Lịch sử Quân sự Việt Nam

Máu và Hoa => Một thời máu và hoa => Tác giả chủ đề:: nhuthin trong 23 Tháng Bảy, 2013, 06:13:18 pm



Tiêu đề: Nó và tôi
Gửi bởi: nhuthin trong 23 Tháng Bảy, 2013, 06:13:18 pm
                                                                                  
HỒI ỨC THÁNG BẨY
   


    Lỡ hẹn mấy bận, giữa tháng bẩy vừa rồi tôi mới có dịp qua thăm chị Thanh như đã hứa. Chuyện tiểu đội tải ba thông tin trạm A69, Quảng Bình hy sinh gần hết vào ngày 2/7/ 1972 định mệnh cứ ám ảnh tôi gần năm nay. Thật khủng khiếp 13 đồng chí, hy sinh 10, đa phần là chị em, tất cả đều chết cháy. Chị Thanh là một trong số ba người may mắn còn sống sót.

   Kém gì mười cô gái TNXP ở Ngã Ba Đồng Lộc. Vậy mà hiếm  người biết đến sự hy sinh của các anh, chị. Trạm thông tin A69 là điểm trung chuyển liên lạc quan trọng giữa chiến trường Quảng Trị nói riêng và Miền Nam nói chung năm 1972 với bộ tổng tham mưu, trong thời khắc đầy khó khăn, khốc liệt, quyết định việc thành bại của sự nghiệp thống nhất đất nước.

  Gia đình chị Thanh ở một căn hộ xinh xắn tầng hai trong khu tập thể Hội liên hiệp phụ nữ Trung ương, phố Pháo Đài Láng, gần đường Nguyễn Chí Thanh. Tôi muốn đến thăm chị vào buổi sớm để tránh nắng, cái nắng tháng 7 thật khủng khiếp. Mặt đất, bầu trời bị căng ra trước sức nóng điểm đỉnh của mùa hạ. Cảm giác như quả bóng bay bị thổi đến ngưỡng cuối sắp nổ tung. Không biết 41 năm trước, mặt trời có giận dữ đến thế không, có thiêu đốt các chị ở cái trạm thông tin nhỏ nhoi nằm vắt vẻo lưng chừng vách núi đá hiểm hóc thế không?

  Chị đi chợ chưa về, nghe chồng chị nói: “khoảng một tiếng nữa mời anh đến”. Một tiếng sau, tôi đã có mặt trong căn phòng nhỏ, tiện nghi đơn giản, mọi thứ đều “rất lính”, nhưng tất cả đều toát lên vẻ ấm cúng của một gia đình  hạnh phúc, an bình. Anh con lớn của chị đang sửa chiếc máy tính, đứa cháu nội bi bô. Chị đang trong bếp tranh thủ luộc mớ trai, tay thoăn thắt, vừa làm vừa nói:

-  Trời nóng quá, anh nhà tôi thích ăn canh trai với cá diếc rán giòn. Tôi phải đạp xe mãi ra tận chợ Thành Công mới mua được, chứ ở gần đây không có.
  
     Chị là một người vợ tuyệt vời. Tôi nghĩ vậy, chẳng cần nem công, chả phượng gì, một món ăn dân dã chồng thích, bất chấp thời tiết khắc nghiệt, đường xá xa xôi, lặn lội mang về cho anh vui. Còn gì hơn thế. Anh quả là may mắn. Gia đình anh, chị thật hạnh phúc.

   Hỏi chuyện, tôi mới biết, anh cũng là lính thông tin, nhận nhiệm vụ đến giải quyết hậu quả cái trận bom quái ác đã xóa sổ gần hết tiểu đội tải ba năm ấy.

   Tôi nói đùa:
      -   Anh giải quyết hậu quả, tiếp quản luôn cả chị phải không?

  Anh cười:

-   Đấy là duyên số anh ạ. Nhưng nhìn cô ấy nhỏ bé, khiếp sợ trước sự tàn khốc của chiến tranh, chẳng khác gì đứa em gái bé bỏng của tôi tại quê nhà không sao cầm được lòng. Tôi chỉ muốn ôm lấy cô ấy, vỗ về, che chở.  Bản năng tự nhiên của người đàn ông mà.

   Gần hai tiếng đồng hồ trôi đi nhanh chóng, tôi  chăm chú nghe chuyện chị kể bằng một giọng mộc mạc, chân tình. Hình ảnh chi tiết của cái ngày tháng bẩy khó quên ấy hiện về rõ mồn một trong ký ức của người lính thông tin đã lên chức bà nội  từ nhiều năm nay. Tôi là người lính chiến từng trải. Chứng kiến không biết bao nhiêu sự hy sinh mất mát của đồng đội. Vậy mà cũng không sao cầm nổi nước mắt.

   Tôi không có ý định kể lại cái sự kiện đau lòng ấy. Thương xót sự mất mát quá to lớn, nuối tiếc vô bờ bến nên chị Thanh  cứ nhắc đi nhắc lại với tôi mãi một câu: Giá như!

   Ừ đúng thật. Giá như anh trạm trưởng không vì trách nhiệm trước đồng đội. Anh đi kiểm tra trạm thủy điện cách đấy gần cây số cấp điện cho trạm xong, nghỉ lại chiều về. Nhưng anh thấy sốt ruột. Mới về nhận công tác được hai tuần, không thể bỏ mặc anh chị em được, anh gọi điện về trạm nói vậy. Giữa trưa anh quay về và hy sinh.

   Giá như chị Lan, vừa hết thời gian phục vụ tại trạm, chờ chồng chưa cưới đón về quê lúa Thái Bình tổ chức đám cưới, sớm một ngày. Thì chị cũng sẽ có một gia đình hạnh phúc kém gì chị Thanh đây?

   Còn anh Sây, vừa tuần trước nhận thư nhà báo tin anh đã lên chức bố. Không kìm nổi sung sướng, giữa trạm anh hét lên: “Tao có thằng chống gậy rồi. Chết cũng không ân hận!”

   Phải chăng chết không ân hận. Vui quá thì nói vậy thôi chứ làm sao mà không ân hận. Đứa con lớn lên ngỡ ngàng nhìn ảnh bố trên ban thờ. Người đàn ông mặc bộ quân phục có ngôi sao trên ve áo ấy chưa một lần được thấy mặt con. Mẹ nó bảo cha con đấy. Nhưng nó chưa một lần được thấy cha nó bằng xương bằng thịt chứ đừng nói gì đến được mua cho đồ chơi hay dắt nó đến trường. Sau này trưởng thành, ai sẽ là người chắp cánh cho nó bay xa?...

   Mười người con của trạm thông tin A69, cũng như hàng trăn nghìn người con ưu tú khác đã ngã xuống vì sự nghiệp thống nhất đất nước. Cho tổ quốc hình chữ S liền một dải hôm nay, hàng núi xương sông máu của các anh chị đã đổ xuống.

    Cám ơn chị Thanh đã kể cho tôi những dòng hồi ức vẫn còn cháy bỏng nắng tháng 7 năm ấy.

   Nhân ngày  27/7 sắp tới, tôi xin dâng một nén hương, kính cẩn nghiêng mình trước vong linh của các liệt sĩ trạm A69 năm xưa.
                                                                          
                                                                                                             Tháng 7, năm 2013
                                                                                                                            Như Thìn
                






Tiêu đề: Re: Nó và tôi
Gửi bởi: thaiminhhung trong 23 Tháng Bảy, 2013, 06:53:40 pm
    Bác Như Thìn lại đúng hẹn, "xuất chưởng" một câu chuyện đầy cảm động, thấm đẫm những giọt nước mắt của những người lính chiến. Xin cám ơn Bác./.


Tiêu đề: Re: Nó và tôi
Gửi bởi: chienc3.1972 trong 23 Tháng Bảy, 2013, 07:22:06 pm
@Nhuthin: Giá như ngày ấy chúng mình ngã xuống ở mảnh đất-cát bỏng miền Trung ấy?
Thì bây giờ chúng mình được bạn bè gọi là những hòn vàng. Những hòn vàng mất đi trong chiến trận hẳn hoi chứ đâu có phải những hòn đất còn ở lại!
Và chúng mình mãi mãi tuổi Hai mươi chứ đâu có là những thằng nửa người, nửa...tàn phế như bây giờ!
Và đâu phải nặng lòng vì món nợ nghĩa tình với bạn bè, đồng đội cứ canh cánh đeo theo chúng mình cho đến khi nhắm mắt xuôi tay!
Nhưng cuộc sống cứ trôi đi theo cái quy luật khắc nghiệt muôn đời.
Và chúng ta vẫn cứ ngẩng cao đầu mà sống, mà hát vang: Cuộc đời vẫn đẹp sao!


 (http://www.youtube.com/embed/l0lN3L57lwQ)


Tiêu đề: Re: Nó và tôi
Gửi bởi: linhcnn72 trong 23 Tháng Bảy, 2013, 09:45:47 pm
@Nhuthin, @Chienc3
Giá như, còn nhiều giá như khi ta nhớ về đồng đội. Chúng ta là những người may mắn khi đi qua cuộc chiến mà vẫn còn trở về. Nhưng còn biết bao bạn bè , đồng đội, những người đi trước không có được may mắn đó, họ nằm xuống và không màng đến danh tiếng này nọ, họ là những NGƯỜI LÍNH chân chính. Tiểu đội tải ba A 69 là những người như vậy. Chúng ta, đất nước ta mãi mãi mắc nợ họ. Cầu mong cho hòa bình vĩnh viễn trên mảnh đất quá nhiều đau thương này.


Tiêu đề: Re: Nó và tôi
Gửi bởi: quân y 103 trong 24 Tháng Bảy, 2013, 12:18:02 am
Hôm nay trên VTV2 truyền hình trực tiếp về Ngã ba ĐỒNG LỘC ,tôi vẫn còn những cảm xúc về 10 cô gái ở Hà  tĩnh bây giờ lại đọc những dòng về các bạn lính Thông tin  cùng nhập ngũ cùng huấn luyện ,các bạn được chọn đi vào chiến trường sớm do yêu cầu của tiền phương cũng 10 ngườii Thông  tin chết cháy không mảnh vải che thân ,đen thui không nhận ra ai với ai,ngày ấy khi được tin ra chiến trường chúng tôi náo nức viết quyết tâm thư để được chọn <cả CCBTT.> Nhưng các bạn ấy được chọn thật ra có những cô gái mới 16 tuổi vì tiếng gọi của Tổ quốc vì sự trong sáng của tuổi xuân ngày ấy muốn cống hiến cho đất nước .
Chỉ tiếc rằng các bạn đã ra  đi mà còn trong trắng ngây thơ.Những nỗi đau chẳng bao giờ quên ,các bạn nằm xuống để lại bao nỗi thương nhớ đến các bạn . Trong số 3 người còn sống sót cách đây mấy ngày 1 chi đã ra  đi dẫu biết quy luật là phải thế thật buồn khi bạn bè lại rụng dần .
Cám ơn anh Như Thìn đã có câu chuyện về lính thông tin ,tôi còn nhớ năm ngoái anh Thìn gặp chị Thanh tôi có nói chỉ anh Thìn mới viết được hết nỗi đau của các bạn lính thông tin tui em ,Thật đúng vậy .
Thắp những nén nhang cho tất cả các anh chi đã hy sinh

 ĐỨA NẰM ĐÂY
ĐỨA Ở NƠI NAO?


Tiêu đề: Re: Nó và tôi
Gửi bởi: hatuyenha trong 24 Tháng Bảy, 2013, 11:10:16 am
  Chị cám ơn Như Thìn , cám ơn món quà em hẹn tặng chị hôm ghé nhà ,bài viết thật hay, thật  rất xúc động em ạ. các ông bà trong khu dân cư của chị đều rất khen cuốn "Nó và Tôi " của em , ai cũng đọc vài lần ,thuộc lòng tiểu sử của em luôn . Như đã kể với em , có người còn mong được gặp em, xin chị hôm sau em tới cho mọi người được chiêm ngưỡng . Thật vinh dự cho bà chị tàn tật này.


Tiêu đề: Re: Nó và tôi
Gửi bởi: tranphu341 trong 24 Tháng Bảy, 2013, 12:15:35 pm
            Chào bác nhuthin! Chào các bác! Tranphu341 rất cám ơn cùng sựu cảm phục bác chủ đã có bài viết mới ở phần mới như chị hatuyenha cùng các bạn nói là rất ý nghĩa nhất là trong những ngày tháng 7 này.

             Đúng là nếu ai đó mà tập trung mà có công có chí có tình để tìm hiểu về những sự hy sinh của nhiều đơn vị bộ đội, đơn vị thanh niên xung phong, của nhân dân hay của lực lượng dân công hỏa tuyến. Lực lượng Dan công hỏa tuyến này càng ít được nhắc tới và họ còn đang rất thiệt thòi khi làm công tác chính sách. Ngoài sự hy sinh anh dũng của 10 cô gái Đồng Lộc đã được cả nước quan tâm và biết đến. Trong thực tế những năm chiến tranh còn có nhiều sự hy sinh tập thể với số lượng hy sinh rất nhiều người mà mọi người không biết hoặc không nhắc tới như câu chuyện bác chủ viết là một ví dụ.

            Tối qua Tranphu cũng được xem một chương trình nói về sự hy sinh của 14 Thanh niên xung phong nữ của Huyện Hưng Hà Tỉnh, Thái Bình trong một trận bom tại Ga Gôi năm 1966 khi máy bay Mỹ đánh bom trúng đoàn tàu Quân sự. TRong lúc máy bay Mỹ điên cuồng đánh phá họ vẫn lao ra khỏi hầm để cứu hàng cứu tầu. Và 14 người đã bị hy sinh. Rất nhiều người bị thương. HƠN 100 NGƯỜI BỊ NHIỄM CHẤT ĐỘC. Vì đoàn tầu quân sự chở hóa chất. Nhiều người trong số họ đến nay vẫn cảnh Không chồng, không con đang nương náu nơi cửa Chùa.

            Nhà báo Phạm Hương cùng tổ điều tra phóng sự đã làm chuyên đề này và cũng đã được giải thưởng cao của báo chí.

             Tranphu xin chúc nhuthin cùng đại gia đình có thật nhiều sức khỏe cùng nhiều niềm vui cuộc sống!


Tiêu đề: Re: Nó và tôi
Gửi bởi: quân y 103 trong 27 Tháng Bảy, 2013, 09:31:44 pm
Chi Thanh trạm A 69 người kể lại câu chuyện với anh Như Thìn ,đã đọc bài viết chi chận thành cám ơn tác giả


Tiêu đề: Re: Nó và tôi
Gửi bởi: DinhLongGiang trong 27 Tháng Bảy, 2013, 09:47:10 pm
Em chào bác Nhuthin! Chào các bác!
Đọc những bài viết của bác NhuThin, em đều có những cảm xúc : Rưng rưng, trăn trở, nghẹn ngào...Vì những bài viết của bác rất đời, rất thật!
Cứ mỗi lần đọc các bài viết của bác, em lại thấy cổ họng nghẹn dần, sống mũi cay cay theo tưng dòng, từng trang. Xin cảm ơn bác!


Tiêu đề: Re: Nó và tôi
Gửi bởi: hatuyenha trong 30 Tháng Bảy, 2013, 11:38:58 am
   Như Thìn ơi ! chị vừa đi mở cửa tủ sách của khu dân cư về có chuyện muốn kể ngay cho em. Chả là có bà bạn tên Q . Mượn quyển "Nó và Tôi " đến mấy tuần rồi hôm nay mới mang trả . Từ lúc bước chân vào CLB đã luôn mồm : hay quá bà ạ chẳng muốn trả, cả hai vợ chồng tôi đều rơi bao nước mắt , phải sống đời lính chiến mới hiểu tác giả viết hay thế nào , vợ chồng tôi dù không phải bộ đội nhưng trong cuộc chiến BGPB bọn tôi được tăng cường cho phía bắc  mấy tháng nên cũng rất hiểu đời lính , kể một lúc lại chạy về lấy cái xoong bị bom bi xuyên táo mà bà này lại đinh tán và dùng cho đến ngày nay cho mình xem . Một bà khác mà hôm trước xin được gặp em cùng góp chuyện và đề nghị : hôm nào tác giả đến chị tổ chức cho anh ấy ra CLB để bọn em cùng được giao lưu . Chị sướng quá Như Thìn ạ  . Có lẽ hôm nào mời em đến gặp độc giả nhé , cho mọi người thỏa nỗi chờ mong.


Tiêu đề: Re: Nó và tôi
Gửi bởi: nhuthin trong 09 Tháng Tám, 2013, 06:50:55 pm
HỌA - PHÚC
   


     Mới lọt lòng, ba má  mong hắn luôn gặp điều tốt lành, bởi thế đặt cho hắn tên là Phúc. Cho đến giờ, đã sáu mấy tuổi rồi, cái tuổi coi như bước nốt chặng cuối của cuộc đời, hắn chẳng hiểu mình gặp họa hay phúc nữa.
     Gia đình hắn thuộc tầng lớp công chức quèn. Ba hắn tằn tiện gắng cho hắn ăn học nên người. Ngặt nỗi hắn ham chơi. Chẳng dại gì mà không chơi. Đất nước binh lửa liên miên, tâm trí nào mà học hành. Mấy thằng bạn vừa đầu quân năm ngoái nghe nói đã thiệt mạng. Cố mà hưởng chút mùi đời. Học hành chểnh mảng, nhuận mất mấy niên học, cuối cùng hắn cũng không thoát khỏi quân dịch. Cũng may, hắn được chọn vào binh chủng thiết giáp chứ không phải xách súng chạy bộ. Sau ba tháng trong quân trường đầy cam go thử thách, hắn được biên chế vào đơn vị thiết kỵ  trấn giữ miền biên thùy. Ấy là một cái họa. Đầu năm 1972, Cộng Sản mở cuộc tấn công ồ ạt qua giới tuyến, chiếc M113 của hắn trúng đạn ngay trận đầu. Hắn kịp nhảy ra khỏi xe thoát chết nhưng không thoát khỏi mấy họng AK như chực sẵn, đón hắn về trại giam. Ừ mà thôi, trong cái rủi có cái may, coi như giữ được cái mạng, chịu khó nằm trong trại vài năm chờ ngày hòa bình.
    Nhưng nghe nói, chế độ tù đày của Cộng Sản khắc nghiệt lắm, ăn uống thiếu thốn, lao dịch khổ sai, liệu hắn có qua nổi không? Đầu óc rối bời, hắn mường tượng ra viễn cảnh tương lai thật đen tối. Hồi còn đi học, hắn có đọc một tài liệu nào đó nói về công ước của Hội Hồng Thập Tự thế giới đối xử với tù binh chiến tranh. Sĩ quan tù binh được tôn trọng hơn hạ sĩ quan và binh lính. Hắn là một trung sĩ quèn bị bạc đãi là cái chắc. Bỗng dưng một ý nghĩ lóe trong đầu: Cứ nhận đại mình là sĩ quan, Cộng Sản làm sao mà biết được. Hắn sẽ được đối xử tử tế.
     Nghĩ là làm, mấy tay quản giáo không hề nghi ngờ. Trong tích tắc, hắn tự phong cho mình từ trung sĩ lên trung úy. Cái quyết định điên rồ trong phút giây nông nổi đã đưa đẩy cuộc đời hắn vào những tình huống thật bi hài.
     Trong trại giam, hắn chẳng được ăn uống gì hơn mấy tay lính quèn. Mà có lần, vô tình hắn thấy suất ăn của mấy quản giáo cũng vô cùng đạm bạc. Lương thực đa phần là mì, vài cọng rau rừng. Họ còn khó khăn thế thì làm sao mà hắn được đầy đủ. Thôi bỏ qua miếng ăn, nhưng là sĩ quan hắn bị theo dõi với chế độ đặc biệt. Cái món học tập chính trị làm hắn sợ hết hồn. Cả ngày ra rả nghe kể tội ác của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, rồi chính sách khoan hồng của chính phủ Cách Mạng. Tiếp đến là học về chủ nghĩa Mác. Đầu óc hắn căng như dây đàn. Thà đi cắt tranh, lấy gỗ làm lán, hay trồng mì, lao lực còn hơn lao tâm.  Càng nghĩ càng cay, không cái dại nào giống cái dại nào. Nhưng trót rồi kêu ai bây giờ. Một ngày ở tù bằng nghìn thu ở ngoài, khổ cực trăm bề, mới một năm mà hắn tưởng phải đến cả chục năm trời.
     Nhưng một biến cố bất ngờ đã đưa hắn rẽ vào ngả đường đầy hoa thơm trái ngọt. Ấy là cái phúc. Hiệp đình Hòa  bình Ba-lê được ký kết đầu năm 1973, mấy tháng sau hắn được đưa tới bờ bắc sông Thạch Hãn trao trả tù binh. Trường hợp của hắn thật lôi thôi, Cộng Sản trao trả trung úy Trần Đình Phúc, nhưng bên Quốc Gia chỉ công nhận có trung sĩ Phúc mà thôi. Lằng nhằng chuyện giấy tờ mãi, cuối cùng hắn cũng được trả về bên kia sông.
    Chuyện của “trung úy” Trần Đình Phúc được báo cáo ngay lên thượng cấp. Các phương tiện thông tin không bỏ lỡ cơ hội. Tên tuổi hắn được đánh bóng. Bỗng dưng hắn trở thành người hùng, đối mặt với lao tù Cộng Sản, tự nhận là một sĩ quan của quân lực VNCH, khí phách hiên ngang vượt qua mọi gian truân.
    Các tướng lãnh từ  Sài Gòn bay ra gắn luôn lên ve áo cho hắn hai bông mai sáng bóng kèm theo một chiếc mề đay đỏ chói. Đặc cách phong sĩ quan cho hắn lên trung úy thật chứ không hề rởm chút nào.
     Gõ đế đôi giầy da bóng loáng xuống mặt đường, miệng huýt sáo, chân bước theo nhịp quân hành, trở về doanh trại, hắn vô cùng sung sướng. Tên là Phúc làm sao mà họa mãi được.
     Nhưng ở đời mấy ai học được chữ ngờ, “cuộc vui ngắn chửa tày gang”, đầu năm 1975, chỉ một đòn của Cộng Sản tại Cao Nguyên, quân lực VNCH vỡ trận, phản ứng dây chuyền tan rã nhanh chóng, kéo theo sự sụp đổ của chế độ Cộng Hòa. Sao cái họa lại đến nhanh đến thế.
    Nếu còn là trung sĩ, hạ sĩ quan và binh lính chỉ phải ra trình diện có ba bốn ngày chính quyền mới, rồi về với gia đình. Còn hắn, Trung úy, diện sĩ quan, chuẩn bị tư trang khăn gói, kèm theo mấy chục ký gạo tập trung đi cải tạo. Thoạt đầu nghe phổ biến chỉ một vài tháng, không ngờ kéo dài ngót chục năm. Khốn nạn, mụ vợ không tha thứ cho cái quyết định tự phong sĩ quan xuẩn ngốc năm 1972 của hắn, có dịp lại chì chiết.
    Đã có kinh nghiệm trong trại tù binh Cộng Sản, nhưng hắn không khỏi ngỡ ngàng trước qui mô và bài bản của lần học tập cải tạo này.
    Thoạt tiên là cái lý lịch tự khai. Khai thế nào nhỉ? Nếu khai thực cái vụ tự phong quân hàm, thì chỉ làm trò cười cho quản giáo. Mà nếu nhận là sĩ quan thực thụ thì lại phải bịa ra trăm thứ chuyện vốn gây cho hắn vô vàn rắc rối đủi đen. Hắn viết đi viết lại mãi không xong cái bản lý lịch ba đời nhà hắn, từ trước năm 1945 đến nay. Thôi khôn ngoan chẳng lại thực thà. Có thế nào cứ khai như thế vậy.
 
   Tay quản giáo gọi hắn lên, chìa cái lý lịch tự khai của hắn ra, nghiêm sắc mặt:
   -  Anh chưa thành khẩn trước Cách mạng, yêu cầu khai lại. Đừng coi chúng tôi là con nít.
   -  Thưa cán bộ, hoàn toàn trung thực. Xin cán bộ cho thẩm tra ạ.
    Hắn khẩn khoản giải thích, thế nào cũng không xong, vẫn phải về viết lại. Lần này hắn cứ viết thế. Nghe nói, Cộng Sản thu được ở bộ Tổng tham mưu quân đội VNCH, tài liệu điện toán, ghi chi tiết từng người lính đến sĩ quan cấp tướng. Không thể bịa được.
     Cũng may, trường hợp của hắn khá nổi tiếng, họ thẩm tra và cho qua. Nhưng cải tạo học tập thì vẫn không tránh khỏi. Sáu, bẩy năm trời phiêu bạt, hết trại này đến trại khác. Ăn uống thiếu thốn, lao động vất vả nhiều chiến hữu của hắn không trụ nổi đã bỏ mạng. Chẳng hiểu sao, hắn vẫn tồn tại. Giờ hắn đã quá quen với việc khẩn hoang, trồng mì, cắt tranh, lấy gỗ, đào giếng v.v Nhưng hắn không thể quen được với việc học tập chính trị, tuần hai ngày.
   Sao họ nói giỏi thế, những tràng ngôn ngữ như những viên đạn nóng bỏng cứ xóay vào tai hắn, nhức nhối không sao chịu nổi. Sau mỗi buổi học phải viết thu hoạch. Hắn có nhập tâm đâu mà viết cơ chứ. Thành thử, bản thu hoạch của hắn đọc trước tổ, trước đội luôn bị đánh giá loại yếu. Tên là Phúc mà sao lắm họa thế này.
    Nhưng rồi hắn cũng được thả tự do, có lẽ họ thấy hắn không còn khả năng gây hại gì cho chính quyền mới nữa. Trở về căn nhà nhỏ trong một con hẻm ở Sài Gòn, nhìn căn nhà trống trơn mà ngao ngán. Vợ hắn đã bán sạch những gì có thể bán được để nuôi mấy miệng ăn và thỉnh thoảng tiếp tế cho hắn. Mấy viên gạch bông lát nền nếu cậy lên bán được, chắc cũng chẳng còn mà nhăn răng ra cười như trêu ngươi hắn thế kia. Về được là may rồi, nhưng biết sống bằng gì đây? Nhiều người cùng cảnh ngộ phó thác số phận cho biển cả, ra khơi tìm chân trời mới. Những chuyện rùng rợn nộp mạng cho hải tặc hay bỏ xác giữa trùng khơi nghe quá đau lòng. Nhưng hắn cũng chẳng có vàng đóng cho chủ tầu mà ra đi như vậy...(Còn tiếp)
    

                                                                                         Tháng 7, năm 2013
                                                                                                 Như Thìn
 

 


Tiêu đề: Re: Nó và tôi
Gửi bởi: linhcnn72 trong 09 Tháng Tám, 2013, 10:34:17 pm
Đúng là ở đời không có cái dại nào giống cái dại nào, câu chuyện của anh chàng này làm ta liên tưởng đến chuyện " tái ông thất mã " trong " Cổ học tinh hoa ". Bây giờ là lúc cái họa đang rơi vào đầu, không biết đoạn sau liệu anh ta có được hưởng phúc không ?


Tiêu đề: Re: Nó và tôi
Gửi bởi: tranphu341 trong 10 Tháng Tám, 2013, 08:59:35 pm
          Chào bác nhuthin! Chào các bác! Vâng đọc chuyện của bác  Chủ mà Tranphu341 cứ phải nghĩ, nghĩ mãi, nghì gần rồi lại nghĩ xa. Nghĩ trước, nghĩ sau. Vâng nghĩ mãi mà thấy cuộc đời này khó giải thích. Chuyện ngụ ngôn "Thái ông Thất mã'' Như các bạn nói cũng chí là một vấn đề. Chuyện của bác Nhuthin mang thêm tính dăn dạy cuộc đời nữa nên càng đọc càng phải ngẫn nhiều hơn!

           Tranphu chúc bác luôn có nhiều sức khỏe cùng nhiều chuyện, nhiều bài viết cho anh em và cho cuộc đời này!


Tiêu đề: Re: Nó và tôi
Gửi bởi: nhuthin trong 15 Tháng Tám, 2013, 05:07:51 pm
  
Họa - Phúc
( phần cuối)

... Giữa lúc ấy, “Chương trình ra đi có trật tự” và “Tái định cư mới” giữa chính phủ hai nước Việt - Mỹ được thực hiện. Hắn là một sĩ quan đủ thời gian cải tạo theo qui định, diện HO, thế là ok. Lũ bạn khốn kiếp, chẳng thấy mặt mũi đâu khi hắn thất thế bỗng ùn ùn kéo đến chúc tụng. Họ mạc, người thân, kẻ sơ trước kia lạnh nhạt, nay đều thân tình. Họ xúm vào giúp hắn tiền bạc, thủ tục giấy tờ, chuần bị hành trang cho cả gia đình hắn chờ ngày lên đường sang Hoa Kỳ. Ôi nước Mỹ, thế giới tự do! Niềm ao ước của cả triệu người trên hành tinh, đúng là phúc lớn. Hắn còn may hơn vì có chú em, hiện là nhân viên không lưu cho một phi trường  bên Mỹ, đã định cư từ lâu rồi. Hắn vội thông báo cho chú em ngày đoàn tụ. Trái với vẻ hồ hởi của hắn, chú em không mấy mặn mà với tin này. Thông cảm cho nó thôi, có lẽ do áp lực công việc.
   Những ngày đầu chân  ướt chân ráo tới đất nước xa lạ, hắn đưa cả vợ con tới tá túc nhà chú em cho đỡ tốn kém. Gặp lại anh sau bao năm lưu lạc, em hắn buông một câu xanh rờn: “Bên này thất nghiệp đầy rẫy, anh chị còn sang đây làm gì?” Câu nói như một gáo nước lạnh dội vào cái đầu đầy nhiệt huyết, hăm hở bước vào chân trời mới của hắn. Sao nó bạc bẽo và vô tình thế nhỉ? Chả gì cùng một giọt máu đào. Hắn tự ái nói:
 -   Anh chị nhờ chú dăm bữa rồi sẽ đi thuê nhà.
Giận quá thì nói liều thế  thôi chứ tiền đâu mà đi thuê bây giờ.
     Thằng em hắn đã thế, vợ con nó còn lạnh nhạt hơn. Sau màn chào hỏi lấy lệ, ai đi việc nấy, cấm cậy thêm nổi một lời. Cả nhà hắn đều chưng hửng, cảm giác thật bơ vơ xa lạ.
     Nhà có bốn, năm buồng rộng thênh thang. Cả gia đình hắn được xếp vào một buồng bé tí lại không có toillet khép kín. Thật bất tiện. Sáng ra, mấy cái phòng vệ sinh, vợ con thằng em mỗi đứa ôm một cái cho kịp giờ đi làm. Cũng đúng thôi, vợ con hắn thì vội gì. Nhưng với hắn lại là một vấn đề lớn. Vốn bị bệnh đại tràng mãn tính do nhiều năm ăn uống linh tinh, sáng nào hắn cũng đi nhanh về chậm vài ba bận. Nay thì nín nhịn. Không có gì khốn nạn đến thế. Hắn gồng người lên, nghiến răng lại cố kìm hãm cái lẽ tự nhiên của tạo hóa. Hắn cũng nếm trải nhiều cơ cực, nhưng có lẽ cực hình này là oái oăm hơn cả.
      Phải thuê nhà thôi. Hắn chạy đôn chạy đáo nhờ bạn bè giúp đỡ, vay mượn chút tiền. Nhưng có tiền cũng khó thuê bởi không có income ( Giấy chúng nhận thu nhập thực tế). Mà mượn thì rất khó. Ai dám cho hắn mượn bây giờ. Cũng may những người đồng hương hảo tâm lập ra một tổ chức thiện nguyện giúp đỡ những người mới định cư như hắn sớm ổn định cuộc sống. Cuối cùng hắn cũng thuê được nhà với tiện nghi tối thiểu và bắt đầu một cuộc sống mới. Lũ trẻ không phải lo, đã có chính phủ trợ cấp học phí và miễn phí bữa trưa. Dịch vụ chăm sóc sức khỏe cũng khá ổn, đã có chương trình trợ cấp bán phần. Hắn vẫn còn độ tuổi lao động, cần tìm việc làm. Đó là một thử thách cam go, nếu không có tiếng Anh và xe hơi. Không biết tiếng, chả nhẽ lại thuê phiên dịch đi kèm. Mà muốn biết tiếng thì phải đầu tư thời gian và tiền bạc. Đào đâu ra tiền bạc bây giờ. Vốn sinh ngữ của hắn quá nghèo nàn, chỉ đủ chào và trao đổi thời tiết trong ngày. Giờ phải học lại từ đầu. Tuổi hắn mà phải ngồi như con nít ê a thì sao chịu đặng. Thôi chọn lấy việc gì cần biết tiếng Anh tối thiểu, sau trau dồi thêm vậy. Nhờ cậy người quen tìm việc giúp, cuối cùng hắn cũng kiếm được một chân chạy bàn trong quán ăn của người Việt. Đành chấp nhận thôi, nước Mỹ không phải thiên đường cho những kẻ lười biếng và sĩ diện. Thỉnh thoảng mấy người quen đi xe hơi sang trọng đến quán ăn, hắn muối mặt phục vụ. Trông họ thật thành đạt, nếu chịu khó, cuộc đời hắn có lẽ cũng sẽ như họ trong tương lai. Trong lúc làm việc, hắn tranh thủ giao tiếp với đồng nghiệp và người bản xứ  bằng vốn tiếng Anh ít ỏi, hy vọng sớm được cải thiện khá hơn. Nhưng có một lần, chủ quán thân tình khuyên: “Ông mới sang chưa hiểu khác biệt văn hóa. Bên này họ rất ghét hỏi về đời tư của nhau. Giả dụ anh hỏi về vợ đồng nghiệp, biết đâu họ vừa đưa nhau ra tòa li hôn. Anh hỏi về con cái, mấy thằng vừa bị thất nghiệp cũng nên v.v . Tóm  lại gặp nhau, anh chào một câu, hỏi thời tiết là đủ. Đặc biệt chớ có hỏi thu nhập hàng tháng. Ông thấy đấy, họ giấu như mèo chôn chất thải. Bị trừ hết rồi còn đâu. Cái gì cũng mua chịu…”
     Từ đấy hắn ngậm tăm, mấy năm rồi mà vốn liếng tiếng Anh của hắn cũng chỉ  quanh quẩn dăm câu “ form” giao tiếp.
     Ấy là tiếng Anh, còn  xe hơi thì sao? Vay mượn, dành dụm, hắn mua được một chiếc xe còn tàm tạm, giá có 2000 USD để tiện đi làm. Hôm đi nộp đơn xin trợ cấp, nhân viên tiếp đơn nhìn chiếc xe chòng chọc. Mụ ta không tin chiếc xe chỉ có 2 ngàn. Phải 3 ngàn chứ không ít. Hắn phải viện đủ chứng từ ra mới khỏi bị làm khó dễ. Sau này hắn mới biết xe trên 2 ngàn sẽ không được trợ cấp của chính phủ. Tiền đâu ra mà dám mua hơn, mua thêm bảo hiểm một phía xe đã đội giá lên bao nhiêu rồi. Nếu bảo hiểm hai chiều thì còn tệ hơn nữa. Thật lắm rắc rối.
    Nghe bạn bè mách, ông có thẻ xanh rồi, nên làm đơn xin nhập quốc tịch. Sau này hết tuổi lao động, nghiễm nhiên được trợ cấp hưu trí. Cạy cục nộp đơn, phải thi mấy môn. Địa lý, lịch sử và hệ thống tư pháp Hoa Kỳ cố cày cũng có thể, nhưng môn tiếng Anh thì hắn chịu, không nhồi thêm được nữa. Thành thử, nhiều dịp đi thi mà kết quả chẳng có nổi một lần.
    Đã trải qua nhiều khổ ải, được như thế này cũng quá tốt rồi. Ở nước Mỹ, lo  miếng ăn, chốn ở không thành vấn đề. Nhưng con hắn sớm hòa nhập với văn hóa Phương Tây, chúng có nhiều nhu cầu vô hình và hữu hình cho bằng trang lứa. Hắn nai lưng lao động cũng không làm chúng thỏa mãn được. Nhưng sốc nhất vẫn là văn hóa. Hắn không tưởng tượng đứa con gái hắn mới mười lăm tuổi đã đưa bạn trai về phòng đóng sập cửa lại. Hắn đập cửa, con hắn bảo hắn là quê, xâm phạm vào tự do cá nhân, vi phạm pháp luật. Điên ruột hắn bớp cho một cái. Hai hôm sau cảnh sát đến hỏi thăm. Khốn nạn! Nó dám kêu kiện cả cha nó à?
    May quá, không phải vậy. Mụ hàng xóm thóc mách, thấy con bé có cái bớt nhỏ bên má nghi hắn đánh con tím mặt đã gọi cảnh sát. Sau vụ ấy, hắn hoàn toàn tôn trọng tự do của các con. Hắn rất buồn, con cái ngày càng xa lạ, cảm giác cô đơn ngay chính trong ngôi nhà của mình.
     Nhiều lúc hắn nhớ quê hương da diết, loáng một cái đã gần hết một đời người. Những kỷ niệm buồn nhiều, vui ít lại ập về vò xé tâm can, ruột gan cứ cồn cào. Mảnh đất hình chữ S ở tận bên kia bờ đại dương, nơi hắn tưởng như không sống nổi phải khăn gói ra đi, vậy mà nay lại có ý nghĩa với hắn đến thế. Hắn nhớ con hẻm nơi hắn sinh ra và lớn lên. Nhớ Sài Gòn những trận mưa chiều bất chợt, đỏng đảnh như cô bạn mới lần đầu hò hẹn. Nhớ hàng me sân trường…Nhớ cả những buổi trốn học lượn phố.
   Nhớ đấy mà đâu dám về. Dành dụm được tiền vé máy bay rồi, chả nhẽ tay không có vài trăm biếu bà con, họ mạc. Trong nước, họ cứ tưởng hắn giàu sang lắm. Thư từ gửi sang, hỏi han thì ít, thầm trách móc thì nhiều. Phần mộ của ba, má hắn, của dòng tộc ai lo? Thỉnh thoảng cố gửi một vài trăm về như muối bỏ biển, hắn càng bị trách móc hơn. Các người cứ thử sang đây xem có nhặt được tiền từ trên trời rơi xuống không? Bực quá có lúc hắn nói thẳng toẹt.
    Mà trong nước những năm gần đây, bà con, bạn bè hắn làm ăn chụp giật kiểu gì mau giàu thế. Mấy thằng giờ cũng bày đặt đại gia, sắm xe mắc tiền, cho con du học ngày một nhiều. Mỗi năm chúng chi cho lũ con ăn bám năm sáu chục ngàn đô chứ có ít đâu. Số tiền bằng hắn làm quần quật mấy năm trời mới có được. Hồi tiễn hắn ra phi trường, chúng ngậm ngùi than thân trách phận vì không đủ tiêu chuẩn “Ra đi có trật tự”. Nay chúng được dịp nói dóc, biết tránh trước nỗi cực của kẻ tha hương. Có thằng, mấy năm trước còn viết thư xin hắn giúp chút tiền cho con ăn học. Hắn chẳng giúp được gì thì nặng lời trách móc. Nay cũng cho con sang đây. Thằng bé tìm đến tận nhà hắn, biếu bác chút quà ba gửi. Thật trớ trêu. Cầm cái phong bao nó đưa, tay hắn run run, mắt tối sầm.
     Ở đời, chẳng ai học được chữ ngờ, từ cái ngày lính thiết kỵ mất chiến xa, như “Tái ông thất mã”, hắn chua chát nghĩ đến thân phận bọt bèo : Họa- Phúc biết về đâu?

                                                                                         Tháng 7, năm 2013
                                                                                                 Như Thìn

 
 


Tiêu đề: Re: Nó và tôi
Gửi bởi: chienc3.1972 trong 15 Tháng Tám, 2013, 07:55:37 pm
@nhuthin: Ở đời trong họa có phúc, trong phúc thấy họa, khó lắm bạn ơi. Thôi thì mình cứ tự bằng lòng với những cái mình có và nhìn sang, mơ ước những cái thằng bạn mình có! ;D

Mình nhặt được cái chuyện này thấy nó cũng hay hay, hợp với văn cảnh câu chuyện bạn kể, ném vào đây các bạn đọc chơi:

BẠN CỦA MỘT THỜI – VƯỢNG GIÀ

Vượng già hơn mình cỡ 4-5 tuổi gì đó. Hắn đi lính từ trước hồi tổng động viên năm 1979 và đúp lại từ khóa trên. Hồi vào trường Hải quân, mình toòng teeng quân hàm binh bét thì Vượng đã mang quân hàm hạ sỹ quan, nhưng giờ chẳng nhớ cấp bậc gì, mang máng là mình lĩnh phụ cấp hai mươi đồng thì hắn cầm những gần ba sọi.

Vượng người nhỏ thó, gày và sức khỏe yếu, nhưng bù lại, hắn dẻo dai và có khá nhiều mẹo vặt của một anh trai quê phố chợ, cộng với những kinh nghiệm mấy năm quân ngũ trước đó nên mình cũng phục hắn như bậc đàn anh.

Mình dân thành phố, từ bé chỉ biết chén nên nghe phổ biến mỗi đầu người phải tăng gia mấy chục kg rau xanh một tháng thì băn khoăn lắm, đến khoản nuôi lơn nữa mới kinh, chẳng biết xoay xỏa thế nào… Chiều hôm sau, sau buổi tập đầu tiên trong đời quân ngũ về doanh trại, còn đang mệt phờ thì Vượng già lên tiếng : đi tưới rau mày! Quay lại đã thấy hắn quần đùi bà bô rộng thùng thình. Khúc trên và khúc dưới cái quần gầy nhom bé tý, không khác cái tranh đả kích. Tổ 3 người  ra khu tăng gia lấy đồ đoàn rồi kéo nhau ra khu hố xí. Mình cũng bắt chước hai tên trong tổ cầm cái xẻng thọc vào ngăn dưới cầu tiêu nhưng thấy mình quăng xẻng ọe mật xanh mật vàng, Vượng cười, đẩy, xê ra đằng kia, rồi hắn hăm hở xúc, một lúc là gần đầy cái thùng phuy cắt nửa. Mình lúc này đã hoàn hồn, cùng thằng kia xỏ cái đòn rồi tòong teeng khiêng cái thùng cứt đủ loại về đổ vào hố ủ. Nhờ Vượng già chỉ bảo, mỗi tháng mình nộp ngon 15 kg rau cho nhà bếp, vẫn còn dư để bán lấy tiền uống nước mía với kẹo thèo lèo ở căng tin nhòe…

Vượng khá chịu học, nhưng cũng rất tội là sức học yếu quá. Cùng tổ ba người nên nghiễm nhiên mình được giao dìu dắt để Vượng cùng tiến bộ. Hề hề hề.. cũng phải thôi, cứt thối kinh khủng thế mà hắn giúp mình băng băng, mình giúp lại hắn học là phải quá rồi. Nghe nói các trường của Quân đội bây giờ chế độ nới lỏng khá nhiều, chứ hồi đó thì kỷ luật nghiêm đến vô duyên. Sáng học môn gì, giờ tự ôn chiều phải tuần tự theo đúng lịch mà giở sách, sai là ăn đòn ngay và luôn. Vậy nên chỉ còn buổi tối là có thể phụ đạo lại cho Vượng. Khổ cái, nhiều vấn đề khá khó và dài, sau một hồi nói nói giảng giảng, mình nổi cáu văng tùm lum. Hắn cũng cáu tiết vặc, cái ruỵt mẹ, mày cáu quát thế bố mày hiểu được cái rầu puồi, he he he… Những lúc ấy, vừa cáu vừa buồn cười, lại vừa bực cái chế độ kỷ luật khá dở hơi. Giá như giờ ôn chiều được kèm cho hắn thì tốt. Địt mẹ, cứ phải quy lát, nhìn hắn loay hoay tự đánh vật với bài, mặt nhăn trán nhíu như rặn ỉa trong khi thời gian cứ trôi đi…

Rồi thì cũng ra trường. Mỗi thằng một đơn vị. Mình chuyển về một lữ đoàn vận tải của bộ, tàu đi suốt. Lâu lâu mới gặp một thằng khóa cũ, hỏi thăm thì biết Vượng về một lữ đoàn tàu chiến thuộc một vùng Hải quân phía bắc. Rồi lại lâu lâu sau gặp lại mấy thằng bạn trong nhà máy đóng tàu Bến kiền. Trong cuộc rượu, một thằng bảo Vượng già được lên thuyền trưởng rồi. Hihihi… thuyền trưởng cái cóc khô gì, con thuyền gỗ bé tý tẹo ngang hai dài năm, Vượng vừa là thuyền trưởng, vừa là sỹ quan lại kiêm thủy thủ, thậm chí máy hắn cũng mần luôn vì cả ” tàu” biên chế có mỗi hắn, ngoài ra chẳng còn ai.

Đùng phát nghe tin Vượng lấy vợ. Hồi đó thông tin khó khăn nên chỉ một vài anh em gần gần là dự cùng hắn cho vui. Sau này tình cờ gặp, hắn mới kể lại chuyện đám cưới của mình. Chẳng hiểu dun dủi thế chó nào mà hắn lại tìm hiểu và yêu cháu chiếc gì đó của ông giám đốc một nhà máy đóng tàu lớn ở Hải phòng. Thế nhưng cả hai lại nghèo, như người ta nói là móc đít bảy ngày không thấy thối (vì có ăn cái chó gì đâu mà ỉa được). Hai đứa cưới đúng hôm mưa nên ướt lướt tha lướt thướt. Khách khứa đến hội trường của nhà máy đóng tàu uống chén trà, xơi cục kẹo qua loa rồi về. Hắn bảo hai đứa tao có quái tiền đâu mà ăn với uống mày, chỉ làm hai mâm cơm mời mấy người ở quê ra với một hai ông thủ trưởng, thế thôi. Tan cuộc cưới, hai đứa mới sấp ngửa đi tìm chỗ làm cái sự động phòng. Loay hoay mãi, lại phải chui vào cái nhà khách của cái nhà máy đóng tàu, nơi ông chú cô dâu đang làm giám đốc. Chả biết đêm đó hắn động được mấy cái (là người rất tế nhị nên mình không hỏi hắn chuyện này, hì hì hì…), nhưng 7 giờ sáng hôm sau bảo vệ đã cộc cộc gõ cửa vì phải giành phòng cho việc khác.

Rồi lại bẵng đi một thời gian khá lâu không gặp lại bạn bè nên chẳng hỏi thăm xem hắn thế nào. Năm 91 mình rời quân đội, đầu quân cho một công ty vận tải biển bên ngoài. Trong một lần đi làm thủ tục rời cảng cho tàu, vừa bước chân ra khỏi cổng, chợt nghe tiếng gọi giật, Hùng… Hùng… Ngơ ngác ngó quanh thì thấy Vượng già ngồi khểnh trên chiếc xích lô rung rúc, to bè thấp tẹt điển hình của xích lô Hải phòng. Ơ, anh Vượng, đi đâu đấy? Tao đạp xích lô chứ đi đâu. Rồi Vượng già nhất định bắt mình ngự trên chiếc xích lô của hắn và từ từ đạp. Suốt trên quãng đường 7 cây số, hai anh em ra rích nói chuyện. 6-7 năm mới gặp lại chứ ít gì. Vượng kể, sau hôm tân hôn ấy, hai đứa dẫn nhau đi loanh quanh ăn sáng rồi đứa nào lại về cơ quan đứa ấy. Buổi tối thì tùy mà mượn được nhà khách thì sang, còn không tao mang sẵn mảnh nylon, cứ chọn chỗ vắng mà rải ra tâm sự, rồi tẩn. Mẹ khỉ, như ăn mày ấy nhỉ. Hì, thì đ. có tiền phải chịu chứ sao mày. Rồi hai bên gia đình cũng gom góp giúp đỡ cho cặp đôi mua được một cái nhà 6 mét vuông trong cái hẻm ở ngã năm phụ sát bãi gỗ Lạc viên. Thế giờ vợ con anh thế nào rồi? À, có con một thời gian thì ông chú nó lo cho nó một suất đi xuất khẩu lao động ở bên Đức, con thì phải gửi về Hưng yên cho bà ngoại nuôi hộ. Nhưng sang đấy nó cặp mẹ nó với thằng khác, bỏ tao rồi. Nói xong, Vượng già nín bặt. Mình ngồi trước cũng im thít luôn, chẳng biết nói năng gì… Thế anh ra quân lâu chưa? À, vợ tao lúc đầu còn gửi tiền về cho nuôi đứa bé, sau nó đ. gửi nữa. Tao thì lương ba cọc ba đồng, chán quá tao xin ra quân rồi mua cái xích lô này đạp. Ui, mà ruỵt mẹ, đạp xích lô cũng hay lắm mày ạ. Tao mua cái đài này (hắn chìa cho mình xem cái đài pin nhỏ xíu bằng bàn tay), thích thì tao đi làm, hôm nào mệt, mưa, hay đ. thích thì tao ở nhà, nằm khểnh rồi nghe đài… Đến bến xuống tàu, mình rủ Vượng già vào quán làm quắn rượu, nhưng hắn nhất quyết từ chối, bảo hôm nào mày rảnh, mày qua chơi với anh, tao “lấu” cho mà ăn (cái sự bếp núc Vượng già khá chuẩn…). Thế rồi guồng sống cứ quay cùng thói bạc bẽo vô tâm của người đời, cho đến giờ mình vẫn chưa gặp lại Vượng lần nào. Mấy năm vừa rồi, anh em bạn bè khóa cũ gặp nhau, lần lần tìm được khá nhiều, thế nhưng Vượng già vẫn bặt tăm hơi. Có mấy thằng quê gần gần chỗ hắn bảo hỏi về quê cũng chẳng biết hắn đang trôi dạt nơi nào. Chẳng lẽ một con người sờ sờ như vậy lại tan biến không để lại tăm tích gì sao…"


Tiêu đề: Re: Nó và tôi
Gửi bởi: nhuthin trong 22 Tháng Tám, 2013, 11:48:28 am
LÊ MINH - NGƯỜI LÍNH TRINH SÁT DẪN ĐƯỜNG
 

     Tôi với Lê Minh( Tích Tường Như Lệ), cùng nhập ngũ một ngày( 6/9/1971). Anh học khoa Lý, tôi học khoa Toán trường ĐHTH Hà Nội. Khi huấn luyện tân binh ở Hà Bắc, tôi với anh cùng tiểu đoàn 6 nhưng anh ở đại đội 23, tôi ở đại đội 24 vì thế nên không biết nhau.

     Tháng 7 năm 1975 tôi được ra quân về đoàn 8/69 nằm chờ giải quyết chế độ chính sách và lấy giấy tờ trở lại trường đại học. Tôi gặp Lê Minh cũng ra quân cùng kỳ. Hồi ấy lính sinh viên các trường tề tựu ở đoàn 8/69 chờ ra quân khá đông. Nhưng tự nhiên chúng tôi hình thành một nhóm sớm thân nhau gồm: Lê Minh  trinh sát sư  đoàn, Đông nguyên sinh viên khoa Sinh, lính bộ binh C10, Hiền  nguyên sinh viên khoa Địa, lính đại đội pháo 14, Trung sinh viên Đại Học Thủy Lợi, quản lý đại đội 9 và tôi. Vì rảnh rỗi chúng tôi thường kéo nhau ra quán nước tán phét, kể chuyện trận mạc. Tôi khoái nghe chuyện Minh kể vì anh là trinh sát. Có lần một nhóm trinh sát của anh nằm trong trận địa của địch nắm tình hình. Một tên lính Cộng Hòa đến chỗ các anh nằm vạch quần ra tè ngay trên người các anh. Chỉ một tích tắc nữa, hắn sẽ phát hiện ra các anh mất. Buộc phải nổ súng. Anh chỉ kịp nghe thấy tiếng thốt lên bất chợt: “Sao lại bắn tui”, kèm theo cái xác đổ vật. Các anh vùng chạy thoát khỏi hiểm nguy. Có lần, vừa rẽ khỏi cánh rừng các anh chạm trán luôn một nhóm thám báo, cả hai bên đều ù té chạy ngược trở lại. Quá bất ngờ chẳng một phát súng nào, ai đi đường nấy. Có lần…Tóm lại rất nhiều tình huống hiểm nguy mà người lính trinh sát có nụ cười hiền khô đang ngồi trước tôi đây đã trải qua.

    Sau này trở lại trường học, chúng tôi vẫn duy trì mối quan hệ. Thỉnh thoảng Hiền lại rủ tôi đến nhà Lê Minh đánh cờ, hoặc chuyện phiếm. Tôi thấy góc nhà anh có dựng khẩu các bin M 2, nhà có cả Telephon. Hồi ấy chỉ cán bộ cao cấp của đảng và nhà nước mới có điện thoại riêng. Nghe nói của ông già anh. Đem thắc mắc hỏi Hiền, hắn bảo : “ Ông không biết à? Bố Lê Minh là Lê Giới, từng lái xe cho Bác Hồ, nay là cục trưởng cục đường bộ, hồi chiến tranh cụ mang quân hàm đại tá phụ trách việc  vận tải chi viện cho tiền tuyến”.

   Ra thế. Một lần gặp cụ tôi cứ thấy quen quen như đã gặp ở đâu rồi thì phải…

   Một bận, Hiền bảo tôi, độ này tao thấy Lê Minh hay trinh sát gần nhà tao ( Hiền ở phố Trần Quốc Toản). Lắm lúc giáp mặt, chỉ thấy hắn chào qua loa rồi tâm trí lại để đi đâu ấy”. Thời gian sau hắn bảo : “ Mục tiêu trinh sát của Lê Minh là cô giáo trẻ tên Châu ở số nhà…” Ồ thảo nào. Kết quả của những chuyến trinh sát đầy bí ẩn ấy là một thiếp mời đám cưới mà tôi nhận được chẳng lâu la gì. Tôi bảo Hiền : “ Thôi coi như nó trinh sát trước cho anh em mình biết, lấy vợ có hay ho gì không?” Nó tiên phong trong đám lính về ở đoàn 8/69 năm 1975.

    Bẵng đi thời gian dài, bận làm ăn trong thời buổi hết sức khó khăn, chúng tôi ít có dịp gặp nhau. Có lần Lê Minh rẽ qua nhà tôi chơi, anh bảo đang tham gia một trung tâm luyện thi đại học ở Bách Khoa, cũng kiếm được. Tự cứu mình thôi, ông tính lương giảng viên đại học ăn thua gì. Anh bảo tôi, có muốn tham gia một lớp dạy ngữ văn anh giới thiệu. Thú thực, tính tôi hay tếu táo không hợp với nghề giáo. Đành chịu đói vậy.

   Cuối năm 2005, tôi bị một căn bệnh quái ác quật ngã, nằm bẹp giường. Lê Minh đến thăm, tặng tôi hai cuốn tiểu thuyết đang khá hót của một nhà văn Mỹ. Anh bảo tôi: “Lúc nào bớt chóng mặt thì đọc”. Tôi nghe anh, thỉnh thoảng đọc vài trang. Sau không dừng được nữa, nhân vật chính trong hai cuốn tiều thuyết đầy nghị lưc, đối mặt với hoàn cảnh khó khăn để tồn tại. Tôi thầm cám ơn Lê Minh tiếp cho tôi thêm sức mạnh chống chọi với bệnh tật.

  Thời gian sau, anh lại đến thăm tôi, cho tôi một túi tướng nấm linh chi bảo: “Ông uống cái này tốt cho sức khỏe đấy”. Anh còn tặng tôi một tập “ Những chuyện không thể quên- cười ra nước mắt” của anh. Tôi cho anh xem chiếc ba lô, ba cuốn nhật ký thời chiến, và bộ đồ trận của tôi. Anh giới thiệu với tôi trang Quân sử Việt Nam và nói: “ Khi nào ông đỡ, hãy tham gia trang này. Nó hợp với sở trường của ông. Hơn nữa những tư liệu sống của ông không thể nằm mãi trên gác xép được, rất phí”…

   Anh lại đóng vai người lính trinh sát, đưa những dòng hồi ức trận mạc lên trang. Trên trang tôi thấy anh luôn đi đầu…không hổ danh là người lính trinh sát của đại đội 20 năm xưa. Nhờ có anh tôi chập chững bước vào trang Quân Sử với những bài viết đầu tay, ngay khi còn trên giường bệnh.

   Tháng trước anh cùng đoàn cựu chiến binh trở lại chiến trường xưa. Tôi không tham gia được vì sức khỏe không cho phép. Nhìn ảnh anh  trầm tư bên mộ các đồng đội. Tôi biết anh đang nén bao tâm trạng trong trái tim đầy nhân hậu cuả người lính từng  trải.

   Tuần trước hay tin anh ốm, tôi cố gắng đến thăm anh ở bệnh viện Bạch Mai. Độ này thời tiết khắc nghiệt khiến tôi lúc nào cũng cảm thấy chao đảo. Thăm được anh rồi về. Không còn sức ra 19 Ngọc Hà với anh em.

   Sáng nay bỗng nhận được tin dữ. Tôi choáng. Hiền ở Sài Gòn gọi ra cho biết. Tệ thật! Đáng trách thật! Mình lại là người phía sau, biết muộn.

   Tích Tường Như Lệ ơi! anh lại đi trước trinh sát dẫn đường. Chúng tôi rồi sớm muộn cũng theo anh. Rồi sẽ lại được nghe anh kể những “ Chuyện cười ra nước mắt”  ở thế giới bên kia.  Có điều anh đi vội quá chắng nhắn lại anh em lấy một lời. Tôi giận anh, tôi trách anh. Năm ngón tay, năm thằng ra quân năm ấy thế là đã mất hai, Đông và anh.

     Ông trời thật không công bằng. Chí ít cũng cho anh được cầm sổ hưu,  cho anh nghỉ công tác lấy một ngày, an nhàn bên  con, cháu.

   Giận mà giận, thương mà thương. Lòng này ai tỏ. Thương tiếc bạn vô chừng.


                                                                       11h, ngày 22/8/2013
                                                                                  NT

  

  


Tiêu đề: Re: Nó và tôi
Gửi bởi: nhuthin trong 06 Tháng Chín, 2013, 06:59:02 am
KỶ NIỆM 42 NĂM NGÀY NHẬP NGŨ 6/9/1971-6/9/2013


G I Ỗ   T R Ậ N
[/b]
                                                                              


     Quê tôi xã Đông Tảo, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Trên văn bản ghi là  Đông Tảo, nhưng dân địa phương hay gọi là Đông Cảo. Nhiều cuộc tranh cãi không ngã ngũ Cảo hay Tảo. Thôi thì gọi thế nào cũng được, miễn là gợi đến một địa danh có giống gà nổi tiếng cả nước. Nghe nói, năm ngoái có một đại gia tận tỉnh Đồng Nai ra mua một đôi gà giống tốt nhất làng giá 70 triệu. Mục thị sở tại, tôi đã thấy một đôi 30 triệu, một người bà con bán được.

     Ngoài giống gà khổng lồ có đôi chân vĩ đại, quê tôi còn nổi tiếng quanh vùng bởi một sự kiện xảy ra hồi kháng chiến chống Pháp. Đấy là ngày 23/10 năm Mậu Tý( 23/11/1948), được chỉ điểm, giặc Pháp bất ngờ vây càn bắt 42 đàn ông, trai tráng trong làng theo Việt Minh. Người chỉ huy du kích bị chúng cho chó dữ xé xác ngay tại chỗ. Chúng treo cổ luôn năm người  lên cây đa giữa chợ để thị uy. Còn lại chúng đem ra sông cái bắn chết vứt xác trôi sông. Cha tôi là một trong số bốn người may mắn không bị bắn. Chúng bắt bốn người làm phu khiêng vác và bia đỡ đạn khi chúng đi càn. Hai người vấp phải mìn của Việt Minh thiệt mạng, cha tôi cùng một người bà con họ xa, may thoát chết bị giải về tống giam ở Nhà Tiền Hà Nội. Mãi một năm sau, mẹ tôi mới hay tin ông còn sống.

    Kể từ đấy, cứ đến ngày 23 tháng mười âm lịch, cả làng lại làm giỗ trận. Đi đâu quanh thôn cũng thấy khói hương nghi ngút.

    Đã gần 70 năm trôi qua, cây đa lịch sử đã bị chặt bỏ để xây chợ đầu mối hai tầng. Thời buổi kinh tế thị trường, cây đa tốn đất lắm, mà lại chẳng sinh lời nên sớm bị bức tử.

    Nhưng, ngày giỗ trận quê tôi vẫn được duy trì. Hàng năm, đến ngày ấy, người già thì đăm chiêu, còn con trẻ thì vô cùng sung sướng vì cả làng được ăn cỗ. Thanh niên tụ tập đánh bài…vv.

  
 Những tưởng sự kiện đau lòng trên của quê tôi nhiều người biết đến, vậy mà hỏi mấy người ở Hà Nội chẳng ai hay. Hóa ra cũng thường thôi, họ bảo đâu mà chẳng có.

   Chị tôi làm dâu một gia đình gốc Vân Tảo, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây( nay là Hà Nội). Ngoài bố mẹ chồng, anh chị còn phải cưu mang một bà bác già đơn thân ở quê nhà. Thực ra, trước kia bà cũng có gia đình riêng. Nhưng một ngày, giặc Pháp đi càn, một quả mortier (đạn cối), rơi trúng nơi gia đình bà ẩn náu, giết chết hai đứa con trai đang tuổi ăn tuổi lớn. Chồng bà mắt mở trừng trừng, chẳng nói một câu, vác con dao thái thân chuối to bản, sắc như nước, canh xác hai con đặt giữa nhà. Ông lấy chai rượu sủi tăm nút lá chuối ra tu một hơi hết sạch rồi cứ thế chặt hết các chi của mình cho đến khi gục chết bên xác các con.

   Hàng năm, chị tôi về quê chồng làm giỗ cho ông. Ngày giỗ ông cũng là ngày giỗ trận của cả làng. Nghe người già kể lại, cả làng trắng khăn tang. Ai cũng có bà con, ruột thịt bị sát hại.

   Hàng xóm của tôi là một cô giáo trẻ dạy một trường THCS, quê mãi tận Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh. Một sáng, thấy cô không lên lớp mà khăn gói chuẩn bị lên đường. Tôi hỏi thay một lời chào buổi sớm. Không ngờ cô giữ lại kể lể. Hôm nay là ngày giỗ trận ở quê cô. To lắm, không thể không về….Ôi! lại giỗ trận, sao mà lắm giỗ trận thế?

   Dịp rằm tháng bẩy năm nay, mưa sụt sùi bất thường. Có lẽ ông trời cũng khóc than cho những cô hồn vật vờ nơi đất khách. Có việc phải ra đường, đi đâu cũng thấy nhà nhà hương khói, cảnh vật thật sầu thảm y như ngày giỗ trận quê tôi.

   Sáng ngày mười sáu, hay tin Lê Minh đột ngột ra đi đêm qua, buồn quá. Nó thiêng quá, ra đi đúng ngày giỗ trận của trung đoàn tôi, trận rằm, mười sáu, tháng bẩy, năm Nhâm Tý, tức ngày 23- 24 tháng 8 năm 1972. Trung đoàn của tôi phản công, hòng phá thế bị cô lập cho đơn vị bạn giữ Thành Cổ Quảng Trị ở hướng đông, nhưng không thành. Hàng trăm chiến sĩ đã hy sinh. Tôi có gen  “may mắn”  của cha  nên thoát chết.

   Dịp 27/7 vừa rồi Lê Minh còn trở lại chiến trường thắp hương cho các liệt sĩ hy sinh trận ấy ở nghĩa trang Triệu Long, Triệu Thành, vậy mà nay đã thành người thiên cổ.

  Sang năm, dịp này, gia đình Minh lại làm giỗ, hương khói cho anh cũng giống như gia đình anh Châu, thằng Hồng, thằng Đợi.. vv, hòa chung hương khói của cả một “trung đoàn” liệt sĩ.

   Ngồi nhà, nhìn ra ngoài trời mưa rơi, vẩn vơ, tôi nghĩ ngợi. Ngược dòng lịch sử, có ai bỏ công sưu tầm, thống kê những ngày giỗ trận của cả nước, sẽ là môt con số vô cùng lớn.

   Có thể nói, lịch sử “Dựng nước- Giữ nước” hào hùng của dân tộc ta gắn liền với lịch sử của những ngày giỗ trận. Danh sách những ngày giỗ trận ấy có thể còn nối tiếp, khi mà ngoại bang đang ngày đêm  còn dòm ngó biên cương.

                                                        
                                                                                                                                  Tháng 8/2013
                                                                                                                                           NT


Tiêu đề: Re: Nó và tôi
Gửi bởi: tranphu341 trong 06 Tháng Chín, 2013, 08:11:17 am
           Chào Bác Chủ nhuthin! Chào các Bác! Tranphu341 đọc 2 mẩu chuyện Bác viết mà thấy gai, thấy nao nao cả người. Ngồi bần thần mãi, không biết viết gì nữa. Ngưỡng mộ Bác, Khen Bác, phục Bác, ca ngợi Bác thì trong trang những ai đã từng đọc chuyện kể của Bác thì đã khen, đã phục,đã ngưỡng mộ Bác thật nhiều.

           Chuyện bác kể cứ xa xăm lại gần gũi, xa xăm bới những điều Bác muốn gửi trong đó nó vượt xa những suy nghĩ nhỏ nhoi thường nhật. Nó vượt xa những điều thấp hèn của cuộc sống. Nó vượt xa những bon chen thấp hèn chốn Cung Đình, chốn Quan Trường hay những ồn ào Đô thị phồn hoa đủ neong đèn màu. Những điều bác nói nó là Tâm Linh, nó là dăn dạy. Nó là cái Tâm, Cái Đức, Cái thiện của con người.

          Chuyện bác kể nó gần gũi, thật gần gũi vì những tên người, tên đất, tên địa danh. Là người thực việc thực ngay ở trong ta, ngay ở bên ta, ta đã từng sống, từng chiến đấu ngay tại chiến trường. Ngay tại Quê nhà vv. Rồi cụ thể là Thằng A, Thằng B Gần gũi nhất là Lê Minh. Một người bạn, người đồng đội, một nhà khoa học là người viết là người đọc cùng trang sử này.

          Tranphu341 không thể nói gì hơn ngoài sự vô cùng trân trọng Bác. Tranphu341 luôn cầu chúc anh luôn khỏe mạnh cùng sự an lành, cùng nhiều niềm vui trong cuộc sống!


Tiêu đề: Re: Nó và tôi
Gửi bởi: chienc3.1972 trong 22 Tháng Mười Hai, 2013, 05:55:34 pm
Hôm nay, ngày giỗ của lính, thật là may mắn cho tôi và cũng có chút gì đó tri ân tôi đã nối mạng để cho tác giả và nguyên mẫu "ma xó vùng cao" gặp nhau. Như Thìn nói với tôi là chúng tao cám ơm mày đã khai quật giúp thằng này. Thế là sướng rồi.

(http://i1194.photobucket.com/albums/aa370/phamchien2/IMG_2171_zpsb069dc52.jpg) (http://s1194.photobucket.com/user/phamchien2/media/IMG_2171_zpsb069dc52.jpg.html)


Tiêu đề: Re: Nó và tôi
Gửi bởi: Đức Cường trong 24 Tháng Mười Hai, 2013, 03:37:58 pm
Chào bac nhuthin - Đọc bài viết của bác,duccuong có tâm trang giống như bác tranphu341. Suy nghĩ về nội dung bài viết rồi liên tưởng đến chuyện đời. Đọc bài " họa - Phúc " bác mượn câu chuyện của tên "trung úy" lính Ngụy tự phong để nói lên chân-thiện -mỹ của cuộc sống. Cuộc đời của hắn đã phải trả giá do căn bệnh " hám danh để cầu lợi", căn bệnh ảo tưởng nơi thế giới tự do để tìm miền đất hứa.
 Với lối văn kể chuyện mộc mạc vô tư khách quan. Không nhìn qua lăng kính nào. Nhưng bác đã đưa được người đọc hãy nhìn vào lịch sử và hãy tin tưởng vào tương lai.
   Nếu coi đây như là một chuyện ngắn thì với tôi đây là một trong những chuyện ngắn hay nhất. Cảm ơn Bác nhuthin.


Tiêu đề: Re: Nó và tôi
Gửi bởi: NGƯỜI YÊU CỦA LÍNH trong 24 Tháng Mười Hai, 2013, 04:28:29 pm
  Chào bác Nhuthin! Chào các bác! Tôi cũng nghĩ như bác TranPhu341 "đọc chuyện của bác thấy gai gai...". Tôi nói cụ thể hơn là "thấy sợ". Sợ cho sự ngang trái, sự trớ trêu và cả sự phũ phàng nữa-phũ phàng của hiện thực cơm áo nơi đất khách quê người, phũ phàng của tình máu mủ "giọt máu đào", phũ phàng của đạo lý phụ tử...
  Cái "gai gai" hay cái "sợ" này giống cảm giác của tôi khi đọc đoạn kết "Cánh đồng bất tận" của nguyễn Ngọc Tư cách đây năm bảy năm gì đó.


Tiêu đề: Re: Nó và tôi
Gửi bởi: HaHoi trong 24 Tháng Mười Hai, 2013, 06:17:01 pm
Chào các anh,
Em lại có cảm nghĩ khác với bác Đức Cường khi đọc truyện về anh lính CH "Phúc mà họa" . Em thấy rằng tác giả NT có cái nhìn cảm thông với cái phúc họa khôn lường xảy ra đối với một số phận chứ không phải là sự hả hê kể lại khi thấy tay lính đó phải trả giá. Đó là cảm nghĩ của em khi đọc truyện này.
Có một điều dễ nhận thấy rằng truyện của mấy " ông già  chống Mỹ " của trang VMH khác với truyện đăng báo, in sách, đó là không có cái tư tưởng địch - ta ! mà chỉ là số phận người lính trong chiến tranh ,  mà hình như cái đó mới làm nên sự thu hút "thấy gai gai " vậy.


Tiêu đề: Re: Nó và tôi
Gửi bởi: nhuthin trong 18 Tháng Giêng, 2014, 06:25:26 am
Thìn ,Tỵ, Ngọ

      Thói quen cha mẹ đặt tên cho con theo những con giáp của năm âm lịch  ở nước ta có từ rất lâu đời. Đến nay  tuy không phổ biến nữa nhưng vẫn còn. Đặt tên theo con giáp  thật tiện vì sau này, chỉ cần réo tên lên là biết ngay tuổi tác, năm sinh của con mình. Tuy nhiên cũng có  chút phiền toái vì  nhiều người trùng tên quá.
      Đại đội của tôi vào năm 1972 ở chiến trường Quảng Trị có tới 2 thằng tên là Thìn, 2 thằng tên là Tỵ và hai thằng tên là Ngọ. Ngọ DKZ 82 và Ngọ 12,7 ly. Chúng tôi đại diện cho tới 90% quân số đại đội đều sinh vào những năm con giáp  ấy. Đều 18, đôi mươi cả. Cái tuổi đẹp nhất của cuộc đời. Nếu không có chiến tranh,  có lẽ mỗi đứa chọn cho mình một nghề để mưu sinh, một cô gái để gắn bó suốt cuộc đời. Nhưng chiến tranh đã không cho phép chúng tôi có những lựạ chọn  hòa bình như thế.  Bị ném vào cuộc chiến tàn khốc, nhiều người đã  “Mãi mãi tuổi hai mươi”, mười chín, thậm chí chỉ mười tám. “ Chưa bao giờ được cầm tay một người con gái”, chị Nga, chị của liệt sĩ Phạm Vũ Hồng,  khóc nấc lên vì thương  em đã nói  như vậy trong buổi lễ đón di hài của Hồng về nghĩa trang Tây Tựu năm nào.
    Chưa bao giờ được cầm tay người con gái nói chi đến được chạm vào cái “ấy” của phụ nữ. Chửa biết cái chi chi. Không dung tục chút nào. Đó là quy luật của nhân loại, duy trì nòi giống, tồn tại và phát triển.
   Tôi là một trong số bốn người lính cũ, lành lặn,  hiếm hoi còn lại của đại đội từ ngày thành lập đơn vị cho đến hết cuộc chiến,30/4/1975 toàn thắng .
-   Bốn thằng tuổi Thìn
-   Tám  thằng tuổi Tỵ
-   Bảy thằng tuổi Ngọ
       Hy sinh.
     Còn lại đa phần là bị thương, tai nạn khi đi kiếm ăn, tự thương, chuyển đơn vị khác và đào ngũ.
     Rất nhiều hy sinh mất mát để lại ấn tượng đậm nét  trong tâm trí  một cựu binh đã quá tuổi  lục tuần. Còn “ rồng” Phạm Vũ Hồng đạn găm trúng ngực, con “rắn” Lê Trung Khánh ( Khánh “Voi”) mất đầu, con “ngựa” Ngọ DKZ chết cháy và con “ngựa” Ngọ 12.7 ly cụt chân.
    Năm kia, Nhâm Thìn, Ngọ”Cụt” tập tễnh từ Phố Cao, huyện Phủ Cừ,tỉnh Hưng Yên về Hà Nội họp mặt anh em đồng đội,  nhân  ngày lễ mừng chiến thắng 30/4/1975.
    Gặp tôi, hắn cười rất to nói:
-   Tớ là “Ngựa” cả đời nhờ vào bộ vó. Trận đêm 23, ngày 24 tháng 8 năm 72, tớ phi nước đại vượt qua mảnh ruộng trống trải, đạn địch như vãi  trấu thoát chết. Nhưng một tuần sau, đi khiêng thương binh, một quả trái phá 105 đã tiện luôn một  vó  không cho tớ kịp mã đáo. Cũng may nhờ vó cụt,  tớ bị loại khỏi cuộc chơi và giữ được cái gáo cho đến nay. Mà cái vó tớ để  lại ở Quảng Trị có giá đắt hơn vàng. Bốn mươi năm rồi vẫn lĩnh tiền thương tật đều đều, ăn mãi không hết của.
Về nhà tớ mở một xưởng mộc, làm ăn phát đạt. Mấy tay thuế vụ và quan tham đến kiếm chuyện,  lơ mơ tớ dùng luôn chân gỗ đá cho chạy mất dép. Vó cụt lợi lắm. Khi tham gia giao thông không an toàn, chẳng may có xe nào chẹt phải cái chân giả cũng vô can. Ấy là chưa kể nhỡ có phạm luật giao thông tý chút, mấy cháu cảnh sát cũng xí xóa cho cái thằng già có cái chân gỗ chẳng giống ai.
  Hắn cười hơ hớ vẻ mãn nguyện vì chẳng may,  hay may mắn bị đạn pháo tiện cụt một chân.
   Chuyện hắn kể thật lạ!
  Sống gần hết đời rồi mà vẫn thấy ngỡ ngàng.
  Năm ngoái Quí Tỵ, thất hứa không về Phủ Cừ thắp nén nhang cho Khánh “Voi” được. Trước thềm năm Ngựa, tôi gọi điện cho Ngọ “Cụt” hứa dứt khoát năm nay sẽ về, về thăm những đồng đội năm xưa tuổi Ngọ, Tỵ, Thìn.
                                                                               
                                                                                    Tháng 1, năm 2014
                                                                                           Như Thìn
  (https://lh6.googleusercontent.com/UDG9WYfJRLkoagq_CE3N8x0GUhh5N9OI1itRyuyBcio=w144-h140-p-no)

   
      Tranh Ngựa của họa sĩ Lê Trí Dũng nhân năm Ngọ
   

(https://lh3.googleusercontent.com/BIMgM0w4Gm_DozWulepFC5V4uBkh8OktUM0ENwmI9Wk=w144-h140-p-no)
 
  Họa sĩ Lê Trí Dũng tặng bức tranh ngựa cho Như Thìn tại quán café Lâm


Tiêu đề: Re: Nó và tôi
Gửi bởi: thaiminhhung trong 18 Tháng Giêng, 2014, 06:52:33 am
Thay mặt những người Tuổi Giáp Ngọ cám ơn Bác Như Thìn nhé. Mỗi lần thấy bác xuất hiện trên trang là thấy mừng vì chứng tỏ vẫn còn nhớ tới anh em đồng đội


Tiêu đề: Re: Nó và tôi
Gửi bởi: tranphu341 trong 19 Tháng Giêng, 2014, 10:01:24 am
          Chào bác nhuthin chào các bác! Đúng là đọc chuyện của bác chủ thật là hay, thật là "cay vị gừng".

          Tranphu341 cũng là cầm tinh Con Rồng. Khôbg hiểu có phải do vây không mà trong 2 cuộc chiến tranh Giải phóng đất Nước và cuộc chiến bảo vệ biên giới rồi làm nhiệm vụ Quốc Tế tuy rằng tham gia hàng trăm trận đánh vô cùng ác liệt. Có trận nằm trong trận không kích 5 tiếng đồng hồ. Nhưng đã đều may mắn vượt qua. Mọi người ở quê, ở xóm nói là vì Tranphu341 cầm tinh Rồng nên may mắn. Với mình thì thế chẳng biết có đúng vậy không. Nhưng còng biết bao nhiêu đồng đội cùng lứa tuổi THìn tuổi Rồng, mà rồi cũng có thoát được bom đạn đâu.

         Cuối năm với bao bận mải nhất là với nhuthin còn phải lo nhiều về sức khỏe, lo nhiều về chuyện nhà cửa nữa mà vẫn có bài viết rất hay. Tranphu341 cùng các bạn đọc cảm ơn bác chủ nhiều. Tranphu341 chúc bác luôn có nhiều sức khỏe cùng nhiều niềm vui và thật nhiều bài viết có bạn đọc. Kính bác!


Tiêu đề: Re: Nó và tôi
Gửi bởi: huonghoa1968 trong 27 Tháng Giêng, 2014, 10:38:03 am
Anh ơi !Em đã đọc rấtnhiều bài của anh và các anh trên trang DỰNG NƯỚC & GIỮ NƯỚC và cũngkhóc rất nhiều .Các anh đã hy sinh nhiều quá cho cuộc sống hôm nay .Biết ơn các anh nhiều !


Tiêu đề: Re: Nó và tôi
Gửi bởi: nhuthin trong 26 Tháng Hai, 2014, 02:22:36 pm
                                                                                     BẦM ƠI

      
       Họ là những người lính chiến, mỗi đại đội, một hai người được chọn về. Dù muôn vẻ nhưng tất cả đều hốc hác, bẩn thỉu, mệt mỏi và dễ cáu giận. Hơn ba tháng trời họ không biết đến đánh răng, rửa mặt, tắm giặt là gì. Nằm trong các chốt hướng đông ven Thành Cổ Quảng Trị, họ giành giật giữ gìn từng tấc đất. Đầu đội bom, pháo, chân đạp dây thép gai và mìn, trước mặt là những họng súng sẵn sàng  tuôn ra những đường đạn nóng bỏng . Những trận đấu súng dai dẳng chẳng theo qui luật thời gian. Những nắm cơm, vốc gạo rang được chăng hay chớ. Và chết chóc. Cái chết bất chợt rình rập mọi nơi khiến thần kinh của họ căng như những sợi dây đàn, sẵn sàng rung lên chỉ vì một va chạm nhẹ.
      
      Họ được lui ra tuyến sau an dưỡng mươi ngày. Hà Thượng, một làng nhỏ xơ xác thuộc huyện Gio Linh. Nó cũng rách bươm vì bom đạn như bao làng quê khác ở Quảng Trị năm 1972. Nhưng rất kỳ lạ, chỉ ngót hai chục cây số đường chim bay cách chiến tuyến, vậy mà cuộc sống ở đây dường như thuộc thế giới khác. Mọi sinh hoạt của người dân vẫn bình thường. Còn dăm  nóc nhà không hề dính thương tật. Có cả một lớp học, một cô giáo người địa phương mới từ Bắc vào, ngày ngày đứng lớp. Học trò của cô mươi đứa đủ lứa tuổi. Chúng là những đứa trẻ theo gia đình di tản bị kẹt lại giữa đường. Có đứa tận mãi Mỹ Chánh chạy ra. Những đứa trẻ ngây thơ sớm nhuốm mùi thuốc súng. Nom chúng như những con chim non sớm bị đẩy ra giàng, già dặn rất nhiều so với tuổi.
      
     Bếp ăn của đơn vị an dưỡng được đặt trong một ngôi nhà khá rộng. Chủ nhà là một người phụ nữ luống tuổi, khuôn mặt phúc hậu, tóc đã điểm sương. Bà ở với cô con dâu còn khá trẻ, chị ta ẵm một đứa con còn đỏ hỏn trên tay. Chốc chốc chị lại vạch áo cho con bú rất tự nhiên. Đứa trẻ rúc vào bầu sữa căng tròn của mẹ bú ngon lành. Bà chủ nhà chỉ vào cô con dâu nói:
   
      -Tại mạ nó đến cữ đúng ngày chạy loạn nên mắc kẹt. Chồng nó cũng đi bộ đội như các chú chừ chẳng biết nơi mô. Thật tội nghiệp. Chắc hắn nóng ruột lo cho vợ con ở nhà lắm.
      
       Tiêu chuẩn ăn của các lính nghỉ dưỡng khá tốt. Thịt và rau được cung cấp khá đầy đủ. Nhưng ngặt nỗi, thiếu chất đốt. Ở đây chỉ sẵn cát. Chẳng có cây cối gì. Vài gốc phi lao nham nhở còn sót lại sau những đợt oanh kích của phi, pháo.
      
       Thời tiết rất xấu, những đợt gió mùa đông bắc tràn về kéo theo những cơn mưa rả rích suốt ngày đêm. Người và vật đều ướt át, lạnh lẽo và buồn tẻ.
      
        Để khắc phục tình trạng thiếu chất đốt, các lính an dưỡng được huy động  đi kiếm củi tại một căn cứ quân sự của quân đội Việt Nam Cộng Hòa, gần Quán Ngang. Phải mất hàng tiếng mới tới nơi. Mọi người hối hả săn tìm những thùng đạn, cọc rào, những thanh gỗ chống hầm bị bom đaò phơi trên mặt đất. Gỗ bị ngâm nước mấy ngày trời, đầy bùn đất và nặng như chì.
    
      Gần trưa, bị đói rét hành hạ, người ít kẻ nhiều, chất  củi kiếm được lên vai, tất cả lục tục kéo nhau trở về. Cũng con đường ấy mà sao dài thế. Họ cố rảo bước, hy vọng một bữa ăn ngon đang đợi ở phía trước.
    
      Quá ngọ mới về tới nhà, nhưng thật bất ngờ, bữa ăn chưa sẵn sàng đón họ. Bên chái nhà nơi đặt bếp, mái tôn thủng lỗ chỗ, những giọt nước mưa rơi tý tách. Mấy tay anh nuôi mặt mũi nhem nhuốc thi nhau quạt bếp khói mù mịt. Chẳng biết khi nào mới được ăn.  Một anh nuôi cầm chiếc đũa cả như cái mái chèo ra sức ngoáy gạo  vẫn còn như hồ trong nồi quân dụng to tướng.
      
        Không đủ kiên nhẫn một chiến sĩ hỏi :
   
       -Bao giờ mới được ăn đồng chí ơi?

      -   Sắp rồi.

      Tay anh nuôi nhanh nhẩu trả lời.

      -   Sắp cái con khỉ, từ sáng đến giờ các ông làm gì?

     Một người lính già, tóc bù xù không giữ nổi bình tĩnh sẵng giọng.

     Tay anh nuôi mặt lấm lem cáu bẳn quát lại:

     -   Ông đui hay sao mà không thấy chúng tôi làm gì? Mưa thế này, củi thế kia thì đến giời cũng phải chịu.

     -   Có mày mù thì có. Củi ướt thì phải chuẩn bị từ sớm chứ. Không nấu được cơm thì cầm súng ra chốt. Đồ ăn hại.

   Tay anh nuôi không vừa. Hắn ném toẹt cái quạt tự chế bằng miếng bìa xuống đất nói:

    -   Ông bảo ai ăn hại, không phải thách, thằng này đã từng cầm AK rồi. Mẹ kiếp công thần vừa thôi, chẳng biết đánh đấm có ra gì…

    -    Thằng ranh, mày bảo ai công thần?
    
        Người lính già sấn lại .
    
       Tay anh nuôi hua cái đũa cả mái chèo lên :
    
     -   Ông muốn gì.
  
     Mọi người xúm lại.
  
      Giữa đám lính trận đói rét vừa  đi lấy củi về và đám anh nuôi lời qua tiếng lại ầm ĩ. Không khéo xảy ra đánh lộn tới nơi.
   Trong nhà, đứa trẻ sơ sinh đang ngủ trong nôi giật mình khóc ré. Mạ nó đi đâu không rõ, chỉ còn bà nội nó ở nhà.
   Bà lại gần đứa trẻ bế nó lên vỗ nhè nhẹ, mắt  như dõi về chốn xa xăm và cất tiếng hát ru:
 
   Ai về thăm mẹ quê ta .. a..a…a ….a.
    Chiều nay có đứa con xa …a…a….nhớ.. thầm…

  
      Chất giọng miền Trung trong vắt cất lên.  Âm vực lời ca cao vút vượt lên những tiếng cãi nhau ồm, ào. Tiếng ca khéo léo lách vào khoảng lặng hiếm hoi của cuộc cãi vã ngoài sân sắp đến phút cao trào ẩu đả. Bất chợt một vài người lính đang đỏ mặt tía tai nghe thấy những âm thanh lạ điệu ấy. Họ thẫn thờ. Rồi tất cả đều nghe thấy. Không gian bỗng chùng xuống. Tiếng ca mang một sức mạnh siêu nhiên nhanh chóng làm nguội đi những cái đầu vài phút trước còn nóng bỏng. Họ hớp từng lời ca tuôn ra ào ạt lẫn tiếng  ngân nga và thậm chí  cả quãng nghỉ. Không ai bảo ai, họ hướng vào gian trong  nơi phát ra những âm thanh đầy ma lực.
      Bà chủ nhà hát chỉ vừa đủ nghe, tay vỗ nhè nhẹ đứa cháu. Lời ca da diết ngọt ngào. Lúc khoan thai như mái chèo xuôi dòng Thạch Hãn. Lúc rộn ràng như lên thác, xuống ghềnh.
     Những người lính đang ngây người kia, nhiều người không lạ gì bài “ Bầm ơi” của nhà thơ Tố Hữu ngay từ hồi còn trên ghế nhà trường. Nhưng chắc chắn lần đầu tiên họ mới được nghe trực tiếp một nghệ sĩ “ nhân dân” ca theo làn điệu dân ca miền Trung mượt mà đến thế.
  Vạn vật đều chết lặng. Chỉ còn tiếng lép bép của lửa cháy trong lò. Tiếng cơm sôi đều đặn, nhịp nhàng, như dàn nhạc đệm làm nền cho tiếng ca thêm sâu lắng.
 ……………………………..
   Con đi đánh giặc… mười năm
   Không bằng khó nhọc đời bầm… sáu mươi.
   Con ra tiền tuyến xa xôi
   Yêu bầm , yêu nước cả đôi… mẹ hiền…


     Người lính già tóc bù xù chùi vội giọt nước mắt. Những khuôn mặt đờ đẫn ngấn lệ. Họ đang nhớ mẹ, nhớ hình ảnh người mẹ tần tảo đang mãi ở tít mù xa. Bom đạn, chết chóc, đói khát, nhọc nhằn làm họ lãng quên nay bất chợt ùa về trong một hoàn cảnh không ngờ.
    Lời ca đã làm họ như bị thôi miên,  những tràng đạn âm thanh xuyên thẳng vào những trái tim tưởng như đã chai sạn, với sức công phá thật ghê gớm.
     Tất cả như  chìm trong trạng thái chết lâm sàng.
     Mẹ già tóc bạc hoa râm…âm…
     Chiều nay chắc cũng nghe thầm …tiếng con.

     Những âm thanh cuối cùng của bài ca khép lại. Đứa trẻ đã ngủ từ lâu. Mấy phút sau, những người lính hóa đá vẫn không hề lên tiếng. Họ quên mất từ sáng đến giờ chưa có hạt  cơm nào trong bụng. Nhu  cầu ăn uống trở nên quá tầm thường với họ lúc này.

    -   Kìa các chú, cơm chín lâu rồi mà.
 
   Bà chủ  nhà lên tiếng.
  
   Mọi người dường như mới sực tỉnh.
  
    Họ cắm cúi ăn, ai nấy rất kiệm lời. Mỗi người đều mang trong mình một tâm trạng, chắc chắn hình ảnh Người Mẹ đang hiện hữu trong lòng những người lính trận này.
    Dăm hôm nữa họ lại ra chốt. Hành trang họ mang theo sẽ có lời ca của người phụ nữ  luống tuổi có khuôn mặt phúc hậu, tóc đã điểm sương, y hệt  như  hình ảnh những  người mẹ của họ ở mãi  quê nhà.
  
 Con đi đánh giặc mười năm….
     Chưa bằng khó nhọc ….đời bầm sáu mươi
     Con ra tiền tuyến xa xôi…
     Yêu bầm, yêu nước, cả đôi …mẹ hiền…

                                                                       Tháng 2, năm 2014
                                                                                       Như Thìn
      



  

  


Tiêu đề: Re: Nó và tôi
Gửi bởi: lexuantuong1972 trong 26 Tháng Hai, 2014, 05:43:44 pm
                                                                                    BẦM ƠI

       

@NT: Tuyệt quá NT ơi, trong tâm khảm mỗi người lính chúng ta đều có hình ảnh người mẹ. Hình ảnh người mẹ khắc khoải chờ con trở về từ chiến trận không hề là chúng ta nhụt ý chí mà lại có sức động viên chúng ta vượt lên cái chết để xứng đáng với mẹ.


Tiêu đề: Re: Nó và tôi
Gửi bởi: thaiminhhung trong 27 Tháng Hai, 2014, 11:50:25 am
Câu chuyện giản dị nhưng đầy chất nhân văn, làm lay động nhiều trái tim những CCB già Bác Như Thìn ơi !


Tiêu đề: Re: Nó và tôi
Gửi bởi: lexuantuong1972 trong 27 Tháng Hai, 2014, 08:25:01 pm

Hội ngộ của những đồng đội trên VMH tại nhà Như Thìn ngày hôm nay

(http://i1240.photobucket.com/albums/gg494/thanhcoquangtri1972/DSCN3743_zpsc7949265.jpg) (http://s1240.photobucket.com/user/thanhcoquangtri1972/media/DSCN3743_zpsc7949265.jpg.html)

PhongQuang, Như Thìn và LXT1972


Tiêu đề: Re: Nó và tôi
Gửi bởi: quân y 103 trong 27 Tháng Hai, 2014, 09:26:19 pm
(http://i1273.photobucket.com/albums/y401/kimlien10b/1525387_1496683150557404_1438769897_n1_zps5d2f1596.jpg) (http://s1273.photobucket.com/user/kimlien10b/media/1525387_1496683150557404_1438769897_n1_zps5d2f1596.jpg.html)

Hay  quá Bác Thìn ơi .Sao lâu thế bác mới cho tui  em đọc vậy


Tiêu đề: Re: Nó và tôi
Gửi bởi: Đức Cường trong 27 Tháng Hai, 2014, 10:59:16 pm
 Câu chuyện của một đơn vị về tuyến hai để " chỉnh huấn, chỉnh quân " như bao đơn vị khác. Sự va chạm trong sinh hoạt của những người lính đang trong độ tuổi hai mươi bùng nổ do bức xúc cũng là chuyện thường tình trong thực tế cuộc sống của ngươì lính.
 Chính vì vậy, khi đọc bài " Bầm ơi " của bác như thìn, chúng tôi liên tưởng đến những năm tháng tuổi trẻ của mình cũng đã có lúc như vậy.
Bác nhuthin đã đưa đến cho người đọc được nghe âm thanh làn điệu của một lời ru.Lời ru như một làn gió mang âm hưởng dân ca mà từ thuể lọt lòng ai cũng đã được nghe. Những người lính " bắc kỳ" thời đó ai cũng thuộc bài này. Nên người mẹ hát ru con đến đâu thì như dòng suối mát chảy đến đó. Bởi trái tim họ bị đánh thức trở lại sau bao ngày chai sạn nơi chiến trường khói lửa. Lời ru đã trỏ thành một loại vũ khí sắc bén, xoa dịu những cái đầu nóng của lứa tuổi bồng bột.
   Cái hay nữa là lời ru đã làm "... những người lính hóa đá ,vẫn không hề lên tiếng...". Sự im lặng này không phải để nghe nữa mà đó là sự ân hận cho những gì đã sẩy ra.
Cảm ơn bác nhuthin. Mấy dòng cảm nhận không được đầy đủ mong bác xí xóa.


Tiêu đề: Re: Nó và tôi
Gửi bởi: lexuantuong1972 trong 01 Tháng Ba, 2014, 09:27:35 pm
Bài thơ "Bầm ơi" của Tố Hữu nói về những bà mẹ của vùng Phú Thọ, Sơn Tây nhưng được giọng ca của Nghệ sĩ Châu Loan ca theo giai điệu dân ca Bình Trị Thiên quả là tuyệt.


Tiêu đề: Re: Nó và tôi
Gửi bởi: lexuantuong1972 trong 01 Tháng Ba, 2014, 09:28:13 pm
Tôi xóa


Tiêu đề: Re: Nó và tôi
Gửi bởi: tranphu341 trong 02 Tháng Ba, 2014, 11:11:41 am

Hội ngộ của những đồng đội trên VMH tại nhà Như Thìn ngày hôm nay

(http://i1240.photobucket.com/albums/gg494/thanhcoquangtri1972/DSCN3743_zpsc7949265.jpg) (http://s1240.photobucket.com/user/thanhcoquangtri1972/media/DSCN3743_zpsc7949265.jpg.html)

PhongQuang, Như Thìn và LXT1972

                Chào bác chủ! Chào các bác! Vui quá, mừng quá! Tranphu341 chúc mừng bác nhuthin đã có nhà mới. Sau bao vất vả. Căn nhà mới đẹp và vui quá thật ấm tình đồng đội, ấm tình các thành viên VMH.

                Tranphu341 xin được chúc mừng bác. Cùng rất mong được đọc những tác phẩm để đời của bác. Kính!


Tiêu đề: Re: Nó và tôi
Gửi bởi: nhuthin trong 16 Tháng Ba, 2014, 05:03:54 pm
KÍNH CÁO:

   Kính thưa anh, chị em trên diễn đàn.
   Chủ trang Nó và Tôi đã tập hợp khoảng 20 bài đã đăng trên trang chuyển cho nhà xuất bản Thanh Niên in thành sách và sẽ phát hành trong thời gian tới.
   Tập sách có tựa đề “ Trăng Khuyết”, lấy tên của một trong số 20 bài đã đăng  trên. Bìa và minh họa sẽ do họa sĩ Lê Trí Dũng vẽ. Lê Trí Dũng không chỉ  là một họa sĩ nổi tiếng, anh còn là tác giả của mấy tập tản văn: “ Những hòn cuội nhặt dọc đường” mà nhiều người cầm bút cũng phải kính nể. Anh cũng là lứa sinh viên chiến sĩ, tham gia chiến trận Quảng Trị năm 1972.
    Cuốn  “Trăng Khuyết” dày khoảng 200 trang( hơn cuốn Nó và Tôi… khoảng 30 trang) vì thế  có lẽ giá thành sẽ  hơn cuốn Nó và Tôi,,,một chút. Chủ trang cũng chưa biết chính xác giá của cuốn sách là bao nhiêu. Khi nào biết sẽ thông báo sau.
    Mặc dù anh em trên diễn đàn nếu quan tâm, đã đọc hết những bài trong cuốn sách, nhưng có được một cuốn sách in đẹp trên tay, làm quà cho bạn bè hay người thân cũng rất ý nghĩa.
    Rất mong anh, chị em trên diễn đàn hưởng ứng.
   Vậy đề nghị anh, chị em, ai có nhu cầu lấy sách xin đăng ký.
   Vẫn như lần trước, phía Nam tôi nhờ  lonesome, phía Bắc nhờ bạn Lê xuân Tường chuyển sách cho anh, chị em.
   Mọi người có thể gửi tiền ở hai địa chỉ trên hoặc chuyển vào tài khoản của tôi tùy ý.
   Dự trù đầu tháng Tư sách sẽ phát hành, kịp đón ngày lễ  trọng đại 30/4- 1/5 năm nay.
   Xin chân thành cám ơn sự ủng hộ của đông đảo anh, chị em trên diễn đàn.
                                                           
                                                                 Hà nội, ngày 16/ 3/ 2014
                                                                                    NT


Tiêu đề: Re: Nó và tôi
Gửi bởi: tranphu341 trong 17 Tháng Ba, 2014, 08:10:07 am
KÍNH CÁO:

   Kính thưa anh, chị em trên diễn đàn.
   Chủ trang Nó và Tôi đã tập hợp khoảng 20 bài đã đăng trên trang chuyển cho nhà xuất bản Thanh Niên in thành sách và sẽ phát hành trong thời gian tới.
   Tập sách có tựa đề “ Trăng Khuyết”, lấy tên của một trong số 20 bài đã đăng  trên. Bìa và minh họa sẽ do họa sĩ Lê Trí Dũng vẽ. Lê Trí Dũng không chỉ  là một họa sĩ nổi tiếng, anh còn là tác giả của mấy tập tản văn: “ Những hòn cuội nhặt dọc đường” mà nhiều người cầm bút cũng phải kính nể. Anh cũng là lứa sinh viên chiến sĩ, tham gia chiến trận Quảng Trị năm 1972.
    Cuốn  “Trăng Khuyết” dày khoảng 200 trang( hơn cuốn Nó và Tôi… khoảng 30 trang) vì thế  có lẽ giá thành sẽ  hơn cuốn Nó và Tôi,,,một chút. Chủ trang cũng chưa biết chính xác giá của cuốn sách là bao nhiêu. Khi nào biết sẽ thông báo sau.
    Mặc dù anh em trên diễn đàn nếu quan tâm, đã đọc hết những bài trong cuốn sách, nhưng có được một cuốn sách in đẹp trên tay, làm quà cho bạn bè hay người thân cũng rất ý nghĩa.
    Rất mong anh, chị em trên diễn đàn hưởng ứng.
   Vậy đề nghị anh, chị em, ai có nhu cầu lấy sách xin đăng ký.
   Vẫn như lần trước, phía Nam tôi nhờ  lonesome, phía Bắc nhờ bạn Lê xuân Tường chuyển sách cho anh, chị em.
   Mọi người có thể gửi tiền ở hai địa chỉ trên hoặc chuyển vào tài khoản của tôi tùy ý.
   Dự trù đầu tháng Tư sách sẽ phát hành, kịp đón ngày lễ  trọng đại 30/4- 1/5 năm nay.
   Xin chân thành cám ơn sự ủng hộ của đông đảo anh, chị em trên diễn đàn.
                                                           
                                                                 Hà nội, ngày 16/ 3/ 2014
                                                                                    NT


                Chào bác nhuthin! Tranphu341 chúc mừng bác chủ đã tiếp ra được tác phẩm mới. Như bác nói là đây là tập hợp các chuyện đã được đăng tải. Anh em trên VMH đã được đọc. Nhưng đây là tuyển tập, là sách. Vì vậy nó rất giá trị, rất quý hiếm. Mà chuyện của bác viết thì đúng là phải đọc nhiều lần mới thấy được cái hay, cái sâu của ý tác giả. Nên có thể nói nó là cuốn sách để " Đầu giường'' RẤT CÓ GIÁ TRỊ.

                 Tranphu341 đang háo hức được đọc lại từ quyển "Trăng khuyết" đó. Kính bác!


Tiêu đề: nó và tôi
Gửi bởi: nhuthin trong 05 Tháng Tư, 2014, 10:05:59 am
(https://lh4.googleusercontent.com/-c3_LmUjuAzo/Uz9jHs-qfuI/AAAAAAAAA5M/5dfTtxI3nmE/w606-h298-no/biasach.png)


                                                                                                    Quyền viết thế

    Sau khi xuất bản cuốn “ Nó và Tôi, một thời hoa lửa” xong, có bạn nghề thân tình bảo tôi: “ Truyện của ông nên thêm thắt một chút,  xây dựng thành những điển hình nghệ thuật, biết đâu để lại một dấu ấn cho văn học nước nhà”.
   Ừ nhỉ, truyện của mình thực quá, trần trụi quá, thô nháp quá .
   Thực tình, người viết cũng muốn  hư  cấu thật nhiều cho mượt  những câu chuyện đã kể, nhưng sợ. Sợ làm không khéo, đắc tội với nhiều đồng đội đã chết và còn  sống. Càng thêm tuổi, càng thêm sợ.
   Có bạn trẻ  bảo tôi: “ Truyện của bác đọc hay nhưng  buồn quá, chúng cháu không thích buồn”.
  Ừ nhỉ, truyện của mình buồn thật. Càng đọc càng xót xa. Nhưng bạn ơi, khi mà viết về đề tài chiến tranh một cách chân thực, làm sao mà vui được. Đã qua rồi, cái thời nghệ thuật tình thế, giờ đây đứng xa cuộc chiến, nhìn lại thấy cái giá phải trả là quá lớn. Không thể vui. Chẳng  ai thích buồn đâu bạn ạ.
  Có bạn lại bảo tôi : “ Sao ông cứ viết mãi đề tài chiến tranh về  người lính thế. Sách in rồi khó bán lắm. Không hợp với thị hiếu giới trẻ”.
  Thảo nào, có lần tôi giới thiệu tập bản thảo với một bạn trẻ làm ở nhà xuất bản nọ. Anh ta bảo: “ Phòng kinh doanh nói lại, sách kiểu này không bán được…bác chiụ khó mang đến nhà xuất bản khác vậy”.
  Thực ra, mục đích của người viết không phải để bán, mà là để trả nợ, một món nợ ân tình. Tiền cũng quan trọng nhưng không phải là la bàn định hướng cho ngòi bút. Mình nợ anh em đồng đội nhiều quá, khó mà trả hết. Còn sức, còn  nhọc nhằn dứt ruột từng con chữ nghèo nàn, rỉ máu, để trang trải nợ nần.
   Rất may, cũng có nhiều người đồng cảm với tác giả, họ nhờ lấy sách rồi nói:  “Không dám nói mua, xin gửi lại chút đóng góp”.
   Có một thày hiệu trưởng của một trường THPT nọ, sau khi đánh trống khai trường, khai giảng năm học mới xong, chuyển mấy chục cuốn  sách của tác giả cho các học sinh của trường.  Ông nói: “ Cần cho thế hệ trẻ hôm nay biết cha, anh chúng đã sống và chết như thế nào…Em nào có cảm nhận gì hãy chuyển trực tiếp cho tác giả qua email…”
   Thật cảm động, có bạn  đã viết:“ Chỉ có các bác từ cuộc chiến bước ra mới viết được như thế và có quyền viết thế”.
    Vâng đúng vậy , cám ơn bạn, cuốn “ Trăng khuyết ” vẫn viết  thế. Chúng tôi có quyền viết thế.
                                                                             

                                                                                                            Tháng 12, năm 2013
                                                                                                                                         NT



 
Tác giả  ký tặng.
Giá mỗi cuốn là 55 000,0 đ
Số tài khoản : 99099026510200040
Chi nhánh     : Oceanbank  Bạch Mai, Hà Nội
Họ và tên      : Nguyễn Như Thìn
Đ T : 0914521997
Email: Nguyen.nhu.thin@gmail.com


Tiêu đề: Re: nó và tôi
Gửi bởi: lexuantuong1972 trong 05 Tháng Tư, 2014, 01:17:41 pm
(https://lh4.googleusercontent.com/-c3_LmUjuAzo/Uz9jHs-qfuI/AAAAAAAAA5M/5dfTtxI3nmE/w606-h298-no/biasach.png)


                                                                                                    Quyền viết thế

    Sau khi xuất bản cuốn “ Nó và Tôi, một thời hoa lửa” xong, có bạn nghề thân tình bảo tôi: “ Truyện của ông nên thêm thắt một chút,  xây dựng thành những điển hình nghệ thuật, biết đâu để lại một dấu ấn cho văn học nước nhà”.
   Ừ nhỉ, truyện của mình thực quá, trần trụi quá, thô nháp quá .
   Thực tình, người viết cũng muốn  hư  cấu thật nhiều cho mượt  những câu chuyện đã kể, nhưng sợ. Sợ làm không khéo, đắc tội với nhiều đồng đội đã chết và còn  sống. Càng thêm tuổi, càng thêm sợ.
   Có bạn trẻ  bảo tôi: “ Truyện của bác đọc hay nhưng  buồn quá, chúng cháu không thích buồn”.
  Ừ nhỉ, truyện của mình buồn thật. Càng đọc càng xót xa. Nhưng bạn ơi, khi mà viết về đề tài chiến tranh một cách chân thực, làm sao mà vui được. Đã qua rồi, cái thời nghệ thuật tình thế, giờ đây đứng xa cuộc chiến, nhìn lại thấy cái giá phải trả là quá lớn. Không thể vui. Chẳng  ai thích buồn đâu bạn ạ.
  Có bạn lại bảo tôi : “ Sao ông cứ viết mãi đề tài chiến tranh về  người lính thế. Sách in rồi khó bán lắm. Không hợp với thị hiếu giới trẻ”.
  Thảo nào, có lần tôi giới thiệu tập bản thảo với một bạn trẻ làm ở nhà xuất bản nọ. Anh ta bảo: “ Phòng kinh doanh nói lại, sách kiểu này không bán được…bác chiụ khó mang đến nhà xuất bản khác vậy”.
  Thực ra, mục đích của người viết không phải để bán, mà là để trả nợ, một món nợ ân tình. Tiền cũng quan trọng nhưng không phải là la bàn định hướng cho ngòi bút. Mình nợ anh em đồng đội nhiều quá, khó mà trả hết. Còn sức, còn  nhọc nhằn dứt ruột từng con chữ nghèo nàn, rỉ máu, để trang trải nợ nần.
   Rất may, cũng có nhiều người đồng cảm với tác giả, họ nhờ lấy sách rồi nói:  “Không dám nói mua, xin gửi lại chút đóng góp”.
   Có một thày hiệu trưởng của một trường THPT nọ, sau khi đánh trống khai trường, khai giảng năm học mới xong, chuyển mấy chục cuốn  sách của tác giả cho các học sinh của trường.  Ông nói: “ Cần cho thế hệ trẻ hôm nay biết cha, anh chúng đã sống và chết như thế nào…Em nào có cảm nhận gì hãy chuyển trực tiếp cho tác giả qua email…”
   Thật cảm động, có bạn  đã viết:“ Chỉ có các bác từ cuộc chiến bước ra mới viết được như thế và có quyền viết thế”.
    Vâng đúng vậy , cám ơn bạn, cuốn “ Trăng khuyết ” vẫn viết  thế. Chúng tôi có quyền viết thế.
                                                                             

                                                                                                            Tháng 12, năm 2013
                                                                                                                                         NT



 
Tác giả  ký tặng.
Giá mỗi cuốn là 55 000,0 đ
Số tài khoản : 99099026510200040
Chi nhánh     : Oceanbank  Bạch Mai, Hà Nội
Họ và tên      : Nguyễn Như Thìn
Đ T : 0914521997
Email: Nguyen.nhu.thin@gmail.com


Bạn cho mình lấy 3 cuốn ( 1 cuốn cho mình và 2 cuốn cho bạn). Khi nào ra 19C thì mang ra nhé.


Tiêu đề: Re: nó và tôi
Gửi bởi: tranphu341 trong 05 Tháng Tư, 2014, 02:54:23 pm
   
       Chào bác nhuthin! Tranphu341 chúc mừng bác xây dựng xong hà mới, cùng đã xuất bản xong Tác phẩm " Trăng khuyết" như dư định.

        Tranphuchucs bác cùng đại gia đình luôn mạnh khỏe và tiếp tục sản xuất ra nhiểu tác phẩm ''để đời" nữa. Mấy bữa nữa Tranphu341 lên Hà Nội xin bác mấy quyển tặng anh em. Kính Bác!

           



Tiêu đề: Re: nó và tôi
Gửi bởi: tranphu341 trong 05 Tháng Tư, 2014, 02:56:00 pm
    
       Chào bác nhuthin! Tranphu341 chúc mừng bác xây dựng xong nhà mới, cùng đã xuất bản xong Tác phẩm " Trăng khuyết" như dư định.

        Tranphu 341 chúc bác cùng đại gia đình luôn mạnh khỏe và tiếp tục sản xuất ra nhiểu tác phẩm ''để đời" nữa. Mấy bữa nữa Tranphu341 lên Hà Nội xin bác mấy quyển tặng anh em. Kính Bác!

            



Tiêu đề: Re: Nó và tôi
Gửi bởi: binhyen1960 trong 05 Tháng Tư, 2014, 10:35:21 pm
 Chúc mừng bác nhuthin@ đã hoàn thành tác phẩm Trăng Khuyết và bắt đầu chuyển tới tay bạn đọc. ;D

 Tuy nhiên, hôm nay đã chuẩn bị sang giữa nửa đầu tháng tư rồi mà vẫn chưa thấy Trăng Khuyết ra mắt mọi người. Mọi người luôn chờ tác phẩm của bác nhuthin@ ra mắt, hy vọng sang tuần tới và chuyến đi Lào 12.4.2014 sắp tới, chủ đề Trăng Khuyết sẽ được mọi người bàn tán xôn xao trong suốt chuyến đi. ;D

 Chiều nay 5.4.2014 tại 19c Ngọc Hà, lão nhà thơ lính sinh viên "cằn nhằn": Nó cứ nói đầu tháng tư chứ đã thấy Trăng Khuyết của nó đâu? Có khi nó bắt mình chờ đến Trăng Tròn ấy chứ. ;D


Tiêu đề: Re: Nó và tôi
Gửi bởi: chienc3.1972 trong 16 Tháng Tư, 2014, 03:54:29 pm
Đã có hàng về: Trăng khuyết, in tại Nhà xuất bản Thanh niên, giá 55k/cuốn!!!


Tiêu đề: Re: Nó và tôi
Gửi bởi: tralientay trong 16 Tháng Tư, 2014, 07:22:04 pm

--
Đã có hàng về: Trăng khuyết, in tại Nhà xuất bản Thanh niên, giá 55k/cuốn!!!
--

Thứ bảy này bác Như Thìn đem một ít sách ra 19C nhé.
Cho anh em mua, và nâng cốc mừng sách ra.


Tiêu đề: Re: Nó và tôi
Gửi bởi: Linhkhue trong 17 Tháng Tư, 2014, 12:35:19 am
Mỗi khi em thấy mình có cái nhìn bi quan với tình hình xã hội hiện tại.
Em lại vào forum , như một vị khách vãng lai. Em dừng chân lại đây, nơi có những câu chuyện ,hồi ký của các Bác , các Cô , các chú , các anh , các chị thế hệ đi trước đã hy sinh tuổi trẻ của mình vì một lý tưởng sống tốt đẹp cho quê hương cho đất nước .
Thế hệ trẻ bọn em chưa làm được gì đã vội bi quan.
Xin cho em một lời cảm tạ với  tác giả. Bác đã không chỉ viết lên những câu chuyện , Bác đã thức tỉnh và hồi sinh trong em một tình yêu em cứ nghĩ mình đã lãng quên.


Tiêu đề: Re: Nó và tôi
Gửi bởi: CCBTT trong 23 Tháng Tư, 2014, 08:28:12 pm
Các bác ơi, Trăng khuyết đã tới Sài Gòn, xin liên hệ quan y 103!


Tiêu đề: Re: Nó và tôi
Gửi bởi: nhuthin trong 05 Tháng Năm, 2014, 11:02:01 am
CHÓ TÂY, CHÓ TA, CHÓ TẦU
[/b]
[/b]
     Rời phố cổ, tôi về sống trong một con ngõ nhỏ ở quận mới. “ Ngõ nhỏ, phố nhỏ, nhà tôi ở đó…” đúng như lời một bài hát nào đó. Con ngõ cong hình chữ S như bản đồ tổ quốc. Cũng lạ, dân cư ở đây  đủ mọi “tỉnh tịch”, ngữ điệu phong phú, phong tục các miền, Bắc, Trung, Nam, hơi khang khác.
    Duy nhất có một  điểm chung, dân ngõ tôi rất thích nuôi chó. Thôi thì đủ các giống, các loài. Thật tai họa! Sáng nào cũng phải dọn chất thải đánh dấu lãnh thổ của những chú chó hiếu chiến. Rất nhiều vụ cãi vã giữa các hộ trong ngõ, vì người này nghi cho người kia là chủ nhân của những chất thải rắn ấy.
   Bên trái nhà tôi là nhà của một gã có bộ râu quai nón nom rất “anh chị”. Hắn cũng nuôi một con chó Ta. Trông con chó xấu mã, còi cọc mà sao sản phẩm thải loại của nó nhiều thế. Chắc hay ăn bậy bạ.
  Một lần thân tình tôi bảo hắn:
    -    Sao ông không nuôi lấy một con chó Tây cho nó sang trọng và sạch sẽ
  Hắn nhìn tôi như người ngoài hành tinh nói:
-   Ông không nuôi chó không biết. Chó Tây là vô tích sự nhất. Chẳng được việc gì. Có lần tớ đã nuôi rồi. Một con chó bông, lông trắng hẳn hoi. Rất đẹp mã. Ăn uống thì kén chọn, phục vụ nó quá mệt. Ngay cả chỗ vệ sinh nó còn kén nữa là ăn.
Thôi thì về nguyên tắc, đã hưởng thụ cao thì cống hiến phải nhiều. Nhưng đằng này, chẳng biết  trông nhà, giữ cửa gì cả. Ngu nhất trần đời. Ai vào, người thân hay kẻ gian, đều vẫy đuôi vui vẻ tất tật.

  Một lần có việc phải vào nhà trong, nghe thấy nó ư ử, mừng rỡ, chắc cu cậu đang vẫy đuôi đây. Khi ra, tớ chẳng thấy cái Laptop trên bàn đâu nữa. Con chó cũng chạy đằng nào mất. Tá hỏa chạy vội ra cửa mới thấy con chó hớn hở vừa tiễn khách trở về. Lao vội ra ngõ thì vị khách không mời đã mất hút con mẹ hàng lươn. Thế có điên không. Tớ cho con chó một cú đá trời giáng, văng xa tới ba mét. Càng nghĩ càng ức, ngay hôm sau, tớ xách thẳng nó ra hàng thịt chó đầu ngõ. Chủ quán lắc đầu nói: “ Chẳng được mấy đĩa, toàn lông, khách chê thịt nhạt”. Thôi đành, được đồng nào thì được vậy. Tóm lại, không thể trông mong gì lũ chó Tây giữ nhà cho ta được.
  
   Sau đấy tớ nuôi con chó này.
   Rất dễ nuôi, có gì sơi nấy. Thậm chí, thằng cháu nhỏ nhà mình chẳng may bĩnh ra, chủ nhà chưa kịp xử lý, nó đã nhanh nhảu giúp giải quyết hậu quả. Còn cái khoản trông nhà thì rất khá. Nó cắn tất tật, kể cả bạn tớ. Tớ đánh giá rất cao khả năng ấy. Những thằng bạn bị nó cắn đa phần sau này chẳng ra gì. Nó còn tinh hơn cả chủ.
  
    Hắn nói khá có lý. Tôi nhớ, hồi còn nhỏ, đi sơ tán về quê, cũng có nuôi một con chó Ta. Tôi kết bạn với một thằng hàng xóm chạc tuổi. Nó dạy tôi câu cá, vồ ếch, mò cua bắt ốc vv.Tôi là một học trò sáng dạ, chẳng bao lâu tự túc được thực phẩm khỏi cần mẹ tiếp tế. Những kỹ năng kiếm ăn ấy giúp ích tôi rất nhiều sau này khi tại ngũ. Không đồng đội nào tin tôi là người thành phố. Thằng bạn hàng xóm ấy trở nên rất thân thiết. Nhưng cứ mỗi lần hắn sang nhà tôi chơi, thế nào cũng bị con chó sủa dữ dội và rình đớp cho một cú. Mặc dù cảnh giác cao, song rất nhiều bận, nó vẫn phải ôm vết thương rỉ máu về nhà.
  
   Tôi cũng rất lấy làm lạ vì, những người khác vào nhà lại vô tư.

   Sau này tôi phát hiện ra, nhà hay bị mất vặt. Thì ra thằng bạn, đêm thường lẻn vào nhà tôi, thích gì chôm nấy. Nó qua mặt được tôi, nhưng không thể qua mặt được chú lính gác của tôi. Con chó dạy tôi một bài học rất quí giá. Tiếc là, khi trở lại thành phố, tôi đành bán nó cho gã thịt chó đầu làng, kể cũng  hơi tàn nhẫn.

    Bên phải nhà tôi có chị “Béo” buôn hàng Trung quốc tận Lạng Sơn. Một bận thấy chị ta mang về một con chó thật đẹp. Không giống chó Ta cũng chẳng ra chó Tây. Chị “Béo” bảo : “ Chó Tầu  đấy. Hàng tiểu ngạch”.

    Con chó quả là đẹp, chân cao, ngực nở. Nằm dài dễ đến một mét. Mắt lúc nào cũng lim dim như đang nghiền ngẫm thế “Xuân thu”. Thoạt tiên tưởng nó hiền lành, hóa ra không phải. Tuy ít sủa, nhưng khi sủa lại rất to và dai dẳng. Mà sủa toàn những chuyện không đâu. Chỉ một bóng người thoáng qua cửa là đã lên tiếng, cứ như cả cái ngõ này đều là của nhà nó không bằng.

   Những ngày đầu chưa quen, tôi bơ phờ cả người, mất ăn mất ngủ. Sau cũng nhàm, quen dần, đâu lại vào đấy. Đúng là “chó cứ sủa , người cứ đi”.

   Nhưng con chó có một thói xấu không thể quen được, ấy là cắn trộm. Trước khi cắn, nó không hề tỏ thái độ gì, mắt vẫn lim dim. Nhưng đúng lúc không ngờ nhất thì ra đòn.

   Dân ngõ tôi rất bức xúc với chú chó ngoại lai này, nhiều lần kéo nhau ra phường đề nghị can thiệp, nhưng lãnh đạo vẫn làm ngơ, hứa quấy quá. Có bận còn cho bảo vệ lập biên bảo vì tội tụ tập đông người, gây mất trật tự an ninh.
  
   Con chó xấu chơi không chỉ với người mà ngay cả đồng loại của của nó. Con chó Ta của tay hàng xóm có bộ râu quai nón, kết thân, hai con đang đùa rỡn, vật nhau như đánh trận giả, bất ngờ con chó Tầu cắn ngay một phát ngang họng con chó ta. Con chó còi cọc tội nghiệp chỉ kịp kêu một tiếng, vùng dậy, cụp đuôi chạy thẳng về nhà.

   Với vẻ đầy tự mãn, con chó Tầu ghếch một chân lên, tè ngay một bãi vào chỗ vừa xảy ra trận chiến, đánh dấu lãnh thổ, chủ quyền. Chỗ ấy lại rất xa nhà của nó. Hóa ra câu: “Chó cậy gần nhà” không phải lúc nào cũng đúng. Từ đấy mỗi bận đi ngang qua bãi nước tiểu lịch sử ấy, con chó Ta  ngửi ngửi rồi lảng xa.

    Hèn quá! Trông thấy mà buồn.
    
     Gần cuối tháng hai mà trời vẫn lạnh, buồn thì  ra hàng bia đầu ngõ làm một vại. Không quên kèm một đĩa thịt cầy.


                                                                       Tháng 2, năm 2014
                                                                                                 NT




Tiêu đề: Re: Nó và tôi
Gửi bởi: linhcnn72 trong 05 Tháng Năm, 2014, 03:24:55 pm
Con chó Tầu này đểu thật, "mắt vẫn lim dim" mà bất ngờ đớp một phát !!! ;D


Tiêu đề: Re: Nó và tôi
Gửi bởi: lexuantuong1972 trong 06 Tháng Năm, 2014, 08:56:48 am
CHÓ TÂY, CHÓ TA, CHÓ TẦU

...Với vẻ đầy tự mãn, con chó Tầu ghếch một chân lên, tè ngay một bãi vào chỗ vừa xảy ra trận chiến, đánh dấu lãnh thổ, chủ quyền. Chỗ ấy lại rất xa nhà của nó. Hóa ra câu: “Chó cậy gần nhà” không phải lúc nào cũng đúng. Từ đấy mỗi bận đi ngang qua bãi nước tiểu lịch sử ấy, con chó Ta  ngửi ngửi rồi lảng xa.

    Hèn quá! Trông thấy mà buồn.


Tuyệt quá, đọc hết câu chuyện mới ngẫm ra giống chó tầu hệt như ông láng giềng thân thiết của chúng ta. Căm thật, phải ở bên cạnh những kẻ như thế. Chỉ thương những con chó ta rất tinh biết phân biệt kẻ ngay với kẻ gian nhưng buộc phải chịu trận. >:(


Tiêu đề: Re: Nó và tôi
Gửi bởi: sauchinbaymot trong 06 Tháng Năm, 2014, 06:03:42 pm
Chuyện Chó của bác NT làm tôi nhớ lại mấy kỷ niệm cách đây ít năm, có ảnh minh họa lấy từ album.

1. Trong dãy nhà tôi hồi ấy (những năm 97 - 2000) có một bác hơn tôi chừng dăm tuổi. Dân Hà Nội nòi. Đã có lần bác rủ tôi ra phổ cổ, chỉ ngôi nhà nơi bác sinh ra và lớn lên, bây giờ người cháu ở, rất giống mẫu hình những ngôi nhà Phố Phái. Không biết trước đây bác làm nghề gì, chứ từ hồi về ở khu tôi thì bác chỉ ở nhà, thi thoảng đi chụp ảnh đám cưới. Không biết sống bằng của nả để dành hay sống nhờ vợ, nhưng thấy bác rất ung dung. Bác rất thích nuôi thú và trồng cây, dù đất đai hàng phố chật chội, đắt sắt ra miếng. Bác nuôi một con chó lai Ép 3 hay Ép 4 gì đấy. Bác ấy về nhà là con chó không rởi bác nửa bước. Bác ấy ngồi gác chân chữ ngũ trước hiên ngắm hoa thì chó cũng gác chân chữ ngũ. Phục thật (xem ảnh 1). Có một sáng, bác ấy và tôi đứng tán gẫu ngay trước của nhà tôi. Con chó cũng quẩn quanh đấy. Ấy thế mà ngay trước mắt chúng tôi, nó bất ngờ tương ngay ra mấy cục "chất thải rắn". Chuyện chó khó xử cho người. Nhưng cũng thật bất ngờ, bác ấy chỉ mắng yêu con chó và rút ngay trong túi ra cái túi ni lông rồi dùng cái túi ấy như là cái găng tay, rất chuyên nghiệp dọn sạch sẽ rồi cầm gọn trong tay cứ như người ta cầm gói xôi sáng. Bác còn nán đứng nói nốt mấy câu đang dở chuyện rồi mới đi về. Ít lâu sau, gia đình bác chuyển vào Cổ Nhuế.

2. Khoảng năm 05 - 06, tôi có việc phải đến một đại sứ quán VN. Phía cửa trước khang trang bề thế, nhưng lại khóa im ỉm. Hỏi người quanh đấy thì thấy bảo, cửa chính hầu như không bao giờ mở, đi vòng phố ra phía sau. Xa phết. Căn phương vị đến đúng phía sau thì thấy cửa ra vào có cửa kéo, chắc chỉ dánh cho ô tô, nhưng cũng khóa. Bên ngách có một chú chó đen tai cụp tai vểnh ngồi trước một chiếc cửa khép, trên có cái bảng chữ màu vàng trên nền đỏ - Không cần đọc chữ ta hay chữ tây gì cũng biết đây là mình rồi. Không biết bên trong cánh cửa kia thế nào. Nản quá (xem ảnh 2).              


Tiêu đề: Re: Nó và tôi
Gửi bởi: lexuantuong1972 trong 06 Tháng Năm, 2014, 08:58:42 pm
Nhân chuyện chó của bác NT và 6971 tôi cũng kể chuyện con chó nhà tôi

Số là năm 1992 vợ chồng tôi nhờ bạn bè giúp đỡ mua được 1 căn hộ ở Nghĩa Tân. Vì ham chơi nên chúng tôi chỉ có 1 thằng con trai và năm ấy cháu học lớp 6. Tôi là 1 thằng rất thích nuôi súc vật như chó và mèo. Sự thích đó cộng với việc muốn có con chó để cho thằng con bầu bạn. Đúng dịp phong trào nuôi chó cảnh đang ở thoái trào (đi là về là thấy cả lũ chó tây và chó ta tranh nhau bới rác), tôi xin được 1 con chó mầu xám mõm đen rất đẹp và đặc biệt rất dữ. Vợ tôi rất ngại sợ nó cắn trẻ con hàng xóm. Chẳng may mới nuôi nó được khoảng 2 tháng thì nó bị ốm. Chú hàng xóm tiếc của đem thịt, thằng con tôi khóc lăn khóc lộn, nó mách mẹ nó: " Bố bảo thương nó mà bố và chú Tiệc còn ăn thịt lại cười đùa nữa". Tổi bảo: " Tao thương nó nên mới ăn thịt để máu thịt nó ngấm vào tao cho khỏi quên"  ;D. Rồi sau đó bà mẹ nuôi con tôi cho 1 con chó không biết lai F mấy và tôi đặt tên là con Đốm. Đúng là giống chó có máu tây y như chó tây của bác NT, chẳng bao giờ sủa người lạ, ai đến cũng vẫy đuôi mừng, chỉ được mỗi cái đức không phải đưa đi vệ sinh, cứ mở tấm chắn ra là ton ton chạy vào toilet để giải quyết, chủ chỉ việc xịt nước xả là xong.

Năm 2002 chúng tôi chuyển nhà lần thứ 2 về khu Vĩnh Phúc hiện nay và con Đốm cùng chúng tôi về nhà mới. Những năm sau đó nó cũng đã già mặc dù vẫn nhai được xương nhưng đêm đến nó đau xương đau cốt nên rên rỉ cả đêm, cả nhà đi vắng thì nó tru như chó sói cho đến khi có người về, hàng xóm phàn nàn quá thể. Rồi cũng may bà mẹ nuôi con tôi xin lại nó để đưa về trang trại có chỗ rộng rãi chạy nhảy. Vợ chồng tôi theo xe vợ chồng bà chị lên trang trại ở gần Xuân Mai. Lúc ra về tôi cũng bùi ngùi vì mười mấy năm nó như là thành viên trong nhà. Nhớ những lúc bà vợ nói chuyện có những bữa chồng con không về ăn cơm, bà xúc 1 bát cơm ngồi ở thềm nhà ăn 1 bên là con mèo, 1 bên là con Đốm.

 Nhưng được hơn một tháng con Đốm bỏ ăn và ra đi, đó là năm 2006. Tôi đoán chắc nó bỏ ăn và chết một phần do già yếu còn đa phần nhớ đến chủ cũ. Đúng là khuyển, mã chi tình . Nó ở với chúng tôi hơn 13 năm. Người ta bảo: 1 năm tuổi chó bằng 7 năm tuổi người. Như thế nó đã ở tuổi 81 của con người.
(http://i1240.photobucket.com/albums/gg494/thanhcoquangtri1972/DSC04188_zps4ebf2f77.jpg) (http://s1240.photobucket.com/user/thanhcoquangtri1972/media/DSC04188_zps4ebf2f77.jpg.html)  
Cậu Đốm nhà tôi.


Tiêu đề: Re: Nó và tôi
Gửi bởi: nhuthin trong 03 Tháng Bảy, 2014, 11:45:26 am
Kỷ niệm 67 năm ngày thương binh, liệt sĩ - 27/7/1947-27/7/2014


NGUYÊN ĐẠT SỬ
   

    Thực ra, họ của tôi là Nguyên, Nguyên Như cả đệm… chứ không phải là Nguyễn Như. Cái  họ khá lạ, đi nhiều nhưng chưa thấy ở đâu có họ Nguyên như quê tôi, xã Đông Tảo, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Có lẽ vì quá lạ nên khi khai sinh hay làm đăng ký hộ khẩu, các viên chức nhà nước tiện tay thêm luôn dấu ngã vào chữ Nguyên, thành thử cả nhà tôi đành miễn cưỡng phải cải họ.
     Nhưng ở dưới quê, họ Nguyên vẫn được giữ gìn. Họ Nguyên quê tôi có hai chi: Chi trên, đệm Nguyên Đạt…và chi dưới, đệm Nguyên Như.
    Lại nói về sự kiện Cây đa Đông Tảo năm Mậu tý, ngày 23 tháng mười âm lịch, tức ngày 23/11 năm 1948. Giặc Pháp sát hại hơn 40 đàn  ông trai tráng trong làng, có hai người may mắn sống sót: Cha tôi và người anh họ chi trên Nguyên Đạt.
    Cả làng hồi ấy bảo: Họ Nguyên nhà tôi có phúc lớn.
    Hai mươi bốn năm sau, tại chiến trường Quảng Trị có hai người lính họ Nguyên sát cánh bên nhau trong cùng chiến hào, đó là tôi, lính đại đội 12 hỏa lực, trung đoàn 101và Nguyên Đạt Sử, lính thông tin đại đội 18, trung đoàn 95, cùng  sư đoàn 325.
   Nhưng phúc bất trùng lai.
   Nguyên Đạt Sử đã mãi nằm lại tại chiến trường.
  Vào một sáng mùa hè oi bức, tôi sang bên kia cầu Vĩnh Tuy, xuống bãi sông Hồng bơi, tiện thể hái nắm rau tầu bay, mò mớ trai, trưa về nấu bát canh ăn giải nhiệt. Thói quen hậu cần tự túc có từ hồi chiến tranh thỉnh thoảng lại phát huy.
   Trở về nhà, tôi nhận được cú điện thoại của Nguyễn Dũng, nguyên lính sinh viên trường ĐHBK Hà Nội, nguyên lính thông tin C18, E95, hiện đã nghỉ hưu mà vẫn còn đơn chiếc. Hình như bao tâm trí của anh đều  dồn cả vào việc đi tìm hài cốt đồng đội, đến mức quên cả chuyện vợ con. Anh bảo:
-   Ông còn cuốn sách nào không ? Mang theo, đi với tôi một chuyến.
-   Nhưng mà đi đâu?
Tôi hỏi lại.
Anh nói:
-   Ngày mai ông đi với tôi về Hưng Yên. Anh em CCB chiến trường Quảng Trị tổ chức đại hội Hội Chiến Sĩ Thành Cổ. Chúng nó bảo, các ông lính sinh viên toàn viết về lính sinh viên. Đọc cứ như chiến trường Quảng Trị chỉ có lính sinh viên mà thôi. Rất tự ái. Ông đem hai cuốn sách của ông về cho họ đọc. Ông hay viết về đám lính “ lạc loài, chân đất, rũ bùn đứng dậy”, lần này bắt chúng phải tâm phục khẩu phục.
-   Nhưng Hưng Yên, huyện nào?
Tôi hỏi.
-     Khoái Châu.
Anh trả lời.
-   Ôi đúng quê tôi, được rồi, tôi sẽ đi cùng ông.
Tôi đồng ý.
          Nhân  có họa sĩ Lê Trí Dũng đang đến chơi, tôi rủ luôn, anh về Khoái Châu với tôi, anh cũng gốc quê Hồng Tiến, Bô Thời, tiện thể thắp cho các cụ mấy nén hương. Họa sĩ Lê Trí Dũng ok ngay. Chúng tôi hẹn nhau, sớm mai nhảy xe tuyến 208 về tận phố huyện. Nhưng đến phút chót, anh mắc việc đành cáo lỗi, nhắn tìm giúp một đồng đội trong binh chủng tăng thiết giáp năm xưa.
       Sáng hôm sau, cầm tấm vé  xe buýt miễn phí, tôi nhảy đại lên một chiếc đỗ bên đường, đến cầu Mai Động, bắt xe về Hưng Yên.
      Chừng một tiếng sau, xe qua Đông Tảo và xuôi về  phủ Khoái. Gần nửa thế kỷ tôi mới có dịp trở lại con đường này. Cảm xúc thật bồi hồi khó tả. Con đường đất đỏ bụi mù năm xưa, nay đã được trải nhựa phẳng lỳ.Vẫn hai hàng nhãn bên đường nhưng nay  đều đã lên lão cả. Những cây nhãn cổ thụ tỏa bóng mát gần kín cả con đường. Bức tranh quê tuyệt đẹp trong mắt người con xa xứ đã lâu ngày. Xe lướt êm  đưa tôi  trở về miền ký ức xa xưa thủa thiếu thời. Những năm xa gia đình, đi sơ tán, thiếu thốn trăm bề,  nhưng vẫn  rất vui vì tôi  được thỏa  thích  hòa mình với thiên nhiên theo đúng nghĩa…. “…Trên cánh đồng đay, con chim chiền chiện…” lời Bài ca đi cùng năm tháng của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý  cứ văng vẳng bên tai  như ru tôi vào thế giới tuổi thơ  đầy ắp những kỷ niệm.
   Chẳng mấy chốc, xe đã vào trung tâm thị trấn. Không còn bóng dáng của những ngôi nhà lụp xụp  nghèo nàn năm xưa, thay vào đó là những dãy phố với  nhiều nhà cao tầng, cửa hàng, cửa hiệu đua chen. Được qui hoạch khá cẩn thận, thị trấn như một thành phố thu nhỏ vậy. Chỉ mấy phút sau, tôi đã có mặt ở nhà Văn Hóa, nơi tổ chức đại hội của anh em cựu chiến binh Thành Cổ Quảng Trị.
  Vì được giới thiệu trước, nên tôi được Bùi Xuân Tuẫn, thay mặt anh em đón tiếp rất trọng thị. Trên khán trường long trọng, tôi tặng hai cuốn sách cho Hội Chiến sỹ Thành Cổ Quảng Trị  và nói: “ Hai cuốn sách này không phải viết bằng mực thông thường mà bằng máu và nước mắt của các đồng đội đã đổ xuống”. Cả hội trường vỗ tay. Khi biết tôi còn là con em của huyện nhà, họ càng thêm quí mến.
   Giờ nghỉ giải lao, một Hội Viên khá đẹp trai lại gần tôi và tự giới thiệu tên Minh, họ  Nguyên, em trai của liệt sĩ Nguyên Đạt Sử. Thì ra, Hội Chiến sỹ Thành Cổ Quảng Trị huyện Khoái Châu,  đã kết nạp cả những hội viên danh dự là con, em của các đồng đội đã hy sinh. Sau dăm câu hỏi han chi, cánh, họ mạc, Minh bảo, vậy em phải gọi anh bằng chú rồi. Tôi quá ngạc nhiên vì đến tận bây giờ mới biết có một  đồng đội, lại là cháu họ đã hy sinh tại Quảng Trị năm 1972.
   Bùi Xuân Tuẫn ( Chủ tịch hội CS Thành Cổ Quảng Trị, vừa được bầu, nhiệm kỳ thứ nhất  2014-2019), trong bộ quân phục bạc mầu, ngực đỏ chói huân, huy chương, chân tập tễnh vì thương tật vẫn không  ảnh hưởng nhiều đến vẻ lanh lợi, hoạt bát, đôi mắt tinh anh, giọng nói thuyết phục.
Anh kể:
  Ngày mồng 5/12/1972, trời  sầm sì, mưa rải rác, thời tiết rất xấu,  tôi và Nguyên Đạt Sử được lệnh đi thay cho  anh em ở trạm T1, Nguyễn Văn  Lực và Đào Văn Thưởng  tải gạo theo hỗ trợ.  Trạm thông tin hữu tuyến T1 bên bờ bắc sông Ái Tử (Sông Ái Tử chảy từ Cầu Ái Tử  tới đầu sân bay, cuối làng Trà Liên rồi đổ vào sông Thạch Hãn). Sau khi tái chiếm được Thành Cổ, địch cố đẩy quân ta khỏi thôn Tích Tường Như Lệ, bên bờ Nam sông Thạch Hãn. Trạm thông tin T1có nhiệm vụ đầu cầu nối thông tin với các anh em đang chiến đấu giữ từng tấc đất  bên kia sông, cam go và ác liệt. Đến thôn Cô Bác gần trận địa pháo phòng không 57 ly thì bất ngờ một đợt bom tọa độ đánh trúng đội hình.  Pháo cao xạ chẳng kịp phản ứng gì, mấy chiến sĩ hy sinh. Tôi, Lực và Thưởng may mắn không sao nhưng Sử thì ôm bụng kêu la, quằn quại . Chúng tôi vạch áo Sử ra xem, chỉ thấy một vết nhỏ bằng hạt ngô hơi rỉ máu bên bụng phải. Vậy mà Sử đau đớn khủng khiếp, toàn thân dần lạnh toát. Tôi vội bắn ba phát súng cấp cứu nhờ giúp đỡ. Ít phút sau, các chiến sĩ ở trận địa pháo  xuất  hiện . Họ mang đầy đủ bông băng  ra nhưng chẳng biết băng bó ra sao nữa, vì vết thương  không ra máu họ đành cho Sử uống ít rượu thuốc cho ấm người. Vội vã khiêng Sử về phẫu trung đoàn đặt tại khe Lấu  ( Khe Lấu – Hay còn gọi là khe Cóc, bộ đội nghe cóc kêu suốt ngày đêm nên gọi thế) xong, anh em trở lại trạm T1 làm  nhiệm vụ. Đến chiều thì bàng hoàng hay tin Sử hy sinh. Thật không thể tin nổi. Mộ anh được mai táng gần trạm phẫu, vậy mà mấy mươi năm rồi vẫn không tìm thấy, thật buồn! Sử hy sinh đúng ngày nhập ngũ tròn một năm.
   Anh họ tôi kể:
   Vào ngày giỗ liệt sĩ Nguyên Đạt Sử, đi ngang qua nhà, thỉnh thoảng lại thấy chị dâu tôi khóc hờ con nghe thật não lòng:
   “…Đau xót quá con ơi, khốn nạn quá con ơi….Con đi “nhảy dây” mà chết thì có khổ không hả con…”
   Trong số vốn từ nghèo nàn của người đàn bà suốt đời lam lũ ruộng vườn, không có chữ “rải dây” thông tin. Bà mường tượng con trai bà đi “nhảy dây” như mấy đứa trẻ chăn trâu hàng xóm mà thôi. Trò chơi chiến tranh mà con bà tham gia thật khó hiểu và quá tàn khốc.
     Ngày mồng 9/7/2014 sắp tới, tôi sẽ theo đoàn Nguyễn Dũng vào lại Quảng Trị. Nếu trời cho sức khỏe, tôi sẽ theo Bùi Xuân Tuẫn, Nguyên Đạt Minh, tách đoàn, cố cầy nát từng tấc đất  Quảng Trị một lần nữa, quyết tìm cho bằng được mộ của thằng cháu họ Nguyên: Chỉ “nhảy dây” mà chết có khổ không?

                                                                                                                                               Tháng 7,  năm  2014
                                                                                                                                                                        NT

P/S
  Anh em được mai táng tại khu vực phẫu E95 ở Khe Cóc nghe nói đã được quy tập, nhưng quy tập về đâu? Ai đã qui tập. Mấy chục năm rồi vẫn còn là ẩn số, khó tìm.

(https://farm4.staticflickr.com/3920/14532670816_9564e0d767.jpg)
  
( Trái sang: Nguyễn Dũng, Bùi Xuân Tuẫn, Nguyên Như Thìn)
 (https://www.flickr.com/photos/nhuthin/14532670816/)


Tiêu đề: Re: Nó và tôi
Gửi bởi: Vixuyen-hg trong 03 Tháng Bảy, 2014, 07:53:47 pm
Chào các bác các chú các Anh thành Quảng trị
Chào bác Nhu Thìn đọc những Trang bác viết thật cảm động
Sâu sắc từng lời từng chữ như cuốn hút người đọc như được sống cùNG
Những năm tháng hào hùng thế hệ cha Anh các bác đị trước là người Linh vi xuyên chúng
Em tiếp bước Trang sử của các bác thành Quảng Trị -chảo lửa Vị xuyên hai chiến trường
Sao gần giống nhau đến thế khi đọc những Trang nhật ký & ký ức của các bác các Anh
Thật súc động lệ tuôn nhìn lại chiến tranh đã đi qua lâu giờ như mới hôm qua
 Kính Chúc các bác các ccb  các Anh luôn mạnh khỏe vạn sự như ý
Em luôn theo cùNG các bác ạ ....


Tiêu đề: Re: Nó và tôi
Gửi bởi: nhuthin trong 24 Tháng Bảy, 2014, 09:18:18 pm
LÂM "THÀY CÚNG", DŨNG "BA QUE"
[/b]
    
     Lính chiến chúng tôi đa phần đều có biệt danh. Mỗi biệt danh thường gắn với đặc điểm hình thức hay một giai thoại vui, buồn nào đó của mỗi người. Tiểu đội tôi mười lính thì  tám người có biệt danh. Nào là Bình “ Méo”vì cái miệng hơi lệch, Tân “Vịt” lạch bạch lại không biết bơi, Định “ Xịt” nói ngọng,  Khánh “Voi”, to con, Minh “Già” mặt khó đăm đăm, Hải “Sún”  răng xỉn vv…Ngay cả tôi, vốn là tác giả của nhiều biệt danh trên cũng không tránh khỏi bị gán thêm  đuôi cho cái tên cha mẹ đã khai sinh.
     Hồi ở chốt An Tiêm, Chợ Sải hướng đông ven Thành cổ Quảng Trị, ác liệt, căng thẳng, mệt mỏi, hàng tháng trời tôi chẳng thiết gì vệ sinh cá nhân, thành thử  cái áo tôi mặc từ màu xanh Tô Châu chuyển sang màu vàng của đất, anh em gọi tôi là “Công An” từ đó. Nhưng biệt danh đôi khi cũng luân chuyển như : “ Sự  luân chuyển tính cách của nhân vật  trong hoàn cảnh điển hình”, ở môn lý luận văn học mà tôi được học sau này, khi trở lại trường đại học. Có nghĩa là, cũng có lúc biệt danh  được thay đổi.
     Sau trận Cửa Việt, chúng tôi đi thu dọn chiến trường. Ngang qua một hố bom cũ nông choèn, tôi thấy lưng của một con tôm hùm. Mùa này biển động, thỉnh thoảng nước tràn bờ, rút đi để lại khá nhiều cua cá. Vội vàng vớ lấy cái xẻng Liên Xô, tôi chém luôn một nhát. Anh em hồi hộp theo dõi tôi xắn quần lội xuống  mò.  Nhấc lên, té ra là một chiếc đế giầy của lính Việt Nam Cộng Hòa. Vừa bực vừa xấu hổ, anh em trong tiểu đội được một phen cười ngả nghiêng. Từ đấy họ gọi tôi là Thìn “Tôm”. Vì khiêng súng  12,7 ly nhiều, dáng tôi  còng còng nên cái tên ấy xem chừng càng thêm hợp. Bằng chứng là nó theo tôi đến tận khi ra quân.
     Giữa tháng 7 vừa rồi, tôi cùng anh em trung đoàn 95 trở lại chiến trường Quảng Trị tri ân các liệt sĩ. Tôi mới ngộ ra rằng, biệt danh của lính tráng không phải là món hàng  độc quyền riêng  trung  đoàn 101 của tôi. Nhan nhản những cái tên hết sức kỳ quái: Thái “Bọ”, Tuấn “Giò chả”, Lâm “Thày cúng”, Dũng “Ba Que”vv…cứ đập vào tai  hàng ngày, trên suốt cả  chặng đường.
    Có biệt danh dễ hiểu lý do và nguồn gốc sinh ra. Chẳng hạn như Thái “Bọ”, vì anh là dân Quảng Bình, tiếng địa phương,  gọi bọ là bố. Tết năm kia, Thái “Bọ” lọ mọ cùng Nguyễn Dũng vào Thành Cổ Quảng Trị, đón năm mới. Hay như Tuấn “Giò Chả” , từ ngày ra quân, Tuấn lấy nghề giò chả mưu sinh. Nhân đợt vào  Quảng Trị năm 2011, chương trình có tên “ Thành Cổ Quảng Trị, trái tim  bạn và tôi”, Tuấn “Giò chả” mang một tạ sản phẩm của nhà làm được vào Thành Cổ, cùng anh em đặt 81 mâm cơm cúng đồng đội. Mấy năm nay, cứ vào dịp tháng bảy, anh lại từ Hà Nội  lặn lội đến di tích trường Bồ Đề tại thị xã Quảng Trị, sắp một mâm cơm thắp hương  cho 36 đồng đội C3, D4 của anh hy sinh trận ngày 10/8/1972. Mâm cơm ấy không thiếu món giò chả tự tay anh làm.
   Nhưng còn nhiều biệt danh rất khó hiểu,  chẳng hạn như : Lâm “Thày cúng”, Dũng “Ba Que”. Tốt nhất là nên hỏi Minh “Sứt” ngươì đã đặt ra những biệt danh ấy. Song, rất tiếc , Minh “Sứt” vừa “hy sinh” năm ngoái mất rồi.
  Nhân một buổi trà dư, tửu hậu, tôi hỏi thẳng Lâm “Thày Cúng” cái tên khiến tôi lăn tăn mãi đến giờ. Lâm chưa kịp trả lời, Dũng “Ba Que” lên tiếng:
-   Để tao giải thích cho
   Chuyện là thế này, anh em mình nằm trong chốt ăn pháo kích của địch như cơm bữa. Cứ mỗi lần nghe tiếng rít gió của trái phá sắp tiếp đất , ruột gan cứ thắt lại. Hãi nhất là pháo khoan, chỉ nghe ục một cái, hầm đảo như đu võng. Vô phúc mà dính một quả thì… mà  pháo nào cũng vậy thôi…hầm làm sơ sài sức mấy mà chịu nổi. Lâm “Thày Cúng”, rúc vào một góc hầm lẩm bẩm : “ Lạy trời, lậy phật, đạn rơi đâu thì rơi đừng rơi vào hầm con…lậy giời lạy phật…”
    Hắn khấn vậy khá hiệu nghiệm, đạn nổ quanh mà vẫn  chừa hầm của hắn ra.
    Một lần, cả tiểu đội dọn cơm chuẩn bị ăn, Lâm “Thày Cúng” bê luôn xoong cơm đi chỗ khác cách đấy hơn chục thước tuyên bố hôm nay ăn ở đây. Cả bọn rất bực đành lục tục theo hắn. Dăm phút sau, một quả trái phá nã đúng chỗ vừa di dời. Cả tiểu đội xanh mắt. Từ đấy hắn phán như thánh sống .
    Nghe Dũng kể xong, Lâm “Thày Cúng” bảo:
-   Sai bét.
    Dũng “Ba Que” cãi lại:
-   Vừa hôm nọ mày chả kể cho lão Đinh Thế Huynh như thế là gì.
    Lâm “Thày Cúng” nói: Thực ra là thế này…
     Tóm lại cũng quanh quẩn chuyện tâm linh,  khấn bái mà thôi. Anh mang biệt danh ấy quả là chí lý.
     Tay nghề cúng bái của anh được “mê tín”, đến tận giờ. Cứ mỗi dịp vào Quảng Trị hương khói cho đồng đội, không thể thiếu một tay Lâm “Thày Cúng”.
      Vậy đã rõ, thế còn Dũng “Ba Que”?
    Tôi quen Dũng “Ba Que” gần hai năm nay. Trước đấy, tuy chưa gặp mặt đã  nghe nhiều về anh. Rằng có một lính sinh viên trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, cứ mỗi sáng đầu giờ làm việc lại đặt một bông hoa bên đài tưởng niệm Sinh Viên Chiến Sĩ trong khuôn viên của trường.
     Rằng vì lý do nào đó, đến  giờ anh vẫn chưa lập gia đình riêng. Dường như, bao tâm trí và tiền bạc anh đều dồn vào việc đi tìm hài cốt của các đồng đội đã ngã xuống ở chiến trường.
     Đến tận cuối năm 2012 tôi mới có dịp gặp anh tại hội trường trường ĐHBK. Người cựu binh của đại đội 18 thông tin, trung đoàn 95, sư đoàn 325 ấy có mái đầu trắng, đôi mắt lúc nào cũng như đang dõi về chốn xa xăm, bộ ria bàng bạc rất phong trần. Ăn mặc giản dị. Nói năng thì bộc trực rất khó lọt tai.
     Nghe nói anh đã góp phần đưa gần trăm bộ hài cốt  về với gia đình liệt sĩ. Thật đáng nể. Tướng Lê Khả Phiêu có mặt lúc đó cũng phải có đôi  lời ngợi khen. Anh đã làm vợi đi  nỗi đau cho các thân nhân của những đồng đội xấu số trong cuộc chiến tàn  khốc .
      Nhiều lần, anh đón năm mới tại Thành Cổ Quảng Trị. Trong thời khắc giao mùa của đất trời, anh thắp hương cho những anh hùng liệt sĩ đã nằm lại chốn linh thiêng , cho họ bớt quạnh quẽ. Ngoài kia, nhà nhà đang xum vầy đón tết tưng bừng.
      Nhiều lần, chàng “Hiệp sĩ” tóc bạc này, một mình từ Hà Nội vào chiến trường xưa, cóp nhặt từng thông tin nhỏ nhoi cuả đồng đội đã ngã xuống. Không một ai trong sư đoàn của tôi lại quen nhiều “công dân” Quảng Trị như anh. Từ quan chức đương  nhiệm,  mãn nhiệm, hàng tỉnh đến cấp phường, xã. Từ người quản trang đến nhân viên bảo tàng vv…Họ coi anh như người nhà, nhắc đến tên anh, mắt họ sáng ngời, nói chuyện về anh mãi không dứt.
    Tìm được thông tin liệt sĩ rồi, chắp nối với gia đình họ cũng chẳng dễ dàng gì. Nguyễn Văn Quang em của liệt sĩ Nguyễn Văn Bình C6, D5  kể:
    Cứ đến đêm em lại thấy một số điện thoại lạ gọi đến. Em sợ không dám cầm máy. Nhưng cái số điện thoại lạ ấy vẫn kiên nhẫn  gọi về hàng đêm, cho tới lúc em mạnh dạn trả lời. Người đầu máy lạ mắng luôn: “ Mày là tướng tá gì mà sao không nghe máy. Tao cho mày biết tin tức thằng anh mày đang nằm ở Quảng Trị đây”. Hóa ra anh Dũng  gọi. Nhân đây, em xin lỗi anh ạ…
      Sau lần giáp mặt ở trường ĐHBK ấy, tôi sớm quen và thân anh. Anh rất quý tôi bởi cách tôi tri ân đồng đội qua từng trang viết. Tuy khác anh về hình thức nhưng  chí hướng thì đồng lòng.
      Nguyễn Dũng có một ước muốn dẫn một đoàn cựu chiến binh và thân nhân của các liệt sĩ trở lại chiến trường xưa. Nhiều người vì nhiều lý do, trong đó có cả khó khăn tiền bạc, chưa một lần được đến đúng nơi mà cha, anh họ đã từng anh dũng chiến đấu và hy sinh. Đồng cảm với mong muốn của anh, cựu chiến binh Đặng Thế Minh, một doanh nhân thành đạt, người đứng đầu Công ty cổ phần y tế quốc tế Việt Minh  đã tài trợ cho chuyến đi.
     Dũng bảo, tôi  sẽ cho cả mấy sinh viên, đoàn viên ưu tú của trường Bách Khoa đi cùng. Tôi muốn cho thế hệ sau biết cha, anh của chúng đã đổ xương máu để thống nhất đất nước ra sao và trách nhiệm của chúng phải giữ gìn tổ quốc thế nào?
     Chuyến đi ấy đã thành công ngoài mong đợi.
     Đấy, chân dung thằng bạn tôi là như thế, vậy mà chẳng hiểu sao nó lại  bị gán cho biệt danh là “Ba Que” xỏ lá có oan không?  Đáng phải gọi là Dũng  “Tử Tế” mới xứng đáng.
   Đem thắc mắc hỏi mấy chiến sĩ đi cùng, họ cười ồ nói:
  Thế ông không biết Nguyễn  Dũng  còn được gọi là Dũng “Tử Tế” à.
  Có vậy chứ, nhưng tôi vẫn thắc mắc vì sao từ “Tử Tế” lại biến thành “Ba Que”.
    Anh em bảo, các đồng đội may mắn sống sót trở về, đa phần là tử tế. Kẻ ít, người nhiều, chung tay làm vợi đi nỗi đau mất mát của các gia đình liệt sĩ. Song cũng không thiếu kẻ “ba que”, với những kẻ đó, Dũng nhà mình đối xử còn “Ba Que” gấp đôi.

   Cái khoản “ đi với ma mặc áo giấy ấy”, tôi phải tôn anh làm đại ca.
   Vào Quảng Trị với anh em trung đoàn 95 lần này, tôi đã vỡ ra được nhiều điều.
  Ấn tượng nhất vẫn  là:  Lâm “Thày Cúng”,  Dũng “Ba Que”.
                                                                            
                                                                                                                Tháng 7/2014
                                                                                                                                   N T




      (https://farm3.staticflickr.com/2903/14545045359_6e5b95f9ee.jpg)
          Từ trái sang: Lâm "Thầy Cúng", Dũng "Ba Que" (https://www.flickr.com/photos/nhuthin/14545045359/)


Tiêu đề: Re: Nó và tôi
Gửi bởi: nhuthin trong 06 Tháng Chín, 2014, 07:43:01 am
KỶ NIỆM NGÀY SINH VIÊN NHẬP NGŨ 6/9/1971-6/9/2014

Thay lời tạ từ M&H


 



NGƯỜI LÍNH GIÀ VÀ NHỮNG "ĐỨA CON MUỘN'
  
Hai tập hồi ức chiến tranh “Nó và Tôi- Một thời hoa lửa”, “Trăng khuyết” của tác giả Nguyễn Như Thìn ra mắt cách nhau đúng 2 năm- tháng 4.2012 và 4.2014. Tôi đọc một mạch trong đêm mỗi tập, không hẳn vì sách mỏng mà vì không dứt được.
 Một người lính trận đã già, tuy “sinh con muộn” nhưng thật bõ công thai nghén.
 Như mới hôm qua
 Tôi và anh cùng nhập học khoa Ngữ văn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội tháng 11.1975. Chúng tôi là học sinh phổ thông ở các miền quê về Hà Nội. Anh và nhiều đồng đội khác từ chiến trường mới im tiếng súng trở lại giảng đường. Sinh viên tỉnh lẻ nội trú. Anh người Hà Nội ngoại trú mà lại sống ở phố Nguyễn Hữu Huân. Chúng tôi nghĩ về anh với cái nhìn ngước lên trong khái niệm vật chất, sung sướng. Ra trường, anh về làm việc trong ngành điện ảnh. Lâu ngày gặp nhau, bạn bè nói anh vẫn thế, không có gì đặc biệt. Thế rồi một ngày…
 
 Tháng 4 năm 2012, Nguyễn Như Thìn ra mắt tập hồi ức chiến tranh đầu tiên “Nó và Tôi- Một thời hoa lửa”. 20 câu chuyện trong giới hạn chưa tới 170 trang nhưng đứa con tinh thần sinh muộn của người lính trận đã ngoài 60 tuổi này khiến tôi và nhiều bạn học, đồng nghiệp thẫn thờ khi đọc từng trang cho đến lúc gấp sách lại.
 Thẫn thờ vì quá khứ trận mạc đầy bi hùng, chân thực và sống động, nhất là thời mùa hè đỏ lửa Quảng Trị năm 1972, sao anh cất trong ba lô lâu thế. Thẫn thờ vì ngòi bút văn chương muộn của anh về bom rơi đạn nổ vẫn khiến nhiều người đọc không cầm được nước mắt. Tập thứ hai vừa mới ra mắt “Trăng khuyết” cũng gồm 20 câu chuyện trong chưa tới 200 trang.
 Với bạn đọc không quen tác giả, qua 2 tập sách được dịp “vào trận” với nhân vật “tôi” cùng không quá nhiều đồng đội của anh trở đi trở lại qua các tên gọi nhắc đến nhiều thành quen như Khánh voi, Minh già, Tân vịt, Định xịt, Sơn mốc… Họ hiện ra như mới hôm qua.
 Với tôi, sách của anh mở mắt cho tôi nhiều điều. Một hình ảnh hoàn toàn mới và khác về người anh ngồi cùng 4 năm trên ghế giảng đường. Trong cuộc sống đầy bận bịu về những ham hố vật chất, danh vọng này... vẫn còn những người lính già như anh luôn đau đáu trả nợ ân tình đồng đội “chết cho mình được sống”, vậy mà chúng ta, thế hệ đi sau được hưởng nguyên nền hòa bình phải trả bằng biển máu của lớp người đi trước, sao nỡ dễ quên?!
 Nguyễn Như Thìn từ một sinh viên khoa Toán cơ nhập ngũ nhưng trở lại giảng đường Đại học Tổng hợp Hà Nội ngồi ở ghế khoa Ngữ văn. 3 cuốn sổ ghi chép qua 4 năm trận mạc đã khiến anh đi tới quyết định ngược nghề ấy. Người đầu tiên khuyến khích anh “mở ba lô có 3 cuốn ghi chép” là GS Hà Minh Đức. Nhưng nó vẫn còn được giấu kín mãi tới năm 2009, khi đã bắt đầu có tuổi, khi cái thứ sợ còn hơn sợ chết thời quân ngũ bắt đầu hiện hình trong anh- sự đày đọa thân xác.
 Di chứng của những lần vác nặng trong các cuộc hành quân dài ngày giữa cái nắng miền Trung, trèo đèo lội suối, hai vai phồng loét khiến năm ấy anh phải về hưu sớm. Hôm nay ngồi nói chuyện với tôi, anh bảo xương sống của anh bây giờ đỡ riêng trọng lượng cơ thể đã như quá tải. Anh cảm nhận rõ ràng sự hối thúc phải viết để “trả ân tình những thằng bạn đã chết cho mình được sống”.
 Lay động bởi tính thật
 Sức hấp dẫn ở những câu chuyện hồi ức của Nguyễn Như Thìn trước hết là tính thật. Mọi địa danh, trận đánh, mọi nhân vật, từng câu chuyện đều là thật. Là các trận anh trực tiếp tham dự. Là nỗi sợ hãi có thật của người lính trẻ lần đầu vào trận. Là những cái chết muôn kiểu theo tính năng sát thương của bom đạn diễn ra ngay trước mắt anh. Là chiếc ba lô của người lính từ chiến tuyến bên kia bỏ mạng, anh nhặt được trong một trận đánh ở Cửa Việt rồi theo anh vào tận Sài Gòn ngày 30.4.1975, ngược ra Bắc, nằm thu mình trong nhà anh giữa Hà Nội như một nhân chứng lặng thầm đại diện cho cả hai phía trong cuộc chiến tranh dai dẳng, đẫm máu.
 Tác giả Nguyễn Như Thìn nhập ngũ tháng 9.1971. Ngày huấn luyện tân binh anh cùng tiểu đội với Nguyễn Văn Thạc, tác giả “Mãi mãi tuổi 20”. Anh thuộc tiểu đội 12ly7, Đại đội 12 trợ chiến Trung đoàn 101. Đơn vị anh tham gia trận đánh đầu tiên ở Thành cổ tháng 8.1972. Ngay trận đầu, tiểu đội anh đã hy sinh quá nửa.
 Tính thật trong sách của Nguyễn Như Thìn làm động lòng độc giả nhiều hơn bởi lẽ mọi câu chuyện anh đều viết mãi sau này, chắp nối quá khứ - hiện tại, miêu tả cuộc sống đồng đội sau chiến tranh với đủ các cung bậc sướng khổ theo hoàn cảnh của mỗi người.
 Hồi ức quá khứ gần 40 năm với những câu chuyện trận mạc bi hùng và chuỗi thời gian tiếp nối tới hiện tại ở từng số phận có thật nâng giá trị tác phẩm của người lính già ở tầm nhân sinh quan cao hơn, nhất là về lẽ sống thời đương đại không chỉ của một người, một thế hệ mà của cả một đất nước, một dân tộc.
 Gần 40 năm sau mới được đọc, phát hiện ra một Nguyễn Như Thìn hoàn toàn khác, chúng tôi, bạn học cũ, thực lòng thấy có lỗi khi hồi ấy học cùng các anh mà chẳng hiểu mấy về các anh. Trong lớp còn có anh Lê Đỗ Khanh- lớp trưởng Văn B khóa 20, cựu lính trinh sát pháo binh Sư đoàn 325, sau về làm giảng viên khoa Xuất bản Học viện Báo chí tuyên truyền- không lấy vợ, năm 2009 chết cô đơn trong phòng không ai hay.
 Anh không chịu lấy vợ có lẽ bởi anh biết mình dính chất độc da cam, chúng tôi đau lòng nghĩ thế. Chúng tôi đã không hiểu, không cùng dòng cảm xúc với các anh khi ngồi trên giảng đường nhìn ra khung cửa ngắm bầu trời xanh hay nghe tiếng ve kêu liên tưởng tới những mối tình mình đã có hoặc tưởng tượng; còn các anh, vẫn những khung cửa ấy, bầu trời ấy, tiếng chim ấy lại gợi lên hồi ức về những cái chết của đồng đội, về những tấm bia bằng tôn đục sẵn mẫu ghi, là số huyệt đào trước mỗi trận đánh…
 Đọc 2 tập hồi ức chiến tranh của Nguyễn Như Thìn, điều đọng lại như thứ cô đặc nữa là tình cảm giữa những người lính không chỉ thời trận mạc mà cho đến tận hôm nay- khi tất cả đã về già. Những con người tuy số phận khác nhau nhưng có chung một khuôn mặt- sự chung tình đúng nghĩa đồng đội thời trận mạc.
  
ĐỨC NGUYỆN
Nguyên phó tổng biên tập báo Nông  Thôn Ngày Nay
Báo Dân Việt số ra ngày 3/5/2014