|
Tiêu đề: Vài nét về Quân đội Cộng hòa Singapore Gửi bởi: BOM BI trong 07 Tháng Mười Một, 2011, 11:47:39 pm Cộng Hòa Singapore là một quốc đảo nhỏ bé ở Đông Nam Á với diện tích 692,7km2, dân số hơn 4,4 triệu người, GDP 124 tỷ USD/năm, thu nhập bình quân đầu người 28.228 USD/đầu người năm xếp hạng 22 thế giới ( số liệu của năm 2005 )
Có thể nói đây là một đất nước nhỏ bé nhưng giàu có, điều này rất quan trọng trong việc xây dựng tiềm lực quốc phòng của Quân đội Singapore. Theo thống kê của Viện Nghiên cứu hòa bình quốc tế Stockholm (SIPRI), năm 2008, khoản chi 7,5 tỉ USD đưa Singapore lên vị trí thứ tư trên thế giới về mức chi cho quốc phòng trên đầu người/năm, 1.625 USD, sau các nước Israel, Mỹ và Oman (lần lượt là 2.300 USD, 1.960 USD và 1.675 USD). Xét về tổng số, mức chi quốc phòng của đảo quốc 700 km2 này chỉ xếp sau khoảng 20 quốc gia khác trên toàn thế giới, ngang ngửa với Pakistan. Quân đội Singapore được các chuyên gia quân sự đánh giá là quân lực hạng trung. Tuy nhiên, không phải vì các con số nói trên mà Singapore được xếp vào nhóm nước có quân lực hạng trung. Tác giả Andrew Tan trong Báo cáo an ninh và quốc phòng của Singapore quý 2/2009 xuất bản hồi cuối tháng 5, nói rằng chính tầm quan trọng về kinh tế và năng lực quân sự với trang bị hiện đại nhất giúp Singapore có được vị trí này. "Trong phần lớn các đánh giá định hạng quốc tế, có 5 tiêu chí được xem xét, đó là sức mạnh kinh tế, sức mạnh quân sự, sức mạnh ý chí, thành tích và tiềm năng. Dựa trên vài trong số 5 tiêu chí đó, Israel ở Trung Đông, Hàn Quốc ở Đông Bắc Á và Singapore ở Đông Nam Á được liệt vào hạng trung", báo cáo cho hay. Topic được chia làm ba phần : - Phần thứ nhất giới thiệu sơ lược về quá trình hình thành Quân đội Singapore - Phần thứ hai giới thiệu về cơ cấu tổ chức của Quân đội Singapore - Phần cuối cùng giới thiệu về các loại vũ khí đang hoạt động trong biên chế của Quân đội Singapore (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/4/4f/Flag_of_the_Singapore_Armed_Forces.svg/150px-Flag_of_the_Singapore_Armed_Forces.svg.png) (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/en/thumb/0/02/Singapore_Armed_Forces_Crest.svg/100px-Singapore_Armed_Forces_Crest.svg.png) Phần thứ nhất : SƠ LƯỢC VỀ QUÂN ĐỘI CỘNG HÒA SINGAPORE Tham khảo từ Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á (http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php?action=printpage;topic=891.00) và một số trang web khác Trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai, Singapore bị Nhật chiếm đóng (kể từ ngày 10 tháng 2 năm 1942) và đổi tên thành "Ánh sáng phương Nam". Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Nhật đầu hàng Đồng minh; ngay sau đó quân Anh đổ bộ lên Singapore tái thiết lập hệ thống cai trị của mình. Trước những khó khăn trong việc duy trì hệ thống thuộc địa và vấp phải phong trào đấu tranh của các lực lượng yêu nước Singapore, năm 1959, Chính phủ Anh buộc phải trao quyền tự trị cho hòn đảo này. Do thị trường nội địa quá nhỏ hẹp, lại thiếu nguồn nước ngọt cho sinh hoạt, ngày 16 tháng 9 năm 1963, Singapore tự nguyện gia nhập Liên bang Malayxia. Sau đó do những mâu thuẫn nảy sinh giữa giai cấp tư sản người Hoa và những người theo chủ nghĩa Liên bang; đặc biệt, chính sách bảo hộ mậu dịch của Chính phủ Liên bang làm cản trở sự phát triển của Singapore nên ngày 9 tháng 8 năm 1965, Singapore tách ra khỏi Liên bang Malayxia và trở thành quốc gia độc lập, có chủ quyền, nằm trong Khối thịnh vượng Anh. Sau khi tách ra khỏi Malayxia và trở thành quốc gia độc lập năm 1965, Singapore đứng trước hàng loạt khó khăn, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế và quốc phòng. Từ năm 1854, chính quyền thuộc địa Anh đã cho thành lập ở Singapore Binh đoàn xạ thủ tình nguyện Singapore (Singapore Volunteer Rifle Corps) để phòng vệ vùng lãnh thổ này. Tiếp đó, năm 1922, họ cho xây dựng ở Woodland một căn cứ hải quân và một căn cứ không quân. Năm 1954, tức là 4 năm trước khi quyết định trao trả quyền tự trị cho mảnh đất này, người Anh cho thành lập Lực lượng vũ trang Singapore (Singapore Military Force-SMF) gồm những người bản địa trong thành phần quân thường trực Anh tại Singapore. Mục đích của người Anh lúc đó là muốn từng bước "bản địa hoá" Lực lượng vũ trang Singapore, một mặt là để giảm bớt gánh nặng ngân khố quốc gia, mặt khác là nhằm đào tạo họ thành lực lượng hạt nhân cho một quân đội bản địa độc lập sau này. Mặc dù đã được người Anh tích cực xúc tiến xây dựng từ rất sớm, nhưng sau khi tuyên bố độc lập, lực lượng Quân đội Singapre cũng chỉ vẻn vẹn có khoảng 1.000 binh lính và 60 sĩ quan, chia thành 2 trung đoàn bộ binh số 1 và số 2 (SIR I và SIR II). Cả hai trung đoàn này trước năm 1965 đều là các đơn vị trong Quân đội Malayxia, đồn trú và làm nhiệm vụ bảo vệ khu vực Singapore. Sau khi Singapore tách ra khỏi Malayxia thành quốc gia độc lập, 2 trung đoàn này tạm thời vẫn nằm trong thành phần của Quân đội Malayxia và chịu sự điều hành của Malayxia. Có thể nói, những năm đầu sau khi giành được độc lập, toàn bộ nền quốc phòng của Singapore vẫn chủ yếu dựa vào sự giúp đỡ và bảo hộ của Quân đội Anh. Năm 1967, Anh tuyên bố sẽ rút quân khỏi Singapore vào 1972, thêm vào đó, tình hình chính trị trong nước ngày càng trở nên rối ren: Các cuộc bạo loạn giữa người Singapore gốc Hoa và người Malayxia nổ ra liên tiếp (kể cả trong các doanh trại quân đội); tình trạng phân biệt chủng tộc đang nổi lên gay gắt ở Malayxia và có nguy cơ lan tràn sang Singapore, v.v... Nhằm ứng phó kịp thời tình hình, đồng thời bảo vệ vừng chắc nền độc lập của Singapore trước mắt cũng như lâu dài, Chính phủ Xingapo, đứng đầu là Thủ tướng Lý Quang Diệu đã ban hành sắc lệnh thành lập Lực lượng vũ trang Singapore. Sau khi cân nhắc tất cả các phương án do Hội đồng chính phủ và những viên chức hàng đầu của ngành cảnh sát và quân đội đề ra, Chính phủ Singapore cho rằng, Singapore là một quốc đảo, tài nguyên thiên nhiên, sức người, sức của có hạn, nếu chỉ tập trung xây dựng một quân đội thường trực đủ mạnh, làm công cụ bảo vệ đất nước thì chi phí sẽ rất lớn, vượt quá khả năng cho phép của đất nước. Hơn thế nữa, điều đó sẽ làm cho nhiều người hiểu rằng, công việc bảo vệ đất nước là của nhà binh và sẽ là cơ hội để tâm lý "hảo hán bất đăng binh" (người tốt không đi lính) vốn tồn tại từ lâu trong cộng đồng người Hoa chiếm đa số ở Singapore có lí do để phát triển. Vì vậy, ngay sau khi sắc lệnh có hiệu lực, Singapore đã đề ra chiến lược phát triển quốc phòng toàn dân, trên cơ sở lấy lực lượng vũ trang làm nòng cốt. Công việc đầu tiên trong việc thực thi chiến lược này là xây dựng lại từ đầu Quân đội Singapore. Trước yêu cầu cấp bách phải xây dựng lực lượng quân đội cho riêng mình có khả năng bảo vệ đất nước. Thủ tướng Lý Quang Diệu nhanh chóng tìm kiếm sự giúp đỡ của Ấn Độ. Tuy nhiên, đáp lại New Delhi chỉ cam kết giúp đỡ về mặt ngoại giao và từ chối viện trợ quân sự. Trong tình thế đó, thủ tướng Lý Quang Diệu chợt nghĩ tới Israel, một quốc gia Trung Đông có hoàn cảnh địa chính trị giống với Singapore: bị bao bọc giữa các quốc gia Hồi giáo. Vào năm 1966, ông đã bổ nhiệm Bộ trưởng Tài chính Goh Keng Swee, vào vị trí Bộ trưởng Quốc phòng và chỉ thị Goh Keng Swee tìm cách liên lạc với Mordechai Kidron, cựu Đại sứ Israel tại Thái Lan mà ông từng quen biết để đặt vấn đề giúp đỡ quân sự. Chỉ vài ngày sau, Kidron cùng với Hezi Carmet, điệp viên Mossad bí mật đến Singapore mang theo thông điệp vô cùng có ý nghĩa: Israel đồng ý giúp đỡ Singapore xây dựng quân đội. Thiếu tướng Rehavam Zeevi, Phó chỉ huy Ban chiến dịch đặc biệt thuộc Bộ Quốc phòng Israel được giao chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ này. Ngày 14/9/1965, Zeevi - người còn được biết đến với mật danh Gandhi có chuyến thăm bí mật đến Singapore để thảo luận với ông Lý Quang Diệu và Goh Keng Swee về chương trình trợ giúp quân sự của Israel. Trước khi rời Singapore, Zeevi gửi lại cho người Singapore 2 quyển sách học thuyết quân sự của Israel: sách Nâu liên quan đến học thuyết chiến đấu và sách Xanh nói về việc thành lập Bộ Quốc phòng và Cơ quan tình báo để nghiên cứu và đưa ra quyết định liệu có chấp nhận sự giúp đỡ của Israel hay không. Đầu tháng 10/1965, một phái đoàn quân sự của Singapore đến Israel đưa ra lời mời chính thức các chuyên gia quân sự Israel đến Singapore để trực tiếp giúp đỡ nước này xây dựng lực lượng quân đội. Sau một thời gian chuẩn bị, ngày 24/12/1965, một nhóm 6 sĩ quan quân đội Israel và gia đình họ được lệnh xuất phát cho một nhiệm vụ bí mật ở nước ngoài. Đại tá Elazari được Zeevi cử làm trưởng nhóm. Đến Singapore, nhóm chuyên gia Israel, còn được các quan chức Singapore gọi với mật danh Người Mexico, nhanh chóng bắt tay vào thực hiện 3 mục tiêu chính. Trước tiên, phải đào tạo cấp tốc các sĩ quan chỉ huy người Singapore. Thứ hai, là biên soạn giáo án huấn luyện. Cuối cùng, tổ chức việc huấn luyện trên thao trường sẽ do chính các sĩ quan Singapore trực tiếp huấn luyện. Việc đầu tiên được tiến hành là lấy lại 2 trung đoàn bộ binh SIR I, SIR II để làm nồng cốt ban đầu cho quân đội Singapore, tiến hành khôi phục tính đồng nhất về bản sắc quốc gia-dân tộc Singapore để đảm bảo lòng trung thành của binh lính. Một nhóm 50 người có kinh nghiệm chiến đấu và sẵn sàng trở thành quân nhân chuyên nghiệp được tuyển mộ cho khoá đào tạo sĩ quan đầu tiên, kéo dài 3 tháng. Đến cuối năm 1966, tổng cộng 200 chỉ huy được tốt nghiệp. Trước đó, vào tháng 4/1966, căn cứ quân sự đầu tiên của Singapore đã được xây dựng với sự giúp đỡ của Israel. Tháng 2 năm 1967, Chính phủ Singapore đã sửa đổi và thông qua Luật nghĩa vụ quân sự mới. Tháng 5 năm 1967, Singapore tiến hành chương trình tuyển quân đầu tiên. Chương trình này áp dụng mô hình của Israel, theo đó, độ tuổi nhập ngũ từ 18 đến 24. Sau khi hoàn thành quân dịch, mọi người lính phải sẵn sàng tái nhập ngũ trong vòng 13 năm sau đó trong trường hợp đất nước cần huy động lực lượng dự bị cho đến khi quá 33 tuổi. Trong đợt tuyển quân này, các hội đồng tuyển quân trên toàn quốc đã tuyển được hơn 9.000 nam thanh niên trong độ tuổi. Tháng 8 năm 1967, 900 trong số 9.000 thanh niên trúng tuyển đã được tập trung huấn luyện quân sự. Nhằm giảm bớt định kiến xấu đối với nghề lính, Chính phủ Singapore đã tổ chức các buổi lễ tiễn đưa tân binh hết sức long trọng tại các trung tâm dân cư. Các nghị sĩ, bộ trưởng và những người đứng đầu cộng đồng đã tới tận nơi để cổ vũ, khuyến khích và tiễn đưa tân binh lên đường, thậm chí họ còn dành một khoảng thời gian nhất định ban đầu để cùng ăn, cùng ở, cùng sinh hoạt và huấn luyện với binh lính. Với cách làm như vậy cùng với những chính sách phù hợp và nhất quán trong chế độ quân dịch, chỉ trong một thời gian ngắn, Xingapo đã xây dựng được một quân đội tương đối mạnh, đủ sức đảm đương công việc phòng thủ đất nước. Điều quan trong hơn là các chính sách và biện pháp đó đã từng bước xoá được những định kiến không tốt về nghề lính trong đại bộ phận dân chúng Singapore. Bên cạnh việc giúp đỡ xây dựng quân đội Singapore, nhóm cố vấn quân sự Israel cũng không quên giới thiệu các loại vũ khí của Israel để trang bị cho SAF. Do được trang bị hết sức thô sơ, Singapore phải mua sắm ồ ạt khí tài quân sự cho quân đội của mình. Một hiệp định mua vũ khí giữa Singapore và Israel đã được bí mật ký kết, trong đó Singapore mua của Israel 72 xe tăng hạng nhẹ AMX-13 củ Pháp, 3 máy bay trực thăng Alouette, súng phòng không 40 ly, súng trường bán tự động Uzi. Toàn bộ chi phí mua sắm vũ khí này được lấy từ số tiền viện trợ 50 triệu bảng của chính phủ Anh dành cho Singapore như là một sự bồi thường cho sự ra đi vội vã của Quân đội Anh và khoản tín dụng đặc biệt mà Israel cấp cho Singapore. Trong hai năm 1968 - 1969, trên cơ sở số vũ khí hạng nặng mua từ Isarel, Singapore được bước đầu xây dựng được binh chủng thiết giáp với 72 xe tăng AMX 13 và và 170 xe thiết giáp V200. Tiêu đề: Re: Vài nét về Quân đội Cộng hòa Singapore Gửi bởi: BOM BI trong 08 Tháng Mười Một, 2011, 12:15:57 am Bên cạnh việc mua sắm các trang thiết bị hiện đại, Quân đội Singapore cũng hết sức chú trọng tới việc huấn luyện và đào tạo đội ngũ cán bộ trong quân đội. Từ cuối năm 1967, đầu 1968, Singapore bắt đầu cho xây dựng một số trung tâm huấn luyện quân sự cơ bản để huấn luyện tân binh và đào tạo đội ngũ hạ sĩ quan. Ngoài ra, nước này còn đề nghị Anh, Ấn Độ, Israel, ... giúp họ đào tạo một số sĩ quan cho các quân, binh chủng như không quân, hải quân, phòng không, công binh, v.v...
Tiến trình phát triển của Quân đội Singapore có thể chia làm ba thế hệ : Quân đội Singapore thế hệ đầu tiên Nhìn chung, sau khi giành được độc lập, Quân đội Singapore thế hệ đầu tiên đã được định hướng phát triển theo mấy hướng cơ bản sau đây: - Thứ nhất, thay thế những trang bị đã quá cũ kỹ và lạc hậu bằng những trang bị vũ khí, khí tài hiện đại. - Thứ hai, tăng cường huấn luyện quân sự cho quân nhân theo mô hình của các nước phương Tây, đặc biệt là Anh, nhằm nâng cao khả năng tác chiến cho bộ đội; xây dựng lực lượng chính quy từng bước hiện đại hoả theo hướng cơ động, gọn nhẹ, chuyên nghiệp và hiệu quả; xây dựng lực lượng thường trực đủ mạnh làm nòng cốt. Bên cạnh đó, tập trung phát triển lực lượng dự bị (chiếm tới hơn 80% dân sô) nhằm khai thác tối đa khả năng vốn rất có hạn của đất nước vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. - Thứ ba, mở rộng hợp tác quân sự với các nước, lấy phương châm "hoà bình và thân thiện" với các nước láng giềng và các nước trong khu vực làm nền tảng phòng thủ; tranh thủ tối đa nguồn tiềm lực công nghệ và kỹ thuật tiên tiến của các nước để hiện đại hoá quân đội. Đặc biệt, chính sách thân Mỹ của Singapore thời kỳ này đã đem lại cho nước này nhiều lợi ích. Trong những năm 60 và 70 của thế kỷ XX, Mỹ đã viện trợ cho Singapore hàng trăm triệu đô la, chỉ tính riêng từ năm 1970 đến năm 1985, Mỹ đầu tư trực tiếp vào Singapore 7,9 tỉ đô la. Trên lĩnh vực an ninh-quốc phòng, nhờ chính sách thân Mỹ và là căn cứ hậu cần quan trọng của Mỹ, Singapore đã được Mỹ viện trợ nhiều loại vũ khí hiện đại như máy bay chiến đấu F16, tàu ngầm, tàu hộ tống các loại. Bên cạnh đó, Singapore còn được Mỹ đầu tư xây dựng một ngành công nghiệp quốc phòng hiện đại. Như vậy, với chính sách quân dịch phù hợp, cùng với những khoản đầu tư thích đáng cho phát triển quân đội, chỉ trong gần 10 năm (từ năm 1965 đến năm 1975), Quân đội Singapore thế hệ thứ nhất đã có một cơ sở tương đối mạnh. Riêng lực lượng lục quân đến năm 1971 đã có tới 17 tiểu đoàn thường trực (16.000 người) và 14 tiểu đoàn dự bị (11.000 người). Ngoài ra còn có các đơn vị biệt kích , pháo binh, một số đơn vị xe tăng, xe thiết giáp, các đơn vị công binh, hậu cần,v.v... Lực lượng không quân và hải quân cũng đã được trang bị các loại vũ khí, khí tài tương đối hiện đại. Quân đội Singapore thế hệ thứ hai (thập niên 80 và 90 của thế kỷ XX) Vào những năm 80 của thế kỷ XX, Singapore tiếp tục đầu tư mạnh mẽ cho việc phát triển lực lượng vũ trang. Ngoài việc tiếp tục thắt chặt và mở rộng quan hệ hợp tác quân sự với Mỹ và các nước Tây Âu, Singapore còn tập trung mua sắm các loại vũ khí hiện đại để trang bị cho quân đội. Năm 1983, nước này đã mua thêm hơn 70 xe quân sự, bao gồm xe tăng, xe thiết giáp chở quân và xe lội nước để trang bị cho lực lượng lục quân. Tiếp đó, năm 1988, Xmgapo ký một hợp đồng mua bán vũ khí với Mỹ; theo hợp đồng này, Mỹ sẽ bán cho Singapore 22 máy bay chiến đấu hiện đại các loại bao gồm: 9 chiếc F-16s, 13 chiếc F-16C/DS cùng hàng chục máy bay A-4 Skyhawks, v.v... Mỹ còn đồng ý cho Singapore gửi toàn bộ số máy bay trên tại căn cứ không quân Arizona trong thời gian 2 năm và sẽ đưa về Singapore vào thời điểm thích hợp. Sở dĩ Singapore chưa muốn đưa số máy bay trên về nước là do “họ không muốn các nước láng giềng hiểu nhầm và không muốn cho bầu không khí trong khu vực trở nên căng thẳng do sự xuất hiện của các máy bay hiện đại nhất của Mỹ trong khu vực" Ngoài việc mua sắm các loại vũ khí, khí tài hiện đại trang bị cho quân đội, Singapore còn chú trọng đầu tư cho phát triển nền công nghiệp quốc phòng theo mô hình "tổ hợp công nghiệp quân sự" Mỹ. Toàn bộ nền công nghiệp quốc phòng Singapore trong những năm đầu được xây dựng trên cơ sở độc quyền nhà nước. Phương thức hoạt động của công nghiệp quốc phòng Singapore là mua giấy phép sản xuất của nước ngoài hoặc liên doanh, liên kết với các tổ hợp công nghiệp quốc phòng của Mỹ và các nước Tây Âu. Do được đầu tư thích đáng, đến những năm 80, ngành công nghiệp quốc phòng Singapore đã trở thành “đạo quân thứ tư" độc lập với 3 quân chủng. Các nhà máy quốc phòng của Xingapo đã có thể sản xuất xe tăng, xe bọc thép, súng máy, pháo, lựu đạn và cả máy bay chiến đấu "Con Ó”. Để đáp ứng nhu cầu phát triển nhanh chóng quân đội và đối phó với các tình huống tác chiến mới, đến giữa thập niên 80, Singapore chính thức thành lập Bộ tham mưu liên quân, nhằm nâng cao khả năng tác chiến hợp đồng binh chủng. Như vậy, với các giải pháp đồng bộ và phù hợp, đến cuối những năm 80, đầu 90 của thế kỷ XX, "Quân đội Singapore đã trở thành một lực lượng chuyên nghiệp, được trang bị các hệ thống phòng thủ hiện đại, không chỉ có khả năng bảo vệ toàn vẹn chủ quyền và độc lập quốc gia, mà còn là đối thủ đáng gờm đối với nhiều nước láng giềng và khu vực..." Quân đội Singapore thế hệ thứ ba Với chủ trương nâng cấp SAF lên "thế hệ thứ ba", trong mấy năm gần đây, Singapore liên tục trang bị những thiết bị tối tân và cải tiến những thiết bị đã cũ. Đầu năm 2004, hải quân thay thế toàn bộ đội tàu tên lửa có thâm niên 25 năm bằng 6 tàu khu trục mới. Tháng 5.2006, chiếc thứ 6 là RSS Supreme với thiết bị tối tân đã được đưa vào sử dụng. Đầu năm 2008, hải quân có thêm 3 tàu khu trục hiện đại mới toanh. Hồi giữa tháng 6 năm nay, Singapore cho hạ thủy tiếp tàu ngầm RSS Archer. RSS Archer đang trong giai đoạn chạy thử ở Thụy Điển, và sẽ về Singapore trong năm tới. Theo niên giám thống kê của Chính phủ Singapore, cũng trong tháng 5.2006, Không quân Singapore (RSAF) đã triển khai toàn diện Phi đội 145 gồm 20 máy bay tiêm kích F-16D Block 52+ (nâng cấp từ F-16D Block 52) với khả năng mang theo nhiều nhiên liệu và vũ khí hơn, radar có độ quét và định vị rộng hơn cho phép nó hoạt động cả ngày và đêm, khả năng tác chiến cao hơn trong thời gian dài hơn. Tháng 11.2008, RSAF cũng đón chiếc máy bay đầu tiên trong loạt 24 chiếc F-15SG do hãng Boeing sản xuất. Những chiếc đầu tiên sẽ được bàn giao cho biệt đội của RSAF đóng tại bang Idaho, Mỹ, trong năm nay. F-15SG là thế hệ hiện đại của dòng máy bay F-15, với các thiết bị do thám tối hiện đại, và được trang bị bom điều khiển bằng laser, tên lửa đối không, đối đất, súng... Phi đội F-15SG sẽ cho phép đội A-4SU Super Skyhawks nghỉ hưu. Cuối năm 2006, MINDEF cũng bắt đầu thay thế đội xe tăng AMX 13 bằng 96 xe tăng Leopard 2A4 do Đức sản xuất... Bên cạnh trang thiết bị hiện đại, MINDEF cũng đưa vào ứng dụng những kỹ thuật thông tin mới nhất để phục vụ cho chiến thuật tác chiến đối phó với các nguy cơ hiện đại như khủng bố, chiến tranh sinh học, hóa học. Mỗi binh sĩ của quân đội Singapore thế hệ thứ ba (3G SAF) khi ra trận sẽ mang trên lưng một máy vi tính nặng chừng 5 kg được gọi là Hệ thống con người tác chiến hiện đại (ACMS), có các thiết bị cảm ứng và công cụ giao tiếp. Với ACMS trên lưng, giả sử trung sĩ A phát hiện ra một trung đội đối phương trên một ngọn đồi, tất cả những gì A cần làm là nâng khẩu SAR-21 (một loại súng chiến đấu cá nhân do chính SAF thiết kế, chế tạo mới đây) lên ngắm và “đánh dấu” mục tiêu, rồi gửi một mẩu tin ngắn mang hình ảnh số hóa của mục tiêu cho các chỉ huy. Thông tin trung sĩ A gửi về đã cung cấp đầy đủ không gian xung quanh của mục tiêu. Các thuật toán “cảm ứng” trong hệ thống lập tức cho ra các giải pháp đối phó với mục tiêu như dùng súng, máy bay tiêm kích hay xe tăng. Và quyết định hành động dựa trên đó mà được ban ra tức thì. Với một “hệ thống của các hệ thống” liên kết chặt chẽ con người, thiết bị cảm ứng, phương tiện liên lạc và vũ khí như vậy, tất cả quy trình trên diễn ra trong thời gian tính bằng giây với độ chính xác cao. Tiêu đề: Re: Vài nét về Quân đội Cộng hòa Singapore Gửi bởi: BOM BI trong 08 Tháng Mười Một, 2011, 12:21:54 am Hợp tác và đồng minh Bước vào thập niên 90 thế kỷ XX, chính sách quốc phòng - an ninh của Singapore đã có nhiều thay đổi. Bên cạnh việc tiếp tục củng cố mối quan hệ quân sự truyền thống với các nước đồng minh, Xingapo đã nhanh chóng cải thiện và mở rộng quan hệ quân sự với các nước mà trước đây Singapore đã thực hiện chính sách đối đầu. Là một nước được hưởng nhiều "ưu đãi" do sự đối đầu Xô-Mỹ trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, Singapore đã mất đi những lợi thế đó khi trật tự này bị sụp đổ. Những thay đổi ở khu vực Đông Nam Á cuối thập niên 80 cũng đã tác động không nhỏ đến chính sách đối ngoại nói chung và quốc phòng-an mình nói riêng của Singapore. Trên bình diện hợp tác và liên minh, Singapore có những đồng minh hùng mạnh mà từ ngày độc lập (năm 1965) quốc gia này đã không bỏ lỡ một cơ hội nào để vun đắp. Trước hết phải kể đến Mỹ. Trong bối cảnh Đông Nam Á thời kỳ sau Chiến tranh lạnh, bên cạnh xu thế chủ đạo là hoà bình, hợp tác và phát triển, vẫn còn tồn tại những nhân tố gây mất ổn định, Singapore cho rằng, sự có mặt quân sự của Mỹ ở khu vực là cần thiết và đi đầu trong việc hoan ngênh Mỹ tiếp tục duy trì lực lượng quân sự của mình trong khu vực. Tháng 11 năm 1990, Singapore và Mỹ đã ký thoả thuận (MOU), theo đó, Singapore sẵn sàng để Mỹ tiếp tục sử dụng căn cứ quân sự trên lãnh thổ mình và phục vụ hậu cần cho hải quân Mỹ. Thỏa thuận này còn cho phép một số đơn vị hậu cần của hải quân Mỹ được thành lập ở Singapore (năm 1992); máy bay chiến đấu Mỹ định kỳ triển khai tới Singapore tham gia diễn tập; chiến hạm Mỹ được phép cập cảng quân sự của Singapore, v.v... Hiện nay, Mỹ vẫn là nước cung cấp vũ khí và các trang thiết bị quân sự hiện đại cho Singapore. Trong hồi ký Từ thế giới thứ ba lên thế giới thứ nhất xuất bản năm 2000, cựu thủ tướng Lý Quang Diệu nói rằng Singapore có "quan hệ tốt" với tất cả các chính quyền của Mỹ dù Cộng hòa hay Dân chủ. Mối quan hệ đó chưa bao giờ bị gợn sóng cho tới nay. Tiếp theo là Anh, từng là "mẫu quốc", bảo trợ Singapore từ đầu thế kỷ 19, Israel, quốc gia đã hết lòng giúp đỡ Singapore xây dựng quân đội từ những ngày đầu lập quốc, với Úc và New Zealand là những nước "cùng chiến hào" từ Thế chiến 2, lại gần gũi về địa lý. Bên cạnh việc củng cố mối quan hệ quân sự với các đồng minh truyền thống, Singapore còn mở rộng quan hệ quân sự với các nước Tây Âu, các nước trong khu vực châu Á-thái Bình Dương và đặc biệt là với các nước ASEAN Ngày nay, nhiều cuộc tập trận quan trọng trên thế giới đều có sự tham gia của quân đội Singapore (SAF). Binh lính SAF được huấn luyện ở mọi địa hình và thời tiết khác nhau, từ rừng rậm Brunei, Úc, Philippines, cho đến sa mạc, cao nguyên ở Ấn Độ, Qatar... SAF cũng gửi quân tới vùng Vịnh hồi thập niên 1990, vịnh Aden hồi đầu năm nay, và tham gia các hoạt động cứu hộ thiên tai. Nhiều diễn đàn an ninh quốc phòng, các cuộc triển lãm thiết bị quân sự khu vực châu Á - Thái Bình Dương đều chọn Singapore làm nơi hội tụ. Singapore thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam năm 1973, song do sự chi phối của mối quan hệ giữa hai nhóm nước ASEAN và Đông Dương thời kỳ Chiến tranh lạnh, nên lúc này quan hệ hai nước ít được cải thiện. Sau khi hai nhóm nước tìm được tiếng nói chung trong vấn đề hoà bình ở Campuchia vào cuối thập niên 80 và những biến đổi của tình hình thế giới sau Chiến tranh lạnh, quan hệ Việt Nam - Singapore từng bước được cải thiện và đã có những bước phát triển đáng kể về văn hóa - xã hội, kinh tế và quốc phòng. Hiện nay, Singapore là một trong những nước có số vốn đầu tư trực tiếp lớn nhất tại Việt Nam. Tiêu đề: Re: Vài nét về Quân đội Cộng hòa Singapore Gửi bởi: BOM BI trong 08 Tháng Mười Một, 2011, 12:34:44 am Chính sách quân dịch Chính sách quân dịch của Singapore gồm 3 bộ phận là quân dịch toàn phần, quân dịch dự bị và kế hoạch giáo dục quốc phòng. Về quân dịch toàn phần, Luật nghĩa vụ quân sự Singapore quy định, tất cả các công dân nam hoặc dân cư trú lâu dài tại Singapore đều phải thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự. Đối với nam công dân Singapore đủ 18 tuổi, học hết phổ thông hoặc các trường sơ cấp đều phải nhập ngũ. Sau khi nhập ngũ 2 hoặc 2 năm rưỡi sẽ tiếp tục học lên đại học hoặc làm công việc khác. Trong thời gian tại ngũ, họ phải phục vụ trong quân đội, lực lượng cảnh sát hoặc lực lượng dân phòng Singapore . Lực lượng dân phòng Singapore bao gồm lực lượng phòng cháy, chữa cháy, cứu hoả, cứu nạn và lữ đoàn xây dựng. Luật nghĩa vụ quân sự Singapore còn có một quy định đặc biệt: học sinh thôi học sau khi tốt nghiệp tiểu học, có sức khoẻ và được phụ huynh đồng ý, phải đến lữ đoàn dự bị học một hoặc hai nghề bắt buộc nào đó trong danh mục các ngành nghề nhất định. Trong trường hợp này, tuổi quân dịch mở rộng đến 16 tuổi rưỡi. Những công dân khác đủ điều kiện quân dịch toàn phần, bắt đầu làm thủ tục nhập ngũ từ 16 tuổi rưỡi, 17 tuổi rưỡi đăng ký, 18 tuổi bắt đầu phục vụ quân dịch. Thời hạn phục vụ quân dịch toàn phần là 2 năm rưỡi đối với nam công dân có trình độ văn hoá từ phổ thông trung học trở lên, 2 năm đối với nam công dân có trình độ dưới phổ thông trung học. Trong quân ngũ, những học sinh đã tốt nghiệp phổ thông trung học nhất thiết phải được phong trung sĩ. Việc hoãn hoặc miễn quân dịch toàn phần được Luật nghĩa vụ quân sự quy định, tất cả các nam công dân Singapore có một trong những điều kiện sau đây sẽ được hoãn hoặc miễn quân dịch: 1- Tình hình sức khoẻ tạm thời không thích hợp; 2- Gia đình có chuyện bất thường ảnh hưởng lớn tới sinh hoạt và cuộc sống thường nhật; 3- Chưa tốt nghiệp phổ thông hoặc đang học tại các trường sơ cấp; 4- Thi tốt nghiệp phổ thông không đỗ, được phép thi lại năm sau; 5- Đối với những người chưa gọi nhập ngũ, muốn đi ra nước ngoài đào tạo nâng cao trình độ, có thể xin phép hoãn quân dịch, nhưng sau khi học xong phải về nước thực hiện nghĩa vụ quân dịch. Trong thời gian học đó, bố mẹ phải nộp cho Chính phủ phí bảo đảm quân dịch ít nhất là 75.000 đôla Singapore, hoặc tương đương với thu nhập của một người trong 1 năm, cho mỗi năm hoãn quân dịch. Nếu bố mẹ là bác sĩ, mỗi năm nộp 300.000 đô la Singapore phí bảo đảm. Sau khi về nước tham gia quân dịch, toàn bộ số tiền đảm bảo đó được trả lại. Nếu đến hạn không về nước, ngoài việc Chính phủ trưng thu số tiền đó, khi về nước người có nghĩa vụ tham gia quân dịch còn bị xử tội trốn quân dịch nhiều nhất là 3 năm tù; cũng có thể bị phạt tiền với số tiền nộp phạt ít nhất là 5.000 đô la Singapore ; hoặc có thể vừa bị phạt tiền, vừa bị cầm tù. Ở Xingapo, mỗi năm có khoảng 18.000 thanh niên trong diện gọi nhập ngũ, nhưng chỉ có khoảng 3% số thanh niên trên được hoãn hoặc miễn quân dịch. Để mọi người dân hiểu chính sách quân dịch một cách đầy đủ và đúng đắn, Chính phủ Singapore thường xuyên tổ chức công tác tuyên truyền rất chu đáo. Tại các công sở, ủy ban nhân dân các cấp đều có những tài liệu, băng ghi hình giới thiệu về chính sách quân dịch, về lực lượng vũ trang... để nhân dân có thể tham khảo bất kỳ lúc nào. Trong thời gian thực hiện quân dịch, ngoài việc được huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật quân sự, tân binh còn được chú trọng bồi dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, ý thức công dân, làm cho họ hiểu rõ quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của mmh đối sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Về quân dịch dự bị, Luật nghĩa vụ quân sự Singapore quy định: tất cả những nam công dân Singapore sau khi hoàn thành quân dịch toàn phần phải chuyển sang "ngạch dự bị - quân dịch dự bị". Hàng năm, những công dân này phải trở lại doanh trại tham gia huấn luyện quân sự theo quy định cho đến 40 hoặc 50 tuổi. Ngoài quy định về niên hạn đối với quân dịch dự bị, Luật còn quy định như sau: - Quân nhân dự bị phải tham gia huấn luyện quân sự hàng năm trong khoảng thời gian ít nhất 13 năm. Sau khi hoàn thành 13 năm huấn luyện, có người ở lại giữ chức trong quân đội, cũng có người được điều sang các lĩnh vực công tác khác. - Mỗi năm (tính từ 1 tháng 4 năm trước đến 31 tháng 3 năm sau), quân nhân dự bị phải tập trung huấn luyện quân sự 1 lần không quá 40 ngày. - Trước khi triệu tập quân nhân tập trung huấn luyện quân sự, các cơ quan liên quan phải có trách nhiệm thông báo trước 6 tháng cho quân nhân và các cơ quan, tổ chức sử dụng họ, để tiện điều chỉnh và sắp xếp công việc cho phù hợp. - Trong thời gian tập trung huấn luyện quân sự, nếu lương bổng của quân nhân bị giảm so với những tháng trước, thì Bộ Quốc phòng phải có trách nhiệm bù cho đủ. Chính phủ Singapore ghi nhận cống hiến của quân nhân tham gia quân dịch dự bị bằng cách khi họ hoàn thành nghĩa vụ quân dịch nếu vào làm việc tại các cơ quan nhà nước hoặc các doanh nghiệp thì được ưu đãi như tặng thưởng, tăng lương, v.v... - Chế độ quân dịch dự bị không chỉ áp dụng cho quân nhân hết hạn phục vụ trong quân đội mà cho cả các quân nhân hoàn thành nhiệm vụ trong lực lượng cảnh sát và bộ đội dân phòng hên hợp Xingapo. Từ năm 1994, Singapore bắt đầu thay đổi một số điều khoản trong "Chính sách quân dịch". Theo đó, lực lượng "dự bị" trước đây nay được đổi thành lực lượng “trực chiến", và nếu như trước đây, lực lượng này chỉ được triệu tập huấn luyện quân sự trong nước vài tuần mỗi năm, thì nay vài năm một lần họ được gửi đến Đài Loan, Thái Lan, Miến Điện hoặc Australia để tham gia tập trận cấp lữ đoàn hoặc thực hành bắn đạn thật cấp tiểu đoàn. Cũng từ năm 1994, Singapore bắt đầu cấp học bổng du học ở các đại học danh tiếng như Oxford, Cambridge và các trường đại học khác của Anh và Mỹ cho một số học viên sĩ quan ưu tú; họ được tham gia những khoa học chính khoá về khoa học xã hội, khoa học kỹ thuật hoặc chuyên môn tại các trường này. Trong những năm học đại học, ngoài học bổng trang trải cho tất cả chi phí, họ còn được nhận đầy đủ lương bổng của một trung úy, với điều kiện phải cam kết phục vụ quân đội ít nhất 8 năm sau khi tất nghiệp. Trong thời gian phục vụ quân đội, họ tiếp tục được gửi đến Anh, Mỹ đào tạo ít nhất 3 khoá. Khoá đầu tiên được huấn luyện để trở thành các chuyên gia pháo binh, tăng thiết giáp, hoặc thông tin, v.v...; khoá thứ 2 được đào tạo công tác tham mưu và chỉ huy, và cuối cùng là học về quản lý hành chính hoặc quản trị kinh doanh ở một trong những trường đại học hàng đầu của Anh, Mỹ như Harvard hoặc Stanfort, v.v... Kết thúc 8 năm phục vụ quân đội số sĩ quan trên có thể tự nguyện ở lại quân đội hoặc có thể chuyển sang các cơ quan dân chính làm nhân viên hành chính ngạch công chức cao cấp, tham gia hội đồng lập pháp hoặc chuyển sang khu vực tư nhân, v.v... Với cách đào tạo như vậy, trong hơn 10 năm, Singapore đã tích lũy được hàng trăm sĩ quan ưu tú; họ không chỉ là lực lượng nòng cốt cho quân đội mà sau đó còn trở thành các quan chức cấp cao của Chính phủ Singapore như trường hợp Lý Hiển Long - Thủ tướng Singapore hiện nay là một ví dụ. Như vậy, nếu nói trong chính sách quân dịch của Singapore, "quân dịch toàn phần" là giai đoạn đào tạo, huấn luyện, thì "quân dịch dự bị" là giai đoạn "khai hoa kết trái". Bởi lúc đó, người tham gia quân dịch không chỉ là người vừa cống hiến cho quốc phòng mà còn cống hiến cho cả nền kinh tế của đất nước. Thực tế ở Singapore cho thấy, sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân dịch (quân dịch toàn phần và quân dịch dự bị), các công dân - quân nhân Singapore đã trở thành những người không chỉ có ý chí cao, kỷ luật nghiêm, có sức khoẻ và nắm được khoa học kỹ thuật, mà còn trở thành những người có khả năng tổ chức và lãnh đạo tất trong các cơ quan nhà nước cũng như các doanh nghiệp. Tiêu đề: Re: Vài nét về Quân đội Cộng hòa Singapore Gửi bởi: BOM BI trong 08 Tháng Mười Một, 2011, 12:41:19 am Giáo dục quốc phòng Kế hoạch giáo dục quốc phòng là bộ phận cấu thành quan trọng của chính sách quân dịch Singapore. Giáo dục quốc phòng có hai mục đích: một là, giáo dục ý thức đoàn kết toàn dân trong xã hội đa văn hoá, đa sắc tộc như ở Singapore, tiến tới xây dựng Singapore thành một quốc gia "hùng mạnh, thống nhất trong sự đa dạng"; hai là, giáo dục trách nhiệm bảo vệ đất nước, bảo vệ thành quả mà nhân dân Singapore đã giành được cho mọi công dân, đặc biệt là những người đã và sẽ tham gia quân dịch. Đối tượng giáo dục quốc phòng là tất cả những ai tham gia quân dịch, học sinh và một số công chức, viên chức chính phủ và các doanh nghiệp, v.v... Kế hoạch giáo dục quốc phòng đối với những người đang tham gia quân dịch chia làm 3 giai đoạn: + Giai đoạn huấn luyện quân sự cơ bản: tân binh được truyền thụ các kiến thức cơ bản về quân sự và các kiến thức chung có liên quan để họ hiểu rõ ý nghĩa phục vụ quân dịch, hiểu rõ vai trò của lực lượng vũ trang trong bảo vệ an ninh và phát triển kinh tế đất nước. Thời gian huấn luyện quân sự cơ bản kéo dài 3 tháng. + Giai đoạn huấn luyện giữa kỳ: quân nhân được bồi dưỡng nâng cao kiến thức quốc phòng, chiến lược và sách lược phát triển lực lượng vũ trang Singapore trong hiện tại cũng như tương lai. Bên cạnh đó, quân nhân còn được nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến môi trường an ninh trong nước cũng như trên thế giới, v.v... Thời gian huấn luyện giữa kỳ kéo dài 18 tháng. + Giai đoạn trước khi xuất ngũ: làm cho quân nhân hiểu được trách nhiệm của quân nhân dự bị cũng như quân nhân tại ngũ. Chủ đề của giáo dục giai đoạn này là “Mỗi người dân Xingapo đều phải có nghĩa vụ và trách nhiệm đóng góp vào việc bảo vệ Singapore". Thời gian huấn luyện giai đoạn này kéo dài 3 tháng. Giáo dục quốc phòng cho học sinh: Đối tượng là tất cả học sinh trong các trường phổ thông. Mục đích là làm cho học sinh nhận thức được ý nghĩa của việc bảo vệ Singapore; giúp cho những học sinh sắp tham gia quân dịch chuẩn bị tốt về tư tưởng và thể lực. Thời gian giáo dục quốc phòng cho học sinh thường kéo dài 2 tuần trong một năm học. Ngoài hai đối tượng kể trên, hàng năm Singapore còn tổ chức nhiều lớp giáo dục quốc phòng cho hàng nghìn người, là những người đứng đầu các tổ chức, cơ quan nhà nước và các doanh nghiệp, v.v... Trong hơn 30 năm thực hiện chính sách quân dịch, Singapore không chỉ xây dựng được một quân đội hùng mạnh, đủ sức đảm đương nhiệm vụ bảo vệ độc lập và chủ quyền của đất nước, mà còn tạo ra những lớp cán bộ có trí tuệ bản lĩnh và năng lực, đã và đang đảm đương nhiều trọng trách trong các cơ quan nhà nước, quân đội và trong cả các doanh nghiệp. Ngoài chính sách quân dịch, một trong những nhân tố quan trọng góp phần tạo nên thành công của Xingapo trong việc xây dựng và phát triển quân đội cũng như phòng thủ đất nước đó là Chính sách phòng thủ toàn diện. Chính sách phòng thủ toàn diện là nền tảng của chính sách quốc phòng Singapore, bao gồm 5 bộ phận: phòng vệ tâm lý, phòng vệ xã hội, phòng vệ kinh tế, phòng vệ dân sự và phòng vệ quân sự. - Phòng vệ tâm lý, là xây dựng cho người dân ý chí vì sự nghiệp quốc phòng của đất nước, sẵn sàng đứng lên bảo vệ Tổ quốc trước bất kỳ cuộc xâm lăng nào từ bên ngoài, dưới bất kỳ hình thức nào. Với "phòng vệ tâm lý", mọi người dân Singapore đều tin tưởng vào tương lai của đất nước, của dân tộc, vào chính bản thân mình và vào toàn thể nhân dân Singapore. Để xây dựng nền tảng vững chắc cho phòng thủ tâm lý, Chính phủ Singapore đã áp dụng nhiều biện pháp ổn định và phát triển xã hội, tạo nên một xã hội thịnh vượng, công bằng và văn minh. - Phòng vệ xã hội, là tạo điều kiện để mọi người dân chung sống với nhau hoà hợp, cùng công tác, cùng sinh hoạt và vui chơi. Với một xã hội đa sắc tộc, đa văn hoá và tôn giáo như Singapore, phòng vệ xã hội là yếu tố cực kỳ quan trọng, nó giúp mọi người quan tâm tới nhau hơn, cùng nhau đoàn kết nhất trí vì lợi ích chung của dân tộc và quốc gia. - Phòng vệ kinh tế, là đảm bảo cho nền kinh tế đất nước hoạt động một cách năng động, linh hoạt, không bị tê liệt và có khả năng chuyển nhanh sang nền kinh tế thời chiến khi bị ngoại xâm; đảm bảo mọi nguồn tài nguyên của đất nước được huy động một cách nhanh nhất khi chiến tranh xay ra. - Phòng vệ dân sự là để bảo vệ chắc chắn sinh mạng của người dân, đảm bảo cho người dân vẫn có thể sinh hoạt bình thường trong điều kiện chiến tranh. Nghĩa là, Chính phủ phải có nguồn dự trữ dồi dào các loại nhu yếu phẩm như lương thực, thuốc men, quần áo, nhiên liệu, v.v... Có phòng vệ dân sự, nhân dân có sức mạnh và niềm tin vào thắng lợi trước sự tiến công của kẻ thù, nâng cao chí khí và củng cố mềm tin của những người đang chiến đấu trên tiền tuyến, tạo nên một hậu phương chiến tranh vững chắc, v.v... - Phòng thủ quân sự, là đảm bảo cho quân đội được huấn luyện và trang bị tốt; công nghiệp quốc phòng có khả năng cung cấp đầy đủ vũ khí, đạn dược cần thiết cho quân đội; hàng ngũ lãnh đạo trong và ngoài quân đội có năng lực, nhân dân và binh sĩ trong cả nước có tinh thần đoàn kết, sẵn sàng xả thân vì sự tồn vong của dân tộc. Cùng với chính sách quân dịch, chính sách phòng thủ toàn diện được Singapore áp dụng nhất quán từ những năm 60 của thế kỷ trước đã tạo cho nước này có được một quân đội mạnh, một nền quốc phòng và an ninh vững chắc. Những nhân tố đó cũng đã góp phần to lớn biến Singapore từ một thương cảng nhỏ bé thành một quốc gia có vị trí và vai trò xứng đáng trong khu vực và trên thế giới. Tiêu đề: Re: Vài nét về Quân đội Cộng hòa Singapore Gửi bởi: BOM BI trong 09 Tháng Mười Một, 2011, 02:07:16 am Phần thứ hai : CƠ CẤU TỔ CHỨC QUÂN ĐỘI CỘNG HÒA SINGAPORE Theo các tài liệu đã được công bố (Asean Defence Yearbook; Jane s World Armies - lssue 5, June 2005), tính đến năm 2005, tổng quân số trong Quân đội Singapore khoảng 72.000 người, lực lượng dự bị khoảng 108.000 người. Ngân sách quốc phòng của Singapore là 10,58 tỷ USD, chiếm khoảng 5% GDP. Hiện nay, vị trí bộ trí Bộ trưởng Bộ quốc phòng Singapore do Phó thủ tướng Teo Chee Hean đảm nhiệm. Quân đội Cộng hòa Singapore được chia thành ba thành phần: Lục quân Singapore, Hải quân Singapore và Không quân Singapore. Lục quân Singapore (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/4/42/Singapore_Army_Service_Flag.svg/200px-Singapore_Army_Service_Flag.svg.png) (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/en/thumb/0/02/Singapore_Armed_Forces_Crest.svg/150px-Singapore_Armed_Forces_Crest.svg.png) Lục quân Singapore có khoảng 50.000 quân (15.000 quân nhân chuyên nghiệp, 30.000 lính nghĩa vụ) được biên chế thành 5 sư đoàn, gồm 3 sư đoàn bộ binh hợp thành là các sư đoàn 3, 6, 9 và 2 sư đoàn dự bị là Sư đoàn 21 và Sư đoàn 25. Sư đoàn bộ binh số 3 (Sư đoàn Mãnh Hổ) có sở chỉ huy đóng tại căn cứ Jurong 2 gồm: Lữ đoàn bộ binh số 3 đóng tại Bukit Panjang với các tiểu đoàn bộ binh số 2 đóng tại Amoy Quen, tiểu đoàn bộ binh số 5 đóng tại Bukit Panjang, tiểu đoàn bộ binh 178; Lữ đoàn bộ binh số 5 và Lữ đoàn thiết giáp số 8. Sư đoàn bộ binh số 6 (Sư đoàn Mãng Xà) có sở chỉ huy đóng tại căn cứ Tanjong Gul gồm: Lữ đoàn bộ binh số 2 đóng tại Changi, với các tiểu đoàn bộ binh số 1 đóng tại Guilemart, tiểu đoàn bộ binh số 4 đóng tại Bedok; Lữ đoàn bộ binh số 9 và Lữ đoàn thiết giáp số 56. Sư đoàn bộ binh số 9 (Sư đoàn Báo Gấm) có sở chỉ huy đóng tại căn cứ Selarang gồm: Lữ đoàn bộ binh số 10, với các tiểu đoàn bộ binh số 3 đóng tại Bedok, tiểu đoàn bộ binh số 6 đóng tại Tanjong Gul, tiểu đoàn bộ binh 188; Lữ đoàn bộ binh số 12 và Lữ đoàn thiết giáp số 54. Sư đoàn bộ binh dự bị số 21 có sở chỉ huy đóng tại căn cứ Dieppe gồm: Lữ đoàn bộ binh cảnh vệ số 7 có sở chỉ huy đóng tại Kranji với các tiểu đoàn cảnh vệ; Lữ đoàn bộ binh số 15 và Lữ đoàn bộ binh số 17. Sư đoàn bộ binh dự bị sô 25 cũng có sở chỉ huy đóng tại căn cứ Dieppe gồm: Lữ đoàn bộ binh số 6 và Lữ đoàn bộ binh số 11. Ngoài các sư đoàn kể trên, trong lực lượng lục quân Singapore còn có một số tiểu đoàn pháo binh và công binh như: tiểu đoàn pháo binh 20, 21, 23, 24; các tiểu đoàn công binh 30, 35, 36, 38. Các loại vũ khí được trang bị trong biên chế Lục quân Singapore : - Tăng - Thiết giáp - Pháo binh - Súng chống Tăng. - Tên lửa chống Tăng - Tên lửa đất đối không - Tên lửa đối hạm. - Trực thăng Hải quân Singapore (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/c/c5/Naval_Ensign_of_Singapore.svg/250px-Naval_Ensign_of_Singapore.svg.png) (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/9/9b/RSN_crest.jpg/150px-RSN_crest.jpg) Hải quân Singapore có khoảng 9.000 quân, được biên chế thành 2 hạm đội và 3 bộ tư lệnh. Hạm đội 1 gồm những tàu tiến công, tàu tuần tiễu mang tên lửa. Hạm đội 2 gồm các tàu chi viện, tàu đổ bộ, tàu vận tải nhỏ và tàu đánh cá vũ trang. Hai hạm đội này đóng ở hai căn cứ hải quân của Singapore với tổng cộng 51 tàu các loại, trong đó có 4 tàu ngầm.Ba bộ tư lệnh thuộc lực lượng hải quân Singapore gồm: Bộ tư lệnh duyên hải (COSCOM), Bộ tư lệnh hậu cần (NALCOM), Trung tâm huấn luyện và đào tạo hải quân (TRACOM). - Bộ tư lệnh duyên hải, thành lập năm 1988, gồm 4 tàu tiến công "Bedok"; 12 tàu tuần tiễu ven bờ và một số tàu tuần tiễu ngoài khơi. COSCOM có nhiệm vụ bảo vệ vùng lãnh hải của Singapore. Ngoài ra, lực lượng này còn có nhiệm vụ phối hợp với lực lượng tàu đánh cá, lực lượng cảnh sát biển, tuần tra chống hải tặc, bảo vệ nguồn lợi hải sản, tài nguyên trên thềm lục địa Singapore. - Bộ tư lệnh hậu cần, thành lập năm 1986, có nhiệm vụ đảm bảo mọi nhu cầu thiết yếu cho lực lượng hải quân Singapore, kể cả vũ khí và trang bị. Các đơn vị thuộc NALCOM gồm: Căn cứ duy tu và bảo dưỡng tàu ở Tuas và Brani, khu quân cảng Tuas và Brani; Căn cứ hải quân Tuas và Brani, Trung tâm y tế hải quân Tuas và Brani; Căn cứ vận tải và vật hếu hải quân; Trung tâm toán máy tính hải quân và các hải đội tàu chiến đấu. - Trung tâm huấn luyện và đào tạo hải quân, thành lập năm 1971, nhiệm vụ chủ yếu là đào tạo lực lượng rà phá bom mìn trên biển, đào tạo thợ lặn và nghiên cứu y học trên biển, v.v... Ngoài các lực lượng kể trên, trong lực lượng hải quân Singapore còn có một số đại đội độc lập như đại đội tàu tiến công; đại đội tàu tuần tiễu, quét, rải mìn v.v... Hải quân Singapore cũng có tổ chức lực lượng không quân hải quân. Lực lượng không quân Hải quân Singapore có trong biên chế gồm trực thăng S-70B Sea Hawk (6 chiếc bố trí trên tàu Formidable), 5 máy bay tuần tra biển Fokker 50. Trong giai đoạn này, Singapore đang thương lượng với Mỹ để mua P-3C Orion, có tầm bay xa 9.000km với vận tốc lên tới 750km/giờ, nếu cần có thể vũ trang thêm bom, tên lửa, thủy lôi… để thực hiện các nhiệm vụ tác chiến. Còn lực lượng cảnh sát biển, trong đó có lực lượng bảo vệ bờ biển của Singapore có 102 phương tiện tuần tiễu ven bờ, trên sông. Không quân Singapore (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/6/64/Republic_of_Singapore_Air_Force_Service_Flag.svg/150px-Republic_of_Singapore_Air_Force_Service_Flag.svg.png) (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/en/thumb/8/8e/RSAF_Logo.jpg/100px-RSAF_Logo.jpg) Không quân Singapore có khoảng 13.000 quân (3.000 lính nghĩa vụ), biên chế thành 8 đại đội máy bay chiến đấu một đại đội máy bay trinh sát, 3 đại đội máy bay vận tải 6 đại đội máy bay trực thăng. Tổng cộng có 155 máy bay chiến đấu, 12 máy bay trinh sát, 73 máy bay lên thẳng. Lực lượng phòng không có 12 tên lửa Hawk cải tiến, tên lửa không đối đất AIM-9J/P và tên lửa không đối đất AGM-65B (Maverick). Singapore còn dự định mua thêm các loại máy bay trực thăng hiện đại như: CH-47D của Mỹ, AS-550 của Pháp và E-2C của Hà Lan, v.v... Tiêu đề: Re: Vài nét về Quân đội Cộng hòa Singapore Gửi bởi: BOM BI trong 10 Tháng Mười Một, 2011, 02:19:15 am Phần thứ ba : GIỚI THIỆU VỀ CÁC LOẠI VŨ KHÍ ĐANG HOẠT ĐỘNG TRONG BIÊN CHẾ CỦA QUÂN ĐỘI SINGAPORE 1. Tăng - Thiết giáp Leopard 2 (Tham khảo từ http://www.fprado.com/armorsite/leo2.htm) Có thể xem chi tiết xe tăng Leopard 2 tại http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,18969.50.html (http://www.fprado.com/armorsite/Leo2_Pics/Leo2A6EX.jpg) Leopard 2A6 với pháo nòng trơn 120mm Rheinmetall L55 Lịch sử phát triển Sự phát triển của Leopard 2 MBT được bắt đầu từ một dự án nghiên cứu xe tăng trong thập niên 1960. Tại thời điểm này Đức và Hoa Kỳ đang cùng hợp tác phát triển chương trình MBT-70 , do đó, dự án phát triển Leopard 2 đã không được chú trọng. Trong khi Đức và Hoa Kỳ phát triển MBT/KPz-70, các thỏa thuận không cho phép một chương trình nghiên cứu tăng cấp quốc gia phát triển song song, nhưng khi Leopard 1 MBT được giới thiệu vào năm 1965 , Porsche đã được trao một hợp đồng nâng cao chất lượng cũng như hiệu quả tác chiến của MBT/KPz-70 dựa trên các tiêu chuẩn bắt buộc của các chuyên gia quân sự Đức và mỹ. Chương trình này kéo dài cho đến 1967, MBT/KPz-70 sau khi nâng cấp được gọi là ''Vergoldeter Leopard'' hay ''Gilded Leopard''. Khi rạn nứt đầu tiên xuất hiện năm 1967 trong chương trình hợp tác phát triển của MBT/KPz-70 giữa Đức và Mỹ. Bộ Quốc phòng Đức đã quyết định tiếp tục cho tiến hành nghiên cứu và cải tiến ''Vergoldeter Leopard''. (http://mainbattletanks.czweb.org/Tanky/vergoldl.jpg) Mẫu đầu tiên của Leopard 2 được thiết kế , có tổng số 17 mẫu đã được thử nghiệm về giáp, tháp tháo và bộ giảm xóc. (http://www.fprado.com/armorsite/Leo2_Pics/Leopard_2_prototype-02.jpg) Krauss-Maffei ở Munich được chọn làm nhà thầu chính, Porsche tham gia vào phát triển khung gầm và Wegmann phát triển tháp tháo. Năm 1969 và 1970, hai phiên bản thử nghiệm đầu tiên (ET ET 01 và 02) đã được hoàn thành, cả hai đều được được lắp đặt động cơ MB 872 10 xy lanh. Vào cuối 1969, với sự kết thúc của chương trình phát triển chung Đức / Mỹ , Cục Công nghệ và Hậu cần Đức khởi xướng một chương trình nghiên cứu để tiếp nối các thành quả của chương trình phát triển MBT/KPz-70 .Đây là một nỗ lực nhằm kết hợp các thành phần phần của chương trình MBT/KPz-70 với các thành phần của các phiên bản xe tăng thử nghiệm "Eiler'' nhưng không có phiên bản thử nghiệm nào chương trình này được hoàn thành. Đầu năm 1970, Bộ Quốc phòng Đức đã quyết định tiếp tục phát triển ''Vergoldeter Leopard'' kết hợp với động cơ MTU của MBT/Kpz-70. Một lô bảy phiên bản thử nghiệm đã được sản xuất, Krauss-Maffei được chọn là nhà thầu chính. Các phiên bản thử nghiệm đầu tiên lướt qua rất giống Leopard 1 nhưng với tháp tháo hàn góc cạnh hơn và lưới xích chắn phía sau động cơ. Các bánh chuyền động giống MBT/KPz-70, và bánh chuyển hướng giống như của Leopard 1. Động cơ MTU MB 873 Ka 500 12 xy lanh, 4 kỳ, làm mát bằng nước, đa nhiên liệu kết hợp với máy phát điện 20 kW, hộp số, các hệ thống lọc khí, làm mát và hệ thống phanh, tạo thành một tổ hợp có thể dễ dàng thay thế trong 15 phút. Mười mẫu tháp tháo được trang bị pháo 125mm và bảy mẫu trang bị pháo 120mm, cả hai loại pháo đều được thiết kế và sản xuất bởi hãng Rheinmetall. Sau khi cuộc chiến Yom Kippur xảy ra năm 1973 chứng minh rõ ràng rằng giáp bảo vệ chính là yếu tố quyết định sự sống còn của xe tăng trong tương lai. Kết quả là Leopard 2 được nâng cấp lên thành chuẩn MLC 60 ( loại 60 tấn), trong đó cho phép tăng cường giáp, sửa đổi tháp tháo mới với nhiều lớp giáp. Điều này dẫn đến bước đột phá trong chương trình Leopard 2 và là bước thử nghiệm đầu tiên đối với Leopard 2AV. Trong suốt năm 1973, các cuộc đàm phán giữa Hoa Kỳ và Đức đã được bắt đầu để tiêu chuẩn hóa một số bộ phận cho chương phát triển xe tăng chủ lực. Kết quả của các vòng đàm phán này là vào năm 1976 Leopard 2 đã được sửa đổi để đáp ứng tiêu chuẩn của Hoa Kỳ . Dựa trên những thay đổi của Đức và các yêu cầu quân đội Mỹ, Porsche, Krauss-Maffei và Wegmann đã thiết kế và đưa vào lắp ráp Leopard 2 AV Tiêu đề: Re: Vài nét về Quân đội Cộng hòa Singapore Gửi bởi: BOM BI trong 23 Tháng Mười Một, 2011, 12:49:27 am (Vì một số lý do nhưng lý do chính là trình độ dịch thuật của em còn nhiều hạn chế nên bài viết về xe tăng Leopard 2 xin tạm gián đoạn)
Caiman MaxxPro (Tham khảo từ Globalsecurity.org, vndefence.ìno) (http://i1017.photobucket.com/albums/af298/123456vn/Caiman_4X4_pic_0.png) (http://media.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20100810/khcnsing5.jpg) Caiman MaxxPro của Quân đội Singapore duyệt binh trong ngày Độc lập Nhà sản xuất: BAE Systems MIÊU TẢ Caiman MaxxPro là dòng xe chống mìn mai phục (MRAP/Mine Resistance Ambush Vehicle), đồng thời cũng thuộc dòng xe chiến thuật hạng trung (FMTV/Family of Medium Tactical Vehicle). Ban đầu, Caiman MaxxPro được sản xuất dưới cấu hình 6X6, nhưng sau đó có thêm phiên bản 4X4 được giới thiệu tại hội chợ trang thiết bị quân sự AUSA 2008. Caiman MaxxPro 4X4 có động cơ mạnh hơn Caiman MaxxPro 6X6, nhiều lựa chọn về lốp xe nhưng vẫn giữ được 85% đặc điểm chung với Caiman MaxxPro 6x6. Ở bài viết này xin tập trung giới thiệu về phiên bản Caiman MaxxPro 4x4 đang hoạt động trong biên chế Quân đội Singapore. THÔNG SỐ - Tổ lái : 5 người - Dài : 6,522 m - Ngang : Lốp loại 1 : 2,596 m Lốp loại 2 : 2,438 m - Cao : 3,099 m - Trọng lượng rỗng có chứa nhiên liệu : 13,835 kg - Trọng lượng đầy : 19,505 kg - Tải trọng : 5670 kg - Tải trọng kéo : 5443 kg - Động cơ : động cơ diesel Caterpillar C7 6 xilanh thẳng hàng 370 mã lực - Truyền động : Allison 3700 SP - Dung tích bình xăng : 284 lít - Lốp xe : Michelin 475/80R20XML Goodyear 395/85R20MV - Tốc độ : 105 km/h - Tầm hoạt động : 660 Km - Dốc đi lên : 22 độ - Dốc đi ngang : 31 độ - Lội nước : 0,915 m (http://www.cat.com/cda/files/2200271/7/A003419Bedit.jpg) Động cơ diesel Caterpillar C7 6 xilanh thẳng hàng 370 mã lực, trái tim của Caiman MaxxPro DI ĐỘNG Caiman MaxxPro được trang bị một động cơ Caterpillar C7 6 xilanh có thể hoạt động với các loại nhiên liệu như diesel, DF-2, JP-4, JP-8, VV-F-800. Về hệ thống truyền động, Caiman MaxxPro được trang bị hệ thống truyền động Allison 3700SP tự động/ 7 tốc độ. Khi hoạt động bình thường, hệ thống treo truyền 30% mômen quay cho các bánh trước và 70% cho các bánh sau. Khi hoạt động trên địa hình phức tạp, mômen quay được truyền đều cho các bánh trước và sau. Caiman MaxxPro 4X4 được trang bị thắng dual-circuit, hệ thống chống bó cứng phanh (ABS/Anti-Lock Braking System), hệ thống cân bằng điện tử (ESC/Electronic Stability System) và kiểm soát kéo(TC/Traction Control). Hệ thống treo: Nhíp lá hình parabol với thiết bị giảm sốc thuỷ lực xoắn. Ngoài ra, trên xe còn có thiết bị điện tử kiểm soát độ căng của lốp. Thiết bị này giúp điều chỉnh độ căng của lốp, từ đó giúp tăng hoặc giảm diện tích tiếp đất của bánh xe đối với mặt đất để phù hợp với các loại địa hình. Có 4 chế độ hoạt động: Đi đường, địa hình, đất mềm (cát/bùn/tuyết) và khẩn cấp (ngoài ra hình như còn có chế độ dùng khi không vận). Các bánh xe cũng được lắp lõi run-flat cho phép xe di chuyển một khoảng cách ngay cả khi một số bánh bị lủng. Caiman MaxxPro có thể được vận chuyển bằng máy bay C-17, C-5 và A400M. BẢO VỆ Các tính năng: - Thân xe hình chữ V giúp giải phóng sức nổ của mìn, IED nổ dưới gầm ra hai bên. - Giáp: Hệ thống dệt tích hợp(Intergrated Textile System) Tensylon®(có loại sợi polyethylene có trọng lượng phân tử cao) giúp chống lại đạn súng cá nhân, sức nổ và mảnh của mìn/IED. - Hệ thống chữa cháy tự động trong khoang xe. - Bình xăng tự hàn lại và có hệ thống chữa cháy. - Xạ thủ của Caiman MaxxPro được bảo vệ khi lộ diện ra bên ngoài bởi gói nâng cấp “Gunner Shield Kit” và gói “Gunner Protection Kit”. Gunner Shield Kit: Là tấm bảo vệ gắn phía trước giá súng, có thể chống lại đạn súng trường tấn công từ phía trước cho xạ thủ. Trọng lượng : 51,3 kg Gunner Protection Kit(GPK): Là hai tấm chắn hai bên sườn của xạ thủ, có thể cản đạn súng trường tấn công. Trọng lượng : 145,1 kg Ngoài ra, khi xạ thủ lộ diện lên nóc xe, hách ra vào được mở ra phía sau, tạo thành một tấm chắn đạn sau lưng cho xạ thủ. Tuy nhiên, tất cả các tấm chắn đạn này không thể bao phủ 360 độ quanh vị trí súng của xạ thủ. Nên BAE cung cấp tiếp các phiên bản giáp nâng cấp với “giáp trong suốt” (kính chống đạn): Improved Gunner Shield(I-GS): Được lắp giáp trong suốt giúp xạ thủ có thể thấy rõ phía trước mà vẫn được bảo vệ tương đối trước các loại đạn AP. IGS cũng cao hơn nên có thể che chắn phần đầu của xạ thủ tốt hơn so với Gunner Shield cơ bản. I-GS phù hợp với mọi loại vũ khí của Caiman MaxxPro. (http://i1017.photobucket.com/albums/af298/123456vn/Improved_Gunner_Shield.png) Improved Gunner Protection Kit(I-GPK): Bao hai tấm giáp trong suốt hai bên sườn và một tấm giáp “mù” phía sau cupola của xạ thủ. IGPK có cùng mức độ bảo vệ như (IGS) và cao hơn so với GPK giúp bảo vệ xạ thủ tốt hơn. Tuy không thể nhìn trực tiếp về phía sau của I-GPK, xạ thủ vẫn có thể nhìn gián tiếp qua một gương chiếu hậu có thể được lắp vào hông I-GPK. (http://i1017.photobucket.com/albums/af298/123456vn/Improved_Gunner_Protection_Kit.png) Ở phiên bản dùng trong biên chế Quân đội Singapore, các tấm giáp bảo vệ xạ thủ được gỡ bỏ.HOẢ LỰC Hoả lực chính của Caiman MaxxPro là các loại súng máy 5,56mm như M269; 7,62mm như M240; .50cal như M2HB hoặc súng phóng lựu 40mm Mk 19. Một số Caiman MaxxPro còn được trang bị với cả bệ vũ khí điều khiển từ xa CROWS, súng gatling 6 nòng 7,62mm M134, súng gatling 3 nòng .50cal GAU-19/A tuy nhiên không được thông dụng. Tiêu đề: Re: Vài nét về Quân đội Cộng hòa Singapore Gửi bởi: BOM BI trong 27 Tháng Mười Một, 2011, 12:53:36 am V-100/150/200 COMMANDO (Tham khảo từ Globalsecurity.org, vndefence.info) Xem chi tiết về V100 Commando tại http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,22037.270.html (http://www.olive-drab.com/images/id_m706_pettit_015_200512_700.jpg) Nhà sản xuất: Cadillac Gage Tên gọi khác: XM706 Năm sản xuất: 1964 THÔNG SỐ - Tổ lái+hành khách: 12 người - Trọng lượng chiến đấu(đầy): 7,37t - Tỉ lệ công suất/trọng lượng: 23,5hp/t - Chiều dài: 5,69m - Chiều cao đến thân: 1,93m - Chiều cao đến tháp pháo: 2,18-2,45m tuỳ phiên bản - Chiều ngang: 2,26m - Chiều cao gầm: 0,41-0,61m - Động cơ: Chrysler M75 V8 191hp xăng - Truyền động: New Process 540 5 số tiến, 1 số lùi - Dung tích nhiên liệu: 300l - Tốc độ(đường): 99km/h - Tốc độ(bơi): 5,5km/h - Tầm hoạt động(đường): 680-965km - Tầm hoạt động(địa hình): 400-680km - Lên dốc: 50độ MIÊU TẢ V-100 Commando là sản phẩm của phân nhánh Terra-Space của công ty Cadillac Gage. Vào cuối năm 1962, thiết kế cho loại xe chiến đấu mới của Terra-Space được cấp bằng sáng chế ở Mĩ. (http://i1017.photobucket.com/albums/af298/123456vn/V-100_ban_ve_1.png)(http://i1017.photobucket.com/albums/af298/123456vn/V-100_ban_ve_2.png) Các bản vẽ của Commando trong thiết kế đăng kí bản quyền. Như được in trên các quảng cáo ban đầu cho loại xe Commando, mục tiêu của các nhà thiết kế là phát triễn một loại xe thiết giáp đa công năng, rẽ tiền và có thể dùng trong mọi địa hình, thời tiết ở hầu hết các khu vực trên thế giới. Để đạt được điều này, Commando chỉ đơn thuần là một chiếc xe 4X4 với động cơ đặt sau xe là loại có các bộ phận thông dụng trong cả thương mại lẫn quân sự. Commando được thiết kế như một chiếc APC nhỏ, một xe hộ tống hoặc trinh sát, kiểm soát bạo loạn cũng như dùng để tuần tra hay dùng cho cảnh sát. Thân xe Commando bao gồm các tấm giáp đồng chất được đặt nghiêng để tăng thêm hiệu quả chống đạn cá nhân. Nhờ vậy, giáp của Commando có độ dày LOS cao dù trọng lượng tương đối thấp, tăng khả năng làm chệch đạn cũng như tạo một thân xe chữ V làm giảm sức công phá của mìn. Các tấm giáp của Commando được phát triển bởi Cadillac Gage và được gọi là Cadaloy. Nó là loại giáp có chỉ số độ cứng khoảng 500 trên thang Brinell. Để dễ so sánh, loại thép ít carbon dùng trên xe ôtô thông thường chỉ có độ cứng khoảng 30 trên cùng thang đo. Tuy nhiên, đổi lại cho độ cứng của loại giáp Cadaloy là mức độ nứt vỡ cao khi chịu ngoại lực. Thân xe có thể chịu được đạn 7,62mm MMG bắn xéo ở 0 độ và đạn cỡ .50cal bắn chéo góc ở 45 độ. Khả năng chịu đựng tương đương chỉ có thể có ở loại thép ít carbon nếu dày hơn 2,5 cm. Thiết kế Commando ban đầu dùng 11 kính quan sát cùng loại với M113. Các lỗ châu mai được đặt xung quanh xe và nằm bên dưới các kính quan sát cho phép binh sĩ chiến đấu từ bên trong xe. Tuy nhiên, các kính quan sát lại không có khả năng chống đạn và sớm được thay thế bởi các ô cửa kính nhỏ đặt nghiêng. Các cửa này dày 7,6cm và bao gồm 13 lớp kính đặt chồng lên nhau và đóng trong khung kim loại. Để vào và ra khỏi xe, 6 hách ra vào được thiết kế trên các xe Commando nguyên bản. Có 2 hách nằm trên vị trí lái xe và xa trưởng, một trên nóc tháp pháo của xạ thủ và 2 hách nằm ở mặt nghiêng phía trên của hai bên hông thân xe vá 1 hách 2-miếng nằm trên vị trí của liên lạc viên ở phía sau bên phải thân xe. Các kiểm tra ban đầu cho thấy các hách ra vào hai bên thân xe hạn chế khả năng ra vào nhanh chóng. Năm 1965, các cửa bên được trang bị và rộng hơn so với các hách cũ. Thiết kế mới này cho thấy cửa xe chiếm phần lớn diện tích bên hông xe. Các cửa này là loại 2-miếng, với miếng phía trên mở sang bên và miếng phía dưới mở xuống, tạo thành một bước đặt chân khi ra vào xe. Một cánh cửa cũng được thâm vào duôi xe. Nó được gắn vào phía sau, bên trái thân xe. Ban đầu, cánh cửa này được thiết kế theo kiểu 1-miếng mở lên trên nhưng thiết kế sau đã thay lại kiểu 2-miếng giống cửa hông. Trọng lượng của loại cửa 1-miếng chứng tỏ rằng quá nặng cho một người lính từ những nước nghèo để nâng lên nên cửa 2-miếng đã được trang bị. cánh cửa phía sau xe cũng cho phép binh sĩ ra khỏi xe từ phía sau và được thân xe bảo vệ. Tiêu đề: Re: Vài nét về Quân đội Cộng hòa Singapore Gửi bởi: BOM BI trong 27 Tháng Mười Một, 2011, 01:00:20 am Khoang động cơ Động cơ và các thành phần kiên quan như truyền động, hộp số và trục truyền cũng như bình xăng, bộ tảng nhiệt, xả và thuỷ lực đều nằm bên trong thân xe Commando. Lỗ lấy khí và lỗ xả được đặt trên nóc xe. Commando được gắn động cơ xăng Chrysler M75 V-8 tạo ra 191 mã lực. Đây là phiên bản quân sự của loại động cơ Chrysler được dùng cho các xe tải hạng nặng thời bấy giờ. Sự đồng bộ này có nghĩa là các bộ phận của động cơ Commando đã có mặt trong hệ thống hậu cần của Mĩ từ lâu. Các tập quảng cáo cũng có nói đến lựa chọn động cơ diesel thay thế nhưng không có bộ động cơ nào như vậy được lắp cho đến tận 1978 với dòng V-150. Động cơ M75 được gắn với hệ thống truyền động không tự động New Process 540 có 5 số tiến và 1 số lùi. Tuy nhiên, bánh răng truyền động thứ nhất được chứng tỏ đặt quá thấp và vướng vào trục truyền sau nên nó đã bị khoá với một tấm trượt. Để vào số thứ nhất, lái xe cần phải đưa hệ thống truyền động sang số không và kích hoạt chế độ truyền động 4 bánh làm trượt tấm trượt giúp bánh răng thứ nhất hoạt động. Số thứ nhất chỉ được dùng khi dùng chế độ 4 bánh truyền động. Đặt ở trung tâm của Commando là hộp số. Phần động cơ được đặt ở phía sau xe với phần sau quay ra phía trước xe. Vì vậy hộp số nhận mômen quay từ truyền động và xoay nó 180 độ để đưa trục truyền động đến trục xe sau. Xe thường chỉ hoạt động với 2 bánh truyền động phía sau. Các trục xe của Commando được xây dựng trên loại xe tải M44 của quân đội Mĩ vào thời đó. Trục xe là loại chống nước. Bánh xe của Commando là loại xe có run flat đặt biệt được phát triển bởi Cadillac Gage. Lốp xe bao gồm một lớp lót kim loại nằm ở vành trong, cũng như các sợi thép công suất cao nằm bên trong lốp. Thiết kế rắn của lốp xe, mang tên Commando Special cho phép xe chạy thêm 80km sau khi bị lủng mà không cần thay thế. Tuy nhiên, một nhược điểm của Commando Special là đòi hỏi các thiết bị nặng để tháo lắp và cực kì khó khăn khi thay lốp khỏi vành bánh xe. Đôi khi người ta phải đốt cháy lốp xe khỏi vành bánh khi không có đủ thiết bị để thay lốp. Các xe Commando cũng thường không được trang bị bánh dự phòng, nhưng không hề khó thấy một số đơn vị dùng một dây thòng lọng để mang lốp dự phòng ở phía trước xe. Commando được gắn hệ thống lái có trợ lực Ross. Bởi vì xe được thiết kế để bơi mà không cần chuẩn bị, một máy bơm được trang bị để đề phòng nước rò rĩ từ ngoài vào khi đang bơi hay lội. Máy bơm này có thể đẩy 200 lít nước ra ngoài mỗi phút. Commando mang 2 bình nhiên liệu 151 lít ở hai bến thân trước xe, hai bên của lái xe và xa trưởng. Trong trường hợp xe bị lầy hay mắc kẹt, một bộ tời thuỷ lực Braden công suất 10.000lb vận hành bởi PTO(Power Take Off) trên hệ thống truyền động nằm ở phía trước xe có thể giúp tự phục hồi. Một thiết bị tự phục hồi khác là một snatch block 5 ton, vốn là trang bị tiêu chuẩn trên V-100. Tiêu đề: Re: Vài nét về Quân đội Cộng hòa Singapore Gửi bởi: BOM BI trong 27 Tháng Mười Một, 2011, 01:03:49 am Hỏa lực Vì được thiết kế là một loại xe đa công năng, V-100 Commando có thể mang nhiều loại vũ khí khác nhau. Trong quá trình sản xuất V-100, các loại vũ khí tiên tiến hơn ra đời và gắn lên xe. V-100 Commando nguyên bản được thiết kế mang 2 súng máy gắn đồng trục với nhau trên một tháp pháo xoay vận hành bằng tay. Tháp pháo này được đúc theo hình oval với xạ thủ ở ngay sau các khẩu súng. Trong các văn bản bán hàng ban đầu, ghế ngồi xạ thủ và rỗ tháp pháo không có nên xạ thủ buộc phải đứng và xoay tháp pháo bằng cơ thể mình khi tác chiến. Có lẽ vì vậy mà kiểu tháp pháo này chỉ tồn tại trong quá trình phát triển ban đầu của Commando. Các lựa chọn cho cặp đôi súng có thể là 2 súng máy .50cal(12,7mm); 2 súng máy .30cal(7,62mm) hoặc 1 súng máy .50 và 1 súng máy .30. Commando được quảng cáo có thể mang 420 viên .50cal và 1000 viên .30cal sẳn sàng trong tháp pháo. Số lượng đạn dự trữ có thể lên 8750 viên .30cal hoặc 7700 viên 7,62mm. Đến 1964, Commando được thiết kế lại và trang bị thêm nhiều trang bị được gợi ý từ các cuộc kiểm tra quân sự. Tháp pháo cũ được thay bằng tháp pháo mới có rỗ tháp pháo cho xạ thủ ngồi. Kiểu tháp pháo đầu tiên mang nhãn T-60 mang một cặp súng máy .30cal/.50cal với điều khiển bằng tay. Các khẩu súng này đặt chếch về bên phải tháp pháo. Một tháp pháo khác mang nhãn T-90 dùng cho cảnh sát có các cửa quan sát xung quanh tháp pháo. Thay cho các súng máy là 4 ống phóng lựu đạn cay gắn vào hai bên tháp pháo. Kiểu tháp pháo cuối cùng là T-70 mang một pháo 20mm có điều khiển xoay và nâng hạ bằng điện. Tuy nhiên, cả 3 loại tháp pháo đều không được đưa vào sử dụng. Giữa 1964 và 1967, các cuộc kiểm tra và phát triển tiếp tục trên tháp pháo của Commando. Đến 967, tháp pháo T-60 đã được thay đổi để mang 2 súng máy đồng trục với nhau và vận hành bằng tay. Cặp súng máy này được thiết kế nằm bên trái trên thiết kế ban đầu nhưng sau đó đổi lại bên phải ở các thiết kế sau để hương nạp đạn của chúng có thể thay đổi. Các kết hợp vũ khí có thể là: một cặp súng máy .30cal M1919A4E1 hay M37; một cặp MG42 hay M73 hay M219 7,62mm hoặc 1 súng máy .50cal M2. Thiết kế tháp pháo cuối cùng mang tên T-50 và trở thành tiêu chuẩn của các loại V-100 và V-150. Các kiểu tháp pháo sau này có thể mang các cặp, hoặc chỉ một súng máy M60, M73 hay FNGPMG 7,62mm hay 1 súng máy minigun XM132 của General Electric. (http://www.olive-drab.com/images/id_m706_pettit_013_200512_700.jpg) Tháp pháo mang 2 súng máy .30cal của V-100 Tháp pháo không phải là trang bị duy nhất của Commando, thân trên của xe có thể được thiết kế mở để mang nhiều súng máy đặt ở các vị trí xung quanh, hay thiết kế không tháp pháo cho cảnh sát, hoặc thiết kế có thân trên mở ra để mang cối 81mm. (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/en/d/d9/Xm706m1.jpg) Quảng cáo Commando trang bị súng gatling 7,62mm Commando được đưa đến các cuộc kiểm tra và phát triển liên tục. Vì vậy nhiều thay đổi được thêm vào trong quá trình sản xuất mà không đổi tên V-100. Vì vậy có vô số các biến thể nhỏ của Commando. Cách duy nhất để tìm ra nguồn gốc của xe là số seri ở mắt buộc dây nằm phía bên trái trước xe hay tấm dữ liệu gắn cạnh vị trí lái xe. Số seri của Commando bắt đầu từ số 10.000. - Từ xe số seri 10.075(chiếc thứ 75), lỗ lắp bánh xe có thay đổi từ dạng góc cạnh sang dạng tròn. - Từ số seri 10457, một tấm chắn được thêm vào để bảo vệ lỗ lấy khí khỏi bom xăng. - Từ số seri 10596, số cửa quan sát nhỏ được giảm từ 11 xuống còn 9. - Từ số seri 10509, các hách của lái xe và xa trưởng được thay đổi để có thêm không gian phía trên cho hai người này. Điều này giúp giảm thiểu va chạm đầu vào hách khi xe đang chạy trên địa hình gồ ghề. V-100 Commando được bán cho chính quyền các nước VNCH, Lebanon, Bolivia, Guatemala, Venezuela, Nigeria, Malaysia… Tiêu đề: Re: Vài nét về Quân đội Cộng hòa Singapore Gửi bởi: BOM BI trong 27 Tháng Mười Một, 2011, 01:13:37 am V-100 COMMANDO THỜI CHIẾN TRANH VIỆT NAM Ngay từ khi ra đời, số phận của V-100 Commando đã gắn liền với Việt Nam. Chiếc V-100 Commando seri 10.001 đã được đưa sang miền nam Việt Nam để thử nghiệm và đánh giá từ tháng 11 năm 1963. Commando của Quân lực VNCH Sau vụ đảo chính năm 1964, chính quyền VNCH đã kí hợp đồng với Cadillac Gage và bắt đầu nhận Commando từ tháng 10/1965. Mặc dù được một công ty Mĩ sản xuất, V-100 lại được VNCH và nhiều quốc gia khác sử dụng trước cả Mĩ. Trong quá trình bố trí ban đầu, V-100 không có nhiều dịp tác chiến nhưng vẫn mang lại nhiều ý kiến đóng góp nâng cấp. Và những nâng cấp này được Cadillac Gage và ATAC(Bộ chỉ huy tăng ôtô quân đội Mĩ) trang bị sớm nhất có thể. Các cải tiến bao gồm lưới chắn cho cụm đèn trước xe, một hách ở sườn trái để thợ máy có thể dễ dàng tiếp cận với động cơ, lọc khí, ắc qui so với thiết kế chỉ có một hách vào động cơ trên nóc nguyên bản. Loại lốp xe 14,00x20 bình thường được thay bằng Commando Special. Một số cải tiến, nâng cấp khác như tấm kim loại 40 inch gắn vào bánh có các cánh guồng nước ở vành ngoài giúp tăng tốc độ bơi(nhưng gặp vấn đề khi lội sình và dễ bị hư), lốp xe nhồi bọt không xẹp khi trúng đạn(nhưng mau mòn) lại không được trang bị. Một phàn nàn lớn nữa của VNCH về V-100 là bộ đôi súng .30cal quá yếu. Sau đó, một bộ hoán cải mới mang bộ đôi súng .30cal M37/.50cal M2 với các bộ dẫn, chứa vỏ đạn, thùng tiếp đạn, giá gắn mới. Bộ hoán cải này tăng đáng kể hoả lực của xe, nhưng ATAC còn muốn hơn thế nữa, họ muốn dùng súng phóng lựu tự động 40mm. Hệ thống tháp pháo XM32 được quân đội Mĩ phát triển và kiểm tra vào cuối 1966, đầu 1967 nhưng không đạt được các yêu cầu. Thiết kế tháp pháo súng phóng lựu được tiếp tục từ 1967 đến 1971 thì kết thúc. Mặc dù mang hộp tiếp đạn 500 viên cho mỗi khẩu .30cal và 200 viên cho mỗi khẩu .50cal, số đạn này vẫn không đủ cho những cuộc giao chiến ác liệt và xạ thủ vẫn phải dành nhiều thời gian để nạp đạn. Và để tiếp tục khai hoả khi xạ thủ đang nạp đạn, các tổ lái V-100 của VNCH đặt một súng máy M1919 trên giá 3 chân ở cuối xe. Tổ lái trong xe cũng mang theo súng carbine M1, súng ngắn M1911 và súng phóng lựu M79. tất cả những loại này đều có thể bắn được từ trong xe qua các lỗ châu mai. Tuy nhiên, chúng nhanh chóng bơm đầy xe với khói thuốc nếu động cơ đang dừng và bộ tản nhiệt của xe không mở để hút khói ra. Các yêu cầu lắp một quạt xả để hút khói ra ngoài được đưa ra nhưng yêu cầu này không được coi là cần thiết nên chưa bao giờ được trang bị. Nhưng cũng có một số vấn đề làm bó tay hoàn toàn Cadillac Gage lẫn ATAC. Ví như cái nóng nhiệt đới của miền nam Việt Nam. Để có thể chịu đựng được cuộc hành trình dài trong các hộp thép gắn bánh Commando, tổ lái của xe thường để mở một hách phía trên, bên sườn xe. Và lỗ trống này trở thành mục tiêu nguy hiểm cho các xạ thủ Việt Cộng. Chỉ cần một viên đạn lọt vào trong xe và dội lại từ thành xe này đến thành xe bên kia cũng có thể gây hậu quả thảm khốc. Một quả lựu đạn hay gói thuốc nổ ném chính xác từ tầm gần có thể tiêu diệt hoàn toàn chiếc xe. Vào thời điểm thập niên 60, máy lạnh rõ ràng là trang bị quá xa xỉ cho những chiếc xe được thiết kế với mục tiêu giá thành thấp như Commando. Một vấn đề nan giải nữa là hoả lực B-40 của Việt Cộng. Chỉ cần một phát B-40 trúng đích là có thể loại 1 xe thiết giáp khỏi vòng chiến hay vòng đời. Các đơn vị bộ binh cơ giới và kị binh cố gắng chống lại bằng cách dựng các rào lưới B40 xung quanh xe khi đóng trại. Các rào lưới này làm kẹt quả đạn RPG lại hay làm cho quả đạn phát nổ từ khoảng cách an toàn so với xe. Tuy nhiên khi xe đang di chuyển, không có biện pháp nào hữu dụng chống lại RPG. (http://i1017.photobucket.com/albums/af298/123456vn/V-100_VNCH.png) Một đoàn xe Commando của quân VNCH. Có thể thấy lưới che cho cụm đèn trước, súng máy M1919A đặt sau xe, tháp pháo gắn 2 súng máy .30cal và đầu xe mang các cuộn lưới để bảo vệ khi dựng trại, xa trưởng của xe đi đầu đang cầm một súng phóng lựu M79. Mìn cũng là một mối lo tương đối cho bộ binh và xe cộ. Nhưng V-100 có thể giải quyết khá tốt vấn đề này. Thường thì khi trúng một quả mìn chống bộ binh, chỉ có bánh xe, hay một trục xe bị hỏng. tổ lái không chịu thương vong trừ khi có người lộ ra hay ngồi bên ngoài xe. Đến cuối năm 1965, các vết nứt trên V-100 được phát hiện và người ta gửi chúng trở lại Cadillac Gage và ATAC để kiểm tra. Các báo cáo chỉ ra rằng nhiều xe Commando có các vết nứt đáng lo ngại và yêu cầu kiểm tra toàn bộ số xe Commando trong trang bị của VNCH. Trong khi đó, Cadillac Gage gấp rút xem xét lại quy trình hàn thân xe tại Fruehuaf và phát hiện các công đoạn đã không được làm theo. Nguyên nhân chính của vấn đề là do khu vực gia công thân xe của nhà máy Fruehauf đã không được sưởi ấm và các tấm giáp không được nung lại trước khi hàn. Điều cực kì quan trọng khi hàn các tấm giáp Cadaloy đó là gờ của các tấm giáp phải mài gọt cẩn thận và nhiệt độ phải được truyền đều khắp. Làm nguội các tấm giáp phải thực hiện qua từng bước để tránh nứt vỡ do sức ép từ bên trong. Cadillac Gage đã xem xét lại và đặt ra một quy trình hàn mới nghiêm ngặt hơn. Cuộc giám sát Commando ở Việt Nam được hoàn thành và các xe có thể sửa chữa được đều được sửa lại ở Việt Nam, trong khi các xe bị nứt nghiêm trọng được đưa về Mĩ để đánh giá xem nên sửa lại hay thay thế. Cadillac Gage phát triển các quy trình sửa chữa và các phần thay thế có thể thay cho toàn bộ phần bên hông xe, mũi, các tấm đuôi, nóc và gầm xe nếu cần. Tháng 5/1966, dòng xe V-100 đến quân VNCH dừng lại một phần vì các vấn đề nứt nêu trên, một phần khác vì đơn đặt hàng 40 chiếc V-100 đến Sudan. Tháng 2/1967, việc giao hàng cho VNCH được bắt đầu lại với các mẫu có nhiều cải tiến hơn nữa. Đầu tiên là một tấm chắn cho các xe xã để ngăn không cho nước lọt vào khi bơi. Thứ hai, tấm chắn bánh răng truyền động thứ 1 ngăn không cho vào số đầu khi dùng chế độ 4X4 được thêm vào. Một số cải tiến khác bao gồm các cải tiến trong công đoạn hàn, các lớp chống đạn dự phòng gắn vào bên trên, phía trong hai lỗ lắp bánh xe phía trước, hãm lò xo cho các hách của lái xe và xa trưởng. Tiêu đề: Re: Vài nét về Quân đội Cộng hòa Singapore Gửi bởi: BOM BI trong 27 Tháng Mười Một, 2011, 01:19:24 am Commando của Quân đội Mĩ Lực lượng sử dụng Commando đông nhất của quân đội Mĩ tại Việt Nam chính là quân cảnh(MP). Ban đầu, nhiệm vụ của lực lượng MP là đảm bảo luật pháp trong quân đội. Nhưng với sự can thiệp ngày càng gia tăng của quân đội Mĩ, MP đã có thêm nhiệm vụ mới: hộ tống các đoàn công-voa tiếp viện cho các vị trí của quân Mĩ. Vũ khí hạng nặng duy nhất của các đơn vị MP cho đến khi chiến dịch Tết Mậu Thân 1968 xảy ra là các xe jeep M151 có một súng máy M60 gắn trên trụ giữa xe và không có giáp. Các xe này cực kì dễ bị tổn thương và thường chỉ làm tăng thêm thương vong trong các tính huống bị mai phục. Học thuyết về quân cảnh Mĩ không nói gì đến trang bị xe bọc giáp. Tuy nhiên, học thuyết này có từ thời WW2, khi mà các đường ranh trên chiến trường còn được biết đến. Còn ở Việt Nam, không có thứ gì tương tự vậy. Ngoài ra, quân đội Mĩ gần như có một ác cảm với các loại xe bọc giáp bánh hơi mà các đơn vị MP yêu cầu. M8 Greyhound và dòng xe M2/M3/M… half-track là những loại xe có bánh hơi từng được Mĩ dùng trong WW2 và cho rằng lỗi thời, lạc hậu. Từ đó, các đơn vị bộ binh cơ giới Mĩ đều được đặt trên xe bánh xích. Một bộ giáp nâng cấp cho M151 được phát triển và được đưa đến Việt Nam đánh giá. Bộ giáp mới này có thể bảo vệ tương đối cho tổ lái, nhưng bù lại cũng không ít điểm yếu. Làm tăng áp lực lên hệ thống treo, hạn chế tầm nhìn và không gian cho tổ lái, cùng với nóc xe để hở, chặn lối thoát hiểm cho tổ lái và hạn chế khả năng làm nhiệm vụ khác của xe là những hạn chế bù lại của bộ giáp mới. Kết luận sau đó của Tiểu đoàn MP số 95 cho rằng V-100 nên được chọn. Các trải nghiệm với V-100 của quân Mĩ cũng không hề thiếu. Một bài báo về loại xe thiết giáp bánh hơi mới đã xuất hiện trong tạp chí Military Police Jounal năm 1964 và một bài báo nói về sự cần thiết xe hơi bọc thép cho hộ tống khác in năm 1965. Năm 1966, tiểu đoàn MP số 716 đã lái thử V-100 của VNCH. Đại tá Thomas F. Guidera, chỉ huy đầu tiên của Lữ MP số 18 đã chú ý đến chiếc APC bánh hơi kì lạ của các đơn vị kị binh và QC (quân cảnh) của VNCH. Guidera được biết rằng chiếc APC lạ đó tên là V-100 Commando và quân VNCH vừa nhận được số xe này chỉ mới hơn 1 năm. Ông bị ấn tượng khi nghe chiếc xe này mang 2 súng máy trong một tháp pháo kín. Có vẻ như câu hỏi của lực lượng MP đã có câu trả lời. Guidera thu xếp mượn một chiếc V-100 của quân VNCH để một tổ quay phim 16mm làm tư liệu. Ông ra lệnh đặt chiếc V-100 trước ống kính của tổ quay và nòng súng của một xạ thủ M60. Guidera và sĩ quan điều hành của mình mang áo khoác chống đạn và chui vào xe. Một tín hiệu phát ra và xạ thủ M60 bắt đầu khai hoả vào xe. Nhóm quay phim đã thu lại cảnh tượng bạo lực 1 xạ thủ súng máy bắn chiếc xe chở 2 sĩ quan cấp lữ đoàn, bụi đất nhảy lên xung quanh xe và bề mặt chiếc Commando như có pháo nổ dưới cơn mưa đạn 7,62x51mm. Lệnh “ngừng bắn” được đưa ra và xạ thủ M60 dừng lại. Trong khi bụi đất vẫn còn lơ lửng trong không khí, 2 viên sĩ quan bước ra khỏi xe mỉm cười, không bị thương tích. Tổ quay phim đã quay lại toàn bộ và bộ phim được đưa ra để yêu cầu cho một chiếc hơi bọc giáp mới, đặc biệt là loại V-100. Đến lúc này, các nhà kế hoạch quân đội Mĩ đã nhận ra sự cần thiết của một chiếc xe hộ tống bọc giáp. Một trong những hồi đáp ban đầu của quân đội cho lực lượng MP là so sánh V-100 với các loại xe hộ tống bánh xích thay thế khác có thể là M113.5(phiên bản của M113) và xe trinh sát M114. So sánh cho thấy V-100 có vài điểm yếu: hệ thống truyền động ồn áo và và khó chuyển số, mất tính di động trong bùn và các đồng lúa và tháp pháo chật hẹp. Nhiều bộ phận của V-100 cũng chưa có mặt trong hệ thống hậu cần của Mĩ so với các bộ phận của M114 và M113.5 vốn sử dụng nhiều bộ phận chung với loại APC chủ lực của Mĩ là M113. tuy nhiên, V-100 có 2 ưu điểm lớn: xe bánh hơi rẻ hơn xe bánh xích, có chi phí bảo dưỡng, vận hành cũng rẻ hơn, ít phá hoại hệ thống đường xá và lính quân cảnh Mĩ chưa hề được huấn luyện hay hổ trợ đầy đủ để dùng xe bánh xích. Năm 1967, quân VNCH đã có hơn 200 chiếc V-100 và đang đặt nhiều hơn nữa. Tháng 5/1967, Bộ chỉ huy cố vấn quân sự tại Việt Nam(MACV) nhận được cho phép trưng dụng 6 chiếc XM706 của quân VNCH để đánh giá kiểm tra. Số xe này được trang bị cho Lữ MP 18 và chia làm hai nhóm, mỗi nhóm 3 chiếc giao cho tiểu đoàn MP 720 tại Long Bình và Tiểu đoàn MP 504 tại Phu Thanh. Quân VNCH hổ trợ việc bảo đưỡng và huấn luyện cho xe và tổ lái các xe này. Những chiếc V-100(hay còn gọi XM706) trang bị súng máy M37 trong khi chờ loại súng máy M2 .50cal đưa tới Việt Nam. Số xe này được lực lượng MP Mĩ vừa dùng vừa học từ các ‘thầy” VNCH và trải qua nhiều tháng kiểm tra đánh giá. Đến tháng 11/1967, Lữ đoàn MP số 18 đánh giá những kết quả thu được và cho rằng cuộc kiểm nghiệm đã thành công. Cũng trong thời gian này, lực lượng tình báo của Mĩ và VNCH khắp miền nam Việt Nam báo cáo rằng Quân đội Nhân dân Việt Nam đang chuẩn bị cho một “sự kiện lớn nào đó” nhưng có ít tiên đoán chính xác xem đó chính xác là sự kiện gì. Câu trả lời đến vào tháng 1 năm 1968 với Cuộc tấn cống Tết Mậu Thân. Lực lượng Quân giải phóng đã tấn công khắp lãnh thổ VNCH khiến Liên quân phải khó khăn đẩy lùi các đợt tấn công. Ở Sài Gòn, quân Mĩ và VNCH phải kêu gọi hổ trợ từ các khu vực xung quanh với nhiều thiết giáp hơn. Quân VNCH đáp trả với M113 và XM706. Tiểu đoàn MP 720 cũng gửi đến 2 chiếc Commando vừa mới qua cuộc kiểm tra. Các báo cáo sau đó cho thấy V-100 đã được dùng cho các nhiệm vụ tiếp đạn, giải cứu VIP và hổ trợ hoả lực trực tiếp cho lính bộ. Sự kiện Mậu Thân 1968 càng nhấn mạnh sự cần có V-100 của MP. Lữ 18 MP đã bị hỏa lức của Quân đội Nhân dân Việt Nam áp đảo. Số xe V-100 gửi tới Sài Gòn nhanh chóng chứng tỏ giá trị của mình trong các khu vực giao tranh với lính bắn tỉa và súng máy. Chúng cũng được dùng để giải cứu các đơn vị bạn bị hoả lực địch trấn áp. Vì V-100 không thể chịu được hoả lực RPG, các xe này chỉ được dùng tại những khu vực chỉ phát hiện hoả lực nhẹ. Tháng 2/1968, quân đội Mĩ đặt mua 72 chiếc V-100 đầu tiên với tên gọi XM706E1. Tháng 5/1968, 30 chiếc V-100 được quân VNCH cho Sư đoàn bộ binh số 4 Mĩ mượn trong 6 tháng, và gia hạn nhiều lần cho đến khi Sư 4 nhận được các xe XM706 của mình. Đến tháng 10/1968, các xe V-100 được đặt mua bởi lục quân Mĩ bắt đầu được giao và 94 xe khác được đặt hàng. Một lực lượng khác thuộc quân đội Mĩ cũng có hứng thú và tự nghiên cứu V-100. Đó chính là binh chủng không quân Mĩ. Dĩ nhiên không ai nghĩ đến việc cho Commando cất cánh và và nả đạn .30cal/.50cal từ trên trời xuống đầu đối phương. Mà thay vào đó là nhằm mục đích bảo vệ các sân bay khỏi các cuộc thâm nhập của đặc công như vụ sân bay Biên hoà năm 1966 và sự kiện Tết Mậu Thân càng làm tăng thêm yêu cầu bảo vệ các sân bay quân sự. Nhưng khác với loại Commando của lục quân Mĩ hay VNCH, những chiếc Commando của không quân hay nói chính xác hơn là lực lượng bảo vệ sân bay không có tháp pháo hay nóc, thay vào đó là một gờ chắn tháp đặt nghiêng với 5 giá gắn súng ở trên nóc xe hở. 2 giá gắn súng lắp phía trước xe và 3 giá còn lại đặt ở hai bên sường và phía sau xe có thể cung cấp hoả lực áp đảo mọi hướng. những giá súng này có thể lắp nhiều loại súng .30cal; 7,62mm; .50cal. Cuối năm 1968, các xe V-100 cho không quân, mang tên gọi XM706E2 được đưa tới Việt Nam và sau đó là tới các sân bay ở Thái Lan và Philipine. Từ 1968 về sau, 3 kiểu xe V-100 (XM706 cho VNCH, XM706E1 cho MP và XM706E2 cho không quân) bắt đầu được giao tới Đông Nam Á. Tuy nhiên, nhận các bộ phận thay thế, dự phòng trở thành một vấn đề. Các gói hàng thay thế bị gửi nhầm đến các đơn vị không có, hoặc chưa có V-100. Các gói này có thể lại được dùng cho các loại xe khác khiến cho lực lượng V-100 ngày càng suy kiệt. Sự thiếu hụt các tài liệu hướng dẫn kĩ thuật càng gây thêm khó khăn. Các xe V-100 bị hỏng hay hư thường bị “làm thịt” để cung cấp các bộ phận cho những xe khác. Sự thiếu hụt các bộ phận và dụng cụ chuyên môn cũng dẫn đến nhiều phiên bản “hoán cải” thú vị. Lực lượng MP của Sư đoàn không vận 101 đã tự thiết kế và chế tạo thiết bị tháo lốp Commando Special. Họ thậm chí còn cố gắng làm tải liệu về nó với hình chụp và bản vẽ và gửi gói nâng cấp lên cấp trên để giúp các đơn vị khác. Tuy nhiên, hầu hết các nâng cấp chủ yếu là gắn thêm nhiều loại vũ khí lên xe. Nâng cấp phổ biến là hàn một giá lắp súng vào đuôi phải xe và lắp lên đó một khẩu M60. Lính Mĩ cũng có thể hàn một giá súng của M113 lên nóc của tháp pháo để gắn một súng máy M2 .50cal. Ngay cả súng máy minigun 7,62mm “mượn” từ trực thăng cũng được gắn lên Commando để tăng cường hoả lực. Nhiều đơn vị MP cũng chơi các màu sơn nổi bật lên xe của mình. Mọi thứ từ sơn ốc bu lông hay tô trắng vành bánh xe, hay “nose art” bao phủ toàn bộ phía trước xe đều được thực hiện. Hầu hết các “nose art” dựa trên các nhân vật truyện tranh, phim siêu anh hùng hay tên các nhóm rock. Đến 1969, nhu cầu XM706 thực sự vỡ bờ. Lực lượng MP Mĩ, quân đội Thái, Hàn và các đơn vị vận tải Mĩ ở Việt Nam đều kêu gào V-100, khiến các đơn vị muốn trang bị thêm V-100 phải từ bỏ ý định. Các đơn vị vận tải Mĩ đã cố gắng hết sức để có được V-100, khi mà họ đã phải dùng đến các xe “gun truck” vốn nâng cấp từ các xe tải 2 hay 5 ton tiêu chuẩn với các tấm giáp và giá súng để bảo vệ đoàn công voa. Tuy nhiên yêu cầu 80 chiếc XM706 của họ vẫn bị từ chối. Quân đội Mĩ tính toán rằng đến cuối 1969, sẽ có tổng cộng 683 xe V-100 ở Việt Nam. Cùng với việc Mĩ bắt đầu rút dần khỏi Việt Nam, các xe V-100 bắt đầu được trao lại cho các đơn vị khác hoặc phá để cung cấp đồ thay thế. Các đơn vị Thái Lan và Hàn Quốc ở VNCH đều nhận lại XM706 từ MP Mĩ. Ngay cả quân đội Lào cũng nhận vài chiếc XM706E2 vào năm 1970 từ các sân bay Mĩ ở Thái. Quân VNCH tiếp tục nhận các xe V-100 mới đến tháng 5/1970, với chiếc xe mang số seri 10.921 là chiếc cuối cùng. Báo cáo sản xuất cho thấy 477 chiếc V-100 đã được bán cho VNCH, nhưng với sự rắc rối trong vay mượn và thay thế các xe bị thiệt hại trong chiến đấu, con số thực sự rất khó đoán. Một vụ điển hình là chiếc V-100 seri 10.921 đã bằng cách nào đó tìm được đường về Mĩ và được nhìn thấy lần cuối tại Crane Naval Depot ở Indiana vào đầu những năm 1990. Các mẫu cuối cùng xe cho không quân Mĩ được nhận vào tháng 11/1970 và mẫu cuối của lục quân Mĩ được nhận vào tháng 7/1970. Đến 1972, hầu hết các xe V-100 đã về Mĩ. Đáng ngạc nhiên là gần như toàn bộ các xe V-100 đều được đưa về, ngay cả những chiếc mang thương tích lẫn những chiếc bị “làm thịt”. XM706 tiếp tục phục vụ quân VNCH cho đến khi Sài Gòn được giải phóng vào tháng 4/1975. Tiêu đề: Re: Vài nét về Quân đội Cộng hòa Singapore Gửi bởi: BOM BI trong 27 Tháng Mười Một, 2011, 01:35:48 am Commando của Quân đội Nhân dân Việt Nam (http://i603.photobucket.com/albums/tt113/hinhnamxua/QDND/M100.jpg) Một chiếc V100 của Quân đội Nhân dân Việt Nam Sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc năm 1975, Quân lực VNCH tan rã, toàn bộ số V-100 còn sót lại sau chiến tranh được chuyển giao cho QĐND Việt Nam. Những chiếc V-100 một lần nữa được đưa vào tham chiến khi chúng theo chân các đơn vị bộ đội tăng - thiết giáp Việt Nam chiến đấu chống lực lượng Khmer Đỏ tại Campuchia từ năm 1979 đến năm 1989. Cuối những năm 1980, do tình trạng thiếu phụ tùng thay thế nên cũng như nhiều trang thiết bị quân sự khác chuyển giao từ thời VNCH, V100 được cho "nghỉ hưu". Gần đây, Viện Kỹ thuật Cơ giới, thuộc Tổng cục Kỹ thuật, Bộ Quốc phòng đã tiến hành nghiên cứu nâng cấp, khôi phục xe thiết giáp V-100. Việc nâng cấp được tiến hành tại Nhà máy Z751. Gói nâng cấp mới bao gồm : - Thiết bị thông tin liên lạc dùng bộ đàm và máy nói P123M. - Thay động cơ của Mĩ bằng loại GAZ-41 của Nga. - Trang bị các loại súng của Nga thay cho súng Mĩ. - Nâng cấp hệ thống phanh thủy lực. - Thiết kế lại hệ thống điện. - Lắp đặt hệ thống camera quan sát đêm. Hiện nay, các chiếc V100 vừa được nâng cấp đang được thử nghiệm kiểm tra để sớm đưa trang bị cho các đơn vị chiến đấu trong toàn quân. http://www.youtube.com/watch?v=d5j12VSARXk Tiêu đề: Re: Vài nét về Quân đội Cộng hòa Singapore Gửi bởi: BOM BI trong 27 Tháng Mười Một, 2011, 02:04:43 am V-100 THỜI HẬU CHIẾN TRANH VIỆT NAM Quân đội Mĩ tiếp tục sử dụng V-100 Commando cho đến giữa thập niên 1980. Các xe V-100 nhanh chóng bị đánh giá lỗi thời và thay thế chậm chạp bằng loại xe Peacekeeper của Cadillac Gage. Một số xe V-100 bị đưa đến các bãi thả bom. Một số khác sống sót trong các viện bảo tàn trong khi một số khác được các đơn vị SWAT sử dụng. Một số rất ít trở thành đồ sưu tầm của những người đam mê quân sự. V-100 vẫn tiếp tục hoạt động trong các quân đội khác như Lebanon, Bolivia, Guatemala. Những nước này dùng V-100 như câu trả lời cho các phiến quân chống chính quyền. Venezuela mua 77 chiếc V-100 giữa 1971 và 1973, đa số là loại mang tháp pháo 2 súng, một số là loại chở cối 81mm. Khách hàng lớn cuối cùng của V-100 là Malaysia từ 1971-1972. Tiêu đề: Re: Vài nét về Quân đội Cộng hòa Singapore Gửi bởi: BOM BI trong 27 Tháng Mười Một, 2011, 02:34:36 am CÁC PHIÊN BẢN - V-100 + XM706 : Phiên bản mang tháp pháo T-50 gắn 2 súng máy M37 .30cal. + XM706E1/ M706 : Phiên bản mang tháp pháo T-50 gắn 2 súng máy M73 7,62mm và M2 .50cal. Thân xe tháo bớt 2 cửa sổ quan sát so với XM706(giảm từ 11 cửa sổ xuống 9). Xe có thêm bình xăng bọc giáp. Các xe này được sản xuất từ số seri 10.596. + XM706E2 : Phiên bản hở nóc với 5 giá gắn súng máy. (http://i1017.photobucket.com/albums/af298/123456vn/v100.jpg) Từ trái qua phải: XM706, XM706E1(lưu ý bên sườn xe bỏ đi một cửa sổ so với XM706), XM706E2 - V-200/ LAV-200 : Được Cadillac Gage phát triển từ 1967-1968 cho quân đội Singapore. V-200 mang các trục bánh xe 5 ton và mang động cơ Chrysler 440 V8 xăng. Quân đội Singapore yêu cầu một loạt các trang bị vũ khí bao gồm tháp pháo 2 người mang pháo 90mm và 20mm, phiên bản mang cối 81mm và phiên bản cứu kéo. (http://www.armyrecognition.com/forum_pic/Singapore/Cadillac_Gage_V-200_RBS-70_Singapour_Army_03.jpg) V-200 của Quân đội Singapore - V-150/ LAV-150 : Phiên bản kết hợp giữa V-100 và V-200, được Cadillac Gage giới thiệu năm 1971. + Động cơ Chrysler 361 V8 202hp diesel + Hệ thống chữa cháy -+Có thể trang bị các thiết bị phóng lựu đang khói, đèn dò hay thiết bị nhìn đêm, thiết bị liên lạc, định hướng và chống NBC. + Hệ thống vũ khí có thể trang bị cho LAV-150: 1. Tháp pháo 2 người mang pháo Cockerill Mk III 90mm + 1 súng máy 7,62mm đồng trục 2. TP mang pháo Royal Ordnance L231 76mm + 1 súng máy động trục 3. TP 1 người mang pháo Oerlikon 20mm + 1 súng máy 7,62mm đồng trục 4. TP 1 người mang 2 súng máy 7,62mm hay .50cal/7,62mm 5. TP 1 người mang 1 súng máy .50cal và 1 súng phóng lựu 40mm 6. Tên lửa TOW (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/b/b2/V100.jpg) V150 của Quân đội Malayxia - LAV-150S Phiên bản dài hơn LAV-150 46cm và tải trọng tăng thêm 726kg với tổng tải trọng 3357kg. + Hệ thống treo mạnh hơn. + Hộp số tốt hơn cho phép leo dốc cao hơn. + Hệ thống phanh thuỷ lực mới + Hệ thống làm mát cải tiến - V-300 + Cơ cấu bánh 6X6 + Tốc độ tối đa 105km/h + Bơi không cần chuẩn bị + Tất cả các bánh có phanh thuỷ lực và lốp run-flat + Trang bị vũ khí tương tự LAV-150 (http://1.bp.blogspot.com/-Q4MEsA-ffg8/TkB5tOIy7dI/AAAAAAAAKII/vQrPPF_G9MM/s400/PMC%2BV300_Timawa.jpg) V300 của Quân đội Philippine Tiêu đề: Re: Vài nét về Quân đội Cộng hòa Singapore Gửi bởi: BOM BI trong 27 Tháng Mười Một, 2011, 11:44:48 am AMX 10P (Tham khảo từ military-today.com, Army guide) (http://www.military-today.com/apc/amx_10p.jpg) Dự án nghiên cứu thiết kế xe chiến đấu bộ binh AMX-10P được Tập đoàn Giat (nay là Tập đoàn Nexter) bắt đầu tiến hành vào năm 1965 nhằm thay thế cho những chiếc AMX-VCI già cỗi đang phục vụ trong Quân đội Pháp lúc đó. Nguyên mẫu đầu tiên được hoàn thành vào năm 1968 và được đưa đi thử nghiệm kiểm tra tại Rambouillet vào tháng 7 năm 1972, trong cuộc thử nghiệm này một số hạn chế của xe đã được phát hiện và được khắc phục ngay sau đó. AMX 10P được đưa vào sản xuất hàng loạt tại nhà máy Roanne de Atelier vào năm 1973. Cũng trong năm 1973, những chiếc AMX 10P đầu tiên đã được chuyển giao cho Lữ đoàn Mechanised 7 ở Rheims. Nexter đóng cửa dây chuyền sản xuất AMX 10P vào năm 1994 sau khi hơn 2000 chiếc AMX 10P đã được xuất xưởng. Tuy đã ra đời hơn 30 năm nhưng hiện nay 650 chiếc AMX-10P vẫn còn phục vụ trong các đơn vị chiến đấu của Quân đội Pháp. Ngoải Pháp, AMX 10P còn được xuất khẩu sang các nước khác như Bosnia Herzegovina, Indonesia, Mexico, Morocco, Qatar, Ả Rập Saudi, Singapore, Iraq và UAE. Hiện nay, Quân đội Pháp đang thay thế dần các xe AMX-10p bằng xe chiến đấu bộ binh VBCI mới tiên tiến hơn. MIÊU TẢ Động cơ cùng với hệ thống truyền động được đặt ở bên phải phía trước thân xe. Thiết kế này giúp tăng khả năng sống sót cho tổ lái khi xe bị trúng đạn từ các hướng khoảng 2-3h và giáp không cản được đạn. Ngồi bên cạnh động cơ về bên trái là lái xe. Lái xe có một hệ thống lái thuỷ tỉnh khá đơn giản để sử dụng, vị trí lái xe được bố trí ba kính tiềm vọng, kính tiềm vọng trung tâm có thể được thay thế bằng kính tiềm vọng khuếch đại hình ảnh nhìn đêm khi tác chiến trong đêm. Trung tâm của thân xe được đặt tháp pháo và khoang chiến đấu, với vị trí của trưởng xe được bố trí ở bên phái và pháo thủ ở bên trái. Trưởng xe sử dụng kính tiềm vọng quan sát ban ngày M371 kết hợp kính ngắm khuếch đại hình ảnh quan sát ban đêm. Vị trí pháo thủ lắp một kính ngắm chính kết hợp kính tiềm vọng khuếch đại hình ảnh quan sát ban đêm/ban ngày. Trưởng xe và pháo thủ cũng có bảy kính quan sát 360° để quan sát toàn diện. Sau tháp pháo và khoang chiến đấu là khoang lính, Các lính bộ binh có thể ngồi quay mặt vào trong khoang trên 2 băng ghế. Ghế cho 8-10 lính bộ binh cơ giới với trang bị đầy đủ được gắn bằng bulong và khung thép ngồi. Khi không chở lính, các băng ghế có thể gập lại. Khoang lính được lắp các lỗ châu mai và các thiết bị quan sát, khi cần thiết lính bộ binh cơ giói có thể sử dụng súng cá nhân hoặc súng máy hạng nhẹ tấn công kẻ địch ngay từ bên trong. Lính bộ binh có thể ra khỏi xe bằng hai cửa ra vào trên nóc cùng một cửa lớn ở đằng sau. TÍNH CƠ ĐỘNG Xe AMX 10P có khả năng cơ động cao. Xe AMX 10P chạy bằng động cơ diesel Hispano - SuizaHS 115 công suất 276 mã lực. Xe có hai dải xích. Đáy của mắt xích được gắn các miếng cao su có thể tháo rời nhằm tăng khả năng bám đường và giảm tiếng ồn. Hệ thống treo trục xoắn độc lập bao gồm 5 bánh xe đi đường đôi và cácc con lăn hỗ trợ. Bánh truyền động của xe bao gồm phần đĩa bánh xe bằng nhôm và lốp bằng cao su. Trục bánh xe đầu và cuối được gắn với bộ giảm xóc thuỷ lực. AMX 10P lội nước bằng hai ống đấy thủy lực phía sau xe. Khi chạy trên đường nhựa, đường đất cứng, AMX 10P có thể đạt tốc độ tới 65km/h; di chuyển trong nước với tốc độ 8km/h. Độ cơ động của xe được tăng cường nhờ tấm chắn sóng, khi hoạt động nó dựng lên cao hơn mực nước. TÍNH AN TOÀN Thân xe được hàn toàn bộ của AMX 10P là hợp kim nhôm được sản xuất bằng phương pháp cán lạnh cho khả năng chống đạn súng cá nhân nhỏ và mảnh pháo. Vòng cung trước có thể chống đạn xuyên giáp cỡ 14,5mm. Vỏ giáp có thể được tăng cường bằng các tấm vỏ gốm composite được lắp thêm vào. Các phụ kiện lắp thêm này có thể chống lại đạn xuyên giáp AP cỡ 12,7mm quanh xe và đạn xuyên giáp AP cỡ 25mm ở vòng cung trước. Tấm chắn sóng và gầu xúc cũng được sử dụng như tấm thiết giáp bảo vệ thân xe.. Để Bảo vệ kíp lái và trang thiết bị trong xe chống lại vũ khí hủy diệt lớn như hạt nhân, hóa học, sinh học, xe được trang bị thiết bị phòng hóa học và phóng xạ NBC. Ngoài ra, xe cũng được lắp đặt bốn ống phóng lựu đạn khói 80mm vận hành bằng điện ở hai bên tháp pháo. Để chống lại khả năng xảy ra cháy nổ, xe được lắp đặt hai hệ thống chữa cháy ở khoang chính và khoang động cơ Đồng thời có bình chữa cháy cầm tay. Hệ thống chữa cháy hoạt động tự động hoặc vận hành bằng tay. Để đưa không khí vào xe, lọc không khí khỏi bụi bẩn, các chất độc phóng xạ, sinh, hóa, sấy sưởi không khí vào mùa đông, hệ thống điều hòa nhiệt độ đã tạo áp suất trong xe cao hơn môi trường không khí bên ngoài, đồng thời sử dụng quạt phin lọc không khí. Tùy theo mỗi phiên bản, hệ thống thông tin liên lạc của xe sẽ có từ 1 đến 4 đài radio. Thành viên trong xe liên lạc với các xe khác bằng máy bộ đàm. VŨ KHÍ TRANG BỊ Xe được trang bị Một khẩu pháo tự động 20mm M693 F1, sử dụng đạn HE và AP. Tốc độ bắn là 700 viên/phút, phạm vi hoạt động tối đa là 1500 m. Hạn chế của khẩu pháo này là nó không ổn định. Do đó AMX 10P không thể bắn chính xác khi đang di chuyển. Khẩu pháo tự động của AMX 10P có thể bắn xuyên giáp 20mm ở khoảng cách 1 000 m. Hệ thống điều khiển hỏa lực của xe gồm máy tính đường đạn và đo xa laze. Hệ thống truyền tín hiệu cặp song song trưởng xe, pháo thủ. Ngoài ra, xe còn được trang bị một súng máy đồng trục 7,62 mm (2000 viên đạn), tốc độ bắn là 900 viên/phút, tầm hoạt động hiệu quả là 1000m. Ở phiên bản chống tăng, xe được trang bị hai bệ phóng tên lửa chống tăng MILAN (10 tên lửa) có phạm vi hoạt động 2000m. CẢI TIẾN, NÂNG CẤP Tháng 10/2005, Cục trang bị vũ khí thuộc Bộ quốc phòng Pháp đã đề nghị Tập đoàn Nexter nâng cấp 108 xe thiết giáp AMX 10P và cung cấp mới 258 hộp số. Với việc tăng cường giáp của xe, kế hoạch này đã cải thiện đáng kể sức phòng thủ của phương tiện. Khả năng linh hoạt của chúng cũng được nâng cao bởi được tích hợp thêm hệ thống trục mới và một hộp số tăng cường. (http://www.armyrecognition.com/images/stories/europe/france/light_armoured/amx-10p_upgrade/pictures/Amx-10P_upgrade_nexter_armoured_infantry_fighting_combat_vehicle_French_Army_France_001.jpg) AMX-10P sau khi được Nexter nâng cấp THÔNG SỐ KỸ THUẬT - Trọng lượng : 15,3 tấn - Dài : 5,85m. - Rộng : 2,78 m - Cao : 2,57 m - Kíp lái : 3 người+8 binh lính. - Động cơ : Hispano - SuizaHS 115 276 mã lực. - Tốc độ : 65km/giờ - Tầm họat động tối đa : 600km/giờ. - Vũ khí : 1 súng tự động 20mm M693 F1, 1 súng máy 7,62mm, 10 tên lửa ATGW MILAN. - Khả năng lội nước : 8km/giờ. Tiêu đề: Re: Vài nét về Quân đội Cộng hòa Singapore Gửi bởi: BOM BI trong 30 Tháng Mười Một, 2011, 10:05:44 am CÁC PHIÊN BẢN - AMX 10P 25 ICV : Nguyên mẫu của AMX-10P 25 ICV được giới thiệu lần đầu tiên vào tháng 6 năm 1983. Nó được thiết kế dựa trên AMX-10P. Xe được lắp đặt tháp pháo một người. Trưởng xe ngồi bên trái của tháp pháo, ở vị trí của trưởng xe được bố trí năm kính tiềm vọng quan sát ban ngày và một kính ngắm khuếch đại hình ảnh quan sát ban đêm. (http://bemil.chosun.com/nbrd/files/BEMIL085/upload/2007/02/%20AMX-10ICV25_02.jpg) AMX 10P 25 ICV của Quân đội Singapore Được đặt ở trung tâm của thân xe là tháp pháo một người Dragar được trang bị một khẩu pháo tự động 25mm Model, cơ số đạn của khẩu pháo là 175 viên đạn HE và 45 viên đạn AP. Pháo 25mm có thể bắn ở nhiều chế độ khác nhau như phát một hay bắn theo loạt ngắn. Một khẩu súng máy 7,62 mm (với cơ số 200 viên đạn nạp sẵn) được gắn đồng trục với pháo 25 mm ở phía bên phải của tháp pháo. Vũ khí được điều khiển bởi pháo thủ trong thân xe. Xe được trang bị hệ thống ngắm quang học và điều khiển bắn (FCS) và hệ thống trinh sát khí tượng có khả năng cung cấp trực tiếp cho máy tính đường đạn bên trong FCS giúp tháp pháo có khả năng vận hành hiệu quả trong mọi thời tiết.Hệ thống quay của tháp pháo hoạt động bằng động cơ điện có khả năng quay 360 độ và nâng hạ tháp pháo từ -11 độ tới 48 độ. Hai bên tháp pháo được trang bị ba ống phóng lựu đạn cỡ nòng 76 mm mỗi bên. AMX-10P 25 ICV đã được Tập đoàn Nexter nghiên cứu phát triển theo đơn đặt hàng từ Quân đội Singapore. Quân đội Thổ Nhĩ Kỳ cũng đã đặt mua một số tháp pháo Dragar của Tập đoàn Nexter để trang bị cho các xe chiến đấu bộ binh sản xuất trong nước. - AMX-10 ambulance (xe cứu thương) : AMX-10 ambulance có thể chở 4 thương binh nằm cáng cứu thương hoặc 6 thương binh ngồi (hoặc 2 thương binh nằm và 3 thương binh ngồi) cùng với tổ lái 2 người và 2 lính quân y. AMX-10 ambulance có thể mang được nhiều thiết bị y tế cần thiết, xe được trang bị hệ thống điều hòa không khí, bốn bộ thiết bị cứu thương, hai bộ dụng cụ phẫu thuật, máy cung cấp oxy và thiết bị truyền máu. Xe cũng có một két nước sạch và bồn rửa. Ở sau xe cũng có 1 máng để đưa bệnh nhân trên cáng cứu thương vào xe nhanh và dễ hơn. AMX-10 ambulance không được trang bị vũ khí. - AMX-10P driver training vehicle (xe huấn luyện) : Ở phiên bản này tháp pháo loại bỏ và thay thế bằng vị trí quan sát của sĩ quan hướng dẫn. - AMX-10 ECH repair vehicle (xe phục hồi) : Xe được thiết kế để thực hiện nhiệm vụ cứu kéo các phương tiện chiến đấu hạng nhẹ, sửa chữa các hư hỏng tại chỗ, hỗ trợ bảo trì, bảo dưỡng phương tiện ngay trên chiến trường. Xe có khoang chứa vật tư phụ tùng phục vụ cho công tác sửa chữa, thay thế. Ngoài ra, xe còn được trang bị một 1 cần cần cẩu có thể nâng hạ 6 tấn, một tời kéo sau lưng xe , 1 bộ cung cấp năng lượng riêng và một máy hàn điện. Kíp lái 5 người (lái xe, trưởng xe và ba lính công binh). Tiêu đề: Re: Vài nét về Quân đội Cộng hòa Singapore Gửi bởi: BOM BI trong 02 Tháng Mười Hai, 2011, 08:07:27 pm M728 CEV (Tham khảo từ Inetres, FAS và vndefence.info) (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/f/f0/M728_Combat_Engineer_Vehicle_%28CEV%29.jpg) M 728 của Quân đội Singapore THÔNG SỐ - Năm sản xuất: 1965 - Vai trò: xe công binh - Tổ lái: 4 người - Trọng lượng: 53,3 mt - Chiều dài(lưỡi cày và cần trục ở vị trí đi đường): 8,91 m - Chiều dài(cần trục duỗi ra trước): 9,3 m - Chiều ngang: 3,71m - Chiều cao(nóc): 3,26 m - Chiều cao gầm: 381 mm - Động cơ: Continetal AVDS-1790 750 hp diesel - Truyền động: Detroit Diesel Allison CD850 2 số tiến, 1 số lùi - Dung tích bình nhiên liệu: 1419 l - Tầm hoạt động: 450 km - Tốc độ(đường): 48,3 km/h - Độ sâu lội: 1,2 m(không chuẩn bị)/ 2,4 m(có chuẩn bị) - Dốc đi thẳng: 31 độ - Dốc đi ngang: 22 độ - Vượt hào: 2,5 m - Vượt dốc thẳng đứng: 0,8 m (http://www.inetres.com/gp/military/cv/eng/M728/M728.gif) (http://www.inetres.com/gp/military/cv/eng/M728/M728_side.gif) (http://www.inetres.com/gp/military/cv/eng/M728/M728_overhead.gif) THIẾT KẾ M728 là loại xe công binh được thiết kế trên khung xe tăng M60A1 cung cấp khả năng bảo vệ tối đa cho tổ lái. Nhiệm vụ của M728 là dọn đường, phá chướng ngại vật, chuyên chở đội phá huỷ,… Mặc dù được thiết kế trên thân xe tăng và có một pháo nòng ngắn, M728 không phải là xe tăng và không nên được dùng để chống lại xe tăng kẻ thù. Nó có thể được dùng như một xe hổ trợ tấn công hạng nặng của lực lượng công binh phối hợp(tăng-thiết giáp-bộ binh). M728 được trang bị một lưỡi cày hoạt động bằng thuỷ lực gắn ở phía trước thân xe. Một bộ tời và cần trục được gắn vào tháp pháo để nâng, mang và kéo đồ vật, xe cộ. Cần trục được vận hành bằng thuỷ lực và có công suất 8,75 t(tăng gấp 2 nếu dùng dây đôi), tời có sức kéo 12,5 t(tăng gấp 2 nếu dùng dây đôi). Cáp là loại có đường kính 19mm, dài khoảng 61m. BẢO VỆ Giáp của M728 là loại giáp thép đồng nhất tương tự M60A1. Xe có hệ thống lọc khí hạt và hai bộ phóng lựu đạn khói M239(phiên bản sau) 6 ống phóng lựu đạn khói 66mm L8A1. Động cơ của xe cũng có thể tạo khói. HOẢ LỰC 1/ Pháo 165mm M135, 30 viên, tầm bắn 925m. Đạn 165mm của pháo M135 là loại đạn có đầy đủ thành phần cố định trong một viên đạn cho phép bắn ngay lập túc. Viên đạn bao gồm một kíp điện và thuốc phóng đựng trong vỏ đạn nối với đầu đạn có ngòi nổ. Vỏ đạn được đóng dính vào viên đạn. + Đạn M123E1 HEP(high explosive plastic) Chiều dài: 701mm Trọng lượng toàn bộ: 29,8 kg Trọng lượng đầu đạn: 28,3 kg Kíp đạn: M73 Ngòi đầu đạn: M62A1E1 BD (http://www.inetres.com/gp/military/cv/eng/M728/M123E1_HEP.gif) + Đạn M623 huấn luyện Chiều dài: 701mm Trọng lượng toàn bộ; 29,5 kg Đạn HEP rất hiệu quả d8ối với các công sự và mục tiêu làm bằng bê tông. Sức đẩy và kéo gây ra và khối lượng thuốc nổ lớn có thể huỷ diệt các vật cản và đánh sập tường. Một viên đạn có thể tạo một lổ có đường kính 0,3m trên bức tường bê tông dày 178mm. Hiệu quả đối với bong ke và công sự cũng rất cao, thường là nghiền nát toàn bộ bức tường. 2/ Súng máy 7,62mm M73 hoặc M240 đồng trục, 3600 viên 3/ Súng máy .50 cal M85 gắn trên vòng quay của lổ ra vào, 728 viên (http://www.inetres.com/gp/military/cv/weapon/M85/M85.gif) SỬ DỤNG M728 bắt đầu phục vụ vào năm 1965 với tổng cộng 291 chiếc. Một đại đội công binh thuộc sự đoàn thiết giáp hạng nặng hoặc quân đoàn bộ binh cơ giới có 2 chiếc M728. Đại đội công binh thuộc các lữ đoàn thiết giáp/bộ binh riêng biệt hoặc trung đoàn kị binh thiết giáp có 3 chiếc. M728 CEV đã tưng tham gia chiến dịch Bão táp sa mạt 1991. Trong chiến dịch này, nó cho thấy sự yếu kém trong việc di chuyển chung với các lực lượng hạng nặng khác. Nguyên nhân là do thân xe và động cơ M60 không thể cung cấp đủ tốc độ để bắt kịp với các loại tăng Abram và IFV Bradley nên thường bị bỏ lại ở hậu phương. Các xe M728 cũng gặp nhiều khó khăn trong bảo trì vì quá lỗi thời. Ngày nay, vai trò của M728 hiện đang bị lu mờ do dòng xe tăng Abram hiện đã có nhiều phiên bản dùng cho dọn đường cũng như loại đạn M908 HE-OR-T mới của xe tăng Abram có khả năng phá vật cản tốt hơn so với đạn 165mm HEP của M728. M728 cũng được xuất khẩu sang Oman, Singapore, Saudi Arabia và Portugal. Tiêu đề: Re: Vài nét về Quân đội Cộng hòa Singapore Gửi bởi: BOM BI trong 03 Tháng Mười Hai, 2011, 07:15:18 pm M113 (Tham khảo từ Inetres và vndefence.info) (http://i246.photobucket.com/albums/gg94/vndefence/M113/M113-07.jpg) LỊCH SỬ Tháng 1 năm 1956, một dự án chế tạo APC thách thức và mới mẻ được khởi xướng bởi ATAC(Army Ordnance Tank-Automotive Command/Bộ chỉ huy hậu cần tăng-ôtô quân đội, hiện nay là Tank-Automotive Command/TACOM/ Bộ chỉ huy tăng-ôtô). Yêu cầu đặt ra là chế tạo một loại APC nhẹ, có khả năng bơi và airdrop(thả từ máy bay bay sát mặt đất), tốc độ vượt địa hình ưu việt và khả năng được biến đổi với các gói nâng cấp/hoán cải để thực hiện nhiều công việc khác nhau cho các đơn vị thiết giáp và bộ binh. Những bản vẽ ý tưởng ban đầu nhanh chóng được hoàn thành và 1 thân xe mẫu được làm ở ATAC chỉ trong 90 ngày. Nó được trang bị một động cơ làm mát bằng khí của ban hậu cần và giáp làm từ các tấm nhôm cán. Việc sử dụng nhôm cho xe thiết giáp là một bước đột phá. Các cơ sở sản xuất nhôm đã hoạt động dưới công suất từ thời chiến tranh Triều tiên và các nhà sản xuất đang tìm kiếm các ứng dụng khác cho sản phẩm của họ đã gửi các mẫu giáp nhôm thử nghiệm đến quân đội để kiểm tra. Các cuộc kiểm tra cho thấy rằng để có cùng mức độ bảo vệ(với thép), thì giáp nhôm phải nặng tương đương và dày gấp 3 lần giáp thép. Tuy nhiên, vì nhôm được cho là có tính liên kết cao hơn thép ở cùng một trọng lượng nên nhiều vật nối, giằng, cột có thể được bỏ. Điều này làm giảm trọng lượng xe cũng như thời gian, công sức trong quá trình chế tạo, hàn, đồng thời làm tăng không gian bên trong xe. Thân xe mẫu cho các kĩ sư ATAC cơ hội để giải quyết vấn để trong thiết kế như các tấm nhôm, thiết kế và công suất của động cơ, bố trí trong xe và giới hạn trọng lượng. Kết quả thuận lợi của những thí nghiệm trên dẫn đến việc dự án được đưa ra đấu thầu vào tháng 6 năm 1956. Tháng 9, người thắng thầu là bộ phận quân nhu của tập đoàn FMC được giao hợp đồng phát triển và chế tạo các mẫu đầu tiên cho dòng xe không vận đa dụng. Trong chương trình, hai mẫu xe khác nhau đã được đưa ra. 5 nguyên mẫu giáp nhôm(T113) vận hành bằng động cơ làm mát bằng khí và 5 nguyên mẫu giáp thép(T117) vận hành bằng động cơ làm mát bằng chất lỏng.Các thân xe T113 và T117 được sản xuất và giao tới ATAC trong năm 1957. Trong giai đoạn này, nhiều phương án thiết kế thay thế cho nhau được thử và kiểm tra sử dụng giáp thép, giáp nhôm, động cơ làm mát bằng chất lỏng, động cơ làm mát bằng khí, bộ truyền động thương mại, bộ truyền động của ban hậu cần. Mỗi khi bắt gặp vấn đề, các giải pháp khác ngay lập tức được tìm kiếm. Các thiết kế và bộ phận nhiều triển vọng nhất được phát triển và đánh giá bởi FMC và ATAC. Làm việc với tập đoàn nhôm và hoá chất Kaiser và sử dụng những phương pháp hàn tiên tiến, FMC chế tạo T113 với sự kết hợp giữa giáp nhôm và động cơ làm mát bằng khí Continetal cung cấp kiểu xe nhẹ nhất và bảo vệ tốt nhất. Thiết kế thân xe bằng thép cũng được chế tạo với động cơ làm mát bằng nước Packard vì đây là phát triển của loại APC M59 và cũng là một phương án ít rủi ro. Bộ truyền động cho cả hai loại xe đều là loại Allison XTG-90. Trong quá trình kiểm tra, động cơ Packard được thay bằng động cơ Ford 368 UC trong các bước phát triển đầu tiên. Các vấn đề khác được bắt gặp vào lúc này, khó khăn trong việc làm mát được phát hiện ở động cơ làm mát bằng nước Ford đòi hỏi nhiều không gian cho khoang động cơ để làm mát. Mặt khác, động cơ làm mát bằng khí Continetal lại không thể hiện được như mong đợi. Xích 12 inch(30,48cm) được phát triển ban đầu thể hiện độ bền kém. Sau những thử thách, người ta thấy rằng thân xe bằng nhôm cung cấp khả năng chống đạn cao hơn, bền và có giá cả hiệu quả nhất. Từ những bài học từ nhóm nguyên mẫu đầu tiên, FMC tiếp tục phát triển hai loại nguyên mẫu mới là T113E1 và T113E2. những chiếc xe này được miêu tả là “khổ hạnh” vì để sửa chữa những sai sót trong các nguyên mẫu trước, chúng được thiết kế để có chi phí ở mức thấp nhất. Điều này bao gồm quyết định sử dụng động cơ(Chrysler A710B(tên thương mại) hay còn gọi là 75M(tên quân sự)) và hệ thống truyền động(Allison TX-200) thương mại trong sản xuất đại trà. Sự khác biệt trong điều khiển xe cũng được cho là không đáng kể vì hầu hết các thành phần đều làm theo mẫu loại xe APC M59. Mặc dù đã có giởi hạn về trọng lượng cho T113, hai kiểu thân xe khác nhau đã được phát triển. Cả hai đều có bề ngoài giống nhau nhưng có khác biệt về độ dày giáp và trọng lượng. Mục đích của việc chế tạo là để quyết định thông qua kiểm tra xem loại nào thể hiện tốt hơn và bền hơn để quân đội quyết định. Những phiên bản này đều mang xích rộng 15 inch(38,1 cm) bền hơn và thể hiện tốt hơn so với xích 12 inch. Bốn chiếc T113E1 và bốn chiếc T113E2 cùng với một bộ thân xe bảo vệ của mỗi loại được sản xuất. Sau khi thử nghiệm thành công, phiên bản T113E2 nặng hơn được chọn để sản xuất dưới tên gọi M113. Ba nguyên mẫu M113 được chế tạo lại để để thử các thiết bị và phương pháp sản xuất. Chiếc M113 APC đầu tiên được đưa ra khỏi dây chuyền sản xuất của FMC ở San Jose, California vào tháng 6 năm 1960, chỉ 3 năm 6 tháng kể từ ngày giao hợp đồng đầu tiên. Đơn đặt hàng đầu tiên của quân đội bao gồm 900 xe. (http://img820.imageshack.us/img820/3960/m113.jpg) MIÊU TẢ M113 là loại xe thiết giáp chở quân(armored personel carier/APC) bánh xích được thiết kế để chở một tiểu đội lính cùng với trang thiết bị của họ. Động cơ của M113 được đặt ở góc bên phải phía trước thân xe. Chiếc M113 đầu tiên được trang bị động cơ Chrysler V8 làm mát bằng nước chạy bằng xăng tạo ra 209 mã lực ở 4000 rpm. Đến phiên bản A1, động cơ xăng được thay bằng động cơ diesel Detroit 6V53 212 mã lực có thể hiện tốt hơn, tiết kiệm nhiên liệu hơn và phù hợp với yêu cầu tiêu chuẩn hoá 1 loại nhiên liệu cho xe quân sự hạng nặng của quân đội. Bởi vì trọng lượng của động cơ diesel lớn hơn nên chính phủ ra lệnh sử dụng hệ thống truyền động Allison XTG-90 có trọng lượng nhẹ hơn so với phiên bản cũ. Tuy nhiên sau khi nghiên cứu kĩ lưỡng, FMC quyết định dùng hệ thống truyền động thương mại TX100 có độ bền cao hơn nhưng ít chi phí hơn so với XTG-90. Chính phủ vẫn giữ vững ý định chỉ chấp nhận hệ thống truyền động XTG-90 và ra lệnh chế tạo nguyên mẫu sử dụng hệ thống truyền động đó. Trái lại, FMC vẫn cho răng TX100 là giải pháp tốt nhất và đã tự bỏ chi phí sản xuất một nguyên mẫu dùng hệ thống truyền động do mình gợi ý để chính phủ thử nghiệm. Những thử nghiệm nhanh chóng phát hiện nhiều vấn đề kỉ thuật nghiêm trọng của XTG-90 có thể đòi hỏi nhiều thiết kế lại với chi phí lớn. Cuối cùng, chỉ huy quân đội Mĩ quyết định dùng hệ thống truyền động TX100 và động cơ diesel cho phiên bản M113A1 đưa vào sản xuất năm 1964. Phiên bản M113A2(1979) vẫn giữ nguyên động cơ và truyền động của đời M113A1. Đến đời M113A3(1987), động cơ được thay bằng loại Detroit 6V53T 275 mã lực chạy bằng diesel, hệ thống truyền động là loại Allison X200-4. Xích xe rộng 15 inch(38,1 cm) và có các răng 6 inch(15,24 cm). Đáy của mắt xích được gắn các miếng cao su có thể tháo rời nhằm tăng khả năng bám đường và giảm tiếng ồn. Bởi vì các bánh đi đường được nâng hạ bởi các thanh xoắn giữ cố định và dao động ở một bên xe liên kết với bên còn lại nên hai sợi xích xe có sự khác biệt nhỏ về độ dài: xích bên phải bao gồm 64 mắt xích nhưng xích bên trái chỉ bao gồm 63 mắt xích. Mỗi bên thân xe có 5 bánh xe đi đường đôi. Chúng có đường kính 24 inch(60,96 cm), bao gồm phần đĩa bằng nhôm và lốp bằng cao su dày 2_1/8 inch(5,3975 cm). Trục bánh xe đầu và cuối được gắn với bộ giảm xóc thuỷ lực. Tuổi thọ của xích xe thường đạt 3000 dặm(4828 km) và đôi khi đạt tới 9000 dặm(14.484 km). Lái xe ngồi bên trái phía trước xe và có một hách ra vào mở về phía sau được gắn 4 kính quan sát. Xa trưởng có vị trí ở chính giữa thân xe và có một nắp vòm đơn giản gắn 5 kính quan sát. Ngay sau nắp vòm là một hách lơn ở trên khoang hành khách. 10 binh sĩ có thể ngồi quay mặt vào trong khoang trên 2 băng ghế. Khi không chở lính, các băng ghế có thể gập lại, cung cấp không gian khoảng 6,54 mét khối. Cuối xe có một cửa sập hoạt động bằng thuỷ lực tích hợp với một cửa ra vào riêng biệt. Cánh cửa sập được lái xe vận hành đóng mở. M113 có thể bơi mà không cần bất cứ chuẩn bị gì ngoài việc nâng tấm “trim vane” ở phía trước xe để ổn định khi bơi. M113 bơi trong nước nhờ sự chuyển động của xích. Các miếng che xích ở hai bên thân xe giúp tăng thể hiện của xe dưới nước. Hai bơm điện được gắn vào thân trước bên trái và thân sau bên phải. M113 có thể được chuyên chở bằng máy bay C-5, C-17, C-130, C-141 và có thể được thả dù, airdrop. (http://2.bp.blogspot.com/_0GQUt16TOQE/TF-ZMStnWpI/AAAAAAAAApI/3pYrQ3bqmks/s1600/37815_452133858528_89175368528_6048779_491479_n.jpg) Hệ thống phòng không tầm ngắn M - 113A2 Ultra Mechanised Igla của Quân đội Singapore, đây là phiên bản kết hợp giữa xe M113A2 với bốn tên lửa đối không Igla do Nga sản xuất. (Có thể tìm hiểu thêm về tên lửa phòng không Igla tại http://www.quansuvn.net/index.php?topic=228.20) Tiêu đề: Re: Vài nét về Quân đội Cộng hòa Singapore Gửi bởi: BOM BI trong 03 Tháng Mười Hai, 2011, 07:34:49 pm BẢO VỆ Thân xe được hàn toàn bộ của M113 là hợp kim(loại 5083) của nhôm, mangan và magie được sản xuất bằng phương pháp cán lạnh cho khả năng chống đạn súng cá nhân nhỏ và mảnh pháo. (http://i1017.photobucket.com/albums/af298/123456vn/M113_armor.png) Đời xe M113A3 được thêm vào lớp lót chống miểng ở bên trong xe. Ngoài ra, M113A3 còn có thể mang thêm giáp gia cố chống đạn 14,5mm ở 60 độ trước xe. Tất cả các dòng xe M113 đều có thể trang bị giáp gia cố chống mìn ở dưới gầm xe. Từ đời M113A2 trở đi đầu có thể mang giáp phản ứng nổ(ERA). Đời M113A2 có hệ thống lọc khí hạt M8A3, M13 hoặc M14. Đời xe M113A3 mang hệ thống lọc khí hạt M8A3 cùng thiết bị sưởi. (http://www.inetres.com/gp/military/cv/inf/M113/M8A3_nbc.gif) (http://www.inetres.com/gp/military/cv/inf/M113/M14_nbc.gif) Các bộ phóng lựư đạn khói 66mm được trang bị từ đời M113A2. Ngoài ra còn có các gói nâng cấp giáp(Add on Armor/AOA) các tấm thép có độ cứng cao bao quanh xe 360 độ, giáp thanh cản đạn RPG, giáp chắn đạn cho nắp vòm của xa trưởng và hách khoang chở hàng và giáp chống mìn dưới gầm xe. Giá một bộ AOA khoảng 109.000$(2007). (http://www.inetres.com/gp/military/cv/inf/M113/M113_shields.gif) HOẢ LỰC Vũ khí tiêu chuẩn của M113 là một khẩu súng máy hạng nặng .50cal M2HB gắn ở nắp vòm của xa trưởng. Khẩu M2HB nạp đạn từ hộp đạn 100 viên và có độ nâng hạ từ +53 độ đến -21 độ và có thể xoay 360 độ. Cơ số đạn trung bình là 2000 viên. Do được thiết kế “mở”, khẩu M2HB này có thể bị thay bởi súng phóng lựu tự động 40mm Mk19 hay các loại vũ khí tương tự khác như DShK, NSV,vv. (http://i246.photobucket.com/albums/gg94/vndefence/M113/M113-02.jpg) Hai bên sườn xe cũng có thể được lắp 2 súng máy 7,62mm. Binh sĩ trên xe M113 cũng có thể dùng các loại tên lửa chống tăng có điều kiển như M47 Dragon hay Javelin. Các hiên bản của M113 còn có thể trang bị pháo tự động 25mm, súng gatling 6 nòng 20mm, súng không giật, cối các loại, tên lửa chống tăng TOW, tên lửa phòng không… SỬ DỤNG Nhiệm vụ chính của APC là hoạt động như một chiếc taxi trên chiến trường. Nghĩa là APC sẽ chỡ lính đến một khoảng cách vừa đủ so với vị trí kẻ thù rồi đổ quân ra. Bộ binh sẽ di chuyển tiếp cận mục tiêu trong khi APC dùng vũ khí chi viện áp đảo kẻ thù từ một khoảng cách an toàn. Khoảng cách này thường vào khoảng vài trăm mét để làm giảm hiệu quả hoả lực chống tăng vác vai hoặc súng máy của địch. APC còn có thể được dùng để tuần tra, bảo vệ các đoàn vận tải hậu phương,vv. (http://i246.photobucket.com/albums/gg94/vndefence/M113/M113-08.jpg) PHIÊN BẢN Ban đầu, có khoảng 28.000 xe M113 đã được sản xuất với khoảng 12 phiên bản. Từ những phiên bản này, M113 được phát triển lên khoảng 40 phiên bản khác nhau với vài thay đổi nhỏ hoặc do các nước khác cải tạo để phù hợp với yêu cầu. Ngày nay, khoảng 80.000 chiếc M113 được hơn 50 quốc gia sử dụng. Ở phần này chỉ xin giới thiệu ba phiên bản chính của dòng M113. (http://i821.photobucket.com/albums/zz135/ttnt33vn/M113_spec.jpg) Tiêu đề: Re: Vài nét về Quân đội Cộng hòa Singapore Gửi bởi: BOM BI trong 03 Tháng Mười Hai, 2011, 08:19:17 pm M113 TRONG CHIẾN TRANH VIỆT NAM (http://i246.photobucket.com/albums/gg94/vndefence/M113/M113-01.jpg) M113 được thấy tham chiến lần đầu vào năm 1962 cùng với Quân đội VNCH(ARVN). Các cách sử dụng M113: - Chỉ đổ quân khi từ APC khi các vị trí của quân giải phóng bị hoàn toàn bỏ trống. - Khi đổ quân vào các ruộng lúa ngập nước, phần lớn ưu thế về tính di động bị mất. M113 chỉ có thể di chuyển với tốc độ 20 km/h ở địa hình này. - Dùng súng máy .50cal để giao chiến với VC ở tầm xa nhằm ngăn cản hoả lực RPG. Khi bắn súng máy .50, xa trưởng thường để phần đuôi của dây đạn xuống bên dưới nắp vòm. Ở trong khoang xe, đồng đội sẽ nối dây đạn này với dây đạn khác để đảm bảo hoả lực liên tục. Cùng lúc, các thành viên khác sẽ hổ trợ hoả lực từ trên hách của khoang chứa hàng, đồng thời đề phòng quân giải phóng lặn dưới nước thở bằng các ống cây sậy rỗng. Khi bị phát hiện thì đối tượng sẽ bị tiêu diệt bằng lựu đạn hoặc bị xe nghiền nát. - Mặc dù việc chiến đấu từ trên xe là khái niệm hoàn toàn khác xa so với học thuyết “xe taxi chiến trường” ban đầu và bị nhiều người phản đối, chiến đấu từ trên xe nhanh chóng lan rộng và được cả lực lượng Mĩ sử dụng. - Các địa hình M113 không đi được: các khu trồng mía, dừa, các khu vực gần sông, kênh rạch. - Các cánh đồng ngập lúa không ngập nước trong mùa mưa nên được tránh. - Vào mùa khô, mặc dù có thể di chuyển trên ruông lúa tốt hơn, nhưng những con đê vẫn tiêu tốn rất nhiều thời gian của M113 để vượt qua. Các chướng ngại này chỉ có thể được xử lí bằng bộc phá hoặc xây dốc lên xuống. Trong mùa mưa, các con đê này có thể bị nghiền nát dễ dàng nhưng trong mùa khô thì chúng được mặt trời làm cứng lại. - Các đơn vị thiết giáp Pháp nhiều năm trước đã biết cách quan sát trâu nước để biết khả năng chịu đựng của địa hình. Thường thì ở những nơi trâu nước ăn thì M113 có thể di chuyển an toàn, còn những nơi trâu bị ngập tới bụng thì M113 không thể. (http://i246.photobucket.com/albums/gg94/vndefence/M113/M113-04.jpg) Bởi vì khả năng di chuyển địa hình tốt và sự thiếu thốn vũ khí chống tăng của VC, M113 được sử dụng như một xe chiến đấu. Điều này có nghĩa là thay vì thực hiện bài bản của APC là chở lính, đổ quân và đứng im chi viện hoả lực thì M113 bây giờ được lái thẳng đến vị trí kẻ thù, bộ binh vẫn ở trên xe để giao chiến và khi đã đánh bật kẻ thù khỏi vị trí thì bộ binh mới bắt đầu xuống xe để chiếm giữ, lục soát. Ở các chiến trường khác, điều này có thể là tự sát vì một chiếc M113 chứa 13 người trên xe có thể là một miếng mồi ngon cho các loại súng máy hạng nặng hay súng chống tăng vác vai ở tầm độ vài trăm mét tở lại. Tuy nhiên, như đã nói, lúc này quân ta vẫn còn thiếu thốn các loại vũ khí chống thiết giáp như vậy. Các đơn vị Mĩ nhanh chóng phát triển khái niệm này và tăng cường cho M113 nhiều loại khí tài bao gồm tấm chắn đạn cho khẩu .50, súng máy M60 gắn ở hai bên sườn, bao cát và nhiều loại giáp tự chế khác được bố trí quanh xe như công sự để binh lính có thể chiến đấu mọi hướng từ trên xe. Điều này một phần là phản ứng sau trận Ấp Bắc tháng 1 năm 1963 khi mà có tối thiểu 14 xa trưởng/xạ thủ khẩu .50cal bị giết. (http://i246.photobucket.com/albums/gg94/vndefence/M113/M113-05.jpg) Các thay đổi như vậy thường khá tuỳ tiện và tuỳ thuộc vào các đơn vị riêng lẽ. nhưng đến khi Trung đoàn kị binh bọc thép số 11 có mặt vào năm 1966, đơn vị thiết giáp lớn nhất của Mĩ ở VN, các xe M113 của trung đoàn đã được trang bị gói nâng cấp “A” bao gồm giáp chắn đạn cho khẩu .50, giáp che 360 độ cho vị trí của xa trưởng và 2 súng máy M60 bên sườn cùng với tấm chắn đạn. Với cấu hình này, M113 trở thành Xe bọc thép tấn công kị binh(Armored Cavalry Assault Vehicle/ ACAV), một khái niệm được thiếu tá Martin D. Howell, chỉ huy của liên đội 1, Trung đoàn số 11 nêu trên. Ngoài ra còn có gói nâng cấp “B” chỉ bao gồm giáp cho súng máy và bao quanh 360 độ vị trí của xa trưởng, thường được dùng trên các xe chở cối. So với khái niệm IFV, ACAV có phần khác biệt, tuy nhiên đây lại là sự khác biệt để phù hợp với cách đánh ở Viêt Nam. So với các loại IFV như BMP-1, ACAV không có một loại hoả lực mạnh như khẩu pháo 73mm của BMP-1. Tuy nhiên, ở Việt Nam vào thời điểm đó, VC không có nhiều giáp nào nên hoả lực như khẩu 73mm có thể không cần thiết, vả lại công việc đấu tăng có thể được giao cho các xe tăng Patton và một số phiên bản M113 có thể được trang bị súng không giật, tên lửa chống tăng. Bù lại cho hoả lực mạnh, ACAV lại có hoả lực tổ hợp bao gồm 1 súng máy .50(đôi khi là cả súng phóng lựu 40mm) và 2 súng máy 7,62mm chưa kể đến các súng cá nhân của binh sĩ. Với các tấm giáp bảo vệ trên nóc, binh sĩ trên xe M113 có thể chiến đấu với kẻ thù ở 360 độ quanh xe một cách dễ dàng, không bị hạn chế mà vẫn có một phần giá bảo vệ. BMP-1 củng có các lổ châu mai trên thân xe và 4 hách lớn ở trên nóc để bộ binh chiến đấu từ trong xe, tuy nhiên điều này khá hạn chế so với ACAV vì các lổ châu mai này hướng xéo về phía trước nên việc giao chiến với kẻ thù ở bên hông hay xéo phía sau bên hông khá khó khăn. Các hách lớn trên nóc BMP-1 lại không có giáp bảo vệ cho bộ binh khi họ lộ diện ra chiến đấu như ACAV. Có thể nói đơn giản là: BMP nói riêng vả IFV nói chung thích hợp cho những cuộc chiến quy mô lớn tăng-TG đấu với tăng-TG. Còn ACAV thích hợp với kiểu đánh mà kẻ thù chỉ bao gồm bộ binh phân án ẩn nấp ở nhiều nơi. Điều này cũng được chứng minh là đúng trong chiến dịch Just Cause ở Panama, nơi mà M113 là loại vũ khí tấn công thành phố hiệu quả do binh sĩ trong xe có thể dễ dàng giao chiến với kẻ thù từ nhiều hướng, ở các tầng khác nhau của các công trình đô thị. Các chiếc ACAV không hề có tiêu chuẩn riêng. Có chiếc gói “A”, chiếc khác gói “B” nhưng vẫn được dùng như nhau. Khái niệm ACAV chỉ đúng với các xe được các đơn vị kị binh sử dụng. ACAV cũng trải qua nhiều thay đổi như tháo bỏ ghế ngồi trừ ghế của lái xe để lấy chổ chứa các thùng đạn ở giữa khoang xe. Cùng với đó là các balô, can đựng nước, thùng các-tông đựng khẩu phần ăn, đồ làm lạnh bia, nòng súng dự trữ, súng phóng lựu M79, vũ khí của tổ lái, bộc phá, lựu đạn, võng, thùng đựng đồ nghề và dây kéo. Điều này khiến cho không gian trong xe rất quan trọng. Các tấm chắn bùn cũng được tháo ra để tránh cho bùn đất đóng cứng vào. Ở hầu hết các đơn vị, sàn xe được lót bao cát để giảm hiệu quả của mìn. Để chống mìn tốt hơn nữa, ACAV còn được gắn giáp dưới bụng là các tấm titan. Trong các giai đoạn của cuộc chiến, M113 tỏ ra không thể bảo vệ hoàn toàn cho binh sĩ trước các loại đạn B-40, B-41, súng không giật 57mm, 75mm. Tuy nhiên, vào thời điểm chiến tranh Việt Nam, ngay cả xe tăng chủ lực như T-54/55, M41... củng không thể bảo vệ hoàn toàn trước các loại súng chống tăng vác vai như B-40, B-41 hay M72. Các loại APC tương tự của LX như BTR-50, BTR-60, MT-LB củng không tốt hơn M113 về giáp trong khi chúng lại to xác hơn M113. Trang bị cơ bản của một chiếc ACAV: 1 súng máy .50cal(12,7x99mm) M2HB, 2 súng máy 7,62mm M60. Tổ lái thông thường: lái xe, xa trưởng/ xạ thủ M2HB, 2 xạ thủ M60, 2 gười nạp đạn. Mọi thành viên đều có một súng M16 và dùng chung một súng phóng lựu M79 40mm. Cơ số đạn: 3500 viên .50, 8500 viên 7,62mm, 5000 viên 5,56mm, 150 viên đạn súng phóng lựu 40mm. Do đa phần các xe M113 đều bị quá tải, khả năng lội nước của xe bị giảm đi và ít khi được sử dụng. Tiêu đề: Re: Vài nét về Quân đội Cộng hòa Singapore Gửi bởi: BOM BI trong 04 Tháng Mười Hai, 2011, 01:53:01 am AMX 13 (Tham khảo Topic Xe tăng của thế giới của bác daibangden và một số trang web khác) (http://storm.webvis.net/scrap317.jpg) Xe tăng AMX 13 SM1 của Quân đội Singapore THÔNG SỐ KỸ THUẬT - Tên gọi: AMX-13 - Phân loại : Xe tăng hạng nhẹ - Kíp xe: 3 người - Khối lượng : 15 tấn - Chiều dài : 6,36m - Chiều rộng : 2,5m - Chiều cao : 2,3m - Khối lượng vũ khí: Pháo chính : thay đổi tuỳ theo phiên bản 1 súng máy 7,5mm - Độ dày giáp đầu: 40 - Độ dày giáp bên: 20 - Động cơ: SOFAM 8Gxb, bộ chế hòa khí, 250 sức ngựa - Tốc độ tối đa: 60km/h - Tầm hoạt động: 400km. LỊCH SỬ Năm 1946, Chính phủ Pháp ra quyết định thiết kế loại xe tăng hạng nhẹ có cấu trúc đặc biệt. Yêu cầu kỹ thuật phải đảm bảo loại xe tăng này khoảng 13 tấn để có thể vận chuyển bằng đường không. Tập đoàn Giat (nay là Tập đoàn Nexter) được giao thực hiện dự án này, Năm 1948, mãu thử nghiệm đầu tiên được lắp ráp hòan chỉnh và sẵn sàng cho các cuộc thử nghiệm. Sau 2 năm chạy thử, năm 1952, Pháp đã đưa vào sản xuất hàng loạt hơn 3.000 các xe tăng chiến đấu hạng nhẹ AMX 13 với nhiều thay đổi. Những chiếc AMX 13 đầu tiên chính thức được chuyển giao cho Quân đội Pháp vào năm 1953. Khung gầm của AMX 13 được sử dụng đế lắp đặt pháo 105mm, pháo 155mm và pháo tự động 30mm. Bằng cách trang bị thêm hệ thống phóng tên lửa chống tăng điều khiển SS-11 và hệ thống phóng tên lửa chống tăng điều khiển “HOT”, AMX 13 có thể được sử dụng để diệt tăng. Do trọng lượng nhẹ, AMX 13 còn đóng vai trò làm xe trinh sát. CẤU TRÚC Cấu trúc của AMX-13 khác hoàn toàn với các dòng xe tăng hạng nhẹ thông thường. Động cơ được bố trí phía trước xe, nằm tiếp sau là khoang điều khiển, cuối cùng là khoang chiến đấu. AMX-13 là xe tăng đầu tiên được trang bị hệ thống nạp đạn tự động cho pháo chính Vấn đề cân bằng cho xe tăng khi tác xạ được giải quyết bằng việc tiếp nhận tháp pháo kiểu đung đưa (oscillating) hay còn gọi là trục quay (trunnion). Nó gồm hai phần: trên và dưới. Phần dưới được lắp như tháp pháo trên các xe tăng thông thường. Phần trên với pháo chính được gắn vào hai trục nâng, có thể di chuyển theo phương thẳng cho pháo thủ khi ngắm mục tiêu. Điều đó cho phép ngoài việc bố trí 2 người thuộc kíp xe trong tháp pháo, có thể lắp thêm hai hộp tiếp đạn dạng xoay với 6 viên đạn trong mỗi hộp. Với sự trợ giúp này, cho phép pháo chính có khả năng nạp đạn tự động. Do sự giật về phía sau của nòng pháo, trong hộp tiếp đạn xảy ra sự xoay và đẩy (giải phóng) viên đạn tiếp theo – sẽ trượt và được đưa lên tang quay, có trục khớp với trục nòng pháo. Sau đó viên đạn được đẩy tự động vào nòng và thực hiện sự tác xạ. Sự tiếp nhận thiết bị này không chỉ cho phép tốc độ bắn của pháo đạt 10 đến 12 viên/phút mà còn rút gọn kíp xe xuống còn 3 người. Vị trí của lái xe được bố trí ba kính tiềm vọng để quan sát, xa trưởng ngồi ở bên trái của tháp pháo, được trang bị tám kính viễn vọng và ở vị trí của thủ có có hai kính viễn vọng. (http://www.chars-francais.net/new/images/stories/galery/1953_amx13-75/amx13%2075%202a%2002.jpg) Phiên bản thử nghiệm Char AMX-13 (2A) VŨ KHÍ TRANG BỊ Sự khác nhau giữa các xe tăng AMX-13 chủ yếu nằm ở kiểu tháp pháo và hệ thống vũ khí trang bị trên xe. Trên các phiên bản đầu tiên, AMX-13 lắp pháo FL-10 nòng rãnh xoắn 75mm, đến năm 1966 được thay thế bằng pháo 90mm với bộ hãm đầu nòng và thiết bị hút khói. Dành cho các quân đoàn thuộc địa, có AMX-13 với tháo pháo FL-11 trang bị pháo nòng ngắn 75mm. Dành cho xuất khẩu là AMX-13 với tháp pháo FL-12 với pháo 105mm, bắn được đạn pháo cùng loại với đạn pháo trên AMX-30, nhưng ít thuốc nổ hơn. Phiên bản cuối cùng trang bị tháp pháo FL-15, được thiết kế năm 1983 trên cơ sở FL-12 và được trang bị hệ thống điều khiển hỏa lực mới nhất, gồm có tổ hợp kính ngắm quan sát ngày và đêm của pháo thủ, máy đo xa laze và máy tính đường đạn. Trang bị hỗ trợ trên AMX-13 có súng máy 7,5mm, còn từ những năm 60, trên một số xe tăng được trang bị 4 hệ thống phóng tên lửa chống tăng điều khiển SS-11 (trên bộ phận đầu tháp pháo) hoặc 6 hệ thống phóng tên lửa chống tăng điều khiển “HOT”. TÍNH CƠ ĐỘNG AMX 13 được trang bị động cơ bộ chế hòa khí 8 xilanh 8Gxb do hãng SOFAM sản xuất với hệ thống làm mát bằng chất lỏng (nước) và hộp truyền động 5 tầng với các bộ đồng bộ. Cơ chế quay được thực hiện bởi bộ vi sai kép (đôi). Trong bộ phận truyền động mỗi bên thành xe có 6 trục nâng với hệ thống giảm sóc bên trong. Bánh dẫn động bố trí phía trước, bánh dẫn hướng, phía sau. Băng xích bằng thép với bản lề mở có những mắt xích có thể tháo rời. TÍNH AN TOÀN Vỏ thép của AMX-13 có thể chống được mảnh đạn, và với việc lắp thêm các diềm chắn hai bên thân xe có thể chịu được đạn xuyên giáp 20mm. Do AMX 13 không được trang bị hệ thống NBC nên xe không thể tham gia tác chiến trong điều kiện chiến tranh hóa học. SỬ DỤNG AMX 13 được các chuyên gia đánh giá là thiết kế thành công nhất của nước Pháp. AMX-13 được sử dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thế giới, đã có 7700 chiếc AMX 13 được sản xuất, 3400 trong số đó được bán ra nước ngoài. Tập đoàn Nexter đóng cửa dây chuyền sản xuất AMX 13 năm 1987. Hiện nay, AMX-13 có mặt trong thành phần lực lượng thiết giáp của 25 quốc gia, riêng Quân đội Pháp đã loại bỏ AMX 13 ra khỏi biên chế các đơn vị chiến đấu vào thập niên 1980. Tiêu đề: Re: Vài nét về Quân đội Cộng hòa Singapore Gửi bởi: BOM BI trong 04 Tháng Mười Hai, 2011, 03:14:27 am CÁC BIẾN THỂ (http://www.inetres.com/gp/military/cv/tank/AMX-13/AMX-13.gif) Pháp - AMX-13 kiểu 51 : Đây là phiên bản đầu tiên của AMX-13 được trang bị một pháo nòng xoắn FL-10 75mm, cơ số đạn là 37 viên, sử dụng đạn AP và HE. Ngoài ra, xe còn được trang bị một súng máy cỡ nòng 7,5mm hoặc 7,62mm (3600 viên đạn). Xe còn trang bị 4 hệ thống phóng tên lửa chống tăng điều khiển SS-11 trên bộ phận đầu tháp pháo hoặc 6 hệ thống phóng tên lửa chống tăng điều khiển HOT nằm trong ba hộp phóng ở hai bên tháp pháo. (http://www.inetres.com/gp/military/cv/tank/AMX-13/AMX-13_2v.gif) - AMX-13/90 kiểu 52 : Xe được trang bị pháo 90mm với bộ hãm đầu nòng và thiết bị hút khói. - AMX-13/105 : Xe được trang bị một pháo 105G1 105mm. - AMX 13 Bridgelayer : Xe dựng cầu bọc giáp là một thân xe AMX 13 nhưng không có tháp pháo. Thay vào đó là một chiếc cầu gấp có thể mở ra dài đến 14,01 mét. - AMX-VCI : Phiên bản xe thiết giáp chở quân. (http://quocphong.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/thuctap_qpcn/20111005/qp-thai-CHS-14.jpg) AMX VCI của Quân đội Cộng hòa Síp - AMX-13 CD kiểu 55 : Nhiệm vụ của AMX 13 ARV là lật lại hoặc tời kéo những xe thiết giáp, xe tăng bị lật, mất khả năng di chuyển. Tổ lái của xe gồm 3 người: xa trưởng, lái xe và 1 lính kỹ thuật. Xe được trang bị 1 bộ cung cấp năng lượng riêng, 1 cần cần cẩu , 1 tời kéo sau lưng xe và một khoang chứa vật tư phụ tùng phục vụ cho công tác sửa chữa, thay thế. Vũ khí của xe là 1 khẩu 7,62mm không điều khiển. - AMX-13 DCA : Phiên bản phòng không với pháo tự động 30mm. AMX-13 DCA được Pháp nghiên cứu, sản xuất vào năm 1966. Đây là hệ thống được thiết kế trên gầm xe tăng chủ lực AMX-13, được trang bị tháp pháo đúc và pháo tự động 30mm loại “Ispano” hoặc “Erlicon”. Thiết bị này bắt đầu gia nhập lực lượng vũ trang năm 1969. Cho đến khi chấm dứt việc sản xuất vào những năm 1980, đã có tổng cộng 60 thiết bị AMX-13 DCA được xuất xưởng, và là thiết bị phòng không tự hành duy nhất trong Quân đội Pháp. Trong hệ thống điều khiển hỏa lực gồm có ra đa DR-VC-1A “Orl-Noir”, được lắp phía sau tháp pháo. AMX 13 DCA được trang bị một động cơ bộ chế hòa khí làm mát bằng nước SOFAM 8Gxb 250 sức ngựa. AMX-13 DCA là hệ thống phòng không không tồi, mặc dù vào thời điểm này, chúng cũng phần nào trở nên lỗi thời. (http://www.inetres.com/gp/military/cv/tank/AMX-13/AMX-13_DCA_2v.gif) (http://www.armyrecognition.com/europe/France/vehicule_artillerie/AMX-13_DCA/AMX-13_DCA_decoupe.gif) - AMX 105mm Mk 61 : Phiên bản pháo tự hành. - AMX Mk F3 : Vào thập niên 1960, Quân đội Pháp bắt đầu thực hiện việc thay thế các lựu pháo M41 của Mỹ đang có trong biên chế bằng các thiết bị pháo tự hành nội địa. Loại pháo tự hành này được thiết kế trên gầm xe tăng AMX-13 và được biết tới nhiều với tên gọi AMX Mk F3. Thiết bị này được trang bị hai trụ chống phía sau, được thả xuống đất khi bắn nhằm tăng độ vững chắc cho pháo. AMX Mk F3 bắn đạn nổ 155mm tiêu chuẩn, ngoài ra còn có thể bắn được các loại đạn có động cơ tên lửa, đạn khói hoặc pháo sáng. Hệ thống bảo vệ khỏi vũ khí hủy diệt hàng loạt, đáng tiếc là không có. Xe được lắp đặt động cơ xăng 8 xilanh SOFAM 8Gxb 250 sức ngựa. Dây chuyền sản xuất AMX Mk F3 được ngừng hoạt động vào cuối thấp niên 1980. AMX Mk F3 đã được xuất khẩu sang nhiều quốc gia khác ở Nam Mỹ và Cận Động. Điểm yếu cơ bản của thiết bị này là giáp bảo vệ yếu, kíp xe chỉ có hai người. Các nhược điểm khác trong đó có việc khi nó muốn chuyển động lùi, cần có sự hỗ trợ của xe kéo chuyên dụng. (http://quocphong.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/thuctap_qpcn/20111005/qp-thai-CHS-15.jpg) Pháo tự hành 155mm AMX Mk F3 của Quân đội Cộng hòa Síp Singapore Năm 1969, Israel đã chuyển giao 72 xe tăng AMX 13 đầu tiên cho Quân đội Singapore. Sau một thời gian sử dụng, Quân đội Singapore nhận thấy cần nâng cấp những chiếc AMX 13 đã có phần lỗi thời để phù hợp với chiến tranh hiện đại. Công ty trách nhiệm hữu hạn chế tạo xe Singapore Automotive Engineering Ltd thuộc CIS đã được giao thực hiện việc nâng cấp. Tháng 6 năm 1988, chiếc AMX 13 đầu tiên được nâng cấp lên tiêu chuẩn SM1 đã được hoàn thành. Chương trình nâng cấp AMX 13 SM1 bao gồm : - Động cơ xăng ban đầu được thay thế bằng động cơ diesel Detroit 6V-53T 290 mã lực. Việc thay động cơ mất khoảng 50 phút. Việc trang bị động cơ mới giúp tăng phạm vi hoạt động cũng như khả năng cơ động của xe. - Hệ thống làm mát động cơ mới do hãng Gallay của Anh sản xuất. - Hộp số tự động 5WG-180 ZF mới với 5 số tiến và 2 số lùi. Hệ thống nạp đạn tự động mới. - Một máy phát điện phụ trợ. Máy phát điện này sẽ phục vụ hệ thống lái trợ lực, quay tháp pháo hay các khí tài điện tử khác trên xe. Việc trang bị máy phát điện riêng biệt với động cơ chính giúp AMX 13 SM1 có khả năng sống sót tốt hơn trên chiến trường ngay cả khi động cơ chính bị hỏng. - Hệ thống treo thanh xoắn được thay bằng hệ thống treo thủy lực kết hợp khí nén. Hệ thống treo mới giúp xe di chuyển tốt hơn trên địa hình gồ ghề. - Hệ thống vũ khí của AMX 13 bao gồm một pháo chính 75mm và một súng máy đồng trục 7,62mm được giữ nguyên sau khi nâng cấp lên chuẩn SM1. Ở một chiếc còn được trang bị thêm một súng máy 7,62 ở phía trước tháp pháo, khẩu súng này có thể được sử dụng bởi xa trưởng hoặc xạ thủ. Ngoài ra, xe còn được lắp đặt hai ống phóng lựu đạn khói hoạt động bằng điện ở hai bên tháp pháo. Hiện nay, 350 chiếc AMX 13 trong biên chế Quân đội Singapore đều đã được nâng cấp lên tiêu chuẩn SM1. (http://media.defenseindustrydaily.com/images/LAND_AMX-13-SM1_lg.jpg) AMX 13 SM1 Tiêu đề: Re: Vài nét về Quân đội Cộng hòa Singapore Gửi bởi: BOM BI trong 06 Tháng Mười Hai, 2011, 02:06:57 am Argentina (http://img140.imageshack.us/img140/129/tankpatagon2os2.jpg) Xe tăng AMX 13S của Argentina trang bị động cơ diesel KHD V8 260 mã lực sản xuất trong nước thay cho động cơ xăng SOFAM của Pháp. Xe được lắp đặt tháp pháo FL-12 với pháo 105mm. Ecuador (http://maquina-de-combate.com/fotos_y_videos/albums/Ejercito-del-Ecuador/AMX_13_ejercito_ecuador_0005.jpg) Năm 1988, Ecuador đã tiến hành nâng cấp toàn bộ 108 chiếc tăng AMX 13 đang có trong biên chế. Dự án nâng cấp được hoàn thành vào năm 1990. Gói nâng cấp bao gồm: - Trang bị hệ thống kiểm soát hỏa lực SOPTAC 18, hệ thống này bao gồm một máy đo xa laser và một máy tính đường đạn kỹ thuật số. - Thay thế động cơ xăng hiện tại bằng động cơ diesel 6 xi-lanh Magirus Deutz 350 mã lực. - Trang bị pháo CN105-57 (L44) 105mm mới, cơ số đạn là 34 viên (APFSDS-T, HEAT-T, HE). Venezuela AMX 13V : Venezuela đặt mua 36 xe tăng AMX-13 từ Pháp vào giữa những năm 1950. Cuối năm 1988, hãng Mecanique Creusot-Loire của Pháp đã tiến hành đại tu và hiện đại hóa xe tăng AMX-13 theo yêu cầu của Quân đội Venezuela. Việc nâng cấp AMX 13V cho Venezuela kết thúc vào cuối năm 1990. Gói nâng cấp AMX 13V của Venezuela khá giống gói nâng cấp AMX 13 SM1 của Singapore. (http://img511.imageshack.us/img511/8342/amx13desfilemborahw1.jpg) Gói nâng cấp AMX 13V bao gồm : - Trang bị động cơ diesel 6V-53T 280 mã lực. - Hộp số tự động. - Một máy phát điện phụ trợ. - Hệ thống treo thủy lực kết hợp khí nén. - Hệ thống điều khiển hỏa lực SOPELEM 18-02 SOPTAC và máy đo xa laser TCV-107. - Trang bị vũ khí gồm một pháo chính 90 mm và một súng máy đồng trục NF1 7,62 mm. - Hệ thống thông tin liên lạc Tadiran do Israel sản xuất. AMX 13 MLRS 160 : Phiên bản tên lửa bắn loạt. Ở phiên bản này tháp pháo của của AMX 13 được thay thế bằng hệ thống tên lửa bắn loạt MLRS do Israel sản xuất. 2 container chứa đạn 160mm LAR có tầm bắn 45 km được lắp đặt trên thân của AMX 13. Quân đội Venezuela có trong biên chế 25 xe loại này. (http://www.militaryimages.net/photopost/data/579/AMX13_LAR-160_2.jpg) AMX 13M51 Ráfaga : Phiên bản phòng không. Tháp pháo của hệ thống phòng không M42 Daster được lắp đặt trên khung gầm của AMX 13. Tháp pháo được lắp pháo phòng không nòng kép 40mm và một súng máy 7,62mm. Nhược điểm chính của phiên bản này là không có hệ thống ra đa điều khiển hỏa lực – xạ thủ phải quan sát mục tiêu bằng mắt thường. Ngoài ra, tháp pháo mở cũng làm giảm khả năng bảo vệ cho kíp xe. (http://s46.radikal.ru/i112/1104/04/2cf27f7803a1.jpg) Thụy Sĩ Leichter Panzer 51 : Phiên bản AMX 13 do Thụy Sĩ sản xuất theo giấy phép chuyển giao công nghệ của Pháp. 200 chiếc loại này đã được xuất xưởng. Những xe này mang số serial từ M-78200 đến M-78399. Leichter Panzer 51 phục vụ trong biên chế Quân đội Thụy Sĩ từ năm 1954 đến năm 1980. (http://www.panzerpesche.ch/data/images1/dsc01489_800x600.jpg) Hà Lan (http://www.jwdeboer.nl/pics/shots/nl/amx13_nl.jpg) Việc nâng cấp AMX 13 của Quân đội Hà Lan do hãng RDM Technolog đảm nhiệm. Gói nâng cấp bao gồm : - Trang bị hệ thống điều khiển hỏa lực mới, gồm có tổ hợp kính ngắm quan sát ngày và đêm của pháo thủ, máy đo xa laser và máy tính đường đạn. - Lắp đặt pháo 105mm mới. Peru AMX-13PA5 Escorpion : - Trang bị hệ thống thông tin liên lạc hiện đại. - Bốn tên lửa 9M14-2T Malyutka-2T do công ty Yugoimport SDPR của Serbia chế tạo, AMX-13PA8 Escorpion-2 : - Lắp đặt súng máy 7,62 mm và 12,7 mm mới. - Lắp đặt bốn tên lửa chống tăng Barrier R-2 của Ukraine ở hai bên tháp pháo. - Hệ thống ngắm - bắt bám mục tiêu tự động - dẫn bắn laser cho tên lửa Barrier R-2. - Hệ thống kiểm soát hỏa lực "Dante" (gồm tổ hợp kính ngắm quan sát ngày và đêm, máy đo xa laser và máy tính đường đạn) cho pháo CN 57 105mm. - Sử dụng đạn APFSDS-T. Israel AMX 13 Nimda : Công ty quốc phòng Nimda của Israel đã giới thiệu ra thị trường một gói nâng cấp toàn diện xe tăng AMX 13. Gói nâng cấp AMX 13 Nimda bao gồm : - Động cơ diesel Detroit 6V-53T 275 mã lực. - Hộp số tự động Nimda N303. - Trang bị hệ thống vũ khí mới. - Hệ thống điều khiển hỏa lực mới. - Hệ thống chữa cháy tự động. - Bổ sung giáp bảo vệ. (http://www.davidpride.com/Israeli_Armor/images/IL_Armor_04_213.jpg) Tiêu đề: Re: Vài nét về Quân đội Cộng hòa Singapore Gửi bởi: vespa trong 06 Tháng Mười Hai, 2011, 08:54:26 am Có thể nói Singapore là một quốc gia có tiềm lực quốc phòng hùng mạnh hàng đầu trong tất cả các nước Asean,cho dù diện tích đất nước và quân số nhỏ hơn rất nhiều trong các quốc gia khác { Asean } nhưng bù lại thì trang thiết bị quân sự hiện đại và có tính chuyên nghiệp rất cao, vì vậy Tất cả cơ sở huấn luyện của họ điều nằm tại Ấn độ và Úc.
_ Tại Ấn độ. (http://img845.imageshack.us/img845/1769/70809753.jpg) (http://imageshack.us/photo/my-images/845/70809753.jpg/) (http://img69.imageshack.us/img69/2782/71170682.jpg) (http://imageshack.us/photo/my-images/69/71170682.jpg/) (http://img607.imageshack.us/img607/935/15971096.jpg) (http://imageshack.us/photo/my-images/607/15971096.jpg/) (http://img217.imageshack.us/img217/9756/27258536.jpg) (http://imageshack.us/photo/my-images/217/27258536.jpg/) (http://img716.imageshack.us/img716/8219/15145174.jpg) (http://imageshack.us/photo/my-images/716/15145174.jpg/) Nhuồn Mp.net Tiêu đề: Re: Vài nét về Quân đội Cộng hòa Singapore Gửi bởi: vespa trong 06 Tháng Mười Hai, 2011, 09:03:11 am giúp sức với bạn tiếp tục.
(http://img714.imageshack.us/img714/6123/75478434.jpg) (http://imageshack.us/photo/my-images/714/75478434.jpg/) (http://img37.imageshack.us/img37/6426/77557324.jpg) (http://imageshack.us/photo/my-images/37/77557324.jpg/) (http://img534.imageshack.us/img534/3614/48020757.jpg) (http://imageshack.us/photo/my-images/534/48020757.jpg/) (http://img528.imageshack.us/img528/7803/30011669.jpg) (http://imageshack.us/photo/my-images/528/30011669.jpg/) (http://img155.imageshack.us/img155/7537/95416330.jpg) (http://imageshack.us/photo/my-images/155/95416330.jpg/) Nguồn Mp.net Tiêu đề: Re: Vài nét về Quân đội Cộng hòa Singapore Gửi bởi: BOM BI trong 07 Tháng Mười Hai, 2011, 07:07:51 pm Warthog (Bee.net.vn) THÔNG SỐ KỸ THUẬT - Hãng sản xuất: Singapore Technologies Kinetics - Chiều dài: 8,6 mét - Chiều cao: 2,2 mét - Chiều ngang: 2,3 mét - Tải trọng tối đa: 5,3 tấn - Động cơ: Caterpillar 3126B, 350 mã lực tại 2.400 vòng/phút - Hộp số tự động: Allison MD 3500 - Kíp lái, binh sỹ đi kèm: 12 (4 trước + 8 sau) - Tốc độ tối đa trên cạn: 65 km/giờ - Tốc độ chạy dưới nước 5 km/giờ Phiên bản xe chiến đấu bánh xích cao su Warthog (Lợn lòi) là sản phẩm mang đầy đủ tính năng của loại xe thiết giáp lội nước và là phiên bản mới nhất của xe trợ chiến đấu đa năng Bronco - sản phẩm liên kết giữa hai tập đoàn hàng đầu của Singapore là Singapore Technologies Kinetics và Defence Science & Technology Agency. Warthog được quân đội Anh đặt hàng Singapore sản xuất nhằm sử dụng trên chiến trường Trung Đông trong đội hình tác chiến của liên quân NATO. (http://bee.net.vn/dataimages/201004/original/images343337_0.jpg) Phiên bản Bronco phục vụ Lục quân Singapore. Về tính năng kỹ chiến thuật của, phiên bản Warthog không khác nhiều so với sản phầm trước đó là xe trợ chiến đa năng Bronco đã được trang bị và biên chế trong quân đội nước này. Warthog và sản phẩm Bronco trước đó đều hội tụ những tính năng của một xe thiết giáp có khả năng bảo vệ binh lính bên trong với độ an toàn cao, khả năng cơ động nhanh trên mọi địa hình. Mỗi xe chiến đấu Warthog có thể chở được tối đa 12 binh sỹ với đầy đủ trang thiết bị vũ khí và quân tư trang. Bronco có thể được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau như vận chuyển bộ binh chiến đấu trong các chiến dịch tác chiến trên bộ, gìn giữ hoà bình, viện trợ nhân đạo, quân y, hậu cần và hỗ trợ chiến đấu trực tiếp trên chiến trường. Hiện nay, các đơn vị lục quân Singapore đã được trang bị khoảng 600 xe chiến đấu Bronco. Lần đầu tiên loại xe chiến đấu được đưa vào biên chế trong quân đội Singapore là tháng 5/2001. Về phiên bản xe chiến đấu Warthog mới nhất hiện nay, tháng 11/2008, Bộ Quốc Phòng Anh đã lựa chọn tập đoàn Singapore Technologies Kinetics của Singapore để thực hiện hợp đồng chế tạo 100 xe chiến đấu Bronco với tên gọi mới là Warthog theo yêu cầu của London. Bản hợp đồng chế tạo 100 chiếc xe chiến đấu “Lợn lòi” này có tổng giá trị 150 triệu Bảng Anh. Số xe chiến đấu này sau khi được Singapore Technologies Kinetics chế tạo đã được bàn giao cho quân đội Anh vào cuối tháng 9 năm 2009. Toàn bộ số phương tiện dã chiến hiện đại này đã được lục quân Anh dùng để thay thế các chiến xa “đến tuổi nghỉ hưu”Vikings đã từng được quân đội nước này sử dụng trên chiến trường Afghanistan. Nhờ được trang bị hệ thống bánh xích chế tạo từ cao su tổng hợp, xe chiến đấu Warthog có thể chạy nhanh hơn các phiên bản xe chiến đấu cùng loại sử dụng bánh xích sắt của một số nước khác. Bánh xích cao su trên xe chiến đấu Warthog có tác dụng giảm trọng lượng, giảm áp lực tác động lên mặt đất giúp nó di chuyển nhanh hơn, đặc biệt là khả năng chạy trên các địa hình từ lầy lội bùn đất, tuyết, cát đến chạy trong môi trường ngập nước. Xe chiến đấu Warthog có hai thân nối với nhau bằng một hệ thống móc gắn khá đơn giản, phần không gian bên trong hai thân khá rộng, khả năng cơ động cao, chuyên chở được nhiều, đồng thời nó có khả năng chống tại sự công phá của một số loại mìn bộ binh thông thường. Warthog sử dụng hệ thống lái cơ khớp thuỷ lực, đặc điểm này giúp nó chạy ổn định hơn khi leo dốc hay đổ đèo trên các địa hình mấp mô. Warthog có thể chạy với tốc độ tối đa 65 km/giờ trên địa hình bằng phẳng. (http://bee.net.vn/dataimages/201004/original/images343339_00.jpg) Phiên bản xe chiến đấu Warthog chế tạo theo đơn đặt hàng của Bộ Quốc Phòng Anh. Warthog có thể chở được khối lượng hàng hoá, thiết bị quân sự nặng 5 tấn. Nó có thể chạy dưới nước với tốc độ 5 km/giờ.Trong môi trường nước ngập, tài xế điều khiển Warthog không bị che khuất tầm nhìn do 4 cần gạt trên 2 ô cửa kính chắn gió hoạt động liên tục. So với phiên bản Bronco, Warthog có thêm một số chi tiết phụ khác như hệ thống khung lưới bảo vệ Platt MR50 bao phía trước, hai sườn; bình nhiên liệu phụ gắn bên ngoài có thể tháo lắp khi cần. Warthog có thể được gắn các trang thiết bị cũng như vũ khí tuỳ theo yêu cầu khách hàng đặt mua. Khi được bàn giao cho quân đội Anh, tập đoàn Thales của nước này cũng đã tiến hành lắp đặt các thiết bị thông tin liên lạc và vũ khí chiến đấu riêng để phù hợp cho nhu cầu tác chiến của quân đội Anh trên chiến trường Afghanistan. (http://bee.net.vn/dataimages/201004/original/images343344_3.jpg) Tiêu đề: Re: Vài nét về Quân đội Cộng hòa Singapore Gửi bởi: BOM BI trong 10 Tháng Mười Hai, 2011, 03:28:44 pm 2. Pháo binh - Tên lửa M142 HIMARS (Tham khảo từ Army-Tachnology.com) (http://2.bp.blogspot.com/-ZpKVAYiSl84/TfxvajHAGHI/AAAAAAAAAwk/nVQfXicOFJM/s400/NDP+2011+CR+18Jun2011+070b.JPG) M142 của Quân đội Singapore M142 HIMARS (High Mobility Artillery Rocket System - Hệ thống pháo rocket cơ động cao) là biến thể hạng nhẹ của loại MLRS M270 nổi tiếng. M142 được bắt đầu nghiên cứu vào năm 1996 và đưa vào sản xuất với qui mô nhỏ năm 2003. M142 được đưa vào biên chế quân đội Mĩ năm 2005 trong các đơn vị lính dù và thủy quân lục chiến. Hiện tại có tổng cộng 900 đơn chiếc đã và đang được sản xuất để cung cấp cho quân đội Mĩ, ngoài ra còn sản xuất theo các đơn đặt hàng của nước ngoài. Theo tạp chí quân sự Jane's military and rockets, các tổ hợp HIMARS đã được Mĩ chuyển giao cho Quân đội Singapore từ tháng 8-2010. Tiếp đó, từ ngày 10 tới 21-11-2010, Tiểu đoàn pháo binh số 23 thuộc Quân đội Singapore đã tiếp nhận tổ hợp vũ khí nói trên và tiến hành bắn thử trong khuôn khổ cuộc tập trận Daring Warrior tại căn cứ quân sự Fort Sill, bang Oklahoma (Mỹ). Tháng 9-2007, Cơ quan phụ trách hợp tác quốc phòng và an ninh (DSCA) thuộc Lầu Năm góc đã đệ trình lên Quốc hội Mỹ hợp đồng bán cho quân đội Singapore tổ hợp pháo phản lực bắn loạt M-142 HIMARS trị giá 330 triệu USD. Theo điều kiện của hợp đồng, ngoài việc chuyển giao các tổ hợp HIMARS, phía Mỹ cung cung cấp cho quân đội Singapore đạn rocket, dịch vụ hậu cần cho các tổ hợp vũ khí nói trên. Tổng cộng phía Singapore sẽ được chuyển giao 18 tổ hợp HIMARS. Trong biên chế quân đội quốc gia Đông Nam Á này, các tổ hợp HIMARS sẽ được biên chế thành 3 đại đội thuộc lực lượng lục quân. THÔNG SỐ - Nhà sản xuất: Lockheed Martin - Năm đưa vào trang bị : 2005 - Tổ lái: 3 người(chỉ huy, xạ thủ, lái xe) - Chiều dài: 7m - Chiều rộng: 3,2m - Chiều cao: 2,4m - Trọng lượng đầy: 10.880kg - Động cơ: 290 mã lực - Tốc độ di đường: 85km/h - Tầm hoạt động: 480km CẤU TRÚC M142 được đặt trên khung xe MTV (Medium Tactical Vehicle/Xe tải hạng trung tầm gần) 6x6 nặng 5 tấn với động cơ 290 mã lực. Trước xe là cabin khoang lái kèm chỉ huy có chổ cho 3 người. Một module cơ cấu phóng-nạp(LLM) đặt trên thân sau xe. Cabin của xe được chế tạo từ các tấm giáp nhôm cung cấp khả năng chống đạn cho tổ lái. Nó cũng được trang bị thiết bị lọc khí M13A1 chống NBC. M142 có hai cấu hình chính. Mĩ có một hệ thống phóng cho phép phóng cả rocket lẫn tên lửa, trong khi hệ thống của các quốc gia khác chỉ có thể phóng rocket. Sự khác biệt giữa hai hệ thống là PIM (Payload Interface Module - Module giao diện cho đạn (đạn ở đây được hiểu là rocket hoặc tên lửa) và SRP/PDS (Stabilization Reference Package/Position Determining System - Gói ổn định/Hệ thống xác định vị trí) mới và SPAPS (Software Special Application Packages - Gói ứng dụng phần mềm đặc biệt). Phía sau xe là module cơ cấu phóng/nạp (Launcher/Loader Module - LLM) bao gồm hai phần: phần cơ khí và phần điện tử. Các phần này hoạt động cùng với nhau để thực hiện các chức năng bắn hoặc không bắn. Phần cơ khí của LLM Phần này bao gồm gầm, tháp pháo và các thành phần của hộp chứa. Phần gầm là nơi đặt LLM lên trên. Cả phần tháp pháo và gầm là nơi chứa các bộ phận điện tử và thuỷ lực của hệ thống lái cơ cấu phóng (Launcher Drive System - LDS) điều khiển việc xoay và nâng LLM. Các thành phần của hộp chứa thực hiện hai công việc quan trọng. Thứ nhất, cấu trúc hộp chứa sắp hàng, giữ và bảo vệ cho các pod phóng. Thứ hai, các thành phần cần trục và tời của hộp chứa cung cấp khả năng tự nạp vào hoặc lấy ra các pod phóng. Tiêu đề: Re: Vài nét về Quân đội Cộng hòa Singapore Gửi bởi: BOM BI trong 10 Tháng Mười Hai, 2011, 07:12:47 pm Phần điện tử của LLM Phần này bao gồm ba hệ thống con : nguồn điện chính, hệ thống thông tin liên lạc, và hệ thống điều khiển hoả lực(Fire Control System - FCS). - Nguồn điện chính : Là nguồn cung cấp năng lượng cho mọi trang bị của dàn phóng (dàn phóng ở đây nghĩa là toàn bộ xe M142). Phần này dùng các ắc qui chì axit tiêu chuẩn quân đội để cung cấp nguồn điện 24 V. Nó cũng đảm nhận việc phân phối điện qua các công tắc. - Hệ thống thông tin liên lạc : bao gồm 12 radio FM bảo mật và một thiết bị kiểm soát lựa chọn điều khiển kiểu liên lạc(Communication Mode Selector Control - CMSC) của hệ thống radio liên lạc địa/không một kênh (SINCGARS) AN/VRC-92A có khả năng liên lạc bảo mật (COMSEC - Communication Security) ngầm. CMSC sẽ phát hiện một tín hiệu đi tới, phân tích xem nó là tín hiệu điện tử hay lời nói và tự động đưa vào radio FM bảo mật ở đúng kiểu rồi giải mã. CMSC có thể không cần thiết nếu sử dụng SINCGARS có COMSEC ngầm. Mỗi thành viên tổ lái đều có một mũ dành cho tổ lái xe chiến đấu (Combat vehicle Crewman - CVC) nối với hệ thống liên lạc nội bộ AN/VIC-1. - FCS : Có chức giám sát, phối hợp và kiểm soát tất cả các thiết bị điện sử dụng trong quá trình phóng. FCS bao gồm bảng điều khiển hoả lực (Fire Control Panel - FCP), bộ linh kiện điện tử (Electronics Unit - EU), bộ điều khiển hoả lực (Fire Control Unit - FCU), thiết bị điều khiển cần trục (Boom Controller - BC), các thiết bị kiểm tra ngắn/không điện áp (Short/No-Voltage Testers - SNVT), SRP/PDS, PIM, bộ nạp chương trình chương trình (Program Load Unit - PLU) và thiết bị xử lí thông tin liên lạc (Communication Processor - CMP). + Bảng điều khiển hoả lực (FCP) : Được đặt chính giữa cabin, ngay trước ghế ngồi của xạ thủ, có một bàn phím để nhập các thông tin về chiến dịch và menu lựa chọn các thông điệp. Bảng điều khiển còn có các màn hình hiển thị kí tự và số bằng ngôn ngữ đơn giản. Bên cạnh các phím là các đèn báo của hệ thống tự kiểm tra cho các LRU (Line Replaceable Unit). Điều này cho phép nhanh chóng phát hiện và cách li các sai sót của FCS. + Bộ linh kiện điện tử (EU) : Bộ linh kiện điện tử chứa các chương trình máy tính và các linh kiện điện tử xử lí thông tin có chức năng nhận, tính toán và đưa ra các thông số của nhiệm vụ. EU cũng chứa tất cả các file về vũ khí và dữ liệu chiến dịch cho các chương trình phóng và tính toán đạn đạo trong bộ nhớ “bong bóng” (vĩnh viễn, không bị mất). Tuy nhiên, chỉ có các chương trình về đạn (đạn ở đây là rocket hoặc tên lửa) được đưa vào RAM của EU mới có thể được FCS dùng để tính toán dữ liệu phóng và các nhiệm vụ khác. EU tự động nhận diện loại đạn và copy các file vũ khí cần thiết từ “bong bóng” vào RAM. Nếu chương trình phù hợp không được đưa vào, tổ lái có thể dùng PLU để đưa các dữ liệu về đạn vào EU. + Bộ điều khiển hoả lực (FCU) : FCU chứa các mạch điện tử chuyển các tín hiệu đầu ra của EU thành các tín hiệu điều khiển cho các thành phần khác của dàn phóng. Nó cũng có thể chuyển các thông tin đầu vào của các thành phần khác thành tín hiệu mà EU có thể dùng. + Thiết bị điều khiển cần trục (BC) : BC cho phép điều khiển từ xa việc nạp đạn vào, ra và giữ yên vị trí LLM để bảo trì. + Các thiết bị kiểm tra ngắn/không điện áp (SNVT) : SNVT là một thiết bị kiểm tra built-in được dùng trong quá trình nạp đạn. Nó được dùng để kiểm tra những sợi cáp trung tâm FCS W19 nếu bị mất sức điện động hay có tình điện. SNVT đảm bảo các dây cáp an toàn để nối vào các pod chứa đạn. + Gói ổn định/Hệ thống xác định vị trí (SRP/PDS) : SRP/PDS bao gồm hai hệ thống con tích hợp với nhau nhưng được để ở hai khoang riêng biệt. SRP dùng la bàn hồi chuyển chạy điện, cung cấp hướng, độ nâng và độ nghiêng của dàn phóng. PDS dùng hai máy ghi và dữ liệu về phương hướng của SRP để xác định vị trí. + Module giao diện cho đạn (PIM) : PIM cung cấp năng lượng và giao diện cho việc liên lạc giữa pod phóng và EU. Các thông tin đầu vào ban đầu của chương trình đạn của EU đòi hỏi phải dùng đến PLU và PIM. + Bộ nạp chương trình chương trình (PLU): PLU là một thiết bị điện tử dùng để lập chương trình bộ nhớ của EU. PLU mang một băng cassette chứa các dữ liệu về chương trình hoạt động. PLU nối với EU thông qua cáp kết nối W31P2 của PIM. Khi FCS được bật lên, PLU sẽ download các dữ liệu từ cassette vào bộ nhớ của EU. Mỗi băng cassette có 4 MB bộ nhớ. PLU được dùng để dăng nhập các chương trình về đạn cần thiết trong băng cassette. PLU cầm tay được trang bị cho các trung đội khai hoả để lập chương trình hoặc thay đổi các chương trình của EU. PLU cần ít nhất từ 22-25 phút để chuyển toàn bộ dữ liệu của băng cassette. + Thiết bị xử lí thông tin liên lạc (CMP) : CMP kiểm soát các dòng thông tin âm thanh mã hoá chứa thông điệp được gửi và nhận bởi giao diện liên lạc của FCS. Nó được thiết kế để đảm bảo FCS không tiếp nhận hay bị quấy nhiễu bởi các thông điệp điện tử không có ý gửi đến dàn phóng. Nó cũng từ chối các tín hiệu yếu hay không rõ nguồn gốc. Tiêu đề: Re: Vài nét về Quân đội Cộng hòa Singapore Gửi bởi: BOM BI trong 10 Tháng Mười Hai, 2011, 09:14:10 pm Cách hoạt động của FCS FCS cung cấp đường truyền giữa tổ lái, các nguồn thông điệp điện tử từ bên ngoài và các thành phần cơ cấu phóng. Nó thực hiện những hoạt động chính sau đây : - Giám sát và tích hợp các các dữ liệu từ các cảm biến trên xe - Liên kết với hệ thống liên lạc, cung cấp giao diện điện tử giữa tổ lái và các phần tử chỉ huy và kiểm soát - Giám sát tình trạng các kiểm tra do các cảm biến trên xe tự kiểm tra tự động(built-in) - Cho phép tổ lái kiểm soát các thành phần cơ cấu phóng - Tính các dữ liệu bắn cho mọi nhiệm vụ khai hoả - Đưa LLM vào vị trí và lên ngòi nổ cho đầu đạn. - Kiểm soát các hoạt động của LLM. FCS nhận các thông tin đưa vào theo các cách: - Các dữ liệu về nhiệm vụ hiện tại được đưa vào tự động từ các thông điệp âm thanh mã hoá hay nhờ tổ lái nhập vào bàn phím FCP. - Chương trình đạn hiện tại được đưa từ cassette qua PLU. Liện lạc dữ liệu là cách thường xuyên được dùng để đưa thông tin đầu vào vào FCS. Thông qua radio, FCS có thể liên lạc điện tử với FDS của trung đội hay khẩu đội/tiểu đoàn FDS/FDDM. FCS có thể nhận các thông điệp có định dạng HIMARS và MET cũng như SYS, PTM. Liên lạc điện tử bảo mật giữ TACFIRE, hệ thống tự động hoá hổ trợ hoả lực ban đầu (Intial Fire Support Automation System - IFAS), TACFIRE nhẹ (LTACFIRE) hay hệ thống hổ trợ hoả lực thuỷ quân lục chiến (Marine Corps Fire Support System - MCFSS) và FCS của dàn phóng phải được đưa qua FDS/FDDM bởi vì định dạng của các thông điệp không tương thích với nhau. FCS cho phép tổ lái gửi và nhận các thông điệp có định dạng hoặc chỉ nhận các thông điệp free-text. Cách thức liên lạc chính là truyền dữ liệu qua radio FM bảo mật. Tuy nhiên, cũng có cách khác là liên lạc bằng giọng nói bảo mật FM như là một biện pháp dự phòng trường hợp việc truyền dữ liệu gặp sự cố. Tổ lái trong trường hợp này phải tự nhập các thông số qua bàn phím của FCS. EU tự động giám sát, tích hợp và tính toán các dữ liệu từ các bộ phận khác của FCS. Nó liên tục giám sát các dữ liệu SRP/PDS và tính toán hường di chuyển của dàn phóng, vị trí và độ cao. FCS sẽ xác định các dữ liệu khai hoả khi thông tin về mục tiêu đã được nhận. Khi tổ lái nhập vào dòng lệnh nhiệm vụ thích hợp, FCS sẽ chỉ huy LLM điều chình góc phương vị và góc nâng, đặt thời gian cho ngòi hay lập chương trình cho đầu đạn. FCS sau đó bắn rocket hoặc tên lửa khi được lệnh của xạ thủ thông qua FCP. FCS liên tục kiểm tra các bộ phận bên trong của nó và của LLM. Những kiểm tra này được thực hiện xuyên suốt quá trình bắn. Nếu có sự cố được phát hiện, tổ lái sẽ được thông báo bằng thông điệp báo lỗi hoặc qua LRU/BIT ở FCP. FCS hiện nay hoạt động trong năm định dạng ngôn ngữ: Anh-Anh, Anh-Mĩ, Đức, Pháp và Ý. Tiêu đề: Re: Vài nét về Quân đội Cộng hòa Singapore Gửi bởi: BOM BI trong 10 Tháng Mười Hai, 2011, 09:25:52 pm CÁC LOẠI ĐẠN Rocket Rocket của HIMARS là loại phóng bằng ống, ổn định xoay, bay tự do. Rocket được lắp ráp, kiểm tra, đóng gói trong các ống hai công dụng (chứa & phóng) ở nhà máy. Thiết kế này giúp cho việc nạp và bắn không cần đến nhiều thao tác của bộ binh. Các phần chính của rocket bao gồm : các cánh ổn định, phần phóng và phần đầu đạn. Rocket được phóng bằng một motor nhiên liệu rắn. Một sợi cáp xuyên qua phần đuôi của ống phóng, nối FCS với bộ phận đánh lửa. Motor được đánh lửa bằng một tín hiệu chỉ huy điện từ FCS. Mỗi rocket được đóng gói với 4 cánh gập vào và được giữ bằng một đai bằng dây. Khi mà rocket bắn ra trong quá trình khai hoả, thiết bị giật dây sẽ kích hoạt một lượng nổ nhằm cắt đứt đai bảo vệ. Sau khi rocket rời khỏi ống phóng, lượng nổ kích hoạt và cắt đứt đai. Điều này giúp cho các cánh bật ra và khoá cứng lại. Các hộp chứa rocket M28 và M28A1 còn có một thiết bị phụ trợ giúp thả các cánh ồn định để đảm bảo cho rocket được hoạt động đúng. Rocket sẽ bay theo một đường đạn đạo, tự do (không dẫn đường) để đến mục tiêu. Lực đẩy của mỗi rocket là như nhau nên tầm bắn của rocket tuỳ theo độ nâng của LLM. Bốn cánh ổn định ở duôi rocket giúp đảm bảo độ ổn định trong khi bay bằng cách xoay ngược chiều kim đồng hồ liên tục. Lực xoáy lúc rocket ra khỏi ống phóng được tạo thành nhờ các rãnh ở mặt trong ống phóng. - M26 : Là loại rocket cơ bản của M142. Đầu đạn của rocket M26 hoạt động nhở một ngòi hẹn giờ M445 được lên ngòi bởi FCS trước khi đánh lửa motor. Khi đến vị trí đã định, ngòi nổ kích nổ một lượng nổ trung tâm khiến cho các vỏ rocket bằng nhựa tổng hợp bên ngoài phần đầu đạn tách ra khỏi thân rocket, các đạn con rơi ra ngoài và rải xuống vị trí mục tiêu. Một rocket M26 chứa 644 đạn con M77 có thể bao phủ 0,23 km2. Diện tích bao phủ trung bình của một loạt 12 rocket, với một số diện tích chồng lên nhau có thể từ 120.000 mét vuông đến 200.000 mét vuông tuỳ theo khoảng cách. Rocket M26 được chứa trong pod chứa/phóng có tuổi thọ khoảng 15 năm. (http://www.globalsecurity.org/military/library/policy/army/fm/6-60/fig1-4.gif) - M26A1/A2 : Còn có tên là ER (extended range - kéo dài tầm). M26A1/A2 cũng tương tự như M26 cơ bản, chỉ khác ở chỗ kéo dài chiều dài khoang motor và rút ngắn chiều dài khoang đầu đạn. Vì thế M26A1/A2 có tầm bắn xa hơn nhưng mang ít đạn con hơn M26 đời đầu. M26A1 mang đạn con M85 còn M26A2 mang đạn con M77. Điểm đặt biệt đó là tuy rocket M26A1 được thiết kế trước, nhưng M26A2 lại là phiên bản kéo dài tầm ra đời đầu tiên. Nguyên nhân là vì rocket M26A1 được thiết kế để mang đạn con M85, nhưng do thiết kế chậm nên phải đến tận 1999 thì đạn con M85 mới sẳn sàng cho sản xuất. Để giảm sự chậm trễ, Mĩ quyết định đặt ra phiên bản M26A2 mang đạn con M77 có sẳn của rocket M26 cơ bản. Rocket M26A2 được trang bị đầu tiên cho các đơn vị Mĩ ở Hàn Quốc vào quí 4 năm 1999. Số lượng rocket ước đạt khoảng 4300 quả. Cùng năm 1999, một số lượng rocket M26A2 được giao cho quân đội Hàn Quốc(quí 2) và Bahrain(quí 3). Trong số 4300 rocket kéo dài tầm được sản xuất cho quân đội Mĩ thì có khoảng 1200 rocket là loại M26A1. - M27 : Là phiên bản huấn luyện. M27 hoàn toàn chỉ là một thiết bị điện tử dùng để mô phỏng quá trình nạp và khai hoả. - M28 : Là phiên bản huấn luyện của rocket M26. M28 thay thế khoang đầu đạn của M26 với đồ dằn bằng thép và ba đạn khói. - M28A1 : Là phiên bản huấn luyện RRPR (Reduced Range Pratice Rocket - Rocket huấn luyện giảm tầm). M28A1 có tầm bắn 8-15km. Loại rocket này có đầu phẳng, sức cản cao và thuốc tạo khói khi chạm đất. Motor của M28A1 tương tự với M28 và M26. - M29 : Là loại rocket được trang bị đạn con SADARM (Sense and Destroy Armor - Tìm và diệt thiết giáp). - XM315 : Là loại đạn hoá học hai thành phần dùng cho chiến tranh hoá học. XM135 chứa hai loại hoá chất không độc hại, nhưng được trộn với nhau sau khi phóng để tạo thành chất độc thần kinh chết người VX. Cả hai loại rocket XM29 và XM135 được phát triển trong những năm cuối thập kĩ 80, đầu 90 tuy nhiên không được sản xuất để sử dụng rộng rãi. - AT2 : Là loại rocket chứa 28 mìn chống tăng. Phiên bản này do Đức sản xuất. Tiêu đề: Re: Vài nét về Quân đội Cộng hòa Singapore Gửi bởi: BOM BI trong 10 Tháng Mười Hai, 2011, 09:33:57 pm Tên lửa Tên chính thức : ATACMS (Army Tactical Missile System - Hệ thống tên lửa chiến thuật quân đội). ATACMS là loại tên lửa chiến thuật (tầm ngắn) và có dẫn đường. ATACMS được thiết kế để mang các loại đầu đạn khác nhau, kể cả đạn thông minh cho các khả năng tương lai. - M39/ MGM-140A/ ATACMS Block I : M39 gồm có phần dẫn đường và điều khiển (Guidance and Control Section - GCS), phần phóng, phần điều khiển và phần đầu đạn. + Phần dẫn đường và điều khiển (GCS) : GCS thực hiện mọi việc như định hướng, dẫn đường, lái tự động và liên lạc liên lạc nội bộ khi đang bay hoặc ở trên mặt đất. Việc liên tục xác định độ cao và chuyển động được thực hiện bởi các cảm biến bên trong tên lửa phối hợp với các thiết bị điện tử và thiết bị xử lí phần mềm. Dẫn đường và lái tự động được thiết bị xử lí phần mềm trong máy tính của GSC thực hiện. Trong khi đó, các thiết bị điện tử và phần mềm giúp thực hiện việc liên lạc trong và ngoài (giữa tên lửa với dàn phóng và/hoặc các thiết bị hổ trợ từ mặt đất). Bao gồm cả việc liên lạc với FCS của M142 để điều khiển khi phóng, các thiết bị hổ trợ mặt đất để bảo trì và CSEU (Control System Electronics Unit) để mở cánh ổn định. + Phần phóng : Bao gồm motor nhiên liệu rắn cung cấp năng lượng cần thiết cho quá trình phóng và giữ quá trình bay đủ lâu để đạt được yêu cầu của ATACMS. Motor bao gồm vỏ motor, nhiên liệu phóng, lớp cách li, phần miệng và thiết bị đánh lửa. + Phần điều khiển : Nhiệm vụ chính của phần này là mở và cố định các cánh ổn định, cung cấp điện năng cho tên lửa khi đang bay, và hổ trợ các hoạt động khí động học. + Phần đầu đạn : Nhiệm vụ chính là chứa, bảo vệ và phân phối các loại vũ khí trong tên lửa. Các thành phần của phần đầu đạn bao gồm phần vỏ bằng nhôm cán với các cấu trúc hổ trợ bằng nhôm và lớp phân cách ở đầu và cuối phần đầu đạn. Một ống ở trung tâm bối giữa hai lớp phân cách và cũng là đường dẫn day điện. Cùng với khối lượng đạn, còn có một hệ thống cắt vỏ kiểm soát việc thả khối lượng đạn ở thời điểm yêu cầu. Đầu đạn của M39 được dùng để chống lại bộ binh và thiết giáp hạng nhẹ với sai số 150m hoặc thấp hơn. Mỗi tên lửa M39 chứa khoảng 950 lựu đạn M74 APAM. M39 có tầm bắn 25-165km. Đầu đạn đầu tiên được lên ngòi thời gian M219A2 theo cách tương tự như rocket. Khi tới vị trí đã định, ngòi nổ kích hoạt các lượng nổ đặt ở phần vỏ và lớp phân cách. Điều này khiến lớp vỏ bị cắt rời. Nhờ vào lực ly tâm và gió, lựu đạn M74 được rãi ra trên đầu khu vực mục tiêu. Lựu đạn M74 được kích hoạt nhờ vào tác động xoay ảnh hưởng tới từng quả một. Toàn bộ số lượng lựu đạn M74 sau đó được phân bố xuống một diện tích khoảng 33.000 m2. - MGM-140B/ ATACMS Block IA : MGM-140B bao gồm thêm GPS trong hệ thống dẫn đường giúp tăng đáng kể độ chính xác ở khoảng cách xa. Để tăng áp dụng tối đa tính năng mới này, phần đầu đạn được giàm lại còn 275 lựu đạn M74 nhưng tăng tầm bắn lên 300km. MGM-140 được thử lần đầu vào tháng 10 năm 1994 và đua vào trang bị năm 1998. - MGM-140C/ ATACMS Block II : Là phiên bản mang theo đạn con dẫn đường BAT(Brilliant Anti-tank) của hãng Northop Grumman. Chương trính này bị huỷ vào cuối năm 2003. - MGM-140D : Được mô tả là “nâng cấp tên lửa với số lượng lớn cải tiến cấu trúc”. Có lẽ đây là một nâng cấp của MGM-140B. - MGM-140E/ MGM-168/ ATACMS Block IVA : Đầu tiên được biết đến như là tên lửa Block IA nhưng mang đầu đạn liền khối chứa 227kg chất nổ mạnh WAU-23/B. - MGM-140F : Được công bố vào tháng 1 năm 2003 như là một phiên bản nâng cấp của ATCMS. Tuy nhiên hiện nay chưa có thông số về loại tên lửa này. - ATACMS Block III/ TACMS-P : Là một dự án tên lửa với khả năng xuyên phá các mục tiêu cứng và tầm bắn 220km. Dự án này được cung cấp vốn từ năm 2001 và làn bay đầu tiên là vào tháng 3 năm 2004. Tuy nhiên sau đó, dự án này đã bị hủy. Đến tháng 3 năm 2002, hơn 1600 tên lửa MGM-140A và 500 tên lửa MGM-140B đã được chế tạo. (http://media.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/thuctap_qpcn/20111109/himars_l7.jpg) Một chiếc M142 của Mĩ đang nạp lại rocket. Tiêu đề: Re: Vài nét về Quân đội Cộng hòa Singapore Gửi bởi: BOM BI trong 10 Tháng Mười Hai, 2011, 09:40:42 pm Đạn con - M77 : Là loại đạn hoạt động theo nguyên lý chạm nổ, được ổn định bằng một dải băng giúp cho phần đầu nổ hướng xuống dưới trong khi đang rơi. Lớp vỏ thép của đạn có tầm sát thương 4m đối với bộ binh. Ngoài ra, M77 còn có một đầu nổ lỏm có thể xuyên hơn 10cm thép. Đạn con M77 có tỉ lệ lép khá cao. Theo báo cáo của Lầu Năm Góc vào năm 2005 thì tỉ lệ lép vào khoảng 5%, Quốc hội Mĩ bảo rằng tỉ lệ này là 16%, Văn phòng kiểm toán GAO thì nói rằng một số rocket có tỉ lệ lép lên đến 23%, Quân đội Anh thử nghiệm và báo cáo tỉ lệ 5-10% và phụ thuộc rất lớn vào điều kiện mặt đất và tầm bắn. Đạn con M77 chỉ kích nổ khi chạm đất ở góc từ 65 đến 90 độ. (http://www.globalsecurity.org/military/library/policy/army/fm/6-60/fig1-5.gif) - M74 : Là loại đạn dùng để chống lại bộ binh và các loại xe có giáp mỏng. M74 có cấu tạo gồm vỏ thép-tungsten hình tròn bên ngoài, bên trong chứa chất nổ Hợp chất B. Đạn hoạt động theo nguyên tắc chạm nổ, khi nổ tạo ra một số lượng lớn miểng tốc độ cao có bán kính chống bộ binh 15m. (http://www.globalsecurity.org/military/library/policy/army/fm/6-60/fig1-7.gif) - M85 : là phiên bản nâng cấp của M77, trang bị với ngòi nổ tự huỷ để có tỉ lệ lép thấp(<1%). - BAT (Brilliant Anti-Tank - Đạn chống tăng thông minh) : Là loại đạn được dẫn đường bằng âm thanh vào hồng ngoại, BAT là loại đạn có khả năng tự động tìm kiếm và tiêu diệt mục tiêu. Các cảm biến âm thanh ở đầu các cánh giúp tìm kiếm mục tiêu ban đầu, khi đã phát hiện mục tiêu, BAT chuyển sang cảm biến hồng ngoại để tấn công mục tiêu. Ngoài ra, BAT còn có đầu đạn hai tầng để xuyên giáp ERA. Hoạt động : trước khi được thả ra, pin hồng ngoại của BAT được kích hoạt, phần mềm bay và điều kiện nhiệm vụ được download vào. Sau khi được thả ra ở tốc dộ dưới âm hoặc siêu âm, BAT sẽ tự ổn định, giảm xuống tốc độ kiếm mục tiêu và bố trí bể mặt khí động học của nó. BAT sau đó sẽ nhận định mục tiêu hoặc nhóm mục tiêu, bay tới khu vực đó và lựa chọn từng mục tiêu cho riêng mình để đảm bảo nhiều BAT tấn công một mục tiêu. BAT sau đó sẽ dựa theo một profile trúng-để-diệt để chọn ra khu vực dễ bị thương của chiếc xe mục tiêu. Và khi đã chạm địch, đầu nổ hai tầng của BAT sẽ kích nổ. Theo thử nghiệm của nhà thầu thì trong 14 làn thử, BAT bắn trúng mục tiêu 6 lần, thất bại 3 lần , 1 lần không thửa nghiệm và 1 vẫn chưa qua được hội thảo đánh giá. Trong thử nghiệm bắn đạn thật, theo FAS, thì có một thời gian 18 tháng(không rõ năm nào) thử nghiệm nào đó bắn 3 BAT thì chỉ có 1 BAT trúng mục tiêu. Mặc dù chương trình trang bị BAT cho tên lửa ATAMCS của M142 đã bị huỷ, hiện nay BAT vẫn được dùng trên các máy bay không người lái MQ-5 Hunter. (http://www.globalsecurity.org/military/library/policy/army/fm/6-60/fig1-8.gif) Tiêu đề: Re: Vài nét về Quân đội Cộng hòa Singapore Gửi bởi: BOM BI trong 11 Tháng Mười Hai, 2011, 12:27:39 am NÂNG CẤP Hiện nay, Tập đoàn Lockheed Martin đã giới thiệu ra thị trường gói nâng cấp toàn diện cho M142. M142 sẻ được trang bị IFCS (Improved FCS - Hệ thống điều khiển hoả lực nâng cấp) và ILMS (Improved Launcher Mechanical System - Hệ thống cơ khí nâng cấp cho dàn phóng). Các tính năng của gói nâng cấp mới : - Sử dụng hệ điều hành Window của Microsoft. - Tăng cường đáng kể khả năng phản ứng. - Đạt được những yêu cầu cho quân đoàn điện tử hoá. - Giảm 83% thời gian nhắm bắn(giảm xuống còn 16s so với 93s). - Giảm 38% thời gian nạp đạn(giảm tới 50% cho nhiều lần nạp theo một số nguồn). - Giảm 38% chi phí hoạt động và bảo dưỡng. - Các thiết bị điện tử tối tân. - Trang bị GPS. - Khả năng phân tích sai sót tiên tiến. - Tổng cộng, các nâng cấp trên giảm 60% thời gian hệ thống phải ở vị trí phóng và tăng 45% mức độ tin cậy. (http://media.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/thuctap_qpcn/20111109/himars_l2.jpg) Tiêu đề: Re: Vài nét về Quân đội Cộng hòa Singapore Gửi bởi: BOM BI trong 24 Tháng Hai, 2012, 12:57:33 am 2. Trực thăng CH-47 Chinook (http://image.shutterstock.com/display_pic_with_logo/221086/221086,1306771581,1/stock-photo-singapore-may-republic-of-singapore-air-force-rsaf-ch-chinook-military-helicopter-taking-78599281.jpg) Xem bài viết về trực thăng vận tải CH-47 Chinook của bác su22m4 tại http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,20073.80.html Tiêu đề: Re: Vài nét về Quân đội Cộng hòa Singapore Gửi bởi: BOM BI trong 24 Tháng Hai, 2012, 10:04:36 am AH-64 Apache (Tham khảo từ sách Vì sao ? Vũ khí xưa và nay cùng một số trang web khác) (http://photo.tinhte.vn/attach/public_image/btv/16287/tinhte.vn_4dbfdb8ea05d2_5-2-2011apachelongbow.jpg) Trực thăng vũ trang Apache mang số hiệu AH-64 là máy bay trực thăng hạng nặng, tổng trọng lượng đến 60 tấn, là vũ khí tấn công dẫn đầu trong hỏa lực của Quân đội Mỹ. Thế hệ Apache đầu tiên được thiết kế bởi Hughes Helicopters vào thập niên 70 và bắt đầu đi vào hoạt động vào năm 1985. Sau này, Quân đội Mỹ đã thay đổi bản gốc AH-64A thành AH-64D Longbow tiên tiến hơn. Hughes Helicopters sát nhập vào McDonnell Douglass vào năm 1984 và sau đó bị Boeing mua lại vào 1997. Ngày nay, Apache được Boeing sản xuất. Loại trực thăng này xuất hiện lần đầu trong trong Chiến tranh Panama năm 1989 với quy mô tham chiến lớn, chủ yếu dùng chống tăng và tiến công các mục tiêu dưới đất khác, đồng thới nó còn được sử dụng tác chiến trên không với những máy bay trực thăng và những máy bay chiến đầu tầm thấp. Với sức mạnh và tốc độ vượt trội, Apache nhanh chóng chứng tỏ được vai trò của mình và góp mặt vào rất nhiều cuộc chiến: chiến dịch bão táp Sa mạc, cuộc xung đột giữa Bosnia và Kosovo vào những năm 1990, cuộc chiến tại Afghanistan năm 2001, cuộc chiến tranh Iraq năm 2003 ... và gần đây nhất là cuộc chiến tranh tại Lybia. Trận chiến nổi tiếng nhất mà lực lượng trực thăng Apache của không lực Hoa Kỳ tham gia được ghi nhận trong cuộc chiến tranh Vùng vịnh năm 1991, nơi mà Apache đã thực sự tỏa sáng. Mở màn bằng việc phá hủy các trạm radar bên phía Iraq, những chiếc Apache đã dọn đường để không quân Hoa Kỳ tiến vào không phận Iraq mà không lo ngại bị phát hiện. Trong suốt 100 giờ đồng hồ oanh tạc, gần 3000 tên lửa Hellfire được bắn ra, đổi lại là thiệt hại gần 1000 xe tăng thiết giáp, 500 xe tải quân sự, cùng với số lượng không đếm xuể binh lính Iraq. Trận địa phòng không bên phía Iraq đã hoàn toàn nát vụn trước sức ép từ đến từ những chiếc siêu trực thăng này. Giá của một chiếc Apache vào khoảng 12 - 15 triệu đô la Mỹ. Chỉ những quốc gia đồng minh thân cận nhất của Mỹ như Anh (do cồng ty GKN Westland Helicopters chế tạo với tên hiệu WAH-64), Israel, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan hay Ả Rập Saudi... mới có cơ hội sở hữu loại trực thăng hiện đại này. Tính cơ động cao Hệ thống bay của Apache gồm có hệ thống cánh quạt chính và hệ thống cánh quạt đuôi. Hệ thống cánh quạt chính được đặt trên nóc chiếc trực thăng, gồm 4 cánh quạt, mỗi cánh dài khoảng 6 mét. Người phi công sẽ điều khiển trực thăng thông qua một cơ chế gọi là "swash plate mechanism" - tạm dịch: cơ chế tấm chắn. Tấm chắn này được lắp vào các cánh quạt, khi cả bốn tấm chắn cùng hoạt động, nó sẽ giúp chiếc trực thăng cất cánh và hạ cánh. Điều chỉnh một trong số những tấm chắn này, chiếc trực thăng sẽ nghiêng và bay đi theo những hướng khác nhau. (http://media.tinmoi.vn//2011/11/09/32_32_1320775030_89_canh-quat_be8a1.jpg) Mép sau của mỗi cánh quạt được phủ bởi một lớp hợp kim chì vững chắc, trong khi đó mép trước được làm từ titanium. Titanium sẽ đủ mạnh để giúp cánh quạt trụ vững trước sức cản của những vật thể gần mặt đất như cây, bụi rậm, đất đá... Apache sẽ rất cần đến đặc tính này của cánh quạt, do nó thường xuyên phải bay sát mặt đất để lẩn tránh và săn tìm mục tiêu. Hệ thống cánh quạt gắn ở đuôi máy bay sẽ giúp Apache ổn định đường bay khi đang bay cao cũng như khi đang ở sát đất. Hệ thống bay không tạo nên sự khác biệt giữa Apache và những chiếc trực thăng khác. Apache được trang bị hai động cơ trục tua-bin T700-GE-701C của General Electric, một loại động cơ cực mạnh có khả năng sản sinh ra 1700 mã lực, nhờ đó Apache có thể bay với tốc độ tuần tra 293 km/h, tốc độ bay lớn nhất lên đến 365 km/h, mỗi phút nâng độ cao được 762m so với mực nước biển, độ cao thực dụng 6400m, có thể làm động tác nhào lộn 360 độ trên không, đồng thời có khả năng bay là là sát mặt đất. Trong thời gian thực hiện nhiệm vụ bay 114 phút, nó có thể bay sát mặt đất liền 80 phút. Vì thế máy bay có khả năng tiến công trên không và tác chiến tập kích khá mạnh. Hệ thống cảm biến Một trong những thứ tạo nên tên tuổi của Apache chính là hệ thống cảm biến cực kỳ tinh vi. Bằng cách sử dụng hệ thống radar cực nhạy, Apache có thể làm hiện hình bất kỳ vật gì nằm trong tầm hoạt động. Những tín hiệu truyền về sẽ được xử lý, sau đó, những hình ảnh vừa tạo ra sẽ được so sánh với dữ liệu nguồn của hàng loạt những chiếc xe tăng, xe tải, hay các khí tài quân sự khác để "định giá" mục tiêu. Apache sử dụng hệ thống cảm ứng Night Vision cho những nhiệm vụ trong bóng đêm. Hệ thống này làm việc dựa trên bộ phận tìm kiếm tia hồng ngoại, giúp xác định các tia hồng ngoại phát ra từ các vật tỏa nhiệt. Sau đó, những tia hồng ngoại này sẽ được gửi về bộ phận xử lý, tạo thành những hình ảnh hiển thị ở mắt kính được gắn trên mắt phải của người phi công. (http://media.tinmoi.vn//2011/11/09/32_32_1320775034_52_cam-bien_960bf.jpg) |