Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tự dịch => Tác giả chủ đề:: qtdc trong 16 Tháng Tám, 2012, 01:44:44 am



Tiêu đề: Hoạt động chiến đấu của QC PK-KQ QĐND Việt Nam tháng 12 năm 1972
Gửi bởi: qtdc trong 16 Tháng Tám, 2012, 01:44:44 am
(nguồn: vko.ru) (http://old.vko.ru/article.asp?pr_sign=archive.2005.21.26)

Hoạt động chiến đấu của bộ đội Phòng không và Không quân Quân đội Nhân dân Việt Nam trong tháng 12 năm 1972

Dưới sự chủ trì của Nguyên soái Liên bang Xô Viết BATITSKY P.F.

Nhà xuất bản Quân sự Bộ Quốc phòng
Huân chương Lao động Cờ Đỏ
MOSKVA, 1976

Công trình này được viết bởi một tập thể tác giả gồm thiếu tướng pháo binh Khiupenen A.I. (lãnh đạo), thiếu tướng không quân Bednenko D.K., đại tá Varyukhin S.A., phó tiến sỹ khoa học kỹ thuật, đại tá-kỹ sư Manukhin V.G., phó tiến sỹ khoa học quân sự, đại tá Fomin D.I., Đại tá Reminyi A.K.

(http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_pic00.jpg)
© US AIR FORCE

MỤC LỤC
GIỚI THIỆU
Chương I. Đánh giá tổng quan ngắn gọn về tình hình chính trị-quân sự tại Việt Nam trong năm 1972
Chương II. Hoạt động tác chiến của không quân Mỹ

• Đặc điểm chung các hoạt động tác chiến của không quân
• Hoạt động tác chiến của không quân chiến lược
• Hoạt động tác chiến của không quân chiến thuật và không quân hải quân trên tàu sân bay
• Tổ chức tác chiến điện tử
• Hoạt động của không quân Mỹ đối với các sân bay của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
• Tổ chức và tiến hành trinh sát trên không
• Chỉ huy và thông tin liên lạc
• Tổ chức tìm kiếm cứu nạn

Chương III. Hoạt động chiến đấu của bộ đội phòng không và không quân Quân đội nhân dân Việt Nam
• Đặc điểm chung của Quân chủng Phòng không và Không quân QĐNDVN và hoạt động của họ nhằm đẩy lui các cuộc không kích của không quân Mỹ
• Tổ chức chỉ huy bộ đội Phòng không và Không quân
• Tổ chức hợp đồng chiến đấu
• Hoạt động chiến đấu của binh chủng tên lửa phòng không
• Vấn đề bắn máy bay không quân chiến lược
• Các đặc điểm xạ kích đối với các máy bay không quân chiến thuật và không quân hải quân trên tàu sân bay
• Các đặc điểm của công tác chiến đấu trong môi trường nhiễu phức tạp
• Hoạt động tác chiến của không quân tiêm kích
• Ứng dụng tác chiến của binh chủng radar
• Đặc điểm công tác chiến đấu chống máy bay B-52 trong môi trường nhiễu
• Đặc điểm công tác chiến đấu chống mục tiêu bay thấp
• Bảo vệ các trạm radar tránh tên lửa chống bức xạ radar
• Công tác công binh công trình đảm bảo và công tác ngụy trang của bộ đội

Kết luận

GIỚI THIỆU

Việc lập lại hòa bình ở Việt Nam đã đi vào lịch sử như một mốc quan trọng trong cuộc đấu tranh của các dân tộc trên bán đảo Đông Dương giành tự do và độc lập cho mình, là một thắng lợi lớn của tình đoàn kết chiến đấu giữa các nước xã hội chủ nghĩa và toàn thể nhân loại tiến bộ. Đóng vai trò đặc biệt trong chiến thắng này là sự giúp đỡ nhiều mặt của Liên Xô.

Năm 1972, năm trước khi chấm dứt chiến tranh đường không của Hoa Kỳ chống lại VNDCCH và rút quân khỏi khu vực Đông Nam Á, là một năm tăng cường cuộc đấu tranh vũ trang của các lực lượng yêu nước Đông Dương xét về một mặt, cũng là năm leo thang xâm lược của Hoa Kỳ - xét từ mặt khác. Hoa Kỳ, trong khi mở rộng cuộc xâm lược ở Việt Nam, vẫn tìm kiếm bất kỳ biện pháp nào nhằm duy trì chế độ bù nhìn Sài Gòn, và làm suy yếu tối đa các hoạt động đang mở rộng của các lực lượng yêu nước và mọi nguồn giúp đỡ cho họ. Để thực hiện các mục tiêu này, chính phủ Mỹ đã tập trung một lực lượng không quân và hải quân lớn và bắt đầu các đợt tấn công nhằm vào các mục tiêu của VNDCCH từ trên không, thả mìn phong tỏa các cảng của đất nước này và các vùng lãnh hải của họ.

Chiếm vị trí đặc biệt trong cuộc leo thang xâm lược của Mỹ là chiến dịch đường không được thực hiện trong tháng 12 năm 1972 dưới tên mã "Linebacker-2". Khi lập kế hoạch đó, Mỹ hy vọng sẽ phá vỡ ý chí của nhân dân Việt Nam và bắt ban lãnh đạo VNDCCH phải nhượng bộ khi ký kết thỏa thuận chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Công trình lao động này sẽ thảo luận về đặc điểm chung của chiến dịch, chiến thuật sử dụng tất cả các loại không quân của Mỹ và một số vấn đề riêng trong công tác đảm bảo tác chiến cho hoạt động của chúng. Trong đó còn tóm tắt kinh nghiệm chiến đấu của bộ đội PKKQ Quân đội nhân dân Việt Nam chống lại đòn không kích ồ ạt của không quân Hoa Kỳ trong tháng 12 năm 1972. Cần nhấn mạnh rằng, hiện nay đó là ví dụ duy nhất của việc sử dụng trong thực tế binh chủng tên lửa phòng không và máy bay tiêm kích mang tên lửa chống lại không quân chiến lược. Phân tích kinh nghiệm này cho phép chúng ta hiểu được cả hai khía cạnh tích cực và tiêu cực của việc sử dụng trong chiến đấu các binh chủng TLPK và KQTK QĐNDVN, đánh giá được chất lượng của trang thiết bị quân sự của Liên Xô, và sử dụng kinh nghiệm này trong việc hoàn thiện công tác phòng thủ đường không bảo vệ đất nước chúng ta.

Công trình soi sáng các vấn đề đảm bảo hoạt động chiến đấu cho Quân chủng Phòng không Không quân QDNDVN: hoạt động chiến đấu của binh chủng radar, công tác đảm bảo cho bộ đội tên lửa các loại đạn chiến đấu, thiết bị kỹ thuật, ngụy trang trận địa và các sở chỉ huy các đơn vị phòng không và các loại đơn vị binh chủng. Để hiểu rõ hơn đặc điểm sử dụng trong chiến đấu các lực lượng và phương tiện tác chiến của bộ đội phòng không QDNDVN, sẽ mô tả hệ thống phòng không của nước Việt Nam Dân chủ.Cộng hoà, các đặc tính của các cụm TLPK, PPK và bộ đội radar, cũng như trình độ được huấn luyện sẵn sàng chiến đấu của bộ đội. Các tác giả tin rằng điều này sẽ cho phép người đọc đánh giá khách quan kết quả của các trận đánh của Quân chủng Phòng không Không quân QDNDVN chống lại Không quân Hoa Kỳ và đóng góp của họ vào chiến thắng những kẻ xâm lược Mỹ.

Hầu hết các tác giả công trình đều làm việc tại VNDCCH (với tư cách các chuyên gia quân sự tại Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không và Không quân QDNDVN) tại thời điểm diễn ra những sự kiện này và tham gia tích cực trong các sự kiện đó. Tuy nhiên, công trình được viết nên không chỉ từ vị trí của những người tham gia trực tiếp và là nhân chứng của những sự kiện, mà còn dựa trên sự nghiên cứu cẩn thận một loạt tài liệu; trước hết là số liệu của Bộ Tư lệnh QDNDVN, các tài liệu của Bộ Tổng tham mưu các lực lượng vũ trang Liên Xô, ở mức độ này hay mức độ kia, đặc tả quá trình và kết quả hành động chiến đấu của quân chủng Phòng không và Không quân QDNDVN, cũng như phân tích của báo chí nước ngoài về cuộc chiến tranh đường không của Mỹ chống lại VNDCCH.

Tập thể tác giả bày tỏ lòng biết ơn thiếu tướng pháo binh Babenko K.S., thiếu tướng không quân Fesenko M.I., đại tá Garnaev Yu.S., đại tá Aleshkin S.V. và toàn bộ tập thể các chuyên gia quân sự Liên Xô ở VNDCCH vì sự giúp đỡ các tài liệu thông tin và sự tham gia biên soạn dữ liệu về các hoạt động chiến đấu của Quân chủng Phòng không và Không quân QDNDVN trong các trận chiến đấu tháng 12 năm 1972.
...........


Tiêu đề: Re: Hoạt động chiến đấu của QC PK-KQ QĐND Việt Nam tháng 12 năm 1972
Gửi bởi: qtdc trong 16 Tháng Tám, 2012, 05:27:46 pm
(tiếp)

CHƯƠNG I. TÓM TẮT TÌNH HÌNH QUÂN SỰ VÀ CHÍNH TRỊ TẠI VIỆT NAM NĂM 1972

Ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển của tình hình chính trị quân sự tại Việt Nam năm 1972 là các hoạt động do Hoa Kỳ tiến hành trong chương trình "Việt Nam hóa" chiến tranh. Chương trình này do Tổng thống Mỹ Nixon đưa ra năm 1969, là cơ sở hình thành chính sách chính trị - quân sự của Mỹ ở Đông Dương. Chính sách "Việt Nam hóa" chiến tranh áp dụng đối với Việt Nam dự kiến bao gồm một loạt các hoạt động theo đuổi mục tiêu chuyển gánh nặng chiến tranh tại Nam Việt Nam sang cho chế độ bù nhìn của Nguyễn Văn Thiệu.

Các hoạt động quân sự của Mỹ được định hướng phát triển tăng về số lượng và tăng thành phần chiến đấu của các lực lượng vũ trang của chế độ bù nhìn, chuyển đổi và nâng cấp bổ sung cho chúng các loại vũ khí và trang thiết bị quân sự hiện đại, nâng cao chất lượng chiến đấu và huấn luyện tác chiến. Kế hoạch thực hiện các biện pháp này được trù tính cho thời gian tương đối dài và được tiến hành theo ba giai đoạn.

Trong giai đoạn đầu tiên của "Việt Nam hóa" dự kiến tăng quân số các lực lượng vũ trang và tăng hiệu quả chiến đấu của quân đội bù nhìn Nam Việt Nam. Điều này định trước sự tăng trưởng đáng kể viện trợ quân sự và kinh tế của Mỹ cho Nam Việt Nam. Trong giai đoạn 1969-1972. Mỹ cung cấp cho Nam Việt Nam 574 máy bay cánh cố định, 863 máy bay trực thăng, 580 xe tăng, 1.200 dã  pháo, 60.000 xe ô tô quân sự, 10.000 súng cối và súng không giựt, 1800 xe bọc thép vận tải, 10 tàu chiến, 950 tàu thuyền và các thiết bị quân sự khác ("Cuộc xâm lược của Mỹ ở Đông Nam Á" (" Vietnamisation ") phần 6, Moskva, 1973). Chỉ tính viện trợ quân sự và kinh tế năm 1972 đã lên tới khoảng $ 2,5 tỷ.

Năm 1972, bắt đầu giai đoạn thứ hai các hoạt động quân sự của chương trình "Việt Nam hóa", với mục đích là để tạo điều kiện chuyển giao cho quân đội Sài Gòn tất cả các nhiệm vụ yểm trợ pháo binh và yểm trợ đường không và đảm bảo hậu cần cho các hoạt động chiến đấu. Trong trường hợp xảy ra tình hình căng thẳng đột biến tại Đông Dương và cần có những sự trợ giúp quân đội bù nhìn, quân độ mà theo đánh giá của Bộ chỉ huy quân sự Mỹ còn chưa sử dụng hiệu quả các thiết bị quân sự được cung cấp cho chúng, Hoa Kỳ để lại ở Đông Nam Á một lực lượng đáng kể - khoảng 40-50000 người và một cụm không quân hùng mạnh (tại Thái Lan, Nam Việt Nam, Guam và không quân hải quân trên tàu sân bay trong vùng Vịnh Bắc Bộ).

Giai đoạn thứ ba được kết thúc bằng sự triển khai hoạt động cho các nhóm hỗ trợ quân sự và các nhóm cố vấn quân sự Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Việc thực hiện trên thực tế các kế hoạch này được bộ chỉ huy quân đội Mỹ đặt ra phụ thuộc vào khả năng của quân đội Sài Gòn đối chọi lại các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam.

Các hoạt động chính trị thực hiện trong khuôn khổ của chương trình "Việt Nam hóa", theo đuổi mục tiêu: tạo ra một cơ cấu chính trị ở miền Nam Việt Nam, đảm bảo sự ổn định chính trị trong nước và tăng uy tín của chế độ Sài Gòn trên trường quốc tế. Để làm điều này, chính phủ Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã thực hiện một số biện pháp thiết thực: ở miền Nam Việt Nam đã tiến hành bầu cử chính quyền ở trung ương và địa phương; giảm số lượng các nhóm và các đảng chính trị hợp pháp; tổ chức các chiến dịch chống cộng sản dưới các khẩu hiệu đấu tranh cho "đoàn kết dân tộc"; mở rộng và tăng cường quan hệ với các nhóm và tổ chức hợp pháp đứng về phía chế độ bù nhìn của Nguyễn Văn Thiệu.

Hoạt động kinh tế - xã hội theo chương trình "Việt Nam hóa" tiến hành với mục tiêu tạo ra một hậu phương bền vững và đáng tin cậy, có thể cung cấp cho chế độ Sài Gòn khả năng duy trì cuộc đấu tranh vũ trang kéo dài với chi phí yểm trợ tối thiểu từ phía Hoa Kỳ. Trọng tâm chính giành sự tin tưởng và ủng hộ của dân cư vùng nông thôn, mở rộng khu vực kiểm soát bởi lực lượng chính phủ, làm mất khả năng đặt căn cứ của những người yêu nước, mất khả năng bổ sung bù đắp tổn thất về con người, nhận được thực phẩm và các sự giúp đỡ cần thiết khác trong các khu vực do lực lượng chính phủ kiểm soát.

Một loạt biện pháp kinh tế - xã hội mà người Mỹ gọi là chương trình "xoa dịu", mục tiêu cuối cùng của nó là thu hút về mình phần lớn dân cư nông thôn, trung hòa sự ủng hộ của nhân dân cho lực lượng vũ trang giải phóng, phá hoại tinh thần các lực lượng yêu nước ở nông thôn.

Khía cạnh quan trọng nhất của chương trình "Việt Nam hóa" là việc quân đội Hoa Kỳ rút khỏi Nam Việt Nam. Vào đầu năm 1969 tổng quân số lực lượng Mỹ ở Nam Việt Nam lên tới 543.500 người, bao gồm lực lượng lục quân – 366 000, không quân – 60 000 và hải quân - 117.000 người. Đến cuối năm 1972 tổng quân số quân đội Mỹ tại đất nước này là hơn 21.000 người. ("Cuộc xâm lược của Mỹ ở Đông Nam Á" ("Vietnamisation) Phần 6., Moskva, 1973).

Xét đến tiến trình thực hiện chương trình "Việt Nam hóa" và tin rằng tình hình ở Việt Nam được sắp đặt có lợi cho các lực lượng yêu nước, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã quyết định tiến hành một chiến dịch tấn công lớn.

Công tác chuẩn bị cho chến dịch này bắt đầu vào năm 1971 và tới mùa xuân 1972 Bộ chỉ huy tối cao QGP MNVN về cơ bản đã hoàn thành tích lũy các lực lượng và phương tiện vật chất, thực hiện bố trí lại lực lượng, trang thiết bị quân sự, vũ khí và lương thực thực phẩm ở các tỉnh phía Nam của đất nước, xây dựng được các nguồn dự trữ cần thiết tại miền Nam Việt Nam.

Cuộc tấn công của những người yêu nước Việt Nam bắt đầu từ 30 tháng 3 năm 1972 trên ba hướng: phần phía bắc của Nam Việt Nam, trên cao nguyên miền Trung (khu vực thị xã Kon Tum) và trong  thung lũng sông Cửu Long (gần An Lộc). Lần đầu tiên lực lượng quân giải phóng từ bỏ chiến thuật của chiến tranh du kích và chuyển sang tiến hành các hoạt động trên một mặt trận rộng lớn với xe tăng, pháo binh và các trang bị kỹ thuật quân sự hiện đại khác.

Trong những tháng tấn công đầu tiên, lực lượng yêu nước đã gây ra cho quân đội Sài Gòn những thất bại nghiêm trọng, phong tỏa các căn cứ quân sự chủ yếu, chia cắt các đường giao thông chính của kẻ thù và tiến về phía Sài Gòn.

Theo số liệu của Bộ chỉ huy tối cao QGP MNVN, chỉ trong 6 tháng chiến sự đã giết và bắt làm tù binh 32 nghìn 500 quân địch, phá hủy và chiếm giữ 2.050 máy bay cánh cố định và máy bay lên thẳng trên các sân bay, phá hủy và chiếm giữ 6.300 xe quân sự, 1.500 đại bác và súng cối của kẻ thù, cùng hàng chục ngàn tấn thiết bị quân sự. Hai triệu rưỡi người dân miền Nam Việt Nam được tự do và trở thành chủ nhân của các vùng giải phóng.

Cuộc tấn công của các lực lượng yêu nước miền Nam Việt Nam đã đẩy chính sách "Việt Nam hóa" chiến tranh của Mỹ tới bờ vực sụp đổ và khoét sâu thêm cuộc khủng hoảng của chế độ Sài Gòn.

Lo sợ cho số phận của chế độ Sài Gòn và chính sách "Việt Nam hóa", Mỹ đã thực hiện bước leo thang chiến tranh đường không tại Việt Nam. Bắt đầu từ 16 tháng 4 năm 1972, Mỹ ném bom từ trên không xuống các mục tiêu trên toàn lãnh thổ VNDCCH. Những nỗ lực của không quân Mỹ nhằm tiêu diệt tiềm năng quân sự-công nghiệp của VNDCCH, làm rối loạn và gián đoạn hoạt động giao thông vận tải đường sắt, đường bộ và đường thủy. Lối vào các cảng đã bị thả thủy lôi phong tỏa và đồng thời người Mỹ cũng thiết lập sự phong tỏa bờ biển VNDCCH. Tạp chí Mỹ "The Nation" trong mùa hè năm 1972 đã viết rằng hoạt động quân sự tại Việt Nam “đi kèm với sự tàn bạo và vô nhân đạo chưa từng có", rằng "nhân dân Việt Nam ý thức được sự tàn phá chưa có tiền lệ trong lịch sử bởi các phương tiện công nghệ quân sự hiện đại nhất".

Các vụ ném bom man rợ gây ra thiệt hại lớn cho nền kinh tế của VNDCCH, dẫn đến những mất mát đáng kể về nhân mạng. Các cơ sở công nghiệp và nông nghiệp phải chịu những trận tấn công và sự tàn phá lớn hơn rất nhiều lần so với tất cả các năm chiến tranh trước đây. Thiệt hại đáng kể nhất gây ra tại các cơ sở năng lượng và khu vực mỏ khai thác than. Tình trạng thiếu điện và nhiên liệu diễn ra gay gắt làm tê liệt một số xí nghiệp công nghiệp và giao thông vận tải. Gần như toàn bộ các cây cầu đường sắt đã bị phá hủy hoặc đánh hỏng. Các bến phà qua vô số con sông đều bị tấn công một cách có hệ thống. Việc cung cấp cho nhân dân thực phẩm và hàng hoá công nghiệp gặp khó khăn rất lớn.

Để ngăn chặn sự phát triển tiêu cực có thể liên quan đến tình hình khó khăn và thiếu thốn đang phổ biến, chính phủ VNDCCH đã thông qua một số nghị quyết: "Về việc duy trì trật tự, an ninh, củng cố và tăng cường quản lý thị trường trong thời gian chiến tranh", "Về việc duy trì trật tự và an ninh, tăng cường và cải thiện quản lý của nền kinh tế trong môi trường mới" , "Về nghĩa vụ lao động trong thời gian chiến tranh". Hầu như tất cả các xí nghiệp công nghiệp và các cơ quan tại các thành phố Hà Nội và Hải Phòng đều được sơ tán và phân tán. Đã sơ tán phần lớn dân số đô thị, đóng cửa tất cả các cơ sở đào tạo.

Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và chính phủ VNDCCH kêu gọi quân đội và nhân dân cả nước đoàn kết chặt chẽ hơn xung quanh Đảng, nâng cao năng suất và kỷ luật lao động, tăng sản lượng các sản phẩm công nghiệp và nông nghiệp, để cung cấp cho quân đội tất cả mọi thứ cần thiết nhằm đạt được thắng lợi quyết định.
.............


Tiêu đề: Re: Hoạt động chiến đấu của QC PK-KQ QĐND Việt Nam tháng 12 năm 1972
Gửi bởi: qtdc trong 16 Tháng Tám, 2012, 07:36:47 pm
(tiếp)

Nhân dân Việt Nam đáp lời kêu gọi của đảng và chính phủ VNDCCH bằng sự đề cao cảnh giác, tăng năng suất trong tất cả các lĩnh vực sản xuất công nghiệp và nông nghiệp. Nhân dân Việt Nam đã chống lại ý đồ xâm lược của chủ nghĩa đế quốc Mỹ bằng sự can đảm, đoàn kết và ý chí vững chắc sẽ chiến thắng.

Mỗi xí nghiệp, mỗi hợp tác xã đã trở thành không chỉ là đơn vị sản xuất, mà còn là đơn vị chiến đấu. Tất cả những người có thể mang vũ khí trên tay, không chỉ lao động, mà còn đội viên của các đơn vị tự vệ. Do có tinh thần cao, sự cống hiến quên mình và lòng yêu lao động của nhân dân Việt Nam, các ngành công nghiệp và nông nghiệp của đất nước đã có thể sản xuất ra các sản phẩm cần thiết đáp ứng nhu cầu của người dân và Quân đội nhân dân Việt Nam.

Khéo léo kết hợp đấu tranh vũ trang, chính trị và ngoại giao, VNDCCH và những người yêu nước miền Nam Việt Nam đã phá hỏng kế hoạch của giới quân sự Mỹ. Kết hợp hiệu quả các nỗ lực quốc gia của mình với sự hỗ trợ quốc tế rộng rãi, họ đã buộc giới cầm quyền Hoa Kỳ phải chuyển từ mưu toan giải quyết vấn đề Việt Nam bằng biện pháp quân sự sang việc tìm kiếm một giải pháp chính trị.

Đầu tháng 10 năm 1972 phái đoàn VNDCCH và CHMNVN tại các cuộc đàm phán Paris với các đại diện của Hoa Kỳ và chế độ Sài Gòn đã giới thiệu dự thảo "Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam". Trong đề án này, VNDCCH và CHMNVN đề nghị chấm dứt chiến tranh trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam và chấm dứt mọi sự tham gia về quân sự của quân đội Mỹ tại miền Nam Việt Nam, rút hoàn toàn khỏi miền Nam Việt Nam lực lượng quân đội Mỹ và các đồng minh của họ, trả tự do cho tất cả những người đã bị bắt và bị giam giữ. Kể từ khi có lệnh ngừng bắn và cho đến trước khi tiến hành cuộc bầu cử tự do và dân chủ bầu ra một chính phủ tại miền Nam Việt Nam cần phải thực thi hoạt động của cả hai chính quyền thực sự (Chính phủ CMLT CHMNVN và Chính quyền Nam Việt Nam), mỗi bên thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại của mình. Hai chính quyền ngay lập tức phải tiến hành tham vấn với mục đích thực hiện quyền tự quyết của người dân miền Nam Việt Nam, thực hiện hòa giải dân tộc, đảm bảo quyền dân chủ và tự do của nhân dân và thành lập một chính phủ quốc gia đồng thuận.

Sáng kiến hòa bình quan trọng của chính phủ VNDCCH và CHMNVN tìm thấy sự hưởng ứng rộng rãi trong cộng đồng thế giới. Nó được đánh giá cao (trong đó có cả công chúng Mỹ) như là một thiện chí của phía Việt Nam đưa ra khỏi thế bế tắc các cuộc đàm phán về Việt Nam tại Paris, đã kéo dài gần bốn năm.

Tới ngày 20 tháng mười năm 1972 văn bản của Hiệp định đã được hoàn thành và đã đạt được một thỏa thuận ký tắt Hiệp định vào ngày 22 tháng 10. Tuy nhiên, Mỹ đã chối bỏ thỏa thuận của họ, và chuyển thời hạn ký tắt sang ngày 24 tháng 12, còn ký chính thức sang ngày 31 tháng 12. Trên tinh thần thiện chí, VNDCCH đã đồng ý với những thay đổi này, nhưng cảnh báo phía Hoa Kỳ rằng vấn đề không thể trì hoãn vô thời hạn. Tuy nhiên, Mỹ lại một lần nữa yêu cầu hoãn ký. Những hành động này của Mỹ đã dẫn đến tình hình rất nghiêm trọng và gây nguy hiểm cho việc ký kết Hiệp định.

Chính phủ VNDCCH ngày 26 tháng 12 năm 1972 đã buộc phải đơn phương công bố nội dung bản dự thảo Hiệp định và ra Tuyên bố, trong đó cương quyết vạch trần sự thiếu thiện chí, thiếu cách tiếp cận vấn đề nghiêm túc từ phía chính phủ Mỹ, và yêu cầu Hoa Kỳ thực hiện thỏa thuận ký kết Hiệp định, thông qua các biện pháp cụ thể khôi phục lại hòa bình ở Việt Nam, góp phần cho hòa bình ở châu Á và trên thế giới phù hợp với nguyện vọng của nhân dân tất cả các quốc gia.

"Lẽ phải đứng về phía sự nghiệp đấu tranh cứu nước của nhân dân chúng ta chống lại cuộc xâm lược của Hoa Kỳ, - đó là điều nêu trong Tuyên bố của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, - lực lượng bất khả chiến bại của sự thống nhất của nhân dân ta, sự kiên trì và kiên định là truyền thống của nhân dân ta trong cuộc chiến chống lại những kẻ xâm lược".

Trong tiến trình đàm phán tiếp tục từ 20/11/1972 đến 13/12/1972, phía Hoa Kỳ tìm mọi cách có thể nhằm trì hoãn việc ký kết Hiệp định, liên tục đưa ra các sửa đổi và làm rõ các văn bản của Hiệp định và các điều khoản của nó. Ngày 13 tháng 12 các cuộc đàm phán đã bị đổ vỡ, và giới chính trị-quân sự Mỹ trong nỗ lực cố gắng buộc phía Việt Nam ký kết Hiệp định theo các điều kiện của họ, đã tiếp tục các cuộc không kích vào các mục tiêu trên lãnh thổ VNDCCH.

Cuộc ném bom ồ ạt, tàn bạo chưa từng thấy xét về lực lượng trên toàn lãnh thổ VNDCCH, đặc biệt là các thành phố Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh trung tâm, tiếp tục suốt ngày và đêm từ ngày 18 đến 30 tháng 12 năm 1972. Trên thực tế để chống lại VNDCCH, Hoa Kỳ đã ném vào đây hầu như tất cả không lực và các lực lượng hải quân hiện đang có mặt tại khu vực Đông Nam Á.

Sự lên án mạnh mẽ chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ ở Đông Nam Á từ phía Liên Xô và các nước trong phe xã hội chủ nghĩa khác, sự hỗ trợ quân sự, kinh tế, ngoại giao và chính trị của họ, sự kiên trì và lòng can đảm của nhân dân Việt Nam, đánh trả đích đáng lũ kẻ cướp đường không, tất cả đã buộc chính phủ Mỹ  phải chấm dứt các vụ ném bom VNDCCH từ phía bắc vĩ tuyến 20 kể từ ngày 30/12/1972.

Một giai đoạn mới của cuộc đàm phán về Việt Nam bắt đầu từ ngày 08 tháng 1 năm 1973 tại Paris. Ngày 27 tháng 1, giai đoạn này đã kết thúc với việc ký kết Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Đã kết thúc cuộc chiến tranh dài nhất, khó khăn nhất, nhục nhã nhất và đắt giá đối với Hoa Kỳ, trong đó chủ nghĩa đế quốc Mỹ đã chịu thất bại lớn nhất trong lịch sử của nó. Các mục tiêu mà Hoa Kỳ đặt ra đã không đạt được, mặc dù thực tế họ đã chi phí cho chiến tranh là hơn 130 tỷ đô la, tổn thất nhân mạng gồm 47.000 người chết và hơn 300.000 người bị thương. ("Lực lượng vũ trang Hoa Kỳ sau chiến tranh tại Việt Nam". Tạp chí "Bình luận quân sự nước ngoài”, № 6, 1973).

Chiến thắng này là kết quả của chủ nghĩa anh hùng và sự đoàn kết của nhân dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, kiên trì và quyết tâm đấu tranh cho nền tự do và độc lập của đất nước của họ, cho một nền hòa bình công bằng và lâu dài. Chiến thắng này đạt được còn nhờ sự hỗ trợ, giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, và đặc biệt là Liên Xô, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, của tất cả nhân loại tiến bộ. Báo "Nhân Dân" trong bài trên trang nhất ngày 30 Tháng 12 năm 1972 đã viết về điều này: "Bất kỳ thành công nào của nhân dân chúng ta đạt được trong cuộc chiến chống lại bè lũ xâm lược Mỹ, cũng như trong xây dựng hòa bình, đều gắn bó chặt chẽ với sự ủng hộ và giúp đỡ cho chúng ta bởi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa anh em".

HẾT CHƯƠNG 1
.......


Tiêu đề: Re: Hoạt động chiến đấu của QC PK-KQ QĐND Việt Nam tháng 12 năm 1972
Gửi bởi: qtdc trong 16 Tháng Tám, 2012, 08:37:06 pm
(tiếp)

CHƯƠNG II. HOẠT ĐỘNG TÁC CHIẾN CỦA KHÔNG QUÂN MỸ


ĐẶC ĐIỂM CHUNG HOẠT ĐỘNG TÁC CHIẾN CỦA KHỐNG QUÂN

Năm cuối cùng của cuộc chiến tranh tại Việt Nam được đặc trưng bởi sự tiếp tục leo thang cao hơn nữa trong cuộc chiến tranh không quân của phía Hoa Kỳ chống lại nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Khi theo đuổi chính sách "Việt Nam hóa", Hoa Kỳ đã chi phí cho việc tổ chức lại và huấn luyện đào tạo quân đội Nam Việt Nam khoảng $ 9 tỷ, vì vậy nó đã trở thành quân đội lớn nhất khu vực Đông Nam Á. Giới đế quốc chủ nghĩa Mỹ hy vọng rằng sự hỗ trợ này sẽ đảm bảo khả năng chiến đấu cần thiết cho quân đội Nam Việt Nam.

Tuy nhiên, tính toán của giới quân sự Mỹ đã tỏ ra không đúng. Ở giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh, các lực lượng yêu nước đã tiến hành một loạt các chến dịch tấn công chủ yếu trên toàn lãnh thổ bán đảo Đông Dương. Các đòn tấn công đặc biệt mạnh mẽ của lực lượng yêu nước ở miền Nam Việt Nam, nơi mà lần đầu tiên trong suốt những năm qua họ đã sử dụng vào các chiến dịch một lực lượng lớn binh chủng tăng thiết giáp, pháo binh dã chiến và các phương tiện phòng không, đảm bảo cho sự thành công của các chiến dịch tấn công của lực lượng Quân Giải phóng Nhân dân.

Để cứu vớt tình thế của chế độ Sài Gòn, Hoa Kỳ đã sử dụng không quân với lực lượng chưa từng có chống lại những người yêu nước miền Nam Việt Nam và chống lại VNDCCH. Từ tháng 4 năm 1972 người Mỹ đã tấn công tất cả các cơ sở quan trọng ở miền Bắc Việt Nam, thiết lập sự phong tỏa đường biển. Họ sử dụng rộng rãi các phương tiện hủy diệt mới, tăng hiệu quả của các cuộc không kích.

Đặc biệt quyết liệt là việc sử dụng lực lượng không quân vào tháng 12 năm 1972 trong chiến dịch đường không có tên mã là "Linebacker-2", mục đích chính của nó nhằm làm suy yếu tiềm năng kinh tế của đất nước, bẻ gãy tinh thần của quân đội và toàn thể nhân dân, buộc các nhà lãnh đạo VNDCCH thực hiện những nhượng bộ trong việc ký kết thỏa thuận ngừng bắn và khôi phục hòa bình ở Việt Nam.

Đặc điểm nổi bật của chiến dịch đường không trên là sử dụng lực lượng không quân chiến lược đáng sợ làm lực lượng tấn công chủ yếu. Tham gia chiến dịch có 190 máy bay ném bom chiến lược B-52, 48 máy bay ném bom chiến thuật F-111A và hơn 800 máy bay các loại khác, tức là toàn bộ các nhóm không quân chiến lược, chiến thuật và không quân hải quân trên tàu sân bay của Hoa Kỳ, đang đóng căn cứ trên không gian chiến trường này.

(http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_pic29.jpg)
© US AIR FORCE

Chiến dịch đường không kéo dài 12 ngày đêm. Trong thời gian này, đã thực hện 33 đợt tấn công ồ ạt quy mô lớn: 17 – bằng lực lượng không quân chiến lược, 16 – bằng lực lượng không quân chiến thuật và không quân hải quân trên tàu sân bay. Trong quá trình chiến dịch đã tiến hành 2814 phi vụ xuất kích, trong số  đó có 594 phi vụ - của máy bay ném bom chiến lược B-52.

Kẻ địch đã trút xuống các mục tiêu tại VNDCCH đến 16 ngàn tấn bom, trong đó từ máy bay B-52 – 12 ngàn tấn. Kết quả của các cuộc ném bom đã phá hủy hoặc làm hư hỏng hàng chục cơ sở công nghiệp và quân sự lớn của VNDCCH, cũng như một số lớn cơ sở vật chất phục vụ cho các mục đích hòa bình. Kết quả các vụ ném bom đã giết chết hàng ngàn người, gồm cả quân nhân và dân thường.

Chiến dịch bắt đầu vào tối ngày 18 tháng 12 năm 1972 bằng đòn tấn công đồng thời của không quân Mỹ vào các sân bay đang hoạt động chủ yếu của không quân tiêm kích QĐNDVN. Đòn tấn công được thực hiện bằng lực lượng không quân chiến lược, chiến thuật và không quân hải quân trên tàu sân bay. Kết quả cuộc tấn công đã làm hỏng đường cất-hạ cánh của gần như tất cả các sân bay chính đặt căn cứ của lực lượng không quân QĐNDVN. Tiếp theo, những nỗ lực trong hoạt động của không quân Mỹ được tập trung chủ yếu vào việc phá hủy các cơ sở công nghiệp lớn nằm trong khu vực thủ đô VNDCCH - Hà Nội, cảng biển chính Hải Phòng và khu vực công nghiệp quan trọng Thái Nguyên. Trong các cuộc tấn công đường không quy mô lớn có sự tham gia của 80% toàn bộ số máy bay hiện có với mức độ tập trung lực lượng để không kích vào các thành phố và các đối tượng riêng biệt đôi khi từ 200 đến 250 máy bay.

Lần đầu tiên sau toàn bộ những năm chiến tranh, lực lượng không quân chiến lược được sử dụng tấn công ồ ạt xuống các mục tiêu của VNDCCH. Máy bay B-52 chiếm 30-40% tổng số máy bay tham gia vào các cuộc không kích quy mô lớn.

Việc thực hành tấn công bằng lực lượng không quân chiến lược chỉ diễn ra vào ban đêm.

Hoạt động của chúng được lên kế hoạch đặc biệt kỹ lưỡng và được đảm bảo bởi những lực lượng đáng kể, trước hết một số lượng lớn máy bay tiêm kích được phân công bảo vệ cho các nhóm không kích và làm nhiệm vụ phong tỏa các sân bay, chế áp hỏa lực phòng không, mà trước tiên là tất cả các trận địa TLPK, cũng như tiến hành trinh sát, chế áp các trạm radar phòng không và liên tục giám sát vùng trời trên lãnh thổ VNDCCH.

Trong những ngày riêng biệt, các máy bay B-52 thực hiện đến 80-90 phi vụ, trong khi các năm trước, con số này hiếm khi vượt quá 25-30 phi vụ. Và nếu trước đó máy bay ném bom chiến lược B-52 đã tham gia tấn công vào các đối tượng có hệ thống phòng không yếu, thì trong chiến dịch này, chúng được sử dụng tấn công ồ ạt vào các đối tượng được bảo vệ bởi một hệ thống phòng không tương đối mạnh. Chỉ trong khu vực. Hà Nội và Hải Phòng máy bay B-52 đã thực hiện trong những ngày này hơn 350 phi vụ (tính riêng khu vực Hà Nội - hơn 300).

Không quân chiến thuật được sử dụng cả ngày lẫn đêm. Vào ban đêm, chủ yếu chúng được sử dụng để đảm bảo hoạt động cho máy bay ném bom chiến lược B-52, ban ngày sử dụng để tấn công ồ ạt xuống các mục tiêu khác nhau trên đất nước này và các trận địa phòng không. Chúng hoạt động theo các tốp nhỏ, sử dụng bom có đầu tự dẫn laser hoặc truyền hình.

Trong chiến dịch, lần đầu tiên người Mỹ sử dụng rộng rãi máy bay tiêm kích-ném bom mới nhất F-111 - chủ yếu để tấn công từ độ cao thấp và cực thấp, hoạt động đơn lẻ vào ban đêm.

Không quân hải quân trên tàu sân bay khi tấn công ồ ạt hoạt động chủ yếu vào ban đêm. Vào ban ngày, chúng được sử dụng rộng rãi để tấn công các mục tiêu ở khu vực ven biển VNDCCH theo các tốp nhỏ và đơn lẻ.

Tất cả các cuộc không kích của máy bay Mỹ trên quy mô rộng lớn được đảm bảo bằng việc sử dụng tổng hợp các phương tiện chiến tranh điện tử tiên tiến nhất và mới nhất.

Các số liệu tổng quát về tính chất các hoạt động tác chiến của máy bay Mỹ trong chiến dịch "Linebacker-2" được trình bày trong các bảng 1 và 2.

BẢNG 1.
(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/bang1-1.jpg)

(http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_01.jpg)
Chú thích: 1. Máy bay hoạt động ngoài không phận VNDCCH không kể trong bảng này.
2. Chữ viết tắt: CA – máy bay không quân chiến lược, TA – máy bay không quân chiến thuật , AA – máy bay trên tàu sân bay; БСР - máy bay do thám không người lái.


Kết quả các hoạt động tích cực của bộ đội PK, mà trươc hết là TLPK, khiến cho trong thời gian chiến dịch chỉ riêng ở khu vực Hà Nội, người Mỹ đã mất hơn 30 máy bay, trong đó có 25 máy bay ném bom chiến lược B-52. Tổn thất chung của máy bay Mỹ trên bầu trời VNDCCH trong chiến dịch, theo bộ chỉ huy QĐNDVN là 81 máy bay, với 34 máy bay ném bom B-52 (khoảng 18% toàn bộ số máy bay chiến lược đóng căn cứ trong không gian chiến trường này). Bộ chỉ huy quân sự Mỹ chính thức công nhận tổn thất 22 máy bay B-52. Ngay cả ở mức đó, với các dữ liệu rõ ràng bị hạ thấp, tổn thất của không quân chiến lược cũng cao hơn 12%.

Theo một số dữ liệu không đầy đủ, trong những ngày đó, tổn thất phi công của Mỹ là 100 người, trong đó có 14 chết, những người khác mất tích hoặc bị bắt làm tù binh. Kết quả tổn thất làm giảm đáng kể tinh thần chiến đấu của các phi hành đoàn, đặc biệt là của máy bay ném bom B-52. Người ta bắt đầu nhận thấy các trường hợp cố ý đánh hỏng thiết bị điện tử phức tạp của máy bay B-52 bởi các thành viên phi hành đoàn để làm gián đoạn các chuyến xuất kích làm nhiệm vụ, cũng như các trường hợp từ chối tham gia xuất kích chiến đấu của các phi công.

Xét tổng thể trong chiến dịch này bộ chỉ huy Mỹ đã thành công ở một mức độ nhất định trong việc giải quyết nhiệm vụ có tính chất quân sự. Các nhiệm vụ của một kế hoạch chính trị, được coi là các nhiệm vụ chính, và nhờ đức kiên trì, lòng dũng cảm của nhân dân Việt Nam, và các lực lượng vũ trang của họ, trước hết là của QC PK-KQ QĐNDVN, niềm tin không hề lay chuyển của toàn bộ nhân dân VNDCCH vào sự nghiệp chính nghĩa của mình, mà các nhiệm vụ của người Mỹ đã không giải quyết được, tất cả những điều này (và hàng loạt nguyên nhân khác) đã buộc bộ chỉ huy Mỹ phải chấm dứt chiến tranh đường không chống lại VNDCCH, và tìm cách giải quyết vấn đề hòa bình tại bàn đàm phán ở Paris.

BẢNG 2
(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/bang2-1.jpg)

(http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_02.jpg)
.......


Tiêu đề: Re: Hoạt động chiến đấu của QC PK-KQ QĐND Việt Nam tháng 12 năm 1972
Gửi bởi: qtdc trong 17 Tháng Tám, 2012, 10:35:50 am
(tiếp)

HOẠT ĐỘNG TÁC CHIẾN CỦA KHÔNG QUÂN CHIẾN LƯỢC

Không quân chiến lược trong chiến dịch "Linebacker-2", như đã đề cập ở trên, giữ vai trò lực lượng tấn công chính. Được điều động tham gia vào chiến dịch có tất cả 188 máy bay ném bom chiến lược B-52, đóng tại căn cứ không quân Andersen (đảo Guam) và Utapao (Thái Lan). Cường độ trung bình ngày đêm hoạt động tác chiến của máy bay B-52 như sau: toàn bộ chiến dịch hơn 50 phi vụ, còn trong một số ngày đêm riêng biệt cường độ đó lên đến 90.

Những nỗ lực chính của lực lượng không quân chiến lược hướng vào, trước hết, đánh phá các cơ sở công nghiệp quan trọng nằm trong khu vực thủ đô Hà Nội của VNDCCH, cảng biển chính Hải Phòng và khu vực công nghiệp chủ yếu Thái Nguyên. Chỉ trong khu vực thủ đô VNDCCH chúng đã thực hiện khoảng 85% các đợt tấn công.

Các đối tượng mà B-52 tấn công là các sân bay, nhà ga đường sắt, các đầu mối thông tin liên lạc, các tổ hợp kho tàng, nhà máy và xí nghiệp, các doanh trại quân đội, các kho vũ khí và các cơ sở bảo quản vũ khí, kho chứa nhiên liệu và các đối tượng có diện lớn khác.

Việc lựa chọn các đối tượng và khu vực này để các lực lượng không quân chiến lược hành động được xác định không hẳn chỉ là mục tiêu quân sự mà còn chủ yếu là mục tiêu chính trị của giới cầm quyền Mỹ.

Khi lập kế hoạch chiến dịch "Linebacker-2" với việc sử dụng ồ ạt máy bay B-52, bộ chỉ huy quân đội Mỹ đã tìm cách tổ chức và đảm bảo cho hành động quân sự của họ sao cho có thể đạt được độ tin cậy cao nhất. Bản chất của các đặc tính cơ bản trong việc sử dụng chiến đấu máy bay ném bom chiến lược B-52 trong quá trình chiến dịch là như sau:
- tập trung lực lượng trong các đòn tấn công;
- điều động một lực lượng đáng kể không quân chiến thuật để đảm bảo tác chiến cho các đợt tấn công của máy bay B-52;
- lựa chọn kỹ càng các đối tượng và thời gian tung ra các đợt tấn công, cũng như các tuyến đường bay tới các đối tượng;
- sử dụng trên quy mô lớn các phương tiện chiến tranh điện tử.

Việc tập trung lực lượng khi tung ra đòn tấn công vào các đối tượng trên lãnh thổ VNDCCH trong chến dịch được quyết định bởi sự cần thiết phải đạt được các mục tiêu chính trị-quân sự quan trọng trong thời gian ngắn nhất có thể. Điểm rất đặc trưng là cho đến trước tháng 12 năm 1972, một phần lớn các cuộc tấn công vào các mục tiêu của VNDCCH thực hiện chỉ bởi các máy bay B-52 riêng lẻ hoặc các tốp nhỏ hai hoặc ba chiếc, còn tấn công ồ ạt bằng lực lượng không quân chiến lược chỉ được tiến hành ở miền Nam Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia, nơi mà bộ chỉ huy quân sự Mỹ cho điều đó là cần thiết để phá vỡ sự chuẩn bị và thực hiện các chiến dịch tấn công chủ yếu của các lực lượng quân giải phóng.

Trong những ngày đầu chiến dịch, trong các cuộc không kích ồ ạt xuống các mục tiêu của VNDCCH, các tốp máy bay ném bom tấn công gồm 15-24 máy bay. Đồng thời, trong thời gian một đêm không quân chiến lược tiến hành 2-3 đợt tấn công trong khoảng thời gian từ 1-3 giờ sáng. Cuộc không kích ồ ạt  đầu tiên của máy bay B-52 xuống các tỉnh trung tâm VNDCCH được thực hiện vào ngày 18 tháng 12. Tham dự trận đánh này có hơn 60 máy bay, trong đó có 21 B-52 và 40 F-4 và F-105 thuộc các tốp yểm trợ tác chiến. Những nỗ lực chính nhằm vào việc vô hiệu hóa các sân bay chủ chốt mà không quân tiêm kích QĐNDVN đặt căn cứ. Sau đó, trong đêm còn diễn ra 2 cuộc tấn công quy mô lớn nữa vào khu vực thủ đô Hà Nội.

Trong các cuộc tấn công ở giai đoạn cuối cùng của chiến dịch, số lượng máy bay trong các tốp tấn công tăng lên đến 60-70 chiếc, rõ ràng có thể được giải thích là do bộ chỉ huy Mỹ muốn tăng cường tác động tâm lý lên nhân dân nước VNDCCH.

Tất cả các cuộc tấn công vào Hà Nội của không quân chiến lược chỉ diễn ra vào ban đêm. Việc lựa chọn thời gian này trong một ngày đêm được xác định bởi tính chất độc lập của hiệu quả giữa các đợt ném bom không kích của máy bay B-52 với các điều kiện khí tượng và chiếu sáng các đối tượng bị tấn công, cũng như sự hiện diện của các lực lượng chủ yếu của không quân tiêm kích QĐNDVN trong khu vực hoạt động của các máy bay B-52.

Như đã biết, năm 1972 được đặc trưng bởi tinh chất tích cực trong hoạt động tác chiến của KQTK QĐNDVN trong điều kiện ban ngày. Nếu trước khi bắt đầu năm 1972 số máy bay Mỹ bị KQTK QĐNDVN bắn rơi trên bầu trời miền Bắc Việt Nam chỉ chiếm 7,6% tổng số máy bay Mỹ bị hạ, thì trong năm 1972 các máy bay tiêm kích Bắc Việt Nam đã thực hiện hơn 800 lần xuất kích chiến đấu và bắn hạ gần 90 máy bay địch, con số đó chiếm 12% tồn thất của không quân Mỹ trong giai đoạn chiến tranh này tại VNDCCH. Trong một số tháng nói riêng, tổn thất của không quân Mỹ do KQTK QĐNDVN gây ra lên đến 20 máy bay hoặc nhiều hơn nữa. Tính đến điều này, cũng như việc huấn luyện tác chiến ban đêm kém của các kíp bay KQTK QĐNDVN, đặc biệt là trong điều kiện thời tiết bất lợi và các yếu tố khác, bộ chỉ huy Mỹ đã lên kế hoạch cho tất cả các cuộc không kích quy mô lớn có sự tham gia của các máy bay ném bom chiến lược chỉ tiến hành vào ban đêm.

Đặc điểm thứ hai của việc sử dụng chiến đấu các máy bay ném bom chiến lược trong chiến dịch là được cân nhắc và vạch kế hoạch kỹ lưỡng,  tổ chức tốt việc đảm bảo tác chiến cho các máy bay ném bom chiến lược bằng lực lượng không quân chiến thuật.

Đội hình chiến đấu của không quân trong các trận không kích quy mô lớn được thể hiện trong sơ đồ 1. Nó gồm các tốp B-52 không kích, các tốp gây nhiễu thụ động và phong tỏa các sân bay, các tốp phát hiện và chế áp vũ khí phòng không và các tốp trực tiếp bảo vệ cho các máy bay B-52 trước các máy bay tiêm kích Việt Nam.

SƠ ĐỒ 1
(http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_sx1.jpg)
Ghi chú cho sơ đồ 1: Đội hình tác chiến của không quân Mỹ trong các cuộc không kích ồ ạt.
a(а) - Đội hình tác chiến trên mặt bằng; b(б) – Phân bố máy bay theo chiều cao: các tốp B-52 có nhiệm vụ ném bom tấn công, tốp tiêm kích bảo vệ trực tiếp (16-20 F-4), tốp gây nhiễu thụ động và phong tỏa sân bay (12-20 F-4), tốp phát hiện và chế áp phương tiện phòng không (6-8 F-105); v(в) – Đội hình tác chiến của nhóm B-52 làm nhiệm vụ ném bom.


Đội hình tác chiến của các máy bay B-52 khi tấn công thường tạo thành "phi đội hàng dọc - колонны эскадрилий" (2-7). Gián cách giữa chúng là 5-7 phút bay.
Mỗi nhóm công kích (phi đội) thực hành đường bay theo trình tự "biên đội hàng dọc - колонна отрядов" một cách nghiêm ngặt (2-3 biên đội trong một hàng dọc), gián cách giữa chúng đạt 2-3 phút bay. Biên đội bay theo đội hình "xếp hàng dọc - колонна самолетов", gián cách giữa chúng - 1-2 dặm (1.800-3.600 m). Mỗi chiếc bay kế tiếp bay cao hơn chiếc bay trước 200-500 m.

Biên đội (tốp) là đơn vị hỏa lực-chiến thuật cơ bản thực hành tấn công, theo quy định, chỉ đánh vào một mục tiêu, vì vậy đội hình nói trên được duy trì rất ổn định, ngay cả trong các khu vực TLPK hoạt động. Việc duy trì đội hình tác chiến theo các tham số trên được đảm bảo bằng đường bay của các máy bay B-52 trên suốt hành trình, kể cả trên lãnh thổ VNDCCH, cùng với sự dẫn đường bằng đèn hiệu.

Theo quan điểm của bộ chỉ huy Mỹ, việc sắp xếp đội hình chiến đấu tổng thể như thế khi thực hành các đợt tấn công bằng máy bay ném bom chiến lược B-52 với sự yểm trợ tác chiến được tổ chức tốt sẽ cho phép đạt được hiệu quả lớn nhất và giảm thiểu tối đa thiệt hại do vũ khí PK QĐNDVN gây ra.

Số lượng máy bay được điều động vào thành phần các nhóm yểm trợ tác chiến, thường chiếm 60-70% tổng số máy bay tham gia đợt không kích. Không quân chiến thuật, khi làm nhiệm vụ yểm trợ cuộc không kích của các máy bay ném bom chiến lược, đặc biệt là khi tấn công vào các thành phố Hà Nội, Hải Phòng và các đối tượng ở vùng trung tâm VNDCCH, đã thực hiện bảo vệ trực tiếp cho đội hình tác chiến của máy bay B-52 trong suốt thời gian thời gian các máy bay ném bom chiến lược ở trên không phận VNDCCH. Để làm được điều này đã điều động các máy bay tiêm kích F-4 và F-105, đóng căn cứ tại sân bay Udon và Ubon (Thái Lan). Chúng nhập nhóm với các tốp máy bay ném bom B-52 trên lãnh thổ Lào, gần thị trấn Sầm Nưa. Nhiệm vụ chính của các máy bay F-105 là xác định và chế áp phương tiện phòng không trên các tuyến đường bay của B-52 và trong khu vực đối tượng bị không kích.

Việc bảo vệ trực tiếp cho mỗi biên đội (tốp-отряд) máy bay B-52, theo quy định, được thực hiện bởi một biên đội (звено) tiêm kích F-4, trong đó, như thể hiện trên sơ đồ 1, biên đội tiêm kích bay với gián cách không lớn, bên cạnh đội hình tác chiến của các máy bay ném bom B-52.

Để phong tỏa các sân bay của LLKQ QĐNDVN đã sử dụng các tốp riêng từ 6-8 chiếc F-4, chiếm lĩnh khu vực sân bay khoảng 10-15 phút trước khi các máy bay B-52 xuất hiện trong khu vực không kích. Cũng các tốp tiêm kích này gây nhiễu thụ động trên các đường bay tiếp cận khu vực thả bom của nhóm các máy bay ném bom.

Đặc điểm nổi bật thứ ba của việc sử dụng chiến đấu lực lượng không quân chiến lược trong chiến dịch là sự lựa chọn kỹ lưỡng tuyến đường bay của các máy bay B-52, hướng đến các đối tượng và tiến hành công kích. Đặc biệt đáng chú ý là các tuyến đường bay của máy bay ném bom B-52 từ các căn cứ không quân Utapao và Andersen.

Từ căn cứ KQ Andersen (đảo Guam) các máy bay B-52 cất cánh, mang theo trên khoang một tải trọng bom 9-10 tấn (27-29 quả bom trong thân máy bay, mỗi quả 340 kg). Chuyến bay tới các đối tượng tấn công tại VNDCCH được thực hiện qua khu vực tiếp nhiên liệu, mà theo lời khai của các phi công bị bắt, nằm về phía đông Philippines. Tại điểm giả định "Lima" (150-200 km về phía đông nam thành phố Đà-Nẵng) diễn ra sự tách đường bay. Sự lựa chọn các đường bay tiếp theo được xác định bằng hướng quy định đột phá qua hệ thống phòng không VNDCCH (phía tây và tây nam hoặc phía đông nam). Để đột phá qua hệ thống PK VNDCCH từ các hướng tác chiến-chiến thuật tây nam và tây, đường bay từ điểm của "Lima" được dẫn về phía tây đến sông Cửu Long, tiếp tục lên phía bắc Lào, trong khu vực Sầm Nưa, từ đó – vào không phận VNDCCH, tới các thị xã Phú Thọ, Yên Bái hoặc Việt Trì (tùy thuộc vào đối tượng tấn công được chỉ định và việc chọn hướng công kích), sau đó đường bay hướng trực tiếp đến đối tượng của cuộc tấn công.

Trong hầu hết các trường hợp (90%), bước đột phá xuyên qua hệ thống phòng không thực hiện từ hướng tây và tây nam VNDCCH, các hướng này có một loạt lợi thế so với các hướng triển khai từ phía đông nam:
- đường bay tới các mục tiêu ngắn hơn (đặc biệt là từ căn cứ không quân Utapao);
- có các mốc định hướng, tạo điều kiện tiến tới đối tượng tấn công chính xác hơn vào ban đêm;
- đường bay ngắn hơn và thuận tiện hơn cho các máy bay chiến thuật, yểm trợ trực tiếp cho các máy bay ném bom B-52;
- đường thoát có thời gian ngắn nhất ra khu vực Vịnh Bắc Bộ cho các máy bay B-52 bị thương, nơi đó đã có các tàu chiến và các máy bay trực thăng thuộc nhóm cứu hộ làm nhiệm vụ trực chiến.

Sau khi hoàn thành ném bom, các máy bay B-52 bay về hoặc sang Lào (phần lớn các trường hợp), hoặc bay ra phía Vịnh Bắc Bộ, rồi trở về căn cứ của chúng, hoặc hạ cánh tại các sân bay khác nơi đặt căn cứ của lực lượng không quân chiến lược. Khi trở về căn cứ không quân Andersen máy bay B-52 phải có dự trữ nhiên liệu còn lại sau khi thả bom là 56-65 tấn, trường hợp cần tiếp nhiên liệu trên không thì máy bay bay ở độ cao 7000-7500 m với tốc độ 680-720 km / h. Trong tiến trình một lần tiếp nhiên liệu, máy bay ném bom B-52 tiếp nhận vào khoang chứa trung bình 20 tấn nhiên liệu. Sử dụng làm phương tiện tiếp dầu là máy bay KC-135.

Khi cất cánh từ căn cứ không quân U-Tapao (Thái Lan) máy bay B-52 theo quy định có tải trọng bom là 19,7 tấn (24 quả bom dưới cánh 42 quả trong thân máy bay) hoặc 25,1 tấn (24 quả bom dưới cánh và 75 quả trong thân máy bay).

Từ căn cứ KQ U-Tapao tới VNDCCH, các máy bay ném bom B-52 bay (khi chọn hướng đột phá qua hệ thống PK là từ hướng đông nam) qua Korat, Huế, Vịnh Bắc Bộ, đảo Cát Bà, tới đối tượng tấn công hoặc qua Viên Chăn và Sầm Nưa (khi chọn các hướng đột phá hệ thống PK từ phía tây và tây nam).

Thời gian bay từ khi cất cánh đến khi hạ cánh là 12-13 giờ nếu xuất phát từ căn cứ KQ Andersen hoặc 4-5 giờ - nếu xuất phát từ căn cứ KQ U-Tapao. Trên tuyến đường bay B-52 có tốc độ trung bình 840-870 km / h và chiều cao bay từ 10 nghìn -11 nghìn m. Cách đối tượng tấn công 60-70 km tốp B-52 đi hướng công kích, độ cao bay và tốc độ bay vẫn duy trì khong đổi cho đến khi thả bom. Sự đổi hướng được thực hiện ngay lập tức sau khi ném bom với vòng ngoặt không ít hơn 40-60 °.

Tùy thuộc vào tính chất của đối tượng và xác suất đánh trúng quy định mà đòn tấn công được thực hiện bởi một hoặc một số tốp B-52. Trong mọi trường hợp, áp dụng phương pháp ném bom "theo diện" từ đường bay bằng. Độ cao ném bom thuận lợi nhất được coi là độ cao từ 10400-10600 m so với mực nước biển. Dải oanh tạc của một máy bay B-52 (tải bom 20-25 tấn) có độ dài 700-1600 m với chiều rộng từ 150-100 m. Khoảng cách giữa các hố bom như là kết quả của sự phân tán tự nhiên và nhịp độ thả bom dao động trong giới hạn từ 10-50 m. Việc ném bom được mỗi máy bay thực hiện riêng biệt, sử dụng radar ngắm bắn trên máy bay. Điều này cho phép khi biên đội B-52 tấn công vào đối tượng nào thì hình dạng và kích thước dải oanh tạc chung đã được lên kế hoạch từ trước.
.......


Tiêu đề: Re: Hoạt động chiến đấu của QC PK-KQ QĐND Việt Nam tháng 12 năm 1972
Gửi bởi: qtdc trong 17 Tháng Tám, 2012, 04:03:45 pm
(tiếp)

Đặc điểm nổi bật thứ tư thuộc sự yểm trợ hoạt động tác chiến của không quân chiến lược là việc sử dụng trên quy mô lớn các phương tiện chiến tranh điện tử. Vấn đề này được thảo luận cụ thể dưới đây. Chúng ta chỉ cần lưu ý rằng bộ chỉ huy Mỹ giành sự chú ý đặc biệt đến hình thức yểm trợ này, vì nếu như các máy bay ném bom chiến lược mà không sử dụng tổng hợp toàn bộ kho vũ khí tác chiến điện tử thì chúng sẽ bị bộ đội TLPK tiêu diệt khá dễ dàng, bởi lẽ các máy bay B-52 trên hướng công kích là một mục tiêu kích thước lớn, di chuyển tương đối chậm, không có khả năng cơ động chống lại đạn tên lửa phòng không.

Máy bay ném bom chiến lược cũng đã được sử dụng để thực hiện các trận tấn công riêng (một hoặc hai tốp) vào các đối tượng nằm ở phía nam vĩ tuyến 20 và có hệ thống phòng không yếu. Những đối tượng này, trước hết là các cụm quân đội và trang thiết bị dồn lại tại các bến phà, đang trên đường hành quân, trong các khu vực tập trung quân. Thông thường, các phi vụ thực hiện các cuộc tấn công này xuất phát từ căn cứ không quân U-Tapao. Việc ném bom được thực hiện trong đường bay bằng ở độ cao 10.000-11.000 m. Yểm trợ tấn công trong trường hợp này thực hiện chỉ thông qua việc yểm trợ trực tiếp chomáy bay ném bom B-52 bởi các máy bay tiêm kích F-4 đi kèm trên toàn bộ tuyến đường bay và sự gây nhiễu chủ động của máy bay EB-66 từ các khu vực thuộc lãnh thổ Lào và Vịnh Bắc Bộ.

Chúng ta hãy xem xét chi tiết chiến thuật hoạt động của đối phương qua ví dụ về hai cuộc tấn công quy mô lớn được tiến hành vào ngày 19 tháng 12, và 26 tháng 12 năm 1972.

Cuộc tấn công quy mô lớn của không quân chiến lược vào thành phố Hà Nội ngày 19 tháng 12 năm 1972 được thể hiện trong sơ đồ 2.

(http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_sx2.jpg)
Sơ đồ 2: Cuộc không kích quy mô lớn của không quân chiến lược vào thành phố Hà Nội ngày 19.12.1972.

Trong các cuộc tấn công ngày 19 Tháng 12 này có sự tham gia trực tiếp của 66 máy bay (24 máy bay ném bom chiến lược B-52 trong 3 nhóm không kích (phi đội), 16 máy bay tiêm kích-ném bom F-4 – nhóm gây nhiễu thụ động và phong tỏa các sân bay, 6 tiêm kích-ném bom F-105 – nhóm phát hiện và chế áp phòng không và 20 máy bay tiêm kích-ném bom F-4 - nhóm yểm trợ trực tiếp cho các máy bay thuộc các nhóm không kích). Con số này không bao gồm các máy bay, tham gia công tác bảo đảm các cuộc không kích, nhưng ở bên ngoài lãnh thổ VNDCCH. Chúng bao gồm sở chỉ huy trên không đặt trên  máy bay EC-135, 4 máy bay đối kháng vô tuyến điện tử (2 EB-66 và 2 EA-6B), máy bay cảnh giới tầm xa loại EC-121H, và các máy bay bảo vệ - tất cả có 20-22 máy bay.

Cuộc không kích bắt đầu vào lúc 4:32 giờ và kéo dài 62 phút (độ dài của cuộc không kích được tính thời gian từ thời điểm chiếc máy bay đầu tiên của nhóm tấn công vượt qua biên giới quốc gia VNDCCH cho đến thời điểm chiếc máy bay B-52 cuối cùng ra khỏi vùng trời VNDCCH).

Lúc 4:12 giờ đại đội radar tiền tiêu đã phát hiện ra tốp đầu tiên trong nhóm các máy bay B-52 xung kích từ tầm xa 350 km ở độ cao 10 km. Sau đó, tốp này cũng bị phát hiện bởi các phân đội binh chủng radar khác. Hồi 4:32 giờ tốp này vượt qua biên giới trên không phận VNDCCH, hướng bay tới thành phố Việt Trì, trước khi đến đó, tốp này rẽ ngoặt và hồi 4:42 giờ tiến hành ném bom các đối tượng ở khu vực tây nam Hà Nội. Hai phút sau, tốp thứ hai và 4 phút sau – tốp thứ ba của nhóm xung kích đã ném bom các đối tượng của cùng khu vực đó của thành phố Hà Nội.

Nhóm xung kích thứ hai và thứ ba thực hiện đột phá qua hệ thống phòng không thành phố Hà Nội từ hướng tây bắc ở độ cao từ 10.000 - 11.000 m. Cuộc không kích trút xuống phần phía tây Hà Nội và sân bay GiaLâm.

Tất cả các máy bay ném bom chiến lược thực hiện đối kháng vô tuyến điện tử trước các phương tiện phòng không bằng cách gây nhiễu chủ động và thụ động.

Hồi 4:20 giờ bộ đội radar phát hiện được trên lãnh thổ Lào một nhóm máy bay ở độ cao 7000 m bay theo hướng Việt Trì. Nhóm bao gồm 4 biên đội tiêm kích-ném bom F-4 trong đội hình "biên đội hàng dọc" với giãn cách thời gian giữa các biên đội - 2.000-4.000 m. Trong khu vực Việt Trì mỗi biên đội chuyển đội hình sang "hàng ngang" (giãn cách - 600-800 m) và tiến hành gây nhiễu thụ động trên các đường tiếp cận phía tây và tây bắc vào thành phố Hà Nội. Sau đó, các biên đội phong tỏa các sân bay Kép, Nội Bài, Gia Lâm, Hòa Lạc và Yên Bái. Việc phong tỏa được thực hiện bởi các biên đội và các cặp tại cao độ 2000 và 6000 m. Đường bay của các cặp trong biên đội được thực hiện theo vòng kín bằng động tác cơ động "hình số tám" dọc theo đường băng. Đường bay cơ động này được tạo ra để các cặp đôi luôn ở hai đầu đối diện của sân bay. Sau khi các máy bay B-52 kết thúc ném bom được 3-5 phút biên đội F-4 sẽ tự mình thoát sang phía Lào.

Bay phía trước tốp B-52 đi đầu (với giãn cách thời gian 1 phút) ở độ cao 4000 m là cặp đầu tiên tiêm kích-bom F-105 thuộc nhóm phát hiện và chế áp hệ thống phòng không. Được trang bị hai tên lửa chống radar loại "Shrike" và bom, máy bay F-105 trước hết phải chế áp các tiểu đoàn TLPK, các trận địa PPK và các trạm radar của binh chủng radar. Trong khu vực đối tượng bị tấn công một cặp tách ra từ nhóm máy bay xung kích và bắt đầu quần vòng tuần tra tại khu vực cách Hà Nội 20-30 km về phía đông bắc. Cặp F-105 thứ hai bay về phía trước phi đội B-52 thứ hai 2 phút với cùng nhiệm vụ như cặp đầu tiên. Khu vực nó quần vòng nằm ở phía tây Hà Nội 30-40 km. Cặp F-105 cuối cùng, cặp thứ ba, cặp khóa đuôi, bay ở độ cao 4500-5000 m và bay theo nhóm các máy bay ném bom với giãn cách thời gian 1 phút. Cặp này thực hiện nhiệm vụ tương tự như cặp đầu tiên. Sự khác biệt chỉ là trong thực tế nó không bay quần vòng, mà bay theo cùng nhóm xung kích. Sau khi máy bay B-52 hoàn thành nhiệm vụ  5-7 phút, các cặp F-105 sẽ tự bay về sân bay căn cứ của chúng, dĩ nhiên sau khi đã nhận được tín hiệu đặc biệt.

Suốt đường bay trên lãnh thổ VNDCCH, các máy bay ném bom chiến lược được đặc biệt bảo vệ bởi các máy bay tiêm kích F-4, gồm các nhóm có nhiệm vụ trực tiếp bảo vệ chúng chống các máy bay tiêm kích QĐNDVN. Nó bay thấp hơn 1000-2000 m đối với nhóm xung kích. Trong suốt chuyến bay trên lãnh thổ VNDCCH, các máy bay F-4 bay cơ động theo hình "rắn lượn", và trong vùng không kích của máy bay B-52, chúng bay tách ra khỏi đội hình 15-20 km. Nếu tìm thấy các tiểu đoàn TLPK, trạm radar, SCH, chúng sẽ ném bom oanh tạc các mục tiêu ấy, sau đó quay về chỗ của mình trong đội hình tổng thể.

Thông tin liên lạc vô tuyến hai chiều giữa SCH trên không với các máy bay B-52, cũng như với F-4 và F-105 tham gia trận không kích được thiết lập trên đường tiếp cận của chúng đến khu vực tập hợp đội hình. Tiếp theo, chỉ duy trì liên lạc vô tuyến điện một chiều của SCH trên không với các phi hành đoàn máy bay B-52 cho đến khi hoàn thành nhiệm vụ và thoát ra khỏi không phận VNDCCH. Các máy bay tiêm kích bảo vệ trực tiếp để định hướng cho mình sử dụng các đèn dẫn đường trên các máy bay ném bom chiến lược.

Ở giai đoạn cuối cùng của chiến dịch đặc trưng nhất là cuộc không kích quy mô lớn ngày 26 tháng 12 (sơ đồ 3).

(http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_sx3.jpg)
Sơ đồ 3: Cuộc không kích quy mô lớn của không quân chiến lược vào thành phố Hà Nội và Hải Phòng ngày 26.12.1972.

Tham gia cuộc không kích là 147 máy bay, trong đó có 63 máy bay ném bom chiến lược B-52, 54 máy bay tiêm kích-ném bom F-4 – thuộc các tốp bảo vệ trực tiếp, 20 F-4 – các tốp gây nhiễu thụ động và khống chế các sân bay, 10 tiêm kích-ném bom F-105 và A -7 – các tốp phát hiện và chế áp hệ thống phòng không. Ngoài các máy bay trên, tham gia làm nhiệm vụ đảm bảo cuộc không kích, nhưng không thâm nhập vùng trời VNDCCH còn có 5 máy bay đối kháng VTĐT EB-66 (EA-6B), 2 máy bay tuần tra cảnh giới tầm xa loại EC-121H, 1 SCH trên không đặt trên máy bay EC-135 và khoảng 20-24 F-4 hộ tống bảo vệ.

Như trong các cuộc tấn công trước, binh chủng radar QĐNDVN phát hiện tốp B-52 dẫn đầu trên không phận Lào từ khoảng cách 350 km, góc phương vị 190 ° hồi 21:37 giờ. Sau đó trên cùng hướng này đã phát hiện thêm 11 tốp máy bay ném bom chiến lược, và hồi 21:46 giờ phát hiện các máy bay B-52 đang tiến hành công kích từ phía vịnh Bắc Bộ. Tiếp theo, các phân đội radar còn trình ra theo đường bay một số máy bay ném bom chiến lược B-52 đang đi qua trên không phận vịnh Bắc Bộ.

Trong cuộc không kích này, những đòn tấn công đồng thời được kẻ địch trút xuống các địa điểm sau: các huyện và nội thành thành phố Hà Nội (36 B-52), các huyện và nội thành thành phố Hải Phòng (15 B-52), khu vực thành phố Thái Nguyên (12 B-52). Cuộc tập kích đường không kéo dài từ 22:15 – 23:23 giờ, tức là 69 phút.

Bước đột phá hệ thống phòng không thành phố Hà Nội diễn ra từ các hướng tây, tây bắc và hướng đông nam. Đợt không kích đầu tiên xảy ra tại khu vực sân bay quốc tế Gia Lâm hồi 22:25 giờ, và trận cuối cùng - khu vực nhà ga đường sắt Yên Viên – 22:50 giờ. Ngoài ra, nhiều trận không kích dội xuống các khu vực phía tây, phía nam, phía đông nam thành phố và một phần khu trung tâm (phố Khâm Thiêm).

Hầu như cùng một lúc (22:35-22:49 giờ), 5 tốp B-52 tấn công thành phố Hải Phòng (nhà máy đóng tàu, nhà máy xi măng, kho nhiên liệu cũ). Bước đột phá hệ thống phòng không tiến hành từ phía nam ở độ cao 10.000-11.000 m, trên một khu vực tương đối hẹp (chừng 10-15 km).

Từ 23:07-23:17 giờ 4 tốp B-52 tấn công nhà máy liên hợp luyện gang thép và nhà máy điện trong khu vực thành phố Thái Nguyên.

Hoạt động của các máy bay yểm trợ tác chiến khi thực hiện các nhiệm vụ của chúng, thể hiện trong sơ đồ 3, không có sự khác biệt so với hoạt động trong các cuộc không kích trước.

So sánh tính chất hoạt động của không quân Mỹ trong hai cuộc tấn công đường không được xem xét trên đây cho thấy rằng chiến thuật của nó có các tính năng khuôn mẫu, điều đó cho phép Quân chủng PKKQ phát hiện đối phương kịp thời và tiến hành các hoạt động chiến đấu của mình một cách thành công.

Khi đánh giá kết quả việc sử dụng quy mô lớn không quân chiến lược Mỹ trong chiến dịch "Linebacker-2" nên lưu ý rằng việc sử dụng máy bay B-52 làm lực lượng tấn công chính đã đảm bảo cho bộ chỉ huy Mỹ ở một mức độ nhất định tìm ra cách giải quyết một phần các nhiệm vụ của một kế hoạch quân sự. Kết quả của các vụ ném bom dã man đã phá hủy hàng chục công trình ở các khu vực của Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, làm đổ máu hàng ngàn người dân lương thiện yêu hòa bình ở các thị trấn và làng mạc, hàng ngàn người đã bị giết và bị thương. Theo một số dữ liệu còn xa mới đầy đủ, tại Hà Nội và các vùng ngoại ô của nó trong thời gian trên  bom đạn Mỹ đã giết chết hơn 1.300 người, làm bị thương khoảng 2.800 người (chủ yếu là phụ nữ, người già, trẻ em), phá hủy hơn 8.000 và làm hư hại nghiêm trọng hơn 9.000 nóc nhà. Tại Hải Phòng, số người chết và bị thương tương ứng lên tới 305 và 882 người.

HOẠT ĐỘNG TÁC CHIẾN CỦA KHÔNG QUÂN CHIẾN THUẬT VÀ KHÔNG QUÂN HẢI QUÂN TRÊN TÀU SÂN BAY

Không quân chiến thuật và không quân hải quân trên tàu sân bay trong chiến dịch đã diễn ra nói trên thực hành giải quyết chủ yếu là các nhiệm vụ bảo đảm chiến đấu: 45% số phi vụ được chúng thực hiện là để yểm trợ cho các hoạt động tác chiến của máy bay ném bom chiến lược, và 14% số phi vụ để đảm bảo hoạt động cho các nhóm tấn công của không quân chiến thuật và không quân hải quân trên tàu sân bay.

Đồng thời phần lớn lực lượng không quân chiến thuật và không quân hải quân trên tàu sân bay đã được sử dụng để tấn công ồ ạt trên quy mô lớn vào các mục tiêu khác nhau ở miền Bắc Việt Nam.

Các khả năng tác chiến và thủ đoạn chiến thuật của không quân chiến thuật và không quân hải quân trên tàu sân bay được xác định bởi tính chất của đối tượng cần oanh tạc, hệ thống phòng không bảo vệ mục tiêu, nhiệm vụ chiến đấu đề ra và lực lượng huy động thực hiện. Bộ chỉ huy Mỹ tin rằng việc sử dụng nó một cách tập trung sẽ tăng tối đa mức độ phá hủy các đối tượng mục tiêu với sự mất mát tối thiểu về phía các lực lượng của họ.

(http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_pic30.jpg)
© US AIR FORCE

Nguyên tắc này là cơ sở cho việc lập kế hoạch chiến dịch "Linebacker-2", ở đây, cùng với việc áp dụng các cuộc không kích tạp trung quy mô lớn bằng máy bay ném bom chiến lược B-52, còn dự định tiến hành hàng loạt cuộc không kích ồ ạt quy mô lớn của không quân chiến thuật và không quân hải quân trên tàu sân bay một cách riêng biệt, từng lực lượng trong trường hợp này cũng như phối hợp các lực lượng của 2 bên trong trường hợp kia.

Tổng cộng, trong quá trình chiến dịch bằng lực lượng của không quân chiến thuật và không quân hải quân trên tàu sân bay đã thực hiện 16 cuộc không kích quy mô lớn (303 phi vụ xuất kích), trong đó không quân chiến thuật – 9 cuộc không kích, không quân hải quân trên tàu sân bay - 6 cuộc không kích và phối hợp giữa không quân chiến thuật và không quân hải quân trên tàu sân bay – 1 cuộc không kích.

Các cuộc không kích tập trung quy mô lớn, theo quy định, thường được tiến hành trong một khu vực mà người Mỹ chọn được nhiều đối tượng cần phá hủy. Điều này cho phép họ tập trung sức mạnh của các nhóm tấn công vào các đối tượng chủ yếu và tạo ra các điều kiện thuận lợi nhất cho hoạt động của các nhóm này.

Chẳng hạn, 12 trong 16 cuộc không kích tập trung quy mô lớn được thực hiện trên các đối tượng nằm trong cùng một khu vực, trong đó sử dụng lực lượng không quân chiến thuật đối với thành phố Hà Nội – 5 cuộc không kích, thành phố Thái Nguyên - 2 và thành phố Việt Trì - 1 cuộc không kích, còn sử dụng không quân hải quân trên tàu sân bay đối với thành phố Hải Phòng - 4 cuộc không kích.
.......


Tiêu đề: Re: Hoạt động chiến đấu của QC PK-KQ QĐND Việt Nam tháng 12 năm 1972
Gửi bởi: qtdc trong 17 Tháng Tám, 2012, 08:50:08 pm
(tiếp)

Trong các cuộc không kích quy mô lớn của không quân chiến thuật vào thành phố Hà Nội, nhiều khu dân cư, ga đầu mối trung tâm đường sắt, nhà máy nhiệt điện, trường đại học bách khoa, sân bay Bạch Mai, nhà máy liên hợp dệt may, cảng đường sông Phà Đen, ga đường sắt Yên Viên và Đông Anh, các kho tàng tại Hà Đông và các trận địa PPK đã bị tấn công. Trong các cuộc không kích quy mô lớn vào thành phố Hải Phòng, không quân hải quân trên tàu sân bay đã ném bom các bến cảng, nhà máy điện, kho chứa nhiên liệu, khu nhà ở, các vị trí PPK và các mục tiêu khác.

Bốn cuộc không kích quy mô lớn đã được tiến hành đồng thời ở các vùng khác nhau của đất nước. Một trong số đó được thực hiện phối hợp bởi không quân chiến thuật và không quân hải quân trên tàu sân bay, ba cuộc không kích khác – chỉ bằng lực lượng không quân chiến thuật.

Một đặc tính nổi bật của các cuộc không kích tập trung quy mô lớn bằng lực lượng không quân chiến thuật là chúng diễn ra vào ban ngày, thường vào buổi chiều. Điều này trước hết do yêu cầu phải có một tầm nhìn mắt thường tốt để sử dụng bom có điều khiển chống lại các mục tiêu kích thước nhỏ.

KHÔNG QUÂN HẢI QUÂN TRÊN TÀU SÂN BAY tiến hành các cuộc không kích tập trung quy mô lớn vào ban đêm trong phần lớn trường hợp (80%) và theo quy định, tiến hành đồng thời với lực lượng không quân chiến lược, nhưng trên các khu vực khác nhau.

Việc tổ chức các cuộc không kích tập trung ồ ạt bằng không quân chiến thuật và không quân hải quân trên tàu sân bay, thủ đoạn chiến thuật trong hoạt động tác chiến của các máy bay thuộc các nhóm tấn công và nhóm yểm trợ tấn công trong thời kỳ diễn ra chiến dịch đường không này có nhiều điểm chung. Ta hãy xem xét các tính chất đặc trưng của chúng qua các ví dụ về cuộc không kích ồ ạt quy mô lớn thực hiện phối hợp giữa không quân chiến thuật và không quân hải quân trên tàu sân bay ngày 27 tháng 12 năm 1972 vào các thành phố Hà Nội và Hải Phòng (sơ đồ 4).

(http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_sx4.jpg)
Sơ đồ 4. Không kích quy mô lớn của không quân chến thuật và không quân hải quân trên tàu sân bay vào các thành phố Hà Nội và Hải Phòng ngày 27/12/1972.

Để tấn công các mục tiêu tại Hà Nội đã điều động 16 chiếc F-4, còn để tấn công các mục tiêu tại Hải Phòng - 24 máy bay A-6 và A-7. Hoạt động của các nhóm công kích được bảo đảm bởi các nhóm gây nhiễu thụ động và phong tỏa các sân bay gồm 20 chiếc F-4 (khi không kích vào thủ đô Hà Nội) và 8 F-4 và EA-6B (kh không kích thành phố Hải Phòng), cũng như các nhóm phát hiện và chế áp hệ thống phòng không (6 F-105 và 4 A-7 tương ứng). Ngoài ra, để hoạt động đối kháng vô tuyến điện tử còn sử dụng thêm 2 máy bay EB-66 và hai máy bay EA-6B.

Cuộc tấn công quy mô lớn vào Hà Nội bằng không quân chiến thuật thực hiện như sau.

Hồi 13:16 giờ các phân đội radar trực chiến phát hiện trên các màn hình chỉ thị các vệt sáng từ khu vực phía tây, cho biết bắt đầu có nhiếu chủ động. Sau 2 phút cũng khu vực màn hình sáng lên do nhiễu chủ động lại xuất hiện từ phía đông. Sự xuất hiện của nhiễu là một trong những dấu hiệu cho sự khởi đầu của một cuộc tấn công lớn bằng máy bay Mỹ vào các mục tiêu tại VNDCCH. Thật vậy, sau một vài phút bộ đội radar phát hiện một nhóm lớn máy bay trên không phận Lào, bay ở độ cao trung bình hướng vào lãnh thổ VNDCCH.

Hồi 13:30 giờ phát hiện nhiễu chủ động từ hướng tây nam. Gây nhễu là một bên đội máy bay F-4 bay theo đội hình "hàng ngang - фронт" gián cách giữa các máy bay khoảng 700-800 m ở độ cao 5000-5500 m. Nhiễu được thiết lập cách Hà Nội 40-45 km và kéo dài 1-2 phút. Sau 2 phút biên đội F-4 thứ hai bắt đầu gây nhiễu, còn sau 3 phút đã phát hiện nhiễu do biên đội F-4 thứ ba tạo ra. Với khoảng thời gian giãn cách từ 2-3 phút về phía đông-nam quan sát được có nhiễu thụ động gây ra bởi 2 biên đội khác.

Tổng cộng trong khu vực Hà Nội từ hướng tây-nam và đông-nam ghi nhận được năm dải nhiễu, mà dần dần sáp nhập vào thành một đám mây duy nhất. Sau đó, các máy bay thuộc các tốp gây nhiễu đã phong tỏa các sân bay Nội Bài, Kép, Gia Lâm, Hòa Lạc, Yên Bái.

Một cặp F-105 thuộc thành phần các nhóm phát hiện và chế áp phòng không, bay ở độ cao 3000-4000 m, vượt trước thời gian 1-2 phút so với biên đội cường kích F-4.

(http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_pic31.jpg)
© US AIR FORCE

Trong khu vực Hà Nội, cặp đôi này vượt khỏi nhóm công kích đi vào khu vực quần vòng ở vị trí cách thành phố 20-30 km về phía đông bắc. Cặp thứ hai của nhóm này bay theo cùng tuyến bay như cặp đầu tiên, nhưng với giãn cách thời gian 5-6 phút so với biên đội công kích thứ hai. Khi cuộc công kích diễn ra cặp F-105 này quần vòng cách thành phố 20-30 km về phía tây nam. Cặp F-105 thứ ba bay ở cùng độ cao, vượt sớm biên đội công kích thứ ba 1 phút. Khu vực quần vòng của nó ở vị trí 20-30 km về phía đông nam Hà Nội.

Biên đội F-4 của nhóm bảo vệ trực tiếp, bay theo tuyến trùng với biên đội công kích thứ nhất, tiến khỏi khu vực công kích 15-20 km về phía bắc thành phố và thực hiện nhiệm vụ bảo vệ tất cả các nhóm công kích trước sự tấn công của máy bay tiêm kích Việt Nam.

Dưới màn che của nhiễu chủ động và thụ động biên đội thứ nhất của nhóm công kích từ 13:38-13:42 giờ đã thực hành tấn công vào các mục tiêu ở khu tây nam Hà Nội. Chuyến bay của biên đội diễn ra ở độ cao 4500-6500 m trong đội hình “một cặp xếp hàng dọc" theo đường bay khép kín. Mỗi máy bay lần lượt vào ném bom ở độ cao 1500-2000 m.

Sau 4-5 phút khi biên đội thứ nhất của nhóm công kích đã kết thúc hoạt động, biên đội F-4 thứ hai bước vào công kích.

Các mục tiêu ở vùng ngoại ô phía nam Hà Nội đã bị ném bom liên tiếp bởi các biên đội F-4 thứ ba và thứ tư, với giãn cách thời gian là 8 phút.

Việc đột phá qua hệ thống phòng không từ hướng đông nam được thực hiện ở độ cao 4500-5500 m. Tất cả các máy bay của nhóm tấn công và nhóm yểm trợ trực tiếp đều thực hiện phóng nhiễu chủ động.

Đồng thời (từ 13:38-14:24 giờ), không quân hải quân trên tàu sân bay thực hiện không kích ồ ạt vào các đối tượng thuộc thành phố Hải Phòng. Biên đội máy bay EA-6B, bay theo hành trình ở độ cao 5000 m, thiết lập một dải nhiễu thụ động dài 25-30 km và rộng khoảng 3 km. Bay ở trên cao và ở phía trước biên đội trên là biên đội tiêm kích hạm F-4, bảo vệ các máy bay gây nhiễu trước các máy bay tiêm kích Việt Nam. Sau khi gây nhiễu biên đội máy bay EA-6B trở lại tàu sân bay của mình, và biên đội tiêm kích hạm phong tỏa các sân bay Kiến An và Cát Bi.

Các máy bay nhóm tấn công hợp thành các cặp và các biên đội từ các dải độ cao 300-400 m và 5000-6000 m thực hiện ném bom xuống các sân bay Kiến An và thành phố Hải Phòng (nhà máy sản phẩm bê tông, nhà ga xe lửa, khách sạn, khu dân cư trên các đường phố AnVĩnh, Tô Hiệu, Mê Linh, Trần Phú). Mỗi cặp (biên đội) thực hiện 3-4 lần tiến vào công kích mục tiêu từ các hướng khác nhau. Trong khi đó các máy bay còn lại thuộc nhóm tấn công đang ở trong khu vực bay chờ cách mục tiêu 40-50 km ở độ cao 5000-6000 m - bên ngoài khu vực hoạt động của tên lửa phòng không. Tổng thời gian có mặt của mỗi máy bay trong khu vực có hỏa lực tên lửa phòng không diễn ra không quá 5-10 phút. Trong hầu hết các trường hợp, đường bay tiếp cận khi tấn công mục tiêu thực hiện ở độ cao 500-700 m. Trong khu vực hoạt động của TLPK và PPK, các máy bay làm động tác "leo dốc - горку" đến độ cao 3000-4000 m. Đợt công kích vào mục tiêu được chỉ định thực hiện với thao tác bổ nhào ở góc 30-35 °, sau đó máy bay từ độ cao 1500-2000 m thoát ra phía biển.

Bay phía trước (với giãn cách thời gian khoảng 1,5-2 phút) nhóm tấn công đầu tiên ở độ cao từ 3000 đến 4000 m là một biên đội A-6A với nhiệm vụ chế áp phòng không. Trong khu vực mục tiêu cần tấn công biên đội được tách thành hai cặp, một trong số đó quần vòng cảnh giới về phía tây, cặp kia – tuần vòng phía đông thành phố ở độ cao 4000-5000 m.

Ngoài các máy bay nhóm yểm trợ, trực tiếp tham gia vào cuộc tấn công, trên không phận Lào và Vịnh Bắc Bộ còn có các máy bay đối kháng vô tuyến điện tử, cảnh báo sớm trên không, trinh sát điện tử và sở chỉ huy trên không tuần vòng, chúng làm công tác đảm bảo cho cuộc không kích.

Như vậy, từ phía Lào có hai máy bay EB-66 ở độ cao 6000-7000 m tiến hành gây nhiễu chủ động, che chắn cho các nhóm máy bay tấn công vào khu vực thủ đô Hà Nội. Hai máy bay đối kháng VTĐT (REP-РЭП) loại EA-6B (hoặc EKA-3B) từ phía Vịnh Bắc Bộ dùng màn nhiễu chủ động che chở cho các máy bay thuộc nhóm tấn công vào khu vực thành phố Hải Phòng. Ba máy bay AWACS (E-2A hoặc E-1B) từ phía vịnh Bắc Bộ ở độ cao 9.000-10.000 m thực hiện kiểm soát bằng radar không phận nước VNDCCH và tiến hành trinh sát điện tử. Ngoài ra trong thời gian này máy bay trinh sát chến lược KC-135 cũng tiến hành trinh sát điện tử trên vịnh Bắc Bộ. Bảo vệ cho chúng trước các máy bay tiêm kích Việt Nam là 2 đến 3 nhóm tuần tra không phận chiến đấu gồm 2-4 chiếc F-4 hoặc F-8 mỗi nhóm.

Khi so sánh tính chất thực hành các cuộc không kích ồ ạt bằng không quân chiến thuật và không quân chiến lược, có thể nói chúng có rất nhiều điểm chung, "đặc biệt là trong các vấn đề hoạt động của các nhóm yểm trợ”. Tương tự chiến thuật tấn công mục tiêu được xác định trong mỗi trường hợp bởi các phương tiện được dùng để oanh tạc hủy diệt và phương pháp sử dụng chúng.

Sơ đồ tổng thể và cách tổ chức các cuộc không kích quy mô lớn khác của không quân chiến thuật và không quân hải quân trên tàu sân bay trên nhiều khía cạnh tương tự ví dụ đã được xem xét ở trên.

Về tổng thể, các cuộc không kích quy mô lớn được tiến hành bởi không quân chiến thuật và không quân hải quân trên tàu sân bay, đặc trưng bởi sự chuẩn bị chu đáo và sự tổ chức được cân nhắc kỹ càng khi thực hiện chúng. Đặc biệt cần nhận xét rằng bộ chỉ huy Mỹ đã giành sự quan tâm lớn cho các vấn đề bảo đảm chiến đấu: trinh sát chụp ảnh và trinh sát điện tử trước khi không kích, trong quá trình thực hiện không kích và cả sau khi không kích, tổ chức đối kháng vô tuyến điện tử, chế áp hệ thống phòng không, cũng như tổ chức công tác cứu hộ và sơ tán các thiết bị kỹ thuật hàng không bị hư hỏng.

CÙNG VỚI CÁC CUỘC KHÔNG KÍCH Ồ ẠT, KHÔNG QUÂN CHIẾN THUẬT VÀ KHÔNG QUÂN HẢI QUÂN TRÊN TÀU SÂN BAY ĐÃ ÁP DỤNG RỘNG RÃI VIỆC TẤN CÔNG BẰNG CÁC MÁY BAY ĐƠN LẺ VÀ CÁC TỐP NHỎ. Số các phi vụ hoạt động tác chiến hình thức này trong thời gian chiến dịch chiếm 58% tổng số phi vụ. Khả năng hoạt động chiến đấu như vậy đặc biệt tiêu biểu đối với các máy bay hải quân trên tàu sân bay và máy bay tiêm kích-ném bom có dạng cánh biến đổi hình học F-111A.

(http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_pic32.jpg)
© US AIR FORCE
........


Tiêu đề: Re: Hoạt động chiến đấu của QC PK-KQ QĐND Việt Nam tháng 12 năm 1972
Gửi bởi: qtdc trong 18 Tháng Tám, 2012, 03:02:25 pm
(tiếp)

Các nỗ lực đầu tiên nhằm sử dụng máy bay F-111A tấn công các mục tiêu của VNDCCH được người Mỹ thực hiện vào năm 1968, tuy nhiên, sau khi mất 3 máy bay vì các lý do khác nhau, người Mỹ buộc phải quay về với các máy bay còn lại trên lục địa để thử nghiệm lại toàn diện và sửa chữa hoàn thiện. Vào mùa thu năm 1972, bộ tư lệnh không quân đã chuyển giao 48 máy bay F-111A đến căn cứ không quân Takli (Thái Lan).

Các hoạt động tác chiến không thường xuyên của F-111A chống lại VNDCCH và Lào trong giai đoạn từ tháng 9 đến tháng 12 năm 1972 cho phép các phi công thu được kinh nghiệm chiến đấu, và sau đó sử dụng kinh nghiệm vào chiến dịch tập kích đường không "Linebacker-2". Từ 18 đến 30 tháng 12 năm 1972, mỗi đêm bất kể điều kiện thời tiết, những chiếc máy bay này đã thực hiện 10-12 lần xuất kích. Về tổng thể, trong chiến dịch trên, các máy bay F-111A đã thực hiện 112 phi vụ và ném xuống gần 700 tấn bom. Một tính chất đặc trưng của việc sử dụng tác chiến loại máy bay này là đã thành quy luật, từ sân bay căn cứ Takli (Thái Lan) cho đến điểm dân cư Mộc Châu (tỉnh Sơn La, VNDCCH), chúng bay theo tuyến đường bay không đổi, còn từ Mộc Châu – chúng bay tiếp tới các mục tiêu quy định. Trắc dọc đường bay theo độ cao được biến đổi: từ sân bay đến thành phố Sầm Nưa (Lào) giữ độ cao 8.000-9.000 m, sau đó máy bay giảm cao độ và từ khu vực Mộc Châu đến đối tượng oanh tạc F-111A bay trên các độ cao thấp và cực thấp. Việc bay ở độ cao rất thấp làm cho nó vượt qua tương đối dễ dàng các hệ thống phòng không VNDCCH và tung ra các đòn tấn công bất ngờ.

Các nỗ lực chính của các máy bay F-111A tập trung vào việc phá hủy các mục tiêu "diện địa" (sân bay, ga xe lửa, kho, cảng, v.v.), bởi vì tấn công từ độ cao thấp vào các mục tiêu kích thước nhỏ không thể đạt được độ chính xác cao khi ném bom. Tải trọng bom của máy bay khoảng 5000 kg. Các tùy chọn thường được dùng phổ biến nhất - 12 bom Mk83 cỡ 1.000 pound (452 kg).

Phương pháp tấn công chính của nó là ném bom từ tư thế bay bằng và bay ngóc lên khi thoát tới công kích mục tiêu theo hỗ trợ của mốc địa tiêu. Ví dụ, khi tấn công cảng sông Phà Đen và sân bay Gia Lâm, máy bay đã lấy một tháp cấp nước tại Hà Nội làm một điểm tham chiếu.

Việc thực hiện chuyến bay tại các độ cao thấp và cực thấp được đảm bảo bởi một radar đặc biệt có trên máy bay cho phép nó vòng qua các chướng ngại và đi men theo các nếp gấp địa hình.

Phân tích các kết quả của các cuộc ném bom tấn công do máy bay F-111A tiến hành, cho thấy hiệu quả của chúng không đủ cao do việc ném bom chỉ đạt độ chính xác thấp, và bom rơi xuống còn một số lượng lớn chưa nổ. Đồng thời, hoạt động liên tục có hệ thống của những chiếc máy bay trên với giãn cách thời gian 15-40 phút, đặc biệt là trong ba ngày đêm đầu tiên của chiến dịch và các đòn tấn công bất ngờ của nó đã gây một tác động đáng kể lên tâm lý dân cư và làm cho đội ngũ quân nhân Quân chủng Phòng không và Không quân QĐNDVN vô cùng mệt mỏi.

Các máy bay F-111A tiến hành hoạt động tác chiến độc lập, không có bất kỳ sự yểm trợ đặc biệt nào.

(http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_pic33.jpg)
© US AIR FORCE

KHÔNG QUÂN HẢI QUÂN TRÊN TÀU SÂN BAY, và trước hết là các cường kích hạm A-6, A-7, hoạt động từ các tàu sân bay Hạm đội 7 Hải quân Hoa Kỳ ("Midway," "Saratoga", Ranger", "Enterprise "), có mặt ở ngoài khơi vịnh Bắc Bộ cách bờ biển VNDCCH trong khoảng 150-200 km . Hơn hai phần ba số phi vụ được thực hiện theo các tốp nhỏ, mà trong những ngày đầu chiến dịch đã bổ sung thêm các cuộc không kích tập trung quy mô lớn vào thủ đô Hà Nội bằng các đợt tấn công vào các mục tiêu vùng ven biển VNDCCH. Việc tập hợp đội hình của các tốp máy bay tấn công diễn ra sau khi cất cánh ở khoảng cách cách các tàu sân bay 50-65 km theo lệnh từ đài kiểm soát không lưu. Các tốp 2-6 máy bay trong đội hình "so le - пеленг", "hình thoi - ромб", "mũi tên - клин" trên độ cao 5000-6000 m bay tiếp vào khu vực tấn công hoặc khu chờ. Chiều sâu đội hình chiến đấu của các nhóm tấn công trong trường hợp này là 600-1500 m, chiều rộng - 200-1000 m.

(http://photo.strizhi.info/d/1726-7/rv_swifts-klin.gif)
Mũi tên.

(http://www.nathaliepottier.com/wp-content/uploads/2009/07/1_07_2007.JPG)
Hình thoi.

(http://spread-wings.ru/images/stories/Pamytka_9_4/1.jpg)
So le.

Để nâng cao độ chính xác của các đợt tấn công ban đêm, máy bay cường kích A-6 trang bị một loại radar đặc biệt cho dẫn đường trên không và ném bom, được đưa vào thành phần các nhóm tấn công. Các máy bay A-6 dẫn tốp đến mục tiêu và phát lệnh ném bom cho các máy bay A-7 đi sau. Theo quy định nhóm tấn công gồm các máy bay A-6 và A-7 được hộ tống bởi các tiêm kích F-4 và F-8, bay cao hơn nhóm chủ công 600-700 m và hơi vượt về phía trước một chút. Khi đến gần mục tiêu, chúng tách ra 15-20 km so với nhóm tấn công và bảo vệ nó trước các máy bay tiêm kích Việt Nam. Số lượng máy bay tiêm kích hộ tống có khác nhau và phụ thuộc vào tính chất của các mục tiêu cần tấn công, khả năng phản kích của không quân Việt Nam và bằng 10-25% tổng số lượng các máy bay của nhóm tấn công. Phương pháp ném bom chủ yếu ban đêm là ném bom trong tư thế bay bằng với động tác bay ngóc lên khi thoát vào công kích mục tiêu bám theo mốc địa tiêu phụ trợ.

Bắt đầu từ 23 tháng 12, không quân hải quân trên tàu sân bay hoạt động tấn công các mục tiêu thuộc dải ven biển VNDCCH vào ban ngày. Các cuộc tấn công được chuẩn bị trước bởi các chuyến bay trinh sát ảnh và trinh sát điện tử một cách kỹ lưỡng. Việc tiếp cận mục tiêu được thực hiện, thường là bởi các tốp 2 ( hoặc ba) chiếc ở độ cao 500-600 m, từ các hướng khác nhau. Sau khi đi vào khu vực phát hiện của radar máy bay thực hiện thao tác "kéo cao-lên dốc" ("горка") đến độ cao 3000-4000 m. Việc tiến vào đối tượng công kích được thực hiện từ hướng mặt trời với việc sử dụng thao tác cơ động về hướng, máy bay thả bom – trong tư thế bổ nhào, sau đó các máy bay thuộc nhóm tấn công từ độ cao thấp bay thoát ra phía biển. Nếu một biên đội đang tấn công thì các máy bay còn lại bay trong khu vực chờ bên ngoài vòng hỏa lực của TLPK và PPK (cách mục tiêu 35-50 km và ở độ cao 5000-6000 m).

Trong thời gian trời sáng cũng như trời tối của một ngày đêm, để tấn công, đã quy định phải có 60% tổng số các máy bay cất cánh từ tàu sân bay (khi tiến hành hoạt động tác chiến bằng các tốp nhỏ). Các máy bay còn lại được sử dụng với nhiệm vụ bảo đảm chiến đấu (máy bay tiêm kích hộ tống, máy bay trinh sát, máy bay AWACS, trinh sát điện tử và đối kháng điện tử).

Chiều sâu nhỏ của lãnh thổ VNDCCH cho phép người Mỹ tạo ra trên đó một trường sóng radar dày đặc bởi 3-5 máy bay AWACS, khu vực tuần tra của chúng nằm trên khong phận vịnh Bắc Bộ tại độ cao 9.000-10.000 m, và việc tiến hành trinh sát liên tục bằng radar – sẽ giải quyết hiệu quả hơn nhiệm vụ bảo vệ đường không cho các nhóm tấn công.
.........


Tiêu đề: Re: Hoạt động chiến đấu của QC PK-KQ QĐND Việt Nam tháng 12 năm 1972
Gửi bởi: qtdc trong 18 Tháng Tám, 2012, 06:02:19 pm
(tiếp)

Để tổ chức tự bảo vệ, các máy bay cường kích hạm A-6 và A-7 sử dụng rộng rãi các dạng nhiễu chủ động và nhiễu đáp ứng-xung khác nhau (активных ответно-импульсных помех). Ngoài ra, nhiễu chủ động còn được tạo ra bởi các máy bay REP chuyên dụng (EA-6B "Prowler"), và trong một số trường hợp – từ các tàu chiến Hạm đội 7 Hải quân Hoa Kỳ.

CÁC MÁY BAY KHÔNG QUÂN CHIẾN THUẬT VÀ KHÔNG QUÂN HẢI QUÂN TRÊN TÀU SÂN BAY trong thời gian chiến dịch sử dụng nhiều chủng loại vũ khí bom, mìn, tên lửa, rocket, súng-pháo. Tính đến sự cần thiết phải cơ động linh hoạt khi vượt qua hệ thống phòng không và giải quyết các nhiệm vụ đặt ra khi tiêu diệt mục tiêu, các máy bay nhóm tấn công đã mang theo một tải bom chỉ bằng 30-60% của tải trọng tối đa.

Nhìn chung, chiến dịch có tính chất đặc trưng ở việc sử dụng rộng rãi bom điều khiển bằng các đầu tự dẫn laser, truyền hình, hồng ngoại và các loại đầu tự dẫn khác, đảm bảo độ chính xác cao hơn khi đánh vào các đối tượng kích thước nhỏ (cầu, xe tăng, xe tải, khí tài phòng không, đường hầm, các cấu trúc hệ thống đường sắt, các tòa nhà công nghiệp và hành chính và v.v.)

Nguyên tắc sử dụng bom có điều khiển bằng chiếu xạ laser được thể hiện trong sơ đồ 5.

(http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_sx5.jpg)

Các trái bom có điều khiển trên các máy bay thuộc nhóm công kích không quân chiến thuật và không quân hải quân trên tàu sân bay, theo quy định, thường chiếm 20-50% tổng tải trọng bom của máy bay.

Các loại bom có điều khiển sử dụng phổ biến nhất là loại Mk82 cỡ £ 500 (226 kg), Mk84 cỡ 2000 lb (907 kg) và Mk118 cỡ £ 3.000 (1.360 kg) với đầu tự dẫn bán chủ động – theo chùm tia laser phản xạ. Chính bằng các loại bom như vậy trong cuộc không kích tập trung của không quân chiến thuật vào thành phố Hà Nội ngày 21 tháng 12 mà ngay từ lần tấn công đầu tiên đã phá hủy tòa nhà của ga xe lửa trung tâm và nhà máy nhiệt điện Yên Phụ.

Điều khiển đường bay của quả bom rơi tự do trong không trung bằng cách sử dụng đặc tính khí động học của nó cho phép tăng độ chính xác hàng chục lần (so với các quả bom không điều khiển) cho việc ném bom.

Nguyên tắc sử dụng loại bom này như sau. Tia laser của radar định vị hướng đến mục tiêu được lựa chọn. Năng lượng phản xạ từ mục tiêu tán xạ về mọi hướng, nhưng phần tối đa của nó nằm trong một hình nón với góc đỉnh 30 °. Quả bom rơi từ chiếc máy bay sẽ bay theo một quỹ đạo đạn đạo xuống mặt đất cho đến khi nào mà mục tiêu, vẫn đang được chiếu xạ bởi chùm tia laser định vị, chưa rơi vào trong trường quét của đầu tự dẫn của quả bom và tín hiệu từ mục tiêu chưa đạt tới một giá trị nhất định.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/2/20/BOLT117LGB.jpg/800px-BOLT117LGB.jpg)
PavewayI. "BOLT-117" LGB (GBU-1/B): sử dụng trong chiến tranh Việt Nam.

Tại thời điểm đó đầu tự dẫn của quả bom sẽ khóa mục tiêu, sau đó bắt đầu pha bom bay có điều khiển. Theo nguyên tắc chung, việc ném bom được thực hiện sao cho phần quỹ đạo mà bom bay không điều khiển không vượt quá 3 giây. Tại phân đoạn có điều khiển của quỹ đạo, đường bay của bom được chỉnh sửa theo các tín hiệu lỗi, được xác định bởi đầu tự dẫn, bằng cách tín hiệu đó tác động lên các cánh lái quả bom thay đổi độ chòng chành và độ nghiêng. Việc chiếu mục tiêu (chiếu xạ) bằng chùm tia laser được thực hiện bởi một máy bay-chỉ thị mục tiêu chuyên biệt, hoặc bằng chính bản thân máy bay mang bom. Hệ thống trong đó mục tiêu được chiếu xạ bởi máy bay-vạch đường, được gọi là "Pave Way" và hệ thống trong đó mục tiêu được chiếu xạ bởi máy bay mang bom – gọi là "Pave Knife".

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/d/d3/F-4D_435th_TFS_with_Pave_Knife_laser_pod_1973.jpg/800px-F-4D_435th_TFS_with_Pave_Knife_laser_pod_1973.jpg)
"Pave Knife" trên F-4D 435 TFS, Ubon, Thailand, 1973.

Trong mỗi hệ thống đã phát triển một phương án tối ưu (về độ chính xác) trong việc sử dụng bom có điều khiển (phương pháp ném bom "tiêu chuẩn"). Tuy nhiên, phương pháp này không tính đến khả năng phản ứng của các phương tiện phòng không đối với máy bay-chiếu xạ mục tiêu và máy bay-mang bom. Do điều đó giảm độ chính xác, người Mỹ đã phát triển trong mỗi hệ thống một số phương pháp ném bom "xác suất", cho phép tăng chiều cao, tầm xa của trần bay ném bom, và khả năng sử dụng nhiều phương tiện mang ném bom cùng một lúc.

Trong hệ thống "Pave Way" radar laser được lắp đặt trên các máy bay chuyên dụng F-4D và OV-10. Đầu di động của radar bố trí phía bên trái thân máy bay và có thể đảm bảo chiếu xạ mục tiêu trong cung 60 °. Tầm xa nghiêng tối đa của đường bay đến đối tượng oanh tạc là 7-8 km. Thao tác viên phát hiện mục tiêu nhờ sử dụng các phương tiện quang học, sau đó bật radar laser, chùm tia của máy phát chiếu vào đối tượng lựa chọn oanh tạc được duy trì bằng tay cho đến khi quả bom có điều khiển ném xuống phát nổ.

Ném bom bằng phương pháp "tiêu chuẩn" trong hệ thống "Pave Way" (sơ đồ 6) được thực hiện bởi hai máy bay: máy bay mang bom và máy bay chỉ thị mục tiêu. Trên chiều cao 3,5-4 km khi tiếp cận mục tiêu, máy bay chỉ thị mục tiêu thực hiện vòng ngoặt trái, bay thành vòng tròn bán kính 3-4 km với độ chúi dọc thân 40-45 °. Đồng thời phi công-trắc thủ duy trì bằng tay chùm tia laser chiếu vào mục tiêu. Máy bay-mang bom có điều khiển từ độ cao 6 km chuyển sang tư thế bổ nhào ở góc 30-45 ° theo hướng vuông góc với hướng của máy bay-chỉ thị mục tiêu. Vị trí tương hỗ này của các máy bay đảm bảo các điều kiện tốt nhất cho đầu tự dẫn của bom khóa được mục tiêu. Việc thả bom tiến hành từ chiều cao 1,8-3,6 km với trù tính để nó rơi vào một hình nón với góc ở đỉnh 30 °, tương ứng (đối với hầu hết các mục tiêu) với vùng cực đại của năng lượng phản xạ của chùm tia laser. Phương pháp này đôi khi được gọi là phương pháp "trọng tâm" hoặc "ném bóng vào giỏ".

(http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_sx6.jpg)
Sơ đồ 6. Các phương pháp ném bom trong hệ thống "Pave Way":
a - phương pháp "chuẩn"; b(б) - phương pháp "xác suất".


Phương pháp ném bom “xác suất” đặc trưng bởi người ta không áp đặt yêu cầu nghiêm ngặt cho các thông số của đường bay. Nhiệm vụ chính của máy bay mang bom là phát hiện và xác định tọa độ mục tiêu, sau đó nó chuyển sang tư thế bổ nhào không phụ thuộc quỹ đạo bay của máy bay-chỉ thị mục tiêu. Chiều cao thả bom thường là 5 km. Máy bay-chị thị mục tiêu, cũng như trong "phương pháp tiêu chuẩn", bay vòng tròn trên dải độ cao lớn (5-5,6 km) với bán kính vòng tròn 5-6 km.

Do một máy bay-chỉ thị mục tiêu có thể đảm bảo công việc cho một nhóm máy bay-mang bom (2-4 F-4), vậy nên một trong những phương pháp "xác suất" là ném bom liên tiếp bằng 2-4 máy bay-mang bom, trong khi việc chiếu xạ mục tiêu do một máy bay-chỉ thị mục tiêu thực hiện. Việc thả bom diễn ra liên tiếp trong khoảng thời gian từ 10-15 s, nhằm loại trừ tác động của các đám mây phát sinh từ vụ nổ của các quả bom ném xuống trước lên sự chỉ thị mục tiêu bằng chùm tia laser. Phương pháp này được sử dụng cho các cuộc tấn công chống các mục tiêu dạng điểm, có hỏa lực phòng không mạnh.
Một máy bay-chỉ thị mục tiêu có khả năng đảm bảo ném bom cho một vài nhóm máy bay-mang bom vào cùng một đối tượng trong một khoảng thời gian 5-15 phút, như thực tế đã diễn ra trong các cuộc không kích tập trung quy mô lớn của không quân chiến thuật trong chiến dịch trên.

Trong hệ thống "Pave Knife" rađa laze được lắp đặt trên máy bay-mang bom có điều khiển. Đầu phát  được lắp đặt dưới thân máy bay và có thể đảm bảo chiếu xạ mục tiêu trong phạm vi 360 °. Tầm nghiêng tối đa tới mục tiêu là 12 km, còn trong thực hành thường là 8-10 km. Quá trình tìm kiếm và ngắm khóa mục tiêu của chùm tia laze diễn ra nhờ máy ngắm truyền hình. Tiếp theo việc bám sát mục tiêu và thả bom được thực hiện tự động.

Trong hệ thống này phương pháp ném bom "tiêu chuẩn" được thực hiện bởi máy bay F-4D (sơ đồ 7).

(http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_sx7.jpg)
Sơ đồ 7. Các phương pháp ném bom trong hệ thống "Pave Knife":
a - phương pháp "chuẩn"; b(б) - phương pháp "xác suất".


Tùy thuộc vào điều kiện thời tiết, ánh sáng và hệ thống phòng không bảo vệ đối tượng mà đường bay được lựa chọn sao cho tạo được những khả năng tốt nhất để máy ngắm quang tuyến truyền hình phát hiện mục tiêu. Sau khi phát hiện mục tiêu máy phát laser định vị-chỉ thị mục tiêu tự động bật lên. Khi bổ nhào tại một góc trong khoảng từ 0 ° đến 30 ° ở độ cao 3,5-4 km việc cắt bom được thực hiện tự động. Một tính năng nổi bật của phương pháp này – phải có sự "chiếu sáng" mục tiêu liên tục bằng chùm tia laser cho đến thời điểm bom ném xuống phát nổ (trung bình trong vòng 13 giây).

Khi sử dụng phương pháp ném bom "xác suất", chiều cao cắt bom được tăng lên ở mức 5-5,5 km, đồng thới đòn tấn công có thể tiến hành trong tư thế bay bằng. Trong trường hợp này, cuộc công kích được thực hiện bởi 2 - 4 máy bay F-4, hoạt động từ một hoặc nhiều hướng khác nhau cùng một lúc. Một trong những chiếc máy bay đó sau khi thả bom sẽ được sử dụng để chỉ thị mục tiêu cho các chiếc còn lại, như trong hệ thống "Pave Way" - chỉ với một điểm khác là chiếc máy bay đó có thể thực hiện bất kỳ sự cơ động nào trong khi liên tục chiếu xạ mục tiêu từ khoảng cách không hơn 8-10 km cách điểm nổ của các trái bom đã ném.

Việc trang bị cho trái bom một đầu dẫn đường chủ động đã cải thiện đáng kể độ chính xác của đợt công kích bom. Nếu việc ném bom thông thường khi bổ nhào từ độ cao 3,5 km cho ra độ sai lệch xác suất tuần hoàn của trái bom là 180-200 m, thì khi sử dụng bom có điều khiển ném từ cùng một độ cao như vậy, và áp dụng các phương pháp ném bom "tiêu chuẩn" – sai số xác suất tuần hoàn sẽ giảm còn quãng 3-4 m. Ngoài ra, việc sử dụng bom với tia laser chiếu xạ cho phép tăng chiều cao ném bom, và do đó làm giảm nguy cơ tổn thương trước hỏa lực pháo phòng không cho máy bay.

Cần ghi nhận những nhược điểm sau đây của bom điều khiển bằng chiếu xạ laser:
- tính giới hạn của việc sử dụng (phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, thời gian trong ngày);
- đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ hoạt động của các máy bay khi tấn công nhóm;
- có các yêu cầu nghiêm ngặt về chế độ bay của các máy bay-chỉ thị mục tiêu (bay vòng tròn về bên phải, kéo dài thời gian bổ nhào v.v,);
- độ chính xác giảm mạnh khi bom rơi trong điều kiện bị gây nhiễu dạng đơn giản nhất (màn khói);
- chi phí cao cho đầu tự dẫn của bom và việc chỉ thị mục tiêu bằng laser.
Bom có điều khiển với đầu tự dẫn quang tuyến truyền hình kiểu Mk1 mod 0 "Walleye" và Mk84 "Hobo" đều có độ chính xác cao khi ném, nhưng chi phí của chúng cao vượt hơn 3-4 lần chi phí bom điều khiển bằng chùm tia laser, đã giới hạn việc áp dụng chúng.

Như vậy, việc huy động không quân chiến thuật và không quân hải quân trên tàu sân bay tham gia các cuộc tập kích đường không ồ ạt quy mô lớn, sử dụng rộng rãi máy bay tiêm kích-ném bom F-111A, áp dụng các loại bom khác nhau (với các đầu tự dẫn laser, hồng ngoại, quang tuyến truyền hình) là các nét đặc trưng nhất trong việc áp dụng tác chiến của không quân chiến thuật và không quân hải quân trên tàu sân bay trong chiến dịch đường không được xem xét trên đây. Bản thân việc tổ chức không kích ồ ạt và tổ chức hoạt động cho các máy bay đơn lẻ và các tốp máy bay nhỏ, các thủ đoạn chiến thuật sử dụng vũ khí nói chung có tính chất đơn điệu, và mang một số đặc điểm rập khuôn.
........


Tiêu đề: Re: Hoạt động chiến đấu của QC PK-KQ QĐND Việt Nam tháng 12 năm 1972
Gửi bởi: qtdc trong 19 Tháng Tám, 2012, 07:29:02 pm
(tiếp)

CÔNG TÁC TỔ CHỨC TÁC CHIẾN ĐIỆN TỬ

Trong quá trình diễn ra chiến dịch không kích, bộ chỉ huy Mỹ đã tiến hành chiến tranh điện tử một cách sâu rộng, xem nó như một trong những loại hình đảm bảo quan trọng nhất cho hoạt động tác chiến của không quân. Các phương pháp chiến tranh điện tử chính là:
- trinh sát sự bức xạ của các khí tài vô tuyến điện tử của hệ thống phòng không;
- đối kháng điện tử chống lại các phương tiện vô tuyến điện tử của hệ thống phòng không;
- sử dụng đạn chống radar, tự dẫn theo bức xạ của phương tiện vô tuyến điện tử của hệ thống phòng không.

TRINH SÁT NGUỒN BỨC XẠ TỪ CÁC PHƯƠNG TIỆN VTĐT (RADAR) CỦA HTPK
Công tác này được thực hiện với các mục đích cả về mặt chiến lược và chiến thuật. Trong trường hợp đầu, nó được thực hiện liên tục nhờ trợ giúp của các máy bay SR-71, U-2 và RC-135, trường hợp thứ hai - với sự trợ giúp của các trạm trinh sát điện tử chuyên dụng (RTR), được lắp đặt trên tất cả các loại máy bay chiến lược, chiến thuật và máy bay hải quân trên tàu sân bay.

Trang bị phương tiện trinh sát điện tử (RTR -TSĐT) của các máy bay Mỹ được thể hiện trong bảng 3.
BẢNG 3.
(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/bang3-1.jpg)

Trạm TSĐT kiểu APR-25 (26), APR-36 (37) và APS-109 cho phép phi công Mỹ trong suốt chuyến bay, không chỉ xác lập sự kiện chiếu xạ máy bay bởi các tín hiệu của radar PK, mà còn dựa trên các thông số của tín hiệu để xác định loại, hướng trỏ tới các đài radar đang chiếu xạ và khoảng cách tới các đài radar ấy (tầm và hướng). Thông tin về kiểu trạm radar được báo cho phi công biết dưới hình thức các tín hiệu âm thanh và tín hiệu phát sáng, trên bảng điều khiển và đèn hiển thị đặc biệt. Hướng và tầm tới nguồn bức xạ được xác định bởi các thông số của tín hiệu trên các màn hiển thị phát xạ-điện tử. Ví dụ, trong đài TSĐT APR-25 (26), có bốn loại đèn chỉ thị:
- đèn phát xạ-điện tử chỉ thị "góc phương vị - khoảng cách";
- bảng hiện sáng với các đèn tín hiệu;
- ống nghe telephone;
- thiết bị kim báo chỉ thị.

Hướng trỏ tới trạm radar đang chiếu xạ được xác định bằng cách sử dụng ăng-ten có đồ thị chặn hướng (антенн с перекрывающими диаграммами направленности). Độ chính xác của phép đo góc phương vị là 1-2 °. Tầm đến trạm radar xác định một cách thô sơ – dựa vào độ lớn tín hiệu đang chiếu xạ vào máy bay. (Khả năng thực hiện nguyên tắc đo lường tầm xa này dựa trên sự hiểu biết các đặc tính kỹ-chiến thuật cụ thể của các loại radar của đối phương).

Loại và nhiệm vụ chiến thuật của radar PK được xác định trên màn hình hiển thị. Đường quét các tín hiệu của các loại radar PK khác nhau trên màn hình khi chiếu xạ máy bay, tùy thuộc vào các thông số của các tín hiệu chiếu xạ hoặc là xung theo chiều dài hoặc độ sáng, hoặc trông giống như một đường chấm chấm.

Để kiểm soát và điều khiển hoạt động của thiết bị gây nhiễu, trên máy bay B-52 và EB-66 có trạm trinh sát điện tử ALR-20. Trạm cho phép trinh sát các tần số của đài radar cần chế áp và thiết lập các nguồn phát nhiễu vào tần số của các trạm radar mà nó chọn để chế áp.

Như vậy, bằng cách sử dụng dữ liệu từ các đài trinh sát điện tử, các phi công đã có thể để đánh giá môi trường vô tuyến điện tử, xác định mức độ nguy hiểm đối với bản thân mình từ phía trạm radar đang chiếu xạ, xác định thời điểm phóng tên lửa phòng không có điều khiển và trên cơ sở thông tin nhận được mà quyết định cơ động tránh tên lửa.

ĐỐI KHÁNG VTĐT ĐỐI VỚI RADAR PHÒNG KHÔNG

Công tác này được tổ chức và thực hiện để phá vỡ sự điều khiển phương tiện phòng không và không quân và làm giảm hiệu quả tác chiến của trang bị hỏa lực của bọ đội TLPK, PPK và không quân tiêm kích. Để làm được điều này người Mỹ sử dụng các loại nhiễu chủ động, xung-đáp ứng và nhiễu thụ động.

Số lượng thiết bị gây nhiễu phải được cài đặt trên các loại máy bay khác nhau, tùy thuộc vào loại máy bay và nhiệm vụ phải thực hiện của chúng. Ví dụ, trên máy bay B-52 có 15 máy phát sóng gây nhiễu, trên máy bay chuyên dụng EB-66 - 12, máy bay không quân chiến thuật - 2-4. Thiết bị phát sóng gây nhiễu được sử dụng trong quá trình chiến dịch đã ngăn chặn các dải tần số từ 40 đến 10500 MHz. Đặc biệt phong phú các thiết bị phát nhiễu là dải tần số làm việc của các khí tài vô tuyến điện tử của các binh chủng radar, TLPK, PPK và KQ QĐNDVN. Ảnh hưởng của nhiễu tác động lên tất cả các loại radar, bao gồm P-12, P-15, P-35, PRV-11, đài dẫn đường cho tên lửa phòng không RSNA-75M, đài dẫn bắn pháo cao xạ SON-9, radar ngắm bắn của máy bay tiêm kích RP-21M, cũng như phương tiện liên lạc vô tuyến và truyền dẫn vô tuyến R-405 và R-409 (P-405 và P-109).

Đài phát nhiễu xung-hồi đáp được áp dụng để gây nhiễu cho trạm radar RSNA-75M. Theo quy định, không tạo ra các loại nhiễu xung-hồi đáp để chống các trạm radar khác.

Để gây nhiễu thụ động người Mỹ sử dụng các bộ lưỡng cực phản xạ, chặn các dải sóng xăngtimét, đềximét và mét. Những loại nhiễu này được thả bởi các máy bay F-4 với sự trợ giúp của máy tự động và các thùng chứa đặc biệt. Chúng được sử dụng để che giấu đội hình tác chiến của các nhóm tấn công trong các cuộc không kích ồ ạt quy mô lớn của không quân chiến lược, không quân chiến thuật và không quân hải quân trên tàu sân bay, cũng như bảo vệ riêng các máy bay trước mối đe dọa trực tiếp bị TLPK bắn trúng.

Việc trang bị cho không quân Hoa Kỳ các phương tiện đối kháng điện tử và các đặc tính kỹ-chiến thuật chủ yếu của các trang bị này được liệt kê trong bảng 4-6. Trong hình 1-5 chỉ ra mẫu các thiết bị đối kháng điện tử chiến lợi phẩm thu giữ được trên máy bay Mỹ bị bắn rơi.

Biện pháp đối kháng điện tử được tổ chức và thực hiện theo các kịch bản như sau:
- nhiễu chủ động (AShP) với máy bay chuyên dụng đối kháng điện tử và các tàu chiến của Hạm đội 7  Hải quân Mỹ ở vịnh Bắc Bộ;
- nhiễu chủ động từ các máy bay nhóm tấn công, và các máy bay nhóm đảm bảo yểm trợ của Không lực;
- nhiễu xung-đáp ứng (OIP) từ các máy bay nhóm tấn công, và các máy bay nhóm đảm bảo yểm trợ của Hải quân;
- nhiễuthụ động (PP) từ các máy bay của không quân chiến lược, không quân chiến thuật và không quân hải quân trên tàu sân bay.

Trong các cuộc tấn công ồ ạt quy mô lớn của không quân chiến lược, việc đối kháng điện tử được đảm bảo theo kịch bản nhiễu chủ động từ máy bay chuyên dụng đối kháng điện tử, trực tiếp từ các máy bay B-52, từ các máy bay chiến thuật thuộc nhóm yểm trợ, cũng như kịch bản nhiễu thụ động từ các máy bay B-52 thuộc các nhóm cụ thể. Trình tự thực hiện đối kháng điện tử như sau.

Khoảng 15-20 phút trước cuộc tập kích của các máy bay ném bom chiến lược, kịch bản gây nhiễu chủ động bắt đầu bằng các máy bay REP chuyên dụng (Không quân - EB-66, Hải quân - EA-6B và EKA-3B), đang tuần vòng trên vịnh Bắc Bộ và không phận Lào. Qua 10-16 phút sau cuộc không kích các máy bay REP ngừng gây nhiễu.

Khu vực quần vòng, theo quy luật, ở trên các hướng đường bay tiếp cận của nhóm xung kích B-52 tới tấn công mục tiêu. Máy bay REP quần vòng ở độ cao 6-7 km với 2-3 máy bay trong từng khu vực. Khoảng cách của các khu vực quần vòng: từ phía Lào - 60-80 km kể từ biên giới quốc gia gần thị trấn Sầm Nưa, từ phía vịnh Bắc Bộ - 50-60 km tính từ bờ biển. Trong các khu vực quần vòng các máy bay REP được bảo vệ bởi các máy bay tiêm kích (1-2 máy bay mỗi nhóm). Nhiễu chủ động từ các máy bay kiểu EB-66 được tạo ra trong khoảng tần số 40-3500 MHz.

Nhiễu chủ động từ các máy bay B-52 được tạo ra trong toàn bộ các dải tần số (từ 40 đến 10500 MHz) và tác động lên tất cả các loại đài radar của các binh chủng radar, TLPK, PPK, và KQTK cũng như hệ thống liên lạc vô tuyến và truyền dẫn vô tuyến thuộc hệ thống chỉ huy bộ đội QC PK-KQ QĐNDVN.

Nhiễu chặn hoặc nhiễu thiết bị ngắm bắn theo tần số được thiết lập tùy thuộc vào mật độ phân bố các nhóm đài radar và phụ thuộc dải tần số khí tài radar phòng không và không quân QĐNDVN. Như vậy, nhiễu trong dải tần số 400-500 MHz, theo quy luật, là nhiễu thiết bị ngắm bắn theo tần số, trong dải tần 500-1000 MHz – nhiễu chặn. Trong phạm vi bước sóng 10 cm, mà hầu hết các trạm radar đang sử dụng làm việc, nhiễu chặn được tạo ra theo tần số. Các tín hiệu nhiễu trong phần lớn các trường hợp có sự điều chế bổ sung biên độ.

Việc bật máy phát nhiễu trên các máy bay B-52 trên toàn bộ các dải sóng được bắt đầu trước khi máy bay tiếp cận khu vực phát hiện của các trạm radar thuộc binh chủng radar.

Trong dải sóng mét chiều rộng phổ của nhiễu là 6-20 MHz. Năng lượng của phổ, theo quy luật thường phân bố không đều với cực đại nằm trong vùng các tần số làm việc chủ yếu của radar bị chế áp.

Trong các cuộc không kích ồ ạt của không quân chiến lược, nhiễu chủ động cũng được tạo ra từ các máy bay không quân chiến thuật, nằm trong thành phần các nhóm đảm bảo yểm trợ và bảo vệ khác nhau. Ví dụ, trên các máy bay F-4 và F-105 có treo bốn loại thùng chứa cùng với máy gây nhiễu ALQ-87 hoặc ALQ-101, làm việc trong một hoặc hai chế độ. Trong chế độ thứ nhất, chúng điều hưởng trên các tần số của trạm radar bị chế áp và phát xạ nhiễu máy ngắm theo tần số với chiều rộng quang phổ 40-50 MHz khi máy bay bị chiếu xạ bởi các tín hiệu radar của các trạm radar thuộc binh chủng radar, TLPK, và PPK. Ngay khi các tín hiệu radar chiếu xạ máy bay ngừng lại, các máy phát cũng dừng phát xạ nhiễu trên tần số của trạm radar đó. Trong chế độ thứ hai, các máy phát phát xạ nhiễu chặn theo tần số với quang phổ có độ rộng 200-300 MHz. Chúng được bật lên khi máy bay tiếp cận khu vực phát hiện của trạm radar binh chủng radar không phụ thuộc chế độ làm việc của các phương tiện vô tuyến điện tử bị chế áp.

Việc điều khiển sự làm việc của các thiết bị gây nhiễu từ phía phi công trong cả hai chế độ đầu tiên và thứ hai đều được quy về thực hiện thao tác "on-off".

Nhiễu thụ động trong các cuộc không kích ồ ạt quy mô lớn của không quân chiến lược được rải từ các nhóm máy bay riêng của không quân chiến thuật, cũng như từ chính các máy bay B-52.

Kịch bản nhiễu thụ động được thực hiện bởi các máy bay thuộc các nhóm đặc biệt của không quân chiến thuật trong khoảng 10-15 phút trước khi máy bay B-52 tiếp cận khu vực hoạt động tác chiến của bộ đội TLPK. Khu vực, thời gian và chiều cao gây nhiễu thụ động được lựa chọn có tính đến hướng tiếp cận của nhóm B-52 xung kích tới đối tượng công kích, thời gian các nhóm này đi vào vùng hoạt động chiến đấu của bộ đội TLPK và chiều cao đường bay của chúng trên hướng tác chiến. Ví dụ, máy bay F-4D và E bắt đầu đặt nhiễu từ khoảng cách 40-50 km đến đối tượng oanh tạc dọc theo tuyến đường bay của các nhóm xung kích. Trong một số trường hợp, dải nhiễu thụ động cũng được đặt trên tuyến đường bay thoát ly của máy bay B-52 ra khỏi khu vực hoạt động tác chiến của binh chủng TLPK. Nhóm 4-8 máy bay sẽ tạo ra một dải nhiễu thụ động dài tới 30 km và rộng 4-6 km.
..........


Tiêu đề: Re: Hoạt động chiến đấu của QC PK-KQ QĐND Việt Nam tháng 12 năm 1972
Gửi bởi: qtdc trong 22 Tháng Tám, 2012, 07:33:51 pm
(tiếp)

Các máy bay gây nhiễu, trong khi bay thành các tốp 4-8 chiếc theo đội hình "hàng ngang" với giãn cách 600-800 m ở độ cao 6-7 km, đồng thời thả các thùng chứa nhiễu thụ động. Nhịp độ thả là 3-5 giây. Vài giây sau khi thả, các thùng chứa nổ tung và các bó nhiễu sẽ được rải ra trong không trung. Trong vòng 4-5 phút mỗi bó nhiễu, mở ra dưới tác động của dòng không khí, sẽ tạo ra trên các màn hình của tất cả các loại radar dấu hiệu có dạng giống như dấu hiệu của mục tiêu. Tới thời điểm các tốp B-52 tấn công tiếp cận, nhiễu đã được phân bố khắp và trên các màn hình hiển thị của radar ta sẽ quan sát thấy chúng dưới dạng những dải liên tục dày đặc, gây khó khăn cho việc tìm kiếm, phát hiện các mục tiêu trên không và đánh giá tình hình.

Các chùm nhiễu thụ động được thả từ máy bay ném bom B-52 như một biện pháp phòng vệ cá nhân cũng như bảo vệ cho các máy bay đang bay phía sau.

Cơ số hạn chế các chùm nhiễu thụ động mang trên máy bay B-52 không cho phép sử dụng chúng để tạo ra nhiễu thụ động trên suốt dọc tuyến đường bay vào khu vực tác chiến của TLPK. Vì vậy, các máy bay B-52 chỉ đặt nhiễu thụ động khi phát hiện tên lửa PK có điều khiển được phóng lên hoặc sau khi không kích xong đi ra khỏi khu vực tác chiến của binh chủng TLPK (để phá "bắn đuổi" - "стрельбы вдогон").

Thời gian thả các chùm nhiễu tùy thuộc vào độ dài của chu kỳ xạ kích, và tốc độ thả các bó nhiễu - phụ thuộc việc đảm bảo đạt xác suất tối đa kích nổ tên lửa của đám mây nhiễu. Quá trình phân tích cho thấy rằng thời hạn thả các bó nhiễu thụ động từ máy bay B-52 thường không vượt quá 20-25 giây (mật độ gây nhiễu - 0,8-1 bó trên 100 m đường bay). Trong những điều kiện này, một máy bay B-52, trang bị 2 súng tự động kiểu ALE-27 có thể thực hiện đối kháng bằng nhiễu thụ động chống lại 4-5 lần xạ kích của bộ đội TLPK.

Trong các cuộc không kích quy mô lớn của không quân chiến thuật, việc gây nhiễu chủ động và thụ động được thực hiện về cơ bản cùng một cách như khi đảm bảo cho các cuộc không kích của không quân chiến lược. Khác biệt trong việc gây nhiễu thụ động chỉ đơn thuần ở chỗ chiều cao thả thùng chứa nhiễu giảm xuống còn 4-5 km. Máy bay thuộc các tốp xung kích không bay trực tiếp trong dải nhiễu thụ động, mà theo quy định thường bay cao hơn dải nhiễu 1-2 km hoặc bên cạnh (bên phải hoặc bên trái) cách 1-2 km. Sự khác biệt trong gây nhiễu chủ động là ở chỗ người ta không gây nhiễu cho đường liên lạc vô tuyến và truyền dẫn vô tuyến. Nhiễu chủ động chế áp các trạm radar dải sóng mét và đêximet chỉ được thực hiện từ các máy bay đối kháng điện tử chuyên dụng từ khu vực quần vòng của chúng. Nhiễu có cường độ trung bình hoặc yếu.

Trong các cuộc không kích quy mô lớn của không quân hải quân trên tàu sân bay, việc đảm bảo đối kháng điện tử được thực hiện bằng cách gây nhiễu chủ động từ các máy bay chuyên dụng kiểu EA-6B, hoặc EKA-3B và từ các tàu chiến của Hạm đội 7 Hải quân Mỹ ở trong vịnh Bắc Bộ, việc tạo ra các nhiễu xung đáp ứng từ các máy bay nhóm xung kích, nhóm bảo đảm yểm trợ và gây nhiễu thụ động từ các máy bay thuộc các tốp phân nhiệm đặc biệt.

Các phương pháp gây nhiễu chủ động bởi các máy bay REP chuyên dụng, cũng như nhiễu thụ động cũng là những phương pháp giống như khi đảm bảo cho các cuộc không kích quy mô lớn của không quân chiến thuật.

Các máy bay thuộc các tốp tấn công và các tốp bảo đảm yểm trợ tạo ra các nhiễu xung đáp ứng, gửi đi theo góc và tầm, và tạo các nhiễu xung đáp ứng bội chỉ trong dải tần số của trạm radar tổ hợp SA-75 M.

Biện pháp đối kháng điện tử khi đảm bảo cho các phi vụ của các máy bay đơn lẻ và các tốp nhỏ không quân chiến thuật và không quân hải quân trên tàu sân bay được thực hiện như sau.

Các máy bay F-111 và F-4 đơn lẻ hoạt động ở các độ cao thấp không bật thiết bị phát nhiễu, cho phép chúng khi sử dụng địa hình địa vật, bí mật tiếp cận các đối tượng cần tấn công. Các máy phát nhiễu của các máy bay này chỉ bật lên khi phát hiện có việc phóng tên lửa phòng không có điều khiển, và gây nhiễu chỉ với đài điều khiển tên lửa. Đồng thời máy bay cũng tiến hành các động tác cơ động thay đổi hướng.

Nhiễu xung đáp ứng và xung đáp ứng bội được tạo ra khi các máy bay đơn lẻ và các tốp nhỏ máy bay (2-4 máy bay) thuộc không quân hải quân trên tàu sân bay hoạt động, nhiễu phát đi theo tầm, theo các tọa độ góc đến các đài radar điều khiển tên lửa. Các máy phát nhiễu xung đáp ứng được bật ở tầm 50-60 km cách đường bờ biển, và tắt khi máy bay bay trở ra vượt qua đường bờ biển.

Trong một số cuộc tấn công, các máy bay đơn lẻ và các tốp máy bay nhỏ thuộc không quân hải quân trên tàu sân bay được bao phủ bởi màn nhiễu từ các máy bay REP hoặc từ các tàu hải quân. Nhiễu trong các trường hợp này chỉ được tạo ra trong dải tần số của các đài radar P-35, PRV-11, RSNA SA-75M.

Mức độ cao trong trang bị phương tiện kỹ thuật đối kháng điện tử hiện đại của không quân Mỹ, việc sử dụng trên quy mô lớn các phương tiện đối kháng điện tử trong quá trình chiến dịch, cho phép bộ chỉ huy quân sự Mỹ làm suy giảm đáng kể hiệu quả trong việc sử dụng các khí tài vô tuyến điện tử của Quân chủng Phòng không và Không quân QDNDVN. Tuy nhiên, cần lưu ý đến những điểm yếu trong các biện pháp đối kháng điện tử, và, trên hết là tính rập khuôn nhất định của nó trong việc tổ chức và thực hiện. Các phương pháp gây nhiễu trong tất cả các cuộc không kích quy mô lớn của không quân chiến lược, chiến thuật và không quân hải quân trên tàu sân bay trong toàn bộ thời gian chiến dịch gần như không thay đổi.

Mức độ tự động hóa trong công tác điều khiển chỉ huy các phương tiện đối kháng điện tử chưa đủ cao. Tất cả các đài gây nhiễu chủ động của máy bay B-52, được thiết kế để chế áp radar của bộ đội các binh chủng radar, TLPK, PPK, đều phải điều khiển bằng tay qua sỹ quan hoa tiêu-trắc thủ (bật và tắt đài gây nhiễu; lựa chọn chế độ làm việc của thiết bị phát nhiễu; thiết lập độ rộng phổ của nhiễu và các thông số điều chế; cấu hình máy phát nhiễu trên tần số đài radar bị chế áp và giám sát thiết bị phát nhiễu làm việc) theo thông tin thu được với sự trợ giúp của đài trinh sát điện tử kiểu ALR-20.

Việc thiếu tự động hóa điều khiển chỉ huy các khí tài đối kháng điện tử của máy bay B-52 đã dẫn đến việc sử dụng chưa tối ưu các khí tài này. Ví dụ, đài gây nhiễu chủ động, có nhiệm vụ chế áp radar P-12, theo quy định, được bật lên ở khoảng cách lớn hơn nhiều so với tầm phát hiện của các phương tiện gây nhiễu đối với các radar đó. Phương tiện đối kháng điện tử sử dụng để chế áp các kênh bắt mục tiêu của đài điều khiển tên lửa PK SA-75M cũng được bật ở khoảng cách hơn 200 km đến đài điều khiển tên lửa (SNR-CHP). Ngoài ra, chế độ làm việc của thiết bị gây nhiễu được cài đặt từ trước, không phụ thuộc vào việc đài điều khiển đạn tên lửa làm việc trong chế độ nào.

Việc bật sớm và liên tục phương tiện đối kháng điện tử mà không tính đến thời gian làm việc của các đài radar bị chế áp, cùng việc phát xạ nhiễu cho phép binh chủng radar và tên lửa PK kịp thời phát hiện các nhóm máy bay B-52 xung kích, cung cấp chỉ thị mục tiêu cho binh chủng tên lửa PK và chuẩn bị các dữ liệu đầu vào cần thiết để xạ kích.

SỬ DỤNG ĐẠN CHỐNG RADAR

Được thực hiện bởi các tốp máy bay chuyên nhiệm phát hiện và chế áp đài radar PK, trong thành phần của nó thường có 4-6 máy bay không quân chiến thuật hoặc không quân hải quân trên tàu sân bay (các máy bay F-105G và F-105D, hiếm hơn cũng có F-4C, A-4, A-6A, A-7E và F-8). Để tấn công vào các trạm radar PK, không quân Mỹ áp dụng tên lửa chống radar AGM-45 "Shrike" và AGM-78 "Standard ARM".

Đạn chống radar được sử dụng để chế áp bằng hỏa lực đài điều khiển đạn tên lửa PK SA-75M, radar dẫn bắn PPK SON-9, radar phòng không P-35 và PRV-11 của binh chủng radar. Các đặc tính chính của các loại đạn chống radar này được kê trong bảng 7.

BẢNG 7.
(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/bang7a.jpg)

Các loại đạn chống radar được áp dụng theo cách sau.

Сác tốp chuyên nhiệm phát hiện và chế áp radar PK quần vòng ở phạm vi cách các khu vực ném bom của các máy bay В-52 từ 15-20 km, trên các chiều cao trung bình. Trong thành phần các tốp này có các kíp bay được huấn luyện cực kỳ đặc biệt để sử dụng đạn chống radar và thực hiện các thao tác cơ động chống tên lửa PK. Việc phóng đạn chống radar "Shrike" từ các máy bay ấy được thực hiện không muộn hơn 10-15 sau khi bật cao áp tại đài radar PK.

Thủ đoạn chiến thuật chính khi áp dụng đạn chống radar "Shrike" là phóng đạn trong tư thế bay bằng ở độ cao 2-4 km. Các biện pháp chiến thuật khác trong sử dụng đạn chống radar (phóng khi bổ nhào, bay ngóc lên) hiếm khi được dùng đến.

Các phi công Mỹ cố gắng thực hiện phóng đạn chống radar từ khoảng cách 15-35 km đến vị trí các đài radar PK bị chế áp, nhằm giảm thời gian bay của đạn chống radar và bằng cách đó hạn chế khả năng của các trắc thủ trạm radar mặt đất phát hiện được đạn chống radar. Việc phóng đạn được thực hiện chủ yếu theo cánh sóng biên đồ thị định hướng của ăng-ten đài radar.

Việc phát sóng ngắt quãng của các trạm radar, cùng với việc bước vào hoạt động đồng thời một số trạm radar nằm gần nhau, mức nhiễu chủ động do các máy bay thuộc các tốp xung kích và các tốp bảo đảm tạo ra cao, - tất cả những điều đó đã tác động tiêu cực đến tính chính xác của đạn chống radar. Đặc biệt có trường hợp 5 đến 8 đạn "Shrike" đồng thời được phóng ra, nhưng do sai số dẫn đường lớn (từ vài chục mét đến 1-2 km) nên không gây thiệt hại thực sự gì về con người cũng như trang bị cho lực lượng phòng không. Có lẽ cũng đủ khi nói rằng trong suốt thời gian chiến dịch tập kích đường không này, việc sử dụng đạn chống radar "Shrike" chỉ loại khỏi vòng chiến đấu một tổ hợp TLPK SA-75M và hai máy đo cao PRV-11.
.......


Tiêu đề: Re: Hoạt động chiến đấu của QC PK-KQ QĐND Việt Nam tháng 12 năm 1972
Gửi bởi: qtdc trong 23 Tháng Tám, 2012, 07:02:17 pm
(tiếp)

HOẠT ĐỘNG CỦA KHÔNG QUÂN MỸ ĐỐI VỚI CÁC SÂN BAY CỦA VNDCCH

Khi lập kế hoạch chiến dịch tập kích đường không chống VNDCCH, bộ chỉ huy quân sự Mỹ tính rằng để thực hiện thành công các nhiệm vụ tác chiến mà đã được giao phần chủ yếu cho lực lượng không quân chiến lược, và giảm thiểu tối đa thiệt hại do hỏa lực của hệ thống phòng không và không quân, cần phải khống chế không quân Việt Nam ngay tại các sân bay của họ, vô hiệu hóa chính các sân bay đó trong một thời gian dài. Vì mục đích này, trước hết các đòn không kích sẽ được giáng xuống các sân bay hiện đang hoạt động để phá hủy chúng và bằng cách trên, tước đi khả năng đưa lực lượng không quân Việt Nam vào chiến đấu.

Trong suốt thời gian chiến dịch, không quân Mỹ đã 82 lần tấn công các sân bay cứ của lực lượng không quân tiêm kích, tiến hành cả thảy 116 phi vụ cho mục đích này, trong đó các phi vụ của không quân chiến lược - 36, không quân chiến thuật và không quân hải quân trên tàu sân bay - 80. Các trận tấn công do các máy bay đơn lẻ hoặc các tốp máy bay nhỏ thực hiện.

Không quân chiến lược trong ngày đầu tiên của chiến dịch đã dội bom xuống tất cả các sân bay chính, và chỉ có sân bay quốc tế Gia-Lâm còn hoạt động được trong bốn ngày.

Cũng vào ngày đầu tiên của chiến dịch, các sân bay chủ yếu đang hoạt động như Nội Bài, Yên Bái, Hòa Lạc, Kiến An và sân bay quốc tế Gia-Lâm đã phải hứng chịu các trận không kích. Hiệu quả các cuộc dội bom của máy bay B-52 xuống các sân bay này khá cao.

Kết quả của các đợt ném bom đầu tiên mạng lưới sân bay của LLKQ QDNDVN là trong một thời gian nhất định hầu như toàn bộ mạng lưới đó bị vô hiệu hóa hoàn toàn. Chỉ tính riêng các đường băng và đường lăn của các sân bay nói trên đã phải hứng chịu khoảng 150 quả bom đủ các cỡ khác nhau. Bị ảnh hưởng nặng nhất là các sân bay: Nội Bài (22 trái bom rơi trúng đường băng và 5 trái rơi trúng đường lăn), Gia-Lâm (16 trúng đường băng và 8 trúng đường lăn), Kep (11 trái trúng đường băng và 12 trúng đường lăn), Yên-Bai (4 trúng đường băng và 7 trúng đường lăn), Hòa Lạc (8 trúng đường băng và 14 trúng đường lăn), Kiến An (9 trúng đường băng, 15 trúng đường lăn). Con số này không bao gồm số bom rơi trúng các làn đường dự bị, các đường nhánh và các hạng mục công trình căn cứ khác.

Ngoài đường băng và đường lăn, một số hạng mục công trình của sân bay cũng bị thiệt hại nặng (nhà chứa máy bay, đài kiểm soát không lưu, các dãy nhà công vụ), nhiều đường dây thông tin liên lạc, hệ thống các đài radar kiểm soát cất hạ cánh (РСП) và thiết bị chiếu sáng các sân bay bị đánh hỏng. Tại sân đỗ cảng hàng không quốc tế Gia-Lâm có 8 máy bay bị phá hủy hoặc làm hư hỏng (1 IL-18, 1 AN-24, 2 IL-14, 1 Li-2, 3 An-2), 1 trực thăng MI-6, và 8 xe chuyên dụng đang ở bên ngoài hầm trú ẩn.

Ví dụ điển hình nhất cho chiến thuật hoạt động của không quân Mỹ khi đánh vào sân bay là trận tấn công vào sân bay Nội Bài của 6 máy bay ném bom chiến lược B-52 và 3 máy bay F-111A trong cuộc không kích ồ ạt quy mô lớn đầu tiên của không quân Mỹ vào tối 18 tháng 12 năm 1972.

(http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_sx8.jpg)
Sơ đồ 8. Trận tấn công sân bay Nội Bài ngày 18.12.1972.

Hồi 18:50 giờ, 19:10 giờ và 19:20 giờ các máy bay tiêm kích-ném bom F-111A hoạt động đơn lẻ ở các độ cao cực thấp, tấn công bất ngờ xuống sân bay. Tuy nhiên, đòn tấn công không mấy hiệu quả, và về tổng thế, sân bay không bị mất mức sẵn sàng chiến đấu của mình.

Từ 19:20 giờ sân bay bị một biên đội F-4 phong tỏa, biên đội này bay tuần tra theo từng cặp ở cao độ 2000 và 6000 m. Hồi 19:50 biên đội này bay về phía đông bắc sân bay 15-20 km, tại đó chúng tiếp tục bay tuần tiễu.

Hồi 19:54 giờ tốp đầu tiên các máy bay ném bom chiến lược (3 B-52) trong đội hình "so le hàng ngang" với gián cách giữa các máy bay từ 700-800 m, trên chiều cao 10 600 m, tạo thành góc 65 ° so với trục đường băng đã ném bom xuống đường băng và đường lăn. Dải trúng bom oanh tạc từ mỗi máy bay B-52 có kích thước 150x1000m.

Hồi 19:57 giờ tốp thứ hai (3 B-52) cũng với đội hình "so le hàng ngang" trên cùng độ cao 10 600 m, dưới góc 50 ° so với trục đường băng đã tiến hành trận không kích thứ hai.

Kết quả các đợt ném bom là 22 trái bom rơi trúng đường băng bê tông và 5 trái rơi trúng đường lăn chính. Đường băng bị vô hiệu hóa gần như suốt thời gian chiến dịch. Nó chỉ được phục hồi vào cuối ngày 28 tháng 12. Đường lăn chính được phục hồi lại sau một ngày đêm và được sử dụng để cho các máy bay cất cánh và hạ cánh.

Không quân chiến thuật và không quân hải quân trên tàu sân bay đánh phá các sân bay trong suốt thời gian chiến dịch, chúng có nhiệm vụ - bằng cách tấn công đột ngột một cách có hệ thống, chủ yếu là vào ban đêm, nhằm ngăn chặn các sân bay phục hồi tình trạng sẵn sàng chiến đấu, gây mệt mỏi về tinh thần và thể chất cho đội ngũ phi công, cán bộ kỹ thuật và nhân viên phục vụ. Tích cực thực hiện nhiệm vụ này nhất là các máy bay tiêm kích-ném bom F-111A, và chúng chỉ hoạt động vào ban đêm.

Các máy bay F-111A tiếp cận sân bay ở độ cao 60-300 mét, hướng bay cắt ngang đường băng ở góc từ 30-60 °. Việc ném bom được thực hiện với động tác cơ động bay ngóc lên khi tiến vào công kích mục tiêu và ngắm theo mốc chuẩn định hướng hỗ trợ. Thao tác cắt bom diễn ra hoặc ở phần trên nửa vòng ngoặt gấp, hoặc tại góc 45 °, hoặc ở các góc nhỏ, hoặc thậm chí trong đường bay ngang. Để ném bom, theo quy luật, chúng thường sử dụng bom có thiết bị hãm.

Cần lưu ý rằng, mặc dù các máy bay F-111A hành động bất ngờ và thực tế thiếu hoạt động đánh trả của các phương tiện phòng không bảo vệ sân bay, hiệu quả của các cuộc tấn công nói chung là thấp. Điều này có lý do của nó, xét về một mặt, do bom ném xuống có một tỷ lệ lớn chưa nổ, và xét về mặt kia - do các sai số lớn của việc ném bom, cũng như lực lượng máy bay huy động vào các đợt tấn công là nhỏ.

Tính hiệu quả của các cuộc tấn công vào đường cất hạ cánh của các máy bay F-4, A-6 và A-7 thuộc không quân chiến thuật và không quân hải quân trên tàu sân bay cũng vì các lý do trên mà chỉ đạt được mức tương đối thấp.

Vấn đề liên quan đến tác động của không quân Mỹ đến các máy bay QDNDVN tại những nơi đậu thì ta thấy tác động đó là không hiệu quả. Suốt cả chiến dịch không có một máy bay chiến đấu nào của lực lượng không quân QDNDVN tại các sân bay bị phá hủy hoặc bị hư hỏng (trừ 8 máy bay vận tải đã bị phá hủy và một phần bị hư hại tại sân đỗ thuộc sân bay quốc tế Gia Lâm ngày 18 tháng 12).

Tổn thất máy bay tương đối nhỏ là do chúng đã được phân tán và đem đi trú ẩn trên các sân bay, cũng như bên ngoài các sân bay đó (trong núi, trong rừng rậm), do được ngụy trang tốt và do có các công trình trú ẩn được trang thiết bị kỹ thuật tốt.

TỔ CHỨC TRINH SÁT ĐƯỜNG KHÔNG

Trinh sát đường không như là một trong những loại hình đảm bảo chiến đấu chính trong quá trình chiến dịch tập kích đường không được bộ chỉ huy Mỹ đặc biệt chú trọng.

Công tác này được lên kế hoạch và tiến hành thực hiện nhằm xác định các tuyến đường bay tối ưu nhất cho các lực lượng không quân bay tới các mục tiêu phải tấn công, làm phát lộ hệ thống phòng không và xác định khả năng tấn công các mục tiêu ở các độ cao khác nhau, xác định chính xác các đặc tính của trường radar của QDNDVN, xác định tính chất của các đối tượng và đánh giá kết quả các cuộc ném bom vào các đối tượng đó, cũng như để tinh chỉnh các dữ liệu đầu vào cơ bản cần thiết cho việc tổ chức và đối phó hiệu quả với các phương tiện phòng không.

Trinh sát trên không được thực hiện trước mỗi cuộc tập kích quy mô lớn của không quân chiến lược, chiến thuật và không quân hải quân trên tàu sân bay, và trong một số trường hợp được đi trước bằng các đòn tấn công riêng lẻ của các tốp máy bay nhỏ. Nó được thực hiện chủ yếu bởi các máy bay trinh sát đặc biệt, trong đó gồm cả các máy bay trinh sát chiến lược SR-71, RC-135, máy bay trinh sát không người lái loại 147J, các máy bay trinh sát có người lái của không quân chiến thuật và không quân hải quân trên tàu sân bay RF-4C và RA-5C, cũng như tất cả các máy bay tham gia vào các cuộc tập kích đường không.

Trong quá trình chiến dịch, đã tiến hành 149 phi vụ xuất kích nhằm mục đích trinh sát, trong đó bằng máy bay trinh sát chiến lược - 14 phi vụ, bằng máy bay trinh sát không người lái - 49 phi vụ, và bằng máy bay trinh sát của không quân chiến thuật và không quân hải quân trên tàu sân bay - 86 phi vụ.

Cường độ trung bình ngày đêm của các chuyến bay của các máy bay-trinh sát (trước tiên là của máy bay trinh sát chiến lược và trinh sát không người lái) trong chiến dịch tập kích đường không so với mức trung bình ngày đêm hàng năm đã tăng khoảng 2,5 lần, chủ yếu là do sự gia tăng hoạt động của các máy bay trinh sát không người lái, cường độ của chúng so với mức hàng năm đã tăng lên 4 lần.

(http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_pic34.jpg)
© US AIR FORCE

Máy bay trinh sát chiến lược SR-71 đã tiến hành trinh sát toàn diện chủ yếu là các khu vực các thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, các sân bay chính đang hoạt động, cũng như tuyến giao thông các tỉnh phía Nam và các tình vùng trung tâm nước VNDCCH. Các tuyến đường bay của các chuyến bay trinh sát của chúng trong khoảng thời gian từ 18-30 tháng 12 năm 1972 được thể hiện trong sơ đồ 9.

(http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_sx9.jpg)
Sơ đồ 9. Các đường bay của máy bay-trinh sát SR-71 trong thời gian từ 18 đến 30 tháng 12 năm 1972.

Các chuyến bay trinh sát bắt đầu từ phía miền Nam Việt Nam hoặc từ phía vịnh Bắc Bộ với hướng chung tới thành phố Hà Nội và bay tiếp sang Lào. Khoảng một giờ sau, máy bay SR-71 bay trở lại từ Lào, và bay theo hướng tới các thành phố Hà Nội và Hải Phòng, bay thoát ra về phía vịnh Bắc Bộ.

Sự sắp xếp các tuyến đường bay như vậy cho phép nắm được tổng thể các khu vực chính yếu phải tấn công ở các tỉnh trung tâm VNDCCH và kiểm soát tình hình hoạt động của các tuyến vận tải dẫn về phía nam. Các chuyến bay của máy bay SR-71 được tiến hành ở các độ cao 20 000 - 24 000 m với tốc độ 2800-3200 km / h và diễn ra chủ yếu vào ban ngày khi trời không mây. Trên lộ trình chuyến bay thiết bị đối kháng điện tử không được bật lên. Tuy nhiên, khi trong không trung phát lên lệnh vô tuyến điều khiển của tổ hợp TLPK SA-75M thì chỉ sau 3-5 giây ta đã quan sát thấy xuất hiện nhiễu chủ động trên các màn hình dẫn đường đạn tên lửa.

Máy bay trinh sát chiến lược RC-135, theo quy luật, được sử dụng để trinh sát điện tử tổng thể. Xuất phát từ căn cứ không quân Kadena (đảo Okinawa), chúng bay tiếp tới mũi phái nam đảo Đài Loan, bay vào khu vực phía đông Đà Nẵng và từ đó bắt đầu trinh sát trong các khu vực quy định, thực hiện chuyến bay theo các tuyến ở các độ cao đến 12.000 m (trong khoảng 12 giờ).

Các máy bay bay trinh sát một cách nghiêm ngặt theo lịch trình hai lần trong một ngày đêm - một chuyến vào lúc 21:00-21:20, chuyến hai - vào khoảng 4:00-4:20. Trật tự và trình tự này đảm bảo được việc trinh sát điện tử suốt một ngày đêm trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Trinh sát chi tiết đường không được thực hiện bởi các máy bay không người lái và máy bay trinh sát có người lái thuộc không quân hải quân trên tàu sân bay và không quân chiến thuật. Trong mọi trường hợp, các chuyến bay của máy bay trinh sát KNL đều diễn ra vào ban ngày (8:00-17:00) trong thời tiết không mây hoặc khi có mây tầng trung và tầng thượng. Việc phóng máy bay TSKNL do máy bay mẹ C-130 thực hiện ở tầm xa 70-110 km cách đường bờ biển hoặc biên giới quốc gia của VNDCCH ở độ cao 3000 mét. Khi phóng máy bay TSKNL từ khu vực vịnh Bắc Bộ đường bay của chúng đi ở độ cao 200-600 m, và khi phóng từ Lào - chúng đi ở độ cao 500-2000 m theo địa hình địa phương. Dữ liệu của trinh sát đường không do máy bay TSKNL thu thập được, trong vòng 12-14 giờ sau khi chúng hạ cánh sẽ được chuyển đến các bộ tham mưu tương ứng.

Đường bay của máy bay trinh sát RF-4C và RA-5C diễn ra ở độ cao 1.000-4.000 m. Dữ liệu trinh sát đường không được chuyển đến các bộ tham mưu cấp trên qua 1-1,5 giờ sau khi máy bay hạ cánh.

Tính chất hoạt động của các máy bay trinh sát, tuyến đường bay của chúng, độ cao và thời gian của chuyến bay cho phép bộ chỉ huy các lực lượng PK và KQ QDNDVN xác định được trong một mức độ nhất định những nét khái quát ý đồ của đối phương, và thực hiện các biện pháp cần thiết để đẩy lùi các cuộc tấn công đường không của đối phương xuống các mục tiêu tại VNDCCH.
........


Tiêu đề: Re: Hoạt động chiến đấu của QC PK-KQ QĐND Việt Nam tháng 12 năm 1972
Gửi bởi: qtdc trong 24 Tháng Tám, 2012, 12:20:17 am
(tiếp)

CHỈ HUY VÀ THÔNG TIN LIÊN LẠC

Hệ thống chỉ huy quản lý và thông tin liên lạc được hình thành và hoàn thiện trong năm 1972 ở Đông Nam Á cho phép bộ chỉ huy Mỹ thực hiện chỉ huy hoạt động của không quân và các tàu hải quân khi huấn luyện chuẩn bị cũng như trong quá trình tiến hành "Chiến dịch Linebacker-2". Hệ thống đảm bảo sự phối hợp hành động của tất cả các lực lượng và các phương tiện vật chất khi thực hiện các cuộc tập kích đường không quy mô lớn xuống các đối tượng mục tiêu ở VNDCCH, giải quyết các vấn đề đảm bảo chiến đấu và tổ chức cứu hộ các phi hành đoàn của các máy bay bị bắn rơi hoặc gặp tai nạn.

Thực hiện chỉ huy chung hoạt động tác chiến của các lực lượng không quân - chiến thuật, hải quân và chiến lược - đó là một đơn vị có tên gọi là Trung tâm chỉ huy tác chiến thống nhất ở Sài Gòn (MACV - Military Assistance Command, Vietnam). Nó phối hợp hành động của các lực lượng khác nhau, đăng ký các phi vụ, ấn định và phân phối mục tiêu.

Lãnh đạo các hoạt động tác chiến của không quân chiến lược được thực hiện bởi bộ tham mưu SAC-Strategic Air Command (thông qua SCH của nó), triển khai tại căn cứ không quân Clark (Philippine). Nó tách biệt với bộ tham mưu SAC tại phần lục địa của Hoa Kỳ (thành phố Offut) và Trung tâm chỉ huy thống nhất ở Sài Gòn (MACV).

Lãnh đạo các hoạt động tác chiến của không quân chiến thuật là bộ tham mưu tập đoàn không quân số 7 thông qua một trung tâm được thành lập đặc biệt chỉ huy không quân chiến thuật, nằm trong khu vực thành phố Đà Nẵng (miền Nam Việt Nam). Trung tâm này thực hiện chức năng kiểm soát không phận lãnh thổ miền Nam Việt Nam. Trung tâm tiếp nhận các mục tiêu cần oanh tạc trên lãnh thổ VNDCCH từ Trung tâm chỉ huy tác chiến thống nhất (MACV).

Thực hiện lãnh đạo không quân hải quân trên tàu sân bay là trung tâm chỉ huy bay của lực lượng xung kích tàu sân bay 77 đóng trên một trong các tàu sân bay xung kích. Trung tâm giao mục tiêu đánh phá và phân phối lực lượng máy bay tham gia các cuộc không kích. Đến lượt mình, nó nhận các mục tiêu đánh phá từ Trung tâm chỉ huy tác chiến thống nhất tại Sài Gòn. Ngoài ra, trên mỗi tàu sân bay xung kích cũng có một SCH tàu sân bay đóng vai trò kiểm soát các chuyến bay, chỉ huy máy bay cất cánh, xác định trình tự và thời điểm hạ cánh, phái máy bay tiếp dầu đi tiếp nhiên liệu.

Trực tiếp kiểm soát chỉ huy các hoạt động tác chiến của không quân chiến lược, chiến thuật và không quân hải quân trên tàu sân bay trong các cuộc tập kích quy mô lớn hoặc hoạt động của máy bay đơn lẻ và các tốp máy bay nhỏ trên lãnh thổ VNDCCH được thực hiện từ SCH trên không, bố trí trên một máy bay EC-135. Trong "Chiến dịch Linebacker-2" đã thiết lập việc trực ban suốt ngày đêm của 3 máy bay EC-135, hai trong số đó cất cánh từ căn cứ không quân Kadena (đảo Okinawa) và một từ căn cứ không quân U-Tapao (Thái Lan). Nhiệm vụ trực ban được thực thi theo lịch trình xác định nghiêm ngặt, bằng phương pháp bay quần vòng trên không phận vịnh Bắc Bộ và không phận Lào. Các chuyến bay được thực hiện ở độ cao 8.500-12.500 m với tốc độ 850 km / h. Thời gian thi hành trực ban - 8 tiếng

Chỉ huy tốp máy bay xung kích, được phái đi tấn công các mục tiêu trên lãnh thổ VNDCCH, khi tiếp cận khu vực quần vòng của SCH trên không sẽ thiết lập liên lạc với nó, và báo cáo tọa độ vị trí của mình, số hiệu phi vụ, hướng, tốc độ, độ cao của chuyến bay và thời gian lưu lại trên mục tiêu. Tiếp theo, SCH trên không sẽ chỉ huy trình tự tác chiến của toàn bộ các máy bay tham chiến, thông báo cho các chỉ huy các tốp máy bay xung kích và đảm bảo về tình hình trên không trên tuyến đường bay, sự xuất hiện của các máy bay tiêm kích VNDCCH, cảnh báo xuất hiện máy bay tiêm kích Việt Nam, hành động và vị trí của họ, áp dụng các biện pháp hỗ trợ các phi hành đoàn bị bắn rơi hoặc gặp tai nạn.

Đề phòng trường hợp không thể chỉ huy hoạt động tác chiến của không quân hải quân trên tàu sân bay từ SCH trên không, đã thành lập trung tâm chỉ huy bay dự phòng, được đặt trên một tàu chiến trang bị tên lửa có điều khiển của Hoa Kỳ. Chiếc tàu tên lửa có điều khiển này cơ động trong vịnh Bắc Bộ ngoài khơi bờ biển miền Bắc Việt Nam, sao cho luôn tiếp cận càng gần càng tốt các khu vực tấn công chủ yếu. Có những số liệu cho thấy SCH dự phòng có thể tiếp nhận cả việc chỉ huy hoạt động tác chiến của không quân chiến lược và chiến thuật.

Một sự quan tâm đáng kể được giành cho các vấn đề kiểm soát vùng trời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Vai trò đặc biệt trong vấn đề này là của các máy bay AWACS chuyên nhiệm kiểu EC-121H, đóng tại căn cứ không quân Nakhonphanom (Thái Lan) và các máy bay loại E-1B "Tracer" và E-2A "Hawkeye", đóng căn cứ trên tàu sân bay. Thông thường, khu tuần vòng của chúng nằm trên vịnh Bắc Bộ ở độ cao 10.000-12.000 m. Có các trường hợp máy bay EC-121H bay tuần thám trên không phận Lào. Việc sử dụng các máy bay này, theo thừa nhận của bộ chỉ huy quân đội Mỹ là không đủ hiệu quả vì sự chưa hoàn thiện của các radar trinh sát.

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG CỨU HỘ
   
Đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao trạng thái tâm lý và tinh thần của các phi công trong thời gian không kích lãnh thổ VNDCCH, nơi mà hệ thống phòng không là một trở ngại lớn cho việc gây tội ác mà không bị trừng phạt, bộ chỉ huy Mỹ được giao nhiệm vụ tổ chức hoạt động cứu hộ các phi công trên các máy bay bị bắn rơi hoặc gặp tai nạn. Đối với các phi công khi thực hiện các chuyến bay trên bầu trời VNDCCH, các hướng dẫn bay cần thiết đều quy định việc áp dụng tất cả các biện pháp có thể để đảm bảo trong mọi trường hợp hướng chiếc máy bay bị thương bay về phía vịnh Bắc Bộ. Việc nhảy dù của phi công cần thực hiện trên vịnh Bắc Bộ ở mức cách xa nhất so với đường bờ biển nếu có thể được. Một chiếc xuồng cao su được tự động kích hoạt bơm căng để đảm bảo cứu phi công nổi trên mặt nước, còn máy phát vô tuyến – dẫn đường cho các phương tiện cứu nạn đến nơi.

Nhiệm vụ giải cứu phi hành đoàn các máy bay bị bắn rơi được giao cho đơn vị cứu hộ đặc nhiệm 110 thuộc phi đoàn yểm trợ tác chiến số 7 và cho các tàu chiến của Hạm đội 7 Hoa Kỳ. Các máy bay trực thăng CH-53 của đơn vị cứu hộ, đóng căn cứ trên các tàu chiến (tàu khu trục, tàu khu trục hạng nhẹ, tàu dok-đổ bộ chở máy bay trực thăng "Denver" và các tàu khác có sàn đáp cất hạ cánh cho máy bay trực thăng), cơ động trong vịnh Bắc Bộ, tiến hành ngày đêm quan sát khu mặt nước vịnh Bắc Bộ, tiếp giáp với bờ biển miền Bắc Việt Nam, cũng như sâu 9-10 km vào trong lãnh thổ. Việc tuần tra được tiến hành trong các khu vực máy bay chiến đấu đi vào vùng trời miền Bắc Việt Nam và đi ra sau khi không kích các mục tiêu tại VNDCCH. Ngoài ra, trên boong của mỗi con tàu đều có một máy bay trực thăng sẵn sàng khởi hành trong 5 phút. Các tàu chiến, khi thực hiện các chức năng chủ yếu kiểm soát vùng trời miền Bắc Việt Nam, đồng thời cũng kiểm soát bề mặt vịnh Bắc Bộ và một phần lãnh thổ miền Bắc Việt Nam (sâu vào 7-8 km).

Minh họa cho chiến thuật hoạt động cứu hộ ta có thể dẫn ra ví dụ sau đây. Ngày 20 tháng 12 năm 1972, lúc 08:15 giờ hai đạn tên lửa phòng không có điều khiển được phóng lên chiếc máy bay đầu đàn của biên đội A-7 Corsair-2 ", đang bay ở độ cao 4500 m trong đội hình "so le ngang". Chiếc máy bay trúng đạn và rơi trên cạn, vị trí cách 5 km về phía đông sân bay Kiến An. Phi công bung dù và nhờ gió tây-bắc đẩy ra vịnh Bắc Bộ. Tại thời điểm này, các máy bay khác trong biên đội giảm độ cao xuống còn 300-500 m và dựng lưới lửa súng máy xung quanh khu phi công rơi, ngăn chặn các phương tiện nổi của Việt Nam tiếp cận. Sau 10 phút, một cặp trực thăng CH-53 "Sea King" bay đến, một trong hai chiếc đó đã thực hành cứu viên phi công Mỹ lên máy bay.

Đã có những trường hợp mà một cặp trực thăng cứu hộ thâm nhập vào sâu lãnh thổ Việt Nam 100 km trở lên. Khi đó, một trong hai chiếc sẽ dùng hỏa lực bảo vệ cho chiếc thứ hai, ngăn các lực lượng dân quân bắt giữ viên phi công trên mặt đất. Đồng thời, chiếc thứ hai sẽ sà thấp xuống và thực hành cứu viên phi công của chiếc máy bay bị bắn rơi lên trực thăng.

HẾT CHƯƠNG II
.......


Tiêu đề: Re: Hoạt động chiến đấu của QC PK-KQ QĐND Việt Nam tháng 12 năm 1972
Gửi bởi: qtdc trong 25 Tháng Tám, 2012, 12:09:54 pm
(tiếp)

CHƯƠNG III. HOẠT ĐỘNG TÁC CHIẾN CỦA QUÂN CHỦNG PK VÀ KQ QĐND VIỆT NAM

ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA QC PK-KQ QĐNDVN VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỌ ĐÁNH TRẢ CÁC CUỘC KHÔNG KÍCH CỦA KHÔNG QUÂN MỸ

Quân chủng Phòng không và Không quân là một quân chủng thuộc Các LLVT Quân đội Nhân dân Việt Nam. Về tổ chức nó gồm có các sư đoàn PK, các sư đoàn pháo cao xạ và các đơn vị cao xạ độc lập, các đơn vị không quân và radar, các phân đội binh chủng đặc biệt và hậu cần. Cơ cấu tổ chức của Quân chủng Phòng không Không quân QĐNDVN được trình bày trên hình 10.

(http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_sx10.jpg)
Sơ đồ 10. Cơ cấu tổ chức QC PK và KQ QĐNDVN, từ trái qua phải, từ trên xuống dưới:
hàng 1: - Bộ tham mưu QC PKKQ - Tư lệnh và Chính ủy QC PKKQ - Cục Chính trị QC PKKQ;
hàng 2: - Các phòng ban tham mưu theo ngành dọc - Tư lệnh binh chủng KQ - Tư lệnh binh chủng radar - Các đơn vị và phân đội hậu cần - Các phòng ban chính trị theo ngành dọc;
hàng 3: - Các trung đoàn KQ tiêm kích - Các trung đoàn KQ vận tải - Các sư đoàn PK (TLPK) - Các sư đoàn pháo cao xạ - Các đơn vị cao xạ độc lập - Các trung đoàn radar - Các đơn vị tác chiến điện tử độc lập;
hàng 4: - Các trung đoàn TLPK - Các trung đoàn PPK.


Thành phần QC PK và KQ có: các binh chủng – TLPK, PPK, KQ và radar, lực lượng nghiệp vụ binh chủng – các đơn vị và phân đội trinh sát, thông tin liên lạc, công binh, hóa học, v.v., cũng như các đơn vị, các phân đội và cơ quan hậu cần.

Trong trang bị vũ khí của các đơn vị và phân đội binh chủng LLPK vào tháng 12 năm 1972, về cơ bản là các loại vũ khí và khí tài tác chiến có nguồn gốc sản xuất từ Liên Xô và Trung Quốc. Trong trường hợp này, binh chủng TLPK được vũ trang các hệ thống SA-75M của Liên Xô, các máy bay tiêm kích - MiG-21 và MiG-17 Liên Xô và MiG-19 Trung Quốc sản xuất; trang bị của các đại đội radar gồm các đài radar sau: radar Liên Xô các kiểu P-10, P -12, P-15, P-30, P-35, PRV-11, radar Trung Quốc các loại 406, 513, 514, 843 và radar Hungary loại P-35; các đơn vị pháo PK được trang bị pháo cao xạ các cỡ 37, 57, 85 và 100 mm là sản phẩm của cả Liên Xô và Trung Quốc.

Sư đoàn phòng không - một loại hình đơn vị hợp thành cấp chiến thuật. Biên chế tác chiến phụ thuộc vào vai trò và vị trí của nó trong hệ thống phòng thủ đường không chung của cả đất nước. Theo quy định, sư đoàn có trong biên chế 1-3 trung đoàn TLPK và 1-3 trung đoàn cao xạ. Các đơn vị KQTK và binh chủng radar không ở trong thành phần biên chế sư đoàn.

Binh chủng Không quân tiêm kích và Radar về tổ chức bao gồm các trung đoàn, là đơn vị chiến thuật chủ yếu của loại hình binh chủng này. Các trung đoàn thuộc quyền trực tiếp (sơ đồ 10) các tư lệnh binh chủng KQ và binh chủng radar (một cách tương ứng).

Trong mùa xuân và mùa hè năm 1972, QC Phòng không và Không quân QDNDVN đã tiến hành các hoạt động chiến đấu mãnh liệt giáng trả các cuộc không kích của Mỹ, bắt đầu từ tháng Tư, đã dội bom vào các mục tiêu hoạt động quan trọng nhất ở miền Bắc Việt Nam. Trong thời gian này, lực lượng không quân tiêm kích đã được sử dụng chủ động và rất hiệu quả; KQTK đã thực hiện gần 800 phi vụ chiến đấu và đã tiến hành 200 trận không chiến, trong đó bắn rơi hơn 80 máy bay địch. Vai trò đáng kể thuộc về lực lượng pháo cao xạ: họ bắn rơi khoảng 150 máy bay địch. Đóng vai trò chủ chốt trong việc đẩy lui các cuộc không kích của máy bay Mỹ, cũng như trước đây, là binh chủng tên lửa phòng không QDNDVN. Đến đầu tháng 12, binh chủng tên lửa đã bắn rơi 350 máy bay địch, nghĩa là gần 60% tổng số máy bay bị bắn rơi trên bầu trời VNDCCH trong năm 1972.

Trong cuộc đấu tranh với không quân Hoa Kỳ ở thời kỳ nói trên QC PK và KQ cũng chịu những tổn thất nặng nề. Không quân tiêm kích mất khoảng 50 máy bay và 15 phi công. Các trận địa phóng của bộ đội tên lửa phòng không đã hơn 60 lần bị tấn công bằng bom và đạn chống radar loại "Shrike", đôi khi dẫn đến loại khỏi vòng chiến đấu đến 50% các hệ thống tên lửa phòng không. Trên các trận địa bệ phóng và trận địa kỹ thuật, đối phương đã phả hủy khoảng 200 đạn tên lửa phòng không. Đã có 137 lần phóng đạn tên lửa loại "Shrike" hàng chục vụ ném bom dội xuống đội hình chiến đấu của bộ đội radar QDNDVN gây ra các loại hư hại khác nhau của hơn 10 trạm radar.

Do thiệt hại khí tài chiến đấu và thiệt hại đội ngũ quân nhân được huấn luyện nên mức độ sẵn sàng chiến đấu của một số đơn vị và phân đội tên lửa PK và KQ tiêm kích đã bị giảm nhẹ.
..........


Tiêu đề: Re: Hoạt động chiến đấu của QC PK-KQ QĐND Việt Nam tháng 12 năm 1972
Gửi bởi: qtdc trong 28 Tháng Tám, 2012, 07:03:20 pm
(tiếp)

Mặc dù có một số thành công trông thấy vào cuối năm tại các cuộc đàm phán ở Paris và sự tạm ngừng ném bom các mục tiêu phía bắc vĩ tuyến 20, ban lãnh đạo QĐNDVN vẫn tính đến khả năng Hoa Kỳ sử dụng các cuộc không kích quy mô lớn vào các đối tượng trọng yếu ở trung tâm của đất nước. Do đó, Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không và Không quân đã tận dụng quãng thời gian tạm nghỉ này và thi hành trước một loạt các biện pháp để làm giảm hiệu quả của các cuộc không kích. Với mục đích đó họ đã thực hiện một số biện pháp hoàn thiện và tăng cường các cụm TLPK, bảo vệ các thành phố Hà Nội, Hải Phòng và các mục tiêu khác thuộc phần trung tâm nước VNDCCH; cải thiện hệ thống chỉ huy và đảm bảo hậu cần-kỹ thuật của quân chủng, cũng như trang thiết bị và ngụy trang các SCH, các trung tâm điều khiển, các trận địa của bộ đội TLPK, pháo PK và radar; hoàn thiện các phương pháp phân tán máy bay tiêm kích trong các hầm trú ẩn ngoài phạm vị sân bay.

Bảo vệ thành phố Hà Nội thủ đô VNDCCH là 1 sư đoàn PK gồm 3 trung đoàn tên lửa và 5 trung đoàn pháo cao xạ. Cụm PK này có chín tiểu đoàn TLPK luôn ở trạng thái sẵn sàng chiến đấu và 12-15 đại đội pháo phòng không và là cụm PK mạnh nhất trong số tất cả các cụm bộ đội phòng không. Những nỗ lực chính của cụm các đơn vị TLPK và PPK này tập trung bảo vệ các hướng tây bắc và hướng tây – hướng nhiều khả năng nhất cho hoạt động tập kích đường không của không quân chiến lược đối phương. Nhìn chung, cụm này có tính chất là lực lượng tạị chỗ bảo vệ khu vực Hà Nội từ tất cả các hướng. Để tăng cường bảo vệ thủ đô đã thành lập các trung đoàn tên lửa PK mới trang bị tổ hợp S-125. Tuy nhiên, vào đầu chiến dịch này họ không kịp triển khai và không tham gia chiến đấu.

Thành phố và cảng Hải Phòng được bảo vệ bởi 1 sư đoàn PK gồm hai trung đoàn tên lửa phòng không và một trung đoàn pháo cao xạ. Có tất cả bảy tiểu đoàn tên lửa phòng không và năm đại đội pháo cao xạ sẵn sàng chiến đấu. Những nỗ lực chính của cụm này tập trung vào các hướng nam, đông nam và hướng đông.

Trong khu vực Quân khu 4 (phía nam VNDCCH) vẫn còn một cụm đáng kể bộ đội PK, gồm 2 sư đoàn PK, họ có 4 trung đoàn tên lửa PK với 16 tiểu đoàn TLPK (8 trong số chúng mất sức chiến đấu do khí tài hỏng) và 8 trung đoàn PPK (48 đại đội). Cụm này bảo vệ các tuyến giao thông dẫn về vùng phía Nam VNDCCH, các bến phà, kho tàng, cơ sở hậu cần và các khu vực tập kết quân đội ở các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và Quảng Bình.

Để huấn luyện cho bộ đội TLPK, từ đầu tháng 12 đã tổ chức và thực hiện thường xuyên diễn tập một-hai cấp. Trong các bài diễn tập đã sử dụng những kinh nghiệm thu được trong tháng 11 tại Quân khu 4, tại đó khi chuẩn bị cho chiến dịch “Linebacker-2", người Mỹ đã thực hành tấn công bằng một lực lượng lớn không quân chiến lược (đôi khi tham gia không kích có 15-18 máy bay B-52). Một trong những hướng trọng tâm của diễn tập là tập trung hỏa lực của 2 hoặc 3 tiểu đoàn tên lửa PK vào một mục tiêu (một tốp B-52) trong điều kiện trên không và điều kiện nhiễu rất phức tạp khi đối phương sử dụng đạn chống radar.

Việc các máy bay tiêm kích bảo vệ các mục tiêu ở trung tâm VNDCCH được lên kế hoạch thực hiện bằng toàn bộ các trung đoàn KQTK xuất phát từ 4 sân bay.

Trong các trung đoàn tiêm kích, người ta lựa chọn kỹ càng các phi công được đào tạo tốt nhất. Người ta tổ chức huấn luyện cho họ theo một chương trình đặc biệt, dự kiến các trận không chiến với B-52 (do máy bay IL-18 mô phỏng), cất cánh đường băng ngắn với sự trợ giúp của tên lửa bổ trợ cất cánh (ракетных пороховых ускорителей), hạ cánh trên sân không có trang thiết bị, v.v.

Trong các đơn vị binh chủng radar đã hoàn thành giải quyết các vấn đề bảo đảm hiệu quả cao hơn phục vụ cho các đơn vị TLPK, PPK, KQTK trong các điều kiện nhiễu vô tuyến nặng nhờ sự trợ giúp của các đại đội bố trí bên sườn (các cứ điểm bên sườn).

Đã chính xác hóa sơ đồ thông tin vô tuyến – hữu tuyến. Thông tin liện lạc hai chiều được đảm bảo (chủ yếu là thông tin liên lạc vô tuyến) giữa các tiểu đoàn TLPK và phân đội radar gần nhất.

Trong tất cả các đơn vị binh chủng đã tiến hành công tác bảo trì theo các định kỳ khác nhau, bổ sung phụ tùng, vật tư, nhiên liệu và dự trữ vật chất-kỹ thuật trên các trận địa. Trong binh chủng TLPK tại tất cả các trận địa xạ kích của các tiểu đoàn tên lửa PK thuộc cụm PK Hà Nội và Hải Phòng đã tập trung đủ một cơ số đạn TLPK có điều khiển (6 đạn – trên bệ phóng và 6 đạn – trên xe chở và tiếp đạn).

Trong các đơn vị binh chủng TLPK và radar đã trang bị thêm các công trình trú ẩn bổ sung, tăng cường bảo vệ cabin bằng các phương tiện thủ công (tre, bao tải đất, v.v ...). Không quân đã tiến hành phân tán bổ sung các máy bay tiêm kích trên các sân bay vào hầm trú ẩn, nằm cách sân bay căn cứ 15-20 km (và đôi khi 120 km).

Tuy nhiên, Bộ Tư Quân chủng PKKQ, dù đã bố trí một số thời gian nhất định để huấn luyện bộ đội cách đánh trả các cuộc không kích ồ ạt quy mô lớn của không quân Mỹ, cũng không thể hiện thực hóa đầy đủ tất cả các khả năng của các lực lượng và khí tài phòng không sẵn có và khai thác khả năng sẵn sàng chiến đấu của nó một cách đầy đủ. Ví dụ, tính đến ngày 18 tháng 12, chỉ có 66% các tiểu đoàn TLPK và 38% máy bay tiêm kích sẵn sàng chiến đấu. Đối với tác chiến ban đêm đã chuẩn bị được 18 phi công, trong đó MiG-21 – 13 người và MiG-17 – 5 người.

Để làm cơ sở hoạt động chiến đấu cho QC PKKQ đánh trả các cuộc không kích của không quân Mỹ, ban lãnh đạo QĐNDVN đã ban hành chỉ thị: ưu tiên trước hết dùng lực lượng TLPK tiêu diệt các các máy bay ném bom chiến lược B-52, dùng lực lượng pháo PK – tiêu diệt các máy bay không quân chiến thuật và máy bay hải quân trên tàu sân bay, KQTK tác chiến chống lại không quân chiến lược, chiến thuật và không quân hải quân trên tàu sân bay chỉ bằng lực lượng trực chiến.

Ngày 17 tháng 12, một ngày trước khi bắt đầu chiến dịch tập kích đường không chiến lược, Bộ chỉ huy QĐNDVN đã biết về kế hoạch hoạt động của nó. Do đó Quân chủng Phòng không và Không quân QĐNDVN đã được chuyển sang trạng thái sẵn sàng chiến đấu hoàn toàn.

Sau khi đưa bộ đội chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu hoàn toàn, tất cả các chỉ huy các sư đoàn PK, chỉ huy các đơn vị cấp dưới, các phân đội độc lập được gọi về SCH trung tâm, tại đây Tư lệnh QC PKKQ trực tiếp giải thích tình hình và một lần nữa xác định lại nhiệm vụ chiến đấu được giao cho bộ đội. Tư lệnh sư đoàn phòng không bảo vệ Hà Nội được lệnh chỉ sử dụng TLPK diệt máy bay ném bom chiến lược. Các chỉ huy các sư đoàn khác được lệnh dung TLPK tiêu diệt tất cả các máy bay đàng ở trong vị trí có các tham số xạ kích thuận lợi, và trước hết ưu tiên diệt B-52. Các chỉ huy trung đoàn TLPK cũng được lệnh hạn chế tiêu thụ đạn tên lửa.

Các đơn vị và các phân đội PPK nằm trong thành phần sư đoàn PK được lệnh tiêu diệt các máy bay bổ nhào và các mục tiêu bay thấp, đặc biệt là máy bay tiêm kích-ném bom F-111A, cũng như bảo vệ các trận địa của tiểu đoàn TLPK và sân bay căn cứ của không quân tiêm kích.

Tư lệnh Không quân được lệnh dùng lực lượng trực chiến thi hành nhiệm vụ chủ yếu là tiêu diệt máy bay ném bom chiến lược B-52.

Phần cuối ngày 18 tháng 12 Bộ Tư lệnh QC PKKQ đã biết việc di chuyển của tàu sân bay "Saratoga" vào phần phía bắc Vịnh Bắc Bộ. Hồi 18:30 giờ phân đội radar nằm trên biên giới với Lào, phát hiện ra những chiếc máy bay F-111A đầu tiên ở khoảng cách 250 km và độ cao 900 m, đang bay đến biên giới Việt Nam. Sau 15-18 phút họ phát hiện nhóm F-4, thuộc thành phần tham gia cuộc không kích quy mô lớn đầu tiên.

Tới 19:50 giờ toàn bộ các binh chủng thuộc QC PKKQ đã tiến hành hoạt động chiến đấu đánh trả các cuộc không kích ồ ạt của không quân Mỹ. Khi chống trả các cuộc tấn công đường không, các đơn vị phòng không của đất nước trong một đêm đã 35 lần xạ kích tên lửa PK có điều khiển, bắn hàng trăm đạn PPK và cho xuất kích hai phi vụ KQTK trực chiến, kết quả 7 máy bay địch bị bắn rơi, trong đó có 3 máy bay ném bom B-52 và 1 máy bay tiêm kích-ném bom F-111A. Binh chủng TLPK tiêu thụ 69 đạn tên lửa PK.

Kết quả hoạt động chiến đấu của QC PKKQ QĐNDVN và dân quân tự vệ trong việc đánh trả các cuộc không kích của không quân Mỹ trong tháng 12 năm 1972 được trình bày trong bảng 8.

BẢNG 8
(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/bang8sua.jpg)

Bảng này cho thấy binh chủng TLPK đã đảm nhiệm gánh nặng chủ yếu trong hoạt động chiến đấu của QC PKKQ đánh trả các cuộc không kích ồ ạt quy mô lớn bằng máy bay của Mỹ. Cũng đủ khi nói rằng mỗi đêm binh chủng đã thực hiện 10-12 lần xạ kích và nhiều hơn nữa. Trong 12 ngày đêm diễn ra "Chiến dịch Linebacker-2", binh chủng TLPK đã tiêu diệt 54 máy bay (66%), trong đó có 31 chiếc B-52. Đặc biệt hiệu quả là hoạt động tác chiến của họ trong đêm 26 tháng 12, sau nghỉ lễ Giáng sinh 36 giờ, Không quân Mỹ đã nối lại các cuộc ném bom và 63 chiếc B-52 đã tấn công đồng thời xuống các thành phố Hà Nội, Hải Phòng và Thái Nguyên. Bộ đội TLPK đã thực hiện 27 lần xạ kích trong trận chiến đấu đó và đã hạ 7 chiếc B-52 và 2 chiếc F-4.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng hiệu quả của các trận chiến đấu với các máy bay ném bom B-52 của binh chủng tên lửa PK được xác định trên nhiều mặt bởi sự tiết kiệm đạn trong quá trình xạ kích do năng suất làm việc thấp của các tiểu đoàn kỹ thuật, không kịp bổ sung lượng đạn đã tiêu thụ tại các tiểu đoàn tên lửa PK, cũng như sự tập trung hóa cứng nhắc khi sử dụng đạn tên lửa PK có điều khiển.

Không quân tiêm kích QĐNDVN trong quá trình chiến dịch đã thực hiện 31 phi vụ xuất kích, đánh được 8 trận không chiến đấu, bắn rơi 7 máy bay địch (9% tổng số máy bay địch bị hạ trong chiến dịch), trong đó có hai B-52.

Để chiến đấu chống lại các máy bay B-52, các máy bay tiêm kích MiG-21 được sử dụng  một cách đơn lẻ. Không chiến với không quân chiến thuật, theo quy luật, thường diễn ra với một cặp MiG-21. Các loại tiêm kích khác không được sử dụng vào các trận đánh.

Hầu hết các phi vụ xuất kích đều được các phi công QĐNDVN thực hiện từ đường băng đất nện có kích thước giới hạn, và từ các đường lăn. Có những trường hợp người ta lấy MiG-21 ra khỏi nơi cất giấu bằng trực thăng Mi-6. Việc đó được thực hiện rất bí mật, cho phép phi công hoạt động như trong một trận phục kích.

Không chiến trên bầu trời Việt Nam tái khẳng định rằng các máy bay tiêm kích Xô viết MiG-21 có các đặc tính kỹ thuật-hàng không cao và có khả năng tiêu diệt các máy bay hiện đại của đối phương.

Cần lưu ý trình độ cao trong công tác huấn luyện chiến đấu của phi công Việt Nam, họ là những người đã thể hiện lòng dũng cảm và chủ nghĩa anh hùng trong điều kiện không quân Mỹ áp đảo hoàn toàn trên không trung, cũng như mức độ cao về huấn luyện tinh thần và tâm lý. Các phi công Việt Nam luôn luôn nỗ lực tìm kiếm thế chủ động trong tác chiến, mặc dù có sự áp đảo lực lượng của không quân Mỹ.

Vai trò quan trọng trong cuộc chiến đấu chống lại không quân chiến thuật và KQHQ trên tàu sân bay, đặc biệt với máy bay tiêm kích-ném bom F-111A, thuộc về các đơn vị pháo phòng không và các phân đội phòng không của lực lượng dân quân tự vệ. Họ đã bắn rơi 20 máy bay địch (25% tổng số máy bay địch bị tiêu diệt trong tháng 12), trong đó có 5 máy bay F-111A.

Tổng hợp các biện pháp mà Bộ tư lệnh QC PKKQ tiến hành trong việc trang thiết bị kỹ thuật công binh công trình và ngụy trang các sân bay, trận địa, SCH, về cơ bản đã đảm bảo khả năng sinh tồn cho LLPK. Mặc dù sự áp đảo trong không trung của không quân Mỹ, mặc dù có vô số cuộc không kích xuống các sân bay và các trận địa PK, không có một máy bay tiêm kích nào bị phá hủy trên mặt đất, còn các trận tấn công xuống các trận địa của các tiểu đoàn TLPK, các trạm radar và các trung tâm chỉ huy trong nhiều trường hợp không đủ hiệu quả.

Trong thực tế, mặc cho không quân Mỹ có ưu thế tuyệt đối trên không, và chúng đã sử dụng các loại máy bay chiến đấu và vũ khí hiện đại nhất và có uy lực mạnh nhất, bộ đội PKKQ QĐNDVN cùng lực lượng dân quân tự vệ đã tiêu diệt 81 máy bay đối phương, trong đó có 34 B-52 và 5 F-111A, gây thiệt hại lớn cho đối thủ đường không.

Thiệt hại đáng kể mà Không quân Mỹ phải chịu, lòng dũng cảm, tinh thần can đảm, chủ nghĩa anh hùng của các lực lượng PKKQ, của tất cả nhân dân Việt Nam là một trong những lý do chính buộc người Mỹ phải từ bỏ việc kéo dài hơn nữa "Chiến dịch Linebacker-2".
..............


Tiêu đề: Re: Hoạt động chiến đấu của QC PK-KQ QĐND Việt Nam tháng 12 năm 1972
Gửi bởi: qtdc trong 29 Tháng Tám, 2012, 02:02:02 pm
(tiếp)

TỔ CHỨC CHỈ HUY BỘ ĐỘI PKKQ

Việc lãnh đạo và chỉ huy chung các hoạt động tác chiến của các đơn vị hợp thành và các đơn vị binh chủng do Bộ Tư lệnh QC PKKQ thực hiện từ SCH Trung tâm.

Các nguyên tắc cơ bản chỉ huy bộ đội PK và KQ xuất phát từ chỉ thị của BCH Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, bản chất của nó là sự cần thiết phải giành được chiến thắng bằng các lực lượng nhỏ trước kẻ thù có số lượng lớn đến múc áp đảo mà vẫn bảo tồn được lực lượng của mình.

Dựa trên các nguyên tắc này, Bộ chỉ huy QĐNDVN đã đặt nhiệm vụ cho QC PKKQ - tiêu diệt lực lượng chủ yếu của Không quân Mỹ - các máy bay ném bom chiến lược và máy bay tiêm kích-ném bom, F-111A. Tư lệnh bộ đội PKKQ cụ thể hoá nhiệm vụ đó và xác định đối thủ chính đối với binh chủng TLPK và KQTK - máy bay ném bom chiến lược B-52, đối với LL pháo PK – các máy bay tiêm kích-ném bom của không quân chiến thuật và máy bay cường kích trên tàu sân bay.

Công tác lãnh đạo chỉ huy các hoạt động tác chiến QC PKKQ thực hiện dựa trên quyết định của Tư lệnh Quân chủng về việc đánh trả các cuộc không kích của không quân Mỹ, soạn thảo phù hợp với các mục tiêu đặt ra cho bộ đội các binh chủng trong quân chủng như trình bày ở trên. Trường hợp tình hình có thay đổi đột ngột, việc làm rõ quyết định đã ban hành (thay đổi nhiệm vụ chiến đấu, cơ động lực lượng và phương tiện để thay đổi các cụm PK hoặc khôi phục lại sự sẵn sàng chiến đấu của nó, sử dụng lực lượng dự bị và phương tiện dự trữ, làm rõ các vấn đề tổ chức hợp đồng giữa các binh chủng trong quân chủng) sẽ được Tư lệnh QC PKKQ thực hiện trong thời gian hoạt động chiến đấu trên cơ sở các báo cáo của cá nhân các thủ trưởng phòng ban nghiệp vụ Bộ Tham mưu QC PKKQ, các tư lệnh binh chủng và các tư lệnh sư đoàn PK.

SCH Trung tâm, từ đó thực hiện việc lãnh đạo chỉ huy chung các lực lượng PKKQ, bao gồm các phòng cỉ huy tác chiến của Tư lệnh QC PKKQ, SCH binh chủng radar, SCH binh chủng không quân và trung tâm thông tin liên lạc. Tất cả đều có trang thiết bị độc lập, đảm bảo giải quyết nhiệm vụ riêng của mình.

Tại SCHTT có bốn kíp tác chiến, mỗi kíp gồm 170 người (55 sĩ quan và 115 hạ sĩ quan, chiến sĩ, công nhân viên quốc phòng).

Lãnh đạo kíp tác chiến là một trực ban chỉ huy trong số các phó tư lệnh QC PKKQ. Kíp tác chiến gồm có trực ban chỉ huy QC PKKQ, trực ban tác chiến binh chủng KQ và radar, trực ban tác chiến quân báo, thông tin liên lạc, hậu cần, chính trị, kỹ thuật và trực ban tác chiến theo hướng.

Việc chuyển bộ đội sang trạng thái sẵn sàng chiến đấu № 1 thực hiện theo quyết định của Bộ Tổng tham mưu QĐNDVN. Khi có sự xuất hiện bất ngờ của máy bay địch, quyền này được trao cho tư lệnh quân chủng, khi vắng mặt tư lệnh tại SCHTT – quyền thuộc về người trực ban chỉ huy QC PKKQ và thậm chí là trực ban tác chiến (với báo cáo tiếp theo về việc ra mệnh lệnh đó).

Để tăng cường cơ cấu tổ chức tổng thể của công tác chỉ huy bộ đội tác chiến, kiểm soát nghiêm ngặt tất cả các hoạt động của bộ đội và các kíp chiến đấu, cũng như nhằm tuân thủ chế độ bảo mật đã thiết lập 9 chế độ hoạt động, được tuyên bố bởi các trực ban tác chiến QC PKKQ. Nội dung các chế độ được xác định một cách đặc biệt bởi các hướng dẫn đã ban hành, các quy định chính trong số đó như sau:
- Chế độ số 1: chuyển bộ đội sang sẵn sàng chiến đấu cấp 1;
- Chế độ số 2: chuyển bộ đội sang sẵn sàng chiến đấu cấp 2;
- Chế độ số 3: Báo cáo về tình hình trong ngày và thông báo xuống các SCH cấp dười;
- Chế độ số 4: kiểm tra sự sẵn sàng chiến đấu của bộ đội và báo cáo kết quả;
- Chế độ số 5: (chế độ nội bộ SCH) nhằm làm cho trực ban tác chiến làm quen với tình hình trong quá trình trực ban và được tuyên bố hai lần một ngày vào buổi sáng và buổi tối. Buổi sáng nghe báo cáo của các cấp dưới, nghiên cứu tình hình và đưa ra các hướng dẫn và các mệnh lệnh trong ngày. Buổi tối thì tổng kết công tác trực ban chiến đấu trong ngày cảnh báo và đặt nhiệm vụ cho ban đêm;
- Chế độ số 6: trực ban tác chiến các SCH cấp dưới báo cáo về các hoạt động của đơn vị mình;
- Chế độ số 7: phân tích trận chiến đấu và đánh giá việc thực hiện các nhiệm vụ tác chiến được giao;
- Chế độ số 8: thực hiện diễn tập huấn luyện kíp chiến đấu SCH;
- Chế độ số 9: chế độ nội bộ SCHTT, được xác định tùy thuộc vào tình hình, ghi chép số liệu vào sổ trực ban.

Kinh nghiệm áp dụng các chế độ làm việc nói trên của các kíp chiến đấu trong hoàn cảnh một cuộc chiến tranh đường không kéo dài (khoảng 8 năm) với Không quân Mỹ cho thấy sức sống và tính khả thi của chúng – chúng loại trừ được sự căng thẳng quá mức và không cần thiết trong đội ngũ lãnh đạo và chỉ huy tại tất cả các cấp.

Tư lệnh QC PKKQ chỉ huy hoạt động chiến đấu của bộ đội TLPK và PPK bằng cách giao nhiệm vụ trực tiếp cho các tư lệnh sư đoàn phòng không, chỉ huy hoạt động chiến đấu của bộ đội KQ và radar thông qua các tư lệnh lực lượng không quân và radar một cách tương ứng.

Tư lệnh sư đoàn PK, trao nhiệm vụ chiến đấu tiêu diệt các máy bay ném bom chiến lược B-52 cho các trung đoàn trưởng TLPK, theo lệ thường khi chúng ở khoảng cách 70-75 km cách SCH trung đoàn TLPK. Điều này cho phép người chỉ huy trung đoàn TLPK có đủ thời gian chết cần thiết cho quyết định phân phối mục tiêu và trao nhiệm vụ cho mỗi tiểu đoàn TLPK.

Tư lệnh và chính ủy sư đoàn PK chỉ huy hoạt động tác chiến của các đơn vị và phân đội thuộc sư đoàn từ SCH của họ.

Đã có trường hợp từ SCH của mình sư đoàn trưởng sư đoàn PK trực tiếp giao nhiệm vụ tác chiến cho các tiểu đoàn TLPK riêng biệt, nếu có sự cần thiết tập trung hỏa lực của các tiểu đoàn TLPK khác nhau vào cùng một mục tiêu trên không.

Việc chỉ huy KQTK thực hiện bởi Tư lệnh QC PKKQ và Tư lệnh Không quân và dựa trên sơ đồ SCHTT - SCH KQ – SCH Trung đoàn KQTK – đài dẫn đường. Mỗi cơ quan chỉ huy trên có thẩm quyền quyết định vấn đề riêng của mình.

Công tác chỉ huy chiến đấu được tập trung hóa một cách chặt chẽ. Quyết định về việc đưa KQTK vào hoạt động chiến đấu và đặc biệt là tham gia vào các trận không chiến, được thực hiện, theo quy định, từ Tư lệnh Quân chủng Phòng không và Không quân. Nó gồm có việc ấn định nhiệm vụ trực chiến của các máy bay tiêm kích, sân bay xuất kích, thời gian đưa chúng vào chiến đấu và các đài dẫn đường, có nhiệm vụ trực tiếp dẫn đường cho máy bay tiêm kích.

Chỉ huy trung đoàn KQTK dựa trên nhiệm vụ chiến đấu được giao, xác định thời điểm cất cánh cho các máy bay tiêm kích của mình, các tham số đánh chặn của mục tiêu được giao. Như vậy, vai trò của các chỉ huy trung đoàn thực tế là kiểm soát chuyến bay, họ thường hành động như các hoa tiêu dẫn đường hàng hải, nếu nhiệm vụ dẫn đường trực tiếp cho máy bay tiêm kích được trao cho trung đoàn. Vai trò hạn chế vai trò và các sáng kiến của các chỉ huy trung đoàn, trong một mức độ nào đó phản ánh lên tính chất việc sử dụng chiến đấu các máy bay tiêm kích.

Việc dẫn đường cho máy bay chiến đấu được thực hiện từ các SCHTT, SCH TĐKQTK, cũng như từ các đài dẫn đường, nằm ở các khoảng cách không lớn hơn 40-50 km cách các sân bay cơ bản và sân bay dự bị.

Biện pháp sử dụng chiến đấu KQTK đơn giản hóa rất nhiều nhiệm vụ của kíp chiến đấu về công tác dẫn đường, bởi vì trong không trung cùng một lúc không có nhiều hơn một cặp máy bay tiêm kích.

Tư lệnh bộ đội radar chỉ huy các đơn vị radar từ SCH binh chủng radar.

Báo cáo về tình hình trên không từ trung đoàn radar tới SCH binh chủng radar được chuyển theo chế độ vô tuyến và hữu tuyến được đưa lên bảng tiêu đồ ghi lại tình hình tổng thể trên không. Dữ liệu tóm tắt sau đó được chuyển xuống hệ thống cảnh báo tập trung hóa.

Phương tiện chính chỉ huy trong binh chủng radar ở tất cả các cấp là liên lạc vô tuyến sử dụng bảng mã SUV.
..........


Tiêu đề: Re: Hoạt động chiến đấu của QC PK-KQ QĐND Việt Nam tháng 12 năm 1972
Gửi bởi: qtdc trong 31 Tháng Tám, 2012, 11:57:59 am
(tiếp)

TỔ CHỨC HIỆP ĐỒNG TÁC CHIẾN

Vấn đề tổ chức hiệp đồng tác chiến giữa các đơn vị PK lớn, giữa các binh chủng, cũng như giữa bộ đội PK và dân quân tự vệ trên một mức độ lớn chịu ảnh hưởng từ cơ cấu tổ chức-biên chế hiện thời của QC PKKQ. Sư đoàn PK trong biên chế của nó chỉ có các đơn vị và các phân đội TLPK và PPK.

Tất cả các SCH, ngoại trừ SCHTT, chỉ có khả năng chỉ huy tác chiến một loại binh chủng và khí tài. SCH thống nhất tại QC PKKQ là không có. Ngay cả SCH sư đoàn PK cũng không có trung tâm thông tin-tình báo của riêng họ và họ chỉ nhận được toàn bộ thông tin theo mạng thông báo tập trung hóa từ SCHTT, và các thông tin đến với bộ đội phải mất 5-6 phút. Không có các đại diện của các trung đoàn KQTK tại SCH các đơn vị PK hợp thành, không có SCH nào bố trí cùng nơi với SCH trung đoàn radar, đại đội radar hoặc đài radar.

Do đó, sự hiệp đồng giữa các đơn vị PK hợp thành chỉ được tổ chức thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ chiến đấu chung nhằm đẩy lùi cuộc không kích của máy bay địch, khi kẻ địch bay vào vùng hỏa lực của mỗi đơn vị hợp thành, và trao đổi thông tin về hoạt động của họ. Nhà tổ chức trực tiếp sự hiệp đồng các sư đoàn PK trong khu vực thành phố Hà Nội và Hải Phòng là Tư lệnh QC PKKQ, còn tại Quân khu 4 - là một trong những tư lệnh sư đoàn phòng không.

Các điều kiện thuận lợi nhất có được là trong công tác hiệp đồng giữa bộ đội TLPK và bộ đội PPK. Điều này có lý do ở chỗ các đơn vị và phân đội của họ cùng nằm trong một đơn vị hợp thành và người tư lệnh sư đoàn là nhà tổ chức chính cho sự hiệp đồng giữa các phân đội, đơn vị PPK và TLPK (hiệp đồng về thời gian, độ cao, và các mục tiêu trên không).

Trong các cụm TLPK thuộc sư đoàn PK bảo vệ các thành phố Hà Nội và Hải Phòng, hệ thống hỏa lực được xây dựng sao cho trong hầu hết trường hợp, khu vực xạ kích hiệu lực (vùng diệt mục tiêu) của pháo cao xạ 100-mm bao bọc được các góc không có hiệu lực xạ kích (góc chết) của tổ hợp TLPK. Do đó, trên đường mục tiêu bay tới đối tượng đánh phá, về trình tự thời gian, đầu tiên là các tiểu đoàn TLPK khai hỏa, còn thứ hai - đến lượt các đại đội pháo cao xạ 100-mm nổ súng. Do mục tiêu chính của bộ đội TLPK là máy bay ném bom chiến lược B-52, điều đó xác định tính chất hiệp đồng với LL PPK theo các mục tiêu trên không.

Giới hạn trên của khu vực xạ kích hiệu quả (vùng diệt mục tiêu) của các đại đội PPK bảo vệ các tiểu đoàn tên lửa, là ranh giới phân chia vùng hoạt động của tiểu đoàn TLPK và đại đội PPK. Thường theo quy định, tiểu đoàn TLPK được bảo vệ bởi 1 đại đội cao xạ 57 mm, hai đại đội 37 mm và một đại đội - 23 mm; các chỉ huy đại đội cao xạ về tác chiến trực thuộc quyền chỉ huy của tiểu đoàn trưởng TLPK, người trực tiếp tổ chức hiệp đồng.

Công tác tổ chức hiệp đồng giữa binh chủng TLPK, PPK và KQTK theo các khu vực được thể hiện rất rõ ràng, vì trong điều kiện nhiễu nặng và phức tạp và thông tin quá trễ (5-6 phút), một hệ thống thông tin liên lạc nghèo nàn và dễ bị tổn thương, kiểu hiệp đồng loại này là thích hợp nhất và có thể chấp nhận được .

Sự tương tác giữa các binh chủng TLPK, PPK, và KQTK theo thời gian, phân khu và độ cao theo cách tổ chức của mình sẽ phức tạp hơn nhiều. Hiệp đồng theo thời gian giữa bộ đội TLPK, PPK và KQTK diễn ra khi mục tiêu phải tấn công của KQTK bay thoát sang khu vực của bộ đội TLPK hoặc PPK. Trong những hoàn cảnh như vậy từ SCHTT thông qua tư lệnh sư đoàn PK đến trung đoàn trưởng TLPK hoặc trung đoàn trưởng PPK sẽ có lệnh cấm nổ súng. Ví dụ, lệnh cấm đó đã xảy ra ngày 28 Tháng 12, khi một cặp 2 phi công Việt Nam không chiến với một biên đội F-4 trên khu vực tây bắc thành phố Hà Nội tại độ cao 5.000 m, tức là trong khu tác chiến của bộ đội TLPK và PPK (đại đội pháo cao xạ 100 mm). Sự hiệp đồng như thế được sử dụng rộng rãi nhất khi máy bay tiêm kích chiến đấu với các máy bay trinh sát không người lái.

Trên thực tế, do mức độ tích cực trong hoạt động chiến đấu của máy bay tiêm kích là thấp nên việc tổ chức hiệp đồng giữa họ với bộ đội PPK và TLPK không gặp khó khăn gì nghiêm trọng.

Sự hiệp đồng giữa bộ đội TLPK, PPK và KQTK theo các phân khu và các độ cao trong thực tế không được thực hiện.

Ảnh hưởng đến công tác tổ chức hiệp đồng giữa bộ đội TLPK và PPK với KQTK là thời gian trễ khá lớn trong việc truyền số liệu tình hình kẻ địch trên không, trong thông tin đó thiếu thông tin về các chuyến bay của không quân mình, cũng như thiếu liên lạc trực tiếp giữa SCH trung đoàn KQTK và SCH PK, SCH trung đoàn TLPK và SCH trung đoàn PPK.

Để đạt được sự an toàn cho các máy bay tiêm kích khi hạ cánh tại các sân bay căn cứ đang ở trong khu vực tác chiến của các tiểu đoàn TLPK và các đại đội PPK, người ta quy định độ cao và hướng xác định cho máy bay tiêm kích khi tiếp cận khu vực của bộ đội TLPK hoặc PPK. Máy bay tiêm kích khi cất cánh cũng phải bắt buộc thực hiện các thao tác cơ động xác định để ra khỏi khu vực của bộ đội TLPK và PPK, và sau đó mới có thể lấy hướng bay đi làm nhiệm vụ.

Sự hiệp đồng giữa các lực lượng và khí tài, phương tiện của QC PKKQ QĐNDVN với các lực lượng phòng dân quân tự vệ còn yếu. Có một số lượng lớn các đơn vị, gồm toàn dân thường (có cả các cô gái trẻ, phụ nữ, người già), được trang bị súng trường, súng máy (trong đó có súng cỡ nòng lớn) và thậm chí cả pháo cao xạ. Trong thời kỳ đang diễn ra cuộc không kích – từ báo động đến báo yên - các đơn vị này hầu như không được chỉ huy kiểm soát. Bất kỳ máy bay nào xuất hiện trong tầm nhìn của họ đều bị coi là máy bay của Mỹ và họ cứ thế nổ súng vào nó. Cũng yếu như vậy là công tác giải quyết các vấn đề liên quan đến sự đảm bảo an toàn cho phi công khi rời khỏi chiếc máy bay bị bắn rơi hoặc bị hư hỏng. Tất cả phi công đang nhảy dù xuống đều bị coi là phi công Mỹ, và các cỡ súng cầm tay đồng loạt khai hỏa mạnh mẽ vào họ.


HOẠT ĐỘNG CHIẾN ĐẤU CỦA BINH CHỦNG TLPK

Bộ đội TLPK thuộc QC PKKQ QĐNDVN vào đầu cuộc tập kích chiến lược đường không này có trong biên chế 36 tiểu đoàn TLPK, trang bị các tổ hợp TLPK SA-75M "Dvina" phiên bản 3 cabin điều khiển với đạn V-750M (11D) và đài radar trinh sát và chỉ thị mục tiêu P-12, cùng 9 tiểu đoàn kỹ thuật. Lực lượng của họ được tổ chức thành 9 trung đoàn tên lửa PK, nằm trong biên chế của 4 sư đoàn phòng không.

Các nỗ lực chính của bộ đội tên lửa PK tập trung vào bảo vệ thủ đô Hà Nội của nước VNDCCH, bảo vệ các sân bay bố trí trong khu vực đó như  Nội Bài, Gia-Lâm, Kép, các đầu mối đường sắt Đông Anh và Yên-Viên, cảng và khu công nghiệp của thành phố Hải Phòng, cũng như bảo vệ các bến phà, các tuyến đường giao thông bộ, các nút giao thông đường bộ và bộ đội tập trung ở các tỉnh thuộc Quân khu 4 (Thanh Hóa và Nghệ An).

(http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_pic24.jpg)

Bộ đội Tên lửa Phòng không hình thành 3 cụm TLPK: cụm Hà Nội, cụm Hải Phòng và cụm Quân khu 4. Các tiểu đoàn tên lửa PK trong các cụm này chiếm lĩnh các trận địa phóng cách xa các đối tượng họ bảo vệ từ 7-15 km. Giãn cách giữa họ đối với cụm PK Hà Nội – là 8-18 km, cụm PK Hải Phòng – là 7-12 km, và cụm PK Quân khu 4 – là 6-20 km.

Tính đến ngày 18 tháng 12, trong số 36 tiểu đoàn TLPK, số sẵn sàng chiến đấu là 24 tiểu đoàn chiếm 66,6%. Trong đó số SSCĐ tại cụm Hà Nội và Hải Phòng tương ứng là - 75% và 86%, con số đó thấp hơn nhiều tại Quân khu 4 - 50%. Cụm TLPK thuộc các sư đoàn PK Hà Nội và Hải Phòng được thể hiện trong sơ đồ 11.

(http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_sx11.jpg)
Bố trí các cụm TLPK thuộc các sư đoàn PK Hà Nội và Hải Phòng tính đến ngày 18/12/1972.
...........


Tiêu đề: Re: Hoạt động chiến đấu của QC PK-KQ QĐND Việt Nam tháng 12 năm 1972
Gửi bởi: qtdc trong 31 Tháng Tám, 2012, 05:44:10 pm
(tiếp)

Đặc điểm chung của các hoạt động chiến đấu. Trong thời kỳ chiến dịch đường không, tại khu vực tác chiến của bộ đội TLPK (chủ yếu là trong khu vực các cụm PK Hà Nội và Hải Phòng) có hơn 1.800 loại máy bay chiến đấu khác nhau, trong đó có 390 máy bay B-52, gần 1200 máy bay không quân chiến thuật và máy bay hải quân trên tàu sân bay, 70 máy bay loại F-111A và gần 150 máy bay trinh sát các loại SR-71, 147J, RF-4C và RA-5C.

Bức tranh tổng thể về hoạt động chiến đấu của bộ đội tên lửa PK đánh trả và đẩy lùi các cuộc tấn công đường không ồ ạt quy mô lớn của không quân chiến lược Mỹ được trình bày trong bảng số 9, đánh trả không quân chiến thuật và KQHQ trên tàu sân bay trình bày trên bảng số 10.

BẢNG 9
(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/bang9a.jpg)

(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/bang9c.jpg)

BẢNG 10
(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/BANG10.jpg)

Như ta thấy từ các bảng thống kê nói trên, trong giai đoạn này bộ đội tên lửa PK tham gia đánh trả 25 cuộc không kích quy mô lớn và thực hiện 181 đợt xạ kích. Kết quả các trận chiến đấu là họ đã bắn rơi 54 máy bay, gồm 31 chiếc B-52, 13 F-4, 10 A-6 và A-7. Họ đã thực hiện 135 đợt xạ kích vào mục tiêu B-52 (74% tổng số lần xạ kích), tiêu thụ 244 đạn tên lửa. Hiệu quả chung của công tác bắn B-52 tính trung bình cho cả giai đoạn là 0,23. Tiêu thụ đạn trung bình cho mỗi máy bay bị bắn rơi là 7,9 đạn tên lửa.

Đối với không quân chiến thuật và KQHQ trên tàu sân bay, bộ đội TLPK đã tiến hành 46 đợt xạ kích (26% tổng số lần xạ kích), tiêu thụ 77 đạn tên lửa, bắn rơi 23 máy bay. Hiệu quả xạ kích là 0,5, với mức tiêu thụ đạn trung bình là 3,3 cho mỗi chiếc máy bay bị bắn rơi.

(http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_pic25.jpg)

Trong tất cả những trận chiến đấu mà bộ đội tên lửa PK đã tham gia, có 2 trận điển hình nhất: trận đánh của các tiểu đoàn TLPK sư đoàn PK Hà Nội ngày 19 tháng 12 (4:40-5:46 giờ) và trận đánh của các tiểu đoàn TLPK cùng sư đoàn này ngày 26 tháng 12 (22:15-23:24 giờ).

Trong trận không kích quy mô lớn thứ nhất có sự tham gia của 66 máy bay, trong đó có 24 máy bay В-52. Các đối tượng bị tấn công là sân bay Bạch Mai và 3 khu vực nằm trong khoảng 10–12 km về phía tây-bắc và phía tây trung tâm thành phố Hà Nội. Cuộc không kích diễn ra từ hướng tây bắc tạo thành một dải 20–25 km. Mật độ đòn không kích của nhóm tấn công – 0,6 máy bay trong một phút.

Trong trận đánh này tham gia chiến đấu có 9 tiểu đoàn TLPK sẵn sàng chiến đấu thuộc sư đoàn PK Hà Nội. Thành phần và mức độ sẵn sàng chiến đấu của bộ đội TLPK các đơn vị trên khi bắt đầu hoạt động tác chiến được trình bày trên bảng 11. Sự đánh trả cuộc không kích được minh họa trên sơ đồ 12.

BẢNG 11
(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/bang11.jpg)

(http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_sx12.jpg)
Sơ đồ 12. Đánh trả cuộc không kích quy mô lớn của KQ chiến lược Mỹ vào các mục tiêu tại khu vực Hà Nội ngày 19.12.1972.

Sơ đồ cho thấy số hiệu các mục tiêu và các đường bay của chỉ các tốp B-52 bị bắn. Các tuyến đường bay của các tốp làm nhiệm vụ đảm bảo yểm trợ không thể hiện.

Việc đặt nhiệm vụ cho các tiểu đoàn từ SCH được thực hiện theo số liệu của bộ đội radar. Các số liệu chỉ thị mục tiêu được cho trong hệ thống tọa độ "góc phương vị-tầm" đối với SCH trung đoàn TLPK.

Việc tính toán lại tọa độ mục tiêu được thực hiện tại các tiểu đoàn. Để xác định tọa độ và các tham số chuyển động của mục tiêu trong tình hình nhiễu phức tạp tại SCH trung đoàn TLPK, người ta sử dụng phương pháp tam giác, và để làm điều đó người ta sử dụng số liệu từ 2-3 tiểu đoàn. Việc đo góc phương vị diễn ra với nhịp độ 10 giây. Có nhiều tiểu đoàn cung cấp thông tin và điều đó làm khó khăn thêm cho các tiêu đồ viên và trắc thủ hướng, và cuối cùng dẫn đến làm tăng lỗi trong việc xác định tọa độ và các thông số di chuyển của mục tiêu.

(http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_pic26.jpg)
........


Tiêu đề: Re: Hoạt động chiến đấu của QC PK-KQ QĐND Việt Nam tháng 12 năm 1972
Gửi bởi: qtdc trong 01 Tháng Chín, 2012, 11:18:48 am
(tiếp)

Khi xác định loại mục tiêu tại SCH trung đoàn TLPK người ta sử dụng thông tin của SCH sư đoàn PK, số liệu của bộ đội radar, báo cáo từ các tiểu đoàn TLPK và số liệu từ các trạm quan trắc bằng mắt thường.

Sau khi xác định xong loại, tọa độ và các tham số chuyển động của mục tiêu thì người ta cũng xác định được nhiệm vụ chiến đấu cho các tiểu đoàn TLPK, ấn định mức tiêu thụ đạn tên lửa, và trong một số trường hợp còn chỉ ra được cả khoảng cách (tầm) phóng.

Trong toàn trận đánh này, bộ đội tên lửa PK đã 19 lần xạ kích, tiêu thụ 35 đạn tên lửa và chỉ bắn rơi có một máy bay B-52.

Lúc khởi đầu các cuộc không kích quy mô lớn của máy bay Mỹ, các kíp chiến đấu tại SCH các sư đoàn, các trung đoàn và tiểu đoàn chưa có nhiều kinh nghiệm hoạt động chiến đấu đánh trả các cuộc không kích ồ ạt của không quân chiến lược trong hoàn cảnh phức tạp trên không và trong điều kiện có nhiễu rất nặng.

Các trắc thủ đài điều khiển tên lửa làm việc chưa chắc chắn và chính xác, họ đã phạm những sai lầm ngớ ngẩn khi bám sát mục tiêu. Họ chưa biết cách sử dụng các chế độ làm việc chủ động và thụ động của đài điều khiển tên lửa SNR.

Khoảng 70% số lần phóng đạn được thực hiện ở tầm 32 đến 40 km, khi mà việc theo dõi mục tiêu nhóm diễn ra trong điều kiện nhiễu phức tạp nhất. Kết quả là không đảm bảo được độ chính xác cần phải có trong việc dẫn đường cho đạn tên lửa.

Khi giao nhiệm vụ cho các trung đoàn, các điều kiện xạ kích và cơ số đạn trên trận địa phóng của các tiểu đoàn TLPK chưa được xem xét đầy đủ. Hầu hết các đơn vị chỉ có 7-8 đạn trên trận địa phóng, điều đó hạn chế số lần phóng đạn và số lượng đạn được phóng trong một lần xạ kích. Ba trong số 19 lần phóng được thực hiện với chỉ một đạn tên lửa, số lần phóng còn lại là phóng 2 đạn. Việc ấn định số đạn phóng, được thực hiện từ SCH trung đoàn TLPK theo quy định, điều này kìm hãm sáng kiến của các xạ thủ và làm giảm tính hiệu quả của đợt xạ kích.

Vào lúc bắt đầu trận đánh, tư lệnh sư đoàn đặt nhiệm vụ tiêu diệt mục tiêu cho một trung đoàn TLPK và chỉ khi trung đoàn đó đã tiêu thụ hết hơn 60% cơ số đạn tên lửa, khi đó trung đoàn TLPK thứ hai mới được huy động tham chiến.

Trong trận đánh này, đã có những sai lầm trong nhận dạng loại mục tiêu, kết quả là có 5 lần phóng đạn được tiến hành bên ngoài vùng đảm bảo, tên lửa PK đã phóng vào các máy bay không quân chiến thuật bị xem nhầm là các tốp B-52.

Bộ đội tên lửa PK sư đoàn PK Hà Nội đã tiến hành hoạt động tác chiến thành công hơn trong trận đánh trả các cuộc không kích quy mô lớn ngày 26 tháng 12 trong các thời điểm từ 22:15-23:24 giờ (Sơ đồ số 13).

(http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_sx13.jpg)
Sơ đồ 13. Đánh trả cuộc không kích ồ ạt quy mô lớn của KQ chiến lược vào các mục tiêu trong khu vực thành phố Hà Nội ngày 26.12.1972.

Tham gia cuộc không kích nói trên vào các đối tượng nằm trong khu vực phòng thủ của cụm phòng không Hà Nội, có đến hơn 80 máy bay, trong đó có 36 máy bay B-52. Chịu đựng các cuộc oanh tạc là khu vực sân bay Gia-Lâm, các ga đường sắt Đông Anh, Yên Viên, nằm ở vùng ngoại ô phía bắc Hà Nội và các khu vực trong khoảng 8-10 km về phía nam Hà Nội. Cuộc không kích của không quân chiến lược diễn ra trên ba khu vực: từ phía tây bắc là một dải oanh tạc 10 km, từ phía tây là dải 15 km và từ phía đông nam là dải 10 km. Độ dài thời gian cuộc không kích - 24 phút, mật độ tấn công 1,5 máy bay mỗi phút.

Lúc khởi đầu cuộc không kích, hai tiểu đoàn của cụm PK Hải Phòng (các tiểu đoàn TLPK 71 và 72) đã được bố trí đến địa bàn Hà Nội và 2 tiểu đoàn TLPK này đã được đưa vào hoạt động. Như vậy, toàn bộ thành phần chiến đấu của sư đoàn PK Hà Nội bây giờ đã có 13 tiểu đoàn sẵn sàng chiến đấu (Bảng 12).

BẢNG 12
(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/bang12.jpg)

Tính đến cơ số thực tế đạn tên lửa tại trận địa xạ kích các tiểu đoàn TLPK, bộ đội phòng không Hà Nội đã có cơ hội tiêu diệt 6 máy bay, còn nếu tính đến việc nạp đạn cho các bệ phóng - 8. Trong thực tế, trong trận chiến đấu này, bộ đội TLPK đã 24 lần xạ kích, tiêu thụ 45 đạn tên lửa và tiêu diệt 6 máy bay B-52. Như vậy, khả năng hỏa lực của cụm đã thực hiện tới 75%. Hiệu suất xạ kích trung bình là 0,25, còn tiêu thụ đạn trung bình cho mỗi máy bay bị bắn rơi giảm xuống còn 7,5. Thành công này đạt được là do sự gắn kết hiệp đồng chặt chẽ hơn giữa các kíp chiến đấu tại SCH ở mọi cấp và kinh nghiệm chiến đấu của họ đã được nâng cao.

Các kíp chiến đấu SCH trung đoàn và tiểu đoàn TLPK đã tự tin hơn và quyết đoán hơn khi hành động trong trận đánh này, cách họ chọn và bắn vào mục tiêu thông minh hơn về mặt chiến thuật, họ sử dụng đầy đủ hơn mọi khả năng của đài điều khiển tên lửa SNR để phát hiện mục tiêu trên nền nhiễu, khéo léo kết hợp sự làm việc của SNR trong các chế độ chủ động và thụ động. Việc phóng đạn tên lửa đã được thực hiện ở khoảng cách (tầm) tối ưu. Ví dụ, 36 trong số 45 đạn tên lửa được phóng ở phạm vi 25-35 km. Trong 5 lần xạ kích mà đánh trúng mục tiêu, việc phóng đạn tên lửa được thực hiện ở tầm xa 28-32 km.

Đồng thời, trong trận đánh cũng còn một số sai lầm. Chẳng hạn, hai tốp máy bay B-52 được xem nhầm là các tốp F-4 và đã không bị bắn. Một số tiểu đoàn chỉ xạ kích được một lần, mặc dù điều kiện tình hình trên không và cơ số đạn tên lửa trên trận địa bệ phóng cho phép họ xạ kích ít nhất ba lần. Như trước kia, họ tiếp tục vi phạm các quy tắc trong việc ấn định số tiêu thụ đạn khi xạ kích. Ví dụ, trong 24 lần xạ kích có 4 lần chỉ phóng 1 đạn, và hai trong số đó – bắn đuổi. Chỉ có 1 lần bắn 3 đạn TLPK và các lần còn lại – 2 đạn TLPK.

Một đặc điểm có tính bản chất trong hoạt động chiến đấu của bộ đội tên lửa PK trong thời kỳ đánh trả cuộc không kích quy mô lớn của không quân chiến lược là việc bắn có tập trung hỏa lực của vài tiểu đoàn TLPK vào một mục tiêu (tốp mục tiêu). Dữ liệu tóm tắt các đợt phóng đó trình bày trong bảng số 13.

BẢNG 13
(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/bang13.jpg)

Bảng này cho thấy việc xạ kích tập trung hỏa lực vài tiểu đoàn đạt hiệu quả khá cao. Trong 23 lần xạ kích đã bắn rơi 13 máy bay B-52, tiêu thụ 98 đạn tên lửa. Và hiệu quả đạt được (0,56) cao hơn gần 2,5 lần so với hiệu suất chung của tất cả các cuộc xạ kích vào các máy bay của lực lượng không quân chiến lược, và tiêu thụ trung bình đạn tên lửa - thấp dưới mức thống kê trung bình một chút. Việc xạ kích tập trung hỏa lực của hơn 3 tiểu đoàn TLPK vào 1 mục tiêu là không kết quả do công tác chỉ huy các tiểu đoàn yếu kém.

Các trận địa chiến đấu của tiểu đoàn TLPK nhiều lần chịu những trận bom phá và bom bi và đạn chống radar "Shrike". Trong đó, chỉ có 9 trận tấn công (8 - bom phá và bom bi và 1 - đạn chống radar "Shrike") có kết quả với đối phương: tạm thời vô hiệu hóa 6 tiểu đoàn, làm hư hỏng và không phục hồi được 3 ăng-ten của radar PA-11 và PA-12, 1 PA cabin, 5 DES-75, 9 bệ phóng, 15 đạn tên lửa, một xe RPK, một xe xích kéo ATS-59, 3 tiểu đoàn bị hỏng cáp.

Việc vô hiệu hóa tiểu đoàn tên lửa PK số 73 bởi đạn chống radar "Shrike" diễn ra do kết quả của hành vi vi phạm thô bạo chế độ làm việc đài SNR: kíp chiến đấu trong vòng 80 giây tìm kiếm và phát hiện mục tiêu trong chế độ chủ động tích của đài SNR (chế độ cao áp). Đạn chống radar "Shrike" nổ khi tấn công các tiểu đoàn TLPK khác xảy ra ở khoảng cách 2-3 km cách trận địa bệ phóng.

Một trong các điều kiện để đạt khả năng sống sót đủ cao cho các tiểu đoàn TLPK khi bị tấn công bằng đạn chống radar "Shrike" là quy định nghiêm ngặt thời gian làm việc với bức xạ của đài điều khiển SNR. Kíp chiến đấu đóng điện áp cao, theo quy định, không quá 15-20 giây. Sự làm việc ngắn hạn của đài SNR trong chế độ chủ động làm gián đoạn việc tự dẫn của đạn chống radar. Để tăng độ tin cậy của việc phát hiện đạn chống radar, việc bám mục tiêu được chọn để bắn trên các màn hình đài SNR, được thực hiện bằng phương pháp RS (bám sát thủ công). Không loại trừ rằng môi trường nhiễu phức tạp được tạo ra khi các tốp B-52 tấn công đi vào khu vực hoạt động chiến đấu của bộ đội TLPK cũng là một trong những lý do gây khó khăn cho các máy bay không quân chiến thuật thực hiện phóng đạn chống radar có ngắm bám mục tiêu.
........


Tiêu đề: Re: Hoạt động chiến đấu của QC PK-KQ QĐND Việt Nam tháng 12 năm 1972
Gửi bởi: qtdc trong 01 Tháng Chín, 2012, 05:45:34 pm
(tiếp)

VẤN ĐỀ BẮN MÁY BAY KHÔNG QUÂN CHIẾN LƯỢC

Kết quả bắn máy bay không quân chiến lược (sơ đồ 14 và 15) của các trận đánh đầu tiên, chịu ảnh hưởng lớn do sự thiếu kỹ năng của các quân nhân binh chủng TLPK đối với việc tác chiến trong môi trường trên không phức tạp và có nhiễu nặng. Kinh nghiệm chiến đấu thu nhận được trong tiến trình chiến đấu vói KQ chiến thuật và KQHQ trên tàu sân bay của đối phương, cũng như với KQ chiến lược tại khu vực Quân khu 4 là không đủ.

(http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_sx14.jpg)
Sơ đồ 14. Số lần bắn Nstr và số máy bay bị bắn rơi Nsb khi đánh trả các cuộc không kích quy mô lớn của KQ chiến lược.

(http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_sx15.jpg)
Sơ đồ 15. Hiệu quả xạ kích E và tiêu thụ đạn trung bình cho một máy bay bị bắn rơi Nsr khi đánh trả các cuộc không kích quy mô lớn của KQ chiến lược.

Trong hai ngày đầu tiên binh chủng TLPK tham gia đánh trả 5 cuộc tấn công đường không quy mô lớn của KQ chiến lược. Trong những trận đánh này, hiệu quả của xạ kích rất thấp chỉ ở mức 0,09, và cứ mỗi 4 chiếc máy bay bị bắn rơi tiêu tốn hơn 19 đạn tên lửa.

Theo mức độ tích lũy kinh nghiệm chiến đấu và mức kỹ năng chiến đấu của các quân nhân lực lượng TLPK QĐNDVN mà hiệu quả xạ kích được tăng lên. Ví dụ trong 4 ngày chiến đấu cuối cùng, hiệu suất xạ kích trung bình tăng lên đến 0,27, và tiêu thụ đạn tên lửa trung bình cho mỗi chiếc máy bay bị bắn rơi giảm xuống còn 6,6.

Phân tích đặc điểm chung và hiệu quả xạ kích vào các máy bay của không quân chiến lược, ta cần lưu ý rằng hiệu suất xạ kích đạt được khẳng định đặc tính chiến đấu cao của tổ hợp tên lửa PK SA-75M. Việc sử dụng được đầy đủ những phẩm chất chiến đấu đó có thể đạt được chủ yếu thông qua việc cải thiện vấn đề đào tạo kỹ năng cho đội ngũ quân nhân tiến hành hoạt động chiến đấu trong một môi trường trên không phức tạp và có nhiễu nặng, cũng như bằng cách cải thiện chất lượng chuẩn bị của các đơn vị đảm bảo tình trạng vật chất kỹ thuật cho tổ hợp tên lửa PK và đạn tên lửa bước vào trận đánh.

Tất cả các cuộc xạ kích đều diễn ra trong điều kiện không quân Mỹ áp dụng kết hợp các loại nhiễu (nhiễu chủ động và thụ động). Trong 135 đợt xạ kích vào các máy bay B-52, có 117 lần tiến hành bằng phương pháp TT (ТТ), 10 lần – bằng phương pháp PS (ПС), 4 lần thực hiện với sự chuyển đổi phương pháp TT sang PS, và 4 – từ phương pháp PS sang TT (do mất  dấu mục tiêu trên nền nhiễu). So sánh đặc điểm xạ kích theo cả 2 phương pháp dẫn đường được thể hiện trên biểu đồ (sơ đồ 16).

(http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_sx16.jpg)
Sơ đồ 16. So sánh đặc điểm xạ kích của bộ đội TLPK phụ thuộc phương pháp dẫn đường.

Đồ thị cho thấy tính hiệu quả xạ kích theo phương pháp dẫn PS lớn hơn 2,5 lần so với hiệu quả xạ kích theo phương pháp dẫn TT.

Trong 135 lần bắn chỉ có 79 lần các kíp chiến đấu đài điều khiển SNR-75 bật cao áp, trong đó 46 lần - ở phạm vi hơn 35-40 km, khi mà khả năng phát hiện mục tiêu trên nền nhiễu thực tế bị loại bỏ. Bốn lần bắn có tầm phát hiện dấu hiệu mục tiêu B-52 trên nền nhiễu AShP vượt quá 35 km, nhưng khả năng quan sát được dấu hiệu quá xấu, tiếp theo mục tiêu biến mất và kíp chiến đấu buộc phải chuyển từ phương pháp dẫn đường PS sang TT.

Các kíp chiến đấu của tiểu đoàn tên lửa PK, do sợ bị tấn công bằng đạn chống radar "Shrike", đã tìm cách bắn máy bay B-52 mà không bật cao áp trong suốt chu kỳ bắn. Điều này loại bỏ bất kỳ khả năng nào phát hiện dấu hiệu mục tiêu trên nền nhiễu chủ động, và do đó chuyển sang phương pháp dẫn hiệu quả hơn – phương pháp PS.

Phân tích kinh nghiệm các trận đánh đã qua cho thấy, trong điều kiện kẻ địch áp dụng nhiễu chủ động và phóng đạn chống radar "Shrike", việc bắn B-52 sẽ đạt kết quả nhất nếu họ thực hiện được sự kết hợp khéo léo các chế độ làm việc chủ động và thụ động của đài điều khiển SNR. Các tính năng của một cuộc xạ kích như vậy được cho trong hình sau (sơ đồ 17).

(http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_sx17.jpg)
Sơ đồ 17. Đồ thị (thời gian cách quãng) tạm thời trong công tác chiến đấu của tiểu đoàn TLPK khi bắn máy bay B-52 trong điều kiện có nhiễu chủ động và đạn chống radar "Shrike".
Trái sang phải: Phóng giả - Phóng thật - Đạn gặp mục tiêu.


Đánh giá tình hình trên không và điều kiện nhiễu được tiến hành theo cả hình thức và tính chất của nhiễu trên màn hình hiển thị mà không bật điện áp cao máy phát. Thực hiện phóng giả ở một phạm vi từ 40-45 km đến mục tiêu cho phép xác định chủng loại mục tiêu được lựa chọn để bắn. Bật máy phát đài SNR trước khi phóng đạn tên lửa (5-7 giây) cho phép làm rõ tình hình trên không và tình hình nhiễu, và quan trọng hơn, đánh giá sự hiện diện của nhiễu thụ động trong khu vực đạn tên lửa dự kiến gặp mục tiêu. Phóng và dẫn đạn trong phân đoạn đầu bằng phương pháp TT khi tắt máy phát đài SNR đảm bảo an toàn tránh đạn chống radar kiểu "Shrike". Bật máy phát ở phân đoạn cuối dẫn bám đạn tên lửa (15-18 giây trước khi đạn gặp mục tiêu) cho phép trong trường hợp phát hiện được mục tiêu trên nền nhiễu sẽ thực hiện chuyển từ phương pháp dẫn TT sang PS và bám mục tiêu ở chế độ theo dõi PS, AS và SS ( tùy thuộc vào khả năng quan sát được dải mục tiêu trong nhiễu).

Áp dụng  phương pháp bắt bám AS trong 3 lần xạ kích đã đảm bảo tiêu diệt được 3 máy bay B-52, còn trong 7 trường hợp bám sát mục tiêu bằng phương pháp SS có 3 lần xạ kích thành công.

Ảnh hưởng lớn đến hiệu quả xạ kích đối tượng máy bay B-52 trong điều kiện nhiễu là sự lựa chọn tầm phóng đạn tên lửa. Sự phụ thuộc của hiệu quả xạ kích vào phạm vi phóng đạn tên lửa, thu được trên cơ sở phân tích kết quả các trận đánh tháng 12 được thể hiện trên sơ đồ 18.

(http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_sx18.jpg)
Sơ đồ 18. Đặc điểm xạ kích vào đối tượng B-52 của bộ đội TLPK phụ thuộc tầm phóng đạn.
..........


Tiêu đề: Re: Hoạt động chiến đấu của QC PK-KQ QĐND Việt Nam tháng 12 năm 1972
Gửi bởi: qtdc trong 03 Tháng Chín, 2012, 05:00:15 pm
(tiếp)

Như sơ đồ cho thấy, hiệu quả xạ kích cao nhất là khi tầm phóng bằng 30-35 km. Các xu hướng phóng đạn tên lửa, đặc biệt trong các đợt phóng đầu tiên trên ranh giới xa của vùng phóng (зона пуска) dẫn đến việc giảm một cách phi lý hiệu quả của xạ kích: ví dụ, trong 37 lần xạ kích với phương pháp dẫn TT khi tầm xạ kích hơn 35 km, chỉ có 7 lần đạt được hiệu quả.

Tầm xa đến mục tiêu trong điều kiện nhiễu chủ động (AShP) được xác định bằng phương pháp tra bảng (theo các giá trị đã biết của góc tà và cao độ của mục tiêu). Trong đó cao độ của nó được xác định theo số liệu của bộ đội radar, và góc tà được tính theo thang chia của khối I-63. Với phương pháp này sai số trong xác định chiều cao trong 1 km sẽ đưa đến, như tính toán cho thấy, sai số xác định tầm xa của mục tiêu trong vòng 2,5-3 km.

Việc xạ kích máy bay B-52 có hiệu quả nhất là khi Rmt - 8-15 km. Chẳng hạn, hiệu quả xạ kích khi Rmt - 8 km là 0,25, và khi Rmt nhỏ hơn 8 km - 0,2. Điều này được giải thích bởi thực tế là khi bắn một tốp máy bay B-52, đang bay với tham số nhỏ hơn 8 km, dải nhiễu được chia ra ở phạm vi nhỏ hơn 25 km, điều đó gây nên những điều kiện khó khăn hơn cho việc bám sát mục tiêu nhóm. Ngoài ra, đối với các tham số nhỏ, xác suất tách dấu hiệu mục tiêu trên nền nhiễu cũng nhỏ hơn (do mật độ cao của nhiễu). Với các tham số Rmt nhỏ hơn 15 km, xác suất bắn trúng mục tiêu (вероятность поражения цели) sẽ giảm đi.

Như đã nhận xét, việc xạ kích đối tượng máy bay B-52 được tiến hành trong điều kiện có cả nhiễu chủ động và thụ động. Nhiễu thụ động được tạo ra ở độ cao từ 6-8 km. Khi tính đến điều này, việc phóng đạn tên lửa được thực hiện cùng với phương pháp kích nổ đầu đạn ở chế độ RV (PB), còn khi tên lửa tiếp cận mục tiêu ở khoảng cách 5-7 km, bộ chuyển mạch phương pháp kích nổ đầu đạn tên lửa sẽ được chuyển vào tư thế RV -> 11,5. Kết quả là, đạn tên lửa sẽ đi qua đám mây nhiễu thụ động mà không nổ. Phương pháp kích nổ này của đầu đạn đã được đền đáp và cho phép giảm đáng kể hiệu quả của nhiễu thụ động do các tốp máy bay yểm trợ thả xuống trước cuộc không kích của các máy bay B-52.

Ảnh hưởng quan trọng hơn đến sự tiêu hao của ngòi nổ vô tuyến, rõ ràng là nhiễu thụ động, do các máy bay B-52 thả trực tiếp trong quá trình không kích. Ví dụ đã có 244 lần đạn được phóng vào các máy bay B-52. Theo báo cáo của các kíp tác chiến đài điều khiển SNR, 64 đạn nổ bắn trúng 31 máy bay B-52, 37 đạn tên lửa tự hủy vì sai số dẫn đường lớn, các đạn tên lửa còn lại phát nổ tại khu vực mục tiêu, nhưng không tiêu diệt được máy bay. Chúng ta có thể giả định rằng một số đạn tên lửa bị kích nổ do màn nhiễu thụ động mà máy bay B-52 thiết lập.

Việc đạn tên lửa bị kích nổ do nhiễu thụ động từ các máy bay B-52, nhiều khả năng xảy ra khi bắn đuổi (вдогон) cũng như khi bắn đón, nếu như lựa chọn một trong các máy bay bay sau của tốp B-52 làm mục tiêu để bắn, bởi vì các chùm nhiễu thụ động được thả ra nằm trong bán cầu dưới của máy bay dẫn đầu tốp. Cụ thể, trong 6 lần bắn đuổi, hai trong số đó đạn tên lửa được dẫn bằng phương pháp PS, không tiêu diệt được máy bay B-52 nào. Theo các báo cáo của các xạ thủ, tất cả đạn tên lửa đều phát nổ trong trong vùng mục tiêu.

Cần lưu ý ảnh hưởng của số lượng đạn tên lửa đến hiệu quả xạ kích. Số lượng lần xạ kích lớn nhất (99 trong tổng số 135, chiếm 75,5%) là bằng hai đạn tên lửa, với 23 máy bay B-52 bị bắn rơi (đạt hiệu suất xạ kích - 0,23); 31 lần xạ kích bằng 1 đạn tên lửa và bắn rơi 4 máy bay (hiệu quả - 0 ,13); 5 lần xạ kích bằng 3 đạn tên lửa, bắn rơi 4 máy bay (hiệu quả - 0,8). Như vậy, hiệu quả lớn nhất đạy được khi xạ kích bằng 3 đạn tên lửa. Việc chỉ định dùng một đạn tên lửa để tiêu diệt máy bay B-52 ngay cả trong điều kiện thuận lợi cũng làm giảm đáng kể hiệu quả xạ kích.

Từ các trình bày ở trên, bất chấp các điều kiện khó khăn về bối cảnh trên không và tình hình nhiễu nặng, bộ đội tên lửa PK vẫn có thể gây ra thiệt hại đáng kể cho lực lượng không quân chiến lược Mỹ. Khi đánh trả các cuộc không kích ồ ạt quy mô lớn của các máy bay B-52, hỏa lực của binh chủng tên lửa PK kết hợp với hỏa lực của LL PPK, đã là một sức mạnh đáng kể đến mức các phi hành đoàn các đơn vị máy bay B-52 rời khỏi hướng tác chiến, không hoàn thành nhiệm vụ, trút bom bừa bãi xuống những cánh đồng lúa.


CÁC ĐẶC ĐIỂM XẠ KÍCH ĐỐI TƯỢNG MÁY BAY KQ CHIẾN THUẬT VÀ KQHQ TRÊN TÀU SÂN BAY

Giữ vai trò chủ yếu trong việc tiêu diệt máy bay của không quân chiến thuật và không quân hải quân trên tàu sân bay là LL PPK. Bộ đội Tên lửa PK, ngoại trừ cụm PK Hà Nội chỉ bắn vào máy bay KQ chiến thuật và KQHQ trên tàu sân bay khi trong khu vực chiến đấu không có máy bay B-52.

Các kết quả tóm tắt của việc xạ kích máy bay KQ chiến thuật và KQHQ trên tàu sân bay được trình bày trong bảng 14.

BẢNG 14.
(http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_14.jpg)

(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/bang14b.jpg)

Bảng này liệt kê trị số các chỉ tiêu chủ yếu của xạ kích tùy thuộc vào dạng nhiễu, kiểu cơ động, phương pháp kích nổ đầu đạn, tiêu thụ đạn tên lửa, phương pháp dẫn đường và độ cao mục tiêu. Số lượng lần xạ kích lớn nhất (trên 76%) được tiến hành trong điều kiện có các loại nhiễu khác nhau. Hiệu quả xạ kích trong nhiễu là 0,47. Hiệu suất xạ kích tương đối cao như vậy trong điều kiện nhiễu có thể giải thích được bởi thực tế việc xạ kích đối tượng KQ chiến thuật và KQHQ trên tàu sân bay được tiến hành không ngẫu nhiên, trong các điều kiện xạ kích thuận lợi, tức là trên nền nhiễu có cường độ yếu hoặc trung bình và mục tiêu không cơ động. Chẳng hạn, hơn 75% lần xạ kích diễn ra với mục tiêu đang cơ động. Gần 37% lần xạ kích bằng một quả đạn và hơn 58 % lần xạ kích - hai đạn.

Trong số 46 đợt xạ kích vào đối tượng máy bay KQ chiến thuật và KQHQ trên tàu sân bay, có 18 đợt (39%) bắn vào các mục tiêu bay ở các độ cao thấp (ít hơn 1 km).

Như đã biết, việc cơ động của máy bay ở các độ cao đó bị hạn chế, hiệu quả áp dụng đạn chống radar – thấp; máy gây nhiễu của máy bay ở độ cao thấp tác động đến đài điều khiển RSNA-75M bằng cánh sóng biên của đồ thị định hướng và chỉ tạo được nhiễu cường độ thấp. Khi bắn vào các mục tiêu như vậy bằng phương pháp K sẽ đảm bảo được độ chính xác đủ cao trong việc dẫn đường cho đạn tên lửa.

Trong thời kỳ các trận chiến đấu Tháng Mười Hai đã diễn ra 11 lần bắn đuổi, tiêu diệt được 8 máy bay (hiệu quả xạ kích - 0,72).

Hiệu quả cao trong bắn đuổi có nguyên do như sau. Sau khi bay qua trận địa tiểu đoàn, thông thường máy bay ngừng cơ động chống tên lửa. Cường độ nhiễu giảm đáng kể. Thêm vào đó ở các góc hướng lớn của đường bay của các máy bay, việc bắn đạn chống radar trúng tổ hợp tên lửa PK bị loại trừ. Các kíp chiến đấu tiểu đoàn TLPK khéo léo khai thác các điểm yếu của phương tiện đối kháng điện tử và thủ đoạn chiến thuật của máy bay địch để bắn đuổi.

Khi máy bay đang bay ở độ cao hơn 1 km, điều kiện xạ kích trở nên phức tạp. Tại độ cao này máy bay sử dụng các thao tác cơ động về hướng và độ cao để tránh tên lửa. Hiệu quả của nhiễu khi máy bay bay ở độ cao đó là cao nhất, và việc sử dụng đạn chống radar kiểu "Shrike" – cũng đạt xác suất cao nhất. Để tăng hiệu quả xạ kích trong những điều kiện như vậy, các kíp chiến đấu sử dụng biện pháp chiến thuật sau đây.

Nhiệm vụ chiến đấu tiêu diệt mục tiêu được giao cho 2 hoặc 3 tiểu đoàn. Một trong số các tiểu đoàn khi ở tầm ranh giới xa của vùng diệt mục tiêu (зона поражения) hiệu quả (30-28 km) sẽ bật cao áp, làm thao tác phóng giả, sau đó các máy bay sẽ thực hiện cơ động. Ngay sau khi chúng hoàn thành cơ động, một tiểu đoàn khác, mà mục tiêu đã đi vào vùng phóng được đảm bảo của tiểu đoàn đó, sẽ thực hành xạ kích (bắn thật).
.......


Tiêu đề: Re: Hoạt động chiến đấu của QC PK-KQ QĐND Việt Nam tháng 12 năm 1972
Gửi bởi: qtdc trong 04 Tháng Chín, 2012, 06:25:56 pm
(tiếp)

ĐẶC THÙ HOẠT ĐỘNG CHIẾN ĐẤU TRONG ĐIỀU KIỆN NHIỄU PHỨC TẠP

Như đã nêu ở trên, khi tiến hành tập kích đường không ồ ạt bằng không quan chiến lược, chiến thuật và không quân hải quân trên tàu sân bay, cũng như khi không kích bằng các máy bay đơn lẻ hoặc không kích bằng các tốp nhỏ, Hoa Kỳ áp dụng rộng rãi các dạng nhiễu chủ động và thụ động khác nhau. Như đã nhận xét, hầu như tất cả các đợt xạ kích diễn ra trong điều kiện nhiễu, trong một môi trường mà hoạt động tác chiến của các kíp chiến đấu của các tiểu đoàn TLPK có một loạt tính chất đặc thù.

Nhiễu chủ động tạo ra bởi các máy bay đối kháng điện tử (REP) chuyên dụng kiểu EB-66 trong dải tần số làm việc của đài điều khiển RSNA-75M, giăng chặn trên các màn hình đài điểu khiển SNR những cung có bề rộng 3-4 đến 6-7 độ. Bề rộng cung phụ thuộc vào số máy bay REP đang ở trong khu vực quần vòng, phụ thuộc khoảng cách đến thiết bị gây nhiễu và tình trạng của các cơ cấu khuếch đại máy thu đài điều khiển SNR. Trên các màn hình hiển thị theo các mặt phẳng "góc" và "phương vị" ta quan sát được nhiễu dưới dạng một - hai, hoặc trong một số trường hợp, là 3 dải (theo số máy gây nhiễu trong khu vực quần vòng), chiều rộng các dải nhiễu điều chỉnh được bởi các trắc thủ radar với sự trợ giúp của chiết áp điều chỉnh bằng tay (потенциометр РРУ) và được thiết lập ở mức 3-4 độ. Ngoài ra, còn quan sát được một số dải nhiễu phụ (biên) độ rộng đến 1,5 độ. Nhiễu có cường độ nhẹ hoặc trung bình. Cường độ nhiễu lớn ít khi quan sát được.

Lấy ví dụ, trên hình 6.9 cho thấy các màn hình của trắc thủ radar (оператор PC) và sỹ quan điều khiển (офицер наведения) khi có tác động của nhiễu ở các mức cường độ khác nhau do máy bay EB-66 tạo ra.

(http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_pic06.jpg) (http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_pic07.jpg)
(http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_pic08.jpg) (http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_pic09.jpg)

Ghi chú. Hình 6: Dạng màn hình hiển thị của sỹ quan điều khiển (mặt phẳng góc tà) khi có tác động nhiễu từ máy bay EB-66. Hình 7: Dạng màn hình hiển thị của sỹ quan điều khiển (mặt phẳng góc phương vị) khi có tác động nhiễu từ máy bay EB-66. Hình 8: Dấu hiệu từ máy bay A-6 trên màn hình trắc thủ radar "Đ" (trắc thủ cự ly) trên nền nhiễu từ máy bay EB-66. Quy mô cự ly - 5 km. Hình 9: Dấu hiệu yếu từ một máy bay chưa rõ dạng trên màn hình trắc thủ radar "Đ" trên nền nhiễu từ máy bay EB-66. Quy mô cự ly - 5 km.

Một tính chất đặc trưng của nhiễu do máy bay REP tạo ra là góc tà dải nhiễu trên màn hình hiển thị mặt phẳng "góc" không thay đổi trong suốt thời gian máy bay gây nhiễu quần vòng trong khu vực. Độ lớn góc tà thường không vượt quá 3-4°.  Phương vị thiết bị (máy bay) gây nhiễu thay đổi trong cung 30-40 độ, tốc độ thay đổi góc phương vị không vượt quá đại lượng 0,05-0,1 độ / giây.

Những tính năng này cho phép kíp chiến đấu SCH tiểu đoàn TLPK xác định hướng dự kiến  không kích của các tốp máy bay tấn công thuộc LLKQ chiến lược và phân biệt dải nhiễu do các máy bay REP chuyên dụng tạo ra, so với dải nhiễu của các máy bay của KQ chiến lược và chiến thuật.

Các đạo diễn nhiễu trên máy bay EB-66 cũng tạo ra các loại nhiễu chủ động trong dải tần bắt bám mục tiêu (частоты СРЦ) của radar P-12. Nhiễu thường là nhiễu ngắm (прицельные помехи) theo tần số. Trong số bốn kênh tần số bắt bám mục tiêu một - hai kênh bị nhiễu chèn với cường độ nhỏ. Điều này cho phép chọn một kênh tần số, mà mức nhiễu trong đó là nhỏ nhất, và thực hiện bám mục tiêu trong vòng 1-2 phút. Sau thời gian này, kênh tần số được lựa chọn sẽ bị nhiễu chắn một lần nữa.

Cùng với việc gây nhiễu từ trên máy bay đối kháng điện tử (REP), nhiễu chủ động trong dải tần số của đài điều khiển RSNA-75M cũng được tạo ra bởi các tàu hải quân Mỹ trong khu vực Vịnh Bắc Bộ. Một tính năng đặc trưng của những loại nhiễu đó được trình bày như sau đây.

Góc phương vị của nguồn gây nhiễu trong trong toàn bộ thời gian quan sát (khoảng 30-40 phút) vẫn không đổi. Cường độ nhiễu cũng không thay đổi. Chiều rộng của dải nhiễu cơ bản trên các màn hình hiển thị của đài điều khiển SNR là 6-7 độ, dải nhiễu cạnh - 1,5-2 độ. Trên các màn hình mặt phẳng "phương vị" và "góc" từ trái sang phải với tốc độ 8 - 10 độ / giây dải nhiễu phương đứng di chuyển theo chiều rộng (dọc) khoảng 2 °. Ngoài ra, trên các màn hình "phương vị" và "góc" trên nền các dải nhiễu cơ bản và nhiễu cạnh còn quan sát thấy dấu hiệu màu tối thẳng đứng, thời gian của các dấu hiệu đó, đánh giá theo kích thước tuyến tính của chúng trên các màn hình (3-3,5 km theo khoảng cách) là 10-12 ms. Trong một phạm vi quét quan sát được 3-5 dấu hiệu như vậy, đều đặn di chuyển trên các màn hình cùng một tốc độ như dải màu tối thẳng đứng. Trong một số trường hợp, có một chuyển động hỗn loạn của các vệt màu tối thẳng đứng trên toàn màn hình.

Dạng các màn hình chỉ thị của sỹ quan điều khiển khi có nhiễu tác động từ các tàu hải quân Mỹ được trình bày trên hình 10.

(http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_pic10.jpg)

Ghi chú. Hình 10a: Dạng màn hình hiển thị của sỹ quan điều khiển khi có nhiễu tác động từ tàu hải quân Mỹ. Khoảng cách đến nguồn gây nhiễu 50-60 km. Mặt phẳng epsilon - mặt phẳng góc tà. Hình 10b: Dạng màn hình trươngg hợp trên. Mặt phẳng bêta - mặt phảng góc phương vị.

Có những trường hợp một trong những màn hình chỉ thị phát sinh thêm dấu hiệu có tín hiệu nhiễu xung hỗn tạp.

Các máy bay chiến thuật (F-4, F-105) tạo ra nhiễu chủ động chỉ trong dải tần số các kênh máy ngắm mục tiêu của tổ hợp SA-75M. Nhiễu trên các kênh đạn tên lửa hiếm khi được sử dụng do tính kháng nhiễu năng lượng cao của các kênh này để không xảy ra sự phá vỡ việc dẫn đường cho đạn tên lửa.

Ở những khoảng cách lớn đến trận địa bệ phóng của tiểu đoàn TLPK (đến 50-60 km), các máy bay KQ chiến thuật thường thực hiện đường bay trong thành phần các biên đội có đội hình chiến đấu "mũi tên", "so le" hay "hàng dọc đôi một" («клин», «пеленг» или «колонна пар»). Việc bật máy gây nhiễu thực hiện từ phạm vi 70-90 km. Mục tiêu dạng tốp như vậy, trong đó mỗi máy bay là một nguồn gây nhiễu, tạo ra trên các màn hình chỉ thị đài điều khiển SNR dải nhiễu cơ bản rộng 5-6 độ và một số dải biên. Dấu hiệu mục tiêu trên nền nhiễu như vậy không quan sát được.

Dạng nhiễu từ tốp mục tiêu (4F-4) được thể hiện trong hình 11.

(http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_pic11.jpg)

Ghi chú: Dạng màn hình hiển thị của sỹ quan điều khiển khi có tác động nhiễu từ tốp 4 chiếc F-4.
.......


Tiêu đề: Re: Hoạt động chiến đấu của QC PK-KQ QĐND Việt Nam tháng 12 năm 1972
Gửi bởi: qtdc trong 05 Tháng Chín, 2012, 01:22:58 am
(tiếp)

Trong vùng hỏa lực của bộ đội TLPK, các mục tiêu nhóm sẽ tách tốp, hoạt động chủ yếu theo cặp và thực hiện thao tác cơ động chống đạn TLPK ở độ cao 3-6 km. Đồng thời trên các màn hình chỉ thị quan sát được một số dải nhiễu mà do sự cơ động của mục tiêu liên tục thay đổi các vị trí góc của mình, gây khó khăn cho việc xác định các nguồn gây nhiễu và bám bắt chúng.

Trong một số trường hợp, dấu hiệu từ các máy bay đơn lẻ hoặc các tốp máy bay nhỏ thuộc KQ chiến thuật được phát hiện ra trên nền các dải nhiễu từ cự ly 10-15 km. Nếu tham số mục tiêu lớn hơn 10-12 km, thì dấu hiệu mục tiêu phát hiện được từ cự ly 18-20 km, nhưng chỉ quan sát được một cách không ổn định. Bám sát mục tiêu trong điều kiện như vậy chỉ có ở chế độ RS.

Các máy bay F-105, thuộc thành phần các tốp xác định và chế áp hệ thống phòng không, hoạt động trong khu vực của bộ đội TLPK, phần lớn các trường hợp không có nhiễu bao bọc, là để đảm bảo sự phát hiện đáng tin cậy của các hệ thống radar đang hoạt động trong chế độ chủ động, và để phóng đạn chống radar như "Shrike". Việc bật thiết bị gây nhiểu trên các máy bay này chỉ được thực hiện thường là sau khi phát hiện một vụ phóng đạn tên lửa PK.

Các phi vụ F-111A bay ở độ cao thấp được thực hiện với việc tắt máy gây nhiễu, nhằm đảm bảo bí mật tiếp cận các đối tượng oanh tạc. Máy phát nhiễu chủ động được bật chỉ khi nó phát hiện một vụ phóng tên lửa. Máy bay đồng thời cơ động tránh TLPK trong mặt phẳng nằm ngang. Các dấu hiệu trên nền nhiễu của máy bay F-111A khi tham số ở khoảng 8-10 km được phát hiện, điều này cho phép bám sát mục tiêu trong chế độ RS theo tọa độ góc cũng như theo cự ly.

Máy bay hải quân trên tàu sân bay, khi hoạt động trong vùng hỏa lực TLPK, tạo ra trên màn hình chỉ thị đài điều khiển SNR tình trạng nhiễu ở các mức độ phức tạp khác nhau: tình trạng nhiễu phức tạp nhất là khi đánh trả các cuộc không kích quy mô lớn. Trên các màn hình hiển thị đài điều khiển SNR lúc đó sẽ quan sát được nhiễu kết hợp: dải nhiễu chủ động tạo ra bởi các máy bay đối kháng điện tử REP chuyên biệt, nhiễu thụ động từ các thiết bị gây chuyên dụng và nhiễu xung đáp ứng tạo ra bởi các máy bay tấn công và các máy bay nhóm yểm trợ và đảm bảo. Kết quả là trên các màn hình của các trắc thủ radar thậm chí khi quy mô 5 km đã đồng thời quan sát thấy 30-40 dấu hiệu từ những mục tiêu thực và mục tiêu giả. Bởi vì việc sục sạo tìm kiếm kéo dài và việc phát hiện mục tiêu là không thể (vì nguy cơ tiểu đoàn TLPK sẽ trúng đạn chống radar kiểu "Shrike"), khi đó việc xạ kích trong những điều kiện như vậy thường không được thực hiện.

Khi máy bay hải quân trên tàu sân bay hoạt động theo các tốp nhỏ (2-4 máy bay), nhiễu xung-đáp ứng được tạo ra, nhiễu này được truyền đi theo cự ly và các tọa độ góc, và có cả nhiễu xung-đáp ứng đa bội.

Lấy ví dụ, trong hình 12 cho thấy màn hình hiển thị khối I-31 "góc" tại thời điểm đạn tên lửa được dẫn tới mục tiêu máy bay loại A-7. Trong hình ta quan sát thấy rất rõ có hai mục tiêu, được che chở bằng nhiễu xung-đáp ứng, truyền theo cự ly (nhiễu loại "râu"). Bám sát các mục tiêu trong những điều kiện nhiễu như vậy được thực hiện trong chế độ RS, bởi vì khi làm việc ở chế độ AS sẽ diễn ra việc ngắt gián đoạn chế độ bám sát tự động theo cự ly và các tọa độ góc.

(http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_pic12.jpg) (http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_pic13.jpg)

Ghi chú. Hình 12: Dạng màn hình hiển thị của trắc thủ radar (quy mô - 5 km) khi một tốp 2 chiếc A-7 tự bảo vệ bằng nhiễu xung-đáp ứng. Hình 13: Dạng màn hình hiển thị của radar khi có tác động của nhiễu từ máy bay kiểu EB-66 và nhiễu xung-đáp ứng từ máy bay A-7.

Trên hình 13 cho thấy các màn hình chỉ thị của khối "góc" I-31 khi có tác động của nhiễu kết hợp: nhiễu chủ động từ máy bay đối kháng điện tử chuyên dụng, nhiễu xung-đáp ứng (ОИП) từ máy bay cường kích hải quân A-7. Nhiễu xung-đáp ứng bội số (Многократные ОИП) dạng này gây khó khăn cho việc lựa chọn mục tiêu để xạ kích, đặc biệt là khi trong cung quét có một số nguồn nhiễu. Để chọn dấu hiệu mục tiêu, sỹ quan điều khiển chuyển mạch máy phát sóng từ ăng ten sang tương đương trong 2-3 giây. Sau khi đảo mạch về lại ăng-ten thì dấu hiệu từ mục tiêu xuất hiện trên các màn hình sớm hơn một chút so với dấu hiệu từ nhiễu.

Các dấu hiệu giả quan sát được cũng khác biệt với cụm mục tiêu ngay ở hình dạng của nó, nó gần với hình chữ nhật. Ngoài ra trên cụm mục tiêu ta còn thấy áp đặt nhiễu xung-đáp ứng truyền theo cự ly hoặc các tọa độ góc. Sử dụng tất cả các dấu hiệu nhận dạng này tạo cơ sở nâng cao hiệu quả bắn máy bay hải quân trên tàu sân bay.

Tình hình nhiễu được tạo ra phức tạp nhất là trong thời gian các cuộc không kích ồ ạt quy mô lớn của không quân chiến lược. Nhiễu chủ động từ các máy bay B-52, được tạo ra trong dải tần số của đài điều khiển RSNA-75M, được phát hiện từ cự ly 180-200 km. Ở cự ly 60-70 km đến tốp máy bay B-52, trên các màn hình hiển thị của đài điều khiển SNR quan sát được một dải nhiễu cơ bản và một số dải nhiễu biên.

Bằng cách điều chỉnh "chiết áp tay" và "độ sáng" các trắc thủ thiết lập được chiều rộng của dải nhiễu cơ bản về mức tối thiểu 3-3,5 độ. Khi máy bay B-52 đến gần trận địa phóng của tiểu đoàn TLPK thì dải nhiễu cơ bản ngay từ cự ly 40-50 km bắt đầu mở rộng lên đến 6-7 độ, sau đó nó sẽ tách thành hai hoặc ba dải nhiễu riêng biệt. Trong mặt phẳng "phương vị" dải nhiễu cơ bản, theo lệ thường, sẽ chia thành ba dải rộng 3-3,5 độ. Trong mặt phẳng "góc" thì dải nhiễu cơ bản thường không tách, hoặc nếu tách thì tách thành hai dải.

Cự ly từ đó quan sát được việc tách dải nhiễu trong mặt phẳng "β" phụ thuộc tham số hướng của tốp mục tiêu đối với trận địa bệ phóng của tiểu đoàn TLPK (Rmt - Рц) và đặc điểm sắp xếp đội hình của tốp trên hướng tác chiến. Trong hầu hết các trường hợp đều diễn ra việc tách dải nhiễu chủ động trong mặt phẳng phương vị: ở Rmt dưới 10 km – từ cự ly 30-35 km, còn khi Rmt lớn hơn 10 km – từ cự ly 25-30 km. Trong mặt phẳng góc tà thì cự ly bắt đầu tách dải nhiễu chủ động (АШП) không vượt quá 25-30 km.

Các màn hình hiển thị khối I-32 "phương vị" khi bám sát máy bay B-52 được cho trên hình 14-17.

(http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_pic14.jpg) (http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_pic15.jpg)
(http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_pic16.jpg) (http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_pic17.jpg)

Ghi chú. Hình 14: Dạng màn hình hiển thị của trắc thủ phương vị khi chịu nhiễu từ một tốp máy bay B-52. Cự ly đến nguồn nhiễu khoảng 35 - 40 km. Hình 15: Dạng màn hình hiển thị của trắc thủ phương vị khi chịu nhiễu từ một tốp máy bay B-52 tại thời điểm tách dải nhiễu. Cự ly đến tốp B-52 khoảng 30 km. Hình 16: Dạng màn hình hiển thị của trắc thủ phương vị khi chịu nhiễu từ một tốp máy bay B-52 (3 dải nhiễu ở trung tâm) và nhiễu từ một tốp 2 chiếc F-4 hộ tống (vệt nhiễu bên trái). Hình 17: Dạng màn hình hiển thị của trắc thủ phương vị khi chịu nhiễu từ một tốp máy bay B-52 tại thời điểm chúng ngoặt chuyển hướng ở cự ly cách tiểu đoàn TLPK khoảng 25-28 km.

Khi đài điều khiển SNR hoạt động bức xạ, trong một loạt trường hợp ta quan sát được các dấu hiệu từ máy bay B-52 trên nền nhiễu. Khả năng quan sát các dấu hiệu đó phụ thuộc tham số tầm và hướng của tốp B-52. Khi Rmt lớn hơn 8-10 km thì dấu hiệu của mục tiêu quan sát được từ cự ly 25-30 km. Nếu Rmt nhỏ hơn 8 km, cự ly phát hiện máy bay B-52 trên nền nhiễu chủ động (АШП) không vượt quá 15-17 km.
..........


Tiêu đề: Re: Hoạt động chiến đấu của QC PK-KQ QĐND Việt Nam tháng 12 năm 1972
Gửi bởi: qtdc trong 05 Tháng Chín, 2012, 09:06:48 pm
(tiếp)

Việc gây nhiễu chủ động từ máy bay B-52 trong dải tần số bắt bám của radar P-12 bắt đầu từ cự ly hơn 200 km. Khi cự ly đến nguồn nhiễu chủ động lớn hơn 100-120 km các màn hình IKO và VIKO bám sát mục tiêu (ИКО и ВИКО СРЦ) bị chẹn đầy nhiễu trong cung 20-40 độ. Nhiễu trong cung này có cường độ lớn, việc dẫn ngắm rất khó khăn. Cường độ của cánh nhiễu biên yếu hơn. Khi nguồn phát nhiễu đến gần, khu vực phát sáng trên các màn hình sẽ loang rộng ra và ở cự ly nhỏ hơn 70-80 km sẽ bằng 360 °. Mục tiêu không quan sát được trên nền nhiễu. Áp dụng điều chỉnh tần số trong một số trường hợp cho phép lựa chọn một trong các kênh tần số mà tại đó cường độ nhiễu là tối thiểu, và thực hiện dẫn ngắm. Sau 1-2 phút tại kênh tần số được lựa chọn cường độ nhiễu tăng lên đến mức độ loại trừ việc quan sát các dấu hiệu mục tiêu.

Tình hình nhiễu phức tạp phát sinh trên các màn hình đài điều khiển SNR và màn hình bắt bám mục tiêu trong thời gian diễn ra các cuộc không kích quy mô lớn của máy bay B-52, gây ra một loạt khó khăn trong công tác của các kíp chiến đấu SCH tiểu đoàn TLPK.

Đầu tiên, trong cung quét của đài điều khiển SNR có đồng thời vài mục tiêu - các nguồn nhiễu chủ động (АШП): các máy bay REP chuyên dụng loại EB-66, gây nhiễu từ khu vực quần vòng; các máy bay-nguồn gây nhiễu chủ động của KQ chiến thuật (F-4, F-105), nằm trong nhóm yểm trợ và bảo đảm; các tốp máy bay B-52 oanh kích. Kết quả là, trên màn hình SNR ta quan sát thấy đồng thời một số vệt nhiễu, gây khó khăn cho việc lựa chọn các mục tiêu để bắn và nhận dạng vệt nhiễu theo các mặt phẳng phương vị và góc tà.

Thứ hai, rất khó chọn vị trí của dấu hiệu theo chiều thẳng đứng trong các giới hạn vệt nhiễu khi bám sát mục tiêu nhóm. Điều này là do độ rộng vệt nhiễu mà mục tiêu nhóm tạo ra khi nó tiến gần trận địa của tiểu đoàn TLPK, không còn là không đổi. Khi mở rộng dải nhiễu đến 5-6 độ và nhiều hơn nữa phần giữa của nó không phù hợp về hướng với bất cứ máy bay nào trong nhóm. Từ đó nảy sinh vấn đề: chọn vị trí dấu hiệu theo phương thẳng đứng thế nào để sai số bám sát theo các góc sẽ là tối thiểu.

Để tách dải nhiễu từ các máy bay B-52 trên nền các dải nhiễu chủ động ra khỏi các nguồn nhiễu khác, các kíp chiến đấu tiểu đoàn TLPK sử dụng cả một loạt đặc điểm phân biệt. Những dấu hiệu này có cơ sở ở việc trang bị không đồng đều thiết bị gây nhiễu của các loại máy bay khác nhau, cũng như sự khác biệt trong việc sắp xếp đội hình chiến đấu của các máy bay KQ chiến lược và KQ chiến thuật. Sự khác biệt trong chiến thuật gây nhiễu và tấn công của các máy bay B-52 cũng được tính đến.

Phân tích những yếu tố này sẽ giúp thiết lập các dấu hiệu phân biệt nhiễu như sau do các máy bay B-52 gây ra.

1.Trong cuộc tập kích quy mô lớn của không quân chiến lược, nhiễu chủ động được đồng thời tạo ra trước tất cả các loại đài radar của bộ đội TLPK, bộ đội radar và trong đa số trường hợp - cho cả các khí tài liên lạc vô tuyến - và truyền dẫn vô tuyến.

2. Các dải nhiễu từ máy bay B-52 ổn định hơn về độ sáng, chiều rộng và cường độ so với các dải nhiễu từ các máy bay không quân chiến thuật. Điều này được cắt nghĩa bởi vì các máy bay B-52 tiến tới đối tượng tấn công theo một đường bay thẳng ở một độ cao không đổi (9-12 km) và với tốc độ không đổi (220-230 m / s). Máy bay của không quân chiến thuật trong vùng tác chiến của bộ đội TLPK thường thực hiện cơ động tránh tên lửa. Vì vậy, các dải nhiễu từ chúng liên tục thay đổi về độ sáng, cường độ, và chiều rộng; thay đổi cả giãn cách góc giữa các dải nhiễu.

3. Tính ổn định về hướng của các máy bay B-52 khi tiến đến đối tượng oanh tạc dẫn đến việc khi bám sát dải nhiễu từ các máy bay trên theo các tọa độ góc thì các tham số (tốc độ thay đội tọa độ theo góc tà và phương vị), tính trên biểu xích xen-xin của các khối I-65 và I-6Z, thay đổi một cách trơn tru, không có sự thay đổi dấu hiệu trong cả các phạm vi nhỏ (không quá 0,2 độ mỗi giây trong dải cự ly 30-100 km). Khi bám sát dải nhiễu từ các máy bay KQ chiến thuật thì các giá trị (tốc độ thay đội tọa độ theo góc tà và phương vị) biến đổi không đều đặn, trong một dải rộng hơn, và đôi khi với sự thay đổi các dấu hiệu được gây nên bởi thao tác cơ động của các máy bay.

4. Nhiễu từ các máy bay B-52, khác với các dải nhiễu từ các máy bay không quân chiến thuật, có dư lượng sâu ("có đuôi"), không nén được bằng sơ đồ phân chia đầu vào (схема ВРУ). Điều này được giải thích bởi công suất nhiễu tại đầu vào máy thu đài điều khiển SNR theo các kênh ngắm mục tiêu,  tạo ra bởi tốp máy bay B-52, cao hơn công suất nhiễu từ các máy bay chiến thuật (đặc biệt là khi tham số mục tiêu dưới 10 km).

5. Do thiết bị gây nhiễu được lắp đặt trên máy bay B-52 có công suất lớn, ảnh hưởng của các sơ đồ AGC (схема АРУ - Автоматическая Регулировка Усиления) và MGC (схема РРУ - Ручная Регулировка Усиления) của kênh thu đài điều khiển SNR bị giới hạn bởi sự bão hòa của các mạch đầu vào. Ảnh hưởng hạn chế của các sơ đồ AGC và MGC xảy ra thường xuyên nhất với các giá trị tham số mục tiêu nhỏ hơn hoặc bằng 8-10 km, khi máy gây nhiễu tác động lên đài điều khiển SNR bằng cánh sóng chính của sơ đồ đặc tính hướng của trạm phát nhiễu. Theo số liệu của Bộ Tư lệnh PKKQ QDNDVN, cực đại của sơ đồ đặc tính hướng trạm phát nhiễu ALT-28 (trong mặt phẳng thẳng đứng) hướng theo góc 20-25 độ so với trục dọc của chiếc máy bay B-52. Độ rộng của sơ đồ trong mặt phẳng thẳng đứng là 15 độ ở mức một nửa công suất. Theo những dữ liệu này hiệu quả tối đa của nhiễu được đảm bảo ở cự ly 24-25 km và ở trần bay 10-12 km.

Tất cả những dấu hiệu phân biệt của nhiễu từ các máy bay B-52 được các kíp chiến đấu tiểu đoàn TLPK sử dụng để đánh giá tình huống trên không và lựa chọn mục tiêu để xạ kích.

Khi có sự hiện diện đồng thời của một số dải nhiễu trên các màn hình hiển thị của sĩ quan điều khiển, việc phân biệt mục tiêu được xác định như sau. Sỹ quan điều khiển kết hợp dấu hiệu thẳng đứng trên mặt phẳng phương vị với dải nhiễu đã chọn, đồng thời đánh dấu chiều dài "đuôi" nhiễu. Sau đó, khi tiếp tục kết hợp dấu hiệu thẳng đứng với mỗi một trong các dải nhiễu theo góc phương vị, anh ta theo dõi sự thay đổi chiều dài "đuôi" của dải nhiễu được lựa chọn trong mặt phẳng góc tà. Dải nhiễu trên mặt phẳng phương vị, khi kết hợp với nó mà "đuôi" của dấu hiệu thẳng đứng tăng lên, được chọn để bám sát.

Việc bám sát dải nhiễu từ máy bay B-52 theo các tọa độ góc của trắc thủ radar được thực hiện như sau. Ở cự ly xa trắc thủ radar phương vị bám sát giữa tâm dải nhiễu mà độ rộng của nó được thiết lập ở 3-3,5 độ. Khi mở rộng dải nhiễu trắc thủ chú ý vào dấu của tham số (tốc độ thay đổi phương vị của mục tiêu). Nếu nó lớn hơn 0, trắc thủ phương vị sẽ giữ vạch thẳng đứng ở vị trí 1,5 độ so với cạnh phải của dải nhiễu mở rộng. Nếu tốc độ thay đổi góc phương vị mục tiêu nhỏ hơn 0, vạch theo phương thẳng đứng sẽ được giữ gần hơn về phía cạnh trái của của dải nhiễu là 1,5 độ. Điều này cho phép khi tách dải nhiễu ta chuyển sang bám sát mục tiêu đi đầu trong tốp mục tiêu (vạch bên phải, nếu tốc độ thay đổi phương vị mục tiêu lớn hơn 0, vạch bên trái, nếu tốc độ thay đổi phương vị mục tiêu nhỏ hơn 0) một cách êm thuận, không giật cục, không tạo ra dao động đổi chiều lớn trong mạch vòng điều khiển đạn tên lửa.

Hoạt động của trắc thủ radar góc tà khác với hoạt động của trắc thủ radar phương vị ở chỗ khi mở rộng dải nhiễu anh ta luôn giữ vững vạch đứng gần với mép phải dải nhiễu 1,5 °, bởi vì góc tà của chiếc máy bay dẫn đầu tốp máy bay luôn luôn lớn hơn góc tà của những chiếc bay sau. Khi tách dải nhiễu theo mặt phẳng góc tà, trắc thủ luôn luôn chọn bám sát dải bên phải, anh ta coi nó là mục tiêu đầu đàn.

Từ cự ly nhỏ hơn 60 km máy gây nhiễu trên máy bay B-52, theo quy luật, sẽ làm việc trong chế độ điều chế xung nhiễu. Đồng thời tần số lặp của xung nhiễu là bội số của tần số quét và biến đổi êm thuận trong một phạm vi nhỏ (cộng hoặc trừ 2-3 Hz). Kết quả là, khi xuất hiện dải nhiễu từ một máy bay đơn lẻ sẽ tạo nên hiệu ứng "quay" tâm sáng của dải nhiễu xung quanh vạch thẳng đứng (trong phạm vi toàn bộ chiều rộng dải nhiễu) với sự biến đổi liên tiếp về tần số và hướng "quay". Các dải biên khi đó sẽ "bơi" trên màn hình lúc sang bên trái, lúc sang bên phải.

Sự làm việc của đài phát nhiễu trong chế độ như vậy cản trở trắc thủ radar "góc tà" và "phương vị" bám sát các nguồn gây nhiễu, bởi vì việc xác định bằng mắt tâm dải nhiễu bị điều chế sẽ có sai số lớn. Để giảm các sai số góc bám sát, các trắc thủ phải sử dụng phần còn lại của dải nhiễu, không nén bằng sơ đồ AGC, đồng thời kết hợp vạch thẳng đứng với phần sâu nhất của nó, mà tương ứng với hướng chính xác hơn của mục tiêu đang bị bám sát.

Nghiên cứu các kinh nghiệm trình bày trên đây của các kíp chiến đấu có trình độ huấn luyện tốt nhất cho thấy rằng hiệu quả bắn máy bay B-52 phần lớn được xác định bằng khả năng của kíp chiến đấu phân tích nhanh chóng và triệt để, toàn diện tình trạng nhiễu, trên cơ sở đó chọn ra mục tiêu bắn, chuẩn bị dữ liệu đầu vào cho xạ kích và thực hiện các tất cả các hoạt động cần thiết để hoàn thành nó một cách thành công.

Tạo cơ sở cho việc phân tích toàn diện tình hình nhiễu là kiến thức sâu sắc của tất cả các thành viên trong các kíp chiến đấu SCH ở mọi cấp độ về tính năng đặc điểm của phương tiện đối kháng điện tử (REP), thuộc trang bị vũ khí trên các máy bay đối phương, và các chiến thuật chúng sử dụng trong các điều kiện chiến đấu khác nhau.
.......


Tiêu đề: Re: Hoạt động chiến đấu của QC PK-KQ QĐND Việt Nam tháng 12 năm 1972
Gửi bởi: qtdc trong 06 Tháng Chín, 2012, 12:53:21 pm
(tiếp)

HOẠT ĐỘNG CHIẾN ĐẤU CỦA KHÔNG QUÂN TIÊM KÍCH

Lực lượng không quân QDNDVN có 4 trung đoàn không quân tiêm kích chiến đấu, một trung đoàn tiêm kích huấn luyện và một trung đoàn không quân vận tải đặt căn cứ tại 5 sân bay. Các trung đoàn tiêm kích chiến đấu được trang bị các máy bay MiG-21, MiG-19 và MiG-17, tập trung ở các tỉnh trung tâm và phía bắc của VNDCCH và đóng căn cứ tại các sân bay: Gia-Lâm, Nội Bài, Yên Bái và Kép.

Các căn cứ không quân QDND Việt Nam và đặc điểm các sân bay theo tình hình ngày 18/12/72 được thể hiện trong sơ đồ 19.

(http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_sx19.jpg)

Căn cứ không quân của QDND Việt Nam và đặc điểm các sân bay theo tình hình ngày 18.12.1972.

Trong biên chế chiến đấu của KQNDVN có 187 máy bay tiêm kích. Trong số này, chỉ có 71 máy bay ở trạng thái sẵn sàng chiến đấu, chiếm 38%. Trong biên chế chiến đấu đó chỉ có thể huy động tham chiến được 47 máy bay (31 MiG-21 và 16 MiG-17), chiếm 26% tổng số máy bay chiến đấu.

MiG-19 do Trung Quốc sản xuất không tham gia vào các trận đánh.

Trong số 194 phi công có 75 người (40%) là phi công trẻ.

Thành phần bay (từ số phục vụ cũ) chủ yếu được huấn luyện tác chiến theo tốp 2 và theo toàn biên đội trong điều kiện đơn giản và phức tạp vào ban ngày. Chỉ có 13 phi công MiG-21 và 5 phi công MiG-17 được huấn luyện tác chiến đêm trong đội hình đơn lẻ và trong cả điều kiện khí tượng đơn giản và phức tạp.

Những nỗ lực chính của KQTK được tập trung vào việc bảo vệ thủ đô VNDCCH - thành phố Hà Nội, cảng biển tại thành phố Hải Phòng, các cơ sở quân sự và công nghiệp và các tuyến giao thông phân bố ở các tỉnh trung tâm và phía bắc VNDCCH. Mục tiêu chính là tiêu diệt các máy bay B-52.

Do sự phức tạp của tình hình trong thời gian Hoa Kỳ tiến hành chiến dịch không kích tại VNDCCH, hoạt động của không quân tiêm kích có tính chất hạn chế. Kết quả là sự đóng góp của lực lượng này vào sự đánh trả cuộc không kích của máy bay Mỹ là không đáng kể.

Tuy nhiên, ngay cả khi hoạt động với một lực lượng hạn chế, họ cũng buộc bộ chỉ huy Mỹ phải huy động một lực lượng không quân chiến thuật đáng kể để bảo vệ các nhóm tấn công, làm suy yếu đáng kể sức mạnh tấn công của không quân đối phương khi oan tạc các mục tiêu tại VNDCCH.

Trong suốt thời gian chiến sự, không quân tiêm kích đã thực hiện 31 phi vụ xuất kích, trong đó có 27 phi vụ MiG-21 và 4 phi vụ MiG-4 17. Đã tổ chức được 8 trận không chiến, trong đó bắn rơi 7 máy bay địch, gồm 2 B-52, 4 F-4 và 1RA-5C, hay là 9% tổng số các máy bay bị các phương tiện của bộ đội Phòng không và Không quân bắn rơi. Tổn thất của họ - 3 máy bay MiG-21.

(http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_pic27.jpg)

Tính đến sự vượt trội về số lượng của máy bay Mỹ trong không trung và sự duy trì khả năng giám sát liên tục không phận VNDCCH, bộ chỉ huy binh chủng Không quân QĐNDVN khi sử dụng không quân chiến đấu nhấn mạnh vào tính bất ngờ.

Tiếp cận bí mật, công kích dứt khoát và thoát khỏi không chiến ngay lập tức sau khi phóng tên lửa - đó là chiến thuật không chiến của các phi công Việt Nam.

Nhiệm vụ chiến đấu của không quân được thực hiện chủ yếu bởi các kíp trực chiến MiG-21 ở mức sẵn sàng số 2, ngày và đêm với thời hạn một phi vụ xuất kích trong thời gian ban ngày là 5-6 phút và ban đêm - 6-7 phút.

Chúng ta hãy xem xét một số trận không chiến chống lại máy bay ném bom chiến lược B-52. Phi vụ xuất kích đầu tiên đánh chặn B-52 được thực hiện bằng máy bay MiG-21 diễn ra buổi tối ngày 18 tháng 12. Hồi 19:28 giờ sau khi cất cánh từ sân bay Nội Bài theo hướng 220 ° trong chế độ công tác tối đa của động cơ, phi công lấy độ cao 5000 mét, ngay trước mặt ở khoảng cách 10-15 km anh ta phát hiện ra đèn hiệu dẫn đường của một máy bay ném bom chiến lược B-52. Sau khi báo cáo tình hình về SCH trung tâm và nhận được lệnh công kích, phi công bật tăng lực, ném thùng dầu phụ và bắt đầu leo cao đồng thời ngoặt phải.

Khi lên đến độ cao 10.000 m, theo lệnh từ SCHTT (cự ly đến mục tiêu - 10 km) phi công bật máy ngắm RP-21 để chiếu xạ. Sau 3-5 giây phi công nhận thấy rằng đèn dẫn đường trên máy bay B-52 tắt phụt, còn màn hình máy ngắm lấp đầy các vệt sáng của nhiễu chủ động, trên nền nhiễu đó mục tiêu không quan sát được.

Phi công báo cáo tình hình có nhiễu và bay tiếp hướng tới mục tiêu. Sau một thời gian ngắn (30-40 giây sau khi bật RP-21 vào chế độ chiếu xạ), anh thấy có 6 phát tên lửa nổ gần xung quanh máy bay mình, sau đó anh kiên quyết ngoặt phải đồng thời với việc hạ độ cao thoát khỏi công kích. Khi hạ cánh xuống sân bay, máy bay rơi vào một hố bom và bị tai nạn. Phi công may mắn không bị thương.

Lý do chính không thành công của trận không chiến - không tạo được tính bất ngờ về chiến thuật cho cuộc công kích do phương pháp tiếp cận mục tiêu không đúng đắn và bật radar máy ngắm quá sớm.

Ngày 27 tháng 12 hồi 22:02 giờ từ sân bay Yên Bái, một máy bay MiG-21 cất cánh đánh chặn các máy bay B-52. Khí tượng: mây – cấp 10, cao độ rìa mây thấp - 400 m, cao độ đỉnh mây - 2000 m, tầm nhìn - 10 km.

Thực hiện lệnh của SCHTT, phi công theo hướng 200 ° tại chế độ làm việc tối đa của động cơ lấy độ cao 5.000 mét. Theo lệnh từ SCHTT phi công thả thùng dầu phụ, bật tăng lực và bắt đầu leo lên độ cao 10.000 m.

Khi tới độ cao 6.000 mét, anh phát hiện trên độ cao cao hơn mình về phía trái một máy bay đang bay với các đèn dẫn đường đang được bật, vẫn quan sát bằng mắt thường, anh tiếp tục kéo cao bằng vòng ngoặt trái (độ nghiêng 35-40 °, tốc độ 1200 km / h). Khi đạt đến độ cao 10.000 m và bay theo hướng 70 °, phi công tiếp tục tiếp cận mục tiêu khi tốc độ của máy bay tiêm kích đạt tới 1300 km / h và tại cự ly 2000-2500 m thực hiện ngắm bắn theo máy ngắm có ống chuẩn trực (прицеливание по коллиматорному прицелу) và phóng một loạt 2 đạn tên lửa (xem sơ đồ 20).

(http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_sx20.jpg)

Sơ đồ 20. Trận không chiến ngày 27.12.1972.

Cả hai đạn tên lửa đều trúng máy bay B-52. Phi công thực hiện nửa vòng ngoặt thoát khỏi công kích, lấy lại đường bay bằng ở độ cao 2500-3000 m, và hạ cánh an toàn tại sân bay xuất kích.

Thành công trong không chiến đã được đảm bảo vể mặt chiến thuật bằng cách sử dụng thông minh các đường bay lúc dẫn đường tiếp cận và tấn công, tính bất ngờ với việc sử dụng các dấu hiệu giải trang nhận diện B-52 (đèn dẫn đường), và sự duy trì được độ chính xác của các tham số đường bay khi máy bay phóng tên lửa.

(http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_pic28.jpg)
.......


Tiêu đề: Re: Hoạt động chiến đấu của QC PK-KQ QĐND Việt Nam tháng 12 năm 1972
Gửi bởi: qtdc trong 06 Tháng Chín, 2012, 07:22:06 pm
(tiếp)

Ngày 28 tháng 12 từ sân bay dã chiến, nằm cách 12 km về phía bắc của sân bay Thọ Xuân, vào hồi 21:28 giờ một máy bay tiêm kích MiG-21 xuất kích đánh chặn B-52. Khí tượng: mây – cấp 5, cao độ rìa mây dưới - 800 mét, cao độ đỉnh mây - 1,200-1,500 m, tầm nhìn xa - 10 km.

Việc dẫn đường được thực hiện từ đài dẫn đường. Đường bay đến độ cao 4000 m được thực hiện ở chế độ làm việc tối đa của đọng cơ, sau đó tiếp đến lệnh thả thùng dầu phụ, bật tăng lực và theo hướng 350° chiếm lĩnh độ cao 10000 m.

Trên độ cao 7000 m phi công báo cáo về đài dẫn đường anh đã nhìn thấy phía trước có máy bay bật đèn dẫn đường đang bay theo cùng hướng và ở trên cao. Giả thiết từ cự ly 8-10 km tại độ cao 9000–9500 m, máy bay tiêm kích MiG-21 đã bị radar bảo vệ đuôi máy bay ném bom B-52 phát hiện, tổ lái chiếc B-52 đã tắt đèn trên thân máy bay, điều đó được phi công-tiêm kích báo cáo về đài chỉ huy.

Đó là báo cáo cuối cùng của phi công. Theo những mảnh xác máy bay B-52 và MiG-21 đã xác định rằng chúng va chạm nhau trên không trung. Theo số liệu của phía Việt Nam, máy bay tiêm kích MiG-21 đã đâm thẳng ("taran") vào máy bay ném bom B-52.

Phân tích các trận không chiến của máy bay tiêm kích Việt Nam với các máy bay ném bom chiến lược B-52 cho thấy đơn vị chiến thuật cơ bản trong đánh đêm là một máy bay duy nhất. Tính bất ngờ chiến thuật trong công kích được đảm bảo bằng việc sử dụng máy ngắm chuẩn trực (ПКИ) để ngắm mục tiêu và phóng đạn tên lửa.

Tuy nhiên, để hoàn tất cuộc công kích cần phải tiến được vào khu vực có thể phóng tên lửa - bán cầu sau của máy bay ném bom B-52, duy trì nghiêm ngặt đúng các tham số đường bay trước khi phóng đạn (nâng tốc độ lên trên 300-400 km / h, cự ly phóng 1800-2000 m) và phóng đạn R-3S cả loạt.

Một trong những lý do các máy bay tiêm kích MiG-21 hoạt động kém hiệu quả đối với các máy bay B-52 là không đưa được tiêm kích tới đích (sáu trong số 10 lần dẫn đường bị gián đoạn do radar dẫn đường bị nhiễu nặng).

Không quân tiêm kích cũng được sử dụng để chiến đấu với các máy bay của không quân chiến thuật và máy bay trinh sát. Có 11 phi vụ xuất kích như vậy đã được thực hiện (9 - trên các máy bay MiG-21 và 2 - MiG-17). Kết quả các cuộc không chiến là các máy bay tiêm kích MiG-21 đã bắn rơi 5 máy bay Mỹ: 4 F-4 "Phantom" và một RA-5C «Vigilant". Hoạt động của các tiêm kích MiG-17 không có kết quả.

Trong cuộc chiến đấu chống lại không quân chiến thuật, đơn vị chiến thuật cơ bản là biên đội 2 chiếc tiêm kích. Chẳng hạn, trong số 11 phi vụ có 8 phi vụ  (73%) được thực hiện bằng biên đội 2 chiếc. Khi tiến hành các cuộc không chiến các phi công áp dụng việc tiếp cận đối thủ một cách bí mật, tiến hành công kích dứt khoát và thoát khỏi không chiến ngay lập tức sau khi phóng tên lửa. Do sự áp đảo về số lượng trên không trung của kẻ thù nên các phi công QDNDVN không bước vào cuộc không chiến kéo dài. Có một trường hợp ngoại lệ (28 tháng 12), khi phi công sau khi thực hiện thành công một cuộc công kích và trong tình trạng không có thông tin chính xác về ưu thế lực lượng của đối phương, tiếp tục chiến đấu và bị bắn hạ bởi một chiếc F-4.

Theo thuật ngữ của các phi công Việt Nam, các chiến thuật phổ biến nhất được họ sử dụng là "thọc sâu", "công kích đồng thời", "phản kích liên tục", "phá vỡ quần vòng", "tấn công khi đối phương tách tốp", "tấn công khi đối phương cơ động "cắt kéo " v.v. Tất cả các trận chiến đấu trên không diễn ra trong điều kiện tầm nhìn bằng mắt thường, trên các độ cao thấp với tên lửa là vũ khí chính.

Ta hãy xem xét một số thủ pháp chiến thuật trong hoạt động chống trả không quân chiến thuật Mỹ. Ngày 23 tháng 12 một cặp phi công Việt Nam trên MiG-21 trong không chiến với một biên đội F-4 đã sử dụng phương pháp "tấn công khi đối phương tách tốp".

Bản chất của nó là sau khi công kích - thoát khỏi cuộc chiến và không cho phép đối phương chiếm vị trí thuận lợi để tấn công. Thực tế là khi ở trong vị trí bị tấn công, theo quy luật, biên đội F-4 tách thành 2 tốp, một cặp bắt đầu vòng ngoặt chiến đấu sang phải cùng với thao tác kéo cao, còn cặp kia - lượn xoắn ốc đi xuống về bên trái.

Để đảm bảo sự thành công của mình, cặp phi công Việt Nam hoặc tách tốp, hoặc bám theo cặp họ định tấn công - tất cả phụ thuộc vào khoảng cách đến biên đội F-4 (chiếc máy bay đi cuối) tại thời điểm chúng tách tốp thành 2 cặp. Nếu khoảng cách nhỏ hơn 3000 m, cặp phi công Việt Nam sẽ tách tốp, và mỗi người sẽ tự thực hiện công kích vào tốp "của mình". Nếu khoảng cách là hơn 3000 m, cặp đôi Việt Nam tiếp tục công kích đồng thời vào cặp F-4 đi sau.

Trong tất cả các trường hợp, đội hình chiến đấu của tốp 2 chiếc là so le trái hoặc so le phải. Khi dẫn đường và tìm kiếm (theo thuật ngữ Việt Nam "chế độ thụ động") các máy bay giữ khoảng cách 400-600 m, giãn cách 200-400 m và máy bay bay sau bay cao hơn máy bay đi đầu 50-100 m. Trong không chiến ở "chế độ chủ động" áp dụng đội hình chiến đấu mở (khoảng cách và gián cách tăng lên 800-1000 m).

Trong một số trường hợp, để cải thiện khả năng quét bán cầu sau và bảo vệ đuôi máy bay dẫn đầu, chiếc bay sau thuộc cặp tiêm kích Việt Nam thường sử dụng động tác cơ động "rắn bò". Thao tác được thực hiện bằng độ lệch tối đa đến 1000 m đối với hướng bay của chiếc đi đầu và góc mở 45-50 °, góc nghiêng 60-65 °.

Ngày 22 tháng 12 hồi 13:28 một cặp MiG-21 cất cánh từ sân bay Nội Bài lên đánh chặn tốp F-4 bay từ Lào sang. Khí tượng: mây - cấp 10, độ cao rìa mây thấp - 400 m, đỉnh mây - 1500 m, tầm nhìn - 8-10 km. Dẫn đường thực hiện từ SCH trung đoàn. Thực hiện lệnh của SCH, cặp tiêm kích lấy hướng 220 °, kéo cao lên 8000 m (sơ đồ 21).

(http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_sx21.jpg)

Sơ đồ 21. Trận không chiến ngày 22.12.1972.

Sau khi ra khỏi mây chiếc đi đầu theo lệnh SCH thi hành vòng ngoặt sang trái và lập tức phát hiện một biên đội F-4 về phía trái ở góc 90 °, cự ly 6-8 km, đang bay ở độ cao 6000-8000 m. Phi công quyết định tấn công cặp F-4 thứ hai, lệnh cho chiếc đi sau thả thùng dầu phụ và bật tăng lực.

Vì đối tượng của cuộc tấn công được lựa chọn là cặp ngoài cùng bên trái, chiếc dẫn đầu chuyển sang ngoặt sâu hơn nữa (với quá tải lên đến 7-8). Tại thời điểm này, chiếc đi sau mất dấu chiếc đi đầu. Tại thời điểm lật nghiêng máy bay sang hướng ngược lại máy bay bị bắn rơi. Phi công nhảy dù và may mắn tiếp đất an toàn.

Khi phân tích trận không chiến, đã cắt nghĩa được rằng bay sau biên đội đầu tiên trên cùng độ cao đó còn một biên đội F-4 thứ hai, biên đội đó đã tấn công cặp tiêm kích MiG-21. Chiếc bay đầu khi công kích chiếc F-4 bay sau của cặp thứ hai thuộc biên đội thứ nhất đã bị chiếc đi đầu của tốp F-4 thuộc biên đội thứ hai tấn công, chiếc F-4 đó đã bắn sáu phát đạn tên lửa vào chiếc MiG-21. Tất cả 6 phát tên lửa đều trượt.

Khi thấy sự vượt trội về số lượng của đối phương, và nhiên liệu chỉ còn hạn chế, chiếc MiG-21 dẫn đầu tại chế độ giới hạn về quá tải đã hạ cực thấp thoát khỏi chiến trường. Ở chiều cao 30-50 mét, phi công đã cắt được đeo bám của máy bay đối phương và với 250-300 lít nhiên liệu còn lại đã an toàn tiếp đất tại sân bay xuất kích. Máy bay của phi công bay sau bị bắn rơi bởi tốp đi sau của biên đội F-4 thứ hai.

Nguyên nhân chiếc đi sau lạc đội hình với chiếc đi trước: mức độ phối hợp gắn kết nhóm yếu trong thành phần biên đội 2 chiếc và hành động không hiểu biết của chiếc đi sau sau khi đã lạc mất chiếc đi đầu; sai lầm về mặt chiến thuật khi lựa chọn đối tượng tấn công; thiếu sự dẫn đường chính xác từ SCH trung đoàn KQTK.
.......


Tiêu đề: Re: Hoạt động chiến đấu của QC PK-KQ QĐND Việt Nam tháng 12 năm 1972
Gửi bởi: qtdc trong 07 Tháng Chín, 2012, 12:09:45 am
(tiếp)

Ngày 23 tháng 12 hồi 13:41 giờ một cặp MiG-21 cất cánh từ sân bay Nội Bài lên đánh chặn tốp F-4 từ hướng Lào sang, bay trên độ cao 7000-8000 m. Khí tượng: mây - cấp 10, cao độ đáy mây - 400 m, đỉnh mây - 1200 m, tầm nhìn 6-8 km. Dẫn đường thực hiện từ SCH trung đoàn KQTK (sơ đồ 22).

(http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_sx22.jpg)

Sơ đồ 22. Trận không chiến ngày 23.12.1972.

Sau khi cất cánh và lấy độ cao 300 m cặp tiêm kích bay dưới mây về hướng 160°, sau 1,5 phút cất cánh theo lệnh từ SCH họ lấy hướng 260° và bắt đầu chiếm độ cao đã định ở chế độ hoạt động tối đa của động cơ. Trên độ cao 4000 m, chiếc đi đầu phát hiện phía bên phải ở góc 56–60° một biên đội máy bay, đang bay trong đội hình «mũi tên - клин» ở độ cao 7000–8000 m.

Phi công quyết định tấn công tốp 2 chiếc F-4 đi sau. Sau khi thả thùng dầu phụ và bật tăng lực, cặp tiêm kích ngoặt phải và vừa kéo cao vừa tiếp cận các máy bay đối phương.

Khi cặp МiG-21 tiến vào bán cầu sau biên đội F-4 (ở khoảng cách gần 10 km), chúng phát hiện ra họ và quẳng thùng dầu phụ bật tăng lực định tăng tốc thoát.

Tuy nhiên cặp tiêm kích МiG-21, đang chiếm ưu thế về tốc độ đã nhanh chóng rút ngắn gián cách. Biết không tránh được, biên đội F-4 tách thành 2 tốp. Tốp đầu thực hành động tác cơ động vòng ngoặt chiến đấu về bên phải, tốp sau – lượn xoắn ốc hạ độ cao về bên trái.

Phi công bay chiếc MiG-21 dẫn đầu quyết định – cả 2 chiếc MiG-21 cùng tấn công cặp F-4 đi sau. Ở khoảng cách 1500–1800 m, anh ta phóng 1 đạn R-3S vào chiếc F-4 đi sau và bắn rơi nó.

Phi công bay chiếc MiG-21 đi sau, đang ở trong phương vị trái (từ khoảng cách 2500–3000 m) cũng phóng đạn vào chiếc dẫn đầu của cặp F-4. Nhưng, do cú phóng thực hiện ở vòng ngoặt với quá tải 3–4, đạn tên lửa đã trượt mục tiêu.

Các tiêm kích МiG-21 bằng động tác cơ động dứt khoát đã hạ độ cao thoát khỏi chiến trường và tiếp đất hạ cánh an toàn tại sân bay.

Vậy là, sự sắp xếp đúng đắn đội hình và thao tác cơ động trên không, tính bất ngờ của cuộc tấn công đã tạo cơ hội tiêu diệt được một máy bay F-4. Phát tên lửa thứ hai bắn đi không đạt kết quả được giải thích bằng việc nó được tiến hành từ khoảng cách lớn và máy bay đang quá tải vượt quá mức cho phép (khi phóng đạn tên lửa).

Ngày 27 tháng 12 hồi 13:34 giờ một cặp MiG-21 cất cánh từ sân bay Nội Bài lên đánh chặn tốp F-4 bay từ Lào sang. Khí tượng: mây - cấp 6-7, độ cao rìa mây thấp - 500 m, đỉnh mây - 1500 m, tầm nhìn - 10 km. Dẫn đường thực hiện từ SCH trung đoàn KQTK.

Sau khi cất cánh cặp tiêm kích theo hướng 80 ° đã lên đến độ cao 300 m. Trong khu vực sân bay Kép theo chỉ đạo từ SCH độ cao được tăng lên đến 5000 m. Sau khi xác minh cao độ chỉ dẫn hóa ra lệnh mà chiếc đi đầu nhận đã bị hiểu sai. Lệnh chỉ yêu cầu lấy chiều cao 500 m.

Khi hạ xuống độ cao chỉ định, sau khi đi qua rìa mây thấp và thực hiện vòng ngoặt sang phải, chiếc đi sau của cặp tiêm kích phát hiện cách cặp MiG-21 một khoảng 3 km có một tốp 2 chiếc F-4.

Sau khi báo cáo chiếc dẫn đầu về mục tiêu và nhận được sự cho phép công kích, phi công phóng đạn R-3S đầu tiên ở cự ly 1800-2000 m với tốc độ 900-950 km / h và ở độ cao 200 m trên địa hình. Tên lửa rơi xuống đất. Tăng tốc độ lên 1000-1200 km / h và rút ngắn khoảng cách đến 1300 mét, phi công phóng đạn tên lửa thứ hai trúng mục tiêu. Chiếc dẫn đầu của cặp F-4 bị bắn rơi, phi công nhảy dù.

Cuộc tấn công đầu tiên chứng tỏ sự vội vàng và vi phạm các tham số đường bay trước khi bắt đầu phóng đạn tên lửa. Việc nhận lệnh và thực hiện lệnh không đúng của phi công về lấy độ cao chứng tỏ việc kiểm soát chuyến bay của các máy bay tiêm kích từ phía SCH trung đoàn KQTK còn yếu, điều đó trong tình huống trên không phức tạp và có sự hiện diện ưu thế vượt trội về số lượng của không quân đối phương sẽ dấn đến tổn thất.

Ngày 27 tháng 12 hồi 14:07 giờ một máy bay MiG-21 cất cánh từ sân bay Nội Bài lên đánh chặn một tốp F-4. Khí tượng: mây - cấp 6-7, độ cao rìa mây thấp - 500 m, đỉnh mây - 1500 m, tầm nhìn - 8-10 km. Dẫn đường và chỉ huy thực hiện từ SCH trung tâm.
.
Đến vùng ngoại ô phía bắc thành phố Hà Nội phi công bay trên độ cao 150-200 m trên địa hình, sau đó theo lệnh bật tăng lực, thả thùng dầu phụ, chiếm độ cao đã định (3500 m), và lấy hướng 195 °. Bay theo hướng này, trước mặt anh ở khoảng cách 8-10 km và cao hơn một chút, phi công phát hiện ra một biên đội F-4 đang bay trong đội hình chiến đấu "mũi tên".

Sử dụng sự vượt trội về tốc độ, phi công rút ngắn cự ly tới chiếc đi đầu của tốp thứ hai đến 1500-2000 m và phóng đạn R-3S (mục tiêu đã được lựa chọn chính xác, bởi vì chiếc F-4 đi sau đang cơ động "cắt kéo"). Tên lửa bắn trúng mục tiêu, chiếc F-4 bị bắn rơi, phi công bung dù.

Tắt tăng lực, làm nửa vòng ngoặt phi công MiG-21 thoát khỏi không chiến, quay trở về sân bay và hạ cánh.

Việc sắp xếp chuỗi cơ động thông minh về mặt chiến thuật khi tấn công, việc tiếp cận mục tiêu bí mật và tuân thủ chính xác các tham số quy định của đường bay khi phóng tên lửa đã đảm bảo cho sự kết thúc thành công trận không chiến này.

Ngày 28 tháng 12 hồi 11:17 giờ một cặp MiG-21 cất cánh từ sân bay Nội Bài lên đánh chặn tốp F-4 bay từ Lào sang hướng vào thành phố Hà Nội. Khí tượng: mây - cấp 7-8, độ cao rìa mây thấp - 800 m, đỉnh mây - 1800 m, tầm nhìn - 8-10 km. Dẫn đường thực hiện từ SCH trung đoàn KQTK.

Sau khi cất cánh và lên độ cao 300 mét cặp tiêm kích thực hiện vòng ngoặt và lấy hướng về phía thành phố Hà Nội. Sau 2 phút 30 giây bay từ SCH trung đoàn có lệnh thả thùng dầu phụ, bật tăng lực và lấy độ cao 5000 m.

Chiếc bay sau thực hiện đường bay "rắn bò" theo hướng chiếc dẫn đầu, nghĩa là, liên tục thay đổi phương vị. Trong khi ở phương vị trái đối với chiếc đi đầu, phi công phát hiện bên phải và cao hơn một chút ở cự ly 8 km một biên đội F-4 và với sự cho phép của chiếc đầu đàn, anh ta bước vào công kích.

Tại thời điểm này, chiếc đầu đàn phát hiện một biên đội F-4 nữa, bay trên cùng độ cao như biên đội đầu tiên. Để yểm hộ chiếc đi sau của mình, chiếc đi đầu thực hiện các thao tác cơ động dứt khoát trong các mặt phẳng ngang và thẳng đứng, cố gắng kết hợp chiến đấu với biên đội trên. Sau đó, với số dầu còn 1000 lít, anh ta thoát khỏi trận chiến và hạ cánh xuống sân bay xuất kích.

Theo các báo cáo của các chiến sỹ dân quân, các quân nhân PPK, TLPK và bộ đội radar đã xác định được rằng phi công bay sau (số 2) trong trận đánh này đã bắn rơi 1 F-4 và 1 RA-5C, trong khi bản thân anh cũng bị bắn rơi và nhảy dù được ra, nhưng tiếp đất trong tình trạng đã hy sinh. Thiết lập lại một cách  chi tiết trận không chiến này là không thể, bởi vì phi công dẫn đầu bản thân cũng không chiến độc lập và không thể quan sát được các hành động của chiếc số 2.

Cần lưu ý rằng, trong trận không chiến này sự bất ngờ về chiến thuật, việc sắp xếp cơ động linh hoạt, kết hợp với sự can đảm và lòng dũng cảm đã cho phép cặp phi công Việt Nam lái MiG-21 không chiến với 8 chiếc F-4 và đạt được thành công.

Thuộc về nhược điểm của các trận không chiến đã tiến hành chống máy bay ném bom chiến lược, cũng như không quân chiến thuật có các hành vi của các phi công vi phạm đội hình tác chiến tốp 2 chiếc, vi phạm quy định yểm hộ lẫn nhau và mất cảnh giác. Việc chặn đánh các máy bay trên các đường tiếp cận từ xa các cơ sở cần bảo vệ chưa được thực hiện.

Ngoài ra, còn là việc chưa sử dụng hoàn toàn đầy đủ vũ khí trang bị trên máy bay. Bị cuốn hút vào công kích, phi công không phải bao giờ cũng tuân thủ điều kiện phóng tên lửa R-3S (không tuân thủ cự ly, cho phép tốc độ tiếp cận lớn, quá tải), điều đó thường dẫn đến thất bại.

Một vũ khí hiệu quả của máy bay MiG-21 để bắn từ tầm gần là pháo GSh-23, trên thực tế hầu như không được sử dụng. Các phi công được huấn luyện rất kém về bắn loại súng này, và vì thế họ không tin vào hiệu quả của hỏa lực pháo GSh-23.

Nói chung, cần lưu ý đến mức độ chuẩn bị rất cao về tâm lý-tinh thần của các phi công Việt Nam. Các trường hợp cố tình trốn tránh chiến đấu trong các điều kiện không quân địch hoàn toàn áp đảo trên không là không thấy có.

Lực lượng tiêm kích thuộc binh chủng Không quân QĐNDVN đã đóng một vai trò nhất định trong việc giáng trả các cuộc không kích của không quân Hoa Kỳ trong chiến dịch mà đối phương tiến hành. Bằng các hành động cương quyết và dũng cảm, lực lượng KQTK đã gây cho không quân Mỹ một số tổn thất và buộc Bộ chỉ huy Hoa Kỳ thường xuyên giành một phần đáng kể số máy bay của họ làm nhiệm vụ yểm trợ các nhóm tấn công mục tiêu.

Việc dẫn đường cho máy bay tiêm kích chặn đánh máy bay đối phương phụ thuộc hướng đường bay và vị trí đường bay trên vùng lãnh thổ VNDCCH, được thực hiện từ SCH Trung tâm (Sở chỉ huy binh chủng Không quân), SCH trung đoàn KQTK hoặc từ đài dẫn đường, trong mọi trường hợp, đều từ bảng tiêu đồ dẫn đường. Khi đặt nhiệm vụ, mục tiêu cụ thể không được đề cập.

Máy bay tiêm kích được điều động tới khu vực có nhiều khả năng xuất hiện các máy bay Mỹ, việc tìm kiếm tiếp theo được các phi công tự mình thực hiện (bằng trực quan). Nếu phát hiện mục tiêu, phi công sẽ tự ra quyết định không chiến.

Có sự hạn chế về mặt quan sát tổng thể và không có thông tin chuẩn xác về tình hình trên không trong khu vực tác chiến, phi công thường tấn công máy bay địch đầu tiên phát hiện được, nghĩa là họ thường tấn công vào các mục tiêu thứ cấp.

Để cải thiện hiệu quả dẫn đường cho các máy bay tiêm kích nhắm tới các mục tiêu trên không trong điều kiện các đài radar bị đối phương gây nhiễu nặng, nhưng khi tầm nhìn tốt, người ta thường sử dụng các trạm quan sát trực quan có máy vô tuyến để liên lạc với máy bay. Kíp chiến đấu trạm quan sát trong trường hợp này được chỉ huy bởi phi công hoặc hoa tiêu có kinh nghiệm.

Tổ bay biết rất rõ vị trí phân bố của các trạm quan sát, và trong trường hợp khi máy bay tiêm kích ở trong khu vực trạm quan sát, phi công sẽ thiết lập liên lạc vô tuyến với trạm và hành động theo hướng dẫn của trạm.
..........


Tiêu đề: Re: Hoạt động chiến đấu của QC PK-KQ QĐND Việt Nam tháng 12 năm 1972
Gửi bởi: qtdc trong 07 Tháng Chín, 2012, 11:10:18 am
(tiếp)

ỨNG DỤNG TÁC CHIẾN CỦA BINH CHỦNG RADAR

Bộ đội Radar tại thời điểm hôm trước chiến dịch trong biên chế của mình có 4 trung đoàn và một tiểu đoàn radar độc lập.

Bộ đội radar được trang bị 109 trạm radar (radar Liên Xô - 80, Trung Quốc - 28 và Hungary - 1).

Các đại đội Radar, theo quy đinh, có các radar làm việc được ở các dải sóng khác nhau: 42% đại đội radar có radar ba dải sóng, 47% 2 dải sóng, và 11% radar 1 dải sóng.

Các cụm bộ đội radar theo tình hình ngày 18.12.72 được thể hiện trên sơ đồ 23.

(http://old.vko.ru/pictures/2005_24/37_01.jpg)
Sơ đồ 23. Các cụm bố trí lực lượng binh chủng Radar QĐNDVN theo tình hình ngày 18.12.1972.
Ghi chú theo bảng chỉ dẫn giải thích ký hiệu quy ước trong ô bên trái góc dưới sơ đồ 23, theo trình tự đọc từ trên xuống dưới:
- đường liền nét: giới hạn dưới của trường sóng radar;
- đường đứt nét: giới hạn dẫn đường của trường radar;
- radar dải sóng xăng-ti-mét;
- radar dải sóng mét;
- đài dẫn đường;
- trạm radar của trung đoàn 290;
- trạm radar của trung đoàn 291;
- trạm radar của trung đoàn 292;
- trạm radar của trung đoàn 293;
- trạm radar và tiểu đoàn radar độc lập 8;


Biên dưới trường radar liên tục của các cụm đài radar: trên vịnh Bắc Bộ: - 400-500m, dọc theo biên giới Việt-Trung - 1000 m, dọc theo biên giới Việt-Lào - 3000 m. Biên trên trường radar là 22000–25000 m.

Đối với binh chủng radar có 2 mức sãn sàng chiến đấu: SSCD cấp 1 và SSCD cấp 2.

Khi không có máy bay Mỹ trong khu vực phát hiện, bộ đội ở cấp SSCD số 2. Đồng thời việc trực chiến tại SCH các cấp được thực hiện bởi các kíp chiến đấu rút gọn. Trình tự đưa các đại đội radar vào trực chiến được xác định trước phù hợp với lịch trình. Trong các đại đội trực chiến để tiến hành trinh sát radar người ta sử dụng một trong các đài radar dải sóng mét hoặc đề-xi-mét.

Khi phát hiện các máy bay đối phương, binh chủng radar chuyển vào cấp 1. Thời gian chuyển từ cấp 2 sang cấp 1 thường không quá 2 phút. Khi ở cấp 1 việc đưa vào hoạt động số đài radar bổ sung tại các đại đội radar được thực hiện theo lệnh từ SCH trung đoàn radar.

Việc cảnh báo của binh chủng được thực hiện vừa theo phương thức tập trung vừa theo phương thức phân cấp.

Với chế độ cảnh báo tập trung tất cả các thông tin radar về các máy bay của đối phương và đường bay của các máy bay tiêm kích của mình được truyền trực tiếp từ đại đội qua SCH trung đoàn radar tới SCH binh chủng radar (SCHTT), nơi xử lý nó và đưa ra báo cáo một cách tập trung cho QC PKKQ.

Sự cảnh báo tập trung hóa cứng nhắc này dẫn đến một thực tế là số liệu tới SCH BC TLPK, PPK và KQTK có độ trễ lớn (5-6 phút). Để giảm thời gian trễ, thông tin radar được truyền bằng phương pháp "quá cảnh", theo phương pháp đó thì số liệu từ một đại đội có nhiệm vụ đặc biệt (chốt), bỏ qua SCH trung đoàn radar, đi thẳng đến SCH BC Radar (SCHTT).

Điều đó làm giảm tổng thời gian truyền số liệu về SCH BC TLPK, PPK và KQTK thuộc QC PKKQ đến 2-3 phút. Trong các cuộc không kích quy mô lớn của máy bay B-52 nhằm mục đích giảm dung lượng thông tin được truyền, số liệu về đường bay của các máy bay các tốp yểm trợ không được thông báo. Số liệu về độ cao được chuyển giao với độ rời rạc lớn, bởi vì độ cao đường bay của chúng thực tế không thay đổi.

Việc giảm được một số thời gian trễ còn đạt được bằng cách quy nhiệm vụ hai người (báo vụ viên và tiêu đồ viên) cho một người thực hiện.

Phương pháp hiệu quả nhất để cắt giảm thời gian hành trình của thông tin radar là việc truyền dẫn giải tập trung hóa nó từ các đại đội radar đến SCH của các tiểu đoàn TLPK, các đại đội PPK, các trung đoàn KQTK, các cơ quan chỉ huy các đơn vị dân quân tự vệ. Khi đó thời gian truyền thông tin radar được giảm xuống 30 giây.

Để cải thiện tổ chức tổng thể thu thập thông tin, giảm thiểu thời gian truyền tin đến SCHTT (SCH BC Radar), loại trừ tính song hành trong việc nhận số liệu về đối phương trong các điều kiện tình huống đường không phức tạp, trong mỗi trung đoàn người ta giao nhiệm vụ cho 2 -3 đại đội trợ chiến. Trong trường hợp mất mục tiêu hoặc mục tiêu đi ra khỏi khu vực phát hiện của trạm radar đại đội chủ công thì số liệu của các đại đội khác sẽ được sử dụng, bổ sung thông tin về các hoạt động của không quân Mỹ.

Khi giao nhiệm vụ đại đội trợ chiến người ta tính đến một loạt các yếu tố: vị trí trận địa đại đội trên sườn các hướng giả định đường bay của các máy bay B-52, tính đa tần của khí tài radar và sự gắn kết của các kíp chiến đấu radar và đài chỉ huy (расчеты РЛС и ПУ).

Mỗi đại đội radar được lập nhiều phương án tác chiến, trong đó dự kiến các nhiệm vụ cụ thể, các khu vực trách nhiệm, các chế độ hoạt động và trình tự sử dụng radar tùy thuộc vào cao độ đường bay của mục tiêu, các đơn vị và phân đội mà phân cấp thông báo.

Các kíp tác chiến tại các đài chỉ huy các đại đội radar về cơ bản đã giải quyết thành công các nhiệm vụ đặt ra cho họ về việc phát hiện kịp thời, bám mục tiêu trên không, xử lý và chuyển thông tin radar cho các đơn vị các binh chủng TLPK, KQTK và PPK.

Trong biên chế đầy đủ kíp chiến đấu đài điều khiển đại đội radar dải sóng mét có: đại đội trưởng, hai tiêu đồ viên, nhân viên đọc tin, nhân viên ghi tin, hiệu thính viên mạng liên lạc vô tuyến chỉ huy, báo vụ viên truyền tin.

Trong biên chế đầy đủ kíp chiến đấu đài điều khiển đại đội radar dải sóng xăng-ti-mét, mà tại đó theo thường lệ có triển khai đài dẫn đường KQTK, có bổ sung nhân viên như sau: một tiêu đồ viên và một báo vụ viên mạng cảnh báo (anh ta cũng là tiêu đồ viên tình hình chung trên không).

Đại đội trưởng radar nhận nhiệm vụ chiến đấu vào lúc bắt đầu tìm kiếm đối phương trên không từ trung đoàn trưởng (qua mạng thông tin vô tuyến chỉ huy), sau đó đích thân điện thoại giao nhiệm vụ cho đài trưởng đài radar.

Khi phát hiện mục tiêu trên không trắc thủ màn IKO radar (ИКО - индикатор кругового обзора, màn hiển thị quét vòng) báo điện thoại cho tiêu đồ viên số liệu trong hệ tọa độ "phương vị - cự ly", tiêu đồ viên sẽ đưa số liệu lên bảng tiêu đồ của đại đội.

Nhân viên đọc tin sẽ dịch tọa độ mục tiêu từ hệ "phương vị - cự ly" sang tọa độ lưới PK tổng quát và chuyển cho nhân viên ghi tin. Dữ liệu nhận được từ anh ta được báo vụ viên truyền đến SCH trung đoàn radar, và trong một số trường hợp - đến cả SCH BC Radar (SCHTT).

Khi triển khai các đài dẫn đường tại đài chỉ huy đại đội radar dải sóng xăng-ti-mét người ta cũng thiết lập bảng tiêu đồ tình hình trên không (планшет общей воздушной обстановки - ПОВО), dữ liệu được đưa lên bảng tiêu đồ bởi báo vụ viên mạng cảnh báo (anh ta cũng là tiêu đồ viên). Những số liệu này được hoa tiêu sử dụng cho các tính toán dẫn đường.
..........


Tiêu đề: Re: Hoạt động chiến đấu của QC PK-KQ QĐND Việt Nam tháng 12 năm 1972
Gửi bởi: qtdc trong 08 Tháng Chín, 2012, 01:22:26 am
(tiếp)

ĐẶC ĐIỂM TÁC CHIẾN VỚI ĐỐI TƯỢNG MÁY BAY B-52 TRONG ĐIỀU KIỆN NHIỄU

Chúng ta hãy xem xét đặc điểm sử dụng trong chiến đấu các loại radar khác nhau để phát hiện và bám mục tiêu B-52 – các nguồn gây nhiễu chủ động.

Khả năng của radar P-35 phát hiện các máy bay ném bom chiến lược trong nhiễu phần lớn phụ thuộc vào hướng của mục tiêu. Chẳng hạn, nếu góc lệch của mục tiêu (ракурс цели - aspect angle) lớn hơn 45 °, còn nhiễu từ các máy bay khác không có, cự ly phát hiện máy bay B-52 ở độ cao 10-12 km là 280-330 km.

Khi góc lệch mục tiêu nhỏ hơn 45 ° cự ly phát hiện giảm đáng kể, bởi vì radar ở trong đồ thị đặc tính hướng máy phát nhiễu của máy bay ném bom B-52, có chiều rộng đồ thị trong mặt phẳng ngang trên mức một nửa công suất là gần 90 °.

Hiệu suất tác động của nhiễu chủ động tạo ra bởi tốp máy bay B-52 lên radar P-35 được trình bày trong bảng 16.

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/bang18.png)

Dạng màn hình hiển thị radar P-35 (П-35) khi có tác động đồng thời của nhiễu tạp và nhiễu thụ động được đưa ra trên hình 18.

(http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_pic18.jpg)
Hình 18. Dạng màn hình hiển thị radar P-35 khi có tác động đồng thời của nhiễu tạp từ tốp máy bay B-52 và nhiễu thụ động do máy bay F-4 rải.

Dải tần số lớn của radar cho phép kíp chiến đấu đài P-35 trong một số trường hợp tìm ra một - hai kênh, chịu ảnh hưởng nhiễu tạp ít nhất. Kết quả tốt nhất đã đạt được, theo quy luật, là khi sử dụng kênh thứ 5  chứ không phải kênh thứ nhất, như hướng dẫn khai thác trong tác chiến của binh chủng radar QDNDVN. Các máy thu bị chặn bởi nhiễu được tắt đi để không làm cho màn hình bị nhiễu làm chói thêm.

Thay đổi các tư thế của ăng-ten theo góc nâng cho một số hiệu ứng.

Khi bám B-52 trong điều kiện nhiễu tạp chủ động (tích cực), các chế độ MARU (мгновенная автоматическая регулировка усиления - chế độ tự động điều chỉnh độ khuếch đại tức thời) và DIF (ДИФ - chế độ vi phân) là hoàn toàn không hiệu quả, còn thiết bị F-3A (Ф-ЗА), mặc dù làm giảm được độ chói do nhiễu tạp, nhưng không cải thiện được tỷ lệ tín hiệu-trên-tạp âm, nghĩa là điều kiện bám mục tiêu.

Hiệu quả hơn là sử dụng việc điều chỉnh độ khuếch đại của tín hiệu. Việc thiếu điều chỉnh tự động tại trạm buộc các trắc thủ điều chỉnh tín hiệu bằng tay, mà làm điều đó thì cần hết sức thận trọng.
 
Radar đo độ cao PRV-11 được sử dụng để tinh chỉnh các đặc điểm của nguồn nhiễu bị phát hiện trên màn hình radar sóng mét. Thế năng năng lượng lớn của radar đo cao, mức khá nhỏ (so với P-35) của cánh sóng biên và khả năng phân giải cao hơn theo góc tà cho phép kíp chiến đấu PRV-11 phát hiện máy bay B-52 tại cự ly đến 300-340 km.

Trong trường hợp dấu hiệu của mục tiêu không phát hiện được trong nhiễu, thì khi xác định phương vị và góc tà của B-52 - nguồn gây nhiễu, đồng thời độ cao đường bay của nó đã biết ta có thể xác định cự ly tới nó một cách thô sơ (với độ chính xác 5-10%). Khả năng phân giải cao của PRV-11 theo góc tà cho phép thực hiện lựa chọn dải nhiễu và giảm tổng công suất của chúng. Phẩm chất đó xác định cả sự ít lệ thuộc của cự ly phát hiện vào hướng của mục tiêu.

Trong điều kiện các cuộc không kích quy mô lớn của không quân chiến lược, radar do cao được sử dụng rộng rãi để theo dõi mục tiêu cùng với việc cung cấp tất cả 3 tọa độ: phương vị, cự ly và chiều cao. Nhằm mục đích đó đã sử dụng chế độ đảo nhanh ăng ten đo cao (28-30 dao động trong một phút). Để xác định tất cả 3 tọa độ của mục tiêu trắc thủ chỉ cần 1-2 vòng xoay ăng-ten là đủ.

Cũng như đối với P-35, để cải thiện khả năng quan sát mục tiêu trên nền nhiễu các trắc thủ PRV-11 sử dụng rộng rãi việc điều chỉnh độ khuếch đại. Khi làm việc trong nhiễu thụ động người ta sử dụng chế độ kết hợp (coherent).

Đài radar P-12 cũng được sử dụng như một đài radar phát hiện sơ bộ B-52.

Hiệu quả tác động của nhiễu tạp chủ động do tốp B-52 gây ra, được trình bày trong bảng 17.

(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/bang17.png)

Dạng nhiễu tạp chủ động từ tốp B-52 trên màn hiện sóng radar P-12 được cho trên hình 19.

(http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_pic19.jpg)

Khác với radar P-35 и PRV-11 góc lệch (ракурс) của máy bay ném bom chiến lược đối với đài radar này không có ảnh hưởng thực sự tới cự ly phát hiện nó. Tình tiết đó rõ ràng có thể giải thích được bởi vì đồ thị đặc tính hướng ăng-ten khá rộng của máy phát nhiễu trên В-52 trong dải sóng mét.

Điều đó sẽ cắt nghĩa cho thực tế phổ nhiễu không đều đặn và khi sử dụng các cơ cấu điều hưởng ta có thể tìm ra kênh có cường độ nhiễu nhỏ hơn. Quyền thay đổi trước tiên tần số ban đầu tại trạm radar thuộc về đại đội trưởng, còn tiếp theo - trạm trưởng trạm radar. Ở cự ly trung bình việc phát hiện các máy bay ném bom chiến lược - các nguồn gây nhiễu là 150–170 km.

Độ lớn cung nhiễu, cường độ của nó và đặc điểm thay đổi vệt nhiễu trên các màn hình hiển thị cho phép, trong một số trường hợp, xác định kiểu nguồn gây nhiễu.

Khi bám sát B-52 trong các điều kiện có nhiễu tạp chủ động, kíp trắc thủ P-12 sử dụng rộng rãi hệ thống ShARU (ШАРУ - шумовая автоматическая регулировка усиления - tự động điều chỉnh độ khuếch đại tạp âm) và thay đổi góc tà (угла места) của ăng-ten.

Chế độ "góc tà" («Угол места») khi tìm phương vị thủ công cho phép giảm mức nhiễu từ nguồn nhiễu cường độ cao nhất, điều đó tạo khả năng bám sát liên tục các mục tiêu (Проводка воздушной цели) đang ở trong các góc tà khác nhau. Trong một số trường hợp, máy tầm phương được tắt, bởi vì tại một số tư thế của ăng-ten, điều đó cho phép đạt được khả năng quan sát tốt nhất vệt mục tiêu trên nền nhiễu.

Để bám sát liên tục các máy bay đang ở trong các góc tà lớn, đồ thị đặc tính hướng ăng-ten được tăng lên. Nhờ đó mà giảm được mức nhiễu từ các nguồn nhiễu, và làm tăng khả năng bám sát liên tục các mục tiêu trên không dưới các góc tà lớn.

Thiết bị chọn lọc các mục tiêu đang chuyển động (СДЦ - селекция движущихся целей) được cài đặt trên P-12 cho phép thực hiện bám sát liên tục các máy bay ném bom chiến lược trong các điều kiện nhiễu thụ động và phản xạ địa vật. Do mật độ nhỏ của nhiễu thụ động trong dải sóng mét việc đưa vào hoạt động hệ thống lọc mục tiêu chuyển động cho phép chế áp nhiễu tương đối dễ dàng. Trong trường hợp này, kíp chiến đấu sử dụng chế độ bảo vệ kháng nhiễu (СПЦ + ПНП). Các kíp chiến đấu không sử dụng chế độ bù trừ gió, bởi vì mức bù trừ nhiễu thụ động (tiêu cực) rất tốt mà không cần chế độ này.
......


Tiêu đề: Re: Hoạt động chiến đấu của QC PK-KQ QĐND Việt Nam tháng 12 năm 1972
Gửi bởi: qtdc trong 09 Tháng Chín, 2012, 01:46:51 am
(tiếp)

ĐẶC ĐIỂM TÁC CHIẾN CHỐNG CÁC MỤC TIÊU BAY THẤP

Các nhiệm vụ khó khăn và phức tạp nhất trong binh chủng radar là phát hiện và bám sát các mục tiêu bay ở độ cao thấp, đặc biệt là trong các điều kiện cực kỳ phức tạp ở địa hình rừng núi, nơi khu vực cận kề trường phát hiện trên các màn hình radar bị chặn bởi sóng phản xạ từ địa vật. Trên các trạm radar không có thiết bị lọc mục tiêu chuyển động (СДЦ), các mục tiêu bay trên các độ cao thấp hơn 300 m, trên thực tế là không quan sát được.

Việc áp dụng các radar P-15 với cột ăng-ten AMU-15 (АМУ - антенно-мачтовое устройство), PRV-11 với thiết bị lọc mục tiêu chuyển động (СДЦ), việc cẩn thận điều chỉnh thiết bị, nghiên cứu "hoa hồng" tại địa vật và đào tạo đặc biệt cho các trắc thủ - tất cả những yếu tố này được sử dụng để phát hiện và bám sát mục tiêu ở độ cao thấp.

Các trạm quan sát mắt thường được sử dụng rộng rãi. Các số liệu tới mỗi đại đội, theo quy định, từ 3 trạm quan sát, một trong các trạm quan sát được bố trí gần trận địa đại đội, còn 2 trạm khác - cách 20-30 km đến nó. Số liệu các trạm quan sát mắt thường được sử dụng để phát hiện mục tiêu ở độ cao thấp và đang cơ động, để xác định thời điểm phóng đạn tên lửa tự dẫn, số lượng, chủng loại, cũng như đội hình chiến đấu của máy bay.

Tùy thuộc vào hướng bay của mục tiêu độ cao thấp mà các kíp chiến đấu radar P-15 có AMU-15 sẽ áp dụng: chế độ tích lũy - khi các đường bay của mục tiêu đến từ phía biển, chế độ K hoặc "xung gián đoạn khử sóng địa vật" («стробирование местных предметов») - khi các đường bay của chúng đến từ phía đồi núi. Khi tìm kiếm mục tiêu bằng chế độ cơ bản, ăng-ten ở chế độ F-2 (Ф-2), khi bám sát - chế độ F-1 (Ф-1), mà sau 2-3 vòng xoay ăng-ten được chuyển sang F-2, làm tăng xác suất phát hiện các mục tiêu mới bay ở tầm thấp.

Bám sát liên tục mục tiêu gửi trong các điều kiện nhiễu thụ động hoặc trong khu vực địa vật của kíp chiến đấu đài P-15 được thực hiện ở chế độ hoặc "xung gián đoạn khử sóng địa vật" và cho kết quả tốt. Cũng như đối với P-12, tại đài radar này kíp chiến đấu không thực hiện điều chỉnh "bù trừ gió" («Компенсация ветра»).

Để phát hiện mục tiêu bay thấp cũng sử dụng radar đo cao PRV-11- làm việc trong chế độ quét vòng trên màn hiện sóng độc lập ở quy mô 100-150 km. Nó ssamr bảo lọc mục tiêu trên các độ cao nhỏ hơn 1000-2500 m và cự ly phát hiện tương đối lớn.

Thường sử dụng các chế độ làm việc sau của máy đo cao: tốc độ quay ăng-ten - 4 vòng / phút, khởi động - từ bên ngoài từ P-35, góc nghiêng - dương 20 °, bộ lọc mục tiêu chuyển động (СДЦ) - trong trạng thái làm việc hoặc tắt tùy thuộc vào sự có hay không có sóng địa vật.

Tất cả những điều kể trên về sự làm việc của radar đối với mục tiêu bay thấp liên quan chủ yếu đến việc tìm kiếm và bám sát các mục tiêu ở độ cao 300-600 m bay bám địa hình. Phát hiện và bám sát liên tục các mục tiêu kiểu F-111A, bay ở độ cao dưới 300 m, là vô cùng khó khăn hoặc nói một cách đơn giản là không thể. Cự ly phát hiện trong phần lớn các trường hợp là quá nhỏ mà ngay cả với chế độ phân cấp cảnh báo thì các đại đội PPK cũng không kịp thời khai hỏa vào đối tượng máy bay F-111A.


BẢO VỆ ĐÀI RADAR TRÁNH ĐẠN CHỐNG RADAR

Công tác chiến đấu của kíp trực trạm radar được thực hiện trong các điều kiện máy bay kẻ địch sử dụng đạn chống radar (противорадиолокационных снарядов - ПРС). Để giảm khả năng bắn trúng khí tài và bộ đội, hàng loạt biện pháp bảo vệ đã được áp dụng để tránh đòn tấn công của đạn chống radar.

Tại các trạm radar người ta tách riêng trắc thủ chuyên tách vệt quét trên màn VIKO (ВИКО - выносной индикатор кругового обзора - màn hiển sóng quét vòng) của đạn tự dẫn trong bán kính 100 km.

Thường chỉ có radar sóng mét hoặc sóng đề-xi-mét được bật. Sau khi các radar đó phát hiện mục tiêu người ta mới cho phép bật radar sóng xăng-ti-mét.

Trong một số trường hợp người ta sử dụng số liệu về việc phóng đạn tự dẫn từ các đài quan sát mắt thường.

Để bảo vệ radar P-35 người ta áp dụng chế độ "Nhấp nháy" («Мерцание»), nghĩa là định kỳ liện tục tắt và bật cao thế của tất cả các máy thu phát một cách đồng thời, dẫn đến việc cắt điều khiển đạn chống radar và làm cho nó rơi xuống tại khoảng cách an toàn cho trạm radar. Tắt và bật cao thế được thực hiện bằng tay qua công tắc phụ.

Có hai phương pháp áp dụng chế độ "nhấp nháy": thứ nhất - khi phát hiện và bám sát máy bay địch, thứ hai - khi dẫn đường cho các máy bay tiêm kích của mình. Trong trường hợp đầu tiên, máy phát được bật trong một vòng quay ăng-ten (10 s), sau đó được tắt trong hai vòng quay (20).

Chu kỳ này được lặp đi lặp lại khi mà trong khu vực có thể phóng dạn chống radar (50 km tính từ trạm radar) vẫn còn các máy bay Mỹ. Trong trường hợp thứ hai, các máy phát chỉ được bật trong cung dẫn đường, qua một vòng quay ăng-ten. Chiều rộng cung được lựa chọn tùy thuộc vào vị trí tương đối giữa mục tiêu và máy bay tiêm kích.

Để bảo vệ các máy đo cao PRV-11 người ta còn áp dụng biện pháp đảo nhanh ăng ten và liên tục thay đổi phương vị xe thu phát (ППК). Để đo chiều cao của mục tiêu, cabin thu phát của radar đo cao dừng ở góc phương vị mục tiêu trong vài giây, sau đó góc phương vị được thay đổi 50-60 °. Tuy nhiên, phương pháp này được chứng minh là kém hiệu quả hơn và không đáng tin cậy bằng chế độ "nhấp nháy" được áp dụng trên đài P-35.

Chẳng hạn, ngày 20 tháng 12, máy đo cao PRV-11, nằm ở vị trí 12 km phía tây bắc Hà Nội, đã mất khả năng hoạt động do trúng đạn chống radar. Vụ nổ do đạn chống radar xảy ra trên không cách xe thu phát (ППК) 8 m. Vụ nổ làm hư hỏng đường cáp, ống dẫn sóng và các thiết bị bên trong buồng máy. Trên các thành cabin thu phát có khoảng 50 lỗ thủng. Ăng ten phản xạ hư hại nhẹ phần lưới. Các quân nhân của đại đội tiến hành sửa chữa radar đo cao mất 4 giờ.

Ngày 26 tháng 12 đạn chống radar phát nổ trên không cách xe thu phát 6m, xe thuộc máy đo cao PRV-11 đại đội radar 53. Kết quả là máy đo cao bị hư hại nặng, chỉ sửa chũa xong sau hai ngày. Để sửa chữa phải huy động quân nhân xưởng sửa chữa của trung đoàn.

Mặc dù đạn chống radar được phóng với số lượng lớn vào các trận địa của các đại đội radar trang bị các đài P-35 và PRV-11, các trường hợp bắn trúng phá hủy khí tài đều không xảy ra, ngoại trừ hai trường hợp đề cập ở trên. Đạn chống radar thường nổ ở những khoảng cách lớn hơn nhiều so với bán kính sát thương của nó (từ 50 đến 2000 m).

Như vậy, kinh nghiệm của các kíp chiến đấu các trạm radar trong điều kiện đối phương sử dụng đạn chống radar cho thấy các phương pháp bảo vệ được sử dụng có thể giúp giảm xác suất đánh trúng trạm radar của đạn chống radar "Shrike", ngay cả trong các điều kiện hoạt động chiến đấu căng thẳng.
.......


Tiêu đề: Re: Hoạt động chiến đấu của QC PK-KQ QĐND Việt Nam tháng 12 năm 1972
Gửi bởi: qtdc trong 12 Tháng Chín, 2012, 12:48:44 am
(tiếp)

CÔNG TÁC BẢO ĐẢM KỸ THUẬT CÔNG BINH CÔNG TRÌNH VÀ NGỤY TRANG CỦA BỘ ĐÔI

Tính hiệu quả trong tác động của không quân Mỹ tới đội hình chiến đấu các khí tài và phương tiện PK trong chiến dịch tập kích đường không là không cao, và một trong những lý do là việc tiến hành kịp thời các biện pháp công binh công trình đảm bảo của quân chủng và việc ngụy trang của họ.

Các phương pháp và đặc điểm các biện pháp công binh công trình đảm bảo và ngụy trang, phần lớn được xác định bởi kích thước không lớn của lãnh thổ VNDCCH; phông địa vật độc đáo (ruộng lúa, có hình dạng hình chữ nhật rõ ràng); lượng nước lớn và đặc tính nguồn của thực vật; mực nước dưới đất cao (1 m so với bề mặt và còn thấp hơn nữa); đặc điểm lục địa của nền đất, nổi bật bởi độ bền và độ dẻo khá, cho phép cấu trúc các công trình trên mặt đất với diện tích lắp đặt lớn và không có lớp áo bảo vệ mái dốc đứng, nhưng gây trở ngại cho việc thực hiện công tác đất; sự hiện diện trong các khu vực phía bắc và tây bắc VNDCCH các rặng núi, nhô ra trên vùng đồng bằng trung tâm, với một số lượng lớn các hang động tự nhiên, phù hợp cho việc xây dựng các công trình ngầm hoạt động theo phương ngang; lũ lụt đường sông định kỳ hàng năm, làm ngập một phần đồng bằng ven sông và các khu vực đất trũng khác, v.v.

Công tác thiết bị kỹ thuật và công binh công trình các khu vực trận địa của các đơn vị và phân đội TLPK và PPK bao gồm việc xây dựng một hệ thống các trận địa bệ phóng cơ bản, dự bị và trận địa bệ phóng giả cũng như các trận địa kỹ thuật; công tác xây dựng, bảo dưỡng và phục hồi đường cơ động; tiến hành các công tác ngụy trang tổng hợp.

Trước lúc mở đầu các trận đánh tháng 12, hầu hết các nơi trú ẩn cho cabin SNR tại các trận địa phóng của các tiểu đoàn TLPK được trang bị ở khu vực ngoài trời. Tùy thuộc vào mức độ nước ngầm mà chúng được bố trí nửa ngầm hoặc ngay trên mặt đất. Tuy nhiên, trong tất cả các trường hợp cabin đều được bao bởi các bức tường đất chiều cao 2-3 m. Thường những con đê đất ấy được xắn và đắp từng lớp và đầm nện bằng tay. Đê quây chung này được áp dụng cho toàn bộ đài dẫn đường tên lửa. Các lối vào và ra khối đê quây này được bảo vệ tránh sóng xung kích bằng các cấu trúc thiết bị khác nhau, được làm từ các vật liệu sẵn có (thùng số 1 và 2 đổ đầy cát, các bao cát, các tấm ván tre, v.v ...).

Để bảo vệ chống bom phá mảnh nhỏ (trước hết là bom bi) theo chu vi cabin bên trong đê quây đất người ta đặt thùng số 1 đổ đầy cát, làm nền phía dưới cho các tấm phên tre đặt chéo (sơ đồ 24) và ngăn các quả bom bi lăn xuống dưới cabin và đánh trúng các hệ dây cáp điện nối giữa các cabin. Phần trên của phên tre dựa vào các đệm tre (các bó tre độ dầy đến 40 cm), bảo vệ mái cabin. Trong một số trường hợp, còn sử dụng thay bằng các bao trấu (phế liệu khi xát lúa) và các vật liệu có sẵn khác (các thùng gỗ, lốp xe cũ, bao cát, ...). Để bảo vệ cá nhân tránh bom bi đội ngũ quân nhân sử dụng rộng rãi thảm che ngực bằng rơm bện.

Kabin PA được đặt trên nền đắp cao. Về mặt kỹ thuật công binh, nó được trang bị kém.

Đài radar trinh sát và chỉ thị mục tiêu và xe vận chuyển được bảo vệ chủ yếu bằng đê đất tại nơi đặt chúng hoặc bố trí chúng trong các nếp gấp địa hình.

Để bảo vệ mạng cáp giữa bệ phóng (ПУ) và đài điều khiển (СНР) người ta sử dụng các hào cáp, phía trên được phủ các thảm tre và ngụy trang dưới nền đất, nhưng trong thời gian có mưa phải tránh nước cho cáp và thậm chí nâng cáp lên các gối đỡ (để bảo vệ tránh nước).

Đạn được chuẩn bị xong trên xe PR-11B nằm cách trận địa phóng 2-3 km trên những con đường chính hay phụ. Các khu vực này không được trang bị công trình kỹ thuật công binh để bảo vệ đạn và khí tài. Sự liên lạc giữa trận địa bệ phóng và các khu vực phân tán tên lửa không có. Việc cung cấp đạn tên lửa đến trận địa phóng phải được thực hiện ngay lập tức sau khi quả đạn trước phóng đi khỏi bệ phóng.

Để bảo vệ các quân nhân đã sử dụng các hầm trú ẩn các loại chìm hoặc nửa chìm khác nhau có mái che phủ đất hoặc mở. Trên khu vực trận địa phóng có một số lượng lớn các hầm trú ẩn cá nhân loại "hố tăng sê" («стакан»).

Phổ biến là hầm trú ẩn chữ A kết cấu khung hình tam giác làm bằng kim loại, tre hoặc gỗ. Khung được bao phủ bằng các thảm kết lá cọ, rơm rạ và đất đắp độ dày 30-40 cm (sơ đồ 25).

(http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_sx24.jpg)

Sơ đồ 24. Phương án bảo vệ khí tài chống bom bi: 1- các bó tre; 2- các phên tre; 3- đê quây đất; 4- thùng số 1 (có cát).

Hầm trú ẩn kết cấu dạng này đảm bảo nơi trú ẩn đáng tin cậy chống các vụ nổ bom nổ phá cỡ nhỏ và bom bi.

Để đảm bảo tính cơ động cho các tiểu đoàn tên lửa người ta lựa chọn từ trước và trang thiết bị một phần các trận địa phóng dự bị, tuy nhiên các điều kiện và hoàn cảnh trong nhiều trường hợp lại buộc phải cơ động tới các trận địa lộ thiên hoàn toàn không được trang bị về công binh công trình.

Trận dịa kỹ thuật được đặt tại các khu vực rừng rậm trên các bãi trống cách xa nhau 5-7 km. Điều này nâng cao khả năng sống sót của tiểu đoàn đảm bảo kỹ thuật tên lửa, nhưng đồng thời giảm đáng kể hiệu suất của chúng.

Việc trang thiết bị công binh công trình các khu trận địa của binh chủng radar bao gồm việc xây dựng các trận địa cơ bản và dự bị cho các phân đội radar, thiết lập các đường truy cập, duy trì nó trong trạng thái làm việc tốt và tổ chức các biện pháp ngụy trang.

Đến đầu các trận chiến đấu tháng 12, tất cả các đại đội radar đều có 3-4 trận địa (một cơ bản và 2-3 dự bị) được trang thiết bị theo phương án dã chiến. Để phục vụ các trạm radar sóng xăng-ti-mét và đề-xi-mét người ta đắp các gò đất cao hoặc sử dụng các khu đất cao tự nhiên. Radar dải sóng mét, xe ô tô, xe kéo và các khí tài khác được che giấu ngoài trời kiểu nửa chìm hoặc trên mặt đất, tùy thuộc mực nước ngầm cao hay thấp.
......


Tiêu đề: Re: Hoạt động chiến đấu của QC PK-KQ QĐND Việt Nam tháng 12 năm 1972
Gửi bởi: qtdc trong 15 Tháng Chín, 2012, 06:03:57 pm
(tiếp)

Những mặt bằng này được bảo vệ bằng các lũy đất cao 2-3 m. Nguyên tắc bảo vệ cabin, hệ thống cáp điều khiển và đội ngũ quân nhân chống bom bi – cũng giống như với bộ đội TLPK. Để nâng cao khả năng sống sót của khí tài và con người trước các cuộc tấn công bằng bom và tên lửa của máy bay đối phương, các đài radar phải phân tán cách nhau khá xa để tránh bị kẻ thù đồng thời đánh trúng hai hoặc nhiều đài radar.

Hầm trú ẩn cho quân nhân được xây dựng bên cạnh mỗi trạm radar, gần đài chỉ huy và doanh trại đóng quân.

Các đường cơ động của LLPK được sử dụng rộng rãi để chuyển quân sang các trận địa mới tránh đich tấn công. Trong thời gian các trận chiến đấu tháng 12, tất cả các tiểu đoàn tên lửa PK của các cụm PK Hà Nội và Hải Phòng đã thay đổi trận địa của họ 1-3 lần. Việc chuyển quân được thực hiện bí mật vào ban đêm.

Thời gian cơ động phụ thuộc vào nhiều yếu tố, và mất đến 7-18 h, nghĩa là, thực tế phải thực hiện trong vòng 1-2 đêm. Như vậy, trong mỗi cụm PK thực sự có 2-3 tiểu đoàn bận rộn di dời đến trận địa mới mỗi đêm.

Đối với bộ đội radar việc thay đổi trận địa cũng là một yếu tố thiết yếu để giữ gìn khí tài và con người tránh địch tấn công vào trận địa đã bị địch trinh sát được. Việc chuyển trận địa được tổ chức bí mật, vào ban đêm, trong thời gian một ngày đêm – đối với các đại đội có đài radar sóng mét và ba ngày (đêm) – đối với các đại đội phụ trách các đài radar sóng xăng-ti-met.

Thay đổi trận địa vì lý do chiến thuật diễn ra trong hai giai đoạn: đầu tiên chuyển đài P-12 và một phần phương tiện thông tin liên lạc, sau đó đến phần còn lại của đài radar, và đài điều khiển. Điều này đảm bảo cho các đại đội sự sẵn sàng chiến đấu liên tục. Trong "Chiến dịch Linebacker-2" vì nhiều lý do khác nhau, bốn đại đội đã thay đổi vị trí trận địa của mình.

Toàn bộ các quân nhân đều tham gia vào công tác công binh và ngụy trang, ngoài ra còn có các chiến sỹ dân quân và nhân dân địa phương. Biện pháp ngụy trang cho trận địa và các đối tượng hệ thống PK là sử dụng các tính năng tự nhiên của địa hình. Người ta tính toán rằng thảm thực vật địa phương mang đặc tính gốc, bộ đội tiến hành trang trí ngụy trang đài radar và các yếu tố khác của tiểu đoàn TLPK và đại đội radar hòa vào địa vật (nhà nông thôn, các rặng tre, cây cối, v.v.). Tất cả các công trình phụ trợ trên các trận địa được thực hiện dưới hình thức các cấu kiện gỗ nhẹ (nhà một tầng).

Một số dấu hiệu giải trang (sự không phù hợp về hình thức của đặc trưng tuyến tính của đê quây với nền ruộng lúa bao quanh, sự khác biệt về sắc thái tương phản độ chói của công trình trận địa so với địa vật xung quanh, sự tồn tại các hiệu ứng đổ bóng khi quan sát từ trên không, độ nhìn rõ của các đường tiếp cận, v.v.) được bù đắp bằng cách sử dụng rộng rãi màn ngụy trang cây cối. Đặc biệt với sự trợ giúp của màn ngụy trang mà ngụy trang được đạn tên lửa trên các bệ phóng và trên xe tiếp đạn PR-11B.

Màn ngụy trang này được cập nhật thường xuyên, do đó việc phát hiện các bệ phóng tên lửa từ trên không rất khó. Sau khi đạn tên lửa phóng đi, màn phủ ngụy trang tự nhiên sẽ bị phá hủy bởi dòng khí phản lực, làm lộ trận địa ở mức độ khá lớn. Đặc tính ngụy trang của địa hình tự nhiên được khôi phục lại chỉ sau 2-3 tuần.

Để ngụy trang ăng-ten cabin PA đài điều khiển tên lửa SNR và ăng-ten đài radar cảnh giới người ta áp dụng rộng rãi màn ngụy trang cây xanh. Phương pháp ngụy trang các đài radar P-35, P-15 và đạn TLPK được trình bày trên các hình 20-23.

(http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_pic20.jpg)
Hình 20. Ngụy trang radar P-35

(http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_pic21.jpg)
Hình 21. Ngụy trang radar P-15

(http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_pic22.jpg)
Hình 22. Ngụy trang radar P-12.

(http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_pic23.jpg)
Hình 23. Ngụy trang đạn trên bệ phóng.

(http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_sx25.jpg)
Sơ đồ 25. Hầm tránh bom bi và mảnh bom đạn cho quân nhân. 1- đất đắp dày 30-40 cm; 2- khung tre chịu lực đường kính 8-10 cm; 3- dây buộc liên kết khung; 4- thảm lá cọ; 5- lối vào hầm.

Biện pháp khác trong ngụy trang đội hình chiến đấu của bộ đội TLPK chống trinh sát đường không được sử dụng khá thường xuyên là tạo ra các trận địa giả, tại đó lắp đặt các khí tài cũ, đã hư hỏng, không thích hợp sử dụng chiến đấu. Trên các trận địa giả sẽ tiến hành các hoạt động công binh tối thiểu, đủ cần thiết để tạo ra một bản sao trận địa cơ bản của tiểu đoàn TLPK.

Để mô phỏng hoạt động sống của các trận địa bệ phóng giả trong khoảng giữa các cuộc không kích người ta cho di chuyển xe ô tô vận tải trên các đường tiếp cận và khi xảy ra không kích – cho nổ các vật nổ mô phỏng vụ phóng đạn tên lửa. Thực hiện công việc đó là một đội đặc biệt hoặc theo tín hiệu của tiểu đoàn trưởng (nếu có đường liên lạc với họ), hoặc họ tự tiến hành. Trong trường hợp sau, người chỉ huy nhóm sẽ đánh giá trực quan tình hình trên không và cho điểm hỏa vật nổ.

Việc tuân thủ các kích thước và hình dạng đặc trưng của trận địa phóng của tiểu đoàn TLPK, việc có mặt tại đó các khí tài, việc mô phỏng giống hệt hoạt động sống của trận địa bằng sự di chuyển các xe vận tải, sự có mặt các thảm thực vật ngụy trang và có vụ nổ mô phỏng việc phóng tên lửa - tất cả những điều này dẫn đến việc các trận ném bom được dội xuống các trận địa này.

Để nâng cao khả năng sống sót của máy bay đã thực hiện phân tán các máy bay trong bán kính 50-120 km so với sân bay căn cứ, đặt chúng vào các hầm trú ẩn đặc biệt và ngụy trang kỹ lưỡng.

Như đã nói ở phần trên, đối phương khi tấn công sân bay luôn tập trung các nỗ lực chính vào việc phá hủy lớp phủ đường băng và các đường lăn. Hiệu suất tốt nhất trong công việc này đạt được bằng không quân chiến lược. Vì vậy, đường băng sân bay Nội Bài, bị phá hủy do những trận bom của máy bay ném bom chiến lược B-52 trong các cuộc không kích quy mô lớn đầu tiên vào ngày 18 tháng 12, được khôi phục lại sau 10 ngày đêm, còn đường lăn – sau thời gian một ngày đêm.

Người dân địa phương đóng một vai trò quan trọng trong việc khôi phục lại sự sẵn sàng chiến đấu của các sân bay.

Việc khôi phục đường băng diễn ra theo các khâu sau: cắt lớp bê tông phủ, chuẩn bị nền sỏi, lắp đặt các tấm bê tông cốt thép và chèn khe bằng vữa bitum hoặc asphalt. Các tấm bê tông cốt thép, sỏi, cát và nhựa đường đã được chuẩn bị trước các trận đánh tháng 12 và xếp chồng lên nhau dọc theo đường băng. Điều này làm tăng tốc độ công tác phục hồi trên các sân bay.

Việc thiết bị công trình công binh và ngụy trang sân đỗ máy bay được chứng minh là rất hiệu quả. Người Mỹ đã không hề tiêu diệt hoặc làm hư hỏng bất kỳ máy bay chiến đấu nào đang đậu trên mặt đất. Chỉ có 8 máy bay vận tải quân sự, đậu tại các sân đậu lộ thiên tại Sân bay Quốc tế Gia-Lâm, đã bị phá hủy một phần, một phần bị hư hỏng.

Việc thiết bị kỹ thuật công binh công trình cho nơi trú ẩn của các máy bay tiêm kích trực chiến đấu và địa điểm phân tán của các máy bay trên các sân bay được thực hiện trong nhiều năm trước và bao gồm việc xây dựng các công trình trú ẩn cho máy bay và quân nhân biên đội trực chiến, sở chỉ huy, công trình bảo vệ cất giữ khí tài, hầm trú ẩn cho quân nhân trung đoàn KQTK và các phân đội làm công tác đảm bảo.

Công trình trú ẩn cho máy bay trực chiến là một ụ chứa (капониры – caponiers) có chiều cao đê quây 3-3,5 m (sơ đồ 26).

(http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_sx26.jpg)
Sơ đồ 26. Ụ chứa và bảo vệ máy bay trực chiến.
..........


Tiêu đề: Re: Hoạt động chiến đấu của QC PK-KQ QĐND Việt Nam tháng 12 năm 1972
Gửi bởi: qtdc trong 16 Tháng Chín, 2012, 01:07:17 am
(tiếp theo và hết)

Hầm trú ẩn cho quân nhân trung đoàn không quân và các phân đội đảm bảo chủ yếu là loại kín có mái bảo vệ bằng bê tông cốt thép.

Tại các khu vực phân tán máy bay, xe cộ và vũ khí khí tài, người ta cũng xây dựng các hầm trú ẩn mà loại hình của công trình được xác định bởi địa hình tại chỗ. Ví dụ, trên các sân bay bố trí trong các rặng núi, người ta đã thiết lập các hầm trú ẩn loại kiên cố ngầm trong lòng đất (đào ngang trong các lớp đá). Năng lực chứa của các hầm trú ẩn như vậy là khác nhau - từ 6 đến 30 máy bay MiG-21. Hầm trú ẩn tại sân bay Nội Bài có dạng chữ C, có ba mặt tiền, lối vào và lối ra được đóng lại bằng cửa cổng bê tông cốt thép kiểu 2 cánh (Sơ đồ 27).

Chiều dài của nó khoảng 350 m, chiều rộng 15-20 m, chiều cao 7-8 m. Hầm chứa công suất thấp (6-8 máy bay) tại sân bay Anh Sơn có chiều dài 75-80 m, chiều rộng và chiều cao tương tự như công trình tại sân bay Nội Bài. Lối vào được đóng bằng cửa nâng bê tông cốt thép dẫn động điện. Thiết bị kỹ thuật bên trong hầm chứa (trừ việc cấp điện) là không có.

Hầm trú ẩn cho quân nhân, xưởng sửa chữa và kho tàng tại các sân bay nằm ở khu vực miền núi cũng được thiết lập trong các không gian tạo ra bằng cách đào ngang trong sườn núi. Trên mặt bằng chúng có đường đứt nét và chiều dài lên đến 80-100 m, tiết diện ngang phần hành lang - 1,5 x1, 8 m. Ở giữa hành lang được mở rộng – thành các phòng riêng biệt.

Lối ra khỏi hầm trú ẩn được bố trí ở các mức khác nhau và được che đậy ngụy trang và thông hơi bằng các nắp làm bằng đất hoặc gỗ cây. Trong hành lang người ta thành lập sơ đồ mê cung với các lỗ châu mai cho hỏa lực. Những lỗ châu mai tương tự cũng được xây dựng ở hai bên lối vào. Thiết bị kỹ thuật nội bộ không có, thông gió – theo kiểu tự nhiên, năng lượng được cấp từ các trạm phát điện di động. Nước được trữ trong các bể chứa bê tông xi măng.

Hầm trú ẩn kiểu này đảm bảo được an toàn cho các loại máy bay, vũ khí và quân nhân khỏi mọi loại bom mà không quân Mỹ sử dụng, ngay cả khi chúng tấn công trực tiếp.

Tại sân bay nằm ở vùng đồng bằng, máy bay, xưởng quân giới và kho tàng được giấu trong các ụ chứa-có mái che (Sơ đồ 28).

(http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_sx27.jpg)
Sơ đồ 27. Công trình cất giữ máy bay trong lòng núi theo phương ngang. Sức chứa đến 30 máy bay MIG-21.

(http://old.vko.ru/pictures/2005_21/ex26_sx28.jpg)
Sơ đồ 28. Ụ chứa máy bay có mái che. 1- đất dày 20 cm; 2- tấm PMP hoặc K-1-Đ; 3- thanh ray.

Kết cấu cơ bản của một nhà chứa máy bay như vậy là một  khung dạng lều làm từ các cấu kiện  thanh kim loại hoặc đường ray. Khung được bao các tấm kim loại kiểu PM1-1-53 và K-1-D, và  phủ một lớp đất dầy 20 cm - bảo vệ chống bom bi, cũng như để hình thành một thảm cỏ ngụy trang. Nhà chứa thường bố trí dọc theo các trục đường chính dẫn đến sân bay.

Một số máy bay trước chiến dịch "Linebacker-2" đóng căn cứ tại các sân bay vùng đồng bằng, thì nay trong thời gian chiến dịch được giấu tại các vùng rừng núi, cách xa các sân bay. Những chiếc máy bay này được cẩu chuyển bằng trực thăng Mi-6.

Việc trang bị công trình công binh cho các SCH xác định theo tầm ý nghĩa của nó. Chẳng hạn, SCHTT cho đến giữa mùa hè 1972 hoạt động trong một công trình ngầm kiên cố, có cấu trúc xây dựng bằng các lớp bê tông cốt thép, lớp đất dày bảo vệ - 3-4 m. Lối vào công trình được trang bị các cửa an ninh bằng kim loại, nó có hệ thống thông gió cưỡng bức và điều hòa nhiệt độ.

Do kết quả một cuộc tấn công trực tiếp bằng bom phá cỡ trung bình trong thời gian không kích quy mô lớn của không quân chiến thuật hồi tháng 6 năm 1972 hệ thống kết cấu cách nước bị phá hủy, và các gian phòng bị ngập nước. SCHTT phải di chuyển sang hoạt động tại một công trình dã chiến.

SCH sư đoàn PK bố trí chủ yếu trong các công trình bí mật. Chẳng hạn SCH sư đoàn PK Hải Phòng đặt trong một công trình hầm ngầm đào trong đá theo phương ngang. Lối vào được bảo vệ bằng cửa kim loại và một tiền sảnh. Trong hầm ngầm có hệ thống thông gió cưỡng bức và dự trữ nước uống. Nguồn điện cung cấp từ máy phát điện diesel.

Hầm trú ẩn được bảo vệ chống lại bom phá bất kể cỡ nào - ngay cả khi bom rơi trúng trực tiếp hầm ngầm.

SCH sư đoàn PK Hà Nội bố trí trong một công trình bê tông cốt thép đơn tấm có lớp đất bảo vệ dày 1,5-2 m. Lối vào công trình được bảo vệ bởi hai lớp cửa kim loại với một tiền sảnh ngăn giữa chúng. Thiết bị kỹ thuật bên trong không có, thông gió theo kiểu tự nhiên.

Được bảo vệ nhất là các SCH đặt trong các hang núi tự nhiên hoặc hầm ngầm nhân tạo trong các rặng núi đá. Các lối vào SCH đều được trang bị các cửa bảo vệ có tiền sảnh.

Trên địa hình bằng phẳng SCH các đơn vị được bảo vệ một phần, chúng được đặt trong các cấu trúc bán ngầm (do vị trí nước ngầm cao). Tường làm bằng gạch, gỗ, tre, nứa, v.v, trần - bao bì hoặc các vật liệu khác, với lớp đất đắp và đê quây.

SCH dã chiến đặt trong các lều làm bằng gỗ nhẹ (nhà 1 tầng), trong các tầng hầm của các tòa nhà, và sự bảo vệ cho quân nhân tại các dạng công trình dã chiến này là kém.

SCH tiểu đoàn TLPK trong mọi trường hợp đều bố trí trong cabin "UA", mức độ bảo vệ nó xác định cả mức độ bảo vệ cho SCH tiểu đoàn. Đài điều khiển bố trí tại các trận địa của các đại đội nằm gần trực tiếp đài radar (đến 50 m), trong các căn lều, kết cấu nhẹ bằng gỗ (nhà 1 tầng), và như vậy cũng không đảm bảo được sự an toàn cho quân nhân.

Vai trò quan trọng trong việc duy trì sự sống còn của SCH tất cả các cấp là độ cơ động và mức độ ngụy trang của chúng. Ví dụ, trong giai đoạn các trận đánh tháng 12, bốn trung đoàn TLPK và hai trung đoàn radar đã thay đổi địa điểm SCH của họ. Vấn đề liên quan đến SCH tiểu đoàn TLPK và đài điều khiển đại đội radar, đó là họ thay đổi vị trí của mình cùng với việc di chuyển của các tiểu đoàn và đại đội. Thời gian chuyển SCH trung đoàn mất trung bình 2-3 giờ (không kể thời gian công binh chuẩn bị trận địa trước đó).

Vị trí đặt SCH được chọn và chuẩn bị trước, nhưng do thiếu biên chế và một số lượng khí tài thông tin liên lạc hạn chế nên không được trang bị đầy đủ. Kịp thời thay đổi nơi bố trí SCH (đặc biệt là SCH trung đoàn) trong điều kiện chưa đầy đủ công trình công binh bảo vệ hoàn toàn hợp lý và cho phép giữ được sức sống và tính liên tục trong công tác quản lý chỉ huy bộ đội.

Các tiểu đoàn tên lửa PK thay đổi vị trí hỏa lực sau 5-8 lần phóng đạn tên lửa vào ban đêm, cũng như sau trận địa của mình rõ ràng đã bị trinh sát của địch phát hiện. Việc di chuyển vị trí trung đoàn tên lửa PK thường được thực hiện theo hai giai đoạn (hai tiểu đoàn chuyển quân một lần), trong khi đó việc quản lý chỉ huy 2 tiểu đoàn đầu tiên được thực hiện từ SCH tiền phương của trung đoàn, các tiểu đoàn còn lại trên các trận địa cơ bản được chỉ huy từ SCH cơ bản. Khi xây dựng SCH tiền phương người ta sử dụng một phần phương tiện liên lạc của SCH cơ bản, còn các kíp chiến đấu của nó được trung đoàn phó lãnh đạo theo đúng quy định. Sau khi tất cả các tiểu đoàn TLPK di dời xong đến khu vực mới thì SCH tiền phương hoặc nhập vào SCH cơ bản, hoặc được sử dụng để làm SCH dự bị.

Như vậy, tập hợp phong phú các biện pháp kỹ thuật công binh công trình và ngụy trang trên các trận địa, sự sẵn có các trận địa dự bị được thiết bị đầy đủ cùng các trận địa giả, việc chuẩn bị các mạng đường kép để cơ động vận chuyển đạn tên lửa và làm công tác hậu cần kỹ thuật, xây dựng dự trữ nguyên vật liệu và kết cấu phục vụ việc khôi phục lại các sân bay, việc chuẩn bị các công trình bảo vệ lâu dài cho đội ngũ quân nhân, thiết bị vũ khí khí tài, vật tư, cũng như việc cơ động kịp thời của các phân đội và SCH các đơn vị đã nâng cao đáng kể sức sống của toàn bộ hệ thống phòng không QĐND Việt Nam.

HẾT