|
Tiêu đề: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 20 Tháng Bảy, 2013, 12:57:19 pm Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương
Nhà xuất bản Thanh niên Năm xuất bản: 1997 BÀ MẸ CỦA MƯỜI LIỆT SĨ (Viết về Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Người mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Rành, dân quân xã Phước Hiệp, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh) I. QUÊ HƯƠNG: Tại ấp Phước Hòa, xã Phước Hiệp, huyện Củ Chi có một người mẹ sinh được mười người con (tám trai và hai gái). Tám con trai và hai cháu trai của mẹ (một cháu nội, một cháu ngoại) đã lần lượt hi sinh trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. Dáng người mẹ dong dỏng cao, vầng trán rộng, mắt to, vành tai lớn; khuôn mặt vuông vắn, nhân hậu, đầy những nếp nhăn, ghi dấu cuộc đời khổ cực. Bà con ở xã trìu mến đặt cho má nhiều tên: Má Tám Trầu (vì má hay ăn trầu), bà mẹ đất Thép, bà má Dũng sĩ. Tháng 12 năm 1977, tại Đại hội đại biểu những gia đình thương binh, liệt sĩ họp ở Hà Nội, má lại thêm một cái tên khác: Bà mẹ anh hùng. Tên thật của Má là Nguyễn Thị Rành, sinh năm 1900. Má không nhớ rõ ngày tháng sinh. Hồi còn con gái má được nghe mẹ mình kể lại: Gia đình ta ở xóm Đìa, sát bờ sông Sài Gòn. Dạo ấy đang mùa mưa, nước sông Sài Gòn lên cao. Mẹ chuyển dạ đẻ con vào lúc nửa đêm. Bà con bơi thuyền qua bên kia sông rước bà mụ. Bà mụ đến nhà thì thấy con đã nằm trong chiếc thúng. Bà mụ lẹ làng đến giúp, bà khen: Ồ, năm nay má sinh được con gái là quý lắm rồi đó. Đặt tên cháu là gì nào? - Dạ, quê tôi có phong tục bao giờ cũng nhờ bà mụ đặt tên cho con mình. Vậy, xin bà cho cháu một cái tên. Bà mụ nói: - Anh chị có lòng nhờ, tôi không dám từ chối. Con nhỏ này trông kháu khỉnh lắm. Tôi chọn cho cháu cái tên là Rành. Chữ Rành có nghĩa là thông minh, giỏi giang, cần mẫn. Rành lớn lên ở xóm Đài. Xóm Đìa ngày xưa vẻn vẹn có khoảng mười nóc nhà. Những gia đình nghèo nhất mới đến đây lập nghiệp. Họ làm nghề câu cá, bắt tôm, hay đi mót lúa. Vì cùng cảnh nghèo nên cả mười gia đình ấy thương yêu đùm bọc nhau như anh em ruột thịt. Xóm giềng kính nể gọi ba mà của Rành là anh Hai, chị Hai. Dòng sông Sài Gòn hiền hóa, khi nước ngả màu nâu là màu cá và khi nước đã pha màu bạc là mùa tôm. Bà con xóm Đìa có kinh nghiệm làm ăn như vậy. Rành thích theo ba đi bắt tôm. Mẻ tôm đầu tiên bao giời ba cũng chọn những con tôm to nhất bỏ vô bếp than bừng, nướng rồi bóc vỏ, chấm muối tiêu cho Rành ăn, ngọt lịm. Khi Rành biết đi chợ chiều ngoài xóm Giữa bán mớ cá vụn, biết chọn mua cho ba vài rê thuốc ngon, mua cho má vài quả cau tươi cũng là thời gian ba bỏ nhà đi. Bà con xóm Đìa không ai biết anh Hai đi đâu, nhưng họ tin rằng từ xưa đến giờ anh Hai làm việc gì cũng đúng. Anh Hai ra đi để làm việc có ích cho làng, cho nước như anh Hai vẫn thường nói với họ. Bà con coi việc giúp đỡ gia đình chị Hai là bổn phận của mọi nhà. Mẹ con Rành sống trong tình thương yêu của cả xóm Đài. Những lần anh Hai bất chợt trở về, thường có hai người bạn cùng trạc tuổi đi theo. Đêm đêm, độ gà gáy canh một, ba người bơi thuyền ra giữa sông giả vờ câu cá để bàn bạc những việc gì có vẻ hệ trọng lắm. Gần sáng họ mới về nhà. Anh Hai nói với vợ: - Mình về nhà, ráng làm lụng nuôi mấy đứa con. Thiếu thốn gì thì nhờ bà con xóm giềng giúp đỡ. Quê hương mình từ trước tới giờ vẫn giữ được tập quán lá lành đùm lá rách. Nên dầu có đi xa, tôi cũng yên tâm. Bây giờ tôi có việc riêng. Việc của tôi là việc của làng, của nước có thể lúc này mình chưa hiểu được, nhưng sau này mình sẽ hiểu. Sau lần gặp ấy, anh Hai đi mãi, đi mãi không thấy trở về làng nữa. Chị Hai thương anh mòn mỏi, héo hon. Cả xóm Đìa nhớ anh. Đêm đến, xóm Đìa vắng lặng. Gió chướng từ sông Sài Gòn thổi về luồn qua khe cửa sổ phả hơi nước bạc vào nhà. Rành thao thức lắng tai nghe tiếng gõ be thuyền của những người đánh cá ngoài sông như trước đây cô vẫn thường lắng nghe, để tìm xem đâu là tiếng gõ của ba mình. Rành rùng mình choàng tay ôm chặt cổ má, hỏi: - Má ơi, chừng nào ba về hả má? Má vuốt nhẹ mái tóc của Rành, nói trong vị mặn của nước mắt: - Thế nào rồi ba cũng về, con ạ! Tiêu đề: Re: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 20 Tháng Bảy, 2013, 12:57:48 pm Một hôm, một trong hai người bạn của anh Hai trở về báo tin cho gia đình Rành: Anh Hại bị bọn mật thám Tây bắt bỏ tù. Chị Hai như người mất hồn, sinh bệnh. Bà con xóm Đìa bây giờ càng hiểu ý nghĩa việc ra đi của anh Hai, họ càng yêu mến, hết lòng giúp đỡ gia đình anh chị.
Rành chưa hiểu được vì sao ba mình lại bỏ nhà ra đi, vì sao bọn mật thám Tây lại bắt ba bỏ tù. Nhưng qua tấm lòng cao cả của bà con xóm Đìa đối với gia đình, từ việc nhà này cho thúng gạo, nhà khác cho thước vải, đêm hôm tắt lửa, tối đèn lúc nào cũng có người đến hỏi ham chăm sóc, Rành mường tượng được rằng việc ba mình ra đi làm việc gì đó là có liên quan, gắn bó với các gia đình nghèo khổ nhất ở xóm Đìa này. Rành biết rằng hai người bạn của ba mấy lần trước cùng về đây đều rất tốt. Các bác ấy nói rằng nhà các bác ấy ở xa lắm, ngoài Bắc cơ. Ngoài Bắc là ở đây nhỉ? Có một đêm đi bắt tôm, có một bác cao lớn, có bộ râu quai nón chỉ tay về hướng chóm sao bắc đẩu nói với Rành, nhà bác ở phía đó. Bác cũng có một đứa con gái út bằng độ tuổi với Rành. Còn bác người gầy gầy, mắt to ve sáng, lúc nào cũng đeo kính trắng, nói rằng nhà bác ấy cũng ở cạnh một dòng sông, quanh năm đỏ ngầu phù sa. Bây giờ thì ba và bác có râu quai nón đều bị Tây bắt bỏ tù. Đêm đêm, Rành theo má đi bắt tôm. Nhìn chòm sao bắc đẩu lấp loáng tên mặt nước, Rành lại nhớ đến bác có bộ râu quai nón, trông bề ngoài có vẻ dữ tợn mà lại hiền khô. Người con gái út của bác tên gì nhỉ, bạn ấy đã biết ba của bạn bị bọn Tây bắt chưa? Rành tự hỏi. Vào mùa mưa, nước sông Sài Gòn dâng cao, nhận chìm màu cây xanh biếc ven bờ, giữa dòng cuồn cuộn lớp sóng trắng mênh mông. Chị Hai lâm bệnh nặng. Rành đã bơi được thuyền qua bên kia sông lấy thuốc về cho má. Cuối mùa đông năm ấy chị Hai qua đời. Rành khóc hết nước mắt, mắt sưng lên. Giáp Tết năm ấy, tên Lí Hoạnh, ở xóm Giữa chống ba-toong đến nhà Rành. Đi theo sau nó có có hai thằng lính. Lí Hoạnh nói ngọt như mía lùi: - Rành, ba má mày còn một món nợ với tao khá lớn. Mày còn nhỏ, tao có nói cái khoản nợ ấy là bao nhiêu, mày cũng không thể nào trả nổi. Tao thấy mày đơn chiếc quá, tao đến đây để dẫn mày về nhà tao mà ở. Công việc hằng ngày của mày chỉ có quét nhà, quét sân và rửa bát thôi. Rành bưng mặt khóc. Hai thằng lính đến xóc nách kéo rành lôi đi. Năm ấy Rành 14 tuổi. Nhà Lí Hoạnh có bốn người ở gồm hai nữ, hai nam. Một ông giáo còn trẻ, hằng ngày dạy học cho lũ con của Lí Hoạnh. Bốn người ở làm việc quần quật suốt ngày. Sáng, họ nhịn đói, xế chiều mới ăn được miếng cơm trưa, nửa đêm mới ăn được miếng cơm tố. Rành phải làm đủ mọi việc như xay lúa, giã gạo, chăn bò, nuôi heo, lau nhà, giặt giũ áo quần cho lũ con Lí Hoạnh. Rành cũng bị đòn roi không kém những người khác. Riêng Rành, đêm đêm còn phải đấm bót cho vợ Lí Hoạnh. Vợ Lí Hoạnh nói rằng, đôi tay của Rành mềm mại, đấm bóp mới êm. Mùa nắng, Rành phải quạt cho mụ suốt đêm. Có lần buồn ngủ quá, Rành làm rơi quạt xuống giường, mụ chồm dậy, tát lấy, tát để vào mặt làm Rành chảy máu mũi, máu miệng, mụ vẫn chưa thôi. Lời nói của mụ cũng ồm ồm hợp với thân hình phì nộn của mụ. ở trong cái dinh cơ này, mụ nắm quyền hành. Nếu so sánh bề ngoài, lão Lí Hoạnh như con nhái bén, thì mụ là cái cột đình. Mỗi lần Rành bị đánh như vậy, mấy người ở như Rành đều phải chạy xa, không dám đến cứ. Thương nhau thì đành để bụng, chứ đứng gần, nhất định sẽ bị đòn lây. Duy chỉ có ông giáo trẻ tên là Nguyễn Văn Cầm dán đến can ngăn, không cho mụ đánh Rành nữa. Mụ buộc phải dừng tay, nhưng cơn thịnh nộ vẫn chưa chịu lùi, nên lỗ mũi của mụ đỏ như quả cà chua chính, hai gò má bự thịt của mụ giật lên giật xuống như hai mang cá mè bị nắng. Mụ khoa chân, múa tay rồi nghiến răng ken két, nói: - Tao là tao nể thầy Cầm, đành để cho mày yên. Mày liệu cái thần hồn của mày đấy. Mày ở đây suốt đời cũng chưa trả hết nợ tao đâu. Rành thầm cảm ơn thầy Cầm, người duy nhất ở trong cái hang cọp này dám đứng ra che chở cho Rành. Nói đúng hơn là thầy đã bênh vực cho tất cả những người đến làm thuê, làm mướn trong cái dinh cơ này. Thời gian trôi nhanh như những tán mây mùa mưa, lúc ùn ùn éo đến đen kịt, sà xuống như sắp giội nước lên những mái nhà xiêu vẹo ở xóm Đìa, lúc đột ngột kéo đi để lại một vùng trời thoáng đang, cao rộng. Mới ngày nào đó, Rành thẫn thờ xách chiếc bị rách đi giữa hai tên lính đến nhà Lí Hoạnh mà hôm nay có đã tròn 18 tuổi rồi. Những gì đau khổ, cay đắng, buồn vui, tủi nhục, với bốn năm sống cơ cực trong nhà Lí Hoạnh, đã làm cho Rành suy nghĩ rất nhiều về sự bất công của xã hội. Nhưng Rành chưa cắt nghĩa được vì sao có sự bất công ấy. Có cũng như bao người khác đành cam chịu chữ số phận. Số phận là của trời Tiêu đề: Re: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 20 Tháng Bảy, 2013, 12:58:23 pm Những năm tháng sống cuộc đời tăm tối ấy, thầy Cầm đến với Rành. Thầy giảng giải vì sao thực dân Pháp sang đây cướp nước ta, vì sao có bọn địa chủ phong kiến, quan lại, vì sao có người giàu sang như nhà Lí Hoạnh, người lại nghèo xác nghèo xơ như bà con xóm Đìa. Con người sinh ra cần phải được tự do và được hưởng quyền ấm no, hạnh phúc. Không bao giờ có số phận giành cho lớp người này được sung sướng, cho lớp người kia làm nô lệ, như Rành nghĩ.
Nghe những lời thầy Cầm nói, Rành thấy như mình đang đi trong đêm tối chưa tìm ra phương hướng, bỗng có người cầm đuốc dẫn đường. Đêm đêm, trong giấc ngủ nửa tỉnh nửa mê của mình, Rành như nghe rõ những tiếng nói thủ thỉ, ấm áp của thầy Cầm. Hình ảnh thầy Cầm trong những lần giúp Rành thoát khỏi đòn roi của mụ Lí Hoạnh, những lần thầy lấy khăn lau máu trên mặt Rành, những lần thầy gạt nước mắt khi biết Rành bị mụ Lí Hoành phạt bỏ đói, lại hiện ra. Những đêm như vậy lòng Rành cảm thấy xốn xang. Nhưng những tìm cảm đẹp đẽ ấy lập tức tan biến, vì đối với Rành, thầy Cầm là một ân nhân, là một con người cao thượng, vừa gần gũi, vừa rất xa xăm khó với. Từ ngày Rành về làm người ở trong nhà Lí Hoạnh, thầy Cầm cảm thấy vui vui, càng về sau lòng thầy càng xáo động bởi những ước mơ vừa chân thành, vừa táo bạo. Thầy nhận ra ở Rành là một cô gái xinh xắn, nết na, hiền dịu, giỏi giang và cương nghị. Thầy có một tình thương thầm kín đối với Rành đến nỗi chính thầy cũng không hiểu được tình cảm ấy có từ lúc nào. Đã từ lâu, thầy Cầm không thấy thích thú gì với cái nghề dạy tư cho con cái bọn địa chủ. Đây cũng chỉ là cái nghề làm mướn kiếm cơm ăn. Vợ chồng Lí Hoạnh bề ngoài làm ra điệu bộ như quý trọng thầy, vì lũ con nhà nó dốt nát, chúng có mở mang hiểu biết ra được chút nào là trông cậy vào công lao dạy bảo của thầy. Kí thực thì bọn chúng nó xem thầy cũng như những người ở mướn làm thuê. Thầy Cầm không muốn kéo dài thời gian kém dạy lũ trẻ ở nhà Lí Hoạnh nữa. Nhưng vì cảm tình của thầy đối với Rành làm thầy cứ băn khoăn, dùng dằng khó dứt. Trải qua nhiều đêm không ngủ, đắn đo, suy nghĩ mãi, thầy quyết định phải nói rõ với Rành. Một buổi sớm, nhân lúc vợ chồng Lí Hoạnh đi ăn giỗ ở làng trên, những người ở khác lo mỗi người mỗi việc, chỉ còn một mình Rành ngồi nấu cám heo, thầy Cầm đến gần nói: - Em định làm đầy tớ mãi cho nhày này sao? Bị hỏi đột ngột, nghĩ lại những năm tháng cơ cực ở đây, Rành nghẹn ngào không trả lời, nước mắt kéo dài trên đôi má ửng hồng vì lửa nóng, khiến thầy Cầm cảm thấy mình luống cuống. Nhưng rồi thầy giữ được bình tĩnh lại ngay. Thầy nói giọng run run: - Rành ạ, tôi thương Rành. Tôi mong Rành đừng phụ lòng tôi. Nếu Rành cũng thương tôi, tôi sẽ đưa Rành đi nơi khác ở. Hay tôi sẽ đưa Rành về nhà tôi. Rành chùi nước mắt ằng ống tay áo. Cô để thêm mấy que củi vào bếp. Bếp lửa cháy bùng lên, ánh lửa xanh, hồng quyện vào nhau. Lòng Rành xao xuyến dữ dội. Rành nói ngập ngừng.: - Thầy thương em nghèo khổ thì thầy nói vậy, chớ… em đi… với thầy đâu có xứng. - Rành ơi, tôi được học hành chút ít, nhưng thời buổi này có chữ, có nghĩa cũng chẳng làm gì được đâu. Người ta mua quan bán chức mà. Nhà tôi cũng nghèo lắm. Học được ít chữ một phần vì tôi là con một, một phần vì ba má tôi từ hồi còn nhỏ cũng là người rất hiếu học. Ông, bà thường nói: “Phải học để biết làng, biết nước, biết đông, biết tây, biết thù, biết bạn, để khỏi bị người ta đè nén…”. Thế mà rồi học xong tôi lại phải chui vào cái dinh cơ này để dạy thuê. Tôi cũng là một người làm mướn thôi Rành ạ. Người nghèo như nhau nên mình dễ gần gũi, thương yêu nhau. Rành đừng coi tôi là hạng người quyền quý. Rành thương tôi, tôi sẽ lấy Rành làm vợ. Mình sẽ đi khỏi nơi này. Rành tin tôi đi, tôi đã suy nghĩ nhiều lắm rồi. Thầy Cầm muốn nói nữa, nói mãi, muốn trút cả tấm lòng yêu thương chân thành của mình đến với Rành. Định không nói rõ ràng như thế, nhưng khi nói, thầy Cầm không ghìm được lòng mình. Vì tình yêu đối với Rành khiến thầy can đảm vượt qua những e thẹn ban đầu. Ánh sáng buổi sớm mỗi lúc càng thêm rực rỡ. Thầy Cầm trìu mến nhìn Rành, lòng bồn chồn khó tá. Rành cúi gầm mặt tì má lên hai đầu gối, tay phải di di hòn than vẽ những đường ngoằn ngoèo trên nền đất. Hai người im lặng một lúc, rồi Rành ngẩng mặt lên, nói ngập ngừng: - Em còn khờ dại, thầy thương em thầy bảo sao em nghe lời thầy vậy. Mấy tháng sau đó, một dịp may hiếm có xảy ra: lão Lí Hoạnh tự nhiên lăn đùng ra chết. Dân làng bảo rằng: Tại vì lão ta ác quá nên trời tru đất diệt. Lão ta chết, nên mụ vợ dù có vênh váo đến mấy cũng phải xuống thế. Nhân cơ hội đó, thầy Cầm đưa Rành rời khỏi nhà mụ Lí Hoạnh. Tiêu đề: Re: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 20 Tháng Bảy, 2013, 12:58:53 pm II. NGƯỜI CẦM CỜ ĐỎ BÚA LIỀM TRÊN NGỌN CÂY ĐIỆP
Rành về làm dâu gia đình thầy Cầm ở ấp Phước Hòa. Bà con xóm giềng đều khen ngợi. Vợ thầy Cầm đẹp người đẹp nết. Thầy Cầm tiếp tục làm nghề dạy học. Nhưng Thầy không dạy cho con cái của bọ nhà giàu nữa. Con em nhà nghèo đến học ở nhà thầy rất đông. Gia đình các em, người có tiền góp tiền, người có gạo góp gạo cho thầy. Nhà ai nghèo quá thầy không nhận tiền mà chỉ dạy giùm con em họ. Rành vừa lo làm mấy sào ruộng nhà, vừa lo làm mướn, lúc được mùa, thu hoạch khoảng sáu bảy chục giạ lúa. Năm mất mùa cũng được bốn, năm chục giạ, gọi là đủ ăn, đủ mặc. Thầy Cầm sống ấm cúng, hạnh phúc bên Rành. Mấy con trai và gái của thầy Cầm và Rành là Nguyễn Văn Đúng, Nguyễn Thị Săn, Nguyễn Văn Sóc, Nguyễn Thị Lệ, Nguyễn Văn Dé lần lượt ra đời. Dịp hè năm 1941, thầy Cầm nói với học trò: - Sau tháng nghỉ hè này, các em sẽ nghỉ học luôn. Con nào muốn học tiếp thì tìm thầy khác mà học. Từ nay thầy nghỉ, không dạy nữa. Mây chục học trò không đứa nào cầm được nước mắt. Có đứa khóc to lên: - Thưa thầy tụi con chỉ học thầy thôi ạ. Thầy đừng bỏ tụi con. Hết hè năm đó, lũ học trò như thường lệ, vẫn cắp sách đến nhà thầy. Nhưng thầy Cầm không còn ở nhà. Rành nói với chúng nói: - Thầy Cầm đã nói với các con rồi là thầy sẽ không dạy nữa. Sao các con vẫn đến đây. Bây giờ thầy đã đi xa lắm rồi. - Dựa thưa, thầy đi đâu ạ? - Cô cũng không biết nữa. Chúng nó đi thất vọng, lặng lẽ ra về. Trước khi “đi xa”, thầy Cầm bàn bạc với vợ: - Tôi có một số bạn thân thiết ở miền Long Xuyên. Nghe nói tình hình dưới đó có nhiều chuyện không ổn, tôi đi thăm bạn bè xem họ làm ăn sinh sống ra sao. Tôi đi có thể hơi lâu đó, mình ở nhà cố gắng là lụng nuôi con. Ở Long Xuyên chắc là tôi sẽ tiếp tục dạy học, rồi tôi sẽ đem tiền về cho mình thôi mà. Thực ra mấy tháng trước đi Sài Gòn gặp hai người bạn cũ đang tham gia hoạt động bí mật, thầy Cầm sung sướng vô cùng. Thầy quyết định thôi dạy học để đi làm hội kín với các bạn. Thầy Cầm đi qua những vùng đất mà cuộc khởi nghĩa Nam Kì đã diễn ra. Thầy Cầm gặp được những chiến sĩ cách mạng vừa vượt ngục Côn Đảo về hoặc vừa thoát khỏi khám Chí Hòa. Thầy được giác ngộ thêm, ngày càng hăng hái bước vào cuộc chiến đấu. Một năm vài ba lần, thầy Cầm trở về nhà với thân hình gầy guộc, nước da xanh xao. Rành khóc hết nước mắt, bán những gì có trong nhà từ con heo, con gà đến buồng cau, nải chuối, để có tiền thuốc thang, chăm sóc sức khỏe cho chồng. Khỏe rồi, thầy Cầm lại ra đi. Một mình Rành phải lo toan cuộc sống cho cả một đàn con nhỏ. Nhưng Rành không ngại. Nghĩ lại hồi thời ba đi hoạt động rồi biệt tăm để má một mình ở lại xóm Đìa, Rành rùng mình lo âu. Sau này Rành mạnh dạn hỏi chồng: - Mình đi đâu mà khổ cực vậy? Hiểu vợ sâu sắc hơn ai hết, biết Rành là người mang nặng mối thù giai cấp và rất giàu nghị lực, thầy Cầm tìm cách giảng giải mỗi ngày một ít để vợ mình hiểu về cách mạng. Lần này, thầy thấy cần phải nói thật rõ ràng hơn: - Mình đừng giận cho rằng trước đây tôi nói dối. Mấy năm nay tôi đi làm cách mạng đó. - Cách mạng là gì, mình nói rõ hơn cho tôi biết. - Cái chữ ấy nghĩ rộng lắm. Nhưng nói tóm tắt cách mạng là làm sao cho đông đảo dân mình phải đồng tâm, hiệp lực đánh đuổi thực dân Pháp, lật đổ bọn địa chủ phong kiến, để xã hội không còn người bóc lột, ai cũng được no ấm. Cũng như trước đây, lúc hai người còn ở nhà Lí Hoạnh, thầy Cầm từng giảng giải cho Rành biết vì sao bọn địa chủ phong kiến lại đè đầu cưỡi cổ dân ta. Lần này, thầy lại nói làm cách mạng là để đánh đổ bọn áp bức, bóc lột. Ôi, những lời nói của chồng thật mộc mạc, rõ ràng. Rành tự thấy mình phải cùng chồng gánh vác, hoặc ít ra cũng giúp chồng, tạo điều kiện cho chồng yên tâm làm cách mạng. Rành nghĩ, giá như mình còn con gái nhất định mình cũng đi làm cách mạng. Tiêu đề: Re: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 20 Tháng Bảy, 2013, 12:59:47 pm Một hôm khác, thầy Cầm lại giảng giải cho vợ biết thêm Cách mạng có nhiều việc, việc lớn như tổ chức lực lượng, tuyên truyền giác ngộ quần chúng, việc nhỏ như giúp đỡ, bảo vệ cán bộ cách mạng, rải truyền đơn… đều quan trọng cả. Ai cũng làm được cách mạng nếu người đó có lòng yêu nước, căm thù giặc.
Cứ như vậy, thầy Cầm làm cho vợ hiểu dần. Những băn khoăn lo lắng ba đầu của Rành ngày càng lắng xuống. Rành càng thương chồng hơn. Sau đó, vào những tháng đầu năm 1945, thầy Cầm đi biền biệt. Bỗng một đêm trời mưa tầm tã, Rành thao thức nghe tiếng cuốc gọi ngoài đồng, chợt có thầy Cầm từ mé vườn sau gọi giật giọng: - Mình ơi! Mình! Rành nhận ra tiếng quen thuộc ấy, bật dậy như chiếc lò xo bị nén. Rành lấy diêm quẹt châm đèn, rồi nhẹ nhàng mở cửa. - Trời, mình ướt sũng hết, chết lạnh bây giờ. Rành lật đật lấy áo quần cho chồng thay, và dọn cơm. Rành lật đật lấy áo quần cho chồng thay, vào dọn cơm. - Thủng thẳng rồi ăn cũng được, tôi chưa đói lắm đâu. Mình giúp tôi việc này đã. Thầy Cầm kéo vạt áo trước, rút ra một gói giấy to bằng bắp chân, cuộn chặt, lớp ngoài ướt hết. Thầy ghé sát miệng vào tai vợ, nói qua hơi thở: - Truyền đơn của cách mạng kêu gọi toàn dân khởi nghĩa cướp chính quyền đó. Mình nhóm lửa lên hơ giúp. Tất cả là ba trăm tờ, đứng làm cháy tờ nào nhé. Thầy Cầm ngồi xuống giượng, lùa vội mấy chén cơm rồi cùng vợ hơ khô số truyền đơn còn lại. Gà gáy canh ba. Trời đã tạnh mưa. Một vài ngôi sao lấp lánh trên nền trời. Rành giục chồng: - Mình ngả lưng một chút đi kẻo lạnh đó. - Tôi phải đi ngay trước sáng, công việc như nước đến chân rồi, anh em đang chờ. Vài ngày nữa, chắc tình hình chộn rộn lắm. Cách mạng sẽ rổ ra, mình biết không. Kẻ thù đang tìm cách đàn áp, khủng bố, nhưng trước sau gì đằng mình cũng thắng thôi. Tôi muốn nhờ mình giúp một việc nhé, không biết mình có làm được không? Lâu này hằng mơ ước được làm một nhiệm vụ gì đó, thật cụ thể để giúp chồng, nên khi nghe chồng nói như vậy Rành sung sướng, trả lời ngay: - Mình tin tôi. Mình giao việc gì tôi cũng làm được. Thầy Cầm đắn đo: - Việc này phức tạp lắm, lỡ xảy ra chuyện gì ai nuôi “bầy” con. Tôi định giao cho thằng Đúng. - Thằng Đúng tuy lớn rồi, nhưng còn dại lắm. Bạn bè nó đông, nếu lỡ mồm lỡ miệng, có khi chưa làm đã hỏng việc. Nghe vợ nói có lí, thầy Cầm yên tâm. Thầy lấy trong ngực áo ra một vuông vải đỏ, chiều dài hơn một mét, chiều rộng khoảng tám mươi phân, chính giữa có hình cái búa và cái liềm màu vàng xếp chéo nhau. Lần đầu tiên Rành được trông thấy lá cờ như vậy. Thầy Cầm giải thích cho vợ hiểu: - Đây là cờ cách mạng. Màu đỏ là màu tranh đấu, búa là hình ảnh giai cấp công nhân, liềm là tượng trưng cho giai cấp nông dân, búa liềm giao nhau là tiêu biểu cho sức mạnh đoàn kết công nông. Ôi lá cờ cách mạng. Rành sung sướng ôm lá cờ và lòng. Thầy Cầm nói giọng chậm rãi: - Đêm mai, hoặc chậm lắm là đêm mốt sẽ có một cuộc biến động lớn (Thầy Cầm không dùng chữ khởi nghĩa, e vợ không hiểu). Đó là cách mạng đã về. Chừng nào mình nghe tiếng súng lớn, súng nhỏ ở Sài Gòn và các vùng ven nổ liên hồi, thì mình đem lá cờ này treo lên ngọn cây điệp lớn ở ngã ba, sát đường quốc lộ đó. - Mình yên tâm. Tôi làm được mà. Mình không nhớ hồi còn ở nhà Lí Hoạnh tôi đã trèo cau đó sao. - Công việc coi vậy mà khó lắm đó. Khi làm, mình chú ý đừng để ai trông thấy. Những ngày đó tôi bận không về được. Nếu có chuyện gì xảy ra, mình tự lo liệu là chính. Nói vậy chớ tôi đã nhờ chú Ba Phi chú ý giúp đỡ nữa đó. Chú Ba Phi là người cách mạng mà. Tây nâng lá cờ, mắt nhìn chồng đăm đăm, Rành nói nhỏ, môi rung rung vì xúc động: - Mình ra đi nhớ hết sức cẩn thận nhé! Nhất định tôi sẽ treo được lá cờ này lên ngọn cây điệp lớn như mình muốn. Thầy Cầm gật đầu, nhét gói truyền đơn vào bên hông, phủ áo ra ngoài, bước ra sân. Bóng thầy khuất sau hàng dâm bụt. Trời vẫn tối, vài hạt mưa nhỏ lách tách trên ngọn xoài. Tiêu đề: Re: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 20 Tháng Bảy, 2013, 01:00:27 pm Sáng hôm sau Rành xách rựa dạo qua bốn khóm tre mới tìm được một cây tre đực von von cỡ ba thước để làm cán cờ.
Hai đêm trôi qua yên ắng, không có động tĩnh gì. Rành trằn trọc, thỉnh thoảng lại ngồi dậy mở lá cờ ra xem. Đầu óc Rành căng thẳng. Hay là cách mạng thất bại rồi? Đêm thứ ba, sao hôm vừa lặn một lúc, cả ấp Phước Hòa bông náo động lên vì lời bán tán xôn xao của các bà, các chị đi buôn bán ở Sài Gòn chạy về. - Quân cách mạng đã về Sài Gòn! - Việt Minh đã nổi lên cướp chính quyền ở dưới đó rồi. - Sài Gòn đánh nhau to lắm, súng lớn súng nhỏ nổ liên hồi. - Cờ đỏ búa liềm nhiều ơi là nhiều, chỗ nào cũng có. Bà con các vùng Hóc Môn, Bà Quẹo, Bình Chánh tay giáo, tay mác, gộc tiến về thành phố như nước vỡ bờ. Nghe bà con bàn tán lòng Rành như mở cờ trong bụng. Rành trèo lên cây ổi nhìn về hướng Sài Gòn thấy có những đám cháy lớn, những vệt đạn lửa vút lên trờ, và nhiều tiếng nổ vọng về. Càng về khuya, tin Sài Gòn khởi nghĩa dội về Củ Chi càng dữ. Rành tắt đèn, giục mấy con đi ngủ. Chúng nó vào giường gần hết, chỉ còn thiếu thằng Đúng. Thằng Đúng lớn rồi, nó biết đường tên mũi đạn nó tránh, không lo lắm. Rành nghĩ như vậy và chuẩn bị sẵn sàng đi làm nhiệm vụ mà thầy Cầm đã giao. Giữa đêm. Sao đầy trời. Chợ Củ Chi tối om. Tiếng trống, tiếng mỏ thôi thúc. Ánh đuốc bừng sáng từ Phú Hòa Đông sang Phú Hòa Tây, đến An Nhơn, An Phú. Cả xã Phước Hiệp không ai ngủ. Ai cũng náo nức chờ đón cách mạng về. Giờ hành động đã đến. Rành giấu lá cờ vào ngực, một tay xách cán cờ, tay cầm con dao phay. Rành không đi theo con đường chính mà lội ruộng, rồi cắt ngang qua mấy khu giồng và bãi tha ma. Cây điệp đây rồi. Cây điệp không biết sống đã bao năm, chỉ biết rằng khi lớn lên Rành đã thấy tán của nó cao lớn một vùng với lớp vỏ xù xì nhăn nhúm. Mỗi lần qua lại Rành thường dừng dưới gốc, nghỉ chân. Mùa hoa điệp Rành thường trèo lên bẻ những nhánh hoa tươi đỏ thắm nhất đem về bày chơi với chúng bạn. Cây điệp đối với Rành quen thuộc lạ thường. Có phải nó muốn căn dặn Rành rằng: Trước đây cô trèo lên cây điệp là để hái hoa. Bây giờ cô leo lên để cắm lá cờ cách mạng. Lá cờ sẽ cổ vũ bà con Củ Chi đứng lên cướp chính quyền. Lá cờ cách mạng là hình ảnh của ấm no và hạnh phúc. Lần trèo lên cây điệp hôm nay khác xưa nhiều. Nó thiêng liêng lắm. Khi lòng người thấy được điều đó thì cảnh vật tự nhiên cũng biến hóa theo lòng người. Cây điệp nó nghiêm nghị là vậy. Đứng bên gốc điệp, Rành nghĩ miên man. Rành xỏ ngọn tre đực vào lá cờ, buộc chặt hai đầu, rồi quan sát xung quanh một lượt trước khi trèo. Với động tác nhanh nhẹn, loáng một cái Rành đã buộc xong cán cờ trên ngọn cây điệp. Rành đứng lên một chạc cây, lắc lắc cán cờ trên ngọn cây điệp, coi lại thật chắc chắn rồi mới tụt xuống. Rành về tới nhà, sao mai lấp ló trên ngọn dứa dại ngoài bờ mương, Rành đi rửa tay chân, thay áo quần rồi vào bàn thờ đốt đèn, thắp ba nén hương, miệng lẩm bẩm cầu khấn cho cách mạng thành công, khởi nghĩa thắng lợi. Trời sáng rõ. Ánh nắng mùa thu trải vàng trên cánh đồng Củ Chi lúa đang thì con gái. Bà con đổ ra ngõ, ra đồng hướng về cây điệp hả hê hoan hô lá cờ cách mạng. Khắp các xã An Nhơn, An Phú, Đức Lập, chợ Củ Chi đều có cách mạng cách mạng. Nhưng bà con xã Phước Hiệp về lá cờ ở xã mình hơn. Vì nó bay phất phới trên ngọn cây điệp một cách ngạo nghễ trước sự run sợ của kẻ thù. Mặt trời đứng bóng. Chú Ba Phi đến nhà Rành. Chú mặc bộ đồ bà ba đen, quần xắn ống cao, ống thấp, vai khoác cây súng “mát”. Đi sau chú là một cậu thanh niên mang một thanh kiếm dài. Cậu này trông giống thằng Đúng? Rồi, thằng Đúng nhà này chứ còn ai. Rành phấn khởi nước mắt chực rơi. Vừa bước tới sân, chú Ba Phi đã nói oang oang: - Thắng lợi rồi. Cách mạng đã thắng lợi rồi. Chú đến đây để hoan hô cháu Rành đã dũng cảm làm tròn nhiệm vụ. Nhân tiện cũng nói cho cháu biết, thằng bé này khá lắm, khá lắm – chú Ba Phi vỗ vai Đúng cười hà hà – Rõ là giống nào khoai đó. Nó giống ba má nó cái tính gan dạ. - Thưa chú còn nhà cháu thế nào? - Cầm hả? Nó đang làm phận sự. Nó là người có học. Chữ nghĩa của nó là vốn quý của cách mạng nên lúc này nó rất bận rộn. - Mời chú vào nhà uống nước! - Chú đến thăm một chút cho cháu yên tâm, chứ cũng đang bận trăm công nghìn việc. Quay sang phía Đúng, chú nói: - Thằng Đúng có ở nhà thì ở lại với má vài giờ, chiều đi làm tiếp nhiệm vụ với ông. - Dạ, cháu xin đi luôn với ông Ba. Sợ má giận, Đúng nhìn má phân bua: - Má ạ, ông Ba bây giờ là Chủ tịch xã mình đó. Con có nhiệm vụ bảo vệ ông Ba. Đó là những ngày cách mạng mùa thu năm 1945. Tiêu đề: Re: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 20 Tháng Bảy, 2013, 01:00:53 pm III. PHẢI CƯỚP SÚNG ĐỊCH DIỆT ĐỊCH CON Ạ!
Năm 1946, Nguyễn Văn Đúng được chánh quyền cách mạng xã Phước Hiệp giao nhiệm vụ giữ chức xã đội trưởng. Rành tuy mới tròn 45 tuổi, nhưng vì khổ cực từ tấm bé, mái tóc điểm bạc, làm cho người già đi, ai cũng cớ ngỡ là Rành đã ngoài 50. Chánh quyền cách mạng xã phân công Rành làm hội trưởng Hội mẹ chiến sĩ. Từ đó, mọi người đều gọi Rành là Má Tám. Má Tám nói với đồng chí Chủ tịch xã: - Ông Ba nghĩ thế nào mà phân công thằng Đúng nhà tôi làm xã đội trưởng? - Cô cho rằng nó không làm được hả? - Nó là con tôi, nên tôi biết tính nết của nó mà. Nó lông bông lắm, chả cầm quân được đâu. Làm xã đội trưởng là phải biết địch, biết ta, biết súng đạn, biết tiến, lùi. Thế mới đánh được giặc. Xã ta sát quốc lộ 1, lại ở cạnh chợ Củ Chi, địch từ Sài Gòn càn lên, từ Trảng Bàng kéo xuống, hoặc từ Hóc Môn qua, Đồng Dù lại. Tứ phía đều có địch. Lúc nào địch cũng có thể tràn vào xã được. Tôi e rằng thằng Đúng không làm nổi xã trưởng đâu. Chú Ba cười khà khà: - Những điều cô Tám nói, thằng Đúng có khả năng làm được cả. Mặt nào nó còn yếu thì có chính quyền, có các chú các bác giúp đỡ nó. Cô cũng phải làm “chính ủy” tham mưu cho nó nữa chớ. Tập thể ủy ban xã cân nhắc rồi, thằng Đúng nó có thể làm tròn nhiệm vụ đó. Nhân đây tôi căn dặn thêm cô phải bày vẽ, chỉ bảo cho nó. Nó không làm tốt nhiệm vụ thì cô gánh chịu một phần đó nhen. Đúng làm xã đội trưởng chưa được một tuần thì gặp ngay một trận càn lớn của địch. Hôm ấy, bầy chim chèo bẻo dậy sớm kêu ra rả, báo hiệu một ngày nắng gắt. Mặt trời vừa nhô lên khỏi lũy tre bên kia bờ sông Sài Gòn, thì súng các cỡ của địch ở quốc lộ 1 đã nổ rầm rầm. Bọn địch dùng súng cối 60 li từ xóm Giồng rót liên tục và xã Phước Hiệp. Vài ba nóc nhà bốc cháy. Đúng đang ăn cơm, nghe súng địch nổ, anh liệng bát cơm xuống mâm, quấn vội chiếc khăn rằn lên đầu, chụp khẩu súng “mát” với ba quả lựu đạn tự tạo lao đi. Má Tám gọi với theo: - Đúng ơi! Cẩn thận nghe con! Địch đã vào đến thôn ba rồi thôn bồn. Đi đến đâu chúng cũng cướp bóc, đốt phá đến đó. Nhà cháy, tiếng kêu khóc thảm thiết của bà già, trẻ con, náo động một vùng. Xã đội trưởng Đúng và các chiến sĩ du kích nén căm thù, dàn thế trận. Một phút sau, súng du kích bắt đầu nổ. Bọn địch buộc phải lùi ra quốc lộ. Trưa, chúng lại tiếp tục tấn công vào xã. Xã đội trưởng Đúng và các chiến sĩ ít súng, thiếu đạn; nhiều người chỉ có giáo mác, nên đành phải rút lui. Địch tiến sâu vào tàn phá hai thôn nữa. Chiều chúng mới rút về Hóc Môn. Trận ấy du kích xã Phước Hiệp chưa làm tốt nhiệm vụ đánh địch bảo vệ dân. Xã đội trưởng Đúng tỏ ra buồn rầu. Hiểu rõ nỗi băn khoăn của Đúng, má Tám nói: - Thua trận này, ta bày trận khác con ạ. Người cầm quân mới qua một trận mà đã nản lòng là người cầm quân kém. Bà con trong xã biết rõ du kích mình, không đánh được giặc là do các con thiếu súng, thiếu đạn, chứ không phải các con thiếu tinh thần gan dạ, dũng cảm. Bây giờ chỉ có cách phải cướp súng địch diệt địch là hay nhất. Má bàn với con thế này, ta dùng mìn tự tạo phục kích ô tô địch chạy trên quốc lộ 1. Bà con đi chợ cho biết, dạo này địch thường có nhiều xe chở súng đạn từ Sài Gòn đi Tây Ninh. Hoặc là ta bí mật cướp bót Trảng Bàng. Cướp được bót Trảng Bàng là lấy được kho vũ khí của chúng ở đó. Đúng sung sướng ôm chầm lấy má: - Ý kiến của má hay quá. Thế mà má chẳng nói cho con biết sơm hơn. Ngay hôm đó, Đúng tổ chức hai tổ chiến đấu, mỗi tổ ba người do Đúng trực tiếp chỉ huy, dùng mìn tự tạo ghép lại, đào hố ngụy trang kĩ, chuẩn bị đánh xe địch. Đúng chọn một quãng đường vắng, có chỗ rút lui thuận lợi, bố trí trận địa. Đúng nói với anh em: - Một xe chở vài thằng lính cũng đánh. Một khẩu súng đối với du kích xã mình lúc này rất quý. Tiêu đề: Re: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 20 Tháng Bảy, 2013, 01:01:38 pm Ngày thứ nhất có một xe địch từ Tây Ninh về Sài Gòn, chở 5 tên lính, súng đạn đầy đủ. Xe vào trận địa phục kích. Mọi người chờ lệnh của Đúng, nhưng Đúng ra hiệu để xe qua. Anh em thắc mắc:
- Ngon ăn thế mà không đánh, xã đội trưởng? - Các cậu không thấy trên xe có ba người dân hay sao? Ngày thứ hai, má Tám giả vờ đi chợ Củ Chi sớm để trinh sát. Trưa về, má cho biết có 3 ô tô từ Sài Gòn lên. Má bảo: - Ba xe chở nhiều lính lắm. Nhưng má e khó đánh lắm. Nếu tụi bay diệt không gọn ba xe, nó vẫn lấy lại súng được thôi. - Con sẽ tùy thời cơ xử trí – Đúng trả lời. Xe địch lên tới Củ Chi dừng lại. Sau đó, chỉ có một xe chở mười tên lính đi tiếp về hướng Tây Ninh. Anh em rất hồi hộp. Chờ cho xe địch lọt vào trận địa phục kích, Đúng ra lệnh phát hỏa. Bốm cụm mìn cùng nổ một lúc, lật chiếc xe xuống ruộng, mười tên lính đều chết và bị thương. Du kích thu mười khẩu súng và bốn thùng đạn, trong đó có cả một khẩu trung liên Bơ-ren đầu bạc. Mười khẩu súng chiến lợi phẩm đầu tiên quý thật, nhưng chả thấm vào đâu dso với lực lượng du kích xã ngày càng đông tới mấy trung đội. Đúng hỏi má Tám: - Má có cách nào giúp con lấy được kho vũ khí địch ở Trảng Bàng không? Có lấy được kho đó mới có vũ khí trang bị cho du kích, và chống được giặc càn má à! Má Tám bóp trán suy nghĩ: Được rồi, mai má đi chợ bán bánh xem tình hình thế nào đã. Má làm ngay một rổ bánh ít thật ngon. Chiều tối má sang nhà dì Bảy Chánh, vì má biết dì Bảy chuyên buôn bán ở miệt đó và quen biết bọn lính ở Trảng Bàng. Má nói với dì Bảy: - Ngày mai dì cho tôi theo đi chợ Trảng Bàng cho vui hen! Dì Bảy Chánh là người tốt bụng, thật thà, luôn luôn hướng về Cách mạng, nhưng vì con đông, nhà nghèo nên dì chưa đóng góp được gì cụ thể. Biết gia đình má Tám là gia đình cách mạng, dì Bảy cũng muốn làm một việc gì đó để góp phần giúp đỡ anh em đằng mình. Có lần dì cho du kích xã cả một gánh bánh tráng, nhưng xã đội Trưởng Đúng không lấy vì thấy dì nghèo. Nay nghe má Tám nói vậy, dì nhận lời ngay: - Dạ! Có chị Tám cùng đi với em thì vui lắm. Mờ sáng. Hai người gánh hai gánh bánh nặng ra đi. Vừa đi má Tám vừa hỏi: - Lâu nay đi buôn bán ở đó có gặp khó khăn gì không? - Dạ, buôn bán với bà con mình thì tốt, chớ buôn bán với bọn lính ngụy ở đồn Trảng Bàng thì rầy rà lắm. Nó ăn chịu, mình nhớ đòi thì nó bảo chưa có tiền, mình không nhớ đòi thì nó lờ đi. Nợ lâu là nó quỵt luôn. Từ quan đến lính đều như vậy. - Nó nợ nhiều, quỵt nhiều thì mình không thèm bán cho nó nữa. - Đâu có được chị Tám. Mình không bán cho nó, nó làm tình làm tội, “đá thúng đụng nia” chớ nào có yên. - Đồn Trảng Bàng có chừng bao nhiêu đứa? - Hai chục đứa với ba đứa gác kho súng không thuộc lính của đồn, mà thuộc quân biệt phái của Sài Gòn. Tôi có đứa cháu họ bị bắt lính trong đó nên nó nói với tôi như vậy mà. - Kho súng có xa đồn không? - Không xa, nhưng khuất một bức tường. - Hằng ngày bọn lính ra chợ bao nhiêu đứa, ở nhà bao nhiêu đứa? - Ngày thường chợ thưa, chúng ra chợ chơi ít. Hôm chợ đông như hôm nay hầu như chúng ra hết ngoài chợ. - Chúng nó mang theo súng không? - Đứa mang theo ra chợ, đứa không mang. Chúng có mang cũng để làm phép, chớ ra tới chợ thì dựng bừa bãi ở lều, ở sạp của bạn hàng quen, rồi đi nhậu nhẹt, tán gái, chớ có màng chi tới súng đạn. - Cháu của dì Bảy tên chi? - Tên Bình. Phạm Văn Bình. - Hôm nay nếu cháu nó có ra chơi dì bảo nó gặp tôi chút xíu, được không? - Dạ, được chớ! Má Tám liên tiếp đi bán bánh ba phiên chợ để trực tiếp nắm tình hình địch. Rồi bá so những lời dì Bảy Chánh nói với những gì má thu thập được, thấy khá khớp nhau. Qua ba lần gặp Phạm Văn Bình, má Tám đã tranh thủ được Bình. Bình nhận nhiệm vụ của má phân công. Má về trao đổi với Đúng: - Tình hình địch sơ hở như vậy đó. Nhưng muốn chắc ăn, tụi bay cử người đi trinh sát một lần nữa. Đúng muốn tổ chức cướp đồn ngay, nhưng má Tám không cho,bắt phải cử người đi lại nhiều lần, nắm tình hình địch cho chắc và nhân thể thử thách Phạm Văn Bình luôn. Tiêu đề: Re: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 20 Tháng Bảy, 2013, 01:02:05 pm Hôm du kích xã họp thông qua phương án cướp kho vũ khí đồn Trảng Bàng lần cuối cùng, có chú Ba Phi chủ tịch đến kiểm tra cho ý kiến. Má Tám được chú Ba chỉ định phát biểu trước.
Má Tám đứng lên đưa hai tay quấn lại chiếc khăn rằn trên đầu, rồi trình bày một mạch lưu loát, làm cho xã đội trưởng Đúng cũng không ngờ má anh lại am hiểu về quân sự đến như thế. Má nói: - Tình hình địch tôi đã nhiều lần báo cáo với chú Ba và xã đội rồi. Cách đánh của thôi là thế này: Ta sẽ đánh vào ngày 23 âm lịch, đúng phiên chợ Tết, vừa là ngày chủ nhật, địch càng sơ hở. Lực lượng du kích có khoảng ba chục tay súng đột nhập vào trong bót, cộng với năm chục người nữa ở vòng ngoài, giả vờ đi chợ, sẵn sàng hỗ trợ khi bất trắc, cũng là lực lượng chuyển vũ khí về phía sau. Tôi và dì Bảy Chánh đã có cách dụ địch ra chợ và giữ chân chúng ở đó bằng cách mượn các bà, các chị tổ chức cho chúng một bữa nhậu no say. Phạm Văn Bình sẽ đón lực lượng ta vào cổng sau của bót và khóa cổng trước lại. Việc cuối cùng là ta thủ tiêu ba tên lính gác kho. Tất các các bàn, các chị Hội mẹ chiến sĩ hôm ấy đều đi chợ để làm lực lượng chuyển vũ khí và cầm chân địch. Bót Trảng Bàng gần chợ, ta đánh bằng cách đó êm hơn, cái chính là lấy được kho súng mà không thiệt hại đến bà con. Chú Ba Phi ngồi nghe vừa nhổ râu, vừa gật đầu lia lịa. Khi má Tám dứt lời, chú hỏi ngay: - Nếu bọn địch không đi chơi chơ hết thì sao? - Lúc ấy, theo sự hướng dẫn của Bình, xã đội trưởng Đúng trực tiếp chỉ huy một phần lực lượng, trong số ba chục người đã ém vào bên tỏng sẽ giải quyết bằng cách dùng võ tay không và dao găm. Tránh nổ súng, vì nổ súng thì bọn lính ngoài chợ sẽ chạy về tiếp ứng. Chú Ba Phi rít một hơi thuốc rê thật dài, phả khói trắng đầy gian nhà, cười vang: - Giỏi. Giỏi lắm! Hay lắm! Giá cô Tám còn trẻ, tôi bố trí làm xã đội trưởng thì tuyệt! – Chú quay sang phía Đúng - Thằng Đúng có nhất trí với kế hoạch của má cháu không? - Báo cáo ông Ba, cháu hoàn toàn nhất trí với kế hoạch của má cháu ạ! Chú Ba Phi nói: - Thay mặt Ủy ban, tôi đồng ý kế hoạch này. Từ nay đến ngày 23 âm lịch, còn mấy hôm nữa, phải hết sức giữ bí mật, để lộ là hỏng việc lớn. Phải bám sát địch liên tục xem nó có đánh hơi, hoặc đề phòng gì không, phải lla chặt chẽ với Phạm Văn Bình. Nếu có gì thay đổi phải hỏi ý kiến lại tôi nghen. Ngày 23 âm lịch đã đến. Buổi sớm đẹp trời, người đi chơi chợ Tết chặt đường số 1. Từng tốp, từng tốp du kích đi xen lẫn vào đám bà con. Súng đạn họ giấu kín vào gánh chiếu, gánh củi, đồng hàng rông như người đi chợ. Trận chiến đấu diễn ra đúng như kế hoạch đã định. Chỉ có khác một chút khi ba tên gác kho thấy du kích bật thần đột nhập, hoảng quá liền giơ tay xin hàng. Tên mặt rỗ, chắc là chỉ huy, run rẩy trao chìa khóa kho cho xã đội trưởng Đúng và còn chỉ cho du kích đào lấy nốt mấy hòm đạn súng cối chôn sâu gần mấy ngách tường gạch. Chợ Trảng Bàng đang lúc rầm rộ đông nhất, thì du kích đã rút. Máy chục khẩu súng các loại, với bốn chục thùng đạn của địch, ngay trưa hô đó đã được chuyển về đến Phước Hiệp. Lúc ấy nghe bà con nói quân tiếp viện từ chợ Củ Chi lên chi viện cho quân Trảng Bàng, chú Ba Phi cười rung chòm râu bạc. Số vũ khí chiến lợi phẩm huyện phân phối ưu tiên cho xã Phước Hiệp. Số còn lại chia cho các xã khác. Nhờ “cái vốn” ban đầu ấy, lực lượng du kích xã Phước Hiệp càng đánh càng mạnh, càng trưởng thành. Câu nói của má Tám Rành “Phải cướp súng địch” trở thành tư tưởng tiến công và phương châm tác chiến của du kích xã Phước Hiệp trong suốt thời kì chiến tranh chống Pháp và đánh Mĩ. Tháng 12 năm 1949 giặc Pháp mở một chiến dịch càn quét quy mô lớn vào vùng tam giác: Đức Hòa, Củ Chi, Trảng Bàng. Khi một cánh quân chúng dẫn xác vào xã Phước Hiệp, đã bị lực lượng du kích trừng trị đích đáng, gây cho chúng nhiều thiệt hại. Mười ngày đêm ròng rã, một tiểu đoàn địch, có máy bay yểm trợ, vẫn không sao “làm cỏ” nổi xã Phước Hiệp như chúng rêu rao. Tất cả các đợt tấn công của địch đều bị du kích Phước Hiệp đánh bật ra. Ngày thứ mười một chúng phải rút lui, sau khi bị thương vong lớn về người và cả xe cơ giới. Nhưng trong trận chống càn đó, xã đội trưởng Nguyễn Văn Đúng, người chỉ huy xuất sắc của xã đã hi sinh trước khi địch tháo chạy. Má Tám đang làm nhiệm vụ tiếp tế cơm nước cho du kích đánh giặc, nghe tin Đúng chết, má ngất xỉu. Tỉnh dậy, má lau khô nước mắt, chạy lại bên Đúng, ôm chặt xác con vào lòng. Má gọi qua tiếng nấc; - Đúng ơi! Đúng! Sao con chết sớm quá vậy? Kẻ thù còn hung ác lắm, côn không sống thêm để cùng đồng đội diệt chúng nó. Các em con sẽ thay phần con. Con đã làm tròn nhiệm vụ, thôi con yên nghỉ nghen. Noi gương xã đội trưởng Nguyễn Văn Đúng và quyết trả thù cho anh, cả Phước Hiệp sau khi đưa anh về nơi an nghỉ cuối cùng, đánh dành ra một ngày đêm đào địa đạo. Tất cả chuẩn bị cho cuộc chiến đấu mới. Tiêu đề: Re: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 20 Tháng Bảy, 2013, 01:02:28 pm IV. GIẾT GIẶC LÀ NHIỆM VỤ CỦA CÁC CON
Nguyễn Văn Sóc (Tư Sóc) sau khi mai táng anh Hai của mình là Nguyễn Văn Đúng xong, về đến nhà bỗng nhiên tính tình thay đổi, lầm lì hẳn. Hai hôm sau, anh xách con dao bầu chào cả nhà nói là đi bộ đội. Má Tám hỏi: - Mày biết bộ đội ở đâu mà đi? Sóc vừa nói vừa bước ra khỏi nhà: - Con đi tìm. Phải tìm cho được bộ đội để xin đi chiến đấu, trả thù cho anh Hai con. Cả nhà còn đang ngỡ ngàng, Sóc bước đi thật nhanh, như sợ ai giữ lại. Ra khỏi sân, Sóc quay lại nói: - Ba má và các em yên tâm. Đánh thắng giặc con sẽ trở về. Má Tám lao theo Sóc, ôm chầm lấy con: - Sóc! Sóc ơi, má không ngăn cản con đi bộ đội đâu. Nhưng con phải dừng lại một chút để má dặn dò con đã. Con vào nhà đi. Sóc đành theo má trở vào nhà. Cả nhà quây quần đông đủ. Má Tám lại phía bàn thờ có ảnh Nguyễn Văn Đúng, thắp hai ngọn nến và ba nén hương. Quay về phía các con, má nói giọng trầm trầm: - Anh Hai các con đã hi sinh giữa cái tuổi bắt đầu làm được việc lớn. Má đứt ruột, đứt gan. Ngày xưa má cực khổ tủi cực nhiều, vì đế quốc thực dân, vì phong kiến địa chủ. Cách mạng thành công thì má tuổi đã cao, sức đã yếu chẳng đóng góp gì được bao nhiêu. Ba các con thì đau yếu, không đóng góp gì được cho cách mạng nữa, nên má trông mong vào các con. Rồi đây thằng Sóc, thằng Dé, Hè, Huội, Sướng, Nảng và thằng Luông đều phải tiếp bước nhau đánh giặc. Non sông đất nước còn giặc, thì giết giặc là nhiệm vụ của các con. Hôm nay Sóc đi tìm bộ đội để xin đi đánh giặc, ba má đời nào ngăn cản mà con vội vội vàng vàng không kịp chuẩn bị cái gì cả. Con nói cho ba má biết, con đi về hướng nào? Sóc đứng dậy nhìn các em, rồi thưa với ba má: - Con sẽ tìm đi về hướng Đông Thành, Đồng Tháp! Má Tám cười âu yếm: - Ôi, con đi về hướng đó nhất định gặp bộ đội mình. Con ra đi, ba má chẳng kịp chuẩn bị thứ gì. Má móc trong túi áo lấy ra một gói vải nhỏ nhỏ bằng bao diêm nói với Sóc: Ba má cho con đôi bông tai, đề phòng khi ốm đau, bán lấy tiền uống thuốc. Khi đi đến nơi, tìm được đơn vị bộ đội rồi, con nhớ viết mấy chữ gởi về cho ba má biết tin nghe con! - Dạ, ba má yên tâm, con sẽ nhớ. Sóc ra đi chỉ mặc một bồ đồ bà ba đen cũ, đội chiếc nón lá xơ vành như người đi kiếm củi. Một năm sau, gia đình mới nhận được thư Sóc gởi về. Sóc viết: “Kính gửi ba má và các em! Con ra đi đến nay tròn một năm. Con có tội với ba má là không viết thơ về sớm để cả nhà trông đợi. Nhưng mong ba má thông cảm và tha thứ cho con. Hồi đó con đi, đi mãi, vừa đi vừa làm mướn để kiếm ăn, mất bốn tháng con mới tìm được đơn vị bộ đội. Cũng may cho con, hôm áy một đơn vị bộ đội vượt sông Vàm Cỏ. Bộ phận cấp dưỡng đi sau cùng, vì có nhiều nồi niêu, soong chảo nên phải đi nhờ ghe của đồng bào. Lúc đó, con đang chèo ghe mướn cho vợ chồng ông lão ở bến Lộc Giang. Con nhận ra thằng Soạn, con dì Bảy Chánh làm cấp dưỡng cho đơn vị. Soạn giới thiệu con với ông chỉ huy. Ông chỉ huy tên là Hùng, người cao, to, râu cứng và thưa, lông mày rậm. Ông ấy nói rằng ông đã gặp má hồi đầu năm ngoái khi má dẫn đầu đoàn đại biểu Hội mẹ chiến sĩ ở Củ Chi ra tận Hố Bò thăm thương binh. Ông giữ con lại làm liên lạc cho đại đội. Đây là đơn vị bộ đội địa phương thuộc tỉnh mình. Báo tin cho ba má và các em mừng: con đã chiến đấu được mười trận, tự tay diệt được năm tên địch, thu bốn khẩu súng. Con được tỉnh đội cấp một bằng khen. Thằng Soạn nó bảo rằng con sướng hơn nó, vào bộ đội được sau mà được đánh giặc. Nó vào bộ đội trước mà cứ lo nấu chơm hoài. Đại đội trưởng Hùng giải thích: “Nấu cơm cho bộ đội ăn cũng là nhiệm vụ cách mạng”. Từ đó Soạn không so bì với con nữa. Bá má có mạnh khỏe không? Các em con có mạnh ngoan không? Ba má đừng lo gì cho con cả, con sẽ giết thật nhiều giặc để trả thù cho anh Hai. Con của ba má và anh của các em đây”. Tiêu đề: Re: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 20 Tháng Bảy, 2013, 01:03:16 pm Bốn năm sau, Sóc có dịp đi phép về thăm nhà. Lúc ấy, anh đã là đại đội trưởng bộ đội đặc công. Má Tám bắt anh phải lấy vợ. Má nói:
- Con đã đi biền biệt bốn năm mới trở về. Lần này con ra đi với trọng trách nặng nề hơn. Biết bao giờ con mới về nữa. Ba má thì ngày càng già yếu, nên má khuyên con nên lấy vợ, rồi đi đâu thì đi. - Con còn phải đi đánh giặc thì lấy vợ làm chi hả má? - Đánh giặc cứ đánh giặc, lấy vợ cứ lấy vợ ai có bảo máy lấy vợ rồi ở nhà với vợ đâu. - Lính tráng sống nay, chết mai ai người ta ưng hả má! - Con nghĩ vậy chớ. Giá ở làng này khá nhiều đứa nết na. Má chỉ sợ con kén cá, chọn canh thôi. Sóc chiều ý má để má vui lòng. Tôi hôm ấy má Tám mời thím Lương và mợ Lành là người bà con sang nhà chơi để hỏi ý kiến. Má khêu ngọn đèn dầu cho sáng cả gian nhà, mời thím Lương và mợ Lành ngồi xuống chiếc chõng tre, vừa ăn trầu, vừa uống nước trà. Má nói với thím và mợ của Sóc: - Thằng Sóc nó được nghỉ phép thăm nhà một tháng. Tôi muốn nhân dịp này tổ chức cưới vợ cho nó. Thím Lương với mợ Lành là người trong họ, tôi muốn nhờ thím với mợ giới thiệu cho cháu vài đám để chọn, chớ chẳng phải mai mối gì. Ý của tôi, tiêu chuẩn trước tiên phải là người có đạo đức tốt. - Làm dâu nhà này phải là con nhà có tham gia hoạt động cách mạng. Thím Lương vừa têm trầu vừa nói – Tôi giới thiệu cháu Nga, con bà Đài có được không? Mợ Lành vừa quệt nước cốt trầu vừa nói: - Con Nga thì đẹp gái thiệt, trông bề ngoài nó có vẻ thùy mị, nết na, nhưng chấm về điệm lao động chân bùn, tay lấm thì con bé ấy hơi lười. Chồng đi bộ đội mà vợ lười thì lấy gì mà nuôi con? Theo tôi, cháu Sóc mà lấy con Vân nhà bà Sáu Nhường thì xứng đôi vừa lứa. Bà Sáu Nhường cũng trong Hội mẹ chiến sĩ. Vân lại tham gia du kích. Chỉ có ba nó là ông Điều chẳng tham gia việc gì cho cách mạng suốt ngày lo đóng cối xay với uống rượu. Nhưng Sóc nó lấy cháu Vân về làm vợ chớ có lấy ông Điều đâu mà lo. Thím Lương, mợ Lành tiếp tục nêu tên vài cô nữa. Má Tám cảm ơn hai người. Khi thím Lương và mợ Lành ra về, má Tám hỏi Sóc: - Bao nhiêu đám các bà ấy giới thiệu, con có chọn được đám nào không? - Sóc cười, lắc đầu: - Hãy chờ dịp khác má ạ. Việc vợ con là việc lâu dài. Có muộn gì đâu. - Mày lại bàn lùi rồi. Lấy vợ cho mày cũng phải lẹ như đánh giặc vậy. Hễ thấy có dịp rồi thì mình cứ việc làm đại đi là xong. Hai mẹ con đều im lặng, mỗi người theo đuổi một ý nghĩ. Má Tám quyết cưới vợ cho Sóc. Còn Sóc thì nghĩ sao cũng được, nếu không tìm được cô nào càng tốt. Anh đang nghĩ xem trong xóm có những cậu thanh niên nào đạt tiêu chuẩn để anh sẽ chọn vào đơn vị đặc công của anh. Má Tám vừa nhai trầu vừa nghĩ ngợi vền hững cô gái má được giới thiệu. Có cô má biết nhiều, có cô má biết ít. Nói chung các cô đều là con gái trong xã này cả, ba má họ đều là những người lao động cần cù, tha thiết hướng về với cách mạng. Má không dám chê, khen đám nào cho thật rõ ràng. Nhưng, nhìn chung má vẫn cảm thấy còn những chỗ băn khoăn chưa thật vừa ý về các cô đó, huống chi thằng Sóc nó lưỡng lự là phải. Lát sau, má nói: - Sóc à, bây giờ đến lượt má giới thiệu cho con một cô ở ấp Phước Bình là Nguyễn Thị Quen, con ông Tiến làm bên Nông hội xã, và bà Lộc ở Hội mẹ chiến sĩ. Anh nó tên là Hội cũng đi bộ đội năm ngoái. Cô Quen vừa tham gia du kích vừa là ủy viên Ban Chấp hành xã Đoàn. Hồi con đi bộ đội nó mới mười sáu tuổi, bây giờ nó tròn hai mươi. Về sắc đẹp thì trung bình, nhưng cô ấy rất nết na, vào loại dễ thương nhất xã này. Ông Tiến trước đây tham gia hoạt động bí mật cho đến ngày Tổng khởi nghĩa như ba con. Quen nó rất mến má, mỗi lần đi họp xã, họp huyện là nó tìm đến ngồi bên má để têm trầu, bửa cau cho má. Nó thường hay nhắc đến con, như hỏi má: “Anh Sóc lâu này có gởi thư về không má? Anh Hội con cũng ở bộ đội may ra thì được gặp anh Sóc ngoài mặt trận”. Theo má thì cô ấy được đó. Tao mà bằng lòng thì ba mày cũng bằng lòng. Mày mà thấy được thì nên đi lên thăm ông bà trên đó, coi như con đi chiến đấu lâu ngày, nay có dịp ghé về thăm bà con làng xóm, nhất là họ cùng gia đình bộ đội với mình, chẳng ai nghĩ ngợi gì đâu. Nhân đó con xem mặt nó luôn. Hai má con nói chuyện rất khuya. Sóc kể chuyện bốn năm qua anh đánh giặc ở những chiến trường nào. Sóc đã gặp bao nhiêu bà má hết lòng thương yêu bộ đội như má vậy. Má Tám ngồi nghĩ quanh quẩn, lại động viên Sóc lấy vợ: “Ba má già rồi, cần có cháu nội mới vui. Mày là anh của sắp nhỏ, mày lấy vợ thì lũ em mày mới tính chuyện lập gia đình được”. Tiêu đề: Re: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 20 Tháng Bảy, 2013, 01:03:44 pm Sáng hôm sau má Tám giục Sóc đi Phước Bình sớm. Má nói:
- Đi sớm thì mới gặp được đông đủ gia đình người ta. Xế chiều, Sóc mới trở về. Nhìn nét mặt Sóc tươi tỉnh, má Tám càng vui. Má hỏi: - Trưa nay con ăn cơm ở đâu? Sóc nhìn má cười không trả lời. - Ông bà trên ấy mời cơm à? - Dạ! - Con có gặp con Quen không? Sóc lại nhìn má cười, không trả lời. - Thế nào, con có đồng ý không, để ba má lo làm lễ hỏi? Ít lâu sau má Tám đi hỏi vợ cho Sóc. Liền sau đó đám cưới của Sóc với Quen được tổ chức đơn giản, đông vui. Hết một tháng nghỉ phép, Sóc trở lại đơn vị. Quen tiễn chân anh đi khỏi cánh đồng làng. Hai dòng nước mắt của Quen ướt đẫm vai anh. Sóc mở túi áo ngực lấy ra một gói vải nho nhỏ, đưa cho vợ, nói âu yếm: - Đây là đôi bông tai của má cho anh hồi mới đi bộ đội. Anh trao lại cho em làm vật kỉ niệm ngày cưới của vợ cơ mà. Quen cũng nhẹ nhàng tháo chiếc nhẫn cuối ở tay mình, luồn vào ngón tay của Sóc: - Anh còn đi xa, nên giờ chiếc nhẫn này để luôn luôn nhớ tới em. Mặt trời đã lên cao. Những triền gò bên kia đường quốc lộ nhấp nhô. Chân trời thoáng đãng. Đồng lúa sắp chín, tỏa hương ngào ngạt, hai người không muốn rời nhau. Sóc lên đơn vị được hai tháng thì nhận được thư của Quen. Quen viết: “Anh thương yêu! Chúng mình thương nhau rồi lấy nhau ngắn ngủi quá, chưa kịp nói hết tâm tình đã phải xa nhau. Nhưng em cũng biết rằng tình nghĩa vợ chồng là tình nghĩa trăm năm, rồi chúng mình sẽ có dịp gần nhau, tâm tình với nhau nhiều hơn. Xa anh, em nhớ anh vô cùng. Nhưng em biết không thể giữ anh ở nhà lâu được, vì như anh đã nói: Chiến dịch sắp mở rồi, đơn vị đang mong đợi anh. Từ ngày anh đi, sức khỏe của em vẫn bình thường. Chỉ có điều là dạo này em hay thèm chua và thích ăn vặt. Nhân đây em báo tin cho anh mừng là em đã nghén rồi. Em được điều lên Huyện Đoàn công tác từ tháng trước. Công việc dạo này bận nhiều quá anh ạ! Tuy vậy, em vẫn ghé thăm má luôn. Sức khỏe của má dạo này hơi yếu. Ba ho luôn. Bác sĩ khám nói là ba đau phổi nặng. Em lo quá! Anh nhớ chú ý giữ gìn sức khỏe nghe anh! Em ngày đêm cầu mong cho anh luôn luôn mạnh gỏi, chân cứng đá mềm, đánh trận nào cũng thắng giòn giã. Em luôn luôn mong tin anh! Sóc đi mãi, đi mãi. Anh viết thư về cho vợ biết lúc thì anh lên Long Nguyên, khi về Phú Thứ, lúc đánh gần sát Sài Gòn, gặp cả người làng đi chợ mà không dám gọi vì sợ lọ. Quen sinh được cậu con trai thật kháu khỉnh. Vì thấy Quen thương nhớ chồng đi xa hay khóc nhiều, má Tám đặt tên cho cháu đích tôn của mình là Nguyễn Văn Rưng. Nhận được tin vợ sinh con trai đầu lòng, Sóc rất mừng, nhưng anh vẫn không về thăm gia đình được. Chiến dịch mở liên tiếp. Cuộc chiến đấu vô cùng khẩn trương. Năm ấy, Hôi, anh trai của Quen gặp Sóc ở mặt trận Bến Cát, lúc ấy Sóc đã lên tiểu đoàn trưởng bộ đội đặc công. Ngày 30 tháng 5 năm 1954, Sóc chỉ huy đơn vị đánh vào thị trấn Hiệp Hòa. Anh đã hi sinh anh dũng, đơn vị anh cắm lá cờ đỏ sao vàng lên nóc đồn chính trong thị trấn. Tiêu đề: Re: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 17 Tháng Tám, 2013, 05:36:27 pm V. LỚN LÊN CÁC CHÁU PHẢI TRỞ THÀNH CHIẾN SĨ
Được tin con gái thứ ba là Nguyễn Thị Săn bệnh nặng, chồng nó hoạt động thoát li, má Tám tất bật chuẩn bị đi thăm con. Má đem theo một kí nếp hương, mười lăm quả trứng gà. Má tần ngần suy nghĩ. Nó bệnh nặng chắc là chỉ ăn cháo, phải cho nó thêm một kí đậu xanh để nấu cháo. Lại còn quà cho lũ trẻ nhỏ. Bầy con nó đông quá, biết cho cái gì mới đủ bây giờ. Má lấy thêm một kí bắp ngô và một kí đậu phộng bỏ vào chiếc túi vải. Ra sân, ngoảnh nhìn cây mận góc hè đang độ chín, má Tám lại tìm cây choèo mươi chùm. Chiếc túi vải căng phồng má mang nặng trình trịch. Má khoác túi lên vai, chống gậy, rảo bước. Nhà chị Săn cách nhà má nửa ngày đường. Trời mùa hè, nắng như đổ lửa, má đi một mạch không nghỉ. Má mệt gần đứt hơi, nhưng má nghĩ phải đi như vậy thì mới kịp quay trở về trong ngày. Dạo này sức khỏe ba sắp nhỏ tức thầy Cầm yếu lắm, má không thể ở lại với con gái và bầy cháu ngoại được. Đến nơi, thấy nhà cửa bề bộn quá, má bàn với chị Săn: - Hai vợi chồng con đề là du kích, việc nhà việc nước bận rộn, con cái lại đông, làm sao trông nom được chúng nó? Má ngồi sát lại đầu giường, một tay nâng đầu con gái, một tay bưng chén thuốc đang bốc hơi đổ cho con. Má nói tiếp: Chúng nó là con của mình mà, cũng là cái vốn quý của xã hội. Đẻ ra được thì phải nuôi chúng nên người. Mày xem, mười anh chị em chúng mày tao nuôi thế nào? Tao tính với mày thế này để rồi mày bàn lại với chồng mày xem sao. Mày đưa thằng bé út về trên nhà cho tao nuôi. Mày đang bệnh, không có sữa cho nó bú. Nhìn cái thằng nhỏ bụng ỏng, đít teo đó tao đứt ruột lắm, không khéo nuôi thì nó chết mất. Chị Săn nằm nghe má nói, hai dòng nước mắt đầm đìa. Suốt cuộc đời má vất vả, ở mướn, làm thuê, nuôi chồng và một đàn con, nay còn lo đàn cháu. Tình thương của má là tình của biển cả bao la, vô bờ bến. Một tuần sau chị Săn khỏi bệnh. Chị đưa cậu con trái út là Huỳnh Văn Cường, vừa biết bò, lên ở với bà ngoại. Chị nói nửa đùa, nửa thật: - Bà cho cháu ở luôn trên này nhen. Má Tám cười xởi lởi: - Nó mà đã lên đây ở với bà ngoại thì mày đứng có hòng đưa nó về. Bé Cường được bà ngoại cưng và cho “ưu tiên” mọi thứ. Bé Cường thích nhất là món lòng đỏ trứng gà đánh kem và món xương heo hầm gạo. Chẳng bao lâu bé Cường đã lớn trông thấy. Bà đi làm ở bờ mương bờ ruộng, cõng Cường sau lưng. Tối về nhớ má, Cường lại bú vú da của bà. Bà bảo Cường: - Mai cho mày ở với má mày hen! Cường nũng nịu, lắc đầu: - Cháu ở với ngoại thôi! Đến tuổi đi học, bà xin cho Cường vào trường làng. Chẳng bao lâu Cường đã biết giúp ông bà đuổi gà, quét sân. * * * Hồi nghe tin Sóc hi sinh gần một năm, má Tám ân cần nói với Quen: - Con à. Má nghĩ sao nói vậy, nếu có điều chi không phải thì con đừng giận. Chồng con hi sinh sắp đến ngày giỗ đầy năm rồi. Chẳng lẽ con cứ ở vậy nuôi con, thờ chồng hay sao? Tục lệ ngày xưa người ta cho như vậy là người đàn bà chung thủy. Bây giờ mình nghĩ khác đời sống mới rồi, chữ chung thủy cũng phải hiểu cho nó mới, chứ đừng có nghĩ hẹp như trước. Theo ý má, con cũng nên tính chuyện lấy chồng đi. Đàn bà con gái, việc sinh con đẻ cái nó có thì của nó. Dù con có đi bước nữa, má coi con như là con đẻ của má. Nay tuy con vẫn làm công tác trên huyện, má thấy con bận rộn vất vả quá. Lúc thường đã vậy, lúc địch nó nghi ngờ dòm ngó thì phải chui bờ rúc bụi, nằm mương, nằm hầm, có khi còn phải vào tù, ra khám nữa. Má đắn đo mãi, hôm nay mới bàn với con việc này. Má dừng lại thăm dò thái độ của Quen, thấy chị lấy khăn lau nước mắt và vẫn ngồi lặng lẽ nghe má nói. Má bèn nói tiếp: - Má định đem thằng Rưng về nuôi. Quen òa lên khóc nức nở. Má âu yếm lau khô nước mắt cho con dâu, nói nhẹ nhàng: - Má chẳng hề suy nghĩ không phải về con đâu. Con là con dâu thảo, hiền. Má nghĩ mấy đứa em thằng Sóc đi vắng luôn. Nhà cửa vắng vẻ lắm. Má đem thằng Rưng về nuôi để là cho vui cửa, vui nhà; lại có thằng Cường nữa, chúng nó sẽ có anh có em. Với lại cũng để cho con rảnh tay để gây dựng cơ sở cách mạng với anh em. Tiêu đề: Re: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 17 Tháng Tám, 2013, 05:36:59 pm Sau đó một tháng, Nguyễn Văn Rưng về ở với ông bà nội. Má Tám cũng dành cho rưng mọi thứ như trước đây “ưu tiên” cho Cường. Rưng nhỏ hơn Cường một tuổi, nhưng vóc người có vẻ chững chạc hơn. Nhưng nuôi Rưng khổ hơn nuôi Cường. Cường phàm ăn. Nhà con đàn, con lũ có khác. Rưng kén ăn. Thịt là phải thịt nạc, cá thì không còn tí xương. Nhưng má Tám chiều được tất cả. Nó là con một mà.
Hai anh em lớn vèo vèo như tằm ăn lá dâu. Cả hai đều ngoan ngoãn, chăm học, chăm làm lụng giúp ông bà. Từ lúc còn bé xíu, cho đến lúc tụi nó trưởng thành, má Tám thường nhắc đi nhắc lại với các cháu của mình một câu làm cho Cường và Rưng nhớ mãi: “Các cháu phải yêu nước, yêu đồng bào của mình. Lớn lên các cháu đều phải trở thành chiến sĩ. Các cháu không được làm điều gì có hại cho cách mạng, nhân dân”. Đó là những năm sau đồng khởi. Huỳnh Văn Cường và Nguyễn Văn Rưng mỗi ngày một khôn lớn, má Tám dạy cho hai đứa biết theo dõi, nắm mọi hoạt động của địch để báo cáo cho chú Bảy Vinh xã đội trưởng. Hai đứa còn biết rải truyền đơn vào quận Củ Chi và tiếp tế lương thực cho đội nữ du kích của cô Lê Thị Sương ngoài địa đao. Cường và Rưng làm được nhiều việc khá xuất sắc, chính má Tám cũng không ngờ rằng các cháu của mình thông minh và dũng cảm đến vậy. Nhất là chuyện hai anh em cứu đồng chí Chủ tịch huyện. Hôm ấy trời mưa lâm râm. Một toán biệt kích địch bất ngờ lùng sục vào làng. Đồng chí Hai Chánh, Chủ tịch huyện đang bị bệnh, được má Tám nuôi trong nhà. Nghe súng địch bất thần nổ ở đầu làng, má Tám ra hiệu cho anh Hai luồn ra phía sau sườn. Địch không đi ngõ trước như thường lệ, lần này chúng đạp rào luồn vào ngõ sau. Má Tám đang nghĩ cách để cứu đồng chí Chủ tịch, vì má cho rằng địch vào đúng đường rút của anh Hai. Nguy hiểm vô cùng. Tính mạng của đồng chí Chủ tịch như ngàn cân treo sợi tóc. Đúng lúc ấy Cường và Rưng giả vờ tranh nhau chiếc ná cao su. Cường giật ná cao su chạy ra hướng địch đang ập vào. Rưng vừa khóc vừa đuổi theo. Tên sĩ quan ngụy tay cầm khẩu súng lục, má đỏ bừng như đang say rượu, lớn tiếng hỏi: - Đ…m, hai thằng nhỏ, chơi ở đây có thấy một thằng cộng sản mặc đồ bà ba đen chạy qua không? Hả, hả! Cả hai đều nói: - Có một tên lạ mặt vừa chạy hướng kia kìa, chẳng biết có phải là cộng sản không. - Thiệt hay dóc đó hai đứa? - Thiệt mà, thiệt mà! Thế là các em đã chỉ chúng đi lạc hướng khác. Tiếng súng xa dần. Cường và Rưng hớn hở nhảy cò chân, vừa đi vừa chạy vào nhà. Má Tám ôm chặt hai cháu vào lòng, xúc động rưng rưng nước mắt. Hai đứa cũng rất thích được bà giao những nhiệm vụ cụ thể. Ví dụ như điều tra địch sắp sửa càn quét lớn vùng nào, đơn vị nào của chúng vừa đến căn cứ Đồng Dù, địch bố trí pháo ở nơi nào nhiều, nơi nào ít… Má Tám dạy hai cháu cách lăn lê, bò toài, biết tránh đạn pháo, cách ẩn nấp máy bay lên thẳng, và biết cách đánh lừa bọn biệt kích… Ba bà cháu gắn bó với như bóng với hình. Anh Hai Chánh, Chủ tịch huyện nói rất đúng: Đó là một tổ chiến đấu xuất sắc của ấp Phước Hòa. Đầu xuân năm 1967, bọn địch ở vùng Củ Chi ráo riết tăng quân, bắt lính. Má Tám nói với Cường: - Năm nay cháu đến tuổi quân dịch. Bà không muốn gia đình ta có một người bị Mĩ ngụy bắt đi lính. Bà sẽ đưa cháu ra căn cứ du kích ngoài Hố Bò để cháu đi bộ đội giải phóng. Cường nhoẻn miệng cười, nói với bà ngoại: - Ngoại tưởng cháu của ngoại vẫn là thằng Cường “còi” như hồi nào sao? Cháu đã gia nhập đơn vị du kích tập trung của huyện rồi. Cháu sợ ngoại không cho đi nên cháu vẫn còn giữ “bí mật” với ngoại đó chớ… Ngoại xem này - Cường rút ở túi quần ra một khẩu súng lục do tự tay Cường diệt một tên ác ôn, lúc hắn đi la cà tán gái và cướp được - Tuần trước, bọn địch ngoài thị trấn Củ Chi báo động rùm beng về việc trung tá Thò mất tích, ngoại đi chợ ngoài đó có nghe không? Cháu khử nó đấy! Bây giờ cháu đã là tiểu đội trưởng du kích rồi. Đánh giặc mà nằm ngay ở làng mình cũng thích ngoài hè! Nhưng nếu có dịp thì cháu cũng xin đi bộ đội giải phóng, để được đánh to, thắng lớn như chú Sóc vậy, mới sướng. Các chú trên huyện nói sắp đến sẽ bổ sung từng đơn vị du kích tập trung của huyện cho “R” (bộ đội miền). Thế nào rồi cháu cũng được đi bộ đội giải phóng đó ngoại ạ! Ngoại không phải đưa cháu đi nữa. Má Tám sung sường cốc yêu vào đầu cháu: - Thế mà mày chẳng cho ngoại biết. Máy bí mật cả với ngoại phải không? Giữa năm ấy, Cường chỉ huy một trung đội du kích chiến đấu dưới địa đạo. Trong một trận đọ sức quyết liệt với địch, Cường diệt hai xe tăng, 15 tên Mĩ và đã anh dũng hi sinh sau đó. Trước lúc tắt thở, Cường vẫn mơ thấy mình đang hành quân trong đội ngũ điệp trùng của quân giải phóng. Bà ngoại chạy theo Cường, gọi thật to: “Cường ơi! Cường ơi!”. Bà trao gói cơm nếp đậu phộng cho Cường như bao lần bà vẫn mang cơm nếp ra địa đạo. Gió mồm mát rượi. Cánh đồng Củ chi đang vào mùa gặt. Cây lúa ở vành đai này cũng thấm má và nước mắt. Tiêu đề: Re: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 17 Tháng Tám, 2013, 05:37:19 pm * * * Cường hi sinh đột ngột làm Rưng sững sờ một dạo. Đầu năm 1968, thầy Cầm tức ông nội của Rưng, bệnh nặng qua đời. Ông chết vì chứng đau phổi và ho ra nhiều máu. Hơn mười năm rồi, từ lúc biết chống trở bệnh nặng, má Tám đã bán tất cả những gì có thể bán được của gia đình để chạy thuốc thang, cứu chữa cho chồng. Bà con cả làng đều nói bệnh của thầy Cầm nặng như vậy, thế mà sống được đến ngày hôm nay là nhờ tốt thuốc và có bàn tay chăm sóc của má Tám Rành. Trước lúc tắt thở, ông cho gọi cả nhà quây quần lại dặn dò: Tôi có qua đời, bà ở lại gắng sức chăm sóc con, cháu, sống sao cho xứng đáng với phận làm người. Cuộc kháng chiến của dân tộc mình còn gặp nhiều khó khăn, phức tạp lắm. Gia đình mình dù có phải hi sinh thêm đứa nào, hoặc giả có hi sinh tất cả đi nữa, thì hãy coi đó là niềm vinh dự tự hào cho gia tộc. Các con, các cháu hãy nối tiếp nhau góp sức mình vào cuộc chiến đấu này. Dòng họ tổ tông nhà ta từ trước đến giờ không có người phản bội và hèn nhát. Các con cháu không được phép làm ô nhục truyền thống đó. Rưng xúc động nghe lời trối trăng của ông nội như một bài học sâu sắc, khắc sâu vào tâm trí mình và không thể nào quên được. Ông nội mất được một tháng thì Rưng đi bộ đội. Chị Quen tiễn con trai ra đi đánh giặc vẫn trên con đường làng quen thuộc năm xưa chị đã tiễn chồng. Qua khỏi ngã ba có cây điệp cao sừng sững là cánh đồng mông mênh bát ngát, lúa đang thì con gái. Đàn trâu đen bóng đang mài sừng trên mấy bờ gò… Đồng làng với bao kỉ niệm từ ngày anh Sóc ra đi, thì bây giờ vẫn gắn bó với cuộc đời của chị. Chóng thật! Chị không bao giờ ngờ đời chị mới ngày nào vừa phải tiễn chồng nay lại tiễn con ra mặt trận. Trong niềm thương nhớ vô hạn đó, chị thấy rõ trách nhiệm và lòng tự hào của người mẹ ở hậu phương như chị, một hậu phương thép, sát cửa ngõ Sài Gòn. Lúc sắp chia tay, chị Quen lấy trong túi áo ra một gói vải nhỏ bằng bao diêm, trao cho Rưng, chị nói: - Đây là đôi bông tai của bà nội trao cho ba, lúc ba con đi bộ đội và ba con đã trao lại cho má. Bây giờ má đưa cho con giữ làm kỉ niệm. Chị lau khô nước mắt, vừa trao tiếp cho con gói cơm nếp vừa dặn dò: Con ra đi mạnh giỏi, chiến đấu dũng cảm để trả thù cho ba. Khi đến đơn vị nhớ biên thư ngay về cho má và bà nội, nghe con! Một sự tình cờ rất lạ, vẫn khớp với xưa kia là Rưng được bổ sung vào đại đội đặc công thuộc bộ đội địa phương tỉnh Long An, đơn vị mang truyền thống “Ra quân là chiến thắng” mà cách đây 15 năm, đồng chí Nguyễn Văn Sóc ba của Rưng trưởng thành và hi sinh. Năm 1969, Rưng hi sinh trong một trận chiến đấu chống bọn Mĩ càn quét. Đó là vào một ngày hè, trời nắng gắt. Giặc Mĩ đổ quân càn qué căn cứ giải phóng của ta rất sớm. Rưng chỉ huy một tiểu đội giữ chốt phái trái căn cứ. Gần xế chiều, địch vẫn chưa “nhổ” được chốt của tiểu đội Rưng. Chúng tức tối giội hàng trăm quả pháo, rồi thúc quân bao vây. Rưng xem đồng hồ, biết mình đã hoàn thành nhiệm vụ giữ chốt, đến giờ phút phải rút. Nhưng địch lại siết chặt vòng vây: “Chúng nó muốn diệt gọn đơn vị mình đây. Được, tao sẽ cho chúng mày biết tay…”. Rưng nghĩ thầm như vậy. Anh hạ lệnh cho tiểu đội bí mật rút theo địa đạo. Còn một mình Rưng với khẩu AK và mười quả lựu đạn. Anh chờ địch đến thật gần mới tung lựu đạn và bắn từng loạt ngắn. Khi còn băng đạn cuối cùng, Rưng bị thương nặng. Anh dồn hết sức còn lại, đứng thẳng người lên, nghiến răng, quét lưới lửa về phía địch, địch chết như rạ. Tất cả đồng đội của Rưng rút về phía sau an toàn. Giặc Mĩ rất cay cú, vì trận càn quét ấy bị quân ta đánh gãy xương sống. Trước khi tắt thở, Rưng không kịp nói với đồng đội một lời nào. Nhưng các đồng chí của anh đã viết chiến công của anh thành một bài ca: … “Nguyễn Văn Rưng trẻ tuổi yêu đời. Mang truyền thống đất thép anh hùng Củ Chi vào trận đánh. Một mình, một súng chặn đứng quân cướp Mĩ dã man…”. Tiêu đề: Re: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 17 Tháng Tám, 2013, 05:38:07 pm VI. BIẾN ĐAU THƯƠNG THÀNH SỨC MẠNH, TIẾP TỤC TIẾN CÔNG QU N THÙ
Mùa Đông năm 1967, một đêm, vào lúc má Tám đang thiu thỉu ngủ dưới hầm phải chồm dậy vì tiếng súng, tiếng pháo đủ loại nổ dậy đất. Trận địa pháo của địch ở Bầu Ngang bắn qua, đạn bay đỏ lừ. Má Tám trèo lên miệng hầm nhìn về phía xã Nhuận Đức, lửa đạn và những đám cháy lớn sáng rực một vùng. Cả ấp Phước Hòa thức dậy. - Bà con ơi! Súng nổ dữ dội thế này, là quân chủ lực của mình về riềng bọn ngụy ở bốt Nhuận Đức rồi. Bác Hai Xanh đứng trên mô đất cao giữa ấp, vỗ tay đôm đốp nói to như vậy. Những vệt lửa kéo dài từ bốn phía chụp xuống. Những tiếng nổ chắc nịch như bị nén từ trong lòng đất. Xã Nhuận Đức chìm ngập trong bão thép. Bác Hai Xanh lại đắc chí cười vang: - Pháo binh của bộ đội mình đó bà con có thấy không? Lần này thì bọn ngụy nhừ đòn. Bác Hai gái kéo chồng ngồi xuống, nói: - Ông đánh giặc mồm nó vừa chứ. - Tôi là tôi căm thù bọn ngụy ở bốt Nhuận Đức vô cùng. Tụi nó khét tiếng dã man, tàn ác nhất vùng này. Bây giờ bộ đội mình nện chúng là tôi ưng cái bụng lắm. Bọn địch ở thị trấn Củ Chi báo động. Các xe nhà binh bật đèn, còi rú thất thanh, chạy đi chạy lại nhốn nháo suốt đêm. Chúng đề phòng Việt cộng đột nhập vào sở chỉ huy quân. Trận địa pháo của Mĩ ở căn cứ Đồng Dù bắt đầu rót đạn về hướng Hố Bò, hòng chặn các đường rút của bộ đội ta. Đạn pháo bay u ú qua ấp Phước Hòa, nhưng không ai xuống hầm cả. Mờ sáng. Má Tám đi chợ Củ Chi sớm để nghe ngóng tin tức. Má thấy hàng chục xe tải của chúng chở đầy bọn lính ngụy chết và bị thương từ Nhuận Đức về. Nhiều thằng quấn băng trắng trên đầu, xông vào chợ cướp giật. Có thằng một tay đeo băng trước ngực, một tay cặp súng vào nách bắn hàng tràng. Thằng khác nằm trên cáng nói tục, chửi bới bọn sĩ quan thậm tệ. - Đ. mẹ chúng nó chỉ có nói dóc, nào là Mĩ súng nhiều, pháo lớn, hào sâu, dây thép gai dày, thách bọn Việt cộng vào được Nhuận Đức. Thế mà họ vào ung dung, họ đánh cho tơi bời cả đám. - Tiên sư cha tụi Mĩ, nó nói pháo Đồng Dù của nó bắn nhiều, có khả năng ngăn chặn Việt cộng từ xa, vậy mà bắn chẳng trúng cái đếch gì. - Tổ bố tụi lính quận Củ Chi này, tăng viện lên đến nơi thì chủ lực Việt cộng đã rút đi hết rồi, còn đánh đấm cái gì nữa. Mặt trời lên hơn một con sào, đồng chí Sáu Mĩ, xã đội phó Nhuận Đức đóng giả người thợ mộc tìm gặp má Tám, nói nhỏ: - Má Tám ơi! Đêm qua anh Sáu Dé là đại đội trưởng bộ đội chủ lực miền, chỉ huy đơn vị về diệt bót Nhuận Đức. Trận đánh thắng lợi rất lớn. Nhưng anh Sáu đã anh dũng hi sinh. Việt giải quyết thương binh liệt sĩ là do địa phương đảm nhận. Nhưng ta mới đưa được hết anh em thương binh ra khỏi trận địa thì trời đã sáng rõ, quân tiếp viện của địch đã chiếm lại đồn bót cũ. Chúng con đang tìm mọi cách để lấy xác anh Sáu về. Vậy con phải lập tức đi tìm má để báo tin cho má hay. Má Tám đứng lặng người hồi lâu. Mắt má hoa lên, cảnh vật nhào lộn, toàn thân bủn rủn. Dì bảy Toàn, thím tư Chánh, cô năm Luận, bác tư Tố dìu má về nhà. Bà con ấp Phước Hòa chạy đến thăm má mỗi lúc một đông. Người vò lá cây cho má uống, kẻ cặp tóc đi chợ tìm thuốc tây trợ sức. Má tỉnh lại dần. Nguyễn Văn Dé là con thứ sáu của má. Dé đi bộ đội từ năm 1963 đến nay. Nhất là từ lúc hoạt động ở địa bàn Củ Chi, làm cho bọn địch rất khiếp sợ. Bọn thám báo địa phương biết mặt anh, nên mỗi lần chúng bị đơn vị anh đánh đau, là chúng lại gọi má Tám lên quận tra khảo. Năm ngoái, đơn vị anh tập kích vào căn cứ Đồng Dù, làm sư đoàn 25 “Tia chớp nhiệt đới” của Mĩ bị diệt thiệt hại nặng. Tên trung tá quận trưởng Năm Phó cho lính bắt má Tám lên nhốt vào xà lim năm ngày, không cho ăn uống. Ngày thứ sáu nó cho má ăn một bát cháo loãng nấu bằng gạo mục. Ngày thứ bảy Năm Phò đến xà lim quát nạt má: - Bà Rành. Nếu bà gọi được thằng Sáu Dé, con của bà về hồi chánh với chánh phủ quốc gia thì tui sẽ kí lệnh thưởng ngay cho bà nửa kí vàng. Cho bà luôn một cái nhà lầu ở ngay thị trấn này nữa. Bà nghĩ sao? Má Tám quắc mắt nhìn thẳng vào mặt nó: - Thà chết chớ tao không bao giờ làm việc đó. Tao không thèm những thứ dơ bẩn của chúng mày. Tao đẻ con ra nó có chí hướng của nó, tao không thể bảo nó làm khác được. Phò vung tay, đấm vào mặt má. Máu ở mũi và miệng má ộc ra. Nó còn đạp giày đinh vào ngực má. Má ngã ra nền xi măng bất tỉnh. Hôm sau, nó đem má ra phơi nắng và ní: - Bà già này lì lắm. Để xem cái gan của bà có to bằng cái gan của thằng Dé không. Lần ấy má tưởng chết, nhưng má không chết. Ngày nào thằng Phò cũng chỉ hỏi má có một câu: “Bà có chịu gọi thằng Dé về không?”. Và nó cũng chỉ được nghe một câu trả lời cộc lốc của má là “Không”. Nó đánh, đạp, phơi nắng, bỏ đói và đổ nước xà bông vào mũi, hắt ớt hột vào mắt má. Má chịu đựng đủ mọi thức cực hình, nhưng má vẫn vững vàng như cây sao, cây dâu trên đất thép. Sau ba tháng giam cầm, kẻ thù biết không khuất phục được má, chúng đành phải thả má về làng. Khi thả má, thằng Phò còn dọa: - Nếu thằng Dé còn đưa Việt cộng về đây quấy rối thì tôi sẽ treo cổ bà lên. Bà con cả xã Phước Hiện ân cần đớn má về. Má biết rằng các con, cháu của má đi chiến đấu cả, nhưng ở nhà má không cô đơn, má sống trong tình thương bao la của Đảng và bà con Củ Chi. Tiêu đề: Re: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 17 Tháng Tám, 2013, 05:38:34 pm Lần này, chúng hèn hạ trả thù má bằng cách phơi xác anh Sáu Dé trên ngọn cây bàng, rồi báo cho má Tám lên nhận mặt. Má giáp mặt tên Mười Láo đồn trưởng từ dưới quận mới điều lên, nói thẳng:
- Đánh giặc thì có người chết, kẻ bị thương. Bên nào cũng vậy, chết thì phải được chôn cất, bị thương thì phải băng bó. Tôi đề nghị với ông đồn trưởng cho tôi đem xác người chiến sĩ này về chôn cất. Mười Láo béo ị, lùn tịt, đầu hớt cua, mắt ti hí như mắt lươn, răng vổ ra phía trước như bàn cuốc. Tháng nào Mười Láo cũng ăn vài ba cái gan người. - Thằng Việt cộng này là con bà phải không? - Mười Láo hoạnh họe. - Phải. - Lúc còn sống nó lì lợm, ngoan cố lắm. Bây giờ phải để xác nó cho quạ ăn. - Ông ác đến ba mươi chín cửa, ông cũng nên để lại một cửa cho vợ con ông nhờ. Ông còn làm đồn trưởng cái đồn này, dân Củ Chi còn đây, có ngày ông sẽ biết đâu là nhân nghĩa, đâu là ác tà. Trời cũng có mắt ông à! Để hỗ trợ cho má Tám, chi bộ hai xã Phước Hiệp và Nhuận Đức kịp thời tổ chức “đội quân tóc dài” kéo đến đấu tranh chính trị kết hợp với công tác binh vận. Bà con được số đông binh sĩ ngụy trong đồn ủng hộ, nên bọn ác ôn phải nhượng bộ trả xác anh Sáu Dé lại cho bà con. Nhân đà thắng lợi cuộc đấu tranh chính trị ấy, bà con hai xã Phước Hiệp và Nhuận Đức tổ chức đám tang đại đội trưởng Nguyễn Sáu Dé rất chu đáo trước mặt kẻ thù. Mộ anh được đặt trên mảnh đất gò của quê hương, nơi gia đình anh khai hoang từ những ngày anh còn niên thiếu. Thương Dé, má Tám mất ăn mất ngủ mấy tháng trời. Trong lúc người còn xanh xao như tàu lá, mái đầu má đã bạc càng thêm bạc, thì má lại nhận được một cái tin sét đánh ngang tai. Buổi sớm nọ khi má còn đang mơ mơ, màng màng thì bà Năm Thành nhà bên cạnh, cũng là gia đình liệt sĩ chạy sang gọi thất thanh: - Chị Tám ơi, chị Tám! Má Tám choàng dậy. Bà Năm Thành ôm lấy má khóc nức nở. Má Tám đoán biết có chuyện chẳng lành. Má bình tĩnh, vừa lấy chiếc khăn rằn quấn đầu, vừa hỏi: - Chuyện gì vậy, thím Năm? - Thằng Hè nó hi sinh rồi, chị Tám ơi! - Thím nói sao? Thằng hè con tui nó chết hồi nào? - Thằng Đức con tôi cùng ở đơn vị với thằng Hè, chị có nhớ không? Hôm qua giặc càn lên ấp Cây Trôm, đơn vị của nó chặn đánh. Ta thắng to lắm. Nhưng thằng Hè hi sinh, thằng Đức bị thương ở cánh tay. Nó vừa về ngang qua đây báo tin như vậy. Tui hỏi nó anh Hè mày nằm ở đâu? Nó vừa đi vừa nói: Ảnh còn nằm lại trên trận địa, tụi con nhờ cô bác trên đó coi giùm. Má Tám ngất xỉu. Má không còn nghe những gì bà Năm Thành nói sau đó nữa. Bà con ấp Phước Hòa lại kéo đến chật nhà, để hỏi han, chăm sóc má. Lần này má yếu quá, cứ tỉnh rồi lại ngất, ngất rồi lại tỉnh. Một lúc sau, đồng chí Chủ tịch xã đến thăm má. Đồng chí dặn dò mọi người: Má Tám cần được nghỉ ngơi và chăm sóc thật chu đáo. Trưa nay ta sẽ tổ chức một đoàn địa biểu nhân dân lên tận mặt trận để tổ chức khâm liệm và đưa xác anh Hè về đây cho má. Nguyễn Văn Hè, có thân hình vạm vỡ, nước da bánh mật. Anh ít nói, nhưng đã nói là như dao chém đá, đã quyết là làm bằng được. Má Tám thường khoe: “Nó rất giông tính của ba nó”. Năm 1965, từ công tác ở xã, Hè được chuyển lên bộ đội địa phương huyện Củ Chi. Năm sau, do yêu cầu nhiệm vụ mới, anh Hè lại chuyển qua công tác ở một đơn vị công an vũ trang huyện. Tháng trước được tin anh Sáu Dé hi sinh, hè có về qua nhà thăm má Tám, nhân tiện đưa người yêu của Hè về cho má biết mặt. Người yêu của Hè là cô Trần Thị Hải Yến, nữ du kích tập trung huyện Củ Chi. Hai người quen nhau và yêu nhau trong dịp cùng đi dự Đại hội chiến sĩ thi đua mặt trận Bắc Sài Gòn. - Các con định chừng nào thì tổ chức cưới? - Gặp Yến mà hỏi như vậy. Yến bùi ngùi thưa: - Dạ thưa má. Ba má còn đều bị Mĩ ngụy giết cả rồi. Bây giờ con chỉ có một mình. Đơn vị nữ du kích là gia đình của con. Được anh Hè yêu, nên con coi má cũng như má của con. Má cho phép thời gian nào thì con nghe theo như vậy ạ! Má Tám thầm khen con dâu tương lai của mình được người, được nết, nói năng dịu dàng, đánh giặc gan dạ. Má định trong bụng Tết này sẽ tổ chức đám cưới cho hai đứa. Chẳng ngờ hôm rồi giặc Mĩ càn lên ấp Cây Trôm, Nguyễn Văn Hè chỉ huy một trung đội chiến đấu suốt ngày. Sẩm tối, xác địch ngổn ngang trên rìa làng. Địch điều thêm một đại đội lính ngụy ở Trung Hòa lên vây chặt, thế chân cho Mĩ chở xác chết và bọn bị thương của chúng rút về. Chờ đến khi trời tối hẳn, Hè nổ súng thu hút bọn địch về phía mình tạo thuận lợi cho cả đơn vị cải trang thành dân, được bà con che chở rút lui khỏi vòng vây của địch an toàn. Nguyễn Văn Hè chiến đấu đến viên đạn cuối cùng. Anh bị thương nặng vào đầu, và ngực. Anh gắng sức còn lại đập nát khẩu tiểu liên, vùi xuống ruộng, rồi hi sinh. Bà con ấp Cây Trôm tìm được xác anh giữa một vòng tròn ngổn ngang xác địch, đem về vùng căn cứ của ta ở phía sau mặt trận. Trưa hôm ấy, một đoàn cán bộ và nhân dân Phước Hiệp, do đồng chí Chủ tịch xã dẫn đầu, cùng với má Tám đi lên ấp Cây Trôm dự đám tang anh Hè. Đến nơi, mọi người đã trông thấy đơn vị công an vũ trang huyện và bà con ấp Cây Trô có mặt đông đủ quanh thi hài anh Hè. Má Tám chạy đến, giơ đôi bàn tay gân guốc, run run ôm lấy xác con còn sạm mùi thuốc súng. Má vuốt nhẹ mái tóc xanh mịn màng của Hè và nói nhỏ như chỉ để đủ hai mẹ con cùng nghe: “Con ơi! Lúc còn sống, ba con thường nói với má “gia đình mình còn mấy đứa con trai nữa. Hi sinh đứa này, còn đứa khác, lo gì. Miễn là giành được độc lập”. Bây giờ đến lượt con ngã xuống khi đã hoàn thành nhiệm vụ. Má chỉ tiếc là con không còn sống để góp sức cùng anh em đồng chí giết sạch kẻ thù. Thôi, hồn con cứ yên nghỉ. Má tuy già rồi, nhưng má sẽ biến đau thương thành sức mạnh để tiếp tục tiến công quân giặc”. Tiêu đề: Re: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 17 Tháng Tám, 2013, 05:38:55 pm * * * Mảnh trăng lưỡi liềm cuối tháng lờ mờ dưới tầng mây đục. Trận địa pháo bót Cây Xoài chốc chốc lại bắn về hướng Giồng Con Khỉ. Đạn rít u u qua đầu mọi người như tiếng sáo diều. Trời về khuya. Tiếng chim “chóp bóp” từ rừng cao su lanh lảnh vọng về. Má Tám thao thức không tài nào chợp mắt được. Má nhớ lại lời đồng chí Chủ tịch xã nói tuần trước trong cuộc họp của các bà mẹ và các chị: “Hiện nay ở ngoài mặt trận, bộ đội ta đánh to, thắng lớn. Sắp đến, chiến dịch sẽ mở đến sát Sài Gòn. Hậu phương chúng ta có nhiệm vụ rất quan trọng là thu lúa thuế, quyên góp lương thực, thuốc men chở gấp ra vùng căn cứ. Lâu nay các bà má và các chị xã chúng ta có nhiều kinh nghiệm làm việc đó. Ủy ban xã tin thưởng giao nhiệm vụ đó cho các má, các chị, làm sao hoàn thành tốt và cáng sớm càng hay”. Sau cuộc họp, đồng chí Chủ tịch xã gặp má Tám: - Chúng tôi thấy chị tám còn yếu quá. Đợt công tác này chị nên tạm nghĩ đã. Má Tám khẩn khoản: - Chú Ba Tiến - tên đồng chí Chủ tịch - tôi khỏe rồi, tôi đủ sức tham gia công tác đợt này, chú cho tôi đi với chị em. Đồng chí Chủ tịch biết rằng không thể nào ngăn cản được nhiệt tình của má Tám khi má đã quyết tâm. Đồng chí tươi cười, nói: - Thôi được. Chị Tám khỏe mạnh thì làm, mệt thì nghỉ, đứng có ráng quá mà kiệt sức đó. Má Tám là người gom gạo trong tổ hậu cần của Hội mẹ chiến sĩ. Chiều nay là lần thứ năm má bị bọn cảnh sát địch bắt, giờ đây hai bả vai của má còn đau nhức vì báng súng Mĩ dộng vào. Về nhà, má nghĩ má tức lộn ruột. Đến đêm, má ngồi dậy thắp đèn đi tới giường, trút hết số gạo ăn còn lại của nhà vào trong túi vải, chuẩn bị mang đến cho tổ hậu cần. Tổ hậu cần của Hộ mẹ, cũng do má Tám phụ trách. Chưa đầy nửa tháng toàn tổ đã chuẩn bị đủ lương thực, thực phẩm, áo quần, thuốc men theo số lượng được giao, đủ chở một đoàn xe bò mười chiếc. Đêm nay đoàn xe bò này chở hàng ra tiền tuyến, do má Tám chỉ huy. Trời tối đen. Gió chướng từ sông Sài Gòn thổi qua rừng cao su nghe ào ào. Tiếng móng bò giẫm lộp bộp và tiếng bánh xe vành sắt nghiến trên con đường sỏi đá gồ ghề, khô khốc. Má Tám ngồi trên chiếc xe bò đi đầu, một ánh đèn leo lét trong chiếc ống bơ che kín ba mặt. Loài xe bò này đồng bào niền Đông gọi là “chà-rẹt”, chuyên đi đường rừng trong mùa mưa lầy lội. Nó có đôi bánh gỗ cao lêu nghều, chạy bằng ổ bi, hai bên thành xe có hai tay ngai dài, dùng để đỡ cho xe không lật úp khi vượt qua những đoạn đường nghiêng, chỗ có rãnh sâu, lệch một phía. Có tiếng ù ù trên trời khiến má Tám vội tắt đèn, rồi nhảy xuống xe, đi dò đường. Trận địa pháo Mĩ ở căn cứ Đồng Dù lại bắn vụt qua đầu đoàn xe. Mọi người dừng lại sau đợt pháo, rồi lại đi. Qua khỏi rừng cao su, đường bằng phẳng, má Tám nhảy lên xe, lấy một miếng trầu bỏ vào miệng nhai bỏm bẻm. Đoàn xe đến lưng chừng dốc thì một tốp máy bay Mĩ đến thả đèn dù và một loạt bom bi phía trước. Trong ánh sáng lơ lửng, má Tám ngẩng lên nhìn, chợt thấy một vật tròn treo đu đưa trên một cành cây vươn ra đường cái, cách xe bò của má chừng mười lăm mét về phía trước. Đó là quả bom bi sót lại, chưa nổ, tròn như một cái ấm pha trà nhỏ màu vàng như nghệ, những cánh đuôi bằng thép không gỉ, lấp lánh phản chiếu ánh sáng của đèn dù. Nếu nó đứt khỏi ngọn cây kia mà rơi xuống thì sẽ nổ ngay trước mặt, chính giữa đường. Má Tám hơi rùng mình, cho xe ngừng lại. Chỗ đường này dốc, rừng rậm, không thể vòng xe đi tránh được. Chờ đợi sao? Biết bao giờ nó mới nổ cho xong chuyện. Lùi lại sao? Cũng không thể được. Các chiến sĩ ngoài mặt trận đang mong chờ, gà gáy canh ba. Nếu dừng nghỉ, chờ ở đây thì không kịp vượt quốc lộ 1 trước khi trời sáng, trễ hẳn một ngày chở lương thực, thuốc men cho mặt trận. Phải liều thôi. Năm ăn, năm thua mà. Má Tám nghĩ nhanh, vừa hét vừa quất mạnh roi vào mông hai còn bò. Chiếc “chà-rẹt” lao mạnh lên dốc. Cả đoàn xe bò đằng sau nhanh chóng tiến lên theo. Vượt qua khỏi quả bom bi rồi, má Tám nghĩ thầm trong bụng: “Đúng là nhờ hương hồn các liệt sĩ, nhờ phước đức ông bà, nên mới tai qua nạn khỏi”. Đoàn xe của má Tám tiếp tục lên đường. Trời sáng rõ,đoàn xe đã vượt qua khỏi quốc lộ, đi sâu vào vùng căn cứ. Tiêu đề: Re: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 17 Tháng Tám, 2013, 05:39:27 pm VII. SỰ HI SINH MÀ QU N THÙ KHIẾP SỢ LÀ ĐIỀU QUÝ BÁU VÔ CÙNG
Má Tám dành riêng cho anh Tám Thắng, Bí thư huyện ủy Củ Chi ở và làm việc trong một gian hầm đặc biệt, có hai cửa thông đi hai đường. Một cửa nối liền với địa đạo, một cửa ra bờ mương, từ bờ mương đi tới những khu giồng phía xa. Gian hầm của anh Tám ở, đêm đêm thường chật ních người. Lúc thì họp cán bộ, lúc thì các đồng chí Bí thư, Chủ tịch xã lên nhận chỉ thị, nhiệm vụ, lúc thì tiếp các đồng chí của thành phố, của “R” về nắm tình hình. Đêm nào cũng vậy, má Tám thắp ngọn đèn dầu hỏa tù mù trước mái hiên, ngồi đan đệm để cảnh giới. Những cọng bàng mềm mại qua bàn tay lao động cần cù của má trở thành những chiếc đệm khá đẹp. Cứ năm bảy đêm cảnh giới, thì làm xong một chiếc đệm khá lớn đem ra chợ Củ Chi bán, mua được vài kí gạo và ít trầu cau. Huyện ủy cho má gạo hoặc tiền, má nhất định không nhận. Nhiều lúc anh em cứ để gạo lại nhà má rồi ra đi, hoặc phải nói dối rằng “Má cho chúng con gởi lại để má dùng nuôi cán bộ, bộ đội”. Ma Tám buộc lòng phải nhận. Lâu lâu má lại gởi tất cả tiền, gạo ra địa đạo cho đơn vị nữ du kích Củ Chi của cô Sương, cô Thảo, cô Hường. Nhiều đồng chí trên miền lần đầu tiên về công tác ở Củ Chi, thấy gian hầm làm việc của đồng chí Bí thư huyện ủy chắc chắn và thuận tiện quá, hỏi: - Đồng chí đào cái hầm này lâu chưa? Anh Tám Thắng tươi cười, trả lời: - Hầm này là do má Tám Rành, Mẹ chiến sĩ Củ Chi đào. Anh em ngạc nhiên hỏi má: - Thưa má, má già yếu thế này làm sao má đào được ạ. Má vừa ngoáy trầu, vừa âu yếm trả lời: - Các con ở xa vừa mới về không biết đó chớ, má đào hầm nhiều lắm. Chục năm nay rồi, cứ mỗi lần địch cào nhà là má vừa sửa nhà, vừa phải đào lại hầm trên nền nhà mới. Dụng cụ của má chỉ có con dao phay cùn với chiếc nồi nhôm cũ. Má cứ đào hoài, đào hoài, suốt ngày, thâu đêm, tháng này qua tháng khác. Má đưa cối trầu làm bằng vỏ đạn 12 li 7 lên miệng vừa lùa, vừa nhai trầu, đôi mắt còn nhanh nhẹn nhìn ra cánh đồng. Một lúc, má nói tiếp: Ở đất Củ Chi này, địch nó chà đi, xát lại, hết bom đạn, lại chất độc, cái cây, ngọn cỏ cũng chết rụi, nên con người không có cài hầm vững chắc thì không sống nổi đâu. Đồng chí Bí thư Huyện ủy nói thêm vào: - Từ ngày giặc Mĩ đến đây dùng bom, pháo bắn phá, bà con làm nhà hầm lún sâu dần vào lòng đất với tất cả mọi vật dùng cần thiết đem theo, để trụ lại, bám chặt từng tấc đất, mảnh vườn, bờ tre, đám ruộng. Chúng nó dùng lính đánh thuê, vũ khí hiện đại, kể cả chất độc hóa học để hòng trục xuất chúng ta ra khỏi mảnh đất này. Nhưng nhân dân Củ Chi quyết bám chặt lấy đất. Những gian hầm, những công sự, những địa đạo ta xây dựng ngày càng nhiều, rộng khắp để có chỗ ăn ở và chiến đấu lâu dài, sống chết với kẻ thù. Anh Tám Thắng cười hề hề nói tiếp: Giặc Mĩ không thể nào hiểu nổi tại sao ta lại có thể sống được trong lòng đất. Chúng nó lại càng không thể nào hiểu nổi sức mạnh nào làm cho những bà má như má Tám Rành, mười năm liên tục đào hầm tạo nên một cuộc sống bình thường trong cuộc chiến tranh nhân dân. Đó là ý chí sắt đá của người dân Củ Chi. Tất cả đều đứng lên đánh giặc bằng cả sức mạnh tổng hợp của mình. Hầm của du kích và thanh niên là ổ chiến dịch, vừa là nơi cất giấu lương thực. Hầm của các má, các chị là nơi bảo vệ cán bộ, bộ đội thương binh. Mặt trận thầm lặng của hệ thống hầm trong lòng đất Củ Chi thật sôi động và thần kì. Suốt đêm hôm trước đồng chí Bí thư huyện ủy làm việc với đồng chí cán bộ quân giải phóng miền. Hai người bàn bạc với nhau rất tỉ mỉ kế hoạch sắp đến phối hợp giữa bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương huyện và du kích đánh mạnh ở vùng Củ Chi tạo bàn đạp và chỗ ém cho cánh quân mặt trận phía Bắc Sài Gòn. Thấy hai người làm việc thâu đêm, má Tám nấu một rổ khoai từ, bưng xuống hầm. Má nói: - Các con ăn thứ khoai má trồng có ngon không - Má cười xởi lời: Giặc Mĩ nó rải bom đạn dày đặc thế mà vẫn còn sót được mấy bụi khoai, nên má đặt tên khoai này là giống “khoai thắng Mĩ” đó. Má Tám cho khoai từ khuya, mà đến gần sáng tỏ,khi xong công việc hai người mới ăn. Đang ăn thì đồng chí Ba Tiến, Chủ tịch xã Phước Hiệp bước vào. Đồng chí cán bộ quân giải phóng miền đứng lên bắt tay đồng chí Chủ tịch và tự giới thiệu mình là Chín Phương. Sau một hồi trò chuyện thân mật với đồng chí Tiến, Chín Phương nói: - Nhân dịp về huyện công tác, được gặp đồng chí, đồng chí cho tôi gởi cái công văn này của cơ quan chính sách mặt trận miền, nhờ chuyển. Ba Tiến mở phong bì ra xem. Trong phong bì có một giấy tuyên dương công trạng của Bộ chỉ huy Miền, hai giấy chứng nhận Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhất, hạng Hai và hạng Ba. Cuối cùng là giấy báo tử. Tất cả đều là của liệt sĩ Nguyễn Văn Hội của má Tám Rành. Ba Tiến xem xong, nín lặng hồi lâu. Anh đưa những giấy tờ cho đồng chí Bí thư Huyện ủy xem. Tám Thắng cắn chặt môi im lặng để cho khỏi bật ra tiếng khóc. Chín Phương biết hai anh đang xúc động nên cùng ngồi lặng lẽ. Một lát sau, Chín Phương nói giọng trầm trầm: - Đó là công văn của cơ quan chính sách mặt trận. Các đồng chí biết tin tôi về dưới này công tác nên nhờ chuyển giùm cho đỡ thất lạc. Gia đình liệt sĩ này ở ấp nào, đề nghị các anh tổ chức báo hộ. Tiêu đề: Re: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 17 Tháng Tám, 2013, 05:39:46 pm Đồng chí Chín Phương - Anh Tám Thắng nói - Liệt sĩ Nguyễn Văn Huội là con của má Tám Rành, này này đây. Điều chúng tôi đang băn khoăn là những năm qua má đã chịu đựng quá nhiều về sự hi sinh của các con của má. Lần này, đồng chí Huội hi sinh là liệt sĩ thứ bảy trong gia đình này. Việc báo tử cho gia đình là nhất định phải làm rồi. Nhưng chúng tôi đang tính, đối với má thì làm như thế nào và vào lúc nào, để má giảm bớt sự xúc động mạnh mẽ, nhất là tuổi má đã già yếu.
Ba Tiến nói: - Tôi đề nghị với đồng chí Bí thư và anh Chín Phương thế này, các anh xem có được không. Nhân có anh Chín Phương về đây, lại có đồng chí Bí thư đang ở làm việc trong gian hầm này của má; tôi nghĩ rằng đây là điều kiện thuận lợi để ta báo tin này cho má. Chúng ta tiến hành cụ thể như thế này: Tôi sẽ mời má đến đây, anh Chín Phương thay mặt cho cơ quan và đơn vị báo tin buồn cho má. Sau đó, anh Tám thay mặt Huyện ủy có ý kiến với má. Tôi tin rằng sự có mặt đông đủ này sẽ giúp má đỡ căng thẳng. Những ngày anh Tám còn ở và làm việc ở đây sẽ là niềm an ủi động viên má thêm. Ba người trao đổi thêm hồi lâu, dự kiến cả tình huống xấu có thể xảy ra và nhất trí với ý kiến của anh Ba Tiến Chủ tịch xã Phước Hiệp. Trưa mùa thu trời lúc mưa lúc tạnh, mây nhiều nhưng vẫn có những những mảng da trời phơn phớt xanh dương và nắng sớm vẫn ánh vàng rực rỡ. Ba Tiến chưa kịp mời má vào thì má đã bưng mâm cơm vào hầm. Má nói: - Cũng đã gần trưa rồi, mời đồng chí Bí thư, đồng chí bộ đội giải phóng và chú Ba Tiến nghỉ một chút xíu, ăn cơm đã. Mấy bữa rày địch bắn pháo rát quá, má không đi chợ được nên chẳng có cái gì tươi để anh em ăn bồi dưỡng cả - Má đặt mâm cơm xuống phiến gỗ vuông giữa mâ, rồi lại ngồi cạnh đồng chí Chín Phương nói tiếp - Tội nghiệp, con ở trên rừng khổ cực, được về đồng bằng mấy ngày, mà má chẳng có cái gì ngon cho con ăn cả. - Tôi xin phép thưa với chị Tám - Ba Tiến là người bà con với má Tám Rành nên gọi má bằng chị - Việc này hơi đột ngột, nên tôi mong chị phải hết sức bình tĩnh. Được phép anh Tám, Bí thư Huyện ủy, tôi xin giới thiệu với chị,đồng chí Chín Phương, cán bộ quân giải phóng Miền, nhân dịp về công tác ở xã nhà, sẽ báo cáo với chị một việc. Má Tám thấy lòng dạ bồn chồn trước câu nói của Ba Tiến. Má nghĩ rằng có chuyện gì chẳng lành đã xảy ra. Hay là con của má đứa nào đó lại hi sinh. Cho dù sự thật có xảy ra như vậy, má cũng sẽ sẵn sàng chịu đựng. Đã từ lâu rồi, má khẳng định rằng, má còn bốn người con trai nữa đang làm nhiệm vụ. Cuộc chiến đấu ác liệt như thế này làm sao có thể tránh khỏi sự tiếp tục hi sinh, mất mát. Má lấy lại bình tĩnh và nói rất chậm rãi: - Chắc là có chuyện gì chẳng lành cho tôi hả? Dù có chuyện gì đi nữa, mất má đến đâu đi nữa, tôi cũng chịu đựng được. Anh Chín Phương nói: - Thưa má, được sự đồng ý của anh Tám, Bí thư huyện ủy và anh Ba Chủ tịch xã, con thay mặt cho cơ quan và đơn vị, xin báo tin cho má rõ: Đồng chí Nguyễn Văn Huội, đảng viên, con của má, là đại đội trưởng bộ đội đặc công của Miền, đã anh dũng hi sinh sau khi hoàn thành nhiệm vụ chỉ huy đơn vị đánh cháy kho xăng Nhà Bè của Mĩ ngụy. Trận đánh táo bạo ấy làm cho địch tổn thất nặng nề về sinh lực và nhiên liệu, đồng thời gây cho chúng nỗi kinh hoàng, khiếp sợ chưa từng có. Bộ chỉ huy Miền quyết định tuyên dương công trạng liệt sĩ Nguyễn Văn Huội và truy tặng Huân chương chiến công giải phóng hạng Nhất cho đồng chí ấy. Con xin phép trao cho má toàn bộ giấy tờ của cơ quan và đơn vị của đồng chí gởi về. Đồng chí Bí thư huyện ủy nghĩ giờ phút này thật khó có lời nào cho xứng đáng để phát biểu với má Tám. Đồng chí nhìn má đang ngồi im lặng, hai hàng nước mắt chảy dài trên khuôn mặt đầy những nếp nhăn. Tuy vậy, anh vẫn nói với giọng run run đầy xúc động: - Thưa má Tám. Bà con cả huyện Củ Chi này đều xem má là tấm gương trong sáng nhất về tinh thần hi sinh cao cả của một gia đình cách mạng tiêu biểu trong sự nghiệp chiến đấu giải phóng đất nước. Những người con, người cháu ruột thịt của má đã nối tiếp nhau ra mặt trận và nhiều người lần lượt ngã xuống. Nhưng má không bao giờ chùn bước. Tình thương dân thương nước của má thật dạt dào, má đã chia sẽ cho tất cả mọi chiến sĩ ở hậu phương và tiền tuyến. Đối với má, một du kích, một cán bộ hoặc một chiến sĩ giải phóng hi sinh làm má đau như cắt ruột. Bây giờ đồng chí Nguyễn Văn Huội làm tròn nhiệm vụ, bà con Củ Chi càng học tập tấm gương vững vàng và tinh thần hi sinh, chịu đựng rắn rỏi của má để động viên con cháu tiếp tục xốc tới. Má Tám lấy chiếc kăn rằn đang quấn trên đầu lau khô hai dòng nước mắt. Má nói: - Tôi nghĩ rằng: đánh giặc thì phải có hi sinh. Nếu sợ hi sinh không tham gia đánh đuổi giặc ngoại xâm thì sẽ mất nước, phải làm nô lệ. Cho nên sự hi sinh mất mát trong chiến đấu là lẽ thường tình. Nhưng đứa con, đứa cháu của tôi ngã xuống vừa qua đều không uổng. Sự hi sinh của chúng đã đem lại lợi ích cho cách mạng, đã làm cho quân thù khiếp sợ là điều quý báu vô cùng. Một vài tia nắng xuyên qua lỗ thông hơi lọt vào gian hầm. Ngoài trời, một chiếc trực thăng rè rè bay qua. Nó gọi pháo bắn vu vơ. Tiếng đại bác của Mĩ ở căn cứ Đồng Dù lại gầm gào. Họng súng chúng nó chĩa về phía Phước Hiệp, nên mặc dầu ở dưới hầm, mọi người vẫn thấy đinh tai, nhức óc. Mỗi viên đạn phát hỏa nghe như chiếc nút bị ém chặt, bật khỏi một cổ chai khổng lồ nào đó, kêu bưng bưng, dội vào vách hầm nghe thật căng thẳng. Sau những loạt đại bác của Mĩ ở căn cứ Đồng Dù, là các trận địa pháo của quân ngụy ở Cây Trôm, Cây Sộp Bãi Giữa, Bãi Ngang bắn phá họa theo. Dứt pháo là các loại súng liên thanh các đồn bót thi nhau nổ như rang bắp. Tiêu đề: Re: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 17 Tháng Tám, 2013, 05:40:19 pm * * * Bốn tháng sau, kết thúc đợt hoạt động của mặt trận phía Bác Sài Gòn thắng lợi, đồng chí Chín Phương ghé lại ấp Phước Hòa thăm má Tám. Nhà cũ của má giặc Mĩ lại đốt, còn trơ những chiếc cột gỗ cháy thui. Chiếc hầm cũ còn lại bị bom tấn và đạn pháo của giặc làm sập. Bà con trong ấp giúp má dựng lại một gian nhà nhỏ bên cạnh lùm tre. Lùm tre cũng bị pháo Mĩ dập, giơ xương ra. Nhưng dưới gốc những cây tre sống sót, đang trồi lên nhiều búp măng bụ bẫm sau các cơn mưa. Bộ chỉ huy Miền gửi về tặng má Tám năm thước vải, một chai mật ong và một chiếc khăn len vuông. Đồng chí Chín Phương nói: - Đợt hoạt động của mặt trận phía bắc Sài Gòn vừa qua quân và dân ta đánh to, thắng lớn là nhờ có công đóng góp của má trong đó. - Má có làm được cái gì đâu mà nói công của má. - Thưa má! Má quên rồi sao. Hồi đó anh Tám Thắng Bí thư huyện ủy ở dưới hầm má nuôi, là lúc anh và các đồng chí lập kế hoạch hiệp đồng với bộ đội để mở chiến dịch đó. Sau đó con về làm việc má cũng nuôi. Chính gian hầm của má đào là nơi ra đời bản mệnh lệnh chiến đấu của đồng chí Bí thư huyện ủy Củ Chi. Cơm nước xong, má Tám chỉ cho Chín Phương hai cái hầm. Má dặn: - Pháo địch bắn, thì con nhảy xuống hầm bên phải. Địch càn quét, thì con xuống hầm bên trái, có ngõ thông ra địa đạo, liên lạc được với đội nữ du kích Củ Chi. Má cười nói tiếp: Thỉnh thoảng tụi con Thảo, con Hường lần theo địa đạo vào đây thăm má, với lại để lấy lương thực, thực phẩm, áo quần, thuốc men cho đơn vị. Chả là nhà má là “kho hậu cần” của Hội mẹ chiến sĩ xã Phước Hiệp mà. Buổi tối má đốt đèn và thắp hương lên bàn thờ các liệt sĩ. Thắp hương xong, má lại ngồi ngoáy trầu và chuẩn bị bên chiếu. Một lúc, gần tàn những nén hương, má đi lại bàn thờ giữa, nhắc chiếc ảnh cỡ 9 × 12 lồng trang trọng trong khung kích, đưa cho Chín Phương. Má nói: - Chín Phương à! Hồi con thay mặt đơn vị báo tin cho má biết thằng Huội hi sinh, thì thằng trong ảnh này còn sống. Nó tên là Nguyễn Văn Sướng, em kế thằng Huội, con thứ chín của má. Nó hi sinh trong đợt hoạt động của mặt trận phía Bắc Sài Gòn vừa rồi. Như sực nhớ ra điều gì, má vừa đi lại bàn thờ vừa nói: “Đồng chí Tám Thắng, Bí thư huyện ủy vừa gửi cho má một gói trà ngon. Để má châm trà rồi hai má con mình uống nghen!”. Ấm nước kêu ro ro một lúc, rồi sôi sùng sục, nước trào ra lầm cho bếp lửa đang hừng, tắt ngấm. Má Tám pha trà vào chiếc ca làm bằng ống rốc-két, má rót ra hai chén nhỏ, cầm một chén đưa cho Chín Phương “Con uống đi!”. Hương trà thơm ngào ngạt. Má vừa uống nước vừa nói chuyện; - Con ạ! Thằng Sướng này thật đúng với cái tên của nó, sướng từ nhỏ đến lớn. Từ bén đến lúc trưởng thành nó chỉ có đi học. Học hết tú tài toàn phần thì xung phong vào bộ đội địa phương huyện Củ Chi. Các anh của nó đi bộ đội thì cực khổ, thiếu thốn mọi thứ. Thắng Sướng đi bộ đội huyện, nên tháng nào cũng đảo về nhà vòi má cái nọ, cái kia. Má cũng nghĩ: Nó chiến đấu gian khổ, sống nay chết mai, má không có điều kiện chăm lo cho những đứa ở xa, thì săn sóc chu đáo được đứa nào ở gần càng hay đứa đó. Trong chiến dịch vừa rồi, đơn vị nó hoạt động ở Trung An và nó đã hi sinh ở đó. Anh em kể lại rằng, sau một ngày hai bên đánh nhau quyết liệt, gần tối thì tiểu đội của nó bị địch bao vây. Nó ôm khẩu súng trung liên nhảy xuống sông, vừa chửi vừa bắn trả lại địch. Nó làm toáng lên như thế, là cốt nhử địch tập trung về phía nó. Đúng như dụng ý của nó, bọn địch tập trung đuổi theo bắn cho đến lúc nó chết mới thôi. Tiểu đội của nó rút lui được an toàn. Bác Thái làm nghề chài lưới ở Trung An vớt được xác nó, để trên ghe, khâm liệm tử tế. Bác còn cho cô con giá tìm đến nhà báo cho má biết tin. Người con gái áy tên là Tư Thủy, đội viên đội nữ du kích Củ Chi, cũng là bạn thân của nó. Lâu nay cháu Tư Thủy vẫn thường xuyên đi lại chăm sóc má như con gái trong nhà. Tội nghiệp con bé, mỗi lần đến nhà nhìn thấy nhà thằng Sướng để trên bàn thờ, là nó khóc nức nở. Thấy má Tám nói chuyện râm ran, má Năm Hợp ngồi bên cạnh cũng sang chơi. Má Tám Rành giới thiệu: - Chị Năm Hợp đây cũng có ba người con là liệt sĩ đó Chín Phương ạ! Quay lại phía má Năm, má Rành nói tiếp: Còn đây là đồng chí Chín Phương, cán bộ bộ đội Miền đi công tác ghé qua đó chị Năm. Má Năm và đồng chí Chín Phương nói chuyện cởi mở. Má Năm Hợp nói: - Chín Phương à! Tôi nghĩ, không biết khắp nước mình có người mẹ nào hi sinh chịu đựng to lớn hơn không, chứ ở đất Củ Chi này, má Tám Rành đây là người hi sinh cống hiến rất lớn cho cách mạng, không còn lời nào để nói cho xứng nữa. Má Tám không xông ra trận mạc, nhưng bọn địch ở đây đều khiếp sợ má. Mà chúng khiếp sợ cũng phải, vì má đã sinh ra cả chục anh hùng, dũng sĩ từng làm cho chúng kinh hồn phải không đồng chí? Tiêu đề: Re: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 07 Tháng Mười, 2013, 10:58:55 am VIII. CÒN MỘT MÌNH, MÁ CŨNG ĐÁNH GIẶC ĐẾN CÙNG
Mùa xuân năm 1972. Bộ chỉ huy mặt trận Sài Gòn - Gia Định mở Đại hội anh hùng, chiến sĩ thi đua của địa phương, má Tám Rành được Bộ chỉ huy mời về dự Đại hội. Đội nữ du kích Củ Chi được Huyện ủy giao nhiệm vụ đưa má Tám đi, về và bảo vệ cho má được an toàn. Trước đó vài tuần, chính trị viên đội nữ du kích Củ Chi là Lê Thị Sương cho bà con ấp Phước Hòa tung tin là má Tám bị bệnh nặng, cần phải đưa vào Sài Gòn điều trị, để cho bon ngụy ở địa phương thấy má vắng nhà cũng không nghi ngờ. Sương cử ba chiến sĩ gái cũng là ba dũng sĩ diệt Mĩ được về dự Đại hội là Lan, Thanh, Mai làm thêm nhiệm vụ đưa má đi, về và bảo vệ má. Đơn vị còn cử một tổ du kích do Nguyễn Thị Nga phụ trách, đóng vai cháu của má để trông nom nhà cửa của má trong những ngày má đi vắng. Khu Đại hội nằm sau trong vùng căn cứ, cách Hố Bò khoảng một ngày đường. Từ năm 1970 địch nhiều lần tập trung lực lượng càn quét ra đây. Nhưng hầu như chúng đều thất bại. Sau mỗi đợt càn, chúng cay cú nã pháo, dội bom liên miên vào đây để trả thù. Ở đây gần giống như một thung lũng. Bầu trời không được thoáng đãng lắm. Mới sáng ra mà những đám mây màu xám tro từ phía chân trời đã ùn ùn kéo tới. Gần trưa, mới trông thấy những tia nắng. Một thứ ánh nắng yếu ớt vừa mới xuyên qua những áng mây ngậm đầy hơi nước, ánh lên một màu xám chì, trên những mái nhà vải bạt vừa mới dựng dưới những tán cây ô môi. Bom, đạn đại bác của giặc Mĩ là đổ la liệt từng khoảng rừng cao su và cây săng lẻ. Những cây còn lại, cành lá vẫn xum xuê, căng nhựa sống vào mùa mưa như đang thay áo mới. Những hố bom lớn như những ao sâu hun hút đáy phễu. Những xác xe bọc thép của địch còn nằm ngổn ngang. Cỏ xanh và những cành mắc cỡ tim tím mọc kín, che lấp từng ổ dây xích xe bên dưới. Các đại biểu về dự Đại hội ở tản mác trong các lán ven rừng. Đến ngày Đại hội, trong lời khai mạc, đồng chí chính ủy mặt trận Sài Gòn - Gia Định nói: “Khu vực chúng ta tổ chức Đại hội mừng công hôm nay cũng là chiến trường nóng bỏng của ngày hôm qua”. Má Tám được mời lên Đoàn Chủ tịch Đại hội. Khi má đi lên cả Đại hội đứng dậy vỗ tay hồi lâu. Đồng chí chính ủy mặt trận Sài Gòn - Gia Định giới thiệu: “Má Tám Rành, Củ Chi, là người mẹ tiêu biểu nhất của chiến trường chúng ta. Má có tám con trai và hai cháu trai (một cháu nội và một cháu ngoại) đã anh dũng hi sinh trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. Năm nay má đã 71 tuổi rồi, nhưng không bao giờ má chịu nghỉ ngơi. Má là chính trị viên của xã đội Phước Hiệp và của đội nữ du kích Củ Chi”. Lần dự Đại hội đó má gặp lại Chín Phương. Thấy Chín Phương đi chân gỗ, má ôm chầm lấy anh và xúc động hỏi: - Trời, Chín Phương! Con bị thương hồi nào? - Năm ngoái, trên mặt trận đường 3 má ạ! - Gần hai năm nay má mong con mãi, không thấy con trở lại Củ Chi. - Dạ, thưa má! Tuy bận chiến đấu ở xa mặt trận Củ Chi, nhưng con vẫn luôn luôn hỏi thăm tin tức về má và bà con ấp Phước Hòa. Lúc con ở trên Miền con đã biết hai năm qua, hai người con cuối cùng của má đã hi sinh. Buổi tối, trước khi bế mạc Đại hội, Chín Phương và đoàn đại biểu bộ đội chủ lực Miền đến thăm má Tám. Má Tám kể lại với anh Chín: - Nguyễn Văn Nảng là người con sát con út của má. Nảng có thân hình khỏe mạnh, cao lớn, nước da màu nâu, mắt sáng, hay cười. Năm 1971 nó là xã đội trưởng Phước Hiếp. Nó ham đánh giặc lắm. Suốt ngày suốt đêm nó nằm ngoài địa đạo, tổ chức cho du kích đánh giặc hết trận này đến trận khác, làm cho bọn giặc ăn không ngon, ngủ không yên. Thằng xã trưởng Mẹo treo giải thưởng một triệu đồng cho ai lấy được đầu của xã đội trưởng Nảng. Giải thưởng nó treo tháng trước, tháng sau Nảng đã chỉ huy du kích diệt trừ thằng Mẹo. Xác nó anh em đem về ngay phòng làm việc của thằng trung tá quận trưởng Củ Chi, kèm theo mấy chữ “Du kích Củ Chi trừng trị tên ác ôn có nhiều nợ máu”. Tiêu đề: Re: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 07 Tháng Mười, 2013, 10:59:49 am Tháng 5, giặc mở một cuộc càn quét lớn vào xã. Nảng chỉ huy đội du kích quần nhau với địch suốt một ngày. Riêng mình Nảng ngày đầu đã diệt được 10 tên Mĩ, bắn cháy một xe M113. Buổi tối Nảng tổ chức một tổ đi diệt xe tăng địch đang cụm lại ở Bãi Dài. Họ vừa diệt được mỗi người một chiếc xe bọc thép bằng thủ pháo, thì địch từ ngoài vây chặt. Anh em trong tổ kể lại: “Lúc ấy Nảng bảo anh em tập trung thủ pháo dồn lại cho anh, còn họ thì rút lui. Bị nhiều vết thương ở đầu, ở bụng, nhưng Nảng vẫn gắng sức đánh địch đến viên đạn cuối cùng, diệt nhiều lính Mĩ trong dãy nhà vải bạt. Sau đó, Nảng nằm im chờ cho bọn Mĩ bu đến gần, anh mới xông ra bám chặt, vật nhau với tên Mĩ chỉ huy, bóp cổ nó chết tươi và anh kiệt sức, hi sinh luôn”.
- Thưa má, còn cậu Út hi sinh như thế nào? - Chín Phương hỏi. Má Tám lấy khăn rằn lau khô những giọt nước mắt lăn trên gò má, nói tiếp: - Nó là Nguyễn Văn Luông. Sau khi Nảng hi sinh, thì Luông lên thay làm xã đội trưởng. Lúc đó đồng chí Tám Thắng, Bí thư huyện ủy cử cán bộ về nói với má rằng: “Đồng chí Luông là người con trai cuối cùng còn lại trong gia đình má, huyện ủy thấy anh Luông làm xã đội trưởng trong tình hình hiện nay không an toàn lắm. Huyện muốn hỏi ý kiến của má, nếu má đồng ý thì huyện sẽ điều anh Luông đi làm nhiệm vụ khác”. Má đáp: Nếu do nhu cầu công việc của cách mạng cần điều thằng Luông đi đâu thì huyện cứ điều. Còn vì sợ nó hi sinh mà điều nó đi làm công chuyện khác an toàn hơn, thì không nên. Thằng Luông sẽ không bằng lòng, vì nó thề quyết đánh giặc đến cùng để trả thù cho các anh nó đã hi sinh. Đối với má, má cung nghĩ như nó, thằng Luông là đứa con trai cuối cùng của má nếu có tiếp tục hi sinh vì sự nghiệp đánh thắng giặc Mĩ, má cũng sẵn sàng. Còn một mình má, má cũng cũng đánh giặc đến cùng bằng sức lực còn lại của má. Má biết các đồng chí ở huyện ủy rất thương quý má, lo cho má, muốn má giảm bớt đau khổ, hi sinh. Nhưng các đồng chí đó lại nắm vững hơ ai hết, yêu cầu cao nhất của cuộc chiến đấu quyết liệt này là hi sinh tất cả để giành thắng lợi, chớ không được chùn bước. Chùn bước lúc này là đầu hàng, là nhận lấy sự thất bại. Những năm tháng đồng chí Tám Thắng, Bí thư huyện ủy làm việc trong nhà má, má thường nghe đồng chí ấy căn dặn cán bộ như vậy. Má nghĩ: nếu ai cũng tham sống, sợ chết thì làm sao có độc lập tự do được! Hồi còn sống, ba sắp nhỏ thường dạy dỗ các con không được sống hèn, không được phản bội Tổ quốc, phản bội nhân dân. Vì nghĩa lớn, dầu có hi sinh tánh mạng, cũng không ngần ngại. Tất cả các con của má đều không phụ lòng dạy dõ của ba chúng nó. Có lúc nào đó má thấy yếu đuối, thì tự nhiên đêm đó má thấy ông ấy hiện về, nghiêm khắc phê bình má. Má lại thắp ba nén hương đứng trước bàn thờ chồng và các con, bày tỏ sự hối hận về những suy nghĩ không phải của má. Hai hàng nước mắt chảy ròng ròng trên mặt, má kể tiếp chuyện út Luông đánh giặc và hi sinh. Du kích trong xã rất phục tài săn máy bay lên thẳng Mĩ của xã đội trưởng Luông. Hồi ấy giặc Mĩ thường dùng loại Hu 1A, 1B bay đầy trời để “săn” du kích, cán bộ. Luông tổ chức nhiều trận địa săn máy bay lên thẳng của địch. Có khi một mình một súng, Luôn cũng quần nhau với máy bay Mĩ. Lúc đầu nhiều bà con trong xã chưa tin, cho rằng Luông hơi liều. Trong lúc địch chủ quan, ngày nào máy bay chúng cũng bay đến rất đông và rất thấp. Một hôm, mới mờ mờ đất, máy bay chúng đã bay đến từng đàn. Cây cối trong vườn tược, trong các khu giồng và những lô cao su còn sót lại đề bị cánh quạt của máy bay lên thẳng quạt ngã rạp đất. Luông vẫy bình tĩnh theo dõi địch. Chờ khi chiếc nào sà xuống thật gần, Luông mới hạ lênh bắn. Các trận địa phục kích nhất loạt nổ súng. Từng chiếc máy bay lên thẳng Mĩ rụng. Lúc ấy, bà con trong xã mới thật yên tâm, phấn khởi. Nhiều ngời khen rằng: “Phải đánh máy bay lên thẳng kiếp xáp lá cà như xã đội trưởng Luông, bọn Mĩ mới khiếp sợ”. Đầu tháng 9 năm 1971, Luông được điều lên phụ trách đại đội đặc công huyện. Trong đợt chiến đấu phối hợp với cánh quân phía Bắc thành phố Sài Gòn, đơn vị Luông có nhiệm vụ đánh trận địa pháo ở căn cứ Đồng Dù. Trận ấy, Luông lập công xuất sắc, được tặng thưởng Huân chương chiến công giải phóng hạng Hai. Cuối tháng chín, đơn vị Luông lại được lệnh đánh trận địa pháo căn cứ Đồng Dù lần thứ hai. Trận này đơn vị của Luông cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ, nhưng Luông đã anh dũng hi sinh. Đêm khuya ở vùng hậu cứ mùa này hay mưa. Tiếng mưa gõ đều trên mái lều vải bạt. Tiếng chim “bắt cô trói cột” gặp hoài ngoài rừng cao su. Tiếng súng lớn từ hướng Sài Gòn vọng ì ầm, ánh lên những loạt chớp liên hồi, thâu đêm. Tăm má Tám về, Chín Phương cũng như các anh hùng, dũng sĩ đoàn đại biểu bộ đội chủ lực Miền đều thao thức mãi không sao ngủ được. Các anh suy nghĩ rất nhiề về tấm lòng biển cả của má và chiến công anh dũng của những người con, người cháu mà má đã sinh ra và dành hết cả cuộc đời đẻ nuôi dưỡng, dạy dỗ họ trưởng thành. Má Tám ơi, trong mỗi bước chân chúng con hành quân tiến về phía trước, chúng con luôn luôn thấy ấm áp tình thương mênh mông của má. Trong những đường lê cản bước quân thù, chúng con đã nhận được ở má cả sức mạnh phi thường. Má là người mẹ Việt Nam rất hiền dịu, nhưng đồng thời má cũng là đồng chí chính ủy, đồng chí tư lệnh trưởng, người chiến sĩ xung kích chỉ đường cho chúng con xông pha trên mọi trận tuyến. Tiêu đề: Re: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 07 Tháng Mười, 2013, 11:00:59 am * * * Đầu năm 1973, sau khi hiệp định Pa-ri được kí kết, nhưng ở đất Củ Chi không có một giờ đồng hồ ngừng tiếng súng. Địch ra sức tấn công lên chiếm vùng kiểm soát du kích và tiếng súng trừng trị bọn lấn chiếm của đồng bào, chiến sĩ Củ Chi càng nổ dữ dội. Từ Trung Lập Hạ, Phú Hòa Đông, Phú Hòa Tây đến An Phú, An Nhơn, Nhuận Đức, Phước Hiệp vẫn giăng mù mịt. Trước kia giặc Mĩ tìm mọi cách để hủy diệt Củ Chi. Nay Mĩ thua phải cuốn cờ rút về nước, nhưng bọn ngụy Sài Gòn vẫn điên cuồng thực hiện ý đồ đó. Chúng lo sợ vùng giải phóng Củ Chi mở rộng sẽ là mũi dao sắc nhọn lúc nào cũng kề vào cổ họng chúng. Cuộc chiến đấu chống địch lấn chiếm sau Hiệp định Pa-ri trở nên quyết liệt vô cùng. Địch ra sức bao vây, càn quét để tìm diệt lực lượng du kích. Chúng cho rằng du kích Củ Chi là lực lượng nguy hiểm và đáng sợ nhất, vì họ có cơ sở bám chặt trong dân chúng. Đội nữ du kích của Lê Thị Sương lại một lần nữa rút xuống địa đạo, liên tục tổ chức các trận đánh chớp nhoáng, nhỏ, lẻ. Tháng trước xảy ra nạn đói vì các con đường hầm tỏa về các ấp bị địch chặt đứt cả. Nhưng rất may, nhờ má Tám đào xong đường hầm, từ nền nhà mới sang nền nhà cũ của má, nên nối liền được hệ thống địa đọa của đội nữ du kích. Đêm thông hầm, thật xúc động, Lê Thị Sương trườn lên khỏi miệng hầm, bò vào đến cái bếp của má Tám thì ngất xỉu. Má Tám bế Sương vào trong nhà đổ mấy thìa nước đường. Tỉnh dậy, Sương nói: - Má Tám ơi! Cả đội nữ du kích chúng con đang bị đói. - Má biết rồi. Má đang cháy ruột, cháy gan vì mấy bữa rày không liên lạc được với các con. - Má Tám làm sao huy động các má, các chị ngay trong đêm nay đưa ra địa đạo một ít lương thực, kẻo chị em du kích kiệt sức hết. - Dưới hầm của má đã có sẵn năm chục kí gạo rồi. Muối rang đầy một hũ, đủ để tụi bay xài một tuần. Đêm nay chuyến vô từng đó, đến đêm mai lại có nữa. Má dặn bà Năm Hợp, bà Năm Thành, dì Bảy Chánh rồi, không lo. Cách thu xếp khéo léo của má giúp đội nữ du kích vượt qua được cơn đói. Nhưng một khó khăn mới lại xuất hiện: thiếu thuốc chữa bết thương, chữa bệnh sốt rét, ghẻ lở cho chị em do nằm hầm lâu ngày. Một đêm, má Tám đang nằm trên võng thiu thiu ngủ, thì nghe dưới bếp vang lên ba tiếng “bộp, bộp, bộp”. Đúng là tín hiệu của du kích, má đi xuống kéo bếp dịch sang bên kia rồi lật miếng tôn có phủ một lớp đất sét dựng sát vô góc nhà. Cửa hầm thông với địa đạo hiện ra. Chính trị viên Lê Thị Sương và du kích Trần Thị Tuyết, Mai Thị Nguyệt và Nguyễn Thị Quỳnh Thông bấm đèn pin bước lên. Má Tám mừng quý hỏi rối rít: - Bữa nay, tụi bay hết kêu đói chưa. Má đoán đêm nay thế nào cũng có đứa vào nên má nấu sẵn nồi khoai từ. Khoai từ của má trồng đó, ngon lắm, các con ăn đi. Ăn không hết thì mang về địa đạo cho tụi nó ăn với nghe. Lê Thị Sương vừa bóc vỏ khoai, vừa nói: - Thưa má, bữa nay chúng con vào đây để nhờ má cùng Hội lo gấp một việc nữa. Má Tám ngừng ngoáy trầu, hỏi: - Việc gì mà phải gấp dữ vậy? - Thuốc tây má ạ! Hiện nay tụi con không còn một viên thuốc. Thuốc dự trữ đem ra dùng sạch trong các đợt chiến đấu vừa rồi. Chúng con đã báo cáo với huyện đội, nhưng huyện đội cũng chưa gởi xuống kịp. Hiện nay quân số chiến đấu giảm sút, vì chị em bị bệnh sốt rét và ghẻ lở nhiều. Số chị em bị thương nhẹ trong các trận chống địch lấn chiếm vừa rồi cũng không có thuốc kháng sinh để chữa vết thương. Má xem có cách nào giúp chúng con được không? Má Tám suy nghĩ hồi lâu rồi nói: - Tụi bây chủ quan quá, để nước đến chân mới lo. Thuốc men là việc hệ trọng lắm chớ. Bọn địch nó biết mình cần nên nó kiểm soát gắt gao, không được mang thuốc ở Sài Gòn ra vùng giải phóng. Thôi được rồi, tụi bay yên tâm, để các má lo liệu. Ba đêm sau tụi bay đến đây, thế nào cũng có một đợt thuốc. Ngày mai má sẽ bàn với các má, các chị trong lực lượng đi Sài Gòn về Hậu Nghĩa mua ngay. Sáng hôm sau má Tám và chị Sáu Son đi chợ Hậu Nghĩa, bà Năm Thành và chị Ba Thôn đi chợ Tân Quy. Riêng chị Tư Lương và chị Chín Đào thì đi ngược về phía chợ Trảng Bàng, chợ Tây Ninh. Má Tám bàn bạc, dặn dò mọi người rất kĩ. Má nói: “Đắt mấy cũng phải mua. Chọn thứ tốt, thứ thiệt để mua. Mua nhầm loại xấu, loại giả, ảnh hưởng đến tính mạng tụi nó. Thuốc tây là con dao hai lưỡi đó, nếu dùng không đúng”. Chợ nào cũng vậy, các má các chị mua đủ các loại thuốc tây, không đến nỗi khó lắm, nhưng làm sao đem được về tới Củ Chi mới là chuyện khó. Sài Gòn đi Củ Chi chỉ có ba mươi cây số mà đến ba trạm khám thuốc tây. Nhưng các má, các chị cao tay hơn bọn cảnh sát nhiều. Theo sáng kiến của má Tám người thì nhét thuốc vào cổ vịt, cổ ngỗng mua vè, người thì để thuốc vào ruột quả bí đỏ, bí xanh, người thì quấn vào hai ống chân hoặc giấu dưới đế guốc. Riêng má Tám thì làm hộp trầu cau thành hai ngăn, ngăn trên đựng trầu cau, ngăn dưới đựng thuốc tây. Lúc lên xe đò đi về, má vẫn ung dung mở hộp trầu cau ra để lấy ống ngoáy, ngoáy trầu trước mắt bọn cảnh sát ngụy. Mỗi một ngày đi chợ, các hướng má chỉ huy đều mua mang về một ố thuốc, trót lọt cả. Góp gió thành bão, “kho” thuốc tây ở nhà má Tám khá đầy đủ. Đêm thứ ba, chính trị viên Lê Thị Sương và Trần Thị Hải, y tá của đơn vị vào. Má Tám nói đùa như thật: - Các má, cách chị đã đi hết các chợ, tìm hết mọi cách mà cũng không làm sao mua được thuốc tây. Người thì bị cảnh sát bắt lúc đang mua, người thì bị cảnh sát lục trên xe, làm tình làm tội đủ điểu. Sương căn chặt môi im lặng, kéo Hải ngồi xuống bên cạnh. Cả hai đều chảy nước mặt dàn giụa. Má Tám thấy thương quá không nỡ đùa lâu, nên má nói: - Má nói đùa với các con một chút xíu cho vui vậy thôi, chớ các má, các chị lo đầy đủ cả rồi. Má Tám xuống hầm xách lên một thùng sắt (thùng đạn đại liên Mĩ) đưa cho Sương và Hải. Sương vừa mở ra, Hải xuýt xoa, reo to lên: “Ôi thuốc tây, nhiều quá, đủ hết các thứ!”. - Từ giờ đến cuối tháng các má, các chị cung cấp cho các con ba thùng thuốc như thế này nữa, được không? - Má cười hà hà, giơ cả hai tay vuốt nhẹ lên mái tóc của Sương và Hải - Các con cứ yên tâm đánh giặc giỏi, còn gạo với thuốc men, các má se lo cho, không thừa thì cũng đủ dùng, chỉ có điều là tụi bay phải cho các má biết trước. Đánh giặc mà không lo xa thì hỏng hết đấy. - Sương xúc động nói: - Các má, các chị vì các con mà phải vượt qua hết mọi khó khăn, nguy hiểm. Chúng con chẳng biết nói lời nào cho vừa. Con xin thay mặt… Má Tám ngắt lời Sương: - Đó cũng là bổn phận của các má, các chị. Má đề nghị nếu chị em có đứa nào yếu sức quá, nhưng đứa bị thương chẳng hạn thì các con đưa vô đây má chăm sóc cho nghe. Nằm dưới địa đạo vết thương lâu lành lắm. Má già rồi, má không cầm được súng, bắn được giặc nữa, nhưng má còn đủ sức chăm sóc, nuôi dưỡng các con được. Đó cũng là góp phần vào nhiệm vụ đánh giặc. Đồng chí chính ủy mặt trận Sài Gòn - Gia Định nói với má ở Đại hội vừa rồi như vậy đó. Tiêu đề: Re: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 07 Tháng Mười, 2013, 11:01:42 am IX. TOÀN THẮNG
Những ngày mùa xuân năm 1975, cuộc chiến đấu trên vùng đất Củ Chi này càng quyết liệt. Kẻ địch biết rằng nếu vỡ thế trận “tử thủ” ở vùng Củ Chi, thì coi như “cánh cửa thép” phía Tây Bắc Sài Gòn bị phá toang. Do đó Bộ Tổng tham mưu ngụy phải tung thêm mấy trung đoàn chúng gọi là thiện chiến, tinh nhuệ về Củ Chi. Lí Tòng Bá, chuẩn tướng tư lệnh sư đoàn 25 ngụy, đóng ở căn cứ Đồng Dù cũng được lệnh phải “tử thủ”, phải đánh gãy xương sống Việt cộng ngoài cửa ngõ Sài Gòn. Đội nữ du kích Củ Chi được lệnh phối hợp với bộ đội địa phương huyện và bộ đội chủ lực Miền mở những trận đánh lớn trên toàn vùng. Tin thắng trận trên toàn miền Nam dồn dập dội về Củ Chi, càng làm cho chị em nức lòng, phấn khởi. Nửa đêm, Võ Thị Trong, đội trưởng nữ du kích Củ Chi, luồn theo địa đạo đến nhà má Tám. Nhưng má Tám đi đâu mất. Mấy tháng nay, trong gian nhà nhỏ của má Tám, đêm nào cũng có các chiến sĩ nữ du kích, lúc thì đến “lãnh” thuốc, lúc thì đến “lãnh” gạo, lúc thì đi hoạt động về ghé qua xin má ngụm nước, củ khoai. Mới đêm qua chính trị viên Lê Thị Sương còn bàn bạc với má kế hoạch may cờ Tổ quốc và cờ Mặt trận dân tộc giải phóng, để đón ngày toàn thắng. Má đi đâu? Ai bắt má? Trong và hai chiến sĩ Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thị Xuyến ngơ ngác đi tìm vòng quanh nhà. Mấy bụi khoai từ má trồng đang xanh mơn mởn. Cây ớt chín cạnh lu nước sai trĩu quả. Bếp lửa lạnh ngắt. Hộp đựng trầu của má còn nguyên trên chiếc chõng tre. Nhưng quay sân có nhiều dấu giày đinh. Trong bấm đèn pin xem đi xem lại. Đúng rồi. Dấu giày đinh còn giẫm cả lên chiếc giường má nằm. Một điều gì đó chẳng lành đã đến với má. Trong thấy đau nhói trong tim. Má Năm Hợp nhà bên cạnh, thấy có bóng người, theo dõi hồi lâu, biết đúng là nữ du kích. Má lên tiếng hỏi: - Các con tìm má Tám, phải không? - Thưa má, vâng ạ! - Trong trả lời - Má có biết má Tám đi đâu không? Má Năm Hợp ra hiệu cho ba chị đến gần, má nói nho nhỏ, giọng xúc động: - Má Tám bị chúng nó bắt đi trưa nay. - Ai bắt hả má? - Trong hỏi rất to như sắp bật ra tiếng khóc. - Thằng xã trưởng Kén dẫn một tiểu đội lĩnh về đây bắt má. Nó nói với má Tám: “ Mời bà già lên quận co việc cần vài ngày rồi về”. chúng nó trói má bằng dây thừng. Má không kịp lấy thêm quần áo và hộp trầu cau. Trong và các chiến sĩ lập tức quay trở về địa đạo và Trong triệu tập ban chỉ huy đội nữ du kích họp. Đội trưởng Võ Thị Trong nói: - Bọn địch đã bắt má Tám đưa về quận lị. Chúng ta phải khẩn trương cứu má ra khỏi bàn tay độc ác của địch. Nếu chậm trễ sẽ xảy ra hai tình huống rất nguy hiểm: Một là địch thủ tiêu để trả thù. Hai là đợt tổng tiến công của quân ta sắp đến đánh vào quận, tình trạng của má sẽ không an toàn. Chính trị viên Lê Thị Sương nói: - Bằng bất cứ giá nào, chúng ta cũng phải bảo vệ má an toàn đến ngày toàn thắng. Tôi đề nghị, ngay đêm nay, ta cử trinh sát vào quận nắm tình hình địch và điều tra xem chúng giam má ở khu vực nào. Ngày mai làm kế hoạch tác chiến, xin chỉ thị của huyện đội là hành động ngay. Võ Thị Trong trực tiếp chỉ huy các tổ trinh sát đi làm nhiệm vụ. Lê Thị Sương viết thư báo cáo và cử liên lạc mang về huyện đội. Toàn đơn vị được lệnh chuẩn bị chiến đấu. Ngày hôm sau, ban chỉ huy đội nữ du kích lại họp. Đội trưởng Trong nói: - Địch giam má Tám ở buồng số 2, dãy nhà ngang phía sau trại lính. Buồng giam má có cửa sổ thông qua nhà bếp. Cửa sổ chắn loại song sắt cỡ lớn. Tình hình bọn địch trong quận rất hoang mang. Chúng nó công khai bàn tán: “Các ông bự ở Sài Gòn đang chở vợ con đem hột xoàn, vàng bạc và đô-la ra nước ngoài, ta dại gì mà phải “tử thủ”. Đứa nào lo chuồn sớm thì sống”. Mấy ngày này lính trong quận bỏ chạy khá nhiều. Bọn lính ở Sài Gòn vừa được phái lên đây cũng đang ở trong tình trạng chán ngán. Lính bảo an với lính chủ lực bắn nhau. Việc phòng thủ sơ hở. Bọn ác ôn ở quận rút vào trong căn cứ Đồng Dù hòng lẩn tránh sự trừng phạt của cách mạng. Chúng tôi đã giao nhiệm vụ cho các cơ sở trong quận. Cụ thể là: đêm nay ta sử dụng ba tổ bí mật luồn sâu, đánh vào ba trại lính trước cổng quận. Anh Mai, binh sĩ địch được ta giác ngộ làm nhiệm vụ dẫn đường. Khi ba tổ này nổ súng, ta sử dụng hai tổ khác bí mật luồn vào phía sau nhà bếp, dùng cưa sắt cưa cửa sổ buồng số 2, đưa má Tám ra ngoài. Hai tổ này bắt liên lạc với chị Tư Vĩnh nấu bếp cho địch trong quận, là cơ sở của ta. Tiêu đề: Re: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 07 Tháng Mười, 2013, 11:02:16 am Chính trị viên Sương và các ấp đội phó Hường, Thảo, đều tham gia ý kiến. Họ bàn bạc và phân công các tổ chiến đấu rất tỉ mỉ. Quá trưa, đơn vị nhận được lệnh của huyện đội. Huyện đội đồng ý kế hoạch và thời gian tác chiến của đơn vị, đồng thời cử thêm một trung đội đặc công xuống phối hợp, hỗ trợ chiến đấu.
Đêm cuối tháng tư, trời khô, đầy sao. Phía Tây Ninh, Hóc Môn, Khiêm Cường những tiếng nổ dây chuyền dậy đất, những cột lửa cuồn cuộn bốc lên cao. Hướng Sài Gòn đèn pha cực mạnh quét liên hồi lên bầu trời, đèn dù bắn báo động tắt dần vàng ệch như ma trơi và pháo hiệu xanh đỏ cầu cứu của địch liên tiếp vút lên trời. Súng lớn, súng nhỏ khắp vùng Củ Chi vẫn nổ như mặt trống bị thúc dồn. Các chiến sĩ nữ du kích và bộ đội đặc công huyện bí mật tiếp cận các mục tiêu. Đội trưởng Võ Thị Trong chỉ huy ba tổ chiến đấu phía trước. Chính trị viên Lê Thị Sương phụ trách hai tổ giải thoát má Tám phía sau quận lị. Đúng giờ, tiếng pháo thủ nổ đinh tai, tiếng tiểu liên bắn từng loạt ngắn giòn giã. Một lúc sau, bọn lính trong quận mới nổi còi báo động. Súng các cỡ của địch thi nhau bắn loạn xạ ra ngoài. Đại đội lính ngụy ở dãy nhà ngang cạnh nhà bếp bị cấp chỉ huy thúc ra phía trước để ứng cứu cho bọn lính vừa ở Sài Gòn lên bị đánh dồn trong ba nhà vải bạt. Chị Tư Vĩnh dẫn Sương vào tận nhà giam má Tám. Sương cạy cửa buồng số 2, gọi: - Má Tám ơi, má Tám! Chúng con là nữ du kích Củ Chi vào cứu má đây. - Tiếng đứa nào như tiếng con Sương phải không? - Má Tám hỏi giọng run run như muốn khóc vì quá xúc động. - Dạ! Con là Sương đây má ạ! Má yên tâm chờ chúng con cưa hai song sắt đã. Loáng một cái, Sương và Dung cưa xong hai song sắt. Sương chui vào dìu má Tám bước ra. Má Tám nói: - Các con hãy sang buồng bên cạnh cứu hai má nữa. Má không thấy mặt, nhưng biết rõ buồng bên có hai má cũng vừa bị chúng bắt. Sương và Dung lại tiếp tục cưa hai song sắt cửa buồng số 3. Sương nhận ra má Hai Thương, bà mẹ của năm liệt sĩ ở Phú Mĩ Hưng và má Sáu Toàn, bà mẹ của bốn liệt sĩ ở Nhuận Đức, đều là những người mẹ đỡ đầu đội nữ du kích Củ Chi. Kẻ thù thật đê hèn, trước giờ chết chúng nó vẫn còn tiếp tục gây tội ác bằng cách trả thù cả những mẹ chiến sĩ. Các má vô cùng xúc động ôm chầm lấy Sương và các nữ du kích. Họ đưa các má về vị trí đã quy định an toàn. Lúc sắp qua khỏi khu nhà bếp của quận, chị Vĩnh ôm lấy má Tám không muốn rời. Má Tám xúc động nói: - Nhiệm vụ của cháu còn nặng nề. Cháu hãy dũng cảm ở lại tiếp tục công việc của mình cho đến ngày thắng lợi trọn vẹn, không còn bao lâu nữa. Chị Tư Vĩnh nói trong tiếng nấc nghẹn ngào: - Nhờ má về nói giùm bà con ấp Phước Hòa, con nấu cơm cho địch là vì nhiệm vụ của tổ chức giao, con không phản dân, hại nước đâu nhá. - Cháu yên tâm, cách mạng biết cho cháu là bà con cũng sẽ biết. Trước khi rút, đội trưởng Trong chỉ huy một tổ xông vào phòng làm việc của tên quận trưởng. Hắn chạy mất, nhưng Trong nghe có tiếng động ở phòng bên cạnh. Trong đạp cửa phòng bước sang, chiếu đèn phin, thấy tên xã trưởng Kén đang thu mình trong xó tủ. Trong hét to: - Xã trưởng Kén, mày là một tên ác ôn khét tiếng của xã Phước Hiệp, mày phải đền tội. Trong nói vừa dứt thì chiến sĩ Nguyễn Thị Gái đã lia một loạt tiểu liên làm nó ngã gục, trước khi nó rút súng lục định bắn đội trưởng Trong. Trong cùng các chiến sĩ thu tài liệu, bản đồ của tên quận trưởng. Trong còn lấy bút mực đỏ viết năm chữ: “Nữ du kích Củ Chi” thật to lên tờ giấy dể trên bàn làm việc của hắn, rồi mới rút. Sau gần hai giờ chiến đấu với nhiệm vụ chính là tập kích, tiêu hao sinh lực địch và cứu má Tám, đội nữ du kích đã hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ, có thể nói là vượt xa yêu cầu. Gần sáng, bộ đội đặc công huyện và nữ du kích về tới địa đạo, từng tốp ngồi uống trà, ăn kẹo đậu phộng trong lúc tiếng súng ở quận Củ Chi vẫn còn nổ hoài. Thì ra, do ta đánh vào giữa đội hình chúng rồi rút ngay, làm cho bọn lính Sài Gòn đánh nhầm bọn lính bảo an ở quận ra ứng chiến. Sáng hôm sau, bà con đi chợ Củ Chi kể lại, địch phải dùng hạng chục xe hơi để chở xác lính chết và bọn bị thương. Tiêu đề: Re: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 07 Tháng Mười, 2013, 11:03:21 am * * * Má Tám về lại nền nhà cũ của mình. Má sửa sang lại bàn thờ của nhà đã bị lính ngụy vào đạp gãy chân. Má nâng niu lau mười chiếc khung ảnh của mười liệt sĩ đặt lên ngay ngắn. Đêm đêm, má lại đốt đèn, thắp hương. Gian nhà lá bé nhỏ, thân thuộc trở nên ấm cúng khi các cán bộ, chiến sĩ T4 (mật danh của vùng Sài Gòn - Gia Định) đi về. Cây bông vạn thọ mọc dưới giàn mướp bắt đầu trổ hoa. Má ngồi bên chiếu, thỉnh thoảng lại ngắm cây bông vạn thọ do má lấy giống hôm đi dự Đại hội ở vùng căn cứ về, ươm một đám, bon đạn Mi có lần cào sạch chỉ còn một cây. Nó trổ hoa bây giờ là trái mùa, thế mà bông nào cũng có những màu vàng, đỏ rực rỡ. Đây là loài hoa vạn thọ đặc biệt, mỗi bông có ba màu khác nhau. Má ước mong tha thiết rằng một ngày nào đó khi thống nhất nước nhà, má được ra Hà Nội viếng Lăng Bác Hồ, tặng cây vạn thọ này cho người trồng bông trông nom vườn cây của Bác, để “Kính dâng lên Bác loại hoa vạn thọ ở Củ Chi, nó đã vượt lên trên bom đạn, nở hoa và sống mãi”. Những ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh, ở vùng đất Củ Chi này không ngớt xảy ra những cuộc tranh chấp ác liệt giữa ta và địch. Tên chuẩn tướng Lí Tòng Bá cho quân của sư đoàn 25 liên tiếp xông ra. Quân giải phóng ngày càng siết chặt vòng vây các cứ điểm địch ở Củ Chi, Đồng Dù. Tin chiến thắng dồn dập vào những ngày cuối tháng 4-1975. Phái Tây Bắc huyện là tỉnh Tây Ninh đã được giải phóng. Bọn giặc ở núi Bà Đen chạy thục mạng về Trảng Bàng vẫn chưa hoàn hồn, chúng chạy về Củ Chi. Đến đây, bọn chúng bị cấp chỉ huy ở Sài Gòn buộc phải dừng lại tử thủ những ngày cuối cùng. Hướng Tây Nam Sài Gòn, binh đoàn 232 của ta đã vượt sông Vàm Cỏ Đông,thần tốc đánh vào tỉnh lị Hậu Nghĩa, trung đoàn 50 của địch chạy như chuột bị hun khói. Rồi chúng lại ùn ùn về Củ Chi. Có thể nói Chủ Chi những ngày này trở thành cái túi hứng bọn lính ngụy thất trận với cảnh hỗn quân, hỗn quan. Chúng nó thất trận, nhưng trước lúc giẫy chết còn ngoan cố phá phách người dân Củ Chi một cách khủng khiếp. Tình hình cuộc chiến đấu vào những ngày này vô cùng khẩn trương, quyết liệt. Cứ nhìn các chiến sĩ du kích Củ Chi mỗi khi vào nhà má Tám không ăn trọn bữa cơm, không kịp uống cạn chén nước, áo, quần bê bết bùn đất và khét lẹt mùi thuốc súng, mắt ai cũng thâm quầng vì thiếu ngủ, má cũng hiểu được rằng cuộc chiến đấu đang ở thời kì quyết định. Lê Thị Sương nói với má Tám: - Cuộc chiến đấu cuối cùng thật ác liệt, con đề nghị má giúp cho con một việc, má bàn với má Hợp, má Thành, sửa sang lại mấy chiếc hầm, sắp tới cho con gởi thương binh vào ở đấy. - Thì chuyện đó má đã biểu mấy con giao cho má từ lâu rồi. Thôi tụi bay yên tâm về việc đó đi. - À, thưa má! Việc may cờ má đã chuẩn bị đến đâu rồi? - Cờ đỏ sao vàng một trăm chiếc. Cờ Mặt trận cũng một trăm chiếc. Các mẹ, các chị đang tiếp tục may thêm. Ngày mừng đại thắng, đội du kích Củ Chi mình tiến về Sài Gòn phải giương cao cờ đỏ rợp trời phải không các con? Hà hà. - Má Còn phải may một lá cờ đỏ sao vàng thiệt to để treo lên ngọn cây điệp. Cây điệp tuy bọn giặc làm trơ trụi cành lá, nhưng vẫn còn thân cây với cái ngọn cao vút. - Ừ! Nhứt định má sẽ treo lá cờ đỏ sao vàng to nhứt lên cây điệp này. Một buổi tối, một tiểu đội trinh sát của bộ đội chủ lực Miền theo sơ độ và sự chỉ dẫn của cấp trên, vượt qua các đồn bót và trận địa của địch, tìm đến nhà má Tám. Đồng chí tiểu đội trưởng gỡ cửa. Từ bên trong má Tám nói như quát: - Các ông đi đi. Toàn tiểu đội thất vọng. Đồng chí tiểu đội trưởng giở bản hướng dẫn chỉ đường về nhà má, bấm đèn pin xem đi xem lại coi mình có lầm không. Đúng rồi. Nhưng tại sao má lại… Hay là… Sau hơn nửa giờ ngồi trong nhà theo dõi, má thấy các chiến sĩ trinh sát vẫn quây quần ngồi bên nhau yên lặng chờ, má mới lặng lẽ mở cửa. Má khẽ gọi: - Thôi, các con vào đi; đúng nhà rồi đó. Má phải làm như vậy mới khỏi mắc mưu kẻ thù. Các con đứng trách má nghen! Vì địch ở đây tìm cách lừa gạt bà con dữ lắm. Má Tám nắm tay từng chiến sĩ đưa xuống hầm. - Các con xuống nghỉ tạm, để má đi nấu cháo gà cho ăn nghen! Má còn một con gà trống cồ chuẩn bị đón các con ở bộ đội chủ lực về mà! Chỉ một lát sau, má Tám đã bưng lên nồi cháo gà có mùi rau răm và mùi lá hẹ thơm phức. Mấy má con vừa ăn, vừa nói chuyện đến gần sáng. Tiêu đề: Re: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 07 Tháng Mười, 2013, 11:04:02 am Tiểu đội trưởng Công thưa với má:
- Tiểu đội trinh sát chúng con về đây có nhiệm vụ liên lạc với du kích và bộ đội địa phương huyện, nắm tình hình địch ở Củ Chi và căn cứ Đồng Dù. Đồng thời chuẩn bị hành lang cho binh đoàn chủ lực Miền tiến về giải phóng Sài Gòn. Chắc là tụi con phải ở lại đây lâu lâu, má cố gắng giúp đỡ chúng con nhen. Đêm hôm sau, tiểu đội trinh sát vừa đi làm nhiệm vụ trở về, thì nghe nhiều loạt súng tiểu liên Mĩ ở đầu ấp nổ liên hồi. Tiểu đội trưởng Công lệnh cho các chiến sĩ sẵn sàng chiến đấu. Anh em vừa kịp rút xuống hầm, thì bọn địch ập đến. Chúng nó có ba thằng. Thằng đi đầu lấy mũi giày đinh đạp mạnh vào cửa nhà má. Má Tám nằm trên chiếc chõng tre, nói như thét, cốt để báo hiệu cho các chiến sĩ dưới hầm biết: - Đêm hôm khuya khoắt, các ông đến nhà tôi để làm gì? Một thằng lên tiếng: - Nè, bà già. Mấy thằng Việt cộng vừa chạy vô đây, bà giấu ở đâu? Một thằng khác tiếp: - Bà hổng nói thì cái nhà này ra tro, hiểu không? Má Tám bình tĩnh ngồi dậy ngoáy trầu: - Các ông nói chi lạ vậy. Tui một thân một mình già yếu, làm không đủ ăn, lấy cái gì mà nuôi, mà giấu Việt cộng trong nhà. Tên có bộ râu quai nón hất hàm ra lệnh: - Khám nhà. Ở dưới hầm tiểu đội trưởng Công chỉ huy các chiến sĩ luồn và các ngách, chuẩn bị chiến đấu. Chúng giẫm giày đinh trên nền nhà kêu “lộp cộp”. Đất, đá vụn rơi xuống mặt, mũi anh em dưới hầm. Thằng có râu quai nón cười khà khà, vẻ đắc chí: - Ồ, hầm đây rồi tụi bây ơi, hầm đây rồi! Nó gí mũi súng và ngực má Tám: Nè bà già, lần tày thì đừng hòng chối nghe. Tôi sẽ lấy cái này - nó gằn gặc vào đầu má - cho bà hết có cái đội nón. Hắn ra lệnh cho hai tên kia xuống khám hầm. Chúng khệ nệ khiêng nắp hầm, rồi bấm đèn pin chiếu xuống. Đứa nọ nhìn đứa kia đùn nhau, không đứa nào dám xuống trước. Má Tám vẫn ngồi trên giường, nhai trầu bỏm bẻm. Tên chỉ huy lại giục đồng bọn: - Đ.me, xuống nhanh đi chúng mày. Hai thằng lính lò dò bước xuống. Các chiến sĩ trinh sát đang thu mình vào ngách hầm đợi chúng như mèo rình chuột. Các anh cho cho hai thằng lính xuống thật sát bên ngách hầm và bỗng một tiếng “ự” rồi một tiếng “ự” nữa. Hai tên lính ngụy lần lượt lăn khuỵch xuống đất như hai bao gạo do hai đòn võ hiểm của Công và chiến sĩ Châu. Anh em khác liền nhét khăn vào miệng chúng rồi trói gô lại. Bên trên, vọng xuống đất có tiếng giày đinh của thằng chỉ huy đi đi, lại lại có vẻ sốt ruột chờ đợi kết quả. Một lát sau, nó chõ mồm xuống miệng hầm, gọi như thét: - Tụi bây có thấy chi không? Răng mà lâu dữ rứa? Lời nói chưa dứt thì nó đã bị một cú hát nhẹ lăn tõm xuống hầm. Các chiến sĩ liền trói gọn nó lại. Thì ra, lợi dụng lúc thằng địch còn lại một mình đang chúc đầu xuống hầm, má Tám đã nhanh chân đạp nó một cái thật mạnh, khiến nó mất đà ngã nhào xuống hầm. Nhờ mưu trí của má Tám, ba tên địch bị các chiến sĩ trinh sát tóm gọn. Chúng nó đã cung cấp cho các anh một số tài liệu quan trọng về căn cứ Đồng Dù. Hôm sau, tiểu đội trưởng Công cùng với hai chiến sĩ Châu và Bá dùng ba bộ quân phục và súng lấy được của địch, đột nhập quận lị Củ Chi giữa ban ngày để nắm tình hình địch. Đêm 27 rạng ngày 28-4-1975, các binh đoàn chủ lực của quân giải phóng đã dội bão lửa vằm nát căn cứ Đồng Dù, đánh tan tác bọn ngụy đủ các sắc lính trong quận Củ Chi, chỉ vẻn vẹn có bốn giờ đồng hồ. Được sự hỗ trợ của du kích và bộ đội địa phương, bà con ác xã còn bị địch cào trắng như: Phú Hòa Đông, Phú Hòa Tây, Nhuận Đức, Đức Lập, Trung Lập Hạ, An Nhơn, An Phú, Phú Mĩ Hưng… nổi dậy diệt bọn ác ôn, truy quét bọn tàn quân. Cả huyện Củ Chi giương cờ, trống giục, đón mừng ngày hội chiến thắng của quân cách mạng, giải phóng Sài Gòn. Các mẹ, các chị ấp Phước Hòa náo nức đi phân phát cờ đỏ sao vàng, cờ Mặt trận dân tộc giải phóng cho bà con cả xã. Riêng má Tám đã nhanh chóng treo lá cờ đỏ sao vàng to nhất trên ngọn cây điệp, nơi mà cách đây ba mươi năm, má đã treo lá cờ đỏ búa liềm để cổ vũ bà con hướng về cách mạng. Lá cờ phấp phới tung tay trong gió như lòng người rộn rã niềm vui chiến thắng. Sáng ngày 30-4-1975, trên đường làm nhiệm vụ truy quét địch còn ngoan cố chống cự, chính trị viên Lê thị Sương ghé vào nhà, gặp má Tám để xin thêm một số cờ và thăm mấy chiến sĩ gái bị thương đang nghỉ ở nhà má. Sương reo vui, nói với má. - Má ơi! Dương Văn Minh đầu hàng vô điều kiện rồi. Toàn thắng rồi má ơi! Tên chuẩn tướng Lí Tòng Bá và toàn bộ tư lệnh sư đoàn 25 ngụy bị bắt sống. Sáng nay đội nữ du kích chúng con vừa giải chúng nó về chỗ tập trung. Bộ mặt thằng nào thằng ấy tái mét không còn hột máu. Hai má con ôm chầm lấy nhau, sung sướng, nghẹn ngào. Bầu trời sáng 30-4-1975 ở Củ Chi trong xanh, những pháo hiệu xanh, đỏ của quân ta thi nhau vút lên mừng ngày toàn thắng. Tiêu đề: Re: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 07 Tháng Mười, 2013, 11:04:51 am X. SUM HỌP
Cả nước reo vui, mừng ngày độc lập và thống nhất trọn vẹn. Vùng Củ Chi vượt lên sự tàn phá của bom đạn địch, sự sống nhanh chóng hồi sinh. Cây cối đâm chồi nảy lộc, tỏa màu xanh mơn mởn bên những hố bom chưa kịp lấp. Cánh đồng Củ Chi lại đầy ắp nước phù sa trong những dòng kênh rạch, soi bóng những rặng trầm bầu duyên dáng. Hai bên bờ sông Sài Gòn, ghe thuyền tấp nập. Bà con xóm Đìa đã lần lượt trở về làng cũ tiếp tục nghề chái lưới cổ truyền. Đêm đêm, tiếng hát, tiếng cười của các cô thanh niên xung phong ngược dòng sông lên vùng kinh tế mới, hòa trong tiếng máy bơm nước, tiếng gõ be thuyền náo nức. Má Tám sửa sang lại chiếc nhà lá của mình trên nền đất cũ. Ngày nay má vẫn bện chiếu và chăm sóc các khóm hoa. Giống hoa vạn thọ ba màu vàng, đỏ, và đổ sẫm rực rỡ của má đem từ Đại hội anh hùng, chiến sĩ thi đua về, bây giờ cả ấp Phước Hòa nhà nào cũng có. Sợ má hiu quạnh, huyện Củ Chi giành cho má một gian nhà ở cạnh cơ quan để có người chăm sóc má. Má từ chối: “Gần trọn đời người, tôi sống ở mảnh đất gò quê hương, bây giờ tôi không thể rời đi đâu được. Mặc dù các con và các cháu tôi hi sinh hết cả, nhưng tôi không lúc nào thấy cô đơn. Bà con trong ấp, trong xã, trong huyện đã hết lòng giúp đỡ, chăm sóc tôi. Ở đâu, tôi cũng coi đó là gia đình của mình”. Đúng như má nói, gian nà lá nhỏ của má lúc nào cũng ấm cũng. Thắng trận rồi, các con của má từ các chiến trường lần lượt trở về thăm má. Có những người con đầu hai thứ tóc, được má nuôi trong những ngày kháng chiến chống Pháp, bây giờ là cán bộ cấp sư đoàn. Có những người con là anh hùng quân đội, đã chiến đấu cùng đơn vị với các con cháu của má. Ngược lại, cũng có những con tuổi đời mới mười tám, đôi mươi quê ở tận sông Hồng, sông Mã, vừa nhập ngũ sau ngày 30-4-1975, đi vào chiến đấu ở các tỉnh biên giới phía Nam từ năm 1978, cũng về đây với má. Má âu yếm nắm chặt tay từng đứa con, nói giọng đôn hậu: “Các con đay dù mới cũ, Nam hay Bắc… đã là bộ đội, là cán bộ cách mạng, thì đều là con của má nghen”. Tình cảm của má bao la. Má thương yêu tất cả cán bộ, chiến sĩ. Và, tất cả cán bộ, chiến sĩ và các lực lượng vũ trang nhân dân qua đây, đều gọi má là má Tám Củ Chi. Họ đi khắp mọi miền đất nước, khi về đến ngôi nhà lá đơn sơ của má Tám, ngồi bên má, nghe má kể chuyện nhân dân Củ Chi đánh giặc, chiến sĩ nào cũng thấy ấm cũng như đã về tới quê hương của chính mình vậy. Những cuộc gặp gỡ như vậy rất nhiều. Phải chăng đó là những cuộc sum họp trọn nghĩa, trọn tình? Các bạn bè Quốc tế đến thăm má đều nhận rõ ở má một tình cảm trong sáng, cao đẹp về một người mẹ Việt Nam. Khi các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhàn ước đến thăm má, hỏi má có gì khó khăn, má chỉ thưa rất từ tốn: “Cảm ơn các đồng chí bận trăm công nghìn việc, lo cho dân, cho nước mà vẫn quan tâm chăm sóc tôi. Ở đây, bà con cô bác và chính quyền địa phương chăm sóc giúp đỡ tôi chú đáo lắm”. Nếu có đồng chí nào hỏi về chiến công đánh Pháp, đánh Mĩ của các con, các cháu, mà đều khiêm tốn trả lời: - Ở đất Củ Chi này có rất nhiều gia đình đóng góp sự hi sinh to lớn cho cách mạng, chớ có riêng gì nhà tôi. Ba chục năm đánh giặc, ở Củ Chi có hàng ngàn hàng vạn thanh niên chiến đấu kiên cường, chớ không riêng gì con cháu nhà tôi. Ở đây, hầu như nhà nào cũng có dũng sĩ, nhà nào cũng có người hi sinh cho Tổ quốc. Rứt ruột đẻ con ra, người mẹ nào mà chẳng thương và tiếc những đứa con đã hi sinh. Nhưng tôi nghĩ niềm an ủi và tự hào nhất đối với các bà mẹ là con mình chết không uổng, vì sự hi sinh đã làm nảy mầm cho một đất nước hồi sinh và trường tồn. Nhiều nhà báo, nhà văn trong nước và nước ngoài hỏi về cuộc đời của má. Má lắc đầu, cười hà hà, rồi vui vẻ kể chuyện về sự hi sinh to lớn của má Hợp, má Thành, dì Bảy, chị Năm… và bà con cô bác trong ấp. Má nói: - Không có các bà, các chị và bà con ấp Phước Hòa này đùm bọc, che chở thì tôi đã chết lâu rồi. Các ông có ghi và viết thì nên ghi chép, viết lách về họ. Chính bà con này mới là những người mẹ, người chị anh hùng, thật đáng nêu gương. Nhiều đại biểu cơ quan, đoàn thể thăm và tặng quà cho má. Má đều khéo từ chối. - Tôi đã được Đảng và Chính phủ chăm sóc chu đáo ruồi. Các đồng chí nên tặng những thứ này cho các gia đình thương binh, liệt sĩ khác còn khó khăn hơn tôi nhiều. Má Năm Hợp nhà bên cạnh nói với những người đến thăm má: - Má Tám có tới người con và cháu là liệt sĩ mà má không hề đòi hỏi sự ưu tiên, ưu đãi gì. Cho nên gia đình tôi có ba người si sinh tôi càng không dám đòi hỏi gì hơn. Một hôm, anh Hai, Bí thư huyện ủy Củ Chi về thăm, báo tin với má: - Má chuẩn bị đi Hà Nội họp đại biểu các gia đình thương binh, liệt sĩ tiêu biểu trong cả nước nhen. Lâu nay má chỉ mong ước một lần được về Hà Nội thăm Thủ đô, viếng Lăng Bác Hồ và thăm cán bộ, đồng bào miền Bắc suốt mấy chục năm cho con cái vào miền Nam chiến đấu, nhường cơm, sẻ áo cho đồng bào miền Nam ruột thịt. Mong ước ấy đã đến một cách bất ngờ, làm má vừa sung sướng, vừa hồi hộp. Má nói: - Chứng nào đi, chuẩn bị như thế nào, đồng chí Bí thư? - Má chỉ thu xếp việc nhà cửa sao cho thật gọn. Ví dụ như thóc gạo, khoai sắn, cái gì khô, cái gì chưa khô, cất ở đầu, nhà cửa nhờ các má, các chị nào trông coi hộ… Còn mọi thứ khác như áo quần, chăn màn, tiền nong thì đã có Thành ủy và Ủy ban nhân dân thành phố và tụi con lo cho má chu đáo cả rồi. Ngày giờ lên đường cụ thể con se báo sau, nhưng chắc chắn là khoảng đầu tháng 12 này đó má à. Những ngày tháng 12 năm 1977 đối với má thật đáng ghi nhớ. Trời Hà Nội mưa lâm râm và rét ngọt. Các loại hoa lay-ơn, vi-ô-lét nở sớm làm cho phố phường Thủ đô càng thêm duyên dáng. Nhân dân Hà Nội náo nức chào đón các cụ, các mẹ, các chị địa biểu những gia đình thương binh, liệt sĩ tiêu biểu trong cả nước. Miền sung sướng và xúc động trào dâng làm má Tám khóc hoài. Đi viếng Lăng và thăm nhà ở của Bác, má khóc. Được gặp các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng và Chính phủ, má cũng khóc. Má hứa với đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn và Chủ tịch Phạm Văn Đồng là khi về địa phương, má sẽ không ngừng phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, gương mẫu thực hiện và vận động mọi người chấp hành nghiêm chỉnh mọi đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ, hăng hái đẩy mạnh sản xuất và sẵn sàng chiến đấu, góp phần xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Ngày 30 tháng 10 năm 1978, má Tám được Đảng và Chính phủ tuyên dương anh hùng các lực lượng vũ trang nhân dân. Trong buổi lễ trao tặng danh hiệu vẻ vang này tổ chức tại Ủy ban huyện Củ Chi, đồng chí Bí thư huyện ủy nói: “Hơn ba phần tư thế kỉ má Tám đã sống như cây sao, cây lim, chịu đựng trước mọi phong ba bão táp của cuộc đời. Hôm nay đất nước đã độc lập, thống nhất trọn vẹn, các con trai, cháu trai ruột thịt của má vĩnh viễn ra đi. Các đồng chí ấy đã hoàn thành nhiệm vụ một cách vẻ vang. Nhưng má Tám không bao giờ cô đơn. Má đang sống và luôn luôn sống trong tình thương mênh mông của Đảng, trong sự đùm bọc chăm sóc của bà con Củ Chi anh hùng. Hôm nay, có dịp ôn lại cuộc đời tần tảo và sự hi sinh to lớn của má, chúng ta càng tự hào về tầm vóc thời đại chúng ta và của người mẹ Việt Nam quang vinh”. Đón nhận danh hiệu anh hùng, phần thưởng cao quý của Đảng và Chính phủ, má Tám lại khóc. Trong những giọt nước mắt sung sướng và xúc động ấy có cả những giọt nước mắt nhớ thương vô hạn của má đối với những người con, cháu và bạn bè của chúng đã ngã xuống trên vùng đất Thép này. Tiêu đề: Re: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 07 Tháng Mười, 2013, 11:06:29 am HƯƠNG TRÀM (Viết về Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Người mẹ Việt Nam Anh hùng Đỗ thị Phúc, dân quân xã Nam Thái Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang) I Đúng giờ hẹn, Tiệu đã có mặt ở bãi tràm. Anh đứng nép mình vào một gốc tràm, hai chiến sĩ du kích cảnh giới đứng phía sau. Một chiếc ghe nhỏ chở ba người lướt nhẹ nhàng trên dòng kênh. Gần đến chỗ hẹn, chiếc ghi đi chậm lại, người ngồi giữa bấm đèn pin liên tục bốn lần. Nhận đúng ám hiệu, Tiệu cũng bấm đèn pin đáp lại bốn lần. Chiếc ghe dừng hẳn. Người ngồi giữa ghe bước lên bờ đi về phía gốc tràm. Tiệu bước ra đón và hỏi nhỏ: - Đồng chí là Mười Bình? Người kia hỏi lại: - Đồng chí là Vũ Đình Tiệu, xã đội trưởng Nam Thái Sơn phải không? - Dạ báo cáo đồng chí tôi là Tiệu đây ạ! - Còn tôi là Mười Bình. Tôi già rồi, từ giờ cậu cứ gọi tôi bằng chú Mười nhá, gọi như vậy vừa giữ được bí mật, lại vừa thân mật. Mảnh trăng lưỡi liềm treo lơ lửng trên nền trời màu tím. Gió nhẹ, sóng biền từ xa rì rầm. Làng xóm ngủ lặng. Tiệu đưa chú Mười đi theo con đường mà trước đây anh vẫn thường đưa Hai Phương về nhà mình. Má Tám đã tắt đèn từ sớm, nhưng má và Gấm vẫn thức. Tiệu đưa chú Mười vào nhà. Má Tám khẽ bảo Tiệu: - Cơm nước có sẵn rồi đó. Tiệu chưa kịp trả lời, Mười Bình nói ngay: - Cám ơn thím. Tôi đã ăn uống xong xuôi rồi mới đi. Bây giờ sắp sáng rồi, tôi xin phép được nghỉ vì mấy đêm nay họp hành liên miên. Còn công việc thì ngày mai hãy bàn. Tiệu bấm đèn pin đưa chú Mười vào hầm bí mật. Nghe giọng Mười Bình nói, má Tám thấy sao quen quá. Mười Bình nằm thao thức mãi. Trước khi theo đoàn quân Nam tiến, anh còn đọc một lá thư của chống má Tám giử về làng Phương Xá cho chú Năm. Những năm đnáh giặc ở miền Đông, anh nhiều lần muốn xuống miền Tây tìm thăm vợ chuồng chú thím Phúc và bà con làng Nam Thái Sơn, mà không sao đi được. Gần đây anh được cấp trên cho chuyển sang oct Đảng, và được điều về miền Tây Nam Bộ. Qua đồng chí Hai Phương, Bí thư huyện ủy cũ, anh biết rõ má Tám tức là Đỗ Thị Phúc. Anh không muốn để cho gia đình nhận ra anh giữa đêm hôm. Tiếng gà khắp làng gáy xôn xao, tiếng người nói chuyện và tiếng gồng gánh kĩu kịt. Mười Bình đoán chắc phía trước nhà có con đường lớn, và bên kia đường là dòng kinh… Mờ sáng má Tám đã dậy làm thịt gà nấu cháo. Sau đó má thổi một nồi cơm, vắt làm hai vắt to bằng quả bưởi, và hãm một ấm trà thật đặc. Má đốt đèn, rón rén bưng tất cả những thứ ấy vào hầm. Vừa bước tới cửa hầm, ngòn đèn chớm soi tỏ khuôn mặt Mười Bình, má sửng sốt, cái mâm đồng đang bưng suýt nữa sơi xuống đất. Không thể ghìm được nỗi xúc động đột ngột, má gọi to: - Trời! Anh Minh! Anh Minh! Mười Bình giật mình choàng dậy: - Kìa, thím Phúc! Tiệu và Gấm lật đật chạy vào, ngơ ngác. Tiệu ngập ngừng nói: - Chú Mười có ngủ được không ạ? Má Tám rầy Tiệu: - Bác Minh đó con ơi, anh của bố mẹ, bà con chú bác với nhà ta đó. Hai vợ chồng chào bác đi! Bác Minh mỉm cười: - Thím đừng rầy cháu. Đêm hôm qua tôi bảo cháy gọi tôi bằng chú Mười đó. Với lại nó biết thế nào được. Ngay cả thím cũng còn bất ngờ nữa là. Hồi còn ở ngoài Bắc, tôi đọc thơ chú Xừ gởi về cho chú Năm, biết bà con làng Phương Xá ta lập nghiệp ở đây cả. Khi về huyện nhận công tác, tìm hiểm các đồng chí lãnh đạo địa phương, biết làng Nam Thái Sơn ta mười lăm năm nay chiến đấu rất kiên cường - Mười Bình hạ giọng - Tôi có nghe tin chú Xừ đã mất. Hai cháu được mấy con rồi? Gấm, con gái má Tám, lễ phép đáp: - Thưa bác, cháu được hai đứa! Chúng nó tên là gì, đâu cả rồi? - Thưa bác một đứa tên là Lạc, một đứa tên là Liệu. Các cháu đang ngủ cả rồi ạ. Má Phúc vui vẻ nói: - Còn đây là Cừ, con bà hai của ông nhà tôi. Bây giờ tất cả đều ở chung một nhà. Hai vợ chồng nó đi suốt ngày, suốt đêm. Tôi vừa nuôi con, nuôi hai cháu - má cười xởi lời nhìn Gấm và Tiệu - Tôi còn phải nuôi vợ chồng nó đó. Nói vậy thôi, chớ bác đừng lo. Mời bác cứ ở lại đây luôn với gia đình tôi cho các cháu nó vui. … Từ đó, gia đình má Tám trở thành địa điểm bí mật của đồng chí Mười Bình và các đồng chí cán bộ cáp trên khác về đây lãnh đạo phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân huyện Châu Thành (nay là huyện Hòn Đất). Các đồng chí tỉnh ủy viên như: Ba Ca, Sáu Nheo, Tám Đức, Chín Trọng… đều được má Tám nuôi một thời gian dài trong chiếc hầm bí mật của má. Làng Nam Thái Sơn tiêu điều. Ban ngày không nghe một tiếng cười. Ban đêm không thấy ánh sáng đèn. Sẩm tối, không một ai được ra khỏi nhà. Ngoài đường chỉ có bọn mật thám, bọn lính “Hổ Xám” do tên đại úy Đằng chỉ huy, vây ráp lùng sục. Ba đảng viên: anh Phấn, anh Hội, chị Mai đã bị chặt đầu, vùi xác ngoài Kinh Ba. Thằng Láu bây giờ là thiếu tá chỉ huy cả một vùng từ Rạch Giá đến Hà Tiên. Tuần trước nó treo cổ cụ Quyền lên ngọn cây gòn chỉ vị cụ không giậm chân lên lá cờ đỏ sao vàng. Tiêu đề: Re: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 07 Tháng Mười, 2013, 11:09:05 am Tuy vậy trong cái vỏ bề ngoài im lặng tiêu điều ấy lại là một cuộc sống vô cùng sôi sục.
Gần sáng, trời vẫn mưa nặng hạt. Tiếng mưa rơi trên mái nhà lớp bằng lá dừa nước nghe đều đều như không bao giờ dứt. Má Tám và những người mẹ làng Nam Thái Sơn trăn trở không sao chợp mắt được. Ngày xưa, những đêm mưa gió, vệ quốc đoàn từ trên vùng Bảy Núi - Hà Tiên, theo lộ 80 xuống đông tràm. Sau chiến thắng, những đêm liên hoan quân dân kéo dài đến gần sáng. Những nắm cơm vắt và những chiếc khăn tiễn đưa hồi tập kết với nhiều kỉ niệm vẫn còn tươi rói trong trí nhớ người dân Nam Thái Sơn. Mặt trời nhô lên khỏi mặt biển, ánh nắng chưa uyên thủng những lớp sương mai dày đặc bồng bềnh trôi trên cánh đồng. Ngoài lộ 80 xe bọc thép chạy rung nền đường. Xã trưởng Tám Nấm tung tay chân đi khua dân tập trung ra đường để nghe tên đại úy Đằng nói chuyện. Hắn cầm loa điện nói oang oang: - Chúng tôi là đội quân “Hổ xam” của quân đội quốc gia có phận sự đến đây để yêu cầu bà con dỡ nhà ra ngoài lộ 80 ở, để quân chánh phủ dễ truy quét bọn cộng sản nằm vùng. Ai không thực thi thì lính và xe ủi sẽ làm giúp. Ai cố tình chống lại, tù mọt xương. Bà con nghe rõ chưa? Hàng trăm bà con lớn tiếng phản đối. Cụ Nhì đã ngoài 70 tuổi đứng lên nói: - Thưa với các quan, các thầy! Từ xa, vùng đất này hoang vắng. Cbhúng tôi đến đây lập nghiệp bằng mồ hôi nước mắt của mình, suốtm ấy chục năm trời mới có nhà cửa, vườn tược, ruộng vườn để sinh sống. Bây giờ không đi đâu cả. Tên Đằng hằm hằm bước đến, túm chòm râu bạc của cụ Nhì kéo ngược lên nói: - Lao già này còn sống được mấy năm nưa mà chống lại lính của chánh phủ. Lãm mà cứ nói cái giọng đó thì ăn đạn - Hắn rút khẩu súng lục giơ ra trước mặt cụ - Khẩu súng này lúc nào cũng nạp sẵn đạn. Theo kế hoạch của má Tám, cụ Nhì nói trước, tiếp theo là bà Năm, cô Xuân, thím Dậu rồi tới má. Làm như vậy để bọn nó nói hớ cái gì thì má sẽ đập lại. Nhưng đến đây, thấy tên Đằng hống hách quá, để trấn an mọi người, má Tám ra hiệu cho bà năm dừng lại. Má bước ra khỏi đám người, tiến lên trước mặt tên Đằng: - Thưa ông đại úy, bà con láng Nam Thái Sơn này từ ngoài Bắc vào đây làm ăn. Đúng như lời cụ Nhì nói, xưa kia vùng này là sình lầy, đưng, lác, chúng tôi tự khai phá làm nên. Tháng trước chánh phủ đòi tịch thu hết ruộng đất. Bây giờ chánh phủ đòi xúc dân ra lộ 80. Thế chẳng khác nào chánh phủ giết dân. Dân sống phải dựa vào ruộng đất. Dời làn ra ngoài lộ để ăn đá, uống nước mặn hay sao? Chúng tôi có nhà cửa, có vườn, có đất. Sống chết gì chúng tôi cũng ở lại làng làm ăn chứ không đi đâu cả. Chánh phủ có sợ Việt cộng thì chánh phủ cứ cho quân về đóng trong làng để bắt họ. Chúng tôi là dân, chúng tôi không biết Việt cộng là ai. Tên Đằng nổi giận. Hắn hét to: - Chính con mẹ này là Việt cộng đây. Hắn rút súng lục ra, gí sát vào mang tái má Tám bắn dọa hai phát liền. má Tám vãn đưng yên quắc mắt nhìn hắn. Hàng trăm người tràn lên hô to: “Đả đảo lũ sát nhân. Không được đụng đến má Tám...”. Tên xã trưởng Nấm xoa tay khúm núm: - Xin đại úy nguôi giận, đứng bắn bà Phúc. Tôi sẽ rán thuyết phục bà con. Mọi người biết thừa đây là trò hề thằng đấm, thằng xoa. - Ông đại úy - Má Tám nhìn thẳng vào mặt tên Đằng - ông đưa lính về đây để cưỡng bức bà con dời làng. Ông bứt râu người đáng tuổi bố ông, ông bắn súng vào tai người đáng tuổi mẹ ông. Sao ông ăn, ở ác đức làm vậy. Mười cửa địa ngục ông cũng phải chừa một cửa để mai sau cho mình chớ! Tên Đằng lúng túng nhìn dòng người kéo tới một lúc một đông, vây gọn từng tốp lính để vận động. Đằng đã run nhưng vẫn nói cứng. - Đó là lịnh của Ngô tổng thống. Trước sau gì tôi cũng cào cái làng này ra. Tụi tui là lính chỉ có biết tuân lịnh, bà hiểu chưa? Tôi nhắc lại làng Nam Thái Sơn phải dời ra lộ 80, chỉ có vậy thôi. Nhưng hắn chưa chịu thua. Hôm sau Đằng điều hàng chục xe ủi đến. Xã trưởng Nấm đắc chí, tưởng phen này triệt hạ được cái làng “cứng đầu” này. Máy ủi đậu thành hai hàng ngang. Má Tám cũng hô hào bà con đứng dàn thành hai hàng ngang trước các đầu máy. Xã trưởng Nấm tức giận hét: - Bay cứ ủi đại cho chết mẹ tụi nó đi. Tụi nó làm dốc chớ chẳng đứa nào liều mạng đâu. Má Tám bước đến gần một chiếc máy ủi nói to: - Anh em lái máy ủi! Anh em cũng là người nghèo đi làm thuê, làm mướn, anh em phải thương người nghèo chớ! Anh em đừng làm điều ác, phá nhà, phá cửa của đồng bào. Anh em theo lính giặc cày ủi thì nhất quyết chúng tôi sẽ nằm xuống trước đầu máy. Nhiều tên lái máy ủi do dự. - Các anh phải đứng về phía bà con - Má Tám nói tiếp - Các anh làm điều ác, chính vợ con các anh cũng sẽ nguyền rủa các anh. Xã trưởng Nấm vung súng lục: - Đ. mẹ, chúng mày bị tụi đàn bà lung lạc phải không. Đứa nào không tiến lên tao bắn bể đầu. Một số tên lo sợ, vội vàng nổ máy, tăng ga cho xe ủi lao vào làng. Theo sự chỉ huy của má Tám, hàng chục đống rơm được chuyển đến dựng thành vật chướng ngại, xe ủi vào đến đâu, bà con châm lửa đốt rơm đến đó. Hai chục xe ủi bốc cháy đùng đùng. Má Tám cảnh cáo: - Các anh cho xe vào sâu trong làng, chúng tôi sẽ đốt nhà và xe cháy tiêu luôn. Lần đầu tiên xã trưởng Nấm thấy mình bất lực, hắn phải ra lệnh cho những người lái máy ủi rút về. hắn có thể gọi điện để đại úy Đằng đưa cả tiểu đoàn lính “Hổ xám” với súng đạn và lưỡi lê đến chi viện. Thực có còn thiếu thứ gì nữa đâu? Nhưng hắn không hiểu nổi vì sao mỗi khi một người bị giết, thì trong đội mắt của dân làng lại rực lên ngọn lửa kì lạ. Hắn có nhiều quyền lực, thế mà hắn phải sống nơm nớp lo sợ từng phút, từng giây. Và bọn hắn đã phải lui bước, phải thực hiện thủ đoạn mới “Bình định tại chỗ”. Xã trưởng Nấm nói: - Bà con sợ ra lộ 80 xa xôi, trở ngại công việc làm ăn. Được, tôi sẽ trình với thượng cấp. Chắc là thượng cấp cũng thông cảm khó khăn đó của bà con. Bây giờ ta chỉ sắp xếp lại nhà cửa cho có trật tự. Ta gom một số nhà ở quá lẻ loi về xung quanh đồn. Chúng ta phải đặt việc bảo vệ dân làng và chống Việt cộng xâm lăng lên trên hết. Kế hoạch cào làng, gom dân ra lộ 80 của địch thất bại. Nhưng cuộc đấu tranh để giữ nhà, giữ đất, phá âm mưu “tát nước bắt cá” của dịch ở Nam Thái Sơn đã diễn ra dai dẳng hàng mấy năm trời. Tiêu đề: Re: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 06 Tháng Mười Hai, 2013, 07:03:24 am * * * Cuối năm 1960 Gấm sinh đứa con trai thứ tư đặt tên là Tiến. Cùng thời gian đó, chị nhận được tin Tiệu đã hi sinh trong một chuyến đi công tác từ mặt trận khu trở về xã. Nghe tin, má Tám choáng váng, nhưng kịp thời trấn tĩnh. Má nói với Gấm: - Làm cách mạng là phải nhận phần gian khổ, hi sinh con anh hùng! Chồng chết mà con cứ ngồi khóc thì chỉ ốm đau thêm. Con ở nhà trông nom lũ nhỏ, má đi với anh em giao liên tìm xác chồng con. Má Tám lặn lội tìm đến tận nơi Tiệu ngã xuống. Anh bị ba vết đạn vào bụng và năm nhát dao găm vào ngực. Súng ngắn và tài liệu của anh địch lấy hết. Bà con giúp má mua một chiếc ghe, cưa hai đầu úp lên xác Tiệu, rồi lấp đất. Đốt nắm hương cắm lên mộ Tiệu, má lẩm nhẩm: “Con ơi! Má xin chịu tội không lo được cho con mồ yên mả đẹp! Má sẽ nuôi dưỡng các con của con chóng lớn, cùng mẹ nó trả thù cho con! Bước đường dở dang của con sẽ có đồng bào, đồng chí tiếp nối. Nam-mô-a-di-đà Phật!”. Trời tối một lúc lâu, tiếng ồn ào trong làng đã vắng. Gấm uể oải ngồi dậy. Ba gian nhà vắng lặng. Ba mẹ con ngồi thừ trên mặt thềm. Hai thằng cu lớn là Lạc và Liệu thơ thẩn đi chơi ngoài sân với cậu Cừ. Thằng cu Lăng và Tiến thì đứa đòi ăn, đứa đòi bú. Đến lúc có tiếng nói to của một người nào đó đi ngoài ngõ, má Tám mới giật mình bảo Gấm: - Thôi, đứng lên dọn cơm ăn đi, lũ nhỏ nó đói rồi đó. Nghe mẹ giục đến lần thứ ba, Gấm mới gắng gượng đứng dậy đi xuống bếp. Miếng cơm trong miệng nhạt thếch. Cảnh nhà hiu hắt thế nào ấy. Ban ngày làm việc mệt nhọc, quên đi thì tôi, cứ lúc chiều đến, nhà cửa vắng vẻ, cái buồn như càng da diết hơn. Rửa xong mấy chiếc bát, Gấm cũng chưa buồn đứng dậy. Bóng tối dày đặc trên mặt kính. Sao trời in xuống mặt nước những chấm sáng lờ mờ. Thỉnh thoảng một vài con dơi chao đi, chao lại trên ngọn môn nước. Bên hàng xóm tiếng bác Hanh trai to như lệnh vỡ. Ngồi đây lòng thấy rờn rợn, nhưng Gấm vẫn cứ ngồi mãi. Ở chỗ gốc gòn kia, giặc đã treo cổ cụ Quyến. Giờ đây, trong ánh sao lờ mờ chiếu sáng mặt kinh, Gấm như vẫn còn nghe thấy tiếng cụ hô to: “Đả đảo Ngô Đình Diệm! Hồ Chủ tịch muôn năm!”. Bây giờ chúng nó lại giết anh Tiệu. Anh chết như thế nào? Gấm tự thấy mình có lỗi, không được nhìn thấy mặt chồng lần cuối cùng. Nghe mẹ kể lại cái chết đau đớn của anh, lòng Gấm uất nghẹn. Đau đớn làm sao! Gấm biết lúc này trong nhà mấy đứa nhỏ ăn cơm xong đã lăn ra ngủ. Mẹ chắc lại ra ngồi đầu hè tiếp tục nghỉ ngơi một mình. Bố chết sớm, mẹ muôi Gấm khôn lớn, bây giờ lại đến Gấm nuôi các con. Bất giác Gấm thấy thương mẹ và tủi phận. Gấm ứa nước mắt. Một cơn gió thổi chao mặt nước. Những ngôi sao dưới dòng kinh như tản ra. Gấm bưng rổ bát vào nhà. Gấm định thắp đèn nhưng má Tám từ ngoài hè nói vọng vào: - Thắp đèn làm gì vội cho nóng con? Con thắp cho chồng con một nén hương, rồi ra đây ngồi với mẹ. Gấm ngồi bên mẹ, mắt nhìn đăm đăm lên bầu trời đầy sao. Mùi khói bếp buổi chiều quyện với sương đêm còn phảng phất trong không gian. Qua những vườn cau hàng xóm, thỉnh thoảng lại thấy le lói ánh đèn ở một nhà nào từ xa chiếu lại. Xung quanh không một tiếng động. Má Tám vứt miếng bã trầu, chậm rãi nói: - Con hãy để bốn đứa nhỏ má trông nom cho, tạm lánh ra ngoài mật khu công tác một thời gian. Má nghe anh em ở huyện đội kể lại rằng trước lúc hi sinh, thằng Tiệu đã bắn chết hai tên ác ôn và còn kịp nhai, nuốt mấy công văn mật. Thế nào chúng nó cũng trả thù con ạ! Anh Tám Lai Bí thư chi bộ dặn má bàn với con nên đi sớm, mà ra ngoài đó cùng công tác chứ có phải đi chơi đâu. Gấm nói: - Thằng Lạc, thằng Liệu, thằng Lăng lớn rồi con không lo. Nhưng thằng Tiến còn bé quá, mới có bốn năm tháng, nó ở với bà có được không? - Con yên tâm, mẹ có cách rồi. Với lại cô Mai, cô Tâm trong làng tốt sữa, mẹ sẽ xin các cô cho cháu bú tiếp vài tháng nữa. Cháu ngoài bảy tháng mẹ sẽ cho nó ăn cháo loảng, rồi lại khôn lớn như thổi ấy à? Gấm ra mật khu công tác. Má Tám một mình nuôi đứa con nhỏ và bốn đứa cháu ngoại. Cuộc sống khổ cực vô cùng, thằng Cừ, thằng Lạc hơn 10 tuổi, ngày ngày đi mót lúa, mò cua, bắt ốc, biết thương mẹ, thương bà không còn lêu lổng như trước. Bà con trong làng thương yêu đùm bọc chúng, sau mùa gặt nhà cho giạ lúa, nhà cho vài lít gạo nếp, gia đình má cũng sống tạm qua ngày. Một lần anh Tám Lai triệu tập cuộc họp chi bộ tại nhà má Tám, không ngờ có kẻ phản bội đi báo. Đêm ấy tên Láu đích thân dẫn một trung đội lính ngụy về vây nhà má. Má Tám ngồi trước mái hiên vừa ru cháu, vừa miệt mài tước lá dừa nước. Bỗng chó sủa râm ran khắp làng. Mấy con vịt nhốt ở góc vườn thấy hơi người lạ kêu “cạp cạp”. Tiếp theo là tiếng giày đinh, rồi những ánh đèn pin sáng lóe rọi thẳng vào nhà. Má Tám lấy chiếc đùa bếp đánh liên hội vào chiếc mâm thao và la to: “Chồn chồn… chồn bắt gà!”. Nhận được tín hiệu báo động của má Tám, anh Tám Lai và cả chi bộ, bằng con đường hầm bí mật, rút êm ra bờ kinh. Tên Láu nhảy xổ vào, đá má Tám lăn ra sân. Hắn nghiến răng: - Con mụ già này ghê thật. Bà báo động cho bọn Việt cộng chạy trốn hết. Đêm đó, Láu cho lính trói gô má Tám, đưa về Rạch Giá. Hắn tự tay tra tấn má: - Bọn nào họp trong nhà bà! - Không có ai họp cả. - Thằng Tiệu chết rồi, còn con Gấm đi đâu? - Nó đi chữa bệnh ở nhà quen bên Bảy Núi. - Nói láo này, “đốp đốp”! Nói láo này “đốp đốp”1 Láu còn giơ cao chân đạp múi giày đinh vào mặt má - Cái mặt này lì lắm! Tiêu đề: Re: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 06 Tháng Mười Hai, 2013, 07:04:47 am Khắp người má Tám đầm đìa máu tươi. Má ngất lịm đi. Cứ vài ba ngày thắng Láu lại đánh má một trận. Hắn trả thù về việc hồi trước má Tám đã không gả Gấm cho hắn, lại còn đuổi hắn ra khỏi nhà.
Chúng giam má một năm, đánh đập chán rồi lại còn giở trò mua chuộc. Rốt cuộc chẳng khai thác được ở má điều gì, chúng đành phải thả má về nhà. Thời gian má bị tù, có bác Hùng là chú ruột Tiệu trông nom nhà cửa, ruộng vườn. Bà con lối xóm mỗi gia đình nhận một đứa nhỏ về nuôi. Huyện ủy thấy cháu Tiến còn non tháng, nên cử Gấm về hoạt động hợp pháp để chăm sóc con. Má Tám về nhà chưa đầy hai tháng, thằng Láu lại cho quên về làng bắt má bỏ tù. Lần này, hắn không đánh, hắn chỉ phơi nắng má vào mỗi buổi trưa hơn một tiếng đồng hồ. Buổi tối Láu bắt má quỳ quay mặt vào tướng đá, và phải trả lời hai câu hỏi: - Nhà bà có hầm bí mật nuôi cộng sản phải không? Tại sao con Gấm dạo này không làm ruộng lại đi buôn. Đi buôn để dễ hoạt động cho Việt cộng phải không? - Má Tám trả lời: - Nhà tôi chỉ có hầm tránh đạn pháo của các ông bắn, chứ không có hầm bí mật. Các ông tìm được hầm bí mật thì cứ bắn tôi. Con Gấm yếu đuối không làm ruộng được nên phải đi buôn. Các ông nghi nó hoạt động cho Việt cộng thì các ông cứ theo dõi điều tra. Các ông đã giam tôi một năm, đánh đập tra tấn đủ điều, bây giờ có giam mười năm nữa cũng vậy thôi. Láu cười nham hiểm: - Được, được, bà không phải thách thức tụi tui. Lần này má Tám bị giam bốn tháng. Má tưởng mình chết. Ai ngời sức chịu đựng của con người cũng ghê gớm thật. Lúc thả má về, tên Láu gọi xã trưởng Nấm lên nói: - Từ nay ông quản thúc mụ này tại nhà. Thằng nào lạ mặt đi ngang nhà mụ ta, bắn bỏ liền nghe chưa! Xã trưởng Nấm cúi đầu “dạ” thật to. Nhưng má Tám thì ngẩng cao đầu cười, trong bụng nghĩ: “Chúng mày thua tao rồi”. Vừa trông thấy má Tám từ nhà lao ra, một bác xe lôi trên lộ 80 đạp xe đến mời má. Má lắc đầu từ chối: - Cảm ơn ông, tôi vừa ở tù ra không có tiền. - Kìa, thím Tám, thím quên tôi rồi sao, tôi là Sáu Nhân trước đi lính đóng ở đồn Kinh Một, được thím giác ngộ bỏ đồn trở về nhà làm ăn, nay đã có vợ con. Làm nghề này cũng đủ ăn thím ạ. Sáu Nhận chở má Tám về tận làng. Bà con làng Nam Thái Sơn nghe tin má Tám về, kéo đến nhà thăm rất đông. Khi mọi người ra về hết, căn nhà lại trở nên vắng lặng. Má Tám nhẹ nhàng đến bàn thờ thắp sáu nén nhang, lòng nghĩ về chồng và người con rể thân yêu không còn nữa. Má vặn nhỏ ngọn đèn dầu hỏa rồi ngả lưng xuống chiếc chõng tre ở góc nhà. Những kỉ niệm vui buồn xa xưa lại hiện về. Mùa đông năm 1940, bầu trời xám xịt, nặng trình trịch. Gió lạnh thồi từng cơn và mưa như những ngọn roi quất vào người. Phúc ra trước hiên nhà nhìn trời. Tự nhiên nước mắt chị ùa ra. Vậy là chỉ vài hôm nữa, vọ chồng Phúc và bé Gấm đã phải ra đi. Và ngày mai ngôi nhà tranh dột nát, xiêu vẹo này không còn là của vợ chồng chị nữa. Chị đã phải bán nhà và một số đồ đạc trong nhà để nộp tiền sưu cho bố chồng và lấy tiền đi đường. Nghèo đói quá phải bỏ xứ đi tha phương, chứ Phúc vẫn áy náy vô cùng. Vào nơi đất khách quê người, liêu có ăn nên làm ra hay lại bơ vơ cực khổ hơn ở đây? Bọn mô phụ nói là trong Nam dễ làm ăn lắm. Lúa không cần bón phân, không cần chăm sóc, chỉ việc cấy rồi đợi đến mùa gặt lúa về nhà. Phúc không tin. Ở đâu chẳng có bọn địa chủ cướp đất, cướp nhà. Ở đâu chẳng phải nộp sưu, nộp thuế. Nhưng đói kém thế này, ở lại quê liệu có sống nổi không? Đã hơn tháng nay, cả làng Phương Xá xôn xao với mấy bản cáo thị mộ phu đi “Nam Kỳ”. Những người nghèo, không thước đất cắm dùi có vẻ sốt sắng ra đi. Những gia đình như Phúc lưỡng lự, đắn đo. Ở lại thì chết đói, mà ra đi thì biết đâu còn khổ hơn? Hia vợ chồng Phúc đêm nào cũng rì rầm bán tính. Mới có tháng nay mà trông anh Xứ gày xọp đi, hai gò má nhọn lên và râu ria lởm chởm. Chỉ có bé Gấm thấy bố mẹ bàn tính chuyện ra đi là thích. Cô bé chạy sang nhà ông nội, bà ngoại và cái Tẹo, khoe mình sắp được đi Nam. Nhìn vẻ mặt hớn hở của con gái mà Phúc thấy xót xa và lo cho số phận của con sau này. Liệu đến đời con nó còn cực khổ thế này nữa không? Đêm ấy, khuya lắm anh Xừ mới về đến nhà. Làng xóm đã ngủ lặng, chỉ có gió réo và lá cây xào xạc. Anh đứng tần ngần giữa sân hồi lâu. Con chó mực quấn quýt dưới chân, chốc chốc lại chồm lên liếm vào lai quần anh. Nhìn thấy trong nhà có ánh đèn hắt ra sân, anh hỏi: - Khuya rồi nhà còn thức à? Chị Phúc vặn cho ngọn đèn dầu cháy cao hơn, vừa mở then cài cừa vừa nói: - Hai mẹ con đều còn thức cả. Hồi nãy ông nội cũng sang đây hỏi về chưa. Ông thấy người bên mạn Thái Bình lếch thếch kéo nhau đi hàng đoàn nên sốt ruột. Tình hình thế nào mà nhà về muộn quá vậy? - Rồi sẽ gặp nhiều khó khăn đấy mình ạ, chứ không như tụi nó nói đâu. Nhưng vẫn phải đi thôi. Ở lại thì chết đói. Kiểu này chắc vào trong đó cũng chẳng sung sướng gì hơn. Người nghèo đi đâu cũng chịu phận nghèo. Nhà thu xếp các thứ cho gọn vào, người ta nói độ này trộm cướp ghê lắm. Ngày kia ta đi. Hai vợ chồng cùng bé Gấm rời quê hương ra đi vào một buổi sớm mưa phùn, gió rét như cắt thịt. Tiêu đề: Re: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 06 Tháng Mười Hai, 2013, 07:06:31 am II Ba chiếc ghe máy chạy chậm như rùa, mất hai ngày một đêm mới từ Sài Gòn về đến Rạch Giá. Đoàn người lại tay sách nách mang đi bộ một ngày nữa về hướng Hòn Đất. Lộ 80 Rạch Giá - Hà Tiên uốn mình như một con trăn khổng lồ. Hai bên là bãi tràm bát ngát, xen lẫn với những khóm dừa nước, những vùng sình lầy, đưng, bàng mênh mông, chạy tít vào Kiên Lương. Qua khỏi sông Ba Thê mà không thấy ai đón để dẫn đi tiếp. Nhiều gia đình bắt đầu có người rơi rớt dọc đường. Từ đoạn này, một cảnh tượng thê thảm diễn ra. Không biết từ làng nào, mà người đói tủa ra, từ hướng Kiên Lương đi ngược về. Phúc để ý nghe nhiều người nói giọng miền Bắc. Hay là bà con Ninh Bình vào đây từ năm ngoái, năm kia? Những thân hình gầy guộc rách rưới, những cái xác ốm đói, nhưng vẫn chưa bị thần chết quật ngã hẳn. Phúc hỏi một chị cùng trạc tuổi mình, bế đứa con nhỏ trên tay: - Bà con ta đi về đâu đấy chỉ? Nghe Phúc nói giọng người Bắc, chị ta đứng khựng lại trố mắt nhìn Phúc rồi thốt lên: - Trời! Các bác ngoài Bắc mới vào phải không? Chúng tôi người Sơn Tây đây mà. Vào đây đã hai năm rồi. Bây giờ bọn Tây lại đuổi nhà - Rồi chị ta mừng rỡ, gọi thật to - Bố ơi! Bác Lí ơi! Đây là bà con mình ngoài Bắc mới vào. Phúc ôm chặt người bạn gái vào lòng, nước mắt ràn rụa. Hai đoàn người dừng lại tay bắt, mặt mừng. Một số người thường đi làm thuê, cuốc mướn hoặc buôn bán, xa quê lâu ngày, nay mới nhận được người quen. Bác Lí nói: - Ngoài đó không biết chúng tôi khổ cực thế này hay sao mà còn vào? Nhà cửa, vườn tược vừa mới thành hình thì bọn Tây tới cướp sạch, đuổi sạch, nói là để lấy đất xây lô-cốt, làm bãi tập. Chúng nó đuổi chúng tôi về Cà Mau đây này. Người bạn gái tên Xuân gục đầu vào vai Phúc nức nở: - Chúng em đòi đền bù, chúng nó bắn chết ngay chị ạ! - Bác ạ! - Phúc nói - Vào đây mới biết rõ chỗ này cũng có kẻ giàu, người nghèo. Nam Kì, Bắc Kì cũng khổ cực như nhau cả. Bây giờ bà con mình có đi Cà Mau rồi cũng thế thôi. Nếu bà con bằng lòng thì nhập đoàn với chúng cháu. Ta sẽ đùm bọc nhau sinh sống. Cụ Quyến, người già nhất làng Phương Xá ra đi trong chuyến này, nói: - Cháu Phúc nói đúng đấy. Xem ra từ bữa rời quê hương tới nay cháu Phúc nghĩ cái gì cũng đúng, nó bảo làm gì cũng hay. Vừa rồi cháu Phúc có ý muốn bà con Sơn Tây ta nhập đoàn, các bác, các anh, các chị nghĩ thế nào? Kẻ nói qua, người nói lại, họ bàn tán với nhau khá kĩ, cuối cùng hai trăm gia đình Sơn Tây đều được nhập đoàn với tám trăm gia đình Nam Định, Thái Bình đi khai khẩn vùng đất mới. Lúc đầu cũng có một số gia đình còn băn khoăn lo ở đất này không sống nổi, lo bọn Tây trên Hà Tiên lại xuống đuổi một lần nữa. Nhưng thấy nhiều người đồng tình ở lại, và nhất là tấm lòng của bà con Nam Định, Thái Bình nên họ yên tâm. * * * Chiều tối, một tên lùn tịt, mũi đỏ như quả cà chua chín mọng, đi xe lôi từ Rạch Giá lên. Sau này bà con mới biết biệt danh nó là “Bùi Kiệm”. “Bùi Kiệm” làm tay sai cho cò Bô-lô người Pháp. Cò Bô-lô vừa là chủ đồn điền vùng này, vừa là tên mật thám cáo già. Hắn lấy vợ người Việt và nói tiếng Việt rất thạo. “Bùi Kiệm” nói: - Đ. mẹ! Chúng mày đi chậm như rùa. Tao tưởng chúng bay đã tới tận Hòn Đất rồi chớ. Đi khỏi đây chừng năm cây số sẽ có các hương chức xã đón, phân chia đất đai, chỗ ở làm ăn nghe chưa? Tạo lịnh rồi. Nói xong mấy câu “Bùi Kiệm” lên xe đi thẳng về Rạch Giá. Phúc mừng thầm, nghĩ: “Thế là thuận lợi cho bà con Sơn Tây”. Nhưng bà con Sơn Tây thì vẫn cứ nơm nớp lo sợ. Bóng tối vùng này ập đến quá nhanh. Nước biển ngả màu tím. Sóng vỗ rì rào, những vệt sáng lân tinh kéo dài mãi về phía chân rời đen kịt. Bà con uể oải dừng lại. Người vào nhà dân bên cạnh đường xin nghỉ nhờ, kẻ chui vào mấy túp lều chăn vịt bỏ trống. Số đông lấy chiếu che sương nằm tạm dưới những gốc tràm. Bé Gấm ngủ say. Anh Xừ ngồi dùng hai ngón tay nhổ râu, thỉnh thoảng châm lửa hút một hơi thuốc lào, phả khói trắng xóa, đôi mắt lim dim suy nghĩ. Anh hỏi vợ: - Nhà có nhớ ngày hôm nay là ngày bao nhiêu tháng chạp không? Chị Phúc bấm đốt ngón tay tính lầm nhẩm: - Hăm lăm tháng chạp rồi mình ạ. Anh Xừ cười: - Thế là năm nay ta quên mất ngày đưa ông Táo về trời. Chị Phúc nhặt mấy que củi khô bỏ vào bếp lửa, ngọn lửa bốc cao. Thấy chồng vui, chị cũng nói đùa: - Mình quên đưa ông Táo về trời thì ông Táo cũng đi rồi, nên bếp lửa này có ông đâu? Anh Xừ nhìn vợ cười. Khuya lắm. Một vài con chim đi ăn đêm về tìm tổ ngủ, thấy bãi tràm động, vỗ cánh bay lên kêu “quang quác”. Sương rơi nặng hạt xuống bếp lửa kêu xèo xèo. Bếp lửa cũng tàn dần. Sáng sớm. Từng làn gió lạnh thổi nhè nhẹ. Trời mây êm ả. Ánh nắng dịu dàng như ánh trăng, thứ ánh sáng của riêng những buổi sớm cuối năm. Đoàn người lại lũ lượt kéo đi. Không ai có đồ đạc gì nhiều, nhưng bước chân họ nặng trình trịch như đeo đá. Non hai giờ đồng hồ sau, họ dừng lại trước cái bảng gỗ vuông màu đen, mỗi cạnh chừng năm mươi phân, treo lủng lẳng dưới gốc cây gòn. Trên tấm bảng có mấy dòng chữ viết bằng phấn trắng nguệch ngoạc: “Đón dân Bắc Kì tại đây”. Tiêu đề: Re: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 06 Tháng Mười Hai, 2013, 07:08:16 am * * * Mỗi gia đình được chia từ ba đến bốn sào đất để xây nhà, làm vườn, tùy theo số người nhiều hay ít. Nói là đất, vì không còn danh từ nào nữa để nói tượng trưng cho sát nghĩa. Thật ra đây chỉ là một vùng đồng bằng lầy lội, chua mặn, hoang vắng, mỗi như trấu, hầu như chưa mấy người đặt chân tới. Người ta gọi đây là quê hương của cây tràm. Tràm mọc bạt ngàn, nhìn tít tận chân trời vẫn chỉ thấy mênh mông bãi tràm, thỉnh thoảng xen lẫn đưng, bàng và cỏ dại của vùng biển. Một ngàn gia đình ở quây quần bên nhau trên một vùng đất khá rộng, hơn mười cây số vuông. Không biết ai là người đầu tiên đặt ra, nhưng cái tên làng Nam Thái Sơn chính thức được gọi từ năm 1942. Nam Thái Sơn là chữ đầu thép từ ba vùng quê ngoài Bắc: Nam Định, Thái Bình, Sơn Tây. Bà con tự hào và yêu quý tên quê hương mới của mình: Nam Thái Sơn., Gia đình chị Phúc nhận một vuông đất không lấy gì làm rộng lắm so với số bà con hai chục gia đình làng Phương Xá vào đây. Anh Xừ vần công với bác Quyến, bác Bằng, bác Sâm, anh Bích, người thuê thuyền ra đảo Phú Quốc đẵn gỗ, kẻ đi về phía Xa Xía, Hà Tiên chặt lá dừa nước làm cái lợp. Người già, trẻ con không đi xa được thì ở nhà đào gốc tràm, dọn đất đắp nền nhà, chẽ lạt… Bà con địa phương các xã Ba Hòn, Thổ Sơn thương yêu giúp đỡ mọi thứ cho người mới đến. Một năm sau đã có trai Ba Hòn lấy gái Nam Thái Sơn. Làm nhà xong, hay đúng hơn, những túp lều vừa mới dựng xong, thì cả làng đào kinh thoát nước chua mặn từ lộ 80 trở vào. Mất hơn một năm lao động cật lực, bà con mới đào xong mười con kinh, gia đình Phúc ở giữa Kinh Ba. Rừng tràm và đưng, bàng, hoang dại đã lùi xa hơn một tí, nhường chỗ cho những cánh đồng lúa đang chín vàng. Trong căn nhà thấp lè tè, ánh đèn dầu hỏa lờ mờ hắt những tai sáng yếu ớt ra phía dòng kinh. Bé Gấm đã ngủ say. Anh Xừ ngồi bó gối trầm ngâm, thỉnh thoảng lại châm đóm hút thuốc lào. Chị Phúc ngồi cặm cụi bện cọng bàng lại thành những chiếc đệm sáng sáng đi chợ bán kiếm vài hào. Hôm nào cũng vậy, suốt ngày hai vợ chồng làm quần quật, ngoài đồng, tối về anh Xừ lựa cọng bàng cho vợ bện, mãi đến gần nửa đêm mới đi ngủ. Hai hôm nay, từ lúc nhận được thư của chú Năm, người em trai út của gia đình từ làng Phương Xá gửi vào, anh Xừ buồn rười rượi. Phúc càng đau đớn khi được tin bố chồng ốm nặng đã qua đời. Gấm đã 13 tuổi, thấy bố mẹ vất vả suốt ngày mà vẫn đói khổ nên nó xin nghỉ học ở nhà hái rau nuôi heo, nấu cơm, dọn dẹp nhà cửa. Phúc an ủi chồng: - Bố sống được 76 tuổi, cũng là thọ rồi. Thương một nỗi là lúc nhà ra đi trong cảnh đói nghèo, không biếu bố có được cỗ ván hòm hay không - Phúc ngước lên nhìn chồng rồi nói tiếp - Nhà nên biên một lá thư để thăm hỏi các bác, các chú ngoài đó, ngày mai tôi đi chợ Rạch Giá đánh dây thép cho nhanh. Anh Xừ ngẩng lên, ngập ngừng: - Tôi định bàn với nhà, ta có con heo choai choai, mai nhà đem ra chợ bán đi, cộng với số tiền dành dụm được lâu nay, gửi về ngoài đó cho các bác, các chú trang trải nợ nần. Bố mất, thế nào bà con ngoài ấy cũng phải lo, mà đã lo là tốn kém. - Tôi cũng đã nghĩ như vậy rồi. Thôi cái khoản đó nhà cứ yên tâm. Nhà nhớ viết ngay mấy chữ đi nhé! - Phúc đáp nhỏ. * * * Mấy năm nay chưa có cuộc đấu tranh nào của dân làng với bọn làng, tổng và cả bọn Tây mũi lõ mà Phúc vắng mặt. Cả làng ai cũng quý mến chị nết na, hiền dịu, thật thà, làm ăn cần mẫn, đối với xóm giềng như bát nước đầy. Nhưng đối với bọn quan chức, bọn Tây, chị thẳng tay vạch mặt chúng. Nhiều tên đầu trâu, mặt ngựa, muốn hại chị, nhưng chị được bà con cả làng Nam Thái Sơn che chở. Một hôm, nhân lúc “Bùi Kiệm” về hạch sách, Phúc đứng ra đối chất với hắn. Trời nắng chói chang, mồ hôi vã ra trán, chảy ròng ròng xuống đôi gò má xương xương đen sạm của Phúc. Chị lấy tấm khăn rằn quấn đầu lau vội mồ hôi, rồi bước ra phía trước, nói: - Dạ, bẩm quan lớn. Quan lớn là người được học nhiều, biết rộng. Bàn dân chúng tôi xem quan lớn là người thay trời để trị dân. Nhưng ngay cả trời, mưa nắng nếu không thuận hòa, làm hư hại mùa màng, dân chúng cũng oán ghét. Quan lớn ra lịnh gì chúng tôi cũng phải làm, nhưng trời sinh ra cái miệng thì cũng phải cho dân được nói. “Bùi Kiệm” vung gậy mây quát: - Đ. mẹ con mụ kia muốn nói gì thì nói nhanh lên. Đừng có mà chửi khéo ông. Phúc vẫn bình tĩnh: - Một là quan lớn hay chửi dân rất lỗ mãng, cũng như trời mà hay sấm sét trái mùa, dân không ưa. Hai là làng này là làng Nam Thái Sơn, quan lớn không thích thì đổi lại tên khác có văn tự hẳn hoi, chứ không không nên chỉ là làng “Đầu Bướu”. Gọi như thế thì chẳng hóa ra người làng này là giống bò chứ không phải giống người. Mà quan trên lại đi cai trị bò thì còn ra cái thể thống gì - Có nhiều tiếng cười rộ khoái trá của bà con - Ba là, bảo đào kinh thì là bà con chúng tôi sẽ đi, nhưng quan trên phải tính công xá cho rành mạch. Còn việc nộp một nhà 20 giạ lúa thì mong quan trên xét cho. Lúa ngoài đồng tuy đã chín, nhưng tính ra chưa đủ trả công nợ cho bà con bên Thợ Sơn, Ba Hòn. Phúc vừa dứt lời, thì cụ Quyên, bà Hai Trầu,bác Hưng, anh Phấn mỗi người một ý, lí ra lí, tình ra tình, làm cho “Bùi Kiệm” bối rối. Kiệm là tên quanh vừa dốt lại vừa ngu, chỉ chuyên lên mặt và đè đầu cưỡi cổ những kẻ yếu bóng vía. Nhưng khi gặp phải những đối thủ “cứng cựa” thì Kiệm không che giấu nổi sự lúng túng. - Bọn bay thì biết cái đếch gì mà cũng bắt bẻ văn chương với chữ nghĩa. Thôi, không thích gọi là làng “Đầu Bướu” thì từ nay gọi là làng Nam Thái Sơn chết tiệt gì đó cũng được. Còn người đi đào kinh thì có công xá đường hoàng. Đ… mẹ, chúng bay chưa làm mà đã đòi ăn. Dưới đám đông có nhiều tiếng nói lao xao: “Quan trên hay ăn quịt như vụ heo, bò năm xưa vậy, nhớ chưa?”. Kiệm giả điếc không nghe, nói tiếp: Việc một nhà phải đóng 20 giạ lúa, chúng bay kêu nhiều hử? Thôi được, tao hạ xuống 10 giạ, phải nạp ngay sau khi gặt về. Đứa nào ho he kêu nữa thì coi chừng - Hắn vung gậy mây và trợn mắt - Liệu thần hồn với thằng Kiệm nay nghe chưa? Trên đường ra về, bà con bàn tán: - Phải dạy cho thằng ngay biết thế nào là dân làng Nam Thái Sơn mới được. - Cái thằng rõ ngu như con bò, lúc đầu thì hùng hổ nói mọi việc là lịnh của thằng Bô-lô, nó không biết gì cả, sau thì chính nó tự rút 20 giạ lúa xuống còn 10 giạ. Thật muốn đào mồ cha nó lên mà chửi cho đã giận. - Đối với bọn đểu cáng này ta đồng tâm, hiệp lực đấu tranh dần từng bước, thế là tốt. Đờn căng dây quá cũng dễ đứt. - Còn cái thằng cò Bô-lô chủ đồn điền này, nó gian xảo, chứ không phải “võ biền” như “Bùi Kiệm” này đâu, ta phải đề phòng. Tiêu đề: Re: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 06 Tháng Mười Hai, 2013, 07:09:18 am * * * Mùa xuân năm 1945. Bầu trời lúc quang đãng, ánh sáng le lói, lúc vẩn đục, mây sà thấp, lác rác vài hạt mưa. Con đường vào làng Thọ ngập rác bẩn và lở lói. Phía sau xóm nhà lá ọp ẹp có một con đường cao rộng, sạch sẽ, được lát đá phiến của vùng Bảy Núi nhẵn bóng, chạy thẳng qua cái cổng sơn xanh màu rêu biển vào dinh chánh Thìn, người giàu có nhất làng này. Chánh Thìn được cò Bô-lô và “Bùi Kiệm” giao cho cai quản cả làng Nam Thái Sơn và quản lí luôn việc đào kinh. Trong nhà “cụ cánh” mướn người ở có hàng chục. Người chăn bò, làm cổ nếp hương ngoài cánh đồng Hạ, người cắt cỏ cho đàn ngựa. Trong nhà còn có nhiều người ở nuôi heo và xay lúa, giã gạo. Họ làm việc không nghỉ tay, từ mờ sáng đến tối mịt. Mấy tháng nay, quãng đường lát đá trước cổng nhà cụ Chánh có rất nhiều người đứng lố nhố. Cũng chẳng phải ai lạ, vẫn những người làng Thọ xưa nay làm công cho nhà cụ Chánh. Họ bị cụ đuổi và quịt tiền công. Nhưng đông hơn cả là bà con làng Nam Thái Sơn sang đây đòi trả khoản tiền công đào kinh, ngót hai năm nay họ chưa lãnh đủ. Đã hai lần chị Phúc, cụ Quyến dẫn đầu bà con đào kinh về Rạch Giá tìm gặp “Bùi Kiệm” để kêu. “Bùi Kiệm” trống không tiếp, nhưng tay chân của hắn nói rằng mọi việc ở dưới đó đều do cụ Chánh giải quyết. Lâu nay bà con thấy “Bùi Kiệm” ít về vùng này. Có người cho rằng “Bùi Kiệm” run sợ trước phong trào cách mạng đang nổi dậy khắp nơi, nên hắn co lại để tìm đường tẩu thoát. Có người lại nói cò Bô-lô đã giao cho Bùi Kiệm” công việc quan trọng hơn: Làm mật thám. Từ ngày cụ Chánh lánh trọng trách mới: cai quản dân đông hơn, trông coi cả việc đào kinh, thu lúa thuế, Chánh Thìn cũng vênh râu không kém “Bùi Kiệm”. Hôm nay Phúc cùng bà con đến đây. Vừa trông thấy Phúc, chánh Thìn trợn mắt quát: - Đ… mẹ cái con Bắc Kì kia, mày đi đến đâu là xúi giục bà con làm loạn đến đó. - Bẩm cụ Chánh! Trước đây quan “Bùi Kiệm” đã hứa là công xá đào kinh của dân sẽ được quan trả đầy đủ. Bây giờ quyền hành ở đây thuộc tất cả về cụ Chánh. Cụ thay quan trên đẻ cai trị dân. Thưa cụ, hàng ngàn dân đào kinh gần hai năm, kinh sắp hoàn thành mà dân thì chưa được xu nào. Trong khi đó lúa của dân, cụ vẫn cho lính đi thu không thiếu một hạt. Trên có trời, dưới có cụ, cụ soi xét cho. Mặt chánh Thìn lạnh như thiền, không nói không rằng, hắn mặc áo dài, đội khăn xếp, tay phải cầm chiếc quạt lông công, tay trái cầm chiếc gậy mây, đứng lên bên cạnh con chó béc-giê ngồi chồm hỗm. Con chó giương hai con mắt xanh như hai òn bi ve, chiếc lưỡi dài đỏ hỏn thè lè, chẳng phải làm gì mà mồm nó vẫn thở hồng hộc. Đứng bên cạnh con chó còn có một thanh niên trạc hăm ba, hăm bốn tuổi, mặc đồ xanh màu cứt ngựa, đầu húi cua, một cụm râu đen lún phún như vệt lộ nồi quệt dưới mũi. Chị Phúc và bà con làng Thọ, làng Nam Thái Sơn nhìn mãi mới nhận ra người đứng đó là thằng Láu hay nói tiếng Tây, con trai thứ ba của lão chánh Thìn. Sao bây giờ trông khác hẳn quá vậy? Láu nhìn chằm chăm vào đám người trước mắt. Hắn chụp lên đầu một chiếc ca-lô màu trắng, đội lệch nửa đầu, rồi xỏ tay vào túi quần, mồm huýt sáo, nền giày đinh đi về phía chị Phúc. Hắn nhìn chị, rồi quay lại nhìn Gấm, đoạn nện gót giầy đinh xuống mấy bậc đá kêu “bộp bộp”. Đến giữa đám người đông nhất, hắn rút trong túi quần ra một vuông vải đỏ ở giữa có hình búa liềm màu vàng đan chéo nhao, dứ dứ vuông vải vào mặt từng người. rít lên: “Tối hôm qua đứa nào treo cái này lên ngọn cây gòn, không nói thì tao treo cổ hết cả lũ”. Mọi người im lặng. Ai cũng hiểu vuông vải đó là lá cờ cách mạng. Cách mạng đã về đây với bà con rồi. Láu hăm dọa: - Chúng mày không nói phải không, tao sẽ có cách. Hai bố con lão chánh Thìn cùng con chó săn đã vào khuất trong cổng. Bà con lũ lượt ra về. Biết bao cặp mắt mờ đục sáng quắc lên. Đâu đó, trên đường đi của họ, bên những khóm tràm, dưới những mãi chợ, họ truyền cho nhau những mẩu tin mới nhất. Tin đồn rằng tại Chợ Mới, Việt Minh treo cờ đỏ sao vàng trên nóc dinh quận trưởng. Ở thị xã Long Xuyên, truyền đơn của cách mạng rải khắp các phố phường kêu gọi bà con nghèo vùng dậy cướp chính quyền. Lá cờ búa liềm đã về đến làng Thọ và làng Nam Thái Sơn rồi! Tiêu đề: Re: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 06 Tháng Mười Hai, 2013, 07:10:53 am * * * Con kinh đào Rạch Giá - Hà Tiên đã làm xong hoàn toàn. Đoạn kinh qua làng Thọ và làng Nam Thái Sơn được làm xong trước một tháng, nhưng chánh Thìn quịt luôn, không hề trả một xu cho dân. Bà con cũng không muốn đi đòi nữa. Dường như ai cũng thấy sắp có một sự đổi đời hoàn toàn. Phải bắt cò Bô-lô, “Bùi Kiệm”, chánh Thìn… trả nợ máu, chứ không phải chỉ có đòi chừng ấy. Năm nay những trận mưa đầu mùa đến muộn. Chân trời thoáng đãng. Đứng ở giữa làng Nam Thái Sơn vào buổi sáng thấy bầu trời nhẹ tênh và trong trẻo đến nỗi những rặng núi phía xa như xích gần lại. Trên lưng dãy Ba Hòn uốn cong thoai thoải, chỗ này hoặc chỗ khác đang bốc lên những đám khỏi màu trắng hoặc màu vàng da cam từ những mái nhà lá. Về phía biển, dưới chân những cồn cát, có năm bảy chiếc ghe úp, vài ba giàn lưới phơi và những bác thợ chài vạm vỡ, nước da đen bóng. Đêm đêm làng chài nổi lửa, ánh lửa mang một vẻ đẹp lộng lẫy, huy hoàng làm rạng rỡ cả một góc chân trời. Đêm đêm chị Phúc vẫn ngồi dưới đệm bàng. Gấm đã 16 tuổi, nhưng vóc người như giá 18. Gấm làm được những việc trong gia đình giúp bố mẹ. Gần một năm nay, dường như anh Xừ bỏ bễ việc giá và lựa cọng bàng giúp chị Phúc. Đêm nào anh cũng đi đến khuya mới về. Chị Phúc hỏi, anh chỉ cười hì hòi, nói đi bàn chuyện làm ăn. Trong số những người hai lui tới đây tìm anh có anh Hùng, anh Lợi, cụ Quyên, cụ Huân. Tuần vừa rồi bọn mật hám tay chân của “Bùi Kiệm” đã bắt anh Hùng giam ngoài tỉnh. Hôm qua thằng Láu cũng dẫn bọn lính về đây vây nhà anh Lợi, may quá anh Lợi đã rút được ra ngõ sau, chạy ra cánh đồng tràm. Chị Phúc biết, chồng đang tham gia những việc quan trọng, đầy nguy hiểm. Lo, nhưng chị không ngăn cản anh. Chị đang suy nghĩ miên ma, thì Gấm hỏi: - Mẹ ơi! Tai sao bố con lão chánh Thìn sợ vuông vải đỏ có hình búa liềm, hả mẹ? - Đó là lá cờ cách mạng con ạ. Màu đỏ là màu chiến đấu, cái búa với cái liềm đan chéo nhau là công nông kết đoàn đấy. Bố con nói với mẹ như vậy đó. Cách mạng đã nổi dậy ở mọi nơi rồi. Ở đây có lá cờ đó là có cách mạng về rồi. Cách mạng sẽ đánh bọn Tây với bọn địa chủ, nên bố con lão chánh sợ là phải con ạ! Ờ mà con phải giữ mồm, giữ miệng đó nhá. - Ở ngoài Bắc ta có cách mạng như vậy không hả mẹ? - Chú con vừa gửi thư vào nói rằng ở ngoài Bắc người chết đói chật đường, chật sá. Làng Phương Xá ta lớp chết đói, lớp bỏ làng đi gần hết. Thế mà cách mạng ở ngoài đó mạn lắm. Có cả cờ đỏ sao vàng nữa đấy. Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng… đâu đâu cũng nổi dậy rồi. Gấm chăm chú nghe mẹ nói như nuốt lấy từng lời, niềm vui ánh lên khóe mắt. Đã quá nửa đêm, trời mưa càng nặng hột. Tiếng con te te ngoài kinh kêu xót xa. Có tiếng rít kẹt cửa. Anh Xừ bước vào, quần áo ướt sũng. - Nhà về khuya quá vậy? - Chị Phúc hỏi. Anh Xừ khoát tay ra hiệu im lặng, rồi vặn nhỏ ngọn đèn dầu lửa vốn đã tù mù càng làm cho căn nhà tối hẳn lên. Thay áo quần xong, anh kéo vợ lại gần nói: - Nhà có biết không? Đêm nay khắp cả nước đã lên rồi. Phong trào cách mạng ngoài Bắc ta lên mạnh lắm. Chết đói chỉ làm cho dân minh căm thù cao chứ không ai chùn bước. Các anh nói ở Long Xuyên, Cần Thơ đã cướp được chính quyền rồi - Anh Xừ ghé sát vào tai vợ - Anh Lợi là cán bộ Việt Minh nói vơi tôi như vậy. Chính tay anh cắm lá cờ búa liềm trên ngọn cây gòn trước nhà chánh Thìn đấy. Ngày đổi đời của bà con ta đã đến. Tối mai sẽ có một cuộc họp bí mật ở nhà mình. - Họp ở tại nhà mình ấy ư! - Phúc hỏi. - Ừ! Vào khoảng nửa đêm. Nhà và con Gấm sẽ gác, trông chừng bọn cú vọ hay rình mò ăn đêm. - Vâng. Nhưng có đông không? - Ít thôi. Chừng độ chục người, để cho một cán bộ vừa vượt ngục trở về, phổ biến kế hoạch khởi nghĩa. … Nửa đêm hôm sau trơi vẫn mưa tầm tã. Mùa này ở đây hay mưa về đêm. Chị Phúc và Gấm ngồi ngoài cửa trước. Gấm vừa gác vừa lựa cọng bàng cho mẹ đươn đệm. Ngọn đèn vẫn vừa đủ sáng một góc nhà nhỏ. Anh Xừ đứng cửa sau đó các đồng chí. Trong cái lều con để rơm rạ thóc giống, chị Phúc trỉa sẵn một chiếc đệm, ở giữa để một ngọn bạch lạp và một cỗ bài tổ tôm. Trong số những người đến họp, chị Phúc nhận ra một số người quen như: cụ Quyên, anh Lợi, anh Phấn, anh Hội, bác Hưng… Anh Lợi mời cả anh Xừ và chị Phúc dự họp, vì anh đã bố trí lực lượng tự vệ gác mấy vòng từ xa. Còn Gấm nấu nước và canh chừng thêm. Anh Lợi giới thiệu người đến sau cùng là đồng chí Hai Phương con của cụ Huân. Mọi người ôm chầm lấy anh nghèn ngào. Từ cõi chết ngoài Côn Đảo, anh đã vượt ngục về đây để lãnh đạo bà con quê nhà nổi dậy. Người anh xanh xao, gầy gò, nhưng đôi mắt sắc sảo sáng quắc. Bố con lão chánh Thìn nói anh bị xử tử rồi. Bây giờ nếu biết được anh Hai Phương đã về, cụ Huân bố anh sẽ sung sướng biết chừng nào. Anh Phương nói giọng trầm trầm: - Khắp cả nước đã vùng lên đánh Tây, đuổi Nhật, khởi nghĩa cướp chính quyền, lật đổ bọn địa chủ phong kiến. Đảng Cộng sản lãnh đạo cách mạng, kêu gọi toàn dân đoàn kết đứng lên. Đây là thời cơ có một không hai để thoát ách nô lệ hàng trăm năm nay. Tôi xa quê nhà lâu, vừa mới về, chân ướt, chân ráo, chưa kịp nắm tình hình cụ thể. Nhưng kế hoạch chung toàn khu vực là như thế này. - Anh nhìn mọi người, nói tiếp - Lực lượng cách mạng sẽ cùng một lúc bất ngờ đánh vào Rạch Giá, Hà Tiên và Kiên Lương. Việc cướp chính quyền, vận động đồng bào nổi lên trừng trị bọn ác ôn ở những nơi đó đã được Mặt trận Việt Minh chuẩn bị chu đáo rồi. Mấy xã ở đây như Nam Thái Sơn, Thổ Sơn, Ba Hòn… có vị trí quan trọng lắm. Chúng ta có nhiệm vụ lãnh đạo đồng bào nhất loạt vùng lên, tổ chức lực lượng tự vệ nhân dân, đánh chiếm hai bốt Mô Đất và Kinh Một, chặt đứt lộ 80, chia cắt không cho bọn địch ở Rạch Giá lên và Hà Tiên xuống, đón quân cách mạng từ vùng vùng chiến khu Bảy Núi vượt rừng tràm trở về. Tiêu đề: Re: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 06 Tháng Mười Hai, 2013, 07:12:12 am Nét mặt mọi người rạng rỡ, lắng tai nghe như nuốt từng lời của anh Hai Phương.
- Các bác, các anh, các chị là những người nghèo khổ nhất trong làng, đã từng dẫn đầu các cuộc đấu tranh chống sưu cao, thuế nặng, đòi các quyền lợi khác cho bà con. Các bác, các anh, các chị nên bàn bạc thật cụ thể, rồi phân công nhau hướng dẫn bà con mình hành động khi Việt Minh cướp chính quyền. Anh Lợi nói: - Lòng căm thù của bà con ta đối với bọn đế quốc, phong kiến, địa chủ như dầu sôi lửa cháy. Nhưng phải biết tổ chức lại mới tạo thành sức mạnh. Kẻ địch rất nham hiểm, chúng có quân đội và bộ máy kìm kẹp từ tỉnh xuống xã. Nhưng cái lớn nhất mà chúng không có, đó là lực lượng nhân dân. Chúng ta phải tổ chức bà con lại thành hàng ngũ. Chị Phúc và chị Xuân nắm lực lượng các bà, các chị. Bác Hưng, anh Xừ nắm lực lượng các bác nông dân và thanh niên. Cụ Quyền tổ chức lực lượng các cụ, các má, chăm lo nước nôi lương thực. Anh Phấn, anh Hội chỉ huy lực lượng vũ trang. Tôi liên lạc với cấp trên và điều khiển chung. Còn anh Hai Phương sau cuộc họp này, theo lệnh trên phải đi nơi khác. Bác Hưng vung chiếc dao bầu, giọng sôi sục: - Tôi hoàn toàn nhất trí với ý kiến của các anh. Nhưng còn cái kho của “Bùi Kiệm” và cái dinh cơ của chánh Thìn thì tính sao? Không lí gì dân làng đang chết đói mà cứ để yên các vựa thóc đó. Cụ Quỳnh đứng dậy: - Tôi tán thành phải lấy vựa thóc nhà “Bùi Kiệm” và nhà chánh Thìn. Bà con nghèo chúng ta phen này phải đồng tâm hiệp lực lại, làm cách mạng. Trời đã tạnh mưa. Ngoài bờ kinh tạt vào những ngọn gió mạnh làm tắt ngọn đèn bạch lạp. Trong bóng đêm mọi người phấn khởi chia tay nhau. Mấy ngày sau người ta thấy xe nhà binh của Pháp chạy như điên trên quốc lộ. Thằng Láu đưa một trung đội lính quản về đóng ngay trong nhà hắn. Hai bốt Mô Đất và Kinh Một cũng tăng quân và tuần tra nghiêm ngặt. Một đêm đầu tháng bảy. Khuya lắm. Đàn vạc ngoài cánh đồng tràm đi ăm đêm về kêu quang quác. Bỗng từ góc trời đằng đông có tiếng súng nổ lụp bụp như vỗ thúng. Từ ngoài bãi tràm, một tiếng kêu vang lên: - Việt Minh lấy xong tỉnh rồi! Chị Phúc nhận ra tiếng bác Hưng. Phúc vác cái đòn xóc chạy thẳng ra bờ kinh. Gió rít hai bên tai, kêu ù ù. Chị vẫn nghe rõ những tiếng hô tiếp theo của cụ Quyền. - Quân Cách mạng cướp chính quyền ở Rạch Giá rồi bà con ơi! Cờ Việt Minh! Cờ Việt Minh! Hàng ngàn người trong xóm nhà lá, kẻ cầm dao, người cầm chà gạt chạy cả ra bờ kinh, trên lộ 80. Những người ăn xin ngủ vật vờ ở lều quanh chân tường nhà lão chánh Thìn và ngoài bãi tha ma cũng bò cả dậy. Những thân hình khẳng khiu, bộ ngực lép xẹp, cùng rán gào khan cả cổ họng. - Việt Minh lấy xong tỉnh rồi! - Rạch Giá đã về tay Cách mạng rồi! Phúc chạy một mạch ra đầu lộ 80 thì gặp chị Xuân. Hai người nháy mắt ra hiệu, rồi cùng lật vai áo lấy ra những bó truyền đơn của Việt Minh tung lên. Phúc còn lấy ở trong ngực mình ra một lá cờ đỏ sao vàng to bằng chiếc chiếu nhỏ. Lá cờ được chuyền đi trong làn sóng cánh tay dân nghèo. Và chẳng mấy chốc lá cờ đã được treo lên trên ngọn cây gòn. Bọn lính ở bốt Mô Đất và Kinh Một bắt đầu nổ súng vào dân, làm một số người bị thương. Phúc khum lại hai bàn tay làm loa kêu gọi: - Anh em binh lính, các anh cũng là con em của bà con nghèo khổ cả. Việt Minh là của người nghèo. Việt Minh đã nổi dậy cướp chính quyền. Chúng nó chạy cả rồi. Các anh bỏ súng xuống về nhà với ba, má, vợ con đi. Xuân cũng kêu gọi như Phúc. Rồi cô Ba kéo lưới, bà Năm bán bún cùng hàng trăm các má, các chị, các cụ già ào lên vây lấy hai bốt, mỗi người nói mỗi câu, làm bọn lính đứng trân trân ra nhìn. Một số tên vì sợ bọn chỉ huy nên phải bắn chỉ thiên. Gần trưa một chiếc ô tô chở “Bùi Kiệm” và Láu từ Rạch Giá lao thẳng về. Láu đeo khẩu súng to bằng cái giò heo, bên hông cài lủng lẳng một thanh gươm dài. “Bùi Kiệm” bước ra, mặt hầm hầm: - Thưa đồng bào, đêm qua bà con có nghe tiếng súng nổ trên tỉnh không? - Mọi người vẫn đứng im lặng. Nét mặt “Bùi Kiệm” bỗng tươi tỉnh hơn lúc đầu. - Thưa đồng bào, đêm qua bọn Việt Minh định nổi loạn, nhưng nhờ có sự hợp tác chặt chẽ và tinh thần cảm tử của quân đội, chẳng mấy chốc đã bóp ra nước bọn khố rách áo ôm nổi loạn. Đồng bào ở đây chớ nghe lời bọn đó. Tiêu đề: Re: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 06 Tháng Mười Hai, 2013, 07:13:33 am Phúc tiến đến sát “Bùi Kiệm”. Chị giơ chiếc đòn xóc từ trên không, bất ngờ đánh mạnh xuống đầu “Bùi Kiệm”, hắn ngã quỵ xuống nhưng vẫn cố gượng dây. Bác Hưng từ xa vung dao bầu lao tới chém tiếp ba nhát nữa khiến hắn giãy đành đạch, rồi tắt thở. Từ trong đám đông, anh Lợi được mọi người công kênh lên cao, cùng với lá cờ đỏ sao vàng trên tay anh bay phấp phới. Anh Lợi nói:
- Hỡi đồng bào, Việt Minh đã cướp được tỉnh rồi. Cách mạng đã thắng lợi rồi. Cò Lô-bô bỏ chạy. Thằng “Bùi Kiệm” về đây là cốt bày kế hoãn binh để tẩu tán kho thóc mà nó đã cướp lâu nay của dân. Hắn đã bị đền tồi. Nhưng bọn địa chủ phong kiến, bọn Việt gian bán nước còn nhiều, đang ra sức chống phá cách mạng. Đồng bào hãy đoàn kết lại ủng hộ Việt Minh, ủng hộc cách mạng! Phía bốt Mô Đất và Kinh Một, hàng trăm người đàn ông vác gậy tầm vông, mác và chà gạt xông thẳng vào đám lính chưa hạ vũ khí. Một số đông các mẹ, các chị do Phúc dẫn đầu dỡ mấy mái nhà ven đường lấy lá khô đốt chiếc ô-tô của “Bùi Kiệm”. Khói lửa bốc cao, mùi xăng và mùi cờ-rếp khét lẹt. Thằng Láu mặt mày tái mét, rút khẩu súng lục bên hông ra, vừa lùi, vừa bắn. Một số lính ngoan cố trong hai bốt cũng bắn ra. Hàng chục người trúng đạn bị thương ngã xuống, nhưng biển người căm giận vẫn hò nhau xông thẳng vào. Từ Ba Hòn, Thổ Sơn, đến Nam Thái Sơn cờ đỏ sao vàng phấp phới trên các ngọn cây cao. Phúc bận túi bụi vào việc chia thóc cho bà con. Sáng đến giờ anh Xừ mới gặp vợ. Anh hỏi: - Nhà có biết con Gấm ở đâu không? Phúc nhìn chồng mang khẩu súng trường vừa cướp được, dài quá gối, tươi cười: - Nó đang cùng các mẹ, các chị lo chuẩn bị cơm nước đón bộ đội tối nay về. - Vậy hả! Cái con nhỏ nó giống tính mẹ nó quá! - Anh Cừ cười khì khì - Tối nay tôi bận không về đâu nhé! - Nhà đi với bộ đội chớ gì? - Ờ! Tôi đi Rạch Giá. Có nhiệm vụ mới mà. Lá cờ đỏ thắm cắm trên những chiếc xe bò chở đầy lúa nối đuôi nhau như một đoàn tàu kéo dài trên lộ 80. Nước thủy triều đã dâng lên lấp xấp trên mé bãi. Bà con làm nghề đánh cá neo thuyền sát bờ để nhận lúa của cách mạng cấp. Suốt mười con kinh ghe thuyền chạy như mắc cửi. Họ đi đón mừng cách mạng. Tin chiến thắng từ tỉnh Rạch Giá liên tiếp dội về: “Việt Minh chiếm được tất cả các công sở, nhà ngân hàng. Cò Lô-bô tự sát”. * * * Một đêm đầu tháng Tám, trăng mùng tám treo lơ lửng trên ngọn cây gòn. Ánh sáng đục và dỏ quạch. Hai vợ chồng chị Phúc đi trên con đường hẹp trong xóm nhà lá dẫn vào trụ sở xã. Đây là lần thứ ba sau ngày cách mạng thành công, vợ chồng Phúc đi họp với cơ sở Việt Minh làng Nam Thái Sơn. Cuộc họp lần này có anh Hai Phương về dự. Cụ Huân chống gậy đến từ sớm. Cụ được mời lên ngồi ở hàng ghế trên cùng. Thấy vợ chồng Phúc đến, cụ cười hể hả nói với Phúc: - Bây giờ chị còn giấu lão nữa không? - Dạ, thưa cụ bây giờ thì không ạ! Cuộc họp bắt đầu. Anh Hai Phương nói về cách mạng vô sản ở Liên Xô cách xa Việt Nam hàng vạn dặm. Bây giờ ở đó nhân dân sung sướng lắm, không có người bóc lột người. Anh nói về thắng lợi của Việt Minh trong cả nước. Ngoài Bắc phong trào cách mạng mạnh lắm. Phúc lắng tai nghe anh Hai Phương nói mà như thấy cả đất nước bừng sáng lên trong ánh nắng đầu xuân. Cuộc họp ồn ào hẳn lên khi chuyển sang bầu những người phụ trách các ngành. Anh Xừ được giới thiệu phong trào Hội nông dân, anh Lợi chủ tịch xã giới thiệu Phúc làm chỉ huy trưởng lực lượng võ trang Nam Thái Sơn thay anh Phấn nhận công tác mới. Nhưng cụ Quyến hội phụ lão thì đề nghị Phúc làm Hội trưởng mẹ chiến sĩ. Cụ Quyến nói: - Bây giờ vệ quốc đoàn phát triển rất đông, Hội mẹ chiến sĩ có mạnh thì mới làm tốt việc vận động các má, các chị chăm lo săn sóc anh em chiến sĩ. Xưa nay việc gì khó phải có chị Phúc. Tôi thấy chị Phúc làm Hội trưởng Hội mẹ chiến sĩ là phải. - Cụ Quyến giới thiệu nhà tôi làm Hội trưởng Hội mẹ chiến sĩ, tôi đồng ý cả hai tay. Cả cuộc họp cười ồ lên. Phúc nguýt chồng: “Ông có làm thay cho tôi không mà ông đồng ý cả hai tay”. Phúc đứng dậy xin phát biểu: - Thưa hội nghị. Hội nghị tin tưởng giao cho việc gì thì tôi cũng xin cố gắng làm tròn. Năm nay tôi mới có 41 tuổi mà phụ trách Hội mẹ chiến sĩ, tôi sợ còn sớm quá. Tôi xin giới thiệu má Năm phụ trách Hội mẹ; chị Xuân phụ trách Hội phụ nữ. Còn tôi thay anh anh Phấn cầm quân cũng được. Tiêu đề: Re: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 25 Tháng Hai, 2014, 07:33:37 am III Đồng ruộng làng Nam Thái Sơn vừa gặt hái xong, ruộng trơ gốc rạ. Con đường vào làng bảy tám năm về trước nhỏ, gồ ghề sống trâu, ngày nay lại được đắp rộng ra và trang bằng. Cây bông gòn đầu làng cao lớn sừng sững gợi lại những kỉ niệm hào hùng về lá cờ đỏ sao vàng tung bay trong những ngày đầu cách mạng tháng Tám. Mặt trời đã lên cao. Nắng đổ xuống bãi tràm, lấp lánh trên mặt nước những dòng kinh. Hôm nay Phúc không được khỏe, chị nằm nhà một mình. Hai bố con anh Xừ đi gặt thửa ruộng nếp cuối cùng bên kia sông Nam Thái. Năm hết Tết đến rồi. Phúc bấm đốt ngón tay, những ngày tháng chạp lướt qua nhanh quá. Hoa bưởi đã nở trắng vườn. Tết này Gấm bước sang tuổi mười tám. Bỗng chị rùng minh khi nghĩ đến chuyện thằng Láu xuất hiện. Hôm ấy đã khuya lắm hắn còn lại nhà chị. Láu liếc nhìn một lượt quanh nhà với con mắt rất gian giảo, thấy có mình chị, hắn cất tiếng hỏi khẽ: - Chắc thím còn nhớ tôi? - Vâng, tôi nhớ anh tên là Láu, con trai ông chánh Thìn, hồi mấy năm trước chỉ huy bọn lính ở bốt Mô Đất. - Dạ, thím nhớ dai thật. Nhưng đó là chuyện cũ. Bây giờ tôi tên là Hân, là cán bộ của mình rồi. Lâu nay công tác cách mạng bận quá ít có dịp về lại quê nhà. Nhưng tôi vẫn biết chánh sách của cách mạng đúng đắn lắm. Cách mạng biết tôi là cán bộ nên đã trả lại mọi thứ cho gia đình tôi. Hôm nay tôi đến đây trước hết để thăm hỏi sức khỏe gia đình ta, sau nữa muốn xin thưa với thím một câu chuyện. Câu chuyện đó chắc thím đã biết… Trong giọng nói và vẻ mặt của hắn lộ rõ một cái gì nham hiểm. Năm 1945, sau khi “Bùi Kiệm” bị đánh chết trong cuộc nổi dậy của nhân dân, hắn lên xe tháo chạy. Chánh Thìn cũng bỏ trốn. Hắn trốn hai tháng ở vùng bưng Hà Tiên, sau đó mò về đến trình diện với cơ quan Việt Minh, hứa từ nay sẽ làm ăn lương thiện. Hắn được trả lại nhà và ít của cải, ruộng vườn. Gần đây hắn bắt liên lạc được với con là thằng Láu. Láu vẫn làm mật thám cho Tây trên Sài Gòn. Bà con ở Rạch Giá đi buôn bán trên Sài Gòn thường trông thấy Láu mặc đồ đen, đội mũ lưỡi trai trắng, đeo kính to đùng, mang súng lục, đi xe với Tây. Năm nay Láu đã về làng ba lần. Mấy lần Phúc đề nghị các đồng chí lãnh đạo ra lệnh bắt, nhưng anh Lợi không đồng ý. An nói rằng, bắt nó sớm sẽ lộ ý đồ lớn của cơ quan an ninh ta. Thế mà giờ đây hắn dám cả gan xưng là cán bộ đăng mình. Hắn đổi tên là Hân, tưởng dễ đánh lộn sòng, lừa gạt bà con. Nhưng hắn đã nhầm. Lần trước lão chánh Thìn cho người nhà sang đây để hỏi Gấm làm vợ cho hắn. Biết được tin đó Gấm tức điên người lên. Hôm nay đến đây, hắn muốn cái gì? Chị Phúc nén căm giận, nét mặt tỉnh khô,vừa nhai trầu, vừa nói: - Câu chuyện gì anh cứ nói. Tôi biết rất nhiều chuyện. Chắc là Láu đã chột dạ. Hắn nghiêng nghiêng cái đầu tỏ vẻ ngượng nghịu. Sau khi đã nhìn ra phía cửa trước thềm một lần nữa, hắn thở dài một cái rồi nói: - Thưa thím, thật khó nói quá. Trước đây tôi có sai lầm là theo giặc. Nhưng từ ngày cách mạng thành công thì tôi lại theo cách mạng, trở thành cán bộ. Khổ một nỗi là tôi phải làm việc ở xa nên bà con ở đây có biết cho tôi đâu. Gặp ai họ cũng nhìn tôi với cặt mắt xa lạ, thành ra tôi sợ… - Anh nói sao? Anh sợ đồng bào à? Nhiều người trước đây cũng lầm đường, lạc lối theo giặc, bây giờ trở về với nhân dân, họ có còn sợ sệt như anh nữa đâu? - Dạ họ khác, tôi khác, thím ạ! - À, mà anh nói cái gì thì nói đi. - Dù sao trước đây tôi cũng là người phạm lỗi, thím đáng bậc ba má, thím bỏ qua đi cho. Bây giờ tôi xin phép được trình bày thiệt với thím rằng: Tôi muốn lấy em Gấm làm vợ. Xin chú thím vui lòng thương chọ! Chị Phúc đứng phắt dậy như một chiếc lò xo bị nén lâu ngày. Chị nhổ toẹt một bãi nước bã trầu và cả cái xác trầu xuống giữa nền nhà trước mặt Láu. Chị nói như trút nỗi căm giận vào mặt hắn: - Tôi nói cho anh biết, không bao giờ vợ chồng tôi làm điều đó. Con gái tôi không bao giời lại lấy một thằng làm Việt gian. Anh là một thằng Việt gian, anh đừng có đến đây. Tôi mời anh ra khỏi nhà. Mời anh ra ngay. Cút ngay! Láu vội vã bước ra khỏi nhà. Một lúc sau anh Xừ và Gấm đi họp về. Đêm hôm đó hai mẹ con nói chuyện rất khuya. Chị nói cho Gấm biết việc thằng Láu vừa đến đây. - Gấm à. Con sắp mười tám tuổi rồi. Con gái tuổi đó là tuổi có thể lập gia đình. Mấy năm nay nhiều người dạm hỏi, nhưng bố mẹ đều từ chối cả. Bây giờ thằng Láu lại xuất hiện. Nó sống sượng tự đến đây để hỏi con làm vợ. Ngựa quen đường cũ, bố nó tưởng rằng hắn vẫn là lão chánh Thìn như trước đây, hét ra lửa, bắt nạt dân cái gì cũng được. Nhưng bây giờ vẫn còn giặc giã con ạ, chẳng biết thế nào mà lường trước cả - Phúc ghé sát vào tai con nói qua hơi thở - Thằng Láu vẫn là thằng Việt gian đấy con ạ! Mình chẳng sợ nó đâu. Nhưng bố mẹ cuống muốn lo cho con sớm có nơi, có chốn để rồi nương tựa vào nhau mà làm ăn. Gấm gục đầu vào lưng mẹ khóc: - Con chẳng lấy chồng đâu. Con ở đây với bố mẹ thôi. - Con có lấy chồng thì con cũng về luôn với bố mẹ mà! - Thấy Gấm in lặng, chị dỗ dành tiếp - Con ạ! Bố mẹ thấy anh Tiệu phụ trách xã đội được người được nết. Anh ấy cũng gốc người làng Mĩ Lộc, huyện Nghĩa Hưng, bố mẹ chết sớm, từ bé ở với chú ruột là bác Hưng, rồi theo bác Hưng vào đây, sau ta mấy tháng. Năm nay anh hăm lăm, con sắp mười tám, người tuổi con rồng, người tuổi con rắn, là được duyên phải lửa lắm rồi. Hai đứa thành vợ thành chồng, bố mẹ sẽ mời ảnh về đây. Bố mẹ không có con trai, thì coi anh là con trai. Tiêu đề: Re: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 25 Tháng Hai, 2014, 07:50:04 am …
Sự việc trên đã xảy ra được năm tháng rồi. Phúc không nhớ rõ sau đó chị còn phải nói bao nhiêu đêm như vậy nữa Gấm mới dần dần ưng thuận lấy anh Vũ Đình Tiệu. Còn thằng Láu cũng sau lần bị chị Phúc đuổi ra khỏi nhà, không thấy hắn mò về làng nữa. Hắn bắn tin cho bọn tay chân cũ còn lại trong làm, dọa: “Láu sẽ không để yên cho con Gấm lấy thằng Tiệu”. nhưng lời của hắn cũng như tiếng chó sủa trăng, không ai sợ cả. Đêm qua hai vợ chồng Phúc đã bàn bạc kĩ: Tết này ngoài đồng có dăm nén hương, trong chuồng có một con lợn choai choai khoảng bốn mươi kí với chục con gà, vịt, gói vài chục đòn bánh tét, giã mấy cây giò, nhân tiện đón năm mới, tổ chức xây dựng gia đình cho Gấm và Tiệu luôn. Sáng nay hai bố con Gấm đi gặt sớm. Một lúc, anh Tiệu tất tưởi chạy đến. Phúc hỏi: - Sao nghe anh Lợi nói sáng nay anh đi họp! - Thưa bác, con phải đi họp ngay bây giờ, nhưng nghe tin bác không được khỏe, con tìm được mấy viên thuốc đem đến cho bác uống và hỏi xem bác trai với cô Gấm đi gặt ở hướng nào, để trưa họp xong con sẽ đưa ghe đi đón. - Anh cứ yên tâm lo họp đi. Tình hình xây dựng lực lượng vũ trang ra sao thì về nói lại cho tôi biết với. Còn việc đi đón Gấm đã có cụ Quyến lo rồi. Anh Tiệu lễ phép trao cho chị Phúc gói thuốc viên rồi vội vã ra đi. Chị Phúc xúc động nhìn theo bóng anh, lẩm bẩm: - Cái thằng thật là chu đáo! * * * Thời gian trôi đi nhanh như nước dòng sông Nam Thái phía trước. Gấm đã sinh được một trai đầu lòng, đặt tên là Vũ Đình Lạc. Chị bận rộn nhiều việc, anh Tiệu họp hành liên miên, ít khi được ở nhà. Gấm là người lao động trụ cột của gia đình, nhưng vẫn hăng hái tham gia các đoàn thể phụ nữ, thanh niên và du kích. Bé Lạc luôn ở trên tay bà ngoại. Từ khi Tiệu trở thành con rể của chị Phúc, và nhất là từ lúc chị có cháu ngoại, tự nhiên người ta không gọi là chị Phúc, thím Phúc như trước nữa. Bà con gọi là bác Tám, mặc dù lúc ấy chị mới bốn lăm tuổi. Một hôm anh Lợi Bí thư chi bộ kiêm Chủ tịch xã đến thăm, nói: - Chị Tám à. Chúng tôi thấy gia đình ta dạo này đông người mà lại hóa ra neo đơn. Bác Tám trai thì phụ trách nông hội cũng lắm việc. Cậu Tiệu, cô Gấm, một người phải đảm nhiệm hai ba việc. Chị còn phụ trách lực lượng vũ trang làng này nữa thì nhà chỉ còn có cu Lạc thôi. Chúng tôi bàn nhau chuyển chị sang phụ trách Hội mẹ chiến sĩ toàn xã, thích hợp với sức khỏe và hoàn cảnh của chị. Chớ thiệt ra chúng tôi không dám chê vai trò của chị trong việc chỉ huy lực lượng vũ trang ở làng này đâu - Lợi cười hề hà - Chị biết không, cái đòn xóc của chị đánh vào đầu thằng “Bùi Kiệm” ấy mà, chị phải giữ kĩ để sau này làm kỉ vật truyền thống cho xã đấy. Bác Tám vui vẻ nói: - Các anh lãnh đạo tin tưởng giao cho tôi làm việc gì thì tôi sẽ cố gắng làm cho thật tốt việc đó. - Nhiệm vụ của Hội mẹ chiến sĩ lúc này nặng nề lắm. Vận động các mẹ hăng hái cử con em của mình vào vệ quốc đoàn, vào du kích và nhận anh em vệ quốc đoàn làm con nuôi để an ủi, chăm sóc họ. Quyên góp quà từ lòng hảo tâm của đồng bào, tổ chức các đoàn úy lạo đi ra mặt trận. Khi có chiến đấu thì lo chăm sóc thương binh, liệt sĩ, lo cơm nước. Ôi chao, bao nhiêu là việc, bữa nào rồi sẽ mời chị họp để trao đổi cụ thể… Thôi, thăm bà chị một tí, tui đi họp đã nghen! Hà hà… Anh Lợi vừa nói oang oang vừa bước vội ra ngõ. Trời bỗng đổ mưa. Trong buổi bình minh, cánh đồng tràm phía ngoài kinh Ba như lui xa hơn. Giữa những khoảng sáng tối của nước mưa và thân cây ẩn hiện một bóng người cao lớn. Bác Tám dõi theo bóng anh Lợi, người cắm cờ năm xưa trên ngọn cây gòn, kêu gọi bà con khởi nghĩa, người đảng viên đầu tiên của xã Nam Thái Sơn, nay là Bí thư chi bộ kiêm Chủ tịch xã, hết lòng tận tụy việc dân, việc nước. Bác Tám làm công tác Hội mẹ chiến sĩ được một thời gian ngắn mà phong trào của Hội sôi nổi hẳn lên. Hàng trăm bà mẹ cho con minh tòng quân. Hàng trăm gia đình du kích gặp khó khăn về đời sống được các mẹ quyên góp giúp đỡ. Những gia đình cán bộ, chiến sĩ thoát li được các mẹ phân công nhau chăm sóc. Các đợt bộ đội hành quân qua xã đều được các mẹ phục vụ cơm nước chu đáo. Từ đó, bộ đội và du kích đã trìu mến gọi bác Tám là má Tám. Tiêu đề: Re: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 25 Tháng Hai, 2014, 07:51:19 am * * * Suốt mấy năm nay má canh cánh một nỗi buồn riêng trong lòng. Má chưa hề nói với chồng và con cái. Và càng chưa hề để lộ nỗi buồn thầm lặng ấy với người ngoài. Từ ngày vào làng Nam Thái Sơn đến nay má đã sinh nở ba lần, hai trai một gái, má chẳng nuôi được đứa nào. Bây giờ phần tuổi đã cao, phần bận trông nom cháu ngoại cho vợ chồng Gấm đi hoạt động, má không nghĩ đến chuyện chửa đẻ nữa. Với lại đã là mẹ chiến sĩ rồi mà còn bụng mang, dạ chửa, thì làng nước họ cười cho. Hơn nữa cuộc đời đã cực, cái số nó như thế thì phải gắng mà gánh chịu, đừng có làm cho người khác vì mình mà khổ lây, đó mới là điều phúc đức. Má nén đau để chịu đựng sự thiệt thòi về việc không nuôi dưỡng được con trai. Nhưng còn cả cái dòng họ Đinh của bên chồng… Nhiều lần má gợi ý với chồng: - Nhà ạ! Trời chỉ cho tôi nuôi được mình con Gấm thôi. Tôi chẳng sinh đẻ gì được nữa đâu. Hay là tôi kiếm bà hai cho nhà. Ông Xừ cau mặt, nhìn má, sửng sốt; - Nhà nói cái gì kì cục vậy. Nhà điên rồi phải không? Nhà coi tôi là con người như thế nào? Má Tám điềm tĩnh dịu dàng phân giải: - Hơn hai chục năm nay vợ chồng mình ăn ở với nhau như bát nước đầy. Từ Bắc vào Nam, vượt qua trăm thác ghềnh, nghìn cay đắng, chỉ có đôi bàn tay và chiếc bị rách, vợ chồng mình đã chung lưng đấu cật, dựng nên cửa nhà. Vợ chồng mình cũng đã sinh nở được cả thảy bốn mặt con, trai có, gái có, nhưng trời chỉ cho nuôi được mình con Gấm. Bây giờ nó đã có chồng, có con. Nhà là một người chồng đức độ. Tôi biết nói ra lời ấy, là chạm đên tấm lòng thương vợ, thương con của nhà. Nhưng xin nhà hãy bình tâm nghĩ lại. tôi muốn nhà có thêm vài đứa con nữa. Tôi khổ nhiều rồi, tôi quen chịu đựng rồi, bây giờ tôi dẫu mất mát đi một ít tình cảm, nhưng rồi nhà sẽ có thêm con, nhất là con trai để nối nghiệp nhà. Tôi sẽ coi nó như con của tôi, nên tôi chịu đựng được. Mới lại lấy vợ hai cho nhà, có phải rồi tôi bỏ nhà đâu. Tôi sẽ bảo đảm để thu xếp, chị em chung sống hào thuận. Nhà đừng có nhìn cảnh vợ lớn, vợ bé của người khác mà ngại. Họ khác, tôi khác. Ông Xừ vãn còn giận, nói nhát gừng: - Nhà già rồi đâm ra lẩm cẩm, bày vẽ lắm chuyện kì cục, tôi chẳng biết bà hai, bà ba gì hết. - Nhà thương tôi thì nhà suy nghĩ lại cho thật kĩ, thật chín lời tôi nói đi. Tôi lo là lo cho cả dòng họ… - Thôi, nhà đừng nghĩ đến chuyện lo vợ hai cho tôi nữa. Nhà thích thì nhà cưới người ta về, rồi nhà ở với họ. Năm nay tôi đã ngoài năm mười rồi, tôi chả thiết… … Ngày tháng lại lặng lẽ trôi nhanh. Má Tám lựa lời, lựa lúc tiếp tục nhỏ to khuyên giải chồng và khuyên giải cả Gấm nữa. Lúc đầu Gấm cũng không bằng lòng. Nhưng vì thương mẹ có một cách nhìn độ lượng một tình thương rộng mở, nên dần dà rồi Gấm cũng thuận theo ý mẹ. Những ngày tháng ấy ông Xừ cảm thấy khó xử trước ý định của vợ. Đêm nằm vắt tay lên trán ông trằn trọc suy nghĩ rất nhiều. Lợi vợ thực lòng thiết tha. Ông càng thấy yêu quý người vợ có tấm lòng cao thượng. Lời Gấm cũng dạt dào đồng cảm. Những sụ suy nghĩ căng thẳng về việc này của ông lùi dần, lùi dần. Mãi đến cuối năm ấy ông mới thực sự đồng ý lấy vợ hại. Nhưng chị nào sẽ là vợ hai của ông ấy? Từ trước, má Tám đã để ý ngầm chuẩn bị sẵn mấy đám. Như chị Tư Châu ở xóm Bài, người gốc Cần Tơ lấy chồng về sống ở đây, có ba con trai. Chống chết mấy năm rồi, chị lằm ăn đảm đang, tính tình nết na ai cũng yêu mến. Như chị hai Cần bên kia sông Ba Thê, ngoài ba mươi tuổi, có chống chưa có con thì chồng chết, chị làm nghề buôn thúng bán bưng ở chợ Rạch Giá. Như chị Năm An ở làng Ba Hòn, tuổi cũng ngoài ba mươi nhưng chưa có chồng vì quá lứa. Chị cũng là một cán bộ phụ nữ tốt… Má Tám nói rõ lai lịch từng người như vậy để tùy ý ông Xừ chọn. Nhưng đám nào ông Xừ cũng lắc đầu quầy quậy. Má Tám thở dài: “Hay là ông ấy vẫn không ưng thuận việc lấy vợ hai, nên dùng mọi cách để thoái thác”. Nhiều lúc má Tám càng thấy ngao ngán. Dựng vợ gả chồng cho ai cũng vậy. Là việc hệ trọng của một đời người, chứ đâu phải là việc mua bán hàng hóa ngoài chợ. Những người má để ý toàn là những người tốt, nhưng cũng phải cân nhắc lắm mới trình bày với ông Xừ. Bây giờ chẳng được ai, hay đành thôi vậy? Mấy tháng sau má Tám tâm sự với chồng: - Nhà ạ, tôi giới thiệu bao nhiêu đám, nhà không chê ai, mà nhà cũng chẳng đồng ý ai. Thôi, nó là cái duyên, cái số nên tôi chẳng dám ép nhà. Bây giờ tôi lại mách một đám nữa. Nhưng trước khi nói rõ, tôi mong nhà thương tôi với - Má Tám dừng lại lấy khăn lau nước mắt, một lúc sau mới hỏi tiếp - Đó là chị Tuất ở làng Hòn Đất. Năm nay chị ba mươi ba tuổi, đã có hai con, một gái một trai. Chồng chị chết ba năm rồi. Các cháu còn bé, nhà nghèo quá chị làm không đủ để nuôi các cháu. Chị là một người đàn bà biết diều. Tôi muốn giúp đỡ chị ta. Tôi thương các cháu quá! Tôi mong nhà lần này để cho tôi yên tâm thu xếp… Ông Xừ im lặng nhìn vợ nét mặt đầy xúc động. Tiêu đề: Re: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 25 Tháng Hai, 2014, 07:51:56 am * * * Mùa xuân năm ấy má Tám đứng ra tổ chức đám cưới cho chồng thật chu đáo. Má Tám mua đất, mua vườn, thuê nhân công dựng ba gian nhà gỗ lợp lá thốt nốt, sắm sửa giường chõng, bàn ghế khá đầy đủ, rồi đón mẹ con chị Tuất về ở. Các cháu con riêng của chị Tuất được má Tám trông nom như con đẻ, áo quần lành lặn, được học hành. Cuối năm, chị Tuất sinh được một cậu con trai đặt tên là Đinh Văn Cừ. Cừ kháu khỉnh giống mẹ ông Xừ như đúc, từ cái mồm, đôi mắt, cái mũi. Má Tám vui như mở cờ trong bụng. Má thấy mình khỏe khoắn và dường như niềm vui làm má trẻ lại mấy tuổi. Ông Xừ cũng quý má Tám. Một mùa đông nữa lại đến. Tiếng mưa rả rích. Nước trong cánh đồng dềnh lên, chảy ào ào xuống những khu ruộng thấp. Hương tràm mùa đông thơm ngọt như mùi mật, bay tỏa khắp một vùng đồng quê bát ngát. Lúa con gái mơn mớn trên những thửa ruộng cao. Những ngày hửng sáng, biển lúa nghiêng mình, nhảy nhót. Làng Nam Thái Sơn đang sống một mùa đông yên tĩnh, yên tĩnh gần như phẳng lặng. Nhưng mùa đông ấy đối với má Tám lại là một mùa đông đau khổ, một mùa đông tang tóc dội vào cuộc đời má. Ông Xừ bỗng dưng đau nặng. Ngày đầu sốt cao, bỏ ăn uống. Ngày thứ hai vừa tháo dạ vừa ói tới mật xanh, mật vàng. Cả nhà chia nhau chạy mua thuốc khắp nơi, nhưng bệnh tình vẫn ngày càng trầm trọng. Đến ngày thứ tư ông Xừ lả dần. Ngày thứ năm ông mửa ra cả máu tươi và lịm dần. Sau đó ông Xừ qua đời không kịp một lời trăng trối lại. Cái chết của chồng đột ngột quá làm cho má Tám ngẩn ngơ đến cuối mùa đông. Má ôm nặng. Nhưng rồi nhờ thuốc thang và nghị lực, má đã thắng cái chết. Má bắt đầu ăn được lưng bát cháo, nhưng lòng má vẫn nặng như chì. Những cơn mưa cuối mùa đông thường đột ngột như luồng gió chướng. Tạnh mưa, bầu trời lại cao lồng lộng. Nhìn ra bãi trám, má Tám giật mình như trông thấy bóng dáng chồng hiện lên. Ông Xừ vác cuốc đi giữa cánh đồng. Bên này cánh đồng Tam Quang mùa tràm đang thay lá mới. Bên kia Tam Quang, ruộng lúa nếp chín vàng. Bóng ông vẫn lướt đi giữa cánh đồng bao la rồi nhòa dần. Sóng biển vẫn dội ầm ầm. Má Tám thấy rùng mình giơ hai bàn tay chai sạm ôm lấy mặt, hai dòng nước mắt chảy dài nóng hổi. Một lúc sau má vội quay nhìn về phía cũ, nhưng không còn thấy bóng dáng người chồng kính yêu, suốt một cuộc đời lam lũ đâu nữa. Má Tám như vừa sự tỉnh, thấy mình vẫn đứng trước bàn thờ với ba nén hương đang cháy nghi ngút. Trên bàn thờ là tấm ảnh chồng lồng trong khung kính, viền vải đen. Ông đang nhìn má, muốn nói một điều gì với má như những ngày ông còn sống. Sự đau khổ với dần, vơi dần theo thời gian. Má Tám lao vào công tác ở địa phương như nuôi cán bộ, du kích, vận động thanh niên tham gia vệ quốc đoàn, hô hào con cháu đi dân công hỏa tuyến… để tìm lấy niềm vui trong những chiến công mới. Nam Thái Sơn những năm này trở thành vị trí tập kết quan trọng đối với những đơn vị chủ lực lớn từ vùng Bảy Núi, Hà Tiên hành quân đến, chuẩn bị đánh vào Rạch Giá. Nam Thái Sơn là mục tiêu số một của bọn thực dân Pháp và lính ngụy trong các trận lùng sục, càn quét. Cuộc chiến đấu giành đi, giật lại trên địa bàn Nam Thái Sơn rất quyết liệt. Nhiều thời kì cả làng tản cư, nhưng má Tám vẫn ở lại. Má đào hầm, vác dao, khiêng thương binh… Má trở thành “chính trị viên” của tất cả các đơn vị đóng quân ở đây và của anh chị em du kích. Một hôm, má Tám bàn bạc thân tình với chị Tuất: - Bây giờ chẳng may ông nhà đã qua đời đột ngột quá. Đó là cái tang chung của chị em mình. Lâu nay tôi hay nghĩ điều này dữ lắm, tôi thấy cần phải phơi bày với dì. Nếu có điều gì không phải chỉ mong dì cũng bỏ qua cho. Chị Tuất lau nước mắt nói nhỏ nhẹ: - Từ ngày lấy lẽ ông nhà, được nương bóng chị, em thấy cuộc đời mình đỡ vất vả đi nhiều. Em cứ tưởng rằng… Nào ngờ đâu ông nhà lại qua đời đột ngột. Từ ấy đến nay, người em như cây đứt rễ. Em chẳng hiểu cuộc đời mình rồi sẽ ra sao. Bây giờ chị dạy thế nào, em cũng xin nghe theo lời chị. Má Tám nhẹ nhàng giơ tay bế bé Cừ từ trong tay nồng ấm của chị Tuất, vừa nựng vừa nói: - Dì Tuất ạ! Chị em mình chung sống với nhau chưa thật lâu, nhưng mà nghĩ tình đối với nhau thì như chị em ruột thịt vậy. Cuộc đời lắm nỗi éo le mà không lường trước được. Nếu cứ để dì sống thế này thì tội nghiệp cho dì. Dì còn trẻ quá, mới có ngoài ba mươi tuổi. Chẳng lẽ dì phải chịu sống cảnh đơn chiếc đến hết đời. Mà đã định liệu bước nữa thì phải định liệu sớm đi. Đàn bà có thì của nó… Chị Tuất khóc nức nở. Má Tám ôm chầm lấy chị, lấy chéo khăn rằn lau nước mắt. - Dì Tuất ạ! Tình thật tôi khuyên dì thế này… Dì nên đi lấy chồng, không cần phải chịu tang lâu. Bây giờ cách mạng thực hiện đời sống mới rồi, mình cũng phải từ bỏ những cái ràng buộc cũ kĩ đi. Tất cả các cháu để tôi nuôi, nhà này dì cứ ở. Dì lấy ai thì tùy dì chọn. Tôi sẽ đứng ra giúp đỡ mọi việc. Dì đừng giận và hiểu lầm về tấm lòng thực thà của tôi. Chị em mình dù có phải xa nhau, vẫn mãi mãi giữ mối tình chị em tròn vẹn nghen dì Tuất! - Dạ! Em xin đa tạ tấm lòng của chị. Đột ngột quá, để em suy nghĩ đã chị ạ! Má Tám một mặt vừa tiếp tục khuyên bảo, mặt khác vẫn giúp đỡ tận tình mẹ con chị Tuất. Hơn một năm sau, chị Tuất lập gia đình mới. Chồng chị là anh Tình cán bộ địa phương bên kia sông Ba Thê. Anh Tình gần năm mươi tuổi rồi mà chưa có vợ, vì cuộc đời lam lũ đi làm thuê ở mướn quanh năm. Cách mạng thành công, anh được đổi đời, nhưng lại bận rộn nhiều công tác. Anh đã nghĩ đến chuyện xây dựng gia đình, nhưng chưa có dịp. Má Tám lại đứng ra tổ chức đám cưới cho chị Tuất. Anh Tình xin nhận hai đứa con riêng của chị Tuất từ đời chồng trước về nuôi. Má Tám tha thiết xin được nhận lại cậu bé Cừ. Lúc ấy bé Cừ mới biết đi lững chững. Tiêu đề: Re: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 25 Tháng Hai, 2014, 07:53:31 am IV Cái đồn giặc ở đầu Kinh Một có một lô-cốt chính cao hai tầng. Những buổi trời chiều đỏ rực, người ta vẫn thấy ở trên đó hiện lên hai cái đầu người rối bù như tổ quạ và hai họng súng máy đen ngòm. Đó là hai tên lính ngụy gác cố định trên lô cốt. Theo như lời bọn lính đồn đại, hai tên đó bắn súng rất giỏi. Trăm phát trăm trúng. Chúng được trả lương cao và trấn giữ trên ấy để làm nhiệm vụ bảo vệ đồn này ở đầu làng Nam Thái Sơn. Bà con trông mặt mà đặt tên, gọi chúng là Râu-dê và Mũi-lõ. Râu-dê có tài là nhắm mắt mà bắn trúng mục tiêu. Chẳng có gì lạ, hắn nhìn kĩ trước mục tiêu, nhắm mắt lại, rai một hồi chừng nửa băng đạn, ít khi sai. Mũi-lõ có vẻ đàn anh hơn, hắn canh sẵn những mục tiêu hiểm yếu xung quanh đồn, lúc nào muốn bắn thì chỉ việc nằm ngửa ra mà lẩy cò. Mũi-lõ còn có tài khi ném lựu đạn ra ngoài lô-cốt, muốn cho quả nào nổ là nổ, vì hắn chuẩn bị sẵn một quả lựu đạn không có ruột, cốt để bịp bọn lính và dân chúng Thử súng, ném lựu đạn cũng là một thú vui hằng ngày của chúng. Ngày nào chúng cung thử ba lần: sáng, trưa, chiều. Dưới chân lô-cốt là dòng kinh trong xanh. Cạnh đó là con đường làng rộng và mát chạy dài vào trong xóm đến nhà má Tám, hai bên đường phủ đầy hoa tràm. Như thường lệ, Râu-dê thử trước, Mũi-lõ thử sau, đạn ria lên ngọn cây, chim sẻ giật mình bay lên cao, hoa tràm rơi xuống mặt đường, trắng xóa. Lựu đạn nổ, những cột khói dựng đứng lên như những cái nấm cứt chó. Cuộc sống của chúng cứ đều đều trôi qua như vậy. Thử súng, đánh bạc, uống rượu, rồi lại thử súng. Thỉnh thoảng bọn con gái giang hồ từ Rạch Giá lên để mua vui cho chúng. Má Tám chú ý khai thác xem hai đứa có điểm nào đó còn mang dáng dấp tính người hay không. Thỉnh thoảng má cũng nghe chúng hát nghêu ngao vài ba câu vọng cổ hoài tình vào những buổi chiều. Má Tám tự hỏi: Hằng ngày chúng nó đang làm bao điều ác, mình có cách nào giáo dục để chặn đứng hoặc ít ra cũng hạn chế được tội lỗi của chúng? Một hôm chúng nó đang bắn như vãi đạn vào xóm, má Tám xách một nải chuối sứ to bự, chín mọng, miệng ăn trầu bỏm bẻm, đầu quấn khăn rằn, đi thẳng đến lô-cốt. Má gọi thật to: - Ngừng bắn! Ngừng bắn! Má đến sát chân lô-cốt, ngước lên: - Cậu hai, cậu ba ơi xuống đây ăn chuối. Nhà thím có buồng chuối vừa chín cây, đem vào các cậu một nải đây này. Râu-dê và Mũi-lõ đều lấy làm lạ. Trước đây mỗi lần chúng bắn, bà con trong xóm kéo ra chửi như tát nước vào mặt. Lần đầu tiên chúng mới thấy một bà già chẳng những không chửi mà còn mời chúng ăn chuối. Râu-dê nói với Mũi-lõ: - Đ… mẹ nghỉ bắn, xuống xem bà già kia giở cái trò gì. Mũi-lõ vừa xuống, má Tám đưa nải chuối và nói: - Thấy các cậu gác suốt ngày chắc là mệt. Cây nhà lá vườn, thím có buồng chuối chín, đem cho các cậu một nải ăn cho vui. - Bà già khá quá đa. Mụ cho thì tụi tui lấy nhậu - Mũi-lõ vừa nói vừa bẻ một quả, lột vỏ ăn ngấu nghiến. Râu-dê thấy vậy cũng lao xuống. Hắn nói: - Bà già là Việt cộng phải không? Bà định tẩm thuốc độc ám hại bọn này à? Má Tám vẫn bình thản ăn trầu bỏm bẻm, rồi thong thả nói: - Thím mà là Việt cộng đã vào được đến tận đây thì chỉ cần một quả mãng cầu (lựu đạn), các cậu ngoẻo lâu rồi, chứ chả phải mời các cậu ăn chuối. Thím coi các câu đáng tuổi con cháu nên thím mới ra đây - Má Tám liếc nhìn hai đứa im lặng ngồi ăn. Hình như những nét hung dữ, ác đức thường ngày của chúng nó thoảng biến đi trước lời nói dịu hiền của bà mẹ. Má Tám hỏi có vẻ thân mật hơn: - Cậu này quê ở đâu? Ba má còn mạnh giỏi không? - Tui ở Sóc Trăng, ông bà già còn đủ - Mũi-lõ trả lời. - Ờ, quý hóa quá. Còn cậu kia - Má Tám quay sang hỏi Râu-dê - Cậu quê có gần đây không, ông, bà, ba má, các anh chị em trong gia đình bao nhiêu người? Tiêu đề: Re: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 25 Tháng Hai, 2014, 07:54:05 am Râu-dê ném cái vỏ chuối cuối cùng vào góc lô-cốt, cặp mắt lơ đãng nhìn ra phía cánh đồng, dường như bây giờ hắn mới có dịp nghĩ về quê quán. Hắn trả lời lơ đãng:
- Nhà tui ở Cần Thơ. Gia đình ông bà, nội ngoại đều đông đủ anh chị em, ba má tôi đều là thứ hai, sinh ra được mười anh chị em, tôi là con út. Vì được chiều nên tôi làm gì thì làm. Tôi theo phường trộm cướp từ khi 15 tuổi, nay gần 30 tuổi rồi chưa lần nào về nhà, chẳng biết ở quê hương bản quán ai còn ai mất - Hắn thở dài - À mà nói làm gì với bà cái chuyện nhảm nhí đó nhỉ? - Ồ, thì ra cả hai cậu đều có quê quán, ba má, anh chị em đều làm ăn phúc hậu cả. Vùng Sóc Trăng và Cần Thơ thím đều đã đến đó buôn bán, những năm trước còn yên ổn cơ. Thật là một vùng đất đẹp cảnh, đẹp người làm ăn dễ dàng. Các cậu đi lính lâu mà không hề nhớ đến quê nhà, cũng thật là lạ. Thím ở ngoài Bắc vào đây mấy chục năm rồi, làng này đã thành quê hương thứ hai. Thế mà lúc nào thím cũng nhớ đến nơi chôn nhau cắt rốn và mồ mả ông bà tổ tiên mình. Nhổ cái bã trầu đang nhai trong mồm, má Tám nói tiếp, giọng trầm trầm: - Kể ra đi lính như các cậu cũng khó có điều kiện về thăm nhà được. Nhưng ở đâu cũng là bàn con nghèo của mình cả thôi. Các câu ở đây chớ nên làm điều gì ác đức với bà con thì bà con nhờ ơn các cậu. Trời đất nói vậy chớ đều có tai, có mắt cả đấy. Ở lành thì gặp lành, ở ác thì gặp ác phải không các cậu? Râu-dê và Mũi-lõ không nói gì thêm nữa. Nhưng dường như cả hai đều có suy nghĩ chút ít và kính nể má Tám. Lúc má ra về hai đứa đều mời má thỉnh thoảng đến chơi. Má Tám cười nói: - Các cậu đừng bắn nữa nghen. Bắn nhiều bà con không thích đâu. Với lại bắn như vậy cũng mệt lắm chớ. Rảnh rang thì nằm nghỉ có khỏe không? Nhiều lúc thím muốn đến hỏi thăm các cậu một câu, mà nghe các cậu bắn dữ quá, lựu đạn thì liệng tùm lum, nên cũng ngại. Râu-dê cười giơ cả hai hàm răng bàn cuốc to bè: - Tụi tui tập chớ thím. - Tập thì ra ngoài ruộng, ngoài núi, chớ tập chi mà bắn trong làng. Lúc các cậu tỉnh thì không sao, lúc các cậu say có phải chết bà con cô bác không nào. Dân ở đây đổ bao mồ hôi nước mắt lập được làng này. Các cậu đừng hại dân thì dân mới giúp đỡ các cậu. Dân cũng như người nhà của các cậu vậy, các cậu thương dân ở đây thì ba má các cậu ở nhà mới có người giúp đỡ lại! Các cậu cứ ngẫm mà coi. Vài ba hôm má Tám lại đến lô-cốt một lần, lúc thì chó chúng dăm bảy điếu thuốc lá, lúc thì vài lóng mía chặt ở góc vườn. Lần nào má cũng tranh thủ giảng giải cho chúng nghe từ chuyện quê hương làng xóm, chuyện cư xử giữa con người với nhau sao cho nó có tình có nghĩa, đến việc thằng Nhật thằng Tây, thằng Mĩ tại sao nó thù ghét dân mình. Má Tám ánh chỉ những đứa làm tay sai như Khải Định, Bảo Đại, Ngô Đình Diệm bị dân mình căm ghét như thế nào. Râu-dê và Mũi-lõ lúc đầu còn nói: “Thôi thím đừng nói chính trị nữa. Tụi tui là lính trơn chẳng biết chính trị đâu”. Má Tám cứ kiên trì nói: “Thím nào có biết chính trị là gì, chẳng qua thím lớn tuổi hơn các cậu, thím biết được nhiều việc, thím thấy các cậu vui, thím nói cho các cậu nghe vậy thôi mà!”. Chúng nó đau ốm, má Tám nấu bát cháo hành hoặc tìm cho vài viên thuốc cảm sốt. Râu-dê nói với Mũi-lõ: “Bà già này thương tụi mình như con bả vậy”. Dần dần chúng nó tin má và quý trọng má thực sự. Lâu lâu má Tám không ra lô-cốt, chúng cũng thấy mong. Từ đó chúng cũng giảm bớt bắn súng và ném lựu đạn. Khi nào buồn lắm chúng mới bắn vài loạt chỉ thiên ra phía bờ biển. Bây giờ bà con làng Nam Thái Sơn mới hiểu hết tại sao má Tám lại thường hay đến lô-cốt chuyện trò với hai thằng lính ngụy, mà hầu hết người làng ai cũng căm ghét chúng nó. Một hôm Râu-dê nói với má Tám: - Tôi coi thím là bà già của tôi, nên mới để lộ điều cơ mật này nghen: Tuần sau chúng nó đưa tiểu đoàn “Gấu biển” về đây cào làng, xúc dân ra lộ 80 đó. Bà con làm sao thì làm, chớ tụi này là địa phương quân, chẳng dám đụng chạm vào công việc của bọn chúng đâu. - Ai chỉ huy? - má Tám hỏi. - Thằng đại úy Năm Khum chỉ huy - Mũi-lõ trả lời - Thằng này đi đến đâu thì nhà tan cửa nát, người chết như rạ dưới bàn tay nó. Má Tám báo ngay cho anh Tám Lai biết. Đó là những ngày cuối năm 1963 đầu năm 1964, sau khi Diệm đổ. Bọn tay sai mở chiến dịch gom dân lập ấp mạnh hơn, hòng chống phong trào nhân dân nổi dậy dưới cờ của Mặt trận Dân tộc giải phóng. Bọn ác ôn lớp dưới muốn chứng tỏ cho chủ mới biế sự trung thành của chúng, nên chúng càng đàn áp nhân dân một cách đẫm máu. Đồng chí Tám Lai phân công cho má Tám phụ trách một mũi đấu tranh chính trị. Một là bẻ gãy chiến dịch cào nhà dồn dân lập ấp, hai là bảo vệ hoa màu, tài sản của nhân dân. Tiêu đề: Re: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 25 Tháng Hai, 2014, 07:54:34 am Ngày 15 tháng 1 năm 1964, Năm Khum phái hai đại đội thiện chiến do trung úy Rệu chỉ huy, dùng xe M113 càn vào xã Nam Thái Sơn. Thấy vậy, trung tá Láu chỉ huy chi khu Rạch Giá hỏi:
- Đại úy Khum! Ông sử dụng lực lượng như thế nào có mạo hiểm quá không? Ông đã ngấm đòn thất bại của đại úy Đằng năm xưa đối với Nam Thái Sơn chưa? - Thưa trung tá! Đại úy Đằng là lính “Hổ xám”, còn tôi là Gấu biển”. Nhiều năm chỉ huy tiểu đoàn này, tôi biết rõ sức mạnh của nó, xin trung tá yên tâm. Lần này không cào được làng Nam Thái Sơn ra lộ 80 thì tôi xin trao cái lon đại úy lại cho trung tá. Láu đắc chí cười vang: - Khá lắm! Tôi đang chờ chiến tích cào làng dồn dân của ông - Hắn nghiến răng nói từng tiếng một tỏ vẻ quan trọng - Đây là nhiệm vụ quan trọng để tiêu diệt du kích Việt cộng, dù có phải tốn bao nhiêu tiền của, xương máu cũng phải làm, ông hiểu chưa? - Thưa trung tá, trung tá dạy rất đúng. Khum tính toán chỉ cần dùng lực lượng như vậy thôi,cùng với sức mạnh của xe M113 và tài chỉ huy đáng tin cậy của trung úy Rệu là có thể nghiền nát làng mạc và đồng lúa làng này, bắt dân chúng phải khuất phục. Hắn căn dặn Rệu: - Trung úy phối hợp chặt chẽ với xã trưởng Nấm và lực lượng địa phương quân nha! - Dạ đại úy yên tâm - Rệu đáp. Nấm ngồi bên trung úy Rệu trên xe M113 chỉ huy thọc vào xã Nam Thái Sơn. Những con “ngựa thần” bọc thép chồm lên để lại phía sau những vết xích ngoằn nghèo nhàm nhở. Trên trời năm bảy chiếc “cán gáo” bay lượn phành phạch. Rệu tỏ vẻ khoái trá nói với Nấm: - Hành quân kiểu này có ngon không xã trưởng? - Có một trái mìn là chết ông nội bây giờ chớ ngon ngon cái gì - Nấm cau có nói thầm. Bỗng từ trong những mái lá phía ngoài cánh đồng hiện ra một số chị em mặc áo trắng, áo màu hối hả chạy lên phía trước, dưới chân họ lúa đang thì con gái, xanh rờn. Và từ trong đám người ấy, má Tám đầu bịt khăn rằn, đứng trên mô đất cao la lớn, át cả tiếng máy xa gần: - Xe bọc thép không được chạy vào lúa của dân! Má Tám bước xuống mô đất chạy đến, dang tay cản chiếc xe đi dầu lại. Trung úy Rệu hất hàm nhìn xã trưởng Nấm, rồi hét ằng cái giọng sanh sự: - A… con mụ này lại to gan… Hắn khoát tay ra lệnh cho tên lái xe cán luôn. Tên lái xe còn lưỡng lự thì nhiều chị em đã chạy đến kịp. Rồi những ông già, bà già, trẻ con cũng ùn ùn kéo đến. Rệu rút một trái lựu đạn cay ném vào giữa đám người, để cho bà con bị ngạt giạt ra tránh đường. Nhưng họ lấy khăn rằng nhúng nước ruộng bịt mũi, vắc chạy ào tới đầu các xe hô to: “Không được cho xe phá lúa”. Rệu liên tiếp ném ba quả lựu đạn cay nữa, nưng gió ngoài cánh đồng thổi mạnh, xua tan những đám khói hơi độc rất nhanh. Gió lại đưa hương tràm từ bên kia sông Nam Thái Sơn tràn đến thơm ngát. Xã trưởng Nấm lắp bắp: - Lựu đạn cay Mĩ chẳng ra cái của khỉ gì cả. Má Tám lại tiến lên cản đầu xe la lớn: - Ông muốn tan sác hay sao mà cho xe chạy vào lối này. Mìn của du kích đặt ở phía trước bờ kinh kia nhiều lắm. Liệu xe ông chịu nổi một quả thì hãy chạy. Không tin thì ông cứ hỏi hai cậu lính gác ở lô-cốt đầu Kinh Một kia. Má Tám nói tiếp: - Chắc là ông cũng không muốn phải bỏ vợ con ở lại sống một mình! Rệu quắc mắt: - Tại sao mụ biết phía trước có mìn của du kích gài? Mụ là Việt cộng phải không? - Vùng này thì ban đêm bộ đội cộng sản với du kích làm chủ. Các ông muốn diệt họ, thì ban đêm cứ việc đưa quân về đây mà đánh. Một bà khác - má Thái - bước đến, giả vờ kéo tay má Tám khuyên ngăn: - Bà nói như thế đã nhiều mà các ông không tin thì cứ để cho xe đi tới tí xíu nữa thôi, sẽ biết. Má Tám lại nói với Rệu: - Ông thấy không! Mỗi một đường xe chạy từ ngoài lộ vô đây coi như đi đứt một mẫu ruộng. Trung úy Rệu móc thuốc lá ra hút. Số đông bà con khác quây quanh các xe tranh thủ tác động bọn lính. Rệu thấy dừng lại lâu không lợi, hắn nói to: - Lính của chánh phủ quốc gia là phải cào nhà, dồn dân ra lộ. Việc này ông Nấm xã trưởng đã nói cho dân biết rồi. Tránh hết ra. Chúng tôi có phận sự phải ủi cái làng và cày phá hết cánh đồng này cho Việt cộng chết đói. Trá... nh... ra! Lái xe, tiê... ến lê... ên! Tiêu đề: Re: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 25 Tháng Hai, 2014, 07:54:56 am Rệu khoát tay cho hai chiếc xe phía sau lách bên trái chạy lên. Chiếc xe đi đùa tiến lên phía trước khá xa. Khi vừa chạm đầu vào bờ kinh rìa làng, thì một tiếng nổ rung chuyển, xé toạc chiếc xe M113, bốc cháy rần rật. Chiếc xe thứ hai liền quay đầu lại.
Sau khi được má Tám cho biết tình hình, anh Tám Lai bàn với ban chỉ huy xã đội tổ chức một trận địa mìn chống xe bọc thép khắp các ngả địch có thể cho xe vào, để phối hợp với mũi đấu tranh chính trị. Trong làng, du kích tổ chức sẵn các trận địa đánh bộ binh nếu chúng liều lĩnh tiến quân vào, và giúp đỡ bà con tránh đạn pháo. Thấy bọn địch ngoan cố bị đền tội, bà con hả làng hả dạ lắm... Má Tám hỏi: - Bà con chúng tôi có nói sai đâu! Mấy đêm nay Việt cộng họ về gài mìn không biết bao nhiêu mà kể. Các cậu mà liều mạng thì số phận cũng như chiếc xe kia thôi! Rồi má Tám lại quay về phía trung úy Rệu: - Ông trung úy! Cho lui quân thì ông sợ cấp trên quở à? Sao ông không biết nói ông đưa quân tới đây thì sẽ đụng Việt cộng? Má Tám lại nhìn về phía tên Nấm: - Còn ông xã trưởng nữa. Là dân làng này mà ông cũng hùa với lính để hại bà con à. Chiếc xe này mà đi tới một chút xíu nữa thì ông không còn chút gì lành để cho vợ con ông khóc đâu. Trung úy Rệu hạ lệnh các xe dừng lại và nghếch nòng súng vào làng. Hắn chỉ vào hàng cau xanh xanh giữa làng hô to: “Bắn”. Các cỡ súng trên xe nổ một hồi như điên. Mấy ngọn cau trúng đạn gãy gục. Sau đó Rệu hạ lệnh: “Ngừng bắn”. Hắn cho một số lính lên nhặt xác bọn lính chết và bị thương trong chiếc xe M113 đang cháy dở, chất lên chiếc xe có dấu chữ thập đỏ rồi hạ lệnh: “Rút lui!”. Xã trưởng Nấm vẫn ngồi trên xe, vẻ mặt xị xuống như một bị thịt thiu. Hắn phì phèo điếu xì gà và chửi thầm trong bụng: “Mẹ, kiểu này thì là bị binh vận chớ còn gì nữa! Khiếp đàn bà làng này thiệt”. Đêm hôm đó, trong cuộc họp chớp nhoáng để rút kinh nghiệm ở nhà má Tám, anh Tám Lai nói: - Lần này chúng nó dùng biện pháp phát xít để buộc bà con ta phải ra lộ 80 lập ấp. Lực lượng du kích xã mình chưa đủ sức để bẻ gãy một chiến dịch quy mô rộng lớn của địch. Thế nào ngày mai chúng nó cũng sẽ trả thù sự thất bại nhục nhã hôm nay của chúng. Chủ trương của ta là đẩy mạnh thế đấu tranh chính trị. Nếu bị địch cào làng ra lộ 80 thì vận động bà con liên tục đấu tranh đòi trở về làng cũ. Bằng bất cứ giá nào cũng phải có một số người bám đất, bám làng để tạo bàn đạp cho du kích và bộ đội mình trở về hoạt động. Mờ sáng hôm sau đại úy Khum đích thân chỉ huy cả tiểu đoàn “Gấu biến” chia làm ba mũi tiến công làng Nam Thái Sơn. Mũi thứ nhất từ lộ 80 ấp xuống, mũi thứ hai càn qua cánh đồng đánh thẳng vào giữa làng, mũi thứ ba vượt sông Nam Thái, vòng qua bãi tràm đánh vào cuối làng. Cả ba cánh quân đều bị du kích chặn đánh quyết liệt, gây cho chúng nhiều thiệt hại. Mãi tới xế chiều bọn lính “Gấu biển” này mới vào được làng. Tối hôm đó du kích rút ra ngoài căn cứ. Tên Khum đứng trên lô-cốt đầu Kinh Một dùng máy điện đàm chỉ huy các cánh quân. Hắn lồng lộn gào trong máy: “Đốt! Đốt sạch.Đứa nào chống lại thì bắn!”. Hắn gọi xã trưởng nấm đến nói: - Ông phải ra lệnh cho dân ở đây trong hai ngày phải ra hết ngoài lộ 80, để tiểu đoàn còn hành quân đi nơi khác. Bọn “Gấu biển” tha hồ đốt sạch, cướp sạch à chặt đầu, mổ bụng người già, trẻ em. Làng Nam Thái Sơn thành một biển lửa rần rật suốt mấy ngày. Ngót hai mươi năm dựng làng, bà con Nam Thái Sơn đã biến vùng đồng chua nước mặn, chỉ có tràm, lác, cỏ bàng, thành vùng sầm uất, bây giờ kẻ địch biến tất cả thành đống tro tàn. Nén đau thương uất hận, bà con dìu dắt nhau đi giữa lưỡi lê, mũi súng của bọn “Gấu biển” ra lộ 80, sống cảnh màn trời, chiếu đất. Năm rồi má Tám đã cho con và cháu là Đinh Văn Cừ và Vũ Đình Lạc đi bộ đội chủ lực Miền. Trong tình hình địch cào làng dữ dội thế này, má đoán thế nào rồi chúng nó cũng bắt lính. Má gọi tất cả mấy đứa cháu ngoại còn lại đến, má nói: - Má của các con đang hoạt động hợp pháp bằng cách giải vờ đi buôn bán, lúc thì ở ngoài căn cứ, lúc thì về làng. Ở nhà chỉ còn mấy bà cháu làm lụng nuôi nhau. Năm ngoái Cừ với Lạc đi bộ đội bà đã thấy gia đình vắng vẻ rồi. Bây giờ bà không muốn có đứa nào nữa phải xa bà. Nhưng các cháu đứa nào trông cũng nhỉnh nhỉnh cả, bà sợ sẽ bị địch bắt đi lính. Liệu nói: - Bà ơi, cháu sẽ đi bộ đội chủ lực! Lăng cũng nói: - Cháu cũng đi bộ đội chủ lực! Má Tám vui vẻ nói: - Đi bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương hay du kích cũng đều được đánh giặc cả. Má của các con có nhắn về với bà: Thằng Liệu gặp chú Chín Đơn huyện đội trưởng để chú dẫn đi bộ đội Miền, còn thằng Lăng tuổi còn bé, sức còn yếu, chưa theo bộ đội chủ lực được đâu, bây gặp bác Tám Lai để bác ấy dẫn ra căn cứ du kích. Các cháu phải sắp xếp lẹ lẹ lên, để sớm rời khỏi làng - Má Tám nhìn bé Tiến vừa tròn ba tuổi nói - Còn bé Tiến vào “ấp chiến lược” với bà nghen con. Tội nghiệp, có mẹ mà thằng nhỏ chưa có đêm nào được ngủ với mẹ cả. Tiêu đề: Re: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 25 Tháng Hai, 2014, 07:55:28 am Đêm hôm ấy má Tám lau khô nước mắt, lặng lẽ tiễn cháu Liệu và Lăng ra đi. Mảnh trăng non phủ ánh sáng vàng mơ trên xóm làng vừa cháy trụi. Má Tám trao cho mỗi đứa một số tiền nhỏ dành dụm từ lâu và một nắm cơm vắt, bên trong có muối với đậu phộng rang. Má nói:
- Các cháu hãy đi đánh giặc thiệt giỏi để trả thù cho ba nghen. Các cháu có nhớ ám hiệu và địa điểm của các bác hẹn đón chưa? Liệu và Lăng cùng đáp: - Dạ thưa bà, chúng cháu nhớ kĩ rồi ạ! Chúng cháu đi ạ! Bóng Liệu và Lăng khuất dần sau bụi cây tràm. Má Tám lưu luyến nhìn theo. Sóng biển vỗ rì rào như những tiếng ru. Gió thổi nhẹ, hương tràm thoang thoáng mùi thơm mát dịu trong làn sương trắng đục mênh mông. Tiểu đoàn “Gấu biển” theo kế hoạch của đại úy Khum chỉ cần chốt lại hai ngày đêm là trục được dân làng Nam Thái Sơn ra lộ 80 cả. Nhưng thời gian lùi lại đã quá gấp đôi mà dân vẫn còn ở lại rất nhiều trong làng. Khum tức giận, lồng lộn lên gọi xã trưởng nấm đến: - Ông chỉ huy cái làng này hay là mấy mụ già chỉ huy mà lần nào bảo ông đàn áp, ông cũng sợ chúng nó. Ngày mai là thời gian cuối cùng ông phải cào sạch chúng nó ra hết ngoài lộ 80 nghe không? - Dạ thưa đại úy, tôi sẽ cố gắng. Chiều hôm sau, Khum lại hỏi: Thế nào ông Nấm, cào dân ra hết chưa? - Dạ chỉ còn vài chục gia đình nữa ở quanh quanh chỗ nhà mụ Tám già, họ nghe mụ ấy dụ ở lại nên chưa chịu đi. Xin đại úy thư thư cho đến tối thì nhất định xong ạ! - Đứa nào không đi thì bắn bỏ, nghe chưa ông Nấm! - Dạ, xin tuân lịnh! Xã trưởng Nấm là một tên ác ôn khét tiếng, láu cá hơn những thằng xã trưởng trong vùng. Nấm tổ chức nhiều lưới gián điệp ngầm và dùng bọn đàn em đắc lực để thực hiện mọi âm mưu tội ác. Nấm giết người như ngóe, nhưng nó biết lúc nào cần ra mặt, lúc nào cần mượn tay khẻ khác. Trong trường hợp này không phải Nấm thương gì bà con hoặc không biết cách thẳng tay đàn áp để lập công với chủ. Cái chính là Nấm cũng phải lo giữ cái đầu của hắn. Hắn nghĩ, đại úy Khum cùng tiểu đoàn “Gấu biển” gây tộc ác đẫm máu rồi bỏ đi. Còn hắn và gia đình vợ con ở đây liệu có thoát nổi sự trừng trị của nhân dân không. Nhiều gia đình có con, cháu đi bộ đội, vào du kích, đã chửi bọn lính “Gấu biển” khủng bố, đàn áp nhân dân nữa là. Du kích Kiên Giang đã từng xử án bao thằng xã trưởng. Nấm biết rõ hơn ai hết. Mãi tới mười giờ đêm, Khum lại hỏi Nấm; - Chắc bây giờ ông đã cào hết dân trong làng rồi chớ, ông Nấm? Nấm lúng túng và ấp úng đáp: - Dạ, dạ chưa, đến bây giờ chỉ còn mụ già với thằng cháu bé ở lại trong làng thội ạ! - Ông chịu thua mụ già đó à? Giết! - Dạ thưa đại úy, giết bà cháu mụ ta thì không khó. Nhưng mụ ta chết thì cái đầu của tôi cũng rời khỏi cái cổ. - Tại sao? - Con cháu mụ ta đều là bộ đội và du kích Việt cộng. Với lại cả làng này ai cũng quý mến mụ ta. Đụng đến một người thì phải nghĩ đến sự tức giận của cả ngàn người. Dạ thưa đại úy... - Thế ông hết cách, hết sách rồi hả? Ông chịu để cho tiểu đoàn “Gấu biển” của tôi mang cái nhục lại lần xuất quân mà không cào hết dân làng này ra lộ được à? Hả? - Dạ... thư...a... - Không có thưa thưa đếch gì hết. Khiêng nghe hông? Cho người khiêng bà cháu mụ ta ra lộ ngay bây giờ nghe hông? Khum mỏi mệt lầm bầm: “Một tiểu đoàn mạnh, hai lần xuất quân, mất một xe M113, mười đứa chết và bị thương, tốn hết một tuần căng thẳng mới cào được một làng. Thế mà bảo bình định cấp tốc. Cấp tốc cái con khỉ. Toàn là kế hoạch trên giấy. Đ... mẹ mấy cái thằng ngồi ở trên chỉ có nhậu nhẹt rồi bốc phét...”. Tiêu đề: Re: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 04 Tháng Tư, 2014, 07:32:03 am * * * Tiểu đoàn “Gấu biển” đã rút đi các nơi khác. Làng Nam Thái Sơn bây giờ nằm dọc theo lộ 80, xung quanh bao bọc hàng rào kẽm gai bốn lớp và bốn cái lô-cốt kiểu “chuồng cu” ở bốn góc. Chiếc lô-cốt của hai tên lính Râu-dê và Mũi-lõ gần bên túp lên của bà cháu má Tám. Ngày ngày chúng nó thay phiên nhau xuống túp lều của má uống nước và nghe má Tám nói chuyện. Má hay nói về tội ác của bọn giặc và khuyên chúng đừng hại dân, cố gắng giúp đỡ cách mạng và khi nào có điều kiện thì bỏ hàng ngũ giặc về nhà. Má nói: - Không phải ở đâu cho xa. Các cậu đóng bót ở đây đã lâu, thấy cái làng Nam Thái Sơn này trước đây giàu đẹp thế nào, bà con sống sung túc thế nào mà bây giờ chỉ còn một bãi tro tàn. Rồi hàng trăm người chết. Số dân bị gom ra lộ 80 ở chui, ở rúc, không có cái ăn, cái mặc. Các cậu nghĩ như thế nào nếu ba má các cậu ở quê nhà cũng lâm vào cảnh sống bị xua đuổi, màn trời chiếu đất như thế này? Râu-dê nói: - Bọn lính “Gấu biển” này ác như một bầy chó dại. Đối với tụi tui mà chúng nó còn hống hách, huống chi đối với dân. Mấy ông Việt cộng ở đâu mà không về nện cho chúng nó một trận nhừ tử ra. Mũi-lỗ tỏ vẻ sợ sệt: - Mày trông Việt cộng về hả? Mấy ông mà về đây thì mình cũng ra ma - rồi nó quay lại phía má Tám - Chừng nào Việt cộng về đây, thím nhớ nói với mấy ông giùm tụi tui hổng có làm gì hại đến bà con cả, nghen thím. - Ôi, đi lính ngụy thì dù ít hay nhiều cũng đều có tội với nhân dân. Nhưng nếu các cậu biết ăn năn hối lỗi, biết tìm cách lập công chuộc tội khi có điều kiện thì Việt cộng có chính sách đối xử khác. Chẳng hạn như bây giờ các cậu giúp đỡ bà con hằng ngày được trở về làng cũ làm ăn, đừng làm điều gì ác đức với bà con thì bà con sẽ giúp đỡ lại cho các cậu khi cần. Tai mắt của nhân dân sáng tỏ lắm. Các cậu nghĩ xem thím nói như vậy có đúng không? Ngay ngày hôm sau, má Tám khéo léo vận động được Râu-dê cùng má dựng lại một căn trại trên nền nhà cũ. Tên xã trưởng Nấm đi ngang qua, định làm khó dễ, nhưng thấy Râu- dê đang ở đó lại thôi. Má Tám tinh ý nói luôn: - Chào ông xã trưởng. Cậu lính này cho phép và cũng giúp tôi một tay, dựng cái lều cỏn con để hằng ngày còn về đây trông nom cây trái bán mà mua gạo. Ông tính già lão như tôi thì còn cày cấy thế nào được. Mà cứ ở ngoài lộ thì có nước ăn đá trừ cơm. Nấm cười nhăn nhở: À à, cậu lính nà mà đã đồng ý thì được. Nhưng chỉ một mình bà tôi đấy, bà đừng thấy vậy mà lôi kéo cả xóm cùng về lập trại như kiểu này thì chủ trương dồn dân ra lộ của chánh phủ quốc gia còn hữu hiệu ở chỗ nào. Thực ra Nấm không bằng lòng việc làm này của Râu-dê. Hắn có quyền lực chỉ huy cả Râu-dê, hoặc ít ra thì Nấm cũng có thể báo cáo với bọn chỉ huy cấp trên để phạt Râu-dê. Nhưng vì cái tính vốn nham hiểm buộc Nấm cũng phải gờm thằng Râu-dê có thể cáu tiết lên bắn súng hoặc ném lựu đạn vào nhà hắn bất cứ lúc nào. Và hơn nữa, Râu-dê có thể cho hắn chầu trời. Lính giết xã trưởng là cái chuyện không phải hiếm ở vùng Kiên Giang này. Nghe Nấm nói, má Tám cười khẩy, đáp: - Hoàn cảnh của tôi chắc ông đã thấy, một bà một cháu, lo cho mình chưa đủ, hơi sức đâu mà còn đi lôi kéo người khác. Mới lại tôi có hoàn cảnh của tôi, bà con cô bác có hoàn cảnh riêng của họ, biết thế nào mà lường được hở ông! Râu-dê đốp chát, sừng sộ: - Xã trưởng Nấm nè, ông hách vừa vừa vừa chứ! Không có hai thằng lính gác ở lô-cốt này thì cái đầu của ông không đứng yên trên cái cần cổ đâu nhé. Xã trưởng Nấm cười lạt, ngượng ngùng bỏ đi. * * * Cái trại của má Tám dựng trên nền nhà cũ bây giờ cũng khá khang trang. Trước đây, ban ngày bà cháu ra trại, chiều lại trở về cái lều dưới chân lô-cốt. Nhưng nay thì cả ngày lẫn đêm hai bà cháu đều ở ngoài trại, hai ba bữa mới trở lại lều. Má rủ một số bà con cơ sở như bà Hân, ông Năm Thịnh, cô Bích, chị An… về dần. Cả dân về lại làng cũ, cán bộ và du kích ngoài căn cứ đêm trở về nắm tình hình địch và lấy lương thực. Gấm cũng trở về cùng má Tám đào thêm một chiếc hầm bí mật mới tương đối rộng rãi. Bằng cách làm lén dần như vậy, má Tám vừa vận động dần, vừa làm công tác binh vận, chừng nửa năm sau, hầu hết bà con đã dựng được trại trên nền nhà cũ. Lúc đầu Nấm đưa bọn bảo an, dân vệ đi xua đuổi dân. Chúng đốt phá, đánh đập hành hạ dân đủ điều, nhưng bà con vẫn kiên trì đấu tranh bám đất, bám làng cũ. Bộ đội địa phương huyện Châu Thành hoạt động khá mạnh, đã cùng với du kích, tạo được bàn đạp để tổ chức những đợt hoạt động mới. Do đó mà kẻ địch cũng phải nhượng bộ với bà con. Những cuộc họp cán bộ, tổ Đảng bắt đầu nhóm lại tại hầm bí mật của má Tám như cuộc họp diễn đưa anh Tám Lai đi nhận công tác mới. Anh Tư Hương thay anh Tám Lai làm Bí thư chi bộ, anh Năm Lầu thay anh Tư Tân làm xã đội trưởng cũng được tổ chức phổ biến ở trại của má Tám. Xã trưởng Nấm hoang mang lo sợ. nấm chạy xuống Rạch Giá cầu cứu Láu. Trung tá Láu đích thân dẫn quân về vây ráp, lùng sục từ ngoài bờ biển cho đến bãi tràm. Trên trời thì lũ “Ốc nóc” bây vù vù như nhặng xanh, trên đường, xe bọc thép chạy như trâu điên, dưới những dòng kinh thì xuồng máy với những nòng súng đen ngòm cùng truy quét. Chúng đòi đánh trốc gốc Việt cộng ở làng Nam Thái Sơn, nhưng Việt cộng vẫn cắm rễ trong lòng người, lòng đất ở đây. Mờ sáng, má Tám tiễn chân anh Tám Lai và anh Tư Tân đi ra căn cứ nhận công tác mới. Gấm cần mái chèo đứng sẵn đầu bờ kinh. Chiếc ghe đêm qua dìm giấu dưới nước vừa được Gấm kéo lên tát nước khô ráo, sẵn sàng rời bến. Gấm có nhiệm vụ chở các anh đi. Má Tám trao cho mỗi người một gói xôi nóng. Má Tám lấy khăn rằn lau hai dòng nước mắt chảy dài trên khuôn mặt nhăn nheo, gật gật đầu, mái tóc bạc vờn trong gió sớm. Má dặn với theo con gái: - Cẩn thận nghe Gấm! Gấm vừa chèo vừa quay lại: - Má yên tâm! Má yên tâm! Tiêu đề: Re: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 04 Tháng Tư, 2014, 07:32:37 am Không ngờ, Gấm ra đi lần ấy là đi mãi mãi không bao giờ trở lại. Sau này gặp má Tám, anh Tám Lai và anh tư Tân kể lại; “Chiếc ghe rời biển, Gấm ra sức chèo rất nhanh. Đôi tay Gấm dưa tới đưa lui thoăn thoắt, chiếc ghe lướt nhẹ trên mặt nước. Hơi nước bốc lên hòa với sương sớm từng mảng mở mịt, trôi bồng bềnh, làm cho Gấm rất khó quan sát phía trước, Gấm thuộc luồng lạch như thuộc chỉ bàn tay mình, nên chiếc ghe không lúc nào giảm tốc độ. Buổi sáng se lạnh mà lưng áo Gấm ướt đẫm mồ hôi. Khi qua những chỗ địch phục kích, Gấm ra hiệu cho chúng tôi nằm xuống lòng ghe.
Mặt trời lên. Chúng tôi đã đi khá xa làng Nam Thái Sơn. Bỗng Gấm thét lên như ra lệnh; “Địch! Địch phục kích! Các anh nhảy xuống nước bơi vào bãi tràm, để mặc em!”. Hai chúng tôi làm theo lệnh cô. Chúng tôi lặm một hơi tới bờ tràm mọc um tùm, khi ngóc đầu lên khỏi mặt nước đã nghe súng các cỡ nổ loạn xạ, và tiếng địch la “Bắt sống lấy nó”. Gấm vẫn đứng thẳng trên chiếc ghe để thu hút sự chú ý của địch, tạo cơ hội cho chúng tôi chạy thoát. Hàng loạt đạn bắn xối xả theo. Gấm bị thương và sa vào tay địch. Thằng chỉ huy ra lịnh: “Tiếp tục lùng sục bắt cho được hai thằng Việt cộng!”. Sau khi tìm được nơi ẩn núp an toàn, chúng tôi đau đớn theo dõi từng giây phút chiến đấu cuối cùng rất oanh liệt của Gấm. Chúng trói Gấm vào gốc tràm, thằng chỉ huy hất hàm hỏi: - Gấm. Má mày nói rằng mày đi buôn bán kia mà? - Tao đi buôn bán kiếm ăn và đi làm cách mạng! - Hà, hà. Mày trả lời khá lắm. Ta sẽ cắt cái lưỡi của mày. Mấy thằng con trai của mày đi đâu? - Đi trả thù cho ba chúng nó! - Hôm nay mày chở những thằng nào, đi đâu? - Đó là những đồng chí của tao, không bao giờ tao khai với chúng mày. “Đốp, đốp”, “hự, hự”. Nó chồm lên vừa tát vào mặt vừa đá mũi giày vào bụng Gấm. Máu miệng Gấm ộc ra. Gấm nhổ toẹt nước bọt lẫn máu vào mặt thằng giặc. - Láo này “Đốp, đốp”. Láo này “Huỵch, huỵch”! Gấm lả đi. Hai tai ù ù như biển động. Mắt lóa lên, trời đất quay cuồng. Gấm nghĩ thương mẹ già và thằng bé Tiến còn nhỏ đang sống trong nanh vuốt của giặc. Gấm nghĩ đến những đứa con đã ra đi: thằng Lạc, thằng Liệu, thằng Lăng đầy tương lai của Gấm. Các con của chị sẽ trả thù cho ba má chúng. Thằng chỉ huy ra lệnh: - Bay đây! Đào lỗ chôn sống con này cho đỡ tốn đạn. Một lúc sau, chúng nó mở trói lôi Gấm nhấn xuống cái hố vừa đào dưới gốc tràm. Thằng chỉ huy ra lệnh: “Lấp đất”. Trong giây phút ngoắc ngoải, Gấm dồn hết sức lực còn lại hô to: - Cách mạng nhất định thắng! Chúng tôi không ai nói với ai, đứng lặng người đi. Xế chiều bọn địch rút, chúng tôi trở lại nơi Gấm vừa hi sinh, sửa sang lại nấm mồ của chị và hứa sẽ mãi mãi học tập hí thiết cách mạng tuyệt vời của chị trước quân thù. Trên mặt đất chẳng còn gì, chỉ thấy hai chiếc cúc áo của chị. Má Tám vô cùng đau đớn. Nỗi đau đớn to lớn quá làm trái tim má thắt lại, tóc bạc rụng nhiều, hai gò má nhô cao lên, khô khốc, tưởng như không còn vắt ra một giọt nước mắt. Khi mà sự mất mát dường như quá sức chịu đựng của con người, con người sẽ đanh lại như một thỏi thép. Nước mắt cũng không chảy được nữa. Đêm đêm má Tám rất ít ngủ. Má lắng tai theo dõi từng tiếng động trong làng và ngoài cánh đồng. Tiếng chó sủa, tiếng vịt giật mình kêu “cạc cạc”, tiếng mõ điếm canh trên lô-cốt địch và tiếng gió rít qua khe liếp. Má hồi hộp hơn cả là có tiếng sột soạt sau vườn, và tiếng gõ cạch cạch hai tiếng vào cửa sổ, đó là ám hiệu của anh em cán bộ, du kích đã về. Chốc chốc, má lại đến trước bàn thờ thắp nén hương. Má chắp hai tay trước ngực, nhìn thẳng vào ảnh của Tiệu và Gấm đặt giữa bàn thờ mà khấn: - Hai con sống sao thác vậy, đều anh dũng, đều vẻ vang. Các con, hãy hết lòng phù hộ cách mạng, phù hộ bốn đứa con của các con, để chúng nó làm tròn nhiệm vụ, chiến đấu lập công, trả thù cho các con! Nam-mô A-di-đà-phật! Nam-mô…! Gần sáng má Tám nghe hai lần gõ cửa đúng ám hiệu. Má hồi hộp và nhẹ nhàng mở cửa. Anh Tư Hương Bí thư chi bộ bước vào trước, một người dong dỏng cao đi sau. Má châm đèn - ngọn đèn được che ba góc. Người dong dỏng cao tươi cười nói: 0 Xa quê hương lâu ngày quá, nên cả thím Tám cũng quê tôi mất rồi. - Trời! Anh Hai Phương! - Má Tám xúc động chạy lại nắm chặt tay anh Hai Phương giật giật - Anh đi lâu quá, dạo này coi sức khỏe anh khá hơn hồi mới ra tù về ở đây! - Thím Tám ạ! Đồng chí Mười Bình gửi lời thăm thím và các cháu. Anh ấy theo dõi tình hình rất sát biết cả mọi việc ở làng ta đấy. Do yêu cầu công tác, cấp trên chuyển anh ấy về Miền. Nếu có điều kiện anh ấy sẽ được cấp trên cho ra Bắc an dưỡng. Tuổi anh ấy đã cao mà lăn lộn hết miền Đông, đến miền Tây rồi còn gi. Bây giờ tôi lại về đây công tác như cũ. - Ờ! Vậy thì mừng quá! Rồi má Tám gục đầu vào vai Hai Phương khóc: - Quân giặc nó ác quá chừng. Bây giờ chẳng còn gì là làng xóm nữa cả. - Chúng sắp đến ngày tận số thì càng hung dữ. Bây giờ quân giải phóng của ta mạnh, phong trào du kích ở khắp nơi lên cao. Vùng giải phóng càng được mở rộng. Huyện Châu Thành cũng như bà con làng Nam Thái Sơn ta rất kiên cường. Các đồng chí cấp tên cũng gởi lời thăm hỏi sức khỏe của thím và khen ngợi đội quân tóc dài của thím. Nghe anh Hai Phương nói, má Tám vừa mừng, vừa hồi hộp. Nghe lời anh Hai Phương, má như thấy cả miền Nam đang thừa thắng xốc tới không có trở lực nào ngăn cản nổi. Tiêu đề: Re: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 04 Tháng Tư, 2014, 07:33:27 am V Má Tám ngồi một mình trên chiếc chõng tre. Căn nhà vắng lặng, chỉ nghe tiếng mưa rơi. Nén hương trên bàn thờ chốc chốc lại lóe lên khi cơn gió thổi tạt vào. Mùi hương dìu dị càng làm má nhớ đến ông Xừ, Gấm và Tiệu. Những năm cả miền Tây đồng khởi thì vùng tam giác Nam Thái Sơn, Thổ Sơn, Ba Hòn bị địch dìm trong lưỡi lê, mũi súng. Tiếng pháo giặc nhói vào tim mọi người. Trong xã, đồn bốt, ấp chiến lược địch mọc lên nhan nhản. Cuộc chiến đấu ác liệt diễn ra liên tiếp trên mảnh đất nhỏ hẹp này. Hàng trăm xe bọc thép về xã cày ủi xơ xác làng xóm. Giặc bắt tất cả thanh niên canh gác và tập quân sự. Những cuộc càn bắt lính xảy ra liên tục. Những gia đình có con đến tuổi đăng lính nháo nhác lo sợ. Có người đút lót cho bọn hội đồng xã vài con gà, vài lít rượu hoặc vài ngàn bạc thì chúng lơ cho ít ngày, tháng sau chúng lại bắt. Dân chúng số bị lùa ra lộ 80, số lánh ra bưng dựng chòi ở lại hoặc bỏ đi làm ăn xa. Ngày xe ủi gầm rít, đêm pháo các cỡ của giặc chà xát, cấu xé. Số cán bộ và du kích còn lại tạm thời lánh ra bưng. Một số cô bác lớn tuổi xin giấy hợp pháp ở lại làng. Lòng người như lửa đốt. Chi bộ Nam Thái Sơn bị bật ra ngoài bưng. Giữa lúc ấy, Liệu từ căn cứ của huyện trở về. Anh đang phụ trách đơn vị bộ đội địa phương mới thành lập. Bây giờ cuộc chiến đấu ở xã đang diễn ra quyết liệt, huyện cử anh trở lại. Lúc chia tay, đồng chí Bảy Công, huyện đội trưởng dặn dò: - Liệu à! Địa bàn vùng Nam Thái Sơn quan trọng lắm, vì vậy mà địch cố sống cố chết bám lấy. Là người địa phương, cháu trở lại xã hoạt động thuận lợi hơn những đồng chí khác. Nhưng tình hình hiện nay khác trước dữ lắm, phải hết sức tỉnh táo. Huyện ủy và huyện đội mong rằng cháu sẽ cùng với các đồng chí lãnh đạo xã trong một thời gian ngắn củng cố lại chi bộ, xây dựng tốt lực lượng chiến đấu, đẩy mạnh đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị, làm cho thế trận chiến tranh nhân dân ở địa phương phát triển lên một bước mới. Bảy Công tiễn chân Liệu ra cuối bãi tràm. Đêm vùng hậu cứ tĩnh mịch lạnh lẽo. Sao đầy trời, chiếu lấp loáng trên dòng kinh. Bước chân xuống ghe, Liệu quay lại nắm chặt bàn tay chai sạm của chú Bảy Công, người thay mặt ban chỉ huy huyện đội và nói: - Xin hứa với chú, cháu sẽ cố gắng hết sức mình để hoàn thành nhiệm vụ. Mong chú tin ở chi bộ Đảng và lòng dân Nam Thái Sơn. Bước chân về đến vùng đất của xã, Liệu thấy ngỡ ngàng như một nơi nào xa lạ. Mới xa quê nhà có một thời gian mà giờ đây mọi thứ đều thay đổi. Liệu nằm ngoài bưng ba ngày, ba đêm. Các địa điểm liên lạc đều không có người lai vãng. Liệu đến Miếu bà bỏ thư liên lạc, đêm trước, đêm sau trở lại vẫn thấy lá thư còn nằm đó. Tại sao các đường liên lạc đều tê liệt cả? Các đồng chí hi sinh cả rồi sao? Nếu mình về nhà liệu có bị chúng phục kích không. Sau mấy đêm thăm dò, theo dõi quy luật hoạt động của địch, đêm thứ năm Liệu mới lần về nhà. Nghe tiếng gõ vào liếp cửa đúng ám hiệu, má Tám hồi hộp mở cửa. Trong bóng tối lờ mờ má nhận ra Liệu. Má Tám chưa kịp nói câu nào thì Liệu đã kêu: “Bà… b… à… à… bà”. - Cháu - Giọng má nghẹn lại. - Thưa bà con đã về! - Mấy bữa nay ruột gan bà nóng như lửa đốt, bà đoán thế nào cũng cũng về. Má Tám đóng cửa, cài chốt ngang, trong nhà tối om, nhưng má không dám đốt đèn. Má lần đến bàn thờ bưng ra một rổ khoai luộc và một nải chuối chín. - Đêm hôm khuya khoắt, nấu nướng không tiện, cháu ăn tạm những thứ này nhá. Liệu ngồi bóc khoai ăn ngon lành, vừa nghe bà kể chuyện giặc cày ủi làng xóm, chuyện những đứa hèn nhát ra đầu hàng, tiếp tay cho giặc hại dân, hại nước. Chuyện những chiến sĩ du kích đánh giặc kiên cường, chuyện cả làng Nam Thái Sơn này không ai nghĩ rằng giặc đông quân, súng nhiều là chúng mạnh. Nam Thái Sơn bao lần được giải phóng, bao lần kẻ thù chiếm đi, chiếm lại nhưng bà con vẫn tin tưởng ở thắng lợi cuối cùng của cách mạng. Lời bà nói làm Liệu xúc động mạnh mẽ. Trong đêm tối dường như anh vẫn thấy rõ lòng căm thù giặc và khí thế cách mạng của bà con cả xã trào dâng như sóng biển Kiên Giang lúc trời động. - Thưa bà! Cháu được cấp trên cử về đây xây dựng lại cơ sở. Vấn đề trước tiên của cháu làm sao gặp được các đồng chí trong chi bộ. Bác Tám Lai, bác Năm Lầu hiện giờ ở đâu? Các địa điểm và ám hiệu liên lạc như thế nào? Tại sai thay đổi cả vậy? - Vừa rồi các đồng chí Quỳnh Thông, Bạch Nhung bị địch bắt, các anh trong chi bộ cho rằng vì có người phản bội nên phải thay đổi quy luật hoạt động. Anh Tám Lai giao nhiệm vụ cho bà “chốt” ở đây để nắm tình hình địch và làm trạm liên lạc của chi bộ. - Thế hả bà! - Liệu sung sướng quá muốn reo lên, nhưng phải ghìm lại nói qua hơi thở - Gặp bà là cháu như đã gặp được các đồng chí trong chi bộ rồi. Gà tỏng xóm đã gáy lao xao. Những người ngoài xóm chài đi biển sớm, gõ mái chèo trên mạn ghe kêu lộp bộp. Bọn lính đi tuần đêm về, tán tỉnh bọn con gái đi buôn léo nhéo trên đường cái. Sao mai như hiện lên từ mặt nước Kinh Ba, lướt nhanh trên bãi tràm ngoài chân mây. Phía đông một ráng đỏ kéo dài, giáp với mặt biển và chân trời là một đường viền ánh nắng trắng kẻ ngang. Má Tám âu yếm trao cho Liệu một gói gạo rang, một bi đông nước trà đặc và dặn: - Trời sắp sáng rồi, cháu tạm lánh mặt ngoài Gò Nổi, đến bên phải Miếu Ông chừng vài chục bước có một cụm mả bảy cái, cái mả giữa chính là chiếc hầm bí mật của bà đào cách đây hai tháng. Cửa hầm là đầu gò mả có hai hồn đá chồng lên nhau. Cháu cứ ở đó sẽ có người liên lạc với cháu. Đêm đêm bà sẽ đem cơm nước cho cháu vào lúc gà gáy canh một. Nếu không gặp cháu thì bà giấu sau phiến đá dựng, có chạm hai con rồng ở chân đền thờ Đức Ông. Liệu quyến luyến chia tay má Tám. Ra khỏi vườn mía, tụt xuống dòng kinh, bóng anh khuất hẳn trong rặng trâm bầu. Má Tám càng nghĩ càng thương Liệu. Má quyết định hôm nay đóng cửa lại, bắt đầu tu sửa chiếc hầm bí mật trong nhà để các đồng chí và các con cháu của má về đây có chỗ nghỉ ngơi, làm việc đỡ vất vả. Má tự nhủ: Căn nhà này, chiếc hầm bí mật này sẽ gắn chặt với cuộc đời và cuộc chiến đấu của má, là sợi dây liên lạc giữa má và các đồng chí. Hừng đông, Liệu ra tới Gò Nổi, tìm đến chiếc hầm bí mật ở dãy mả bảy cái. Bọn “ốc nóc” đã bay lượn hàng đàn trên đầu. Anh quan sát xung quanh và kiểm tra thật kĩ xem có những dấu vết gì đáng khả nghi hay không, rồi từ từ mở nắp hầm. Hầm dài và hẹp như một cỗ quan tài, xung quanh vách hầm má lót bằng những miếng ván đem từ nhà ra hoặc những vỉ sắt của xác xe bọc thép giặc nằm trên cánh đồng. Liệu nghiêng người, rồi nằm ngửa ra dùng hai chân đạp, hai tay vừa chống vừa trườn mới vào được. Suốt ngày Liệu chỉ nằm nghiêng, muốn trở người một lát cũng rất khó khăn. Cái khổ nhất là bùn nước dưới lưng nhớp nháp, nước từ trên nắp nhỏ xuống mặt mũi. Trong hầm xông ra một mùi vừa hôi hôi nồng nồng rất khó chịu. Tuy vậy Liệu rất yên tâm. Anh thương và khâm phục bà vô cùng. Tại sao bà nghĩ ra được cách làm hầm bí mật kiểu này trước một bãi tha ma? Sức mạnh nào khiến bà vượt qua tuổi già sức yếu để làm được chiếc hầm khá vững chắc này? Ai đã từng nằm chiếc hầm này như mình? Chắc là má Gấm, bác Tư Hương, bác Năm Lầu đã từng ở đây? Cô Quỳnh Thông và chú Bạch Nhung tại sao bị địch bắt. Đảng viên mất phẩm chất, phải bội hay cơ sở có người phản bội? Huyện ủy chỉ thị cho chi bộ Nam Thái Sơn phải lãnh đạo toàn diện: ổn định đời sống nhân dân, củng cố cơ sở, kết nạp những quần chúng ưu tú vào Đảng, phát triển nhanh lực lượng du kích, đẩy mạnh các hình thức đấu tranh chính trị của đội quân tóc dài, làm tốt hơn nữa công tác binh vận… Trong vòng hai tháng, các nhiệm vụ trên phải được triển khai, phong trào quần chúng phải chuyển biến mạnh mẽ, các mũi giáp công (chính trị, quân sự và binh vận) phải hoạt động nhịp hàng, đều khắp, giành thế chủ động trên chiến trường. Nhiệm vụ đó rất nặng nề. Nhưng nếu không nhanh chóng triển khai là thua địch, là đầu hàng địch, là kéo dài sự chết chóc và đau khổ cho nhân dân sống trong nanh vuốt giặc. Nằm trong chiếc “hầm quan tài” này, Liệu suy nghĩ hết việc này đến việc khác. Căn cứ vào chỉ thị trực tiếp của huyện ủy, kết hợp với tình hình xã nhà qua bà ngoại kể lại, anh phác họa ra một số phương án hoạt động để trình bày với các đồng chí trong chi bộ. Anh không rõ mặt trời đang ở hướng nào mà trong hầm vẫn tối om? Pháo địch bắn hướng nào, gần hay xa mà rung rinh mặt đất? Thỉnh thoảng một vài cục bùn vơi vào mặt, vào miệng anh tanh nồng. Liệu bấm đốt ngón tay điểm lại những đồng chí đã hi sinh oanh liệt và những người vẫn kiên trung bám đất, bám dân. Hình ảnh những đồng chí thân yêu hiện lên trước mắt Liệu, làm sáng lên trong lòng anh một niềm tin mãnh liệt vào ngày mai tất thắng. Tiêu đề: Re: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 04 Tháng Tư, 2014, 07:33:58 am * * * Gò Nổi, nơi có chiếc “hầm quan tài” cũ bây giờ được sửa chữa rộng ra thành địa điểm họp chi bộ, cho các đồng chí lãnh đạo xã và ban chỉ huy xã đội. Đêm má Tám vẫn tiếp tế lương thực cho anh em vào lúc gà gáy canh một. Có lần bị giặc đuổi riết quá, má phải ngâm mình dưới kinh, bò qua những vũng trâu đầm, ra tới nơi, nắm cơm đã vữa ra, bùn đất dính bê bết. Nhìn anh em mình vừa phủi bùn đất, vừa ăn cơm ẩm ngon lành, hai dòng nước mắt lại chảy ròng ròng trên khuôn mặt nhăn nheo của má. Thấy má làm nhiều việc nặng nhọc quá ngoài công việc hậu cần nuôi các đồng chí hoạt động bí mật, má còn là một chiến sĩ trinh sát nắm địch trong ấp, đồng thời làm cả nhiệm vụ giao liên cho chi bộ, các anh Tám Lai, Tư Hương đề nghị với má nên chọn thêm một đảng viên giúp súc. Má lắc đầu, mái tóc bạc phơ cũng rung theo: - Má còn đủ sức làm được bây nhiêu công việc đó. Chừng nào má chết thì các đồng chí hãy cử người khác thay. Các anh nêu ý kiến hay chọn thêm một vài má trong đội “quân tóc dài” các má để luân phiên làm các việc trên. Má lắc đầu: - Các má, các chị đều rất tốt. Tiền bạc, cơm gạo, thuốc men, áo quần mà má đem ra bưng cho các anh dùng đều là của các má, các chị đi quyên góp. Nhưng đây là đường dây liên lạc duy nhất, không thể để cho nhiều người biết được. Vỡ đường dây này thì tình hình của xã sẽ khó khăn vô cùng. Thấy má nói tuy có tình, có lí nhưng anh Tư Hương vẫn băn khoăn: - Thưa thím, chúng cháu cũng nghĩ như vậy. Nhưng lo cho sức khỏe của thím. Thành ra… Má Tám vừa ngoáy trầu vừa cười, nói: - Bọn giặc hành hạ thím dã man mà thím chưa chết, bây giờ trông thấy rõ ngày cách mạng mình thắng đến nơi rồi, thím không chết sớm đâu. Với lại cái đà này rồi các anh sẽ vào làng ở với bà con chứ có còn ở mãi ngoài này đâu. Chiếc hầm bí mật nhà tôi sửa xong rồi. Các cơ sở cũ nhà nào cũng lo củng cố lại hầm bí mật chu đáo của. Mọi người đều mong sớm được đón các anh về xã. Liệu lao vào công việc quên ăn quên ngủ. Các đồng chí ở xã gợi ý anh về hậu cứ của huyện nghỉ ngơi vài tuần. Anh cười, nói: - Phong trào lên là cháu khỏe nhanh lại ngay thôi. Từ ngày Liệu về, chi bộ Nam Thái Sơn sinh hoạt đều đặn, đã kết nạp thêm ba đảng viên. Đội du kích đã tổ chức nhiều trận đánh giữa ban ngày, làm cho địch hoang mang. Đội quân tóc dài của má Tám mấy lần kéo lên đồn Kinh Một đấu tranh đòi bọn địch bồi thường nhà cửa, trâu bò bị chúng bắn phá, đều thắng lợi. Hôm rằm tháng ba, địch nã pháo vô cánh đồng làm chết và bị thương nhiều dân làng, trong đó có bà Miên, mẹ một binh sĩ trên lô-cốt “chuồng cu” ngoài lộ 80. Má Tám vận động khiêng xác những người chết lên đồn giặc đấu tranh. Đoàn người đầu bịt khăn tang trắng kéo dài hàng cây số, hô to khẩu hiệu: “Đả đảo quân độc ác giết người”, “Không được bắn phá bừa bãi vào nhà cửa, ruộng vườn”. Gặp bon lính trên đường, má Tám nói: - Các anh đi lính quốc gia để bảo vệ ai mà chính đạn pháo của quốc gia lại giết hại bà con ruột thịt của các anh. Đây là xác cụ Miên, mẹ binh sĩ Thà trên lô-cốt “chuồng cu”. Các anh hãy đứng về phía bà con đấu tranh đòi bọn chỉ huy chấm dứt hành quân cướp bóc, chấm dứt bắn phá bừa bãi, để nhân dân yên ổn làm ăn. Cuộc đấu tranh đã thu hút được nhiều binh sĩ địch tham gia. Các má tranh thủ thời cơ làm công tác binh vận. Trước sự căm giận của đồng bào và binh sĩ, bọn chỉ huy đã phải nhượng bộ, hứa sẽ bồi thường cho các nạn nhân và sẽ kỉ luật những đứa đã gây ra tội ác. Phong trào lên nhanh như diều gặp gió. Chỉ bốn tháng sau đó, những phân đội chủ lực Miền đã uống bám trụ ngoài bưng. Đội quân hậu cần của má Tám nuôi hàng trăm người suốt một tháng liền mà không cảm thấy vất bả bằng hồi má nuôi Liệu với mấy đồng chí trong chi bộ ở Gò Nổi. Xã chưa giải phóng, nhưng ban ngày của địch, đêm do ta kiểm soát. Đã có nhiều trận đánh xảy ra ở lô cốt 80, lô-cốt Kinh Một và Kinh Ba. Trận nào cũng có liệu tham gia chỉ huy. Anh bị thương hai lần, cũng may vết thương đều trúng phần mềm, nên má Tám chạy thuốc cho anh vài tuần là khỏi. Sau đợt công tác ấy, Liệu trở về huyện rồi được cử chỉ huy một đơn vị bộ đội địa phương huyện lên bổ sung cho quân chủ lực Miền. Tiêu đề: Re: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 04 Tháng Tư, 2014, 07:34:34 am * * * Bây giờ giặc lại ùn ùn kéo đến. Chúng đến đây, trong thế bị đánh tơi tả ở những nơi khác. Nhìn cái cảnh bọn lính nhốn nháo, xác xơ thì ai cung biết chúng bị thua đau lắm. Giặc ủi lúa làm thêm lô-cốt. Ấp chiến lược ven lộ 80 ngày càng dài mãi ra, vòng trong là dân vệ, ngoài là lính bảo an, ngoài nữa là lính biệt động, cuối cùng là quân chủ lực và xe bọc thép cố thủ. Cây cối trong làng bị đốn sạch. Làng xóm dòm đâu cũng thấy vết đạn, khét lẹt mùi thuốc súng. Khác những năm trước, lần này địch dồn các xe bọc thép và máy bay lên thẳng đến nhiều hơn. Nhưng lực lượng ta lúc này cũng đã vững lên rất nhiều. Chi bộ Đảng vẫn bám trụ. Anh Tư Hương Bí thư vẫn đi về trong chiếc hầm bí mật của nhà má. Xã độ trưởng Năm Lầu nói vui với má: “Các má, các chị và bà con cô bác chịu khó nuôi tụi tui, còn súng đạn đánh giặc thì tụi tui “lãnh” trong kho của Mĩ ngụy”. Một lần, anh năm Lầu từ mé vườn sau nhà mờ phên liếp bước bào. Má Tám nhận ra anh, liền vặn nhỏ ngọn đèn trên bàn thờ. Năm Lầu nói nhỏ: - Thím ạ, hôm qua tụi tui đánh đồn Bàu Cạn. Mở xong hàng rào dây thép gai cuối cùng thì trời sáng, nên không đánh được. Bị lộ, địch bắn rát quá làm một đồng chí bộ đội hi sinh cạnh lô cốt số Ba. Tụi tui có khuyết điểm là không kiểm tra kĩ trước khi rút, nên còn để lại xác đồng chí mình trong đó. Chúng cố để ác đồng chí ấy thúi rữa và cho mấy tổ súng máy phục kích ta. Thím xem có cách nào đem được tử thi đó ra ngoài để chôn cất tử tế… được không? Má Tám cảm thấy ruột gan mình như kim đâm. Suy nghĩ một lát má nói: - Lâu nay tụi đồn Bàu Cạn nổi tiếng là độc ác nhất vùng này. Việc này quả là phức tạp, nhưng cháu yên tâm, thím sẽ cố gắng thu xếp nhanh chóng, gọn gàng. - Cháu bận tổ chức lực lượng chuẩn bị cho các trận đánh sắp tới. Việc này trăm sự nhờ thím. Tư lịnh cũng là thím mà chính ủy cũng là thím đó. Bóng Năm Lầu khuất sau mái nhà. Má Tám ngồi suy nghĩ hồi lâu. Đồn Bàu Cạn do thắng Thiết làm đồn trưởng, mặt nó rỗ như tổ ong, bà con gọi là Thiết rỗ. Nó là con ông Ngại có họ xa với ông Xừ, gọi ông Xừ bằng bác. Vợ chồng ông Ngại vào đây cùng một chuyến tàu với má, lúc đó thằng Thiết mới đi lững chững. Vợ chết sớm, ông Ngại lấy vợ khác. Bà dì ghẻ đanh đá quá quắt, nên mới 15 tuổi thằng Thiết đã bỏ nhà đi biệt tăm, rồi sau đó nó trở thành sĩ quan ngụy. Nó có hai vợ. Vợ cả ở trong đồn. Vợ lẽ hắn cướp của một thằng lính dưới quyền, rồi đẩy tên lính ấy đi trận và mất tích luôn. Con vợ lẽ tên là Nga mở cửa hiệu ở Rạch Giá. Mỗi lần hành quân hắn cướp bóc, vơ vét từ bộ quần áo đã sờn của dân đến từng cái cối đá đem về cho vợ lẽ hắn. Chị Trinh một cơ sở của ta trong thời gian giả vờ đi buôn để hoạt động hợp pháp, có nhiệm vụ kết bạn với Nga để qua đó nắm tình hình địch ở Bàu Cạn. Mối tình bị trấn ép như thế nên Nga chẳng yêu thương gì Thiết. Nhưng Nga buôn bán có nhiều tiền, Thiết thì tiêu xài bạt mạng, nên Thiết vẫn ăn bám Nga. Mấy lần đi lại buôn bán với Nga, Trinh có chạm mặt với Thiết. Trinh cũng là gái đẹp nên Thiết liền giở trò sàm sỡ. Sau đó Trinh cố lánh. Má Tám thắt lại chiếc khăn rằn trên đầu, xách nón đi tìm Trinh. Mặt trời lên khỏi mặt biển đỏ rực. Má Tám và Trinh thuê xe lội đi đến đồn Bàu Cạn. Đồn Bàu Cạn đóng trên doi đất giữa Kinh Tư và Kinh Năm, trước đây là bãi tràm nối liền với rừng hoang đi tới căn cứ cách mạng. Địch cho đây là cửa ngõ xung yếu, nên mới cày ủi, rào dây thép gai, xây lô-cốt, dừng đồn bốt. Xe lôi dừng trước cổng đồn. Má nói với hai tên lính gác: - Các anh cho tôi gặp ông Thiết, trưởng đồn. - Bà là ai mà đòi gặp ông Thiết? - Ông Thiết gọi tôi bằng bác. Con đây là cô Trinh cháu tôi, bạn hàng với bà Nga vợ ông Thiết. Hai tên lính bàn bạc nhỏ to với nhau. Đứa béo lùn ở lại, đứa cao lêu nghêu đưa má và Trinh vào. Đường từ ngoài vào giữa đồn khoảng hơn trăm mét, lên cao như yên ngựa rồi mới tụt xuống. Khi đến đoạn cao nhất, má Tám ra hiệu cho Trinh chú ý quan sát các vị trí bố trí hỏa lực của địch. Khi được lính báo có má Tám đến gặp, thằng Thiết lưỡng lự hồi lâu. Nó biết rõ má là ai, con cháu trong gia đình má thế nào. Má đến đây chắc là có chuyện. Nó nghĩ mình phải tỏ ra là tay hảo hán chứ không phải võ biền, nên mới dám tiếp chuyện với “bà già cộng sản” ngay trong đồn. Với lại bà già này cũng là bà con xa. Tuy vậy, nó vẫn lên giọng: - Bà già cộng sản định giở trò gì mà dấn thân vào cái đồn này? - Thiết, mày bỏ làng, bỏ xóm đi đã lâu, nhưng chắc mày biết tao là bác của mày chứ? Thấy Thiết thay đổi nét mặt, không hung dữ như lúc đầu, má Tám tấn công luôn: “Tao biết mày là đồn trưởng có quyền hành cao nhất trong cái đồn này, nên tao với cô Trinh là bạn bè buôn bán với vợ mày ở Rạch Giá đến đây bàn với mày một việc. - Bà lại muốn “binh vận” bọn này chớ gì? Tôi nghe nói bà “binh vận” giỏi lắm mà. - Tao già rồi chả biết binh vận, binh vẹo cái gì hết. - Thì việc gì bà nói lẹ lẹ lên, tôi còn phải lo công vụ nữa. Má Tám lấy khăn rằn lau mồ hôi, bình thản kéo ghế nồi ngoáy trầu. Trinh nói: - Tôi vừa ở Rạch Giá lên. Chị Nga nhờ tôi báo với ông: Việt cộng bỏ thư ngỏ cho biết du kích đã chôn mìn cạnh nhà, yêu cầu ông Thiết để cho Việt cộng lấy xác đồng đội ở Bàu Cạn thì họ để yên, nếu gây trở ngại thì họ sẽ nổ mìn sập nhà. Không phải Thiết thương vợ, thương con, nhưng nó nghĩ đến cái gia tài mà nó ăn cướp đem về đó. Sắc mặt nó tái đi. Một lát sau nó nói ấp úng: - Vậy thì ý kiến bà già thế nào? - Ác nhân, ác báo. Cái chuyện hai bên đánh nhau thì tao không có ý kiến gì hết. Nhưng người ta chết thì cũng phải để cho họ lấy xác về chôn cất chứ. Cố tình giữ xác họ thúi rữa ra, tao thấy mày thất đức quá cháu à. Nếu như mày có bề gì thì vợ con mày cũng muốn mày có mồ yên, mả đẹp chớ. Mày nghĩ tao nói có đúng không? Bây giờ Việt cộng họ ra điều kiện rồi đó, mày tính sao? Thiết đi đi, lại lại, nện gót giày đinh lộp cộp trên nền xi măng. Hắn ném điếu thuốc lá thơm vừa mới châm: - Ai bảo đảm rằng để cho Việt cộng lấy được xác thì nhà tôi khỏi bị đánh mìn? - Tao biết Việt cộng họ nói là họ làm. Họ không bao giờ tráo trở đâu. Thiết quay lại phía Trinh: - Cô có nghe vợ tôi dặn thêm điều gì nữa không? - Chị Nga khóc suốt, không dám về nhà và nói rằng anh ác quá chỉ làm vợ con khổ. Thiết nói cụt lủn: - Tôi biết các bà là tay chân của Việt cộng đến đây đòi lấy xác đồng đội, đồng chí của các bà. Bây giờ đến nước này tôi cũng đành phải chịu. Họ muốn lấy xác đó vào lúc nào? Má Tám nói liền: - Nay gây giờ. Mày cho lính đem ni-lông gói lại cẩn thận. Lấy ghe con cho một tên lính không mang súng chở ra giáp lộ đá sẽ có người đón. Nửa giờ sau chiếc ghe con lướt nhanh trên dòng Kinh Năm. Má Tám ngồi giữa khoang cạnh liệt sĩ, hai dòng nước mắt chảy dài trên má. Trinh ngồi trước mũi ghe, thầm khen sáng kiến và tài mưu lược của má. Nắng trưa lấp loáng trên mặt kinh. Một tháng sau con Bàu Cạn bị bộ đội và du kích san bằng. Tiêu đề: Re: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 04 Tháng Tư, 2014, 07:35:06 am VI Bản án tử hình tên trung tá Láu đã được cấp trên chuẩn y. Nhiều đơn vị đăng kí nhiệm vụ đón hưng huyện đội nhất trí trao nhiệm vụ cho du kích xã nam Thái Sơn. Các anh Tư Hương Bí thư chi bộ, Năm Lầu xã đội trưởng quyết định giao cho Vũ Đình Lăng con trai thứ ba của Gấm vừa ở căn cứ du kích về chỉ huy trung đội, trực tiếp thi hành bản án, vì đó là nguyện vọng tha thiết lâu nay của Lăng và của má Tám. Công tác chuẩn bị được phân công cụ thể và tiến hành khẩn trương xã đội trưởng Năm Lầu chỉ huy lực lượng bám sát Láu. Má Tán liên hệ với Râu-dê và Mũi-lõ chuẩn bị bốn bộ đồ lính và sĩ quan ngụy. Trung đội trưởng Vũ Đình Lăng chọn ba chiến sĩ du kích dũng cảm cùng mình luyện tập một số phương án đã định trước. Anh Năm Lầu dặn dò má Tám: - Râu-dê và Mũi-lõ là hai tên lính ngụy ta đã tranh thủ được nhưng đợt này chỉ sử dụng họ hai việc. Một là chuẩn bị quân trang ao gồm quần áo, giầy mũ. Hai là để trống cổng phía tây, nơi họ có nhiệm vụ canh gác trong suốt thời gian ta hành động. Không nên để cho họ biết ta xử án tên Láu -Năm Lầu hạ giọng - Mặt trận binh vận của thím lúc này quan trọng hơn bao giờ hết. Má Tám phân vân: - Nếu chúng nó mở đợt càn quét để đàn áp bà con ta thì tính sao? - Xã đội đã tính trước nước cờ ấy rồi. Thím củng cố thật chặt đội quân tóc dài. Nó càn quét thì bà con tập trung lên đồn, lên ấp cãi lí để giam chân bọn lính không được kéo đi xa. Dưới này du kích tụi tui sẽ bố trí trận địa đón lõng chung. Chừng nào nghe tiếng tù và thì bà con ta mới về lại làng nghe. Về sớm giẫm phải mìn của du kích đấy. Cô Hoa tiểu đội trưởng trinh sát từ Rạch Giá trở về nhà má Tám đã báo cáo tình hình với xã đội trưởng Năm Lầu. Nhưng Năm Lầu còn đi học ngoài căn cứ. Hoa sà vào lòng má Tám - Ngoại ơi, con lo cho anh Lăng lắm. Thằng Láu là một đứa nham hiểu liệu nó có lọt vào bẫy của ta không? Má Tám biết Lăng và Hoa thân nhau từ bé. Hoa kém Lăng một tuổi, ba cô đi bộ đội địa phương tỉnh, vừa hi sinh. Khi Lăng còn ở du kích xã, hai đứa không rời nhau một bước. Lăng ra phụ trách một đơn vị du kích tập trung của huyện ngoài căn cứ, nhưng vẫn về xã hoạt động thường xuyên. Hai đứa ngày càng mến nhau. Hoa là một cô gái lanh lợi và dũng cảm nên được chọn làm tiểu đội trưởng trinh sát. Hoa ít khi khóc, nhưng bây giờ chỉ có hai bà cháu, Hoa lại khóc. Má Tám tìm lời an ủi: - Cháu ơi! Cháu đã biết kẻ thù gây ra bao đau thương ở làng này và việc thằng Láu chôn sống má Lăng như thế nào rồi? Không còn con đường nào khác cháu ạ. Đây không phải là việc trả thù cá nhân mà là thực hiện mệnh lệnh của cấp trên giao cho nó. Cháu thương Lăng thì gắng sức giúp đỡ nó. - Bài ơi! Cháu muốn tự tay mình được xé xác thằng Láu. Nhưng anh Lăng đi làm nhiệm vụ ấy thì cháu lại lo. Bà hiểu cho cháu. Má Tám lấy khăn lau khô nước mắt cho Hoa. Năm Lầu từ phía sau vườn bước vào. - Hoa đấy hả? Tình hình địch thế nào hả cháu? Bây giờ mọi việc chỉ còn chờ “lệnh” của cháu nữa thôi đấy. Hoa ghé sát vào tai Năm Lầu: - Thưa chú, tối mai, lúc bảy giờ thằng Láu sẽ về đây. Cùng đi với láu có tên đại úy tiểu đoàn trưởng bảo an đến nghiên cứu địa hình vùng này để tăng quân. - Thằng đại úy tên là gì? - Dạ, Hai Ngộ ạ! - Hai Ngộ hả? Thằng này cũng là một tên rắn độc đấy. Xong nhiệm vụ này, cháu chỉ huy tiểu đội tiếp tục bám chắc các mục tiêu khác như đã phân công nghe? - Thưa chú, rõ! Đêm hôm sau, trời vừa tối một lúc, xã đội trưởng Năm Lầu cùng trung đội trưởng Vũ Đình Lăng và hai chiến sĩ Nguyễn Hải Đức và Phạm Ngọc Thiện từ cánh đồng tràm trở vô nhà má Tám. Đồng chí Tư Hương, Bí thư chi bộ đã chờ sẵn, dặn dò lần cuối cùng. 20 giờ 30 phút, một chiếc xe Jeep từ Rạch Giá chạy về, ánh đèn pha quét sáng mặt lộ. má Tám từ trại trở ra túp lều dưới chân lô-cốt để nắm tình hình qua Râu-dê và Mũi-lõ. Một lúc sau Má Tám trở về. Má nói: - Đêm nay tên Láu không ngủ lại nhà vợ ba. Bàn bạc kế hoạch bố trí quân với Hai Ngộ xong thì chúng nó về cả Rạch Gái. Chắc là mai sẽ đi càn quét sớm ở một vùng nào đó. Cùng về đây với hai tên này có hai tên lính bảo vệ. Năm Lầu hội ý chớp nhoáng với Tư Hương, sau đó nói với mọi người: - Trước chúng ta định hành động vào nửa đêm, lúc Láu đang ngủ. Đêm nay Láu không ngủ ở nhà, nên bản án phải được thi hành sớm hơn. Khoảng 21 giờ 30 phút chúng ta sẽ hành động. Khi rút, ta không rút về đây như kế hoạch cũ, vì còn sớm. Ta rút theo phương án hai. Đồng chí Tư Hương đã chuẩn bị phương án ấy rồi. Bây giờ còn 30 phút nữa, ta khẩn trương chuẩn bị. Tiêu đề: Re: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 04 Tháng Tư, 2014, 07:35:32 am Loáng một cái mọi người đã làm xong công tác chuẩn bị. Năm Lậu bệ vệ trong vai đại úy ngụy với những hoa mai lấp loáng trên vai áo. Vũ Đình Lặng với bộ quân phục trung úy khá chững chạc, nhưng cái mũ nồi (bê-rê) hơi rộng, má Tám phải lót vào đó hai lớp vải. Còn Nguyễn Hải Đức và Phạm Ngọc Thiện là lính bảo vệ. Tất cả vũ khí đều chuẩn bị sẵn sàng.
Mùa thu, sương đêm rắc sớm. Bóng tối chìm ngập mênh mông, láng xóm vắng lặng. Má Tám và Út Tiến tiễn cả đội đi làm nhiệm vụ. Trở vào, má Tám đóng cửa, cài thêm một thanh gỗ nang rồi đốt đèn và thắp lên bàn thờ một nén nhang.Út Tiến chẳng biết tìm ở đâu được một quả lựu đạn Mĩ, cầm chắc trong tay, lặng lẽ ngồi cạnh cửa, tư thế như mèo rình chuột sẵn sàng vọt ra ngoài đường chi viện cho đồng đội. Bốn người vừa đi vừa phì phèo thuốc lá Ru-bi. Ra đến lộ 80, tiếng giày đinh của họ nện mạnh xuống mặt đường. Họ đi về hướng lô-cốt Kinh Một. Hai cánh cửa cổng sắt lô-cốt khép he hé, thường ngày vào giờ này bo giờ cũng đóng chặt. Bốn người nghiêng mình lách qua cổng, rẽ sang trái đi về hướng gian nhà ngói đỏ, quét vôi vàng giữa ấp đang thắp sáng đèn măng-sông. Bước vào sân, Năm Lầu liếc mắt thấy hai tên lính cầm súng đứng gác trước hiên, trong nhà Láu và Hai Ngộ ngồi đối diện nhau quanh chiếc bàn tròn, uống rượu, cười khoái trá. Ánh đèn măng-sông soi rõ cành mai óng ánh trên bộ quân phục của đại úy Năm Lầu. Hai tên lính gác liền đứng nghiêm chào. Nhìn thấy cửa trước vẫn mở, Năm Lầu làm tín hiệu, Hải Đức và Ngọc Thiện xông đến, mỗi người điểm huyệt một tên lính gác, nhét giẻ vào mồ và tước vũ khí chúng một cách êm ru. Năm Lầu và Vũ Đình Lăng xông vào nhà. Hai người vung súng ngắn đã lên đạn, hô to: - Đứng im, giơ tay lên! Vũ Đình Lăng tiến lên một bước chĩa súng sát mặt Láu: - Láu! Tội ác của mày trời không dung, đất không tha. Bản án tử hình mày hôm nay được thực hiện. Đoàng! Đoàng! Đoàng Đoàng! Hai phát đạn của Lăng hạ gọn Láu và hai phát đạn của Lầu bắn vào Hai Ngộ. Láu rống lên như bò bị chọc huyết, ngã vật xuống sàn nhà. Trước khi gục, hắn còn kịp nhận ra người bắn hắn là Vũ Đình Lăng trung đội trưởng du kích, con trai thứ ba của Tiệu và Gấm. Vợ ba của Láu từ trong buồng hớt hải chạy ra thấy xác chồng và Hai Ngộ nằm sóng soài trong vũng máu, ngã vật ra chết ngất. Vũ Đình Lăng để lên bàn tờ cáo trạng: “Nhân dân huyện Châu Thành A đã kết án tử hình hai tên Láu và Ngộ, vì có nhiều nợ máu với nhân dân. Kí tên: Du kích xã huyện Châu Thành A”. Bốn người theo đường cũ trở ra vừa đi vừa hút thuốc. Ra đến gần lộ họ gặp một toán lính đi tuần, nghe tiếng súng nổ hớt hải chạy vào. Thằng đi đùa vừa bấm đèn pin, Năm Lầu quát luôn: - Bọn bây tuần tra canh gác thế hả? Chạy vào nhà trung tá Láu xem thử cái gì xảy ra ở đó. Nhanh lên, tao bắn chết hết bây giờ. - Dạ, dạ, thưa đại úy tuân lệnh ạ! Bốn thằng lính co giò chạy không dám ngoái cổ nhìn lại. Bốn du kích bấm nhau cười, khẩn trương vượt ra ngoài lộ. Khi đi qua cạnh chân lô-cốt Kinh Một, họ nghe Râu-dê và Mũi-lõ hát vọng cổ nghêu ngao. Sau ngày chiến thắng hoàn toàn, Râu-dê và Mũi-lõ mới nói lúc đó tụi tui hát để tặng du kích đấy. Ra đến gốc cây gòn, ba chiếc hon-đa đã chờ sẵn. Ba chiếc xe phóng hết tốc độ về hướng Hà Tiên. Đến lúc này mới thấy bọn lính trong các lô-cốt bắn súng báo động. Bắn mạnh hơn cả là lô-cốt của Râu-dê và Mũi-lõ. Đạn lửa vụt lên trời như pháo hoa. Liền lúc đó xã trưởng Nấm cho bọn dân vệ vây chặt nhà má Tám. Tảng sáng, Nấm xộc vào hỏi như quát: - Tối hôm qua bà chứa du kích Việt cộng ở đâu? - Ông xã trưởng nói sao vậy. Quân của ông bao vây cái nhà này suốt đêm, con chuột chạy cũng không lọt… - Mụ đừng nói láo. - Không tin thì ông cứ xét nhà. Nếu có du kích trong nhà thì ông cứ bắn bà cháu tôi - Rồi má ngoáy trầu vừa nói một mình để trêu tức tên xã trưởng Nấm - trời đất có mắt, ác đức lắm thì chết cũng không nguyên thây, không nhắm mắt được đâu. Nấm tức lắm, nhưng mặt của hắn thì chẳng còn một hột máu… Tiêu đề: Re: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 04 Tháng Tư, 2014, 07:36:04 am * * * Huyện đội trưởng Bảy Công, Bí thư Chi bộ Tư Hương, xã đội trưởng Năm Lầu, trung đội trưởng Vũ Đình Lăng và tiểu đội trưởng trinh sát Nguyễn Thị Hoa - đứa cháu dâu tương lai của má Tám - Ngồi quây quần trong chiếc hầm bí mật ở nhà má Tám. Hình như Tư Hương muốn nói với má một điều gì quan trọng lắm, nhưng anh cứ ngập ngừng mãi, định nói rồi lại thôi. Dường như má cũng đoán được việc gì chẳng lành sắp xảy ra với má. Má khóc rồi nói líu cả giọng: - Anh Tư Hương, có điều gì anh cứ nói đi. Anh là Bí thư, anh thay mặt Đảng, anh hãy nói rõ sự thật với già này đi. Hay là các cháu… Anh Tư Hương và mọi người vẫn ngồi im lặng. Đầu năm nay huyện đội nhận được giấy báo tử của liệt sĩ Vũ Đình Lạc. Kèm theo giấy báo tử là một giấy tuyên dương công trạng của trung đoàn 14 bộ đội chủ lực Miền về liệt sĩ: “Đồng chí Vũ Đình Lạc, quê quán xã Nam Thái Sơn, huyện Châu Thành A, tỉnh Rạch Giá, chức vụ đại đội trưởng bộ binh, đảng viên Đảng nhân dân cách mạng đã chiến đấu 120 trận, lập nhiều chiến công xuất sắc, được tặng thưởng hai Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhất, 20 lần được công nhận danh hiệu dũng sĩ diệt Mĩ, dũng sĩ diệt xe cơ giới. Đã anh dũng hi sinh trong trận chiến đấu ở đường số 14, ngày 15 tháng 2 năm 1986”. Hồi ấy huyện và xã định tổ chức việt báo tử cho má Tám biết, chưa kịp tiến hành thì địch càn quét vào làng, đồng chí Hai Phương, Bí thư Huyện ủy bị kẹt trong chiếc hầm tránh đạn pháo ở nhà má Tám. Hầm có hai ngách, trên có phủ đất dày và còn chất một đống rơm. Đồng chí Hai Phương vừa kịp xuống hầm bí mật. Ba tên ngụy xông vào nhà đòi phá hầm. Má Tám kiên quyết không cho. Má nói: - Tôi già rồi, phải mướn người mới đào được cái hầm trám pháo, các ông phá hầm thì giết bà cháu tôi hay sao? Một tên địch rút chốt quả lựu đạn Mĩ ném xuống, má Tám liền ôm một bao trấu to ở cửa hầm lao xuống theo. Lựu đạn nổ nhưng vì có bao trấu nên anh Hai Phương vẫn an toàn và má Tám chỉ bị thương nhẹ. Bà con lối xóm nghe tiếng nổ kéo đến đấu tranh rất mạnh không cho địch phá hầm. Má Tám bảo tiến chạy đi gọi Râu-dê xuống. Râu-dê đến, thấy máu me chảy khắp người má Tám, tức giận chửi bọn lính: - Đ… mẹ chúng bay không biết đây là bà già của tao hay sao? Cái hầm này tao đào cho bà núp pháo. Đứa nào hại bà thế này hả, hả? Thấy Râu-dê sừng sộ, hai tên lính bỏ đi không dám ngoáy lại. Râu-dê nói to hơn: - Đ… mẹ đứa nào đụng đến bà già này tao bắn vỡ sọ. Thế là đồng chí Bí thư huyện ủy được má Tám cứu thoát khỏi tay giặc. Sau một thời gian chạy chữa, vết thương của má đã lành. Huyện đội đang chuẩn bị cử người xuống làng gặp má Tám báo tử anh Vũ Đình Lạc, thì đùng một cái đồng chí Ba Non đi họp ở tỉnh đội, đem về một cái giấy báo tử của Đinh Văn Cừ. Cừ là một bộ đội đặc công, hi sinh trong một trận chiến đấu đánh vào kho xăng Nhà Bè ngày 12 tháng 6 năm 1969. Cừ được truy tặng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhất. Các đồng chí lãnh đạo của huyện ủy và huyện đội bàn bạc và đi đến nhất trí là phải lùi lại một thời gian việc báo tử để chuẩn bị tư tưởng thật tốt cho má Tám, rồi mới báo tử cùng một lần cả hai liệt sĩ. Kế theo đó là một đợt hoạt động quân sự kéo dài suốt ba tháng của tiểu đoàn 14 bộ đội địa phương tỉnh ở khu vực tam giác Hòn Đất, Thổ Sơn, Tri Tôn nhằm phá vỡ thế kìm kẹp của địch, phá bung các ấp chiến lược, đưa dân về làng cũ, tạo thành bàn đạp vững chắc của ta. Mùa khô năm sau đón bộ đội chủ lực Miền từ vùng Bảy Núi về chuẩn bị đánh lớn. Suốt cả chiến dịch, má Tám không nghỉ một ngày. Má bận rộn, vất vả như một chiến sĩ. Nào huy động các mẹ, các chị lo cơm nước tiếp tế cho bộ đội, chăm sóc anh em thương binh, liệt sĩ, nào hô hào vận động thanh niên nam nữ đi dân công, nào đưa đội quân tóc dài cản đầu xe M113 của địch gây trở ngại việc điều quân tiếp viện của chúng từ Rạch Giá lên. Hôm tổng kết rút kinh nghiệm chiến dịch ở căn cứ Ba Vành của huyện, một đồng chí cán bộ chính sách của tỉnh đội đem xuống một số giấy bảo tử trao cho đồng chí Bảy Công huyện đội trưởng. Anh giở ra xem từng chiếc. Bỗng anh sửng sốt dừng lại khi đọc đến giấy bảo tử liệt sĩ Vũ Đình Liệu: “Đồng chí Vũ Đình Liệu đại đội trưởng bộ đội đặc công Miền, đảng viên Đảng Nhân dân cách mạng, Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhất, hi sinh ngày 22 tháng 8 năm 1970 trong trận đánh đồn Vĩnh Thuận”. Trong hai năm 1968, 1969 và 1970, gia đình má Tám có ba chiến sĩ hi sinh vừa con, vừa cháu. Ngày còn ở địa phương các anh là những chiến sĩ du kích xuất sắc. Vào quân đội, các anh đều trở thành cán bộ chỉ huy, đảng viên, chiến đấu anh dũng, lập được nhiều chiến công, được tặng nhiều huân chương. Sự hi sinh của các anh thật vẻ vang. Tiêu đề: Re: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 04 Tháng Tư, 2014, 07:36:28 am Anh Bảy Công đề nghị với đồng chí Bí thư huyện ủy:
- Báo cáo anh Hai Phương từ năm 1968 đến năm 1970 toàn miền Nam đánh mạng thắng to. Ba đồng chí Lạc, Cừ và Liệu đều ở các đơn vị bộ đội chủ lực, chiến đấu ở những địa phương trọng yếu, nên hi sinh trong thời điểm ấy. Và do đó mà việc báo tử về địa phương cùng một thời gian không chênh nhau bao nhiêu. Cái khổ của ta hiện nay do việc chưa có điều kiện báo tử dứt điểm từng trường hợp, nên dồn ba liệt sĩ lại cùng một lúc. Bây giờ nên báo tách ra từng liệt sĩ, kéo dài trong một khoảng thời gian nhất định hay là báo gộp lại một lúc? - Ý kiến của các đồng chí bên huyện đội thế nào? - Anh Hai Phương hỏi. - Báo cáo anh, chúng tôi bàn với nhau là nên tổ chức báo tử cùng một lúc cả ba liệt sĩ. Nhưng phải làm công tác chuẩn bị thật chu đáo. Cụ thể là báo trước với đồng chí Vũ Đình Lăng biết tin này cho Lăng đỡ đột ngột. Lăng sẽ báo cho Hoa là người yêu biết. Má Tám rất quý Hoa. Lăng và Hoa là người an ủi của má. Ban chinh sách huyện chuẩn bị một số thuốc men và tiền bồi dưỡng sức khỏe cho má. Huyện đội sẽ bàn bạc với anh Tư Hương và anh Năm Lầu ở xã có kế hoạch giúp đỡ má. Nếu nhận được tin này mà má sinh bệnh nặng thì chúng tôi sẽ cử người đưa má về hậu cứ của huyện điều trị. Út Tiến sẽ giao cho đồng chí Sáu Thế cháu họ của má, chính trị viên phó huyện đội đưa về huyện đội nuôi. Út Tiến có thể làm liên lạc cho cơ quan được rồi. Chúng tôi nghĩ đây là sự hi sinh rất to lớn. Lạc, Cừ và Liệu được má nuôi từ lúc bế ngửa, tình cảm của má với con và các cháu ngoại nặng lắm. Nhưng đối với má Tám, một người mẹ có nghị lực rất phi thường, chúng tôi tin rằng má có thể chịu đựng được. Anh hai Phương đăm chiêu suy nghĩ một lúc rồi nói: - Má Tám chẳng những là mẹ, là bà của các đồng chí Lạc, Cừ và Liệu, Lăng… mà còn là của tất cả chúng ta nữa. Đã là bộ đội và du kích ở đây thì đều là con, cháu của má. Má thương yêu và chăm sóc tất cả mọi người. Tình thương của má thật khó có gì sánh nổi. Nhưng đồng thời má cũng là một chiến sĩ. Má luôn luôn ở phía trước mũi nhọn của tất cả các cuộc đấu tranh. Mặt trận của má đảm nhiệm khá thầm lặng, nhưng chiến công rất vang dội. Sự hi sinh to lớn của gia đình má Tám là tiêu biểu cho sự hi sinh của nhân dân huyện nhà. Bây giờ chỉ còn mình má ở lại làng, Út Tiến hơn mười tuổi rồi, nay mai nõ cũng đi thôi. Tôi đồng ý phương án các đồng chí bàn. Nhưng phải chú ý chỉ đạo việc tiến hành thật cụ thể, tỉ mỉ. Các anh nhắc xã cử người trông nom chăm sóc má cho thật tốt cả về tinh thần lẫn vật chất. Bà con làng Nam Thái Sơn có truyền thống đoàn kết và hi sinh cảo cả mà má Tám lại là người mẹ tiêu biểu cho truyền thống tốt đẹp ấy. Nên tôi tin rằng dù trong hoàn cảnh nào má Tám cũng vững vàng chịu đựng. Anh Tư Hương im lặng nhìn Năm Lầu. Năm Lầu lại nhìn Lăng. Ngập ngừng một lát Lăng nói giọng trầm hẳn: - Ngoại à! Hôm nay bác Bảy Công thay mặt Huyện ủy và Huyện đội, chú Tư Hương và chú Năm Lầu thay mặt cho các đồng chí lãnh đạo xã đến đây để trình bay với ngoại một việc. Cháu mong ngoại hết sức bình tĩnh để nghe các bác, các chú thưa chuyện. Ngoại đừng có… Không để Lăng nói hết câu, Tư Hương nói tiếp luôn: - Thưa thím Tám! Trước hết anh em chúng cháu xin nhận thiếu sót với Thím. Đáng lí ra việc này tụi cháu đã báo cáo với thím từ lâu rồi, chớ không để mãi tới… Máy Tám thấy tim mình nhói đau, ruột gan thắt lại. Nhưng má vẫn bình tĩnh nói: - Kìa… chú Bảy Công, chú Tư Hương, chú Năm Lầu! Việc gì các chú cứ nói ngay đi, không phải rào trước đón sau gì cả. Hay là mấy đứa nhỏ đi bộ đội có đứa nào hi sinh rồi phải không? Với giọng trầm trầm, đồng chí Bảy Công nói ngay: - Dạ thưa thím Tám! Các em Vũ Đình Lạc, Đinh Văn Cừ và Vũ Đình Liệu đã làm tròn nhiệm vụ chiến đấu vẻ vang và hi sinh anh dũng - Bảy Công liếc mắt nhìn má Tám thấy má vẫn ngồi im lặng - Lạc hi sinh ngày 15 tháng 2 năm 1968, Cừ hi sinh ngày 12 tháng 6 năm 1969 và Liệu hi sinh ngày 22 tháng 8 năm 1970. Huyện ủy phân công anh Tư Hương trao giấy báo tử và giấy báo công của các liệt sĩ cho thím. Ngoài mặt trận báo về từng liệt sĩ một: Lạc, Cừ rồi đến Liệu, thời gian chênh nhau chừng vài tháng. Chúng cháu có thiếu sót là không tổ chức báo kịp thời nên mới để gộp lại đến như vậy. Cho nên tất cả tụi cháu mới phân vân, đắn đo như vậy đó thím à. Má Tám kêu lên mấy tiếng: “Con ơi!”, “Cháu ơi!” rồi ngã vật ra ngất xỉu. Năm Lầu gọi: - Hoa! Thuốc tiêm đâu? Hoa mở túi thuốc cấp cứu, tiêm cho má một ống thuốc trợ lực. Hằng ngày Hoa vẫn làm thành thạo mọi động tác, ngay cả trong chiến đấu cô cũng không bao giờ luống cuống, thế mà bây giờ tay cô run lên bần bật, mũi kim quơ lia lịa không xô đúng ống thuốc. Hai dòng nước mắt kéo dài, không dứt trên đôi má bầu bĩnh. Hoa cố cắn răng cho khỏi bật ra tiếng khóc. Lăng lấy lọ dầu “Ông Phật” xoa bóp cho bà và đỡ bà nằm xuống đống là chuối khô lót nền hầm. Gian hầm trở nên yên tĩnh tưởng như có thể nghe rõ tiếng tim đập của tùng người. Bên ngoài đêm tối mênh mông, xóm làng ngủ lặng. Chốc chốc pháo của địch ở Ba Hòn bắn vài chục quả, đạn bay “hú hú” qua đầu rồi nổ bên kia bãi tràm. Một lúc sau má Tám chớp chớp mi mắt rồi từ từ ngồi dậy. Má uể oải, dựa lưng vào thành hầm, ra hiệu bảo Hoa ngoáy một cối trầu. Cái cối giã trầu của má là cái “các tuốt” đạn 12,7 li cưa đôi, do một đồng chí bộ đội năm ngoái về đây chống càn bị thương, má nuôi ở hầm này hai tháng, làm tặng má. Má không nói một lời, miệng nhai trầu, dường như miếng trầu vẫn khô khốc. Nước mắt chảy ràn rụa trên khuôn mặt đầy nếp nhăn như những lớp sóng biển lúc trời động. Lăng ngập ngừng nói trong tiếng khóc: - Bà ạ! Đánh giặc thì việc sống chết là lẽ thường thôi. Hai anh cháu và cậu Cừ của cháu đã làm tròn nhiệm vụ, giết được nhiều giặc để trả thù cho ba má cháu. Bây giờ cậu và các anh hi sinh rồi, cháu và thắng út Tiến sẽ luôn luôn ở bên bà, chăm sóc bà. Bà già rồi, bà đừng có lo nghĩ nhiều quá sẽ sanh bịnh đó. Tư Hương nói: - Thím Tám ạ! Sự hi sinh của gia đình thím to lớn quá, tụi tui nghĩ rằng chẳng có lời nào nói với thím cho vừa. Sự việc thì như đồng chí Bảy Công thay mặt Huyện ủy và Huyện đội đã trình bày, con đây là toàn bộ giấy tờ của các liệt sĩ. Thay mặt địa phương, cháu xin trân trọng trao cho thím. Má Tám lau khô nước mắt, nói: - Tôi cũng biết đánh giặc thì làm sao tránh khỏi sự đổ máu hi sinh. Đã cho con cháu của mình ra đi đánh giặc cứu nước thì không hề tính toán chuyện đó. Các con, cháu tôi đã làm tròn nhiệm vụ đền nợ nước, trả thù nhà, tôi không có điều gì ân hận cả. Tôi chỉ buồn một nỗi là chúng nó hi sinh sớm quá, không được cùng anh em chiến đấu nhiều hơn nữa, giết được nhiều giặc hơn nữa. Má Tám được biết con trai anh Bảy Công vừa hi sinh, còn anh tuổi cao vẫn lăn lộn đêm ngày cùng du kích để chỉ huy đánh giặc… Rồi còn dì Bảy, mợ Ba bên cạnh nhà má cũng nhận được tin con hi sinh hồi tháng trước. Cuộc đời những người mẹ trong chiến tranh là cả một cuộc chiến đấu. Lòng má cũng cảm thấy khuây khỏa khi nghĩ đến các mẹ khác cùng cảnh ngộ với má và má vẫn còn hai đứa cháu. Tiêu đề: Re: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 04 Tháng Tư, 2014, 07:37:09 am * * * Đêm chưa khép hẳn, nhưng trước mắt má Tám đã trở thành tối thẳm. Từ ngày xã trưởng Nấm giam má trong ngục tối, năm tháng ròng mắt má lòa hẳn đi. Năm ngoài Râu-dê và Mũi-lõ (tên thật là Trần Văn Ấn và Phạm Văn Vinh) được má Tám hướng dẫn, hai người đã mang toàn bộ vũ khí ra vùng căn cứ nộp cho Huyện đội và được Huyện đội cho về nhà với vợ con. Hai tháng sau Ấn (Râu-dê) gửi cho má Tám một bức thư cảm ơn, nhờ một người em họ thường đi buôn ở Rạch Giá chuyển hộ. Dọc đường, người em họ bị cảnh sát ngụy cướp giật nên lá thư ấy bị lộ. Má Tám bị bắt. Cũng trong thời gian ấy, Sáu Thổ, chính trị viên phó Huyện đội đưa Vũ Đình Tiến ra Huyện đội làm liên lạc và Vũ Đình Lăng trở về làm xã đội phó. Lăng trực tiếp tổ chức và chỉ huy nhiều trận đánh vào căn cứ địch trên lộ 80 làm bọn địch mất ăn mất ngủ. Nấm phải đưa cả gia đình vợ con lên ở cạnh bốt Mô Đất - Nấm càng thù má Tám. Sau năm tháng trời bị giam trong ngục tối trở về, má Tám còn bị giam lỏng ở xã. Mỗi tuần hai buổi má phải lên bốt Mô Đất để trình diện. Nấm quát nạt: - Tại sao mụ dám cả gan lừa phỉnh hai thằng lính ở lô cốt Kinh Một bỏ về nhà? - Tại họ chán cuộc đời làm lính đánh thuê, họ sợ phải đền tội như tên Láu nên bỏ về, chớ già cả như tôi thì lừa phỉ được ai! - Bà già gọi thằng Lăng, thằng Tiến về nhà chưa? - Chúng nó đủ lông, đủ cánh rồi, chúng nó có phận sự của chúng nó! - A! Bà này láo hả? Nó dang tay tát một cái vào mặt má, rồi đấm, đá, dùng roi quất vào đầu, mặt, quanh lưng má… Máu thấm loang mái tóc đã bạc trắng, má ngất xỉu. Chập choạng tối, trời lành lạnh, gió từ biển thổi qua bãi tràm ngát thơm lùa vào, má mới tỉnh dậy, cố lần từng bước trở về làng. Chỉ có tấm ván hình chữ nhật sơn bằng dầu hắc với hàng chữ: “Đây là nhà cộng sản nòi” đón má. Tấm ván do tên xã trưởng Nấm mang đến đóng chắc vào giữa thân cây tràm độc nhất trước cửa. Cây tràm do ông Xừ, chống má trồng từ khi mới đến đây cắm đất làm nhà. Mảnh đạn pháo đã phạt mất ngọn cây, mà tấm ván vẫn không lung lay, cây tràm đâm nhiều mộc mới và trổ hoa nhiều hơn trước. Tình hình chiến sự ngày càng sáng sủa. Đầu tháng tư, hai đại đội bộ đội địa phương huyện phối hợp với du kích xã Nam Thái Sơn ém quân ngoài bãi tha ma bên khu sông Nam Thái, chờ thời cơ bộ đội hỏa lực khu đánh vào căn cứ. Hòn Đất và bọn lính ở ấp chiến lược lộ 80 đi cứu viện, mới ập vào đánh tung bốn lô cốt “chuồng cu”, khu trung tâm điện đài, trận địa pháo, diệt toàn bộ bọn địch còn lại. Má Tám chỉ huy hàng trăm các má, các chị ở các trại vòng ngoài xông vào hỗ trợ cho bà con bên trong phá bung ấp chiến lược. Mặc cho súng máy địch ở các lỗ châu mai ngắm bắn xối xả, má vẫn xông lên phía trước dùng loa kêu gọi: “Anh em binh sĩ, các anh bị bao vây rồi. Các anh hãy quay súng lại diệt bọn ác ôn và đầu hàng quân giải phóng”. Bỗng bóng một chiến sĩ nhỏ nhắn, ngực quàng tiểu liên, vác cờ đỏ sao vàng chạy như bay đến khu nhà giữa, ngoảnh lại gọi to: “Ngoại ơi! Ng…o…ại!” rồi tiếp tục chạy. Má Tám nhận ra tiếng gọi là hình dạng của Vũ Đình Tiến. Một lúc sau lá cờ đỏ sao vàng đã phấp phới bay giữa khu trung tâm ấp chiến lược ấp 80. Bà con Nam Thái Sơn náo nức phá tung ấp chiến lược, trở về làng cũ. * * * Mùa xuân năm 1975. Khuya lắm, xóm làng ngủ lặng. trăng giữa tháng tròn vành vạnh treo lơ lửng giữa đỉnh đầu. Gió thổi nhẹ, lá ngoài vườn rơi lạo xạo, khô khốc. Má Tám trăn trở không tài nào chợp mắt được. Má chờ tiếng súng từ phía Tri Tôn và Rạch Giá. Má đi ra, đi vào, rồi lại ngồi xuống chiếc chõng tre ngoáy trầu, suy nghĩ: “Lạ, thằng Lăng nói đêm nay bộ đội và du kích phối hợp nhổ căn cứ ngoại vi thị xã mà sao sắp sáng rồi vẫn chưa nổ súng? Hay là…”. Bỗng tiếng súng lớn nổ dậy đất. Những tia chớp giật liên tiếp hiện ra như một cơn dông lớn. Rồi các cỡ súng liên thanh, đạn cối, ĐKZ nổ như rang bắp. Nhà cửa, kho tàng của địch ở căn cứ bốc cháy sáng rực một góc trời. Súng lớn của địch ở các chi khu quanh đó bắn chi viện nổ hoảng loạn như cơm sôi. Tại căn cứ Tri Tôn này, thường ngày địch đóng một tiểu đoàn và tăng cường hệ thống phòng ngự khá vững chắc. Đầu năm nay bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và du kích hoạt động mạnh mẽ, đều khắp nên địch tăng cường cho căn cứ một tiểu đoàn nữa, nhằm ngăn chặn sức tấn công của ta từ xa. Địch xem đây là vị trí tiền tiêu quan trọng ở phía tây Rạch Giá. Đối với ta đây là bàn đạp quan trọng và điểm xuất phát tấn công của các binh đoàn chủ lực trong cả mùa khô 1975 ở miền Nam. Tiêu đề: Re: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương Gửi bởi: anhquaynop trong 04 Tháng Tư, 2014, 07:39:07 am Mặt trăng chếch hẳn về phía tây. Tiếng súng ở Tri Tôn và vùng ngoại vi Rạch Giá vẫn đang nổ dữ dội. Những vệt lửa kéo dài. Những chùm pháo hiệu vàng ệch treo lơ lửng, cái nọ chưa kịp tắt, cái khác đã hiện lên. Ánh đèn pha và tiếng xe bọc thép từ các chốt địch ở lân cận quét sáng, gầm rút liên hồi. Bà con cả làng Nam Thái Sơn đều dậy, thắp đèn sáng trưng, ùa ra đường, chạy đến bờ kinh. Nhiều người trèo lên những ngọn cây cao để nhìn rõ. Tiếng vỗ tay, tiếng bàn tán râm ran:
- Cháy rồi! Cháy rồi! Kho xăng đấy! - Quân mình đánh chúng nó đòn này thì hết cựa quậy. - Phen này nhất định mấy ổng sẽ đánh thẳng vào Rạch Giá. Nhiều người phấn khởi quá không cần giữ mồm giữ miệng gì nữa, hô to: - Việt cộng thắng rồi! Việt cộng thắng rồi! Trống ngực má Tám đập liên hồi. Má vặn ngọn đèn dầu hỏa cháy to lên cho sáng cả căn nhà vắng lặng. Má ngồi trên chiếc chõng tre giữa nhà, ngoáy trầu ăn và thức đến sáng. Bóng má đổ dài ra phía ngoài hiên. Mờ sáng, tiếng súng các cỡ thưa dần rồi tắt hẳn. Căn cứ trên Tri Tôn chỉ còn những đám khói đen cuồn cuộn bốc cao. Mặt trời lên hơn một ngọn sào. Ánh sáng vàng rực rỡ xua tan những lớp sương mỏng. Nhiều bà con từ thị xã Rạch Giá kéo lên phía Hà Tiên. Họ truyền tin chiến thắng của bộ đội ta. Tiếng nói, tiếng cười náo nức khắp làng Nam Thái Sơn. Nghe những lời bà con bàn tán cũng hình dung được bộ đội và du kích mình đánh chiếm các căn cứ ngoại vi thị xã giỏi như thế nào. Lòng má Tám càng rộng lên. Lăng, Tiến, Hoa, Sáu Thố, Tư Hương, Năm Lầu… vẫn chưa thấy ai trở về. Quá trưa, Tiến và Hoa phóng xe hon đa về. Má Tám thấy họ ngoài cửa ngõ. Vừa trông thấy má Tám, Hoa ôm chầm lấy má khóc nức nở. Má Tám như hiểu ngay việc gì vừa xảy ra. Đứng trước nỗi đau khổ của Hoa, má Tám đã ghìm được lòng mình cho khỏi bật ra tiếng khóc. Má hỏi líu cả giọng: - Kìa, các cháu! Có việc gì thế! - Ngoại ơi! Anh Lăng hi sinh rồi. Tiến vừa nói vừa lau nước mắt: - Các ảnh dặn tụi cháu về báo trước với bà, chiều các anh sẽ về đây! Má Tám kêu lên trong tiếng nấc: “Trơi ơi, cháu ơi!”. Một hồi lâu má lặng lẽ đứng dậy, mặc thêm một áo ngoài, đến bàn thờ thắp một nén hương, rồi chống gậy ra đi. Má dặn: - Hai cháu ở nhà, bà đi đây! - Ngoại ơi! Ngoại đi đâu? - Ngoại lên Tri Tôn. - Trên đó còn lộn xộn lắm, ngoại đừng đi. Các chú ở huyện và xã dặn mọi việc đã lo liệu xong xuôi rồi. Bóng má Tám khuất sau mất rặng tràm. Lên đến lộ 80 má vẫy xe lam và giục ông tài xế chạy thật nhanh. Huyện đội trưởng Bảy Công kể lại với má: - Xã đội phó Vũ Đình Lăng chỉ huy một mũi du kích phá ba lớp rào kẽm gai mái nhà kết hợp với rào bùng nhùng. Phá xong lớp hàng rào cuối cùng, anh em trong tổ bị thương hết. Nhưng phía trước lại bất ngờ xuất hiện hỏa điểm đại liên ngầm của địch bắn mạnh làm cho bộ đội ta không xung phong được. Lăng ôm khối bộc phá lao lên, đánh hai ba lần, nhưng lầm nào cũng bị đạn địch hất ra. Lần thứ ba, Lặng đẩy khối bộc phá vào sát lõ châu mai mới giật nụ xòe và chờ cho dây cháy chậm vào sát lỗ châu mai mới buông. Bộc phá nổ. Ổ đại liên địch bị san bằng. Vũ Đình Lăng anh dũng hi sinh. Bộ đội ta ồ ạt xông lên đánh thẳng vào trung tâm sào huyệt địch. Ban chỉ huy mặt trận đánh giá rất cao chiến công của đồng chí Vũ Đình Lăng. Chiều hôm đó má Tám dự buổi lễ truy điệu, tiễn đưa Vũ Đình Lăng và một số đồng đội của anh về nơi an nghỉ cuối cùng. Hoàng hôn buông xuống, má Tám mới trở về. Má không đi xe lam nữa mà chống gậy đi theo một đơn vị bộ đội đang hành quân xuống phía Rạch Giá. Trong những bước chân rầm rập, bụi đường cuốn theo mù mịt, lá ngụy trang của các chiến sĩ khua xào xạc, má Tám bỗng nghe tiếng ai gọi: - Thím Tám! Th… í… m T… á… m! Một đồng chí bộ đội, đầu lốm đốm bạc, đeo súng lục bên hông, hoác tấm vải dù màu rêu từ phía sau chạy lên, nắm chặt lấy tay má xúc động: - Lợi đây mà, thím Tám! - Trời! Anh Lợi! Già thế này mà cũng ở bộ đội sao? - Dạ, tôi vượt ngục đã lâu. Về tới đất liền là chuyển qua công tác bên quân đội ngay. Bây giờ tôi công tác ở ban chính trị một trung đoàn. Chà, lâu ngày quá đi mất, mời gặp lại thí. Bất giác, hình ảnh anh Lợi, người Bí thư chi bộ kiêm Chủ tịch xã năm xưa của Nam Thái Sơn, người đã treo lá cờ đỏ trên ngọn cây bong gòn trong những ngày đầu cách mạng, bị địch đày ra Côn Đảo, hiện rõ trước mắt má. Ôi, anh Lợi bây giờ lại là anh bộ đội. Anh đã già đi nhiều. Bao nhiêu nếp nhăn trên khuôn mặt nghiêm nghị của anh hằn theo năm tháng. - Bữa hôm tôi có gặp các anh Bảy Công, Sáu Thố ngoài sở chỉ huy hậu cứ, các anh kể chuyện về thím và gia đình thím rất nhiều. Tôi đã đem những mẩu chuyện của thím làm bài học về sự hi sinh tất cả cho cách mạng để giáo dục, cổ vũ bộ đội - anh Lợi vui vẻ nói tiếp - Chiến dịch này quân và dân ta đánh mạnh, thắng to. Kế thúc chiến dịch, tôi sẽ ghé lại Nam Thái Sơn thăm gia đình, bà con và thăm thím. … Trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975. Miền Nam đã hoàn toàn giải phóng. Làng Nam Thái Sơn rợp bóng cờ đỏ sao vàng - Má Tám treo lá cờ đỏ sao vàng của nhà mình trên ngọn cây tràm, nơi giữa thân cây còn đóng chặt tấm bảng có dòng chữ “Đây là nhà cộng sản nòi”, mà trước đây vài ngày nhiều người đi qua không dám nhìn. Lá cờ phất phới tung bay trong nắng. Má cảm thấy mình như trẻ lại trong giờ phút đổi đời này. Má nhớ lại tất cả những kỉ niệm xưa như những sự việc vừa xảy ra ngày hôm qua vậy. Má vội vàng đi lau bàn thờ. Ảnh ông Xừ và các liệt sĩ Vũ Đình Tiệu, Đinh Thị Gấm, Đinh Văn Cừ, Vũ Đình Lạc, Vũ Đình Liệu, Vũ Đình Lăng được lồng trong khung kính, xếp ngay ngắn trên bàn thờ. Ở góc trái bàn thờ là chiếc đòn xóc để trong xó đã mốc meo, bây giờ cũng được má đem ra chùi lại như một bảo vật. Sau ngày ai cũng lấy làm lạ, nhà bị đốt năm lần, cái gì cũng cháy tất, thế mà má vẫn giữ được chiếc đòn xóc. Đó là chiếc đòn xóc má quật ngã tên “Bùi Kiệm”. Thắp bảy nén hương cho chống, con, cháu xong, má đi ra rồi lại đi vào. Nhìn đi nhìn lại vẫn có một mình. Nhưng má biết rằng ngày mai, ngày kia sẽ có bao nhiêu anh chị em, đồng chí về đây. Họ đều là con cháu của má! Xế chiều. Ba chiếc xe “Jeep” dừng trước cửa. Các anh Hai Phương, Bảy Công, Ba Lợi nét mặt hớn hở gọi to từ ngoài ngõ: “Thím Tám ơi, thím Tám!”. Một lúc sau, Sáu Thố, Ba Non, Tư Hương, Năm Lầu, Tiến và Hoa cũng hối hả phóng xe hon đa về. Có ai trong tất cả những người này, đang có mặt hôm nay mà không ở dưới hầm bí mật má đào hoặc sống trong căn nhà lá này. Nỗi mong ước gần suốt cả cuộc đời chiến đấu của má là để có ngày rạng rỡ hôm nay. |