|
Tiêu đề: Những người lính trung đoàn - Họ chiến đấu như thế Gửi bởi: quangcan trong 16 Tháng Hai, 2012, 02:03:48 pm (https://www.quansuvn.net/index.php?action=dlattach;topic=31677.0;attach=23298;image) Linh nguồn: http://www.banchiendaub3.blogspot.com/2011/05/linh-tay-nguyen-viet.html. Xin trân trọng giới thiệu TRUYỆN KÝ LÍNH TÂY NGUYÊN - NHỮNG NGƯỜI LÍNH TRUNG ĐOÀN - HỌ CHIẾN ĐẤU NHƯ THẾ và tập thơ Hoa người lính của Tác giả Hoàng Kim Hậu, Nguyên chiến sỹ C7-D8-E66-F10-QĐ3 Tây Nguyên. Tiêu đề: Re: Những người lính trung đoàn - Họ chiến đấu như thế. Truyện ký của Hoàng Gửi bởi: quangcan trong 16 Tháng Hai, 2012, 02:06:48 pm Sau 3 tháng vượt trường sơn. Tháng 8-1971 tôi được bổ sung vào C6-K8-E66 sau này thuộc F10-QÐ3 Tây nguyên. Ðơn vị đóng quân trong một khu rừng già thuộc huyện Sa Thầy tỉnh Kon Tum. Ðó là một sườn đồi khá dốc, phía trước có một con suối nhỏ, các căn nhà làm dưới tán cây cách nhau khoảng vài chục mét. Nền nhà được đào vào sườn núi, cột và vách nhà làm bằng cây vầu- Loại cây thuộc họ tre nứa mọc đại ngàn ở khu vực này. Mái nhà cũng làm bằng thân cây vầu bổ đôi, lóc vấu lợp úp lên nhau. Có một cửa ra vào hai bên được chắn lại bằng một bức tường xếp bằng cây, đổ đất bên trong vuông vức.
Ðầu nhà đào thông vào một căn hầm chữ A có một cửa phụ để thoát ra ngoài khi bị bom oanh tạc. Tôi biên chế vào A1-B1, căn nhà có hai chiếc giường hai bên làm bằng thân vầu băm thành xạp, ở giữa là một chiếc bàn bằng thân cây nứa đan lại phủ một mảnh tăng lên trên.Hơn ba tháng hành quân trên rừng toàn nằm trên võng nay nằm thẳng cẳng trên giường nó giống như người ta nằm ưỡn ngực ra, rất khó chịu. Nhà có bốn người, anh Thụ tiểu đội trưởng vào chiến trường từ năm 69. Huy (tụt tạt-ca cóng) vào đây năm 70. Còn lại Luận người Gia Thanh -Phù Ninh- Phú Thọ và tôi là lính mới. Phía trước hầm có một cây dâu da cành lá um tùm chẳng thấy có quả nào cả. Phía bên kia suối là một cánh rừng đại ngàn mà lúc bấy giờ chúng tôi một mình không ai dám bước sang. Toàn đại đội có hơn bốn mươi người. Anh Xuyên 22 tuổi đại đội trưởng. Anh Phú trắng trẻo, đẹp trai cũng khoảng tuổi đại đội trưởng - làm chính trị viên. Lũ lính mới được nghỉ hai ngày để tắm giặt, làm quen với tiểu đội và cuộc sống ở hầm. Buổi tối ngày thứ hai toàn đại đội tập trung trên mảnh sân nhỏ trước cửa đại đội bộ. Anh Xuyên chính thức đọc biên chế cho từng tiểu đội, giới thiệu chức danh, nhiệm vụ từng B chiến đấu, nội quy an toàn nơi đóng quân và nhiệm vụ mới của đơn vị. Anh Phú nói về truyền thống của trung đoàn 66 Trung đoàn Anh hùng, những chiến công mới nhất như trận đánh công kiên cao điểm Ngọc-Rinh-Rua, Ngọc-Bờ-Biêng v.v Gương những anh hùng, liệt sỹ như Vương Văn Chài tiểu đoàn 7... Lúc bấy giờ tôi mới biết mình ở trong đội hình của đại đội mở cửa. Hàng ngày chúng tôi leo lên đỉnh đồi nơi đơn vị đóng quân để tập quân sự. Thao trường là một vạt rừng bằng phẳng chặt hết cây nhỏ để lại cây to ngụy trang và làm bóng mát. Lô cốt được đan bằng phên nứa ghép ba mặt khoét một lỗ châu mai. Hàng rào kẽm gai cũng bằng dây nứa chẻ ra đan thành hàng rào đơn, kép, loại mái nhà, loại lò xo nhằng nhịt. Ngoài những người lên thao trường, đại đội để lại từ ba đến bốn chiến sỹ ở nhà giúp anh nuôi gọi là đội quân đi (cải thiện). Một lần tôi được phân công xuống nhà bếp.Tôi hỏi tiểu đội trưởng: - Ði cải thiện là làm những gì? Người A phó đứng bên cạnh cau có: - Ði cải thiện mà cũng không biết làm cái gì ! Ông chỉ ăn thôi à? Tự nhiên tôi thấy mình bị xúc phạm: - Này tôi vào đây vì nhiệm vụ cách mạng chứ không phải vào để ăn xin ông đâu. Bỏ kiểu ma cũ bắt nạt ma mới ấy đi ! Từ ấy không ai dám quát tháo tôi nữa. Bước sang tuổi 18 tôi còn trẻ lắm, mặt búng ra sữa, trắng trẻo, đẹp trai nhưng cũng rất ngang ngạnh. Nghe đâu anh Phú định lấy tôi lên làm liên lạc đại đội, người trung đội trưởng bảo: - Thằng này nhìn mặt nó hiền thế thôi chứ người lính- Tính quan đấy! Ngang lắm . Một hôm đến lượt tiểu đội tôi đi cải thiện Huy đưa tôi đi ngang qua bờ suối. Sang một bãi đất bằng phẳng tôi chợt thấy có hai ngôi mộ đất còn rất mới, tôi ngạc nhiên hỏi: - Dân có gần hay xa mà mồ mả lại chôn ở đây thế này anh Huy? Huy bảo: - Ðại đội cấm không được đưa lính mới sang chỗ này - thế nhưng ở đây nhiều măng lắm. Tý nữa về đừng có nói cái gì đấy nhé! Qua Huy tôi mới biết đó là hai chiến sỹ của đại đội 6 vừa mới chết.Thằng Quang bị sốt rét ác tính - còn cái mộ bên phải kia là thằng Ký bị voi dày đấy .Tôi hỏi: - ở đây cũng có voi à! Thế nào lại bị voi dày? Huy kể: Năm vừa rồi đại đội mình tổ chức đi săn lấy thịt ăn tết. Ba người đi trong đó có Ký, loanh quanh trong rừng một đoạn họ phát hiện thấy một con voi rất to ở dưới sườn núi, tất cả ba khẩu AK cùng tập trung nhả đạn, bắn voi như đánh nhau với biệt kích ấy. Con voi bị thương nặng, lao đầu bỏ chạy. Nó đi đến đâu giang tre nứa cứ đổ rạp đến đấy, cả những sợi song to bằng bắp tay cũng bị tuốt xuống hết. Nghe tiếng nứa nổ phía bên kia đồi, ba người bèn chạy đón đường. Lúc ấy Ký đi đầu, bám theo vết chân voi không ngờ con voi lại chui đít vào bụi, thò đầu ra ngoài. Ký vừa đi đến nơi nó dùng vòi quấn ngang người Ký và đập mạnh xuống đất , dùng chân dẫm nát rồi bỏ đi. Hai người còn lại không còn hồn vía nào nữa chạy về báo cho đại đội. Hôm sau con voi ấy ra uống nước và cũng chết bên bờ suối. Thế cho nên đại đội không muốn số lính mới biết chuyện này, sợ tư tưởng hoang mang, dao động. Trưa về chúng tôi giao cho anh nuôi hai gùi măng rất nặng. Ðầu óc tôi cứ lởn vởn hình ảnh hai ngôi mộ nằm im lìm, hoang vu bên bờ suối, hai người chiến sỹ trẻ măng tầm tuổi tôi đã vĩnh viễn nằm lại ở mảnh đất đại ngàn này, rồi đây ai xẽ quay lại tìm, ai hương nhang cho họ. Tiêu đề: Re: Những người lính trung đoàn - Họ chiến đấu như thế. Truyện ký của Hoàng Gửi bởi: quangcan trong 16 Tháng Hai, 2012, 02:08:24 pm Tháng tám đang vào mùa mưa dữ dội, con suối trước nhà nước chảy ào ào như thác, rất ít hôm trời tạnh ráo. Ngoài những ngày tập quân sự ra, mỗi tháng chúng tôi phải hai lần đi lấy gạo.Từ địa điểm đóng quân ra đường xe thồ nơi có kho gạo phải mất ba ngày cả đi và về. Mờ sáng chúng tôi hành quân, khoảng 4 giờ chiều đến vị trí tạm trú. Một số ở lại làm lán và lấy củi phụ giúp anh nuôi, mấy người nhanh nhẹn, tháo vát cầm gùi tìm vào nương bỏ hoang của dân đào sắn- Tối về luộc cho chặt bụng.
Tôi và Huy thường được đi trong nhóm ấy. Huy bảo tôi: - Người dân tộc Thượng ở đây họ thật thà, chất phác và rất ghét sự trộm cắp dối trá. Thằng Công sau này nó bị sốt rét ác tính chuyển ra K thu dung rồi- Một lần chui vào nương sắn của dân đào trộm, không ngờ họ phục kích và bắt được quả tang. Dân bảo: Ðồng bào ghét cái bộ đội này như ghét con heo rừng! Con heo rừng phá nương của đồng bào cái bộ đội này cũng phá rẫy của mình, đồng bào xin cái tay bộ đội! Hôm ấy may làm sao thằng Công lại đem theo quả US , nó nhanh trí rút quả lựu đạn ra và bảo: - Ðồng bào mà chặt tay của mình, mình buông tay ra thì mình và đồng bào cùng chết! Hoảng quá đồng bào bảo: - Ơ cái bộ đội chết còn có người bổ sung, đồng bào mà chết thì không có ai thay mình á, thôi cho cái bộ đội đi đi! Chẳng hiểu có thế thật hay Huy nói để doạ tôi nhưng hôm đó sau khi lấy xong mỗi người một gùi sắn, đang cắt rừng tìm đường về thì gặp một nhóm dân đang làm cỏ lúa. Chúng tôi mặt tái mét, tôi ngã huỵch xuống đất, gùi sắn dập xuống, ngực đập vào một gốc cây cụt vẫn còn đau đến tận bây giờ. Tối về anh nuôi gọt sắn, luộc lên chia về cho các lán. Nằm đung đưa trên võng, ăn củ sắn thơm và bùi cũng thấy yêu đời đáo để. Bởi thế lính tây nguyên mới có câu ca rằng: Tà tà chân bước vào nương Tay ôm quả bí - bụng thương đồng bào. Sáng hôm sau hành quân đến kho gạo chia vào các gùi xong, ăn cơm nắm và quay về đến chỗ chú quân hôm qua là vừa tối. Có những hôm gặp mưa ngang đường, nước lũ lên ngập lênh láng, cây cối từ thượng nguồn lao phăng phăng xuống hạ lưu. Ðại đội cử những người khoẻ mạnh, bơi giỏi chặt dây rừng nối từ bờ bên này buộc vào gốc cây bên kia và lần lượt dòng từng bao gạo sang sông. Một hôm về gần đến nhà Huy bảo tôi tạt vào rừng, hai thằng bỏ bao gạo vào gốc cây, chui vào nương lạc của K thu dung. Huy bảo: - Này khẽ chứ nhé, bọn chòi canh mà nhìn thấy là nó bắn thật đấy! Huy làm nhanh lắm, thoắng một cái hắn đã có một ôm xuống suối, hai thằng rũ thật sạch, vác lên bờ vặt lạc cho vào mấy ống nứa non và đốt lửa. Huy thì vừa đun vừa quay ống nứa, tôi thì bẻ một cành cây ra sức quạt cho khói tản ra, tan đi dưới tán lá rừng, hợp đồng khéo lắm. Xong xuôi, hai thằng ngồi dựa vào gốc cây đánh một trận vằn bụng. Số còn lại cho vào túi cơm mang về cho tiểu đội . Lúc ca cóng Huy nhanh mạnh như con gấu, khi về gần đến đại đội hắn đi dặt dẹo như thằng ốm nặng. Người quản lý đại đội chờ gạo lâu quá hỏi: - Hai anh tụt tạt ở đâu bây giờ mới về, lại ca cóng phải không? Huy mặt mày thiểu lão bảo: - Ðang đi thì lên cơn sốt, nhờ thằng Hậu áp tải mới về đến đây đấy! Lúc bấy giờ tôi mới thấy rõ cái biệt tài và biệt hiệu chuyên tụt tạt và ca cóng của Huy. Tiêu đề: Re: Những người lính trung đoàn - Họ chiến đấu như thế. Truyện ký của Hoàng Gửi bởi: quangcan trong 16 Tháng Hai, 2012, 02:09:51 pm Cuối năm 69 và năm 70 -71 chiến trường Tây Nguyên vô cùng căng thẳng. Non-Lon đảo chính, Cam-Pu-Chia, nơi cung cấp lương thực cho chiến trường Miền nam gặp rất nhiều khó khăn nhất là mặt trận Tây Nguyên.Trang phục thiếu thốn, bộ đội mặc quần áo vá để đánh giặc.Mỗi ngày được cấp một phảy năm lạng gạo chia làm ba bữa, mỗi bữa chỉ được hơn một bát cơm, ai tham ăn sơi hơi đầy một tý thì coi như đồng đội mình bị đói. Cái đói dai dẳng dằn vặt và tiêu hao sức khoẻ người lính, nó ngấm ngầm làm xuy đồi đạo đức Cách mạng bởi vì có thương yêu nhau đến đâu cũng không ai chịu đói để người khác ngày nào cũng ăn no hơn mình.Thế là mỗi lần sới cơm:Tám con mắt đổ dồn vào cái bát B52 khốn khổ, người ăn tham dù có khéo đến đâu cũng không che được tám con mắt sáng quắc đang dõi theo kia.Cũng không ít những đồng chí của mình bị đồng đội lia bát xuống suối, phải ăn bằng vấu bương.
Chính vì thế nên đại đội tổ chức cho bộ đội đi cải thiện bằng lấy nhiều măng và rau rừng về ăn thêm.Thôi thì hổ đốn đủ loại: Măng, bống báng, vả, rau tàu bay, rau vòi voi, môn thục, chuối rừng nghĩa là cái gì ăn không chết người thì đều khợp được cả. Mỗi ngày phải có từ hai đến ba người mang theo gùi và dao găm đi cách đại đội khoảng nửa ngày đường tìm vào nương bỏ hoang của dân để đào sắn về độn thêm cho bộ đội. Khổ hết chỗ nói. Ăn đói mặc rách cộng thêm điều kiện khí hậu ác nghiệt, sốt rét triền miên, người lính thời gian nằm viện điều trị sốt rét còn nhiều hơn cả bị thương, bộ đội chết về sốt ác tính không phải là ít. Thế rồi cái gì đến đã đến. Hôm ấy tôi cầm gùi xuống nhà bếp đi cải thiện, đang ngồi chờ anh nuôi nắm cơm thì bỗng thấy người mình nổi gai ốc, hai bên má lạnh buốt, co giật liên hồi, mồm ngáp vặt và sán vào bên bếp vẫn thấy chưa đủ ấm. Anh Thụ cùng đi bảo: - Thằng Hậu sốt rét rồi, không đi được đâu! Lên y tá lấy thuốc nhanh ! Thế là tôi sốt-sốt liên miên, cơn nọ gối với cơn kia, ngày này qua ngày khác hàng triệu con ký sinh trùng sốt rét tàn phá cơ thể non nớt ấy. Có lẽ đại đội đã hiểu cái nguy hiểm đợt sốt đầu tiên của lính mới như tôi cho nên rất quan tâm: Chiều chính trị viên lên sờ đầu kiểm tra nhiệt độ, động viên tôi cố gắng đừng bỏ bữa - Tối đại đội trưởng đến nhắc không nên nằm nhiều, cố gắng vận động tránh sốt rét ác tính.Y tá đại đội kiểm tra nhiệt độ liên tục, thuốc uống , thuốc tiêm người tôi như lả đi. Mỗi cơn sốt rét run bần bật, đồng đội dùng tất cả chăn quấn lên người mà rét không chịu nổi. Một tuần sau, cơn sốt thưa hơn, chính trị viên bảo tôi cố gắng lên thao trường xem anh em tập. Anh Phú bảo: Cậu lên đây ngồi xem, lúc nào mệt thì mắc võng nằm nghỉ. ở nhà một mình, nằm nhiều nguy hiểm lắm. Hàng ngày tôi vác súng cùng bộ đội lên thao trường. Cái nắng nhạt nhoà những ngày cuối thu, khu rừng khô ráo không còn ẩm ướt như mấy ngày trước nữa.Bộ đội từng tốp tập theo khoa mục của mình:Tiểu đội dò gỡ mìn mỗi người có một chiếc thuốn, một que nhỏ làm động tác dò mìn căng chùng nổ, tìm mìn các loại chôn dưói đất.Tiểu đội cắt hàng rào kẽm gai làm quen với đủ loại hàng rào đơn kép, loại hàng rào bùng nhùng nằm ngửa ra, cắt sáu mối mới gỡ ra được.Thế rồi đội hình gá bộc phá, đội hình đánh công kiên chiếm lĩnh lô cốt đầu cầu.Tiếng người chỉ huy ra các tình huống cho bộ đội sử lý, tiếp cận, đánh phá mục tiêu. Cứ khoảng chín giờ sáng là tôi lại bắt đầu ngáp vặt, người gây lạnh, sưn sửn sốt.Trung đội trưởng cho tôi nghỉ về võng uống thuốc. Bắt đầu lại một cơn sốt rung cả võng, người toả nhiệt nóng hầm hập mà bên trong thì rét không chịu được.Trưa bộ đội nghỉ luôn trên thao trường bởi vì về đến nhà lại leo lên thao trường vừa xa, vừa dốc bộ đội thì anh nào cũng dọ dẹo vì thiếu ăn và sốt rét. Tôi vừa lên thao trường vừa sốt, tóc bắt đầu rụng từng mảng, vuốt mạnh một cái là có một nắm tóc đi theo. Không có gương để xem mặt mình nó còn giống thằng Hậu ngày xưa nữa không? Thỉnh thoảng ra bờ suối soi mình xuống dòng nước thấy mây trắng ở ngay trên đầu và một gương mặt lạ hoắc, bủng xì, tóc tai phờ phạc, lơ thơ vài cụm. Ngày nào chúng tôi vào chiến trường còn thơm mùi sữa mẹ, áo quần bảnh bao đầy chất lính chủ lực. Ði qua đoàn quân sốt rét và thương binh chuyển ra Bắc thấy họ bủng beo, ẩm mốc, mùi gây gây đặc chưng của kẻ chuyên nằm hầm. Giá như những người mẹ, người vợ mà gặp chồng, con họ ngoài mặt trận thế này, chắc không ai cầm được nước mắt. Một lần ở trên thao trường về, tôi lại sốt, chân tay rã rời, rủn ra đi không vững nữa. Khẩu súng trên vai nặng chịch, mắt hoa, người chao đảo như say sóng. Bộ đội đã về từ lâu mà tôi vẫn run rẩy, lập cập trên lưng chừng dốc.Tự nhiên tôi khóc, vừa đi vừa khóc, nước mắt chảy đầm đìa rồi rớt xuống nền đường. Bỗng có tiếng chân người chạy phía sau: - Ông tướng nào còn tụt tạt ở đây? Hậu hả, sao lại khóc!Thôi đưa anh cõng. Anh Hựu- Chính trị viên phó đại đội hôm nay qua tiểu đoàn bộ báo ban về muộn gặp tôi giữa đường và cõng tôi về đại đội bộ, anh bảo: - Thằng Hậu dạo này sốt ác liệt quá! Có lẽ ngày mai cho nó lên quân y tiểu đoàn để chăm sóc và nghỉ ngơi một thời gian, ở nhà dễ bị ác tính lắm! Từ khi bước chân vào đời lính đến nay tôi đã có ba lần khóc, khóc thật sự, khóc trong thương cảm và tủi hận: Lần đầu tiên khi lên tàu ở Phổ Yên- Bắc Thái, sau bốn ngày con tàu mải miết đưa chúng tôi nhằm về phía nam, qua biết bao nhiêu đồng ruộng, núi đồi, bao nhiêu thành phố lùi lại ở phía sau. Qua Nghệ An rồi Quảng Bình những dãy núi đá vôi ẩn hiện rồi chìm vào ánh chiều chập choạng.Tôi một mình ra đứng ngoài đầu nối toa tàu, trên trời mây bảng lảng, thỉnh thoảng một bụi mây rắc xuống vài cơn mưa nhẹ hạt, con tàu cứ xình xịch lao về phía nam. Gia đình tôi giờ này đang làm gì nhỉ? Mẹ có biết con đang ở đâu không, con ở xa lắm rồi, không biết liệu có ngày quay trở lại chăm lo cho mẹ và thế là tôi khóc. Ðến khi có ai đó đặt tay lên vai tôi và bảo: Ði vào trong toa cho đỡ lạnh, ở ngoài này dễ bị cảm lắm! Lần thứ hai khi vượt sông Sê-Rê-Pốc sang bên kia dừng lại ở một bãi khách. Cuối tháng bảy, mưa tầm tã, cứ mười ngày hành quân được nghỉ một ngày. Tôi mắc võng nằm cạnh người đại trưởng, mưa càng ngày càng nặng hạt, nước gõ nhịp trên mái tăng, bốn bề nghe tiếng mưa rơi và thác đổ. Phía bên cạnh, chiếc đài bán dẫn của đại đội đưa một bản tin chiều:Miền Bắc bị vỡ đê, khu vực Lâm Thao - Phú Thọ nhà nước phải huy động máy bay thả bánh mì và giúp dân sơ tán. Mẹ và các cháu có sao không? Ai còn ai mất, có bốn anh em thì ba đứa vào bộ đội, nứơc ngập mênh mang, ba bề đê vỡ, lợn gà, lúa má ai lo cho mẹ, còn bốn cháu nhỏ của chú thì sao đây. Thế là tôi khóc, dòng nước mắt cứ thế tuôn trào, niềm thổn thức ngập tràn trong tiéng mưa của rừng, của núi. Ngày hôm sau y tá đại đội hộ tống tôi lên tiểu đoàn bộ.Tiểu đoàn nằm cách các đại đội khoảng mười lăm phút đi bộ. Lán trại thì bố phòng nhà ở, hầm hố giống như các đai đội chiến đấu, nhà nọ cách nhà kia vài chục mét. Hầm quân y nằm ở ven suối tôi thấy có vài chiến sỹ mặt xanh, nanh vàng của đơn vị bạn đã đến trước. Chúng tôi được ăn sáu lạng gạo một ngày, duy trì ba bữa cơm. Chín giờ sáng được một cốc sữa bột, hai giờ chiều lại một cốc. Sáng, chiều uống thuốc và tiêm theo phác đồ điều trị sốt rét, ai sốt nặng quá thì gửi về bệnh xá trung đoàn điều trị tiếp. Sau hai mươi ngày tôi có vẻ khoẻ hơn, các cơn sốt cách nhật cũng giảm, tóc vẫn rụng, da xám xì và cũng đỡ bủng beo. Tiêu đề: Re: Những người lính trung đoàn - Họ chiến đấu như thế. Truyện ký của Hoàng Gửi bởi: quangcan trong 16 Tháng Hai, 2012, 02:11:08 pm Nghe đâu trung đoàn chuẩn bị nhận nhiệm vụ mới, chúng tôi được trả về đơn vị cũ, tôi được một trung đội trưởng lên báo ban và đón về đại đội. Ðại đội biên chế đã thay đổi: Anh Xuyên sang tiểu đoàn phó tiểu đoàn 9. Về thay anh là một đại đội trưởng cao to, da trắng, tóc hớt cao với hàng râu quai nón rậm rì. Nhìn tướng mạo nghe có vẻ lãnh đạo dữ dằn lắm. Biết tôi quê ở Lâm Thao anh bảo:
- Tớ cũng tên là Hậu-cũng ở Lâm Thao, ở xã Sơn Dương ấy, cạnh xã cậu, đúng không? Ðã biết quê mình bị vỡ đê chưa? Ngày xưa các cụ ở trên ấy nhưng hiện nay mình lại đi định cư ở Lập Thạch,thỉnh thoảng có công việc mới về quê thôi.Từ đó anh có vẻ mặn mà, thân mật với tôi hơn. Ðại đội còn có mấy chiến sỹ nằm viện do sốt rét trở về.Tiểu đội tôi bổ xung thêm Thấu- Vào chiến trường năm 70. Ðó là một anh lính vừa bé lại vừa thấp, mắt me rằng, răng vẩu vàng xỉn, miệng rộng nếu cười lên thì chỉ thấy toàn răng là răng. Nghe đâu ông này kẹt sỷ lắm. Cái thời cuối 70 đầu 71 trung đoàn không đủ muối ăn, bộ đội thèm muối hơn cả thèm thịt.Tiểu đội ngồi ăn cơm hắn xin ở đâu được ít muối hạt, không bỏ ra cho ai ăn cả, cứ thậm thụt thò tay vào túi bỏ từng hạt muối ăn mình.Thuốc rê thì hắn chỉ quen xin, không muốn cho ai bao giờ, ai xin đuợc một điếu ít nhất phải cho hắn cái gì hoặc là đồng hương đồng khói. Cái ngữ ấy thì tôi chúa ghét. Cuối năm 1971 chúng tôi chuyển ra khu vực KàLeng -Xa Thầy củng cố hậu cứ, vừa huấn luyện, vừa phát nương làm rẫy. Nghe đâu chuẩn bị đánh lớn, bộ đội phát rẫy để đưa dân ra vùng giải phóng. Chúng tôi ở dọc theo một con suối lớn, văn thư lên tiểu đoàn đem về mấy gùi dao quắm. Mỗi người một con, khoán định mức là 800m2/đầu người, ngày không làm xong thì tối làm tiếp. Các tiểu đội lăn lưng ra mà làm, ban ngày phát tất cả các loại cây con và dây leo, tối đến tập trung hạ các cây to đơn độc bỏ lại. Người ta luôn đưa tin từ trung đoàn về các gương sáng phát nương giỏi, các kinh nghiệm tăng năng xuất lao động Kích động và đua nhau làm, đêm về hai cánh tay giật mình thon thót. Một hôm đang phát trên nương, tôi thấy có tiếng ì ì đùng đục và kèm theo tiếng rít của gió, một loạt tiếng nổ rung chuyển cả cánh rừng. Có ai đó thét lên: B52 đấy, nằm xuống! Người ta tranh nhau nằm bẹp cạnh thân cây đổ, tôi thì cứ ngóc cái đầu lên xem B52 nó như thế nào,Thấu kéo áo tôi xuống: Cái thằng Hậu- Nằm xuống không chết bây giờ! Xong đợt B52 đại đội lệnh cho sơ tán về lán trại đề phòng địch có thể đổ quân. Vừa đi Thấu vừa bảo: May mà nó rê sang hướng đường xe thồ, nó mà quay về hướng mình thì chết hết, có lẽ biệt kích nó phát hiện thấycông binh của mình đang làm đường đấy.Về đến nhà, chúng tôi chuẩn bị súng đạn nếu có lệnh xuất kích là đi được ngay. Ðầu năm 1972 công việc phát nương, làm rẫy chuẩn bị hoàn thiện để bàn giao cho các đơn vị phía sau. Hôm ấy tôi mới nhận súng B40 loại súng hoả lực bộ binh chống tăng mạnh nhất lúc bấy giờ. Ðang lau súng bỗng nghe tiếng bom dội phía sau hậu cứ, tiếng trực thăng bay rất thấp kèm theo hàng loạt đại liên, phóng lựu nổ rất dữ dội. Bộ đội trên nương chạy ào về: Chuẩn bị xuất kích, địch đổ quân vào hậu cứ của ta! Tôi ngớ ngẩn:ở đây hay hành quân đánh nhau hả anh Thụ?Thụ bảo : - Chuẩn bị súng đạn nhanh lên! Lệnh C6 chuẩn bị chiến đấu- C7 xuất kích! Thế là chúng tôi ôm súng chờ.Bom đánh đến chiều tối, trực thăng còn đảo thêm mấy vòng nữa rồi cút hẳn. Lúc bấy giờ chúng tôi mới biết một tiểu đoàn tân binh gồm: Lào cai,Tuyên Quang và Vĩnh Phú vào bổ xung cho trung đoàn 66 .Vượt sông Pô-Cô không may bị L19 phát hiện, gọi bom và trực thăng vây đánh, số lính mới chưa trải qua chiến đấu bỏ chạy tán loạn. Một số bị địch thả trực thăng bắt sống, số còn lại hy sinh khá nhiều. Khi những người lãnh đạo chủ quan, khinh địch thì rõ ràng tổn thất là rất khó tránh khỏi.Một đội hình lớn hành quân qua bãi tráng như sông Pô-Cô lại không có biện pháp vượt sông an toàn.Việc này người lãnh đạo tổ chức chỉ huy, đưa đón tân binh phải ra toà án binh mới đúng. Hôm sau đại đội tôi tiếp nhận thêm mấy chiến sỹ mới mặt cắt không còn giọt máu. Họ bảo: Bạn của em bị bắt sống liệu có việc gì hay không? Tôi an ủi:Thì mình là tân binh đã biết cái gì đâu mà địch tra tấn, khai thác. Quá lắm là khai họ, tên quê quán và đoàn đi nam là hết phim chứ gì.Thôi kệ nó, đâu khác vào đấy, khéo nó lại ra bắc trước ông cũng nên. Chuẩn bị cho cái tết 1972 đạt đội tổ chức cho một đội đi săn bắn thú rừng và đánh cá. Săn thú phải chọn những cao thủ người dân tộc, đã từng săn bắn nhiều rồi, họ mang theo súng đạn, tư trang, gạo nước và chốt luôn ở trên rừng. Bắn được con nào là phay luôn ra, cho lên lò xấy khô, đầy gùi thì hành quân về đại đội.Tôi xung phong đi theo đoàn quân đánh cá, sáng đi, tối về . Hành trang của chúng tôi là mấy quả thủ pháo và lựu đạn tấn công, đi xuôi theo con suối đại đội đóng quân, ra phía đường xe thồ mà B52 đánh hôm nọ, gặp một con suối khá lớn. Mùa khô nước xuống thấp, trong vắt, đứng trên bờ phía mặt trời nhìn xuống các gợn thác, từng đàn cá lấp loá ánh bạc đang vượt dòng. Ði xuôi xuống hạ lưu gặp một vũng nước khá lớn, chúng tôi hạ trại chuẩn bị bộc phá. Huy cầm trái thủ pháo, giật nụ xoè quăng xuống suối, (Tiến cáo) rút quả lựu đạn ném theo. Sau hai tiếng nổ tung nước trắng xoá, chúng tôi chạy xuống bờ nước. Mấy con cá nổi trắng vật vờ. Cởi quần áo ra, nhảy xuống đi! Chúng tôi tồng ngồng lao xuống suối. Tôi lặn xuống mở mắt ra, cá trắng xoá tụm lại ở những dòng nước xoáy, cứ thế nhặt ném lên bờ. Bỗng Huy bảo: Có con gì này! Huy lặn xuống và vác lên một con ba ba khoảng vài chục cân. Mai của nó đã bị bộc phá đánh dập. Ôm ba ba lên, Huy bảo: Tôi lặn xuống đứng trên mai của nó cứ tưởng là hòn đá- Quái sao đá lại thấy loang lổ như vết máu- Lặn lần nữa thì đúng là con ba ba thật, giống này đã dập ruột rồi ăn vào là bị đau bụng đấy! Buổi chiều chúng tôi lục tục trở về, tôi được phân công đeo con ba ba ấy. Chấm dứt thời kỳ phát nương, chúng tôi chuyển hậu cứ về gần sân bay Kà-Leng ăn tết. Tiêu đề: Re: Những người lính trung đoàn - Họ chiến đấu như thế. Truyện ký của Hoàng Gửi bởi: quangcan trong 16 Tháng Hai, 2012, 02:13:12 pm Chiến dịch mùa xuân năm 1972 - Chiến thắng Ðắc-Tô Tân-Cảnh Sau năm 1970 mặt trận phía bắc KON-TUM ta mới giải phóng được cao điểm 1015 (Ngoc-Rinh-Rua, Ngọc-Bầu-Biêng). Năm 1971 giải phóng tiếp sân bay Kà-Leng và một vài trận đánh lẻ đánh địch nống ra ngoài. Sang năm 1972 lực lượng của địch cơ bản không mấy thay đổi: Phía tây là cụm cứ điểm Pờ-Lây-Cần, tây bắc có căn cứ huấn luyện biệt kích Ðắk-Xiêng án ngữ. Phía bắc và đông bắc có cứ điểm Ðắk-Mót và cụm cứ điểm Ðắk-Pét chưa kể các chốt cấp đại đội và các trận địa pháo bố phòng ứng cứu lẫn nhau.Thị trấn Tân Cảnh là trung tâm kinh tế, xã hội, căn cứ hậu cần cung cấp cho dân và các điểm chốt toàn khu vực. Phía bắc Tân Cảnh là quận lỵ Ðắk-Tô, bên kia cầu Tân Cảnh đường 18 đi Ðắk-Mót là căn cứ 42 nơi đặt chỉ huy sở của trung đoàn 44 và sở chỉ huy sư đoàn 22 nguỵ. Phía ta trung đoàn 66 vẫn nắm chặt địa bàn hoạt động của mình. Ðầu năm 72 trung đoàn 95 được điều động từ đèo Măng-Giang lên án ngữ phía tây nam thị xã Kon-Tum .Ngoài các đơn vị chủ lực, ta còn có lực lượng bộ đội địa phương của tỉnh phối thuộc chiến đấu. Năm 1972 kết hợp cùng mặt trận Quảng-Trị ta mở chiến dịch Ðắk-Tô,Tân-Cảnh. Ngoài các đơn vị chủ lực có trên địa bàn, ta điều thêm sư đoàn 320 từ nam Lào về kết hợp tác chiến. Mục đích giải phóng quận lỵ Ðăk-Tô và thị trấn Tân-Cảnh, có điều kiện đánh xuống Diên-Bình,Võ-Ðịnh, giải phóng thị xã và toàn tỉnh Kon-Tum. Chúng tôi ăn tết trước trong hậu cứ Kà-Leng, bổ xung quân, nhận thêm súng đạn, quân tư trang và nhằm phía đông bắc hành quân. Ðường vào chiến dịch thật sôi động, các đơn vị hành quân theo kiểu cuốn chiếu, đơn vị này nghỉ thì đơn vị khác vượt lên. Ðánh lớn hợp đồng binh chủng nên có cả những đơn vị tên lửa B72 đi cùng. Hầu như những thằng lính mới cùng vào một đợt với tôi đều gặp nhau cả, hỏi thăm tíu tít. Qua đồng đội tôi được biết (Lượng thỏ) đánh Kà-Leng bị gãy chân đã được ra bắc, thôi thế là may cho nó, chắc sống một thằng rồi, còn lại chúng ta- tính sau vậy. Ðường hành quân cứ xuyên rừng mà đi, qua cánh rừng nguyên sinh cây cối ngút ngàn, đất xốp lên bởi biết bao nhiêu lớp lá cây rụng thành trầm tích. Có những cây cổ thụ hàng ngàn năm tuổi, cành lá vươn cao trong bầu trời xanh thăm thẳm. Chúng tôi đi trong tiếng hú của bầy vượn gọi nhau ăn sáng và dừng chân khi lũ vượn hú gọi tụ bầy. Có những địa danh không có trong bản đồ mà chỉ có người trong cuộc mới hiểu: Qua dốc có nhiều cây búng báng thì là dốc búng báng.Có con voi chết thì gọi là dốc voi mục hoặc suối trực thăng rơi. Khổ nhất những đơn vị pháo hoả lực, tất cả là trên vai người lính: Ngoài gạo nước quân trang của họ còn phải khênh vác súng đạn:Cối, Pháo tháo rời chia nhau từng chi tiết, cái gì không chia được thì tập trung khiêng. Cối 160 ly một người đeo củ đấm, ba người khiêng nòng, còn chiếc bàn đế thì khỏi phải nói: Nó to bằng chiếc nong phơi lúa, vừa đi vừa phát đường, lên dốc thì sáu người khiêng lặc lè, xuống thì dùng đòn bẩy mà bắn. Sau mười ngày hành quân chúng tôi dừng lại ở một dông đồi khá cao. Phía trên đại đội tôi ở là tiểu đoàn bộ đóng quân.Phía trước đã nhìn thấy mái tôn sáng loá của căn cứ Ðăk-Xiêng.Thụ bảo: - Mày sang dông bên phải chỗ anh nuôi ở nhìn thấy cứ điểm Pờ-Lây-Cần đấy! Vậy con đường chúng tôi đang đi xuyên qua hai cứ điểm của địch.Tìm chỗ đào hầm xong, Huy bảo: - ở đây dốc thế này đào hầm khoét cho tiện, cứ ba người một hầm. Anh Thụ lên đại đội hội ý về tôi mới hiểu: Ðơn vị chia thành từng cung đoạn vận chuyển lương thực, súng đạn vào phía trước. ở đây rất gần hai căn cứ của địch cho nên yếu tố bí mật địa điểm đóng quân phải đưa lên hàng đầu. Nhiệm vụ của chúng tôi là: - Ba giờ chiều nhận hàng của đơn vị bạn chuyển đến, đóng hàng xong đến năm giờ chiều gùi ra bờ sông Pô-Cô là vừa tối để vượt sông. Ði khoảng hơn một tiếng là đến kho bàn giao cho đơn vị bạn xong rồi quay về. Ðến nhà khoảng mười một giờ đêm, xuống bếp anh nuôi lấy cháo về, ăn xong rồi đi ngủ. Ngày mai lại tiếp tục, không ai được nghỉ gùi. Chúng tôi cứ tuần tự như thế mà làm,hôm thì tôi gùi gạo, hôm gùi đạn hoặch thuốc nổ. Có lẽ không một quốc gia nào có một đội quân anh hùng như quân đội nhân dân Việt-Nam. Họ thì binh chủng nào theo binh chủng đó: Không quân chỉ biết không quân, xe tăng thì cứ xe tăng mà tiến. Còn bộ binh thì hành tiến dưới sự yểm trợ của hoả lực các loại. Chúng tôi thì không: Cái gì cũng từ tay người lính: Ðói thì phát nương làm rẫy, quần áo rách thì vá mà đánh giặc, hết gạo, hết đạn thì gùi về mà ăn, mà bắn địch. Xe tăng, pháo binh, quân y cũng như nhau mà thôi. Ðịch đã phát hiện dấu hiệu chuyển quân của ta, chúng tung những nhóm biệt kích, thám báo cắt rừng về phía đường vận chuyển. Một lần nhóm biệt kích gặp đoàn gùi của C5. Pháo địch bắt đầu bắn vào đường vận chuyển, lũ thám báo chỉ cần phát hiện ra một đoạn đường là chúng chấm toạ độ gọi pháo câu đến khá chính xác máu chiến sỹ ta đã đổ trên từng cung đường vận chuyển. Một hôm tôi gùi quả đạn cối 120 ly, kể cả liều phóng phụ và hòm gỗ nặng khoảng hơn hai mươi cân.Vượt sang bờ sông bên kia đi khoảng hơn một tiếng, pháo địch không hiểu sao câu đúng đội hình của ta, giáp kho đạn.Tiếng đạn rít trên đầu kèm theo tiếng nổ chát chúa và mảnh bay lắc cắc. Ðêm tối như bưng, tiếng người phía trước lao sao bước vội trên lá mục, tôi chỉ còn biết sờ xuống sườn đồi, mắt căng ra, chỗ nào tối xẫm không có vệt lân tinh bám trên lá mục là con đường dẫn vào kho đạn. Lại một tiếng rít ghê người, tôi nằm xấp xuống, hòm đạn dập xuống lưng, ngực tôi va vào một khúc gỗ đau điếng. Phía trên dốc toé lửa kèm tiếng nổ nhức óc, vẫn chưa chết !Tôi nhổm dậy mò mẫm tìm vào kho đạn. Ngày hôm sau một toán biệt kích cắt rừng gần chỗ đại đội tôi đóng quân, gặp đơn vị bạn đi gùi về hai bên bắn nhau dữ dội, địch chết một và một tên bị thương.Tiểu đội tôi được lệnh xuất kích. Chờ trinh sát tiểu đoàn xuống, chúng tôi theo bản đồ cắt rừng đi về phía một bản dân tộc bỏ hoang.Trinh sát đi đầu, cách nhau ba mét là Thụ, sau nữa là Huy, tiếp đến tôi B40 và sau cùng Thấu. Cắt ra một con đường xe ngựa bỏ lại từ hồi Ngô-Ðình-Diệm, chúng tôi lần dần vào bản. Phía xa thấp thoáng bóng cây ăn quả, chắc là xắp đến bản rồi.Trinh sát vẫy tay ra hiệu cúi thấp người xuống, pháo địch bắn vu vơ sang sườn đồi bên sông.Tôi cúi được một lúc mỏi lưng lại nhổm lên,Thấu đi sau quát nhẹ: - Cái thằng này! Thấp người xuống! Có vết dày nguỵ in trên nền đất ướt, một vệt cỏ rạp xuống như có ai lê trên đất, thế rồi một cuộn bông băng Mỹ vứt lại trên mặt cỏ máu còn tươi nguyên. Mặt ai lấy biến sắc - Ðịch rồi, đi thưa ra! Người ta nhớn nhác tìm kiếm hai bên, tôi cứ như người đánh trận giả, đã biết đánh nhau với biệt kích là thế nào đâu! Thay cho tìm địch, mắt tôi cứ ngước lên ngọn cây xem cây xoài nào nhiều quả, cây mít nào có quả thấp để tý nữa hái mang về cho tiểu đội. Ði tiễu biệt kích như thế này kể ra nguy hiểm thật. Rõ ràng địch còn nằm trong bản, có thể do có thằng bị thương nên chúng nín thở tránh chúng tôi để chờ trực thăng bốc về hậu cứ. Còn như chúng chủ động hoàn toàn :Sáu thằng nguỵ nằm chờ sẵn-Sáu ông Việt cộng từ ngoài bản đi vào ngơ ngơ, ngác ngác chờ đến thật gần chỉ cần một băng đại liên là ăn đủ. Có lẽ nghĩ thế nên chẳng ai muốn xông xáo làm gì , tốt nhất là về báo cáo không tìm thấy.Thế là chúng tôi rút quân! Ði ra khỏi bản tôi cứ tiếc cho chùm xoài ngon mà không ai cho dừng lại. Mấy hôm nay pháo địch bấn vô tội vạ vào khu vực chúng nghi ngờ, bom đánh vào ven sông, đã có nhiều chiến sỹ hy sinh. Pháo từ Ðăk-Xiêng bắn vọt qua đầu chúng tôi nổ ình oàng phía sau dông đồi tiểu đoàn đang ở.Thỉnh thoảng đâu đó lại nghe tiếng trực thăng lạch phạch như đang đổ quân hay bốc biệt kích chuyển đi chỗ khác. Tiêu đề: Re: Những người lính trung đoàn - Họ chiến đấu như thế. Truyện ký của Hoàng Gửi bởi: quangcan trong 16 Tháng Hai, 2012, 02:15:33 pm Dạo này tôi lại sốt, những cơn sốt về chiều nhiều khi phải bỏ buổi không đi gùi được. Một hôm đại đội gọi tôi, Nguyễn Quốc Kỳ( cùng quê, cùng nhập ngũ với tôi) và Thấu mang toàn bộ trang bị lên chốt trên đỉnh đồi tiểu đoàn đang ở.Trên đó có một con đường mòn vắt qua dông đồi ngay cạnh tiểu đoàn bộ đóng quân. Không biết đường của ta hay đường của biệt kích, vết người đi lại thường xuyên và còn rất mới.Tốt nhất cho một tổ chiến sỹ ốm yếu lên chốt chặn là an toàn nhất.
Chúng tôi lịch kịch lên cao điểm. Trên điểm cao gió rất mạnh, trời mùa đông lên cao càng lạnh, gió hun hút làm ngả nghiêng lá cây chao đảo. ở đây toàn cây cổ thụ, cành lá vươn dài cao đến ba, bốn chục mét. Ðất ẩm mục, xốp ra, bước lên xồm xộp như đi trên nệm cỏ. Thấu chỉ cho tôi và Kỳ mỗi thằng cảnh giới một hướng sau đó quay về một gốc cây to dưới sườn dốc: Thấu bảo: - Chú ý cảnh giới đấy! Có gì xuống đây báo cho tôi, lúc nào cần thay gác thì gọi! Chúng tôi thay nhau cảnh giới, nghe pháo bắn tam toạng tôi bảo Thấu tranh thủ khoét một chiếc hầm nhỏ dưới gốc cây phòng khi phaó bắn.Tôi và Kỳ đem thêm vỏ chăn lên để quấn cho đỡ lạnh, ngày vẫn ba nắm cơm một bi đông nước hành quân lên điểm chốt. Buổi sáng ngày thứ tư ngồi dưới một gốc cây rất to có hàng rễ bạnh ra, tôi ôm B40 ngước cổ xem một đàn vượn kiếm ăn ngay trên đỉnh đầu. Con đầu đàn vô tư nhảy múa, chum miệng hót gọi bầy. Giá như ở trong hậu cứ thì mày chết ngay với bố rồi con ạ! Tôi nghĩ bụng. Bỗng có một loạt tiếng Miền nam cất lên: - ở đơn vị nào? Ðơn vị nào nói đi! Mặt tôi biến sắc, một toán người nam có, nữ có, vừa kinh lại vừa thượng đang túm xung quanh Kỳ. Không hiểu nó ngủ gật hay làm cái gì để địch đến tận nơi mà không biết! Trong đầu nghĩ ngay là gặp địch rồi, toàn quân Miền nam cả . Tôi chĩa khẩu B40 về phía địch quát to: - Tất cả đứng lại! Giơ tay lên! Ðoàn người thất kinh khi thấy khẩu B40 lăm lăm chĩa về phía họ: - ấy ấy không được bắn- Không được bắn! Một người đi đầu cầm súng AR15 vừa xua tay vừa tiến lại phía tôi. Dừng lại! Tôi ra lệnh -Tất cả bỏ súng xuống! Ai còn tiến thêm bước nữa tôi bắn chết! Ðoàn người lập cập bỏ súng xuống giơ tay xin hàng. Lúc đó Kỳ vẫn lóng nga lóng ngóng đứng lẫn với đội hình của địch.Thế có chết hay không! Nếu tôi nổ súng chắc nó cũng tiêu đời còn gì. Tôi quát: - Kỳ! Mang súng chạy lại đây nhanh lên! Cầm khẩu AK trên tay tôi mới thật yên bụng, dồn toán người ấy tập trung vào một góc, tôi bảo Kỳ thu súng địch gom lại, tháo hết đạn và cho Kỳ chạy xuống tìm Thấu. Một lúc sau Thấu lập cập chạy lên, mặt tái mét, hắn nhìn thấy toán người đã hiểu ra sự việc vội vàng quay đầu về báo cho tiểu đoàn bộ. Khoảng ba mươi phút sau Thấu đẫn một phái đoàn gồm ban tác chiến, ban chính trị và ban tham mưu lên làm việc. Sơ bộ ban đầu họ khai là đoàn cán bộ dân vận huyện 40 đi công tác qua. Con đường này là đường nối giữa huyện 40 với tỉnh uỷ tỉnh Kon-Tum, là đường của ta chứ không phải đường của địch. Dù sao cũng mời họ về tiểu đoàn để xác minh lại. Thấu là một chàng xấu trai lại háu gái- Thấy cô bé người thượng mũn mĩm ngồi cạnh chiếc gùi, Thấu bảo: - Có hút thuốc không? Từ ngày bé hôm nay mới Thấu sởi lởi như vậy. Tưởng rằng cô ta chỉ vê một điếu nhỏ để hút là cùng. Ðàng này đồng bào lại bảo : Cho mình xin-Và thế là tiện tay túm luôn một nắm bỏ vào túi.Thấu tiếc đứt ruột, cho chết, đã keo kiệt lại còn sỹ! Hôm sau chúng tôi lục tục xuống núi, kết thúc một tháng vận chuyển đảm bảo hậu cần cho chiến dịch . Chúng tôi được nghỉ vài ngày chuẩn bị súng đạn, quân tư trang và tắm giặt. Một tháng đi gùi hầu như chỉ tắm theo kiểu du kích, giao hàng xong quay ra bờ sông vừa lội, vừa giặt lại vừa tắm.Vắt khô quần áo, chùm lên đầu về đến nhà là gần khô. Cái lũ bẩn ở với nhau chẳng ai chê ai hôi cả. Lệnh hành quân, đơn vị vượt sông đầu tiên vào lúc chạng vạng tối, chúng tôi cứ nhằm giữa hai chốt địch mà đi. Có điều rất lạ là khi chúng tôi ở bên này sông thì pháo địch bắn dữ dội vào phía bờ bên, khi sang đến nơi thì pháo chuyển làn sang hướng khác, để lại những vạt rừng cây cối bị phạt trơ ra và mùi khói pháo khét lẹt. Ba ngày luồn rừng, hai căn cứ của địch đã ở phía sau, nghe đâu chỉ hai ngày nữa là đến Tân Cảnh. Các đơn vị tản theo đội hình, củng cố hầm hào chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu. Không khí đại đội rất căng thẳng, một ngày không biết bao nhiêu lần hội ý. Ðoàn cán bộ tham mưu, tác chiến của trung đoàn và tiểu đoàn chuẩn bị đi khảo sát địa hình và nắm tình hình địch. Các đại đôi có đại đội trưởng và ba trung trưởng đi trước.Chúng tôi ở lại tiếp tục làm thao trường huấn luyện. Sau một tuần nghiên cứu địa hình, tiểu đoàn đắp xa bàn cát, giao nhiệm vụ cho các mũi tiến công. Lúc đó tôi mới thấy nhiệm vụ đại đội mở cửa là vô cùng quan trọng. Không phá được hàng rào, không đánh chiếm được lô cốt đầu cầu để đơn vị bạn phát triển vào bên trong coi như là thất bại, là tổn thất rất lớn. Nhìn trên sơ đồ thấy địa hình bằng phẳng, lần đầu tiên đánh thành phố, đánh vào trận địa bố phòng kiên cố của địch chắc là ác liệt lắm. Hàng ngày tiểu đoàn trưởng Bùi-Thanh-Hiêm người Thanh-Hoá xuống đại đội tôi theo dõi bộ đội tập trên thao trường. Ðó là một tiểu đoàn trưởng đầy nghị lực, quyết đoán và cũng rất nóng nảy. Anh đã từng chui vào hàng rào của địch, bò theo hướng tiền nhập của đại đội tôi, chỉ cho chúng tôi biết từng mô đất, từng bãi lầyvà khi bò lên mặt đường 18 nấp sau tà luy đường và leo lên hàng rào kẽm gai như thế nào. Nhìn trên xa bàn, nghe tiểu đoàn và đại đội chỉ dẫn tôi cũng mường tượng ra nhiệm vụ của mình. Một hôm anh Hiêm đang giảng trên xa bàn và hỏi tôi: - Thế nào, đồng chí xạ thủ B40? Bắn mấy phát thì hạ gục lô cốt đầu cầu này? Tôi không đắn đo: - Báo cáo thủ trưởng- Chỉ một phát thôi ạ! - Ðược.Nhưng căn cứ vào đâu mà đồng chí khẳng định như vậy? - Thưa thủ trưởng. Gần một năm vác B40 nếu tôi không bắn tin cái lô cốt to như thế kia thì tôi không phải là người lính của K8! - Khá lắm. Nhưng tôi nói trước: Vào trận nó không bình tĩnh như tập trên thao trường đâu, xung quanh pháo bắn, đạn nổ, phải biết vận dụng thực tế, lợi dụng địa hình để hạ gục mục tiêu và bảo vệ được mình, nhớ chưa! Cho đến nay tôi vẫn nhớ câu nói đó. Cuối tháng 3 năm 1972 chúng tôi nhận lệnh vào phía trước, rừng ở đây toàn vầu và nứa, con đường thì lên dốc liên tục, đã có vết pháo bắn tới đây. Ðại đội ém quân ở một dông đồi nghe nói khi vượt sang bên kia là nhìn thấy quận lỵ Tân Cảnh đèn nê-ông sáng quắc.Thế là xắp xuống đồng bằng rồi, từ đây đánh tiếp thị xã Kon-Tum và chúng tôi vĩnh viễn chấm dứt cảnh ở rừng , ở núi.Tôi chỉ mong như vậy. Ðã nghe tiếng đề-pa của khẩu pháo rất gần, có lúc nòng hướng về phía khác thấy tiếng nổ rất xa, vọng ình oàng vào núi. Có khi ba, bốn khẩu quay về phía chúng tôi nghe đạn bay vo vo như đàn ong trên đầu và nổ nối tiếp nhau thật đáng sợ.Có lẽ quân ta ba bên bốn bề đang tới gần, liệu có cánh nào bị lộ chưa? Máy bay quần đảo, rà sát các khu rừng quanh quận lỵ, tiếng trực thăng lạch phạch hướng thị trấn, có lẽ thằng địch đã thấy đấu hiệu không bình thường ở mặt trận này rồi. Vừa đào xong hầm lại có lệnh quay ra.Thế có chết không, làm ăn kiểu này có mà nướng quân, có định đánh hay thôi không biết.Tôi đã muốn nổi cáu, tức nhất là cái kiểu quay vào quay ra như thế này, bom pháo nó tương phải thì chết cả lũ. Ra đến vị trí cũ thì đóng quân, anh Hậu bảo: - Các hướng khác còn vướng chưa vào kịp, để đảm bảo bí mật cánh bên này phải chờ vì đây là trận đánh lớn, hiệp đồng binh chủng. Tiêu đề: Re: Những người lính trung đoàn - Họ chiến đấu như thế. Truyện ký của Hoàng Gửi bởi: quangcan trong 16 Tháng Hai, 2012, 02:19:25 pm Trận đánh đầu tiên Sáng ngày 06- 04-1972 chúng tôi lại quay vào vị trí trú quân hôm trước. Ngay tối hôm ấy mỗi tiểu đội chọn một chiến sỹ nhanh nhẹn, tháo vát đi nhận vị trí và đào hầm cho tiểu đội. Tôi được nằm trong số đi tiền trạm ấy. Loanh quanh leo lên đỉnh dốc trời đã nhá nhem tối. Phía trước là một thung lũng rất rộng, gió thổi thốc lên, mát lạnh.Thị trấn Tân Cảnh khuất sau một dông đồi chỉ thấy ánh điện hắt lên sáng quắc. Con đường 14 lúc ẩn lúc hiện khi có một chiếc xe bật đèn chạy qua. Chúng tôi bám theo nhau xuống dốc, sườn đồi thoai thoải có rất nhiều khe cạn. Cắt xuôi theo đường 14 ra phía thị trấn, qua hai con suối bờ rất dốc, chúng tôi dừng lại. Người ta thì thào gọi nhau coi như gần địch lắm rồi, trinh sát tiểu đoàn dẫn các đơn vị vào vị trí của mình, tiểu đoàn bộ ở bờ suối bên này, chúng tôi ở phía bên kia suối. Nhận vị trí đào hầm xong, anh Thụ (lúc đó đã là trung đội phó) phổ biến: - Mỗi người phải hoàn thiện hầm cho tiểu đội. Phải làm hầm kèo không được đào hầm khoét. Chú ý dùng cưa cắt gỗ, ngọn cây kéo ngay xuống đất không để địch phát hiện thấy có lá vàng, đảm bảo bí mật tuyệt đối! Phía trên thấy có ai đó vội vã húc hầm, tôi san một vạt đất bằng phẳng rồi trải tấm tăng ra nằm. Có mấy quả pháo ro ro bay qua đầu rồi nổ phía sau dông đồi, pháo sáng thỉnh thoảng lại bắn lên hắt ánh sáng vàng ệch xuống khu rừng vắng lặng. Phía bên kia quận lỵ Ðăk Tô có chiếc C 130 thả đèn dù, phóng xuống mặt đất những chùm đạn 20 ly đỏ rực. Lâu lắm mới nằm tênh hênh trên mặt đất như thế này, kể ra gáo cũng thấy lành lạnh thật. Tôi đánh một giấc, tỉnh dậy khi tia nắng vàng phớt nhẹ trên ngọn cây, tìm xuống bếp anh nuôi lấy cơm và đóng nước Anh nuôi bảo: - Chưa có đâu, cứ về đào hầm đi, khi nào chín cơm xẽ gọi! Tôi về mở xẻng húc hầm, trên miệng hầm tôi đào rộng khoảng 1m, dưới đáy khoét rộng dần ra cho đủ 4 người nằm. Một ngày thẳng dẳng mới xong phần đào đất. Ngày thứ hai lên rừng chọn cây đà và cưa kèo hầm,loanh quanh một mình vừa hạ cây vừa lấp, tối lúc nào không biết.Thôi dù gì cũng đã có hầm, đêm nay thao hồ cho chúng mày câu pháo. Tôi yên trí phần việc của mình đã xong chỉ còn chờ quân ta đến là xuât kích, đêm nay chắc được một giấc ngủ ngon lành, không sợ bom pháo gì cả. Khoảng ba giờ chiều hôm sau có một người đeo gùi tìm đến. Anh ta tự giới thiệu tên là Pồn người Nùng tỉnh Cao Bằng. Anh về làm trung đội trưởng của tôi từ khi chúng tôi vượt dốc sang bên này, trước kia ở đại đội vận tải của trung đoàn nay bổ sung về C6 . Vừa ăn cơm chiều xong thì nhận lệnh xuất kích: Có một đại đội bảo an nguỵ ngày mai sẽ hành quân chiếm lĩnh đỉnh đồi mà chúng tôi đang ở. Ðịch trên đỉnh, chúng tôi lại ở dưới chân đồi chắc sẽ lộ hết vị trí và hướng tiến quân của ta.Thế là ngay đêm đó đại đội có hơn mười người tức tốc lên chiếm cao điểm. Trinh sát dẫn đường, chúng tôi xuyên rừng trong tầm pháo và ánh hoả mai. Lên cao nhìn rõ quận lỵ Ðăk-Tô với ánh đèn xanh biếc: Vài hôm nữa chúng tao sẽ ở trong ngôi nhà kia, bọn mày hãy đợi đấy! Trên đỉnh đồi là một rừng cây thưa,� xen lẫn những bụi tế và bụi mua đã tàn lụi. Có rất nhiều hầm biệt kích đào từ bao giờ, chúng tôi chỉ việc sửa sang, nhặt mấy gốc cây khô lát lên trên và phủ đất rồi chia nhau gác Sáng hôm sau trung đoàn cho biết địch đã chiếm dông đồi đối diện bên cạnh, từ đỉnh đồi của tôi qua một yên ngựa là đến, địch đã phát hiện chúng tôi và cụm lại phòng thủ. Tiểu đoàn lệnh cho C6 tổ chức bám địch. Anh Pồn lo lắm, một mình cắp súng tuần tra bên này lại sang bên kia chốt. Khoảng10 giờ anh ôm súng ngồi xuống cạnh hầm, tôi bảo: - Ðã biết địch nó ở bên kia rồi, mình bám chặt lấy hầm, nó lên là ta đánh, anh cứ đi đi lại lại mãi, nguy hiểm lắm! Anh Pồn bảo: - Ông cứ chú ý cảnh giới đi! Tôi lo hơn ông nhiều! Khoảng hơn 10 giờ anh lại lúi húi cắp súng đi về phía yên ngựa, bỗng một loạt cực nhanh bắn đến, đạn nổ toác toác chiu chíu vào điểm chốt. Anh Pồn gặp địch rồi, chúng tôi nhảy xuống hầm sẵn sàng chiến đấu. Nghe có tiếng người lao sao một chút rồi không gian vắng lặng, địch không bắn sang và chúng tôi cũng yên lặng chờ địch. Pháo vẫn câu qua đầu chúng tôi, nổ ình oàng xa lắm. Một tiếng rồi hai giờ trôi qua không thấy anh Pồn đâu cả, sốt hết cả ruột. Tôi bảo anh Thụ trung đội phó: - Có khi anh Pồn bị thương hoặc hy sinh rồi, anh cho người bám địch và tìm anh ấy đi! Anh Thụ tổ chức cho: Thiện ( Gia Thanh - Phù Ninh - PT )-Tiến cáo (Không rõ quê)- (Sự mới vào theo đoàn Hoàng Liên Sơn năm 1972) đi bám địch. Họ vừa đi chưa đầy trăm mét bỗng có tiếng mìn nổ, một loạt cực nhanh bắn sang. Không thấy AK bắn trả, một lúc sau thấy Thiện tay phải ôm lấy tay trái, cánh tay rũ xuống. Tiến cáo vai khoác súng, hai tay cầm hai khẩu AK chạy về, mặt tái mét : - Thằng Sự chết rôi! Ðịch địch! Toàn chốt căng ra, chưa bắn được thằng địch nào mà quân ta đã hy sinh mất hai người, bị thương một rồi. Nhìn lại chỉ còn tám tay súng. Tôi thấy Thụ lo lắm, anh cho người hộ tống Thiện về phía sau và báo tiểu đoàn xin quân tăng viện. Khoảng 3 giờ chiều, tổ trinh sát của tiểu đoàn lên bám địch, một lúc sau họ quay lại bảo: - Liệt sỹ của các anh nằm cách đây 50 m, cho người lên lấy về đi! Tôi, Thụ và một người nữa chạy lên, Sự nằm thẳng mắt vẫn mở, chiếc bi đông nước để ngay trên ngực.Vết thương bị mìn dập nát hai bàn chân bung ra những đốt xương trắng nhởn. Không ai cấp cứu, không người băng bó và ga rô lại, uống nước vào lại càng nguy hiểm, máu chảy mạnh thêm. Ðêm hôm ấy tiểu đoàn tăng cường thêm số đi trước của C5 và C7. Một khẩu cối 82 của C8, một tổ trinh sát lên đánh bật quân Bảo an xuống. Xẩm tối-C7 đi đầu sau đó đến C5 và C8, Trinh sát đẫn đường. Ðại đội tôi là đơn vị mở của hướng K8 (Ðánh chiếm căn cứ 42 Tân Cảnh ) ở lại làm thê đội hai. Ðoàn người dò dẫm dắt nhau sang dông đồi bên, vừa đi vừa chờ lệnh, nhưng do tối trời địch gài rất nhiều mìn định hướng nên không tiếp cận được. Quay về, mai đánh! Sáng hôm sau, đội hình vẫn như chiều hôm trước, chúng tôi theo trinh sát dẫn đường, hàng một tiếp cận trên dông yên ngựa. Cối 82 bắn lên cao điểm, C7 và C5 áp sát nổ súng, tiếng B40 ùng oàng, tiếng AK điểm nhịp. Ðịch điên cuồng phản kích bằng mìn và súng các loại, tiếng nổ loạn xạ, đan vào nhau. Cùng lúc ấy, pháo từ Tân-Cảnh Ðắk-Tô đồng loạt bắn lên điểm chốt mà tôi đang giữ, tiếng nổ chắc nịch găm mảnh phạt ngang những ngọn cây cổ thụ.Tôi vừa thò đầu lên cảnh giới vừa thụt đầu tránh pháo khi nghe có tiếng đạn rít trên đầu. Súng nổ một chập rồi im hẳn- Không biết đã dứt điểm chưa- Vừa nghĩ xong đã thấy quân ta lục tục cõng nhau chạy về, một số hy sinh và bị thương. Pháo địch bắn càng dữ dội, Thụ bo đầu rúc trong hầm tránh pháo Tôi cứ nghe tiếng cối xoè xoè, tiếng pháo vút tới lại thụt vào trong hầm, chơi trò ú tìm với địch. Bỗng thấy Xuất-Trung đội trưởng C5 còn quay lại nhặt một khẩu AK của liệt sỹ, chạy về qua hầm tôi khoảng10 m. Hai tay tay vừa đu người xuống cửa hầm thì một quả pháo bắn trúng ngọn cây trước mặt, toé lửa, tôi thụt nhanh xuống hầm, ngớt pháo thò đầu lên đã thấy người ta đang kéo Xuất lên mặt đất, một mảnh pháo phạt bay mảng đầu, máu chảy lênh láng từ trên nắp hầm xuống đọng thành vũng dưới nền hầm. Ðánh không dứt điểm vì địch rất đông và hoả lực chi viện quá mạnh. Pháo địch lại thi nhau bắn lên cao điểm- Chết người đấy, không phải trò đùa- Từ đó tôi dựa vào góc hầm, không dại gì mà chơi với pháo! Tối hôm ấy, C5 và C7 rút về vị trí tập kết, C6 của tôi ở lại giữ chốt. Lại một đêm nữa đội pháo và thức trắng đây! Tiêu đề: Re: Những người lính trung đoàn - Họ chiến đấu như thế. Truyện ký của Hoàng Gửi bởi: quangcan trong 16 Tháng Hai, 2012, 02:22:15 pm Sáng hôm sau, đại đội bảo an địch rút về Tân Cảnh, chập tối chúng tôi cũng được lệnh bỏ chốt, kéo nhau xuống chân đồi. Về đến hầm, ăn cơm xong là lăn ra ngủ, không còn biết pháo, cối gì nữa. Sáng 14-4 tôi dậy muộn, dự định lấy cơm ăn xong lại ngủ cho thật đã, bù lại mấy ngày thức trắng trên chốt, sau đó xuống suối tắm giặt. Có tiếng chân người đi trên nắp hầm, tiếng trung đội phó Thụ:
- Hậu dậy chưa? Xuống bếp lấy cơm ăn xong còn xuất kích! - Lại xuất kích hả anh? Thế mình không đi tìm anh Pồn à? - Ði tìm anh Pồn đấy! Chờ trinh sát xuống rồi đi. Chỉ cần đem theo 2 quả B40 thôi! Tôi linh tính thấy có cái gì đó rất khó giải thích, nửa muốn đi, nửa không. Nhóm chúng tôi gồm: Thụ (nhóm trưởng)- Lành (Thái Bình)- Tôi xạ thủ B40 và (Tiến cáo. ăn cơm tại bếp anh nuôi, tôi nhỏ nhất nên phải đeo thêm 4 nắm cơm, ít ruốc thịt để ăn trưa. Ngồi một lúc thì thấy Quỳnh trinh sát tiểu đoàn, quê (Phượng Vỹ- Cẩm Khê-Phú Thọ) cùng nhập ngũ một ngày với tôi đi tới- Quỳnh bảo: - Quân mình đi tìm liệt sỹ phải không? Ði thôi! Chúng tôi theo Quỳnh cắt rừng lên chốt. Loanh quanh trong rừng một lúc thì đến đỉnh đồi.Tự nhiên Quỳnh lúng túng rẽ sang bên trái đi về phía sau chốt, Thụ bảo: - Sao lại đi ra hướng ấy! Rẽ phải ra chỗ đánh nhau hôm qua ấy chứ! Quỳnh cũng miễn cưỡng quay lại, tự nhiên tôi sởn gai ốc, trong đầu loé lên hai tiếng: Mìn, Mìn! Lúc đầu đi cách nhau mỗi người 4m, tôi chỉ nghĩ mìn là chôn dưới đất, dẵm lên xẽ nổ, tôi vội tiến nhanh bám gần sát Lành, vết chân của Lành đặt vào đâu thì tôi bước vào đó. Bỗng: Oàng một cái, khói bốc ngay chân Quỳnh, tôi thấy Quỳnh sững lại, quay mặt về phía sau và ngã vật xuống. Thụ ngã bật ngửa, máu từ trong đùi phun ra đỏ lòm. Hai tay ôm chặt hai đùi, Thụ kêu lên: Hậu ơi, tao gãy đùi rôi! Lành đi trước tôi cũng ngã dúi xuống, không kêu một tiếng. Cùng như một lúc, tôi thấy luồng điện giật bắn trong người, hai chân mất phản xạ, tê đi, đầu gối khụy xuống làm cho khẩu B40 cùng quả đạn lao cắm xuống đất: Tôi cũng gãy đùi rôi! Tiến đâu, lên băng cho các ông ấy đi! Tôi thấy có một dòng máu phun ra, nóng hôi hổi, chết cha rồi, đứt động mạch, phen này thì nghẻo! Tôi tụt ngay quần ra cúi xuống, vết thương ở giữa đùi trước bên trái máu đã chảy thành dòng xuống quá đầu gối, đũng quần ướt sũng nhìn kỹ không phải là máu, hay là mình đái? Tôi thử nín lại, may quá, không phải đứt động mạch! Tôi cầm B40 chống lên đứng dậy, tập tễnh chạy về hầm. Một mảnh ngập sâu giữa đùi trái, hai mảnh còn lại xuyên từ trước ra sau mặt trong của hai đùi máu ra đầm đìa, một mảnh trượt qua cổ chân rớm máu và một xuyên qua áo cạnh sườn phải. Mảnh đạn vào làm tê liệt thần kinh, van không đóng được, nước giải cứ thế tuôn ra ngoài. Tự băng bó xong, nửa người bên dưới đau ê ẩm, có tiếng bước chân chạy huỳnh huỵch phía trước, địch lên! Tôi dùng tay đẩy lưng dựa vào vách hầm đứng dậy. Thấy Tiến mặt méo xệch: - Anh em chết hết cả rồi! Mày cố cảnh giới để tao về gọi người ta lên cứu! Hai chân tôi đau điếng, dựa lưng vào vách hầm, tháo hai quả lựu đạn đặt trước mặt, chỉ có hai quả B40, địch mà lên thì đành liều chết với chúng nó vậy. Tiến đi rồi, khu rừng càng vắng lặng, tôi nín thở cố lọc những âm thanh xào xạc để phát hiện tiếng chân địch mò lên. Anh nắng xiên xuống đỉnh đồi, lọt qua kẽ lá vẽ những hình loang lổ trên mặt đất. Không thấy ai kêu, họ nén đau để giữ bí mật hay chết tất cả rồi. Pháo địch hôm nay chuyển làn bắn sang hướng khác, có lẽ ở đấy đang đánh nhau, tiếng trực thăng và máy bay phản lực gầm rú phía bên kia Tân Cảnh. Bị thương khoảng 10 giờ, lúc này tôi mới thấy đói. Sống hay mái cũng phải chén để lấy sức chiến đấu, tôi lấy nắm cơm của mình ra ăn. Càng ngày hai đùi càng tê dại, nếu ngồi xuống thì không thể đứng lên được, máu ra ướt hết vòng băng. Ba giờ chiều, có tiếng chân người phía sau, tôi ngoái lại. Tiến dẫn một đoàn nửa lạ, nửa quen nhớn nhác bò lên dốc. Tôi huýt sáo, họ ào lại phía tôi: Ðịch ở hướng nào? Gần đây không?Thương binh của ta đâu.. - Hậu hả, bị vào đâu? Có nặng lắm không? Ðưa tao cõng! Khối cùng nhập ngũ với tôi-(Quê Sơn Dương-Lâm Thao-PT) thuộc đơn vị công binh đi trước đào hầm cho chỉ huy sở. Dìu tôi lên khỏi hầm, Khối túm luôn lấy chân tôi: Ây đau, không co được chân đâu, tao ôm cổ, để thẳng chân mới được! Nhưng xuống dốc thì Khối đi trước tôi phía sau, chân chạm xuống đất đau nhói lên tận tim. Thôi! mày lấy dao găm phát thành đường để tao trườn xuống! Tôi lê đít vừa trượt, vừa lăn trên sườn dốc hàng trăm mét cho đến khi lọt xuống lòng khe. Cõng thì chân vướng vào đá, đau điếng. Tôi bảo Khối chặt cho một chiếc gậy, trong người cảm thấy vẫn khoẻ mà chân thì bất lực, muốn bước đi mà không thể lê chân được. Người ta cáng thương binh ngang qua tôi, Quỳnh và anh Thụ đã chết, Lành vẫn còn thở nghe đâu liệt cả chân và tay, cáng ra tận ngoài Bắc. (Không biết bây giờ như thế nào). Thấy tôi lê không được chân, Lưu Văn Tắc người tiểu đội trưởng khung huấn luyện chúng tôi ở Bắc Thái quay lại cõng tôi về đội phẫu. (Anh đã hy sinh ở mặt trận này) Tối hôm ấy, đơn vị vận tải vào cáng tôi quay ra. Pháo dịch bắn vo vo qua đầu rồi nổ phía con đường mà xắp đi qua. Nằm trên võng, nhìn xuống thị trấn Tân Cảnh sáng rực ánh đèn mà tôi thấy tiếc nuối, thế là hết, không được xuống đồng bằng rồi, liệu có còn dịp nào về thành phố không đây! Chiều 15 tháng 4 năm 1972 tôi về đến ÐT- 3 (Ðiều trị 3). Ðội phẫu nằm trong một khu rừng già cách trận địa gần một ngày đường. Các lán trại nằm xung quanh sừơn dốc, hầm thùng, phên nứa đan làm xạp nằm, mái lợp sơ sài bằng cỏ tranh. Có lẽ chúng tôi là lớp thương binh xông non trại, lác đác vài người bị thương trong các trận đánh vòng ngoài Tân Cảnh. Bác sỹ khám vết thương của tôi và hẹn mai xẽ mổ, hôm nay phải giải quyết mấy ca thương binh nặng hơn. Sáng hôm sau một bác sỹ tìm đến hầm tôi, anh quê ở (Cẩm Khê - Phú Thọ) mới tốt nghiệp y khoa và bổ xung vào chiến trường Tây Nguyên. Thấy bệnh án thương binh quê Phú Thọ anh đến hỏi thăm. Tôi sốt ruột:- Em bao giờ thì được mổ? Anh cười: Bây giờ tớ xẽ mổ cho cậu, nghỉ một tý tớ cõng lên hầm phẫu! Hầm phẫu được đào sâu trong sườn núi, cửa hầm làm thoai thoải để cáng thương binh lên xuống. Trần hầm che tăng, xung quanh tường hầm vách đất chẳng có vải trắng quân y che chắn như tôi hằng tưởng. Bàn mổ khung bằng nứa, mặt bàn bằng thanh nứa đan nong mốt trải tấm vải nhựa lên trên, bốn cột bằng tre chôn chắc chắn xuống nền hầm. Tôi nằm ngửa tênh hênh giữa bàn, hai y sỹ cũ của ÐT từng mổ rất nhiều chỉ đạo kỹ thuật, một y tá vô trùng phục vụ và người cầm dao là anh bác sỹ mới ra trường. Thấy họ bảo nhau gây tê, sâu tý nữa, khoét bên nọ, thông bên kia, máu chảy ra khỏi vùng gây tê tôi lại thấy nó nóng hôi hổi. Kéo cắt thịt cứ sần sật, nghe rõ mồn một, thỉnh thoảng lại nhói lên. Họ bảo nhau lấy cây thăm xoáy sâu vào trong đùi tìm mảnh đạn. Tôi thấy giật thót, tê dại trong đùi và kêu to. Anh bác sỹ bảo: - Không thấy mảnh đâu, thôi kệ nó sau này mỡ nó xẽ bao lại, ra bắc mổ sau! Tôi được cáng về hầm, suốt đêm hai đùi đau ê ẩm không sao ngủ được. Sáng hôm sau tôi được đoàn vận tải của dân gùi gạo cho bộ đội và cáng ra ngoài. Anh bác sỹ cùng quê bảo: Ðợt thương binh này phải chuyển ngay về viện B 80 tỉnh đội Kon Tum điều trị. ở đây vài hôm nữa là ùn tắc thương binh, không có chỗ nằm đâu! Tốp cáng tôi có bốn người, hai đàn ông trung niên và hai cô gái dân tộc Thượng, thôi thì mặc kệ họ, muốn đưa đi đâu thì đi. Tôi cứ nhắm mắt chùm chăn kín mặt ngủ khật khưỡng trên võng. Lên dốc rồi xuống dốc, sang đông rồi về tây, cứ hai người đàn ông cáng thì tiếng chân chắc nịch, đi rất đều và nhanh hơn hẳn. Ðổi cho hai cô gái cáng thì võng lắc bên này, đu sang bên kia, nhún nha nhún nhẩy. Có khi đang lên dốc, họ trêu nhau hoặc tán cái gì đó bằng tiếng dân tộc thế là cười như nắc nẻ, may mà hai người đàn ông chạy lại đỡ kịp nếu không thì họ đã quăng tôi xuống suối. Con đường xe ngựa như dài mãi ra, chưa thấy có dấu hiệu gì là đến viện cả. Quá trưa, cái nắng đầu mùa nung xuống mặt đường, chăn và võng nóng rát. Các vết thương tấy mủ thối khẳn, thịt của mình mà không tài nào thở được, tôi kéo chăn xuống cổ và lấy áo che lên mặt cho đỡ nắng và thối. Ðoàn người có lẽ thấm mệt, không thấy ai nói gì cả chỉ thấy những bước chân nén xuống mặt đường. Một đoàn cán bộ đi công tác ngang qua, thấy đoàn thương binh chủ lực. Họ mời vào ven đường, một chị có gương mặt phúc hậu nắm lấy võng của tôi: - Em bị thương vào đâu?Ta đánh đến Tân Cảnh chưa mà bị thương nhiều thế hả em! Qua chị tôi mới biết đây là đoàn cán bộ hội phụ nữ tỉnh Kon Tum đi công tác, chị lấy trong gùi ra một túi bánh Dầy và phát cho mỗi người thương binh hai chiếc. Tôi cầm một, chiếc còn lại đưa cho hai cô gái. Họ nhìn tôi cười và chia nhau ăn ngon lành. Càng đi sâu vào hậu cứ, núi cứ cao hơn và rừng càng ngút ngàn, tiếng máy bay ầm ì có vẻ chiến tranh ở xa lắm. Xẩm tối, tôi thấy họ rẽ ầm ầm vào khu rừng bên cạnh. - Cái bệnh viện của tỉnh còn xa lắm mà! Mình phải chốt lại ở đây thôi! Mặc cho chiến sỹ quân y đi hộ tống thương binh nói những gì, họ cứ kẻ lấy nước, người chùi gô dúm củi vào và đốt lửa. Bí quá anh ta nói: Nếu đồng bào không đi nữa thì thương binh của đội nào đội ấy cho ăn, chương trình hôm nay phải đến bệnh viện nên không đem theo gạo. Ðang ngồi vắt vẻo trên võng chờ cơm bỗnh huỵch một cái, tôi ngã lăn xuống đất, lộn hai vòng và nằm ngửa dưới tà luy đường, đau điếng. Hai người đàn ông chạy lại đỡ tôi dậy, hai cô gái đang chụm lửa nấu cơm đứng ngây ra. Dây võng tự nhiên tuột khỏi cáng, may mà ở ven rừng chứ đang khiêng nhau trên suối thì ... Khoảng 9 giờ sáng hôm sau chúng tôi đến bệnh viện. Tiêu đề: Re: Những người lính trung đoàn - Họ chiến đấu như thế. Truyện ký của Hoàng Gửi bởi: quangcan trong 16 Tháng Hai, 2012, 02:24:36 pm Viện B80 tỉnh đội Kon Tum ( Kỷ niệm những ngày điều trị vết thương tại BV Tỉnh đội Kon-Tum) Bệnh viện nằm bên dãy núi đá trên một dông đất khá bằng phẳng. Những lán trại ở đây có vẻ hiện đại hơn bệnh xá của trung đoàn rất nhiều. Nhà làm trên mặt đất, cao ráo, vách nứa đan nong đôi vuông vức. Hai đầu hồi có hai cửa thông nhau, hành lang đi giữa, hai bên hai dẫy giường mỗi bên 6 chiếc là 12 người một nhà. Các ngôi nhà nằm im lìm trong một rừng cây cao bóng phía dưới đã được chặt hết cây con tạo thành mặt sân nhẵn nhụi. Lán nọ cách lán kia vài chục mét có hệ thống hầm hào từ trong nhà thông sang nhau và chạy ra sau rừng, nghe nói phía núi đá có con suối rất trong và một khu rừng hoang đầy hang động. Tôi được xếp vào lán bất động, toàn thương binh què và cụt không đi lại được. Từ đây đi về nhà khám và điều trị của bệnh viện khả xa, hình như đây là lán cuối cùng của cả khu. Bác sỹ và nhân viên toàn người miền nam, Kon Tum, Quảng Nam, Quảng Ngãi..có cả. Chúng tôi không đi lại được nên không biết viện trưởng là ai, kể cả các bác sỹ khám và cho thuốc, chỉ còn nhớ vài nhân viên trực tiếp điều trị của mình mà thôi. Chị Liên Ytá, hộ lý gầy gò lúc ấy khoảng 27 tuổi, chưa chồng, người Quảng Nam. Cái tỉnh mà khi phát âm ra ngữ Việt thì chữ nam thành Quảng Nơm-Quảng Ngở. Một con người khắc khổ, hiến trọn tuổi thanh xuân cho Cách mạng. Chị đã quá lứa và yêu ai ở cái nơi khỉ ho cò gáy, đàn ông thì già mà đàn bà lại quá nhiều này. Chị tần tảo chiều chuộng cung phụng thương binh bao nhiêu thì chúng tôi quý mến chị gấp bấy nhiêu lần và ngay cả những khi ngồi viết lại những dòng chữ này. Hàng ngày chị mang cơm, tiếp nước cho cả lán, thay băng, giặt giũ cho những thương binh nặng, thôi thì hầm bà làng trăm công việc. Cái quý nhất là chị luôn yêu đời và không cáu gắt với ai bao giờ. Trong lán có thương binh Nếnh người Nghệ An- Tiểu đoàn trưởng bộ đội địa phương Kon Tum, gãy hai đùi và một cẳng chân, bó bột trắng xoá. Lúc ấy khoảng ngoài 30 tuổi anh có vẻ thích chị Liên và cũng nhận được tình cảm trìu mến của chị.Thế là chúng tôi cứ hún vào: Chị Liên- Anh Nếnh gọi hoặc: Anh nhờ chị thay quần áo kìa!.. Suốt ngày nằm rồi ngồi, loanh quanh trên giường chán quá thế là chúng tôi hát, đồng ca rồi đơn ca, người nọ kích động ngưòi kia, ai cũng hát. Hát hay nhất là tôi và một chiến sỹ đội Văn nghệ xung kích tỉnh đội Kon Tum bị thương mất một hòn cà. Anh ta kể: Tôi đang cầm súng lom khom thì thằng Cán Gáo ào đến quăng lựu đạn. Mảnh US bay giữa hai bẹn cắt luôn một bên, tôi nhìn xuống thấy hòn cà nằm còng keo dưới đất vẫn còn lòng thòng sợi dây buông xuống, tôi nhặt lên, nhét vào và băng lại.Về đến đây bác sỹ hội chẩn và bảo: Cắt cho nó an toàn, một hòn vẫn còn đẻ tốt !khéo mắn quá lại không nuôi hết! Mỗi khi thấy chúng tôi ca nhạc, chị Liên lại thập thò mang nước lên lán: Chị Liên ơi, vào nghe anh Nếnh hát! Anh Nếnh đỏ mặt: Ði đi, không được vào! Sau 10 ngày từ khi tôi bị thương, ngày 24 tháng 4 năm 1972 thì giải phóng Tân Cảnh, 4 ngày sau, thương binh lũ lượt từ mặt trận đổ về. Ðủ loại đui mù, què cụt, cháy xém. Mỗi giường xếp hai người, trừ trường hợp quá nặng. Có một chiến sỹ xe tăng nghe đâu bị bom đánh cháy. Anh ta lợt lạt khắp người, cởi trần như nhộng, ngón tay dính vào nhau như chân vịt, nước chảy nhớp nhúa, vừa tanh, vừa khẳn. Người ta hơ lá chuối rừng làm chiếu, hàng đàn ruồi bu quanh màn, đen như dán đỗ. Sơn người (Bản nguyên- Lâm Thao - Phú Thọ) bị thương vào mông và mu bàn chân khi đánh vào Tân Cảnh. Vết thương nhiễm trùng bị dòi đẻ, mổ moi ra hàng bát. Hôm nay lại bị dòi rúc, kêu la nhờ tôi xuống báo cho phòng thường trực. Khi bị dòi đẻ, vết thương thối khủng khiếp, Sơn lại ngồi đầu cửa hướng gió, thốc vào lán, khẳn lằm lặm. Anh em trong lán bảo: Thằng Hậu ra nằm thay chỗ thằng Sơn không thì chết ngạt hết bây giờ! Tôi chống gậy xuống báo cho bác sỹ trực, Sơn đau quá không chờ nữa, bò bốn chân xuống phòng mổ, vừa bò vừa khóc, tôi chống gậy theo sau. Ðến chiều người bác sỹ cõng lên Sơn lán và bảo: Anh này nhát như mèo! Lần sau còn để ruồi nó đẻ thì chúng tôi cắt chân luôn! Sơn vội lấy túi bơi Trung Quốc đút chân vào đó, thấy con ruồi nào bay đến anh ta vỗ cho bằng chết! Bệnh viện tăng cường thêm một nữ bác sỹ ngoài Bắc vào, chưa chồng. Nhìn qua vẫn còn phảng phất cái nét một thời vàng son của người con gái. Bây giờ Tầm tuổi đã ngoài 30 rồi, không rõ do điều động hay chị xung phong vào chiến trường này. Tưởng đồng hương Miền Bắc chị ta quan tâm hơn, thế nhưng bà này hắc xì dầu lắm, quát tháo liên tục: Còn cái cậu này nữa, đã bảo đi được thì xuống phòng khám thay băng cho vệ sinh, không sợ nhiễm trùng à! Một lần tôi bảo: Chị xem vết thương của em có miếng thịt mọc thừa ra như cái lưỡi đây này! Chị ta cởi băng ra xem, ghé luôn chiếc kéo giáp mặt đùi và cắt xập một cái, máu tràn ra: Ðể cho nó đẹp, sau này ra Bắc con gái khỏi chê! Và bây giờ xem lại , vết thương ngày ấy cũng phẳng phiu lắm! Thương binh về đã kín các lán trại, không biết có bao nhiêu lán bất động, nghe chị Liên nói cũng khá nhiều thương binh nặng.Vấn đề đặt ra cho bệnh viện là: Lấy cái gì cho thương binh ăn? Không còn hạt gạo nào cả, nếu có huy động toàn dân khu vực này thì trong dân cũng đang giáp hạt, không có gạo. Tỉnh can thiệp bằng cách: Tất cả vì tiền tuyến, ai có gạo đem gạo, ai có mỳ giúp mì! Ngày nào cũng lũ lượt đồng bào gùi hạt Bom Bo cho bệnh viện. Chúng tôi ăn hạt Bom Bo thay cơm. Ðói thì đầu gối phải bò, các lán thương binh nhẹ thay nhau ra nương dân (cải thiện), có cái gì ăn được là họ tha về. Có hôm bệnh viện bắt thu hồi hàng ôm mía tím, họ đem cho lán thương binh nặng ăn: Ðàng nào thì lán thương binh nhẹ cũng đã vi phạm chính sách dân vận rồi, các đồng chí ăn đi! Chị Liên kể: - Hổm rày bệnh viện có đàn lợn hơn chục con, mổi con chừng 7-8 ký, mấy ổng này lừa bắt thịt ráo chọi luôn, còn hai con chết hụt ngơ ngơ ngác ngác! Mấy hôm sau nghe Nguyễn Xuân Viện- Cùng quê (Tứ Xã-Lâm Thao-Phú Thọ) cùng nhập ngũ, bị thương vào phần mềm ở trận đánh ven Tân Cảnh sang lán kể: - Ðói! rau xanh không, thịt không, đi ra nương vặt rau tàu bay càng sốt ruột. Chúng nó nghĩ ra mẹo bắt lợn thịt: Lấy cơm Bom Bo rắc trong lán dử lợn con vào, hai thằng ngoài cửa cầm sẵn võng, trong thì đuổi, bên ngoài chỉ việc nâng võng lên, túm lại là hết éc. Hai thằng, một ăng gô, một dao găm ra sau rừng là có đủ luôn cả lòng sốt đem chia cho cả lán. Mỗi hôm một con cho đến khi bị phát hiện. Hơn một tháng không được tắm giặt, người vừa hôi, vừa mốc, ngứa ngáy rất khó chịu. Một hôm tôi đang nằm thấy như con gì rơi buồn buồn trong bụng, lật áo lên, rùng hết cảngười: Rận! Hàng đàn Rận trắng nhởn, mũm mĩm chậm chạp di chuyển theo các kẽ vải, Rận đông đúc, hành quân xếp hàng trong các lớp băng vết thương. Cả lán rộn cả lên: Bắt Rận, anh nào cũng lột quần áo ra, vừa bắt, vừa giết. Ngoài mặt trận đưa tin về: Ta giải phóng xong Ðắk Tô-Tân Cảnh, lấy nốt Diên Bình-Võ Ðịnh và hiện nay đang áp sát Kon Tum. Chúng tôi dù ăn đói nhưng cũng thấy ấm bụng hẳn lên. Ðánh lớn như vậy, đơn vị tôi ai còn, ai mất, bất giác tôi thấy nôn nao trong người. Tôi đã đi lại được,Viện đưa tôi ra suối tắm giặt. Rất lâu mới lại được sống giữa thiên nhiên như thế này. Phía sau lán, dãy núi đá sừng sững, tím biếc trong chiều tà, khu rừng hoang sơ im lìm trong áng chiều bảng lảng. Phía đó là bao nhiêu hang động, bao nhiêu cây rừng và những con chồn hoang, thú dữ. Một con thác như mành tơ buông trắng xoá phía thượng nguồn, nước trong suốt, mát lạnh nổi gai gà: Ðáng ra mình đi tắm từ trưa có phải đỡ lạnh hơn không! Tiêu đề: Re: Những người lính trung đoàn - Họ chiến đấu như thế. Truyện ký của Hoàng Gửi bởi: quangcan trong 16 Tháng Hai, 2012, 02:25:33 pm Vài hôm nữa Viện trở về đơn vị, chúng tôi liên hoan, chia tay nhau bằng cách: Hai thằng đi ra nương lấy rau tàu bay và hái nấm. Một bãi rẫy của dân cách không xa bệnh viện là bao, những cây cổ thụ bị đốn gục bằng dao quắm, có cây dài đến vài chục mét. ở đó mục nhĩ (Nấm mèo) mọc chi chít từ gốc đến ngọn. Ðất tơi xốp, ẩm mục cho các loại rau đua nhau mọc, ngọn tàu bay mập to như ngón tay người. Ðầy hai gùi, chúng tôi hăm hở về lán. - Chị Liên đâu? Cho anh Nếnh mượn chiếc ấm đun nước! - Âm để làm chi zậy! Hổng có nước thì tôi lấy cho, việc gì phải đun!? - Nước của các bà chưa sôi.. - Sao lại chưa sôi.. - Thì cứ đưa ấm lại đây, mặc xác chúng tôi! Cho rau tàu bay vào ấm- Luộc! Vớt ra đưa vào cái chậu nhựa thường lấy cơm, đút vào chăn hai người ngồi trên giường, chùm lên - Lại luộc! Hết rau tàu bay đến mục nhĩ, có ai đấy bảo: Thôi chết rồi, bà Liên đến! Chị Liên vào lán, bà này biết chắc chúng tôi có cái gì đấy, lúng ta lúng túng, khói lại tự nhiên từ trong chăn ông Nếnh bay ra. - Kìa, nước sôi rồi kìa! - Cứ để cho nó chín kỹ..Thế chị Liên hôm nay không phải làm gì à! - Hông! Bà ta ngồi xuống cạnh bếp, chả lẽ để cho rau chín nhừ thành cao! Tôi đành nói thật và nhờ chị xin thêm ít muối. - Biết rồi! Làm kheo khéo nghe - Hổng bà bác sỹ biết là mệt cho tụi tôi lắm ! Gần 3 tháng nằm viện, có quân lực trung đoàn đến đón về đơn vị.Tôi được ra viện. Hôm chia tay, thấy chị Liên rơm rớm nước mắt : - Anh Hậu đi may mắn và mạnh giỏi nghe! Kết thúc những ngày điều trị vết thương ở bệnh viện tỉnh đội Kon Tum. Tiêu đề: Re: Những người lính trung đoàn - Họ chiến đấu như thế. Truyện ký của Hoàng Gửi bởi: quangcan trong 16 Tháng Hai, 2012, 02:27:40 pm Trở về Trung đoàn Chúng tôi có hơn 10 người cùng đơn vị được ra viện. Nói của đáng tội: Toàn quân sứt sẹo cả, kẻ băng đầu, người băng tay bước thấp bước cao khập khiễng ngang quân thất trận. Tôi nhìn bên ngoài còn lành lặn hơn cả: Các vết thương đều ở kín trong người, sau hai tháng nằm viện lại trắng trẻo, béo ra như tân binh.Thế nhưng đi khoảng vài tiếng đồng hồ, lên thác, xuống khe, cơ bắp vận động, hai chân bắt đầu trở trứng: Vết thương mảnh còn ngập sâu trong đùi sưng tấy lên, cơ đùi co giật tê buốt. Hai vết thương xuyên mặt trong hai đùi mới lên da non cọ sát vào quần tấy đỏ như phải bỏng. Gần trưa, cái nắng càng oi nồng, mồ hôi túa ra sót như tra muối, vừa đi, vừa nghỉ. Ðến một khe nước chảy ven đường, có ai đó cắm một ống nứa đón mạch nước từ trên vách đá, nước chảy tong tỏng, mát lạnh. Chúng tôi dừng lại ăn cơm trưa. Xung quanh rừng cây um tùm, gió từ dưới thung lũng ào qua mát lạnh. Ðứng trên bờ khe nhìn xuôi con suối, xa tít tắp chỉ thấy núi rừng xanh biếc, nhấp nhô như vô tận.Tỉnh lỵ kiểu gì mà trập trùng ngang trường sơn, không biết bao giờ mới đến đồng bằng đây. Nghe người sỹ quan quân lực nói: - Nếu đi nhanh thì hơn một ngày là đến thị trấn Tân cảnh. Còn dọ dẹo như chúng tôi cầm chắc hai ngày mới ra đến cầu Ðak Mót. Từ đấy đi về toàn đường nhựa và đường đá, địa hình trống trải, máy bay rà sát suốt ngày, nếu ra đấy vào buổi chiều mà hành quân đêm là hay nhất. Tôi cởi phăng quần dài cho đỡ vướng, dùng hai cuộn băng bó chặt vết thương bên đùi cho khỏi rát, chúng tôi lại tiếp tục lên đường. Khoảng hơn một tiếng, có một con đường cắt ngang, một thanh nứa người ta vạt nhọn đầu kẹp vào thân cây ven đường ở đó kẻ chữ : K 4A. Chúng tôi rẽ vào. Ði khoảng 20 phút thì đến kho gạo, mỗi người nhận 6Kg rồi tấp tả quay ra. Ơ đây rừng có vẻ bằng phẳng hơn, phía xa không thấy núi chắn trước mặt, nghe nói cũng xắp ra đến bờ sông Pô Cô rồi, chúng tôi dừng lại nấu cơm. Mắc võng tòng teng ven suối chẳng hầm hố gì cả, xa xa có tiếng máy bay vọng lại, hình như vẫn đang đánh nhau ở ven thị xã Kon Tum. Sáng hôm sau lại cơm nắm lên đường, thỉnh thoảng đã thấy có mấy đơn vị chuyển quân qua, một vài đoàn đi về kho lấy gạo, không gặp ai quen mà hỏi thăm cả. Qúa trưa ra đến bờ sông, đại đội công binh đang bắc cầu treo qua sông. Bốn sợi cáp đã được kéo căng từ gốc cây bờ bên này sang lùm cây bờ bên kia, tán cây xoè ra hai bên sông không đủ che kín cho đoạn cáp ở giữa dòng.Tôi nghĩ bụng: Thế này khi cầu làm xong thì nguỵ trang kiểu gì để che mắt thằng VO10 được đây. Qua sông bằng một mảng nứa kéo tay, có ai đấy bảo: - Trên bờ chú ý thằng VO10 đấy, có gì thì gọi to lên! Ðến bờ, chúng tôi đi một đoạn rồi ra đường 18, cả đoàn nghỉ lại ăn cơm trưa. Con đường giải nhựa đã bong vẩy, đá lởm chởm, chỉ cách đây có vài tháng thôi, nó là mạch máu giao thông huyết mạch của địch ầm ầm xe tải và xe nhà binh, hôm nay vắng lặng phơi mình dưới nắng. Phía đông, một khoảng trời rộng mở, những sườn đồi thoai thoải bám theo con lộ, thấp thoáng đã thấy những bản làng nhà tôn sáng lấp loá ẩn hiện trong vườn cây ăn quả.Gió từ phía đông mên man bò theo sườn dốc rồi ào xuống thung lũng mát lạnh. Ðã lâu lắm rồi chúng tôi mới được phóng tầm mắt xa đến như vậy, một vùng giải phóng rộng lớn mà biết bao nhiêu đồng chí của tôi đã ngã xuống mới giành lại được. Mỗi người vác một cành cây trên vai, vừa che nắng vừa nguỵ trang. Chúng tôi hàng một bám theo ven đường hành quân. Ðang quen leo đèo, lội suối nay đi toàn đường bằng thấy gan bàn chân như căng ra, bắp chân mỏi dừ thế mới lạ. Sau lưng chúng tôi là căn cứ PLâyCần lọt giữa vùng giải phóng. Hình như nó cũng biết thân phận cá nằm trên thớt của mình nên không dám quăng pháo vô tội vạ như trước nữa, con đường tiếp tế cho chúng chỉ còn dựa vào hàng không mà thôi. Có tiếng VO10 bay đến, chúng tôi tạt vào ven đường. Chiếc máy bay nghiêng ngó dọc bờ sông rồi bay về phía quận lỵ. Ðến một bản ven đường cách Ðak tô 2 (Sân bay Phượng Hoàng) không xa, chiếc VO10 quay lại, nó chổng mông bắn đạn khói, hai chiếc A37 từ đâu ào đến quăng bom xuống bãi gỗ cạnh sân bay. Khói cuồn cuộn bốc lên, những thân cây bị bom văng quay mấy vòng trên trời, đất đá tung lên mù mịt. Chúng tôi chui vào một ngôi nhà sơn toàn màu đỏ( Sau này đặt tên là Bản đỏ) đứng xem máy bay địch hùng hổ thừa bom đạn. Có đơn vị nào ở đấy mà chúng nó đánh dữ thế không biết, thôi tốt nhất là dừng lại nấu cơm, tối đến hành quân đêm cho mát. Ban đêm trời mùa mưa mây bảng lảng, thỉnh thoảng còn sót lại vài ngôi sao trôi vật vờ rồi chìm vào khoảng đen sâu thẳm. Gió lành lạnh thổi ngược đường, phía thị trấn Tân cảnh tối mịt mùng không thấy ánh điện đâu cả. Qua bãi gỗ, đất đá văng ra khắp đường, mùi khét của khói bom, mùi gỗ mục xen lẫn mùi cao su cháy dở nhắc người ta trở về với hiện hữu: Chiến tranh đã ở ngay trước mặt. Dọc đường 18 quang tinh trập trùng, chỗ đen, chỗ trắng, hai bên đường trống trơ không thấy có cây cối nào cả. Qua căn cứ 42- Chỉ huy sở của sư đoàn 22 nguỵ-Tôi nhận ra nó giống y như xa bàn cát đã học. Hướng cửa mở của K8 là đây: Vượt qua bãi lầy, đào hầm sát chân đường, tiền nhập qua mặt đường 18, giáp tà luy là hàng rào đầu tiên của căn cứ. Lớp hàng rào bùng nhùng bị phá bung ra thành lối vào cửa mở. Phía trong kia, hàng lô cốt đầu cầu bị đánh xụp thành những đống đen sì, thảm hại. Giáp cửa mở một tháp nước đổ ụp, nằm chông chênh, hai cột bị bẻ cong xuống và hai cột còn lại như hai bàn tay của chúa chọc lên trời. Không biết bao nhiêu đồng đội của tôi hy sinh trên cửa mở này, nghe nói C6 đánh qua cửa mở là bị thương và hy sinh gần hết. Anh Hậu đại đội trưởng cùng hai chiến sỹ hy sinh trong cùng một hố pháo dưới chân tháp nước kia. Tôi nhìn lướt qua, rồi đi xuôi theo con dốc, qua cầu cùng đoàn người tiến vào thị trấn Tân Cảnh. Ðêm hôm ấy, chúng tôi ghé vào một ngôi nhà không chủ nghỉ tạm. Sáng hôm sau, đi tham quan một vòng thị trấn, một vài pho tượng Ðức Bà bị bắn vỡ đầu. Phía ngoài thị trấn, một qủa bom ném trúng mặt đường 14, hơi nổ cày lên từng mảng bê tông nhựa to bằng tấm phản, mảnh bom cào sước mặt đường thành những vệt loang lổ. Quá trưa thầy trò lục tục chui vào rừng đi về trung đoàn bộ. Tiêu đề: Re: Những người lính trung đoàn - Họ chiến đấu như thế. Truyện ký của Hoàng Gửi bởi: quangcan trong 16 Tháng Hai, 2012, 02:31:15 pm Trung đoàn nằm trong một cánh rừng phía sau thị trấn Tân Cảnh. Sau giải phóng, địch cay cú đổ quân, tung biệt kích thám báo hô hào tái chiếm Ðak Tô-Tân Cảnh. Chỉ cần nghi ngờ cánh rừng nào là bom dội xuống, B52 trà đi sát lại như muốn huỷ diệt toàn bộ những gì còn sót lại trong rừng. Bởi thế ở đây hầm hố đã được sửa sang lại, hầm thùng đào sâu xuống đất, phía trên lợp bằng cỏ gianh hoặc máng vầu, bên cạnh là một cửa thông vào hầm chữ A chắc chắn. Thấy đoàn thu dung vạ vật trước hầm quân lực chờ phân bổ về các đơn vị. Một người dáng gầy còm đến hỏi tôi: - Này, mới ở bệnh viện về à! Cậu quê ở đâu! - Em ở Lâm Thao, Phú Thọ. - Thế tớ cũng ở Lâm Thao - Ơ Tiên Kiên đây! Vào chỗ tớ uống nước đã! Tôi khoác ba lô theo anh vào một căn hầm cách đấy khoản 10 m. Qua câu chuyện tôi biết anh vào chiến trường từ năm 67, hiện nay là y sỹ của trung đoàn bộ, anh bảo tôi: - Trung đoàn chuẩn bị mở một lớp y tá tại C 21 quân y. Theo anh, trắng trẻo đẹp trai như cậu cứ theo học ở trên này một thời gian, ra trường có gì anh xin ở lại trung đoàn hoặc làm y tá các tiểu đoàn cũng đỡ ác liệt hơn, nếu nhất trí anh báo quân lực rồi ở đây luôn với anh! Nghe anh nói tiểu đoàn 8 nhất là C6 thương vong gần hết, sau đánh Tân Cảnh, Kỳ được phong lên làm tiểu đội trưởng, đánh quân biệt kích đổ bộ xuống Ðak Tô, Kỳ dẫn đầu tiểu đội bám địch không may bị mìn hy sinh gần hết tiểu đội. Số lính cũ hầu như không còn người nào, bây giờ về đơn vị chỉ toàn là quân mới bổ xung mà thôi! Thấy thế, tôi đã nản lòng và nghe anh ở lại trung đoàn bộ. Những ngày ở trung đoàn chờ quân số các đơn vị gửi lên, tôi quay về thăm tiểu đoàn 8. Ðơn vị đóng quân phía ngoài vị trí tập kết cũ, trong một cánh rừng sơ sác vì B52. Gặp lại mấy sỹ quan quân lực và sỹ quan hậu cần, tôi hỏi về trận Ðak tô - Tân cảnh. Anh ta kể: - Sau khi tôi bị thương, địch tiếp tục đổ quân và nống ra ven thị trấn hòng phát hiện lực lượng chủ lực của ta và chiếm lĩnh các cao điểm. Các đơn vị phải tổ chức đánh vét chúng xuống để lấy vị trí tập kết cho pháo binh chiếm lĩnh trận địa. 15 giờ ngày 21-4-72 mở màn chiến dịch giải phóng Ðak Tô - Tân Cảnh. Pháo binh và tên lửa B72 của ta khai hoả bắn phá chỉ huy sở sư đoàn 22 và các căn cứ xung quanh Tân Cảnh. Ðêm 23 - 4 - 1972 một tổ thông tin gồm: đ/c Ðệ, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn thông tin, đ/c Bản, đại đội phó đại đội 16 cùng Phùng Văn Tích chiến sỹ thông tin PRC 25 và 4 trinh sát cắt rừng ra ven quận lỵ ÐakTô đón xe tăng của ta. Ðoàn người đi trong ánh đèn dù của máy bay C130 và pháo sáng từ căn cứ địch bắn lên. họ phải tránh các đồn bốt của địch chốt ven đường, áp sát đường 14 chờ xe tăng của ta. Ban đêm cờ giải phóng cắm trên xe rất khó nhận diện, sợ nhầm phải xe tăng địch. Theo hợp đồng: xe tăng của ta nòng pháo được buộc thêm một bó nứa. Khoảng gần 21 giờ có 9 chiếc xe từ phía ngầm Pô Cô hạ đi lên. Mấy điểm chốt của địch ven quận lỵ bắn ra như vãi đạn. Biết chắc là xe tăng của ta, họ leo lên đường 14 chạy bộ đuổi theo. Hình như đại đội thiết giáp nhận hợp đồng có quân ta đón ở khu vực này, họ phát hiện có người đuổi theo và dừng lại. Hai bên gặp nhau và nhận lệnh: - Từ giờ phút này đại đội thiết giáp gặp bất kỳ ổ đề kháng nào của địch đều có quyền tiêu diệt. Cứ theo trục đường 14 này, 03 giờ sáng ngày 24 - 04 - 1972 phải vào đến thị trấn Tân Cảnh kết hợp cùng K9 và các đơn vị phối thuộc giải phóng thị trấn, sau đó một bộ phận theo hướng cửa mở K7, số còn lại theo cửa mở K8 đánh chiếm sư đoàn 22 nguỵ và tiếp cận đánh Ðak Tô2 và sân bay Phượng Hoàng. 04 giờ sáng ngày 24- 4 -1972 xe tăng của ta cùng K9 giải phóng thị trấn Tân Cảnh. Phía cửa mở K8, do tiểu đoàn trưởng Bùi Thanh Hiêm chỉ huy cho bộ đội tiền nhập áp sát đường 18 từ 21 giờ tối ngày 23- 04. Bộ phận dò gỡ mìn, cắt rào, gá bộc phá đã hoàn tất trước 5 giờ sáng. Ðúng 05 giờ 10 phút ngày 24 - 04 - 1972 pháo binh ta trút bão lửa xuống căn cứ 42 - Chỉ huy sở sư đoàn 22 nguỵ. Mìn phá rào đồng loạt nổ, cửa mở được khai thông, xe tăng cùng bộ đội ào ạt tiến vào cửa mở. Ðịch điên cuồng phản kích, pháo ta, đạn địch mù mịt, bộ đội theo sát xe tăng tiến công. Ðịch cho xe tăng M48 cùng bộ binh ra bịt cửa mở, nhiều chiến sỹ K8 đã hy sinh. Chiếc xe tăng đi đầu nòng pháo vướng vào hàng rào bùng nhùng phải lùi lại, đạn địch bắn ra như mưa, nhiều chiến sỹ nằm sát xe tăng không quan sát bị xe tăng chèn phải, có người chui từ gầm xe tăng chui ra. Tiểu đoàn trưởng Bùi Thanh Hiêm và đại đội trưởng Hậu cầm súng ngắn chạy lên , chạy xuống đôn đốc bộ đội nhanh chóng chiếm lĩnh cửa mở.Có chiến sỹ ôm bộc phá 5 Kg đánh lô cốt đầu cầu và hy sinh trong tư thế oanh liệt: Người và bộc phá áp sát lô cốt, tay cầm điểm hoả, anh dựa vào tường thành, những bao cát tung ra phủ lên đầu, lên cổ. Không ai lường được trên tháp nước có một trung đội địch chiếm giữ, ÐKZ, súng phóng lựu và đại liên bắn ra như mưa. Ðại đội trưởng Hậu cùng một chiến sỹ B40, một chiến sỹ AK tiến đến chân tháp nước thì hy sinh trong cùng một hố pháo. Xe tăng địch phản kích đều bị tên lửa B72 của ta tiêu diệt, khi phát hiện trên tháp nước có địch, xe tăng ngóc nòng pháo bắn hai quả đạn xuyên thủng, nước trên tháp chảy ồ ồ xuống đất. Ðến khi tên lửa B72 bắn trúng, tháp nước đổ gục, toàn bộ quân địch bị tiêu diệt, bộ đội ta ào ạt tiến vào cửa mở. Ðại đội 6 sau khi chiếm lĩnh được khu vực đầu cầu chỉ còn lại không đầy 10 tay súng. Luận ( Bảo Thanh-Phù Ninh) hy sinh trong lô cốt đầu cầu, một số bộ đội bị thương tự bò ra hoặc được vận tải cáng ra ngoài. Ðại đội 5 và đại đội 7 chia làm hai gọng kìm đánh thọc vào khu trung tâm. Ðịch điên cuồng ném bom và bắn pháo bừa bãi xuống cửa mở. Phía cửa mở K7 càng ác liệt, đến giờ hợp đồng tác chiến, xe tăng của ta chưa vào đến cửa mở. Lệnh nổ súng, bộc phá điểm hoả mở cửa không hết, còn một hàng rào trong cùng. Tiểu đoàn trưởng Phạm Văn Vượng lệnh cho bộ đội ôm bộc phá đánh công kiên. Xe tăng và đại liên trong lô cốt của địch quét dọc cửa mở, bộ đội chưa ôm bộc phá đến nơi đã thương vong, tình thế vô cùng căng thẳng. Tiểu đoàn trưởng Phạm Văn Vượng xin trung đoàn chi viện hoả lực tiêu diệt xe tăng địch và khu vực lô cốt đầu cầu. Anh xông xáo cùng bộ đội đặc công đoàn 37 đánh cường tập, phá hàng rào, thông cửa mở và đánh chiếm lô cốt đầu cầu. Ðược hai xe tăng ta kịp thời chi viện, trung đội trưởng đại đội 2 Ðỗ Văn Sử (Việt Trì-Phú Thọ) cùng tiểu đoàn trưởng Vượng ( Lúc đó đã bị thương) chia làm hai mũi dẫn bộ đội đánh chiếm khu trung tâm, bắt liên lạc với K8 và các đơn vị bạn trong căn cứ. 11 giờ trưa ngày 24 tháng 04 năm 1972 lá cờ giải phóng đã tung bay trên căn cứ 42- Chỉ huy sở Sư đoàn 22 nguỵ. Ðại tá Lê Ðức Ðạt - Sư đoàn trưởng và cố vấn Mỹ bị tiêu diệt. Sư đoàn phó Vi Văn Bình cùng toàn bộ 429 sỹ quan, binh lính bị bắt làm tù binh. Trong chiến dịch Ðăk Tô - Tân Cảnh, trung đoàn bổ sung thêm quân số( Ðoàn Hoà Bình, Vĩnh Phú, Hoàng Liên Sơn). Sau chiến thắng, ta củng cố lại lực lượng, bao vây và giải phóng nốt cứ điểm PlâyCần. Nhưng do không nắm chắc địa hình và lực lượng của địch trong cụm cứ điểm này. Phía ta có tư tưởng tự mãn, chủ quan khinh địch nên trận Plây Cần bị thất bại, tổn thất rất lớn. Ðó là bài học đắt giá mà trung đoàn phải rút kinh nghiệm. Trong trận này: Nguyễn Văn Tịnh, nhập ngũ một ngày với tôi; Bường và Ngôn cùng quê (Ðoàn Vĩnh Phú mới bổ sung) đã hy sinh tại đây. Tiêu đề: Re: Những người lính trung đoàn - Họ chiến đấu như thế. Truyện ký của Hoàng Gửi bởi: quangcan trong 16 Tháng Hai, 2012, 02:35:37 pm Lớp y tá trung đoàn Tặng cán bộ học viên bệnh xá trung đoàn 66, Sư đoàn 10, QÐ 3. Lớp y tá gồm 25 người được gửi từ các đơn vị trong trung đoàn lên. Lớp học khai trương bên cánh rừng thưa cạnh một con suối khá dốc, phía trên chúng tôi là nơi ở của nhân viên, bên kia là khu điều trị thương bệnh binh trong bệnh xá. Chúng tôi chia ra 4 người ở trong một nhà hầm lợp bằng máng vầu, hai người một giường, ở giữa là chiếc bàn uống nước. Bên này tôi và Giáp còn giường bên kia là Kế với Hà (Cùng nhập ngũ cùng quê Lâm Thao). Ðêm đầu tiên trong căn nhà mới không có gì để liên hoan, chúng tôi ra cạnh rừng bẻ vội mấy ngọn măng về ca cóng. Cũng định nấu đến sáng mai lấy cơm về ăn thêm. Nhưng khi nồi măng vừa chín, cái đói cồn cào, người này nếm thử, kẻ kia ăn theo, nồi măng vừa đắng vừa he mà nhoàng một cái đã hết sạch. Lớp học lợp bằng phên nứa, bàn ghế là những chiếc cột chôn xuống đất, ghế buộc bằng thân vầu bổ đôi. Còn bàn thì tuỳ theo học viên tự tìm kiếm : Người mảnh gỗ, kẻ kiếm được mặt bàn lấy từ ngoài thị trấn đem về, kê lên nhìn đến là hay. Y sỹ Trịnh Minh Tước- quê ở (Thanh Sơn- PT) được phân làm chủ nhiệm lớp, lúc ấy anh khoảng 23 tuổi. Ðó là một anh chàng, hay khôi hài, nắm chắc nghiệp vụ và rất có năng khiếu sư phạm. Thân hình to béo nên chúng tôi vẫn bảo: Ông này mà bị thương thì chắc nằm lại sau cùng, thằng nào cũng tranh nhau chọn thương binh bé nhất để cáng! Anh Tước cười: Bởi thế cho nên tao không bao giờ bị thương cả! Thời gian này, lớp y tá học cả sáng và chiều. Một hôm tôi bảo anh Dao- y sỹ-giáo viên dạy khoa ngoại: - Ðại đội em chúng nó chôn rất nhiều hộp trong hầm, có đứa bị thương không quay lại lấy được, hai anh em đi về đấy tìm đi! Nghỉ trưa, chúng tôi cầm súng sách gùi cắt rừng về khu vực tập kết của K8. Qua những khu rừng bị bom đánh cây đổ ngả nghiêng, những hố bom cỏ đang lên xanh mơn mởn, lần đến hầm của đại đội tôi ở. Lúi húi bới tìm, gần chục hầm mới thấy 4-5 hộp, toát cả mồ hôi, chúng tôi ngán ngẩm quay ra. Ðến một cánh rừng, qua khoảng trống thấy một chá Sơn Dương (To bằng bê con) đang ung dung gặm cỏ. Anh Dao vội đưa súng lên bóp cò. Con hoãng nhảy dựng lên rồi lồm nhồm lao vào rừng để lại những vệt máu loang lổ. Tiếc quá, tý nữa thì được bữa thịt cho đội phẫu ngon lành! Ngoài những giờ lên lớp, cứ mỗi tháng chúng tôi phải từ hai đến ba lần đi qua thị trấn Tân Cảnh, về cầu Ðăk Mót lấy gạo. Một phần cho chúng tôi và nhân viên trong bệnh xá, một phần phục vụ các bệnh nhân đang điều trị. Sau thất bại Ðak Tô Tân Cảnh, địch co cụm củng cố và tăng cường các vị trí phòng thủ nhất là ven thị xã Kon Tum. Phía ta, đang giữa mùa mưa, mọi hoạt động tiến công tạm dừng lại. Các đơn vị ổn định tổ chức, học tập chính trị, bổ xung quân số và sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vùng giải phóng. Ðường hành lang từ hậu cứ ra phía trước đã được thông thoáng, gạo đạn và các nhu yếu phẩm cho bộ đội tương đối đầy đủ. Chúng tôi không bị đói như đầu năm 1972, có hôm đi lấy gạo, mỗi hầm để lại cả bao gạo để nấu dần mà cũng không ai buồn ca cóng. Một đêm trời mưa rất to, con suối sau nhà nước chảy như thác, ngày mai đi lấy gạo rồi, thấy trời mưa, ai cũng ngán. Bỗng có con gì nhảy lạch tạch trên giường, tôi vùng dậy: - Giáp kìa! Rắn rết- rắn rết! Chúng tôi vùng dậy lấy đèn soi thì không phải, một con giun gần bằng ngón tay, đỏ quạch dãy dụa trên giường. Mẹ kiếp, giun lại muốn ngủ cùng với người! Ngày mai đi lấy gạo có điềm gở gì đây! Sáng hôm sau chúng tôi khoác gùi đi lấy gạo. Qua thị trấn Tân Cảnh đi về phía cầu treo Ðak Mót. Chiếc cầu bắc nối giữa hai lùm cây, đoạn giữa được nguỵ trang bằng cây song đã khô lá. Sàn cầu lát bằng các thanh gỗ với bốn sợi cáp rất chắc chắn. Ðến kho gạo chúng tôi nghỉ ăn cơm trưa. Ðầu tôi cứ láng máng hình ảnh con giun đất từ mái nhà rơi xuống giường đêm hôm qua. Ăn xong, đóng gạo vào bao, chúng tôi lục tục quay về. Ðến gần cầu treo, có tiếng OV10 bay dọc bờ sông, nó vòng đi, vòng lại. Thế rồi máy bay lao xuống kèm theo tiếng ụt ụt như động cơ bị tắc, một loạt tiếng nổ chát chúa ngoài bờ sông, lại một loạt tên lửa nữa bắn xuống. Cầu treo bị lộ rồi! OV10 dến thế nào cũng bị bom, chúng tôi được lệnh sơ tán vào khe suối. Thế mới mệt đây! tối nay có vượt được sông hay không? Cầu hỏng thì đi bằng cách nào? chỉ tại con giun đất, mày hại chúng tao quá! Khoảng gần tối máy bay cút, chúng tôi mò ra bờ sông. Ra đến đường xe thồ, thấy bộ đội cáng nhau ngược chiều, máu vẫn còn loang trên võng: - Nó đánh chỗ nào đấy hả đồng chí? Mình bị thương có nhiều không? - Nó đánh vào hai đầu cầu! Ðứt cầu treo rồi! Người cáng thương vừa đi vừa trả lời cho xong việc. Bây giờ làm thế nào đây, ra bờ sông hay chốt lại. Ðàng nào cũng không ổn, ở lại thì ăn bằng gì, ngủ ở đâu trời mùa mưa thế này tăng võng không mang theo. Cuối cùng chúng tôi quyết định cứ ra bờ sông rồi tính sau. Tối một lúc thì ra đến bờ sông, hai đầu cầu cây cối nghiêng ngả, mùi khét của thuốc bom còn chưa tan hết, có mấy chiến sỹ công binh cầm súng đứng ở ven cầu. - Này đồng chí ơi, chúng tôi xê 21 quân y, sang sông bằng cách nào hả đồng chí!? - Không có thuyền đâu, các ông phải chờ đến ngày mai xem thế nào! Chúng tôi ngồi bệt xuống đất thở rốc, xui xẻo quá, kiểu này ở đây đến nhịn đói, ngồi làm mồi cho muỗi và dĩn, biết đâu đêm nay B52 mò đến sơi tái cả lũ cũng nên. Nếu gùi gạo quay lại khu vực an toàn thì có mà sáng. Cầu treo bị bắn đứt hai sợi cáp cùng một bên, sàn gỗ buông xuống một đầu vẫn bám vào sợi cáp, hai đầu cầu vẫn hở trên mặt nước còn đoạn giữa chìm sâu xuống lòng sông. Có một đoàn cán bộ từ bên kia đi sang, họ bám tay vào sợi cáp trên, còn chân thì đi lên sợi cáp dưới, ở giữa sông nước ngập ngang đùi: - Cứ sang đi, không việc gì đâu! Chết nó có số rồi! Thấy vậy một đoàn vận tải đi gùi hàng hăm hở lên cầu. Có ai đấy bảo: - C21 đâu, chuẩn bị sang sông! Người ta đi được thì mình cũng đi được, chúng tôi sắn quần, khoắc gùi trên vai có vẻ quyết tâm lắm. Nhìn sợi cáp to gần bằng cổ tay vít chắc chắn vào gốc cây, tôi cũng yên bụng. Kìa ông này, lên đi! Chú ý đi thưa ra! Từ từ thôi! Chúng tôi lần lượt lên cầu, ở đầu bên này, cáp bị nước kéo căng nên có vẻ chắc chắn. Ðến khi ra đến giữa dòng, cáp chìm sâu xuống nước, những thanh gỗ sàn cầu vẫn bám vào sợi cáp lại bị lực nước cản, cứ đu đưa như đánh võng. Cáp trùng xuống mà sợi trên thấy như cao thêm, nước ngập đến quá đùi, sơ sảy một tý là trượt chân rơi xuống dòng nước xoáy. Thế rồi chúng tôi cũng lần lượt sang sông, ướt hết quần áo. Thôi thế là may lắm rồi, đi ra ngoài đường nhựa rồi hãy nghỉ, khẩn trương lên! Vừa đói, vừa mệt, mò mẫm đến gần sáng chúng tôi mới về đến đội phẫu, người như muốn lả đi. Sau ba tháng học lý thuyết, chúng tôi chuyển sang vừa học vừa thực hành. Phân theo ca trực cùng y, bác sỹ, tiêm và thay băng cho thương binh, kiến tập các ca phẫu thuật nhỏ trong bệnh xá. Có một bệnh nhân của K9 tên là Hồng. Một sinh viên đại học bách khoa năm thứ tư thì nhập ngũ. Anh ta đã bị sốt rét ác tính, sốt đi sốt lại nhiều lần và trở thành tâm thần phân liệt. Theo lời của người cáng bệnh nhân đến thì thời gian nằm viện của anh ta nhiều hơn thời gian ở đơn vị. Người ta sẵn sàng quy cho là bệnh tư tưởng và không thiếu điều ong, tiếng ve. Bởi thế bệnh tình ngày một nặng thêm. Nhìn anh ta có lúc như kẻ mất hồn, lúc tỉnh táo lại có vẻ rất thông minh, với hai con mắt mở to, cằm hơi nhọn và cái trán vừa rộng, vừa hói. Chúng tôi được lệnh giám sát anh ta với một câu chuyện: Một bệnh nhân tâm thần phân liệt ở một đội phẫu nọ, khi thấy bộ đội cáng thương binh vào bệnh xá vô tình để súng ở ngoài cửa lán. Anh này cầm súng và bắn luôn vào đầu tự sát. Ây thế là còn may đấy, ví thử anh ta cầm súng mà lia luôn cả băng vào tất cả thương binh đang điều trị trong bệnh xá thì cái gì xẽ sảy ra đây!?. Bởi thế ca nào cũng phải áp sát người bệnh nhân tâm thần phân liệt này. Một đêm chúng tôi đang ngủ thì có lệnh báo động mất bệnh nhân Hồng. Tất cả y bác sỹ đến học viên toả đi các hướng tìm kiếm, tang tảng sáng thì thấy anh ta ngồi lù lù cạnh một thác nước rất sâu sau đội phẫu. Chúng tôi bảo nhau: Hay là cũng định tự tử!? Xét về mặt tâm lý : Một người đang ốm đau, bệnh tật mà lời động viên quan tâm của đơn vị thì thiếu, trong khi đó câu trì triết chụp mũ lại qúa là thừa. Một chiến sỹ có hiểu biết, có trình độ lại phải chịu dưới sự chỉ huy, quản thúc của một người cán bộ thiếu năng lực chẳng hạn thì khó có sự đồng cảm. Thường thì những người như thế lại rất hay máy móc, nguyên tắc và bài bản dở hơi. Trong bệnh xá, còn có một chiến sỹ công vụ cho ông Dần, Trung đoàn phó, Chiến sỹ này tôi không nhớ tên, quê ở Thái Bình. Thường thì lính công vụ đều nhanh nhẹn tháo vát và đẹp trai. Viên đạn xuyên qua làm gãy xương hàm phải và trái, đứt đôi lưỡi, khuôn mặt méo đi không thể nhận ra gương mặt khả ái ngày xưa nữa. Anh ta kể trong ngọng ngựu, tiếng được, tiếng mất, có câu phải luận mãi mới ra: Vừa giải phóng xong, tôi và mấy trinh sát cùng thủ trưởng Dần ra ngay thị trấn Tân Cảnh. Chưa đi đến hết bìa rừng thì gặp một toán tàn binh nguỵ. Chúng sả súng bắn rồi bỏ chạy vào rừng. Thủ trưởng Dần ngã xuống, tôi thấy mặt mình biêng một bên và tê đi, máu trong mồm chảy tràn ra, nhổ mãi không hết. Lúc ấy tôi chỉ nghĩ một điều: Chạy ngay về đội phẫu! Thế là tôi chạy quay lại, về gần đến đây thì ngã xuống không biết gì nữa! Nghe đâu trung đoàn phó Dần đã hy sinh, còn người công vụ này chờ vết thương ổn định rồi chuyển ra bắc. Không biết số phận người chiến sỹ ấy hiện nay ra sao! Tháng 10 Năm 1972 chúng tôi theo đội phẫu tiền phương đi phục vụ chiến dịch PLâyCần đợt hai. Rút kinh nghiệm trận đánh trước, lần này toàn trung đoàn ra quân với khí thế quyết chiến quyết thắng, tập trung nhân vật lực và vũ khí hiện đại hiện có, tiêu diệt bằng được cụm cứ điểm này. Nơi tiểu đoàn 95 biệt động biên phòng nguỵ được Nguyễn Văn Thiệu gắn huân trương bội tinh và tuyên dương ( Anh hùng cao nguyên trấn) chiếm giữ. Lệnh khai hoả! pháo binh tên lửa, tầm xa tầm gần, đồng loạt nhả đạn. Pháo bắn hai ngày hai đêm, lũ nguỵ long óc, một số hoảng loạn liều mạng vượt rào, đứa này bị mìn chết đứa kia leo lên lưng nhảy qua kẽm gai chạy ra rừng. 10 giờ sáng Ngày 12 Tháng 10 Năm 1972 ba mũi tiến công của K7, K8, K9 và tiểu đoàn 37 đặc công cùng các đơn vị phối thuộc đồng loạt tiến công vào cứ điểm. Ðịch ngoan cố chống cự trong hoảng loạn. Sau 5 giờ chiến đấu ác liệt, ta làm chủ hoàn toàn trận địa.Tiêu diệt 404 tên, bắt sống 40 tên, bắn rơi 6 máy bay các loại, thu hồi toàn bộ phương tiện chiến tranh và kho tàng của địch. Thế là Bến Hét-Cụm cứ điểm PlayCần -Tiểu đoàn 95 biệt động biên phòng của nguỵ quyền Sài Gòn- Bị xoá sổ.( Lịch sử sư đoàn 10 � Ðại tá lê Hải Triều- NXB QÐND). Cuối Tháng 10 đầu Tháng 11 Năm 1972 chúng tôi lại theo đội phẫu đi phục vụ chiến dịch Ðak Xiêng. Sau trận Ðak Xiêng này, lớp y tá quay về bệnh xá trung đoàn tổ chức thi tốt nghiệp. Hầu hết học viên đều nắm chắc lý thuyết, thực tế đã cùng đội phẫu qua các trận đánh, đủ kinh ngiệm về chuyên môn nghiệp vụ để trở về đơn vị chiến đấu. Tôi được điều về làm y tá tiểu đoàn 8 Trung đoàn 66. Lại một trang mới gay go và ác lệt phía trước. Tiêu đề: Re: Những người lính trung đoàn - Họ chiến đấu như thế. Truyện ký của Hoàng Gửi bởi: quangcan trong 16 Tháng Hai, 2012, 02:40:35 pm Chống lấn chiếm trên bản Ðak - rơ - cót, Kon tum Tặng cán bộ chiến sỹ tiểu đoàn 8 bộ binh - Trung đoàn 66 - Sư đoàn 10 - QÐ 3. Tháng 12 Năm 1972 hội nghị Pa - Ri về Việt Nam bế tắc, Mỹ đơn phương chấm dứt đàm phán, đưa máy bay chiến lược B52 đánh phá Hà Nội- Hải Phòng và một số tỉnh phía bắc, hòng chiếm ưu thế trên bàn hội nghị. Hàng ngày nhìn những tốp B52 hùng hổ bay ra phía bắc, chúng tôi thấy tim mình như nghẹn lại, lo thay cho hậu phương lớn. ở đây là một vùng rừng núi bao la, B52 giải thảm chắc gì đã huỷ diệt được những người lính như chúng tôi đã từng chung sống và quen với bom và đạn Mỹ. Nếu B52 mà ném bom xuống Hà Nội , Hải Phòng, xuống nhà trường, bệnh viện và làng quê bình yên của miền bắc thì sự huỷ diệt của nó tàn bạo đến như thế nào đây. Nhìn lên trời, hàng tốp B52 không cần máy bay tiêm kích hộ tống, đen xẫm phun khói ngạo mạn bay ra miền bắc. Thế nhưng rồi chiều hoặc sáng hôm sau lại thấy một hoặc hai chiếc lầm lũi như kẻ cắp bị đòn lủi thủi bay về phía Thái Lan. Qua bản tin thời sự của Ðài tiếng nói Việt Nam, quân và dân Miền Bắc anh hùng đã bẻ gãy cuộc tập kích chiến lược của địch, bắn rơi 81 máy bay trong đó có 34 chiếc B52. Con bài ngáo ộp cuối cùng của Mỹ bị thất bại buộc chúng phải ngồi vào bàn thương lượng tại hội nghị Pa Ri về chấm dứt chiến tranh Việt nam. Tiểu đoàn bộ nằm sau thị trấn Tân Cảnh trong một cánh rừng loang lổ vết bom. Quân y tiểu đoàn có 3 người, Nguyễn Kiến Ðào -Y sỹ bệnh viện Yên Bái nhập ngũ theo đoàn Hoàng Liên Sơn vào chiến trường cuối năm 1971 (Hiện nay là viện phó BVÐK Yên Bái). Ðó là một y sỹ còn rất trẻ, cao ráo, đẹp trai, rất quyết đoán trong mọi công việc. Anh Tuấn y tá, quê ở Hà Tây- Có cái đầu to, tóc quăn luôn chải bồng về phía sau nên trông lại càng to, tiểu đoàn quen gọi lóng là (Tuấn cán gáo), Người thứ ba là tôi- Hoàng Kim Hâu y tá mới vừa ra trường. Về tiểu đoàn bộ được một tuần thì đài kỹ thuật của ta báo về: Toạ độ Y+2 vĩ tuyến bắc và N-1 vĩ tuyến nam khẩn trương sơ tán. Trong khi chưa kịp di chuyển đơn vị. Bắt buộc từ nay tất cả phải nằm trong hầm chữ A, không ai được nằm hầm thùng! Toạ độ đó đúng vị trí đóng quân của tiểu đoàn 8 chúng tôi. Có lẽ lũ biệt kích cắt rừng phát hiện ra vị trí đóng quân của ta, chúng điện về xin B52 đánh bom. Bộ phận đài thông tin kỹ thuật của sư đoàn bắt được. Tôi dọn lại hầm chữ A, thế nhưng lâu không ai vào, nó vừa hôi, vừa mốc. Anh Ðào bảo: Thôi, cứ mắc võng trong hầm thùng, có gì chui vào đó sau cũng được! Khoảng 1 giờ sáng ngày hôm ấy, tôi chỉ thấy ba bên bốn bề sáng quắc lên, đất đá ào ào phủ lên lán hầm, tiếng huỳnh huỵch xung quanh, tai ù đặc, võng lắc như ngồi trên thuyền vượt thác. Tuấn kêu to: B52 rồi! Thế là ba người cùng một lúc lao vào cửa hầm chữ A. Một quả bom nổ rất gần hất bay mái lán, ba lô, thuốc thang để trên giá cũng bay đâu mất. Cây cối, đất đá phủ đầy hầm, xung quanh quang tinh để tơ hơ ba ông quân y cùng chen nhau vào cửa hầm mà không ai vào được. Chiếc chăn dù hoa một đầu quấn vào chân tôi và một đầu vẫn loài thoài trên võng. Hết ba loạt bom, tim đập thình thịch, chúng tôi sờ soạng tìm ba lô và túi thuốc. Anh Ðào bảo: - Chú ý nghe xem có hầm nào kêu cứu hay không.? Mẹ nó, may mà còn ôm theo túi thuốc cấp cứu - Ðèn pin của ông Tuấn đâu? đèn của tôi bay bố nó đâu mất rồi! Ðầu tháng 1 Năm 1973 hội nghị Pa Ri về chấm dứt chiến tranh Việt Nam đã được ký sơ bộ. Ðể đáp ứng công tác chính trị trong điều kiện mới và bảo vệ vững chắc vùng giải phóng- Chúng tôi nhận lệnh hành quân. Cắt về phía đông, qua dãy núi Ngọc-Bầu-Biêng, những cánh rừng hoang sơ cây cổ thụ cao 4-5 chục mét đã bị chất độc màu da cam huỷ diệt. Những thân cây cao lêu đêu, trơ trụi lá, cành cây khẳng khiu như cánh tay quỷ giơ cao lên trời. Vượt trên triền núi, gió từ phía đông thổi rất mạnh làm cho cây và cành khô gãy răng rắc. Có ngày vượt qua một khu rừng cháy đen, trơ trụi lá, đất tơi xốp bốc bụi mù mịt. Lệnh trên hàng quân truyền xuống: Bộ đội dùng nước trong bi đông thấm ướt khăn mặt thay cho khẩu trang! Khẩn trương vận động qua bãi chất độc hoá học! Không ai được dừng lại! Qua mấy ngày hành quân, chúng tôi đã tập kết cạnh chân cao điểm 601- Ven đường 14 phía bắc thị xã Kon Tum khoảng 8Km. Ðại đội 7 và một khẩu đội 12 ly7 của C14 thay cho đơn vị bạn chốt giữ cao điểm 601. Tiểu đoàn bộ nằm trong bãi nương bỏ hoang của dân, lúp xúp cây cộng sản mọc thưa thớt. Hết bom lại pháo, trên cao điểm không lúc nào tan khói. Thằng địch đang cố đẩy ta ra khỏi chốt, tận dụng hết uy lực của bom đạn Mỹ trước khi hiệp định Pa Ri được ký kết. Từ tiểu đoàn bộ nhìn lên, khói bom bao trùm cao điểm, cứ nghe hàng loạt tiếng đề pa của pháo là từng cột khói dựng lên trên chốt như đang xem phim thời sự vậy. Hết pháo, bộ binh địch mò lên, tiếng AK đồng loạt điểm xạ, B40 ùng oàng chớp lửa. Ðịch bỏ chạy, bom và pháo lại trùm lên cao điểm. Người lính hàng ngày kiên gan đọ sức cùng bom đạn Mỹ như thế, chắc gì mày đã đánh đáo trúng hầm của bọ? Nếu trúng thì bọ hy sinh còn không cứ cho quân chúng mày lên đi! Một buổi chiều, có chiếc trinh sát L19 bay đến, nghiêng ngó dọc khe suối cạnh tiểu đoàn bộ. Hai chiếc AÐ6 từ Kon tum bay lên, đạn khói được phóng xuống thượng nguồn con suối, thế là hai chiếc máy bay cứ thế bổ nhào ném bom. Có lẽ địch nghi ta trú quân dọc theo khe suối, chỗ nào có cây xanh là chúng huỷ diệt. Rất may đến quả bom thứ 12 địch choang đúng bụi le cạnh bềp anh nuôi và hầm quân y tiểu đoàn. Quả bom rơi cách chúng tôi khoảng 6 m, hơi bom làm sập một góc hầm quân y, bụi bay mù mịt. Nồi quân dụng cơm đã chín để ngập trong bếp Hoàng Cầm bị hơi bom lật úp, bật ra ngoài. Tiểu đoàn bộ chốt trong bãi nương bình yên vô sự, đó cũng là một chiến thuật trú quân mà thằng địch không thể lường hết được. Một buổi trưa, không gian vắng lặng, bỗng nghe có tiếng nổ đùng đục làm rung chuyển cả căn hầm. Chúng tôi nhìn lên chốt, một cột khói đen bốc cao quấn theo cây cọc và đất đá lên trời, có ai đấy bảo: Bom nổ chậm rồi! Một lúc sau, từ trên chốt điện về báo cho quân y tiểu đoàn chuẩn bị cấp cứu. Khoảng 20 phút, một thương binh được cáng về đội phẫu. Ðó là người đại đội phó của đại đội 12 ly7.Vết thương cắt ngang qua mặt, sống mũi bị chia làm hai, môi trên xệ xuống kín cả miệng. Trước khi để cho chúng tôi băng bó, anh đẩy hai cánh mũi lên, cúi xuống cho máu chảy ra và bảo: -Có lẽ lần này tôi nằm viện rất lâu, ngày mai là ngày chuyển Ðảng chính thức của tôi, các đồng chí ở lại làm thủ tục cho tôi được chuyển Ðảng đúng hạn định. Còn thằng Kế cố gắng tìm và chôn cất cho nó được chu đáo! Sau đó anh mới để cho chúng tôi băng lại. Qua những người cáng thương kể: - Khẩu đội 12,7 ly từ trong cao điểm 601được lệnh chuyển ra ngoài hàng rào để đủ tầm bao quát chi viện cho bộ binh và bắn máy bay địch. Hầm đào gần xong, Phùng Văn Kế , cùng nhập ngũ một ngày với tôi (Quê ở Thuỵ Vân-Lâm Thao-Phú Thọ) y tá đại đội và chiến sỹ liên lạc vào rừng chặt kèo hầm. Khi về đền nơi, người đại phó đang lúi húi sửa lại hầm. Vừa nặng, vừa mệt, Kế lao bó gỗ xuống bên cạnh, không ngờ trúng luôn quả mìn chống tăng của địch chôn từ trước, cả người và bó gỗ bay lên trời. Hiệp định Pa ri có hiệu lực từ 7 giờ sáng Ngày 28 Tháng 01 Năm 1973. Với bản chất hiếu chiến của Mỹ và nguỵ quyền Sài Gòn. Ðúng 6 giờ sáng cùng ngày, 3 loạt B52 còn đánh xuống khe suối dưới chân cao điểm. Lý Sài Quẩy, anh nuôi đại đội 7 vừa đưa cơm trên chốt quay về, may mà không có ai việc gì. Ðúng 7 giờ Ngày 28 - 01 - 1973 hiệp định Pa Ri về Việt nam có hiệu lực, lệnh ngừng bắn được ban bố, các bên tham chiến giữ nguyên vị trí tập kết của mình, cắm cờ phân chia khu vực dưới sự giám sát của uỷ ban quân sự bốn bên. Không thấy tiếng động cơ máy bay và tiếng pháo gầm rú. Xung quanh vắng lặng bỗng đâu vẳng tiếng gáy của chú gà hoang gọi bạn. Chúng tôi chạy ùa lên hầm: Hoà bình rồi, cờ đâu treo lên để đón máy bay Liên hiệp quốc! C7 bàn giao cao điểm 601 cho đơn vị bạn, K8 chuyển về khu vực Kông Trang kla-Kông Trang Kép và� Ðak Rơ Cót làm nhiệm vụ giữ đất, cắm cờ. Chỉ huy nhẹ tiểu đoàn gồm: Ông Lợi - Chính trị viên phó, một tổ trinh sát, một thông tin PRC 25 và một công vụ, cùng C7 cắm cờ trên bản Ðakrơ Cót. Tôi, y tátiểu đoàn tạm thời về tăng cường cho C7. Ðó là một bản nhỏ bỏ hoang còn sót lại vài ngôi nhà sàn siêu vẹo, những tấm tôn hoen rỉ rơi vãi cong vênh. Ði đến góc nào của bản cũng gặp cồng chiêng lớn bé, chum vại đủ loại nằm lăn lóc. Phía đông là một dông đồi cao ráo với vạt rừng thưa, phía bắc có con đường mòn đi ra cao điểm 601 và đường 14. Phía tây bản là một bãi lầy loang lổ hố bom ngập đầy nước, xung quanh cỏ và rau cần hoang mọc xanh rì. Trong thời điểm này, cả ta và địch luôn giữ khoảng cách giữa chiến tranh và hoà bình: Súng đạn lúc nào cũng sẵn sàng nhưng không ai được nổ súng. Hàng ngày chúng tôi cắm cờ trên bản, chia nhau đi tuần tra toàn khu vực, cho bộ đội đi cắt gianh, củng cố lại hầm hào và lán trại. Thằng địch ngoài vị trí chiếm đóng ra, chúng còn cho từng toán quân chui vào vùng giải phóng của ta để treo cờ nguỵ. Hôm ấy tổ tuần tra phát hiện toán địch mũ sắt lố nhố, một tên gài lá cờ ba que sau đít đang leo lên ngọn cây. - Ai cho phép chúng mày cắm cờ ở đây!? Quân nguỵ quay ra đã thấy bộ đội ta đứng ngay bên cạnh, phong thái đàng hoàng dõng dạc vội vàng bỏ chạy tán loạn, tên nguỵ trên ngọn cây hoảng sợ tụt ngay xuống đất, bỏ cờ lủi mất. Trung đoàn tổ chức các điểm tiếp xúc với nguỵ quyền Sài Gòn, thành lập nhà hoà hợp dân tộc cho các đội công tác tuyên truyền chính sách của mặt trận đối với gia đình và binh sỹ nguỵ quyền. Giải thích các điều khoản về hội nghị Pa Ri, về hoà hợp dân tộc và hoà bình đang được vãn hồi. Hầu hết binh sỹ nguỵ đều mong mỏi hoà bình, chấm dứt cuộc đời đi đáng thuê, chết thay cho Mỹ. Lũ sỹ quan ác ôn và bọn tâm lý chiến thì ngoan cố, quanh co nhiều khi còn đưa ra những đòi hỏi láo sược. Một hôm, ba tên nguỵ sách theo chai rượu và mấy con cá mực đi đến. Cán bộ ta lấy kẹo lạc ra mời và xin lỗi: Bộ đội giải phóng không uống rượu trong khi đang làm nhiệm vụ. Ba tên ra về, cách nhà một đoạn, chúng ngồi bệt xuống đất, đem rượu và mực ra chén sạch sau đó mới trở về nơi đồn trú. Ðêm hôm ấy tôi đang ngủ, thấy tiếng leng keng trong bản, anh Lan thức dậy cắp súng đi kiểm tra. Mất cờ! Ðến hỏi trung đội nhận ca ban chiều giao cho trung đội ca đêm cờ vẫn còn. Chiến sỹ nhận ca đêm bảo tối quá không nhìn thấy cờ. Thế thì biệt kích mò vào bản lấy trộm cờ rồi! Lệnh báo động. Cả đại đội nháo nhào, đến khi người đại phó trong hầm chui ra bảo: Tối hôm qua đi kiểm tra thấy cờ vẫn treo trên cột, sợ mất trộm nên tôi gỡ cất đi rồi! Thế cái gì leng keng trong bản? Không phải địch thì là gì? Ði kiểm tra một vòng thấy có rất nhiều vết chân trâu trong bản. Sáng hôm sau, tổ trinh sát bắn chết một con trâu mẹ và trâu con dưới bãi lầy. Trâu mẹ được chia về cho các đại đội trong tiểu đoàn, trâu con thì để lại chỗ thầy trò ông Lợi. Từ đó bộ đội gọi lệch ra biệt danh là ông Lợi nghé! Ðịch bắt đầu lén lút phá hoại lệnh ngừng bắn. Chúng cho quân mò sang vùng giải phóng, gài mìn trên đường đi tuần của ta. Hôm ấy tổ tuần tra gồm Sơn tiểu đội phó, Chuốt ( Hai người cùng quê Vĩnh Tường ) và Phòng (Nhìn anh ta lúc nào cũng lôi thôi nên gọi là ông thợ cối) đi đến bãi gianh thì vướng mìn. Sơn hy sinh tại chỗ, Phòng bị thương, Chuốt bỏ chạy về bản. Khi ra đến nơi, bãi gianh cháy lan sang người Sơn, tóc tai và áo quần cháy nham nhở, các vết thương bị cháy xém nứt ra. Nhìn thấy đồng đội của mình như vậy, là lính mới vừa vào chiến trường, Chuốt hoảng sợ, nhân lúc một mình đứng gác đã dùng kíp mìn tự thương. Tôi cùng đại đội và ban chính sách trung đoàn vượt qua bãi lầy ra ngay điểm chốt. Chuốt bị cụt ba ngón tay trái tính từ ngón út. Khi xét kỷ luật, Chuốt thành thật nhận lỗi về mình. Xin không quay ra Bắc mà ở lại chiến đấu, lập công chuộc tội. Tiêu đề: Re: Những người lính trung đoàn - Họ chiến đấu như thế. Truyện ký của Hoàng Gửi bởi: quangcan trong 16 Tháng Hai, 2012, 02:40:46 pm Tháng 03 Năm 1973, Nguyễn Văn Thiệu trắng trợn phá hoại lệnh ngừng bắn, thực hiện chiến dịch vết dầu loang: Ðưa quân lấn chiếm từng vùng giải phóng, khu vực nào không dúi được thì chúng giả vờ ngồi bàn hiệp thương và hoà hợp dân tộc. Phía ta vẫn kiên trì quan điểm hoà giải, từng khu vực giữ vững vùng giải phóng.
Khu vực Cơrong-Trung Nghĩa, bản Ðak Rơ Cót-Kông Trang Kép, Kông Trang Kla địch lấn chiếm ác liệt, khu vực này đã trở thành mũi tiền tiêu chống lấn chiếm. Tôi nhận lệnh quay trở về đội phẫu của tiểu đoàn bộ. Chúng tôi đóng quân trong cánh rừng le khá bằng phẳng. Tôi chịu không xác định được mình đang ở khoảng nào và hướng nào của bản Ðak Rơ Cót. Xung quanh pháo bắn mù mịt, thương binh từ các đại đội lần lượt cáng về. Cấp cứu rồi sơ cứu, phân loại thương binh cho chuyển về phía sau. Suốt ngày chui lên hầm, chui xuống hầm, tiêm thuốc băng bó cho thương binh, lo tránh pháo. Ðêm hôm ấy có thương binh của C5 cáng về. Anh ta tên là Giang ( Tôi không nhớ quê). Vết thương xuyên cột sống, liệt toàn bộ từ thắt lưng trở xuống. Ðáng ra phải chuyển thương binh này về tuyến sau, nhưng thương binh được đưa về quá muộn nên chúng tôi phải cấp cứu và thay nhau trực. Anh Ðào bảo: - Tôi mệt quá rồi, ông trực mấy tiếng sau đó gọi (Tuấn cán gáo) thay cho! - Anh phải gọi lão Cán gáo này gác trước sau đó để lão gọi em mới được, ông này ngang lắm! Anh Ðào đi các hầm, thò cổ vào: - Tuấn ơi! ới Tuấn!Không có ai thưa. Kiểu này là hắn trốn tiệt trong hầm rồi! Thôi, ông cứ trực thương binh đi, lúc nào mệt quá thì gọi tôi! Thương binh nằm ngổn ngang trong hầm, người nọ gác vào người kia. Có một thương binh ban chiều còn kêu được vài câu bây giờ đã chết, Người thương binh cột sống này một nửa người đã lạnh giá, anh ta bảo tôi kéo chân anh chàng đang ngáy bên cạnh ra không thì nó cựa và đạp vào mặt. Bên ngoài pháo địch câu đến, trong hầm leo lét ngọn đèn đốt bằng ống tiêm, mùi mồ hôi lẫn với mùi tanh của máu. Tôi dựa vào vách hầm và ngủ mất. Tỉnh dậy sờ vào người thương binh đã thấy cứng ngắc, anh ta chết từ bao giờ, ca trực của mình mà không biết, hai chân người thương binh bên cạnh lại còn khư khư gác lên cổ. Tôi cố lay gọi, hai tay anh ta lạnh giá, sờ vào cổ, vẫn còn hơi ấm. Thôi được rồi, tôi leo lên hầm đi gọi anh Ðào. Trăng thượng tuần chênh chếch sau cánh rừng, có lẽ là cuối của tháng âm lịch. Gió ào qua xe lạnh, anh Ðào lập cập cầm túi cấp cứu cùng tôi chui xuống hầm. - Ông cầm đèn soi đi! - Qua ánh đèn pin tối mù mù, bàn tay người thầy thuốc lách kim tìm tĩnh mạch. Chỉ một lúc sau, thương binh tỉnh dần, anh ta còn bảo: - Gãy cột sống thế này thì chết thôi! Tiêm làm cái gì cho mệt ra! - Chết là thế nào? Mai đưa ông về đội phẫu chữa chạy xẽ khỏi, cuối năm lại ra bắc cưới vợ, yên tâm đi! Người thương binh này sáng hôm sau cáng về đến đội phẫu thì hy sinh. Ðầu tháng tư, chúng tôi được lệnh rút về hậu cứ, bàn giao cho đơn vị bạn giữ chốt. Ðường hành quân phải qua một bãi tráng rộng khoảng 500 m, phía bên kia là con suối có chiếc trực thăng rơi, ai đó đã lấy cánh quạt máy bay kê làm cầu qua suối. Bởi thế cho nên người ta gọi tên là: Suối trực thăng rơi cho dễ nhớ. Chúng tôi ba lô, thuốc thang cồng kềnh lần lượt rút quân. Tuấn đi đầu đã vượt được gần một nửa bãi tráng, tôi và anh Ðào ra cách bìa rừng một đoạn bỗng hai chiếc trực thăng từ sau bìa rừng ào đến, đại liên bắn sối sả xuống bãi tráng, cánh quạt hắt thuốc súng xuống khét lẹt. Tuấn lăn kềnh ra bãi tráng, tôi và anh Ðào chạy quay trở lại, nhảy xuống một khe suối nhỏ. Anh Ðào bảo: - Tuấn cán gáo chết rồi! Tuấn cán gáo chết rồi! Máy bay ào qua một lúc thì thấy ông cán gáo lạch bạch chạy về: Mặt mày tái mét, Tuấn bảo: - May quá, nó bắn ở bên kia suối trực thăng rơi! Kết thúc những ngày cắm cờ đầy gian nan mà ác liệt. Tiêu đề: Re: Những người lính trung đoàn - Họ chiến đấu như thế. Truyện ký của Hoàng Gửi bởi: quangcan trong 16 Tháng Hai, 2012, 02:44:04 pm Ðánh vào trung tâm tiểu đoàn bảo an - Bắt sống tiểu đoàn trưởng Tháng 10 Năm 1974, tiểu đoàn 8 trung đoàn 66 nhận lệnh cùng đại đội 19 đặc công, luồn sâu đánh vào sở chỉ huy tiểu đoàn Bảo an Nguỵ đang chốt giữ trên điểm cao 827 phía Tây Bắc, giáp thị xã KON TUM. Tiểu đoàn Nguỵ đóng trên bốn dông đồi có thế liên hoàn ứng cứu lẫn nhau: Chỉ huy sở đóng ở trung tâm trên một cao điểm không dốc lắm, ba đại đội Bảo an địch án ngữ theo thế chân kiềng rất gần trong tầm cối 60 chi viện cho tiểu đoàn bộ và các điểm chốt. Ðồng chí Tạ Ngọc Oanh- Quê Phú Xuyên Hà Tây-Tham mưu phó trung đoàn trực tiếp chỉ huy chiến đấu. Nhiệm vụ của tiểu đoàn 8 là: Luồn sâu bỏ qua ba đại đội vòng ngoài, đánh thẳng vào trung tâm tiểu đoàn bộ, bắt sống sở chỉ huy của địch, buộc chúng phải co cụm về thị xã. Ðường hành quân loanh quanh trong rừng, chúng tôi cứ theo trinh sát dẫn đường mà đi, chẳng biết Ðông Tây Nam Bắc là hướng nào cả. Có lẽ cũng rất gần thị xã, ban ngày thấy tiếng máy bay lên xuống rất thấp. Ðêm về C130 lượn xung quanh, thỉnh thoảng bắn 20 ly và thả cái gì nghe hun hút như cắm cây nhiệt đới. Sau ba ngày hành quân, đến vị trí tập kết, các đại đội bí mật cưa gỗ làm hầm, Ngày hôm sau, để một số đồng chí yếu sức khoẻ ở lại trông ba lô, còn tất cả hành quân về phía trước. Thường ngày, y tá đại đội họp giao ban cùng các B chiến đấu, nhận xét công tác vệ sinh phòng dịch của các trung đội, kiểm tra giếng nước, bếp ăn của anh nuôi, các trường hợp chiến sỹ bị ốm đau bệnh tật, báo cho đại đội biết quân số đủ điều kiện sẵn sàng chiến đấu. Trong trường hợp xuất kích, chiến sỹ nào ở lại vị trí tập kết đều do y tá đại đội đề xuất ý kiến. Trận đánh này rất ác liệt, bỏ qua ba đại đội vòng ngoài đánh thẳng vào chỉ huy sở tiểu đoàn địch, hy sinh mất mát là khó tránh khỏi. Trong khi đó Phạm Hồng Quân Cán bộ trung đội khung mới vào chiến trường. Quê (Phú Lộc Phù Ninh PT) dạo này đang bị sốt do viêm hạch, chân đi tập tễnh, tôi xếp cho Quân ở lại cùng nhóm coi ba lô. Quân vui vẻ, không có ý kiến gì cả. Chiều hôm ấy, tôi và Nguyễn Văn Ninh Y tá ( Quê: Hoà Bình) đang chuẩn bị thuốc men thì Quân đến: - Tôi đi xuất kích, không ở nhà nữa đâu! - Tại sao lại không ở nhà? - Lão Bính (Trần Xuân Bính � Ngưòi Cao Bằng - Thay Khoản làm tiểu đội trưởng cối 60) đi giao ban về nói tôi chẳng ra gì cả! - ông Bính bảo sao? - Lão ấy bảo: Cái lũ cán bộ khung ngoài Bắc vào thằng nào cũng hèn nhát! Chưa chiến đấu đã rụt vòi vào! Hơi sốt một tý đã mò lên đại đội xin ở lại! - Ông Bính tiểu đội trưởng, ông là tiểu đội phó, kể ra có ông cùng đi thì nhiệm vụ của tiểu đội cũng nhẹ nhàng hơn! Nhưng mà danh sách ở lại đã duyệt qua đại đội rồi! - Duyệt rồi tôi cũng không ở nhà, tức lắm! - Chú Quân- Tôi thay đổi cách xưng hô thân mật như người nhà- Trận đánh này ác liệt lắm đấy! Chú lại chưa trải qua chiến đấu bao giờ cả, mặc xác lão Bính! - Không! Chết thì chết, tôi cứ đi! - Khoảng 5 giờ chiều, đại đội bỏ ba lô lại vị trí tập kết, mỗi người mang theo súng đạn, tăng võng và gỗ làm hầm vác trên vai hành quân vào phía trước, Quân nhất quyết đuổi theo đơn vị. Ðến nước này thì tôi đành phải van xin: - Trong chiến trường, có người can ngăn mà không nghe là dở lắm đấy! - Không! �Cùng lúc ấy, ông Lợi chính trị viên phó tiểu đoàn đi đến, tôi trình bày: - Báo cáo thủ trưởng: Ðồng chí Quân hiện nay đang sốt, đại đội phân công coi quân trang tại vị trí tập kết nhưng cố tình chống lệnh ạ! - Không chấp hành mệnh lệnh thì thu súng lại! - Thủ trưởng thu súng thì tôi lấy súng của tử sỹ để đánh nhau! Là người lính đi chiến đấu tôi không có tội! Thấy Quân lý sự như vậy, người chính trị viên phó thôi không nói nữa. - Quân này, trong chiến đấu anh gàn mấy trường hợp họ không nghe đều hy sinh cả đấy! Chú nghe anh quay về đi! Quân không nói không rằng, lầm lũi đuổi theo đơn vị. Tiểu đoàn tôi chia làm ba mũi đánh vào cứ điểm. C7 đi theo ba hướng: Trung đội 1 cùng đại đội đặc công đánh vào tiểu đoàn bộ, trung đội 2 cùng khẩu đội cối của Quân tiến lên sát đại đội bảo an vòng ngoài pháo kích, quấy rối không cho địch ứng cứu lẫn nhau. C5 và C6 trong tiểu đoàn dùng 2 trung đội đánh vào hướng chính, một trung đội kiềm chân đại đội bảo an vòng ngoài, bắt chúng phải tự đối phó, bỏ trống chỉ huy sở tiểu đoàn cho chúng tôi làm thịt. Tôi cùng trung đội 3 Trung đội trưởng Trần Quốc Thăng (quê Gia Lâm-Hà Nội) nhận nhiệm vụ độc lập: Ði vòng ra sau cứ điểm của địch, chốt chặn không cho tàn binh chạy về thị xã Kon Tum. Khoảng 8 giờ tối ngày 27-10-1974 các mũi tiến quân cuả ta đã đến giáp hàng rào chỉ huy sở địch đào hầm. Trinh sát dẫn đường cùng chúng tôi vẫn mải miết cắt rừng về phía sau chốt địch. Khoảng 10 giờ đêm, có tiếng lựu đạn nổ trên chốt, hình như quân ta vướng phải mìn, nếu lộ ra, địch xẽ câu pháo đến, trong khi đó chúng tôi vẫn còn lang thang trên mặt đất như thế này. Trung đội tôi chốt trên sườn đồi, ở đây cây rừng mọc nhiều tầng nhiều lớp. Trinh sát tiểu đoàn chỉ hướng cho chúng tôi phục kích sau đó quay về địa điểm xuất phát. Phía lên dốc trước mặt là chốt địch, sau lưng là sườn đồi thoai thoải chắc có một con đường chạy về thị xã Kon Tum. 5 giờ sáng ngày 28 -10 - 1974 cối và DKZ của ta đồng loạt bắn lên cao điểm. Hoà cùng tiếng nổ ầm ầm ấy, pháo của địch từ các hướng cũng nhất loạt câu về. Không phân biệt đâu là đạn ta, đâu là đạn địch, chỉ thấy phía trước tiếng nổ như quyện vào nhau. Pháo địch từ phía sau câu đến, qua đầu chúng tôi tầm đạn đã xuống rất thấp, qủa đạn xé không khí vụt qua réo ù ù. Gần 10 giờ trưa, không thấy súng nổ trên cao điểm. Phía trước mặt, pháo địch vẫn không ngừng bắn lên dông đồi, tiếng nổ nối thành dây trên chốt, hay là chúng nó thất bại, huỷ trận địa đi rồi. Ðứng dưới hầm, chúng tôi căng mắt tìm địch, bỗng có tiếng người lao sao lại gần, qua kẽ lá, mấy bóng đen loang loáng. Ðịch, địch! Tằng tằng, cắc bụp. Trần Quốc Thăng nhanh tay lia một băng đạn, chiến sỹ M79 vội vàng bắn phóng lựu nhưng tầm gần quá đạn không nổ. Hai bóng đen ngã bật ngửa ra rừng và hét lên: Ta ! Ta ! Chúng tôi nhảy khỏi hầm: - Ði đâu mà không gọi, không nói gì thế! -Nói thế còn nói thế nào nữa!? Ði gọi chúng mày về mà còn bắn cái con c...người ta! -Thôi, thôi! Không cãi nhau nữa, hai ông có ai việc gì không? Người trinh sát đi đầu là Nguyễn Văn Tá - Quê Vĩnh Tường-Vĩnh Phúc khoác khầu AK trên vai, tay phải đặt lên ốp tay trên, loạt đạn bắn, bay ốp che tay dưới mà không hề sứt sẹo. Luồng đạn bay sát da bụng, áo bám khói đen xạm lại. Tôi bảo: Quân ta không chiến thắng quân mình là may lắm rồi! Mình rút chứ! Hai chiến sỹ trinh sát hình như vẫn còn bực mình, họ không nói gì cả, lầm lũi quay về đi như chạy. Sợ lạc đường, chúng tôi cố bám đuổi theo. Lên đến đỉnh đồi, pháo bắn loang lổ tan tành từng khoảng rừng, cây đổ ngang dọc. Các đơn vị trong tiểu đoàn đang rút quân, mạnh ai nấy chạy lục tục xuôi theo dông đồi. Pháo địch vẫn đang cay cú bắn ùng oàng phía trước, có ai đấy kêu lên: Ong đốt các bố ơi! Chạy nhanh lên! Ðến vị trí đào hầm dưới chân đồi, tự nhiên pháo ngừng bắn. Mạnh (Hạ Hoà-Phú Thọ) bảo: Một thằng thông tin nguỵ đeo PRC chạy đến đâu là gọi pháo bắn đuổi theo đến đấy! Mình bắn chết thằng thông tin ấy, thế là pháo địch tịt luôn! Tôi nhảy xuống hầm, Bích (Hải Phòng) bảo: Tròn ( Vô Tranh , Hạ Hoà - Phú Thọ) và Quân chết rồi, ông đã biết chưa? -Chết ở chỗ nào ?! Liệt sỹ hiện nay để ở đâu rồi! -Thằng Bình chạy qua vẫn thấy Tròn tay bịt mặt kêu cứu, lúc quay lại thì nó thấy đã chết rồi! Hình như cối 82 của thằng C8 bắn đuối tầm, đít quả đạn nằm cạnh hai liệt sỹ của mình. Kìa, đang cáng về kia kìa! Tôi chạy lên, Quân bị một mảnh đạn cắt ngang mặt trong khuỷ tay trái, trên người lăm nhăm mảnh đạn, máu chảy đẫm ngực áo. Tôi tháo ví lấy toàn bộ ảnh và kỷ vật, hy vọng có ngày quay trở về trả lại cho gia đình Phạm Hồng Quân. Tròn bị mảnh đạn bay mất một bên mắt phải, vừa mới hy sinh, sờ lên người còn mềm và nóng. Tôi đang bóp tim hồi sức cấp cứu cho tròn thì pháo bầy của địch lại câu đến, nhảy đại xuống căn hầm bên cạnh: -Ông nào đây! lên đi! Ông nào đây, tránh ra, hầm tù binh! Tù binh hay không thì cũng giữ lấy gáo đã, hết đợt pháo bầy, tôi leo lên khỏi hầm đã thấy quân vận tải lục tục cáng thương binh và liên sỹ về vị trí tập kết. Về đến nơi, thấy quân tướng mặt mày sưng húp cả. Ông Oanh bị mấy mũi châm vào tay, ông Lợi chính trị viên phó mặt méo một bên, tay trái bị ong đốt sưng tấy, y sỹ tiểu đoàn Nguyễn Kiến Ðào (Hiện nay là viện phó bệnh viện đa khoa tỉnh Yên Bái) đang tiêm thuốc giảm đau. Có chiến sỹ bị ong châm không mở nổi mắt. Tôi hỏi tổ ong ở chỗ nào, họ bảo trên đỉnh dông đồi, pháo bắn trúng tổ ong đất (Ong bầu lỗ ), bộ đội chạy qua thế là nó túa ra đuổi theo. Tôi chạy ngay sau ông Lợi mà không bị châm mũi nào. Lũ tù binh cứ hai thằng trói vào với nhau bằng dây dù, ngồi tụm ở ven rừng. Tên thiếu tá Nhân tiểu đoàn trưởng và một sỹ quan tâm lý chiến, một quân y sỹ bị đưa ra hỏi cung sơ bộ. Hắn nói: Chập tối hôm ấy tự nhiên tôi thấy hai bên tai nóng như lửa, trong người bứt dứt không yên. Khoảng hơn 8 giờ tối, sỹ quan tác chiến báo cáo có hiện tượng không bình thường quanh khu vực đóng quân. Tôi cầm máy báo về trung tâm hành quân, trung tâm trả lời: Bên ngoài các anh còn có 3 đại đội chốt chặn, hai nữa ở đây xa hậu cứ của cộng sản, các anh cứ bình tĩnh đi! Hơn 10 giờ tối, có tiếng US nổ trong hàng rào ( Hướng đại đội 5 bị vướng lựu đạn gài) thực ra cũng có nhiều khi cành cây khô gãy đổ hoặc chồn thú đi qua làm nổ mìn. Ðể cho thật an toàn, tôi xin pháo bắn xung quanh căn cứ từ 500 m trở ra. Gọi sang các trận địa pháo, họ bảo: Ðêm tối rất khó căn chỉnh tầm hướng thật chính xác, sợ bắn nhầm vào các đại đội đồn trú bên cạnh. Càng về khuya, tiếng động càng rõ hơn, tôi báo động cho 3 đại đội bảo an có kế hoạch ứng cứu. Sáng hôm sau thì tất cả chúng tôi đều bị pháo kích. Chôn cất liệt sỹ xong, ngay chiều hôm ấy chúng tôi rút quân. Trinh sát dẫn lũ tù binh đi với nhau, mấy ngày hành quân chúng nó cũng phải có nồi để nấu cơm. Một trinh sát tiểu đoàn bảo: - Mày là tiểu đoàn trưởng ăn bơ thừa, hộp cặn của Mỹ nhiều rồi hôm nay phải đeo nồi! Tên công vụ vội vàng đỡ lấy. - Này thằng kia! Từ hôm nay mày với nó bằng nhau, để đấy cho nó! Anh ta buộc luôn chiếc nồi quân dụng vào lưng ngài tiểu đoàn trưởng, cả lũ tù binh nửa buồn cười nửa sợ, Bộ đội lần lượt dẫn chúng quay về hậu cứ. Tiêu đề: Re: Những người lính trung đoàn - Họ chiến đấu như thế. Truyện ký của Hoàng Gửi bởi: quangcan trong 16 Tháng Hai, 2012, 02:46:14 pm Chiến dịch mùa xuân năm 1975 Cuối năm 1974 - Chúng tôi tập trung vào công tác tổ chức, điêù chỉnh cơ cấu cán bộ để phù hợp nhiệm vụ mới. Các đồng chí làm công tác chính trị có năng lực và khả năng phát triển, được đưa về thực tế qua đơn vị chiến đấu. Ðồng chí Lê Hải Triều - Trưởng ban chính sách trung đoàn (Quê: Thạch Thất - Hà Tây )về làm chính trị viên đại đội 5 thuộc K8. Ðỗ Văn Hoan - Trợ lý ban chính trị trung đoàn (Quê: Sơn Dương- Lâm Thao-PT ) cùng nhập ngũ với tôi về nhận nhiệm vụ trung đội phó C5 thuộc K8. Vậy anh Lê Hải Triều, tôi và Hoan lại cùng chung một tiểu đoàn. Thời gian này, sư đoàn tổ chức cho bộ đội học tập chính trị, chỉnh huấn toàn quân, huấn luyện các khoa mục mới-Hiệp đồng binh chủng và chiến thuật đánh vào thành phố. Các đại đội tổ chức cho bộ đội ăn tết trước- Tết Quang Trung trong hậu cứ Chư Mom Ray. Hôm ấy đại đội 5 mổ lợn, Hoan mời tôi sang ăn tết cùng đơn vị. Ðầu tháng 1 Năm 1975 chúng tôi nhận lệnh hành quân. Ði đâu, làm nhiệm vụ gì chúng tôi không được phổ biến. Chỉ biết rằng: Chuẩn bị đầy đủ súng đạn, quân tư trang, và mỗi người phải may lấy một chiếc khẩu trang khi nào cần xẽ dùng. Ðại đội tôi bổ xung thêm một y tá nữa-Y tá Kỷ-(Quê Dị Nậu-Tam Nông-PT). Ðó là một anh chàng ốm yếu, gầy gò lúc nào cũng xanh xao, siêu vẹo. Chúng tôi thường bảo: Không biết ai người ta cho chú mày đi học y tá!? có lẽ cấp cứu y tá trước rồi chữa chạy cho bộ đội sau!Vừa lôi thôi lại luộm thuộm, đi lấy cơm người ta đã thấy không yên tâm huống chi là điều trị cho bệnh nhân! Hắn còn cãi: Ngày xưa em cũng béo trắng ra phết đấy! Sốt rét triền miên như thế này thì khoẻ làm sao được! Lên đường hành quân, trên vai chúng tôi ngoài quân tư trang, súng đạn, gạo và xẻng cuốc ra, mỗi người phải mang theo rau khô, thịt xấy. Ðại đội khiêng một con lợn để ăn tết, riêng gà thì mỗi tiểu đội một con. Văn phòng đại đội ưu tiên cho Kỷ không phải đeo gạo, chỉ cầm bộ nẹp và chú gà sống buộc lắc lư trên nắp ba lô. Theo lịch hành quân, cứ một tiếng nghỉ giải lao 10 phút, càng đi về phía tây, rừng núi có vẻ dốc và rậm rạp hơn. Một hôm cả đại đội đang gò lưng leo dốc, mồm mũi thi nhau thở, Kỷ mệt mỏi nhón từng bước chân. Lên đến đỉnh dốc,� hắn tệt đít quăng phịch ba lô xuống đất. Không ngờ cái bu gà đứt dây cứ thế lăn lông lốc xuống dốc, con gà càng đạp thì chiếc bu gà càng lăn nhanh. Ðoàn quân đã mệt lại còn buồn cười, làm thế nào đây? Quay xuống lấy bu gà, quay lên thì người cấp cứu! Kỷ cau có lẩm bẩm: Thà nhịn ăn còn hơn đeo nặng! -Thế thì còn gì bằng! Người ta vì ăn mới phải mang vác, từ nay chú mày cứ nhịn ăn thì chẳng còn phải lo gạo nước, gà qué làm gì cho mệt xác ra! Từ đó cái câu: Thà nhịn ăn còn hơn đeo nặng, chúng tôi đặt biệt danh cho Kỷ. Buổi chiều dừng lại đóng quân trong một khu rừng rậm rất nhiều cây to bóng. Chúng tôi đào hầm theo kiểu biệt kích rồi mắc võng đu đưa dưới gốc cây. Trời cuối khô, mây trong vắt, gió từ phía tây thổi về làm sao động khu rừng. Có một chòm phong lan mọc chênh vênh trên chạc cây cổ thụ, vòi hoa tím biếc đong đưa, lá xoè ra chao ngiêng theo từng cơn gió. Giá như có dò phong lan kia mà đem về treo trước nhà thì đẹp biết chừng nào! Tổ anh nuôi vào rừng chặt cây làm bếp đem về một cây nhiệt đới. Ðó là loại cây nhựa, thân cây màu xanh, to hơn ngón chân cái, phía trên có ba tua xoè ra làm ba đầu ăng ten phát ra ba hướng. Dưới gốc cây, cấu tạo như một quả tên lửa đầu nhọn, đuôi có 4 cánh, bên trong là hệ thống điện tử và pin khô. Nghe nói Mỹ sử dụng loại cây này để phát hiện lực lượng hành quân của ta. Mỗi cây một toạ độ, gốc cây ngập xuống đất, nhận và phát luôn tín hiệu để báo về trung tâm chỉ huy. Nghe nói chỉ cần buộc túm ba dâu ăng ten lại hoặc chặt đôi thân cây là nó hết tác dụng. Sau hai ngày, chúng tôi đi ra con đường chiến lược, sau này gọi là: Ðường Hồ Chí Minh. Tà luy đường còn đỏ màu đất mới, không biết thanh niên xung phong hay đơn vị nào thi công mà chẳng thấy bóng một ai cả.Có một vài khoảng đường trống người ta phải bắc dàn để nguỵ trang tránh máy bay địch. Có lẽ ở đây đã giáp với biên giới Căm Pu Chia nên cũng ít thấy máy bay rà sát hơn. Chúng tôi rẽ vào một khoảng rừng bằng phẳng đã có ô tô đến chờ từ bao giờ. Các trung đội lục tục xếp ba lô lên xe, ba lô bên dưới, người ngồi lên trên, hơn hai chục người chen chúc trên thùng xe trong khi cấp trên phổ biến là hành quân dài ngày, đi liên tục, không nghỉ. Trong khi chờ lệnh khởi hành, tôi nhảy xuống xe cho đỡ ngột ngạt. Thấy bộ đội túm quanh một chiếc xe thùng xăng bị dò rỉ, họ chen nhau mở nắp bật lửa tranh thủ nạp thêm nhiên liệu. Dao găm, bật lửa là vật bất ly thân của lính tây nguyên, có người còn may túi có dây đeo kỳ công và quý bật lửa hơn cả đồ trang sức. Có ai đấy lấy xăng xong bật thử luôn bên cạnh, lửa nhoàng ra bàn tay, anh ta vảy liên tục và thế là lửa bắt luôn sang thùng xăng. Chỉ mấy dây sau, một cột lửa bao trùm lên thùng xe, con lợn bị nhốt chặt trong cũi không chạy ra được kêu eng éc. Có hai, ba người nhảy vội lên xe quăng được vài chiếc ba lô xuống đất, còn lại tất cả mạnh ai người nấy chạy vào rừng. Tôi cắm cổ theo đoàn người leo qua ba dông đồi rồi nằm bẹp trong một khe suối cạn. Khói đen sì cuồn cuộn bốc lên khỏi ngọn cây rừng. Ðạn AK, đạn 12 ly 7 thi nhau nổ. Chỉ cần một chiếc trinh sát bay qua, chắc chắn khu vực này xẽ trở thành túi bom của địch. Sau hai giờ đồng hồ, không gian vẫn yên lặng, chúng tôi lục tục kéo nhau ra bến đỗ. Chiếc xe thảm hại chỉ còn trơ lại bộ khung sắt, tất cả những gì xếp trên xe nay đã cháy thành than. Ðoàn xe chen nhau đi di tản cũng đang lục tục quay về bến đón bộ đội. Thế là số người ở chiếc xe cháy đành phải xếp chen lên xe khác để kịp giờ lên đường. Thế là xa hậu cứ Kà leng, xa đỉnh Chư Mom Ray với bao nhiêu huyền thoại. Những chiến công oanh liệt gắn liền với truyền thống đoàn Plây Me anh hùng: Ia Ðrăng, Ngọc Rinh Rua, ÐăkTô, Tân Cảnh�Xa đồng bào Tây Nguyên đã từng đùm bọc những người con của trung đoàn 66, xa những đồng chí của mình còn nằm lại trong những cánh rừng ngút ngàn hương rừng và gió núi. Chúng tôi lên xe khi chiều tà gần tắt nắng, núi rừng vắng lặng, im lìm trong ánh chiều bảng lảng. Không thấy một bản nhỏ ven đường nào để được ngắm những tia khói lam chiều� bay lên khét mùi cá kho đồng nội. Quê tôi giờ này chắc cũng đang vào vụ cấy. Cánh đồng hai vụ mùa chiêm thẳng cánh cò bay đến bao giờ cho mình trở lại để rồi thả hồn theo ngọn gió nam chiều đầy ắp hương lúa mới. Mẹ và các cháu đang làm gì nhỉ? Con bắt đầu hành quân có lẽ đi rất xa, khi nào dừng chân đồn chú, con xẽ thư cho gia đình biết sau. Xe chạy trên con đường xóc nảy người, chiếc xe như con ngựa bất kham thỉnh thoảng lại nhảy lên hất bộ đội chồm về phía trước. Hơn hai chục người chen chúc trên thùng xe dựa vào nhau gật gù trong tiếng động cơ lúc tăng, lúc giảm. Có tiếng máy bay C130 phía sau, xe dạt vào ven đường tắt máy. Người lái xe thò đầu ra quan sát và bảo: Thằng này bắn theo tia la de tìm nhiệt! Tắt đèn chạy mà nó �xiên thùng� chính sác lám! Bắn toàn vào ống xả mới láo chứ! Hai người lính lái xe thay nhau chạy, chúng tôi lúc ngủ lúc thức, có ai đấy say xe nôn oặc ra, một người� kêu lên: Bố này nôn ra đầy lưng tôi rồi! Khiếp quá! Mùi chua nồng cứ luẩn quẩn trong thùng xe: Ông tướng nào say thì ra ngồi ngoài cùng đi! Mẹ, mai sáng coi khéo ba lô thằng nào cũng đầy cơm và cháo! Hết đêm rồi sang ngày, xe cứ mải miết chạy. Sang ngày thứ ba, rừng ở đây có vẻ bằng phẳng hơn, lác đác hai bên đường, những cánh rừng thưa có rất nhiều cây bàng mọc. Phụ lái leo lên thùng xe bảo: Các bố này chắc chưa được ăn măng Khoọc! Chiều nay đến vị trí đóng quân mang xẻng đi mà đào! Cây Khoọc đấy! Không phải rừng bàng đâu! Bắt đầu đi vào một cung đường bụi mù mịt, mùa khô đất tơi xốp, hàng ngàn lượt xe quần đảo đất đã trở thành tinh bột. Xe dừng, tôi nhảy xuống đường, lớp bột mát lạnh ngang lưng ống chân, bởi thế chiếc xe chạy như bơi trong sương mù đặc quánh, xe sau không nhìn thấy xe đàng trước, bụi mù bốc lên khỏi ngọn cây. Bộ đội bịt khẩu trang kín mặt, người ta phổ biến chuẩn bị khẩu trang là dùng vào lúc này đây! Lúc ngủ bụi đọng đầy hốc mắt, khi tỉnh dậy phải cúi xuống lau hết bụi rồi mới mở mắt ra. Ðêm hôm ấy, có chiếc xe tải chở đạn chạy ầm ầm phía trước, bụi cuốn ra phía sau, xe chúng tôi bật đèn, kéo còi xin vượt. Chiếc xe tải như điếc, ngáng đường không cho. Ðiên tiết người lái xe vác AK nện cho hai loạt, anh chàng xe tải luống cuống dạt ra ven đường rồi nhảy xuống nhòm vào lốp xe. Bộ đội nhao lên: Dừng lại cho thằng này một trận! Người lái xe chở lính nhảy xuống cho anh chàng xe tải hai cái tạt tai:Thằng ngu này! Bộ đội ngồi đầy trên xe, xin bao nhiêu lâu mà mày không cho vượt! Cảnh cáo nhé! Lần sau còn như thế thì cho mày chốt lại giữa rừng mà trông hàng! Anh chàng xế xe tải biết mình yếu thế trước chiếc xe chở đầy lính bộ binh,đành lủi thủi lên xe chạy theo sau. Ơ đây đường chạy ngang dọc, những ký hiệu ma toi về đường đi, bến đỗ chắc chỉ có người dẫn đường hoặc lái xe mới biết. Kiểu này mà thả chúng tôi xuống đây thì thế nào cũng bị đơn vị bạn bắt làm tù binh. Ðêm hôm ấy, chúng tôi tập kết trong một cánh rừng cao bóng, rất thưa. Sáng ra mới biết mình trú chân dưới cánh rừng Săng lẻ, một loại cây trông giống như cây ổi nhưng rất to và thẳng, có cây cao đến ba, bốn mươi mét. Bên dưới lúp xúp những bụi cây nhỏ chỉ cao đến ngang bụng. Như thế này người ta gọi là rừng nhiệt đới một tầng, cây rất thưa, mặt đất bằng phẳng khô nẻ phủ đầy lá rụng. Ơ trong rừng mà tầm nhìn xa được hàng trăm mét. Anh nuôi làm bếp cạnh con suối khá to, nước chỉ còn đọng lại thành từng vũng. Cuối mùa khô, vùng này đang bị hạn, chỉ cần đóng quân ở đây một thời gian ngắn chắc không có nước mà dùng. Tôi sách súng đi dọc theo con suối, hai bên bờ những bụi cây lơ thơ cằn cỗi đang chờ mưa đổ xuống. Những vũng nước nông phủ đầy lá mục chẳng thấy con cá nào cả, ven suối, thỉnh thoảng có vết chân thú rừng xuống uống nước. Nếu có đèn mà đi phục ban đêm, chắc chắn thế nào cũng bắn được hươu nai hoặc lợn rừng. Sáng hôm sau, thấy Hợp sách súng vào rừng, tôi cầm súng theo sau. Mậu cười bảo: Lão Hậu cũng đi săn cơ à! Nếu được con thú nào thì cứ cắm cọc vào lưng tôi mà nấu! Hợp dạt lên rừng, tôi lội ngược con suối, rón rén quan sát may ra gặp chú nai nào vô phúc xuống uống nước.Tôi là sát thú, sát cá lắm, biết đâu lại gặp may cũng nên. Tôi bước vào cánh rừng chỉ mọc một loài cây Săng lẻ, có cây gốc bạnh ra, ruột thối rỗng ba người chui vào, ngồi trú qua đêm cũng còn thoải mái. Ðang ngó nghiêng bỗng đoàng đoàng hai phát, tôi quay lại phía súng nổ. Hợp gặp một đàn vượn đi ăn và nổ súng. Một con Vượn đen chuyền cành vun vút lao về phía tôi, vừa đến ngọn cây tôi đang đứng thì dừng lại, ngó về phía sau. Tôi áp AK vào thân cây và nảy cò. Chỉ nghe thấy tiếng kêu chít-chít, thế rồi tay nó nắm chặt cành cây, đung đeo trên khoảng không, chân đạp chới với. Tôi nhằm vào cánh tay và bắn tiếp, con vượn rơi huỵch xuống đất cách tôi hai mét. Tôi cầm tay nó kéo lê theo suối về bếp anh nuôi đại đội: Tên Mậu đâu! ra đây để đóng cọc vào lưng! Mậu cười toe toét: Thôi thôi! Tôi xin chịu phạt đi làm lông vậy! Lão Hậu thế mà giỏi quá nhỉ! Hành quân bộ thêm hai ngày nữa, chúng tôi tập kết trong một cánh rừng phía tây bắc quận lỵ Ðức Lập. Mục tiêu tác chiến đến nay đã quá rõ ràng rồi- Trung đoàn 66 sư đoàn 10 đánh chiếm quận lỵ Ðức Lập. Ngay tối hôm ấy, đại đội trưởng Tẩm cùng trinh sát, cán bộ tác chiến và tham mưu các cấp đi trước nắm địa hình. Chúng tôi chuẩn bị súng đạn, quân trang và cưa gỗ làm hầm. 16 giờ ngày 08 tháng 03 năm 1975 nhận lệnh xuất kích. Ba lô bỏ lại vị trí tập kết, mỗi người đem theo đủ cơ số đạn, vác gỗ trên vai hàng một tiến về phía đông. Xẩm tối, ra đến một vạt nương của dân, có ánh lửa bập bùng phía trước và mùi khét của khói. Dân đi làm nương vừa mới về đó- Ði thưa ra-Bám theo mảnh giấy trinh sát cắm trên mặt đất ấy! Cúi thấp người xuống! Ðêm tối xẫm, chúng tôi cứ bám theo nhau lùi lũi tiến về phía trước. Tiếng súng va vào gỗ lách cách, có tiếng xuỵt nhẹ Gần địch lắm rồi đấy! Khẽ chứ thôi! Bỗng có tiếng đề pa của khẩu cối địch bắn rất gần, chúng tôi đồng loạt nằm bẹp xuống đất. Tim tôi đập thình thịch, đội hình bị lộ rồi chăng? Tiếng nổ bụp ngay trên đầu, ánh hoả mai bùng lên, địch bắn pháo sáng! Tôi xếp bó gỗ dọc theo thân người ngóc đầu nhìn về phía trước, ánh hoả mai sáng trắng soi rõ đoàn người lồ lộ trên nương. Chúng tôi nằm im như chết, tiếng thở hổn hển của ai đó, tiếng tim tôi đập nghe rõ từng nhịp. Pháo sáng tắt, chúng tôi lại vác gỗ trên vai, bước chân có vẻ gấp gáp hơn. Cứ như thế, có pháo sáng của địch thì chúng tôi nằm như dán xuống đất, màn đêm buông xuống là người lính lại vội vã lên đường. Giáp căn cứ địch là một bãi lầy, tôi vác bó gỗ trên vai, bò ba chân lên những thân cây dân phát nương chặt đổ trên bùn. Sang đến bên kia bãi lầy là hàng rào đầu tiên của chốt địch, trinh sát dò mìn giao từng vị trí đào hầm cho các tổ. Nhìn lên cứ điểm, hàng lô cốt đầu cầu xám xịt, thỉnh thoảng một băng đạn từ trong cái hốc đen ngòm ấy tuôn ra đỏ lừ lia sát hàng rào. Cái lũ này có lẽ thừa súng đạn hoặc quá hèn nhát nên bất kỳ ở đâu chúng cũng bắn thị uy như vậy. Phía trong hàng lô cốt, một cái tháp canh cao lêu đêu in đậm trên màn trời sáng nhờ. Có mấy tàn lửa lập loè trên tháp canh, không rõ có mấy thằng gác. Tổ dò gỡ mìn thì thào gọi nhau bò vào cắt rào kẽm gai. Không còn thời gian mà quan sát nữa, tôi tháo xẻng ra vội vã đào hầm. Từng lượt xẻng nhẹ nhàng sắn vào lòng đất, anh Mão lấy bao cát ra cho tôi đổ đất vào rồi xếp phòng xung quanh hầm. Bên phải, bên trái, tiếng đào đất lắc cắc, lụp bụp trong đêm nghe rõ mồn một. Ai cũng lo cho mình thật nhanh cái hố để cho chắc gáo, anh Mão ném hòn đất sang hầm bên ra hiệu đào khẽ thôi. Bỗng nghe cốc một cái, tiếng đề pa của khấu cối rất gần. Không ai bảo ai, tất cả cùng lao vào cái hốc đất chưa sâu hết một lượt xẻng. Có tiếng nổ bụp ngay trên đỉnh đầu, ánh hoả mai bùng lên, địch bắn cối sáng! Cùng một lúc, tiếng hút gió ghê người của đuôi qủa cối rơi xuống. Tôi vớ luôn lưỡi xẻng che lên đầu, anh Mão đội bao tải cát, có ai đó rúc vào kheo của tôi hơi thở nóng rực. Bịch! Ðuôi quả cối rơi trong hàng rào, nó mà trúng vào ai thì coi như toi mạng. Anh sáng trắng nhờ soi rõ chốt địch, xung quanh im lặng nghe rõ tiếng thở của người bên cạnh. Hết pháo sáng, chúng tôi lại đàò, lại khoét, không biết mấy bố cắt rào, dò gỡ mìn phía trên kia như thế nào, vô phúc chạm nổ quả mìn thì coi như tất cả phơi lưng hứng pháo. Trên tháp canh, có tên lính nguỵ nào đó gọi nhau thay gác, tiếng miền nam ngái ngủ lạnh ngắt tan vào khoảng đêm mông lung. Tiêu đề: Re: Những người lính trung đoàn - Họ chiến đấu như thế. Truyện ký của Hoàng Gửi bởi: quangcan trong 16 Tháng Hai, 2012, 02:46:39 pm Một đêm không biết bao nhiêu lần tránh pháo sáng của địch. Hầm mỗi lúc một sâu hơn, tôi bò sang tổ cắt rào giúp họ lát hầm. Gần sáng, tổ cắt rào và dò gỡ mìn quay về, hơi lạnh từ người họ toả ra, áo quần ướt đẫm sương núi:
- Xong rồi! Tổ gá bộc phá cũng gần ra đến hàng rào ngoài cùng rồi! Rét quá! Khoảng 2 giờ sáng, các tổ lần lượt quay về tranh thủ sửa sang lại hầm hào, anhTẩm bò đi các hầm kiểm tra lần cuối công tác chuẩn bị chiến đấu. Ðúng 5 giờ sáng ngàí 09 tháng 03 năm 1975, lệnh nổ súng. Phía Ðức Lập, tiếng nổ rền vang như xấm, pháo tầm xa, tầm gần của ta thi nhau trút bão lửa xuống đồn địch. Phía chúng tôi, lệnh điểm hoả. Tất cả bộc phá đồng loạt hất tung hàng rào kẽm gai, quét sạch mìn tạo thành con đường lên cửa mở. Cùng một lúc, đạn pháo và DKZ bắn thẳng của ta cứ vụt qua đầu thúc bung từng lô cốt trên cao điểm. Có khẩu DKZ 75 của C8 đặt bên kia bãi lầy tiếng nổ banh banh làm ù hết hai tai. Khẩu12 ly 7 khoá chặt tầm, hướng đường đạn thẳng căng chui tọt vào từng lỗ châu mai của địch. Khẩu Ðại pháo cối 60 của đại đội tôi do Bích chỉ huy cứ loong coong cậm kịch từng quả nổ tung trên chốt. Không thấy địch phản kích bắn trả, hình như chúng chỉ còn một việc là chui tọt xuống hầm ngầm tránh đạn. Tôi bò sang tổ cối: -Ðể tôi bắn thử một quả xem sao! -Này đạn đây! Ðưa đạn vào nòng đi! Vuốt xuôi tay xuống! Thế! Kịch! Tôi nhìn theo quả cối như một mũi tên bay lên trời, đến độ cao nhất định nó chúc đầu lao xuống. Quả đạn rơi gần đến một ngôi nhà lợp tôn sáng loá, tiếng nổ chìm trong mớ âm thanh của đại bác và cối 120 ly. Tôi hạ thấp nòng hướng cho quả đạn bay đến ngôi nhà lợp tôn, quả đạn làm thủng một lỗ trên� mái nhà, hất bung mấy tấm tôn cong vênh lên trời. Phía Quận lỵ Ðức Lập, tiếng nổ rền vang, khói đen cuồn cuộn bay lên, tiếng liên thanh kéo từng băng dài, có lẽ quân ta bắt đầu tiến công. Máy bay địch bu xung quanh Ðức Lập ném bom, trực thăng phóng rốc két khói xịt ra từ hai bên sườn. Pháo phòng không của ta thi nhau bắn trả, đạn 37 ly vàng choé nổ bụp từng đụn khói trên trời. Ðạn 12 ly 7 và 14 ly 5 từ xe thiết giáp tự hành quấn xung quanh trực thăng. Có một chiếc trúng đạn đâm sầm xuống đất. Sau 60 phút pháo binh ta bắn cấp tập, chúng tôi hồi hộp chờ lệnh xung phong. Trung đoàn truyền lệnh xuống: C7 giữ nguyên đội hình, tập trung đánh địch phản kích, pháo binh bắn kiềm chế chờ quân tăng cường đến, sau đó mới đánh lên cửa mở! Máy bay địch đánh ác liệt khu vực quận lỵ Ðức Lập. Có lẽ mặt trận đồng loạt nổ súng nên chúng chỉ đủ sức tập trung khống chế các điểm chủ yếu. Phía chúng tôi chẳng thấy chiếc máy bay nào nhòm ngó đến cả. Nghe đâu căn cứ ÐăkSắc này có cả hệ thống hầm ngầm, năm 1968 đại đội quân Ðại hàn chốt giữ, một tiểu đoàn quân của ta đánh không được, tổn thất rất lớn. Pháo binh ta bắn từ sáng đến giờ không thấy chúng có phản ứng gì, trong chốt im như tờ có vẻ lỳ lợm lắm. Trung đoàn thấy một mình C7 chưa chắc dứt điểm được nên cho C5 và C6 đánh Ðức Lập xong xẽ quay về tập trung công kích. Trưa, cái nắng đổ xuống cửa mở, kiểu này anh nuôi không thể đem cơm và nước ra cho bộ đội ngoài chốt được. Sau lưng chúng tôi là một bãi lầy và vạt nương trống trải không một bóng cây. Trên đỉnh đồi, hàng lô cốt của địch xám xịt với những lỗ châu mai đen ngòm sẵn sàng nhả đạn. Bộ đội đành phải ăn lương khô và uống nước từ vũng lầy tanh đến lợm giọng. Không thấy một bóng người trên chốt, Bích lom khom chạy từ hầm cối xuống bãi lầy lấy nước. Cái bố này chủ quan quá! địch phát hiện thấy bắn cho một nhát thì sao? -Chúng nó chắc chạy hết rồi! Bích cười: Ông thấy có thằng ma nào thập thò ra ngoài đâu! Trời ngả về chiều, nắng càng gắt, bộ đội thay nhau xuống lấy nước. Có lẽ chúng bỏ chốt thật, tôi cũng lom khom bò ra bãi lầy. Tôi nhìn lên cao điểm, lô cốt đầu cầu với cái lỗ châu mai thao láo nhìn xuống chân đồi, rất gần. Nguy hiểm thật, chỉ cần một loạt đạn là chắc rằng tôi không thể ở lại cho đến ngày hôm nay. Phía Ðức Lập, hàng tốp máy bay địch vẫn cay cú dội bom, nghe đâu ta đã đánh chiếm căn cứ hành quân của sư đoàn 23 nguỵ và đang giải phóng nốt quận lỵ. 5 giờ tối, C6 và C7 cùng đại đội hoả lực K8 đến tăng cường. Chúng tôi chuẩn bị đánh lên cửa mở. Xẩm tối,bộ đội bò lên nằm dọc theo cửa mở, tôi nằm giữa đội hình. Lệnh cho tổ bộc phá lên đánh cường tập vào hàng rào cuối cùng giáp lô cốt đầu cầu. Cối 82, DKZ của tiểu đoàn bắn áp đảo lên cao điểm. Hai khẩu 12ly7 đưa từ bên kia bãi lầy sang lia sát sạt qua đầu chúng tôi. Một khối lửa màu da cam trùm lên, đất đá rơi lộp bộp xuống đầu, xuống cổ. Anh Tẩm hô: Trung đội một đâu! Cho bộ đội lên đi! Quả bộc phá nổ cháy sang bãi cỏ gianh, bóng bộ đội loang loáng nhảy qua hàng rào kẽm gai, tôi sách súng, đeo túi cứu thương bò theo bộ đội. Bỗng từ trong lỗ châu mai lửa chớp liên hồi, địch bắt đầu phản kích. Cùng như một lúc, hai khẩu 12ly7 đồng loạt bắn vào lô cốt đầu cầu. Luồng đạn xanh biếc như những lưỡi gươm hút vào lỗ châu mai. Bỗng có tiếng hô từ trên cửa mở: -12ly7 thôi không bắn nữa! Chết hết bộ đội rồi! Ðạn nổ ù tai, lệnh truyền từ trên qua từng người mới đến khẩu 12ly7. Có ai đấy gọi xuống: Anh Hậu khẩn trương lên cấp cứu thương binh! Chạy lên cửa mở, bộ đội nằm dọc theo sườn đồi, bên phải lửa cháy rát mặt.Tôi nhảy đại qua mấy lớp kẽm gai nhiều khi dẵm cả vào đùi, vào lưng bộ đội nằm la liệt bên dưới. Lọt vào bên trong hàng rào, bộ đội cũng tràn lên cửa mở. - Thương binh đâu? Ai đấy! Thằng Huấn hả!( Huấn quê ở Vĩnh Tường-VP) bị vào đâu? Cho thương binh lại đây đi! Tôi và một chiến sỹ nữa ôm Huấn đến một hố đạn đại bác cạnh lô cốt đầu cầu, sờ lên đầu hắn thấy máu chảy lênh láng, băng xong đầu, Huấn lại chỉ xuống kheo đùi. Hai viên đạn trượt qua mặt trong phía trên đầu gối máu ra ướt đẫm quần. Lột quần dài vứt đi, tôi băng chặt vết thương lại. Hoá ra ông tướng này lên chiếm lĩnh lô cốt đầu cầu trước tiên. Ðáng lẽ phải dùng bộc phá đánh vào lô cốt, nhưng Huấn lại đứng bên trong cửa ra vào� bắn găm xuống. Bên dưới cửa mở nhìn qua lỗ châu mai thấy lửa chớp liên hồi tưởng địch bắt đầu phản kích. Thế là 12ly7 theo hợp đồng bắn lên, quân ta chiến thắng quân mình! Thật may là không có ai hy sinh. Bộ đội bắt đầu tảo trừ trận địa, tiếng lựu đạn nổ đanh gọn, tiếng bộc phá lục bục trong hầm, AK điểm xạ từng loạt, xung quanh lửa cháy rừng rực. Tôi bảo Huấn nằm tại chỗ rồi chạy vào trong đồn. Có một ngôi nhà mái lợp tôn,� nửa chìm nửa nổi, anh Lợi chính trị viên phó tiểu đoàn cùng anh Mão đang chỉ huy bộ đội phát triển đánh vào bên trong. Tôi bảo chiến sỹ thông tin 2w điện cho trung đội vận tải lên ngay lô cốt đầu cầu cáng thương binh về phía sau. Lại một kho xăng bốc cháy, tiếng đạn nổ ùng oàng trong hầm, không thấy một thằng lính nguỵ nào kể cả xác chết. Có lẽ thấy Ðức Lập thất thủ, địch đã bỏ chốt chạy tháo thân từ trước rồi. Anh Lợi nhắc anh Mão lệnh cho các mũi xung kích bảo vệ không để cháy kho chiến lợi phẩm, các mũi tiến công kết hợp chốt chặn không cho địch có cơ hội phản kích. Qúa nửa đêm, tiếng súng thưa dần, vừa đói, vừa mệt, lúc này mới thấy khát cháy cổ. Chiến sỹ thông tin và công vụ lôi về mấy két hộp thịt gà và dò ba khoanh. Chúng tôi mở hộp ra, vừa cảnh giới, vừa bốc vừa nhúp, đào đâu ra bát đũa bây giờ!? Sáng hôm sau, hai bàn tay băng bó cho Huấn máu nhuộm đỏ lòm, riêng bốn ngón tay đêm bốc thịt hộp tôi đã mút sạch tưng, khiếp quá! Nắng lên, toàn cảnh căn cứ Ðăk Sắc phơi bày trước mặt, những ngôi nhà bị đạn pháo bắn siêu vẹo, tan hoang. Những lô cốt và căn hầm xụp đổ, lửa cháy nhem nhuốc khét lẹt mùi cao su. Bộ đội tiếp tục truy tìm hầm ngầm và thu gom chiến lợi phẩm. Nhìn về phía sau cứ điểm, những vạt rừng cà phê đang vào mùa nở hoa trắng xoá, phía xa kia, thấp thoáng mái nhà tôn chìm dưới bóng dừa và hàng cây ăn quả. Giá như hiện hữu không phải là chiến tranh thì cuộc sống thật thanh bình và yên ả làm sao. 6 giờ 5 phút ngày 10 tháng 03, hướng quận lỵ Ðức Lập, đại liên kéo từng băng dài, pháo và bom vẫn nổ ùng oàng, từng cột khói bốc lên nhìn rõ mòn một. 8 giờ 30 phút quân ta làm chủ hoàn toàn quận lỵ. Bắt sống 50 tù binh và tên trung tá quận trưởng. Khoảng 15 giờ chiều ngày 10 tháng 03. Chúng tôi được lệnh quay lại vị trí tập kết nhận thêm cơ số đạn, cho tăng võng vào gùi, theo trinh sát cắt rừng về phía đông. Qua những cánh rừng thưa và nương cà phê trổ hoa ngào ngạt, hành quân trên mấy vạt nương dân làm dang dở, chúng tôi chui vào một sườn đồi cà phê lúp xúp. Phía dưới là xã Ðức Minh , một ngôi làng mà đứng ở trên chốt tôi thấy nó rất gần cứ điểm với mái nhà tôn lấp loá, thanh bình. Ơ đấy có hai đại đội bảo an và một số tàn binh từ Ðức Lập chạy về co cụm lại. Ðại đội 6 và đại đội 5 chia làm hai mũi tiến công Ðại đội 5 do đại đội trưởng Trần Ðới và chính trị viên Lê Hải Triều trực tiếp chỉ huy. Ðứng ở trên cao, nhìn mặt trận bên dưới rõ mồn một, ta đánh đến đâu, khói bao trùm đến đấy. Tiếng đại liên và AR15 của địch chống trả quyết liệt, AK điểm xạ, lựu đạn và B40 ùng oàng, lửa cháy rừng rực khi một phát B40 bắn ra. Tôi ngồi cạnh đài 2w của tiểu đoàn bộ, nghe các thông tin đi tăng cường cho đại đội truyền lệnh bằng mặt mã cho nhau. Một chiến sỹ thông tin theo hướng của C6 hy sinh, chiến sỹ thông tin khác khoắc 2W lên vai theo trinh sát chạy xuống tăng cường ngay. Phía trước chiến sự sảy ra ác liệt, lửa khói chùm lên những ngôi nhà và hàng cây ăn quả, C7 chúng tôi chuẩn bị xuất kích. Bỗng một thông tin của C5 đang truyền mật mã, bỏ luôn mật khẩu gào lên trong máy: -Anh bảo thằng C6 đừng bắn vào khu nhà thờ nữa! Bắn hết vào C5 rồi! Tiếng nổ thưa dần, ta đã chiếm được khu nhà thờ, tàn binh địch bỏ chạy vào rừng, C5 và C6 tổ chức thu gom chiến lợi phẩm, bắt tù binh và làm công tác dân vận. C7 của chúng tôi nhận lệnh hành quân tiếp về phía đông. Trong khi các đơn vị trong trung đoàn đánh chiếm quận lỵ Ðức lập, tiểu đoàn 3 trung đoàn 28 phối hợp cùng tiểu đoàn 2 đặc công 198 đánh chiếm căn cứ Ðak Song do tiểu đoàn 1 trung đoàn 53 nguỵ chiếm giữ. Bắt đầu từ 5 giờ sáng ngày mùng 9 tháng 3 cho đến� 17 giờ chiều ngày 10 tháng 3 cán bộ chiến sỹ sư đoàn 10 đã đập tan tuyến phòng thủ phía tây, giải phóng một địa bàn quan trong, bắt tù binh, thu vũ khí làm bàn đạp cho chiến dịch đánh chiếm thị xã Ban Mê Thuột. Ngày 11 tháng 3 chúng tôi đóng quân trên một khu rừng lưa thưa toàn le và nứa, chờ xe về đón, tăng cường cho trận Ban Mê Thuột. Tiêu đề: Re: Những người lính trung đoàn - Họ chiến đấu như thế. Truyện ký của Hoàng Gửi bởi: quangcan trong 16 Tháng Hai, 2012, 02:50:31 pm Tăng cường cho mặt trận ban mê thuột Hành quân chặn địch đổ bộ xuống phước an Tại mặt trận Ban Mê Thuột - 2 giờ sáng ngày 10 tháng 3 trung đoàn đặc công 198 mở màn nổ súng tiến công khu kho Mai Hắc Ðế, sân bay thị xã và sân bay Hoà Bình. Pháo binh ta dồn dập bắn phá chỉ huy sở sư đoàn 23 nguỵ, tiểu khu Ðăk Lắc, khu pháo binh và khu thiết giáp. Trung đoàn 95B sư 10 đánh qua sân bay thị xã, chọc thẳng vào ngã sáu và chiếm tiểu khu Ðăk Lắc. Hướng tây bắc, trung đoàn 148 cùng xe tăng đánh chiếm khu thiết giáp, khu pháo binh. Trung đoàn 174 tiến công khu kho Mai Hắc Ðế, cư xá sỹ quan và đánh sang khu truyền tin. Mũi thọc sâu binh chủng hợp thành của sư đoàn 10, có xe tăng và xe bọc thép chở quân, băng qua lô cà phê và chè tiến vào cửa mở. Trung đoàn 24 thọc qua khu gia binh tiến về khu truyền tin. Ðến 10 giờ ngày 10 tháng 3 ba mũi thọc sâu của sư đoàn 10 đã phát triển đến khu cột cờ. Tại đây, trận kịch chiến ác liệt xảy ra, địch dùng bom oanh kích vào các mũi xung kích của ta, chúng tổ chức các đợt phản kích có xe tăng yểm trợ. Trung đoàn 24 và lữ đoàn xe tăng 273 bình tĩnh dùng súng 12ly7 đánh trả máy bay địch. Các mũi tiến công đã áp sát chỉ huy sở sư đoàn 23 nguỵ. Ta mở nhiều đợt đánh chiếm chỉ huy sở, địch điên cuồng phản kích, bom ném tràn trên cửa mở, súng phun lửa thiêu cháy cỏ và hàng rào kẽm gai. Bộ đội áp sát, xe tăng dẫn đường trong khi chưa có công sự che đỡ. Có hai chiếc xe tăng của ta bị cháy, một chiếc khi vượt qua chướng ngại vật cắm nòng xuống đất, lực lượng thọc sâu của ta lúc này có nhiều tổn thất. Ðêm 10 tháng 3, ta củng cố lại lực lượng, các mũi xung kích tranh thủ đào hầm hào, bổ xung thêm súng đạn. Sư đoàn 10 điều thêm trung đoàn 28 và lực lượng còn lại của trung đoàn 66 phía sau lên tăng cường cho trung đoàn 24. 5 giờ 30 sáng 11 tháng 3, ta mở đợt công kích cuối cùng vào chỉ huy sở sư 23 nguỵ. Ðạn pháo và hoả tiễn của ta phá huỷ hầu hết các lô cốt và ổ đề kháng của địch, bồn xăng trong sở chỉ huy bốc cháy, địch ngoan cố dùng máy bay ném bom bừa bãi và cho xe tăng xe bọc thép M113 ra bịt cửa mở. Trung đoàn 95B và đại đội xe tăng đoàn 273 từ tiểu khu ÐăkLăc tiến sang phối hợp cùng trung đoàn 24 đánh vào cửa mở. Ðến 11 giờ, các mũi tiến công binh chủng hợp thành của sư đoàn 10, trung đoàn 95B và trung đoàn 174 sư 316 đã hợp điểm tại sở chỉ huy sư đoàn 23 nguỵ. Bộ chỉ huy sư đoàn 23� bị tiêu diệt, dại tá Vũ Thế Quang - Tư lệnh phó sư đoàn, chỉ huy trưởng mặt trận phía nam và đại tá Nguyễn Trọng Luật tỉnh trưởng ÐăkLắc bị bắt sống. Thị xã Ban Mê Thuột gần như đã hoàn toàn giải phóng. Khoảng 18 giờ ngày 11 tháng 3, hai chiến sỹ trung đội vận tải K8 đi cáng thương binh, trên đường về tiểu đoàn bắt được 3 tên tù binh. Chúng đói khát, mệt mỏi lang thang� mò ra đường đi vào xã Ðức Minh. Có một tên trung tá, hắn sinh quán tại quận Hai Bà Trưng � Hà Nội, di cư vào nam năm 1954. Hiện nay là trung đoàn phó trung đoàn 53 nguỵ bị bắt cùng với một sỹ quan hậu cần và một lính công vụ. Tên trung tá bị thương gãy nát cánh tay trái, chúng bẻ cây rừng nẹp lại với một đụn thịt tím ngắt, lòi ra thối khủng khiếp. Có lẽ do quá đuối sức, chúng ra đường định nhờ xe dân chạy chốn không ngờ lại bị bắt. Khi bị dẫn giải, tên trung tá ỳ ra, không chịu đi bộ, người trung đội trưởng vận tải bảo: �Ðến bố mày đây cũng còn phải đi bộ! mày có đi hay ở lại!? không đi thì cho chúng mày về chầu âm phủ!� Thằng trung tá quỳ xuống chìa chiếc ảnh hai đứa con ra, xin bộ đội giải phóng tha chết và dìu nhau đi. Sáng hôm sau, chính trị viên phó tiểu đoàn gọi tôi lên, ông bảo: - Anh Ðào Y sỹ tiểu đoàn (Hiện nay là viện phó bệnh viện đa khoa Yên Bái) cùng đội hình tiền trạm đã đi trước rồi! Ðồng chí sử lý lại cánh tay thằng này không thì nhiễm trùng mất! �Nhìn cánh tay hắn ròi đẻ lúc nhúc, thịt đã phù nề thối đến ngạt thở, tôi bảo: Báo cáo thủ trưởng, ở đây y tá đại đội không đủ điều kiện để giải quyết vết thương này. Mở ra bây giờ rất phức tạp, tốt nhất dọc đường gửi nó lại ở một đội phẫu nào đó! Ðến quá trưa, chúng tôi lên xe chạy về Ban Mê Thuột, lũ tù binh cho chúng nó ngồi sau cùng. Mỗi khi xe dừng lại, mùi thối từ cánh tay tên trung tá xông lên, bộ đội cay cú bảo: Ðạp cổ cái thằng đuổi tây quá đà ấy xuống! Thối hơn mở mả! Quá nửa đêm, xe đổ chúng tôi xuống một nương cà phê phía đông Ban Mê Thuột, trên trời có chiếc C130 thả đèn dù, đạn 20 ly bắn xuống, pháo phòng không 37 của ta bắn lên từng chùm đạn đỏ rực. Lợi dụng ánh đèn pháo sáng, ngại đào hầm, tôi mắc võng cạnh một cái hố dân đào giữa hai luống cà phê để bón phân thì phải. Sáng 13 tháng 3, máy bay địch thay nhau oanh kích vào trung tâm và ngoại vi thị xã. Có một đơn vị pháo phòng không cạnh chúng tôi đánh trả quyết liệt. Ðịch ném bom xuống rừng cà phê, khói đen che phủ phía mặt trời mọc. Khi hành quân qua đơn vị pháo 37, tôi nhòm vào một chiếc xe bọc thép K63 của ta, có hai chiến sỹ phòng không hy sinh được đặt ngay ngắn trên ban căng. Chúng tôi loanh quanh trong rừng cà phê, mùi hoa thơm xen lẫn mùi thuốc súng, có một nương hồ tiêu thoạt đầu tôi cứ tưởng dây trầu thế mà chẳng thấy có vườn cau nào cả. Ðịch cay cú hô hào tái chiếm Ban Mê Thuột, chúng huy động tối đa máy bay, pháo binh và thiết giáp, đưa liên đoàn biệt động số 21 dùng trực thăng đổ quân xuống quận lỵ Phước An. Buổi tối, chúng tôi được lệnh cắt ra hướng Phước An đánh quân đổ bộ. Ðường hành quân toàn đi trên nương đồi, phía trước bom toạ độ, pháo bắn từng chập lại rộ lên. Bên phải, bên trái có những dải đen xẫm không biết làng bản hay là rừng cà phê, tiếng chó cắn ông ổng vẳng ra. Có ai đấy đi sau đẩy vào lưng tôi: Bám sát lên đi! Người đi trước lạc đường là kéo theo cả một đoàn quân đấy! Tang tảng sáng thì đến một cánh rừng thưa, cây cối lúp xúp không mắc được võng, lệnh rừng lại, ngồi xuống là hai mắt cứng đờ, tôi dựa vào ba lô ngủ mất. Bộ đội tản ra các ụ đá nhấp nhô tranh thủ ngủ lấy sức, anh nuôi gạn nước từ vũng lầy nấu cơm. Chưa ăn xong đã có lệnh quay lại nhận nhiệm vụ khác. Khoảng 19 giờ tối, chúng tôi leo lên đường 14 phía bắc Ban Mê Thuột. Gió đông thổi thốc lên mát lạnh, đang hành quân chui luồn qua nương đồi, nay đi trên mặt nhựa rộng rãi, phẳng lỳ thấy thoải mái quá. Phía sau chúng tôi là Ban Mê Thuột, ánh đèn hoả mai và tiếng bom vẫn chưa dứt, hình như tất cả chiến tranh đang dồn vào thị xã. Ðại đội tôi dẫn đầu đội hình. Bộ đội bắt đầu chủ quan coi như đây đã là vùng giải phóng. Ðoàn người từ hàng một dồn lên hàng ba, hàng bốn, nói chuyện rì rầm. Vừa đi, vừa nghỉ, cứ dừng lại ngồi xuống là ngủ gật. Quá nửa đêm, cơn buồn ngủ không thể cưỡng lại được, gần nửa tháng hành quân liên miên, những ai ở trong hoàn cảnh này mới thấy sự kỳ diệu của con người: Vừa đi, vừa ngủ, người sau gục vào ba lô người đi trước mà ngủ. Không hiểu chúng tôi ngủ kiểu gì, trong đầu thì mê đi mà chân vẫn bước lẹp kẹp theo đội hình. Tôi cứ nửa tỉnh, nửa mơ như vậy không biết bao lâu bỗng một loạt đại liên bắn ngay trước mặt. Tôi nhoàng dậy thấy luồng đạn từ bên trái đỏ lừ cắt ngang đội hình cách tôi vài mét. Bộ đội chạy tản ra, phía sau lùi lại, tôi sờ xuống, thấy mặt nhựa phẳng lỳ vội vàng lăn mấy vòng sang bên phải, nằm bẹp ven mép tà luy đường. Nhìn sang bên trái, có một chiếc cổng với những tàu lá chuối bay lật phật trong đêm. Hình như đây là một bản dân tộc vẫn còn tàn binh địch, một nhóm cảnh giới với khẩu đại liên chốt chặn ngoài bản. Ðịch ngủ gật, khi tỉnh dậy thấy bộ đội đã đi ngang qua, chúng chỉ còn kịp bắn một loạt đạn thế rồi tháo thân. Tôi nghe bước chân chạy thình thịch và tiếng chó cắn cứ sâu dần vào trong bản. Rất may là nó bắn cắt ngang qua đường, nếu chúng quét dọc theo trục lộ thì không biết bao nhiêu người hy sinh.� Xung quanh tĩnh lặng, không thấy ai kêu cứu, phía trước có người bò lệt sệt, tôi gục xuống và ngủ lịm đi. Gần sáng, có người kéo áo tôi: Ai đấy! Hậu hả! Dậy đi! Có ai bị thương không? Bộ đội quay lại hết rồi! Tôi nhoàng tỉnh, nhận ra anh Mão chính trị viên đại đội. Tôi bảo: Em nằm từ lúc ấy đến giờ mà không nghe thấy ai kêu cả! May qúa nếu không có anh Mão lên tìm, chắc chắn tôi sẽ làm một giấc cho tới sáng. Ðội hình tiểu đoàn đang vượt qua một bãi lầy. Bên phải đường là một tràn ruộng cấy, có một con suối chảy ngang qua, bùn sôi ùng ục dưới chân. Leo lên một vạt nương với những bụi chuối tối xẫm, anh Mão và tôi vượt lên đuổi theo đơn vị. Trời sáng dần, sương rơi ướt đẫm, những bụi chuối lờ mờ hiện ra: -Này, đại đội 8 đã vượt đường xong chưa? -Báo cáo, Còn hai trung đội nữa đang vượt qua bãi lầy! -Khẩn trương lên, dồn lên đi! Tổ chức cho bộ đội vượt nhanh trước khi trời sáng! Lúc bấy giờ tôi mới nhận ra người trung đoàn phó trực tiếp đi theo cánh quân của tiểu đoàn 8 chúng tôi.( Rất tiếc đến giờ này tôi vẫn chưa nhớ nổi tên ) Sáng rõ, có tiếng đại liên và súng cối nổ ngoài bãi lầy, bộ đội chen nhau vượt lên. Người đại đội trưởng hoả lực chạy ào đến: - Báo cáo, trung đội 12ly7 của C8 chưa sang hết! Ðịch đang bắn vào đội hình của ta! Xin ý kiến thủ trưởng! - Sao các anh ngu thế! Người trung đoàn phó gầm lên. Hoả lực trong tay, địch thì bắn vào đội hình mà không biết làm gì à! Cho bắn 20 quả cối 82 vào bản! Chỉ một lúc sau, tiếng cối của ta đáp lại thật đanh thép, súng 12ly7 quét hàng băng dài qua bãi lầy, địch quăng cối tán loạn chạy vào trong bản, cối 82 dồn theo. Nắng bắt đầu gắt, từ mờ sáng đến giờ chưa hề gặp một con suối nào. Tất cả bằng phẳng như mặt sân bóng đá, đất đỏ ba zan tơi xốp. Chúng tôi hành quân trong một nương chuối và đu đủ quả chín rục trên cây. Thỉnh thoảng qua vạt nương khoai lang chỉ cần đạp nhẹ một cái là dây và củ bật ra, thế mới biết đất ở đây tốt như thế nào. - Trung đoàn truyền xuống: Tất cả bám sát đội hình, các đơn vị bảo đảm công tác dân vận, không lấy hoa quả của dân! Qúa trưa,� khát cháy cổ, các bi đông nước đã dốc ngược, vẫn không thấy một khe suối nào để nấu cơm. Nắng gắt càng làm cho đội hình mệt mỏi, chệch choạc, không khác gì quân Tào Tháo hành quân thời chiến quốc. Bộ đội phải dùng dao găm đâm vào gốc chuối lấy nước uống, nước chát sít hôi mùi nhớt sên. Không nấu được cơm, đành phải lấy chuối chín và đu đủ ăn lấy sức để hành quân. Khoảng 13 giờ chiều, chúng tôi được lệnh tản ra các bụi chuối thay nhau cảnh giới và ngủ lấy sức. Bỗng có tiếng B40 nổ, tiếng đạn cực nhanh loạn xạ, các trung đội chuẩn bị xuất kích. Súng nổ một chập rồi im lặng, có một toán tàn binh địch gặp đội hình thu dung của ta và xảy ra cuộc đọ súng trên. Có lẽ do lực lượng hai bên qúa chênh lệch, địch tháo chạy và gọi cối 106,7 câu đến. Có tiếng nổ đầu nòng của khẩu cối đâu đó khá xa, tiếng ro ro của quả đạn bay đến rồi nổ phía trước, phía sau, lung tung cả. Chiều, chúng tôi tiếp tục hành quân, tối mịt mùng vẫn không ra khỏi cái vườn đu đủ ấy. Vừa đói, vừa mệt, các đại đội chia nhỏ ra từng tổ, thay nhau gác và ngủ nhịn qua đêm. Khoảng 9 giờ sáng ngày hôm sau mới ra khỏi vườn cây ấy, tìm được một khe suối bên vạt rừng le lưa thưa, bộ đội dừng lại nấu cơm. Ngày 15 � 03 ta bao vây liên đoàn biệt động 21 và trung đoàn 44 của sư 23 đổ bộ xuống khu vực quận lỵ Phước An. Sư đoàn điều trung đoàn 24 tăng cuờng xe tăng và pháo binh vòng về hướng tây nam đánh chiếm khu Nông trại rồi tiến về ngã ba Phước An. Trung đoàn 28 hành quân bằng xe tăng cơ giới� theo trục lộ 21 bao vây phía đông bắc quận lỵ. Ngày 16 tháng 3 quân ta đồng loạt tiến công địch khu vực Nông trại, Chư cúc và liên đoàn 21 biệt động ở Phước An. Bao vây quân địch co cụm tại căn cứ B50 �(Hoà Bình). Ngày 16 tháng 3 trung đoàn 24 đánh chiếm Nông Trại, K7 và K9 trung đoàn 66 cùng trung đoàn 149 tiến công san phẳng căn cứ B50 (Hoà Bình), Ngày 17 tháng 3 trung đoàn 28 tiến đánh trung đoàn 24 nguỵ chốt chặn đường 21 và khu vực Phước An. 12 giờ trưa ngày 18 tháng 3 tổng công kích vào cứ điểm Chư Cúc. Trong chiến dịch tiến đánh quân đổ bộ xuống Phước An. Ta tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng còn lại của sư đoàn 23 và liên đoàn 21 biệt động Sài Gòn, bắt sống hàng ngìn tên, thu vũ khí và phương tiên chiến tranh của địch. Sau chiến thắng Ban Mê Thuột và tiêu diệt quân đổ bộ xuống quận lỵ Phước An. Chính quyền Thiệu hoảng loạn ra lệnh rút khỏi cao nguyên trung phần. Một cuộc di tản chưa từng có xảy ra: Trên các trục lộ 7,14, 19 hàng đoàn xe, pháo, xe quân sự, xe dân sự chen chúc hỗn loạn trên đường. Quân ta thừa thắng truy đuổi, cắt đường tiêu diệt và làm tan rã phần lớn quân đoàn 2 nguỵ. Mặt trận đã chuyển sang bước ngoặt mới, khẩu hiệu thấn tốc sốc tới Giải phóng miền nam được phổ biến đến các đơn vị. Tất cả cứ sôi lên sùng sục: Hệ thống phòng thủ phía bắc quân khu 1 bị vỡ, ta giải phóng toàn bộ tỉnh Quảng Trị, bao vây thành phố Huế. Lực lượng quân khu 5 các tỉnh Bình Ðịnh, Quảng Nam, Quảng Ngãi nổi dậy bức hàng và bức rút hàng loạt căn cứ quân sự, tiến gần xung quanh Ðà Nẵng. Mặt trận đông nam bộ và nam bộ cũng đồng loạt tiến công phối hợp với chiến trường Trị Thiên Huế đánh chiếm nhiều căn cứ hành quân của địch. Tiêu đề: Re: Những người lính trung đoàn - Họ chiến đấu như thế. Truyện ký của Hoàng Gửi bởi: quangcan trong 16 Tháng Hai, 2012, 02:50:40 pm Chúng tôi cũng cuốn theo chiến dịch, hầu như không biết dừng hoặc quay lại mà cứ nhằm về phía trước thẳng tiến.
Sau khi giải phóng căn cứ Hoà Bình, ngày 21- 03 lực lượng lớn của trung đoàn cùng đơn vị bạn tiến đánh địch trên đường 21 và bao vây quận lỵ Khánh Dương. Tiểu đoàn 8 chúng tôi vẫn mải miết cắt rừng đi về phía đông. Sau những ngày hành quân trong rừng, sáng 22 tháng3 chúng tôi ra một sườn đồi phía trước là một thung lũng rộng với những dông đồi thoai thoải. Con đường 21 uốn lượn bên những sườn đồi xanh mát mắt. Những làng bản ẩn hiện trong lùm cây với mái nhà tôn sáng lấp loá. Phía ấy tiếng súng từng chập lại rộ lên, ta đang đánh vào quận lỵ Khánh Dương. Có hai chiếc A37 ở đâu bay đến bổ nhào ném bom. Pháo phòng không của ta bắn lên, đạn vàng choé vây hai chiếc máy bay ấy. Bỗng phía cuối con đường vắt qua ngọn đồi phía xa, một quả tên lửa vác vai bay lên. Nhìn nó như chiếc kim kéo theo sợi chỉ trắng nhằm chiếc máy bay lao đến. Chỉ một tích tắc, sau tiếng nổ bụp một cái, chiếc máy bay đứt làm hai, lửa cháy đùng đùng và lao xuống đất.Trên bầu trời xanh ngăn ngắt ấy có chiếc dù đỏ bung ra. Kìa tên phi công nhảy dù, bắn đi! Có tiếng AK từ dưới đất bắn lên, số thằng phi công này hết rồi! chúng tôi ngồi xem trận đánh đất đối không còn đẹp và sinh động hơn phim màn ảnh rộng. Hai chiếc trực thăng từ phía đông lao đến, chúng bay rất thấp, đạn phòng không 12ly7 vây xung quanh, chúng xà xuống sát chân đồi. Bỗng chỉ nghe thấy ù ù thế rồi không thấy chúng bay lên nữa. Phía thung lũng, tiếng súng từng chập lại rộ lên. Lệnh hành quân, chúng tôi bám nhau leo xuống chân đồi. Con đường 21 nhựa phẳng lỳ lượn mình chạy về� hướng đông. Không biết đơn vị� mình có đuợc đánh Nha Trang hay không, bất giác tôi thấy lòng mình rạo rực. Ði một đoạn, bắt gặp hai chiếc trực thăng nằm chềnh ềnh giữa đường, có vài người lính cầm súng đứng bên cạnh. Hỏi ra mới biết rằng: Ta bắt sống tên phi công lái máy bay A37 và bắt nó điện về xin trực thăng đến cứu. Hai chiếc trực thăng này bay đến và ta bắt sống luôn cả tổ lái! Hoá ra Việt cộng cũng ma lanh thật. Tôi bỏ ba lô xuống và leo lên trực thăng. Hai bên sườn máy bay bị đạn bắn thủng lỗ chỗ, sàn máy chứa khoảng 6 người được lát một tấm sắt dày, hai chiếc ghế phi công một lớp sắt nữa với tấm che cho hai tay cầm cần lái. Phía trên, một lớp sắt bảo vệ động cơ dưới cánh quạt. Kiểu này AK và trung liên cũng khó mà bắn cháy được nó. Ngày 22 -03 -1975 quận lỵ Khánh Dương được giải phóng, các đơn vị bạn đang chuyển quân rầm rập, xe tăng, xe thiết giáp lấp ló trong cánh rừng thưa, chúng tôi lục tục bám theo đội hình. Ðến một ngã tư, thấy anh Nguyễn Thanh Xuân (Yên Khánh - Ninh Bình) phó ban hậu cần tiểu đoàn bảo: - Tiểu đoàn 8 vào đây lấy thêm gạo rồi tiếp tục hành quân! Tôi theo đoàn người rẽ vào quận lỵ. C5 và C6 đã có nhiều chiến sỹ lấy xong gạo đang quay ra. Tôi cho gạo vào bao rồi vội vàng bám theo họ. Ði dọc đường 21 khoảng một tiếng nữa thì thấy con đường bị cây lấp lại, ở đó có biển chữ viết vội vàng: Ðường này có địch. Không đi! C6 và C5 được lệnh đi sang bên phải đường, C7 và C8 cùng cơ quan tiểu đoàn bộ rẽ sang bên trái, dừng lại ăn cơm trưa. Pháo binh và hoả tiễn của ta bắt đầu bắn lên đỉnh đèo Ma ÐRắc (Ðèo Phượng Hoàng). Tiếng hút gió của chùm đạn bay đi và một loạt tiếng nổ dây truyền vọng vào núi. Bao nhiêu năm chiến đấu trên mặt trận Tây Nguyên, hôm nay chúng tôi hành quân đuổi địch dưới tầm đại bác và tên lửa chi viện, thấy cũng phấn trấn và an tâm. Khoảng hơn 13 giờ chiều, chúng tôi đi vào một tràn cỏ xanh mướt, đồi núi nhấp nhô trông như thảo nguyên vậy. Phía xa kia là đèo Phượng Hoàng, nghe đâu địch đã ném lữ dù 3, Con át chủ bài của Thiệu lên chốt chặn. Tiểu đoàn 8 chia làm hai gọng kìm từ chân đèo tiến lên. Ðoàn người như con rắn khổng lồ trườn mình trên thảm cỏ tiến về phía chân đèo. Chưa bao giờ chúng tôi dám vượt qua bãi tráng vào ban ngày như thế này cả, ngoại trừ hôm nay. Quy luật của chiến tranh thường hay lập lại: Sự chủ quan khinh địch thì bao giờ cũng phải trả giá. Ðội hình đi đầu của C7 do anh Tẩm đại đội trưởng, anh Dỏng đại phó vừa vượt qua bãi lầy tiến cách chân đèo khoảng vài trăm mét thì nghe một loạt tiếng nổ từ trên đỉnh đèo vọng tới. Ðã có kinh nghiệm khi thấy tiếng nổ đầu nòng của pháo địch, đoàn người chững lại, tai căng ra. Chỉ vài giây sau, tiếng rú của quả đạn bay đến, khói bao trùm đội hình đi đầu. Không ai bảo ai, tất cả tản ra, nằm bẹp cạnh các mô đá và ven bãi lầy, phơi lưng hứng pháo bầy của địch. Tôi và hai chiến sỹ khác nằm dựa vào một tảng đá nhô lên khỏi mặt cỏ, rút xẻng đào hầm. Khi bị pháo thúc vào đít, họ đào hầm nhanh lắm, không biết mệt, không kịp thở, không ai phải nhắc nhở ai. Mạnh ai người ấy đào, cố khoét cho mình lấy một cái hố để giữ gáo. Xung quanh khói lửa mù mịt, loạt đạn trước chưa tan khói thì loạt sau lại trùm lên đội hình, hai tai ù đặc. Một toán lính dù bò xuống chân đèo, dùng cối 60 và súng phóng lựu bắn vào quân ta, anh Doỏng bị một quả M79 vào cạnh sườn, Hậu ( Vĩnh Tường) bị mảnh đạn cắt ngang ống chân. Anh Tẩm bảo: Pháo bắn ác liệt quá, tôi bò lại băng bó cho thằng Hậu, một lúc sau đã thấy nó chết rồi. Tất cả bộ đội nằm dán xuống mặt đất mặc cho pháo bầy địch trà đi sát lại. Cứ đội pháo như thế cho đến xẩm tối, toán lính dù cũng rút lên chân đèo. Rất may là các mặt trận đang đồng loạt nổ súng nên máy bay địch không đủ sức chi viện. Nếu chúng vác bom đến thì chắc rằng chúng tôi đã thành tương tất cả. Phía mũi tiến công của đại đội 5 và đại đội 6 bám sát ven đường 21 tiến lên chân đèo. Ðại đội 5 do đại đội trưởng Trần Ðới và chính trị viên Lê Hải Triều đẫn đầu đội hình hành quân dưới sự chi viện của hoả tiễn và pháo binh. Ðến giáp chân đèo, địch phát hiện lực lượng của ta, gọi pháo bắn cấp tập. Chúng cho xe bọc thép M113 ra chặn đội hình và gọi máy bay oanh kích dữ dội. Lập tức, hoả tiễn và pháo binh của ta bắn trả lên đỉnh đèo, do hiệp đồng giữa pháo binh và bộ binh chưa chặt nên loạt đạn thứ tư, hai quả đạn 155 ly hụt tầm rơi trúng vào giữa đội hình đại đội 5 làm 9 cán bộ và chiến sỹ hy sinh, bị thương hơn 20 người, gây tổn thất nghiêm trọng đơn vị này. Trời tối xẫm, có lệnh truyền xuống: - C7 tổ chức lên lấy thương binh ngay! Không biết thương vong có nhiều không. Tôi sách túi cứu thương bò lên đầu đội hình. Qua một bãi lầy hẹp, lên dông đồi cỏ phẳng lỳ xung quanh loang lổ hố pháo. Có mấy thương binh đồng đội băng cho đang được dìu ra. Trước mặt tôi cảnh tượng thật thê thảm: 8 liệt sỹ, có 1 thông tin 2w còn lại đại đội tôi 7 người. Tất cả đã được tập kết về một chỗ, ai nằm tư thế nào thì bây giờ vẫn như vậy, cứng ngắc, cong keo. Cứ hai người khiêng một liệt sỹ, cố gắng mang ra càng nhanh càng tốt. Lý Sài Quẩy (Sa pa, Lào cai) một mình vác anh Doỏng ra, có hai người khiêng Hậu đã cứng như khúc gỗ, cái chân còn dính tý thịt đong đưa. Có một liệt sỹ bị mảnh pháo xuyên qua cắt đôi chiếc thắt lưng da trung quốc. Không còn thời gian xem tên từng người, tôi và một chiến sỹ nữa khiêng liệt sỹ thông tin. Buộc võng vội vàng, chúng tôi lục tục chạy xuống bãi lầy, đường trơn dép tọt lên tới bắp chân. Dây võng tuột làm rơi liệt sỹ xuống bùn, đặt cáng xuống, khênh liệt sỹ vào võng và cứ thế nước chảy tong tỏng cho đến vị trí tập kết. Anh Ðiệp ở lại cùng đơn vị vận tải làm công tác tử sỹ. Chúng tôi tiếp tục lên đường. Cắt sang bên trái tiến về phía đỉnh núi đen xẫm. Bên phải, bên trái đâu đâu cũng nghe thấy tiếng súng địch nổ. Quá nửa đêm thì đến chân đèo. Dốc dựng đứng, chúng tôi bám theo nhau bò ngược dốc. Xuyên qua một rừng cây thưa giống như một nương sơn. Ðến đỉnh núi, có những tảng đá xếp chồng lên nhau tạo thành nhiều hang hốc. Lệnh cho C7 chốt lại trong hang, các đơn vị trong tiểu đoàn tiến lên phía trước. Tôi mò tìm chỗ giải ni lông, dựa vào một tảng đá và ngủ thiếp đi. Sáng hôm sau, anh nuôi tìm suối để nấu cơm, bộ đội chia nhau cảnh giới, chuẩn bị súng đạn và ngủ lấy sức. Tiêu đề: Re: Những người lính trung đoàn - Họ chiến đấu như thế. Truyện ký của Hoàng Gửi bởi: quangcan trong 16 Tháng Hai, 2012, 02:56:32 pm Tuyến phòng thủ MaÐrắc đập tan lữ dù 3 ((Máu ở đường 21, Nhật ký chiến tranh) Qua những ngày lặn lội trong rừng, những đỉnh núi cao tưởng chừng như chui vào lớp mây mù với hang động hiểm trở. Hôm nay đã tụt xuống bên này và nghe pháo địch bắn rất gần. đường xuyên rừng loanh quanh quá tôi không rõ hướng nào vào hướng nào cả chỉ mang máng rằng: Phía sau tôi là đỉnh núi cao ngất mà vượt qua nó là quận lị Khánh Dương. Trước mặt tôi chếch bên phải và bên trái chỗ nào cũng thấy tiếng những khẩu pháo điên loạn khạc đạn. Cơ hồ như mỗi đỉnh núi xanh nhấp nhô kia đều là chỗ ngồi của những cỗ pháo đáng sợ và căm ghét âý. Mỗi tiếng nổ từ đầu nòng làm rung rinh hạt mưa đêm còn đọng lại trên lá rừng là tiếng xé không khí của quả đạn bay ra, rồi nổ ùng oàng vọng vào trong núi. Chui vào giữa lòng địch với địa hình bất lợi cho chúng tôi trong khi kẻ địch lại nắm chắc địa hình và án ngữ trên các cao điểm. Cứ nghe tiếng súng lớn súng con thì coi như xung quanh chúng tôi chỗ nào cũng có địch. Nghe đâu chỉ còn bốn tiếng xuyên rừng nữa là ra đến đường 21 đèo MaÐRắc đi Khánh Hoà. Chúng tôi phải vượt sang bên kia đường ở đó hoàn toàn là đất địch nên việc tiếp tế gạo nước súng đạn là rất khó khăn, gạo lại sắp hết tính ra chỉ ăn được vài ngày nữa. Bắt buộc phải cho người trở lại Khánh Dương lấy hàng. Quay lại ư? Có nghĩa là phải vượt một đỉnh núi cao trọn một ngày. Tôi thấy ớn lạnh. Nghĩ mà sợ quãng đường vượt qua quá. Bộ phận quay về lấy gạo ra đến con suối bìa rừng bị địch phục kích, may mà không ai hy sinh. Con đường huýêt mạch trở về hậu cứ đã bị cắt đứt, mọi liên lạc với chỉ huy sở tiền phương còn trông chờ vào đài 2w. Vì thế nên chúng tôi được lệnh vượt đường. Gần tối mới dám cho rút tổ cảnh giới trên đỉnh đại đội tôi đóng quân. Ðêm tập trung cả tiểu đoàn ven suối, chúng tôi lặng lẽ hành quân. Trong rừng trời tối như bưng, hai chân làm thay cho hai con mắt lần theo lòng suối với những hòn đá rêu bám trơn như mỡ. Những vỉa đá ngang ngạnh luôn thử ống đồng của những người vô ý, đau điếng nhưng chỉ dám xuýt xoa. Một vài người ngã lủm bủm, súng va vào đá chát chúa, cái chết luôn bám theo sự vô ý của con người, kiểu này lộ ra có mà ăn pháo! Không ai biết địch đóng ở chỗ nào cả, nhìn những khu rừng chìm trong màn đêm tôi linh cảm như có hàng nghìn con mắt dõi theo chúng tôi vậy. Ra đến một vạt rừng gianh tôi mới nhận ra đêm nay có trăng. Bầu trời như chìm trong màu trắng đục. Sao rất thưa, thưa như bất kỳ ở một vùng rừng nào, không thấy một ngôi sao đổi ngôi, trăng đêm lạnh lẽo nhất là như đêm nay. Dòng người bỗng nhiên dừng lại, phía trước là một bãi lầy không thể vượt qua được. Bỏ con suối chúng tôi chui vào một khu rừng dốc gần như dựng đứng. Hai tay đu người lên mà cũng vất vả. Âm thanh của khẩu cối nổ ở đâu gần lắm, tiếng vọng vào rừng rồi tan trong màn đêm tĩnh mịch. Qua đỉnh núi này rối sang đỉnh núi khác, tôi tưởng như địch đã chờ sẵn chúng tôi lên, chuẩn bị một cuộc đọ súng, nhưng đến nơi lại thấy tiếng súng ở bên dông đồi và cứ như thế. Quá đêm gặp một nương của dân họ mới phát cây đổ ngổn ngang không thể qua được. Chúng tôi đành men theo sườn dốc, chui hoặc leo từ cây này sang cây kia khá vất vả vì mắc đồ đoàn, súng ống, rồi bộc phá� Xuống một con suối khá rộng, nước sâu ngang ngực bùn sôi ùng ục dưới chân. Qua vạt nương ngô đang lên xanh tốt là con đường 21 chạy qua. Con đường trải nhựa còn hằn vết xích xe thiết giáp, cách nhau 3 mét, chúng tôi sách súng lúp súp vượt đường. Bì bọp qua bãi lầy ven đường, chúng tôi leo lên một quả đồi trọc khá dốc, nhìn xuống con đường 21 rõ mồn một, đoàn người lồ lộ in trên màu sữa pha loãng của ánh trăng đêm. Một bản nhỏ nằm sát mé đường, mái tôn bắt ánh trăng trắng lấp loá. Cúi thấp người xuống! Ði thưa ra! Tụt xuống sườn dốc dựng đứng, hai tay vịn vào chít và cỏ gianh cháy dở, ngã xấp, ngã ngửa, dép bật quai, cực không kể đâu cho hết. Từng đàn dĩn lại lăn xả vào đầu, vào cổ mà hít máu, ngứa ran mà không còn tay để gãi. Loanh quanh hết xuống lại lên, chui qua lớp cỏ gì lá sắc hơn dao, mồ hôi túa ra sót như tra muối. Vừa sách dép vừa trượt như lăn, chúng tôi tụt xuống con suối khá rộng. Sang bên kia, có một con đường mòn, có lẽ đường của dân vẫn đi làm thì phải. Dừng lại sỏ quai dép, không bám kịp tốp đi đầu quay nhìn lại phía sau cũng không thấy ai cả, coi khéo lạc mẹ đường rồi, loáng quáng rơi vào chốt địch thì toi mạng. Có bóng người lờ mờ phía trước, tôi hỏi: - Sao quay lại! Quân ta đi đường nào rồi? - Không thấy thằng nào cả! Có khi lạc đường rồi! - Chắc không còn con đường nào khác đâu! Cứ đi thôi! Tôi để ý tìm dấu dép ven đường, có vũng nước đục ngầu chắc ai đó mới đi qua. Tôi bám lên phía trước nhưng cái cảm giác gặp mìn cứ rờn rợn, lẩn quất đâu đây. Ðến một đoạn suối, chúng tôi lội ào qua bất kể khô, ướt, lại qua một đoạn suối nữa có bóng đen đứng chờ trên bờ: - Lội khẽ chứ thôi! Phía trước có địch đấy, nhanh lên! Ði thêm một đoạn nữa thấy bóng người ngồi lố nhố ven suối, một giọng ngái ngủ: Nghỉ đi! Ðừng hút thuốc! Mẹ buồn ngủ thật. Có ai phía sau tôi hỏi nhỏ: Thế nào, xắp đến chưa? Chẳng ai buồn trả lời chỉ thấy giọng nói ấy lành lạnh rồi tan vào trong sương. Xắp sáng. Lệnh C7 tạt sang bờ suối, các đơn vị còn lại đi lên phía trước. Sáng thật lạnh, quần áo ướt dính vào da thịt thấy nhớp nháp quá. Tôi cúi xuống định sắn quần lội qua suối bỗng một loạt đại liên nổ phía trước mặt. Lại một loạt đạn nữa bay chiu chíu trong màn sương, có giọng miền nam quát lên: Ðơn vị nào hả!? Ðơn vị nào? Lên tiếng lên! Bộ đội lội ào qua suối, bùn đất sục dưới chân. Thằng C6 gặp địch rồi! Có ai việc gì không? Tôi bám theo đoàn người bò lên dông đồi. Lại thấy tiếng đại liên nổ ở phía sau, đoạn suối có người chờ chúng tôi ban nãy. Có nghiã là địch có cả trước và sau, chúng tôi lọt vào giữa, sáng ra chắc là ác liệt lắm đây. Tiếng miền nam lại nheo nhéo bắt liên lạc, hình như chúng sợ bắn nhầm phải nhau. Không ai trả lời, chúng lại kéo cò. Bỗng một loạt AK từ bên này suối bắn sang, thế rồi đại liên địch kéo hàng băng dài vào phía súng vừa nổ, đạn phóng lựu kỳ cạch chớp lửa nổ đanh lắm. Trời sáng lờ mờ, chúng tôi vội vàng cấu trúc công sự chiến đấu. Không ai dám cuốc to, lưỡi xẻng thận trọng cắm vào trong đất. Tôi cầm lưỡi xẻng không có chuôi mới thấm thía cán xẻng hơn bao giờ hết. Hành quân là vót sẵn cán mang theo, tôi thấy nó lỉnh kỉnh và quăng đi, bây giờ mới thấy nó quý hơn vàng. Sáng rõ, tôi và Ninh cũng đào được cái hố cho hai thằng rúc tạm. Màn sương vén lên phơi bày trước mặt toàn bộ cảnh vật mà đêm hôm qua vẫn mờ mờ, ảo ảo. Cái hầm tôi đào tưởng rất kín ai mgờ lại nằm trên một cành cây đổ, đứng ở đây nhìn xuống chân đồi rõ mồn một. Bên kia con suối là một vạt gianh rộng lan đến sườn núi loang lổ vết cháy. Con đường nhỏ mà đêm qua chúng tôi đi trông như con rắn len trong vạt cỏ gianh đang lên mơn mởn. Từ bờ suối lên đến hầm của tôi không đầy năm chục mét, gần quá! Tiêu đề: Re: Những người lính trung đoàn - Họ chiến đấu như thế. Truyện ký của Hoàng Gửi bởi: quangcan trong 16 Tháng Hai, 2012, 02:57:16 pm Có bốn, năm tên nguỵ xuất hiện phía bên trái hầm, tôi nín thở, tim đập thình thịch và chuẩn bị thước ngắm. Lũ nguỵ cụm lại trên bờ suối, hai loạt cực nhanh bắn lên dông đồi, tiếng phóng lựu nổ bên trái hầm tôi, mảnh bay lắc cắc. Tất cả vẫn im lặng, căng thẳng quá, đánh nhau đến nơi rồi. Tiếng súng vừa dứt lại nghe tiếng cuốc đất thậm thịch, tôi ném đất sang hầm bên nhắc đào khẽ thôi. địch vẫn chưa biết chúng tôi chốt ở sườn núi này.
Có hai thằng đi lại phía tôi, một tên bảo:Thắng hả! Kêu zậy xem có phải đơn vị bạn không? Một tên nguỵ có lẽ tên Thắng lấy tay làm loa: Ðơn vị bạn phải hông? Ðơn vị nào thì lên tiếng lên! Bắn đây nè! Hai quả phóng lựu nổ,chúng tiến đến sát bờ suối. Một loạt AK nổ rất đanh, một tên nguỵ chạy quay trở lại, lũ nguỵ trên đường nằm bẹp xuống bắn như vãi đạn. Phóng lựu bắn bừa lên sườn đồi, tôi vội lấy lưỡi xẻng che lên đầu, một động tác ngộ nghĩnh nếu mà ghi hình lại thì buồn cười lắm. Chúng bắn chán lại im lặng, thêm mấy tên nữa từ đâu lúp xúp chạy ra, tụm lại. Có tiếng nhí nhéo bên kia bãi gianh, một thằng đeo 2w bò ra, có lẽ chúng định gọi pháo câu đến chăng. Tôi cho tên thông tin vào đầu ruồi sẵn sàng nhả đạn. Tên lính 2w nói cái gì theo tiếng lóng, rất gần mà tôi chịu không dịch ra được. Hình như thượng cấp của nó vẫn sợ bắn nhầm phải nhau nên cố gắng bắt liên lạc, gọi chán chúng lại cạch oành. �Nắng đã nhuộm vàng sườn núi phía xa, không biết là mấy giờ rồi, trưa nay chắc nhịn ăn, bố ai dám xuống suối lấy nước nấu cơm bây giờ. Im lặng tràn xuống thung lũng miền rừng này, không một tiếng súng nào nữa, có lẽ lũ nguỵ cũng đã quá chán rồi, chúng đi lại lố nhố và tụm lại chỗ thằng bị thương, có hai thằng mang võng ra đi ngang trước mặt tôi, gần lắm. Chúng khiêng thằng bị thương đi xuôi theo con suối tôi còn nghe hắn kêu: Chu cha! Lẹ lẹ lên, đau quá trời má ơi! Tôi bảo Ninh ngủ để tôi cảnh giớí, nhìn hắn kéo chiếc gùi lấm lem kê lên đầu dựa vào vách hầm mà ngủ, mồ hôi toá loa bám đầy đất cát trên mặt. Chúng tôi thay nhau ngủ, quần áo ướt át lấm lem như con dúi, thấy tôi dậy Ninh bảo: Chúng nó kéo nhau đi đâu hết rồi ông ạ! Con đường vắt ngang qua bãi cỏ gianh ngập nắng, xung quanh im lặng, có tiếng pháo bắn ùng oàng vọng về, tôi và Ninh kéo nhau lên đồi. Ðại đội tản ra trên cánh rừng thưa, anh nuôi đem gùi xuống khe suối nấu cơm, chúng tôi chen nhau trong chiếc hầm đào dưới gốc cây đổ, rễ cây bưng lên một khối đất ngiêng ngiêng thay chiếc nắp hầm chắc chắn, lại dựa vào nhau mà ngủ. Một tiếng nổ khá to làm chúng tôi choàng dậy, lại tiếng ro ro vút xuống kèm theo tiếng nổ long óc. Mẹ, lũ này chơi toàn cối 106,7, sang thật. Có mấy chiến sỹ C8 đi qua chui vào tránh đạn, tôi nghĩ bụng: Ðông như thế này, mấy bố ngồi ngoài chắn mảnh đạn cho, càng tốt! Ðịch bắn vu vơ một chập rồi im hẳn, chúng tôi ra khỏi hầm đi lại cho thoải mái. Nghe đâu chuẩn bị xuất kích, các tổ bắt đầu cưa gỗ làm hầm. Tôi xuống khe suối lấy cơm và đóng nước. Cái bếp nhỏ làm vội ven suối nước không chìm hết mắt cá chân, thấy anh nuôi vẫn hì hục móc hầm, tôi bảo: Này! Hành quân đến nơi rồi còn đào hầm làm gì? Chia cơm cho bộ đội đi! Túi cơm mấy ngày không giặt nó đã lên men, vừa chua vừa mốc. Ôi dào, rũ qua� là được, ăn bẩn đã có ai chết bao giờ đâu. �Chiều ngày 28 tháng 3 lại nhận lệnh bỏ gỗ, tiếp tục hành quân. Ðoàn người hướng về phía súng nổ, càng đi càng dốc, hết lên lại xuống. Những cây búng báng mọc chênh vênh bên sườn đá, loại cây này ưa đất dốc và sỏi đá mới lạ chứ. Tiếng súng nổ mỗi lúc một gần, bên phải, bên trái. Hình như chúng tôi đang len vào giữa lòng địch, hướng nào cũng thấy những khẩu pháo điên loạn khạc đạn. Vừa đi vừa dừng, lúc tiến lúc lui, hình như còn dò tìm đường thì phải. Coi khéo mà chui vào ổ phục kích của địch thì toi mạng. Xắp ra đến đường, nghỉ ăn cơm. Chúng tôi dừng lại ở một khe suối cạn, lấy vạt áo lau qua bát, bẻ cành cây rừng làm đũa, một đời lính ba đời tráng, có sao đâu. Trời đã về chiều, ánh nắng không còn lọt xuống lòng khe nữa, có tiếng máy bay ào qua và tiếng bom nổ vọng vào khe núi. Người ta liên tiếp truyền lệnh giữ bí mật, bám sát đội hình. Rẽ lên một khe nhỏ, chúng tôi chốt lại đào hầm. Ðời lính chiến đi đến đâu là đào hầm đến đấy . Không biết chiếc hầm này nó có �se ri�thứ bao nhiêu rồi. Giá như gộp lại khối lượng đào đất của lính thì đã thành con sông chảy từ Hà Nội vào đến Sài Gòn rồi. Khủng khiếp thật. Ba người thay nhau đào đào,cuốc cuốc, toàn đá tảng. Xắp tối rồi mới khoét được cái hố một người chui lọt. Tôi lấy bao cát cho đất vào và xếp chắn ngoài cửa hầm. Hoàng hôn buông xuống, núi rừng như trầm lại, côn trùng bắt đầu kéo bản nhạc buồn bã, mù u. Nhìn vỉa đá gan góc trơ ra, tôi chán nản nhét xẻng vào bao. Cái tư tưởng chủ quan án ngữ mãnh liệt nhất là khi đã thấm mệt và chiến trường dìu dịu. �Các trung đội chuẩn bị xuất kích ra chốt chặn đường 21. Cơm chiều chưa có, cái đói ở đâu ào đến quặn ruột, nghe đâu đại đội đã vét đến bao gạo cuối cùng rồi. Kiểu này đến nhịn đói mà đánh nhau đây. Bóng đêm buông xuống thật nhanh, chúng tôi bám nhau men theo những vạt gianh rồi bì bõm xuống một bãi lầy. Tôi đi sau Bích ( Nam Hà) người A trưởng cối 60 vào chiến trường năm 67. Anh ta nổi tiếng gắt gỏng và rất ngang. Trăng đầu tuần đói so hắt ánh sáng yếu ớt xuống thung lũng. Bãi lầy cỏ mọc um tùm, bùn thụt đến đầu gối. Tôi đang dò tìm chỗ đặt chân thì Bích gắt: - Cái Ð.. mẹ, đường ở đâu không biết!? Mấy cái thằng cán bộ đi đâu hết rồi! Thấy có bóng người đứng lù lù phía trước, anh ta gắt: - Ðường ở đâu!? Hỏi không nói, đứng ăn C.. người ta ở đấy à! �Cái bóng đen ấy nói như quát: -Ðường đàng này! Ði đâu ra đấy! Không bám lên còn đứng mà nói tục! Bích nói bừa: -Tục cái con C.. ông đây này! Cái bóng đen ấy túm lấy cổ áo người A trưởng khốn khổ: -Này ! anh nào đấy? Anh Bích phải không!? - à, thủ trưởng Huy! Tôi tưởng ai! - Ði đường này không đi! Ðã gần địch lắm rồi đấy! Bám sát lên! Người tiểu đoàn phó ấy đã dịu giọng. Tôi đặt chân lên bãi đất khô, anh Mão chính trị viên đại đội bảo: Ðường 21 ở ngay đây rồi, khoảng 50 mét! Cứ bám theo đường dây điện thoại sang bên kia bãi lầy. Trước mặt là chốt của trung đội 2! Lội ngang qua bãi lầy, đại đội bộ chốt cùng trung đội 1. Sườn đồi trống trải không một bóng cây với bãi gianh cháy nham nhở. Con đường ở ngay dưới chân đồi, ban đêm nhìn nó sao thấy hiền dịu quá. Mặt nhựa bắt ánh trăng sáng nhờ cách hầm chúng tôi đào khoảng 20 m. Lại đào hầm, phần thức đêm, phần thì đói, người tôi như muốn lả đi. Anh Mão đi kiểm tra các trung đội về lôi trong gùi ra bánh lương khô cuối cùng. Bốn người chung một bánh lương khô, không là bao thế mà nó tỉnh táo và khoẻ hơn bao lần. Tiêu đề: Re: Những người lính trung đoàn - Họ chiến đấu như thế. Truyện ký của Hoàng Gửi bởi: quangcan trong 16 Tháng Hai, 2012, 02:58:00 pm Trăng lên khỏi đỉnh núi bên kia đường, hầm chúng tôi đã đứng tạm được 4 người, tôi bắt đầu khoét ngách hầm thì anh Tẩm đại đội trưởng ấn vai tôi xuống. Một trung đội lính dù hành quân qua, dưới ánh trăng tôi đếm được 24 đứa. Chúng đi theo đội hình hàng một, mỗi đứa cách nhau 2 mét, rất đều, rất nhẹ.Tiếng dầy khua lách cách xuống mặt đường nhựa rồi tan vào màn đêm tĩnh mịch. Tôi hồi hộp quá, có đánh bọn này không đây.
Thằng cuối cùng đi qua hết điểm chốt của tôi, còn chốt B2 nằm sát mé đường, liệu chúng có phát hiện ra không? Không một tiếng súng nổ kể cả chốổitung đội 3 khoá đuôi. Ðêm trở lại yên tĩnh lạ lùng, ánh trăng chảy dài như vô tận, những đỉnh núi xa bên kia đường mờ dần vì sương xuống, gió tràn về thật lạnh. Chúng tôi lại thay nhau đào và xúc. Thế rồi không ai bảo ai, tất cả như ngừng thở lắng nghe tiếng động cơ ô tô xen lẫn tiếng gió lùa trên cây cỏ. Tiếng động cơ càng to dần, ô tô hay xe tăng, địch nhiều hay ít? Tim tôi như muốn nghẹn lại. Anh Tẩm báo cho trung đội� một chuẩn bị hoả lực, tôi kéo AK lại gần, đánh nhau thật rồi, hầm hố chưa đâu vào đâu cả, chắc là ác liệt lắm. Cái giây phút đợi chờ căng thẳng ấy đã đến. Tim tôi càng nhảy trong lồng ngực khi một bóng đen lù lù nhô ra từ sườn đồi bên trái. Tiếng nổ tành tạch như cố ý ngậm lại cái âm thanh của động cơ máy. Ô tô! Sao lại chỉ có một chiếc!? Tôi cúi sát mặt đất nghe xem phía sau nó còn xe nữa hay hết. Chiếc xe lăn bánh qua ngang chúng tôi rồi đi vào chồt B2. Tôi chưa kịp định thần thì một luồng lửa màu da cam kèm theo tiếng nổ inh tai chớp lấy chiếc xe. Hàng tràng tiểu liên xanh biếc nhì nhằng xiên vào cái bóng đen ấy. Lửa bùng lên từ thùng xe soi rõ bóng những tên lính nguỵ chấp chới kêu la. Chiếc xe hầu như chững lại vài giây rồi nó rú ga chồm về phía trước. Phía chốt B3 khoá đuôi, một vệt sáng xanh biếc của B41 bắn vọt qua nổ chớp xanh bên kia đường. Chiếc xe như con thú bất kham chồm lên, cõng theo cả khối lửa trên lưng. Chạy được khoảng 50 mét thì dừng lại, lửa bùng lên kéo theo những tiếng nổ lục bục. Chỉ huy sở tiểu đoàn liên tục điện ra yêu cầu báo cáo lại trận đánh ban nãy, cần phải xác minh chính sác chiếc xe ấy chở cái gì để biết thêm ý định của địch, chúng chuyển quân hay rút quân. Lửa đã tắt, đêm trở về với bản năng của nó, tất cả những gì vừa xảy ra với màn đêm thật vô nghĩa. Ðêm tĩnh tại mông lung cho côn trùng khóc than không nuối tiếc. Trăng sáng nhờ, sương bắt đầu xuống đặc. Nhìn lên chị Hằng chợt nhớ những đêm quê hương ngồi ngắm trăng hóng mát, tìm chú cuội trên gốc cây đa. Quê hương ơi, liệu có còn ngày nào được ngắm nhìn mây trôi lững lờ chấp chới ánh lân tinh kia không nhỉ. Có tiếng pháo từ phía nam vọng lại, giá như đừng có chiến tranh, chúng tôi xẽ nằm phơi trên con lộ kia cho đỡ nhớ. Bỗng một loạt tiếng nổ xé toang màn đêm mộng mơ ấy. Ðạn lửa bay đan chéo vào khoảng không với mớ âm thanh chết chóc. Anh Tẩm bảo hình như phía ấy là thằng K9 đánh vào điểm chốt nào đó. Nếu vậy thì chúng tôi không phải là đơn độc, đồng đội vẫn ở ngay bên cạnh sẵn sàng chia lửa cùng chúng tôi. Tiếng súng vẫn nổ không ngớt, tôi đứng lên quan sát thì hàng loạt tiếng nổ chói tai, lửa toé loe ngay đoạn đường vòng vào chốt B1. Cơ hồ như hàng trăm khẩu súng cùng bắn một lúc, tất cả như chiếc cối xay đạn túa vào hai bên đường làm rung chuyển cả căn hầm. Những bóng đen ầm ầm chạy ra, vừa đi vừa bắn, tiếng xích xe nghiến trên mặt đường, tiếng động cơ gầm rú, tiếng đạn nổ hỗn loạn, đạn bay hoa cả mắt. Xe tăng rồi! Tôi nhằm vào những khối đen lừng lững ấy mà nẩy cò. Anh Mão bảo: - Khéo bắn phải thằng B1 phía trước! B40 đâu? bắn nhanh không nó chạy hết! Một luồng lửa phụt về phía tôi, tiếng nổ tức ngực, khói cay xè. Ðịch phản pháo chắc, tôi và anh Mão chúi xuống hầm. Trên đường, một khối lửa bùng lên bao chùm cả chiếc xe. Cháy rồi! B1 đánh tốt lắm! Bắn đi! Lửa cháy dữ dội, những chiếc xe phía sau chạy chen lên, đạn B40, B41 chớp lửa, AK quây lấy những con voi sắt ấy. Lại thêm một xe nữa bùng cháy trước điểm chốt trung đội 2, chiếc thứ ba hoảng loạn húc đầu vào tà luy đường ngay dưới chân trung đội 3, lũ nguỵ lúc nhúc chui ra khỏi xe nhảy xuống đường. Tôi nhằm vào những chiếc áo vằn vện ấy bóp cò, anh Mão bảo: Thằng trung đội 2 ở đấy! Khéo bắn phải nó! Ðạn trong xe nổ dữ dội, lửa cháy sáng rực soi rõ những xác chết nằm lăn lóc trên đường. Chiếc xe trước mặt tôi ăn trọn quả B41 vào ngang sườn hất văng khẩu 12ly7 nằm chỏng lỏn trên đường. Tên xạ thủ bị quăng xuống sau chiếc xe đang dãy dụa kêu khóc, tôi đưa nó vào đầu ruồi nhưng rồi lại không bóp cò nữa. Cứ để cho nó thấm thía đời lính đánh thuê nhục nhã của mình, để rồi ai xẽ đến cứu hắn! Anh Tẩm báo cáo vắn tắt trận đánh chặn đoàn xe tăng địch, tiêu diệt hai xe thiết giáp, chiếc thứ ba vẫn nổ máy xình xình. Tiểu đoàn ra lệnh: C7 tổ chức bắt sống xe tăng! Tôi chột dạ: Bắt sống để làm gì! Ai biết lái mà bắt sống! Ðịch thì vẫn còn rất nhiều hai bên đường. Nếu ra mặt đường bây giờ chắc chắn quân ta xẽ thương vong. Anh Tẩm và anh Mão bò xuống ven bãi lầy lấy tay làm loa ra lệnh cho B2 bắt sống xe tăng. Thương binh hay tử sỹ rồi cũng đến tay mình cả, chỉ vì thành tích hão mà đưa bộ đội vào chỗ chết như vậy, tôi cáu tiết bảo Ngân liên lạc đại đội: - Mày chạy ngay ra bảo anh Tẩm: lệnh tiểu đoàn cho tiêu diệt chiếc xe tăng ấy đi, không bắt sống nữa! Cậu liên lạc sách súng chạy lúp xúp trên bãi gianh, tôi nghĩ bụng: Dù trái lệnh chăng nữa để đảm bảo cho bộ đội không thương vong là được. �Tôi chưa kịp định thần thì nghe bên kia bãi lầy gọi sang cấp cứu thương binh. Ðấy! Nói có sai đâu cơ chứ! Tức thật! Tôi sách súng cầm túi cứu thương bò ra ven bãi lầy, anh Tẩm đang ra lệnh cho B2 tiêu diệt chiếc xe tăng ấy. Nhìn sang bên kia đường, qua ánh lửa thấy Phán cùng hai chiến sỹ nữa vác B41đang lom khom quỳ bắn. Lại một luồng lửa xanh biếc phụt ra, cùng như kèm theo tiếng nổ là cột lửa bao trùm lên chiếc xe ấy. Ngoài đường ba chiếc xe cháy mỗi lúc một to, đạn 12ly7 nổ từng tràng dài trong thùng xe, thỉnh thoảng một quả đạn pháo hoặc DKZ nổ cuốn theo lửa và cột khói cuồn cuộn. Cả một khúc đường sáng rực như trên sân khấu, tàn lửa bay tứ tung. Vượt qua bãi lầy sang chốt B2, thấy bộ đội đứng lố nhố ven đường, tôi hỏi: -Thương binh ở đâu!? -ở ngoài đường ấy! -Ai bị thương?Tại sao lại bị ngoài ấy? _Anh Lý trung đội trưởng tổ chức ra bắt sống xe tăng thì bị địch bắn!( Lý Quê Thanh Ba-PT) -Thế thì anh nào cùng tôi ra lấy thương binh! Tôi sách súng, đeo túi cứu thương cùng Bích và Phán leo lên mặt đường. Con đường 21 ban đêm thấy nó rộng như đại lộ, ba chiếc xe thiết giáp cháy dữ dội, lửa rừng rực soi rõ như ban ngày. Không thể bỏ thương binh ở lại trên đường một mình được, nhưng chạy trên mặt lộ trống trải như thế này trong khi địch còn đầy hai bên đường thì cầm chắc tám phần chết, hai phần sống. Chúng tôi dễ dàng trở thành mục tiêu sống cho lũ nguỵ đang mai phục ở ven đường. Sống hay mái cũng không được bỏ thương binh.Tôi tự nhẩm trong bụng: Ðịch đang nhằm bắn mình! Chuẩn bị tắc bùm này! Tắc bùm này! Lý nằm sóng soài trên mặt đường cách chiếc xe định bắt sống khoảng 3 mét. Trong xe, đạn đại liên và DKZ nổ từng chập tung tàn lửa cuồn cuộn bốc lên, nóng rát mặt. Giá như nó không có cái vỏ bọc thép bao xung quanh thì chắc chắn không có ai dám lại gần. Lý lật ngang rồi lật trái, hai tay định chống người lên nhưng rồi lại quỵ xuống, thở hổn hển. Tôi bảo: Nhanh lên! ôm lấy ngang người Lý, Bích và Phán ôm phần đùi và chân, chúng tôi chạy quay trở lại. Lý to béo và khá nặng, tôi liên tục xốc lên, áp sát Lý vào ngang sườn. Mỗi lần như vậy,� máu từ vết thương của Lý lại trào ra, chảy dọc theo bên đùi, xuống ống chân tôi nóng hôi hổi. Nhảy xuống mép đường, không thấy địch bắn, thế là thoát chết. Ôm lý chạy về hầm, tôi bước qua một thân hình quần áo rằn ri nằm ngang đường, tôi hỏi: - Sao thằng nguỵ này lại nằm ở đây? - Một chiến sỹ trung đội 2 nói gấp gáp: -Thằng này từ trên xe cháy hoảng loạn nhảy đại xuống, thấy bộ đội ta áp sát mé đường, nó tưởng là lính dù mới hỏi: Chạy đi đâu bây giờ! Thế là tôi bảo: Giơ tay lên! Ðặt Lý nằm dựa vào vách hầm, tôi đứng dậy. Chết thật, bắt tù binh mà không ai trói buộc gì cả, nó quăng cho quả US thì sao! Cùng như một lúc, tên nguỵ thấy chúng tôi túm vào với thương binh thừa cơ bỏ chạy. Vớ khẩu AK trên hầm, tôi lia theo cái bóng đen loang lổ ấy. Chỉ thấy hắn hự lên rồi cắm đầu xuống bãi lầy. Lần đầu tiên tôi trực tiếp giết người như vậy mà không hề run tay! Quay lại với thương binh, viên đạn bắn xuyên qua mạn sườn đút lọt ngón thay cái, Lý luôn mồm kêu: Khó thở quá! Khó thở quá! Tôi băng vết thương lại thì thấy sức Lý cứ đuối dần. Khoảng 15 phút sau trung đội trưởng Lý tắt thở vào tang tảng sáng ngày 30 tháng 03 năm 1975. Tôi buồn bã vượt qua bãi lầy về báo tin cho đại đội biết. Lý sinh ra ở một miền quê nghèo giáp thị xã Phú Thọ, đã có vợ và một con. Hồi trong hậu cứ Kà Leng Lý kể: Vợ mình năm ấy thế chó nào lại đẻ vào giữa vụ gặt, các ông còn lạ gì cái cảnh gặt hái của hợp tác nữa, tất cả đổ xô ra đồng. Không còn ai để nhờ khiêng ra bệnh viện, nhìn chiếc xe cải tiến chở lúa, tôi nghĩ ngay ra: Ðược rồi! Mẹ nó cứ ngồi lên đây! Tôi chùm cho chiếc chăn và cứ thế kéo đến bệnh viện! Hôm nay Lý đã hy sinh, để lại người vợ goá và đứa con nhỏ nhoi sinh ra vào mùa gặt. Cho đến hôm nay, cho dù là người cùng quê với Lý, đã bao nhiêu lần nhắn tìm rồi mà vẫn chưa gặp được cái gia đình liệt sỹ ấy. Tiêu đề: Re: Những người lính trung đoàn - Họ chiến đấu như thế. Truyện ký của Hoàng Gửi bởi: quangcan trong 16 Tháng Hai, 2012, 02:59:02 pm Ðêm lạnh lẽo, trăng sáng đục có lẽ cũng xắp sáng. Ngoài đường những chiếc xe chỉ còn lại vài đốm lửa lập loè. Sương xuống đặc quánh, trời se lạnh, không gian lặng im tưởng chừng như nghe thấy tiếng côn trùng rỉ rả, đưa ma.
Mờ sáng, tiếng súng thưa dần, bắt đầu thấy đói cồn cào, không còn cái gì để ăn tạm, nghĩ đến bánh lương khô mà nước bọt cứ tứa ra. Bỗng ngang dông đồi chúng tôi có tiếng gì như hàng trăm bước chân đang rê trên mặt cỏ, rất gần. Anh Tẩm quát: Ai! Rồi nâng AK, một loạt đạn bắn về phía ấy. Có tiếng lao sao gấp gáp, tiếng súng vội vàng va vào nhau, địch rồi! Tôi và anh Mão cùng ném hai quả US vào phía ngang đồi. Tiếng rào rào té ngược lên đỉnh dốc. Ðịch rồi! B1 đâu! Cho bộ đội đánh vận động chặn địch! Tiếng phóng lựu của ta bắn lên dông đồi, AK bắn từng loạt, không thấy địch bắn trả, chỉ thấy tiếng rầm rầm như hàng đàn thú chạy ngược dốc. Anh Mão gọi C8 cho cối 82 bắn ngay lên dông đồi mà chúng tôi đang chốt. Khẩu cối bảo: Sương xuống quá dầy, đêm tối không lấy được xạ giới! Chúng tôi yêu cầu Cối 82 cứ bắn, bên này bộ binh chỉnh tầm và hướng. Có lẽ sợ lộ trận địa, địch xẽ phản pháo cho nên khẩu đội cối của tiểu đoàn cứ làm ngơ, không bắn quả nào cả. Sáng, sương đặc quánh, cách ba mét thôi mà nhìn không rõ mặt người, anh Mão chạy về bảo: -Tao với mày lên đồi tìm hộp đi! Thằng B1 lấy được nhiều ba lô lắm! Nghe đến hộp, tôi sáng mắt cùng anh lò dò lên đồi. Cách hầm chúng tôi khoảng 4 mét, rừng gianh như có ai dùng gậy cán dẹp thành con lộ chạy ngược lên đồi, hai thằng nguỵ chết nằm tơ hơ trên mặt đất, một thằng ăn trọn quả M72 vào mặt, sương hàm toắc ra, những vệt máu tươi còn lê trên vạt cỏ. Rõ ràng phải có hàng tiểu đoàn địch chạy qua đây mới làm cho cả rừng gianh nát bươm như vậy. Tôi nhìn thấy có mấy chiếc ba lô nguỵ nằm lăn lóc trên vạt cỏ gianh, hướng địch chạy xuống bãi lầy. Anh Mão hai tay hai ba lô, tôi thấy có một chiếc gần bãi lầy vội chạy xuống, khoắc lên vai. -Ði ra! Giơ tay lên! Có tiếng miền bắc của ai đó trong màn sương vọng ra, gần lắm, tôi bảo: - Ai đấy! C7 trên này đấy! Cái tiếng ấy vẫn lạnh lùng: - Có đầu hàng không? Bắn đi! Tôi gào lên: - C7 đấy! Ðừng có bắn! Anh Mão cũng gào lên: C7 trên này đấy! Ðừng có bắn! Một loạt AK hướng về phía tôi. Chết cha rồi, ông kễnh nào mắt nhắm mắt mở thấy tôi khoắc ba lô nguỵ nên tưởng nhầm chăng! Tôi không còn hồn vía nào nữa, quăng ba lô xuống đất bò bốn chân lên đồi, mồm không ngớt kêu: Ðừng có bắn! C7 đấy! Vẫn cái tiếng lạnh lùng ấy tan trong màn sương: Chết rồi! Ông lại xem đi! Hoá ra hai ông anh nuôi của C8 đem cơm cho trận địa cối. Họ đi ngang qua và phát hiện thấy hai tên lính dù chui rúc ven bãi lầy. Tên lính dù thì ở giữa, tôi ở trên sườn đồi cho nên mới có đoạn đối thoại toát mồ hôi trên. Chúng tôi kéo ba lô về hầm, lấy gạo xấy và thịt hộp ra thi nhau xúc. Túi cóc ba lô một tên còn có cả ống cóng thịt lợn kho vẫn còn nóng. Chén đi! Không có thuốc độc đâu mà lo! Bỗng có tiếng miền nam ngay sau lưng: Em đầu hàng các anh ơi! Em xin đầu hàng các anh ơi! Theo phản xạ chúng tôi nhảy ào xuống hầm, anh Tẩm vớ lấy khẩu súng: - Ði ra! Giơ tay lên! Có bóng đen lệt xệt trong bãi cỏ gianh ngay sau hầm chúng tôi. Anh Tẩm quát: -Ðứng lên! -Dạ em bị thương gãy dò! -Tôi cảnh giới cho! Ông Hậu lên băng cho nó đi! Tôi cầm súng leo lên hầm, tên nguỵ cởi trần mặt cắt không còn giọt máu, từ trong bụi lê ra. Bên cạnh hắn là một xác chết với đống quần áo loang lổ. Một tiểu đoàn địch đã xắp tràn qua hầm chúng tôi, quá là gần. Nếu địch biết chúng tôi chỉ có một trung đội thì chắc trận đánh giáp lá cà xẽ diễn ra. Hai quả lựu đạn của tôi và anh Mão đã chặn bước đi của địch buộc chúng rẽ ngược lên đỉnh đồi. Phía sau khe suối, địch hoảng loạn tháo chạy vứt súng ống, ba lô chồng lên nhau kể cả đài thông tin 15w. Tôi thu ba lô và súng địch, có một chuỗi hạt cườm, một túi vải thêu loang lổ của người theo công giáo. Bên trong túi có tờ giấy với dòng chữ viết vội mấy câu thần chú �úm ba la� gì đó. Phía sau còn chú thích: Nếu gặp tai hoạ cứ đọc mấy câu thần chú này thì tai qua, nạn khỏi! Tên tù binh này liệu có thoát chết hay không khi sinh mạng của nó đang nằm trong tầm tay chúng tôi! Nắng tràn trên đường, thằng nguỵ với khẩu 12ly7 nằm chỏng gọng lúc sáng còn gọi má ơi; bây giờ không thấy động cựa gì nữa. Ba chiếc xe bọc thép M113 hôm qua hung hãn là thế nay chỉ còn một đống sắt vụn đen sì. Những tên tàn binh nhập nhoạng chạy ra đường đã trở thành mục tiêu của các tay bắn tỉa. Xác lính dù nằm lăn lóc rải rác dọc quãng đường hơn ba trăm mét. Nhìn tên tù binh run lên lập cập, tôi cho nó chiếc áo dù khoắc tạm và một bi đông nước. Khoảng 9 giờ sáng ngày 30-03-1975, đại đội 5 được lệnh xuất kích truy đuổi tiểu đoàn 5 dù bỏ chạy đêm hôm qua. Ðỗ Văn Hoan ( Quê Sơn Dương-LâmThao-Phú Thọ) trung đội trưởng dẫn quân dọc đường 21. Ði ngang qua chốt của trung đội 3 một đoạn, gặp chiếc xe DMC đêm hôm trước chúng tôi bắn cháy, trên xe chở đầy thịt hộp thế là bộ đội túm quanh chiếc xe. Cùng lúc ấy có chiếc VO10 bay đến, bắn đạn chỉ điểm, hai máy bay A37 lao đến cắt bom. Ðứng ở trên chốt nhìn từng chiếc máy bay lao xuống, tiếng bom rung chuyển căn hầm, khói đen cuồn cuộn bốc lên. Ðịch đánh dọc đường từ phía chiếc xe cháy đến giữa bãi lầy rồi cút. Nghe đâu đại đội 5 bị hy sinh mấy người, tôi sốt ruột quá, thằng Hoan có việc gì hay không!? Quá trưa, trung đội của Thanh quê ở (Ðại Phạm - Hạ Hoà - Phú Thọ) tôi có gặp anh năm 1978 đang công tác tại phòng xây dựng huyện Vĩnh Tường-Vĩnh Phúc) bắt được 5 tên tù binh. Một quả bom nổ giữa bãi lầy, hơi bom quét một vùng cỏ và bèo làm hở lưng mấy chú lính dù dưới đầm nước. Do sức ép quả bom quá mạnh cộng thêm đỉa rúc và cái nắng giữa trưa, lũ tàn binh không còn chịu được nữa.Thanh cầm súng đi ngang qua thấy chúng động đậy ven hố bom quát lên một tiếng, cả năm thằng vội vã đứng dậy xin hàng. Khoảng hơn 13 giờ chiều, thấy đoàn cáng thương của C5 đi ngang qua chốt, tôi hỏi: - Này các ông ơi! Thằng Hoan trung đội trưởng có việc gì không? - Hoan chết rồi! Vừa mới khiêng về bên bãi lầy kia kìa! Tôi chạy dọc đường 21 sang bên kia bãi lầy, ở đấy người ta đang đào 4 cái huyệt ngay cạnh điểm chốt của B2. Ðại đội 5 ba liệt sỹ, đại đội 7 một người là Lý. Hoan nằm trên cáng, khói ám đen khuôn mặt thông minh và đẹp trai ấy.Trên ngực Hoan, những mảnh đạn găm thủng lỗ chỗ, vạt áo bị cháy nham nhở, một vài con kiến vẫn còn bu trên miệng các vết thương. Tôi chua sót lấy khăn lau mặt cho Hoan, trước khi vào chiến dịch, chúng tôi còn chúc rượu và vui với nhau trong hậu cứ. Còn hôm nay. Nghe nói trung đội của Hoan đi đến đoạn chiếc xe cháy thì bị bom đánh vào đội hình. Nghe bom rít trên đầu, Hoan cùng mấy chiến sỹ lao xuống ven đường cạnh một trận địa pháo của địch không ngờ dính quả mìn dâu tôm. Ba người hy sinh, một bị thương. Tôi không còn đủ can đảm để nhìn những tảng đất phủ lên thân hình thằng bạn của mình. Quay ra, đi xuôi về nơi Hoan chết, ở đấy chiếc xe DMC đã cháy thành than, những thùng thịt hộp cháy nổ văng ra xung quanh. Trên thùng xe, có mấy xác lính nguỵ chết đen thui chỉ còn phơi bộ xương sườn cong vênh, vừa khét, vừa khẳn. Bên kia đường, có hai khẩu pháo 105 ly với nước sơn xanh biếc ngồi chồm hỗm cạnh đường. Có lẽ thấy lũ thiết giáp bị chặn đánh tơi tả, lính pháo binh hoảng sợ bỏ pháo tháo chạy. Bên ngoài trận địa pháo, một sợi thép gai căng ngang, ở đó có một mảnh bìa các tông vẽ cái đầu lâu với hai cẳng sương ống và hàng chữ :CO MIN! - Hoan chết ở đây. Tôi buồn nản quay về, đi ngang qua chiếc xe bọc thép thấy Thanh và hai chiến sỹ nữa đang lấy cung năm thằng tù binh dù, có một tên điếc đặc vì sức ép, lửa bom cháy quăn bên mặt. Thấy tôi, Thanh hỏi nhỏ: Lũ tù binh này thì nên làm thế nào? Nghĩ đến Hoan và các liệt sỹ của ta, tôi càng cáu tiết: Cho thịt mẹ chúng nó đi! Trở về hầm, anh Tẩm đi kiểm tra các điểm chốt, nhìn thằng tù binh nguỵ, máu trong người như muốn sôi lên. Tên nguỵ lúc này đã đến đường cùng nên gương mặt của nó như vừa hối tội lại vừa van xin. Nhiều khi định cho nó một băng đạn nhưng lại thấy tồi tội. Cùng thời gian này, lực lượng vũ trang quân khu Năm và quân đoàn 2 đã giải phóng hoàn toàn các tỉnh duyên hải miền trung từ Quảng Trị, Phú Yên, Quảng Nam, Quảng Ngãi và đang ào ạt tiến vào thành phố Ðà Nẵng. Phía chúng tôi đánh chiếm đèo Phượng Hoàng, sử dụng một lực lượng lớn của sư đoàn với chiến thật luồn sâu, chia cắt, tiến công và chốt chặn không cho địch ứng cứu lẫn nhau. Những mũi luồn sâu áp sát đội hình làm vô hiệu hoá hoả lực và các trận địa pháo của địch làm cho chúng hoang mang dao động. Chúng tôi đã giáp trận rất nhiều với quân cộng hoà, bảo an, biệt động. Hôm nay đối mặt với lính dù nguỵ rõ ràng lực lượng này lỳ lợm và thiện chiến hơn rất nhiều. Trên một con đèo dài 15 km với địa hình hiểm trở địch đã chiếm ưu thế về địa hình và hoả lực, ta không có cách đánh hợp lý thì tổn thất là không tránh khỏi. Chúng tôi đã nhịn đói, luồn sâu, biết bao nhiêu hy sinh vất vả để bao vây chia cắt địch theo đúng ý đồ của bộ chỉ huy chiến dịch. Dàn địch mỏng ra để tiêu diệt, khúc đầu, đuôi và khúc giữa cùng oằn lưng mà ăn đòn. Nghĩ lại mới thấy bộ đội ta thông minh mà anh hùng thật. Chiều 30 tháng 03, không gian như tĩnh lặng, phía đông, tiếng bom và pháo vẫn vọng về, có lẽ các đơn vị bạn đang tiến công và truy kích địch hướng chân đèo. Nắng bắt đầu gắt, mùi hôi hôi, ngai ngái của xác chết, mùi khét của khói đạn xen trong gió ngàn thỉnh thoảng lại đưa lên hầm. Sau khi cho tên tù binh uống nước, anh Tẩm bảo: Thằng lính nguỵ này làm thế nào? Tha hay giết đi! Anh Mão ngửa cổ tu nước trong chiếc bi đông nguỵ chép miệng: Thôi, thả mẹ nó ra, giết làm gì cho bẩn tay! Nó đi đâu, sống hay chết mặc xác nó! Gọi tên tù binh ấy lại, hắn lập cập lê đến bên hầm, thịt ở hai bên má run lên, anh Tẩm bảo: - Bây giờ thì tha chết cho mày! Ði xuống cái bản kia kìa, ở đó có ban quân quản người ta đón, nghe chưa! - Tên tù binh dạ ran rồi vội vàng cất tờ giấy phóng thích viết tay như cầm tờ hộ mệnh. Nhìn nó lê đít trên sườn đồi, chúng tôi quay về với bữa cơm chiều. Anh nuôi không phải đưa cơm nữa, chúng tôi mở gạo xấy và thịt hộp ra. - Sáng hôm qua tôi cứ tưởng nó bắn ông, mẹ! chạy bán sống bán chết! - Tôi thấy ông nằm bò ra vạt gianh, ướt hết cả áo, thôi cũng sợ đi! - Trong ba lô có thằng còn đem theo con gà trống, tụi này ăn cắp gà ở đâu không biết, tôi định mang về thịt nhưng thằng B2 xin mất rồi! - Khe đồi phía trên kia cơ man nào là ba lô và súng đạn, giá như thằng cối 82 nghe mình tương lên dông đồi thì bọn dù này ăn đủ! Chúng tôi vừa ăn vừa nói chuyện vui vẻ, hình như chiến tranh đang ở đâu xa lắm rồi. Bất chợt tôi nhìn xuống đường, Thanh đang quỳ xuống ngắm bắn, trước mặt là tên nguỵ mà chúng tôi phóng thích đang lê trên mặt nhựa. Tôi nhận ngay ra và kêu lên: - Ông Thanh! Chưa dứt câu thì hàng loạt điểm xạ đã nổ, tên tù binh lăn còng keo ra đường, anh Tẩm bảo: Người ta đã phóng thích, ông còn bắn nó làm cái gì!? Thanh cắp súng quay đi: Tôi không tha thằng lính dù nào cả! Cú chúng nó lắm rồi! Có lẽ Thanh thoát chết trong trận pháo ngày 23 tháng 03 dưới chân đèo. Bao nhiêu đồng đội của mình đã vĩnh viễn không bao giờ trở lại vì tụi nguỵ này nên anh rất căm tức lữ dù này. Thấy thế tôi chạy xuống đường và bảo: -Lúc nãy anh bắn nó đã chết chưa? -Chết rồi! Khoảng cách không đầy 20 mét ấy mà! Một đêm trôi qua thật bình lặng, tiếng súng vẫn ì ầm phía đông, hầu như chiến tranh đã lùi qua đây rồi thì phải. Chúng tôi khoan khoái ngắm ánh trăng mên mang chảy tràn trên đồi cỏ, lại mở hộp ăn với nhau. Khoảng nửa đêm, chúng tôi nhận lệnh hộ tống một đoàn xe K63 của ta chạy về phía đông. Ðể một trung đội ở lại chốt đường, chúng tôi chia nhau vào các xe thiết giáp. Tôi bâng khuâng nhìn sang hai bên đường, núi đồi nhấp nhô huyền ảo trong màn sương khuya mai mảnh. Gió lọt qua khe cửa đem theo mùi xăng đến nôn nao. Qua khỏi chiếc xe GMC bị cháy một đoạn, chúng tôi dựng lá chắn thùng xe lên đề phòng địch phục kích. Tôi chột dạ: Biết đâu hôm nay địch cũng chờ chúng tôi ở đâu đó, một quả ÐK thôi là tất cả chìm trong cái quan tài sắt này! Ði khoảng 6 km thì bàn giao cung đường cho đơn vị khác hộ tống tiếp, chúng tôi hành quân bộ quay trở về điểm chốt. Bắt đầu thấm mệt và buồn ngủ. Sáng 31 tháng 03. Nắng chảy tràn trên dông đồi, gần một tháng liên tục hành quân không tắm gội gì cả, tôi và anh Tẩm đem quần áo ra con suối sau bản tắm giặt. Ði xuống đường, những xác chết hôm qua bị kéo sang hai bên lấy đường cho xe ta chạy, để lại những vũng máu đen như hắc ín. Những tấm lưng trần bị nắng hun đúc lợt da nhầy nhụa. Có xác chết nằm co quắp thân thể cháy đen thui. Tôi thở dài: Chiến tranh là thế đấy! Tôi cố tìm xác tên nguỵ hôm qua phóng thích xem bị bắn như thế nào. Lật tìm mãi mà không thấy đâu cả, quái lạ, chả lẽ nó vẫn thoát chết! Vào trong bản, cái làng dân tộc mà hôm nào chúng tôi vượt đường thấy mái tôn sáng lấp loá. Dân có lẽ đã chạy hết vào rừng chỉ nhìn thấy bóng vài người đàn ông đóng khố ngồi trên sàn nhà. Vài chú gà choai đuổi nhau với đàn lợn hí hoáy dũi ven hè. Ðến nhà Rông, tôi giật mình nhận ra thằng tù binh đã phóng thích ngồi lù lù trên xạp gác. Hai đùi hắn đã được thay lớp băng mới trắng xoá, bên cạnh hắn là mấy thằng tù binh bị trói tay khoặc ra phía sau. Nhìn thấy chúng tôi, nó hoảng sợ lấy tay che mặt, tôi bảo anh Tẩm: -Thằng này số của nó cao thật! Vua Diêm Vương đã sờ đến cổ rồi mà vẫn còn chưa chết! Con suối mát lạnh trong veo nước chảy lững lờ, hai bên bên bờ hàng lau xậy xanh um ào ào khi một luồng gió núi thổi qua. Lâu lắm rồi, hôm nay chúng tôi mới lại được tắm trên con suối yên hoà như thế này. Lại lặn, lại ngụp và té nước vào nhau cười khúc khắc. Hầu như chiến tranh đã lùi thật xa cho cái chết không còn khắc khoải nữa. Tôi lại thấy yêu đời, yêu cuộc sống tệ. Nhìn lên vòm trời xanh cao vời vợi, bất chợt tôi thèm khát một chiều quê hương, một gương mặt ngỡ ngàng của người con gái thơ buồn nào Tiêu đề: Re: Những người lính trung đoàn. Họ chiến đấu như thế. Truyện ký Hoàng Kim Hï¿ Gửi bởi: quangcan trong 16 Tháng Hai, 2012, 03:02:23 pm Chiến dịch Ðăk -Xiêng. Tháng 11 năm 1972. Sau chiến thắng Pờ-Lây-Cần, mảng cứ điểm phía tây Kon Tum bị san phẳng. Phía bắc, căn cứ Ðăk xiêng-Trung tâm huấn luyện biệt kích của nguỵ quyền Sài Gòn ở Tây Nguyên như thách thức trung đoàn 66. Ðể mở thông hành lang Ðông-Tây đưa lực lượng lớn vào áp sát thị xã, trung đoàn 66 chúng tôi nhận lệnh tiêu diệt cứ điểm này. Ðại đội quân y thành lập đội phẫu tiền phương, cùng bộ đội hành quân vào mặt trận. Tiến lên phía Ðông -Bắc, tiết trời cuối năm se lạnh, núi ở đây khá dốc, lác đác có những cây thông mọc xen trong cánh rừng thưa, nghe đâu cắt về phía đông là xuống đến Quảng Nam - Quảng Ngãi gì đó. Ðội phẫu nằm trong một cánh rừng tương đối bằng phẳng,cách Ðắc Xiêng khoảng hơn 01 Km đường chim bay. Bên ngoài điểm đóng quân có một đường xe ngựa bỏ hoang, nghe nói cứ theo con đường nây là về đến cứ điểm. Không khác gì các đơn vị chiến đấu, ngoài lo hầm hào cho mình, chúng tôi còn phải húc hầm phẫu, hầm chứa thương binh, hầm pha chế thuốc...Có nghĩa là bàn tay của người thầy thuốc, ngoài mổ xẻ, tiêm chọc và băng bó ra, chúng tôi cũng phải thêm một tiêu chuẩn nữa: Khoẻ để đào hầm và nhiều khi phải cáng thương binh nặng về tuyến sau. Trung đoàn 66 gồm có 3 tiểu đoàn bộ binh, một tiểu đoàn pháo và các C trực thuộc Trong mặt trân này, K7 và K9 cùng các Xê phối thuộc tiền nhập làm hai hướng mở cửa đánh vào chốt dưới sự chi viện của pháo binh trung đoàn, pháo phòng không của mặt trận. Tiểu đoàn 8 dự bị làm thê đội hai, sẵn sàng chờ lệnh. Các hướng tiến quân bí mật vào vị trí tập kết. Pháo binh, súng cối , DKZ chọn vị trí thuận lợi cố gắng nhằm bắn trực tiếp cho có hiệu quả. Trinh sát trung đoàn, tiểu đoàn cùng cán bộ tham mưu, tác chiến và các cấp đại đội liên tiếp đi địa hình, chui vào hàng rào, vẽ từng lô cốt và cách bố phòng trong đồn địch. Ðịch nghe thấy có hiện tượng không bình thường quanh điểm chốt. Chúng yêu cầu đánh bom vào những vị trí nghi ngờ, máy bay do thám vè vè suốt ngày quanh đỉểm chốt. Ðêm về, C130 thả pháo sáng và bắn 20ly phía ngoài đường xe thồ. Mặt trận vẫn yên lặng, trực thăng và máy bay hạng nhẹ của địch thỉnh thoảng đáp xuống sân bay tăng cường quân số và cung cấp súng đạn, lương thực cho cứ điểm. Trước kế hoạch nổ súng một ngày thì K7 bị lộ: Người ta cáng vào đội phẫu một thương binh bị mìn dập nát hai bàn tay. Nghe đâu đoàn cán bộ tác chiến và trinh sát K7 đi địa hình. Ðịch phát hiện nổ súng, đúng hướng chọn làm cửa mở , ta hy sinh một trinh sát, bị thương một người.Tự nhiên tôi hỏi người cáng thương binh: - Này ông gì ơi, trinh sát tên là gì?- ừ để tôi cố nhớ xem.!.- Có phải là Ninh không! - à đúng rồi-đúng tên là Ninh, trinh sát K7. Vào năm 71 ! Thôi chết rồi, Ninh cùng quê, cùng nhập ngũ một ngày với tôi! Tại sao lại là nó!Tôi mong cho người cáng thương kia nhớ nhầm. Trưa hôm ấy, tôi thực hành là Y tá vô trùng chuẩn bị y cụ cho ca mổ cắt cụt này. Ðó là anh lính trinh sát còn trẻ măng, 18 tuổi, hai má vẫn còn như bụ sữa, trắng trẻo, đẹp trai. Anh ta bảo: - Em dò mìn vướng phải loại mìn lá này, nó nổ luôn trong tay, may mà mặt mũi không việc gì! Các anh cố giữ tay cho em, đừng cắt cụt. Kíp mổ gồm : Anh Dao mổ chính, Trịnh Minh Tước phụ mổ, một Y tá gây mê, hồi sức và tôi: Y tá vô trùng Y cụ. Khi người thương binh đã được gây mê, người ta dán vào cạnh lỗ mũi thương binh một ít bông để cho y tá gây mê theo dõi nhịp thở. Khi bóc toàn bộ bông băng ra khỏi hai bàn tay thì bác sỹ đành phải lắc đầu: Không thể bảo lưu được, hai bàn tay đã có dấu hiệu hoại tử. Ðể an toàn tính mạng cho thương binh thống nhất hội chẩn : Cắt cụt cả hai bàn tay! Bắt đầu từ dưới khớp bàn tay, một đường dao tiện tròn đến giáp xương ống, hai đường xẻ ngược lên nghiêng hai bên ống tay, dùng nạo đẩy ngược các mô còn bám vào xương, vuốt ngược hai lớp thịt cho hở xương ống ra và bắt đầu dùng cưa cắt như cưa gỗ. Khi nghe tiếng: Cấc một cái, một bàn tay rời ra. Anh Dao ném nó vào góc hầm và khôi hài: Thôi, cái này để chiều về hầm lấy bát canh măng! Chèn tuỷ sống, Mài xương, Cắt ba via , thắt mạch máu và thần kinh xong rồi khâu lại. Trong vòng hơn hai giờ đồng hồ hai bàn tay mà tạo hoá ban tặng, cha mẹ sinh thành ra con người đã bị chiến tranh tước bỏ. Nhìn người thương binh ấy chỉ còn hai cùi trỏ, tôi tháy tái tê một nỗi buồn vô hạn, ngày mai khi tỉnh dậy anh ta xẽ như thế nào đây! Do cửa mở bị lộ, sư đoàn quyết định đánh theo phương án hai: Pháo binh khai hoả vào ba giờ chiều cùng ngày, bộ binh dưới sự yểm trợ của pháo tầm xa và hoả lực các loại, mở cửa đánh công kiên. Tiếng đạn nổ rền trên điểm chốt, DKZ 106,7 của ta trên sườn đồi bắn áp đảo pháo binh địch, mỗi quả đạn là một lô cốt bị hạ. Ðịch kêu gào máy bay kể cả B52 đánh ngay vào thằng khói vàng! Ðăk Xiêng chìm trong lửa khói mù mịt, các hướng của ta phát triển tốt, lô cốt và các điểm hoả lực của địch lần lượt bị khống chế và tiêu diệt. Trên trời máy bay các loại quần đảo, ném bom bừa bãi vào các khu rừng quanh điểm chốt, nhất là dông đồi khói vàng có khẩu DKZ 106.7 của ta. Chập tối tiếng súng thưa dần, tiếng bộc phá tảo trừ trận địa, truy kích và bắt tù binh. Ðứng trên cao nhìn vào chốt thấy chỗ nào cũng lửa cháy đùng đùng. Dứt điểm rồi! Không phải vào mặt trận, không đối mặt với cái chết trên cửa mở mà chúng tôi thấy thật hồi hộp, thật sung sướng. Nghe nói ta bị tổn thất không đáng kể, ôi hạnh phúc biết bao! Khoảng 8 giờ tối, điện thoại từ sở chỉ huy tiền phương điện về: Ta chiếm được một kho có rất nhiều thuốc quí của địch, bộ đội đang bảo vệ nhưng lửa cháy xắp đến nơi, yêu cầu quân y trung đoàn cho người xuống chọn và lấy thuốc ra. Thế là đội phẫu chọn 12 người -Bác sỹ có, y sỹ và y tá có - Ðem theo gùi xuống ngay điểm chốt. Có ai đấy bảo: Ðiện cho trinh sát về đẫn đường chứ! Tối thế này biết đàng nào mà lần! -Ôi dào, ra đấy quân mình cáng thương, lấy hàng lũ lượt đầy đường, lạc thế nào mà lạc! Chúng tôi thấy cũng có lý, ra ngoài kia thấy lửa trong chốt cháy sáng rực, cứ cắt đường mà đi! Ðoàn người bám nhau ra đường xe ngựa, không thấy có ai mà hỏi, đi một đoạn có một con đường mòn rẽ về điểm chốt - Ðúng là đường này rồi- Ði đi! Chúng tôi đi một đoạn khá xa thì thấy con đường như lượn vòng ra bên cạnh, phía bên phải, lửa dưới chân đồi sáng rực: Khéo nhầm mẹ đường rồi các ông ơi! Cũng vừa đến đấy thì cụt đường, phía trước là một bãi B52 địch mới đánh hồi chiều, cây đổ như phát nương, mùi nhựa cây hăng hắc và mùi khét của khói bom vẫn còn khét lẹt. Chúng tôi đang lúng túng tìm đường ra thì có một người như bóng ma từ dưới đất chui lên: - Ðơn vị nào đấy! - C21 quân y! ở đây là đâu?- Xuống chốt đi đường nào hả đồng chí! -Các bố đi nhầm đường rồi! Ðây là trận địa DKZ- B52 đánh suốt từ chiều rồi đấy! các ông quay ra ngay không chết cả lũ bây giờ! Chúng tôi tá hoả, nháo nhào tìm đường quay ra. Cùng lúc ấy, có tiếng ì ì đùng đục và tiếng bom rít ngay trên đầu. B52 rồi - nằm xuống! Ðỉnh đồi phẳng lỳ, không có hầm hố, khe rãnh nào để rúc, mười hai cái đầu cùng châu vào một gốc cây to khoảng một người ôm đã bị B52 phạt lưng chừng, thân cây tướp ra. Tôi nằm dán xuống mặt đất, một tiếng nổ như xé màng tai và kèm theo tàn lửa bay lên như pháo hoa, đất tung lên phủ kín người, dông đồi lắc lư như nằm trên võng, lồng ngực nghẹn lại, xóc lên như bị buộc chặt vào lưng con ngựa phi nước đại.Tai ù đặc, miệng đắng ngắt mùi thuốc bom. Có ai đấy hực lên mấy tiếng, thằng Hiếu bị rồì! Chúng tôi càng nằm như dán xuống mặt đất, mười phút sau, tiếng B52 ù ù rồi xa dần , quả bom đầu tiên rải thảm cách chúng tôi khoảng 10m sau đó rê về phía trước mặt .Sau tiếng ù ù đặc khét trong tai, dông đồi trở lại bình lặng. Chúng tôi chạy lại dìu Hiếu chui qua bãi rừng đã bị bom phạt quang tinh, cây cối đổ ngang dọc, mùi nhựa cây xen lẫn khói bom vừa hắc, vừa cay. May quá, Hiếu chỉ bị sức ép, máu mồm, máu mũi ộc ra. Về đến nhà đã hơn mười giờ đêm, chui xuống hầm , đất cát bám đầy đầu, đầy cổ, Chẳng cần tắm gội gì cả, thật hú vía! Người ta lục cục cáng thương binh về, mặt trận nào mà chẳng có tổn thất, có thương binh thì chúng tôi lại sẵn sàng phục vụ kể cả suốt đêm.. Sáng hôm sau, trung đoàn điện cho quân y quay lại Ðăk Xiêng lấy thuốc, nhiều đại ca tối hôm qua chết trượt trận B52 lắc đầu tháo lui. Tôi lại xung phong đi trong tốp ấy. Theo một đoàn vận tải, chúng tôi đeo gùi hăm hở lên đường. Trên đầu, máy bay L19 cứ vè vè lượn quanh điểm chốt, thỉnh thoảng lại xèo xèo bắn đạn khói cho máy bay oanh tạc vào dông đồi đặt pháo tầm xa của ta. Mặc xác chúng mày, chúng tôi vừa đi vừa tránh những khoảng rừng trống xuôi dần về Ðak xiêng. Khác với các trận đánh nhỏ lẻ hoặc đánh giáp căn cứ của địch. Tảo trừ xong trận địa là chúng tôi vội vàng lao vào rừng tránh bom, tránh pháo . Nếu chốt lại thì lăn lưng húc hầm để giữ gáo. ở đây Ðak Xiêng lọt thỏm trong hậu cứ của ta, nhổ xong cứ điểm này vùng giải phóng như rộng mãi ra, rừng núi ngút ngàn vô tận địch biết đâu mà dội bom cho xuể. Từng đoàn người xuôi ngược, bắt tay nhau thôi thì đủ cả: Thằng 40 pháo binh , thằng C19 đặc công, đoàn vận tải..Lại còn đoàn bộ đội địa phương, Kinh có , Thượng có, những bộ quần áo dân tộc chen trong màu xanh áo lính . Chúng tôi đi vòng đường băng sân bay vào chốt. Bên ngoài những chiếc cờ ba que vứt tung toé, .có một mảnh cờ trắng cắm ở bìa sân bay không rõ để làm gì. Xác người chết ngổn ngang chưa kịp thu dọn, khói đen cuồn cuộn khét mùi xăng dầu. Leo qua mấy hàng rào kẽm gai thưa, chúng tôi lọt vào trong chốt. Một căn cứ biệt kích Ðak Xiêng quá nhiều nợ máu với chúng tôi hôm nay xụp đổ. Những khẩu pháo 105, Cối 106.7 từng ngạo mạn hú ù ù tác oai tác quái bây giờ nằm đó, không động cựa. Những căn nhà, doanh trại từng huấn luyện lũ biệt kích xuyên rừng với những trang bị hiện đại nay tan tành. Những mảng hầm ngầm, kho tàng đang được bộ đội tháo dỡ. Trinh sát đưa chúng tôi xuống một căn hầm rộng, trong đó ngổn ngang các loại thùng các tông, thùng gỗ, mùi dầu, mùi hắc của hoá chất dị ứng rất nhanh với mũi của lính: Chúng tôi quen sống cảnh rừng rú nên mùi nước hoa, mùi cồn, mùi cao su cháy gây hắt hơi ngay. Có sỹ quan hậu cần bảo: Mẹ, toàn chất dễ cháy, kiểu này là dễ cháy kho lắm đây! Mặc cho mấy ông y sý chọn thuốc, chúng tôi vào một kho dù: Thôi thì đủ loại dù, vô thiên lủng: Dù hàng to như chùm kín sân kho hợp tác, một đống kếch sù với những đường gân có sợi dù to tổ bố luồn bên trong. Dù hoa loang lổ, dù pháo sáng trắng ngần....Tôi dùng dao găm phay luôn nửa chiếc dù hoa: Loại này nhẹ đẹp , vừa làm chăn đắp lại có thể nguỵ trang. Ði lùng sục xung quanh hầm được mấy gói gạo xấy, mấy hộp thịt có ai đó không đeo hết bỏ lại góc hầm, thế rồi tôi leo lên mặt đất. Nắng tràn trên điểm chốt, nhìn ra đường băng sân bay ánh nắng như hơi nước loang loáng, vằn vện bay lên. Bộ đội hầu như chui cả xuống hầm tránh nắng. Chiếc L19 vẫn cay cú, lượn vòng, nghiêng ngó xuống cứ điểm. Không thấy nó gọi bom đánh vào chốt, có thể vẫn còn hầm ngầm hoặc tàn binh. Tôi đi lại phía cửa mở K9, hỏi thăm loanh quanh người ta bảo: Ông Viện C9 phải không? Ðang gác tù binh ở phía sau khu kia kìa! Tôi chạy lại, Thấy Viện ( Cùng quê) đang cầm súng gác lũ tù binh dưới hầm. Tôi thông báo tin Ninh đã chết, Viện bảo: Tôi cũng nghe loáng thoáng như vậy, không biết thực hư ra sao! Chiều nay ông có ghé qua vị trí tập kết của K9 được không? Hầm của tôi còn nhiều hộp lắm, đến đấy gùi ít về mà ăn! Quay về hầm quân y cho các loại thuốc đã chọn vào gùi, chúng tôi lục tục ra khỏi chốt. Không gian như loãng ra, những ngày căng thẳng chuẩn bị cho chiến dịch đến nay đã thắng lợi hoàn toàn. Bộ đội được nghỉ ngơi lấy sức, thỉnh thoảng vẳng lại tiếng máy bay do thám buồn bã, cam chịu của kẻ thua trận. Tôi hỏi thăm và lần tìm đến hướng cửa mở của K7. Ðơn vị đóng quân trong một khu rừng nứa đại, bộ đội ở đây chẳng ai nằm hầm mà mắc võng tòng teng trong rừng, anh nào cũng có vẻ mới tắm giặt sạch sẽ lắm. Hỏi thăm người ta chỉ sang tiểu đoàn bộ và tôi lần sang trung đội trinh sát, nơi trước Ninh ở. Người trung đội trưởng trinh sát nói: -Trinh sát chúng tôi cùng ban tác chiến, ban tham mưu đi trước chuẩn bị địa hình căn cứ Ðắc Xiêng hàng tháng trời. Nghiên cứu sa bàn, bản đồ, chọn hướng cửa mở thế rồi: Ðêm chui vào hàng rào kiểm tra thực địa, có bao nhiêu loại hàng rào, mìn nhiều hay ít. Ngày về sửa lại sa bàn , đêm lại chui vào cửa mở. Hàng tháng trời thức đêm căng thẳng như vậy, ngày ngủ chẳng là bao. Ðêm cuối cùng phân công cho Ninh cầm súng gác ngoài cửa mở, chúng tôi đang ở trong hàng rào. Khoảng gần 5 giờ sáng thấy có tiếng súng phía Ninh cảnh giới. chúng tôi bò ra thì thấy một toán địch đang túm phía ngoài hàng rào. Có lẽ mệt quá Ninh ngủ quyên mất, khi địch đi tuần phát hiện thấy nó ngủ dựa vào gốc cây và bắn chết .Chúng tôi đành phải nổ súng dù biết rắng đã hoàn toàn lộ cửa mở. Ðịch chết hai tên, số còn lại bỏ chạy tán loạn. Ninh vất vả từ nhỏ, mẹ là vợ kế cùng em gái đi lấy chồng khác, Ninh ở lại với bố và các anh con bà vợ cả. Nhà đông người, tần tảo quanh năm, con trai mà làm đủ mọi việc trong nhà, ngoài đồng. Từ sàng sảy, giã gạo, xay lúa đến cày bừa, cấy hái úp nơm, đẩy nhủi việc gì cũng hay làm. Cùng nhập ngũ một ngày với tôi, Ninh bảo: - Là người lính vào đến chiến trường, một là sống, hai là chết. Chết xanh cỏ mà sống phải đỏ ngực, không bao giờ quay lui, đầu hàng! Hôm nay Ninh đã vĩnh viễn nằm lại ven căn cứ Ðak Xiêng này, thế rồi chúng tôi, ai còn, ai mất. Ai xẽ quay trở về để báo tin cho gia đình Ninh đây! Tôi buồn nản quay về đội phẫu. Thế là quá rõ ràng - Chiến tranh mà! Ai mà lường hết được. Tiêu đề: Những người lính trung đoàn. Họ chiến đấu như thế. Truyện ký Hoàng Kim Hậu Gửi bởi: quangcan trong 16 Tháng Hai, 2012, 03:05:00 pm Ðánh chiếm cụm cứ điểm Ðak-pét ( Tháng 5 Năm 1974). Ðầu tháng 5-1974 hầu hết các cứ điểm phía tây và tây bắc tỉnh Kon Tum đã được giải phóng. Trên trục đường 14 Kon tum đi Quảng Nam, Quảng Ngãi, cụm cứ điểm Ðăk Pét của địch án ngữ đồng bằng khu 5 lên cao nguyên trung phần. Ðể mở thông đường hành lang Ðông - Tây, nối cao nguyên với đồng bằng trung bộ, trung đoàn 66 sư đoàn 10 lại nhận lệnh tiêu diệt cứ điểm này. Ðầu mùa mưa, con đường tiến về phía đông bắc lác đác có những trận mưa nhỏ. đất ba dan đỏ quạch như� muốn bám lấy chân người lính. Nhìn về phía đông, xa tít tắp có một dãy núi xanh biếc phủ mây trắng bồng bềnh làm người ta tưởng rằng: leo lên cái đỉnh nhòn nhọn kia là xẽ nhìn thấy biển. Tiến về phía đông, rừng ở đây có vẻ bằng phẳng hơn. Lác đác đã gặp những cánh rừng thông già, rất thưa, cây to bằng một người ôm, phía dưới là một thảm cỏ xanh như thảo nguyên vậy. Thỉnh thoảng gặp một vạt rừng toàn cây Vạn tuế, nghe nói loài cây này mỗi năm chỉ ra có một hàng lá, có cây cao đến 5-6 mét. Vậy nó đã có mặt ở mảnh đất này hàng mấy trăm năm rồi. Chúng tôi đóng quân ven một con suối nhỏ cách Ðak Pét không xa lắm. Phía bên dông đồi là một rừng thông già, một vài khoảng rừng mảnh pháo đã găm vào thân cây từ bao giờ, nhựa cây đọng lại thành vệt dài, vàng màu mật ong, trong suốt như kẹo kéo. Hai ngày húc hầm, ngày thứ ba bắt đầu lên đường đi gùi gạo và đạn. Không giống như mặt trận Tân cảnh, ở đây chúng tôi ra đường đông vui hơn. Ðơn vị này chuyển quân, đơn vị kia kéo pháo, nghe đâu trận đánh Ðak pét là thí nghiệm cho trận hiệp đồng binh chủng: Dưới đất thì bộ binh được pháo binh và xe tăng yểm trợ, trên trời có pháo phòng không 14,5 và pháo 37 ly đánh trả máy bay địch. Khí thế ra quân hừng hực và phấn trấn lắm. Phải hôm gùi gạo nó còn êm lưng, những ngày gùi đạn nhất là cối 82 ly hoặc cối 120 ly chẳng hạn, nó lủng ca lủng củng trong gùi như đàn lợn con vậy. Ra đường thấy đơn vị pháo họ có kinh nghiệm: Bẻ cong hai thanh tre bánh tẻ, kẹp tráo đầu đuôi xếp quả cối thành hàng, họ gùi được đến 6 đến 7 quả đạn. Một hôm tôi cùng Tích ( Trung đội trưởng- Quê ở Hà Bắc) gò lưng gùi đạn, gặp một đơn vị bạn hành quân ngược chiều, bỗng Tích đứng sững người kêu to: - Ôi anh Bằng!(Hay là Bình-Tôi không nhớ lắm) Người đàn ông kia sững lại, nhìn như dán vào mặt Tích, thế rồi hai người ôm ghì lấy nhau, Tích nức nở: - Anh ơi, người ta đã báo tử anh rồi! Mẹ đã lập bàn thờ cho anh rồi, anh ơi! Tôi bỏ gùi đạn xuống đất, đỡ chiếc gùi trên vai xuống cho Tích. Người anh hạ ba lô xuống ven đường, lấy khăn lau nước mắt cho em còn trên gương mặt của mình thì nước mắt rơi lã chã. Tôi vặn lưng cho đỡ mỏi, đi xuống suối rửa mặt để cho anh em họ dốc bầu tâm sự. Thế đấy, chiến tranh đến bao giờ cho chấm dứt để không còn cảnh vừa sót sa lại vừa ngọt ngào hạnh phúc như thế kia! Có lẽ người anh đang vội, họ đành phải chia tay nhau, nắm chặt tay tôi, anh bảo: - Ðây là thằng em ruột, tôi cũng không biết nó vào chiến trường này đâu! Tôi ở trung đoàn 40 pháo binh. Sau chiến dịch này xẽ đến thăm các đồng chí! Tích gạt nước mắt, bịn dịn nhìn theo chiếc ba lô của anh khuất sau cánh rừng.Tích nói: - Gia đình nhận được giấy báo tử của anh ấy, địa phương đã tổ chức lễ truy điệu rồi. Có lẽ do bị thương lạc đơn vị, ra viện lại chuyển từ đơn vị bộ binh sang trung đoàn pháo binh nên đơn vị cũ báo tử nhầm! - Thôi, gặp nhau ở chiến trường thế này là may mắn và hạnh phúc lắm rồi. Cùng đánh Ðak Pét cả, sau chiến dịch đến thăm ông ấy sau! Tôi động viên Tích rồi hai người đeo gùi lên vai hăm hở đuổi theo đơn vị. Tối hôm sau, chúng tôi nhận lệnh lên dông đồi giáp căn cứ địch đào hầm cho pháo binh ta bắn thẳng. Bám nhau theo một con suối khá dốc, những vỉa đá trơ trơ cho làn nước gợn qua nhìn trong như thạch. Hai bên suối, loang lổ vết pháo địch bắn đến, có ai đấy đã khoét vội mấy chiếc hầm ếch vào khe suối để tránh đạn. Vậy khu vực này đã nằm trong tầm pháo và cối của địch rồi. Chúng tôi leo lên một dông đồi khá bằng phẳng, một vài cây thông cổ thụ thưa thớt đứng trong đêm . Trăng đầu tuần nhạt nhoà, cỏ dưới chân mịn như lụa giải quanh những gốc thông mờ mờ trong sương núi. Phía trước mặt, chỉ thấy mây dăng dăng, có tiếng đề pa khẩu cối của địch đẩy tiếng nổ sang phía bên kia dông đồi, tiếng đại liên kéo hàng băng dài như đe doạ. Tối hôm sau, công việc vẫn tiếp tục, tổ vác đà cứ vác, tổ cưa gỗ cứ cưa, tổ đào hầm cứ thế mà đào. Không biết do địch bắn hú hoạ hay biệt kích, thám báo phát hiện ra chúng tôi ở đây: Nghe tiếng nổ đầu nòng của khẩu cối đánh kịch một cái, tiếng quả đạn 106,7 xoè xoè bay đến và một tiếng nổ chói tai. Ðịch bắn ngay trên đỉnh đồi , một quả rồi quả nữa, có tiếng rít ngay trên đầu, chúng tôi tranh nhau lao xuống hầm. Trần Xuân Binh( Người Cao Bằng) không còn chỗ nào vội nằm đè lên đầu chúng tôi. Một tiếng nổ long óc, đất cát hất đầy đầu đầy cổ. Bính kêu lên: Tôi bị thương ! Rồi không ai bảo ai tất cả vùng chạy quay về phía sau.Tôi đứng lên, Quả đạn nổ cách hầm không đầy hai mét, đất và cỏ bị quét sạch đến giáp miệmg hầm, xung quanh tôi chẳng còn ma nào cả. Nhìn lên trời trăng vẫn sáng, chiếc túi cứu thương treo trên ngọn le vẫn gật gù sau tiếng nổ. Tôi leo lên giật lấy túi cứu thương và vội vàng đuổi theo họ. Lại một quả đạn nữa bay đến, cả lũ ngu dốt tự nhiên bỏ hầm nằm tơ hơ trên dông đồi, châu đầu vào một cây thông cổ thụ đơn độc giữa rừng hứng pháo. Sau tiếng nổ , toán người bỏ chạy về phía sau đỉnh đồi, nằm bẹp trong khe suối. Mấy ngày hôm sau, địch cấp tập bắn pháo và cối vào dông đồi chúng tôi đang đào hầm, chúng gọi bom đánh dọc theo khe suối và những cánh rừng ven cứ điểm. Ban ngày thì máy bay trà sát, pháo bắn vô tội vạ, đêm đến cối của địch quăng lung tung, không biết giờ nào hướng nào mà lần. Hôm sau,chúng tôi bàn giao lại hầm hào cho công binh và đơn vị pháo, chuấn bị súng đạn xuất kích. Chập tối ngày 14 tháng 5 năm 1974. Tiểu đoàn 8 và tiểu đoàn 7 chia làm hai hướng tiến công Ðăk Pét. Chúng tôi bí mật luồn theo bìa suối, leo qua những hàng rào bằng nứa và chông đã được trinh sát gỡ thành lối đi, qua những vạt nương không biết dân họ trồng những gì, đến sát hàng rào kẽm gai của căn cứ đào hầm. Ðêm trập trùng, chỉ thấy một vài ánh đèn leo lét, một vệt đèn pin quét đi quét lại. Tiếng súng bắn cầm canh, tiếng chó sủa râm ran rồi lan ra xung quanh cứ điểm. Tôi ngước nhìn lên chốt, phía cửa mở K8 không thấy có tháp canh, không thấy dãy lô cốt và lỗ châu mai nào mà tất cả lù lù, đen sẫm như trên sườn đồi. Các tổ dò gỡ mìn, cắt rào và gá bộc phá bò lên cửa mở. Chúng tôi đào hầm nín thở căng thẳng chờ từng khắc trôi qua. 05 giờ sáng ngày 15 Tháng 05 Năm 1974, pháo binh ta đồng loạt trút đạn xuống cứ điểm địch, khói lửa bao trùm căn cứ . Lệnh cho bộc phá điểm hoả, một mảng hàng rào vừa chông, vừa tre và hàng rào kẽm gai bị hất tung lên, quét sạch một lối lên cửa mở. 8 giờ sáng, pháo binh ta chuyển làn vào khu trung tâm và phía sau căn cứ, không thấy địch chống cự, chỉ thấy đạn pháo của ta nổ đan vào nhau, kèo hầm và bao tải cát bị hất văng ra xa. Trên trời, máy bay địch ào đến, quăng bom sát hàng rào, mấy chiếc trực thăng bị pháo phòng không của ta hất quay trở lại, đạn pháo 37 ly vàng choé nối đuôi nhau bám chặt máy bay địch làm cho chúng không dám lại gần cứu giúp đồng bọn. Lệnh C7 tiến lên chiếm lĩnh lô cốt đầu cầu. Chúng tôi vọt ra khỏi hầm, người nọ bắn ghìm đầu địch cho người kia tiến lên cửa mở. tiếng AK điểm xạ, tiếng lựu đạn nổ lụp bụp phía trong hàng rào. Nguyễn Văn Tròn (Vô Tranh-Hạ Hoà-PT)Nằm sau một gốc cây cụt bắn quả B41 vào chiếc lô cốt đã bị đạn pháo làm sập một góc. Vốn trước là xạ thủ B40, thấy ngứa chân tay,Tôi lom khom bò lên bảoTròn: - Ông cho tôi bắn một quả đi! Có ai đấy ra lệnh: B41 Thôi không bắn nữa! B 1 khẩn trương chiếm lô cốt đầu cầu, đánh thẳng lên đi!.B 2 vòng sang bên trái, B3 đánh sang phải! Nhanh lên! Tôi cùng bộ đội nhảy xuống một đoạn chiến hào, chẳng thấy xác thằng nguỵ nào cả. Tiếng AK bắn găm, tiếng bộc phá tảo trừ đánh vào lô cốt và các ngăn hầm của địch, bộ đội tổ chức đánh ngược lên đỉnh đồi. Tôi và người chính trị viên phó tiểu đoàn đi vào một căn hầm cửa rát rộng.Hình như là một kho hàng thì phải, những thùng gỗ và vỏ đạn cối lăn lóc. Một tên lính nguỵ bị thương, cởi trần chùm mảnh dù nằm trên cáng kê sát chân tường. Thấy chúng tôi vào, mặt xanh biếc, nó bảo: - Các anh ơi, Hầm thằng tiểu đoàn trưởng ở ngay hầm bên đó! - Tại sao mày lại nằm ở đây! - Dạ - Em là lao công đầu binh bị chúng nó bắt đi gùi đạn đó mấy anh! - Lao công đầu binh phải cạo trọc đàu hoặc nuôi tóc dài chứ! Mày là lính pháo binh hôm qua bắn chúng tao gần chết còn nhận là lao công hả?! đưa súng đây cho tôi. Ông cầm súng, mở khoá an toàn và không cần ngắm, một loạt đạn lia sát sàn sạt mặt tên lính nguỵ, bụi đất bay mù mịt, phủ đầy người hắn. - Lại còn lao công đầu binh hả, Bao nhiêu đồng đội tao hy sinh vì chúng mày rồi! Chúng tôi tiến lại gần, tên nguỵ bỗng nhiên mở mắt ra: - Anh tha cho em các anh ơi, em còn mẹ già các anh ơi! - Nó chưa chết, ông đưa súng đây! Một loạt đạn găm vào người tên lính nguỵ, tay chân hắn đồng loạt giựt lên, mắt trợn ngược bắt chuồn chuồn. Tôi cầm súng và đi ra ngoài. Ði ngược theo chiến hào sang sườn đồi bên, có hai chiến sỹ đang chĩa súng xuống một căn hầm, lũ nguỵ lúc nhúc chui ra, giơ tay hàng. Tôi ra lệnh: - Bỏ súng xuống, tập trung vào căn hầm này! đứa nào chạy tao bắn chết! Ðể cho hai chién sỹ gác tù binh, tôi đi về phía súng nổ, có ai đấy gọi: Anh Tích ơi, hầm bên kia có địch! Tích từ chiến hào vọt lên, bắn một loạt điểm xạ và quát: - Ðầu hàng đi! Giơ tay lên! Bỗng: Bụp một tiếng, Tích ngã huỵch xuống đất- A, địch chống cự, anh Tích bị thương rôi! Bộc phá đâu? . Hai quả thủ pháo cùng ném sang đoạn chiến hào bên. Không được, để nó đấy cho tôi! đem quả bộc phá ống lại đây! Bích (Nam Hà) cầm quả bộc phá ống chuyên phá hàng rào, dài hơn một mét, to bằng bắp chân, giật nụ xoè rồi lao vào đoạn chiến hào có địch. Một tiếng nổ rung cả chiến hào, bộ đội ào sang. Dưới hầm, địch đứa thì chết, đứa bị thương, số còn lại ngơ ngác như kẻ mất hồn nhưng tất cả chúng đều nhớ một điều: Giơ cao hai tay qua đầu xin hàng. Lũ tù binh bị đưa lên hầm, một thằng tù binh lắp bắp tâng công: Anh ơi, thằng thượng sỹ này vừa rồi bắn anh giải phóng đó, mấy anh! Thằng nào!? thằng này à! Thế thì thịt thằng này đi thôi ! Tên nguỵ đã bắn anh Tích bằng khẩu Côn 60 mặt cắt không còn hột máu, nó lem lém cúi đầu, mắt liếc ngang dọc. Tôi nhìn nó mà máu sôi lên, nhiều lần định vác súng gì vào cổ tên nguỵ ấy mà bóp cò. Một đoàn cán bộ ban chính sách đến làm công tác tù hàng binh, tôi cùng Bính đi dọc chiến hào lục soát,. ở đây các căn hầm đều đào vào trong lòng đất, phía trước để một khoảng đi tương đối rộng. Có một căn hầm cửa vẫn khoá, Bích đi tìm búa đập, tôi bảo: -Cần gì phải búa, đưa súng đây! Ghé súng vào khoá nảy cò, cửa bật ra, tôi tống một quả lựu đan khói- Vào đi! Khói đặc quánh, không nhìn thấy gì cả. Thôi, sang hầm khác! Phía cửa mở K7, Xe tăng của ta đã chiếm khu vực trung tâm, căn cứ Ðak Pét thất thủ hoàn toàn, cờ giải phóng tung bay trên sở chỉ huy của địch, nhìn sang khu A và B chỗ nào cũng thấy bộ đội ta áp tải tù binh. Những chiếc máy bay không bắt được liên lạc, trút bom bừa bãi xuống ven cứ điểm rồi chuồn mất. Còn lại thằng VO10 lảng vảng ngoài xa chứng kiến thêm một cụm cứ điểm bị trung đoàn 66 chúng tôi xoá sổ. Tích đã hy sinh, chúng tôi đưa anh về đỉnh đồi có những cây thông đơn côi và vạt cỏ mịn như thảo nguyên chôn cất. Anh nằm đó, mặt hướng về phía biển, nơi có những con sóng ầm ào, có một khoảng trời bao la mà anh hằng mơ ước. Ngày hôm sau, người anh trai của Tích tìm đến, có ai đủ can đảm để chứng kiến cảnh bi thương này hay không. Họ gặp nhau trong nước mắt và vĩnh biệt nhau trong hoàn cảnh trớ trêu đầy đau thương như vậy.Tôi không đủ sức cùng anh ra viếng mộ Tích mà ở nhà chùm chăn mắc võng trong rừng, tôi như muốn quyên đi tất cả. Tiêu đề: Những người lính trung đoàn. Họ chiến đấu như thế. Truyện ký Hoàng Kim Hậu. Gửi bởi: quangcan trong 16 Tháng Hai, 2012, 03:08:31 pm Dưới chân núi Chư-Mom-Ray Tháng 3 - 1973 chúng tôi chuyển hậu cứ về chân núi Chư-Mom-Ray. C7 đóng quân cạnh một con suối khá rộng. Phía tây, một dông đồi thoai thoải với cánh rừng thưa xen lẫn nứa và giang. Lán trại nằm trên bãi đất bằng phẳng ven suối, những bụi nứa và cây con đã được chặt quang tinh để lại cây to nguỵ trang và làm bóng mát. Phía trước là một con suối lớn, một vũng nước sâu có những cây cổ thụ mọc nghiêng ra rủ bóng dương sỷ nhìn có vẻ hoang sơ lắm. Mặt nước xanh biếc vắng lặng im lìm như miệng hang động. Tôi cứ mường tượng ở dưới đó có hàng đàn cá sấu và thuồng luồng trú ngụ. Ven suối là bếp và nhà của anh nuôi, cách 6-7 mét là nhà quản lý , văn thư, y tá đại đội. Chếch bên trái nhà hội trường, sang bên phải là nhà đại đội bộ. Các trung đội làm tản ra xung quanh cách nhau từ 10 đến 15 mét. Riêng tiểu đội cối của Khoản chốt trên đỉnh đồi phía tây để bao quát toàn đại đội. Nghe tiểu đoàn phổ biến ở đây xây dựng hậu cứ lâu dài nên các lán trại làm đẹp đẽ, đầy đủ hầm hào và chắc chắn. Trung đội này nối với trung đội kia nền sân được quét dọn sạch sẽ, rất mát và thoáng. Ðại đội có khoảng gần 50 người, anh Choáng (Quê Cao Bằng) làm đại đội trưởng, anh Chung (Hoà Bình) đại phó. Anh Lan (Tư Mỹ-Tam Nông-Phú Thọ) chính trị viên trưởng, Nguyễn Văn Chương(Nam Hà) làm liên lạc đại đội. Lán của tôi lợp bằng phên nứa, xung quanh vách nhà đan nong mốt rất vuông vắn. Trong nhà có hai giường, ở giữa là chiếc bàn uống nước, bên kia Tạ Văn Sang (Hưng Hà-TháI Bình) quản lý và Trần Xuân Thu (Sơn Dương-Tuyên Quang) văn thư đại đội.Tôi và Nguyễn Văn Ninh (Hoà Bình ) hai y tá nằm chung một giường. Ðại đội có 4 anh nuôi, mỗi người một quê: Trần văn Hợp dân tộc Mường (Thanh Sơn-Phú Thọ ), Hoàng Văn Ðường (Tam Ðường-Lào Cai), Lý Sài Quẩy dân tộc dao (Sa Pa-Laò Cai) và Tô Văn Mậu người Nùng ( Tân Văn-Bình Gia-Lạng Sơn). Hàng ngày, đại đội cử hai chiến sỹ đi cải thiện lấy măng và rau rừng, còn lại tất cả lên thao trường tập quân sự. Anh nuôi vừa phục vụ ba bữa cơm cho bộ đội, vừa chăn nuôi và trồng rau cải củ ven suối. Ninh theo bộ đội lên thao trường, còn tôi ở nhà chăm sóc bệnh nhân sốt rét, viết báo tường và trang trí cho đại đội. Con suối chảy qua đại đội về đến đây chia làm hai dòng chảy, bên kia suối có một bản nhỏ bỏ hoang từ thời Ngô Ðình Diệm dồn dân, bom đánh cả vào bản, những cột nhà cháy đen xì, xung quanh cỏ gianh mọc lút đầu người. Con đường lên tiểu đoàn bộ phải đi dọc theo bản mất 7 đến 8 phút đi bộ, mỗi lần qua thấy rợn cả tóc gáy. Hợp bảo: Hổ báo thường hay trú ngụ trong rừng gianh như thế này lắm! Ðể củng cố vững chắc hậu cứ, tự túc một phần lương thực và thực phẩm. Trung đoàn khuyến khích các đơn vị chăn nuôi sản xuất, phát nương làm rẫy. Ðể kịp thời vụ gieo hạt vào đầu mùa mưa, đại đội để các đồng chí ốm yếu ở nhà coi lán trại, số còn lại mang tăng võng lên rừng phát nương. Trong đại đội còn lại anh Chung đại đội phó, Sang quản lý, y tá là tôi và hai anh nuôi. Hàng ngày tôi lên các trung đội kiểm tra sức khoẻ của bộ đội, nhắc nhở vệ sinh toàn khu vực, Phát thuốc và tiêm cho bệnh nhân nặng. Thời gian rỗi, tôi vác khẩu Cacbin đi dọc theo suôí săn bắn. Xuôi theo dòng suối phia dưới đại đội có một con thác nhỏ, nhìn sang bờ bên lau sậy mọc um tùm. Bờ bên này là một dải đất bằng phẳng, mọc rất nhiều cây trám xanh, quả rụng trạt gốc. Một lần Hợp bảo: Các ông có biết người ta hái trám như thế nào không? Nếu hái từng quả thì bao giờ cho được trong khi cây trám nào cũng to và cao. Phải biết cách, thích thu hoặch cả cây hay từng cành cũng được, chỉ cần dùng dây thép đánh nín hoặc buộc bó muối xung quanh gốc là sáng mai trám rụng bạt ngàn! Ði một đàng học một sàng khôn -Mấy cái ông "Tông dật" này cũng nhiều ngón nghề lắm! Có đàn khỉ thoáng thấy người đã nhảy xuống đất chạy ào ào vào rừng , có con chim xanh như chim chả cá bắn một phát nó bay đi đâu mất. Tôi ngồi ven thác xem những đàn cá vượt dòng rồi sách súng quay về đơn vị. Phát nương và trồng tỉa xong, đại đội trở lại hậu cứ huấn luyện. Những ngày đầu mùa mưa, khoa mục chiến thuật không tập được vì thao trường lầy lội, ướt bẩn. Bộ đội chuyển sang học xạ kích, đem theo tăng để che lên bệ bắn. Một hôm tôi đang đứng trước nhà cắt tóc cho Chương thì thấy một loạt AK bắn ngay sau đại đội. Thường thì trong hậu cứ, công tác bí mật quân sự luôn được nhắc nhở, không mấy ai bắn súng trong vị trí trú quân cả. Hôm nay ai đó lại kéo hàng tràng tiểu liên. Biệt kích đổ bộ hay có vấn đề gì đây? Cả đại đội nháo nhác. Thấy Viện (Quê Hà Giang ) trung đội trưởng lên báo ban trên tiểu đoàn về bảo: Có một con Nai ra vườn củ cải của đại đội ăn rau đã bị bắn chết, cho người ra khiêng về ngay! Thế là chúng tôi vui như hội, con Nai hơn hai tạ được kéo theo suối về nhà bếp. Hai chiếc sừng mới thay, nhung mọc nhú dài hơn gang tay, mềm nhũn được cắt một chiếc cho vào nấu cháo chia toàn đại đội. Còn lại chiếc kia theo luật ở rừng: Phần thưởng của người săn thú. Vấn đề đại đội quan tâm là: Có nên báo cho tiểu đoàn biết hay không? Nếu báo tiểu đoàn thì chắc chắn con Nai này phải chia cho các đơn vị trong toàn tiểu đoàn.. Thế là chúng tôi cố ý im luôn. Ngoài thịt tươi để lại ăn trong vài ngày, chúng tôi cho lên bếp xấy khô. Số còn lại Hợp đem ướp trong các thùng đạn đại liên để ăn dần. Chẳng biết ma sui, quỷ khiến thế nào lại đến tai ông Vũ Văn Kết-(Quê Nam Ðịnh) Chính trị viên trưởng tiểu đoàn. Nghe chừng để lại không có lọt, đại đội cử hai người gánh thịt lên biếu tiểu đoàn bộ. - Tiểu đoàn bộ không ăn thịt này- Ông Kết môi đã thâm vì sốt rét nay lại càng như xám hơn.- Ðại đội 7 gánh ngay lên cho anh em thương bệnh binh của ta đang điều trị tại bệnh xá trung đoàn! Ðấy cũng là bài học về đạo đức tác phong, lối sống lành mạnh liêm khiết vì tập thể mà chúng tôi nhận được từ người chính trị viên liêm khiết và rất nghiêm khắc này. Vào trung tuần tháng 7- 1973. Chúng tôi đang chùm áo mưa làm cỏ lúa trên nương thì nhận lệnh quay về chuẩn bị súng đạn xuất kích: Nguyễn Văn Thiệu trắng trợn phá hoại hiệp định về ngừng bắn, đưa quân lấn chiếm vùng giải phóng của ta. Lợi dụng mùa mưa, chúng tung quân đánh chiếm hậu cứ của trung đoàn 95-Khu vực Ngô Thanh-Tà Rộp ven thị xã Kon Tum. Ðó là một chiến dịch đầy khó khăn gian khổ, đầy hy sinh mất mát và cũng là bản anh hùng ca của các anh hùng, liệt sỹ, những người cán bộ và chiến sỹ của trung đoàn 66 chúng tôi. Sau gần hai tháng, trung đoàn 95 vừa đánh địch vừa di chuyển hậu cứ. Trung đoàn 66 dùng hai tiểu đoàn -(K8 và K9 cùng các đại đội phối thuộc) chiến đấu với 3 trung đoàn nguỵ quân Sài Gòn (53 - 44 - 45 ) có xe tăng và máy bay yểm trợ tối đa trong điều kiện xa hậu cứ và đang vào mùa mưa dữ dội. Lúc xuất kích quân số đại đội tôi có gần 60 người .Khi trở về hậu cứ, chúng tôi còn lại 10 người kể cả anh nuôi văn thư và quản lý đại đội. Anh Lan chính trị viên tử trận, anh Choáng và đại phó Chung bị thương, đại phó Thấu lãn binh nhận án kỷ luật. Sau khi rút về hậu cứ, chúng tôi thiếu cán bộ nghiêm trọng. Trong thời gian chờ cán bộ tăng cường, mấy anh em tự quản, chia nhau vào các lán gần nhà đại đội bộ nghỉ ngơi cho ấm cúng. Thế rồi mấy chiến sỹ sốt rét và bị thương nhẹ cũng lục tục quay về đại đội. Cuối mùa mưa, con suối trước nhà đã cạn đi nhiều và có vẻ trong hơn. Hàng chiều, chúng tôi cứ tồng ngồng cởi trần từ trong nhà chạy ra nhảy ùm xuống vũng nước trước cửa đại đội tắm giặt. Có hôm hứng trí kẻ cầm súng, người sách túi cơm cứ tồng ngồng đi dọc theo suối bắn cá. ở cái vùng này đi cả ngày đường cũng chẳng gặp một người dân nào, may ra chỉ có lính với lính mà thôi. Một hôm Hợp rủ tôi đi săn. Hai thằng hai khẩu súng đi ngược con suối lớn rồi rẽ sang con suối bên trái vào chân dãy Chư Mom Ray. Tiêu đề: Re: Những người lính trung đoàn. Họ chiến đấu như thế. Truyện ký Hoàng Kim HẠGửi bởi: quangcan trong 16 Tháng Hai, 2012, 03:08:40 pm Con suối vòng vèo mang đầy vẻ hoang sơ bí hiểm. Hai bên bờ, chuối rừng mọc chen trong cánh rừng nhiệt đới với những cây cổ thụ già cóc cáy, những dây leo to bằng bắp đùi vằn vèo quấn vào nhau ẩn hiện dưới tán cây trông như một con trăn đang rình mồi. Cánh rừng im lìm, huyền bí vi vút gió ngàn và văng vẳng tiếng vượn hú gọi bầy. Hợp kể: -Năm ngoái ở hậu cứ Chư hinh, có những hoang rừng mà hầu như chỉ có lính mới đặt chân tới. Từng đàn vượn tranh nhau ăn quả - Ðoàng một phát, một con lộn cổ xuống, những con khác vội vàng vít lá che vào đit rồi nhòm xuống đất. Cứ như thế có hôm một đàn mà bắn được ba bốn con rồi lũ vượn mới ù té chạy. Có đoạn suối khi lội xuống, nước trong vắt nhìn rõ cả bàn chân, hàng đàn cá tung tăng bơi đến lượn quanh chân của lính., nếu có một sải lưới thì thao hồ mà ăn cá.
Bỗng Hợp bấm tay tôi, có một đàn lợn rừng vừa từ dưới suối đi lên, Hợp ra hiệu cho tôi dừng lại và lom khom tiền nhập tới gần. Hai loạt điểm xạ, đàn lợn chạy phá lên rừng, lại một loạt đạn nữa bắn ngược đỉnh đồi, chẳng thấy con nào kêu eng éc cả. Chúng tôi tìm qua quýt rồi bỏ đi: -Mẹ nó, rõ ràng mình thấy hai con đứng xo le nhau trong bãi lá dong này, chắc mẻm trượt con này thì dính con kia thế mà lại hỏng ăn cả, xui xẻo quá! Ðến một vũng nước có một ụ đá ở giữa dòng, nghiêng ngó một lát, Hợp bảo: Dừng lại thôi! Thế rồi hai thằng đặt súng, ôm đá to cả bằng chiếc mũ quăng xuống suối. Cởi quần áo và lao xuống, Hợp bảo: - Ông lấy đá chèn hết các cửa hang bên ấy, để lại một hang thò tay vào mà bắt! Tôi làm theo, hàng đàn cá cựa lục cục trong hang, một tay bắt cá quăng lên bờ còn tay kia giữ chặt hang đá. Thế rồi cá vào sâu bên trong, tôi thò chân vào hang, khi thấy cá bò theo chân ra đến đùi là chộp lấy. Chúng tôi tay không mà bắt được gần một yến cá rồi vội vàng kéo nhau ra về. Ngày hôm sau lại đi bắt cá, Hợp vẫn cay cú ghé qua bãi lá dong, thấy bó lạt của ai bỏ lại, tôi bảo: - Hôm qua không thấy bó nạt này, có khi con lợn bị bắn chết, có thằng nào tìm thấy hớt tay trên bọn mình rồi cũng nên! Lúc ghé qua tiểu đoang bộ, thấy Lê -Y tá tiểu đoàn quê (Hạ Hoà-Phú Thọ) cười: - Hôm qua biết hai lão đi săn thì mời luôn về tiểu đoàn bộ ăn bữa lòng sốt có phải vui không! Thế có cú không cơ chứ! Thời gian sau, anh Tẩm ra viện về phụ trách đại đội. Trung đoàn điều anh Nguyễn Văn Mão-Quê (ở Thanh Oai-Hà Tây) làm chính trị viên trưởng. Tôi hỏi thăm Khoản, anh Tẩm bảo: Khoản bị cứng khớp gối đang chờ làm thủ tục ra bắc, không quay lại đây nữa đâu! Một lần Hợp bảo chúng tôi tập trung tát vũng nước trước nhà, tôi lắc đầu: Suối sâu, đá lởm chởm thế kia lấy gì đắp bờ giữ nước mà tát cá?. Hợp nói: Không biết thì cứ làm đi rồi người ta bảo! Thế là chúng tôi, kẻ bê đá, người khai luồng, Hợp như nhạc trưởng đứng chỉ huy, Xong xuôi, anh ta hô người dỡ tấm nứa lợp mái chuồng lợn xuống, xếp chắn dòng chảy về vũng nước, lấy mấy chiếc tăng ni non đặt lên thế là nước chảy sang dòng bên ngon lành. Biết chắc không bao giờ tát suối lại cạn hết nước, anh ta lên rừng tha về một ôm vỏ cây và bảo chúng tôi đập ra, ruốc cá. Vũng nước tự nhiên chuyển màu vàng như nghệ, các chàng cá nhà ta thi nhau thò cổ lên ngáp. Kinh nghiệm ở rừng thì chúng tôi chịu thua cái lão Hợp này thật ! Cuối năm, tiết trời se lạnh, sương muối bay mờ mờ đỉnh núi phía xa. Chiều về hoặc tang tảng sáng, nghe dông đồi phía xa kia, từng đàn vượn hú gọi nhau đến nao lòng. Một buổi sáng, Lý Sài Quẩy dậy sách nước nấu cơm hớt hải chạy về: Xung quanh nhà mình có Hổ! Chúng tôi chạy ra, vết chân Hổ to bằng miệng bát B52 in bên bờ suối. Từ ngày bé đến giờ tôi mới nhìn thấy vết chân hổ, kể cũng đáng sợ thật. Sáng hôm sau lại thấy vết chân con Hổ hôm qua lượn cạnh bếp anh nuôi, có lẽ nó phát hiện ra đàn lợn đại đội nuôi trong chuồng nên rình mò để bắt. Anh Tẩm lệnh cho bộ đội đóng cọc chắc chắn bên ngoài chuồng lợn chống Hổ. Trong cuộc giao ban thông baó cho bộ đội: Ði ra ngoài phải có từ hai đến ba người và mang theo súng! Thế là huyền thoại chúa sơn lâm được người ta thêu dệt đủ loại, ly kỳ nhất vẫn là câu chuyện của Viện ( Hà Giang ) kể: Hồi chưa nhập ngũ, Hổ vào nông trường bắt mất một con ngựa giống, Bảo vệ nông trường toé loe đi tìm và thấy Ngựa đã bị Hổ ăn hết gần một nửa. Cái giống ăn thịt này bao giờ cũng không quyên miếng mồi cũ và thế là nông trường nhờ đơn vị biên phòng đóng quân bên cạnh phục kích bắn Hổ. Ði săn thú dữ không phải ai cũng dấm đi, cả đơn vị chỉ có một chiến sỹ người Cao bằng nhận lời và nhờ tôi đi cùng. Chúng tôi hai người hai khẩu AK, hai đèn soi thật sáng, leo lên một cây cao có ba trạc cạnh con Ngựa ngồi rình. Ðể thật yên tâm, chúng tôi dùng dây buộc chặt người mình vào cành cây cho chắc ăn. Ðêm mùa đông, sương muối lạnh giá, tôi đang khật khưỡng, lơ mơ thì thấy có mùi vừa khét lại vừa thum thủm. Bật đèn nhìn xuống, thấy như có ai đang cầm đóm hút thuốc bên dưới gốc cây. Quái lạ, tôi véo vào đùi đau điếng, không phải mình ngủ mê. Nhìn kỹ thì ra một con Hổ vằn vèo, chân trước đang đặt lên đầu con Ngựa, nhắm một bên mắt, ngiêng đầu nhìn lên ngọn cây. Mắt Hổ bắt đèn màu đỏ, không phải màu xanh như các loài thú khác. Lông my vừa cứng lại vừa dài, chớp chớp một bên như tàn lửa đang rơi xuống. Tôi run lên, cùng như một lúc, chiến sỹ bên cạnh cũng vừa nhận ra con Hổ, không ai bảo ai, hai người đồng loạt nảy cò. Con Hổ chồm lên một đoạn rồi lăn vào một bụi cây, người tôi lạnh buốt, răng khua vào nhau lập cập, cứ thế chúmg tôi ngồi ôm nhau trên cây mong cho trời mau sáng. Con Hổ rúc vào trong bụi, thò đuôi ra ngoài. Chờ cho sáng thật rõ mặt người, chúng tôi bắn thêm mấy phát nữa cho chắc chắn thế rồi mới dám cởi dây tụt xuống đất. Hình tượng chúa sơn lâm đối với chúng tôi lại càng đáng sợ. Thời gian này, đại đội nhận thêm một đợt tân binh quê ở Vĩnh phúc, hầu hết từ Vĩnh tường trở xuống. Có một chiến sỹ tên là Xuân, người béo trắng, nghe đâu hồi nhỏ bị chó dại cắn chữa chạy thuốc nam đã tạm ổn định. Nhập ngũ đi trên đường dây lại bị sốt rét ác tính, nay chuyển sang như người tâm thần. Rát thích khen đẹp trai, ai bảo hò là hò, bảo hát là hát ngay. Anh ta thích nhất bài hát Nổi lửa lên em -Các cụp cum- Bụm môi làm nhạc thay cho cối gĩa. Cứ thấy mặt anh ta là Sang lại bảo: Làm bài cắc cụp cum đi! Có một tân binh đến tìm tôi, anh ta là tiểu đội trưởng khung huấn luyện, ở lại chiến trường và được biên chế vào khẩu đội cối. -Anh ở Tứ Xã phải không? Năm 1972 em về nhận quân ở quê anh rồi đấy! Anh ta tự giới thiệu tên là Phạm Hồng Quân- (Quê Phú Lộc-Phù Ninh-PT).Trong chiến trường, gặp người cùng tỉnh đã là thấy quý lắm rồi,Quân và tôi lại cùng một huyện, tự nhiên chúng tôi thấy thân nhau hơn. Có câu chuyện gì Quân đều cho tôi biết kể cả mối tình đầu đã ăn dạm với Liên, người con gái cùng xóm. Cách đây mấy tháng, trung đoàn gửi lợn giống cho các đơn vị nuôi để chuẩn bị cho ngày 22 Tháng 12 và tết âm lịch 1974. Không hiểu con lợn của chúng tôi đi tư tỏi kiểu gì lại chửa chềnh ềnh ra đấy, thế là ngày 22 - 12 - 1973 - Ngày tết quân đội -Chúng tôi đành phải nuôi cho nó đẻ để lấy giống. Ngày lễ trông chờ vào nguồn thực phẩm của trên cấp và một phần vào rừng tự túc. Năm ấy, chúng tôi tổ chức khá rôm rả: Gạo nếp nương đem sôi và nấu các loại bánh, đường, sữa cho vào nấu kẹo vừng, kẹo lạc. Ban ngày cho các trung đội thi kéo co, đêm về tổ chức văn thơ, hái hoa dân chủ... Sáng hôm sau anh nuôi báo mất con lợn nái. Nhìn xung quanh không thấy có vết máu hoặc vết chân Hổ. Anh Ðường và Hợp chia nhau đi tìm. Ðến một bụi gianh trên dông đồi sau nhà, thấy có tiếng lợn mẹ hộc lên và tiếng lợn con kêu eng éc. Tưởng rằng Hợp đang dồn đàn lợn về, vừa lẹp kẹp đôi guốc mộc, vai khoắc khẩu súng AK, nhòm vào bụi gianh, Ðường hỏi: - Thế nào? Nó đẻ mấy con hả ông?! Con Hổ to lớn ngồi chồm hỗm trong bụi gianh, đang nhai lợn con, mồm và máu be bét. Lợn mẹ bị vuốt Hổ móc lòi hai mắt đang cuồng lên hộc văng mạng sang hai bên. Không còn hồn vía nào nữa, Ðường chạy tháo lui, tay kéo cò, súng khoắc trên vai cứ nổ tằng tằng theo từng bước chân, đôi guốc văng đi đâu mất, miệng líu lên: Hổ-Hổ-Hổ Hổ! Tôi nhảy tót vào nhà vớ lấy khẩu AK, đại đội nháo nhào như chuẩn bị đánh nhau với biệt kích. Hợp ở đâu chạy về cùng Viện và mấy chiến sỹ cắp súng lò dò tiến lên đồi như mò vào cửa mở. Con Hổ chạy mất, để lại lợn mẹ mù hai mắt và một lợn con bị Hổ ăn mất một nửa. Vuốt Hổ sâu lút ngón tay, chúng tôi dồn về và giao cho Ninh, y tá - Kiêm thêm chức thú y đại đội. Lợn mẹ và đàn lợn con được ưu tiên chăm sóc đặc biệt. Sau này cả đàn lợn đều trưởng thành và đã hy sinh theo đúng nghĩa của nó. Một buổi tối, Sang đi họp về bảo Thu-Văn thư đại đội: - Quân lực tiểu đoàn điện cho ông lên ngay nộp bảng tổng hợp quân số hiện có, trang bị hiện nay như thế nào! Lại chuẩn bị xuất kích hay sao ấy! - Biết rồi, nhưng sao lại phải đi ngay bây giờ? - Chắc là rất cần thiết nên quân lực mới yêu cầu ngay lập tức! Ông thử điện thoại lên xem! Thu vội vàng chạy lên đại đội bộ. Vừa ra khỏi nhà, Sang nói với tôi: - Tý nữa thằng Thu về, Tôi thì nâng cao quan điểm nhiệm vụ chiến đấu, còn ông cứ tán Hổ mạnh vào nhá! Nó sắp kết nạp Ðảng, để lần này thử thách nó luôn! Thu về mặt méo xệch: - Không biết có cái gì nghiêm trọng mà các lão ấy bắt lên đêm hôm như thế này!.. - Biết đâu lại xuất kích ngay như đợt Ngô thanh!? súng đạn mà không đủ thì toi, mình lại là quân lực!.. Tôi biết Thu trùng trình là sợ con Hổ trong rừng gianh vẫn loanh quanh bên suối. - Thế nhưng sương lạnh thế này, Hổ là hay đi rình mồi lắm! - Ư đúng rồi!Lôi thôi là toi mạng với nó chứ chẳng bỡn! - Nhưng nhiệm vụ chiến đấu không thể bỏ qua được! Rất cần thì tiểu đoàn mới gọi! - Nhưng mà đi qua bãi gianh tối như thế này cũng nguy hiểm lắm! Hổ lại hay rình mồi cạnh đường mòn! Thu đi ra rồi lại đi vào, một phần đi, hai phần không. Sang bồi thêm: - Mà hình như ông đợt này kết nạp Ðảng hay sao ấy! Không hoàn thành nhiệm vụ là chúng tôi cũng khó nói lắm! Ðến nước ấy Thu đành quyết định sắn quần lên đường. Trước khi ra khỏi nhà, hắn dặn: -Thôi, sống hay mái cũng phải đi. Nhưng thế này nhá: Tôi lên khỏi suối sẽ bắn ba phát, đến đầu bản làm ba nhát nữa, chạy đến giữa bản cũng như vậy và ra khỏi bản là ba phát kết thúc! Còn nếu tôi kéo liên thanh hàng tràng dài là các ông phải ra cứu đấy! Hắn lùi lũi cắp súng qua suối, chúng tôi ôm nhau bảo: này chuẩn bị đoàng! Ðúng như hợp đồng, Thu bắn đủ bốn loạt loạt đạn, sau đó không gian trở lại yên lặng. Sáng sớm hôm sau thu mệt mỏi quay về: - Các bố ấy lại bảo-Tối quá thì mai lên cũng được, làm mình sợ gần chết! Gần đến tết Nguyên đán, đại đội cho Hợp và Quẩy đem theo áo quần, tăng võng lên cắm chốt trên sườn núi Chư-Mom -Ray săn bắn thú rừng. Ðược bao nhiêu xấy khô, đầy hai gùi thì quay về để chuẩn bị tết! Chúng tôi ở nhà người thì giã bột, người chuẩn bị lá bánh, xảy vừng, chọn Lạc để nấu kẹo. Ðúng Ngày 27 tết, đại đội đang họp tổng kết thi đua năm 1973, Thu lên tiểu đoàn đón tân binh bổ xung cho đại đội. Bỗng ào một cái, máy bay địch lướt qua, tiếng bom rít qua đầu và một loạt tiếng nổ rung hội trường. Chúng tôi được lệnh sơ tán và chuẩn bị xuất kích. Tiểu đoàn điện về đại đội: - Bom đánh trúng tiểu đoan bộ! Ðường dây điện thoại bị đứt, quân y tiểu đoàn bị thương gần hết! Cho anh Hậu lên ngay tiểu đoàn và mang theo thuốc cấp cứu! Tôi cầm thuốc đi lên ngay tiểu đoàn, qua bãi gianh đã thấy một đoàn cáng thương đi ra, tôi hỏi: - Thương binh có nhiều không hả đồng chí? Thằng Thu C7 có sao không?! - Thu bị thương đang cáng đàng sau ấy! Tôi giữ đoàn cáng Thu lại, hắn bị thương vào chân và mông, không gãy cụt đâu cả. Thế là may lắm rồi. Tôi động viên hắn mấy câu, đoàn cáng thương cũng vội vàng đưa thương binh về phẫu. Ðến tiểu đoàn bộ, bom đánh sập nhà hội trường tiểu đoàn, mái tranh bị cháy dập lửa chưa hết vẫn còn bốc khói. Hầm quân y quả bom nổ ngay bên cạnh, lật bay ụ đất đắp nóc hầm, đứng trên mặt đất nhìn xuống nền hầm rõ mồn một. Anh Ðào và y tá Lê bị sức ép, máu mồm và máu tai chảy ra nhưng vẫn đang quyết tâm cứu chữa thương binh. Ðoàn tân binh mới bổ xung về đến tiểu đoàn bộ, quân lực đang phân cho các đại đội thì bị bom oanh kích. Một số hy sinh và bị thương, có vài tân binh đang rửa chân hy sinh ở ven suối. Trung đội thông tin nằm phía bên kia suối, tiểu đội trưởng Khắc hy sinh ngay trên bếp khi đang tráng bánh. Ðó là bài học về công tác phòng gian, bảo mật, an toàn khói lửa nơi đóng quân. Chỉ cần chủ quan, sơ sảy một tý là đổi bằng xương và máu của bộ đội. Liệt sỹ được chôn cất trên dông đồi sau trung đội thông tin. Ngay tối hôm ấy, con Hổ mò đến bới tung ngôi mộ của Khắc, may mà ở hậu cứ, liệt sỹ được an táng rất sâu nên nó bới không tới. Năm ấy chúng tôi ăn tết tuy đầy đủ về vật chất và tinh thần nhưng vẫn có một nỗi buồn thật khó tả. Nhớ câu thơ của Xuân Quỳnh Mẹ là mẹ của chúng mình đấy thôi. Tiêu đề: Re: Những người lính trung đoàn. Họ chiến đấu như thế. Truyện ký Hoàng Kim HẠGửi bởi: quangcan trong 16 Tháng Hai, 2012, 03:54:27 pm Có bao nhiêu mẹ liệt sỹ như thế Mẹ già lắm rồi. Không biết bao nhiêu lần ông mặt trời soi qua khe cửa. Bao nhiêu buổi hoàng hôn tím ngắt để rồi mẹ ngồi bên bậu cửa, ngóng đứa con trai của mẹ trở về. Tôi và Phùng Văn Kế cùng nhập ngũ tháng 12 - 1970. Kế ở Thuỵ Vân -Việt Trì-Phú Thọ. Cùng vào chiến trường, cùng học lớp Y tá tại bệnh xá của trung đoàn 66- F10-QÐ3 mặt trận Tây Nguyên. Tháng 10 -972 chúng tôi theo đội phẫu tiền phương phục vụ chiến dịch giải phóng cứ điểm PLây Cần (Bến Hét).Tháng 11 - 1972 lại phục vụ chiến dịch Ðak Xiêng. Ðêm hôm ấy hai đứa cùng đội phẫu lạc vào trận địa DKZ của ta và bị B52 vùi xuýt chết. Cuối năm 1972 tôi được điều về làm Ytá của đơn vị bộ binh, còn Kế về đơn vị pháo 12 ly7. Tháng 1 - 1973 đơn vị tôi đánh chiếm điểm cao 601( cách Kon Tum khoảng 8Km về phía bắc). Ðại đội 7 cùng khẩu đội 12.7 ở lại giữ chốt. Hàng ngày đội bom, đội pháo đánh lui hàng chục đợt phản công của bộ binh Nguỵ. Ðể giảm bớt quân số trên cao điểm, giảm thương vong và mở rộng tầm bao quát chi viện cho chúng tôi đánh bộ binh và bắn máy bay của địch. Kế cùng khẩu đội chuyển ra ngoài hàng rào đào hầm. Hôm ấy khoảng hơn 3 giờ chiều. Bom im, pháo địch vừa ngừng bắn. Bỗng có tiếng nổ làm rung chuyển cả điểm chốt. Tôi chui ra khỏi hầm, một cột khói đen xì bao trùm phía ngoài hàng rào, cây cối, đất đá bay tơi tả. Có ai đấy nói vội vàng: Bom nổ chậm rồi!.. Phía khẩu đội 12.7 thấy bộ đội chạy xô đến vị trí vừa nổ, không biết có ai việc gì không. Tôi đang phân vân thì điện thoại của đơn vị Kế gọi Ytá bộ binh sang ứng cứu. Tôi sách túi cứu thương cùng mấy chiến sỹ len qua hàng rào kẽm gai chạy sang. Trước mặt tôi cảnh vật thật thê thảm: Khói đen nát bét cây cỏ xung quanh, người ta đang nhặt những mảng còn sót lại của liệt sỹ. Một thương binh máu đỏ lòm đầy mặt chỉ còn hai con mắt chớp chớp. Tôi được biết: Ðào gần xong công sự chiến đấu, Kế cùng một chiến sỹ liên lạc vào rừng chặt gỗ về làm hầm.Người đại đội phó ở nhà sửa sang và hoàn thiện nốt công việc còn lại.Kế vác bó gỗ về, vừa nặng lại vừa mệt, Kế lao bó gỗ xuống cạnh hầm không ngờ trúng luôn quả mìm chống tăng của địch còn sót lại. Cả người và bó gỗ bay lên trời. Người đại đội phó đang lom khom xúc đất dưới hầm, mảnh mìn cắt ngang qua mặt, sống mũi bị chia làm hai, môi trên xệ xuống không nhìn thấy mồm đâu cả, máu phì phì tuôn ra từ cái miệng vết thương toang hoác ấy. ở trong trường, chúng tôi được học cách sử lý các vết thương phức tạp như: Vết thương đứt động mạch cổ, vết thương sọ não, vết thương ổ bụng. Ðứng trước người thương binh này tôi thật lúng túng. Băng bó, cầm máu làm sao đây, sống mũ gồ ghề, nếu băng thật chặt thì thương binh thở bằng cách nào trong khi mồm và mũi đều tịt cả. Máu cũng có thể chảy ngược trong khoang mũi và tràn vào trong phổi. Dù sao cũng phải băng vết thương lại. Trước tiên tôi tiêm cho anh hai ống thuốc cầm máu. Người đại đội phó ấy ra hiệu cho tôi dừng tay. Anh cúi xuống, nhổ cục máu đông trong miệng, hai tay đẩy hai cánh mũi lên cho miệng hở ra, máu chảy qua lỗ mũi thành dòng.Anh nói: -Lần này có thể tôi phải nằm viện rất là lâu. Ngày mai là ngày chuyển Ðảng chính thức của tôi, các đồng chí ở lại làm thủ tục cho tôi được chuyển Ðảng đúng hạn định. Còn thằng Kế, các đồng chí cố gắng tìm kiếm, thu gom và an táng cho nó chu đáo. Nói xong anh để cho tôi băng bó. Tôi cuốn một lượt băng dưới lỗ mũi, vắt qua hai bên tai, kéo ngược về sau gáy cho miệng vết thương liền lại và mồm rộng ra để thở, sau đó đặt gạc ngang qua mặt và băng thật chặt. Tôi bảo: - Anh cứ cúi xuống cố gắng thở bằng miệng. đừng nằm ngửa máu dễ tràn vào phổ lắm đấy.! Sau đó người ta dìu anh về đội phẫu tiền phương. Từ ngày ấy đến nay tôi cũng không rõ người đại phó ấy quê quán ở đâu và số phận sau này ra sao nữa. Sau chiến tranh, những người lính còn sót lại họ tìm đến nhau mừng mừng, tủi tủi. Cho dù cuộc sống còn nhiều vất vả gian nan nhưng họ thật tự hào cho quãng đời đầy oanh liệt của mình. Tìm đến các gia đình liệt sỹ. Trước gương mặt dăn deo khắc khổ và dòng nước mắt của mẹ, chúng tôi như những đứa trẻ đầy tội lỗi: Con của mẹ đâu? Tại sao nó không cùng về? Nó nằm ở chỗ nào? Sao con không quay lại cứu nó cho mẹ?! Không một câu ca thán, không một lời trách thốt nhưng chúng tôi giống như một kẻ hèn nhát, bỏ đồng đội để chạy thoát thân một mình. Chính vì vậy mà sau hơn 20 năm tôi mới tìm đến gia đình liệt sỹ Phùng Văn Kế. Hỏi thăm loanh quanh thì có một cháu gái dẫn đến tận nơi. Ngôi nhà lá hai gian nhỏ bé vách đố cửa phên vắng lặng. Nghe tin có đồng đội của liệt sỹ đến thăm, bà con lối xóm, anh em họ mạc cận kề chạy đến. Người ta bảo nhau đi tìm mẹ về. Bố Kế mất sớm, một mình mẹ tần tảo nuôi ba đưa con ăn học.Trên Kế là anh trai, . sau Kế là cô em út. Chiến tranh kết thúc, cả anh và em đều yên bề gia thất nhưng mẹ không ở cùng với ai cả. Một mình mẹ với căn nhà lá đơn sơ như ngày nào Kế đi nhập ngũ. Người ta dìu mẹ về. Một cụ già gầy gò chừng 80 tuổi, mẹ nhận ra gương mặt lạ hoắc của tôi giữa đàn con cháu quen thuộc của mình. Một ánh mắt ngời sáng chợt loé lên rồi vụt tắt: Nó không phải là thằng Kế! Mẹ lầm lũi bước lên thềm. Ngôi nhà lá hai gian một trái, phía bên kê chiếc giường tre của mẹ, gian giữa kê bộ bàn ghế cũng bằng tre cũ kỹ, dọ dẹo. Bên kia, một bàn thờ khói hương nghi ngút ở đó có tấm ảnh liệt sỹ phóng to bằng sơn mài. Kế ở đó trẻ trung và tươi tắn như ngày nhập ngũ. Tôi chợt nhận ra rằng: Ðối với mẹ, Kế không bao giờ chết, nó vẫn ngây thơ như ngày nào và rất cần bàn tay chăm sóc của mẹ. Ðã xa lắm rồi, lâu lắm rồi nó không về thăm mẹ nhưng rồi nó xẽ trở về và ôm chầm lấy me, nó nhận ra hơi ấm của người mẹ đã dưỡng dục và sinh thành ra nó. Chiều chiều khi đặt nồi cơm lên bếp mẹ lại ngóng ra đường, mẹ cứ chờ, cứ đợi trong hoài niệm, chập chờn nhận ra bóng thằng Kế chạy về. Chính vì thế mẹ cứ một mình ở trong ngôi nhà xưa ấy không cho ai sửa chữa lại. Mẹ sợ khi thằng Kế trở về nó xẽ không nhận ra ngôi nhà, mảnh sân và con đường thân thuộc của mình. Nếu như nó thật sự không bao giờ trở lại thì hàng đêm hình ảnh nó vẫn còn bên mẹ, ở trong ngôi nhà ấy và mẹ con sưởi ấm cho nhau. Tôi xin phép gia đình thắp cho liệt sỹ nén hương, mẹ nhìn tôi lặng đi trong nước mắt. Khi mùi hương lan toả đôi vai gầy của mẹ run lên, những tiếng nấc sót xa và thương con sâu thẳm. Tôi lúng túng khi thấy người ta đặt mẹ nằm xuống giường và thay nhau xoa lên ngực cho mẹ. Người anh trai của Kế bảo: Năm nào cúng giỗ cho chú ấy mẹ đều nấc lên như vậy đấy! Thôi chú sang bên nhà uống nước. Thế đấy! Ngày xưa chúng tôi ra đi tuổi xuân phơi phới có bao giờ hiểu thấu nỗi lòng người mẹ mong nhớ những đứa con của mình sống trong lửa đạn như thế nào. Chúng tôi từng giờ, từng phút đối mặt với cái chết và cũng sẵn sàng hy sinh vì tổ quốc. Người ở nhà, một nỗi chờ đợi mỏi mòn dai dẳng và sợ hãi đến nhường nào. Tôi gặp mẹ của liệt sỹ Nguyễn Ðức Kiến xã Tiên Kiên ,Lâm Thao,PT có một con liệt sỹ. Gặp mẹ Hà Thị Ðào Xã Tứ Xã -Lâm Thao,PT có hai con liệt sỹ hy sinh cùng một tháng. Ðời sống của các mẹ và gia đình chính sách còn nhiều khó khăn lắm. Nhưng các mẹ dành dụm, chắt chiu từng đồng tiền trợ cấp ít ỏi năm này sang năm khác để mong tìm thấy các con và đón chúng nó trở về. Các mẹ liệt sỹ đều vào cái tuổi xưa nay hiếm, trái chuối chín cây không biết ngày nào rung. Con của mẹ ở đâu? Cuộc đời còn lại của mẹ chỉ mong ước một điều: Tìm thấy nó và đưa nó trở về với mẹ. Một việc tưởng như giản đơn thế mà có khi không bao giờ thực hiện được. Con của mẹ đang ở một vùng nào xa xôi lắm, cũng có đồng, có ruộng, có những người đồng đội bên cạnh, cũng có những người mẹ yêu thương như chính con đẻ của mình. Các con đã hoà vào non sông đất nước, là hìmh tượng mà dân tộc ta thờ phụng. Lâm Thao ngày 05-12-2007 Hoàng Kim Hậu |