà lãnh đạo đều nghĩ chính họ là một người Cộng sản, nhưng mỗi người lại là một người dân tộc chủ nghĩa rất nặng. Khi có dịp gặp nhau, họ lại nói về tình anh em đồng chí Cộng sản và tình đoàn kết keo sơn giữa hai quốc gia to lớn cùng thế giới đại đồng, nhưng sự thật là mỗi bên nhìn về nhau và thấy đó là một kẻ thù tiềm tàng. Trong góc nhìn của Mao, Liên Xô luôn gần như là lực lượng thủ cựu, hẹp hòi, chỉ thích giúp Nga mà không mấy quan tâm đến việc hỗ trợ cho các đồng minh anh em, những người chưa chiếm được chính quyền. Hồi trước, hồi thập niên 1920, khi ông tiến hành chiến đấu không thành công với quân Tưởng, ông tin rằng phía Liên Xô thích Tưởng giới Thạch, và rồi khi ông chiếm được quyền lực, ông ghét sự bảo trợ đặc biệt của họ dành cho Gao Gang, một thành viên của chính phủ và là lãnh đạo vùng Mãn Châu. Ông thích nhắc lại rằng những người Cộng sản Trung Hoa thời nội chiến, đã yêu cầu đi yêu cầu lại người Nga vũ trang cho, và họ nhận được, như theo từ của Mao là “không có cả một cái rắm”. Với Mao, Liên Xô có lẽ là Cộng sản, nhưng họ trước hết và trên hết, họ là người Nga. Stalin khoái Tưởng giới Thạch, Mao tin vậy, bởi Tưởng yếu kém, và như vậy chắc chắn sẽ điều hành một Trung Hoa yếu ớt. Với Stalin, Mao Trạch Đông có lẽ là một người cộng sản, nhưng là một người không chắc chắn nhất, bởi thiếu liên kết với giai cấp công nhân – vốn rất nhỏ bé ở Trung Hoa; bản thân ông ta thì quá giống nông dân. Cuối cùng là Stalin không tin tưởng những người cộng sản Trung Hoa, như ông đã nói hồi thế chiến II, họ trông giống như củ cải: đỏ vỏ trắng lòng.

Mỗi bên đều mang theo một dọc dài những bất bình với nhau. Đó chính là biểu tượng cho mối quan hệ của họ; bất kể mong muốn của phía bên nào cũng luôn bất tiện cho phía bên kia, dù rằng trong những năm đó, phía bên cần thiết hơn là bên Mao. Thực tế lúc đó nước Mỹ biết Liên Xô không có hỗ trợ cho người Trung Hoa nhiều trong thế chiến II, những quan chức cộng sản ở Diên An phàn nàn khá công khai việc thiếu trợ giúp đó với những khách, nhà ngoại giao, nhà báo phương Tây và với thành viên của Dixie Mission, đơn vị tình báo quân sự Mỹ thuộc OSS gửi đến làm việc với cộng sản Trung Hoa, và thúc họ triển khai thêm hành động chống Nhật.  (Những thành viên của phái bộ này nhìn chung là khen ngợi khả năng quân sự của họ và kín đáo khinh bỉ các lực lượng của Tưởng giới Thạch). Sau khi kết thúc chiến tranh lạnh, rất nhiều tài liệu mật – nghiên cứu theo lệnh của Leonid Brezhnev, bí thư thứ nhất của Liên Xô trong những năm Liên Xô – Trung quốc chia rẽ tồi tệ nhất – được công khai, và chúng cho thấy sự căng thẳng khá sớm trong mối quan hệ Mao – Stalin hơn so với dự đoán, và ít nhất trên bề mặt, dường như là những cơ hội lớn cho chính sách ngoại giao Mỹ, nếu Hoa Kỳ không quá khóa chặt vào Tưởng.

Phải chăng trong giai đoạn này của lịch sử hai nước, Hoa Kỳ và Trung Hoa, đã có những cơ hội hòa bình đã bị bỏ lỡ? Có lẽ Truman ở Washington và Mao ở Bắc Kinh, với sự khôn ngoan lớn hơn và chỉ chút ít may mắn địa chính trị, nên tham gia vào trong một hiệp ước dù không thoải mái lắm trong giai đoạn đó, để có thêm thời gian cho đến khi sự e dè không còn, và ít bị tổn thương. Có lẽ sự trớ trêu cay đắng nhất hơn cả, chính là sự đồng tâm nhất trí của chính sách ngoại giao Mỹ trong kết luận lúc đó rằng thế giới cộng sản là rắn chắc như đá tảng. Nếu có, thì chính sự tính toán sai lầm của cả hai phía trong thời đó đã giúp cho thế giới cộng sản dường như đoàn kết hơn thực tế. Nếu có một văn bia buồn cho thời kỳ này đó là dành cho những cung bậc quan hệ Mỹ và Trung Hoa trong ván bài của Stalin.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Một, 2013, 01:09:56 am
Sự căng thẳng giữa Stalin và Mao cùng với hai quốc gia của họ, luôn to tát, và còn phát triển lớn hơn khi Mao đến gần hơn, gần hơn nữa tới quyền lực. Stalin không bao giờ tốn phí tài nguyên, lợi tức của Liên Xô  hoặc máu của người Nga cho một thế giới cộng sản to lớn hơn. Ông ta chỉ tin vào những gì ông chinh phục được với quân đội của ông và điều khiển được một khi ông đưa cảnh sát mật của mình vào. Ý tưởng về một nhà nước cộng sản rộng lớn nằm dọc biên giới của ông, khai hoa trong một quốc gia xa lạ về lịch sử, dưới một chế độ chiếm được chính quyền mà không có sự giúp đỡ cũng chẳng mang ơn của ông, đã không làm ông xúc động. Như vậy Mao là một địch thủ tiềm tàng ngay cả trước khi có một sự ganh đua thực thụ. Stalin tránh không làm thân với Mao; lần đầu ông mời Mao đến Moscow là tháng Bảy năm 1947, không phải ngẫu nhiên tại thời điểm này các tập đoàn quân của Tưởng vẫn công kích và Mao dường như, ít nhất là theo các nhà quan sát bên ngoài, đang ở vị trí thấp trong cơ đồ. Mao nhanh chóng từ chối đi, bởi ông tin rằng nếu ông đến, Stalin có thể sẽ cố moi từ ông những nhượng bộ không mong muốn.

Rồi đến cuối năm 1947, khi chiến cuộc bắt đầu nghiên mạnh về phía Cộng sản, Stalin bắt đầu chống lưng cho Mao công khai hơn, nhưng thực tế là không có cho ông ta chút viện trợ gì. Tháng Một 1948, Stalin nói riêng cho Milovan Djilas rằng trước đây ông đã sai khi ép Mao triển khai một hiệp ước với Tưởng. Stalin nói, người Mỹ bị bận rộn với châu Âu, và trong khi họ không bao giờ để người Hy Lạp cộng sản thắng trong cuộc nội chiến đang diễn ra, thì châu Á chỉ ở vị trí hạng hai với họ. Người Mỹ không chắc sẽ đưa quân vào lục địa châu Á, ông nói. Tháng Năm 1948, Mao, chắc chắn thắng lợi trong tầm tay, gửi tin rằng ông muốn đến Moscow và gặp gỡ Stalin. Điều ông mong có là sự thừa nhận của khối Sô viết khi Tưởng sụp đổ hoàn toàn. Thay vì vậy Stalin trả lời rằng “cuộc đấu tranh cách mạng Trung Hoa đang ở thời điểm quyết định, và rằng Mao Chủ tịch, ở cương vị lãnh đạo quân sự, tốt hơn là không nên rời vị trí của mình”. Ông phấn khởi thêm vào “Mao chủ tịch sẽ xem xét lại quyết tâm của người”. Như Goncharov, Lewis và Xue viết “Với Mao, lá thư quá lịch thiệp của Stalin là một lời khiển trách. Với tư cách tư lệnh quân sự phía cộng sản, ông có thể xem như biết rõ hơn Stalin đó có phải là thời điểm tốt cho một chuyến đi tới Moscow hay không, và ông không cần chỉ dẫn nào cho vấn đề này”.

Đến cuối năm 1948, Mao cố thúc giục cho cuộc gặp ở Moscow thêm vài lần, nhưng mỗi lần như vậy Stalin đều kìm lại. Thay vào đó, tháng Giêng 1949, Stalin gửi Anastas Mikoyan, một trong những trợ tá tin cậy nhất, đến Trung Hoa, nhưng dưới vỏ bọc bí mật hoàn toàn. Stalin vẫn còn sợ sảy ra trường hợp Mỹ bất ngờ tung cước vào những ngày chót. Với lời cảnh báo cuối rằng ông nên chậm rãi đưa quân qua sông Dương Tử, Mao nghĩ về Stalin là còn hơn cả sự nhút nhát.

Mao hiểu rất rõ rằng trong những năm đó Stalin nghi ngờ ông. Lúc riêng tư ông đùa – nếu có thể nói vậy – rằng ông không thích cái sự tin tưởng của Stalin và rằng ông được Moscow xem là người cánh hữu và là một tay cơ hội chủ nghĩa. Nhưng dù sao thì ông vẫn cần sự chuẩn thuận của Stalin và muốn được nhận vài kiểu vinh dự nào đó từ thủ đô Sô viết. Tháng Tư 1949, Mao một lần nữa gửi tin cho thiếu tướng Ivan Kovalev, đại diện cá nhân của Stalin ở Trung Hoa, rằng ông muốn sang thăm. Lúc này, dù Stalin bác bỏ lần nữa, nhưng lời hồi đáp từ Moscow nồng nhiệt hơn nhiều cùng với lời tán dương ông như là một nhà lãnh đạo của một cuộc cách mạng cộng sản vĩ đại. Sau này Kovalev ghi nhận rằng Mao dường như  khá là an ủi trước giọng điệu nồng ấm hơn trong câu trả lời. Theo Kovalev, Mao giơ cao tay và hét vang :”Đồng chí Stalin muôn năm! Đồng chí Stalin muôn năm ! Đồng chí Stalin muôn năm”. Cuối cùng, tháng Mười Hai 1949, ông cũng có được lời mời từ Moscow, nhưng chỉ với tư cách là một trong nhiều lãnh tụ của thế giới cộng sản và không vì để chúc mừng chiến thắng của ông ở Trung Hoa dù đó là chiến thắng rất vĩ đại, mà là để kỷ niệm việc cai trị dài hạn của Stalin nhân dịp sinh nhật lần thứ 70 của ông.

Một phần của vấn đề là việc Mao không phải là thứ mà lãnh đạo Liên Xô muốn có. Ông quá tự hào với những thành công của ông, là người Trung Hoa ông cũng suy nghĩ quá độc lập và dường như tin rằng – bởi đã lãnh đạo cuộc cách mạng vĩ đại – nên ông đã là một nhân vật chính, chứ không phải là một người đi xin xỏ. Để có chiến thắng vang dội của ông cần có sự độc lập, nhưng cũng chính sự độc lập đó làm Moscow lo ngại. Nếu đến Moscow liệu ông có tỏ lòng biết ơn thích đáng? Người Nga còn không khẳng định chắc theo ước đoán của họ là liệu ông có phải là một người cộng sản thực thụ hay không. Như theo bộ trưởng Bộ ngoại giao V.M.Molotov đã báo cáo về cho Stalin sau một cuộc họp, rằng Mao thông minh, nhưng là một người nông dân: “Dĩ nhiên ông ta còn lâu mới là người Mác xít – ông ta thú nhận với tôi rằng chưa từng đọc Das Kapital (Tư bản luận)”. Đọc bản dịch quan điểm lý thuyết của Mao, Stalin đã thất kinh rằng: “Đây là kiểu chủ nghĩa Mác gì vậy! Đây là chủ nghĩa phong kiến”. Về mặt riêng tư, Stalin tin rằng Mao có lẽ nuôi dưỡng quan điểm mà ông gọi tên là “xu hướng hữu khuynh” mà quan điểm này có ngày sẽ dẫn ông ta đến việc mềm mỏng với người Mỹ.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Một, 2013, 01:12:31 am
Khi Mao Trạch Đông gần lấy được quyền lực, lãnh đạo của hai nước vẫn tiếp tục chơi mánh với nhau. Liên xô thì cố tìm hiểu xem Mao Trạch Đông nghĩ gì về Tito, nhà lãnh đạo Nam Tư gần như bị đuổi khỏi gia đình cộng sản bởi sự bất đồng quan điểm và sự độc lập của ông. Liên Xô sợ rằng có sự tương đương giữa Tito, người vừa li khai Moscow, và Mao. Trên thực tế là Moscow luôn nghi ngờ Mao Trạch Đông là một người bí mật theo chủ nghĩa Tito, và như thế ông sẽ thành một Titoist lớn nhất trong số đó. Nhưng bất kể Mao có dè dặt như thế nào về Stalin, thì người Trung Hoa cũng rất cần vài hình thức công nhận quốc tế, những điều sẽ làm hợp pháp hóa vai trò của họ trên vũ đài thế giới. Dù Stalin vẫn bí mật kìm lại những dạng thức hữu nghị khác, thì vào ngày 2 tháng Mười năm 1949, một ngày sau ngày thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Liên Xô là nước đầu tiên công nhận chế độ Cộng sản mới.

Nếu có những sức mạnh mang tính lịch sử nào chống lại một mối quan hệ đồng minh thực thụ, thì đó chính là chứng hoang tưởng tự đại của Stalin, và bởi sự thật rằng cả hai nhân vật trên đều cai trị hai quốc gia không có đảng đối lập và nơi đó sự nịnh hót là một hình thái nghệ thuật. Đến năm 1949, Stalin đã là một Stalin vĩ đại, sự sùng bái cá nhân nghiêm khắc, phủ rộng khắp, trong khi đó Mao Trạch Đông vẫn còn khá ngây thơ trong việc tạo dựng sự sùng bái: sự sùng bái cá nhân ở Liên Xô đã có ảnh hưởng ít nhất là 20 năm rồi. Theo sử gia Walter Laquer, sự sùng bái này bắt đầu từ tháng Mười Hai năm 1929, lúc Stalin tròn 55 tuổi. Leonid Leonov, một nhà văn có tiếng của Nga cùng thời, viết một cách đặc thù về con người vĩ đạo đó là: “ngày mà toàn thể nhân loại sùng kính người, và lịch sử thừa nhận người chính là điểm khởi đầu của lịch, chứ không phải Jesus Christ”

Nhưng Mao Trạch Đông nhanh chóng kình địch với ông ta trong lĩnh vực nghệ thuật tự ca tụng của chế độ toàn trị. Có lẽ lúc ban đầu ông hơi có lúng túng trong sự sùng bái cá nhân, nhưng rồi ông nhanh chóng hiểu được sự thật to lớn nhất của việc tự ca tụng: như rất nhiều nhà độc tài khác, ông nhận ra rằng những gì tốt cho lãnh đạo thì cũng sẽ tốt cho cuộc cách mạng. Bên cạnh đó, rõ ràng ông nổi lên là một nhà lãnh đạo duy nhất của Trung Hoa, đưa đến việc ông tự thấy mình không khác mấy với một hoàng đế Trung Hoa thời hiện đại.  Trong các hoàng đế tiền nhiệm, theo bác sỹ riêng của ông, Li Zhisui, ông thích nhất là hoàng đế Chu Nguyên Chương, một bạo chúa huyền thoại được xem là bị đa số người Trung Hoa khinh miệt bởi sự tàn bạo kinh hoàng, một người thích tùng xẻo và rồi đem bêu thây các địch thủ tiềm tàng để cảnh cáo những kẻ thù khác. Vai trò đặc biệt của riêng ông trong lịch sử và về sự vĩ đại của cá nhân ông là hoàn toàn rõ ràng. Đó là điều ông thường xuyên nói. “Ông là nhà lãnh đạo vĩ đại nhất, một hoàng đế vĩ đại nhất – người đã thống nhất đất nước và làm thay đổi nó, một người đã khôi phục lại sự vĩ đại xưa kia của Trung  Hoa” bác sỹ Li viết.

Trong nhiều điểm ông rất giống như Stalin. Ông càng mưu đồ chống lại những người quanh ông, thì ông càng thêm tin rằng họ đã và đang âm mưu chống lại ông. Dần dần ông tống khứ được toàn bộ những kình địch tiềm tàng, bất kể họ có trung thành thế nào đi nữa với ông, với đảng và với cuộc cách mạng. Khi sự sùng bái cá nhân tăng lên, lúc những người nông dân bình thường của Trung Hoa càng thêm sùng kính ông, thì ông càng xa cách hơn với đời sống thường nhật của họ. Không một nhà lãnh đạo của xã hội tư bản nào có lối sống xa hoa hoặc dùng nhiều tài nguyên quốc gia để tiêu khiển như ông. Mỗi tỉnh thành đều xây một biệt thự cho ông – ông luôn di chuyển, vì sợ rằng sẽ là một mục tiêu dễ dàng cho kẻ thù nếu ông ở một nơi nào quá lâu. Không một nguyên thủ quốc gia ở xã hội tự do nào có đời sống tình dục phong phú, luôn thèm khát những phụ nữ nông dân trẻ, những người sẵn sàng phục vụ lãnh đạo của họ và như vậy là phục vụ quốc gia theo bất cứ cách nào mà các lãnh đạo yêu cầu. ”Phụ nữ phục vụ theo đặt lệnh, như thức ăn” Andrew Nathan, một học giả đại học Columbia, viết trong phần giới thiệu quyển sách của bác sỹ Li Zhisui. Lúc này sự sùng bái cá nhân của ông đã lên tới mức ngang bằng với Stalin. Sự kiện ông bơi qua sông Dương Tử, như Laquer viết, được dùng như là một bước ngoặc trong lịch sử. Laquer viết “Ông không chỉ là nhà Mác xít vĩ đại nhất mọi thời, ông là thiên tài vĩ đại nhất còn sống. Ông không bao giờ có sai sót, mọi điều ông nói đều đúng, mọi câu ông phát biểu có giá trị bằng một vạn câu [của mọi người khác]”. Một nhà thơ Trung Hoa đã tổng kết:

“Kính cha, mến mẹ ân cần

Kính Mao chủ tịch mười phần kính hơn” (*)

(* Dịch thoáng: nguyên văn Father is close/Mother is close/ But neither is as close as Chairman Mao)


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Một, 2013, 01:17:22 am
Thời gian mà ông phải van xin là rất khổ sở với Mao Trạch Đông, nên ông trở nên căm ghét cái cách nhà lãnh đạo Liên Xô, Stalin, đã cư xử với ông. Mao không phải là kiểu người chấp nhận đối đãi theo hạng hai, hoặc khoan thứ bỏ qua, dù tới khi ông hồi lễ thì lúc đó là với người kế vị của Stalin, Nikita Khrushchev. Có một lần ông tổ chức một cuộc gặp thượng đỉnh với Khrushchev ngay trong hồ bơi của ông, buộc nhà lãnh đạo Liên Xô, vốn không biết bơi, phải mặc áo phao suốt. Đó là cách như ông nói với viên bác sỹ của ông “cắm một cái kim vào mông tay ý”

Tháng Mười Hai năm 1949, cuối cùng Mao Trạch Đông cũng đi Moscow. Harrison Salisburry, từ tờ NewYork Times, người đã thắng giải Pulitzer bởi bài báo từ Moscow trong những ngày đó, nhớ lại sự im lặng bao trùm của Stalin lên chiến thắng đang đến của Mao trong những tháng trước đó. Việc này hầu như là không được nhắc đến trong một hệ thống báo chí bị kiểm soát “một mẩu nhỏ trên trang sau của tờ Pravda, hay một vài đoạn trong tờ Izvestia. Từ ‘Trung Hoa’ biến mất hoàn toàn”. Giờ đây, với việc Mao đang trên đường đến Moscow, thì có bằng chứng rõ ràng hơn về bờ vai lạnh giá của Liên xô. Sinh nhật lần thứ 70 của Stalin hiển nhiên là một thời điểm quan trọng để ăn mừng trong thế giới cộng sản và cơ hội đó không thể bị chia sẽ cho bất kỳ sự kiện nào khác hoặc cá nhân nào khác. Ngày 6 tháng Mười Hai, Mao Trạch Đông trên chuyến tàu phô trương đến thủ đô Liên Xô. Chiến tranh đã gần như kết thúc và ông rất sợ bị những kẻ thù Dân quốc tấn công. Ông đi trên một toa bọc thép được canh gác cẩn mật trên mỗi thước đường di chuyển. Tại Thẩm Dương, thành phố lớn nhất vùng đông bắc, Mao xuống tàu, kiểm tra thư từ gửi đến cho ông. Và ở đây cho thấy vai trò của Gao Gang – rất lớn với Stalin và rất nhỏ với Mao – Gao được Mao nhìn nhận là một người bất đồng theo-Liên-xô. Mao giận dữ lịnh tháo toa xe mang quà của Gao gửi đến Stalin và trả quà về cho Gao.

Mao đến Moscow vào ngày 16 tháng Mười Hai và là một chuyến đi rất bực bội. Ông được đối đãi không như lãnh đạo của một cuộc cách mạng vĩ đại đã đưa một trong những quốc gia vĩ đại nhất trên thế giới vào quỹ đạo cộng sản mà là, như sử gia Adam Ulam viết “như thể ông là kiểu như lãnh đạo đảng Bulgaria”. V.M. Molotov và Nikolai Bulganin, hai quan chức cao cấp của chính quyền, đến nhà ga để đón Mao. Ông được đưa đến một buổi tiệc buffet trưa. Ông mời hai nhà lãnh đạo Liên Xô uống rượu với ông. Họ từ chối – vì  theo nghi thức, như Molotov nói. Họ cũng chối từ ngồi và cùng ăn. Thế rồi Mao đề nghị họ đi cùng ông đến nơi ông sẽ trú chân theo dự định. Một lần nữa, họ từ chối. Không có chào mừng lớn và cũng không có lễ lạc riêng cho ông. Như thể để cho Mao học và biết vị trí của mình trong chòm sao Stalin, một vũ trụ cộng sản thực thụ; nếu ông là một người anh em, ông phải hiểu luôn có một người anh em cộng sản lớn hơn  nhiều so với những người anh em còn lại. Một trợ lý của Khrushchev nói với ông ta rằng có ai đó tên là “Matsadoon” đến thành phố. Khrushchev bối rối hỏi ai: “Ai cơ?” “Sếp biết tay Tàu đó mà” viên trợ lý trả lời. Đó là cái cách họ nhìn ông: một tay Tàu. Và đó cũng là cách họ đối đãi với ông. Lễ đón chính của phái đoàn Trung Hoa không được tổ chức ở đại sảnh điện Cẩm Linh mà lại tổ chức ở khách sạn Metropole cũ “một địa điểm thông thường dành cho việc đón các chức sắc tư bản không quan trọng” theo như Ulam viết.

Mọi điều cũng không tốt hơn sau lần đón tiếp đầu tiên. Từ đầu đến cuối Mao Trạch Đông bị cách ly, đợi Stalin sắp xếp các buổi họp. Không ai khác có thể gặp ông cho đến khi Stalin gặp, và Stalin đang nắm giữ thời gian biểu của ông. Lúc đầu khi Mao đến Moscow, ông công bố rằng Trung Hoa tìm kiếm một mối quan hệ cộng tác với Nga, nhưng ông cũng nhấn mạnh rằng ông muốn được đối xử công bằng. Và thay vì vậy ông bị dạy cho một bài học mỗi ngày. Như cách dùng từ của Ulam “một người khách bị giam cầm”. Ông hét lên với các bức tường, nhận thức được Stalin nghe lén ngôi nhà: “Tôi đến đây không chỉ để ăn và ị” . Ông ghét đồ ăn Nga. Có một lần Kovalev, người liên lạc của ông, bất ngờ đến thăm ông. Mao chỉ về phía Moscow và nói: “Tệ, tệ”. Ông định ám chỉ gì vậy? Kovalev hỏi. Mao nói rằng ông tức giận với Kremlin. Kovalev nhấn mạnh rằng ông không có quyền chỉ trích “ông Chủ”, và rằng ông, Kovalev, giờ phải làm báo cáo.

Rồi rốt cuộc khi Stalin gặp Mao, họ  cho thấy có sự hiểu lầm lẫn nhau theo bản năng một cách đáng kể. “Tại sao các đồng chí không chiếm Thượng Hải nhỉ?” Stalin hỏi, với việc người Trung Hoa trì hoãn tiến vào thành phố này. “Tại sao chúng tôi phải làm việc này” Mao trả lời “Nếu chúng tôi chiếm thành phố, chúng tôi phải có trách nhiệm lo nuôi ăn tới 6 triệu cư dân”. Stalin vốn sợ rằng Mao ưu tiên cho nông dân hơn là công nhân, đã thất kinh. Nguồn cơn ở đây, là công nhân trong một thành phố bị để cho chịu khổ.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Một, 2013, 01:21:44 am
Trên mọi phương diện chuyến đi đến Moscow là một thảm họa, và Mao nhớ rất dai về cách đối xử với ông. Về viện trợ quân sự và kinh tế, ông cũng nhận được rất ít từ những cuộc thương thuyết trong chuyến đi đầu tiên này – một gói viện trợ không đáng kể của Liên Xô trong năm năm trị giá 300 triệu $, hoặc 60 triệu mỗi năm. Và tệ nhất là Trung Hoa phải nhượng bộ với vài yêu cầu lãnh thổ. Việc người Nga thiếu rộng lòng làm phía Trung Hoa bối rối. “Y như việc lấy thịt từ miệng hổ” nhiều năm sau Mao nói. Với Mao, ông biết rất rõ quy mô chiến thắng vĩ đại của mình và điều này có ý nghĩa thế nào trong lịch sử, sự đối đãi của Liên Xô về cơ bản là làm bẽ mặt, nhưng đó là một điều mà ông buộc phải chấp nhận mà không được phàn nàn. “Chẳng có gì ngạc nhiên khi điều mà Mao nhận ra, nếu ông chưa từng ấp ủ trước đây, là sự căm ghét vĩnh cửu với Liên Xô” Adam Ulam ghi.

Ngày 30 tháng Chín, năm 1950, Kim Nhật Thành, phần nào đã phải hạ mình trước những sự kiện sảy ra ở miền Nam, và cảnh báo của người Nga khi ông xin quân, đã cẩn trọng trong tiệc chiêu đãi ở tòa đại sứ Trung Hoa tại Bình Nhưỡng nhằm chào mừng kỷ niệm lần thứ nhất ngày thành lập nước Cộng Hòa Nhân dân Trung Hoa. Ở đó ông đã đề đạt với đại diện của Bắc Kinh gửi quân đoàn Trung Hoa số 13 sang chiến đấu ở Triều Tiên. Ngày hôm sau, cùng với Pak Hon Yong, bề ngoài là lãnh đạo cộng sản Nam Triều Tiên, ông gửi thư cho Mao để hỏi xin quân. Để xúc tiến việc này, Pak bay đến Bắc Kinh cùng bức thư, điều này nhằm thể hiện rằng miền Bắc có thể thắng trong cuộc chiến nếu không có hành động của Hoa Kỳ. Giờ đây tình hình của họ, ông nói, là “rất nguy kịch” . “Thật khó cho chúng tôi để đương đầu với cơn khủng hoảng nếu chỉ bằng sức mạnh của riêng chúng tôi”, bức thư nói và kết thúc với yêu cầu khẩn thiết về quân Trung Hoa.

Ngày 2 tháng Mười, Mao Trạch Đông bắt đầu gặp gỡ với Bộ Chính trị, nhưng chỉ bộ phận cao cấp nhất. Ông cảnh báo: dù chỉ chậm một ngày, cũng có thể (ảnh hưởng) cốt tử đến tương lai. Ông nói vấn đề cần bàn không phải việc họ có gửi quân đi hay không, mà lúc này, là việc chọn ai làm tư lệnh. Lâm Bưu, vị tư lệnh được tán dương của tập đoàn quân dã chiến số bốn, người được biết là một tư lệnh bộ binh khá tốt, là một lựa chọn hợp lô-gic. Nhưng họ Lâm đã sang Liên Xô để chữa bệnh, một việc nhằm cả hai mục đích: hết bệnh và để không phải cầm quân. Thế là Mao quyết định chọn Bành Đức Hoài. Cũng như Lâm, ông là một người đồng chí cũ và đáng tin. Ông cùng phục vụ với Mao từ hồi năm 1928. Mao Trạch Đông cảm nhận rằng Bành Đức Hoài chính xác là người tốt bởi ông chia sẽ quan điểm chính trị của Mao, và dù rằng ông có những ý nghĩ lo ngại riêng, nhưng ông vẫn chấp nhận vị trí khi được yêu cầu, bất kể những mối nguy trập trùng cho quân của ông.

Vài người ở quanh Mao nghĩ, ông là kiểu người miễn nhiễm trước những cảm xúc về việc mất mát sinh mạng trong một cuộc chiến như thế này. Đó đơn giản chỉ là cái giá phải trả. Trung Hoa có hàng triệu dân, và trên con đường trở lại vị trí cường quốc; cần phải hi sinh nhiều người hơn những nước khác. Ngay cả việc Mỹ có thể sử dụng bom nguyên tử, ông cũng chấp nhận. Có lần ông đã làm Nehru sốc khi nói rằng bom nguyên tử là một “con hổ giấy”. “Bom nguyên tử không là gì phải sợ” ông nói nhà lãnh đạo Ấn độ “Trung Hoa có hàng triệu dân. Chúng không thể bỏ bom hết chừng đó. Nếu một ai đó có thể thả một quả bom nguyên tử thì tôi cũng có thể. Mười hay hai mươi triệu người chết thì cũng chẳng có gì phải sợ”. Nếu quan điểm chính trị của ông đòi hỏi phải có chiến tranh, thì câu hỏi lớn kế tiếp là: Khi nào Trung Hoa tham chiến? Khi nào các đơn vị vẫn đang tập hợp bên biên giới Mãn Châu sẵn sàng? Những người trong cuộc họp ngày hai tháng Mười, do Mao chủ trì, đã chọn ngày 15 tháng Mười, hai tuần sau. Trùng hợp là đó cũng là ngày được Truman và MacArthur chọn cho cuộc họp đầu tiên của họ, tổ chức trên đảo Wake.

Sau cuộc họp ngày 2 tháng Mười, Mao gửi một điện văn dài đến cho Stalin để báo cho lãnh đạo Liên Xô biết về quyết định của Trung Hoa. Quân Trung Hoa được gọi dưới tên Chí nguyện quân. Đó là một lựa chọn của phía bên ông nhằm ngăn chặn một cuộc chiến tranh tổng lực với người Mỹ. Ông nói với Stalin rằng đầu tiên Trung Hoa sẽ gửi đến 12 sư đoàn. Ông hi vọng sẽ có ưu thế quân số ở mức 4:1 trên chiến trường, vừa đủ để trung hòa với ưu thế  hỏa lực của người Mỹ. Thêm vào đó, ông mong sẽ có ưu thế ở mức 1,5 hay 2:1 về cối; bởi họ không có pháo binh hạng nặng. Ngay từ đầu, quân Trung Hoa sẽ chủ yếu dùng chiến thuật phòng ngự để học cách đánh nhau với kẻ thù mới này. Ông nói với Stalin rằng ông không hình dung ra một cuộc chiến tranh kéo dài; và ông cũng không nghĩ người Mỹ có thể ráng chinh phạt đại lục Trung hoa. Mao cũng chính thức đề nghị Liên Xô hỗ trợ không lực cho quân của ông như đã hứa.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Một, 2013, 01:24:42 am
Cùng lúc đó, Mao tiếp tục giải thích kế hoạch của ông cho các thành viên Bộ Chính trị, lắng nghe những phản biện của họ và dần khiến những đồng nghiệp của ông xuôi theo. Ngày 4 tháng Mười, cuộc họp đầy đủ của Bộ Chính trị được tổ chức. Ở đó, ông đã yêu cầu những người có mặt phát biểu về những bất lợi khi tiến hành can thiệp quân sự. Một số thành viên có sự dè dặt rất lớn. Họ tin rằng nền kinh tế đất nước vốn kiệt quệ sẽ có thể suy sụp nếu có một cuộc chiến nữa. Họ cũng phát biểu về những nguy cơ của quân ta trước vũ khí vượt trội của quân Mỹ. Mao lắng nghe và không ngăn họ. “Tất cả những gì các đồng chí nói không phải là không có cơ sở”   cuối cùng ông kết luận “Nhưng khi một dân tộc khác đang trong cơn khủng hoảng, làm thế nào chúng ta có thể khoang tay đứng nhìn? Điều này làm tôi rất buồn”. Rồi họ quyết định ngày mai họp tiếp. Trong phần hai của cuộc họp bộ Chính trị, Mao đã gọi Bành Đức Hoài từ biên giới Mãn Châu về. Sáng ngày 5 tháng Mười, Mao gặp Bành Đức Hoài và Đặng Tiểu Bình, cũng là một đồng chí cũ đáng tin cậy, một cựu binh của cuộc Vạn lý trường chinh, một Trung ương Ủy viên, và là tư lệnh của quân Cộng sản của một trong những trận đánh sau cùng cuộc nội chiến, trận chiếm Chonging vào ngày 1 tháng Mười hai năm 1949. Trong cuộc họp mật này Mao nói rất sâu về cuộc khủng hoảng Triều Tiên. Mao nói, giờ đây thời gian là nhân tố chính. Quân Mỹ tiến rất nhanh và hầu như không gặp kháng cự. Cực kỳ quan trọng phải có hành động trước khi chúng đến sông Áp Lục. Ông nói ông hiểu có những nguy hiểm và rủi ro trong đó. Ông thực ra là chỉ nói với Bành Đức Hoài, một cựu binh chiến đấu gian khổ, một nhân vật được mọi người ca tụng là một người lính đúng nghĩa, một con người của quân đội hơn là của chính trị. Điển hình là khi Mao Trạch Đông triệu ông về từ biên giới Mãn Châu, đưa ông vào ở một trong những khách sạn tốt nhất Bắc Kinh, Bành Đức Hoài đã không thấy thoải mái vì giường quá êm ái. Thế là ông ngủ ngay trên sàn. Những gì ông quen thuộc – là chiến tranh gian khổ.  Có lời đùa trong những người đồng tuế của ông rằng cuộc hôn nhân duy nhất của ông chính là cuộc cách mạng.

Bành Đức Hoài là người của Mao, một nông dân làm tướng. Với những vấn đề chính trị, ông theo Mao, “đầu tiên là một anh em cũ, rồi là một người thầy, và sau cùng, là một lãnh tụ”. “Lão Bành”, Mao trạch Đông gọi ông. “Lão Mao”, cách thể hiện lòng quý mến của họ Bành, hầu như là người duy nhất trong ban lãnh đạo, có thể dùng với vị chủ tịch. Đôi khi trong các vấn đề quân sự, Mao dường như có ít kinh nghiệm và khá lý thuyết, nhưng riêng Bành vẫn xem ông là “sư phụ”. Nhưng không có nghĩa ông là kẻ tôi tớ của Mao, và sau này ông đã phải trả một cái giá chí tử cho sự độc lập đó: chỉ vài năm sau khi cuộc chiến Triều Tiên kết thúc, Bành Đức Hoài dũng cảm đương đầu với Mao và thách thức ông trong vài vấn đề chính trị, rồi ông kết thúc cuộc đời với tư cách là kẻ thù của Mao, và như thế là kẻ thù của nhân dân, bị tống tù, bị rẻ khinh và bị đánh đập một cách có hệ thống đến chết. Ngay cả hồi giữa thập niên 1950, ông đủ tự tin vai trò của mình, và là một con người độc lập, để nói với bác sỹ riêng của Mao về những gì ông nghĩ là vấn đề với răng miệng của chủ tịch. Vị chủ tịch, cho thấy, không bao giờ gặp nha sỹ, không bao giờ đánh răng và uống trà liên miên, và như thế làm cho răng của ông có màu xanh nhợt nhạt. “Răng của chủ tịch trông như được bọc một lớp sơn màu xanh”, Bành Đức Hoài nói, nhưng việc cải thiện công tác răng miệng của Mao khi đó xem ra là một thất bại.

Bản thân Bành Đức Hoài là một nông dân, trải qua một thời thơ ấu khó khăn nhiều hơn Mao. Ông là một con người có cảm quan chiến thuật thực dụng với một quân đội mới thành lập và luôn gần như bị vượt trội về vũ khí cũng như quân số khi phải chiến đấu với tư cách một lực lượng truyền thống. Trở lại chuyện của ông hồi năm 1934, ông đã chống lại một chiến lược tiêu cực trong lãnh đạo quân sự của Đảng, một người Phổ cứng nhắc tên là Otto Braun đưa ra, ông này được Moscow gửi đến Trung Hoa. Theo quan điểm của Bành, chiến thuật của Braun là tầm thường một cách vô vọng và không phù hợp với tình trạng quân sự mỏng manh của phía cộng sản. Thắng lợi của ông trước Braun trong cuộc chiến xác định chiến thuật có lẽ là chiến thắng lớn đầu tiên của cuộc Vạn lý trường chinh. Và cũng chính cuộc Vạn lý trường chinh đã gắn kết Mao với Bành: đó là một bài thử tối cao, hơn một vạn kilo-mét đường tháo lui và chiến đấu chống lại không chỉ quân Tưởng giới Thạch, các lãnh chúa địa phương, với địa hình hiểm trở, điều kiện thời tiết khắc nghiệt kinh khủng và cả cái đói lan tràn thường trực. Trong số tám vạn người lúc bắt đầu cuộc trường chinh từ phía đông nam Trung hoa, có lẽ chỉ có tám ngàn người hoàn thành được chuyến đi dài một năm và ba ngày, đến miền bắc xa xôi, cằn cỗi và nghèo khổ. Một trong những cuộc chiến cuối cùng của cuộc Vạn lý trường chinh là ở một địa phương tên gọi là Wuqi, sau hơn hai mươi ngày chiến đấu ác liệt, năm trung đoàn kỵ binh Quốc dân đảng, khoản từ bốn đến năm ngàn quân, tấn công. Mao Trạch Đông lịnh cho Bành Đức Hoài phải đánh bại kẻ địch truy kích và không cho chúng xâm nhập vào căn cứ. Khi ông làm xong, trở về, Mao đã viết một bài thơ tặng ông:

Núi cao, đường hiểm, hẻm sâu

Kị binh địch định quét ngang

Ai tay súng lưng ngựa, can đảm chặn địch

Chỉ có tướng quân của chúng ta, Bành Đức Hoài

(*đang tìm bản dịch chính thức bài thơ này, sẽ bổ sung lại sau)


(Bành Đức Hoài nói rằng sau này ông đổi câu cuối thành “chỉ có Hồng quân anh hùng của chúng ta” và chuyển lại cho Mao Trạch Đông)


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Một, 2013, 01:28:13 am
Hiểu Bành Đức Hoài, vì sao ông chiến đấu giỏi, đó cũng là hiểu được những người lính bình thường của Trung Hoa với những mối bất bình đã dẫn lối họ, và như vậy hiểu được sự thành công của quân đội cộng sản. Niềm tin của ông rất đơn giản và hình thành từ một cuộc đời khắc nghiệt nhất: ông tin rằng người giàu tàn ác, rằng người nghèo không chỉ nghèo mà còn tuyệt đối chống lại họ; rằng có sự tàn bạo cơ bản trong mỗi giây phút hằng ngày trong đời người Trung Hoa; rằng cuộc chiến đấu để thay đổi điều đó xứng đáng cho dù phải trả giá bằng cái chết. Ông sinh năm 1898 trong một gia đình nông dân bần hàn cùng cực. Mẹ ông chết khi ông còn nhỏ. Cha ông không có khả năng làm việc vì bệnh tật. Một gia đình tám miệng ăn dựa vào một mẫu Anh đất đồi núi bỏ hoang. Bản thân Bành Đức Hoài phải bỏ học rất sớm bởi cần phải giúp gia đình kiếm tiền. Ông luôn hiểu rõ sự bất công, và sự tàn ác tuyệt đối của cuộc đời – người em út trong bốn anh em trai của ông bị chết đói lúc mới sáu tháng tuổi.  Lúc còn là một cậu bé, Đặng Tiểu Bình được bà dẫn đi cùng để xin ăn, một vai trò ông ghét và không muốn làm lần thứ hai. Thay vào đó ông vào rừng, đốn củi và bán kiếm chút đỉnh tiền. Nhiều năm sau ông kể với sự cay đắng to lớn rằng khi người bà bảy mươi tuổi chuẩn bị đi ăn xin lần nữa, trong lúc tuyết rơi và gió quất rát da, bà cần phải chống gậy và có hai người em ông đi cùng, một trong hai người đó chưa tới bốn tuổi. Khi người bà trở về với ít gạo, như sau này Bành Đức Hoài thuật kỹ lại, ông đã không ăn thứ thức ăn do người bà có được từ việc ăn xin.

Lúc còn nhỏ ông làm đủ thứ việc dành cho người ở để kiếm chút xíu tiền – đốn củi, bắt cá, xúc than. Lúc 10 hay 12 tuổi – ông không nhớ chắc – ông chăn bò cho một phú nông. Lúc 13 tuổi, theo cách nói của ông, là một lao động trẻ em trong một mỏ than, kéo một bánh xe lớn để làm khô nước trong hầm mỏ. Ông cũng đẩy xe chở than để có được vài xu mỗi ngày, một loại công việc quá sức đối với một cậu bé, và một kinh nghiệm để đời là sự kiện mỏ than bị phá sản khiến ông mất cả năm tiền công. Sau này ông nói, lưng của ông vẫn còn cong một chút trong cả phần còn lại của cuộc đời vì công việc này. Trở về nhà chỉ với một nửa số tiền như đã hứa trong túi, với đôi chân trần bởi ông không mua nổi dép rơm, da chân nứt nẻ, ông gặp lại cha. “Con rất bẩn và xanh” cha ông nói “Con còn trông không giống người nữa. Con làm mất hai năm ròng cho thằng chó đẻ đó mà không được gì”. Thế rồi cha ông nhỏ nước mắt.

Những năm tuổi thiếu niên của ông còn khó khăn hơn. Có một trận hạn hán lớn ở địa phương, như ông nhớ lại, bọn địa chủ và lái buôn đã tích trữ gạo và ngũ cốc để bắt giá lên. Bành Đức Hoài tham gia vào những cuộc phản đối của nông dân chống việc tăng giá, và ông buộc phải trốn khỏi làng để tránh bị bắt. Rốt cuộc, chỉ ngay trước sinh nhật lần thứ 18 của mình, tháng Ba 1916, ông thành lính trong quân đội tỉnh Hồ Nam. Là lính trơn ông kiếm được sáu đồng tiền Trung Hoa mỗi tháng và có thể gửi về nhà ba đồng, chỉ đủ cho nhà ông sống lây lất, tạm bợ. Đó cũng là bước đầu cho binh nghiệp – một nghề nghiệp ông phục vụ xuốt phần đời còn lại, đầu tiên là trong một quân đội chính quy, sống sót qua hàng loạt những trận đánh với các lãnh chúa, lúc này do Tưởng giới Thạch làm tư lệnh. Trong quá trình này ông dần chín chắn về mặt chính trị hơn – đặc biệt khi lính, điều này thường xảy ra trong quân đội của Tưởng giới Thạch, không được trả lương. Lúc đầu ông tin rằng Tưởng giới Thạch là một nhà cách mạng thực thụ và có ý định tạo lập một Trung Hoa mới, mạnh hơn; nhưng khi niềm tin phai nhạt, ông dần chuyển hướng sang những người Cộng sản. Ông cùng những người khác như ông, như sau này ông viết lại về thời kỳ này, đã “đăng lính để làm cách mạng; đánh đổ bọn lãnh chúa, bọn quan chức tham nhũng, những kẻ bạo chúa địa phương, và bọn yêu quỉ lớp giữa và để mang đến việc cắt giảm tô thuế. Nhưng giờ đây không có cách mạng cũng chẳng có lương trong khi việc giảm tô thuế cũng chẳng nghe thấy nữa. Thế rồi chúng tôi được lịnh đi ‘tiểu trừ cộng sản’ và đàn áp các hội nông dân. Ai ra những lịnh kiểu đó cho chúng tôi? Chính Tưởng giới Thạch! Một người lính kiếm được 6,5 đồng một tháng. Trả mất 3,3 đồng cho tiền cơm lính, anh ta chỉ còn có 3,2 đồng – đó là thứ chúng tôi kiếm được. Chúng tôi mới cùng khổ làm sao! Chúng tôi không thể sắm nổi ngay cả giày cỏ hay thuốc lá thô, chỉ để chu cấp cho cha mẹ, vợ con chúng tôi”. Khi ông được thăng cấp, ông tự hào quay lại giúp lính của ông chống lại một tay chủ đất đặc biệt bóc lột. Và ông bị bắt vì việc đó, nhưng ông xoay sở với sự giúp đỡ của vài người lính để đào thoát.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Một, 2013, 01:29:35 am
Cuộc đời của ông không có gì khác hơn là một kinh nghiệm cấp tiến. Vào giữa tháng Hai năm 1928, rốt cuộc ông cũng được kết nạp vào đảng. Dù ông thất học, nhưng ông nhanh chóng hiểu được kiểu chiến tranh  mà các lực lượng Cộng sản phải đi theo cho đến khi sức mạnh của họ lớn lên. Đến năm 1934, suy nghĩ của ông rất song hành với Mao, và như thế, cùng Mao, ông trở thành một trong những kiến trúc sư đầu tiên của một chiến thuật quân sự được những người cộng sản dùng để đánh một cuộc chiến du kích linh hoạt: không bao giờ thách thức trực diện với quân Dân quốc, nhưng có khả năng di chuyển nhanh và tấn công chí tử khi quân địch cho thấy có điểm yếu.

Khi Mao Trạch Đông hỏi Bành Đức Hoài liệu ông có sẵn lòng chỉ huy các lực lượng Trung Hoa ở Triều Tiên, đó chắc chắn chỉ là một nghi thức. Rồi Mao đề nghị Bành phát biểu ủng hộ việc can thiệp trong buổi họp bộ Chính trị chiều đó, và ông ta đã làm. Bành Đức Hoài cũng đã dùng nhiều thời gian để suy ngẫm về chiến trường Triều Tiên nơi quân Trung Hoa phải đối đầu với quân Mỹ cùng những vũ khí  đáng sợ. Có một sự nguy hiểm đáng kể với toàn thể Trung Hoa, ông nói với thành viên bộ Chính trị; nếu quân Mỹ đến được sông Áp Lục, họ có thể tấn công vượt qua sông và xâm chiếm Trung Hoa. Cần dùng các lực lượng Trung Hoa để ngăn chúng. Đó là bổn phận của Trung Hoa. Và với cách đặt vấn đề này, tâm trạng của cuộc họp chuyển sang ủng hộ cuộc can thiệp. Bành Đức Hoài đã cho Mao Trạch Đông yếu tố quan trọng ông cần, sự đồng thuận của người sẽ lãnh đạo quân đội vào trận chiến. Những gì Mao tin, và giờ đây dường như những người khác đều tin – rằng Triều Tiên không còn là một vấn đề biệt lập, mà là một điểm trọng tâm trong sự căng thẳng lớn giữa thế giới cộng sản và thế giới tư bản; rằng quân đội không chỉ được gửi đến để cứu Triều Tiên, mà còn để giúp thúc đẩy một cuộc cách mạng thế giới, đặc biệt ở châu Á; và rằng Trung Hoa không muốn người Mỹ có một vùng đất  rộng lớn thoải mái ngay trên biên giới của mình. Cuối cùng, bất kể việc Mỹ có ưu thế kỹ thuật vượt trội, thì Trung Hoa với ưu thế về nhân lực và sức mạnh tinh thần, cũng sẽ chiến thắng. Điều luôn tồn tại trong không khí cuộc họp – dù luôn không được nhắc đến, nhưng rất quan trọng – là vấn đề Đài Loan. Trong suy nghĩ của người Trung Hoa, quốc gia của họ đã ở trong một cuộc chiến với người Mỹ, do Hoa Kỳ đã can thiệp vào Đài Loan; nếu Trung Hoa quá yếu để có thể tấn công Đài Loan, thì một khi quân Mỹ rơi vào tầm hoạt động của các lực lượng trên bộ của Trung Hoa ở Triều Tiên thì chuyện hiển nhiên là khác hẳn.

Ngày 8 tháng Mười, Mao Trạch Đông thông báo cho Kim Nhật Thành rằng Trung Hoa sẽ phát quân sang cứu ông ta. Cùng này, một nhật lệnh được gửi đến cho quân Trung Hoa (sẽ) sang Triều Tiên : “Nhằm hỗ trợ cho nhân dân Triều Tiên trong cuộc chiến tranh giải phóng, nhằm đẩy lùi cuộc xâm lược do đế quốc Mỹ và bè lũ chó săn theo đuôi triển khai,  đồng thời bảo vệ những lợi ích của nhân dân Triều Tiên, nhân dân Trung Hoa cùng tất cả những quốc gia Đông phương khác, lệnh cho Tập đoàn quân phòng thủ biên giới Đông Bắc chuyển thành Chí nguyện quân Trung Hoa. Chí nguyện quân ngay lập tức tiến vào lãnh thổ Triều Tiên để giúp đỡ cho các đồng chí Triều Tiên trong công cuộc đấu tranh  chống quân xâm lược và phấn đấu dành lấy chiến thắng vinh quang”. Ngày ấn định cho cuộc xâm lấn vẫn là ngày 15 tháng Mười.

Ngay lập tức Bành Đức Hoài quay về sở chỉ huy ở biên giới của ông, bắt đầu xác định những nhu cầu cần thiết. Ông nghe theo những thông tin của bộ phận tình báo rằng có 400,000 quân LHQ đang ở Triều Tiên, trong đó gồm 10 sư đoàn chiến đấu, hoặc khoản 130,000 quân. Bành Đức Hoài quyết định rằng ông cần có nhiều lính chiến đấu hơn bởi ông sẽ dùng số lượng vượt trội làm chìa khóa của chiến thắng. Thay vì vượt qua biên giới với hai tập đoàn quân và hai sư đoàn pháo binh, giờ đây ông lập kế hoạch bắt đầu với bốn tập đoàn quân và ba sư đoàn pháo binh, điều ngày đồng nghĩa với việc ông cũng cần ít nhất hơn 700 xe tải và hơn 600 tài xế nữa.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Một, 2013, 01:33:28 am
Vấn đề không lực Liên Xô đảm bảo bầu trời là trung tâm của kế hoạch quân sự Trung Hoa. Nhưng chi tiết việc hỗ trợ quân sự của người Nga mơ hồ một cách đáng ngạc nhiên, đặc biệt khi giờ G đã rất cận kề. Ngày 9 tháng Mười, Bành Đức Hoài tổ chức một cuộc họp với các tư lệnh tập đoàn quân dưới quyền, và họ cũng hỏi ông vấn đề này rất kỹ. Những câu hỏi của họ rất thẳng thắn và chi tiết, nhưng cả ông lẫn Gao Gang, chính trị gia cùng làm việc với ông, đều không thể trả lời họ. Giữa cuộc họp, họ gửi điện cho Mao Trạch Đông, hỏi, “Có bao nhiêu máy bay ném bom bộ tư lệnh có thể gửi đến Triều Tiên sau khi quân chúng ta bắt đầu giao chiến trong các chiến dịch ở đó? Khi nào [không quân] sẽ xuất kích, và ai là người chịu trách nhiệm?”. Rõ ràng những câu hỏi này không chỉ trong tâm trí của các tư lệnh cấp sư đoàn, trung đoàn mà đến cả từng đại đội trưởng, trung đội trưởng trong quân đội Trung Hoa. Trên thực tế, đó cũng là những câu hỏi mà các lãnh đạo Trung Hoa vẫn cố để có câu trả lời cho chính họ.

Quân Trung Hoa đã vào vị trí, sẵn sàng vượt biên giới, nhưng vẫn chưa có lời nói xác đáng từ phía người Nga. Và rồi người Nga nuốt lời. Hầu như cùng lúc với những tư lệnh dưới quyền họ Bành đặt câu hỏi cho ông ta, thì các đồng nghiệp dân sự của ông đang ép người Nga trả lời cho câu hỏi đó. Ngày 8 tháng Mười, Chu Ân Lai và phiên dịch chính của Mao, Shi Zhe, bay đến Moscow để thảo luận về các hình thức hỗ trợ của phía Nga. Họ đến nơi vào ngày 10 tháng Mười cũng với một ít các đồng nghiệp Trung Hoa khác, trong đó có Lâm Bưu. Mỗi khi đến Liên Xô, họ ngay lập tức bay đến nhà riêng của Stalin bên bờ biển Đen. Ở đó, họ hội ý với các lãnh đạo hàng đầu của Liên Xô: Stalin, Georgi Malenkov, Lavrenti Baria, Lazar Kaganovich, Nikolai Bulganin, và Anastas Mikoyan, cũng như là với Molotov.

Giờ đây những thứ cược trong một ván bài lớn đã diễn ra trong vài tuần qua được mổ xẻ lần nữa. Những gì xảy ra là hết sức phức tạp trong hoạt cảnh giữa những nhân vật cứng rắn và đầy hoài nghi. Không bên nào tin những gì bên kia đang phát biểu. Ví dụ như, người Trung Hoa nói với Stalin rằng họ không thực sự muốn gửi quân vào cuộc chiến này, rằng đất nước họ đã kiệt sức sau cuộc nội chiến, nhưng Stalin hiểu rằng việc nói ngược này không phải là sự thật, rằng phía Trung Hoa đã khẳng định với Kim Nhật Thành họ sẽ giúp ông ta. Còn Stalin bắt đầu cuộc họp với việc nói lên tình huống hiểm nghèo của Triều Tiên. Rồi ông hỏi, những đồng chí Trung Hoa của ông nghĩ gì? Chu Ân Lai, người hiểu hơn ai hết về cam kết của Mao đã quyết và ý định cứu viện, ông trả lời rằng sẽ tốt hơn cho Trung Hoa nếu không can thiệp [vào Triều Tiên]. Cuộc nội chiến, ông nói, đã rất tốn kém, và Trung Hoa vẫn còn đang phải hồi phục.

Nhưng nếu Bắc Triều Tiên không được giúp đỡ nhanh chóng, Stalin đáp lời, họ có thể không tồn tại nổi trong hơn một tuần. Trung Hoa nên cân nhắc sự lợi hại của an ninh quốc gia nếu Mỹ khống chế được Bắc Triều Tiên (như thể người Trung Hoa không từ nghĩ về điều này hằng mấy tháng rồi). Rồi ông thông báo cho các vị khách rằng Liên Xô không và không thể gửi quân, có phần không nhỏ bởi việc họ không muốn đối đầu trực diện với người Mỹ. Ông đề nghị rằng Trung Hoa thì có thể và nên làm. Nga có thể cho họ một lượng lớn trang thiết bị còn tồn hồi thế chiến II và có thể hỗ trợ không quân trên lãnh thổ đông bắc Trung Hoa và vùng bờ biển, bao gồm tất cả các lực lượng Trung Hoa ở bờ bắc sông Áp Lục. Đây khó là điều Trung Hoa muốn nghe, bởi cuộc chiến sẽ diễn ra ở bờ nam sông Áp Lục. Còn để mà gửi không quân của ông sang phía nam sông Áp Lục, Stalin nói người Nga cần thêm thời gian để chuẩn bị cho một cuộc chiến trên không với người Mỹ. Một cuộc họp dài hơi, kéo từ 7 giờ tối đến 5 giờ sáng, mà không đạt mấy thành công. Người Trung Hoa sẽ nhớ mãi việc Liên Xô bội ước lời hứa của họ ngay vào thời điểm quan trọng nhất. Những hạn chế của tình đồng chí đã được nhận ra khá sớm trong cuộc cờ.

Những lập trường đã được vạch ra. Stalin ở thế mạnh hơn. Ông biết Trung Hoa sẽ can thiệp, với những lí do phục vụ cho chính họ hơn là bất kỳ tình cảm nào với Triều Tiên, và ông cũng biết họ [Trung Hoa] lệ thuộc vào ông trong mảng kỹ thuật không quân và hải quân nếu họ vẫn muốn tấn công Đài Loan. Mao Trạch Đông nổi đóa với việc Liên Xô lùi bước. Ngày 12 tháng Mười, ba ngày trước khi quân Trung Hoa vượt sông Áp Lục, Mao gửi điện cho Bành Đức Hoài bảo ông tạm dừng mệnh lệnh khởi chiến vừa rồi. Tất cả đơn vị giữ nguyên vị trí hiện tại. Ông và ban lãnh đạo hiện đang xem xét lại. Không có hỗ trợ không quân như mong đợi, thì đó là một quyết định rất khó khăn, nhưng ông vẫn cảm thấy chắc chắn rằng quân đội của ông có thể thu xếp được, dù sẽ khó khăn vô cùng, và thương vong sẽ lớn hơn nhiều.

Bành Đức Hoài cũng rất tức giận với quyết định của người Nga – bởi quân của ông giờ đây trong tình hình nguy hiểm. Ông tường trình nguy cơ và xin từ chức tư lệnh. Nhưng không có điều gì tác động nhiều đến suy nghĩ của Mao Trạch Đông. Khá có thể là bởi ông luôn nghi ngờ Liên Xô và không bao giờ nghĩ họ sẽ làm toàn bộ phần việc của mình. Rõ ràng các quyết định của ông luôn căn cứ vào những gì tốt đẹp mà ông nhìn thấy, cho Trung Hoa, chứ không phải cho Liên Xô hay cho Triều Tiên. Mao vẫn sẽ đưa quân đi bởi nếu không làm thế sẽ cho thấy nước Trung Hoa mới, Trung Hoa của ông, yếu ớt trên chính vùng biên giới của mình. Và một lần nữa, bất kể có không lực Nga yểm trợ hay không, ông mạnh mẽ phát biểu trước những đồng nghiệp của mình về quyết tâm can thiệp. Dù gì họ cũng có được một lượng lớn thiết bị quân sự của Nga, và ông nói thêm, ít nhất Nga cũng bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của Trung Hoa. Ông yêu cầu Bành Đức Hoài không từ chức tư lệnh. Ngay cả với việc không có hỗ trợ không quân của Liên Xô, ông tin rằng, họ vẫn có thể đánh quân Mỹ thành công. Thế mạnh tinh thần của họ là nhân tố quyết định. Khi cuộc họp kết thúc, Trung Hoa quyết định – một lần nữa – can thiệp vào Triều Tiên. Họ tấn công quân Nam Hàn trước, Mao nói với Chu Ân Lai qua điện thư. “Trước mắt, chúng tôi tin rằng chúng ta nên tham chiến và chúng ta phải tham chiến. Tham chiến có thể là điều đáng làm nhất, còn nếu không có thể gây ra những thiệt hại to lớn”. Ông nói, Chu Ân Lai nên tiếp tục thương thuyết với Nga, cố tối đa hóa số lượng viện trợ có được. Quân Trung Hoa sẽ thiết lập các vị trí phòng thủ ở vùng núi non cực bắc. Ngày 19 tháng Mười được chọn làm ngày D-day mới cho việc vượt sông Áp Lục.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Một, 2013, 01:36:18 am
Ngày 16 tháng Mười, Bành Đức Hoài gặp các sư đoàn trưởng của ông để thông qua kế hoạch và khích lệ tinh thần. Những gì ông nói với họ là thế này: nếu không chiến đấu với quân Mỹ ở đây, họ có thể phải chiến đấu trên đất Trung Hoa. Nhưng khi ông nói đến việc không có hỗ trợ không lực từ Liên Xô, ông vẫn phải đối diện với những băn khoăn đáng kể từ các tư lệnh dưới quyền. Một số các sỹ quan chiến trường cao cấp đã gửi ông một bức điện bày tỏ sự e dè của họ với việc phải chiến đấu với quân Mỹ mà không có không quân yểm trợ. Bức điện nói “Quân địch có thể tập trung một lượng lớn phi cơ, đại bác và xe tăng để tiến hành những trận tấn công lớn vào chúng ta mà không phải lo lắng chút nào”. Địa hình gây khó khăn cho việc thiết lập vị trí phòng thủ. “trong thời tiết khắc nghiệt và mặt đất đông cứng. Nếu quân địch bắt đầu một trận tổng công kích thì khả năng giữ được địa bàn của chúng tôi ít đi”. Những vị chỉ huy đó muốn ít nhất là đợi sang xuân. Họ nói họ phát biểu với tư cách của các tư lệnh thực chiến.

Vì có sự bất đồng quan điểm này, Bành Đức Hoài bay về Bắc Kinh trong ngày 18 tháng Mười. Mao Trạch Đông lắng nghe báo cáo của ông về sự băn khoăn của nhiều tư lệnh cao cấp, nhưng không cho thấy khả năng thay đổi tiến trình sự kiện – hoặc sửa đổi thời biểu. Giờ đây quyết định đã chốt. Các đơn vị bắt đầu chuyến vượt sông ngay trong đêm 19. Họ vượt sông ngay sau trời lặn và dừng di chuyển ngay trước khi bình minh lóe dạng ở buổi sáng kế tiếp. Để tích lũy kinh nghiệm, chỉ hai hoặc ba sư đoàn vượt sông trong đêm đầu tiên. Bành Đức Hoài bay về lại Andong và nói với các tư lệnh dưới quyền rằng bất kỳ ý kiến nào với quyết định sẽ được xem là bất phục tùng. Con đường đi đến sự xung đột giữa hai quốc gia, Hoa Kỳ và Trung Hoa, giờ đã thiết lập. Đêm 19 tháng Mười, cuộc vượt biên giới bắt đầu. Nó diễn ra một cách trôi chảy, dù không phải các đơn vị đều hoàn toàn hăng hái. “Cửa vào địa ngục” vài người đã từng phục vụ trong chế độ Dân quốc gọi cây cầu họ bắt qua sông Áp Lục là vậy.

Có một vấn đề khác cũng đặt ra, đó là ai sẽ chỉ huy quân lính. Mao Trạch Đông quyết định là Bành Đức Hoài. Nhưng Kim Nhật Thành nghĩ người Trung Hoa sẽ để cho ông chỉ huy quân của họ. Rõ ràng là ông cần được cải tạo: không thể để cho một lãnh đạo Triều Tiên, một người mà phía Trung Hoa hoàn toàn khinh rẻ, được đưa vào vị trí chỉ huy quân Trung Hoa. Bản thân Bành Đức Hoài cũng coi thường cái cách mà quân Bắc Triều Tiên đã đánh nhau ở miền Nam. “Có thể thấy đó là chủ nghĩa phiêu lưu! Cách điều quân khiển tướng cực kỳ trẻ con. Trong ngày 19, Bình Nhưỡng được lệnh tử thủ. Và kết quả là 3 vạn quân phòng thủ không thể thoát ra được [khỏi cuộc tấn công của quân LHQ]” ông viết trong một báo cáo. Lúc đó, người Trung Hoa giấu không cho Kim Nhật Thành biết ông không còn trách nhiệm với cuộc chiến. Về cơ bản, bây giờ một người Trung Hoa sẽ chỉ huy.

(Hết chương 24)


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Một, 2013, 01:38:45 am
Chương 25

Ngày 15 tháng Mười, sau năm năm rưỡi làm tổng thống, Harry Truman rốt cuộc cũng gặp Douglas MacArthur. Lúc này, quân của MacArthur đang chạy đua về sông Áp Lục, và quân Trung Hoa bốn ngày sau cũng vượt sông và nam tiến. Truman đã muốn gặp MacArthur từ hồi ông giữ vị trí tổng thống. Nhưng vị tướng đã hai lần gạt bỏ lịnh từ cấp tổng thống bảo về Washington. Giờ đây, sau trận Inchon, lúc này là thời điểm tốt để gặp nhau, Washington tin thế. Với cuộc gặp này còn có những yếu tố chính trị: đợt bầu cử giữa kỳ sẽ đến vào đầu tháng Mười một; trận Inchon là một thành tựu to lớn; Truman và người quanh ông, sau khi rất bị áp lực hồi đầu cuộc chiến, xem ra cố chia sẽ một ít vinh quang hiện đang bủa quanh MacArthur.

Truman, một con người có cảm nhận mạnh mẽ, luôn cảm thấy rằng ông sẽ làm tốt với một ai đó nếu ông ngồi xuống và nói chuyện với họ. Truman tin rằng ông có thể đọc được người khác khá giỏi khi họ mặt đối mặt, và họ cũng có thể thấy ông chơi rất thẳng thắn, rằng ông không làm tốn thời gian người khác và trong lời ông nói là những việc quan trọng. Ông có quan hệ với những tướng lĩnh như Eishenhower và Bradley, nhưng MacArthur thì không. Chủ yếu những gì ông cảm nhận về vị chỉ huy của ông là vẻ hùng vĩ của ông ta. Hai ngày trước cuộc gặp, trên đường đến đảo Wake, ông viết một chút cho người anh bà con Nellie Noland, và nói “ngày mai sẽ phải nói chuyện với cánh tay mặt của Chúa”.

Rốt lại điều đã đưa đến cuộc gặp ở phía Washington là yếu tố chính trị. George Elsey, một trợ lý thân cận và đôi khi là người viết diễn văn, chính là người lên ý tưởng của cuộc gặp, và đã làm cật lực để triển khai nó, ông đề nghị vụ này lần đầu với Truman là hồi cuối tháng Chín, ngay sau khi Seoul được tái chiếm, trong một chuyến đi thuyền dọc sông Potomac. Có một tiền lệ cho việc này. Hồi cuối thế chiến II, Roosevelt đã đến Honolulu để phân xử các vấn đề tranh cãi giữa đô đốc Chester Nimitz và MacArthur. Lúc đầu Truman không chắc lắm về chuyến đi, và cuối cùng xuôi theo, luật sư cố vấn đặc biệt của ông Charles Murphy nói là do ban tham mưu của ông ép ông đi. Dĩ nhiên là không ai nói thẳng về yếu tố chính trị trong đó – nhưng nó luôn tồn tại. Vài quan chức Nhà Trắng, đặc biệt nhất là Matt Connelly, bí thư của tổng thống, cho rằng đó là một sai lầm, và nói với tổng thống như thế. Tại sao? Truman hỏi ông. “Thế từ khi nào mà đức vua phải đi gặp hoàng tử nhỉ?”. Connelly trả lời. Dean Acheson, ông tin MacArthur luôn là kẻ thù, nghĩ rằng một chuyến đi kết hợp giữa chính trị và chính sách là một quyết định cực kỳ tệ.  Sau này ông nói là ông có “sự chán ghét to lớn với toàn thể ý định đó” và không muốn có mặt trong thành phần đi. Khi Truman bảo ông đi cùng, ông lưỡng lự: ”Trong khi tướng MacArthur có rất nhiều đặc trưng của một nhà cầm quyền ngoại quốc, tôi nói, và khá khó khăn trong mọi vấn đề, thì thật là không khôn ngoan nếu thừa nhận việc này”. Với hội đồng tham mưu liên quân, chỉ có Bradley đi. Tướng Marshall, lúc này là bộ trưởng bộ   Quốc phòng, chọn không đi, có phần vì mối quan hệ cá nhân ông với MacArthur khá tệ, và cũng bởi ông không muốn kiểu trộn lẫn giữa chính trị và an ninh quốc gia.

Lúc đầu Honolulu dường như là một điểm đến hợp lý nhất, nhưng MacArthur khăng khăng rằng rất nguy hiểm nếu ông ở cách quá xa sở chỉ huy của mình, và thay vì thế, đảo Wake được chọn, đảo cách Washington chừng 4700 dặm và Tokyo 1900 dặm. (Một trong những lý do thật là bởi MacArthur không muốn đi xa vì ông không thích bay đêm). Ngay cả một khoản cách ngắn hơn đến đảo Wake cũng không phải là chỗ ông muốn đi. Trên đường đi từ Tokyo, vị tướng trong trạng thái tâm lý không tốt, càu nhàu không ngớt với John Mucio, đại sứ Mỹ tại Hàn Quốc, về việc bị ép phải đi chuyến này. Thật là lãng phí thời gian, ông nói, khi bị triệu tập đi một quảng đường xa thế này chỉ vì các lý do chính trị. Sao họ không biết là “ông vẫn còn đang đánh nhau trong một cuộc chiến?”. Một ngôi sao như MacArthur không muốn có một ngôi sao chính trị nào ở Washington hết, đặc biệt là một người khác đảng, chia sẽ sự hoan nghênh dành cho ông. Bay xa thế này để gặp tổng thống là vi phạm cảm giác không chính thức của ông về tôn ti: mọi người phải đến gặp ông.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Một, 2013, 01:41:33 am
Và thế là cuộc họp vẫn diễn ra vào ngày 15 tháng Mười năm 1950 trong sự bực bội gần như công khai của MacArthur. Cuộc chạm trán sinh ra rất nhiều câu chuyện, một số không thật – đơn cử như chuyện MacArthur cố tình làm chuyến bay của ông đến muộn và thế là Truman hạ cánh trước và phải chờ vị tướng. Những mẩu chuyện khác thì có thật – như chuyện vị tướng không chào tổng thống Hoa Kỳ. Trong số những người bị ngạc nhiên trước dấu hiệu bất phục khá chủ đích đó, có Vernon Walter, một sỹ quan trẻ được xem là một phiên dịch viên có tài và sau này nổi lên như là một nhân vật gần gũi với một số chính trị gia đảng Cộng hòa, trong đó có Richard Nixon. Đó là một chỉ dấu thứ hai cho thấy MacArthur không nhìn nhận bất cứ ai từ Washington có cấp cao hơn ông, Walker nghĩ. Dấu hiệu đầu là việc ông không thèm chào bộ trưởng Lục quân Frank Pace. Sau này Walker viết “Trong sách của tôi, bộ trưởng Lục quân là sếp của toàn bộ lính Mỹ bất kể cấp bậc”. Nhưng với Walters, việc làm nhục thực thụ chính là việc không chào tổng thống của MacArthur. Đó là một sự vi phạm rất nghiêm trọng nghi thức. Truman, như Walker nhận thấy, đã không để ý việc đó. Đó là một ưu điểm khi là tổng thống: nếu bạn quyết định thấy điều gì thì nó sẽ diễn ra, và nếu bạn chọn không thấy, thì nó sẽ không.

Không có gì ngạc nhiên khi cuộc họp bắt đầu trong một không khí nghi ngờ lẫn nhau. Nhưng cũng đúng khi nói rằng, ít nhất là ở ngoài mặt – và nó hầu như là ở ngoài mặt – cuộc họp đã diễn tiến tốt đẹp. Vì khi cuộc họp diễn ra, là ở thời điểm tốt nhất trong cuộc chiến. Nhưng có một vấn đề quan trọng trong lịch trình, đặc biệt là trong suy nghĩ của đội hình Washington:  bản chất ý định của Trung Hoa. Những thông điệp ầm ĩ từ Bắc Kinh về việc Trung Hoa tham chiến – và không chỉ từ hướng K.M. Panikkar – rõ ràng làm Washington lo lắng. Họ nghiêm túc đến mức nào? Tổng thống và những người quanh ông băn khoăn. Những từ đầu tiên Truman nói là: “Tất cả các nguồn tin tình báo của chúng ta chỉ ra rằng Trung Hoa đang can thiệp vào” sau này Vernon Walkers nhớ lại.

Nhà Trắng đã chơi tay trên trong việc kiểm soát tin tức của cuộc họp. Truman mang đến nhóm phóng viên hàng đầu của Nhà Trắng, còn MacArthur thì không được phép mang theo các nhà báo ưu thích của ông ở Tokyo, đặc biệt là các thông tín viên từ AP, UP và International News Service – những tay bị nhạo báng với tên gọi “vệ binh cung điện” bởi những phóng viên Tokyo khác vốn nghĩ rằng các câu chuyện của họ có thể được viết bởi nhân viên ban tham mưu của MacArthur, hoặc do chính tướng quân viết. Sự kiện họ bị bỏ lại ở Nhật chỉ làm MacArthur thêm phần phát cáu; việc kiểm soát hình ảnh giờ ngoài tầm khống chế của ông. Điều này không làm tăng tinh thần của ông.

Bản thân địa điểm gặp khá là hoang sơ. Tuy nhiên, cả hai nhân vật dường như hòa hợp với nhau ở mức khá chấp nhận, hoặc có lẽ chính xác hơn, cả hai đều cư xử tốt nhất. Ở cuộc họp đầu, MacArthur hỏi liệu rằng ông có thể hút ống tẩu không và Truman trả lời rằng có thể, còn bảo thêm ông ta có thể phà khói vào mặt ông hơn bất cứ ai trên đời. Thực tế là có hai cuộc họp ở Wake: một cuộc họp riêng giữa Truman với MacArthur, trong đó họ trao đổi về ý định của Trung Hoa, và một cuộc họp khác dài hơn có sự hiện diện của mọi người, ở đó chủ đề chính một lần nữa là Trung Hoa – và cuộc chiến sẽ nhanh chóng kết thúc thế nào.

Có một bản tốc ký tuyệt vời của cuộc họp chính. Vernice Anderson, một thư ký có kinh nghiệm làm việc cho Phillip Jesseup, một quan chức bộ Ngoại Giao, Vernice ngồi ngay ngoài phòng họp nơi diễn ra cuộc họp thứ hai, và bởi cửa chính để mở nên cô quyết định ghi chép lại. Kết quả là có một bảng ghi tốc ký hoàn chỉnh của cuộc hội thoại. Chỉ vài tháng sau bảng ghi này trở nên khá quan trọng, khi cuộc chiến trở nên đau đớn hơn, và khi MacArthur cho thấy không mấy muốn chấp nhận bất kỳ trách nhiệm nào cho sự tính sai việc Trung Hoa tham chiến.

MacArthur xác quyết với Truman rằng chiến thắng “đã thắng ở Triều Tiên”. Sau một thảo luận ngắn về tương lai hậu chiến của một Triều Tiên thống nhất, Truman hỏi MacArthur một câu hỏi quan trọng – rằng cơ hội can thiệp của Trung Hoa hoặc Liên Xô thế nào? “Rất nhỏ” MacArthur trả lời “Nếu họ can thiệp trong tháng đầu hay tháng thứ hai, thì đó là một quyết sách có lý. Chúng ta không còn sợ họ can thiệp nữa. Chúng ta không còn thiếu sẵn sàng. Trung Hoa hiện có 30 vạn quân ở Mãn Châu”. Trong số đó, ông nói, có chừng 10 đến 12,5 vạn bố trí dọc sông Áp Lục, và chỉ năm đến sáu vạn có thể vượt sông. “Chúng không có không quân. Còn giờ quân ta đã có căn cứ không quân ở Triều Tiên, nếu Trung Hoa cố đánh xuống Bình Nhưỡng thì đó sẽ là cuộc tàn sát vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại”.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Một, 2013, 01:44:51 am
Với những đe dọa từ Bắc Kinh, Dean Rusk nhớ lại, MacArthur khá là tùy tiện. Dean nói, ông ta không “hiểu đầy đủ tại sao họ [người Trung Hoa] dự vào chuyện trời ơi này, và rằng họ giờ phải mang công mắc nợ vì nó”.

Thế rồi MacArthur nói về cuộc đổ bộ sắp đến của quân đoàn Mười lên Wonsan và sự kiện Bình Nhưỡng sẽ thất thủ trong vòng một tuần và rằng kháng cự của quân Bắc Triều Tiên có thể sẽ kết thúc trên thực tế vào dịp lễ Tạ ơn. Ông hi vọng có thể rút tập đoàn quân Tám ra vào dịp Giáng Sinh. Omar Bradley hỏi rằng liệu có khả năng đưa một trong các sư đoàn đang chiến đấu ở Triều Tiên qua nhận công tác ở Châu Âu không. Có, vị tướng trả lời, và đề nghị đó nên là sư đoàn bộ binh số Hai, đơn vị đã chiến đấu ác liệt trong vòng phòng thủ Pusan. Các công tác thủ tục cũng bắt đầu tiến hành để đưa sư đoàn Hai rời Triều Tiên.

Chẳng có ai trong ban tham mưu cao cấp của Truman lẫn Truman ép MacArthur nhiều ở các chi tiết. Thật đáng tiếc, đó là sự thật nhạy cảm nhất của các chủ đề, các chỉ thị họ trình bày cho ông liên quan đến vùng đất quanh biên giới và những gì họ sẽ làm nếu có các dấu hiệu của Trung Hoa – hoặc Nga – hiện diện. Tin tức tốt đến nỗi không ai muốn biết thêm gì. Như thể những gì họ không nói hoặc không biết sẽ không làm tổn thương họ. Và việc gì có thể xảy ra nếu Trung Hoa đã tham chiến và bằng cách nào đó xoay sở để né tránh được không lực của MacArthur đã không bao giờ được thảo luận. Mỗi nhân vật chính, bởi cách cư xử tốt và yếu tố chính trị tốt, đã né tránh những câu hỏi khó. MacArthur được vui lòng mỗi khi ông muốn, và dù ông càu nhàu xuốt đường từ Tokyo đến Wake rằng họ lợi dụng ông cho các mục tiêu chính trị, ông được cư xử tốt nhất và khẩn khoản nhất, không một tư lệnh nào trong lịch sử nhận được nhiều hỗ trợ như vậy từ một tổng thống.

Về phần mình, Truman cũng không ít lãng tránh việc bàn thảo các câu hỏi khó, nguy hiểm ở phía trước, đặc biệt là những câu hỏi đặt ra cho khả năng Trung Hoa bước vào cuộc chiến. Không ai nhắc nhở MacArthur về lệnh cấm đưa quân LHQ đến các tỉnh tiếp giáp Mãn Châu. Tất cả điều đó là có chủ tâm. Đến một lúc, khi cuộc họp dường như đã đi quá nhanh, Dean Rusk cố làm chậm lại chút đỉnh, vì ngại cánh báo chí vốn hay ngờ vực có thể chộp sự ngắn gọn và viết rằng điều này cho thấy tất cả chỉ là trò PR. Ông viết một mẩu giấy và chuyển cho tổng thống đề nghị rằng họ nên chầm chậm một tý. Và câu trả lời trở lại là: “Không, tôi muốn biến khỏi đây trước khi chúng ta rơi vào rắc rối”. Và cuối cùng, trước khi họ chia tay, Truman gắn huân chương Phục vụ xuất sắc cho vị tướng (cái thứ năm của ông), cái này là cho “sự dũng cảm và tận tụy can đảm trong công tác và kỹ năng ngoại giao tột bậc”. Trên đường đến phi trường, MacArthur hỏi Truman liệu rằng ông sẽ tham gia bầu cử lại không. Truman đáp bằng việc hỏi lại MacArthur rằng ông ta có kế hoạch chính trị nào không. Không, vị tướng trả lời: “Nếu ngài có bất kỳ viên tướng nào ra tranh cử chống lại ngài, thì tên anh ta sẽ là Eisenhower, không phải là MacArthur”. Eisenhower, Truman nói, không mấy hiểu biết về chính trị: “Chính phủ của anh ta sẽ làm chính phủ Grant trông như là một khuôn mẫu hoàn hảo”.

Cuộc họp rốt cuộc là sai lầm trong hầu hết mọi phương diện. Mối nguy to lớn tiềm tàng với các lực lượng LHQ được tối thiểu hóa, việc sẽ đối diện với điều đó thế nào chẳng được thảo luận mấy tí. MacArthur nghĩ rất đúng về cuộc họp này hơn bất kỳ ai: cuộc họp chỉ để chia sẽ vinh quang của trận Inchon trong những tuần ngay trước cuộc bầu cử giữa kỳ. Lúc hai đoàn chuẩn bị chia tay rời Wake, tình trạng lạc quan lại bùng lên. “Tôi chưa từng có một hội nghị nào thỏa mãn hơn kể từ khi làm tổng thống” sau này Truman nói với phóng viên về ngày đó. Một thông cáo được thảo và ký tắt bởi cả hai ông, một phóng viên chứng kiến cảnh này viết “như thể họ là lãnh đạo của những chính phủ khác nhau”. John Gunther ghi nhận rằng, vị tướng dường như bồn chồn và nóng lòng ra về. Ông rút đồng hồ bỏ túi ra, xem, lau nó cẩn thận, và đút lại vào túi. Ông từ chối trả lời phỏng vấn. “Tất cả những nhận định” ông nói “sẽ do cán bộ truyền thông của tổng thống đưa ra”, những từ ngữ cáu kỉnh, như Gunther ghi nhận, với chút ít chua cay trong đó, bởi các tổng thống chỉ có bí thư báo chí, chứ không có cán bộ truyền thông. Sau này Acheson viết “Mỗi người đều nghĩ là đã có một sự hiểu nhau được thiết lập, nhưng mỗi bên cũng đều có ý tưởng khác nhau về việc đó”.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Một, 2013, 01:49:10 am
Một trong những vấn đề nằm ở chỗ mỗi bên có góc nhìn rất khác biệt về việc Trung Hoa tham chiến là tốt hay xấu. Chỉ một vài tuần sau, việc trở nên không thuận lợi, Matt Rigdway, người theo dõi những sự kiện nổ ra với chủ nghĩa yếm thế gắn chặt từ Washington, nhớ lại một thời khắc khi ông và Harriman đến thăm MacArthur hồi đầu tháng Tám 1950. Lúc chủ đề Đài Loan được nhắc đến, và MacArthur đột nhiên trở nên khá sôi nổi.

Nếu người Trung Hoa đủ xuẩn để tấn công hòn đảo, chính ông sẽ đến đó, tự nắm quyền chỉ huy và sẽ “đánh xiểng liểng chúng, đó sẽ là một trong những trận đánh quyết định của thế giới – một thảm họa lớn đến mức chấn động châu Á và có lẽ sẽ đập được chủ nghĩa cộng sản”. Thế rồi ông dừng lại và nhận xét rằng ông lo là chúng sẽ không khờ như vậy, trước khi nói thêm “Tôi hằng đêm cầu nguyện rằng chúng sẽ làm vậy. Tôi quỳ gối cầu xin”. Ridgway nghĩ không có nhiều lính Mỹ khác đang cầu nguyện cho một cuộc chiến trên lục địa châu Á với một quốc gia có dân số chừng 600 triệu. Lúc đầu, Ridgway cho rằng đó chỉ là một kiểu cao ngạo của MacArthur, tiếng nói của một ông già khát khao có một địa vị lớn lao hơn trong lịch sử. Sau này, để cố hiểu việc bắc tiến của MacArthur, Ridgway viết “Dù cho quan điểm này của ông, như thể một kiếm sỹ tìm diệt con rồng chủ nghĩa cộng sản, thể hiện qua cuộc tiến quân khinh suất của ông đến biên giới Mãn Châu, dĩ nhiên là không ai có thể đoán định được. Nhưng riêng tôi cho rằng điều này để thêm phần hào nhoáng cho giấc mơ chiến thắng của ông”.

Trong hai lực lượng sẽ sớm đụng nhau trên chiến trường, chỉ có phía Trung Hoa hiện đã hiểu việc gì sẽ diễn ra. Còn phía Mỹ, cả về chính trị lẫn quân sự, vẫn sung sướng một cách có chủ đích với sự mù tịt của mình. Những sự kiện ở Triều Tiên không bao giờ được phép xảy ra lần nữa, Truman nhanh chóng nhận ra MacArthur vẫn đầy hoài nghi và thù địch như bao giờ. Còn về phần ông, MacArthur rốt cuộc viết lại rằng cuộc họp ở Wake đã làm cho ông nhận thức được “một sự thay đổi tai hại kỳ lạ” diễn ra ở Washington, cho thấy một chính phủ thiếu phần sẵn lòng đánh nhau với chủ nghĩa Cộng sản. Như trong một cuộc phỏng vấn năm 1954 với Jim Lucas của tờ Scripps Howard, MacArthur nói về Truman: “Cái thằng con hoang nhỏ bé đó [Truman] ôi trời, nó tin rằng nó là một người ái quốc”.

Rõ ràng ngay từ đầu, cuộc chiến đó của người Mỹ đã không được định vị rõ ràng, và có những quan điểm rất khác biệt giữa Washington và Tokyo. Rất sớm, hồi ngày 13 tháng Bảy, khi Joe Collins và Hoyt Vandenberg đến gặp ông ở Tokyo, MacArthur đã nói khá công khai về nhiệm vụ trước tiên của ông là tiêu diệt các lực lượng Bắc Triều Tiên, và rồi ý định của ông ta sẽ là “tạo nên một Triều Tiên thống nhất”. ”Có lẽ cần phải chiếm toàn bộ Triều Tiên” ông thêm “dù hiện này nó chỉ mới mang tính chất suy đoán”. Giờ đây đấy là mục tiêu của ông: rõ ràng người ở Washington muốn tắm trong ánh vinh quang của ông làm MacArthur nhận thức được rằng ông mạnh hơn bao giờ hết, và điều đó làm cho ông khó bị ngăn trở hơn bao giờ hết.

Trong số những sai lầm quân sự Mỹ trong thế kỷ hai mươi, có quyết định của MacArthur gửi quân đến sông Áp Lục. (Còn Việt Nam là một sai lầm chính trị và kiến trúc sư trưởng là cánh dân sự). Tất cả loại cờ đỏ ở đó dành cho ông, những loại cờ mà ông chọn không nhìn thấy. Thế là các đơn vị của ông, quyền chỉ huy bị chia rẽ, liên lạc thường yếu ớt một cách nguy hiểm, thời tiết thì tệ đi từng này, vẫn tiến lên phía bắc, trong khi quân Trung Hoa quan sát và kiên nhẫn chờ họ trên các ngọn đồi cao, chuẩn bị sẵn sàng khóa các tuyến giao thông huyết mạch nhỏ hẹp dành cho việc rút lui hay trốn chạy. Cũng chính vị tướng đã tranh luận cho việc chọn Inchon bởi quân Bắc Triều Tiên có điểm yếu về tuyến tiếp vận, giờ lại cho phép chính tuyến tiếp vận của ông kéo dài một cách nguy hiểm trên vùng đất mà ông không khống chế được. Cũng chính vị tướng đã muốn đổ bộ vào Inchon bởi điều này có thể làm kết thúc cuộc chiến nhanh chóng và giảm bớt nguy cơ lính của ông phải đánh nhau trong mùa đông Triều Tiên khắc nghiệt, giờ đây lại sẵn sàng đưa họ lên xa hơn phía bắc trong khi mùa đông Mãn Châu đang đến. “Một trong những điều tôi thấy khó hiểu nhất – và khó tha thứ ở góc độ một tư lệnh” gần 40 năm sau Matt Ridgway nói “là phía Tokyo mù tịt với những điều kiện mà quân của họ phải chiến đấu ở đó”.

Trong số nhiều sai lầm nghề nghiệp mà MacArthur phạm phải trong thời điểm đó, bao gồm cả sự ngạo mạn và phù phiếm, không gì lớn hơn việc ông đã đánh giá thấp quân thù. Trung Hoa mà ông nghĩ rằng ông hiểu – dù rằng trong toàn bộ thời gian ở châu Á, ông hầu như không có lúc nào ở đó – là một Trung Hoa của thế kỷ 19. Như Bruce Cumings, một sử gia cuộc chiến Triều Tiên ghi nhận, người Châu Á trong mắt MacArthur là: “dễ bảo, biết vâng lời, ngây thơ và nhanh chóng đi theo sự lãnh đạo kiên quyết”. Trong cuối thập kỷ 1940, đó là điều đúng với Nhật Bản, bởi người Nhật, sau thất bại thảm hại trong cuộc chiến, đang tìm kiếm những bài học từ những người chiến thắng. Nhưng đa số phần còn lại của khu vực lại nhiễm vào cuộc cách mạng mới. Những gì xảy ra trong nội chiến Trung Hoa phản ánh rất nhiều cho những thay đổi đó, những điều mà MacArthur chọn không bao giờ hiểu. Đó là một phần bản chất của ông, và đó cũng là điều trở thành huyền thoại nơi ông. Ông không đặt câu hỏi; do điều này sẽ ngụ ý rằng có vài thứ ông không hiểu biết. Thay vào đó ông là một dạng sấm truyền, một người mà mọi người khác đến để nghe. Thiếu tướng Dave Barr, trưởng phái bộ cố vấn quân sự cuối cùng của Mỹ ở Trung Hoa [Dân quốc], một nhân chứng cho sự trỗi dậy của Mao Trạch Đông và rất hiểu biết về những chiến thuật của phía Trung Hoa cộng sản, ông là một sư đoàn trưởng ở Triều Tiên khi Trung Hoa tham chiến. Ông hiểu hơn đa số sỹ quan Mỹ về việc tại sao những người Cộng sản chiến thắng ở Trung Hoa, nhưng MacArthur không thèm để ông hướng dẫn cho các sư đoàn trưởng, trung đoàn trưởng khác.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Một, 2013, 01:53:39 am
Trung Hoa tồn tại trong trí óc MacArthur là một Trung Hoa chưa bị cuộc cách mạng đụng tới. Ông dường như chẳng thèm quan tâm việc Mao đã làm gì, làm như thế nào để chiếm được quyền lực và dường như cũng chẳng mấy quan tâm đến các lực lượng do cuộc cách mạng đã sinh ra. Ông cũng cho thấy sự thiếu tò mò lạ lùng về ai là địch thủ của ông và tại sao họ đã rất thành công trong quá khứ. Dù có những thông tin trước khi Trung Hoa tấn công, dù họ có được tin tức từ những tù binh, nhưng bộ phận tình báo của Charles Willoughby biết rất ít về chỉ huy của quân địch, đến cuối tháng Mười Hai, một tháng sau đợt tấn công lớn của Trung Hoa, MacArthur vẫn nghĩ Lâm Bưu chứ không phải Bành Đức Hoài là tư lệnh phía Trung Hoa. Dường như MacArthur tin rằng chiến thắng của Cộng sản trong nội chiến không có ý nghĩa gì lớn lao mấy. Lực lượng quân sự của Cộng sản “được đánh giá quá cao”, ông nói vậy với đại diện Hạ viện hồi tháng Chín năm 1949, một tháng trước khi Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập chính quyền. Cách để đánh bại họ, ông nói lúc đó, là đánh “ở nơi chúng yếu nhất, cụ thể là trên không và trên biển”. Ông nói thêm, tất cả những gì phải làm là đưa “500 phi cơ chiến đấu, đặt dưới quyền của những kỵ binh kiểu cũ như tướng Chennault”. Ông đã khéo léo dùng không quân trong chiến dịch của mình ở Thái Bình Dương chống quân Nhật, như một kiểu pháo binh tầm xa, và dường như ông tin rằng có thể dùng đúng cách đó để đánh với quân Trung Hoa. Niềm tin về sự áp đảo của không quân Mỹ hơn mọi điều khác, cho thấy một sai lầm quân sự, sớm ám ảnh, nếu không chỉ với cá nhân MacArthur, không nghi ngờ gì mà còn với mọi cá nhân chiến đấu dưới quyền ông. Trông như thể ông cho rằng lính Trung Hoa sẽ hành quân thẳng đến tuyến quân Mỹ vào ban ngày trong đội hình chiến đấu truyền thống, thách thức quân Mỹ quét sạch họ từ trên không. Ông mù quáng bởi thành công trong việc dùng không quân ở Thế Chiến II, Joe Collins sau này viết, nhưng đó là khi đánh nhau với các mục tiêu cố định, không di chuyển của quân Nhật, chứ không phải là với quân Trung Hoa cùng cái cách họ xuất hiện trong cuộc chiến này. Đáng tiếc thay, Collins nhận định, gần như không có cảm nhận trực tiếp chiến trường ở sở chỉ huy của ông ta.

MacArthur có câu thần chú riêng về các lực lượng đang đánh nhau. Ông tự kiêu về sự hiểu biết của ông với cái mà ông gọi là tâm lý phương Đông, hoặc cụm từ mà ông dùng đi dùng lại “suy nghĩ phương Đông”. Ông nói rằng người châu Á kính trọng những ai có uy, mạnh mẽ và không dao động. Một trong những huyền thoại lớn của chiến tranh Triều Tiên, Mike Lynch nói, ông này sau khi Johnnie Walker mất đã thành phi công của Matt Ridgway và quan sát nhiều nhân vật chính của cuộc chiến đó ở khoảng cách rất gần, “là kiến thức về đầu óc phương Đông do Douglas MacArthur tự nhận. Chúng ta có thể hiểu về những doanh nhân giàu sụ ở Manila, những lãnh đạo người Hoa tham nhũng và hèn nhát trong quân đội Tưởng giới Thạch, và những người Nhật hạ mình ở Tokyo. Nhưng chúng ta không biết gì về chiến binh Bắc Triều Tiên cứng cỏi, hoặc những người Trung Hoa tận tụy đã đánh bại Tưởng giới Thạch. Đó là một sai lầm cổ điển trong nguyên tắc cơ bản nhất của những tư lệnh quân đội: hiểu về kẻ địch của mình”.

Trên thực tế MacArthur không có hiểu biết nhiều về châu Á. Ông không ở trên lục địa châu Á từ năm 1905; và ông chẳng mấy quan tâm tới những sự kiện mà ông không thích. Nếu có bất kỳ quốc gia châu Á nào ông hiểu biết khá, thì đó là Phillipin, một quốc gia khá khác biệt với đa số những quốc gia châu Á khác như là New York khác Texas vậy. Ở đó, thực tế ông là một dạng người hùng quốc gia và có mối quan hệ cực tốt với tầng lớp trên, và cũng đã được tưởng thưởng khá nhiều cho vai trò của mình. Thực sự là ông và vài nhân vật chính trong ban tham mưu của mình nhận được những khoản chi khổng lồ từ đầu năm 1942 từ nhà lãnh đạo Phillipine Manuel Quezon, nhằm đảm bảo vai trò của họ ở tư cách những người bạn có ảnh hưởng của Manila trong tương lai. Ngay cả trước khi ông rời quần đảo này sang Úc, một trong những vụ thu xếp tài chính khó xử nhất trong cuộc chiến, Quezon đã chuyển 640,000 đô la Mỹ cho MacArthur và vài thành viên ban tham mưu. “Hiếm khi, nếu có, sỹ quan Mỹ nào nhận được bằng chứng về sự kính mến cao như vậy”, Carol Morris Petilli khi viết về vụ này đã khô khan nói. Trong số đó, 500,000 cho bản thân MacArthur (có lẽ tương đương với 10 triệu đô hiện nay, miễn thuế); Richard Sutherland, tham mưu trưởng bị khinh miệt nhiều của ông ta, nhận 75,000 đô, cấp phó của Sutherland là Richard Marshall được 45,000 và Sid Huff một trợ tá khác của MacArthur nhận 20,000. Bộ Chiến Tranh biết việc này, nghĩa là George Marshall và chắc chắn Roosevelt biết giao dịch này, nhưng không ai cố cản. Không lâu sau đó Quezon cũng ra một đề xuất tương tự với Eisenhower, lúc này là một sỹ quan quan trọng ở Washington, vì lý do ông đã phục vụ ở quần đảo từ năm 1935 đến 1939. Eisenhower đã khôn ngoan và tử tế từ chối Quezon đồng thời ghi vào trong hồ sơ cán bộ của ông giải trình về việc này.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Một, 2013, 02:04:23 am
Cũng như rất nhiều tướng lĩnh trước ông, MacArthur tin rằng một cuộc chiến sẽ rất giống với cuộc chiến tiếp theo – nay cả khi đó là với một kẻ thù khác – và thế là ông thất bại trong việc hiểu được sự khác nhau giữa hai quân đội châu Á to lớn mà ông chiến đấu trong hai cuộc chiến rất khác nhau. Trong thế chiến II, người Nhật đưa ra một quân đội truyền thống, đánh nhau trong một cuộc chiến tranh qui ước, điểm yếu không nằm ở khả năng có hạn của từng cá nhân người lính, mà là hạn chế của cơ sở kỹ nghệ đất nước họ. Với góc độ quân sự, thực vậy họ yếu ở sức mạnh truyền thống, nhất là không quân. Người Trung Hoa thì ngược lại, ít nhất đất nước họ không được công nghiệp hóa nhiều, họ hiểu điểm yếu của họ rất rõ, và đã biến đổi chiến thuật của họ cho phù hợp. Phần lớn cung cách chiến đấu của họ phản ánh tình trạng ban sơ của nền kinh tế kỹ nghệ. Họ có thể di chuyển những lực lượng lớn mà không bị phát hiện ra – di chuyển vài sư đoàn trong khoản cách lên đến 15 dặm trong đêm mà không có một điếu thuốc nào được hút, rồi đào hang hốc trong ban ngày – làm MacArthur và ban tham mưu hoàn toàn bất ngờ.

Thế là các đơn vị của MacArthur tiếp tục tiến mạnh về phía sông Áp Lục, còn quân Trung Hoa cẩn thận chuẩn bị một trận phục kích lớn nhất trong thời kỳ chiến tranh hiện đại. Giờ đây những gì phía Trung Hoa muốn là MacArthur tiến xa hơn lên phía bắc, làm tuyến tiếp vận của ông thêm phần không ổn định. Hồi Lei Yingfu báo cáo với Mao Trạch Đông về ý định tấn công của MacArthur lên Inchon lúc cuối tháng Tám, nhà lãnh đạo Trung Hoa đã hỏi ông dồn dập những câu hỏi không chỉ về những chiến thuật của vị tướng đó trong quá khứ mà còn cả những chi tiết cá nhân ông ta nữa. Lei trả lời rằng ông ta “nổi tiếng vì sự ngạo mạn và tính bướng bỉnh”. Điều này hấp dẫn Mao. “Tốt, tốt” ông nói “Hắn ta càng ngạo mạn, càng bướng bỉnh càng tốt.” Ông thêm “Một kẻ địch ngạo mạn thì dễ đánh bại”.

Giờ đây ban tham mưu của MacArthur, theo cái tôi của ông ta, đã đóng vai trò chính, xác quyết những gì ông ta muốn sẽ xảy ra thành việc đã xảy ra, và rằng  bất kỳ lo ngại nào với định kiến của ông bị tối thiểu hóa. Clark Lee, một phóng viên và Richard Henschel, phóng viên ảnh chiến trường, họ đã đi cùng MacArthur xuyên suốt thế chiến II, có lần đã viết rằng ban tham mưu phản ánh những gì tệ hại nhất trong ông bởi ban ấy đã làm tăng thêm tính chất của sự tệ hại đó, chứ không phải bù đắp cho điều đó. Hai ông viết “Một số hành động như thể họ là những người đã đưa ông xuống khỏi cây thập giá sau khi ông bị đóng đinh lên đó bởi Marshall- đô đốc King – Harry Hopkins [những nhân vật hàng đầu Washington thời đó] và họ xác quyết rằng không có điều gì lần nữa có thể tổn thương ông ấy”. Luôn là như vậy. Tại một thời điểm nhiều năm trước MacArthur đụng độ với tướng Marshall. “Ban tham mưu của tôi” ông bắt đầu, nhưng Marshall ngắt lời ông: “Ngài không có một ban tham mưu, thưa tướng quân. Ngài có một tòa án”. Với Joseph Alsop, một nhà báo đồng cảm trên danh nghĩa, thì lề thói của ban tham mưu MacArthur ở Tokyo dường như không khác mấy với những gì Alsop đọc về tòa án của vua Louis XIV. Ông viết: Tòa nhà Dai Ichi  “là nguồn gốc mọi hành vi cơ bản của các tập đoàn quân trên chiến trường: nhưng lại ở xa hơn, nhận tin từ tiền tuyến, chậm chạp hơn, xu nịnh hơn và ngu xuẩn hơn”.  Ai ai cũng chậm chạp và bợ đỡ MacArthur, và âm điệu của họ với ông “luôn luôn hoàn toàn màu mè và tỏ vẻ tôn kính, và tôi luôn giữ lại quan điểm rằng sự bợ đỡ đó rốt cuộc sẽ là thứ làm ông vấp ngã”.

Đến mùa thu năm 1950, vũ trụ của họ là một vũ trụ nhỏ nhưng không bền vững. Nếu ông cười, họ sẽ cười; nếu ông tư lự họ sẽ tư lự. Nói sự việc diễn tiến tốt, đó là bởi ông là một con người vĩ đại; còn nếu không, thì đó là bởi những kẻ thù truyền kiếp ở Washington. Sử gia William Stueck viết một câu rất thích hợp: lúc này “vây quanh bản thân ông” là  những người “không quấy rầy cõi thần tiên ông ta [MacArthur] tự tạo”. Không nơi nào sự yếu kém của ban tham mưu ám ảnh ông như ở Triều Tiên, và hiếm có thất bại nào mà không liên quan tới một nhân vật – trưởng ban tình báo của ông, ban G-2, Charles Willoughby. Không chỗ nào trong sở chỉ huy của MacArthur có cách biệt rõ ràng giữa tài năng cần cho công việc với thiên kiến cùng sự khoa trương của một người mang trọng trách đáng kể như Willoughby, hay Sir Charles, hoặc Ngài Willoughby, hay Baron von Willoughby – hoặc Bonnie Prince Charles như đôi khi ông được các sỹ quan không thuộc băng Bataan gọi. Dave Barret, trưởng phái đoàn Dixie, cho rằng ông ta là một hình ảnh biếm họa. Lúc riêng tư ông gọi ông ta là “Hoàng tử xứ Pilsn”. Còn Carleton West, một sỹ quan tình báo trẻ từ OSS nói, tên của Willoughby đáng ra phải đánh vần là chữ V – Villoughby – bởi sự quá Phổ, độc đoán và ngạo mạn của ông ta.  Có lần Willoughby hỏi tiến sỹ Roger Egeberg, một trong những cán bộ tham mưu cao cấp “Roger này, cậu có nghĩ tôi phát âm có quá giống người Phổ không?”. Nhưng có thể nói, Egeberg thêm, rằng ông ta rất tự hào về điều đó. Có dịp MacArthur đã gọi ông ta là: ”Tay phát xít dễ thương của tôi”


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Một, 2013, 02:07:27 am
Willoughby không chỉ là cán bộ tình báo chính của MacArthur khi bước vào cuộc chiến Triều Tiên, mà ông còn là cán bộ tình báo quan trọng duy nhất. Phần lớn các vị tư lệnh đều muốn có nhiều nguồn thông tin tốt nhất có thể; còn MacArthur chỉ tập trung vào những nguồn tin tình báo hạn hẹp và bị khống chế. Khao khát của ông là không có bất đồng quan điểm hoặc ngay cả ý kiến lựa chọn trong tầm của ông. Vấn đề luôn quan trọng với ông là các báo cáo tình báo phải phù hợp với những gì ông định làm ở đó. Điều này có nghĩa là tin tình báo của Willoughby chuyển cho MacArthur phải được làm theo khuôn khổ một cách có chủ đích.  Những ước đoán tình báo có tính chuyên nghiệp cao cho thấy có sự gia tăng hiện diện của Trung Hoa, điều này có thể ngăn cản ông làm việc ông muốn nhất: cú tiến sau cùng đến sông Áp Lục. Chỉ sau thất bai thê thảm to lớn của Willoughby về dự định và vị trí các tập đoàn quân Trung Quốc, thì CIA mới được phép trở lại khu vực.

Willoughby là một người gốc Phổ cực hữu “hoàn toàn lý thuyết và gần như không có chút thực tế nào” đó là những từ do Frank Wisner, Giám đốc kế hoạch của CIA phát biểu. Ông ta luôn dường như không thể đồng hóa hoàn toàn: ông ta nói với Robert Sherrod, người của tạp chí Time trong Thế chiến II, rằng nước Mỹ nên chiến đấu với một kẻ thù khác. “Chính sách này của Washington chẳng đi vào đâu cả” ông nói “Chúng ta nên giao nước Anh cho nước Đức. Cuộc chiến của chúng ta sẽ kết thúc ở đây [châu Á]”. Siêu anh hùng của ông – hơn cả MacArthur – là nhà độc tài Tây Ban Nha Francisco Franco, một tay phát xít chính cống đã được phát xít Đức ủng hộ để nắm chính quyền trong thập niên 1930 và rồi nghiên hẳn về phía Đức trong suốt thế chiến II. Ngay cả khi ông công tác trong ban G-2 của MacArthur, ông vẫn bận rộn với tiểu sử của Franco. John Gunther đã bất ngờ khi trong một bữa ăn tối hồi giữa Thế chiến II, Willoughby, người cay độc  với những lãnh đạo quân – dân sự Mỹ ở châu Âu và Washington, đột nhiên nâng cao ly của ông và chúc : “vị chỉ huy quân sự vĩ đại thứ nhì trên thế giới, Francisco Franco”, một nhân vật khó là đồng minh, hoặc là bạn của Hoa Kỳ. Frank Gibney, một phóng viên trẻ của tờ Time chuyên trách Willoughby, ghi rằng ông ta “luôn nói về hai vị tướng vĩ đại, và vấn đề lớn của bạn là ở một thời điểm nào đó phải hiểu vị tướng vĩ đại nào ông ta đang nhắc đến, MacArthur hay Franco. Ông ta đang nói rằng nhận được rượu gửi từ Tướng quân, thế là bạn phải hiểu đó có lẽ là Franco, với giả định rằng Tây Ban Nha có liên quan tới rượu nhiều hơn là nhân vật đang ở tòa nhà Dai Ichi”.

Không một sở chỉ huy nào Willoughby có thể với tới vị trí quá quan trọng như vậy, và khi ông leo càng cao thì các đặc tính Phổ càng đậm. Khi có dịp, ông đeo kính một mắt, dù rằng, như một sỹ quan đồng đội nói, làm ông giống Erich von Stroheim, một nhà làm phim, hơn là giống Gerd von Rundstedt, tổng tham mưu trưởng quân Đức trong Thế chiến II. Có những điều đáng khinh trong lối cư xử của Willoughby, Gibney nghĩ, như việc ráng cố có vẻ quý phái hơn. “Ông ta ra chỗ CLB Tokyo, sẵn sàng chơi tennis với bọn bợ đỡ ông ta, những đại tá thuộc ban ông, trong những ngày nóng nhất. Ông ta nhìn quanh trông thấy bạn, và nói ‘A Gibney, thể hiện tốt đó, thật tốt khi thấy cậu ra đây chơi hôm nay, Gibney – à, người ta nói chỉ có những con chó điên và người Anh mới ra ngoài trời trưa nắng thế này, nhưng tôi cũng thế’. Và điều dễ sợ là bọn đại tá nịnh bợ đó rú lên cười như thể ông ta nói cái gì vui lắm, và thế là đột nhiên bạn sẽ lo ngại cho những tin tình báo đến sở chỉ huy Tokyo và đưa về Washington”.

Có nhiều tranh cãi về nguồn cội của ông. Tuyên bố của ông rằng ông là hậu duệ của một người bố Đức quý phái và một người mẹ Mỹ nói chung được tin là không đúng, và hầu hết mọi người tin rằng ông đã tự bịa ra người quý tộc đó. Rõ ràng là ông đã làm chút ít để giải quyết những bí ẩn trong quá khứ của ông. Trong quyển Who’s Who Mỹ và trong tiểu sử ông viết cho quân đội, Willoughby nói ông sinh ở Heidelberg, Đức vào ngày 8 tháng Ba năm 1892, và là con của Freiherr (Baron) T. von Tscheppe-Weidenbach và bà Emma von Tscheppe-Weidenbach (tên thời con gái là Emma Willoughby of Baltimore). Nhưng trong hồ sơ lưu ở Heidelberg ngày đó chỉ ghi nhận sự ra đời của Adolf August Weidenbach, cha là ông August Weidenbach, thợ làm dây thừng, và bà Emma Langhauser, một người Đức. Theo Frank Kluckhohn của tờ The Reporter, tìm kiếm trong thư tịch Đức cho thấy không có ai có quyền hợp pháp ban cho chữ “von” trong tên của Willoughby. Một trong những người bạn của Willoughby từ hồi xưa xác nhận rằng cả cha lẫn mẹ ông đều là người Đức và cái họ Willoughby là một cách chuyển ngữ thô của Weidenbach, vốn mang nghĩa là “suối liễu” theo tiếng Đức. Kluckhohn đã hỏi Willoughby về điều này và ngay sau đó được trả lời rằng ông thực ra là một trẻ mồ côi, và không bao giờ biết cha mình là ai và bị kẹt với cái phiên bản trên Who’s who. Hình như ông đến Mỹ lúc 18 tuổi vào năm 1910 và vào quân đội dưới cái tên Adolf Charles Weidenbach. Trong ba năm ông đóng được lon trung sĩ, rồi rời quân ngũ, đến học ở trường Gettysburg, sau đó học vài khóa ở đại học Kansas, và rồi dạy ngoại ngữ cho các trường nữ ở vùng Trung tây. Đến năm 1916, trở lại quân đội, phục vụ ở vùng biên giới Mexico, và có cả đến Pháp nhưng không tham gia chiến đấu thực tế. Sau chiến tranh, ông phục vụ với tư cách tùy viên quân sự ở Venezuela, Colombia, và Ecuador, ở đó Ned Almond lần đầu chạm mặt với ông ta, và theo Bill McCaffrey, ghét ông ta. Rốt rồi ông trở thành một kiểu sử gia quân đội và là một sỹ quan tình báo. Đâu đó vào giữa thập niên 1930, ông làm quen được với MacArthur khi ông này dạy ở Fort Leavenworth, bang Kansas, một nơi Lục quân gửi những sỹ quan đang ở giữa sự nghiệp có triển vọng nhất vào các khóa học huấn luyện bổ sung, và năm 1940 ông tháp tùng MacArthur đi Phillipine, và nhanh chóng trở thành một chuyên gia tình báo trong ban tham mưu của MacArthur. Và từ đó, một trong những công việc chính của ông là khuyếch đại huyền thoại của MacArthur. Ông đã làm trong cả Thế chiến II cũng như những năm ở Tokyo và Triều Tiên để nghiên cứu sâu về binh nghiệp MacArthur, ông nói rằng nghiên cứu đó dài cả ba ngàn trang giấy, dù rằng quyển sách khi ông xuất bản chỉ có độ dài bình thường.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Một, 2013, 02:09:30 am
Nếu như ban tham mưu của MacArthur luôn thống nhất trong việc chống lại bất kỳ thách thứ nào đến từ bên ngoài, thì bên trong cũng luôn có nhiều bè phái đánh nhau để dành ân sủng đặc biệt từ vị tướng; Willoughby và Courtney Whitney, một sủng thần khác của MacArthur, một luật sư đồng thời cũng giúp làm vài công tác pháp luật cho ông ta, họ liên tục đánh nhau để dành vị trí sủng thần hạng nhất.  Whitney đặc biệt hữu dụng trong những năm ở Phillipine bởi mối quan hệ của ông với tầng lớp trên của xã hội Manila, nhưng Willoughby rất biết nghe những gì MacArthur muốn nghe và ông ta còn muốn đặt sự sùng bái MacArthur ở vị trí cao nhất trong lịch sử. Năm 1947, ông viết thư cho MacArthur: “Không một nhân vật đương thời nào có thể sánh được với ngài… Về cơ bản [mọi người] phải theo một nhà lãnh đạo vĩ đại, một con người cụ thể chứ không phải là một sự tưởng tượng, theo một Malbrough [sic], theo một Napoleon, theo một Robert E. Lee. Dưới đó, có những đồng minh lâu năm … Một quý ông có thể phục vụ một đại nhân. Đó sẽ một kết cục có hậu cho sự nghiệp của tôi… và như tôi phóng tầm mắt nhìn khắp thế giới, những đại lãnh chúa khác đang rời vũ đài, đang chiến đấu trong một cuộc chiến cay đắng bảo vệ hậu phương chống lại đám đông vô danh thấp hèn dẫn dắt bởi  ngọn roi của người Nga”.

Tồn tại người như Willoughby là bằng chứng cho việc nhiều sỹ quan cao cấp ở Washington cho rằng MacArthur đang điều hành quân đội của riêng ông, và vuột xa tầm tay của chủ tịch Hội đồng Liên quân. Với họ, Willoughby là hàng thừa bỏ qua một bên từ hồi Thế chiến I “cái kiểu quá người Phổ khiến tất cả những gì ông ta cần là một cái nón sắt có chóp đinh”, theo như cách dùng từ của Clayton James, người viết tiểu sử của MacArthur. Thành kiến tư tưởng mãnh liệt của ông ta làm cả những người khác trong ban tham mưu của MacArthur cũng không thoải mái. Trong những trận tranh cãi nội bộ ban tham mưu về tương lai của nền dân chủ Nhật, Willoughby là một người nồng nhiệt cực kỳ, ráng đá đại bản doanh của chính sách Kinh tế mới tự do, những người ông cho là cộng sản hoặc thiên cộng. Ông cũng là một tay kiểm duyệt báo chí tự phong, luôn cảnh báo bất kỳ sự vượt quá giới hạn nào chống lại cả sự chiếm đóng lẫn cá nhân MacArthur. “Có vài người trong số chúng tôi tường thuật về các cuộc tranh luận trong chính giới ở những ngày đó – một chủ đề quan trọng và rất lý thú, ở đó có các trận chiến nảy lửa về hướng đi một nước Nhật mới cần theo. Điều này cũng có nghĩa là tường thuật về hai lực lượng chính trong đại bản doanh của MacArthur, phái cải cách, và phái truyền thống,” Joseph Fromm của tờ US News & World Report nói “Willoughby hoàn toàn tin  – bởi tôi đã làm những bài tường thuật nguyên gốc về sự phân hóa này, những bài tường thuật mà cả ông ta lẫn MacArthur đều không ưa – rằng tôi là một người Cộng sản. Tôi nhớ có một ngày ông ta gọi tôi đến gặp một – một, và đó là một chuyện hoàn toàn điên khùng. Tất cả những gì ông ta muốn là nói chuyện về Lenin và Marx, từng người, như chúng ta hiểu cuộc chơi đó là gì, ông ta: một người chống Cộng và là một con người của luật lệ và tôi, trong suy nghĩ của ông ta, một tay Cộng sản và như thế là ngoài vòng pháp luật, và chúng tôi có thể bằng nhau ở cuộc đấu khẩu này, biện luận về điều đó, những nhân vật tầm thế giới, nhưng cuối cùng quan điểm của ông ta về chủ nghĩa cộng sản chiến thắng tôi”. Nhiều năm sau, Fromm lấy được hồ sơ an ninh của ông thông qua đạo luật tự do thông tin. Và thứ này làm ông choáng váng bởi chứa lượng dữ liệu tào lao rất lớn về ông, tất cả những thông tin đó được Willoughby và lính của ông ta trong ban G-2 làm, đa số trong đó là xấu xa, và khoét rộng ra, mà đa số là không chính xác một cách đáng ngạc nhiên “đó là những thứ có thể làm đổ vỡ sự nghiệp của một con người nếu nó bị nhìn nhận nghiêm trọng. Chẳng biết nói gì về những người chịu trách nhiệm sưu tập thông tin đó nhỉ, rất lãng phí thời gian vào việc đó, và thật choáng váng trước sự bất tài của sở chỉ huy dính dáng tới thực tế này”


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Một, 2013, 02:14:18 am
Như những lý thuyết gia ở cả hai phía, Willoughby rất bí ẩn. [Theo ông ta] Những gì diễn ra ở lục địa Trung Hoa không là một sự kiện mang tính lịch sử do những lực lượng bị áp bức một thời gian dài đã tìm thấy phương thức chính trị mới để biểu đạt nguyện vọng, mà đó là việc của những nhà âm mưu. Trong một lá thư gửi đến Ủy ban Các hoạt động chống Mỹ của Hạ viện vào tháng 5 năm 1950, một tháng trước khi cuộc chiến bắt đầu, ông ta khẳng định rằng “Những bộ não người Mỹ cộng sản đã lên kế hoạch cho việc cộng sản hóa Trung Hoa”. Ông viết rằng, có những người thiên cộng “cuồng tín không thể giải thích nổi với lý do xa lạ, theo nhánh cộng sản “thánh chiến” của chủ nghĩa đại Slavơ nhằm chinh phục thế giới phương Tây”. Và như vậy, ông ta xếp vào nhóm rất gần với vài nhân vật cực kỳ đặc biệt cũng làm công việc này ở Mỹ. Hồi đầu năm 1947, ông khởi động một cuộc điều tra riêng của ông về những người Mỹ đang công tác ở Nhật, một cuộc điều tra, như Bruce Cumings chỉ ra, không khác gì với những thứ do McCarthy làm ba năm sau đó. Willoughby có mối tiếp xúc thường xuyên với HUAC, và với Alfred Kohlberg, một con người được xem là nhân vật trung tâm của hội vận động Trung Hoa, cũng như ở FBI, ông này đưa ra những thông tin độc ác về những ai ông nghĩ là thành phần cánh tả nguy hiểm, trong số đó có những cán bộ ở Bộ Ngoại giao, những người đã có cái nhìn tối tăm về cơ hội của Tưởng giới Thạch. Ông còn gửi một số cái tên đến cho cả McCarthy để sử dụng trong cuộc điều tra của ông ta. Quảng sau của cuộc đời, sau khi MacArthur đã bị giải nhiệm, Willoughby cho thấy những mối quan hệ quan trọng với cánh cực hữu ở Hoa Kỳ, và bắt đầu viết những bài báo còn độc hại hơn, phân biệt chủng tộc hơn và bài Do thái hơn. Khi Eisenhower lấy được vị trí đại diện ứng cử cho đảng CỘng hòa vào năm 1952, Willoughby nói MacArthur rằng điều này cho thấy đảng Cộng hòa là một phần của một “âm mưu tài tình nhằm duy trì con quỷ hút máu của cơ chế Roosevelt-Truman”.

Đó là lăng kính trí tuệ mà những tin tức tình báo quan trọng phải xuyên qua để đến Tokyo. Chìa khóa của sự quan trọng của Willoughby không nằm ở sự không thích đáng hiển nhiên của ông ta; mà đó là do ông thể hiện một dạng tâm lý nhu nhược cực kỳ  trước một con người tài năng nhưng không hoàn hảo mà ông đang phục vụ, trước nhu cầu cần có ai đó luôn đồng ý với con người tài năng đó mọi lúc và xu nịnh ông ta thường xuyên. Phần lớn những cán bộ chỉ huy khác khinh thường Willoughby. “Tôi luôn sợ rằng một ngày nào đó lão ta có thể bị giết, bởi nếu như vậy, tôi chắc sẽ bị bắt, bởi tôi cực kỳ ghét lão ý, và cũng nói thẳng về lão ý” có lần Bill McCaffrey nói. “MacArthur không muốn Trung Hoa tham chiến ở Triều Tiên. Mọi thứ MacArthur muốn, Willoughby sẽ sản xuất tin tình báo cho việc đó… Trong trường hợp này Willoughby xuyên tạc những báo cáo tình báo…Nên tống ông ta vào tù”,  trung tá John Chiles, trưởng phòng tác chiến, phòng G-3, quân đoàn 10 và là một trong những cấp phó tín cẩn nhất của Almond nói.

Chưa bao giờ vai trò của ông quan trọng hơn như hồi cuối tháng Mười, khi ngày càng nhiều báo cáo đáng tin cậy chảy về, rằng quân Trung Hoa đã xâm nhập vào vùng cực bắc của Triều Tiên. Đây là thời điểm Willoughby sắp đặt chứng minh rằng hoặc là họ không có ở đó, hoặc nếu có, thì chỉ là một số lượng nhỏ và mang tính chất quân tình nguyện. Ông ta đã làm mọi thứ có thể để tối thiểu hóa chứng cứ quá mạnh mẽ rằng chính quân Trung Hoa đã tấn công quân Nam Hàn và trung đoàn kỵ binh số Tám (Mỹ) ở gần Unsan vào cuối tháng Mười – đầu tháng Mười một. Nhiều người từng chiến đấu ở đó tin rằng, chính sự không chịu phản ứng nhanh chóng trước bằng chứng trưng ra bởi những tù binh Trung Hoa đầu tiên, sự thiếu thiện chí của ông để ghi một điểm lưu ý quan trọng trong các báo cáo tình báo của ông ta, phải chịu trách nhiệm trực tiếp cho sự tổn hại nghiêm trọng mà lính kỵ binh ở Unsan và nhanh sau đó là tập đoàn quân Tám phải hứng chịu, cho sự hi sinh của rất nhiều bằng hữu, và trong một số trường hợp, còn cho sự chịu đựng lâu dài của họ trong các trại tù binh Trung Quốc và Triều Tiên. Với họ, những gì ông ta thể hiện rất gần với quỷ dữ, người nào đó thường hay quát ầm ĩ về những hiểm họa của chủ nghĩa cộng sản và Trung Hoa, nhưng rồi lại làm cho phần việc của chúng dễ dàng hơn bằng cách đưa các lực lượng LHQ vào trận phục kích lớn đó. Bill Train, một sỹ quan hành quân (G-3) cấp thấp, trẻ, thông minh nghĩ: ông ta là người đã phản đối sự khẳng định chắc chắn của anh trong những tuần quan trọng đó: “một cái vòi xịt – một ai đó làm như ông ta biết rõ ông đang làm gì – nhưng rốt cuộc những gì ông ta là hoàn toàn vô giá trị, không được cái gì cả. Không gì cả. Ông ta làm mọi thứ đều sai. Mọi thứ! Những gì ông ta làm trong những ngày đó là để chống lại sự thật, và cố giữ không cho điều đó đi từ cấp thấp lên cấp cao hơn, chỗ lí ra nó phải được xử lý”.

Sự quan trọng và giá trị của các cán bộ tình báo độc lập, tốt trong chiến tranh khó có thể cường điệu. Một sỹ quan tình báo lớn phải tìm tòi được những ẩn số và hoạt động trong bóng tối, cố để thấy được những sự kiện sẽ sảy ra. Người đó phải khống chế được những cảm xúc, định kiến, thành kiến bản năng trước những sự thật, người đó phải đứng vững trước sự thật, ngay cả khi điều này có nghĩa là hầu như phải đứng một mình. Những sỹ quan tình báo giỏi phải chấp nhận công việc không vui là nói cho thượng cấp của mình nghe những gì họ không muốn nghe. Một sỹ quan tình báo vĩ đại phải cố để khiến cho ẩn số ít nhất là phải thể hiện ra một phần; người đó phải ráng suy nghĩ như kẻ địch nghĩ, và người đó phải lắng nghe cẩn thận những ai dù không đồng tình, bởi đơn giản là anh ta hiểu rằng anh phải biết thách thức hệ thống giá trị của mình để hiểu về bản chất và động năng của phía bên kia.

(http://tieungoclang.files.wordpress.com/2013/08/willoughby.jpg?w=625)


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Một, 2013, 02:18:09 am
Trên mọi phương diện, Charles Willoughby không chỉ thất bại trong việc đáp ứng vị trí này, mà còn rất đối nghịch với nó. Ông không vô hại, kiểu như bác đại tá Mỹ Blimp, đã về hưu lâu rồi, chán nản cùng những ông già khác ở những câu lạc bộ hạng hai với những bài ca than van rằng không có gì tốt như hồi ông còn trẻ, rằng cái bọn trẻ không còn dũng cảm như hồi ông vừa được tuyển mộ. Ông ta phải được xem, như Carleton Swift một sỹ quan tình báo 31 tuổi nghĩ, là một thằng hề nếu ảnh hưởng từ những hoạt động của ông ta không quá nghiêm trọng chết người như vậy. Swift, người của CIA (xuất thân là OSS), hoạt động với vỏ bọc bộ Ngoại giao là lãnh sự ở tòa đại sứ Mỹ tại Seoul và như vậy là xa tầm với của Willoughby. “Ở Willoughby có sự ngạo mạn dù rằng ông hoàn toàn không biết đến sự cân nhắc, sự thận trọng – mà bạn cần có để là một sỹ quan tình báo giỏi. Trông như thể ông ta luôn luôn đúng, và luôn luôn là đúng. Sự tin chắc nối tiếp tin chắc trào ra từ ông. Như thể luôn có dấu chấm cảm sau mỗi câu ông ta nói. Nếu ông nói điều gì đó sẽ không xảy ra, thì nó sẽ không xảy ra – nó không thể xảy ra. Ông nói những thứ kiểu như ‘Chúng tôi biết rằng họ sẽ làm điều này, và chúng tôi biết họ sẽ không làm điều kia’. Tệ nhất là bạn không thể thách thức ông ta. Bởi ông ta luôn làm rõ rằng ông nói thay cho MacArthur, và nếu bạn thách thức ông ta cũng có nghĩa là bạn đang thách thức MacArthur. Và điều này rõ ràng là không được phép. Như thế thật khó cho những tin tình báo trên thực địa đến được sở chỉ huy cấp cao hơn nếu những điều đó ông ta đã thu xếp sẵn trong đầu rồi”. Swift chính là một trong những sỹ quan OSS trẻ đã làm việc với HỒ Chí Minh ở Việt Nam trong Thế Chiến II, khi đó Hoa Kỳ vẫn là bạn hữu với ông, và sau khi anh ở Côn Minh trong suốt thời nội chiến Trung Hoa, anh rời đi với sự nể trọng lành mạnh dành cho khả năng quân sự của những người Cộng sản. Anh vẫn có những nguồn tin tốt từ Trung Hoa, và anh rất hiểu cuộc di chuyển quân lớn ở biên giới Mãn Châu. Cùng với những nguồn tin có giá trị trong những ngày đó, anh tin, đó là bản năng và lòng tin. Anh biết rằng quân Trung Hoa đang tập trung dọc sông Áp Lục với số lượng khổng lồ, và rằng lãnh đạo của họ đã phát biểu họ sẽ tham chiến. Tốt nhất là nên xem xét những lời hứa đó một cách nghiêm túc – đặc biệt từ khi mọi thứ anh lấy được từ các điệp viên của mình cho thấy họ đang tiến hành kế hoạch tham chiến.

Thế rồi, từ giữa đến cuối tháng Mười, Swift bắt đầu nhận những báo cáo từ các điệp viên rằng quân Trung Quốc đã vượt biên giới tiến vào Triều Tiên. Tất cả những điệp viên này là người Trung Hoa, hoặc, theo tiếng lóng mang tính phân biệt chủng tộc của thời đó, là “sloppy” (trong từ slope-eye). Các báo cáo bất đồng về số lượng, nhưng cũng đủ tốt để làm bất kỳ sỹ quan tình báo nào phải để tâm. Swift không đơn độc, bởi anh cũng nghe được những câu chuyện tương tự từ bạn bè anh trong tình báo quân đội, điều sau này anh tin rằng nó cho thấy họ biết tin từ những tù binh Trung Hoa bị bắt và bị thẩm vấn bởi tướng Paik và sở chỉ huy quân Mỹ ở vùng Unsan. Nhưng Swift cũng biết vài điều khác. “Những điều này chẳng ép-phê với Willoughby. Quân Trung Hoa sẽ không đến. Ông ta biết điều đó. Và ông ta không bao giờ sai !”

Sự thật là Willoughby không chỉ ngăn trở bộ máy tình báo cấp chiến trường trong việc gửi những tin tốt nhất, logic nhất đến cấp cao nhất ở Triều Tiên, mà ông còn khóa những nguồn tin tình báo khác, và cũng luôn để mắt cẩn thận đến hoạt động của CIA ở Tokyo vốn rất nhỏ trong năm 1950. Được thu xếp trước với Hải quân, một cơ sở CIA nhỏ được thiết lập trong lòng hạm đội Bảy, căn cứ của nó tại Yokosuka, và được điều hành bởi một người tên là William Duggan, một cựu OSS trước đó công tác ở châu Âu. Từ cuối tháng Chín sang tháng Mười, Duggan nhận được một số tin tình báo đặc biệt từ đồng nghiệp ở Đài Loan rằng quân đội cộng sản Trung Hoa đã sẵn sàng. Vài đơn vị Dân quốc cũ, giờ hợp nhất trong Quân đội Nhân dân giải phóng, vẫn còn đài vô tuyến của họ. Thỉnh thoảng họ xoay sở để lẻn ra trong đêm và liên lạc với Đài Loan để cho biết họ đang ở đâu và họ sẽ làm gì. Tất cả những thông điệp đều có một chủ đề: chúng tôi đang trực chỉ hướng bắc đến biên giới Mãn Châu; các sỹ quan cấp chiến trường tin rằng đã có quyết định vượt sông Áp Lục.

Thế rồi, đột nhiên, trong cuối tháng Mười, máy vô tuyến đột nhiên im bặt, có lẽ bởi họ lúc đó đã ở Bắc Triều Tiên và có sự kiểm soát gắt gao máy vô tuyến điện hơn. Nhưng không có chút nghi ngờ gì rằng những báo cáo trước đó cho thấy những cảnh báo rất thật. Một nhân viên CIA trẻ hoạt động ở Đài Loan tên là Bob Myers nhận những báo cáo này từ những người Dân quốc anh cộng tác và chuyển nó lên cho thượng cấp, anh biết chúng sẽ đến được với Duggan ở Nhật. Điều mà mãi đến sau này anh vẫn không biết là Willoughby đã phát hiện ra việc này và đã đe dọa đóng cơ sở bé tý của Duggan và tống ông ta ra khỏi Nhật nếu ông ta không dừng lại việc cố thông báo cho bất kỳ ai ở cấp cao hơn về những tin tình báo mà ông có.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Một, 2013, 02:21:31 am
Lúc ấy, trong tập đoàn quân Tám một trận chiến căng thẳng trên bàn giấy về vấn đề tình báo cũng diễn ra. Con người bất hạnh kẹt giữa Willoughby ở bên trên và những lo ngại gia tăng trong những cán bộ tình báo thực địa ở vùng phía bắc Triều Tiên, là sỹ quan ban G-2 của tập đoàn quân Tám, Clint Tarkenton. “Ông ta là người của Willoughby chứ không phải là người của Walton Walker, và bạn không nên đánh giá thấp tầm quan trọng của việc đó. Bạn phải lưu ý tới quyền lực khổng lồ Willoughby nắm giữ trên toàn thể cấu trúc chỉ huy” Bill Train một sỹ quan trẻ phòng G-3 của trung đoàn kỵ binh số Một nói, anh tin rằng quân Trung Hoa đã vào đất nước này với lực lượng mạnh, và rằng một tấn bi kịch lớn đang được tạo ra: “Đây là quyền chỉ huy của MacArthur, chứ không phải là quyền chỉ huy của lục quân Hoa Kỳ, và nếu bạn đụng độ với Willoughby thì đó không chỉ là một vé biến khỏi nơi đây, mà còn có thể đó là một vé tàu suốt cho sự nghiệp của bạn”. Thế là Tarkenton làm theo định hướng của Tokyo, như Willoughby đã báo cáo trong một ước lượng tình báo vào ngày 28 tháng Mười, ba ngày sau khi tù binh Trung Hoa đầu tiên bị bắt ở khu vực Unsan “thời gian phù hợp cho một cuộc can thiệp như vậy đã qua khá lâu rồi; thật khó để tin rằng có một cuộc như vậy nữa, nếu nó được lập kế hoạch, thì đã bị chậm trễ với thời điểm khi những đơn vị còn lại của Bắc Triều Tiên bị yếu đi đến điểm cực thấp”.

Tuy vậy, Train vẫn bị lo lắng về những gì đã diễn ra ở Unsan. Anh được kéo vào công việc tình báo bởi bộ phận G-2 quá thiếu người. Giờ đây, anh còn lưu ý hơn nữa, anh thấy có những bằng chứng không thể chối cãi của góc nhìn tổng quan cho thấy rằng quân Trung Hoa đã tham chiến. Đó không phải là điều để đùa cợt – như bộ phận của Willoughby đang làm – đó là điều khiến bạn phát run và khiến bạn muốn được thảo luận với nhiều thông tin hơn. Về mặt kỹ thuật, tình báo không phải là lãnh vực của Train, nhưng làm thế nào để lập kế hoạch ở phòng tác chiến (G-3) nếu không biết kẻ thù là ai hoặc ở đâu? Ngay cả trước khi quân Trung Hoa tấn công Unsan, anh cảm thấy như mình đang trong một trò chơi lắp hình (puzzle), cứ thêm mỗi mẫu mới sẽ thấy bức tranh rõ hơn. Quân Mỹ tiến lên phía bắc là đang tiến vào một vùng đất đầy những bóng ma, nhưng dần dần những bóng ma đó bắt đầu có hình hài. Train bị công kích không ít bởi những sỹ quan tình báo cấp trên anh đánh giá thấp một cách có hệ thống hoặc công khai giảm giá những thông tin như thế. Rất ít khi họ làm mạnh để có thêm thông tin. Thay vào đó rõ ràng họ thu bớt lại con số quân địch, và tỏ rõ là họ không cần thông tin tốt hơn. Cứ mỗi khi Train và sếp của anh trong phòng tác chiến, John Dabney, chỉ ra vài thứ dường như biểu thị cho thấy sự hiện diện nghiêm trọng của quân Trung Hoa, thì người của Willoughby lại đánh giá thấp điều đó.

Những gì làm cho cuộc chiến mất cân bằng là do Clint Tarkenton không là một đồng minh. Ông ta cũng không hẳn là đối lập, nhưng ông bị kẹt vào giữa một tay sếp giáo điều độc đoán và một sự thật không mong muốn. Nhiều năm sau Train nói “Tarkenton trong tình trạng bất khả. Willoughby là sếp của ông ta, lão sếp đó là kẻ hay bắt nạt, hắn biết quyền hành của mình và thích dùng nó, lão ta khống chế cả bộ phận đó ở Tokyo, và bởi Tarkenton là người của lão ta cũng đồng thời nắm ban G-2 của tập đoàn quân Tám, nên lão ta cũng có thể khống chế bất kỳ ước lượng tình báo nào lão muốn. Tarketon, bất kể suy nghĩ thật sự của ông là gì, cũng phải ở dưới bóng của lão ta”. Về sau Dabney cũng nói rằng Tarkenton không hoàn toàn bị Willoughby tác động. Nhưng dù có bất kỳ chỉ dấu nào cho thấy sự hiện diện của quân Trung Hoa thì Willoughby cũng có sẵn câu trả lời. Nếu quân Nam Hàn báo cáo là đã giết được 36 lính Trung Hoa trong một trận đánh, và xác địch vẫn còn trên chiến trường, thì câu trả lời rằng đó chỉ là cái cách để giữ mặt mũi của người phương Đông, rằng quân Nam Hàn chiến đấu quá tệ nên họ phải tuyên bố về một lượng lớn lính Trung Hoa chết để làm họ thêm phần danh giá. Còn nếu Train trưng ra bằng chứng cho thấy dường như có đến năm hoặc sáu sư đoàn Trung Hoa hiện diện trong khu vực, thì câu trả lời luôn luôn vẫn là có nhiều đơn vị nhỏ khác nhau, từ những sư đoàn Trung Hoa khác nhau, hiện đang phối thuộc trong một đơn vị của Bắc Triều Tiên.

Một cuộc chơi cực kỳ nguy hiểm đang diễn ra, một phần bởi Lục quân đang an toàn trú đóng ở Tokyo, và phần khác – phần phải trả giá khi phải chiến đấu với một kẻ thủ cực kỳ nguy hiểm dưới những điều kiện kinh khủng. Ví dụ, ngày 30 tháng Mười, sau trận tấn công đầu tiên ở Unsan, Everett Drumwright ở tòa đại sứ Seoul, nhận thấy sự khá chính xác của bộ phận G-2, đã điện báo về Bộ Ngoại giao rằng hai trung đoàn quân Trung Hoa, có lẽ chừng 3000 người, đánh nhau ở Bắc Triều Tiên. Đó là nỗ lực thành thực của anh để nhằm trả lời một câu hỏi quan trọng trong thời điểm ấy cho thượng cấp anh ta. Ngày hôm sau, anh đánh điện lần nữa, lần này thì cho con số thấp hơn, chỉ 2000 lính Trung Hoa. Đến ngày 1 tháng Mười Một, các thẩm vấn viên cấp thấp nhận thấy đó là quân binh từ những tập đoàn quân Trung Hoa khác nhau. Tarkenton, theo chủ trương của Willoughby, nói rằng đó là những đơn vị nhỏ thuộc các tập đoàn quân đó chứ không phải các tập đoàn quân đầy đủ hiện diện.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Một, 2013, 02:24:07 am
Ngày 3 tháng Mười một, khi sự thật ở Unsan dần sáng tỏ, Willoughby tâng nhẹ con số của ông ta. Vâng, lính Trung Hoa đã ở trên đất nước này, ít nhất là 16,500 quân và tối đa là 34,000. Ngày 6 tháng Mười một, Tarkenton đưa ra con số tổng cộng quân Trung Hoa đang đối mặt với cả tập đoàn quân Tám và quân đoàn Mười là 27,000 lính. Trên thực tế, số quân Trung Hoa trong nước này đã gần đến con số 250,000 và đang tăng thêm. Ngày 17 tháng Mười Một, MacArthur bảo đại sứ Mucio rằng có không quá 30,000 quân Trung Hoa ở Triều Tiên, trong khi ngày hôm sau Tarkentond đưa ra con số 48,000. Ngày 24 tháng Mười Một, ngày cuộc tấn công chính của LHQ đến sông Áp Lục bị đánh văng – thay vì phải cảm nhận được mức độ to lớn của quân Trung Hoa hiện diện và xác lập các vị trí phòng thủ mạnh mẽ – Willoughby lại đưa ra con số tối thiểu bốn vạn và tối đa bảy vạn. Trong khi đó, đã có 30 vạn quân Trung Hoa kiên nhẫn đợi các lực lượng LHQ tiến sâu thêm chút nữa vào bẫy của họ.

Còn có cả một sự chia rẽ lớn trong ban G-2. Không chỉ là về vấn đề con số [quân địch] việc này các sỹ quan tình báo cấp dưới làm việc trên thực địa hiện đã chắc chắn, và đây là sai lầm kinh khủng của  Willoughby. Mà còn là việc trung tá Bob Fergusson, thượng cấp trên danh nghĩa của Tarkenton, nguyên là cán bộ G-2, đã chia sẽ mối lo ngại của họ. Fergusson đến Triều Tiên sau khi Tarkenton tiếp quản, ông đã cố thay đổi quan điểm của Tarkenton nhưng không thành công. Bất hạnh thay, đó không chỉ là một con người mà ông ta cần phải chiến đấu mà là cả một hệ thống, và Fergusson là một người đứng ngoài hệ thống đó. Như Train nói, đó là “điều đáng buồn nhất mà tôi từng gặp bởi hầu như thấy việc đó sẽ đến, hầu như biết được những gì sẽ xảy ra, và những thanh niên của chúng ta đang đi vào một cái bẫy nguy hiểm chết tiệt”.

Với Johnie Walker, đó không đơn giản là việc cảm nhận đúng, mà còn là việc ông bị lôi theo bởi quyền lực bên trên ông. Hồi đầu, ông còn gàn các phóng viên chiến tranh nói về khả năng quân Trung Hoa đã ở Triều Tiên. Lúc vài tù binh đầu tiên bị quân Nam Hàn bắt được, Tom Lambert của hãng tin AP, một trong những phóng viên giỏi nhất, cùng với Hugh Moffett của tờ Time, hai ông nghe tin đồn rằng có một hay một số tù binh là người Trung Hoa. Họ đi chừng 20 dặm đến một sở chỉ huy trung đoàn của quân Nam Hàn, ở đó, một sỹ quan Nam Hàn, anh này nói được cả tiếng Tàu lẫn tiếng Anh, đang thẩm vấn một tù binh mặc áo khoát bông và một bộ quân phục rất khác với những gì họ từng thấy. Thực vậy, tay tù binh là người Trung Hoa, và khá công khai về việc đó – bọn họ được gọi là Chí Nguyện Quân, anh ta nói, nhưng anh không hề là một người tình nguyện. Ngày hôm sau, Lambert và Moffett phóng xe jeep đến sở chỉ huy của Walker, và họ nhận thấy vị tư lệnh tập đoàn quân Tám dường như vẫn trong giai đoạn đầu của sự phủ nhận. “Ừ, thì hắn ta có thể là người Hoa” Walker nói “nhưng hãy nhớ có rất nhiều người Mễ ở Los Angeles nhưng các cậu không thể bảo LA là một thành phố của Mexico được”. Sự thật là ông ta cũng cực kỳ lo lắng từ lúc những tù binh Trung Hoa đầu tiên bị bắt. Hồi ngày 6 tháng Mười một, ngay sau khi đánh giá các thiệt hại của trung đoàn kỵ binh số 8, Willoughby bay đến Bình Nhưỡng để họp, và Walker đã quay sang ông ta, nói, “Này Charles, chúng ta biết là quân Trung Hoa đã ở đây; anh hãy cho chúng tôi biết là họ ở đây để làm gì”. Câu trả lời, như Wilson Heefner – nhà viết tiểu sử của Walker – ghi nhận, là không có thông tin gì mấy cho một câu trả lời.

Lúc đó Walker rất có cảm giác về sự ra rìa của mình. Ngày mừng giải phóng Seoul, ông đã nói với trợ tá của mình – Joe Tyner – và viên phi công của ông, Mike Lynch, rằng đây có lẽ là một ngày vĩ đại bởi rốt cuộc ông cũng sẽ biết được kế hoạch cho tương lai là gì. Cuối ngày đó ông quay về với sự lúng túng cùng cực. Chẳng ai thèm nói cho ông biết bước kế tiếp sẽ là gì. Một khi họ vượt vĩ tuyến 38, ông thích chỉ dũi sâu lên phía bắc chừng 100 dặm, vào chỗ hẹp của bán đảo, đại khái trên tuyến thẳng từ Bình Nhưỡng đến Wonsan, và bỏ lại chừng 2/3 nước này [Bắc Triều Tiên], phần đất chủ yếu không có người ở, hoang vu, không động tới được. Sự xâm nhập tới mức này cơ bản là dễ đảm bảo, dễ phòng thủ, tiếp vận và khiến cho bất kỳ nỗ lực tấn công nào của quân Bắc Triều Tiên hay Trung Hoa cũng dễ bị tổn thương bởi không lực Mỹ. Tính ra nó sẽ ngắn bớt chừng 300 dặm so với độ dài toàn tuyến đường đến sông Áp Lục. Nhưng sự việc đã không như vậy. Trên thực tế, Walker không còn là tư lệnh của tập đoàn quân Tám. Giờ ông chỉ chỉ huy một nửa tập đoàn quân, bị lờ trong tất cả các quyết sách chính, và rất hiểu rằng ông trong một cuộc tranh đua đến sông Áp Lục trước Almond và quân đoàn 10.

Matt Ridgway nghĩ không có gì là tình huống ngẫu nhiên. Washington đang trong thế thủ, nhưng MacArthur cũng biết là có những từ sẽ thành báo động một khi chúng phát ra từ sở chỉ huy của ông, đó là : “Trung Hoa can thiệp lớn”. Nếu có bất kỳ chứng cứ nào rằng một kẻ thù mới đã tham chiến, thì các cán bộ quân sự, bao gồm cả Marshall và Hội đồng Tham mưu liên quân, cũng như các quan chức dân sự, sẽ trỗi dậy khỏi tình trạng thụ động và sẽ áp đặt nhiều giới hạn nghiêm khắc lên những điều hiện nay ông đang rảnh tay làm. Bởi vậy nên một trận chiến thực thụ thứ hai khi bắc tiến ngay sau Unsan là một trận chiến chính trị, dựa trên những thông số tình báo.

(Hết chương 25)


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Một, 2013, 02:27:29 am
Chương 26

Về hậu cảnh, có một lực lượng song hành cùng đi, đó là chính trị nội địa Mỹ. Nỗ lực của Truman nhằm chia sẻ vinh quang của trận Inchon bằng việc bay đến đảo Wake đã thất bại. Ngày 7 tháng Mười Một, chừng ba ngày sau khi quân Trung Hoa tràn ngập Unsan, người Mỹ bước vào cuộc bầu cử giữa kỳ. Đảng Dân Chủ, bởi gánh nặng của một cuộc chiến không được công khai, đã làm rất tệ. Họ mất năm ghế ở Thượng Viện và 28 ghế Hạ viện.

Kỳ bầu cử – kỳ đầu tiên kể từ khi cuộc chiến bắt đầu – báo trước cho sự trỗi dậy của thượng nghị sỹ Joe McCarthy, một thượng nghị sỹ cấp thấp từ bang Wisconsin. Ông ta có bài phát biểu đầu tiên về sự thoái hóa vào tháng Hai năm 1950. Với nhiều người Mỹ, bản thân cuộc chiến dường như đã công nhận giá trị cho cuộc công kích của ông ta, trong khi với những người khác nó chỉ tái xác định việc họ chán ngán đảng Dân chủ. Lợi tức trước mắt nhất là chỉ có McCarthy. Trong một giai đoạn khoản ba năm từ cuộc bầu cử, McCarthy đi trên con đường chính trị bạo lực giật gân. Ông ta tắm mình trong những tiếng vang dễ dàng có được từ những lời buộc tội, công kích của mình, trong cái cách hăm hở mà đất nước này dường như đáp lại, và cuộc chơi – dù rất bất cẩn – của giới truyền thông đã gán cho ông sau hết lần công kích này đến lần công kích khác, và cái giá phải trả, rất ít được chú ý xác minh. “Phe Đỏ đang điều hành Bộ Ngoại Giao, McCarthy tuyên bố, Thượng nghị sỹ công kích bọn Đỏ ẻo ợt”: nếu một thượng nghị sỹ đã nói, thì đó là một tin tức. Việc xác minh không bao giờ làm ông ta hứng thú: trong vấn đề này, cũng không thèm có bất kỳ nghiên cứu nghiêm túc nào để biết xem những người Cộng sản đã làm gì với đất nước này. Điều này rất tệ bởi trong tầm dài hạn ông đã làm hại nghiêm trọng tới việc nghiên cứu cơ cấu nhà nước Liên Xô thời hậu chiến ở Mỹ, cũng như những thành công, nếu có, đến từ một số khá ít người tham gia Cộng sản trong những năm khủng hoảng kinh tế do họ đánh mất niềm tin vào nền dân chủ, hoặc một số cực kỳ bé nhỏ những người thực sự làm gián điệp cho Liên Xô. McCarthy chẳng có mối quan tâm nghiêm túc tới chủ nghĩa Cộng hay hay là hoạt động gián điệp. “Joe không thể nhận ra một người Cộng sản ở quảng trường Đỏ – anh ta cũng không biết Karl Marx là bà con với Groucho Marx (*)”, George Reedy, người bảo trợ cho ông ta trong thời đó, có lần nói

(*) Groucho Marx là một cây hài nổi tiếng của Mỹ

Ông là một kẻ lưu manh chính trị lớn của thời kỳ,  một tay dân túy, chơi trên nỗi sợ hãi sinh bởi một thời đại nguyên tử không đáng tin cậy và mới mẻ. Ông ta rất hãnh diện về điều mà theo ý riêng của mình rằng ông đã trở thành một hiện thân của chủ nghĩa Mỹ. “Nếu các cậu muốn chống lại McCarthy, các cậu trai” ông bảo với hai phóng viên trong một cuộc họp báo “các cậu phải là một tay Cộng sản hoặc một tay đồng tính”. McCarthy trở thành một nhân vật chỉ trích hoàn hảo của cánh phải. Ông ta cực kỳ có giá trị với những người Cộng hòa điềm tĩnh hơn, “một con lợn trên bãi mìn dành cho họ” cây bút Murray Kempton dùng từ như vậy.  “Chúng ta chỉ có thể thắng bằng cách ‘chơi bẩn’, và chỉ có những tay bẩn thỉu mới có thể chơi bẩn”, có lần anh ta nói. Thượng nghị sỹ đáng trọng Robert Taft có lần bảo McCarthy không nên quá lo nếu có vài lời buộc tội nào của ông ta không có kết quả. Ông nên “tiếp tục nói và nếu có ca nào không hiệu quả, [anh] nên tiếp tục với ca khác”.

Trong kỳ bầu cử năm 1950, McCarthy ghi lần hai chiến thắng quan trọng. Mục tiêu số một của ông trong năm đó là thượng nghị sỹ Millard Tydings, một người Dân chủ quý phái theo cách cũ của bang Maryland, người đã bị Roosevelt cố gắng thanh trừ trước đó bởi quá bảo thủ. Tydings sửng sốt bởi sự tấn công của McCarthy, quá liều lĩnh và thiên lệch, mùa hè năm 1950 ông đã dẫn dắt một tiểu ban tìm hiểu, thẩm tra lại điều tra viên. Rốt cuộc tiểu ban của Tydings đã chỉ trích McCarthy bởi tư cách đạo đức và giải tội cho hầu hết những người bị ông ta công kích. Lời buộc tội McCarthy là “có lẽ thể hiện cho thấy một chiến dịch hung ác nhất của một nửa sự thật và sự giả dối trong lịch sử đảng Cộng Hòa”.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Một, 2013, 02:29:50 am
Đến khi Tydings phải bầu lại vào năm 1950, McCarthy truy kích ngay. Ông thực hiện nhiều chuyến đi từ Washington đến bang láng giềng MaryLand, còn dùng cả một tấm ảnh giả có nội dung cho thấy Tydings và Earl Browder, lãnh đạo đảng Cộng sản Mỹ, làm việc với nhau. Tydings đã bại trận – người chiến thắng thực sự không phải là John Marshall Butler, người tranh cử với ông, mà chính là McCarthy. Mục tiêu quan trọng thứ hai của McCarthy là Scott Lucas của bang Illinois, một lãnh đạo quan trọng của đảng Dân chủ. Việc lựa chọn thời điểm của McCarthy không thể tốt hơn – bộ máy đảng Dân Chủ ở Chicago, vốn rất có ý nghĩa then chốt với bất cứ chiến thắng nào ở tầm quốc gia, đang bị nghĩ xấu vì nhiều lý do, và Lucas có nhiều nhược điểm hơn ông nghĩ. McCarthy làm tám chuyến đi đến Illinois trong đợt bầu Thượng nghị sỹ và tấn công Lucas với những vấn đề trong đó có mối quan hệ giữa ông ta là Dean Acheson, một cái tên rất bị phản đối ở vùng Trung Tây. Vùng nông thôn Illinois và nông thôn Wisconsin dường như cùng chia sẽ nhiều nỗi sợ giống nhau, và McCarthy tạo nên một đám đông lớn say mê mỗi nơi ông ta đến. Everett McKinley Dirksen, địch thủ của Lucas, hiện diện, như McCarthy nói với những đám đông này là “một lời nguyện cho nước Mỹ”. Và Lucas cũng thất bại. Và đột nhiên McCarthy trở thành một nhân vật quan trọng tầm quốc gia. Bản chất của những vấn đề, kỳ bầu cử cho thấy sự thoái trào của chính phủ Truman và các đồng minh nghị viện của nó. Qua một đêm McCarthy trở thành một kẻ đe dọa vĩ đại của quốc gia. “Bạn không thể tưởng tượng ra sự thay đổi địa vị của anh ta [McCarthy] khi anh ta về lại Washington” thượng nghị sỹ William Fullbright của Arkansas nói “Đảng Cộng hòa xem anh ta như là một đấng cứu tinh mới. Còn cánh Dân chủ thì bị dọa sợ chết khiếp. Anh ta vẫn là McCarthy cũ, vẫn ghê tởm như xưa. Nhưng ôi, mọi thứ đã thay đổi nhiều quá chừng”.

Những gì diễn ra là những tin tức chính trị quan trọng ở Hoa Kỳ và có ảnh hưởng sâu sắc đến Triều Tiên cũng như Tokyo. Nó có nghĩa là trong cái thời điểm quan trọng để ra quyết định ở Triều Tiên, thì tổng thống đã bị mất bóng bởi sự thay đổi ngọn triều trong chính trị nội địa, những điều mà vị tướng ở tòa nhà Dai Ichi hiểu rất sâu sắc. Về mặt chính trị, cuộc chiến này luôn khó khăn cho vị tổng thống, và giờ đây, còn khó khăn hơn bao giờ hết.

Ngày 8 tháng Mười Một, một ngày sau kỳ bầu cử giữa kỳ, Hội đồng Tham mưu liên quân,  phản ánh lại nỗi sợ lớn dần rằng người Trung Hoa đã tham chiến (và cho thấy hoàn toàn thiếu tín nhiệm vào các báo cáo của Willougby), đã điện cho MacArthur lần nữa để yêu cầu rằng, theo quan sát những gì diễn ra ở Unsan, nhiệm vụ của ông ta là phải nghiên cứu lại. Nhưng vào ngày 9 tháng Mười một, ông trả lời cứng rắn với Washington. Ông không có ý định, như họ muốn, là thiết lập một tuyến phòng thủ ở quảng hẹp của bán đảo. Ông biết người Anh (và người Pháp) thích địa điểm đó, cũng như nhiều sỹ quan chỉ huy cao cấp của Mỹ trên chiến trường, trong đó có Walker. Đó là một hành động nhượng bộ, ông nói, nó như “hành động lịch sử diễn ra hồi trước ở Munich”. Ông cũng tin tưởng rằng không lực của ông có thể chặn đứng bất kỳ hành lang vận động nào của quân Trung Hoa để đến chiến trường. (Ông không biết rằng hầu hết lực lượng địch đã ở trong nước này, và đã quá trễ để dùng không lực khóa đường). Rồi ông nói thêm: “Bỏ bất kỳ phần lãnh thổ Bắc Triều Tiên nào vì cuộc xâm lược của cộng sản Trung Hoa sẽ là một thất bại lớn nhất của thế giới tự do trong thời gian gần đây. Thực vậy, việc sản sinh ra đề xuất quá trái luân lý này có thể sẽ làm hủy hoại sự lãnh đạo và ảnh hưởng của chúng ta lên Châu Á và cả địa vị chính trị, quân sự của chúng ta. Chúng ta có thể rất gần với bước đi của người Anh, họ đã nhượng bộ và công nhận [Trung Hoa cộng sản] làm mất đi sự kính trọng của phần còn lại của Châu Á mà cũng chẳng tăng thêm được điều đó với riêng phần Trung Hoa”.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Một, 2013, 02:32:52 am
Đây là một thời điểm định mệnh. Unsan và trận tấn công vào trung đoàn Tám kỵ binh lẽ ra nên được đánh dấu như một điểm mốc để họ xem xét lại toàn bộ kế hoạch, nhất là với Tokyo, họ phải lo lắng hơn Washington vì chính quân binh của họ đối mặt với rủi ro. Nó cũng là cơ hội thực sự cuối cùng để nghiên cứu lại cuộc chiến trước khi quân Trung Hoa toàn lực tấn công. Trong thuật ngữ quân sự, các đơn vị của MacArthur giờ đã bước quá vị trí an toàn; Unsan và trận tấn công vào trung đoàn 8 kỵ binh phải nhìn nhận không chỉ là một thời điểm quan trọng trên chiến trường mà còn là một thất bại lớn của Washington trong cuộc chiến với vị tướng. Cả Dean Acheson và tướng Omar Bradley rốt cuộc cũng lộ ra là những cố vấn rất tồi đã phục vụ cho tổng thống Truman vào thời điểm đó. Họ bị dọa dẫm bởi vị tư lệnh của họ trên chiến trường, coi thường những cảm nhận của họ rằng họ đã bị mất quyền điều khiển. Thực tế mà nói họ đã cho phép ông ta tiếp tục bắc tiến, miễn là ông ta còn thành công, nhưng không được rơi vào một cuộc chiến với Trung Hoa. Cuộc tấn công lớn sau cùng của ông ta diễn ra như kế hoạch.

Ở cấp cao nhất tại tòa nhà Dai Ichi, lúc họ chuẩn bị cho lần tấn công cuối cùng vào cuối tháng Mười, chỉ ngay trước trận Unsan, có cảm giác thật sự phởn phơ ở đó. Quân địch hầu như đã bỏ chiến trường. Ngày 23 tháng Mười, tạp chí Time chạy một bài đinh cực kỳ tâng bốc Ned Almond, tựa bài là  “Sic’ em Ned”, phản ánh lại sự thật là quân Bắc Triều Tiên đang trốn chạy còn quân LHQ thì truy kích theo sát. Không chỉ Almond được xem là một anh hùng quân đội ngoại cỡ, một con người gần như hấp dẫn kỳ diệu với binh sỹ (“Cậu tên gì? Quê ở đâu? Vào lính bao lâu rồi?”), mà bài báo đó còn là cơ hội cho Almond tán tụng MacArthur một cách quái gở. Hồi trước, như Bill McCaffrey cấp phó gần gũi nhất của ông ta nhớ lại, chỉ có hai quân nhân được Almond dành cho những từ ngữ tốt đẹp là George Catlett Marshall và Robert E.Lee, cho đến khi Almond gặp MacArthur, ông này là người duy nhất được cho đứng trong điện thờ danh dự của cá nhân ông. Những người khác đều có tỳ vết. Giờ đây, ông nói về MacArthur như là một vĩ nhân quân sự lớn nhất của thế kỷ hai mươi. Ông nói với tờ Time rằng, đáng tiếc là ông không thể xếp hạng ông ta so với những quân nhân vĩ đại nhất khác của mọi thời kỳ “bởi khó để so sánh ngày hôm nay với thời điểm của Napoleon, Caesar và Hannibal”. Cái tên Napoleon được nói ra mà không có chút mỉa mai nào, khi họ chuẩn bị cho một chiến dịch chống lại một quốc gia đông dân nhất trên thế giới và trong một mùa đông tệ hại nhất.

McCaffrey nghĩ, làm việc với Almond trong những ngày đó giống như việc thương thuyết với một người đang yêu. McCaffrey có lẽ gần gũi với Almond hơn bất cứ ai, anh là cấp phó của Almond từ hồi thế chiến II, và được phép tranh luận với ông ta hơn bất kỳ sỹ quan thuộc cấp nào khác, McCaffrey nhớ, hầu như anh được xem là một đứa con yêu. McCaffrey vẫn giữ thái độ bi quan cực kỳ về chuyến viễn du lên phương bắc. Nhưng Almond đơn giản là không thèm nghe bất kỳ ý kiến phản đối nào, dù rằng những mối nguy ở phía trước là khá rõ ràng. Trên tất cả những bản đồ khổng lồ ở các loại sở chỉ huy cao cấp, trên đó có rất nhiều lá cờ đỏ nhỏ xíu, mỗi lá cờ đại diện cho một sư đoàn Trung Hoa, dường như cho thấy hàng trăm nghìn quân Trung Hoa đã sẵn sàng dọc sông Áp Lục. McCaffrey đến Tokyo để làm cấp phó cho Almond gần một tuần trước trận Inchon. Và cứ mỗi khi anh nhìn vào tấm bản đồ khổng lồ ở sở chỉ huy, anh lại có thể thấy đường cong cong của sông Áp Lục, dọc sông Áp Lục là những lá cờ đỏ nhỏ cho thấy số lượng không đếm nổi các sư đoàn quân Trung Hoa, có lẽ 30 hoặc hơn. Lần đầu tiên McCaffrey nhìn thấy bản đồ đó, ngay lập tức anh hiểu ngay sự nguy hiểm mà nó phản ánh: tất cả những sư đoàn Trung Hoa đó nằm đợi trên những ngọn đồi, và tuyến tiếp vận của quân LHQ kéo dài quá mảnh. “Nhỡ chúng đến thì sao?” anh hỏi Bob Glass, trưởng ban G-2 của quân đoàn. “Ned Almond nói rằng chúng ta không phải lo” Glass trả lời “MacArthur đã soát xét việc đó và thấy họ không có thuận lợi nếu tiến lên, vậy nên chúng sẽ không đến đâu”.

Nhưng những mối nguy, McCaffrey nghĩ, đều rất rõ ràng và kinh khủng. Đất nước này bẹt ra hình nấm khi lên xa phía bắc, trở nên to lớn hơn và là miền núi hoang vu với rất ít đường đất tử tế. Vài ngọn núi còn có độ cao bảy tám ngàn thước Anh. “Mỗi dặm lên phía bắc là mặt trận lại rộng thêm một dặm, mỗi dặm lên phía bắc là cái rét đậm hơn một ít, và mỗi dặm lên phía bắc là đường đi lại tệ thêm: mỗi dặm bắc tiến đều chống lại sức mạnh quân ta, một quân đội dựa trên cơ sở kỹ thuật cao. Mỗi ngày có thêm nhiều nguy hiểm” McCaffrey nói, sau này anh kết thúc binh nghiệp với ba ngôi sao tướng. Có càng thêm nhiều dấu hiệu báo điềm xấu, và chỉ với những người ở dưới tầm bang Bataan, những sỹ quan ở tầng kế tiếp tại tòa nhà Dai Ichi mới lo lắng. Nhưng họ không thể bàn bạc với Almond. Khi McCaffrey cố đưa vấn đề này ra, anh luôn có ngay lập tức một bài giảng về việc thiếu niềm tin. “Cậu cũng đã từng chống lại chiến dịch Inchon” Almond nói, và rồi thêm vào “Bill này, cậu vẫn đánh giá thấp tướng MacArthur đấy”.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Một, 2013, 02:38:56 am
Đầu tháng Mười hai, sau khi quân Trung Hoa tấn công, McCaffrey gặp Swede Larsan một trợ tá của Joe Collins và cũng là một người bạn lâu năm. “Vì Chúa, Swede, bọn cậu đang làm cái giống gì ở Washington vậy? Không ai báo rằng chúng tôi đang bị dàn mỏng khắp Bắc Triều Tiên hết sao? Không ai chịu báo về việc đó à?” Larsen trả lời “Bill, cậu vẫn không chịu dừng việc nghĩ sẽ có thể nói với Douglas MacArthur rằng những ý tưởng chiến lược của ông ta là gàn dở sau chiến dịch Inchon chăng? Sẽ không thể như vậy”

Chắc chắn rằng ngay cả MacArthur cũng đã đi quá xa. Đại tá John Austin, một thành viên ban tham mưu quân đoàn Một, có một hình ảnh của MacArthur khi đến thăm sở chỉ huy của họ trong thời điểm đó. “cương cứng và cực kỳ tự tin, rõ ràng đang trên đỉnh cao”. Sau này Austin nói, trông như đang nhìn thấy “một pho sử biết đi”. Hiếm khi nào có một vị tư lệnh tự tin đến như vậy. “Quý ông”, ông ta nói với các sỹ quan đang tụ tập lại “cuộc chiến đã đến hồi kết. Trung Hoa sẽ không bước vào cuộc chiến này. Trong vòng chưa đầy hai tuần nữa, tập đoàn quân Tám sẽ áp sát sông Áp Lục trên toàn tuyến mặt trận. Sư đoàn Ba sẽ được về Fort Benning để ăn Giáng Sinh”. Không ai hỏi gì ông ta vào thời điểm này, Austin nói với nhà văn Robert Smith – “bởi nó như là hỏi lại một thông báo từ Chúa trời”.

Nguyên lúc đầu ngày dự định phát động trận tấn công cuối cùng lên phía bắc là ngày 15 tháng Mười Một, nhưng vì Walton Walker thấy ông bị quá tải nên ráng làm chậm nó lại, bằng cách chỉ ra tuyến tiếp vận của ông bị hạn chế như thế nào; Shrimp Milburn, tư lệnh quân đoàn Một, chỉ còn một ngày cơ số đạn dược, một ngày rưỡi nhiên liệu và ba hoặc bốn ngày cho lương thực. Lúc đó thì Walker rõ ràng nhận biết được rằng có ít nhất ba sư đoàn quân Trung Hoa trong khu vực của ông, và lo lắng về mỗi dặm đường tiến lên phía bắc sau khi họ tiến được vào Bình Nhưỡng. Sau đó ông kể cho một phóng viên báo, ông đã di chuyển chậm chạm và thận trọng nhất có thể kể từ khi vượt qua Chongchon, việc tiến chậm tới mức ông nhận được những thông điệp gay gắt từ thượng cấp. Ông cũng cố tạo lập những vị trí khả dụng trong trường hợp quân Trung Hoa tấn công và ông phải tháo lui. Sau này ông khẳng định rằng ông đã cứu được một con số đáng kể lính trong tập đoàn quân của mình vì sự thận trọng này. Ông cũng khá chắc rằng, ông nói với một nhà báo bạn bè tín cẩn, ông sẽ bị Tokyo huyền chức do chuyện tiến quân chậm chạm của mình và việc hầu như bất tuân lệnh của ông.

Ngày triển khai được lùi đến ngày 20 tháng Mười Một, rồi đến ngày 24 tháng Mười Một. Trong buổi sáng đó, Walker đi cùng MacArthur trong chuyến thăm sau chót đến sở chỉ huy tập đoàn quân Tám, nhưng ông không hề lây được chút lạc quan nào của thượng cấp, ông này, trước mặt đông đảo phóng viên tháp tùng, đã tuyên bố một lần nữa về chuyện về-nhà-trước-Giáng-sinh. Việc đáng nhớ nhất là ở sở chỉ huy quân đoàn Chín, John Coulter, quân đoàn trưởng, báo cáo với ông ta rằng lính ông không gặp nhiều kháng cự. MacArthur trả lời: “Anh có thể nói với tất cả anh em rằng khi họ đến được sông Áp Lục, Jack, thì họ có thể về nhà. Tôi muốn làm được tuyên bố tốt đẹp của mình rằng họ sẽ đón Giáng sinh ở nhà”. Rồi ông bay đi, bảo với viên phi công bay trên vùng biên giới Mãn Châu để ông khảo sát khu vực.

Khi MacArthur bay đi, ông để Walker lại dưới đường băng. Đây không phải là một thời điểm tốt với tư lệnh tập đoàn quân Tám. Các lực lượng của ông đang tiến lên, và ông rất không vui về việc đó – họ bị tách rời khỏi quân đoàn Mười ở cánh Đông, họ bị dàn trải ra rất mỏng, và khi càng đi xa lên phía bắc, họ còn mỏng hơn nữa. Chỉ có một quân đoàn Nam Hàn bảo vệ sườn đông của họ. Đây là một thời điểm rất đúng để lo lắng. Walker nhìn máy bay của MacArthur cất cánh, và rồi trước mặt cả Tyner và Lynch, ông nói đơn giản: “Cứt thật!”. Điều này là cả hai choáng, thứ nhất là bởi Walker không bao giờ thách thức MacArthur, và thứ hai là vì ông ta chưa bao giờ dùng từ tục tĩu. Họ bay ngược về Bình Nhưỡng bởi Walker đột nhiên quyết định rằng ông muốn đến thăm sở chỉ huy của sư đoàn 24 nằm kế đó. Ở đó, ông tìm thấy thiếu tướng John Church, sư đoàn trưởng, và mang ông ta đi cùng. Thông điệp của ông cho đại tá Dick Stephens, trung đoàn trưởng trung đoàn bộ binh 21, đơn vị sẽ đi đầu sư đoàn trong việc bắc tiến là: “Cậu phải nói cho Dick biết, ngay lần đầu tiên nghe được mùi bọn Tàu là phải rút về ngay”

Nhưng trạng thái phởn phơ chỉ gia tăng ở Tokyo. Khi các bộ phận của trung đoàn 17 thuộc sư đoàn Bảy đến được sông Áp Lục vào ngày 21 tháng Mười một, đã có một thời khắc ăn mừng – một điều ngây thơ lạ kỳ. Tất cả các sỹ quan cao cấp, bao gồm cả Almond và sư đoàn trưởng sư Bảy, Dave Barr, một cựu cố vấn ở Trung Hoa, đến đái xuống dòng sông. MacArthur, giờ đây thấy rõ ràng chiến thắng trong tay, gửi một thông điệp qua radio đến cho Almond: “Chúc mừng nồng nhiệt nhất đến cậu, Ned” điện văn nói “và nói với Dave Barr sư Bảy rằng đã thành công lớn”. Với quân sỹ của trung đoàn 17, những người đã đến điểm đó và đã có một đêm nghỉ dọc sông Áp Lục trong nhiệt độ xuống dưới 30 độ, thì thiệt là kinh hoàng. Trong việc tiến đến sông Áp Lục, Joe Collins tia-chớp, tham mưu trưởng Lục quân, sau này viết lại “MacArthur dường như hành quân như một anh hùng Hy Lạp cổ đến một định mệnh tàn nhẫn không tránh được”. Hoặc như Matt Ridgway, dùng một bi kịch như mọi sỹ quan Mỹ khác hay dùng, “Như Cutter ở trận Little Big Horn [MacArthur] không thèm nghe hay nhìn thấy những thông tin có thể ngăn trở ông nhanh chóng đạt được mục tiêu của mình – hủy diệt quân đội nhân dân Bắc Triều Tiên, và bình định toàn bộ bán đảo”. Với Geoffrey Perret, người viết tiểu sử cho MacArthur, ông viết rằng trận đổ bộ Inchon là cú đánh thiên tài vĩ đại nhất của vị tướng, và phần còn lại hoàn toàn là bi kịch. “Sự kết thúc phù hợp nhất cho cuộc đời của MacArthur là được chết một cái chết của người lính trên vùng nước Inchon, lúc ở đỉnh cao vinh quang của ông, với huyền thoại của mình không bị sứt mẻ, nhưng sự tán dương quá mức sau đó là quá hoa mỹ. Chỉ có một con đường từ đây: đi xuống”.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Một, 2013, 02:40:26 am
Thế là những người ở Dai Ichi đã làm giả mạo tin tình báo nhằm cho phép các lực lượng của MacArthur đến được nơi họ muốn đến bằng quân lực, đến bờ sông Áp Lục. Trong quá trình này họ đã lập ra những tiền lệ rất nguy hiểm cho những ai học làm theo sau. Ví dụ đầu tiên là cánh quân sự đã chơi chiêu bằng tin tình báo, hoặc chính xác hơn, là cánh xỏ lá trong quân đội thận trọng thao túng tin tình báo để gửi đến những nhân vật quân sự và dân sự cao cấp ở Washington. Phương thức này còn được lặp lại hơn hai lần trong những năm sắp đến, cả với việc cánh dân sự thao túng giới quân sự, với việc những cán bộ quân sự cao cấp phản ứng phòng vệ rất kém và do đó đặt những người dưới quyền vào tình hình chiến đấu không chấp nhận được (Tựa của một quyển sách do một sỹ quan trẻ tài năng H.R.McMaster viết, tìm hiểu về việc các quân nhân cao cấp đã bị đặt vào tình thế khó khăn như thế nào bởi áp lực của những cán bộ dân sự cao cấp trong chiến tranh Việt Nam, quyển Sự xao lãng nhiệm vụ – Dereliction of Duty). Tất cả điều này cho thấy những thứ George Kennan đã cảnh báo, mức độ của chính trị nội địa giờ trở thành một phần trong tính toán an ninh quốc gia, và nó cho thấy phạm vi của việc chính phủ Mỹ bắt đầu đưa ra các quyết định định mệnh dựa trên những sự thật hạn chế nhất và những tin tình báo giả mạo nhất nhằm để đạt được những gì muốn làm bởi những lý do chính trị, bất kể nó có làm được hay không. Năm 1965, chính phủ của Lyndon Johnson đã thao túng cách phân tích nguyên nhân cho việc gửi quân chiến đấu đến Việt Nam, đã cường điệu mối đe dọa với nước Mỹ bởi Hà Nội, thận trọng thu nhỏ bất kỳ cảnh báo tình báo nghiêm trọng nào về những hậu quả có thể có của việc Mỹ can thiệp vào Việt Nam (cũng như sự sẵn sàng đánh trả có hiệu quả của quân Bắc Việt Nam với lực lượng viễn chinh Mỹ), và do đó đưa Hoa Kỳ vào một cuộc chiến vô vọng, hậu thực dân ở Việt Nam. Thế rồi đến năm 2003, chính phủ của George W. Bush – đã đọc không đúng đắn ý nghĩa của việc chấm dứt sự khống chế của Nga ở Trung Đông; hoàn toàn tính sai phản ứng của người dân bản địa; và bỏ qua những cảnh báo từ một thành viên có năng lực nhất trong nhóm cố vấn an ninh quốc gia của George W.Bush, Brent Scowcroft; và đã rất muốn hạ chính quyền Saddam Hussein vì những lý do riêng – chính phủ đã thao túng nghị viện, truyền thông báo chí, và nguy hiểm hơn cả, là tin tức tình báo bị làm giả, bóp mép, đã gửi quân vào các thành phố I rắc với những kết quả tai hại.

(Hết chương 26, hết phần 7)


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Một, 2013, 02:44:45 am
PHẦN TÁM: TRUNG HOA TẤN CÔNG

Chương 27


Đại úy Jim Hinton là đại đội trưởng đại đội xe tăng số 38 thuộc sư đoàn 2. Đại đội anh có 22 chiếc xe, ngay từ đầu anh đã rất lo lắng. Sự khác biệt giữa thực tế ở Bắc Triều Tiên và những gì sở chỉ huy Tokyo tưởng tượng mà anh thấy – khi sư đoàn Hai tiến lên phía bắc – làm anh kinh ngạc. Ở tòa nhà Dai Ichi, Triều Tiên rất xa, có phần ngăn nắp, một nơi nói chung có thể quản lý được, một tấm bản đồ bạn có thể ghim lên tường, ở đó những khoản cách là không mấy lớn, các sư đoàn chỉ cách nhau nửa inch hoặc một inch; trong khi ở ngoài đây, khi anh đang dẫn sư đoàn Hai hướng về phía sông Chongchon, thì giống như một địa ngục quân sự khó kiểm soát nổi, đồi chuyển thành núi, gió thổi lúc một mạnh hơn, nhiệt độ giảm xuống gần như hằng giờ, mỗi ngày đều lạnh buốt, nếu không nói là ngày mai sẽ còn lạnh hơn. GIữ cho xe tăng của anh chạy và hoạt động được là một công việc nghiêm túc trong cái khí hậu thế này. Anh có một nỗi sợ kinh khủng rằng cái lạnh có thể sẽ túm được cỗ máy của anh, lúc đó điều họ cần nhất là máy móc không từ chối việc khởi động. Đơn vị của anh có một thiết bị họ gọi là Tiểu Joe, một máy phát điện để sạc cho pin xe tăng. Nhưng khi nó hoạt động thì ồn kinh khủng, tiếng ồn dường như vang đi xa cực kỳ, tới mức  Hinton không muốn dùng nếu có thể. Anh quyết định là thay vì vậy, mọi người sẽ khởi động mỗi động cơ một giờ, để làm cho tất cả pin được sạc đầy. Chúa ơi, lạnh quá! Đôi khi, ngay cả khi động cơ đã khởi động được, chiếc tăng cũng không thể di chuyển vì xích xe bị đông cứng vào mặt đất. Thế là bạn phải lấy một chiếc tăng khác để đẩy. Anh tự hỏi không biết mấy tay tai to mặt lớn sống ở trong tòa nhà Dai Ichi với nhiệt độ được điều khiển chỉ bằng một cú bấm nhẹ nhàng, mùa hè đủ mát, mùa đông đủ ấm, liệu có tưởng tượng được những gì như ở đây không. Rõ ràng chỉ huy của họ không biết gì về cái thế giới họ bị đẩy vào. MacArthur – như đa số binh sỹ đặc biệt mỉa mai biết – chưa bao giờ nghỉ một đêm trên chiến trường Triều Tiên. Người ở Dai Ichi, Hinton nghĩ, là những người của bản đồ, họ chiến đấu trong một cuộc chiến khác ở nơi nào đó khác. Bản đồ có sự bóp méo của họ, và gần như lúc nào cũng lành với những người nhìn vào, khiến những mệnh lệnh của họ trông có vẻ dễ thực hiện hơn, có lý hơn thực tế. Những quân nhân trên chiến trường thích nói rằng: không có gì trong Lục quân di chuyển nhanh như bút chì mỡ ở Dai Ichi khi lia trên bản đồ ở Dai Ichi. Thông tin liên lạc từ sở chỉ huy xuống đến mức sư đoàn dường như khá là tốt, đặc biệt cho thấy quân đội này đại diện cho một quốc gia tân tiến nhất về công nghệ trên cả hành tinh, nhưng các thiết bị thực tế cho thấy khá cổ và không đáng tin cậy một cách cực kỳ với những ai thuộc các đơn vị nhỏ hơn, khá biệt lập với những đơn vị khác.

Khi họ đi lên, Hinton nghĩ sao quá tĩnh lặng. Có chạm súng chút đỉnh, nhưng chúng luôn theo sau bằng sự tĩnh lặng, và tĩnh lặng có hệ quả của nó là sự sợ hãi – đó hầu như là một sự tĩnh lặng bất thường của việc biệt lập hoàn toàn. Hinton, một cựu binh xe tăng, đã vài ngày leo lên chiếc phi cơ trinh thám nhỏ L-19 để tìm kiếm dấu hiệu quân thù, nhưng anh chưa bao giờ thấy được gì cả. Dần dần sự yên tĩnh và trống trải làm anh khó chịu, cũng như đã làm khó chịu những quân nhân có kinh nghiệm, ngay trước khi trung đoàn kỵ binh số Tám bị đánh ở Unsan. Anh còn nhớ câu hỏi quan trọng nhất trong đêm trước khi quân Trung Hoa tấn công vào cuối tháng Mười Một, liệu rằng đây là giai đoạn đi ngủ phải mang giày hay cưởi giày. Anh quyết định là mang giày “Chúng ta càng lúc càng biệt lập, và càng ngày càng bị cắt rời và như vậy càng lúc càng nhiều nhược điểm. Cứ sau mỗi ngày vận động chúng ta lại dàn rộng thêm ra và càng xa các đơn vị khác hơn. Sự cô lập trong nội bộ các đơn vị của chúng ta – không phải chỉ với những sư đoàn khác đang đảm bảo hai bên sườn mà chính là từ nội bộ chúng ta, từ trung đoàn đến trung đoàn, và trong mỗi trung đoàn, từ tiểu đoàn đến tiểu đoàn, rồi từ đại đội đến đại đội. Chúng ta biết chúng ta đang trông đợi vào lòng khoan dung của những người khác, vậy đó, chúng ta hi vọng quân Trung Hoa sẽ không tiến vào. Đó là một cảm giác kỳ quái – vùng đất này dường như nuốt chửng chúng tôi. Cả một sư đoàn chúng tôi dường như biến mất trong khung cảnh rộng lớn đó”. Nếu quân thù tấn công, Hinton và nhiều người khác hiểu, thì sẽ cực kỳ khó để tập hợp lại gần nhau và hình thành một cú đấm phòng thủ chặt chẽ. Đó là một trận công kích, sau này anh xác quyết, được lên kế hoạch bởi người Mỹ và dành cho người Trung Hoa.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Một, 2013, 02:47:28 am
Trung úy Paul O’Dowd là một quan sát viên của tiểu đoàn pháo dã chiến số 15, trong phần lớn thời gian, anh chạy lên chạy xuống với các đơn vị khác nhau, và giờ anh được phối thuộc vào trung đoàn Chín, sư đoàn Hai bộ binh. Anh là một trong vài sỹ quan Mỹ biết được sự kiện Unsan, rằng quân Trung Hoa đã nện một trung đoàn ưu tú của Mỹ một đòn đau. Giờ đây, khi quân Mỹ tiến lên phía bắc Bình Nhưỡng, O’Dowd thường xuyên bay trên một chiến phi cơ tuần thám bé tý nhằm tìm xem có dấu hiệu nào của quân Trung Hoa, để cố trả lời cho câu hỏi rằng họ đã đi đâu sau trận tấn công đầu tiên ở Unsan. Vào một ngày họ giáng một đòn nặng vào quân Mỹ, và rồi họ biến mất. O’Dowd thích tự hào về sức nhìn của anh. Bạn cần phải có sức nhìn tốt mới làm quan sát viên pháo binh được; nhưng chiến hữu của anh, Valdez, người lái phi cơ tuần thám và là một đại úy, còn có sức nhìn tốt hơn, như mắt chim ó. Valdez có phong cách riêng cũng như tố chất riêng: cứ mỗi khi bị súng mặt đất bắn lên và có vài viên trúng máy bay, khi về tới căn cứ anh sẽ tìm xem có lỗ đạn nào trên thân máy bay, và khi thấy, anh sẽ vẽ một trái tim quanh lỗ đạn đó. Chính Valdez đã phát hiện ra quân  Trung Hoa ở khoảng cách cực xa mà lúc đó O’Dowd không thấy gì cả. Sau trận Unsan, ngày qua ngày, họ sục sạo miền quê này để tìm dấu vết kẻ thù. Chiếc phi cơ nhỏ bé của họ không có tỏa nhiệt, và để có tầm nhìn tốt hơn, đôi khi họ mở toang cửa, và họ thường xuyên bị lạnh muốn đông thành đá – nhưng họ vẫn không nhìn thấy gì. Thật kỳ lạ, O’Dowd nghĩ; cả một quân đội hiện hữu đã biến mất. Đôi khi Valdez có thể thấy những thứ gì trông như dấu chân trên tuyết, họ bay xuống cực thấp, đó thực sự là dấu chân, và dường như chúng dẫn đến một căn lều. Thế là họ gọi pháo bắn vào túp lều, nhưng khi đạn bắn tới không có ai ở đó cả. Sau này họ được cánh tình báo cho biết là quân Trung Hoa có áo trùm đầu paca màu trắng, do đó trong dịp hiếm hoi quân Mỹ bay trên đầu lính Trung Hoa, chúng có thể nằm sấp bụng xuống, không di chuyển và những người phát hiện mục tiêu trên máy bay sẽ không nhận dạng được, cho dù có sức nhìn tốt hay không. Trong những ngày đó, đại tá Charles (Chin) Sloane, trung đoàn trưởng trung đoàn Chín, để hết tâm trí vào hoạt động trinh sát đường không của họ, ông rất hiểu về mối nguy to lớn. Khi họ thực hiện những chuyến bay trinh sát dài ba hay bốn giờ, ông thường dành sẵn sô-cô-la nóng cho họ cũng như nóng lòng đợi tin tức về quân Trung Hoa. Những ngày dài, lạnh cóng, O’Dowd  nghĩ, và không một tên lính Trung Hoa nào hiện ra. Nhưng O’Dowd chắc chắn rằng chúng ở đâu đó ngoài kia. Phải là như vậy. Điều này làm những quân nhân như Sloane rất lo lắng: một quân đội vừa nghiền nát một trong những đơn vị giỏi nhất của Mỹ đã hầu như biến mất khỏi mặt đất.

Tại sở chỉ huy sư đoàn, người ở đó cũng lo lắng. John Carley là một đại úy trẻ thuộc phòng G-3, phòng tác chiến; rời trường West Point chỉ mới 5 năm, và đã quá muộn để tham gia thế chiến II ở vị trí sỹ quan. Giờ đây anh có được một cuộc chiến nhỏ hơn nhiều, nhưng đó cũng là một cuộc chiến tranh quá đủ cho bất cứ ai muốn. Dù rằng sư đoàn Hai không có bất cứ đụng độ nào với quân Trung Hoa, nhưng vẫn có tin đều đều về phòng G-2 rằng những đơn vị khác có gặp chúng. Những câu hỏi trong suy nghĩ của anh và của rất nhiều sỹ quan bình báo là: Chúng đi đâu? Nếu chúng đã có lần xuất hiện đầy bất ngờ với một số lượng quân rất lớn, thì liệu rằng chúng lẽ nào không làm điều đó lần nữa? Họ tiến đến một nơi mà người Triều Tiên gọi là Xứ Hổ, có thể đoán chừng là do hổ đã từng sống thực sự ở đây. Những ngọn núi vây quanh thật khổng lồ. Vào cuối tháng Mười Một, cái lạnh đã chấn vỡ cửa chắn gió trên chiếc phi cơ tuần thám bé nhỏ mà Carley thường dùng đi trinh sát. Thật tệ, đôi khi vào cuối tháng Mười  Một, có lẽ quanh ngày 20, sương mù xanh thường xuyên phủ mờ cảnh vật và dường như không bao giờ tan đi. Carley không là một chuyên gia thời tiết, nhưng anh đã từng thấy sương mù như vậy khi còn nhỏ ở vùng Richton, Missisippi, lúc anh đi săn với bạn bè trong những buổi sáng lạnh giá và họ phải đốt lửa để sưởi ấm. Sau này anh xác quyết rằng các đội tuần tra Trung Hoa đã đốt nhiều đám cháy lớn ở khắp vùng để hạn chế việc trinh sát đường không của phía Mỹ. Anh và những sỹ quan trẻ khác trong phòng G-2 và G-3 đau khổ hiểu được rằng tuyến tiếp vận của họ mong manh tới mức nào, và rằng sư đoàn đang tiến lên phía bắc trên một con đường sỏi hẹp với những khúc cua đột ngột vặn xoắn, rẽ ngoặc. Những con đường như vậy là những địa điểm lý tưởng cho việc phục kích. “Bạn phải hiểu chúng tôi có nhiều nhược điểm như thế nào” nhiều năm sau anh nói “chúng tôi vượt qua một dãy núi và dường như có thêm một dãy khác mỗi ngày, và các dãy núi càng giảm khả năng hỗ trợ chúng tôi mỗi ngày”.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Một, 2013, 02:50:53 am
Một sỹ quan cao cấp dường như chia sẽ cùng mối lo lắng với anh là trung tá Ralph Foster, trưởng phòng G-2 sư đoàn Hai. Foster là một người kỹ tính, miễn nhiễm với những áp lực của cấp trên, và như Carley, cảm giác của ông về sự lo lắng tăng lên từng ngày. Bắt đầu từ đầu tháng Mười Một, ông đã lo, đến giữa tháng, lo lắng dồn thành cục. Những bản đồ của họ cho thấy phía bắc dòng Áp Lục lỗ chỗ những lá cờ đỏ đại diện cho các sư đoàn Trung Hoa, và rồi quân Trung Hoa tấn công ở Unsan. Dutch Keiser sư đoàn trưởng, không chia sẽ nổi sợ của ông. Malcom MacDonald, một đại úy trẻ công tác trong phòng G-2 của Foster, nhận thấy sếp của anh thêm phần thất vọng bởi ông không có khả năng tác động được Keiser. Người trong bộ phận tình báo hiểu về áp lực khổng lồ đè lên ông từ các sở chỉ huy cao hơn nhằm thúc tiến lên. Nhưng với Foster, có cảm giác như thể có ai đó ngoài kia đang quan sát họ và đợi đến đúng thời điểm sẽ công kích. “Bạn có thể cảm thấy được sự căng thẳng trong sở chỉ huy” ông nói “Chúng tôi cảm thấy được điều gì đó kinh khủng sẽ xảy ra, nhưng chúng tôi không thể bắt được ai phản ứng với việc đó”.

Hồi đầu tháng Mười một, thượng úy Sam Mace, trung đội trưởng trung đội Bốn thuộc đại đội xe tăng số 38 trong sư đoàn Hai, một đơn vị dưới quyền Jim Hinton, mang theo lính, xe tăng của anh cùng với vài lính bộ binh khác để làm một chuyến tuần tra trinh sát dài. Lúc đó họ đã đi lên khá xa phía bắc Bình Nhưỡng. Mace thích nhớ lại chuyến đi đó như nhớ một ngày hội âm nhạc. Nó bắt đầu bằng những thủ tục thường lệ. Có một lần chạm súng ngắn ngủi với vài tay lính Bắc Triều Tiên, nhưng hỏa lực vượt trội của xe tăng đã đánh bại quân Triều Tiên tương đối dễ dàng. Chừng tám lính Triều Tiên bị bắt, nhưng có một bị thương. Lính của Mace băng bó cho thương binh, trói tù binh, bỏ chúng lại trong một căn lều và tiếp tục đi lên hướng bắc để hoàn thành nhiệm vụ. Tới lúc này thì mọi việc vẫn như lệ thường, nhưng rồi có hai việc xảy ra làm Mace giật mình và cẩn trọng, cẩn thận hơn. Sam Mace nghĩ nhờ sự thận trọng mà anh còn sống sót. Jim Hinton, đại đội trưởng của anh, cho rằng Mace là một người lính giỏi thật sự, khá có thể là người lính giỏi nhất mà anh từng cộng tác. Anh có thể làm mọi thứ, sửa chữa mọi thứ, và phù hợp với bất kỳ hoàn cảnh nào. Về thể chất, anh ta thật đáng nể, hầu như không bao giờ biết mệt mỏi, điều này quan trọng bởi bạn không thể ngưng đánh giữa trận bởi tình trạng thể chất của bạn. Và anh ta cũng thông minh bằng với sức khỏe. Mace là người trong quân đội cả đời, Hinton đã vài năm thúc anh trở thành một sỹ quan, nhưng anh luôn từ chối, Hinton chắc là anh ta sợ phải cạnh tranh với những người có bằng cấp vì tất cả những gì anh ta có là bằng tiểu học. Anh bị thương nặng trong trận Naktong, phải vào bệnh viện với 78 mảnh đạn trong lưng, nhiều đến mức các y tá cá nhau xem con số cuối cùng là bao nhiêu. Lúc bị các mảnh đạn bắn tới, anh đang cuộn tròn người, Mace xác quyết đó là may mắn của anh. Khi Mace còn trong bệnh viện, Hinton tiếp tục triển khai các công tác giấy tờ để chuyển anh ta thành sỹ quan, và khi Mace trở lại đơn vị, anh thấy mình đã là trung úy. Anh chấp nhận cơ hội này có phần không nhỏ bởi anh mệt mỏi khi làm việc với các sỹ quan, trừ Hinton, bởi những người kia dù chẳng biết mẹ gì về chiến tranh nhưng vẫn nhìn trịch thượng xuống bạn bởi cấp bậc quân ngũ – và dĩ nhiên, có những đãi ngộ mà lính trơn chỉ có thể mơ thôi. Khi quân Trung Hoa tấn công đơn vị của anh vào ngày 25 tháng Mười Một, lúc đó anh là sỹ quan được 36 tiếng đồng hồ.

Sam Mace cảm thấy anh đã từng trải qua mọi thứ. Khi còn bé, đó là trong thời kỳ Đại khủng hoảng, anh lớn lên ở West Virginia, một nơi nghèo nhất của đất nước trong thời kỳ đói khổ. Ngay từ đầu cha anh đã trầm mê, ông là một người dân West Virginia thất học, nhưng còn tệ hơn, ông không thể làm việc trong hầm mỏ được, một nghề dành cho những người dân nghèo West Virginia, bởi ông bị chứng sợ không gian hẹp. Ông phải luôn đi tìm việc, buộc phải di cư từ thị trấn nhỏ này sang thị trấn nhỏ khác cùng với gia đình mình, nhận lấy những công việc lương thấp nhất, nếu có việc. Bởi vậy nên đường học vấn của Sam Mace dừng lại ở tiểu học; họ sống trong nhiều thị trấn quá nhỏ đến mức không có nổi trường học. Và cũng không ngạc nhiên thấy anh nhảy vào quân đội ngay khi có cơ hội, đó là vào năm 1939, họ tuyển binh, ở tuổi 15. Anh nói, thời đó, họ nhận bất kỳ ai.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Một, 2013, 02:55:48 am
Mace đã là một lính tăng trong những ngày đầu chuyển đổi từ ngựa sang xe tăng. Anh là một người lính xuất sắc ngay từ đầu, nhưng anh cũng có một chút hoang đàng trong những ngày sớm sủa đó và thế là cấp bậc của anh cứ dập dềnh lên xuống giữa trung sĩ và hạ sỹ, tùy thuộc vào cách cư xử ngoài-công-việc của anh. Sam Mace thích nói rằng anh là một trong những người Mỹ có uy tín lớn trong việc phục kích, bởi anh từng trải qua ba lần như vậy: một lần là ở Kunuri – đó coi như là lần ông cụ của tất cả, một nữa là trận Bulge trong thế chiến II cũng khá gần với một trận phục kích, và một trận nặng nhất, và anh có trong đó, một trận kinh hoàng ở một địa phương mà quân Mỹ gọi là Thung lũng Thảm sát vào giữa tháng Hai năm 1951. Trận Bulge vẫn còn trong tâm trí anh: anh ở đó với một đơn vị thiết giáp Mỹ chậm chạp và may mắn, đóng cách 20 dặm về phía đông bắc của một nơi tên là Bastogne, hồi tháng 12 năm 1944, tất cả mọi người quanh anh chắc ăn rằng cuộc chiến đã tới hồi kết thì quân Đức tấn công. Anh còn nhớ sương mù lúc đó dày đặc như thế nào. Vào thời điểm ấy, anh là một hạ sỹ, mới vừa bị giáng từ cấp trung sỹ xuống, và họ ở ngay trên hướng công kích của lực lượng xe tăng Đức.

Ở ngày đầu tiên, quân Mỹ có 17 chiếc tăng trong đơn vị của anh, và họ đã mất sạch số tăng đó trừ hai chiếc vào cuối ngày. Anh xoay sở thoát ra được chiếc tăng của mình khi nó trúng đạn, và chiến đấu như một bộ binh trong những ngày kế tiếp, một kiểu địa ngục mà anh chưa bao giờ trải qua, bom đạn ác liệt, mỗi một quả đạn pháo đều mang đến một nổi kinh hoàng. Rét không chịu nổi, ở Triều Tiên anh vẫn thường nhớ về lúc đó, bởi anh nghĩ cái rét ở Đức là nhứt hạng trên thế giới, nhưng rồi rốt cuộc Triều Tiên còn rét tệ hơn cả Ardennes, dài hơn và tác động tới cuộc sống mà cái lạnh ở Ardennes chưa bao giờ như vậy.  Ở Ardennes luôn tin rằng cái rét sẽ kết thúc vào một ngày nào đó; nhưng còn Triều Tiên thì không bao giờ. Đầu tháng Mười Một 1950, khi dẫn đầu đội hình tiến quân của sư đoàn Hai, sự thận trọng Mace học được từ Ardennes vẫn còn trong anh. Anh không tin vào bất kỳ thứ gì anh không thể tự mình xác nhận hay từ bất kỳ sỹ quan nào thiếu trách nhiệm. Mọi người chung quanh có thể nghĩ việc này dễ dàng như một điệu nhảy thưởng bánh, nhưng anh vẫn lo lắng, chúng ẩn sâu đâu đó trong thứ anh gọi là vùng đất da đỏ, và chẳng thể có điệu nhảy nào trong một cuộc chiến.

Sau khi họ băng bó cho tù binh Triều Tiên, người của Mace leo qua một số ngọn đồi trước khi đến một cây cầu nhỏ bắc qua một lạch nước khô cạn. Đó là nơi họ định sẽ quay về. Những bộ binh thuộc quyền trải ra trên một bán kính rộng, nhưng Mace có cảm giác là họ đang là những mục tiêu tốt và anh chẳng có chút ý tưởng nào về những gì ở phía trước. Cứ mỗi thước họ đi tới là một thước vào trong vùng lạ. Khi đến cây cầu, thì họ ở trong một thung lũng sâu, rộng mọc đầy thực vật và loại cây giống như cây bách xù và dường như chúng ở đó chỉ để che dấu quân thù khỏi tầm mắt của anh. Thế rồi nhạc trỗi lên. “Một thứ nhạc lạ lùng nhất mà tôi từng nghe”, anh nhớ lại. Anh lệnh cho lính lái tăng tắt ngay động cơ để anh có thể nghe được thứ âm thanh ngoại lai đó, hầu như những âm thanh ma quái đó khá rõ ràng. “Thật lạ. Dường như chỉa thẳng vào tôi và lính của tôi. Trông như kẻ thù đang theo dõi chúng tôi, đánh dạ khúc cho chúng tôi nghe và đồng thời diễu cợt chúng tôi. Trông như thể cái thung lũng đó đang hát nhạc cho chúng tôi” anh nói “và dường như nó đến từ khoảng không – có thể ngay trên đầu ngọn cây. Nó làm tóc gáy tôi dựng đứng lên”. Sau này, sau khi quân Trung Hoa tấn công tập đoàn quân Tám trên một chiến trường rộng và tất cả họ học được rằng quân Trung Hoa dùng nhạc để ra mệnh lệnh, Mace được thuyết phục rằng đó chính là chỉ huy của phía Trung Hoa, ở đâu đó trên các ngọn đồi phía trên anh, nói với quân của mình rằng, dù họ thấy xe tăng của Mace và lính của anh chung quanh trong tầm nhìn, nhưng thời điểm chưa hợp lý để tấn công.

Khi Mace và anh em trở lại căn lều nên họ để tù binh của mình lại, một tù binh không bị thương đột nhiên bỏ chạy. Họ bắn hạ hắn ta. Họ khá bối rối trước việc nỗ lực trốn chạy của hắn – bởi nhìn chung họ đối xử tốt với  tù binh, đã cấp cứu cho họ. Thế rồi họ lục soát thi thể kẻ chạy trốn, để tìm giấy tờ, và hắn ta không có gì cả. Bản thân điều này là khá bất thường bởi đa số lính Triều Tiên dường như mang theo rất nhiều thư từ và giữ trong người. Thế rồi dưới lớp quân phục Triều Tiên, họ phát hiện ra một quân phục khác, của lính Trung Hoa, và đó là một chiếc áo sỹ quan. Ngay cả trước khi họ soát quần áo, lính Nam Hàn phối thuộc trong đơn vị anh đã khăng khăng rằng đó là người Trung Hoa. Đầu tiên là tiếng nhạc, rồi sau đó là một người bị giết có thể là sỹ quan Trung Hoa: Mace nghĩ, chẳng có điều nào là tốt lành cả. Sau ngày đó Mace nói với cánh tình báo rằng anh nghĩ họ đã giết một người lính Trung Hoa. Nhưng dường như chẳng ai quan tâm.

Thế rồi từ đó, mỗi lần tiến lên phía bắc, anh càng cẩn thận hơn. Lúc đó, sư đoàn Hai ở đầu cánh phải của tập đoàn quân Tám. Phía đông sư đoàn là dãy núi Taebaek, và phía đông dãy núi là quân đoàn Mười. Như vậy nếu bị đánh thì cũng sẽ chẳng giúp được gì – dù theo lý thuyết sẽ có thể giúp nhau nếu có xảy ra vấn đề. (Cũng như vậy với tư lệnh sư đoàn ở phía bên kia dãy Taebaek, thuộc đội hình quân đoàn Mười, thiếu tướng O.P. Smith sư đoàn TQLC số Một, ông cũng có sườn trái trống trải).

Cuối tháng Mười Một, tiểu đoàn Ba thuộc trung đoàn 38, năm chiếc tăng của Mace đang nằm trong đó, ở cánh phải của sư đoàn Hai. Họ ở một ngôi làng có chừng 15 túp lều tên là Somin-dong. Mace bố trí xe tăng của anh ở những vị trí tốt nhất có thể để hỗ trợ được cả ba đại đội của tiểu đoàn. Anh bối rối khi thấy họ chuyển sở chỉ huy tiểu đoàn về đóng rất gần với các đại đội bộ binh, quá gần, anh nói, đến mức có thể chọi đá trúng được. Nhưng lúc đó, không ai tính trước sự cố.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Một, 2013, 02:59:55 am
Trên thực tế, quân Trung Hoa đang kiên nhẫn chờ đợi, họ nắm được mỗi bước di chuyển của quân LHQ, nơi đóng quân của từng đơn vị, và hơn hết, những đơn vị Nam Hàn nào hỗ trợ ở bên các sườn của họ. Trong số 30 vạn quân họ đã bí mật đưa vào Bắc Triều Tiên chỉ trong một tháng, ước chừng có 18 vạn đang đợi dọc theo sườn tây của mặt trận, trong vùng được chỉ huy bởi Johnnie Walker, nơi quân đoàn Một và quân đoàn Chín bố trí, và khoản 12 vạn ở xa bên cánh đông, sẵn sàng và đợi quân đoàn Mười của Ned Almond tiến lên phía bắc. Quân LHQ tiến lên, bị vướng víu bởi hàng đống máy móc khổng lồ, họ là những mục tiêu rất rõ ràng. Nhưng quân đội Cộng sản đang chờ đợi, có tới 30 sư đoàn, vẫn cơ bản vô hình; theo cách dùng từ rất hay của S.L.A (Slam) Marshall, một sử gia quân đội là “một con ma không thấy bóng”.

Có một bộ phận lớn trong quân đội, phần không bị Douglas MacArthur khống chế, biết rắc rối sắp xảy ra, trong khi một bộ phận khác vẫn tiếp tục bắc tiến. Vào ngày Lễ Tạ Ơn, tướng Al Gruenther đến thăm Dwight Eisenhower, cựu sếp của ông hồi ở châu Âu, tại nơi ở của Eisenhower trong trường Đại học Comlumbia. Con trai cả của Gruenther, Dick, lớp 1949 của West Point, là một đại đội trưởng thuộc sư đoàn Bảy, quân của đơn vị này đang ở rất xa phía bắc và trực chỉ sông Áp Lục. Ngày 17 tháng Mười Một, bốn ngày trước khi các sỹ quan thượng cấp của anh đến được và đái xuống sông Áp Lục, Dick Gruenther (anh tin chắc là họ đã và đang đánh nhau với quân Trung Hoa) bị thương khá nặng ở dạ dày do một trong những trận đánh nhỏ trước trận đại công kích của quân Trung Hoa. Al Gruenther là cựu tham mưu trưởng của Eisenhower thời ở châu Âu, và vừa kết thúc một nhiệm kỳ công tác trong cương vị giám đốc ban tham mưu một-trăm-người của Hội đồng Tham mưu liên quân, điều này có nghĩa là ông biết được tất cả những dấu hiệu cảnh báo mà giờ MacArthur đang bỏ qua.

Lúc đầu John Eisenhower, con trai của Dwight, nghĩ thiệt là lạ khi Gruenther ăn lễ Tạ ơn ở đây, bởi ông ta cũng có gia đình của mình. Nhưng sau anh xác quyết rằng Gruenther ở đây bởi Eisenhower vẫn là người để mọi người đến trao đổi khi có điều gì đó sai sót nghiêm trọng ở cấp rất cao, Eisenhower có một vị trí đặc biệt. John Eisenhower nhớ rằng có sự u ám trong bữa ăn Lễ tạ ơn đó, những điều mà bản thân anh không hiểu rõ lúc ấy. Gruenther nói với cha anh rằng các lực lượng Mỹ phơi ra quá nhiều và cũng cực nhiều điểm dễ tổn thương. Khi Gruenther về, Eisenhower quay sang con trai và nói “Cha chưa bao giờ bi quan như thế về cuộc chiến này trong đời”. John Eisenhower lúc đó đang dạy ở West Point, và khi anh rời nơi ở của cha mình để về lại viện, anh bật radio lên và nghe được một báo cáo rằng MacArthur hứa hẹn cuộc chiến sẽ kết thúc trước Giáng Sinh. Ngày hôm sau, quân Trung Hoa tấn công.

Đó là vào đêm 25 tháng Mười Một, cuối cùng quân Trung Hoa tấn công. Hiếm khi có một đội quân quá lớn như vậy lại gây ra một kiểu bất ngờ đến thế với đối phương. Phía Trung Hoa có tin tình báo chính xác về quân Mỹ, còn lục quân Mỹ ở bờ tây – TQLC ở bờ đông lanh lẹ và được lãnh đạo tốt hơn – về bản chất là mù với cái bẫy mà họ đang bước vào. Khi quân Trung Hoa tấn công, mới thấy rõ rằng những gì đã dẫn dắt các lực lượng của MacArthur không giống như là một chiến lược mà là trò cá cược may rủi – rằng quân Trung Hoa sẽ không tham chiến. Bài đã hạ, và những người khác giờ phải trả giá cho sự kiêu ngạo và tự đắc kinh khủng đó. Nhưng thế vẫn chưa hết tệ, vụ gá bạc này còn có một chút tháu cáu thảm hại bên trong, đó là có một số rất ít sỹ quan cao cấp Mỹ tin rằng quân đội Nam Hàn đã trở thành một lực lượng chiến đấu chấp nhận được, có khả năng tự trụ được trước quân Trung Hoa. Quân Nam Hàn chiến đấu tuyệt đối tệ hại trước quân Trung Hoa, và như có thể đoán trước được, hầu hết các đơn vị của họ đơn giản là tan vỡ và biến mất ngay trong đợt công kích đầu tiên. (Có trường hợp ở một trung đoàn, như Slam Marshall viết, có chừng năm trăm lính biến mất cùng với hầu như toàn bộ vũ khí của họ, nhưng cũng có vài sỹ quan vẫn xoay sở về lại được Seoul và mang cho Lý Thừa Vãn một chai đựng đầy nước sông Áp Lục). Những chỉ huy trên chiến trường đều biết lính Nam Hàn chưa sẵn sàng tiếp nhận chiến đấu nếu quân Trung Hoa nhảy vào, nhưng với những nhân vật ở Dai Ichi, với việc quân của mình trải ra quá mỏng, thì các bản đồ sẽ trông tốt hơn nếu điền tên các đơn vị Nam Hàn vào. Việc họ biến mất khỏi những vị trí quan trọng ở bên các sườn của quân Mỹ và các đơn vị LHQ khác đồng nghĩa với việc quân Trung Hoa có một loạt các lộ tuyến hầu như thông suốt chọc thẳng đến trung tâm các vị trí quân LHQ.

Cũng không phải chỉ huy quân Mỹ ở Tokyo đã cho phép hoặc chuẩn bị cho quân mình vào điều kiện mà quân Trung Hoa có thể chiến đấu – ít tấn công trực diện, di chuyển bằng chân trong đêm và lẻn qua sườn các đơn vị địch, tìm vị trí yếu, đồng thời chiếm những vị trí phía sau nhằm cắt đường rút. Không ai nghiên cứu đủ kỹ về việc họ di chuyển nhanh chóng, ngay cả trong màn đêm và không có đường sá. Họ ít bị vướng víu bởi vũ khí hạng nặng, đạn dược, lương thực hơn lính Mỹ, nhanh nhẹn chính là sức mạnh của họ (và rốt cuộc cũng là điểm yếu của họ). Có một niềm tin sai lầm ở Dai Ichi rằng quân Trung Hoa sẽ phơi mình ra như là những mục tiêu ngon ăn cho không quân Mỹ. Ý tưởng rằng họ biến mất vào ban ngày xem như không có mặt trong các toan tính ở Dai Ichi. Quân Trung Hoa tỏ ra hiểu rất tốt về những điểm yếu của mình. Họ không làm nhiều thứ, nhưng những gì họ làm, họ sẽ làm tốt. Trong những ngày đầu, trước khi phía Mỹ tìm ra được cách đánh nhau với họ, họ đã xoay sở để biến những gì dường như là thế mạnh của quân Mỹ – phụ thuộc vào vũ khí hạng nặng, và như vậy cũng phụ thuộc vào đường sá – thành điểm yếu. Với những ai từng quan tâm những gì đã diễn ra ở Trung Hoa trong những năm ngay sau thế chiến II, thì chẳng có nhiều ngạc nhiên với cung cách chiến đấu của họ.

(Hết chương 27)


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Một, 2013, 03:06:17 am
Chương 28

Đại tá Paul Freeman, trung đoàn trưởng trung đoàn 23, chắn rằng quân của ông đang đối mặt với quân Trung Hoa từ hồi họ đến Sunchon. Lúc quân Trung Hoa tấn công, ông hoàn toàn tin chắc rằng chúng đã ở quanh ông ít nhất cả hai tuần rồi, quan sát quân của ông, nhưng không hành động gì. Các đội tuần tra thám báo của ông vẫn báo cáo đều về những tiếp xúc khác lạ nhất với quân Trung Hoa – một kiểu cho-thấy-nhử-đòn-và-chờ đợi. Chừng mười ngày trước ngày họ tấn công, một trong những đại đội trưởng giàu kinh nghiệm nhất của ông, đại úy Sherman Pratt, đã triển khai một cuộc tuần tra trinh sát với một đơn vị cấp đại đội, trực chỉ hướng bắc đến Kanggye. Khi họ đi được chừng năm dặm lên phía bắc, họ thấy được những bóng người ở phía đường chân trời trước họ, nhưng luôn ở khoản cách xa. Pratt và một số lính của anh xác quyết rằng, theo quân phục của chúng, thì đó là quân Trung Hoa. Thế là anh dừng chuyến tuần tra, lịnh cho quân không được bắn, quay xe để họ có thể thoát ra nhanh chóng, và không đi quá xa lên phía bắc nữa. Cuối cùng, khi về được trung đoàn bộ, anh báo cáo cho cả Claire Hutchin, tiểu đoàn trưởng, và Freeman về những gì đã diễn ra. Ngày kế, Freeman lại đưa một đội tuần tra khác ra, và lúc này quân Mỹ tiến đến ngay tuyến dường như là ranh giới của quân Trung Hoa đưa ra, nên quân Trung Hoa khai hỏa. Vài quân Mỹ bị thương, đội tuần tra buộc phải rút lui, để lại vài thương binh phía sau. Ngày thứ ba, Freeman lại gửi một đội nữa đi, chỉ nhằm để tìm kiếm những thương binh của chuyến thứ hai đang nằm trên đường, tất cả được băng bó và quấn vào trong chăn.

Có những dấu hiệu khác về sự hiện diện của quân Trung Hoa khi Lễ Tạ Ơn đến gần, Freeman tin chắc rằng quân Trung Hoa đã ở khắp nơi và quan sát. Các cán bộ tình báo của ông cũng thế. Nhưng, như sau này ông ghi lại, họ “hình như không thuyết phục được bất kỳ ai ở Bộ Tư lệnh Viễn đông”. Do những năm phục vụ tại Trung Hoa trong xuốt thời chiến tranh, nên Freeman nói được tiếng Hoa, hiểu được cách chiến đấu của đội quân Mao Trạch Đông, và xem trọng những lời đe dọa của họ rằng sẽ tham chiến. Tâm trạng của ông là cực kỳ bi quan. Cá nhân ông cho rằng việc vượt qua vĩ tuyến 38 là một sai lầm thảm khốc, rằng lãnh đạo Mỹ đã đặt cả tập đoàn quân Tám vào hiểm cảnh, và lãnh đạo Mỹ đã chơi dưới màu người Nga – họ phải chiến đấu trong một cuộc chiến không thể chiến thắng ở châu Á trong khi người Nga đứng bên lề. Trớ trêu thay, cảm giác này, linh tính điềm gở này của ông hầu như chính xác với những gì George Kennam nghĩ. Tâm trạng của Freeman, vốn tăm tối hơn qua từng ngày khi sư đoàn và trung đoàn của ông tiếp tục bắc tiến, thể hiện rõ trong những lá thư ông viết về cho vợ và những câu từ mang tính cảnh báo đến các tiểu đoàn trưởng của ông, rằng phải chuẩn bị mỗi đêm cho tình huống xấu nhất.

Những lá thư ông viết về nhà là một ghi chép rất hấp dẫn của một vị chỉ huy quan trọng, viết ra ở một thời điểm kinh khủng. Ông tin rằng thượng cấp của mình đã tính sai và ông bất lực với việc đó. Ngày 25 tháng Chín, lúc hầu hết mọi người khác phởn phơ trước thành công của việc đột phá tuyến Naktong, thì Freeman vẫn rất thận trọng “Anh vẫn e dè” ông nói trong một lá thư viết ở ngày ấy “về việc bọn Mãn Châu tràn xuống từ phương bắc”. Ngay cả trước khi các lực lượng LHQ vượt vĩ tuyến 38, Freeman rất lo lắng bởi việc bắc tiến phụ thuộc không chỉ vào sức mạnh quân Mỹ – sức mạnh này rõ ràng là tự có giới hạn – mà còn phụ thuộc vào ý định của người Trung Hoa, và họ đã nói rằng có ý định tham chiến.

Câu trả lời, như ông đã quan ngại – kết thúc những lo lắng riêng mà ông đã nuôi dưỡng – trận Unsan đã xảy ra. Những lá thư của ông cho thấy tâm trạng u ám của mình, và càng lúc càng bi quan. Sức khỏe ổn, ông viết cho vợ, trừ cái lạnh kinh hoàng của Bắc Triều Tiên không chịu nổi. Nhưng cảm xúc của ông thì cạn kiệt “Anh không thể thấy bất kỳ giải pháp nào cho tình huống khó xử quái dị này mà các lực lượng của ta đang dính vào. Chắc là phải có ai đó có cách, và anh hi vọng rằng có vài phép màu nào đó giải thoát cho bọn anh khỏi tình trạng không thể bảo vệ được này. Việc các lãnh đạo của bọn anh quá ngây thơ, không có bất kỳ kế hoạch hoặc đảm bảo nào để quân Trung Hoa không can thiệp, làm anh không thể tin nổi. Và vì vậy anh không thấy một giải pháp nào”.

Ngày 11 tháng Mười một, trung đoàn 23 được lệnh tiến đến một điểm tập trung và từ đó sẽ tiến bước cuối đến sông Áp Lục. Freeman tin rằng họ bị bỏ rơi bởi chính sách và quan điểm hữu lý. “Đó là tình trạng quái dị nhất tôi có thể tưởng tượng ra cho Hoa Kỳ. Dường như chúng ta đang bị Liên Xô quay và lún sâu vào bãi lầy châu Á. Tôi không thích điều này tí nào” ông viết. Những lá thư bi quan nhất ông viết vào ngày 13 tháng Mười Một, chỉ 11 ngày trước trận tấn công của quân Mỹ bắt đầu và 12 ngày trước ngày Trung Quốc công kích. Ông tin đó là một sai lầm to lớn đã đưa đến hạn chế với các đơn vị và nguy hiểm phía trước, và đó chính là quyết định vượt vĩ tuyến 38 thay vì tìm ra một kiểu dàn xếp nào đó. “Ngay cả trong những ngày đen tối nhất ở bên bờ Naktong, khi chiến đấu cho sự tồn tại của chúng tôi, tôi vẫn luôn thấy một tia hi vọng, một giải pháp. Nhưng khi chúng ta vượt qua vĩ tuyến 38, tôi cho rằng quá mức quái dị khi chúng ta lại nhận lấy nguy cơ để không được gì cả. Giờ đây tôi thấy như chúng ta đang trong một cuộc Thập tự chinh thứ hai, một cuộc hành quân của Napoleon đến Moscow, và một Battaan. Tôi không thấy khả năng kết thúc trừ xảy ra Thế Chiến III, và việc hi sinh tất cả các lực lượng của chúng ta ở đây cho điều đó có lẽ là một sai lầm khổng lồ. Ngay cả nếu chúng ta chiến đấu để đến được Áp Lục với giá cực lớn và bằng sự khống chế được những trở ngại hậu cần hầu như na ná với lúc ở Miến Điện, chúng ta có thể đạt đỉnh cao nhưng cũng không có cơ hội nào để thoát ra. Đây là một đống cực kỳ lộn xộn và tôi cảm thấy ở dưới lớp bùn quanh đó”.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Một, 2013, 03:09:01 am
Trong đêm trước khi các lực lượng LHQ bắt đầu trận tấn công lớn, Freeman và Claire Hutchin đến ăn tối với Dutch Keiser, sư đoàn trưởng, một người bạn cũ của Freeman. Cả Freeman và Hutchin nói rằng họ hoàn toàn không thể hiểu nổi việc gì đang diễn ra. Mọi thứ họ biết đều chỉ ra rằng quân Trung Hoa đã ở trong khu vực và có thể tấn công. Điều tệ nhất mà các lực lượng LHQ có thể làm là tiếp tục trận tấn công. Lời giải thích duy nhất cho một trận tấn công hướng thẳng đến một mối đe dọa như thế, Freeman nói, là tướng MacArthur có, theo ngôn từ của ông, “vài thông tin rất tuyệt mật rằng phía Trung Quốc thực ra sẽ không kháng cự, nhưng [sẽ] cho phép chúng ta đẩy họ qua lại bên kia sông”. Có lẽ, ông thêm, thông tin tuyệt mật đó biểu lộ rằng người Trung Hoa đã ở đây, nhưng không muốn ở đây, và muốn quân Mỹ đẩy họ về lại sau dòng sông. Sự ám chỉ này nói một cách ngắn gọn là: “cho thấy dứt khoát không là vấn đề”.

Vì thận trọng, nên Freeman giữ cho trung đoàn của ông tập trung chặt chẽ nhất có thể, và lịnh tất cả các tiểu đoàn trưởng của ông phải sẵn sàng tốt vào ban đêm. Trong đêm đầu tiên quân Trung Hoa tấn công, trung đoàn 23 đã trụ được khá ổn. Những vị trí của họ nhìn chung là mạnh mẽ, kết cục họ cũng gây được thiệt hại lớn cho quân Trung Hoa và bắt được chừng 100 tù binh, số lượng lớn nhất Freeman nhớ đã bắt được trong suốt cuộc chiến. Bởi nói được tiếng Hoa, nên ông có thể thẩm vấn tù binh, và nhận ra rằng hầu hết tù binh nói theo một ngôn ngữ địa phương của miền nam [Trung Hoa]. Ông dành hết phần còn lại của ngày hôm ấy để ráng củng cố trung đoàn của mình. Đêm đó quân Trung Hoa tấn công lần nữa và rốt cuộc cũng chiếm được sở chỉ huy trung đoàn 23, dù trung đoàn có thể lấy lại được vị trí này vào ngày kế tiếp. Điều gây ấn tượng với Freeman khi thẩm vấn tù binh là không phải đa số họ muốn có mặt ở đây. Một số họ còn sợ hãi trước những thiết bị chiến trường của Mỹ. Đó là một nỗi sợ, Freeman ghi, bắt đầu biến mất nhanh chóng, bởi quân đội Mỹ đã thể hiện quá tệ hại trong vài ngày đầu tiên đó – trái ngược lại với những gì có thể thể hiện nếu được đào hầm hào và chuẩn bị tốt trước khi quân Trung Hoa tấn công

(Hết chương 28)


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Sáu, 2015, 05:00:29 pm
Chương 29

Đại úy Alan Jone là sỹ quan S-2 (cơ cấu bên dưới của phòng G-2 ở cấp sư đoàn) thuộc trung đoàn Chín, trung đoàn đảm nhận sườn cực đông của sư đoàn Hai khi quân Trung Hoa tiến đánh. Trong vài hôm trước ngày 25 tháng Mười Một, dù nhìn chung mức kháng cự là khá nhẹ, nhưng số lượng các cuộc giao tranh nhỏ với vài đơn vị nghi là quân Trung Hoa tăng lên. Jones nói “Bản đồ của tôi dày đặc màu đỏ”. Anh nghĩ, áp lực lên bộ phận tình báo là rất thật, và anh cho rằng áp lực đó cũng bằng với cánh bộ binh hầu như đang đứng ở đầu sóng ngọn gió của tập đoàn quân Tám.

Đây không phải là lần đầu Alan Jones – khóa West Point 1943 – ở trong một trận tấn công lớn của quân thù cùng thời tiết giá lạnh. Cũng như Sam Mace, anh đã có mặt trong trận Bulge khi là một sỹ quan trẻ thuộc sư đoàn 106, lúc đó quân Đức đã bất giờ tấn công và gần như dành được chiến thắng trước các lực lượng Đồng Minh trong trận tấn công lớn sau cùng của chúng trong thế chiến. Cha của anh, thiếu tướng Alan Jones Lớn, tư lệnh sư đoàn 106, cũng không thấy thoải mái với việc có con mình trong đơn vị, nhưng do cậu Alan trẻ muốn thoát khỏi một đơn vị dường như không có nhiệm vụ chiến đấu và muốn tham gia vào một đơn vị ở tuyến đầu. Anh đã có được điều đó, mà còn hơn thế nữa. Cha anh, trong đêm trước trận đánh, đã rất lo về việc sư đoàn ông trải ra quá rộng. Ông đã đúng, xe tăng Đức đã chọc thủng cả hai cánh sư đoàn 106. Thông điệp từ sở chỉ huy cấp trên gọi các đơn vị lùi về đã bị chậm trễ bởi lưu lượng truyền tin dày đặc, và trung đoàn của Alan Jones Nhỏ, trung đoàn 423, đã hoàn toàn bất ngờ, họ đã chiến đấu cật lực trước khi cạn đạn dược và bị hợp vây. Alan Jones Nhỏ là một tù binh của Đức chừng bốn tháng rưỡi, và anh thề sẽ không là tù binh chiến tranh một lần nữa, một lời thề anh lặp lại với sự sôi nổi khi đáp xuống Triều Tiên và nghe được những câu chuyện về sự hung bạo của Bắc Triều Tiên với lính Mỹ cùng lính Nam Hàn.

Jones cho rằng tư lệnh trung đoàn Chín, đại tá Chin Sloane, đã bố trí các lực lượng có hạn của mình một cách khá hợp lý. Cả ba tiểu đoàn đều nằm trên các điểm cao, không trải ra quá rộng, và dưới các điều kiện bình thường họ có thể hỗ trợ nhau. Nhưng không có gì là bình thường với những gì đã diễn ra đêm đó. Sườn đông của họ, do lính Nam Hàn phụ trách, hầu như sụp đổ ngay lập tức, và rồi họ bị hàng lớp hàng lớp lính Trung Hoa tấn công. Sau này Jones xác quyết rằng  như thể đột nhiên có một cuộc chiến mới với trận tấn công vào tiểu đoàn Một – nó hơn hẳn một trận thăm dò. Thế rồi một đợt tấn công mới nổ ra vào khoảng nửa đêm. Lúc đó Jones ở sở chỉ huy trung đoàn, thế là anh nghe thấy những báo cáo đến từ cả ba tiểu đoàn, báo cáo này nối tiếp báo cáo kia, không hẳn là hoang mang, nhưng gay gắt, nhức óc với sự kinh hoàng trong từng từ: “ chúng đang đánh chúng tôi… Chúa ơi, chúng ở mọi nơi… chúng tôi đang phòng thủ, nhưng chúng ở mọi chỗ … mỗi khi chúng tôi ngăn được thì chúng lại đến nhiều hơn … chúng tôi không thể giữ nổi nữa, bọn chúng đông quá… đây có lẽ là thông điệp cuối cùng các anh nhận được từ chúng tôi…”. Không phải từ một giọng nói, mà là một số, và những giọng nói đó thay đổi khác nhau khi người lính thông tin bị trúng đạn, nhưng tất cả đều cung cấp cùng một thứ, đó là âm thanh của một trung đoàn quân Mỹ bị xé toạc ra bởi một lực lượng Trung Hoa đông hơn nhiều. Không có cách nào để sở chỉ huy trung đoàn vốn khá biệt lập xác định được xem việc gì đang diễn ra – trừ việc hiểu rằng chuyện này ở quá xa so với nhận thức của họ. Jones nghĩ đại tá Sloane đã khá ổn trong vài giờ đầu. Ông không bao giờ đánh mất sự trầm tĩnh, không kinh hoảng, và làm tốt nhất có thể để đưa những gì còn lại của trung đoàn lui về hướng sư đoàn, lui về một nơi mà họ hi vọng là an toàn hơn, một nơi có tên là Kunuri.

Có những thảm họa quân sự rất kinh hoàng nhưng ít ra chỉ là nhất thời. Những điều kinh khủng sẽ xảy ra với một đơn vị chọn vị trí kém hoặc lãnh đạo tồi, và đơn vị đơn lẻ đó sẽ chịu tác hại rất ghê, nhưng rồi với sự may mắn thì điều đó sẽ kết thúc, đặc biệt với khả năng của quân đội Mỹ khi phối trí lại quân và bảo vệ những nơi đang bị tấn công. Nhưng đây là một dạng thảm họa khác. Nó mạnh lên từng giờ, như một cơ thể sống. Trong những giờ đầu đó, một số các đại đội của trung đoàn 23 và trung đoàn Chín hầu như đã bị quét sạch. Áp lực vô cùng lớn đặt lên các đơn vị tiếp giáp, lên những tiểu đoàn, trung đoàn mà các đơn vị đó trực thuộc, và làm cả sư đoàn Hai ngập tràn nguy cơ; không hẳn như là kiểu ngã đổ domino, nhưng cũng khá gần với điều đó, một mô tả chính xác cho những gì đang bắt đầu diễn ra.

Điểm đầu mút nhô ra xa nhất đại diện cho sư đoàn Hai là trung đoàn Chín, và xa nhất của trung đoàn là đại đội Love của tiểu đoàn Ba, ở đỉnh chóp đại đội Love chính là trung đội Hai, do trung úy Gene Takahashi đến từ Cleveland bang Ohio chỉ huy. Takahashi – Tak, như quân của anh gọi, chứ không phải Gene – là một người Mỹ gốc Nhật, thời niên thiếu của anh trong thế chiến II trải qua ở trại tập trung California. Ấn tượng trước danh tiếng lẫy lừng của đơn vị chiến đấu số 442 cấp trung đoàn của lính gốc Nhật ở Châu Âu – mà đa số họ đến từ các trại tập trung – và cũng như họ, nóng lòng muốn được cống hiến cho đất nước, vào năm 1945 lúc 17 tuổi, anh đã tình nguyện xin gia nhập quân đội Hoa Kỳ. Điều luật duy nhất bố mẹ anh nói khi anh xin phép gia nhập quân đội là không được làm điều gì để thổ thẹn với dòng họ Takahashi. Anh là một sỹ quan khác thường của một đơn vị cũng khác thường – một người Mỹ gốc Nhật chỉ huy một trung đội toàn lính da đen. Dù về mặt kỹ thuật mà nói thì Lục quân đã xóa bỏ sự phân biệt chủng tộc, nhưng vẫn còn vài đơn vị toàn lính da đen trong những tháng đầu của cuộc chiến tranh Triều Tiên. Thể hiện của những đơn vị toàn da đen này vào thời điểm đó không đồng đều, cũng như Lục quân đang thay đổi rất nhanh, nó phụ thuộc vào việc ai là sỹ quan của họ, bất kể có phải da trắng không, hoặc họ có khó chịu với lính không. Takahashi cho rằng lính của anh là những người đàn ông tốt và là lính giỏi. Có một ít bất tuân lệnh, nhưng bất kể thế nào, thì việc chỉ huy họ đã làm cho anh hiểu được nhiều về tâm tình, cảm nhận được những mệnh lệnh nào cần được giải thích rõ, và anh chắc rằng những điều này đã khiến anh thành một sỹ quan tốt hơn.

Takahashi trải nghiệm nhiều với những định kiến của thời kỳ đó, không chỉ bởi thời gian anh ở trong trại tập trung mà còn từ một nhiệm kỳ công tác trước đó ở Triều Tiên. Năm 1947, khi phục vụ với tư cách một sỹ quan trẻ trong sư đoàn Sáu, anh đã có đủ trải nghiệm về định kiến cho cả quảng đời còn lại. Thượng cấp của anh là một tay đại úy tốt nghiệp West Point, ghét công tác ở Triều Tiên, ghét người Triều Tiên, và thật sự là không thích bất kỳ ai trông có vẻ là người châu Á. Tay đại úy đó đem những tâm trạng thất vọng của hắn cùng những định kiến áp vào Takahashi trong mọi công việc thực sự chán ngấy mà anh làm. Nếu có một công việc nào đó không lợi lộc gì mà lại đòi hỏi nhiều thời gian, đầy khổ sở, và ngay cả nếu hoàn thành tốt, cũng chẳng mang lại chút tiếng tăm gì, thì Takahashi sẽ phải làm việc đó. Ai đó dù là người Mỹ gốc Nhật vẫn là phát xít Nhật với tay đại úy kia, người rõ ràng muốn tống Gene Takahashi ra khỏi quân đội.

Như sau này Takahashi xác quyết, kỳ quặc nhất là trải nghiệm đó đã khiến anh thành một sỹ quan tốt hơn. Anh lên kế hoạch cho thời giờ của anh một cách thông minh. Công việc càng khó và thể hiện của anh càng tốt chỉ khiến cho thượng cấp điên cuồng hơn, hắn ta còn chồng chất thêm việc cho anh. Kết quả là, khi Takahashi nhận ra anh không thể bị khuất phục, thì anh càng thêm phần tự tin, một cảm giác rằng không có việc gì trong quân đội, bất kể nó khó chịu thế nào, mà anh không thể làm được. Tác dụng của nghịch cảnh, Gene Takahashi nghĩ, là không thể đánh giá thấp được.

Gene Takahashi cho rằng đại đội Love, bởi trải qua những trận chiến đấu gian khổ ở khu vực Naktong, đã trở thành một đơn vị tốt, kinh qua chiến trận. Đại đội có thể chiến đấu tốt dưới những điều kiện bình thường – nghĩa là, nếu quân binh được bố trí tốt và biết được việc gì sẽ đến – chứ không phải là bất ngờ và không được chuẩn bị sẵn sàng cho đánh nhau. Anh tin rằng những ai đăng lính với sự mất tin tưởng cao sẽ thận trọng hơn với những gì chưa biết rõ so với mức trung bình của lính da trắng. Ở vài cấp độ, anh tin rằng nó phản ánh lại thời kỳ đó, khi quân đội vẫn phần nào còn nạn phân biệt chủng tộc. Đa số họ – Takahashi hiểu tất cả điều này bởi kinh nghiệm bản thân – tham gia quân đội để cống hiến được điều gì đó cho đất nước và để thoát ra những định kiến rất gay gắt. Để cố gắng chứng minh rằng những định kiến đó là không công bằng và chống lại điều vốn đã thâm căn cố đế trong hệ thống chỉ huy quân đội là một việc rất khó với nhiều người, Takahashi nghĩ.


Tiêu đề: Re: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Sáu, 2015, 05:08:23 pm
Ở cấp độ đại đội, tình hình của đơn vị phản ánh được tư cách cá nhân của chỉ huy đại đội, ở đây đại úy Maxwell Vails là một sỹ quan rất tử tế. Vails là một người khỏe mạnh, có cảm nhận tốt được tâm trạng binh lính, nên họ yêu thích và kính trọng anh, đây là một vấn đề không nhỏ chút nào. Nhưng bất kể anh có cảm nhận gì về chiến đấu, về việc phải làm gì khi có chuyện xấu xảy ra (mà trong cuộc chiến này, chuyện xấu xảy là thường xuyên), vẫn còn một nghi vấn khác hiện hữu. Đó cũng là một chuyện quan trọng, về cơ bản là điểm phân biệt giữa một sỹ quan vĩ đại với một sỹ quan bình thường hoặc thậm chí là một sỹ quan tốt. Có một cảm giác riêng tư trong một bộ phận binh lính – và Takahashi đồng tình – rằng một khi thượng cấp của họ có một nhiệm vụ khổ ải nào đó, ví như phải ráng tìm xem quân Bắc Triều Tiên có bí mật đào hầm trên một ngọn núi nào đó không, một việc kiểu như chọc gậy vào tổ ong, thì thật chẳng mấy thích thú, họ sẽ chọn đại đội Love cho việc này.

Đến giữa tháng Mười Một, dù quân sỹ trong đại đội Love bận tâm, thì cuộc chiến biến mất trên diện rộng. Ở cái ngày mà cuộc đại tấn công bắt đầu, họ vẫn khá lạc quan. Họ vượt sông Chongchon trong ngày đầu tiên tại một nơi gần làng Kujang-dong, họ để lại hầu hết đồ hậu cần lại phía sau, gồm cả nệm ngủ, đạn dược bổ sung, và cả lựu đạn. Đơn giản là vì xe tải và xe jeep không thể đi xa hơn do địa hình. Có thể chúng sẽ lên theo sau một chút. Sau này Takahashi tự trách mình vì việc đã không bắt lính của mình mang theo càng nhiều lựu đạn càng tốt – giá mà anh đã bắt mọi người mang nhiều lựu đạn, thì sẽ tạo được một sự khác biệt khi quân Trung Hoa tấn công. Ngay cả áo bành tô họ cũng chẳng mang theo cùng. Họ để lại ở vị trí đóng quân cũ. Họ không cho rằng sẽ đi quá lâu. Dòng sông Chongchon không quá sâu, chỉ ngập đến thắt lưng, nhưng rất lạnh. Việc vượt sông là không khó, nhưng họ đã mắc một sai lầm: họ vẫn mặc quần, trong khi quân Trung Hoa, có nhiều kinh nghiệm hơn trong việc này – phía Trung Hoa đã học được rất nhiều thứ trong cuộc Vạn lý Trường chinh – cửi quần ra khi vượt sông, việc này đồng nghĩa với cái lạnh, cái ẩm ướt sẽ không ngấm vào quần áo họ và nó cũng sẽ không kéo dài. Binh sỹ đại đội Love đã mất hàng giờ ẩm ướt trong cái ngày rét buốt đó và trèo lên một ngọn núi cao cách con sông chừng một dặm rưỡi, trước khi trời sụp tối. Một thứ làm Takahashi lưu tâm là một loạt các hố cá nhân hầu như hoàn hảo lúc họ đi qua, mỗi hố sâu một thước, giống hệt nhau, được sắp xếp tuyệt đối tốt, như thể được những chuyên gia bài trí làm. Đó là việc được thực hiện bởi những người biết về việc này khá rõ. Lính Mỹ đào hố cá nhân khá bừa bãi bởi họ luôn ỷ vào hỏa lực vượt trội. Bộ đội Bắc Triều Tiên cũng không khá hơn mấy. Những cái hố cá nhân này đã mạnh mẽ chỉ ra rằng đã có một tay chơi mới trong cuộc cờ. Đến giữa buổi chiều ngày 24 tháng Mười Một, đại đội Love thiết lập một vòng phòng thủ ở phía đông sông Chongchon.

Họ ở trên một điểm cao cách ngôi làng bé tí Kujang-dong chừng ba dặm về phía bắc, một nơi chỉ tồn tại trên các bản đồ hơn là thực tế – dù sau này, khi họ ráng chỉ ra nơi quân Trung Hoa tấn công và chiếm được, nơi rất nhiều bạn bè đã hi sinh, ít nhất nó cũng cho họ một vị trí trên bản đồ. Takahashi vừa có một tranh luận ngắn với đại úy Vail, rằng anh không thích cái cách bố trí binh sỹ. Anh nghĩ rằng tuyến phòng thủ của họ thành một đường quá thẳng và không chú ý đến những vị trí anh chắc chắn là hướng tiến công. Trung úy Dick Raybould, một quan sát tiền duyên trẻ của trung đoàn dã pháo 37, công việc của anh là hỗ trợ cho đại đội Love, đã đồng tình. Anh cảm thấy đại úy Vails đã quá tùy tiện trong việc bố trí quân sỹ. Raybould dù khá mới mẻ với công tác chỉ huy đại đội, nhưng vẫn ngạc nhiên khi thấy Vails thiết lập vị trí chỉ huy của mình ở phía sau một ngọn đồi, anh cho rằng quá ít chỗ trú ẩn. Tệ hơn, khi Vails chỉ định những địa đoạn khác cho ba trung đội trưởng và để họ tự thiết lập vị trí, và như thế sẽ tạo nên một vòng phòng thủ không tương ứng với chung quanh ngọn đồi. Họ không có khu vực hỏa lực bổ sung nhau tốt, và Raybound cho rằng họ có nguy cơ với những hành động hai bên sườn. Takahashi đồng ý; anh muốn có một vòng phòng thủ chặt chẽ hơn, tạo ra một kiểu vòng tròn phù hợp với khung ngọn đồi, nhưng anh không thể thay đổi được suy nghĩ của Vails.

 

Việc bố trí hỏa lực cũng làm Raybould lo ngại. Anh quan ngại rằng nó giống như việc cho quân thù những tín hiệu để tìm thấy bạn. Anh thấy lính hỏa lực hồi đầu hôm và anh đến vị trí chỉ huy đại đội để phàn nàn, và chỉ để phát hiện ra rằng hỏa lực mạnh nhất cũng chính là điểm chỉ ra đại đội trưởng, một đám lửa mừng to lớn.  Một tân trung úy chẳng thể tranh luận với một đại úy, nhưng về sau Raybould chắc chắn rằng [việc bố trí] hỏa lực đã giúp cho quân Trung Hoa rất nhiều. Takahashi thì không chắc rằng hỏa lực có sai sót. Lúc đêm buông xuống, lính của anh vẫn còn nguyên bộ đồ ẩm ướt trên người, và anh cho họ lui về, từng hai người một, đến một chỗ anh đã đốt lên một ngọn lửa nhỏ, họ có thể hơ đồ ở đó.

Họ ở rất xa về phía đông, gần như là xa nhất về phía đông trong tất cả những đơn vị thuộc tập đoàn quân Tám, trừ đại đội King, đang đóng cách họ chừng một dặm rưỡi về phía đông. Lúc bị đánh, đại đội Love có chừng 170 lính, trong trung đội của Takahashi có 45 người. Đại đội King có lẽ có số lượng tương tự. Xa hơn về phía đông, bảo vệ sườn đông của tập đoàn quân Tám là một quân đoàn Nam Hàn. Lúc Takahashi và những sỹ quan cấp thấp khác được thông báo trong một buổi báo cáo sau cùng rằng quân Nam Hàn có thể đảm bảo sườn phải của họ, rất nhiều cặp mắt đã nhìn lên trần nhà. Với những người đã chiến đấu ròng rã trong ba tháng qua, điều này dễ dàng mang ý nghĩa là một cuộc sụp đổ ngay lập tức và một con đường rộng rãi sẽ mở hướng thẳng vào các đơn vị của họ. Đây cũng là một trong các vấn đề chia rẻ Dai Ichi, nơi lập kế hoạch, và Triều Tiên, nơi họ phải chiến đấu.